hoangnt
Hội viên-
Số nội dung
1909 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
6
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by hoangnt
-
đi tìm Thăng Long thành 1 (Dienbatn) THĂNG LONG THÀNH vẫn chưa được xác định. Nhiều cuộc tranh luận đã nổ ra, nhưng kết luận vẫn còn là một câu hỏi. Lật lại Lịch sử cả ngàn năm, trên đất Hà nội bây giờ đã trải qua nhiều thăng trầm biến đổi. Ta có thể thấy các Thành đã được xây dựng trên nền đất của Hà nội ngày nay bao gồm: Thành Vạn Xuân do Lý Nam Đế, rào lũy ở cửa sông Tô Lịch để chống quân xâm lược Trần Bá Tiên (545); Năm 602, nhà Tùy chuyển trụ sở đô hộ từ Long biên sang Tống bình là tên gọi của miền đất Hà nội thời nay; Tử Thành do Khâu Hòa (621); Thành Long Biên - Năm Điều Lộ thứ 1 (679); Tống Bình thành do Trương Bá Nghi (767) ; Thành Đại La do Cao Biền (867) dựng lên; Thành Thăng Long do Lý Công Uẩn dựng lên năm 1010; Và cuối cùng là Thành Hà nội ngày nay. Trên một vùng đất dày đặc di chỉ kiến trúc, chồng chéo lên nhau như thế, việc xác định chính xác vị trí của THĂNG LONG THÀNH quả thực là một vấn đề nan giải. Dựa theo thư tịch cổ còn sót lại đến ngày nay, chúng ta chỉ có tấm bản đồ thời Hồng Đức (1490) - Tức là 380 năm sau khi Lý Công Uẩn xây dựng thành Thăng Long Ngoài ra còn có một số bia đá và và một số di chỉ khắc trên đồng, thật là ít ỏi.
-
Những giải thích trên của Việt Dịch không phải cho thấy nội hàm của quẻ Tốn-Cấn dung nạp ý nghĩa “niềm vui nhỏ, là tin tức vui, là tình cảm, tình yêu, sự quí mến” hoặc “Niềm vui nhỏ, dịu dàng, mềm mỏng, vươn lên” mà LVĐT diễn giải về ý nghĩa của quẻ Tiểu Cát đó hay sao? Không phải những chữ “là tài sản hữu hình (tangible assets), là bất động sản. . . là tài sản cứng, . . là công cụ sản xuất, là vật dụng cứng (hardwares).” phản ảnh“nghề nghiệp. . . buôn bán . . . tiểu lợi . . . làm ăn” mà LVĐT diễn giải đó hay sao? Vấn đề được đặt ra là với sự thống nhất với nhau của hai bên từ vị trí của Tiểu Cát, cho đến ý nghĩa của quẻ Tiểu Cát, cho đến phương hướng, ngũ hành và độ số của cung Tiểu Cát nhưng lại hoàn toàn khác nhau về cặp quái nằm trong cung Tiểu Cát thì phải giải thích thế nào đây ??? Cũng giống như lập luận trước đây trong phần lý giải Bát Môn, có lẽ chúng ta có thể bàn là LVĐT đã dùng âm dương, ngũ hành và độ số chứ không vận dụng những quẻ trong HTBQ-LạcViệt để diễn giải ý nghĩa những chữ của Lục Nhâm, dầu rằng cấu trúc của HTBQ-LạcViệt đã được vận dụng để an vị 6 chữ của Lục Nhâm. Nếu đúng là như vậy thì ý nghĩa của nhóm “độ số-âm dương-ngũ hành” mà LVĐT vận dụng để diễn giải chữ Tiểu Cát của Lục Nhâm khế hợp hoàn toàn với quẻ Tốn-Cấn của Việt Dịch như đã cho thấy trong phần phân tích vừa qua. Điều này không có gì lạ vì tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của Tiểu Cát [điển hình là “Tiểu cát thuộc Mộc . . . về hướng là hướng Đông hoặc Đông Bắc. Về màu sắc là màu xanh lá cây. Về độ số là 3 và 8.”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Tiểu Cát cùng quẻ Tốn-Cấn trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Tiểu Cát thuộc “Tốn +3 Giáp” + “Cấn -8 Ất” hành Mộc hướng chánh Đông tới ĐB đóng ở Dần + Mão vị”]. Mà Việt Dịch thì dùng thuần 8 quái để giải. Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “+3 Giáp, hành Mộc, hướng chánh Đông” chính là chỗ đứng của quái Tốn và “-8 Ất, hành Mộc, hướng ĐB” chính là chỗ đứng của quái Cấn hay sao? Và nếu đúng là như vậy thì chẳng phải luận điểm của Việt Dịch về “tính bất khả ly giữa những phần tử trong một tập hợp “độ số- âm dương-ngũ hành-quái” lại càng thêm khả tín hay sao? Chưa hết, kết hợp phần luận giải hai quẻ Xích Khẩu và Tiểu Cát với phần luận hai quẻ chữ Sinh và Tử của Bát Môn chúng ta dễ dàng nhận ra là không có một khe hở nhỏ và từ đó mới thấy vị trí của hai quái Tốn và Chấn trong Việt Dịch Đồ quả thật là vô cùng thuyết phục. Bây giờ thì chúng ta có thể tuần tự xét đến 4 cung có sự thống nhất giữa ngôi sao 6 cánh của LVĐT và Việt Dịch Đồ: Đại An, Vô Vong, Tốc Hỉ và Lưu Niên. Cũng là sự thống nhất giữa HTBQ-LạcViệt và Việt Dịch Đồ về vị trí của 4 quái Càn, Khôn, Khảm, Ly. ĐẠI AN & VÔ VONG –Lạc Việt Độn Toán diễn giải “Đại an thuộc Dương Thổ, nghĩa là bình yên lớn. Tính chất chậm chạp nhưng chắc chắn, thuộc về tài sản là nhà đất lớn, là miếng đất hoặc vùng đất lớn, là nguồn lợi ổn định, chắc chắn. Về người là bậc quân tử chín chắn, nữ hiền hậu tính cách điềm đạm, là người đầy đặn, béo tốt. Về công việc là sự ổn định, là người làm tại nơi trung tâm, có quyền chức địa vị. Về nơi làm việc là cơ quan hoặc bộ phận quan trọng. Về bệnh liên quan đến dạ dày hoặc tỳ. Về phương vị là nơi trung tâm. Về màu sắc là màu vàng thổ. Độ số là 5.” Và “Vô vong thuộc Âm Thổ. Nghĩa là không được việc gì, hoặc không sao cả; là đất bỏ hoang. Về người là người vô tích sự, thất nghiệp. Gặp hạn thì hoá giải. Về màu sắc là màu vàng đất xỉn. Về phương vị là ở cạnh nơi trung tâm, ở phía dưới, là nền nhà. Về độ số là 10.” Giải thích này của LVĐT rõ ràng là qui hai quẻ Đại An và Vô Vong vào vị trí trung ương Mậu Kỷ, xác định bởi cụm chữ “dương thổ . . . độ số 5” và “âm thổ . . . độ số 10.” Làm sao LVĐT có thể qui hai quẻ Đại An và Vô Vong vào vị trí trung ương Mậu Kỷ??? Không phải điều này sẽ hoàn toàn phá vở chính cái nền tảng mà LVĐT đã dùng nó để chứng minh sự hợp lý trong việc phối 6 quẻ Lục Nhâm vào ngôi sao 6 cánh [cũng là HTBQ-Lạc Việt] hay sao? Không phải điều này sẽ hoàn toàn phá vở chính cái nền tảng mà LVĐT đã dùng nó để chứng minh sự hợp lý trong việc phối hợp Lục Nhâm với Bát Môn hay sao? Không phải điều này cũng sẽ phá vở luôn cả yếu tính nhất quán cần có trong sự thiết lập lý thuyết mà học giả NVTA đã nói tới hay sao?Trong một đoạn khác khi cứu xét 6 quẻ Lục Nhâm thì LVĐT có giải thích “Lưu Niên: Giữ lại thời gian. Biểu tương cho sự ngăn trở hiểm ác, âm mưu… Đây chính là hành thuỷ, vậy liên hệ với quẻ Khảm. Tốc Hỷ: Niềm vui đến nhanh. Biểu tượng cho sáng sủa, vẻ đẹp…Đây chính là hành Hoả,vậy liên hệ với quẻ Ly. Xích khẩu: Tranh chấp, cự cãi, lý luận, xung sát … Đây là thuộc tính của hành Kim, vậy liên hệ với Tốn – Đoài Tiểu Cát: Niềm vui nhỏ, dịu dàng, mềm mỏng, vươn lên….Đây là thuộc tính của hành Mộc. Vậy liên hệ với Cấn - Chấn. Như vậy tứ hành đã an vị . Còn hai quẻ nữa khởi đầu của vạn sự chính là Càn Khôn…liên hệ với: Càn – Đại An và Khôn – Vô vong.” Không phải đoạn giải thích này xác nhận là Đại An nằm ở Càn và Vô Vong nằm ở Khôn với cụm chữ “Càn - Đại An và Khôn – Vô Vong” hay sao? Mà khi đã xác nhận hai quẻ nằm trên trục Càn-Khôn thì độ số phải là 2 và 6 chứ làm sao có thể là 5 và 10 được? Rõ ràng là ở đây đã có một vướng mắc lớn!!. Và cũng rõ ràng là LVĐT đã chỉ sử dụng lý lẽ ngũ hành để mà phối vị trí của Lục Nhâm. Không có gì sai với việc vận dụng lý thuyết ngũ hành. Tuy nhiên, chỉ vận dụng ngũ hành mà bỏ đi tinh yếu của HTBQ-LạcViệt, theo nhận xét riêng của tác giả, thì đây là một sự việc rất đáng tiếc vì nó chính là lý do gây ra tất cả “lạng quạng” trong phần lập luận cho Lục Nhâm của LVĐT mà tác giả sẽ từ từ chứng minh cho thấy. Việt Dịch thì giải thích một cách khác. Đại An và Vô Vong chắc chắn là phải nằm trên trục Càn-Khôn vì tự ý nghĩa của hai chữ Đại An và Vô Vong đã đặt trên cơ sở luận lý “Trời tịnh thì yên [an]; Đất tịnh thì chết [vong]” của Dịch. Đúng như LVĐT đã nói, nó là hai quẻ khởi đầu của vạn sự. Và, đó không phải là lý do tại sao Lục Nhâm lại khởi độn từ vị trí của quẻ Đại An hay sao? Mà quẻ Đại An thì thuộc “Càn -6 Quý.” Trên Việt Dịch Đồ thì “Càn -6 Quý” lại nằm ở Tí vị của vòng ngoại giới, như cho thấy trong hình bên dưới. Tí vị không phải là nơi khởi đầu của vạn sự trong trời đất hay sao? LVĐT có nói “Xin lưu ý Dương Tịnh - Âm Động là lý thuyết căn bản được phục hồi từ Văn hiến Lạc Việt. Còn sách Hán thì ngược lại Dương Động - Âm Tịnh.” Theo Việt Dịch thì “Dương tịnh là an, Âm động là sống” và ngược lại “Dương động là nguy, Âm tịnh là chết.” Dương ở đây chỉ về trời, tức là ngôi Càn. Âm ở đây là chỉ về mặt đất, tức là ngôi Khôn. Dịch lý này vốn là ở cấp độ đại thể/ tổng thể trỏ vào môi trường tổng quát hay điều kiện vĩ mô. Dương “tịnh” có nghĩa là những hoạt động diễn ra trong “trạng thái bình thường” hay quân bình. Tịnh của ngôi Trời có nghĩa là vận hành trong điều kiện ổn cố, điều độ, hài hoà, an bình chứ không có nghĩa là không có cái gì xê dịch, động đậy. Như vậy, nó là sự tịnh trong ý nghĩa so sánh tương đối chứ không phải là vắng bặt, im lìm. Với Âm tịnh thì nghĩa chữ tịnh hoàn toàn khác với nghĩa chữ tịnh vừa nói. Tịnh của ngôi Đất có nghĩa là vắng bặt những hoạt động thể hiện sự sống, không thấy sự hiện hữu của những hoạt động có tính cách sống. Hay nói một cách khác là ngôi Đất đang vận hành trong điều kiện không hổ trợ cho sự sống, trong trạng thái đã hủy diệt hết sự sống, trong tình trạng đánh mất sự quân bình cần thiết cho sự sống và rớt vào bất ổn cao độ chứ không có nghĩa là không có cái gì xê dịch hay động đậy. Còn khi nói về những tiểu thể/ cá thể nằm bên trong tổng thể đó, tức là lý lẽ ở cấp độ vi mô, và trỏ vào hoạt động của những tiểu thể/ cá thể, tức hiện tượng vi diệu sinh hoá trên mặt đất, thì động là dương còn tịnh là âm. Cả dương và âm tức cả động và tịnh của tiểu thể/ cá thể đều là những biến dịch liên tục bên trong cái âm động và dương tịnh của đại thể/ tổng thể. Sự động tịnh của đại thể/ tổng thể không là cái chết sống của chính đại thể/ tổng thể, không gây ra cái chết sống cho chính đại thể/ tổng thể mà là gây ra cái chết sống của những tiểu thể/ cá thể nằm bên trong đại thể/ tổng thể đó. Và chính là cái Dịch lý trỏ vào đại thể đã được cổ nhân áp vào trục Càn-Khôn cho ra hai quẻ Đại An và Vô Vong. Việt Dịch giải thích “Càn là tượng không gian dương tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘không gian dương tính’ có nghĩa là ‘không gian mở,’ là ‘trống rỗng, thông thoáng,’ là ‘có thể chứa đựng,’ là ‘có thể làm giảm áp suất,’ là ‘có thể che’.” Chỉ cần bao nhiêu đó thôi cũng đủ để thấy là nội hàm của quẻ “Càn -6 Quý” hoàn toàn dung nạp ý nghĩa Đại An của Lục Nhâm. Nói một cách khác, nếu mở rộng diễn giải thì Việt Dịch sẽ giải thích thêm “Càn không những là không gian mở, thông thoáng mà còn là không gian quân bình, ổn cố, điều độ, hài hòa, an bình.” Như vậy cũng có nghĩa là quẻ Đại An và ý nghĩa quẻ Đại An của Lục Nhâm có tương quan chặt chẽ với quẻ Hưu và ý nghĩa quẻ Hưu của Bát Môn. Điều này cũng dễ hiểu vì cả hai đều thuộc quẻ “Càn -6 Quý” trên HTBQ của Việt Dịch và được giải thích bởi nội hàm của quẻ Càn. Và quẻ Đại An của Lục Nhâm lẫn quẻ Hưu của Bát Môn đều là quẻ cát tường. Việt Dịch cũng giải thích “Khôn là không gian âm tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘không gian âm tính’ có nghĩa là ‘không gian đóng,’ là ‘khép kín, chắn,’ là ‘đã chiếm dụng, không chứa thêm,’ là ‘có thể nâng đỡ, chở,’ là ‘có thể làm tăng áp suất’.” Chỉ cần bao nhiêu đó thôi cũng đủ để thấy là nội hàm của quẻ “Khôn -2 Đinh” hoàn toàn dung nạp ý nghĩa “Nguy” tức Vô Vong của Lục Nhâm. Nói một cách khác, nếu mở rộng diễn giải thì Việt Dịch sẽ giải thích thêm “không những là không gian đóng, khép kín, không chứa thêm, làm tăng áp suất mà còn là không hổ trợ sự sống, là đánh mất tính cách hài hòa, là rớt vào bất ổn cao độ, là hủy diệt sự sống, là nguy, là không xong, là đưa đường dẫn lối đến cái chết.” Quẻ Vô Vong của Lục Nhâm có liên hệ với quẻ Cảnh của Bát Môn vì cả hai đều là “Khôn -2 Đinh” trên HTBQ của Việt Dịch và ý nghĩa của chúng cùng được giải thích bởi nội hàm của quẻ Khôn. Nhưng quẻ Cảnh không phải là một quẻ xấu mà là một quẻ trung tính trong khi đó quẻ Vô Vong lại là một quẻ hoàn toàn xấu. Điều này không có gì là không hợp lý. Vì đối với Việt Dịch, bất cứ quẻ nào của Bát Quái cũng có đủ cả hai mặt tốt và xấu. Nếu không có đủ cả âm dương thì nó đã không là lý của dịch. Như vậy, quẻ Đại An của Lục Nhâm và quẻ Hưu của Bát Môn là hai quẻ rớt vào trường hợp vừa “cùng” vừa “đồng.” Còn quẻ Vô Vong của Lục Nhâm và quẻ Cảnh của Bát Môn thì rớt vào trường hợp tuy “cùng” mà “dị.” Hai cặp này lại nằm trên cùng một trục và đối xứng nhau qua trục. Đây cũng là nằm trong lý âm dương của dịch. Nếu nhìn sâu thêm một chút nữa thì chúng ta cũng sẽ nhận ra là trục Càn-Khôn trong Lục Nhâm mang đặc tính là một trục thuần tịnh. Vì Càn tịnh nên mới Đại An và vì Khôn tịnh nên mới Vô Vong. LƯU NIÊN & TỐC HỈ –Lạc Việt Độn Toán diễn giải “Lưu niên thuộc Thuỷ, nghĩa là giữ lại thời gian. Có tính hiểm độc, lừa dối, âm mưu, là mưu toan, là sự do dự, lo lắng. Thuộc về tài sản là thất thoát, phá sản. Thuộc về sự việc là trì trệ. Là công việc không chính danh, có tính phiêu lưu mạo hiểm, là phi pháp, phi đạo đức. Là chết chóc tai nạn. Về bệnh thì liên quan đến máu huyết hoặc thận. Về phương vị là phương Bắc hoặc Tây Bắc. Về màu là màu đen hoặc xanh dương. Về độ số là 1 và 6.” và “Tốc hỷ thuộc Hoả, nghĩa là sự vui vẻ, may mắn, là nhanh chóng, là tốt đẹp sáng sủa. Về người là quí nhân hay giúp đỡ người khác, là người thông minh, tài cao học rộng. Về công việc là chính danh, về học vấn là sự thành đạt, có học vị cao, là những dịch vụ phục vụ cho vẻ đẹp, cho nhu cầu tinh thần. Về hiện tượng là thuộc về văn hóa, giáo dục. Là người mang những giá trị tinh thần cao quí. Về bệnh liên quan đến tim hoặc tinh thần. Về màu sắc là màu đỏ, về phương vị là hướng Nam hoặc Đông Nam. Về độ số là 2 và 7.” Những giải thích này cho thấy Lưu Niên được quy vào hành Thủy với cả hai độ số 1 và 6 còn Tốc Hỉ thì được quy vào hành Hỏa với cả hai độ số 2 và 7. Làm sao LVĐT lại có thể gom cả hai quái Khảm và Càn vào cho Lưu Liên, xác nhận qua cụm “Về phương vị là phương Bắc hoặc Tây Bắc. Về màu là màu đen hoặc xanh dương. Về độ số là 1 và 6” ??? Làm sao LVĐT lại có thể gom cả hai quái Khôn và Ly vào cho Tốc Hỉ, xác nhận qua cụm “Về màu sắc là màu đỏ, về phương vị là hướng Nam hoặc Đông Nam. Về độ số là 2 và 7.” ??? Không phải là sự xác nhập như thế này sẽ phá vở cấu trúc của ngôi sao 6 cánh [cũng là HTBQ-LạcViệt] mà LVĐT đã nhờ vào nó để thiết lập chỗ đứng cho bộ môn độn toán của Lạc Việt hay sao? Hay nói một cách khác là nếu chấp nhận lý giải “có tất cả 2 độ số” cho mỗi quẻ của Lục Nhâm thì cái hình ngôi sao 6 cánh sẽ không còn đúng nữa mà phải đổi qua hình cái thánh giá 4 cánh cho 4 quẻ Xích Khẩu, Tiểu Cát, Lưu Liên, Tốc Hỉ còn trung tâm thì cho hai quẻ Đại An và Vô Vong. Rồi giữa Lục Nhâm và Bát Môn sẽ không còn sự liên hệ khắng khít nữa, mà sự khắng khít đó chỉ có thể thành lập qua HTBQ-LạcViệt. Có thật sự đây là chủ ý của học giả NVTA? Không thể nào! Vì nếu là chủ ý thì tại sao còn đưa ra hình ngôi sao 6 cánh? Như tác giả đã từng nói, lìa bỏ tinh yếu HTBQ của Lạc Việt để rồi chỉ dùng lý thuyết ngũ hành mà phân bố 6 quẻ của Lục Nhâm là một sai lầm. Nếu học giả NVTA không cố ý làm điều đó mà lại tự trói vào điều đó thì quả thật là có một sự “xẩy chân” trong tiến trình thiết lập lý thuyết cho LVĐT. Nó phá mất cái gọi là “khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách hoàn chỉnh, nhất quán . . .” Việt Dịch giải thích “Khảm là tượng năng lượng âm tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘năng lượng âm tính’ có nghĩa là ‘lạnh, trầm xuống, chảy tràn vào chỗ thấp, rung chuyển khi bên ngoài xúc chạm vào, tối tăm, nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ của môi trường, có thể làm giảm nhiệt, có thể hóa hàn, có thể làm đông lạnh, có thể làm tắt.’ . . . không những là thấm xuống, là chảy tràn vào chỗ thấp mà còn là nước, là dòng chảy . . . không những là năng lượng âm tính, là tối tăm mà còn là thâm hiểm, là ưu lự, là toan tính, là bày mưu, là nghĩ kế, là trí, là mưu trí, là làm kế hoạch, là đưa ra quyết sách, là thâm sâu, là cái vực, là uyên, là hiểu biết đến cùng cực, là lãm.” Nếu áp dụng nội hàm của “Khảm + 1 Nhâm” trong Việt Dịch để giải nghĩa chữ Lưu Liên của Bát Môn thì có lẽ nó sẽ được giải thích “Khảm không những là dòng chảy mà còn là trôi dạt, là lưu đày, là lưu nhậm, là đi xa; không những là dòng chảy mà còn là miên man, là liên tục, là miệt mài, là không dứt được, là quyến luyến, là giữ lại không cho đi, là ngăn trở; không những là thấm xuống, là chảy tràn xuống chỗ thấp mà còn là ứ đọng, là đình trệ, là trể nải. Tìm hiểu ý nghĩa của hai chữ Lưu Liên trong từ điển chữ Hán thì thấy Lưu Liên (a) 留連 là quyến luyến; (B) 留 còn lại, đợi dịp, lưu giữ, đình trệ; © 流 trôi dạt, lưu đày, dòng chảy. Còn trong từ điển chữ Nôm thì Lưu file:///C:/Users/User/AppData/Local/Temp/msohtml1/01/clip_image007.jpg Liên (a) là miệt mài, mê mết, không dứt được; (B) là dính chặt, không rời được (nói về tình cảm). Những giải thích nàycho thấy là nội hàm của quẻ Khảm trong Việt Dịch dung nạp ý nghĩa của chữ Lưu Niên ở mức độ rất cao. Quẻ Lưu Liên của Lục Nhâm và quẻ Khai của Bát Môn có liên hệ khắng khít vì cùng ở vị trí “Khảm +1 Nhâm” và cùng được giải thích bởi nội hàm của quẻ Khảm. Tuy nhiên Khai là quẻ cát tường trong khi Lưu Liên lại là quẻ xấu. Điều này không có gì lạ, vì như đã từng nói, trong Việt Dịch không có một quẻ nào trong Bát Quái có nội hàm hoàn toàn xấu hoặc hoàn toàn tốt. Thêm một lần nữa chúng ta thấy sự thể hiện của cái gọi là “cùng mà không đồng” trong dịch lý. KẾT HỢP BÁT MÔN LỤC NHÂM TRÊN CƠ SỞ VIỆT DỊCH ĐỒ VÀ CƠ SỞ BÁT QUÁI LẠC VIỆT Sự khác biệt căn bản giữa Việt Dịch và LVĐT không nằm ở cấu trúc tổng quát, cũng không nằm ở lý giải ý nghĩa của các cung, mà nằm ở sự khác biệt giữa HTBQ-LạcViệt và HTBQ trong Việt Dịch Đồ của Việt Dịch. Sự khác biệt đó chỉ nằm vỏn vẹn trong 3 quái Tốn, Đoài và Chấn. Đúng sai, sâu cạn đã được phân tích rồi và cần được đánh giá bởi những học giả khác. Theo ý kiến riêng của tác giả, khái niệm điên đảo dịch của LVĐT là một khái niệm rất sáng tạo và độc đáo. Nhưng có phải chăng chính sự sáng tạo và độc đáo đó mà nó đã che khuất những bất cập còn ẩn ở bên trong một lý thuyết?? Khái niệm kết hợp Bát Môn và Lục Nhâm để thành lập phương pháp độn toán Lạc Việt mang tên LVĐT là một khái niệm tuyệt vời và là một khám phá không thể coi thường. Việt Dịch Đồ của Việt Dịch, với hai vòng vận hành ngược chiều nhau, đã chứng minh sự kết hợp như vậy là có cơ sở [quý vị có thể tìm đọc cuốn Việt Dịch của Hà Hưng Quốc để phối kiểm lại giá trị của câu phát biểu này]. Tác giả tuyên dương công lao này của học giả NVTA. Không có LVĐT của ông chưa chắc đã có bài viết này và những khám phá bổ ích ngày hôm nay. Và, dưới ánh sáng của những gì đã được phân tích thì chúng ta có thể khẳng định là Việt Dịch Đồ nói riêng và Việt Dịch nói chung có một khả năng dung nạp cao độ đối với Bát Môn và Lục Nhâm. Không phải chỉ có vậy mà thôi, qua nghiên cứu này chúng ta còn thấy Việt Dịch Đồ dường như có khả năng giải quyết những bất cập trong nhiều lãnh vực lý học mà từ lâu rồi chưa thể giải quyết được. Chỉ là dường như thôi. Nếu đã chấp nhận sự kết hợp của Bát Môn và Lục Nhâm là có cơ sở và được hổ trợ bởi tinh yếu của Việt Dịch thì, trên cơ sở của Việt Dịch Đồ, vòng vận hành của Bát Môn và Lục Nhâm phải tuân thủ quy luật vận hành của Việt Dịch Đồ. Nói một cách khác là 8 cửa của Bát Môn phải được an và bấm độn thứ tự trước sau theo vòng của chiều kim đồng hồ, khởi từ Sinh môn nằm ở Dần vị, còn 6 quẻ của Lục Nhâm phải được an và bấm độn thứ tự trước sau theo chiều ngược kim đồng hồ, khởi từ Đại An nằm ở Tí vị, như đã được trình bày trên Việt Dịch Đồ. Còn tại sao Bát Môn khởi từ Sinh môn và ở Dần vị và tại sao Lục Nhâm khởi từ quẻ Đại An ở Tí vị thì đã được giải thích tường tận ở trên. Xin lưu ý một điều là tuy một cái thì theo chiều kim đồng hồ còn một cái theo chiều ngược kim đồng hồ nhưng cả hai đều là thuận hành cả. Hãy thử dùng bàn tay trái để bấm độn Bát Môn. Chỗ khởi đầu là ngay lóng gốc của ngón trỏ [Dần vị] rồi từ đó đi lên lóng giữa của ngón trỏ -> lóng ngọn của ngón trỏ -> qua lóng ngọn của ngón giữa -> qua lóng ngọn của ngón đeo nhẫn -> xuống lóng giữa của ngón đeo nhẫn -> xuống lóng gốc của ngón đeo nhẫn -> rồi qua lóng gốc của ngón giữa, tức là đi vòng theo chiều kim đồng hồ. Thử dùng bàn tay phải để bấm độn Lục Nhâm. Chỗ khởi đầu là ngay lóng gốc của ngón trỏ rồi từ đó đi lên lóng ngọn của ngón trỏ -> qua lóng ngọn của ngón giữa -> qua lóng ngọn của ngón đeo nhẫn -> xuống lóng gốc của ngón đeo nhẫn -> rồi qua lóng gốc của ngón giữa, tức là đi vòng theo chiều ngược kim đồng hồ. Nó không khó để chúng ta nhận ra là cả hai đều là thuận hành phải không? Bây giờ hãy đặt bàn tay phải lên trên bàn tay trái và trong đầu hãy “chuyển” những vị trí của Lục Nhâm từ bàn tay phải qua bàn tay trái. Rồi thì, thử dùng duy nhất bàn tay trái để bấm độn cho cả hai. Bát Môn thì vẫn y như cũ còn Lục Nhâm thì cần điều chỉnh, có đúng không? Chỗ khởi đầu cho Lục Nhâm là ngay lóng gốc của ngón đeo nhẫn rồi từ đó đi lên lóng ngọn của ngón đeo nhẫn -> qua lóng ngọn của ngón giữa -> qua lóng ngọn của ngón cái ->xuống lóng gốc của ngón cái -> rồi qua lóng gốc của ngón giữa, tức là đi vòng theo chiều ngược kim đồng hồ. Sự điều chỉnh này không khác nào đem bàn tay phải đặt trên bàn tay trái [cả hai đều lật ngửa] để nhập Bát Môn và Lục Nhâm lại trên cùng một bàn tay. Như vậy thì Đại An sẽ nằm ở lóng gốc của ngón đeo nhẫn [Tí vị], Xích Khẩu nằm ở lóng ngọn của ngón đeo nhẫn, Tốc Hỉ nằm ở lóng ngọn của ngón giữa, Vô Vong nằm ở lóng ngọn của ngón trỏ, Tiểu Cát nằm ở lóng gốc của ngón trỏ, và Lưu Niên nằm ở lóng gốc của ngón giữa, giống như hình Bàn Tay Lục Nhâm theo Việt Dịch Đồ cho thấy bên dưới. Vị trí của 6 quẻ trên hình Bàn Tay Lục Nhâm an theo Việt Dịch Đồ hoàn toàn giống với vị trí của 6 quẻ trên ngôi sao 6 cánh Lục Nhâm của LVĐT. Hay nói một cách khác là Việt Dịch Đồ hoàn toàn dung nạp cách an Lục Nhâm của LVĐT. Việt Dịch giải thích “Ly là tượng năng lượng dương tính. . . . không những là năng lượng dương tính mà còn là sinh lực dương tính, là sức sống thể hiện, là giai đoạn thai nhi lớn nhanh trong bụng mẹ, là giai đoạn con gái lớn nhanh trong vòng tay mẹ, là giai đoạn trước khi làm mẹ, là trung nữ, là con gái giữa, là hậu bối bên mẹ, là tánh khí sôi nổi, là sự hưng phấn, là bồng bột, là nhiệt tình, là hăng hái, là chân tình, là hiến dâng, là con tim, là tạng tâm; không những là năng lượng dương tính mà còn là năng lượng thanh nhẹ, là nguyên thần, là lễ nghi [nguyên thần là gốc của của lễ nghi, nhiệt tình]; không những là nóng, là tỏa sáng mà còn là nhan sắc đẹp sáng, là phong cách nóng bỏng, là gợi cảm, là hấp dẫn, là quyến rũ. . .” Nội hàm của chữ Ly trong Việt Dịch mô tả dạng-thể-tính-trạng-hành của “năng lượng dương tính” trong thế giới vi diệu sinh hóa. Nếu áp dụng nội hàm của quẻ Ly để diễn giải chữ Tốc Hỉ của Lục Nhâm thì Việt Dịch cũng sẽ nói “Tốc Hỉ là nhanh chóng, là điều vui, là sự sáng, là quới nhân giúp đỡ, là việc tốt lành.” Những giải thích này cho thấy là nội hàm của quẻ Ly trong Việt Dịch dung nạp ý nghĩa của chữ Tốc Hỉ ở mức độ rất cao. Quẻ Tốc Hỉ của Lục Nhâm và quẻ Đỗ của Bát Môn có liên hệ khắng khít vì cùng ở vị trí “Ly +7 Bính” và cùng được giải thích bởi nội hàm của quẻ Ly. Quẻ Tốc Hỉ của Lục Nhâm lẫn quẻ Đổ của Bát Môn đều là quẻ cát tường. Như vậy, quẻ Tốc Hỉ của Lục Nhâm và quẻ Đỗ của Bát Môn là hai quẻ rớt vào trường hợp vừa “cùng” vừa “đồng.” Còn quẻ Lưu Liên của Lục Nhâm và quẻ Khai của Bát Môn thì rớt vào trường hợp tuy “cùng” mà “không đồng.” Hai cặp này lại nằm trên cùng một trục và đối xứng nhau qua trục. Đây cũng là nằm trong lý âm dương của dịch. Tóm lại, qua những phân tích vừa rồi chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy Việt Dịch Đồ sẵn sàng và hoàn toàn dung nạp 6 chữ của Lục Nhâm cũng như dung nạp diễn giải của LVĐT về 6 chữ đó. Cũng không khó để chúng ta nhận thấy Việt Dịch Đồ khế hợp với cấu trúc của Lục Nhâm một cách hoàn hảo, và có thể khẳng định là hoàn hảo hơn Hà Đồ Bát Môn của Lạc Việt. Tuy nhiên có một điều tác giả vẫn không thể hiểu là vì sao mà vị trí của 6 quẻ trên hình Bàn Tay Lục Nhâm theo tinh yếu của LVĐT lại không khế hợp với chính ngôi sao 6 cánh Lục Nhâm [Hậu Thiên Bát Quái Lạc Việt] cũng là tinh yếu của LVĐT. Xem hai hình bên dưới. Có phải chăng vì muốn giữ nguyên cách bấm độn được lưu hành ngoài nhân gian??? Chính học giả NVTA đã xác nhận là đã có nhiều phiên bản lưu hành. Mà khi đã có nhiều phiên bản lưu hành thì độ khả tín của tất cả phiên bản cần được cứu xét thật kỷ để gạn lọc. Lấy gì để cứu xét và gạn lọc, nếu không phải là dựa vào những tinh yếu của LVĐT? Lìa bỏ tinh yếu để chấp nhận một phương pháp bấm độn lưu hành thiếu khả tín mà không có sự giải thích thoả đáng chẳng phải là một sự dễ duôi có thể gây sai lầm nghiêm trọng hay sao? Học giả NVTA cũng có nói là “còn một dị bản thứ ba khác là các cung Đại An, Tốc hỷ, Tiểu cát bị lệch sang phải và thay chỗ cho nhau.” Dòng chữ ngắn ngủi này có thể là một đầu mối quan trọng cho thấy cái “lệch sang bên phải” của quẻ Đại An rất có thể là bằng chứng cho thấy cách an quẻ và bấm độn của phiên bản đó là có cơ sở vì nó giống với cách an và bấm độn theo tinh yếu của Việt Dịch Đồ. Sự lọng cọng, bất nhất giữa ngôi sao 6 cánh Lục Nhâm của LVĐT và Bàn Tay Lục Nhâm của LVĐT là vấn đề của Lạc Việt Độn Toán. Sự bất cập này của LVĐT chỉ làm suy yếu chính luận thuyết của LVĐT chứ không làm suy yếu những bằng chứng về khả năng dung nạp của Việt Dịch đối với LVĐT. KẾT LUẬN Với Việt Dịch thì vấn đề truy cứu khả năng dung nạp của nó đối với Bát Môn và Lục Nhâm một cách riêng lẽ hay một cách tổng hợp đã được xác định rất rõ ràng. Đó là, Việt Dịch không những có khả năng dung nạp Bát Môn và Lục Nhâm một cách toàn vẹn mà còn có khả năng kết hợp Bát Môn và Lục Nhâm thành một, một cách khít khao, dựa trên tinh yếu của Việt Dịch Đồ. Và, chỉ có Việt Dịch Đồ mới có thể cho được một sự giải thích thực sự hợp lý vì sao Bát Môn và Lục Nhâm có thể kết hợp với nhau. Không những vậy, tinh yếu của Việt Dịch Đồ còn chứng minh cho thấy sự hợp lý trong cách bấm độn Bát Môn và Lục Nhâm. Bát Môn khởi từ Sinh môn, ở Dần vị, và chuyển dịch theo chiều kim đồng hồ. Lục Nhâm khởi từ Đại An, ở Tí vị, và chuyển dịch theo chiều ngược kim đồng hồ. Sau cùng, như bài viết này cho thấy, tinh yếu của Việt Dịch Đồ dường như còn có khả năng giải quyết những bất cập trong nhiều lãnh vực lý học đông phương mà từ lâu rồi chưa thể giải quyết được. Có đúng như vậy hay không thì còn phải chờ xem. Hết. Lấy quẻ theo Hậu Thiên. Lấy quẻ theo Hậu Thiên tức là căn cứ vào vạn vật đã được qui ly theo Biều tượng Bát quái. Nghĩa là dựa vào hình tướng cụ thể của sự vật, sự việc hay hiện tượng đã được qui nạp vào quái Tượng, khác với lấy quẻ theo Tiên Thiên là dựa vào số năm tháng ngày giờ tự nhiên. Phương vị để xác định Quái Tượng không phụ thuộc theo phương vị từ trường trái đất. Con người là trung tâm để xác định phương vị. Chính vì vậy mà tiền nhân đã qui ước họa đồ Hậu Thiên Bát Quái : quái Ly luôn ở phía trên, là hướng trước mặt người độn quẻ; quái Khảm luôn ở phía dưới, là hướng sau lưng người độn quẻ; quái Chấn luôn ở phía trái, là hướng từ tay trái lại; quái Đòai luôn ở phía phải, là hướng từ tay mặt lại. Vậy là người độn quẻ luôn ở cung trung, là chiếc la bàn di động. Sau này có nhiều người chưa hiểu vì sao tiền nhân lại an quái Ly lên trên, còn quái Khảm ở dưới. và họ liền đổi lại cho tiện theo phương vị cố định trái đất đã được các nhà khoa học thống nhất hướng Bắc lên trên. Gia nhân tôi không đồng tình với cách an Quái tượng theo bản đồ hiện đại. Mỗi một người là một tiểu vũ trụ có đầy đủ Bát quái, đủ âm dương ngũ hành. Ưu điểm của độn quẻ theo Hậu thiên không bị phụ thuộc vào thời gian và không gian. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Giải Mã điều 'thần Bí' Trên Bầu Trời Việt Nam
hoangnt replied to wildlavender's topic in Giải Trí - Chuyện Lạ
Kỳ diệu bức ảnh chụp đám mây hình rồng 30/07/2010 22:55 (GMT+7)Kích cỡ chữ: Hai ngày qua, cư dân mạng xôn xao vì tấm ảnh một đám mây hình con rồng, được cho là chụp ở gần chùa Huê Nghiêm II (đường Lương Định Của, quận 2, TP HCM) vào ngày 20-7. Đám mây hình rồng đẹp kỳ lạ Anh Nguyễn Thành Chiến, tác giả bài viết về tấm ảnh đám mây hình rồng đăng trên website colong.deco.vn cho biết, tấm ảnh này do người quen của bạn anh chụp được và truyền cho nhau bằng bluetooth. Khi nhìn lên bầu trời thấy hình đám mây kỳ lạ, người bạn này hết sức kinh ngạc, vội vàng lấy điện thoại di động chụp lại. Tuy nhiên, vừa chụp xong thì đám mây tan mất, không kịp quay clip. Theo anh Nguyễn Thành Chiến, xế chiều ngày 20-7-2010 - thời khắc chụp bức ảnh - TP. HCM đang có sấm chớp dữ dội, nhiều luồng sét dài cuối đường chân trời. Giữa lúc đó thì xuất hiện đám mây có hình một con rồng dài uốn lượn trên bầu trời. Trong bài viết của mình, anh Chiến “xuýt xoa”: Thật sự tôi không thể tin nổi có đám mây kỳ diệu đến như thế này! Hình ảnh chụp từ điện thoại di động, đảm bảo thật 100%. Và đây là bức ảnh có một không hai! Đám mây được hình thành trên đỉnh chùa Huê Nghiêm (chùa đang được xây dựng rất cao). Chùa Huê Nghiêm II - nơi được cho là có đám mây hình rồng xuất hiện Hiện anh Chiến đang tìm hiểu thêm các thông tin về tấm ảnh và hi vọng sẽ tìm được những tấm ảnh chụp đám mây trên ở những góc độ khác. -
Cuộc hội tụ Văn Lang 10:16 | 15/04/2005 Trong “Ðại Việt sử lược", bộ chính sử cổ nhất còn giữ lại được đến nay, ở phần ghi chép về sự xuất hiện của Tiên Tổ Vua Hùng và thời đại Hùng Vương có câu: "Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văn Lang". Chỉ ngần ấy chữ thôi, mà ghi lại rành rẽ: Một quốc gia và kinh đô đã ra đời. Trong áng thiên cổ hùng văn "Bình Ngô đại cáo", thiên tài Nguyễn Trãi đã có câu: "Nước Ðại Việt ta, vốn xưng nền văn hiến đã lâu". Ở câu bất hủ - công bố lần đầu tiên vào đầu năm 1428 ấy, quốc gia (và quốc hiệu) Ðại Việt chưa có tên kinh đô là Ðông Kinh. Ðô hiệu này, đến năm 1430 mới chính thức đặt định. Vì thế, sự thể cả quốc gia lẫn kinh đô đất nước và dân tộc ta, ở thời đại Tiên Tổ Vua Hùng, đều chung một tên Văn Lang, trước hết, có và biểu thị ra thành một ý nghĩa đặc sắc và độc đáo, thật lớn, đó là: Hội tụ! Sử sách xưa, từ "Ðại Việt sử lược" (khuyết danh) đời Trần, đến "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi, "Ðại Việt sử ký toàn thư" của Ngô Sĩ Liên... đời Lê, đều nói đến và kể thêm 15 "bộ" hoặc "bộ lạc" mà Vua Hùng đã hợp nhất thành nước Văn Lang. Trong số này, "bộ gọi (tên) Văn Lang, là nơi Vua đóng đô". Ấy là lời sách "Ðại Việt sử ký toàn thư". Như thế, về mặt địa bàn và nguồn lực, cuộc hội tụ lớn để dựng nước đầu tiên, là dựa trên và xoay quanh một "hạt nhân cơ bản", làm nơi chốn mạnh và thuận nhất, để vận hành sự nghiệp trọng đại. Ðó chính là "bộ" đất gốc của người quân trưởng bộ lạc, trước khi trở thành quân trưởng quốc gia - Vua Hùng. Tên nước trùng với tên đất gốc, quốc hiệu và đô hiệu đều là Văn Lang, chính bởi vì lẽ đó. Cuộc hội tụ Văn Lang của Vua Hùng chỉ nhận diện được qua và bằng chữ nghĩa ở các giấy tờ, văn bản cổ, là như thế. Nhưng chính là, cuộc kiếm tìm và tìm thấy những bằng cứ khảo cổ học trên địa bàn nước Văn Lang Xưa - công phu tâm huyết và đều đặn liên tục, mấy chục năm qua - đã chứng minh và cho thấy những hình ảnh phong phú sinh động, cụ thể và vật thể của sự nghiệp hội tụ Văn Lang kỳ diệu này. Bảy mươi nhăm năm trước, qua việc đào bới ở di chỉ và mộ địa Ðông Sơn (Thanh Hóa) và nghiên cứu một số cổ vật đồng trong "sưu tập D'Argence" (tìm được ở Hà Tây...), người ta chỉ mới bắt đầu nói đến thuật ngữ và thực thể "Văn hóa Ðông Sơn", như là hình ảnh và di tồn của một "thời đại đồng thau ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ" như nhan đề một luận văn của học giả Victor Golubev thuộc Trường Viễn Ðông Bác Cổ. Nhưng đến nay thì, với hơn ba trăm di tích được phát hiện, hàng vạn cổ vật được nghiên cứu, trong đó, đặc biệt là hơn hai trăm chiếc trống đồng (loại I Heger) và hàng nghìn mẫu hoa văn trang trí trên đồ gốm, đã có thể nhận ra đâu là "Ðông Sơn miền núi", đâu là "Ðông Sơn sông Hồng", thế nào là "Ðông Sơn sông Mã", thế nào là "Ðông Sơn sông Cả" - những loại hình địa phương của nền văn hóa khảo cổ học Ðông Sơn nổi tiếng ở thiên niên kỷ I trước Công Nguyên, tức những hình ảnh cụ thể và vật thể của một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng. Chiếc trống đồng quý, tìm thấy ở bờ sông Ðà (Hòa Bình) có thể được đúc không to bằng chiếc trống đồng đào lên được từ dưới chân núi Hùng (Phú Thọ), chiếc trống đồng trong ngôi mộ ở Làng Cả (Nghệ An) có thể ít hoa văn hình chim mỏ dài hơn chiếc trống đồng Mả Tre được phát hiện dưới chân tường thành Cổ Loa (Hà Nội)..., nhưng tất cả đều có hình mặt trời tỏa sáng ở giữa mặt trống, đều có kết cấu ba phần hoàn chỉnh theo mô hình vũ trụ "ba tầng - bốn thế giới" của người Việt cổ, được bảo lưu trong lễ ca, sử thi "Ðẻ đất đẻ nước"... Ðấy là hình ảnh của tiến trình "Ðông Sơn hóa" những sắc thái địa phương của nền văn hóa khảo cổ học này ở thiên niên kỷ I trước Công Nguyên. Và đến lượt mình, cuộc hội tụ Ðông Sơn này cũng chính là hình ảnh của sự nghiệp Hội tụ Văn Lang của Tiên Tổ Vua Hùng ở thời đại Hùng Vương. Ðấy là hình ảnh và chứng tích của cuộc hội tụ theo chiều ngang không gian, trên bình tuyến một "lát cắt ngang" thời gian dày đến một nghìn năm: thiên niên kỷ I trước Công Nguyên. Nhưng ta vẫn còn thấy, theo chiều dọc thời gian, một cuộc hội tụ nữa, để thành những loại hình địa phương, để rồi chúng sẽ cùng nhau hội tụ theo chiều ngang mà thành Ðông Sơn, thành Văn Lang. Ðó là, nhờ chủ yếu nhận ra những mẫu đề hoa văn tuyệt đẹp trên đồ gốm, có tuổi thiên niên kỷ II trước Công Nguyên, lại được tái hiện trên đồ đồng cùng đồ gốm ở thiên niên kỷ I ngay sau đấy, mà biết được, trong vòng hai thiên niên kỷ, đã có sự hội tụ dọc từ "văn hóa Phùng Nguyên" xuống (và thành) "loại hình sông Hồng" của văn hóa Ðông Sơn; từ các "nhóm di tích Cồn Chân Tiên", "Hoa Lộc"... xuống (và thành) "loại hình sông Mã" của văn hóa Ðông Sơn; từ "nhóm di tích Ðền Ðồi", "Rú Trăn", văn hóa Thạch Lạc... xuống (và thành) "loại hình sông Cả" của văn hóa Ðông Sơn. Vậy là dọc rồi ngang, cuộc hội tụ Ðông Sơn, hội tụ Văn Lang, thấy được qua hiện thực và tài liệu khảo cổ học, thật sự là một cuộc đan kết rất dày công phu kỳ tích, do đó mà thật lớn lao, trọng đại. Lại chuyển xem đến một hình thức (và cuộc) hội tụ cực kỳ đặc sắc, thuộc thế giới tâm linh, trong lịch sử tín ngưỡng của người xưa, ở Ðền Hùng trên núi Hùng, thì thấy: Tất cả các ngai thờ chính trên đền, các bài vị đều mang hàng chữ tên Thánh là: "Ðột ngột cao sơn - Cổ Việt Hùng thị thập bát thế truyền " (Núi non cao ngất, họ Hùng truyền mười tám đời nước Việt cổ). Rõ ràng, vị thần tối linh thiêng được thờ ở đây, không phải là một, mà theo lớp lang cấu trúc nên thần (và tên thần), thì trước hết, đó là Thần Núi, tiếp theo (sau đó) mười tám đời Vua Hùng mới được tích hợp vào. Thiên thần (thần tự nhiên, thần núi) hội tụ cùng nhân thần (Hùng Vương), đúng hơn: Tổ Tiên Vua Hùng hòa nhập cùng thần linh non sông đất nước, làm nên một chỉnh thể thiêng liêng, tôn quý - đó là một cuộc hội tụ trong tâm tưởng, tâm linh, của (và trải qua) bao thế hệ con dân nước Việt, mới thành (và có) được. Chính là từ chỗ này mà, qua (và bằng) thiên tài phát hiện - tổng kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một cuộc hội tụ của hai nhiệm vụ - sự nghiệp lịch sử và truyền thống, xuyên thế hệ và thời đại, là dựng nước và giữ nước, đã được trình lên Tiên Tổ Vua Hùng, ở Ðền Hùng trên Núi Hùng, vào (và từ) năm 1954, đồng thời nói cùng đồng bào, chiến sĩ để ra sức thực hiện, và thực hiện thành công: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Cuộc hội tụ lớn nhất, trong thời hiện đại, là cuộc hội tụ này. GS Lê Văn Lan (Nguồn: ND Chúng ta có các nhận xét tiếp theo:- Khả năng một Trung tâm đóng ở Bắc Việt Nam vẫn quản lý được quốc gia vào thời thượng cổ - các vua Hùng. - Cùng với tên gọi Văn Lang là tên nước cũng như tên 1 bộ trong 15 bộ cho ta thấy một ý nghĩa đặc biệt như trên. - Kinh dịch quẻ___: cho ta nhận định có thể tại Quảng Đông, vua lui quân về đất Quảng Tây và xuất hiện Thánh Gióng (Đền thờ Ngài chắc phải còn bên Trung Hoa). - Vùng phát xuất trống đồng loại có mật mã về Dịch Học là từ Bắc Việt Nam, sau khi đã so sánh hầu hết trống đồng với Trung Hoa và cả thế giới. Riêng Quảng Tây vẫn còn tôn thờ trống đồng. Vị thế Quãng Tây nằm giữa nước Văn Lang, có các dãy núi ngăn cản khí lạnh từ phương Bắc tràn xuống cũng có lợi địa thế xây đô thành. - Bắc Việt Nam tràn ngập đình, đền, miếu... thờ các vua Hùng và tướng lĩnh. - Hai Bà Trưng thống nhất Văn Lang nhưng cũng quay trở về đóng đô tại Bắc Việt. Cho tới An Dương Vương cũng thế. So sánh, nhận định và xâu chuỗi xuyên suốt các vấn đề: Hoàn toàn khẳng định Nước ta chính là trung tâm của nước Văn Lang: Bắc giáp Động Đình Hồ, Nam giáp Hồ Tôn, Tây giáp Ba - Thục và Đông giáp Nam Hải. Thủ đô chính là thành Thăng Long bây giờ, trước kia tên gọi cổ thời Văn Lang là Phượng Thành. Trong đó, nơi vua ngự trên ngai vàng triều chính được gọi là điện Kim Loan hay chính là trái tim của Phượng Thành vậy. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Bát Môn, Lục Nhâm và Lạc Việt Độn Toán dưới lăng kính Việt Dịch Hà Hưng Quốc Trong tác phẩm Lạc Việt Độn Toán, học giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã viết “Một phương pháp hoặc một lý thuyết khoa học được coi là đúng thì phải có tính hệ thống, tính nhất quán, tính quy luật, tính khách quan và có khả năng tiên tri. [Đây là] Tiêu chí khoa học. Tri thức khoa học hiện đại thừa nhận tiêu chí khoa học này. . . Một lý thuyết khoa học được coi là đúng, phải có khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách hoàn chỉnh, nhất quán, thể hiện được tính khách quan, tính qui luật và khả năng tiên tri. . . . Một lý thuyết khoa học mới phải dung nạp được những lý thuyết khoa học trước đó phản ánh những qui luật thực tại đã được thừa nhận.” Tựa trên cơ sở này để xét toàn bộ nội dung của Việt Dịch thì có thể nói rằng rõ ràng là Việt Dịch đã cho thấy khả năng giải thích một cách hợp lý hầu hết những vấn đề liên quan đến nó một cách hoàn chỉnh, nhất quán, thể hiện được tính khách quan, tính qui luật và khả năng dự đoán. Việt Dịch cũng cho thấy nó có khả năng dung nạp những lý thuyết có trước nó. Thí dụ như thuyết âm dương, bát quái và ngũ hành. Điều này không lạ vì Việt Dịch vốn được cấu thành trên nên tảng tổng hợp của những lý thuyết này. Đi xa hơn một chút, Việt Dịch có thể dung nạp Chu Dịch. Điều này cũng không có chi lạ. Sáu mươi bốn quẻ của Chu Dịch chỉ nằm ở tầng thứ hai của Việt Dịch, còn Việt Dịch là một hệ thống bao hàm từ tầng thứ nhất cho tới tầng thứ tám.[1] Khả năng tiên tri của Chu Dịch được thừa nhận từ nhiều năm. Nhưng, Chu Dịch có phải là một lý thuyết khoa học hay không thì không dám nói. Việt Dịch cũng có khả năng dự đoán rất cao nhưng nó có phải là một lý thuyết khoa học hay không thì không phải là điều tác giả quan tâm. Điều mà tác giả quan tâm là muốn nghiệm chứng sâu rộng hơn khả năng dung nạp của Việt Dịch đối với những môn khác của lý học đông phương, như học giả NVTA đưa ra “khả năng tiên tri của các phương pháp dự báo thuộc Lý học Đông phương cổ phải phản ánh một qui luật nào đó của vũ trụ, tính khái quát càng lớn chứng tỏ tính quy luật càng rất bao trùm.” Chính vì động lực muốn biết về khả năng dung nạp của Việt Dịch cho nên lần này tác giả nhắm vào những bộ môn mà khả năng tiên tri của chúng đã được xác định, ít ra là thỏa đáng theo cách đánh giá của học giả NVTA. Và một bộ môn được nói đến nhiều nhất trong cộng đồng nghiên cứu Lý Học Đông Phương là môn Lạc Việt Độn Toán, một công trình được cho là “phục hồi di sản cổ Việt” của học giả NVTA. Tại sao lại chọn Lạc Việt Độn Toán? Vì nó là con đẻ của học giả NVTA. Thực tình mà nói thì tác giả chọn Lạc Việt Độn Toán làm đối tượng nghiên cứu không ngoài hai lý do. Thứ nhất là vì tác giả thấy có hứng thú với những công trình của vị học giả này cũng như với tất cả những gì liên quan đến nguồn gốc cổ Việt. Và, thứ hai, vì dự cảm là Bát Môn và Lục Nhâm có một sự liên hệ mật thiết với Việt Dịch. Liên hệ thế nào với Việt Dịch là điều mà chúng ta đang hướng tới trong bài viết này. Nhưng trên tiến trình hướng tới sự khám phá đó thì chúng ta cần phải điểm qua một số thông tin về Lạc Việt Độn Toán để rồi từ nền tảng này chúng ta sẽ đặt Việt Dịch cạnh bên để thử xem Việt Dịch có giải thích được Bát Môn, Lục Nhâm, và Lạc Việt Độn Toán. Để tránh những lỗi lầm không cần thiết, tác giả sẽ cố gắng trích nguyên văn của học giả NVTA trong việc cung cấp thông tin về Lạc Việt Độn Toán.[2] LẠC VIỆT ĐỘN TOÁN: KHÁI LƯỢC Nói về công trình của mình, học giả NVTA đã viết: “Tôi không tự cho mình là người sáng tạo ra môn Lạc Việt độn toán. Mà chỉ là người phục hồi lại môn này và những nguyên lý của nó từ những di sản còn lại lưu truyền trong văn hoá phương Đông. Hay nói cách khác: Nội dung của Lạc Việt độn toán đã tồn tại trên thực tế từ hàng thiên niên kỷ trước. Nó đã bị thất truyền khi nền văn minh Việt sụp đổ ở miền nam sông Dương Tử. Nay được phục hồi lại nhân danh nền văn hiến Lạc Việt. . . . Sự phục hồi môn Lạc Việt độn toán từ những di sản văn hoá phi vật thể lưu truyền trong dân gian chính là một bằng chứng sắc sảo không chỉ minh chứng cho sự hoàn chỉnh nhất quán và tính khoa học của thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về văn minh Lạc Việt mà còn là một bằng chứng cho thấy một nền văn minh đã thất truyền vì lịch sử bị vùi lấp. Đó chính là nền văn hiến của người Lạc Việt trải gần 5000 năm, một thời huyền vĩ ở miền nam Dương Tử. . . . Hiện nay, nếu coi hệ thống những luận điểm nhân danh nền văn hiến Việt là đúng thì chúng ta mới chỉ dừng lại ở mối liên hệ hợp lý và nhất quán giữa các vấn đề liên quan trên một nguyên lý nhất quán. Nhưng chưa xác định được định lượng các mối liên hệ thực tại nào làm nên lý thuyết này. Đây sẽ là quá trình lâu dài, gian khổ và tốn nhiều tâm huyết của nhiều thế hệ. Tuy nhiên, căn cứ vào những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết hoặc một phương pháp hay giả thiết khoa học, chúng ta đủ cơ sở để ứng dụng một cách nhất quán nguyên lý được phục hồi để phục chế lại những giá trị văn hoá khoa học cổ đại, mà một trong những giá trị này chính là phương pháp dự báo Lạc Việt độn toán.” Nói về Lạc Việt Độn Toán, học giả NVTA đã viết: “Phương pháp dự báo của Lạc Việt độn toán ứng dụng trên thực tế từ nhiều năm qua trên mọi phương diện do tác giả và những anh chị em nghiên cứu tham khảo thực hiện đã cho thấy khả năng dự báo rất hiệu quả của môn này. . . . [K]hả năng tiên tri của các phương pháp dự báo thuộc Lý học Đông phương cổ phải phản ánh một qui luật nào đó của vũ trụ, tính khái quát càng lớn chứng tỏ tính quy luật càng rất bao trùm. Vấn đề là chúng ta hiểu gì về thực tại vận động của những qui luật đó qua những phương pháp dự đoán thuộc Lý học Đông phương. Lạc Việt độn toán đã thoả mãn yêu cầu đó bởi tính khái quát cao: chỉ có 48 quẻ để dự báo cho tất cả sự vật sự việc từ nhỏ đến lớn so với quẻ Dịch có 64 quẻ và tính chi tiết hoàn hảo cho từng hào. Điều này chứng tỏ Bốc Dịch với 64 quẻ là sản phẩm được hoàn hảo ở một giá trị nhận thức về vũ trụ, trái đất và con người sâu hơn Lạc Việt độn toán. Chúng ta có thể nhận xét rằng Lạc Việt độn toán trên thực tế ra đời trước khi có phương pháp Bốc Dịch. Nói một cách khác: Lạc Việt độn toán có tính khái quát và gần với những nguyên lý căn bản của thuyết Âm Dương Ngũ hành, tuy không sâu và chi tiết bằng Bốc Dịch. Nhưng vì tính thất truyền của một nguyên lý lý thuyết phản ánh một thực tại đã tạo dựng ra nó và sự sai lệch do thất truyền nên phương pháp Bốc Dịch trở nên huyền bí và có những sai lệch và đây cũng là tình trạng chung của các phương pháp tiên tri phương Đông . Trên đây cũng chỉ là ý tưởng ban đầu về sự suy luận tính lịch sử thời gian của sự ra đời hai phương pháp Bốc Dịch và Lạc Việt độn toán. Hy vọng đó sẽ là những ý tưởng để sau này có ai nghiên cứu về lịch sử hình thành các phương pháp tiên tri của Lý Học Đông phương sẽ tiếp tục tìm hiểu và tìm ra những lời giải cho các hiện tượng từ hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn năm trước.” Và làm thế nào nào để phục hồi Bát Môn và Lục Nhâm để từ đó kết hợp chúng thành một trong cái gọi là Lạc Việt Độn Toán, học giả NVTA đã giải thích: “Lạc Việt độn toán lấy ‘Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt’ làm nguyên lý căn để về nguyên lý lý thuyết. Điều này thể hiện tính nhất quán trong nguyên lý học thuật cổ Đông phương thuộc về văn minh Lạc Việt, có khả năng lý giải một cách hợp lý những vấn đề và hiện tượng liên quan đến nó. Nguyên lý này ứng dụng một cách nhất quán trong việc lý giải mọi phương pháp và hiện tượng liên quan đến Lý học Đông phương từ Tử Vi, bốc Dịch, phong thuỷ..vv... Là cơ sở cho sự hiệu chỉnh và phục hồi những giá trị của học thuyết Âm Dương Ngũ hành đã thất truyền. Tính nhất quán là một trong yếu tố cần chứng tỏ một lý thuyết được coi là khoa học. Bởi vậy sự trùng khớp giữa đồ hình Bát Môn và Hà Đồ một lần nữa chứng tỏ tính hoàn chỉnh và nhất quán của nguyên lý ‘Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt’. So sánh hai hình sau đây, chúng ta sẽ nhận thấy điều này. Chứng tỏ rõ hơn nguyên lý này, chúng ta nghiệm lý như sau: trên Cửu cung Hà Đồ và Cửu Cung Lạc thư đều có từng cặp Ngũ hành cho tám cung (Bát Môn) - Hà Đồ tính thuận theo chiều kim đồng hồ theo chiều Ngũ hành tương sinh và Lạc Thư tính nghịch theo chiều kim đồng hồ theo chiều Ngũ hành tương khắc. Điều này được minh hoạ bằng hình dưới đây: So sánh hai đồ hình trên chúng ta thấy hai cụm: Thuỷ (Hiển thị màu xanh Dương) - Càn (Tây Bắc), độ số 6, Khảm (Chính Bắc) độ số 1 và Mộc (Hiển thị màu xanh lá cây) – Cấn (Đông Bắc) độ số 8, Chấn (Chính Đông) độ số 3 có vị trí và phương vị hoàn toàn giống nhau. Nhưng đến hai cụm Hoả và Kim thì có những khác biệt sau đây: * Ở Lạc Thư: Phía Đông Nam và chính Nam là độ số của Âm Dương Kim số 4 – 9 phối quái Ly Hoả và quái Tốn Mộc (Theo sách Hán). Ở Hà Đồ: Phía Đông Nam và chính Nam là độ số của Âm Dương Hoả số 2 – 7 phối quái Ly Hoả và quái Khôn Thổ. * Ở Lạc Thư: Phía Tây Nam và chính Tây là độ số của Âm Dương Hoả, số 2 – 7 phối quái Khôn Thổ và quái Đoài Kim. Ở Hà Đồ: Phía Tây Nam và chính Tây là độ số của Âm Dương Kim số 4 – 9 phối quái Tốn Âm Kim và quái Đoài Dương Kim. Về nguyên tắc (Về lý): Bát môn chỉ có thể hoặc phối Lạc Thư hoặc phối Hà Đồ. Và dù phối với đồ hình nào thì trên Bát môn độn giáp cũng phải có hai cặp cùng hành tương ứng. Đây là tiền đề thứ nhất. Từ đó cho chúng ta một hệ quả là sự nghiệm suy sau: Chúng ta nhận thấy rằng: * Khai - sự trôi chảy, sự dẫn hướng hành Thuỷ. Như vậy cặp cùng hành với Khai là Hưu trên Bát Môn cũng phải thuộc Thuỷ (Hưu: Thuỷ Tù - sự ngưng trệ). Trong các sách cổ như Thái Ất, Kỳ Môn đều coi Khai Hưu thuộc Thuỷ. * Khai Hưu thuộc Thuỷ thì Sinh Thương tiếp theo phải thuộc Mộc dù phối Bát Môn với Lạc Thư hay Hà Đồ (xem hình trên). Nếu chúng ta sắp Bát môn với bất cứ Lạc Thư hoặc Hà Đồ thì cũng sẽ có hai hành hợp lý tiếp nối là: * Lạc thư: Đỗ Cảnh thuộc Kim, độ số 4 - 9. Hà Đồ : Đỗ Cảnh thuộc Hoả, độ số 2 - 7. * Lạc thư: Tử Kinh thuộc Hoả, độ số 2 – 7Hà Đồ: Tử Kinh thuộc Kim, độ số 4 - 9. Theo suy lý về khái niệm trực tiếp của danh từ thì tôi thấy Đỗ Cảnh : Sự thành đạt, vẻ đẹp thì đây chính là nội dung gần gũi của quẻ Ly thuộc Hoả. Do đó hai cung Đỗ Cảnh hoàn toàn phù hợp với Hà Đồ nằm ở phươngNam tương ứng với quái Ly. Tương tự, sự chứng nghiệm cho thấy hai cung Tử Kinh phù hợp với hành Kim, có tính sát phạt, đồng nghĩa với khái niệm trực tiếp của hai danh từ này. Sự phối Bát môn với Hà Đồ còn cho chúng ta phương vị của Bát Môn cũng chính là phương vị của Hà Đồ. Tính hợp lý của sự phối hợp này còn cho chúng ta sự hợp lý của mọi vần đề liên quan. Bởi vậy: Đồ hình căn bản và là nguyên lý của Bát Môn chính là Hà Đồ. Ta cũng dễ dàng nhận thấy: Trong Bát môn độn giáp lưu truyền trong dân gian, các quẻ không có ngũ hành và phương vị từng quẻ riêng biệt chỉ có khái niệm của quẻ đó qua tên quẻ. Đồ hình Lạc thư nếu không phối Hậu Thiên, cũng không thể xác định phương vị qua độ số. Bởi vì, nếu xét riêng Lạc Thư gọi 1 Thuỷ là phương Bắc thì không thể độ số 9 - độ số của - Kim lại ở phương Nam. Nhưng ngược lại, Hà Đồ nếu đứng riêng một mình thì tự nó có phương vị tương ứng với Hậu Thiên qua độ số 1 Chính Bắc hợp với Khảm Thủy, 7 chính Nam hợp với Ly Hoả, 9 chính Tây hợp với Đoài Kim và 3 Mộc chính Đông hợp với Chấn Mộc. Bởi vây: Hậu Thiên phối với Hà Đồ thì phương vị và ngũ hành của Tứ chính (Khảm - Chấn - Lý - Đoài), hoàn toàn phù hợp với phương vị ngũ hành của Hà Đồ và tính chất của các quái thuộc tứ chinh. Do đó: Bát Môn khi phối với Hà Đồ thì tám cung Bát môn sẽ có phương vị của Hà Đồ và đuợc ứng dụng trong Lạc Việt Độn Toán. Kết luận: Hà Đồ phối Hậu Thiện Lạc Việt chính là nguyên lý căn để của phương pháp ứng dụng Bát Môn độn giáp trong phương pháp dự báo Lạc Việt độn toán.. . .Tôi đưa các dị bản khác nhau của Lục Nhâm tiểu độn nhằm chứng tỏ những nguyên lý lý thuyết căn bản của các phương pháp độn toán Đông phương (bao gồm cả Tử Vi; Tử Bình....) và sự nhận thức về một thực tại là tiền đề của nó đã bị thất truyền , mà trong trường hợp này đó chính là những dị bản của Lục Nhâm tiểu độn. Phương pháp lưu truyền ở miền Bắc có tính năm, giống cách tính trong bài viết của Thái Tuế bắt đầu năm Tý ở cung Đại An. Phương pháp ở miền Nam toán từ tháng 1 bắt đầu ở cung Đại An và không toán năm. Còn một dị bản thứ ba khác là các cung Đại An , Tốc hỷ, Tiểu cát bị lệch sang phải và thay chỗ cho nhau, dị bản này cũng tính tháng Giêng từ cung Đại an và không tính năm. Về cách gọi thì miền Bắc gọi môn này là Lục Nhâm đại độn, ở miền Nam gọi là Lục Nhâm tiểu độn. Dù với cách gọi nào thì cả ba phương pháp này đều có một nền tảng đồ hình giống nhau và đều không có sự liên hệ với Ngũ Hành. Lục Nhâm đại độn có 6 cung, có sự liên hệ với Lục khí và tương quan thực tại với chu kỳ của sao Thái tuế và chỉ có Hậu thiên bát quái Lạc Việt mới có khả năng kết hợp hai cặp quái Điên đảo dịch thành 2 cặp bất dịch và tạo thành 6 cực như sau: Hậu Thiên Lạc Việt đổi chổ Tốn Khôn mới tạo được cặp bất dịch này. Trên cơ sở này mới tạo thành 6 cực liên hệ với 6 quẻ Lục Nhâm như sau: Từ cơ sở này, tính chất của 6 cung Lục Nhâm như sau: Lưu Niên: Giữ lại thời gian. Biểu tương cho sự ngăn trở hiểm ác, âm mưu… Đây chính là hành thuỷ, vậy liên hệ với quẻ Khảm.Tốc Hỷ: Niềm vui đến nhanh. Biểu tượng cho sáng sủa, vẻ đẹp…Đây chính là hành Hoả,vậy liên hệ với quẻ Ly. Xích khẩu: Tranh chấp, cự cãi, lý luận, xung sát … Đây là thuộc tính của hành Kim, vậy liên hệ với Tốn – Đoài. Như vậy tứ hành đã an vị. Còn hai quẻ nữa khởi đầu của vạn sự chính là Càn Khôn…liên hệ với: Càn – Đại An và Khôn – Vô vong. Từ đó ta thấy Lục Nhâm chính là sự sắp xếp theo những cặp đối xứng và xung sát nhau như: Khảm Thuỷ - Ly Hoả;Tốn Đoài Kim - Cấn Chấn Mộc;Khôn Âm Hỏa đới Thổ - Càn Âm Kim đới Thủy. theo chiều tương khắc của Ngũ Hành. Xin xem sự mô tả dưới đây: Khảm------------------Ly------------------Tốn và Đoài Thuỷ----------------- Hoả-----------------Kim Lưu niên------------Tốc Hỷ--------------Xích Khẩu Càn--------------------Khôn---------------Cấn và Chấn Dương Thổ----------Âm Thổ-------------Mộc Đại an----------------Vô Vong------------Tiểu Cát Qua sự phân tích trên, chúng ta thấy có sự liên hệ của Hà Đồ với Bát môn và Hà Đồ - Hậu thiên Lạc Việt với Lục Nhâm. Cả hai, Bát Môn và Lục Nhâm đều có gốc từ Hà Đồ. từ đó suy luận ra chúng phải có liên hệ với nhau. Bát Môn trực tiếp từ Hà Đồ - cái có trước - thuộc Dương sẽ Tĩnh. Lục Nhâm có sau từ Hậu thiên Lạc Việt - hệ quả của hệ quả - thuộc Âm sẽ động. Xin lưu ý Dương Tịnh - Âm Động là lý thuyết căn bản được phục hồi từ Văn hiến Lạc Việt còn sách Hán thì ngược lại Dương Động - Âm Tịnh. Đến đây ta đã thấy hai phương pháp độn Lục Nhâm và Bát Môn phải có một sự liên hệ với nhau trong một phương pháp tiên tri hoàn chỉnh. Xét hai phương pháp ta thấy 6 cung trong Lục Nhâm chính là tượng của lục khí tương tác và là một nửa chu kỳ Âm Dương của vòng Thái Tuế. Chu kỳ sao Thái Tuế - Sao Mộc quay quanh mặt trời là 12 năm, phân Âm Dương mỗi chu kỳ là 6 năm. Trong Lạc Thư Hoa Giáp thì 6 năm vừa đúng một vận có tính qui luât. 10 vận vừa đúng một hoa giáp 60 năm; phân Âm Dương thành 2 kỷ, mỗi kỷ 30 năm, khác với Lục thập hoa giáp từ sách Hán, không thể hiện được một vận là 6 năm. Đối chiếu với các hiện tượng liên quan thì việc tính thêm năm vào phương pháp độn Lục Nhâm là hợp lý. Phương pháp dự báo Lạc Việt độn toán là sự kết hợp giữa hai quẻ của Bát Môn và Lục Nhâm trong cùng một thời điểm toán quẻ. * Bát môn thuộc Dương – theo nguyên lý Dương trước Âm sau và Dương tịnh Âm Động. Nến quẻ Lạc Việt độn toán lấy Bát Môn làm quẻ ngoại thể hiện hoàn cảnh, điều kiện bên ngoài của sự việc, sự vật cần luận đoán.* Lục Nhâm có sau thuộc Âm. Nến quẻ Lạc Việt độn toán lấy Lục Nhâm thể hiện bản chất sự việc sự vật cần luận đoán. Tóm lại Lạc Việt độn toán hoàn toàn dựa trên sự phục hồi của Thuyết Âm Dương Ngũ hành từ văn minh Lạc Việt, trong đó lấy Hà Đồ làm đồ hình là nguyên lý và Lục Nhâm Đại độn và Bát môn độn giáp là những mảnh còn sót lại của một phương pháp độn toán rất kỳ vĩ từ ngàn xưa. Đó là lý do môn độn toán này tồn tại hàng ngàn năm, cùng các phương pháp rất trí tuệ khác mà sự thất truyền không lớn là Thái Ất, Tử vi. Lạc Việt độn toán có tính qui luật, tính minh triết về những giá trị căn bản liên quan đến con người. Hay nói một cách khác: nó mang dấu ấn của một tri thức Hàn lâm. Lạc Việt độn toán là một phương pháp không hề tồn tại trong cổ thư chữ Hán. Do đó nó khẳng định tính nhất quán, tính hệ thống và khả năng tiên tri theo tiếu chí khoa học mình chứng cho nền văn hiến Lạc Việt một thời huyền vĩ ở bớ Nam sông Dương Tử với lịch sử trải gần 5000 năm. Kết Luận: Bát Môn độn giáp và Lục Nhâm đại độn là hai nội dung căn bản của phương pháp dự báo Lạc Việt độn toán. Quẻ Lạc Việt độn toán là sự kết hợp giữa hai quẻ Bát Môn và Lục Nhâm trong cùng một thời điểm toán quẻ.” Giải thích về cách độn Bát Môn và Lục Nhâm và ý nghĩa, học giả NVTA viết: “Độn Bát Môn Đại Độn dùng 8 đốt ngón tay trên bàn tay [1] Bắt đầu từ cung Sinh ở đốt thứ nhất ngón trỏ là tháng thứ nhất trong năm, tính thuận theo chiều kim đồng hồ - mỗi tháng một cung - đến tháng cần toán. [2] Tiến 1 cung là ngày mùng 1 của tháng đó, tính thuận mỗi ngày một cung - đến ngày cần toán. [3] Tiến 1 cung là giờ Tí của ngày đó, tính thuận - mỗi giờ một cung - đến giờ cần toán trong ngày, dừng tại cung nào ra quẻ tên cung đó. Thí dụ: Giờ Tuất, ngày 19 tháng 5. Bắt đầu từ cung Sinh là tháng 1 đếm thuận chiều kim đồng hồ đến tháng 5, dừng ở cung Tử. Tiến 1 cung là cung Kinh, đếm thuận đến 19 là cung Hưu. Tiến 1 cung là cung Sinh giờ Tí đếm đến giờ Tuất, toán được là cung Đỗ, tức quẻ Đỗ. . . .Sinh nghĩa là: Sống, là sự bắt đầu (cho một việc, một cái gì đó), là ý tưởng ban đầu, là mầm cây, là cỏ, là cây nhỏ, là loại cây mềm yếu (cây Liễu chẳng hạn), là mùa xuân, là sự hứa hẹn, là hy vọng… Cung Sinh là Âm Mộc, nhưng nghĩa Sinh thuộc Dương Mộc. Độ số là 3. Về phương vị là chính Đông. Về màu sắc là xanh lá mạ, xanh non. . . Thương nghĩa là: Buồn, là thuộc trạng thái tình cảm, là cây lớn, là sự phát triền sung mãn sắp chuyển sang giai đoạn suy vi. Cung Thương là Dương Mộc, nhưng nghĩa của Thương thuộc Âm Mộc. Độ số là 8. Về phương vị là Đông Bắc. Về màu sắc là xanh lá cây sậm. . . Đỗ nghĩa là: Đạt, là sự thành đạt, là kết quả tốt đẹp, là được việc, là quí nhân phù trợ. Cung Đỗ là Âm Hoả, nhưng nghĩa của Đỗ thuộc Dương Hoả. Độ số là 7. Về Phương vị là chính Nam. Về màu sắc là màu đỏ. . . Cảnh nghĩa là: Đi chơi ở trong sự nhàn hạ, phong lưu.Là từ xa tới, là du lịch, là đi xa, là vẻ đẹp, là nhà đẹp, cao rộng có vườn cây hoặc nội thất rực rỡ. Cung Cảnh thuộc Dương Hoả, nhưng nghĩa của Cảnh thuộc Âm Hoả. Độ số là 2. Về phương vị là Đông Nam. Về màu sắc là màu đỏ nâu. Cảnh, vì là Âm Hỏa – chính vị Khôn Thổ (Theo Hậu thiên Lạc Việt) – nên còn có ý nghĩa là Âm Thổ: miếng đất đẹp. . . . Tử nghĩa là: Chết, sự chấm dứt, kết thúc, là cắt đứt, là sát phạt, là tiền bạc tài sản lưu động, là người làm nghề cơ khí, kim khí, là võ nghiệp, nếu là bác sĩ thì liên quan đến mổ xẻ, là nghe… Cung Tử thuộc Âm Kim, nhưng nghĩa của Tử thuộc Dương Kim. Độ số là 9. Về phương vị là chính Tây. Về màu sắc là màu trắng. Tử, cũng còn có nghĩa là con cái. . . . Kinh nghĩa là: Kinh sợ, đột ngột, sự bất ngờ, là giật gân, là người làm việc táo bạo, mạo hiểm … Cung Kinh thuộc Dương Kim, nhưng nghĩa của Kinh thuộc Âm Kim. Độ số là 4. Về màu sắc là trắng xám. . . Khai nghĩa là dòng nước chảy, là sự khai thông, là trôi đi, là thoát khỏi sự bế tắc, là đi xa thuận lợi, … Cung Khai thuộc Âm Thuỷ, nhưng nghĩa của Khai thuộc Dương Thuỷ. Độ số là 1. Về màu sắc là xanh dương, là đen bóng. . . Hưu nghĩa là: Nghỉ, sự ngưng trệ, sự nghỉ ngơi do bất lực, kiệt sức, là bế tắc. Cung Hưu thuộc Dương Thuỷ, nhưng nghĩa của Hưu thuộc Âm Thuỷ. Độ số là 6. Về màu là màu đen xỉn, xanh đen. Độn Lục Nhâm dùng 8 đốt ngón tay trên bàn tay. [1] Năm Tí từ cung Đại An, trên đốt thứ nhất ngón trỏ, chiều thuận kim đồng hồ - mỗi năm một cung - đến năm cần toán, dừng ở cung nào là tháng 1 của năm đó. [2] Từ tháng 1 tính thuận - mỗi tháng một cung - đến tháng cần toán, dừng ở cung nào là ngày 1 của tháng đó. [3] Từ ngày 1 tính thuận mỗi ngày một cung – đến ngày cần toán dừng lại ở cung nào là giờ Tí của ngày đó. Từ giờ Tí tính thuận đến giờ cần toán, ta sẽ được quẻ Lục Nhâm cần toán. Thí dụ: Giờ Tuất ngày 19 tháng 5 năm Tỵ. Bắt đầu từ cung Đại an là năm Tí, đếm thuận theo chiều kim đồng hồ đến năm Tỵ là cung Không vong. Từ cung Không vong là tháng 1, đếm thuận đến tháng 5 là cung Xích khẩu. Từ cung Xích khẩu là ngày 1, đếm thuận đến ngày 19 là cung Xích khẩu. Từ cung Xích khẩu là giờ Tí, đếm thuận đến giờ Tuất là cung Lưu niên, toán được cung Lưu Niên. . . Đại an thuộc Dương Thổ, nghĩa là bình yên lớn. Tính chất chậm chạp nhưng chắc chắn, thuộc về tài sản là nhà đất lớn, là miếng đất hoặc vùng đất lớn, là nguồn lợi ổn định, chắc chắn. Về người là bậc quân tử chín chắn, nữ hiền hậu tính cách điềm đạm, là người đầy đặn, béo tốt. Về công việc là sự ổn định, là người làm tại nơi trung tâm, có quyền chức địa vị. Về nơi làm việc là cơ quan hoặc bộ phận quan trọng. Về bệnh liên quan đến dạ dày hoặc tỳ.Về phương vị là nơi trung tâm. Về màu sắc là màu vàng thổ. Độ số là 5. . . Lưu niên thuộc Thuỷ, nghĩa là giữ lại thời gian. Có tính hiểm độc, lừa dối, âm mưu, là mưu toan, là sự do dự, lo lắng. Thuộc về tài sản là thất thoát, phá sản. Thuộc về sự việc là trì trệ. Là công việc không chính danh, có tính phiêu lưu mạo hiểm, là phi pháp, phi đạo đức. Là chết chóc tai nạn. Về bệnh thì liên quan đến máu huyết hoặc thận. Về phương vị là phương Bắc hoặc Tây Bắc. Về màu là màu đen hoặc xanh dương. Về độ số là 1 và 6. . . Tốc hỷ thuộc Hoả, nghĩa là sự vui vẻ, may mắn, là nhanh chóng, là tốt đẹp sáng sủa. Về người là quí nhân hay giúp đỡ người khác, là người thông minh, tài cao học rộng. Về công việc là chính danh, về học vấn là sự thành đạt, có học vị cao, là những dịch vụ phục vụ cho vẻ đẹp, cho nhu cầu tinh thần. Về hiện tượng là thuộc về văn hóa, giáo dục. Là người mang những giá trị tinh thần cao quí. Về bệnh liên quan đến tim hoặc tinh thần. Về màu sắc là màu đỏ, về phương vị là hướng Nam hoặc Đông Nam. Về độ số là 2 và 7. . . Xích khẩu thuộc Kim. Nghĩa là sự tranh luận, cãi nhau, tiếng ồn ào, tiếng động. Về sự việc là tranh chấp kiện tụng. Về nghề nghiệp là nghề liên quan đến kim khí, máy móc; liên quan đến miệng như: dạy học, luật sư, quảng cáo, thông tin… Về người là người hay nói, lý luận khúc chiết, là người thấp, đầy đặn, nhiều lý trí. Về bệnh tật là bệnh liên quan đến phổi, tai, xương cốt. Về hướng là hướng Tây hoặc Tây Nam. Về màu sắc là màu trắng hoặc xám trắng. Về độ số là 4 và 9. . . Tiểu cát thuộc Mộc. Nghĩa là niềm vui nhỏ, là tin tức vui, là tình cảm, tình yêu, sự quí mến. Về sự vật là sách vở, là tri thức, học hành, là cây cối. Về người là người giàu tình cảm, là hôn nhân, tình duyên. Về nghề nghiệp là người buôn bán nhỏ, có tiểu lợi, là người làm ăn liên quan đến gỗ cây, sách vở, tri thức… Về hình thể là người yểu điệu, mình dây, duyên dáng; đàn ông cao gầy có tính hiền, ham học hỏi. Về bệnh liên quan đến gan.Về hướng là hướng Đông hoặc Đông Bắc. Về màu sắc là màu xanh lá cây. Về độ số là 3 và 8. . . Vô vong thuộc Âm Thổ. Nghĩa là không được việc gì, hoặc không sao cả; là đất bỏ hoang. Về người là người vô tích sự, thất nghiệp. Gặp hạn thì hoá giải. Về màu sắc là màu vàng đất xỉn. Về phương vị là ở cạnh nơi trung tâm, ở phía dưới, là nền nhà. Về độ số là 10. . .Quẻ Lạc Việt độn toán là sự kết hợp giữa hai quẻ Lục Nhâm và Bát môn lấy trong cùng một không thời gian toán quẻ. . . . Như vậy, kết hợp hai cung của Bát môn và Lục Nhâm trong cùng đơn vị thời gian luận quẻ trong bài trên là:* 1 – 3: Giờ Tuất ngày 19 tháng 5 - Quẻ Bát Môn = Đỗ. * 2 – 3: Giờ Tuất ngày 19 tháng 5 - Quẻ Lục Nhâm = Lưu Niên.Ta có quẻ của Lạc Việt độn toán là: Đỗ - Lưu Niên - năm âm Quẻ Bát môn trong Lạc Việt độn toán tương ứng hoàn cảnh, điều kiện môi trường của sự vật sự việc, với quẻ Thượng trong bốc Dịch. Quẻ Lục Nhâm trong Lạc Việt độn toán tương ứng với hiện trạng, bản chất sự vật, sự việc, với tương ứng với quẻ Hạ trong Bốc Dịch. . . Bát môn thuộc Dương – theo nguyên lý Dương trước Âm sau và Dương tịnh Âm Động. Nên quẻ Lạc Việt độn toán lấy Bát Môn làm quẻ ngoại thể hiện hoàn cảnh, điều kiện bên ngoài của sự việc, sự vật cần luận đoán. Lục Nhâm có sau thuộc Âm. Nên quẻ Lạc Việt độn toán lấy Lục Nhâm thể hiện bản chất sự việc sự vật cần luận đoán.” Đến đây chúng ta đã có khá đầy đủ thông tin về môn Lạc Việt Độn Toán. Dĩ nhiên những trích đoạn như vậy không thể nào đại diện được cho công trình của học giả NVTA mà chỉ đủ để làm cơ sở cho những điều mà chúng ta muốn cứu xét. Và bây giờ thì đã đến lúc chúng ta có thể đi vào công việc triển khai sự so sánh để thử xem Việt Dịch có thể giải thích được Bát Môn và Lục Nhâm như đã nêu ra. Bát Môn, Lục Nhâm Và Lạc Việt Độn Toán Dưới Lăng Kính Việt Dịch - Của Hà Hưng Quốc VIỆT DỊCH ĐỒ Tinh yếu của Việt Dịch nằm ở một đồ hình H1 bên dưới, tạm gọi là Việt Dịch Đồ, trong đó sự kết hợp giữa Hậu Thiên Bát Quái với Hà Đồ cho ra hai phiên bản nằm chồng lên nhau nhưng một nằm ở bên trong với sự vận hành nghịch chiều kim đồng hồ và một nằm ở vòng ngoài với sự vận hành theo chiều kim đồng hồ. Vòng bên ngoài đại diện cho sự thể hiện, hành khí dương, ngoại giới, thiên nhiên, hoặc khách thể. Vòng bên trong đại diện cho sự tiềm ẩn, hành khí âm, nội giới, con người, hoặc chủ thể. H1: Việt Dịch Đồ Việt Dịch Đồ thoát thai từ hai hai vế [2 cụm chữ] chứa đựng huyền nghĩa thâm sâu. Vế thứ nhất là “Vô Cực nhi Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái sinh càn khôn vạn vật.” Vế thứ hai là “Thiên Nhất sanh Thủy, Địa Lục thành chi, Địa Nhị sanh Hỏa, Thiên Thất thành chi, Thiên Tam sanh Mộc, Địa Bát thành chi, Địa Tứ sanh Kim, Thiên Cửu thành chi, Thiên Ngũ sanh thổ, Địa Thập thành chi.” Hai vế tổng cộng có tất cả 67 lời. Và sáu mươi bảy lời đó là “tổng trì” của Việt Dịch. Nhìn sâu vào Việt Dịch Đồ chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra ba điểm quan trọng: Điểm thứ nhất là Hậu Thiên Bát Quái (HTBQ) trong Việt Dịch Đồ không giống với bất cứ phiên bản nào từ trước đến nay. So với những phiên bản của người Hoa thì khác rất xa. HTBQ của Văn Vương chỉ có được 3 quái Càn, Khảm, Cấn là trùng vị trí với các quái trong Việt Dịch Đồ còn 5 quái kia đều sai chỗ. So với HTBQ của Lạc Việt thì thấy có phần gần nhau. Có đến 5 quái trong HTBQ của Lạc Việt là Càn, Khảm, Cấn, Khôn, Ly trùng vị trí với các quái trong Việt Dịch Đồ còn 3 quái kia thì sai chỗ. Điểm thứ hai là quái, độ số, thiên can, ngũ hành và âm dương trong Việt Dịch Đồ luôn luôn đi chung nhau thành 8 tập hợp, dầu là vận hành thuận chiều kim đồng hồ hay nghịch chiều kim đồng hồ, dầu là phối vào 9 cung bàn hay phối vào 12 cung bàn. Nhìn vào hình Việt Dịch Đồ là chúng ta đã có thể nhận ra “sự kết hợp bất khả ly” giữa những yếu tố này. Và vì vậy, khi đã nhận ra điều này trên Việt Dịch Đồ thì chúng ta cũng sẽ nhận ra là, HTBQ vòng ngoài thật ra không khác HTBQ vòng trong. Điểm thứ ba là Hà Đồ không phối với HTBQ [theo ý nghĩa thông thường phối là kết hợp chúng lại với nhau] mà Hà Đồ và Hậu Thiên Bát Quái thực ra là một đôi song sinh [do đó nếu muốn thì có thể tách chúng ra làm hai chứ tự bản thân thì chúng đã được “đẻ ra trong cùng một bọc” không cần phải phối]. Việt Dịch Đồ là tinh yếu của Việt Dịch. Và như trong sách Việt Dịch đã viết: “Đồ hình [H1] [tức Việt Dịch Đồ] được cho là ‘một kết hợp trọn vẹn và kỳ ảo’ là vì việc trời, việc đất, việc người đồng thể hiện. Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì lý của trời, lý của đất, lý của người đồng thể hiện. Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì lý sự của cá nhân, lý sự của tập thể, lý sự của nhân loại đồng thể hiện. Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì lý sự vô hình, lý sự hữu hình, lý sự qui ước đồng thể hiện. Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì nó hàm chứa minh triết của Đông Phương. Được cho là trọn vẹn và kỳ ảo là vì nó vạch ra phạm trù đồng quy và hiệp nhất của các giáo lý Đông-Tây.” Kỳ ảo của Việt Dịch Đồ thể hiện tùy theo góc độ của từng vấn đề, khi đưa một số chú giải vào hình, thí dụ như H2 phía dưới. Nhìn vào vòng trong, vòng ngược chiều kim đồng hồ, của Việt Dịch Đồ chúng ta thấy ngay hai vị trí SINH và TỬ. TỬ nằm ở phía Tây, Chấn +9 Canh Kim, còn SINH nằm ở phía Đông, Tốn +3 Giáp Mộc. Nhìn vào vòng ngoài của Việt Dịch Đồ, vòng thuận chiều kim đồng hồ, chúng ta cũng thấy hai vị trí SINH và TỬ. TỬ cũng nằm hướng Tây, Chấn +9 Canh Kim, đóng ở Thân vị. SINH cũng nằm ở hướng Đông, Tốn +3 Giáp Mộc, đóng ở Dần vị. Trước hết chúng ta hãy suy nghiệm về cái vòng tròn sinh hoá của con người, vòng tròn chỉ sự chuyển dịch ngược chiều kim đồng hồ trên Việt Dịch Đồ. Với vòng tròn bên trong này của Việt Dịch Đồ này chúng ta thấy chỉ có hai chữ SINH và TỬ ở hai đầu Đông và Tây. Nhưng phải coi chừng vì ẩn trong vòng tròn sinh hóa c ủa con người thực ra có đến hai chu kỳ. Một chu kỳ gồm một nửa là từ TỬ tới SINH và một nửa còn lại là từ SINH tới TỬ [nhìn vào hai đường vẽ màu xanh lá]. SINH ở đây có nghĩa là được ĐẺ RA và TỬ ở đây là lúc HẾT THỞ. Tạm gọi nó là chu kỳ ĐẺ RA – HẾT THỞ. Còn chu kỳ thứ hai là một chu kỳ khác [nhìn vào đường vẽ màu tím], một chu kỳ chỉ về sự hiện hữu của một con người, mà nơi bắt đầu và nơi chấm dứt của sự hiện hữu đó đều nằm ngay chữ TỬ. Chấm dứt một chu kỳ cũ và bắt đầu một chu kỳ mới. Sinh tử liền nhau thành vòng tròn bất tận. Ở chỗ chữ TỬ đó là cái mốc đánh dấu nơi chấm dứt và cũng là nơi bắt đầu của một chu kỳ hiện hữu của con người. Ở chỗ chữ TỬ đó là cái mốc đánh dấu nơi ĐẾN với thế gian và cũng là nơi ĐI khỏi thế gian. Tạm gọi nó là chu kỳ ĐẾN/ĐI để dễ phân biệt. Và cái chu kỳ ĐẾN/ĐI là một vòng tròn bất tận. Như vậy thì đã quá rõ ràng là chỗ chữ SINH không phải là nơi bắt đầu của sự sống, sự hiện hữu, sự có mặt trong thế gian này. SINH chỉ là nơi “ló mặt ra” để “nhập cuộc” vào dòng sinh động của thế gian này mà thôi chứ còn sự sống, sự hiện hữu, sự có mặt trong thế gian này đã bắt đầu từ chỗ của chữ TỬ. Có nhìn thấy rõ được hai vòng tròn này trên Việt Dịch Đồ thì mới thấy hết cái bí ảo và diệu dụng của Việt Dịch Đồ và cái minh triết của Đông Phương. Khái niệm có hai vòng chu kỳ không phải là khó hiểu nhưng rất khó thấy nếu không được chỉ vạch ra và cũng dễ lầm vì cả hai đều được gọi là “chu kỳ sinh tử” của con người. Chúng ta hãy suy nghiệm về cái vòng tròn sinh hóa của vạn vật, vòng tròn màu đen bên ngoài vẽ theo khuôn vuông có những mũi tên chỉ hướng chuyển dịch thuận chiều kim đồng hồ, trên Việt Dịch Đồ. Cũng có hai chữ SINH và TỬ nằm trong vòng tròn đó. Chữ SINH nằm ở Dần vị là chỗ “chui ra khỏi đất” của cây cỏ. Chữ TỬ nằm ở Thân vị là chỗ “tàn tạ, héo úa” của cây cỏ. Từ chỗ SINH tới chỗ TỬ là một nửa chu kỳ của vạn vật và một nửa này “bộc lộ ra bên ngoài” sức sống của vạn vật. Từ chỗ TỬ tới chỗ SINH là một nửa còn lại chu kỳ của vạn vật và một nửa này “thu về lại bên trong” sức sống của vạn vật. SINH là chỗ bắt đầu của giai đoạn “bộc lộ ra ngoài” và cũng là chỗ chấm dứt giai đoạn “thu về lại bên trong.” TỬ là chỗ chấm dứt giai đoạn “bộc lộ ra ngoài” và cũng là chỗ bắt đầu của giai đoạn “thu về lại bên trong.” Bên cạnh cái chu kỳ SINH-TỬ vừa mô tả còn có một chu kỳ khác cũng vận hành cùng lúc. Đó là chu kỳ KHAI/BẾ. Trên Việt Dịch Đồ có chữ KHAI ở Tí, chữ TỊCH ở Sữu nằm cạnh chữ SINH ở Dần. Chúng đại diện cho câu nói “Thiên khai ư Tí, Địa tịch ư Sửu, Nhân sinh ư Dần 天開於 子, 地闢於丑, 人生於寅.” Theo cách dịch của người khác thì “Thiên khai ư Tí ” có nghĩa là “Trời khai triển từ Hội Tí.” Ở đây thì chúng ta không đủ khả năng để quyết đoán chuyện khai thiên lập địa cho nên chỉ muốn bàn luận trên cơ sở có thể nắm bắt được và theo đó chúng ta hiểu Thiên là Càn, là Dương và Khai 開 là mới, là bắt đầu, hàm ý chỗ bắt đầu của một chu kỳ mới. “Thiên khai ư Tí” có nghĩa là khí Dương bắt đầu ở Càn Tí. Mà đã là chỗ bắt đầu của một chu kỳ mới thì cũng là chỗ chấm dứt của một chu kỳ cũ trong vòng tròn sinh hoá không ngừng nghĩ. Như vậy thì chỗ KHAI mở ra chu kỳ mới phải được hiểu ngầm cũng là chỗ BẾ 閉 tức đóng lại chu kỳ cũ. Tại cái mốc KHAI/BẾ đó trong chu kỳ vận hành của khí thì đó là điểm cực âm. Mà âm cực thì dương sinh. “Địa tịch ư Sửu được người khác hiểu là “Đất mở từ Hội Sửu.” Ở đây chúng ta hiểu Tịch là lặng lẽ. Và “Địa tịch ư Sửu có nghĩa là Đất lặng lẽ ở Sửu. Tại sao lặng lẽ ở Sửu? Vì thời tiết cực lạnh của mùa Đông. Địa ở đây là Hàn Thổ, là đất nằm ở vị trí Quí Sửu thời điểm mà tiết khí Tiểu Hàn và Đại Hàn bao trùm mặt đất, lúc mà tất cả sinh vật đều đi vào đông miên. Vì không còn thấy được cái sinh động của sự sống nên nói là lặng lẽ. Tịch 寂 ở đây phải là lặng lẽ. Vì nếu Tịch 闢 là mở, là vỡ đất ra làm ruộng thì thử hỏi làm sao làm ruộng ở tiết khí Đại Hàn? Địa ỡ đây không phải là Khôn như có người lầm tưởng để rồi cho rằng Khôn nằm cạnh Càn là hợp lý và dùng đó để triển khai hý luận, điên đảo qui luật căn bản Càn-Khôn. Tuy thể hiện của thiên nhiên lúc này là sự lặng lẽ bao trùm trên mặt đất, nhưng bên dưới sự lặng lẽ đó khí Dương vẫn tiếp tục âm thầm tăng trưởng để rồi đến Dần thì bộc lộ ra bên ngoài thành sự sống tưng bừng. “Nhân sinh ư Dần” được người khác hiểu là “Người sinh ra ở Hội Dần.” “Nhân” cũng là một phần tử của cộng đồng “vạn vật.” Chỉ vì người có tánh linh hơn hết nên được chọn làm đại biểu của vạn vật. Vì thế chúng ta hiểu “Nhân sinh ư Dần” có nghĩa là “người và vạn vật đều sinh ra ở Dần,” tức là tại vị trí Tốn +3 Giáp trên Việt Dịch Đồ. Và tương quan này thể hiện rất rõ ở mốc SINH trong vòng tròn sinh hóa của vạn vật với mốc SINH trong vòng tròn sinh hóa của con người. Tương quan đó được đại diện qua cụm “Tốn +3 Giáp.” Trở lại với chu kỳ KHAI/BẾ, chúng ta đừng quên SINH rất khác với KHAI. SINH là chỗ sự sống của vạn vật bộc lộ ra bên ngoài, là chỗ cây cỏ chui ra khỏi đất, là chỗ con người chui ra khỏi bụng mẹ. KHAI là chỗ khí Dương bắt đầu, là chỗ khí Âm cực thịnh trong chu kỳ chuyển dịch của khí. Chu kỳ KHAI/BẾ của vạn vận cũng giống như chu kỳ ĐẾN/ĐI của con người. Còn chu kỳ SINH-TỬ của vạn vật cũng giống với chu kỳ ĐẺ RA - HẾT THỞ của con người. VIỆT DỊCH ĐỒ VÀ BÁT MÔN, LỤC NHÂMVới Việt Dịch Đồ thì chúng ta có thể xếp tám chữ của Bát Môn và sáu chữ của Lục Nhâm vào cùng một đồ hình. Tám chữ Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai, Hưu được phối vào HTBQ vòng ngoài với thứ tự trước sau theo chiều kim đồng hồ và chữ Sinh nằm ở “Tốn +3 Giáp.” Lý do tại sao khởi từ chữ Sinh sẽ được giải thích sau. Sáu chữ Đại An, Xích Khẩu, Tốc Hỉ, Vô Vong, Tiểu cát, Lưu Niên được phối vào HTBQ vòng trong với thứ tự trước sau theo chiều nghịch kim đồng hồ và chữ Đại An nằm ở “Càn -6 Quý.” Hai cung “Chấn +9 Canh” và “Đoài -4 tân” kết hợp thành một cung để an Xích Khẩu vào đó. Hai cung “Cấn -8 Ất” và “Tốn +3 Giáp” kết hợp thành một cung để an Tiểu Cát vào đó. Kết quả cho thấy trong đồ hình H3A và H3B bên dưới: H3A: Phối 8 Chữ Bát Môn và 6 chữ Lục Nhâm lên Việt Dịch Đồ H3B: Phối 8 Chữ Bát Môn và 6 chữ Lục Nhâm lên Việt Dịch Đồ (Bỏ Chú Thích) Hai đồ hình H3A và H3B hoàn toàn giống nhau, chỉ là H3B đơn giản hơn vì không còn những chú thích. XÉT VIỆT DỊCH ĐỒ VÀ LẠC VIỆT ĐỘN TOÁN TRONG TƯƠNG QUAN VỚI BÁT MÔN LỤC NHÂM Từ đồ hình trên chúng ta có thể trình bày một cách khác. Đem vòng ngoài của hình H3B phối vào 9 cung chúng ta sẽ được cái Bánh Chưng Bát Môn. So hình Bánh Chưng Bát Môn với hình Bàn Tay Bát Môn của Lạc Việt Độn Toán thì không khác. So hình Bánh Chưng Bát Môn với hình Hà Đồ Bát Môn của LVĐT --nếu tạm quên các quái mà chỉ xét một cách tổng quát các tập hợp của âm dương, độ số và ngũ hành-- thì cũng có thể nói là giống nhau gần như hoàn toàn, ngoại trừ một khác biệt nhỏ. Khác biệt đó là, với hình Hà Đồ Bát Môn, nhìn vào nhóm Khai Hưu hành Thủy, thì “Khai độ số 1” nằm ở cung độ số 6 còn “Hưu độ số 6” lại nằm ở cung độ số 1. Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao đã xác định Khai có độ số 1 Dương Thủy lại nằm ở cung có độ số 6 Âm Thủy và xác định Hưu có có độ số 6 Âm Thủy lại nằm ở cung có độ số 1 Dương Thủy? Với hình cái Bánh Chưng Bát Môn, cũng nhìn vào nhóm Khai Hưu, thì Khai độ số 1 Dương Thủy nằm chính xác ở cung độ số 1 Dương Thủy [cung +1 Nhâm Khảm] và Hưu độ số 6 Âm Thủy nằm chính xác ở cung độ số 6 Âm Thủy [-6 Quý Càn]. Tình trạng này đều thấy ở các hành còn lại, ngoại trừ hành Thổ. Như chúng ta đã biết, Bánh Chưng Bát Môn là sản phẩm lấy ra từ Việt Dịch Đồ. Còn Hà Đồ Bát Môn là sản phẩm làm ra từ HTBQ của Lạc Việt. Chỉ dựa trên sự thật này, trên căn bản giải thích sự hợp lý trong việc phân bố độ số và ngũ hành của Bát Môn, liệu chúng ta có dám nói Việt Dịch Đồ đã có phần hợp lý hơn HTBQ-LạcViệt??? Xét đến ý nghĩa từng cửa của Bát Môn và ý nghĩa của từng quái chúng ta thấy: SINH –Lạc Việt Độn Toán giải thích “Sinh nghĩa là Sống, là sự bắt đầu (cho một việc, một cái gì đó), là ý tưởng ban đầu, là mầm cây, là cỏ, là cây nhỏ, là loại cây mềm yếu (cây Liễu chẳng hạn), là mùa xuân, là sự hứa hẹn, là hy vọng… Cung Sinh là Âm Mộc, nhưng nghĩa Sinh thuộc Dương Mộc. Độ số là 3. Về phương vị là chính Đông. Về màu sắc là xanh lá mạ, xanh non.” Giải thích này cho thấy ý nghĩa của chữ Sinh hoàn toàn thuộc về “Tốn +3 Giáp” của Việt Dịch Đồ và được LVĐT xác nhận rõ với cụm “. . . nghĩa Sinh thuộc Dương Mộc. Độ số là 3. Về phương vị là chính Đông. .” và vị trí của chữ Sinh lạị nằm ở “Dần vị” của Việt Dịch Đồ cũng là vị trí “+3 Giáp Tốn” trên hình chiếc Bánh Chưng Bát Môn. Cần để ý một điều là “Tốn +3 Giáp” của Việt Dịch Đồ thuộc hướng chánh Đông [phương vị trên HTBQ] dầu là có đóng ở vị trí Dần của vòng ngoài [vị trí trên 9 cung hoặc 12 cung] và đó cũng chính là lý do tại sao tác giả nói là ở Dần vị mà không nói là ở hướng ĐB. Như vậy thì Hà Đồ Bát Môn của LVĐT và Việt Dịch Đồ thống nhất với nhau trong vấn đề “chỗ và hướng” của chữ Sinh. Việt Dịch giải thích “Tốn là tượng vật chất vô hình âm tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘vật chất vô hình âm tính’ có nghĩa là ‘không khí, từ trường, hoá âm, làm cho phát ra âm thanh, làm cho nghe tiếng.’ Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn vật chất vô hình của vũ trụ vật lý. Chúng có khả năng mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vật chất vô hình trong thế giới sống. Do đó, Tốn không những là vật chất vô hình vật lý mà còn là vật chất vô hình theo qui ước xã hội, là tài sản vô hình (intangible asset), là bản quyền (copyright), là thương hiệu (name brand), là giá trị của thương hiệu (goodwill); không những là từ trường mà còn là sức hút của trái đất, là trọng lực, là nam châm, là từ hóa, là làm cho có từ trường, là từ trường của vật thể, không những là từ trường vật lý mà còn là từ trường của con người, là sức thu hút, là sức hấp dẫn [không do nhan sắc như ở ly]; không những là không khí mà còn là gió, là nhập vào, là len vào, là thâm nhập, là len lén, là nhè nhẹ, là rụt rè, là thập thò, là e lệ, là nhún nhường, là bâng khuâng, là lãng đãng, là dìu dịu, là bềnh bồng, là quấn quít, là ngây ngất, là choáng váng, là vấn vương, là nhớ nhung; không những là không khí, là gió mà còn là hơi thở, là mây trời, là phiêu bồng, là lan tỏa, là bay, là lay động, là mềm mại, là mỏng manh; không những là không khí, là hơi thở, là nhập vào mà còn là hơi thở đầu đời nhập vào dòng sống, là chào đời, là nứt mộng, là đâm chồi, là nhú ra, là lú ra, là giai đoạn sơ sinh, là vô tư, là ngây thơ, là nhân hậu, là nhu hòa, là nguyên tánh [nguyên tánh là gốc của nhu hoà, nhân hậu], là tạng can; không những là âm thanh, là làm phát ra âm thanh mà còn là tiếng nói, là nhạc, là dư luận, là truyền thông, là phát sóng, là truyền tải thông tin, là tuyên truyền; không những là làm cho nghe tiếng mà còn là làm cho nghe thấy ước muốn, làm cho nghe thấy ý kiến, là đệ đạt nguyện vọng, là đề nghị yêu sách, là trình bày ý kiến, là đưa ra quan điểm, là thố lộ ý nghĩ, là tiết lộ nội tâm, là tâm sự với người khác; không những là làm cho nghe tiếng mà còn là làm cho nghe thấy sự thật, là bàn bạc, là hội thảo, là nghiên cứu, là điều tra, là tường trình, là báo cáo, là phản hồi tin tức; Tốn nằm sau Khôn vừa đối lập với Chấn tức là vừa nằm sau giai đoạn làm mẹ, vừa nằm cạnh mẹ, vừa nằm ở vị trí đối lập với lão nam, trưởng nam nên là lão nữ, là trưởng nữ, là trưởng bối bên mẹ.” (trang 133-136) và “Xét về mặt thiên nhiên sinh hoá, bên trong vòng đai [xanh] của đồ hình mô tả chu kỳ sinh hóa của con người qua tám giai đoạn là (1) thụ thai ở Đoài, (2) thai nhi phát triển nhanh ở Ly, (3) thai nhi chiếm đầy bụng mẹ ở Khôn, (4) hài nhi chào đời ở Tốn, (5) thiếu niên háo ăn mau lớn ở Cấn, (6) thanh xuân sung mãn ở Khảm, (7) lập gia đình ở Càn, (8) già nua và chết ở Chấn.”(trang 138) và “Mở mắt chào đời, nhập vào dòng sống với tất cả trong sạch không tranh không chấp nên nói là hoà nhập, nhún nhường ở Tốn” (trang 139) hoặc “Vạn vật [vòng ngoài] bừng dậy ở xuân-mộc khởi động một nửa chu kỳ sống động của vòng sinh hoá. Cây cỏ mọc mầm, vỡ đất thập thò lú ra ở Giáp [Tốn +3 Giáp], mong manh mềm mại ở Ất [Cấn -8 Ất]. Con người nhú đầu chui ra khỏi bụng mẹ, hít thở không khí lần đầu nhập vào dòng sống sinh động ở Tốn [Tốn +3 Giáp], mong manh tuổi thơ ở Cấn [Cấn -8 1 Ât]” (trang 138). Những giải thích này cho thấy quá rõ là nội hàm của “Tốn +3 Giáp” trong Việt Dịch dung nạp ý nghĩa chữ Sinh của Bát Môn đến mức độ cao nhất. Như vậy, chữ Sinh của Bát Môn nằm ở cung “+3 Giáp Tốn” của Việt Dịch Đồ đã rõ ràng là một điều vô cùng hợp lý. TỬ --Lạc Việt Độn Toán giải thích “Tử nghĩa là: Chết, sự chấm dứt, kết thúc, là cắt đứt, là sát phạt, là tiền bạc tài sản lưu động, là người làm nghề cơ khí, kim khí, là võ nghiệp, nếu là bác sĩ thì liên quan đến mổ xẻ, là nghe… Cung Tử thuộc Âm Kim, nhưng nghĩa của Tử thuộc Dương Kim. Độ số là 9. Về phương vị là chính Tây. Về màu sắc là màu trắng. Tử, cũng còn có nghĩa là con cái.” Giải thích này cho thấy ý nghĩa của chữ Tử hoàn toàn thuộc về “Chấn +9 Canh” của Việt Dịch Đồ và được LVĐT xác nhận rõ với cụm “. . . nghĩa của Tử thuộc Dương Kim. Độ số là 9. Về phương vị là chính Tây. ” và vị trí của chữ Tử lạị nằm ở Thân vị của Việt Dịch Đồ cũng là vị trí “+9 Canh Chấn” trên hình Bánh Chưng Bát Môn. Cần để ý một điều là “Chấn +9 Canh” của Việt Dịch Đồ thuộc hướng chánh Tây [phương vị trên HTBQ) dầu là có đóng ở vị trí Thân của vòng ngoài [vị trí trên 9 cung hoặc 12 cung] và đó cũng chính là lý do tại sao tác giả nói là ở Thân vị mà không nói là ở hướng TN. Như vậy thì Hà Đồ Bát Môn của LVĐT và Việt Dịch Đồ thống nhất với nhau trong vấn đề “chỗ và hướng” của chữ Tử. Việt Dịch giải thích “Chấn là tượng vật chất vô hình dương tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘vật chất vô hình dương tính’ có nghĩa là ‘quang khí, ánh chớp, lóe sáng, làm cho hóa quang, làm cho nổ.’ Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn vật chất vô hình của vũ trụ vật lý. Chúng có khả năng mô tả cả dạng-tính-thể-trạng-hành của vật chất vô hình trong thế giới sống. Do đó, Chấn không phải chỉ là làm cho nổ mà còn là làm cho chấn động, là trạng thái lúc đạt tới tột đỉnh khoái cảm và xuất tinh, là trạng thái của tứ đại phân rã lúc chết, là chết, là rơi rụng, là chấm dứt; không phải chỉ là chấn động mà còn là rung động, là phập phều, là phồng ra thóp vào, là phồng lên xẹp xuống, là mũi, là phổi, là tạng phế, là hóa táo, là ứng vào da; không phải chỉ là chấn động mà còn là phập phồng, là hồi hộp, là run rẩy, là co giật, là nẩy giật, là co thắt của cơ bắp; không phải chỉ làm chấn động trong ý nghĩa vật lý mà còn là chấn động trong ý nghĩa dư luận xã hội, là tai tiếng, là tiếng đồn, là nổ ra những sự kiện ô nhục, là xì-căn-đăng; không phải chỉ là làm cho nổ trong ý nghĩa vật lý mà còn là làm cho nổ ra trong ý nghĩa dư luận xã hội, là tố cáo, là tố giác, là bôi nhọ công khai, là gây ra hiểu lầm; không phải chỉ là lóe sáng mà còn là sự bừng tỉnh của tâm thức, sự phản tỉnh của thái độ, sự xét lại của tư duy, sự hồi tưởng, sự hoài niệm, là giai đoạn già lão, là tàn phai, là héo úa, là lão hóa; không phải chỉ là hóa quang trong ý nghĩa vật lý mà còn là trải nghiệm lúc hồn phách thoát ra, là trở về cõi sáng, là tiếp điển, là nhận lấy điển quang; không phải chỉ hoá quang trong ý nghĩa vật lý mà còn là làm cho thấy trong ý nghĩa dư luận xã hội, là giải thích, là biện minh, là trưng ra bằng chứng; không phải chỉ là ánh chớp mà còn là thần tốc, là tốc độ, là thật nhanh chóng; không phải chỉ là quang khí trong ý nghĩa vật lý mà còn là quang khí trong tánh cách của con người, là uy nghi, là can liệt, là nghĩa khí, là nguyên tình [nguyên tình là gốc của uy nghi, can liệt, nghĩa khí]; nằm ở giai đoạn già lão lại nằm sau giai đoạn làm cha và cạnh cha nên là lão nam, là trưởng nam, là trưởng bối bên cha.” (trang 130-133) và “Xét về mặt thiên nhiên sinh hoá, bên trong vòng đai [xanh] của đồ hình mô tả chu kỳ sinh hóa của con người qua tám giai đoạn là (1) thụ thai ở Đoài, (2) thai nhi phát triển nhanh ở Ly, (3) thai nhi chiếm đầy bụng mẹ ở Khôn, (4) hài nhi chào đời ở Tốn, (5) thiếu niên háo ăn mau lớn ở Cấn, (6) thanh xuân sung mãn ở Khảm, (7) lập gia đình ở Càn, (8) già nua và chết ở Chấn.. . . Từ Tốn tới Chấn [4-8] là một nửa dương của vòng tròn chu kỳ sinh hoá. Một nửa đó mô tả trạng thái sống động của một đời người. Từ Chấn tới Tốn [8-4] là một nửa âm của vòng tròn chu kỳ sinh hóa. Một nửa này mô tả trạng thái tiềm ẩn của một đời người. Chào đời ở Tốn [4] và vĩnh biệt cõi đời ở Chấn [8]. Ra khỏi bụng mẹ [thân mẫu] ở Tốn [4] và trở về bụng mẹ [địa mẫu] ở Chấn [8]. Tử sinh đối đãi. Tử rồi sinh, sinh rồi tử quay tròn không dứt. Chết ở Chấn [8] nên không còn thấy mặt ở Đoài [1] và thụ thai cũng ở Đoài [1]. Một sinh mạng cũ chấm dứt ở Chấn [8], một sinh mạng mới bắt đầu ở Đoài [1], chấm dứt và bắt đầu nằm liền nhau trong vòng tròn sinh hoá. Khởi hiện một sinh mạng mới nơi Đoài [1], vắng mặt một sinh mạng cũ cũng ở Đoài [1]. Nơi khởi hiện và nơi biến mất không hai không khác trong vòng tròn sinh hoá. . .” (trang 138-139). Những giải thích này cho thấy quá rõ là nội hàm của “Chấn +9 Canh” trong Việt Dịch dung nạp ý nghĩa “chết” trong chữ Tử của Bát Môn đến mức độ cao nhất. Giữa LVĐT và Việt Dịch thống nhất nhau trong phần diễn giải “Tử nghĩa là: Chết, sự chấm dứt, kết thúc, là cắt đứt” Như vậy, chữ Tử của Bát Môn nằm ở cung “Chấn +9 Canh” của Việt Dịch Đồ đã rõ ràng là một điều vô cùng hợp lý. Nghiệm tương quan sinh tử trong câu nói của Việt Dịch “Chào đời ở Tốn [4] và vĩnh biệt cõi đời ở Chấn [8]. Ra khỏi bụng mẹ [thân mẫu] ở Tốn [4] và trở về bụng mẹ [địa mẫu] ở Chấn [8]. Tử sinh đối đãi. Tử rồi sinh, sinh rồi tử quay tròn không dứt.” rồi nhìn vào trục Sinh-Tử trên Bàn Tay Bát Môn, trên hình chiếc Bánh Chưng Bát Môn và trên hình Việt Dịch Đồ chúng ta sẽ thấy cả một sự khế hợp kỳ diệu. Từ đó chúng ta có thể nói là hai chữ Sinh và Tử của Bát Môn nằm ở hai cung “Tốn +3 Giáp” và “Chấn +9 Canh” không phải chỉ là “vô cùng hợp lý” mà là “cực kỳ hợp lý.” Và trong cách độn Bát Môn thì toàn bộ tiến trình khởi đầu nơi chữ Sinh. Đây không thể nói là một sự ngẫu nhiên mà người ta chọn gốc ngón tay trỏ tức cung Dần để khởi độn. “Hội Dần là nơi khởi đầu của vạn vật” (trích Hải Thượng Lãng Ông). Như vậy mốc Sinh-Dần và chỗ khởi độn nằm chung một chỗ không phải là điều hợp lý lắm sao? Rồi nhìn lại Việt Dịch Đồ vị trí của “Tốn + 3 Giáp” và Sinh môn nằm ở Dần vị trên vòng quay của thiên nhiên và là nơi khởi đầu của vạn vật cũng là nơi khởi đầu của độn toán Bát Môn. Đây không phải là một thể hiện rất thuyết phục hay sao? Tuy là Hà Đồ Bát Môn của LVĐT với Việt Dịch Đồ [và Bánh Chưng Bát Môn] của Việt Dịch đồng ý với nhau gần như hoàn toàn về vị trí và ý nghĩa của hai quẻ Sinh và Tử của Bát Môn nhưng có một điều khác biệt rất lớn. Với Hà Đồ Bát Môn của Lạc Việt Độn Toán thì chữ Tử nằm vào quẻ Tốn còn chữ Sinh nằm vào quẻ Cấn. Sinh và Tử là vấn đề hoàn toàn đối lập và cũng là hai quẻ hoàn toàn đối lập trong Bát Môn. Còn Tốn và Cấn thì không phải là hai quái hoàn toàn đối lập dầu là phiên bản HTBQ-LạcViệt cho thấy Tốn-Cấn có đối xứng nhau qua trục. Chỉ đối xứng nhau qua trục thì không có thể nói là “hoàn toàn đối lập” được. Hai quái chỉ hoàn toàn đối lập khi chúng đối lập nhau từng hào một và đối xứng qua trục. Nhìn vào cấu trúc của mỗi quái trên Tiên Thiên Bát Quái (TTBQ) sẽ thấy rõ tiêu chuẩn này. Nhìn vào cấu trúc hào của hai quái Tốn-Cấn sẽ không khó để nhận ra là hai quái đối xứng này chưa đủ tiêu chuẩn để gọi là hoàn toàn đối lập nhau. Còn với Việt Dịch Đồ của Việt Dịch thì chữ Tử nằm ở quẻ Chấn và chữ Sinh lại nằm vào quẻ Tốn. Tốn và Chấn là hai quẻ hoàn toàn đối lập. Nhìn vào cấu trúc hào của mỗi quái sẽ thấy điều này. Vị trí của Tốn-Chấn đối xứng nhau qua trục lại là chỗ xác định mốc then chốt Sinh-Tử của chu kỳ sinh tử trong Việt Dịch. Ý nghĩa của hai quẻ Tốn và Chấn trong Việt Dịch thì đã được tác giả trích giải rất rõ. Chỉ bằng vào những bằng chứng này, không phải là Việt Dịch Đồ đã khế hợp khít khao hơn và giải thích hợp lý hơn hai quẻ Tử và Sinh của Bát Môn? Hay nói một cách khác là liệu chúng ta có dám nói cấu trúc của HTBQ trong Việt Dịch Đồ có phần chính xác hơn là cấu trúc của HTBQ của Lạc Việt? Vấn đề được đặt ra ở đây là với sự khác biệt quan trọng như vậy mà làm sau cuối cùng rồi hai bên vẫn đạt đến chỗ đồng thuận gần như hoàn toàn? Có thể nào “Tốn = Tử” và “Sinh = Cấn” như là hình Hậu Thiên Và Bát Môn của LVĐT đã cho thấy? Với câu hỏi thứ nhất có lẽ chúng ta có thể tạm giải thích là LVĐT đã dùng âm dương, ngũ hành và độ số chứ không vận dụng những quẻ trong HTBQ-LạcViệt để diễn giải ý nghĩa 8 chữ của Bát Môn, dầu rằng cấu trúc của HTBQ-LạcViệt đã được vận dụng để an vị 8 chữ của Bát Môn. Nếu đúng là như vậy thì ý nghĩa của (a) nhóm “độ số-âm dương-ngũ hành” mà LVĐT vận dụng để diễn giải chữ Sinh của Bát Môn khế hợp hoàn toàn với nội hàm quẻ Tốn của Việt Dịch và (B) nhóm “độ số-âm dương-ngũ hành” mà LVĐT vận dụng để diễn giải chữ Tử của Bát Môn khế hợp hoàn toàn với nội hàm quẻ Chấn của Việt Dịch, như đã cho thấy trong phần phân tích vừa qua. Điều này không có gì lạ vì tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của chữ Tử [điển hình là “nghĩa của Tử thuộc Dương Kim. Độ số là 9. Về phương vị là chính Tây”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Tử cùng quẻ Chấn trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Tử thuộc Chấn +9 Canh Kim hướng chánh Tây, đóng ở Thân vị”]. Và tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của chữ Sinh [điển hình là “nghĩa Sinh thuộc Dương Mộc. Độ số là 3. Về phương vị là chính Đông.”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Sinh cùng quẻ Tốn trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Sinh thuộc Tốn +3 Giáp Mộc hướng chánh Đông, đóng ở Dần vị”]. Như vậy, chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “+9 Canh, hành Kim, hướng chánh Tây” chính là chỗ đứng của quẻ Chấn hay sao? Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “+3 Giáp, hành Mộc, hướng chánh Đông” chính là chỗ đứng của quẻ Tốn hay sao? Và như vậy thì, chẳng phải luận điểm của Việt Dịch về “tính bất khả ly giữa những phần tử trong một tập hợp “độ số- âm dương-ngũ hành-quái” lại càng thêm khả tín hay sao?[1] Tuy những câu hỏi đã được đặt ra, và tuy là Việt Dịch Đồ đã xác định chỗ đứng và sự nghiêm túc của nó cũng như cuốn sách Việt Dịch đã là xong nhiệm vụ giải thích và chứng minh để cho thấy sự nghiêm túc đó, nhưng tinh thần của những câu hỏi vừa rồi [và tất cả những câu hỏi khác trong bài viết này] không phải là để buộc hoặc để dẫn đến kết luận có lợi cho Việt Dịch mà chỉ là sự gợi ý để mở ra những nghiên cứu sâu hơn cho những người quan tâm dầu là đứng về bên lập trường nào. THƯƠNG –Lạc Việt Độn Toán nói, “Thương nghĩa là: Buồn, là thuộc trạng thái tình cảm, là cây lớn, là sự phát triển sung mãn sắp chuyển sang giai đoạn suy vi. Cung Thương là Dương Mộc, nhưng nghĩa của Thương thuộc Âm Mộc. Độ số là 8. Về phương vị là Đông Bắc. Về màu sắc là xanh lá cây sậm.” Cây lớn ở ở đây có nghĩa là “lớn hơn” trong tương quan so sánh giữa dương mộc và âm mộc là đúng. Còn “sự phát triển sung mãn sắp chuyển sang giai đoạn suy vi” thì cần xét lại vì khi đã nói tới chu kỳ thì không thể nào từ chỗ vừa sinh ở Mộc mà đã sắp vào suy vi cũng ở Mộc trong khi còn tới 6 bước nữa trong chu kỳ sinh hóa. Loại trừ cụm chữ này ra thì chúng ta thấy giải thích trên cho thấy nội dung của chữ Thương hoàn toàn thuộc về “Cấn -8 Ất” nằm ở phương vị ĐB của Việt Dịch Đồ và được LVĐT xác định rõ với cụm “. . . nghĩa của Thương thuộc Âm Mộc. Độ số là 8. Về phương vị là Đông Bắc” và vị trí của chữ Thương lại nằm ở Mão vị của Việt Dịch Đồ cũng là vị trí “-8 Ất Cấn” trên hình Bánh Chưng Bát Môn. Cần chú ý một điều là “Cấn -8 Ất” của Việt Dịch Đồ thuộc hướng ĐB [phương vị trên HTBQ] dầu là có đóng ở vị trí Mão của vòng ngoài [vị trí trên 9 cung hoặc 12 cung] và đó cũng chính là lý do tại sao tác giả nói là “ở Mão vị” mà không nói là “ở hướng chánh Đông.” Như vậy thì Hà Đồ Bát Môn của LVĐT và Việt Dịch Đồ thống nhất với nhau trong vấn đề “chỗ và hướng” của chữ Thương. Việt Dịch giải thích “Cấn là tượng vật chất hữu hình dương tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘vật chất hữu hình dương tính” có nghĩa là “đặc, cứng, ngưng kết, làm cho vững vàng, làm cho nặng hơn.’ Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn vật chất hữu hình của vũ trụ vật lý. Chúng có khả năng mô tả cả dạng-tính-thể-trạng-hành của vật chất hữu hình trong thế giới sống. Do đó, Cấn không những là đặc, là cứng mà còn là thô, là xốp, là vật liệu lấy ra từ quặng mõ, là nguyên liệu, là chưa tinh chế, là chưa mài giũa, là chưa hữu dụng, là chưa thành nhân; không những là cứng mà còn là cứng cáp, là vươn lên, là ngóc lên, là trổ mã, là dậy thì, là đứng sừng sững, là núi đồi, là trụ cột, là tháp, là chầy, là cán, là vật để cắm vào, là dương vật, là người nam; không những là vật chất hữu hình trong ý nghĩa vật lý mà còn là vật chất hữu hình theo qui ước xã hội, là tài sản hữu hình (tangible assets), là bất động sản không những là cứng trong ý nghĩa vật lý [vật chất hữu hình có tính cứng vật lý] mà còn là cứng theo qui ước xã hội [vật chất hữu hình có tính cứng qui ước], là tài sản cứng (hard assets), là công cụ sản xuất, là vật dụng cứng (hardwares); không những là cứng trong ý nghĩa vật lý mà còn là cứng trong thái độ hay trong quyết sách, là thẳng tay trừng trị, là đánh trực diện, là không kiêng nể, là nhổ tận gốc, là tiêu diệt, là không nhượng bộ; không những là ngưng kết mà còn là dừng lại, là chựng lại, là khựng lại, là đậu lại, là chựng lại sự hồn nhiên, là không còn vâng lời cha mẹ, là ương ngạnh, là giai đoạn hướng ngoại, là giai đoạn định hình cá tính, là hình thành kiến chấp; không những là ngưng kết của vật chất mà còn là ngưng đọng của vị, là nếm; không những là ngưng, là chựng mà còn là trì trệ, là đình hoãn, là đình chỉ, là bị ngăn trở, là bị chận đứng, là chưa thể tiến hành, là cần giải tỏa, là đình công; không những là làm cho nặng hơn mà còn là làm cho nặng hơn giá trị của bản thân và của sự liên hệ với người khác, là chân tình, là tánh thiện, là mừng [hỉ], là du hồn [du hồn là chủ của mừng]; không những là làm cho nặng hơn mà còn là làm nặng [tăng] áp lực cho xã hội, còn là làm nặng nề hơn tình hình đôi co giữa hai thế lực, là chống đối, là phản kháng, là đấu tranh, là đối đầu, là đối kháng, là chống cự, là biểu tình, là xuống đường; không những là nặng, là làm cho nặng hơn mà còn là làm cho chìm, là làm cho đắm, là làm cho sụp, là làm cho bị chôn vùi, là rớt xuống, là chìm, là suy thoái, là rớt vào khủng hoảng; vừa nằm ở giai đoạn trước khi thành trung nam vừa nằm gần cha cho nên là giai đoạn thiếu niên, là thiếu nam, là con trai út, là tiểu bối bên cha.” (trang 122-126) và “Vạn vật [vòng ngoài] bừng dậy ở xuân-mộc khởi động một nửa chu kỳ sống động của vòng sinh hoá. Cây cỏ mọc mầm, vỡ đất thập thò lú ra ở Giáp [Tốn +3 Giáp], mong manh mềm mại ở Ất [Cấn -8 Ất]. Con người nhú đầu chui ra khỏi bụng mẹ, hít thở không khí lần đầu nhập vào dòng sống sinh động ở Tốn [Tốn +3 Giáp], mong manh tuổi thơ ở Cấn [Cấn -8 Ât]” (trang 138). Với những giải thích này không khó để chúng ta nhận ra là có hàng lố chữ trong đó đều là nguyên ủy gây ra chuyện Buồn, ý nghĩa cốt lõi của chữ Thương. Ngay cả những chữ rất thi vị như “mong manh, mềm mại” cũng vậy vì mong manh, mềm mại cũng có nghĩa là dễ là bị tổn hại hay chết non, tức là những nguyên ủy gây ra chuyện Buồn-Thương. Mà tự điển Hán Nôm cũng có nói Thương là chết non, là tổn hại. Cụm chữ “mong manh, mềm mại” trong Việt Dịch giải thíchvề giai đoạn đầu trong chu kỳ sinh hoá của vạn vật và con người, mà chu kỳ này thì phân bố trên trọn 8 cung, cho nên không thể đem so sánh với “cây lớn” chỉ phân bố trong 2 cung hành Mộc, ở phần giải thích của LVĐT, để kết luận là “chỏi nhau.” Như vậy, chữ Thương của Bát Môn nằm ở cung “Cấn -8 Ất” của Việt Dịch Đồ đã rõ ràng là một điều hợp lý. Cũng giống như lập luận vừa qua trong phần phân tích hai chữ Sinh và Tử, tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của chữ Thương [điển hình là “nghĩa của Thương thuộc Âm Mộc. Độ số là 8. Về phương vị là Đông Bắc.”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Thương cùng quẻ Cấn trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Thương thuộc Cấn -8 Ất Mộc hướng ĐB, đóng ở Mão vị”]. Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “-8 Ất, hành Mộc, hướng ĐB” chính là chỗ đứng của quẻ Cấn hay sao? Thêm vào đó vị trí của quẻ Cấn trong HTBQ-LạcViệt hoàn toàn trùng lập với vị trí của quẻ Cấn trong Việt Dịch Đồ chẳng phải càng xác quyết thêm tính khả tín của Việt Dịch Đồ đó hay sao? ĐỖ --Lạc Việt Độn Toán giải thích “Đỗ nghĩa là: Đạt, là sự thành đạt, là kết quả tốt đẹp, là được việc, là quí nhân phù trợ. Cung Đỗ là Âm Hoả, nhưng nghĩa của Đỗ thuộc Dương Hoả. Độ số là 7. Về Phương vị là chính Nam. Về màu sắc là màu đỏ.” Giải thích này cho thấy ý nghĩa của chữ Đỗ hoàn toàn thuộc về “Ly +7 Bính” của Việt Dịch Đồ và được LVĐT xác nhận rõ với cụm “. . . nghĩa của Đỗ thuộc Dương Hoả. Độ số là 7. Về Phương vị là chính Nam.” và vị trí của chữ Đỗ lại nằm ở “Tỵ vị” của Việt Dịch Đồ cũng là vị trí “+7 Bính Ly” trên hình chiếc Bánh Chưng Bát Môn. Cần để ý một điều là “Ly +7 Bính” của Việt Dịch Đồ thuộc hướng chánh Nam [phương vị trên HTBQ] dầu là có đóng ở vị trí Tỵ của vòng ngoài [vị trí trên 9 cung hoặc 12 cung] và đó cũng chính là lý do tại sao tác giả nói là ở Tỵ vị mà không nói là ở hướng ĐN. Như vậy thì Hà Đồ Bát Môn của LVĐT và Việt Dịch Đồ thống nhất với nhau trong vấn đề “chỗ và hướng” của chữ Đỗ. Việt Dịch giải thích “Ly là tượng năng lượng dương tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘năng lượng dương tính’ có nghĩa là ‘nóng, tỏa sáng, cháy bùng, nhiệt độ cao hơn nhiệt độ của môi trường, bốc lên, có thể làm tăng nhiệt, có thể hóa nhiệt, có thể đốt cháy.’ Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn năng lượng vật lý. Chúng mô tả năng lượng sống, loại năng lượng tiêu thụ và thể hiện, của thế giới vi diệu sinh hóa. Do đó, Ly không những là năng lượng dương tính mà còn là sinh lực dương tính, là sức sống thể hiện, là giai đoạn thai nhi lớn nhanh trong bụng mẹ, là giai đoạn con gái lớn nhanh trong vòng tay mẹ, là giai đoạn trước khi làm mẹ, là trung nữ, là con gái giữa, là hậu bối bên mẹ, là tánh khí sôi nổi, là sự hưng phấn, là bồng bột, là nhiệt tình, là hăng hái, là chân tình, là hiến dâng, là con tim, là tạng tâm; không những là năng lượng dương tính mà còn là năng lượng thanh nhẹ, là nguyên thần, là lễ nghi [nguyên thần là gốc của của lễ nghi, nhiệt tình]; không những là nóng, là tỏa sáng mà còn là nhan sắc đẹp sáng, là phong cách nóng bỏng, là gợi cảm, là hấp dẫn, là quyến rũ; không những là nóng, là tỏa sáng mà còn là mặt trời, là mắt; không những là nóng mà còn là nóng tính, là cộc cằn; không những là nóng, là có thể hóa nhiệt mà còn là bị bệnh nhiệt, bị bệnh cuồng; không những là năng lượng sống mà còn là năng lượng sát phạt, là tranh đoạt, là tranh dành, là tranh thủ, là chiếm lĩnh, là thu tóm; không những là năng lượng sát phạt mà còn là năng lượng hủy diệt là súng, là đạn, là bom, là đầu đạn nguyên tử, là chiến tranh; không những là năng lượng sát phạt và hủy diệt mà còn là năng lượng tiêu thụ, là tiêu thụ, là mua sắm, là xài, là dùng, là nhu cầu; không những là lửa, là nóng trong ý nghĩa vật lý mà còn là lửa, là nóng theo qui ước xã hội, là vùng nóng (hot zone), là vùng chiến, và hỏa lực (fire power), là vũ khí (fire-arm)” (trang 116-119). Hai cách diễn giải tuy khác nhau nhưng ý nghĩa của chữ Đỗ trong phần giải thích của LVĐT không khác với nội hàm của chữ Ly trong Việt Dịch mô tả dạng-thể-tính-trạng-hành của “năng lượng dương tính” trong thế giới vi diệu sinh hóa. Hay nói một cách khác, nếu áp dụng nội hàm của quẻ Ly trong Việt Dịch để diễn giải chữ Đỗ của LVĐT thì Việt Dịch cũng sẽ nói “Đỗ là thành, là đạt, là được quới nhân phù trợ, là điều vui, là sự tốt đẹp.” Như vậy, chữ Đỗ của Bát Môn nằm ở cung “Ly +7 Bính” của Việt Dịch Đồ đã rõ ràng là một điều hợp lý. Cũng giống như lập luận vừa qua trong phần phân tích hai chữ Sinh và Tử, tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của chữ Đỗ [điển hình là “nghĩa của Đỗ thuộc Dương Hoả. Độ số là 7. Về Phương vị là chính Nam.”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Đỗ cùng quẻ Ly trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Đỗ thuộc Ly +7 Bính Hỏa hướng chánh Nam, đóng ở Tỵ vị”]. Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “+7 Bính, hành Hỏa, hướng chánh Nam” chính là chỗ đứng của quẻ Ly hay sao? Thêm vào đó vị trí của quẻ Ly trong HTBQ-LạcViệt hoàn toàn trùng lập với vị trí của quẻ Ly trong Việt Dịch Đồ chẳng phải càng xác quyết thêm tính khả tín của Việt Dịch Đồ đó hay sao? CẢNH –Lạc Việt Độn Toán giải thích “Cảnh nghĩa là: Đi chơi ở trong sự nhàn hạ, phong lưu. Là từ xa tới, là du lịch, là đi xa, là vẻ đẹp, là nhà đẹp, cao rộng có vườn cây hoặc nội thất rực rỡ. Cung Cảnh thuộc Dương Hoả, nhưng nghĩa của Cảnh thuộc Âm Hoả. Độ số là 2. Về phương vị là Đông Nam. Về màu sắc là màu đỏ nâu. Cảnh, vì là Âm Hỏa – chính vị Khôn Thổ (Theo Hậu thiên Lạc Việt) – nên còn có ý nghĩa là Âm Thổ: miếng đất đẹp.” Giải thích này cho thấy ý nghĩa của chữ Cảnh hoàn toàn thuộc về “Khôn -2 Đinh” của Việt Dịch Đồ và được LVĐT xác nhận rõ với cụm “. . .nghĩa của Cảnh thuộc Âm Hoả. Độ số là 2. Về phương vị là Đông Nam.” và vị trí của chữ Cảnh lại nằm ở “Ngọ vị” của Việt Dịch Đồ cũng là vị trí “-2 Đinh Khôn” trên hình chiếc Bánh Chưng Bát Môn. Cần để ý một điều là “Khôn -2 Đinh” của Việt Dịch Đồ thuộc hướng ĐN [phương vị trên HTBQ] dầu là có đóng ở vị trí Ngọ của vòng ngoài [vị trí trên 9 cung hoặc 12 cung] và đó cũng chính là lý do tại sao tác giả nói là ở Ngọ vị mà không nói là ở chánh Nam. Như vậy thì Hà Đồ Bát Môn của LVĐT và Việt Dịch Đồ thống nhất với nhau trong vấn đề “chỗ và hướng” của chữ Cảnh. Việt Dịch giải thích “Khôn là không gian âm tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘không gian âm tính’ có nghĩa là ‘không gian đóng,’ là ‘khép kín, chắn,’ là ‘đã chiếm dụng, không chứa thêm,’ là ‘có thể nâng đỡ, chở,’ là ‘có thể làm tăng áp suất.’ Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả thể-dạng-tính-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn không gian vật lý. Chúng còn mô tả cả thể-dạng-tính-trạng-hành của không gian sống, không gian của thế giới vi diệu sinh hóa. Do đó, Khôn không những là không gian đóng, là không gian khép kín mà còn là hệ thống đóng, là hệ thống khép kín, là thể chế độc tài, là chế độ áp bức, là xã hội thiếu tự do, là nhà nước khống trị, là kinh tế trung ương quy hoạch, là cơ chế tập quyền [vì những hệ thống/ cơ chế chính trị, kinh tế, xã hội quyết định không gian sống của con người]; không những là đóng, là khép kín mà còn là thiếu tự do, là phi dân chủ, là đơn cực, là độc tôn, là áp bức, là độc tài, là khống trị, là tập quyền, là bịt kín thông tin, là che dấu sự thật, là chèn ép dân, là chuyên quyền, là độc đoán; không những là không gian khép kín mà còn có nghĩa là thế giới bên trong, là thế giới gia đình, là thế giới nội tâm, là thế giới âm thầm chịu đựng, thế giới thần bí, thế giới cô độc, thế giới cô đơn; không những là khép kín mà còn là âm thầm, là câm nín, là giấu giếm, là kín đáo, là giữ trong lòng, là sự bảo mật, là cái bụng; không những làm tăng áp suất mà còn là làm tăng áp lực tâm lý, là nhẫn nhục, là thuận tùng, là chiều lòn, là cam chịu, là làm vợ, là làm dân, là người tiêu thụ, là người cấp dưới; không những làm tăng áp suất mà còn là làm tăng áp lực sinh lý, là giai đoạn thai to bụng nặng, là lao động quá sức; không những là làm tăng áp suất mà còn là làm tăng áp lực xã hội là áp chế, là cai trị, là cưỡng bách, là bắt phải làm theo, là bắt phải phục tùng, là đàn áp, là vi phạm nhân quyền, là sách nhiễu; không những là nâng đỡ, là chở mà còn là làm mẹ, là vượt biển [sinh con], là chiếc bè chở con qua bể khổ, là sự hy sinh trọn vẹn cho con và chồng, là tình thương không bến bờ dành cho con, là niềm vui [lạc], là thức thần; không những là nâng đỡ mà còn là nâng đỡ sự sống, là nuôi sống, là thị trường, là nơi giao dịch mua bán, là cơ quan tạo cốc khí nuôi thân, là lá lách, là ứng vào thịt, là hóa thấp; không những là đã chiếm dụng mà còn là giai đoạn thai nhi chiếm đầy bụng mẹ sẵn sàng chào đời; không những là không chỗ để chứa thêm mà còn là tâm hẹp hòi [tâm địa hẹp hòi], là óc bảo thủ, là ngoan cố; không những là chắn mà còn là thành lũy, là ngăn chận hiểm họa, là đón ngừa biến cố, là liệu phòng đói no, là tích lũy tài sản, là lo xa nhưng khi tích lũy mà tới chỗ thái quá thì thành ra là bỏn sẻn, là tham lam và khi lo xa tới chỗ thái quá thì thành ra là ích kỷ, là tiểu nhơn.” (trang 112-116). Nếu áp dụng nội hàm của “Khôn -2 Đinh” trong Việt Dịch để diễn giải thì chữ Cảnh sẽ được giải thích “là cõi, là bờ, là thành, là lũy, là nhà, là đất đai, là cảnh vật, là cảnh giác, là phòng bị.” Và dĩ nhiên là ý nghĩa của nó không phải chỉ nằm trong giới hạn của bao nhiêu chữ đó. Còn một điều chưa có thể giải thích ổn thỏa là cụm chữ “Đi chơi ở trong sự nhàn hạ, phong lưu. Là từ xa tới, là du lịch, là đi xa” trong giải thích của LVĐT. Có lẽ Việt Dịch sẽ khó có thể dung nạp đoạn lý giải này của LVĐT vì tính chất khép kín, phong tỏa và hướng nội của quẻ Khôn, nhưng Việt Dịch có thể chấp nhận được lý giải “ước mơ được du ngoạn, được đi chơi xa, nghĩ về người ở phương xa.” Nếu loại trừ cụm chữ trên của LVĐT, thì tuy là cách diễn giải có khác nhau nhưng ý nghĩa chữ Cảnh của LVĐT không khác với nội hàm của quẻ Khôn trong Việt Dịch mô tả dạng-thể-tính-trạng-hành của “không gian âm tính” trong thế giới vi diệu sinh hóa. Như vậy, chữ Cảnh của Bát Môn nằm ở cung “Khôn -2 Đinh” của Việt Dịch Đồ đã rõ ràng là một điều hợp lý. Cũng giống như lập luận vừa qua trong phần phân tích hai chữ Sinh và Tử, tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của chữ Cảnh [điển hình là “nghĩa của Cảnh thuộc Âm Hoả. Độ số là 2. Về phương vị là Đông Nam.”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Cảnh cùng quẻ Khôn trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Cảnh thuộc Khôn -2 Đinh Hỏa hướng ĐN, đóng ở Ngọ vị”]. Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “-2 Đinh, hành Hỏa, hướng ĐN” chính là chỗ đứng của quẻ Khôn hay sao? Thêm vào đó vị trí của quẻ Khôn trong HTBQ-LạcViệt hoàn toàn trùng lập với vị trí của quẻ Khôn trong Việt Dịch Đồ chẳng phải càng xác quyết thêm tính khả tín của Việt Dịch Đồ đó hay sao? KHAI –Lạc Việt Độn Toán giải thích “Khai nghĩa là dòng nước chảy, là sự khai thông, là trôi đi, là thoát khỏi sự bế tắc, là đi xa thuận lợi, … Cung Khai thuộc Âm Thuỷ, nhưng nghĩa của Khai thuộc Dương Thuỷ. Độ số là 1. Về màu sắc là xanh dương, là đen bóng.” Giải thích này cho thấy ý nghĩa của chữ Khai hoàn toàn thuộc về “Khảm +1 Nhâm” của Việt Dịch Đồ và được LVĐT xác nhận rõ với cụm “. . . nghĩa của Khai thuộc Dương Thuỷ. Độ số là 1.” và vị trí của chữ Khai lạị nằm ở “Hợi vị” của Việt Dịch Đồ cũng là vị trí “+1 Nhâm Khảm” trên hình chiếc Bánh Chưng Bát Môn. Cần để ý một điều là “Khảm +1 Nhâm” của Việt Dịch Đồ thuộc hướng chánh Bắc [phương vị trên HTBQ] dầu là có đóng ở vị trí Hợi của vòng ngoài [vị trí trên cung bàn] và đó cũng chính là lý do tại sao tác giả nói là ở Hợi vị mà không nói là ở TB. Như vậy thì Hà Đồ Bát Môn của LVĐT và Việt Dịch Đồ thống nhất với nhau trong vấn đề “chỗ và hướng” của chữ Khai nhưng Việt Dịch Đồ. Việt Dịch giải thích “Khảm là tượng năng lượng âm tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘năng lượng âm tính’ có nghĩa là ‘lạnh, trầm xuống, chảy tràn vào chỗ thấp, rung chuyển khi bên ngoài xúc chạm vào, tối tăm, nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ của môi trường, có thể làm giảm nhiệt, có thể hóa hàn, có thể làm đông lạnh, có thể làm tắt.’ Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn năng lượng vật lý. Chúng mô tả năng lượng sống, loại năng lượng sáng tạo và tiềm phục, của thế giới vi diệu sinh hóa. Do đó, Khảm không những là năng lượng âm tính mà còn là sinh lực âm tính, là sức sống tàng ẩn, là nguyên tinh, là tinh trùng, là mầm trong hạt, là ngòi sống của chu kỳ kế tiếp, là quả thận; không những là năng lượng âm tính, là tính rung chuyển khi có vật ngoài xúc chạm mà còn là động dục, là năng lượng nặng trược, là năng lượng nhục dục, là giai đoạn thanh xuân trước khi lập gia đình, là giai đoạn sung mãn dục tình, là dục tình; không những thấm xuống, là chảy tràn vào chỗ thấp mà còn là nước, là dòng chảy; không những là nhiệt độ thấp, là có thể làm cho tắt lửa nóng mà còn là “sắc đẹp thủy tinh,” là “nhan sắc nõn giá,” là thuần khiết; không những là lạnh mà còn là tánh khí trầm lặng, là lãnh đạm, là hờ hững, là thờ ơ, là phong cách lạnh lùng; không những là lạnh, là có thể hóa hàn mà còn là bị bệnh trầm cảm, là bị bệnh hàn; không những là năng lượng âm tính, là tối tăm mà còn là thâm hiểm, là ưu lự, là toan tính, là bày mưu, là nghĩ kế, là trí, là mưu trí, là làm kế hoạch, là đưa ra quyết sách, là thâm sâu, là cái vực, là uyên, là hiểu biết đến cùng cực, là lãm; không những là năng lượng sống mà còn là năng lượng sáng tạo, là sáng tác, là sáng chế, là tạo ra cái mới, là sản xuất; không những là năng lượng sáng tạo mà còn là năng lượng tái tạo, là phục hồi, là phục sinh, là phục hoạt; không những là năng lượng tái tạo mà còn là năng lượng đáp ứng, là cung, là cung cấp dịch vụ, là phân phối hàng hóa, là bán ra thị trường; Khảm vừa nằm ở giai đoạn trước khi làm cha vừa nằm cạnh vị trí của cha vừa đối lập với vị trí trung nữ cho nên là trung nam, là con trai giữa, là hậu bối bên cha.” (trang 119-122). Những giải thích này cho thấy rõ là nội hàm của quẻ Khảm trong Việt Dịch dung nạp ý nghĩa của chữ Khai ở mức độ rất cao. Nếu áp dụng nội hàm của “Khảm + 1 Nhâm” trong Việt Dịch để giải nghĩa chữ Khai của Bát Môn thì có lẽ nó sẽ được giải thích “Khai là mở ra, là đào ra, là khui ra, là bới ra, là nới rộng ra, là bắt đầu tiến hành, là làm cho thông, là làm cho mới.” Và, dĩ nhiên là nó không bị giới hạn chỉ trong bao nhiêu chữ đó. Nội hàm của quẻ Khảm trong Việt Dịch có thể là một kho thông tin cung cấp ý nghĩa cho chữ Khai của Bát Môn dưới những hoàn cảnh khác nhau chưa kịp nghĩ đến. Như vậy, chữ Khai của Bát Môn nằm ở cung “Khảm +1 Nhâm” của Việt Dịch Đồ đã rõ ràng là một điều vô cùng hợp lý. Cũng giống như lập luận vừa qua trong phần phân tích hai chữ Sinh và Tử, tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của chữ Khai [điển hình là “nghĩa của Khai thuộc Dương Thuỷ. Độ số là 1. Về màu sắc là xanh dương, là đen bóng.”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Khai cùng quẻ Khảm trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Khai thuộc Khảm +1 Nhâm Thủy hướng chánh Bắc, đóng ở Hợi vị”]. Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “+1 Nhâm, hành Hỏa, hướng chánh Bắc” chính là chỗ đứng của quẻ Khảm hay sao? Thêm vào đó vị trí của quẻ Khảm trong HTBQ-LạcViệt hoàn toàn trùng lập với vị trí của quẻ Khảm trong Việt Dịch Đồ chẳng phải càng xác quyết thêm tính khả tín của Việt Dịch Đồ đó hay sao? HƯU -- Lạc Việt Độn Toán giải thích “Hưu nghĩa là: Nghỉ, sự ngưng trệ, sự nghỉ ngơi do bất lực, kiệt sức, là bế tắc. Cung Hưu thuộc Dương Thuỷ, nhưng nghĩa của Hưu thuộc Âm Thuỷ. Độ số là 6. Về màu là màu đen xỉn, xanh đen.” Giải thích này cho thấy ý nghĩa của chữ Hưu hoàn toàn thuộc về “Càn -6 Quý” của Việt Dịch Đồ và được LVĐT xác nhận rõ với cụm “. . .nghĩa của Hưu thuộc Âm Thủy. Độ số là 6.” và vị trí của chữ Hưu lại nằm ở “Tí vị” của Việt Dịch Đồ cũng là vị trí “-6 Quý Càn” trên hình chiếc Bánh Chưng Bát Môn. Cần để ý một điều là “Càn -6 Quý” của Việt Dịch Đồ thuộc hướng TB [phương vị trên HTBQ] dầu là có đóng ở vị trí Tí của vòng ngoài [vị trí trên cung bàn] và đó cũng chính là lý do tại sao tác giả nói là ở Tí vị mà không nói là ở hướng chánh Bắc. Như vậy thì Hà Đồ Bát Môn của LVĐT và Việt Dịch Đồ thống nhất với nhau trong vấn đề “chỗ và hướng” của chữ Hưu. Việt Dịch giải thích “Càn là tượng không gian dương tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì ‘không gian dương tính’ có nghĩa là ‘không gian mở,’ là ‘trống rỗng, thông thoáng,’ là ‘có thể chứa đựng,’ là ‘có thể làm giảm áp suất,’ là ‘có thể che.’ Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả thể-dạng-tính-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn không gian vật lý. Chúng còn mô tả cả thể-dạng-tính-trạng-hành của không gian sống, không gian của thế giới vi diệu sinh hóa. Do đó, Càn không những là không gian mở, là không gian thông thoáng mà còn là thể chế tự do, là chế độ dân chủ, là xã hội đa nguyên, là nhà nước pháp trị, là kinh tế thị trường, là cơ chế phân quyền [vì những hệ thống/ cơ chế chính trị, kinh tế, xã hội quyết định không gian sống của con người]; không những là mở, là thông thoáng mà còn là tự do, là dân chủ, là đa nguyên, là đa chiều, là pháp trị, là phân quyền, là tản quyền, là minh bạch; không những là mở, là thông thoáng mà còn là thế giới bên ngoài, là ý chí cao xa, là hay lo việc lớn, là bày tỏ, là hiển lộ; không những là rộng, là thông thoáng mà khi rộng và thông thoáng nhưng không thấy rõ thì thành là mông lung, là mất định hướng, là lạc lối, là si, là yêu [ái là bản chất của tánh si]; không những là làm giảm áp suất mà còn là làm giảm áp lực tâm lý, là làm giảm sự ngộp ngạt tù túng tâm lý, là thoát ra bên ngoài, là hướng ngoại, là làm việc bên ngoài; không những là làm giảm áp suất mà còn là làm giảm áp lực sinh lý, là trược tinh tẩu lậu [tinh khí thoát ra ngoài], là lập gia đình; không những là có thể chứa đựng mà còn là bao dung, là mở vòng tay để đón người, là tâm rộng lượng, là lòng quảng đại, là quân tử; không những là che mà còn là hứng lấy áp lực, là tàng cây, là dù, là lộng, là cha, là chồng, là người lãnh đạo, là cái đầu, là người trên, là xếp, là chính quyền.” (trang 110-112) và “Bên ngoài vòng đai đỏ của đồ hình mô tả chu kỳ sinh hoá của thiên nhiên qua 8 giai đoạn là (a) biến mất ở Tân, (B) im lìm ở Nhâm, © ngủ vùi ở Quý, (d) bừng dậy thập thò ở Giáp, (e) mềm mại mong manh ở Ất, (f) vươn ra lớn mạnh ở Bính, (g) vững chắc đầy đủ ở Đinh, (h) tàn lụi rũ chết ở Canh.” (trang 141) và “Vạn vật quy tàng ở đông thủy, im lìm ở Nhâm [b = Nhâm +1 Khảm] ngủ vùi ở Quý [c = Quý -6 Càn] . . . Giai đoạn quy tàng trong chu kỳ sinh hóa của thiên nhiên thì vạn vật đi vào đông miên để tiết kiệm năng lượng.” (trang 144). Những giải thích này cho thấy nội hàm của “Càn -6 Quý” trong Việt Dịch hoàn toàn dung nạp ý nghĩa “Hưu là Nghĩ ngơi” nhưng không chắc sẽ dung nạp ý nghĩa “Hưu là bế tắc hay bất lực” như LVĐT đã diễn giải bởi vì theo Việt Dịch tính chất của Càn là mở ra, là thông thoáng. Thêm vào đó là lý giải truyền bá trong nhân gian cũng cho rằng Hưu là cát môn. Mà đã là cát môn thì khó có thể nói dung nạp cụm chữ “bế tắc hay bất lực.” Suy ra cũng thấy là điều này có sự hữu lý của nó vì đây chỉ mới là Hưu chứ chưa phải là Tù thì làm sau nói là bế tắc. Nếu áp dụng nội hàm của quẻ “Càn +6 Quý Thủy” trong Việt Dịch để giải nghĩa chữ Hưu của Bát Môn thì có lẽ nó sẽ được giải thích “Hưu là nghĩ ngơi, là thôi, là buông bỏ, là thoái ẩn, là có thể hưởng nhàn, là có thể ngao du bên ngoài, là thong dong, là tự do tự tại, là dẹp bỏ hết phiền não động, là an lạc, là bình yên.” Và, dĩ nhiên là nó không bị giới hạn chỉ trong bao nhiêu chữ đó. Nội hàm của quẻ Càn trong Việt Dịch có thể là một kho thông tin cung cấp ý nghĩa cho chữ Hưu của Bát Môn dưới những hoàn cảnh khác nhau. Như vậy, chữ Hưu của Bát Môn nằm ở cung “Càn -6 Quý” của Việt Dịch Đồ rõ ràng là có sự hợp lý, dầu rằng những lời giải thích của LVĐT có một nữa không cùng nhịp với giải thích của Việt Dịch. Cũng giống như lập luận vừa qua trong phần phân tích hai chữ Sinh và Tử, tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của chữ Hưu [điển hình là “nghĩa của Hưu thuộc Âm Thuỷ. Độ số là 6.”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Hưu cùng quẻ Càn trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Hưu thuộc Càn -6 Quý Thủy hướng TB, đóng ở Tí vị”]. Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “-6 Quý, hành Thủy, hướng TB” chính là chỗ đứng của quẻ Càn hay sao? Thêm vào đó vị trí của quẻ Càn trong HTBQ-LạcViệt hoàn toàn trùng lập với vị trí của quẻ Càn trong Việt Dịch Đồ chẳng phải càng xác quyết thêm tính khả tín của Việt Dịch Đồ đó hay sao? KINH –Lạc Việt Độn Toán giải thích “Kinh nghĩa là: Kinh sợ, đột ngột, sự bất ngờ, là giật gân, là người làm việc táo bạo, mạo hiểm … Cung Kinh thuộc Dương Kim, nhưng nghĩa của Kinh thuộc Âm Kim. Độ số là 4. Về màu sắc là trắng xám.” Giải thích này cho thấy ý nghĩa của chữ Kinh hoàn toàn thuộc về “Đoài -4 Tân” của Việt Dịch Đồ và được LVĐT xác nhận rõ với cụm “. . . nghĩa của Kinh thuộc Âm Kim. Độ số là 4.” và vị trí của chữ Kinh lại nằm ở “Dậu vị” của Việt Dịch Đồ cũng là vị trí “-4 Tân Đoài” trên hình chiếc Bánh Chưng Bát Môn. Cần để ý một điều là “Đoài -4 Tân” của Việt Dịch Đồ thuộc hướng TN [phương vị trên HTBQ] dầu là có đóng ở vị trí Dậu của vòng ngoài [vị trí trên cung bàn] và đó cũng chính là lý do tại sao tác giả nói là ở Dậu vị mà không nói là ở hướng chánh Tây. Như vậy thì Hà Đồ Bát Môn của LVĐT và Việt Dịch Đồ thống nhất với nhau trong vấn đề “chỗ và hướng” của chữ Kinh. Việt Dịch giải thích “Đoài là tượng vật chất hữu hình âm tính. Lý giải ở một tầng thấp hơn thì “vật chất hữu hình âm tính” có nghĩa là “mềm, lỏng, nhỏ, có thể bốc hơi, làm cho nhẹ hơn.” Nguyên thủy của những từ ngữ này dùng để mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của vũ trụ vật lý Tiên Thiên Bát Quái Đồ. Trong thế giới vi diệu sinh hoá Hậu Thiên Bát Quái Đồ, những từ ngữ này vượt ngoài giới hạn vật chất hữu hình của vũ trụ vật lý. Chúng có khả năng mô tả dạng-tính-thể-trạng-hành của cả vật chất hữu hình trong thế giới sống. Do đó, Đoài không những là mềm, là lỏng mà còn là nơi mềm lỏng tụ hội, là ao đầm, là bọc nước chứa thai nhi, là giai đoạn thụ thai, là trứng, là âm hộ, là miệng, là vật ngậm lấy, là người nữ; không những là mềm, là lỏng mà còn trạng thái mềm lỏng hòa vào nhau, là nhuyễn, là sệt, là dễ thẩm thấu, là dễ nắn, là chất bùn, là chất bã, là cream, là lotion, là gel, là paste, là thức ăn nhuyễn, là ruột non, là ruột già; không những là mềm mà còn là dẻo, là dễ cột, là dây, là sợi, là chỉ, là tóc, là trói, là buộc; không những là mềm trong ý nghĩa vật lý [vật chất hữu hình có tính mềm vật lý] mà còn là mềm trong ý nghĩa định tính do qui ước xã hội [vật chất hữu hình có tính mềm qui ước], là phần mềm (software), là tiền tệ (soft power), là chứng khoán, là tài sản mềm (soft assets), là công sức lao động, là kiến thức, là trình độ, là kỹ năng nghề nghiệp, là kinh nghiệm làm việc; không những lỏng trong ý nghĩa vật lý mà còn là lỏng trong ý nghĩa định tính theo qui ước xã hội, là sự lưu hoạt của tiền tệ (credit liquidity), là sự lưu hoạt của chứng khoán (security liquidity), là có thể biến thành tiền, là biến thành tiền (liquidation); không những là lỏng mà còn là làm cho nổi lên, là làm cho đi lên, là làm cho thoát khỏi suy thoái, là ra khỏi khủng hoảng, là đi lên, là kinh tế phục hồi; không những là lỏng trong ý nghĩa vật lý mà còn là lỏng lẻo trong quy củ và sự vận hành, là nới lỏng kiểm soát, là bớt siết chặt ngân sách, là bơm thêm dự trữ trong chính sách tiền tệ, là hạ lãi suất, là giảm bớt yêu cầu; không những là nhỏ mà còn là vi tế, là tinh vi, là khéo léo, là biến hóa không chừng, là mầu nhiệm, là diệu, là vi diệu; không những là làm cho nhẹ hơn mà còn là làm cho nhẹ hơn áp lực tâm lý, là hòa duyệt, là cùng nhịp, là không trái ý nhau, là không thái quá, là không bất cập, là đẹp lòng, là ưa thích; không những là làm cho nhẹ hơn mà còn là làm cho nhẹ áp lực cho xã hội, là làm cho tình hình giữa hai thế lực đang đôi co bớt căng thẳng, là đàm phán, là điều đình, là thương lượng, là thương thuyết, là hòa giải, là xét xử, là giải quyết, là thông qua, là biểu quyết xong, là có thể tiến hành, là lưu thông, là luân chuyển, là ký kết, là hợp đồng; không những là làm cho nhẹ hơn mà còn là làm cho nhẹ hơn giá trị của bản thân và của sự liên hệ với người khác, là giận dữ, là phẫn nộ, là tánh hung, là quỷ phách [quỷ phách là chủ của hung, của nộ]; vừa nằm ở giai đoạn trước khi thành trung nữ vừa nằm gần mẹ cho nên là giai đoạn của thiếu nữ, là thiếu nữ, là con gái út, là tiểu bối bên mẹ.” Giải thích này cho thấy nội hàm của quẻ Đoài thoạt nhìn vào dường không dung nạp diễn giải của LVĐT. Nhưng khi Việt Dịch triển khai nội hàm “không những là nhẹ mà còn là nhẹ bóng vía, là hay sợ, hay giật mình, hay hốt hoảng, là dễ bị kinh hãi.” Thì thấy ngay nó hoàn toàn dung nạp diễn giải “Kinh là Sợ” của LVĐT. Hàng lố chữ trong nội hàm của quẻ Đoài cũng cho thấy nó liên quan đến vấn đề thương mãi. Và nếu cho rằng người làm kinh doanh là “người làm việc táo bạo, mạo hiểm” thì sự dung nạp của quẻ Đoài đối với giải thích của LVĐT coi như trọn vẹn. Tìm kiếm ý nghĩa chữ Kinh trong tự điển Hán và Nôm chúng ta thấy “Kinh là (a) 巠 mạch nước; (B) 溼 ướt, thấp ẩm; © 經 经 thường [là đạo đức đã định không thể đổi được], sửa [như kinh lý là sửa trị, kinh doanh là sửa sang hay mở mang việc mua bán], thắt cổ [như tự kinh là tự thắt cổ chết]; (d) 驚 sợ hãi. Và tất cả những định nghĩa này trong tự điển đều có trong nội hàm của quẻ Đoài. Như vậy, chữ Kinh của Bát Môn nằm ở cung “Đoài -4 Tân” của Việt Dịch Đồ rõ ràng là rất hợp lý. Cũng giống như lập luận trước, tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của chữ Kinh [điển hình là “nghĩa của Kinh thuộc Âm Kim. Độ số là 4.”] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Kinh cùng quẻ Đoài trong Việt Dịch Đồ. Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận ““Đoài -4 Tân, Âm Kim, hướng TN.” chính là chỗ đứng của quẻ Đoài hay sao? Vị trí của quái Đoài trong HTBQ-LạcViệt không trùng lập với vị trí của quái Đoài trong Việt Dịch Đồ. Và đây là một trong 3 quái tạo khoảng cách giữa HTBQ-LạcViệt với HTBQ -ViệtDịchĐồ. Hai quái kia đã được nói đến nhiều trong phần phân tích chữ Sinh và chữ Tử. Và nếu như lập luận Tốn-Chấn trong phần phân tích hai chữ Sinh-Tử có sức thuyết phục và được chấp nhận thì quái Đoài chỉ còn có một chỗ phải nằm vào là ở góc TN. Nói một cách khác, trục Sinh-Tử chính là chỗ để suy nghiệm cho thật thấu đáo nếu muốn “to reconcile” sự khác biệt giữa HTBQ của LạcViệt và HTBQ của Việt Dịch. Tóm lại, qua những phân tích vừa rồi chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy Việt Dịch Đồ sẵn sàng và hoàn toàn dung nạp 8 chữ của Bát Môn cũng như dung nạp diễn giải của LVĐT về 8 chữ đó. Cũng không khó để chúng ta nhận thấy Việt Dịch Đồ khế hợp với cấu trúc của Bát Môn một cách hoàn hảo, và có lẽ hoàn hảo hơn là Hà Đồ Bát Môn của Lạc Việt theo chủ quan của tác giả. XÉT VIỆT DỊCH ĐỒ VÀ LẠC VIỆT ĐỘN TOÁNTRONG TƯƠNG QUAN VỚI LỤC NHÂM Tương tự như đã làm với Bát Môn, bây giờ chúng ta đem vòng trong của Việt Dịch Đồ phối vào 9 cung chúng ta sẽ có được cái hình Bánh Chưng Lục Nhâm. So hình Bánh Chưng Lục Nhâm với hình ngôi sao Hậu Thiên Bát Quái Lạc Việt [xoay 180 độ], nếu tạm quên quái mà chỉ nhìn vào 6 chữ của Lục Nhâm và vị trí của chúng trên cả hai hình thì có thể nói là không khác nhau. Đem hình Bàn Tay Lục Nhâm Lạc Việt ra so với hình ngôi sao Hậu Thiên Bát Quái Lạc Việt và với hình Bánh Chưng Lục Nhâm thì có một sự khác biệt rất lớn. Trước hết chúng ta hãy xét cấu trúc của hình Bánh Chưng Lục Nhâm theo tinh yếu Việt Dịch và hình ngôi sao HTBQ-LạcViệt. Trong hai hình này có đến 4 cung hoàn toàn giống nhau. Đó là cung Đại An (Càn), cung Vô Vong (Khôn), cung Tốc Hỉ (Ly) và cung Lưu Niên (Khảm). Điều này không có gì đáng ngạc nhiên vì như đã nói trước đây là HTBQ của Lạc Việt và HTBQ của Việt Dịch trùng nhau tới 5 quái. Và 5 quái đó là Càn, Khôn, Khảm, Ly, Cấn. Hai cung còn lại trong số 6 cung của Lục Nhâm, tức là cung Tiểu Cát và cung Xích Khẩu thì chỉ giống nhau về vị trí trên cung bàn nhưng không giống nhau về quái nằm trong cung bàn. Trước hết chúng ta hãy xét hai cung không giống nhau này: XÍCH KHẨU --Với hình ngôi sao HTBQ-LạcViệt thì quẻ Xích Khẩu an ngay cung của cặp Tốn-Đoài, là cặp quái bất dịch do kết hợp những quái điên đảo dịch theo ngôn ngữ của LVĐT. Học giả NVTA đã nói “chỉ có Hậu thiên bát quái Lạc Việt mới có khả năng kết hợp hai cặp quái Điên đảo dịch thành 2 cặp bất dịch và tạo thành 6 cực.” Phát biểu này chỉ chính xác có một nửa. Đúng là chỉ có Lạc Việt Độn Toán mới có hai cặp điên đảo dịch nhưng không phải chỉ có LVĐT mới có khả năng tạo thành 6 cực. Kết hợp hai quái để làm thành một quẻ là một điều không có gì mới mẻ hay lạ lùng. Chu Dịch đã làm điều đó và Việt Dịch cũng có khả năng đó. Việt Dịch không những có khả năng kết hợp hai quái làm thành một quẻ mà còn có khả năng kết hợp tối đa đến 8 quái để làm thành một quẻ. Chính vì khả năng này mà Việt Dịch không cần viết lời cho từng hào. Với Việt Dịch Đồ, hai quái Chấn và Đoài được kết hợp làm nên quẻ “Chấn +9 Canh” + “Đoài -4 Tân” nằm ở hướng chánh Tây tới Tây Nam, hành Kim, và là cung an quẻ Xích Khẩu của Lục Nhâm. Chấn là quái gốc [nội quái] còn Đoài là quái ngọn [ngoại quái] tính theo vòng vận hành ngược kim đồng hồ. Như vậy, Việt Dịch Đồ và hình ngôi sao của LVĐT thống nhất về vị trí, phương hướng và ngũ hành của quẻ Xích Khẩu nhưng khác nhau về cặp quái nằm trong cung Xích Khẩu. LVĐT diễn giải “Xích Khẩu: tranh chấp, cự cãi, lý luận, xung sát. . . Đây là thuộc tính của hành Kim, vậy liên hệ với Tốn – Đoài.” và “Xích khẩu thuộc Kim. Nghĩa là sự tranh luận, cãi nhau, tiếng ồn ào, tiếng động. Về sự việc là tranh chấp kiện tụng. Về nghề nghiệp là nghề liên quan đến kim khí, máy móc; liên quan đến miệng như: dạy học, luật sư, quảng cáo, thông tin… Về người là người hay nói, lý luận khúc chiết, là người thấp, đầy đặn, nhiều lý trí. Về bệnh tật là bệnh liên quan đến phổi, tai, xương cốt. Về hướng là hướng Tây hoặc Tây Nam. Về màu sắc là màu trắng hoặc xám trắng. Về độ số là 4 và 9.” Việt Dịch giải thích “Chấn . . . không phải chỉ làm chấn động trong ý nghĩa vật lý mà còn là chấn động trong ý nghĩa dư luận xã hội, là tai tiếng, là tiếng đồn, là nổ ra những sự kiện ô nhục, là xì-căn-đăng; không phải chỉ là làm cho nổ trong ý nghĩa vật lý mà còn là làm cho nổ ra trong ý nghĩa dư luận xã hội, là tố cáo, là tố giác, là bôi nhọ công khai, là gây ra hiểu lầm; . . . không phải chỉ hoá quang trong ý nghĩa vật lý mà còn là làm cho thấy trong ý nghĩa dư luận xã hội, là giải thích, là biện minh, là trưng ra bằng chứng. . .” và “Đoài không những là mềm, là lỏng mà còn là nơi mềm lỏng tụ hội, là ao đầm, là bọc nước chứa thai nhi, là giai đoạn thụ thai, là trứng, là âm hộ, là miệng, là vật ngậm lấy, là người nữ; không những là mềm, là lỏng mà còn trạng thái mềm lỏng hòa vào nhau, là nhuyễn, là sệt, là dễ thẩm thấu, là dễ nắn, là chất bùn, là chất bã, là cream, là lotion, là gel, là paste, là thức ăn nhuyễn, là ruột non, là ruột già. . .” Những giải thích trên cho thấy quá rõ ý nghĩa Chấn là tranh chấp và Đoài là cái miệng. Như vậy, sự kết hợp hai quái Chấn-Đoài không phải là quẻ nói về những tranh chấp liên quan đến cái miệng hay sao? Không phải là quẻ Xích Khẩu hay sao? LVĐT cũng xác nhận “Xích Khẩu: tranh chấp, cự cãi, lý luận, xung sát. . . Đây là thuộc tính của hành Kim, vậy liên hệ với Tốn – Đoài.” và “Xích khẩu thuộc Kim. Nghĩa là sự tranh luận, cãi nhau, tiếng ồn ào, tiếng động. Về sự việc là tranh chấp kiện tụng.” Vấn đề được đặt ra ở đây là làm sao mà hai bên thống nhất với nhau từ vị trí của Xích Khẩu, cho đến ý nghĩa của quẻ Xích Khẩu, cho đến phương hướng, ngũ hành và độ số của cung Xích Khẩu mà lại có thể hoàn toàn khác nhau về cặp quái nằm trong cung Xích Khẩu??? Cũng giống như lập luận trước đây trong phần lý giải Bát Môn, có lẽ chúng ta có thể bàn là LVĐT đã dùng âm dương, ngũ hành và độ số chứ không vận dụng những quẻ trong HTBQ-LạcViệt để diễn giải ý nghĩa những chữ của Lục Nhâm, dầu rằng cấu trúc của HTBQ-LạcViệt đã được vận dụng để an vị 6 chữ của Lục Nhâm. Và như vậy thì ý nghĩa của nhóm “độ số-âm dương-ngũ hành” mà LVĐT vận dụng để diễn giải chữ Xích Khẩu của Lục Nhâm khế hợp hoàn toàn với quẻ Chấn-Đoài của Việt Dịch như đã cho thấy trong phần phân tích vừa qua. Điều này không có gì lạ vì tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành mà LVĐT cung cấp trong phần diễn giải ý nghĩa của Xích Khẩu [điển hình là “Xích Khẩu: tranh chấp, cự cãi, lý luận, xung sát. . . Đây là thuộc tính của hành Kim . . . Về hướng là hướng Tây hoặc Tây Nam. Về màu sắc là màu trắng hoặc xám trắng. Về độ số là 4 và 9. . .] hoàn toàn trùng lập với tập hợp của độ số, âm dương, ngũ hành ở vị trí chữ Xích Khẩu cùng quẻ Chấn-Đoài trong Việt Dịch Đồ [điển hình là “Xích Khẩu thuộc “Chấn +9 Canh” + “Đoài -4 Tân” hành Kim hướng chánh Tây tới TN đóng ở Dậu + Thân vị”]. Mà Việt Dịch thì dùng thuần nội hàm của 8 quái để giải. Như vậy chẳng phải là LVĐT đã gián tiếp chứng minh và xác nhận “+9 Canh, hành Kim, hướng chánh Tây” chính là chỗ đứng của quẻ Chấn và “-4 Tân, hành Kim, hướng TN” chính là chỗ đứng của quái Đoài hay sao? Nếu là như vậy thì chẳng phải luận điểm của Việt Dịch về “tính bất khả ly giữa những phần tử trong một tập hợp “độ số- âm dương-ngũ hành-quái” lại càng thêm khả tín hay sao? TIỂU CÁT --Với hình HTBQ-LạcViệt thì quẻ Tiểu Cát an ngay cung của cặp Cấn-Chấn, là một cặp quái điên đảo thứ hai của LVĐT. Với hình HTBQ-LạcViệt thì quẻ Tiểu Cát an ngay cung của cặp Cấn-Chấn, là cặp quáiđiên đảo dịch theo ngôn ngữ của LVĐT. Với Việt Dịch Đồ, hai quái Tốn và Cấn được kết hợp làm nên quẻ “Tốn +3 Giáp” + “Cấn -8 Ất” nằm ở hướng chánh Đông tới Đông Bắc, hành Mộc và là cung an quẻ Tiểu Cát của Lục Nhâm. Tốn là quái gốc [nội quái] còn Cấn là quái ngọn [ngoại quái] tính theo vòng vận hành ngược kim đồng hồ. Như vậy, Việt Dịch Đồ và LVĐT thống nhất về vị trí, phương hướng và ngũ hành của quẻ Xích Khẩu nhưng khác nhau về cặp quái nằm trong cung Tiểu Cát. LVĐT diễn giải “Tiểu cát thuộc Mộc. Nghĩa là niềm vui nhỏ, là tin tức vui, là tình cảm, tình yêu, sự quí mến. Về sự vật là sách vở, là tri thức, học hành, là cây cối. Về người là người giàu tình cảm, là hôn nhân, tình duyên. Về nghề nghiệp là người buôn bán nhỏ, có tiểu lợi, là người làm ăn liên quan đến gỗ cây, sách vở, tri thức… Về hình thể là người yểu điệu, mình dây, duyên dáng; đàn ông cao gầy có tính hiền, ham học hỏi. Về bệnh liên quan đến gan. Về hướng là hướng Đông hoặc Đông Bắc. Về màu sắc là màu xanh lá cây. Về độ số là 3 và 8.” Và “Niềm vui nhỏ, dịu dàng, mềm mỏng, vươn lên….Đây là thuộc tính của hành Mộc.” Việt Dịch giải thích “Tốn . . . không những là không khí mà còn là gió, là nhập vào, là len vào, là thâm nhập, là len lén, là nhè nhẹ, là rụt rè, là thập thò, là e lệ, là nhún nhường, là bâng khuâng, là lãng đãng, là dìu dịu, là bềnh bồng, là quấn quít, là ngây ngất, là choáng váng, là vấn vương, là nhớ nhung; không những là không khí, là gió mà còn là hơi thở, là mây trời, là phiêu bồng, là lan tỏa, là bay, là lay động, là mềm mại, là mỏng manh; không những là không khí, là hơi thở, là nhập vào mà còn là hơi thở đầu đời nhập vào dòng sống, là chào đời, là nứt mộng, là đâm chồi, là nhú ra, là lú ra, là giai đoạn sơ sinh, là vô tư, là ngây thơ, là nhân hậu, là nhu hòa, là nguyên tánh [nguyên tánh là gốc của nhu hoà, nhân hậu], là tạng can; không những là âm thanh, là làm phát ra âm thanh mà còn là tiếng nói, là nhạc, là dư luận, là truyền thông, là phát sóng, là truyền tải thông tin, là tuyên truyền; không những là làm cho nghe tiếng mà còn là làm cho nghe thấy ước muốn, làm cho nghe thấy ý kiến, là đệ đạt nguyện vọng, là đề nghị yêu sách, là trình bày ý kiến, là đưa ra quan điểm, là thố lộ ý nghĩ, là tiết lộ nội tâm, là tâm sự với người khác; không những là làm cho nghe tiếng mà còn là làm cho nghe thấy sự thật, là bàn bạc, là hội thảo, là nghiên cứu, là điều tra, là tường trình, là báo cáo, là phản hồi tin tức. . .” và “Cấn không những là đặc, là cứng mà còn là thô, là xốp, là vật liệu lấy ra từ quặng mõ, là nguyên liệu, là chưa tinh chế, là chưa mài giũa, là chưa hữu dụng, là chưa thành nhân; không những là cứng mà còn là cứng cáp, là vươn lên, là ngóc lên, là trổ mã, là dậy thì, là đứng sừng sững, là núi đồi, là trụ cột, là tháp, là chầy, là cán, là vật để cắm vào, là dương vật, là người nam; không những là vật chất hữu hình trong ý nghĩa vật lý mà còn là vật chất hữu hình theo qui ước xã hội, là tài sản hữu hình (tangible assets), là bất động sản không những là cứng trong ý nghĩa vật lý [vật chất hữu hình có tính cứng vật lý] mà còn là cứng theo qui ước xã hội [vật chất hữu hình có tính cứng qui ước], là tài sản cứng (hard assets), là công cụ sản xuất, là vật dụng cứng (hardwares). * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
KINH DỊCH, DI SẢN SÁNG TẠO CỦA NGƯỜI VIỆT NAM?16:40:40, 06/07/2004báo Thanh NienĐã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam về Kinh Dịch, trong số đó có một công trình đặt lại vấn đề " tác quyền" của bộ Kinh này. Đó là học giả Nguyễn Thiếu Dũng, qua nhiều tìm tòi và nghiên cứu, ông đã nêu ra một số chứng lý để minh chứng rằng Kinh Dịch là sáng tạo của người Việt Nam. Với sự thận trọng cần thiết, Thanhnien Online xin giới thiệu bài viết sau đây của học giả Nguyễn Thiếu Dũng để rộng đường tham khảo. Từ hai nghìn năm trước khi chúng ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ, tổ tiên chúng ta ở thời đại Hùng Vương đã sáng tạo Kinh Dịch và dùng học thuyết này xây dựng nền tảng cơ bản cho văn hoá Việt Nam, nhờ thế trong suốt một nghìn năm lệ thuộc Trung Hoa, chúng ta vẫn đứng vững không bị đồng hoá như các dân tộc ở Hoa Nam. Người Trung Hoa không biết từ thời điểm nào đã tiếp thu được Kinh Dịch của Việt Nam và họ cũng đã dùng Kinh Dịch để góp phần xây dựng nền tảng văn hoá của họ. Cho nên trong sinh hoạt, chúng ta có nhiều điểm giống họ, sau một nghìn năm mất chủ quyền, ta mất luôn tác quyền Kinh Dịch và những gì ta nghĩ, ta làm thấy giống Trung Hoa ta đều tự nhận mình học của Trung Hoa. Kỳ thật không phải như vậy. Người Trung Hoa rất trọng hướng Đông, khi họ tiếp khách, chủ nhà ngồi quay mặt về hướng Đông để tỏ chủ quyền. Trong thời lập quốc họ luôn luôn hướng về biển Đông, không kể Nam Kinh những Kinh đô danh tiếng của Trung Quốc đều lần lượt nối nhau tiến dần từ Tây Bắc sang Đông. Ngày nay những thành phố lớn của họ cũng đều tập trung ở bờ Đông. Thế mà trong Kinh Dịch họ phải công nhận hướng Nam là hướng văn minh, mặc dầu trong sử sách họ vẫn cho Hoa Nam là xứ man di. Mỗi khi cần bói Dịch họ đặt Kinh Dịch trên bàn thờ cho quay mặt về hướng Nam như hướng ngồi của Hoàng đế, rồi lạy bái cầu xin. Cử chỉ này cho thấy trong tiềm thức họ không quên nguồn gốc Kinh Dịch đến từ phương Nam, từ đất nước của các vua Hùng. Trong vòng 60 năm trở lại đây một số nhà nghiên cứu Việt Nam đã trực giác thấy rằng Kinh Dịch là tài sản của Việt Nam nhưng khi nói như thế họ vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của truyền thuyết nên vẫn thừa nhận Phục Hy là nhân vật sáng tạo Kinh Dịch. Cho nên không tránh được mâu thuẫn. Ngày nay chúng ta có đầy đủ chứng lý để nói ngay rằng Kinh Dịch là sản phẩm của Việt Nam, do chính tổ tiên người Việt sáng tạo, trên chính quê hương Việt Nam với nhiều bằng chứng vật thể còn lưu dấu trên đồ gốm Phùng Nguyên, đồ đồng Đông Sơn. Phục Hy, Văn Vương chưa từng làm ra Dịch. 1) Chứng lý vật thể: Kinh Dịch xuất hiện tại Việt Nam một nghìn năm trước khi có mặt tại Trung Quốc: Tại di chỉ xóm Rền, thuộc nền Văn hoá khảo cổ Phùng Nguyên, các nhà khảo cổ đã đào được một chiếc nồi bằng đất nung (11, tr 642) trên có trang trí bốn băng hoa văn, mỗi băng nầy tương đương với một hào trong quẻ Dịch, theo phép đọc Hổ thể thì đây chính là hình khắc của quẻ Lôi Thuỷ Giải. Đây có thể xem là chứng tích xưa nhất trên toàn thế giới hiện chúng ta đang có được về Kinh Dịch. Chiếc nồi báu vật vô giá này mang trên mình nó lời cầu nguyện của tổ tiên chúng ta về cảnh mưa thuận gió hòa, mong sao được sống một đời an bình không có họa thuỷ tai. Lôi Thuỷ Giải là mong được giải nạn nước quá tràn ngập (lũ lụt), hay nước quá khô cạn (hạn hán). Niên đại của Văn hoá Phùng Nguyên được Hà Văn Tấn xác định: ”Phùng Nguyên và Xóm Rền đều là các di chỉ thuộc giai đoạn giữa của văn hoá Phùng Nguyên. Hiện tại chưa có niên đại C14 cho giai đoạn này. Nhưng hiện nay chúng ta đã có một niên đại C14 của di chỉ Đồng Chỗ là di chỉ mà tôi cho là thuộc giai đoạn sớm của Văn hoá Phùng Nguyên: 3800 + 60 BP (Bln-3081) tức 1850 + 60BC (Hà Văn Tấn 1986: 181-182). Như vậy, các di chỉ Phùng Nguyên và Xóm Rền phải muộn hơn niên đại này. Nhưng Phùng Nguyên và Xóm Rền lại sớm hơn các niên đại C14 của lớp dưới di chỉ Đồng Đậu. Hiện nay lớp này có các niên đại: 3330 + 100BP (Bln-830), 3050 + 80BP (Bln-3711); 3015 + 65BP (HCMV 05/93); 3100 + 50BP (HCMV 06/93). Nếu tin vào các niên đại C14 này thì giai đoạn giữa của văn hoá Phùng Nguyên nằm vào khoảng giữa thế kỷ 17 và thế kỷ 14 trước Công Nguyên... tương đương với văn hoá Thương ở Trung Quốc, thậm chí với giai đoạn sớm của văn hoá này (1, tr 578-579). Về phía Trung Quốc, tuy theo truyền thuyết cho là Kinh Dịch do Phục Hy thời đại tối cổ Trung Quốc tạo ra nhưng trên thực tế không có chứng cứ nào để xác nhận chuyện này. Triết gia đầy uy tín của Trung Quốc Phùng Hữu Lan đã khẳng định trong Trung Quốc Triết học sử: ’’Suốt thời nhà Thương chưa có Bát Quái” (bản Hồng Kông 1950, tr 457). Chưa có Bát Quái nghĩa là chưa có Kinh Dịch. Quẻ Dịch xuất hiện sớm nhất ở Trung Quốc là trên sách Tả Truyện thời Xuân Thu-Chiến Quốc (772-221 BC). Vào thời kỳ này trên một số lớn các trống đồng Đông Sơn ở Việt Nam đã có khắc hình quẻ Lôi Thuỷ Giải bằng 6 dải băng nghĩa là đầy đủ 6 hào. Vậy là rõ ràng Kinh Dịch đã có ở Việt Nam từ thời các Vua Hùng, so với chứng cứ cụ thể của Trung Quốc Kinh Dịch đã có ở nước ta trước Trung Quốc cả nghìn năm. Chuyện này chẳng khác chi chuyện tổ tiên ta đã biết trồng lúa nước nghìn năm trước Trung Hoa mà Trần Trọng Kim vẫn viết trong Việt Nam sử lược là người Trung Hoa có công dạy dân ta làm ruộng. 2) Chứng lý ngôn ngữ học: Một số tên quẻ Dịch là tên tiếng Việt không phải tiếng Trung Quốc: Người ta thường gọi Kinh Dịch hay Kinh Diệc và cứ đinh ninh Diệc là do Dịch đọc chệch đi, kỳ thật tổ tiên ta nói Kinh Diệc và người Trung Hoa đã đọc chệch đi thành Dịch. Tiếng Trung Hoa Dịch còn có thể đọc là Diệc(Xem Khang Hy Từ Điển). Diệc là một loài chim nước, có họ với loài cò. Đây là những loài chim quen thuộc với đồng ruộng, với văn minh nông nghiệp, văn minh Văn Lang. Kinh Dịch là kết tinh của văn minh nông nghiệp, các nhà sáng tạo kinh Dịch Việt Nam lấy hình ảnh con diệc, con cò làm tiêu biểu cho hệ thống triết học của mình là hợp lý, nhưng người Trung Quốc muốn làm biến dạng cho khác đi, cho rằng chữ Dịch là hình ảnh con tích dịch - một loại thằn lằn hay biến đổi màu sắc theo thời gian chẳng thân thiết gần gũi gì với người nông dân cả. Điều này đã được ghi chú rất rõ trên trống đồng Đông Sơn về sau sẽ giải rõ. Tên tám quẻ đơn Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài đều là tiếng Việt không phải là tiếng Trung Quốc. Các học giả Trung Hoa rất lúng túng khi giải nghĩa nguồn gốc tên những quẻ này vì họ cứ cho đó là tiếng Hoa nên tìm mãi vẫn không lý giải được. Ở đây chỉ dẫn một quẻ để minh chứng. Quẻ Ly không có nguồn gốc Trung Hoa, đây chỉ là chữ ghi âm tiếng Việt, một dạng chữ Nôm loại giả tá. Kinh Dịch bản thông hành ghi là Ly, âm Bắc Kinh đọc là Lĩ, nhưng bản Bạch Thư Chu Dịch đào được ở Mã Vương Đôi thì lại ghi là La, âm Bắc Kinh đọc là lúo (đọc như lủa). Rõ ràng đây là cách ghi của hai người Trung Hoa ở hai nơi hoặc hai thời điểm nghe người Việt Nam nói là quẻ Lửa, một người bèn ghi là lĩ (Ly), một người lại ghi là lủa (La). Còn người Việt Nam viết chữ Nôm Lửa thì lại dùng chữ lã làm âm. Cả ba âm Ly, La, Lã đều là cận âm với âm lửa, dùng để ghi âm âm lửa. Như vậy quẻ Ly không phải là quẻ có nghĩa là lìa hay là dựa như người Trung Hoa nghĩ mà chính là quẻ Lửa tức là quẻ Hoả như về sau họ đã dịch đúng nghĩa của nó. 3) Chứng lý đồ tượng: Kinh Dịch Trung Hoa thiếu một hình đồ trọng yếu, trong khi hình đồ này đang được cất giấu tại Việt Nam. Chứng tỏ Việt Nam mới là nước sáng tạo Kinh Dịch. Đồ tượng và quái tượng (quẻ) là những hình tượng cơ bản cấu tạo nên Kinh Dịch. Cả hai đều có những giá trị bổ túc cho nhau để hình thành Kinh Dịch. Đọc Dịch mà chỉ chú trọng đến quẻ không chú ý đến Đồ là một thiếu sót đáng tiếc vì như thế là đã bỏ qua quá nửa phần tinh tuý của Dịch. Những ứng dụng quan trọng của Dịch đa phần đều căn cứ trên đồ, như thuyết trọng nam khinh nữ chi phối sâu đậm nhân sinh quan Trung Quốc thời kỳ phong kiến là ảnh hưởng Càn trọng Khôn khinh của Tiên Thiên Đồ, xem phong thuỷ, coi tử vi, học thuyết Độn Giáp, Thái Ất phát sinh ở Trung Hoa là do ảnh hưởng của Hậu Thiên Đồ. Y học, Võ thuật, Binh Thư Đồ trận lừng danh của Trung Quốc đều từ các Thiên Đồ mà ra. Theo thuyết Tam tài, cơ sở để xây nên toà lâu đài Kinh Dịch thì phải có ba Đồ chính là Tiên Thiên Đồ, Hậu Thiên Đồ và Trung Thiên Đồ nhưng suốt cả hai nghìn năm nay, Trung Quốc chỉ lưu hành hai Đồ Tiên Thiên và Hậu Thiên. Người Trung Hoa tuyệt nhiên không tìm ra Trung Thiên Đồ, cuối cùng họ đành bó tay, rồi thản nhiên kết luận, không cần có Trung Thiên Đồ. Đã có Tiên Thiên Đồ làm thể và Hậu Thiên Đồ làm dụng là đủ lắm rồi. Đây chính là khuyết điểm lớn nhất của Dịch học Trung Quốc mà cũng là cái may lớn nhất cho ta để từ chỗ sơ hở này ta tìm ra chứng lý quan trọng nhất, quyết định nhất để xác nhận tác quyền của Việt Nam. Trung Quốc không có Trung Thiên Đồ, một Đồ quan trọng bậc nhất dùng làm la bàn để viết nên kinh văn các lời hào, Việt Nam lại cất giữ Trung Thiên Đồ! Vậy thì ai là chủ nhân Kinh Dịch? Câu hỏi đã được trả lời, bí ẩn hai nghìn năm đã được trưng ra ánh sáng. Tác giả bài này có may mắn là đã thiết lập được Trung Thiên Đồ. Đồ này quẻ Càn ở phương Nam, quẻ Đoài ở phương Đông Nam, quẻ Tốn ở phương Đông, quẻ Khảm ở phương Đông Bắc, quẻ Ly ở phương Bắc, quẻ Cấn ở Tây Bắc, quẻ Chấn ở Tây và quẻ Khôn ở phương Tây Nam. Đây chính là Đồ thứ ba trong số ba Thiên Đồ trọng yếu của Kinh Dịch mà người Trung Hoa không tìm ra. Nếu Tiên Thiên Đồ là Thiên Đồ, Hậu Thiên Đồ là Địa Đồ thì Trung Thiên Đồ là Nhân Đồ nghĩa là Đồ nói về con người. Có một danh hoạ tài ba nào chỉ trong một hình vẽ có thể biểu đạt ba hình thái khác nhau về con người? Điều này chưa ai làm được, ngay cả máy móc tân tiến nhất, hiện đại nhất cũng không thể làm việc này. Thế mà Trung Thiên Đồ cùng một lúc có thể diễn tả ba trạng thái khác nhau đó: Trung Thiên Đồ có mục đích nói về những vấn đề liên quan đến con người cho nên hình đồ Trung Thiên có thể biểu thị ba khía cạnh khác nhau của con người về mặt sinh lý, về mặt siêu lý và về mặt đạo lý: a) Con người sinh lý: Quẻ Càn tượng cho bán cầu não phải, Quẻ Khôn tượng cho bán cầu não trái. Khi một người bị tai biến mạch máu não ở bán cầu phải thì tay chân bên trái thường bị liệt, ngược lại cũng thế. Vì Càn thuộc dương nên liên quan đến tay trái gồm hai quẻ Chấn dương và Cấn dương và vì tay trái đã dương thì chân trái lại thuộc về âm nên chân có quẻ Ly âm. Trái lại, bán cầu não trái Khôn âm sẽ ảnh hưởng đến tay phải Trạch âm và Tốn âm cùng với chân Khảm dương. Điều này tương đồng với kết quả thực nghiệm của Leokadia Podhorecka (1986), trình bày năm 1986 tại hội nghị quốc tế về Trường sinh học tại Zagrev về tính bất đối xứng phải - trái trong nhân thể (2, tr 117). Hình đồ cũng thể hiện được y lý Đông Phương cho rằng Thiên khí tả truyền: Dương khí đi từ bên phải (Càn dương) sang bên trái (Cấn, Chấn dương), Địa khí hữu truyền: Âm khí đi từ bên trái (Khôn âm) sang bên phải (Đoài, Tốn âm). Con người muốn sống cần phải thở (Càn phế, chủ khí), sau đó phải được nuôi dưỡng bằng thức ăn (Khôn, tỳ vị). Con người khoẻ mạnh khi tâm (Ly) giao hoà với thận (Khảm), nếu tâm thận bất giao sẽ sinh tật bệnh, vị y tổ Việt Nam Lê Hữu Trác đã phát triển học thuyết này để chữa bệnh rất hiệu quả. Con người siêu lý :wacko: Con người siêu lý: Theo trãi nghiệm của các hành giả Yoga hoặc Khí công, Thiền, thì cơ thể có bảy trung tâm năng lượng tác động chi phối sự sống của con người, gọi là bảy đại huyệt hay là bảy luân xa. Trung Thiên Đồ chính là biểu đồ hệ thống bảy luân xa đó, theo thứ tự từ dưới lên: luân xa 1 là Hoả xà Kundalinê chính là quẻ Ly hoả, Luân xa 2 là Mệnh môn quan chính là quẻ Khảm (thận thuỷ), Luân xa 3 là Đơn điền Ngũ Hành Sơn chính là quẻ Cấn sơn, Luân xa 4 là Luân xa tâm gồm hai quẻ Tốn (tâm âm) và Chấn (tâm dương), luân xa 5 là trung tâm Ấn đường chính là quẻ Đoài, luân xa 6 nằm ở chân mi tóc hay huyệt Thượng tinh mà Đạo giáo thường gọi là Kim mẫu chính là quẻ Khôn (Địa mẫu), Luân xa 7 là huyệt Thiên môn Bách hội chính là quẻ Càn Thiên. Con người đạo lý c) Con người đạo lý: Trung Thiên Đồ còn biểu đạt một mẫu người đạo lý tâm linh: quẻ Sơn Tượng cho tính người tham lam muốn tích luỹ như núi (Tham), quẻ Ly Hoả tượng cho người có tính sân như lửa (Sân), quẻ Khảm Thuỷ tượng cho người có tính si như nước đổ dồn về chỗ thấp (Si), ba thói xấu đó sẽ dẫn con người đến chỗ ác tượng trưng bằng quẻ Tốn (tâm âm, nhục tâm, vọng tâm), (như thuyết Tam Độc của Phật Giáo). Nhưng nếu con người biết phát triển tâm từ bi như tình yêu của mẹ tượng bằng quẻ Khôn (Địa Mẫu - Từ Bi), khiến tâm thanh tịnh an lạc tượng bằng quẻ Đoài (Vui, Hỉ), lúc nào cũng sẵn lòng cảm thông tha thứ cho người, tượng bằng quẻ Càn (Xả) thì con người sẽ đạt được cõi phúc, tượng bằng quẻ Chấn (Tâm dương, Chân tâm, Đạo tâm), (như thuyết Tứ vô lượng tâm của Phật giáo). 4) Phát hiện Trung Thiên Đồ trong truyền thuyết Kinh Dịch có tám quẻ đơn: Càn còn gọi là Thiên có tượng là trời, là vua, là cha. Khôn còn gọi là Địa có tượng là đất, là hoàng hậu, là mẹ. Khảm còn gọi là Thuỷ có tượng là nước, là cá (ngư). Ly còn gọi là Hoả có tượng là lửa. Cấn còn gọi là Sơn có tượng là núi. Đoài còn gọi là Trạch có tượng là đầm (hồ). Chấn còn gọi là Lôi có tượng là sấm, là con trai trưởng. Tốn còn gọi là Phong có tuợng là gió, là cây (mộc). Khi tám quẻ đơn chồng lên nhau ta được 64 quẻ kép, nhưng khi tám quẻ đơn được đặt trên vòng tròn ta sẽ được ba thiên đồ căn bản: Tiên Thiên Đồ thường được người Trung Hoa gọi là Tiên Thiên Đồ Phục Hy vì cho là do Phục Hy chế ra, Hậu Thiên Đồ cũng được người Trung Hoa gọi là Hậu Thiên Đồ Văn Vương vì cho là do Văn Vương thiết lập, ở đây chúng tôi chỉ gọi là Tiên Thiên Đồ và Hậu Thiên Đồ vì đã chứng minh được Kinh Dịch do người Việt Nam sáng chế nên Phục Hy, Văn Vương chẳng can dự gì vào việc sáng tạo các thiên đồ. Dịch đồ thứ ba chính là Trung Thiên Đồ đã được tổ tiên Việt Nam cất giấu trong truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ. Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ không chỉ là một huyền sử về nguồn gốc dân tộc "Con Rồng cháu Tiên", một thông điệp về tình đoàn kết, nghĩa yêu thương giữa các dân tộc anh em, đồng bào mà còn chứa đựng một thông tin về di sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam đã được tổ tiên chúng ta bí mật cất giữ trong đó: tôi muốn nói đến Kinh Dịch đứa con lưu lạc của Việt Nam đã được Trung Quốc nuôi dưỡng và đã thành danh ở đó. Nếu chúng ta kết hợp những thông tin nằm rải rác trong các truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ, truyện Hồ tinh, Mộc tinh, Ngư tinh ta sẽ thiết lập được một Trung Thiên Đồ mà người Trung Quốc chưa hề biết đến. Theo Kinh Dịch, Lạc Long Quân thường được nhân dân gọi là Bố mỗi khi có việc cần giúp đỡ có thể ký hiệu bằng quẻ Càn có tượng là vua, là cha. Lạc Long Quân thường sống ở Thuỷ phủ ký hiệu là quẻ Khảm có tượng là nước. Lạc Long Quân diệt được Hồ tinh là con cáo chín đuôi sống hơn ngàn năm ở đầm Xác Cáo nay là Hồ Tây, sự kiện này có thể ký hiệu bằng quẻ Đoài tức quẻ Trạch có tượng là đầm. Đất Phong Châu thời Thượng cổ có cây Chiên đàn sống hàng ngàn năm, chim hạc thường đến đậu ở đấy nên nơi đó còn gọi là đất Bạch Hạc (nay thuộc tỉnh Phú Thọ), lâu ngày cây hoá thành yêu tinh dân gọi là thần xương cuồng, Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân ra sức đánh đuổi, cứu dân thoát khỏi sự bức hại của xương cuồng. Sự kiện này có thể ký hiệu bằng quẻ Tốn còn gọi là quẻ Phong có tượng là mộc. Lạc Long Quân cũng có công diệt được ngư tinh, con yêu ngư xà ăn thịt người, chuyện này cũng thuộc quẻ Khảm ký hiệu ở trên. Truyền thuyết thường nói chung là Lạc Long Quân (quẻ Càn) diệt hồ tinh (quẻ Đoài), diệt mộc tinh (quẻ Tốn), diệt ngư tinh (quẻ Khảm) để cứu dân, từ đó ta đã có được một vế của Trung Thiên Đồ: Càn - Đoài - Tốn - Khảm. Theo truyền thuyết Lạc Long Quân nói với Âu Cơ (được tôn xưng là Quốc mẫu, là mẹ, ký hiệu là quẻ Khôn): (1, tr 30). Như thế là truyền thuyết đã xác định rất rõ tính cách tương phản giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ. Long Quân thuộc quẻ Khảm (Thuỷ) thì Âu Cơ thuộc quẻ Ly (Hoả). Truyền thuyết kể tiếp: "Âu Cơ và năm mươi con lên ở đất Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc) suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang". Lên Phong Châu là lên núi ký hiệu là quẻ Cấn có tượng là núi, tôn người con cả ký hiệu là quẻ Chấn vì Chấn có tượng người con trưởng. Ta lại có thêm vế thứ hai của Trung Thiên Đồ: Ly - Cấn - Chấn - Khôn. Đến đây ta đã khai quật được Trung Thiên Đồ từ lớp ngôn ngữ truyền thuyết, các quẻ xếp theo thứ tự Càn - Đoài - Tốn - Khảm - Ly - Cấn - Chấn - Khôn theo chiều ngược kim đồng hồ. 5) Vai trò Trung Thiên Đồ trong việc hình thành văn bản Kinh Dịch: a) Bố cục Kinh Dịch: Kinh Dịch có 64 quẻ, 30 quẻ đầu thuộc về thượng kinh, 32 quẻ sau thuộc về hạ kinh. Nhìn vào cách sắp đặt vị trí các quẻ Dịch trong bản kinh văn thông hành ta không thể không nghĩ rằng các nhà làm Dịch đã sử dụng Trung Thiên Đồ như là la bàn để phân bố các quẻ. Mở đầu kinh văn là hai quẻ Càn số 1, Khôn số 2 đúng như vị trí Càn Khôn đứng bên nhau trên Trung Thiên Đồ, cuối thượng kinh là hai quẻ Khảm số 29 và Ly số 30 đúng như vị trí Khảm Ly dưới Trung Thiên Đồ. Mở đầu hạ kinh là hai quẻ Trạch Sơn Hàm số 31 và quẻ Lôi Phong Hằng số 32 đúng như vị trí quẻ Đoài Trạch đối qua tâm với quẻ Cấn Sơn tạo thành quẻ Trạch Sơn Hàm, quẻ Chấn Lôi đối qua tâm với quẻ Tốn Phong tạo thành quẻ Lôi Phong Hằng nằm giữa Trung Thiên Đồ. Cuối hạ kinh là hai quẻ Thuỷ Hoả Ký Tế số 63 và Hoả Thuỷ Vị Tế số 64 đúng như vị trí quẻ Khảm Thuỷ giao hoán với quẻ Ly Hoả tạo thành. Khác hẳn với Tiên Thiên Đồ và Hậu Thiên Đồ các quẻ Càn Khôn Ly Khảm đứng đối nhau qua tâm, biểu hiện trạng thái phân ly, trên Trung Thiên Đồ các quẻ Càn Khôn Ly Khảm đứng gần nhau từng đôi một biểu hiện trạng thái giao hội. Ở tự nhiên mọi vật có thể đối nghịch, vừa tương phản vừa tương thành. Nhưng ở con người thì khác, con người là một chỉnh thể, một thái cực, một toàn đồ âm dương phải tương hội điều hoà, nếu một bên thiên thắng con người sẽ bất ổn, phát sinh bệnh tật. :wacko: Đặt tên cho quẻ Dịch: Nhiều nhà chú giải Kinh Dịch Trung Quốc khi giải thích nghĩa chữ giao của hào thượng cửu quẻ Thiên Hoả Đồng nhân số 13 "Đồng nhân vu giao" thường chỉ dừng lại ở vấn đề chính trị xã hội nên hiểu giao theo một nghĩa rất hẹp, họ cho giao là vùng đất ngoại ô kinh thành nếu muốn đồng thì nên tìm người ở xa mà liên hiệp. Hiểu như vậy thì không sát nghĩa và không đúng với lập ý của người làm ra Kinh Dịch. Có lẽ vì người Trung Quốc trong tay không có la bàn Trung Thiên Đồ là đồ đã bị Tổ tiên người Việt Nam cất giấu rất kỹ không truyền ra ngoài nên không hiểu rằng giao tức là giao hội, khi hoả xà Kundalinê từ lâu cuộn mình ở đốt xương cùng có đủ điều kiện lên hợp nhất với thần Vishnou cư trú ở huyệt Thiên môn nghĩa là khi luân xa số 1 là quẻ Ly Hoả hoà nhập với luân xa số 7 là quẻ Càn Thiên là lúc con người đạt đến trạng thái toàn thức, hạnh phúc hoàn hảo nhất, con người đạt đến mức độ giao hội cùng vũ trụ, tha nhân, vì thế mới đặt tên cho quẻ này là Thiên Hoả Đồng nhân. Giao nằm ở hào thượng cửu (theo Dịch lý thuộc tài thiên), tức là ở mức độ đồng nhân cao nhất, mức độ hoà đồng siêu việt, Nếu hiểu giao như nghĩa các chữ Đông giao (ngoại ô phía đông), Nam giao (ngoại ô phía Nam) thì không phù hợp với cấu trúc quẻ Dịch, hiểu như vậy là mặc nhiên nhận giao thuộc về đất phải nằm ở hào hai, tài Địa. Cũng như quẻ Đồng Nhân, các Dịch học gia Trung Quốc cũng bị hạn chế khi hiểu quẻ Đại Hữu chỉ là sở hữu tài sản vật chất họ không ngờ rằng Đại Hữu là sở hữu tài sản tinh thần vĩ đại, quẻ này chính là ghi lại thành tựu một quá trình công phu trãi nghiệm của hành giả đã hợp nhất với vũ trụ, mà mỗi hào mô tả thành quả một chặng đường liên tục từ hạ đẳng công phu đến thượng đẳng công phu. c) Đọc lại Kinh Dịch: Nhờ có Trung Thiên Đồ ta có thể đọc lại Kinh Dịch một cách chính xác hơn, điều này nghe có vẽ nghịch lý vì ta làm sao thông thạo ngôn ngữ Trung Hoa hơn người Trung Hoa được, nhưng vì ta có Trung Thiên Đồ là la bàn tổ tiên ta dựa vào đấy để viết các lời hào nên chúng ta có cách đọc thuận lợi hơn. Ở đây tôi chỉ xin dẫn ra một thí dụ để minh chứng. Kinh Dịch có ba quẻ nói đến Tây Nam, quẻ Giải: "Lợi Tây Nam", quẻ Kiển: "Lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc”, quẻ Khôn: "Tây Nam đắc bằng, Đông Bắc táng bằng”. Căn cứ vào Hậu Thiên Đồ, quẻ Khôn (đất) nằm ở hướng Tây Nam, quẻ Cấn (núi) nằm ở hướng Đông Bắc, Vương Bật, người thời Tam Quốc, trong Chu Dịch chú giải thích như sau: ”Tây Nam là đất bằng, Đông Bắc là núi non. Từ chỗ khó mà đi đến chỗ bằng, cho nên khó khăn sẽ hết, từ chỗ khó mà đi lên núi, thì sẽ cùng đường”, Khổng Dĩnh Đạt trong Chu Dịch chính nghĩa viết: ”Tây Nam thuận vị là hướng bằng phẳng dễ đi, Đông Bắc hiểm vị là chỗ trắc trở khó khăn. Đường đi lắm trắc trở, tất cả đi đến chỗ bằng dễ đi thì khó khăn sẽ hết, trái lại nếu đi vào chỗ hiểm thì càng bế tắc cùng đường. Đi ở phải hợp lý vậy”, (3, tr 846).Trương Thiện Văn trong Từ điển Chu Dịch giải thích: ”Lợi cho việc đi về đất bằng Tây Nam, không lợi cho việc đi về phía núi non đông bắc. Tây nam tượng trưng cho đất bằng, Đông bắc tượng trưng cho núi non. Đây nói ở thời kiển nạn mọi hành động đều phải tránh khó khăn hiểm trở, phải hướng về phía bằng phẳng thì mới có thể vượt qua kiển nạn,vì vậy nói lợi tây nam, bất lợi đông bắc”, (3, tr 907). Nói chung lời giải thích của đa số Dịch gia Trung Quốc đều dựa vào vị trí các quẻ trên Hậu Thiên Đồ và đều cho núi là trở ngại, nhưng giải như vậy không thể khớp với Dịch lý, quẻ Kiển tức là quẻ Thuỷ Sơn Kiển, hình tượng nước ngập núi, trận đại hồng thuỷ. Vậy núi chỉ là trở ngại thứ yếu. Sự thật đối với người cổ đại núi tuy có khổ ải hơn nơi bằng phẳng nhưng không phải là trở ngại đáng kể. Đối với người cổ đại núi là nhà, hang hốc là nhà. Núi che chở cho họ, cung cấp thực phẩm, đùm bọc nuôi dưỡng họ. Nói cho cùng với tượng quẻ như vậy, người ta không lo về núi mà nỗi lo triền miên chính là nước. Suốt thời cổ đại, nhất là ở Việt nam, chiến tranh bất tận là chiến cuộc giữa NGƯỜI với NƯỚC. Con người khơi dòng lấy đất canh tác, đẩy lùi biển để giành đất sống. Khi con người thắng biển nghĩa là khi Sơn tinh thắng Thuỷ tinh, Kiển nạn được giải. Vấn đề lật ngược, quẻ Thuỷ Sơn Kiển lật thành quẻ Sơn Thuỷ Mông, Thoán từ ca ngợi chiến công thần thánh này là Lợi Trinh (thắng lợi bền chặc). Ở Hậu Thiên Đồ cũng như ở Trung Thiên Đồ, quẻ Khôn cùng ở vị trí Tây Nam nhưng ở vị trí Đông Bắc thì quẻ của hai đồ hoàn toàn ngược nhau. Nếu Hậu Thiên Đồ là quẻ Cấn (núi) thì ở Trung Thiên Đồ lại là quẻ Khảm (nước). Ta thấy rõ muốn hiểu nghĩa lời hào của ba quẻ đó không thể dựa vào vị trí quẻ trên Hậu Thiên Đồ, vì không chính xác. Chỉ có thể dựa vào vị trí quẻ trên Trung Thiên Đồ mới làm sáng tỏ được nghĩa quẻ. Con người không ngại núi mà chỉ e sông, e biển. Câu lợi Tây Nam, bất lợi Đông Bắc không phù hợp với thực tiển Trung Quốc vì con đường sống của họ luôn dịch chuyển từ Tây Bắc sang Đông Bắc, hành trình các kinh đô của các triều đại Trung Hoa thường đi từ núi ra biển:Tây An - Trường An - Lạc Dương - Khai Phong - Bắc Kinh. Đó là hành trình ngược với lời hào ba quẻ: Giải, Khôn, Kiển. Trong khi đó lời hào ba quẻ trên lại hoàn toàn phù hợp với thực tiển Việt Nam. Đối với Việt Nam, Đông Bắc mới thực là bất lợi, đó là biển cả là cửa ngỏ cho phong kiến phương bắc xâm lược. Việt Nam chỉ có con đường sống là mở nước về phương Nam và Tây nam. Lịch sử Việt Nam đã chứng thực lời đó, đã hai lần chúng ta tiến về hướng Tây Nam, đợt đầu tiến về đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh, đợt sau tiến về vựa lúa châu thổ sông Cửu Long. Lời hào trên vẫn còn là lời dự báo ứng nghiệm với Việt Nam ngày nay: Tây Nam đắc bằng khi gia nhập khối Đông Nam Á, con đường Tây nam đang ở thế thuận lợi. 6/ Kết luận: Chúng ta còn nhiều chứng lý từ vật thể đến phi vật thể, từ ngôn ngữ đến văn bản, nhưng mấu chốt hơn hết để chứng minh Kinh Dịch do Tổ tiên người Việt Nam sáng tạo vẫn là vai trò của Trung Thiên Đồ. Khi một người muốn chứng minh một vật là sản phẩm do chính mình đúc ra thì ngườI đó phải trưng ra khuôn đúc, ở đây cũng vậy Trung Quốc không có Trung Thiên Đồ giống như không có khuôn đúc thì làm sao bảo rằng Trung Quốc đã sáng chế ra Kinh Dịch. Thật ra Trung Quốc chỉ có công phát huy Kinh Dịch nhờ đó Kinh Dịch mới có bộ mặt vĩ đại như ngày nay, cũng như họ đã làm rạng rỡ cho Thiền nhưng không ai có thể quên Thiền có nguồn gốc từ Phật giáo Ấn Độ. Đã đến lúc cái gì của César phải trả lại cho César. Khi chúng ta nhận ra rằng Kinh Dịch là di sản của Tổ tiên ta sáng tạo, ta sẽ hiểu được do đâu ta cũng cùng giải đất với các dân tộc vùng Hoa Nam, núi liền núi, sông liền sông mà họ bị đồng hoá còn chúng ta thì không. Kinh Dịch chính là cuốn Cổ văn hoá sử của Việt Nam mà Tổ tiên chúng ta còn lưu lại ngày nay, tuy có bị sửa đổi nhuận sắc nhiều lần nhưng những vết tích của nền văn minh thời các vua Hùng dựng nước vẫn còn đậm nét trong nhiều quẻ Dịch. Người sáng tạo Kinh Dịch đã dựa vào Trung Thiên Đồ để bố cục vị trí các quẻ đúng như bản thông hành hiện đang phổ biến. Các Dịch học gia Trung Quốc căn cứ vào vị trí các quẻ theo Hậu Thiên Đồ nên có nhiều câu trong Kinh văn bị họ giảng sai với ý nguyên tác, muốn giảng cho đúng phải dựa vào Trung Thiên Đồ, không thể làm khác được. Trung Thiên Đồ giữ một vị trí quan trọng và quyết định như vậy đã được Tổ tiên Việt Nam cất giấu rất kĩ trong truyền thuyết Lạc Long Quân Âu Cơ. Từ truyền thuyết này có thể tìm lại Trung Thiên Đồ. Trung Thiên Đồ còn được khắc ghi cẩn trọng trên Trống đồng Đông Sơn có điều kiện tác giả bài này sẽ công bố sau. Chúng tôi còn nhiều minh chứng khác để kiện toàn chứng lý cho kỳ án này. Không còn nghi ngờ gì nữa, Kinh Dịch chính là sáng tạo của Tổ tiên Việt Nam. Muốn hiểu đúng bản chất văn hoá Việt Nam không thể không khảo sát Kinh Dịch, như là sáng tạo của Việt Nam. Sách tham khảo * Vũ Quỳnh - Kiều Phú: Lĩnh Nam chích quái, Văn học, Hà Nội, 1990. * Nguyễn Hoàng Phương: Tích hợp đa văn hoá Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai, Giáo Dục, Hà Nội, 1995. * Trương Thiện Văn: Từ Điển Chu Dịch, bản dịch, Khoa học Xã Hội, Hà Nội, 1997. * Nguyễn Thiếu Dũng: Một phát hiện mới về Kinh Dịch: Trung Thiên Đồ,Thông tin khoa học ĐH DL Duy Tân tháng 05/1999 * Nguyễn Thiếu Dũng: Con đường Tây Nam, Thông tin khoa học Đại Học DL Duy Tân, tháng11/1999. * Nguyễn Thiếu Dũng: Chúng ta có một di sản hàng đầu thế giới Báo Lao Động, Trang miền Trung & Tây Nguyên số 32/99, ngày 13/12/1999. * Nguyễn Thiếu Dũng: Văn Lang cội nguồn Kinh Dịch, Khoa học & phát triển số 67, năm 2000. * Nguyễn Thiếu Dũng: Những con số ở vùng đất Tổ, Xưa & Nay,73b, tháng 03/2000. * Hồ Trung Tú: Dịch học sáng tạo của người Việt cổ, Tia Sáng, Xuân Nhâm Ngọ 2000. * Nguyễn Thiếu Dũng: Nhìn qua chữ số, Khoa học & phát triển số 74, tháng 3/01. * Hà Văn Tấn: Theo dấu các văn hoá cổ, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1998. Phản hồi bài viết ''Kinh Dịch - di sản sáng tạo của Việt Nam?'' 09:10:05, 26/07/2004báo Thanh NiênHiện nay tôi đang là nghiên cứu sinh tiến sỹ thuộc đại học Oxford, Vương quốc Anh. Tôi tình cờ đọc được bài ''Kinh Dịch - di sản sáng tạo của Việt Nam?'' của tác giả Nguyễn Thiếu Dũng về việc chứng minh nguồn gốc của Kinh Dịch. Tôi rất lấy làm vui mừng vì đã có những nhà nghiên cứu để tâm đến điều này. Những ngày còn học đại học, tôi đã có thời gian theo học võ thuật với một vị võ sư về võ Việt Nam (xin lưu ý đây không phải là Vovinam - Việt võ đạo). Môn phái được đặt tên là Huỳnh Long Tây Sơn. Khi tôi học đến giai đoạn trở thành huấn luyện viên thì được vị võ sư cho về nhà để dạy lý thuyết tập nội công và các đồ giải về huyệt đạo. Vị võ sư tên là Huỳnh Đức Thọ, nguyên là Thư ký Liên đoàn Võ cổ truyền TP Hồ Chí Minh. Theo ông, hệ thống huyệt đạo cũng như các lý thuyết về Kinh Dịch, về các bản Lạc thư và Hà đồ cũng như các can, chi đều xuất phát từ dân tộc Việt và có rất nhiều điểm khác so với giải thích của người Trung Hoa. Các hệ thống huyệt đạo và kinh mạch cũng hết sức rõ ràng và được phân bố rất có qui luật chứ không rối rắm như đồ hình của người Trung Hoa. Tôi không có thời gian để theo học ông lâu, nhưng biết rằng ông đang nắm giữ rất nhiều tài liệu gia truyền lâu đời giải thích về các lý thuyết liên quan đến Kinh Dịch cũng như nguồn gốc của Kinh Dịch (xin lưu ý rằng theo lý thuyết được xây dựng từ Kinh Dịch mà việc con người có thể phát nhân điện đo được qua các thiết bị đo là do luyện tập mà nên, không phải do khả năng kỳ lạ bẩm sinh. Vị võ sư này đã từng sang Italia biểu diễn và cho các bác sĩ đặt máy đo khi ông vận công phát nhân điện). Tôi viết bài này mong tòa soạn giúp cho tác giả bài viết về Kinh Dịch có thông tin để tìm đến trao đổi với vị võ sư ấy. Tôi rất kỳ vọng tác giả sẽ có được những thông tin bổ ích nhằm giúp cho chúng ta có cơ hội khôi phục lại những gì dân tộc Việt đã bị mất và giữ vững được sự độc lập không chỉ về lãnh thổ mà còn về nền văn hoá tinh hoa của ông cha ta để lại. Nguyễn Sỹ Lâm * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
nguyễn quang Nhật quẻ trùng Ở đây vẫn gọi là quẻ trùng vì đã quen như thế đúng tiếng Việt phải gọi là “Quả chồng” vì 64 quả được tạo thành bằng cách chồng đôi 8 quả đơn hay 8 nguyên tố đơn. 2 quẻ 3 vạch chồng lên nhau tạo thành quẻ 6 vạch kết quả hình thành tổng số 64 quẻ chồng hay 64 nguyên tố kép của Dịch học. Tới tận ngày nay các nhà Dịch học còn chưa xác quyết được bản thân quẻ trùng đã là quẻ 6 vạch từ đầu hay là chồng 2 quẻ đơn mà thành. Theo Dịch học họ Hùng thì 8 quẻ đơn là 8 tượng tin nền, thông tin nó mang là thông tin khởi đầu. Sự chồng 2 quẻ thực ra là sự “ghép từ” tạo chữ mới mà nghĩa của nó tạo thành từ sự liên kết nghĩa của 2 tượng tin nền; chỉ cần đảo vị trí trên dưới khi xếp 2 quẻ đơn là nghĩa quẻ trùng hoàn toàn khác. Ở phần Dịch học tổng quát nếu so sánh Dịch học họ Hùng và Dịch học của người Tàu hiện nay thấy đã có các khác biệt cơ bản. -Phương hướng Bắc Nam đảo ngược. -Ý nghĩa âm dương đảo ngược -Vạch đứt vạch liền đảo ngược -Ngũ hành đảo 2 hành Kim và Thổ -Các đồ hình Bát Quái hoàn toàn khác. tới phần 64 quẻ trùng thì khác biệt giữa 2 nền Dịch học trở nên xa lắm: 1 - khác hẳn nhiều tên quẻ. 2 - nhiều tên quẻ đồng âm hay cận âm, nhưng nghĩa hoàn toàn khác 3 - đại lượng tức sự mô tả quẻ bị xáo trộn rất nhiều. Khi soạn Dịch lý họ Hùng người soạn đã cố ý né tránh sự so sánh và kết luận đúng sai vì công việc tìm hiểu Dịch học còn mênh mông lắm sớm sa vào những tranh cãi là vô ích, ngày rộng tháng dài từ từ mọi việc sẽ rõ ràng, nhưng tới đoạn này phải nêu ra vài sự khác biệt cơ bản để người đọc dễ chấp nhận các ý tưởng mới mẻ, mạnh bạo, quyết liệt mà không cảm thấy choáng váng, vì những đảo lộn. 64 quẻ trùng được thiết lập dựa trên các nguyên tắc chặt chẽ: - Luật – Tầng sâu và độ số -Luật thay đổi: một tăng một giảm tạo thành sự tuần tự biến đổi độ số âm dương từ cực này tới cực kia. - Tổng số 64 quẻ. Từ quẻ thuần Kiền 63 __, 00 _ _ Tới thuần Khôn 00 __ , 63 _ _ Ta có 64 quẻ hữu danh và một quẻ ẩn mà độ số âm dương cân bằng: 31,5 __ 31,5 _ _ 64 Nguyên tố Dịch lý theo thứ tự Chu Dịch và Dịch họ Hùng. <br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Chu Dịch và Dịch học họ Hùng sắp xếp các quẻ theo nguyên tắc khác: 64 nguyên tố được tổ hợp thành 32 cặp quẻ 28 cặp quẻ đảo: tức quẻ này lật ngược thì thành quẻ kia. 4 cặp quẻ đối: với những cặp không có quẻ đảo thì dùng cách đối nghịch âm dương để tạo thành. Việc hình thành 32 cặp quẻ mang ý nghĩa chính của Dịch học họ Hùng. Về mặt lý luận mỗi cặp quẻ : - là sự sinh đôi: nghĩa là luôn có 2 sự việc cùng xảy ra một lúc Thí dụ: ký tế – vị tế Việc đã xong – việc chưa xong – chu kỳ hay vòng tuần hoàn này kết thúc tức là khởi đầu vòng khác -Hoặc là sự sinh thành Thí dụ cặp truân – Mông Mờ tối thì gian nan vất vả, ý nói trình độ dân trí thấp thì việc tổ chức và thực hiện kế hoạch phát triển rất khó khăn mệt mỏi. -Hoặc là một cặp nhân quả Thí dụ: cặp tụ + thăng, tựu – thành Tụ là tụ tập, ý của Dịch học rất rõ: tích tiểu dĩ cao đại, tích dần đến nhỏ để thành cái lớn, vinh quang danh vọng đến không phải tự nhiên đến, mà do sự đều đặn tích đức, làm điều nhân nghĩa có thể từ đời ông đời cha không phải chỉ đời mình mà thôi. 32 cặp quẻ chính là 32 vấn đề và giải pháp trong sự vận hành, phát triển xã hội Phát triển là điều tất yếu của xã hội loài người cứ lần mò, vấp ngã gánh chịu tổn thất, rồi lại đứng dậy sữa sai tìm phương hướng và đi , ngay bây giờ dù đã là thế kỷ 21 rồi nhưng về mặt quy luật phát triển xã hội vẫn là sự lần mò mù lòa; từ cổ chí kim duy nhất có một dân tộc bước đi trong ánh sáng đó là dân họ Hùng , ánh đuốc soi đường chính là Dịch lý. Đại nạn đã đến với dân tộc này vào khoảng đầu công nguyên, Trọng Thủy tên “sở khanh” đã gạt vợ là Mỵ Châu để tráo nỏ thần đem về phương Nam (Bắc ngày nay). Linh Qui thần trảo hay nỏ thần Rùa Vàng chỉ là hóa thân của “Quy Tàng Dịch” mà thôi, đó là lời nhắn gửi cho con cháu của tiền nhân họ Hùng, mơ hồ nhưng vô cùng rõ rệt, rời rạc nhưng vô cùng chắc chắn và đặc biệt chỉ con cháu họ Hùng mới hiểu biết điều linh thiêng ấy, để cùng nhau lấy nước mà rửa cho ngọc châu ngày càng sáng, rửa tức bóc gỡ lớp bụi bặm đất cát bẩn thỉu tà ma bói toán đang vây bọc Dịch lý, viên ngọc ngày càng sáng ra tức ý nghĩa khoa học cao minh, ý nghĩa triết học cao siêu hàm chứa trong Dịch học được phát lộ trở thành Kim chỉ nam cho con cháu nhà Hùng trên hành trình đến hạnh phúc. Dịch lý thực bao la, đầu óc ta quá nhỏ bé nên không dám nghĩ đến sự quán thông chỉ xin góp với đời tất cả những gì mình nhận thấy hoặc cảm thấy mà thôi. Nói về thứ tự hình thành tôi không dám bàn tới nhưng cái thứ tự này dùng làm gì thì tôi có biết. 64 quẻ hậu thiên chỉ sự lưu thông vận khí chịu ảnh hưởng chi phối của bảng lục thập hoa giáp. Vì vậy có thể lấy quẻ cho từng người cụ thể từng năm-tháng-ngày-giờ. Dĩ nhiên ắt hẳn sẽ có nhiều người trùng quẻ nhau nhưng vấn đề này lại ít nhiều đụng tới thập ứng nên tôi không bàn tới. Cách luận của phương pháp này tôi thấy tương tự như Mai Hoa Dịch Số nhưng cách lập quẻ thì lại rất phức tạp gần giống như quẻ Hà Lạc. VinhL nghỉ chắc bạn muốn nói đến Bát Tự Hà Lạc thì phải. Nhân dịp này xin cho VinhL hỏi, theo sự sắp xếp của 64 quẻ hậu thiên theo vận khí lưu thông, 12 quái Phục, Lâm, Thái, Đại Tráng, Quải, Càn, Cấn, Độn, Bỉ, Quan, Bác và Khôn được xếp vào thứ tự Tý, Sửu, Dần, Mão, .... Hợi, nhưng theo quy tắc nào để xếp 52 quái còn lại vào 12 cung địa chi? (tức là tại sao các quẻ Trung Phu, Di, Kiển, và Vị Tế lại xếp theo quẻ Phục ở Tý?) * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
VinhL nhớ là có truyền thuyết là Thiệu Ung thấy được tấm đồ thái cực của một đạo sỉ nào đó (không nhớ rõ là đã đọc ở đâu), nghỉ chính là đồ Thái Cực 64 quẻ này đây. Đây là phương pháp đo bóng xào, và củng chính là 12 quái trong dịch. Vì vậy mà có thể nói Thái Cực Đồ, và Trùng Quái đều khởi xuất từ phương pháp đo bóng xào. Thế thì dân tộc nào biết sử dụng bóng xào đầu tiên, có thể là chủ nhân của Dịch vậy. Tháng 10 HợI, Tiểu Tuyết, Solar Longitude = 240 độ, quẻ Khôn Tháng 11 Tý, Đông Chí, Solar Longitude = 270 độ, quẻ Phục Tháng 12 Sửu, Đại Hàn, Solar Longitude = 300 độ, quẻ Lâm Tháng Giêng Dần, Vũ Thủy, Solar Longitude = 330 độ, quẻ Thái Tháng 2 Mão, Xuân Phân, Solar Longitude = 0 độ, quẻ ĐạI Tráng Tháng 3 Thìn, Cốc Vũ, Solar Longitude = 30 độ, quẻ Quải Tháng 4 Tỵ, Tiểu Mãng, Solar Longitude = 60 độ, quẻ Kiền Tháng 5 Ngọ, Hạ Chí, Solar Longitude = 90 độ, quẻ Cấu Tháng 6 Mùi, ĐạI Thử, Solar Longitude = 120 độ, quẻ Độn Tháng 7 Thân, Sử Thử, Solar Longitude = 150 độ, quẻ Bĩ Tháng 8 Dậu, Thu Phân (Autumal Equinox), Solar Longitude = 180 độ, quẻ Quán Tháng 9 Tuất, Sương Giáng, Solar Longitude = 210 độ, quẻ Bác Theo các hình trên thì tháng 10 Hợi, tiết Tiểu Tuyết khi solar longitude = 240 độ, thì bóng dài nhất, tháng 4 Tỵ, tiết Tiểu Mãng khi solar longitude = 60 độ thì bóng ngắn nhất. Từ hai điểm trên nếu ta có thể tìm được vĩ tuyến nào vào hai tiết này có bóng mặt trờI dài nhất và ngắn nhất thì ta có thể phỏng đoán được nơi khởi xướng của học thuyết Âm Dương và Dịch. Vài vòng suy luận lung tung, chưa dám cho là đúng, mong các bạn tham gia bàn luận. Thiệu Ung với Hoàng cực Kinh Thế Thiệu Ung 1011 – 1077, người đất Cung Thành, nước Tống, tự là Nghiêu Phu, Ông là Dịch học gia nổi tiếng thời Bắc Tống, có nhiều thành tựu về Dịch học, về mặt tượng số thì đặc biệt xuất sắc. Cống hiến chủ yếu của Thiệu Ung là sự đề xuất Tiên thiên Dịch học, học thuyết này đã khẳng định được vai trò của Dự trắc học, và có những phát triển quan trọng. Thiệu Ung ở đất Lạc Dương 30 năm, tên đất nơi đây là An Lạc Oa, do vậy ông lấy tên hiệu là An Lạc tiên sinh. Năm Nguyên Hựu, ông được ban tên thuỵ là Khang Tiết, nên còn gọi là Thiệu Khang Tiết. Sáng tác chủ yếu của ông là : Hoàng Cực Kinh Thế. Thiệu Ung đã lập riêng ra một trường phái, chủ yếu là phát triển tượng số học Kinh Dịch, bao gồm sự phát triển đối với Quái đồ của Kinh dịch và Dự trắc học. Ông sáng tạo ra: “Thái cực bát quái vũ trụ sinh thành đồ thức”, dẫn giải sâu sắc về bản nguyên Vũ trụ Thái cực Kinh Dịch. Đối với hệ thống tượng số, Ông đã suy tính được sự hưng suy trị loạn của Xã hội, của Lịch sử nhân loại, đây là một sự sáng tạo độc lập của Thiệu Ung, đã để lại những ảnh hưởng rất lớn trong dân gian, Ông chế định niên biểu Lịch sử Vũ trụ, Dự trắc được quy luật sinh - diệt, thịnh – suy của thiên nhiên vũ trụ. Tiên thiên Dịch học là môn phái do Thiệu Ung khai sáng, theo phương pháp tư duy của mình, Ông cho rằng Tiên thiên đồ là do Phục Hy vẽ ra, tuy chỉ có Quẻ dịch, nhưng đã gồm đủ mọi lý về Trời Đất vạn vật trong thiên hạ, từ thuyết “tam tài” của Kinh Dịch, Thiệu Ung xây dựng mối quan hệ: Thiên Địa - Người – Xã hội Thiệu Ung cho rằng, lời của Quẻ dịch, và lời của Hào từ, đều do Văn vương làm ra, nó thuộc về Hậu thiên Dịch học. Nên, Thiệu Ung đã dốc sức vào Tiên thiên Dịch học, lập ra 14 bức Tiên thiên đồ, trong đó có: “Phục Hy Bát quái thứ tự đồ”, “Phục Hy Bát quái phương vị đồ”, “Phục Hy lục thập tứ quái thứ tự đồ”, “Phục Hy lục thập tứ quái phương vị đồ”, ...Chu Hy đều chép và bảo tồn trong trước tác: “Chu Dịch bản nghĩa”. Tiên thiên đồ của Thiệu Ung bắt nguồn từ lý luận Thái cực của Kinh Dịch, thông qua sự khởi nguyên và diễn biến của Bát quái, mà Quái thứ tự đồ đã tượng trưng cho sự khởi nguyên và sinh-thành của Vũ trụ vạn vật. Thiệu Ung dẫn giải trong trước tác HOÀNG CỰC KINH THẾ của mình: “Thái cực đã chia, hai nghi lập nên, Dương xuống giao với Âm, Âm lên giao với Dương, bốn tượng sinh ra. Dương giao với Âm, Âm giao với Dương, mà sinh ra bốn tượng của Trời ; Cứng giao với Mềm, Mềm giao với Cứng, mà sinh ra bốn tượng của Đất. Do vậy, Bát quái đã thành. Bát quái đan xen, sau đó sinh ra vạn vật. Do vậy, một phân thành hai, hai phân thành bốn, bốn phân thành tám, tám phân thành mười sáu, ..., Mười phân thành trăm, Trăm phân thành nghìn, ...,” (Hoàng cực kinh thế - Quan vật ngoại thiên – Tiên thiên tượng số đệ nhị). Ý nghĩa có giá trị lớn nhất của Hoàng cực kinh thế, là nguyên lý vũ trụ “vô hạn khả phân”. Trong đó, Tiên thiên phương vị đồ, và Hậu thiên phương vị đồ, đã minh giải được thuyết “quái khí” Kinh Dịch và thúc đẩy được học thuyết này mang tính thực tiễn rất cao. “Lục thập tứ quái viên đồ” và “Phục Hy bát quái phương vị đồ” đều lấy Càn - Khôn cư Nam - Bắc, còn Khảm-Ly nằm ở Tây – Đông, mục đích xây dựng hai đồ này để tượng trưng cho quá trình tiêu trưởng chuyển hoá Âm Dương, bốn mùa trong một năm. Đối với “Phục Hy bát quái phương vị đồ”, thì: từ quẻ Chấn đến quẻ Càn, là quá trình dương trưởng âm tiêu, từ quẻ Tốn đến quẻ Khôn là quá trình âm trưởng dương tiêu, tượng trưng cho thời tiết trong một năm, chuyển biến từ mùa Đông sang mùa Hạ, rồi từ mùa Hạ sang mùa Đông. Đối với “Phục Hy lục thập tứ quái phương vị đồ” thì: từ quẻ Địa Lôi Phục đến quẻ Thuần Càn, là giai đoạn dương trưởng âm tiêu ; từ quẻ Thiên Phong Cấu đến quẻ Thuần Khôn, lại là thời kỳ âm trưởng dương tiêu. Thông qua phương vị đồ, đã giải thích quy luật “quái khí” âm dương tiêu trưởng. Thiệu Ung đã viết: “Dương ở trong Âm, Dương đi ngược. Âm ở trong Dương, Âm đi ngược. Dương ở trong Dương, Âm ở trong Âm, đều là đi thuận (xuôi). điều này thật là chí cái lý, nhìn hình vẽ là ta có thể thấy được.” (Sách đã dẫn). “Từ quẻ Địa Lôi Phục đến quẻ Thuần Càn, tất cả đều là 112 hào dương. Từ quẻ Thiên Phong Cấu đến quẻ Khôn, tất cả là 112 hào âm. Từ quẻ Cấu đến Khôn, tất cả là 80 hào dương. Từ quẻ Phục đến quẻ Càn, tất cả là 80 hào âm. Càn 36, Khôn 24, Ly Đoài Tốn 32, Khảm Cấn Chấn 28.” HOÀNG CỰC KINH THẾ lấy chu kỳ: Nguyên - Hội - Vận - Thế phối hợp với Năm – Tháng – Ngày - Giờ làm một đơn nguyên (đơn vị): - Nguyên căn cứ vào sự vận hành của mặ Trời, xác định vòng quay của mặt Trời là một năm, do vậy lấy mặt Trời để phối với Nguyên. - Hội: trong một Năm, thì mặt Trời mặt Trăng giao hội 12 lần, do vậy lấy mặt Trăng để phối với Hội. - Vận: là sự vận hành của Sao trong một Năm là 360 độ, do vậy lấy sao phối với Vận. - Thế: một ngày có 12 canh giờ, cho nên lấy “thần” (chỉ hằng tinh) để phối với Thế. Phương pháp tính là: lấy Nguyên là 1, lấy Hội là 12, lấy Vận là 360, lấy Thế là 4320. Khối hợp với thời gian (số năm) thì một Nguyên bằng 12 hội, một Hội bằng 30 vận, một Vận bằng 12 thế, một Thế bằng 30 năm. Khi đổi ra Giờ-Ngày-Tháng-Năm thì: một Nguyên là 1 năm, 12 Hội là 12 tháng, 360 vận là 360 ngày, do vậy 1 nguyên = 4320 thế. Theo hệ thống học thuyết của Thiệu Ung, thì một đơn vị tính là 129600, (một Nguyên),Ông căn cứ vào Lục thập hoa giáp làm đơn vị cơ sở: 60 x 60 x 60 x 60 = 12 960 000 Khi người xưa phân một canh giờ là 100 khắc, tức là một giờ âm lịch bằng 100 khắc, theo cách phân định thời gian của ngày hôm nay là 120 phút tương đương với100 khắc, nên Thiệu Ung lấy 12960000 chia 100 = 129600, tương tương với 4320 x 30 = 128600. Ví dụ, cụ thể như Biểu suy đoán chu kỳ trong trời đất của quẻ Thuần Càn: “Càn cung nhất nguyên” như sau: - Thuần Càn = 1 x 1 = 1 (Nguyên kinh Nguyên) - Trạch Thiên Quải = 12 x 1 = 12 (Nguyên kinh Hội) - Hoả Thiên Đại Hữu = 12 x 30 = 360 (Nguyên kinh Vận) - Lôi Thiên Đại tráng = 360 x 12 = 4320 (Nguyên kinh Thế) - Phong Thiên Tiểu súc = 4320 x 30 = 129600 (Nguyên kinh Năm) - Thuỷ Thiên Nhu = 129600 x 12 = 1555200 (Nguyên kinh Tháng) - Sơn Thiên đại súc = 1555200 x 30 = 46656000 (Nguyên kinh Ngày) - Địa Thiên Thái = 46656000 x 12 = 559872000 ((Nguyên kinh Giờ). Thiệu Ung với phương pháp “tư duy số” của mình, ông lấy “số” làm cơ sở khởi Quái trên nguyên lý “Vạn vật giai số”. Bao gồm: quái số, thời số, vật số, âm số, can chi số, niên nguyệt nhật thời số, tự số, sinh thần số, xích số, độ số, nhân số, phương vị cửu cung số, ngũ hành sinh thành số, thập nhị sinh tiêu số. Nền tảng để Thiệu Ung hình thành phương pháp “tư duy số”, là Thiệu Ung coi mặt Trời là một chu kỳ vận động của một Ngày. Có nghĩa là một Hào của quẻ Dịch, luôn luôn tiệm tiến trải qua 12 quá trình (12 quẻ), tương đương với 60 này (Lục thập hoa giáp), do vậy một quẻ Dịch có 6 hào thì tương đương với 6 x 60 = 360 ngày. Đây là điều mà, khi các Nhà xuất bản tại Trung quốc không đề cập tới trong quá trình phát hành. Hoàng cực kinh thế là sản phẩm của phương pháp “tư duy số” mà Thiệu Ung đã sáng tạo nên, cụ thể để Dự trắc Vũ trụ và Xã hội loài người, lấy chu kỳ tăng giảm Âm – Dương để giải thích các hiện tượng tự nhiên của Vũ trụ, phù hợp với nguyên lý Âm – Dương của Kinh Dịch. Nhưng Kinh Dịch lại “nhấn mạnh tính năng động chủ quan, coi trọng năng lực con Người”. Do vậy, khi tham khảo Hoàng cực kinh thế, ta cần chú ý tôn trọng sự thật khách quan của Lịch sử, trên tinh thần thực sự cầu thị. Trích từ quyển “Địa Lý Toàn Thư” do Lê Khánh Trường và Lê Việt Anh dịch, Văn Lang xuất bản 1997. NGUYÊN NGŨ HÀNH NẠP GIÁP CHI NGHĨA Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái cùng sự tiêu diệt của 24 sơn và sự phát sáng của Bát quái, tất cả đều được nói rõ trong cuốn sách này. Trương Cửu Nghi nói: “ Ý chỉ của nạp giáp bắt nguồn từ Thái Âm; mà Thái Âm tròn đầy lại bắt nguồn từ Thái Cực; nguồn gốc của Thái Cực là Vô Cực”. Không có lời nói nào, hình tượng nào có thể diễn tả được Vô Cực. Vô Cực bao hàm hết thảy, nên mới nói Thái Cực bắt nguồn từ Vô Cực. Trong Vô Cực, khí vận động cọ sát, khí nhẹ và trong là Dương, biểu thị bằng phần trắng trong Thái Cực đồ; khí nặng và đục là Âm, biểu thị bằng phần đen trong Thái Cực đồ, đây là Lưỡng Nghi. Khí vận động cọ sát trong Dương nghi mà có được khí thuần dương, đó chính là Thái Dương ở góc Càn, Đoài phương Đông Nam của Thái Cực đồ; có được khí Âm bảy Dương ba chính là Thiếu Âm ở góc Chấn, Ly phương Đông Bắc của Thái Cực đồ. Khí vận động cọ sát trong Âm nghi sinh ra khí Thuần Âm, đây là Thái Âm ở góc Khôn, Cấn phương Tây Bắc trong Thái Cực đồ; có được khí Dương bảy Âm ba chính là Thiếu Dương ở góc Tốn, Khảm phương Tây Nam của Thái Cực đồ. Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm được gọi là Tứ Tượng. Mà đạo lý của Âm Dương là Âm Dương cùng phối hợp trong thuần dương có Âm, trong thuần Âm có Dương. Khí vận động cọ sát trong Thái Dương, mà toàn thể đều là Dương đó chính là Càn; khí có được hai dương một âm là Đoài. Khí vận động trong Thiếu Dương mà có được khí trong âm ngoài dương là chính là Ly; Khí có được một dương hai âm là Chấn. Khí vận động trong Thiếu Âm có được khí một âm hai dương là Tốn; có được khí trong dương ngoài âm là Khảm. Khí vận động trong Thái Âm mà có được hai âm một dương là Cấn; có được toàn thể là Âm, là Khôn. Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn được gọi là Bát quái. Người ta đều cho rằng ngoài Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, ngoài lưỡng nghi sinh Tứ Tượng, ngoài Tứ Tương sinh Bát Quái, mà không biết rằng Lưỡng Nghi ở trong Thái Cực, Tứ Tượng ở trong Lưỡng Nghi, Bát quái ở trong Tư Tượng, hiểu rỏ điều này thì mới có thể biết được ý nghĩa của Nạp Giáp. Ly là Nhật thể, Khãm là Nguyệt thể, 6 quái còn lại chiếu theo thứ tự nhất định mà xuất hiện trong bát quái, đều lấy Càn làm cha, Khôn làm Mẹ, Chấn là Trưởng Nam, kế thừa bản thể của Càn Cha, nhờ vào Khôn mẹ xuất hiện ở Phương Bắc, cho nên Thái Âm từ ngày 28 mỗi tháng đến ngày mùng 2 tháng sau toàn thể đen tuyền mà thành quẻ Khôn; mặt trăng ban đầu sáng có ba phần, đó là một dương vừa sinh, hào sơ lục (hào Ất Mùi) của tiêu Khôn là hình tượng của Chấn Tam là sơ cửu (hào Canh Tí, nên Khôn Ất sơn kỵ dùng ngày Canh Tí và ngày Mão). Ngày mùng 8 mặt trăng ở phương Canh nên Chấn nạp Canh mà Hợi Mùi Chấn cũng nạp tam hợp, quái này có 6 hào đó là: sơ cửu Canh Tí (phụ mẩu); lục nhị Canh Dần (huynh đệ); lục tam Canh Thìn (thê tài); cửu tứ Canh Ngọ (tử tôn); lục ngũ Canh Thân (quan quỉ), thượng lục Canh Tuất (thê tài). Lấy hào quan trong quái làm sát diệu nên quẻ Chấn kỵ Thân thủy ngày Thân, dùng nó để xem Tử, Phụ, Tài, Quan thì cũng dễ dàng luận đoán. Quẻ này tựa Mão Long, nhập thủ (Canh Hợi Mùi đồng), hướng Đoài (Tí Tị Sửu đồng) là Tam Tam Trạch Lôi Tùy. Cung Chấn thuộc Mộc, hào sơ cửu là Canh Tí (phụ mẫu); hào lục nhị là Canh Dần (huynh đệ); hào lục tam Canh Thìn (thê tài); cửu tứ là Đinh Hợi (phụ mẫu); cửu ngũ là Đinh Dậu (quan quỉ); thượng lục Đinh Mùi (thê tài). Long là nội quái, cần có Sa, đóng tại phương vị Dần Thìn; sơn phóng cần Triều sơn cao vút lại là ngoại quái, cần có Thủy đóng ở phương Hợi Dậu Mùi; Thủy cần lưu động, vì Long quản Sa nên hướng quản thủy, đây là tựu Chấn Cát Chấn. Mùng 8 là thượng huyền, mặt trăng sáng 6 phần, thế là hia dương sinh, lục nhị (hào Canh Dần) tiêu Chấn là Cửu nhị (hào Đinh Mão, nên Chấn Canh sơn và Hợi Mùi sơn kỵ dùng ngày Mão tháng Dậu, là tượng của Đoài Tam). Ngày mùng 8, trăng ở phương Đinh nên Đoài nạp Đinh mà Tị Sửu cũng nạp tam hợp với Đoài. Quẻ này có 6 hào: sơ cửu là Đinh Tỵ (quan quỉ), cửu nhị là Đinh Mão (thê tài); lục tam Đinh Sửu (phụ mẫu); cửu tứ là Đinh Hợi (tử tôn), cửu ngũ là Đinh Dậu (huynh đệ); thượng lục là Đinh Mùi (phụ mẫu), hào Quan trong quẻ là sát diệu nên Đoài kỵ Tị thủy, ngày Tỵ. Đến ngày 15 mặt trăng tròn đầy, đây là biểu hiện của Thuần Âm, lục tam (hào Đinh Sửu) của tiêu Đoài, là cửu tam (hào Giáp Thìn, vì thế Đoài, Đinh Tị, Sửu sơn kỵ ngày Giáp) đây là tượng của Càn Tam. Khi Nhật sơ bát thì Nguyệt sinh ở phương Giáp, nên Càn nạp Giáp Nhâm là Thiên Can thứ chín. Bát quái nạp Bát Can, còn lại cửu và thập, phân làm Càn và Khôn, nên Càn nạp Giáp và Nhâm; Khôn nạp Ất và Quí. La Kinh không có Tuất Tị, sở dĩ Ly nạp Tị là vì Hậu Thiên đóng ở cung Càn, phân ra Nhâm của Càn nạp trong Ly; Khảm nạp Tuất là vì Hậu Thiên đóng ở Khôn, là phân ra Quí của Khôn, nạp trong Khảm. Quẻ Càn có 6 hào: sơ cửu Giáp Tí (tử tôn); cửu nhị Giáp Dần (thê tài); Cửu tam Giáp Thìn (phụ mẫu); cửu tứ Nhâm Ngọ (quan quỉ); cửu ngũ Nhâm Thân (huynh đệ); thượng cửu Nhâm Tuất (phụ mẫu), Hào quan lấy chúng làm sát diệu trong quẻ, nên Càn (cùng Giáp) kỵ Ngọ Thủy, này Ngọ. Ba quẻ trên lấy mặt trời mọc là chuẩn, Nhật Nguyệt tròn đầy mà dưới thiếu 3 phần, đây là một Âm vừa sinh ra. Sơ cửu (hào Giáp Tí) của tiêu Càn là sơ lục (hào Tân Sửu, nên Càn Giáp sơn kỵ dùng ngày Tân và Tân Sửu), nó là tượng của Tốn Tam (đây là ý của câu: “Càn gặp Tốn thời nguyệt khuất”). Khi mặt trời (nhật) mọc thì mặt trăng (nguyệt) đóng ơ phương Tân, nên Tốn nạp Tân, quẻ này có 6 hào: Sơ lục Tân Sửu (thê tài); Cửu nhị Tân Hợi (phụ mẫu); Cửu tam Tân Dậu (quan quỉ); Lục tứ Tân Mùi (thê tài); Cửu ngũ Tân Tị (tử tôn); Thượng cửu Tân Mão (huynh đệ), hào Quan trong quái lấy đó làm sát diệu, nên Tốn (cùng Tân) kỵ Dậu Thủy, kỵ ngày Dậu. Đến ngày 23 là hạ huyền, trăng khuyết 6 phần là hai âm sinh, Cửu nhị (hào Tân Hợi) của diệt Tốn là Lục nhị (hào Bính Ngọ, nên Tốn, Tân Sơn kỵ ngày Bính và Bính Ngọ), nó là tượng của Cấn tam. Khi mặt trời mọc thì mặt trăng ở phương Bính, vì vậy Cấn nạp Bính, quẻ này có 6 hào: Sơ lục Bính Thìn (huynh đệ); Lục nhị Bính Ngọ (phụ mẫu); Cửu tam Bính Thân (tử tôn); Lục tứ Bính Tuất (huynh đệ); Lục ngũ Bính Tí (thê tài); Thượng cửu Bính Dần (quan quỉ), hào Quan trong quái lấy đó làm sát diệu, nên Cấn (cùng Bính) kỵ Dần Thủy và ngày Dần. Đến ngày 28 thì mặt trăng hoàn toàn biến mất, Cửu tam (hào Bính Thân) của tiêu Cấn là Lục Tam (hào Ất mão, nên Cấn, Bính sơn kỵ ngày Ất và Ất Mão) đây là tượng của Thuần Âm Khôn tam. Khi mặt trời mọc thì mặt trăng ở phương Ất nên Khôn nạp Ất và Quí, quẻ này có 6 hào: Sơ lục Ất Mùi (huynh đệ); Lục nhị Ất Tị (phụ mẫu); Lục tam Ất Mão (quan quỉ); Lục tứ Quí Sửu (huynh đệ); Lục ngũ Quí Hợi (thê tài); Thượng lục Quí Dậu (tử tôn); hào Quan trong quái lấy đó làm sát diệu nên Khôn, Ất kỵ Mão Thủy, ngày Mão. Sáu quẻ vừa nêu trên đều có sinh diệt, chỉ có Khảm Ly có được nhật nguyệt chính thể là không bị tiêu diệt. Trong Tiên Thiên chúng là một Đông một Tây, trong Hậu Thiên chúng là một Nam một Bắc. Lấy Tuất Tị của trung tâm Lạc Thư hình thành kinh vĩ, vì vậy hào trong Khảm Tam nạp Tuất Thổ; hào trong Ly tam nạp Tị Hỏa. Mà Địa lí phong thủy lấy Tuất nhận Cấn, Ất nhận Khôn, do đó Ly phân ra Nhâm của Càn, tam hợp với Dần Tuất mà nạp Nhâm Dần Tuất, Khảm phân làm Quí của Khôn, tam hợp với Thân Thìn mà nạp Quí Thân Thìn. Quẻ Ly có 6 hào: Sơ cửu Kỷ Mão (phụ mẫu), Lục nhị Ất Sửu (tử tôn); Cửu tam Kỷ Hợi (quan quỉ); Cửu tứ Kỷ Dậu (thê tài); Lục ngũ Ất Mùi (tử tôn); Thượng cửu Ất Tị (huynh đệ), hào Quan lấy đó làm sát diệu nên Ly (Nhâm Dần Tuất) kỵ Hợi Thủy, này Hợi. Khảm có 6 hào: Sơ lục Mậu Dần (tử tôn); Cửu nhị Mậu Thìn (quan quỷ); Lục tam Mậu Ngọ (thê tài); Lục tứ Mậu Thân (phụ mẫu); Cửu ngũ Mậu Tuất (quan quỉ); Thượng lục Mậu Tí (huynh đệ), hào Quan trong quái lấy đó làm sát diệu, nên Khảm (Quý Thân Thìn) kỵ Thìn, Mậu (Mậu Thìn, Mậu Ất). Nay lại lấy các loại Long mạch, nạp vào các quẻ để xem vận khí của tử, phụ, tài, quan, Long là nội quái, cai quản sa nên cần Sa sơn cao vút; Hướng là ngoại quái, cai quản thủy nên cần thủy đón chào. Đoạn sau đây trích từ quyển Chu Dịch với Dự Đoán Học của Thiệu Vĩ Hoa, Mạnh Hà Dịch Trong phương pháp nạp chi vì sao quẻ Càn lại nạp: tý, dần, thìn, ngọ, thân, tuất? Vì sao quẻ Khôn lại nạp: mùi, tỵ, mão, sửu, hợi, dậu? Người xưa khi bàn về hào đã lấy 12 hào của hai quẻ “Càn, Khôn” ứng với 12 tháng trong 1 năm. Điều này trong các sách đã nói rất rõ: cái gọi là “hào thời” là chỉ 12 hào trong hai quẻ Càn và Khôn tương đương 12 thời, lại đem 12 thời này chia làm 12 thán. Tức hào chín đầu của Càn làm “tý” là tháng 11, hào chín hai làm “dần” là tháng giêng; hào chín ba làm “thìn” là tháng 3; hào chín bốn làm “ngọ” là tháng 5; hào chín năm làm “thân” là tháng 7; hào chín trên làm “tuất” là tháng 9. Hào sáu đầu của quẻ Khôn làm “mùi” là tháng 6; hào sáu hai làm “dậu” là tháng 8; hào sáu ba làm “hợi” là tháng 10; hào sáu bốn làm “sửu” là tháng 12; hào sáu năm làm “mão” là tháng 2; hào sáu trên làm “tỵ” là tháng 4. Căn cứ nguyên tắc thời của 12 hào cho nên hào đầu cua Càn lấy là tý, rồi cách ngôi mà định hào tiếp theo; Hào đầu của quẻ Khôn bắt đầu từ Mùi, rồi cách ngôi mà định tiếp hào sau. Nhưng cách sắp xếp các hào tiếp theo hào đầu không phù hợp với cách sắp trước kia đó là vì quẻ Khôn là quẻ âm, cách sắp xếp hào đầu của nó là đi ngược lên. Đối với 6 quẻ khác: chấn, khảm, tốn, cấn, ly, đoài, thứ tự địa chi các hào của nó cũng được sắp xếp tuần tự theo một quy luật nhất định. Vì: Chấn, Khảm, Cấn là quẻ dương nên sắp xếp theo chiều thuận. Do đó hào chín đầu cua quẻ Chấn bắt đầu từ Tý, hào sáu đầu của quẻ Khảm bắt đầu từ Dần; hào sáu đầu của quẻ Cấn bắt đầu từ Thìn. Theo cách sắp xếp hào đầu của 3 quẻ ấy chính là tý, dần, thìn là cua ba hào trong quẻ Càn. Cho nên quẻ Chấn là trưởng nam, lấy hào đầu của Càn làm hào đầu của nó; quẻ Khảm là trung nam lấy hào hai của Càn làm hào đầu; Cấn là thiếu nam lấy hào ba của Càn làm hào đầu. Thứ tự sắp xếp hào đầu của 3 quẻ âm Tốn, Ly, Đoài khá phức tạp. Nó không những đi ngược của các hào thứ mà thứ tự của ngôi hào và quẻ cũng hoàn toàn ngược lại. Hào đầu của quẻ ấy thứ tự là: Đoài, Ly, Tốn. doài là thiếu nử, theo quy tắc đếm ngược của quẻ âm thì lấy hào đầu của quẻ Khôn al`m hào trên của quẻ Đoài, nên hào sáu trên của quẻ Đoài bắt đầu ở Mùi - Thổ; Ly là trung nữ lấy hào hai của Khôn làm hào sáu trên của Ly là Tỵ - Hỏa; Tốn là trưởng nữ lấy hào ba của Khôn làm hào sáu trên nên hào trên của Tốn là Mão - Mộc. Thứ tự của các hào là từ trên xuống dưới sắp xếp cách ngôi. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
[Trong mối tương quan của Thiên Can liên quan đến Ngũ Hành sinh khắc, có hai đang: 1 - Theo Tiên Thiên: Trên cơ sở này thì Bính Hỏa khắc Canh Kim.....vv....Tức là vẫn theo lý tương sinh, tương khắc bình thường. 2 - Theo Hậu Thiên: Căn cứ trên sự tương hợp độ số trên Hà Đồ (Theo "Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt") thì Bính Hỏa hợp Tân Âm Kim. Nhưng lý tương khắc của Tiên Thiên vẫn là mạnh nhất khi cân nhắc tính toán sự khắc hợp của Ngũ Hành trong Thiên Can. Tức là khi ứng dụng thì căn cứ vào - tạm gọi là "hệ Qui chiếu" - Nếu là xem xét chuyện đất trời thì theo Tiên thiên, Sự khắc hợp của con người thì theo Hậu Thiên. TIÊN THIÊN NỘI TĨNH NGOẠI ĐỘNG Vị trí thứ nhất là Thuần Càn, số là 99, trong và ngoài đều là số “thành”, nội tĩnh ngoại tĩnh Vị trí thứ 2 là Trạch Thiên Quải, số là 49, trong là số “thành”, ngoài là số “sinh”, do quẻ Càn hào 6 biến. Ngoại động nội tĩnh. Vị trí thứ 3 là Hỏa Thiên Đại hữu, số là 39, ngoài “sinh” trong “thành”, ngoaì do quẻ Càn hào 5 biến. Vị trí thứ 4 là Lôi Thiên Đại tráng, số là 89, cả trong và ngoài đều là số “thành”, ngoài do quẻ Khôn hào 4 biến. Vị trí thứ 5 là Phong Thiên Tiểu súc, số là 29, nội tĩnh ngoại động, ngoại động do quẻ Càn hào 4 biến. Vị trí thứ 6 là Thủy Thiên Nhu, số là 79, nội và ngoại đều là số “thành”, ngoại do quẻ Khôn hào 5 biến. Vị trí thứ 7 là Sơn Thiên Đại súc, số là 69, nội và ngoại đều là số “thành", ngoại do quẻ Khôn hào 6 biến. Vị trí thứ 8 là Địa Thiên Thái, số là 19, nội “thành” ngoại “sinh”. Vị trí thứ 9 là Thiên Trạch Lý, số là 94. Vị trí thứ 10 là Thuần Đoài, số là 44. Vị trí thứ 11 là Hỏa Trạch Khuê, số là 34 . Vị trí thứ 12 là Lôi Trạch Quy muội, số là 84 Vị trí thứ 13 là Phong Trạch Trung phu, số là 24. Vị trí thứ 14 là Thủy Trạch Tiết, số là 74. Vị trí thứ 15 là Sơn Trạch Tổn, số là 64 Vị trí thứ 16 là Địa Trạch Lâm, số là 14. Vị trí thứ 17 là Thiên Hỏa Đồng nhân, số là 93. Vị trí thứ 18 là Trạch Hỏa Cách, số là 43. Vị trí thứ 19 là Thuần Ly (10 + 9), số là 33. Vị trí thứ 20 là Lôi Hỏa Phong, số là 83. Vị trí thứ 21 là Phong Hỏa Gia nhân, số là 23. Vị trí thứ 22 là Thủy Hỏa Ký tế, số là 73. Vị trí thứ 23 là Sơn Hỏa Bí, số là 63. Vị trí thứ 24 là Địa Hỏa Minh di số là 13. Vị trí thứ 25 là Thiên Lôi Vô vọng, số 98 Vị trí thứ 26 là Trạch Lôi Tùy, số là 48. Vị trí thứ 27 là Hỏa Lôi Phệ hạp, số là 38. Vị trí thứ 28 là Thuần Chấn, số là 88. Vị trí thứ 29 là Phong Lôi Ích, số là 28 Vị trí thứ 30 là Thủy Lôi Truân, số là 78. Vị trí thứ 31 là Sơn Lôi Di, số là 68. Vị trí thứ 32 là Địa Lôi Phục, số là 18. Vị trí thứ 33 là Thiên Phong Cấu, số là 92. Vị trí thứ 34 là Trạch Phong Đại quá, số là 42. Vị trí thứ 35 là Hỏa Phong Đỉnh, số 32. Vị trí thứ 36 là Lôi Phong Hằng, số là 82. Vị trí thứ 37 là Thuần Tốn, số là 22. Vị trí thứ 38 là Thủy Phong Tỉnh, số là 72. Vị trí thứ 39 là Sơn Phong Cổ, số là 62. Vị trí thứ 40 là Địa Phong Thăng, số là 12. Vị trí thứ 41 là Thiên Thủy Tụng, số là 97. Vị trí thứ 42 là Trạch Thủy Khốn, số là 47. Vị trí thứ 43 là Hỏa Thủy Vị tế, số là 37. Vị trí thứ 44 là Lôi Thủy Giải, số là 82 Vị trí thứ 45 là Phong Thủy Hoán, số là 27. Vị trí thứ 46 là Thuần Khảm, số là 77. Vị trí thứ 47 là Sơn Thủy Mông, số là 67. Vị trí thứ 48 là Địa Thủy Sư, số là 17. Vị trí thứ 49 là Thiên Sơn Độn, số là 96. Vị trí thứ 50 là Trạch Sơn Hàm, số là 46. Vị trí thứ 51 là Hỏa Sơn Lữ, số là 36. Vị trí thứ 52 là Lôi Sơn Tiểu quá, số là 86. Vị trí thứ 53 là Phong Sơn Tiệm, số là 26. Vị trí thứ 54 là Thủy Sơn Kiển, số là 76. Vị trí thứ 55 là Thuần Cấn, số là 66. Vị trí thứ 56 là Địa Sơn Khiêm, số là 16 Vị trí thứ 57 là Thiên Địa Bĩ, số là 91. Vị trí thứ 58 là Trạch Địa Tụy, số là 41. Vị trí thứ 59 là Hỏa Địa Tấn, số là 31. Vị trí thứ 60 là Lôi Địa Dự, số là 81. Vị trí thứ 61 là Phong Địa Quan, số là 21. Vị trí thứ 62 là Thủy Địa Tỷ, số là 71. Vị trí thứ 63 là Sơn Địa Bác, số là 61. Vị trí thứ 64 là Thuần Khôn, số là 11. HẬU THIÊN NỘI ĐỘNG NGOẠI TĨNH 1- Càn ngoại: - Vị trí thứ nhất là Thuần Càn, số thực dụng là 99 - Vị trí thứ 9 (1 +8) là Thiên Trạch Lý, số là 94. - Vị trí thứ 17 (9 + 8) là Thiên Hỏa Đồng nhân, số là 93. - Vị trí thứ 25 (17 +8) là Thiên Lôi Vô vọng, sô là 98 - Vị trí thứ 33 (25 +8) là Thiên Phong Cấu, số là 92. - Vị trí thứ 41 (33 +8) là Thiên Thủy Tụng, số là 97. - Vị trí thứ 49 (41 + 8) là Thiên Sơn Độn, số là 96. - Vị trí thứ 57 (49 + 8) là Thiên Địa Bĩ (bế tắc), số là 91 2- Đoài ngoại: - Vị trí thứ 2 là Trạch Thiên Quải, số là 49,(58 + 8 = 66 – 64 = 2) - Vị trí thứ 10 là Thuần Đoài (vui vẻ), số là 44 - Vị trí thứ 18 là Trạch Hỏa Cách (cải cách), số là 43. - Vị trí thứ 26 là Trạch Lôi Tùy (theo), số là 48. - Vị trí thứ 34 là Trạch Phong Đại quá (quá lớn), số là 42. - Vị trí thứ 42 là Trạch Thủy Khốn, số là 47. - Vị trí thứ 50 là Trạch Sơn Hàm (trai gái cảm nhau), số là 46. - Vị trí thứ 58 là Trạch Địa Tụy (nhóm họp), số là 41. 3- Ly ngoại: - Vị trí thứ 3 là Hỏa Thiên Đại hữu, số là 39, (59 + 8 = 67 – 64 = 3) - Vị trí thứ 11 là Hỏa Trạch Khuê (chia lìa), số là 34. - Vị trí thứ 19 là Thuần Ly, số là 33. - Vị trí thứ 27 là Hỏa Lôi Phệ hạp (cắn để hợp), số là 38. - Vị trí thứ 35 là Hỏa Phong Đỉnh, số 32. - Vị trí thứ 43 là Hỏa Thủy Vị tế, số là 37. - Vị trí thứ 51 là Hỏa Sơn Lữ (bỏ nhà đi tha hương), số là 36. - Vị trí thứ 59 là Hỏa Địa Tấn (tiến lên), số là 31. 4- Chấn ngoại: - Vị trí thứ 4 là Lôi Thiên Đại tráng, số là 89,(60 + 8 = 68 – 64 = 4) - Vị trí thứ 12 là Lôi Trạch Quy muội (em gái về nhà chồng), số là 84. - Vị trí thứ 20 là Lôi Hỏa Phong (thịnh, lớn) số là 83. - Vị trí thứ 28 là Thuần Chấn, số là 88. - Vị trí thứ 36 là Lôi Phong Hằng (lâu dài), số là 82 - Vị trí thứ 44 là Lôi Thủy Giải, số là 87. - Vị trí thứ 52 là Lôi Sơn Tiểu quá (quá chút ít), số là 86. - Vị trí thứ 60 là Lôi Địa Dự (vui sướng), số là 81. 5- Tốn ngoại: - Vị trí thứ 5 là Phong Thiên Tiểu súc, số là 29 (61 + 8 = 69 – 64 = 5) - Vị trí thứ 13 là Phong Trạch Trung phu (có đức tin trong lòng), số là 24. - Vị trí thứ 21 là Phong Hỏa Gia nhân, số là 23. - Vị trí thứ 29 là Phong Lôi Ích (tăng lên), số là 28. - - Vị trí thứ 37 là Thuần Tốn, số là 22. - Vị trí thứ 45 là Phong Thủy Hoán (chia lìa, tan tác), số là 27. - Vị trí thứ 53 là Phong Sơn Tiệm (tiến dần), số là 26. - Vị trí thứ 61 là Phong Địa Quan (xem xét), số là 21. 6- Khảm ngoại: - Vị trí thứ 6 là Thủy Thiên Nhu (chờ đợi), số là 79 (62 + 8 = 70 – 64 = 6) - Vị trí thứ 14 là Thủy Trạch Tiết (tiết chế lại), số là 74. - Vị trí thứ 22 là Thủy Hỏa Ký tế, số là 73, nạp Mậu Thìn, hành 9 vận. - Vị trí thứ 30 là Thủy Lôi Truân (đầy và khó khăn), số là 78. - Vị trí thứ 38 là Thủy Phong Tỉnh, số là 72. - Vị trí thứ 46 là Thuần Khảm, số là 77. - Vị trí thứ 54 là Thủy Sơn Kiển, số là 76. - Vị trí thứ 62 là Thủy Địa Tỷ, số là 71. 7- Cấn ngoại: - Vị trí thứ 7 là Sơn Thiên Đại súc, số là 69 (63 + 8 = 71 – 64 = 7) - Vị trí thứ 15 là Sơn Trạch Tổn, số là 64. - Vị trí thứ 23 là Sơn Hỏa Bí (rực rỡ, sáng sủa), số là 63. - Vị trí thứ 31 là Sơn Lôi Di (nuôi nấng), số là 68 - Vị trí thứ 39 là Sơn Phong Cổ, (đổ nát, công việc), số là 62. - Vị trí thứ 47 là Sơn Thủy Mông (non yếu, mù mờ), số là 67. - Vị trí thứ 55 là Thuần Cấn, số là 66 (46), Cấn nạp Bính Dần, hành 1 vận. - Vị trí thứ 63 là Sơn Địa Bác (tiêu mòn, bóc lột), số là 61 8- Khôn ngoại: - Vị trí thứ 8 là Địa Thiên Thái (hanh thông), số là 19. - Vị trí thứ 16 là Địa Trạch Lâm (lớn tới), số là 14. - Vị trí thứ 24 là Địa Hỏa Minh di số là 13. - Vị trí thứ 32 là Địa Lôi Phục (trở lại), số là 18. - Vị trí thứ 40 là Địa Phong Thăng, số là 12. - Vị trí thứ 48 là Địa Thủy Sư (đám đông), số là 17. - Vị trí thứ 56 là Địa Sơn Khiêm (nhún nhường), số là 16. - Vị trí thứ 64 là Thuần Khôn, số là 11. Mô hình “từ trong ra” là mô hình mở, đi ngược chiều kim đồng hồ, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới. Khác với chiều vặn đi vào, đi thuận chiều kim đồng hồ, từ trái sang phải, là mô hình đóng. Khi xét việc đã qua phải theo trật tự thuận, đi theo các con số lớn dần, (tức là chiều từ âm đến dương). Còn khi xét việc sắp tới thì phải theo trật tự nghịch của các con số, đi theo các con số nhỏ dần.(tức là chiều từ dương sang âm) Theo nguyên tắc cơ chế tâm truyền, mọi thông tin đều phải từ giữa phát ra, đây là thời điểm xẩy ra sự việc. Nếu lấy thời điểm này mà xét, thì việc trở về quá khứ của sự việc, là trở về những quẻ đã sinh, tức là những quẻ ta đã biết trước. Như vậy phải là những quẻ ở miền dương, tức là từ Chấn-4 đến Ly-5, đến Đoài-6, rồi đến Càn-7. Đi từ Chấn đến Càn là miền Dương, là đi theo chiều thuận của các con số 4-5-6-7 là chiều các con số lớn dần. Khi muốn xét tương lai của sự việc đang xẩy ra thì phải theo hướng các quẻ chưa sinh, tức là những quẻ chưa biết. Như vậy phải là những quẻ ở miền âm, tức là từ Tốn-3 đến Khảm-2, rồi đến Cấn-1, và đến Khôn-0, tức là đi theo chiều ngược của các con số (chiều các con số nhỏ dần 3-2-1-0), như người kể ngược bốn mùa vậy ! Càn-7, Đoài-6, Ly-5, Chấn-4, Tốn-3, Khảm-2, Cấn-1, Khôn-0. <-- <-- <-- <-- --> - - -> - - -> - - -> Khi ta cho rằng Chấn-Tốn là thời điểm hiện tại của sự việc thì, muốn biết tương lai phải đi theo chiều nghịch của các con số, tức là chiều các con số giảm dần cùng với các quẻ tương ứng của chúng. Cũng có thể tìm hiểu quá khứ của sự việc để đoán biết tương lai thông qua các quẻ đối xứng, là các quẻ biến dịch hay “quẻ đối” phản của chúng, vì quy luật sinh-thành của các con số là đối xứng từng cặp một, các con số đều có hai miền đối xứng: quá khứ và tương lai so với thời điểm xẩy ra. Tìm hiểu quá khứ để biết được tương lai, đây chính là chìa khóa của Dịch. Mặt trời mọc từ Đông sang Tây, là quy luật của tạo hóa, là từ tối đến sáng, là từ âm đến dương, từ “không” đến “có”; giai đoạn này được gọi là “ quẻ đã sinh”, đây là trật tự thuận. Ngũ hành thuận bắt đầu từ : Thổ - Thủy - Mộc - Hỏa – Kim. Giai đoạn quẻ chưa sinh bắt đầu bằng trật tự từ Tây sang Đông, từ sáng đến tối, ngũ hành ngược lại là : Kim-Hỏa-Mộc-Thủy-Thổ. Nên nói Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8 thì đều được các quẻ chưa sinh, như người kể ngược thứ tự bốn mùa vậy. Đây là thứ tự của quẻ chưa sinh. Quy luật của tự nhiên tiến từ “không” đến “có”, cái “không” thuộc âm, cái “có” thuộc dương. Âm Dương cũng là trạng thái “đóng - mở” của tạo hóa. Tạo hóa tiến từ trạng thái “đóng” sang trạng thái “mở”, từ không đến có, từ thế giới vô hình sang thế giới hữu hình. Cái “có” đầu tiên thuộc về Dương, nó tương ứng với số 1, là số lẻ, số cơ. Vạn vật hiện hữu quanh ta thì muôn hình vạn trạng theo từng chủng loại, theo từng loài. Tất cả, đều xuất phát từ sự “sinh-thành” và vị trí ban đầu của các con số trong không gian, cũng như quy luật biến hóa theo “tượng âm dương” của chúng. Biến Dịch là vòng tuần hoàn lớn của Tạo hóa, Càn Khôn đóng vai trò mở đầu và kết thúc những quá trình lâu dài. Đối với đời người cũng như vạn loại sinh giới, sự biến dịch từ Càn tới Khôn, đồng nghĩa với sự kết thúc chu trình sống này, để chuyển sang một chu trình sống khác. Sự biến dịch từ Âm sang Dương hay từ Dương sang Âm, là sự biến đổi về bản thể các tượng số, luôn luôm tiệm tiến trải qua 10 giai đoạn. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Tôi rất vui khi được cùng Anh tâm sự. Trước hết, tôi phải tự thú nhận rằng: tôi còn rất yếu kém về những "khái niệm cơ bản". Chính vì vậy, để tìm cho nhau có cùng một tiếng nói chung (thanh - âm) khi tìm hiểu về Học thuyết của Thiệu Ung, ông là người đã đưa "chính trị" - các đời Vua thịnh - suy vào Học thuyết Hoàng cực của mình. Từ nguyên nhân này, việc không hiểu biết dư luận của người dân, tất yếu dẫn tới kết thúc sự gặp gỡ, giữa quy luật Xã hội và quy luật của Tự nhiên. Tại sao vậy ? Ngũ Hành - cái bị khắc, thì thường không có khả năng tự biểu hiện mình, tự khẳng định được mình về mặt "thể" của nó (chính trị), do vậy cái bị khắc sẽ nhanh tróng hướng tới, đi tìm kiếm một sự đồng nhất khác (chất- lượng - kinh tế). Thông qua đây, trở lại (tri lai), để khẳng định cái "thể" của mình (chính trị). Đó chính là cái chúng ta gọi là "biến - hóa", sự giải phóng cái "thể" (chính trị), sẽ dẫn đến hội nhập (giao - hội) về kinh tế (dụng - chất - lượng). Ngày hôm nay, chúng ta có tự phát minh ra lịch sử của mình, tương lai của mình được không ? - Bàn về điểm xuất phát: (khởi nguyên) 1/- Theo Thiệu Ung, hội Ngọ bắt đầu từ năm 2217 tiền công nguyên, như vậy: - Hội Tị bắt đầu từ:...... 13017 - Hội Thìn bắt đầu từ:...23817 - Hội Mão bắt đầu từ:...34617 - Hội Dần bắt đầu từ:....45417 - Hội Sửu bắt đầu từ:....56217 - Hội Tý bắt đầu từ:......67017 2/- Trường phái của đa số: lấy năm Giáp tý 2697 tiền công nguyên, là năm Hoàng đế nguyên niên làm năm gốc cho Lịch Can chi. 3/- Theo Thái Ất bí thư thì "hợp bích - liên châu", xẩy ra vào năm 10 153 916. 5/- Phương trời Tây kiểm nghiệm bằng điện toán: Thất tinh tụ hội: ngày 5/3/1953 tiền công nguyên, mà không phải là ngày 28/2/2449 tiền công nguyên. 6/- Cùng một sách Cổ thư, hai cách tính cho kết quẻ khác nhau: thứ nhất là ngày 5/3/1953 tiền công nguyên. Thứ hai là ngày 21/12/2251 tiền công nguyên. Vậy thì, Thiệu Ung xây dựng hệ thống Thời gian của mình như thế nào ? - Nguyên ở Nguyên là.............. 1 (năm) - Nguyên ở Hội là...................... 12 (tháng) - Nguyên ở Vận...................... 360 (ngày) - Nguyên ở Thế là ................4320 (giờ) - Hội ở Nguyên là..................... 12 - Hội ở Hội là.......................... 144 - Hội ở Vận là...................... 4320 - Hội ở Thế là.................... 51840. - Vận ở Nguyên là............. ...360 - Vận ở Vận là..................129600 - Vận ở Thế là..................1555200 - Thế ở Nguyên là..................4320 - Thế ở Hội là.......................51840 - Thế ở Vận là....................1555200 - Thế ở Thế là..................18662400. Từ đây, số "sinh ra vật" là số 256 được căn cứ theo mốc Thời gian nào ? Số 104 và 108 quan hệ với nhau không ? Khi chúng ta đặt lòng tin vào Dịch, khả năng Quái danh có đúng với những điều mà Thiệu Ung minh giải về Lịch sử: thịnh trị của các đời Vua không ? Tại thời điểm này, cái Lý của Pháp gia với ý nghĩa chính là "lý trị loạn", lấy sự phân biệt thưởng phạt làm cốt yếu, nếu vứt bỏ Pháp để lấy Trí, mà chọn lựa Trí thì thất bại vậy. Hà Uyên. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
KINH THỊ DỊCH TRUYỆN Kinh Phòng (77 – 37 tr.CN) người Tây Hán, là người khai sáng ra Kinh thị Dịch học kim văn. Người đất Đốn Khâu Đông quận, tự là Quân Minh, ông họ Lý. Cống hiến chủ yếu về Dịch học của ông là phát triển tượng số học Chu Dịch. Ông học Dịch ở Tiêu Diên Thọ người nước Lương, sau ông lại học thêm Dịch từ một ẩn sĩ, ông rất thích âm luật, sau đắc tội và chết trong tay Trung thư lệnh Thạch Hiển. Đặc trưng của Dịch học Kinh Phòng là chiêm nghiệm, Kinh thị Dịch học mở đầu cho phái tượng số, là gốc của tượng số, gốc của thuật số. Bốn cống hiến lớn của Kinh Phòng là: Bát cung quái thuyết; Nạp Giáp thuyết; Quái khí thuyết; Âm dương ngũ hành thuyết. Do làm rõ được về tai dị nên được nhà Vua ban thưởng. Với đặc điểm học thuật chiêm nghiệm khí số cho xã hội thông qua tai dị trong thiên nhiên trên nền tảng “thiên nhân cảm ứng”. Bát cung quái thuyết lấy cơ sở về thứ tự các quẻ Càn-Chấn-Khảm-Cấn-Khôn-Tốn-Ly-Đoài của “Thuyết quái”. Trong đó 4 quẻ Càn-Chấn-Khảm-Cấn là 4 cung Dương, còn 4 quẻ Khôn-Tốn-Ly-Đoài là 4 cung Âm. Căn cứ vào sự phân vạch của quẻ, 8 quẻ thuần là quẻ “thống suất” gọi là quẻ mẹ, các hào của quẻ “thống suất” đều cố định không biến, 7 quẻ bị “thống suất” đều gọi là “kiến quái”, gọi là quẻ con, vì những hào của chúng đều có biến đổi. Kinh Phòng căn cứ vào Dịch nói: “tinh khí vi vật, du hồn vi biến”. Quy luật biến đổi là hào Dương biến đổi thành hào Âm, hào Âm biến đổi thành hào Dương. Quẻ Đời 1 lấy hào 6 là hào bất biến. Gọi là quẻ Đời 2, là từ 8 quẻ mẹ mà Dịch gọi là “Bát thuần”, do hào đầu tiên biến đổi mà thành. Quẻ đời 3 là do sự niến đổi của 2 hào đầu của quẻ mẹ mà thành, hoặc là do từ quẻ Đời 1 biến đổi hào 2 mà thành. Quẻ Đời 4 là do sự biến đổi của hào 1-2-3 của quẻ mẹ mà thành, hoặc là do từ quẻ Đời 2 biến đổi hào 3 mà thành. Quẻ Đời 5 là do sự biến đổi của hào 1-2-3-4 từ quẻ mẹ mà thành, hoặc là do từ quẻ Đời 3 biến đổi hào 4 mà thành. Quẻ Đời 6 là do sự biến đổi của các hào 1-2-3-4-5 từ quẻ mẹ mà thành, hoặc là do từ quẻ Đời 4 biến đổi hào 5 mà thành. Quẻ Đời 7 được gọi là quẻ Du hồn, căn cứ từ quẻ Đời 6 mà biến đổi hào 4 Quẻ Đời 8 được gọi là quẻ Quy hồn, căn cứ từ quẻ Đời 7, biến đổi cả 3 hào hạ quái quẻ Du hồn mà thành. Kinh Phòng căn cứ vào cấu tạo ngôi vị của quẻ 6 hào, lấy hào Sơ (hào 1) làm Khởi đầu (chung), lấy hào Trên (hào 6) làm Kết thúc (thủy), với nền tảng Càn Khôn làm đầu cuối của Âm Dương, nên hào 6 của quẻ “Bát thuần” không biến đổi. Chữ “đời” ở đây là gọi là Thế là do hào biến đổi làm chủ của quẻ biến, gọi là hào “cư Thế”. Quẻ Đời 1-2 gọi là Địa dịch, quẻ Đời 3-4 gọi là Nhân dịch, quẻ Đời 5-6 gọi là Thiên dịch. Quẻ Du hồn và Quy hồn gọi là Quỷ dịch. Quẻ Đời 1 ở đây lấy hào bất biến làm chủ, tức là hào 6 của quẻ “bát thuần”. Về phương diện ngôi vị hào, hào đầu gọi là Nguyên sĩ, hào 2 gọi là Đại phu, hào 3 gọi là Tam công, hào 4 gọi là Chư hầu, hào 5 gọi là Thiên tử, hào 6 gọi là Tông miếu, gọi như vậy với mục đích để phân rõ đẳng cấp tôn ti. Gọi là Thế - Ứng, tức là chỉ sự tương ứng của 3 hào dưới với 3 hào trên trong mỗi cung, tức là hào đầu tương ứng với hào 4, hào 2 tương ứng với hào 5, hào 3 tương ứng với hào trên. Trong đó, hào làm chủ là hào “cư thế”, thì khi chiêm nghiệm, hào Ứng phải theo hào làm chủ, đó là hào Thế, hào Ứng (để phán đoán) là hào có quan hệ mật thiết với đối tượng chiêm nghiệm, ví như giữa vợ chồng, giữa anh em, vì giữa họ có tình cảm tương ứng với nhau. Định cát hung thì lấy hào cư Thế làm chủ. THUY ẾT NẠP GIÁP Càn Khôn là gốc của Âm Dương, là đầu cuối của Âm Dương 64 quẻ cho nên lần lượt nạp Giáp Ất Nhâm Quý. Khi nạp Thiên can vào quẻ thì căn cứ theo số thứ tự Tiên thiên bát quái của quẻ phối với thứ tự của 10 Thiên can như sau: Càn 1 đứng đầu nạp Giáp mộc đứng đầu của Thiên can, Càn thuộc dương nạp Giáp cũng thuộc dương. Tiếp đến Đoài 2 phối với cặp Thiên can Bính-Đinh thuộc Hỏa, Đoài thuộc Âm nên phối với Đinh cũng thuộc Âm. Tiếp đến Ly 3 phối với cặp Thiên can Mậu-Kỷ thuộc Thổ, quẻ Ly thuộc Âm nên phối với can Kỷ thuộc âm. Tiếp đến Chấn 4 phối với cặp Thiên can Canh-Tân thuộc Kim, quẻ Chấn thuộc Dương nên phối với can Canh thuộc Dương. Càn Khôn đối ứng, trời đất định vị, Giáp dương nạp Càn dương, nên Ất âm nạp vào Khôn âm. Cấn Đoài đối ứng, núi đầm thông khí, Đoài âm nạp can Đinh âm, nên Cấn dương nạp can Bính dương. Khảm Ly đối ứng, Thủy Hỏa tương tề, Ly âm nạp Kỷ âm nên Khảm dương nạp Mậu dương. Chấn Tốn đối ứng, sấm gió cùng nhau, Chấn dương nạp can Canh dương, nên Tốn âm nạp can Tân âm. Còn lại cặp Nhâm Quý thuộc Thủy, nạp vào 2 quái phụ mẫu Càn Khôn, Nhâm dương nạp theo Càn dương, Quý âm nạp theo Khôn âm. Kinh Phòng căn cứ theo thứ tự Ngũ hành Mộc-Hỏa-Thổ-Kim-Thủy phối ứng với số Tiên thiên Ngũ hành 3-2-5-4-1, cặp số 3-2 thuộc Xuân-Hạ mà Dương trước Âm sau, cặp 4-1 thuộc Thu-Đông mà Dương sau Âm trước. THUYẾT NẠP ĐỊA CHI “Định cát hung chỉ lấy tượng của một hào”. Kinh Phòng lần lượt cho 6 hào của 64 quẻ đối ứng với 12 địa chi, với quy luật phân theo Chi âm và Chi dương tương ứng với số chẵn lẻ rồi cho đối ứng với 384 hào. Chi dương đi thuận chiều vì dương chủ tiến, Chi âm đi ngược chiều vì Âm chủ lùi, vì 8 quẻ thì có 4 quẻ thuộc dương, 4 quẻ thuộc âm, mà 12 Chi lại có những 6 chi dương và 6 chi âm. Âm theo Ngọ, Dương theo Tý, Tý-Ngọ phân đường đi, Tý đi phía trái, Ngọ đi phía phải. Tháng 11 tháng 5 là tháng Tý Ngọ lần lượt phối hợp với hào Sơ và hào 4 quẻ Càn. Tháng 12 và tháng 6 là tháng Sửu Mùi lần lượt phối hợp với hào Sơ và hào 4 của quẻ Khôn, vì căn cứ theo “thuyết quái” nói Càn Khôn là quẻ Cha Mẹ. Thể của quẻ Dịch phải đủ 6 vạch mới thành, 6 vạch lại phân chia ngôi âm ngôi dương mới thành quẻ, mới phản ánh cụ thể mối quan hệ sinh khắc giữa Bố Mẹ và Con của 8 cung quái với vị trí 6 hào. Như quẻ Càn thuộc Kim là quẻ Bố Mẹ, hào Sơ thuộc Thủy, Kim sinh Thủy, mẹ sinh con, cho nên là cát, hào 4 thuộc Hỏa, Hỏa khắc Kim, con khắc mẹ là hung. Như vậy có nghĩa là tương sinh là thuận, tương khắc là hung, mẹ sinh con là đại cát, con khắc mẹ là đại hung. Kinh Phòng nói: Quỷ bát quái là hào “học”, tài là hào “chế”, trời đất là hào “nghĩa”, phúc đức là hào “bảo”, đồng khí là hào “chuyển”. THUYẾT QUÁI KHÍ Kinh Phòng lấy 64 quẻ 384 hào ứng với 1 năm, nói “ hào đầu trên, hào hai giữa, hào ba dưới, số của tháng 3 thành ra tháng 1. Hào đầu 3 ngày, hào hai 3 ngày, hào ba 3 ngày, tất cả là 9 ngày, còn dư ra một ngày gọi là ngày nhuận. Mười ngày của hào đầu là Thượng tuần, mười ngày của hào hai là Trung tuần, mười ngày của hào ba là Hạ tuần, 3 tuần là 30 tích tuần”. “ Thành tháng, tích tháng thành năm, 8 lần 8 là 64 quẻ, chia ra 64 quẻ phối với 384 hào thành 32 x 360 = 11520 thẻ. Khí dịch 24 tiết khí phối hợp với Ngũ hành, thì mọi việc từ đạo Trời, đến vận mệnh con người, đến Trăng, Sao, ta đều có thể thấy được mọi chuyện cát hung rõ ràng”. Âm sinh dương tiêu, dương sing âm diệt, hai khí giao nhau, thì vạn vật mới sinh ra. Dương nhập vào âm, âm nhập vào dương, hai khí giao hỗ không ngừng, cho nên gọi thế là “sinh”. Dương trong âm, âm trong dương, hai khí âm dương hòa vào nhau mà thành “tượng”. Kinh Phòng căn cứ vào âm dương khí hóa, âm dương thăng giáng và âm dương tiêu trưởng chuyển hóa đưa ra nguyên lý quẻ ẩn - hiện, trong đó quẻ “hiện” là quẻ hướng ngoại, lộ mặt, còn quẻ “ẩn” thì hướng nội, tiềm ẩn. Nói chung, tượng quẻ dương phần nhiều là quẻ “hiện”, tượng quẻ âm phần nhiều là quẻ “ẩn”. Ví như quẻ Càn có tượng thuộc dương, phối Thiên thuộc Kim, nó với quẻ Khôn là một cặp đối ứng “ẩn - hiện”. Quẻ Khôn có tượng thuộc âm, phối hợp với Địa thuộc Thổ, khi phối với quẻ Càn là một cặp đối ứng “ẩn - hiện”. Nguyên lý “ẩn - hiện” trong tượng hào của quẻ vốn “ngụ hàm” với nhau, như hào Sáu đầu của quẻ Khôn nói “ lý sương kiên băng chí” thích là “ rồng đánh nhau ở cánh đồng, máu chúng chảy ra đen vàng”. Rồng tính dương là đặc tính của Càn dương, nói nên mối quan hệ “ẩn - hiện” của hai quẻ Càn – Khôn, cấu thành cặp quẻ đối ứng với nhau. Không những hai quẻ Càn Khôn đối ứng với nhau, mà giữa 64 quẻ cũng cấu thành từng cặp “ẩn - hiện” với nhau. Khi chiêm nghiệm theo “ẩn - hiện”, ta có thể từ hai mặt chính - phản, tăng lượng thông tin về chiêm nghiệm được nhiều hơn, đó là mối quan hệ giữa hai mặt chính - phản của âm – dương. Theo Kinh Phòng, sự biến hóa âm dương là nguyên nhân khiến cho các thiên thể trong vũ trụ vận động, âm dương thăng giáng là quy luật vận động của Vũ trụ, sự chuyển hóa âm dương tiêu trưởng phản ánh mối liên hệ nội bộ âm dương. Kinh Phòng nhấn mạnh rất nhiều vào sự chiêm nghiệm, ông cho rằng mục đích của sự nghiên cứu Dịch quái là ở chỗ “định cát hung, rõ được mất”, do đó ông sáng tạo ra quẻ 8 cung, phát huy mối quan hệ ngang dọc, là cốt để “định dự cát hung”. Ông nói “ Nghĩa về cát hung, bắt đầu ở Ngũ hành, kết thúc ở Bát quái. Nghĩa lý về âm dương là sự phân định về Năm, Tháng. Một khi Năm, Tháng đã phân định thì sẽ đoán định được cát hung”. Phần lớn vật chất dương là “hư”, vật chất âm là “thực”, “hư” là bề ngoài của dương, “thực” là bên trong của âm, “hư” là bề gnoài của “thực”, “thực” là phần bên trong của “hư”. Thuyết Quái khí là sự đối ứng giữa 64 quẻ và 34 tiết khí, bao gồm Tứ thời và 24 khí, thuyết này bắt nguồn thuyết quái khí của Mạnh Hỷ, bao gồm ba nội dung sau: - Thuyết quái khí Tứ chính quái: lấy bốn quẻ Khảm - Chấn – Ly – Đoài làm tượng ứng với 24 tiết khí, mỗi quẻ có 6 hào ứng với 6 tiết khí. Trong đó, quẻ Khảm ứng với 6 tiết khí từ tiết Đồng chí đến tiết Kinh trập. Quẻ Chấn ứng với 6 tiết khí từ tiết Xuân phân đến tiết Mang chủng. Quẻ Ly ứng với 6 tiết khí từ tiết Hạ chí đến tiết Bạch lộ. Quẻ Đoài ứng với 6 tiết khí từ tiết Thu phân đến tiết Đại tuyết. Trong bốn quẻ này, 6 hào của mỗi quẻ, từ hào Đầu đến hào Trên, lại phân ra làm chủ 6 tiết, như hào Đầu quẻ Khảm, làm chủ việc của tiết Đông chí, hào 2 tiêt Tiểu hàn, hào 3 tiết Đại hàn, hào 4 tiết Lập xuân, hào 5 tiết Vũ thủy, hào Trên tiết Kinh trập. - Thuyết Thập nhị bích quái (nguyệt quái): là thuyết 12 quẻ ứng với 12 tháng. Mỗi một quẻ ứng với 2 tiết khí, 12 quẻ ứng với 24 tiết khí. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Hà Uyên chào Anh Chị Em trên diễn đàn. Kinh Phòng đặt ra cách giải Dịch Kinh của ông, những quy định mà Kinh Phòng áp đặt cho 8 quẻ Bát thuần là "Thống suất", 7 quẻ còn lại phụ thuộc Ngũ hành của quẻ "Thống xuất". Rồi tới áp đặt Địa chi vào Hào Dịch. Rồi tới áp đặt Thiên can vào quẻ Dịch., ..., có lẽ, cũng bắt nguồn từ Cửu cung khi an định Bát quái. Chúng ta có đồ hình Cửu cung: ........4..........9..........2...... ........3..........5..........7...... ........8..........1..........6...... Một giả thiết, khi chúng ta lấy cơ sở: Trục Bắc - Nam, nói về Khí. Trục Đông - Tây, nói về Vật. Hình thành nên thuyết: "Khí - Vật tương ứng". Chúng ta chấp thuận dùng ngôn ngữ chuyên ngành của ngành Kết cấu: trục Trung hoà, là trục luôn đi qua điểm giữa. - Phương Bắc: tương ứng với số 1 của Cửu cung, giả thiết ta an định quái Khảm: Âm ngoài Dương trong, trục Trung hòa là hào Dương 2. - Phương Nam: tương ứng với số 9 của Cửu cung, giả thiết ta an định quái Ly: Dương ngoài Âm trong, trục Trung hòa là hào Âm 2. - Thuận tự 10 Thiên can, Kinh Phòng lấy vị trí thứ 5 là can Mậu áp đặt vào phương Bắc - quẻ Khảm, lấy vị trí thứ 6 là can Kỷ áp đặt vào phương Nam - quẻ Ly. - Khi ta lấy số 1 là vị trí thứ nhất của 10 Thiên can, tương ứng là can Giáp, đặt vào vị trí của số 5 Trung cung, vị trí thứ Hai của can Giáp là số 6 tương ứng với Cửu cung, vị trí thứ Ba của can Giáp là số 7, vị trí thứ Tư của can Giáp là số 8, vị trí thứ Năm của can Giáp là số 9. Theo Kinh Phòng, vị trí số 9 trong Cửu cung, tương ứng với quái Ly, mà Kinh Phòng áp đặt cho can Kỷ. Như vậy, thuận tự theo Lưỡng thiên xích, tới vị trí thứ Năm có thể gọi là Giáp gặp Kỷ, rồi có thể dẫn tới Giáp hợp Kỷ, rồi có thể dẫn tới hóa Thổ. - V//đ được đặt ra, tại sao lấy thứ tự số của 10 Thiên can là số 5 (Mậu) và số 6 (Kỷ) đặt vào trục Bắc - Năm, được tạm coi là trục Khí biến thịnh. (?) * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Cảm nghĩ nhân đọc bài “Kinh dịch có nguồn gốc từ đâu” của tác giả Nguyễn Thiếu Dũng Tôi là một người đam mê kinh dịch nhưng kiến thức có hạn, nhân được đọc bài viết của tác giả Nguyễn Thiếu Dũng cùng một số bài phản hồi của các học giả quan tâm, tôi rất hâm mộ và khâm phục những tìm tòi công phu của tác giả. Nói đến chủ đề bài viết, tác giả muốn chứng minh nguồn gốc Kinh dịch là của người Việt Nam ta. Bản thân tôi không có được kiến thức như tác giả nên không dám mạo muội mạn đàm. Tuy nhiên, với mong muốn được kết giao và học hỏi với các học giả nghiên cứu kinh dịch, Hoạt tôi nhân đây xin nêu một nhãn quan mới về Kinh dịch – Đó là sự quy nạp của 64 quẻ Dịch. Tôi có viết về vấn đề này trong cuốn “Nhân mệnh trong kinh Dịch”, cuốn sách mà một số bạn bè tôi đang động viên và tìm cách phát hành. Vấn đề tôi quan tâm và viết ra đó là: Kinh dịch truyền thống từ trước tới nay theo như những tác phẩm mà tôi từng được biết thì 64 quẻ dịch là sự diễn giải cho mọi sự, sự diễn giải từ 64 quẻ dịch ra hằng hà bộ môn… trong đó có các bộ môn nói về con người như: Tử Vi; Bát tự hà lạc của Việt Nam…; Bốc phệ của Trung Quốc… nhưng con đường đi về thì chưa thấy có sách nào nói tới (hoặc có mà tôi chưa từng được biết tới). Đó là sự quy nạp của 64 quẻ dịch. Đây cũng chính là con đường HOÀN VŨ – tất cả rồi đều quay về trời. 64 quẻ rồi đều quy về quẻ Càn – Quẻ thuần Càn hay quẻ thuần long – có thể thấy được cùng đồng ý với thuyết CON RỒNG CHÁU TIÊN của dân tộc Việt Nam ta chăng? Sơ bộ tôi trình bày con đường này như sau: Trong quẻ trùng quái có 06 hào, trong 6 hào này có 02 tính chất cơ bản – tính đối xứng và tính trùng cặp. + Tính đối xứng: hào 6 đối với hào 1 như trời với đất… hào 5 đối với hào 2, hảo 4 đối với hào 3… tính chất thì như chúng ta đã biết. + Tính trùng cặp đi đôi là: Hào 1 cặp với hào 4, hào 2 cặp với hào 5, hảo 3 cặp với hào 6, tính chất từng cặp thì như chúng ta đã biết. Trên nền tảng Âm – Dương kết hợp: Như trong toán học khi 2 hào kết hợp sẽ có các đáp số là: Âm kết hợp với Âm = Dương; Dương với Dương thành Dương; Âm với Dương sẽ thành Âm. Như vậy, trong mỗi quẻ trùng quái đã có sẵn con đường quy nạp khi các hào trên gặp nhau. Tính chất đối xứng thuộc TIÊN THIÊN – dành cho ngoại quái (vì là sự kết hợp của trời và Đất); Tính trùng cặp thuộc hậu thiên – dành cho nội quái. Sự biến hào thì ngoại quái phải từ trên xuống – từ hào 6 xuống hào 4. Biến nội quái thì từ dưới lên – từ hào 1 lên hào 3. Như vậy, 64 quẻ khi ta biến sẽ có 04 quẽ biến MỘT lần thì về quẻ Càn đó là 4 quẽ: Thuần Càn, thuần Ly, thuần Khảm, Thuần Khôn (Trời – Lửa – nước Đất); có 12 quẻ biến HAI lần, có 16 quẽ biến BA lần và tới 32 quẻ biến BỐN lần thì quay về quẻ Càn. Từ đây nếu dùng để tu học, để luận giải… như với mỗi con người thì những quẻ nào quay về quẻ Khảm trước rồi mới về quẻ Càn thì thường là đầu thai chứ không thể siêu thoát… Vì Kinh Dịch đã cho là mọi sự sống đều xuất phát từ nước nóng, do vậy các sinh vật đầu thai đều trong dạ con cả… những quẻ khác thì dành cho những người Đặc Biệt. Nói điều nà thì quá dại ở đây tôi chỉ muốn viết lên 01 ý gửi tới tác giả và các bạn để tham khảo vì quả thật con đường này của KINH DỊCH tôi chưa được thấy đề cập tới trong các sách về KINH DỊCH. Chi tiết để diễn tả cho từng hào từ, cho từng thời của mỗi quẻ tôi không thể viết hết ở đây được nhưng tôi có một niềm tin chủ quan rằng: Chúng ta đã tìm được con đường quay về của KINH DỊCH. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Sau khi nghiên cứu thêm Kinh Dịch, nhận thấy rằng có vẻ 64 quẻ chưa chắc là phát triển 100% từ Hậu Thiên hoặc Tiên Thiên. Người hỏi Dịch tại thời điểm hiện tại, hỏi về kết quả cho tương lai từ những dữ liệu đã có của quá khứ. Vậy sự chồng Quái đặc trưng cho kết quả từ sự tương tác hay hòa nhập của chủ thể tới khách thể chứ không phải từ khách thể tới chủ thể: vậy thì phải lý luận ngược rồi. Quái thượng: Khách = Vũ trụ?. Quái hạ: Chủ = Ta?. 6 hào: Thiên Địa Nhân = 2-2-2 Tại sao? Thuộc tính: gán 6 hào cho các thuộc tính. Từ đâu?. Biến của hào:_____? Tại sao quan trọng ở hào 2 và 5?. ... Cơ sở: Thuyết ADNH. Vạn vật đồng nhất thể - vũ trụ thống nhất là một. VÔ TRƯỚC: Theo thiển ý cùa tôi thì nếu chúng ta cứ theo phương pháp nghiên cứu cũ, căn cứ vào hình tướng bề ngoài của hiện tượng cùng những ghi chép không rõ ràng của cổ thư mà tư duy, cảm nhận và suy luận thì chẳng bao giờ chúng ta vén được bức màn đen che phủ bản chất của học thuyết ADNH được. Có chăng chỉ hé lộ được một vài điều thú vị có tính hình thức, cón rất xa mới tới được chân lý. Bằng chứng là hàng ngàn năm qua, biết bao thế hệ tài trí của cả Ta lẫn Tàu đã lao động cật lực mà bản chất thực của học thuyết ADNH càng ngày càng mịt mờ hơn. Chẳng nhẽ trong thời đại phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuất ngày nay chúng ta định tiêu tốn thêm vài ngàn năm nữa như vừa qua hay sao? Ngay cả khi ấy đi chăng nữa liệu chúng ta có chắc chắn thành công hay không, hay lại càng mịt mờ hơn? Rõ ràng câu trả lời đã có qua sự mơ hồ ngày càng tăng về học thuyết ADNH từ hàng ngàn năm nay. Vì vậy, chúng ta phải tìm con đường khác. Với suy nghĩ đó, tôi cũng thử một phương pháp nghiên cứu khác và trình bày một số kết quả nghiên cứu còn sơ lược, chưa hoàn chỉnh của mình trong chuyên mục “Cơ sở học thuyết ADNH” trên diễn đàn. Theo những kết quả đó, có thể trả lời được trong một hệ thống logic và nhất quán những câu hỏi của bài báo trên như sau: - Thời kỳ Tiên thiên là thời kỳ Âm và Dương còn thống nhất, chưa bộc lộ rõ mâu thuẫn trong sự vật, Vũ trụ. - Thời kỳ Hậu thiên là thời kỳ mâu thuẫn âm dương đã bộc lộ rõ trong quá trình phát triển của sự vật, Vũ trụ. - Tiên thiên Bát quái là đồ hình chỉ rõ chiều vận động chủa Khí dương qua các yếu tố của sự vật trong thời kỳ Tiên Thiên - Hậu thiên bát quái là đồ hình chỉ rõ chiều vận động của Khí dương qua các yếu tố của sự vật trong thời kỳ Hậu Thiên. - Đồ hình Huyền không phi tinh là đồ hình mô tả vận động của Khí âm qua các yếu tố của sự vật trong thời kỳ Hậu Thiên. - Hà Đồ là mô hình cấu trúc ADNH của không gian. - Lạc Thư là đồ hình cấu trúc ảnh hưởng ADNH của Mặt trời tới không gian Trái đất. … Tôi đang từng bước hoàn chỉnh các nghiên cứu trên và hy vọng một ngày nào đó được giới thiệu cùng ACE trên diễn đàn. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Theo Từ Điển Dịch Học thì lịch sử đã tồn tại cả hai danh phái dịch học, đó là Dịch Học Phục Hy và Dịch Học Trần Đoàn. Thực thế, dấu vết của Dịch Học Phục Hy thì dễ tìm thấy trong các sách đã được phiên dịch, so với dấu vết hơi khó tìm, khó gặp đối với người Việt, đó là Dịch Học Trần Đoàn. Vì sao lại như vậy, chỗ này thì được Việt dịch, chỗ kia lại không được Việt dịch ? Bởi vì Dịch Học Phục Hy được xem là Dịch Học Chính Tông còn Dịch Học Trần Đoàn thì khác hẳn Dịch Học Phục Hy. Nhận định: Chu Dịch chính là Hy Dịch. Câu hỏi tiếp theo là trong quá trình phối quái từ Bát quái để tạo ra 64 quẻ của Kinh Dịch thì tại sao người xưa lại đặt Quẻ Bát Thuần Khôn vào vị trí quẻ số 2?. Sự khởi đâu từ quẻ Bát Thuần Càn là OK. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Theo Từ Điển Dịch Học thì lịch sử đã tồn tại cả hai danh phái dịch học, đó là Dịch Học Phục Hy và Dịch Học Trần Đoàn. Thực thế, dấu vết của Dịch Học Phục Hy thì dễ tìm thấy trong các sách đã được phiên dịch, so với dấu vết hơi khó tìm, khó gặp đối với người Việt, đó là Dịch Học Trần Đoàn. Vì sao lại như vậy, chỗ này thì được Việt dịch, chỗ kia lại không được Việt dịch ? Bởi vì Dịch Học Phục Hy được xem là Dịch Học Chính Tông còn Dịch Học Trần Đoàn thì khác hẳn Dịch Học Phục Hy. Rõ ràng phải áp dụng Chu Dịch. Tra cứu "Tìm về cội nguồn kinh dịch", Kinh Thư, Giáp cốt văn... ta thấy rằng Chu Dịch không thể ra đời vào thời Nhà Chu được mà phải ra đời cùng thời với Dịch Phục Hy là vì Tiên Thiên Bát quái và Hậu Thiên Bát quái cùng thời với nhau. Nhận định: Chu Dịch chính là Hy Dịch. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Điều đó nói lên sự cấp bách của vấn nạn chống tham nhũng mà Bác Hồ gọi là “giặc nội xâm” trước nguy cơ giặc ngoại xâm đang rập rình ngay trước cửa. Cụ đúng là Thánh. Thử hỏi, giặc ngoại xâm có mục đích gì? Quy lại là Dol. hay Gold mà thôi, vậy rõ ràng cùng tính chất nên gọi là"giặc nội xâm". Quá siêu việt. Nếu chúng ta tự soi rọi và điều chỉnh được thì Đây chính là Cực Lạc vậy.
-
Theo Từ Điển Dịch Học thì lịch sử đã tồn tại cả hai danh phái dịch học, đó là Dịch Học Phục Hy và Dịch Học Trần Đoàn. Thực thế, dấu vết của Dịch Học Phục Hy thì dễ tìm thấy trong các sách đã được phiên dịch, so với dấu vết hơi khó tìm, khó gặp đối với người Việt, đó là Dịch Học Trần Đoàn. Vì sao lại như vậy, chỗ này thì được Việt dịch, chỗ kia lại không được Việt dịch ? Bởi vì Dịch Học Phục Hy được xem là Dịch Học Chính Tông còn Dịch Học Trần Đoàn thì khác hẳn Dịch Học Phục Hy. Hiện nay có cuốn Chu Dịch và Kinh dịch Phục Hy tồn tại song song. Các nội dung quẻ hào hình như giống nhau nhưng thứ tự quẻ lại khác nhau. Kinh dịch Phục Hy phát triển từ Tiên thiên Bát quái và Chu Dịch phát triển từ Hậu thiên Bát quái, vậy thì: Áp dụng cái nào? Rõ ràng không thể cả hai là hợp lý?. Chưa ai trả lời chính xác?. Bác Vô Trước/ Bạn Rubi có ý kiến gì không?. có thể nó liên quan đến Hành lang học thuyết âm dương ngũ hành. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Muỗi. 13 tỷ USD cho giao thông Hà Nội là quá lớn’ Các chuyên gia giao thông cho rằng 260.000 tỷ đồng (tương đương 13 tỷ USD) chiếm hơn 20% GDP của Hà Nội là số tiền quá lớn và khó khả thi. Chuyện sáng sáng hàng nghìn người mắc kẹt ở những tuyến đường nội đô như Nguyễn Lương Bằng, Ngã Tư Sở đã trở thành cơm bữa. Thậm chí Đại lộ Thăng Long, nơi giao với đường Phạm Hùng, Trần Duy Hưng, Khuất Duy Tiến, vốn được coi là trục hiện đại nhất VN vào giờ tan tầm cũng chật cứng. Đánh giá cao đề xuất “thay áo” cho hạ tầng giao thông Hà Nội, song không ít chuyên gia lo ngại về kinh phí đầu tư lên tới 13 tỷ đôla. Tiến sĩ Khuất Việt Hùng, Trưởng bộ môn Quy hoạch quản lý giao thông vận tải, Đại học Giao thông Vận tải cho rằng, cần cân nhắc số vốn bỏ ra. Hà Nội cần 260.000 tỷ đồng trong 5 năm để giải quyết ách tắc giao thông tương ứng với số tiền mỗi năm là 52.000 tỷ đồng. Trong khi đó, GDP Hà Nội năm 2010 là 238.000 tỷ đồng. Nếu so sánh với GDP Hà Nội, thì số tiền chi cho hạ tầng giao thông mỗi năm sẽ bằng khoảng 22%. Hiện nay, cả nước chỉ đầu tư cơ sở hạ tầng cho giao thông một số tiền bằng khoảng 3,5% GDP mỗi năm. Thông thường các nước trên thế giới, ngay cả trong giai đoạn phát triển nóng, cũng chỉ đầu tư cho giao thông khoảng 7-8% hoặc cao nhất là 10% GDP. Do đó, ông Hùng cho rằng Hà Nội bỏ ra số tiền chiếm tới hơn 20% GDP, gấp đôi các nước khác, gấp 6 lần cả nước là một con số kỷ lục. “Nếu chi một tỷ lệ chiếm tới 22% GDP cho giao thông thì chúng ta sẽ không còn tiền để đầu tư vào các lĩnh vực khác như y tế, giáo dục, nhà ở… Hơn nữa, nguồn thu ngân sách của Hà Nội chỉ khoảng 60.000-70.000 tỷ đồng mỗi năm”, ông Hùng lo ngại. Đường Hoàng Minh Giám thường xuyên bị tắc vào buổi sáng. Ông Hùng đề xuất, Hà Nội chỉ nên bỏ ra số tiền bằng khoảng 10% GDP cho giao thông. Trước mắt, hạ tầng ở những nút cổ chai cần được mở rộng như vành đai 2, đoạn Ngã Tư Sở đến cầu Vĩnh Tuy. Ông Hùng cho rằng, mỗi năm, Hà Nội chỉ nên tăng khoảng 5% diện tích mặt đường. Đến năm 2015 chưa có đường sắt đô thị, cần phải kiểm soát phương tiện cơ giới cá nhân, đặc biệt là ôtô. "Lượng ôtô vào nội đô quá nhiều. Giờ cao điểm, Hà Nội có thể thu phí đỗ ôtô cao hơn để hạn chế luồng ôtô vào thành phố", ông Hùng chia sẻ. Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch Hiệp hội vận tải ôtô cũng cho rằng cho rằng, trong hoàn cảnh cắt giảm đầu tư công như hiện nay thì việc huy động vốn lên tới hơn 3 tỷ đôla từ ngân sách nhà nước và thành phố không đơn giản. Ngoài ra, theo ông Hùng, việc kêu gọi vốn thi công đường cao tốc không được nhiều nhà đầu tư mặn mà vì thực tế khả năng hoàn vốn thấp. "Bangkok có tới 3 triệu ôtô, Seoul hơn 4 triệu ôtô, trong khi đó cả VN mới chỉ có khoảng một triệu ôtô. Lượng ôtô trên đường cao tốc không cao dẫn đến số tiền thu phí thấp nên chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư", ông Hùng cho hay. Ông Hùng cho rằng, Hà Nội phải căn cứ vào nguồn vốn tập trung cho các khu vực "cốt tử" như một số cây cầu dang dở và các đường quốc lộ nối từ Hà Nội tới Hải Phòng, Bắc Ninh, Hà Nam, Thanh Hóa thay vì tập trung vào một số tuyến đường của huyện. Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, cần phối hợp giữa các bộ ngành trước khi nâng cấp hạ tầng giao thông. Bà Lan minh họa, giao thông chưa phối hợp được với các ngành liên quan nên đã có tình trạng nhiều tuyến đường như Hoàng Quốc Việt, Trần Hưng Đạo vừa làm xong thì “ông nhà đèn” lại đào tung lên để hạ cáp ngầm. Ngoài ra, chất lượng cơ sở hạ tầng chưa tốt, dự án xây dựng chưa bao lâu đã xuống cấp điển hình là Đại lộ Thăng Long. “Nên chờ quy hoạch chung của thủ đô được thông qua trước khi trình đề án kế hoạch phát triển hạ tầng đô thị. Ngoài ra, cần phát triển theo hướng mở dần ra phía ngoài, giãn dân ở nội đô thì mới giảm sức ép dân số, bà Lan lo ngại. Theo giải trình của Sở Giao thông Vận tải, số vốn bỏ ra từ ngân sách thành phố và trung ương lên tới hơn 3,3 tỷ đôla (khoảng hơn 65.000 tỷ đồng). Vốn ODA, BT, BOT và PPP khoảng 9,5 tỷ đôla (gần 200.000 tỷ đồng). Hà Nội cần vốn tập trung xây dựng các tuyến vành đai là khoảng 102.000 tỷ đồng, các trục chính đô thị hơn 50.000 tỷ đồng, quốc lộ hướng tâm 15.800 tỷ đồng... Ngoài việc phát triển đường vành đai, đường tỉnh lộ, Hà Nội còn dự kiến phát triển xây dựng một số trục chính của các huyện Ba Vì, Mỹ Đức, Sóc Sơn... Ông Nguyễn Quốc Hùng, Giám đốc Sở Giao thông Vận tải cho biết, nguồn vốn sẽ được huy động từ nhiều kênh khác nhau, như ngân sách trung ương, thành phố và xã hội hóa... "Đề án mới đang trình sở ban ngành để xin ý kiến đóng góp. Tất cả ý kiến sẽ được Sở xem xét tiếp thu", ông Hùng nói. Theo VnExpress
-
Ngành công nghiệp giấy của Ta ngày càng phát triển để cạnh tranh với thế giới.
-
Góp ý về Nhà Triệu và nước Nam Việt Song Thuận (Viết tại Little Sài Gòn ngày đầu Xuân Đinh Hợi 2007) Đọc lịch sử Việt Nam, chúng ta đều nhận thấy Nhà Triệu (207-111 trước Tây Lịch) là một triều đại rực rỡ của nước Nam Việt, với cương thổ từ Đông sang Tây rộng hơn vạn dậm, do Triệu Vũ Đế, tên thật là Triệu Đà thành lập năm 207 trước Tây Lịch. Ca tụng sự nghiệp anh hùng của Triệu Vũ Đế, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết: “Họ Triệu, nhân lúc nhà Tần suy loạn, giết trưởng lại Tần, chiếm giữ đất Lĩnh Nam, xưng đế, đòi ngang nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi 100 năm mới mất, cũng là bậc vua anh hùng.” Niềm hãnh diện này truyền tụng mãi mãi về sau, được Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhắc lại: “Vua (Đinh Tiên Hoàng) tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, quét sạch các hùng trưởng (Sứ Quân), tiếp nối quốc thống của Triệu Vũ (Đế) ...” Một vị tướng tài nổi danh khắp năm châu như Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, lúc sắp qua đời, cũng tỏ ra kính phục Triệu Vũ Đế, trong câu chuyện sau đây: “Hưng Đạo Vương làm quan đến đời vua Anh Tông thì xin về trí sĩ ở Vạn Kiếp. Khi ngài sắp mất, vua Anh Tông có ngự giá đến thăm, nhân thấy ngài bệnh nặng, mới hỏi rằng:” Thượng phụ một mai khuất núi, phỏng có quân Bắc lại sang thì làm thế nào?” Hưng Đạo Vương tâu rằng: “Nước ta thủa xưa, Triệu Võ Vương dựng nghiệp, Hán đế đem binh đến đánh, Võ Vương sai dân đốt sạch đồng áng, không để lương thảo cho giặc chiếm được, rồi đem đại quân sang châu Khâm, châu Liêm đánh quận Tràng Sa, dùng đoản binh mà đánh được, đó là một thời...” Mở đầu “Bình Ngô Đại Cáo”, nguyên bản bằng chữ Hán, danh thần Nguyễn Trãi cũng đã trân trọng công nhận Nhà Triệu đứng đầu các Triều Đại chính thống của nước ta: “Cái văn: nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân; điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo. Duy ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang. Sơn xuyên chi phong vực ký thù, Nam Bắc chi phong tục diệc dị. Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc, dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương. Tuy cường nhược thì hữu bất đồng, nhi hào kiệt thế vị thường phạp”. (Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim, Tập 1, Phụ lục trang 277). Sách “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” (Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội), dịch ra như sau (tập 2, trang 282): “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Xét như nước Đại Việt ta, thực là một nước văn hiến. Cõi bờ sông núi đã riêng, Phong tục Bắc Nam cũng khác. Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương. Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, Song hào kiệt không bao giờ thiếu.” Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, cũng đã có ý muốn “đòi về” vùng đất Lưỡng Quảng, là đất đai nước Nam Việt của nhà Triệu xưa kia: Trần Trọng Kim (sách đã dẫn, quyển II, trang 143) viết: “...năm Nhâm Tí (1792) vua Quang Trung sai sứ sang Tàu, xin cầu hôn và xin trả lại cho Việt Nam (bấy giờ tên là Đại Việt) đất Lưỡng Quảng.” Phạm Văn Sơn (sách đã dẫn, trang 563) viết: “Đi xa hơn nữa, năm Nhâm Tý tức Quang Trung thứ 5, nhà vua bắt đầu thi hành công chuyện nói trên. Ngài gửi cho bọn biên thần nhà Thanh hai bức thư liên tiếp nhờ đề đạt lên vua Càn Long ngỏ ý muốn cầu hôn với Công chúa Thanh và đòi đất Lưỡng Quảng để làm quốc đô.” Những kẻ hậu sinh chúng ta, mỗi lần nhắc đến “Lưỡng Quảng” tức đất Bách Việt xưa kia, theo truyền thuyết là nơi lập quốc của Kinh Dương Vương (khoảng 2879 trước Tây Lịch), truyền ngôi cho Lạc Long Quân, bị Nhà Tần xâm chiếm năm 214 trước Tây Lịch, nhưng được Triệu Vũ Vương giành lại năm 207 trước Tây Lịch, dựng lên nền độc lập cho dân tộc Việt gần 100 năm, sau đó bị Nhà Hán thôn tính lấy mất, trong lòng ai chẳng bồi hồi luyến tiếc? Chính vua Tự Đức cũng đã ngậm ngùi khi viết lời phê về việc Nhà Hán diệt Nhà Triệu trong Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (giữa thế kỷ 19) như sau: “Xét chung từ trước đến sau, đất đai của nước Việt ta bị mất về Trung Quốc đã đến quá một nửa, tiếc rằng vua sáng tôi hiền các triều đại cũng nhiều người lỗi lạc hiếm có ở trên đời, mà vẫn không thể nào lấy lại được một tấc, đó là việc đáng ân hận lắm! Thế mới biết việc thu hồi đất đai đã mất, từ đời trước đã là việc khó, chứ không những ngày nay mà thôi. Thật đáng thương tiếc.” Trên đây là cách nhìn lịch sử (sử quan) của những nhà viết sử nổi tiếng và những danh nhân, danh tướng Việt Nam, coi Nhà Triệu và nước Nam Việt tiếp nối nền chính thống từ thời vua Hùng. Cách nhìn khác, có lẽ căn cứ trên thực tế cương thổ của nước Việt Nam, một số nhà viết sử đã có nhận định trái ngược với cách nhìn của những sử gia trong chính sử: Khởi đầu là sử gia Ngô Thời Sỹ đời Nhà Lê với “Việt Sử Tiêu Án” và tiếp theo là những nhà viết sử ở trong nước ngày nay. Một số nhà viết sử ở Hải Ngoại có cùng quan điểm với cách nhìn mới, loại bỏ Nhà Triệu ra ngoài danh sách những triều đại chính thống. Theo cách nhìn này, nước Việt Nam bị “Bắc thuộc” (hoặc ngoại thuộc Nhà Triệu) bắt đầu từ thời Nhà Triệu nắm chính quyền. Một số dữ kiện lịch sử có thể đã được dùng làm luận cứ cho cách nhìn này: 1. Tượng Quận được coi là vùng đất cổ Việt khác với Nam Hải (Quảng Đông) và Quế Lâm (Quảng Tây): “Chuyện Văn Lang và Âu Lạc được xếp vào loại khó tin được, nhưng đến Tượng Quận thì không còn là chuyện hoang đường mà chắc chắn là chuyện lịch sử rõ ràng. Năm 214 tr. CN (đinh hợi), Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư và Sử Lộc đánh lấy đất Lĩnh Nam lập ra các quận Quế Lâm (nay là vùng bắc và đông Quảng Tây, Trung Hoa), Nam Hải (nay là Quảng Đông, Trung Hoa), và Tượng Quận (vùng cổ Việt) (Trần Gia Phụng, sách đã dẫn trang 12). Ngô Thời Sỹ trong Việt Sử Tiêu Án cũng đã phân biệt rõ ràng: “Than ôi! Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là đất Việt Giao Chỉ” (trang 25). Theo cách nhìn này, biên giới phía Bắc nước cổ Việt với nước Trung Hoa ở đâu đó vùng Lạng Sơn, Cao Bằng, khác với biên giới nước Nam Việt, được vua Hán Cao Tổ công nhận, bắt đầu từ Động Đình Hồ: “Cõi đất từ Ngũ Lĩnh về nam, vương (Triệu Đà) cứ việc trị lấy” (ĐVSKTT trang 144). 2. Văn Lang chia thành 15 “bộ”, không có “bộ” nào ở Lưỡng Quảng, mà chỉ giới hạn trong vùng đất Bắc Việt và vài tỉnh phía Bắc Trung Việt ngày nay. 3. Triệu Đà là người gốc phương Bắc, và kinh đô nước Nam Việt ở Phiên Ngung (Quảng Đông), không ở Bắc Việt ngày nay. 4. Quan trọng nhất là nước Âu Lạc bị Triệu Đà xâm chiếm đã được ghi rõ trong sách sử: “Canh Thân, năm thứ 27 (181 TCN), (Hán Cao Hậu năm thứ 7). Nhà Hán sai Lâm Lư hầu, Chu Táo sang đánh Nam Việt để báo thù việc đánh Trường Sa. Gặp khi nắng to ẩm thấp, bệnh dịch phát, bèn bãi quân, Vua (Triệu Vũ Đế) nhân thể dùng binh uy và của cải để chiêu vỗ Mân Việt và Âu Lạc ở phía Tây (tức là Giao Chỉ và Cửu Chân) các nơi ấy đều theo về). (ĐVSKTT, trang 143) Cách nhìn lịch sử căn cứ vào thực tế cương thổ nước Việt Nam, mở ra một phương pháp suy luận mới, có vẻ thực tế khách quan. Tuy nhiên cách nhìn này đã vấp phải sự nhận diện sai lạc và sự di dịch biên giới cổ Việt qua các thời đại, cũng như sự phân biệt và kỳ thị có tính cách địa phương (theo Trương Thái Du, là “tính nhất thời, trong cái nhìn địa phương hãn hữu” - Triệu Đà và nước Nam Việt trong dòng chảy lịch sử Việt Nam – 2005 talawas), vì thế làm mất hẳn đi tính thuyết phục: 1.Thuyết coi Tượng Quận là đất cổ Việt, thuộc về phần đất Bắc Việt ngày nay, đã bị phê phán: “Tượng Quận: tên quận đời Tần mà trước đây nhiều sách sử của ta và của Trung Quốc đều chú giải là quận Nhật Nam, hay bao gồm cả ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thời Hán, tức đất An Nam. Thuyết đó là dựa vào một câu cước chú của Hán thư (q.28 hạ, tr. 11a) về quận Nhật Nam thờ Hán: Quận Nhật Nam - quận Tượng thời Tần ngày trước”. Nhưng từ cuối thế kỷ XIX thuyết đó đã bị phê phán. Chính Hán Thư phần Bản Kỷ (q. 7 tr. 9a) chép rõ ràng: “Năm thứ 5 hiệu Nguyên Phương (76 TCN), bãi bỏ quận Tượng, chia đất vào hai quận Uất Lâm và Tường Kha”. (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, trang 138). Bản đồ nước Nam Việt (Trần Việt Bắc vẽ).Chú ý sẽ thấy Tượng Quận ở phía trên Tây Âu, gần Tường Kha. Quận Uất Lâm ở vùng đất thuộc Quảng Tây, quận Tường Kha ở phía tây quận Uất Lâm và gồm một phần Quý Châu. Vậy Tượng Quận thuộc về miền tây Quảng Tây và nam Quý Châu. Nhìn nhận Tượng Quận là đất cổ Việt, ắt phải nhìn nhận Quảng Tây là cổ Việt? Chưa kể, thời Hai Bà Trưng có quận Hợp Phố thuộc về tỉnh Quảng Đông ngày nay theo về, làm cho biên giới nước cổ Việt mở rộng, ăn sâu vào tỉnh Quảng Đông. Biên giới nước Việt Nam ngày nay cũng đã thay đổi: thời Hồ Quí Ly mất cho Trung Hoa vùng đất Lộc Châu gồm 59 thôn ở Cổ Lâu (năm 1405), thời Mạc Đăng Dung mất 5 động Tê Phù, Kim Lạc, Cổ Xung, Liễu Cát, La Phù và đất Khâm Châu (năm 1540) và thời Cộng Sản gần đây (năm 1999) mất thêm đất vùng biên giới Hoa Việt từ Ải Nam Quan (Lạng Sơn) qua vùng đất có Thác Bản Giốc Cao Bằng, cũng như lãnh hải và các đảo Hoàng Sa, Trường Sa (?). 2. Còn về thuyết Văn Lang được chia ra làm 15 bộ để cai trị, cũng đã bị phê phán về tính xác thực. Học giả Lê Quí Đôn (1726-1784) trong Văn đài loại ngữ đã nhận xét : “...Tôi xét đời Hùng Vương, trên nối đời Hồng Bàng, không có chữ nghĩa gì truyền lại; về 15 bộ đặt ra thời đó, cùng với các quận huyện do nhà Hán, nhà Ngô (Trung Hoa) mới đặt ra, tên gọi lẫn lộn, tôi ngờ rằng những tên đó do các hậu nho góp nhặt vay mượn chép ra, khó mà tin được...” (Trần Gia Phụng, sách đã dẫn trang 11, 12). Cũng nên biết rằng ý niệm thống nhất đất đai chư hầu thành một nước để chia ra từng bộ phận, quận huyện mà cai trị, chỉ bắt đầu xuất hiện bên trung Hoa từ thời nhà Tần (356 tr. TL) trở về sau (do chính sách của Tướng quốc Thương Ưởng, sau đó được Tần Thủy Hoàng củng cố mạnh mẽ hơn nhờ Tể Tướng Lý Tư soạn ra tân chính sách). Vì vậy, nếu cho rằng ý niệm “thống nhất đất đai” đã xẩy ra ở cổ Việt trước thời Tần Thủy Hoàng xâm lăng đất Bách Việt, thì quả thật đáng để chúng ta suy nghĩ về tính xác thực của nó. Hơn nữa chính “đất Bách Việt” trước khi bị Nhà Tần xâm lăng, theo truyền thuyết thuộc về Văn Lang là đất đai của vua Hùng. Nhà Tần chia đất Bách Việt ra thành 3 quận Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây), và Tượng Quận (theo thuyết mới thuộc về Quảng Tây). Có lẽ Tượng Quận bao gồm phần đất bản bộ của Thục Phán tại Quảng Tây, trước khi đánh chíếm nước Văn Lang (?). 3. Chúng ta cũng cần suy nghĩ về quan niệm cho rằng Triệu Đà là người phương Bắc và kinh đô Nhà Triệu ở Phiên Ngung, không nằm trong đất Bắc Việt ngày nay, rồi kết luận “Nước Nam Việt là một nước phương Bắc, đô hộ nước Âu Lạc (Bắc Việt)”. Bởi vì nước ta có nhiều ông vua gốc phương Bắc như Thục An Dương Vương, Lý Nam Đế, Hồ Quí Ly, Quang Trung Nguyễn Huệ, nhưng vẫn được dân tộc Việt công nhận là những ông vua Việt Nam có tài và có công. Còn về Kinh đô của một nước, thường tùy thuộc vào diện tích đất đai và cách tổ chức chính trị của nước đó. Thí dụ khi Việt Nam còn giới hạn ở miền Bắc và mấy tỉnh miền Trung, thì kinh đô của các Nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê đều đặt ở miền Bắc (Hoa Lư hoặc Thăng Long). Nhưng khi lãnh thổ mở rộng về phương Nam đến mũi Cà Mâu, thì kinh đô của vua Quang Trung hay vua Gia Long đều dời về ở miền Trung (Phú Xuân, Huế). Giả thử Thục An Dương Vương khi chiếm đất của các vị vua Hùng, có đất bản bộ là vùng Lưỡng Quảng rộng lớn, tất cũng phải đặt kinh đô trên đất Lưỡng Quảng vậy. Sau này, vua Quang Trung Nguyễn Huệ cũng đã có ý định “đòi đất Lưỡng Quảng để làm quốc đô” (Phạm Văn Sơn sách đã dẫn trang 563). Sử gia Ngô Thời Sỹ khi viết về đất Bách Việt (Quảng Đông, Quảng Tây) cũng cho rằng: “ đất Bách Việt là đất cổ Việt (?): “Nhà Tần cho là nước Việt ta nhiều châu báu, muốn chia nước ta ra làm quận huyện, sai Hiệu Úy Đồ Thư mang quân vào sâu mãi Lĩnh Nam lấy đất Lục Lương đặt ra Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận. Người Việt ta đều chạy trốn vào trong rừng rậm, không chịu để cho nhà Tần dùng, ngầm đặt Kiệt Tuấn làm tướng, đương đêm đánh Đồ Thư, nhà Tần bèn mang 500 vạn (5 triệu) (?) dân phát vãng đi đầy sang ở đó. ...”. (sách đã dẫn trang 24). Theo Trần Trọng Kim, Nhà Tần sai Đồ Thư sang đánh Bách Việt ở “vào quãng tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây bây giờ” (sách đã dẫn trang 18). Phải chăng, nhóm từ “nước Việt ta”, “nước ta”, “người Việt ta” trong Việt Sử Tiêu Án đã mặc nhiên thừa nhận dân tộc Bách Việt chính là dân tộc Cổ Việt? Tương tự, một cách khách quan sử gia Phạm Văn Sơn trong Việt Sử Toàn Thư cũng công nhận người Việt Nam và người Nam Việt chỉ là một(?): “Với Triệu Đà ta thấy xã hội Việt Nam bắt đầu tiến do sự phát triển về nông nghiệp...Triệu Đà đã thúc đẩy dân tộc Việt Nam lên một bước đáng kể”, hoặc: “Sự tiến hóa về các phương diện trên đây tuy còn ít ỏi nhưng cũng đã làm nảy nở ít nhiều ý thức quốc gia của người Việt”. (sách đã dẫn, trang 90). 4. Căn cứ vào dữ kiện lịch sử “Triệu Đà xâm lăng Âu Lạc” tức đất Bắc Việt ngày nay, để cho rằng nước ta ngoại thuộc Nhà Triệu hay “Bắc thuộc”, không phải là không có duyên cớ. Tuy nhiên, bảo rằng lãnh thổ của Âu Lạc là lãnh thổ của Văn Lang (trong truyền thuyết) lại là một nghi vấn lịch sử? Chính “ Lời Thông Luận” cũng đã tỏ ra ngạc nhiên: “An Dương Vương khởi từ đất Ba Thục, thừa lúc họ Hùng-Lạc đã suy, một trận cử binh mà lấy được nước cũ hơn hai nghìn năm, sao mà hùng cường thế”. (Ngô Thời Sỹ, sách đã dẫn trang 25). Để có thể nhận xét một cách khách quan, chúng ta cần tìm hiểu và xét lại 2 vấn đề sau đây: 1. Thục Phán là người Phương Bắc (gốc nước Thục, mà ta quen gọi là người Tàu), đánh bại vua Hùng Vương thứ 18, chiếm kinh đô vua Hùng ở Phong Châu (Vĩnh Yên, nay là tỉnh Phú Thọ), nhưng có chiếm được hết đất đai của vua Hùng theo truyền thuyết hay không? Với thời gian trị vì của Thục An Dương Vương không quá 50 năm trong 1 đời vua, Thục An Dương Vương đã có thể thu phục được bao nhiêu phần trăm “nhân tâm” của những quan Lạc Tướng, Lạc Hầu, và nhất là của dân tộc Việt “cắt tóc vẽ mình” từng là con dân vua Hùng hàng ngàn năm rồi? Số dân chúng còn luyến tiếc thời vua Hùng, không chịu khuất phục “chế độ mới” là bao nhiêu? 2. Dân tộc Bách Việt “ cắt tóc vẽ mình” cùng một tổ tiên với dân tộc Lạc Việt sống rải rác từ Động Đình Hồ (tức vùng đất Quảng Đông, Quảng Tây) tới Âu Lạc (Bắc Việt ngày nay), trước khi Tần xâm lăng Bách Việt, thuộc về nước nào? vua nào? nếu không phải là nước Văn Lang của vua Hùng? Khi Hán Cao Tổ chiếm trọn đất đai phía Bắc Ngũ Lĩnh (Động Đình Hồ), Triệu Vũ Đế hầu như chiếm trọn đất đai phía Nam Động Đình Hồ. Vua Hán dùng ngoại giao để thu phục Nhà Triệu và phong Vương cho Triệu Đà không hề đả động gì đến nước Văn Lang, hay Âu Lạc, mà chỉ biết Nam Việt là một nước duy nhất ở phương Nam “thần phục” Nhà Hán” (khác với “lệ thuộc” Nhà Hán, vì đây chỉ là một hình thức ngoại giao, Nam Việt vẫn giữ được nền tự chủ). Để biết rõ thêm về Nhà Triệu và nước Nam Việt, chúng ta cùng tìm hiểu mấy câu hỏi sau đây: 1. Triệu Đà là ai? Vợ con Triệu Đà và thân tín của Triệu Đà là ai? Triệu Đà đến nước Cổ Việt từ bao giờ? 2. Vua quan triều đình nước Nam Việt là ai? 3. Dân tộc nước Nam Việt là ai? 4. Triệu Đà đã làm được những điều gì ích lợi cho nước Việt Nam ta thời xưa? Đỉnh trong mộ Vua Nam Việt đời thứ 2 – 122 BC (tức Triệu Văn Vương - 137-125 BC) (Một Thế Kỷ Khảo Cổ Việt Nam Tập II) 1. Triệu Đà là ai? Mặc dù thời đại Triệu Đà đã có chữ viết, nhưng sử sách chép về tiểu sử Triệu Đà lại rất sơ sài. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cho biết: “Họ Triệu, tên húy là Đà, người huyện Chân Định nước Hán, đóng đô ở Phiên Ngung (nay ở tỉnh Quảng Đông)...”. Trần Trọng Kim trong “Việt Nam Sử Lược” chú trọng nhiều đến việc thành lập nước Nam Việt: “Năm Quí tị (207 tr. TL), Triệu Đà đánh được An Dương Vương rồi, sáp nhập nước Âu Lạc vào quận Nam Hải, lập thành một nước gọi là Nam Việt, tự xưng làm vua, tức là Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung, gần thành Quảng Châu bây giờ”, và cho biết thêm: “Năm Giáp Thìn (137 trước Tây Lịch), Triệu Vũ Vương mất. Sử chép rằng ngài thọ được 121 tuổi và làm vua được 70 năm”. Vợ con Triệu Đà là ai? Ngô Thời Sỹ không nói gì đến tiểu sử của Triệu Đà, nhưng lại cung cấp một dữ kiện quí báu, đó là thân thế của bà vợ người Việt của Triệu Vũ Đế: “Theo sách ngoại sử: Mẹ Trọng Thủy là Trình Thị, người làng Đường Xâm, quận Giao Chỉ , (nay làng Đường Xâm, huyện Chân Định), nơi có miếu thờ Triệu Đà, Trình Thị được tòng tự ở miếu ấy”. (trang 24, sách đã dẫn) Triệu Đà đến nước Cổ Việt từ bao giờ? Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và Việt Sử Tiêu Án đều chép: “Triệu Đà làm quan lệnh Long Xuyên”, nhưng không cho biết Triệu Đà được vua Tần sai phái sang nước Nam từ bao giờ? Căn cứ vào bức thư của Triệu Đà viết gửi Hán Văn Đế (năm 179 trước Tây Lịch), có câu: “Lão phu ở đất Việt 49 năm, đến nay đã ẵm cháu rồi” (Ngô Thời Sỹ, sách đã dẫn trang 27), suy ra Triệu Đà đến đất cổ Việt vào năm 228 trước Tây Lịch, đúng vào thời gian nước Triệu bị Nhà Tần diệt (228 tr. TL), 14 năm trước khi Tần Thủy Hoàng sai tướng Đồ Thư đem quân đánh lấy Bách Việt. Trong cuốn “Sổ Tay Địa Danh Việt Nam”, Đinh Xuân Vịnh cho biết thêm: “CHÂN ĐỊNH: huyện về đời Lê thuộc phường Kiến Xương do phủ kiêm lị, trấn Sơn Nam . Nguyên là huyện Chân Lợi, đời Lê vì kị húy vua Lê Thái Tổ, nên đổi là Chân Định, lấy tên là huyện quê hương Triệu Đà ở nước Triệu bên Trung Quốc. Đà có người vợ người Việt quê ở làng Đồng Sâm (Đường Xâm?), huyện Chân Định. Đời Thành Thái vì kị húy tên vua Dục Đức là Ưng Chân, đổi là Trực Định và chuyển thuộc tỉnh Thái Bình mới thành lập (1894), từ năm 1945 là huyện Kiến Xương. Quê Nguyễn Quang Bích, Trương Quỳnh Như”. Nhờ vào những dữ kiện lịch sử kể trên, chúng ta có thể suy diễn: “Triệu Đà sinh năm 258 tr. TL, quê huyện Chân Định nước Triệu (bị Nhà Tần diệt vào năm 228 tr. T.L), lúc đó Triệu Đà vừa 30 tuổi, phải bỏ nước chạy sang Giao Chỉ “tị nạn”. Tại Giao Chỉ, Triệu Đà kết hôn với một cô gái người Việt quê làng Đường Xâm (sau thuộc tỉnh Thái Bình, Bắc Việt). Vợ chồng Triệu Đà sinh ra Trọng Thủy. Sau Trọng Thủy kết duyên với Mỵ Châu, con gái An Dương Vương, sinh được một trai đặt tên là Hồ (Triệu Hồ được truyền ngôi lên làm vua nước Nam Việt năm 137 tr. TL). Trong suốt thời gian 14 năm sống trên đất Việt và thời gian 70 năm làm vua nước Việt sau này, Triệu Đà đã nhiễm phong tục tập quán của người Việt, đồng hóa với người Việt, yêu thương văn hóa Việt và quyết tâm bảo vệ và gìn giữ nền Văn Hóa cổ Việt, ngăn cản không cho Văn Hóa người Hán tràn vào Nam Việt. Nhận xét một cách vô tư, sử gia Phạm Cao Dương viết: “Triệu Đà mặc dầu gốc miền Bắc, nhưng vì xuống ở miền Nam lâu ngày đã bị đồng hóa bởi người Nam Việt, chấp nhận các phong tục tập quán của người Nam Việt đến độ quên hết quá khứ của mình, đúng như Lê Thành Khôi đã nhận xét” (trang 71 sách đã dẫn). Chính sử gia Ngô Thời Sỹ cũng đã nhận xét: “Còn về phần giáo hóa , phong tục (Triệu Đà) không để ý đến một chút nào.” (sách đã dẫn, trang 34). Sử gia Phạm Văn Sơn cũng viết: “ Giao Chỉ vẫn giữ được đầy đủ các cá tính quốc gia, tinh thần cố hữu của nó. Lại nhân cuộc thay trò đổi cảnh hai xứ này (Giao Chỉ, Cửu Chân?) được thêm sự mở mang kinh tế và chấn hưng nông nghiệp. (sách đã dẫn, trang 86 & 87). Thật may mắn cho dân tộc Lạc Việt, nhờ Triệu Đà không để ý thay đổi phong tục tập quán cổ truyền của người Việt theo phong tục phương Bắc, nên dân tộc ta mới không bị Hán hóa ngay từ thời Nhà Triệu! Đây chính là công lao rất lớn của Triệu Vũ Đế vậy. Có lẽ Triệu Đà qua Giao Chỉ “tị nạn”, chỉ có một thân một mình, căn cứ vào lời lẽ của Lục Dận nói với Triệu Vũ Vương: “Vương vốn là người Hán, họ hàng mồ mả đều ở nước Hán”, hoặc căn cứ vào sự giao thiệp với Hán Văn đế: “Vua Hán vì thấy mồ mả tổ tiên của vua (Triệu Đà) đều ở Chân Định, mới đặt người thủ áp để trông coi, tuế thời cúng tế, gọi các anh em của vua cho làm quan to, ban cho hậu”. Trong bức thư gửi Triệu Vũ Vương, vua Hán Văn Đế nói rõ: “Mới rồi nghe nói Vương có gửi thư cho tướng quân Lâm Lư hầu muốn tìm anh em thân và xin bãi chức hai tướng quân ở Trường Sa. Trẫm theo thư của Vương, đã bãi chức tướng quân Bác Dương hầu rồi, còn anh em thân của Vương hiện ở Chân Định, trẫm đã sai người đến thăm hỏi và sửa đắp phần mộ tiên nhân của Vương rồi”. (ĐVSKTT, trang 142-145). Như vậy, phải chăng anh em, họ hàng, thân thích cũ của Triệu Đà đã bị Nhà Hán giam lỏng, hoặc dùng chức tước để cầm chân, không cho rời khỏi nước Hán để đến nước Nam Việt? 2. Vua quan triều đình nước Nam Việt là ai? Như trên vừa kể, những người thân tín của Triệu Đà trấn đóng khắp nơi và làm quan trong triều không phải là họ hàng, thân thích hay anh em của nhà vua (nếu có cũng rất ít). Vậy họ là ai? Có phải là người Tần không? Có phải là người Hán (người Tàu) không? Triệu Đà sống ở Giao Chỉ lâu ngày, lấy vợ Việt, ắt có rất nhiều bạn bè người Việt. Sau Triệu Đà làm quan cho nhà Tần tới chức Lệnh huyện tại Long Xuyên (đất Bách Việt), có thể đã kết hợp với người Bách Việt (Lạc Việt, Âu Việt...), giết hết trưởng lại Nhà Tần, để thay bằng thân tín là những người Việt. Lữ Gia và họ hàng thân thích hàng trăm người làm quan to trong triều, đều là người Việt: “Con trai đều lấy công chúa, con gái đều gả cho con em của vua hay tông thất của vua” (Phạm Cao Dương, sách đã dẫn trang 68). Một triều đình nước Nam Việt với quan, dân đều là người Việt “cắt tóc vẽ mình” như vậy mà nhà viết sử lại cho rằng nước Nam Việt là... nước Tàu, thì chỉ có thể giải thích bằng “đầu óc kỳ thị địa phương” kiểu người miền Nam Việt Nam tự nhận là “dân Nam Kỳ Quốc” để phân biệt với người miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc mà thôi! Về nhận xét có sự phân biệt “kỳ thị địa phương” thời Nhà Triệu, chính sử gia Phạm Văn Sơn cũng đã bác bỏ: “Và tuy sử sách không nói nhiều về việc cai trị dưới thời Triệu Đà hay dở thế nào ở đất Giao Chỉ, nhưng ta tin chắc rằng họ Triệu đã đối đãi dân Giao Chỉ không khác gì với nhân dân hai quận Quế Lâm , Nam Hải” (sách đã dẫn, trang 87). Các vị vua Nam Việt nối ngôi sau này như Triệu Văn Vương, Triệu Minh Vương... đều mang dòng máu Việt. 3. Dân tộc nước Nam Việt là ai? Theo định nghĩa: “Bách Việt: là từ mà người Hán dùng để gọi chung các tộc người khác Hán sống ở miền nam Trung Quốc thời xưa. Từ này lần đầu tiên thấy chép trong Sử Ký (Ngô Khởi truyện) của Tư Mã Thiên (Đại Việt Sử Ký Toàn thư, trang 131). Học giả Đào Duy Anh cũng xác nhận: “Chúng ta đều biết rằng người nước Văn Lang là người Lạc Việt, lại cũng biết rằng nhóm Việt tộc sinh tụ ở miền Quảng Tây, tức trong lưu vực sông Tây giang với hai nhánh của nó là Tả giang và Hữu giang, là người Tây Âu”. (sách đã dẫn trang 26). Sử gia Phạm Văn Sơn cũng cho biết:” Còn cương vực của nước Văn Lang phía Bắc giáp hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam), phía Tây giáp Ba Thục (tỉnh Tứ Xuyên) phía Nam giáp Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía Đông giáp bể nam hải, là cương vực cổ xưa của toàn thể gia đình Bách Việt” (sách đã dẫn trang 51). Theo chúng tôi nghĩ, cho tới khi Nhà Tần xâm lăng Bách Việt, Tổ Tiên người Lạc Việt của nước Văn Lang vẫn sinh sống tại Bách Việt, mặc dù có một số dân chúng tiếp tục “di cư dần xuống lưu vực sông Nhị và sông Mã” (Phạm Văn Sơn), vì khó có thể xẩy ra chuyện cả một dân tộc dời bỏ quê hương, nơi “chôn nhau cắt rốn” ra đi hết không còn một ai ở lại? Như vậy, Dân tộc nước Nam Việt bao gồm thành phần người Bách Việt trong đó có người Lạc Việt và Âu Việt, tức là người cổ Việt, (mang dòng máu Việt), lẫn với một số người Tàu khi nhà Tần mang theo sang xâm chiếm Bách Việt, và những dân tộc thiểu số khác. Đào Duy Anh cho biết: “ Sách Lộ Sử ở đời Tống chép rằng: Việt Thường , Lạc Việt, Âu Việt, Âu Khải, Âu Nhân, Thả Âu, Cung Nhân, Hải Dương, Mục Thâm, Phù Xác, Cầm Nhân, Thương Ngô, Man Dương, Dương Việt, Quế Quốc, Tây Âu, Quyên Tử, Sản Lý, Hải Quỳ, Tây Khuẩn, Kê Từ, Bộc Cầu, Tỷ Đái, (sửa là Bắc Đái), Khu Ngô, gọi là Bách Việt”. (Đất Nước Việt Nam qua Các Đời, trang 21). Như vậy dân chúng nước Nam Việt có thành phần quan trọng là người Việt cổ. Hoài Nam Vương (Lưu) An khi dâng sớ can ngăn vua Hán đừng can thiệp vào cuộc chiến tranh giữa Nam Việt và Mân Việt, cũng đã minh xác: “Việt là đất ở ngoài cõi. Dân cắt tóc vẽ mình, không thể lấy pháp độ của nước đội mũ mang đai mà trị được” (ĐVSKTT, trang 147). Bàn về phong tục người Việt Cổ (Giao Chỉ, Bách Việt), Lê Tắc trong An Nam Chí Lược viết: “Dân (Việt) hay vẽ mình, bắt chước tục lệ của hai nước Ngô, Việt. Vì thế, Liễu Tư Hậu có câu thơ rằng “Cộng lai Bách Việt văn thân địa”, nghĩa là cùng đi tới đất Bách Việt là xứ người vẽ mình”.(Sách đã dẫn trang 70) Tóm lại, nước Nam Việt bao gồm đất Bách Việt (Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay) và nước Âu Lạc (Bắc Việt và vài tỉnh miền Trung ngày nay), dân chúng là người Việt chiếm đa số, được cai trị bởi Triệu Vũ Đế, người gốc phương Bắc nhưng đã thấm nhuần phong tục, tập quán người Việt, truyền ngôi cho cháu chắt đều mang dòng máu Việt và các quan trong triều đình Nam Việt đều là người Việt. 4. Triệu Vũ Đế đã làm được gì ích lợi cho nước ta xưa kia? Sử gia Phạm Cao Dương viết: “...sự thành lập nước Nam Việt bởi họ Triệu, đã khởi đầu cho sự hấp thụ văn hóa Trung Quốc của tập thể người Việt” (sách đã dẫn trang 70). Hũ Đồng thời Tây Hán: (10) Hũ thời chiến Quốc (200 BC – 9AD – Thanh Hóa VN), Nguồn: Một Thế Kỷ Khảo Cổ Học VN/ Nha XB KH XH. Sử gia Phạm Văn Sơn viết: “Với Triệu Đà ta thấy xã hội Việt Nam bắt đầu tiến do sự phát triển về nông nghiệp nhờ sự cải thiện của nghệ thuật canh tác trước đây còn quá thô sơ (Nghề săn bắn, chài lưới bấy giờ vẫn còn thịnh). Họ Triệu nhập cảng lưỡi cầy sắt để thay cho lưỡi cuốc bằng đá trau, cho dùng trâu bò thay vào sức người, đem gia súc từ Tàu qua để mở mang việc chăn nuôi, nhờ vậy mà sinh sản lượng tăng gia gấp bội; sự phát triển về văn hóa, chính trị, quân sự cũng do cái bản lĩnh hơn người của họ Triệu đã thúc đẩy dân tộc Việt Nam lên một bước đáng kể, nếu ta nhớ rằng dưới đời Hồng Bàng người Việt Nam vẫn chưa thoát ly hẳn tình trạng bán khai, mọi điều còn ở trình độ rất thấp kém trước khi nước ta nội thuộc về phương Bắc. Sự tiến hóa về các phương diện trên đây tuy còn ít ỏi nhưng cũng đã làm nẩy nở ít nhiều ý thức quốc gia của người Việt , nhất là sau những cuộc xô sát bằng quân sự và ngoại giao với Hán triều trong thời Lã Hậu cầm quyền. Ý thức quốc gia còn nẩy nở trong những giai đoạn người Việt độc lập, tự chủ và tự cường nữa. Tóm lại, ta có thể nhìn nhận người cầm cái mốc đầu tiên trên đường tiến hóa của chúng ta là tướng Triệu Đà...” Nên nhớ rằng thời đại Nhà Triệu chính là thời đại “văn hoá Đông Sơn” được tiếp tục tồn tại và phát triển tại Việt Nam: “Từ đầu thế kỷ II trước Công nguyên đến đầu thế kỷ I sau Công nguyên (giai đoạn thuộc Triệu và Tây Hán). Đây là thời kỳ tiếp tục phát triển thời đại sắt Việt Nam, và bắt đầu tiếp xúc với văn hóa Hán, đã dẫn đến sự dung hợp văn hóa Hán-Việt. Về mặt di tích, đây chính là thời kỳ mà văn hóa Đông Sơn vẫn phát triển và vẫn là yếu tố chủ đạo trong văn hóa.” (Phạm Như Hổ, Một thế kỷ Khảo Cổ Học Việt Nam tập II, trang 12). Bách Việt & Âu Lạc (Trích VNSL – Trần Trọng Kim) Nhận xét về thời Hán thuộc dưới quyền đô hộ của các Thái Thú Tích Quang và Nhâm Diên (năm 29 sau T.C, tức vào khoảng 140 năm sau thời kỳ độc lập của Nhà Triệu đối với Nhà Hán), sử gia Phạm Cao Dương viết: “...một nhận định khác liên hệ tới sinh hoạt kinh tế cũng cần phải được nêu lên. Đó là sự phát triển kinh tế của quận Giao Chỉ vào cuối thời Tây Hán khi Nhâm Diên là Thái Thú Cửu Chân: dân Cửu chân đã có thể sang đong thóc ở Giao Chỉ”. (sách đã dẫn trang 83). Bàn về trường hợp Thái Thú Nhâm Diên quận Cửu Chân “sai rèn đúc đồ làm ruộng, dạy dân khai khẩn mở mang đất đai”, Phạm Cao Dương viết: “Sự kiện này (sự kiện Nhâm Diên là người đầu tiên dạy dân ta cày cấy với nông cụ bằng sắt) trái ngược với những gì người ta tìm được trong các cuộc phát quật ở Đông Sơn (cùng thời Nhà Triệu), vì trong các cuộc phát quật này người ta đã tìm thấy những đồ làm ruộng như lưỡi cày, lưỡi cuốc, lưỡi rìu...” (sách đã dẫn trang 83). Trên đây là những nhận xét khách quan và thành thật của các sử gia. Bên cạnh đó, không thể tránh được những lời nhận xét mang tính chủ quan và địa phương Kết luận Tìm hiểu về lịch sử một triều đại, có nhiều cách nhìn. Trong mỗi cách nhìn, thường dựa trên một số dữ kiện lịch sử khách quan để dùng làm căn bản lý luận. Đối với sách sử cũ (ngoại trừ Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sỹ) đa số đều công nhận Nhà Triệu với nước Nam Việt là một triều đại chính thống nối tiếp vua Hùng. Nhiều vị Anh hùng, Danh nhân, Danh tướng Việt Nam cùng kính phục Triệu Vũ Đế và coi đất Bách Việt (Lưỡng Quảng) là đất đai của Tổ Tiên đã bị Nhà Hán thôn tính lấy mất. Truyền thuyết về Kinh Dương Vương dựng nước ở đất Bách Việt, cũng như sự nhìn nhận của Nhà Tây Hán qua thể thức “phong vương” cho Triệu Đà là những bằng chứng lịch sử để tin tưởng. Gần đây, nhiều nhà viết sử ở trong nước đã dựa theo “Việt Sử Tiêu Án” của Ngô Thời Sỹ, viết về Nhà Triệu trái ngược với sử cũ, coi nước Việt Nam bị Bắc thuộc (nội thuộc nước Tàu?) hoặc ngoại thuộc Nhà Triệu từ khi Triệu Vũ Vương dựng nước Nam Việt. Một số sử gia ở Hải Ngoại cũng có cùng quan điểm như vậy. Một cách đơn giản hơn, là nhìn thẳng vào chính quyền, dân chúng và lãnh thổ của một nước, để tìm hiểu xem đất nước ấy có bị một nước nào đô hộ hay không? Nếu không, tính chính thống coi như được tiếp nối. Đối với nước cổ Việt, thời đại vua Hùng, chưa có ý niệm về thống nhất đất đai chư hầu để chia thành quận huyện cai trị như thời nhà Tần bên Tàu, nên ta có thể chấp nhận: “Nơi nào có dân tộc cổ Việt tập trung sinh sống đông đảo mà không bị lệ thuộc vào nước nào thì nơi đó chính là quê hương, tổ quốc của dân tộc cổ Việt”. Từ nhận xét này, suy ra đất Bách Việt là đất đai quê hương và Tổ quốc của người Lạc Việt và Âu Việt, tức là người Việt Nam thời cổ . Điều đáng suy nghĩ là người Hán thôn tính các nước láng giềng đều coi dân tộc các nước bị diệt là người ... Trung Hoa, trong khi cùng là người Việt, nhưng vì địa phương tính, lại coi nhau như người khác nước! “Nhà Triệu và Nước Nam Việt” là một đề tài lịch sử quan trọng, cần được tìm hiểu cặn kẽ, vô tư và khoa học khách quan để tôn trọng những trước tác sách sử mang tâm huyết hào hùng của tiền nhân, nhất là để không phụ công ơn dựng nước và giữ nước của Tổ Tiên. Đánh giá một nhân vật lịch sử là một việc làm cẩn trọng, và trách nhiệm nặng nề của những nhà viết sử, vì việc làm này sẽ ảnh hưởng không ít đối với học sinh, sinh viên sau này. Bài viết trên đây chỉ là những nhận xét thô thiển của một cá nhân, với số sách sử tham khảo rất giới hạn. Chúng tôi mong mỏi được quí vị thức giả trong và ngoài nước, có tinh thần tự do, vô tư và không bị hạn chế bởi bất cứ một áp lực chính trị nào, chỉ giáo và đóng góp ý kiến rộng rãi, để làm sáng tỏ vấn đề: “Nhà Triệu là một triều đại chính thống, có công với dân tộc Việt Nam, hay Nhà Triệu chỉ là một nhà nước xâm lược?” Sách Tham Khảo: * Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Tập I – Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội – 1998. * Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim - Nhà Xuất Bản Miền Nam – 1971. * Việt Sử Tiêu Án – Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ - Văn Sử xuất Bản – 1991. * Việt Sử Toàn Thư - Phạm Văn Sơn - Tủ Sách Sử Học - Đại Nam. * Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam - Quyển I - Phạm Cao Dương - Truyền Thống Việt – 1987. * An Nam Chí Lược – Lê Tắc – Nhà Xuất Bản Thuận Hóa – 2002. * Sử Trung Quốc – Nguyễn Hiến Lê - Văn Nghệ - 2003. * Những Câu Chuyện Việt Sử - Tập 2 - Trần Gia Phụng – Toronto – 1999. * Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời – Đào Duy Anh – Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin. * Một Thế Kỷ Khảo Cổ Học Việt Nam-Tập II-Viện Khảo Cổ Học – Nhà XBKHXH * Triệu Đà và nước Nam Việt trong dòng chảy lịch sử Việt Nam – Trương Thái Du - 2005 talawas. Triệu Đà sao lại tị nạn được để huy động cuộc các cuộc chiến tranh lớn. Giải thích của sử là chuẩn nhất.[Góp ý về Nhà Triệu và nước Nam Việt Song Thuận (Viết tại Little Sài Gòn ngày đầu Xuân Đinh Hợi 2007) Đọc lịch sử Việt Nam, chúng ta đều nhận thấy Nhà Triệu (207-111 trước Tây Lịch) là một triều đại rực rỡ của nước Nam Việt, với cương thổ từ Đông sang Tây rộng hơn vạn dậm, do Triệu Vũ Đế, tên thật là Triệu Đà thành lập năm 207 trước Tây Lịch. Ca tụng sự nghiệp anh hùng của Triệu Vũ Đế, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết: “Họ Triệu, nhân lúc nhà Tần suy loạn, giết trưởng lại Tần, chiếm giữ đất Lĩnh Nam, xưng đế, đòi ngang nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi 100 năm mới mất, cũng là bậc vua anh hùng.” Niềm hãnh diện này truyền tụng mãi mãi về sau, được Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhắc lại: “Vua (Đinh Tiên Hoàng) tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, quét sạch các hùng trưởng (Sứ Quân), tiếp nối quốc thống của Triệu Vũ (Đế) ...” Một vị tướng tài nổi danh khắp năm châu như Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, lúc sắp qua đời, cũng tỏ ra kính phục Triệu Vũ Đế, trong câu chuyện sau đây: “Hưng Đạo Vương làm quan đến đời vua Anh Tông thì xin về trí sĩ ở Vạn Kiếp. Khi ngài sắp mất, vua Anh Tông có ngự giá đến thăm, nhân thấy ngài bệnh nặng, mới hỏi rằng:” Thượng phụ một mai khuất núi, phỏng có quân Bắc lại sang thì làm thế nào?” Hưng Đạo Vương tâu rằng: “Nước ta thủa xưa, Triệu Võ Vương dựng nghiệp, Hán đế đem binh đến đánh, Võ Vương sai dân đốt sạch đồng áng, không để lương thảo cho giặc chiếm được, rồi đem đại quân sang châu Khâm, châu Liêm đánh quận Tràng Sa, dùng đoản binh mà đánh được, đó là một thời...” Mở đầu “Bình Ngô Đại Cáo”, nguyên bản bằng chữ Hán, danh thần Nguyễn Trãi cũng đã trân trọng công nhận Nhà Triệu đứng đầu các Triều Đại chính thống của nước ta: “Cái văn: nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân; điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo. Duy ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang. Sơn xuyên chi phong vực ký thù, Nam Bắc chi phong tục diệc dị. Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc, dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương. Tuy cường nhược thì hữu bất đồng, nhi hào kiệt thế vị thường phạp”. (Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim, Tập 1, Phụ lục trang 277). Sách “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” (Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội), dịch ra như sau (tập 2, trang 282): “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo. Xét như nước Đại Việt ta, thực là một nước văn hiến. Cõi bờ sông núi đã riêng, Phong tục Bắc Nam cũng khác. Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương. Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, Song hào kiệt không bao giờ thiếu.” Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, cũng đã có ý muốn “đòi về” vùng đất Lưỡng Quảng, là đất đai nước Nam Việt của nhà Triệu xưa kia: Trần Trọng Kim (sách đã dẫn, quyển II, trang 143) viết: “...năm Nhâm Tí (1792) vua Quang Trung sai sứ sang Tàu, xin cầu hôn và xin trả lại cho Việt Nam (bấy giờ tên là Đại Việt) đất Lưỡng Quảng.” Phạm Văn Sơn (sách đã dẫn, trang 563) viết: “Đi xa hơn nữa, năm Nhâm Tý tức Quang Trung thứ 5, nhà vua bắt đầu thi hành công chuyện nói trên. Ngài gửi cho bọn biên thần nhà Thanh hai bức thư liên tiếp nhờ đề đạt lên vua Càn Long ngỏ ý muốn cầu hôn với Công chúa Thanh và đòi đất Lưỡng Quảng để làm quốc đô.” Những kẻ hậu sinh chúng ta, mỗi lần nhắc đến “Lưỡng Quảng” tức đất Bách Việt xưa kia, theo truyền thuyết là nơi lập quốc của Kinh Dương Vương (khoảng 2879 trước Tây Lịch), truyền ngôi cho Lạc Long Quân, bị Nhà Tần xâm chiếm năm 214 trước Tây Lịch, nhưng được Triệu Vũ Vương giành lại năm 207 trước Tây Lịch, dựng lên nền độc lập cho dân tộc Việt gần 100 năm, sau đó bị Nhà Hán thôn tính lấy mất, trong lòng ai chẳng bồi hồi luyến tiếc? Chính vua Tự Đức cũng đã ngậm ngùi khi viết lời phê về việc Nhà Hán diệt Nhà Triệu trong Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (giữa thế kỷ 19) như sau: “Xét chung từ trước đến sau, đất đai của nước Việt ta bị mất về Trung Quốc đã đến quá một nửa, tiếc rằng vua sáng tôi hiền các triều đại cũng nhiều người lỗi lạc hiếm có ở trên đời, mà vẫn không thể nào lấy lại được một tấc, đó là việc đáng ân hận lắm! Thế mới biết việc thu hồi đất đai đã mất, từ đời trước đã là việc khó, chứ không những ngày nay mà thôi. Thật đáng thương tiếc.” Trên đây là cách nhìn lịch sử (sử quan) của những nhà viết sử nổi tiếng và những danh nhân, danh tướng Việt Nam, coi Nhà Triệu và nước Nam Việt tiếp nối nền chính thống từ thời vua Hùng. Cách nhìn khác, có lẽ căn cứ trên thực tế cương thổ của nước Việt Nam, một số nhà viết sử đã có nhận định trái ngược với cách nhìn của những sử gia trong chính sử: Khởi đầu là sử gia Ngô Thời Sỹ đời Nhà Lê với “Việt Sử Tiêu Án” và tiếp theo là những nhà viết sử ở trong nước ngày nay. Một số nhà viết sử ở Hải Ngoại có cùng quan điểm với cách nhìn mới, loại bỏ Nhà Triệu ra ngoài danh sách những triều đại chính thống. Theo cách nhìn này, nước Việt Nam bị “Bắc thuộc” (hoặc ngoại thuộc Nhà Triệu) bắt đầu từ thời Nhà Triệu nắm chính quyền. Một số dữ kiện lịch sử có thể đã được dùng làm luận cứ cho cách nhìn này: 1. Tượng Quận được coi là vùng đất cổ Việt khác với Nam Hải (Quảng Đông) và Quế Lâm (Quảng Tây): “Chuyện Văn Lang và Âu Lạc được xếp vào loại khó tin được, nhưng đến Tượng Quận thì không còn là chuyện hoang đường mà chắc chắn là chuyện lịch sử rõ ràng. Năm 214 tr. CN (đinh hợi), Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư và Sử Lộc đánh lấy đất Lĩnh Nam lập ra các quận Quế Lâm (nay là vùng bắc và đông Quảng Tây, Trung Hoa), Nam Hải (nay là Quảng Đông, Trung Hoa), và Tượng Quận (vùng cổ Việt) (Trần Gia Phụng, sách đã dẫn trang 12). Ngô Thời Sỹ trong Việt Sử Tiêu Án cũng đã phân biệt rõ ràng: “Than ôi! Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là đất Việt Giao Chỉ” (trang 25). Theo cách nhìn này, biên giới phía Bắc nước cổ Việt với nước Trung Hoa ở đâu đó vùng Lạng Sơn, Cao Bằng, khác với biên giới nước Nam Việt, được vua Hán Cao Tổ công nhận, bắt đầu từ Động Đình Hồ: “Cõi đất từ Ngũ Lĩnh về nam, vương (Triệu Đà) cứ việc trị lấy” (ĐVSKTT trang 144). 2. Văn Lang chia thành 15 “bộ”, không có “bộ” nào ở Lưỡng Quảng, mà chỉ giới hạn trong vùng đất Bắc Việt và vài tỉnh phía Bắc Trung Việt ngày nay. 3. Triệu Đà là người gốc phương Bắc, và kinh đô nước Nam Việt ở Phiên Ngung (Quảng Đông), không ở Bắc Việt ngày nay. 4. Quan trọng nhất là nước Âu Lạc bị Triệu Đà xâm chiếm đã được ghi rõ trong sách sử: “Canh Thân, năm thứ 27 (181 TCN), (Hán Cao Hậu năm thứ 7). Nhà Hán sai Lâm Lư hầu, Chu Táo sang đánh Nam Việt để báo thù việc đánh Trường Sa. Gặp khi nắng to ẩm thấp, bệnh dịch phát, bèn bãi quân, Vua (Triệu Vũ Đế) nhân thể dùng binh uy và của cải để chiêu vỗ Mân Việt và Âu Lạc ở phía Tây (tức là Giao Chỉ và Cửu Chân) các nơi ấy đều theo về). (ĐVSKTT, trang 143) Cách nhìn lịch sử căn cứ vào thực tế cương thổ nước Việt Nam, mở ra một phương pháp suy luận mới, có vẻ thực tế khách quan. Tuy nhiên cách nhìn này đã vấp phải sự nhận diện sai lạc và sự di dịch biên giới cổ Việt qua các thời đại, cũng như sự phân biệt và kỳ thị có tính cách địa phương (theo Trương Thái Du, là “tính nhất thời, trong cái nhìn địa phương hãn hữu” - Triệu Đà và nước Nam Việt trong dòng chảy lịch sử Việt Nam – 2005 talawas), vì thế làm mất hẳn đi tính thuyết phục: 1.Thuyết coi Tượng Quận là đất cổ Việt, thuộc về phần đất Bắc Việt ngày nay, đã bị phê phán: “Tượng Quận: tên quận đời Tần mà trước đây nhiều sách sử của ta và của Trung Quốc đều chú giải là quận Nhật Nam, hay bao gồm cả ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thời Hán, tức đất An Nam. Thuyết đó là dựa vào một câu cước chú của Hán thư (q.28 hạ, tr. 11a) về quận Nhật Nam thờ Hán: Quận Nhật Nam - quận Tượng thời Tần ngày trước”. Nhưng từ cuối thế kỷ XIX thuyết đó đã bị phê phán. Chính Hán Thư phần Bản Kỷ (q. 7 tr. 9a) chép rõ ràng: “Năm thứ 5 hiệu Nguyên Phương (76 TCN), bãi bỏ quận Tượng, chia đất vào hai quận Uất Lâm và Tường Kha”. (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, trang 138). Bản đồ nước Nam Việt (Trần Việt Bắc vẽ).Chú ý sẽ thấy Tượng Quận ở phía trên Tây Âu, gần Tường Kha. Quận Uất Lâm ở vùng đất thuộc Quảng Tây, quận Tường Kha ở phía tây quận Uất Lâm và gồm một phần Quý Châu. Vậy Tượng Quận thuộc về miền tây Quảng Tây và nam Quý Châu. Nhìn nhận Tượng Quận là đất cổ Việt, ắt phải nhìn nhận Quảng Tây là cổ Việt? Chưa kể, thời Hai Bà Trưng có quận Hợp Phố thuộc về tỉnh Quảng Đông ngày nay theo về, làm cho biên giới nước cổ Việt mở rộng, ăn sâu vào tỉnh Quảng Đông. Biên giới nước Việt Nam ngày nay cũng đã thay đổi: thời Hồ Quí Ly mất cho Trung Hoa vùng đất Lộc Châu gồm 59 thôn ở Cổ Lâu (năm 1405), thời Mạc Đăng Dung mất 5 động Tê Phù, Kim Lạc, Cổ Xung, Liễu Cát, La Phù và đất Khâm Châu (năm 1540) và thời Cộng Sản gần đây (năm 1999) mất thêm đất vùng biên giới Hoa Việt từ Ải Nam Quan (Lạng Sơn) qua vùng đất có Thác Bản Giốc Cao Bằng, cũng như lãnh hải và các đảo Hoàng Sa, Trường Sa (?). 2. Còn về thuyết Văn Lang được chia ra làm 15 bộ để cai trị, cũng đã bị phê phán về tính xác thực. Học giả Lê Quí Đôn (1726-1784) trong Văn đài loại ngữ đã nhận xét : “...Tôi xét đời Hùng Vương, trên nối đời Hồng Bàng, không có chữ nghĩa gì truyền lại; về 15 bộ đặt ra thời đó, cùng với các quận huyện do nhà Hán, nhà Ngô (Trung Hoa) mới đặt ra, tên gọi lẫn lộn, tôi ngờ rằng những tên đó do các hậu nho góp nhặt vay mượn chép ra, khó mà tin được...” (Trần Gia Phụng, sách đã dẫn trang 11, 12). Cũng nên biết rằng ý niệm thống nhất đất đai chư hầu thành một nước để chia ra từng bộ phận, quận huyện mà cai trị, chỉ bắt đầu xuất hiện bên trung Hoa từ thời nhà Tần (356 tr. TL) trở về sau (do chính sách của Tướng quốc Thương Ưởng, sau đó được Tần Thủy Hoàng củng cố mạnh mẽ hơn nhờ Tể Tướng Lý Tư soạn ra tân chính sách). Vì vậy, nếu cho rằng ý niệm “thống nhất đất đai” đã xẩy ra ở cổ Việt trước thời Tần Thủy Hoàng xâm lăng đất Bách Việt, thì quả thật đáng để chúng ta suy nghĩ về tính xác thực của nó. Hơn nữa chính “đất Bách Việt” trước khi bị Nhà Tần xâm lăng, theo truyền thuyết thuộc về Văn Lang là đất đai của vua Hùng. Nhà Tần chia đất Bách Việt ra thành 3 quận Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây), và Tượng Quận (theo thuyết mới thuộc về Quảng Tây). Có lẽ Tượng Quận bao gồm phần đất bản bộ của Thục Phán tại Quảng Tây, trước khi đánh chíếm nước Văn Lang (?). 3. Chúng ta cũng cần suy nghĩ về quan niệm cho rằng Triệu Đà là người phương Bắc và kinh đô Nhà Triệu ở Phiên Ngung, không nằm trong đất Bắc Việt ngày nay, rồi kết luận “Nước Nam Việt là một nước phương Bắc, đô hộ nước Âu Lạc (Bắc Việt)”.Bởi vì nước ta có nhiều ông vua gốc phương Bắc như Thục An Dương Vương, Lý Nam Đế, Hồ Quí Ly, Quang Trung Nguyễn Huệ, nhưng vẫn được dân tộc Việt công nhận là những ông vua Việt Nam có tài và có công. Còn về Kinh đô của một nước, thường tùy thuộc vào diện tích đất đai và cách tổ chức chính trị của nước đó. Thí dụ khi Việt Nam còn giới hạn ở miền Bắc và mấy tỉnh miền Trung, thì kinh đô của các Nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê đều đặt ở miền Bắc (Hoa Lư hoặc Thăng Long). Nhưng khi lãnh thổ mở rộng về phương Nam đến mũi Cà Mâu, thì kinh đô của vua Quang Trung hay vua Gia Long đều dời về ở miền Trung (Phú Xuân, Huế). Giả thử Thục An Dương Vương khi chiếm đất của các vị vua Hùng, có đất bản bộ là vùng Lưỡng Quảng rộng lớn, tất cũng phải đặt kinh đô trên đất Lưỡng Quảng vậy. Sau này, vua Quang Trung Nguyễn Huệ cũng đã có ý định “đòi đất Lưỡng Quảng để làm quốc đô” (Phạm Văn Sơn sách đã dẫn trang 563). Sử gia Ngô Thời Sỹ khi viết về đất Bách Việt (Quảng Đông, Quảng Tây) cũng cho rằng: “ đất Bách Việt là đất cổ Việt (?): “Nhà Tần cho là nước Việt ta nhiều châu báu, muốn chia nước ta ra làm quận huyện, sai Hiệu Úy Đồ Thư mang quân vào sâu mãi Lĩnh Nam lấy đất Lục Lương đặt ra Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận. Người Việt ta đều chạy trốn vào trong rừng rậm, không chịu để cho nhà Tần dùng, ngầm đặt Kiệt Tuấn làm tướng, đương đêm đánh Đồ Thư, nhà Tần bèn mang 500 vạn (5 triệu) (?) dân phát vãng đi đầy sang ở đó. ...”. (sách đã dẫn trang 24). Theo Trần Trọng Kim, Nhà Tần sai Đồ Thư sang đánh Bách Việt ở “vào quãng tỉnh Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây bây giờ” (sách đã dẫn trang 18). Phải chăng, nhóm từ “nước Việt ta”, “nước ta”, “người Việt ta” trong Việt Sử Tiêu Án đã mặc nhiên thừa nhận dân tộc Bách Việt chính là dân tộc Cổ Việt? Tương tự, một cách khách quan sử gia Phạm Văn Sơn trong Việt Sử Toàn Thư cũng công nhận người Việt Nam và người Nam Việt chỉ là một(?): “Với Triệu Đà ta thấy xã hội Việt Nam bắt đầu tiến do sự phát triển về nông nghiệp...Triệu Đà đã thúc đẩy dân tộc Việt Nam lên một bước đáng kể”, hoặc: “Sự tiến hóa về các phương diện trên đây tuy còn ít ỏi nhưng cũng đã làm nảy nở ít nhiều ý thức quốc gia của người Việt”. (sách đã dẫn, trang 90). 4. Căn cứ vào dữ kiện lịch sử “Triệu Đà xâm lăng Âu Lạc” tức đất Bắc Việt ngày nay, để cho rằng nước ta ngoại thuộc Nhà Triệu hay “Bắc thuộc”, không phải là không có duyên cớ. Tuy nhiên, bảo rằng lãnh thổ của Âu Lạc là lãnh thổ của Văn Lang (trong truyền thuyết) lại là một nghi vấn lịch sử? Chính “ Lời Thông Luận” cũng đã tỏ ra ngạc nhiên: “An Dương Vương khởi từ đất Ba Thục, thừa lúc họ Hùng-Lạc đã suy, một trận cử binh mà lấy được nước cũ hơn hai nghìn năm, sao mà hùng cường thế”. (Ngô Thời Sỹ, sách đã dẫn trang 25). Để có thể nhận xét một cách khách quan, chúng ta cần tìm hiểu và xét lại 2 vấn đề sau đây: 1. Thục Phán là người Phương Bắc (gốc nước Thục, mà ta quen gọi là người Tàu), đánh bại vua Hùng Vương thứ 18, chiếm kinh đô vua Hùng ở Phong Châu (Vĩnh Yên, nay là tỉnh Phú Thọ), nhưng có chiếm được hết đất đai của vua Hùng theo truyền thuyết hay không?Với thời gian trị vì của Thục An Dương Vương không quá 50 năm trong 1 đời vua, Thục An Dương Vương đã có thể thu phục được bao nhiêu phần trăm “nhân tâm” của những quan Lạc Tướng, Lạc Hầu, và nhất là của dân tộc Việt “cắt tóc vẽ mình” từng là con dân vua Hùng hàng ngàn năm rồi? Số dân chúng còn luyến tiếc thời vua Hùng, không chịu khuất phục “chế độ mới” là bao nhiêu?2. Dân tộc Bách Việt “ cắt tóc vẽ mình” cùng một tổ tiên với dân tộc Lạc Việt sống rải rác từ Động Đình Hồ (tức vùng đất Quảng Đông, Quảng Tây) tới Âu Lạc (Bắc Việt ngày nay), trước khi Tần xâm lăng Bách Việt, thuộc về nước nào? vua nào? nếu không phải là nước Văn Lang của vua Hùng? Khi Hán Cao Tổ chiếm trọn đất đai phía Bắc Ngũ Lĩnh (Động Đình Hồ), Triệu Vũ Đế hầu như chiếm trọn đất đai phía Nam Động Đình Hồ. Vua Hán dùng ngoại giao để thu phục Nhà Triệu và phong Vương cho Triệu Đà không hề đả động gì đến nước Văn Lang, hay Âu Lạc, mà chỉ biết Nam Việt là một nước duy nhất ở phương Nam “thần phục” Nhà Hán” (khác với “lệ thuộc” Nhà Hán, vì đây chỉ là một hình thức ngoại giao, Nam Việt vẫn giữ được nền tự chủ). Để biết rõ thêm về Nhà Triệu và nước Nam Việt, chúng ta cùng tìm hiểu mấy câu hỏi sau đây: 1. Triệu Đà là ai? Vợ con Triệu Đà và thân tín của Triệu Đà là ai? Triệu Đà đến nước Cổ Việt từ bao giờ? 2. Vua quan triều đình nước Nam Việt là ai? 3. Dân tộc nước Nam Việt là ai? 4. Triệu Đà đã làm được những điều gì ích lợi cho nước Việt Nam ta thời xưa? Đỉnh trong mộ Vua Nam Việt đời thứ 2 – 122 BC (tức Triệu Văn Vương - 137-125 BC) (Một Thế Kỷ Khảo Cổ Việt Nam Tập II) 1. Triệu Đà là ai? Mặc dù thời đại Triệu Đà đã có chữ viết, nhưng sử sách chép về tiểu sử Triệu Đà lại rất sơ sài. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cho biết: “Họ Triệu, tên húy là Đà, người huyện Chân Định nước Hán, đóng đô ở Phiên Ngung (nay ở tỉnh Quảng Đông)...”. Trần Trọng Kim trong “Việt Nam Sử Lược” chú trọng nhiều đến việc thành lập nước Nam Việt: “Năm Quí tị (207 tr. TL), Triệu Đà đánh được An Dương Vương rồi, sáp nhập nước Âu Lạc vào quận Nam Hải, lập thành một nước gọi là Nam Việt, tự xưng làm vua, tức là Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung, gần thành Quảng Châu bây giờ”, và cho biết thêm: “Năm Giáp Thìn (137 trước Tây Lịch), Triệu Vũ Vương mất. Sử chép rằng ngài thọ được 121 tuổi và làm vua được 70 năm”. Vợ con Triệu Đà là ai? Ngô Thời Sỹ không nói gì đến tiểu sử của Triệu Đà, nhưng lại cung cấp một dữ kiện quí báu, đó là thân thế của bà vợ người Việt của Triệu Vũ Đế: “Theo sách ngoại sử: Mẹ Trọng Thủy là Trình Thị, người làng Đường Xâm, quận Giao Chỉ , (nay làng Đường Xâm, huyện Chân Định), nơi có miếu thờ Triệu Đà, Trình Thị được tòng tự ở miếu ấy”. (trang 24, sách đã dẫn) Triệu Đà đến nước Cổ Việt từ bao giờ? Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và Việt Sử Tiêu Án đều chép: “Triệu Đà làm quan lệnh Long Xuyên”, nhưng không cho biết Triệu Đà được vua Tần sai phái sang nước Nam từ bao giờ? Căn cứ vào bức thư của Triệu Đà viết gửi Hán Văn Đế (năm 179 trước Tây Lịch), có câu: “Lão phu ở đất Việt 49 năm, đến nay đã ẵm cháu rồi” (Ngô Thời Sỹ, sách đã dẫn trang 27), suy ra Triệu Đà đến đất cổ Việt vào năm 228 trước Tây Lịch, đúng vào thời gian nước Triệu bị Nhà Tần diệt (228 tr. TL), 14 năm trước khi Tần Thủy Hoàng sai tướng Đồ Thư đem quân đánh lấy Bách Việt. Trong cuốn “Sổ Tay Địa Danh Việt Nam”, Đinh Xuân Vịnh cho biết thêm: “CHÂN ĐỊNH: huyện về đời Lê thuộc phường Kiến Xương do phủ kiêm lị, trấn Sơn Nam . Nguyên là huyện Chân Lợi, đời Lê vì kị húy vua Lê Thái Tổ, nên đổi là Chân Định, lấy tên là huyện quê hương Triệu Đà ở nước Triệu bên Trung Quốc. Đà có người vợ người Việt quê ở làng Đồng Sâm (Đường Xâm?), huyện Chân Định. Đời Thành Thái vì kị húy tên vua Dục Đức là Ưng Chân, đổi là Trực Định và chuyển thuộc tỉnh Thái Bình mới thành lập (1894), từ năm 1945 là huyện Kiến Xương. Quê Nguyễn Quang Bích, Trương Quỳnh Như”. Nhờ vào những dữ kiện lịch sử kể trên, chúng ta có thể suy diễn: “Triệu Đà sinh năm 258 tr. TL, quê huyện Chân Định nước Triệu (bị Nhà Tần diệt vào năm 228 tr. T.L), lúc đó Triệu Đà vừa 30 tuổi, phải bỏ nước chạy sang Giao Chỉ “tị nạn”. Tại Giao Chỉ, Triệu Đà kết hôn với một cô gái người Việt quê làng Đường Xâm (sau thuộc tỉnh Thái Bình, Bắc Việt). Vợ chồng Triệu Đà sinh ra Trọng Thủy. Sau Trọng Thủy kết duyên với Mỵ Châu, con gái An Dương Vương, sinh được một trai đặt tên là Hồ (Triệu Hồ được truyền ngôi lên làm vua nước Nam Việt năm 137 tr. TL). Trong suốt thời gian 14 năm sống trên đất Việt và thời gian 70 năm làm vua nước Việt sau này, Triệu Đà đã nhiễm phong tục tập quán của người Việt, đồng hóa với người Việt, yêu thương văn hóa Việt và quyết tâm bảo vệ và gìn giữ nền Văn Hóa cổ Việt, ngăn cản không cho Văn Hóa người Hán tràn vào Nam Việt. Nhận xét một cách vô tư, sử gia Phạm Cao Dương viết: “Triệu Đà mặc dầu gốc miền Bắc, nhưng vì xuống ở miền Nam lâu ngày đã bị đồng hóa bởi người Nam Việt, chấp nhận các phong tục tập quán của người Nam Việt đến độ quên hết quá khứ của mình, đúng như Lê Thành Khôi đã nhận xét” (trang 71 sách đã dẫn). Chính sử gia Ngô Thời Sỹ cũng đã nhận xét: “Còn về phần giáo hóa , phong tục (Triệu Đà) không để ý đến một chút nào.” (sách đã dẫn, trang 34). Sử gia Phạm Văn Sơn cũng viết: “ Giao Chỉ vẫn giữ được đầy đủ các cá tính quốc gia, tinh thần cố hữu của nó. Lại nhân cuộc thay trò đổi cảnh hai xứ này (Giao Chỉ, Cửu Chân?) được thêm sự mở mang kinh tế và chấn hưng nông nghiệp. (sách đã dẫn, trang 86 & 87). Thật may mắn cho dân tộc Lạc Việt, nhờ Triệu Đà không để ý thay đổi phong tục tập quán cổ truyền của người Việt theo phong tục phương Bắc, nên dân tộc ta mới không bị Hán hóa ngay từ thời Nhà Triệu! Đây chính là công lao rất lớn của Triệu Vũ Đế vậy. Có lẽ Triệu Đà qua Giao Chỉ “tị nạn”, chỉ có một thân một mình, căn cứ vào lời lẽ của Lục Dận nói với Triệu Vũ Vương: “Vương vốn là người Hán, họ hàng mồ mả đều ở nước Hán”, hoặc căn cứ vào sự giao thiệp với Hán Văn đế: “Vua Hán vì thấy mồ mả tổ tiên của vua (Triệu Đà) đều ở Chân Định, mới đặt người thủ áp để trông coi, tuế thời cúng tế, gọi các anh em của vua cho làm quan to, ban cho hậu”. Trong bức thư gửi Triệu Vũ Vương, vua Hán Văn Đế nói rõ: “Mới rồi nghe nói Vương có gửi thư cho tướng quân Lâm Lư hầu muốn tìm anh em thân và xin bãi chức hai tướng quân ở Trường Sa. Trẫm theo thư của Vương, đã bãi chức tướng quân Bác Dương hầu rồi, còn anh em thân của Vương hiện ở Chân Định, trẫm đã sai người đến thăm hỏi và sửa đắp phần mộ tiên nhân của Vương rồi”. (ĐVSKTT, trang 142-145). Như vậy, phải chăng anh em, họ hàng, thân thích cũ của Triệu Đà đã bị Nhà Hán giam lỏng, hoặc dùng chức tước để cầm chân, không cho rời khỏi nước Hán để đến nước Nam Việt? 2. Vua quan triều đình nước Nam Việt là ai? Như trên vừa kể, những người thân tín của Triệu Đà trấn đóng khắp nơi và làm quan trong triều không phải là họ hàng, thân thích hay anh em của nhà vua (nếu có cũng rất ít). Vậy họ là ai? Có phải là người Tần không? Có phải là người Hán (người Tàu) không? Triệu Đà sống ở Giao Chỉ lâu ngày, lấy vợ Việt, ắt có rất nhiều bạn bè người Việt. Sau Triệu Đà làm quan cho nhà Tần tới chức Lệnh huyện tại Long Xuyên (đất Bách Việt), có thể đã kết hợp với người Bách Việt (Lạc Việt, Âu Việt...), giết hết trưởng lại Nhà Tần, để thay bằng thân tín là những người Việt. Lữ Gia và họ hàng thân thích hàng trăm người làm quan to trong triều, đều là người Việt: “Con trai đều lấy công chúa, con gái đều gả cho con em của vua hay tông thất của vua” (Phạm Cao Dương, sách đã dẫn trang 68). Một triều đình nước Nam Việt với quan, dân đều là người Việt “cắt tóc vẽ mình” như vậy mà nhà viết sử lại cho rằng nước Nam Việt là... nước Tàu, thì chỉ có thể giải thích bằng “đầu óc kỳ thị địa phương” kiểu người miền Nam Việt Nam tự nhận là “dân Nam Kỳ Quốc” để phân biệt với người miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc mà thôi! Về nhận xét có sự phân biệt “kỳ thị địa phương” thời Nhà Triệu, chính sử gia Phạm Văn Sơn cũng đã bác bỏ: “Và tuy sử sách không nói nhiều về việc cai trị dưới thời Triệu Đà hay dở thế nào ở đất Giao Chỉ, nhưng ta tin chắc rằng họ Triệu đã đối đãi dân Giao Chỉ không khác gì với nhân dân hai quận Quế Lâm , Nam Hải” (sách đã dẫn, trang 87). Các vị vua Nam Việt nối ngôi sau này như Triệu Văn Vương, Triệu Minh Vương... đều mang dòng máu Việt. 3. Dân tộc nước Nam Việt là ai? Theo định nghĩa: “Bách Việt: là từ mà người Hán dùng để gọi chung các tộc người khác Hán sống ở miền nam Trung Quốc thời xưa. Từ này lần đầu tiên thấy chép trong Sử Ký (Ngô Khởi truyện) của Tư Mã Thiên (Đại Việt Sử Ký Toàn thư, trang 131). Học giả Đào Duy Anh cũng xác nhận: “Chúng ta đều biết rằng người nước Văn Lang là người Lạc Việt, lại cũng biết rằng nhóm Việt tộc sinh tụ ở miền Quảng Tây, tức trong lưu vực sông Tây giang với hai nhánh của nó là Tả giang và Hữu giang, là người Tây Âu”. (sách đã dẫn trang 26). Sử gia Phạm Văn Sơn cũng cho biết:” Còn cương vực của nước Văn Lang phía Bắc giáp hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam), phía Tây giáp Ba Thục (tỉnh Tứ Xuyên) phía Nam giáp Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía Đông giáp bể nam hải, là cương vực cổ xưa của toàn thể gia đình Bách Việt” (sách đã dẫn trang 51). Theo chúng tôi nghĩ, cho tới khi Nhà Tần xâm lăng Bách Việt, Tổ Tiên người Lạc Việt của nước Văn Lang vẫn sinh sống tại Bách Việt, mặc dù có một số dân chúng tiếp tục “di cư dần xuống lưu vực sông Nhị và sông Mã” (Phạm Văn Sơn), vì khó có thể xẩy ra chuyện cả một dân tộc dời bỏ quê hương, nơi “chôn nhau cắt rốn” ra đi hết không còn một ai ở lại? Như vậy, Dân tộc nước Nam Việt bao gồm thành phần người Bách Việt trong đó có người Lạc Việt và Âu Việt, tức là người cổ Việt, (mang dòng máu Việt), lẫn với một số người Tàu khi nhà Tần mang theo sang xâm chiếm Bách Việt, và những dân tộc thiểu số khác. Đào Duy Anh cho biết: “ Sách Lộ Sử ở đời Tống chép rằng: Việt Thường , Lạc Việt, Âu Việt, Âu Khải, Âu Nhân, Thả Âu, Cung Nhân, Hải Dương, Mục Thâm, Phù Xác, Cầm Nhân, Thương Ngô, Man Dương, Dương Việt, Quế Quốc, Tây Âu, Quyên Tử, Sản Lý, Hải Quỳ, Tây Khuẩn, Kê Từ, Bộc Cầu, Tỷ Đái, (sửa là Bắc Đái), Khu Ngô, gọi là Bách Việt”. (Đất Nước Việt Nam qua Các Đời, trang 21). Như vậy dân chúng nước Nam Việt có thành phần quan trọng là người Việt cổ. Hoài Nam Vương (Lưu) An khi dâng sớ can ngăn vua Hán đừng can thiệp vào cuộc chiến tranh giữa Nam Việt và Mân Việt, cũng đã minh xác: “Việt là đất ở ngoài cõi. Dân cắt tóc vẽ mình, không thể lấy pháp độ của nước đội mũ mang đai mà trị được” (ĐVSKTT, trang 147). Bàn về phong tục người Việt Cổ (Giao Chỉ, Bách Việt), Lê Tắc trong An Nam Chí Lược viết: “Dân (Việt) hay vẽ mình, bắt chước tục lệ của hai nước Ngô, Việt. Vì thế, Liễu Tư Hậu có câu thơ rằng “Cộng lai Bách Việt văn thân địa”, nghĩa là cùng đi tới đất Bách Việt là xứ người vẽ mình”.(Sách đã dẫn trang 70) Tóm lại, nước Nam Việt bao gồm đất Bách Việt (Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay) và nước Âu Lạc (Bắc Việt và vài tỉnh miền Trung ngày nay), dân chúng là người Việt chiếm đa số, được cai trị bởi Triệu Vũ Đế, người gốc phương Bắc nhưng đã thấm nhuần phong tục, tập quán người Việt, truyền ngôi cho cháu chắt đều mang dòng máu Việt và các quan trong triều đình Nam Việt đều là người Việt. 4. Triệu Vũ Đế đã làm được gì ích lợi cho nước ta xưa kia? Sử gia Phạm Cao Dương viết: “...sự thành lập nước Nam Việt bởi họ Triệu, đã khởi đầu cho sự hấp thụ văn hóa Trung Quốc của tập thể người Việt” (sách đã dẫn trang 70). Hũ Đồng thời Tây Hán: (10) Hũ thời chiến Quốc (200 BC – 9AD – Thanh Hóa VN), Nguồn: Một Thế Kỷ Khảo Cổ Học VN/ Nha XB KH XH. Sử gia Phạm Văn Sơn viết: “Với Triệu Đà ta thấy xã hội Việt Nam bắt đầu tiến do sự phát triển về nông nghiệp nhờ sự cải thiện của nghệ thuật canh tác trước đây còn quá thô sơ (Nghề săn bắn, chài lưới bấy giờ vẫn còn thịnh). Họ Triệu nhập cảng lưỡi cầy sắt để thay cho lưỡi cuốc bằng đá trau, cho dùng trâu bò thay vào sức người, đem gia súc từ Tàu qua để mở mang việc chăn nuôi, nhờ vậy mà sinh sản lượng tăng gia gấp bội; sự phát triển về văn hóa, chính trị, quân sự cũng do cái bản lĩnh hơn người của họ Triệu đã thúc đẩy dân tộc Việt Nam lên một bước đáng kể, nếu ta nhớ rằng dưới đời Hồng Bàng người Việt Nam vẫn chưa thoát ly hẳn tình trạng bán khai, mọi điều còn ở trình độ rất thấp kém trước khi nước ta nội thuộc về phương Bắc. Sự tiến hóa về các phương diện trên đây tuy còn ít ỏi nhưng cũng đã làm nẩy nở ít nhiều ý thức quốc gia của người Việt , nhất là sau những cuộc xô sát bằng quân sự và ngoại giao với Hán triều trong thời Lã Hậu cầm quyền. Ý thức quốc gia còn nẩy nở trong những giai đoạn người Việt độc lập, tự chủ và tự cường nữa. Tóm lại, ta có thể nhìn nhận người cầm cái mốc đầu tiên trên đường tiến hóa của chúng ta là tướng Triệu Đà...” Nên nhớ rằng thời đại Nhà Triệu chính là thời đại “văn hoá Đông Sơn” được tiếp tục tồn tại và phát triển tại Việt Nam: “Từ đầu thế kỷ II trước Công nguyên đến đầu thế kỷ I sau Công nguyên (giai đoạn thuộc Triệu và Tây Hán). Đây là thời kỳ tiếp tục phát triển thời đại sắt Việt Nam, và bắt đầu tiếp xúc với văn hóa Hán, đã dẫn đến sự dung hợp văn hóa Hán-Việt. Về mặt di tích, đây chính là thời kỳ mà văn hóa Đông Sơn vẫn phát triển và vẫn là yếu tố chủ đạo trong văn hóa.” (Phạm Như Hổ, Một thế kỷ Khảo Cổ Học Việt Nam tập II, trang 12). Bách Việt & Âu Lạc (Trích VNSL – Trần Trọng Kim)Nhận xét về thời Hán thuộc dưới quyền đô hộ của các Thái Thú Tích Quang và Nhâm Diên (năm 29 sau T.C, tức vào khoảng 140 năm sau thời kỳ độc lập của Nhà Triệu đối với Nhà Hán), sử gia Phạm Cao Dương viết: “...một nhận định khác liên hệ tới sinh hoạt kinh tế cũng cần phải được nêu lên. Đó là sự phát triển kinh tế của quận Giao Chỉ vào cuối thời Tây Hán khi Nhâm Diên là Thái Thú Cửu Chân: dân Cửu chân đã có thể sang đong thóc ở Giao Chỉ”. (sách đã dẫn trang 83). Bàn về trường hợp Thái Thú Nhâm Diên quận Cửu Chân “sai rèn đúc đồ làm ruộng, dạy dân khai khẩn mở mang đất đai”, Phạm Cao Dương viết: “Sự kiện này (sự kiện Nhâm Diên là người đầu tiên dạy dân ta cày cấy với nông cụ bằng sắt) trái ngược với những gì người ta tìm được trong các cuộc phát quật ở Đông Sơn (cùng thời Nhà Triệu), vì trong các cuộc phát quật này người ta đã tìm thấy những đồ làm ruộng như lưỡi cày, lưỡi cuốc, lưỡi rìu...” (sách đã dẫn trang 83). Trên đây là những nhận xét khách quan và thành thật của các sử gia. Bên cạnh đó, không thể tránh được những lời nhận xét mang tính chủ quan và địa phương Kết luận Tìm hiểu về lịch sử một triều đại, có nhiều cách nhìn. Trong mỗi cách nhìn, thường dựa trên một số dữ kiện lịch sử khách quan để dùng làm căn bản lý luận. Đối với sách sử cũ (ngoại trừ Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sỹ) đa số đều công nhận Nhà Triệu với nước Nam Việt là một triều đại chính thống nối tiếp vua Hùng. Nhiều vị Anh hùng, Danh nhân, Danh tướng Việt Nam cùng kính phục Triệu Vũ Đế và coi đất Bách Việt (Lưỡng Quảng) là đất đai của Tổ Tiên đã bị Nhà Hán thôn tính lấy mất. Truyền thuyết về Kinh Dương Vương dựng nước ở đất Bách Việt, cũng như sự nhìn nhận của Nhà Tây Hán qua thể thức “phong vương” cho Triệu Đà là những bằng chứng lịch sử để tin tưởng. Gần đây, nhiều nhà viết sử ở trong nước đã dựa theo “Việt Sử Tiêu Án” của Ngô Thời Sỹ, viết về Nhà Triệu trái ngược với sử cũ, coi nước Việt Nam bị Bắc thuộc (nội thuộc nước Tàu?) hoặc ngoại thuộc Nhà Triệu từ khi Triệu Vũ Vương dựng nước Nam Việt. Một số sử gia ở Hải Ngoại cũng có cùng quan điểm như vậy. Một cách đơn giản hơn, là nhìn thẳng vào chính quyền, dân chúng và lãnh thổ của một nước, để tìm hiểu xem đất nước ấy có bị một nước nào đô hộ hay không? Nếu không, tính chính thống coi như được tiếp nối. Đối với nước cổ Việt, thời đại vua Hùng, chưa có ý niệm về thống nhất đất đai chư hầu để chia thành quận huyện cai trị như thời nhà Tần bên Tàu, nên ta có thể chấp nhận: “Nơi nào có dân tộc cổ Việt tập trung sinh sống đông đảo mà không bị lệ thuộc vào nước nào thì nơi đó chính là quê hương, tổ quốc của dân tộc cổ Việt”. Từ nhận xét này, suy ra đất Bách Việt là đất đai quê hương và Tổ quốc của người Lạc Việt và Âu Việt, tức là người Việt Nam thời cổ . Điều đáng suy nghĩ là người Hán thôn tính các nước láng giềng đều coi dân tộc các nước bị diệt là người ... Trung Hoa, trong khi cùng là người Việt, nhưng vì địa phương tính, lại coi nhau như người khác nước! “Nhà Triệu và Nước Nam Việt” là một đề tài lịch sử quan trọng, cần được tìm hiểu cặn kẽ, vô tư và khoa học khách quan để tôn trọng những trước tác sách sử mang tâm huyết hào hùng của tiền nhân, nhất là để không phụ công ơn dựng nước và giữ nước của Tổ Tiên. Đánh giá một nhân vật lịch sử là một việc làm cẩn trọng, và trách nhiệm nặng nề của những nhà viết sử, vì việc làm này sẽ ảnh hưởng không ít đối với học sinh, sinh viên sau này. Bài viết trên đây chỉ là những nhận xét thô thiển của một cá nhân, với số sách sử tham khảo rất giới hạn. Chúng tôi mong mỏi được quí vị thức giả trong và ngoài nước, có tinh thần tự do, vô tư và không bị hạn chế bởi bất cứ một áp lực chính trị nào, chỉ giáo và đóng góp ý kiến rộng rãi, để làm sáng tỏ vấn đề: “Nhà Triệu là một triều đại chính thống, có công với dân tộc Việt Nam, hay Nhà Triệu chỉ là một nhà nước xâm lược?” Sách Tham Khảo: * Đại Việt Sử Ký Toàn Thư - Tập I – Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội – 1998. * Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim - Nhà Xuất Bản Miền Nam – 1971. * Việt Sử Tiêu Án – Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ - Văn Sử xuất Bản – 1991. * Việt Sử Toàn Thư - Phạm Văn Sơn - Tủ Sách Sử Học - Đại Nam. * Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam - Quyển I - Phạm Cao Dương - Truyền Thống Việt – 1987. * An Nam Chí Lược – Lê Tắc – Nhà Xuất Bản Thuận Hóa – 2002. * Sử Trung Quốc – Nguyễn Hiến Lê - Văn Nghệ - 2003. * Những Câu Chuyện Việt Sử - Tập 2 - Trần Gia Phụng – Toronto – 1999. * Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời – Đào Duy Anh – Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin. * Một Thế Kỷ Khảo Cổ Học Việt Nam-Tập II-Viện Khảo Cổ Học – Nhà XBKHXH * Triệu Đà và nước Nam Việt trong dòng chảy lịch sử Việt Nam – Trương Thái Du - 2005 talawas.
-
MỘT SỐ BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC QUA CÁC THỜI ĐẠI Thời nhà Châu (475 - 221 Trước Công Nguyên) Theo một số sử thuyết, thời nhà Châu Quảng Đông & Quảng Tây thuộc về Bách Việt trong đó có Việt Nam. Thời nhà Tần (221 - 207 Trước Công Nguyên) Thời Tần Thủy Hoàng, Vạn Lý Trường Thành được xây lên ở phía Bắc Trung Quốc & nhà Tần cũng lấn khá sâu về phía Nam nhưng chưa đụng đến Việt Nam. Thời nhà Hán (206 Trước Công Nguyên - 220 Sau Công Nguyên) Thời Hai Bà Trưng đánh với Mã Viện, nhìn trên bản đồ lúc này nhà Hán chỉ mới chiếm một phần của miền Bắc Việt Nam. Thời Tam Quốc (220 - 265) Thời Ngụy - Tào Tháo (hướng Bắc), Thục - Lưu Bị (hướng Tây), Ngô - Tôn Quyền (hướng Đông). Một phần của miền Bắc Việt Nam & Đảo Hải Nam nằm dưới sự đô hộ của Đông Ngô - Tôn Quyền. Từ các bản đồ, ta thấy một số các điểm lưu ý sau: Bản đồ thời Tần sau khi rút khỏi Văn Lang: có một khoảng trống trong vùng lãnh thổ Văn Lang (không ghi rõ tên nước) - chính là nơi phát sinh Nhà Ngô của Tôn Quyền sau này. Vùng đất mà An Dương Vương còn giữ được: bao gồm Quảng Tây, Quý Châu, Vân Nam, Lạc Việt, 1 phần Quảng Đông: Nơi phát tích Nhà Hán - Lưu Bị. Phần Nhà Tần lấy được: Triệu Đà nắm giữ Nam Hải, 1 phần Quảng Tây, 1 phần Quý Châu. Nhà Triệu thay An Dương Vương, vậy thì thâu tóm hết, chỉ chừa vùng Tứ Xuyên nằm phía Bắc sông Trường Giang. Bản đồ thể hiện Âu Lạc thuộc Nhà Ngô. Mâu Thuẫn tại đây: là khoảng giao thời gian Nhà Triệu và Nhà Hán. Vậy thì, Triệu chính là nhà Hán hoặc bị Nhà Hán thâu tóm. Xét thời Hai Bà Trưng thì thuộc Nhà Hán và đã khởi nghĩa lấy lại toàn bộ Văn Lang. Vậy thì, chúng ta bắt buộc phải xét lại xuất xứ của Nhà Hán trước. Hạng Tịch (項籍) (232 TCN-202 TCN), tên tự là Vũ/Võ (羽), còn gọi là Tây Sở Bá Vương (西楚霸王). Ông là một nhà chính trị, một tướng quân nổi tiếng, người có công trong việc lật đổ nhà Tần và tranh chấp thiên hạ với Hán Cao Tổ (Lưu Bang) đầu thời nhà Hán. Giai đoạn đầu tiên trong hai giai đoạn của nhà Hán, được gọi là Tiền Hán (前漢) hay triều Tây Hán (西漢) 206 TrCN–9 CN, đóng đô ở Trường An. Hậu Hán (後漢) hay triều Đông Hán (東漢) 25–220, đóng đô ở Lạc Dương. Việc quy ước thành Tây Hán và Đông Hán được sử dụng hiện nay để tránh nhầm lẫn với triều Hậu Hán của giai đoạn Ngũ Đại Thập Quốc mặc dù cách gọi tiền và hậu đã từng được sử dụng trong các văn bản lịch sử gồm cả cuốn Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quang. Nhà Triệu do Triệu Vũ Đế sáng lập với quốc hiệu là Nam Việt, tồn tại từ năm 207 TCN đến năm 111 TCN. Vậy: trong thời Tần đang tồn tại hoặc 1 nước mới có tên là Sở: chỉ ra ngoài biên giới thống nhất của Tần? hoặc xuất phát trong nội bộ Tần phía Bắc Trường Giang Lật đổ Tần. Hán Sở tranh Hùng. Hán thắng Sở. Nhà triệu thuộc kỳ này vậy nằm ngoại cuộc chiến (truyền 5 đời). Sau Hán lấy Triệu: hợp lý lịch sử. Đến thời Tam Quốc: Hán hay Ngô đều xuất phát từ đất Văn Lang cả (xem lại lịch sử).
-
-
MỘT SỐ BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC QUA CÁC THỜI ĐẠI Thời nhà Châu (475 - 221 Trước Công Nguyên) Theo một số sử thuyết, thời nhà Châu Quảng Đông & Quảng Tây thuộc về Bách Việt trong đó có Việt Nam. Thời nhà Tần (221 - 207 Trước Công Nguyên) Thời Tần Thủy Hoàng, Vạn Lý Trường Thành được xây lên ở phía Bắc Trung Quốc & nhà Tần cũng lấn khá sâu về phía Nam nhưng chưa đụng đến Việt Nam. Thời nhà Hán (206 Trước Công Nguyên - 220 Sau Công Nguyên) Thời Hai Bà Trưng đánh với Mã Viện, nhìn trên bản đồ lúc này nhà Hán chỉ mới chiếm một phần của miền Bắc Việt Nam. Thời Tam Quốc (220 - 265) Thời Ngụy - Tào Tháo (hướng Bắc), Thục - Lưu Bị (hướng Tây), Ngô - Tôn Quyền (hướng Đông). Một phần của miền Bắc Việt Nam & Đảo Hải Nam nằm dưới sự đô hộ của Đông Ngô - Tôn Quyền. Thời Nam Tống (1127 - 1279) Thời nhà Tống, Việt Nam đã được độc lập. Thời nhà Nguyên - Mông Cổ (1271 - 1368) Nhà Trần 3 lần đánh quân Nguyên - Mông Cổ, nhưng theo bản đồ trên thì thời nhà Nguyên biên giới phía Bắc Việt Nam giáp với Trung Quốc có vẻ bị quân Nguyên lấn chiếm. Thời nhà Minh (1368 - 1644) Thời nhà Minh miền Bắc Việt Nam lại bị xâm chiếm cho đến khi Lê Lợi đánh quân Minh giành lại chủ quyền Việt Nam. Thời nhà Thanh (1644 - 1911) Thời này quân Thanh có một lần đưa 20 vạn Quân sang Việt Nam theo lời cầu của Vua Lê Chiêu Thống nhưng đã bị Vua Quang Trung đánh bại Bản đồ Trung Quốc hiện nay (Không phải là cái bản đồ "tham lam" lưỡi bò bao gồm cả Hoàng Sa & Trường Sa ...)
-
Khi Đồ Thư chiếm được vùng đất Lĩnh Nam, Tần Thuỷ Hoàng lập nên 3 quận là Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (đông bắc Quảng Tây) và Tượng Quận (nam Quảng Tây), bổ nhiệm Nhâm Ngao làm Quận úy quận Nam Hải. Nam Hải gồm 4 huyện Bác La, Long Xuyên, Phiên Ngung và Yết Dương; trong đó huyện Long Xuyên có vị trí quan trọng nhất về địa lý và quân sự, được giao dưới quyền Triệu Đà làm Huyện Lệnh. Sau khi tới thủ phủ Long Xuyên (ngày nay là thị trấn Đà Thành huyện Long Xuyên) nhậm chức, Triệu Đà áp dụng chính sách "hoà tập Bách Việt" đồng thời xin Tần Thuỷ Hoàng di dân 50 vạn người từ Trung Nguyên đến vùng này, tăng cường chính sách "Hoa Việt dung hợp" (hòa lẫn người Hoa Hạ và người Lĩnh Nam). Theo phân tích của Hà Văn Tấn thì khả năng Tượng Quận là một phần đất của Quý Châu. Đồng thời Thục Phán là người Quảng Tây chứ không phải Vân Nam. Tôi thấy, nhận định này phù hợp bản đồ Nhà Tần - khi kết thúc chiến tranh với Văn Lang. Sau khi quân Tần thua trận rút lui thì cho dù nơi cũ của Thục Phán là Vân Nam hay Quảng Châu thì ông cũng phải tấn công để thu về lại. Tuy nhiên lực chưa đủ và do địa hình, địa mạo khu vực nên Nhà Tần vẫn chiếm được 3 Quận trên. Sau đó đến Nhà Triệu. Nhận định về Nhà Triệu, thuận lợi nhất là khi Nhà Tần lộn xộn, Triệu Đà tấn công thu phục 3 Quận trên do chịu sự áp bức hà khắc của Nhà Tần sau đó mới tấn công vào Quảng Tây. Dĩ nhiên làm rào dậu phía Đông Bắc thì Triệu Đà phải lấy luôn Mân Việt tức Phúc Kiến ngày nay. Giải thích quốc hiệu Âu Lạc của Thục Phán có nhiều lý giải khác nhau, nhưng tôi cũng tạm đưa ra 1 lý giải khác như sau: Hùng Duệ Vương trao vương quyền và Thục Phán lập cột đá thề trên đỉnh Nghĩa Lĩnh. Bố cáo tới thiên hạ, và rõ ràng lúc này chưa phải lúc đổi niên hiệu. Hệ quả tất nhiên sẽ có nhiều nơi không tuân phục. Khi xây thành Cổ Loa thường bị đổ chứng tỏ có người không phục, phá hoại. Hùng Duệ Vương giúp Thục Phán giải tỏa mối nghi ngờ bằng cách giải thích tình thế và nói lên nghĩa đồng bào, khả năng chiến tranh với Phương Bắc, ách đô hộ của Nhà Tần vô cùng tàn ác, vua Hùng Duệ Vương cùng bàn bạc với Thục Phán chấp thuận thay đổi quốc hiệu Âu Lạc tức Âu Cơ + Lạc Long Quân nhằm bày tỏ nỗi trên với toàn bộ quốc dân nhằm tái xây dựng lại tinh thần dân tộc trong một thời đại có khả năng phân rã và chiến tranh: lúc này lòng dân mới yên và thành được xây xong. Với sự phát triền xã hội, sự cát cứ của các Lạc Hầu và cuộc chiến với phương Bắc là có thể xảy ra (tin tình báo cũng như tình hình chuẩn bị của Phương Bắc), đây chính là những nguyên do mà Thục Phán cần phải xây thành Cổ Loa nằm phía tả ngạn sông Hồng, phương Đông Bắc, sát nách Thăng Long là vậy. Lý luận xây thành Cổ Loa thật hợp lý trong mối tương quan với Thăng Long và địa thế hiện hữu (lý luận đánh thành và phong thủy xây dựng). Đấy là lý do Triệu Đà thất bại trong các cuộc công thành. Vũ khí tầm xa là nỏ tên đồng với sức mạnh có thể bắn xuyên 3 người thật là lợi hại khiến quân lính Triệu Đà khiếp sợ - gây nên tâm lý lo ngại do vậy khó mà chiến thắng. Nhà Triệu nối Nhà Thục, quốc đô đặt tại Phiên Ngung. Lăng mộ Triệu Muội phát lộ chứng tỏ sự hợp lý. Chú ý: Khi phân tích nên có bản đồ địa hình trung Hoa bây giờ phối hợp để dễ dàng nhận thấy các ranh giới khu vực, thông thường ranh là các con sông lớn, địa hình núi cao hiểm trở. Ví dụ, nhận định 3 Quận như trên. Sau cuộc chiến với Nhà Tần của Thục Phán, Âu Lạc mất toàn bộ Hồ Nam, Mân Việt, phần lớn Quảng Đông, 1 phần Đông Bắc Quảng tây, phần lớn Quý Châu, miền đất giữa Hồ Nam và nước Việt - Câu Tiễn Cũ. Ngũ Lĩnh chính là một phần ranh giới. Tiếp tục suy luận để tìm Quốc đô Văn Lang trước thời Hùng Vương VI.