hoangnt
Hội viên-
Số nội dung
1909 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
6
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by hoangnt
-
Nếu tất cả được hiểu theo nghĩa vật lý thì Dare xếp vào loại chủ nghĩa duy vật tầm thường (ý thức là vật chất). Ý thức không cần là vật chất. Ý thức và vật chất có quan hệ biện chứng. Tâm lý học nghiên cứu ý thức con người, tìm ra quy luật, ứng dụng nó trong đời sống. Giả sử rằng Ý thức đã được chứng minh là vật chất theo nghĩa vật lý thì sự chứng minh minh này đã không là một sự việc tầm thường và là khám vĩ đại và nó cũng sẽ phải được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, đây là điều tất yếu. Thực tại, một số hiện tượng khách quan phản ánh một số tính chất khác với các quy luật của Tâm lý học như đã ví dụ ở trên, dẫn đến xuất hiện một nhận thức hoàn toàn khác biệt về sự tồn tại của Ý thức sau khi chết hay có một số sức mạnh đặc biệt tiềm ẩn của một số con người thông qua Ý thức, vậy thì sự hiểu của Ý thức qua môn Tâm lý học là rõ ràng chưa toàn vẹn, cho nên bản chất của Ý thức cũng cần phải nghiên cứu. Tất cả mọi lý thuyết về quy luật hay quy phạm, tiêu chuẩn được xây dựng hoàn toàn dựa trên những cái mà khoa học đã biết, vậy thì bản chất của Ý thức là cái chưa biết phải chăng cũng có thể là đối tượng của khoa học?. Nếu Ý thức là vật chất thì Ý thức vừa có khả năng điều khiển và cũng chịu sự chi phối của các quy luật vận động của vật chất? vậy Ý thức sẽ có khả năng xử lý, điều chỉnh các vấn đề của cơ thể khi bị bệnh... - đây chính là một thành tựu khác xa với thành tựu y học của Tâm lý học hiện đại đủ nói lên sự quan trọng của việc này. Châm cứu. Khí Công. Thiền...
-
Bí Ẩn Về Một Thế Giới Khác Cùng Tồn Tại Trên Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Luân's topic in Mạn Đàm
KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA TÂM LÝ HỌC đăng 07:21 07-12-2009 bởi VĩnhSơn Nguyễn Mục tiêu học tập 1. Trình bày được khái niệm cơ bản của tâm lý. 2. Trình bày được bản chất của các hiện tượng tâm lý . 3. Trình bày được các phương pháp nghiên cứu cơ bản trong tâm lý học I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ 1 Bản chất của hiện tượng tâm lý Trong đời sống hàng ngày chữ “tâm lý” dùng ở đây mới có thể mới được hiểu theo nghĩa hẹp, để chỉ thái độ, cách cư sử của con nguời. Để hiểu chính xác và khoa học tâm lý là gì, từng hiện tượng tâm lý nẩy sinh và phát triển ra sao, vận hành theo quy luật nào…, loài người đã phải trải qua một thời gian dài nghiên cứu, thử nghiệm; đã phải chứng kiến biét bao cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các khuynh hương khác nhau. Tóm lại tâm lý con người là sự phản ánh chủ quan thế giới khách quan, có cơ sở tự nhiên là hoạt động thần kinh và hoạt động nội tiết, được nẩy sinh bằng hoạt động sống của từng người và gắn bó với các quan hệ xã hội lịch sử. 1.1 Tâm lý là bản chất của vật chất cao cấp Chủ nghĩa duy tâm cổ đại cho rằng, hiện tượng tâm lý là bản chất siêu hình đặc biệt của sinh vật và được gọi là linh hồn. Theo nhà triết học duy tâm cổ đại Hy lạp là Platon (427-347 trước công nguyên ), linh hồn là siêu hình và độc lập với thể xác; con người sống được là nhờ linh hồn liên hệ với thể xác. Khi con người sống, linh hồn là nguyên nhân sinh ra quá trình sống của cơ thể và nó truyền đạt tất cả các hiện tượng tâm lý vốn có của con người. Các nhà duy tâm khách quan, như G. Berkeley ( 1685 – 1753) cho rằng, thế giới ý niệm ra vạn vật, sinh ra thế giới vật chất. Còn các nhà duy tâm chủ quan cho rằng, vốn dĩ có thế giới vật chất, những vật chất cụ thể là do cảm giác của con người mà có. Thuyết linh hồn của Platon ở phương tây, thuyết tâm của đạo khổng phương đông đều tuyệt đối hóa thuộc tính tinh thần của tâm lý, hoàn toàn tách biệt tâm lý khỏi vật chất. Những người theo trường phái “nhị nguyên luận” như Decarte ( 1596 - 1650), đã dùng khái niệm phản xạ để giải thích các hoạt độngcủa cơ bắp đơn giản của động vật, của con người và cho rằng những hoạt động chủ định, có ý thức của con người và là do linh hồn điều khiển. Theo J.Lock tâm lý con người là những kinh nghiệm. Kinh nghiệm bên ngoài do tác động bên ngoài vào giác quan mà có; kinh nghiệm bên trong được sinh ra từ “ ý thức bên trong”, tự nó hoạt động, chỉ tự nó mới biết được nó. Quan niệm nhi nguyên là sự biến dạng của chủ nghiã duy tâm. Đối lập với quan điểm của chủ nghiã duy tâm là chủ nghĩa duy vật. Theo họ, trong vũ trụ bao la chỉ có vật chất là tồn tại mãi mãi và luôn luôn biến đổi, với những tính chất muôn hình muôn vẻ. Tâm lý không tồn tại ngoài vật chất. Quan điểm duy vật thô sơ cho rằng tâm lý là một thứ vật hoặc do các vật chất khác sinh ra như lửa, nước, không khí... Démocrit: Não là chỗ trú ngụ của linh hồn, là trung tâm hoạt động của tâm thần. Aristot (384-322 trước CN): Cảm giác do tác động của vật vào giác quan gây ra, tinh thần là chức năng của thân thể, thị giác là chức năng của mắt. Các nhà duy vật Trung Quốc đã từng dùng thuyết ngũ hành để giải thích nguồn gốc của vật chất (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ). Tuân Tử ( 315-230 trước CN) cho rằng: Thân thế con người sinh ra tinh thần và cái tốt, cái xấu ... đều nằm trong thân thế con người. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tâm lý là biểu hiện của vật chất, là sản phẩm dưới dạng đặc biệt của vật chất có tổ chức cao là bộ não của con người. Sự phát triển của tâm lý luôn gắn với sự phát triển của hệ thống thần kinh. Thế giới vật chất vận động và biến đổi không ngừng từ vô cơ thành thể hữu cơ, từ hữu cơ thành sự sống . Sự phát triển đó liên tục, ngày càng phức tạp, hoàn chỉnh dần và cuối cùng thành sự phản ảnh thế giới khách quan của những sinh vật có hệ thống thần kinh , có não bộ. Mặt khác, sự phản ánh của sinh vật với thế giới xung quanh cũng ngày càng phát triển và hoàn thiện. Những sinh vật đầu tiên có bản tính kích thích, biến đổi để thích nghi với mọi hoàn cảnh, nhờ đó cảm giác phát triển, đó chính là sự bắt đầu của phản ảnh tâm lý. Những phản ảnh ban đầu mang tính chung chung, đơn giản, sau đó phát triển dần thành những cảm giác chuyên biệt ( thị giác, thính giác , xúc giác…). Những sinh vật càng tiến hóa, hoạt động càng phức tạp thì phản ánh tâm lý của chúng càng phong phú và hoàn thiện, với những hình thức như: tưởng tượng, tư duy, xúc cảm, tình cảm…Ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở người. 1.2 Tâm lý có bản chất là phản xạ Hệ thần kinh động vật hoạt động theo cơ chế phản xạ. Những phản xạ này bao gồm các phản xạ không điều kiện và có điều kiện.Phản xạ có điều kiện là cơ chế hoạt động của hệ thần kinh cao cấp, của vỏ não. Hoạt động của hệ thần kinh gắn liền với hoạt động nội tiết của cơ thể và vỏ não là bản chất thực tế bản chất tâm lý.Vì vậy, tất cả các hiện tượng tâm lý đều mang tính chất phản xạ. Các phản xạ được hình thành nhằm đáp ứng mọi kích thích của thế giới bên trong hoặc bên ngoài cơ thể. 1.3 Tâm lý là sự phản ánh thế giới khách quan Tâm lý có nội dung là sự phản ánh chủ quan thế giới khách quan. Sự phản ánh này là muôn màu muôn vẻ và phức tạp. Phản ảnh là một quá trình đi từ nhận thức cảm tính tới nhận thức lý tính rất phức tạp để nhận biết bản thân sự vật hiện tượng từ thuộc tính bên ngoài đến bản chất. Phản ánh là thuộc tính chung của mọi sự vật hiện tượng đang vận động trong không gian và thời gian và thường để lại những dấu vết của nó.Phản ánh tâm lý là những phản ánh đặc biệt tạo ra hình ảnh tâm lý về thế giới khách quan vào bộ óc con người (là vật chất được biến vào con người, là bản sao sinh động, sáng tạo, mang tính chủ thể, các chủ thể khác nhau phản ảnh khác nhau) Trong mối quan hệ qua lại với thế giới xung quanh, con người không chỉ nhận cảm, suy nghĩ, nhớ lại hoặc tưởng tượng ra mà còn thực hiện những hành động khác nhau gây nên những biến đổi thế giới xung quanh nhằm thỏa mãn nhu cầu không ngừng tăng lên của mình. 1.4. Tâm lý con người có bản chất xã hội lịch sử Đây là điểm khác nhau giữa tâm lý người và tâm lý động vật. Con người khi sống trong xã hội lời người đã giao tiếp với nhau, cùng nhau lao động và phát triển xã hội.Tâm lý con người có bản chất xã hội lịch sử, phản ảnh sự hình thành và phát triển của lịch sử xã hội.Trong hoạt động, nhất là trong hoạt động sống, con người đã chuyển các hiện tượng tâm lý của mình vào những sản phẩm vật chất hoặc tinh thần. Ngược lại, khi con người sử dụng các sản phẩm, các công cụ lao động ... con người lại bóc tách những tinh túy tâm lý mà loài người, xã hội gửi gắm vào đó thành hiện tượng tâm lý của riêng mình. Vì vậy, trong mỗi hiện tượng tâm lý của con người đều mang dấu ấn của xã hội mà con người đang ssống và thay đổi theo lịch sử phát triển xã hội mà con người đã trải qua.Con người trên thực tế nếu thoát khỏi các mối quan hệ xã hội thì con người sẽ bị mất bản tính người. Tham gia vào sự hình thành và phát triển tâm lý con người có những yếu tố cơ bản sau: bẩm sinh, di truyền về mặt sinh học hoặc truyền lại cho nhau qua công cụ, đồ vật, hoạt động giao tiếp, giáo dục và tự giáo dục, điều kiện và hoàn cảnh sống… 2 Đặc điểm chung của hiện tượng tâm lý Hiện tượng tâm lý là hình ảnh của thế giới khách quan trong óc người. Là hiện tượng chủ quan nhưng là hình ảnh của hiện tại diễn ra ở thế giới bên trong của con người. Hiện tượng tâm lý có các đặc điểm: 2.1. Tính chủ thể Sự phản ánh tâm lý khác với sự phản ánh cơ giới vào sinh vật, bao giờ nó cũng mang dấu vết riêng của chủ thể phản ảnh. Mỗi chủ thể phản ảnh hiện tượng tâm lý đều thông qua kinh nghiệm, thái độ, xúc cảm riêng của chủ thể, phản ảnh trình độ nghề nghiệp, trí thức và tâm lý riêng của chủ thể. Tính chủ thể khiến cho hiện tượng tâm lý ngoài cái chung ra, còn luôn luôn mang màu sắc riêng của mỗi cá nhân. 2.2. Tính tổng thể của đời sống tâm lý Mọi hiện tượng tâm lý không đứng riêng lẻ mà luôn liên quan tới mọi hiện tượng tâm lý khác. Đời sống tâm lý của cá nhân là trọn vẹn và mỗi hiện tượng tâm lý cũng mang tính toàn vẹn, chủ thể.Mọi hiện tượng tâm lý đều có mối liên quan chặt chẽ đến nhau và chịu sự chỉ đạo tập trung của não bộ. 2.3 Sự thống nhất giữa hoạt động tâm lý bên trong và bên ngoài Tâm lý là hiện tượng thuộc về thế giới bên trong song có liên quan chặt chẽ với thế giới bên ngoài qua những sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài mà nó phản ảnh. Thông qua bản thể vật chất của nó là não bộ và những biểu hiện bên ngoài như hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ vẻ mặt dáng điệu... chúng ta có thể xét đoán được tâm lý bên trong. “Cùng trong một tiếng tơ đồng Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm” (Nguyễn Du) 3 Chức năng của hiện tượng tâm lý Tâm lý phản ảnh thế giới khách quan nhưng khi đã hình thành thì tác động trở lại thế giới hiện thực khách quan.Hiện tượng tâm lý liên quan chặt chẽ với các hiện tượng khác trong đời sống như chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội... Cùng với các hiện tượng khác, hiện tượng tâm lý giúp con người định hướng, điều khiển, điều chỉnh mọi hoạt động của mình làm cho các hoạt động đó thích nghi với thế giới, tiến tới cải tạo thế giới, hoàn thiện thế giới và hoàn thiện cá nhân mình. Hiện tượng tâm lý còn có vai trò lịch sử, vai trò giáo dục nhằm phát triển nhân cách. Trong y học có vai trò chẩn đoán và chữa bệnh. 4 Phân loại các hiện tượng tâm lý Hiện tượng tâm lý có thể được phân thành nhiều loại khác nhau tùy theo dấu hiệu của hiện tượng tâm lý: 4.1 Chia theo thời gian tồn tại của các hiện tượng tâm lý + Các quá trình tâm lý: Bao gồm những hiện tượng tâm lý có mở đầu, có kết thúc và tồn tại trong thời gian ngắn (vài giây, vài phút) như quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, trí nhớ, cảm xúc, ý chí. + Các trạng thái tâm lý: Bao gồm những hiện tượng tâm lý diễn ra không có mở đầu, kết thúc và tồn tại trong thời gian tương đối dài (vài chục phút, có khi hàng tháng trời) làm nền cho các hiện tượng tâm lý khác diễn ra: như trạng thái: lo âu, băn khoăn, lơ đãng, buồn phiền... + Các thuộc tính tâm lý: Bao gồm những hiện tượng tâm lý hình thành trong một thời gian tương đối dài, tạo nên những nét riêng, đặc trưng cho mỗi cá nhân và chi phối các hiện tượng tâm lý khác: như các thuộc tính tâm lý tạo nên xu hướng, khí chất, tính cách, năng lực... 4.2 Chia theo dấu hiệu của từng người hay nhóm người + Những hiện tượng tâm lý cá nhân + Những hiện tượng tâm lý xã hội như dư luận xã hội, tập quán, phong tục mốt... 4.3 Chia theo chức năng hiện tượng tâm lý + Các hiện tượng tâm lý vận động - cảm giác như thị giác, thính giác, xúc giác sự co duỗi của tay chân... + Trí tuệ: bao gồm các quá trình tiếp nhận và sử dụng tri thức như cảm giác, tri giác, tư duy, trí nhớ... + Nhân cách: bao gồm các thuộc tính tâm lý qui định hành vi, giá trị xã hội của con người. 4.4 Chia theo mức độ nhận biết của chủ thể Căn cứ những hiện tượng tâm lý được chủ thể nhận biết được + Ý thức: Bao gồm những hiện tượng tâm lý có ý thức nhận biết, ví dụ: đang suy nghĩ, đang tri giác, đang liên tưởng... + Vô thức: Gồm những hiện tượng tâm lý của bản thân mà không được cá nhân mình nhận biết như: giấc mơ, bản năng tự vệ... + Tiền ý thức: Gồm những hiện tượng tâm lý nằm ở giữa vùng ý thức và vô thức, còn gọi là hoạt động tiền ý thức. Ví dụ: Giấc mơ báo hiệu bệnh tật,... II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHOA HỌC TÂM LÝ 1.Sơ lược lịch sử tâm lý học Từ xa xưa,chỉ bằng quan sát và tự thử nghiệm, con người đã có những nhận xét tinh vi, sâu sắc về hiện tượng tâm lý. Tất nhiên những cách lý giải, mô tả lúc bấy giờ mới chỉ là những hiểu biết kinh nghiệm. Thế kỷ XVII, các khoa học tự nhiên phát triển mạnh. Những quan sát của khoa học này đã chỉ ra mối quan hệ giữa hiện tượng tâm lý và môi trường bên ngoài. Một loạt khái niệm khoa học và phi khoa học đã nẩy sinh ra trong thời kỳ này, như khái niệm về phản xạ, về “ lý tính tối cao” về tâm lý học kinh nghiệm, về sự nảy sinh hiện tượng tâm lý một cách tự nhiên từ vật chất … Đến thế kỷ XIX, thuyết tiến hóa sinh vật của Darwin ra đời, góp phần giải thích nguyên nhân nẩy sinh, phát triển hiện tượng tâm lý từ thấp đến cao, kể cả hành vi bản năng. Sự phát triển của sinh lý học giác quan và sinh lý học bộ não đã chứng minh mối quan hệ giữa hiện tượng tâm lý với hoạt dộng của não và của toàn cơ thể. Khoa học tự nhiên phát triển đã góp phần tích cực vào sự hình thành và phát triển các khoa học về tinh thần. Dựa vào khoa học đó, ngừoi ta đã đi sâu nghiên cứu tâm lý động vật, tâm lý trẻ em, tâm lý người chậm phát triển trí tuệ… Cuối thế kỷ XIX, tâm lý học tách khỏi triết học thành khoa học riêng với tính cách là một khoa học thực nghiệm, mô tả của vật lý học và sinh lý học để nghiên cứu các hiện tương tâm lý Cuộc khủng hoảng về phương pháp luận của tâm lý học truyền thồng đầu thế kỷ XX đã làm nẩy sinh nhiều trường phái tâm lý học. Có trường phái dùng quan điểm sinh vật học để nghiên cứu tâm lý người, như tâm lý học hành vi của Watson ( 1878- 1958) và một số người khác. Trường phái phân tâm học của Freud ( 1858- 1939) dựa trên quan điểm duy tâm, đã quy tâm lý vào bản năng vô thức và cia tâm lý làm ba phần: cái nó ( là cái vô thức, gồm những bản năng) là phần quan trọng nhất, thực chất nhất của tâm lý; cái tôi, là cái hoạt động nhằm thỏa mãn các bản năng vô thức; cái siêu tôi hay là cái tôi lý tưởng, là sự rang buộc của xã hội, của đạo đức… Triết học Mác – lênin đã tác động mạnh mẽ đến tâm lý học. Lý luận phản ánh của các ông đã vạch ra nguồn gốc, bản chất của tâm lý , ý thức của con người, đồng thời chỉ ra đối tượng, nhiệm vụ và phưong pháp của tâm lý học khoa học. Luận điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định tâm lý là chức năng của não và phải nghiên cứu tâm lý con người trên quan điểm xã hội- lịch sử . Cùng với sự phát triển của khoa học khác, tâm lý ngày nay đã lớn mạnh cả về lý thuyết lẫn thức hành. Nhiều ngành tâm lý học mới ra đời( như tâm lý học lao động, tâm lý học thể thao, tâm lý học y học…), một mặt nhằm phục vụ từng lĩnh vực hoạt động cụ thể của con người, mặt khác giúp con người tiếp cận bản chất đích thực của hiện tượng tâm lý nói chung và của bản chất tâm lý con ngừơi nói riêng tốt hơn. 2. Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của tâm lý 2.1. Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học là hiện tượng tâm lý Tâm lý học nghiên cứu xem con người nhận thức thế giới bằng con đường nào (cảm giác? tri giác? tư duy? tưởng tượng?) thái độ xác cảm, tình cảm... của con người đối với những cái mình thấy, những điều mình nghĩ...? Nghiên cứu xem trạng thái tâm lý, kỹ năng, kỹ xảo, ý chí hoạt động của con người.Nghiên cứu tâm lý người, tâm lý động vật, tâm lý cá nhân, tâm lý xã hội... Tâm lý học giới thiệu nội tâm bằng một hệ thống các khái niệm, sự kiện, qui luật, cung cấp những tri thức cần thiết để con người nhận thức, cải tạo thế giới tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người. <a name="222">2.2. Nhiệm vụ của tâm lý học 2.2.1. Nhiệm vụ chung: Nghiên cứu những qui luật khách quan của các hiện tượng tâm lý, bản chất tâm lý cá nhân và những đặc điểm tâm lý các hoạt động của con người. 2.2.2. Nhiệm vụ chủ yếu của các ngành tâm lý chuyên biệt: - Tâm lý Đại cương: Nghiên cứu các qui luật chung của tâm lý - Tâm lý học cá nhân: Nghiên cứu đặc điểm tâm lý cá nhân - Tâm lý học xã hội: Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa tâm lý nhóm và tâm lý cá nhân. - Tâm lý học lứa tuổi: Nghiên cứu đặc điểm tâm lý các lứa tuổi. - Tâm lý học sư phạm: Nghiên cứu tâm lý trong hoạt động giảng dạy và giáo dục -Tâm lý học lao động: nghiên cứu những đặc điểm tâm lý của hoạt động lao động nhằm mục đích hợp lý hóa các hoạt động lao động và tổ chức dạy nghề. - Tâm lý học y học: Nghiên cứu những đặc trưng tâm lý của người bệnh, của nhân viên y tế trong phòng bệnh và chữa bệnh. Ngoài ra còn nghiên cứu đặc điểm tâm lý trong các hoạt động cụ thể khác như tâm lý học thể thao, tâm lý học nghệ thuật, tâm lý học hàng không, tâm lý học quân sự... 2.3. Phương pháp nghiên cứu của tâm lý học 2.3.1 Những nguyên tắc cơ bản trong nghiên cứu tâm lý học - Nguyên lý về sự thống nhất giữa ý thức nhân cách và hoạt động - Nguyên lý về cơ sở vật chất của hiện tượng tâm lý là hoạt động thần kinh cấp cao và tâm lý người có bản chất xã hội - lịch sử. - Nguyên lý về sự vận động, phát triển của hiện tượng tâm lý. - Nguyên lý về mối liên hệ thống nhất giữa các hiện tượng tâm lý với nhau, giữa các hiện tượng tâm lý với các hiện tượng khác, giữa nội tâm và thế giới thực tại khách quan. 2..3.2 Các phương pháp nghiên cứu tâm lý thường được sử dụng - Phương pháp Quan sát và tự quan sát. - Phương pháp đàm thoại, trò chuyện - Phương pháp điều tra - Phân tích sản phẩm - Phương pháp thực nghiệm - Phương pháp trắc nghiệm - Phương pháp mô hình hóa - Phương pháp chuyên gia Mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm nhất định. Tùy từng đối tượng nghiên cứu, tùy mục đích nghiên cứu, điều kiện và hoàn cảnh mà lựa chọn cho thích hợp. -
Bí Ẩn Về Một Thế Giới Khác Cùng Tồn Tại Trên Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Luân's topic in Mạn Đàm
Bằng các sự thật giao tiếp giữa linh hồn (tạm gọi là Thần) với những người đang sống thông qua các nhà ngoại cảm với các kết quả khả quan về một sự thật tồn tại của Thần. Với khả năng nhận biết về quá khứ, hiện tại và một phần tương lai của đương sự làm nảy sinh một câu hỏi: Sau khi ta chết Thần vẫn tồn tại và có nhiều năng lực đặc biệt thì rõ ràng ngay khi ta sống Thần cũng phải có năng lực tượng?. Điều này chỉ ra dưới thân xác, con người đã bị giới hạn một số năng lực nhận biết hơn là sau khi chết. Như vậy, ta hình dung ra như sau: Thần không phát huy được do mối ràng buộc với thân xác như thất tình, lục dục... và nếu chúng ta có thể "dừng" mối quan hệ này thì rõ ràng Thần sẽ xuất hiện trong ta hay chúng ta có thể giao tiếp với người đã mất không cần qua trung gian Nhà ngoại cảm - theo tôi nó chính giác quan thứ 6 mà mọi người hay gọi. Thực tế chứng minh điều này qua các pháp môn đặc biệt của các tôn giáo?. Quay trờ lại mối quan hệ Thần và thân xác - dựa theo thuyết âm dương ngũ hành chúng ta sẽ suy luận như thế nào?. Với việc Thần tồn tại sau khi chết thì ta dễ dàng nhận thấy rằng Lục thập hoa giáp (Lạc thư hoa giáp) là quy tắc áp dụng cho thân xác con người chứ không phải cho Thần. Tuy nhiên, sau khi phân tích về nguyên tắc xây dựng Thập điện Diêm Vương về các lớp vỏ bọc vật chất của Thần và nguyên lý vận động ngũ hành - vật chất chỉ chuyển trạng thái chứ không mất đi thì Thần (Linh hồn) vẫn nằm trong quy luật vận động của vật chất. Như vậy Thần không thể tách rời vật chất và ngược lại ngay khi vật chất biến đổi trong vòng chuyển hóa âm dương ngũ hành hay hoặc Thần nằm trong không gian trái đất hoặc trong toàn thể vũ trụ này. Giả sử thần chính là vật chất thì rõ ràng sau khi chết Thần đã chuyển qua trạng thái vật chất khác mà tại sao còn nhận biết được mọi thứ hơn cả người sống?. điều này chứng tỏ rằng bản chất của Thần khác với vật chất. Vật thì thế giới không chỉ bao hàm vật chất, không thời gian mà còn bao hàm cả Thần. Tiếp tục nhận thấy quan hệ giữa nam và nữ sẽ sinh một người mới tức tạo ra Thần mới, vậy thì tổng hợp lại thì Thần và Người chỉ là một phù hợp với nhận định in đậm trên. Ta tạm gọi Thần là "Tuyệt đối" hay "Bản thể" trong mối quan hệ Tinh - Khí - Thần (phân tích sau). Như vậy động lực nào xây dựng nên sự vận động có quy luật của vũ trụ này (hoặc cho con người). Không còn cách nào khác, thấy rằng Thần chính là trục xương sống của vật chất bởi tính bất biến theo không thời gian của nó, trong khi đó vật chất lại chịu sự chi phối của luật âm dương ngũ hành cũng như giữa Thần và vật chất là mối quan hệ không tách rời. Vậy thì sự vận động âm dương ngũ hành trong vũ trụ được "tự điều khiển và cân bằng" qua trục xương sống Thần. Chúng ta cũng đã biết âm dương ngũ hành vận động chuyển hóa liên tục, nhanh hay chậm tùy sự ổn định và bền vững trong môi trường vũ trụ, con người hoàn toàn phụ thuộc mà không thể ngăn cản, chỉ có thể tác động đến một thành phần nào đó rất nhỏ bé. Vậy thì ta cũng có thể xem âm dương ngũ hành là thuộc tính của Bản thể vận động theo nguyên Lý: Bản thể - Lý - Tượng. Từ đây, nếu mỗi cá nhân nếu có thể làm chậm sự vận động của âm dương ngũ hành của bản thân thì không bị ràng buộc vào quy luật tổng thể vũ trụ. Chúng ta cũng thấy sự tồn tại sau khi chết thông qua các giao tiếp, chứng tỏ "suy nghĩ - nhận thức" chính là vật chất, vật thì Nhận thức không phải là bản thể hay như tạm nhận xét trên nó là thuộc tính của bản thể. Vậy, để ngăn cản ta phải "dừng suy nghĩ - hay vọng khởi", tuy nhiên do Bản thể tồn tại vĩnh viễn cho nên suy nghĩ cũng phải tồn tại vĩnh viễn, vậy chỉ còn cách nhận thức của ta luôn luôn hiểu rõ quy luật này và luôn có yêu đời, yêu người chính là chúng ta đang ở thiên đường vậy, không còn ở Thập điện Diêm Vương nữa. Mỗi chúng ta sẽ sống mãi: sung sướng hay khổ đau là do chính nhận thức này mà thôi. Tinh - Khí - Thần sẽ được luận tiếp. Thân mến. * Phúc Lộc Thọ mãn đường * -
Để giải quyết vấn đề này chỉ còn có các thí nghiệm thực tiễn sao cho "Ý thức" tác động được vào "Sự vật, hiện tượng" thông qua các công cụ đo hoặc bằng chính sự nhận biết trực tiếp của giác quan con người. Ngoài ra còn 1 thí nghiệm khác: Giả sử rằng nếu Ý thức là vật chất thì tự thân nó có khả năng chuyển hóa hay chứng minh có "tiêu tốn năng lượng" hoặc thay đổi tình trạng vật lý... Kính.
-
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người, song đây là sự phản ánh đặc biệt – phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới. Quá trình ấy diển ra ở 3 mặt: sự trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh, mô hình hoá đối tượng trong tư duy hình ảnh tinh thần và chuyển vào mô hình hoá từ tư duy ra hiện thực khách quan hay gọi là hiện thực hoá mô hình tư duy - đây là giai đoạn cải tạo hiện thực khách quan. Chủ nghĩa duy vật biện chứng còn cho rằng ý thức không phải là hiện tượng tự nhiên thuần tuý mà còn gọi là hiện tượng xã hội ý thức bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội khách quan. Đây chính là bản chất xã hội của ý thức. Nếu dùng định nghĩa này thì làm sao làm rõ được Ý thức là vật chất???. Định nghĩa chỉ ra quá trình hình thành nên tư duy chứ không chỉ ra tư duy có phải là vật chất? Như vậy, khả năng nếu ta dùng các định nghĩa của bất kỳ chuyên ngành nào thì đã hoàn toàn bị giới hạn vì chính các định nghĩa đó, do chúng chưa phản ánh được bản chất của hiện tượng "Ý thức". Để giải quyết vấn đề này chỉ còn có các thí nghiệm thực tiễn sao cho "Ý thức" tác động được vào "Sự vật, hiện tượng" thông qua các công cụ đo hoặc bằng chính sự nhận biết trực tiếp của giác quan con người. Kính.
-
Bản chất của sự vật, hiện tượng như là ý thức có phải vật chất hay phi vật chất cũng cần được xem xét ở khía cạnh thực tiễn bởi vì khi ta so sánh giữa vật chất và chu trình tạo nên ý thức liên quan đến hiện thực khác quan phản ảnh vào não bộ như định nghĩa nêu trên. Như vậy nếu thực tiễn có rất nhiều trường hợp xảy ra hiện tượng tương tác bằng ý thức (suy nghĩ) thì phải có nhận định khác, như: - Dùng ý nghĩ di chuyển đồ vật như lấy viên thuốc trong lọ thủy tinh ra. - Mấy chục năm trước có người đã làm dừng đồng hồ bigbang bằng suy nghĩ. - Hiện tượng các nhà ngoại cảm... Kính.
-
Bí Ẩn Về Một Thế Giới Khác Cùng Tồn Tại Trên Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Luân's topic in Mạn Đàm
3. Thế Giới Bên Kia (A WORLD BEYOND) (Phần 3) Khi chúng ta tham thiền là chúng ta được gần Thượng-Ðế, chúng ta gặp Thượng-Ðế ở trong chúng ta. Càng thiền được nhiều trong cõi hữu hình, thì càng tiến nhanh trong cõi vô hình. Nên nhớ là khi tham thiền, bắt đầu phải thở cho sâu, để tống r a những hơi độc tích tụ trong thân hình. Ðọc một câu chú, rồi nghĩ rằng mình hòa đồng với Vũ-trụ. Hãy tự coi mình là một phần của tạo Vật, của tinh hoa Thượng-Ðế, hãy quên cá tính mình đi, tưởng tượng như mình với Vũ-trụ chỉ là một. Sau một thời gian, sẽ cảm thấy mình nhẹ bỗng, tựa hồ như một tâm linh bay vơ-vẫn trong một bầu trời xa lạ. Hãy thí nghiệm, luôn luôn giữ ý nghĩ hợp nhất hoàn toàn, chẳng bao lâu sẽ cảm thấy hòa đồng với Tạo Vật. Rồi tiến sâu hơn, hãy để cho tâm linh Thượng Ðế tràn ngập vào tâm khảm mình. Hãy dành ra ít nhất 15 hay 20 phút mỗi ngày giữ yên lặng như thế. Hãy đón nhận lời của Thượng Ðế. Cầu nguyện khác hẳn với tham thiền. Cầu nguyện là tác động, không phải thụ động như tham thiền, mong cảm đến trái tim của Thượng-Ðế. Nghĩ điều thiện thì Thượng Ðế ở kề bên. Hãy cầu nguyện cho một mục tiêu tốt đẹp, không phải cho lợi riêng m ình. Nên nhớ rằng cầu nguyện để hại người khác, thắng địch thủ, hơn bạn bè là vô ích. Khi một linh hồn mong đợi gần Tâm của Thượng-Ðế, nó sẽ nâng cao ý nghĩ đến độ cảm thấy mình như bay bổng và đầy khoái lạc. Cảm giác mạnh đến nổi quên cả mình trong thế giới tâm linh, bấy giờ thấy rằng khoái lạc xác thịt không còn có nghĩa g ì nữa. Rồi từ đó sẽ tiến lên, không phải trở lại đời vật chất nữa. Trên tầng cao hơn, ta chỉ còn là tâm thức, không còn nghĩ đến cá tính nữa. Tầng nầy chưa phải là tầng cao nhất, chỉ là một nấc thang trên đường tiến hóa. Chúng ta đi trong ánh sáng, ánh sá ng của Chân-Lý Vũ-trụ. Cũng không ở luôn mãi đó, mà tiến mãi đến toàn thiện. Ông Ford nói đến một người, lúc sống đã học hỏi, hiểu biết và tham thiền linh hồn thoát xác được sáng suốt ngay. Sau khi chào hỏi bạn bè thân thuộc y tham thiền trong khi rung động của vũ-trụ tràn ngập y với cảm giác sung sướng lạ lùng. Y tìm ngay những hồn mới đến, lạc lõng hoặc mê man để giúp đỡ. Y không mất một giây phút thương tiếc cho cái thân xác đã mất, y biết rằng sẽ gặp lại người thân trong cõi-vô-hình, y đã để lại mọi việc tốt đẹp trên đời, nay y tiếp tục tiến hóa. Có nhiều người được như thế, không phải ai nấy đều biết rõ những gì chờ đón họ, nhưng họ sẵn sàng chấp nhận mọi điều Thượng Ðế ban cho, và rất vui mừng rằng vẫn được tiếp tục hoạt động với nhiều việc để làm. Người nầy sẽ tiến rất nhanh, sẽ sớm có dịp trở lại thân hình khác, hoặc tiến lên tầng cao hơn. Nếu muốn tiến lên, thì phải học các thầy tiến hóa. Các thầy sẽ dạy cách thay đổi tần số rung động để dần dần hòa nhịp với với rung động ở tầng trên. Khi tần số rung động của họ đã cao và lên được tầng trên, thì chúng tôi sẽ không thấy họ nữa, mặc dù họ vẫn ở đây, họ vẫn thấy chúng tôi, đại-khái cũng như người trần không thấy chúng tôi mà chúng tôi vẫn thấy người trần. Nhưng nếu họ muốn thì họ vẫn có thể hạ thấp rung động để cho chúng tôi thấy. Trong đoạn sau, ông Ford sẽ nói đến những tầng trên rõ ràng hơn. Ông Ford trước kia đã được lên tầng trên, nhưng tự ý muốn trở lại thế gian để thực hành những điều đã học hỏi. Vì thế khi ông là mục sư ở trong trại lính, ông đã trông thấy danh sách những người chết đêm trước khi ông mới ngủ giậy còn ở trong phòng (xem trang 13) vì đã có khả năng nhận tin tức từ khắp nơi. Trái lại, một người không tin, lúc sống cho rằng chết là hết không còn gì nữa, khi mở mắt ra thấy có nhiều người quanh mình khuyên nhủ và giúp đở, lại cho là ảo-ảnh, là tưởng tượng, không phải thực, nên nhắm mắt lại. Khi mở mắt ra thì không thấy ai nữa, mà thấy mình rơi vào vực thẩm đen tối, ở trong tình trạng rất sợ hãi. Tình trạng nầy thường kéo dài rất lâu, đến khi nào lòng tin trở lại, cầu Thượng Ðế cứu, bấy giờ lại được thấy nhiều người đến giúp đở. Những linh hồn nầy khi tỉnh ngộ rồi thì cố gắng học hỏi, giúp đỡ những hồn khác và sẽ tiến hóa nhanh. Còn những hồn cố chấp không tỉnh ngộ thì cứ ở trong cảnh đen tối hàng ngàn năm. Kẻ sát nhân cố tình giết hại người khác để thỏa mãn ác ý của mình, thì ở trong tình trạng như chết một thời gian lâu, đến khi tỉnh giậy thấy mình ở trong địa ngục mà chính mình đã tạo nên. Không phải là trông thấy quỷ sứ, nhưng thấy chính mặt y bị biến dạng vì thù hằn, tham lam, ác độc. Y sợ rúm lại tưởng mình bị quỷ nhập. Y thất đảm khi nhận ra rằng không những y đã bỏ phí một đời không tiến, mà còn thụt lùi trở lại nhiều đời nữa mới có thể chuộc được tội y. Bấy giờ y nhớ lại ý muốn của y là vượt qua mọi sự cám dỗ khi y bước vào cuộc đời, khốn nỗi y đã làm trái ngược với ý muốn ấy. Linh hồn nầy bị đau khổ trong thời gian rất dài. Ðến khi thất vọng cùng cực, y rên xiết cầu Thượng-Ðế cứu. Nếu y thực tâm hối hận, những linh hồn khác sẽ đến giúp y, và dần dần y sẽ tiến lên rất chậm, rất chậm, cho đến khi hiểu biết cái hình phạt vì đã lấy đi một mạng sống do Thượng Ðế ban cho. Như Lee Oswald đã bắn John Kennedy, và Jirhan đã bắn Bobby Kennedy, sẽ còn phải đau khổ lâu lắm trong sự hối hận. Ðến như Hitler thì chẳng khác nào y bị trơ-trọi trên một cù-lao đen tối không nhà cửa , và sẽ không bao giờ rữa sạch được tội ác của y. Người tự sát trong một giây phút thất vọng, đã lầm tưởng rằng chết là giải quyết được vấn đề, không biết rằng đâu có dễ-dàng giải quyết như thế, và chúng ta không có quyền dập tắt ngọn lửa sống mà Thượng Ðế đã thắp sáng lên. Ðược mang cái thân xác thịt là đặc-ân Thượng Ðế ban cho để trả nợ nghiệp chướng. Nhiều hồn khác còn phải chờ đợi để được trở lại làm người, nay ta đã được rồi lại hủy bỏ cái đặc-ân ấy, thì nghiệp chướng sẽ tăng lên gấp mười, và phải chờ đợi rất lâu mới lại được đầu thai. Những nạn nhân bị sát hại không mang mối hận thù kẻ đã hại mình. Ở trong cõi vô hình mà còn hận thù thì sẽ bị thoái hóa rất nhiều, có khi hàng vạn năm. Họ hiểu rằng như thế là họ đã trả được nghiệp chướng, trả được tội lỗi quá khứ, và sẵn sàng tha thứ. Ông Ford nhắc lại rằng không có tòa án xử tội, ngoại trừ chính lương tâm chúng ta, lương tâm ấy lại chính là Thượng Ðế. Khi tấm màng che mắt ta không còn nữa, thì ta thấy rõ đâu là trái đâu là phải. Ta rất vui mừng khi nhận thấy rằng những việc giúp đở nhỏ mọn, một lá thơ hay một nụ cười an-ủi, những việc mà ta đã quên, lại giúp ích cho ta tiến hóa nhiều hơn. Trái lại những hành động mà ta tin rằng có lợi cho ta lại làm cho ta chậm tiến, vì ta đã làm một cách rầm-rộ, khoa trương, để được hãnh diện, được khen ngợi. Hãy giúp người chỉ vì người ta cần giúp, tùy theo khả năng của mình, xong rồi quên đi đừng mong cảm ơn và báo đáp, cũng không cần ai biết cả. Hãy coi mình như một cái giếng, lúc nào cũng tràn đầy tình thương. Chỉ có thể chữa bỏ những thói hư tật xấu ở trong đời hữu hình. Ở cõi vô hình không làm gì được cả vì không có những cám dỗ. Trường học gian khổ là đời vật chất, có nhiều cám dỗ mà ta phải vượt qua. Có người lấy làm lạ tại sao có những linh hồn tiến hóa cao luôn luôn giúp đỡ người khác, lại có những linh hồn cục-cằn không hơn thú vật. Sự đó có thật. Lúc mới đầu chúng ta đều như nhau, là những tàn lửa của Thượng Ðế, nhưng trải qua những đời sống trên trái đất, mỗi linh hồn phản ứng với hoàn cảnh một cách khác nhau. Chớ nên mắc vào thói hư tật xấu, luôn luôn giúp đở người khác, nhớ mục tiêu là trở về với Thượng Ðế. Ðừng mong tiến hóa lấy riêng mình, không thể nào có chuyện ấy. Nếu muốn chạy đua vượt lên trước người khác, thì không bao giờ đến được thượng đỉnh. Bỏ lại người khác là cách tốt nhất để thục lùi, rồi phải bắt đầu trở lại. Cần phải thương yêu lẫn nhau, giúp đở người khác cùng tiến với mình. Tự ta ghi chép lấy vào cuốn sổ của ta. Không có tòa án, không có quan tòa râu bạc nào, ngoài lương tâm của chính ta, không thể che đậy gì được, không thể trốn chạy đâu được. Những tầng cao hơn có nghĩa là những trình độ thức-giác cao hơn, chứ không phải là ở tầng lớp cao hơn, vì các giới cùng ở một nơi. Muốn được tiến lên tầng cao, cần nhiều công phu học hỏi, những người ở tầng trên mà muốn xuống tầng dưới thì rất dễ-dàng. Người ở tầng dưới không thấy được người ở tầng trên, nhưng người trên thấy rõ người dưới, đại khái cũng như chúng tôi đối với người ở cõi trần. Không thể lấy lời nói của trần gian để tả trình độ sáng suốt ở mỗi tầng. Ví như một quả bóng thổi phòng bằng khinh khí, khi còn ở dưới đất là còn trông thấy và sờ mó được, nhưng khi đã cắt dây thì quả bóng bay lên, cũng như sợi dây bạc nối hồn với xác, khi chết dây đứt thì hồn lìa khỏi xác. Quả bóng lên cao trên thượng tầng không khí, người dưới đất không trông thấy nữa, nhưng ở trên cao vẫn trông thấy ở dưới. Ðó là thí dụ rất thô sơ, nhưng khó nói rõ hơn, vì tâm chí người ta bị hạn chế, không thể hiểu xa hơn được. Chúng tôi hiện nay ở cõi trung-giới, còn có liên lạc với đời vật chất, những người ở tầng trên đã đoạn tuyệt với trần gian. Chúng tôi học hỏi ở đây, có thể lựa chọn hoặc trở lại luân hồi, hoặc tiến lên tầng trên. Tầng trên ví như tầng không khí loãng, trong một thời gian không còn liên lạc với những hồn khác và với cõi trần. Chúng tôi như là bay bổng trong một bầu khí quyển mà tần số rung động rất cao. Tạm giải thích như vậy, thật ra không có lời nào tả được. Ở đấy không khí rất mạnh, hay đúng ra là không có không khí, không có gì che đỡ những tia sáng chói lọi. Chúng tôi phải cố gắng chịu đựng ở đó, rồi lại học hỏi để tiến xa hơn nữa. Rồi sau chúng tôi đi qua từ tinh cầu nầy sang tinh cầu khác. Chúng tôi đi trên mặt tinh cầu như người trần đi trên mặt trái đất, chỉ khác là không còn thân xác thịt nặng nề. Chúng tôi chỉ còn như là ý nghĩ (theo kinh Phật thì có lẽ đây là H ữu-tưởng-giới). Lên trên nữa thì chúng tôi chỉ còn là ánh sáng, tuy nhiên chúng tôi vẫn là chúng tôi, cái ta vẫn còn. Những tầng trên có thể gọi là tầng thứ ba và tầng thứ bốn, những tầng chỉ khác nhau về tần số rung động. Chúng tôi phải học hỏi để có thể thích hợp được với những làn sóng ánh sáng và tiếng động nó mạnh đến độ có thể làm mù hoặc điếc những người ở cõi trần. Chúng tôi bấy giờ ở trong tình trạng như một chất dịch-thể, tuy nhiên không phải là một chất lỏng. Chúng tôi được đổ vào cái khuôn Vũ-trụ "nói thế cho dễ hiểu" và gần như hợp nhất với Vũ-trụ. Ðó là tầng thứ ba. Tầng thứ bốn là lên ở những tinh cầu khác như Hỏa-tinh, Thủy-tinh, Mộc-tinh, Kim-tinh, Thổ-tinh..v.v. nhưng không phải là thân vật chất, mà là trình độ giác-thức cao hơn. Trên những tinh cầu đó cũng có hình thể sinh vật, nhưng khác hẳn với hình thể trên trái đất, trình độ tiến hóa các sinh vật ấy cũng khác nhau. Nếu một linh hồn tội lỗi nhiều kinh khủng đến độ cần phải tới ngàn triệu đời sống mới chuộc được, thì linh hồn ấy sẽ ở trong tình trạng tuyệt vọng nơi trái đất nầy (thí dụ như Hitler). Linh hồn ấy có khi phải nhận lấy một thân hình hoàn toàn khác mà chúng ta ở trái đất không gọi là người, ở trên một tinh cầu khắc khổ bội phần, để có thể đền bù tội lỗi nhanh chóng hơn. Những tâm linh ở trái đất muốn tiến hóa lên những tầng cao, phải mất nhiều công phu học hỏi nâng cao tần số rung động của mình, để không những lên cao mà còn phóng mình sang tinh cầu khác. Cuộc viễn-du nầy khiến họ học hỏi được nhiều về nhữ ng định luật của Vũ-trụ. Và khi lên đến tầng thứ bốn và thứ năm, thì có thể ở trên nhiều tinh cầu cùng một lúc, vì khi đó với thức-giác cao, hồn có thể phân thân ra nhiều nơi. Cao hơn hết là tầng thứ sáu, linh hồn đã đạt tới toàn thiện, có thể hợp nhất với Thượng-Ðế. Tất nhiên chúng tôi còn xa quá chưa thể biết được, nhưng được dạy cho biết rằng khi một linh hồn gần đến mức toàn thiện, phải kiểm điểm lại tất cả bao nhiêu đời đã qua, từ đời trước nhất, không còn gì vướng mắt nữa. Chúng tôi chỉ được nghe nói thế thôi, những linh hồn đó không bao giờ quay ngược bánh xe vận mệnh vòng trở lại nữa. Sáu tầng trên đây có lẽ cũng là những giới nói trong kinh Phật. Tầng thứ nhất là cõi Dương thế mà chúng ta đương sống, có thân hình vật chất, có dục tính, thường gọi là hạ giới, kinh Phật gọi là Dục giới. Tầng thứ hai là cõi âm, cõi của những linh hồn mới bước qua bên kia, gọi là trung giới, kinh Phật gọi là Sắc giới. Tầng thứ ba linh hồn không còn sắc chất, là Vô Sắc giới. Tầng thứ tư chỉ còn ý nghĩ, là Hữu Tưởng giới. Tầng thứ năm chỉ còn ánh sáng, là Vô Tưởng giới. Tầng thứ sáu linh hồn đạt tới toàn thiện, là Phi-Hữu-Tưởng-Phi-Vô-Tưởng-Giới, có lẽ là giới của các vị Giáo chủ: Phật, Chúa ..v.v.. Trên hết là Thượng Ðế, có thể gọi là tầng thứ bảy. Ðó là lấy trí nhỏ mọn của tôi đoán phỏng như thế. Sau hết, ông Ford nhắc lại rằng trong cõi trung-giới mà ông đương ở, không có thời gian: Chúng tôi nhận thấy rằng chúng tôi tồn tại luôn luôn, vô thủy vô chung. Chúng tôi có thể thấy một khoảng thời gian dài hơn người đời thấy rất nhiều, nhưng vẫn không thể biết được đâu là khởi đầu đâu là tận cùng. Chúng tôi chỉ hiểu biết rộng hơn người trần gian về mục tiêu của Thượng Ðế, nhưng chúng tôi chưa phải là hoàn toàn sáng suốt. -
Bí Ẩn Về Một Thế Giới Khác Cùng Tồn Tại Trên Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Luân's topic in Mạn Đàm
Niết bàn theo quan điểm Bồ tát Long Thọ ĐẠI-LÃN Từ khi đức Phật tuyên bố: “Sarvam Sùnyam” (Mọi vật đều không), từ sự gợi ý của ba pháp ấn: “Vô thường-Khổ-Vô ngã” và sau đó các pháp được quan niệm như là “Mọi vật đều vô thường, mọi vật đều vô ngã,” thì vấn đề Niết-bàn (Nirvàịa), sau khi đức Thế tôn diệt độ đã được các bộ phái nêu ra đặt vấn đề trở lại theo quan niện hiểu biết của họ về Niết-bàn, và cũng từ đó mọi tranh luận về nó cũng như các phần giáo lý khác trở nên gay gắt. Niết-bàn, vấn đề hiện hữu hay không hiện hữu, có (bhàva) hay không (abhàva), một đề tài làm nảy sanh ra mọi sự tranh luận, càng ngày càng gay gắt giữa Hữu bộ hay còn gọi là Nhứt thiết hữu bộ (Sarvàsti-vàdin) và Kinh bộ còn gọi là Kinh lượng bộ (Sùtra-vàdin), giữa các nhà Tiểu thừa và Đại thừa Không tông (Sùnyatà-vadin), và vấn đề này không còn dừng lại nơi đây mà còn tiến xa hơn nữa, trong việc hòa giải giữa hai quan điểm nói trên bằng cách gọp chúng lại rồi chấp nhận cả hai để có một cái Niết-bàn hiện hữu theo sự hòa giải của họ, hay phủ nhận cả hai là chẳng phải có, chẳng phải không; đó là bốn thứ quan điểm của các bộ phái, nhưng theo ngài Nàgàrjuna (Long Thọ) thì đức Phật chưa từng nói ra một thứ Niết-bàn nào như vậy, ngay cả khi Ngài còn tại thế, hay sau khi Ngài vào Niết-bàn, Ngài nói: Khi Như lai hiện hữu, Chẳng nói có cùng không; Cũng chẳng nói có-không, Hay chẳng có, chẳng không. Và: Sau khi Như Lai diệt, Chẳng nói có cùng không; Cũng chẳng nói có-không, Hay chẳng có, chẳng không. Đối với Bồ tát Long Thọ, thì những quan niệm như vậy của các bộ phái đối với Niết-bàn là hoàn toàn không chính xác, và không hiểu được ý nghĩa “Sarvam Sùnyam” cho nên có những quan niệm sai lầm như vậy về ý nghĩa Niết-bàn. Từ sự hiểu lầm này nên đã đi lệch con đường Trung đạo của Ngài, và có những kiến thủ lệch lạc về các pháp nói chung và Niết-bàn nói riêng. Vì con đường Trung đạo của đức Phật không rơi vào Hữu hay Vô, không rơi vào vừa Có vừa Không, cũng không rơi vào chẳng phải có chẳng phải không, của những quan điểm thiên kiến tà chấp trói buộc này, mà con đường Trung đạo là con đường giải thoát mọi sự trói buộc khổ đau giữa hai bờ. Đối với các nhà Tiểu thừa Hữu bộ, thứ nhất họ hiểu “Mọi vật đều Không” chỉ dành cho các pháp hữu vi mà thôi còn các pháp vô vi như Niết-bàn, thì không bị lệ thuộc vào chúng, thứ hai “Mọi vật đều không” chỉ dành cho Nhơn không chứ không dành cho Pháp không, thứ ba “Mọi vật không” thì không này là không trống rỗng, không có gì hết, không này là không đối lập lại với cái có. Do đó họ mới có những cật vấn như vầy: Nếu tất cả pháp không, Thì không sanh, không diệt; Làm sao có đoạn-diệt, Để gọi là Niết bàn ? Ở trên là cách tiếp thu “Mọi vật đều không” và theo đó các nhà Tiểu thừa đặt vấn đề là, nếu tất cả các pháp đều không, không có gì hết, thì sẽ không có hiện tượng sanh diệt, khi đã không có hiện tượng sanh diệt thì mọi vấn đề được đặt ra theo sau đó, chúng không hiện hữu. Vậy thì đoạn cái gì, diệt cái gì để có thể gọi là Niết bàn? Cho nên theo họ, tất cả các pháp không phải không, mà các pháp phải có thật. Vì các pháp chẳng phải không, nên nó đoạn trừ được tất cả mọi phiền não nghiệp hoặc, tiêu diệt được năm ấm để đưa đến Niết bàn. Để trả lời cho nạn vấn này, ngài Long Thọ cũng đứng trên lập trường của họ, hỏi nghịch trở lại: Nếu các pháp là có, Thời không sanh không diệt; Đoạn gì, diệt chỗ nào, Mà gọi là Niết bàn ? Vì các nhà Tiểu thừa không hiểu thấu được chỗ sâu xa của pháp Không (Dharmasùnyatà), nên đã nhầm lẫn, cho rằng pháp Không là pháp trống rỗng, hư vô, không có gì hết; pháp không này đối lại pháp có của họ, nên sanh ra kiến giải sai lầm về các pháp, và từ đó đưa ra nạn vấn như trên. Cũng đứng trên lập trường kiến giải sai lầm này, ngài đặt ngược lại vấn đề rằng: Nếu các pháp chẳng phải không tức là có, và vì xưa nay chúng luôn luôn hiện hữu, chúng luôn luôn là có nên chúng sẽ không có sanh, không có diệt; vậy khi đã không sanh không diệt thì làm sao chúng có chỗ để đoạn có chỗ để diệt mà gọi là Niết bàn ? Ở đây hai cửa hữu-vô (Bhàva-Abhàva) không phải là cửa đi đến Niết-bàn, mà Niết-bàn phải được gọi là : Không được, cũng không đến, Chẳng đoạn, cũng chẳng thường; Chẳng sanh, cũng chẳng diệt, Đó gọi là Niết bàn. Ở đây, mọi sự hiện hữu nô lệ, lệ thuộc, chấp thủ thiên kiến nhị nguyên như : đắc-thất, đến-đi, đoạn-thường, sanh-diệt v.v... đều bị phủ định. Trong phủ định mới xem ra như là mang cả hai tính chất vừa đập phá vừa xây dựng. Nhưng ở đây, nếu được xác định như vậy, thì lập tức rơi vào đoạn-thường (Ucchada-Nitya) ngay. Do đó, mọi xác định đều cũng bị phủ nhận, để từ đó mở ra một con đường rộng thênh thang không bị trói buộc, đó là con đường Trung đạo đi đến Niết-bàn. Nghĩa là sau khi chúng ta thực hiện vô sự đối với các pháp, thì tự nó là con đường, tự nó là Niết-bàn không phải một cũng không phải khác. Ở đây, hành-quả không phải là chỗ để đạt được, không phải là chỗ để đến, không phải là chỗ để đoạn trừ, chẳng có pháp để phân biệt; chẳng sanh chẳng diệt, cho nên Niết-bàn chẳng phải có, chẳng phải chẳng không, chẳng chấp thủ tất cả các pháp, bên trong tịch diệt gọi đó là Niết-bàn. Vì sao ? Vì tất cả mọi hiện tượng hiện hữu của vạn vật để mắt chúng ta nhận thấy, luôn luôn ở trong trạng thái sanh diệt biến hoại, chỉ là tướng lão tử bị vô thường sanh diệt chi phối nên không phải là Niết-bàn. Nếu có một Niết-bàn nào để mắt chúng ta nhận thấy là có thì Niết-bàn ấy cũng chỉ là tướng lão tử, mà tướng lão tử không phải là tướng Niết-bàn, cho nên Niết-bàn không gọi là có được, vì nó xa lìa tướng lão tử. Hơn nữa, nếu Niết bàn là có (hữu), thì cái có này, hay Niết-bàn này thuộc vào tướng hữu vi. Nhưng tướng hữu vi, theo đức Phật dạy thì chúng luôn ở trong trạng thái biến diệt không thật có. Vì sao ? Vì chúng hiện hữu có được là nhờ vào các duyên mà thành. Do đó, tất cả mọi pháp đang hiện hữu giữa chúng ta không có bất cứ một pháp nào gọi là hữu vi cả, cho dù là pháp thường mà giả gọi là vô vi dùng lý để tìm hiểu nó. Pháp vô thường còn không có, huống chi là pháp thường không thể thấy, không thể đạt được. Lại nữa, theo Ngài: Nếu Niết bàn là có, Sao gọi không chấp thủ; Vô-hữu không từ chấp (thủ), Mà gọi là có pháp. Nếu thật sự Niết bàn là thật có thì tại sao trong kinh, đức Phật lại bảo Niết bàn là không chấp thủ (vô thọ, hay Vô dư y: nirupadhizewa)? Đã là không chấp thủ thì cho dù pháp đó là pháp gì đi nữa cũng không thể hiện hữu ở đây được. Nếu có pháp nào để hiện hữu được thì ở đó không phải là chỗ vô thọ, vì theo kinh thì Niết-bàn là vô thọ, nên không có pháp không chấp thủ ở đây. Vậy Niết-bàn chẳng phải có. Nạn vấn : Nếu hữu không phải là Niết-bàn, vậy thì vô là Niết-bàn ? Ngài bảo : Hữu chẳng phải Niết-bàn, Huống chi đối với Vô; Niết-bàn không có Hữu, Nơi nào sẽ có Vô ? Quá rõ ràng như bài kệ trên đã bảo Hữu-Vô không từ chấp thủ mà có. Vậy thì tại sao ở đây lại đặt vấn đề Vô trở lại đối với Niết-bàn được ? Vì sao ? Vì nhờ vào hữu mà có vô. Nếu không có hữu thì làm sao có vô được. Nếu nói trước có nay không, thì vật này là vô. Nhưng Niết-bàn chẳng phải vậy, vì không có pháp có nào lại là không được, cho nên vô cũng không thể tạo nên Niết-bàn được. Lại nữa, thử đặt vô là Niết-bàn đi. Nhưng ở đây, chúng ta không giải quyết được vấn đề không chấp thủ là Niết-bàn như đức Phật đã dạy trong kinh. Nếu vô là Niết-bàn thì đức Phật đã không nói không chấp thủ là Niết-bàn như kinh đã dạy. Vì sao ? Vì không có pháp không chấp thủ nào gọi là pháp vô cả, cho nên Niết-bàn không thể gọi là vô được. Hơn nữa, Như trong kinh Phật bảo: Đoạn có, đoạn chẳng có; Biết đó là Niết-bàn, Chẳng có cũng chẳng không. Chính đức Phật đã dạy nếu đoạn trừ cả hai : Có và chẳng có này thì Niết-bàn sẽ hiện hữu. Vì sao ? Vì Có là chỉ cho tam hữu (tam giới) và chẳng có chỉ cho tam hữu đã được đoạn diệt. Nếu đoạn trừ cả hai chướng ngại hữu-vô này, thì biết rằng Niết-bàn chẳng phải có (phi hữu) cũng chẳng phải không (phi vô), đó mới gọi là Niết-bàn. Nạn vấn : Nếu hữu hay vô không phải Niết bàn thì bây giờ hợp cả hữu và vô lại, có phải là Niết bàn không ? Ngài bảo : Đối hữu-vô, nếu bảo: Hợp lại là Niết-bàn; Hữu-vô là giải thoát, Thời điều này chẳng đúng. Ở phần trên hữu-vô đã bị phủ định, nhưng người nạn vấn vẫn đem chúng đặt vấn đề trở lại. Ở đây, lại nảy sanh một phi lý khác nữa, đó là việc hợp nhất giữa hữu-vô lại để có một cái Niết-bàn theo quan điểm của họ. Nhưng theo ngài, nếu hợp cả hữu và vô lại là Niết-bàn, tức là hợp cả hữu và vô lại là giải thoát, điều này chỉ thông cho Niết-bàn và giải thoát thôi. Còn ngay chính nó, hữu và vô, trong một vế mà tự mâu thuẫn nhau với chính mình, vậy thì làm sao thông với vế thứ hai được. Vì sao ? Vì hữu và vô chúng tương phản nhau, làm sao hiện diện cùng lúc cùng một chỗ được. Do đó, hợp cả hai hữu và vô lại là Niết-bàn thì không đúng. Lại nữa : Đối hữu-vô, nếu bảo: Hợp lại là Niết-bàn; Niết-bàn là chỗ chấp, Cả hai từ chấp sanh. Ở trên, tự chúng đã không thông rồi. Nếu ở đây mà hợp chúng lại là Niết-bàn có thể chấp nhận đi, với điều kiện tự chúng không mâu thuẫn nhau; nhưng ở đây tự thân Niết-bàn không phải là chỗ chấp thủ, trong khi đó hữu-vô từ chỗ chấp thủ sanh ra, cùng nhờ vào nhau mà hiện hữu. Vậy thì cả hai vế mâu thuẫn và không thông nhau được, do đó chúng không phải là Niết-bàn. Lại nữa, Niết bàn là Vô vi, nó vượt lên trên hữu-vô của hữu vi. Trong khi hữu-vô hợp lại mà thành thì không thoát khỏi hữu vi, nghĩa là chúng thuộc pháp hữu vi. Nhưng pháp hữu vi là pháp sanh diệt như đức Phật đã dạy, trong khi pháp vô vi là pháp không sinh diệt. Vậy thì làm sao bảo hữu-vô hợp lại thành là Niết-bàn ? Hay, Cộng hai việc hữu-vô Làm sao là Niết-bàn ? Hai việc không cùng chỗ Như sáng tối không hợp. Ở trên, hợp hai việc có-không đã không thành là một vấn đề. Ở đây, lại là một vấn đề khác nữa trong việc cộng hai khái niệm này lại để có Niết-bàn hiện hữu, thì làm sao chúng ta có thể làm được. Vì sao? Vì có-không chúng tự tương phản mâu thuẫn nhau nên không thể cùng hiện hữu một nơi được. Như ánh sáng và bóng tối, không thể nào cùng hiện hữu cùng một lúc được. Khi nào Có hiện hữu thì Không sẽ không hiện hữu, ngược lại khi nào Không hiện hữu thì có sẽ không hiện hữu. Vậy thì làm sao có-không cùng hợp nhau lại mà gọi là Niết-bàn ? Lại nạn vấn : Nếu Có-Không cùng hợp nhau lại không là Niết-bàn, thì bây giờ chẳng phải có chẳng phải không là Niết-bàn được không ? Ngài bảo : Nếu chẳng có chẳng không, Gọi đó là Niết-bàn; Chẳng có chẳng không này, Làm sao mà phân biệt ? * Phúc Lộc Thọ mãn đường * -
Bí Ẩn Về Một Thế Giới Khác Cùng Tồn Tại Trên Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Luân's topic in Mạn Đàm
Với sự thật khách quan là "con người không chết" qua các hiện tượng giao tiếp, nói chuyện, tiên tri... của các nhà ngoại cảm khi tiếp xúc với các vong linh, ta có thể xem xét một số quan điểm xưa về Thập điện Diêm vương và nguyên lý nhân quả như thế nào. Nếu một sự suy nghĩ hay vọng khởi phát sinh trong tâm trí, thì ta hiểu rằng đã có sự tương tác vật chất xuất hiện và với đều kiện này, rõ ràng chúng sẽ thuộc vào một trong các trạng thái của âm dương ngũ hành. Sự tương tác sẽ có lợi hay hại tùy theo mỗi thuộc tính. Vậy, nếu "Nhận thức" vẫn sống sau khi chết, "Nhận thức"này vẫn giữ nguyên và là đặc thù của mỗi người, và do trí tuệ của mỗi người có thể chưa rõ quy luật âm dương ngũ hành cho nên vẫn vướng vào "ham muốn" khi thân vật lý không đạt được không tồn tại sau khi chết: điều này nói lên "Linh hồn" hoàn toàn vẫn còn vướng bận đời thường hay vẫn bị quanh quẩn trong vòng vận động của vật chất hay còn trong vòng khổ ải - ai cũng công nhận thì đây có vẻ là linh hốn vẫn đang ở trong khu vực của Thập điện Diêm vương như người xưa mô tả. Thập điện diêm vương có 10 điện, trong đó có 8 điện để tra tấn tội nhân. Điện 1: xét tội và Điện 10: đầu thai kiếp khác. Các điện còn lại tra tấn tội nhân. Theo nhà ngoại cảm nổi tiếng nhất thế giới người nước ngoài, khi không còn mang thân xác thì linh hồn tăng tiến về mặt nhận thức cuộc sống, điều này chỉ ra chẳng nhẽ người tốt hay xấu đều cả cơ hội hiểu rõ sự phát triển nhận thức sai khi chết - tức huề cả làng?. Ví dụ sau khi hết chúng ta có thể gặp Hít Le hay Pôn Pốt mà không có nhận định gì hay sao?. Rõ ràng những người kẽ như vậy khó thay đổi nhận thức sẽ phải ở một tầm thấp hơn trong mức vật chất để có quan hệ với các linh hồn khác. Mặt khác còn có các ràng buộc khác theo nguyên lý nhân qua như trên: Đó là mối quan hệ gia đình, dòng tộc theo nguyên lý đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Các nguyên nhân của người trước sẽ ảnh hưởng đến người sau "Cha ăn mặn con khát nước". Luật xưa chỉ ra chỉ nam nữ chỉ được lấy nhau sau 5 đời là cũng có lý do. Khoa học hiện đại tìm ra Gen di truyền cũng chứng minh, tuy nhiên chưa chỉ ra nguyên lý nhân quả theo lý học đông phương. Ảnh hưởng cực kỳ nặng nể nếu là Pôn Pốt chẳng hạn... vậy thì tự nhiên cũng rất là công bằng. Ta cũng hiểu rằng, theo thời gian linh hồn sẽ tiến hóa tiến tới hòa nhập vào bản thể vũ trụ., sau khi cởi bỏ các lớp khoác vật chất khi trong nhận không vọng động các suy nghĩ nào đấy - điều này có đúng không?. Tôi nghĩ rằng, Bản thể của vũ trụ là tuyệt đối - là giới hạn của các tương đối như là vật chất, Ví dụ, chúng ta không thể tìm thấy cái nhỏ nhất nhưng không bằng 0 và ngược lại các to nhất ở vô cùng là không xác định cho thuộc tính vật chất, như vậy nhận thực của chúng ta có thể thoát ra các giới hạn trên để hòa nhập vào bản thể vũ trụ? Nếu hòa nhập vào nó thì linh hồn có cơ hội quay trở lại để tương tác hay không?. Chúng ta cũng nhận định Thập điện diêm vương có đề cập hiện tượng đầu thai với linh hồn đã làm sạch suy nghĩ, không còn nhớ gì về tiền kiếp - mang ẩn nghĩa gì?. * Phúc Lộc Thọ mãn đường * -
Huyền Học Và Vật Lý Hiện Đại Nguyễn Austin chuyển ngữ từ Mysticism And The New Physics MICHAEL TALBOT (Thấy nội dung có đề cập đến bất định). Phần 1: Ý THỨC VÀ THỰC TẠI Phải chấp nhận rằng ý nghĩa của Vật lý lượng tử, mặc cho mọi công trình đã được hoàn tất về nó, cũng vẫn chưa được làm sáng tỏ một cách kỹ lưỡng như những ý tưởng thiết kế lý thuyết tương đối. Mối quan hệ giữa thực tại và sự quan sát là vấn đề trung tâm.Dường như chúng ta cần một sự phân tích sâu hơn về mặt nhận thức luận của những gì tạo nên một thí nghiệm, một sự đo lường và loại ngôn ngữ được dùng để diễn đạt những kết qủa của chúng. Có phải là một thứ ngôn ngữ của vật lý cổ điển như Niels Bohr dường như đã nghĩ, hay có phải là một thứ “ngôn ngữ tự nhiên” mà ở đó mọi người trong cư xử nơi cuộc sống hàng ngày đã chạm mặt với thế giới bao gồm những đồng loại và chính họ? Tương tự như trong tóan học của Hilbert mà ở đó những tính tóan bằng những ký hiệu cụ thể hơn là những dữ liệu của một “ý thức thuần túy” nào đó đã được sử dụng như cơ sở chính yếu vượt trên lý luận .Dường như có một câu hỏi đã được gợi ý : Phải chăng điều này cho thấy sự phát triển hiện đại của toán học và vật lý học đã đi cùng hướng , chuyển động xa khỏi tính chất duy tâm và hướng đến “quan điểm hiện sinh” mà chúng ta đang quan sát trong triết học đương thời? HERMANN WEYL, philosophy, mathematics and Natural Science. Chương 1: NGƯỜI QUAN SÁT VÀ KẺ THAM GIA Về nguyên lý lượng tử, không có gì quan trọng hơn điều này, rằng nó đã hủy bỏ khái niệm về một thế giới như “bàng tọa” mà người quan sát tách biệt an toàn khỏi nó bởi một tấm kính dày 20 cm. Ngay cả để quan sát những đối tượng nhỏ nhặt như một electron, họ cũng phải đập bỏ tấm kính. Họ phải đến gần. Họ phải thiết kế những thiết bị đo lường được chọn. Họ hoàn toàn quyết định nên đo vị trí hay xung lượng. Xếp đặt thiết bị để đo hạt này đã loại bỏ sự xếp đặt để đo hạt khác. Hơn nữa, sự đo lường làm thay đổi trạng thái của electron. Sau đó vũ trụ sẽ không bao giờ như cũ. Để diễn tả những gì đã xảy ra, người ta phải gạch bỏ danh từ cũ ‘ người quan sát’ và thay vào vị trí đó một danh từ mới ’người tham gia’.Trong một ý nghĩa lạ lùng nào đó thì vũ trụ là một vũ trụ được tham gia. JOHN A. WHEELER, the Physicist’s Conception of Nature Năm 1927, Werner Heisenberg giới thiệu Nguyên Lý Bất Định nổi tiếng của mình và khuấy động một cuộc tranh luận vẫn chưa được gỉai đáp. Trong một vài từ rút gọn, Heisenberg khẳng định rằng người quan sát làm biến đổi vật được quan sát chỉ đơn thuần bằng hành động quan sát. Ông không ám chỉ rằng nhận thức có những hiệu qủa trực tiếp lên kết qủa. Thay vào đó, ông đã đề cập đến những vấn đề đã gặp phải khi cố gắng đo lường những đại lượng trong hệ thống nguyên tử. Vì kích cỡ qúa nhỏ của các hệ nguyên tử nên không có sự quan sát nào được thực hiện trên một hệ nguyên tử duy nhất mà không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nó. Điều này cũng tựa như khi nói người ta không thể kiểm tra máy móc của một chiếc đồng hồ nhỏ mà không quấy nhiễu sự vận hành của nó. Kích thước nhỏ nhặt của chính hệ thống làm cho sự quan sát và đo lường trở nên khó khăn. Khó khăn khi quan sát những hệ nguyên tử tăng lên bởi sự kiện là ánh sáng có thể tác động đến hệ. Cũng giống như ở tầm mức cuộc sống thường nhật chúng ta đã nhận ra tác động của sự quan sát. Nhìn một cái ghế hay một trang giấy in dường như là một hoạt động khá tách biệt. Sự kiện ánh sáng phản chiếu trên cái ghế và trang giấy in thực ra đang làm thay đổi chúng theo cách thức vi tế lại không trực tiếp có sẵn trong cảm nhận của chúng ta. Tuy nhiên trong những hệ vi mô, chẳng hạn như bên trong một nguyên tử, thì một quang tử thực ra đang va chạm các hạt. Không bao giờ chúng ta có thể chắc về vị trí của hạt bởi phương tiện duy nhất của chúng ta là nhìn hạt ấy và khi dội vào nó bằng những quang tử thì vị trí của nó sẽ bị thay đổi. Chúng ta như những người mù cố gắng nắm bắt một mạng nhện mỏng manh. Các nhà Vật lý quyết định cách thức tương tác của nguyên tử một cách có hệ thống và cố gắng rút ra điều gì đó về những tính chất chưa bị biến đổi của nguyên tử ngay cả khi hệ thống đã biến đổi sau sự quan sát. Nguyên lý Bất Định của Heisenberg chỉ đơn thuần tiên đoán những hiệu ứng đa dạng, khả dĩ trên sự quan sát nguyên tử sao cho những tính chất không bị nhiễu loạn của nó được tiếp cận gần hơn. Do đó mối liên kết nguyên thủy giữa người quan sát và vật được quan sát được khám phá bởi các nhà vật lý lượng tử có liên quan đến khó khăn về kỹ thuật đo đạc các hệ thống nguyên tử. Xuất phát từ những tìm kiếm của Heisenberg thì không nhất thiết có chỉ dấu rằng ý thức của người quan sát ảnh hưởng lên sự đo lường mà chỉ có những dụng cụ người quan sát phải dùng đến đã ảnh hưởng lên nó.Tuy nhiên, những khám phá sau này đã gợi ý cho các nhà vật lý rằng trí óc con người có thể ảnh hưởng lên vật chất. Một trong những cuộc cách mạng chủ yếu trong địa hạt vật lý là vai trò ngày càng tăng của thuyết bất định (inderterminism) – hay sự nhận ra rằng không thể tiên đoán kết qủa của một thí nghiệm cho dù chúng ta biết được bao nhiêu thông tin về vật chất đi nữa.Trước sự ra đời của thuyết lượng tử, hầu hết các nhà vật lý tin một vũ trụ hoàn toàn nhân qủa. Trong tác phẩm ‘Philosophical Essay on Probabilities’ (1812-1820), Laplace gỉa định một luận điểm như thế, đã khẳng định:’ Như thế chúng ta phải xem xét trạng thái hiện nay của vũ trụ như là hệ qủa của những trạng thái trước của nó và là nguyên nhân của trạng thái theo sau. Gỉa dụ như vào một lúc nào đó, có một trí thông minh có thể hiểu được tất cả các lực trong tự nhiên và những tình huống lần lượt của sự vật cấu tạo nên nó……đối với trí thông minh đó không có gì là không chắc chắn và tương lai cũng như qúa khứ, sẽ hiện ngay trong mắt nó.’ Vật lý cổ điển dường như đã chứng tỏ luật nhân qủa hiện hữu trong cuộc sống hàng ngày. Mọi thứ, từ vật nặng dao động nơi lò xo cho đến chuyển động của những thiên thể, là những hệ thống tuân theo những định luật nhân qủa biểu kiến. Cho trước một trạng thái ban đầu của bất kỳ hệ thống nào, thì tất cả những trạng thái sau đó của hệ đều có thể được tiên đoán với độ chính xác cao. Thành công của vật lý học Newton gắn với sự kiện là những định luật như thế dường như tồn tại hầu hết đối với mọi hệ thống có thể cảm nhận trực tiếp bởi con người, từ trái bi-da đến các máy vi tính, từ mạng điện đến những thiên thực. Ngay cả ở những chỗ mà các tiên đoán không thực hiện được thì các nhà vật lý cổ điển vẫn gỉa định rằng hệ thống vẫn tuân theo luật nhân qủa. Do đó, nếu như ngay cả các nhà vật lý không thể hình dung một cách chính xác điểm đến cuối cùng cuả cái chai được ném xuống Đại Tây Dương, thì trí thông minh gỉa định của Laplace vẫn có thể biết được điều đó. Tuy vậy, ở tầm mức các biến cố trong cơ học lượng tử thì không có gì, ngay cả sự tiến đến nguyên lý nhân qủa, được tìm thấy là tồn tại. Thí nghiệm nổi tiếng về 2 khe hẹp cung cấp một minh dụ rằng ,trong lý thuyết lượng tử có những khái niệm liên quan đến vật chất mà không trực tiếp đưa đến những đại lượng quan sát được. Hãy tưởng tượng một chùm hạt chuyển động với cùng một vận tốc. Nếu chùm hạt này đập vào một màn trên đó có một khe hẹp, các hạt này khi rời khỏi khe sẽ không còn chuyển động theo cùng một hướng. Chúng bị nhiễu xạ đến nỗi các hướng chuyển động bị thay đổi, tạo thành những góc khác nhau so với chùm tia ban đầu. Thế rồi, nếu các hạt được quan sát riêng lẻ khi chúng đập vào một màn ở xa khe hẹp thì chúng lại không đập vào vùng diện tích bằng khe hẹp mà rộng hơn rất nhiều. Vị trí mà các hạt riêng lẻ đập vào không thể tiên đoán được cũng như có thể tái tạo được mà chỉ có kiểu mẫu của sự phân bố là có thể xác định. Chẳng hạn như, nhà vật lý có thể có 100 hạt chờ để được phóng qua khe hẹp. Các định luật của cơ học lượng tử cho phép tiên đoán rằng 10% các hạt sẽ đập vào một vùng và 90% còn lại sẽ đập vào một vùng khác. Nếu nhà vật lý cho phép từng hạt đi qua khe hẹp thì không có cách nào để tiên đoán vùng nào mà hạt sẽ chọn để đập vào. Thật vậy, không thể tìm được điều gì để giải thích tại sao 10% này lại đập vào một vùng và 90% còn lại đập vào vùng kia. Tất cả các hạt là đồng nhất. Nói một cách chặt chẽ, không có một lý do nào để giải thích tại sao hạt này lại đập khác hạt kia. Trong một vũ trụ dường như cực kỳ nhân qủa thì thuyết bất định như thế tạo nên một quan điểm mới về thế giới mà tiếng dội của nó, có lẽ, không phải chỉ làm rung động cơ sở của nền vật lý cổ điển. Thuyết bất định của vũ trụ cơ lượng tử chắc chắn là một trong số những thay đổi làm sửng sốt trong cách thức chúng ta nhìn thực tế xảy ra trong lĩnh vực vật lý. Nó tấn công trực giác của chúng ta. Nó hủy diệt quan niệm sai lạc của chúng ta về sự liên thông của các biến cố. Có một chút ngạc nhiên là những trụ cột của những trường phái cũ, bao gồm cả chính Einstein, đã phản đối sự phủ nhận vũ trụ nhân qủa. Trong tác phẩm Einstein và Beckett, Kuznetsov được trích dẫn với nhận xét ’ Einstein đã xuất phát từ ý tưởng là, một chuỗi những hiện tượng có thể quan sát được không xác định rõ ràng bản chất của những mối liên hệ nhân qủa giữa chúng. Như thế, bức tranh về mối liên hệ nhân qủa, ở một mức độ nào đó, được suy diễn một cách độc lập với những quan sát trực tiếp. Einstein nói về sự xây dựng tự do những khái niệm diễn tả mối quan hệ nhân qủa. Phải chăng điều này có nghĩa là những khái niệm như thế là tiên nghiệm hay chỉ mang tính khái niệm, hay những khái niệm nhân qủa đó hoàn toàn trừu tượng? Câu trả lời là Không. Mối liên kết nhân qủa của những qúa trình có thể được diễn đạt bằng nhiều cách xây dựng khác nhau, và trong ý nghĩa đó sự chọn lựa là tùy ý. Nhưng chúng phải phù hợp với quan sát và nhiệm vụ của chúng ta là chọn lọc cách thức xây dựng nào tốt nhất.’ Điều quan trọng nên biết rằng những chống đối riêng biệt của Einstein đối với lý thuyết lượng tử nhắm vào việc phơi bày sự thiếu khả năng của lý thuyết này khi cho một lời giải thích thích hợp về thực tại vật lý. Cho đến khi mất Einstein vẫn tin vào một vũ trụ nhân qủa, một loại vũ trụ không tồn tại ở tầm mức những biến cố nguyên tử. Trong tác phẩm ‘The Human Use of Human Beings’, Norbert Wiener viết rằng không phải Heisenberg, cũng không phải Planck mà chính là Willard Gibbs, người đầu tiên đã đề nghị rằng vũ trụ có tính ngẫu nhiên (chỉ được tiên đoán trong phạm vi giới hạn thống kê) như là chống lại tính chất tất định (deterministic). Đầu thập niên 1870, Gibbs xây dựng lý thuyết về sự ngẫu nhiên. Có một xác suất vượt trội để mỗi khi bạn đụng vào trái banh bi-da theo “cùng” một hướng, với “cùng” một lực để nó sẽ phản ứng “như nhau”. Nhưng có viền ngoài của những sự cố - đó là những kỳ quặc bởi các tỳ vết ở những làn ranh cuả thực tại nhân qủa- chỉ ra tính chất ngẫu nhiên của vũ trụ. Trong một vũ trụ ngẫu nhiên, mặc dù hầu hết thời gian trái bi-da phản ứng theo cùng cách thức, nhưng cũng có cơ may là nó sẽ không phản ứng hay có phản ứng hoàn toàn không tiên đóan được. Theo ý tưởng của Gibb về tính chất ngẫu nhiên thì các nhà vật lý không còn phải đối phó với những gì luôn luôn xảy ra mà chỉ đối phó với những gì xảy ra trong phần khoảng thời gian vượt trội. Lý thuyết lượng tử cũng đề nghị rằng cuối cùng thì mọi hệ thống đều có thể được diễn tả chỉ bằng cách thức thống kê. Tính chất nhân qủa biểu kiến của vũ trụ là do sự kiện sác xuất để xảy ra trong những hệ thống lớn hơn những hệ thống nhỏ thì gần như bằng 1. Xác suất cực kỳ cao để cho những thiên thực xảy ra vào một ngày có thể xác định nào đó là kết qủa thống kê của một số gần như là vô hạn các biến cố cơ lượng tử. Wiener khẳng định,’…trong một thế giới có tính thống kê chúng ta không còn xử lý những đại lượng và những vấn đề chỉ liên quan đến một vũ trụ, như là một toàn thể, thực và riêng biệt, mà thay vào đó nên đặt những câu hỏi có thể tìm được những câu trả lời trong một số lớn những vũ trụ tương tự. Do đó, cơ may (chance) được chấp nhận không đơn thuần như một công cụ tóan học cho vật lý mà như là một phần căn cơ của vật lý’. Chính sự chuyển dịch từ một vũ trụ nhân qủa sang một vũ trụ thống kê đã gây nên tranh cãi nhiều nhất. Những hàm ý về thuyết bất định được hiển lộ nhiều nhất trong các bài toán, đầu tiên được phát hiện bởi nhà vật lý người Áo Erwin Schrodinger trong những năm đầu tiên của thế kỷ 20. Trong lý thuyết lượng tử, mỗi biến số chi phối ứng xử của hạt ( năng lượng,vị trí, vận tốc, momen xung lượng,..) đều được xem xét. Một khi những thí nghiệm vật lý khám phá những tính chất và những tác động của các biến số này, thì công việc song hành của nhà vật lý là thiết lập những định luật dưới dạng toán học tương ứng để mô tả những tính chất vật lý và mối quan hệ của chúng. Một khi hình thức luận tóan học được thiết lập thì ứng xử của hạt có thể được tiên đoán. Hãy xem xét lại ví dụ ở trên về một chùm hạt đi qua khe hẹp. Một khi những tính chất khác nhau của một tóan tử tương ứng được biết, thì người ta có thể tiên đoán một kiểu hình phân bố. Schrodinger đã khai triển một phương trình toán học mô tả ứng xử này. Vì những hạt lượng tử biểu hiện tính chất bổ sung-vừa có tính chất hạt vừa có tính chất sóng- nên phương trình này được biết như là phương trình sóng của hạt. Chính đây là nơi mà vấn nạn về thuyết bất định bước vào. Trong những tình huống nhất định phương trình sóng Schrodringer tiên đoán được ứng xử của một hạt cho trước được xem như một điểm và mô tả được hai kết qủa khả dĩ như nhau cho cùng một hạt. Trong tính toán cũng như quan sát thì không có lý do nào để gỉai thích cho sự biến đổi trong ứng xử của hạt. Do đó câu hỏi dường như bước vào trạng thái lập lờ vì ở đó không thể quyết định kết qủa nào để chọn. Lý thuyết lượng tử không đối ứng với những biến cố riêng lẻ. Cho trước một hạt riêng lẻ, hàm sóng Schrodinger không thể xác định nó sẽ đập vào nơi nào trên màn, nhưng lại có thể tiên đóan nơi mà toàn bộ hay một nhóm hạt sẽ đập vào. Những hàm ý về thuyết bất định được minh họa một cách kịch tính hơn trong một bài tóan tưởng tượng được biết đến nhiều là bài toán “Con mèo của Schrodinger”. Gỉa thiết về bài toán ấy như sau: một con mèo bị nhốt trong một cái chuồng kín, trong đó có máy đếm hạt phóng xạ Geiger và chứa đủ chất phóng xạ để mà trong vòng một giờ có 50% cơ may một hạt nhân phân rã. Dựa vào sự phát xạ của máy đếm, một cái búa sẽ đập vỡ bình chứa khí phóng xạ. Theo hàm sóng Schrodinger thì sau một giờ hệ thống sẽ ở một dạng trong đó con mèo sống và con mèo chết sẽ “trộn lẫn” theo một tỷ lệ như nhau . Dĩ nhiên, nếu điều này được thực hiện trong thí nghiệm thì chỉ có một kết qủa khả dĩ xảy ra. Điều này dẫn Schrondinger đến với cảm gíac rằng tóan học đã tạo nên một sự mô tả thực tại có tính chất nghịch lý và không thể chấp nhận được. Trong tác phẩm ‘Time and Quantum Theory’ (1966), J.Zimmerman đã viết,’ Những câu hỏi về những biến cố riêng lẻ, trong ngôn ngữ của lý thuyết lượng tử bảo thủ, là vô nghĩa và do dó, khi sự diễn giải được tiến hành, chúng thực sự không có ý nghĩa. Chỉ có những câu hỏi cùng với những khẳng định về một tập hợp là có ý nghĩa’. Một quan điểm về tính bất định của vũ trụ như thế có thể được trông đợi bị chống đối bởi những nhà vật lý cổ điển. Năm 1955, John von Neumann đầu tiên gợi ý rằng phương trình Schrodinger có thể sai. Ông đã đưa vào một phương trình thứ hai để tìm ra sự sai lầm đó, nhưng chính phương trình này cũng trở nên lập lờ. Và phương trình thứ ba, thứ tư,…cũng thế. Chúng tạo nên một chuỗi được biết dưới cái tên‘Tai họa về chuỗi vô hạn lùi của Von Neumann’ Bản chất bất định của những hệ nguyên tử không được hầu hết các nhà vật lý chấp nhận một cách dễ dàng. Một cách đại khái nó giống như một cái bàn bi-da trên đó một số bi phản ứng khi chúng bị tác động, một số bất động một vài phút trước khi chuyển động và một số chuyển động mà không cần phải tác động. Để khái niệm hóa một cách dễ dàng hơn cái mô tả nghịch lý về thực tại biểu hiện trong phương trình Schrodinger, hãy tưởng tượng hàm sóng như một hàm số bất kỳ trong không gian cấu hình. Đó là môt không gian ba chiều ảo được dùng cho những vấn đề khái niệm hóa. Ứng xử của hạt có thể được biểu diễn bằng một đường trong không gian cấu hình này. Tại điểm nơi mà phương trình Schrodinger tiên liệu hai kết qủa khả dĩ như nhau thì đường này bị phân nhánh. Theo hàm sóng, điều đó có nghĩa là một hạt riêng lẻ thực hiện hai ứng xử khác nhau tại một điểm và cùng một lúc. Trong những điều kiện nào đó thì hàm sóng sẽ tiên liệu một số vô hạn những trạng thái lập lờ mà ở đó lộ trình của nó trong không gian cấu hình chẻ thành 4 kết qủa khả dĩ, 8 kết qủa khả dĩ, 16 ,…..và đến vô hạn . Vì con mèo đang ở trong trạng thái sống-chết trộn lẫn theo tỷ lệ, cũng như một hạt thể hiện hai hay ngay cả một số vô hạn những ứng xử khả dĩ tại cùng một điểm và cùng một lúc, thì hòan toàn mâu thuẫn với kinh nghiệm của chúng ta, nên phương trình Schrodinger dường như không mô tả những biến cố nguyên tử riêng lẻ. Đã có nhiều cách diễn giải về lý thuyết lượng tử được đưa ra để giải thích cho sự lập lờ của phương trình Schrodinger. Sự diễn giải mang tính qui ước và được chọn bởi hầu hết các nhà vật lý lượng tử được biết dưới cái tên ‘ Sự Sụp Đổ Copenhagen’. Theo quan điểm này, khi phương trình bị phân làm đôi thì một trong các đường trong không gian cấu hình sẽ đơn thuần sụp đổ. Thay vì có rất nhiều kết qủa thì phương trình thu về một kết qủa duy nhất. Những người ủng hộ trường phái Copenhagen lập luận rằng lý thuyết lượng tử có tính bất định nghiêm ngặt. Phương trình không biểu hiện thực tế mà chỉ là một thuật toán ( một phương pháp tóan ) để đưa ra những dự đóan xác suất. Chẳng hạn như, nếu thí nghiệm về con mèo của Schrondinger được thực hiện thì rõ ràng là người ta không thể kết thúc với con mèo vừa sống vừa chết trong một tỷ lệ trộn lẫn. Chỉ có một tập hợp của những con mèo sống và con mèo chết mới biểu diễn cho sự mô tả chính xác về thực tại. Michael Audi nói rằng ’…nếu thuyết bất định được chấp nhận minh bạch thì những vấn đề triết học của việc diễn giải lý thuyết lượng tử trở nên dễ xử lý.’ Những người chống đối đưa ra lập luận rằng sự gán ghép trọng khối xác suất và sự sụp đổ một cách tùy ý cho những đường thẳng không xuất phát từ phương trình Schrodinger.Einstein và de Broglie cho rằng một thế giới hòan toàn tất định có thể được chấp nhận hơn một thế giới ngẫu nhiên và đề nghị một sự giải thích khác cho tính chất lập lờ của phương trình. Có lẽ tất cả những thông tin liên quan đến những biến cố cơ học lượng tử không được biết và một biến số chưa được khám phá hay là ‘biến số ẩn’ nào đó có thể chịu trách nhiệm cho những ứng xử biến đổi của hai hạt.Quan điểm này lần đầu tiên được đề xuất bởi Einstein năm 1935. Trong những bản thảo ban đầu về lý thuyết lượng tử, Heisenberg nhấn mạnh rằng những đại lượng vật lý chỉ có thể được xem là thực chỉ sau khi chúng được thực sự quan sát, nghĩa là, khi chúng là những biến cố có thể mô tả được trong không-thời gian và được nhận thức. Bohr thuyết phục Heisenberg rằng lý thuyết lượng tử không có ý nghĩa khi vắng mặt lĩnh vực cổ điển. Bất kỳ một điều gì không được kiểm chứng bằng thực nghiệm, không dẫn ra những ‘hệ qủa được quan sát’ và ‘thiếu nền tảng trực giác’ đều bị ông ta đơn thuần loại bỏ khỏi địa hạt của những thực tế khách quan . Sau khi mang lại cho lý thuyết lượng tử một hình thức luận tóan học được khai triển đầy đủ với Nguyên Lý Bất Định, Heisenberg và một số nhà vật lý khác bắt đầu đặt câu hỏi về bản chất của những thực tế vật lý hay khách quan. Như được dẫn ra trong phần mở đầu, Heisenberg đi đến kết luận rằng ‘…thực tế khách quan…..đã bốc hơi vào trong …toán học và nó[tóan học] không còn biểu hiện ứng xử của hạt cơ bản nữa mà đúng hơn nó biểu thị kiến thức của chúng ta về ứng xử đó’ Trong một nỗ lực duy trì sự tồn tại của một thực tế khách quan và vẫn giải quyết được vấn nạn về hàm sóng, nhà vật lý đoạt giải Nobel Eugene Wigner năm 1961 đã đề nghị một giải pháp thứ hai.Nếu phương trình Schrodinger không biểu thị cho thực tế, thì có lẽ chính ý thức là biến số ẩn quyết định kết qủa của một biến cố thực sự sẽ xảy ra. Wigner chỉ ra rằng nghịch lý ‘con mèo của Schrodinger’ chỉ xảy ra sau sự đưa vào nhận thức của con người những tín hiệu đo lường. Nói một cách khác, nghịch lý này chỉ xảy ra vào cái lúc mà sự quan sát của con người can thiệp vào. Theo Wigner, mọi ý nghĩa mà cơ học lượng tử nhằm cung cấp chính là những mối liên hệ mang tính xác suất giữa những qúa trình tiếp nối của nhận thức. Ông cho rằng không thể nào có được sự mô tả những qúa trình lượng tử mà không có ‘một sự tham chiếu tường minh vào nhận thức’. Trong vấn nạn ‘con mèo của Schrondinger’ chính nhận thức của người quan sát đã can thiệp và kích khởi để một kết qủa nào đó được quan sát trong số những kết qủa khả dĩ . Wigner cũng gợi ý rằng phải có sự tìm kiếm những tác động khác mà nhận thức có thể tạo nên. Trong tác phẩm ‘ Symmetries and Reflections’ Wigner đã phác thảo một sự mô tả tóan học khả dĩ về cái mà ông tin là nó phải xảy ra khi nhận thức tác động lên sự quan sát. Ông cho rằng,’ lập luận đã có trước về sự khác biệt trong vai trò của những dụng cụ quan sát vô tri và người quan sát với nhận thức – về sự vi phạm các định luật vật lý nơi mà nhận thức có vai trò- là hoàn toàn có sức thuyết phục một khi người ta còn chấp nhận những nguyên lý của cơ học lượng tử chính thống với toàn bộ những hệ qủa của nó. Điểm yếu của lập luận này đối với việc cung cấp một hiệu qủa riêng biệt của ý thức lên vật chất nằm ở sự nương tựa tòan bộ vào những nguyên lý đó- một sự nương tưạ rất khó để biện minh đầy đủ khi dưạ trên cơ sở của kinh nghiệm của chúng ta với bản chất phù du của các lý thuyết vật lý’ Ý tưởng về nhận thức tác động lên vật chất là một khẳng định bất bình thường đối với các nhà vật lý. Trong phương pháp cơ học và kinh nghiệm, khoa học luôn luôn cố gắng khử trừ bóng ma của nhận thức ra khỏi bất kỳ sự thiết lập về các định luật vật lý. Wigner gợi ý rằng mối quan hệ giữa nhận thức và thực tại vật lý giống như bản chất của luật nhân qủa đều cần được tái kiểm tra và đó chính là sự khởi hành triệt để từ vật lý cổ điển. Mặc dù Wigner đề nghị một mối liên hệ mới giữa người quan sát và cái được quan sát, ông ta vẫn xác nhận rằng mối dây liên lạc giữa nhận thức và thực tại ‘không thể bị loại trừ’. Vẫn có hai loại thực tại- chủ quan và khách quan.Lãnh vực cổ điển của các thực tại khách quan đơn thuần trở thành tương đối. Nhà vật lý học ở Princeton John A.Wheeler tin rằng thuật ngữ ‘người quan sát’ nên được thay thế bằng ‘ người tham gia’. Sự thay thế này, ông ta cảm thấy rằng, đã chỉ ra một cách tường minh vai trò mới và triệt để của nhận thức trong vật lý. Thay vì phủ nhận sự tồn tại của những thực tại khách quan ông ta đã đi xa hơn với sự khẳng định rằng thực tại chủ quan và khách quan phần nào đã sinh ra lẫn nhau. Chúng là những hệ thống’ tự kích thích’ và biến thành ‘tự tham chiếu’. Ông viết’ trong một ý nghĩa lạ lùng nào đó, phải chăng vũ trụ có thể “tự trở thành” bởi sự tham gia của những kẻ đã dự phần?...tác động sống còn là sự tham gia. “ Người tham dự” là một khái niệm mới không thể bàn cãi do cơ học lượng tử mang lại. Nó đốn ngã danh từ” người quan sát” của lý thuyết cổ điển : kẻ đứng sau những tấm kính an toàn và theo dõi những gì đang xảy ra mà không dự phần vào’. Wheeler kết luận,’ nó không thể xong được, cơ học lượng tử nói vậy’ Sự gợi ý về thuật ngữ ‘ kẻ tham dự’ của Wheeler chứng tỏ bản chất huyền bí của ngành vật lý mới. Chúng ta có thể nhớ lại khẳng định của Sir James Jeans rằng tâm thức có thể là kẻ sáng tạo và cai trị của lĩnh vực vật chất. Tương tự như thế, trong một bài báo có tựa là “ Implications of Meta-Physics for Psychoenergetic Systems’ nhà vật lý Jack Sarfatti cũng xác nhận niềm tin của mình rằng cấu trúc của vật chất không thể độc lập với ý thức! Sarfatti còn đề nghị xa hơn rằng chúng ta phải kết hợp chặt chẽ phép tính logic với những mệnh đề hai gía trị ‘đúng-sai’ để hiểu hoàn toàn lý thuyết lượng tử. Cái luận lý ‘yes-and-no’ này sẽ dẫn chúng ta đến sự biểu đạt thứ ba của cơ lượng tử : sự biểu đạt của Everett-Wheeler hay ‘đa thế giới’. Quan điểm này trình bày thế giới gần như là khoa học gỉa tưởng nhưng ngược lại với trực gíac của hầu hết các nhà vật lý. Sự biểu đạt này cho rằng vũ trụ liên tục tách ra thành một số vô cùng lớn những thực tại song song. Trong một vũ trụ như thế, chúng ta không chỉ hiện hữu trong một số vô hạn các thế giới mà những kết qủa khả dĩ của bất kỳ một biến cố nào cũng tồn tại như thế. Trong truyện ngắn ,’ The Garden of the Forking Paths’ (Khu Vườn Rẽ Nhánh) , Jorge Luis Borges kể về một người đàn ông qúi phái, kỳ bí người Trung quốc có tên là Ts’ui Pên. Người này trong đời đã thề hai điều: viết một cuốn sách và xây một mê cung. Chỉ sau khi ông ta chết thì con cháu của ông ta mới nhận ra hai dự án này là một. Cuốn sách mà Ts’ui Pên viết có tên là The Garden of the Forking Paths ( Khu Vườn Rẽ Nhánh ) rất kỳ bí và có vẻ phi lý.Trong chương đầu tiên nhân vật chính bị giết. Ở chương thứ hai, nhân vật này sống lại. Mỗi khi mà một trong những nhân vật này đối diện với những nhân vật thay thế mình, thì người này chọn tất cả những nhân vật thay thế đồng thời. Borges mô tả nhân vật chính sau cùng đã nhận ra cảnh mộng ảo được che dấu trong The Garden of the Forking Paths. Đó chính là sản phẩm lý thuyết về bản chất của thời gian: ‘ một bức tranh chưa đầy đủ mà không sai lạc của vũ trụ như Ts’ui Pên cảm nhận nó đang-là. Khác với Newton và Schopenhauer….[ông ta]không nghĩ thời gian là tuyệt đối và đều. Ông ta tin vào một chuỗi vô tận thời gian đang phát triển với tốc độ chóng mặt, như một mạng lưới đang trải rộng với những dòng thời gian phân kỳ, hội tụ và song song. Cái mạng thời gian này- những sợi tơ đến gần nhau, chẻ nhánh, giao cắt hoặc tách rời nhau trải qua hàng thế kỷ- đã ôm giữ mỗi khả thể.’ Như nhân vật chính giải thích, ‘ Chúng ta không hiện hữu trong hầu hết các vũ trụ đó. Anh hiện hữu trong một số vũ trụ này và tôi không có mặt ở đó mà lại ở những vũ trụ khác nơi đó không có anh. Cũng có những vũ trụ khác mà cả chúng ta đều hiện hữu. Trong thế giới này ở đó may mắn đến với tôi, anh đã đến cửa nhà tôi. Trong thế giới khác, anh đi qua khu vườn và thấy tôi đã chết. Lại trong một thế giới khác, tôi đang nói những lời này nhưng là một kẻ sai lầm, một bóng ma.’ Mặc dù tác phẩm của Borges chỉ là gỉa tưởng, nhưng ý niệm về thời gian của Ts’ui Pên lại song hành với diễn giải của Everett-Wheeler trong cơ học lượng tử. Một cách cơ bản, có ba vấn đề đang ám ảnh những diễn giải khác nhau của cơ lượng tử. Trước tiên, nỗ lực của von Neumann nhằm kiểm tra những sai lầm của phương trình Schrodinger đã gỉa định rằng nền tảng tóan học không đúng. Hàm sóng mô tả thực tại mâu thuẫn với trực giác nhưng, như ‘Tai Họa Của Chuỗi Lùi Vô Hạn’ đã tiết lộ: nền tảng toán học không bao giờ được chứng minh là sai lầm. Thứ hai, sự sụp đổ của phương trình sóng được sử dụng bởi trường phái Copenhagen đã tránh né bất kỳ sự giải thích nào cho những hiện tượng có tính xác suất như thế. Cuối cùng, những đề nghị như của Wigner đã gỉa định sự tồn tại của một thực tế vật lý mặc dù sự phát hiện của Heisenberg đã cho thấy cái định nghĩa về một thực tế vật lý như thế là không thể được. Năm 1957 Hugh Everett cùng với John A.Wheeler đã kiểm tra lại những vấn đề trên. Sau đó, họ đưa ra sự diễn giải Everett-Wheeler về cơ học lượng tử mà không đòi hỏi sự thay đổi nào về cơ sở toán học của phương trình Schrodinger. Trong những tiền đề cơ sở, sự diễn giải này đã: Chấp nhận nền tảng tóan học của phương trình Schrodinger Chấp nhận rằng không một nhánh nào của phương trình Schrodinger bị sụp đổ Phủ nhận sự tồn tại của một thực tại vật lý.Gỉa thiết Everett-Wheeler chấp nhận sự diễn giải mang tính xác suất theo qui ước của lý thuyết lượng tử bằng một sự phân biệt quan trọng. Xác suất liên hệ với lý thuyết lượng tử khác biệt về mặt khái niệm và không nên lẫn lộn với khái niệm xác suất như được hiểu trong vật lý thống kê. Lý thuyết lượng tử mô tả một cách tóan học một vũ trụ mà trong đó cơ may (chance) không phải là một phép đo lường sự không hiểu biết của chúng ta về một hệ thống nhưng có tính tuyệt đối. Không thể tránh được những trạng thái như sự lập lờ của hàm sóng xảy ra. Những nhánh của hàm sóng tách ra và chia chẻ tương ứng với những xác suất của một phép đo cho trước. Cách ứng xử là phần toán học của phương trình Schrondinger. Bởi vì cơ may không phải là sự đo lường sự không hiểu biết của chúng ta về hệ thống nên những thông tin mới không thể làm chúng ta phủ nhận hay thay đổi phương trình. Vấn đề ,dĩ nhiên, cũng là vấn đề mà những hậu duệ của Ts’ui Pên đã gặp phải. Lối diễn giải của Everett-Wheeler chấp nhận ba vấn đề mà các lối diễn giải khác đã gặp, nhưng nó thách thức trực gíac của chúng ta về thời gian. Như Bryce deWitt đã chỉ ra, Everett và Wheeler đề nghị một vũ trụ mà ‘…..thường xuyên tách ra thành một số vô cùng lớn các nhánh rẽ, tất cả sinh ra từ phép đo giống như tương tác giữa vô số các thành phần của nó. Hơn thế nữa, mỗi một chuyển dời lượng tử xảy ra trên mỗi ngôi sao, trong mỗi thiên hà, nơi mỗi góc xa xăm của vũ trụ đang tách thế giới định xứ của chúng ta trên trái đất thành vô số những bản sao của chính nó’ Khả năng của 10100+ vũ trụ, tất cả những bản sao không hoàn chỉnh giữa chúng và tất cả không hoàn tòan nhận biết được sự hiện diện của nhau, đã mang lại những hàm ý tuyệt vời.Trong thí nghiệm của Schrodinger, đối với mỗi con mèo sống trong vũ trụ của chúng ta lại có một con chết trong vũ trụ khác. Hàm sóng làm vũ trụ tách làm hai và do đó nghịch lý đã được giải quyết. Như tai họa chuỗi vô hạn lùi của von Neumann đã hàm ý, mỗi một biến cố cơ học lượng tử trong vũ trụ của chúng ta tạo nên một chuỗi vô hạn những phép chia mà ở đó xác suất cho phép mọi hiện thực khả dĩ đều ‘tồn tại’. Trong khu vườn có nhiều nhánh rẽ như thế lời giải đáp cho vấn nạn về sự bất định có thể là: một vũ trụ trong đó mọi kết qủa khả dĩ của một thí nghiệm đã thực sự xảy ra. Lối diễn giải này cũng có những vấn đề của nó như những lối diễn giải trước đó. Một hình thức luận toán học dẫn đến lối diễn giải của chính nó có thể không bao giờ nhận được sự ủng hộ nơi phòng thí nghiệm. Ngay cả nếu như một thí nghiệm như thế được thực hiện, giống như những thiết bị kiểm tra của von Neumann, nó cũng có thể trở nên lập lờ và lại dẫn đến tất cả những kết qủa khả dĩ. Giống như một con mèo vừa sống vừa chết theo tỷ lệ trộn lẫn, cách diễn giải của Everett-Wheeler có thể minh chứng cho chính nó và phủ bác chính nó tại cùng một điểm và đồng thời. Tuy nhiên, khi chúng ta bắt buộc phải chấp nhận logic yes-and-no trong sự kiện eclectron vừa là sóng vừa là hạt đồng thời tại một điểm thì có lẽ chúng ta cũng nên lưu ý đến gợi ý của Wheeler (và của Safatti) về phép tính yes-and-no. Lối diễn giải của Everett-Wheeler (dù có đúng về mặt bản thể hay không) có lẽ là câu trả lời thích hợp duy nhất. Một lần nữa lối diễn giải này mang chúng ta đến với mối liên hệ giữa nhận thức và thực tại. ‘Người tham dự’ của Wheeler ngầm gợi ý lối diễn giải về đa thế giới. Nếu cả hai kết qủa của thí nghiệm’ con mèo của Schrodinger’ đều xảy ra thì ắt hẳn một tác nhân kích khởi nào đó trong nhận thức của con người phải quyết định kết qủa nào sẽ được kinh nghiệm. Jack Sarfatti tin tưởng chính vô thức của tập thể loài người đã định đoạt hạt sẽ phân hủy hay không. Tuy nhiên, vì chúng ta không nhận thức rằng chúng ta là những kẻ tham dự trong vũ trụ lượng tử, nên ý chí tập thể sẽ không hội tụ, không mạch lạc và chính điều này đã làm những biến cố lượng tử dường như ngẫu nhiên và có tính xác suất. Tiến xa hơn và như một tiền đề, Sarfatti cho rằng khái niệm về ‘người tham dự’ cũng có thể được dùng để giải thích cho những hiện tượng khác. Chẳng hạn trong chuyển động Brown hay là chuyển động zigzag đều đặn của những hạt trong chất lỏng hay khí, ông đề nghị rằng chính cái ý thức của người tham dự đã quyết định chuyển động của các hạt. Tính chất ngẫu nhiên của chuyển động Brown là do gỉa định về sự thiếu hội tụ của ý chí tập thể loài người. Như thế, Sarfatti gợi ý, hạt bị vùi dập trong chuyển động Brown ngẫu nhiên, đã được tạo nên bởi sự vận hành trong tiềm thức của mọi kẻ tham dự. Ông khẳng định,’ Người tham dự trong một thí nghiệm lượng tử riêng biệt trong phòng thí nghiệm vật lý có thể là người thực hiện thí nghiệm, dù là ở tầm mức sâu hơn của sự liên thông lượng tử thì nó phải bao gồm mọi hệ có sự sống. Mọi hệ thống có nhận thức, không kể đến vị trí trong không-thời gian của chúng so với những thiết bị thí nghiệm, đều đóng góp rời rạc vào cái thế (potential) lượng tử được cảm nhận bởi từng hạt trong những hạt photon hay electron’. Sarfatti cảm nhận rằng nguyên tắc về người tham gia chịu trách nhiệm về những tài năng có vẻ xuất chúng được chứng tỏ bởi tâm lý học như Uri Geller. Nếu những tài năng như thế được xác nhận, thì những cá nhân như Geller chỉ bằng vào tác động của ý chí cũng có thể nhiều lần kiểm soát chính xác vùng đập vào của những hạt riêng lẻ trong thí nghiệm về hai khe đã đề cập ở trước. ( Sarfatti đã thực sự tham dự thí nghiệm kiểm tra khả năng của Geller. Thí nghiệm này được dẫn dắt bởi giáo sư John Hasted ở Birbeck College, University of London vào ngày 20, 21 tháng 6 năm 1974. Những người chứng kiến bao gồm giáo sư David Bohm, Tiến sĩ Ted Bastin, Arthur Koestler và Arthur C. Clarke đã quan sát Geller biểu diễn làm cong miếng kim loại và kích khởi máy đếm Geiger bằng năng lực tâm lý. Hasted và Bohm đang chuẩn bị công bố bài báo cáo chi tiết) Quan điểm của các nhà vật lý đang thay đổi. Đã năm mươi năm kể từ ngày Heisenberg trao phó những xác nhận kỳ vĩ liên quan đến sự quan sát. Một cách chậm rãi, khối lương đồ sộ những cơ sở khoa học bắt đầu cảm nhận về cơn chấn động đầu tiên về một thời đại mới. Hàng thế kỷ đã qua, những người theo thuyết thần bí luôn xác nhận rằng vật chất và ý thức là hai phương diện khác nhau của cùng một thứ gì đó. Với những người dành trọn cuộc đời của mình để cố gắng chọc thủng những bí ẩn của vật chất, thì vật lý hiện đại đã có một thông điệp, dù không mới mẻ nhưng hóa ra lại là một sự tái khám phá quan trọng nhất mà loài người chưa từng làm. Có lẽ, sự thay đổi này sẽ được cảm nhận như một chuỗi tiếng sấm rền khi những cấu trúc cũ đổ xuống và được thay thế bằng những cấu trúc mới. Có lẽ, sự thay đổi này sẽ nhỏ nhiệm và tiệm tiến đến nỗi mà chúng ta sẽ không có nhiều cảm nhận về nó hơn những người chống Copernic trong thời đại của Galileo đã không cảm thấy trái đất đang chuyển động. Dù thế nào đi nữa, thông điệp của nền vật lý mới này là: chúng ta là những kẻ tham gia trong một vũ trụ ngày càng kỳ diệu. Chúng ta đã xuyên thủng vật chất và đã tìm thấy ở đó một ít bụi trần và cái thóang nhìn của chính chúng ta.
-
Bí Ẩn Về Một Thế Giới Khác Cùng Tồn Tại Trên Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Luân's topic in Mạn Đàm
Chapter 3: Có Phải Thượng Đế Đã Tạo Nên Vũ Trụ? Nguyễn Austin chuyển ngữ từ - The Newyork Times Notable Book Of The Year God And The New Physics- Paul Davies 'Tôi muốn biết Thượng đế đã tạo nên thế giới này như thế nào.’ - Einstein ‘Tôi không cần đến giả thiết này’ - Pierre Laplace trả lời Napoleon Bonaparte ‘Các nhà vũ trụ học đã tìm thấy Thượng đế!’ như đã được công bố mới đây nơi những hàng tiêu đề lớn của một tờ báo định kỳ nổi tiếng. Chủ đề của bài báo này là Vụ nổ lớn Big Bang và những tiến bộ mới đây trong kiến thức của chúng ta về những thời kỳ đầu tiên của vũ trụ. Trong giới báo chí phổ thông thì sự kiện sáng tạo chính nó đã được xem là đủ thẩm quyền để tiết lộ sự hiện hữu của Thượng đế. Nhưng khi nói Thượng đế đã gây ra sự sáng tạo thì điều đó thực sự có nghĩa như thế nào? Có thể nào quan niệm về sự sáng tạo mà không có Thượng đế hay không? Có phải Vũ trụ học hiện đại đã phô bày một cách không tránh né những giới hạn của một vũ trụ vật lý và bắt buộc chúng ta phải viện dẫn đến những lý do siêu nhiên? Thuật ngữ ‘sáng tạo’ rất đa dạng về ý nghĩa và điều rất quan trọng là phải giữ sự phân biệt minh bạch giữa những ý nghĩa đó. Sự sáng tạo vũ trụ có thể có nghĩa là một hình thái có tổ chức đột ngột của vật chất đi từ hình thái hỗn loạn nguyên thủy , thiếu cấu trúc cho đến những trật tự phức hợp và những hoạt động vi tế được quan sát hiện nay. Nó có thể hiểu là sự tạo nên vật chất từ khoảng không trống rỗng tầm thường hay được hiểu là sự xuất hiện đột ngột của toàn bộ thế giới vật chất bao gồm không gian, thời gian từ cái hoàn toàn không-có-gì. Cũng có những vấn đề riêng biệt về sự sáng tạo ra cuộc sống và chính con người mà chúng ta sẽ đề cập sau này. Phiên bản về sự sáng tạo của vũ trụ ‘trong ngày đầu tiên’ rất mơ hồ về những gì có liên quan đến nó. Hiện nay có hai cách giải thích về sự sáng tạo ,nhưng chẳng có lối giải thích nào đề cập một cách tường minh rằng vật chất mà từ đó các ngôi sao, hành tinh, trái đất và thân thể chúng ta được tạo nên, đã hiện hữu trước biến cố sáng tạo. Niềm tin rằng Thượng đế đã tạo nên chất liệu của vũ trụ từ cái không-có-gì là một phần giáo lý lâu đời của Thiên chúa giáo. Qủa thật là niềm tin này dường như phải được bổ sung bởi gỉa định về sự toàn năng của Thượng đế vì vật chất rất thô sơ mà nếu Thượng đế không tạo nên được vật chất thì điều đó hàm ý rằng khả năng của ông ta có giới hạn. Trước thế kỷ này các nhà khoa học và thần học đều gỉa định giống nhau rằng vật chất không thể được tạo ra (hoặc hủy diệt) bằng các phương tiện có trong thiên nhiên. Dĩ nhiên, hình thái của vật chất có thể thay đổi chẳng hạn như trong các phản ứng hóa học nhưng lượng vật chất thì vẫn không đổi mà chưa có một ngoại lệ nào. Đối diện với vấn đề về nguồn gốc của vật chất các nhà khoa học có xu hướng tin rằng vũ trụ có vô hạn tuổi và như thế sẽ tránh được sự sáng tạo cần thiết. Trong một vũ trụ vĩnh cửu vật chất có thể tồn tại mãi mãi và như thế vấn đề nguồn gốc của nó sẽ không còn cần thiết. Niềm tin rằng vật chất không thể được tạo ra bằng các phương tiện tự nhiên đã sụp đổ thảm hại vào những năm 1930 khi vật chất lần đầu tiên được tạo nên trong phòng thí nghiệm. Những biến cố dẫn đến sự khám phá này cung cấp một thí dụ cổ điển của vật lý hiện đại một cách tốt nhất. Câu chuyện này bắt đầu vào năm 1905 từ Einstein cũng như từ nhiều người khác. Phương trình nổi tiếng của ông ta: E=mc2 là hiện thân tóan học của một khẳng định, rằng khối lượng và năng lượng là tương đương: khối lượng mang năng lượng và năng lượng có khối lượng. Khối lượng là lượng phẩm của vật chất: khối lượng của thân thể cho bạn biết có bao nhiêu vật chất chứa trong đó. Khối lượng lớn có nghĩa là nặng nề và chậm chạp, khối lượng nhỏ có nghĩa là nhẹ nhàng và nhanh nhạy. Sự kiện khối lượng tương đương với năng lượng theo một ý nghĩa nào đó có nghĩa là khối lượng là năng lượng bị “giam giữ”. Nếu được giải phóng theo một cách nào đó thì vật chất sẽ biến mất giữa sự bùng phát của năng lượng. Ngược lại, bằng cách nào đó nếu năng lượng đủ tập trung thì vật chất sẽ xuất hiện. Trong quan niệm khởi đầu , phương trình Einstein chỉ là phó phẩm của Lý thuyết Tương Đối và nó chỉ liên quan đến tính chất của những vật chuyển động với vận tốc cực nhanh gần bằng vận tốc ánh sáng. Theo lý thuyết thì năng lượng của chuyển động phải làm cho vật trở nên nặng hơn (tăng khối lượng). Hiệu qủa này không đáng kể ở những vận tốc thông thường vì một khối lượng rất nhỏ tương ứng với một lượng năng lượng rất lớn. Chẳng hạn như một gam vật chất tương đương với một triệu đô la theo gía hiện hành.Tuy nhiên những máy gia tốc về các hạt cơ bản hiện đại có thể tăng tốc các hạt điện tử và proton suýt soát vận tốc ánh sáng mà ở đó khối lượng của chúng được quan sát đã tăng lên hàng chục lần. Dĩ nhiên khối lượng tăng theo vận tốc không có nghĩa là sự sáng tạo vật chất. Đúng hơn nó chỉ liên quan đến vật chất được tăng trọng nhưng đã hiện hữu từ trước. Khả năng của một hạt vật chất mới, được sản sinh nằm ngoài sự tập trung của năng lượng chỉ nổi lên với giai đoạn xem xét về mặt tóan học của Paul Dirac vào khoảng 1930. Dirac đã nổ lực hoà hợp lý thuyết tương đối của Einstein cùng công thức E = mc2 với những cuộc cách mạng quan trọng khác trong vật lý thế kỷ 20 quan tâm đến ứng xử của vật chất ở tầm mức nguyên tử và hạ nguyên tử. Một lý thuyết lượng tử tương đối tính cần thiết để mô tả các hạt hạ nguyên tử chuyển động gần vận tốc ánh sáng chẳng hạn như các qúa trình xảy ra trong sự phóng xạ năng lượng hạt nhân. Theo sự phân tích tóan học , Dirac đã đề nghị một phương trình mới nhằm mô tả vật chất ở tầm mức nguyên tử có tốc độ cao. Phương trình này là một sự thành công tức thời vì nó đã giải thích một tính chất kỳ ảo của electron cho đến giờ vẫn là được biết đến, cụ thể là chúng quay tròn theo một cách thức hoàn toàn kỳ lạ, xung khắc với cảm nhận chung và hình học cơ bản. Nói một cách thô thiển, mỗi electron phải quay quanh hai lần trước khi nó trở lại bề mặt ban đầu. Phương trình này cung cấp một thí dụ điển hình khác về việc làm thế nào toán học có thể thay thế trưc giác trong thế giới trừu tượng của vật lý. Tuy nhiên, phương trình Dirac đã có một khía cạnh đáng ngạc nhiên. Các nghiệm của nó mô tả một cách chính xác ứng xử của các electron thông thường, nhưng với mỗi nghiệm như thế lại tồn tại một nghiệm liên hợp khác. Nghiệm này lại có vẻ không tương ứng với bất kỳ cái gì đã được biết đến trong vũ trụ. Với một chút tưởng tượng ,người ta vẫn có thể nghĩ đến những loại hạt chưa biết đến. Về khối lượng và spin (độ lớn), chúng hoàn toàn giống như các electron thông thường nhưng trong khi các electron mang điện tích âm thì những hạt này lại mang điện tích dương. Một số tính chất khác chẳng hạn như spin (chiều) thì lại ngược lại, đã làm cho những loại hạt mới này như là hình ảnh trong gương của các electron. Sự tiên đóan của Dirac lại còn ngoạn mục hơn nữa, rằng nếu có năng lượng đủ lớn để có thể tập trung thì một trong các hạt ‘phản electron ‘ này có thể xuất hiện ở nơi mà trước đó không có gì tồn tại. Để cho điện tích được bảo toàn, biến cố này phải được đi kèm bởi sự xuất hiện đồng thời của một electron. Theo cách này thì năng lượng có thể được dùng một cách trực tiếp để tạo ra vật chất trong hình thức của một cặp electron -phản electron. Vào khoảng thời gian này (1930), nhà vật lý C.Y.Chao đang thí nghiệm về năng suất xuyên thấu của tia gamma (photon ánh sáng mang năng lượng cao) trong các loại vật chất nặng như chì. Ông ta nhận thấy rằng những tia gamma mang năng lượng lớn nhất lại bị yếu đi một cách đáng kể theo cách thức rất lạ. Nguyên nhân của sự hấp thụ bổ sung của các tia này là một bí mật đối với Chao. Ngày nay chúng ta biết rằng điều đó là do sự sinh cặp electron-phản electron. Thế rồi, vào năm 1933, khi Carl Anderson nghiên cứu về sự hấp thụ của các tia vũ trụ-những hạt mang năng lượng rất lớn từ không gian- bởi các tấm kim loại ông ta đã phát hiện lần đầu tiên sự xuất hiện rõ ràng của các ‘phản electron’ của Dirac. Vật chất đã được tạo ra trong các thí nghiệm được kiểm soát trong phòng thí nghiệm. Các tính chất được mong đợi của loại hạt mới nhanh chóng được kiểm chứng và Dirac cùng Anderson chia nhau giải Nobel cho sự tiên đóan và phát hiện xuất sắc ra loại hạt này. Những năm sau đó, việc tạo nên các electron và phản electron (thường được gọi là positron ) trở nên phổ biến trong một loạt qúa trình trong phòng thí nghiệm. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai sự phát triển của các máy tăng tốc cho các loại hạt hạ nguyên tử cũng đã có thể tạo nên một số loại hạt khác theo cách thức có kiểm soát. Các hạt phản proton, phản neutron đã được tạo nên. Ngày nay ,các hạt positron và phản proton đả được tạo nên với số lớn và được giữ trong các “chai từ tính”. Tựu trung lại, các phản hạt được gọi chung là phản vật chất và ngày nay nó được tạo nên thường xuyên trong các phòng thí nghiệm Vật lý. Được trang bị bởi các sự kiện này, cách thức giải thích một cách tự nhiên về nguồn gốc của mọi vật chất dường như đã được mở ra. Trong thời kỳ BigBang, một năng lượng cực lớn đã có sẵn cho việc tạo nên một lượng lớn vật chất và phản vật chất. Cuối cùng, khi bị lạnh đi nhiều, những vật chất này có thể đã hội tụ thành các ngôi sao và hành tinh. Nhưng thật không may cho ý tưởng đơn giản đó, đã có những trở ngại bất ngờ xuất hiện: khi vật chất gặp phản vật chất thì cả hai phải tiêu hủy lẫn nhau và phóng thích một năng lượng mạnh mẽ. Đó là qúa trình ngược của quá trình tạo nên vật chất. Như thế thì một vũ trụ chứa hỗn hợp vật chất -phản vật chất sẽ bất ổn định dữ dội. Một số những giới hạn chặt chẽ có thể áp đặt lên một lượng phản vật chất, nhưng đó là một lượng không đáng kể. Như thế thì tất cả các phản vật chất đã biến đi đâu? Trong phòng thí nghiệm, mỗi hạt được tạo ra luôn đi kèm theo một phản hạt. Do đó chúng ta có thể trông đợi rằng vũ trụ là một hỗn hợp 50-50. Nhưng những quan sát thực nghiệm đã loại bỏ điều này. Một số các nhà Vật lý vũ trụ đã thử giải thích vấn nạn này bằng cách gỉa thiết rằng bằng cách nào đó vật chất và phản vật chất đã tự thu xếp để tách ra thành những khu vực rộng lớn mà ở đó một trong hai loại hạt và phản hạt sẽ chiếm ưu thế. Có thể toàn bộ thiên hà nào đó được tạo nên bởi phản vật chất và những thiên hà khác lại được tạo nên bởi vật chất. Tuy nhiên, không có một cơ chế nào cho sự tách biệt này được đề nghị và lý thuyết về vũ trụ đối xứng [giữa vật chất và phản vật chất: người dịch] đã rơi vào sự thất sủng. Như vậy, các nhà khoa học nào đã nhấn mạnh rằng BigBang là một sự Sáng tạo sẽ phải đối mặt với nhu cầu gỉa tạo, bất chấp đến các định luật vật lý là sự gỉa định rằng một qúa trình siêu nhiên nào đó đã bơm vật chất vào vũ trụ không có phản vật chất. Những viện cớ mơ hồ về điều “ tất cả các định luật dù sao cũng đều bị phá vỡ tại điểm dị thường” chẳng làm dịu đi cái cảm giác không thoải mái về cách giải thích này. Tuy nhiên, rất gần đây một lối thoát khả dĩ cho vấn nạn này đã xuất hiện. Mặc dù trong những điều kiện của phòng thí nghiệm thì sự tạo ra vật chất và phản vật chất luôn luôn đối xứng, nhưng dưới nhiệt độ cực kỳ cao của Bigbang thì một sự vượt trội nhẹ của vật chất là khả dĩ được phép. Ý tưởng này là hệ qủa của một chương trinh về lý thuyết nhằm tìm cách cung cấp một sự mô tả thống nhất về bản chất của bốn loại lực (chủ đề này sẽ được bàn luận trong chương 11). Theo những tính toán về lý thuyết, ở nhiệt độ hàng tỷ,tỷ, tỷ độ có thể đạt tới chỉ trong một phần tỷ ,tỷ, tỷ của một giây thì đối với một tỷ phản-proton sẽ có một tỷ và một proton được tạo nên. Tương tự như thế số electron sẽ hơn số positron là 1 trong một tỷ hạt. Một sự vượt trội như thế dù là nhỏ nhưng có ý nghĩa quan trọng. Trong chuỗi hủy diệt tiếp theo đó, một tỷ cặp proton và phản-proton sẽ biến mất chỉ còn lại proton riêng lẻ sống sót cùng với electron đơn lẻ. Những hạt còn sót lại này- gần như là một ý định muộn màng của tự nhiên-đã trở thành vật liệu mà sau cùng hình thành nên tất cả thiên hà, ngôi sao, hành tinh- và chúng ta. Theo lý thuyết này thì vũ trụ của chúng ta được dựng nên bởi phần cặn dư vật chất còn sống sót như là di tích của phút giây hiện hữu đầu tiên không thể nghĩ bàn. Cũng như mọi lý thuyết khả tín khác, các nhà vật lý tìm thấy lời giải thích này về nguồn gốc của vật chất là thuyết phục. Nhưng tìm đâu cho được những chứng cứ mạnh mẽ? Có hai kết qủa khả dĩ có tính khẳng định. Kết qủa thứ nhất liên quan đến sự hủy diệt toàn phần của hàng tỷ các cặp hạt-phản hạt đi kèm với mỗi hạt vượt trội ngay từ lúc khởi đầu. Năng lượng tạo ra từ sự hủy cặp này cũng phải sống sót và được gỉa định dưới dạng nhiệt. Nhưng như đã được đề cập trong chương trước thì vũ trụ thực sự được ngâm trong bức xạ nhiệt còn sót lại từ Bigbang. Vấn đề đơn giản là tính tổng cộng năng lượng nhiệt cho mỗi nguyên tử sống sót để xem những con số có đúng với phép tính (một trong một tỷ) hay không. Những con số đó ăn khớp! hay ít nhất là phù hợp với những mô hình hợp lý. Do đó không chỉ nguồn gốc của vật chất được gỉai thích bởi lý thuyết này mà nó còn tính toán được nhiệt độ chính xác của vũ trụ. Đó là một công trình đáng chú ý. Lý thuyết tiên đóan được sự vượt trội rất nhỏ của sự sản sinh ra vật chất cũng tiên đoán được sự hủy diệt đồng thời rất nhỏ của vật chất bởi cùng một cơ chế. Theo lý thuyết này thì trải qua một thời gian rất lâu proton sẽ phân hủy thành positron. Hạt này [positron]sẽ tiếp tục biến mất cùng với electron [qúa trình hủy cặp].Theo cách thức này thì vật chất cuối cùng sẽ biến mất. Tuy nhiên, thời gian cho sự biến mất này sẽ rất lâu đến nỗi mà trong suốt một đời người thì thân thể người ta tính trung bình chỉ mất một proton mà thôi. Để kiểm tra lý thuyết này các nhà khoa học đang nghiên cứu sự tích tụ rất lớn của vật chất dưới sâu trong lòng đất để loại bỏ sự ô nhiễm của các tia vũ trụ và cố gắng bắt qủa tang hạt proton đang phân hủy. Bởi vì nguồn gốc qúa trình là thống kê (giống như trong phóng xạ), nên cho dù là chu kỳ phóng xạ của proton ít nhất là mười ngàn tỷ tỷ tỷ năm, sự phân hủy thất thường cũng sẽ được quan sát sau khỏang vài tuần chờ đợi. Khó khăn nằm ở chỗ là phải tích lũy nhiều tấn vật chất (nghĩa là có nhiều proton) mới phát hiện ra biến cố có tính ngẫu nhiên này. Một vài thí nghiệm như thế đang được tiến hành và ít ra có một thí nghiệm đã tạo nên được một số khả dĩ biến cố phân rã của proton. Câu hỏi về nguồn gốc của vật chất sẽ làm sáng tỏ vấn đề cơ bản đang thử thách bất kỳ nỗ lực nào để dẫn đến kết luận về sự hiện hữu của Thượng đế từ các hiện tượng vật lý. Sự xuất hiện của vật chất mà không có mặt của phản vật chất dường như đã từng được xem là phép lạ và có lẽ nó đã đòi hỏi sự áp đặt siêu nhiên vào Bigbang, thì nay lại có vẻ dễ hiểu dựa trên nền tảng thông thường của vật lý và dưới ánh sáng của sự hiểu biết ngyà càng được cải thiện của khoa học. Đây là một sự kiện gây ngạc nhiên và không gỉai thích được vào lúc này, nhưng chúng ta không bao giờ tuyệt đối chắc chắn rằng vào một lúc nào đó trong tương lai ,sẽ không có một hiện tượng tự nhiên nào được khám phá để giải thích sự kiện ấy. Những tiến bộ khoa học đó phải chăng có nghĩa là hiện nay chúng ta có thể giải thích được sự sáng tạo bằng các qúa trình tự nhiên? Nhiều nhà thần học phủ nhận điều ấy. Những qúa trình được mô tả ở đây không đại diện cho sự sáng tạo của vật chất từ cái không- có gì mà chỉ là sự chuyển đổi từ năng lượng đã hiện hữu trước sang dạng vật chất. Chúng ta còn phải giải thích rằng năng lượng đến từ đâu ở vị trí đầu tiên. Phải chăng điều này đòi hỏi một sự giải thích siêu nhiên? Tuy nhiên, người ta phải thận trọng về việc chuyển trách nhiệm từ vật chất sang năng lượng theo cách này. Đúng hơn năng lượng là một khái niệm rất khó nắm bắt, đặc biệt là trong Vật lý học hiện đại. Năng lượng là cái gì? Nó có thể có rất nhiều dạng. Chẳng hạn như, đơn giản nó là chuyển động. Trong phòng thí nghiệm, các hạt va chạm với nhau ở vận tốc lớn và bốn hạt xuất hiện tại ngay chỗ mà trước đó chỉ có hai. Các hạt mới là cái gía phải trả cho việc giảm tốc độ của hai hạt ban đầu. Sự chuyển đổi từ chuyển động sang vật chất rất mơ hồ. Điều này có thể đến rất gần với tinh thần của việc sáng tạo từ cái không-có-gì. Vẫn có một khả năng đáng chú ý khác. Đó chính là việc tạo nên vật chất từ trạng thái zero của năng lượng. Khả năng này nảy sinh vì năng lượng có thể dương lẫn âm. Năng lượng của chuyển động hay năng lượng của khối lượng luôn luôn dương, nhưng năng lượng của hấp dẫn chẳng hạn như do các loại trường trọng lực hay điện từ lại có gía trị âm. Đó là trường hợp mà trong đó năng lượng dương để hình thành khối lượng của các hạt vật chất mới bằng đúng với năng lượng âm của lực hấp dẫn hay điện từ. Chẳng hạn như trong trường hợp sau đây: Trong vùng lân cận của hạt nhân nguyên tử thì lực điện rất lớn. Nếu một hạt nhân chứa 200 proton được hình thành (có khả năng nhưng khó khăn) thì khi không có bất kỳ dạng năng lượng nào được thêm vào, hệ sẽ trở nên không bền do sự sinh cặp electron-positron tức thời. Lý do của việc này là năng lượng điện âm được tạo bởi các hạt mới có thể bù trừ chính xác năng lượng của khối lượng chúng. Trong trường hợp lực hấp dẫn thì tình huống này còn lạ lùng hơn nữa vì trường hấp dẫn chỉ là sự cong của không gian-không gian cong. Năng lượng bị nhốt trong độ cong của không gian có thể chuyển hóa thành các hạt vật chất và phản vật chất. Chẳng hạn như nó có thể xảy ra ở gần lỗ đen và có lẽ nó cũng là nguồn hạt quan trọng nhất trong Bigbang. Như vậy, vật chất xuất hiện tức thời từ không gian trống không. Câu hỏi được đặt ra là có phải vụ nổ nguyên khởi đã mang năng lượng, hay toàn bộ vũ trụ là một trạng thái zero năng lượng trong đó năng lượng của tất cả vật chất bù trừ với năng lượng âm của lực hấp dẫn trọng trường. Có thể giải quyết vấn đề bằng một phép tính đơn giản. Các nhà vũ trụ học có thể đo được khối lượng của các thiên hà, khoảng cách trung bình giữa chúng và tốc độ dời xa nhau của chúng. Đem tất cả những số liệu này vào trong một công thức sẽ nhận được một đại lượng mà các nhà vật lý đã diễn giải nó như là năng lượng tổng cộng của vũ trụ. Kết qủa nhận được đúng thực là zero với độ chính xác có thể quan sát được. Lý do về kết qủa hết sức đặc biệt này là những vấn đề nan giải các nhà Vũ trụ học. Một số đề nghị lời giải đáp rằng phải có một nguyên lý vũ trụ sâu xa vận hành đòi hỏi Vũ trụ phải có chính xác năng lượng zero. Nếu thực sự như vậy thì Vũ trụ có thể hình thành theo lộ trình ít sức cản nhất. Nó hiện hữu mà không đòi hỏi bất kỳ vật chất hay năng lượng nào được thêm vào. Vật chất đã trở nên phức tạp hơn bởi sự kiện là ngay năng lượng cũng không được định nghĩa một cách rõ ràng khi có mặt của lực hấp dẫn. Trong một số trường hợp vẫn có thể làm rõ khái niệm năng lượng tổng cộng trong một hệ cô lập bằng cách xem xét ảnh hưởng của lực hấp dẫn ở khoảng cách rất xa ( thực ra là vô hạn). Nhưng chiến lược này thất bại hoàn toàn trong trường hợp vũ trụ vô hạn như mô hình vũ trụ của Einstein (được thảo luận trong chương trước). Trong một vũ trụ đóng như thế thì năng lượng toàn phần là một đại lượng vô nghĩa. Phải chăng những ví dụ đó, chẳng hạn như sự sáng tạo tự nhiên của vật chất từ không gian trống không mà không cần đến năng lượng thêm vào, có thể giải thích cho sự sáng tạo ex nihilo của thần học? Có thể chấp nhận rằng khoa học vẫn chưa giải thích được sự hiện hữu của không gian (và thời gian). Nhưng chấp nhận rằng sự tạo ra vật chất mà từ rất lâu vẫn được xem như là kết qủa của một tác động thần thánh và nay (có lẽ) đã được hiểu biết trong các thuật ngữ khoa học bình thường thì phải chăng chỉ có một cách duy nhất là viện dẫn đến Thượng đế thì con người mới giải thích được lý do tại sao chỉ có một vũ trụ duy nhất – hay là tại sao không gian và thời gian lại hiện hữu trước rồi vật chất có thể có mặt từ đó? Niềm tin rằng Vũ trụ như là một toàn thể phải có nguyên nhân và nguyên nhân ấy là Thượng đế, đã được phát biểu bởi Plato và Aristote, được khai triển bởi Thomas Aquinas, và rồi đạt đến một hình thức mạch lạc hơn với Gottfried Wilhelm von Leibniz và Samuel Clarke trong thế kỷ 18. Nó vẫn được biết đến như là những biện giải thần học về vũ trụ cho sự hiện hữu của Thượng đế. Có hai phiên bản về biện giải vũ trụ này: Biện giải nhân qủa (sẽ được xem xét ở đây) và biện giải từ sự ngẫu nhiên (sẽ được thảo luận trong chương tiếp theo). Biện giải thần học về vũ trụ đã được xem xét với sự ngờ vực bởi David Hume, Immanuel Kant và nó cũng bị công kích dữ dội bởi Bertrand Russel. Mục đích của biện giải vũ trụ có hai hướng. Đầu tiên là để thiết lập sự hiện hữu của “ người khởi xướng”- một thực thể nhằm để giải thích cho sự tồn tại của thế giới. Sau đó là để chứng minh rằng thực thể này thực sự là Thượng đế như vẫn được hiểu trong giáo lý Thiên chúa giáo. Biện giải này được tiến hành dọc theo lộ trình sau đây. Mỗi biến cố, được nhấn mạnh, đều đòi hỏi một nguyên nhân. Không thể nào có một chuỗi vô hạn các nguyên nhân, do đó phải có một nguyên nhân đầu tiên cho mọi thứ. Nguyên nhân này là Thượng đế. Giờ đây, phải khẳng định ngay từ sự khởi đầu rằng đã có nhiều phiên bản của biện giải vũ trụ và rất nhiều những diễn giải tinh vi về ý nghĩa đến nỗi mà ,trải qua nhiều năm ,cuộc tranh luận này nay đã trở nên bí hiểm và phức tạp. Ở đây, tôi không có ý định đưa ra sự đánh gía cân bằng giữa sự ủng hộ và chống đối, mà chỉ muốn nói rằng biện giải này đã thu hút sự chú ý của một số các trí thức lớn trong lịch sử loài người. Tuy vậy, nó cũng không ngăn được những người ủng hộ cũng như chống đối luận đề này tránh khỏi việc đưa ra những sai lầm về mặt logic cũng như triết học. Mối quan tâm của chúng ta ở đây là xem xét lại gỉa thiết về chuỗi nhân qủa dưới ánh sáng của khoa học hiện đại. Hãy kiểm tra bước đầu tiên trong biện giải: mỗi biến cố có một nguyên nhân. Như Clarke đã tuyên bố : ‘ Không có điều gì có thể vô lý hơn là giả định rằng điều gì đó là như thế, mà tuyệt đối không có lý do để giải thích tại sao nó là như vậy,mà tại sao nó không lại là như vậy’. Nói một cách lỏng lẻo, người ta thường gỉa định rằng mọi thứ xảy ra đều có nguyên nhân bởi một cái gì khác và mỗi vật khi sinh ra đều được tạo bởi một cái gì đó đã hiện hữu sẵn. Có vẻ là hợp lý, nhưng có thật sự như thế? Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta hiếm khi nghi ngờ rằng về điều :mọi biến cố đều có nguyên nhân theo một cách nào đó. Một cái cầu gãy đổ vì nó qúa tải; tuyết tan vì không khí ấm lên; cái cây mọc lên vì hạt mầm đã gieo xuống, ….Nhưng liệu có những gì đó không có nguyên nhân? Hãy xem xét khẳng định ở trên ‘ mỗi vật thể sinh ra đều được tạo nên bởi cái gì đó’. Điều gì đó là gì nếu vật thể không được sinh ra nhưng vẫn luôn hiện hữu? Điều như thế chắc chắn có thể cảm nhận được. Không gian trong vũ trụ ở trạng thái bền là một ví dụ. Đặt câu hỏi về một vật thể tồn tại vĩnh cửu- một vật thể không có thời điểm kết thúc- có nguyên nhân hay không, là một việc có ý nghĩa chăng? Người ta vẫn có thể hỏi ‘Tại sao nó hiện hữu?’ Sự bắt bẻ ‘nó luôn luôn [hiện hữu] như thế’ có vẻ què quặt vì người ta có thể tưởng tượng dễ dàng rằng một vật thể có thể không hiện hữu. Có vẻ là hợp pháp khi đi tìm lý do của sự hiện hữu hơn là lý do không hiện hữu, bất kể đến cái tuổi vô hạn của nó. Do vậy, theo ý kiến của một số người thì dẹp bỏ sự sáng tạo ( như trong trường hợp vũ trụ đang ở trạng thái bền) cũng không làm mất đi sự cần thiết về việc gỉai thích tại sao vũ trụ lại tồn tại. Hãy tạm để sang một bên vấn đề về những vật thể vô hạn và gỉa định rằng chúng ta chỉ giới hạn vào sự “đi vào hiện hữu” của các vật thể. Có thể nào một điều gì đó được tạo ra từ cái “không có gì”? Chúng ta đã thấy các hạt đã được tạo ra từ không gian trống rỗng như thế nào, nhưng trong trường hợp đó thì độ cong của không gian lại là nguyên nhân. Chúng ta vẫn phải giải thích không gian đến từ đâu (nếu nó không luôn luôn hiện hữu). Một số người có thể đã đặt câu hỏi liệu không gian có phải là sự vật. Đương nhiên, khó mà có thể tưởng tượng được Thomas Aquinas hay Leibniz xem nó như là một phần trong chuỗi nhân qủa. Chúng ta lại nhấn mạnh rằng: cái gì làm cho không gian đột ngột xuất hiện trong Bigbang? Điểm kỳ dị chăng? Nhưng điểm kỳ dị hầu như chắc chắc không phải là một sự vật. Nó là biên giới của sự vật ( không -thời gian). Bế tắt! Có phải mọi biến cố đều có nguyên nhân? Có thể nào một điều gì đó xảy ra mà không có bất kỳ tác động có trước, hay bất kỳ lý do thuần lý? Báo chí luôn đề cập đến ‘Vật thể trong không gian không gỉai thích được’ Tuy vậy điều đó không có nghĩa là những hiện tượng trên bầu trời xảy ra mà không có sự giải thích mà nó chỉ có nghĩa là không có một lời giải thích được biết đến. Một điều không may là chúng ta khó mà thấy được cái khẳng định ‘ mọi biến cố đều có nguyên nhân’ là hoàn toàn là gỉa tạo. Để thấy được điều đó chúng ta không chỉ phải tìm ra một biến cố không có nguyên nhân tường minh mà phải đi đến việc chứng minh rằng trong rất nhiều thông tin mà người ta đã biết về vũ trụ và đào sâu sự hiểu biết về thiên nhiên, thì không có nguyên nhân nào được tìm thấy. Điều đó dường như là không thể. Làm sao người ta có thể chắc chắn rằng biến cố đang xem xét không được tạo bởi một qúa trình hoàn toàn mơ hồ, cực kỳ hiếm, chưa từng gặp, gây trở ngại và bất thường? Ngành khoa học gần nhất để đánh đổ khẳng định rằng mọi biến cố đều có nguyên nhân là Cơ học lượng tử. Như chúng ta sẽ thấy trong chương 8, trong thế giới của các hạt hạ-nguyên tử thì cách ứng xử của các hạt thông thường là không thể tiên đóan được. Từ thời điểm này sang thời điểm kế cận anh không thể chắc rằng một hạt sắp làm điều gì. Nếu, trong một biến cố người ta sẽ chọn nơi đến của một hạt là một vị trí riêng biệt nào đó thì , theo lý thuyết lượng tử, biến cố ấy không có nguyên nhân theo nghĩa là nó vốn không thể tiên đoán được. Cho dù có rất nhiều thông tin có sẵn về các lực và các ảnh hưởng tác động lên hạt thì vẫn không có cách nào để cho rằng việc đến một vị trí được chỉ định trước, được xem là được ‘định sẵn’ bởi bất kỳ điều gì khác. Kết qủa cho thấy là vị trí đến của hạt hoàn toàn có tính ngẫu nhiên nội tại. Hạt chỉ nổi lên vị trí đó không nhịp điệu, không lý do. Một số (thiểu số) các nhà vật lý không xem xét ý tưởng đó một cách nghiêm túc. Einstein bác bỏ nó bằng một bắt bẻ nổi tiếng:’ Thượng đế không chơi trò súc sắc’. Những nhà vật lý đó mong muốn rằng mỗi biến cố phải được tạo nên bởi một điều này hay điều khác ngay cả ở tầm mức hạ-nguyên tử. Điều đủ làm ngạc nhiên là, hoàn toàn có thể thực hiện một thí nghiệm để chứng minh rằng, trừ phi là các ảnh hưởng có thể di chuyển nhanh hơn ánh sáng, các hệ nguyên tử thật sự không tiên đoán được- ‘ Thượng đế ‘đang chơi trò súc sắc. Khẳng định này dường như đang có nền tảng khá vững chắc miễn sao những ý đồ phi thường của thiên nhiên không phản bác các kết qủa thực nghiệm. Do đó, nếu người ta chấp nhận rằng những biến cố lượng tử không có nguyên nhân trực tiếp một cách riêng lẻ thì phải chăng sự tạo ra vật chất ,như là một thí dụ cổ điển, có thể được xem là không có nguyên nhân vật lý? Theo một nghĩa nào đó thì Đúng là như thế. Một hạt riêng lẻ sẽ được sinh ra đột ngột và không thể tiên đoán được vào một vị trí hay thời điểm bất kỳ. Tuy nhiên cách ứng xử của hạt tuy độc lập nhưng vẫn chịu chi phối bởi các định luật xác suất. Cho trước độ cong không gian có một độ lớn đặc biệt thì có khả năng rất cao là hạt sẽ xuất hiện trong một thể tích nhất định của không gian và trong một khoảng thời gian nào đó nhưng không bao giờ xác định. Ngược lại, dù cho xác suất cực kỳ nhỏ nhưng vẫn có cơ may nhất định cho một hạt như thế nổi lên ở một nơi nào đó trong phòng khách của bạn ngay lúc này. Trong thế giới lượng tử, những điều như thế xảy ra không hề báo trước. Sự kiện rằng xác suất để tạo nên một hạt phụ thuộc vào độ cong của không gian đã hàm ý một liên quan nhân qủa lỏng lẻo. Độ cong của không gian đã làm cho sự xuất hiện của hạt dễ xảy ra hơn. Liệu điều đó có được xem là nguyên nhân của sự xuất hiện hạt một cách chặt chẽ hay không? Đó chỉ là vấn đề ngữ nghĩa trên qui mô rộng lớn. Giờ đây người ta có thể phản đối rằng trọng tâm của việc thảo luận liên quan đến vấn đề liệu toàn thể vũ trụ có nguyên nhân hay không chứ không phải sự tạo ra hạt electron hay chuyện nó đến một vị trí nào đó có nguyên nhân hay không. Một số nhà vật lý không ngần ngại trả lời rằng toàn thể vũ trụ cũng bị chi phối bởi những nguyên lý lượng tử, nhưng điều này lại dẫn chúng ta đến một chủ đề gây tranh cãi về Vũ trụ học lượng tử mà bản thân lý thuyết này chứa đầy những vấn đề về thống nhất nội tại (consistency). (Những thảo luận xa hơn sẽ được đề cập trong chương 16, ở đó tôi sẽ gợi ý một kịch bản lượng tử có thể giải quyết vấn đề về nguồn gốc vũ trụ). Hiện giờ, vẫn không đi ngược lại lý thuyết lượng tử chúng ta chấp nhận rằng toàn thể vũ trụ có thể được xem là có nguyên nhân và nguyên nhân đó là cái gì? Thượng đế? Tới đây chúng ta tiến hành xem xét bước thứ hai của biện giải vũ trụ : không thể có một chuỗi vô hạn các nguyên nhân. Trách nhiệm sau cùng phải dừng ở một nơi nào đó. Những thiên hà hình thành từ những tinh vân xoáy tròn, tinh vân được cấu tạo bởi khi hydrô sơ khai, hydro lại được tạo bởi các proton và được tạo nên từ vụ nổ đầu tiên, các proton lại xuất hiện do độ cong của không gian. Sự gỉa định luôn luôn là chuỗi nguyên nhân này phải có thành phần đầu tiên. Aquinas đã viết: Trong thế giới quan sát được thì các nguyên nhân được tìm thấy được sắp xếp thành các chuỗi. Chúng ta không bao giờ quan sát, không bao giờ có thể thấy, caí gì đó tự tạo nên chính nó vì điều đó có nghĩa là nó đã có trước nó, và điều này là bất khả. Một chuỗi nguyên nhân như thế bắt buộc phải dừng ở một chỗ nào đó vì nguyên nhân sớm hơn sẽ tạo nên nguyên nhân trung gian và nguyên nhân trung gian sẽ tạo nên nguyên nhân cuối cùng (cho dù nguyên nhân trung gian là một hay nhiều). Giờ đây nếu bạn bỏ nguyên nhân thì bạn cũng hủy hệ qủa của nó để rồi bạn không thể có nguyên nhân cuối cùng, không có nguyên nhân trung gian trừ phi bạn còn lại nguyên nhân đầu tiên. Do đó không có điểm dừng trong chuỗi nguyên nhân sẽ không có nguyên nhân đầu tiên, không có nguyên nhân trung gian và cũng chẳng có hệ qủa cuối cùng và điều này là một sai lầm công khai. Vì thế người ta buộc phải gỉa định một nguyên nhân đầu tiên nào đó và đặt tên là “Thượng đế”.(2) Trong phần lập luận chống lại chuỗi vô hạn về nhân qủa thì cả Aquinas và Clarke đã không đưa ra những phản biện dựa trên nền tảng đó là một chuỗi vô hạn.Thật vậy, cả hai tư tưởng gia đã khai triển lập luận của họ trong khung cảnh của một vũ trụ vĩnh cửu và bằng lòng với điều đó để dẫn đến bằng chứng của sự sáng tạo nằm ở sự ‘mặc khải thần thánh’ hơn là những lập luận lý trí. Đúng hơn thì những phản bác này dường như cho rằng một chuỗi vô hạn nhân qủa chứa toàn thể vũ trụ là điều không thể có được. Nếu chúng ta xem xét một tiến trình vô hạn…..Đơn giản là , toàn thể chuỗi hiện hữu của mọi loài không thể có nguyên nhân từ’ cái không’ bởi vì mọi thứ đã được giả định là đã và đang được chứa trong vũ trụ. Và rất đơn gỉan là, không thể có nguyên nhân về sự hiện hữu lại nằm trong chính nó vì không có sự hiện hữu nào trong chuỗi vô hạn này được gỉa định là tự hiện hữu hay nhất thiết như thế… nhưng mọi thứ phụ thuộc vào cái có trước….Như thế một tiến trình vô hạn của những hiện hữu với tính chất hoàn toàn phụ thuộc, mà không có bất kỳ một nguyên nhân ban đầu độc lập, là một chuỗi không cần thiết và không có nguyên nhân…trong chính nó hoặc từ cái không: nghĩa là, đó là một sự mâu thuẫn và bất khả thi rõ rệt.(3) Niềm tin rằng một tiến trình vô hạn của các ‘sự hiện hữu có tính chất phụ thuộc’ là một chuỗi nhân qủa vô hạn, rất lỏng lẻo. Nó cần sự giải thích cho sự tồn tại của chính nó (sự giải thích này không thể tìm thấy khi cho rằng chuỗi đó lại bao gồm mọi thứ đang hiện hữu) và bị công kích sắc bén bởi các triết gia đặc biệt là Hume và Russell. Trong một thảo luận nổi tiếng ở BBC với cha Copleston, Russell đã minh họa quan điểm của ông như sau: ‘Mỗi người hiện hữu đều có một người mẹ…..nhưng rõ ràng là loài người thì không có một người mẹ’. Ngắn gọn là, chừng nào mà mỗi một thành phần riêng lẻ của tiến trình được gỉai thích thì, ipso facto [vì sự kiện đó mà], tiến trình được giải thích. Và vì mỗi thành phần của chuỗi có sự tồn tại nằm ở một hay nhiều thành phần trước đó nên mỗi thành phần của chuỗi vô hạn được gỉai thích. Đặt câu hỏi về nguyên nhân của toàn thể vũ trụ có một vị thế về logic khác với đặt câu hỏi về nguyên nhân của từng đối tượng riêng lẻ hay của từng biến cố trong vũ trụ. Thật ra, chủ đề về ‘tập hợp của các tập hợp’ có tiếng là khó nắm bắt. Nếu một tập hợp được định nghĩa một cách vô thưởng vô phạt như là sự thu thập các sự vật (cụ thể hay trừu tượng) thì như Russell đã chứng tỏ bằng nghịch lý nổi tiếng của ông: một tập hợp của các tập hợp có thể không phải là một tập hợp! Này nhé, chúng ta có thể xem xét một danh mục liệt kê của tất cả cuốn sách trong thư viện là một tập hợp. Nhưng có phải chính danh mục này cũng nằm trong danh sách? Đôi khi có trường hợp đó. Hãy gọi những danh mục như thế là ‘loại I’ và những danh mục khác không bao gồm chính nó được gọi là ‘loại II’. Giờ đây hãy xem xét một danh mục chính trong thư viện trung tâm như là tập hợp của các tập hợp. Chức năng của nó là liệt kê tất cả danh mục loại II; nó là một tập hợp các danh mục. Có đủ hợp lý chăng? Thật không may là ‘không’.Tập hợp của các danh mục loại II là nghịch lý, vì chúng ta khám phá ngay khi chúng ta đặt câu hỏi, có phải danh mục chính là loại I, hay loại II? Nếu nó là loại II thì nó không được bao gồm chính nó. Nhưng danh mục chính được định nghĩa như để liệt kê tất cả các danh mục không kể chính nó (loại I I). Như vậy nó phải liệt kê chính nó và như vậy nó là loại I. Nhưng điều này không thể được vì danh mục chính chỉ liệt kê loại II, như thế nó không thể liệt kê chính nó nếu nó là loại I. Nghĩa là nó không liệt kê chính nó, vậy thì nó là loại II. Kết quả: một sự vô lý do tự mâu thuẫn. Kết luận cuối cùng cho mọi điều này là khái niệm vũ trụ của tất cả mọi sự vật đang hiện hữu thật sự là một khái niệm tinh tế. Điều không rõ ràng là vũ trụ là một sự vật và nếu nó được định nghĩa như là tập hợp các sự vật thì nó sẽ dẫn đến nghịch lý. Những vấn nạn như thế đang chực sẵn để giăng bẫy những ai cố gắng lập luận một cách logic về sự hiện hữu của Thượng đế như là nguyên nhân của mọi sự vật. Cho đến nay ngay cả chấp nhận lập luận rằng vũ trụ phải có nguyên nhân thì vẫn có những khó khăn về mặt logic khi gán nguyên nhân ấy cho Thượng đế vì lẽ chúng ta có thể hỏi tiếp: ‘Cái gì tạo nên Thượng đế?’ Câu trả lời thường là ‘ Thượng đế không cần nguyên nhân. Sự hiện hữu của Thượng đế là đầy đủ và nguyên nhân được tìm thấy trong chính Ngài’. Nhưng lối lập luận vũ trụ về sự tồn tại của Thượng đế lại dựa trên gỉa định rằng mọi thứ đều có nguyên nhân .Vậy mà cuối cùng lại kết thúc bằng một kết luận rằng ít nhất một thứ ( Thượng đế) lại không đòi hỏi nguyên nhân. Lối lập luận như thế có vẻ tự mâu thuẫn. Hơn nữa, nếu người ta được chuẩn bị để thừa nhận rằng một cái gì đó-Thượng đế- có thể tồn tại không cần một nguyên nhân bên ngoài thì tại sao lại phải theo cái chuỗi qúa dài ấy? Tại sao vũ trụ lại không thể tồn tại mà không cần một nguyên nhân bên ngoài? Phải chăng gỉa định rằng vũ trụ tự là nguyên nhân của chính nó đáng hoài nghi hơn gỉa định Thượng đế tự là nguyên nhân của chính mình? Nếu chúng ta dừng lại, và không đi xa hơn (Thượng đế), tại sao phải đi qúa xa?Tại sao không dừng lại ngay cái thế giới vật chất này?....Bằng việc gỉa định nó chứa những nguyên lý về trật tự trong chính nó thì chúng ta đã thực sự khẳng định nó [thế giới vật chất] chính là Thượng đế.(4) Đoạn trích của Hume này gợi nhắc đến niềm tin mênh mang của rất nhiều nhà khoa học rằng :” Thượng đế là thiên nhiên” hay “ Thượng đế chính là vũ trụ” Tuy nhiên, có lẽ sự phản bác quan trọng nhất đối với phiên bản nhân qủa của lối lập luận thần học về vũ trụ chính là sự kiện: nguyên nhân và hậu qủa chỉ là những khái niệm dính chặt với ý niệm về thời gian. Cho đến nay như chúng ta đã biết ,ngành vũ trụ học hiện đại đề xuất rằng sự xuất hiện của vũ trụ có liên quan đến sự xuất hiện của chính thời gian. Thường thường chúng ta chấp nhận rằng nguyên nhân luôn luôn đi trước hậu qủa về thời gian chẳng hạn như cái đích bị vỡ tan sau khi súng nổ. Trong trường hợp đó, nếu hành động sáng tạo có liên quan đến việc sáng tạo ra chính thời gian, thì thật là vô nghĩa khi nói về việc Thượng đế tạo ra vũ trụ theo nghĩa nhân qủa thông thường. Nếu không có “ lúc trước” thì không thể có nguyên nhân ( theo nghĩa thông thường) của Bigbang theo nghĩa tự nhiên cũng như siêu nhiên. Quan điểm này dường như đã được tán thưởng nhiệt liệt bởi St. Augustine (354-430) khi ông chế nhạo ý tưởng cho rằng Thượng đế chờ một thời gian vô hạn và rồi quyết định tạo ra vũ trụ vào một thời điểm thuận tiện.’ Thế giới và thời gian có cùng điểm khởi đầu’ Ông ta đã viết như thế. ‘ Thế giới được làm nên không phải theo thời gian mà đồng thời với thời gian’ (5) Đó là một dự đoán xuất sắc của ngành khoa học vũ trụ hiện đại khi xem xét những ý tưởng hoàn toàn sai lầm về không gian và thời gian trong thời đại của Augustine. Dù vậy ,cũng nên tò mò một chút về lối diễn giải của Sáng Thế Ký (Genesis) mà sau này nó bị thách thức khi giáo hội Thiên chúa giáo chịu ảnh hưởng của truyền thống Hy lạp cổ vào thế kỷ 13. Trong cuộc tranh luận sau đó, Hội đồng Giáo hội lần thứ tư (1215) đã bác bỏ triết lý của Aristote về một vũ trụ vô hạn tuổi và nhấn mạnh rằng, như một chương về đức tin của người Thiên chúa giáo, vũ trụ đã có điểm khởi đầu trong thời gian .Vậy mà ngay cả ngày nay các nhà thần học vẫn chia ra làm nhiều phe phái đối với lối diễn giải trong Sáng Thế Ký. Việc mặc nhiên công nhận một Thượng đế siêu việt thời gian mặc dù có thể làm cho ông ta có thể đến ‘ nơi này và ngay bây giờ’ nhưng nó cũng tạo nên vấn đề . Đó là vì rất nhiều những tính chất mà con người đã gán cho Thượng đế chỉ có ý nghĩa trong khung thời gian. Có chắc là Thượng đế có thể lên kế hoạch, trả lời các người cầu nguyện, diễn tả niềm hài lòng hay lo âu về tiến triển của con người và rồi sau này ngồi phán xét? Phải chăng ông ta vẫn liên tục hoạt động trong thế giới, làm việc, ‘cho dầu trơn vào bánh răng của guồng máy vũ trụ’ vân vân…..Tất cả những hoạt động đó đều không có nghĩa ngoại trừ trong một khung thời gian. Làm thế nào Thượng đế lại có thể lên kế hoạch và tác động nếu không có thời gian [giữa hai hành động đó]? Nếu Thượng đế siêu việt thời gian và biết được tương lai thì tại sao ông ta lại quan tâm đến tiến triển của nhân loại hay là cuộc đấu tranh chống cái ác? Vì tất cả kết qủa đã được Thượng đế nhận biết! ( Chúng ta sẽ quay lại chủ đề này trong chương 9). Thật vậy, cái ý tưởng về Thượng đế tạo ra vũ trụ, như chúng ta đã thấy, là một tác động chỉ xảy ra trong thời gian. Khi giảng về Vũ trụ học, tôi luôn luôn được hỏi rằng cái gì xảy ra trước Bigbang. Câu trả lời là, không có cái ‘trước’ vì Bigbang cũng biểu thị cho sự khởi đầu của chính thời gian. Câu trả lời này luôn luôn bị ngờ vực- ‘ phải có một cái gì đó tạo ra nó’. Nhưng nguyên nhân và hệ qủa là những khái niệm gắn với thời gian và chúng không thể được dùng cho một trạng thái mà trong đó thời gian không tồn tại. Câu hỏi như thế là vô nghĩa. Nếu thời gian thật sự có điểm khởi đầu thì bất kỳ nỗ lực nào nhằm giải thích về nguyên nhân của nó đều phải viện dẫn đến một khái niệm rộng rãi hơn về nguyên nhân so với khái niệm quen thuộc với chúng ta trong đời thường. Một khả năng là nới lỏng yêu cầu rằng nguyên nhân luôn luôn đi trước hệ qủa. Có thể nào để tạo nên các hệ qủa có trước thì nguyên nhân phải tác động ngược chiều thời gian? Dĩ nhiên, ý tưởng thay đổi qúa khứ có qúa nhiều nghịch lý. Gỉa sử rằng liệu bạn có thể gây ảnh hưởng đến những biến cố của thế kỷ 19 theo một cách nào đó để bạn không được sinh ra, chẳng hạn như vậy? Tuy thế đã có một số những lý thuyết trong Vật lý hiện đại liên quan đến cái ‘nguyên nhân tác động ngược’ này. Những hạt theo giả thuyết chuyển động nhanh hơn vận tốc ánh sáng (thường được gọi là Tachyon) có thể hoàn tất việc này. Để tránh nghịch lý, người ta phải gỉa định rằng kết nối giữa nguyên nhân-hệ qủa rất lỏng lẻo và không kiểm soát được hay nó rất sự đa dạng và vi tế. Như chúng ta sẽ thấy, lý thuyết lượng tử đòi hỏi một kiểu nhân qủa ngược chiều như thế vì lẽ sự quan sát được thực hiện ngày nay có thể góp phần vào việc xây dựng một thực tế trong qúa khứ xa xăm. Quan điểm này được nhấn mạnh bởi nhà Vật lý học John Wheeler : ’ Các nguyên lý lượng tử chứng tỏ rằng có một ý nghĩa nào đó trong đó cái mà người quan sát sẽ làm trong tương lai, lại định nghĩa cái đang làm trong qúa khứ- ngay cả trong một qúa khứ xa xăm mà sự sống chưa hiện hữu.’(6) Wheeler đưa vào ở đây cái tâm tưởng (mind) (‘của người quan sát’) một cách sâu sắc, vì thật ra người ta bắt buộc phải làm trong lý thuyết lượng tử, và cũng đưa vào dính mắc giữa sự tồn tại của tâm tưởng vào một giai đoạn rộng hơn trong sự tiến hóa của vũ trụ với sự sáng tạo ban đầu của vũ trụ: Phải chăng cái cơ chế hiện hữu của vũ trụ là vô nghĩa hay không hoạt động hay cả hai trừ phi vũ trụ được bảo đảm để tạo nên sự sống, ý thức và sự quan sát ở nơi nào đó và trong một khoảng thời gian ngắn ngủi nào đó trong lịch sử hình thành của nó?(7) Wheeler hy vọng rằng chúng ta có thể khám phá, trong khung cảnh của Vật lý, một nguyên lý cho phép vũ trụ sinh ra với ‘sự phù hợp của chính nó’. Trong sự tìm kiếm một lý thuyết như thế, ông nhận xét:’ không có nguyên lý dẫn đường nào có vẻ mạnh mẽ hơn yêu cầu là nó phải cung ứng cho vũ trụ cách thức để được tạo ra’(8) .Wheeler đã ví vũ trụ ‘tự tạo nên’ với dòng điện ‘tự kích thích’ trong điện học. Giờ đây, ngay cả nếu như có thể tìm được một nguyên nhân cho sự tạo nên không -thời gian từ một hoạt động tự nhiên nào đó sau này (có thể là tâm tưởng hay vật chất) thì cũng rất khó mà thấy được làm thế nào mà sự sáng tạo từ ‘cái không có gì’ có thể xảy ra một cách tự nhiên. Vẫn cần phải là “vật liệu thô” cho tâm tưởng hay bất kỳ cái gì đi vào hoạt động khi đi ngược về qúa khứ. Wheeler đề nghị rằng không gian và thời gian thật ra là những cấu trúc tổng hợp- chúng được tạo nên từ những thành phần ‘bit’ mà ông ta gọi là yếu tố ‘tiền không gian’ (pregeometry). Nhiều nhà Vật lý khác lại đề nghị rằng không gian và thời gian không phải là những khái niệm cơ bản mà chỉ là những khái niệm gần đúng giống như vật chất có vẻ liên tục nhưng thực ra lại được xây dựng từ các nguyên tử. Vì thế, không-thời gian có thể được xây dựng bởi các thực thể sơ khởi và trừu tượng hơn. Điều này có thể là kết qủa của nỗ lực tìm kiếm một lý thuyết lượng tử về lực hấp dẫn ( hấp dẫn chỉ thuần túy là hình học của không thời gian). Trong một điều kiện cực kỳ đặc biệt nào đó, chẳng hạn như vào lúc khởi đầu Bigbang, không thời gian có thể ‘tách ra’ và phô bày những thành phần nội tại. Diễn tả điều này theo ngôn ngữ tượng hình thì Bigbang có thể xem là biến cố trong đó các ‘ bánh răng’ nhập khớp vào nhau và sắp xếp thành cái không-thời gian liên tục một cách biểu kiến. Theo cái nhìn này thì Bigbang là sự khởi đầu của không gian, thời gian và vật chất nhưng không phải là các giới hạn của vật lý. Xa khỏi Bigbang ( không phải ‘trước’ vì không có cái ‘trước’ ) thì các ‘bánh răng’ nằm tách biệt. Chúng là các thực thể vật lý nhưng không nằm trong không gian hay thời gian. Trước khi rời chủ đề về sự sáng tạo và liệu có ý nghĩa hay không khi hỏi rẳng có phải nó đã được tạo nên bởi cái gì đó thì chúng ta phải xem xét khả năng rằng câu trả lời có thể là “có”, nhưng cái gì đó có thể không phải là Thượng đế. Như đã nhấn mạnh, vế thứ hai của những lập luận thần học về vũ trụ tìm kiếm sự thiết lập một Thượng đế sáng tạo vũ trụ. Tuy nhiên, những khám phá của Vật lý hiện đại đã mở ra những khả năng mới mà những người ủng hộ cho lập luận thần học đó không bao giờ mơ tưởng đến. Trong chương trước chúng ta đã giải thích rằng sự tạo nên vật chất đã được xác định thích hợp trong một không gian gĩan nở (độ cong của không gian). Hơn thế nữa, dường như không có giới hạn cho một tính chất đàn hồi của không gian. Vùng nhỏ nhất có thể nới rộng ra cái vô hạn. Vào thời điểm một phần tỷ giây sau sự tạo nên vũ trụ được quan sát hiện nay ( tất cả thể tích cỡ hàng tỷ, tỷ, tỷ năm ánh sáng -khối đã co rút thành một thể tích của hệ mặt trời. Vào thời điểm trước đó nó còn nhỏ hơn nữa. Do vậy, không gian có thể phát triển từ cái không –có gì và vật chất cũng xuất hiện từ không gian. Tuy nhiên, người ta cảm thấy một cái gì đó ắt hẳn là khởi đầu từ một đốm vô cùng nhỏ của không gian đang trong lộ trình giãn nở vì nổ tung. Đó chính là nơi chúng ta đi trở về những kỳ dị, nhân qủa, vân vân…. Tuy nhiên vẫn có một cách giải thích khác cho vũ trụ của không gian và vật chất. Điều này có thể được sao chép, nói thô thiển là ‘vũ trụ copy’. Nó được mô tả tốt nhất bằng phép tương tự. Vì không gian có tính đàn hồi, hãy tưởng tượng nó được biểu thị bởi một màng cao su. ( Tấm màng này chỉ có hai chiều trong khi không gian là 3 chiều. Đây chỉ là một thiếu sót mang tính khái niệm nhưng vẫn có gía trị về mặt logic. Những gì sắp được mô tả vẫn có gía trị trong không gian 3 chiều nhưng không thể hình dung nó trong trường hợp đó.) Hình 5 chỉ cho thấy một chuỗi giai đoạn. Đầu tiên , một cái bướu được tạo nên trên tấm màng cao su. Rồi cái bướu phồng lên trong lúc tạo nên một cái ‘cổ’ rất hẹp nối nó với tấm cao su. Cái bướu có hình dạng của trái banh. Bây giờ, cho phép cái cổ co rút lại cho đến khi tấm cao su chỉ còn hoàn toàn tiếp xúc với trái banh. Cuối cùng, cắt cái cổ để giải phóng trái banh và cho phép cái cổ tự lành vết trong tấm cao su liên tục lần nữa. Tấm cao su đã tạo nên trái banh hoàn toàn độc lập và tách rời . Trái banh lại có thể giãn nở đến vô tận. Nếu mong muốn thì trái banh mới này lại có thể tự sử dụng chính nó để tạo nên những trái banh khác. Hình 5: tính chất đàn hồi của không gian được gợi ý bởi lý thuyết Tương Đối Tổng Quát của Einstein cho phép sự phát triển và tách biệt của một “ vũ trụ con” (bong bong) từ một “vũ trụ mẹ’ (tấm cao su). Sự thay đổi về mặt tôpô được đề nghị trong một số lý thuyết gần đây nhưng vẫn chưa được hiểu hoàn toàn. Nếu chúng ta xem xét vũ trụ của chúng ta- tất cả những không gian mà chúng ta có thể tiếp cận một cách vật lý- như là một “trái banh mới” thì đây chắc chắn là trường hợp vũ trụ không luôn luôn tồn tại: nó được tạo ra. Tuy nhiên, kẻ sáng tạo ra nó vẫn có thể được tìm thấy trong khuôn khổ của những qúa trình vật lý, cụ thể đó là một cơ chế sáng tạo với nguồn gốc của nó nằm trong ‘tấm cao su mẹ”. Tấm màng đó hiện nay chúng ta chưa thể tiếp cận được. Nó xa khỏi không- thời gian của chúng ta và như thế chúng ta vẫn không tìm thấy nguyên nhân nào về sự hiện hữu của nó trong phạm vi vũ trụ của chúng ta nên Thượng đế vẫn chưa can dự vào. Nét chính nổi bật từ ý tưởng này là cái mà vẫn thường được xem là “vũ trụ”, thật ra có thể chỉ là một mảnh rời rạc của không thời gian. Có thể có nhiều, ngay cả là vô tận, những vũ trụ khác nhưng tất cả đều không được tiếp cận từ những vũ trụ khác. Với định nghĩa “vũ trụ’ thì sự giải thích về vũ trụ của chúng ta không nằm trong chính nó- nó nằm ngoài xa. Nó không dính líu gì tới Thượng đế mà chỉ liên hệ với không thời gian và cơ chế vật lý khá kỳ lạ mà thôi. Một cơ chế như thế đã được đề nghị gần đây trong một số nghiên cứu về mặt lý thuyết (9). Dưới một nhiệt độ cực kỳ cao có thể quan niệm rằng không gian trở nên không bền để “sinh sản” những “trái banh” khác theo cách này. Người ta còn có thể xem xét đến một tập thể các tiến bộ kỹ thuật đủ sức để cân nhắc việc tạo nên các vũ trụ mới. Tuy nhiên những người theo chủ nghĩa truyền thống chắc chắn sẽ phản bác rằng gỉa thiết về sự sáng tạo theo cách thức này chỉ chứa một sự gỉai thích giả mạo vì nó vẫn chưa gỉải thích cho cái toàn thể “ tấm cao su và bong bong”. Đúng như thế, nhưng đây chỉ là ví dụ minh họa rằng mọi thứ chúng ta có thể quan niệm ,về nguyên tắc, vẫn được tạo ra bởi các nguyên nhân tự nhiên vào một thời gian nào đó và rằng, cái gì (nếu có) nằm ngoài tất cả không- thời gian của chúng ta cũng không thể hoàn toàn là siêu nhiên. Sự phân tích này đã góp phần được điều gì cho sự tìm kiếm của chúng ta về Thượng đế như là kẻ sáng tạo ? Lập luận cho rằng phải có nguyên nhân đầu tiên cho mọi thứ đã mở ra những nghi vấn nghiêm trọng chừng nào mà chúng ta còn gắn chặt với bất kỳ khái niệm đơn giản nào về nguyên nhân, bất kể là vũ trụ có vô hạn tuổi hay có sự khởi đầu của thời gian. Những cơ chế nhân qủa kỳ lạ, chẳng hạn như tính nhân qủa đảo ngược hay những qúa trình lượng tử về tinh thần có thể lấy đi sự cần thiết của một nguyên nhân đầu tiên của sáng tạo. Tuy vậy, người ta vẫn còn lại những cảm giác không dễ chịu. Nhà thần học Richard Swinburne đã viết: Sẽ là một sai lầm khi gỉa định rằng nếu vũ trụ này có vô hạn tuổi và mỗi trạng thái của vũ trụ vào một thời điểm được giải thích hoàn toàn bởi những trạng thái trước của vũ trụ và các định luật tự nhiên (và như thế Thượng đế không được viện dẫn)và rằng sự hiện hữu của vũ trụ qua thời gian vô hạn được giải thích đầy đủ hay hoàn toàn. Không có sự giải thích này cũng không có sự giải thích kia. Nó hoàn toàn là không giải thích được. (10) Để minh họa quan điểm này, hãy gỉa sử rằng những con ngựa luôn luôn hiện hữu. Sự hiện hữu của mỗi con ngựa có thể được gỉai thích một cách nhân qủa bởi sự hiện hữu của cha mẹ nó. Nhưng chúng ta vẫn chưa giải thích được tại sao lại có tất cả con ngựa- tại sao lại có những con ngựa mà đúng hơn là không có chúng hay đúng hơn là chỉ có loài độc sừng chẳng hạn. Dù chúng ta có khả năng tìm ra mọi nguyên nhân cho mọi biến cố ( không chắc chắn về phương diện các hiệu ứng lượng tử) nhưng chúng ta vẫn còn cái bí ẩn về lý do tại sao vũ trụ lại có được cái tự nhiên mà nó đang có, hay cơ bản hơn là tại sao lại có một vũ trụ. Phụ chú: <li style="text-align: justify;">Samuel Clarke khai triển phiên bản về những lập luận thần học về vũ trụ trong các bài giảng Boyle năm 1704, sau đó được ấn bản dưới tựa “ A Demonstration of the being and Attributes of God” cùng với các bài giảng khác vào năm 1905 ,những bài giảng này được in lại như “A Discourse Concerning the Being and Attributes of God, the Obligations of Natural Religion, and the Truth and Certainty of the Christian revelation ( John and Paul Knapton;London,1738, nine edtion)<li style="text-align: justify;">Aquinas, Summa Theologiae (ed T.Gilby; Eyre& Spottiswoode 1964)<li style="text-align: justify;">Clark,op,cit pp 12-13<li style="text-align: justify;">D.Hume, ‘Dialogues Concerning Natural Religion (ed H.D.Aiken;Hafner 1969; first published 1779).Part IV.<li style="text-align: justify;">St.Augustine of Hippo, ‘On the beginning of time” ,“The City of God” (trans.M.Dods;Hafner 1948).<li style="text-align: justify;">J.A.Wheeler, “Genesis and observership” Foundational Problems in the Special Sciences (eds R.E.Butts and K.J.Hintikka;Reidel 1977).<li style="text-align: justify;">Ibid<li style="text-align: justify;">J.A.Wheeler, “Beyond the black hole”, “Some Strangeness in the Proportion” (ed.H.Woolf; Addison-Wesley 1980)<li style="text-align: justify;">A so-called ‘bubble cosmology’ has been proposed by J.R.Gott III in Nature 295,304 (1982)<li style="text-align: justify;">R.Swinburne, The Existence of God (Oxford: Clarendon Press 1979) p .122 -
Thư: Thi thư, nghĩa lý -Tên: Sự tương tác Âm Thổ và Dương Thổ Tiên thiên Nhị phân cục bộ_Tâm đồ Tiên thiên Nhị phân -Hành Mộc, Hành Hỏa thì thăng, Dương khí nhẹ bay lên thành Trời. Hợp lý. -Hành Kim, Hành Thủy thì giáng, Âm khí nặng đục tụ xuống thành Đất. Hợp lý. -Trong sự thăng thì Mộc sinh Hỏa, ứng với thứ tự từ Chấn đến Càn. Hợp lý. -Trong sự giáng thì Kim sinh Thủy, ứng với thứ tự từ Tốn đến Khôn. Hợp lý. -Tên gọi các quái đang dùng tạm vì chưa khám phá được rõ nghĩa toàn bộ. Khả dĩ hai quái Càn là Trời và Khôn là Đất thì manh nha có dấu vết. Càn - Khôn là trục định vị vũ trụ. Thân. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Đôi câu đối trên nằm trong sách 2000 năm hoành phi, câu đối Trung Hoa, Nxb Thời Đại. Khuyết danh. Kính.
-
Đôi câu đối sưu tập được: Bát bách lý Động Đình kim nhập nhãn, Ngũ thiên niên lịch sử tái tòng đầu. Nghĩa là: Tám trăm dặm Động Đình nay thu vào mắt, Năm ngàn năm lịch sử làm lại từ đầu. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Bí Ẩn Về Một Thế Giới Khác Cùng Tồn Tại Trên Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Luân's topic in Mạn Đàm
Cô gái Việt nhìn bằng 'con mắt thứ ba' Khoa học đã tốn không ít giấy mực về hiện tượng "con mắt thứ ba", tức là khả năng nhìn thấy không dùng đôi mắt thường. Ở Việt Nam có một cô gái như thế, nhìn được cả bằng trán, mũi và thái dương, đã được khẳng định qua hàng chục thí nghiệm của các nhà khoa học. Hơn chục năm qua, ông Tuệ Đức, Tổng giám đốc Liên hiệp Khoa học tin học ứng dụng Việt Nam và các thành viên đã thực hiện hàng nghìn thí nghiệm nghiên cứu những khả năng đặc biệt của con người. Tổng kết của họ là có đến 98-99% những người tự nêu ra khả năng "đặc biệt" là lừa bịp. Như vậy, 1-2% còn lại, dù vô cùng nhỏ bé, còn phải nghiên cứu nhiều, vẫn tiếp tục gây thắc mắc cho các nhà khoa học. Có nhiều chuyện kỳ lạ như có người nhìn thấy linh hồn, nhìn thấy quá khứ, nói chuyện với người âm... song các nhà nghiên cứu chưa dám công bố. Gần đây nhất là một cô gái có thể đọc được chữ, nhìn thấy mọi vật bằng trán, mũi và thái dương, người đặc biệt nhất mà ông Đức từng gặp, vì vậy ông quyết tâm nghiên cứu kỹ càng trước khi công bố. Cách đây không lâu, nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải khi trả lời phỏng vấn truyền hình cũng nhắc đến cô gái có khả năng kỳ lạ trên, song nhất định không tiết lộ thông tin cụ thể. Mới đây, tại văn phòng làm việc của ông Đức, các nhà khoa học từ hai cơ quan chuyên nghiên cứu hiện tượng lạ, khả năng đặc biệt của con người là Liên hiệp Khoa học tin học ứng dụng và Trung tâm Bảo trợ khoa học kỹ thuật truyền thông đã có có mặt để chứng kiến khả năng của cô gái này. Cùng với họ là một số nhà khoa học của Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an. Đây là lần tập hợp đầy đủ nhất của các nhà khoa học. Cô gái, được gọi là A, không có vẻ ngoài đặc biệt. Chị ngoài 30 tuổi, trông chất phác và bình thường như những cô gái vùng quê khác. Phương án thực hiện thí nghiệm được vạch sẵn từng bước, qua mỗi bước, khả năng của chị A sẽ được bộc lộ và những toan tính, chuyện bịp bợm nếu có cũng dễ dàng lật tẩy. Đầu tiên, ông Đức yêu cầu chị A nhắm mắt lại. Trước sự chứng kiến của mọi người, một nhà khoa học cầm tờ Chuyên đề An Ninh thế giới vừa được mang đến tiến về phía chị. Tờ báo được giơ lên trước mặt chị A, và chị cũng ngước mặt lên theo như thể nhìn thấy mọi hành động của nhà khoa học. Để hóa giải nghi ngờ của mọi người khi một số đặt câu hỏi: "Liệu chị A có nhìn theo kiểu ti hí không?", ông Tuệ Đức dùng mẩu băng dính đen dán hai mắt chị lại. Với mẩu băng dính này, chị A cố mở thế nào hai mí mắt cũng không nhích lên được. Tuy nhiên, khuôn mặt chị vẫn thanh thản, chị đọc vanh vách hết trang này đến trang kia của tờ báo như bất cứ người bình thường nào. Đây là tờ báo vừa phát hành buổi sáng nên nhiều khả năng chị A chưa được đọc lần nào chứ đừng nói đến chuyện đã thuộc lòng. Ngoài ra, bất kỳ một loại tài liệu nào đưa ra trước đôi mắt dán chặt băng dính kia chị vẫn đọc rất trôi chảy. Để loại bỏ khả năng đôi mắt chị A đặc biệt đến nỗi nhìn xuyên thấu lớp mi và băng dính mỏng, các nhà khoa học tiếp tục dùng tờ tạp chí để che mắt chị, rồi sau đó là cả cuốn sách dày hơn 10 cm, nhưng chị vẫn đọc làu làu như không có gì xảy ra. Lạ lùng hơn, chị ngước mắt lên tường nhà đọc chính xác con số chỉ từng giây, từng phút trong chiếc đồng hồ treo tường; chỉ tay miêu tả hình dáng, màu quần áo từng giáo sư, tiến sĩ và các nhà khoa học đang đứng ngồi khắp phòng khiến mọi người hết sức ngạc nhiên. Một người còn cẩn thận dùng tay mình bịt mắt chị, rồi hỏi vật gì xung quanh, chị vẫn nói đúng. Ngay cả nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải từng mất mấy ngày để sáng chế ra chiếc kính đen ngòm, dày cộp, ôm kín mắt chị A, song ông ngồi quan sát chị cả ngày, chị vẫn đeo kính và làm việc bình thường, xem TV, đọc sách. Người khác đeo chiếc kính ấy sẽ chỉ thấy bóng tối đen kịt. Để tìm ra vị trí con mắt thứ ba của chị, các nhà khoa học che kín cả khuôn mặt chị lại. Lúc này, dù cố gắng thế nào chị cũng không thấy gì nữa. Như vậy, dù "con mắt thứ ba" của chị nằm ở đâu trên mặt thì nó cũng đã bị che khuất. Ông Tuệ Đức từ từ kéo dần vật che mặt từ phía đỉnh đầu xuống dưới cằm. Khi vật che hở phần trán, điểm giữa hai lông mày thì chị nhìn lại được. Chị A cũng khẳng định mình nhìn được là nhờ "con mắt" ở trán, phía trên sống mũi, điểm giữa hai lông mày. Chị nhận thấy có một luồng ánh sáng chiếu từ trán ra và thu nhận được những hình ảnh trước mắt như một chiếc máy quay phim vậy. Ông Tuệ Đức và các thành viên khác tiếp tục bịt khắp mặt của chị A lại và chỉ để hở một điểm nhỏ ở mũi theo yêu cầu của chị. Thật ngoài sức tưởng tượng khi chị có thể nhìn thấy mọi vật và đọc được mọi loại sách báo bằng mũi. Các nhà khoa học lại che mũi và để hở một bên thái dương. Lần này, thái dương của chị cũng có "mắt". Che thái dương bên trái, chị đọc bằng thái dương phải và ngược lại. Theo lời kể của chị A và ông Đức, người đã 4 năm miệt mài tìm hiểu hiện tượng này, chị A không những có "con mắt thứ ba" mà còn điều khiển được từ suy nghĩ xem con mắt sẽ phát huy tác dụng ở trán, mũi, hay thái dương. Do vậy, dù có bịt cả hai mắt, che cả mặt, song chỉ cần hở ra một trong 4 điểm trên khuôn mặt là chị vẫn nổ xe máy phóng vù vù trên đường đông người qua lại. Điều này ông Tuệ Đức cũng đã làm thí nghiệm. Chính chị A, trong hoàn cảnh bịt mắt đã chở ông Đức dọc đường làng, vượt qua các chướng ngại vật do các nhà khoa học sắp xếp. Theo ông Đức, cách đây 4 năm khi ông bắt đầu nghiên cứu chị A thì thỉnh thoảng chị mới bộc lộ khả năng này. Mỗi lần đó, gia đình lại gọi ông đến làm thí nghiệm. Thời gian gần đây, "con mắt thứ ba" của chị ổn định hơn và có thể nhìn thấy bất cứ lúc nào. Khả năng đặc biệt của chị A, theo lý giải bước đầu của các nhà khoa học có thể là do một ngoại lực hoặc nội lực nào đó đã vô tình đánh thức một cơ quan bí ẩn của não bộ mà chúng ta chưa biết. Chị A không hề tập thiền hay yoga và theo chị và gia đình thì chị cũng chẳng có tiền sử bệnh tật hay bị một chấn thương nào. Chị sinh ra trong một gia đình làm nghề nông ở Hải Phòng, đã lấy chồng, có con và hiện sống với chồng ở Lương Sơn, Hòa Bình. Chị cho biết cách đây 5 năm, một ngày tự nhiên chị thấy có một luồng sáng từ trán chiếu ra và chị cảm nhận được những hình ảnh mờ nhạt qua luồng sáng đó. Sợ hãi quá, chị dùng băng dính đen dính "con mắt" ở trán đó lại, nhưng rồi bằng sự điều khiển qua ý nghĩ, chị lại thấy có luồng sáng phát ra từ mũi. Chị dán ở mũi thì lại nhìn được bằng thái dương. Chị và gia đình quá sợ hãi không biết nguyên nhân vì sao. Thế rồi một người mách chị đến Liên hiệp Khoa học tin học ứng dụng, nơi các nhà khoa học chuyên nghiên cứu các hiện tượng đặc biệt. Từ đó chị được các nhà khoa học quan tâm, làm rất nhiều thí nghiệm và đặc biệt, mỗi ngày chị nhìn thấy mọi vật bằng "con mắt thứ ba" rõ hơn, và giờ đây, nó đã nhìn được mọi vật rõ ràng như mắt thường. (Theo An Ninh Thế Giới) -
Bí Ẩn Về Một Thế Giới Khác Cùng Tồn Tại Trên Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Luân's topic in Mạn Đàm
Tôi không nhận thấy được những điều như anh nói này ! Vậy đây chính là cơ sở suy luận để anh khẳng định "cả 3 vừa độc lập vừa thống nhất", và tồn tại 3 thực tại (luôn luôn tồn tại dù con người - chủ thể quan sát - có gọi tên là bất cứ cái gì): thời gian, không gian, vật chất ? Tôi chả thấy có sự suy luận nào ở đây cả, nó chỉ toàn là kết luận mang tính giả thiết đấy chứ ?! A tự giả thiết vật chất vận động không quan tâm không thời gian, rồi lại "cần" thời gian và "trong" không gian để giải thích cho cái định đề "Cả 3 vừa độc lập lại vừa thống nhất" Rồi từ những giả thiết cơ sở này anh nhận định Phần này chỉ là hệ quả suy ra từ cơ sở bên trên nên không cần bàn. Tôi có thể đưa ra 1 ví dụ thế này VD tôi nói: tôi nhìn thấy cái ghế này, thì điều đó dẫn đến 1 suy luận là - Có tồn tại 1 dạng vật chất được con người đặt tên gọi là "cái ghế" - Có tồn tại 1 dạng tương tác giữa chủ thể quan sát (con người) và đối tượng được quan sát (cái ghế) khiến con người nhận biết được cái ghế này. (Các tương tác có thể là ánh sáng, hình dạng cấu tạo chung của chiếc ghế, v...v... bất cứ cái gì, gọi là gì cũng được, nhưng suy luận này khẳng định chắc chắn những yếu tố trên có tồn tại trên thực tế, nghĩa là thực tại). Đây chính là cách suy luận bằng lý thuyết, chưa cần kiểm chứng bằng thực tại. Nhưng tôi không thể nói là: - Phải đặt cái ghế này trong 1 căn phòng A tại thời điểm B thì tôi mới biết được nó là cái ghế. Vậy bình thường đặt chỗ khác tôi không thấy nó à ??? Nếu tôi cố gắng suy luận khiên cưỡng kiểu đó để gán ghép là chúng (thời gian, vật chất, không gian) cần và thống nhất với nhau thì thậm vô lý. Đây là tôi đang cố gắng đi tìm 1 VD giải thích, chứng minh cho giả thiết bên trên của anh. Rốt cuộc lại, với cách tranh luận và phản biện như trên, tôi cũng có thể nói là: Con người, con chó và con mèo là 3 mặt tuy độc lập nhưng thống nhất, Con người ăn thì như chúng ta thấy không cần con chó phải ăn trước thì ta mới được ăn, nhưng ta cũng thấy ta phải cần cho con chó và mèo ăn trước thì ta mới được ăn vậy. Do đó mới nói "con người, con chó, con mèo" là 3 thực tại tuy tồn tại độc lập nhưng thống nhất là vậy đó. Nói sao cũng được. Do khác ở cách suy luận và quan điểm, nên tạm thời tôi xin phép dừng ở đây. Qua cũng nhiều bài trao đổi mà vẫn chưa cặn kẽ được những suy luận của anh, càng trao đổi có vẻ càng thêm rối, nên xin phép được trao đổi trực tiếp trong 1 dịp khác, hy vọng sẽ rõ nghĩa hơn. Cám ơn anh hoangnt đã dành thời gian. Thật khó để hiểu lẫn nhau, tuy nhiên các ví dụ của bạn hoàn toàn không ăn khớp tí nào. Chẳng nhẽ trước khi luận bàn đều phải quay lại toàn bộ các định nghĩa, quy ước, tính chất, nguyên lý... rồi mới thống nhất mục tiêu xem xét, môi trường xung quanh các yếu tố, các giới hạn liên quan... lôi tất cả trở về ban đầu. Không nên mất thời gian, trong khi bàn bạc phải tự mình thống nhất cái nhìn nhận chung ở một tầm mức nhất định nếu không thì luận cả đời cũng chưa xong. Một trong những cái cần khi bàn lý học phải có óc tượng tượng rất lớn. Cách hiểu của tôi đã có thể chứng minh không thời gian không co giãn qua thí nghiệm trong bài toán của Einstein và chỉ ra nhầm lẫn trong đấy. Nếu bạn chưa hiểu suy luận của tôi thì khó có thể phân tích và hiểu nguyên lý của Lạc thư hoa giáp, đây là một trong những nền tảng cơ bản nghiên cứu lý học mà chỉ ra mối quan hệ không thời gian và vật chất hết sức kỳ diệu. Trường hợp tương tự: Khi bàn về ý nghĩa chữ THIÊN trong lịch sử Trung Hoa, các học giả bây giờ cãi nhau như mổ bò, cuối cùng phải ra một cuốn sách cả ngàn trang nói về chữ THIÊN của tất cả các học giả từ cổ chí kim để người đọc nghiên cứu. Vài lời chia sẻ. Thân. -
TỐNG VĂN CÔNG: VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN Tống văn Công Đọc Góc ảnh chiếu từ nước Nhật của nhạc sĩ Tuấn Khanh, dù đau lòng tôi cũng đồng tình với ông: " Đôi khi giữa những hoang tàn đó của nước Nhật, người ta bừng sáng hy vọng – và đôi khi sống giữa những điều được gọi tên là bình yên của đất nước mình, một người Việt Nam vẫn có thể cảm nhận được những ảnh chiếu sắc cạnh của sự hoang tàn". Đã có nhiều bài viết cho rằng nếu tai họa như nước Nhật xảy ra ở nước ta thì có thể hình dung nhiều điều xấu xa sẽ xảy ra bởi sự băng hoại đạo đức của người Việt. Mới đây, có ý kiến chỉ đạo báo chí: "Khi đề cao tinh thần vượt khó của nhân dân Nhật Bản không nên cường điệu, vô hình chung (trung) hạ thấp tinh thần của người Việt Nam". Cường điệu là điều không nên, tuy nhiên có cần phải lo lắng "vô hình trung hạ thấp tinh thần của người Việt Nam" ? Lổ Tấn chọn đơn thuốc AQ đắng nghét đã có hiệu quả chữa trị tinh thần bạc nhược của người Tàu. Sau này, nhà văn hóa Bá Dương tiếp tục mổ xẻ "Người Trung Quốc xấu xí" cũng được đồng bào ông cho là cần thiết. Nhân chuyện này, tôi muốn chúng ta cùng nhớ rằng dân tộc ta vốn không phải xấu xa như hôm nay mà đã từng có những thời kỳ rất tốt đẹp . Hằng ngàn năm trước, ông cha ta có tư tưởng nhân văn vượt thời đại: "Thương người như thể thương thân". So với "Điều gì mình không muốn thì đừng gây ra cho người" của Khổng Tử quả là cao hơn. Con cái biết sánh: "Công cha như núi Thái sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra". Cha mẹ mong muốn "Con hơn cha là nhà có phúc" chứ không đòi hỏi "Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu". "Thuận vợ đồng chồng tát bể Đông cũng cạn" chứ không phải "phu xướng phụ tùy "… Đối với hàng xóm thì "Tối lửa tắt đèn có nhau". Đối với đồng bào thì "Người trong một nước phải thương nhau cùng" v.v. Những ai đã từng trải qua thời kháng chiến chống thực dân Pháp đều biết: Ở các vùng giải phóng, đêm nhà nhà không cài cửa. Nhân dân giành nhau đón mời bộ đội về nhà mình để chăm sóc nuôi dưỡng. Đơn vị tôi có anh Nguyễn Hoàng Minh là người Bắc, được các bà các mẹ bảo: "Tao thương nó hơn tụi bay. Nó xa cha xa mẹ vô đây". Trong lần nói chuyện với cán bộ miền Bắc sắp đi B (vào Nam),Tổng bí thư Lê Duẩn kể, thời chống Pháp, ông ở nhà dân và họ đều biết ông là Bí thư Trung ương cục. Mỗi lần ông đi công tác về gặp bữa cơm, ông bà chủ nhà hỏi: "Thằng Ba, mầy ăn cơm ở đâu chưa? Chưa, thì vô bếp lấy chén đũa ra ăn luôn nghe!". Khi tập kết ra Bắc, đơn vị tôi đóng quân ở nhiều vùng.Tôi nhận ra là đồng bào mình ở miền Bắc cũng sống đầy tình nghĩa như trong Nam, dù vật chất có thiếu thốn hơn. Thời Mỹ ném bom phá hoại, nhân dân các vùng khu IV dám đem ván phảng nhà mình lót hố bom cho xe bộ đội kịp chuyến vào Nam. Các vùng bị B52 dội bom ác liệt như Khâm Thiên, Gia Lâm…, hoàn toàn không có hiện tượng hôi của. Xăng dầu, quân dụng rải dọc theo ven đường không cần canh giữ, cũng không bị trộm cắp… Câu thành ngữ "Ra ngõ gặp anh hùng" mô tả chính xác con người Việt Nam trong suốt 30 chiến tranh. Toàn dân tin những người lãnh đạo đang dồng cam cộng khồ với mình vì "Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do". Do vậy mà được thế giới nhìn vào,ca ngợi "Việt Nam là lương tâm của nhân loại"! Tại sao người Nhật thảm bại trong chiến tranh, đã có thể vươn dậy làm nên sự "thần kỳ Nhật Bản". Còn ta thì ngược lại từ "ra ngõ gặp anh hùng" đến tình trạng "Đến chỗ nào cũng thấy ăn cắp"! Có lẽ xem xét hiện tượng trái ngược này sẽ giúp chúng ta thu được nhiều điều bổ ích ? Có người cho rằng, vì người Nhật tiếp tục những bài học từ thời Thiên Hoàng. Nói như vậy thì xa xôi quá! Tôi nghĩ, chỗ khác nhau giữa ta và họ là cách rút ra bài học sau chiến tranh, từ đó mà tìm đúng con đường đi tới. Người Nhật bại trận đã nhanh chóng nhận ra nguyên nhân thất bại của mình là đi ngược lại xu thế thời đại: Chủ nghĩa Sôvanh (Ph. Nicolas Chauvin), chủ nghĩa thực dân với mọi hình thức đã bị lịch sử phủ định .Người Nhật cũng nhanh chóng nhận ra, Mỹ là một quốc gia dân chủ, đề cao nhân quyền, họ tham gia lực lượng Đồng minh chỉ nhằm chống phe trục, chứ không có mưu toan chiếm Nhật làm thuộc địa. Từ nhận thức đó, dù vừa bị Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử đầu tiên, người Nhật không coi họ là kẻ thù mà tự nguyện giao kết là đồng minh chiến lược trong công cuộc phục hưng đất nước. Nhờ quan hệ này, người Nhật suốt thời gian dài không phải bỏ nhiều chi phí cho quốc phòng, tập trung mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế, xã hội, trở thành tấm gương tốt đẹp nhiều mặt: 1 – Từ bỏ độc tài quân phiệt, xóa hệ thống chính trị phát xít, tôn trọng dân chủ, nhân quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập. Nhật Bản là nước quân chủ lập hiến, trong đó Thủ tướng nắm quyền cao nhất về quản lý quốc gia và chịu sự giám sát của Quốc hội hai viện, cùng Tòa án Hiến pháp nhằm ngăn chặn những quyết định vi hiến của Chính phủ. Thế giới coi Nhật là một nước có nền dân chủ đầy đủ, ưu việt vào bậc nhất. 2 – Chuyển đổi nền kinh tế phục vụ chiến tranh thành nền kinh tế dân sinh, nâng cao sức cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu. Từ hoang tàn người Nhật xây dựng nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới. Gần đây Trung Quốc tuyên bố đã chiếm vị tri nền kinh tế lớn thứ 2, nhưng mức thu nhập bình quân của người Trung Quốc còn thấp quá xa so với Nhật. Trong khi đó Nhật không có tình trạng cách biệt giàu nghèo khủng khiếp như Trung Quốc! 3 – Xây dựng nền văn hóa tiên tiến và bảo tồn bản sắc tốt đẹp của truyền thống Nhật Bản; một nền giáo dục hàng đầu thế giới về đào tạo những con người phát triển toàn diện. Nền văn hóa và giáo dục đó sản sinh 2 nhà văn đoạt giải Nobel văn học là Yasunari Kawabata, Kenzaburo Oe và nhiều văn tài khác như Kôbô Abê , Haruki Murakami. Trà đạo, hát ka-ra-o-kê, thơ Hai-ku, ẩm thực Nhật được thế giới hâm mộ. Đặc biệt những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn cho nhân dân Việt Nam mà chúng ta chưa thực hiện được đã có thể nhìn thấy ở Nhật Bản như : "Chính quyền từ xã tới trung ương phải do nhân dân lập ra"; "Nếu Chính phủ làm hại dân thì nhân dân có quyền đuổi Chính phủ", "Cán bộ, đảng viên là người lãnh đạo và là đày tớ của nhân dân"… Mấy năm qua, chúng ta đã chứng kiến rất nhiều vị Thủ tướng Nhật chỉ vì chưa thực hiện được một lời hứa náo đó đã phải từ chức, chứ chưa cần người dân đưa đơn kiện. Trong vụ động đất hiện nay, chúng ta thấy ông Thủ tướng Can vô cùng tất bật vẫn bị người dân Nhật phê phán đã chậm có mặt ở nơi bị tàn phá nặng nhất . Tai họa vừa qua, phẩm chất con người Nhật Bản được nhân loại thán phục chính là kết quả của nền chính trị, kinh tế, văn hóa và giáo dục ưu việt của họ. Hàng chục năm qua, Việt Nam chúng ta đã nhận được sự giúp đỡ hào hiệp của Nhật Bản.Hiện nay hàng vạn sinh viên và người xuất khẩu lao động Việt Nam đang học tập và lao động ở Nhật. Nhiều nhà lãnh đạo nước ta trân trọng đề cao mối quan hệ đối tác chiến lược Nhật – Việt. Chẳng lẽ chúng ta không biết trân trọng tìm học con đường đưa tới dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh theo kiểu Nhật? Tựu trung gồm 3 điểm vừa kể ở trên. Chúng ta ra khỏi chiến tranh với tư thế người anh hùng chiến thắng siêu cường số 1 thế giới! Nguồn sức mạnh để chiến thắng, được chúng ta nhận định là từ "3 dòng thác cách mang" thế giới. " Chủ nghĩa Mác – Lênin bách chiến bách thắng muôn năm !" được chúng ta trương cao khắp đất nước như là một tuyên ngôn, là tổng kết chiến tranh và là ngọn cờ sẽ dẫn đường đi tới. Từ nhận định đó đưa tới đổi tên Đảng, đổi quốc hiệu, thực hiện chuyên chính vô sản, vạch ra đường lối tiến nhanh tiến mạnh ,tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó, trên bình diện quốc tế, chủ nghĩa xã hội đang lâm vào khủng hoảng, đã có nhiều dấu hiệu rạn vỡ. Rạn vỡ dễ thấy nhất là sự chống đối nhau điên cuồng, kể cả bằng vũ lực của hai nước lớn nhất là Liên Xô và Trung Quốc, cho thấy điều gọi là chủ nghĩa quốc tế vô sản không hề tồn tại! Mãi đến khi đã bị Trung Quốc phản bội tấn công, chúng ta vẫn kiên trì nhận định Mỹ là kẻ thù lâu dài, nguy hiểm, còn Trung Quốc chỉ là kẻ thù trực tiếp, bởi đang có một nhóm cầm quyền mang tư tưởng bá quyền bành trướng. Do nhận định như vậy, ngay sau khi Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, Tổng bí thư Nguyễn văn Linh vội vàng sang cầu hòa với Trung Quốc trong thế yếu, ca ngợi "16 chữ vàng", trong thực tế đau buồn là đang bị chiếm đất, chiếm đảo, đưa tới nghịch cảnh mãi tận hôm nay! Để Trung Quốc có cớ xâm lược là không khôn khéo, tuy nhiên thỏa hiệp vô nguyên tắc và không biết tìm cách để chọn nhiều đồng minh chiến lược, đối trọng với họ giữ vững an ninh cũng là không biết vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh. Khác hẳn chúng ta, người Mỹ nhanh chóng nhận ra thất bại của họ trong cuộc chiến là đã không hiểu được sức mạnh từ chủ nghĩa yêu nước của người Việt (Hồi ký của nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Macnamara). Họ muốn sớm lập quan hệ với chúng ta, nhưng trớ trêu thay chúng ta không vượt qua nổi mối thù! Chúng ta không hiểu đúng sức mạnh quyết định chiến thắng của mình chính là được khơi dậy từ lời kêu gọi chính xác của Hồ Chí Minh:"Không có gì quý hơn Độc lập Tự do"! Hiện tượng hàng triệu quân chế độ Sài Gòn dễ dàng tan rã, chắc chắn không phải vì họ hèn kém bởi họ cũng là con Lạc, cháu Hồng, chắc rằng họ rã ngũ vì không thấy mình đối địch với cộng sản, mà đối địch với Độc lập Tự do! Ông Lê Duẩn cho rằng phải "giương cao 2 ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội" , trong tình thế bấy giờ là đúng, bởi vì cần phải có vũ khí của Liên Xô,Trung quốc. Tuy nhiên, "ngọn cờ xã hội chủ nghĩa" mặt khác đã làm cho sự quyết đấu vì ý thức hệ giữa Tự do và Cộng sản của Pháp, Mỹ càng thêm quyết liệt. Nói như vậy, không hề có ý giảm nhẹ trách nhiệm của Pháp và Mỹ. Cho đến khi đã bị sa lầy trong cuộc tái chiếm thuộc địa, phải tìm giải pháp Bảo Đại, thế mà người Pháp vẫn làm cho "con ngựa cũ" của mình phải lồng lộn: "Hơn nữa, nếu chính phủ Pháp đoạn giao với "Bác Hồ" chính là bởi lý do sự đòi hỏi về độc lập và thống nhất của họ nhiều hơn lý do họ là cộng sản quốc tế" (Bảo Đại – Con Rồng Việt Nam, trang 334). Từ thời ấy, Mỹ đã gánh cho Pháp hơn 80% chiến phí. Chính thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã đẩy Cụ Hồ phải tìm chỗ dựa Trung quốc, Liên Xô . Nếu tỉnh trí, nhìn đúng thế mạnh chiến thắng vừa qua của mình, chúng ta sẽ trở lại với Cụ Hồ khi trích Tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp làm Tuyên ngôn độc lập Việt Nam, .mà vấn đề cốt lõi là Dân chủ và Nhân quyền. Nếu sớm nhận thức như vậy chúng ta ắt sẽ chủ đông thực hiện đường lối Đổi mới khi chưa bị tình thế thúc ép. Và như vậy sẽ là không có cải tạo xã hội chủ nghĩa công, nông, thương nghiệp; cũng không cần cải tạo cán binh Sài Gòn; sẽ không có nạn thuyền nhân. Toàn thế giới sẽ tiếp tục đứng bên Việt Nam như 30 năm qua. Trung Quốc không dễ lôi kéo Mỹ để gây cho chúng ta hai cuộc chiến thảm khốc. Với thế và lực mới ấy, chúng ta sẽ phát triển nhanh chóng, có thể chưa theo kịp Nhật Bản, nhưng chắc chắn không thể kém Hàn quốc, bởi họ còn bị trì kéó bởi một Bắc Triều Tiên. Tiếc thay! Dù sao chúng ta cũng còn may mắn hơn Bắc Triều Tiên, Cu Ba, vì đã có những nhà lãnh đạo dám xé rào, Đổi mới, dù đã đến lúc bế tắc. Cuộc Đổi mới đã đem lại sức sống cho nền kinh tế Việt Nam mà thành tựu của nó đã được ca ngợi quá nhiều, thiết tưởng không cần phải nhắc lại. Riêng đối với Đảng Cộng sản thì cuộc Đổi mới đã đem lại thế mạnh nào và đào sâu thế yếu nào? Và nó đã tác động ra sao đối với phẩm chất con người Việt Nam? Đó là những vấn đề cực kỳ rộng lớn mà chúng tôi không có tham vọng giải đáp được, chỉ mong xới lên để các nhà lý luận của Đảng Cộng sản và các bậc thức giả trong ngoài nước cùng bàn. Tôi nhớ, đầu những năm 90 ông Nguyễn Cao Kỳ trả lời câu hỏi: Vì sao vốn là người kiên quyết chống Cộng, ông lại kêu gọi hòa hợp dân tộc, về nước hợp tác với chính quyền cộng sản phát triển đất nước? Ông Kỳ đáp: Tôi nghĩ rằng ở Việt Nam không còn cộng sản. Bởi tôi hiểu công sản chủ trương chỉ còn một giai cấp và không chấp nhận kinh tế thị trường .Nay họ công nhận kinh tế nhiều thành phần giai cấp, phát triển thị trường tự do. Họ giống như những thày tu đã ngả mặn rồi mà vẫn cứ đòi gọi mình là thày tu. Ý kiến nôm na của ông Kỳ hoàn toàn phù hợp với lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin . Những nhà lý luận Mác xít của Việt Nam cứ khất lần khất lữa suốt 25 năm vẫn không thể tìm ra định nghĩa mới cho chủ nghĩa xã hội ngoài câu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, 5 năm sau được bổ sung thêm từ Dân chủ đứng sau từ Công bằng, rồi phải mất 5 năm nữa từ Dân chủ mới được chuyển lên đứng trước Công bằng! Ôi, nguyện vọng dân chủ đã được Hồ Chí Minh khơi dậy, nhân dân ta đã tốn bao xương máu để giành lấy vậy mà sao thực hiện nó vất vả đến như vậy! Những người mác xit đều biết lý thuyết về sự phù hợp giữa kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng. Trong lời tưạ Tuyên ngôn đảng cộng sản in bằng tiếng Đức ngày 28-6-1883, Ăng-ghen viết: "Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội – cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra – cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy ". Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam hiểu rõ lời dạy đó, nên đã nhiều lần nhắc lại rằng phải Đổi mới toàn diện từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, xã hội. Văn kiện Đại hội 11 cũng nhắc "Đổi mới trong lĩnh vực chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế". Tuynhiên cho tới nay hệ thống chính trị hầu như không có thay đổi gì đáng kể so với 25 năm trước. Cuộc bầu cử Quốc hội đang xúc tiến từ cung cách đến nội dung chỉ đạo cũng na ná như xưa. Về tỉ lệ đảng viên trong Quốc hội, ông Võ văn Kiệt cho rằng chỉ nên hơn 50%, khóa 12 là 92%, khóa này được nêu ra là từ 85 đến 90% . Ông Võ văn Kiệt cũng đề nghị "Về cơ bản đã làm đại biểu Quốc hội thì thôi không làm quan chức hành chính nữa". Nhưng khóa này quan chức hành chính ứng cử vẫn đông! Do cơ cấu xã hội không phù hợp sản xuất kinh tế như Ăng-ghen nêu ra mà đã xảy ra những điều tréo ngoe giữa thực tế cuộc sống với lý thuyết từ các nghị quyết. Có thể nêu ra hàng chục dẫn chứng, nhưng chỉ xin nêu hai điều đang trở thành hiểm họa cho Dân tộc và cho cả Đảng cộng sản : 1 – Trong khi chúng ta dành những lời thân thiết nhất cho các quốc gia Đảng cộng sản lãnh đạo, cho cánh tả, coi sức mạnh thời đại ta cần phải kết hợp là ở đó thì thực tế là chúng ta phải dựa vào sự giúp đỡ lớn nhất ở các nước tư bản tiên tiến như Nhật, Hàn Quốc… những đồng minh chiến lược của Mỹ. Trớ trêu hơn là Trung Quốc, người đồng chí có chung16 chữ vàng, chung mục tiêu 4 tốt, chung quan điểm trong nhiều sự kiện lớn của thế giới (như Bắc Phi, Libi…) và chính sách đối nội (như dân chủ, nhân quyền; bên kia thì có Lưu Hiểu Ba, bên này là Cù Huy Hà Vũ). Dù chúng ta đã cố sức chiều theo họ rất nhiều vấn đề khó chiều như: Họ đóng cửa các công trình khai thác bôxít ở nước họ, để sang khai thác bôxit trên "mái nhà" của nước ta và cả Đông Dương. Mới hôm qua, họ xả nước bẩn làm ô nhiễm Sông Hồng, nhưng chính quyền Vân Nam thẳng thừng từ chối đề nghị khẩn thiết của Lào Cai cùng phối hợp nhau để kiểm tra! Càng trớ trêu thay, hầu như tháng nào người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng phải lắp đi lắp lại một lời tuyên bố giống nhau: "Trung Quốc cần chấm dứt ngay sự vi phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam"! 2 – Hệ thống chính tri của chúng ta luôn luôn được đề cao về sứ mệnh cao cả là đang lãnh đạo toàn dân tộc theo quy luật tiến hóa của lịch sử loài người, nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó suốt 20 năm nay, những người điều hành hệ thống chính trị này luôn luôn bị các cơ quan chuyên môn của quốc tế xếp vào "tốp 10" đại tham nhũng. Tham nhũng Việt Nam đứng trên hơn 150 quốc gia tư bản, bộ máy điều hành của họ chắc chắn không có đảng viên cộng sản nào! Năm 2006, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nhận định "Tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ"..Đầu năm 2011, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cho rằng chống tham nhũng là "mong mỏi rất chính đáng và tha thiết của những người dân. Nhưng cho đến hôm nay tôi tự thấy nhiệm vụ đó tôi làm chưa xong " (Báo xuân Sài Gòn tiếp thị). Ngày nay người dân nhìn đâu cũng thấy những người đảng viên cán bộ lúc nào cũng nói về giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng, về học tập và làm theo đạo đức Bác Hồ, về quyết tâm đi lên chủ nghĩa xã hội, trong khi đó họ chẳng những có mức sống cao hơn hẳn người dân mà có quá nhiều người nhà cao cửa rộng, con cái làm chủ những công ty tư nhân có vốn nhiều triệu đô la. Hơn 3.000 cuộc đình công của công nhân không qua sự chỉ đạo của Công đoàn, hiện tương nông dân khiếu kiện vượt cấp vùng nào cũng có, đã nói lên tâm trạng xã hội không yên ổn! Từ ngàn xưa, người dân vẫn nhìn vào người cầm quyền để noi theo gương trong cuộc sống. Cổ đại có gương Nghiêu, Thuấn thuần dưỡng cả nước trở thành lương dân. Quá nhiều người dân hư hỏng người lãnh đạo phải soi lại mình. Chúng ta kêu gọi toàn Đảng thống nhất nói theo Nghị quyết, làm theo Nghị quyết và các cơ quan truyền thông phải tuyên truyền đúng định hướng, để tạo ra sự đồng thuận trong toàn dân. Hãy nhớ lại, Cụ Hồ đâu có nhiều lời, chỉ cần một câu thôi, đã khiến cả nước đứng dậy đi theo dù con đường vô cùng gian khổ. Hai năm qua có quá nhiều điều dù Đảng có Nghị quyết, báo chí tuyên truyền theo định hướng, nhưng không dễ tạo ra được đồng thuận, Ví dụ: Chủ trương hợp tác với Trung Quốc khai thác bôxít, đã có hàng ngàn chữ ký kiến nghị dừng lại, có những chữ ký của các vị đáng kính như Đại tướng Võ Nguyên Giáp; nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình; người anh hùng có nụ cười công phá chế độ Sài Gòn Võ thị Thắng; những nhà khoa học hàng đầu đất nước như Nguyễn văn Hiệu; Chu Hảo; Đặng Hùng Võ; Nguyễn Quang A… Mới hôm qua đây là vụ án Cù Huy Hà Vũ. Dù anh ấy có văn phong không quen tai như lâu nay (như ông bà mình nói, trực [trung] ngôn nghịch nhĩ) , nhưng tất cả nội dung đều nằm trong quyền công dân mà ngày xưa, Bác Hồ từng khuyến khích và Hiến pháp hiện hành không cấm. Do vậy, mặc dù muốn làm cho vụ án trở thành bé nhỏ ,không quan trọng (các bản tin VTV tối 4 tháng 4 năm 2011 đều không xếp vào các tin quan trọng; phiên tòa gói gọn không hết một ngày). Nhưng tầm quan trọng của nó vẫn cứ lộ rõ, bởi: nhiều tướng lĩnh cách mạng, văn nghệ sĩ, bình luận viên báo chí trong và ngoài nước cho rằng Hà Vũ nói những điều nhiều người nghĩ như thế mà không nói; Giáo dân thắp nến cầu nguyện trước ngày tòa xử; và các ngả đường quanh tòa án có quá nhiều cảnh sát bảo vệ. Nước Nhật không thể có những vụ án tương tự. Chúng ta có nên học tập Nhật Bản? Nên lắm chứ ! Tuy nhiên trước hết nên học tập Hồ Chí Minh, không chỉ học và làm theo đạo đức mà trước hết hãy học và thực hiện tư tưởng Tự do, Dân chủ của Người! Ngày 5 tháng 4 năm 2011 T.V.C.
-
Bí Ẩn Về Một Thế Giới Khác Cùng Tồn Tại Trên Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Luân's topic in Mạn Đàm
Mình thấy anh hoangnt nên trả lời xoáy thẳng vào vấn đề đang trao đổi, đó là có thừa nhận thời gian và không gian là 1 thực tại độc lập với vật chất như a đã khẳng định hay không "vật chất vận động theo quy luật mà bất chấp không thời gian (nhưng chúng lại vận động trong không gian, theo - cần thời gian). Cả 3 vừa độc lập lại vừa thống nhất. Dĩ nhiên khi con người quan tâm, thì bắt buộc nảy sinh hệ quy chiếu để quán xét sự vận động trên." A trả lời lan man ngoài chủ đề quá, nào là nhận thức, linh hồn, thể xác, bản thể, ngũ hành, âm dương. Và toàn những ý kiến khẳng định Vật chất và có thể có Bản thể = Thái cực = Thần tồn là thực tại khác quan. Xin tạm miễn bàn về những vấn đề trên (hẹn trao đổi với anh ngay sau phần tranh luận về không thời gian này đã) Anh đã nói "Thời gian được định nghĩa từ nhận biết sự vận động của vật chất cần được quan tâm và xác định bởi đồng hồ đo các loại. Vì thời gian mang tính trừu tượng nhằm mục tiêu trên do vậy không có thuộc tính." Vậy sao còn nói "Cả 3 vừa độc lập", không có vật chất vận động để dựa vào đó và từ đó nhận biết được thời gian như câu trên, vậy độc lập ở chỗ nào, anh có thể chứng minh cái "thời gian" và "không gian" tồn tại độc lập với vật chất để sáng tỏ vấn đề được chứ ? Không cần dựa vào vật chất vẫn xác định được chúng chứ ? Einstein đã nói "Khi vật chất biến mất thì không thời gian cũng biến mất" Newton thì trước đó thừa nhận thời gian vẫn còn, nhưng ít nhất ông đã khẳng định "Khi vật chất biến mất thì không gian biến mất" Tương tự, anh có thể chất vấn lại quan điểm của mình về 2 khái niệm không gian, thời gian này dựa trên bài viết mình đã trình bày: Thời gian và không gian có tương tác với vật chất không? nếu trả lời được thì nó không phải là trừu tượng. Thế giới tồn tại khác quan. Con người đang quan sát thế giới và nhận định nó. Định nghĩa về bất kể cái gì của thế giới là phần không thể thiếu, chẳng hạn vật chất, không thời gian, tương tác... Ta nhận thấy vật chất vận động mà nó không quan tâm không thời gian (ở vai trò chủ thể là vật chất ngoài con người). Tuy nhiên từ nhận thức của chính chúng ta cũng lại thấy: vật chất vận động "cần" thời gian và "trong" không gian. Trong quá trình nhận thức lại hiểu rằng không gian và thời gian không tương tác với vật chất. Độc lập và thống nhất là vậy. Einstein nói theo nghĩa của sự thống nhất không thời gian và vật chất, tuy nhiên tôi nghĩ khác: Vì sự tồn tại khách quan của thế giới cho nên nhận định phải tương ứng, điều này có nghĩa dù ta nhận thức tính logic mối tương quan không thời gian và vật chất như Einstein nhưng rõ ràng thế giới vẫn còn đấy cơ mà. Để dễ hiểu tôi đưa ra ví dụ sau: Các nhà khoa học, bằng công cụ, đã xác định được ranh giới vũ trụ, nơi mà mật độ vật chất bằng không, chúng ta cùng chấp nhận giả thuyết này, vật thì: ngoài biên giới này là cái gì? Từ các định nghĩa và mối tương quan như trên, theo tôi về logic và thực tại, khi vật chất biến mất thì thời gian không còn, không gian vẫn còn, hoàn toàn tĩnh lặng, hoàn toàn tối đen: khác cả nhận định của Einstein và Newton. Thế người Việt xưa xác định không thời gian và vật chất như thế nào? phải xem lại cách xây dựng bảng Lục thập hoa giáp (Lạc thư hoa giáp). Thân. * Phúc Lộc thọ mãn đường * -
Bí Ẩn Về Một Thế Giới Khác Cùng Tồn Tại Trên Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Luân's topic in Mạn Đàm
Nhận định: ngoài thể xác này, sau khi mất vẫn còn trạng thái vật chất khác: có vẻ tương ứng nhận định hạt cơ bàn là không tìm ra. Nhận thức tồn tại lâu dài. Tạm thời nhận định Bản thể Vũ trụ đang điều khiển vật chất thông qua Bản thể của chính vật chất. Tùy dạng vật chất thay đổi mà Bản thể Vũ trụ tự điều chỉnh tương ứng có nghĩa luôn duy trì sự vận động vận chất có quy luật. Bản thể không thể tách rời vật chất trong giai đoạn vật chất vận động. Nếu nhận định trên thì có vẻ chu kỳ vận động của vật chất là mãi mãi sau khi hiện hữu thì không thể quay về Bản thể gốc - ban đầu?. Môi trường vận động của trái đất có phải là nơi cho cả con người khi sống cũng như sau khi mất - vẫn tồn tại nhận thức hay nhận thức tồn tại ở khắp nơi. Nguyên lý nhân quả và huyết thống có mối quan hệ như thế nào trong sự vận động này?. Luân hồi có mối quan hệ như thế nào? Bản thể con người tiếp nhận các thuộc tính thì có thể giải tỏa nó hay không thông qua nhận thức? * Phúc Lộc thọ mãn đường * -
Bí Ẩn Về Một Thế Giới Khác Cùng Tồn Tại Trên Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Luân's topic in Mạn Đàm
Nhận định: ngoài thể xác này, sau khi mất vẫn còn trạng thái vật chất khác: có vẻ tương ứng nhận định hạt cơ bàn là không tìm ra. Nhận thức tồn tại lâu dài. Vì thực tại khách quan phản ánh và có nhận thức và nhận định nhận thức là vật chất, cho nên ta tạm thấy rằng: có vẻ nhận thức tương ứng Bản thể vũ trụ do tính tự điều chỉnh với bất kỳ sự thay đổi nào liên quan. Vậy thì Bản thể có vẻ là một trạng thái chưa nhận biết nhưng có thuộc tính bất kỳ khi nảy sinh các mối quan hệ vật chất tương ứng. Phải chăng vật chất chính là thuộc tính của bản thể?. Nếu nhận thức là vật chất, rõ ràng cũng đang vận động theo lý âm dương ngũ hành và xem vũ trụ là duy nhất thì Nhận thức phải vận động hết cung đường của nó tức qua 8 thuộc tính âm dương ngũ hành trước khi trở về GỐC BAN ĐẦU là BẢN THỂ. Như vậy đời người về cơ bản sẽ phải qua 8 giai đoạn trước khi hòa nhập vào vũ trụ?. * Phúc Lộc thọ mãn đường * -
Bí Ẩn Về Một Thế Giới Khác Cùng Tồn Tại Trên Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Luân's topic in Mạn Đàm
Anh nói: Đây là 1 câu khẳng định, do đó mình muốn biết dựa vào đâu mà cho rằng thời gian không co giãn (bất biến), bản thân câu này cũng thừa nhận thời gian là 1 thực tại thường hằng, vậy cũng dựa vào đâu mà biết nó tồn tại ? Vũ trụ là thực tại khách quan. Vật chất và có thể có Bản thể = Thái cực = Thần tồn là thực tại khác quan. Không gian cũng tương tự và có định nghĩa cũng như công cụ đo. Thời gian được định nghĩa từ nhận biết sự vận động của vật chất cần được quan tâm và xác định bởi đồng hồ đo các loại. Vì thời gian mang tính trừu tượng nhằm mục tiêu trên do vậy không có thuộc tính. Dựa vào Nhận thức của con người mà có tất cả các kết quả trên. Nhận thức con người là gì thì chúng ta đang phân tích tiếp tục. Anh nói Nếu không có hệ quy chiếu để xác định nó thường hằng, thì phải chứng minh bằng lý thuyết trên cơ sở các suy luận hợp lý để biết được tại sao có nó. Chứ thế này chỉ là 1 suy đoán, vì bản thân tôi cũng có thể nói đơn giản là: có chiều thời gian thứ n nếu thích, và nó cũng không co không giãn. Thực tại khách quan - Nhận thức - định nghĩa... - kiểm tra, so sánh, đối chiếu thực tế - tiên tri về sự vận động của vật chất: chỉ cần một đơn vị T là xong hết. Tại sao? Vì hệ quả từ cái khẳng định có tồn tại 1 thực tại là "thời gian thường hằng" này là anh đã suy ra được con người ta có cảm nhận về thời gian (như anh đã trình bày). Nhưng đây chỉ là 1 cảm nhận, chứ không phải là 1 sự khẳng định bắt buộc phải có. VD: tôi cảm nhận được con gái nhà tôi nó đang vui, thì đó chỉ là sự cảm nhận do có 1 sự tương tác được từ não của tôi với vận động trên khuôn mặt của con tôi biểu cảm ra mà tôi cảm nhận được, chứ nó không nói lên phải có 1 cái thực tại gọi là "niềm vui" không co không giãn tồn tại trong cái vũ trụ này. Cái "niềm vui" đó đơn thuần chỉ là hệ quả, hiệu ứng của 1 loạt những vận động và tương tác phức tạp tạo ra mà tôi cảm thấy thế mà tôi, nhưng cũng có người khác nhìn vào tưởng nó đang giận, cũng có thể chứ. Đó chính là cái nhận thức tùy hệ quy chiếu đó. Cảm nhận đã chuyển qua nhận thức, xây dựng lý thuyết và có công cụ và tiên tri rồi. Chưa xây dựng chung được ý nghĩa Vui - Buồn nên không so sánh được, nhưng nếu là con người thì ví dụ trên là Vui do đã nhận thức được (tức có định nghĩa tuy chưa ghi ra). Người khác nghĩ Buồn vì họ không quan tâm đến cái chung lẫn nhau và không phải là bạn (chưa đồng dạng chứ không phải tùy hệ quy chiếu), bạn đang nhầm lẫn. Nếu chọn hệ quy chiếu thì Bạn là gốc hệ quy chiếu, tạm gọi vậy thì so sánh từ người khác trong hệ này như thế nào? Câu này mang nghĩa suy đoán cũng như trên, cần được chứng minh. 2 vế mang tính đối lập nhưng không đồng nhất. Mình chỉ muốn hỏi: đã gọi là "vật chất vận động theo quy luật mà bất chấp không thời gian" nghĩa là có thể hiểu nó không cần thời gian, không gian vẫn vận động độc lập được, thì tại sao còn nói "nhưng chúng lại vận động trong không gian, theo - cần thời gian", điều gì khiến có sự khẳng định này, nó mâu thuẫn. Thực tại phản ánh, con người nhận thức...: giống như phân tích trên, không mâu thuẫn. Kinh Bất Liễu Nghĩa là các bộ kinh thiên về chữ Tín. Những người có Lòng Tìn đối với Phật Pháp nhưng học lực của họ kém, không có năng khiếu nghiên cứu nên được Phật nói những thứ thực hành ngay, cứ làm là sẽ có kết quả, không cần tìm hiểu từ bản chất cũng được, cũng như sử dụng máy tính mà không cần hiểu về cấu tạo máy tính như thế nào. RUBI Hoàn toàn chính xác. Thân. * Phúc Lộc thọ mãn đường * -
Chào Bác Minh Xuân Đây là bài "Càn Khôn Vạn Niên Ca" của Khương Thái Công, trên website: Thế giới vô hình. Kính Bác có thể diễn giải tiếng Việt cho mọi người cùng tham khảo không ạ. Hán Việt 1.太極未判昏已過。 1 Thái Cực Vị Phán Hôn Dĩ Quá. 2.風後女媧石上坐。 2 Phong Hậu Nữ Oa Thạch Thượng Tọa. 3.三皇五帝己派相。 3 Tam Hoàng Ngũ Đế Kỷ Phái Tương. 4.承宗流源應不錯。 4 Thừa Tông Lưu Nguyên ứng Bất Thác. 5.而今天下一統周。 5 Nhi Kim Thiên Hạ Nhất Thống Chu. 6.禮樂文章八百穐。 6 Lễ Nhạc Văn Chương Bát Bách 穐. 7.串去中直傳天下。 7 Xuyến Khứ Trung Trực Truyền Thiên Hạ. 8.卻是春禾換日頭。 8 Khước Thị Xuân Hòa Hoán Nhật Đầu. 9.天下由來不固久。 9 Thiên Hạ Do Lai Bất Cố Cửu. 10.二十年閒不能守。 10 Nhị Thập Niên Nhàn Bất Năng Thủ. 11.卯坐金頭帶直刀。 11 Mão Tọa Kim Đầu Đái Trực Đao. 12.削儘天下木羊首。 12 Tước Tẫn Thiên Hạ Mộc Dương Thủ. 13.一土臨朝更不祥。 13 Nhất Thổ Lâm Triêu Canh Bất Tường. 14.改年換國篡平床。 14 Cải Niên Hoán Quốc Soán Bình Sàng. 15.泉中湧齣光華主。 15 Tuyền Trung Dũng Xích Quang Hoa Chủ. 16.興覆江山又久長。 16 Hưng Phúc Giang San Hựu Cửu Trường. 17.四百年來更世界。 17 Tứ Bách Niên Lai Canh Thế Giới. 18.日上一曲懷毒害。 18 Nhật Thượng Nhất Khúc Hoài Độc Hại. 19.一枝流落去西川。 19 Nhất Chi Lưu Lạc Khứ Tây Xuyên. 20.三分社稷傳兩代。 20 Tam Phân Xã Tắc Truyền Lưỡng Đại. 21.四十年來又一變。 21 Tứ Thập Niên Lai Hựu Nhất Biến. 22.相傳馬上同無半。 22 Tương Truyền Mã Thượng Đồng Vô Bán. 23.兩頭點火上長安。 23 Lưỡng Đầu Điểm Hỏa Thượng Trường An. 24.委鬼山河通一佔。 24 ủy Quỷ San Hà Thông Nhất Chiêm. 25.山河既屬普無頭。 25 San Hà Kí Chúc Phổ Vô Đầu. 26.離亂中分數十穐。 26 Li Loạn Trung Phân Số Thập 穐. 27.子中一硃不能保。 27 Tý Trung Nhất Chu Bất Năng Bảo. 28.江東覆立作皇洲。 28 Giang Đông Phúc Lập Tác Hoàng Châu. 29.相傳一百五十載。 29 Tương Truyền Nhất Bách Ngũ Thập Tái. 30.釗到兔儿平四海。 30 Chiêu Đáo Thố Nhân Bình Tứ Hải. 31.天命當頭六十年。 31 Thiên Mệnh Đương Đầu Lục Thập Niên. 32.肅頭蓋草生好歹。 32 Túc Đầu Cái Thảo Sinh Hảo Đãi. 33.都無真主管江山。 33 Đô Vô Chân Chủ Quản Giang San. 34.一百年前擾幾番。 34 Nhất Bách Niên Tiền Nhiễu Ki Phiên. 35.耳東入國人離亂。 35 Nhĩ Đông Nhập Quốc Nhân Li Loạn. 36.南隔長安北隔關。 36 Nam Cách Trường An Bắc Cách Quan. 37.水龍木易承天命。 37 Thủy Long Mộc Dịch Thừa Thiên Mệnh. 38.方得江山歸一定。 38 Phương Đắc Giang San Quy Nhất Định. 39.五六年來又不祥。 39 Ngũ Lục Niên Lai Hựu Bất Tường. 40.此時天下又紛爭。 40 Thử Thời Thiên Hạ Hựu Phân Tranh. 41.木下男儿火年起。 41 Mộc Hạ Nam Nhân Hỏa Niên Khởi. 42.一掃煙塵木易已。 42 Nhất Tảo Yên Trần Mộc Dịch Dĩ. 43.高祖世界百餘年。 43 Cao Tổ Thế Giới Bách Dư Niên. 44.雖見幹戈不傷體。 44 Tuy Kiến Cán Qua Bất Thương Thể. 45.子繼孫承三百春。 45 Tý Kế Tôn Thừa Tam Bách Xuân. 46.又遭離亂似瓜分。 46 Hựu Tao Li Loạn Tự Qua Phân. 47.五十年來二三往。 47 Ngũ Thập Niên Lai Nhị Tam Vãng. 48.不真不假亂為君。 48 Bất Chân Bất Giả Loạn Vi Quân. 49.金豬此木為皇帝。 49 Kim Trư Thử Mộc Vi Hoàng Đế. 50.未經十載遭更易。 50 Vị Kinh Thập Tái Tao Canh Dịch. 51.肖郎走齣在金猴。 51 Tiếu Lang Tẩu Xích Tại Kim Hầu. 52.穩穩清平傳幾世。 52 ổn ổn Thanh Bình Truyền Ki Thế. 53.一汴二杭事不巧。 53 Nhất Biện Nhị Hàng Sự Bất Xảo. 54.卻被鬍人通佔了。 54 Khước Bị Hồ Nhân Thông Chiêm Liễu. 55.三百年來棉木終。 55 Tam Bách Niên Lai Miên Mộc Chung. 56.三閭海內去潛蹤。 56 Tam Lư Hải Nội Khứ Tiềm Tung. 57.一兀為君八十載。 57 Nhất Ngột Vi Quân Bát Thập Tái. 58.淮南忽見紅光起。 58 Hoài Nam Hốt Kiến Hồng Quang Khởi. 59.八雙牛來力量大。 59 Bát Song Ngưu Lai Lực Lượng Đại. 60.日月同行照天下。 60 Nhật Nguyệt Đồng Hành Chiếu Thiên Hạ. 61.土猴一兀自消除。 61 Thổ Hầu Nhất Ngột Tự Tiêu Trừ. 62.四海衣冠新綵畫。 62 Tứ Hải Y Quan Tân Thải Họa. 63.三百年來事不順。 63 Tam Bách Niên Lai Sự Bất Thuận. 64.虎頭帶土何鬚問。 64 Hổ Đầu Đái Thổ Hà Tu Vấn. 65.十八孩儿跳齣來。 65 Thập Bát Hài Nhân Khiêu Xích Lai. 66.蒼生方得囌危睏。 66 Thương Sinh Phương Đắc Tô Nguy Khốn. 67.相繼春穐二百餘。 67 Tương Kế Xuân 穐 Nhị Bách Dư. 68.五湖雲擾又風顛。 68 Ngũ Hồ Vân Nhiễu Hựu Phong Điên. 69.人丁口取江南地。 69 Nhân Đinh Khẩu Thủ Giang Nam Địa. 70.京國重新又一遷。 70 Kinh Quốc Trọng Tân Hựu Nhất Thiên. 71.兩分疆界各保守。 71 Lưỡng Phân Cương Giới Các Bảo Thủ. 72.更得相安一百九。 72 Canh Đắc Tương An Nhất Bách Cửu. 73.那時走齣草田來。 73 Na Thời Tẩu Xích Thảo Điền Lai. 74.手執金龍步玉□。 74 Thủ Chấp Kim Long Bộ Ngọc □. 75.清平海內中華定。 75 Thanh Bình Hải Nội Trung Hoa Định. 76.南北同歸一統排。 76 Nam Bắc Đồng Quy Nhất Thống Bài. 77.誰知不許乾坤久。 77 Thùy Tri Bất Hứa Kiền Khôn Cửu. 78.一百年來天上口。 78 Nhất Bách Niên Lai Thiên Thượng Khẩu. 79.木邊一兔走將來。 79 Mộc Biên Nhất Thố Tẩu Tướng Lai. 80.自在為君不動手。 80 Tự Tại Vi Quân Bất Động Thủ. 81.又為棉木定山河。 81 Hựu Vi Miên Mộc Định San Hà. 82.四海無波二百九。 82 Tứ Hải Vô Ba Nhị Bách Cửu. 83.王上有人雞上火。 83 Vương Thượng Hữu Nhân Kê Thượng Hỏa. 84.一番更變不鬚說。 84 Nhất Phiên Canh Biến Bất Tu Thuyết. 85.此時建國又一人。 85 Thử Thời Kiến Quốc Hựu Nhất Nhân. 86.君正臣賢乘輔拔。 86 Quân Chính Thần Hiền Thừa Phụ Bạt. 87.平定四海息幹戈。 87 Bình Định Tứ Hải Tức Cán Qua. 88.二百年來為社稷。 88 Nhị Bách Niên Lai Vi Xã Tắc. 89.二百五十年中好。 89 Nhị Bách Ngũ Thập Niên Trung Hảo. 90.江南走齣釗頭卯。 90 Giang Nam Tẩu Xích Chiêu Đầu Mão. 91.大好山河又二分。 91 Đại Hảo San Hà Hựu Nhị Phân. 92.幸不全亡莫嫌小。 92 Hạnh Bất Toàn Vong Mạc Hiềm Tiểu. 93.兩人相見百忙中。 93 Lưỡng Nhân Tương Kiến Bách Mang Trung. 94.治世能人一張弓。 94 Trị Thế Năng Nhân Nhất Trương Cung. 95.江南江北各平定。 95 Giang Nam Giang Bắc Các Bình Định. 96.一統山河四海同。 96 Nhất Thống San Hà Tứ Hải Đồng. 97.二百年來為正主。 97 Nhị Bách Niên Lai Vi Chính Chủ. 98.一渡顛危猴上水。 98 Nhất Độ Điên Nguy Hầu Thượng Thủy. 99.别枝花開果儿紅。 99 Biệt Chi Hoa Khai Quả Nhân Hồng. 100.覆取江山如舊許。 100 Phúc Thủ Giang San Như Cựu Hứa. 101.二百年來衰氣運。 101 Nhị Bách Niên Lai Suy Khí Vận. 102.任君保重成何濟。 102 Nhậm Quân Bảo Trọng Thành Hà Tế. 103.水邊田上米郎來。 103 Thủy Biên Điền Thượng Mễ Lang Lai. 104.直入長安加整頓。 104 Trực Nhập Trường An Gia Chỉnh Đốn. 105.行仁行義立乾坤。 105 Hành Nhân Hành Nghĩa Lập Kiền Khôn. 106.子子孫孫三十世。 106 Tử Tử Tôn Tôn Tam Thập Thế. 107.我今只算萬年終。 107 Ngã Kim Chỉ Toán Vạn Niên Chung. 108.剝覆循環理無窮。 108 Bác Phúc Tuần Hoàn Lý Vô Cùng. 109.知音君子詳此數。 109 Tri Âm Quân Tử Tường Thử Số. 110.今古存亡一貫通。 110 Kim Cổ Tồn Vong Nhất Quán Thông. Ở Tây Hồ - Hàng Châu - Trung Hoa, có am Bạch Vân, trong có miếu thờ Nguyệt Lão. Nơi đây có đôi câu liễn đối: Nguyện thiên hạ hữu tình nhân, đô thành liễu quyến thuộc, Thị tiền sanh chú định sự, mạc thác quá nhân duyên. Trân trọng cảm ơn. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Bí Ẩn Về Một Thế Giới Khác Cùng Tồn Tại Trên Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Luân's topic in Mạn Đàm
Vậy, để đạt cõi Phật, phải "xả" bớt ham muốn nhằm giảm tải cho "Nhận thức": Bao gồm cả việc nâng cao trí tuệ ở khía cạnh nhận thức thế giới theo quy luật của cá nhân. Hiện ta chưa rõ tính liên thông "Nhận thức" giữa các "vị đã mất", tuy nhiên bởi tính độc lập "khi sống" thì hệ quả phải là tương đương. Nếu "Nhận thức" vẫn sống, do trí tuệ chưa rõ quy luật nên vẫn vướng vào "ham muốn" khi thân vật lý không đạt được do không tồn tại: đây có vẻ là đang ở trong Thập điện Diêm vương. * Phúc Lộc Thọ mãn đường * -
Bí Ẩn Về Một Thế Giới Khác Cùng Tồn Tại Trên Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Luân's topic in Mạn Đàm
Vậy câu này thừa nhận thời gian là 1 hằng số (chỉ tại do cảm nhận sai theo từng hệ quy chiếu nên tưởng nó biến thiên). Nhưng hằng số dựa trên cái gì, hệ quy chiếu gốc nào ? Vậy trong những hệ quy chiếu khác thì nên gọi là cái gì ? Không có hệ quy chiếu nào cả nếu con người không quán xét, vật chất vận động theo quy luật mà bất chấp không thời gian (nhưng chúng lại vận động trong không gian, theo - cần thời gian). Cả 3 vừa độc lập lại vừa thống nhất. Dĩ nhiên khi con người quan tâm, thì bắt buộc nảy sinh hệ quy chiếu để quán xét sự vận động trên. Hệ quy chiếu sẽ bao gồm tùy chọn riêng hoặc tổ hợp của 3 đại lượng không thời gian và thuộc tính vật chất. Nếu đã nói là "cảm nhận thời gian" vậy thời gian tùy thuộc cảm nhận (của đối tượng nhận biết) ở từng hệ quy chiếu, vậy cái "thời gian" thực mà "chứ không phải do thời gian co giãn" nó tồn tại và tương tác với đối tượng nhận biết qua phương trình nào để khiến đối tượng nhận biết có được cái cảm nhận tùy từng hệ quy chiếu này, (Gọi vắn tắt là tương tác thế nào ?). Chỉ khi nào xác định được nó là gì thì mới biết được nó có tương tác được không, và như thế nào. Một câu hỏi khó, hiểu được ngọn ngành thì khác gì phá tan 1 bức màn vô minh về thế giới tự nhiên, hiểu rõ 1 ý nghĩa lớn lao của đạo giáo và khoa học. Ta xét con người vì có nhận thức về thế giới: - Từ khi ra đời chưa có thông tin nên chưa cảm nhận về thế giới (ngoại trừ trường hợp "tái sinh"). Do vậy trong "Não" chưa "ghi" được thông tin. Theo không thời gian và tương tác, họ sẽ nhận biết và có nhận thức về thế giới. - Nếu ta nhắm mắt lại thì có cảm nhận được không? hoặc tại sao ta biết được mùi thơm của hương hoa, cái đẹp của phụ nữ, sự vĩ đại của bầu trời... Rõ ràng chúng phải được phản ảnh qua giác quan về "Não" để nhận biết. - Chúng ta có thể ngăn cản các cảm xúc trên bằng châm cứu, thuốc tê chẳng hạn...: như vậy cảm xúc cũng phải là vật chất nên bị giới hạn. Không thời gian dĩ nhiên không nằm ngoài vấn đề này. - Khi cảm xúc bị ngăn cản nhưng chúng ta vẫn biết bằng "Nhận thức". Vậy "Nhận thức" có phải vật chất hay không?. - Các nhà ngoại cảm là trung gian giao tiếp giữa người mất và người sống: chúng tỏ "họ còn sống" nhưng không có cô thể vật lý như chúng ta vì biết quá khứ, hiện tại và một phần tương lai và có cảm xúc đôi bên (cần có phương pháp kiểm tra hiện thực khách quan này). - Máy ghi âm, hộp đen... cũng ghi nhận thông tin nhưng không có tiên tri, cảm xúc. Có thể ghi nhận: "Nhận thức" tồn tại ngay cả sau khi chết (dĩ nhiên không có tồn tại trạng thái sinh nở trong "thế giới này" vì ở một trạng thái vật chất khác). Nếu chấp nhận tương tác giữa các đối tượng trên thì "Nhận thức" phải là vật chất và rất đặc biệt do tính bất biến (tạm chấp nhận đơn vị ngàn năm, do các nhà ngoại cảm đã nói chuyện được với các vị trong khỏang thời gian này). Thời gian vẫn trôi, người xưa khi nói chuyện "nhớ lại" chứ không phải quay lại quá khứ. Thế tại sao biết tương lai - tiên tri: sẽ luận tiếp. Do đó, không thời gian chỉ là cái khái niệm về những hiệu ứng cảm nhận được mà thôi, và cũng tùy thuộc 1 hệ quy chiếu cụ thể. Nếu ở những hệ quy chiếu khác ví dụ như "cõi Phật" chẳng hạn, thì sẽ mất hết cảm nhận về những hiệu ứng này, nên sẽ không có khái niệm thời gian, và không gian. Bản chất "Nhận thức" tồn tại và giả sử ở cõi Phật, thì: - Vẫn tồn tại cảm nhận không thời gian như thường. Vũ trụ là thể thống nhất nên không thơi gian bất kỳ thế giới nào cũng vận động ăn khớp và tương ứng. - Không cảm nhận không thời gian vì cảm xúc "Không cần thiết" không tồn tại do thân vật lý không sinh sản hay không thể cảm nhận mặc dù "Nhận thức" hiểu nó. Do vậy "ta" không còn quan tâm đến không thời gian theo nghĩa này. - Vậy, để đạt cõi Phật, phải "xả" bớt ham muốn nhằm giảm tải cho "Nhận thức". Bạn đang hỏi những cái cốt tủy của các đạo giáo (chân lý của các đạo giáo chưa chắc đúng) và chân lý vũ trụ duy nhất và biến hóa có quy luật. * Phúc Lộc Thọ mãn đường * -
Khoa Học Lý Giải Tâm Linh Như Thế Nào?
hoangnt replied to Thiên Sứ's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Bàn về bản chất của linh hồn trường vong TS Vũ Văn Bằng LTS: Cách đây 40 năm, mảnh đất Quảng trị từng là nơi diễn ra nhiều trận chiến dữ dội, ác liệt và câu hỏi có bao nhiêu chiến sĩ giải phóng quân nằm xuống nơi đây đến nay vẫn còn là điều nhức nhối? Tháng 6/2006, Hội Cựu chiến binh Mỹ cung cấp cho phía Việt Nam một mẩu tin ngắn ngủi: Trong một trận chiến năm 1967 tại cứ điểm Cồn Tiên (xã Gio An, huyện Gio Linh), toàn bộ 173 chiến sĩ giải phóng quân tấn công cứ điểm đã hy sinh và được chôn chung trong một hố rộng. Từ đó đến nay, với trên 10 điểm đào bới quy mô lớn, độ sâu từ 1-2 mét một vùng đồi cao su rộng hàng chục ha, lực lượng tìm kiếm, quy tập mộ của Ban chỉ huy quân sự Gio Linh mới tìm được bốn bộ hài cốt nằm rải rác. Được biết thông tin này, TS Vũ Văn Bằng, chuyên gia ngành địa chất công trình hiện nay là chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần “Tia Đất” đã tình nguyện vào Gio Linh tham gia công việc tìm kiếm. Căn cứ vào bản sơ đồ vẽ tay của hội CCB Mỹ cung cấp, với khả năng dò tìm tia đất bằng một phương pháp khoa học, TS Vũ Văn Bằng đã xác định được chính xác vị trí chôn tập thể 173 chiến sĩ và bước đầu đã tìm được 4 hài cốt không nguyên vẹn. Ngày 9/ 9/ 2007, Ban chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị, huyện Đội và nhân dân huyện Gio Linh đã tổ chức lễ ra quân cất bốc và quy tập hài cốt liệt sĩ rất trọng thể. Vậy “cơ chế” nào giúp phát hiện được hài cốt? Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của TS Vũ Văn Bằng xung quanh chủ đề “Những giả thuyết mới về bản chất của linh hồn-vong”. Những giả thuyết cơ bản (tóm tắt) đó là: Giả thuyết thứ nhất Cơ chế hình thành cái gọi là “linh hồn”- trường vong của con người sau khi chết. Cái chết của con người tựa cái chết của những siêu sao hình thành lỗ đen - tuân theo luật “Thiên nhân tương ứng” và hình thành trường lực hấp dẫn mạnh từ hiện tượng đối áp xuất khiến cho cấu trúc vật chất của nó (siêu sao- thi hài và linh hồn người chết) đổ sụp vào trong biến thành khoảng hư vô trống rỗng (Einstein đã hình dung ra hiện tượng suy sụp hấp dẫn này). Dấu vết còn lại chỉ toàn là “lực vô hình”, thực chất đó chính là “trường lực hấp dẫn mạnh” (sẽ chứng minh ở phần dưới). Giả thuyết thứ hai TS. Vũ Văn Bằng tìm các tia bức xạ trên vùng đất thổ cư và kiểm tra hài cốt dưới nền nhà Bản chất linh hồn – vong là một trường vật lý đa hệ, tương tự như các trường trong vật lý vũ trụ. Bao gồm: trường hấp dẫn, trường điện từ, trường tương tác (sự phân rã các hạt cơ bản và nơtrion) và tương tác mạnh (các lực hạt nhân và cộng hưởng), tương ứng với nó là bốn dạng tương tác: hấp dẫn, điện tử, yếu và mạnh. Các nhà khoa học trong đó có Einstein đã cố gắng thống nhất chúng thành một trường duy nhất, thể hiện sự thống nhất của vũ trụ. Linh hồn- vong cũng là trường vật lý đa hệ như trên, là trường sinh học mang thông tin. Hài cốt tựa “một nam châm vĩnh cửu” và tồn tại trường điện từ yếu mang thông tin (khác với trường sinh học). Các trường này tương tác, ràng buộc lẫn nhau tạo nên trường thế - khung cốt của trường vong (hình dáng của chủ thể) mà không thể nhận biết bằng các giác quan thông thường. Giả thuyết thứ ba “Linh hồn – vong là trường điện từ chủ yếu chứa thông tin” – gồm phần lớn các trường vốn có của cơ thể sống lưu lại và chứa thông tin sau khi thể xác ngừng hoạt động. Trường này tồn tại được là nhờ có dao động điện từ của các nguyên tử của hài cốt và bức xạ ra môi trường xung quanh lan truyền với tốc độ ánh sáng. Nhà vật lý học người Ba lan, Slawinski phát hiện ra khả năng bức xạ photon của cơ thể với cường độ cỡ 10-1000 photon/s/cm2. Khi chết bức xạ này tăng lên gấp hơn 1000 lần. Sự lóe sáng chính là để tăng năng lượng cho sự “suy sụp hấp dẫn” nói trên, tăng cường độ cho trường tổng của cơ thể con người khi chết. Đó là trường điện từ dạng lưới mang hình dáng của chủ thể. Các trường điện từ riêng rẽ sản sinh ra từng tế bào, mô, màng, gân cơ, lục phủ ngũ tạng…, đặc biệt trường điện từ của hệ thần kinh và bộ não. Tất cả những trường này khi con người còn sống đã là hệ dao động điện trong hệ thống nhất của trường khung. Khi chết, chúng không mất đi mà tạo thành những nút của trường tổng (khung) dưới dạng các “hộp đen” lưu lại cho hài cốt. Trong đó, đáng chú ý là hộp đen của trường điện từ hệ thần kinh não bộ kịp niêm giữ thông tin của chủ thể qua bộ nhớ của ý thức và tiềm thức trước lúc chết. Đó chính là hình ảnh cấu trúc của “linh hồn”. Vậy linh hồn - vong là một trường vật chất cấu trúc gồm hai phần cơ bản: “phần xác” – phần cứng, chính là lỗ đen với lực hấp dẫn cực lớn và từ trường mạnh, “phần hồn” – phần mềm, chính là trường điện từ yếu mang thông tin. Gộp lại đó là “trường vật lý đa hệ chứa thông tin”. Từ đây gọi tắt là trường vong, tuyệt nhiên không có ý thức như người sống. Hiểu như vậy là hoàn toàn mê tín. Vậy tính chất của trường vong là gì? Trường vong tuy vô hình với người sống, nhưng bản chất là trường vật chất, nên cũng mang tính chất của vật chất. Tính bức xạ điện từ yếu mang thông tin của chủ thể (lan truyền với tốc độ ánh sáng), đây chính là phần hồn của hài cốt tồn tại sau khi chết. Nhờ tính chất này mà các nhà ngoại cảm có thể nhận biết và giải mã gián tiếp được một số thông tin của trường vong (chỉ có được khi cộng hưởng, không phải là tất cả) nhờ đọc được thông tin qua người thân của vong và trường vong trao đổi thông tin giới hạn với nhau qua huyết thống). Tính hấp dẫn cực mạnh, không phụ thuộc vào không gian, thời gian và một số quy luật vật lý khác như tiêu hao, dẫn truyền… Đây là tính chất tiêu cực, có hai ảnh hưởng tới sức khỏe của người sống khi tiếp cận mồ mả hài cốt. Tính chất từ, như giả thuyết, trường vong còn là một nam châm vĩnh cửu. Nhờ bản chất này mà có thể nhận biết vị trí mồ mả, hài cốt, vong bằng thiết bị cảm ứng mà tác giả thường dùng. Với thiết bị đó, từ cự li xa 200m hoặc lớn hơn có thể nhận biết được vị trí nghĩa địa. Với cự ly 30-50m có thể nhận biết được vị trí mồ mả, hài cốt, vong. Nên mấy năm qua, tác giả bài viết này đã định được nhiều mồ mả hài cốt giúp di dời, phục vụ xây dựng nhà ở, công trường, xí nghiệp, tìm hài cốt liệt sĩ… Hài cốt là “một nam châm vĩnh cửu” như đã biết, một cục nam châm khi đập nhỏ ra, những mảnh nhỏ vẫn là nam châm và chỉ có nam châm mới có tính chất này. Hài cốt cũng vậy. Nếu một bộ phận nào đó của hài cốt bị thất lạc như đốt ngón tay, ngón chân, mảnh xương sườn… thì nó vẫn có thể hiện tính chất từ của hài cốt mà thiết bị cảm ứng có thể nhận biết. Nhờ tính chất này tác giả cũng đã tìm cho nhiều gia đình những mẩu xương còn sót lại khi cải táng hoặc cả khi hài cốt đã phân hủy thành đất. Một tính chất đặc biệt khác của trường vong là tính “nhiễm từ” ra môi trường xung quanh. Thiết bị cảm ứng có thể nhận biết trường vong của người chết tại vị trí đã xảy ra sự cố như bị tai nạn giao thông, chết đuối, treo cổ… sau nhiều năm đã trôi qua, kể cả tiểu sành, ván thôi sau khi cải táng vẫn lưu giữ một phần trường vong. Ông Vũ Văn Bằng đang hướng dẫn nhà báo Tạ Bích Loan sử dụng máy đo tia đất Trường vong còn có tính tiêu cực - có hại đối với người sống. Tức là có hại cho sức khỏe con người. Lực hấp dẫn, từ trường xoay với từ trường lực đủ lớn bức xạ lên mặt đất với phạm vi rộng. Đây được coi là trường dị trường cũng tương tự như bão từ tác động có hại nhiều tới hệ thần kinh và hệ tim mạch của con người. Những hiện tượng đã gặp ở nơi có hài cốt Trong chuyến đi tìm mộ liệt sĩ tập thể 173 quân giải phóng hy sinh khi tiến đánh cứ điểm Cồn Tiên 1967 (theo thông báo của Hội Cựu chiến binh Mỹ), khi xác định vị trí khu mộ, đồng chí Trần Lương Thanh huyện đội trưởng huyện đội Gio Linh thắp hương xong thì xúc động đã nằm ôm chặt mặt đất – nơi phía dưới có thi hài các chiến sỹ. Hồi lâu, không thấy chiến sĩ Thanh dậy, đồng đội đến vực lên thấy người cứng đơ lạnh toát. Từ đấy về ốm mất nửa tháng. Khi tiến hành đào kiểm tra đợt 1 đã gặp 4 hài cốt liệt sĩ nằm cách đất từ 0,8 – 1,2m. Xương màu trắng ẩm mục hiện dần lên trong nền đất màu nâu sẫm. Từ những tấm ảnh chụp có thể nhận thấy sự tương tác giữa cơ thể sống và hài cốt trong không gian hẹp – môi trường chứa hài cốt. Hiện tượng con người tiếp cận – nằm trên hài cốt (trường hợp đồng chí nói trên) đã bị lực hấp dẫn của hài cốt hút làm suy giảm sinh khí, sinh ra cảm lạnh. Mặt khác, khi nhìn vào đôi tay và bàn chân trong tấm ảnh chụp hài cốt thấy rất rõ có “luồng sáng” nối giữa phần cơ thể sống (dương) với hài cốt dưới mặt đất (âm) – hiện tượng phóng điện trong không gian. Đó chính là sự tương tác giữa một bên là hài cốt – linh hồn (trường hấp dẫn), một bên là lượng tử - số photon (ánh sáng- sóng và hạt của trường điện từ sinh học bức xạ hồng ngoại) của cơ thể người sống bức xạ ra. Khi tiếp cận với hài cốt, các trường này đã bị lực hấp dẫn của hài cốt hút theo kéo dài ra thành “Luồng sáng”… Trên đây là những hiện tượng mà tác giả đã đo đạc, kiểm chứng trong thực tế, hoàn toàn phù hợp với các giả thuyết mới về bản chất của trường vong – linh hồn do chính tác giả nghiên cứu, nhìn nhận dưới góc độ khoa học, xin được cung cấp để bạn đọc cùng tham khảo và suy ngẫm.