hoangnt
Hội viên-
Số nội dung
1909 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
6
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by hoangnt
-
Bạch Đằng Giang, trận hải chiến lẫy lừng trong lịch sử 1. Bạch Đằng Giang, trận hải chiến lẫy lừng trong lịch sử Chỉ trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ kể từ khi nước thủy triều lên cho đến khi nước thủy triều xuống, Ngô Quyền đã tiêu diệt nguyên một hạm đội gồm hàng trăm chiến thuyền của quân Nam Hán, hàng ngàn xác quân Tầu bị thả trôi sông hoặc chìm sâu dưới đáy biển.... Trận hải chiến kinh hoàng này đã đưa dân tộc ta thoát khỏi 1050 năm đô hộ của giặc Tầu! Lịch sử oai hùng của dân tộc ta trải dài hơn bốn ngàn năm bắt đầu từ năm 2876 trước Công Nguyên (TCN) với vua Kinh Dương Vương của nước Xích Quỷ, đây là quốc hiệu đầu tiên của nước ta, truyền sang họ Hồng Bàng trở thành nước Văn Lang với 18 đời Hùng Vương. Nước Văn Lang ngày đó bao gồm hầu hết các tỉnh thuộc Bắc Việt trải dài về phía nam cho tới Việt Thường (nay là Quảng Bình, Quảng Trị) và một phần của các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây bây giờ mà sau này Quang Trung Đại Đế có ý định đòi nhà Thanh trả lại sau chiến thắng Đống Đa. Cho đến năm 257 TCN thì vua Hùng Vương thứ 18 bị Thục Phán cướp ngôi và đổi tên nước là Âu Lạc. Thục Phán lên ngôi vua lấy tên là An Dương Vương cho xây thành Cổ Loa (chúng ta vẫn còn di tích thành này gần Hà Nội bây giờ). Khi An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc thì bên Tầu lúc đó Tần Thủy Hoàng đã thống nhất thiên hạ, mãi cho đến năm 208 TCN thì nhà Tần bắt đầu suy yếu, giặc giã nổi lên khắp nơi, nhân dịp đó, quan úy của quận Nam Hải là Triệu Đà lợi dụng cơ hội mang quân sang chiếm nước Âu Lạc rồi sát nhập vào quận Nam Hải thành nước Nam Việt. Nước Nam Việt tồn tại được gần một trăm năm, trải qua nhiều triều đại cho đến năm 111 TCN, lúc đó bên Tầu thuộc nhà Tây Hán, Hán Vũ Đế sai Lộ Bát Đức và Dương Bộc đem năm cánh quân sang chiếm nước Nam Việt rồi biến nước Nam Việt thành một quận của Tầu gọi là Giao Chỉ bộ, chia làm 9 quận. Nước ta bị mất tên trên bản đồ từ đó và bị cai trị như các quận bộ bên Tầu, nhưng rất là hà khắc, cay nghiệt. Như vậy năm 111 TCN là năm thứ nhất dân ta bước vào 1050 năm bị đô hộ. Trong hơn một ngàn năm đô hộ này, chúng ta có nhiều cuộc khởi nghĩa, trong đó có cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40, cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu Thị Trinh năm 248, cuộc khởi nghĩa của Lý Bôn năm 541 và cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan năm 722. Nhưng đáng kể nhất là cuộc khởi nghĩa của Ngô Quyền vào cuối năm 938 đầu năm 939 đã đưa dân tộc ta thoát khỏi 1050 năm đô hộ của giặc Tầu bằng một trận hải chiến oai hùng trên sông Bạch Đằng. Ngược lại dòng lịch sử, vào năm 920 Dương Diên Nghệ, một anh hùng có công đánh đuổi giặc Nam Hán, chiếm được thành Đại La và lên cầm quyền tự xưng là Tiết Độ Sứ. Dương Diên Nghệ có hai nha tướng thân cận là Kiều Công Tiễn và Ngô Quyền. Kiều Công Tiễn được chủ tướng tin dùng và giao cho giữ thành Đại La, còn Ngô Quyền được Dương Diên Nghệ thương mến gả con gái cho và đưa về giữ thành Ái Châu (tức là Thanh Hóa bây giờ). Kiều Công Tiễn là người phản phúc âm mưu sát hại chủ tướng để đoạt chức Tiết Độ Sứ. Do đó năm 938 Dương Diên Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết chết. Hành động phản trắc này đã làm dân chúng bất bình và phẫn nộ. Khi Ngô Quyền được tin Dương Diên Nghệ bị giết bèn phất cờ khởi nghĩa nên được mọi tầng lớp dân chúng, các hào trưởng địa phương ủng hộ rất nhiều, chính Kiều Công Hãn là cháu Kiều Công Tiễn cũng đem quân về với chính nghĩa. Ngô Quyền trở thành ngọn cờ qui tụ những người yêu nước, lúc đầu chỉ là báo thù cho chủ tướng nhưng sau đó biến thành cuộc khởi nghĩa giành lại độc lập cho dân tộc ta. Vào cuối năm 938 đầu năm 939 lúc thời tiết mưa dầm gió bấc, Ngô Quyền thống lĩnh một đạo quân tiến ra Bắc trừng phạt kẻ phản loạn, khi đến đèo Ba Dội (thuộc tỉnh Ninh Bình bây giờ)ợ thì Kiều Công Tiễn đã được mật báo, trước sức tiến quân như vũ bão của Ngô Quyền, Kiều Công Tiễn thấy chống không lại bèn cho người sang Tầu cầu cứu. Trong lịch sử, Đèo Ba Dội không nổi tiếng lắm, nhưng trong văn chương đèo Ba Dội rất được nhiều người biết đến qua tài thơ văn hóm hỉnh của nữ sĩ Hồ Xuân Hương: Một đèo, một đèo lại một đèo Khen ai khéo tạo cảnh cheo leo Trở lại lịch sử bên Tầu lúc bấy giờ là nhà Nam Hán, Hán chủ Lưu Cung vẫn muốn giữ Giao Chỉ bộ dưới quyền cai trị của người Tầu nên mượn cớ giúp Kiều Công Tiễn để đem quân sang trừng phạt Ngô Quyền. Chúng ta hãy thử theo dõi trận hải chiến oai hùng nhất trong lịch sử của dân tộc ta. Với ý đồ xâm lăng đất nước ta, Vua Nam Hán là Lưu Cung họp triều đình bàn mưu tính kế. Trước Tác Tả Lang Hầu tên là Dung khuyên Lưu Cung không nên đánh để quân sĩ được nghỉ ngơi, hơn nữa Sùng Văn Hầu Tiêu Ích cũng can ngăn: - Ngô Quyền là người kiệt liệt chớ nên coi thường, đại quân đi nên cẩn thận chắc chắn. Dùng nhiều kẻ dẫn đường rồi sẽ tiến. (trích Ngũ Đại Sử Ký quyển 65). Những lời khuyên can trên không cản được ý đồ xâm lược của vua Nam Hán cho nên Lưu Cung phong cho con trai là Vạn Vương Lưu Hoàng Tháo làm Tinh Hải Quan Tiết Độ Sứ rồi sau đổi thành Giao Vương (ý muốn sau khi cướp được Giao Châu sẽ giao cho Lưu Hoàng Tháo trấn giữ) thống lĩnh một hạm đội sang xâm chiếm nước ta. Quân Nam Hán tiến quân bằng hai ngã: 1/ Đạo quân thứ nhất do Thái Tử Lưu Hoàng Tháo cầm đầu với hàng ngàn binh sĩ thiện chiến cùng hàng trăm chiến thuyền lớn nhỏ khởi hành từ hải cảng Quảng Châu theo vịnh Hạ Long vào nước ta bằng cửa sông Bạch Đằng. 2/ Đạo quân thứ hai do chính Vua Nam Hán là Lưu Cung mang quân đến đóng tại biên giới thuộc trấn Hải Môn (phía tây nam huyện Bát Bạch, tỉnh Quảng Tây) để sẵn sàng tiếp cứu khi cần thiết. Ngoài ra quân Nam Hán còn được sự hỗ trợ mạnh mẽ của Kiều Công Tiễn ngay từ trong thành Đại La (gần Hà Nội bây giờ) đánh ra. II/ Một vài điều cần biết về sông Bạch Đằng. Trước khi bước vào trận đánh này, thiết tưởng sự hiểu biết về chiến trường được Ngô Quyền chọn lựa trước là phía hạ lưu sông Bạch Đằng không phải là điều vô ích. Sở dĩ chúng ta gọi là sông Bạch Đằng vì ngay tại cửa sông này có nhiều sóng to, gió lớn gọi là sóng bạc đầu (Bạc là Trắng, là Bạch) do đó có tên là Bạch Đằng Giang. Nếu chúng ta xem xét kỹ cấu tạo của lòng sông Bạch Đằng sẽ thấy ở phía hạ lưu lòng sông dốc ra biển, chỗ nông nhất có thể là 8 mét, nhưng chỗ sâu có thể lên đến 18 mét, nên nước thủy triều khi lên thì rất chậm chạp nhưng tạo ra nhiều đợt sóng to (sóng bạc đầu), ngược lại khi thủy triều xuống thì nước rút rất nhanh, như vậy dù thủy triều lên hay xuống đều tạo ra khó khăn, nguy hiểm cho tầu bè qua lại, thêm vào đó hai bên bờ sông là những rừng rậm bao la bát ngát nên dân địa phương quen gọi sông Bạch Đằng là sông Rừng, trong ngôn ngữ của dân địa phương chúng ta còn tìm thấy nhiều di tích của những địa danh như bến đò Rừng, xóm Rừng, phà Rừng, chợ Rừng, giếng Rừng...v.. v. Ca dao chúng ta cũng có câu: Con ơi hãy nhớ lời cha Gió to sóng lớn chớ qua sông Rừng Sở dĩ người cha khuyên con chớ qua sông Rừng vì bất cứ ngày nào trong năm cũng có thể có sóng to gió lớn nhất là các trận cuồng phong vào tháng ngày cuối đông. Hai bên bờ sông Rừng là vách đá cheo leo, thẳng đứng tạo nên một cảnh đẹp hùng vĩ cũng là nơi ẩn núp rất tốt cho quân của Ngô Quyền sau này. Ngay ở hạ lưu sông Bạch Đằng còn có ba con sông khác đổ vào là sông Chanh, sông Ruột Lợn (vì nó chạy cong queo như cái ruột lợn) và sông Cấm (còn gọi là sông Nam Triệu) (xem hình 1). Theo bộ sử Cương Mục, sông Bạch Đằng được mô tả: “Sông rộng hơn hai dặm, ở đó có núi cao ngất, nhiều nhánh sông đổ lại, sóng cồn man mác giáp tận chân trời, cây cối um tùm, che lấp bờ bến”. Bạch Đằøng Giang còn là cửa ngõ của nước ta thông thương ra vịnh Hạ Long, phía hữu ngạn có dãy núi vôi Tràng Kênh gồm nhiều hang động sông lạch và thung lũng hiểm trở. Lịch sử chưa chứng minh được trận đánh xẩy ra ở khúc nào trên sông Bạch Đằng nhưng biết chắc ở một chỗ nào đó giữa khoảng ngã ba sông Chanh cho tới cửa biển. Trước hết tưởng cũng cần nhắc lại, chúng ta có ba (3) trận Bạch Đằng Giang, cả ba trận quân Tầu thua cả ba: - Trận thứ nhất do Ngô Quyền đại chiến với quân Nam Hán năm 939. (trong phạm vi chật hẹp của bài này xin chỉ được mô tả trận đánh thần tốc này). - Trận thứ hai xẩy ra năm vào tháng 3 năm Tân Tỵ 981. Với ý đồ xâm lăng, quân nhà Tống chia làm hai toán sang đánh nước ta, toán thứ nhất do Hầu Nhơn Bảo và Tôn Toàn Hưng tiến chiếm Lạng Sơn, toán thứ hai do Lưu Trừng đem thủy quân tiến vào sông Bạch Đằng. Vua Lê Đại Hành thấy sức địch quá mạnh phải lui binh và trá hàng rồi dụ Hầu Nhơn Bảo tới chỗ nguy hiểm bắt giết chết tại chỗ, quân Tống như rắn không đầu mất tinh thần bỏ chạy tán loạn bị giết hơn một nửa, bọn thủy quân do Lưu Trừng lãnh đạo thấy lục quân tan vỡ vội vàng tháo chạy không dám nghênh chiến. Kết quả trận thứ hai này chúng ta không tốn một giọt mồ hôi đã làm quân Tầu hoảng vía, bỏ chạy. - Trận thứ ba do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đại phá quân Nguyên năm Mậu Tý 1288, bốn tướng nhà Nguyên là Ô Mã Nhi, Phàn Tướng, Tích Lệ và Cơ Ngọc bị bắt sống cùng hơn 400 chiến thuyền bị đánh đắm cùng hàng ngàn xác chết, máu chẩy đầy sông. III/ Ngô Quyền giết Kiều Công Tiễn và tiêu diệt quân Nam Hán. Đạo binh của Ngô Quyền ào ạt vượt qua đèo Ba Dội tiến như vũ bão đến thành Đại La mà không gặp một sức chống cự nào của Kiều Công Tiễn. Chỉ trong vòng vài ngày, thành Đại La thất thủ, Kiều Công Tiễn bị chém đầu bêu tại cửa thành. Ngô Quyền vào thành họp các tướng sĩ mà bàn rằng: - Hoàng Tháo là một đứa trẻ dại, đem quân từ xa đến quân lính mỏi mệt, lại nghe được tin Kiều Công Tiễn bị giết chết, không có người làm nội ứng đã mất vía trước rồi. Quân ta sức còn mạnh, địch với quân mỏi mệt tất phá được! Song chúng lợi là có chiến thuyền to lớn, nếu ta không phòng bị trước thì chuyện được thua cũng không thể biết được. Nếu ta sai người đem cọc lớn đóng ngầm ở cửa biển trước vạt nhọn đầu mà bịt sắt, thuyền của chúng nhân khi nước triều lên, tiến vào bên trong hàng cọc, bấy giờ ta sẽ dễ bề chế ngự. Không kế gì hay hơn kế ấy cả! Chư tướng đều phục kế sách ấy tuyệt vời và nghiêm chỉnh thi hành. Ngô Quyền huy động toàn quân, toàn dân vào rừng chặt cây thành từng khúc vót nhọn một đầu rồi đem bịt sắt lại và cắm xuống lòng sông Bạch Đằng khoảng gần cửa sông, cọc được đóng thành một trận địa cọc mênh mông bát ngát từ bờ sông bên này sang bờ sông bên kia, khi thủy triều lên cọc bị che kín, đứng từ bờ bên này nhìn sang bên kia là những vách đá cheo leo, rừng cây rậm rạp, gió thổi ào ào, sóng gầm thét dữ dội, cảnh đẹp hùng vĩ có ai ngờ dưới mặt nước kia là một bãi cọc nguy hiểm mà chỉ trong vòng vài ngày nữa khi thủy triều xuống sẽ là mồ chôn của hàng ngàn quân xâm lược. Sau khi trận địa cọc đã được bầy bố xong xuôi, Ngô Quyền cử Tướng Dương Tam Kha thống lãnh một đạo hùng binh đóng dọc theo bờ bên phải của sông Bạch Đằng, đồng thời, Ngô Xương Ngập cùng Đỗ Cảnh Thạc đem một đạo quân khác đóng ở bờ bên trái của sông Bạch Đằng. Trong khi đó, Ngô Quyền hướng dẫn một hạm đội gồm nhiều chiến thuyền lớn nhỏ đóng ở phía thượng lưu sông Bạch Đằng hầu chặn hướng tiến của địch quân. IV/ Trận Bạch Đằng Giang Trong các hải cảng của Trung Quốc, cửa biển Quảng Châu là một trong những cửa biển lớn, đồng thời cũng là trung tâm mậu dịch buôn bán với khắp nơi trên thế giới, và là một quân cảng quan trọng hàng đầu trấn giữ vùng biển Thái Bình Dương. Từ Quảng Châu các chiến thuyền Trung Quốc đi dọc theo vịnh Hạ Long để vào cửa sông Bạch Đằng mất khoảng 5-7 ngày. Suốt dọc đường không có gì trở ngại vì như chúng ta đã biết mặt nước của vịnh Hạ Long luôn luôn phẳng lặng, dễ dàng cho tầu bè qua lại. Thái tử Lưu Hoàng Tháo là một người trẻ tuổi, hung hăng, thiếu kinh nghiệm nên thừa lúc quân Nam Hán đến cửa sông Bạch Đằng chờ lúc thủy triều lên để tiến vào thì Ngô Quyền bắn tin cho biết Kiều Công Tiễn đã bị giết. Đây là một đòn tâm lý làm cho quân địch hoang mang, dao động. Quả trúng kế, khi thủy triều lên Ngô Quyền cho một vài chiến thuyền nhỏ ra khiêu chiến rồi giả vờ thua rút lui, Lưu Hoàng Tháo với thái độ dương dương tự đắc, khinh địch, thiếu kinh nghiệm đã cho quân đuổi theo, khi tất cả các chiến thuyền của quân Nam Hán đã vượt qua bãi cọc đóng sẵn thì quân ta bắt đầu tấn công. Từ hai bên bờ các binh sĩ bắn ra những tên, tên lửa để tiêu hủy thuyền địch, đồng thời những thuyền nhỏ của ta được thả xuống từng toán tấn công địch từ khắp mọi phía. Thêm vào đó, hạm đội thiện chiến do Ngô Quyền chỉ huy từ phía thượng lưu tấn công như vũ bão vào các chiến thuyền địch. Với ba mũi dùi tấn công của quân ta, quân Nam Hán trở nên nao núng, càng ngày trận chiến càng trở nên ác liệt, tuy nhiên, quân ta cũng vẫn chỉ đánh cầm chừng chờ khi thủy triều xuống mới tấn công dữ dội.Trước sức tấn công mãnh liệt của quân ta Thái tử Lưu Hoàng Tháo phải cho quân rút lui ra biển để bảo toàn lực lượng, nào ngờ các các cọc được đóng sẵn (vì nước triều xuống) bắt đầu nhô lên khỏi mặt nước làm cản trở sự di chuyển của thuyền địch, thêm vào đó có cái đâm thủng thuyền địch. Không bỏ lỡ cơ hội, Ngô Quyền cho một toán người nhái lặn xuống lòng sông đục thủng thuyền địch làm thuyền địch chìm rồi bị nước cuốn ra biển vô số kể, quân Nam Hán kẻ bị thương, kẻ bị tên bắn trúng, kẻ không biết bơi chết hầu như gần hết, tất cả bị thủy triều lôi ra biển trong nháy mắt. Thái Tử Lưu Hoàng Tháo và Trước Tác Tả Lang Hầu Dung bị chết tại trận. Trận chiến diễn ra rất khốc liệt nhất là vào lúc thủy triều xuống, cả hạm đội oai hùng của quân Nam Hán bị tiêu hủy không còn một chiếc chạy thoát về Tầu. Hàng ngàn, hàng ngàn quân sĩ tử trận xác chết đầy sông. Trận chiến diễn ra chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ từ lúc thủy triều lên cho đến khi thủy triều xuống nhanh đến nỗi Vua Nam Hán chưa kịp được báo tin thì trận chiến đã kết thúc, nước triều đã cuốn tất cả thuyền bè, xác người ra biển cả. Nghe tin Thái Tử Lưu Hoàng Tháo bỏ xác tại trận, Vua Nam Hán bàng hoàng kinh sợ thu hồi binh mã bỏ ý định xâm chiếm nước ta. Khi về tới kinh đô, Vua Nam Hán hèn hạ không nhận lỗi mà đổ tội cho Trước Tác Tả Lang Hầu Dung đã cản trở cuộc tiến binh làm nhụt lòng binh sĩ, y truyền cho đào mả của Hầu Dung lấy xác băm ra làm trăm mảnh để làm gương cho kẻ khác, đồng thời xét thấy cái tên Lưu Cung không được hên cho lắm, bèn đổi thành Lưu Yểm. IV/ Một vài nhận xét về trận Bạch Đằng Giang Trận Bạch Đằng Giang là một nét độc đáo trong nghệ thuật quân sự không riêng gì của Việt Nam mà của cả thế giới. Ngô Quyền đã sáng tạo một trận địa cọc tuyệt hảo mà sau này Vua Lê Đại Hành cũng như Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã áp dụng và chiến thắng vẻ vang. Kỹ thuật đóng cọc thật là tinh vi, khoảng cách của các cọc xa nhau vừa đủ chỉ để những thuyền nhỏ của quân ta lách qua mà không gặp trở ngại (xem hình 2) trong khi các thuyền lớn của quân Nam Hán bị kẹt cứng giữa các lằn cọc không thể nào di chuyển được mà còn bị cọc đâm thủng. Hơn nữa, Ngô Quyền còn tính toán thế nào để vừa vặn lúc thủy triều xuống phải tấn công mạnh mẽ để địch quân phải lui binh mà kẹt trong đám cọc đã đóng sẵn. Sự tính toán cho đúng thời điểm từ lúc khiêu chiến (nước thủy triều lên), lúc giả thua thế nào để địch tin tưởng là thật mà đuổi theo, phải đánh cầm chừng thế nào để địch quân không tiến ra xa quá bãi cọc hầu lúc thủy triều xuống có thể kịp thời dốc toàn lực tấn công mạnh mẽ làm địch quân không có cách nào hơn là phải lui binh để phải sập vào bẫy đã định sẵn ( bãi cọc) là một bài toán khó khăn của Ngô Quyền. Một số cọc (xem hình 3) đã được tìm thấy sau này ở khoảng ngã ba sông Chanh, theo kết quả nghiên cứu của các nhà khảo cổ tính bằng chất phóng xạ Carbon C14 thì đây có thể là những cọc có niên đại vào khoảng 1288 tức là thuộc trận Bạch Đằng thứ ba của Hưng Đạo Đại Vương phá quân Nguyên. V/ Xét một vài ưu khuyết điểm của cả hai bên. 1/ Quân Nam Hán. a/ Ưu điểm. Quân Nam Hán là một quân đội tinh nhuệ, được huấn luyện kỹ càng, võ trang đầy đủ, thêm vào đó chiến thuyền là những thuyền lớn vượt đại dương một cách dễ dàng. b/ Khuyết điểm. Thái Tử Lưu Hoàng Tháo là một người trẻ tuổi, kiêu ngạo, chủ quan, khinh địch. Trong binh thơ Tôn Tử có câu “Biết mình, biết người trăm trận trăm thắng”. Thái Tử Lưu Hoàng Tháo có thể biết mình nhưng đã không biết người, không biết gì về Ngô Quyền, không hề tìm hiểu về tình hình địch, không có một chút hiểu biết tối thiểu nào về sông Bạch Đằng, nơi mà trận chiến sẽ xẩy ra, đó là khuyết điểm to lớn nhất của một nhà quân sự. 2/ Quân của Ngô Quyền. a/ Khuyết điểm. Đa số quân của Ngô Quyền là lính mới. Lúc đầu chỉ là một đội quân nhỏ đủ để giữ thành Ái Châu (Thanh Hóa), nhưng từ khi Ngô Quyền phất cờ khởi nghĩa, hàng ngàn hàng vạn thanh niên nam nữ từ khắp mọi nơi về đầu quân dưới ngọn cờ chính nghĩa cho đến khi trận đánh bắt đầu chỉ có vài ba tháng, việc huấn luyện rất sơ sài có thể không đủ sức đương đầu với một đội quân hùng mạnh, tinh nhuệ như quân Nam Hán. Thêm vào đó Ngô Quyền không có nhiều chiến thuyền to lớn như quân Nam Hán, đa số những thuyền của Ngô Quyền là những thuyền nhỏ do dân chúng, các hào trưởng, các bộ lạc địa phương hiến tặng. b/ Ưu điểm. Sở dĩ Ngô Quyền thắng được quân Nam Hán trước hết là nhờ những tin tức tình báo, Ngô Quyền đã biết trước được con đường tiến quân của Thái Tử Lưu Hoàng Tháo để chặn đánh. Sau nữa là nhờ mưu trí, ông bầy ra một cái bẫy khổng lồ dưới lòng sông Bạch Đằng mà địch quân không hề biết đến cộng với tinh thần yêu nước cùng sự căm thù của quân dân ta sau khi phải chịu đựng hơn một ngàn năm đô hộ tàn ác, cực kỳ hung bạo. Ý chí quyết vùng lên đánh đuổi quân xâm lược đã là một trong những yếu tố quyết định trong trận hải chiến một mất một còn này. Hơn nữa Ngô Quyền có đầy đủ ba yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa. Thiên thời là gặp lúc mùa đông gió bấc, mưa to sóng lớn làm trở ngại cho việc điều binh của quân Nam Hán rất nhiều nơi đất lạ quê người. Địa thế hiểm trở, núi non ngất trời, rừng rậm bao la hai bên bờ sông làm cho quân của Ngô Quyền dễ bề ẩn núp cộng với lòng sông thoai thoải dốc ra biển lúc nông lúc sâu tạo thành những đợt sóng bạc đầu là một lợi thế của quân ta. Nhưng quan trọng hơn cả là yếu tố Nhân hòa, sau hơn một ngàn năm bị đô hộ, toàn dân muôn người như một chung lưng đấu cật là một yếu tố tất thắng của quân dân ta. VI/ Kết luận. Ngay sau khi đại phá quân Nam Hán, Ngô Quyền bỏ chức Tiết độ Sứ, không chịu thần phục nước Tầu và xưng Vương là Ngô Vương Quyền. Nhưng làm vua chỉ được vỏn vẹn 5 năm thì mất. Ngô Vương Quyền sinh ngày 12 tháng 3 năm Đinh Tỵ 897 tại làng Đường Lâm tỉnh Sơn Tây con của Thứ Sử Ngô Mân, mất năm 944 hưởng thọ 47 tuổi . Sử sách mô tả ông là một người có thân thể cường tráng, trí tuệ sáng suốt, chăm rèn võ nghệ. Vẻ người khôi ngô, mát sáng như chớp, có trí dũng, sức có thể nhấc vạc giơ cao. Sử gia Lê Văn Hưu viết trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: “Tiền Ngô Vương lấy quân mới tập họp của đất Việt mà đã phá được trăm vạn quân của Lưu Hoàng Tháo, mở nước xưng Vương, làm cho người phương Bắc không dám sang nữa. Chỉ là một cơn giận, báo thù cho chủ tướng mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy”. Nhà sử học Ngô Thì Sĩ đã hết sức ca ngợi chiến thắng Bạch Đằng Giang như sau: “ Thắng lợi lớn trên sông Bạch Đằng đặt căn bản cho việc phục lại quốc thống sau này, các đời Đinh, Lê, Lý, Trần vẫn phải nhờ vào cái uy danh lẫm liệt ấy . Hơn nữa chiến công Bạch Đằng còn vang dội cho đến nghìn thu, há phải chỉ lừng lẫy thời bấy giờ mà thôi đâu!” Bắc Giang Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và trận Bạch Đằng năm 1288 Lượt xem: 334 Ngày cập nhật: 19/4/2011 21:26:56 PM Trận Bạch Đằng năm 1288 là một trận đánh lớn quan trọng, mang tính chiến lược của cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 3, trong lịch sử Việt Nam. Lần này, đạo thủy quân hùng mạnh nhất thế giới đã chuốc lấy thảm bại, bị tiêu diêt toàn bộ, và quân Nguyên do vậy, phải chịu từ bỏ hẳn mộng xâm lăng nước ta. A. Bối cảnh trận chiến Mùa Xuân năm 1287, Thoát Hoan lại kéo 30 vạn quân tái xâm lăng Đại Việt, viện cớ đưa Trần Ích Tắc về làm An Nam quốc vương. Bên ta, vua Nhân Tông lại cử Hưng Đạo Vương thống lãnh toàn quân chống giặc. Vương bố trí các tướng trấn đóng các yếu điểm và chỉ thị các tướng áp dụng chiến thuật: khi địch mạnh thì tạm lui tránh để bảo tồn lực lượng, đợi khi thời cơ tới thì xua quân tốc chiến tốc thắng. Quân Nguyên Mông tiến vào nước ta theo hai ngả: Thoát Hoan theo đường bộ, và Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp theo đường thủỵ Ban đầu thế giặc quá mạnh, quân ta theo đúng chiến thuật tạm lui, quân Nguyên tiến nhanh cả trên bộ lẫn trên biển. Chúng chiếm được Vạn Kiếp, tập trung ở đó và đánh rộng ra xung quanh, chiếm được Chí Linh, Thăng Long tạo thành thế ỷ dốc để tiếp ứng cho nhau. Vua Nhân Tông và thượng hoàng Thánh Tông phải dời về Thanh Hoá. Bộ chỉ huy và phần lớn lực lượng Đại Việt rút về vùng Đồ Sơn, Hải Phòng, từ đó tổ chức các cuộc tấn công vào căn cứ Vạn Kiếp, đánh thủy quân Nguyên. Chiến thắng Vân Ðồn Khi quân Nguyên tấn công bến Vân Đồn, Phó tướng Vân Đồn là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư được Hưng Đạo Vương trao phó trách nhiệm phòng thủ miền biển đã chỉ huy quân ta chống giặc. Tuy nhiên vì thế giặc quá mạnh đã xuyên thủng phòng tuyến phòng thủ, qua được ải An Bang tiến chiếm Vạn-Kiếp, khiến Thượng hoàng Thánh Tông sai người bắt Trần Khánh Dư đem về triều đình xử tội. Khi sứ giả của vua đến, ông nói: «Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng xin khất hai, ba ngày, để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn» Ô Mã Nhi đắc thắng, nghĩ rằng đã đánh tan hải quân của nhà Trần và đoàn thuyền vận lương của Trương Văn Hổ theo sau cũng sẽ không gặp trở ngại gì, nên Ô Mã Nhi trở về Vạn Kiếp trước. Trần Khánh Dư mưu sâu, đoán được đoàn thuyền vận lương sẽ theo sau đại quân Nguyên nên quyết chí lập công phục hận. Ông nhanh chóng tập hợp và bổ sung lực lượng, phục binh chờ đoàn thuyền vận lương của Trương Văn Hổ. Quả nhiên , đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ đã trúng phục binh của Trần Khánh Dư và bị đánh cướp hết cả. Trương Văn Hổ chạy thoát về Quỳnh Châu. Đại Việt Sử KýToàn Thư, quyển V ghi: «Khánh Dư liệu biết quân giặc đã qua, thuyền vận tải tất theo sau, nên thu thập tàn binh đợi chúng. Chẳng bao lâu, thuyền vận tải đến, Khánh Dư đánh bại chúng bắt được quân lương khí giới của giặc nhiều không kể xiết, tù binh cũng rất nhiều. Lập tức, sai chạy ngựa mang thư về báo. Thượng hoàng tha cho tội trước không hỏi đến và nói: chỗ trông cậy của quân Nguyên là lương thảo khí giới, nay ta đã bắt được, sợ nó chưa biết, có thể còn hung hăng chăng? Bèn tha những tên bị bắt về doanh trại Nguyên để báo tin. Quân Nguyên quả nhiên rút lui. Cho nên năm này, vết thương không thảm như năm trước, Khánh Dư có phần công lao trong đó». Quân Nguyên triệt thoái Trước tình hình bất lợi vì thiếu lương thực và có nguy cơ bị đối phương chia cắt, quân Nguyên đành bỏ Thăng Long rút về Vạn Kiếp, rồi chủ động rút lui dù quân Đại Việt chưa phản công lớn. Quân Nguyên định tổ chức rút về Trung Quốc theo nhiều hướng khác nhau. Ngày 3 tháng 3 năm Mậu Tí (1288), Hữu thừa Trình Bằng Phi, Thiên tỉnh Đạt Mộc thống lĩnh kị binh đi tìm đón các cánh quân di chuyển bằng đường thủy (đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ). Khi qua chợ Đông-Hồ thì bị dòng sông chắn ngang, phải quay lại, nhưng cầu cống đã bị quân nhà Trần bám theo sau phá hủy. Quân Nguyên rơi vào thế nguy, trước mặt thì bị quân Trần chận đường, sau lưng là chướng ngại thiên nhiên. Tuy nhiên quân Nguyên do tra hỏi những tù binh nên cũng đã tìm được đường thoát. Ngày 7 tháng 3 năm 1288, cánh quân Mông Cổ rút bằng đường thủy đi tới Trúc Động, tại đây họ bị quân nhà Trần chặn đánh, nhưng tướng Nguyên là Lư Khuê chỉ huy quân này đánh lui quân nhà Trần. Ngày 8 tháng 3 năm 1288, Ô Mã Nhi không cho quân rút về bằng đường biển mà quyết định đi theo sông Bạch Đằng, vì biết rằng đường biển đã bị thủy quân nhà Trần phong tỏa. Ô Mã Nhi nghĩ phòng bị đường sông của quân nhà Trần có thể sơ hở, yếu kém, hơn nữa sông Bạch Đằng nối liền với nội địa Trung Quốc bằng thủy lộ, sẽ thuận lợi cho việc lui binh. Tình thế quân Nguyên lúc bây giờ như cá nằm trong chậu, như kiến bò miệng chén, rất khốn đốn nguy ngập. Bố trí quân Trần Hình sưu tầm ( Nguồn Báo PL &XH) Đầu năm 1288, sau khi di tản khỏi kinh đô Thăng Long, Trần Hưng Đạo đã biết được tình hình nguy khốn của quân Nguyên Mông. Vương cũng dò được ý định rút quân của Ô Mã Nhi và Thoát Hoan, nên thông báo cho các tướng thời cơ đã đến, cần xua quân tốc chiến. Hưng Đạo Vương quyết định đánh một trận lớn tiêu diệt thủy quân Mông Cổ rút qua sông Bạch Đằng. Sông Bạch Đằng trước đó cũng là một địa danh lịch sử khi Ngô Quyền đã từng đánh thắng quân Nam Hán trong năm 938, kết thúc giai đoạn hơn 1000 năm Bắc thuộc. Trần Hưng Đạo đã nghiên cứu kỹ lưỡng quy luật thủy triều của con sông này để vạch ra thế trận bãi cọc mai phục quân Mông Nguyên. Vương cắt đặt, chỉ huy quân dân Đại Việt chuẩn bị một trận địa mai phục lớn trên sông Bạch Ðằng, là nơi đoàn thuyền của quân Nguyên sẽ phải đi qua trên đường rút chạy. Các loại gỗ lim, gỗ táu đã được đốn trên rừng và kéo về bờ sông để đẽo nhọn, cắm xuống lòng sông ở các cửa dẫn ra biển như sông Rút, sông Chanh, sông Kênh, làm thành những bãi chông ngầm lớn, kín đáo dưới mặt nước. Ghềnh Cốc là một dải đá ngầm nằm bắt ngang qua sông Bạch Ðằng nằm phía dưới sông Chanh, đầu sông Kênh, được sử dụng làm nơi mai phục thủy binh, phối hợp với bãi cọc chông ngầm, ngăn chận thuyền địch khi nước triều rút. Thủy quân Đại Việt bí mật mai phục phía sau Ghềnh Cốc, Ðồng Cốc, Phong Cốc, sông Khoái, sông Thái, sông Gia Ðước, Ðiền Công. Còn bộ binh bố trí ở Yên Hưng, dọc theo bờ bên trái sông Bạch Ðằng, Tràng Kênh, ở bờ bên phải sông Bạch Ðằng, núi Ðá Vôi ...Phía sông Ðá Bạc để trống cho quân Nguyên kéo vào. Ðại quân của vua Nhân Tông và Thương Hoàng Thánh Tông đóng quân ở Hiệp Môn (Kinh Môn, Hải Dương) trong tư thế sẵn sàng lâm trận tiếp ứng cho chiến trường. B. Diễn biến trận đánh Bạch Đằng giang Khi Ô Mã Nhi dẫn đoàn thuyền tiến vào sông Bạch Đằng nhân lúc nước lớn, thủy quân nhà Trần tràn ra giao chiến, rồi giả thua chạy vào sâu bên trong. Ô Mã Nhi vốn đã thắng thủy quân của Trần Khánh Dư trước đây nên trúng kế khích tướng, thúc quân ra nghinh chiến. Các tướng Phàn Tham Chính, Hoạch Phong cũng ra tiếp ứng. Khi thuyền quân Nguyên đã vào sâu bên trong sông Bạch Đằng, tướng Nguyễn Khoái dẫn các quân Thánh Dực ra khiêu chiến và nhử quân Nguyên tiến sâu vào khúc sông đã đóng cọc chông. Quân nhà Trần đợi cho thủy triều xuống mới quay thuyền lại và đánh thẳng vào đội hình địch. Thủy quân Đại Việt từ Hải Đông, Vân Trà từ các phía Điền Công, Gia Đước, sông Thái, sông Giá nhanh chóng tiến ra sông Bạch Đằng, với hàng trăm chiến thuyền cùng quân lính các lộ dàn ra trên sông và dựa vào Ghềnh Cốc thành một dải thuyền chặn đầu thuyền địch ngang trên sông. Trong lúc thủy chiến đang diễn ra dữ dội thì đoàn chiến thuyền của hai vua Trần đóng ở vùng Hiệp Sơn (Kinh Môn, Hải Dương) bên bờ sông Giáp (sông Kinh Thần, vùng Kinh Môn, Hải Dương) làm nhiệm vụ đánh cầm chừng và cản bước tiến của địch, cũng tấn công từ phía sau khiến quân Nguyên càng lúng túng và tổn thất rất nặng. Sông Bạch Đằng nước triều lớn rất nhanh mà rút cũng mạnh, nên khi nước rút thuyền của quân Nguyên bị cọc gỗ đâm thủng, đắm chìm nghiêng ngã, quân Nguyên chết đuối hoặc bị giết vô số. Bị tấn công tới tấp trên sông, một số cánh quân Nguyên bỏ thuyền chạy lên bờ sông bên trái của Yên Hưng để tìm đường trốn thoát, nhưng vừa lên tới bờ họ lại rơi vào ổ phục kích của bộ binh Đại Việt, bị chặn đánh tan tác. Ô Mã Nhi cùng với binh lính dưới quyền chống cự tuyệt vọng trước sự tấn công của quân Trần, vì quân Nguyên của Thoát Hoan không tới cứu viện được, nên đến chiều đạo quân này hoàn toàn bị quân Trần tiêu diệt. Theo Nguyên sử, ghi truyện của Phàn Tiếp, chép rằng kịch chiến xảy ra từ giờ mão đến giờ dậu, tức là từ sáng kéo dài đến chiều tối mới kết thúc. Nguyên Sử có chép về tướng Nguyên Phàn Tiếp: "Tiếp cùng Ô Mã Nhi đem quân thủy trở về, bị giặc đón chặn. Triều sông Bạch Đằng xuống, thuyền Tiếp mắc cạn. Thuyền giặc dồn về nhiều, tên bắn như mưa. Tiếp hết sức đánh từ giờ mão đến giờ dậu. Tiếp bị súng bắn, rớt xuống nước. Giặc móc lên bắt, dùng thuốc độc giết". C. Kết Quân nhà Trần đại thắng, bắt được hơn 400 chiến thuyền, tướng Đỗ Hành bắt được tướng nguyên là Tích Lệ Cơ và Ô Mã Nhi dâng lên Thượng hoàng Trần Thánh Tông, tướng Nguyên là Phàn Tiếp bị bắt sống, rồi bị bệnh chết, Siragi và Lý Thiên Hựu cũng bị bắt sống. Đạo thủy quân của quân Nguyên hoàn toàn bị tiêu diệt. Thoát Hoan được tin thất trận Bạch Ðằng, liền kéo quân rút chạỵ lên Lạng Sơn, tới ải Nội Bàng bị phục binh của Phạm Ngũ Lão đổ ra đánh, tướng giặc Trương Quân bị Phạm Ngũ Lão chém chết. Quân Nam tiếp tục truy kích, thêm hai tướng giặc là A Bát Xích và Trương Ngọc bị tử trận. Riêng Thoát Hoan được tùy tướng Trình Bằng Phi hết lòng phò nguy, mới chạy thoát được về Tầu. Hình sưu tầm( Bảo tàng LSVN) Thế là sau ba lần xâm lăng nước ta, đạo quân Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế kỷ 13 đã chuốc lấy thảm bại và chịu từ bỏ hẳn mộng xâm lăng Đại Việt. Những chiến công hiển hách ấy là thuộc về các vua, quan và dân đời nhà Trần, song sáng chói nhất là vị thống soái Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn.. Nhìn rộng hơn, chiến thắng của Đại Việt, của Hưng Ðạo Ðại Vương, cũng làm suy yếu dần dần thế lực của Nguyên Mông ngay tại cả Trung Hoa đang bị người Mông Cổ cai tri, dẫn đến việc Hốt Tất Liệt từ bỏ ý định xâm lăng Nhật Bản. Những cọc nhọn được cho là đã được quân Đại Việt dùng để tiêu diệt thủy quân Nguyên. Hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. TBC Sưu tầm
-
Tổ Tiên Đầu Tiên Của Trung Hoa – HOÀNG ĐẾ Năm 2698 ~2598 Trước Tây lịch Vua họ Công Tôn, tên gọi là Hiên Viên. Hơn 4600 năm trước, được sinh ra ở đồi Hiên Viên, xứ Hà Nam . Ban đầu vua làm thủ lĩnh của một bộ lạc, vừa luyện võ nghệ vừa chỉ dạy cho dân. Bấy giờ, Du Võng - đời thứ 8 c ủa triều đại Viêm Đế (Thần Nông) - không còn đủ sức giữ thiên hạ, các bộ lạc bắt đầu đánh chiếm nhau. Vì muốn cứu dân đen thoát cảnh tang thương, Huỳnh Đế đã đứng lên diệt Du Võng và qui phục tất cả các bộ lạc. Ở phía Nam có Xi Vưu, thủ lĩnh bộ tộc Cửu Lê, kéo quân tiến đánh Hiên Viên. Cuộc chiến diễn ra kịch liệt, quân Xi Vưu bại trận và Xi Vưu bị giết. Các bộ lạc tôn Hiên Viên làm hoàng đế, lấy đức của đất mà làm vua thiên hạ, màu vàng của đất (huỳnh, hoàng) đặt tên, nên gọi là Hoàng Đế, dựng kinh đô ở đất Hữu Hùng. Vua là một vị thủ lỉnh sáng suốt, chí công vô tư, với nền chính trị ổn định, văn hóa tiến bộ. Bấy giờ trên bộ có xe, dưới nước có thuyền bè, còn phát minh ra kim chỉ nam (la bàn) và cung tên v.v... Hoàng Hậu Luy Tổ còn biết nuôi tằm dệt vải. Tôi thần Thương Hiệt sáng tạo chữ viết, Đại Nạo phát minh phép tính “Thiên can Địa chi”, lập ra Giáp tử (lục thập hoa giáp). Hoàng Đế tại vị được 100 năm thì mất, an táng tại Kiều Sơn (núi Kiều). Người đời sau tôn Hoàng Đế là vị Thủy Tổ của Trung Hoa. Khen rằng: Hoàng đế Hiên Viên Tổ tiên Trung Hoa Hàng phục Xi Vưu Tạo kim chỉ nam Phát minh nông nghiệp Nuôi tằm canh tác Giáo hóa muôn dân Tận tụy hết mình Lại nói kệ rằng: Trời sinh ra thánh hiền để dạy đời Chuyện ăn chuyện mặc ngày thêm mới Thần cơ toan tính trừ bạo ngược Anh hùng chí lớn quét gian tà Gào thét chiến trường rung trời đất Cung tên nhắm thẳng phá quân ma. Khéo vận ngũ hành sanh cùng khắc. Ngôn ngữ trí tuệ chấn cổ kim. Giảng giải: Hoàng Đế là vị thủy tổ (ông tổ đầu tiên) của dân tộc Trung Hoa, là con của thủ lĩnh Thiểu Điển. Vua họ Công Tôn, tên gọi là Hiên Viên, ra đời tại đồi Hiên Viên, vùng Hà Nam cách nay hơn 4600 năm trước. Ngày xưa, thường dùng địa danh nơi sinh ra để đặt tên, nên vua có tên là Hiên Viên. Hiên Viên là một vĩ nhân đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa , ngài đặt viên đá đầu tiên xây dựng nên nền văn minh của dân tộc Trung Hoa. Tương truyền, tên của mẹ Hoàng Đế là Phụ Bảo, một hôm bà đi vào rừng ở đất Kỳ, thấy trên trời có ánh sét lóe chớp bao quanh sao Bắc Đẩu, từ đó cảm ứng mang thai, sau hai mươi bốn tháng sinh ra Hoàng Đế, lúc bà chuyển dạ trên trời hiện tướng mây lành. Hoàng Đế sinh ra đã thông minh khác thường, tài trí vẹn toàn, chưa đầy 70 ngày đã biết nói. Lớn lên càng thông minh lanh lẹ, sáng suốt tài ba, chí công vô tư, có đủ thiên tư của một người lãnh đạo. Lúc còn ở độ tuổi thanh niên đã được chọn làm tù trưởng để chăm lo và điều khiển bộ tộc. Một mặt, Hoàng Đế luyện tập võ nghệ cho trai tráng, khiến cho ai cũng là tinh binh thiện chiến kiêu dũng, có kinh nghiệm chiến đấu, gặp trận nhất định chiến thắng; một mặt Hoàng Đế dạy cho dân những lễ nghi đạo đức, khiến ai ai cũng biết đối với nhau lễ phép, giúp đỡ, yêu thương như anh em, mọi người cùng đoàn kết một lòng. Thời ấy, dân tộc Trung Hoa sống rãi rác khắp nơi thành nhiều bộ tộc. Trong đó có hai bộ tộc nỗi tiếng nhất: đó là bộ tộc họ Khương nằm về phía Tây, đó là bộ tộc của dòng dõi Viêm Đế Thần Nông; một bộ tộc khác là bộ tộc họ Cơ nằm về phía Đông, chính là bộ tộc của Hoàng Đế. Bởi dòng dõi bộ tộc của Viêm Đế Thần Nông phát triển sớm hơn, thế lực cũng mạnh, nên từ trước đến giờ đều do bộ tộc này thống lĩnh toàn bộ các bộ tộc khác. Đến thời Hiên Viên, con đời thứ tám của Viêm Đế (họ Thần Nông) là Du Võng không còn đủ sức thống lĩnh thiên hạ, những tộc trưởng của các bộ lạc vì tranh giành quyền lợi đã không ngừng gây chiến với nhau, muôn dân do đó phải chịu nhiều lầm than. Hiên Viên vì muốn cứu vãn nhân dân khỏi ách lầm than, nên dã diệt Du Võng, các bộ lạc khác cũng lần lượt quy hàng. Bấy giờ Xi Vưu, thủ lĩnh của bộ tộc Cữu Lê nằm phía Nam lưu vực sông Trường Giang, thế lực hùng mạnh, tàn bạo bất nhân. Xi Vưu có dáng người mạnh khỏe, giỏi về chiến đấu, lại nhiều thần lực, có thể kêu mưa gọi gió, rãi đậu thành binh, đến đâu thắng đó. Xi Vưu kéo binh đánh vào bộ tộc của Hiên Viên, cứ ngỡ có thể chiếm được đất Trung Nguyên của Hiên Viên. Huỳnh Đế đã cùng Xi Vưu giao chiến kịch liệt tại Trác Lộc. Xi Vưu bố trận sương mù bao vây làm Hiên Viên và quân lính không biết ngõ ra, khiến cho quân Hiên Viên không biết đâu là Đông, Tây, Nam, Bắc. Nhưng với tài trí thông minh của Hiên Viên đã nhanh chóng phát minh ra la-bàn và cung tên, xông ra đánh tan mê trận của Xi Vưu. Sau mấy lần giao tranh khốc liệt, cuối cùng Xi Vưu bị đánh bại, Nam Bắc từ đó được thống nhất, những tộc trưởng của các bộ lạc cùng cử Hiên Viên lên làm thủ lĩnh. Do vì Hiên Viên lấy đức của đất mà làm vua thiên hạ, đất hay sanh muôn vật, có lợi ích cho muôn dân, lại vì đất có màu sắc vàng nên được tôn xưng là Hoàng Đế, dựng kinh đô ở Hữu Hùng (tỉnh Hà Nam ngày nay). Hoàng Đế là một vị vua anh minh, ban hành chính sách nhân từ, lập nên những quy tắc, điều lệ, tất cả đều theo một quỷ đạo chung, thống nhất được lưu vực sông Hoàng Hà, bản đồ đất nước dần dần mở rộng. Vua là người vì sự nghiệp lớn mà quên mình, có cách lãnh đạo, khiến cho chính trị ổn định, văn hóa tiến bộ lớn. Thời ấy, trên đường bộ có xe chạy, dưới nước có thuyền bè giao thông đi lại, sự kiện này so với thời điểm đó thì trước chưa từng có. Vua phát minh ra cung tên, dùng cho chiến đấu đánh thắng quân giặc, bảo vệ lãnh thổ. Trước thời Hoàng Đế, dân chúng chưa có đồ mặc, nhà ở, chánh phi của Hoàng Đế là Luy Tổ, tình cờ trong rừng dâu phát hiện kén của con tằm, vô ý kéo ra những sợi tơ dài, liền đem tơ tằm dệt thành vải, khâu thành áo quần, đây là bước đầu trang phục của Trung Hoa. Hoàng Đế còn dạy người dân làm nhà ở, làm mồ mả, giải quyết những vấn đề ăn ở đi đứng cho người dân và cả việc tang chế cho người đã chết. Trăm họ được sống trong sự bình an, vui với nghề nghiệp, dân tộc Trung Hoa từ đó bắt đầu bước lên con đường văn minh, công lao của Hoàng Đế thật không thể lãng quên được. Trong triều có quan Thương Hiệt (có bốn mắt), quan sát các hiện tượng trên trời và các địa hình của đất, xem kỹ các vết tích bay nhảy của cầm thú chim muông, linh cảm sáng tạo ra chữ tượng hình và ‘Lục thư’ (xem chú thich [1]) từ đó Trung Hoa bắt đầu có chữ viết. Trước thời gian đó, người ta chỉ biết đùng giây kết bằng cỏ rồi đánh dấu cho một sự kiện, việc lớn kết làm mối lớn, việc nhỏ kết làm mối nhỏ. Bắt đầu từ đây mới dùng ký hiệu chữ để ghi chép. Một vị quan khác tên là Đại Nạo, lại phát minh ra phương pháp dùng Thiên can Địa chi để tính tháng ngày, lập ra Giáp tử. 10 Thiên can gồm: giáp, ất, bính , đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quí; 12 Địa chi gồm: tý, sữu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi. Lấy Thiên can phối hợp với Địa chi mà tính, 60 năm là hết một vòng chu kỳ, gọi là một Giáp tử (Sexagenary Cycle or sixty-year cycle). Dùng cách này để ghi sự xoay chuyển của tháng ngày thật là tiện lợi, cho đến hơn 4000 năm sau vẫn còn có người sử dụng cách tính toán ấy. Hoàng Đế còn sắc lệnh cho Linh Luân định ra Luật Lữ (tức là luật âm nhạc), Dung Thành tạo ra lịch pháp, Hoàng Đế còn đích thân tìm hiểu nghiên cứu y thuật với Kỳ Bá, nhà y thuật nổi tiếng thời ấy, từ đó mà có cuốn sách y học “Hoàng Đế Nội Kinh” ra đời. Từ đó chỉ dạy cho nhân dân, nước nhà càng thêm hưng thịnh, trăm họ thân cận, thiên hạ một lòng. Ân đức của Hoàng Đế thấm nhuần, đến nay đã ngót 5000 năm, con cháu dân tộc Trung Hoa vẫn còn nương nhờ đức ấy. Có thể tôn xưng là bậc thánh quân đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa. Hoàng Đế tại vị được 100 năm thì băng hà. Sau khi mất được an táng tại Kiều Sơn, Thiểm Bắc (Nay thuộc huyện Hoàng Lăng, tỉnh Thiểm Tây), hiện còn lăng của Hoàng Đế làm chứng tích cho người sau tưởng nhớ. Mỗi năm vào tiết Thanh minh, ngày tảo mộ của dân tộc Trung Hoa, rất nhiều người đến lăng Hoàng Đế để cúng tế lễ bái, biểu hiện lòng thương tưởng không quên. Người đời sau tôn Hoàng Đế là tổ tiên đầu tiên của dân tộc Trung Hoa. Khen rằng: Hiên Viên Huỳnh Đế, Trung Quốc tổ kỷ: Hoàng Đế vốn có tên gọi là Hiên Viên, sau khi được cử làm vua, do đức của vua ví như đất, nên được tôn xưng là Hoàng Đế. Người đời sau tôn xưng là tổ tiên của dân tộc Trung Hoa và tự xưng là con cháu của Viêm Đế và Hoàng Đế. Ao chiến Xi Vưu, tạo chỉ nam khí: Vua cùng Xi Vưu, thủ lỉnh của một bộ tộc phía Nam, giao chiến và bị vây trong ma trận sương mù, bèn dùng nguyên lý từ nam châm mà phát minh ra xe chỉ nam (la bàn), mà phá được ma trận của Xi Vưu. Xi Vưu bị giết, tứ hải quy thuận. Nên nói trong khắp bốn biển đều là anh em, tứ hải giai huynh đệ vậy. Người đời sau tự xưng mình là con cháu của Viêm, Hoàng, đều là cùng một nhà (đồng bào). La bàn là một trong ba phát minh lớn của Trung Hoa (trong đó gồm: la bàn, thuốc súng và in ấn), đáng tiếc là sau này không ai phát huy thêm, lại đem la bàn dùng sai vào việc xem hướng âm dương nhà cửa, công cụ xem phong thủy. Nhưng sau khi truyền đến Châu Âu, người Tây Phương biến thành dụng cụ định vị phương hướng hàng hải, nên ông Columbus nhờ đó mà tìm ra được vùng đất mới. Phát minh nông nghiệp, dưỡng tầm canh địa: Trước thời Hoàng Đế, Trung Hoa còn là dân tộc du mục, ở rải rác khắp nơi, sống đời sống du mục nay đây mai đó không có chỗ ở nhất định. Sau khi Hoàng Đế lên làm tổng thủ lĩnh của các bộ tộc, bèn phát minh ra công cụ canh tác, dạy dân trồng trọt, thuận theo thời tiết bốn mùa mà trồng các loại cây trái ngũ cốc, bắt đầu có đời sống nông nghiệp làm ruộng, ăn thóc. Luy Tổ, chánh phi của Huỳnh Đế, còn dạy dân nuôi tằm dệt vải. Nhờ đó mà dân có áo mặc, có cơm ăn, không còn lo lắng chuyện ăn mặc, sống đời an vui. Giáo hóa đại hưng, bất di dư lực: Hoàng Đế và chánh phi hai người tận tụy hết sức mình chỉ dạy cho nhân dân, con trai biết làm rẫy con gái biết dệt vải, làm cho mọi người đều có cơ hội tự nuôi sống bằng chính sức mình, nước nhà từ đó cũng được ổn định tiến bộ. Nên Khổng Tử (chú thích[2]) từng có lời khen Hoàng Đế rằng “Lao động cả tâm sức và tai, mắt”, lấy hành động phụng sự nước nhà, tạo phước cho muôn dân, không từ lao nhọc, chưa từng biếng lười. Lại nói kệ rằng: Thiên sanh thánh giả giáo lê dân: Lê dân là chỉ cho nhân dân. Bậc thánh nhân giáng sinh xuống nhân gian mục đích là để chỉ giáo cho trăm họ biết tự lập và làm mới cuộc sống. Ẩm thực y phục nhật nhật tân:Hoàng Đế và Luy Tổ ra sức canh tân, giúp cho trăm họ được sống trong điều kiện ngày càng tiến bộ trên phương diện nơi ăn chốn ở, y phục và phương tiện đi lại. Thần cơ diệu toán bình địch khấu: Sự tính toán và mưu lược thần tốc của Hoàng Đế không thể bì kịp, nhờ đó mà bình định được quân Xi Vưu. Hùng Tài đại lược tảo yêu phân: Trí tuệ của Hoàng Đế luôn cao hơn người khác một bậc, lại biết vận dụng mưu kế, cuối cùng đã trừ được những trò yêu ma quỉ quái Phong lôi biến hóa kinh thiên địa: Hoàng Đế và Xi Vưu qua bao lần giao chiến, chiến đấu kịch liệt, những cảnh tượng khốc liệt của chiến trường khiến trời đất cũng rung chuyển, biến thành những trận cuồng phong sấm chớp. Kim mộc giao tính phá ma quân: Kim là chỉ cho mũi tên, mộc chỉ cho cánh cung; vua chế tạo ra cung tên, đại phá ma trận của Xi Vưu Vận chuyển ngũ hành sanh khắc lý: Vua biết vận dụng nguyên tắc tương khắc tương sinh của ngũ hành, sáng lập ra chân lý của âm dương tương phối. Ngũ hành, tức là năm tính chất của năm yếu tố Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Sự tương sinh của Ngũ Hành gồm: Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kinh sinh Thủy, Thủy lại sinh Mộc. Ngũ hành cũng có thể tương khắc: Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim lại khắc Mộc. Tương sinh có tính dương, tương khắc có tính âm, biến hóa vô cùng. Văn tự bát nhã chấn cổ kim: Thương Hiệt, vị quan dưới triều Hoàng Đế, sáng tạo ra chữ viết. Trí tuệ ấy của người xưa chấn động cổ kim. Đặc biệt sau việc khai quật loại chữ viết “giáp cốt” (chữ viết khắc trên mai rùa)[3] thời nhà Ân, người nước ngoài đối với trí tuệ của người Trung Hoa đều phải hết sức thán phục, tự nhận rằng không thể theo kịp. Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng vào ngày 30 tháng 10 năm 1987
-
DỊCH KINH GIẢN LƯỢC Nhược Thủy Trước khi vào các quẻ, để cho dễ hiểu tôi xin nói về: 1) Ít nhiều nhận định về Quẻ, Thoán, Hào. 2) Áp dụng những nguyên tắc của Dịch Kinh vào cuộc đời. I. ÍT NHIỀU NHẬN ĐỊNH VỀ QUẺ, THOÁN, HÀO 1) Nhận định về quẻ Quẻ có quẻ đơn và quẻ kép. Quẻ Đơn. Quẻ Đơn gồm 8 quẻ; mỗi quẻ có 3 vạch (Hào): Kiền (Càn) , Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài Quẻ Đơn tượng trưng cho Vạn Vật, Vạn Hữu Quẻ Kép. Quẻ Kép gồm 64 quẻ, mỗi quẻ có 6 Hào. Quẻ Kép tượng trưng cho hết mọi biến hóa, mọi tình trạng, mọi hoàn cảnh mà Vạn hữu và Nhân quần gây nên trong khi giao tiếp với nhau. Thượng Kinh và Hạ Kinh viết lại 64 quẻ , tức là đưa ra 64 hoàn cảnh tượng trưng, để dạy con người phương pháp xử sự cho khéo léo, tùy theo mỗi hoàn cảnh mình gặp. Quẻ Kép gồm 2 quẻ đơn, ta gọi: -Quẻ phía dưới là Nội Quái -Quẻ phía trên là Ngoại Quái Vì mỗi hoàn cảnh có nhiều khía cạnh, nhiều giai đoạn, nhiều nhân vật bị dính dấp ảnh hưởng, nên mỗi quẻ lại có 6 Hào. Sáu Hào cốt là để nói lên cho rõ ràng: *Mọi khía cạnh, mọi trạng thái biến thiên của hoàn cảnh. *Mọi giai đọan của một công trình. *Mọi tầng lớp trong xã hội, đang cùng chia xẻ một hoàn cảnh *Những trường hợp khác nhau, có thể xảy ra cho từng hạng người sống cùng chung một hoàn cảnh.. Bàn về mỗi quẻ Kép có: A) Tự Quái. B) Thoán Từ. C) Thoán Truyện. D) Tượng Truyện. E) Hào Từ và Tiểu Tượng Truyện. Muốn hiểu rõ mỗi quẻ, phải nghiên cứu tận tường: A) Tự Quái có mục đích dạy ta khi gặp mỗi quẻ, tức là mỗi hoàn cảnh, phải xét xem nó duyên do tự đâu B) Thoán bàn luận tổng quát về sự hay dở của mỗi quẻ, tức là của mỗi hoàn cảnh. Dịch Kinh dùng 11 chữ để xét đoán hay dở: 1) Nguyên = chí thiện, = nguyên thủy (gốc gác vạn hữu) = lớn, mạnh, hào hùng, cao đại. 2) Hanh = Thông suốt (hanh thông) = Chí mỹ (Gia chi hội - Văn ngôn) 3) Lợi = Lợi, thuận nhân tâm, thích nghi, thích đáng. 4) Trinh = Chính, bền, thành đạt, bền vững, hằng cửu, chủ chốt, chủ đích của mọi việc. 5) Cát = Tốt, được, thành công. 6) Hung = Xấu, mất, thất bại. 7) Hối = Hối lận, ưu lự, băn khoăn. 8) Lận = Xấu hổ. 9) Lệ = Nguy hiểm. 10 & 11) Vô cữu là không có lỗi. Tóm lại, một hoàn cảnh, một công tác hay, hay dở tùy ở chỗ thành hay bại, đắc hay thất, có làm cho mình phải hối hận, phàn nàn, xấu hổ hay không? Việc xấu mà không, hay chưa hối hận thời nguy hại, đã phàn nàn, cải quá thì không lỗi gì. Nhiều khi Dịch cũng dùng 2 chữ Trinh hung đi đôi với nhau. Chữ Vô Cữu nhiều khi phải giải là Không trách cứ ai được. Thoán có Thoán Từ, Thoán Truyện *Thoán Từ là của Văn Vương. Thoán Từ rất vắn tắt, cô đọng, nói đại ý toàn quẻ & sự hay dở tổng quát của toàn quẻ *Thoán Truyện là lời của Khổng Tử, dùng để giải thích Thoán Từ. Thoán Truyện nhiều khi viết có âm vận, và thường theo phương pháp sau đây :- 1) Giải thích tên quẻ mỗi khi cần. 2) Phân tích quẻ thành 2 quẻ Đơn (Quái Thể), rồi lấy 2 quẻ đơn ấy mà phân tích Thoán Từ (Dĩ Quái Thể thích Quái Danh, Quái Nghĩa) 3) Lấy đức tính của 2 quẻ đơn ấy để cắt nghĩa Thoán Từ (Dĩ Quái Đức thích Quái Từ) 4) Dùng những hình ảnh do 2 quẻ đơn ấy gợi nên để cắt nghĩa Thoán Từ (Dĩ Quái Tượng thích Thoán Từ) 5) Xem quẻ đương cuộc đã do quẻ nào sinh ra, là biến thể của quẻ nào, rồi lấy đó mà giải thích Quái Từ (Dĩ Quái Biến thích Quái Từ) 6) Xem 2 quẻ đơn là Âm hay Dương, Cương hay Nhu, giao nhau hay không giao nhau để giải thích Quái Từ (Dĩ Quái Tài thích Quái Từ) 7) Tìm hào chủ chốt của quẻ ( Chủ Hào), rồi nhân đó cắt nghĩa Quái Từ, Quái Nghĩa. Hào chủ chốt thường là hào 2 và 5, nhưng cũng có khi là hào 1 như ở quẻ Truân, là hào 3 như ở quẻ Khiêm, hào 4 như ở quẻ Dự. Có nhiều khi lời Thoán giống lời Hào chủ chốt. Ví dụ: Thoán quẻ Truân có chữ Lợi kiến hầu, thì hào Sơ Cửu cũng có chữ Lợi kiến hầu. 8) Thoán Truyện thường nhắc lại để giải thích từng câu trong Thoán Từ. 9) Ngoài công việc chú giải Thoán Từ, Thoán Truyện còn đưa ra những nhận định tổng quát, những định luật của Trời Đất. Ví dụ: *Nơi quẻ Hàm, thì đề cập đến định luật cảm thông trong Trời đất *Nơi quẻ Khuê, thời nói về Âm Dương lưỡng dụng để đi tới đại thành. * Nơi quẻ Phong, thì bàn về lẽ Doanh, Hư, Tiêu tức của Trời đất. * Nơi quẻ Hằng thì bàn về sự bền vững là điều kiện để tiến tới vĩnh cửu, bất biến... Vì vậy, hiểu được Thoán Từ là hiểu được quá 1/2 quẻ Dịch rồi (Trí giả quan kỳ Thoán Từ tắc tư quá bán hỹ - Hệ Từ hạ, Chương 9) C) Hào Trong 1 hoàn cảnh có nhiều khía cạnh, nhiều nhân vật liên hệ, quẻ là một hoàn cảnh, nên cũng lấy các Hào mà tượng trưng cho sự diễn biến của hoàn cảnh, những khía cạnh khác nhau của hoàn cảnh, những nhân vật liên hệ đến hoàn cảnh. Hào có Hào Tài & Hào Vị. *Hào Tài là bản chất của từng Hào, tài đức của từng Hào. Hào Tài được diễn tả bằng Âm và Dương. Âm Hào tượng trưng cho những kẻ tiểu nhân, hoặc những người bất tài, nhu nhược. Dương Hào tượng trưng cho quân tử, người tài cán, cương nghị. *Hào Vị . Mỗi quẻ Kép có 6 vị ngôi, tức là 6 Hào Mỗi một hào mang một số thứ tự tính từ dưới lên trên : 1, 2, 3, 4, 5, 6 có tên là Hào Sơ, Hào Nhị, Hào Tam, Hào Tứ, Hào Ngũ và Hào Thượng. Số lẻ 1, 3, 5 là vị Dương. Số chẵn 2, 4, 6 là vị Âm. Tùy Hào tài là Dương hay Âm, ta dùng thêm chữ Cửu hay Lục. Từ dưới lên trên ta xưng danh như sau: Nếu là Dương Hào ta có: Sơ Cửu, Cửu Nhị, Cửu Tam, Cửu Tứ, Cửu Ngũ, Thượng Cửu. Nếu là Âm Hào ta có: Sơ Lục, Lục Nhị, Lục Tam, Lục Tứ, Lục Ngũ, Thượng Lục. Hào Vị có nhiều công dụng: a) Nó biểu dương không gian TRÊN, DƯỚI, GIỮA. B) Thời gian: ĐẦU, GIỮA, CUỐI. c) Các tầng lớp xã hội từ lê thứ, đến quan, vua, đến miếu mạo, triều ca. d) Nó xác định ngôi vị của từng nhân vật. e) Các giá trị tinh thần từ thấp đến cao. f) Chiều hướng biến hóa từ trong ra ngoài, hoặc từ ngoài vào trong. Từ dưới lên trên là biến chuyển từ trong ra ngoài. Gặp trường hợp ấy nơi Thoán Truyện, dùng chữ Vãng. Biến chuyển từ trên xuống dưới là biến từ ngoài vào trong. Trường hợp này Thoán Truyện dùng chữ Lai. Như trên đã nói, lối tính các Hào bao giờ cũng tính từ dưới lên trên, cho nên: -Hào dưới là thấp, Hào trên là cao. -Hào dưới thì là hạ tiện, là lê dân, Hào trên thời là tôn quí, là quan, là vua. Đối với thân thể con người, thì dưới là chân, trên là mặt, là miệng, là đầu. Đối với con vật, thì hào Sơ là đuôi, hào trên cùng là đầu, là sừng vv... Đối với quá trình một công việc, thì dưới là khởi điểm công việc, khó biết, khó làm. Giữa là giai đoạn gian một vài qui ước đã được chấp thuận cho mỗi một Hào. *Hào Thượng: Thái miếu, Thái thượng hoàng, Thượng phu, ẩn sĩ thoát trần. Đó là hào hưu tức, ngoại vị, vô vị. *Hào Ngũ: Thiên tử, Quân vương. *Hào Tứ: Đại thần, cận thần, chư hầu. *Hào Tam: Công khanh, Tam công, là những người có thế lực trong nước. *Hào Nhị: Công thần, Đại phu. *Hào Sơ: Nguyên sĩ, là vạn dân, thứ dân. (Xem thêm nơi Hệ Từ hạ , Chương 9 ) TRUNG CHÍNH & BẤT TRUNG BẤT CHÍNH - Hào 2 và 5 là Trung Hào, nên gọi là Trung. - Hào 3, 4 chẳng hạn, không phải Hào giữa nên gọi là Bất trung. - Hào Dương cư Dương vị, hào Âm cư Âm vị gọi là Chính. - Hào Dương cư Âm vị, hào Âm cư Dương vị gọi là Bất chính. Trung chính & Bất trung chính cốt để chỉ 2 sự kiện: 1) Trung là những người thành khẩn, trung thực, có lương tâm chức nghiệp, tận tụy vì công vụ. 2) Chính là những người được dùng vào những ngôi vị, những công việc xứng với tài đức của mình. Bất trung chỉ những người gian ngoan, không thành khẩn. Bất chính chỉ những người sống trong những địa vị bất xứng, không thích hợp với tài đức của mình, ví như dốt nát, bất tài mà lại ở địa vị cao (Âm cư Dương vị); hoặc có tài, có đức mà không được trọng dụng, không được đặt vào những chức vị xứng đáng (Dương cư Âm vị) Nhân đó ta suy ra được tình trạng hay dở rất nhiều. ỨNG & TỈ Mỗi người trong xã hội lại có một số người hỗ trợ, hay không hỗ trợ, Dịch kinh diễn tả sự kiện này bằng ỨNG HÀO . ỨNG HÀO thì 1 ứng với 4 2 ứng với 5 3 ứng với 6 *Âm ở dưới ứng Dương ở trên thì phải hiểu là tiểu nhân dựa thế quân tử, tiểu nhân dựa thế lực người có quyền thế ở trên, như vậy đâu có hay. *Dương ở trên ứng với Âm ở dưới thì phải hiểu là người trên hay, mà người dưới dở, không giúp ích được bao lâu. *Âm lại gặp Âm, Dương lại gặp Dương thì thường phải hiểu là một người hoạt động đơn độc, không người hỗ trợ. *Nhưng ở Hào ngũ, Hào nhị, nếu Cửu Ngũ mà lại gặp Cửu Nhị thì có thể hiểu là Minh quân lại gặp Hiền thần. (Xem Kiền) TỈ : là thân cận, là sống kế cận nhau. ỨNG là nói 2 Hào cách xa nhau, TỈ là nói 2 Hào kề cận nhau. Phàm gần nhau phải giống tính, giống nết nhau mới tốt. Vì thế Âm cận Hào Âm mới tốt, Dương cận Hào Dương mới hay. Còn như Âm bên Dương, Dương bên Âm, vì một đằng Cương, một đằng Nhu, một đằng quân tử, một đằng tiểu nhân, một đằng hữu tài, một đằng vô tài, nên thường khủng khiểng, kèn cựa. Nếu Âm ở dưới Dương, tức là kẻ bất tài nhường nhịn người có tài. Nếu Âm ở trên Dương, tức kẻ vô tài mà lại trèo đầu, cưỡi cổ người có tài thì sẽ sinh lắm chuyện. - Trường hợp quị lụy, nhường nhịn, Dịch gọi là THỪA -Trường hợp đè đầu, cưỡi cổ, Dịch cũng gọi là THỪA. Như vậy, để đoán định CÁT, HUNG, Dịch theo những tiêu chuẩn sau đây: 1) Địa vị phải xứng kỳ đức mới hay. 2) Làm việc gì phải có người hỗ trợ, hưởng ứng, phụ bật mới hay. 3) Không hợp nhau, mà xa nhau thì còn khả trợ, vì không giao tiếp với nhau. Nhưng đã không hợp nhau mà phải sống bên nhau, thật là căn cớ mọi hung họa. 4) Thành khẩn mà đối đãi nhau mới hay. Giả dối mà đối đãi với nhau thật là điều tai hại. 5) Và như vậy, cả bộ Dịch khuyên ta phải ở những nơi, giữ những công việc thích hợp với tài đức mình, giao thiệp với những người đồng tâm, đồng chí với mình.vv... ÍT NHIỀU VÍ DỤ ĐỂ HIỂU VỀ 6 HÀO (Ta đi từ Hào Sơ cho tới Hào Thượng) 1) Ví dụ Quẻ Tỉnh: Sáu Hào ở đây mô tả các loại giếng, và các công dụng khác nhau của những giếng. Hào 1) Đáy giếng bùn = Tiểu nhân không nên dùng. Hào 2) Giếng có ngách ngang hông, để mất hết nước.= Người không lý tưởng, không ích lợi gì. Hào 3) Giếng tốt bỏ hoang không ai dùng = Người tài đức không được trọng dụng. Hào 4) Giếng được xây sửa lại, tạm thời không dùng được = Công bộc Quốc Gia nhiều khi phải ngưng phục vụ để tu nghiệp lại. Hào 5) Giếng trong có người ăn = Vị quốc quân có tài đức, thực ích lợi cho quốc dân. Hào 6) Giếng nước ngon, có nắp đậy, lại đầy nước = Ở trên càng làm ích cho đời, càng nhiều cái hay. 2. Quẻ Đỉnh. (Mô tả các phần và công dụng của cái đỉnh, cái vạc dùng để nấu thức ăn) Hào 1) Đỉnh chổng chân (để rửa bụi bậm bên trong: bất kỳ hoàn cảnh nào, nhân vật nào mà ta biết lợi dụng vẫn hay) Hào 2) Vạc đầy thức ăn (Không nên thân cận tiểu nhân) Hào 3) Tai đỉnh (Vạc thay tai: Quân tử lúc đầu không được trọng dụng, sau sẽ được hòa hợp với vua) Hào 4) Đỉnh gãy chân: (Dùng tiểu nhân vào chức trọng, sẽ hỏng việc. Hào 6) Khoen đỉnh (Ở đời mà cương nhu hòa hợp, trên đưới một lòng, thì hay biết mấy) 3. Quẻ Hàm. (Dùng các phần mình trong người để diễn tả sự cảm xúc, cảm thông) Hào 1) Cảm bằng ngón cái chân (Sức cảm hóa còn yếu ớt) Hào 2) Cảm bằng bắp chân (Muốn cảm hóa người trên rất khó) Hào 3) Cảm bằng vế đùi (Cảm hóa không phải là xu phụ quần chúng) Hào 4) Cảm bằng tâm (Cảm hóa bằng cả tâm hồn mới tốt, không nên dùng thủ đoạn) Hào 5) Cảm hóa bằng gáy vai (Cảm hóa mà hờn hợt sẽ không bền ) Hào 6) Cảm hóa bằng mép môi (Cảm hóa người bằng cửa miệng không hay) II. ÁP DỤNG NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA DỊCH KINH VÀO CUỘC ĐỜI Áp dụng nguyên tắc Dịch kinh để đoán định công việc ta làm hay, hay dở Phàm một công việc ta làm, muốn biết là dở, hay hay, ta sẽ phân tách nó theo những tiêu chuẩn sau đây: -Lý: Minh chính hay tà khuất. -Tình: Thành khẩn hay giả dối, đắc ý hay không đắc ý. Ta thích làm hay làm miễn cưỡng. -Tài: Ta là người có chân tài hay không? -Đức: Ta là người có đức hay không? -Thời: Công việc ta làm có hợp thời hay không?. Có hợp với tuổi ta không?. -Vị: Địa vị và hoàn cảnh của ta chính đáng, hay không?, thích hợp với ta hay không? -Sự hiểu biết của ta về công việc: Ta có am tường công việc này hay không? -Sự chuẩn bị của ta: Làm công việc này ta có chuẩn bị chu đáo hay không? -Ứng: Ta làm công việc này có người giúp hay không, có người hưởng ứng hay không? Có bị ai phá phách, gàng quải hay không? -Cát Hung: Ta làm công việc này để thành công, hay là để thất bại? -Hối lận: Ta làm công việc này có bị lương tâm phiền trách hay không? Có bị người đời đàm tiếu hay không. Ta sung sướng, hãnh diện mỗi khi nghĩ đến công việc ta làm, hay trái lại nó làm ta xấu hổ. -Lệ, Vô Cữu: Khi làm công việc này, mỗi khi ta thấy ta sai đường, lạc lối, mỗi khi ta thấy ta lầm lẫn, ta sẽ có thực tình sửa đổi đường lối hay không? Nếu xét từng tiêu chuẩn, mà ta thấy phải trả lời là không, thì việc của ta là không hay, đừng có làm. Như vậy, là ta theo đúng đường lối của Trời Đất, theo đúng Mệnh Trời. MỖI KHI TA TÍNH TOÁN MỘT CÔNG VIỆC GÌ, MỖI KHI TA LÂM VÀO MỘT HOÀN CẢNH NÀO, ta phải: 1) Nghiên cứu, tìm hiểu công việc hay hoàn cảnh ta cho tận tường. -Tìm xem những yếu tố nào đã gây nên hoàn cảnh này. -Xem ai làm chủ chốt, ai làm chốt, làm nọc trong hoàn cảnh này. - Ta có can dự nào đối với hoàn cảnh. Trực tiếp bị ảnh hưởng, gián tiếp bị ảnh hưởng, hay không bị ảnh hưởng? 2) Nghiên cứu các lực lượng bạn và thù. 3) Nghiên cứu các vấn đề cần phải giải quyết. 4) Nghiên cứu xem các khó khăn vấp phải. -Vượt tầm giải quyết của ta. -Vừa tầm giải quyết của ta. -Ta có thể giải quyết dễ dàng với tài sức ta. 5) Hoàn cảnh ta gặp, công việc ta tìm đang ở vào thời kỳ nào: đầu hay đuôi. 6) Hoàn cảnh ta đang gặp, thuận lợi hay không thuận lợi đối với ta. Tóm lại, Dịch Kinh muốn dạy ta những điều chính yếu sau đây trong cuộc sống hàng ngày: - Muốn làm việc gì phải thông suốt vấn đề, nghiên cứu tỉ mỉ, phân tách công việc ra thành từng giai đoạn, phải biết tiên liệu những đường đi, nước bước của mình, tiên đoán những trường hợp mình sẽ gặp phải, chương trình hoạt động của mình phải có mục phiêu sáng suốt rõ ràng, những phương thế để đạt mục phiêu ấy phải được hoạch định, nghiên cứu tỉ mỉ. Phải chọn người cộng tác có tài đức, khả dĩ thi hành được công việc cho đến thành công. -Muốn đối phó hoàn cảnh cho xuôi xắn, phải biết tùy thời xử thế. Lúc cương, lúc nhu, khi mạnh thì cương, khi yếu thời nhu, phải luôn luôn theo đường lối tự nhiên, công chính và phổ quát. -Trong khi hành sự, phải bình tĩnh, sáng suốt, bình dị, đừng có rối rắm, đừng có phức tạp cầu kỳ. -Đừng làm gì để cho lương tâm, người đời chê trách. Đừng làm gì để di hại đến tinh thần, thể xác, hoàn cảnh, sự nghiệp, danh giá của mình. -Gặp nguy biến, phải ẩn lánh để bảo toàn tấm thân. -Gặp lúc thuận tiện, phải đem tài năng, đức độ ra giúp nước, giúp dân. -Không cộng tác với bạo chúa, cường quyền. -Chỉ cộng tác với người tài đức, vì dân, vì nước. -Không thân cận với kẻ tiểu nhân, với người ác đức. Khi cần giao thiệp với họ, phải giữ gìn cho lắm. -Phải tránh những sự giao thiệp giả dối. -Đối với mọi người, cần sự thành khẩn. -Không có tài, đừng ham địa vị cao. -Không phải việc mình, đừng rây vào. Những nguy hiểm có thể tránh được thì nên tránh, đừng có dấn thân vào. Nếu chúng ta giữ được như vậy, thì công việc chúng ta thi hành thường được trôi chẩy, cuộc đời chúng ta luôn được vui tươi như ý. Dịch Kinh đã dạy chúng ta những tôn chỉ chính xác, để hướng dẫn hành động chúng ta cho chúng ta trở nên hoàn bị. Có những tư tưởng sáng suốt, những tôn chỉ chính xác, mục phiêu cao cả, những hành vi, cử chỉ, tác phong hợp lý hợp nghĩa, tức là có những phương tiện để tiến tới hoàn thiện, trở thành Thánh Hiền. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Wiki: Các sự kiện chính Xuân Thu (chữ Trung Quốc: 春秋時代; Hán Việt: Xuân Thu thời đại, bính âm: Chūnqiū Shídài) là tên gọi một giai đoạn lịch sử từ 722 đến 481 TCN trong lịch sử Trung Quốc. Tên của nó bắt nguồn từ cuốn Kinh Xuân Thu (Biên niên sử Xuân Thu), một cuốn sử mà theo truyền thống thường được coi là của Khổng Tử. Ở giai đoạn Xuân Thu, quyền lực được tập trung hoá. Giai đoạn này xảy ra rất nhiều các trận chiến và sự sáp nhập khoảng 170 nước nhỏ. Sự sụp đổ dần dần của giới thượng lưu dẫn tới sự mở rộng học hành; trí thức gia tăng lại thúc đẩy tự do tư tưởng và tiến bộ kỹ thuật. Tiếp sau giai đoạn này là thời Chiến Quốc. 770 TCN – các quý tộc nhà Chu ủng hộ Chu Bình Vương (周平王) lên làm vua mới nhà Chu. Bình vương dời đô đến Lạc Ấp (雒邑). Giai đoạn Đông Chu hay Xuân Thu bắt đầu. Bình vương phong cho con của nhà quý tộc Doanh Kỳ (贏其) làm chủ thêm vùng tây bắc của nhà Chu (đất Phong và đất Kỳ). Ông được gọi là Tần Tương Công (秦襄公). Nước Tần (秦) từ đó trở thành nước lớn. 763 TCN - Trịnh Trang Công (鄭莊公) sáp nhập và tiêu diệt vương quốc rợ Hồ (Hồ Quốc) (胡國). Ông tin cậy vào vị quan nổi tiếng của mình là Sái Trọng (祭仲). 750 TCN - Tấn Văn hầu (晉文侯) Cơ Cừu (姬仇) sáp nhập và tiêu diệt vương quốc Dư Thần Chu (余臣周) 704 TCN - Lãnh chúa nước Sở (楚) Mễ Hùng Thông (羋熊通), lợi dụng sự yếu kém của vua Chu để thoát khỏi sự ràng buộc như một chư hầu của nhà Chu và tự phong mình làm vua. Ông tuyên bố lập ra nước Sở (楚國) và tự gọi là Sở Vũ Vương (楚武王). 701 TCN - Trịnh Trang Công (鄭莊公) chết. Con ông là Cơ Hốt (姬忽) kế vị và được gọi là Trịnh Chiêu Công (鄭昭公). Vì công chúa Ung Thị (雍氏) nước Tống (宋國) lấy Trịnh Trang Công và có một con trai tên là Cơ Đột (姬突), vua Tống nghĩ rằng ông có thể mở rộng ảnh hưởng của mình tới Trịnh bằng cách giúp đưa lên ngôi một vị vua mới có quan hệ với nước Tống. Sái Trọng (祭仲), người được kính trọng và có ảnh hưởng ở Trịnh, đã bị Tống lừa bắt và buộc phải ủng hộ Công tử Đột lên làm người kế vị ngôi báu nước Trịnh. Trịnh Chiêu Công bị giáng tước và phải chạy trốn. Công tử Đột lên nối ngôi và được gọi là Trịnh Lệ Công (鄭厲公). 694 TCN - Tề Tương Công (齊襄公) Khương Chư Nhi (姜諸兒) tập hợp chư hầu ở Thủ Chỉ (首止) và ám sát Lỗ Hoàn Công (魯桓公). 686 TCN - Tề Tương Công (齊襄公) bị Khương Vô Tri (姜無知) ám sát để giành ngôi vua nước Tề. 685 TCN – Vua Tề Khương Vô Tri (姜無知) bị ám sát. Khương Tiểu Bạch (姜小白) trở thành người nối ngôi và trở thành Tề Hoàn Công (齊桓公) nổi tiếng. 684 TCN Tề Hoàn Công (齊桓公) đưa Quản Trọng (管仲) lên làm Tướng (相), hay tể tướng. 681 TCN Tề Hoàn Công (齊桓公) và Lỗ Trang Công (魯莊公) Cơ Đồng (姬同) gặp mặt và thương lượng ở đất Kha (柯). 679 TCN Tề Hoàn Công (齊桓公) mời và tập hợp tất cả các chư hầu ở Trung Nguyên vào liên minh của mình và bắt đầu trở thành vị Bá chủ chư hầu huyền thoại. Cùng năm đó, vị chư hầu ở Khúc Ốc (曲沃) nước Tấn (晉), Cơ Đại (姬代), giết vua nước Tấn, Cơ Mẫn (姬湣). Cơ Đại đút lót cho Chu Ly Vương (周釐王), Cơ Hồ (姬胡), và được triều đình hoàng gia chính thức chỉ định làm vua mới ở nước Tấn. Ông được gọi là Tấn Vũ Công (晉武公). 668 TCN Tấn Hiến Công (晉獻公), người kế tục Tấn Vũ Công (晉武公), dời thủ đô của Tấn đến Giáng (絳). 667 TCN Chu Huệ Vương (周惠王), Cơ Lang (姬閬), trao tước Bá (霸), cho Tề Hoàn Công (齊桓公). Ông tiếp tục lãnh đạo liên minh các chư hầu để phục vụ và bảo vệ Vương quốc Chu. 660 TCN Tần Thành Công (秦成公) chết. Doanh Nhâm Hảo (嬴任好) trở thành lãnh chúa mới ở Tần và được gọi là Tần Mục Công (秦穆公). 656 TCN Vì nước Thái (蔡) quyết định nộp cống cho nhà Chu thay vì liên minh với Tề (齊), (Tề Hoàn Công (齊桓公) dẫn quân liên minh chư hầu vào Thái. Thái mất nước và liên minh lại dự định tấn công nước Sở. Dưới chiến lược khôn khéo của tể tướng Quản Trọng nước Tề (管仲), Sở buộc phải thề liên minh với Tề. Tề Hoàn Công chiến thắng trở về và lại tổ chức một cuộc gặp chư hầu ở Quỳ Khâu (葵丘). 651 TCN Tấn Hiến công (晉獻公) chết. Một trong những người con của ông tên là Cơ Hề Tề (姬奚齊), con của một người vợ thứ là Ly Cơ (驢姬) lên nối ngôi. Một vị đại phu nước Tấn là Lý Khắc (里克) giết ông ngay sau đó. Cơ Trác Tử (姬卓子) trở thành vua mới mới của Tấn nhưng cũng lại bị Lý Khắc giết. Tề Hoàn Công dẫn quân liên minh chư hầu của mình vào nước Tấn và muốn ngăn chặn cuộc chém giết. Tuy nhiên, ông đã tới muộn, vì Tần Mục Công (秦穆公) đã làm việc đó bằng cách đưa một người mới lên ngôi ở Tấn với đội quân do vị tướng của ông là Bách Lý Hề (百里奚) chỉ huy. Vị công tử này là Cơ Di Ngô (姬夷吾), và sau khi lên ngôi tức là Tấn Huệ công (晉惠公). Cùng năm đó, Tống Hoàn Công (宋桓公) chết. Con ông là Tử Tư Phủ (子茲甫) nối vị và được gọi là Tống Tương Công (宋襄公). 643 TCN (Tề Hoàn Công (齊桓公) chết. Trong những năm cuối đời, sau cái chết của tể tướng Quản Trọng (管仲), Tề Hoàn Công đã sử dụng những kẻ bất tài vào những vị trí cao trong triều. Và kết quả là những kẻ đó nắm lấy quyền lực quốc gia khi ông sắp chết bằng cách giết hại các vị quan trung thành và tài giỏi trong triều. Tề Hoàn Công dự định đưa con út nối ngôi. Tuy nhiên, những kẻ nắm quyền đã thay đổi ý định của ông và đưa con cả của ông là Khương Vô Khuy (姜無虧), lên nối ngôi. 642 B.C.E Khương Vô Khuy (姜無虧), người nối ngôi Tề Hoàn Công (齊桓公), bị giết. Khương Chiêu (姜昭) trở thành vua mới và được gọi là Tề Hiếu Công (齊孝公). 641 TCN Sau cái chết của Tề Hoàn Công (齊桓公), không ai thực sự nắm quyền làm bá, và cơ hội lại dành cho tất cả moi người. Tống Tương Công (宋襄公) tuyên bố thành lập liên minh chư hầu mới trong một nỗ lực để lên làm Bá chư hầu. Tuy nhiên nước Tống không mạnh và rộng lớn như Tề và Tống Tương Công cũng không tài giỏi như Tề Hoàn Công. Hơn nữa, Tề Hoàn Công có sự giúp đỡ của Quản Trọng (管仲) người điều hành đất nước tới vị trí là chư hầu mạnh nhất và thành công nhất trong giai đoạn Xuân Thu. Để bắt đầu thời cai trị của mình, Tống Tương Công bắt vua nước Đằng và giết vua nước Tắng mà không có lý do cụ thể. Lưu ý rằng đây là một sai lầm lớn chứ không phải là một dấu hiệu của quyền lực bởi vì một vị Bá phải nhân đức, mạnh mẽ, ủng hộ vua nhà Chu, và là người đáng kính. Mọi hành động của vị Bá chủ phải đúng đắn và quả cảm như những hành động của Tề Hoàn Công. "Phúc Lộc Thọ mãn đường"
-
Qua anh tôi muốn cảnh báo với những thế lực thù địch và có nhiều quyền lợi trong việc phủ nhận văn hóa truyền thống Việt rằng: Quí vị hãy vừa phải thôi. Tôi không đụng chạm đến các người - ngoại trừ việc minh chứng Việt sử 5000 năm văn hiến và cội nguồn Lý học thuộc về dân tộc Việt có thể làm tổn hại quyền lợi của những kẻ nào đó có quyền lợi gắn bó với ngoại bang, bị thiệt thòi. Anh Liêm Trinh à. Như vậy, tên dân tộc Hán chính là từ Luận Ngữ và Xuân Thu Tam Truyện của Đức Khổng Tử - thật quá đơn giản khi giải thích. Quy luật vũ trụ hay quy luật nhân quả vận động chính xác hoàn toàn tuyệt đối, do vậy các thế lực này đang chịu một tương tác rất mạnh do phủ nhận 5000 năm văn hiến Việt và nhận quyền lợi từ ngoại bang bởi tính chất đáo đầu trường khí. Trong vòng 2000 năm trước, kể từ thời Hai Bà trưng tới nay, những kẻ nào tổ chức trấn yểm Đại Việt - dòng họ và thân nhân của họ đang bắt đầu nhận lại những hậu quả hết sức nặng nề do tính chất đảo ngược năng lượng nói trên. "Phúc Lộc Thọ mãn đường"
-
Híc! Hoangnt đang cố chứng minh Lưu Bang có gốc người nước Sở, thuộc một họ trong Bách Việt. Tức Hán tộc cũng thuộc Việt tộc. Đây chính là luận điểm sai lầm lớn nhất mà Hoangnt gặp phải, cũng từa tựa như đang muốn đồng hóa nước Việt mình. Theo nghiên cứu của các nhà sử học thế giới và Việt Nam thì Hán tộc xuất phát ở phía Tây Nội Mông, gần Dãy Himalaya và bắt đầu cuộc di dân xâm chiếm và đồng hóa các dân tộc khác. Bắt đầu là từ Tây sang Đông cho đến Bắc Kinh hiện nay. Sau đó là từ Bắc xuống Nam (cái này thì mọi người đã biết rồi) Thân mến Trước tiên, chúng ta thấy trong các chương của Sử Ký Tư Mã Thiên, khi nói về các nhân vật chính, ngay từ đầu chương đã nói gốc gác, quê hương, dân tộc hoặc quốc gia của họ nhưng riêng Hán Cao Tổ thì thực sự là không rõ ràng. Dân tộc Hán - hay dân Trung Hoa bây giờ thường nói mình là người Hán thực chất xuất phát từ triều đại này. Quay trở lại Sử ký, trước Tần Thủy Hoàng thống nhất là thời Xuân Thu chiến quốc, vậy thì Hán Cao Tổ phải chăng cũng xuất pháp một tỏng các dân tộc của thời Xuân Thu Chiến Quốc?. Trong chiến tranh, dòng dõi hoàng tộc cũng rất quan trọng như Lưu Bị phải xưng là dòng dõi Hán Thất, và Hạng Võ cũng vậy. Điền này không thể tránh khỏi. Quay trở lại Thượng Thư, Hoa Bắc được chia làm 9 Châu thực chất cũng là các dân tộc trên mà thôi, điều này giống như dân Mân Việt vẫn còn đó, chỉ hóa huyết một phần. Vậy thì trước thời Nghiêu Thuấn, truyền thuyết Hoàng Đế Hiên Viên chiến Si Vưu với sự giải thích sự xâm chiếm từ Bắc xuống Nam tạo thành tộc Hoa Hạ? Trong khi đó cũng truyền thuyết dân Hoa Hạ gốc Phục Hy? Nền văn minh Phục Hy, nếu theo dòng chảy tạm chấp nhận tạo ra nền văn hóa Nghiêu Thuấn, thì dân tộc phía Bắc Hiên Viên giả sử là thống nhất được thì đảm bảo trong khoảng thời gian này có thể tạo ra được hay không?. Hiên Viên trong quá trình giao chiến phải nhờ Cửu Huyền Thiên Nữ giúp đỡ mới thắng được Si Vưu, trong khi đó Đạo giáo xuất hiện theo sử sách là khoảng thế kỷ V trước Công nguyên?. Hoàng Đế - danh từ của nền văn hóa phương Bắc hay Nam?. Nếu xét Bành Thành là quê hương của Hán Cao Tổ thì khả năng là dân tộc Tề - một dân tộc có nền văn hóa cực mạnh?
-
Wiki: Hán Cao Tổ Cao Hoàng Đế, nhưng thường được gọi tắt là: Hán Cao Tổ (chữ Hán chính thể: 漢高祖, latin hóa: HànGāozǔ) (256 TCN [3] – 1 tháng 6 năm 195 TCN) là vị Hoàng đế sáng lập nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông họ Lưu tên Bang (劉邦), sử quan đời Hán chép là Lưu Quý vì ông là con thứ ba trong gia đình [4]. Ông ở ngôi 8 năm (từ năm 202 TCN đến 195 TCN). Sử ký Tư Mã Thiên đặc biệt không ghi rõ Hán Cao Tổ là người nước nào thuộc mạn Hoa Bắc??? như Hàn, Ngụy, Tào, Triệu, Việt... Theo lời giới thiệu của Sử ký thì quê ông ở Bành Thành: Wiki: Từ Châu (chữ Hán: 徐州; bính âm: Xúzhōu, (cũng được gọi là Bành Thành (chữ Hán: 彭城; bính âm: PéngChéng) trong thời cổ), là một địa cấp thị tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Thành phố được biết đến vì có vị trí thuận lợi, là địa điểm trung chuyển giao thông vận tải ở bắc Giang Tô, và có đường cao tốc và đường sắt nối với các tỉnh Hà Nam và Sơn Đông, thành phố láng giềng Liên Vân Cảng, cũng như trung tâm kinh tế Thượng Hải.
-
Trước tiên, nếu nói về gian hùng thì chính Lưu Bị mới là gian hùng chứ không phải Tào Tháo, nhìn cái cảnh mà ông ta vứt đứa con ruột của mình để lấy lòng các quan tướng (sự kiện Triệu Tử Long xả mình vì ấu chúa) mà lắc đầu ngao ngán. Còn Quan Vũ thì qua sự kiện bị Đông Ngô chém ở Kinh Châu cho thấy cũng là một tướng tuy có tài nhưng hạn chế về chiến lược : chỉ cần cố thủ ở Kinh Châu là Đông Ngô không cách gì chiếm được (điều mà Khổng Minh đã dặn từ trước), hay nói cách khác : vì "máu võ tướng" nên mới xuất chinh và gặp thảm trạng, dù dân gian gian vẫn ghi công ông như một anh hùng hiệt kiệt, trung nghĩa vẹn toàn. Còn về ngài Khổng Minh, người đời vẫn thường cho rằng cuối cùng thì "người tính không bằng trời tính", thực ra, ngay từ lúc bước ra khỏi lều tranh ngài đã xác định một tiêu chí cho đến suốt cuộc đời là "khôi phục Hán thất" khi quyết định theo phò Lưu Bị, nhưng nói cho cùng, qua tác phẩm, ta vẫn thấy rằng mối trung thành "vua tôi" thời phong kiến Trung Hoa ràng buộc như thế nào xuyên suốt qua các biến động lịch sử thông qua nhân vật Khổng Minh, bởi nếu như Khổng Minh (khi đang ở chức thừa tướng) tiếm ngôi một cách chính danh khi vua quan nhà Thục thời đó thực sự bất tài, điều mà Lưu Bị lúc hấp hối cũng đã dặn và cho phép Khổng Minh làm như vậy (thêm một sự thâm thúy của Lưu Bị vì ông biết chắc Khổng Minh không thể làm như thế), và vậy thì có lẽ thời cuộc đã khác. Có cái hay nhưng chưa hiểu là tại sao Gia cát lại quyết tâm khôi phục HÁN THẤT của thời Hán Sở tranh hùng?. Sở Bá Vương và Hán Cao Tổ tra cứu đều gốc gác đất Sở cả - Việt cũ đấy mà. Theo bản đồ chiến tranh thì Hán và Ngô đều nằm trong vùng Hoa Nam, còn Tào Tháo chiếm cứ Hoa Bắc. Gia Cát quá hiểu rõ lịch sử Trung Hoa và Dịch học cùng với cội nguồn của mình nên ông đã có các trước tác: Thơ rằng: Tri kỳ bất khả hoàn thị vi, Diễn thành trung nghĩa vạn cổ thùy, Thị phi thành bại não hậu sự, Bi khổ tân toan tố dữ thùy. Tạm dịch: Biết rằng không thể vẫn cứ đi, Diễn vai trung nghĩa mãi khắc ghi, Thị phi thành bại còn đâu nữa, Buồn đau chua xót tỏ cùng mi.
-
Cho tới thời điểm hiện tại, biên giới vũ trụ bị giới hạn bởi khả năng quan sát của kính viễn vọng được gắn trên các vệ tinh. Nơi xa nhất được nhận định cho tới nay là nơi mà mật độ phân tử trên một đơn vị thể tích không gian cực loãng. Vậy thì với một vũ trụ vô cùng thì khả năng ngoài biên giới nói trên là một vũ trụ khác. Nó chẳng khác gì khoảng không gian giữa Hệ mặt trời và dải Ngân hà. Từ đây chúng ta có thể nhận định về một loại hạt nhỏ nhất sẽ nằm ở đâu?. Với quan niệm khí của Lý học Đông phương, rõ ràng loại hạt nhỏ nhất này đang ở xung quanh ta và nó không thể tách rời với Khí. Mặt khác các chủng loại hạt mà khoa học có thể thấy trong tự nhiên (tức giới hạn trong vũ trụ quan sát) bao gồm trong vũ trụ không gian, trái đất, con người và sinh vật... có vẻ không thể nhỏ hơn hạt Proton. Tuy nhiên, thí nghiệm vừa qua cho thấy một loại Chất lầy nhầy xuất hiện từ kết quả bắn phá hạt Proton này. Từ đây, nhận định chất lầy nhầy này phải chăng cũng đang tồn tại trong một vũ trụ khác hoặc ngay trong vũ trụ chúng ta?. Tổng hợp từ trên, ta có thể thấy sau Proton là một dạng vật chất khác và có thể chỉ xuất hiện trong phòng thí nghiệm với xác xuất cao, chứ chưa chắc tồn tại trong tự nhiên?.
-
Thiên Sứ: Nếu có một cái gì đó thấy được tính thấy thì có hai tính thấy và tính thấy này thấy được cái tính thấy kia. Vậy cái tính thấy nào là bản chất của tính thấy và cái tính thấy nào là đối tượng nhận biết. Điều này Đức Thích Ca đã giảng rất rõ trong: Thần chú Phật đỉnh Thủ Lăng nghiêm. Đức Phật nói: "Các người không nên ngộ nhận ngón tay chỉ lên mặt trăng và bản thể mặt trăng". Về điều này Hoangnt sai rồi. Hoangnt đề cập đến nhận định của chúng ta về "Tính thấy" có trong vạn vật từ sự vận động có quy luật của chúng. Như vậy cái thấy của chúng ta hoàn toàn không phải là "Tính thấy" đang đề cập. Vậy thì nếu chỉ có duy nhất "Tính thấy" đồng nghĩa nó có thể là động lực gây nên vận động của toàn vũ trụ có quy luật hoặc trạng thái thông tin giữa vạn vật - nếu điều này được chứng minh chẳng khác gì ý nghĩa "Định mệnh là có thật". Và cũng bởi chúng ta nhật biết được "Tính thấy" và đồng thời hiểu rõ các quy luật vận động của vũ trụ như Phong thủy, Thái Ất... thì hệ quả là có khả năng tiên tri được (Lạc Việt độn toán, Dịch...) sự việc trong một thời điểm nào đó. Lúc này chúng ta sẽ hoàn toàn có thể điều chỉnh được tương lai qua nội dung tiên tri và phương pháp điều chỉnh. Dễ hiểu, nếu hai anh chị có thêm 1 đứa con tức kết nối thêm "Tính thấy" và tạo một nguyên nhân bổ sung thêm trên cơ sở hệ quả tiên tri trước đấy (từ lúc tiên tri tới khi có hệ quả có một khoảng thời gian tạo nguyên nhân và nhận quả từ trước - ta điều chỉnh nguyên nhân trong khoảng thời gian này). Khí là một dạng tồn tại của vật chất trước khi hạt vật chất đầu tiên xuất hiện trong lịch sử hình thành vũ trụ. Đấy là xác định của Lý học Đông phương theo hiểu biết của cá nhân tôi. Hạt vật chất nhỏ nhất khi tan biến thì trở lại trạng thái khí. Đó chính là chất bầy nhầy mà cỗ máy LHC phát hiện ra sau khí bắn phá hạt proton ở tốc độ bằng 1/2 tốc độ thiết kế. Nếu tốc độ thiết kế được thực hiện để bắn phá hat proton - điều này theo thông tin của nhóm các nhà khoa học sẽ thực hiện vào năm 2012 - thì họ sẽ chẳng còn thấy gì cả, kể cả đám bầy nhầy đó. Sự xác định "Không có Hạt của Chúa" không phải là một quẻ bói. Mà là một luận điểm có phương pháp luận. Đó chính là cơ sở để tôi phát biểu rằng: Tôi có thể giải trình điều này sau khi thí nghiệm đi tìm Hạt của Chúa thất bại. Ta chỉ nhận định được giới hạn của hạt nhỏ nhất không phân chia được nữa chứ vẫn chưa khẳng định hạt Proton chính là hạt nhỏ nhất này. Kết quả bắn phá hạt Proton ra chất lầy nhầy tạm thời có thể hiểu là một loại vật chất nào đấy sau phản ứng. Kính.
-
Chào Daretolead và diễn đàn. Một mớ những khái niệm lộn xộn, vay mượn không đến nơi! Quả thật bạn hoangnt chỉ thấy những gì bạn muốn thấy!. Bạn "giả sử", "giả định", "xem như", "mặc nhiên"... quá nhiều trong dòng lý luận của mình. Dare chán cái topic này rồi. Ban quản trị vui lòng khóa lại. Bạn hoangnt vui lòng mở topic mới nhé. Đúng là tìm cách chứng minh "Định mệnh có thật hay không" quá khó vì chúng ta dựa trên các tiêu chí gì, học thuyết nào? phản biện dựa trên các cơ sở nào, thực tiễn ra sao?... mặc dù mọi người có vẻ "cảm thấy" nó hình như đúng. Nó quá khó vì phải đề cập tới toàn thể vũ trụ, xã hội, con người... trong khi đó thì tri thức của mỗi cá nhân lại bị giới hạn. Vì vậy chúng ta phải đơn giả hóa phương pháp phân tích có vẻ hay hơn: Giả sử rằng định mệnh là có thật thì tương lai rõ ràng đã được xác định. Vậy thì, nếu giả sử tiếp tục - nếu chúng ta nhận biết sự biến đổi tại một thời điểm xác định trong tương lai thì ta có thể thay đổi được kết quả tại thời điểm đó hay không bằng cách ngay từ bây giờ, ta có kế hoạch điều chỉnh từng bước?. Topic này diễn ra lòng vòng vì nó liên quan đến mọi thứ nhưng nếu có một topic mới thì cũng không khác vì lại đi tới vô cùng.
-
Theo sách Chu Lễ thì Dịch gồm có 3 bộ là : 1- Liên Sơn 2- Quy tàng 3- Chu Dịch Hai bộ Liên Sơn và Quy tàng đã bị lạc mất, chỉ còn lưu lại Bộ Chu Dịch mà thôi. Nay chúng ta thường gọi là Kinh Dịch. Theo Hồ văn Phong, thì Liên Sơn là của nhà Hạ, bắt đầu bằng quẻ CẤN, Quy tàng là của nhà Thương bắt đầu bằng quẻ KHÔN, và Chu Dịch là của nhà Chu bắt đầu bằng quẻ KIỀN. Đỗ Tử Xuân thì cho rằng: Liên Sơn là của Phục Hy; Quy tàng là của Hoàng đế. Theo Trịnh Huyền trong Dịch luận cũng viết: Đời Hạ thì có Liên Sơn; Đời Ân thì có Quy tàng; Đời Chu thì có Chu Dịch. Theo sách Chu Lễ thì: Liên Sơn Dịch lấy quẻ Thuần Cấn làm đầu mối. Cấn là núi, núi trên, núi dưới nên gọi là Liên Sơn. Quy tàng Dịch lấy quẻ Thuần Khôn làm đầu mối; Khôn là đất, vạn vật không vật nào không trở về tàng ẩn nơi trong đất, bởi vậy nên gọi là Quy tàng. Chu Dịch lấy quẻ Thuần Kiền làm đầu mối. Kiền là Trời thì hay chu hành bốn phương nên gọi là Chu. Không thể giải nổi nếu có 3 bộ Dịch như thế này. Liên Sơn dịch: sách nói về Nhân. Quy tàng dịch: sách nói về Địa. Chu Dịch: Nói về vận động của Thiên và tổng hợp. Quá khó khi tổ hợp thành Chu dịch. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
[Nhân tiện có nhiều đề tài hay trên diễn đàn, nhờ các bác giải thích xem tại sao trong tử vi lại có: Thuỷ nhị cục, thuỷ ứng với số 2 Và hoả lục cục, hoả ứng với số 6. Mong các cao thủ ra tay.
-
Giống trống đồng loại Heger I như Ngọc Lũ, Hoàng Hạ... bàn cãi mãi mà chưa biết được thời gian đúc chúng khi mà khoa học đã có thể xác định niên đại bằng phương pháp phóng xạ đồng vị các bon (càng gần càng chính xác). Phải dùng tương đương hoa văn của trống đồng Trung Quốc áng chừng từ thế kỷ II - VII TCN - chả hiểu thế nào, trong khi đó trống loại Heger I là xưa nhất, ở Trung Quốc không thấy loại này với các hoa văn như trống Ngọc Lũ. *Phúc Lộc Thọ mãn đường*
-
Bệnh của chúng ta là bệnh không có tài Đó là nhận định rất sốc của NSND Lê Phương khi nói về thực trạng của điện ảnh VN hiện nay. Thậm chí NBK Trịnh Thanh Nhã còn khiến nhiều người choáng váng với nhận xét: "Điện ảnh Việt Nam đang đi đến bể phốt". Sau vụ mất 42 tỉ, Cục Điện ảnh có lãnh đạo mới Mất 42 tỉ, lãnh đạo Cục Điện ảnh từ chức Cục Điện ảnh mất 42 tỉ: Dứt khoát phải lên tiếng Cục Điện ảnh đánh mất 42 tỉ, nghệ sĩ tròn mắt Cục Điện ảnh mất 42 tỉ: ai xấu hổ? Nghệ sĩ bức xúc vì Cục Điện ảnh làm mất 42 tỉ đồng Ngành điện ảnh đang gặp những vấn đề khiến nhiều nghệ sĩ đau đầu. Mọi người có gì muốn nói thì cứ xin nói hết! Ngày 25/9, hàng loạt những nghệ sĩ điện ảnh tên tuổi của điện ảnh Việt Nam, trong đó có không ít các NSND, nguyên Cục trưởng Cục trưởng Cục Điện ảnh và rất nhiều nghệ sĩ nổi tiếng của nhiều thế hệ đã có cuộc gặp mặt để bàn cách tháo gỡ những khó khăn của nền điện ảnh Việt Nam tại Làng văn hoá các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, HN. Cuộc gặp được cho là "hội nghị Diên hồng" của ngành điện ảnh do Hội điện ảnh và ban lãnh đạo làng văn hoá các dân tộc VN đứng ra tổ chức nhằm ghi lại những ý kiến đóng góp của các nghệ sĩ với hy vọng sẽ có thể vực dậy nền điện ảnh đã đi đến đáy như cách nói của nhiều người. Có mặt trong cuộc gặp này ngoài lãnh đạo Hội điện ảnh Điện ảnh còn có Thứ trưởng Bộ VHTTDL Hồ Anh Tuấn và Cục phó phụ trách Cục Điện ảnh vừa được bổ nhiệm là TS Ngô Phương Lan. Có thể nói từ rất lâu rồi mới có một cuộc hội thảo về điện ảnh sôi nổi như vậy. Không có những cuộc "tra tấn" người nghe bằng việc đọc lại những bản tham luận dài lê thê đã được đăng ký trước, tất cả các nghệ sĩ đều phát biểu chay. Nhiều ý kiến hết sức gay gắt, chỉ thẳng vào thực trạng hiện nay của ngành điện ảnh mà không né tránh. Thậm chí nhiều nghệ sĩ còn công khai phản bác ý kiến của nhau khiến cuộc toạ đàm nóng lên từng phút. Cuộc tọa đàm có sự tham gia của lãnh đạo Bộ VHTTDL, Hội điện ảnh. Cuộc toạ đàm được tổ chức rất thân mật nhưng nghiêm túc và được rất nhiều nghệ sĩ chờ đợi bởi sự kiện này diễn ra ngay sau sự cố Cục điện ảnh làm thất thoát hàng chục tỉ đồng, lãnh đạo ngành điện ảnh vừa xin từ chức và Cục điện ảnh vừa có người nắm quyền mới. Cũng hiếm có cuộc bàn luận nào của giới điện ảnh lại có sự góp mặt của lãnh đạo Bộ VHTTDL từ đầu đến cuối với sự cầu thị như vậy. "Lãnh đạo Bộ muốn nghe các bác, các anh chị nói gì chứ không phải muốn nghe cái gì. Các bác, các anh chị có ý kiến đóng góp gì, phê bình điều gì, kiến nghị điều gì chúng tôi đều xin lắng nghe do vậy mọi người có gì muốn nói thì cứ xin nói hết", Thứ trưởng Hồ Anh Tuấn nói. Bệnh của chúng ta là bệnh không có tài NSND Lê Phương: "Tôi rất mừng là chúng ta đang đi xuống đến đáy rồi"! Có lẽ chính vì điều này mà các ý kiến đưa ra đều rất hăng, rất mạnh bạo, rất thẳng thắn, rất trực diện và cũng khiến những người quan tâm đến điện ảnh rất... đau. NSND Bùi Đình Hạc, nguyên Cục trưởng Cục Điện ảnh đề xuất nên có một hội đồng tư vấn cho Bộ trưởng về điện ảnh để chấn hưng ngành này, tránh tình trạng để điện ảnh lộn xộn, "chơi vơi" từ năm này qua năm khác như hiện nay. Một vị từng ngồi ghế Cục trưởng khác là NSND Lưu Trọng Hồng thì cho rằng cơ chế hoạt động của ngành hiện nay chưa ổn, không nên áp đặt điện ảnh Mỹ hay các nước khác đề gán ghép, buộc điện ảnh VN phải theo họ. Ông này cũng cho rằng điện ảnh VN vẫn cần phải đấu thầu. Tuy nhiên ý kiến này ngay lập tức đã bị nhà biên kịch Lê Phương phản bác: "Tôi xin phản đối việc đấu thầu, đấu thầu không phải là giải pháp tối ưu. Trong đấu thầu cũng đầy tiêu cực. Vì thế tôn sùng đấu thầu là không đúng. Cái gốc ở đây là người. Cơ chế cũng là người... Bệnh của chúng ta là bệnh không có tài. Nếu bảo hãng phim nhà nước nuôi trả lương 1 tỉ đô la 1 tháng ông ta cũng không làm phim hay được vì ông ta làm gì có tài đâu mà làm. Đừng có đổ tại Nhà nước. Bây giờ cho ông ta ra tư nhân, ông ta lại bảo là tư nhân thua thiệt. Tư nhân không bao giờ làm phim mà không có lãi cả, không có lãi họ không bao giờ làm. Bây giờ hết thời cứ ngồi quan điểm với cơ chế rồi. Tôi rất mừng là chúng ta đang đi xuống đến đáy rồi". NSND Nguyễn Khắc Lợi đồng tình: "Phải nói thẳng là điện ảnh chúng ta hiện nay không có đáy. Qua các phim hiện nay có thể thấy chúng ta làm phim không hết tâm hết sức. Xem những thước phim hiện nay so với trước đây chỉ thấy sự bôi bác. Chính chúng ta đã hạ thấp chúng ta. Những người có kinh nghiệm quản lý và kinh nghiệm làm phim, có thành tích nào đó khi về hưu là đi ra đường. Lãnh đạo không còn đếm xỉa đến những con người này nữa. Lãnh đạo gần nhất là Cục điện ảnh không thèm hỏi những người đi trước có kinh nghiệm quản lý hay sáng tác, họ coi như chúng tôi là phế phẩm, là những người lạc hậu rồi". Gay gắt hơn, NBK Trịnh Thanh Nhã nói: "Điện ảnh Việt Nam đang đi đến bể phốt". Lúc làm chiến sĩ, khi làm con buôn Đó là cách ví von của đạo diễn Đỗ Minh Tuấn. Ông nói: "Từ khi đổi mới bước vào nền kinh tế thị trường anh điện ảnh bị đối xử rất tệ. Chúng tôi xác định mình là những chiến sĩ trên mặt trận văn hoá nhưng đùng một cái, đổi mới, lại đòi hỏi chúng tôi là con buôn. Anh chiến sĩ cứ đứng gác một hồi lâu, lãnh đạo bảo sao cứ đứng đây mà không ra chợ, hôm nay mày được lãi bao nhiêu? Trong vòng 15 năm nay, chưa bao giờ tôi thấy bị xúc phạm nhiều như anh nghệ sĩ điện ảnh. Nghệ sĩ điện ảnh mang tiếng làm điện ảnh quan trọng nhất của cách mạng nhưng trong thời gian qua lại bị coi thường nhất. Các nghệ sĩ bị quản lý theo lối một cổ hai tròng. Khi duyệt thì duyệt theo định hướng, khi tính hiệu quả thì lại xét doanh thu. Cách đánh giá điện ảnh hiện nay là chạy theo con bồ trẻ truyền hình và bỏ rơi mụ vợ già nua". Đạo diễn Vũ Xuân Hưng, phó giám đốc Hãng phim truyện VN thì ví von ngành điện ảnh VN đã 50 tuổi mà hành xử như đứa trẻ mẫu giáo vì không thể đứng vững trên đôi chân của mình và cái gì cũng đi xin tiền. Nguyên nhân của tình trạng này là do ngành điện ảnh, cơ chế phân tán, mạnh ai nấy lo. NSƯT Đỗ Khánh Toàn: "Nếu Bộ thực sự lắng nghe thì chúng tôi sẽ có ý kiến". Còn đạo diễn Đỗ Khánh Toàn nói thẳng: "Phải nhìn thực trạng nền điện ảnh hiện nay đang sống dở chết dở như thế nào, phải làm những gì để khôi phục ngành điện ảnh. Điện ảnh cũng giống như bóng đá, phải có khán giả. Điện ảnh cũng vậy, phần nào cần cổ phần hoá thì mạnh dạn cổ phần hoá, phần nào cần đầu tư chính thức của nhà nước thì đầu tư. Nếu bàn lý thuyết hay kêu gọi chung chung thì không được vì mấy chục năm nay chúng ta đã nói rồi. Hãng phim Tài liệu và Khoa học trung ương mỗi năm chỉ được rót tiền làm hơn 10 phim. Trong khi đó, có khi lại bỏ ra hơn 10 tỉ đồng mua thiết bị không cần dùng đến rồi đắp chiếu. Điều này Bộ có biết không? Nếu Bộ thực sự lắng nghe thì chúng tôi sẽ có ý kiến". Trong cuộc toạ đàm này, nhiều ý kiến đề xuất để vực dậy ngành điện ảnh cũng đã đuợc đưa ra, người xin cơ chế, người xin sổ đỏ cho địa chỉ số 4 Thuỵ Khuê để các nghệ sĩ Hãng phim truyện VN có quyền tự quyết với mảnh đất này cũng như các hoạt động của mình, nhưng tựu trung lại vẫn mong có sự thay đổi về mặt cơ chế, sự định hướng từ phía Bộ và Cục chủ quản. "Các cấp lãnh đạo có quyết tâm chấn hưng ngành điện ảnh hay không vì mọi hoạt động của ngành đều thống nhất từ Bộ xuống Cục, phải có sự chỉ đạo từ trên xuống. Nếu các cấp lãnh đạo không quyết liệt, không tìm ra nước bước một cách khoa học và hợp lý thì bên dưới chúng tôi cũng không làm gì được ngoài việc than thở mà thôi", ĐD Vũ Xuân Hưng bày tỏ. Buổi tọa đàm nóng rực với phát biểu gây sốc của NBK Trịnh Thanh Nhã. Trong khi đó NBK Trịnh Thanh Nhã thì đề xuất: "Nếu các anh đã lắng nghe chúng tôi, Bộ Văn hoá, Ban tư tưởng đã lắng nghe chúng tôi thì hãy cố gắng vận động từ chính các anh. Các anh chỉ tay đường nào thì chúng tôi sẽ đi đường đó". Đây cũng là cuộc gặp gỡ đầu tiên có sự xuất hiện của tân lãnh đạo Cục điện ảnh. Lắng nghe và ghi chép tất cả các ý kiến của nghệ sĩ từ đầu đến cuối, trong đó có nhiều ý kiến chỉ trích Cục điện ảnh nhưng đến cuối buổi toạ đàm TS Ngô Phương Lan mới lên tiếng. Lời hứa hẹn của Cục phó phụ trách Cục điện ảnh ít nhiều khiến các nghệ sĩ ấm lòng trong bối cảnh rối ren hiện nay của ngành điện ảnh: "Tôi hứa hẹn với Thứ trưởng, với các nghệ sĩ, với sức lực của mình, dù không phải lớn lao gì nhưng tôi sẽ cố gắng làm tất cả để góp phần để ngành điện ảnh thoát khỏi đáy". Thứ trưởng Hồ Anh Tuấn cho biết sẽ báo cáo lãnh đạo Bộ VHTTDL những ý kiến đóng góp của các nghệ sĩ điện ảnh và sắp tới sẽ tiến hành xây dựng quy chế đãi ngộ, xây dựng cơ chế mới cho ngành gấp để có ngay trong năm tới. Sự kiện được ví như "Hội nghị Diên Hồng" của ngành Điện ảnh. Hạnh Phương - Nguyễn Hoàng Dân hai nhăm triệu ai người lớn, Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con. Tản Đà.
-
Thứ ba 14/06/2011 06:21 (GDVN) - Hoa sen hồng đang là ứng viên số 1 để trở thành quốc hoa của Việt Nam (sau kết quả bình chọn mới đây ở TP.HCM). Dân ta đã rút ra được một quy luật là: hễ nơi nào có hoa sen mọc thì dòng nước nơi ấy được lắng trong. Sen có cả hương lẫn sắc, nhưng hương sen không quá nồng mà dịu, gợi một tinh thần cao thượng. Nhìn ra thế giới, hoa sen cũng đã được chọn là quốc hoa của nhiều nước. Hãy cùng điểm qua quốc hoa - hoa sen của 3 nước là Ấn Độ, Ai Cập và Sri Lanka. Sen hồng được bình chọn là quốc hoa Hành trình không thể ngờ về 'ứng viên số 1' Quốc hoa Việt Nam Những ý lời tuyệt đẹp về 'ứng viên số 1' quốc hoa VN 1. Quốc hoa Ấn Độ Ở Ấn Độ, hoa sen trắng gắn liền với ý nghĩa tôn giáo. Đối với họ, loài hoa này tượng trưng cho sự sinh ra từ bóng tối và bừng nở ngoài ánh sáng. Sen là biểu tượng của năng lực sinh hóa trong Thiên Nhiên, nhờ vào lửa và nước, tức tinh thần và vật chất. Hoa sen là một sự thăng hoa về mặt tinh thần. Ngày nay, chúng ta thấy hoa sen gắn liền với Đức Phật từ bi nhưng thật ra, biểu tượng hoa sen đã có lịch sử gắn liền với Hindu giáo. Đối với người Ấn Độ, hoa sen mang một hàm nghĩa triết học sâu xa và cũng là một biểu tượng mang ý nghĩa đạo đức. Theo truyền thuyết Ấn Độ, các hạt của hoa sen ngay cả trước khi nảy mầm đều có chứa các chiếc lá hoàn chỉnh có hình dáng thu nhỏ lại y như hình dáng của nó một ngày kia lớn lên và trở thành một cây hoàn chỉnh. Nó là biểu tượng của Ðất phì nhiêu, của Núi Meru. 4 vị thiên thần của 4 phương trời, mỗi vị đều ngự trên một tòa sen. Hoa sen trắng - quốc hoa của Ấn Độ. Đền hoa sen ở New Delhi, Ấn Độ 2. Quốc hoa Ai Cập Người Ai Cập cổ đại trồng hoa sen trong ao hồ và đầm lầy. Sen thường xuất hiện trong trang trí cổ đại Ai Cập. Họ tin rằng hoa sen cho họ sức mạnh và quyền lực. Sen cũng đã được tìm thấy trong lăng mộ chôn cất của Ramesses II. Số chữ số 1.000 ở Ai Cập cổ được đại diện bởi các biểu tượng của hoa sen. Người Ai Cập cổ đại cũng chiết xuất nước hoa từ hoa này. Họ cũng sử dụng hoa sen trong vòng hoa tang, lễ chùa và trang sức phụ nữ. 3. Quốc hoa Sri Lanka Ở Sri Lanka, đất nước có phần đông dân số theo Phật giáo, hoa sen cũng là biểu tượng của sức mạnh, của sự linh thiêng và cao thượng. Ski Lanka được mệnh danh là đất nước của sư tử và hoa sen, nơi sen đã trở thành quốc hoa của quốc gia họ. Lê Thương Thực sự đã trùng lặp rồi.
-
VÀI SUY NGHĨ CHUNG QUANH QUYỂN SÁCH CỦA GS YOSHIHARU TSUBOI Nguyễn Xuân Xanh LTS.Bài viết dưới đây không hẳn là một bài điểm sách. Từ một buổi toạ đàm chung quanh một quyển sách sử, do một nhà nghiên cứu Nhật viết về Việt Nam, tác giả đã để dòng suy tư của mình vượt không gian và thời gian bay sang Nhật thế kỷ 19, để liên hệ tới những vấn đề nóng bỏng của nước ta hiện nay... Diễn Đàn chân thành cảm ơn tác giả cho phép đăng lại bài, vốn là một bức thư tác giả gửi nhóm bạn "Humboldt" tập hợp trên Internet từ khi chung sức làm cuốn sách "Kỷ yếu Đại học Humboldt 200 năm". Hôm qua, 9 tháng 9, có một buổi tọa đàm thú vị tại Đại học Hoa Sen về một cuốn sách tựa đề NƯỚC ĐẠI NAM ĐỐI DIỆN VỚI PHÁP VÀ TRUNG HOA, 1847 – 1885 của Giáo sư YOSHIHARU TSUBOI (Nhà xuất bản Tri Thức – Nhã Nam, 2011). Gs Nguyễn Đình Đầu và Bùi Trân Phượng là hai trong ba dịch giả. Nhà văn Nguyên Ngọc viết lời bạt.Có mặt trong buổi tọa đàm và giao lưu là tác giả Tsuboi, GS Nguyễn Đình Đầu, nhà văn Nguyên Ngọc và chị Bùi Trân Phượng. Căn phòng chật ních. Người ta thấy nhiều trí thức quen thuộc của TP có mặt. Điều này nói lên sự quan tâm những vấn đề, bài học lịch sử vào thời điểm này đã tăng cao. Hiện Tsuboi, như mọi người gọi ông trong buổi hội thảo, là Giáo sư Lịch sử chính trị và xã hội Đông Nam Á, Đại học Waseda, Tokyo (chỗ anh Trần Văn Thọ đang làm việc). Cuốn sách này là công trình nghiên cứu luận văn tiến sĩ tại Paris củaTsuboi, được xuất bản năm 1987 bằng tiếng Pháp, và hai năm sau, 1989/90, nó đến Việt Nam trong thời bao cấp. Tuy nhiên nó vẫn được xuất bản tổng cộng ba lần, và bây giờ là lần thứ tư, và lần nào trước đây, như GS Nguyễn Đình Đầu thuật lại, cũng có “dư luận cho rằng quyển sách có vấn đề”. Nhưng quyển sách được những người như GS Trần Văn Giàu, nhà báo Trần Bạch Đằng ủng hộ. GS Nguyễn Đình Đầu và chị Bùi Trân Phượng đã trình bày sống động sự du nhập khó khăn thời bao cấp của cuốn sách vào Việt Nam thế nào. Thật là cảm động. Một chút tri thức như chút ánh sáng muốn lọt vào bầu không khí Việt Nam quả là rất gian nan. Việt Nam sau chiến thắng 75 hoàn toàn tách rời khỏi thế giới về mọi mặt, là một thế giới đóng kín từng câu chữ. Tsuboi cho rằng vào thời điểm mấu chốt của lịch sử, Việt Nam đã thiếu đoàn kết để tìm ra một con đường mới. Ông nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại sự mất đoàn kết của người Việt Nam trong giai đoạn thời bình. Và hôm nay cũng thế, sau 36 năm hòa bình. Hơn nữa, ông cũng nói đến“lợi ích cục bộ” của người Việt Nam, từ nhân dân đến giai tầng lãnh đạo. Người dân thì chỉ biết “làm giàu ngắn hạn” bằng đầu cơ địa ốc hay chứng khoáng chẳng hạn (nếu có tiền). Giai tầng lãnh đạo thì chia rẻ nhau, không đặt quyền lợi lâu dài của dân tộc lên ưu tiên. Các quốc gia xung quanh là một “công xưởng” cung cấp hàng cho thế giới. Việt Nam 20 năm đổi mới vẫn chưa làm được điều đó, chưa đưa nhiều mặt hàng xuất khẩu chất lượng cao để chiếm lĩnh thị trường thế giới. Người Việt Nam suy nghĩ lợi ích cá nhân nhiều hơn. Và người tài không được sử dụng cho nền kinh tế; có rất nhiều người Việt Nam thành đạt ở nước ngoài, tại sao họ “quay lưng” lại đất nước (ý nói chính sách không thu hút được họ)? Người Việt Nam tuổi 40 trở xuống chiếm tỉ lệ hơn 60%, nhưng họ chưathật sự phát huy tài năng để phục vụ đất nước. Tsuboi nhấn mạnh, Nhật Bản không có tài nguyên, “không giàu có” vì tài nguyên như Việt Nam, nhưng bù lại đặt nặng việc phát triển nguồn nhân lực, đó là nguồn tài nguyên duy nhất quý hiếm. Việt Nam phải không vì mục đích cá nhân, mà cần nhìn cao hơn, xa hơn. Hơn nữa, không phải đất nước to hay nhỏ, mà phải biết cách tồn tại bên cạnh các thế lực to lớn. Phải biết trân trọng những giá trị văn hóa, đừng vì “miếng ăn” mà quyên đi văn hóa. Hồ Chí Minh là con người văn hóa. Giá trị cao nhất của Việt Nam theo ông là VĂN HÓA. Và văn hóa này cần phát huy đi ra thế giới. Không phải chỉ nghĩ đến giàu có về vật chất, mà phải nghĩ đến giàu có về văn hóa. * * * Giở lại các trang sử của Nhật Bản,tôi cũng thấy điều tiên quyết của người Nhật là ĐOÀN KẾT DÂN TỘC, đúng như Tsuboi nói. Có lẽ vì thế GS Tsuboi dưới góc nhìn của người Nhật mới nhấn mạnh điểm này rõ ràng hơn, và mới thấy đó là điều yếu cơ bản của Việt Nam. Người Nhật đã nghĩ gì, làm gì để tạo sự đoàn kết dân tộc buổi chấn hưng đất nước trước hiểm họa lệ thuộc phương Tây? Tinh thần đoàn kết dân tộc này đã được truyền đạt lại trong một tài liệu có tiêu đề “Năm điều cấp bách nhất của Nhật Bản” được viết bởi một học giả Hà lan học, Kanda Kōhai, đêm trước của cuộc Cải cách. Đó là1. Nhật Bản của chúng ta phải vĩnh viễn độc lập. Nhật Bản không bao giờ được phép lệ thuộc một quốc gia nào khác. 2. Nếu chúng ta muốn có độc lập, chúng ta phải tạo ra sức mạnh quốc gia thích ứng. 3. Nếu chúng ta muốn có sức mạnh quốc gia, nhân dân phải (được) đoàn kết lại trên phạm vi toàn quốc. 4. Nếu chúng ta muốn có sự đoàn kết (thống nhất) cho cả quốc gia, chúng ta phải tạo ra sự tuân thủ phổ quát trước chính quyền. 5. Nếu chúng ta muốn nhân dân đi theo chính quyền, chính quyền phải áp dụng những lý thuyết lấy từ tất cả các tầng lớp của quốc gia. Không được phép trung thành với những cách lý luận một chiều. [Nói nôm na: phải làm sao cho các chính sách của chính quyền đại diện được quyền lợi chung rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, chứ không được tự tiện thực hiện những lý thuyết xa lạ, một chiều. Người viết.] Những điều khôn ngoan này chưa thấy ở Việt Nam trong thời bình. Ngược lại. Đoàn kết không thể diễn ra dưới sự độc tôn ý tưởng, đặc biệt khi ý tưởng đó không đáp ứng nguyện vọng đích thực của các tầng lớp nhân dân, mà cần phải có sự chia sẻ với nhân dân. Bao lâu không có sự chia sẻ này, những lời hô hào đoàn kết sẽ vô hiệu. Vì lý do: đoàn kết dưới một sự độc tôný tưởng vô hình trung chấp nhận sự độc tôn ý tưởng đó, trong khi người khác không được lắng nghe, cho nên họ sẽ không mặn mòi. “Một khi một cái nhìn lịch sử trở thành giáo điều mệnh lệnh, thì con người sẽ mất đi tự do tư duy và tự do hành động” như một học giả Nhật Bản viết (Nagai Michio). Nói khác đi, dưới sự độc tôn của tư tưởng có tính cách giáo điều, xã hội và con người bị tê liệt. Thực tế Nhật Bản đã tạo ra một bộ máy hành chánh mạnh cho cuộc canh tân, gồm những người có tinh thần khai sáng, am hiểu thời cuộc và nhiệm vụ tối cao của quốc gia để tránh sụp đổ như các nước lân bang. Họ không áp dụng những lý thuyết xa lạ, mà đáp ứng quyền lợi thiết thân của các tầng lớp rộng rãi của nhân dân, đặt quyền lợi quốc gia lên thành tối thượng. Điều này cũng giống Phổ: Phổ có bộ máy hành chánh gồm những người có học, có tinh thần khai sáng; cuộc cải cách của Phổ được mệnh danh là “cuộc cách mạng từ trên”. Ở Nhật Bản cũng thế. Cuộc canh tân Nhật Bản là một cuộc khai sáng vĩ đại của lịch sử quốc gia này. Về mặt tri thức. Năm 1869, Itō Hirobumi (1841-1909), xuất thân từ giai cấp samurai, người có công lớn nhất trong việc xây dựng nhà nước hiện đại đầu tiên của Nhật Bản, và là thủ tướng đầu tiên (và ba nhiệm kỳ sau, không liên tiếp), đã nộp cho triều đình một bản đề cương cho chính sách phát triển đất nước, cũng là một bản thiết kế sáng sủa cho một đại học quốc gia mới. Điều 5 trong đó nói như sau: Điều 5: Chúng ta phải đưa dân tộc Nhật tiếp xúc với học thuật của mọi quốc gia của thế giới, và tăng thêm tri thức về các ngành khoa học tự nhiên một cách đáng kể …Chúng ta đang có một cơ hội hiếm hoi để đổi mới các khái niệm lỗi thời cho đến nay là di sản của quốc gia vĩ đại chúng ta từ nhiều thế kỷ qua; và mở rộng sự hiểu biết chúng ta về thế giới hiện đại. Nếu chúng ta thất bại trong thời điểm quyết định này của lịch sử trong việc trang bị chúng ta toàn diện với nghệ thuật và khoa học ứng dụng của thế giới còn lại, chúng ta sẽ bị cầm tù trong một sự ngu dốt vô hình không nghe thấy. Vì thề chúng ta phải thiết lập một đại học và thay đổi quyết liệt các phương pháp của sự học mà chúng ta đã tán thành và theo đuổi cho đến nay. Hoàn toàn phù hợp với tinh thần đại học, chúng ta phải biến các thị dân cũng như nông dân thành những công dân hiểu biết. Xin được kể tiếp câu chuyện. Itō ý thức sâu sắc rằng Nhật Bản đang lạc hậu rất xa so với thế giới, trước nhất về các môn khoa học, kỹ thuật. Đại học sẽ có nhiệm vụ lấp lỗ hổng đó. Nhưng nhìn quanh ông thấy Nhật Bản không có một cơ sở nào có thể phục vụ các mục đích của đại học, trừ cái văn phòng dịch thuật các tài liệu học thuật tiếng nước ngoài: Anh, Pháp, Đức, Hà Lan. Đầu tiên văn phòng đó được thành lập năm 1684 dưới thời Mạc phủ, chủ yếu dịch các tài liệu về thiên văn (để làm lịch) và y khoa. Viện dịch thuật này liền được xây dựng thành đại học Tokyo Kaisei Gakko, bây giờ là đại học Tokyo. Nhiệm vụ cốt lõi của giới trí thức Nhật Bản là đưa tri thức của phương Tây vào Nhật Bản. Đại học có quy chế độc lập tự chủ tương đối để hoạt động hữu hiệu. [sau thế chiến thứ II, tự do hàn lâm Nhật Bản mới có bước phát triển qui mô hơn] Lãnh đạo Nhật Bản đã đặt tri thức và học hỏi tri thức đó từ phương Tây lên hàng đầu trong cuộc canh tân đất nước. Việt Nam đã không may rơi vào thái cực khác. Cuộc chiến tranh chống thực dân đế quốc để giành độc lập từ từ tiến hóa thành cuộc chiến tranh chống cả phương Tây. Cho nên lãnh đạo Việt Nam không mặn mòi với văn hóa phương Tây, và cũng không mặn mòi với tri thứccó hiểu biết văn hóa phương Tây. Đó là bi kịch của Việt Nam. Việt Nam đã đi lộn cửa. Cái gì có hơi hám học thuật phương Tây đều bị từ chối, hay nặng hơn: lên án. Trí thức, những người tiếp thu khoa học và ít nhiều văn hóa phương Tây vì thế không được trọng dụng là hệ luận tất yếu. Lãnh đạo Việt Nam không ý thức được nguồn gốc sức mạnh phương Tây như các giới lãnh đạo bushi (võ sĩ) và thượng lưu của Nhật Bản đã ý thức. Các giai tầng này cũng muốn bảo vệ vị trí xã hội của mình, nhưng không phải bằng những ý thức hệ trái chiều, mà bằng cuộc canh tân đất nước theo hình ảnh phương Tây. Các nước phong kiến châu Âu sau khi bị Napoléon đánh sập cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 cũng phải đứng dậy canh tân đất nước theo mô hình của cách mạng Pháp. [Trừ Nga là kẻ thắng trận, và tự hào không thấy nhu cầu cải cách, làm cho căn bệnh nội tại của xã hội dây dưa kéo dài đến đầu thế kỷ 20.] Những nhà cải cách Nhật Bản, đặc biệt Fukuzawa Yukichi, đã nhìn thấy chính khoa học và kỹ thuật, máy hơi nước, điện tín, bưu điện, kỹ thuật in…, và lực lượng sản xuất lành nghề, đã thay đổi dòng lịch sử của lục địa châu Âu, đã biến đổi cả phương Tây căn bản. Nhật Bản không thể đi khác. [Và ngày nay Trung Quốc cũng không đi khác] Không có khoa học, kỹ thuật, không thể có sự phồn vinh cho quốc gia. Các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện nay chưa am hiểu vai trò cực kỳ to lớn của cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ đã từng diễn ra và làmthay đổi căn bản bộ mặt thế giới. Đó là những cuộc cánh mạng không đổ giọt máu nào mà chỉ đem lại sự phồn vinh cho xã hội. Cho nên, không thể có sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và bền vững, sự phồn vinh quốc gia hãy còn xa vời. Trí thức, khoa học công nghệ, không được đầu tư để tác động, hay làm đầu tàu cho một cuộc chuyển biến. Giới trí thức mà bị buộc chân, không được nuôi dưỡng và sử dụng đúng chỗ, thì cỗ xe kinh tế sẽ ì à ì ạch, con đường dẫn đến phồn vinh và hạnh phúc của dân tộc sẽ dài ra vô tận. * * * Trở lại cuốn sách của Tsuboi. Nhà văn Nguyên Ngọc có viết Lời Bạt, tôi xin đăng lại phần dưới đây (trích từ thông báo của ĐH Hoa Sen): “Cuốn sách này, xuất phát từ một luận án tiến sĩ của Yoshiharu Tsuboi bảo vệ tại Đại học Paris năm 1982, được dịch ra tiếng Việt lần đầu năm 1990, tái bản ở Việt Nam đến nay làlần thứ tư. Ở nước ta trường hợp tái bản khá dày của một cuốn sách nghiên cứu lịch sử như vậy không phải là nhiều. Cho nên tự nhiên có một câu hỏi: Tại sao? Chắc có nhiều cách trả lời. Cách chọn thời điểm để nghiên cứu về lịch sử cận đại Việt Nam của tác giả hẳn là một trong những lý do. Đấy là thời điểm có thể nói nghiêm trọng nhất trong số phận tồn vong của các dân tộc phương Đông khi phải đối mặt với một thế giới trước đó hoàn toàn xa lạ: phương Tây của chủ nghĩa tư bản đang lên. Đúng ra, không chỉ “chủ nghĩa tư bản”, còn là một nền văn minh, một nền văn hóa, thậm chí một thời đại hoàn toàn khác lạ. Trong cuộc giáp mặt quyết liệt ấy, chỉ duy nhất có Nhật Bản thành công, trong khi tất cả các dân tộc khác, theo nhiều kiểu khác nhau, đều thất bại, tất cả đều ê chề, và hậu quả của thất bại ấy cũng theo kiểu này kiểu khác vẫn còn dấu vết trong các xã hội đó cho đến tận bây giờ. Vì vậy việc người ta muốn chăm chú lắng nghe tiếng nói của một người Nhật là đương nhiên. Đấy là người có đủ tư cách, có chỗ đứng cao và xứng đáng hơn cả để có thể, qua so sánh toàn thể và cụ thể, tức tại thời điểm lúc bấy giờ và cả từ quá khứ sâu thẳm lâu dài, nhìn thấy nguồn gốc của tai họa mà các dân tộc khác đã không thể tránh được. Riêng đối với Việt Nam, tôi nghĩ, câu hỏi này vẫn còn đau đáu, thậm chí có thể còn rất thời sự. Bởi hình như có một, hay một số điều gì đó trong những nguyên nhân nguồn gốc kia mà cho đến nay ta vẫn còn lướng vướng chưa vượt qua được hẳn. Ta muốn lắng nghe Tshuboi, để mà nghĩ lại, nghĩ lại nữa, và tiếp tục suy ngẫm tới, cả cho hôm nay, và ngày mai. Và Tshuboi đã không phụ lòng người đọc. Khác với tất cả các tác giả trước đó, và cả sau này nữa, như chính ông nói, ông không nhìn Việt Nam “với tính chất một thực thể chính trị mà là một bản thể xã hội”. Nói một cách hình ảnh, ông cố tìm hiểu cái đất nước và xã hội này đến trong nội tạng sâu xa và cơ bản nhất của nó, ông tìm đến cái “tạng” của nó, từ bên trong, cái bên trong ấy với tất cả cấu tạo cơ bản và lịch sử lâu dài của nó, tất yếu phải phản ứng lại với các thách thức đến từ bên ngoài nhất thiết theo cách như thế, chứ nhất thiết không thể khác; và kết quả, hậu quả như đã diễn ra cũng nhất thiết đương nhiên là thế, như “định mệnh”. Và Tshuboi đã thành công tuyệt vời trong công việc giải phẫu và mô tả cơ bản này. Đọc cuốn sách này thậm chí nhiều lúc có thể nghĩ không biết mình đang đọc một thiên lịch sử, một công trình nghiên cứu khoa học, hay một cuốn tiểu thuyết? Sự chính xác lịch sử là mẫu mực. Phân tích khoa học chặt chẽ, tinh vi, tinh tế, đầy thuyết phục. Mà cũng lại sinh động, chân thực biết bao, cụ thể, chân thực biết bao những chân dung con người, như những nhân vật tiểu thuyết, vừa là những sản phẩm tất yếu của thời đại mình, xã hội mình, vừa là những tính cách cá biệt, rõ rệt, sừng sững, mạnh mẽ, với số phận riêng, khát khao, ước vọng, và tham vọng riêng. Cả đến nhân vật đứng đầu trong những nhân vật anh hùng và bi đát ấy, Tự Đức, người tù vùng vẫy tuyệt vọng với số phận riêng đã bi đát lắmcủa mình, lại phải vùng vẫy càng tuyệt vọng với số phận bi đát nghìn lần hơn của xã hội mình. Có lần, tôi đã có dịp tìm hiểu về thái độ của triều đình Huế trước cuộc tấn công của quân Pháp vào Đà Nẵng hồi 1858. Tôi ngạc nhiên nhận ra rằngthái độ ấy, đặc biệt của Tự Đức, không hề là một thái độ bạc nhược, hèn yếu như trước đó – và cả cho đến nay – ta vẫn thường nghĩ. Trái lại, rất cương quyết. Mỗi trận thua, mỗi vị trí bị mất, mỗi tổn thất không đáng có, mỗi hành động trù trừ, giao động, cho đến đại tướng anh hùng như Lê Đình Dương, cả đến vị tướng tài năng nhất và sáng suốt nhất thời bấy giờ là Nguyễn Tri Phương, và tất cả các cấp tướng sĩ đều nhất loạt bị trừng trị nặng nề, thay thế, bổ sung kịp thời. Tiếp tế, hậu cần, cùng tất cả các chính sách và các biện pháp hộ trỡ cho tiền tuyến đều hết sức năng nổ. Cuộc chiến đấu thật sự anh hùng và sự chỉ đạo, chỉ huy của triểu đình hết sức tích cực …Vậy mà vẫn thất bại và thất bại tất yếu là ở trong cái mà Tshuboi gọi rất chính xác là “bản thể” của cái xã hội ấy. Hẳn không phải ngẫu nhiên mà tác giả viết công trình nghiên cứu này của mình gần như dưới dạng một tiểu thuyết. Chỉ một cách viết như vậy mới bộc lộ được hết cái căn bệnh thâm căn và chí tử của xã hội và đất nước đã triệt tiêu hết mọi sức đề kháng của nó, dẫn nó đến cái chết bi tráng không thể khác. Có lẽ phải chờ cho đến một đầu óc sáng chói như Phan Châu Trinh mới là người đầu tiên thấy ra và gọi đúng tên căn bệnh ấy. Hoàng Xuân Hãn nói rằng Phan Châu Trinh là người đầu tiên đi tìm và đã tìm ra nguyên nhân mất nước thê thảm không phải ở đâu khác mà là “trong văn hóa”. Nghĩa là, nói cách khác, trong cái ý thức hệ cầm tù xã hội, trói chặt hết mọi năng lượng của nó, đánh gục nó không phương cứu chữa. Cái ý thức hệ đã khiến xã hội Việt Nam lạc hậu hơn đối thủ của mình cả một thời đại. Những người đã đổ gục xuống lúc bấy giờ là những người anh hùng đã lạc thời đại. Phan Châu Trinh thống thiết kêu gọi Khai dân trí, Chấn dân khí, để rồi Hậu dân sinh. Ông kêu gọi một cuộc vượt thoát ý thức hệ, một cuộc chấn hưng dân tộc, một cuộc cách mạng văn hóa theo nghĩa sâu nhất và đúng nhất của nó.”10.9.2011 Nguyễn Xuân Xanh http://www.diendan.o...ve-sach-tsuboi/ Yoshiharu Tsuboi: Người Việt cần trong sạch TP - Yoshiharu Tsuboi là một người Nhật 100%. Nhưng cuộc đời ông, về mặt tinh thần, gắn bó với văn hóa và đất nước Việt Nam. Ông là chuyên gia hàng đầu về Việt Nam của đất nước mặt trời mọc, đã bổ sung vào kho kiến thức của Việt Nam với những đóng góp của riêng ông. Tranh của Nguyễn Xuân Hoàng. Câu hỏi từ một dân tộc từng bị đô hộ Yoshiharu Tsuboi bắt đầu nghiên cứu Việt Nam từ năm 1973, khi chiến tranh vẫn đang diễn ra. Trong hoàn cảnh đất nước Việt Nam còn bị chia cắt, kinh tế xã hội không mấy phát triển, ngoài tình yêu đối với đất nước hình chữ S, Yoshiharu Tsuboi cũng chưa hình dung được hết khó khăn mà mình gặp phải. Đơn giản nhất là việc anh sẽ đi đâu để mà nghiên cứu về Việt Nam? Nơi chiến trường không có nhiều viện nghiên cứu. Giáo sư dạy Yoshiharu Tsuboi đã khuyên anh nên… sang Pháp để nghiên cứu Việt Nam. Nơi đó không có chiến tranh và sự phức tạp của nó. Nơi đó có nhiều tài liệu. Yoshiharu Tsuboi đã học ở Pháp 6 năm về lịch sử Việt Nam, viết sách ở Pháp. Anh mày mò trong các thư viện, để tìm tư liệu về Việt Nam, bằng tiếng Pháp và tiếng Trung Quốc. Anh đã khám phá ra rất nhiều điều về đất nước ở châu Á của anh từ những người bạn Việt Nam lưu lạc trên đất Pháp, hoặc làm việc trong các thư viện và kho lưu trữ. Yoshiharu Tsuboi ngạcnhiên trước kiến thức của họ, cũng như tình cảm của họ với quê hương mình. Luận án tiến sĩ của Yoshiharu Tsuboi hoàn thành năm 1982. Đề tài của anh tập trung nghiên cứu là nguyên nhân mà Việt Nam rơi vào tay thực dân Pháp. Quả thực, đó là hướng nghiên cứu cần thiết đối với một nhà khoa học có tâm. Nó không xuất phát từ một chiến thắng vẻ vang được nhiều người rải thảm đỏ mời nghiên cứu, mà tìm về một thất bại chua xót ai cũng muốn lãng quên. Thất bại là mẹ của thành công - Người Việt Nam có câu nói như vậy. Cuốn sách rút ra từ đề tài tiến sĩ của Yoshiharu Tsuboi, đã đi tìm câu trả lời cho một sự thật là: cùng khối sử dụng chữ Hán, gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, vì sao chỉ Việt Nam lại rơi vào tay thực dân phương Tây? Điều gì đã đưa đẩy dân tộc Việt Nam vào tình thế đó? Ông Yoshiharu Tsuboi. Người bạn 20 năm Những năm 1980, khi Yoshiharu Tsuboi đến Việt Nam làm việc, kinh tế còn rất khó khăn. Đời sống tinh thần cũng hết sức đơn điệu, bảo thủ, trì trệ. Việt Nam trải qua chiến tranh biên giới phía Bắc, vấn đề được nêu ra trong cuốn sách của anh, xem ra cũng chưa có nhiều cơ hội đến với bạn đọc. Bởi trong cuốn sách của mình, Yoshiharu Tsuboi đã sớm đặt ra vấn đề Việt Nam sẽ tồn tại thế nào giữa một bên là nước Trung Hoa đồ sộ và bên kia là các thế lực từ châu Âu? Những sự thật tế nhị về mối quan hệ đó cũng được đề cập. Năm 1989, nhà sử học Nguyễn Đình Đầu đang ngày đêm nghiên cứu về địa bạ ở trung tâm lưu trữ quốc gia, nhằm vẽ lên bức tranh về các làng xã Việt Nam thời phong kiến đến thời hiện đại. Một hôm, ông được nhân viên thư viện nhờ làm phiên dịch hộ vì “có ông khách Nhật đến để muốn xem châu bản thời Nguyễn”. Người Nhật, nhưng lại nói tiếng Pháp, muốn xem tài liệu chữ Hán. Bất đắc dĩ, Nguyễn Đình Đầu đã làm thông ngôn miễn phí cho vị khách đặc biệt này. Người đó chính là Yoshiharu Tsuboi. Yoshiharu Tsuboi đã giới thiệu cuốn sách của mình cho Nguyễn Đình Đầu. Nhà sử học lão thành Nguyễn Đình Đầu nhớ lại: “Tôi rất ngạc nhiên trước cuốn sách giá trị. Thậm chí nó còn giúp ích cho cả công trình địa bạ mà tôi đang làm”. Nguyễn Đình Đầu nói với tác giả cuốn sách: “Chúng tôi sẽ dịch cuốn sách của anh, nhưng chúng tôi sẽ không có tiền trả tác quyền cho anh đâu”. Thật bất ngờ, tác giả cuốn sách nói: “Ông không phải trả tiền cho tôi mà tôi sẽ trả tiền cho các ông”. Đấy là cuốn sách khó dịch. Nó được viết bằng tiếng Pháp, nên các địa danh, nhân vật của Việt Nam và Trung Quốc, phần bị Âu hóa, phần thì phiên âm từ tiếng các địa phương của Trung Quốc, trở nên rắc rối. Cuốn sách sử học lại được viết bằng một ngôn ngữ sắc sảo giàu tính văn chương và tính tư tưởng. Nguyễn Đình Đầu đã phải lập một nhóm gồm 5 người để dịch cuốn sách. Yoshiharu Tsuboi trả họ 500 USD tiền dịch. “Chúng tôi cứ theo lối Xã hội Chủ nghĩa thời đó, chia đều, mỗi người 100 USD. Lúc đó số tiền ấy rất lớn. Chúng tôi làm việc vô cùng nghiêm túc. Trong nhóm chúng tôi có tôi, giáo sư Trần Văn Giàu, nhà sử học Bùi Trân Phượng… Chúng tôi muốn có cuốn sách dịch tốt nhất có thể, cho Yoshiharu Tsuboi - Nguyễn Đình Đầu hồi tưởng - Nhưng vấn đề không chỉ nằm ở đó. Cuốn sách dịch 6 tháng mới xong. Xong rồi, in ở đâu? Nhiều vấn đề quá mới mẻ đã làm cho người ta e ngại. May nhờ những người có uy tín như giáo sư Trần Văn Giàu, ông Trần Bạch Đằng lên tiếng, nên năm 1990, Ban Khoa học xã hội Thành uỷ TPHCM đã xuất bản cuốn sách”. Chủ trương là vậy, còn kinh phí ở đâu chẳng ai biết. Thế là, Yoshiharu Tsuboi lại đưa tiếp tiền để đi in sách. Cuốn sách “Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, 1847-1885” đã ra đời như thế. Không chỉ bỏ hàng chục năm trời nghiên cứu, viết sách, Yoshiharu Tsuboi còn bỏ tiền túi ra để đưa cuốn sách đến với người đọc Việt Nam. Tác giả nói: “Khi tôi viết, tôi đã mong có nhiều người Việt Nam đọc cuốn sách của tôi”. Đặt Việt Nam vào thế bình đẳng Tiến sĩ Bùi Trân Phượng, Hiệu trưởng Đại học Hoa Sen nhớ lại những ngày tham gia dịch sách. Bùi Trân Phượng dịch các chương III, IV, V. Tiến sĩ nói: “Tác giả đặt tên cuốn sách rất hay. NgườiTrung Quốc luôn coi mình là trung tâm, các nước xung quanh là chư hầu. Nhưng, với cách đặt tên cuốn sách, tác giả đã đặt Việt Nam vào thế bình đẳng, ngang hàng với Trung Quốc và Pháp”. Tiến sĩ Yoshiharu Tsuboi tiết lộ: “Lúc đầu tôi đặt tên cuốn sách là Nước Đại Nam ở giữa Trung Quốc và Pháp. Nhưng sau đó tôi chọn cái tên Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, như thế sẽ khẳng định được vị thế độc lập của Việt Nam”. Thật bất ngờ, sau khi ra đời, cuốn sách gây tiếng vang lớn, sách bán hết rất nhanh. Tuy vậy, theo dịch giả Nguyễn Đình Đầu, việc tái bản gặp nhiều trở ngại. Những quan niệm lịch sử mới mẻ vẫn còn gặp phải cái nhìn e dè. Nhà văn Nguyên Ngọc nói, thời điểm đó, nhiều quan niệm sai lầm về lịch sử còn tồn tại, nhất là sự đánh giá về vai trò của nhà Nguyễn trong việc để Pháp xâm lược. “Tiến sĩ Yoshiharu Tsuboi lại không nghiên cứu Việt Nam (lúc đó - PV) như một thực thể chính trị phong kiến, mà ông nghiên cứu toàn diện về một bản thể xã hội Việt Nam. Thất bại không chỉ do triều đình nhà Nguyễn, mà nó còn bắt nguồn từ sâu hơn, có căn nguyên lịch sử lâu dài. Bản thân vua Tự Đức không thể là nguyên nhân của mọi thất bại. Ông cũng chỉ là một nạn nhân”. Sau quá trình nghiên cứu khách quan, giáo sư tiến sĩ Yoshiharu Tsuboi thấy thất bại của Việt Nam trước thực dân Pháp trước hết là do thiếu sự đoàn kết, do mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích. “Vào thời kỳ thế kỷ 19, không chỉ nhà vua mà các quan lại, các miền đều chia rẽ; Nho giáo, Ki - tô giáo xung đột với nhau. Mâu thuẫn xung đột đã khiến Việt Nam không phát huy được sức mạnh để chống lại thực dân Pháp - Tiến sĩ Yoshiharu Tsuboi nói - Thậm chí người Pháp chỉ cần sử dụng một lực lượng không lớn lắm đã có thể đánh thắng được quân đội của triều đình”. Trong khoa học, việc khẳng định lẽ phải là vấn đề thời gian. Sau lần xuất bản tại TPHCM, các nhà xuất bản ở Hà Nội đã hai lần tái bản cuốn sách. Một điều hiếm thấy đối với tác phẩm nghiên cứu về lịch sử, nhất lại là sách “cổ sử”. Năm 2010, Công ty Truyền thông Nhã Nam quyết định tái bản lần thứ 4 cuốn sách này, trong thời gian ngắn, 2.000 bản sách đã được bán hết. Theo nhà văn Nguyên Ngọc, cuộc đối đầu giữa Việt Nam với các thế lực Phương Bắc, Phương Tây phải chăng cũng vẫn đang nóng bỏng, đã khiến cho cuốn sách thu hút được sự quan tâm rộng rãi như vậy? Trong buổi ra mắt cuốn sách trong lần tái bản thứ 4, tại Đại học Hoa Sen TPHCM, tháng 9-2011, Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu vui vẻ cho biết: “Đây là lần đầu tiên có nhà sách ký hợp đồng và trả tiền tác quyền cho tác giả Yoshiharu Tsuboi!”. Trở lại làm việc nhiều hơn tại Việt Nam Trở lại Việt Nam lần này, gặp các nhà trí thức và bạn đọc ở TPHCM,Yoshiharu Tsuboi làm chúng tôi ngạc nhiên khi ông mặc bộ đồ gần như đồ bảo hộ lao động. Yoshiharu Tsuboi nói: “Tôi đang cộng tác với Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, và làm việc cho Tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA). Tôi có điều kiện trở lại làm việc nhiều hơn tại Việt Nam”. Ông đã đến Hải Phòng, Huế, với tư cách một cầu nối giữa Nhật Bản với Việt Nam trong việc thúc đẩy hợp tác kinh tế. Ông cũng quan tâm đến các di sản văn hóa Việt Nam, như châu bản triều Nguyễn và các di sản văn hóa khác. Dường như việc mặc trên mình chiếc áo bảo hộ lao động có nhiều ý nghĩa. Ông nói: “Trong 10 năm gần đây, Trung Quốc và Hàn Quốc có tốc độ phát triển nhanh. Họ là nhà máy khổng lồ sản xuất ra nhiều hàng hóa cho thế giới. Việt Nam qua 20 năm đổi mới rồi, nhưng chưa làm được điều đó. Rất nhiều các công ty buôn bán bất động sản hoạt động để làm lợi cho mình, họ không có tầm nhìn để tạo ra các sản phẩm để đưa ra thế giới”. Yoshiharu Tsuboi chia sẻ kinh nghiệm: “Chúng tôi chú ý phát triển nguồn tài nguyên con người. Người Nhật rất nỗ lực”. Ông vẫn lo lắng cho mảnh đất đã hóa tâm hồn của ông, mảnh đất ấy có tên là Việt Nam: “Tôi có cảm giác nhiều người Việt dù có vấn đề, nhưng lại không nỗ lực làm việc. Người trẻ tuổi của Việt Nam cần làm việc nhiều hơn nữa. Dân số Nhật Bản chưa bằng 10% Trung Quốc, người Nhật phải cố gắng làm việc nhiều hơn để không bị bỏ lại phía sau. Người Việt Nam cũng phải như thế thôi”. Nhiều người cho rằng Việt Nam nên nỗ lực phát triển kinh tế, nhưng theo nhà nghiên cứu Yoshiharu Tsuboi, cái Việt Nam cần nhất hiện nay vẫn là phát triển văn hóa. Một nước có thể nhỏ về diện tích nhưng vẫn rất giàu có về mặt văn hóa. Phát triển văn hóa, chính là phát triển con người. Trước khi chia tay với bạn đọc của ông ở TPHCM, Yoshiharu Tsuboi nói một câu rất ý nghĩa: “Cần phải tạo ra thật nhiều những con người biết sống trong sạch. Chính họ là sức mạnh cho đất nước Việt Nam”. Trần Nguyễn Anh
-
[ CHUA XÓT LÒNG CON! MẸ VIỆT NAM ƠI! Mẹ Việt Nam ơi! Quách Đình Đạt Thú thực, sau khi đọc được tin người ta định xây dựng tượng Mẹ Việt Nam anh hùng với chi phí hơn 400 tỉ, tôi cứ day dứt mãi. Dù không sinh ra trong thời chiến, nhưng qua những thước phim, lời ca, trang sách, tôi cũng vẫn cảm nhận được những hi sinh, mất mát của các Mẹ. Khi đã sinh con ra, mẹ nào cũng muốn con mình yên ấm, hạnh phúc. Nhưng vì đất nước, các mẹ lần lượt tiễn những đứa con thân yêu ra chiến trường. Việc chăm sóc các Mẹ Việt Nam là trách nhiệm của toàn xã hội, sao cho xứng đáng với những hi sinh của mẹ và các con của mẹ cho cuộc sống thanh bình hôm nay. Tuy nhiên, việc làm như thế nào lại là một điều thực đáng suy nghĩ sao cho thấu đáo. Ngày 14-7, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Phước Thanh đã ký quyết định bổ sung 330 tỉ đồng cho dự án xây dựng tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng, lấy nguyên mẫu mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ, tại khu vực núi Cấm (xã Tam Phú, TP Tam Kỳ, Quảng Nam), nâng tổng số tiền đầu tư từ ngân sách Trung ương và ngân sách tỉnh lên hơn 410 tỉ đồng, gấp 5 lần số tiền được phê duyệt ban đầu là 81 tỉ đồng (vào tháng 8-2007). Với tổng mức đầu tư như vậy, UBND tỉnh Quảng Nam có "tham vọng" xây dựng lên một tượng đài lớn nhất Việt Nam và lớn nhất toàn Đông Nam Á. Giả sử, nếu công trình được xây dựng thành công, sẽ là một công trình biểu dương sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tôn vinh sự hy sinh lớn lao của các mẹ, và là một tấm gương cho các thế hệ mai sau. Tuy nhiên, còn có những điều trăn trở. Và dù có ai chế cười, đánh giá là thiển cận, thì cũng phải nói cho ra. Khi bức tượng được hoàn thành, ai sẽ được nhớ đến? - Người ta nhớ tới con người tài hoa đã thiết kế công trình vĩ đại này? - Nhiều người nhớ công của vị chủ tịch Quảng Nam Lê Phước Thanh đã ghi dấu ấn trong nhiệm kỳ? Thế nhưng, còn hàng ngàn bà mẹ khác trên đất nước mình thì sao. Hầu hết các mẹ đều sống trong hoàn cảnh rất khó khăn. Nhà nước không đủ kinh phí để xây dựng nhà tình nghĩa, còn phải nhờ tới bàn tay của nhiều doanh nghiệp,các nhà hảo tâm. Con biết các mẹ vẫn vững tin, và không đòi hỏi. Nhưng đó là trách nhiệm "báo hiếu" mà chúng con phải làm. Vừa qua, Kỷ niệm 64 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27-7-1947 - 27-7-2011), sáng 25-7-2011 Quận ủy, UBND quận 8 làm lễ trao 17 căn nhà tình nghĩa cho 17 hộ gia đình chính sách (12 gia đình liệt sĩ, 5 thương binh) trên địa bàn quận. Tổng trị giá là 3,2 tỷ đồng. Trung bình 1 căn nhà là 188 triệu đồng. Vậy với 410 tỉ, ta có thể xây khoảng 2.200 căn nhà tình nghĩa. Đất nước mình còn hàng ngàn bà mẹ khác cũng chịu nhiều hy sinh mất mát. Chúng ta ai cũng vậy, đều muốn chăm sóc và phụng dưỡng mẹ mình khi còn sống. Chẳng ai muốn để mẹ khổ, rồi khi thác lại khóc thương. Nếu có ai đó quanh ta như vậy, hẳn sẽ bị cho rằng bất hiếu. Từ đó, có thể thấy những việc làm thực tế quan trọng hơn việc tạo nên cái "danh". Chưa nói tới chuyện ai "ăn được gì", quản lý công trình có thất thoát hay không, chỉ cần nghĩ tới tính thiết thực thôi cũng thấy cũng cần phải suy xét lại. Xin lấy lời bài hát "Người Mẹ của tôi" của tác giả Xuân Hồng thay lời kết "Mẹ Việt Nam ơi! mẹ Việt Nam ơi! khi con đi qua khắp nẻo đường, nghe đau thương chìm trong khói hương.Mong sao cơn mưa gió vô thường không lung lay làm rớt hạt sương......Mẹ Việt nam ơi! mẹ Việt Nam ơi!Cho con xin chia sớt nỗi buồn, cho con xin sẻ đôi bát cơm, cho con hôn đôi mắt mỏi mòn cho con soi lại bóng hình con." Đừng để mưa gió vô thường làm lung lay mẹ, hãy chia sớt nỗi buồn, sẻ đôi bát cơm. Đừng biến mẹ thành... tượng đá! Nguồn : Facebook Quach Dinh Dat
-
Tỉnh Quảng Nam nghèo lắm, chó ăn đá gà ăn muối. Đang nhận tiền hàng năm. Bạn hãy thăm Thánh địa mỹ sơn, các tòa tháp xuống cấp được chống đỡ khoảng dưới 20 cây gỗ còn tệ hơn cây cừ tràm ở Nam Bộ. 300.000 đồng mỗi tháng tằn tiện của người nông dân cũng sống ở nơi đây. Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ dự toán khoảng 40 tỷ (tượng đồng) khi giao đến nhà thầu ký hợp đồng khoảng 19.8 tỷ - Đứt > hơn 50% để cuối cùng đúc bằng đồng phế liệu. Nhục lắm.
-
Giá cái gì cũng thuộc loại đắt nhất thế giới, do "tạng chất" quyền lợi cá nhân, nhóm, hội đoàn. Bán thô mua tinh... Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ: nhìn chia nhau phát ói. Làm tàu cao tốc đi cho sướng.
-
10 việc làm cứu cả thế giới của bill gates Phải cảm ơn những công việc Bill Gates đang làm với quỹ từ thiện Bill và Melinda Gates, khi ông cho đi hàng tỷ USD của mình để chống lại sự lây lan của dịch bệnh và phát triển nguồn lương thực cho những người cần thiết nhất trên thế giới. Theo Business Insider, dưới đây là 10 dự án ấn tượng nhất từ quỹ từ thiện của Bill Gates. 1. Nghiên cứu chuối Quỹ Gates đang tài trợ cho việc nghiên cứu để bổ sung chất sắt và Vitamin A vào chuối. Sau khi được biến đổi, giống chuối này sẽ được phân phối ở Uganda. Một nhà khoa học của trường Đại học Queensland, Australia đang thực hiện dự án trên, nói: "Chúng cũng là một trong những thực phẩm cai sữa tốt nhất cho trẻ em. Chúng sẽ được đóng gói trong điều kiện vô trùng và không cần nấu chín”. 2. Loại trừ hoàn toàn bệnh bại liệt Các ca bại liệt đã giảm xuống 99% và quỹ Gates muốn loại bỏ hoàn toàn căn bệnh này. Quỹ đã thực hiện một chương trình tiêm chủng tích cực và việc tiến hành đang được thúc đẩy cho một số khu vực còn lại trên thế giới. 3. Làm giảm bệnh sốt rét Quỹ Gates vừa giúp đỡ các ca nhiễm sốt rét ở Zambia bằng việc đầu tư vào một chương trình thử nghiệm. Theo đó, chương trình này giúp người dân nằm trong giường có màn trừ muỗi và giúp họ phun thuốc xịt muỗi trong nhà. Dự án này đã hoạt động tốt và hoàn thành ở các quốc gia khác. Ngoài ra, quỹ Gates cũng đầu tư vào việc tìm kiếm vắc-xin phòng bệnh sốt rét và các loại thuốc diệt muỗi mới. 4. Biến phân thành năng lượng sinh học Nhà khoa học Katarik Chandran nhận được 1,5 triệu USD tiền trợ cấp từ quỹ từ thiện của Bill Gates, để thực hiện dự án biến phân người thành năng lượng diesel sinh học. Nếu thành công, nó sẽ là cách tuyệt vời để biến chất thải người thành một thứ hữu dụng. 5. Tăng 'sức khỏe' cho cây sắn Quỹ Gates đã tài trợ cho một nhóm nghiên cứu nhằm làm giảm chất xyanua tự nhiên trong củ sắn. Ngược lại, nó làm tăng protein, sắt, kẽm, vitamin A và E để tạo sức đề kháng với những căn bệnh mới của cây sắn. Sắn là loại lương thực phổ biến với 800 triệu người trên toàn thế giới. 6. Chi 42 triệu USD để sáng chế toilet Bill Gates muốn giúp đỡ 40% người trên thế giới không có nhà vệ sinh cần thiết, bằng cách xây dựng những toilet độc lập mà không cần đường nước hoặc điện, để biến chất thải thành năng lượng, nước sạch hoặc các chất dinh dưỡng. 7. Chi 2 tỷ USD để chống lại HIV Quỹ Gates đã đóng góp một phần nhỏ làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV mới từ năm 2001 đến 2008. Quỹ này bỏ tiền vào vắc-xin, ngăn chặn sự bùng phát của căn bệnh thế kỷ ở Châu Phi và làm giảm chi phí điều trị của người bệnh. 8. 1,5 tỷ USD cho phụ nữ và các vấn đề sức khỏe trẻ em Ngày 7/6/2010, bà Melinda Gates tuyên bố Quỹ Bill & Melinda Gates sẽ tài trợ 1,5 tỷ USD trong vòng 5 năm tới, để hỗ trợ các dự án của nước ngoài liên quan tới chăm sóc sức khỏe của bà mẹ và trẻ em. Khoản tiền này sẽ được đầu tư đến hết năm 2014 và phần lớn được hỗ trợ cho các chương trình triển khai tại Ấn Độ, Ethiopia và một số nước có tỷ lệ phụ nữ và trẻ em tử vong cao. 9. Nghiên cứu dùng muỗi tiêm vắc-xin Năm 2008, quỹ từ thiện Bill và Melinda Gates thông báo tài trợ 100.000 USD cho các công trình nghiên cứu khoa học, nhằm phòng chống hoặc điều trị các bệnh lây nhiễm như HIV/AIDS và lao, tìm cách hạn chế sự kháng thuốc ngày càng tăng. Trong đó, có giải pháp của Hiroyuki Matsuoka ở Đại học Y khoa Jichi (Nhật Bản), biến muỗi thành loại “xi-lanh bay” để tiêm vắc-xin cho người. 10. Kêu gọi các tỷ phú khác quyên tiền Bill và Melinda Gates không chỉ muốn cho đi số tiền của mình, mà họ còn muốn các tỷ phúc khác làm điều tương tự. Càng nhiều tiền được đóng góp, cuộc chiến chống lại các căn bệnh trên toàn thế giới càng hiệu quả hơn. Nỗ lực này nhận được sự ủng hộ của tỷ phú, nhà đầu tư Warren Buffett. Đến nay, có ít nhất 40 gia đình và cá nhân giàu có nhất Hoa Kỳ, bao gồm ít nhất là 30 tỷ phú đã hứa hiến tặng ít nhất là một nửa số tài sản của họ cho việc từ thiện.
-
Sau khi chém đầu Liễu Thăng, để tỏ tình hòa hiếu tránh can qua, thông lệ khoảng 3 năm một lần Việt Nam sẽ nộp 1 người vàng nặng bằng Liễu Thăng. Nếu lấy liền được tiêu một cách sung sướng như VinaShin khoảng dăm tỷ Dol. chia ra thành vàng (24 cây = 1kg) cho 1 thằng người Liễu Thăng 75kg thì Việt Nam và Trung Hoa sẽ không gây chiến tối thiểu 250 năm. Lệ nộp người vàng này đã bị hủy bỏ bởi Vua Quang Trung. Việt Nam thay đổi rồi.
-
Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương khẳng định rằng: " Bài toán giải mã số thứ tự các quẻ (tự quái) là một trong những bài toán hóc búa nhất, hiểm trở nhất của Dịch lý trên cả toàn cầu và toàn lịch sử loài người, mãi cho đến nay mới bắt đầu thực hiện rõ ràng, cụ thể được. Những giải mã này cho phép khôi phục lại vị trí học thuyết siêu thống nhất phổ quát nhất về nhân văn học, và hơn nữa vị trí giao lưu văn minh vũ trụ, hội nhập vũ trụ nay mai ". * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Sơ lược về Thái Ất Thái Ất thần kinh hay Thái Ất là một trong ba môn học xếp vào tam thức (Thái Ất, Độn giáp, Lục nhâm đại độn). Thái Ất tức là Thái Nhất, tên gọi khác của Thần Bắc cực. Trong tam thức, Thái Ất thiên về Thiên, nó nghiên cứu sự chuyển động của các tinh tú ảnh hưởng đến Trái Đất, đến con người. Theo một số sách bói kinh điển, Thái Ất là tôn thần của thiên đế, ở trước sao Bắc thần, chủ sai khiến 16 thần. Sao Thái Ất chủ về dự đoán gió mưa, hạn hán lụt lội, chiến tranh đói rét bệnh tật, xem tình hình trong nước, sao Thái Ất chủ sự hưng vong, lịch số dài ngắn. Mục lục [giấu] 1 Ðối tượng dự trắc 2 Cách lập quẻ 2.1 Số niên cục 2.2 Số nguyệt cục 2.3 Số nhật cục 2.4 Số thời cục 3 An các sao chính 4 Cách đoán quẻ 5 Lưu ý 6 Tham khảo [sửa] Ðối tượng dự trắc Theo Lê Quý Ðôn (1726-1784), xem Thái Ất có bốn cách: Tuế kế (kể năm) để xem sự lành hay dữ của quốc gia. Ðó là việc của các vua và hoàng hậu làm, để sáng chính hoá, sửa đức giáo, xét cơ động, tĩnh. Nguyệt kế (kể tháng), để xem lành hay dữ. Ðó là bậc công khanh xem, để xét biện được hay mất, mà điều hoà sự hoà hay trị. Nhật kế (kể ngày), để đo lường hoạ phúc trong nhân gian, sử dụng cho mọi người để xét lớn hay nhỏ, hưng hay suy. Thời kế (kể giờ), để vận trù mưu kế sách lược, xác định về chủ, khách, thắng, thua. Phàm thiên văn đổi khác, các nước lân bang động hay tĩnh, thế trận hai bên có tương đương hay không, xã hội bình yên hay có giặc cướp, đều dùng Thời kế mà xem. Lê Quý Ðôn viết: "Thuyết ấy (Thái Ất) phần nhiều nói về binh pháp: địch ta, chủ khách, lợi hại, được mất, cái cơ thịnh suy, trị loạn; cái thế thắng thua, yên hay nguy, không điều gì là không bày rõ. Nếu hiểu lẽ ấy mà biết phòng bị, ứng phó thì có thể tìm điều lành, tránh điều dữ, tiêu hoạ, vời phúc thì, mới là người giỏi dùng sách Thái Ất vậy...Làm tướng mà không biết sách ấy thì sẽ mờ tối ở chỗ đánh hay giữ, tiến hay ngừng; không lấy gì mà quyết đoán các nghi mưu khi ra trận tuyến; làm tể tướng mà không biết sách ấy thì sẽ sai lầm ở sự động hay tĩnh, cất lên hay đặt xuống; không lấy gì để quyết đoán những nghị luận lớn cho triều đình..." (Bài tựa cho sách Thái Ất Dị giản lục - bản dịch của Ðặng Ðức Lương, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông tin, Việt Nam năm 2001). Sách Thái Ất Thần kinh tương truyền là của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), (bản dịch của Nguyễn Ngọc Doãn (1912-1989) với bút hiệu là Thái Quang Việt – Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc – 2002) cũng viết: "...Thái Ất kể ngày luận về mệnh hạn người đời. Ðo biết hoạ phúc, định luận không sai. Suy rõ mấu chốt, nên cẩn thận tinh tường, diệu ở huyền vi tỏ biết. ...Phép này mọi người dân gian sử dụng để đo lường hoạ phúc cho mình, vào đời dựng nghiệp lớn hay nhỏ, được hưng hay suy, biết mấu chốt mà định luận không sai về vận hạn sống trong đời sao cho hợp với đạo nhà, đạo nước và đạo học đúng nghĩa quen gọi là Ðạo Người." và: "...Xem Thái Ất kể giờ chú trọng vào con toán nhất, rồi xem xét các chướng ngại (tù, giam, cấp...) được sử dụng cho công việc hàng ngày, nhất là xem cho việc binh bị, chủ khách thắng thua, nước ngoài động tĩnh, vận trù kế sách; đặc biệt xem thiên văn đổi thay, xã hội bị ảnh hưởng vì mưa nắng, bão gió, giặc cướp không." [sửa] Cách lập quẻ Tính số cục bao gồm niên cục, nguyệt cục, nhật cục và thời cục. [sửa] Số niên cục Mỗi nguyên tý có 72 năm. Niên cục là số từ 1 đến 72 trong mỗi nguyên tý. Người ta dùng mốc tính tích niên từ Thượng cổ, năm Giáp Tý đời Thiên hoàng, cách năm CN 10.153.917 năm. Để tính số niên cục của một năm, sử dụng công thức: Tính Tích niên (Tuế tích) = (số của năm xem) + 10.153.917 Tích niên chia 3.600 Phần dư của phép chia trên chia 360 Phần dư của phép thứ 2 chia 72 số dư của phép chia này chính là số niên cục. Có một số thuyết tính mốc tích niên từ Trung cổ, năm Giáp Dần đến năm tuổi Việt (tuổi Việt lấy năm dương lịch là năm 2879 TCN cộng với năm xem) Từ Thượng cổ, năm Giáp Tý đời Thiên hoàng đến Trung cổ, năm Giáp Dần cách nhau 10.141.310 năm. Nếu dùng mốc Trung cổ, năm Giáp Dần, những vì sao xuất phát từ Thượng cổ, năm Giáp Tý thì phải thêm số doanh sai, tính toán phiền phức. Ví dụ năm 2006 (Bính Tuất), dương cục là: Tích niên = 2006 + 10.153.917 = 10.155.923, chia tích niên cho 3.600 được số dư 323, phần dư lại chia tiếp 360 dư 323, phần dư này chia tiếp cho 72 được số dư 35. Vậy được số niên cục dương 35. [sửa] Số nguyệt cục Cục tương ứng với tháng gọi là nguyệt cục. Cách tính là lấy số tích tháng từ Thượng cổ, năm Giáp Tý đến tháng xem, cộng thêm hai tháng Tý, Sửu vì người ta dùng lịch kiến Dần; hai tháng này gọi là Thiên Chính, Ðịa Chính. Công thức tính: Tính số tích tháng từ định tính so với mốc = (10.153.917 + [năm trước năm có tháng xem])*12 + 2 + [số của tháng xem] Chia số Tích tháng tính được cho 360 Phần dư của phép chia trên chia tiếp cho 72, số dư là nguyệt cục. Ví dụ: Tính nguyệt cục của tháng Mậu Dần năm Canh Thìn (2000) Từ Thượng cổ Giáp Tý đến năm trước năm có tháng xem (năm 1999) có: 10.153.917 + 1999 = 10.155.916 năm, 10.155.916 * 12 = 121.870.992 tháng. Số tháng Thiên Chính, Ðịa Chính và tháng cần xem (1) là 3, nghĩa là phải cộng thêm 3 được tổng số tháng = 121.870.992 + 3 = 121.870.995. Lấy số này : 360 dư 195, 195 : 72 dư 51. Như vậy tháng Mậu Dần năm Canh Thìn (2000) thuộc nguyên Nhâm Tý, có Nguyệt cục dương 51. Một số thuyết tính gốc Nguyệt cục là ngày mồng một (Mậu Ngọ) tháng 11 (Bính Tý), năm Giáp Tý, năm đầu niên hiệu Nguyên Gia, vua Tống Văn Ðế nhà Tống (420-479) ở Trung Quốc thời kỳ Nam-Bắc triều (Tương ứng với ngày 7 tháng 12 năm 424). Sách Thái Ất dị giản lục có ghi cách tính này. Ví dụ: Tính Nguyệt cục của tháng Mậu Dần năm Canh Thìn (2000) Từ tháng Bính Tý năm Giáp Tý (năm 424) đến tháng Ất Hợi (tháng trước tháng Bính Tý) năm Kỷ Mão (năm 1999) có: (2000-1) – 423 = 1.576 năm. Lấy số năm (1.576) * 12 được 18.912 tháng (mỗi năm 12 tháng). Từ tháng tháng Bính Tý năm Kỷ Mão (1999) đến tháng Mậu Dần năm Canh Thìn (2000) có 3 tháng. Vậy số Tích tháng = 18.912 + 3 = 18.915. Lấy số này chia cho 360 dư 195. Lấy dư số chia cho 72 dư 51. Như thế tháng Mậu Dần năm Canh Thìn (2000) thuộc nguyên Nhâm Tý, dương có Nguyệt cục dương 51. Nguyên tắc: niên cục dương thì nguyệt cục cũng dương; niên cục âm thì nguyệt cục cũng âm. [sửa] Số nhật cục Phương pháp tính: Sau tiết Đông chí, tìm ngày Giáp Tý đầu tiên gần nhất sau Ðông chí năm trước, lấy đó làm gốc đếm trở đi, tích cho đến ngày xem, được bao nhiêu là số tích ngày. Chia số tích ngày đó cho 360 phần dư lại tiếp tục chia cho 72, còn dư lại bao nhiêu chính là nhật cục. Theo sách Thái Ất thần kinh, chỉ có thời kế là có phân biệt âm cục, dương cục. Một số thuyết áp dụng cục âm dương trong Thái Ất kể ngày. Cục âm, dương tính như sau: Từ Đông chí đến trước ngày Hạ chí, là dương cục; từ Hạ chí đến trước ngày Đông chí, thuộc âm cục (chú ý tính ngày phải xét đến cả giờ chuyển tiết, khí) Thí dụ: Tính nhật cục ngày 14 tháng 12 năm 1992 dương lịch. Tính Nhật cục theo Thái Ất thần kinh: Ngày Ðông chí năm trước: 22 tháng 12 năm 1991 Ngày Giáp Tí đầu tiên gần nhất sau Ðông chí năm trước là ngày 18 tháng 02 năm 1992 (Ngày Giáp Tí (15) tháng Nhâm Dần, năm Nhâm Thân) Số ngày tích lại: 14/12/1992 - 18/02/1992 + 1 = 301 đem chia cho 360 được số dư 301. Số dư chia tiếp cho 72 được số dư là 13. Vậy ngày 14/12/1992 có Nhật cục 13. Có thuyết tính mốc tích ngày là ngày Giáp Tí (01) tháng Giáp Tí (11), năm Quý Hợi thuộc niên hiệu Cảnh Bình đời Tống tương ứng với ngày 19 tháng 12 năm 423 theo dương lịch. Trước hết tính số ngày từ gốc là ngày 19 tháng 2 năm 423 tới ngày 18 tháng 2 trước ngày xét và tính được tròn số từ năm 423 tới năm xét. Tiếp đó người ta sử dụng công thức tính làm tròn ngày tích 365,2425 ngày/năm với số năm. Bước tiếp theo tính số ngày lẻ từ ngày 19 tháng 2 tới ngày xét. Lấy tổng số ngày (số tích ngày) chia 360 lấy dư. Lại chia tiếp 72 lấy dư làm số Nhật cục. Có thuyết quy định tính Tích Nhật dựa vào Tích Nguyệt. Sách Thái Ất dị giản lục có ghi cách tính này. [sửa] Số thời cục Cách tính: Cục âm dương của thời cục cũng tính như Nhật cục Số giờ từ ngày Giáp Tí hoặc Giáp Ngọ gần nhất sau Ðông chí năm trước đến ngày, giờ muốn tính Chia số giờ đó cho 360, số dư lại chia tiếp 72 số dư chính là Thời cục. Ví dụ: Tính thời cục giờ Nhâm Tý, ngày Mậu Tuất (23 tháng 1 năm 1992) Ngày Giáp Ngọ gần nhất sau Ðông chí là 19 tháng 1 năm 1992. Số ngày tích lại = 23/01/1992 - 19/01/1992 = 4. Số tích giờ 4*12 = 48 giờ. Cộng thêm 1 giờ của ngày Mậu Tuất là 49 giờ. 49 chia 360 dư 49, lại chia 49 cho 72 dư 49. Ngày 23 tháng 1 năm 1992 sau Đông chí thuộc dương cục. Vậy tính được Thời cục 49 Dương. Cách tính số Niên cục, Nguyệt cục, Nhật cục, Thời cục gọi là Tứ kế (Tuế kế, Nguyệt kế, Nhật kế, Thời kế) [sửa] An các sao chính Thái Ất Tiểu Du Thái Ất, Tiểu Du Thiên Mục và Đại Du. Thái Tuế Thần Hợp Kể Định (Kể Mục) và Toán Định Kể Thần Thái Âm Văn Xương Thủy Kích Toán Chủ - Toán Khách Đại Tướng Chủ Đại Tướng Khách Tham Tướng (Tiểu Tướng) Chủ và Khách Ngũ Phúc Quân Cơ Thần Cơ Dân Cơ Tứ Thần Thiên Ất Địa Ất Trực Phù (Phép Tôn) Phi Phù Phi Lộc Phi Mã Hạn Dương Cửu Hạn Bách Lục – Vào quẻ [sửa] Cách đoán quẻ Sau khi an được quẻ Ất, căn cứ vào tính lý các cung, sao, căn cứ thuyết âm dương, ngũ hành sinh khắc, quy luật sinh vượng, chú ý các trạng thái vô thường của Thái Ất, nếu có và tùy theo lập quẻ Ất kể năm, kể tháng, kể ngày hay kể giờ mà tiến hành luận đoán. Trong trường hợp lập quẻ Ất kể ngày xem mệnh, còn phải hạn Dương cửu, hạn Bách Lục, căn cứ quẻ, hào Kiếp Sống tìm được, để dự đoán đời sống tiến lui lành dữ; căn cứ quẻ, hào Thái Tuế lưu niên tìm được, để dự đoán các việc và khi nào xảy ra trong năm ấy. [sửa] Lưu ý Cũng mang tên môn Thái Ất còn có Thái Ất thần quẻ, là phương pháp ứng dụng Dịch lý để lập quẻ dự đoán bằng hình thức lắc hào. Quẻ gồm có năm hào, mỗi lần gieo một đồng tiền để xin Âm Dương cho từng hào, khác với môn Thái Ất này, không trình bày ở đây. [sửa] Tham khảo Bằng tiếng Việt: Truyền lại đến ngày nay có hai bộ Thái Ất do hai soạn giả đồng thời vào thế kỷ 18: Một bộ là Huyền Phạm tiết yếu của Phạm Ðình Hổ (1768-1840) sửa lại bộ Huyền Phạm của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Cuốn này được Nguyễn Ngọc Doãn (1912-1989) với bút hiệu là Thái Quang Việt dịch sang quốc âm năm 1972; Nhà Xuất bản Văn Hoá Dân tộc phát hành với tên gọi Thái Ất Thần kinh ghi tên tác giả là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm 2002, Nhà Xuất bản Văn Hoá Dân tộc cho tái bản sách Thái Ất Thần kinh được sửa chữa, bổ sung thêm những phần thiếu sót. Bộ thứ hai là Thái Ất Dị giản lục của Lê Quý Ðôn (1726-1784). Sách này được Ðặng Ðức Lương dịch, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông tin in năm 2002. Có người còn có Thái Ất diễn quái bí lục của Nguyễn Xuân Quang, nhưng ít thấy bán trên các hiệu sách tại Việt Nam. Bằng tiếng Trung: Thái Ất kim kính thức kinh Thái Ất thống tông bảo giám Thái Ất thống tông đại toàn Những sách này ít thấy bán trong các cửa hiệu sách ở Việt Nam. Tính Tích niên (Tuế tích) = (số của năm xem) + 10.153.917 OK - Lấy năm Giáp Dần 2879 TCN kiểm tra lại với năm Tân Mão 2011 là biết ngay chính xác theo Lạc thư hoa giáp hay không. Bản chất của Tích tuế? Nếu thất tinh hợp bích thì người vẫn tính được, thực chất không quá khó vì đã biết bị trí góc tương đối và chu kỳ quay của các hành tinh và hiện tượng tuế sai. Vậy thì người nhận đã có thể nhận định như tác giả Nguyễn Thiện Nhơn tức sự sống xuất hiện ở Thiên Can Giáp (Mộc) của Đại Nguyên hàm ý sau Can Quý. Vậy thì OK - Ta phải kiểm tra can Giáp chi Tý hay Giáp Tý ban đầu. Hoàn toàn logic. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Hà Uyên: Khảo sát từ LỤC CANH Dịch - Hệ từ thượng - Chương 9 - Tiết 1 viết: "Thiên nhất địa nhị. Thiên tam địa tứ. Thiên ngũ địa lục. Thiên thất địa bát. Thiên cửu địa thập." Như vậy trong hệ chu kỳ số đếm 10, thì can Canh ở vị trí thứ 7. Dịch - Hệ từ thượng - Chương 9 - Tiết 5 viết: "Nhị thiên chi sách, vạn hữu nhất thiên ngũ bách nhị thập, đương vạn vật chi số dã" (Số trong hai thiên của Kinh Dịch là 11520, tương đương với số chỉ vạn vật." Dịch viết: số 11.520 là số tương đương chỉ vạn vật (!), như một di ngôn "mật khẩu" được mật truyền trong Kinh, ta nhận thức như thế nào về lời di ngôn này ? Từng bước tiếp cận, khởi đầu từ lời Dịch viết: " Vạn vật xuất hồ Chấn ". Sử dụng 3 chu kỳ: đó là chu kỳ 10, chu kỳ 12, và chu kỳ 14 làm phương tiện nhận thức về Thiên đạo (đường vận hành trời). Chu kỳ 10 được gọi là chu kỳ Thiên can, gồm thứ tự số đếm: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Chu kỳ 12 được gọi là chu kỳ Địa chi, gồm thứ tự số đếm: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Chu kỳ 10 và 12 cho chúng ta một hệ chu kỳ số đếm 60, khởi nguyên từ Giáp phối ứng với Tí, kết thúc khi Quý phối ứng với Hợi, thường gọi là một Giáp Tí. Khi tổ hợp phối ứng với chu kỳ 14, có nghĩa là khởi nguyên đồng thời cả ba chu kỳ, thì ta được một hệ chu kỳ số đếm 420, thường được gọi là một Đại Giáp Tí (7 x 60). Một Đại Giáp Tí là một chu kỳ gồm 420 năm (ngày). Chu kỳ 14: ngôi sao trên trống đồng. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *