hoangnt
Hội viên-
Số nội dung
1909 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
6
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by hoangnt
-
Con người thường sợ chết, thích sống. Vì sao vậy? Đó là vì con người chẳng qua là một cấu trúc của trường khí âm dương, và Khí Dương vốn có tính bảo tồn trạng thái hiện tại, thể hiện thuộc tính của nó gây nên tâm lý ham sống sợ chết mà thôi. Khí Âm thì động, biến đổi nên con người mong muốn phát triển, tham lam, bay nhảy, ... Vậy, nếu linh hồn có thực thì sao? Tôi cho rằng, nếu có thực, linh hồn cũng là một cấu trúc của trường khí âm dương, nó cũng sợ chết ... tức là sợ đầu thai !!! và cũng muốn mãi mãi ... là linh hồn !!! Bạn không muốn đầu thai làm chó, mèo, ...? Đúng vậy. Nhưng bạn cũng phải hiểu rằng, chó mèo, ... cũng hoàn toàn không muốn đầu thai làm ... người !!! Tất cả những cái đó chẳng qua là sự thể hiện thuộc tính của trường khí âm dương mà thôi. Người đạt Đạo đã làm cho trường khí âm dương linh hồn của họ chuyển hóa tới cái Chung (xem Tam tài: Âm Dương Chung - Vô Trước), thông được với Đạo, nên Khí Âm và khí Dương không còn mâu thuẫn mà thống nhất với nhau, nên họ không còn sợ chết nhưng cũng không ... thích chết! không còn ham sống nhưng cũng không ... ghét sống! Thản nhiên ra vào sống chết mà chẳng động tâm. Phân tích những cái đó, tôi muốn nói rằng, học thuyết ADNH đúng là học thuyết thống nhất. Nó không chỉ bao trùm khoa học thực nghiệm, xã hội học, triết học ... mà còn có thể làm cơ sở cho cả Đạo học, Tâm lý học, Tôn giáo, Thần học, ... Thật tuyết vời !!! Thật đáng tôn vinh chủ nhân của nó là Việt tộc !!! Kinh thật, Bác Vô Trước phân tích rất chính xác. Hoangnt có ý sau: Chứng Đạo gần như là một trạng thái đột biến hay "đi tắt đón đầu" vậy, tuy nhiên tùy điều kiện. Vì vậy người xưa đã đưa ra các phương pháp rèn luyện cụ thể. Dĩ nhiên dựa trên nền tảng học thuyết ADNH và chính họ đã hiểu rõ Đạo là gì (Ta còn đi tiếp). Theo Hoangnt họ vẫn động tâm như thường tuy nhiên ngay lập tức cân bằng, nhớ không rõ lắm, Phật Hoàng Trần Nhân Tông có đoạn: "Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền". Kính.
-
Bác Vô trước. Nếu nắm được Đạo, ta có cơ hội triển khai kiến thức từ đỉnh kim tự tháp xuống, vừa đầy đủ, khó sai lầm mà nếu có sai lầm thì hiệu chỉnh cũng dễ dàng hơn do đã có một cái chuẩn tin cậy là đỉnh Kim tự tháp tri thức (Đạo). Khoa học ngày nay, theo tôi đang đi ngược từ chân kim tự tháp lên đỉnh, vất vả và tốn kém hơn nhiều. Khái niệm Đạo dĩ nhiên là tốt cho vấn đề tu dưỡng Đạo đức con người, nhưng nó cũng tốt cho mọi lĩnh vực khác y như thế, bởi vì nó bao trùm tất cả. Nếu dùng học thuyết ADNH nghiên cứu khoa học, cụ thể là vật lý, ta sẽ có lời giải cho rất nhiều những vấn đề khúc mắc một cách đơn giản và bất ngờ. Nếu dùng học thuyết ADNH cho lý thuyết xã hội, lời giải cho sự phát triển thế giới mới thật trọn vẹn, thịnh vượng và nhân ái... Theo tôi, bất kỳ một lý thuyết khoa học hiện đại nào cũng có "miền xác đinh" của nó. Miền xác định của học thuyết ADNH là toàn bộ thực tại, nói cách khác, học thuyết ADNH không có miền xác định, mà nó là học thuyết của tất cả. Do đó, học thuyết ADNH có thể làm cơ sở cho mọi lý thuyết học thuật, và vì thế là học thuyết thống nhất Vũ trụ. Hoàn toàn thống nhất với Bác. Thực ra muốn chứng Đạo thì tu 10 kiếp cũng chưa chắc toại nguyện. Vậy không lẽ chịu không có cách nào hiểu thế giới hay sao? Không phải vậy. Chúng ta không cần lên tới Mặt trời nhưng vẫn có thể ứng dụng những lợi ích của Mặt trời mà! Đạobất khả tư nghị nhưng vô cùng vô tận, thì ta cũng chỉ cần hiểu vài ba thuộc tính của nó cũng đã dư xài rồi, đâu cần tu ngàn năm làm gì!!! Tôi chỉ cần vài ba đặc tính của Đạo là đã rõ được những gì tôi cần rõ rồi. Còn nếu chứng được Đạo có lẽ đã dời lấp càn khôn !!! Riêng ý này cũng đúng, tuy nhiên theo nghiên cứu cá nhân thì người xưa thực sự đã có phương pháp dời Càn Khôn (của tiểu vũ trụ) tức chứng Đạo ngay khi đang kiếm sống và vui chơi. Thời gian rèn luyện hình như cũng chỉ bằng học đại học bây giờ, chỉ cần ý chí theo đuổi và có Thầy chân truyền hướng dẫn (Bát tiên quá hải là một ví dụ). Dĩ nhiên mỗi cá nhân sẽ áp dụng nó vào mọi mặt của cuộc sống. Hoangnt đề cập vấn đề này bởi vì trước sau gì mỗi cá nhân cũng phải trả lời một câu hỏi Tại sao Sinh - Chết mặc dù hiểu rằng đó là quy luật nhưng vì các ràng buộc xung quanh quá chặt chẽ trong suốt cuộc đời nên không kiểm soát được, tức "Ra di mà không sướng" và sẽ thấy "cuộc đời ngắn ngủi" hay chúng ta vẫn lại bị ràng buộc ngay tại nút thắt cuối cùng, hoàn toàn không giải thoát được ý thức (thực tại chứng minh ý thức của mỗi cá nhân có vẻ vẫn tồn tại giống như xưa mặc dù đã rời bỏ thân xác - đấy là hiện tượng tâm linh, người chết vẫn có cảm xúc hiện tại và hướng dẫn người sống làm một việc gì đó như thường nhưng phải thông qua một nhà ngoại cảm, thậm chí còn biết trước cả tương lai). Hoangnt nghĩ rằng: đấy hẳn là lý do người xưa đi tìm con đường đạt Đạo là vậy. Chữ Đạo này Hoangnt vẫn còn lờ mờ và sẽ thảo luận tiếp tục với Bác ngay. Kính.
-
Truyện Ngư Tinh 10. Trong biển Đông Hải có loài Ngư tinh, mình dài hơn năm mươi trượng, có nhiều chân giồng như chân rết, biến hóa vô cùng, linh dị khó dò được; mỗi khi đi đâu thì nổi cơn mưa gió, hay ăn thịt người, ai cũng đều sợ hãi. 11. Thời thượng cổ có loại cá mặt giống như mặt người, thường đi chơi trên bờ Đông Hải, hóa thành hình người, ngôn ngữ thông hoạt dần dần sinh lớn ra người trai gái, lấy cá tôm, hến ốc làm vật ăn; lại có giống người mới sinh ở hải đảo lấy sự bắt người làm sinh nhai, cũng thành ra người, cùng với đàn ông đổi chác các phẩm vật như muối gạo, áo quần, dao búa, thường qua lại ở biển Đông Hải. 12. Trong có núi Ngư tinh, miệng răng nhô ra ngoài bờ biển, ở dưới núi có một chiếc hang lớn, đó là nơi cư trú của Ngư tinh; thuyền nhân dân qua lại phần nhiều bị hại; phong ba hiểm yếu, họ không có đàng nào mà tránh; muốn mở một lối đi ngã khác thì họ lại gặp cát đá không thể nào đào được. Một đêm kia, có tiên xuống moi đá làm kênh cho sự thông hành của loài người được tiện lợi; kênh sắp được đào xong thì Ngư tinh hóa ra một con gà trắng gáy ở trên núi; quần tiên nghe thấy ngỏ là trời gần sáng nên đều tự nhiên bay đi hết, nay gọi là đường Phật. 13. Lạc Long Quân thương dân bị hại mới làm một con thuyền lớn, ra lệnh cho Thuỷ Dạ Xoa cấm thần biển không được làm gió sóng, chèo thuyền đến núi Ngư tinh, giả đem một người đến cho Ngư tinh ăn; Ngư tinh há miệng toan nuốt, Long Quân liền lấy một khối sắt nướng đỏ liệng vào miệng cá; Ngư tinh vùng vẫy nhảy đến đánh thuyền; Long Quân chém được khúc đuôi, lột da treo lên trên núi, nay gọi là Bạch Long Vỹ; khúc đầu trôi ra ngoài biển, hóa ra chó mà chạy mất; Long Quân lấy đá lấp biển thì chém được, nó bèn hóa ra đầu chó, nay gọi là Cẩu Đầu; khúc mình trôi vào Man Cầu, nay gọi là Cầu Man Cẩu là bởi đó vậy. Cùng với truyện Lạc Long Quân diệt Hồ Tinh, Mộc Tinh và vua Hùng chọn đất đóng đô, ta có thể nhận định rằng: đây chính là truyền thuyết chọn lựa Phương Nam (trong toàn bộ Nam Dương Tử) đóng đô chính là Phong Châu (1 trong 15 bộ): Phong Châu bao phủ cả Hà Nội, Hà tây, Việt Trì... bây giờ. Bạn sẽ thấy trống đồng Ngọc Lũ (Heger I) hay bất kỳ loại trống Heger I nào đều chỉ có ngôi sao 14 cánh ở tâm là ẩn nghĩa 15 bộ, bộ Phong Châu ở tâm ngôi sao. Dĩ nhiên, chữ Phong Châu còn mang những ẩn nghĩa sâu xa khác nữa. * Phúc Lôc Thọ mãn đường *
-
Bác Vô trước và DaretoLead: Tôi chỉ bình luận thêm thôi. Nhưng để dễ trao đổi vào cái chính, Hoangnt nên viết sau các dẫn chứng những kết luận, nhận định của mình chứ nhiều khi tôi không hiểu bạn định kết luận gì sau những dẫn dắt đó. Thực ra gốc rễ của các vấn đề là làm sao hiểu được ý nghĩa của Đạo một cách rõ ràng và dễ hiểu nhất bởi nó là cội rễ của học thuyết thống nhất ADNH cho nên chúng ta phải vận dụng mọi vấn đề liên quan như DaretoLead đã đề cập nhằm phân tích, giải thích, chọn lựa các khái niệm (sơ bộ) khác như Tương tác, trường khí ADNH... trong mối quan hệ với Đạo. Thực sự phải nói là sử dụng tất cả cái mà con người biết được để hiểu rõ hiện thực khách quan hơn, kể cả "dựng xác chết dậy": đó chính là sự thống nhất hoàn hảo của Vũ trụ hay bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào đều có mối quan hệ thống nhất trong sự vận động chung của Vũ trụ. Mặt khác, người xưa cũng đã có phương pháp đạt Đạo lại làm cho chúng ta cần chính thức hiểu rõ chữ Đạo này. Để có ý trong bài viết nhưng không phân tích, Hoangnt cho rằng chữ Đạo (tạm gọi Đạo Vũ trụ) gồm: - Như Bác Vô Trước đã viết. - Đạo đức cũng là Đạo, được triển khai từ Đạo Vũ trụ, mang tính luân lý của xã hội. Cái được đề cao nhất là chữ Nhân, được triển khai sơ khởi nhất là chữ Hiếu, dạy thuận lợi và nền tảng nhất là cho Thiếu nhi và Giáo dục là cơ sở của sự phát triển xã hội. - Đạo đức cũng là một phần quan trọng của Đạo làm vua, quan, dân, cha mẹ - con cái... kèm thêm các yêu cầu cụ thể, ví dụ làm tướng phải biết binh pháp - nó cũng được xây dựng từ các nền tảng kiến thức khác tạo thành Đạo làm tướng. -... Tóm tắt lại: Đạo của Vũ trụ (Quả đất được xem như là một nhân tố tự nhiên cực kỳ quan trọng) và Đạo làm người nhưng người xưa lại muốn đạt đến cà cái Đạo của Vũ trụ hàm ý đạt được sự vĩnh cửu trong hạnh phúc (thiên đường), vấn đề này có cần thiết không khi đời người là hữu hạn?. Vậy thì: phương pháp nào để đạt Đạo Vũ trụ nếu chúng ta chưa hiểu rõ nó?. Với sự chú ý: Không thể đạt Đạo Vũ trụ nếu không điều chỉnh Đạo đức trước bởi Vũ trụ là thống nhất. Kính.
-
Tôi không hiểu bạn phân tích như vậy để dẫn đến kết luận gì về ý thức và vật chất. Phải chăng muốn nói lực F cũng là vật chất? hay lực F là ý thức? Phải chăng Lực “F cũng chỉ là sự qui ước của sự biến đổi vật chất” (trích) lại có thể là chính vật chất? hay, Lực F là cái khái niệm qui ước để ta dễ dàng mô tả, nhận thức thì lại chính là ý thức? Phải chăng những qui ước để mô tả cái gì đó lại có thể là chính cái đó? Tôi không quan niệm như vậy. Đối với tôi những cái để mô tả cái gì đó không phải là chính cái đó. Lực F không phải là ý thức cũng không phải là vật chất. Nó chỉ là những khái niệm dùng mô tả tương tác của vật chất. Cái chủ thể tương tác, để được mô tả ấy, mới là vật chất (cái búa, hòn đá). Cái hành vi mô tả (đưa ra các khái niệm) và lĩnh hội cái mô tả ấy là hoạt động phản ánh thực tại khách quan (tương tác giữa cây búa và hòn đá,…) của của một chủ thể khác (vật chất) mà hoạt động đó có đặc trưng là ý thức. Như vậy, ý thức là đặc trưng của vận động, tương tác của cái chủ thể (vật chất) đó nhằm phản ánh thực tại khách quan chứ không phải là bản thân chủ thể đó. Không nên lẫn lộn giữa một con người với những hoạt động của anh ta dù rằng anh ta và hoạt động của anh ta liên quan mật thiết. Lòng dũng cảm của một con người, thể hiện hoạt động của anh ta, nhưng không phải là con người,cũng như lực F, thể hiện tương tác vật chất, nhưng cũng không phải là vật chất. Vâng, hình như có cái gì đó chồng lấn lẫn nhau. Để rõ ràng hơn, ta lấy ví dụ là Hệ mặt trời đang vận động trong hệ Ngân Hà (Thiên Hà), hệ này lại đang vận động một hệ lớn hơn... chúng vận động có quy luật, vậy cái gì đang điều khiển chúng?. các nhà khoa học đưa ra các quy ước như lực ly tâm chẳng hạn, được xác định và là tương tác giữa các hành tinh, vậy thì lực ly tâm này phải chăng chỉ là "Tương tác" hay "Vật chất". Các nhà khoa học cho tới nay, xác định có 4 loại lực lớn trong Vũ trụ thì phải (?), chúng đều là các trạng thái của Vật chất. Như vậy, các quy ước được tạo ra nhằm định vị cho một Hiện thực khách quan, vậy thì Hiện thực khách quan này phải: là Vật chất hoặc là Thời gian hoặc là Không gian. Như ví dụ trên của anh, Lòng dũng cảm thể hiện hoạt động của anh ta: thực sự chính nó phải sự vận động của vật chất trong con người của anh ta qua tư duy, hành động... và hệ quả là hàng loạt các vận động vật chất thứ cấp khác diễn ra ngay sau đó (dĩ nhiên liên quan đến toàn bộ Vũ trụ). Nếu Đạo là bất khả tư nghì thì rõ ràng người xưa không thể xác định được thế nào là Đắc Đạo? vậy Ai sẽ là người đắc đạo. Nếu chúng ta nhận định Đạo cũng là một Hiện thực khách quan thì hoàn toàn xác định được Đạo, tuy nhiên có lẽ chúng ta không thể nắm bắt chúng một cách cụ thể (toàn hảo) bởi tính "ẩn" của Đạo trong Vật chất vì chúng là tế vi nhất của toàn thể Vũ trụ. Bởi Đạo có trong Ta và trong toàn thể Vũ trụ nhưng không đồng nghĩa tất cả các biểu hiện đều là Đạo. Theo Hoangnt thì: - Đạo có trong tất cả có vẻ giống như mọi Vật chất đều chứa Năng lượng. Năng lượng là cái chung tạo sự biến đổi Vật chất chứ không hàm ý có chung các thuộc tính của vật chất. - Đạo có trong Ta và điều khiển Ta: nếu đúng, thì ý thức của ta không là của Ta. Nếu sai, mâu thuẫn ý nghĩa Đạo chính là mầm mống tạo sự vận động có quy luật của Vật chất. Nếu nửa đúng, nửa sai: bởi Ta không biết trong ta có Đạo đang điều khiển Ta, vì ý thức của ta cho ta biết điều này thì rõ ràng Ta phải tìm Nó ngay chính trong Ta tức Đạo có thể được xác định thông qua một số biểu hiện (Tượng) của nó. Một vì dụ cụ thể khác, Vũ trụ là không thể tạo ra được cái máy bay chẳng hạn, nếu không tồn tại con người tức con người "thay mặt Vũ trụ" tạo ra một sản phẩm độc đáo khắc phục giới hạn di chuyển của xác thân. Kính.
-
Chào Bác Vô Trước. Để dễ hiểu, thì chúng ta dùng ví dụ thực tế vậy: Một dùng một cái búa đập vào khối đá vỡ ra, theo quan niệm ta dùng 1 lực F từ cánh tay tác động vào khối đá, và theo nhận định thì F đặc trưng tương tác chứ không phải là vật chất, đều này có đúng không?. Điều này thực sự dễ bị nhầm lẫn cho chúng ta đặt ra các quy ước như lực F gọi là tương tác với đặc trưng là Niutơn chẳng hạn, thực chất chỉ là sự vận động của vật chất là tảng đá, cánh tay - con người và môi trường xung quanh mà thôi, lúc này tảng đá bị vỡ ra, con người thì mỏi mệt, tim đập nhanh, con người phải suy nghĩ đập đâu cho dễ vỡ, môi trường không khí bị biến đổi,... chính sự biến đổi này với một đặc trưng dễ được nhận thấy nhất và phù hợp trong tính toán đó là sức mạnh của cánh tay được quy ước thành lực F. Vậy thì F cũng chỉ là quy ước của sự biến đổi vật chất đặc trưng tại mỗi thời gian trong mọt không gian quy ước (nhưng là thực tại) hay "sự biến đổi vật chất" thực chất cũng là vật chất nhưng mang những thuộc tính cho riêng nó trong không thời gian quy ước trên. Ví dụ khác: Dùng phản ứng tách nước thành hydro và oxy, rõ ràng chúng ta dùng hàng loại các quy ước tương tác, tuy nhiên không thể tách khỏi việc dùng vật chất hay các loại hóa chất hay nhiệt độ khác nhau (không phải kỹ sư hóa) để tạo ra phản ứng này. Dĩ nhiên, hydro và oxy cũng là một dạng vật chất không cùng thuộc tính đặc trưng của nước. Sự lẫn lộn ở đây chính là ta đã cô lập các trạng thái vật chất không vào trong một mối quan hệ nào để phân tích sau khi cho chúng "gặp nhau". Dễ dàng thấy, trong không thời gian của Vũ trụ đang diễn ra sự vận động của vật chất mà thôi hay chỉ có sự vận động của vận chất đang diễn ra mà chính tự thân cũng không quan tâm đến không thời gian (nhưng không thời gian cũng lại tồn tại kah1ch quan để "chứa" vật chất). Chúng ta cũng đã nhận thấy vật chất đang vận động có quy luật trong khi đó các trạng thái của vạn vật là vô kể (bảng tuần hoàn Menđelêép chắc còn thiếu), và cũng để giải thích được sự khởi thủy của vật chất trong việc xây dựng một học thuyết thống nhất thì người xưa đưa ra khái niệm Đạo - Bản thể là vậy. Cho nên, Hoangnt mới nhận định và sẽ luận thêm Ý thức có phải là thuộc tính đặc trưng của Đạo hay không. Do Đạo - Bản thể có ở trong mọi trạng thái vật chất và là nguyên nhân tạo ra sự vận động có quy luật, nên tự thân nó không chúng ta không thể xác định cụ thể Đạo là dạng vật chất gì tuy nhiên có thể có khả năng nhận ra được các đặc trưng của nó và đặc ra các quy ước: - Xem nó như là dạng vật chất tế vi nhất tồn tại trong mọi trạng thái của vật chất trong Vũ trụ. - Bởi nó là tế vi nhất, mặt khác động lực vận động của vật chất được xem là trường khí âm dương, thì trường khí này phải là trường khí tế vi nhất tức cơ bản nhất. - như vậy trong thân thể chúng ta cũng có trường khí âm dương tế vi này. Vì cơ thể là vô số trạng thái vật chất, thì khả năng phải có các "dòng trường khí âm dương cơ bản" nối kết tới các bộ phận. - Nếu ta xác định được các dòng khí này và dùng ý thức điều khiển nó thì rõ ràng: Ý thức phải là tế vi hơn nó hay chính là biểu hiện của Đạo vậy.
-
Do Thực tại có 3 mặt không thể tách rời Bản thể - Tướng - Lý. Thực ra Hoangnt cũng chưa thấy có gì mâu thuẫn cả. Bởi Bản thể là không thể tách rời cái được gọi là "Vật chất" mà cũng đang có nhiều định nghĩa, tuy nhiên chúng ta thảo luận với mục đích là phác thảo ra các ý tưởng (dĩ nhiên đã tồn tại trước đó và đang hiện hữu) nên không cần thiết đưa ra các định nghĩa, khác niệm, quy ước... mất thời gian, chúng sẽ được kiểm tra khi cần thiết - tức các điểm cầm làm rõ trong quá trình thảo luận (nó sẽ phải tự xảy ra một cách tự nhiên). Vì Đạo không thể tách rời Vật chất (được sinh ra từ Đạo), mà Đạo lại tồn tại vĩnh cửu cho nên Vật chất cũng phải tồn tại vĩnh cửu. Nếu sau khi sinh ra Vật chất mà Đạo biến mất tức chuyển đổi thành Vật chất thì lại mâu thuẫn chính ý nghĩa Đạo là vĩnh cửu. Vậy rõ ràng: Đạo phải là cái vừa "sinh ra Vật chất" cũng như vừa "ở trong Vật chất". Nếu như vậy thì hệ quả tiếp theo là Đạo phải là "nguồn gốc thúc đẩy sự vận động của Vật chất" theo một cái "Lý" như Huynh đã giải thích. Vì Vật chất trong Vũ trụ là hữu hạn (hay Vũ trụ hữu hạn - lại phải xem lại định nghĩa Vũ trụ) hoặc vô hạn tùy theo xác định của các nhà khoa học, Đạo học hay Lý học thì phải xảy ra các tình huống như sau: - Nếu hữu hạn vì Đạo nằm trong sự hữu hạn nhưng tồn tại vô hạn thì mâu thuẫn. - Nếu vô hạn: tức thỏa mãn các điều kiện nhận định trên. Tứ Vũ trụ là vô hạn và vĩnh cữu. Tuy nhiên, qua thực tiễn các nhà Hoa học, Đạo học, Lý học nhận thấy Vật chất vận động có quy luật, một câu hỏi tiếp theo là Đạo thông qua cái gì để tạo nên sự vận động có quy luật này?. Cấu trúc trường khí ADNH tạm được xem là cái khời đầu. Cũng từ các nhận định trên: rõ ràng trường khí ADNH cũng phải là Vật chất và chính nó tạo ra muôn hình vạn trạng của vạn vật và sự vận động của chúng theo nguyên lý Sinh Vượng Mộ có quy luật nhưng hữu hạn (như đã trình bày phần trước - sinh diệt như đang thảo luận). Vậy thì chúng ta có thể nhìn nhận rằng: trường khí ADNH là một dạng Vật chất tế vi nhất đang tồn tại trong Vũ trụ vô hạn. Theo định nghĩa về "Khí" của Lý học Đông phương trong Diễn Đàn, cùng kết hợp với nội dung trên, và thực tế (tạo các chất trong phòng thí nghiệm, nước phân hủy thành hydro và õy, tình trạng trung hòa điện.vv..) ta hình dung rằng: Đạo là sự phối hợp âm dương tức là điểm "Dừng" tương tác ậm dương hay cũng chính là dạng "Vật chất" vi tế nhất của Vũ trụ nhưng không bao giờ là "Zero". Vậy nếu là Vật chất thì phải có đặc trưng của chúng, điều này dẫn ta tìm hiểu Ý thức con người là gì?. Nhiều nhà nghiên cứu cũng cho rằng Ý thức là Vật chất hoặc biểu hiện của Vật chất: như phân tích trên thì biểu hiện của vật chất cũng phải là Vật chất, ví dụ: biểu hiện của mùi thơm hoa hồng tỏa ra khi hoa nở cũng là các hạt vật chất... nhưng ví dụ của Huynh về Lực là biểu hiện của tương tác chứ không phải là Vật chất hoàn toàn không phù hợp bời vì đây là quy ước của các tác động giữa hai trạng thái Vật chất chứ không phải là chính bản thân Vật chất đang xem xét, tuy nhiên sẽ có sự biến động thuộc tính chúng, của môi trường xung quanh... Thực tế chỉ ra rằng: Suy nghĩ con người tác động được vào Vật chất qua các hiện tượng thì quá nhiều từ cổ chí kim. Vậy Ý thức cũng phải là Vật chất và biểu hiện của nó thông qua các ví dụ trên hoặc qua các biểu hiện của giác quan trên cơ thể con người, động vật, thực vật. Như vậy, Ý thức có thể tồn tại vĩnh cửu với các biểu hiện của nó, tuy nhiên chúng ta phải chứng minh rằng Ý thức thuộc loại vật chất tế vi nhất của Vũ trụ không thì chính nó phải chấp nhận sự biến đổi trong quy luật sinh diệt (trạng thái) hoặc chính chúng ta chuyển Ý thức thành một loại vật chất tế vi đó khi nó chưa phải là dạng vật chất này.
-
"Chân lý là mảnh đất không có lối vào" – Krishnamurti ??? *Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Chào Bác Vô Trước, đúng là khoa học phải đi kèm Phật giáo thì mới hoàn thiện: - Ý thức - Vật chất: Vật chất là Trường khí âm dương ngũ hành. Một sự vật là một cấu trúc tương đối ổn định của trường khí ADNH. Ý thức là một dạng hoạt động của vật chất (trường khí ADNH) phản ánh thực tại khách quan. Cùng phân tích dựa trên Thuyết âm dương Ngũ hành và khoa học hiện đại. Ý thức là một dạng hoạt động của vật chất (trường khí ADNH) phản ánh thực tại khách quan, tuy nhiên lại được quản lý và điểu khiển bởi chính mỗi cá thể (con người) - điều này nói lên vấn đề gì khác nữa không? - Hữu hạn - vô hạn là khái niệm chỉ một đặc tính có giới hạn và không có giới hạn về một mặt nào đó. Trong tự nhiên, ngoài bản thể - Đạo, không có cái gì thực tồn tại lại là vô hạn tuyệt đối. Không thời gian - vật chất là cái mà chúng ta nhận biết, theo tôi vật chất (bao hàm tất cả cái mà chúng ta nhận biết và chưa nhận biết) đều tồn tại vĩnh cửu, từ vô thủy đến vô chung, tuy nhiên chúng vận động theo quy luật hay không là vấn đề cần xem xét. Thuyết Âm dưong Ngũ hành đã tổng hợp và đưa ra được công thức. - Vô cùng lớn - vô cùng bé là một dạng của Vô hạn và Hữu hạn (đã bàn). Cùng thống nhất, tuy nhiên cái vô cùng bé và vô cùng lớn của tổ hợp vật chất (bao gồm trạng thái và các tương tác tạo nên một "khối") cũng là một nhân tố vận động theo thuyết Âm dương Ngũ hành nhưng có thuộc tính, kết hợp nội dung ở trên thì: không thể tìm thấy hạt cơ bản như tiên tri của tác giả Thiên Sứ và không thể tìm thấy giới hạn của vũ trụ, mà chúng ta chỉ nhận định qua không thời gian - vật chất đã tổng hợp và phân tích. - Hữu hình - vô hình là một thuộc tính cùa sự vật chỉ sự xác định được hay không xác định được nó trong không gian cụ thể, giới hạn. - Không – Có: khái niệm chỉ sự không thực tồn tại và thực tồn tại. Trong nhà Phật thì "Không - Có" là khái niệm chỉ sự không thực sự tồn tại và thực sự tồn tại như đã thấy và quan niệm. - Cái chung của vật chất có nhiều thứ: Vận động, năng lượng, Khí âm, Khí dương, tương tác … Không hiểu bạn muốn nói về cái gì. Năng lượngchỉ là một thuộc tính của vật chất chỉ khả năng biến đổi trong tương tác. - Qui luật – Bất qui luật: Đó là những khái niệm chỉ thuộc tính vận động của vật chất có khả năng tiên đoán hay không tiên đoán được trạng thái của nó trong tương lai. Vũ trụ vận động trong quan hệ biện chứng chặt chẽ giữa qui luật và ngẫu nhiên. Tính qui luật luôn được thể hiện trong sự phong phú, đa dạng của ngẫu nhiên. Cái phong phú đa dạng của ngẫu nhiên luôn được ‘quản lý’ trong khuôn khổ các qui luật. - Sinh – Diệt: Sinh là sự trở nên hiện hữu của một mầm mống trong Đạo. Diệt là sự trở về dạng mầm mống trong Đạo của một hiện hữu. Vạn sự có sinh ắt có diệt. Chỉ có Đạo không sinh, không diệt. Vật chất là tồn tại vĩnh cửu thì cái gì là sinh diệt? vậy thì, chỉ là chuyển đổi của các trạng thái vật chất mà thôi, theo quy luật được xác định theo thuyết Âm dương Ngũ hành (trường khí...). Bởi không sinh mà chẳng diệt, nhưng chỉ chuyển đổi trạng thái thì một câu hỏi đặt ra là: tất cả sự biến hóa của vật chất theo quy luật được "điểu khiển bởi cái gì?". Kết hợp với Vô cùng lớn - vô cùng nhỏ cùng thành quả của khoa học hiện đại không tìm thấy Hạt của Chúa ta có thể thấy: - Bất kỳ dạng vật chất nào đều có thuộc tính ở mỗi trạng thái hiện hữu. - Nó được tổ hợp có quy luật từ vô số dạng vật chất ("nhỏ hơn") nhưng không bằng Zero. - Nếu toàn bộ Đại vũ trụ hoặc Con người tìm được Thuộc tính cơ bản của Hạt cơ bản thì Thuộc tính này vĩnh cửu, Ví dụ: Trí tuệ của con người chẳng hạn, nếu trí tuệ là vật chất - trường khí âm dương là cơ bản nhất thì trí tuệ là vĩnh cửu. - Ngắn hạn – Vĩnh cửu là một dạng của Vô hạn và Hữu hạn (đã bàn). Trong tự nhiên chỉ có Đạo – bản thể của Thực tại - là vĩnh cửu. - Tâm – Biên: Khái niệm khá rộng, tùy định nghĩa. Nhưng với cách hiểu thông thường về không gian, theo tôi, Vũ trụ có giới hạn, không có biên, và có Tâm. Tâm Vũ trụ là điểm khởi đầu, đứng yên tuyệt đối. Có nghĩa là: đứng ở bất cứ đâu trong Vũ trụ, hay trong bất cứ hệ qui chiếu thực tế nào, cũng quan sát thấy, vận tốc Tâm Vũ trụ bằng 0. Thống nhất nhưng vì không có biên nên Vũ trụ không có giới hạn. Chúng ta có nhận định vận tốc tâm Vũ trụ bằng 0, và nó nằm ở vô cùng. Bởi vật chất tồn tại vĩnh cửu (trường khí), quan hệ ràng buộc lẫn nhau vật thì trong không gian nơi đâu cũng tồn tại "vật chất ràng buộc" nên tâm Vũ trụ cũng phải là vật chất - chính là Đạo hay bản thể của toàn bộ vật chất chứa trong Vũ trụ. Hệ quả Thuộc tính của tâm Vũ trụ chính là thuộc tính gốc của mọi dạng chất trong Vũ trụ. Ý thức chúng ta có phải là "thuộc tính" của Bản thể không? - *Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Tác Phẩm "sứ Mệnh Đức Di Lặc" Của Gs.ts Nguyễn Hoàng Phương
hoangnt replied to a topic in Những bài viết của dienban
Thanks nhiều. Bạn có thể giúp giải thích kỹ hơn về mục: 5) Khi thầy chiếu vào học thuyết phong thủy thì thầy tìm thấy vị trỉ tương ứng của các cung cát, hung và tính cát hung của kích thước Lỗ Ban và thầy phát hiện ra quy luật: cát nhân cát là cát, nhưng hung nhân hung không phải là hung mà lại là cát, tại sao; hoặc ở trang thứ mấy trong tác phẩm vĩ đại "Sứ mệnh Đức Di Lặc" của giáo sư Nguyễn Hoàng Phương. Trân trọng. * Phúc Lộc thọ mãn đường * -
Hậu thiên Bát quái và hệ thống 64 quẻ Chu Dịch Theo truyền thuyết Trung Hoa: vua Đại Vũ đi trị thủy ở sông Lạc bắt được một con rùa thần trên mai có ghi đồ hình Lạc thư, như đã trình bày ở phần trên. Sau vua Phục Hy khoảng gần 3000 năm, đến đời Chu Văn Vương – theo cổ thư chữ Hán thì vua Chu Văn Vương bị giam ở ngục Dữu Lý 7 năm (có sách chép 3 năm). Trong thời gian bị giam, ông đã sửa lại vị trí các quẻ trong Bát quái của Phục Hy thành một đồ hình Bát quái mới gọi là Hậu thiên Bát quái, căn cứ theo đồ hình Lạc thư. Vị trí phương vị của Hậu thiên Bát quái phối hợp với đồ hình Lạc thư theo cổ thư chữ Hán được công bố vào đời Tống như sau: Đồ hình tương quan Lạc thư và Hậu Thiên bát quái (Vẽ theo Kinh Dịch với Vũ trụ quan Đông phương) Để bạn đọc tiện theo dõi, xin được trình bày sự kết hợp Tiên thiên Bát quái với Hà đồ và Hậu thiên Bát với Lạc thư theo cổ thư chữ Hán qua đồ hình cửu cung như sau: Cửu cung Hà đồ và Tiên thiên bát quái (Đã xoay 180o cho phù hợp với phương vị bản đồ hiện đại) Cửu cung Lạc thư và Hậu thiên bát quái (Đã xoay 180o cho phù hợp với phương vị bản đồ hiện đại) Trên cơ sở đồ hình Hậu thiên Bát quái, vua Chu Văn Vương đã sắp xếp một hệ thống mới 64 quẻ gọi là Chu Dịch. Bảng kinh Dịch nổi tiếng hiện còn lưu hành, chính là bản Chu Dịch được coi là của Chu Văn Vương. Dưới đây là đồ hình thứ tự 64 quẻ của Chu Văn Vương. Trước hết, bạn đọc làm quen với một sự phân định sau: Các nhà nghiên cứu Dịch học chia Bát quái làm 2 nhóm là: 1) Nhóm Bất Dịch gồm các Quái: Bốn quái này có tính chất chung là: Nếu lật lên hay lật xuống 1800 thì tính chất của nó không thay đổi. 2) Nhóm Điên Đảo Dịch gồm các quái đi cặp với nhau là: ĐOÀI – TỐN; CẤN – CHẤN Mỗi cặp trong nhóm này có đặc tính là: Nếu lật lên hay lật xuống thì chúng đổi tính chất cho nhau. Mỗi cặp như vậy chúng ta tạm gọi là: cặp “Điên đảo dịch cùng tính chất”. Xét hình Bát quái Hậu thiên sau khi đổi chỗ hai quẻ Tốn Khôn (Từ nay thuật ngữ: “Bát quái Hậu thiên sau khi đổi chỗ hai quẻ Tốn – Khôn” sẽ gọi tắt là “Bát quái Hậu thiên nguyên thủy”; còn đồ hình Hậu thiên cũ vẫn gọi là Hậu thiên Bát quái), bạn đọc sẽ thấy một sự đối xứng Âm - Dương được diễn tả như sau. Đồ hình minh họa tính đối xứng của Hậu thiên bát quái nguyên thủy Với sự sắp hình như trên, bạn đọc nhận xét thấy ngay rằng: Cặp ĐOÀI & TỐN, CẤN & CHẤN khi kết hợp với nhau chúng sẽ có tính chất của một quái Bất dịch; nghĩa là lật 180o không thay đổi tính chất. ĐOÀI & TỐN là cặp Điên đảo Dịch thuộc Kim. CẤN & CHẤN là cặp Điên đảo Dịch thuộc Mộc. Trên cơ sở này chúng ta xét đến thứ tự 64 quẻ thuộc hệ thống Hậu thiên Bát quái để so sánh sự tương quan hợp lý với phương vị của Hậu thiên Bát quái nguyên thủy. Trước hết chúng ta xếp 64 quẻ thành 32 cặp, mỗi cặp gồm 2 quẻ lẻ chẵn kế tiếp, bắt đầu từ cặp thứ nhất gồm 2 quẻ là: 1 – Thuần Càn và 2 – thuần Khôn;… cho đến hết 64 quẻ. Chúng ta sẽ được bảng sau. Trên cơ sở đồ hình 32 cặp quẻ đã trình bày ở trên, bạn đọc sẽ nhận thấy ngay rằng: mỗi một cặp là một đồ hình đối xứng nhau. Trong đó có 4 cặp đối xứng Âm - Dương và 28 cặp đối xứng nghịch đảo, được cấu tạo bằng 56 quẻ có vị trí chẵn lẻ liên tiếp. Để có được tính đối xứng đó, cấu tạo của 28 cặp đối xứng nghịch đảo có 3 phương thức tạo cặp đối xứng sau đây: Phương thức thứ 1) – Mỗi cặp đều do 2 Quái bất dịch đổi chỗ cho nhau. Thí dụ: Cặp KHẢM & LY Phương thức thứ 2) – Mỗi cặp đều do 2 Quái điên đảo dịch thuộc hai cặp đối xứng Đoài Tốn & Cấn Chấn đổi chỗ cho nhau. Thí dụ: Cặp ĐOÀI TỐN & CẤN CHẤN Phương thức thứ 3) – Điều đáng lưu ý vì sự liên quan đến vấn đề đặt ra là: trong những cặp đối xứng thuộc phương thức này, thì mỗi cặp đều do một “Quái bất dịch” kết hợp với một cặp điên đảo dịch cùng tính chất. Thí dụ: Cặp ĐOÀI TỐN & CÀN Như vậy, để tạo ra cặp đối xứng thì: Một cặp điên đảo dịch cùng tính chất sẽ tương ứng một “Quái bất dịch”. Điều này được mô tả như sau: CẤN & CHẤN = ĐOÀI & TỐN = CÀN = KHẢM = LY = KHÔN Như vậy, khi một cặp điên đảo dịch cùng tính chất kết hợp với nhau, chúng sẽ có tính chất của một “Quái bất dịch” trong việc tạo cặp đối xứng. Hay nói một cách khác: khi kết hợp một cặp Điên đảo dịch sẽ chính là một quái bất dịch trong việc tạo ra đối xứng. Điều này được chứng tỏ trong những cặp đối xứng được tạo trong phương thức 2 và 3, chúng ta có: # 4 cặp đối xứng được tạo ra bởi 2 cặp Điên đảo dịch Cấn Chấn & Đoài Tốn (Phương thức 2). # 4 cặp đối xứng được tạo ra bởi cặp Điên đảo dịch Cấn – Chấn kết hợp với 4 Quái bất dịch (Phương thức 3). # 4 cặp đối xứng được tạo ra bởi cặp Điên đảo dịch Đoài – Tốn kết hợp với 4 Quái bất dịch (Phương thưc 3). Trong cấu trúc phương vị Bát quái Hậu thiên, cặp Cấn Chấn có vị trí cạnh nhau, cùng đặc tính Mộc (Âm - Dương Mộc) khi kết hợp tính chất tương đương một Quái bất dịch. Vì vậy, cặp Đoài – Tốn không thể ở vị trí cách nhau như đồ hình Hậu thiên Bát quái mà cổ thư chữ Hán truyền lại – nhưng lại có thể tạo ra cấu trúc đã trình bày – thể hiện ở 32 cặp đối xứng. Do đó, sự tương quan hợp lý trong việc tạo ra 32 cặp đối xứng theo đúng thuận tự 64 quẻ Hậu thiên bát quái được bảo chứng bằng Tự quái truyện. Điều này chỉ có thể thực hiện được với cấu trúc tiền đề căn bản của nó là phương vị BÁT QUÁI HẬU THIÊN NGUYÊN THỦY; tức là Quái Tốn phải nằm ở vị trí Âm Kim trên Hà đồ (*) (đổi chỗ cho quái Khôn), để tạo thành một cặp tương ứng một quái bất dịch cùng tính chất Kim (Âm - Dương Kim). * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Tính Thấy được nhận biết bằng Nhận thức và Tính Thấy có phải chăng là Chân Như, Niết Bàn, Nivran, Thiên Đàng...? Các vấn đề: Ý thức - Vật chất; Hữu hạn - vô hạn; Vô cùng lớn - vô cùng bé; Hữu hình - vô hình; Không - có; Cái chung của vật chất: năng lượng hay ? Quy luật - bất quy luật; Sinh - diệt; Ngắn hạn - Vĩnh cửu; Tâm - biên;
-
Tính Thấy được nhận biết bằng Nhận thức và Tính Thấy có phải chăng là Chân Như, Niết Bàn, Nivran, Thiên Đàng...?
-
Vệ Đà phát xuất từ chữ Vid - là chữ Biết mang tính toàn bích. Vid tương đương chữ Việt, Vệ Đà tức Việt Đời mà bác Lãn Miên dịch có vẻ hợp lý.
-
Vì sao vua Trần Nhân Tông về Yên Tử tu hành? Vì sao Thượng hoàng Trần Nhân Tông không ở lại Vũ lâm hay lựa chọn một nơi nào khác trên đất nước Đại Việt mà lại chọn Yên Tử để tu hành? Đã từng có rất nhiều phỏng đoán... Sau hơn một năm truyền ngôi cho con là Trần Anh Tông, vào tháng 7 năm Giáp Ngọ (1294), Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia tại hành cung Vũ Lâm (Ninh Hải – Hoa Lư – Ninh Bình). Sự kiện này[1] đã được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư. Nhưng đến tháng 7 năm Kỷ Hợi (1299), Thượng hoàng lại rời hành cung Vũ Lâm về Yên Tử tu hành 10 năm rồi viên tịch ở đây (1308). Vì sao Thượng hoàng Trần Nhân Tông không ở lại Vũ Lâm hay lựa chọn một nơi nào khác trên đất nước Đại Việt mà lại chọn Yên Tử để tu hành? Về sự kiện này, Hải Lượng Thiền sư – người tự coi mình là “đệ tứ Tổ Trúc Lâm” ở thế kỷ XVIII, cho rằng: “Người ta thấy Điều ngự Đệ nhất Tổ đến chùa Hoa Yên thì bảo Ngài xuất gia. Ta biết rằng Đức Ngài lúc bấy giờ biết xem thiên hạ là công, trong nước vô sự, nhưng ở phía Bắc vẫn có nước láng giềng mạnh mẽ, sợ người ta dao động cho nên nhằm được ngọn núi Yên Tử là cao nhất, phía đông nhìn về Yên Quảng, phía bắc liếc sang hai tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, dựng lên ngôi chùa, thường thường dạo chơi để xem động tĩnh để ngừa cái mối lo nước ngoài xâm phạm”. Một số học giả thời nay đã hết sức tán đồng kiến giải trên của Hải Lượng Thiền sư. Những ai đã từng lên đỉnh núi Yên Tử (ở độ cao 1068 mét so với mặt biển), phóng tầm mắt bốn phương tám hướng, chúng ta không khỏi mỉm cười trước những võ đoán thiếu cơ sở thực tế của danh sĩ thời Lê. Thật ra, đỉnh núi Yên Tử nơi vua Phật tu hành không đủ cao để nhìn tới tận biên cương phương Bắc, không thể nhìn xa đến biển Đông. Hơn nữa, một ông vua biểu trưng cho quyền lực quốc gia, trong tay có hàng vạn binh mã, quốc gia lâm nguy, mỗi người dân lại có thể trở thành một chiến sĩ… sao lại tự trở thành một cái tôi hữu hạn, biến mình thành lính gác biên thùy như nhận định trên của Hải Lượng Thiền sư được? Việc coi vua Trần Nhân Tông trở thành lính gác biên thùy có thể là ý tưởng đẹp đẽ theo kiểu tư duy thời chiến tranh, có tác dụng giáo dục bao thế hệ biết hi sinh cả cuộc sống yên bình hưởng lạc, xông pha nơi bom đạn chiến trường, song vô tình lại làm giảm đi cái đẹp lớn lao của ông vua hóa Phật. Cách lý giải chủ quan của người đời sau như trên mà ngày nay chúng ta cứ mặc nhiên công nhận đã làm giảm sút, lệch lạc cái động cơ và mục đích tu hành rất cao cả, thiêng liêng của vua Phật Trần Nhân Tông. Điều này dễ hiểu, vì lúc xuất gia, vua Trần chỉ “bách niên Tâm ngữ Tâm”, không nói cho ai biết vì sao mình lại đi theo gót chân Bụt và vì sao lại chọn nơi tu hành là Yên Tử để đời sau mặc sức luận bàn. Thử lý giải vì sao vua Trần Nhân Tông chọn núi Yên Tử để tu hành Trong bài viết này, chúng tôi xin góp thêm ý kiến nhỏ thử lý giải vì sao vua Trần Nhân Tông chọn núi Yên Tử để tu hành: Thứ nhất, Yên Tử là “linh địa”, là nơi có vị trí đặc biệt của dòng họ nhà Trần, với vua Phật Trần Nhân Tông. Theo Đại Nam nhất thống chí, bộ quốc sử thời Nguyễn, Yên Tử là “Tổ sơn” của toàn bộ khu vực núi non vùng Hải Đông (tức toàn bộ phía Đông đồng bằng châu thổ Bắc Bộ thời Trần, trong đó có Hải Dương, Quảng Ninh ngày nay) và vùng Đông Triều thuộc khu vực sườn nam dãy núi Yên Tử là nơi phát tích của nhà Trần, không phải là vùng Tức Mặc-Long Hưng-Thiên Trường. Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng “nhà Trần là dân đánh cá, vốn là người Đãn, một cư dân sống dọc theo biển từ Phúc Kiến trở xuống, di cư đến Việt Nam và trở thành một thế lực vào lúc Lý mạt”. Đông Triều có thể là nơi định cư đầu tiên của nhà Trần sau cuộc di cư về Nam ấy. Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Trước kia tổ tiên vua (Trần Cảnh – Trần Thái Tông) là người đất Mân”. Trong phần lăng mộ của tỉnh Hải Dương, Đại Nam nhất thống chí viết: “Lăng Tư Phúc nhà Trần ở xã Yên Sinh, huyện Đông Triều. Lăng tẩm Trần Thái Tông, Thánh Tông và Giản Định đế đều ở đây. Các đời Hồng Thuận và Hoằng Định triều Lê đều có tu bổ, lâu ngày đổ nát, nền cũ vẫn còn; năm Minh Mệnh thứ 21 sửa đắp lại và dựng bia. Xét sử chép (kỷ Trần Anh Tông) bia thần đạo ở Yên Sinh nói rằng tiên tổ nhà Trần vốn là người Yên Sinh, huyện Đông Triều, sau dời đến ở hương Tức Mặc phủ Thiên Trường cho nên các vua Trần đều táng ở Yên Sinh, mà khi nhường ngôi xuất gia cũng lấy Yên Sinh làm nơi tu ẩn" [2]. Đông Triều cũng là nơi phong thái ấp cho Trần Liễu, tước hiệu Yên Sinh vương, con cả của Trần Thừa, anh của vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh). An Nam chí lược của phản thần Lê Tắc là một trong số những bộ sử được coi là sớm nhất ở nước ta còn lại đến ngày nay ghi chép khá rõ về Yên Tử: “Núi Yên Tử gọi là Yên Sơn hoặc Tượng Sơn, bề cao lên quá tầng mây. Đầu niên hiệu Hoàng Hựu, nhà Tống (1049-1053), triều đình lại ban tên Tử Y Đông Uyên. Đại sư là Lý Tự Thông có dâng lên vua hải nhạc danh sơn đồ và vịnh thơ tán: Phúc Địa thứ tư tại Giao Châu là Yên Tử sơn. Tân kỳ chóp núi nêu vài nụ, Yểu điệu hình khe trổ một ngành. Tiên cỡi loan qua ngồi cảnh Tịnh, Người xem rồng xuống giỡn đầm xanh”. Như vậy, Yên Tử là phúc địa thứ tư trong bốn vùng đất được coi là “phúc địa của Giao Châu”. “Đã có một loại quy hoạch tâm linh” nào đó ít nhất tồn tại dưới thời Lý, thời Trần về bốn ngọn núi ở Bắc Bộ. Không phải vô cớ khi chính Trần Nhân Tông lại chọn Yên Tử làm nơi tu tập của mình, bởi vì Ngài không thể không biết đó là phúc địa (đất phúc). [3] Yên Tử là nơi ông nội của vua Trần Nhân Tông – Trần Thái Tông thời trai trẻ (năm Thiên Ứng Chính Bình, 1236) đã tìm về đây để “cầu làm Phật”. Nhờ có lời khuyên của Trúc Lâm Đạo Viên trên núi Yên Tử cùng với thái độ kiên quyết can ngăn của thúc phụ - Thái sư Trần Thủ độ và quần thần thân tín, Trần Thái Tông mới chịu quay trở lại triều đình làm vua và trở thành một bậc minh quân mang tâm Phật. Yên Tử cũng là nơi thường thăm viếng của Thượng hoàng Trần Thánh Tông – phụ thân vua Phật Nhân Tông. Những áng thơ hay của Trần Thánh Tông cũng được viết ra từ non thiêng Yên Tử. Bản thân vua Trần Nhân Tông năm 16 tuổi (1274) được vua cha lập làm Hoàng thái tử nhưng ông từ chối, muốn nhường lại cho em mình là Đức Việp mà không được. Sau đó có lần Hoàng thái tử đã bỏ nhà lên núi Yên Tử định đi tu. Sự kiện này đã được ghi trong Thánh đăng ngữ lục. Cho nên, “vùng Đông Triều – Yên Tử có một vị trí đặc biệt với dòng họ nhà Trần. Có thể gọi vùng này là linh địa của thời Trần, nên các vị vua triều Trần có chuyện thì về đấy mà khi chết thì cũng về đấy. Người ta thường muốn chết ở nơi quê hương mình”[4]. Mười năm cuối đời dành cho việc xuất gia tu hành, vua Trần Nhân Tông trở về nơi phát tích Yên Tử cũng không ngoài lệ chung gia tộc ấy. Thứ hai, vua Trần Nhân Tông về Yên Tử bởi nơi này trước đó đã được coi là nơi tu hành đạt đạo của tiền nhân. Trước khi vua Trần về tu hành ở đây, Yên Tử đã từng lưu danh Yên Kỳ Sinh tu tiên đắc đạo. Tuy không có bằng chứng sử liệu nhưng với một pho tượng bằng đá (không biết do thiên tạo hay nhân tạo) tương truyền là tượng Yên Kỳ Sinh gần đỉnh núi Yên Tử cũng cho thấy đây là một địa chỉ đạo giáo lâu đời và cũng là nơi con người tu luyện đạt đạo Tiên. Cuối đời Lý, Yên Tử có tổ sư Hiện Quang, đầu thời Trần có quốc sư Đạo Viên, quốc sư Đại Đăng, Thiền sư Tiêu Dao, Thiền sư Huệ Tuệ là thầy độ của đức Điều ngự Giác hoàng, cũng đã tu hành và đắc pháp, khơi nguồn mạch cho dòng thiền Yên Tử. Đại Nam nhất thống chí viết: “Núi Yên Tử ở cách huyện Đông Triều 35 dặm về phía đông bắc, có tên nữa là Tượng sơn… Năm Tự Đức thứ 3 liệt vào hàng danh sơn, chép trong điển thờ. Xét: núi này các vua triều Trần cho là đất danh thắng nên dùng làm chỗ tham thiền…”. Cho nên, việc Điều ngự Giác hoàng không tìm về nơi khác mà lại chọn Yên Tử làm nơi tu hành không phải là vô căn. Thứ ba, Yên Tử có đủ những điều kiện để giúp cho những bậc tu hành đắc đạo, không kém gì xứ sở Phật-đà-già-la (NairanJana) của đức Phật Thích-ca. Đức Phật Tổ Thích-ca-mâu-ni đắc đạo thành Phật là nhờ vào phép tu thiền định dưới gốc cây Bồ-đề. Vua Trần cũng tu thiền, lấy pháp tu thiền để đạt đạo. Người tu theo pháp môn thiền định rất cần tới một nơi yên tĩnh, thanh tịnh để ngồi thiền. Núi rừng Yên Tử cách biệt với phàm trần là một nơi lý tưởng để tu thiền. Không bàn tới yếu tố tĩnh mịch, linh thiêng hay yếu tố phong thủy của núi này mà xét tới tính khoa học của vấn đề, các nhà nghiên cứu cho rằng: những quả núi lâu đời như Yên Tử, Hy Mã Lạp Sơn (Tây Tạng) Phú Sỹ (Nhật Bản)… đều có lực từ trường khá lớn. Những luồng điện này sẽ làm tăng thêm lực cho dòng lưu nhân điện trong thân thể những người ngồi thiền nơi núi đó. Đức Phật Thích-ca-mâu-ni đã từng nhập định và thành đạo dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn, cạnh núi Tượng Đầu. Sau khi đắc đạo, Ngài vẫn thường cùng với các đệ tử ngồi thiền định trên non Linh Thứu. Người ngồi thiền mặt quay về hướng nam, lưng xây về hướng bắc là tốt nhất. khi ngồi, tư thế lưng phải thật thẳng đứng để cho cho luồng hỏa hầu của cơ thể lưu chuyển dễ dàng trong cột sống. Muốn vậy, người ta phải kê gối ngồi thiền (bồ đoàn) hay tận dụng mặt bằng có độ dốc hơn nghiêng về phía trước. Vị trí ngồi thiền phải ở nơi thanh tịnh, thoáng khí trong lành, môi trường ô nhiễm sẽ làm cho khí prana trong cơ thể (được tạo ra trong khi tọa thiền) sẽ không được tinh khiết, bất lợi cho việc tạo luồng hỏa hầu trong cơ thể. Vạt núi sườn nam của Yên Tử hợp cách rất tự nhiên giúp cho người tu thiền có được các điều kiện ngoại cảnh đó. Núi rừng Yên Tử đã từng được coi là núi Linh Thứu bên Tây Trúc qua áng thơ của đệ tam tổ Huyền Quang: Tây Trúc đường vào Nam Châu có mấy. Non Linh Thứu ai đem về đây, Cảnh Phi Lai mặt đà thấy đáy. Vào chung cõi thánh thênh thênh, Thoát rẽ lòng phàm phây phấy[5]. 15 năm ở ngôi Thái thượng hoàng, cũng là thời gian vua Nhân Tông tu hành và hiển Phật. “Thế Tôn bỏ ngai vàng quý báu, nửa đêm vượt thành, bỏ áo rồng cao sang, non xanh cắt tóc, mặc chim thước làm tổ trên đỉnh đầu, mặc con nhện giăng tơ trên vai cánh, tu phép tịch diệt để tỏ đại chân như, dứt cõi trần duyên mà thành bậc Chánh giác. Đức Tổ ta là Điều ngự Nhân Tông hoàng đế ra khỏi cõi trần, thoát vòng tục lụy, bỏ chốn cung vua ra giữ sơn môn”[6]. Làm vua chỉ chăn dân trăm họ. Làm Phật cứu độ cả muôn loài. Như thế, Phật hoàng Trần Nhân Tông về Yên Tử đâu chỉ “dựng lên ngôi chùa thường thường dạo chơi để xem động tĩnh cốt để ngừa cái mối lo nước ngoài xâm phạm như lời nhận định của Hải Lượng thiền sư? Người tu thiền thành chính quả có thể đạt được những quyền năng siêu việt mà người thường không dễ gì có được. Nhờ phép tu thiền định, Đức Phật Thích-ca-mâu-ni có phép tha tâm thông (thấy được lòng người khác) nên từ xa đã đọc được tư tưởng của đại đệ tử Tu-bu-đề. Tôn giả A-na-luật tuy bị mù lòa vẫn có khả năng thiên nhãn thông (nhìn xa ngàn dặm). Tôn giả Xá-lợi-phất mắt có thể nhìn thấy 60 tiểu kiếp người về trước… Phật hoàng Trần Nhân Tông tu thiền và Ngài cũng có thể đạt được những quyền năng siêu việt đó. Các nhà sư tu thiền khẳng định rằng: tuy ngồi thiền trong am cỏ Ngọa Vân trên đỉnh núi Yên Tử, đức Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông đã dùng hào quang định lực của mình mà quán chiếu trong, ngoài, trên, dưới. Mọi sự với Ngài đều thông tỏ. Trên đỉnh Yên Sơn cách biệt với kinh kỳ, vua Phật Nhân Tông vẫn rõ được triều chính, nhiều lần về triều khuyên bảo vua Anh Tông tu dưỡng tâm tính, kìm bớt lòng dục, xa rời tửu sắc, gìn giữ chân tâm… xứng đáng trở thành bậc quân vương tôn kính. Ngài còn biết rõ được biên cương phương Bắc, phương Tây và phương Nam, có được những quyết sách lớn lao và đúng đắn nhằm gìn giữ tình bang giao giữa các nước láng giềng và Đại Việt, giữ vững nền an ninh chính trị nước nhà. Trên non Yên Tử, Ngài hoàn thiện hệ thống tư tưởng thiền phái Trúc Lâm, trở thành nền tảng tư tưởng và đạo đức của một thời đại hoàng kim triều Trần, giai đoạn Phật giáo được coi là quốc đạo. Vua Trần đi tu không phải là để trốn đời, yếm thế, mà đi tu để nhập thế cứu đời. Có điều, nhà vua cứu đời không phải theo kiểu của một ông vua, mà là theo kiểu của thánh nhân. Làm vua chỉ chăn dân trăm họ. Làm Phật cứu độ cả muôn loài. Bởi vậy, tấm gương vua Phật tuy ẩn mà lại hiện, tuy mờ mà lại sáng. Ngài bứt khỏi cái bình thường để vượt lên thành cái phi thường. Bởi thế, hàng ngàn năm qua, bao triều đại thịnh suy trị vì đất nước này, bao người đã làm vua, song có ai được nhân gian ngưỡng vọng, tôn thờ như vua Phật Trần Nhân Tông? Cuộc đời và sự nghiệp của vua Trần Nhân Tông là một biểu hiện cao đẹp, tiêu biểu nhất tinh thần nhập thế “đạo pháp gắn liền với dân tộc”. Từ chức vị cao sang của nhà vua, vua Trần trở về ngôi tôn quý nhà Phật. Nhà vua đã từ cái nhất thời hữu hạn mà trở về cái vô hạn, vĩnh hằng. Hằng năm, mỗi độ xuân về, hàng triệu lượt cháu con của Rồng Tiên đất Việt và bạn bè bốn phương lại về Yên Sơn lễ Phật và vãng cảnh. Họ bồi hồi tưởng niệm Đức Vua Trần, một ông vua đã khước từ tước vị cao sang, giã biệt chốn phồn hoa đô hội lên non xanh Yên Tử tu hành để trở thành một Đức Phật Đại Hùng, Đại Lực, Đại Trí và Đại Bi, xứng danh là Đức Phật Thích-ca-mâu-ni của Việt Nam. Nguyễn Trần Trương (Nguồn: VNN) Ghi chú: [1] Theo Khâm định Việt sử khâm giám cương mục thì sự kiện này xảy ra vào tháng 6 năm Ất Mùi (1259). [2] Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tr.419-420 [3] Trích báo cáo tổng hợp Đề tài khoa học Nghiên cứu đạo Phật Việt Nam đời nhà Trần tại Quảng Ninh… do TS. Nguyễn Quốc Tuấn và CN. Nguyễn Trần Trương đồng chủ nhiệm đề tài. [4] Trích báo cáo đã dẫn [5] Theo Trần Nhân Tông – con người và tác phẩm, bản sách điện tử, website Thích Quảng Đức [6] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí – Văn tịch chí. Đoạn văn trên của vua Trần Minh Tông viết về ông nội của mình." Rồi ra mới biết thánh minh, Mừng đời được lúc hiển vinh reo hò." * Phúc Lộc Thọ mãn đường "
-
Hình như có nhầm lẫn thì phải, cường quốc đâu có dễ vậy, bằng giá trị đất và dùng tiền công nghiệp hóa ntn?. Nước Mỹ trung bình có 2 xe hơi/ 1 người; tổng cộng 400 triệu xe hơi, bán tại Việt Nam trung bình giá rẻ 25.000USD/ 1 cái thì đã có 1000 tỷ USD rồi.
-
Trong tổng tập Trần Nhân Tông thì không thể thấy các dữ liệu nào liên quan đến Tây Du Ký cả. Ngài chỉ có nói 1 câu: Giáo hóa bằng câu chuyện của Tiên Thánh. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
“... Tôi đã trả lời câu hỏi này một cách gián tiếp khi tôi nói rằng niềm tin vào một Đấng Sáng Tạo có thể đi kèm với sự hiểu biết về Tánh Không. Tôi tin có thể bước đi trên đường tâm linh và hòa hài Ki Tô Giáo với Phật Giáo. Nhưng khi tới một mức độ chứng ngộ nào đó, sẽ phải cần lựa chọn giữa 2 con đường này. Tôi mới đây đã có loạt thuyết giảng tại Mỹ và một trong những thuyết giảng này là về sự kham nhẫn và bao dung. Vào cuối buổi thuyết giảng, có một nghi lễ để lập Nguyện Bồ Tát. Một linh mục Ki Tô Giáo trong hội trường muốn lập nguyện này. Tôi mới hỏi vị đó rằng, vị đó có quyền tự quyết định như thế không, và rồi vị này trả lời rằng có quyền đó, dĩ nhiên, vị này có thể lập nguyện, và vẫn là một Cơ Đốc Nhân.” Quá chính xác, và Ngài chỉ phát biểu đơn giản như vậy, còn phải tu tập theo những phương pháp khoa học của đạo Phật nữa, không kiên nhẫn thì không thể, điều kiện bắt buộc.
-
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia được xây dựng tại Tây hồ Tây Phối cảnh Bảo tàng lịch sử quốc gia Đảm bảo kiến trúc công trình là do một kỹ sư nhiệt lạnh nổi tiếng thiết kế, mô phỏng giàn lạnh trung tâm của các nhà máy công nghiệp. Chẳng hiểu mắt mũi thế nào!. Thời đại thông tin rồi, lịch sử kiến trúc mỹ thuật thế giới đầy rẫy. Làm lãnh đạo mà không có một chút kiến thức thì vứt., "Trí thiển ngôi cao chỉ tổ phá hoại", làm được ăn được cũng không ai nói. Só rì.
-
Hà Nội: Công trình nghìn tỷ lại dột, ngập 05/07/2011 Quốc Hưng (GiadinhNet) - Chỉ với vài cơn mưa người ta lại thấy công trình nghìn tỷ này tiếp tục bị xuống cấp trầm trọng. Báo GĐ&XH từng thông tin về việc Bảo tàng Hà Nội bị xuống cấp, sự việc cũng đã được thành phố thừa nhận. Những tưởng công trình này sẽ được sửa chữa hay gia cố thì mới đây, chỉ với vài cơn mưa người ta lại thấy công trình nghìn tỷ này tiếp tục bị xuống cấp trầm trọng. Dột từ trên xuống dưới Nước lênh láng khắp sàn của tầng 1 và tầng âm 2 của Bảo tàng Hà Nội. Ảnh: Q.H Ngày 6/10/2010, UBND TP Hà Nội đã tổ chức lễ khánh thành Bảo tàng Hà Nội sau hơn 2 năm xây dựng (khởi công tháng 5/2008), tổng vốn đầu tư lên tới 2.300 tỷ đồng. Bảo tàng Hà Nội gồm 4 tầng nổi và 2 tầng hầm. Công trình được thiết kế 3 thang máy, 4 thang bộ (đi vòng tròn phía trong bảo tàng). 2 tầng hầm được bố trí phòng họp và các phòng kỹ thuật. Tại sảnh chính của Bảo tàng Hà Nội, khu lưu không dành cho khách tham quan, mỗi khi trời có mưa, nước từ mái tầng 5 đổ thẳng xuống sàn tầng 1. Một lao công cho hay: “Nước chảy nhiều đến mức chúng tôi phải dùng giẻ để thấm nhưng vẫn không xuể, thậm chí phải lấy xô hứng nước, dùng hót rác tát nước”. Tầng 4 của bảo tàng có hàng chục vị trí dột. Những ngày có mưa lớn, nước chảy từ mái rồi men theo tường đổ thẳng xuống sàn nhà, bên cạnh đó là vô vàn những tia nước khác dội trực tiếp từ mái xuống như thể trần nhà bị thủng. Theo các lao công đang làm việc tại đây, tầng 4 bị dột từ khu vệ sinh đến khu trưng bày, ngay cả khu vực kê ghế cho khách tham quan ngồi nghỉ cũng bị dột. Trần của khu trưng bày “Hà Nội Xưa và Nay” đang bị ôxy hoá, han gỉ do nước mưa ăn mòn. Còn dưới chân tường nhiều khu vực đã bị mốc xanh nham nhở do nước mưa ngấm vào lâu ngày. Sàn nhà, phần đá ốp đã bị phủ trắng do cặn của nước mưa bám vào. Mỗi khi trời mưa to, các lao công chỉ có cách duy nhất là chuẩn bị xô, chậu để hứng và tát nước tràn vào… Không chỉ các tầng nổi của Bảo tàng Hà Nội đang bị dột, tầng âm cũng luôn trong tình trạng nước ngập lênh láng. Ngày 30/6, thời tiết Hà Nội rất khô ráo. Có mặt tại tầng âm số 1 của Bảo tàng Hà Nội, khu vực chứa thiết bị điện và máy lạnh của cả toà nhà, chúng tôi chứng kiến cả một diện tích lớn vẫn đang trong tình trạng lênh láng nước. Nước từ bên ngoài ngấm qua tường, rồi tràn vào bên trong tầng âm 1. Trên tường vẫn còn đó những vết đục khoét nham nhở, ximăng vá tạm nhưng vẫn không xoá hết được vệt nước để lại. Lãnh đạo quả quyết “không dột” Mặc dù việc dột, ngấm diễn ra khá trầm trọng nhưng ông Nguyễn Văn Hùng, Giám đốc Bảo tàng Hà Nội lại khăng khăng quả quyết: “Làm gì có chuyện Bảo tàng Hà Nội bị dột, chẳng qua là do chúng tôi quên đóng cửa khu thông gió nằm trên sân thượng. Giờ thì mỗi khi trời có mưa, chúng tôi đã cảnh giác cao với khu thông gió này rồi”. Mới nói đến thế, không kịp để chúng tôi hỏi thêm, ông Hùng đã “chuyển” chúng tôi cho ông Đặng Minh Vệ, Trưởng phòng Kỹ thuật Bảo tàng Hà Nội. Khi đưa chúng tôi đi “thị sát”, ông Vệ liên tục giải thích: “Bảo tàng Hà Nội đang trong giai đoạn bảo hành nên mọi sự cố xảy ra, các nhà thầu đều phải chịu trách nhiệm. Còn đội ngũ cán bộ đang làm việc trong bảo tàng chỉ là đơn vị tiếp nhận”. Tại tầng âm thứ 2, khu vực chứa thiết bị điện của bảo tàng sàn nhà bị ngập nước còn kinh khủng hơn cả bên tầng âm số 1. Chúng tôi phải liên tục kiễng chân qua nhiều khu sàn bị ngập nước để đi hết tầng âm này. Nước ngập đến mức tràn qua cả gầm của những thiết bị điện. Có điều lạ là nước ngập như vậy nhưng ông Vệ vẫn quả quyết: “Có ngập nước đâu anh. Nếu ngập thì có mà các thiết bị máy móc ở đây ngừng hoạt động hết…”. Như vậy, dù mới đưa vào sử dụng chưa lâu nhưng Bảo tàng Hà Nội đã liên tục gặp sự cố. Cách đây khoảng 2 tháng, tại Bảo tàng đã có hiện tượng gạch lát nền bị vỡ, nước đọng trên trần nhà. Khi tới thực địa chúng tôi đã dễ dàng nhận thấy ngay lối lên cầu thang ngay tầng 1, gạch lát bị vỡ vụn, lộ cả lớp cát lót, còn trên trần nhà có vết nước đọng. Thậm chí nơi ngồi của lễ tân bảo tàng, nước từ trần nhà bị ứ đọng rơi xuống bàn. Khu vực bán hàng giải khát (tầng 1) cũng có hiện tượng tương tự. Tất cả các hiện tượng này đã được chúng tôi phản ánh trên báo. Ngày 10/5, bà Nguyễn Kim Loan – Phó Giám đốc Bảo tàng Hà Nội, một mặt thừa nhận những hiện tượng hỏng hóc trên, mặt khác giải thích rằng, do cửa chớp các tầng trên chưa đóng gây nên nước mưa đã chảy từ mái nhà xuống, bộ phận kỹ thuật của bảo tàng đã đi kiểm tra, phát hiện và xử lý sự cố này. Sau đó, tại cuộc họp giao ban báo chí Thành uỷ, một vị đại diện Ban quản lý Bảo tàng Hà Nội cho biết lỗi thấm, dột là do van vệ sinh nước bị rò rỉ và đã được xử lý. Nếu căn cứ vào những điều các vị này nói thì hẳn việc thấm, dột cho đến nay đã không thể xảy ra (vậy nhưng trên thực tế nó vẫn xảy ra). Chúng tôi định đem những băn khoăn quay lại hỏi ông Hùng thì thật không may, ông đã đóng cửa về từ bao giờ! Đã “giải quyết” sao vẫn dột? Vào ngày 11/5/2011Báo GĐ&XH đã có bài phản ánh về việc Bảo tàng Hà Nội xuống cấp. Ngày 7/6, tại buổi họp giao ban báo chí Thành ủy Hà Nội, đại diện Ban quản lý Dự án Bảo tàng Hà Nội đã thừa nhận những thông tin về việc bong rộp, thấm nước trong phòng kỹ thuật và mẫu vật hư hại tại Bảo tàng Hà Nội là chính xác.Với sự cố thấm nước ở phòng kỹ thuật, vị đại diện Ban QLDA Bảo tàng Hà Nội cho biết đó là do một van nước trong phòng vệ sinh tầng 2 bị rò rỉ dẫn tới việc nước bị thấm xuống sàn phòng kỹ thuật và làm hộp điện bị ẩm. Nhà đầu tư Vinaconex cùng Bảo tàng Hà Nội đã phối hợp giải quyết và hiện tượng nước chảy tràn ra các phòng kỹ thuật đã không còn. Quốc Hưng ------------------------------------------------- 1 công trình cao ốc 25 tầng; diện tích khuôn viên 3000m2, trung tâm quận 7 HCM, diện tích xây dựng 1700m2. Tổng chi phí cả đất <1800ty3, cùng thời gian xây dựng. Cái bảo tàng 3 tầng lộn ngược, nhìn vật liệu xây dựng là thấy bèo nhèo mà 2300 tỷ, dự kiến phát sinh 750 tỷ, không tính tiền đất. Thật kinh hoàng. >5 triệu người Việt cả hai miền chết trong chiến tranh.
-
Người Việt ta giỏi thật, ý tưởng của mọi người hình như đã nằm đâu đó sẵn rồi. Như vậy, với sự phân tích của nhà nghiên cứu Lê Anh Minh thì có thể nhận thấy rằng: Tác giả của Tây Du Ký quá siêu việt, phải am tường Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo, sức tưởng tượng phong phú, sự nghiên cứu rộng và sâu ví dụ sử dụng hình ảnh và tên gọi Tôn Ngộ Không cho một chú khỉ (khỉ thần Hanuman?), am tường văn chương thơ phú, có tâm hồn phóng khoáng, và dĩ nhiên trước tác... không thể ít. Ngô Thừa Ân có thể nào là tác giả chăng???, nếu có tài liệu cá nhân, chỉ cần so sánh là dễ dàng biết ngay. Hoa quả Sơn chính là núi Hải Vân nằm giữa Huế và Đà Nẵng, nơi mà "mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều". Đây chính là một thắng cảnh thần tiên tại trần gian. Núi Ngũ hành chính là tại Đã Nẵng như Yeuphunu đã nói. Vua Trần Nhân Tông có ở lại Trà Kiệu trong khoảng 6 tháng nghiên cứu đạo Bà La Môn và trao đổi Phật pháp ở đây. Tượng Phật Đồng Dương của ngôi chùa hoành tráng nhất của Chiêm Thành cũng được phát hiện tại nơi này. Nơi đây không gọi là Đông Thắng Thần Châu như Bác Minh Xuân mà gọi là Nam Thiệm Bộ Châu. Tôi nghĩ rằng câu chuyện này còn mang ý nghĩa sâu đậm khác mà không được trình bày: đó là kỷ niệm sự tấm lòng cao cả của công chúa Trần Huyền Trân. Nếu có nơi xuất phát thì phải có đích tới của Đường Tăng... chứ?. "CHÂU LẠI VỀ HIỆP PHỐ" * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Phạm Công Thiện (1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danhThích Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 [3] và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Ông đã để lại một lời chí tâm như sau: "Không cần phải đọc Platon, Aristote, Kant, Hegel hay Karl Marx, không cần phải đọc Khổng Tử và Lão Tử, không cần phải đọc Upanishads và Bhagavad Gita, chúng ta chỉ cần đọc lại ngôn ngữ Việt Nam và nói lại tiếng Việt Nam và bỗng nhiên nhìn thấy rằng tất cả đạo lý triết lý cao siêu nhất của nhân loại đã nằm sẵn trong vài ba tiếng Việt đơn sơ như CON và CÁI, như CHAY, CHÁY, CHÀY, CHẢY, CHẠY và còn biết bao nhiêu điều đáng suy nghĩ khác mà chúng ta đã bỏ quên một cách ngu xuẩn.” Chữ Việt theo nhiều giai đoạn, ví dụ sau này thành quả chữ Hán với mỗi hình tượng con chữ điều mang ý nghĩa tuyệt diệu, tuy nhiên trong mối tương quan với triết học thì cần phải được diễn giải trên cơ sở nào. Bởi sự thống nhất của vũ trụ cho nên bất kỳ một sự vật, hiện tượng xảy ra, nếu muốn, đều có thể lý giải được thông qua những mối tương quan phù hợp. Tôi nghĩ rằng, sau khi nhận biết và xây dựng xong thuyết Âm Dương Ngũ hành, cha ông đã điều chỉnh lại chữ viết để mang ý nghĩa của học thuyết này là chữ Hán Nôm.
-
Đường tăng! Anh là ai? Năm mà một Tây du ký là câu chuyện trường thiên về hành trình qua phương Tây thỉnh kinh của năm thầy trò: Tam tạng, Tề thiên, Bát giới, Sa tăng, và con ngựa trắng. Thông thường, người ta sơ ý, chỉ kể có bốn, quên đi con ngựa, nguyên là con rồng ngọc (ngọc long), thái tử thứ ba, con của Tây hải Long vương Ngao Nhuận. Quên kể đến ngựa rồng, phải chăng vì vai trò đỡ chân cho Đường tăng của ngọc long tam thái tử hình như có vẻ lu mờ? Hay quên kể, vì không thấy ở Tây du ký tản mác ẩn ngữ nơi này, rải rác ẩn dụ nơi kia, mà ngòi bút của Ngô Thừa Ân đã ung dung viết như giỡn chơi, như bông đùa, mà ý hàm tàng thì rất thực. Và nên hiểu chỗ thực trong cái hư của Tây du ký, nét nghiêm trang trong vẻ bỡn cợt của Ngô Thừa Ân như thế nào? Tây du ký là truyện xuất thế gian, do đó không có dấu ấn của Nho giáo, vì Nho giáo về cơ bản là đạo nhập thế, thuộc phạm vi hình nhi hạ học mà ngày nay Cao Đài gọi là ngoại giáo công truyền (exoterism). Đọc Tây du mà bảo Ngô Thừa Ân có cái gọi là tư tưởng chống Trời, chống thiên tử, tức là đã quên đi ngay từ ban đầu câu chuyện xuất gia, thỉnh kinh vốn đã hàm ngụ ý ngoại thế gian pháp.[1] Tây du nào có chống ai đâu, vì Tây du là câu chuyện ngụ ngôn, đem chuyện thỉnh kinh để diễn bày tư tưởng thiền học giải thoát trong đạo Lão, đạo Phật, thuộc phạm vi hình nhi thượng học mà ngày nay Cao Đài gọi là nội giáo tâm truyền (esoterism). Muốn đọc Tây du, hiểu Ngô Thừa Ân, cần thiết biết đọc giữa hai hàng chữ, nắm lấy bốn chữ ý tại ngôn ngoại (ý ở ngoài lời). Như chép ở kinh Viên giác, Phật bảo lấy ngón tay chỉ trăng, nếu đã thấy mặt trăng thì có thể biết rằng phương tiện để chỉ trăng rốt cuộc chẳng phải là mặt trăng. Trang tử khuyên: «Có nơm vì cá, đặng cá hãy quên nơm. Có dò vì thỏ, đặng thỏ hãy quên dò. Có lời vì ý, đặng ý hãy quên lời.» Thế thì, vượt lên trên mọi hư cấu văn chương của Tây du ký với tài hí lộng chữ nghĩa của Ngô Thừa Ân, cuộc thỉnh kinh của Đường tăng thực chất là chi? Đường tăng là ai đó? Nước Thiên Trúc với chùa Lôi âm ở đâu? Sẽ là sửng sốt nếu nói rằng Đường tăng vẫn còn đang thỉnh kinh dù đã thỉnh kinh xong rồi từ vạn cổ. Tề thiên đã hàng phục xong thiên ma vạn quỷ, đã cởi được kim cô niệt đầu, đã được Phật tổ tán thán là Đấu chiến thắng phật ở giữa bửu điện trang nghiêm của chùa Lôi âm, nhưng Tề thiên vẫn còn đang và vẫn sẽ còn tiếp tục vất vả đánh nhau với yêu tinh ma quái. Mãi mãi cuộc chiến đấu vẫn chưa xong. Tề thiên nào đã thành phật? Tề thiên nào chưa thành phật? Yêu ma nào đã quy hàng? Yêu ma nào còn chưa ngừng dấy động phong ba? Nước Thiên Trúc với chùa Lôi âm không ở về phương Tây, và cũng không phải là một địa danh trên bản đồ kim cổ. Vậy, cuộc thỉnh kinh đi về phương trời nào viễn xứ? Nên ta thử hỏi lớn tiếng rằng: Đường tăng! Anh là ai? Câu hỏi ấy phải chăng xấc xược? Sao lại dám xưng hô với Đường tăng là... Anh? Ta cứ hỏi nữa: Đường tăng! Anh là ai? Cũng là ta hỏi chính ta đó thôi. Mỗi một người trong chúng ta đều là Đường tăng. Mỗi thời đại của quá khứ, hiện tại và vị lai đều có Đường tăng, đều vẫn đã, đang và sẽ còn tiếp tục thỉnh kinh. Cuộc thỉnh kinh chính là hành trình đầy trắc trở của mỗi người trong chúng ta truy tầm Chân lý - tìm cái mà Lão tử gượng cho là Đạo, gọi tên là Xích tử chi tâm, Phật mệnh danh là Bổn lai diện mục, và Cao Đài ngày nay bảo là Nhân bản hay Thượng đế tính - vốn dĩ đã sẵn tàng ẩn trong mỗi con người. Đi về đâu để có được Chân lý đó? Thiên Trúc ư? Hà xứ tại? Thưa rằng nước Thiên Trúc ấy nào có đâu xa và con đường thỉnh kinh cũng chẳng phải là hành trình từ phương Đông qua phương Tây diệu vợi. Vương Dương Minh bảo: Vũ trụ là tâm ta, tâm ta là vũ trụ. Ngô Thừa Ân ám chỉ: Thiên Trúc là thân ta, thân ta là Thiên Trúc. Kinh báu chùa Lôi âm là hình ảnh tượng trưng cho Chân lý, nó nằm trong tự thân nội thể con người. Cuộc thỉnh kinh vì vậy là con đường quy hướng về nội tâm của mỗi người, là hành trình phản tỉnh nội cầu, quay lại nhìn vào chính nội thân của mình, tìm thấy trong chính ta cái chân lý: Người là một thiêng liêng tại thế, cùng với Trời đồng thể linh quang (ánh sáng thiêng liêng). Do đó phải nói rằng bộ phim Tây du ký hai mươi lăm tập của nữ đạo diễn Trung Quốc Dương Khiết đã rất tài tình khi nhạc mở đầu cho phim là bài hát «Con đường nào ta đi...» Con đường thỉnh kinh là đường trở về nội tâm. Trên con đường cô đơn đó, ta là Đường tăng, và ta cũng là Tề thiên, Sa tăng, Bát giới, long mã. Như vậy cuộc thỉnh kinh phải bắt buộc đủ bộ năm thầy trò. Thiếu một là không được! Nhưng năm mà một: là một con người với năm phương diện. Long mã Con ngựa mà vua Đường cấp cho Đường tăng bắt buộc phải chết đi, để đem thay bằng ngựa thần, ngựa rồng. Ngựa là xác thân. Ngựa thần là xác thân cương kiện. Một tinh thần minh mẫn trong một xác thân tráng kiện. Con người đi tìm Chân lý, tìm Đạo, cần có xác thân vững vàng, khoẻ mạnh. Không có ngựa tốt thì Đường tăng không tới được Lôi âm. Người mà thể xác bịnh hoạn, tinh thần ươn hèn thì làm sao có thể quyết tâm chiến đấu để đạt tới Chân lý, đạt Đạo? Sa tăng Sa tăng là tánh cần cù, nhẫn nại. Ngô Thừa Ân bắt Sa tăng phải nhọc nhằn gánh hành lý là lẽ ấy. Tề thiên mấy bận giận Thầy, mấy phen đào nhiệm, từng quay về Thủy liêm động quê xưa; Bát giới nào có thua, đã trăm lần ngàn lượt cứ lẻo nhẻo đòi chia của, rồi mạnh ai đường nấy, chàng về cố thổ lấy vợ cho xong. Chỉ riêng có Sa tăng suốt cuộc hành trình thiên ma bách chiết, vào yêu ra quỷ, một lòng một dạ quảy hành trang tiến tới. Không một lời thối lui. Không một lòng biến đổi. Sa tăng là hình ảnh của tinh tấn, trì thủ, tâm bất thối chuyển. Dù khó khăn đến đâu, đã quyết rồi, thì cứ đi tới. Khí giới của Sa tăng vì thế là bảo trượng có đầu dẹp và bén nhọn, để mà dễ dàng găm chặt vào, ghim chặt vào. Chí đã định rồi thì không biến đổi, lòng đã quyết rồi thì chẳng chuyển lay. Pháp danh của Sa tăng vì thế là Ngộ tịnh: tịnh để mà khắc chế cái động, cái chưa thanh tịnh; tịnh để mà kham nhẫn, chịu đựng. Sa tăng Bát giới Bát giới Bát giới là tánh tham. Tham ăn, tham ngủ, tham của, tham sắc và tham nịnh nọt cho được lợi về mình. Khí giới của họ Trư vì thế phải bắt buộc là đinh ba, là cào cỏ, để mà vơ vào cho nhiều, cho vừa lòng tham dục. Bát giới là sự tập hợp những bản năng rất vật dục và tầm thường nơi con người. Có lẽ vì thế mà pháp danh của chàng là Ngộ năng.[2] Tề thiên Tề thiên là trí, lý trí. Bộ phim Tây du của nữ đạo diễn Trung Quốc Dương Khiết cho thấy đạo diễn dường như đã hiểu được vai trò quan trọng của Tề thiên. Lý trí phải dẫn dắt, phải soi đường cho hành động. Thế nên, trong phim, luôn luôn vai Tề thiên đều đi trước, để dẫn đầu mấy thầy trò. Lý trí ưa nổi loạn, ngang tàng phách lối, chẳng chịu thua kém nhường nhịn ai. Cho nên Tề thiên coi mình to ngang với Trời (Tề thiên: bằng Trời), và muốn lên trời xuống biển, quậy phá đều làm được tất, không chút đắn đo, chẳng hề ngần ngại. Đối với Trời vẫn tự xưng «Lão Tôn» là tánh kiêu căng. Trước mặt Trời vẫn nghinh ngang, đứng xổng lưng không chịu quỳ, ăn nói lôi thôi bất kể tôn ti trật tự, đó là tượng trưng cho đầu óc duy lý của những người muốn phủ nhận Thượng đế. Lý trí ưa phân biện, cho nên Tề thiên mới có con mắt lửa tròng vàng, nhìn một cái là thấy rõ bản chất và hiện tượng, biết ngay ai đúng là căn tiên cốt phật, ai đậy che dáng quỷ hình ma. Lý trí cũng thích đả phá, ưa đả kích, cho nên khí giới của Tề thiên phải là thiết bổng (gậy sắt), để mà đập phá. Pháp danh của Tề thiên vì thế là Ngộ không: Không (sunyata) để mà siêu vượt lên mọi đối đãi của thế giới sắc tướng và thế giới phi sắc tướng. Lý trí, tư tưởng đã suy xét, đã vận động thì ôi thôi, thiên biến vạn hóa. Cho nên thiết bổng của Tề thiên khi nặng thì nặng vô cùng, mà lúc nhẹ thì nhẹ hơn mảy lông, muốn to nhỏ ngắn dài tùy ý, nhét gọn lỗ tai cũng xong, thế nào cũng được. Đó cũng là tư duy, ngôn ngữ, lý lẽ của con người. Hay cũng nó. Dở cũng nó. Bóp méo, vo tròn đều được cả. Đó vốn là nghề của chàng. Lý trí vì những «thuộc tính» như thế nên cần thiết phải được uốn nắn luôn luôn cho hợp với kỷ cương, khuôn phép. Tề thiên bởi vậy mà phải đội kim cô. Tuy nhiên, khi về tới chùa Lôi âm, thành phật rồi, không cần cởi, vòng kim cô tự lúc nào đã biến mất. Cái trí con người khi đã thuần dưỡng thì không cần kỷ luật nó vẫn vận động đúng. Giống như trẻ con mới đi học, tập viết phải có giấy kẻ hàng đôi, đến chừng lớn lên viết giỏi rồi, giấy chẳng vạch hàng kẻ ô vẫn dễ dàng viết ngay ngắn. Cái trí của con người còn có một đặc điểm là xẹt rất lẹ, phóng rất nhanh, cực nhanh. Ngồi ở Sài Gòn mà có thể lan man nghĩ ngợi tới tận đâu đâu, như chu du năm châu dạo cùng bốn biển; chuyện mấy chục năm quá khứ, chớp mắt một cái là cả cuốn phim dĩ vãng trường thiên vùn vụt hiện về. Diễn tả ý này, truyện Tây du bảo Tề thiên có được phép cân đẩu vân, «mỗi cân đẩu vân đi được mười vạn tám nghìn dặm» [TDK I 1982: 63]. Con số 108.000 dặm ngoài ý nghĩa tượng số học [3] còn nhằm ám chỉ tốc độ khủng khiếp của tư tưởng con người. Ngộ Không Đường Tăng Đường tăng Đường tăng là con người có lòng từ bi, nhân hậu, bao dung, có quyết tâm tu hành vượt qua muôn vàn cám dỗ. Truyện Tây du chưa lột được cái đấu tranh ghê gớm của Đường tăng ở Tây Lương nữ quốc và khi chàng rơi vào tay yêu nữ động Tỳ bà [TDK VI 1988: 88-92, 108-109], thì bộ phim Tây du của Trung Quốc đã dàn dựng rất đạt những thử thách này. Đường tăng trong hai đoạn phim ấy hoàn toàn là một con người bằng xương bằng thịt, có giới hạn mà bản thân Đường tăng không thể vượt qua, nếu không được Tề thiên giải cứu kịp thời. Đường tăng còn có tánh phàm, u mê, nhu nhược, ba phải. Đọc truyện hay xem phim Tây du ai cũng dễ thấy ghét... chàng. Một trăm lần Tề thiên cản: Yêu ma đấy, Thầy chớ có cứu. Và đủ một trăm lần Đường tăng cãi, cứ cứu, để rồi mắc nạn vương tai. Đó là nhận giặc làm con vì sự nhận thức của cảm tính không biết nghe theo tiếng gọi sáng suốt của lý trí. Đường tăng cứ lặp đi lặp lại những sai lầm của mình, và không có sai lầm nào giống sai lầm nào. Con người cũng thế, cứ đi từ sai lầm này đến sai lầm khác mà thôi, nếu không nghe theo lý trí, lương tâm mà chỉ biết chìu theo vọng tâm, tình cảm nhất thời. Trong các đệ tử, Đường tăng thường «cưng» ai nhứt? Chàng vốn tỏ ra cưng Bát giới hơn cả. Bát giới tượng trưng cho các bản năng dục vọng tiềm tàng trong tâm mỗi người; vậy, phải chăng chính ta, ta vốn vẫn thường có xu hướng nhắm mắt đưa chân, phớt lờ cái lẽ đúng mà nuông chìu theo thói hư tật xấu của mình? Trong Tây du, luôn luôn xảy ra những mâu thuẫn có khi gay gắt giữa Tề thiên và Đường tăng, khiến cho thầy trò phải mấy phen chia lìa, thậm chí ngay khi Tề thiên mới bái Đường tăng làm sư phụ xong mà đã vội giận dữ bỏ đi [TDK II 1982: 84]. Đó cũng là cách biểu tượng hóa những đối nghịch giữa lý trí với tình cảm, cảm tính. Cà sa và tích trượng Đường tăng rõ ra là lương tri, nhưng tiếng nói của lương tri nhiều khi quá yếu mềm trước những sức mạnh đối kháng. Ngoài cái lý trí (là Tề thiên) chống đỡ, bảo vệ, Đường tăng còn cần phải được trang bị thêm hai phương tiện hữu hiệu để hộ thân, tự vệ. Đó là cà sa và tích trượng. Cà sa là áo giáp chở che, tích trượng để thêm sức cho đôi chân vững vàng trụ lập. Cà sa và tích trượng ấy chính là đạo đức chân chánh của con người. Có đạo đức, con người đủ khả năng tự phòng thủ, tự bảo vệ mình khỏi sa chân vào tội lỗi lạc lầm, tránh xa được sự trừng phạt của ngục hình đày đọa. Cho nên, khi Phật tổ Như lai sai A nan và Ca diếp mang áo cà sa gấm và tích trượng chín vòng trao cho Quan âm Bồ tát, đã dặn dò rằng: «Tấm áo cà sa và cây gậy này đưa cho người lấy kinh dùng. Nếu người ấy (...) mặc tấm áo cà sa của ta, thì thoát khỏi luân hồi; cầm gậy tích trượng của ta thì không bị hãm hại.» [TDK I 1982: 190]. Và khi ở kinh thành Trường An, giải thích chỗ quý báu của cà sa, Quan âm Bồ tát cũng bảo: «Mặc tấm áo cà sa của ta thì không bị đắm chìm, không sa địa ngục, không gặp tai ương ác độc, không bị hoạn nạn sói lang.» [TDK II 1982: 36] Trong bộ phim Tây du hai mươi lăm tập của Trung Quốc, nữ đạo diễn Dương Khiết có lẽ đã hiểu tường tận ý nghĩa cà sa là áo giáp đạo đức hộ thân, cho nên rất tài tình khi dàn dựng cảnh yêu nữ động Tỳ bà quyến rũ Đường tăng sa vào sắc dục. Lúc ấy Đường tăng như trong cơn mộng du, lảo đảo bước gần tới vòng tay yêu nữ đón mời, và mảnh cà sa đỏ rực bỗng nhẹ tênh, vuột bay khỏi thân Đường tăng. Còn tấm áo, Đường tăng còn an ổn; áo vuột rơi rồi, tội lỗi mở cửa chực chờ. Đạo đức mất đi, cái xấu chen vào. Yêu tinh Yêu tinh quỷ quái hằng hà sa số cản đường ngăn lối cuộc thỉnh kinh cũng là những thói hư tật xấu của chính ta. Yêu tinh có hai loại. Có thứ là giống chồn cáo, rắn rít, cọp beo... biến thành. Hình ảnh này là ẩn dụ con người luôn luôn đương đầu với cái xấu, cái ác, các nghịch cảnh từ bên ngoài tác động vào bản thân. Loại yêu quái này luôn luôn bị Tề Thiên đập chết, không ai cứu chúng. Trên nẻo đường truy cầu Chân lý, tìm Đạo, con người phải dũng mãnh, nghị lực, quyết tâm san bằng mọi trở lực, chướng ngại ngoại lai để đạt cho kỳ được cứu cánh chân lý của mình. Dứt khoát không khoan nhượng. Nhưng... lại kỳ quặc hơn, có thứ quỷ quái mà Tề Thiên vừa vung thiết bổng định đập chết, thì liền có tiên này phật kia hiện ra cản lại, xin tha mạng chúng để rồi mang về thượng giới quản lý. Loại yêu này xét lý lịch đã rõ, vốn là các con thú con vật mà các vị ở cõi trời nuôi giữ, chẳng may để sổng, nên chúng lẻn xuống trần làm tinh ma quái quỷ.[4] Có người xem phim hay đọc truyện Tây du, gặp những chỗ như vậy, liên hệ gần xa rồi nhếch miệng cười: Tưởng sao, cũng là một kiểu «xử lý nội bộ»! Loại yêu có «ô dù» cỡ bự như vừa nói, chính là cái xấu, cái ác, cái chướng ngại cản ngăn nội tại. Chúng nằm trong chính ta, và là một phần của ta. Giết chúng đi là giết ta ư? Một hình ảnh hai cuộc đời Phật bảo: Hồi đầu thị ngạn. Quay đầu nhìn lại sẽ thấy ngay bến bờ giác ngộ. Buông dao đẫm máu xuống, mười tám ông ăn cướp lập tức hóa ra thập bát la hán. Con người là một hình ảnh hai cuộc đời. Trong ta là sự tồn tại của hai mặt đối lập lẫn nhau. Ta là Giê-xu mà ta cũng là Lu-xi-phe chúa quỷ. Ta là Thích ca, Lão tử mà ta cũng thừa sức bày trò ngạ quỷ, giở thói súc sanh. Trong ta vừa có thiên đàng, niết bàn cực lạc, vừa có cả hỏa ngục, a tỳ. Trong cuộc chiến đấu để đạt tới Chân lý, con người có thể chuyển hóa cái ác thành cái thiện. Hôm trước còn là Hồng hài nhi hung tợn, khoái ăn thịt người thì hôm sau đã là Thiện tài Đồng tử trang nghiêm, cung kính hầu cận một bên Quan âm Bồ tát.[5] Bữa nọ còn làm yêu quái tụm bầy chận đường bắt người cướp của, ăn tươi nuốt sống, thì bữa nay đã thành voi thần, sư tử thánh đỡ chân cho Phổ hiền và Văn thù Bồ tát nơi cõi phật [TDK VIII 1988: 173-174]. Văn Thù Phổ Hiền Tánh tham là xấu, nhưng thay vì tham cái vị kỷ đê hèn, biết tham làm cái vị tha ích quốc lợi dân, thì tham ấy Chúa, Phật cũng tham. Tánh sân giận đáng chê, nhưng thay vì cái giận khí huyết của lòng ty tiểu, biết giận cho cái bất bằng chính nghĩa, thì giận ấy Lão Đam, Khổng tử cũng xá dài bái phục. Phân biệt hai hạng yêu tinh nội tại và ngoại lai như thế, người đọc truyện Tây du thử gẫm lại vì sao luôn luôn khi Tề thiên gặp yêu quỷ đều tróc Sơn thần, Thổ địa để truy tầm ngọn nguồn, gốc tích con yêu ở đâu. Cho dù đang thua sức lũ yêu, mà một khi đã nắm chắc lý lịch của chúng rồi thì trăm lần đánh là trăm lần thắng. Chuyển bại thành thắng là sau khi đã điều tra, xác minh lý lịch xong xuôi. Sao lạ vậy? Cái xấu, cái ác vốn muôn đường nghìn lối, thiên hình vạn trạng. Con người phải biết nó từ đâu tới, do đâu mà ra. Như thầy thuốc giỏi, trị bịnh phải biết trị tận gốc chứ không trị ngọn. Tề thiên tróc Sơn thần và Thổ địa Đi tìm nghịch lý Tây du thoạt xem, tưởng đâu rặt chuyện nghịch lý, vô lý. Tại sao Tề thiên náo loạn thiên cung, cõi trời nghiêng ngửa, vậy mà lắm phen cam đành thất điên bát đảo với lũ yêu ma? Tề thiên không ngán Lão tử, thế sao chẳng trị nổi con trâu xanh của Lão tử sổng chuồng ở núi Kim Đâu? [TDK V 1988: 227-247; TDK VI 1988: 5-51] Tề thiên tuy có con mắt lửa tròng vàng, nhìn một cái biết ngay chân tướng yêu ma nhưng không phải luôn luôn đều dễ dàng chế ngự được yêu ma. Phải lắm phen cất công đi tìm phật, tiên, bồ tát cứu nạn. Bồ tát và phật tiên trong Tây du tượng trưng cho đạo đức chơn chánh. Vậy, phải chăng lý trí tuy có khả năng xét suy phân biện phải trái rạch ròi, nhưng chưa đủ mạnh mẽ? Đối với tha nhân, sửa chữa cái xấu, cải tạo cái ác có khi không bằng lý lẽ, hay sức mạnh, mà phải cảm hóa bằng đạo đức nghĩa nhân. Còn với chính bản thân, có những cái xấu, cái ác mà lương tri, lương tâm đã tự biết là xấu, là ác, là không nên nhúng tay vào, nhưng con người lại quá yếu đuối, thường không đủ sức cưỡng lại nổi những ham muốn mãnh liệt, đành buông xuôi. Khi đó, chỉ còn có nhân nghĩa đạo đức là chiếc phao cuối cùng cho khách hồng trần bấu víu để khỏi đắm chìm trước cơn phong ba bão táp của hải hà dục vọng. Phật tiên hay Thượng đế cõi trời còn là hình ảnh biểu tượng của chính đại quang minh, của đại nhân quân tử. Yêu ma quỷ quái là phản diện, tiêu biểu cho tiểu nhân, giả trá, lọc lừa. Tề thiên vốn không từng lép vế với cõi trời mà lại nhiều phen chịu ngậm hờn cùng lũ quỷ. Trong cuộc đấu tranh của con người với con người, từ nghìn xưa đến nay, soi gương kim cổ, phải chăng ai cũng thấy rằng ta không sợ đấu lý, đấu tranh với người biết điều, đại độ, chính trực, mà ta lại đều phải sợ giáp mặt cùng kẻ hẹp hòi, ngu dốt, chấp nê. Hai mặt trận với hai đối thủ rõ ràng khác biệt! Đọc Tây du hóa ra không phải đọc Tây du, mà là đọc lại chính ta. Ngô Thừa Ân hóa ra không phải Ngô Thừa Ân mà là mật ngữ siêu thoát của Lão, Phật. Ngô là họ Ngô; Thừa là thừa hưởng, thọ nhận; Ân là ân sâu đức cả. Ai xưa kia đã thọ hưởng được cái học của thánh hiền mà giác ngộ, không nỡ đem giấu làm của báu tư riêng, nên lấy cuộc văn chương, mượn trò chữ nghĩa bày truyện Tây du? Thọ nhận ân Ai mà Ngô Thừa Ân muốn đáp tạ ân Ai? Kiếp tằm đem trả nợ dâu, Đem lời huyễn tưởng diễn câu diệu huyền. Ngỡ rằng ma quái thần tiên, Nào hay rốt lại nhãn tiền chính ta. Cuộc chơi sực tỉnh giang hà, Mực đen giấy trắng gọi là nhân duyên.● LÊ ANH DŨNG (26.8.1991 – 01.01.1995) [1] Ở đây, khi nói Tây du ký là truyện xuất thế gian, và câu chuyện xuất gia thỉnh kinh hàm ngụ ý ngoại thế gian pháp, thì nên hiểu hai chữ xuất thế theo nghĩa là một phương diện trên con đường tu học để hành đạo độ đời. Xuất thế để mà có đủ bản lĩnh nhập thế, biết vượt lên cuộc đời dù vẫn lăn lóc giữa cuộc đời trần cấu. Pháp bảo đàn kinh chép lời Lục tổ Huệ Năng dạy rằng: «Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác. Ly thế mịch bồ đề, cáp như cầu thố giác.» Nghĩa là, phương pháp tu của Phật nhằm tìm sự giác ngộ ngay trong cõi đời; nếu như rời bỏ cuộc đời mà tìm cầu giác ngộ, việc ấy là ảo tưởng, ví như đi tìm sừng thỏ vốn là thứ không có thực trong đời. Đạo Lão và Cao Đài cùng bảo: «Dục tu thiên đạo, tiên tu nhân đạo. Nhân đạo bất tu, thiên đạo viễn hỹ.» (Muốn tu đạo giải thoát trước tiên hãy lo tròn đạo làm người. Không tròn đạo người thì đạo trời hãy còn xa xôi lắm.) [2]Xem Phụ lục 5: Nói chuyện Trư Bát giới. [3]Xem bài Ngọn gió trong lò. [4]Theo [TDK VII 1988: 98-139], đặc biệt có một con yêu rất lạ đời, nguyên là tên tiểu đồng lông mày vàng giữ chiếc khánh vàng của Phật Di lặc. Thích chơi trội hơn lũ yêu ma khác, y lẻn xuống trần mạo xưng là Hoàng mi Lão phật, lập chùa Lôi âm giả, cũng chiêu tập quỷ quái lớn nhỏ về giả làm la hán, kim cang, yết đế, bồ tát... để lừa Đường tăng vô chùa bái lạy thì bắt giữ. Đối với hành giả tu thiền, tình tiết này rất lý thú; nó cảnh giới người tu chân chính đừng nên vọng cầu phật ở ngoài thân. Trong lúc đang công phu hành thiền mà lỡ có thấy chư phật xuất hiện thì hãy coi chừng đó là ma cảnh ám chướng phá hoại chánh giác chánh định. Đó là lý do vì sao xưa kia có thiền sư đã nêu một phương châm thoạt nghe mà rởn mình: Gặp phật giết phật, gặp tổ giết tổ (Phùng phật sát phật, phùng tổ sát tổ). [5]Xem bài Bốn biển không yên cơn lửa trẻ. HẾT Ai biết được núi Hoa Quả Sơn ở đâu thì sẽ biết tác giả của truyện Tây Du Ký.* Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Bố trí phương vị của Bát quái sai rồi. Chỉ khi nào hiểu rõ mối tương quan Tiên Thiên và Hậu Thiên và Khí... thì mới rõ được. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Hà Uyên: Một quẻ Dịch luôn có 7 hào. Hào thứ Bảy luôn ẩn, mà không được nhắc tới, được gọi là Thần tàng, hay là Quy viêm, hay được gọi là Quy tàng . Tại sao lại được cấu tạo như vậy ? Từ hào Một cho tới hào Sáu, luôn có một hào động, được gọi là hào Chủ, đồng thời với hào Bảy, là hào Quy tàng, cũng luôn luôn động. Như vậy, một quẻ Dịch sẽ có 2 động 5 tĩnh. Kinh Dịch gọi mối quan hệ này là "Hàm tam vi nhất" (5 - 2 = 3 Một Tĩnh ba Động, một chân Tĩnh, chân còn lại và hai tay Động => đạp một đội chín, đạp một đội ba, ... ,). Đây là nguyên lý: một tĩnh thì có ba động, hai Tĩnh thì có sáu Động, ba Tĩnh thì có chín Động, ... , => bỏ một dùng ba (360 thì chỉ dùng 270) => bỏ hai dùng sáu (bố mẹ thân lùi mà sáu con tiến, hai lùi sáu tiến) => bỏ ba dùng chín (12 địa chi thì dùng 9, chỉ dùng từ Trường Sinh tới Mộ, bỏ không dùng Tuyệt, Thai, Dưỡng) Trong 5 hào tĩnh này, dùng để phản ánh mối quan hệ với 2 hào động. Trong hai hào động này, thì một hào là Quy tàng (Thần tàng), còn một Hào động là hào làm Chủ. Hai Động một Tĩnh, Âm một Dương hai, một tối hai sáng, là để tìm hiểu về xu hướng phát triển của vạn vật trong thế giới Tự nhiên của Người xưa. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *