hoangnt
Hội viên-
Số nội dung
1909 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
6
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by hoangnt
-
@ Bác hoangnt! Theo TG hiểu thì các trường phái Đạo (đường) thì đều có một mục đích chung mà bên nào cũng muốn hướng đến đó là đi tìm chân lý. Do chúng ta tiếp cận với các trường phải khác nhau, dùng các từ ngữ khác nhau nên có sự chưa tương đồng về cách hiểu mà thôi. Đạo phật dạy cho chúng sinh đi tìm cái tuyệt đối, Đạo phật chi cho chúng ta con đường ngắn nhất để đến được đó, theo kinh sách của đạo phật thì những lời minh giảng của Đức thích ca thì ngài đã thấy được điều đó. Phải xem lại lịch sử, giáo lý và mục tiêu qua tôn giáo đối chiếu dựa trên nền tảng nào mới nói rõ được, không thể chứng minh cùng chung tìm chân lý. Ví dụ, các quy định luân lý không chỉ có tôn giáo, mà cuộc sống giáo dục thường nhật cũng đã có, thậm chí nhiều là đằng khác. Đạo Phật dạy chúng sinh tìm cái tuyệt đối, tuy nhiên phải xác định cái tuyệt đối vì nó hình như dành cho Thượng Đế thì phải. Vị này có lẽ đứng cao hơn tất cả các tôn giáo? Như ta biết, sức mạnh vĩ đại của Hậu Thiên áp đặt cho con người, xã hội, thiên nhiên do vậy mặc dù nội dung giáo lý - mục tiêu của tôn giáo giả sử là OK nhưng vì sự tiếp nối phụ thuộc vào nhóm con người tổ chức nó, nếu không kiểm soát được thì thực chất chỉ là một vở kịch của người đời mà thôi. Khi biết được cái tuyệt đối rồi thì những cái khác là vô nghĩa (đều giả tạm), Theo TG biết thì hầu hêt các bậc thiên tài trên thế giới này khi đạt đến một nhận thức cao thì đều thấy phật giáo và khoa học có sự tương đồng (có bài báo nào mới đây có nói đến CEO Steve Jobs một người kinh doanh mà vẫn theo đạo phật thường xuyên ăn chay niệm phật). Tất cả là thật, vì Ta là chân lý. Đúng, Phật giáo và khoa học có tương đồng, theo cá nhân đó là phương pháp luận về vũ trụ và con người, tuy nhiên khoa học giúp điều kiện sống cho con người tốt hơn, nhưng không cân bằng tâm lý và đạo đức bằng tôn giáo. Theo TG hiểu chỉ có Lý học Đông phương mới giải thích được rõ nhất về tính qui luật vận động của vũ trụ, liên quan đến con người trên địa cầu này một cách hợp lý nhất. OK. Đạo phật (đạo của giác ngộ - dùng trí tuệ để giác ngộ) - Lý học (dùng trí tuệ để hiểu qui luật, tương tác) - Khoa học hiện đại (cũng dùng trí tuệ để khám phá tìm tòi), trái lại đạo thiên chúa (vì tôi cũng có nhiều người bạn theo đạo thiên chúa - họ tin vào chúa - làm gì sai trái về xưng tội - ngày mai sai lại xưng tội - xưng tội qua cha đạo - để ngài bỏ qua - họ quan niệm rằng thế giới này do chúa sinh ra và mọi sự vận động này đều do ngài sắp xếp). Do đó TG thấy Đạo phật - Lý học - Khoa học hiện đại có điểm chung là dùng TRÍ TUỆ - khác với các đạo khác dùng đức tin - ỷ lại cho các ngài. OK, đức tin là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Theo bác hoangnt thì Tiên thiên ở đây nên hiểu thế nào ạ? Đã định nghĩa vô số nhưng hình như chưa rõ lắm. Tiên Thiên là trạng thái ban đầu của vũ trụ, như đã phân tích ở trên, là một trạng thái bản thể với những thuộc tính cơ bản của nó ở trạng thái tiềm năng, hay hiểu là chúng đồng chất là đẳng hướng (KHÍ) trong toàn bộ vũ trụ vô cùng. Trong một điều kiện nào đó, một tương tác cục bộ và gây ra trạng thái dây chuyền, khi đạt đến đủ điều kiện tương tác cực đại gây ra sự va chạm trong toàn bộ vũ trụ với một tiếng nổ lớn không thể tưởng tượng, thế là vũ trụ sắp xếp và vận động theo Hậu Thiên. Không phải BigBang, mà vụ nổ này diễn ra khắp vũ trụ. Trạng thái ban đầu này gọi là Thái cực. Không biết bác hoangnt đi theo trường phái nào? vì TG đọc bài của bác hoangnt chưa hình dung được bác đi theo con đường nào cả. Bác thông cảm cho TG vì TG đọc ít sách có thể biết chưa nhiều! Lý học. Thực tế. Khoa học. Tôn giáo. Tổng hợp lại thì thành món bảo bối: Thư Hùng Kiếm.
-
-
Giải thích về cái thiện - ác: Do sự vận động của Hậu thiên, nên mặc dù trong ta có tính Phật nhưng vì giới hạn nên ngoại cảnh ảnh hưởng là then chốt, và hệ quả là cái ác luôn áp đảo cái thiện là bắt buộc. Do vậy, để xử lý nó triệt để phải xây dựng một học thuyết thống nhất và phương pháp phổ biến cho nhân loại áp dụng để trở về bản ngã. Đặc biệt những người nắm vận mệnh số đông phải có hiểu biết này nếu không sẽ khó tìm thấy lối ra. "Con vua lại làm vua" sẽ phải thay đổi triệt để thì mới khá được ,chẳng nhẽ lại phụ thuộc tiếp tục những cái tư duy và mong cầu cũ rích sao?. Phải đưa mỗi cá nhân nhận thức được sứ mệnh của chính mình.
-
Nói rằng có linh hồn thì linh hồn được tạo nên bởi dạng vật chất gì? Hay thể gì? Thiên Đồng Đây là câu hỏi khó nhất thế giới và khó nhất cho các tôn giáo. Nói chung trước tiên phải chứng minh một cách khoa học theo định nghĩa:... và có tính tiên tri. Dựa trên một học thuyết nào đó và phải chứng thực một cách quan. Nếu có những vấn đề không thể chứng thực thì phải có giải thích hợp lý như định nghĩa trên. Vật chất của Linh hồn Chúng ta đã từng phân tích và nhận định: Không có cái gọi là Vô mà chỉ có cái gọi là Có, do bởi chúng ta xây dựng các quy ước chuyển hóa nên sinh ra cái gọi là Vô. Ví dụ, khi chết khi cơ thể bị hủy hoại gọi là Vô, không còn ăn chơi nữa. Cũng thấy rằng: do cái Có và nó vận động theo quy luật tự nhiên, khách quan nên nhận thấy phải có những động lực đứng sau cái Có hay trong bản thân Vũ trụ có "nguồn lực" tạo mọi liên với vạn vật với nhau và thúc đẩy vận động. Một cái giống của Con người và Vũ trụ là tính sáng tạo, nếu cô lập thì Con người có thể sáng tạo những cái khác với Vũ trụ. trong khi đó những sinh vật cấp thấp hơn thì không thể. Tư duy con người là một trạng thái đặc biệt mà họ có thể điểu chỉnh cơ thể, thay đổi quy luật tự nhiên ỡ một mức độ nhất định qua sự sáng tạo của mình. Tổng hợp nhận định rằng: Trong toàn vạn vật vũ trụ có "cái chung" và "động lực" liên kết tạo sự vận động. Tạm gọi thông thường là Bản thể và Bản thể chứa "lực tự nhận biết nhau" để tạo ra dây chuyền vận động của sự vật, hiện tưỡng trong vũ trụ. Mặt khác bởi tính Có và hiển lộ của vạn vật nên Bản thể không tách rời với Sự vật, hiện tượng trong không thời gian. Điều này tương ứng luôn tồn tại một sự vật, hiện tượng ở mọi trạng thái biểu hiện của nó có thể ngoài khả năng hiện nay của khoa học. Như vậy, Bản thể là cốt tủy của vạn vật và có thể không nhận thấy được nó mà chỉ hiểu như vậy nhưng nhận biết được quy luật vận động của vạn vật thông qua thuộc tính hiển lộ của từng sự vật, hiện tượng nói chung. Một câu hỏi đặt ra: làm sao ta nhận thức được ta và vũ trụ? kết hợp nhận định trên, thì Tư duy phải có thuộc tính hiển lộ và theo quy luật khách quan (chủ quan xét sau). Phản biện qua lại, thì thuộc tính cơ bản của Tư duy hiển lộ là sự sáng tạo và nhận thức cao nhất là nhận biết được quy luật tự nhiên khách quan. Sự sáng tạo của con người có khả năng thay đổi được quy luật tự nhiên dù là nhỏ nhoi so với vũ trụ vô cùng - đây chính là vấn đề hết sức đặc biệt, ví dụ làm thay đổi quy luật vận động của Hệ mặt trời qua một tác nhân của mình tới Trái đất. Sự sinh sản của con người, động vật giống như một sự sáng tạo ra Thái cực mới. Vậy thì cái Tư duy của con người phải là thuộc tính của Bản thể nhưng là cơ bản nhất tức giống như thuộc thời khởi nguyên vũ trụ. Dễ hiểu, ví dụ thuộc tính cơ bản con người là thương yêu như khi còn là một đứa trẻ. Nguồn lực vận động vũ trụ người xưa tìm ra được đó chính là Khí. Khí gồm có âm và dương. Âm dương là biểu hiện của Khí trong quá trình chuyển hóa nhưng thuộc tính chỉ là duy nhất. Như vậy nếu tại một không thời gian Khí "dừng" thì nó là nguyên thủy hay âm dương cân bằng tức Thái cực. Tư duy như nhận định trên thì nó phải có khả năng điều chỉnh được Khí thì nó mới bổ sung thêm ý nghĩa thuộc tính cơ bản. OK, người xưa đã làm dừng Khí qua thiền định (dĩ nhiên còn kết hợp bổ sung). Mặt khác, Khí của con người phải liên thông khí với toàn bộ Vũ trụ để tạo thành sự vận động thống nhất, hay người xưa gọi Vũ trụ là cái Một. Quy luật tự nhiên chính là sự vận động theo Hậu Thiên - làm dừng quy luật này đối với con người là trở về thuộc tính cơ bản hay Chân Như, không hàm nghĩa Vô bởi Vô không tồn tại. Nếu Tư duy vĩnh cửu cùng với thuộc tính thì nó cũng phải nằm trong quy luật vũ trụ - đây chính là luân hồi tuy nhiên thiên đường hay địa ngục là do thuộc tính Hậu thiên của tư duy tích lũy chúng ta. Chứng thực: thực tế vô số, nói chuyện với Linh hồn (người mất). Tác động: họ tác động tới ta nhưng khó nhận biết. Do Tư duy chúng ta lệ thuộc vào cơ thể và ngoại cảnh cho nên mất đi thuộc tính nguyên thủy hay là giác quan nguyên thủy. Bằng việc thiền định và chỉnh Khí ta có thể trở về trạng thái này, rõ ràng phải có khả năng nói chuyện lới Linh hồn người khác bình thường, hay chính là ta nhận thức suy nghĩ của chính ta được vậy. Cho nên, một khả năng của con người là nói chuyện qua suy nghĩ mà không cần lời.
-
TG xin phép sẽ tạm dừng cuộc trao đổi cùng bác trong thời gian này để TG học hỏi thêm kiến thức để trao đổi cùng bác sau Kính bác. Cùng nghiên cứu và đi tới. Vũ trụ (Trời và Đất) là các Đấng sáng tạo ra Con người và điều khiển nó vận động theo quy luật. Nếu cô lập Con người - thì Con người cũng là 1 Đấng sáng tạo, ví dụ cái tàu vũ trụ chẳng hạn mà chúng ta không thể tìm thấy trong không gian Vũ trụ, như vậy Con người có cùng bản chất sáng tạo giống Vũ trụ. Nếu Vũ trụ có Bản thể bất biến của nó thì rõ ràng trong Con người cũng có Bản thể này. Tính sáng tạo xuất phát từ tư duy Con người - cũng có thể xem nó là thuộc tính của Bản thể. Tư duy còn tồn tại mãi mãi hay bất biến chính là Linh hồn vĩnh cửu. Lúc này, cơ thể là một dạng vật chất chỉ cảm nhận lờ mờ qua giác quan. Chúng ta thấy sóng điện, tia cực tím... không thể thấy rõ bằng giác quan. Nếu phát triển tri giác bằng cách đưa nó về trạng thái nguyên thủy thì sẽ tiếp cận được - qua phương pháp thiền định. Chúng ta thấy, về kinh sách: - Khác với Phật giáo, cho linh hồn không tòn tại bởi nguyên lý sinh diệt. - Kito giáo: Vĩnh cửu, cho rằng sau khi chết lên thiên đường hoặc xuống địa ngục. - Bà La Môn: về nước trời Phạm Thiên - vĩnh cửu. - Đạo giáo: tu tiên mới vĩnh cửu hay hòa nhập Đạo. - Nho giáo: không thấy sự vĩnh cửu. - Ấn Độ giáo: có vĩnh cửu. - Khoa học: không có. Thực tế khách quan làm thay đổi nhận định: - Vô số hiện tượng không giải thích được về khả năng con người. - Linh hồn tồn tại - nói chuyện thoải mái. - Chụp ảnh được Linh hồn. Nói chung các tôn giáo và 2khoa học đang bị "kẹt" về ý nghĩa của Bản thể và các thuộc tính bất biến của nó và vì vậy sẽ phải mâu thuẫn lẫn nhau trong việc xác định con người là vĩnh cửu hay hữu hạn. Điều này phải tìm căn cứ xác định một cách khoa học.
-
Ngày ‘Tam Trùng’ Với Lịch Cổ Của Người Maya
hoangnt replied to Thiên Sứ's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
gian chính xác của ngày Đông chí năm 2012 là 11h11 trùng với giờ quốc tế là vào ngày 21/12/2012. Các nhà khoa học cho biết trùng hợp thời gian chỉ là hiện tượng đồng đại (Ảnh: Livescience) “Thực tế người Maya đã theo dõi các chu kỳ lớn của thời gian, và có một chu kỳ lớn thời gian bắt đầu từ năm 3013 trước Công nguyên trên lịch của chúng tôi, và có lý do để nghĩ rằng chu kỳ thời gian lớn có thể diễn ra vào ngày 21 , năm 2012”, Hoopes nói. Tổng cộng = 5030 năm khoảng gần bằng 1/2 Hội = 5400 năm. Từ thời gian trên nếu giỏi Thái Ất thì có thể ??? -
Cửu chân và bộ 15. Văn Nhân Sau khi đánh bại vua Hùng thứ 18 của Văn Lang, Thục Phán thủ lãnh Âu Việt sát nhập lãnh thổ của Văn Lang và lãnh thổ của bộ tộc mình (Âu Việt) hình thành nhà nước mới là : Âu Lạc (kết hợp giữa người Âu Việt và người Lạc Việt) . Căn cứ vào truyền thuyết 9 chúa tranh vua của người Tày giới sử học Việt nam cho là Lãnh thổ Âu Lạc gồm lãnh địa cũ của bộ tộc Âu Việt ở phía bắc (nay) , là một phần phía nam tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) và lãnh thổ của Văn Lang ở miền bắc và bắc trung Việt như thế nước Âu Lạc có ranh giới phía bắc là miền Tả Giang (Quảng Tây) đến phía nam là dãy Hoành Sơn ở Hà Tĩnh hiện nay. Âu Việt là một nước gồm các bộ tộc miền núi sinh sống ở tỉnh Cao Bằng - Việt Nam và Quảng Tây ngày nay. Theo nhiều tư liệu thì Âu Việt là con cháu của người Bách Việt , Họ có tục để tóc ngắn, xăm hình, nhuộm răng đen , ăn trầu và được xem là tổ tiên của người Tày, người Nùng ở Việt nam và người dân tộc Choang Quảng Tây Trung quốc ngày nay . Truyền thuyết 9 chúa tranh vua cung cấp nhiều thông tin quan trọng ...xưa đất nước của họ gọi là BỘ Nam cương gồm 9 xứ mỗi xứ có 1 chúa cai quản , nhiều xứ họp thành bộ , bộ có vua đứng đầu ...xem ra thế thì từ ‘Bộ’ là từ Việt cổ đồng nghĩa nước hay quốc gia , Chuyện viết vua bộ Nam cương tên là Thục Chế con là Thục Phán ; thực sự thì Thục Chế không phải là tên vua mà là danh hiệu của chúa nước hay đất Thục , Chế↔ chúa↔chiếu↔triệu↔chủ cũng là chậu trong tiếng Thái –Lào , như vậy là đã giải toả được nghi vấn đặt ra từ thời sử gia Trần trọng Kim viết Việt nam sử lược ...nhà Thục của sử Trung quốc mãi tận Tứ xuyên làm sao Thục Phán tức Thục vương tử lại có thể vượt mấy ngàn km đến đánh nước Văn lang được ? đất Thục của Thục Chế bộ Nam cương là đất Quảng Tây ngày nay không phải Thục Tứ Xuyên trong sử Trung quốc ...thế nhưng cũng trong giai đoạn lịch sử này vẫn còn 1 điều nữa chưa có câu trả lời ...là việc giặc Ân sang đánh nước ta chép trong chuyện thánh Gióng ....?. Câu trả lời không khó chỉ tại người ta cố ý phớt lờ lời tiền nhân nhắn gửi : Nước Văn lang bắc giáp Động đình hồ (Hồnam) , nam giáp nước Hồ tôn (Chiêm thành) , tây giáp nước thục (Tứ Xuyên) và đông giáp Nam hải (Quảng đông) Trung hoa . Nếu cương giới Văn lang như thế thì đâu có xa đất nhà Ân đến nỗi mà quân của họ không thể đến đánh ?. Nhưng qua được cửa ải này lại sinh ra cửa ải khác ...nếu lãnh thổ Văn lang gồm Qúy châu Quảng Tây Việt nam thì Bộ Nam cương làm gì có đất đứng chân ???, Lời giải đã có trong sử thuyết Hùng Việt : Văn lang và Âu Lạc chỉ là 2 tên gọi của 1 nước , gọi Văn lang là nói đấy là nước của vua Văn hay Văn vương (lang = vương) còn Âu –Lạc là ghép tên 2 tộc người đã tạo thành quốc gia đó . Về tộc Lạc Việt thì hầu như mọi người đã đồng thuận là tộc người sống trên đất Giao chỉ nhưng Âu Việt thì địa bàn vẫn còn tranh cãi , mãi cho tới gần đây giới sử học Việt nam mới nghiêng hẳn về sự chỉ định là Quảng tây Trung quốc . Âu chỉ là biến âm của từ ‘Ô’ tiếng Việt nghĩa là màu đen , đen là sắc của phương Nam theo dịch học nay lộn ngược gọi là phương bắc , từ Âu trong cổ sử là từ chỉ tộc người sống ở phía nam (xưa) Giao chỉ , như vậy là có sự nhất quán giữa đất Nam Giao (chỉ) trong kinh thư , địa bàn của tộc Âu Việt , bộ Nam cương và lãnh thổ nước Lâm ấp , Lâm cũng là tên xưa của Quảng đông (nam↔lam↔Lâm) mà nhiều người lầm gọi là Quế , chính xác thì Quế là biến âm của Qúy chỉ Qúy châu điều này cũng hoàn toàn trùng khớp với danh hiệu Âu cơ nghĩa là chúa đất phương nam trong truyền thuyết lịch sử Việt nam ,bà Âu cơ là người đã ‘kết duyên’ cùng Sùng Lãm chúa đất Sùng tức Cao sinh ra trăm trứng , trăm trứng ấy đã nở ra Bách Việt . Lãnh thổ Âu –Lạc là đất Giao chỉ cộng với đất ở phía nam Giao chỉ gọi tắt là Nam Giao cũng gọi là Lĩnh Nam được chỉ định rõ ràng hơn trong 2 quyển sách Nguyên hoà quận chí và Thông điển : “Qúy châu cổ Tây âu Lạc việt chi địa” hay “Qúy châu bản Tây âu Lạc Việt chi địa” nghĩa là Qúy châu khi xưa là đất của Tây Âu – Lạc Việt , xét ra nếu đất Giao chỉ và vùng đất nay là Qúy châu nằm trong lãnh thổ Âu Lạc thì Quảng Tây cũng phải nằm trong lãnh thổ Âu –Lạc không thể khác được , cả 3 địa danh đều nằm gọn trong cái khung Văn lang đã chép trong sử cũ nhưng thực lạ lùng ... khi Triệu Đà chiếm Âu lạc của An dương vương chia Âu –Lạc thành Giao chỉ và Cửu chân , sử Việt lại cho : Giao chỉ là vùng lưu vực sông Hồng còn Cửu chân là vùng Thanh nghệ tĩnh và thêm Nhật nam là vùng Bình trị thiên đổ vào nam (nay) … như vậy đất của tộc Âu cả 1 vùng phía nam ( xưa) Giao chỉ biến đâu ?, thông thường khi viết Triệu Đà Chia đất Âu –Lạc thành Giao chỉ và Cửu chân nếu Giao chỉ là đất tộc Lạc thì Cửu chân là đất của tộc Âu mới đúng phép . Xét tới đây xem ra Sử thuyết Hùng Việt đã đủ chứng lý để ấn định :Giao chỉ là tên gọi xưa của đất bắc và Bắc trung Việt ngày nay , Nhất nam nghĩa là chính nam không phải Nhật nam là đất Quảng Tây và tên gọi Cửu chân chỉ là biến âm của Qúy châu ngày nay. So chiếu bản đồ trên thấy có sự trùng khớp hoàn toàn với những thông tin trong Sách Thái bình hoàn vũ ký : Cửu chân phía nam giáp Nhật nam , tây giáp quận Tường kha (Tượng quận trước ?) , phía bắc giáp Ba Thục (Tứ xuyên) và đông giáp Uất lâm . Nếu căn cứ trên sử Việt cũ thì đất Cửu chân chép trong ‘Thái bình hoàn vũ ký’ mêng mông kéo từ Tứ Xuyên cho tới tận Quảng bình ngày nay vậy Giao chỉ biến đi đâu ?, theo sách Tàu xưa thì 3 hồi Giao chỉ nằm trong Cửu chân ...4 hồi bị Tượng quận nuốt mất ...thực rối như mớ bòng bong người đọc không còn biết đâu mà lần ... như thế vẫn chưa đến mức , còn rối hơn nữa cơ ....Giao chỉ Cửu chân Nhật nam là tên 3 Bộ (có người thêm chữ lạc vào cho đủ độ hoang dã ???) mãi tận từ thời vua Hùng dựng và chia nước Văn lang thành 15 Bộ ... chiếu theo thông tin trong truyền thuyết của người Tày dẫn trên thì nước Văn lang ta có tới 15 vua ??? ( mỗi Xứ có chuá cai quản , các xứ họp thành Bộ do vua thống quản…) . Truyền thuyết chép BỘ Nam cương cũng là nước Nam cương , trong lịch sử sách Tàu viết Giao chỉ bộ người Việt hiểu là Bộ Giao chỉ , thông tin 15 bộ phải hiểu là BỘ 15 mới chính xác , vậy nghĩa của ‘bộ 15 là gì ? tới đây phải viện tới đồ hình Hà thư (đồ) thì mới thông được . 15 là trung tâm của Hà thư , Bộ 15 chính là bộ hay nước trung tâm của thiên hạ . - Đất ở Ngũ lĩnh số 5 tâm của Lạc đồ (thư) tức địa đồ là Trung tâm thiên hạ nên gọi là Giao chỉ nôm na là chỗ giữa chốn giữa . - Nước là bộ 15 tâm của Hà thư chính là Trung quốc . - Vua là Hoàng đế hay đế Hoàng , hoàng là màu vàng sắc trung tâm của ngũ sắc , đế Hoàng là đế của nước chính giữa muôn nước . - Vua cũng là đế Minh , chữ Minh gồm chữ Nhật là mặt trời ghép với chữ nguyệt là mặt trăng mà thành , từ Minh ở đây chỉ sự soi sáng chỉ đường dẫn lối cho cả loài người đi từ hoang dã tới bến bờ văn minh , Minh đồng nghĩa với ‘lửa’ trong Dịch học tạo thành yếu tố ‘Hoả’ trong từ ghép ‘Trung – Hoả’. Những thông tin về tổ quốc của người Việt cổ xét dưới ánh sáng Dịch học có sự nhất quán xuyên suốt và toàn diện ; tất cả toát ra từ 2 chữ “Trung - Hoả” (Trung – Hoả không phải Trung – hoa của người Hán – Tàu) :Tổ quốc họ Hùng là Trung tâm thiên hạ và văn minh họ Hùng là ánh đuốc soi đường chỉ lối cho cả loài người . Thực não lòng ...con cháu dòng Hùng ngày nay ăn ở , nghĩ và làm có xứng với công đức tiền nhân hay không mà ...nước non thế này ??? ./.
-
Từ dữ liệu nghiên cứu cẩn thận của Bác Minh Xuân, ta nhận định: - Đền Thượng - Trung - Hạ trên núi Ba Vì thờ Sơn Tinh - Vua Hùng thứ? vì duy trì dòng họ Hùng mặc dù là con rể (vì là vua Hùng nên không thể niên hiệu Hộ quốc đại vương). "Đế xuất hồ Chấn" là dùng cho Ngài. - Đền Và thờ Tản Viên Sơn Thánh Nguyễn Tuấn (Hộ quốc đại vương) - Khổng Thánh Tiên Sư san định Kinh Thư cho nên Ngài không thể thêm câu "Việt Nhược kê cổ hay Người Việt kể lại tích xưa" vào, cũng thấy Ngài là người nước Lỗ thời Chiến Quốc. Vậy câu này có trong sách gốc. Nếu người viết cuốn sách gốc là người Chu, Thương, Hạ thì họ phải lấy niên hiệu thời kỳ này, tuy nhiên lại không làm. Nếu nhận định là người Việt thuộc Hoa Nam thì tại sao lại viết vậy khi mà ta đang giao hảo bằng quy lịch, chim trĩ trắng?. Như vậy khả năng tác giả là người thuộc Hoa Bắc nhưng biết sử cổ của Hoa Bắc là cùng tộc Việt?. Vậy sử thời kỳ này phải chung cho Hoa Bắc và Hoa Nam? chỉ có thời Đế Minh mới như vậy. Cho nên, ta nhận định rằng Kinh Thư là do người Việt của Hoa Nam viết do biết sử chung thời thượng cổ từ Đế Minh trở về trước. Lúc này, Ngài Khổng Tử san định cũng không nhất thiết chỉnh sửa câu này. - Sơn Tinh - trấn Tây; Thấn Long Đỗ - trấn Đông; Thánh Gióng - trấn Bắc và Tản Viên Sơn Thánh - trấn Nam. Vấn đề này là hoàn toàn phù hợp nếu cân nhắc tới các thần tích Thăng Long Tứ Trấn không rõ ràng và có nhiều dị bản khác nhau. Như chủ đề về Long Thành có từ thời Hùng Vương cho nên Tứ Trấn trên mới hợp lý. Ví dụ, theo thần tích thì một người con vua Lý là một trong Thăng Long Tứ Trấn - thật là dễ dàng thấy không thể hợp lý. Dựa trên câu chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh; Hạ Vũ trị thủy và dòng chảy truyện cổ Việt Nam và lịch sử ta sẽ phân tích Sơn Tinh ai?
-
TG hiểu: Linh hồn là từ dùng để chỉ một thực tại khách quan đang hiện hữu trong cuộc sống chúng ta khi người chết đi mà vẫn có sự liên hệ với người đang sống. Linh hồn không có hình hài như người bình thường (mặc dù các nhà ngoại cảm bảo rằng người nhà của anh đang đứng gần anh) mà chỉ ở một dạng khác của vật chất có sự truyền tin qua một cơ chế nào đó trong bộ não con người. OK và "tin" nằm "trong" toàn bộ vũ trụ. Thứ hai: Theo cách hiểu của TG từ Vĩnh cửu ở đây là không có biến đổi. Nếu mà không biến đổi thì linh hồn là Chân Tâm - điều này lại trái với những gì ngài Thích ca Mâu ni đã minh giảng trong tác phẩm của SP Thiên sứ - Định mệnh có thật hay không, Đức phật khai ngộ về tính thấy. Ngược lại nếu biến đổi thì là không là Vĩnh cửu. Vĩnh cửu hàm nghĩa không biến đổi chỉ áp dụng cho "Bản thể" nhưng vì Bản thể có "thuộc tính cơ bản" không tách rời nên biến đổi. Nếu giả sử Linh hồn tồn tại vĩnh cửu thì nó vẫn biến đổi "thuộc tính cơ bản" nhưng "nó vẫn là nó" do có Bản thể nên gọi Linh hồn là vĩnh cửu. Cái thuộc "tính cơ bản" chính là biểu hiện của Tâm mà ta hay gọi là Tâm vậy. Ta hình dung Bản thể là Nhân và thuộc tính cơ bản là cái Vỏ bên ngoài, Nhân và Vỏ không tách rời, Vỏ có thể đổi màu... Ta hiểu tiếp Bản thể là "động năng" tạo ra quy luật Hậu Thiên, cái này Lão Tử xác định rất vô vi. Do đó trong đạo Phật dùng từ rất chuẩn xác để nói sự biến đổi hay không biển đổi của chúng sinh đó là Luân hồi và Giải thoát sinh tử (con người tồn tại là do tứ đại hòa hợp - Đất, Nước, Gió, Lửa, khi mất đi một trong những tứ đại này thì thân xác con người tan rã, còn lại cái mà người đời gọi là Linh hồn, khi con người giác ngộ được sẽ không còn gọi là linh hồn nữa mà gọi là Giác - Phật). Giác hay không vấn đề này chỉ kiếp làm người mới có thể làm được, vì sao? Vì chỉ có con người mới biết nhận thức - tư duy. Luân hồi là "thuộc tính cơ bản" được hình thành khi bạn đang sống và vẫn giữ nguyên do Linh hồn vĩnh cửu. Giải thoát là bạn hiểu điều này và an lạc trong khi bạn đang sống và sẽ vĩnh cửu. Do Linh hồn vĩnh cửu nên vẫn tương tác tới người sống và tạo nghiệp quả như thường nếu trong Luân hồi (cho bạn và cho cả người sống). Linh hồn vẫn tư duy như thường nhưng vì do Luân hồi "trì kéo - vẫn chấp" nên họ cũng phải cần thời gian rất lâu xa. Hiện tại chỉ có những nhà ngoại cảm và những vị pháp sư đã ngộ đạo mới có thể giao tiếp với những người đã chết, còn cơ chế thì theo TG hiểu thì chỉ là sự tương tác, liên hệ giữa ý thức và vật chất sau đó được bộ não giải mã ra và qua các giác của chúng ta để nhận biết. Đơn giản hiện tại chưa có một phương tiện nào chụp được ảnh linh hồn cả, khi chưa làm được điều này thì theo TG thì còn lâu mới tìm được hạt vật chất nhỏ nhất - hạt của chúa. Khi tìm được thì nó sẽ không còn. Có, đã chụp được. Nếu biết cơ chế thì Âm - Dương nói chuyện thoải mái, cho người thường. Theo TG thì các nhà khoa học nên tìm hiểu cơ chế của con người, chăm lo cho quả địa cầu này, sau đó mới tìm ra bên ngoài vũ trũ (Đức Phật chỉ ra rằng có nhiều hành tinh giống trái đất như là cát ở sông Hằng vậy - không nói đến các hành tinh này có sự sống hay không có sự sống), khi con người khai mở được con mắt thứ 3 trên trán thì cũng có thể nhìn thấu được mọi việc (nghe nói vậy) chẳng cần tốn nhiều tiền của mà lại không gây hại môi trường, chúng ta may mắn được kiếp làm người thì nên làm gì cho tốt đẹp trong khoảng thời gian ngăn ngủi này (100 năm cũng là ngắn), xin lỗi lấy ví dụ: Con người sống 100 năm so với con chó sống nhiều nhất cũng 20 năm, chó so với con lợn chỉ 5 năm, lợn so với gà, .... do vậy chúng ta nên soi lại mình, tìm hiểu tại mình trước khi tìm hiểu bên ngoài, khi biết mình, hiểu mình thì sẽ hiểu được ngoài (trong kinh nói vậy). Tìm hiểu bên ngoài rồi mới tới bên trong, đây là quy luật của Hậu Thiên. Mở con mắt thứ 3 mà không trải nghiệm thì tiến triển cũng chậm. Mở do thiền hoặc mở do ngoại lực. Ta hiểu mở con mắt thứ 3 là tiếp cận được với "tin" tổng thể của vũ trụ trong một chừng mực nhất định. Nên phải "thiền" để giảm quy luật của Hậu Thiên tối đa. Bác Vô Trước. Cái gì có sinh ắt có diệt. Linh hồn có sinh ra tất có diệt vong. Không chắc chắn, do vậy mới phân Thiên Can và Địa chi tạo ra các quy ước sinh - vượng - mộ. Mọi tương tác trong Vũ trụ đều là tương tác âm dương. Trường khí âm dương tồn tại khách quan, tuy nhiên chúng ta phải xác định tiếp là nó có từ đâu? và vĩnh cửu hay hữu hạn. SH. Thiên Đồng Vậy trong lúc người còn sống thì linh hồn là gì? Người chết rồi thì linh hồn là gì? Linh hồn là ta lúc còn sống và cũng là ta khi chết. Hoàn toàn vĩnh cửu nên làm gì có "Sướng" mãi được ngay cả khi là vua thế giới bởi vì các trạng thái khi sống là "cốt nền" cho sự vĩnh cửu. Kinh.
-
Bổ sung thêm: Từ phân tích trên, ta thấy lịch sử đã không ăn khớp tại 2 quốc gia là Tần (Tần Thủy Hoàng) và Văn Lang (Hùng Duệ Vương), do vậy Sơn Tinh không thể là Hạ Vũ được. Vậy Sơn Tinh là ai?
-
Thanks Trucgiac. Để chứng minh Linh hồn là vĩnh cửu ta phải chứng minh tư duy con người là thuộc tính thể hiện của Bản thể thực sự là khó khăn. - Ta thấy mỗi con người là một thế giới vĩ đại cho tới vi mô như khoa học đã chỉ ra qua các chuyên ngành. - Con người (động vật...) khác hoàn toàn với vũ trụ còn lại cho tới khả năng phát hiện của khoa học hiện nay. - Con người điều Khí âm dương và thay đổi sự sống của sinh vật như làm cây phát triển phi tự nhiên qua tuy duy được. - Sáng tạo ra các sản phẩm khác tự nhiên - họ vừa là kẻ sáng tạo vừa là kẻ hủy diệt. Mọi vật chất đang vận động theo quy luật vũ trụ nhưng con người đã có thể thay đổi một phần dù rất nhỏ, ví dụ núi Hymalaya không thể bay ra khỏi hệ mặt trời. Thực tại khách quan thể hiện ta vẫn nói chuyện với người mất bình thường. Thoát khỏi quy luật là chứng minh vĩnh cửu. Linh hồn là vĩnh cửu - vậy cơ chế nào cho phép giao tiếp thông thường với Linh hồn???
-
nghiên cứu Kinh Thư, Thượng Thư, Lịch sử Trung Quốc 5000 năm,... ta thấy rằng: - Thời thượng cổ là các triều đại nối tiếp nhau Hạ - Thương - Chu, vậy thì giả sử Sơn Tinh là Hạ Vũ thì dòng chảy lịch sử triều đại trên phải bao gồm luôn dòng chảy lịch sử của Văn Lang do bản đồ trích dẫn sau đây: Bản đồ trong bài viết của nhà nghiên cứu Minh Xuân ở dưới. Tuy nhiên, sự mâu thuẫn chính là ranh giới giữa Văn Lang và Trung Hoa qua dòng sông Dương Tử (Trường Giang), trong đó một phần Hồ Nam và Chiết Giang thuộc Trung Hoa thể hiện trong sử Trung Hoa và các bản đồ cổ Trung Hoa như bản đồ thời Thương, thời Chiến Quốc. Như vậy, ta thấy dễ dàng Sơn Tinh không phải là Hạ Vũ. Mặt khác, có câu hỏi là tại sao môt phần diện tích Hồ Nam và Chiết Giang lại thuộc Trung Hoa - phần diện tích này là do nhà Thương chiếm được của Văn Lang trong trận chiến chống giặc Ân của Thánh Gióng - Hùng Vương VI (Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại) là lý giải hợp lý nhất. Phần diện tích trên thuộc một phần của nước Sở và của nước Việt - Câu Tiễn sau này. Nếu Sơn Tinh cùng thời Hạ Vũ thì nếu Hạ Vũ trị thủy (chống lũ, hướng dòng,...) cho Dương Tử vùng tả ngạn thì phải bắt buộc phối hợp với Văn Lang do phần hữu ngạn vì vẫn còn thuộc Văn Lang tức phần diện tích trên chưa bị nhà Thương chiếm. Chúng ta có thể nhận định rằng: ranh giới giữa Trung Hoa và Văn Lang thời thượng cổ chính là giữa lòng sông Dương Tử từ thượng nguồn cho đến cửa bể biển Đông. Kiểm tra sơn thủy Kinh Thư và Thượng Thư thì hoàn toàn ăn khớp với các bản đồ cổ thời Thương, Chiến Quốc nói trên. Tuy nhiên, nếu đặt ra giả thiết Sơn Tinh là Hạ Vũ thì còn nhiều vấn đề giải quyết chứ không phải là truyền thuyết vì phải có chung một nền văn hóa...? đây là một vấn đề hóc búa, tuy nhiên đã không xảy ra. Vậy thì, Hạ Thương Chu ... hay Tần - Tần Thủy Hoàng đều phải có các đặc trưng tương đương về văn hóa và địa lý, sản vật... dẫn đến con voi, con tằm, tre nứa... xuất hiện trong cống nạp hay sản vật của 9 châu nhà Hạ cũng cần xem xét. Vậy có câu hỏi cuối cùng quan trọng nhất thì tại sao Kinh Thư lại ghi câu: Việt Nhược kê cổ hay Người Việt kể lại tích xưa??? qua Khổng Thánh Tiên Sư san định.
-
Con gái đầu của Hùng Vương 18 là Ngọc Hoa, lấy Chử Đồng Tử (theo thần tích). Nếu Hùng Vương 18 thật sự hóa thần hóa thánh thì hợp lý hơn phải là hóa cùng với Chử Đồng Tử. Cũng có thần thích vua Hùng có hai con gái gả cho Chử Đồng Tử và Sơn Tinh. Văn Vương = Văn Lang (Lang Văn) = Thục An Dương Vương (Âm Dương Vương). Chỉ vì hiểu Hùng Vương 18 là đời thứ 18, nên nhận nhầm cả thời gian cho Sơn Tinh lẫn Thục Phán, và cả việc lấy 2000 năm chia 18, thành ra mỗi vị vua Hùng ở ngôi trên 100 năm. Chẳng nhẽ tới giờ vẫn chưa thấy 18 chỉ là một con số ước lệ hay sao? Theo thần tích thì có 18 chi, mỗi chi có nhiều đời nối ngôi. Ai bảo là Hạ Vũ trị thủy cho vùng nông nghiệp? Ở Hoa Bắc thì toàn trồng kê, làm gì có cơn thủy tai hàng trăm năm (từ đời Cổn đến đời Vũ) nào trên nương kê bao giờ? Đồng Bằng sông Hồng không có vết tích vì lúc đó đồng bằng sông Hồng còn đang ngập trong nước biển. Chỉ có các vùng trung du mới có vết tích của Sơn Tinh. Sơn Tinh là "trấn Tây" chứ không phảiTôi đồng ý là truyền thuyết đã chép lẫn hoặc "tua nhanh" lịch sử từ việc Sơn Tinh đánh Thủy Tinh sang việc Tản Viên đánh Thục. Nhưng việc này chẳng ảnh hưởng gì đến lập luận Sơn Tinh = Đại Vũ, người đã trị nạn đại hồng thủy ở đất Phong Châu (Tây Trấn), là tổ của người Việt, là vị thần phong thủy địa lý hàng đầu của Việt Nam do đã kế thừa và sáng tạo thêm Hà Lạc. "trấn Bắc". Cái này xin xem câu đối ở đền Và ở trên. Thục An Dương Vương cũng là đến từ hướng Tây, chứ không phải Bắc. Vùng đồng bằng châu thổ sông Dương Tử và Hoàng Hà, cũng như các con sông nhánh khác. Ví dụ, hạ lưu Hàng Châu chẳng hạn vần trồng lúa được. Sơn Tinh trấn Tây là phù hợp và cân nhắc tới Tản Viên Sơn Thánh. Nếu Thánh Gióng trấn Bắc thì Tản Viên sẽ trấn Nam - Hộ quốc đại vương. Tứ trấn Thăng long chính là các vị này cùng với Long Đỗ thần quân. Tôi đồng ý là truyền thuyết đã chép lẫn hoặc "tua nhanh" lịch sử từ việc Sơn Tinh đánh Thủy Tinh sang việc Tản Viên đánh Thục. Nhưng việc này chẳng ảnh hưởng gì đến lập luận Sơn Tinh = Đại Vũ, người đã trị nạn đại hồng thủy ở đất Phong Châu (Tây Trấn), là tổ của người Việt, là vị thần phong thủy địa lý hàng đầu của Việt Nam do đã kế thừa và sáng tạo thêm Hà Lạc. Sơn Tinh và Tản Viên Sơn Thánh là hai vị khác nhau. Sơn Tinh chắc chắn trước thời Tản Viên Sơn Thánh và vì vậy đền thờ của hai vị phải khác nhau, không trùng lặp. Dễ dàng thấy rằng: núi Tản Viên là nơi thờ Tản Viên, và Đền??? thờ Sơn Tinh. Tuy nhiên có mâu thuẫn do Sơn Tinh trước thời Tản Viên nên núi Tản Viên thờ Sơn Tinh hợp hơn và phù hợp với trấn Tây. Vậy đền Và và đền Tản Viên phải khác nhau?. Chuyện Tản Viên đánh Thục có lẽ còn có ý nghĩa lịch sử khác nữa, cần nghĩ thêm. Chuyện này cũng lạ đời, vì chẳng có đời thủa nào mà sau khi đánh nhau chán chê, chiến thắng rồi lại đi nhường ngôi, nhường nước cho kẻ thù. Xong rồi kẻ thù (Thục Phán) lại còn phải thề bồi, trung thành với họ Hùng... Tổng hợp thần tích, truyền thuyết, chứng cứ lịch sử, lịch sử... chắc chắn Hùng Vương XVIII truyền ngôi cho An Dương Vương và vì vậy An Dương Vương phải là vị vua cuối cùng của dòng Hùng Vương và cuối chi Hùng Vương thứ XVIII. Kiểm tra lại dữ liệu vịnh Hà Nội - sai số 2000 năm (6000 - 4000 năm). Nếu giả sử Sơn Tinh là Hạ Vũ thì dòng chảy lịch sử triều đại phải ăn khớp triều Thương Chu... và biên giới Hoa Bắc - Hoa Nam. Sẽ phân tích sau.
-
Truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh vào đời Hùng Vương thứ XVIII. Theo các thần tích Tản Viên Sơn Thánh + vua Hùng Duệ Vương (Hùng Vương XVIII) thì vua có nhiều con trai và gái, các con trai đều chết yểu. Con rể à Tản Viên Sơn Thánh. Điều này chỉ ra trong truyền thuyết trên vua Hùng Vương XVIII có một con gái là Mỵ Nương không hợp lý. Vua Hùng Vương truyền ngôi cho Sơn Tinh, trong khi đó Tản Viên Sơn Thánh là con rể nhưng không nhận ngôi này. Ngài tư vấn cho vua truyền ngôi cho An Dương Vương và lập cột đá thề trên đỉnh Nghĩa Lĩnh. Theo "Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại": voi 9 ngà, gà 9 cựa, ngựa 9 hồng mao" nói về Cửu Trù Hồng Phạm - giả sử chuẩn thì lại không ăn khớp thời gian về truyền thuyết Văn Vương. Sơn Tinh trị thủy cũng tương đương Hạ Vũ trị thủy cho vùng nông nghiệp thì vùng hạ lưu sông Hồng có còn dấu tích hay không?. Các thần tích đều nói Ngài có công lớn là trị thủy. Trị thủy còn mang ý nghĩa trấn Thủy hay trấn Bắc nữa. Vậy thì truyền thuyết Sơn Tinh và Thủy Tinh không thể thuộc Hùng Vương thứ XVIII về mặt logic., kể cả chi này có nhiều đời. Kinh thư gốc của ngườii Việt được gán cho Khổng tử. VIệt Nhược kê cổ - Người Việt kể lại tích xưa: vậy ta có lý luận như thế nào về Kinh Thư?. Sẽ phân tích sau * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Hành lang cơ sở thuyết Âm Dương Ngũ hành - Vô Trước.
hoangnt replied to Thiên Sứ's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Vo Truoc
Chào Bác Vô Trước. 1. Mô hình thời gian tính toán ảnh hưởng trường khí Vũ trụ trong 1 năm tới Trái đất. Trái đất vận động quay quanh Mặt trời 1 vòng hết chu kỳ 1 năm.Trường khí Vũ trụ cảm ứng lên Trái đất hình thành một trường khí cảm ứng có cấu trúc theo thời gian là THỦY-> MỘC -> HỎA -> KIM tương ứng với các mùa Đông, Xuân, Hạ, Thu trong năm. Trường khí này có thể coi là ảnh hưởng của trường khí Vũ trụ lên Trái đất. Vạn vật trên Trái đất đều chịu sự chi phối của trường khí này. Hình như việc coi là ảnh hưởng của trường khí vũ trụ lên trái đất - chắc phải khẳng định 100%?. -
Trong sách Thượng Thư, ta khó thấy bất kỳ một mâu thuẫn nào về dòng mạch thông tin cả. Toàn bộ sông, núi (99.9%) của 9 châu đều thuộc vùng Hoa Bắc. Có một số từ như Nam Giao là nơi quan trắc thiên văn, khí tượng. Tuy nhiên Nam Giao cũng là nơi tế trời của triều đình phong kiến. Nạn hồng thủy mà bác Minh Xuân đề cập không phải thời mực nước cố định mà là một trận dâng nước cao đột ngột trong một khoảng thời gian rồi rút. Các địa danh Vua cũng không có gì lạ, cũng tương tự như Cao Biền, Sĩ Nhiếp dân ta gọi là Vương, "Nam Giao học tổ"... Bách Việt giao hảo bằng lịch rùa, chim trĩ trắng, trận chiến với giặc Ân Thương của Thánh Gióng cũng phù hợp về mặt thời gian các triều đại Hoa Nam - Hoa Bắc. Sơn Tinh Thủy Tinh có truyền thuyết bắt đầu vào Hùng Vương 3. Nếu nói về vai trò của Sơn Tinh trong trị thủy cũng phù hợp bởi nền nông nghiệp của Bách Việt thời thượng cổ là mạch sống quan trọng nhất. Tản Viên Sơn Thánh thời Hùng Vương 18 - Hùng Duệ Vương, Tản Viên Sơn Thánh có thuốc trường sinh giúp vua Hùng Duệ Vương và hai người cùng hiển Thánh (nhiều Phả viết). Tản Viên Sơn Thánh chính là Huyền Thiên Trấn Vũ, tại đền Trấn Vũ, một trong Tứ Trấn của thành Thăng Long xưa.
-
Đức Phật tìm kiếm giải pháp giải thoát sinh tử hay tìm kiếm câu trả lời về cái nhất thể, về tính KHÔNG và sự an lạc? Khi mà đã hiểu được sự nhất thể, tính KHÔNG thì đâu còn lo nghĩ về sinh và tử, và cần gì đến giải pháp giải thoát khỏi sinh tử. Dare mạo muội có vài câu hỏi khác: Giác ngộ là gì? Nó là một trạng thái tâm lý? hay là một năng lực siêu phàm? Có tiêu chí gì để nói 1 người đã giác ngộ hay chưa không? Tiếp theo cũng có 1 câu hỏi: tất cả các vấn đề cần giải quyết có phải trong vòng 1 đời người khoảng 100 năm hay không?
-
Không hiểu tại sao không trích được: TG thấy trong sách viết thì từ Đức thích ca Mâu ni, đến những ai chứng quả đều qua thiền định (Đức thích ca chỉ trong 49 ngày là giác ngộ và thành phật, mà đêm thứ 49 đó trong 3 canh cuối mới chứng được 3 cái gọi là Tuất mạng minh, Thiên nhãn minh và Lẩu tận minh để trả lời 3 thắc mắc lớn về đời con người là: Chúng ta đi từ đâu đến - biết tiền kiếp, chết rồi còn hay mất và đi về đâu, và muốn thoát khỏi luân hồi thì phải làm gì). Nếu mọi người nhận định Phật Thích Ca đắc đạo qua thiền định như vậy là hoàn toàn không chính xác. Theo suy nghĩ cá nhân, Ngài trải qua một số mốc quan trọng sau: - Có nền tảng trí thức và sức khỏe (kiếm thuật và võ thuật cao siêu thời trẻ). - Có một số lượng học thuyết đã được nghiên cứu. - Trải nghiệm mọi hình thức, đặc biệt là sự cô độc đối mặt nguy hiểm, trải qua tình trạng ... sắp chết. - ... cuối cùng mới thiền định và tập trung tư tưởng và giải quyết lý luận giải thoát, diệt khổ... Nếu bây giờ, ta thiền định thì phải cần thời gian lâu... mà chưa chắc chứng mà phải kèm theo một phương pháp "tình huống" kèm theo khác nữa. Các vị đắc quả là bậc Thánh, còn sự phổ biến cho mọi người là chưa đạt hiểu quả, ngoại trừ vùng Tây Tạng thì người đắc đạo mới nhiều do địa thế cực âm của nó, giúp trí tuệ tâm linh phát triển hơn.
-
Thông tin này một lần nữa khẳng định Tản Viên đã là bậc đế vương, là một vị vua Hùng. Tản Viên chính là vua Vũ, là Đại Vũ trị thủy trong Hoa sử. Nam Dương Tử (Hoa Nam) là của Bách Việt. Đại Vũ là vua Hoa Bắc theo Kinh Thư. Tản Viên Sơn Thánh theo truyền thuyết và phả hệ là tướng (phò mã) thuộc thời Hùng Duệ Vương - tức Hùng Vương thứ 18: sau giao vương quyền cho vua An Dương Vương và lập cột đá thề. Tản Viên Sơn Thánh là con rể không nhận ngôi vua. Truyền thuyết Sơn Tinh và Thủy Tinh thuộc Hùng Vương 3: Sơn Tinh là vua (con rể) có công trị thủy và định luật pháp. Như vậy khả năng thời vua Đại Vũ và Sơn tinh là cùng thời, phối hợp trị thủy cho hạ lưu Dương Tử chứ không phải cùng là một người. Kính. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Theo Hoangnt thì giải thoát và dính chấp (trụ) là không thể tách rời - kiểu như Tiên Thiên và Hậu thiên là không thể độc lập vậy. Bản chất là tìm sự giải thoát trong sự dính chấp chứ không phải đoạn lìa bởi chúng ta luôn luôn có các quan hệ và ràng buộc. Thiền - một trong những phương pháp tịnh tâm và quán chiếu nội tâm, để trả lời "toàn bộ" các câu hỏi của cá nhân về thế giới, con người - xã hội, sinh diệt... hay chính là câu trả lời về sự dính chấp trong mối tương quan không thể tháo gỡ mà chỉ cân bằng. Sau khi thiền thì tâm lý ổn định hơn, tuy nhiên theo tôi thì cuối cùng của sự giải thoát là cảm thấy an lạc trong mọi điều kiện, nếu ngoài ý muốn cũng vui vẻ chấp nhận (nhẫn). Chúng ta cũng phải tìm hiểu rằng dính chấp hay cuộc sống hiện tại trải nghiệm chính là "nền" cho một tương lai chưa rõ ràng, theo một số tôn giáo hoặc lên thiên đường hoặc xuống địa ngục? khi mà chưa ai bao giờ tới đó?. Nếu không hiểu điều này, thực chất chính là sự nô lệ tư tưởng hoặc bấu víu vào một tổ chức nào đó do sợ hãi trước một thực tại khách quan vĩ đại và rộng lớn. Để trải nghiệm thì tùy điều kiện và năng lực của mỗi cá nhân nhưng trong cuộc sống mục tiêu cho việc cân bằng được 6 căn là luôn luôn chuẩn xác bởi vì chúng ta không phải là thiên tài, cũng như không thể diệt dục chẳng hạn vì đây là quyền hạnh phúc của nhân loại trong sự phát triển sự sống. Để trả lời cho một thiên đàng hay một địa ngục, cũng như mục tiêu an lạc cho thực tại hay cho tương lai hoặc cả hai thì phải trả lời được câu hỏi là linh hồn (thần) có tồn tại hay không?.cũng như Thiền có phải là phương pháp thuận lợi nhất nhằm giúp cho việc nâng cao nhận thức... "Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa" Câu trên là hoàn toàn minh triết và giác ngộ, cho nên nhà tiên tri Náuttradamus dự đoán sắp tới là kỷ nguyên của các nhà sư lấy vợ. Thân.
-
Chào Trực Giác. TG mấy hôm nay đang đọc sách về đạo phật và các bài viết của SP Thiên sứ, TG hiểu rằng Tính thấy - Chân tâm - Thái cực - bánh dầy/ mẹ tròn (cái có trước) , nó có từ khởi nguyên của vũ trụ và đang hiện hữu ( từ vô thủy đến vô chung), hiểu mà chưa biết vẫn còn bệnh. Do vậy theo TG muốn biết được tính thấy thì chỉ co cách là thiền định mà cái này phải nỗ lực và có duyên lành không phải ai cũng làm được. Làm được điều này là thoát khỏi luân hồi ( theo đạo phật) - quy luật của vũ trụ này, tức là về với trạng thái khởi nguyên của vũ trụ. Nội dung trên có vẻ phù hợp với tác giả đã nghiên cứu và viết về Tâm vũ trụ, sau cùng với Thiền toán học với kết quả tất đáng khích lệ, cũng có trong chủ đề này. Theo Hoangnt thì từ xưa tới nay mọi người hiểu luân hồi có vẻ chưa rõ ràng, đồng thời những cá nhân đã có công phu thiền định thì cũng phải chỉ rõ như thế nào. Mặt khác, mọi vấn đề của tôn giáo, đặc biệt Phật giáo đều liên quan đến chữ Tâm qua công phu và hành đạo. Tuy nhiên, theo tôi Tính thấy không hoàn toàn là giải thoát, cũng như chúng ta không thể quay trở về trạng thái khởi nguyên vũ trụ.
-
Di ảnh mẹ Việt Nam Anh hùng nằm trong chòi lạnh 31/10/2011 14:44:43 Di ảnh mẹ Việt Nam Anh hùng Châu Thị Thứ (ở thôn Thạch Tân, xã Tam Thăng, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam) được đặt trong một chiếc chòi nhỏ, trên chiếc khăn trải cũ kỹ và một bát nhang dường như đã lâu chưa có ai thắp. TIN LIÊN QUAN Thêm 330 tỉ đồng xây tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng Hôm nay, an táng mẹ Việt Nam Anh hùng cao tuổi nhất Bộ LĐTB&XH không "bỏ sót" Mẹ Việt Nam anh hùng Được biết, các con của mẹ Thứ đã hy sinh trong chiến tranh, mẹ được công nhận danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng vào năm 2005. Giờ đây, khi mẹ nằm xuống, không một người thân, không một mái nhà cho mẹ yên nghỉ. Di ảnh mẹ Châu Thị Thứ đặt trong một chòi nhỏ dựng tạm trước sân một nhà hàng xóm. Trưởng thôn Thạch Tân, ông Huỳnh Kim Ta cho biết, hiện mẹ Châu Thị Thứ còn có 2 người cháu họ xa, nhưng không ai muốn nhận thờ phụng mẹ Thứ vì nhiều lý do. Trong khi chính quyền thôn Thạch Tân có ý đề xuất đưa di ảnh mẹ Thứ đến chùa nhưng chưa được đồng ý. Theo thống kê, xã Tam Thăng có 123 bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Năm 1994, xã Tam Thăng được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Bùi Hữu Cường Nguồn: Bee.net.
-
Nguồn Gốc Tết Trung Thu, Của Người Hoa Hay Việt?
hoangnt replied to wildlavender's topic in Cổ Văn Hoá Sử
KHÁNH TƯỜNG: Tổ nghề thêu và lọng có thần hiệu là Dực Bảo Trung Hưng do triều đình nhà Nguyễn phong tặng. Ngoài húy nhật là ngày 4 tháng 6 Âm lịch, các thợ thêu còn cúng tổ vào sinh nhật là ngày 12 tháng Giêng (Âm lịch). Vị tổ sư nghề lọng là Tiến sĩ Đệ nhị giáp (Hoàng giáp) Trần Quốc Khái (1606-1661) người xã Quất Động, huyện Thượng Phúc nay là thôn Quất Động, xã Quất Động, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Ông đậu Hoàng giáp khoa Đinh Sửu (1637) đời vua Lê Thần Tông, làm quan đến chức Tả Thị Lang bộ Công tước Thọ Phúc Hầu. Nhân đi sứ sang nhà Minh, ông lưu tâm học hỏi kỹ xảo thêu rồng, phượng, hoa và nghề làm lọng. Về nước ông truyền nghề thêu, lọng trong dân gian nên được thợ thêu, thợ lọng ở Thăng Long tôn làm tổ sư. Ông mất năm 1661 và được triều đình Lê Trịnh gia thăng Công bộ Thượng thư tước Quận Công. Khi Huế trở thành kinh đô, nghề thêu và làm lọng được trọng dụng để phục vụ triều đình. Có nguồn gốc từ đất Thăng Long kinh kỳ nên thợ thêu, thợ lọng ở Huế cũng thờ cúng Trần Quốc Khái làm tổ sư. Trong sách Các nhà khoa bảng Việt Nam ghi tên ông là Trần Khái. Câu trả lời này trên diễn đàn lịch sử VTV là đúng. Nhà sử học LVL còn giải thích rằng, một buổi hội của nhà Minh, Ông Trần Quốc Khải khi lên lầu, vua Minh sai gia nhân dỡ thang ra nên ông không thể xuống được, vì vậy ông ngồi lỳ ở trên, thấy cái lọng, tháo ra, sau đó dùng nó như cái dù nhảy xuống lầu, không bị thương, đồng thời ông đã học được nghề thêu lọng về truyền lại cho ta. THẬT LÀ CỦ CHUỐI. -
PHẢN QUÁI Điều lệ Dịch học do Ngu Phiên đời Tam quốc đề xướng. Nghĩa là lấy 6 hào của quẻ 6 vạch đảo ngược lại thành quẻ khác. Như quái tượng quẻ Quán, đảo ngược lại thì thành quái tượng quẻ Lâm. Quẻ Quán và quẻ Lâm hỗ nhau, thành quẻ phản quái. Người đời sau cũng gọi là quẻ "phản đối", gọi như vậy thấy không chính đính với học thuyết của Ngu Phiên, do vì chữ "đối" theo nghĩa âm đối dương hay dương đối âm, ví như quẻ Quán có quẻ đối là quẻ Đại quá. Nhưng trong 64 quẻ của Kinh, có 8 quẻ gồm Càn, Khôn, Khảm, Ly, Di, Trung phu, Tiểu quá, Đại quá có hình quẻ đặc biệt, đảo ngược cũng không biến đổi, nên không có "phản quái". Lý Đỉnh Tộ - Chu dịch tập giải ở phần quái từ quẻ Di, dẫn lời Ngu Phiên nói: "Phản phục không suy, cũng như Càn Khôn Khảm Ly Di Trung phu Tiểu quá Đại quá". Trong Dịch thuyết của Ngu Phiên, dùng rất nhiều thí dụ về "phản quái". Như Chu dịch tập giải, ở quái từ quẻ Thái, dẫn lời Ngu Phiên nói: "Phản là Bĩ. Ở quái từ quẻ Minh di lại nói: phản là Tấn. Ở quái từ quẻ Tiệm nói: phản thành Quy muội, v.v..." Xét, thể lệ phản quái, hoặc phản đối, thực ra là một trong những đặc trưng vốn có của hình thái 64 quẻ trong Kinh. Thật là khó hiều về Phản quái. Dịch 64 quẻ thể hiện sự vận động quy luật của vũ trụ tác động vào xã hội, con người giúp xác định tương lai qua cảm ứng Thiên Địa Nhân (ý nghĩa quan trọng nhất, theo cá nhân), do vậy nếu nói Phản quái thực chất không thể hiện được gì cả về mặt ý nghĩa tương quan trong dòng vận động này.
-
Trương Tải cho rằng, mâu thuẫn tồn tại trong nội bộ của sự vật là căn nguyên làm cho sự vật chuyển động. Khí âm dương cảm ứng nhau, biến hóa co dãn không ngừng, sự chuyển động này ở trong nó hàm chứa biến hóa, là tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con người. Sự biến hóa đó gọi là "Thần", có nghĩa là biến hóa thần diệu khôn lường. Khí âm và Khí dương tác động lẫn nhau là căn nguyên của mọi biến hóa. Như vậy, sự biến hóa tồn tại trong cả âm lẫn dương, tồn tại ngay trong cả động và tĩnh, tồn tại trong cả thực và hư; đó là thuộc tính cố hữu của Khí, thuộc tính này được bộc lộ ra muôn vàn sự vật cụ thể, Khí chỉ là một mà biến hóa của Khí có nhiều vẻ khác nhau. Khí là bản nguyên của "vô" và sự vật, Khí là một, bản nguyên của vô vàn sự vật cũng chỉ là một. Nhưng nhất Khí phân chia âm dương, âm dương đối lập thể hiện trong muôn vàn sự khác biệt. Cho nên, Trương Tải đề xuất quan điểm biện chứng "nhất vật lưỡng thể". Hoàng cừ dịch thuyết - Hệ từ hạ viết: "Khí Thái hư là một vật có âm có dương, nhưng lại có lưỡng thể thuận trong sự thống nhất" (Thái hư chi Khí, âm dương nhất vật dã, nhiên hữu lưỡng thể kiện thuận nhi dĩ). Khí Thái hư là một, Khí có âm có dương, đó là hai. Hai tồn tại trong cái một, biểu hiện thành hai mặt đối lập, "nhất" (một) là chỉ sự thống nhất của hai mặt đối lập. Khí là bản nguyên của vũ trụ, là sự đối lập thống nhất của âm dương. Nếu không có đối lập sẽ không có thống nhất. Nếu không thống nhất thì không có đối lập, "nhất" và "lưỡng" cùng dựa vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau, muôn vật trong trời đất giao cảm cùng biến hóa, sinh sôi và phát triển. Quan niệm của tôi là không có cái gọi là "VÔ" vì nếu có bản nguyên của vũ trụ thì tồn tại vĩnh viễn - sao còn gọi là Vô. Vô - theo tôi là quy ước đặt ra cho sự chuyển hóa của vật chất theo không thời gian, một cách tương ứng cho cái KHÔNG. Thần - theo tôi còn mang ý nghĩa khác liên quan đến con người là chính - khi mất được tôn vinh và vì bản nguyên tồn tại nên Thần tồn tại mà ta cảm nhận mơ hồ gọi là "Vô" nhưng vẫn có tương tác trong quy luật âm dương ngũ hành. Biểu tượng của Thần là "Linh hồn" và phải chứng minh nó tồn tại vĩnh viển. Thậm chí "Vô" còn điều khiển "Hữu" nữa nhưng cần chứng minh. Trương Tải đề xuất quan điểm biện chứng "nhất vật lưỡng thể": không có gì đề xuất cả, người xưa đã viết đủ và xây dựng nên vô số các phương pháp học thuật cổ rồi, ta chỉ tìm hiểu trở lại và áp dụng mà thôi (phù hợp theo khái niệm khoa học hiện nay). Vấn đề là ta tìm hiểu "Khí" có các đặc trưng gì, vận động theo quy luật nào, quan hệ hay tương tác tới cuội sống như ra sao... như chuyên ngành châm cứu chẳng hạn, dĩ nhiên Khí "bắt" vật chất vận động theo nguyên lý Hậu Thiên Bát quái - Hà đồ. * Phúc Lộc Thọ mãn đường "