hoangnt
Hội viên-
Số nội dung
1909 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
6
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by hoangnt
-
Chương XI –Tiết 1: Tử viết: phù dịch hà vi giả dã, phù dịch khai vật thành vụ, mạo thiên hạ chi đạo, như tư nhi dĩ giả dã. Thầy nói: “Có Dịch để làm gì? Ôi Dịch mở mang mọi vật, làm nên mọi việc, bao trùm mọi Đạo trong thiên hạ, chỉ có như thế mà thôi! Cho nên thánh nhân dùng để thông cái chí thiên hạ, định cái nghiệp thiên hạ và quyết đoán cái ngờ vực của thiên hạ”. Số lượng sách viết về Dịch tại trung Hoa là trên 3000 cuốn. Dịch là siêu công thức vũ trụ quan. Phải chăng Dịch mô tả sự vận động của một vũ trụ thống nhất hay nói về sự vận động của Âm dương Ngũ hành Vũ trụ thống nhất - tương đương Tiểu vũ trụ là con người tức cũng có nghĩa sự vận động của một vũ trụ thống nhất "bắt" con người "chạy" theo theo quy luật vận động của Hậu thiên Bát quái "Chu dịch". Một cân nhắc quan trọng khác đó là khả năng "tiên tri - bói" của Dịch hay tại một không thời gian bất kỳ người hỏi sẽ "cảm ứng" và nhận được câu trả lời từ Dịch từ dòng vận động vũ trụ hay nhận thông tin ngay lập tức qua "Tâm vũ trụ - Tính thấy", như vậy hàm ý phải có sự tương đương khi nhận được câu trả lời từ "Lạc Việt độn toán" hay "Mai hoa dịch số"... Cũng tương tự như vậy nếu dùng Thái Ất hay Độn Giáp. Trong một chừng mực các giai đoạn của đời người < 120 năm - hai chu kỳ hoa giáp (thời gian quá nhỏ so với sự vận động của sự vật, hiện tượng khác trong vũ trụ) đều được xác định qua Tử vi, điều này có nghĩa sự tương tác của Ngũ vận - Lục khí tới các "thuộc tính" biểu hiện ra của mỗi con người qua Lá số tử vi. Bởi vì người xưa xây dựng được Lá số tử vi với các tiêu chí khác nhau, điều này dẫn tới một chuyển đổi tương đương là các tiêu chí này tương ứng với một trạng Âm dương Ngũ hành qua Năm - Tháng - Ngày - Giờ sinh. Mặt khác nếu nhận định chúng ta "không chết" thì từ khái niệm Tinh Khí Thần hay Xác Phách Hồn (Thần) thì Dịch cũng sẽ phải bao hàm luôn. Như vậy "thuộc tính của Hồn" hay "trí tuệ của Thần" vẫn bị tương tác quy luật mạnh, yếu từ vũ trụ - người ta hay gọi là "luân hồi" nhưng thực chất chỉ là sự biến đổi của Trí tuệ mà thôi. Từ đó ta thấy Lục thập hoa giáp có thể sẽ bao gồm đặc trưng của hai trạng thái: thể xác và phách (vỏ của Hồn hay Tâm vũ trụ hay...) hiểu từ ý nghĩa Can Chi. Xác - phách - hồn trong sự liên hệ với nhau qua sự vận động của dòng khí âm dương theo luật mạnh - trọng - quý. Vậy thì Dịch sẽ phải được tổng hợp từ tất cả các phương pháp cổ Đông Phương, bao gồm luôn cả Đông Y. Người xưa đã tổng hợp một cách siêu đẳng như thế nào qua Hào - Quái - Quẻ???. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
KINH DIỆC VĂN LANG (KINH DỊCH) I KINH DIỆC VĂN LANG, giống Lạc Hồng, Kho tàng trí tuệ của cha ông. Hai ngàn năm măi thiên Hoa tộc, Một phút giây bừng ngộ Việt tông. Nghiệp trước đă đành xa cách núi, Kiếp này may lại gặp nguồn sông. Hởi ai có thấu ḷng tiên tổ, Xin giải oan cho Giọt- máu- Rồng. II Xin giải oan cho Giọt –máu - Rồng, Ǵn vàng giữ báu của non sông. Bút Tiên đă khắc thân nồi gốm, Dấu Thánh c̣n lưu mặt trống đồng. Tam vị thiên đồ chuyên bảo mật. Lưỡng nghi thần trượng mặc truyền thông. Tác quyền Kinh Dịch hoàn tay chủ, Rạng rỡ năm châu DỊCH LẠC HỒNG. Ghi chú: 1- Kinh Diệc tức Kinh Dịch (chỉ phần kinh văn Dịch kinh, không bao gồm Dịch truyện). Diệc thư của Văn Lang truyền sang Trung Quốc v́ Diệc đồng âm với Dịch nên người Trung Quốc chuyển sang gọi là Kinh Dịch. Diệc là một loại với C̣.Dịch lại trùng tên với tích dịch là con thằn lằn biến sắc nên Trung Hoa lấy h́nh tượng con vật này để giảng chữ Dịch là biến dịch. Diệc là loài chim nên Diệc Thư c̣n gọi là Điểu Thư. Điểu Thư người Tráng (ở Vân Nam,Quảng Tây) đọc thành Lạc Thư.Theo lối tam sao thất bản Lạc Đồ (đi cặp với Hà Đồ) biến thành Lạc thư (mặc dầu chỉ là đồ chứ không có thư).Từ đó Hà Đồ và Lạc Thư được nâng lên thành khởi nguồn của Kinh Dịch,thật ra với Kinh Dịch chỉ là biểu lư ,về nguyên lư cấu trúc hoàn toàn khác nhau,một bên từ số đổi sang tượng (Hà Đồ,Lạc Thư),một bên từ tượng cho ra số (Dịch). Văn Lang tam sao thất bản thành Văn Vương.Trước thời Tiên Tần không có sách nào nói chuyện Văn Vương làm Dịch ,chỉ đến đời Hán lợi dụng việc Tần Thuỷ Hoàng đốt sách,Tư Mă Thiên,nhà Sử Học lừng danh của Trung Quốc bằng tài năng và uy tín của ḿnh đă phù phép đưa Văn Vương vào thay Văn Lang.Mới đầu trong sách Sử Kư ở phần Chu Bản Kỷ,Tư Mă Thiên c̣n ngần ngại chưa dám khẳng định Văn Vương diễn Dịch nên viết “Tây Bá cái tại vị ngũ thập niên,kỳ tù Dữu Lư,cái ích Dịch chi bát quái vi lục thập tứ quái” (Tây Bá có lẽ ở ngôi năm mươi năm,bị giam ở Dữu Lư,có lẽ đă gia thêm tám quẻ của Dịch thành 64 quẻ),nhưng đến phần Thái sử công tự tự ở cuối sách lại ngang nhiên khẳng định “Tích Tây Bá câu Dữu Lư,diễn Chu Dịch”( Xưa Tây Bá bị tù ở Dữu Lư diễn Chu Dịch).Tư Mă Thiên chỉ nói như vậy chứ không có dựa vào tài liệu nào cả,mọi việc ông biết về Dịch đều do cha ông là Tư Mă Đàm truyền lại,suy cho đến cùng th́ Tư Mă Đàm là đồ đệ của đồ đệ Khổng Tử,mà Không Tử th́ không nói ǵ về việc Văn Vương làm Dịch. 2- Tam vị Thiên đồ tức ba đồ Tiên Thiên Bát quái,Hậu Thiên Bát quái và Trung Thiên Bát quái.Nếu cho tám quẻ đơn di chuyển trên ṿng bát quái,mỗi quái lần lượt chiếm những vị trí tương quan với những quái khác ta sẽ có hơn 40.000 đồ h́nh bát quái nghĩa là có trên 40.000 thiên đồ.Các Thiên đồ này vận hành một cách tự nhiên như nó dă có và phải có như vậy,không ai có thể và có quyền xếp đặt chúng cả,một Thiên Đồ này nếu bị dời đổi một vị trí của một quẻ th́ sẽ lập tức thành thiên đồ khác và không c̣n là nó nữa,không c̣n tính cách của nó nữa.Trong số 40.000 Thiên Đồ đó chỉ duy nhất có ba đồ được gọi đúng bản chất của nó là Tiên Thiên ,Hậu thiên và Trung Thiên,không có Thiên đồ nào khác thay thế nó.Tôi nhấn mạnh là tuyệt đối duy nhất.Thế nhưng hiện nay Trung Quốc chỉ mới biết có Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên Bát Quái, khuyết Trung Thiên Bát Quái;mà chỉ có Trung Thiên Bát Quái mới là la bàn để viết kinh văn. Trung Quốc không có Trung Thiên Đồ th́ phải nói rơ là Trung Quốc không phải là cha đẻ Kinh Dịch quyền đó thuộc về Văn Lang mà hậu duệ là Việt Nam đă cất dấu hết sức bí mật Trung Thiên Bát quái đồ. ( Gần đây ở Trung Quốc có đưa ra một Trung Thiên Đồ nhưng không phải là chính danh Trung Thiên Đồ họ gọi là Trung Thiên Đồ Thiên văn. Đời Nguyên Bảo Ba có Trung Thiên Đồ nhưng đó chỉ là trùng danh chứ bản chất th́ không đúng Trung Thiên Đồ). Tác giả Nguyễn Thiếu Dũng * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh Nguồn: Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương - Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin Điều kiện cần tiếp theo để chứng tỏ tính hợp lý của những luận điểm đã trình bày là: sự lý giải mục đích ra đời của kinh Dịch. Đây cũng là một đề tài tranh luận kéo dài nhưng chưa đi đến một kết luận thỏa đáng, như đã trình bày ở trên. Vì nền văn minh Văn Lang là chủ nhân của sự sáng tạo ra kinh Dịch nên phải biết được mục đích việc làm của mình. Sự tương quan hợp lý giữa các vấn đề đã chứng tỏ rằng: mục đích ra đời của kinh Dịch đã được diễn tả một cách chu đáo ngay trong phần Thập dực. Nhưng sự lý giải này chỉ hợp lý với một tiền đề là: kinh Dịch là siêu công thức vũ trụ quan. Nếu không xuất phát từ tiền đề này, thì những đoạn trích dẫn trong Hệ từ của phần Thập dực dưới đây sẽ rất khó hiểu – và không có cơ sở để cho rằng: nội dung của nó nói về mục đích xuất hiện của kinh Dịch. Trong những đoạn trích dẫn từ Hệ từ của Thập dực dưới đây đã được sắp xếp lại; thứ tự cũ được ghi ở đầu mỗi đoạn trích dẫn để bạn đọc tiện việc tham khảo, đối chiếu; sau mỗi đoạn trích dẫn là phần trình bày từ quan niệm nhất quán cho rằng: kinh Dịch là siêu công thức vũ trụ quan của thuyết Âm dương Ngũ hành. Hệ từ thượng truyện Chương V – Tiết 2: Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lý, thị cố tri u minh chi cố; nguyên thủy phản chung, cố tri tử sanh chi thuyết; tinh khí vi vật, du hồn vi biến, thị cố tri quỷ thần chi tình trạng. Ngưỡng lên xem thiên văn, cúi xuống xét địa lý, cho nên biết cái cớ của sáng tối. Quay về nguyên thủy của vạn vật, theo dõi đến cuối cùng, nên biết được bài học về sống chết. Tinh khí hợp lại sinh ra vạn vật, hồn thoát ra tạo nên biến hóa, nên biết được tình trạng của quỷ thần. Bắt đầu từ sự tổng hợp nhận thức về qui luật tự nhiên, phát hiện ra Âm dương là nguyên lý căn bản của mọi hiện tượng (cái cớ của sáng tối); từ đó suy ra từ sự hình thành khởi nguyên của vũ trụ (quay về nguyên thủy của vạn vật) cho đến sự huỷ diệt (bài học về sống chết); phát hiện nguyên lý hình thành vạn vật và chu kỳ vận động của mọi hiện tượng. Chương V – Tiết 1: Dịch, dữ thiên địa chuẩn, cố năng di luân thiên địa chi đạo. Kinh Dịch chứa đựng mức thước của trời đất, nên cho ta hiểu đạo và trật tự của trời đất. Kinh Dịch là hệ quả của sự tổng hợp những nhận thức về mọi sự vận động trong vũ trụ; do đó, kinh Dịch phản ánh mọi qui luật vận động của vũ trụ. Chương IV – Tiết 4: phạm vi thiên địa chi hóa, nhi bất quá; khúc thành vạn vật, nhi bất di; thông hồ trú dạ chi đạo, nhi tri; cố thần vô phương, nhi Dịch vô thể. Gồm cả khuôn khổ biến hóa của trời đất nên không có gì thoát khỏi. Hoàn thành mọi vật mà không bỏ sót vật gì. Thâm nhập vào đạo, ngày đêm mà biết hết, cho nên cái thần không bị hạn chế nơi nào cả, kinh Dịch cũng không bị giới hạn trong bất cứ hình thể nào. Kinh Dịch là một siêu công thức vũ trụ quan, cho nên có một giá trị tổng hợp (thần không bị hạn chế nơi nào cả) và cũng không thể giới hạn kinh Dịch vào một giá trị cụ thể (Tức là không phải là sách sử, sách đạo đức, sách bói…). Chương I – Tiết 8: Dị giản, nhi thiên hạ chi lý đắc hỹ, thiên hạ chi lý đắc, nhi thành vị hồ kỳ trung hỹ. Nhờ giản dị mà biết được cái lẽ của thiên hạ. Biết được cái lẽ của thiên hạ mà trọn vẹn cái ngôi của người trong trời đất vậy. Do đó, những ký hiệu (giản dị) của Bát quái (nguyên thủy) trong kinh Dịch, không chỉ phản ánh sự vận động của vũ trụ mà còn phản ánh sự vận động của xã hội (Thiên ha) và con người. Bởi vì sự xuất hiện của loài người, cũng chỉ là một hiện tượng trong giai đoạn vận động của vũ trụ (cái ngôi của người trong trời đất). Chương I – Tiết 1: Thiên tôn địa ty, Kiền Khôn định hỹ; ty cao dĩ trần, quý tiện vị hỹ; động tịnh hữu thường, cương nhu đoán hỹ; phương dĩ loại tụ, vật dĩ quần phân, cát hung sinh hỹ; tại thiên thành tượng, tại địa thành hình, biến hóa hiện hỹ. Trời cao đất thấp thì Kiền, Khôn đã định. Thấp cao bày ra thì sang hèn chia thành ngôi. Định tĩnh có thường thì cứng mềm phân biệt. Các loại tự từng phương, các vật chia thành bầy thì tốt xấu sinh ra. Trên trời biến thành tượng; dưới đất hóa thành hình thì biến hóa hiện ra vậy. Những ký hiệu (Bát quái và hệ thống quẻ) của kinh Dịch là những biểu tượng, mà trong đó sự vật, sự việc và những hiện tượng cũng như bản chất của nó đều đã được phân loại. Chương II – Tiết 1: Thánh nhân thiết quái, quan tượng, hệ từ yên; nhi minh cát hung. Thánh nhân đặt ra quẻ để xem xét các hiện tượng, kèm theo lời để chỉ sự xấu tốt. Trên cơ sở tương quan của sự vật, sự việc và những vấn đề liên quan – qua ký hiệu biểu tượng của nó trong kinh Dịch – bậc trí giả đã phân định sự tốt, xấu cho con người. Chương III – Tiết 5: Thị cố, quái hữu tiểu đại, từ hữu hiểm dị, từ dã giả, các chỉ kỳ sở chi. Đó là tại sao có lớn nhỏ trong các quẻ; lời có hiểm hóc dễ dàng. Lời chỉ xu hướng tiến triển. Bởi vậy, đó là nguyên nhân để trong lời quẻ có lúc thể hiện sự khó khăn, mạo hiểm; có lúc thể hiện sự hanh thông. Nhưng dù là sự hanh thông hay không – thì trong kinh Dịch cũng chỉ ra những nguyên lý cho sự vận động của nó (Lời chỉ xu hướng tiến triển). Chương II –Tiết 6: Thị cố, quân tử, cư, tắc quan kỳ tượng, nhi ngoạn kỳ từ, động, tắc quan kỳ biến, nhi ngoạn kỳ chiêm; thị dĩ tự thiên hựu chi, cát vô bất lợi. Cho nên, quân tử khi vô sự mà tinh thì xem tượng và ngẫm nghĩ đến lời đoán, do đó, được trời giúp cho. Tốt, không có gì mà không lợi. Vì kinh Dịch phản ánh qui luật vận động của tự nhiên, xã hội và con người; cho nên cần phải tìm hiểu, học hỏi để biết lẽ tiến hóa, thịnh suy; từ đó có những ứng sử phù hợp với qui luật tự nhiên nên mọi việc hanh thông (trời giúp cho). Chương II –Tiết 5: Thị cố, quân tử sở cư nhi an giả, dịch chi tự dã; sở lạc nhi ngoạn giả, hào chi từ dã. Cho nên, quân tử theo thứ tự của Dịch mà được yên, suy gẫm hào mà được vui. Vì biết và ứng sử thuận theo qui luật của tự nhiên (theo thứ tự của Dịch), cho nên luôn được bình yên và vui vẻ. Chương V –Tiết 3: Dữ thiên địa tương tự, cố bất vi; tri chu hồ vạn vật nhi đạo tề thiên hạ, cố bất quá; bàng hành, nhi bất lưu; lạc thiên tri mệnh, cố bất ưu; an thổ đôn hồ nhân, cố năng ái. Như thế, người đi đến chỗ giống như trời đất, không có gì trái. Trí tuệ bao trùm vạn vật, đạo nhân giúp đỡ cả thiên hạ, cho nên chẳng sai lầm. Quyền biến mà không bị lôi cuốn. Vui lẽ trời, thấu mệnh trời, cho nên chẳng có gì lo ngại. An tâm với cảnh ngộ, chân thật với điều nhân, cho nên có thể thực hành điều bác ái. Do thuận theo qui luật tự nhiên, nên sự ứng xử sẽ phù hợp với tự nhiên (giống như trời đất). Vì hiểu biết qui luật tự nhiên (Trí tuệ bao trùm vạn vật), cho nên có thể đem sự hiểu biết đó để giúp ích cho đời mà chẳng sai lầm. Chính vì biết qui luật của tự nhiên, nên sự ứng xử sẽ không rơi vào trạng thái chủ quan, hoặc bị tác động (không bị lôi cuốn); chấp nhận cảnh ngộ do sự hiểu biết (chứ không phải do định mệnh đã an bài). Đó là cơ sở để con người luôn giữ được lòng nhân ái, mà không thể hiện những tính xấu trong hoàn cảnh bất thường. Chương I – Tiết 7: Dị, tắc dị tri; giản tắc dị tòng; dị tri, tắc hữu thân, dị tòng tắc hữu công; hữu thân tắc khả cửu, hữu công tắc khả đại; khả cửu tắc hiền nhân chi đức, khả đại tắc hiền nhân chi nghiệp. Dễ dãi thì dễ biết, đơn giản thì dễ theo. Dễ biết tất được thân thiết, dễ theo tất có công. Thân thiết thì lâu bền, có công thì trở nên lớn lao. Lâu bền là đức của người hiền, lớn lao là nghiệp của người hiền. Bởi vậy, những nguyên lý của Dịch (tức sự nhận thức thể hiện trong vũ trụ quan Âm dương Ngũ hành) được thể hiện bằng những ký hiệu đơn giản để mọi người dễ hiểu, dễ học. Vì dễ hiểu (so với cả một học thuyết vũ trụ quan và những ứng dụng đồ sộ của nó) nên mọi người dễ gần với Dịch (thân thiết). Khi dễ học thì dễ biết, khi đã biết tất sự hiểu biết đó sẽ giúp con người thành đạt. Còn muốn sự nghiệp lâu bền thì phải tích đức; muốn sự nghiệp to lớn thì phải có tích lũy (nghiệp). Tiết 3: Nhân giả kiến chi vị chi nhân, trí giả kiến chi vị chi tri, bách tính nhật dụng nhi bất tri, cố quân tử chi đạo, tiển hỹ. Người nhân thấy đạo ấy, gọi là nhân. Người trí thấy đạo ấy, gọi là trí. Trăm họ đều dùng hàng ngày mà chẳng biết, vì đạo quân tử hiếm có vậy. Qui luật tự nhiên thường hằng trong cuộc sống, nhưng ít ai để ý, cũng như hơi thở vậy. Bởi vậy, trăm họ dùng hàng ngày mà chẳng biết, những người hiểu được nó thật hiếm hoi. Chương V –Tiết 4: Hiển chư nhân, tàng chư dụng, cổ vạn vật, nhi bất dữ thánh nhân đồng ưu, thịnh đức đại nghiệp chí hỹ tai. Hiển lộ đức nhân, nhưng dấu kín cái dụng của nó. Ban đời sống cho vạn vật, nhưng không chia sẻ cái lo lắng của thánh nhân. Đức thịnh, nghiệp lớn, đạt tới cực điểm. Tự nhiên vận động sinh hóa không ngừng (sinh sinh vị chi Dịch), sự vật phát triển cũng từ đấy (Hiển lộ đức nhân. Ban đời sống cho vạn vật). Vì là sự vận động khách quan, nên – không chia sẻ cái lo lắng của thánh nhân. Nhưng con người biết thuận theo thì có thể đạt tới sự hoà nhập với Tạo hóa. Chương VI – Tiết 1: Phù Dịch quảng hỹ; dĩ ngôn hồ viễn tắc bất ngữ; dĩ ngôn hồ nhĩ tắc tĩnh nhi chính; dĩ ngôn hồ thiên địa chi gian tắc bị hỹ. Dịch lớn thay! Rộng thay! Nói về xa mà không giới hạn; nói về gần thì tĩnh mà chính; nói về khoảng giữa trời đất thì bao trùm tất cả. Kinh Dịch và những ký hiệu của nó là siêu công thức của siêu lý thuyết vũ trụ quan Âm dương Ngũ hành. Bởi vậy, ở ngoài khi nói đến cái xa nhất thì đạt tới tính vô biên của vũ trụ; ở trong con người thì nói về cái chí tịnh của tâm linh (Nói về gần thì tĩnh mà chính – câu này có thể hiểu rằng: cái gần nhất không phải ở bên cạnh con người, cũng không phải ở bên trong cơ thể con người; mà chính là giá trị tâm linh của con người. Người xưa quan niệm giá trị tột cùng của tâm linh là sự chí tịnh, trống rỗng; vì vậy, xin được mạn phép lý giải như trên). Tri kiến của Dịch bao trùm từ sự chí tịnh trong cõi tâm linh của con người cho đến sự vận động trong vũ trụ. Chương VII – Tiết 1: Tử viết: Dịch kỳ chí hỹ hồ. Phù dịch, thánh nhân sở dĩ sùng đức nhi quảng nghiệp dã. Tri sùng lễ ti, sùng hiệu thiên, ti pháp địa. Thầy nói (*): Kinh Dịch không cực kỳ tinh diệu sao? Nhờ đó mà thánh nhân sùng cao đức, mở rộng nghiệp. Trí thì cao siêu, lễ thì khiêm hạ. Cao là bắt chước trời, thấp là bắt chước đất. * Chú thích : Trong nguyên văn sách đã dẫn dịch chữ “Tử“ là Khổng Tử; trong sách này theo giáo sư Bùi Văn Nguyên đổi là “Thầy“ Chương VII – Tiết 2: Thiên địa thiết vị nhi Dịch hành hồ kỳ trung hỹ. Thành tính tồn tồn, đạo nghĩa chi môn. Trời đất định ngôi mà dịch lưu hành ở trong. Chí tính đã hoàn thành vẫn còn mãi mãi, đó là cái cửa của đạo nghĩa. Chương VIII –Tiết 3: Ngôn thiên hạ chi chí trách nhi bất khả ố dã. Ngôn thiên hạ chi chí động nhi bất khả loạn dã. Nói cái phức tạp nhất mà không chán, nói cái động nhất mà không loạn. Sở dĩ như vậy vì kinh Dịch diễn tả qui luật vận động của tự nhiên. Chương VIII –Tiết 4: Nghĩ chi nhi hậu ngôn. Nghị chi nhi hậu động. Nghĩ nghị dĩ thành kỳ biến hóa. So sánh rồi mới nói, bàn bạc rồi mới hành động; so sánh và bàn bạc để hoàn thành công việc biến hóa. Trên cơ sở hiểu biết qui luật vận động của tự nhiên, xã hội và con người; so sánh, bàn bạc để tìm một biện pháp thích hợp cho sự tồn tại hoặc phát triển của công việc (hoàn thành sự biến hóa). Chương IX –Tiết 10: Tử viết: tri biến hóa chi đạo giả, kỳ tri thần chi sở vi hồ. Thầy nói: “Ai biết được đạo biến hóa thì biết cả việc làm của thần linh”. Khi đã biết được qui luật vận động từ cái chí tịnh gần nhất đến sự vô biên của vũ trụ thì sẽ biết được cả sự suy nghĩ, tinh thần của con người (kỳ tri thần chi sở vi hồ) Chương X –Tiết 1: Dịch hữu thánh nhân chi đạo tứ yên, dĩ ngôn giả thượng kỳ từ, dĩ động giả thượng kỳ biến, dĩ chế khí giả thượng kỳ tượng, dĩ bốc phệ giả thượng kỳ chiêm. Kinh Dịch có bốn điều về đạo thánh nhân: về lời nói, các lời quẻ hướng dẫn ta; về hành động, các biến hóa hướng dẫn ta; về chế tạo vật dụng, các hình tượng hướng dẫn ta; về bói toán các dự đoán hướng dẫn ta. Với quan niệm cho rằng kinh Dịch là siêu công thức vũ trụ, có khả năng diễn đạt mọi qui luật vận động trong vũ trụ, từ cái lớn nhất đến cái nhỏ nhất. Bởi vậy, có thể căn cứ vào hiện tượng để tìm sự diễn biến cụ thể của sự vật, sự việc đó, rồi dựa trên sự hướng dẫn của Dịch – là sự tổng hợp những qui luật vận động của sự vật, sự việc (đã thể hiện bằng những ký hiệu) để dự đoán tương lai. Đó chính là nguyên nhân những ký hiệu của Dịch có thể dùng để “Bói”. Nhưng khi chưa tìm hiểu được bản chất của Dịch, thì việc bói toán mang tính siêu hình. Bói là một trong những công dụng của Dịch, chứ không phải mục đích của Dịch. Việc các nhà nghiên cứu dù chỉ là tạm thống nhất cho rằng Dịch dùng để “bói” là sai lầm; sai lầm này có nguồn gốc trên hai thiên niên kỷ, bắt đầu từ sự thất truyền của nền văn minh Văn Lang. Chương X –Tiết 2: Thị dĩ quân tử tương hữu vi dã, tương hữu hành dã, vấn yên nhi dĩ ngôn, kỳ thụ mệnh dã như hướng, vô hữu viễn cận u thâm, toại tri lai vật, phi thiên hạ chi chí tinh, kỳ thục năng dữ ư thử. Cho nên người quân tử sắp làm việc gì, sắp tiến hành điều chi cần tham khảo kinh Dịch mà lấy lời. Chịu mệnh như tiếng vang, không có xa gần sâu kín, mà biết được việc tương lai. Nếu không phải là vật tinh vi nhất trong thiên hạ thì làm sao được như thế? Chương X –Tiết 5: Phù dịch, thánh nhân chi sở dĩ cực thâm nhi nghiên cơ dã. Ôi đạo dịch, thánh nhân nhờ đó mà biết rất sâu và xét rất tinh vi. Chương X –Tiết 6: tuy thâm dã, cố năng thông thiên hạ chi chí, tuy cơ dã, cố năng thành thiên hạ chi vụ, tuy thần dã, cố bất tật nhi tốc, bất hành nhi chí. Chỉ có sâu thẳm mới hiểu được cái chí của thiên hạ; chỉ có tinh vi mới hoàn thành được việc của thiên hạ; chỉ có thần diệu mới không vội vàng mà lại mau chóng, chẳng đi mà lại đến được đích. Chương XI –Tiết 1: Tử viết: phù dịch hà vi giả dã, phù dịch khai vật thành vụ, mạo thiên hạ chi đạo, như tư nhi dĩ giả dã. Thầy nói: “Có Dịch để làm gì? Ôi Dịch mở mang mọi vật, làm nên mọi việc, bao trùm mọi đạo trong thiên hạ, chỉ có như thế mà thôi! Cho nên thánh nhân dùng để thông cái chí thiên hạ, định cái nghiệp thiên hạ và quyết đoán cái ngờ vực của thiên hạ”. Những đọan trích dẫn trên đây từ trong sách Kinh Dịch và đời sống (sách đã dẫn bắt đầu từ trang 54). Qua những đọan trích dẫn trên đây và những chú giải kèm theo đã chứng tỏ với bạn đọc về mục đích ra đời của kinh Dịch - một đề tài tranh luận sôi nổi của các nhà nghiên cứu có nguồn gốc đã trải hàng thiên niên kỷ. Số lượng sách viết về Dịch tại trung Hoa là trên 3000 cuốn. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Hịch Khoa học Công nghệ Tác giả: “Khoa học Đại vương” Trần Công Nghệ Ta cùng các ngươi Sinh ra phải thời bao cấp Lớn lên gặp buổi thị trường Trông thấy: Mỹ phóng Con thoi lên vũ trụ chín tầng Nga lặn tàu ngầm xuống đại dương nghìn thước Nhật đưa rô-bốt na-ô vào thám hiểm lòng người Anh, Pháp công nghệ gien chế ra cừu nhân tạo Thật khác nào: Đem cổ tích biến thành hiện thực Dùng đầu óc con người mà thay đổi thiên nhiên! Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa Chỉ giận chưa thể đuổi kịp nước Nga, vượt qua nước Mỹ, mà vẫn chỉ hơn Lào, hao hao Băng-la-đét ( Bangladesh ) Dẫu cho trăm thân này phơi trên sao Hỏa, nghìn xác này bọc trong tàu ngầm nguyên tử, ta cũng cam lòng. Các ngươi ở cùng ta, Học vị đã cao, học hàm không thấp Ăn thì chọn cá nước, chim trời Mặc thì lựa May 10, Việt Tiến Chức nhỏ thì ta… quy hoạch Lương ít thì có lộc nhiều Đường bộ thì Ma-tít, Cam-ry Đường không leo E-lai, Xi-fic (Vietnam Airlines, Pacific). Vào hội thảo thì cùng nhau tranh luận Lúc tiệc tùng thì cùng nhau “dzô dzô” Lại còn đãi sỹ chiêu hiền Giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân, ai cũng có phần, không nhiều thì ít Lại còn chính sách khuyến khoa Doanh nghiệp, giáo viên, trí thức, nông dân nhận cúp, nhận bằng còn thêm tiền thưởng Thật là so với: Thời Tam quốc bên Tàu, Lưu Bị đãi Khổng Minh, Buổi hiện đại bên Nga, Pu-tin dùng Mét-vê-đép, Ta nào có kém gì? Thế mà, nay các ngươi: Nhìn khoa học chậm tiến mà không biết lo Thấy công nghệ thụt lùi mà không biết thẹn Giáo sư ư? Biết “Thần Đèn” chuyển nhà mà chẳng chạnh lòng Tiến sỹ a? Nghe “Hai Lúa” chế tạo máy bay sao không tự ái? Có người lấy nhậu nhẹt làm vui Có kẻ lấy bạc cờ làm thích Ham mát-xa giống nghiện “u ét đê” (USD) Ghét ngoại ngữ như chán phòng thí nghiệm Chỉ lo kiếm dự án để mánh mánh mung mung Không thích chọn đề tài mà nghiên nghiên cứu cứu Ra nước ngoài toàn muốn đi chơi Vào hội thảo chỉ lo ngủ gật Bệnh háo danh lây tựa vi-rút com-pu-tơ Dịch thành tích nhiễm như cúm gà H5N1 Mua bằng giả để tiến sỹ, tiến sy Đạo văn người mà giáo sư, giáo sãi Thử hỏi học hành như rứa, bằng cấp như rứa, thì mần răng hiểu được chuyện na-niếc na- nô? Lại còn nhân cách đến vậy, đạo đức đến vậy, thì có ham gì bút bút nghiên nghiên Cho nên “Tạp chí hay” mà bán chẳng ai mua “Công nghệ tốt” mà không người áp dụng Đề tài đóng gáy cứng, chữ vàng, mọt kêu trong tủ sắt Mô hình xây tường gạch, biển xanh, chó ị giữa đồng hoang Hội nhập chi, mà ngoại ngữ khi điếc, khi câm? Toàn cầu chi, mà kiến thức khi mờ, khi tỏ? Hiện đại hóa ư? Vẫn bám đít con trâu Công nghiệp hóa ư? Toàn bán thô khoáng sản Biển bạc ở đâu, để Vi-na-shin nổi nổi chìm chìm Rừng vàng ở đâu, khi bô-xít đen đen đỏ đỏ Thật là: “Dân gần trăm triệu ai người lớn Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”! (*) Nay nước ta: Đổi mới đã lâu, hội nhập đã sâu Nội lực cũng nhiều, đầu tư cũng mạnh Khu vực có hòa bình, nước ta càng ổn định Nhân tâm giàu nhiệt huyết, pháp luật rộng hành lang Thách thức không ít, nhưng cơ hội là vàng! Chỉ e: Bệnh háo danh không mua nổi trí khôn Dịch thành tích chẳng làm nên thương hiệu Giỏi mánh mung không lừa nổi đối tác nước ngoài Tài cờ bạc không địch nổi hắc-cơ quốc tế Cặp chân dài mà nghiêng ngả giáo sư Phong bì mỏng cũng đảo điên tiến sỹ Hỡi ôi, Biển bạc rừng vàng, mà nghìn năm vẫn mang ách đói nghèo Tài giỏi thông minh, mà vạn kiếp chưa thoát vòng lạc hậu Nay ta bảo thật các ngươi: Nên lấy việc đặt mồi lửa dưới ngòi pháo làm nguy Nên lấy điều để nghìn cân treo sợi tóc làm sợ Phải xem đói nghèo là nỗi nhục quốc gia Phải lấy lạc hậu là nỗi đau thời đại Mà lo học tập chuyên môn Mà lo luyện rèn nhân cách Xê-mi-na khách đến như mưa Vào thư viện người đông như hội Già mẫu mực phanh thây Gan ruột, Tôn Thất Tùng chẳng phải là to Trẻ xông pha mổ thịt Bổ đề, Ngô Bảo Châu chỉ là chuyện nhỏ Được thế thì: Kiếm giải thưởng “Phiu” cũng chẳng khó gì Đoạt Nô-ben không là chuyện lạ Không chỉ các ngươi mở mặt mở mày, lên Lếch-xớt, xuống Rôn-roi Mà dân ta cũng hưng sản, hưng tâm, vào Vi-la, ra Rì-sọt Chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu Mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng Chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí Mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm Chẳng những tên tuổi ta không hề mai một Mà thương hiệu các ngươi cũng sử sách lưu truyền Trí tuệ Việt Nam thành danh, thành tiếng Đất nước Việt Nam hóa hổ, hóa rồng Lúc bấy giờ các ngươi không muốn nhận huân chương, phỏng có được không? Nay ta chọn lọc tinh hoa bốn biển năm châu hợp thành một tuyển, gọi là Chiến lược Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này theo lời ta dạy bảo thì suốt đời là nhà khoa học chính danh Nhược bằng không tu thân tích trí, trái lời ta khuyên răn thì muôn kiếp là phường phàm phu tục tử Vì: Lạc hậu, đói nghèo với ta là kẻ thù không đội trời chung Mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn trừ hung, không lo rửa nhục Chẳng khác nào quay mũi giáo mà đầu hàng, giơ tay không mà thua giặc. Nếu vậy rồi đây khi nước Việt hóa hổ, hóa rồng, ta cùng các ngươi há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất này nữa? Cho nên mới thảo Hịch này Xa gần nghiên cứu Trên dưới đều theo! ------------ (*) Hai câu thơ của cụ Tản Đã
-
Thế còn làm thế nào họ đã tính được cách nay 10.155.928 năm là thời điểm 2 quỹ đạo trên là tròn nhất ? Có thể họ đã tìm ra nó bằng cách sau : Quan sát vòng Hoàng đạo hằng năm họ luôn thấy nó luôn chuyển sang hình bầu dục nhiều hơn từng năm một, rồi lấy độ chênh lệch hằng năm này tính lui dần cho đến khi vòng hoàng đạo tròn nhất thì họ sẽ tìm ra con số trên ngay. Điều chú ý là nếu độ chênh lện này có gia tốc mang số dương thì cũng không mấy khó khăn trong tính toán là mấy, họ vẫn có thể tìm ra con số cách đây 10.155.928 năm thôi ! Hiểu được Tích Tuế quá khó, đây là 1 thách đố kinh khủng. Nhận định rằng: bài toán đang sử dụng cho quy luật vận động của Hệ Mặt trời quay quanh tâm Ngân Hà. Tại sao Điểm bắt đầu Tích Tuế cách đây: 10.155.928 năm? Khả năng người xưa cân nhắc độ chênh "Tiết Khí" của Trái đất quay quanh Mặt trời và Hệ Mặt trời quay quanh sao Tiểu Hùng Tinh. "Trời sinh Hội Tý - Đất sinh Hội Sửu - Người sinh Hội Dần": OK - bài toán gốc thời gian người xưa tính cho một chu kỳ Hệ Mặt trời quay quanh tâm Ngân Hà và chúng ta đang ở Đại Nguyên Dần. Tuyệt cú mèo. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Thế còn làm thế nào họ đã tính được cách nay 10.155.928 năm là thời điểm 2 quỹ đạo trên là tròn nhất ? Có thể họ đã tìm ra nó bằng cách sau : Quan sát vòng Hoàng đạo hằng năm họ luôn thấy nó luôn chuyển sang hình bầu dục nhiều hơn từng năm một, rồi lấy độ chênh lệch hằng năm này tính lui dần cho đến khi vòng hoàng đạo tròn nhất thì họ sẽ tìm ra con số trên ngay. Điều chú ý là nếu độ chênh lện này có gia tốc mang số dương thì cũng không mấy khó khăn trong tính toán là mấy, họ vẫn có thể tìm ra con số cách đây 10.155.928 năm thôi ! Hiểu được Tích Tuế quá khó, đây là 1 thách đố kinh khủng. Nhận định rằng: bài toán đang sử dụng cho quy luật vận động của Hệ Mặt trời quay quanh tâm Ngân Hà. Tại sao Điểm bắt đầu Tích Tuế cách đây: 10.155.928 năm? Khả năng người xưa cân nhắc độ chênh "Tiết Khí" của Trái đất quay quanh Mặt trời và Hệ Mặt trời quay quanh sao Tiểu Hùng Tinh. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
lịch pháp bách yiệt Cộng đồng các dân tộc Việt ( Diệt , Yiệt ) đã có Lịch. Cổ sử Trung hoa đã nhiều lần xác nhận qua việc dân Việt thường đem Lịch Rùa biếu cho vua Nghiêu khoảng 2357 năm trước công nguyên mà ai cũng biết, nên hôm nay chúng ta cùng nhau phát hoạ lại nó để xiển dương công đức của tổ tiên là một việc đáng làm vậy ! Về lịch thì có Lịch năm, Lịch tháng, Lịch ngày, Lịch giờ nhất quán trong cùng một hệ thống, nhưng ở đây chỉ trình bày riêng về Lịch năm vì trong một bài viết ngắn gọn thì không thể ôm đồm hết tất cả được…. 1) CÁCH ĐẶT TÊN : Nói tới Lịch thì trước tiên là việc đặt tên gọi cho những quãng thời gian nào đó, nhưng như ta đã biết Thời gian và Không gian luôn là một Thái cực tượng, luôn là hợp nhất, không thể phân ly được, nên khác với các Lịch của những dân tộc khác thường lấy số hoặc tên các vị thần làm tên gọi, cộng đồng Bách Việt đã luôn dùng 2 từ đi liền: một không gian và một thời gian để làm tên gọi như : Giáp Tý, Ât Sửu …v.v… Không gian dương thì được chia làm 10 Trường : Giáp, Ât, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Con số 10 là con số nhân đôi của con số Tâm 5 trong bảng Lạc thư hợp nhất Không -Thời gian về số ( và quẻ ) mà số 5 với số 6 là một cặp Dương –Âm nên Thời gian âm phải được chia làm 12 quãng ( nhân đôi của số 6 ) tương ứng để hợp nhất với 10 trường không gian vừa nêu trên. Chúng là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Hợp nhất các tên gọi Không- Thời gian theo thứ tự lần lượt ta sẽ có được 60 tên kép từ Giáp Tý, Ât Sửu, Bính Dần ..cho đến Quý Hợi mà đời sau gọi là Lục thập Hoa giáp dùng làm tên gọi cho các quãng thời gian đều nhau của Năm , Tháng, Ngày, Gìơ như Năm này Giáp Tý thì năm sau là Ât Sửu, năm thứ 60 là Quý Hợi và quay trở lại tiếp tục năm thứ 61 là Giáp Tý …v.v… ( Dân tộc ta ngày xưa chia 1 ngày-đêm làm 11 quãng : “Đêm 5 canh, Ngày 6 khắc” hoặc ngày nay vẫn còn tồn tại cách tính “12 ăn 1 chục” tức là 12 đơn vị thì chỉ tính bằng 10 đối với các vật phẩm thuộc Âm như trái cây, hoa quả v.v…là đã đưa các con số trên vào thực tế đời sống hằng ngày ! ) Tới đây một thắc mắc được đưa ra là : Tại sao với Bảng Lạc thư ( về số ) thì số 10 của Không gian hợp nhất với số 0 của Thời gian , còn với Lịch pháp thì 10 trường không gian lại hợp nhất với 12 quãng của Thời gian ? Có mâu thuẫn gì không ? Đào sâu vào học thuyết Thái cực ta tìm được câu trả lời sau : Bảng Lạc thư là bảng nguyên lý gốc của dương - âm Không-Thời gian nên người xưa đã lấy số hiện tượng của Không gian là 10 với số bản chất của Thời gian là 0 để hợp nhất tức là họ đã vận dụng tính hợp nhất 2 Nghi ( tính thống nhất của 2 mặt đối lập trong Biện chứng học ) dương – âm của một Thái cực hoàn toàn chuẩn xác vậy, còn với Lịch pháp thì chỉ thuộc về Hiện tượng nên họ đã dùng 10 Trường không gian thuộc về hiện tượng hợp nhất với 12 Quãng thời gian cũng thuộc về hiện tượng thì cũng là chuẩn xác vậy ! ( Cách thành lập bảng số Lạc thư xin xem ở bài trước ! ) Câu hỏi tiếp theo là tại sao Không gian thì luôn đứng trước Thời gian trong cách hợp nhất ? Bảng Lạc thư được hình thành với mục đích là phục vụ sự sống của con người mà Không gian là cái Có, sự sống của muôn loài cũng là cái Có nên khi vận dụng nguyên lý bảng Lac thư vào Lịch pháp thì Không gian thuộc Dương phải được làm chính đứng trước Thời gian là phù hợp và chỉ với cách hợp nhất này thì người xưa mới dễ dàng tính toán được các dạng năng lượng từ 10 trường không gian tác động đến sự sống muôn loài theo thời gian như trong các thuật số Lạc thư : Kỳ môn độn giáp và Thái ất thần kinh sau này… (Nếu hợp nhất ngược lại như Tý Giáp, Sửu Ât, Dần Bính…v.v…thì không biết có cách nào để họ tính toán được chăng ?.... ) 2) MỐC KHỞI ĐẦU ( Lịch Năm ) : Theo sách vở người Trung hoa sau này thì mốc khởi đầu cho Lịch năm, tháng, ngày, giờ đều lấy thời điểm Thất tinh hợp bích hay còn gọi là Thất diệu tề nguyên cách nay ( năm Tân mão ) là 10.155.928 năm ( con số Tích tuế trong Thuật số Thái ất ) vậy hiện tượng này là thế nào, có phải người Việt xưa đã chọn nó làm điểm khởi đầu cho Lịch pháp hay không ? Thất tinh hợp bích là hiện tượng nhìn từ mặt đất lên bầu trời thấy 7 tinh gồm: Mặt trời, Mặt trăng và 5 hành tinh mang tên ngũ hành là Kim, Mộc, Thuỷ, Hỏa, Thổ xếp thẳng hàng cách nay 10155928 năm. Lúc hiện tượng này xảy ra cho tới khi Mặt trời quay đủ 1 vòng Hoàng đạo thì được tính là năm thứ nhất : Giáp Tý 00.000.001 của Lịch năm và cứ thế tiếp tục cho đến năm Tân Mão 10.155.928 này… Ta thấy rằng các hành tinh quay xung quanh Mặt trời mỗi cái nằm trên một mặt phẳng quỹ đạo riêng với một bán kính riêng, nên không có một thời điểm nào mà chúng có thể thẳng hàng được ( tức là chúng cùng nằm thẳng hàng trên một mặt phẳng mới khác với các mặt phẳng quỹ đạo của chúng.) Còn với Mặt trời thì cũng không thể nào cùng nằm trên đường thẳng hàng ấy nếu có, mà từ nó đến Sao Thuỷ ( hành tinh đầu tiên ) phải là một đường gãy vì nếu nó cũng nằm trên đường thẳng hàng của các hành tinh thì các hành tinh phải có cùng một mặt phẳng quỹ đạo mà Tâm là Mặt trời thì mới được, nên khi đứng từ mặt đất ta nhìn thấy 7 tinh xếp thẳng hàng thì chỉ là một thẳng hàng ảo không có trong thực tế. dù ta chưa cần bàn thêm về vệ tinh Mặt trăng nữa ! Hơn nữa ngoài 5 hành tinh ngũ hành ra, thì Hệ Mặt trời còn nhiều hành tinh khác, nên 5 hành tinh trên chưa thể đại diện cho cả phần Âm của Hệ Mặt trời được . Lúc này Hệ Mặt trời và đặc biệt là Quả đất là nơi chứa sự sống đang ở trong tình trạng như thế nào ? Lịch là để phục vụ sự sống con người vì rõ ràng người xưa đã đưa tính hợp nhất của không - thời gian vào nó như đã biết. Chẳng có câu trả lời nào cho rõ ràng và hợp lý ở đây. Rồi thì dùng phương pháp nào, căn cứ vào gì, để tính ra con số cách đây tới 10.155.928 năm là thời gian 7 tinh hợp bích vì lúc ấy chưa có loài người thì lấy ai quan sát thấy hiện tượng chúng hợp bích.? Tóm lại là người VIỆT xưa không thể chọn hiện tượng Thất tinh hợp bích ảo ( có thể do các nhà ngũ hành đời sau dựng lên ) để làm Mốc khởi đầu cho Lịch pháp được,mà họ phải có cách hiểu khác về thời điểm cách nay 10.155.928 năm như suy luận dưới đây : Thái cực tượng Không-Thời gian với 2 phần dương –âm là không gian và thời gian, vậy Tâm của lưỡng Nghi này là gì ? Theo người xưa thì Sự Sống muôn loài chính là Tâm của thái cực tượng không thời gian trên (* xin được không chứng minh điều này ở đây ) còn sự sống thì chỉ có mặt tại quả đất ( thuộc trường không gian Giáp ) nên ta có thể nói nó là nơi tiếp thụ các dạng năng lượng âm dương tương đối cân bằng nhất từ 9 trường không gian còn lại mà gần nhất là của 3 trường Ât, Bính, Đinh thuộc 2 Nghi dương – âm của Hệ mặt trời. Vào thời điểm quả đất tiếp thu các dang năng lượng vào mình nó cân bằng nhất thì chắc chắn quỹ đạo quay quanh mặt trời của nó phải là tròn nhất, tức là quỹ đạo biểu kiến của mặt trời quay quanh quả đất khi ta coi quả đất là đứng yên ( gọi là vòng Hoàng đạo ) cũng phải tròn nhất và đây cũng phải là thời điểm sự sống bắt đầu tiến lên để hình thành con người vì con người là sinh vật hội tụ âm dương của vũ trụ cân bằng nhất, vậy nên thời điểm “tròn nhất” chắc chắn phải được chọn làm Mốc khởi đầu cho Lịch pháp ( nói chung ) mà thôi, không thể khác được ! Thế còn làm thế nào họ đã tính được cách nay 10.155.928 năm là thời điểm 2 quỹ đạo trên là tròn nhất ? Có thể họ đã tìm ra nó bằng cách sau : Quan sát vòng Hoàng đạo hằng năm họ luôn thấy nó luôn chuyển sang hình bầu dục nhiều hơn từng năm một, rồi lấy độ chênh lệch hằng năm này tính lui dần cho đến khi vòng hoàng đạo tròn nhất thì họ sẽ tìm ra con số trên ngay. Điều chú ý là nếu độ chênh lện này có gia tốc mang số dương thì cũng không mấy khó khăn trong tính toán là mấy, họ vẫn có thể tìm ra con số cách đây 10.155.928 năm thôi ! Kết luận :Người Việt xưa đã tạo ra Lịch Không - Thời gian với chu kỳ từng 60 hoa giáp…..mà mốc khởi đầu là Giáp tý 00.000.001 cách nay 10.155.928 năm theo nguyên lý Thài cực hoàn toàn khoa học của họ, không dính dáng gì với hiện tượng Thất tinh hợp bích có xen ngũ hành của người Trung hoa đời sao cà ! Nguyễn thiện Nhơn * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Thật là phức tạp khi chọn lựa - Hoangnt góp ý như sau: Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương Ancient Oriental Doctrines Research Center (AODRS) Doctrines: Học thuyết (số nhiều) đã được dùng từ cổ chí kim trong các sách nghiên cứu phương Đông của các tác giả ở phương Tây. Nếu tra từ mang ý nghĩa Lý Học theo kiểu Việt Nam thì bó tay. khi chứng minh có học thuyết thống nhất thì trong văn bản sẽ thêm sau từ Doctrine of The Unify Cosmos (dịch kiểu Anh qua Việt là Học thuyết về một vũ trụ thống nhất). Cosmos: Vũ trụ (toàn thể) - từ hiện đại Law: Quy luật, luật... đã mang ý "bắt buộc" con người dùng trong xã hội rồi. Ancient: Cổ xưa - không cần dịch trong tiếng Việt nhưng tiếng Anh lại cần để họ hiểu. Khoa học: không cần thiết vì không khác gì Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (VănKhoa) hay Đại học Kỹ thuật (Bách Khoa). Cc: nên tra từ điển Anh - Anh (Oxford). Thân ái
-
Chúng ta có các biểu tượng liên quan như sau: - Huy hiệu Đội viên: Rất OK - phù hợp búp măng non (Bụt măng). - Huy hiệu Đoàn thanh niên: OK - tay phất cờ tổ quốc. Quốc huy: OK. Cờ tổ quốc: Rất OK. Dĩ nhiên, chúng ta phải xây dựng các tiêu chí đánh giá khi chọn Quốc hoa và gửi bản này cho các đối tượng trên toàn quốc cùng với hình ảnh tên gọi các loài hoa. - Mang tính minh triết thể hiện được lịch sử văn hóa và xu hướng phát triển của cả một dân tộc. - Triết lý về mối quan hệ trời, đất, con người (vạn vật) nếu người xưa đã có thể đã chọn rồi (tôn thờ rồi). - Hoa luôn là biểu tượng cho cái đẹp (hương, sắc, bền bỉ không nhanh úa tàn) và người phụ nữ (bà, cô, mẹ, chị, em...). - Không nên trùng với quốc hoa của các quốc gia khác (mỗi loài hoa là duy nhất trong toàn bộ các loài hoa trong tự nhiên). - Tên hoa đã được đặt từ xưa tới nay và tên hoa nào được xem là hay. - Tính bất trùng lặp với các biểu tượng đã xuất hiện nó. - Cây có hoa bao gồm nụ - hoa - quả/ hạt...: nếu đã dùng quả/ hạt rồi thì cũng cần xem xét. - Vai trò của số đông trong việc bầu chọn: cân nhắc số đông người chưa chắc hợp lý, thông thường trong sự vận động xã hội, nếu bị ràng buộc thường hay trậc lấc. - Tính thuận lợi của việc sử dụng Quốc hoa trong trao tặng, thờ cúng, trưng bày,... - Cảm nhận của người được trao tặng từ mọi dân tộc. Bông lúa đã được chọn trên quốc huy, đồng thời hạt lúa cũng đã được là biểu tượng như đền thờ Thần Nông. Nói chung có vẻ không thấy thuận lợi như tác giả TranPhuong đã phân tích cùng với các nội dung trên (lá lúa cạnh rất sắc, còn rễ và nếu cắt rễ trông không đẹp lắm). Mặc dù chúng ta có thể thấy những ý nghĩa tuyệt vời của bông lúa như tác giả ThienSu phân tích. Hoa sen hồng khả năng trùng lặp (nếu thực sự như vậy), nếu không về mặt cá nhân, sẵn sàng OK. "Tứ thời Xuân tại thủ, Ngũ phúc Thọ vi tiên". Vài lời lạm bàn. CC: không thể dán ảnh được.
-
Ước vọng hồi sinh Phật viện Ðồng Dương Nguyễn Hương đăng ngày 03/09/2011 Từng được Các nhà khoa học đánh giá là di tích cực quý còn sót lại của Vương quốc Chămpa xưa, được Bộ Văn hóa - Thông tin (cũ) xếp hạng cấp quốc gia từ năm 2000 nhưng nay di tích Phật viện Đồng Dương (thôn Đồng Dương, Bình Định Bắc, Thăng Bình, Quảng Nam) chỉ còn là một bãi hoang tàn đổ nát. Trước nguy cơ biến mất vĩnh viễn của di tích lịch sử có từ thế kỷ thứ IX này, một hội thảo cấp quốc gia vừa được tổ chức với mong muốn sẽ phục dựng lại di tích. Phật viện xưa... Theo nội dung tấm bia đá tìm thấy ở Đồng Dương, năm 875, vua Indravarman II của vương triều Indrapura đã cho xây dựng tại khu vực này một tu viện Phật giáo đồ sộ và tráng lệ lấy tên là Laksmindra - Lokesvara để làm nơi “trú ngụ” của Phật (Buddhapara). Tính quy mô và sự bề thế của tu viện được thể hiện rõ qua nội dung ghi trên bia cũng như trên các tác phẩm điêu khắc mà các nhà khảo cổ học người Pháp khai quật được vào các năm 1901 - 1902. Theo đó, sức ảnh hưởng của Phật viện Đồng Dương đã được đánh giá suốt hơn 5 thế kỷ tồn tại (875 - 1471), đương thời được xem như một trung tâm nghiên cứu, truyền bá Phật học có tầm cỡ lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Với giá trị văn hóa - lịch sử to lớn đó, ngày 21/9/2000, Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ VH-TT&DL) đã ban hành Quyết định số 16/2000/QĐ-VH xếp hạng Phật viện Đồng Dương là Di tích quốc gia. Tuy nhiên, trước sự tàn phá của thiên nhiên và sau nhiều năm chiến tranh, khu di tích này đang trong tình trạng rất thê thảm. Cả một Phật viện uy nghi trong lịch sử hiện chỉ còn lại vài dấu tích trong đó có một mảng tường tháp cổng mà nhân dân địa phương gọi là “tháp Sáng” cùng với nền móng một số công trình và đồ trang trí kiến trúc. Thế nhưng, ngay cả những dấu tích ít ỏi còn lại cũng không được chăm nom, bảo vệ đúng mức. Toàn bộ khu di tích chưa được khoanh vùng bảo vệ. Bản thân tháp Sáng đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Từ nhiều năm nay, người dân trong xã đã tự ý trồng keo lá tràm vào tận chân tháp. Một số người cho rằng dưới chân tháp có vàng nên kéo đến đào bới khiến tháp nghiêng sang một bên. Những thanh gỗ chống đỡ tháp đã mục nát từ lâu, lại bị thêm những cành keo lá tràm áp vào nên có thể đổ sập bất cứ lúc nào. Những tượng linh vật bằng đá bị vứt chỏng chơ bên đường, bị cây bụi bao phủ kín, đó là chưa kể một số linh vật đã bị người ta lấy trộm. Ngoài ra, một số phiến đá với những hoa văn cổ cũng bị khuân đi cách xa vị trí ban đầu hàng chục mét, nằm lăn lóc dưới rừng keo. Ông Trà Tấn Hợi (50 tuổi, thôn Đồng Dương), ở gần khu di tích cho hay: “Lâu lắm rồi không thấy cơ quan chức năng nào quan tâm tới di tích này. Nếu cứ để như thế này e rằng vài năm nữa con cháu chúng tôi sẽ không được nhìn thấy di tích trên quê hương mình”. Còn ông Trương Văn Việt - nguyên Chủ tịch UBND xã Bình Định Bắc nói: “Xã đã cố gắng gìn giữ những gì có thể bằng cách… chèo chống mấy cái cột, mà cũng cách đây 7 - 8 năm rồi, giờ đã bị mối mọt cả. Không biết khi nào thì đổ. Mấy cái cột đổ là tháp Sáng đổ, Phật viện Đồng Dương chắc chỉ còn trong dĩ vãng”. Những thanh đà chống đỡ tạm bợ đang bị mục nát cùng thời gian. Ước vọng trở thành Di sản văn hóa thế giới Trước thực trạng cấp bách đó, ngày 17/8 vừa qua, một cuộc hội thảo với chủ đề “Giải pháp bảo tồn di tích Chăm Phật viện Đồng Dương” đã được tổ chức với sự tham dự của các nhà quản lý, các chuyên gia nghiên cứu và khảo cổ học hàng đầu trên toàn quốc. Tại hội thảo, các chuyên gia đều đánh giá cao công trình Phật viện Đồng Dương cả về giá trị văn hóa lẫn giá trị lịch sử, khảo cổ. Theo nghiên cứu của giáo sư Trương Quốc Bình - ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia, Phật viện này là khu di tích tiêu biểu bậc nhất của kiến trúc Phật giáo Chămpa trong khu vực Đông Nam Á. Nếu được tiến hành khảo cổ, trùng tu, bảo tồn bài bản, khoa học, đảm bảo tốt tính trung thực, nguyên vẹn thì di tích này sẽ có đủ điều kiện để được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới thứ 3 tại Quảng Nam trong thời gian tới. Tận mắt chứng kiến và khảo sát Phật viện Đồng Dương, kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính phải thốt lên: “Cứu vãn trùng tu Mỹ Sơn đã tưởng là khó khăn hơn cả, thách đố ghê gớm các nhà bảo tồn Việt Nam và quốc tế. Thế nhưng với Đồng Dương, công việc xem ra còn khó khăn gấp bội phần”. Theo ông Hoàng Đạo Kính, nhiệm vụ cấp bách lúc này là cứu vãn cho được, giữ gìn cho được mọi vết tích, mọi thành phần và từng mảnh vụn của Đồng Dương, không để mất mát thêm và quan trọng là không để sai lệch thêm. Đồng Dương phải được nhìn nhận là một phức hợp di tích, bao gồm các yếu tố vật chất của lịch sử, văn hóa, tôn giáo, kiến trúc đô thị, tín ngưỡng - dân dụng, điêu khắc... Sẽ dần trả lại cho Phật viện Đồng Dương sự lộng lẫy như thời vàng son của nó - Đó là một tham vọng đầy khó khăn nhưng hy vọng với quyết tâm của mình, các cấp lãnh đạo, quản lý của Trung ương và địa phương cùng các chuyên gia kiến trúc, khảo cổ sẽ chung tay phục dựng thành công di tích lịch sử vĩ đại và quý giá này! Nguyễn Hương (suckhoedoisong)Chuyện kể về “Phật sống” Lưu Công Danh “Phật sống” Lưu Công Danh (thứ 3 từ trái qua). Ảnh chụp tháng 8-2002 Ông có cuộc đời thật ly kỳ và hấp dẫn. Trên hết, ông là một bậc lão thành cách mạng, một con người yêu nước và độ lượng. Trùm lên cuộc đời hoạt động sôi nổi của ông là huyền thoại về “Phật sống”... Thành kính:Tôi không có ý định sùng bái ông như “Vua Phật”, tôi chỉ nhớ lại những tháng năm mà chúng tôi từng sống, từng biết, từng cảm nhận về một con người Nam Bộ đã sẻ chia tình nghĩa cho miền Bắc, cho con người đất Bắc trong 20 năm tập kết, và dưới bom đạn chiến tranh. Tôi mãi mong lúc nào ông cũng vẫn là bác Ba của tôi. Xin thành kính dâng một nén hương viếng hương hồn ông đang phiêu diêu sau 49 ngày, thanh thản nhập về cõi Niết Bàn. Như là tiền định, tháng 8-2002, lúc đi công tác ở Sóc Trăng, tôi tranh thủ đi Rạch Giá thăm bác tôi - “Phật sống” Lưu Công Danh, vì đã 11 năm qua tôi chưa gặp lại. Có linh cảm đây là lần gặp cuối cùng. Khi gặp gỡ, ai cũng có cảm giác được diện kiến một con người huyền thoại, đầy sức thôi miên, ngưỡng mộ. Ông lúc đó đã hầu như không nói được nữa, đôi mắt sâu thẳm, lấp lánh tia nhìn khiến ai cũng bị thu hút và rúng động. Bác tôi Lưu Công Danh Cho phép tôi được gọi ông bằng bác, như ngày xưa tôi vẫn gọi, tuy không có quan hệ họ hàng ruột thịt. Chuyện cũng khá dài. Ngày ấy (khoảng 35 năm về trước, lúc tôi còn là một cậu bé Hà Nội 12 tuổi), khi mới được gặp ông, tôi như bị hút hồn vào những câu chuyện về miền Nam, về Nam Bộ đúng như những gì trong tác phẩm Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi, mà ngày ấy chúng tôi mê mẩn, đặc biệt là những câu chuyện đi “thỉnh kinh” ở Tây Trúc, nửa hư nửa thực. Ông hay qua nhà tôi chơi từ năm 1968 lúc mới nghỉ hưu. Như một sự tình cờ, ông cảm thấy ở nhà tôi như ở gia đình, mặc dù lúc nào ông cũng khắc khoải nhớ Nam Bộ khôn nguôi. Ông nhận bố mẹ tôi làm em kết nghĩa, và chúng tôi là cháu. Cả nhà tôi đều yêu quý ông, gọi là bác Ba. Chúng tôi đi sơ tán ở Xuân La, Từ Liêm - Hà Nội vì máy bay Mỹ ném bom dữ quá (1966-1972), sau đó ông cũng về ở cùng chúng tôi từ 1973-1975. Ngày ấy ông giúp chúng tôi tu sửa ngôi nhà gạch mộc, tranh tre nứa lá, nơi 6 anh, chị, em chúng tôi ở, giữa khu vườn rộng trồng toàn chuối. Chỉ trong 4 - 5 ngày, ông một mình với cái xẻng to, lưỡi sắc, cán dài, đã đào xong cái ao trong vườn. Chúng tôi nuôi cá rô phi và thả rau muống, nuôi vịt. Lúc ấy ông đã ở tuổi “cổ lai hy”, song cực khỏe, thân hình như một lực sĩ. Ông thường chở tôi trên chiếc xe đạp có khung bằng “đuya-ra” từ thời Pháp sang bãi bồi sông Hồng bắt cóc về làm thịt ăn. Thật là kỳ lạ, ngày ấy mấy ai biết thịt cóc ngon và bổ dưỡng đến như thế nào. Chúng tôi đều bị suy dinh dưỡng cũng như bao trẻ em trong thôn vậy. Thế mà nhờ món cháo thịt cóc bằm nấu đậu xanh hoặc nấu mì cán (bột mì ăn độn hàng tháng chúng tôi tự cán thành sợi), và nhất là món bánh xèo đặc phong vị Nam Bộ với lá bằng lăng non, chúng tôi đã có da có thịt hẳn lên. Tôi xác nhận gan cóc (bỏ mật đi) và mỡ cóc ăn rất ngon. Bây giờ tôi vẫn làm thịt cóc nhanh như ảo thuật. Trẻ con trong làng cũng vậy, có mấy đứa bị hen suyễn ông chữa bằng nhựa chuối thật mát tay. Khỏi hẳn, hoa trái trong vườn bà con đem đến biếu tạ ơn ông quá nhiều, lũ trẻ chúng tôi chén thoải mái. Có nhiều bí quyết trong phép dinh dưỡng và dược dưỡng, chữa bệnh của ông cho đến giờ tôi vẫn không hiểu nổi, vì không có duyên phận học ông, mặc dù ông thường nói khi về Nam ông sẽ xin cha mẹ tôi cho tôi được về theo để ông truyền nghề (nghề thuốc và nghề võ nữa, bởi ông rất giỏi võ). Qua ông, tôi mới học được thói quen tắm nước lạnh buổi sáng và ăn rau diếp cá như ông. Đôi khi ông cũng kể chuyện đã được gặp và tháp tùng Bác Hồ, chuyện ông thời kháng chiến chống Pháp, thời tiễu phỉ ở Hà Giang... Cứu chữa bệnh cho hàng ngàn người Tôi có may mắn là ở với ông, cho nên cũng được gặp nhiều người con Nam Bộ nổi tiếng. Tôi nhớ đã được gặp bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng và tiến sĩ nông học Lương Định Của (năm 1974, ngay sau khi tôi đỗ thủ khoa Khoa Sinh học Đại học (ĐH) Tổng hợp Hà Nội). Lúc ấy tôi còn nhớ, khi đang cuốc đất, bác Của hỏi tôi đỗ khoa sinh thì chắc là thích trồng cây lắm phải không, bác cho tôi chừng 20 hạt dưa mới lai tạo được để gieo trồng thử. Hình như chỉ mấy tháng sau tôi nghe tin bác Của mất. Khi vào ĐH tôi mới hiểu ít nhiều về người anh hùng - nhà khoa học nổi tiếng ấy. Các vị ấy đến với bác Ba như tìm một chút chất Nam Bộ qua ly rượu trắng khá hiếm hoi ngày ấy, món canh chua, cá ướp muối sả chiên, ba ba câu ở sông Hồng... những kỷ niệm một thời trai tráng ngang tàng, cách mạng và nhất là những bài thuốc trị liệu độc đáo. Tôi biết rằng ông đã cứu chữa cho hàng ngàn người, chủ yếu là dân lao động nghèo. Kể cả những bệnh rất khó. Tôi còn nhớ khoảng 1974-1975, có cặp vợ chồng từ miền núi xa xôi đưa đứa con gái nhỏ 8 tuổi về Hà Nội chữa lao xương, mãi không thuyên giảm, nghe có người mách, liền tìm đến ông. Sau chừng 20 - 30 thang thuốc nam, thật đáng ngạc nhiên đoạn xương hư từ từ tụt ra khỏi lỗ mụn rò, kiểm tra X-quang thấy xương mới đã phát triển hoàn toàn bình thường (ngày ấy ông còn giữ đoạn xương hư trong bao ni-lông). Một năm bệnh nhân khỏi hẳn, trong thời gian đó ông nuôi cả gia đình anh chị ấy, cũng không lấy tiền thuốc. Một bậc lão thành cách mạng và độ lượng Sau giải phóng miền Nam, bác Ba về quê ngay. Khi tốt nghiệp ĐH, tôi nhận quyết định về công tác tại Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, những mong có nhiều dịp gặp bác Ba, và cũng vì mê say đất phương Nam từ ngày còn niên thiếu. Tôi vào đến Sài Gòn đầu tháng 4-1979, khoảng mươi hôm sau nhờ anh bạn chở ra Bến xe Miền Tây mua vé đi Rạch Giá, và tôi ở nhà bác Ba khoảng tuần lễ, rồi mới về Đà Lạt công tác. Dịp ấy bác Ba cho tôi ăn đủ món ngon đặc sản Nam Bộ, dẫn tôi đi chào giới thiệu khắp bà con, nhiều người nghĩ rằng tôi là con ông có thêm ở ngoài Bắc, tôi cười cười, còn ông thì nói: “Thằng con Hà Nội của tui đó, tui cho nó học xong ĐH rồi mới về Nam...”. Buổi tối dẫn tôi đi trong thị xã Rạch Giá mà ông còn cẩn thận lận cả súng lục trong người! Từ những năm 80 đến 90 lại bị ngăn sông cấm chợ hết sức khó khăn, tôi được đi nước ngoài học tập, không có dịp thăm bác Ba. Cho đến năm 1991 tôi mới tranh thủ về Rạch Giá, thăm hỏi và biếu ông mấy món quà của bố mẹ tôi gửi vào. Khi ấy bác Ba vẫn rất tráng kiện, đi bộ và đi xe đạp đều khỏe, nói chuyện rất minh mẫn, đưa cho tôi mấy thang thuốc gửi chữa bệnh cho bố mẹ tôi. Rồi cuốn theo công việc và gia đình, từ năm 1991 không có dịp nào đi Rạch Giá cho đến năm ngoái. Thỉnh thoảng tôi đọc được mấy bài trên báo nói về ông như một bậc lão thành cách mạng, độ lượng, chữa bệnh bằng những phương thuốc dân gian, và trùm lên là huyền thoại về một bậc “Phật sống” ở Việt Nam. Ra đi ở tuổi 103 Dịp thăm ông vào tháng 8-2002 đượm buồn. Ông chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt lấp lóa, rất lâu sau ông mới hỏi (giọng đã quá yếu, rất khó nghe): “Thằng Dũng đi bộ đội về rồi phải không? Con Hà làm ăn có khá không?”. Tôi sững sờ vì nghe ông đột nhiên hỏi về em trai và em gái tôi (nhất là ông nhớ em trai tôi đi bộ đội từ năm 1974). Tôi không thể tin ông còn nhớ được như thế khi mà đã 102 tuổi rồi, khi mà đã gần 30 năm ông không có dịp gặp các em tôi. Điều đó có nghĩa là ông vẫn cảm nhận và ý thức được rất chu toàn. Thực vậy, ông còn hỏi tôi: “Đã vào Đảng chưa?”. Tôi và mấy anh em cùng đi thật sửng sốt. Tôi thưa lại đầy đủ mà vẫn còn kinh ngạc vì sự minh mẫn của ông. Có mấy anh chị cùng cơ quan tôi nghe và đọc báo, rất muốn được có dịp thăm ông, cầu phúc Phật, đã cùng chúng tôi lên kế hoạch đi Rạch Giá vào tháng 6 này. Nào ngờ, ngày 31-5 vừa qua, ông đã ra đi vào cõi vĩnh hằng, thọ 103 tuổi. Ai cũng sững sờ... Tiến sĩ Lê Xuân Thám (Trung tâm Hạt nhân TPHCM) Sơ suất của Phật giáo Việt Nam đối với một người nổi tiếng thế giới?. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Truyện "sự Tích Chú Cuội" Và Giải Mã Chuyển Đổi Tốn Khôn
hoangnt replied to Thiên Đồng's topic in Lý Học Lạc Việt
Tuyệt vời, cảm ơn tác giả Thiên Đồng. Cả thế giới chạy tốc lực giống như con Thỏ, cuối cùng tới đích. Việt Nam chạy quá chậm, giống như con Rùa, rồi cũng tới nhưng là nhân vật dẫn đầu trước thế giới. Không biết câu chuyện cổ tích "Rùa và Thỏ" có phải mang ẩn ý như vậy không. Thân. -
Trích: Tìm về cội nguồn Kinh dịch - Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Tìm về cội nguồn kinh Dịch - Phần IV - 9 Thứ hai 23/06/2008 12:00:00 (GMT +7) Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh Nguồn: Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương - Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin Bạn đọc sẽ nhận ra đây chính là biểu tượng trên quốc kỳ của nước Israel hiện đại. Biểu tượng này xuất hiện vào một thời kỳ rất xa xôi trong cổ sử. Đó chính là dấu ấn kỳ bí của vua Salomon – một vị hoàng đế vĩ đại của dân tộc Do Thái. Dấu ấn này đã được lưu truyền qua hàng thiên niên kỷ và được nhắc đến rất nhiều trong các công trình nghiên cứu, trong văn học nghệ thuật liên quan đến thế giới cổ đại. Dấu ấn huyền bí này theo truyền thuyết là sức mạnh vũ trụ có khả năng huỷ diệt, phát triển và tiên tri. Cho đến nay vẫn chưa có sự khám phá nội dung của nó. Nhưng với kết cấu của đồ hình của Hậu thiên bát quái nguyên thủy – siêu công thức vũ trụ quan của người Lạc Việt đã chứng minh ở trên – thì giữa dấu ấn của Salomon và Hậu thiên bát quái nguyên thủy có một sự liên hệ sau đây: Đồ hình trên chứng tỏ với bạn đọc những vấn đề sau: @ Chỉ với kết cấu đồ hình Hậu thiên bát quái nguyên thủy (để tạo thành 6 cực gồm 4 quái bất dịch và 2 cụm bất dịch được tạo nên bởi 2 quái cùng hành Đoài & Tốn, Cấn & Chấn) mới có khả năng liên hệ tương ứng với dấu ấn huyền bí của vua Salomon. @ Sự trùng khớp về nội dung giữa Bát quái Hậu thiên nguyên thủy với dấu ấn của vua Salomon đều là biểu tượng thể hiện sự tổng hợp những qui luật vận động của vũ trụ chi phối tất cả mọi hiện tượng tự nhiên, cuộc sống và con người. Hay nói một cách khác theo ngôn ngữ cổ điển như truyền thuyết về dấu ấn của vua Salomôn là: khả năng huỷ diệt, phát triển và tiên tri. Bộ phim “Tam giác Thủy tinh” và bức thông điệp của CHÚA (CRYSTAL TRIANGLE - the forbidden revelation) Đây thực ra chỉ là một bộ phim hoạt họa do hãng Sonny Video Software International and Movic thực hiện. Nhưng lời giới thiệu bộ phim lại mang tính tư liệu về một sự bí ẩn liên quan đến một nền văn hóa cổ và một hình tượng trong phim lại liên quan đến nội dung được trình bày trong sách này. Lời giới thiệu của bộ phim nói: Kinh Cựu ước đã ghi nhận rằng: “Chúa đã cho Moses 10 điều răn”. Tuy nhiên, có nhiều huyền thoại ở khắp thế giới và ngay cả những sách vở cổ của Nhật Bản cũng đã nói về một bức thông điệp rất quan trọng: Một bức thông điệp khác của Chúa, hình như đã mang những lời khải minh liên quan đến tương lai của nhân loại. Bức thông điệp đó đã được đóng kín và dấu đi. Nghe nói rằng: “Kẻ nào nắm được những thông tin trong bức thông điệp đó sẽ nắm được tương lai”. Bộ phim có nội dung về cuộc truy tìm bức thông điệp của một nhà khảo cổ Nhật Bản. Tất nhiên là gay cấn, hấp dẫn với nhiều tình tiết ly kỳ đầy tính hư cấu. Kết quả cuối cùng là người ta tìm được một cái đĩa bay (?). Nhưng sau đó cái đĩa bay nổ tung. Hết phim. Một sự kết thúc hợp lý, vì cho đến nay người ta vẫn chưa biết gì về bức thông điệp đó, mà chỉ dựa trên những thư tịch cổ nói về nó rồi dựng thành phim cho vui. Nhưng điều đáng lưu ý ở đây là: chiếc chìa khóa mở kho tàng bí ẩn để lấy bức thông điệp đó lại chính là biểu tượng của hai tam giác trên dấu ấn của vua Salomon. Nếu quả là dấu ấn của vua Salomon chính là chiếc chìa khóa đi tìm bí ẩn cho tương lai của nhân loại, thì chiếc chìa khóa này không nằm ở vùng Trung Đông như bộ phim đã nói đến, mà nằm ở trong nền văn minh Lạc Việt với Hậu thiên Bát quái nguyên thủy. Đây cũng là một yếu tố nữa làm sáng tỏ hơn về tính hợp lý của đồ hình Hậu thiên bát quái nguyên thủy trong việc lý giải các hiện tượng liên quan. Kim tự tháp & tam hợp Âm dương của Hậu thiên bát quái nguyên thủy Từ sự liên hệ trên đây, chúng ta tiếp tục liên hệ một hiện tượng được thừa nhận tính kỳ bí trong thế giới cổ đại đó chính là Kim tự tháp của nền văn minh Ai Cập. Trước khi đi vào sự liên hệ này, xin được trình bày với bạn đọc sự phân tích tổ hợp đồ hình Hậu thiên bát quái nguyên thủy và dấu ấn của vua Salomon thành hai phần Âm dương như sau: @ Phần Dương gồm: Càn, Cấn – Chấn. Ly & tam giác ngược. Trong hình này thì tổng số vạch Dương = 7; tổng số vạch âm = 5 @ Phần Âm gồm: Khôn, Đoài – Tốn, Khảm & tam giác thuận. Trong hình này thì tổng số vạch Âm là7; tổng số vạch Dương = 5 Từ đồ hình phần Âm ở trên, liên hệ bất kỳ vào mặt chiếu đứng nào của Kim tự tháp bạn sẽ có một sự liên hệ sau đây: Qua hình vẽ trên bạn sẽ nhận thấy ngay rằng ba đỉnh góc của Kim tự tháp nằm ở ba cực tam hợp chiếu thuộc Âm của Hậu thiên bát quái nguyên thủy gồm: Khôn, Đoài – Tốn, Khảm. Trong thuyết Âm dương Ngũ hành thì Âm thuộc hình thể. Phải chăng có sự liên quan gần gũi nào đó giữa bố cục Âm của Hậu thiên Bát quái nguyên thủy với cấu trúc hình tam giác của Kim tự tháp? Cấu trúc 32 quẻ kép thuộc hệ thống Hậu thiên bát quái nguyên thủy và 32 lá bài Tây huyền bí. Ngoài những hiện tượng kỳ bí được liên hệ ở trên, bố cục 32 quẻ kép có tính đối xứng của Hậu thiên bát quái nguyên thủy được trình bày ở trên còn gợi ý cho chúng ta một sự liên hệ với một hiện tượng huyền bí khác tồn tại từ lâu trong nền văn minh cổ nhân loại. Đó chính là hiện tượng sử dụng 32 lá bài Tây trong việc dự đoán tương lai. Hiện tượng bói bài Tây tồn tại từ lâu trong nền văn minh cổ Tây phương. Hiệu quả của những dự đoán do phương pháp bói bài thuyết minh đã bảo đảm cho sự tồn tại của nó hàng thiên niên kỷ trong văn minh nhân loại (hiệu quả này còn phụ thuộc vào khả năng của người dự đoán). Trong phần này chưa thể bàn đến tính khoa học hoặc phi khoa học của phương pháp bói bài. Nhưng, so sánh một trong những công dụng của Dịch là dùng để coi bói và phương pháp bói bài Tây thì chúng có một sự liên hệ trùng khớp kỳ lạ sau đây: @ Số lượng 32 lá bài dùng để bói với 32 cặp quẻ của Hậu thiên bát quái nguyên thủy. @ Trong một bộ bài Tây 52 lá (không tính 2 con Phăng) khi sử dụng để bói, người ta bỏ những lá bài có số từ 2 đến 6. Đây chính là độ số Cục của khoa Tử vi ( Từ Hỏa 2 cục, Mộc 3 cục, Kim 4 cục, Thổ 5 cục đến Thủy 6 cục) @ Bát quái hậu thiên nguyên thủy liên hệ với 4 hành là Kim – Mộc – Thủy – Hỏa; trong 32 lá bài Tây cũng gồm 4 chất là Cơ, Rô, Chuồn, Bích. Xin xem hình minh họa sau đây. @ Nếu bạn đọc đã một lần sử dụng bài Tây để giải trí thì bạn sẽ nhận thấy sự liên hệ tính đối xứng ngược trong một lá bài Tây với tính đối xứng ngược trong cặp quẻ. @ 4 chất Bích, Chuồn, Cơ, Rô với những thuộc tính của nó trong bói bài Tây, còn có sự trùng hợp với tính chất của các quẻ chính trong Hậu thiên bát quái nguyên thủy như sau: Hình minh họa sự liên hệ giữa 4 hành của Hà đồ với Hậu thiên bát quái nguyên thủy & 4 chất trong bài tây * Thuộc tính của quẻ Khảm: là ngăn trở, hiểm ác, sự âm mưu, sự thất bại và chết chóc. Đây cũng là thuộc tính của chất Bích trong bài Tây. Trong thuyết Ngũ hành thì Thủy là hành đầu tiên sinh (Thiên nhất sinh Thủy), so với biểu tượng của con Át Bích cũng là con Át được trang trí công phu hơn cả. * Thuộc tính của quẻ Chấn thuộc Mộc: biểu tượng của mùa xuân, sự phát triển dồi dào, may mắn. Đây cũng là thuộc tính của chất Chuồn trong bài Tây. Biểu tượng của chất Chuồn cũng là biểu tượng của cây, hoa. * Thuộc tính của Đoài, hành Kim: sự vui vẻ, may mắn và tin tức. Đây cũng là thuộc tính của chất Rô trong bài Tây. * Thuộc tính của chất Cơ: mang tính tình cảm, những quan hệ xã hội cũng trùng hợp với tính chất của quẻ Ly. Cơ mang hình tượng của trái tim. Trong Đông y, Ly cũng là biểu tượng của trái tim (quân Hỏa). * Sự sắp xếp của Hậu thiên Bát quái nguyên thủy với trục Càn Khôn gần trùng khớp hoàn toàn với trục địa cầu chia đồ hình Hậu thiên Bát quái nguyên thủy thành hai phần Âm dương là: Càn, Đoài - Tốn, Ly (Dương) và Khảm, Cấn - Chấn, Khôn (Âm) thì trong cách sắp xếp tương ứng trùng hợp của 4 chất bài Tây ở trên cũng thành hai phần đỏ đen tương ứng (Âm dương) rõ rệt. @ Ngoài sự trùng khớp về hình thức trình bày ở trên thì còn là sự trùng hợp về mục đích sử dụng của 32 lá bài Tây với một trong những công dụng của Hậu thiên bát quái nguyên thủy là dùng để dự đoán tương lai. @ Trong phần phụ chương “Dấu ấn Hà đồ trong cổ thư chữ Hán trước Tần” đã lưu ý bạn đọc về sự ứng dụng độ số Âm trong hành Thủy và Mộc (Thủy 6 - mùa đông; Mộc 8 - mùa xuân) và độ số Dương trong hành Hỏa và Kim (Hỏa 7 - mùa hạ, Kim 9 - mùa thu) trong các cổ thư trước Tần là: Hoàng đế nội kinh, Lã Thị Xuân Thu, Lễ Ký. Liên hệ với chất Bích và Chuồn màu đen (thuộc Âm) thuộc hai hành Thủy và Mộc; Rô và Cơ màu đỏ (thuộc Dương) thuộc hai hành Kim và Hỏa, ta lại thấy một sự trùng khớp nữa trong sự liên hệ giữa các chất trong bài tây liên quan đến thuyết Âm dương - Ngũ hành, cụ thể là Hà đồ và Hậu thiên Bát quái nguyên thủy. Sự trùng hợp về hình thức, số lượng và mục đích chỉ khác nhau về phương pháp thực hiện trong việc dự đoán tương lai của bói bài Tây và kinh Dịch, có khả năng dẫn đến một ý tưởng trong sự liên hệ bổ sung lẫn nhau về mặt nội dung của các quẻ trong kinh Dịch với những hiện tượng liên quan đến con người trong việc dự đoán tương lai. Như vậy, với đồ hình Hậu thiên Bát quái nguyên thủy được minh chứng từ nền văn minh Văn Lang, không những lý giải được những vấn đề liên quan thuộc phạm trù kinh Dịch mà còn có khả năng liên hệ lý giải với những nền văn minh cổ đại khác đồng thời. Phụ chương này bổ sung cho tính hợp lý và nhất quán của đồ hình Hậu thiên Bát quái nguyên thủy. Nền văn minh cổ Sumer & Hậu thiên Bát quái nguyên thủy Ngành khảo cổ đã phát hiện di tích của một nền văn minh tối cổ so với các nền văn minh được biết đến từ trước đến nay. Đó là nền văn minh Sumer ở khu vực Lưỡng hà, có niên đại ước tính khoảng 4000 năm trước CN. Tại đây, người ta đã tìm thấy những bản văn bằng đất sét, trên đó ghi nhận những hiện tượng rất đáng chú ý. Một trong những nội dung của nó, ghi nhận một hiện tượng bí ẩn liên quan đến vấn đề được đặt ra như sau: Ai là kẻ thanh cao trên trời? Chỉ có ba. Ai là kẻ thanh cao dưới đất? Chỉ có ba.(*) * Chú thích: đoạn thơ trên trích lại trong sách “Lịch sử triết học Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại”, Tiến sĩ Vũ Quang Hà, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Từ bản văn này, liên hệ với các hiện tượng trong kinh Dịch & Hậu thiên Bát quái nguyên thủy, chúng ta sẽ thấy những sự trùng khớp như sau: @ Ý niệm về Trời – Đất là những biểu tượng bao trùm và là những thuộc tính của Âm dương khi vũ trụ đã hình thành. Trời & Đất được nhắc đến nhiều lần trong kinh văn của kinh Dịch. @ Với câu “Trên trời chỉ có 3”, “dưới đất chỉ có 3”, có thể hiểu là con số có giá trị biểu tượng cho ý nghĩa căn nguyên bao trùm của một hệ tư tưởng vũ trụ quan. Điều này cũng có sự liên hệ với đồ hình Hậu thiên Bát quái nguyên thủy như sau: Con số “ba” huyền bí không phải chỉ duy nhất có trong bản văn của nền văn minh Sumer. Chúng ta còn có thể tìm thấy ở nhiều bản văn cổ khác, hoặc ở cả những hình tượng thuộc các nền văn minh cổ đại khác nhau, như: Chúa ba ngôi, ba cạnh của một mặt Kim tự tháp, tượng Phật ba mặt… Ngay cả trên một số di vật đồng tìm thấy thuộc nền văn minh Lạc Việt cũng có hình tượng liên quan đến con số “ba”, như hình ảnh ba con hươu trên trống đồng. Trong Nam Hoa kinh của Trang tử, chúng ta cũng tìm thấy ý tưởng thoát tục để tiêu dao “sáu cõi”. Tất cả những hiện tượng đó đều có thể giải thích bằng biểu tượng của Hậu thiên Bát quái nguyên thủy, tức là biểu tượng của sự vận động vũ trụ, sau khi trời đất đã hình thành và con người đã xuất hiện để nhận thức nó. Còn một nền văn minh cổ đại được phát hiện gần đây có liên quan đến những tri kiến vũ trụ kỳ vĩ, đó là nền văn minh Maya. Do chưa có tư liệu về nền văn minh này nên chỉ xin đặt vấn đề một cách chung nhất về khả năng lý giải liên hệ. Bởi vì, cho đến ngày nay (nếu chưa có phát hiện nào mới) thì những nền văn minh cổ đại lớn trên thế giới đều để lại những dấu ấn về những tri kiến vũ trụ kỳ vĩ. Nhưng duy nhất có nền văn minh Văn Lang có hẳn một hệ thống lý thuyết vũ trụ quan lý giải những bí ẩn của vũ trụ theo cái nhìn của thuyết Âm dương – Ngũ hành. Do đó, nếu chân lý là sự tồn tại khách quan và duy nhất, thì thuyết Âm dương Ngũ hành và siêu công thức Bát quái nguyên thủy – thuộc về văn minh Văn Lang kỳ vĩ, dưới thời trị vì của các vua Hùng, tổ tiên người Việt Nam hiện nay – là học thuyết vũ trụ quan duy nhất còn lại từ thời cổ đại trong văn minh nhân loại sẽ lý giải tất cả; hoặc là nó chẳng có nói lên được điều gì. Trên đây chỉ là sự liên hệ trùng khớp những hiện tượng thuộc các nền văn minh cổ đại lớn trên thế giới. Những vấn đề thuộc thuyết Âm dương Ngũ hành và siêu công thức Hậu thiên bát quái nguyên thủy chưa phải là một sự minh chứng về những mối liên hệ bản chất của những hiện tượng trùng khớp đã trình bày. Tuy nhiên, những hiện tượng trùng khớp trên đã dẫn đến một ý tưởng về sự tồn tại trong quá khứ xa xôi: Phải chăng đã có một nền văn minh toàn cầu kỳ vĩ của nhân loại. Nền văn minh đó đã bị huỷ diệt và những bộ phận khác nhau còn sống sót của nhân loại đã giữ lại những mảnh vụn khác nhau về một thời hoàng kim của loài người? Phải chăng, điều này đã được ghi lại trong thần thoại, cổ tích của hầu hết những dân tộc có nền văn minh lâu đời vàtrong kinh Cựu ước. Trong bản văn cổ của nền văn minh Sumer (được coi là bản văn cổ nhất, có trước kinh Cựu ước) cũng ghi nhận như sau: Cơn mưa lớn bảy ngày bảy đêm. Cầy xới trên mặt đất. Một quá khứ chìm sâu. Sự im lặng bao trùm tất cả Mọi người thành đất sét.(*) * Chú thích: đoạn thơ trên trích lại trong sách “Lịch sử triết học Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại”, sách đã dẫn. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Truyện "sự Tích Chú Cuội" Và Giải Mã Chuyển Đổi Tốn Khôn
hoangnt replied to Thiên Đồng's topic in Lý Học Lạc Việt
Tuyệt vời, cảm ơn tác giả Thiên Đồng. Góp ý, phần trích dẫn nên lấy từ bản gốc của Chu Dịch và các sách tương ứng với nó. Tác giả Thiệu Vĩ Hoa cũng trích từ đấy và các nguồn sách khác mà ra. Bác có thể nghiên cứu câu chuyện: "Trí Khôn của ta đây" - không rõ thế nào. -
Tháp Báo Thiên xưa và tháp báo ân ngày nay Thứ tư, 20 Tháng 4 2011 Vào ngày 21 – 22 tháng 11, tại chùa Bằng A (Linh Tiên tự) tại địa bàn Phường Phương Liệt - Quận Hoàng Mai diễn ra lễ cắt băng khánh thành Tháp Báo Ân. Đại bảo tháp này được Thượng tọa Thích Bảo Nghiên cho xây dựng nhằm dựng lại hình ảnh âm vang của tháp Báo Thiên cũ đã bị tàn vào thời Nhà Minh dưới tay tướng Vương Thông và thời Pháp đô hộ xâm lược nước ta . Cách đây 7 năm, chùa Bằng A khởi công trùng tu và xây dựng Tháp Báo Ân cao 13 tầng, trên mỗi tầng tháp đặt 8 pho tượng, quay ra 8 hướng. Cả thảy có 104 pho tượng phật bằng đồng lớn, nhỏ. Pho nặng nhất để ở tầng 1, nặng ước 700 kg, pho nhỏ nhất để ở tầng thứ 13, nặng 60 - 70 kg. Bên ngoài tháp (ở tầng 1),có 4 pho tượng THIÊN VƯƠNG bằng đá. Trong không khí hân hoan mừng ngày khánh thành, chúng ta cùng nhìn lại những hình ảnh lịch sử của tháp Báo Thiên xưa và tháp Báo Ân ngày nay. Chùa Sùng Khánh Báo thiên (chùa Báo Thiên) và Bảo tháp Đại Thắng Tự Thiên (tháp Báo Thiên) tọa lạc ở thôn Tiên Thị, huyện Thọ Xương, (xưa gọi là phường Báo Thiên), gần hồ Lục Thuỷ (hồ Gươm), bên ngoài thành Thăng Long. Khu vực này ngày nay là Nhà thờ Lớn Hà Nội. Vua Lý Thánh Tông (1054-1072) đã cho xây dựng chùa vào năm Long Thụy Thái Bình thứ 4 (1057) Suốt hai triều Lý-Trần gần 400 năm, chùa Báo Thiên là một ngôi quốc tự nổi tiếng của kinh đô Đại Việt. Thời thuộc Minh, năm 1426, tướng Vương Thông với chủ trương phá hoại nền văn hoá bản xứ đã cho tiêu hủy Đỉnh tháp Đại Thắng Tự Thiên. Cho tới thế kỷ XIX, chùa Báo Thiên luôn được trùng tu bảo tồn, là nơi cử hành các nghi lễ Phật giáo cầu cho quốc thái dân an mưa thuận gió hoà… Năm 1883, thành Hà Nội bị thực dân Pháp đánh chiếm, sau đó theo yêu cầu của Công sứ Bonnal, kinh lược Bắc Kỳ là tổng đốc Nguyễn Hữu Độ đã giao khu chùa này cho Giám mục Puginier phá đi để kiến tạo Nhà thờ chính toà Hà Nội. Hình ảnh tháp Báo Thiên xưa: Hình ảnh tháp Báo Ân ngày nay: (Trích nguồn :www.hoangphaphanoi.com) * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Ra hiệu sách mua cuốn "Chiêm mộng và vu thuật" để xem.
-
Tính thấy là cái rốt ráo duy nhất một thì làm sao có cái " nhận biết được Tính thấy" như Hoangnt nói? Khi đưa ra tên gọi "Tính thấy" thì mặc nhiên bạn đã xác định hoặc hình dung được nó. Tính thấy không phải là "cái Một" mà chỉ có toàn thể Vũ trụ mới được gọi là cái Một. Bởi vì ta thấy tự nhiên xung quanh ta vận động có quy luật, và chính bản thân ta cũng vậy, thì cái Một cũng chẳng khác. "Tính thấy" có thể được xem là cốt lõi của cái Một, xâu chuỗi tất cả mọi thứ trong cái Một lại với nhau và bắt chúng vận động. Ví dụ, 1 con người được sinh ra, ngay lập tức, Tính thấy trong nó đã tồn tại và kết nối với Vũ trụ, tuy nhiên khi còn trong bụng mẹ thì không phải. Tính thấy "tạo ra" quy luật nhân quả. Như vậy, Tính thấy không thể tách rời "Vật chất" - Sự vật, hiện tượng. Về bản chất sâu xa, Nó "vừa không vừa có" thuộc tính (như đã phân tích trong các bài viết tương quan) nhưng vì không tách rời và điều khiển Vật chất vận động, cho nên có những quy luật, đặc tính của những loại "Vật chất" được xem là Cơ bản gần sát với Tính thấy. Vì vậy các nhà khoa học mới đi tìm Hạt cơ bản qua Máy gia tốc và sẽ không bao giờ thấy do Vũ trụ có hai đặc trưng: Lớn vô cùng và Nhỏ vô cùng. Vừa không vừa có thuộc tính hàm ý: một sự ngẫu nhiên nào đó trong sự vận động của Vũ trụ tạo ra một loại Vật chất đặc biệt khác với mọi loại có trong nó trước đó thì ngay lập tức có sự tương ứng với Tính thấy nhưng không mang ý nghĩa đồng dạng: ví dụ, Vật chất có màu xanh da trời không đồng nghĩa Tính thấy có màu xanh da trời. Thân.
-
Nghiên cứu những cái u mê thì phải nghiên cứu cả. Coi như có linh hồn ông Thích Ca thì cũng phải có linh hồn tâm linh Việt. Hãy nghiên cứu xem tâm linh Việt Nam nói gì. Nghiên cứu như hoangt thì khác gì thấy bói xem voi. Mới thấy có ông Thích Ca thì khác gì mới chỉ thấy đuôi voi. Cứ tham thiền hoặc Yoga không mà tiến hóa cao thì cho con chó tham thiền hoặc Yoga, nó cũng tiến hóa sau đó giỏi hơn con người. Còn phải có cái gì nhét vào đầu vào cơ thể mới thành tiến hóa chứ vài cái cục trong người như mấy bà cụ nhà quê Việt Nam ăn trầu cũng có ở dạ dầy thì làm sao mà tiến hóa cao được. Hoangnt quá duy tâm siêu hình phi lý trí. Bác Liêm trinh nóng quá. Bài viết của tác giả trên đề cùng mọi người nghiên cứu ý tưởng. Dĩ nhiên nếu chấp nhận tâm linh chung thì phải có tâm linh Việt và rất đặc biệt là khác, ví dụ Chủ tịch Hồ Chí Minh là Phật Ngọc, tuy nhiên chưa tới thời điểm. Tính thấy tùy theo quan điểm của mỗi người: là tính tự nhận biết của toàn bộ vũ trụ để tạo ra và ràng buộc mọi sự vật vận động theo các quy luật chung. Nó là Thái Cực, Bản thể, Tâm vũ trụ, Đạo... Tuy nhiên, con người, đặc biệt hơn các sự vật khác là nhận biết được Tính thấy với các quy luật chung và xây dựng nên các định nghĩa, quy ước... và người xưa đã "tiếp cận được nó" thông qua các phương pháp ứng dụng cụ thể. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Sen hồng được bình chọn là quốc hoa. Theo Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, hiện nay trên thế giới hoa sen là quốc hoa của các nước như: Ấn Độ (sen trắng), Ai Cập, Sri Lanka...: là sen gì, làm rõ trước khi trình. Đúng là do Thiên ý, tuy nhiên, nếu Sen hồng trùng với quốc hoa của nước khác, ta cũng có thể chọn hoa khác như hoa Vạn Thọ.
-
Bàn về tính Biết và sự tiến hóa của linh hồn dobatnhi on Tháng Chín 2, 2011 Tính biết Trên blog ĐBN có bài sưu tầm “Bàn về tính Biết trong Kinh thừa Phật giáo”, nội dung hay nhưng lại có rất nhiều từ ngữ Hán Việt gây rất khó hiểu cho bạn đọc chưa có thời gian tiếp xúc với kinh điển Phật giáo, nhất là các bạn trẻ. Sẵn có bạn hỏi về chủ đề này, ĐBN xin lạm bàn về “tính Biết” dưới góc nhìn của một kẻ sơ cơ. Sự sai lầm của xử lý thông tin Hãy tưởng tượng linh hồn có quá trình xử lý thông tin giống như một cái máy vi tính. Đầu vào của thông tin là 5 giác quan gồm: thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác và xúc giác – mà Phật giáo gọi là ngũ dục. Nhờ có 5 cơ quan này mà linh hồn tích lũy được kinh nghiệm sống trong xác phàm với mục đích trải nghiệm để tiến hóa, nhưng quá trình tiến hóa này đôi lúc bị chậm trễ hoặc kéo dài bởi sự sai lầm của Phàm Ngã (Vô Minh). Ta biết rằng, mỗi linh hồn có mức độ tiến hóa khác nhau nên cách xử lý và hồi đáp thông tin khác nhau…Ví dụ: Khi nhìn thấy một một người đánh rơi tiền sẽ có hai cách hồi đáp: trả lại người bị mất hoặc là âm thầm bỏ vào túi mình để tiêu pha phung phí; nếu rơi vào trường hợp thứ hai thì thông tin đã bị hồi đáp sai do “tính tham” của Phàm Ngã đã can dự vào công việc xử lý. Con người có 7 cổng để tiếp nhận và xử lý thông tin (7 luân xa) nhưng chỉ có 3 cổng được mở, số còn lại là bị nghẽn. 3 luân xa cấp thấp chứa các cá tính (Yoga gọi là rung động Jiva) như thích cái đẹp, thích ăn ngon, muốn thỏa mãn tình dục,… và nó là tác nhân chính gây ra xử lý thông tin sai và tạo các phản hồi tai hại. Ở những linh hồn tiến hóa hơn, khi luân xa số 4 được mở, nó sở hữu tính phân biệt, tình thương, lòng bác ái… và khi thông tin được xử lý bởi các rung động này, có ít sự tai hại xảy ra hơn. Quan niệm về tính Biết Tính Biết là khả năng nhận thức ra Chân Lý ở thế giới quan để đưa linh hồn đến bờ giải thoát, tới khả năng thành một vị Bồ tát, một Phật trong tương lai. Hãy tưởng tượng quá trình linh hồn tiến hóa giống như cách người ta bước đi trên bậc tam cấp, một chân ở tại bậc tam cấp quá khứ làm chân trụ, một chân sắp chạm bậc tam cấp tương lai. Cái chân ở bậc tam cấp quá khứ chính là tính Biết (trình độ giác ngộ) của linh hồn, tính Biết này được linh hồn dùng để nhận thức và tưởng tượng về thế giới quan. Ví dụ: Phật giáo quan niệm sát sinh là một tội, điều này được nhiều người chấp nhận và cả không chấp nhận. Sự phân chia này được hình thành bởi tính Biết của linh hồn và trình độ giác ngộ này không hẵn là do sự trải nghiệm trong kiếp sống hiện tại mà còn là sự tích lũy Nghiệp Quả trong quá khứ. Nếu linh hồn nhận ra “sát sinh là có tội”, bằng mọi cách nó dừng hay hạn chế việc sát sinh thì tính Biết trong nó đã biểu hiện, nó bước lên thêm một nấc thang tiến hóa. Các tôn giáo có nhiều quan niệm về tính Biết khác nhau, có tông phái xem nhận thức qua các giác quan không dẫn linh hồn đến con đường giác ngộ mà phải dùng khả năng suy luận, có tông phái đặt niềm tin vào đấng cứu rỗi, vào một vị giáo chủ, vào thế giới của một vị Phật ở cõi vô hình… và điều này dẫn đến sự tranh cãi, bài bác, phỉ báng… lẫn nhau trong các tôn giáo hiện nay. Tính Biết có được từ sự kiểm soát các giác quan của linh hồn, nó giống như một tu sĩ tuân thủ giới luật nghiêm ngặt của tôn giáo như cấm sát sinh, trường chay, tuyệt dục… Nghĩa là bằng sức mạnh tinh thần, linh hồn không để các rung động của Phàm Ngã xử lý các thông tin được tiếp nhận. Tính Biết còn có từ khả năng hiểu và lý luận kinh sách. Tính Biết còn được thu nhận qua Thiền Định, khi hành giả đi trên con đường này, đến một giai đoạn nào đó cái Phàm Ngã sẽ biến mất, tính Biết sẽ trở thành bản tính. Tính biết còn thể hiện ở khả năng nhận ra tính chất của Nghiệp Quả của linh hồn. Nghiệp Quả dẫn đến sự kiện linh hồn đầu thai trong hoàn cảnh giàu nghèo, mối quan hệ xã hội, quốc gia, tôn giáo… Điều kiện sống trong một thể xác mới sẽ dẫn nó đến bước ngoặc để nhìn thấy (Phật giáo gọi là Duyên) và nắm giữ sự giác ngộ. Ví như, một người giàu có đột nhiên bị phá sản thì có hai hoàn cảnh xảy ra với anh ta, tuyệt vọng và hối tiếc hoặc là bình thản và chấp nhận… Đằng sau vụ việc này là Thượng Đế giúp anh ta có sự trải nghiệm cái ranh giới giữa giàu có và nghèo khó, một là trả giá cho Nghiệp Quả của anh ta trong quá khứ, hai là cho anh ta nhận thức được rằng tiền tài chỉ là một thứ ảo giác của Phàm Ngã. Nếu linh hồn chấp nhận hoàn cảnh và hiểu được tính chất của nó thì anh ta đã hoàn thành bài học trong kiếp sống mới, còn ngược lại anh ta thi rớt và sự tiến hóa của linh hồn này sẽ còn rất dài trong thời gian phía trước. Phàm Ngã, cái chướng ngại của tính Biết Trong quá trình tiến hóa của linh hồn, Phàm Ngã chính là rào cản lớn nhất ngăn tính Biết biểu hiện. Một lời nói của vị Phật thường dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, điều này không hẵn có nguyên nhân từ tính bao trùm của Chân Lý mà do Phàm Ngã đã giành phần xử lý thông tin. Đầu vào thông tin từ vị Phật khi qua sự “chắt lọc” của Phàm Ngã nó đã bị bóp méo bởi lòng tham, bởi lợi ích, bởi sự tưởng tượng, bởi sự thỏa mãn, bởi sự kiêu hãnh… và đến lúc này Chân Lý đã không còn là Chân Lý nữa. Ki-tô giáo thừa nhận Chúa Giesu là duy nhất, bài bác sự tồn tại về Đấng tối cao của người Hồi giáo và người Hồi giáo cũng có niềm tin ngược lại… Điều này dẫn đến những cuộc chiến tôn giáo như đã từng thấy trong lịch sử và chưa có dấu hiệu nào cho thấy nó dừng lại trong hiện tại. Đáng tiếc là vẫn còn quá nhiều người tin rằng có hơn một Thượng Đế tồn tại trong vũ trụ, Ngài sở hữu nhân cách và có xu hướng phe phái. Như vậy, những rung động của Phàm Ngã chính là chướng ngại ngăn linh hồn tìm đến sự giải thoát, che ám để nó không nhìn thấy giá trị thực sự của Chân Lý. Con đường đưa linh hồn đến giai đoạn làm chủ các rung động của Phàm Ngã, dùng phần nào rung động của Chơn Ngã để xử lý thông tin, thường khó khăn và cần nhiều ý chí. Sau sự tái sinh của một linh hồn, ngoài phần Nghiệp Quả cá nhân phải gánh chịu nó còn bị ô nhiễm bởi tính cách của cha mẹ, xã hội và tôn giáo. Cho nên, nếu linh hồn tiến hóa lên bằng con đường tự nhiên phải mất rất nhiều thời gian. Con đường nhanh chóng đưa linh hồn vượt qua giai đoạn tiến hóa tự nhiên là phương pháp tu Thiền hoặc Yoga, đó là con đường mà Đức Phật đã đi qua.
-
Sen hồng được bình chọn là quốc hoa Đúng với dự đoán, sen hồng tiếp tục vượt lên dẫn đầu cuộc bình chọn ngôi vị quốc hoa, diễn ra tại TP HCM từ ngày 9 đến 12/6. Với kết quả đứng nhất bảng bình chọn ở cả 3 miền, sen hồng trở thành quốc hoa. > 'Chung kết' bình chọn quốc hoa tại TP HCM Tối 12/6 tại công viên 23/9, TP HCM diễn ra lễ tổng kết cuộc bình chọn quốc hoa Việt Nam. Cuộc bình chọn do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp UBND TP HCM tổ chức. Nhiều bạn trẻ thích thú ngắm hoa sen hồng trong thời gian diễn ra cuộc bình chọn quốc hoa ở TP HCM. Bắt đầu từ ngày 9/6, cuộc bình chọn không chỉ lấy ý kiến của người dân tham gia triển lãm Sắc hoa Việt ở công viên 23/9, TP HCM mà ban tổ chức còn phát khoảng 60.000 phiếu bình chọn ở các quận, huyện và 15 đại học, cao đẳng. Kết quả, hoa sen hồng có số phiếu cao nhất với hơn 50.000, chiếm hơn 70%. Đứng sau sen hồng lần lượt là hoa mai, hoa đào. Sinh viên trường Cao đẳng kinh tế đối ngoại TP HCM bỏ phiếu bầu chọn. Qua các hệ thống bình chọn ở hai miền Bắc, Trung kéo dài từ năm 2010 đến nay, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng đưa ra kết quả hoa sen luôn chiếm tỷ lệ bầu chọn cao nhất. Như vậy, tổng hợp kết quả 3 miền, sen hồng chính là quốc hoa của Việt Nam. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ có văn bản trình Chính phủ và Quốc hội báo cáo kết quả các cuộc bình chọn, để từ đó tiến đến việc công nhận và công bố tên quốc hoa. Theo Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, hiện nay trên thế giới hoa sen là quốc hoa của các nước như: Ấn Độ (sen trắng), Ai Cập, Sri Lanka... Ngoài ra, Trung Quốc cũng đang chọn giữa hoa sen và hoa mẫu đơn, hoa mận, hoa móng bò tím để chọn quốc hoa cho nước này. Nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay có quốc hoa như: Iran là hoa tulip, Iraq là hoa hồng, Nga là hoa hướng dương, Mexico là hoa thược dược... Tin, ảnh Thoại Hà
-
Huyền Thiên Trấn Vũ - Vị thần trấn phía Bắc file:///C:/Documents%20and%20Settings/MinhPhuc_Computer/Desktop/Huy%E1%BB%81n%20Thi%C3%AAn%20Tr%E1%BA%A5n%20V%C5%A9%20-%20V%E1%BB%8B%20th%E1%BA%A7n%20tr%E1%BA%A5n%20ph%C3%ADa%20B%E1%BA%AFc_files/avatar.jpeg Đền Quán Thánh, thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, trấn phía Bắc kinh thành Thăng Long. (Ảnh tư liệu: Internet) Đền Quán Thánh, có người gọi là Quan Thánh, là một trong “Thăng Long tứ trấn”. Tương truyền được lập từ khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long (1010). Đền xưa có tên là Huyền Thiên Trấn Vũ Đại đế quán, đến năm 1823 vua Minh Mạng đổi ra là Trấn Vũ quán, năm 1842 dưới thời vua Thiệu Trị đổi ra tên hiện nay. Thánh Trấn Vũ, vị thần được thờ tại đền Quan Thánh mang tính cách vừa là của Việt Nam, vừa là của Trung Quốc. Theo truyền thuyết, Huyền Thiên Trấn Vũ là thần coi giữ phương Bắc, từng đầu thai làm con vua nước Tinh Lạc (Trung Quốc), lớn lên bỏ ngôi hoàng tử đến tu luyện trong hang ở Vũ Dương liền trong 42 năm, đã giúp người phương Bắc diệt trừ nhiều quỷ dữ, giúp dân đời Chu chiến thắng thần dịch hạch gây bệnh chết người hàng loạt, được Thượng đế phong là Đại Từ, Đại Bi, cuối cùng được phong là Huyền Thiên Trấn Vũ. Huyền Thiên Trấn Vũ sau đó sang nước Việt, giúp các vua Hùng ba lần đánh thắng giặc ngoại xâm. Đời Hùng Vương thứ 6, giặc Ân ở phương Bắc rất hung dữ đem quân xâm lấn đất nước Văn Lang. Quan quân vua Hùng đánh không nổi. Thần đã đầu thai vào một bà mẹ ở làng Phù Đổng bộ Võ Ninh, sinh ra cậu bé chẳng nói chẳng rằng, nhưng khi nghe tin sứ nhà vua đi truyền rao tìm người tài giỏi, đã tự nhiên bật thành tiếng xin sứ giả tâu lên nhà vua, xin vua cấp cho ngựa sắt nặng một nghìn cân và một cây roi sắt nặng một trăm cân. Khi nhận được ngựa sắt, roi sắt vua ban, thần đang từ là một cậu bé bỗng vươn lên thành chàng trai cao lớn dẫn đầu mấy vạn quân Nam xông lên đánh cho giặc Ân tan tành, giữ vững bờ cõi giang sơn. Sau khi đánh tan giặc, thần hóa phép ở núi Vệ Linh bay lên trời. Vua Hùng bèn phong thần là Đổng Thiên Vương và lập cho đền thờ cúng trọng thể. Theo truyền thuyết đó thì Huyền Thiên Trấn Vũ chính là Đức Thánh Gióng có công giúp vua Hùng dẹp giặc Ân mà nhân dân ta đang thờ cúng ở nhiều nơi. Cũng theo truyền thuyết vào đời Hùng Vương thứ 14, thần đã giúp nhân dân làng Bồ Đề cạnh sông Hồng trừ diệt con rùa yêu tinh từng tàn hại nhiều dân lành. Đến thời vua An Dương Vương xây thành Cổ Loa để chống trả quân xâm lược Triệu Đà, có con gà trắng hóa tinh và quỷ ở vùng núi Thất Diệu thường đến quấy phá khiến nhà vua không xây được thành, thần nghe theo lời thỉnh cầu của thần Kim Quy đã giúp vua An Dương Vương trừ hết mọi tà ma, nhờ đó Loa Thành được xây nên vững chắc. Sau đó một thời gian, thần trở lại phương Bắc đầu thai làm con vua Tùy. Sang đời Đường, thần đã giúp vua Đường tiêu diệt con quỷ dữ thường gieo bệnh giết hại trẻ con Trung Quốc. Đến thời vua Lê Đại Hành, thần lại xuống đất Lỗ Lâm gần thành Long Đỗ giúp nhân dân trừ quỷ dữ. Khi bọn tướng nhà Tống là Hầu Nhân Báo và Tôn Toàn Hưng theo lệnh vua Tống đem quân sang cướp nước Đại Cồ Việt, thần đã dâng nước sông Nguyệt Đức (sông Cầu), sông Nhật Đức (sông Thương) lên cao tạo thành hào sâu ngăn cản. Thần còn hiện thành một vị tướng nhà trời cao 10 trượng, mặc chiến bào màu vàng, tay cầm ngọn giáo bằng vàng đứng trên đầu trước mặt quân Tống. Quan quân Tống trông thấy thế sợ quá hoảng hốt quay đầu vắt chân lên cổ tháo chạy. Quân Nam nhân cơ hội đó mãnh liệt truy kích quân giặc, giết chết chủ tướng giặc Hầu Nhân Bảo, bảo vệ toàn vẹn non sông. Sang đời Lý, đời Trần, thần còn xuất hiện nhiều lần giúp nhân dân diệt trừ quỷ dữ./. (Danh nhân Hà Nội/Vietnam+) * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
L.Cadiere, vị linh mục người Pháp có tinh thần khách quan trong những công trình nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, đã nêu nghi vấn về chi tiết trang trí này. “Có một con vật rõ ràng không phải là con kỳ lân thực sự, mà nó có vẻ là con sư tử, hay là thuộc một giống vật khác; trong lúc đó nó lại được người Việt Nam gọi là con kỳ lân. Đó là con vật mà chúng ta thấy ở trên đầu các trụ trước các đền chùa. Bộ lông, cái đầu, cái đuôi, nhất là những móng vuốt, thay cho những móng đề, đã làm cho con vật này giống với con sư tử hơn là một con kỳ lân”. Sự nghi ngờ ấy là có cơ sở vì kỳ lân là một con vật tưởng tượng, sẽ hiện diện trên thực tế với ý niệm và tâm hồn của văn hóa đất nước nó đang tồn tại. Con vật được người Việt sử dụng nhiều trong các công trình kiến trúc nhằm chuyển tải ước muốn may mắn hẳn nhiên chịu ảnh hưởng của con kỳ lân Trung Hoa nhưng sẽ sai lầm nếu cho rằng đó là hoàn toàn hình mẫu căn bản từ con kỳ lân đến từ phương Bắc. Linh vật thuần Việt Trong các chi tiết trang trí kiến trúc của văn hóa Việt Nam, vẫn tồn tại hình tượng con nghê với những miêu tả về hình dáng giống với con kỳ lân Trung Quốc. Đó là con vật mình không lớn, không có sừng, chân ngắn và thường có móng vuốt, không có vảy ở thân, đầu, mình và đuôi thường có lông che phủ. Với hình dáng nhỏ nhắn, phần nào thể hiện nét tinh nghịch và vui tươi, nghê là chi tiết trang trí được sử dụng nhiều ở Việt Nam. Tác giả Bùi Ngọc Tuấn trong cuốn Đồ gốm cổ truyền Việt Nam đã cho rằng nếu kỳ lân là hình tượng của văn hóa Trung Hoa thì nghê là hình tượng mang đầy đủ ý niệm và tâm linh của người Việt Nam. “Trong đời sống của người dân Việt, hai con thú được coi như những người bạn thân thiết, gần gũi và quan trọng nhất là con trâu và con chó. Trâu để cày ruộng, giúp sản xuất lúa gạo, chó để giữ nhà, phòng kẻ gian, phòng thú dữ. Đời sống thực tế có chó giữ nhà, còn đời sống tinh thần thì sao? Ông cha ta cũng cần một linh vật để chống lại các tà ma ác quỷ nữa chứ. Chó đá được dựng lên vì thế. Ở làng quên miền Bắc Việt Nam, trước cổng làng bao giờ cũng có một con chó đá để bảo vệ cả làng, trước cổng đình bao giờ cũng có chó đá, và trước cổng nhà hay ở ngoài đầu hồi, ngoài cửa nhà cũng thường có chó đá ngồi trước canh giữ cho gia chủ. Những con chó đá này hình dạng thay đổi, cao khoảng từ nửa thước tới một thước, thường là những tảng đá được khắc đẽo rõ ràng oai vệ, nhưng có khi chỉ là một khối đá đặt nghiêng theo dáng một con chó đang ở thế ngồi canh giữ (…) Rồi để bày trước điện thờ, hay bàn thờ của những nhà giàu có, ở các đình chùa, đền miếu, chó đá hóa linh. Chó đá được khắc đẽo với những chi tiết oai vệ, đầu chó, mặt chó đầy những nét oai nghiêm. Vì linh thiêng như thế, nên được gọi là con Nghê”. Quả thật, con Nghê còn được dùng để trang trí trong các ngôi đình cổ ở Việt Nam. Nghê được chạm trên cốn (xà ngang từ cột ra để đỡ xà dọc ở mái ngoài), hay được đặt trên đầu đao (sống mái chạy từ đỉnh nóc nhà xuống, cong lên như hình cây đại đao (mã tấu) nên gọi là đầu đao), như trên cốn đình làng An Hòa (Hà Nam), Phất Lộc (Thái Bình), cột đình làng Hội Thống (Hà Tĩnh), đầu đao đình làng Phù Lão (Bắc Giang), làng Trung Cần (Nghệ An), làng Tây Đằng (Sơn Tây)… chẳng hạn. Cho nên, tác giả Bùi Ngọc Tuấn kết luận: “Vậy con Nghê là một linh vật thuần Việt được sáng tạo để bảo vệ đời sống tâm linh của người Việt”. Lý giải của tác giả Bùi Ngọc Tuấn không phải không có cơ sở vì con chó trong văn hóa Việt Nam là một con vật sống gần gũi, gắn bó với con người. Điều đó được minh chứng trong rất nhiều câu chuyện thần thoại, truyền thuyết lưu giữ trong dân gian của dân tộc Việt, Mường… Nhìn lại cụ thể, chi tiết kiến trúc mà L.Cadiere nghi vấn ở trên có thể có hình dạng từ con chó. Tất nhiên, hình tượng đó đã được trí tưởng tượng của người dân đất Việt thêm thắt cho phù hợp với ý muốn và sự cầu mong may mắn của mình. Chắc chắn rằng: Con Nghê chính là hình ảnh nhân cách hóa con chó trong văn hóa Việt Nam - Linh vật bảo vệ (và báo động) nguồn tâm linh Việt ở các đình, đền, miếu, chùa, từ đường... Sau khi ráng chiều buông xuống đỏ ối ở phía chân trời (bờm lửa) là lúc sức mạnh con Nghê bắt đầu khởi phát. Người Việt dùng hình ảnh con chó vì nó mang trong mình các đặc tính quan trọng nhất: TÍN - NGHĨA - DŨNG. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Tra cứu sách mãi, đau cả mắt: Trống đồng Heger - Loại I - loại cổ nhất như trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ... chưa được thử niên đại bằng phương pháp phóng xạ cacbon, không hiểu thế nào, nên phải dùng tạm tương ứng đồng dạng cấu trúc hoa văn và motips của trống đồng Trung Hoa tức nhận định từ thế kỷ 2 - 7 TCN. Đúng là chán đời. Thế kỷ thứ 2 - 7 TCN Việt Nam chế tạo được các loại trống đồng hết sức tinh xảo, nhưng riêng chữ viết thì lại đang nghi ngờ chưa có? hay dùng tay làm ký hiệu. ??? * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Hà Nội, Thăng Long Tứ Trấn & An Nam tứ đại khí Tuesday, 6. January 2009, 01:09 Du lịch, Hà Nội Đền Voi Phục ở công viên Thủ Lệ cạnh cửa Ô Cầu Giấy phía tây kinh thành, xây trên bờ hồ. Nơi đây ngay trước khi được mở rộng thành vườn bách thú, vốn đã là một vườn hoa tự nhiên, cây cối um tùm cũng soi bóng mặt hồ, cảnh vật có phần hoang sơ hàm chứa một vẻ huyền bí, như kết tụ linh khí đất trời, là thắng cảnh truyền đời. Đền xưa quy mô ra sao không rõ, hai lần thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội vào các năm 1873 và 1882, chúng chiếm được thành nhưng đều bị quân dân Hà Nội dụ về quanh khu đền Voi Phục căng ra đánh, giết chết tướng giặc là Garnier và Riviere. Sau đó chúng đốt phá trả thù đã làm ảnh hưởng di tích, rồi năm 1947 khi chúng tái chiếm Hà Nội và mở rộng ra vùng ngoại vi đã phá trụi đền Voi Phục. Năm 1953 dân làng dựng lại, và cả một số lần tu sửa ở nửa sau thế kỷ XX cho tới nay ngôi đền vẫn còn khiêm tốn, nó bình dị dưới những tán cây cổ thụ, ngoại thất gắn với cả công viên lại trải ra như vô tận. Đầu lối vào đều có tượng hai con voi quỳ gợi lại một giai đoạn huy hoàng của vị thần được thờ, và do đó thành tên đền. Vị thần ở đây là Linh Lang đại vương, con của một cung tần nhà Lý đi tắm hồ Dâm Đàm (Hồ Tây) gặp rồng mà hoài thai 14 tháng sinh ra, được vua Lý Thánh Tông cho về sống ở trại Thủ Lệ. Khi quân Tống sang xâm lược nước ta, Linh Lang xin vua cho thớt voi rồi cưỡi đi đánh giặc. Thắng giặc rồi chàng xin về lại Thủ Lệ, không bao lâu mắc bệnh rồi hoá thành con giao long bò xuống hồ biến mất. Vua phong là thượng đẳng thần và sai lập đền thờ trên khu nhà cũ. Thực chất đây là nơi thờ thần sông nước, sau được nâng lên thành thờ rồng, rồi lịch sử hoá thành thờ anh hùng giữ nước, gắn với phương tây mang tính âm. Thần Linh Lang ở đây là cùng mô thức với việc thờ ông Cộc ông Dài tức thờ rắn của cư dân sông nước xứ Bắc mà sau lịch sử hoá thành thờ Trương Hống Trương Hát. Đền Kim Liên thuộc làng Kim Liên phường Phương Liên ở phía Nam thành phố. Đền xưa đã bị phá chỉ còn toà miếu nhỏ với tấm bia rất lớn được khắc và dựng từ năm Hồng Thuận 3 (1510) ghi lại bài văn dài Cao Sơn đại vương thần bi minh trích tự. Mặt sau ghi thêm ít dòng nữa vào năm Cảnh Hưng 33 (1772) cho biết bia này vốn ở Phụng Hoá, sau trôi nổi về bến Bồ Đề, vào đời Hoằng Định dân bản phường vớt lên đưa về chùa, sau thấy thiêng lại rước ra đặt ở bên trái đình, đúng như ngày nay còn thấy, có cây đa cổ thụ trùm lên càng tạo vẻ cổ kính và thiêng liêng, đúng là nơi cư trú của thần linh. Văn bia cho biết vị thần ở đây là Cao Sơn đại vương, một trong số trăm con của Lạc Long quân và Âu Cơ, là thần núi xa xưa đã giúp Sơn Tinh đánh thắng Thuỷ Tinh, đầu thế kỷ XVI lại giúp vua Lê dẹp loạn giữ yên ngai vàng. Thực chất đây là việc thờ thần Núi, vốn rất phổ biến ở xứ Đoài - nơi có núi chủ Tản Viên/Ba Vì, được khái quát là Tản Viên sơn thánh, một biểu hiện của việc thờ các thần tự nhiên. Đưa hai thần Linh lang và Cao Sơn về trấn giữ các cửa tây và cửa nam của kinh thành chính là đã kéo các thần của cư dân phía bắc trũng thấp và của cư dân phía tây cao ráo là những vùng ngày nay đưọc xem là đất tổ, gắn kết sông với núi, đất với nước để trở thành Tổ quốc là một khái niệm thiêng liêng nhất, đồng thời cũng là sự khẳng định văn hoá truyền thống, lấy vốn cũ làm cơ sở để xây dựng bản sắc dân tộc. Đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, xưa thuộc phường Hà Khẩu trên bờ sông Hồng cạnh cửa sông Tô Lịch, thuộc phía đông kinh thành là nơi thờ thần Long Đỗ với hiệu Quảng Lợi Bạch Mã đại vương. Long Đỗ vốn là thần núi Nùng, trong thời bắc thuộc khi Cao Biền chôn đồng và sắt ở thành Đại La để yểm, thì thần đã gây mưa gió, sấm chớp đánh bật lên và nát vụn cả đồng và sắt. Cao Biền bèn lập đền thờ để mong được bình yên. Rồi khi vua Lý Thái Tổ xây thành Thăng Long, cứ xây xong lại đổ. Vua cho người đến đền Bạch Mã cầu thần thì có một con ngựa trắng từ trong đền đi ra chạy một vòng trong khép kín ngược chiều kim đồng hồ rồi vào đền rồi biến mất. Vua cứ theo vết chân ngựa xây thành, cho sửa lại đền và phong thần là Quảng Lợi Bạch Mã tối linh thượng đẳng thần. Ngày ấy quanh đền Bạch Mã dân mở phố chợ rất đông. Với nhà Lý, phật giáo được xem là quốc giáo, mà Thăng Long đã thành một trung tâm, nó tiếp nhận một số thành tựu của văn hoá Ấn Độ từ nhiều thế kỷ trước mà trực tiếp là theo đường thuỷ có nghía là từ phía đông. Với văn hoá ấn Độ, ngựa trắng là biểu trưng của mặt trời, ngày nay nhiều chùa và đền vẫn còn tượng ngựa trắng, và trong nhân dân vẫn gắn ngựa với thời gian: "bóng câu qua cửa sổ". Lớp văn hoá ấy sau được lồng vào văn hoá mới, coi Long Đỗ là sự kết tụ khí thiêng sông núi làm chỗ dựa tinh thần của kinh thành. Thần Bạch Mã được thờ ở phía đông, nơi cửa ngõ đón nhận văn hoá ấn Độ đã ở một trình độ cao. Nền văn hoá phật giáo trong suốt thời bắc thuộc đã giao thoa với tín ngưỡng bản địa để tạo ra những gía trị mới cao hơn cho dân tộc, trong đó có gắn với nguồn gốc của Lý Công Uẩn và sự thành lập vương triều Lý. Với những biến thiên của lịch sử, đền Bạch Mã đã qua nhiều tu sửa - nhất là ở thế kỷ XVII - XVIII, trong đó kiểu cách hiện thấy là thuộc thời Nguyễn. Do sự phát triển phố xá, khuôn viên đều thu hẹp nhưng còn khá rộng, các lớp kiến trúc gối nhau chạy sâu vào khang trang, nhiều bia đá và đồ thờ trọng thể. Đền Quán Thánh nằm bên góc đường Cổ Ngư xưa, nay là đường Thanh Niên, đền Quán Thánh ở một vị thế có phong cảnh hữu tình, cảnh quan thoáng đãng, gần sát hồ Tây và hồ Trúc Bạch góp phần tô điểm cho cảnh đẹp cổ kính và thơ mộng. Tương truyền đền có từ thời Cao Biền (thế kỷ thứ IX) ở phía nam sông Tô Lịch. Sau khi vua Lý Thái Tổ định đô (1010), mở rộng kinh thành, đã dời ngôi đền về Tây Bắc thành, tức như vị trí hiện nay. Đền là nơi thờ thần Huyền Thiên Trấn Vũ, đây cũng chính là một trong những ngôi đền nổi tiếng trong "Thăng Long tứ trấn" của xứ Hà thành xưa. Đền có cổng tam quan uy nghi đường bệ được dựng trên những tấm đá lớn với gác chuông ở phía trên cùng. Phía trước có bốn cây cột lớn được đắp nổi bằng những hình nghê, phượng và mặt hổ phù... Bước chân qua cổng tam quan là sân rộng, trong sân có bể cá vàng và hòn giả sơn. Cấu trúc đền gồm hai lớp. Lớp ngoài là nhà Đại Bái cao ráo, lộng lẫy với hệ thống cột, xà, cửa võng sơn son thếp vàng. Hai bên tả hữu treo biển đồng chữ bạc của vua Thiệu Trị (1841-1847) ban và một khánh đồng do một Đại Đô đốc thời Tây Sơn cung tiến vào năm Cảnh Thịnh thứ 2 (1795). Phía trong nội cung đáng chú ý nhất là pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ bằng đồng đen cao 3,72m, nặng 4 tấn, tay trái bắt quyết, tay phải cầm gươm có rắn quấn chống lên lưng rùa với phong thái như một vị tiên phong đạo cốt. Pho tượng được nhiều người biết đến như một tuyệt tác về kĩ thuật đúc đồng của người Việt hồi đầu thế kỉ XVII với những đường nét tinh xảo, điêu luyện. Ngoài ra, hậu cung còn có tượng bốn vị nguyên soái khác cũng được thờ tự. Đặc biệt, trong đền có một pho tượng ngồi trong khám. Tương truyền đó là tượng ông Trùm Trọng, một ông trùm phường đúc đồng làng Ngũ Xá đã đúc pho tượng thánh Trấn Vũ. Sau khi ông trùm qua đời, các học trò đúc tượng thầy đặt vào đây để tỏ lòng nhớ ơn thầy. Ngoài nghệ thuật đúc đồng, đền Quán Thánh còn nổi tiếng với vẻ đẹp của nghệ thuật chạm khắc gỗ. Trên các bộ phận kiến trúc bằng gỗ của ngôi đền các đề tài như tứ linh, dơi, cá, tùng, trúc, cúc, mai, lẵng hoa, bầu rượu, thanh gươm, cảnh sinh hoạt của trần gian và thượng giới... được chạm khắc một cách tinh xảo mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê. Không chỉ là một công trình có giá trị về mặt lịch sử và kiến trúc, đền Quán Thánh còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa nổi tiếng của người dân Hà Nội xưa và nay. Trải qua gần một thiên niên kỷ nhưng ngôi đền vẫn còn nguyên vẹn, duyên dáng bên hồ Tây thơ mộng và tồn tại trong lòng người Hà Nội. Việc thờ Bạch Mã và Quán Thánh rõ ràng là biển hiệu tiếp nhận văn hoá ấn Độ và văn hoá Trung Hoa để làm giàu văn hoá dân tộc. Đây là bài học xuyên các thời kỳ lịch sử về tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại. An Nam tứ đại khí là bốn khí vật bằng đồng cực lớn tương truyền được đúc ở thời Lý, là tháp Báo Thiên và chuông Quy Điền ở kinh đô Thăng Long, là vạc chùa Phổ Minh ở Nam Định (hay chùa Phả Lại ở Bắc Ninh?) và tượng phật chùa Quỳnh Lâm ở Quảng Ninh, do làm bằng đồng nên quân Minh trong thời gian thống trị nước ta ở đầu thế kỷ XV đã phá huỷ lấy đồng. Dân gian còn nhớ vạc Phổ Minh còn có thể chạy được trên miệng, còn bia chùa Quỳnh Lâm kể rằng pho tượng Phật ở đây cao những 6 trượng (3,1m) đầu tượng chạm nóc điện cao 7 trượng, đứng ở bến đò Triều Đông xa mươi dặm (chừng 5Km) còn trông thấy rõ. Riêng hai công trình lớn ở kinh đô được ghi khá đầy đủ trong thư tịch, theo đó nó có thể xem như là huyền thoại, kỳ vĩ cả về ý tưởng chứ không phải chỉ ở hình thức. Tháp Báo Thiên gọi theo tên chùa ở phía tây hồ Lục Thuỷ ( hồ Hoàn Kiếm). Nhẽ ra là tháp Phật như một số tháp đương thời ở các chùa Phật Tích, Tường Long, Chương Sơn... nhưng tháp Báo Thiên xây ngay trên đất bằng ở giữa kinh thành, có số tầng chẵn (12 hoặc 30?) và nhất là ở cái tên Đại Thắng Tư Thiên khẳng định ý nghĩa báo cáo trời chiến công lớn lao của dân tộc, cao những vài mươi trượng...tất cả biểu thị đây là công trình kiến trúc của nhà nước mang tính chất đài kỷ niệm chiến thắng như một thứ Khải hoàn môn. Tháp có số tầng chẵn biểu thị sự cân bằng, ổn định, tĩnh tại , bền vững như triều đình nhà Lý đầy khí thế, sẽ tồn tại dài lâu. Ngọn tháp đúc bằng đồng khắc ba chữ Đao Ly Thiên tỏ ý tưởng của đấng tối cao xông lên tận trời thẳm. Đỉnh tháp có tượng người tiên bưng mâm ngọc hứng móc ngọt làm thuốc cho vua. Trong xã hội nông nghiệp xanh- sạch- đẹp, ở trên cao dường như không có bụi, hơi nước gặp lạnh đọng lại có thể xem như nước cất tinh khiết, là tinh tuý của tự nhiên, là lộc của trời ban. Có nhẽ vì thế, những tháp xây các thời sau không cao lắm, trên đỉnh thường kết thúc bằng một quả hồ lô như bầu rượu, cũng là mang ý nghĩa bình nước thiêng. Cây tháp báo Thiên đến thời Trần được Nho thần Phạm Sư Mạnh tả lại với hình tượng thật hoành tráng: Trấn áp đông tây cũng đế kỳ Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy Sơn hà bất động kình thiên trụ Kim cổ nan nan lập địa chùng Dịch: Trấn giữ đông tây vững đế kỳ Tháp cao sừng sững thật uy nghi Là cột chống trời yên đất nước Vượt mọi thời gian chẳng sợ gì. Cái hình ảnh "cây cột trụ chống trời, cao sừng sững vượt trội hẳn lên trong cả không gian và thời gian để giữ vững kinh kỳ" hẳn phải nhoà trong mây, là cây thánh nối Trời với Đất, là sự giao hoà trời cha - đất mẹ để dân tộc phát triển, dân đông vật thịnh. Đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các tác giả sách Tang thương ngẫu lục đã chứng kiến cuộc đào nền tháp (sau khi tháp bị quân Minh phá ở đầu thế kỷ XV) còn thấy nền tháp hình vuông, hai bên mỗi cửa có hai pho tượng kim cương đứng trấn giữ, bên trong lòng tháp còn có các tượng người tiên, chim muông đến cả giường, ghế, chén, bát không sao kể hết, tất cả đều bằng đá. Cho đến cuối thế kỷ XIX, các tác giả sách Đại nam nhất thống chí còn thấy tháp cao một trăm thước (chừng 40m), nhưng sau đó Pháp chiếm Hà Nội đã chuyển khu đất này cho bên đạo thiên chúa xây nhà thờ lớn Hà Nội. Chùa Một Cột tên chữ là Diên Hựu tự, nay đã làm lại thu nhỏ nhưng vẫn trên khu đất cũ vốn xưa thuộc vườn cấm phía tây của hoàng thành nhà Lý, là ngôi chùa của hoàng gia có quả chuông Quy điền khổng lồ, do vua Lý Thái Tông cho xây để giải giấc mơ thấy quan Âm dắt lên đài sen. Chùa mang hình tượng bông sen thanh cao, tinh khiết biểu trưng của đạo phật và đất phật. Thư tịch xưa cho hay chùa được dựng trên đỉnh cây cột đá cao mươi trượng, vọt lên từ giữa ao thơm Linh Chiểu hình vuông ở trong một cái hồ Bích Trì hình tròn, xung quanh hồ có hành lang được vẽ nhiều hình về thế giới nhà Phật, các phía bắc cầu cong để đi vào, hai bên cầu đằng trước được xây tháp bằng sứ men trắng như lưu ly. Trong lòng tháp có tượng Quan Âm. Hàng tháng vào ngày mồng một và rằm Hoàng gia làm lễ đi vòng quanh chùa để cầu cho nhà vua sống lâu, vương triều bền thịnh. Hàng năm ở đây còn tổ chức lễ phóng sinh. Thời Trần, thiền sư Huyền Quang đã ghi nhận hình ảnh ngôi chùa này: Thượng phương thu dạ nhất chung lan Nguyệt sắc như ba, phong thụ đan Xi vẫn đảo niên phương kính lành Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn... Dịch: Chùa xưa một tiếng chuông ngân Trăng thu tãi sóng, lá bàng nhuộm son Hồ vuông chim ngủ soi gương Tháp cao sừng sững, búp tròn đôi tay... Đặc biệt năm 1080 chùa được triều đình đúc quả chuông rất lớn, đúc xong chuông nặng không thể khiêng được mà tự di chuyển đến chùa. Tại chùa đã xây toà phương đình bằng đá cao 8 trượng (chừng 25m) vẫn không treo nổi, do đó phải để chuông dưới ruộng ẩm, rùa vào ở trong chuông, do đó chuông được mang tên là chuông Quy Điều. Chuông tồn tại đến đầu thế kỷ XV thì bị quân Minh phá huỷ lấy đồng. Chuông Quy Điều gắn với rùa là con vật thiêng từng giúp An Dương Vương làm nỏ thần và giúp Lê Lợi gươm báu để giữ nước và khôi phục nước, chuông cũng là sự thông đạt của dân chúng bị oan khuất đến nhà vua, là sự giác ngộ của đức Phật đối với các phật tử. Vì chuông thiêng nên tự di chuyển đến chùa (chính là việc lăn chuông từ nơi đúc đến chùa, dùng sức đẩy thay sức khiêng giảm nhẹ rất nhiều), cũng vì thiêng nên chuông phải luôn gắn với đất và rùa. Trở lại ngôi chùa Một Cột, hình ảnh cây cột đá kỳ vĩ đội toà chùa, vọt lên ở giữa hồ nước còn có thể xem là cặp tượng Linga-Yoni hoành tráng, biểu thị sự trường tồn, sinh khí rộn bừng sức sống. Rất tiếc là cuối thời Nguyễn làm lại thu nhỏ nhiều lần, rồi tháng 9-1954 thực dân Pháp lại lén phá, sau khi tiếp quản thủ đô đã cho làm lại. Cột chùa ngày nay bằng xi măng cốt thép chỉ cao chừng 4m với đường kính 1,2m và ngôi chùa trên đầu cột mỗi cạnh cũng chỉ chừng 3m. Chùa nhỏ nhưng hình tượng bông sen vẫn giữ được và hoà hợp với cảnh trí cây xanh mang một vẻ đẹp duyên dáng. Sau chùa Một Cột từ năm 1958 còn được trồng cây bồ đề chiết từ cây mẹ mà đức Thích Ca đã tu thành Phật, do Tổng thống Ấn Độ Praxat tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Diện mạo Thăng Long thời Lý còn phải kể đến đền Đồng Cổ ở phố Thuỵ Khê thờ thần Trống Đồng. Trống Đồng là vật thiêng của dân tộc từ thời các Vua Hùng dựng nước đầu tiên, sau sự tìm huỷ của phong kiến phương Bắc trong thời gian chúng thống trị hơn ngàn năm, ngày nay chỉ còn giữ được rất ít. Năm 1996, Nhà nước ta đã đúc phục chế tặng Liên Hiệp Quốc nhân kỷ niệm 50 năm thành lập. Đền Đồng Cổ vốn ở Thanh Hoá, nhà Lý đã cho rước Thần về Thăng Long để thờ làm thần bản mệnh của triều đình, hàng năm tổ chức lễ tuyên thệ của các quan:"Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung thì thần minh tru diệt". Lời thề đề cao chữ hiếu trên cả chữ trung, có hiếu trong nhà mới trung giữ nước, tề gia tốt mới mong trị quốc giỏi. Trong đền lễ trọng thể, tất cả các quan văn võ phải thề hiếu trung trước thần vị Trống Đồng với sự chứng kiến của nhà vua. Ngoài đền thì trai thanh gái lịch mở hội tưng bừng. Lễ ở đây là hạt nhân của hội, lễ càng trọng thì hội càng vui, tất cả mới tạo sức sống mãnh liệt để tồn tại mãi về sau. Đền Đồng Cổ qua những biến thiên, dấu tích hiện còn cũng cơ bản thuộc lần làm lại ở thời Nguyễn, quy mô nhỏ nhưng hoà với phong cảnh cây xanh, có sông Tô đằng sau và Hồ Tây phía trước, là chứng tích của sự rèn luyện đạo đức gia đình và đạo đức xã hội, cùng xây dựng một nền văn hoá Việt Nam, nó thật truyền thống nhưng cũng rất hiện đại. Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xây dựng từ năm 1070, sau ít năm, đến 1076 đã tổ chức cuộc thi cấp cao đầu tiên của dân tộc. Lâu nay vẫn coi đây là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam, song thực ra nơi đây đào tạo và thi tuyển tiến sĩ vượt trội lên cấp cử nhân rất nhiều. Dấu tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám thời Lý không còn, nhưng các thời sau tu bổ vẫn khẳng định vị trí của trong không gian và trong lòng người, trong xã hội. Văn Miếu - Quốc Tử Giám ngày nay là thuộc những lần tu bổ ở thời Lê và thời Nguyễn, là cả một tổng thể có hồ Văn phía trước, có vườn hoa và nhà bia ở trong, có điện Đại Thành để bình văn và thờ Khổng Tử cùng Tứ Phối, có các dãy tả - hữu... vốn xưa thờ 72 học trò ngoan và giỏi của Khổng Tử. Phía sau Văn Miếu còn có khu vốn xa xưa là nhà Thái học đào tạo nhân tài cho cả nước, thời Nguyễn chuyển thành nhà Khải Thánh thờ bố mẹ Khổng Tử. Đầu kháng chiến bị thực dân Pháp phá tan, nay chúng ta đang dựng lại khang trang, xứng tàm nghìn năm Thăng Long - Hà Nội để thờ các danh nhân dân tộc, các vị vua hiền đã có công mở mang Văn Miếu - Quốc Tử Giám và việc học hành của dân tộc. Từ đây, ngọn đuốc văn hoá - giáo dục ngày càng thắp sáng và là ngọn đuốc truyền thống trí tuệ dân tộc truyền đời Diện mạo Thăng Long ban đầu qua thư tịch rất phong phú, xứng tầm một thành phố lớn thời trung cổ thế giới, thực sự là khí thế rồng bay của dân tộc, của vương triều, của hoàng đế. Gần nghìn năm biến đổi, dấu tích xưa còn lại quá ít ỏi, chỉ có thể hình dung với bức tranh phác hoạ, song thật rất quí. Hy vọng ngành khảo cổ sẽ dần từ lòng đất lấy ra những chứng cứ để bổ sung cho nó thêm đậm hơn, rõ hơn. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Trong Đại Việt sử ký toàn thư - Kỷ nhà Trần, Đức Trần Hưng Đạo lúc lâm chung, Ngài dặn lại vua Anh Tông - Đại ý: Nếu giặc đến ào ào như lửa cháy, đem quân hùng tướng mạnh sang cướp nước ta thì không sợ. Giặc dùng trường trận thì ta dùng đoản binh, tùy cơ ứng phó. Nhưng đáng sợ nhất là giặc không cần thắng nhanh, từ từ như tầm ăn rỗi. bề ngoài tỏ ra hòa hiếu, lấy lòng dân, nay lấn chỗ này, mai lấn chỗ khác. chờ lòng dân có biến thì sang chinh phục. Trường hợp này cần phải có tưởng giỏi, tùy cơ ứng biến mới chống lại được.... Đám - tạm gọi là "cộng đồng khoa học thế giới" (Mà đằng sau là những thế lực nào thì chưa biết) - tất nhiên đã nghiên cứu Việt sử rất kỹ. Bởi vậy, họ mới phát hiện ra rằng: Cội nguồn Việt sử - tức thời Hùng Vương - là một trạng thái khuyết sử rất quan trọng. Nhưng đó chính lại là niềm tin và sức mạnh tinh thần truyền thống của dân tộc Việt. Bởi vậy, họ đã nhân danh khoa học để phủ nhận. Cách người Trung Quốc ngày nay ứng xử giống như những điều mà Đức Thánh Trần đã tiên liệu. Nhưng ở đời này, các cụ nhà ta đã nói: "Mưu sâu thì họa cũng sâu". Sai lầm lớn nhất của Trung Quốc chính là đụng đến dân tộc Việt dù dưới bất cứ hình thức nào. Vâng, hoàn toàn đúng, có những cái vượt ra ngoài dự tính của một quốc gia, đặc biệt là đối với Việt Nam. Ví dụ, Philippin vừa mới cho các máy bay appaches ra đuổi tàu trung Quốc đang lởn vởn kiếm ăn gần Trường Sa, chưa kịp nhậu xong lại thấy cùng nhau bắt tay một cách hoan hỷ rồi. Nên nhớ Philippin cũng nằm trong khối ASEAN với Việt Nam. Philippin có một cái "vòng kim cô" to sụ, làm sao mà khá được, cho nên sẽ phải nhờ Việt Nam cho một câu "thần chú" để giải mới xong. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *