Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

hoangnt

Hội viên
  • Số nội dung

    1909
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    6

Everything posted by hoangnt

  1. Trong sách chiêm tinh cổ của Việt Nam, quyển “Thái Ất” được Trạng Trình dùng để viết sấm dự đoán cũng cho rằng, cứ mỗi 25.920 năm cực Bắc của Trái đất sẽ hướng về chòm sao Bắc Cực mới và ngôi sao cực Bắc sắp tới sẽ là sao Vega. Cực Bắc hiện nay đang hướng sao gì trong chòm Tiểu Hùng Tinh (7 sao) và chu kỳ 25920 năm sẽ chuyển đổi trong bao nhiêu sao? khoảng bao nhiêu năm cho mỗi sao?. Tìm hiểu về Polaris-Sao Bắc Cực Monday, 18 April 2011 12:23 Sao Bắc Cực (Polaris) hay còn có tên α UMi / α Ursae Minoris / Alpha Ursae Minoris là ngôi sao ngôi sao sáng nhất trong chòm Tiểu Hùng Tinh. Nó rất gần cực bắc thiên cầu (năm 2006 là 42') và vì vậy nó có tên Sao Bắc Cực, ngôi sao luôn chỉ hướng bắc. Dữ liệu quan sát Chòm sao Tiểu Hùng Tinh (Ursa Minor) Xích kinh 02h 31m 48.7s Xích vĩ +89° 15′ 51″ Độ sáng biểu kiến (V) 1.97 Tính chất Loại quang phổ F7 Ib-II SB Danh mục màu U-B 0.38 Danh mục màu B-V 0.60 Loại biến quang Cepheid Đo sao Vận tốc xuyên tâm (Rv) -17 km/s Chuyển động riêng (μ) RA: 44.22 mas/yr Dec.: -11.74 mas/yr Thị sai (π) 7.56 ± 0.48 mas Khoảng cách 430 ± 30 ly (132 ± 8 pc) Độ sáng tuyệt đối (MV) -3.64 Chi tiết Khối lượng 4.3 +1.1 tính kèm Pol B M☉ Bán kính 30 R☉ Độ sáng 2200 L☉ Nhiệt độ 7200 K Kim loại 112% Mặt Trời Tự quay ~17 km/s Tuổi ? năm Sao Bắc Cực cách Trái Đất 430 năm ánh sáng. Hiện nay người ta cho rằng α UMi A là ngôi sao khổng lồ sáng (II) loại F7 hoặc siêu sao khổng lồ (Ib). Hai người bạn đồng hành nhỏ hơn là α UMi B là ngôi sao dãy chính F3V quay quanh nó với khoảng cách 2400 AU và α UMi Ab là một ngôi sao lùn trắng rất gần với bán kính quỹ đạo 18,5 AU. Các quan sát gần đây cho thấy Sao Bắc Cực có thể là một phần của một cụm sao mở gồm các ngôi sao loại A và F Polaris B có thể được nhìn thấy qua các kính thiên văn hiện đại và người đầu tiên phát hiện ra nó là William Herschel vào năm 1780. Năm 1929, qua quang phổ người ta phát hiện ra người bạn lùn đồng hành với Polaris A (nó có rất nhiều tên gọi như α UMi P, α UMi a hay α UMi Ab), những nhà quan sát trước đó đã giả định có ngôi sao này (Moore, J.H và Kholodovsky, E. A.). Tháng 1 năm 2006, NASA công bố hình ảnh từ kính thiên văn Hubble, đã trực tiếp cho thấy Sao Bắc Đẩu là một hệ sao ba. Ngôi sao lùn gần hơn có quỹ đạo chỉ cách Polaris A 18,5 (2,8 tỷ km; bằng khoảng cách từ Mặt Trời đến Sao Hải Vương), đây là lý do ánh sáng của nó bị át bởi người bạn sáng hơn nhiều. Polaris cách trục quay 0.7° Sao Bắc Cực là sao biến quang Cepheid Thành phần I (Population I) mặc dù trước đây người ta nghĩ nó thuộc Thành phần II do vĩ độ thiên hà (galactic latitude) cao của nó. Vì những ngôi sao Cepheid là những ngọn nến chuẩn để tính toán khoảng cách nên Polaris được nghiên cứu rất kỹ. Những năm 1900, ngôi sao thay đổi độ sáng ±8% (tổng độ sáng biểu kiến là 0,15) với chu kỳ 3,97 n gày; tuy nhiên, cường độ của ngôi sao này lại giảm nhanh vào giữa thế kỷ 20. Ngôi sao đạt mức thấp nhất 1% vào giữa thập kỷ 90 và giữ nguyên cường độ như vậy. vẫn với chu kỳ như trước, ngôi sao sáng lên trung bình 15% và chu kỳ này mỗi năm lai dài ra 8 giây. Các nghiên cứu mới đây được đăng trong tờ Science cho rằng Polaris sáng hơn gấp 2,5 lần so với ngày Ptolemy quan sát nó. Nhà thiên văn Edward Guinan cho rằng tốc độ thay đổi này rất đáng chú ý và nói rằng "Nếu điều này là thật thì những thay đổi này lớn hơn gấp 100 lần so với lý thuyết hiện thời về sự tiến hóa sao." Sao cực bắc Tranh vẽ hệ Polaris Vì α UMi nằm gần như thẳng hàng với trục quay của Trái Đất "trên" Bắc Cực -- cực bắc thiên cầu -- nên Sao Bắc Cực gần như không di chuyển trên bầu trời và các ngôi sao phương bắc dường như quay quanh nó. Vì vậy, nó là một điểm cố định hoàn hảo cho hàng hải và thiên văn học. Từ thời cổ đại, những người Assyria đã biết dùng ngôi sao này và ghi lại trên những phiến gốm. Hay gần đây hơn, năm 1802, nó xuất hiện trong cuốn sách của Nathaniel Bowditch mang tên The American Practical Navigator (thực hành hàng hải Hoa Kỳ), Sao Bắc Cực được ghi lại với tư cách là một trong số những ngôi sao hàng hải. Hiện nay, Polaris cách trục quay 0.7° và quay quanh cực với một vòng tròn nhỏ có đường kính 1½°. Chỉ hai lần trong ngày thiên văn Sao Bắc cực mới chỉ đúng phương bắc; những ngày còn lại nó chỉ ở mức gần đúng và cần sử dụng bảng kê mới xác định chính xác. Vì hiện tượng đảo trục nên Polaris sẽ không phải là Sao Bắc Cực mãi mãi. Sau mười ngàn năm, trục Trái Đất sẽ chỉ sang một khu vực khác của bầu trời và vạch ra một hình tròn. Các ngôi sao thuộc hình tròn này thay phiên nhau trở thành Sao Bắc Cực trong quá khứ lẫn tương lai, bao gồm Thuban và Vega. Trịnh Khắc Duy _ PAC
  2. Wiki: tạm. Bình định đất Lĩnh Nam Xem thêm: Chiến tranh Tần-Việt Sau khi thống nhất 7 nước, Tần Thuỷ Hoàng bắt tay bình định vùng đất Bách Việt ở Lĩnh Nam. Năm 218 trước Công Nguyên, Tần Thuỷ Hoàng sai Đồ Thư (屠睢, phiên tên theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, các từ điển Hán-Việt hiện nay phiên là Đồ Tuy) làm chủ tướng, chỉ huy 50 vạn quân đi bình định miền Lĩnh Nam. Đồ Thư chiếm được nhiều đất đai nhưng cuối cùng bị tử trận. Tần Thuỷ Hoàng sai Nhâm Ngao (壬嚣[5]) cùng Triệu Đà đến cai trị vùng Lĩnh Nam. Khi Đồ Thư chiếm được vùng đất Lĩnh Nam, Tần Thuỷ Hoàng lập nên 3 quận là Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (đông bắc Quảng Tây) và Tượng Quận (nam Quảng Tây), bổ nhiệm Nhâm Ngao làm Quận úy quận Nam Hải. Nam Hải gồm 4 huyện Bác La, Long Xuyên, Phiên Ngung và Yết Dương; trong đó huyện Long Xuyên có vị trí quan trọng nhất về địa lý và quân sự, được giao dưới quyền Triệu Đà làm Huyện Lệnh. Sau khi tới thủ phủ Long Xuyên (ngày nay là thị trấn Đà Thành huyện Long Xuyên) nhậm chức, Triệu Đà áp dụng chính sách "hoà tập Bách Việt" đồng thời xin Tần Thuỷ Hoàng di dân 50 vạn người từ Trung Nguyên đến vùng này, tăng cường chính sách "Hoa Việt dung hợp" (hòa lẫn người Hoa Hạ và người Lĩnh Nam). Ly khai nhà Tần Tần Thuỷ Hoàng chết (210 TCN), Tần Nhị Thế nối ngôi, khởi nghĩa Trần Thắng, Ngô Quảng nổ ra năm 209 trước Công Nguyên, rồi tiếp theo là chiến tranh Hán-Sở giữa Lưu Bang và Hạng Vũ (từ năm 206 TCN), trung nguyên vào cảnh rối ren loạn lạc. Năm 208 trước Công nguyên, quận uý Nam Hải là Nhâm Ngao bị bệnh nặng, trước khi chết cho gọi Triệu Đà đang tạm thời làm huyện lệnh Long Xuyên đến, dặn dò đại ý rằng: vùng đất Nam Hải có núi chắn, có biển kề, rất thuận lợi cho việc dựng nước và phòng thủ chống lại quân đội từ Trung nguyên (tức khu vực trung ương Trung Quốc) đánh xuống, và đồng thời chính thức bổ nhiệm Triệu Đà nối quyền cai trị quận Nam Hải. Không lâu, Nhâm Ngao chết, Triệu Đà gửi lệnh đến quan quân các cửa ngõ Lĩnh Nam, canh giữ phòng chống quân đội Trung nguyên xâm phạm, và nhân dịp đó, giết hết những quan lại nhà Tần bổ nhiệm ở Lĩnh Nam, cho tay chân của mình thay vào những chức vụ đó. Chinh phục Âu Lạc, lên ngôi vua nước Nam Việt Sử sách ghi chép không thống nhất về việc Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc, cả về cách đánh lẫn thời gian. Sử Ký Tư Mã Thiên ghi chép vắn tắt rằng Triệu Đà dùng tài ngoại giao và đút lót mua chuộc các thủ lĩnh Âu Lạc mà thu phục nước này vào thời điểm "sau khi Lã hậu chết" (năm 180 TCN). Các sách giáo khoa tại Việt Nam đều thống nhất lấy thời điểm ước lệ này trong Sử Ký và lấy năm ngay sau 180 TCN là 179 TCN (Xem mục về Niên đại và tư liệu ở dưới). Theo sử sách cổ của Việt Nam (Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục) thì năm 208 TCN, Triệu Đà đánh thắng Âu Lạc của An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào quận Nam Hải, lập nước Nam Việt. Để có chiến thắng này, trước đó Triệu Đà đã gả con trai là Trọng Thủy cho con gái An Dương Vương là Mỵ Châu để biết bí mật về bố phòng quân sự của Âu Lạc và mang quân sang đánh chiếm. Theo truyền thuyết, sau khi nghe tin Mỵ Châu bị An Dương vương giết, Trọng Thủy nhảy xuống giếng tự vẫn để trọn tình với vợ là Mỵ Châu. Sau khi nhà Tần diệt vong, năm 203 trước Công Nguyên, Triệu Đà cất quân đánh chiếm quận Quế Lâm, tự xưng "Nam Việt Vũ Vương". Nước Nam Việt bấy giờ, bao gồm từ núi Nam Lĩnh (ngày nay là một giải từ bắc Quảng Đông, bắc Quảng Tây và miền nam vùng Giang Nam), phía tây đến Dạ Lang (bây giờ là Quảng Tây và phần lớn tỉnh Vân Nam), phía nam đến dãy Hoành Sơn (Hà Tĩnh-Việt Nam ngày nay), phía đông đến Mân Việt (ngày nay là miền nam tỉnh Phúc Kiến). Thủ đô nước Nam Việt lúc ấy là thành Phiên Ngung, là thành Quảng Châu ngày nay.
  3. Như vậy ở thế kỷ XVII người ta vẫn xác định An Dương Vương người nước Thục ở phương Tây, dấy binh đánh Hùng Vương từ Vân Nam. Thế mà chẳng hiểu sao thời nay các sử gia lại đoán già đoán non là nước Thục của An Dương Vương gốc ở Cao Bằng, cố tình lờ đi sự đồng nhất về văn hoá và khảo cổ của vùng Vân Nam, Quảng Tây với Bắc Việt (trống đồng) với thời Hùng Vương. Còn có tư liệu cho rằng Thục Phán là người ở Ai Lao. Thực ra Ai Lao Di hay Di Lão là tên của tộc người sinh sống ở vùng Vân Nam Quí Châu. Thục Phán ở Ai Lao cũng đồng nghĩa với Thục Phán xuất phát từ vùng Vân Quí. Tra cứu bản đồ thì Vân Nam đúng là phía Tây Bắc của Văn Lang với trung tâm tại Bắc Việt hiện nay. Như vậy, cuộc chiến giữa Thục Phán và Văn Lang phải diễn ra ác liệt nhất tại Quảng Tây vì muốn tới trung tâm thì phải vượt qua khu vực này hoặc giả Thục Phán đã an bình được Quảng Châu trước và tấn công trực diện vào trung tâm Văn Lang. Việc huy động quân từ Quảng Đông, Phúc Kiến của Hùng Vương là bắt buộc ngoại trừ đã bị Thục Phán bình rồi. Vậy thì, nơi cuộc chiến diễn ra có được mô tả không?. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
  4. Thục An Dương Vương trích từ tác giả Bách Việt Trùng Cửu. Thư mục: Thiên Nam ngữ lục... ngoại kỷ Một đoạn trong Thiên Nam ngữ lục về "Thục Kỷ - An Dương Vương": Thủa ấy có An Dương Vương Người quê Ba Thục ở đàng phương tây Anh hùng trí lực ai tày Mới sai trấn cõi giáp rày Văn Lang. Dòm Hậu Hùng nghiệp trễ tràng Lăm le ý sắm mở mang xa gần Vân Nam bèn mới dấy quân Của mượn tượng mã, lưới ngăn nhân tài. Như vậy ở thế kỷ XVII người ta vẫn xác định An Dương Vương người nước Thục ở phương Tây, dấy binh đánh Hùng Vương từ Vân Nam. Thế mà chẳng hiểu sao thời nay các sử gia lại đoán già đoán non là nước Thục của An Dương Vương gốc ở Cao Bằng, cố tình lờ đi sự đồng nhất về văn hoá và khảo cổ của vùng Vân Nam, Quảng Tây với Bắc Việt (trống đồng) với thời Hùng Vương.Còn có tư liệu cho rằng Thục Phán là người ở Ai Lao. Thực ra Ai Lao Di hay Di Lão là tên của tộc người sinh sống ở vùng Vân Nam Quí Châu. Thục Phán ở Ai Lao cũng đồng nghĩa với Thục Phán xuất phát từ vùng Vân Quí. Thêm một chi tiết trong giải mã câu chuyện An Dương Vương trong Thiên Nam ngữ lục: Câu chuyện kết thúc với việc Trọng Thuỷ nhảy xuống giếng tự tử và tương truyền ngọc trai biển (do Mỵ Châu hoá thành) rửa ở giếng này sẽ rất sáng. Trong TNNL về việc này có câu: Vì chưng duyên cũ vợ chồng Hiệu Tẩy Chu tỉnh ở trong Loa Thành. "Tẩy Chu tỉnh" chính là giếng ngọc (giếng rửa hạt châu).Như vậy Mỵ Châu hoá thân thành hạt châu, và chữ Châu ở đây còn gọi là Chu như trong câu thơ trên. Điều này hoàn toàn phù hợp với giải thích Mỵ Châu là con gái vua Chu trong Sử thuyết họ Hùng. Dùng nước giếng để rửa châu cũng ám chỉ chữ "Thuỷ" là nước trong Trọng Thuỷ. Nước giếng là hình tượng của Trọng Thuỷ, ngọc châu là Mỵ Châu. Thuỷ cũng là chỉ phương Bắc, như trong tên của Tần Thuỷ Hoàng. Câu chuyện An Dương Vương đúng là đã gói một giai đoạn lịch sử rất dài của dân Hoa Việt, từ: - Nhà Thương sang nhà Chu: An Dương Vương kế Hùng Vương. Rồi việc sứ giả Thanh Giang trao cho Thục Vương Qui Tàng Dịch (móng của Kinh Qui). - Xây dựng nhà Chu: qua việc Cao Lỗ xây thành Cổ Loa. - Nhà Chu sang nhà Tần: với chuyện tình Mỵ Châu - Trọng Thủy, hay giữa con gái vua Chu (vua Chủ Cổ Loa) và chàng rể phương Bắc. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
  5. CHƯƠNG II NHÀ THỤC 蜀 氏 (257-207 tr. Tây-lịch) 1. Gốc-tích nhà Thục2. Nước Âu-lạc3. Nhà Tần đánh Bách-Việt4. Nhà Thục mất nước 1. GỐC-TÍCH NHÀ THỤC. Nhà Thục chép trong sử nước ta không phải là nước Thục bên Tàu, vì rằng cứ theo sử nước Tàu thì đời bấy giờ đất Ba-thục 巴 蜀 (Tứ-xuyên) đã thuộc về nhà Tần 秦 cai-trị rồi, thì còn có vua nào nữa. Vả, sử lại chép rằng khi Thục-vương Phán 蜀 王 泮 lấy được nước Văn-lang thì đổi quốc hiệu là Âu-lạc 甌 駱, tức là nước Âu-lạc gồm cả nước Thục và nước Văn-lang. Song xét trong lịch-sử không thấy đâu nói đất Ba-thục thuộc về Âu-lạc. Huống chi lấy địa-lý mà xét thì từ đất Ba-thục (Tứ-xuyên) sang đến Văn-lang (Bắc-Việt) cách bao nhiêu đường đất và có bao nhiêu núi sông ngăn-trở, làm thế nào mà quân nhà Thục sang lấy nước Văn-Lang dễ-dàng như vậy? Sử cũ lại có chỗ chép rằng An-dương-vương họ là Thục 蜀 tên là Phán 泮. Như vậy chắc hẳn Thục tức là một họ nào độc-lập ở gần nước Văn-lang, chứ không phải là Thục bên Tàu. Sách « Khâm-định Việt-sử » cũng bàn như thế. Nhận định trên của "Đại Việt Sử Ký" là thích hợp, tuy nhiên việc Thục Phán tổ chức được một đội quân đông đảo vài chục vạn quân thì rõ ràng không thể nằm trong ranh giới lãnh thổ Bắc Việt hiện nay cho ta thấy rõ hơn điều này. Bản đồ thời chiến quốc chỉ ra Văn Lang vẫn còn rộng lớn, phần đất Động Đình Hồ và Việt (Câu Tiễn) có thể đã bị mất trong cuộc chiến Ân Thương của vua Hùng Vương VI (thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại) là hợp lý. Như vậy Thục Phán có thể xuất phát từ Quảng Châu, Quảng Đông, Vân Nam, Phúc Kiến... Việc An Dương Vương sau khi được Hùng Vương truyền ngôi vẫn lấy đất Văn Lang Bắc Việt bây giờ làm quốc đô, chứng tỏ nơi đây chính là quốc đô của Văn Lang rộng lớn ngay thời An Dương Vương, chứ vua An Dương Vương không lấy nơi đất cũ của mình là quốc đô. Về sau Nhà Triệu lấy Phiên Ngung làm quốc đô. Việc tái tổ chức chiến tranh của Thục Phán chứng tỏ sự khôi phục sức mạnh rất nhanh và nó có vẻ đất của Thục Phán rất gần Lạc Việt. Đồng thời việc truyền ngôi cho Thục Phán chứng tỏ khu vực của Thục Phán rất quan trọng và dĩ nhiên người đứng đầu (Lạc Hầu) sẽ là thân cận của Vua Hùng: cho ta mối nghi ngờ Thục Phán xuất phát từ Quảng tây, chính là vùng tự trị của người Choang Trung Hoa bây giờ (văn hóa trống đồng tại đây rất rực rỡ, nay vẫn còn duy trì) và điều khiển được các vùng lân cận. Thời Việt Vương Câu Tiễn thường có sứ đến dụ nhưng Hùng Vương cự lại: chúng tỏ Văn Lang rất mạnh và các vùng tiếp giáp biên giới có quân đội hùng hậu hay Quảng Châu... có tổ chức quân sự rất mạnh. Chúng ta chú ý Quảng Châu gần như vị thế Trung tâm của Văn Lang - nhưng cũng cần xem lại địa thế khu vực như sông núi.... Sau cuộc chiến giặc Ân, một phần đất Văn Lang bị mất, như vậy giả sử trung tâm Văn Lang ở ngoài Lạc Việt thì khả năng vua Hùng Vương thứ 6...? có thể dời đô giống nhà Ân Thương vậy. Tuy nhiên, khả năng này vẫn có thể không xảy ra. Chúng ta hãy nhận xét các quốc gia khác về trung tâm quản lý như sau: - Nước Nga cực to lớn vẫn được điểu khiển bởi trung tâm quốc gia. - Trung Hoa thời Chu cũng tương tự, sau này Văn Lang mất hầu hết đất thì các vương triều Trung Hoa vẫn tổ chức được mặc dù Bắc Kinh gần sát phía Bắc. - Ấn Độ: chưa nắm rõ. Vậy, Thủ đô của Văn Lang vẫn có thể tại Bắc Việt (Phượng thành). Tuy nhiên theo tác giả Thiên Sứ trong Kinh dịch có đề cập đến sự rút lui của vua Hùng Vương VI ra đất Mân - Phúc Kiến trong cuộc chiến với giặc Ân, cho ta một nghi ngờ về vị trí kinh đô Văn Lang ở đâu đó thì mới gọi là "rút ra". Mặt khác, truyền thuyết Thánh Gióng nói về bộ Vũ Ninh - đây cũng là một huyện tỉnh Giang Tây (đất Việt cũ) của Trung Hoa bây giờ, vậy ta nhận định ra sao?. Cần phải nghiên cứu thông tin trong Kinh dịch trước vậy. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
  6. CHƯƠNG II NHÀ THỤC 蜀 氏 (257-207 tr. Tây-lịch) 1. Gốc-tích nhà Thục2. Nước Âu-lạc3. Nhà Tần đánh Bách-Việt4. Nhà Thục mất nước 1. GỐC-TÍCH NHÀ THỤC. Nhà Thục chép trong sử nước ta không phải là nước Thục bên Tàu, vì rằng cứ theo sử nước Tàu thì đời bấy giờ đất Ba-thục 巴 蜀 (Tứ-xuyên) đã thuộc về nhà Tần 秦 cai-trị rồi, thì còn có vua nào nữa. Vả, sử lại chép rằng khi Thục-vương Phán 蜀 王 泮 lấy được nước Văn-lang thì đổi quốc hiệu là Âu-lạc 甌 駱, tức là nước Âu-lạc gồm cả nước Thục và nước Văn-lang. Song xét trong lịch-sử không thấy đâu nói đất Ba-thục thuộc về Âu-lạc. Huống chi lấy địa-lý mà xét thì từ đất Ba-thục (Tứ-xuyên) sang đến Văn-lang (Bắc-Việt) cách bao nhiêu đường đất và có bao nhiêu núi sông ngăn-trở, làm thế nào mà quân nhà Thục sang lấy nước Văn-Lang dễ-dàng như vậy? Sử cũ lại có chỗ chép rằng An-dương-vương họ là Thục 蜀 tên là Phán 泮. Như vậy chắc hẳn Thục tức là một họ nào độc-lập ở gần nước Văn-lang, chứ không phải là Thục bên Tàu. Sách « Khâm-định Việt-sử » cũng bàn như thế. 2. NƯỚC ÂU-LẠC. Sử chép rằng Thục-vương 蜀 王 hỏi con gái của Hùng-vương 雄 王 thứ 18, là Mị-nương 媚 娘 không được, trong bụng lấy làm tức giận, dặn con cháu ngày [ 18 ]sau đánh báo-thù lấy nước Văn-lang. Hùng-vương bấy giờ cậy mình có binh cường tướng dũng, bỏ trễ việc nước, chỉ lấy rượu chè làm vui thú. Người cháu Thục-vương tên là Phán 泮 biết tình-thế ấy, mới đem quân sang đánh lấy nước Văn-lang. Hùng-vương thua chạy, nhảy xuống giếng mà tự-tử. Năm giáp-thìn (275 tr. Tây-lịch), Thục-vương dẹp yên mọi nơi rồi, xưng là An-dương-vương 安 陽 王, cải quốc-hiệu là Âu-lạc 甌 駱, đóng đô ở Phong-khê 封 溪 (nay thuộc huyện Đông-anh, tỉnh Phúc-an). Hai năm sau là năm bính-ngọ (255 tr. Tây-lịch), An-dương-vương xây Loa-thành 螺 城. Thành ấy cao và từ ngoài vào thì xoáy trôn-ốc, cho nên mới gọi là Loa-thành. Hiện nay còn dấu-tích ở làng Cổ-loa, huyện Đông-anh, tỉnh Phúc-an. 3. NHÀ TẦN ĐÁNH BÁCH-VIỆT. Khi An-dương-vương làm vua nước Âu-lạc ở bên này, thì ở bên Tàu vua Thỉ-hoàng nhà Tần 秦 始 皇 đã nhất-thống thiên-hạ. Đến năm đinh-hợi (214 tr. Tây-lịch) Thỉ-hoàng sai tướng là Đồ Thư 屠 雎 đem quân đi đánh lấy đất Bách-Việt 百 越 (vào quãng tỉnh Hồ-nam, Quảng-đông và Quảng-tây bây giờ). An-dương-vương cũng xin thần-phục nhà Tần. Nhà Tần mới chia đất Bách-Việt và đất Âu-lạc ra làm ba quận, gọi là: Nam-hải 南 海 (Quảng-đông), Quế-lâm 桂 林 (Quảng-tây) và Tượng quận 象 郡 (Bắc-Việt). Người bản-xứ ở đất Bách-Việt không chịu để người Tàu cai-trị, trốn vào rừng ở. Được ít lâu quân của Đồ Thư, vốn là người ở phương bắc, không chịu được thủy-thổ, phải bệnh rất nhiều. Bấy giờ người Bách-Việt thừa thế nổi lên giết được Đồ Thư. 4. NHÀ THỤC MẤT NƯỚC. Chẳng được bao lâu thì nhà Tần suy, nước Tàu có nhiều giặc-giã, ở quận Nam-hải có quan úy là Nhâm Ngao 壬 嚣 thấy có cơ-hội, muốn mưu đánh lấy Âu-lạc để lập một nước tự-chủ ở phương nam. Nhưng công-việc chưa thành, thì Nhâm Ngao mất. Khi sắp mất, [ 19 ]Nhâm Ngao giao binh-quyền lại cho Triệu Đà 趙 佗 để thay mình làm quan úy 尉 quận Nam-hải. Năm quí-tị (208 tr. Tây-lịch) là năm thứ 50 đời vua An dương-vương. Triệu Đà đem quân sang đánh lấy nước Âu-lạc, lập ra nước Nam-việt 南 越 [1]. Tục truyền rằng khi An dương-vương xây Loa-thành, có những yêu-quái quấy-nhiễu, xây mãi không được. An-dương-vương mới lập đàn lên cầu-khấn, có thần Kim-qui hiện lên bày phép cho vua trừ những yêu-quái đi, bấy giờ mới xây được thành. Thần Kim-qui lại cho An-dương-vương một cái móng chân, để làm cái lẫy-nỏ. Lúc nào có giặc thì đem cái nỏ ấy ra bắn một phát, giặc chết hàng vạn người. Cũng nhờ có cái nỏ ấy cho nên Triệu Đà đánh không được An-dương-vương. Triệu Đà dùng kế, cho con là Trọng Thỉ 仲 始 sang lấy Mị Châu 媚 洙 là con gái An-dương-vương, giả kết nghĩa hòa thân để do thám tình thực. Trọng Thỉ lấy được Mị Châu rồi, hỏi dò vợ rằng: « Bên Âu-lạc có tài gì mà không ai đánh được? » Mị Châu nói chuyện cái nỏ, và lấy cho chồng xem. Trọng Thỉ bèn lấy cái móng của Kim-qui đi, làm cái lẫy giả thay vào, rồi định về báo tin cho cha biết. Khi sắp ra về, Trọng Thỉ hỏi Mị Châu rằng: « Tôi về, mà nhỡ có giặc-giã đánh-đuổi, thì rồi tôi biết đâu mà tìm? » — Mị Châu nói rằng: « Thiếp có áo lông ngỗng, hễ khi thiếp có chạy về đâu, thiếp sẽ lấy lông ấy mà rắc ra ở dọc đường thì rồi sẽ biết. » Trọng Thỉ về kể lại với Triệu Đà tình đầu mọi sự, Triệu Đà bèn khởi binh sang đánh Âu-lạc. An-dương-vương cậy có cái nỏ, không phòng-bị gì cả, đến khi quân giặc đến gần chân thành mới đem nỏ ra bắn, thì không thấy hiệu-nghiệm nữa. An-dương-vương mới đem Mị Châu lên ngựa mà chạy về phía [ 20 ]nam. Chạy đến núi Mộ-dạ 墓 夜 山 (thuộc huyện Đông-thành, tỉnh Nghệ-an) gần bờ bể, vua thấy giặc đuổi kíp quá, mới khấn Kim-qui lên cứu, Kim-quy lên nói rằng: « Giặc ngồi sau lưng nhà vua đấy! » An-dương-vương tức giận quá, rút gươm ra chém Mị Châu đi, rồi nhảy xuống bể mà tự tận[2]. Trọng Thỉ theo dấu lông ngỗng của vợ rắc, đem binh đuổi đến núi Mộ-dạ, thấy xác vợ chết nằm đó, thương-xót vô cùng, vội-vàng đem về cấp-táng, xong rồi, nhảy xuống cái giếng ở trong Loa-thành mà tự-tử. Nay ở làng Cổ-loa trước đền thờ An-dương-vương có cái giếng tục truyền là Trọng Thỉ chết ở giếng ấy. Tục lại truyền rằng Mị-Châu bị giết rồi, vì nỗi tình thực mà phải thác oan, cho nên máu nàng ấy chảy xuống bể, những con trai ăn phải hóa ra có ngọc trân-châu. Hễ ai lấy được ngọc ấy đem về rửa vào nước cái giếng ở trong Loa-thành là chỗ Trọng Thỉ đã tự-tử, thì ngọc ấy trong và đẹp thêm ra. An Dương Vương đóng đô ở Đông Anh và sau đó xây Cổ Loa? chứ không phải ở Phong Châu vì có đô thành của Văn Lang ở Việt Trì: mâu thuẫn, thành nào ở Đông Anh?. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
  7. Trích tạm từ Wiki: Nhà Chu (chữ Hán: 周朝; bính âm: zhōu cháo; Wades-Gile: chou c'hao; thế kỷ 11 TCN hoặc 1122 TCN đến 256 TCN) nối tiếp sau nhà Thương và trước nhà Tần ở Trung Quốc. Nhà Chu tồn tại lâu hơn bất cứ một triều đại nào khác trong lịch sử Trung Quốc và việc sử dụng đồ sắt cũng đã xuất hiện ở Trung Quốc trong thời kỳ này. Nhà Chu cũng là khoảng thời gian khi hệ thống chữ viết cổ xuất hiện trên các đỉnh đồng thời Tây Chu bắt đầu chuyển sang giai đoạn hiện đại, dưới hình thức những văn bản ghi chép cổ cuối thời Chiến Quốc. Nhà Chu khởi nguồn ở sông Vị (Wei), phía tây nền văn minh Thương. Tổ tiên bộ tộc Chu khởi nghiệp từ đất Thai (nay thuộc tây Vũ Công, Thiểm Tây), tương truyền có tên là Khí, còn gọi là Hậu Tắc, sống vào đời vua Thuấn, được ban cho họ Cơ. Qua nhiều đời di cư, Chu phát triển thành một bộ lạc lớn và bắt đầu di cư về đất Mân (nay thuộc tây nam huyện Tuần Ấp, Thiểm Tây). Tại đây, bộ lạc Chu bắt đầu mở rộng ảnh hưởng và trở thành thủ lĩnh một liên minh gồm các bộ lạc gần nền văn minh Thương, đóng đô tại đất Kỳ (nay là Kỳ Sơn, Thiểm Tây). Truyền 15 đời từ Hậu Tắc tới đời Tây bá Cơ Xương, liên minh bộ lạc này phát triển thành một tiểu quốc Chu hùng mạnh, với kinh đô tại đất Phong (nay thuộc tây Tràng An, Thiểm Tây), uy hiếp mạnh mẽ sự tồn tại của nhà Thương. Cơ Xương mất, con là Cơ Phát lên thay, tiếp tục ý định diệt Thương. Vị vua Thương, Đế Tân hay Trụ Tân (Zhouxin) tàn bạo và mất lòng dân. Cơ Phát đã tranh thủ sự ủng hộ của các chư hầu oán ghét nhà Thương, tập hợp lực lượng chống lại. Nhà Chu và đồng minh coi việc suy yếu của nhà Thương là một cơ hội để nổi dậy, và vào năm 1123 trước Công Nguyên[1] họ chiến thắng vua nhà Thương là Trụ trong trận chiến Mục Dã (Mu-ye). Vua Trụ thua trận, nhảy vào lửa tự thiêu. Từ đó, vương triều Chu bắt đầu cai trị ở vùng đất trước đó thuộc nền văn minh Thương. Cơ Phát lên làm thiên tử, tức là Chu Vũ Vương. Nền văn minh Tây Chu. Ta thấy: các khu vực làm dấu đều nằm phía Bắc sông Dương Tử, ngoại trừ một vùng hạ lưu (sau này là nước Việt cổ - Câu Tiễn). Truyền thuyết vua Hùng Vương 6 truyền ngôi cho Lang Liêu: kể từ đấy không có gì đặc biệt thêm cho tới thời vua Hùng Vương 18. Giai đoạn này tương ứng từ Nhà Thương Ân tới Chu là chính và tiếp tục... Nhà Chu: >800 năm. Sự ổn định của Nhà Chu cũng tương ứng sự ổn định của Văn Lang. Tới thời Hùng Vương 18, lúc này phía Bắc, nhà Tần thống nhất là rất hùng mạnh, không còn như thời Hạ Thương Chu nữa mà bành trướng lãnh thổ là lẽ tất yếu của sự thay đổi cấu trúc quốc gia và tư tưởng quân chủ theo thời gian. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
  8. [Phát hiện dấu tích hai tòa thành 4.000 năm tuổi (trích lại) Tiền Phong Online 09:27 | 15/01/2011 Các nhà khảo cổ Trung Quốc đã phát lộ ra tàn tích của hai tòa thành cổ hình vuông, có diện tích tổng cộng là 1,68 triệu m2 tại di chỉ Wangjinglou (thị trấn Tân Trịnh, tỉnh Hà Nam) có niên đại trên dưới 4.000 năm tuổi. Các nhà khảo cổ Trung Quốc tiến hành khai quật tại di chỉ Wangjinglou. Phát hiện này sẽ làm hé lộ việc xây dựng những tòa thành đầu tiên, những sự thay đổi về văn hóa và nguồn gốc của đất nước Trung Hoa. Một trong hai tòa thành đó được cho là kinh đô của một bộ lạc trong đời Hạ (2.100-1.600 TCN). Còn tòa thành kia được cho là căn cứ quân sự chủ chốt đầu đời Thương (1.600-1.100 TCN). Hai tòa thành này vẫn còn dấu tích các tường thành, đường hào, sông và mộ. Riêng tòa thành quân sự có chiếc cổng rộng 2.000 m2. Theo Tuấn Vĩ Thể thao Văn hóa =========================================== Hai tòa thành ở Hồ Nam - một địa danh ở Nam Dương Tử mà 4000 năm trước bảo nó là của nhà Ân Hạ và Thương thì ....không thể có một tiêu chuẩn chân lý để nói chuyện. Hà Nam thuộc Bắc sông Dương Tử. Di chỉ Vọng Kinh Lầu nằm ở thị trấn Tân Thôn , cách Trịnh Châu Mới 6 km về phía bắc, gần hồ chứa nước Vọng Kinh Lầu, cách tpTrịnh Châu 35 km về phía Bắc, thuộc tỉnh Hà Nam. Di chỉ được phát hiện vào những năm 60 thế kỷ 20 khi dân địa phương san mặt bằng đào được một lô khí cụ đồng thau và khí cụ ngọc, trong đó có rìu đồng thau 青 铜 钺 là loại lớn nhất ở TQ của thời Hạ Thương.(Do gần hồ chứa nước Vọng Kinh Lầu nên di chỉ mang tên là di chỉ Vọng Kinh Lầu. Vọng kinh lầu thật thì là tòa nhà “ngóng về kinh đô Bắc Kinh” , nó là một di tích lịch sử khác , ở thành phố Vệ Huy tỉnh Hà Nam, được xây dựng thời vua Vạn Lịch nhà Minh, do Lộ Giản Vương bị giáng chức đày tới Vệ Huy nhớ mẹ ở Bắc Kinh mà xây nên tòa nhà rất cao gọi là “vọng kinh lầu”, thời Thanh nhiều địa chủ lắm tiền của cũng xây nhà rất cao to cũng gọi là “vọng kinh lầu”). Năm 2006 di chỉ này được xếp hạng văn vật được bảo vệ của tỉnh Hà Nam, diện tích 12 ha. Tháng 9 năm 2010 được sự phê chuẩn của cục văn vật quốc gia, viện nghiên cứu văn vật khảo cổ thành phố Trịnh Châu đã tiến hành khai quật di chỉ này cho đến hiện nay, trên một diện tích 3000 mét vuông, phát lộ tường thành, kênh bao thành, cổng thành, đường đi, móng nhà, mộ táng v.v. khoảng hơn 200 di tích, trong đó phát hiện di tích thành đời Hạ và di tích thành đời Thương được cho là quan trọng nhất. Do qui hoạch đường cao tốc Trịnh Châu – Tân Thôn đi xuyên qua khu di chỉ nên các chuyên gia đã yêu cầu các cơ quan chức năng tp Trịnh Châu sửa lại qui hoạch đi vòng khu di chỉ để giữ nguyên được khu vực bảo tồn . Ngày 12 tháng 1 năm 2011 toàn bộ diện mạo hai thành Hạ và Thương đã được phát lộ trên khu diện tích 168 ha. Các chuyên gia cho rằng di chỉ thành đời Hạ có thể là một đô ấp của một nước địa phương nào đó thời nhà Hạ, còn di chỉ thành đời Thương có thể là một trấn quân sự trọng yếu thời nhà Thương. Thành đời Thương bảo tồn khá hoàn chỉnh, mặt bằng thành gần như hình vuông, diện tích khoảng 37 ha, cổng thành ở hướng Đông Nam, có đường đi, toàn bộ cổng thành chiếm diện tích 2000 mét vuông, là cổng thành lớn nhất và còn nguyên vẹn nhất được khai quật từ trước đến nay. Cổng thành rộng 4,5 mét hình chữ U, hai bên cổng thành có các công trình kiến trúc phụ kiểu thành phòng ngự thời Chiến Quốc ngược về thời đầu Thương. Thành đời Hạ nằm ở cạnh ngoài thành đời Thương, mặt bằng hình vuông, gần mương bảo vệ thành đời Thương. Có chuyên gia cho rằng nó có thể là đô ấp của Cát Quốc 葛 国 hoặc Tăng Quốc 潧 国. Các chuyên gia của Đại Học Bắc Kinh cho rằng phát hiện hai thành này ở cùng một nơi, rất có ý nghĩa cho việc nghiên cứu văn hóa giai đoạn cuối Hạ đầu Thương. Di vật đào được có hài cốt, đồ gốm như chum, vại v.v. mà các chuyên gia gọi là “đồ gốm nguyên thủy”, trong đó có loại vại có ba chân cao như ba ông đầu rau hay ba chân kiềng (hình ảnh xem trên www.news.cn) trông rất giống cái vạc đồng. (Có nhà nghiên cứu người Việt đã viết, lịch sử đã đi từ đồ đá, rồi đồ gốm, rồi mới đến đồ đồng, thể hiện rất rõ trong ngôn từ Việt : “chum” gốm rồi mới đến “chuông”,”chung” bằng đồng, nhưng hình dáng thì giống nhau; “vại” gốm rồi mới đến “vạc” đồng, nhưng hình dáng thì giống nhau cũng có ba chân). Cái vại gốm có ba chân ở di chỉ Vọng Kinh Lầu này hình dáng nó di truyền lại cho hình dáng ở cái vạc đồng. Tại sao cư dân thời đó lại làm cái vại gốm có ba chân cao? Hẳn là họ đã phải chạy trận lụt kinh hoàng cùng vua Bàn Canh từ Trường Giang lên khai phá vùng Hoàng Hà? (mà bạn Minh Xuân có nêu là di chỉ này có thể là minh họa cho Sử thuyết Họ Hùng của Nhật Nguyên). Thiên Sứ: Anh Lãn Miên và quí vị thân mến. Vua Bàn Canh nhà Ân Thương sang cướp nước ta vào cuối đời Hùng Vương thứ VI - Niên đại tương đương các di chỉ nói trên. Chúng đánh vào tận kinh đô Văn Lang ở vùng hạ lưu sông Dương Tử. Vua Hùng thứ VI phải chạy ra đất Mân (Phúc Kiến ngày này) Trong bản văn kinh Dịch có nói rõ: "Vua chạy ra đất Mân". Những đồ đồng đào được ở khu vực gọi là Ân Thương kia chính là chiến lợi phẩm thu được từ cuộc chiến này. Khi chạy ra đất Mân - Vua Hùng thứ VI kêu gọi toàn dân cứu quốc - Đó chính là sự tích Thánh Gióng - xác định niên đại đầu thời đồ sắt của Việt tộc. Các nhà khảo cổ tìm thấy ở Đông Bắc Thái Lan tức là sát biên giới Văn Lang hoặc trong lãnh thổ Văn Lang xưa, những chiếc vòng sắt cổ tay có niên đại 1500 năm BC - tương đương niên đại với trận chiến Ân Thương giữa Việt tộc ở Nam Dương Tử. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
  9. Trên đền Thượng của núi Ngũ Lĩnh còn "Cột đá thề" của Thục Phán An Dương Vương lập nên, thề bảo vệ nước Văn Lang và ngàn năm hương khói tông miếu họ Hùng khi nhận vương quyền từ Hùng Vương thứ 18. Dĩ nhiên, Cột đá thề còn lại ngày nay không phải là bản chính. Điều này, cho thấy An Dương Vương cũng có thể là một đời vua trong Chi Hùng Vương thứ 18. Một số người nghi ngờ điều này. Chúng ta cùng nhận định về biên giới nước Việt cổ: 1. Theo truyền thuyết Văn Lang: Bắc giáp Động Đình Hồ, Nam giáp Hồ Tôn, Tây giáp Ba Thục và Đông giáp Nam Hải. 2. Theo khảo sát của bác sĩ Trần Đại Sĩ, ranh giới Văn Lang như trên là đúng do hiện nay các khu vực này đều có miếu thờ Hai Bà Trưng, nhị vị anh hùng của dân tộc. 3. Theo bản đồ cổ Trung Hoa (Thương) thì cũng vậy, tuy nhiên có một sai khác nhỏ: Hạ lưu Trường Giang, phần cuối nguồn là đất sau này của nước Việt - Câu Tiễn. Một phần đất, bao gồm Hồ Động Đình thuộc phía Bắc. 4. Bản đồ thời Chiến Quốc cũng tương tự Mục 3. 5. Bản đồ thời nhà Tần cũng tương tự (đã bao gồm cả vùng Động Đình Hồ). Sau này có bản đồ bao gồm tới cả Quảng Đông/ Phúc Kiến. 6. Chưa nhận định nội dung truyền thuyết: Đế Nghi làm vua Phương Bắc của Văn Lang. 7. Tới thời Hùng Vương chia Văn Lang thành 15 bộ. 8. Thời Nhà Hạ thống nhất Phương Bắc chia thành 9 châu như Kinh Thư đã dẫn. Kiểm tra nội dung Kinh Thư thì toàn bộ sông ngòi, núi non... đều thuộc Phương Bắc: phù hợp với các bản đồ trên. Chú ý: Bản đồ thời thượng cổ Trung Hoa gần giống hiện nay. Chúng ta có thể có các nhận định sau: - Ranh giới Văn Lang đúng như truyền thuyết chỉ có nhận định vùng Động Đình Hồ và nước Việt Câu Tiễn thời thượng cổ. - Lịch sử Văn Lang và lịch sử Trung Hoa phải là 2 phần tách biệt (tạm thời chưa xét thời Đế Nghi). - Kinh Thư... chỉ ra thời nhà Hạ với phương pháp quản lý quốc gia rất chặt chẽ, tương tự lý luận thuyết âm dương ngũ hành bao hàm việc chia châu quận, kiến trúc cung đình, lễ tế... như vậy có giao tiếp văn hóa với Văn Lang (dĩ nhiên, chỉ cách một con sông Trường Giang hung dữ). - Hệ quả, 15 bộ thời Hùng Vương rõ ràng không phải hoàn toàn ở Bắc Việt Nam sau này. Nhưng tại sao chia 15 mà không phải 9 như nhà Hạ, cũng là một câu hỏi?. - Việc chia châu quận của nhà Hạ hay chia bộ như củ Văn Lang xuất phát từ các khối dân tộc, văn hóa khác nhau là đều cơ bản đầu tiên. - Ta cũng biết, thời cổ trong 1 quốc gia rộng lớn như Trung Hoa có hàng trăm nước nhỏ chứ không phải một vài. - Mãi đến thời Chiến Quốc có sự phân rã cụ thể, điều này dễ hiểu các nước này cũng chính là các nước của thời nhà Hạ, Thương, Chu mà thôi. - Vùng trung tâm thời Chu theo sử sách có thể chính là Lạc Dương. - Ta đã nhận định Thăng Long hay Phượng Thành là trung tâm Bắc Việt Nam chứ chưa khẳng định là trung tâm quản lý đều hành Văn Lang hay không. Loa thành thời An Dương Vương là Long Thành và là thành bảo vệ cho trái tim Phượng Thành. - Phong Châu, Việt Trì, Phú Thọ là vùng thờ cúng các vua Hùng hay tương tự thánh địa Mỹ Sơn sau này. - Nền văn minh thế giới như sông Nil Ai Cập, sông Hằng Ấn Độ, sông Hoàng Hà Trung Hoa, sông Dương Tử của Văn Lang hay sông Hồng của cực Nam Văn Lang là hợp lý về sự phát triển xã hội. - Mộ Nam Việt Vương cũng đã phát lộ: Triệu Muội. Vậy phương pháp luận nào để xác định trung tâm hành chính nước Văn Lang?. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
  10. Soi rọi khoảnh khắc đầu tiên của vũ trụ (trích lại) Hàm Châu Sài Gòn tiếp thị Trong một lĩnh vực khoa học hoàn toàn mới và cực kỳ phức tạp như vật lý thiên văn hạt cơ bản, có một người Việt Nam được các Tạp chí thông tin khoa học có ảnh hưởng rộng trên thế giới như New Scientist rồi Physics Today, to Physics World thích thú giới thiệu. Anh đang giữ chức giáo sư Đại học Washington (Mỹ). Tên anh là Đàm Thanh Sơn. Nói "khoảnh khắc đầu tiên" là nói một cách "văn hoa", chứ muốn cho thật chính xác, thì phải nói 10 micro giây đầu tiên của Vũ trụ. Từ Vũ trụ ở đây viết hoa, bởi lẽ nó là tên riêng chỉ cái Vũ trụ nơi ta đang sống. Trong năm năm gần đây, các nhà vật lý tại Trung tâm Máy gia tốc ion nặng thuộc Phòng thí nghiệm Brookhaven, NewYork, đã tạo ra được vật chất ở nhiệt độ cao chưa từng thấy trên Trái đất. Mục đích của thí nghiệm này là tái tạo trạng thái từng tồn tại trong 10 micro giây đầu tiên sau. Vụ nổ lớn (Big Bang) từ đó dần dần hình thành Vũ trụ này. Trong 10 micro giây ngắn ngủi khó tưởng tượng nổi ấy, các quark và gluon còn ở trạng thái plasma, chứ chưa kết hợp lý thành proton, neutron, rồi nguyên tử, phân tử và cuối cùng thành các vật thể thiên hình vạn trạng quanh ta khi Vũ trụ nguội dần. Theo lý thuyết trường lượng tử truyền thống, thì vật chất tạo ra trong 10 micro giây đầu tiên của Vũ trụ này phải là chất khí. Nhưng thực tại vật lý lại không phải thể, mà là... chất lỏng! Brookhaven và các trung tâm vật lý họp tác cùng làm thí nghiệm đó rất nhiều lần, thế mà lần nào kết quả cũng vẫn vậy thôi! Vẫn chỉ thu được chất lỏng, chứ chẳng phải chất khí như tiên đoán lý thuyết! Các nhà thực nghiệm Mỹ đâm ra lúng túng, nấn ná, không dám công bố ngay kết quả, bởi lẽ nó "trái khoáy" với khẳng định như "đinh đóng cột" của lý thuyết trường lượng tử chuẩn mực, kinh điển! Nhà khoa học trẻ Đàm Thanh Sơn Cho đến đầu xuân năm 2005, khi Đàm Thanh Sơn và cộng sự cho in bài báo khoa học mô hình lỗ đen lỏng trong không - thời gian 10 chiều trên tờ Tạp chí vật lý hàng đầu Physieal Review Letters, thì Brookhaven một lý giải được tường minh kết quả thực nghiệm mà họ vẫn thu được suốt 5 năm qua, nghĩa là vật chất được tạo ra đúng là một chất lỏng! Nhóm Đàm Thanh Son sử dụng lý thuyết dây trong không - thời gian 10 chiều để tính toán. Điều đáng ngạc nhiên là: tiên đoán lý thuyết của nhóm Sơn trùng khớp với kết quả thực nghiệm của Brookhaven. Do vậy, các kết quả mà Brookhaven công bố tại Hội nghị tháng 4/2005 của Hội Vật lý Mỹ ở Tampo, Florida, đã nhắc tới những tính toán của nhóm Son. Đây là lần đầu tiên lý thuyết dây được ghi nhận trong thông báo của một cuộc thí nghiệm lớn, tinh vi. Vậy lý thuyết dây (string theory) là gì? Nói một cách "nôm na" là, theo lý thuyết này, thì các hạt cơ bản của vật chất (như proton, neutron, electron...) không phải là những điểm, những "hạt" như người ta vẫn tưởng, mà là những dao động khác nhau của một vật thể một chiều gọi là dây (string). Nét đặc sắc của lý thuyết dây là nó bao hàm được cả lý thuyết tương đối rộng, thống nhất cả bốn tương tác, kể cả tương tác hấp dãn, làm sáng tỏ câu danh ngôn của Albert Einstein "Chúa không chơi trò xúc xắc”, tiến tới xây dựng thành công lý thuyết thống nhất vĩ đại (Grand unified theory). Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất là chưa từng có một bằng chứng thực nghiệm nào xác nhận lý thuyết dãy có liên quan với thực tại vật lý! Theo "lương tri" và "trải nghiệm" của những người bình thường, thì không gian chỉ có 3 chiều, nếu gắn thêm 1 chiều thời gian, thì không - thời gian cũng chỉ có 4 chiều. Thế nhưng, lý thuyết dây lại cho ràng không-thời gian có những... 10 chiều cơ đấy! Chỉ có điều các chiều phụ nén lại, cuộn lại trong một mặt cầu có bán kính tột cùng nhỏ bé, chỉ bằng một phần triệu tỉ tỉ tỉ (10-33) centimét! cho nên "người trần mắt thịt" thì làm sao mà tưởng tượng nổi! Lần đầu tiên trên thế giới, Đàm Thanh Sơn và cộng sự đã chứng tỏ được rằng lý thuyết dây có ứng dụng thiết thực. Và ứng dựng ấy được một phòng thí nghiệm lớn với máy gia tốc tối tân như Brookhaven xác nhận. Mặc dù hết sức tốn kém, các cuộc thí nghiệm vẫn đang được tiếp tục nhằm xác minh tiên đoán lý thuyết của nhóm Đâm Thanh Sơn. Nếu nay mai, được thực nghiệm hoàn toàn xác nhận, thì Đàm Thanh Sơn sẽ là người khám phá ra một hằng số mới, một quy luật mới của vật lý học. Một phát minh tầm cỡ đấy chứ? Đàm Thanh Sơn sinh năm 1969 giữa Hà Nội đạn bom và sơ tán, trong một gia đình trí thức yêu nước và thanh bạch. Thời thơ ấu của Sơn là những tháng năm gian nan mà thánh thiện, "mỗi tấc đất ngày đêm bỏng giẫy/ mỗi lòng người như nước suối trong". Cha anh là giáo sư dược học Đàm Trung Bảo, mẹ là phó giáo sư, tiến sĩ sinh hoá Nguyễn Thị Hảo, chú ruột là giáo sư vật lý Đàm Trung Đồn. Từ nhỏ, Sơn đã bộc lộ năng khiếu toán vượt trội, nếu không muốn nói là "thần đồng”; mới lên lớp 3, đã giải được nhiều bài đại số lớp 12! Sau khi kiểm tra kỹ, Sở Giáo dục đặc cách cho phép cậu bé học nhảy cóc. Là học sinh chuyên toán trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, mới 15 tuổi, Sơn đã lọt vào đội tuyển quốc gia đi thi Olympic toán quốc tế tại Prague, đoạt huy chương vàng với số điểm tuyệt đối 42/42. Lòng đầy mộng ước, Sơn sang Liên Xô, vào học Đại học Lomonosov danh tiếng trên đồi Lênin giữa cánh rừng bạch dương thân cây từng loá như dát bạc. Rồi anh bảo vệ luận án tiến sĩ tại Viện nghiên cứu hạt nhân Matxcơva khi mới 23 tuổi Nào ngờ Liên xô sụp đổ! Thấy anh còn quá trẻ và đầy triển vọng, viện trưởng V. Rubakov, một nhà bác học danh tiếng và là người có "tấm lòng vàng", giúp anh sang Mỹ để có thể tiến xa hơn trên con đường sáng tạo khoa học. Mấy năm đầu đến NewYork, anh vào làm việc tại Đại học Columbia, phụ tá cho GS. Lý Chính Đạo (Tsung Dao Lee), nhà bác học lừng danh người Mỹ gốc Hoa, được tặng Giải thưởng Nobel năm 1956, khi vừa tròn 30 tuần GS. Lý giờ đã bát tuần, hết lòng nâng niu một tài năng trẻ trung tràn trề nhựa sống như Sơn. Nhưng rồi anh đành chia tay ông để chuyển tới Đại học Washington ở Seattle, bên bờ Thái Bình Dương ấm áp, nơi khí hậu dễ chịu hơn đối với một người vốn sinh ra ở vùng nhiệt đới như anh. Chính tại Seattle, không "ăn theo", "nấp bóng" một “cây đa cây đề" nào cả, bằng tư tưởng tượng mạnh mẽ của chính mình và những tính toán chi li, cẩn trọng, Đàm Thanh Sơn và cộng sự đã khám phá ra một quy luật mới của vật lý học. Nguồn: Sài Gòn tiếp thị * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
  11. Qua một số trích dẫn và nhận định của các tác giả liên quan đến nhiều mặt kinh tế, xã hội, quân sự, văn hóa, khảo cổ..., về mặt cá nhân, Hoangnt có nhận định về thành Cổ Loa như sau: 1. Trước khi Loa thành được xây dựng bởi vua An Dương Vương, thì Phong Châu tại Việt Trì Phú Thọ không phải là kinh thành của các vua Hùng, bởi lý do địa thế bất thuận lợi quân sự, kinh tế và xã hội. Cho tới nay, khi vực này cũng không phát triển tương ứng như các khu vực khác, thông thường các nền văn hóa đi đôi với các dòng sông mẹ và tồn tại, phát triền cùng thời gian. Khảo cổ không chỉ ra có các di chỉ kinh thành cổ cũng như các di vật mang khía cạnh của một đô thành, với các sản phẩm dành cho vương quyền. Đặc trưng là các trống đồng, tuy nhiên chúng ta cũng biết rằng: Mã Viện đã tiêu hủy không biết bao nhiêu trống đống cổ xưa của Lạc Việt, đặc biệt loại Heger I (cách phân loại dĩ nhiên cần bàn thêm, ta chỉ nhận định niên hạn lịch sử). 2. Cấu trúc của Cổ Loa cũng tương tự, nhưng lại nằm mạn Đông Bắc nếu lấy Hà Nội làm tâm, nằm bên kia sông Hồng, không thuận lợi về mặt ý nghĩa quân sự, xã hội và kinh tế đối với một Thành đô. Vấn đề này xảy ra tương tự ở Phong Châu Việt Trì, Phú Thọ. Tuy nhiên, nếu xét về mặt quân sự thì phù hợp cho vị trí của một tòa thành bảo vệ cho Đô thành chính, tức mang ý nghĩa trấn thành thì phù hợp hơn. Đặc biệt, nhận định cuộc chiến từ phía Bắc tràn sang trong thời kỳ của vua An Dương Vương. 3. Di chỉ khảo cổ tại Cổ loa đơn giản như mũi tên đồng... không thể nói lên điều gì cả so với thời kỳ văn minh đồ đồng của toàn khu vực và thế giới, các học giả quá quan trọng điều này. Theo ngôn ngữ, được phân tích bởi tác giả Lãn Miên, Phong Châu là một vùng đồng bằng, nằm ở khu vực Hà Nội/ Hà Tây hiện nay đây cũng là một thông tin quý, tôi nhận định rằng kinh thành của các vua Hùng trước thời An Dương Vương chính là thành Thăng Long bây giờ, tuy nhiên chưa khẳng định nó phải là trung tâm hành chính để quản lý toàn bộ vùng Nam Dương Tử hay không? và tên cũ xưa có phải là Thăng Long hay không?. Mối quan hệ giữa Loa Thành và Thăng Long cần phải xem xét, ta biết có Long Biên Thành: nhận định chính là Loa thành hay Long Thành, Loa thành còn có tên Tư Long. Như vậy, Loa thành chính là Long Thành. Vậy, Thăng Long có tên là gì trước đấy, tra cứu lại thì có nhiều tên và có một tên hết sức đáng chú ý là Phượng Thành. Vậy thì, Phượng Thành và Long Thành rất tương hợp về mặt ý nghĩa tên gọi, cũng như địa thế tương quan quân sự. Các di chỉ khảo cổ và phát lộ hoàn toàn ở Thăng Long hiện nay cho ta thấy sự phù hợp về ý nghĩa của một nơi kinh thành, và chú ý nó được xây dựng và phát triển đến ngày nay, trở thành thủ đô là hoàn toàn hợp lý về sự phát triền văn minh sông Hồng, giống như văn minh sông Hằng, Hoàng Hà vậy... Long Thành bảo vệ Phượng thành phải là một học thuyết quân sự hợp lý khi chuẩn bị cho các cuộc chiến quan trọng. Nếu tấn công Phượng Thành thì phải vượt qua Long Thành và sông Hồng, thời gian này đủ để triều đình có phương án chuẩn bị nếu thất thủ. (Tóm tắt thôi, nếu viết hết thì cũng kha khá). Thăng Long hay Phượng Thành có phải là trung tâm hành chính quản lý toàn bộ khu vực Nam Dương Tử hay không cũng sẽ được phân tích tiếp tục. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
  12. Lược Sử Vũ Trụ - Big Bang và Lý Thuyết Dây (trích lại) Cho đến đầu thế kỷ 20, bằng chứng thực tiễn duy nhất về nguồn gốc vũ trụ là bầu trời ban đêm tối đen. Nghịch lý Olbers (1823) cho rằng nếu vũ trụ vô tận trong không-thời gian thì nó phải có nhiều sao đến mức khi nhìn lên bầu trời, tia mắt ta bao giờ cũng gặp một ngôi sao. Và ta sẽ thấy bầu trời luôn sáng rực như mặt trời, ngay cả vào ban đêm. Nhưng thực tế bầu trời ban đêm lại tối đen. Thật thú vị là trong bài thơ văn xuôi dài Eureka năm 1848, Edgar Poe cho rằng, đó là do các ngôi sao không đủ thời gian để chiếu sáng toàn vũ trụ. Vậy bầu trời đêm tối đen chứng tỏ vũ trụ không tồn tại mãi mãi. Không chỉ đứng vững trước thử thách của thời gian mà giả thuyết còn đóng vài trò quyết định trong việc hình thành lý thuyết Vụ nổ lớn (Big Bang). Lược sử thuyết vụ nổ lớn Cơ sở lý luận của Big Bang là thuyết tương đối tổng quát, cho rằng không thời gian là các đại lượng động lực, phụ thuộc vật chất đồng thời chi phối vật chất (lưu ý quan niệm của Engels, cho rằng không-thời gian là hình thức tồn tại của vật chất). Điều đó dẫn tới việc không-thời gian và do đó vũ trụ có thể có khởi đầu và kết thúc, một ý tưởng mà ban đầu chính Einstein cũng tìm cách chống lại. Để vũ trụ là tĩnh (không tự suy sụp do hấp dẫn), ông đưa ra một hằng số vũ trụ có tác dụng phản hấp dẫn. Năm 1922, Friednam tìm được nghiệm của phương trình Einstein cho một vũ trụ động, gần như đồng thời với giả thuyết nguyên tử nguyên thuỷ của linh mục Lemaitre. Bằng chứng quyết định là phát hiện vũ trụ giãn nở của Hubble những năm 1920. Cho đến lúc đó, dải Ngân hà của chúng ta được xem là toàn bộ vũ trụ. Với viễn kính 100 inch tại núi Wilson, Hubble thấy Tinh vân Tiên nữ, một thiên hà sóng đôi cách 2 triệu năm ánh sáng, đang tiến lại gần chúng ta (theo ngôn ngữ vật lý dựa trên hiệu ứng Dopler, phổ của nó dịch về phía xanh). Khảo sát các thiên hà khác, ông thấy chúng đang tản ra xa (phổ dịch về phía đỏ). Điều đó có nghĩa vũ trụ gồm hàng tỷ thiên hà đang tản xa nhau. Vũ trụ hiện đang giãn nở và các thiên hà ngày càng xa nhau chứng tỏ trong quá khứ chúng gần nhau, khi vũ trụ có kích thước nhỏ hơn. Suy diễn ngược thời gian sẽ đi đến thời điểm khai sinh, khi toàn vũ trụ tập trung tại một điểm, mới có mật độ, nhiệt độ và độ cong không-thời gian vô hạn. Và một vũ trụ bùng nổ 15 tỷ năm trước đã khiến vũ trụ sinh thành. Đó là mô hình Big Bang tiêu chuẩn. Năm 1946, nhà vật lý George Gamow thấy rằng, ngọn lửa sáng thế buổi hồng hoang vẫn để lại “vết lông ngỗng” qua bức xạ tàn dư trải trên toàn vũ trụ, nay lạnh chỉ còn cỡ 3 độ K (trên độ không tuyệt đối). Năm 1965, hai kỹ sư vô tuyến điện Penzias và Wilson tình cờ phát hiện được bức xạ này khi chế tạo một ăng ten có thể bắt sóng từ vệ tinh. Như từng xẩy ra trong lịch sử, giải Nobel danh giá được trao cho phát kiến tình cờ của hai người ngoại đạo! Năm 1991, vệ tinh Cobe đo được phông bức xạ hoá thạch 2,7 độ K này với độ chính xác rất cao. Và Big Bang được thừa nhận rộng rãi. Khá hài hước là cái tên thuyết Big Bang lại do nhà thiên văn Hoyle đặt ra năm 1950 nhằm chế diễu lý thuyết này. Ông là người đề xuất thuyết vũ trụ dừng (steady state) năm 1948, theo đó vũ trụ không có khởi đầu và kết thúc; sau khám phá bức xạ tàn dư, nó đã chết vẻ vang như hầu hết các lý thuyết khoa học khác. Thuyết Big Bang lạm phát Cuối những năm 1970, mô hình Big Bang tiêu chuẩn bị đối mặt với một số thách thức, trong đó có vấn đề tính đồng nhất của vũ trụ. Tại sao vũ trụ lại tương đối đồng nhất, như bức xạ hoá thạch chứng tỏ? Đó là lý do Guth và Linde giả định một sự giãn nở lạm phát từ 10 mũ -35 tới 10 mũ -32 giây sau Big Bang. Trong giai đoạn cực ngắn đó, vũ trụ giãn nở nhanh hơn ánh sáng, với bán kính tăng một ngàn tỷ tỷ tỷ lần. Như quả bong bóng phồng lên rất nhanh thì các nếp nhăn ban đầu giãn ra với độ nóng gần như nhau, sự giãn nở đó khiến vũ trụ trở nên đồng nhất. Đó là thuyết Big Bang lạm phát, một lýthuyết giải quyết được nhiều bài toán vũ trụ học. Big Bang từ đâu xuất hiện? Big Bang sinh ra vũ trụ, vậy cái gì sinh Big Bang? Năm 1951, nhà thờ tuyên bố Big Bang chính là hiện tượng của đấng sáng tạo, nên giới khoa học đưa ra nhiều giả định nhằm tránh quan điểm đó. Một giả thuyết là vũ trụ luân hồi của Wheeler, cho rằng lực hấp dẫn sẽ thắng dần sự giãn nở và vũ trụ co về Vụ co lớn(Big Bang Crunch). Và vụ bùng nổ tiếp theo sẽ khiến vũ trụ hồi sinh từ đống tro tàn. Quá trình cứ lặp lại mãi với các pha co giãn xen kẽ nhau. Đáng tiếc Big Crunch không phải là đối xứng gương hoàn hảo của Big Bang, và các vụ nổ sẽ ngày càng lớn hơn. Vì thế vũ trụ vẫn có thể có điểm khởi đầu tối hậu, một chủ đề thần học ưu thích. Một vấn đề cũng được giới thần học ưu thích là giá trị của các hằng số vật lý (như khối lượng điện tử hay tốc độ ánh sáng). Người ta rất ngạc nhiên là chỉ cần một trong hàng chục hằng số vũ trụ đó thay đổi giá trị một phần trăm, vũ trụ đã diễn biến khác hẳn và con người không thể xuất hiện để nghiên cứu vũ trụ. Nên một số nhà khoa học cho rằng, vũ trụ đã được hiệu chỉnh cực kì chính xác nhằm tạo ra con người. Vì thế nhà thiên văn học Trịnh Xuân Thuận, là một phật tử, đặt niềm tin vào ý chí tối cao. Không đồng ý với niềm tin đó, nhiều nhà khoa học nêu giả thuyết các vũ trụ song song hay đa vũ trụ. Có thể hình dung một cách trực quan qua trò thổi bong bóng xà phòng, mỗi bong bóng là một vũ trụ với hệ qui luật và các giá trị hằng số riêng. Phần lớn các vũ trụ không thích hợp với sự sống. Vũ trụ chúng ta chỉ là một bong bóng may mắn có các hằng số thích hợp để con người xuất hiện. Đây chính là sự tiếp bước Copernicus đến giới hạn tột cùng. Không chỉ tước bỏ vị trí trung tâm của Trái đất hay mặt trời, nó còn cho rằng Ngân hà chỉ là một trong vô vàn các thiên hà vũ trụ; thậm chí vũ trụ chúng ta cũng chỉ là một bong bóng mất hút giữa ngút ngàn các bong bóng đa vũ trụ. Và đa vũ trụ này có thể mất hút giữa vô vàn các đa vũ trụ khác. Tuy nhiên dường như đó chỉ là những suy đoán thuần tuý, vì ta chưa có thuyết hấp dẫn lượng tử để nhìn qua bức tường Planck, hiện được xem là giới hạn của nhận thức (thời gian Planck là 10 mũ -43 giây, độ dài Planck là 10 mũ -33 cm, nhỏ hơn kích thước nguyên tử 10 triệu tỷ tỷ lần. Nếu khuếch đại nguyên tử lớn bằng vũ trụ nhìn thấy, độ dài Planck sẽ bằng một cái gậy!). Toàn bộ lập luận trên dựa trên thuyết tương đối tổng quát (mô tả cấu trúc vĩ mô) và cơ học lượng tử (mô tả cấu trúc vi mô). Đáng tiếc là hai thuyết không tương thích nhau. Ở qui mô vũ trụ, có thể bỏ qua các thăng giáng lượng tử xuất hiện do nguyên lý bất định Heisenberg. Còn ở các cấu trúc nhỏ cỡ kích thước Planck, các thăng giáng đó rất mạnh nên giả thuyết không-thời gian biến đổi liên tục và nhẵn của thuyết tương đối bị phá vỡ. Người ta nói các quy luật khoa học bị phá vỡ tại các kì dị (là vùng nhỏ hơn độ dài Planck nên mật độ vật chất lớn vô hạn). Big Bang trong lý thuyết dây Lý thuyết trường lượng tử xem các hạt cơ bản (như điện tử, quark....) là chất điểm không kích thước. Năm 1984, lý thuyếtdây xuất hiện để thống nhất thuyết tương đối và thuyết lượng tử, hai nền tảng của vật lý hiện đại. Theo đó cấu tử cơ bản của vũ trụ là dây một chiều (giống đoạn dây nhìn từ xa nên dường như chỉ có chiều dài), màng hai chiều (giống tờ giấy mỏng vô hạn) hay các thực thể nhiều chiều hơn (đến 10 chiều). Chúng luôn dao động và các kiểu dao động cộng hưởng được xem là các hạt cơ bản mà ta thấy. Khác với không-thời gian bốn chiều trong thuyết tương đối, không-thời gian trong lý thuyết dây có 11 chiều, với bảy chiều cong lại và nhỏ bằng độ dài Planck. Đó là lý do ta sống trong 11 chiều mà chỉ “thấy” bốn chiều đã trải rộng ra nhờ vụ nổ lớn. "Quá đẹp nên chỉ có thể hoặc đúng hoàn toàn hoặc sai hoàn toàn" (phê phán năm 1986 của Sheldon Lee Glashow, nhà vật lý hạt cơ bản đoạt giải Nobel), lý thuyết dây chứng tỏ các qui luật vật lý của thế giới “nhỏ” sau bức tường Planck hoàn toàn đồng nhất thế giới “lớn” trước bức tường. Điều đó cho phép đưa ra kịch bản mới cho Big Bang, theo đó khởi thuỷ không phải là một kì dị, mà là một trạng thái “hấp dẫn lượng tử” kích thước Planck với 11 chiều. Rồi một vụ nổ khiến bốn chiều không-thời gian giãn ra tạo nên vũ trụ (lý thuyết dây giải thích được tại sao bảy chiều khác vẫn cong nhỏ như trước). Và nếu co lại, vũ trụ cũng không co về điểm kì dị chung cục Big Crunch (như mô hình Big Bang tiêu chuẩn), mà chỉ co đến kích thước Planck rồi lại nở ra. Quá trình có thể lặp lại mãi như thế. Theo lý thuyết dây thì vũ trụ chúng ta cũng có thể là một màng bốn chiều, vốn là biên của một hình cầu năm chiều. Nằm cách ta một khoảng cách vi mô trong chiều thứ năm là một màng khác, được gọi là màng bóng (như hình với bóng, nhưng bóng cũng thực như hình). Hai màng hình và bóng chỉ tương tác nhau qua lực hấp dẫn. Khi đó vật chất hay năng lượng tối của màng này chính là vật chất thông thường của màng bên cạnh. Hai màng có thể tự co giãn và va chạm nhau. Đối với chúng ta (đang sống trên một màng), cú và chạm chính là Big Bang. Và có thể có nhiều vụ nổ và co lớn nhỏ nối tiếp hay xen kẽ nhau. Điều đó giúp loại bỏ niềm tin về một ý chí tối cao. Đa vũ trụ từ đâu xuất hiện? Vũ trụ chúng ta là một trong những bong bóng mang tên đa vũ trụ. Vậy đa vũ trụ từ đâu xuất hiện và xuất hiện như thế nào? Câu trả lời là đa vũ trụ xuất hiện từ hư vô do nguyên lý bất định Heisenberg. Nguyên lý bất định của cơ học lượng tử nói rằng, không thể xác định chính xác đồng thời vị trí và tốc độ của một hạt vi mô. Đó là hệ quả của lưỡng tính sóng hạt. Vì thế giá trị của các trường vật lý phải khác không ngay cả trong chân không, tức giá trị (hay vị trí) và sự biến thiên (hay tốc độ) được xác định chính xác đồng thời (đều bằng không). Đó là điều nguyên lý bất định cấm, nên các trường phải khác không và luôn thăng giáng. Trường là tập hợp các hạt, trường biến thiên có nghĩa các hạt luôn xuất hiện rồi biến mất. Năng lượng của hạt càng lớn thì nó biến mất càng nhanh. Tương tự như thế, một bong bóng năng lượng cũng có thể xuất hiện rồi lại biến mất. Đó là cách để đa vũ trụ xuất hiện từ hư vô. Cần lưu ý rằng, năng lượng của vật chất là dương, còn năng lượng hấp dẫn là âm, nên nếu đa vũ trụ là “phẳng” trong không thời gian 11 chiều, hai dạng năng lượng có giá trị bằng nhau. Kết quả là năng lượng toàn vũ trụ bằng không, và nguyên lý bất định cho phép nó tồn tại mãi mãi. Đó là ý tưởng độc đáo đến mức, khi được George Gamow kể cho nghe tại Viện nghiên cứu tiền phong Princeton (Mỹ) cuối những năm 1940, Einstein đứng sững giữa đường khiến hai người suýt bị xe đâm chết. Đôi điều suy ngẫm Chỉ trong vòng một thế kỷ, nhận thức nhân loại về vũ trụ đã trải qua nhiều bước đột phá. Sự thống nhất giữa vi mô và vĩ mô, như thể hiện trong lý thuyết dây, cho phép đưa ra bức tranh tổng thể về nguồn gốc, tiến hoá và kết cục của vũ trụ. Theo đó vũ trụ chúng ta chỉ là một trong vô vàn các bong bóng của một đa vũ trụ mênh mang, huyền bí (theo nghĩa ta không thể giao du). Và đa vũ trụ này có thể xuất hiện một cách tự nhiên từ hư vô với tổng năng lượng bằng không, cho dù năng lượng của từng vũ trụ có thể có giá trị tuỳ ý. Từ không hiện hữu biến thành hiện hữu, đó chính là một bữa tiệc không mất tiền tối hậu (?). Vậy tại sao có nguyên lý bất định để vũ trụ có thể sinh thành từ hư vô? Tại sao bộ máy không-thời gian lại cho phép tổng năng lượng chính xác bằng không để vũ trụ tồn tại mãi mãi? Vẫn có người xem đó là dấu ấn của một đấng tối thượng. Một số người như Stephen Hawking lừng danh qua tác phẩm Lược sử thời gian, 1988, với hơn 10 triệu bản bán trên thế giới – thì dùng nguyên lý vị nhân (một giả thuyết mang tính hậu nghiệm, xem vũ trụ phải diễn biến thích hợp để con người xuất hiện) để cho rằng, nếu vũ trụ không như vậy thì làm sao có con người để băn khoăn về vũ trụ. Số khác thì đồng ý với Brian Greene trong cuốn Vũ trụ duyên dáng (đấu giá được hai triệu đô la từ NXB, tái bản ba lần sau một tháng ấn hành năm 1999) rằng, lý thuyết dây có thể là con đường dẫn về xuất phát điểm của một lý thuyết có tính tối hậu cao hơn trong tương lai. Và nhân loại đang từng bước vươn tới các vì sao. Đỗ Kiên Cường * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
  13. Vụ nổ Big Bang là gì? Cập nhật lúc 11/04/2011 Chuyên mục Giải đáp tuần này sẽ mang đến cho bạn đọc những thông tin về Vụ nổ lớn Big Bang theo cách dễ hiểu và phổ thông nhất. Tôi đọc báo, thỉnh thoảng nghe thấy nói đến Big Bang, chẳng hạn “Các nhà vật lý đang tái tạo lại vụ nổ Big Bang trên máy gia tốc lớn”. Vậy Big Bang là gì, người”bình thường” như tôi có thể hiểu được không? Trả lời: Với câu hỏi này, xin cố gắng giải thích thật dễ hiểu. Vũ trụ là gì? Một câu hỏi lớn đã từng đặt ra trước nhân loại suốt bao nhiêu thế kỷ. Thời xưa ở Trung Hoa cổ đại, nhà triết học Lão Tử đã cho vũ trụ là một tồn tại “vô thuỷ, vô chung, vô cùng, vô tận”. Nhưng đến thế kỷ 20, với sự tích luỹ các kiến thức của vật lý vi mô và vật lý thiên văn, cho phép một học thuyết mới ra đời, cho rằng vũ trụ có một điểm khởi đầu để hình thành. Đó là vụ nổ lớn Big Bang. Như vậy Big Bang là vụ nổ đầu tiên để từ đó đồng thời sinh ra không gian, năng lượng và vật chất để tạo ra vụ trụ như hiện nay. Một thời gian dài, lý thuyết này bị coi là một lý thuyết siêu hình nhưng các thành tựu gần đây của vật lý hạt cơ bản và kết quả quan sát những cấu trúc thiên văn lớn nhất đã cung cấp một kịch bản phù hợp với cấu trúc và sự phức tạp hoá dần dần của vật chất trong lòng vũ trụ nên ngày càng được thừa nhận rộng rãi. Theo kịch bản này, khởi thuỷ vũ trụ nguyên thuỷ chỉ là một đại dương cực kỳ đặc và nóng (đây vẫn là điều phải thừa nhận). Rồi vụ nổ lớn Big Bang xảy ra, từ đó bắt đầu toàn bộ các biến cố sau này. Hình ảnh tưởng tượng về vụ nổ Big Bang. Ảnh: The Sun Vũ trụ nguyên thuỷ chỉ là một thứ “cháo đặc” gồm những hạt quark và electron chuyển động theo một hướng gần với vận tốc của ánh sáng. Tuỳ theo những va chạm không ngừng diễn ra, mà một số hạt huỷ lẫn nhau, một số khác lại sinh ra. Trong pha đầu tiên, thứ “cháo” đó bao gồm các đối tượng lượng tử mang điện tích, quark và phản quark. Rồi thứ “cháo” đó giàu thêm những hạt và phản hạt nhẹ được gọi chung là lepton (electron, nơtron và những phản hạt của chúng). Một phần triệu giây sau Big Bang, nhiệt độ hạ xuống tới 10.000 tỉ độ Kenvin (thường gọi tắt là độ K. Về giá trị, O độ K bằng -273,16 độ C), lúc này xuất hiện các hạt nặng đầu tiên (proton và nơtron) nhờ các hạt quark kết hợp với nhau. Rồi các lepton sinh sôi nảy nở rất nhanh, đến lượt chúng chiếm hàng đầu trong vũ trụ. Nhưng nở ra nên vũ trụ nguội dần đi. Khi nhiệt độ hạ xuống tới 10 tỷ độ K thì proton và nơtron bắt đầu kết hợp với nhau để tạo thành đơteri. Lúc đó đồng hồ vũ trụ chỉ 1 giây, nhưng năng lượng của các photon vẫn đủ lớn để nhanh chóng phá vỡ hạt nhân đầu tiên đó. Mãi 3 phút sau, khi nhiệt độ hạ xuống tới 1 triệu độ K thì photon mới không còn khả năng phá vỡ các liên kết hạt nhân. Khi ấy trong vũ trụ đã có hoạt động hạt nhân rất mạnh dẫn tói sự hình thành các hạt nhân nguyên tử nhẹ như đơteri, heli 3, liti 7 và heli 4… 15 phút sau Big Bang, quá trình tổng hợp hạt nhân ban đầu đó mới kết thúc, nhiệt độ hạ xuống quá thấp, không đủ đảm bảo cho phản ứng hạt nhân xảy ra. 300.000 năm sau, vũ trụ nguội đi xuống dưới 3000 độ K và trở nên trong suốt, electron không chuyển động nhanh như trước nữa. Các hạt nhân có thể giữ các electron lại, tạo thành các nguyên tử, tạo ra các “viên gạch xây” của vũ trụ. Do tương tác giữa photon và các nguyên tử rất nhỏ nên chúng có thể lan truyền tự do. Vật chất, ánh sáng và các loại bức xạ khác tràn xa ngày càng mỏng dần khi vũ trụ giãn nở. Hàng tỉ năm sau, những đám mây khí khổng lồ bắt đầu phân tán. Mỗi đám mây trở thành một thiên hà rồi dưới tác dụng của lực hấp dẫn hình thành các chùm sao, các vì sao trong khi vũ trụ vẫn tiếp tục mở rộng. Kịch bản “thú vị” về Big Bang sau này được hỗ trợ bởi 3 dẫn chứng của Vật lý thiên văn. Thứ nhất, năm 1929, Hubble (Mỹ) chứng minh được sự dịch chuyển có hệ thống trong quang phổ của các thiên hà về phía màu đỏ, chỉ ra rằng chúng đang rời xa chúng ta với tốc độ tỷ lệ với khoảng cách tới chúng ta. Đó là dấu hiệu cho thấy rằng vũ trụ đang nở ra và không gian trong đó các thiên hà cùng chuyển động cũng đang nở ra theo thời gian. Thứ hai, năm 1965, Penzias và Wilson (Mỹ) khám phá : luồng bức xạ vô tuyến thể hiện những tính chất giống nhau trong mọi hướng và tương ứng với bức xạ nhiệt của vật đen ở nhiệt độ khoảng 3 độ K. Điều này phù hợp với giả định về vụ nổ Big Bang: bức xạ đó là thông điệp của ánh sáng cổ nhất đến từ vũ trụ ban đầu. Đó là những photon đầu tiên bắt đầu lan truyền tự do sau khi vũ trụ đã trở nên trong suốt và ánh sáng dịch chuyển về phía những bước sóng lớn. Thứ ba, từ những năm 1970, các nhà khoa học đã phát hiện nhiều nguyên tố nhẹ như đơteri, heli 3, heli 4 và liti 7 trong vũ trụ, đặc biệt heli 4 chiếm đến 25% bất kể vùng không gian nào, phù hợp với giả định heli là chất khí sinh ra ở những khoảnh khắc đầu tiên của vụ nổ Big Bang. Từ những năm 1980, với sự phát triển của Vật lý hạt nhân và Vật lý lý thuyết gắn với nó, người ta giải thích được nốt 2 diều “khó hiểu” còn lại của Big Bang là sự vắng mặt của phản vật chất và không tồn tại sự cong của vũ trụ ở những quy mô lớn. Tuy nhiên, cái điểm 0, từ đó mọi thứ bắt đầu thì rõ ràng đối với các nhà khoa học vẫn chỉ là một… giấc mơ vì nó cực kỳ khó dưa ra một giả thuyết, thậm chí nhiều người còn cho là “quá sức” của kiến thức nhân loại. Đó là thời khắc mà cái lò lửa ban đầu có nhiệt độ 1032 K (tức 100.000 tỷ tỷ tỷ độ) thì vật chất sẽ diễn biến như thế nào? Theo thang thời gian thì ranh giới cuối cùng của tri thức hiện nay ở vào quãng 10-43 giây sau Vụ nổ lớn. Đó là thời điểm Planck. Chỉ có thể nghiên cứu được điểm đó khi một nhà khoa học thiên tài nào đó đưa ra được lý thuyết về sự hấp dẫn lượng tử. Cái thời điểm 0 bí hiểm ấy hiện được các nhà khoa học gọi là “điểm kỳ dị ban đầu” để che giấu sự lúng túng của mình. Có lẽ tạm thời người ta đành phải dựa vào niềm tin tôn giáo chăng? Đây là chuyện học thuật với nội dung chuyên môn hơi sâu. Chỉ có thể giải thích một cách “đơn giản” như thế. Hy vọng với kiến thức phổ thông, chúng ta vẫn có thể hiểu được Big Bang là gì và những diễn biến sau đó như thế nào để tạo ra vũ trụ của chúng ta. ----------------------------------------------------------------------- Theo Lý học Đông Phương thì Bigbang có hay không theo cách giải thích khởi nguyên vũ trụ này. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
  14. Big bang? Người ta chỉ có thể giải thích nguồn gốc Big bang là do Thượng đế. Còn theo Lý học: Không có Big Bang.. Giả sử là có Bigbang thì phải giải thích được tồn tại sự vô hạn của "vô cùng nhỏ" và "vô cùng lớn" đang tồn tại ngay sau Bigbang. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
  15. Trong sách chiêm tinh cổ của Việt Nam, quyển “Thái Ất” được Trạng Trình dùng để viết sấm dự đoán cũng cho rằng, cứ mỗi 25.920 năm cực Bắc của Trái đất sẽ hướng về chòm sao Bắc Cực mới và ngôi sao cực Bắc sắp tới sẽ là sao Vega. Kinh thật. 25.920 năm với sai số bằng 0 vì vũ trụ là thể thống nhất, chính xác hơn cả khoa học hiện đại.
  16. ALBERT EINSTEIN VÀ ĐẠO PHẬT Năm 1911, Ông là giáo sư vật lý ở Prague. Năm 1913, ông được mời làm giám đốc Học Viện Vật Lý Hoàng Đế Wilhelm tại Berlin. Đến năm 1921, ông được trao giải thưởng Nobel về Vật lý học qua đề án nghiên cứu "Lý Thuyết Tương đối" (The Theory of Relativity). Trong thế chiến thứ nhất (1914-1918), ông từng bị tống giam vì tội "chống chiến tranh và ủng hộ hòa bình". Sau khi Adolf Hitler (1889-1945) trở thành quốc trưởng của Đức, ông ra sức chống lại chủ nghĩa phát xít và rời bỏ nước Đức sang sống tại Hoa Kỳ. Từ năm 1933 đến năm 1945, ông là giáo sư toán và lý tại Viện Cao học Princeton ở bang New Jersey. Phát xuất từ lòng căm thù chủ nghĩa phát xít mà ông đã giúp cho Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt (1882-1945) chế tạo bom nguyên tử và cuối cùng bị xem là "cha đẻ" của thứ vũ khí giết người này. Đây cũng là lý do mà về sau năm 1950, ông thành lập Viện Kiểm Soát Nguyên tử Quốc tế tại Hoa Kỳ. Ba thập niên cuối đời mình, ông dành thời gian để nghiên cứu về "Lý thuyết thống nhất giữa lực hấp dẫn và hiện tượng điện quang" (The Theory of unify gravitation and eletro-magnetism). Mặc dù bận rộn nghiên cứu và giảng dạy khoa học, nhưng ông Einstein vẫn dành thời gian nhất định để nghiên cứu triết học và tôn giáo, đặc biệt trong đó có Đạo Phật. Theo tài liệu "The World As I See It" (Trần thế khi tôi nhìn thấy nó, nhà xb Philosophical Library, New York, 1949) và quyển "Ideas and Opinions" (Những Ý Kiến và Những Quan Điểm, nhà xb Crown, NY, 1945) là hai tuyển tập những bài báo, bài tham luận về tôn giáo và khoa học mà ông Einstein viết từ đầu những năm ba mươi. Đáng chú ý trong tập này là các bài như "Religion and Science" (Tôn giáo và Khoa học), viết từ 1930; bài "Science, Philosophy & Religion, A Sumposium" (Khoa học, Triết học và Tôn giáo, một buổi hội thảo) viết năm 1941; bài "Religion and Science: Irreconcilable?" (Tôn giáo và Khoa học: không thể hòa giải được sao?) viết vào năm 1948. Theo các tài liệu trên thì chính A. Einstein tự xem mình là một người thuộc về tôn giáo. Tôn giáo của ông được người ta biết qua lý thuyết khoa học của ông. Ông bác bỏ sự thần thánh hóa trong tôn giáo, ông quan tâm đến đời sống con người ở hiện tại và ngay cả sau khi chết. Trong các buổi hội thảo về triết học và tôn giáo, có lúc ông trích dẫn lời của Chúa, rồi có khi ông dẫn lời trong kinh Phật. Quan điểm của ông về tôn giáo chưa bao giờ có hệ thống và nhất quán. Tuy nhiên, với trí tuệ sắc bén và lòng ngưỡng mộ của ông đối với các tôn giáo đã giúp cho ông hiểu đúng và chính xác về các tôn giáo mà ông để tâm nghiên cứu. Ông vẫn thường nhắc nhở các nhà khoa học nên học hỏi ở các tôn giáo để bổ sung cho những khiếm khuyết của khoa học. Ông nói: "Khoa học mà thiếu tôn giáo là khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng" (Science without religion is lame. Reigion without science is blind). Cũng theo các tài liệu trên cho thấy, ông đã nghiên cứu Đạo Phật qua các sách báo của các học giả Phật học của người Âu Mỹ viết, đáng kể là triết gia người Đức Schopenhauer Arthur (1788-1860), tiến sĩ người Đức Paul Carus (1852-1919), viện sĩ hàn lâm người Nga Vasily Vasaliyey (1818-1900)... là những nhà Phật học nổi danh ở phương Tây. Nhờ nghiên cứu như vậy mà A. Einstein đã nhìn thấy Đạo Phật như là một triết lý phương Đông cực kỳ sống động và triết lý ấy đã đi vào cuộc đời bằng chân lý thực chứng của mình, ngỏ hầu cắt ngang sự chậm tiến, lạc hậu, mê tín, cuồng tín và kém văn minh của thời đại. Đạo Phật đã đem lại cho con người một cái nhìn mới, một lối sống mới, một sự hài hòa mới, sống với nhau như ánh sáng trong không gian, chan hòa với nhau như nước với sữa. Chính vì thấy rõ cái độc đáo đó mà ông Einstein đã phát biểu về Đạo Phật như sau : "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó" (The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sence, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description). Đồng thời, một lần khác ông cũng khẳng định rằng: "Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học" (If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, becauseit embrances science as well as goes beyond science). (Cả hai câu trên được trích từ Collected famous quotes from Albert Einstein. http://rescomp,stanford,edu/~ cheshire/ Einstein quotes.htm). Dù những lý thuyết khoa học của ông rất phức tạp và khó hiểu, nhưng tấm lòng nhân đạo và mến chuộng hòa bình của ông đã khiến cho mọi người cảm thấy gần gũi với ông. Ông đã cống hiến tất cả trí tuệ và sức lực của mình đối với sự phát triển khoa học của nhân loại. Ông làm việc không biết mệt mỏi cho đến ngày qua đời. Ông mất vào lúc 1giờ 25 phút rạng sáng ngày 19 tháng 04 năm 1955 tại Princeton, Hoa Kỳ, hưởng thọ 76 tuổi. Ngày nay, đối với mọi tín đồ Phật Giáo trên khắp năm châu đều thành kính khi nhắc đến tên tuổi của ông, người đã từng góp phần khẳng định lại giá trị vĩnh cửu đối với Giáo lý của Đạo Phật. Nếu hiểu được nội dung trên, ta đã đi hình dung cái đích cuối cùng, còn phương pháp ứng dụng thì phải qua một số quy trình thực tiễn dựa trên một lý thuyết siêu việt. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
  17. Chào Bác Lãn Miên. Hầu hết các cuốn sách viết về lịch sử Việt Nam đều có đề cập tới cuốn Sơn Hải Kinh nhưng chưa tới nay vẫn không có bản dịch tiếng Việt. Sơn Hải Kinh có thể liên quan đến lịch sử cổ đại Văn Lang, kèm theo đây là bản mô tả. SƠN HẢI KINH ***** Sơn Hải Kinh là cổ tịch thời Tiên Tần của Trung Quốc, trong đó chủ yếu mô tả các thần thoại, địa lý, động vật, thực vật, khoáng vật, vu thuật, tông giáo, cổ sử, y dược, tập tục, dân tộc thời kỳ cổ đại. Sơn Hải Kinh nguyên bổn có hình vẽ mô tả hẳn hoi, gọi là “Sơn Hải Đồ Kinh”, nhưng bản này đến đời Ngụy Tấn thì thất truyền. Có học giả cho rằng, Sơn Hải Kinh không chỉ đơn thuần là quyển sách ghi lại truyện thần thoại, mà là thứ sách địa lý thời cổ đại, bao quát nhiều loài chim thú khắp núi sông vùng Hoa Hạ lẫn các lãnh thổ hải ngoại. Tác giả và thời gian hoàn thành Sơn Hải Kinh chưa được xác định, trước thì cho rằng do Bá Ích và Đại Vũ làm, nhưng hiện giờ các học giả Trung Quốc cho rằng thời gian để hoàn thành sách này trải qua nhiều kỳ, làm bỡi nhiều tác giả khác nhau, niên đại vào khoảng từ thời Chiến Quốc kéo dài cho đến đầu thời Hán. Sách có thể là do nhiều người ở nước Sở, Sơn Đông, Ba Thục cùng người từ nhiều địa phương khác, đến thời Hán thì được tập hợp lại để làm sách dạy học. Sơn Hải Kinh chuyển tải nhiều thần thoại cố sự mang màu sắc thần bí với hàng loạt quái thú kỳ dị. Trong sách có rất nhiều chuyện được viết từ lời truyền khẩu, tập hợp thành nhiều bản khác nhau. Bản sách được cho là sớm nhất được hai cha con Lưu Hướng, Lưu Hâm soạn thành. Thời Tấn có Quách Phác chú thích và khảo chứng Sơn Hải Kinh. Thời Minh có Vương Sùng Khánh làm “Sơn Hải Kinh thích nghĩa”, Dương Thận làm “Sơn Hải Kinh bổ chú”, Ngô Nhâm Thần làm “Sơn Hải Kinh nghiễm chú”. Thời Thanh, Ngô Thừa CHí soạn “Sơn Hải Kinh địa lý kim thích”, Tất Nguyên làm “Sơn Hải Kinh Tân Giáo Chánh”, Hác Ý soạn “Sơn Hải Kinh tiên sơ”. Thời Dân quốc có lưu hành bản “Sơn Hải Kinh giáo chú” của Viên Kha rất đáng quan tâm. Toàn bộ Sơn Hải Kinh có 18 quyển, trong đó Sơn Kinh có 5 quyển, Hải Kinh có 8 quyển, “Đại hoang kinh” có 4 quyển, “Hải nội kinh” một quyển, cộng lại khoảng 31.000 chữ. Nó mô tả trọn 100 quốc gia (nhỏ, bên trong Trung Quốc thời xưa), 550 núi, 300 thủy đạo, cùng các phong cảnh địa lý, phong thổ, sản vật của các nước. Trong Sơn Kinh còn có một bộ phận mô tả về vu sư, phương sĩ, và từ quan – những lớp người chuyên cầu đảo phong thuật rất thịnh hài thời xưa. Kinh được miêu tả theo lối truyền kỳ, nhưng có có chút ít giá trị khoa học, rất đáng tham khảo cho người nghiên cứu về sử học, văn học, và ... dịch thuật. Trong Sơn Kinh có bảo tồn nhiều nghi thức tế lễ thần thánh, có thể làm bản đối chiếu và nghiên cứu “Chu lễ” thời xưa, ví dụ như các bản mối được phát hiện thêm như “Bao sơn sở giản”, “Vọng sơn sở giản”, “Tân Thái sở giản”. Truyền thuyết về Nữ Oa thời cổ đại cũng là từ Sơn Hải Kinh mà ra. Các kiệt tác trứ danh khác bao gồm: “Khoa phụ đuổi theo mặt trời”, “Nữ oa vá trời”, “Hậu nghệ bắn rụng chính mặt trời”, “Hoàng đế đại chiến Xi Vưu”, “Thần Cộng Công giận quá đập đầu vào Chu sơn dẫn đến cơn Đại hồng Thủy”, “Cổn (Cha của vua Hạ Vũ/Đại Vũ) trộm Tức nhưỡng trị thủy thành công”, “Thiên đế lấy lại Tức nhưỡng, giết Cổn, cho đến khi vua Đại Vũ trị thủy thành công. Ngoài ra, Sơn Hải Kinh còn ghi lại những sự kiện kỳ quái mà hầu hết cho đến nay vẫn còn đang được tranh luận. Sách này án theo đất đai ghi lại sự kiện, chứ không ghi theo thời gian. Trong đó, hầu hết sự vật đều phát sinh từ hướng nam, sau đó mới dần lên hướng Tây, hướng Bắc, rồi tới trung bộ (Cửu Châu) của đại lục. Cửu Châu được vây quang bỡi Đông Hải, Tây Hải, Nam Hải, Bắc Hải. Việc thuận theo hướng Nam – Tây – Bắc – Đông này rất khác với thuận hướng Đông Nam Tây Bắc sau này, so với các thư tịch ghi lại chuyện các đại đế thời cổ thường ngồi xoay mặt về hướng nam, rồi quan niệm “thiên nam địa bắc” ... nhất định có liên quan. Từ thời cổ đại, Trung Quốc cứ nhất mực lấy Sơn Hải Kinh làm sách tham khảo cho các đại sử gia, ngay cả như Tư Mã Thiên cũng nhận định trong Sử Ký của mình: “Chí Vũ Bổn kỷ, Sơn Hải Kinh sở hữu quái vật, dư bất cảm ngôn chi dã” Sơn Hải Kinh có 18 quyển, tạm thời phân ra 5 quyển phần Sơn kinh và 13 quyển Hải kinh: Sơn Kinh Quyển 1: Nam Sơn Kinh: Bao gồm Thước Sơn, Chiêu Diêu Sơn, Đường Đình Sơn, Viên Dực Sơn, Nữu Dương Sơn, Để Sơn, Đản Viên Sơn, Cơ Sơn, Thanh Khâu Sơn Quyển 2: Tây Sơn Kinh Quyển 3: Bắc Sơn Kinh Quyển 4: Đông Sơn Kinh Quyển 5: Trung Sơn Kinh Hải Kinh Quyển 1: Hải Ngoại Nam Kinh Quyển 2: Hải Ngoại Tây Kinh Quyển 3: Hải Ngoại Bắc Kinh Quyển 4: Hải Ngoại Đông Kinh Quyển 5: Hải Nội Nam Kinh Quyển 6: Hải Nội Tây Kinh Quyển 7: Hải Nội Bắc Kinh Quyển 8: Hải Nội Đông Kinh Quyển 9: Đại Hoang Đông Kinh Quyển 10: Đại Hoang Nam Kinh Quyển 11: Đại Hoang Tây Kinh, bao gồm: Bất Chu Sơn, Hàn Thử Tuyền, Thấp Sơn, Mạc Sơn, Vũ Công và Công Quốc Sơn, Thục Sĩ Quốc, Nữ Oa Chi Tràng, Thạch Di, Cuồng Điểu, Bạch Dân Quốc, Trường Hĩnh Quốc, Tây Chu Quốc, Thúc Quân, Xích Quốc, Song Sơn, Phương Sơn, Quỹ Cách Tùng, Tiên Dân Quốc, Bắc Địch Quốc, Mang Sơn, Quế Sơn, Dao Sơn, Thái Tử Trường Cầm, Hoàng Điểu, Loan Điểu, Phượng Điểu, Xa Tự Ngọc Môn Sơn, Linh Sơn, Thập Vu, Tây Vương Mẫu Sơn, Hải Sơn, Hác Sơn, Ốc Quốc, Thanh Điểu, Long Sơn, Tam Náo, Nữ Sửu Thi, Nữ Tử Quốc, Đào Sơn, Kiền Thổ Sơn, Trượng Phu Quốc, Yểm Châu Sơn, Minh Ô, Hiên Viên Quốc, Yểm Tư, Nhật Nguyệt Sơn (Ngô Cơ Thiên Môn Sơn), Hư, Thiên Ngu, Thường Hi, Huyền Đan Sơn, Hoàng Ngao, Mạnh Dực Công, Chuyên Húc Trì, Ao Ngao Cự Sơn, Bình Bồng, Vu Sơn, Hác Sơn, Kim Môn Sơn, Hoàng Cơ Thi, Bỉ Dực Điểu, Bạch Điểu, Thiên Khuyển, Côn Lôn Sơn, Côn Lôn Thần, Nhược Thủy, Viêm Hỏa Sơn, Tây Vương Mẫu, Thường Dương Sơn, Hàn Hoang Quốc, Nữ Tế, Thọ Ma Quốc, Hạ Canh Chi Thi, Ngô Hồi, Cái Sơn Quốc, Chu Mộc, Nhất Tí Dân, Đại Hoang Sơn, Tam Diện Nhất Tí Nhân, Hạ Khải, Hỗ Nhân Quốc, Linh Kiết, Ngư Phụ, Đại Vu Sơn, Kim Sơn... Quyển 12: Đại Hoang Bắc Kinh Quyển 13: Hải Nội Kinh
  18. Ở các chùa chiền cũng có giếng mắt rồng, có chùa thì thấy 1 mắt, có chùa lại thấy hai mắt (tham khảo bài viết chuyên đề của giả tác Dienbatn trong mục Phong Thủy). Theo truyền thuyết các giếng này được tạo ra là do Cao Biền bắn các mũi tên từ trên không xuống khi cưỡi diều giấy đi tìm long mạch nước Nam để trấn yểm, không biết có thật không. Ngoài ra chúng ta cũng thấy Đền giếng tại Đền Hùng ở trên núi Nghĩa Lĩnh cũng lại chỉ có một, đặc biệt nước lại luôn đầy mặc dù ở cao độ vượt trên mực nước ngầm hàng mấy chục mét. Vật thì giếng mặt rồng tại đình, đền, chùa được giải thích theo bố cục phong thủy thế nào là hợp lý?. Thật khó khăn. - Có 1 hay 2 giếng. - Vị trí theo phong thủy? so với Đình, Đền, Chùa. - Nguyên nhân có nước ở cao độ rất cao so với mực nước ngầm. ... * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
  19. Vậy có nên đọc thêm lịch sử Mông Cổ hoặc của các bộ lạc đó nay thuộc Trung Hoa?. Các bộ lạc này có khả năng thống nhất cao độ để đánh chiếm hay không? Sức mạnh này chỉ thấy vào thời Thành Cát Tư Hãn. Hoàng Đế và các câu chuyện truyền thuyết lại không thấy trong truyền thuyết của Văn Lang như Thánh Gióng chẳng hạn?. Chúng không rõ có ghi nhận lại trong sách sử như Kinh Thư thay vì truyền thuyết hay không (sẽ kiểm tra lại).Vùng Hoàng thổ có thể ở đâu? phải chăng nghiên cứu địa lý... trong Kinh Thư... Theo truyền thuyết phía Bắc Trường Giang cũng thuộc Lạc Việt (Đế Minh giao cho...: và không thấy nói về vấn đề liên quan bằng các câu chuyện khác), như vậy ranh giới vùng này tới...? Vấn đề này có thể chồng lấn vào vùng đất của Hoàng Đế. Nếu Kinh Thư... chỉ ra các 9 Châu thuộc vào cả Nam Trường Giang và Bắc Hoàng Hà thì kết quả là? Và giả sử Nhà Hạ là Lạc Việt thì phía Bắc thiếu sử? >>> phải kiểm tra lại tính hợp lý của Kinh Thư về địa lý, văn hóa... kèm theo bản đồ thời chiến quốc/ Thời Tần. Giao điểm giữa thời nhà Chu và thời chiến quốc thì rất có thể dễ dàng thấy dòng chảy lịch sử?. Đặc biệt thời nhà Hạ cũng nắm rõ ADNH... mới chia 9 châu, quan sát thiên văn, xuân thu tế lễ...: chứng tỏ có giao lưu văn hóa đôi bên? vì Lạc Việt là chủ nhân của học thuyết. Có thể cùng sử dụng ngôn ngữ nên bản ban đầu Kinh Thư, Kinh Lễ... là chữ nòng nọ được chuyển tải qua chữ Hán sau này bởi Không Tử? nếu ta xem phía Bắc là độc lập với Văn Lang. Cũng xem lại vụ việc hòa hiếu về tiến Rùa ngàn năm và chim trĩ trắng tương ứng trong khoảng thời gian nào giữa đôi bên. Khoảng thời gian từ Hiên Viên tới nhà Hạ đã đủ nắm bắt ADNH... áp dụng chặt chẽ vào việc quản lý đất nước chưa?.Nếu: Hạ Thương Chu là vùng phía Bắc cũng không đồng nghĩa Hiên Viên là thủ lĩnh các bộ lạc Mông Cổ phía Bắc khi xem trận chiến là với Phương Nam (Xuy Vưu). Nếu Hiên Viên thắng thì tại sao có khoảng trống lịch sử giữa Hiên Viên và hậu duệ là các Đế Cốc... và còn nhiều thứ nữa...
  20. 2300 tỷ là gấp rưỡi cầu Mỹ Thuận. Cảm giác giống như khám thờ ngoài trời hay gặp ở các vùng nông thôn. Kinh hoàng.
  21. Vua Quang Trung cầu hôn Công Chúa Ðại Thanh Rất nhiều tài liệu sử học ghi lại về triều đại Tây Sơn, trong đó có xác nhận việc Vua Quang Trung xin cầu hôn Công chúa nhà Thanh. Ðây là nàng công chúa đẹp nhất và cũng là người con gái được cưng chiều nhiều nhất của Càn Long. Nhưng, đối với chuyện này, đã có một số ít sử gia phủ nhận, cho rằng việc cầu hôn chỉ là việc đang còn trong dự tính. Dầu sao tất cả mọi vấn đề đều mang ý nghĩa của màu sắc chính trị! Bài dươi đây, người viết chỉ xin ghi lại những gì sưu tầm được, đúng hay sai, tất nhiên vẫn tùy vào cách phán xét theo suy nghĩ của từng độc giả. Tập 2, trang 208, của bộ "Tây Sơn Liệt Truyện", xuất bản 1986 tại Bình định ghi rằng: "Vua Quang Trung sau khi quyết định đánh Trung Quốc, đã sai bề tôi là Chiêu Viễn Vũ Văn Dũng đi sứ sang nhà Thanh, dâng biểu xin cầu hôn và đòi lại đất 2 tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây. Ðiều đó không phải là do bản tâm của vua Quang Trung, chẳng qua chỉ muốn xem thử ý của nhà Thanh ra sao mà thôi, nhưng vừa lúc ấy Quang Trung bị bệnh rồi mất". Quyển 30, tờ 41b, "Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện" ghi: "Năm Nhâm Tỵ (1792), vua Quang Trung sai làm biểu văn sang nhà Thanh cầu hôn, để dò ý vua Thanh và cũng để mượn cớ gây mối binh đao, nhưng vua bị bệnh không đi được". Cả hai tài liệu, cho chúng ta thấy:Việc vua Quang Trung cầu hôn Công chúa nhà Thanh mới chỉ là việc dự định, và trong đó cũng còn mang thêm ý đồ bành trướng lãnh thổ Ðại Nam về phương Bắc, bằng mọi cách đòi lại cho được 2 tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây. Ðây là hai tỉnh thuộc nước Nam Việt thời Triệu Ðà (năm 207 trước Tây lịch) mà nhà Hán đã thôn tính. Năm 1913, báo "Trung Bắc Chủ Nhật", số Tết Quí Mùi, trang 20, 21, 28 dưới tựa bài: "Phải chăng vua Càn Long nhà Thanh đã bằng lòng trả lại cho vua Quang Trung tỉnh Quảng Tây để làm nơi đóng đô, và gả Công chúa". Tác giả bài báo dựa vào gia phả dòng họ Vũ, do ông Vũ Vĩnh Thứ, cháu ba đời của Vũ Văn Dũng soạn năm Bính Ngọ, niên hiệu Tự Ðức 22 (1869), trong đó có kèm tờ sắc mệnh của vua Quang Trung gửi Vũ Văn Dũng (tháng Tư Âm lịch - 1791), do một người thân cận của nhà vua cử đi (từ Phụng Hoàng Trung đô - Nghệ An). Chính người này trực tiếp mang đến trao tận tay cho Vũ Văn Dũng trong khi ông nầy đang nghỉ tại tư dinh. Bản sắc mệnh với nội dung như sau: "Sắc, Hải Dương Chiêu Viễn Ðại Ðô đốc Ðại Tướng quân Dực vận công thần Vũ Quốc Công tiến gia lĩnh Bắc sứ kiêm toản ứng tấu thỉnh Ðông, Tây Lưỡng Quảng dĩ khuy kỳ tâm, công chúa nhất vị dĩ kích kỳ nộ. Thận chi! Thận chi! Kỳ dụng binh hình thế tận tại thử hành. Tha nhất tiền phong. Khanh kỳ nhân dã. Khâm tại sắc mệnh. Quang Trung tứ niên, tứ nguyệt, thập ngũ nhật." (Sắc, Hải Dương Chiêu Viễn Ðại Ðô đốc Ðại Tướng quân Dực vận công thần Vũ Quốc Công được tiên phong làm Chánh Sứ đi Trung Quốc, kiêm lãnh toàn quyền trong việc tâu thưa để xin lại đất hai tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây để dò ý và cầu hôn với một công chúa để khiêu khích tự ái. Cẩn thận đấy! Cẩn thận đấy! Hình thế dụng binh là ở chuyến nầy cả. Ngày kia làm tiên phong chính là khanh đấy. Sắc mệnh nhà vua. Quang Trung năm thứ tư, tháng tư ngày mười lăm.) Vũ Văn Dũng nhận sắc, dẫn đầu đoàn sứ thần Ðại Nam sang Trung Hoa, khi đến nơi, được vua Càn Long cho bệ kiến. Hình thức của việc cầu hôn cũng như xin đất đóng đô đều nằm trong âm mưu đòi lại đất xưa của Triệu Ðà, nếu giả thử vua Trung Quốc không chấp thuận, tất nhiên vua Quang Trung có cớ xuống chỉ giao cho Vũ Văn Dũng giữ việc dụng binh đánh Ðại Thanh lấy lại hai tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây. Theo như tài liệu trong gia phả của họ Vũ, thì vua Thanh là Càn Long đã phê ngay vào tờ biểu, rồi trao ngay cho triều thần đình nghị. Ngay ngày hôm sau, Vũ Văn Dũng được vua Thanh gọi vào bệ kiến tại Ỷ Lương Các. Vũ Văn Dũng được vào gặp vua Thanh, tiếp tục tấu xin Càn Long chuẩn cho hai yêu cầu nêu ra ngày hôm trước. Ngoài mặt vua Càn Long coi như chuẩn cho cả hai điều kiện, nhưng trong thâm tâm chỉ muốn trả lại một tỉnh Quảng Tây, gọi là làm đất đóng đô mà thôi, và cũng còn được gọi là "của hồi môn" cho con gái cưng của mình. Ðể chuẩn bị chu đáo cho mọi diễn biến cuộc hôn nhân, vua Càn Long giao cho bộ Lễ, sửa soạn nghi thức cưới gả, chọn ngày tốt cho Công chúa sang nước Nam vầy duyên cùng vua Quang Trung. Mọi việc tiến hành đúng theo như dự tính... Nhưng, ở đời mọi việc như đều do trời sắp xếp, vì "mưu sự tại nhân, mà thành sự tại thiên", cho nên chỉ mấy ngày sau, Vũ Văn Dũng nhận được mật tin từ Phú Xuân: "vua Quang trung băng hà!" Cả đoàn sứ thần nước Nam âm thầm, buồn bã, cấp tốc trở lại Phú Xuân. Mọi người phải xem như không có chuyện gì xảy ra, giấu nhẹm hung tin, và chỉ trình lên vua Thanh: "Cả sứ đoàn phải về nước gấp, để phụng mạng mới". Tất cả những tài liệu còn lại mà chúng ta hiện có, việc cầu hôn công chúa Thanh cho vua Quang Trung chỉ có như vậy! Nhưng, ông Nguyễn Thượng Khánh muốn tô vẽ thêm, ông cho rằng vấn đề hôn lễ trọng đại giữa hai nước này, đã được vua Quang Trung cũng như vua Càn Long thỏa thuận chuẩn bị một cách chu đáo tại cửa ải phân chia hai nước, ngay cả lễ động phòng hoa chúc cũng phải được diễn ra luôn tại nơi đây. Sự bịa chuyện này, ông Khánh, rõ ràng có chủ đích, vì "nó" là việc chứng minh thêm cho luận cứ của mình: rất có lý và hấp dẫn hơn khi gán tội bà Hoàng Hậu Ngọc Hân "vì trong cơn ghen tức mà phải giết chồng bằng chén thuốc độc..." (xem thêm Nghi Án Liều Ðộc Dược- Trí Thức Việt Nam Cuối Thế Kỷ 18, tác giả Hồ Văn Quang). Bộ "Bang giao lục" thời Tây Sơn có ghi lại 3 bức thư và một bài biểu (Thỉnh hôn biểu), sau đây xin trích lại lời dịch bài biểu cầu hôn của vua Quang Trung như sau: "Thần là kẻ áo vải, được nhờ ơn cả, lạm giữ cõi Nam. Từ khi vào triều cận nơi cung khuyết (Phạm Công Trị giả vua Quang Trung vào chầu Càn Long năm 1790) đã được đặc cách làm lễ bảo kiến vấn an. Lại được ban thưởng trọng hậu, ân sủng dồi dào. Phàm là việc mà cõi phương Nam từ xưa nay chưa ai từng được ưu hậu như thần cả. Ðến khi thần về nước, lại được đặc ân mọi bề, cấp ban thánh chỉ, ơn cao lồng lộng của nhà vua thật không sao kể ra cho xiết! Thần là kẻ nhỏ nhoi ở nơi hẻo lánh xa xôi chẳng ngờ lại được hưởng ân lộc đến thế! Tấm lòng canh cánh ngày đêm mong sao sớm được đền đáp. Song thần chưa có dịp để thực hiện. Chỉ mong được thường gõ cửa trời, gần nhìn bóng nhật, nhưng ở phương xa, núi sông cách trở. Sức muốn làm nhưng không được như ý. Hễ qua khỏi cửa ải Nam Quan thì thân cũng hóa thành sơ. Thần những mơ tưởng khúc nhạc quân thiều, ngóng trông vân hán, hằng e mình rồi cũng đến như hạng tầm thường, bị liệt ra ở ngoài vòng thanh giáo làm phụ lòng công ơn trời bể của Thánh từ! Trộm nghĩ, thánh nhân tỏ lòng giúp đỡ phiên thần để nối lại chỗ sơ thành ra thân thiết, phần việc đều cư xử như đạo xưa. Nước thần ban đầu, vua Kinh Dương Vương chịu mệnh nơi Viêm Ðế, bà Âu Cơ kết duyên cùng vua Lạc Long. Tổ nước Văn Lang mở cõi Giao Chỉ, trăm trai nối dõi, từng làm phên dậu phía Nam, may nhờ phúc ở Trung Hoa, được nổi danh là văn hiến thế đại, dẫu đã xa nhưng sử sách còn đủ để khảo xét. (Xem thêm Các vua Hùng, cùng tác giả đăng trong tạp chí Hạc Trắng, số ra tháng 8/97 của Hội Cao Niên Á Mỹ). Từ khi nhà Tống dấy lên, ràng buộc nước thần, nên mới ra ngoài vòng đức hóa, không liệt vào hạng minh đường, chỉ để như hạng hành bộc khác mà thôi. Nhà Thanh ta được trời quyết cố, rộng đến muôn phương, chỗ nào có bóng mặt trời soi đến đều coi muôn dân như chung một bọc, như con một nhà. Kính nghĩ, Ðại Hoàng đế Bệ Hạ đức ngang với trời đất, đạo cao hơn vua Hiên vua Nghiêu, vỗ về cho chư hầu mến phục, dịu dàng cho người xa hướng về không phải là kiểu tầm thường như các triều đại gần đây. Thần lạm được thánh thượng coi như con ruột, liệt vào hạng thân vương. Phận này, dù tận nơi xa khuất, nhưng tình ấy vẫn kể như vô cùng. Thiết nghĩ, muôn vật đều không giấu mình được với trời đất. Con cái không thể giấu được tính với mẹ cha, thì chuyện riêng của gia đình cũng không dám che dấu được với bậc chí tôn. Mới đây, nhà thần gặp việc không may (Mẹ vua Nguyễn Thị Ðồng mất năm 1790, Chánh cung họ Phạm mất năm 1791), thiếu người giữ việc chăm lo hương khói. Trên nền xây dựng phong hóa cũng thiếu người đỡ đần. Vậy muốn núp dưới bóng cây ngọc để bám vững vào gốc dân. Ngưỡng trông thánh triều phát tích từ nơi Trường Bạch, mang đến phúc lành cho con cháu hàng ngàn hàng ức, nối đời phồn thịnh. Lâu nay cứ việc là vua thì chọn những nơi quí hiếm để gả Công chúa chứ không có lệ lập hôn đến các phiên thần ở cõi phương xa. Phép luật đã nghiêm nhặt như thế, thì làm sao có thể vươn tới cành ngọc cho được, chỉ vì một nỗi niềm riêng tư trông ngóng, việc cứ trăn trở mãi không thôi. Ngẫm mong cành ngọc nhà trời lan rộng đến mọi chốn mọi nơi, ngõ hầu thần được hưởng phúc lành theo dấu gót lân, đem phong hóa quan thư ban ra cho mọi lẽ, những việc tề gia thuận thảo ở chốn gia đình sẽ là mẫu mực để dân trong nước học theo. Tập làm quen với nề nếp chốn Trung Hạ, gạt bỏ thói cũ, khiến thần dân trong nước thỏa niềm ước mong của vòng đức, hóa, cao sang. Mong sao dòng dõi của thần, đời đời được giữ mãi làm phiên phong, hưởng mọi sự tốt lành! Ðó là điều mong lớn nhất của thần! Do ở phương xa lại có việc xảy ra bất trắc nên thần đã bàn với bầy tôi, ai cũng không dám, nhưng vì thần mà họ đề nghị phải làm. Cửa vua muôn dặm, trông ngắm đăm đăm. Nay đành đánh bạo mà làm, tự nghĩ cũng cần nên cân nhắc, nhưng vì tỏ lòng thành kính, sai kẻ bồi thần sang xin triều kiến thay mặt thần, họ sẽ nói lên nỗi lòng thần muốn bày tỏ. Mong sao cho được đấng anh minh rủ thương, xét cho thần vì tấm lòng chân thành, trìu mến, tha thứ cho thần những lời mạo muội, táo bạo trong việc xin cầu hôn. Thần ở biển Nam, ngóng trông sao Bắc xin kính chúc thánh thiên tử sống lâu muôn tuổi, mãi mãi là cha mẹ của dân vạn nước. Thần xiết bao lo lắng, ngóng mong!" Người xưa gan dạ hơn người nay nhiều! Vì nước vì nhà, vì giang sơn xã tắc, vì sanh linh, chấp nhận tất cả, không ngần ngại ăn gan rồng, uống mật gấu, để thực hiện cho bằng được chuyện ích quốc lợi dân... Ước gì vua Quang trung chỉ cần sống thêm chừng vài tháng nữa, chờ đến khi Vũ Văn Dũng đem tin vui về, lúc đó đất nước Việt Nam sẽ rộng lớn hơn nhiều lần như ngày nay, danh xưng Nam Việt thời Triệu Ðà vẫn được dùng lại, kinh đô Phú Xuân nay đang nằm chễm chệ trên đất Quảng Tây! Và dĩ nhiên vị anh hùng Nguyễn Huệ của chúng ta sẽ lập thêm một hoàng hậu nữa... để sánh bước cùng Ngọc Hân Công Chúa, nâng con số lên đến 3! Suy cho cùng, tuy lập hơi nhiều Hoàng Hậu thật, nhưng nếu so với vua Ðinh Tiên Hoàng, hoặc vua Lê Ðại Hành thì vua Quang Trung vẫn còn ít hơn!!! HỒ VĂN QUANG Ðặc san QUANG TRUNG - TÂY SƠN Xuân Kỷ Mão 1999
  22. Do đó sự phát minh ra lý thuyết thống nhất hoàn chỉnh có thể không giúp gì cho sự sống sót của chúng ta. Nó thậm chí cũng không ảnh hưởng gì đến lối sống của chúng ta. Ảnh hưởng cực lớn. Nó giúp chúng ta thoát khỏi vòng cường tỏa của sự vận động vật chất trong vũ trụ ngay cả khi Thái dương hệ bị hủy diệt. Cái này thì Tây phương CHỊU. Từ trên, hệ quả nó ảnh hưởng đến lối sống và cách hành xử của chúng ta đối với vũ trụ, trái đất, giữa con người với con người và muôn loài, cũng như xây dựng được một niềm tin đích thực trong cuộc sống để dẫn dắt chúng ta. Nhưng ngay từ buổi bình minh của nền văn minh, loài người đã không bằng lòng nhìn những sự kiện như những thứ rời rạc và không giải thích được. Họ đã khao khát hiểu biết cái trật tự nằm sâu kín trong thế giới. Ngày hôm nay chúng ta cũng vẫn trăn trở muốn biết tại sao chúng ta lại ở đây và chúng ta từ đâu tới. Khát vọng tri thức, khát vọng sâu xa nhất của loài người, đủ để biện minh cho sự tìm kiếm liên tục của chúng ta. Và mục đích của chúng ta không gì khác hơn là sự mô tả đầy đủ vũ trụ, nơi chúng ta đang sống. Đỉnh cao cuối cùng là khám phá ra được Lý thuyết thống nhất vũ trụ vì chúng chính là cái đích của trí thức, từ đấy giải thích tại sao chúng ta có mặt nơi đây và tương lai sẽ về đâu, nếu biết nơi về thì bằng phương pháp nào có thể giải thích được nó và cách tiếp cận?. Giải thích về thế giới là không phải do một vị thần thánh nào tạo ra cả: vấn đề này cho tới nay tất cả đều bất lực trong cách tiếp cận để chứng minh, ví dụ giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ (cũng là một phần trí thức cần tìm kiếm và rõ ràng nó thuộc lý thuyết thống nhất vũ trụ). Để giải thích và chứng minh nó thì phải tìm ra lý thuyết thống nhất vũ trụ và áp dụng nó vào đời sống con người. Nếu chúng ta vận dụng chính xác các tương tác... theo lý thuyết trên thì: Hệ quả là không có thần thánh nào tạo ra vũ trụ cả mặc dù chúng ta cũng là một sản phẩm siêu đẳng của vũ trụ. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
  23. Hãy xem lại tiêu đề của cuốn sách này "Tài năng và đắc dụng": phải chăng đang lập lèm mục đích viết?. Vĩ nhân so sánh với???. Kiếm khá lắm! Phúc Lộc Thọ mãn đường.
  24. Có những sai lầm lớn về mặt phương pháp luận và tự mâu thuẫn đến lủng củng của "hầu hết những nhà khoa học trong nước" này. VL (và chắc hẳn nhiều người khác) cũng nhận thấy điều đó. Họ kết luận xanh rờn rằng lãnh thổ của nước Văn Lang xưa chỉ giới hạn ở đồng bằng Bắc Bộ (trong khi 3/4 diện tích cần đào bới thì lại ở bên kia biên giới). Thật là buồn cười. Nếu như họ tự nhận là "nhà khoa học" thì nên tổ chức một cuộc hội thảo công khai về Việt sử với sự tham gia của SP Thiên Sứ. VL tin rằng mọi chuyện sẽ tỏ tường. VL cho rằng lịch sử văn hóa Việt 5000 năm văn hiến rồi sẽ được công nhận nhưng còn mất thời gian để đạt được điều này (Đỗ Lưu Niên). Vua Quang Trung chuẩn bị "đòi về tạm" 2 vùng Lưỡng Quảng - đất cũ của nước Việt qua "mong ước" cưới công chúa nhà Thanh và đã được thống nhất, rõ ràng thế mà. Cuộc chiến "đốt sách" của Tần Thủy Hoàng chưa xảy ra tỏng vùng đất cũ Văn Lang vì đang trong cuộc chiến và sau đó thất bại. Thời gian sau này, tiến trình mất đất tới nay chỉ còn lại Việt Nam hiện nay nhưng cũng phải nhận định rằng: tài liệu lịch sử và các chứng cứ vật thể đầy rẫy bên Trung Hoa bây giờ, do điều kiện mà ta chưa thể tiếp cận nhiều thôi. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
  25. Theo nghiên cứu của Thiền sư Lê Mạnh Thát, thời An Dương Vương và nước Âu Lạc hoàn toàn là “một phiên bản”, “một hư cấu” dựa theo sử thi Mahabharata của Ấn Độ, và các sử gia Việt Nam đã sai lầm trong quá trình chép sử, từ “Đại Việt sử lược” cho đến các công trình sau này. Nội dung này chưa thể khẳng định được.
×
×
  • Create New...