hoangnt
Hội viên-
Số nội dung
1909 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
6
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by hoangnt
-
Sử ghi Man hay Kinh Man thời nhà Thương đại khái bao gồm tộc Việt cổ đại. Trong giáp cốt văn cũng có chữ Việt (Việt tự粤 字), nó có quan hệ gì với tộc Việt khi cần nghiên cứu, nhưng rõ ràng là tộc Việt hoặc tiên nhân của họ cư trú rộng ở miền Nam TQ đã có văn hiến có thể chứng minh. Phạm vi phân bố của người Việt, có thuyết nói ở Giang Nam, có thuyết nói từ Cối Kê đến Giao Chỉ, có thuyết cho rằng bao gồm miền Nam TQ và Bắc Bộ VN, có thuyết cho rằng bao gồm cả các nước ở bán đảo Trung Ấn. Theo ý kiến nghiên cứu rộng rãi nhất thì địa bàn người Việt cổ đại là ở Giang Tô, Triết Giang, Giang Tây, Phúc Kiến, Đài Loan, Quảng Đông, Quảng Tây, An Huy, Hồ Nam TQ và Bắc Bộ VN. Biến thiên lịch sử và quan hệ với vương triều trung ương: Cuối Xuân Thu đến đầu Chiến Quốc, tộc Việt từng thiết lập Việt Quốc lớn mạnh tại vùng là Giang-Triết ngày nay, truyền 8 đời vua dài 160 năm, triều cống nhà Chu, tôn Chu thiên tử là “Cộng chủ”, Chu thiên tử cũng cho ngai vàng, phong cho là “phương bá”. Việt Quốc lúc đó liên minh với quốc gia ở Trung Nguyên, coi sóc vùng lớn Giang-Chuân, xưng là “Bá chủ”. Sau bị Sở diệt, từ đó phân tán, các con tranh vị, có người xưng Vương, có người xưng Quân, hoạt động ở vùng ven biển Giang Nam, dần dần phục tùng nước Sở. Sau Chiến Quốc, ngoài danh xưng Bách Việt còn có danh xưng Dương Việt, tức tộc Việt ở vùng Dương Châu. Dương Châu bao gồm Chuân Nam, hạ du Trường Giang và miền đông Lĩnh Nam, có lúc bao gồm toàn bộ Lĩnh Nam, ngày nay.Bởi vậy Dương Việt thực tế cũng chỉ là danh xưng chỉ người Việt nói chung ở giai đoạn từ Chiến Quốc đến Tần-Hán. Thời Tần danh xưng rộng chỉ dân tộc ở miền Nam TQ là tộc Việt, sử ghi người miền Bắc gọi là người Hồ, người miền Nam gọi là người Việt (“ Bắc phương Hồ, Nam phương Việt 北 方 胡,南 方 越” . Do sự phát triển và biến hóa của lịch sử, thời Hán sơ, người Việt đã hình thành vài bộ phận tương đối lớn như Đông Âu (Đông Hải), Mân Việt, Nam Việt, Tây Âu. Chứng tích lịch sử tên tộc, nơi cư trú và hoạt động càng có sự khác nhau rõ ràng. Đông Âu ở vùng Ôn Châu ngày nay thuộc nam Triết Giang; Mân Việt ở Phúc Châu Phúc Kiến; Nam Việt ở Quảng Đông sau mở đến Quảng Tây và phía nam; Tây Âu đại khái ở miền tây Quảng Đông, nam Quảng Tây và Vân Nam; Lạc Việt 骆 (雒)chủ yếu phân bố ở Bắc Bộ VN. Các bộ phận Việt này đều có trung tâm chính trị riêng, đều có quan hệ mật thiết với vương triều Hán, như quân chủ đời thứ nhất của Mân Việt là Vô Chư và quân chủ đời thứ nhất của Đông Hải là Diêu đều nhận phong hiệu của Hán triều. Hình như người Hồ là người Ấn Độ. Biên giới nước Việt cũ Nam giáp Hồ Tôn - phải chăng Hồ Tôn là nước Ấn độ chứ không phải Chiêm Thành. Như vậy Việt cũ bao phủ Cả Mã Lai, In đô... Anh em Sĩ Nhiếp làm quan coi quận, hùng trưởng một châu, ở lánh ngoài muôn dặm, uy tín không ai hơn. Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương thường có đến mấy mươi người; vợ cả, vợ lẽ đi xe che kín, bọn con em cưỡi ngựa dẫn quân theo hầu, người đương thời ai cũng quý trọng,
-
Lâu quá không quay lại chủ đề. Giả sử rằng khi hạt vật chất nhỏ nhất tan rã thì chúng sẽ trở lại một dạng tồn tại gọi là Khí - nó cũng là một loại vật chất và mang đặc trưng là các tương tác của âm dương ngũ hành và cũng là nguồn động lực tạo sự vận động của vũ trụ. Với giả định ở trên thì rõ ràng Khí cũng phải có các đặc trưng hay thuộc tính của nó, và vì nó là nhỏ nhất do vậy các đặc trưng của nó phải là các đặc trưng cơ bản nhất. Mặt khác, cũng từ nhận định Khí là động lực thúc đẩy sự hình thành và vận động của âm dương ngũ hành (vật chất) do vậy, để đảm bảo mối tương quan thì Khí cũng phải mang các thuộc tính của âm dương ngũ hành. Giả sử rằng vũ trụ sẽ tan rã trong một thời gian ở vô cùng nào đấy, thì chỉ còn lại là Khí. Vì Khí còn giữ thuộc tính âm dương ngũ hành cho nên vũ trụ lúc này không thể là Khí của Tiên thiên nữa mà phải là tình trạng đồng nhất Khí hay khắp vũ trụ chỉ có một thuộc tính của Khí. Vậy khi vũ trụ chỉ còn lại đồng nhất Khí thì Khí phải có một thuộc tính "Chung" trong tất cả âm dương ngũ hành hay là thuộc tính được gọi là "Thổ" vậy. Vòng vũ trụ lại tiếp tục. Tuy nhiên có câu hỏi là sau khi tan rã con người sẽ về đâu, nếu ta chứng minh rằng Linh hồn hay Trí tuệ là một dạng thuộc tính của Khí thì chúng phải chăng sẽ tồn tại mãi mãi? cho đến khi vũ trụ tan rã hoặc trái đất tan rã nếu không di dân đi đâu đó?
-
Đền Hùng Ba quả núi Nghĩa Lĩnh, núi Trọc và núi Vặn được gọi là vùng “Tam sơn cấm địa”, trong đó núi Nghĩa Lĩnh có đền Hùng tọa lạc. Ít ai biết rằng, các ngọn núi khu vực đền Hùng đã bị trấn yểm hết sức nặng nền. Các ngọn núi chính như núi Trọc, núi Vặn, núi Pheo... đã bị đục đường hầm xuyên vào trung tâm lòng mỗi quả núi, đồng thời đục thêm một đường hầm đứng từ tâm quả núi xuyên đứng lên đỉnh các ngọn núi này. Theo dân gian, thì trung Quốc đã thực hiện công việc này, thông qua giúp Việt Nam làm hầm chống Mỹ và chứa vũ khí, lương thực thời chiến. Chắc chắn, trong mỗi đường hầm đều có hệ thống trấn yểm ngay trong lòng núi. Hiện nay, đền thờ Mẫu Âu Cơ và Vua Lạc Long Quân đều nằm trên những ngọn núi bị đang trấn yểm. Đền thờ Mẫu Âu Cơ Đền thờ Tổ mẫu Âu Cơ được xây dựng trong thời gian từ năm 2001 đến năm 2004 trên núi Ốc Sơn (núi Vặn) với độ cao 171m so với mặt biển. Núi Vặn là một trong ba ngọn núi hợp thành “Tam sơn cấm địa”, những nơi lưu giữ những dấu tích của tổ tiên ta. Đền Mẫu Âu Cơ được xây dựng theo kiểu kiến trúc truyền thống với cột, xà, hoành, dui bằng gỗ lim, mái lợp ngói, mũi hài, tường bằng gạch Bát. Đều xây theo kiểu chữ Đinh, quay theo hướng Đông - Nam; bao gồm: đền chính, nhà tả vu, hữu vu, nhà bia, trụ biểu và tam quan. Đền chính có diện tích 137m2 gồm 2 tòa: tiền tế và hậu cung (Tiền đường 5 gian, hậu cung chuôi vồ 3 gian). Hậu cung là nơi đặt khám thờ, được sơn son thếp vàng, chạm trổ tinh xảo. Bên trong đặt tượng Mẫu Âu Cơ được đúc bằng Đồng, thể hiện được vẻ đẹp truyền thống của người Phụ nữ Việt Nam: thông minh, hiền dịu, phúc hậu, đoan trang; bên dưới tượng Mẫu có tượng cung nữ theo hầu. Trong hậu cung có bức đại tự “Vạn cổ anh linh“ (Muôn thuở anh linh). Hai bên đề hai câu đối, dịch nghĩa là: “Xa chàng nuôi trẻ linh thiêng tự cổ vẫn còn Hạnh phúc do dân công đức lưu truyền bất hủ”. Hàng năm, vào ngày mồng 7 tháng giêng âm lịch là ngày “Tiên giáng”; ngày 25 tháng Chạp là ngày “Tiên Thăng”, nhân dân tổ chức nghi lễ tưởng nhớ Tổ Mẫu Âu Cơ. Về thăm viếng Đền Hùng, thắp nén tâm nhang tri ân công đức các Vua Hùng, mỗi người chúng ta không thể không đến thăm viếng đền thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân và Đền Tổ Mẫu Âu Cơ với tâm thức và đạo hiếu của những người con dân đất Việt; để cha Rồng, mẹ Tiên mãi mãi là huyền thoại thiêng liêng, bất diệt trong tâm thức của mọi thế hệ người dân Việt Nam. Đền thờ Lạc Long Quân (Phú Thọ): Điểm mới nơi thờ tự tổ tiên của dân tộc Ngày 29/3/2009, tại Khu di tích lịch sử đền Hùng, UBND tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ khánh thành đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân. Đền được xây dựng nhằm tưởng nhớ công ơn của các bậc tiền nhân có công dựng nước và giữ nước. Đền thờ cha Lạc Long Quân nằm trong quần thể di tích lịch sử đền Hùng được khởi công xây dựng ngày 26/3/2007 tại đồi Sim, xã Chu Hóa, Việt Trì, Phú Thọ và khánh thành ngày 29/3/2009 đúng dịp lễ giỗ Tổ Hùng Vương năm Kỷ Sửu 2009. Sách Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên viết: “Lạc Long Quân tên húy là Sùng Lãm, lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người con trai, là tổ tiên của Bách Việt. Một hôm Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau chung hợp thật khó, bèn từ biệt nhau chia 50 người con theo cha xuống biển, 49 người theo mẹ lên núi, suy tôn người con cả làm vua nối nghiệp là Hùng Vương. Hùng Vương lên ngôi đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu, chia nước làm 15 bộ. Nơi vua ở là bộ Văn Lang, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, tướng văn gọi là Lạc hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng, các quan gọi là Bồ chính, đời đời cha truyền con nối gọi là Phụ đạo. Tương truyền đã truyền cho nhau 18 đời đều gọi là “Hùng Vương”... Đền thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân được đầu tư xây dựng mới đồng bộ, các hạng mục công trình kiến trúc, các họa tiết mô phỏng hoa văn trên trống đồng Đông Sơn. Kiến trúc đền Lạc Long Quân bao gồm: đền chính, cổng, trụ biểu, cổng biểu tượng, phương đình, nhà tả vu, hữu vu, lầu hoá vàng, các công trình phụ trợ và hạ tầng kỹ thuật được xây dựng trên diện tích 13,9ha, trong đó đền chính hình chữ đinh, rộng 210m2. Nội thất của đền bao gồm: cửa võng, hương án, giá chiêng, bát bửu, hoành phi, câu đối... được chạm khắc tinh xảo, sơn son thiếp vàng. Tượng Đức Tổ Lạc Long Quân bằng đồng nặng 1,5 tấn, cao 1,98m ở tư thế ngồi trên ngai, đặt trên bệ đá chạm khắc hoa văn theo mô-típ văn hóa Đông Sơn. Hai bên là hai pho tượng tướng lĩnh hầu cận (Lạc hầu, Lạc tướng) có chiều cao 1,80m ở tư thế đứng, mỗi pho nặng 0,5 tấn. Đến đền Hùng hôm nay, du khách không chỉ thắp hương tri ân công đức các vua Hùng mà còn được thăm viếng đền Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân và đền thờ Tổ mẫu Âu Cơ - một sự quy tụ các giá trị văn hóa tâm linh đầy ý nghĩa, thể hiện tâm thức và đạo hiếu của con dân đất Việt. * PHÚC LỘC THỌ MÃN ĐƯỜNG *
-
Trong tấu thư về triều, Cao Biền có nói các long mạch Việt Nam và cũng nói về một số mạch đã được trấn yểm như xây chùa lên trên vị trí đấy. Tham khảo một số bài viết về chùa. đình, đền có hiện trạng "Độc long nhãn" và "Nhị long nhãn", theo cá nhân thì chỉ có một giếng nước mà thôi, nằm bên phải nhìn từ trong ra. Nếu có hai giếng thì chứng tỏ đã bị trấn một cách đơn giản tức là đào thêm 1 giếng đối xứng. Để lấy lại linh khí cho chùa, đình, đền chỉ cần lấp cát tốt được đầm nén vào giếng bên trái là xong. Mục đích trấn yểm các công trình này là phá thế "Âm phù" của một dân tộc. Độc nhãn long' ở Cổ Loa thành vẫn là ẩn số? Nhiều cuộc khai quật đã được tiến hành nhưng chưa có lời giải đáp cho hiện tượng cùng một địa hình mà hai hố đất gần nhau ở Khu di tích thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) một có nước một không, nên niềm tin về con mắt của “độc long nhãn” trong truyền thuyết xưa càng được củng cố. Từ lúc được phát hiện tới nay, hai hố vẫn được cho là mắt rồng ở thành Cổ Loa (Đông Anh (Hà Nội), một vẫn đầy ắp nước bất kể mùa hạn hay mùa khô, một luôn khô cạn ngay cả những hôm trời mưa như trút. Cuộc tranh hùng của 9 con rồng “Hai mắt rồng” nằm ở khu vực đền Thượng - nơi tẩm cung của Thục phán An Dương Vương của Khu di tích Cổ Loa. Nhìn từ trên cao, đền Thượng dường như được đặt giữa trán rồng, phía trước có hai hố mắt, miệng là hồ bán nguyệt há ngậm viên ngọc - giếng nước nằm trong lòng hồ này. Truyền thuyết xưa kể rằng, thời An Dương Vương đã có một cuộc tranh hùng dữ dội của 9 con rồng - Cửu long tranh châu (chín con rồng tranh một hòn ngọc). Đây cũng chính là tiền thân của truyền thuyết về "độc nhãn long". Truyện rằng, khi An Dương Vương lệnh cho các thầy địa lý tìm khắp cõi Âu Lạc xem đâu có thế đất thịnh vượng để dựng kinh đô. Sau hàng tháng trời tìm kiếm, các thầy báo về có một nơi được coi là đỉnh của vùng tam giác châu thổ sông Hồng, là vị trí đắc địa bởi từ đây, có thể khống chế một vùng rộng lớn cả đồng bằng lẫn sơn địa. Đó chính là Cổ Loa. Khi quyết định rời đô từ Phong Châu (Lâm Thao - Phú Thọ) về, đoàn thuyền của vua chứng kiến cảnh chín con rồng quần thảo một hòn ngọc lớn. Vua cho đấy là điểm lành nên chọn đúng nơi mà chín con rồng quần thảo để xây chính điện - đền Thượng bây giờ. Trong cuộc giao long, một con rồng khỏe nhất chiếm lĩnh được hòn ngọc và ngậm vào mồm. Nhưng nó cũng bị hỏng một mắt sau cuộc chiến đó. Cũng có lời kể rằng, chính An Dương Vương đã dùng bảo kiếm của mình chọc thủng mắt rồng để quy phục bản tính hung dữ của nó. Sau đó, vua cho dựng chính điện trên đầu rồng. Kỳ lạ con mắt phải Thành Cổ Loa vốn tọa lạc trên nền địa chất khô và cứng vì thế phải đào sâu xuống khoảng 30-40m mới có nước. Thế nhưng, ở hai hố mắt trước cửa đền Thượng, với độ sâu chừng 2m, hố bên phải luôn đầy ắp nước là hiện tượng rất lạ. Trước đây, Ban quan lý khu di tích thành Cổ Loa cũng vài ba lần tiến hành việc nạo vét lòng hồ bán nguyệt và hố đất bên phải nhưng không thực hiện được bởi khi đào được vài chục phân đất gặp ngay một mạch nước ở giữa giếng ngọc phun lên dữ dội. Lý giải hiện tượng này, nhiều người đã đưa ra giả thuyết, người xưa khi xây dựng đền đã dựa vào địa thế địa hình thực tế. Việc tạo hai hố mắt trong khuôn viên của đền Thượng cũng tương tự. Hai hố mắt đó là có sẵn, chỉ việc khoét tạo hình cho hai hố đó cân xứng. Việc hố bên phải có nước, còn hố bên trái không có cũng rất tự nhiên, không hề có bàn tay can thiệp của con người. Lại có người cho rằng, có thể những thợ xây dựng đền xưa đã áp dụng một công nghệ nào đó để tạo, dẫn và cân bằng mực nước trong hố mắt phải với mực nước bên hồ bán nguyệt phía trước cửa đền… Tuy nhiên, những giả thuyết này vẫn chưa thực sự thuyết phục. Truyền thuyết về “rồng một mắt” càng có căn cứ khi gần đây các chuyên gia Việt Nam và Nhật Bản phối hợp tiến hành khai quật hố mắt bên phải, phát hiện một khối hình cầu màu đỏ giống quả cầu mây. Khối hình cầu này có đáy, tường bao quanh khum vào bên trong, có lỗ thông ra hai bên, phía trong “mắt” phải rồng có một lò nung nhỏ ở chính giữa. Niên đại của “con ngươi” mắt rồng đến nay chưa được xác định. Lạ kỳ hơn là dù đào sâu xuống bên dưới thì đoàn khảo cổ cũng không tìm được bất kỳ mạch nước hay “công nghệ” dẫn nước nào vào bên trong con mắt này. Chính vì những lý do trên mà hiện nay, người dân vẫn tin rằng đây chính là đôi mắt của “độc long nhãn” và hằng ngày vẫn có nhiều người đến đây lấy nước về chữa bệnh và cầu may. Bảo Bình * PHÚC LỘC THỌ MÃN ĐƯỜNG *
-
Tử vi chỉ có 108 sao chuẩn, trong đó 14 chính tinh mà thôi.
-
Về Cao Biền: chúng ta cũng rõ, trong bất kỳ cuốn sử nào cũng nói về các nhân vật xây thành Đại La (tạm chấp nhận) trước Cao Biền như Việt Nam Sử Lược, An Nam Chí Lược,... Về Sĩ Nhiếp: Triết gia Kim Định viết hàng loạt các tác phẩm triết về sử học rất tuyệt vời nhưng... chả dính dáng gì tới "Nam Giao Học Tổ" cả, thậm chí các bậc Thánh nào đấy... cũng chưa chắc đã vinh dự được nhận lĩnh vị trí này. Tìm mãi không thấy trước tác nào của Sĩ Nhiếp cả, do vậy cũng tạm dừng ở đây. Chuyển qua cuốn An Nam Chí Lược của Lê Tắc - nhân vật đã được nhiều người viết rồi, chỉ bàn về nguồn gốc có phải là của Lê Tắc hay không mà thôi?. Tôi nhận thấy nội dung An Nam Chí Lược như sau: - Cuốn sách được các học giả? Trung Hoa khen ngợi quá trời. - Theo nội dung thì bản gốc có 20 quyển, nhưng hiện nay chỉ còn 19 - đã bị cố ý cắt mất, điều này là rõ. - Cấu trúc trình bày các quyển theo nội dung lủng củng, đọc không suôn sẻ - hình như kiểu Tàu. - Nội dung về nhân vật Tàu cai trị nước ta rất nhiều, rỏ ràng hơn cả các cuốn sử Ta - khả năng thông tin này có từ Tàu. - Có nhiều các thư từ giao dịch giữa Ta - Tàu trong các thời - chứng tỏ hoặc có từ triều đình Ta hoặc Tàu. - Thậm chí có cả Thư của Triệu Đà - trong khi đó sử ta đã thành truyền thuyết - rõ ràng phải lấy từ Tàu. - Bài thơ Đồ Chí Ca của Lê Tắc, theo thông tin là thần đồng - thì quá tệ. - Tự Sử của Lê Tắc bị cắt nội dung, không rõ ẩn ý gì. Đoạn cuối bài Tự Sự sai dữ kiện lịch sử về Toa Đô, đã bị chém đầu năm 1285 - Kháng Nguyên Mông lần 2 sao còn sống tới 1293 đề cùng Lê Tắc đi Chiết Giang, Hàng Châu - đoạn này bị cắt. - Thông tin cá nhân Lê Tắc không rõ ràng: ta có thể nhận định, 1285 Lê Tắc khoảng 25 tuổi thì cuối cuốn sách 1340 (thông tin các bài tựa xa nhất...) như vậy Lê Tắc viết xong cuốn sách khoảng 80 tuổi - điều này logic không. Nhận thấy: - Cuốn sách cho thông tin các nhân vật Tàu nhiều. - Các thư từ qua lại giữa 2 triều. * PHÚC LỘC THỌ MÃN ĐƯỜNG *
-
Lê Văn Hưu (chữ Hán: 黎文休;1230-1322) là nhà sử học đời nhà Trần, tác giả bộ Đại Việt sử ký, bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam. Bộ sách này không còn nhưng nhờ nó mà sử gia Ngô Sĩ Liên đã dựa vào để soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư. Đóng góp to lớn mà Ngô Sĩ Liên còn để lại cho đời sau chính là bộ Đại Việt sử ký toàn thư mà ông đã biên soạn theo lệnh nhà vua, được bắt đầu biên soạn vào năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 10 (1479) đời Lê Thánh Tông[5]. Bộ sử gồm 15 quyển[5], chia thành hai phần: Lĩnh Nam chích quái (chữ Hán: 嶺南摭怪; có nghĩa là "Chọn lựa những chuyện quái dị ở đất Lĩnh Nam". Có sách chép là Lĩnh Nam trích quái[1]), là một tập hợp các truyền thuyết và cổ tích dân gian Việt Nam được biên soạn vào khoảng cuối đời nhà Trần. Đại Nam quốc sử diễn ca (chữ Nho: 大南國史演歌) là một tác phẩm văn vần bằng chữ Nôm sáng tác vào khoảng triều Tự Đức thời nhà Nguyễn. Việc dựa trên tư liệu lịch sử trước làm nền là chuyện tất nhiên - tại sao bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu lại không còn?. Tôi sẽ phân tích các quan hệ về Cao Biền sau, tuy nhiên "Cao thủ" là dùng tướng Cao Lỗ cùng họ làm câu chuyện huyền thoại. Thành Đại La và thành Cổ Loa khác nhau về vị thế khi phải khẳng định trong chiếu dời đô. Khi viết về Đại La, rõ ràng phải nghiên cứu cả 1 quá trình xây thành trước đấy và câu cú với nội dung nâng cao vị thế Việt trên chính trường. Chú ý tên vùng, miền nước trùng hoàn toàn trùng hầu hết vào bất cứ nơi nào của Tàu. Chúng ta có thể tôn thờ anh hùng, thần thánh ngoài biên giới nước ta. Vua Thuấn chắc chắn không phải là vua nào đó của Văn Lang - điều này là chắc chắn. Dĩ nhiên Ông không thể mở rộng và cai quản. Cao Biền về Bắc nhưng quê ở Việt Nam?, vợ thì ở lại (trái phong tục Tàu) dạy dân dệt lụa, thành Thành Hoàng?, mâu thuẫn. Triều Đường được nhà Lý nghiên cứu rất kỹ càng về tế hưng vong để chấn hưng quốc gia. Triều Đường có thể dựng lên của người Bách Việt chứ không có nghĩa triều Đường nghĩ về gốc Bách Việt và "nhớ về cội nguồn" Việt Nam. Một tài liệu khác cũng xác định Cao Biền là người Bách Việt là thần tích đình Vạn Phúc (Hà Nội). Theo thần tích này thì Cao Biền là “người Quảng Tín, Thương Ngô”, lấy vợ là Ả Lã Đê Nương, người Tuyên Quang. Sau khi dẹp được giặc Nam Chiếu, Cao Biền tự cho mình có công cao, xưng là Quốc vương thiên tử, phong cho Ả Lã Đê Nương là Nga Hoàng cung phi. Một phả nào đấy không thể giải thích các mối quan hệ tổng thể. Lĩnh Nam Chích Quái thời Trần + Đại Việt Sử Ký thời trần +...: dùng sử quan trọng hơn truyền thuyết cụ thể như về Cao Biền. Đại Nam quốc sử diễn ca quá gần đây, dùng tham khảo chứ không nên dùng một cách chắc chắn (toàn bộ sử bị phá hủy....?). Vì dọc dải đất Việt Nam hay Trung Hoa nếu lấy tâm vùng đất thì phần lớn vùng Biển nằm phía Đông. Từ đây cũng phải xem lại "AN NAM CHÍ LƯỢC" có phải của Mr. Lê Tắc hay không hay một vị TÀU nào đấy gây ức chế về mặt tư tưởng, khi thông tin cá nhân Lê Tắc hết sức mù mờ - chúng ta cũng rõ vào thời Lý Trần chắc chắn sách sử được đề cao, đồng thời sách sử thời này "mất sạch". Về Sĩ Nhiếp: văn hóa Việt đã suy tàn thời Sĩ Nhiếp chưa? mà gọi "Nam Giao Học Tổ" nếu rồi thì vấn đề khác. Truyện Lĩnh Nam chích quái cách < nghìn năm? liên kết tới Cao Biền? và các phân tích ở các bài trước. Nếu dùng thuyết âm dương ngũ hành: Cao Biền trấn yểm một quốc gia thì phải giải tỏa tư tưởng dân tộc đó, nếu không khi "lực vũ trụ từ tư tưởng dân tộc bị yểm" chuyển hướng theo quy luật vận động vũ trụ sẽ tương tác ngược trở lại, chết cả họ. Một cao thủ siêu đẳng - tuy nhiên vì Vũ trụ là Cái Một nên bất kể vấn đề gì sẽ không thoát Mắt Trời. * PHÚC LỘC THỌ MÃN ĐƯỜNG *
-
Cao Biền là tướng Lạc Diêu . Bách Việt trùng cửu . Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn viết: Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Cao Vương ở đây được cho là Cao Biền, viên quan đô hộ dưới thời nhà Đường, người đã đuổi quân Nam Chiếu ra khỏi An Nam đô hộ phủ và xây thành Đại La. Nhưng tại sao Chiếu dời đô lại gọi quan đô hộ nhà Đường là Vương (Cao Vương) trong một văn bản quan trọng, mang tính dời đô lập quốc như vậy? Cao Biền là tướng giặc ngoại xâm hay là một vị quan cai trị chính thống, có công với người Việt? Liệu Cao Vương ở đây là Cao Biền hay … Cao Lỗ, người đã xây thành Cổ Loa? Lĩnh Nam chích quái, truyện Tướng quân họ Cao ở Vũ Ninh có kể việc thần Cao Lỗ, tướng của An Dương Vương, đã hiển linh phù trợ Cao Biền chống giặc Nam Chiếu. Cao Biền sau khi gặp thần, tỉnh mộng có bài thơ: Bách Việt điện khu vũ, Nhất nhung đình sơn xuyên. Thần linh năng trợ thuận, Đường ra cảnh tộ diên. Dịch: Bách Việt vững phong cương, Ba quân dẹp chiến trường. Thần tiên phù chính nghĩa, Muôn năm vững triều Đường. Theo bài thơ này thì triều Đường là một triều đại của người Bách Việt (?!). Cao Biền theo Cựu Đường thư là người Bột Hải. Bột Hải được “ghi chú” là ở Mãn Châu, miền Bắc Trung Quốc. Có thật vậy không? Cao Biền và Cao Lỗ là 2 người cùng họ, lại cùng xây thành Cổ Loa – Đại La. Vì vậy mới có chuyện thần Cao Lỗ phù trợ cho Cao Biền. Họ Cao theo Bách gia tính là một họ cổ của Trung Hoa từ thời Chu, có xuất xứ từ vùng Bột Hải. Nhưng không thể có chuyện Cao Lỗ là người Bột Hải ở tận Mãn Châu được. Trái lại, trong đền thờ họ Cao ở Nho Lâm – Diễn Thọ (Nghệ An) thì họ Cao phát tích từ “Bột Hải triều Nam”. Bột Hải triều Nam hay Bát Hải Động Đình, chính là biển Đông. Bát là số 8, con số chỉ phương Đông. Cao Lỗ và Cao Biền đều là người Việt chính cống, quê gốc ở vùng quanh biển Đông Việt Nam. Một dẫn chứng khác để khẳng định vị trí Bột Hải trong cổ sử là đền Đức Thánh Cả ở Thái Đường (nay thuộc xã Thái Bình - Ứng Hòa – Hà Nội). Đền thờ một vị thần thời Hùng Vương, đã cùng Phù Đổng thiên vương giúp vua Hùng đánh dẹp giặc Ân ở vùng… “châu Hoan, châu Ái”. Sau khi thần hóa được phong là Bột Hải đại vương và thờ ở Thái Đường. Thật khó hiểu, giặc Ân nào ở vùng Thanh Nghệ? Châu Hoan châu Ái là vùng đất ven biển Đông nên Bột Hải phải là biển Đông, chứ không thể ở tận Mãn Châu, nơi mà thời nhà Ân người Trung Hoa còn chưa hề đặt chân tới. Câu đối trong đền Đức Thánh Cả ở Thái Đường: Đệ lục đại Hùng Vương thần tướng huy đao kình khô ngạc đoạn Kỷ thiên thu Đông Hải Ân binh tuyệt mệnh kích chiết chu trầm. Dịch: Hùng Vương thứ sáu triều xưa, thần tướng vung đao, kình đứt sấu đoạn Biển Đông nghìn thu thủa trước, quân Ân hết số, kích gãy thuyền chìm. Từ “Đông Hải” trong vế đối chỉ rõ Bột Hải đại vương là người cầm quân đánh thủy binh của giặc Ân ở vùng biển Đông. Bột Hải chính là chỉ biển Đông. Bột Hải đại vương đóng quân ở Đại Đường Châu (Thái Đường), là nơi nay có đền thờ thần trên bờ sông Đáy. Sông Đáy như vậy thời Hùng Vương có tên là sông Đại Đường. Phải chăng đây là con sông chảy qua đất Đường thời Nghiêu Thuấn? Một tài liệu khác cũng xác định Cao Biền là người Bách Việt là thần tích đình Vạn Phúc (Hà Nội). Theo thần tích này thì Cao Biền là “người Quảng Tín, Thương Ngô”, lấy vợ là Ả Lã Đê Nương, người Tuyên Quang. Sau khi dẹp được giặc Nam Chiếu, Cao Biền tự cho mình có công cao, xưng là Quốc vương thiên tử, phong cho Ả Lã Đê Nương là Nga Hoàng cung phi. Quốc vương thiên tử có thể là tam sao thất bản của tên Lạc Vương: - Lạc – Nác – Nước – Quốc. Còn tên Nga Hoàng cung phi thì rõ ràng lấy theo tên vị vương phi của đế Thuấn. Ả Lã Đê Nương sau khi Cao Biền về Bắc đã ở lại làng Vạn Phúc, mở mang nghề tơ lụa cho người dân trong vùng. Do vậy làng lụa Vạn Phúc Hà Đông tới nay thờ bà Quốc vương thiên tử Nga Hoàng đại vương làm thành hoàng làng. Lạc Vương hay Hùng Quốc Vương cũng có thể là tên của Đế Thuấn trong cổ sử. Cao Biền như vậy coi mình tiếp nối công đức của Lạc Vương Đế Thuấn, phong cho vợ là Nga Hoàng. Điều này cũng cho thấy Đế Thuấn là vị vua đã mở cõi Lạc Việt xưa. Trong thần tích Việt ngoài Cao Biền còn có Lý Thiên Bảo được gọi là Quốc vương thiên tử, như ở các khu Dịch Vọng, Mỹ Đình, Mễ Trì. Như trên, có thể Lý Thiên Bảo đã được gọi là Lạc Vương. Còn Lý Phật Tử ở vùng này được thờ với tên Diêm La thiên tử. Có thể: - Diêm La thiên tử = Diêm Vương = Quỷ Vương = Tây Vương = Thục Vương hay Chiêu Vương. Lý Phật Tử nối ngôi Lý Thiên Bảo, như vậy hợp thành tên Chiêu Lạc vương hay Chiêu Liệt hoàng đế, tức là danh xưng của Lưu Bị nước Thục thời Tam Quốc. Sử cũ chép (Đại Nam quốc sử diễn ca): Cao Biền là tướng lạc điêu, Tài danh sớm đã dự vào giản tri. Và giải thích rằng Cao Biền có tên Lạc Điêu ngự sử vì… có tài bắn cung, một phát trúng 2 con chim điêu (xạ lạc song điêu). Đây là chép sử kiểu suy diễn, giống như giải thích cụm từ “Diên Chỉ chi Ngung” là “cõi đất diều rơi” vậy... Kiểu này khéo phải gọi Cao Biền là “Anh hùng xạ điêu” mất. Ở Ninh Bình còn có chuyện Cao Biền cưỡi diều bay qua đây bị một đạo sĩ địa phương ra tay bắn gãy cánh, rơi xuống thành núi Cánh Diều…Nay với liên hệ Quốc vương thiên tử = Lạc Vương, thì danh hiệu Lạc Điêu của Cao Biền chính xác phải là Lạc Diêu. Lạc là đất Lạc Việt. Điêu, hay Diêu, thực ra là từ Giao. Chữ Diêu này cũng gặp trong tên Diêu Trọng Hóa của Đế Thuấn. Lạc Diêu hay Lạc Giao chỉ rõ vùng Giao Chỉ Lạc Việt hoặc là cõi Nam Giao, nơi Cao Biền, cũng như Đế Thuấn, dựng nghiệp và cai quản. Lạc Diêu còn có thể là Lạc Diên hay Lạc Dương, là đô thành của nhà Đông Chu. Đây chính là vùng Cổ Loa của Cao Lỗ, hay Đại La do Cao Biền xây đắp. Đối với các vị tiền nhân có nguồn gốc “phương Bắc” như Triệu Đà và Sĩ Nhiếp, chính sử Việt hết sức lúng túng trong việc nhận định là Vương hay là Giặc. Lạc Diêu Cao Biền cũng vậy. Chỗ thì ca ngợi như một người có công đánh đuổi giặc Nam Chiếu, dựng thành Đại La. Chỗ thì coi như một kẻ thâm độc, một thầy phù thủy đã trấn yểm tinh khí An Nam. Nay có thể thấy rõ, Cao Biền là người Việt chính cống, quê gốc ở Bột Hải – Biển Đông, là tướng cai quản vùng đất Lạc Việt – Giao Chỉ thời Đường. Lạc Diêu cũng là vùng đất được khai mở bởi Đế Thuấn từ thời cổ sử. * PHÚC LỘC THỌ MÃN ĐƯỜNG *
-
Thành Đại La ban đầu do Trương Bá Nghi cho đắp 767, sau tới Triệu Xương gia cố, Trương Chu bổ sung và Cao Biền mở rộng. Thời Lý tài liệu lịch sử, văn hóa... vẫn còn đầy đủ, do vậy việc hiểu rõ Cao Biền là ai rất đơn giản. Ngoại trừ, cho thời giặc Minh xâm chiếm, chúng phá hủy hầu như toàn bộ nền văn hóa việt: đố, phá, đập bỏ... cái hay thì đem về Tàu sử dụng. Do vậy, các loại văn, thơ, truyện... của Tàu cho tới nay cũng có thể trước đó là của ta không chừng. Quay lại thời Sĩ Nhiếp (137-226): từ phân tích trên, dễ dàng thấy thời kỳ này nền văn hóa Việt vẫn còn đậm đặc so với thời Lý (khoảng 800 năm sau) cho nên Mr. Sĩ Nhiếp được phong là Nam Giao Học Tổ đúng là hết sức vớ vẩn. Ngoài ra, theo thần phả Hà Đông, Cao Biền có người vợ, người Bắc sang Việt, truyền nghề dệt lụa cho dân và trở thành Bà Tổ dệt lụa Hà Đông, điều này có khác gì đả phá Thánh Mẫu Thượng Ngàn, là Bà Tổ dạy nghề dệt lụa của người Việt?. Thật là củ chuối. Báo cáo của Cao Biền về Long mạch của Việt Nam Cao Biền được vua Đường Trung Tông phong làm An Nam Tiết Độ Sứ, sang đô hộ nước ta. Cao Biền là 1 nhân vật rất giỏi về khoa địa lý nên trước khi đi sang nước ta nhậm chức, vua Đường Trung Tông đòi vào triều ủy thác sứ mệnh cho Cao Biền phải tìm các nơi thủy tú sơn kỳ trên đất nước ta, nơi nào có Long Mạch lớn, có huyệt kết tốt thì phải yểm phá, và lập bản tấu thư về cho vua Đường Trung Tông biết. Sau khi sang nước ta, Cao Biền vận dụng hết khả năng và thời gian đi khắp các nơi để tầm long điểm huyệt. Chính Cao Biền cũng không ngờ trên 1 đất nước nhỏ bé như nước ta lại có nhiều Long Mạch lưu tụ và khí thế sông núi ưu tú đến như vậy. Nên Cao Biền không viết tấu thư mà viết hẳn 1 cuốn sách tựa đề là “Cao Biền tấu thư địa lý kiểu tự” gởi về tấu trình. Mặt khác Cao Biền lại tìm cách trấn yểm và phá hủy những Long Mạch lớn, phát vương tướng. Xin trích 1 số đoạn trong sách này cho các quý vị tham khảo:” Giao Châu Đô hộ Sứ, thần Cao Biền cẩn tấu vi bản châu địa mạch thế hình thế sự, thần hạnh phát dư sinh thao tỵ hà những, thượng tự thâm sơn, hạ hạ chi đại hải, ngưỡng quan phủ sát, phát tận chân cơ, ký tự thiên hữu, cảm bất khánh kiệt sở kiến văn, thượng tự tự đế vương, vương công, công hầu, vương phi, thứ thần đồng, tú tài, vị chi thị phủ, phục khất phủ lãm giảo quan chi khí, kiến văn cụ lục. HÀ ĐÔNG THANH OAI: _ Đệ nhất: THANH OAI phong Ấp trung Thanh Uy, hình thế tối kỳ Thủy lưu tứ vượng, án khởi tam qui Mạch tòng hữu kết, khí định tả y Thần đồng tiền lập, quỷ xứ hậu tỳ Khôi khoa tảo chiếm, phúc lộc vĩnh tuy Tu phong mạch tận, thừa tự vô nhi. _ Đệ nhị : CAO XÁ phong Thanh Oai Cao Xá, chân vi quý long Thủy khuê tùy mạch, bình dương lai tung Hoa khai hữu hổ, tinh hiện tả long Sơn thủy trù mật, khí thế sung giong Hà tu hợp hải, ngưu giác loan cung Chủ khách hoàn mỹ, tả hữu vô tòng Hoa tâm khả hạ, thế xuất anh hùng Văn khôi hoa giáp, võ tổng binh nhung Phú quý thọ khảo, kiêm hữu kỳ công. ……..” => Giao Châu Đô hộ Sứ, thần Cao Biền kính cẩn tâu: Bản châu địa thế như vầy, thần nguyện đem hết kiếp sống thừa, từ tận núi cao ra đến biển cả khảo nghiệm để biết các cuộc đất phát lớn từ vương tôn công hầu, đến thần đồng, tú tài, khoa đệ, giàu sang phú quý mọi thứ… làm bản tấu ca dâng lên tường tận HÀ ĐÔNG THANH OAI : 1/. Cuộc đất Thanh Oai: Trong ấp Thanh Oai, hình thế rất lạ Thủy vượng 4 phương, án phát tam qui mạch kết bên hữu, khí dựng phía tả Thần đồng đứng trước, quý sứ nối sau Bảng vàng sớm chiếm, phúc lộc dồi dào Nên phòng mạch tận, không con nối dòng. 2/. Cuộc đất Cao Xá : Thanh Oai Cao Xá, thật có quý địa Nước khe theo mạch, về nơi đất bằng Hoa nở bên Bạch Hổ, sao hiện bên Thanh Long Sơn thủy dồi dào, khí thế sung mãn Cần gì hợp biểu, ngưu giác loan cung Chủ khách đều tốt, tả hữu 1 lòng Lòng hoa rộng mở, thế phát anh hùng Văn chiếm đầu bảng, võ chiếm nguyên nhung Sống lâu phú quý, lập nhiều kỳ công. …..” Theo quyển “Tấu thư địa lý kiểu tự” Cao Biền ghi tất cả là 632 huyệt chính, và 1517 huyệt bàng trên khắp các tỉnh như: _ Hà Đông : 81 chính - 246 bàng _ Sơn Tây : 36 chính - 85 bàng _ Vĩnh yên Phú Yên 65 155 Phú Thọ _ Hải Dương Hưng Yên 183 483 Kiến An _ Gia Lâm 134 223 Bắc Ninh Đáp Cầu Bắc Giang Lạng Sơn _ Hà Nam Nam Định 133 325 thái Bình Ninh Bình Theo thống kê trên, cũng đủ thấy công phu tầm long điểm huyệt và trấn yểm của Cao Biền đến bực nào rồi. Các truyền thuyết về Cao Biền còn lưu lại rất nhiều trong dân gian VN ta. Như ở Phú Yên, tương truyền có mả Cao Biền ở đó, đấy là 1 độn cát nơi chân núi dưới biển. Độn cát không lớn lắm, nhưng không bao giờ san bằng được vì 4 mùa gió cát vun lên. Dân trong vùng có câu phong dao: Ngó lên hòn núi cả thấy mả Cao Biền Thấy đôi chim nhạn đang chuyền nhành mai. Theo truyền thuyết thì từ thuở xa xưa, Cao Biền đã vun biểu tượng mả để trấn yểm dân VN. Vì thuật địa lý giỏi nên ông ta đã tìm 1 nơi 4 mùa cát vun để ngôi mả đó không bị mất đi. Trong quyển “Địa dư bình Định” của ông Bùi Văn Lăng viết từ năm 1930 cũng có đề cập đến di tích Cao Biền như sau: “Dọc theo đường QL số 1 chạy ra đến Phù Cát có đá Cao Biền. Đó là 1 cái thẻ thời xưa Cao Biền trấn yểm. Thẻ ấy bằng đá và chôn rất sâu. Thuở xưa dân làng đã có nhiều lần thuê voi về nhổ, nhưng nhổ không lên”. Ở Phù Mỹ, đường đi Đề Gi có 1 cụm núi nhỏ, cách đó không xa, lại có 1 hòn đá lớn nổi lên rất ngộ nghĩnh. Theo truyền thuyết thì đó là nơi Cao Biền đã dùng phép trấn yểm thuở xưa. Cao Biền bị giết sau khi về lại Tàu là đúng rồi - vua Tàu tin phong thủy dĩ nhiên sử dụng xong thì họ xử lý ngay (luật chính trị). Bản Tấu thư trên khi vào tay quân ta chắc chắn là không đủ, những nơi huyệt chính không ghi rõ và chắc chắn những huyệt đã được Biền yểm sẽ bí mật. Theo câu chuyện Thần sông Tô Lịch thì chắc chắn Biền có yểm trong thành Đại La - Thăng Long bây giờ. Ta không rõ Nhà Lý - Trần đã xử lý chưa?, và sau đó là nhà Lê. Theo các bài viết của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, thì nhà Thanh cũng đã trấn yểm ở trong Miền Nam nước ta như vùng Châu Đốc, Bà Rịa Vũng Tàu... và trong những năm qua họ tiếp tục tại hồ Tuyền Lâm - Đà Lạt... Kinh khủng thật - không có các Phật, Thánh, Thần, Tiên của nước ta tính toán - phòng bị từ trước thì TA đứt từ lâu rồi. * PHÚC LỘC THỌ MÃN ĐƯỜNG *
-
Đi Tì Đi Tìm Dấu Vết Cột Đồng Mã Viện Cao Nguyên Lộc 13 tháng 11 năm 2008 trích 1 phần Đào Duy Anh khởi đầu đề mục 'Les Colonnes de Bronze de Ma Vien' trong tập san Bulletin des Amis du Vieux Hue số tháng 10 và 11 năm 1943 với nhận xét như sau: 'Cột đồng Mã Viện luôn là một bí ẩn lịch sử mà mãi đến nay vẫn chưa hề được sáng tỏ.' Ông nêu ra nghi vấn phải chăng cột đồng Mã Viện thực sự hiện hữu? Và nếu ta không tìm thấy dấu vết nào liên quan về chúng vậy biết tìm chúng nơi đâu? Theo An-Nam Chí Lược của Lê Tắc (đầu thế kỷ thứ 14), bộ sử lược lâu đời nhất của nước ta có đề cập đến di tích này, thì thuở trước ở vùng hang động Cổ Sâm thuộc Khâm Châu có những cột đồng do Mã Viện dựng nên. Sang đến thế kỷ thứ 19, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục cũng nhắc lại lời hăm dọa trên của Mã Viện. Tuy nhiên sách sử Tàu thì khác, cả Hậu Hán Thư (chương nói về tiểu sử của Mã Viện) lẫn Hậu Hán Ký đều không hề nhắc đến việc Mã Viện cho dựng những cây trụ đồng ở nước Nam. Dựa theo đó, nhà Hán học lừng danh Henri Maspéro trong tập XVIII, số 3 năm 1918 của tập san Bulletin de l'EFEO (Trường Viễn Đông Bác Cổ), trong phần biên khảo về cuộc viễn chinh của Mã Viện đã không hề nhắc đến những cây cột đồng Mã Viện mà cũng chẳng có lời phủ nhận về sự hiện hữu của chúng. Về sau, Nguyễn Văn Tố, làm phụ tá cho Viễn Đông Bác Cổ, trong Tri Tân số 14 phát hành ngày 12 tháng 9 năm 1941 đã thu thập được một số tài liệu từ cả Việt lẫn Hán về cột đồng Mã Viện và đưa ra nhiều thắc mắc nhưng bấy giờ ông cũng không giúp làm sáng tỏ gì hơn về nghi vấn nêu trên. Quảng Châu Ký (thế kỷ thứ 4 hoặc 5) có đề cập đến chúng và cho rằng Mã Viện đã cho dựng lên những cột đồng là theo truyền thống đã có từ thuở xa xưa. Tuy nhiên, trước Quảng Châu Ký, Trương Bột trong Ngô Lục (đầu thế kỷ thứ 4) có bàn đến những cột đồng nhưng lại không nhắc đến Mã Viện như sau: 'Ở Tượng Lâm nơi vùng biển có một cù lao nhỏ nơi người ta khai thác được nhiều vàng. Nếu đi chừng 30 lý từ Bắc xuống Nam sẽ đến một vương quốc có tên Tây Thuộc (còn được gọi là Tây Đồ). Cư dân ở đây đặt tên như vậy để nhắc nhở họ thuộc Hán tộc. Tại đây có những cột đồng mà người ta truyền rằng để đánh dấu ranh giới của nhà Hán.' Thủy Kinh Chú (cuối thế kỷ thứ 6) cũng đề cập đến truyền thống dựng cột: 'Mã Văn Uyên (bút hiệu của Mã Viện) có dựng những kim tiêu để đánh dấu biên giới phía nam của nhà Hán.' Du Ích Kỳ và Hàn Khang Bá cũng góp thêm vào: 'Mã Văn Uyên cho dựng hai cột đồng ở bắc ngạn của Lâm Ấp và cho định cư ở đấy chừng mươi gia đình binh sĩ mà không ảnh hưởng gì đến đời sống của cư dân Thọ Linh ở nam ngạn nơi nhìn qua phía những cột đồng. Tất cả những gia đình mới đến định cư này đều thuộc Mã tộc, họ chỉ cưới gả với nhau trong phạm vi tộc họ. Ngày nay ở nơi đây có chừng 200 nóc gia. Người Giao Chỉ coi họ như những người ngoại quốc sống lưu vong nên mới gọi những người Mã tộc này là Mã Lưu, ngôn ngữ và tập quán ăn uống của họ đều theo lối người Hoa. Nhưng rồi thời gian biến cải vũng nên đồi, núi và sông đều đổi thay, những cột đồng rồi ra đã bị vùi dưới biển sâu, người đời khó tìm thấy lại dấu tích ngày trước.' Trong lịch sử nước Tàu, việc dựng cột để đánh dấu một cuộc viễn chinh là chuyện thường thấy. Sau Mã Viện, những tướng Tàu khác như Hà Lý Trinh, Trương Chu và Mã Tống thuộc đời Đường còn có Mã Hy đời Hậu Tấn cũng dựng cột đồng nơi những xứ ở phía Nam. Theo Đào Duy Anh, chừng nào chúng ta chưa có chứng cớ rõ ràng về việc dựng cột đồng Mã Viện chừng đó chúng ta chưa có lý do phủ nhận điều không thể chối cãi được. Chúng ta phải công nhận về sự hiện hữu của chúng cho đến khi chúng ta có thể chứng minh ngược lại, và hãy thử tìm xem chúng ở đâu. Bản đồ Xứ Đàng Ngoài và Trung Việt. Courtesy of BAVH Trong Nam Phong Tạp Chí số 127 năm thứ 12, ở phần trang tiếng Hoa, một tác giả vô danh đã viết một đề mục bênh vực lập luận về sự hiện hữu của cột đồng Mã Viện. Người ấy phản bác rằng một số tác giả đã dựa vào sự không nhắc đến cột đồng trong Hậu Hán Thư nơi phần tiểu sử của Mã Viện mà phủ nhận sự hiện hữu của chúng; tác giả vô danh cho rằng lý luận như vậy là không công minh. Theo tác giả, Mã Viện là người háo danh, ưa lưu lại hậu thế về cái chiến tích hiển hách của mình bằng cách cho dựng những cột đồng. Nếu Hán Thư với phần tiểu sử của Mã Viện không nhắc nhở gì đến chúng thì hoặc do bởi Mã Viện coi việc ấy chỉ là một thành quả cá nhân, không có gì hệ trọng hoặc do các nhà viết sử ấy đã bỏ sót. Nhà Tấn lên trị vì không mấy lâu sau nhà Đông Hán, trong Tấn Thư có nói rõ về chuyện dựng cột đồng. Ngoài ra, dưới đời nhà Đường, Mã Tống khi làm Đô hộ nước ta cũng có dựng những cột đồng trên chốn xưa (?) để ghi khắc mối liên hệ với Mã Viện. Tác giả vô danh kết luận rằng dựa vào những sự kiện nêu trên ta có thể kết luận rằng những cột đồng là thực sự có thật. Ngược lại, chẳng lẽ ngày xưa có kẻ phịa ra truyền thuyết ấy để phỉ báng bao thế hệ hậu duệ ngây thơ cả tin. Tác giả đoan chắc đây không phải là một huyền thoại. Vậy những cột đồng kia tìm đâu thấy? Ý kiến của các tác giả trong cổ thư Việt lẫn Hán đều trái ngược nhau, ba hồi thì cho là ở Quảng Đông, trên lãnh thổ nước Tàu, ba hồi thì cho là ở Phú Yên trong vùng đất cổ của dân tộc Chiêm Thành. Theo Lĩnh Ngoại Đại Đáp (đời Đường) và An Nam Chí Lược như đã đề cập ở phần trên thì những cột này được dựng ở Khâm Châu, trong vùng hang động Cổ Sâm. Dưới thời Nguyên Hòa đời Đường (806-820), Đô hộ Mã Tống có dựng trên núi Phân Mao ở Khâm Châu những cột đồng, cho rằng phỏng theo y như của tiền nhân. Trái lại theo Tân Đường Thư cũng như theo dã sử ở nước ta thì những cột đồng Mã Viện được tìm thấy trên ngọn núi có tên gọi là Núi Đá Bia hay Ngũ đồng Trụ sơn nằm ở nam ngạn sông Đà Lang ( Đà Rằng) thuộc tỉnh Phú Yên. Giả thuyết này khó thể chấp nhận được vì cột đá duy nhất tìm thấy trên núi ấy lại hoàn toàn do thiên nhiên mà có. Khác với trên, sách Lĩnh Biểu Lục Dị kể rằng Vy Công Cán, Thứ sử Ái Châu tìm thấy những cột đồng trong lãnh địa mình, muốn đem phát mại để sinh lợi riêng tư. Dân chúng dâng đơn khiếu nại lên Tổng đốc Hàn Ước. Viên tổng đốc nghe vậy liền tống đạt thư khiển trách Công Cán buộc ông này phải từ bỏ ý định. Lời thuật này cho thấy những cột đồng được tìm thấy ở Ái Châu khá phù hợp với sự diễn giải của nhà Hán học Henri Maspéro về cuộc hành trình của Mã Viện. Tuy hoài nghi về sự hiện hữu của những cột đồng Mã Viện nhưng tác giả đã xác định nơi xa nhất mà đoàn quân viễn chinh của Mã Viện tiến đến là phủ Cư Phong, và đã định vị phủ này nằm ở phần phía Nam của tỉnh Thanh Hóa tức Ái Châu (vào đời Hán, phủ Cư Phong là một phần của huyện Cửu Chân, và huyện này được cải danh thành Ái Châu dưới đời Lương, Tùy và Đường). Ngay chính Cư Phong cũng được đổi tên thành Di Phong vào thế kỷ thứ 3 và về sau trở nên huyện lỵ của Cửu Chân; thủ phủ này nằm bên bờ Lương Giang (tức sông Chu ở Thanh Hóa ngày nay). Tác giả Đào Duy Anh đặt câu hỏi phải chăng đạo quân viễn chinh của Mã Viện đến tận Cư Phong là điểm xa nhất? Biên niên sử cổ kể rằng quân Đông Hán truy đuổi quân của Trưng Trắc đến tận Cư Phong, ở đây mọi sự kháng cự đều bị dập tắt. Đến đó Mã Viện cho dựng những cột đồng để đánh dấu ranh giới cực Nam của nhà Hán (theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục). Suy rộng hơn, nếu Cư Phong là nơi Mã Viện dẹp yên mọi mầm chống đối nhưng có gì chắc là quân ông ta dừng lại nơi đây mà không tiến xuống sâu hơn. Thủy Kinh Chú kể rằng sau khi dẹp yên quân của Trưng Trắc ở Cửu Chân xong, Mã Viện chia quân thành hai đạo, một tiến đến phủ Vô Biên, còn đạo kia tiến đến phủ Cư Phong. Dưới đời nhà tiền Hán, Vô Biên là một phần của huyện Cửu Chân, nhưng trong thời gian Vương Mãn tiếm ngôi, địa danh này đổi tên thành Cửu Chân Đình đồng thời trở nên thủ phủ của huyện Cửu Chân; vào đời nhà Đường (620-907) lãnh địa này bao gồm trong huyện Long Trì (theo Đào Duy Anh chính là phủ Diễn Châu thì đúng hơn). Như vậy, có thể nói rằng quân Mã Viện có thể đã tiến xuống đến tận đất Nghệ An. Theo lời thuật của Du Ích Kỳ và Hàn Khang Bá đã dẫn ở trước thì Mã Viện dựng những cột đồng ở bắc ngạn Lâm Ấp. Nhưng vào thời ấy Lâm Ấp chưa hề hiện hữu, có thể hai vị ấy muốn nói vùng bắc ngạn của con sông sau này làm lằn ranh phân chia Lâm Ấp với phần đất bị nhà Hán thôn tính, được biết đó là đất Thọ Linh. Cũng theo hai vị này ranh giới với Lâm Ấp chính là Thọ Linh. Thủy Kinh Chú có kể rằng vào năm thứ 9 thời kỳ Chính Thủy đời Ngụy (năm 247), quân Lâm Ấp xâm lăng Thọ Linh và lấy vùng đất này làm ranh giới của mình. Sách này còn thêm rằng sông Thọ Linh được đặt tên theo một phủ mang cùng tên. Vậy phủ Thọ Linh nằm nơi đâu? Vẫn theo Thủy Kinh Chú, vào năm thứ 6 thời Nguyên Đỉnh (thế kỷ thứ 3 trước công nguyên), Hán Vũ Đế lập thủ phủ của Nhật Nam ở Tây Quyển, và theo Tống châu Quận chí, vào năm thứ 10 thời Thái Khang, Tấn Vũ Đế cắt bớt đất Tây Quyển để lập thêm phủ Thọ Linh. Như thế Thọ Linh nằm cạnh Tây Quyển và cả hai đều bao gồm trong đất của Nhật Nam. L. Aurousseau trong biên khảo về vương quốc Chàm đã mạo nhận Tây Quyển nằm ở vùng phụ cận của Huế mà sông Thọ Linh theo ông chính là sông đào Phủ Cam (trước đây là sông La Ỷ). Theo Thủy Kinh Chú và theo lời bình của hai ông Du Ích Kỳ và Hàn Khang Bá, thì có lúc sông Thọ Linh được chọn làm lằn ranh của Lâm Ấp. Điều này có thể chấp nhận được vì đây là một dòng sông lớn chảy từ Đông sang Tây, trong khi sông Phủ Cam ngày nay chỉ là một con sông đào nhỏ, vừa mới được nạo vét và mở rộng thêm, lại chảy từ Bắc xuống Nam, lẽ nào sông Thọ Linh như ông Aurousseau nói là đây! Nếu quả nơi ông ta muốn nói chính là Lô Dũng thì lại khác với Thọ Linh mà Đại nam Nhất Thống chí mạo nhận với sông Linh Giang (hay sông Gianh). Theo ông Đào Duy Anh sách Thống Chí đã mạo nhận vì nhầm lẫn từ hai chữ đồng âm trong Hán tự. Nếu Thọ Linh quả là Linh Giang thì phải chăng chúng ta nên tìm những cột đồng ở phía Nam dãy Hoành Sơn, nơi sông Gianh, cách Đồng Hới 34 cây số về hướng Bắc? Nếu Nhật Nam bao gồm phần đất Nghệ Tĩnh, và mặt khác Mã Viện chưa từng vượt qua dãy Hoành Sơn thì những cột đồng ấy nên tìm ở phía Bắc chứ không phải Nam của dãy này. Không ảnh của dãy Hoành Sơn do người Pháp chụp. Courtesy of BAVH Nhưng vì sao Ngô Lục ký lại cho là chúng nằm ở Tượng Lâm? Tượng Lâm là tên của một phủ nằm ở phía Nam của Tượng quận (theo đời Tần) và Nhật Nam (dưới đời nhà Hán). Nhật Nam về sau bị Chàm xâm chiếm rồi thành lập vương quốc Lâm Ấp (theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục) nhưng Lâm Ấp cũng còn là tên cũ của một phủ mà nhà Hán gọi là Tượng Lâm, đó là lý do tại sao các học giả Trung Hoa thuộc các thời kỳ sau, do nêu danh không phù hợp với ngày tháng niên đại, thỉnh thoảng đề cập đến Nhật Nam bằng Lâm Ấp hoặc Tượng Lâm. Một mặt chúng ta đã thấy rằng Mã Viện đã tiến quân xuống đến vùng đất Nghệ An; mặt khác ta cũng đã biết những cột đồng được dựng ở phía Bắc dãy Hoành Sơn. Theo đó, chúng ta có thể khoanh vùng để tìm kiếm trong vùng Nghệ Tĩnh. Sự chú ý của chúng ta cũng bị thu hút đến một ngọn đồi nằm riêng biệt bên tả ngạn Lam giang, cách Vinh khoảng 10 cây số về phía Tây Nam; ở đây có một đường rầy bắt qua con sông. Đại nam Nhất Thống chí gọi đồi này là Hùng Sơn nhưng dân gian quen gọi bằng tên Núi Thành hay Núi Lam Thành hoặc Núi Đồng Trụ. Trên ngọn đồi nay vẫn còn di tích của một thành cổ do tướng Tàu Trương Phụ dựng nên vào cuối thời Trần để trấn áp dân ta. Giữa thành hiện còn tàn tích của đống đá nơi trước đây có dựng cột dinh Trương Phụ nhưng theo truyền thống đây được xem như là nơi dựng cột đồng Mã Viện. Theo H. L. Breton trong Le Vieux An-Tĩnh thì trong Nghệ An Chí, Bùi Dương Lịch, một quan văn cuối đời Lê và qua luôn thời Tây Sơn, cho rằng các đồng trụ được dựng trên đỉnh Hùng Sơn; ông chỉ biên tập theo các tài liệu cũ nhưng vẫn dựa vào các truyền thuyết địa phương. Không có gì để làm bằng chứng xác định cho những ý kiến của ông. Điều này cũng rất khó bởi vì qua bao thế kỷ, người ta không còn thấy những cột này nữa. Nhân dân An Nam tin chắc rằng đến đời nhà Lý (1010-1225) thì chúng đã mất hết dấu tích, như vậy thì phải cho rằng việc phá hủy ấy là để xóa nhòa những dấu vết của ách đô hộ mà tổ tiên ta đã phải mang nặng quá lâu. Còn rất nhiều tài liệu, văn bản cũ cần phải soát lại để giải quyết một cách dứt khoát cái điều khó hiểu và vị trí chính xác của 'cột đồng trụ' và những giai đoạn đầu tiên của lịch sử Lam Thành. Tuy nhiên, tất cả các tài liệu cũng như truyền thuyết làm cho người ta nghĩ rằng vào thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, Núi Đồng Trụ và cái thành xây trên ngọn núi (Lam Thành) và tả ngạn sông Lam đúng là giới hạn phía Nam của đế quốc Hán. Núi Đồng Trụ và di tích thành cổ Lam Thành nhìn về hướng hữu ngạn sông Lam và phụ lưu Ngạn San. Courtesy of BAVH Như đã đề cập ở trên, Trương Bột trong Ngô Lục có thuật lại ở Tượng Lâm nơi vùng biển có 'một đảo nhỏ trên ấy người ta tìm được nhiều vàng. Nếu đi 30 lý theo hướng Bắc Nam sẽ đến vương quốc tên Tây Đồ. Cư dân ở đây đặt tên như vậy để nhắc nhở họ thuộc Hán tộc. Tại đây có những cột đồng mà người ta truyền rằng để đánh dấu ranh giới của nhà Hán.' Dọc theo bờ biển Nghệ Tĩnh ngày nay có thể tìm thấy một đảo tên Hòn Niêu nhưng ở đây chẳng có những đặc tính phù hợp với sự mô tả nêu trên, ngay cả vàng cũng không được tìm thấy. Từ Hòn Niêu nếu đi theo hướng Bắc xuống Nam, hay ngay cả Bắc sang Đông, Nam qua Tây thì sẽ đến cửa sông Lam (Cửa Hội), rồi đi 35 km ngược từ hạ nguồn sẽ lên đến Núi Thành; nhưng nếu đi theo đường thẳng, khoảng cách chỉ còn 20 cây số, khá gần với 30 lý (mỗi lý tương đương khoảng 888 mét) mà Trương Bột đã ước tính. Phải chăng Núi Thành là nơi Trương Bột đã tìm thấy những cột đồng? Đây chính là vùng gọi là vương quốc Tây Đồ. Theo Lâm Ấp Ký thì đây là ranh giới giữa đế quốc nhà Hán với vương quốc Tây Đồ nơi Mã Viện đã cho dựng những cột đồng. Nơi vương quốc này các bộ lạc người sắc tộc nằm rải dài đến phía Bắc dãy Hoành Sơn. Theo lời bình của Du Ích Kỳ và Hàn Khang Bá cùng Lâm Ích Kỳ, sau khi dựng những cột đồng, như ta đã biết, Mã Viện để lại chừng mươi gia đình binh sĩ ở lại định cư trên nam ngạn sông Thọ Linh, nơi nhìn qua phía các cột. Giả sử những cột đồng thực sự hiện hữu ở Núi Thành và những lưu dân Mã Lưu thực sự có định cư ở ngôi làng ở nam ngạn sông Lam (phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Vùng đất thuộc các làng Quang Du, Hưng Nghĩa, và Hưng Phúc ngày nay nằm bên bờ sông, mới hình thành do đất bồi phù sa. Nếu khảo sát trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 ta có thể thấy rõ là ngày xưa Lam Giang đã từng chảy qua Nam Ngạn. Qua nghiên cứu tỉ mỉ, học giả Đào Duy Anh không tìm thấy một quan hệ nào giữa khu làng ngày nay với nam ngạn ngày trước nơi có những người Mã Lưu sinh sống. Vị trí của Lam Thành ở phía Tây Nam thành phố Vinh theo bản đồ tỷ lệ xích 1/500.000. Courtersy of BAVH Sau cùng, sách Tùy Thư có hé lộ những chỉ dấu khá phù hợp với giả thuyết của chúng ta qua lời thuật như sau: 'Tướng Tàu Lưu Phương được phái đi chinh phạt quân Chiêm Thành đã tiến quân ngang qua những cột đồng Mã Viện, và tiếp tục tiến về phía Nam ròng rã suốt tám ngày đến tận kinh đô vương quốc Lâm Ấp.' Đấy chính là đất Trà Kiệu ở Quảng Nam ngày nay. Như ta đã thấy sự hiện hữu của cột đồng Mã Viện là điều không thể phủ nhận được qua sự kể lại của các cổ thư, qua truyền thống dựng cột thường có của các tướng Tàu khi đi chinh phạt vùng đất phương Nam. Tuy nhiên khó có thể chấp nhận là chúng đã được dựng ở đất Thanh Hóa, tên cổ là Ái Châu thời nhà Đường, vì chúng ta đã công nhận là Mã Viện đã đưa đạo quân tiến xa hơn đến tận Nghệ An. Theo đó không có lý do gì phải kiếm chúng bên phía Nam dãy Hoành Sơn. Vậy phạm vi nơi cột đồng có thể được Mã Viện cho dựng lên ắt phải là trong vùng Nghệ Tĩnh. Chúng ta đã xác nhận Núi Thành nằm bên tả ngạn sông Lam cách Vinh chừng mười cây số về hướng Tây Nam là khá phù hợp với lời miêu tả của Ngô Lục lẫn Tùy Thư về địa điểm nơi có những cột ấy. Sự suy luận này được củng cố mạnh thêm nhờ những truyền thống địa phương khi gọi tên ngọn đồi nơi đây bằng cái tên Núi Đồng Trụ. Vào đời Trần, Lam Thành là lỵ sở của vùng Nghệ Tĩnh. Tướng Tàu Trương Phụ chiếm đồi này và cho xây Lam Thành để phòng thủ chống lại quân ta bấy giờ vẫn đang còn kiểm soát vùng hữu ngạn và vùng đồi núi lân cận. Lâm Thành có tầm quan trọng chiến lược vì nó kiểm soát được thủy lộ sông Lam lẫn nơi đổ ra của con đường núi chiến lược lịch sử. Trong thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh và trong cuộc Nam tiến chống lại Chiêm Thành của dân ta, Lâm Thành đã đóng vai trò của một tiền đồn bảo vệ bờ cõi. Gần cạnh Lâm Thành ngày nay có con lộ nối liền Vinh với Hà Tĩnh. Lâm Thành vốn là điểm huyết mạch cho cả quân ta lẫn quân Tàu phải đi ngang qua khi tiến xuống phía Nam; đồng thời đây cũng là điểm dừng chân của đạo quân viễn chinh trên đường Bắc tiến, vừa để dưỡng quân vừa để củng cố lực lượng. Chẳng có gì quá đáng khi cho rằng chính trên ngọn đồi này mà Mã Viện, sau khi vừa tái lập trật tự nơi phong địa này xong, đã cho dựng những cột đồng để ghi dấu kỳ công bình định 'phản loạn' của mình, đồng thời để đánh dấu biên cương tận cùng của nhà Hán trên vùng đất đô hộ ở phía Nam nước Tàu. Dãy tường mặt Tây của Lam Thành. Bên trong và chung quanh thành có những di tích thời kỳ đô hộ cuối cùng của quân Tàu năm 1423. Nơi đây Lê Lợi chém. đầu Thái Phúc. Courtesy of BAVH Tài liệu tham khảo: (1) Keith Weller Taylor, 'The Birth of Vietnam'; University of California Press, Berkeley and Los Angeles, California, pp. 33-34, 37-41. (2) Nguyễn Phan Quang và Võ Xuân Đàn, 'Lịch Sử Việt Nam, từ Nguồn Gốc đến Năm 1884'; Nhà Xuất Bản TP. Hồ Chí Minh, trang 57, 60. (3) Đào Duy Anh, 'Les Colonnes de Bronze de Ma Vien'; Bulletin des Amis du Vieux Hué; I:4 (10-11 / 1943), pp. 22-34; I:2 (4-12 / 1936), pp. 152, 275, 278; I:2 (4-6 / 1935), pp. 167. (4) Hippolyte Le Breton, dịch giả: Nguyễn Đình Khang và Nguyễn Văn Phú, 'An-Tĩnh Cổ Lục (Le Vieux An-Tĩnh); Nhà Xuất Bản Nghệ An, Trung Tâm Văn Hóa Đông Tây, trang 247. * PHÚC LỘC THỌ MÃN ĐƯỜNG *
-
Theo tài liệu sử có được thì không chỉ vua Lê Thánh Tông mà cả vua Quang Trung khẳng định Ngô Sĩ Liên đã viết sử cho ta là phiên thuộc của phương Bắc. Như vậy để chống lại "ma trận tâm linh" đã được giăng ra, ông cha ta đã giải quyết chúng qua câu chuyện Thần sông Tô Lịch và Thánh Tản Viên. Các huyệt đạo đã bị Cao Biền Yểm, cũng như trụ đồng Mã Viện nằm ở đâu?. Về vấn đề trụ đồng Mã Viện, tôi nghi ngờ rằng được xây dựng thời Cao Biền và tá danh Mã Viện để trấn áp và trụ đồng này phải đặt ở vị trí quan trọng nhất của La Thành. Năm Hàm Thông thứ 6, vua Đường ý Tông sai Cao Biền làm đô hộ tướng quân, đem binh đánh giặc Nam Chiếu. Lúc Biền trở về, nhà vua đặt Tĩnh Hải quân ở thành Lĩnh Nam, cho Biền làm tiết độ sứ. Biền thông hiểu thiên văn địa lý, xem hình thế đất mà xây thành Đại La ở phía tây Lô Giang, chu vi 30 dặm để ở. Có dòng sông con từ Lô Giang chảy vào phía Tây Bắc, cuốn quanh phía nam, ôm lấy thành Đại La rồi lại nhập vào sông cái. Hồi đó đang giữa tháng sáu nước mưa lên cao: Biền cưỡi thuyền nhẹ thuận dòng vào tiểu giang đi khoảng một dặm, bỗng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, dung mạo dị kỳ, tắm ở giữa dòng sông, cười nói tự nhiên. Biền hỏi họ tên. Đáp: ta họ Tô tên Lịch. Biền lại hỏi: Nhà ở đâu? Đáp: Nhà ở trong sông này. Dứt lời, lấy tay đập nước bắn tung mù mịt, bỗng nhiên không thấy đâu nữa. Biền biết là thần, bèn đặt tên sông là Tô Lịch. Một buổi sớm khác, Biền ra đứng ở bờ sông Lô Giang, phía đông thành Đại La, thấy trận gió lớn nổi lên, sóng nước cuồn cuộn, mây trời mù mịt, có một dị nhân đứng trên mặt nước, cao hơn hai trượng, mình mặc áo vàng, đầu đội mũ tím, tay cầm hốt vàng rực rỡ một khoảng trời, chập chờn lên xuống trên khoảng không. Mặt trời cao ba con sào, khí mây hãy còn mù mịt, Biền rất kinh dị, muốn yểm thần. Đêm nằm mộng thấy thần nhân tới nói rằng: "Chớ yểm ta, ta là tinh ở Long Đỗ, đứng đầu các địa linh, ông xây thành ở đây, ta chưa được gặp, cho nên tới xem đó thôi, ta có sợ gì bùa phép?" Biền kinh hãi. Sáng hôm sau, Biền lập đàn niệm chú, lấy kim đồng thiết phù để yểm. Đến hôm ấy, sấm động ầm ầm, gió mưa dậm dật, đất trời u ám, thần tướng hò reo, kinh thiên động địa. Trong khoảnh khắc, kim đồng thiết phù bật ra khỏi đất, biến thành tro, bay tan trên không. Biền càng kinh hãi, than rằng: "Xứ này có thần linh dị, ở lâu tất chuốc lấy tai vạ”. Sau ý Tông triệu Biền về, quả nhiên Biền bị giết và Cao Tàm được cử sang thay. Núi Tản Viên ở phía tây kinh thành Thăng Long nước Nam Việt. Núi cao một vạn hai nghìn ba trăm trượng, chu vi chín vạn tám nghìn sáu trăm vạn (?) Ba núi đứng xếp hàng, đỉnh tròn như cái tán cho nên có tên ấy. Theo sách Ai giao châu tự của Đường Tăng thì Đại Vương núi này là Sơn Tinh họ Nguyễn, vô cùng linh ứng. Khi hạn hán, lúc lụt lội cầu đảo để phòng tai trừ hoạn lập tức có ứng nghiệm. Kẻ thờ cúng hết lòng thành kính. Thường thường, vào những ngày quang đãng như có bóng cờ xí thấp thoáng trong hang núi. Dân trong vùng nói rằng đó là Sơn thần hiển hiện. Khi Cao Biền nhà Đường ở An Nam muốn yểm những nơi linh tích bèn mổ bụng con gái chưa chồng mười bảy tuổi, vứt ruột đi, nhồi cỏ bấc vào bụng, mặc áo quần vào rồi đặt ngồi trên ngai tế bằng trâu bò, hễ thấy cử động thì vung kiếm mà chém đầu. Phàm muốn đánh lừa các thần đều dùng thuật đó. Biền đem thuật đó để tiến đại vương núi Tản Viên, thấy Vương cưỡi ngựa trắng ở trên mây nhổ nước bọt vào mà bỏ đi. Biền than rằng: "Linh khí ở phương Nam không thể lường được. * PHÚC LỘC THỌ MÃN ĐƯỜNG *
-
Wiki: Lý Nam Đế (chữ Hán: 李南帝; 503–548) là vị hoàng đế sáng lập nhà Tiền Lý và khai sinh nhà nước Vạn Xuân trong lịch sử Việt Nam. Ông tên thật là Lý Bí (李賁), còn gọi là Lý Bôn[1], người làng Thái Bình, phủ Long Hưng[2], Việt Nam (khoảng Thạch Thất và thị xã Sơn Tây, Hà Nội). [1] Lý Nam Đế có tài văn võ. Ông đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, đánh đuổi được quân đô hộ, rồi xưng là Nam Đế (vua nước Nam), đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên (chưa rõ ở đâu, có lẽ gần thành phố Bắc Ninh ngày nay). Trích Chiếu đời đô: Thế mà hai nhà Đinh, Lê mới vì riêng mình, quên mệnh trời, bước đạp bừa lên dấu tích Thương, Chu, cứ yên ở mãi ấp ( [4]) nhỏ của mình nơi ấy, để đến nỗi đời chẳng được dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, muôn vật không thích hợp, Trẫm rất thương xót, không thể không di dời khỏi đó. Cao Biền (tiếng Trung: 高駢; tự Thiên Lý (千里); 821–887) là một viên tướng của nhà Đường, ông là người thay mặt cho nhà Đường cai quản Giao Châu (tên gọi khi đó của Việt Nam) từ năm 866 đến năm 875 với chức vụ tiết độ sứ. Sau lại làm phản nhà Đường và bị giết năm 887. Tổ tiên là người Bột Hải (Mãn Châu), sau di cư đến U Châu. Chúng ta xem xét mối tương quan giữa các nội dung trên: - Thời Lý Nam Đế đã đóng đô ở Long Biên trước khi Cao Biền xây thành Đại La. - Lịch sử nước Việt trước thời Lý có nhiều triều đại, do vậy trong Chiếu đời đô chỉ đề cập tới triều Đinh, Lê là không hợp lý. Mặt khác, về lịch sử không thể dùng triều Đinh, Lê trong mối tương quan với Đại La - Cao Biền được, chắc gì Cao Biền xây thành Đại La hay đắp thêm?. - Vấn đề đưa triều Đinh, Lê nhằm so sánh ý hạ thấp so với Cao Biền là rõ rệt. Trong khi đó đây là những triều đại giành được độc lập sau đêm trường Bắc thuộc, công lao với dân tộc vô cùng to lớn. Cho nên, với am hiểu siêu việt của vua Lý Công Uẩn và các quần thần, chắc chắn không ai ghi đoạn văn này cả. - Bản Chiếu đời đô đo đếm là 214 chữ, phù hợp theo truyền thuyết dân gian đúng bằng số năm tồn tại của triều Lý, nó hàm ý gì trong các mối tương quan?. Với các phân tích trên, tôi nghĩ rằng người "chỉnh sửa" Chiếu đời đô có mục đích ràng buộc câu văn để không thể sửa được qua truyền thuyết này. Như vậy, người sửa Chiếu dời đô phải sinh sau triều Lý. Để khả người soạn Chiếu dời đô thời Lý thì khả năng nội dung với 214 chữ "để trùng khớp" với 214 năm rõ ràng xác suất bằng ZERO. - Trong tất cả các truyền thuyết và huyền thoại rất tuyệt vời của Việt Nam lại có một câu chuyện về Sĩ Vương (dính dáng cả Mr. Cao Biền) nửa đường "nhảy" vào - rất khập khiễng, cho dù nó đã được xây dựng nên. Tham khảo: - Ngô Sĩ Liên... soạn thảo Đại Việt Sử Ký toàn thư (1272 - 1697). - Tương truyền Trần Thế Pháp (? - ?), một danh sĩ đời nhà Trần, là tác giả bộ sách Lĩnh Nam chích quái. Thông tin này đã được ghi trong các sách: Vịnh sử thi tập của Đặng Minh Khiêm[2], Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn và Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú. Đều sau thời Lý cả. Vậy thì, nhận định trên là hợp lý. Chúng ta sẽ cố gắng tìm kiếm các nhận định và đánh giá của vua Quang Trung về sách lịch sử? * PHÚC LỘC THỌ MÃN ĐƯỜNG *
-
Khôi phục lễ rước Sĩ Nhiếp “Nam Giao học tổ” Dưới đây là phiên bản cache tại địa chỉ: http://dantri.com.vn (Dân trí) - Lễ rước và tế Thánh Vương Sĩ Nhiếp tại lăng và đền ở thôn Tam Á, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã được khôi phục lại trong dịp Tết Kỷ Sửu sau 66 năm vắng bóng. Cổng vào lăng Sĩ Nhiếp ở huyện Thuận Thành. (Ảnh: dongtac.net) Các nghi lễ đã tập trung tái hiện nét văn hoá lịch sử truyền thống, giúp cho người dân hiểu, biết và tưởng nhớ tới công lao của ông. Từ năm 1943 trở về trước, hằng năm nhân dân trong vùng đều tổ chức lễ rước và các nghi lễ hoàn chỉnh, song, do nhiều lý do khác nhau, hoạt động này đã gần như bị lãng quên. Sĩ Nhiếp (137 - 226) là Thái thú đất Giao Chỉ vào thời Bắc thuộc từ năm 187 đến năm 226, phong là Long Độ Đình Hầu, đóng đô tại thành Luy Lâu. Ông là một vị quan cai trị có tài, có công phát triển văn hoá cho người Việt và được giới Nho học phong kiến Việt Nam sau này suy tôn là một trong những nhân vật mở đường cho Nho giáo ở Việt Nam, coi là “Nam giao học tổ”. Ông là người đặt nền móng cho nền văn minh Đại Việt sau này, người đầu tiên mở trường dạy chữ Hán. Lợi dụng nhà Hán suy yếu, ông đã xây dựng Luy Lâu sầm uất như một kinh đô của nước độc lập. Thời kì này cả nước Hán loạn lạc liên miên nhưng vùng đất của Sĩ Nhiếp cai trị vẫn thái bình thịnh trị. Đại Việt sử kí toàn thư xếp thời này là một triều đại riêng của nước ta, gọi là kỉ Sĩ Vương. Sĩ Nhiếp đã biến chùa Dâu thành trung tâm phật giáo lớn và cổ xưa nhất nước ta được các tăng sĩ Ấn Độ trực tiếp đến truyền giáo. Chu Thanh Vân TTXVN Đại Việt sử kí toàn thư xếp thời này là một triều đại riêng của nước ta, gọi là kỉ Sĩ Vương. Sĩ Nhiếp đã biến chùa Dâu thành trung tâm phật giáo lớn và cổ xưa nhất nước ta được các tăng sĩ Ấn Độ trực tiếp đến truyền giáo: dẹp bỏ được rồi, chỉnh lại triều đại này mất một chút thời gian thôi. Xóa bỏ "Nam giao học tổ": đây là danh xưng ngớ ngẩn nhất. Không hãi uy, nếu đúng có công lao thì ta tôn trọng chức không đặt "đỉnh" mà chưa xem xét tới vai trò của các anh hùng, hào kiệt trong lịch sử nước nhà. Đặc biệt, là đang làm rõ về thời đại Hùng Vương dựng nước huy hoàng trong khoảng 3000 TCN. * PHÚC LỘC THỌ MÃN ĐƯỜNG *
-
Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Nguyên bản Hán Văn: 南國山河 南 國 山 河 南 帝 居 截 然 定 分 在 天 書 如 何 逆 虜 來 侵 犯 汝 等 行 看 取 敗 虛 Bản phiên âm Hán-Việt: Nam quốc sơn hà Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Bản dịch thơ: Sông núi nước Nam Sông núi nước Nam vua Nam ở, Rành rành định phận tại sách trời. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm, Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời. Chúng ta kết hợp đoạn văn Huống chi thành Đại La ( [5]), đô ( [6]) cũ của Cao Vương ( [7]) Cùng với nội bài thơ Nam quốc sơn hà ở trên qua đoạn: Rành rành định phận tại sách trời thì thấy hoàn toàn mâu thuẫn, chẳng nhẽ: định phận bởi Mr. Cao Biền?. Như vậy, có thể rút ra một kết luận chắc chắn, đoạn văn trên không phải là bản gốc. Mặt khác, Đại Việt Sử ký toàn thư tôn vinh Mr. Sĩ Nhiếp một cách lố bịch, lại có ý làm hoang mang, sợ hãi tinh thần nhân dân khi chuyển hóa thành thần thánh: Cũng Ngô Sĩ Liên, trong Đại Việt sử ký toàn thư, viết: "Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao? Con không hiền là tội của con thôi. Tục truyền rằng sau khi vương chết đã chôn, đến cuối thời nhà Tấn đã hơn 160 năm, người Lâm Ấp vào cướp, đào mộ của vương, thấy mình mặt vẫn như sống, cả sợ lại đắp lại, người địa phương cho là thần, làm miếu để thờ gọi là "Tiên Sĩ Vương". Có lẽ là khí tinh anh không nát, cho nên thành thần vậy". Tại sao hai vấn đề này lại nằm ngay trong những dấu mốc quan trọng, mang tính bước ngoặc của lịch sử nước nhà - Thật là kỳ lạ. Chúng ta hoàn toàn không còn cách giải thích hợp lý nào khác hơn nữa. Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Sĩ Nhiếp Văn Miếu Tiên Nho thờ Sĩ Nhiếp, Bắc Ninh Theo sách “Tam Quốc Chí” thì Nhiếp (1) họ Sĩ ,tên Nhiếp, người Quảng Tín, huyện Thương Ngô (Trung Quốc); tổ tiên là người Vấn Dương, nước Lỗ, tránh loạn Vương Mãng đến cư ngụ ở đất ấy, thời Hán Hoàn Đế làm thái thú Nhật Nam. Nhiếp thuở nhỏ du học ở kinh đô nhà Hán, chú giải sách Tả Thị Xuân Thu, thi đậu khoa Hiếu Liêm, bổ làm Thượng Thư Lang, vì việc công bị miễn chức. Sau lại đỗ Mậu Tài, được giữ chức quan Lệnh Vu Dương. Hiến đế lại sai làm Thái thú Giao Châu. Lúc ấy nhằm lúc cuối đời Hán thời loạn Tam quốc, Sĩ Nhiếp đang cai trị thành Thanh (nay là thành Long Biên). Hiến Đế nghe tin ,ban cho ông bảy bộ sách ,vẫn giữ chức Thái thú Giao Châu như cũ. Nhiếp liền sai Trương Mân đi sứ,đến kinh đô nhà Hán sửa lễ tiến cống. Hiến Đế xuống chiếu triệu về, cho ông làm An Viễn tướng quân, phong tước Hầu Long Độ Đình. Sau, Tôn Quyền nhà Ngô phong Nhiếp làm Tả Tướng Quân, và phong cho hai con trai làm Lang Trung. Nhiếp đem dâng lên Tôn Quyền các vật quý giá ở địa phương thường được Quyền khen ngợi, nên cho người em của Nhiếp tên Nhất làm Thái thú châu Hợp Phố, cho người em tên Vị làm Thái thú quận Cửu Chân (nay huyện Kỳ Phong) và người em tên Vũ làm Thái thú quận Nam Hải (Nay là Liêm Châu). Nhiếp là người khoan hòa, độ lượng, khiêm tốn với mọi người; nhân sĩ lánh nạn nhà Hán nhiều người theo về với Nhiếp. Dân ta đều gọi Nhiếp là Vương. Đời Hán có Viên Huy và Thượng Thư Tuân Úc viết sách, tóm lược như sau: “Sĩ Nhiếp ở Giao Châu, học vấn uyên thâm, làm quan đức độ, giữa thời loạn mà giữ yên được cả 1 phương trời hơn 30 năm, bờ cõi yên ổn, dân không cầu cạnh gì. Dù cho quan trấn thú Hà Tây là Đậu Dung cũng không hơn được. Lại còn em trai của Nhiếp có tước Hầu, trị dân cả một phương trời. Lúc Nhiếp đi lại, nghi lễ đầy đủ cả, huyên náo rầm rộ. Bấy giờ, sự sang trọng và oai danh của Nhiếp rúng động cả trăm bộ dân man. Đem so sánh thì Triệu Đà cũng không làm sao bì kịp!”. Nhiếp thọ 90 tuổi, ở chức lớn 40 năm, Nhiếp giỏi điều hòa sức khoẻ, rèn luyện nhân tài. Đến khi Nhiếp mất, chôn cất ở nước ta. Đến cuối đời Tấn, trải qua hơn 160 năm, người Lâm Ấp vào cướp phá quan tài của Nhiếp, thấy toàn thân vẫn chưa hư hủy, tươi tắn như lúc còn sống. Chúng cả sợ nên cho chôn cất lại như xưa. Dân chúng nói rằng Nhiếp đã thành tiên, bèn lập miếu thờ cúng. Đến giữa những năm Hàm Thông đời Đường, Cao Biền đem quân đánh dẹp Nam Chiếu, ngang qua miếu ấy, gặp một dị nhân, mặt mày tươi đẹp, áo mũ chỉnh tề, đứng chắn đường chào hỏi. Biền vui, vời vào trong trướng cùng đàm đạo chuyện đời Tam quốc, đưa đón khi vào ra, rồi đột nhiên thấy biến mất. Cao Biền bèn hỏi người trong thôn, mọi người nói rằng ở đất hướng Nam có mộ Sĩ Nhiếp. Biền than hồi lâu, rồi ngâm bài thơ sau: “Sau thời sơ Ngụy, Nay đến Hàm Thông, Mấy trăm năm lại, May gặp Nhiếp ông”. Xa gần trong huyện, có ai cầu đảo đều thấy linh ứng. Đời Trần truy phong Nhiếp làm “Thiện huệ uy gia linh ứng đại vương”. Đến nay vẫn là một vị phúc thần. (Nay miếu ở tại xã Thanh Tương, huyện Siêu Loại và ở xã Tam Thê, huyện Gia Định. Hai miếu thờ này đều là Thượng Đẳng thần). Chú thích 1) Việt Sử Lược chép rằng: “Bấy giờ, sự sang trọng và oai danh của Nhiếp rúng động cả Nam Man. Đem so sánh thì Triệu Đà cũng không làm sao bì kịp!”. Sách xưa viết truyện này là “Truyện Sĩ Vương”. Nếu dân man không phải chịu khổ cực, ra sức phục vụ hết mình thì làm sao Nhiếp có được cuộc sống xa hoa, vương giả đến như thế. Có xứng đáng với địa vị là Vương chăng?. Điều này chúng ta phải xét lại. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục cũng có nhận xét khác: “Xét ra, Sĩ Nhiếp chỉ là một quan Thái Thú nhà Hán, chưa hề xưng Vương. Sử cũ chép riêng làm một kỷ, đem so với lệ chép Cương mục (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục ) thì không hợp, nay bỏ đi”. Thế nên dịch giả trong bài này sẽ dùng tên Nhiếp thay vì Vương để dịch cho phù hợp hoàn cảnh và địa vị. (Nguyễn Hữu Vinh dịch) Bình: Truyện này không biết ai viết, nhưng xem ra không được quân bình. Sĩ Nhiếp chỉ là quan thái thú của một vùng, mà gọi là vua (“Vương”. Tuy nhiên anh Nguyễn Hữu Vinh đã không dịch là “vua” hay “vương”, mà chỉ dịch là “Nhiếp”. Xem “chú thích” bên trên). Nước ta thì gọi là thuộc “nam man.” Ta lại phong thần cho Nhiếp là “Thiện huệ uy gia linh ứng đại vương”. Và ngày nay ở Văn Miếu Tiên Nho tại Đền Lũng, Bắc Ninh, dân ta vẫn thờ Sĩ Nhiếp là Nam Giao Học Tổ, ông tổ về giáo dục của đất Nam “dạy người Việt khiến cho biết được tiếng Hán, hiểu được đạo thánh hiền, đến nay thành một nước văn hiến.” Cứ như dân ta đúng là man di, không biết đạo đức, trước khi người Hán chiếm. Dĩ nhiên là người Hán xâm lược phải đồng hóa người Việt bằng Hán học và văn hóa bắc Phương, và xóa đi văn hóa của ta càng nhiều càng tốt. Gân đây, người Pháp cũng làm thế với văn hóa Tây phương. Không làm thế thì không thể trị nước bị xâm lăng. Chúng ta xem truyện Sĩ Nhiếp trong Lịnh Nam chích quái: vâng hoàn toàn logic, khi trong nội dung đều có tên Mr. Cao Biền và Mr. Sĩ Nhiếp. Lời bình trên rất tuyệt. Mặt khác lại so sánh tới Triệu Đà không ăn khớp về vai trò và tầm vóc quốc gia. Phải xem lại các nội dung lịch sử mang đậm truyền thuyết trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên. * PHÚC LỘC THỌ MÃN ĐƯỜNG *
-
Khác với các nhân thần là những con người thực, các vị thiên thần , địa thần mang màu sắc huyền thoại, hoặc được đời sau gán cho những tên họ cụ, thời đại với thần tích mơ hồ, huyền bí. Tuy nhiên, dựa vào các thần tích đó, những nhà nghiên cứu cũng có thể tìm thấy những yếu tố lịch sử thú vị. Thần Long Đỗ Là Thần chủ, thành hoàng của đất Thăng Long, ngự tại núi Long Đỗ (rốn rồng) - còn gọi là núi Nùng* , nằm giữa thành Thăng Long. Từ thời sông Tô Lịch còn vòng quanh Thăng Long, thì Thần còn được hòa nhập hoàn toàn với thần sông Tô. Có sách viết tên sông này lấy từ tên húy của Thần. Do đó, để nói về thần khí thiêng liêng Thăng Long, người ta dùng 8 chữ: Nùng sơn Chính khí, Tô Lịch giang thần. Cao Biền xưa đã tìm cách trấn yểm Thần mà không được, kinh sợ mà lập đền thờ. Lý Thái Tổ xây thành theo dấu chân ngựa trắng từ cửa đền của Thần, nên còn gọi là Thần Bạch Mã. Bạch Mã còn là hình ảnh của Mặt Trời ở phương Đông. Danh hiệu: - Quảng Lợi Bạch Mã Thượng đẳng thần ]- Quảng Lợi Thánh hựu Uy tế Phu ứng đại vương - Long Đỗ Thần quân Bạch Mã Hựu chính Đại vương - Đô phủ Thành hoàng Thần quân - Bảo quốc Trấn linh Định bang Quốc đô Thăng Long Thành hoàng đại vương Núi Long Đỗ của Thần trở thành trung tâm thiêng liêng của Thăng Long, nơi đặt điện Càn Nguyên đời Lý, Thiên An đời Trần, Kính Thiên đời Lê, nay còn đôi rồng đá rất đẹp năm trăm năm. Đền chính thờ Thần giờ là đền Bạch Mã ở Hàng Buồm, là đền Trấn Đông, đền Thần chủ danh tiếng của đất Thăng Long. * Không nên nhầm núi Nùng này với núi Nùng (núi Sưa) trong Bách Thảo. . Thần Đồng Cổ Thần vốn ở núi Khả Phong hay Đồng Cổ (Trống đồng) tại Thanh Hóa. Khúc sông Mã chảy qua đó cũng gọi là sông Đồng Cổ. Thái tử Phật Mã triều Lý qua đây gặp Thần, về lập đền ở Thăng Long, sau lại được báo mộng về họa tam vương, nên càng tôn sùng Thần, tôn Thần là vị đứng đầu tất cả các thần. Danh hiệu: - Thiên hạ Minh chủ Sau họa tam vương, Lý Thái Tông đặt Hội thề Đồng Cổ. Cứ ngày 4 tháng 4 hàng năm, tất cả các quan đều phải đến đền thờ Thần, đọc lời thề rằng Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung, Ai trái lời thề, Thần minh tru diệt. Hội thề này được duy trì đến hết đời Trần, từ khi Hồ Quý Ly cướp ngôi (bất trung) thì bỏ. Đền Đồng Cổ gốc ở Thanh Hóa, đền Đồng Cổ của Thăng Long nay nằm ở Hoàng Hoa Thám. Đền bị lấn chiếm, tàn phá, tuy có tu sửa lại nhưng cũng không còn gì nhiều. 6. Thần Linh Lang Xa xưa Linh Lang là vị thần ở vùng sông nước, một vị Thủy thần, Thuồng Luồng, Rắn thần, hay Rái cá của suốt một dải Hồng Hà, Tô Lịch, Thiên Đức... Có thuyết gán cho Thần là hoàng tử triều Lý, cụ thể hơn là hoàng tử Hoằng Chân con của vua Lý Thái Tông, có công đánh giặc Tống. Nơi sinh và hóa của Hoàng tử là ở khu Thủ Lệ - Thăng Long. Tuy vậy, các tài liệu lại viết: Đền Voi Phục do vua Lý Thái Tông cho xây để thờ Linh Lang đại vương. Nếu xây thời Lý Thái Tông thì trong khoảng 1028 - 1054. Nhưng người ta lại cũng cho rằng Linh Lang đại vương chính là hoàng tử Lý Hoằng Chân, là con của Thái Tông. Chả nhẽ cha dựng đền thờ con? Mà Lý Hoằng Chân chết trong trận chống Tống 1076 - 1077. Nếu thần Linh Lang là Lý Hoằng Chân thì đền phải dựng sau 1077. Có chỗ lại nói là Lý Thánh Tông xây dựng năm 1065. Nghĩa là chưa thống nhất. Hơn nữa, tại nhiều nơi, khắp một dải sông nước Bắc Bộ, đến cả Hải Phòng cũng có đền thờ Thần Linh Lang, trong khi Hoằng Chân không có công lao gì nơi đó. Do đó, có thể cho rằng rằng Linh Lang là một vị thần cổ, chủ về sông nước, đã có từ trước khi nhà Lý định đô ở Thăng Long. Hoằng Chân nên coi là một hóa thân của Thần trong việc chống giặc. Danh hiệu (chính thức chưa tìm được). Theo sắc phong ở các tổng thì thần có rất nhiều Tôn hiệu ở các nơi: - Uy Linh Lang - Linh Lang Bạch mã, Chủ sở, Cù lộ, Cửa đầm, Đường cõi, Hải vương, Hiển huệ, Hiển ứng, Hộ quốc, Hồng ân, Uy linh Đại vương - Linh Lang Đô Đại vương, Hải vương, Lôi vương, Lung vương Nghĩa là Thần cai quản tất cả những gì thuộc về cõi Thủy: sông nước, đầm hồ, biển cả, sấm mưa... Trong Đại Việt Sử ký toàn thư có đoạn ghi "Phong thần cho con thứ tám của Lý Thái Tông", tôn hiệu là: - Uy minh Dũng liệt Hiển trung Tá thánh Phu hựu Đại vương Hoằng Chân có phải con thứ tám chăng? Đây có phải tôn hiệu của Thần chăng? Đền thờ Thần rất nhiều, trải khắp miền Bắc, đến hàng trăm làng thờ Thần. Đền ở Thăng Long là đền Voi Phục, là đền Trấn Tây của Thăng Long.
-
LÝ CÔNG UẨN VÀ CHIẾU ĐỜI ĐÔ * Tạ Ngọc Liễn Hội Nhà Văn Việt Nam Lý Công Uẩn, người khai sáng vương triều Lý (1010-1225), khai sáng Thủ đô Thăng Long - Hà Nội, sinh ra và được nuôi dưỡng, giáo dục nơi cửa chùa rồi được giới tăng sĩ ủng hộ, tôn phò làm vua. Cống hiến có ý nghĩa lịch sử quan trọng nhất của Lý Công Uẩn sau khi lên làm vua là việc ông quyết định chọn thành Đại La làm kinh đô, dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên thành Thăng Long, Hà Nội ngày nay. Việc Lý Công Uẩn chọn Thăng Long làm kinh đô vừa đáp ứng được yêu cầu phát triển mới của thời đại, của Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đang vươn lên mạnh mẽ, vừa có tầm nhìn xa rộng và kế sách lo toan cho con cháu muôn đời sau. Lý Công Uẩn làm vua 18 năm. Trong thời gian ấy ông đã làm được một số việc mà quốc sử ghi chép như là những việc trọng đại: Thứ nhất, Lý Công Uẩn cho xây dựng kinh thành Thăng Long có quy mô bề thế, bao gồm cung điện và một hệ thống các điện Càn Nguyên (làm chỗ thiết triều), điện Tập Hiền, điện Giảng Võ… cùng kho tàng, hào lũy. Bốn mặt thành mở 4 cửa Tường Phù (phía Đông), Quảng Phúc (phía Tây), Đại Hưng (phía Nam), Diệu Đức (phía Bắc). Thứ hai, để đáp ứng nhu cầu của đời sống tâm linh, nhu cầu về tôn giáo tín ngưỡng, mà khi đó Phật giáo là Tôn giáo được tầng lớp quý tộc, cung đình cũng như dân chúng tôn sùng, Lý Công Uẩn đã cho xây cất nhiều chùa, như ở phía Nam kinh thành, ở phủ Thiên Đức (châu Cổ Pháp cũ). Lý Thái Tổ là người đặt nền móng vững vàng cho sự hưng thịnh của Phật giáo thời Lý. Thứ ba, khi vương triều Lý được thành lập, ở một số địa phương, đặc biệt là ở vùng biên giới phía Bắc, có những thế lực nổi dậy cướp phá, cát cứ. Nhằm dẹp yên các cuộc khởi loạn và nắm được quyền uy của vương triều Lý trên toàn lãnh thổ quốc gia, Lý Thái Tổ tiến hành những cuộc chinh phạt có hiệu quả ở châu Ái, châu Diễn, châu Vị Long, châu Thất Nguyên… Thứ tư, về đối ngoại, Lý Thái Tổ đã thiết lập được quan hệ ngoại giao khá tốt đẹp với triều Tống. Bên cạnh những thành tích lớn trên, Lý Thái Tổ còn có công bước đầu xây dựng một bộ máy có quy chủ từ triều đình xuống tới châu, huyện, hương, ấp; bổ nhiệm một hệ thống quan chức Thái úy, Tổng quản, Khu mật sứ, Thái bảo, Thái phó, Tả hữu kim ngô, Tả hữu võ vệ, Ngự sử đại phu, Đô đốc Thượng tướng quân và Viên ngoại lang. Đồng thời, Lý Thái Tổ sau khi lên làm vua, đã sớm ban bố chiếu lệnh buộc những người trước kia trốn tránh phải trở về quê cũ sản xuất; định lệ thuế khóa các loại… Trong chính sách thuế, ông có sự chiếu cố đối với người già yếu, kẻ mồ côi, tàn tật, góa bụa. Các tác giả Đại Việt sử ký toàn thư khen Lý Thái Tổ “là người khoan từ nhân thứ”. Sử gia Ngô Thì Sĩ khi đánh giá nhà Lý, nhà Trần có viết: “Triều Lý nhân ái, triều Trần anh hùng”. Nền nhân chính thời Lý được hình thành chính là từ Thái tổ Lý Công Uẩn. Vương triều Lý do Lý Công Uẩn khai sáng tồn tại 215 năm, với 8 đời vua, là một triều đại lớn trong lịch sử Việt Nam có những ông vua anh hùng cứu nước và khai sáng văn hiến dân tộc, như Lý Thánh Tông (1054-1072), Lý Nhân Tông (1072-1128); những nhà quân sự, chính trị kiệt xuất, như Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành… Khi khảo cứu về chế độ, điển chương thời Lý, Lê Quý Đôn cũng như Phan Huy Chú đều nói, vì thời Lý cách xa quá lâu, tài liệu mất mát, thiếu thốn nhiều, song dựa vào các nguồn tài liệu sách vở, văn kiện hiện còn, chúng ta thấy những dấu ấn văn hóa khá rực rỡ của triều Lý vẫn in khắc sâu trong lịch sử Việt Nam. Thí dụ về cơ cấu tổ chức Nhà nước, về quan chế... Phan Huy Chú đã khảo cứu chức “Á tướng” đời Lý là Tả hữu Tham tri chính sự là chức ở trong Chính phủ, dưới chức Tướng quốc. Hoặc như Lục bộ, theo Phan Huy Chú, ở nước ta chức Thượng thư đặt ra bắt đầu từ thời Lý, nhưng tên các bộ chia đặt thế nào chưa rõ. Đời Trần theo phép ấy của nhà Lý đặt chức Thượng thư hành khiển, Thượng thư hữu bật, sau mới chia ra Thượng thư các bộ (bộ Lại, bộ Binh, bộ Hình). Về quân sự, nhà Lý buổi đầu mô phỏng binh chế đời Đường… đời Tống, nhưng có nhiều sáng tạo độc đáo, trong đó cách hành quân, cách tác chiến chính người Tống lại phải học tập nhà Lý. Những chiến tích quân sự bất diệt của đời Lý đã chứng minh nền quốc phòng và quân sự đương thời là vô cùng mạnh mẽ, tài giỏi. Cùng với thành tích quân sự, nền ngoại giao triều Lý cũng giành được nhiều thắng lợi quan trọng. Với một đường lối đối ngoại vừa khôn khéo, vừa cứng cỏi, vương triều Lý đã buộc nhà Tống phải nể trọng, nên trong việc giải quyết về các vụ tranh chấp đất đai ở khu vực biên giới giữa nhà Lý với nhà Tống, phía nhà Lý thường chiếm ưu thế, bởi vậy, lãnh thổ đất nước được bảo vệ chắc chắn, toàn vẹn. Về phát triển kinh tế, dưới triều Lý còn có nhiều bước tiến bộ quan trọng, đặc biệt là việc xây dựng các công trình thủy lợi, trong đó công trình đắp đê Cơ Xá (sông Hồng, Thăng Long). Nghề dệt, nhất là nghề làm đồ gốm đạt tới đỉnh cao của kỹ thuật và nghệ thuật thủ công nghiệp. Ngoại thương phát đạt. Việc giao lưu buôn bán giữa nhà Lý với các nước vùng Đông Nam Á như Xiêm La, Giava, Tam Phật Tề ( Palembang)... khá sôi nổi. Vân Đồn trở thành thương cảng quốc tế quan trọng của Việt Nam khi đó. Trong lịch sử văn minh Việt Nam, vương triều Lý là vương triều mở đầu kỷ nguyên mới - kỷ nguyên văn minh Đại Việt. Việc triều Lý mở Quốc Tử Giám, xác lập chế độ đại học, mở khoa thi tuyển chọn nhân tài cho đất nước là những sự kiện, những cái mốc văn hóa mang ý nghĩa trường cửu. Phật giáo du nhập nước ta từ rất sớm. Giao Châu từng là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng thời cổ. Nhưng phải đến thời Lý, người Việt Nam mới xây dựng được một đạo Phật mang đặc điểm dân tộc rõ nét, đánh dấu bằng sự ra đời của Thiền phái Thảo Đường (1096-1205) với các thế hệ Lý Thánh Tông (1054-1017), Không Lộ, Giác Hải, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông... Dưới ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo Thiền Tông, ở thời Lý, kiến trúc nghệ thuật xây chùa, tháp, đúc tượng đạt thành tựu rực rỡ. Văn học, đặc biệt là thơ Thiền đời Lý, đã trở thành một di sản quý giá trong kho tàng văn chương Việt Nam. Khi nói đến sự kiện Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình ra Đại La, tức Thăng Long là phải nói đến Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) do Lý Công Uẩn tự tay viết. Chiếu dời đô, vừa là một văn kiện lịch sử, chính trị, vừa là một áng văn bất hủ, mở đầu 1000 năm thơ văn viết về Thăng Long - Hà Nội. Nguồn sử tịch sớm nhất chép bài văn Chiếu dời đô của Thái Tổ Lý Công Uẩn là Đại Việt sử ký toàn thư, bộ quốc sử do Ngô Sĩ Liên biên soạn năm 1479, dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn (nửa sau thế kỷ XIX) cũng có bài Chiếu dời đô. Ngoài ra, còn có một số sách khác cũng chép bài Chiếu dời đô, thí dụ Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích (1744-1818). Sau khi đối chiếu các văn bản Chiếu dời đô được chép ở ba bộ sách vừa dẫn trên, chúng tôi chọn bài Chiếu dời đô trong Đại Việt sử ký toàn thư để dịch lại và giới thiệu, vì đây là văn bản có niên đại sớm nhất (thế kỷ XV) mà về sau Bùi Huy Bích cũng như Quốc sử quán triều Nguyễn đều dựa vào để sao chép lại (rồi sửa chữ như Bùi Huy Bích, hoặc lược bớt đi cho gọn như các sử thần ở Quốc sử quán triều Nguyễn đã làm). Dưới đây là phần phiên âm và dịch nghĩa, chú thích toàn văn bài Chiếu dời đô. Phiên âm "Thủ chiếu viết: "Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành vương tam tỉ; khởi Tam đại chi sổ quân, tuẫn vu kỷ tư, võng tự thiên tỷ, dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế. Thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải, cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh, Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi, Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỷ. Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung, đắc long bàn hổ cứ chi thế, chính nam, bắc, đông, tây chi vị, tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải, dân cư miệt hôn điếm chi khốn, vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa, thành tứ phương bức thấu chi yếu hội, vi vạn thế kinh sư chi thượng đô. Trẫm dục nhân thử địa lợi, dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà?". Dịch nghĩa "(Nhà vua) tự tay viết Chiếu rằng: "Xưa kia nhà Thương đến đời Bàn Canh ([1] năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ( [2]) ba lần dời đô; đâu phải các vua thời Tam đại [3]) liều vì riêng mình, tự ý bậy bạ chuyển đi nơi khác, mà bởi họ mưu tính lớn lao, chọn ở nơi trung tâm, làm kế muôn vạn đời cho con cháu về sau. Trên cung kính mệnh trời, dưới dựa theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi, cho nên phúc nước dài lâu, phong tục giầu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê mới vì riêng mình, quên mệnh trời, bước đạp bừa lên dấu tích Thương, Chu, cứ yên ở mãi ấp ( [4]) nhỏ của mình nơi ấy, để đến nỗi đời chẳng được dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, muôn vật không thích hợp, Trẫm rất thương xót, không thể không di dời khỏi đó. Huống chi thành Đại La ( [5]), đô ( [6]) cũ của Cao Vương ( [7]) ở khu vực giữa trời đất, có được thế đất rồng cuốn, hổ ngồi; chính vị đông, tây, nam, bắc; tiện nghi phía trước là sông, phía sau là núi. Khu vực ấy rộng rãi, bằng phẳng; đất ở đấy cao ráo, sáng sủa, dân cư không bị ngập chìm tối tăm khổ sở, muôn vật thịnh vượng, tốt tươi. Ngắm xem khắp nước Việt, thấy đây là vùng đất có phong cảnh tốt đẹp nhất, thực là nơi trọng yếu cho bốn phương hội tụ; là đất kinh sư của kinh sư ( [8]) muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy để định đô ở đó, các khanh nghĩ thế nào?". Chiếu, tức chiếu lệnh hoặc chiếu thư, là một thể văn, vua ban ra để nói rõ cho quần thần, dân chúng biết về một vấn đề gì đó. Đây là loại hình văn bản quan trọng vì nó vừa là mệnh lệnh của vua, vừa là chủ trương, chính sách của triều đình về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục... mà quan, dân phải thực hiện. Ở nước ta thời xưa, Chiếu dời đô là văn bản sớm nhất, đầu tiên, của thể văn chiếu và là một văn kiện mang ý nghĩa vô cùng to lớn, vì đây là tờ chiếu nói về việc Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Thăng Long - một sự kiện trọng đại, mở ra bước phát triển mới trong lịch sử Việt Nam. Chiếu dời đô không chỉ là một văn kiện chính trị, mà còn là một áng văn hay, có giá trị văn học. Việc Bùi Huy Bích chọn đưa Chiếu dời đô vào công trình Hoàng Việt văn tuyển, chứng tỏ cụ là nhà làm văn tuyển có con mắt rất tinh tường. Đọc Chiếu dời đô, chúng ta thấy áng văn này đã thể hiện được rõ Lý Công Uẩn, người khai sáng Vương triều Lý, khai sáng Kinh đô Thăng Long, có tầm nhìn chiến lược đại ngàn, đã định hướng đúng cho sự phát triển bền vững, lâu dài của đất nước. Cũng qua Chiếu dời đô, chúng ta biết Lý Công Uẩn có ngọn bút tả cảnh tài giỏi, giầu hình tượng và giầu trí tưởng tượng, giầu tính dự báo. Nếu nhìn từ góc độ văn học sử mà nói, Chiếu dời đô quả là áng văn bất hủ, mở đầu cho 1000 năm thơ văn viết về Thăng Long - Hà Nội. Chú thích: [1] Bàn Canh: Vua thứ 17 của nhà Thương (ước khoảng thế kỷ XVI tr. Cn - 1066 tr. Cn. [2] Thành Vương: Vua thứ 3 nhà Chu (ước khoảng năm 1066 tr. Cn - 771 tr. Cn). [3] Tam đại: ba đời Hạ, Thương, Chu ở Trung Quốc. [4] Ấp: Theo chế độ hành chính thời cổ, đất ở địa phương, lớn gọi là đô, nhỏ gọi là ấp. Đất được phong cũng gọi là ấp. [5] Thành Đại La: thuộc địa phận Hà Nội (cũ). [6] Đô: ở đây là chỗ chính quyền cấp cao nhất ở, tức thành Đại La. [7] Cao Vương: tức Cao Biền, viên quan đứng đầu bộ máy cai trị của nhà Đường ở nước ta (thời đó gọi là Giao Châu) vào nửa sau thế kỷ thứ IX và Cao Biền cho đắp thành Đại La khoảng năm 866. [8] Kinh sư: là quốc đô, nơi vua ở. Kinh sư còn gọi là Thượng đô, Kinh đô. Chữ "Thượng đô" trong nguyên tác Chiếu dời đô, khi dịch, tôi chuyển thành chữ "Kinh sư". Tư liệu khác: - Chiếu dời đô (06/03/2009) - Kinh thành và Hoàng thành thời Lý (25/10/2009) - Chiến lược độc đáo bảo vệ Thăng Long thời Lý (07/09/2009) - Thời Lý (1009-1225): Hai thế kỷ hưng khởi đầu tiên của văn hóa Thăng Long (07/08/2009) - Nhà Lý (06/08/2009) Huống chi thành Đại La ( [5]), đô ( [6]) cũ của Cao Vương ( [7]) Tôi nghi ngờ đoạn này: - Truyền thuyết Cao Biền trấn yểm nước ta dĩ nhiên vẫn có trong thời Lý. - Vua Lý Công Uẩn và các Quân Sư rất am tường phong thủy. - Dùng từ Kinh đô và Cao Vương không hợp lý. Cao Vương là do dân gian gọi; Kinh đô không thể gọi vì thời Đường là ở bên Tàu. Cũng tương tự, nên xem lại Sĩ Nhiếp là ai mà tới hôm nay lại còn đón rước long trọng vậy?. - Nếu không dùng đoạn văn này ta vẫn có thể dùng nội dung khác mà vẫn nguyên nghĩa. - Thời Minh xâm chiếm, quân ta thu được danh sách các long mạch đã bị Cao Biền trấn yểm. - Trước Đại La thì trung tâm đặt ở đâu? - Nếu đời đô thì phải di dân từ nơi kinh đô Hoa Lư cũ - có phải chắc chắn triều đại trước ở Ninh bình không?, cho tới giờ vùng này vẫn hoang vắng?. Cũng Ngô Sĩ Liên, trong Đại Việt sử ký toàn thư, viết: "Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao? Con không hiền là tội của con thôi. Tục truyền rằng sau khi vương chết đã chôn, đến cuối thời nhà Tấn đã hơn 160 năm, người Lâm Ấp vào cướp, đào mộ của vương, thấy mình mặt vẫn như sống, cả sợ lại đắp lại, người địa phương cho là thần, làm miếu để thờ gọi là "Tiên Sĩ Vương". Có lẽ là khí tinh anh không nát, cho nên thành thần vậy": Câu này có vấn đề - nên nhớ là vua Quang Trung không chấp nhận sử gia Ngô Sĩ Liên và nói ông xuyên tạc lịch sử. Còn việc định dời trung tâm hành chính Hà Nội về Ba Vì là một cuộc chơi đất đai vô tiền khoáng hậu trong lịch sử kinh doanh thế giới - đúng là những thằng người thời đại mới kinh thật.
-
Gia Cát Khổng Minh – từ chính sử đến tiểu thuyết Lê Thời Tân Trong giảng sử và tạp kịch Tống-Nguyên, Gia Cát Lượng trở thành nhân vật túc trí đa mưu có pháp thuật, nhuốm màu đạo sĩ thần kì. Giảng sử, bình thoại, hý khúc, kinh kịch - những thể loại nhắm tới đại chúng cũng thường thiên về tô đậm hình ảnh một vị quân sư thần mưu diệu toán, tiên phong đạo cốt, trong bất kỳ hoàn cảnh nguy nan nào cũng ung dung bình thản với cây quạt lông trên tay. Tác giả tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa đương nhiên cũng chú trọng khắc họa phong cách đó, thậm chí đã đẩy việc miêu tả phương diện thông minh tài trí lên đến một đỉnh cao điển phạm làm hình thành ấn tượng mà Mao Tôn Cương đã khái quát - ấn tượng về một đấng “tuyệt trí” bên cạnh một “tuyệt gian” Tào Tháo và “tuyệt nghĩa” Quan Công (Tam Quốc tam tuyệt).[1] Tuy thế ai từng đọc kỹ Tam Quốc Diễn Nghĩa đều phát hiện thấy việc đó dường như cũng chưa phải là trọng tâm của tác gia tiểu thuyết và rằng ấn tượng về một vị quân sư tài trí cơ mưu cũng chỉ là kết quả của một lối đọc thông tục thích thú quan tâm theo dõi cốt truyện li kỳ mà thôi. Việc đó cũng tương tự như cách hiểu thông tục về một Lưu Bị - nhân vật được xem là hình ảnh kết tinh lý tưởng một ông vua nhân nghĩa hay hình dung phổ biến về một Tào Tháo gian hùng đáng lên án từ đầu đến chân. Huống nữa, không thể không công nhận tác giả Tam Quốc Diễn Nghĩa dường như cũng đã phải trả giá ít nhiều cho việc biểu hiện cái “tuyệt trí” của nhân vật Gia Cát Lượng. Từ Hồ Thích buổi đầu thế kỉ XX cho đến Hạ Chí Thanh những năm giữa thế kỷ XX, nhiều học giả đều nhận thấy La Quán Trung trên thực tế vì để biểu hiện tài trí tuyệt vời của Khổng Minh nên vô hình trung biến các nhân vật đối thủ từ Chu Du, Lỗ Túc cho đến Tư Mã Ý về sau thành ra những kẻ ít nhiều ngây thơ và ngờ nghệch. Và cho dù là chính sử (từ chú giải Tam Quốc Chí của Bùi Tùng Linh cho đến Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quang) đã xác nhận việc hỏa công nhờ gió đông trong trận Xích Bích thì việc cắt nghĩa trời trở gió bằng tình tiết cầu phong của Gia Cát Lượng dẫu sao vẫn gây ra ít nhiều khó chịu cho những độc giả đòi hỏi cao về nghệ thuật xử lý cốt truyện tiểu thuyết.[2] Gia Cát Lượng như sử sách kí tải hẳn là một nhà chính trị, nhà quân sự lỗi lạc trong thời đại Tam Quốc. Tam Quốc Chí nhận định chung Gia Cát Lượng giỏi nhất việc việc trị quốc yên dân, kế đó mới là tài cầm quân, mà việc ứng phó với biến hoá trên chiến trường thì không phải là mặt mạnh của ông (“Ứng biến tướng lược phi kì sở trường”- xem Tam Quốc Chí, phần Gia Cát Lượng truyện thuộc Thục thư).[3] B.L.Riftin tỏ thái độ không đồng ý với tác giả bộ sử Tam Quốc Chí trong việc đánh giá tài năng quân sự của Gia Cát Lượng. Học giả người Nga viết trong Sử thi lịch sử và truyền thống văn học dân gian Trung Quốc: “Những người nghiên cứu công trình của Trần Thọ tìm thấy trong thế giới quan của ông nhiều chỗ mâu thuẫn thường thường gắn liền với những lí do có tính chất cá nhân lộ liễu. Chẳng hạn người ta biết rằng Gia Cát Đản con trai Gia Cát Lượng khinh bỉ nói về Trần Thọ, và xem ra nhà sử gia trả thù anh ta khi viết: “Đản chỉ đọc sách, tiếng tăm của ông ta vượt xa những cống hiến thực tế của ông ta”. Ở trên đã nói đến sự quan tâm của Trần Thọ tới di sản của chính Gia Cát Lượng. Thọ thậm chí đã viết liệt truyện chi tiết của ông ta. Song những lời sau đây là của Trần Thọ: “Lượng không giỏi với tư cách một vị tướng và không đủ tài năng để chiến thắng kẻ thù”. Tính chất bất công của những lời đánh giá như vậy là hiển nhiên đối với các tác giả Tấn sử, là những người dẫn những lời trích dẫn này trong Trần Thọ liệt truyện, nhưng nhận xét rằng những đoạn như vậy ở nhà sử gia Tam quốc không phải là nhiều”.[4] Nhìn chung sử Tam Quốc Chí thiên về nhấn mạnh hoạt động quản lý quốc gia của một bậc tướng quốc hơn là quan tâm đến cuộc đời trận mạc của một vị quân sư. Tam Quốc Chí chép công kiến thiết, xây dựng nền hành chính của Khổng Minh ở Ba Thục khá tường tận. Sự nghiệp kinh bang tế thế của Gia Cát Lượng ở Thục Quốc (chủ yếu tại vùng Tây Xuyên lấy từ tay Lưu Chương, vùng mà Lưu Bị định đô và trở thành hậu phương của công cuộc bắc phạt sau ngày Quan Công để mất trọng địa Kinh Châu) mà chính sử chép để lại ấn tượng về một Khổng Minh nhà hoạt động chính trị kết hợp một cách nhuần nhuyễn Nho gia với Pháp gia. Trong đó yếu tố pháp trị dường như có phần nổi trội hơn. Điều đó cũng dễ hiểu trong tình hình đất mới thay chủ và quốc gia cần ổn định để chuẩn bị cho cuộc viễn chinh lên phía bắc thu phục Trung nguyên, khôi phục Hán triều. Tất cả những điều đó - tài trí siêu phàm và trị quốc hiệu quả của Gia Cát Lượng vẫn được tiếp tục biểu hiện trong tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa. Thế nhưng tác giả Tam Quốc Diễn Nghĩa đồng thời với việc tô đậm tài trí siêu phàm còn ra sức khắc sâu nội hàm nhân cách đạo đức cho nhân vật. Kết quả là người đọc Tam Quốc Diễn Nghĩa không chỉ phục tài mà còn mến đức Gia Cát Lượng. Đức trung thứ, tâm hồn kiên trinh, cuộc đời liêm chính, cung cúc tận tụy, tri thiên mệnh mà vẫn gắng gỏi chuyện đời, độ tinh tế trong ứng xử các mối quan hệ nhân sinh…tất cả những nét nhân cách đó của Khổng Minh được tác giả bộ tiểu thuyết khắc hoạ rất nhuần nhã tạo nên một bề sâu hiếm thấy cho hình tượng thừa tướng nước Thục. Khác với lối trần thuật ngôn hành khô khan đơn điệu của chính sử, tự sự của tác giả Tam Quốc Diễn Nghĩa đã cho ta thấy một con người Khổng Minh sinh động khả cảm, khả ái. Nhiều tình tiết, câu chuyện mà bản thân chúng không hợp hoặc khó cho lối kể chuyện kiểu bình thoại, thuyết thư mà cũng không quan trọng lắm đối việc chép sử lại trở nên rất khả thủ trong tự sự tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa. Những tình tiết, mẩu chuyện đó rất giàu sức biểu hiện. Chúng khiến cho hình tượng vị quân sư được khắc họa một cách đầy đặn và chân thực hơn. Có thể tìm thấy những tình tiết như vậy từ trong những trần thuật của tác giả về mối quan hệ giữa Khổng Minh với Quan Công và Trương Phi - hai hiền đệ của chúa công nhưng đồng thời lại là đại tướng thuộc quyền chỉ huy của mình. Độc giả không khó phát hiện thấy thái độ bất phục tùng lúc công khai lúc ngầm ngầm, cố tình làm khó dễ của hai tướng Quan Trương đối với vị quân sư ngay từ những ngày đầu. Riêng đối Trương Phi thì từ thuở theo đại ca tam cố thảo lư đã từng đòi ném lửa đốt nhà xem tên thôn phu quèn có chịu dậy tiếp huynh trưởng hay không. Như tuồng vị quân sư trẻ tuổi dài lưng tốn vải vì chen ngang vào cái quan hệ tình cảm vườn đào kia mà suốt đời đã hứng lấy mối kỳ thị ghen tuông vô hình đến từ cả Quan Công lẫn Trương Phi. Còn chúa công Lưu Bị trong khi đã để toàn quyền cho Khổng Minh nhưng vẫn vì mối tình thân với riêng hai người em “không sinh cùng năm nhưng thề chết cùng ngày” mà thường đem lại những khó xử cho quân sư. Như ta đọc thấy, chẳng hạn khi Quan Công để mất Kinh Châu rồi chết về tay Đông Ngô, Lưu Bị bất chấp lời khuyên của Khổng Minh đã cất quân cả nước trả thù cho em. Kết quả là toàn bộ chiến lược của thừa tướng đã bị phá sản. Lưu Bị ăn năn đà đã muộn, nhuốm bệnh lâm chung. Thử đọc màn trần thuật cảnh Lưu Bị trối trăng cùng Khổng Minh: “(Lưu Bị đánh Đông Ngô báo thù cho Quan Công bại trận chạy về Bạch Đế thành, ốm nằm thấy Quan Trương đến báo mộng, tỉnh dậy biết mình không còn sống được bao lâu-LTT) Liền sai sứ về Thành Đô, mời thừa tướng và bọn thượng thư lệnh Lý Nghiêm đi gấp ngày đêm đến thành Bạch Đế nghe di mệnh. Khổng Minh cùng các quan đem con thứ Tiên Chủ là Lỗ Vương Lưu Vĩnh và Lương Vương Lưu Lý đến chầu ở cung Vĩnh An thăm bệnh, để Thái Tử Lưu Thiện ở lại coi Thành Đô. Khổng Minh đến cung Vĩnh An, thấy Tiên Chủ bệnh đã nguy kịch, vội vàng phủ phục cạnh long sàng. Tiên Chủ truyền mời ngồi lên cạnh mình, đưa tay vỗ vỗ vào lưng Khổng Minh mà bảo rằng: “Trẫm từ khi có được thừa tướng, may thành được đế nghiệp. Vì nỗi trí thức thiển lậu, không nghe lời thừa tướng, tự rước lấy thảm bại. Ân hận thành bệnh, chưa biết sống chết lúc nào. Con nối nghiệp thì ngu hèn, trẫm không thể không đem đại nghiệp mà ủy thác cùng thừa tướng.” Nói đoạn, nước mắt dàn giụa. Khổng Minh cũng khóc nói: “Mong bệ hạ bảo trọng long thể, để thỏa lòng trông đợi của thiên hạ.” Tiên Chủ đưa mắt ngó quanh một lượt thấy có Mã Tốc em của Mã Lương đang đứng gần cạnh, bèn truyền cho tạm lui. Mã Tốc lui ra. Tiên Chủ bảo cùng Khổng Minh rằng: “Thừa Tướng coi tài Mã Tốc ra sao?” Khổng Minh đáp: “Người này cũng là anh tài thời nay.” Tiên Chủ bảo: “Không phải, trẫm xem người này nói nhiều mà làm thì không được như lời, không nên dùng vào việc lớn. Thừa tướng phải xét cho kỹ.” Dặn dò xong, truyền gọi các quan lên điện, lấy giấy bút thảo xong di chiếu đưa cho Khổng Minh mà than rằng: “Trẫm không học hành sách vở được gì, chỉ biết đại khái mà thôi. Thánh nhân có câu “Con chim sắp chết, tiếng kêu ai oán; người ta sắp chết, lời nói khôn ngoan.” Trẫm vốn những mong cùng các khanh diệt giặc Tào chung phò nhà Hán. Không may nửa đường chia biệt. Vậy phiền Thừa Tướng cầm chiếu này trao cho Thái Tử Thiện, bảo nó chớ xem đó là lời nói thường. Phàm mọi việc còn mong thừa tướng dạy bảo thêm cho nó!” Khổng Minh cùng các quan khóc lạy dưới đất: “Xin bệ hạ tĩnh dưỡng long thể, chúng thần nguyện đem hết sức trâu ngựa để báo đền ơn tri ngộ!” Tiên Chủ sai nội thị dìu Khổng Minh dậy, một tay gạt lệ, một tay cầm lấy tay Không Minh mà rằng: “Trẫm chết đến nơi rồi, còn lời tâm phúc ngỏ cùng Thừa Tướng đây.” Khổng Minh nói: “Bệ hạ thánh dụ điều gì?” Tiên Chủ khóc nói: “Tài Thừa Tướng gấp mười Tào Phi, tất có thể an bang định quốc, hoàn thành nghiệp lớn. Con trẫm nếu phò trợ được thì làm, nhược bằng nó bất tài thì tiên sinh tự làm chủ nhân của Thành Đô vậy.”[5] Khổng Minh vừa nghe, tay chân rụng rời, mồ hồi đổ khắp mình, khóc lạy dưới đất: “Thần đâu dám không hết sức cạn lực, dốc niềm trung trinh cho đến chết mới thôi!” Dứt lời, rập đầu xuống đất đến chảy máu. Tiên Chủ bảo Khổng Minh ngồi lại lên gường, gọi Lỗ Vương Lưu Vĩnh, Lương Vương Lưu Lý đến trước mặt, dặn rằng: “Chúng mày phải nhớ lời trẫm: sau khi trẫm mất rồi, ba anh em mày phải coi Thừa Tướng như cha, không được khinh nhờn.” Nói đoạn, sai hai con cùng lạy Khổng Minh. Hai Vương bái lạy xong, Khổng Minh nói: “Thần dù gan óc lầy đất cũng không báo đáp được ơn tri ngộ này.” Tiên Chủ bảo các quan: “Trẫm đã giao con côi cho Thừa Tướng, bảo chúng coi Thừa Tướng như cha. Các khanh cũng chớ coi thường mà phụ lòng trông đợi của trẫm.” Lại dặn Triệu Vân: “Trẫm với khanh cùng nhau từ thuở gian nan, hoạn nạn vui buồn có nhau cho đến giờ, không ngờ chia biệt ở đây. Khanh nghĩ đến tình cố cựu mà sớm hôm trông nom con trẫm, chớ phụ lời trẫm!” Triệu Vân khóc lạy nói: “Thần há dám không hết sức khuyển mã.” Tiên Chủ lại bảo với các quan: “Bá quan các khanh, trẫm không thể dặn dò từng người một, chỉ mong mỗi người ai cũng bảo trọng!” Dứt lời vua băng, thọ 63 tuổi. Bấy giờ là ngày 24 tháng Tư, mùa hạ, năm Chương Võ thứ ba (công lịch 222 - LTT).”[6] Ngay cả với những độc giả quen nết đọc cho biết cốt truyện cũng không thế không thầm phục tài tự sự quán xuyến diễn biến toàn sách của tác giả Tam Quốc Diễn Nghĩa. Chi tiết Mã Tốc trong đoạn trên xem ra có vẻ hơi lạc lõng thế nhưng chỉ khi ta đọc đến hồi 95 kể chuyện Khổng Minh mắc sai lầm dùng Mã Tốc ở trận Nhai Đình thì mới bộc lộ tính đích đáng của nó. Tác giả Tam Quốc Diễn Nghĩa đã tô đậm đoạn “Tiên Chủ lâm chung phó thác con côi” thành một màn tự sự giàu sức biểu cảm. Trần thuật của tác giả cho thấy so với đoạn kí tải thuật kể sơ lược trong Tam Quốc Chí kịch tính của màn chuyện này được nâng cao lên rất nhiều. Khổng Minh dường như đã trở thành nhân vật chính của màn chuyện. Lưu Bị lâm chung ngoái đi ngoảnh lại cũng chỉ trực tiếp trối trăng dặn dò có mấy người. Không kể hai người con (đáng lẽ phải có con trưởng Lưu Thiện) thì chỉ có nói chuyện cùng Khổng Minh rồi Triệu Vân. Thái tử kế vị ngày nay chính là ấu chúa A Đẩu mà Triệu Vân bọc trước ngực tả xung hữu đột phá trùng vây quân Tào cứu ra năm xưa. Khi đó Lưu Bị “quẳng con xuống đất, nói Vì mày, suýt nữa ta mất một viên đại tướng” (hồi 42) thì giờ đây giao con cho Thừa Tướng, Lưu Bị còn dặn dò thêm Triệu Vân nữa. Lưu Bị năm xưa quăng con mà khiến cho Triệu Vân “dù gan óc lầy đất cũng không đủ báo đáp” thì giờ đây trao con lại “khiến cho Thừa Tướng nguyện “dốc lòng trung trinh đến chết mới thôi”. Đằng sau câu chuyện tình vua tôi, nghĩa quân thần cảm động lòng người, đằng sau sự thú vị của tình tiết được trình bày hết sức chọn lọc, một độc giả tinh tường sẽ còn đọc thấy biết bao ý vị nhân sinh và dư ba trong tâm tư. Chính điều đó làm nên chiều sâu nội tâm, đường nét nhân cách cho các hình tượng nhân vật, gợi lên sự sâu thẳm của cuộc đời nhân thế. Lưu Bị vì sao mà trối cùng Khổng Minh “Con trẫm nếu phò trợ được thì làm, nhược bằng nó bất tài thì khanh tự làm chủ nhân của Thành Đô vậy (Chúng tôi nhấn mạnh bằng in nghiêng- LTT)”? Còn Khổng Minh vì sao mà vừa nghe mấy lời đó đã “tay chân rụng rời, mồ hồi đổ khắp mình, khóc lạy” “rập đầu đến chảy máu”? Mĩ nhân đẹp cho người yêu mình, kẻ sĩ chết cho người tri kỉ. Thuật hoài, ngôn chí suy cho cùng cũng chỉ là bút mực lời chữ. Muốn tỏ được lòng trung trinh, lập trường kiên định nhiều lúc phải máu nhuộm cờ đào, gan óc lầy đất, gói thân da ngựa mới thỏa nguyện cam lòng. Thế giới nhân vật Tam Quốc là thế giới của gồm cả những minh quân hiền tướng năng thần lẫn hôn quân bạo chúa nịnh thần tặc tử cho chí vô số những anh tài trên các phương diện chính trị ngoại giao quân sự. Trong đó hạng mưu sĩ thuyết khách sớm Sở tối Tần - một đặc sắc của thời đại được mô tả khá sinh động. Có sử gia liên hệ đến tình trạng tự do lưu thông nguồn nhân lực trong một số khu vực trên thế giới ngày nay. Người ta cũng chú ý đến ngoài thường lệ chúa chọn bề tôi còn có hiện tượng anh tài chọn minh chủ trong Tam Quốc. Ai cũng thấy Trần Cung chọn thờ Lã Bố là sai, nhưng cũng có người tiếc Khổng Minh không theo phò Tào Tháo. Có thể vào thủa tam cố thảo lư, Lượng chưa thấu được cái tài diễn điều nhân của Bị nhưng cái sáng suốt của kẻ “nắm được xu thế của lịch sử” chắc đã khiến cho kẻ sĩ này ngần ngại khi rời Ngọa Long Cương. Thế nhưng nếu Khổng Minh không ra khỏi lều tranh thì Tam Quốc ai biết rồng ngọa Nam Dương? Vậy mà ở đời nhiều khi chỉ vì nặng một lời nguyền, một lời thác gửi đinh ninh của đồng chí mà cam lòng dấn thân làm đấng bậc giữa đời. Dù có khi biết sức không trì níu nổi cuộc cờ canh bạc hoặc biết rõ oan khốc lăng loàn sẽ đổ xuống giữa đầu. Nhưng bù lại họ đã có thể nhắm được mắt xuôi được tay, tâm hồn chính nhân an nhiên cùng cây cỏ. Khổng Minh chắc chắn là một người như thế. Tác giả Tam Quốc chí diễn nghĩa tìm cách nhấn mạnh màu sắc nho gia và ý vị bi kịch trong hình tượng Khổng Minh. Quả đúng như nhận xét tinh tường của Hạ Chí Thanh: “Việc Khổng Minh nhận gánh vác cái trách nhiệm giúp rập Lưu Bị - người được xem là thừa kế hợp pháp chính thống dòng dõi nhà Hán phục hưng Hán triều tỏ rõ lập trường nho gia của ông” (Trung Quốc cổ điển tiểu thuyết sử luận, Giang Tây nhân dân xuất bản xã, tr.56). Vốn định tiêu dao ngày tháng giữa sơn lâm, Khổng Minh từng phất tay áo bỏ đi khi Từ Thứ muốn giới thiệu ông ra giúp đời (hồi 36). Vậy mà cảm cái đức ân cần, ơn tri ngộ và tấm lòng thành khẩn của Hoàng thúc, Khổng Minh cuối cùng đã giã từ lều tranh Nam Dương. Cố tránh đường nhập thế phần lớn vì bản thân ông biết trước khó lòng xoay chuyển mệnh trời, mà rốt cuộc đành dấn thân cho sự nghiệp - ấy là phong độ của một kẻ sỹ biết rõ không thể làm mà gắng gỏi làm, cúc cung tận tụy tử nhi hậu dĩ - một lòng tận tụy cho sự nghiệp đến chết mới thôi. Không biết cho đến tận lúc quẩy lại gánh nặng non sông Thục Hán mà tiên chúa phó lại rồi trút hơi thở cuối cùng giữa đường hành quân thu phục Trung Nguyên, Khổng Minh có biết câu mà người bạn thời ẩn dật Nam Dương Tư Mã Huy nói khi Lưu Bị tìm đến Ngọa Long Cương năm xưa - “Khổng Minh tuy gặp chủ, nhưng không gặp thời, tiếc thay!”[7] hay không? Thành thử, đọc hết bộ Tam Quốc Diễn Nghĩa độc giả phục tài thần mưu diệu toán của quân sư quân Thục quốc một phần mà càng cảm bội phần đức trung thứ, chí công vô tư, tinh thần hy sinh, xử thế nghĩa dũng, cuộc đời thanh bạch liêm khiết của vị thừa tướng Thục Hán. Đỗ Phủ dường như cũng chung phần cảm nghĩ khi viết câu bất hủ “Xuất sư vị tiệp thân tiên tử, Trường sử anh hùng lệ mãn khâm” (Sự nghiệp chửa thành quân sư đã sớm mất, Mãi khiến bậc anh hùng tiếc thương lệ đầm vạt áo).[8] Cùng với võ tướng Triệu Tử Long, quân sư Gia Cát Lượng là một nhân vật có lẽ giành được cảm tình trọn vẹn nhất của cả tác giả lẫn độc giả. Chúng ta thậm chí có quyền nghĩ tới việc cho đây là cặp nhân vật lý tưởng trong bộ tiểu thuyết trường thiên này.[9] Tài liệu tham khảo: 1. Trần Thọ, Tam Quốc chí (Bùi Tùng Linh chú), Trung Hoa thư cục, 1959. 2. La Quán Trung, Tam Quốc diễn nghĩa (thượng, hạ quyển), Nhân dân xuất bản xã, 2004. 3. La Quán Trung, Tam Quốc diễn nghĩa (ba tập), Phan Kế Bính dịch, Bùi Kỉ-Lê Huy Tiêu hiệu đính, Nxb. Văn Học, 2004. 4. La Quán Trung, Tam Quốc chí diễn nghĩa (2 tập), lời bình Mao Tôn Cương, dịch thuật Tử Vi Lang, Nxb. Văn hoá Thông tin, 2006. 5. La Quán Trung, Tam Quốc chí diễn nghĩa (hai tập), lời bình Mao Tôn Cương, dịch thuật Mộng Bình Sơn, Nxb. Văn hoá Thông tin, 2006. 6. Sử Ký của Tư Mã Thiên, Giản Chi & Nguyễn Hiến Lê giới thiệu, trích dịch và chú thích, Lá Bối in lần thứ nhất 1970, Saigon-Vietnam. 7. Claudine Salmon biên soạn, Tiểu thuyết truyền thống Trung Quốc tại Á châu, Trần Hải Yến dịch, Nxb. KHXH, 2004. 8. B.L.Riftin, Sử thi lịch sử và truyền thống văn học dân gian Trung Quốc, Phan Ngọc dịch từ nguyên bản tiếng Nga, Nxb. Thuận Hoá – Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây. 9. Lỗ Tấn, Trung Quốc tiểu thuyết sử lược, Bách Hoa văn nghệ xuất bản xã, bản in năm 2002. 10. Trung Quốc văn học thất luận - Seven Topics on Chinese Literature, Quảng Tây Sư phạm Đại học Xuất bản xã (Guangxi Normal Univ. Press). 11. Lưu Sóc, Tiểu thuyết khảo tín biên, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1997. 12. Chu Nhất Huyền, Tam Quốc diễn nghĩa tư liệu hội biên, Bách hoa văn nghệ xuất bản xã, bản in 1983. 13. Trịnh Chấn Đạc, Văn học đại cương -Literature compendium, Trung Hoa thư cục xuất bản lần đầu 1926, Quảng Tây sư phạm đại học xuất bản xã tái bản, 2003. 14. Hayden White, Hậu hiện đại lịch sử tự sự học, Trần Vĩnh Quốc–Trương Vạn Quyên dịch, Trung Quốc xã hội khoa học xuất bản xã xuất bản, bản in năm 2003. 15. Chu Nhất Huyền, Minh Thanh tiểu thuyết tư liệu tuyển biên, Tề Lỗ thư xã, bản in 1990. 16. Hoàng Sương-Hứa Kiến Bình, Nhị thập thế kỷ Trung Quốc cổ đại văn học nghiên cứu sử - Tiểu thuyết quyển, Đông Phương xuất bản trung tâm, 2006. 17. Andrew H. Plaks, Trung Quốc tự sự học, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, bản in 1996. 18. Tôn Khải Đệ, Tam Quốc chí bình thoại dữ Tam Quốc chí thông tục diễn nghĩa, Văn Sử, quyển 1, 2 kì, 6/1934. 19. Hồ Thích cổ điển văn học nghiên cứu luận tập, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, bản in 1998. 20. Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân, Tướng soái cổ đại Trung Hoa, tập 1, Nxb. Lao động, 2006. 21. Minh Thanh tiểu thuyết nghiên cứu, Kỳ 1, năm 2000. 22. Hạ Chí Thanh, Trung Quốc tiểu thuyết sử luận (Hồ Ích Dân, Thạch Hiểu Lâm, Đơn Khôn Cầm dịch từ bản tiếng Anh The Classic Chinese Novel), Giang Tây nhân dân xuất bản xã, bản in 2001. 23. Chúc Tú Hiệp, Tam Quốc nhân vật tân luận, Thượng Hải, Quốc tế văn hóa phục vụ xã, 1948 24. Lỗ Tư Miễn, Tam Quốc diễn nghĩa nghiên cứu luận văn luận tập, Bắc Kinh, Tác gia xuất bản xã, 1957. Chú thích: [1]Lời Mao Tôn Cương: “Ngô dĩ vi Tam Quốc hữu tam kì, khả xưng tam tuyệt: Gia Cát Khổng Minh nhất tuyệt dã, Quan Vân Trường nhất tuyệt dã, Tào Tháo diệc nhất tuyệt dã” - Độc Tam Quốc Chí Pháp. [2] Cách nói Tam Quốc diễn nghĩa là một tập binh thư suy cho cùng cũng chỉ là một lối so sánh mà thôi. Những mưu mẹo trong bộ tiểu thuyết không phải là những khuôn mẫu luôn luôn đúng. Việc trình bày nó cũng không phải là kín kẽ hoàn toàn. Một độc giả đã từng đọc nhiều tiểu thuyết trinh thám hay truyện tình báo phương Tây chắc chắn sẽ bất mãn ít nhiều khi đọc Tam Quốc Diễn Nghĩa. [3] Nguyên văn cả đoạn: “Khả vị thức trị chi lương tài. Quản, Tiêu chi á bỉ hĩ. Nhiên liên niên động chúng, vị năng thành công, cái ứng biến tướng lược, phi kì sở trường!” [4] B.L.Riftin, Sử thi lịch sử và truyền thống văn học dân gian Trung Quốc (Bản dịch Phan Ngọc, Nxb. Thuận Hoá – Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây). [5] Tam Quốc Diễn Nghĩa lấy nguyên đoạn lời Lưu Bị từ Gia Cát Lượng truyện - Thục Thư - Tam Quốc Chí, chỉ thay đổi mấy chữ cuối cùng “Nhược kì bất tài, quân khả tự thủ” (Nếu con ta bất tài, khanh có thể tự mình tự làm chủ lấy) thành “Nhược kì bất tài, quân khả tự vi Thành Đô chi chủ”. Hàm ý đi từ chỗ mơ hồ (tự thủ - thay thế mà làm hoặc nói làm thay) chuyển sang rõ ràng xác định (tự là chủ nhân của kinh đô). Chả trách Khổng Minh nghe xong “tay chân rụng rời, mồ hồi đổ khắp mình, khóc lạy dưới đất”, đáp lời xong còn “rập đầu xuống đất đến chảy máu” (chúng tôi nhấn mạnh bằng in đậm-LTT). Xin nhớ là trong Gia Cát Lượng truyện (Tam Quốc Chí) không có các chi tiết đó! Mới biết hàm súc trong văn đâu phải là số chữ , số lời. Và cái sự thực, ý vị nhân sinh mà tiểu thuyết diễn tả đâu phải là thứ mà kí tải lịch sử (chí/thư/lục) phản ánh được! [6] Tam Quốc Diễn Nghĩa, Nhân dân văn học xuất bản xã, bản in lần thứ 13, 2004, hồi 85, quyển hạ, tr.697. [7] Nguyên văn: “Ngọa Long tuy đắc kì chủ, bất đắc kì thời, tích tai!”. Xem Tam Quốc Diễn Nghĩa, Nhân dân văn học xuất bản xã, bản in lần thứ 13, 2004, hồi 63, quyển thượng, tr.310. [8] Đỗ Phủ viết Thục tướng (Thừa tướng nhà Thục) vịnh Khổng Minh: Tam cố tần phiền thiên hạ kế, Lưỡng triều khai tế lão thần tâm. Xuất sư vị tiệp thân tiên tử, Trường sử anh hùng lệ mãn khâm Tạm diễn nghĩa: Ba lần đến thảo lư vời hỏi kế sách bình thiên hạ, Hai triều sáng nghiệp tấm lòng của lão thần. Sự nghiệp chửa thành quân sư đã sớm mất, Mãi khiến cho bậc anh hùng tiếc thương lệ đầm vạt áo. [9] Triệu Vân trên thực tế đã trở thành tùy tướng của Khổng Minh. Khổng Minh trước sau giữ một mối cảm tình nồng hậu đối viên tướng này. Trần thuật của tiểu thuyết cũng cho ta thấy Tử Long đáng gọi văn võ song toàn kiêm gồm trí dũng. Triệu cũng là một danh tướng đã để cho “nhân gian được thấy đầu bạc”, khác với phần đa những chiến tướng đã kết liễu đời mình ngoài cửa trận. Trần thuật về Triệu Vân và Gia Cát Lượng có thể nói dường như không có yếu tố gọi là “phúng dụ ngầm”.
-
Wiki: Lý Nam Đế (chữ Hán: 李南帝; 503–548) là vị hoàng đế sáng lập nhà Tiền Lý và khai sinh nhà nước Vạn Xuân trong lịch sử Việt Nam. Ông tên thật là Lý Bí (李賁), còn gọi là Lý Bôn[1], người làng Thái Bình, phủ Long Hưng[2], Việt Nam (khoảng Thạch Thất và thị xã Sơn Tây, Hà Nội). [1] Lý Nam Đế có tài văn võ. Ông đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, đánh đuổi được quân đô hộ, rồi xưng là Nam Đế (vua nước Nam), đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên (chưa rõ ở đâu, có lẽ gần thành phố Bắc Ninh ngày nay). Long Biên không ở Hà Nội thì ở đâu???
-
Theo tư liệu này thì Mạnh Hoạch đã tấn công Giao Châu, giết quan đô hộ từ thời Đông Hán, khi cả Tôn Quyền lẫn Lưu Bị còn chưa làm chủ được Giao Châu. Vùng đất của Mạnh Hoạch có thể xác định khá rõ theo thần tích, là vùng giáp với “Tuyên Quang, Hưng Hóa” tới tận “Ái Châu”, hay là vùng Tây Bắc Việt Nam ngày nay. Mạnh Hoạch là người Mán ở Tây Bắc Việt Nam. Chuyện này nghe qua thấy quá kỳ lạ nhưng không phải không có căn cứ. Theo Tam quốc diễn nghĩa Gia Cát Lượng sau thu phục Mạnh Hoạch, lúc rút quân có dừng lại sông Lư Thủy, làm lễ tế cho các tử sĩ trong cuộc Nam chinh. Trong bài văn tế có câu: "Từ khi giặc xâm lăng cõi Thục Binh khởi đất Mường" “Đất Mường” ở đây cho thấy Man=Mường, Man Vương Mạnh Hoạch là người cầm đầu các tộc người Mường Mán ở Tây Bắc Việt Nam. Sông Lư Thủy có thể là sông Lô, chảy vào Việt Nam ở Hà Giang ngày nay. Lư và Lô là 2 cách phát âm khác nhau của cùng một chữ, chỉ dòng sông Lửa hay con sông chảy qua đất Đào thời Hồng Bang. Gia Cát Khổng Minh đã từ Vân Nam vượt sông Lô, tiến vào bình Mạnh Hoạch ở vùng rừng núi Tây Bắc nước ta. Trong thần tích Hương Ngải cũng nói rõ khi Lưu Bị lên ngôi Hán Trung Vương đã phong cho 3 vị họ Chu làm Chánh, phó đô hộ. Tức là khi đó “nước Việt ta” thuộc về triều Thục Hán của Lưu Bị. Vùng Tây Bắc nước ta sau khi Mạnh Hoạch đầu hàng Khổng Minh cũng thuộc về triều Thục. Thống nhất sự phân tích của tác với bản thần tích này, hoàn toàn logic, tuy nhiên cần làm rõ thêm tích nữ tướng Triệu Thị Trinh và thiền sư Khương Tăng Hội truyền bá Phật giáo qua Đông Ngô trong tương quan về mặt thời gian.
-
Tập Thiên Đạo Đại pháp tâm công. Hết ngay.
-
[ Cột đồng Mã Viện Cột đồng Mã Viện, theo một số sử cũ, là một cây cột đồng lớn trên có khắc sáu chữ Hán: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" (Cột đồng gẫy, Giao Chỉ không còn) do viên chỉ huy quân đội nhà Hán là Mã Viện sai làm từ các dụng cụ bằng đồng (trong số đó có trống đồng) thu được của người Việt, và cho dựng sau khi chinh phục được cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng ở Giao Chỉ vào năm 43. Việc làm này đã được nhiều sử gia Việt Nam và Trung Quốc quan tâm. Tuy nhiên, "cột đồng Mã Viện" có thật hay chỉ là lời truyền, và nếu có thì nó được dựng ở nơi đâu, vẫn là vấn đề chưa có kết luận thỏa đáng. * Theo sách Thủy Kinh chú sớ của Lịch Đạo Nguyên, thì: Mã Văn Uyên (Mã Viện, tên tự là Văn Uyên) đã cho dựng cái mốc đồng để làm giới hạn cuối cùng của đất phía nam Trung Quốc ngày nay. Mốc đồng ấy tức là cột đồng. [Dẫn lại theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục (Tiền biên, Quyển 2, tờ 82 và 83]. Tương tự, sách Đại việt sử lược, là quyển sử thuộc hàng xưa nhất ở Việt Nam, cũng chép rằng: (Kiến Vũ) năm thứ 19 (tức năm 43), Trưng Trắc càng nguy khổn bèn trốn chạy, bị Mã Viện giết...(Sau đó) Mã Viện dựng trụ đồng làm ranh giới cuối cùng (của nhà Đông Hán) [bản dịch, tr. 40]. Gần đây trong Việt Nam sử lược [tr. 49], sử gia Trần Trọng Kim cũng nhắc lại chuyện cột đồng, nhưng giống như Đại việt sử lược, tác giả không cho biết vị trí dựng cột, trích: Mã Viện đánh được Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ về thuộc nhà Hán như cũ,...Đem phủ trị về đóng ở Mê Linh, và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới. Theo đó, "cột đồng Mã Viện" là có thật. Tuy nhiên, chỗ dựng thì cả ba sách đều biên chép khá mơ hồ. Tra trong các sách sử khác thì thấy có hai luồng ý kiến như sau: Dựng ở Khâm Châu Sách Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi đời Tống (Trung Quốc) và An Nam chí lược của Lê Tắc đời Trần (Việt Nam), đều chép Cột đồng Mã Viện được dựng ở vùng hang động Cổ Sâm (có sách ghi là Cổ Lâu) thuộc Khâm Châu (trước thuộc Quảng Đông, nay thuộc Quảng Tây), Trung Quốc. Đến cuối thế kỷ 17, sử thần Ngô Sĩ Liên trong bộ sách Đại Việt sử ký toàn thư của mình, cũng ghi là cột đồng tương truyền dựng ở trên động Cổ Lâu, thuộc châu Khâm [Ngoại kỷ, Quyển III. Bản dịch trang 147]. Sau, một số sách cũng cho biết tương tự: Sách Đại Thanh nhất thống chí đời Thanh chép: Tương truyền (cột đồng) ở về động Cổ Sâm thuộc châu Khâm, Mã Viện có thề rằng: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt", nghĩa là "Cột đồng ấy gãy thì Giao Chỉ bị diệt", nên người Việt đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên mãi thành gò đống cao. Đó vì sợ cột đồng ấy bị đổ gẫy... Sách Đại Minh nhất thống chí đời Minh chép: Cột đồng dựng ở động Cổ Lâu thuộc Khâm Châu, (nói) cột đồng Mã Viện dựng trên đất Giao Chỉ là chuyện hão huyền . Tuy nhiên, chỉ có từ điển Từ Hải (Trung Quốc) là chỉ khá rõ nơi dựng cột, đó là núi Phân Mao [1] ở động Cổ Sâm. Theo Gia Khánh trùng tu nhất thống chí đời vua Gia Khánh nhà Minh, núi Phân Mao ở về phía tây Khâm Châu. Năm 1540, Mạc Đăng Dung cắt đất hiến cho nhà Minh nên từ đấy núi Phân Mao thuộc về đồ bản nhà Minh. Dựng ở Lâm Ấp Sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục (Tiền biên, Quyển 2, tờ 82 và 83) của Quốc sử quán triều Nguyễn, đã cung cấp một số thông tin như sau: -Theo Tùy sử, tướng Lưu Phương khi đi đánh Lâm Ấp [2], qua cột đồng của Mã Viện, đi về phía nam 8 ngày thì đến quốc đô Lâm Ấp. Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (806 - 820) đời Đường, An Nam đô hộ là Mã Tổng lại lập hai cột đồng ở chỗ Mã Viện dựng cột đồng trước, để tỏ ra mình là dòng dõi con cháu Phục Ba (Mã Viện). -Theo sách Thông điển của Đỗ Hữu, từ nước Lâm Ấp đi về phía nam, đi thủy, đi bộ hơn hai nghìn dặm đến đấy có nước Tây Đồ Di là chỗ Mã Viện dựng hai cột đồng để nêu địa giới đấy. -Theo Tân Đường thư, ở châu Bôn Đà Lãng của Lâm Ấp, phía nam là năm bãi lớn, có núi "cột đồng" (đồng trụ sơn), hình núi như cái lọng dựng nghiêng, về phía tây có nhiều núi đá, phía Đông là biển lớn. Cột đồng đó là do Mã Viện dựng lên. -Theo sách Thái bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử đời Tống, Mã Viện đi đánh Lâm Ấp, đi từ Nhật Nam hơn 400 dặm đến Lâm Ấp, lại đi hơn 20 dặm nữa có nước Tây Đồ Di. (Mã) Viện đến nước ấy rồi lập hai cái cột đồng ở nơi phân giới giữa Tượng Lâm và Tây Đồ Di. Về đường thủy, đi từ Nam Hải hơn 3000 dặm đến Lâm Ấp, rồi đến cột đồng ở Giao Châu phải 5000 dặm nữa... Ở Việt Nam, chép cột đồng Mã Viện dựng ở Lâm Ấp có Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn và Nghệ An thi tập của Bùi Huy Bích. Dựng ở núi Thành (Nghệ An) Trong bài "Les colonnes de broze de Ma Vien" đăng trong Bulletin des Amis du Vieux Hue ngày 10 tháng 11 năm 1943, học giả Đào Duy Anh cho rằng chuyện cột đồng là có thật và có lẽ nó được dựng ở núi Thành (tức núi Lam Thành hay núi Đồng Trụ, tên chữ là Hùng Sơn) ở Nghệ An. Và ông tin tưởng lời phán đoán của mình là đúng vì nó gần ăn khớp với sự ghi chép của sách Ngô lục và Tùy thư. Bị bác bỏ Theo sách Thông điển và Tân Đường thư ở đời Đường, thì cột đồng Mã Viện có thể ở chỗ núi Thạch Bi (nay thuộc Phú Yên). Đề cập đến vấn đề này, sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục (Tiền biên, Quyển 2, tờ 83) thời Nguyễn đã có ý kiến như sau: ...Nay xét dã sử thấy có chép tỉnh Phú Yên có sông Đà Diễn (tục gọi là sông Đà Rằng). Phía Nam sông ấy có bãi lớn. Phía Tây Nam bãi ấy có núi Thạch Bi. Núi này chu vi tới mười dặm, phía Tây tiếp Đại Lĩnh, nhiều rặng trùng điệp, phía đông ra mãi bờ biển. Trên đỉnh núi ấy có một phiến đá trơ trọi cao hình như bị chẻ dọc. Theo lời ghi chép trong các sách Thông điển, Đường thư, ngờ rằng cột đồng có thể ở chỗ ấy. Chỉ có một điều, một phiến đá trơ trọi ở trên đỉnh núi ấy, cao chừng 10 trượng, rộng tới 6,7 trượng. Nhân dân ở quanh núi ấy nói rằng phiến đá ở trên đỉnh núi là một chỏm đá tự nhiên, không phải của ai lập thành cả. Vậy e rằng ta không thể bảo đấy là cột đồng.... Năm 1908, sách Đại Nam dư chí ước biên ra đời (do Cao Xuân Dục làm Tổng tài) cũng bác bỏ thuyết trên, trích: ...Truyện Hoàn Vương trong Đường thư chép: "Lâm Ấp vương chạy tới Đại phố, phía nam Đà Châu, ở đó có núi Đồng Trụ. Mã Viện đời Hán dựng cột đồng ở đó". Nhưng xét truyện Mã Viện thì ông chưa từng tới Phú Yên. (Vậy) đó chỉ là lời thêm thắt [bản dịch, tr. 139]. Xét khía cạnh khác, là mặc dù các sử cũ ở bên trên đều cho rằng việc Mã Viện dựng cột đồng là có thật, nhưng tra trong Hậu Hán thư (chương nói về tiểu sử của Mã Viện) và Hậu Hán ký đều không thấy nói đến. Có lẽ vì vậy, nhà nghiên cứu Henri Maspéro trong phần biên khảo về cuộc viễn chinh của Mã Viện đã không hề nhắc đến những cây cột đồng, mà cũng chẳng có lời phủ nhận về sự hiện hữu của chúng [bài viết trong tập XVIII, số 3 năm 1918 của bộ tập san Bulletin de l'EFEO]. Đến năm 1941, một phụ tá của Trường Viễn Đông Bác Cổ là Nguyễn Văn Tố, sau khi ra công truy tầm, đã bác bỏ hẳn chuyện Mã Viện sai dựng cột đồng vì cho rằng nó chỉ là một giai thoại. Và ông còn đề nghị là "không nên chép chuyện này vào sách sử, vì không có chứng cớ chính xác" [theo bài viết của Nguyễn Văn Tố trên báo Tri tân số 14 phát hành ngày 12 tháng 9 năm 1941]. Năm 1977, sau khi tìm hiểu, GS. TS. Trương Hữu Quýnh cũng đã có ý kiến như sau: ...Nhiều nhà nghiên cứu, nhà chính trị Trung Quốc ở thế kỷ sau đã nhiều lần tìm lại dấu vết cột đồng Mã Viện mà không thấy. Họ cho rằng cột đồng đã bị đá bồi lấp mất hay bị nước biển cuốn đi. Thực ra, theo nhà nghiên cứu sau này, cột đồng và câu chuyện về cột đồng của Mã Viện đều là chuyện đặt thêm... [Lịch sử Việt Nam (trước thế kỷ X), tr. 76]. Tương tự, trong Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam có đoạn viết:...Trên thực tế, không tài liệu nào chứng minh rõ ràng được sự tồn tại của cột đồng này. Gần đây, trong các bộ sử của Việt Nam, như Đại cương lịch sử Việt Nam của nhóm Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh; Đại cương lịch sử Việt Nam của nhóm Trương Hữu Quýnh - Phan Đại Doãn - Nguyễn Cảnh Minh,....đều không nhắc đến chuyện cột đồng Mã Viện. Tuy nhiên, vẫn có người tin rằng chuyện "cột đồng Mã Viện" là có thật, bởi trong lịch sử Trung Quốc việc dựng cột để ghi công sau một cuộc viễn chinh là chuyện thường thấy. Sau Mã Viện, những tướng khác như Hà Lý Trinh, Trương Chu và Mã Tống thuộc đời Đường; Mã Hy thuộc đời Hậu Tấn cũng đã dựng cột đồng ở các xứ phía Nam . Trong văn học Việt Khoảng năm 1789, Vũ Huy Tấn được vua Quang Trung cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Trên đường đi gặp nơi dựng cột đồng, ông xúc cảm làm ra bài thơ: Vọng đồng trụ cảm hoài (Trông chỗ cột đồng, cảm xúc) Dịch nghĩa: Sáng sớm ra khỏi thành Minh Châu, Tìm hỏi dấu tích cột đồng. Người địa phương chỉ tay về phía xa, Nơi hai đống đá xanh xanh! Than ôi! Cột đồng kia! Là đất cũ của nước ta! Từ thời Trưng Vương buổi trước, Phục Ba đã vạch làm biên giới. Bậc phấn son [16] thật cũng anh hùng. Muôn đời tiếng tăm còn vang dội. Đáng thương tên gian phu nhúng tay vào vạc, Cắt đất dâng đi chẳng đoái tiếc gì. Bờ cõi xưa vì thế luân lạc đi mất, Đến nay đã hàng mấy trăm năm. Khói mù cộng với thời gian, Cảm khái việc xưa nay biết dường nào! Bên này có núi Phân Mao, Trời đã làm cho phần Bắc phần Nam bị chia tách. Chia đã lâu rồi cần hợp lại, Vết tích lạ này há lại bỏ không. Trong Nam Phong tạp chí số 8, tháng 2 năm 1918, ở mục Vịnh sử có bài thơ ký tên là Vô danh thị, như sau: Trèo non vượt bể biết bao công, Một trận hồ Tây chút vẫy vùng. Quắc thước khoe chi mình tóc trắng, Cân thoa đọ với gái quần hồng. Gièm chê đã chán đầy mâm ngọc, Công cán ra chi mấy cột đồng. Ai muốn chép công ta chép oán, Công riêng ai đó oán ta chung. Thông tin liên quan Một số triều đại phong kiến ở Trung Quốc đã tỏ ra khá quan tâm về chuyện cột đồng Mã Viện. Trích trong sử cũ Việt Nam: -Mùa hạ, tháng 4 năm Nhâm Thân (1272), sứ nhà Nguyên là Ngột Lương sang hỏi giới hạn cột đồng cũ. Vua (Trần Thánh Tông) sai viên ngoại lang Lê Kính Phụ đi hội khám. (Phụ) trở về nói rằng, cột đồng Mã Viện dựng lâu năm đã bị may một, không còn tung tích gì [Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ, Quyển V, bản dịch, tr. 37]. ]. Tháng 8 năm Ất Dậu (1345), sứ nhà Nguyên là Vương Sĩ Hành lại sang hỏi việc cột đồng. Vua Trần Dụ Tông sai Phạm Sư Mạnh đi sang biện luận việc này. Từ bấy giờ trở đi không thấy nhắc nhở đến việc này nữa. Rồi sau đời Trần, nhà Minh chiếm nước Việt được 14 năm, họ cũng không tìm thấy dấu tích gì về đồng trụ [Việt sử tân biên (Tập I), tr. 193]. Rất có thể, đây chỉ là cái cớ để họ hạch sách người Việt. Bùi Thụy Đào Nguyên, giới thiệu. Chú thích: [1] Theo Đại Thanh nhất thống chí (tức bộ địa dư đời nhà Thanh), núi Phân Mao ở động Cổ Sâm, cách Khâm Châu khoảng 3 dặm về phía tây. Tương truyền trên đỉnh núi Phân Mao có thứ cỏ tranh, do ảnh hưởng của khí hậu và địa thế, ngọn cỏ tranh ngả theo hai hướng Bắc và Nam cho nên mới có tên gọi là núi Phân Mao, nghĩa là núi có thứ cỏ chia ra làm hai hướng... [2]Lâm Ấp (lược kể): Năm 192, Khu Liên, con trai của Công Tào huyện Tượng Lâm (huyện cực Nam của quận Nhật Nam, tương đương với Khánh Hòa-Phú Yên hiện nay) lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nông dân, giết chết quan huyện lệnh Tượng Lâm, thành lập vương quốc Lâm Ấp. Lãnh thổ ban đầu của Lâm Ấp là Tượng Lâm cũ, sau phát triển ra các vùng Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam ngày nay. Kinh đô đầu tiên của Lâm Ấp ở Khánh Hòa, quốc vương đầu tiên là Khu Liên. Cư dân của vương quốc này là Chăm Pa, được phát triển từ cư dân bản địa, vốn là chủ nhân từng sáng tạo ra văn hoá khảo cổ học Sa Huỳnh, tức là cư dân Việt Cổ chịu ảnh hưởng của cư dân Ấn Độ từ đầu Công Nguyên. Vương quốc Lâm Ấp tồn tại tương ứng với bốn triều đại đầu tiên của dân tộc Chăm Pa với 26 đời vua, từ năm 192 đến năm 758. Tên nước Lâm Ấp được nhắc đến từ thời Hậu Hán (Tấn thư, Lâm Ấp truyện)...Theo Trần Trọng Kim, thì nước Lâm Ấp chính là Chiêm Thành sau này (Việt Nam sử lược, tr. 55). Sách tham khảo: -Khuyết danh, Việt sử lược (bản dịch của Nguyễn Gia Tường). Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1993. -Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư (Quyển I, bản dịch). Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983. -Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục (Tiền biên, Quyển 2). Bản điện tử trên website Việt Nam thư quán. - Quốc sử quán triều Nguyễn (Cao Xuân Dục làm chủ biên), Đại Nam dư địa chí ước biên (TS. Hoàng Văn Lâu dịch). Nhà xuất bản Văn học, 2003. -Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược. Nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn, 1968. -Phạm Văn Sơn, Việt sử tân biên (Tập I). Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, giấy phép xuất bản tháng 3 năm 1968. -Trương Hữu Quýnh, Lịch sử Việt Nam (trước thế kỷ X). Nhà xuất bản Giáo dục, 1977. -Phan Huy Lê - Trần Quốc Vượng - Hà Văn Tấn - Lương Ninh, Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập I). Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1983. Ảnh: Tượng Mã Viện tại núi Phục Ba, Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Minh đô. Xin trích lại vài dòng trước đây đã viết : Kinh Thư , thiên Nghiêu điển chép : ....Bèn sai ông Hy Hoà Kính theo trời cao , làm lịch làm tượng về mặt trời ,mặt trăng và các vì sao , cẩn thận truyền cho dân về mùa . Vua sai ông Hy Trọng đến đóng ở Ngung di, gọi là Dương cốc ,cẩn thận xem từ lúc mặt trời mọc , định các việc làm về mùa xuân .Xem nhật trung tinh Điểu để định tháng trọng xuân..... ....lại sai ông Hy Thúc đến đóng ở Nam Giao ( theo ông Tăng tinh Lạp phải thêm vào 3 chữ :viết Minh đô ), định các việc làm mùa hạ , kính cẩn ghi ngày Hạ chí , ngày dài , sao Hỏa khi chập tối thấy ở đỉnh đầu , lấy đó để chính thức định trọng hạ . ....sai ông Hoà Trọng đến đóng ở miền tây gọi là Muội cốc , cẩn thận xem từ lúc mặt trời lặn định các việc làm mùa thu ,. xem tiêu trung tinh Hư để định tháng trọng thu . ....Lại sai ông Hoà Thúc đến đóng ở Sóc phương , gọi là U đô , xét các việc thay đổi mùa đông xem nhật đoản tinh Mão để chính thức định tháng trọng đông . Ta thấy kinh Thư đã chỉ ra mốc giới ở 4 phương thời khởi thủy của Trung hoa là : - Miền Ngung di – Dương cốc-mùa xuân , xem lúc mặt trời mọc tức buổi sáng ở phương Đông . - Miền Nam giao –Minh đô – mùa Hạ . - Miền tây là Muội cốc phía mặt trời lặn – mùa Thu . - Miền Sóc phương –U đô – mùa Đông . Dựa vào ý nghĩa mang trong tên gọi thì Minh đô và U đô phải đảo ngược mới chuẩn xác , Nam giao nghĩa là phía nam đất Giao chỉ có U đô và Minh đô ở Sóc phương tức Xích phương ý chỉ hướng Xích đạo . Về Phía đông của thời Khởi thủy Trung hoa người ta dễ dàng nhận ra là vùng Quảng Đông Trung quốc hiện nay với các dấu tích ngôn ngữ : - Ngung di bảo lưu trong tên gọi thành Phiên Ngung là Quảng châu ngày nay . - Dương cốc còn dấu vết ở Dương thành cũng ở Quảng châu ngày nay , Dương thành này chính là kinh đô thứ 3 của nhà Hạ . Ở miền Nam giao ông Tăng tinh Lạp thêm vào bản gốc thiếu 3 chữ ....’ viết Minh đô ’ là hoàn toàn chính xác . Tại đền thờ quốc tổ Hùng vương ở Phú thọ có câu đối : Vế phải: “Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ”. Vế trái: “Quang nhạc hiệp linh cố cung thành tụy miếu, tam giang khâm đái thượng triều tôn”. Minh đô - U đô nghĩa là đầu sáng - đầu tối , ‘đầu’ là cơ quan chỉ huy mọi cơ phận của cơ thể sinh vật , vận dụng vào khoa học Sử – địa ; đầu ↔ đô được dùng với nghĩa là trung tâm , nơi chỉ huy – cai quản cả vùng đất . Minh đô là thủ đô của phần đất ở hướng xích đạo –màu đỏ , U đô là thủ đô phần đất ở hướng nam xưa màu đen (nay bị ...lộn ngược thành hướng bắc ). Dương cốc là đất gốc cũng đồng nghĩa với Trung tâm đất nước ở phương đông , tương tự Muội cốc là Trung tâm ở phía tây . Dương cốc nghĩa là Trung tâm miền Ngung di đã được xác định là Dương thành Quảng châu ngày nay còn Minh đô chiếu theo câu đối ở đền Hùng thì phải nằm trên đất Phú thọ ngày nay. Minh nghĩa là sáng một từ vô cùng cao trọng đối với người Việt nam vì đế Minh theo truyền thuyết là quốc tổ ; là người khai sinh tổ quốc của muôn đời dòng giống Việt , đế Minh có liên quan gì với Minh đô ?, sự liên quan giữa Dương cốc đất Ngung di và Dương thành qúa rõ còn xét ý nghĩa của tên gọi thì về mặt từ ngữ không thấy được sự liên quan giữa Minh đô và đất Phú thọ nơi có đền Hùng . Trong tác phẩm [/color]Việt Nam khai quốc (The birth of Vietnam),] sử gia [/color]Keith Taylor viết Mê linh chính là Đất mà vua Hùng đã khai sinh nước Việt cổ : “Theo Việt Sử Lược, lịch sử Việt Nam bắt đầu khi có một "dị nhân" ở Mê Linh dùng pháp thuật để liên kết tất cả những bộ lạc dưới quyền mình, rồi dị nhân xưng hiệu là Hùng Vương và đặt tên nước là Văn Lang” , thông tin này hoàn toàn phù hợp với chứng tích khảo cổ học cho thấy rằng vào khoảng thế kỷ 7 trước Công Nguyên (TCN), những nền văn hoá khác nhau ở Bắc Việt được thống nhất lại dưới ảnh hưởng của văn hoá Đông Sơn bắt nguồn từ vùng Mê Linh. Nghiên cứu Việt Điện U Linh Tập, Keith Taylor còn cho là : Thủy Tinh không phải là một kẻ xâm lăng ngoại lai, mà lại chính là bạn thân của Sơn Tinh và cả hai bên đều cùng sống ẩn tích tại Mê Linh , Sử thuyết họ Hùng đã trưng nhiều bằng cớ chứng minh Sơn tinh chính là vua Vũ tổ nhà Hạ . Sử Việt nam cũng chép Mê linh là thủ đô nước Việt cổ của Trưng vương thời 3 năm độc lập ngắn ngủi . Xét như thế đất Mê linh đã là kinh đô của con cháu nhà Hùng từ thuở khai quốc liên tục tới thời nước Văn lang và kéo dài mãi cho tới khi nô lệ Hãn quốc . Thật may mắn khi qua phép phiên thiết Hán văn đã có được thông tin lịch sử vô cùng quan trọng : Mê linh thiết Minh Đây là bằng chứng rõ ràng để xác định : đất Mê linh ở Phú thọ ngày nay chính là Minh đô đã viết trong kinh Thư .Với bằng chứng này thì không còn là sự liên tưởng mơ hồ ; Minh đô – Mê linh đô trung tâm đất nước từ thời vua Hùng đã thành hiện thực lịch sử không thể nào bác bỏ . Xét như thế thì Vùng bắc và bắc trung Việt ngày nay chính là phần đất Sóc phương của lãnh thổ nhà Hạ vương triều đầu tiên của Trung Hoả và cổ sử Trung hoả thực ra là cổ sử của dân Việt . Thực tự hào biết bao ôi đất nước văn hiến ngàn năm . II / Thanh lang thành . Là người Việt có ai không biết về thành Thăng long kinh đô bao đời nay ? Nhưng ...rất có thể tên thực sự của kinh đô ngàn năm nước ta là ‘Thanh lang thành’ nghĩa là thành vua phía đông chứ không phải Thăng long thành theo như huyền tích rồng lên thời vua Lý thái tổ dời đô . Tất cả những chữ ‘long’ trong sách sử dùng chỉ vua thực ra là từ LANG của Việt ngữ biến âm , lang xa là xe của vua , lang ngai là ghế của vua , lang bào là áo của vua , lang thành là thành của vua .v.v. nghe ra sát nghĩa hơn là xe rồng , áo rồng , thành rồng ... Tiếp nối dòng liên tưởng của Sử thuyết Hùng Việt ...Nhà Châu có 2 kinh đô ở phía tây và phía đông , ‘Thanh lang thành’ nghĩa đúng thực là thành vua phía đông nhà Châu , Thanh là màu xanh chỉ phương đông theo Dịch học , Lang đồng âm với long đồng nghĩa với vương - thủ lãnh , cụm từ ‘Thanh lang thành’ hoàn toàn khớp về nghĩa với tên gọi Đông đô hay đông kinh của Hà nội xưa , vì thành do Chu công chúa nước Lỗ chủ trì việc xây dựng nên còn gọi là thành ‘cao Lỗ’ biến âm ra ‘Cổ loa’ (từ cao ở đây nghĩa là chúa - là vương) . Cùng 1 nghĩa ‘Thành vua phía đông’ Thăng long thành còn có tên khác : -Côn lôn hay Côn luân ...như trong 1 bài viết trước đã viết tên gọi thực đúng của thành là ‘cun Lung’ nghĩa là vua phương đông không phải Côn lôn hay Côn luân như sách Tàu viết . -Tư long thành chỉ là tên viết sai của Từ lang thành , ‘Từ’ hay từ ái nghĩa là thương yêu tượng cuả quẻ Khảm chỉ phương đông , chữ Từ này cũng y như chữ từ trong Từ quốc thời Ân Thương và rợ Hoài Di – Từ nhung thời nhà Châu . Sách sử – địa Việt hiện nay cho sở dĩ Hà nội có tên Đông đô là để phân biệt với Tây đô của nhà Hồ ở Thanh hóa nhưng khi nhìn lên bản đồ ...thì thấy không thể như thế được , Hà nội và Tây kinh nhà Hồ nằm đúng trên trục Bắc – nam nên không thể chia đông với tây được , phải chăng ...có phần hợp lý hơn khi xem Đông đô là phần đối của Hạo kinh hay Cun Ninh tức Tây đô của nhà Chu ở Vân nam , nếu đúng như thế thì tên Đông đô của Hà nội xưa đã có từ 1000 năm trước công nguyên , như vậy năm 2010 thay vì kỷ niệm 1000 năm Thăng long – Hà nội phải đổi thành đại lễ kỷ niệm 3000 năm THANH LANG THÀNH - Đông đô - Hà nội mới đúng . Cùng với Minh đô – Mê linh đô thì chuỗi nối kết Nhà Đông Châu – Đông đô –Thanh lang thành - nền văn minh Đông sơn phải chăng là đã đủ để khai mở 1 dòng lịch sử khác cho người Việt nam ?. * Phúc Lộc Thọ mãn đường *
-
Khổng Minh bắt Mạnh Hoạch ở đâu? Bách Việt Trùng Cửu Câu chuyện Khổng Minh bảy lần bắt Mạnh Hoạch có lẽ ai cũng biết từ tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung. Nhưng cuộc chiến với Man Vương Mạnh Hoạch này đã xảy ra ở đâu? Hiện nay người ta chỉ dựa vào truyện Tam quốc diễn nghĩa mà … suy đoán, Mạnh Hoạch cầm đầu người Man, quấy rối nhà Thục Hán ở phía Nam, thì là vùng Vân Nam, Trung Quốc. Tuy nhiên, ở Việt Nam lại có ghi chép hoàn toàn khác về một cuộc đụng độ khá dài giữa Mạnh Hoạch và các vị quan đô hộ từ thời Đông Hán. Thần tích xã Hương Ngải, Thạch Thất, Hà Nội ghi rất tỷ mỉ chuyện này, tóm tắt như sau: Thời Hán Hiến Đế có ba anh em họ Chu là Chu Tuấn, Chu Hùng và Chu Kiệt, người ở Ba Trung (Ba Thục?). Khi họ ra làm quan cho nhà Đông Hán thì đổi tên thành Chu Cẩm, Chu Khiêm và Chu Đàm. Ba vị này được Hán Hiến Đế cử sang nước Việt để … chống Mạnh Hoạch vì khi đó “Tôn Quyền giận việc Lưu Bị cướp mất Kinh Châu liền bàn mưu với Mạnh Hoạch của nước Việt ta làm phản lại nhà Hán”. Khi 3 vị đến vùng Sơn Tây thì được tin “quan Chánh đô hộ cũ đã bị Mạnh Hoạch giết chết”. Ba vị liền đóng quân, chia nhau ở 3 trang ấp. Chu Cẩm đóng ở trang Cẩm Bào, nhận cháu của Sĩ Nhiếp, con Sĩ Cung, là Sĩ Năng làm Đệ nhất mưu sĩ, “đánh nhau với Mạnh Hoạch ở các xứ Tuyên Quang, Hưng Hóa”. Ba vị còn lập nhiều tuyến phòng thủ dọc từ Cẩm Bào tới Ái Châu. Khi Tào Tháo soán ngôi nhà Hán, Lưu Bị lên ngôi Hán Trung Vương, có cử “sứ giả nhà Hán đeo đai vàng” đến gặp, “phong cho ngài Cẩm làm Chánh đô hộ, ngài Khiêm và ngài Đàm cùng làm Phó đô hộ, để cùng giữ đất Nam Việt”. Được một thời gian Chu Cẩm ốm mất. “Mạnh Hoạch sai người theo đường tắt từ Ái Châu men theo hai bờ sông tiến ra”. Chu Khiêm, Chu Đàm chống trả Mạnh Hoạch, bị thua và chết trận. Phải đợi đến khi Gia Cát Khổng Minh dẫn quân Nam chinh mới thu phục được Mạnh Hoạch… Thần tích này hiện còn lưu tại đình làng Hương Ngải (Đình Giang). Hương Ngải là một xã có tiếng là hiếu học, nhiều người đỗ đạt và còn lưu nhiều nét văn hóa cổ như những chợ phiên chỉ bán một thứ đồ (lá dong, cá, gà, …) mỗi năm. Trong xã có đền thờ Tam Vị họ Chu, nay gọi là Quán Hương Ngải. Cổng đền có câu đối: Vạn lý công quang y Hán nhật Ức thu hạo khí phổ Nam thiên. Dịch: Vạn dặm ngời công theo triều Hán Nghìn thu hào khí phủ trời Nam. Cổng Đền Tam vị hay Quán Hương Ngải Các cụ cao tuổi ở Hương Ngải buổi chiều vẫn ra sân đền ngồi đánh cờ. Theo tư liệu này thì Mạnh Hoạch đã tấn công Giao Châu, giết quan đô hộ từ thời Đông Hán, khi cả Tôn Quyền lẫn Lưu Bị còn chưa làm chủ được Giao Châu. Vùng đất của Mạnh Hoạch có thể xác định khá rõ theo thần tích, là vùng giáp với “Tuyên Quang, Hưng Hóa” tới tận “Ái Châu”, hay là vùng Tây Bắc Việt Nam ngày nay. Mạnh Hoạch là người Mán ở Tây Bắc Việt Nam. Chuyện này nghe qua thấy quá kỳ lạ nhưng không phải không có căn cứ.Theo Tam quốc diễn nghĩa Gia Cát Lượng sau thu phục Mạnh Hoạch, lúc rút quân có dừng lại sông Lư Thủy, làm lễ tế cho các tử sĩ trong cuộc Nam chinh. Trong bài văn tế có câu: "Từ khi giặc xâm lăng cõi Thục Binh khởi đất Mường" “Đất Mường” ở đây cho thấy Man=Mường, Man Vương Mạnh Hoạch là người cầm đầu các tộc người Mường Mán ở Tây Bắc Việt Nam. Sông Lư Thủy có thể là sông Lô, chảy vào Việt Nam ở Hà Giang ngày nay. Lư và Lô là 2 cách phát âm khác nhau của cùng một chữ, chỉ dòng sông Lửa hay con sông chảy qua đất Đào thời Hồng Bang. Gia Cát Khổng Minh đã từ Vân Nam vượt sông Lô, tiến vào bình Mạnh Hoạch ở vùng rừng núi Tây Bắc nước ta. Trong thần tích Hương Ngải cũng nói rõ khi Lưu Bị lên ngôi Hán Trung Vương đã phong cho 3 vị họ Chu làm Chánh, phó đô hộ. Tức là khi đó “nước Việt ta” thuộc về triều Thục Hán của Lưu Bị. Vùng Tây Bắc nước ta sau khi Mạnh Hoạch đầu hàng Khổng Minh cũng thuộc về triều Thục. Như vậy hoàn toàn có thể Lưu Bị từng là một vị vua của nước Việt. Lưu Bị được sử Việt chép dưới tên Lý Bí hoặc Lý Phật Tử. Gia Cát Lượng nếu vậy thì không là ai khác mà là … Lý Phục Man, người đã bình định Man Vương Mạnh Hoạch ở vùng phía Nam của nước Thục. Chữ “Lý” trong Lý Phục Man chưa chắc đã có nghĩa là họ Lý, mà với nghĩa “ông lớn”, như trong tên Lý Ông Trọng hay Lý Khổng Lồ vậy. So sánh Hoa sử và Việt sử ta thấy có sự tương đồng. Lưu Bị (sử Việt gọi là Lý Phật Tử) cùng anh họ là Lưu Biểu (Lý Thiên Bảo) rút chạy từ Kinh Châu về Quí Châu (Cửu Chân). Sau đó chiếm Ích Châu của Lưu Chương. Lưu Bị tiến quân lên phía Bắc, được Khổng Minh bày mưu thắng Tào Tháo ở Tứ Xuyên (đất của Trương Lỗ trước đó). Tứ Xuyên là đất trung tâm cũ của Hưng đế Lưu Bang, nên Lưu Bị sau khi chiếm Tứ Xuyên đã xưng là Hán Trung Vương. Ích Châu là tên vùng đất của người Điền khi Hiếu Vũ Đế thu phục và sát nhập thành một quận của nhà Hiếu (khi Lộ Bác Đức diệt nhà Triệu Nam Việt?). Như vậy Ích Châu là vùng đất Điền Vân Nam. Sử Việt ghi là Lý Thiên Bảo cùng Lý Phật Tử xưng vương ở Ai Lao, tức là đất người Di Lão ở Vân Nam. Xem thế thì Vân Nam – Ích Châu đã nằm trong đất của nhà Thục Hán từ khi Lưu Bị khởi nghiệp. Mạnh Hoạch không thể hoành hành ở Vân Nam được mà chỉ có thể "binh khởi đất Mường" ở Tây Bắc nước ta. Tây Bắc, vùng đất của Mạnh Hoạch, cũng là vùng đất lập quốc của Nam Chiếu dưới thời nhà Đường. Chính vì thế mà Tam vị họ Chu ở Hương Ngải mới hiển linh, trợ giúp Cao Biền đánh Nam Chiếu. Thần tích Hương Ngải chép: “Đến năm Hàm Thông thứ 6 đời Ý Tông nhà Đường, sau khi họ Triệu ở nước Việt ta khởi binh, tự xưng là Nam Chiếu, vua Ý Tông cho Cao Biền làm đô hộ”. Cao Biền được ba vị họ Chu hiển linh phù trợ khi đánh quân Nam Chiếu. Cao Biền có bài thơ: Chu gia tam vị lẫm tinh thần Thích Hán kim Đường trước đại huân Thất thập nhi từ đô hiển thánh Ức niên thu hựu ức thiên xuân Dịch Họ Chu ba vị vững tinh thần Xưa Hán nay Đường lập đại huân Hơn bảy chục đến đều hiển thánh Trăm ngàn thu lại trăm ngàn xuân. Sau Bố Cái Phùng Hưng lịch sử các dân tộc Tây Bắc cần ghi nhận thêm một vị thủ lĩnh thời trung đại là Man Vương Mạnh Hoạch. Còn lịch sử Việt Nam cần phải nhìn nhận lại triều Thục của Lưu Bị như một triều đại chính thống của người Việt.
-
Đôi Dòng Tưởng Nhớ Thi Sĩ Bùi Giáng
hoangnt replied to Thiên Sứ's topic in Thơ Ca Văn Chương Nghệ Thuật
Bùi Giáng trong “cõi người ta” Ý NHI Buồn vui như thể thân mình Ai chia nửa máu, ai giành nửa xương Đó là những buồn vui của Bùi Giáng – nỗi buồn của khốc liệt, bi thảm của một thân phận khác thường, của một ngưòi “chịu cuồng si để sáng suốt”, “chịu đui mù mà thỏa dạ yêu em”. Người ta biết đến Bùi Giáng bởi những khảo luận văn học như những cuốn viết về Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Lục Vân Tiên… Những cuốn khảo luận triết học như Tư Tưởng Hiện Đại, Tư Tưởng Hiện Đại & Hiedegger, những tác phẩm chuyển ngữ tuyệt vời như Cõi Người Ta, Hoàng Tử Bé, Khung Cửa Hẹp, Mùi Hương Xuân Sắc…Nhưng người ta yêu thơ ông hơn cả. Mỗi khi đọc những câu thơ hay của Bùi Giáng tôi lại nhớ đến tiếng đàn “bốn dây rõ máu năm đầu ngón tay” của Thúy Kiều, bởi những câu thơ được chắt ra từ máu của con người khắc khoải khôn nguôi về thân phận con người, về thế gian này. Ít ai trong số các nhà thơ Việt Nam hiện đại lại viết nhiều về trần gian như ông. Lúc thì nguyện “yêu trần gian nguyên vẹn”, lúc thì “sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi”, lúc khác là: Ta đếm lại từng ngón tay lẩy bẩy Đời chúng ta là mấy trăng tròn Yêu thiết tha cõi trần gian, nhiều khi ông nhìn trời đất như đứa bé. Ông hỏi sông: “Ngàn mây về cuối mãi trời xa. Nước có bằng lòng đứng đợi ta”. Ông bập bẹ: “Trần gian do cánh bướm cánh chuồn chuồn. Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại. Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn”. Ông kêu lên thảng thốt: “Ồ gót chân, anh đứng ngó như ngây”. Ông òa khóc không gìn giữ: “Em ra đi đời bưng mặt khóc òa”. Nhưng Bùi Giáng là đứa trẻ biết rằng “Diều đứt dây trẻ cũng cầm bằng”. Thơ ông từ bài này sang bài khác, từ trang này sang trang khác thắm đượm mối âu lo cho “Những nỗi đau về chẳng hẹn giờ”, “Những thân xương máu đã đàng là ủy mị”. Ông là con người: Người kia đứng lại Nghe trời đầy xuống hai vai Gánh nặng đó ông gánh chịu suốt cả cuộc đời đơn độc của mình. Nhiều khi ông đã thốt lên “Đời dại khờ như một giấc chiêm bao”, nhiều khi ông lắng nghe “Mấy đời ly biệt rẽ đau một mình”. Nhiều khi ông van nài “Em ở lại với đời ta em nhé. Em đừng đi cho ta nắm tay em”… Ý thức sâu xa về sự hữu hạn của kiếp người, của lẽ hợp tan, ông luôn phấp phỏng lo lắng: Nhưng em hỡi trần gian ôi ta biết Sẽ rời xa vĩnh viễn với người thôi Và: Đài vũ trụ hồn chiêm bao rạng tỏ Một nụ cười thế giới sẽ chia đôi Mỗi cảnh, mỗi vật đều in dấu nỗi phấp phỏng, lo lắng ấy. Nào là “Đường vất vã vó ngựa chồn lỏa đảo”, nào là “Tờ cảo thơm như lệ ứa pha hồng”, nào là “Mình cát lạnh chân lạc đà bé bỏng. Bóng hình em tơi tả dưới trăng rằm”, nào là “Ngày đi đổ bóng sau người/ Mộng hờ biết có buồn vui em về”, nào là “Bước ngại ngùng nẻo mộng mấy lần sai”… Giờ thì con người yêu thương, lo lắng cho cõi người ta ấy đã ra đi. Có lẽ trước lúc an nghỉ ông vẫn còn băn khoăn: Còn không một bận quay về Vườn xưa ngó bóng trăng thề vàng gieo Vẫn giữ nguyên lời nhắn gửi hay là niềm mong ước của ông: Em sẽ khóc khi nhìn trong khóe mắt Thấy một mình người đi lại lang thang Còn ghì giữ ân tình trong cỏ nhặt Mưa vi vu vì hẹn với truông ngàn. Ý NHI SG 9. 10. 1998