hoangnt
Hội viên-
Số nội dung
1909 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
6
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by hoangnt
-
[ Tết Trùng Cửu rúng động …Trung Quốc Những năm gần đây, người Trung Quốc lấy ngày Tết Trùng Cửu 9/9 làm ngày “tết của người già”, đây là dịp mà các bậc hậu bối thể hiện sự tôn kính và lòng biết ơn đến người già, chúc các bậc tiền bối mạnh khỏe, sống lâu. Sáng qua (1/10), nhân dịp Tết Trùng Cửu, dưới sự dẫn dắt của thầy cô, 300 học sinh tiểu học đã tập trung ở sân vận động để rửa chân cho ông bà, cha mẹ nhằm thể hiện niềm tôn kính, quan tâm tới các bậc sinh thành và nuôi dưỡng mình. Khiến nhiều bậc phụ huynh cảm động đến rơi nước mắt vì đây là lần đầu tiên họ được con cháu của mình rửa chân. Dưới đây là một số hình ảnh cảm động của Tết Trùng Cửu ở Trung Quốc: Các học sinh đang rửa chân cho ông bà, cha mẹ của mình Những giọt nước mắt không nói thành lời Một cháu trai đang rửa chân cho ông của mình Theo VTC Với hình ảnh này, sự phân tích Cửu Huyền thất tổ và Tết trùng cửu thật dễ hiểu, ăn khớp nhau, tuy nhiên còn một ý nghĩa quan trọng khác nữa. Theo phong tục của Tàu, Tết Trùng Cửu ăn vào ngày mồng 9 tháng 9. Nguyên đời Hậu Hán (25-250) có Hoàng Cảnh, người huyện Nhữ Nam, theo học đạo tiên với Phí Trường Phòng. Một hôm Trường Phòng bảo cảnh: Ngày mồng 9 tháng 9 tới đây, gia đình của nhà ngươi gặp phải tai nạn. Vậy đến ngày đó, ngươi nên đem cả nhà lên núi cao, tay đeo túi đỏ, đựng hột thù du (một loại tiêu), uống rượu hoa cúc, tối sẽ trở về, may ra tránh khỏi tai nạn. Hoàng Cảnh vâng theo lời thầy. Quả thực đến tối trở về thì thấy gà vịt heo chó trong nhà bị dịch chết hết. Vì tích trên, nên về sau hằng năm, đến ngày mồng 9 tháng 9, người ta bỏ nhà tạm lên núi, lánh nạn... Lâu đời thành tục gọi là Tết Trùng Cửu. Sau dần thay đổi tính chất, Tết Trùng Cửu lại dành riêng cho tao nhân mặc khách lên núi uống rượu làm thơ.Sách "Phong Thổ Ký" lại chép: Cuối đời nhà Hạ (2205-1818 trước D.L.), vua Kiệt dâm bạo tàn ác, Thượng Đế muốn răn nhà vua nên giáng một trận thủy tai làm nhà cửa khắp nơi bị chìm xuống biển nước, nhân dân chết đuối, thây nổi đầy sông. Nạn thủy tai đó nhằm ngày mồng 9 tháng 9. Vì vậy mỗi năm đến ngày này, nhân dân lo sợ, già trẻ gái trai đều đua nhau quảy thực phẩm lên núi cao để lánh nạn... Tục ấy thành lệ. Đến đời Hán Văn Đế (176-156 trước D.L.), vua cho dựng một đài cao 30 trượng ở trong cung, mỗi năm đến ngày mồng 9 tháng 9, nhà vua cùng vương hậu, vương tử, cung phi đem nhau lên đài ở cho qua hết ngày ấy. Sau đến đời nhà Đường (618-907), ngày mồng 9 tháng 9 thành ngày lễ tết gọi là Trùng Cửu. Các văn nhân thi sĩ mang bầu rượu túi thơ cùng nhau lên núi cao say sưa ngâm vịnh. Cổ thi có câu: "Gặp ngày Trùng Cửu đăng cao". "Đăng cao" là lên chỗ cao. "Trùng cửu" và "Đăng cao" đều do điển tích trên.
-
Theo Thiên Đồng thì câu " Cữu Huyền Thất Tổ" có thể hiểu như sau: Cữu là Dương, là lão dương, là cái có trước xét về mặt thời gian, vì "Dương trước Âm sau'. Huyền là thâm thẩm, là vô tận, xa xôi, vô tận ý là cái xa xâm không thể tả được. Thất là mất đi, là những gì hay những ai đi qua, Tổ là gốc gác, là truyền thừa là người trước. Điều đặc biệt ở người Việt là bàn thờ "Cữu Huyền thất Tổ" không thờ một hình ảnh cá nhân cụ thể nào mà đôi khi chỉ là hình ảnh làng quê sông nước, núi non hay chỉ là 4 chữ "Cữu Huyền Thất Tổ" thôi. Như vậy có thể hiểu là thờ Cữu Huyền Thất Tổ là hướng về nguồn cội, nguồn cội nhận biết được với những người đã khuất cụ thể còn biết được, truy nguyên được và nguồn côi với những gì chỉ có thể tư duy trừu tượng. Như vậy thờ "Cữu Huyền Thất Tổ" là hướng về hay tri thức cái Vô Vi luôn cả cái Hữu Vi, cái vô thủy vô chung, cái khởi thủy khó có thể nói Không mà cũng không thể nói Có, cái đó là cái Cữu, tức cái Dương, cái Thái Cực đã qua là nguồn gốc khởi thủy cho vạn hữu. Có thể như thế lắm chứ! Vì nó có trước hơn tất thẩy nên gọi là Cữu. Vì nó miên viễn vô tận nên gọi là Huyền. Vì nó trôi nhưng còn để lại nên gọi là Thất. Vì nó có gốc gác sinh ra truyền thừa, thấy được nên gọi là Tổ. Do vậy Cữu Huyền Thất Tổ mang minh nghĩa Lý Học huyền diệu chứ không thể biểu nghĩa trực quan giản đơn hạn hạn hẹp là "bảy đời tổ chốn cữu huyền". Nếu một câu hỏi đặt ngược lại rằng " chỉ có bảy đời tổ hay sao?". Con số 7 đời dầu cho có biện luận bằng đó là ý nghĩa tượng trưng thì cũng không thoát khỏi sự hữu hạn. Lại thêm chữ Huyền chưa thể giả thích trọn vẹn hay mặt khác mang một ý nghĩa là một thế giới khác? Một Thiên đàng chăng? Điều này lại dẫn mọi tư duy con người đi đến sự huyền bí mê tín. Do vậy không thể mang một minh triết nào khi hiểu một cách ngây thơ, giản đơn rằng "Cữu Huyền Thất Tổ' là "Bảy đời tổ tông chốn cửu huyền". Cái này khó lắm. Cửu Huyền: SH Thiên Đồng luận giải OK. Thất Tổ: bình thường thờ gia tiên hay cha hoặc mẹ của chủ nhà (chồng hoặc vợ) nhưng nếu thờ thêm ông bà nội/ ngoại thì phải có thờ "Cửu huyền thất tổ". Như vậy: Cha/ mẹ + ông bà + Thất tổ tạo thành Cửu (9) đời trước chủ nhà. Sự kết hợp giữa 9Cửu Huyền) + (Thất Tổ và 2 đời thờ) tạo thành: Cửu Trùng = Bất diệt=Vĩnh cửu chính là ý nghĩa của Tết Cửu Trùng uống rựu hoa cúc, ngâm thơ thổi sáo + đánh cờ... Tết này cũng là Hội bàn đào của Tây Vương Mẫu???, hãy cùng có ý kiến. Không biết mùa này, miền Bắc trái đào đã ăn được chưa???. Vũ hóa hà hồ khai thệ giác: Trời (không gian) hóa ra sông biển, làm sáng (khai thệ) sự hiểu biết (tri giác) của con người. Trụ sinh hà lạc biểu thần thông: Thời sinh ra bốn mùa (Hà Lạc có thể hiểu như Xuân Thu, chỉ thời gian), là sự thể hiện của thần thông. Nội dung trên mang ý nghĩa rất siêu việt.
-
Anh chị em không nên nhận xét phương pháp chứng minh của ông Trần Ngọc Thêm. Vì ít nhất ông ta cũng có công thuyết phục được các học giả Trung Quốc công nhận một khái niệm căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành là của Việt Nam. Chúng ta phải tôn trọng thành quả này. Thực ra hàng ngàn năm nay bao nhiêu học giả cổ kim cũng đang đi tìm nguồn gốc học thuyết ADNH và cho rằng của Hán, số lượng sách vở viết về đề tài này và các phương pháp ứng dụng liên quan thì vô số kể, cho nên không thể một cuộc hội thảo nói về văn hóa mà mọi học giả lại đồng tình một cách đơn giản như vậy?. Nếu có kết quả thật, thì rất là tôn trọng tác giả. Ví dụ, chữ Đạo cũng đã nhiều sách viết, không ai chịu ai, cuối cùng ra một cuốn tổng hợp ý của tất cả các tác giả nổi tiếng cổ kim đã xuất bản dành cho những ai nghiên cứu về nó. Vậy thì, về mặt logic, cuộc hội thảo trên là giao lưu văn hóa chứ không thể nói chính xác về sự sở hữu. Kính.
-
[ ĐÔI ĐIỀU NÓI LẠI VỀ CHỮ TÂN Hà Văn Thùy Lịch sử chữ Việt cũng bí ẩn như lịch sử dân tộc Việt. Vì vậy, việc bàn cãi về nguồn gốc, ý nghĩa của chữ này, chữ khác là chuyện bình thuờng và chắc là còn dài dài. Trong bài này, người viết xin nói lại đôi lời về từ Tân Mão. Vào dịp Tết năm Mão xuất hiện một số bài viết cắt nghĩa từ Tân Mão. Có ý kiến cho rằng, chữ Tân (辛) có nhiều nghĩa, ngoài nghĩa cay còn có nghĩa thông với chữ Tân (新) là Mới. Một nhà nghiên cứu dẫn sách Thuyết văn giải tự của Hứa Thận đời Hán nói rằng: Tân Mão ngoài nghĩa đắng cay còn nghĩa đổi mới… Nếu là người “biết điều” thì có lẽ tới đây nên dừng lại, bởi lẽ các nhà uyên thâm, dẫn những cuốn sách đồ sộ đã lên tiếng… Vẫn biết vậy nhưng do muốn đi tới tận cùng sự việc để may ra tìm được chân lý, cái của hiếm có khi không thuộc về số đông, tôi viết bài này. Trước nay các đại gia Hán Nôm thường cố công thủ đắc những cuốn từ điển chữ Hán mới nhất, lớn nhất để làm vốn chữ. Ai biết nhiều nghĩa của một từ thường được tiếng là người lắm chữ, tiếng nói trở nên có trọng lượng. Tuy nhiên cách làm này có khi không khỏi bất cập về phương pháp luận. Thử xét trường hợp từ Tân Mão. Đúng là chữ Tân có nhiều nghĩa, nảy sinh trong thời gian lịch sử dài. Tuy nhiên, trong từ Tân Mão, chữ Tân chỉ được dùng với những nghĩa mà nó có tới khi từ Tân Mão ra đời. Đó là nguyên tắc, bởi lẽ, như luật bất hồi tố, người ta không thể áp những nghĩa mới có cho một từ cổ. Vấn đề là phải tìm xem từ Tân Mão xuất hiện khi nào? Điều này không dễ nhưng không thể bỏ qua nếu muốn làm một việc tận bờ sát góc. Ta biết, Tân Mão cùng các Địa chi là ký hiệu được dùng để ghi ngày, giờ, tháng, năm trong lịch của người Việt. Như vậy nó phải xuất hiện rất sớm, trước khi có cuốn lịch đầu tiên và càng sớm hơn cuốn sách Dịch đầu tiên. Đó là thời gian nào trong lịch sử? Rất khó xác định. Nhưng nếu căn cứ theo truyền thuyết Phục Hy làm Dịch thì nó phải có trước Phục Hy, tức trước 4000 năm TCN. Thời kỳ quá xa xôi diệu vợi, không thể với tới được. Nhưng ta có thể dựa vào dấu vết sớm nhất còn lại, đó là Giáp cốt văn và Kim văn, cuốn từ điển đầu tiên mà ta biết. Giáp cốt, Kim văn được phát hiện ở kinh đô nhà Thương-Ân, khoảng 1500 năm trước Công nguyên. Ở Giáp cốt văn cũng như Kim văn, chữ Tân* là dụng cụ được nung lên để thích vào mặt phạm nhân bị tội đồ. Như vậy có thể nói rằng, thoạt kỳ thủy, chữ Tân, một công cụ hành hình, vừa gây đau đớn vừa sỉ nhục con người, không hợp với nghĩa Mới! Chẳng nhẽ việc bị kết tội, bị thích chữ vào mặt rồi lưu đầy phương xa lại là đổi mới – theo chiều hướng tốt đẹp – cho con người? Ta cũng biết quy luật rằng, chữ tượng hình ban đầu được tạo ra theo hình của con (hay đồ) vật có thực nên thường đơn nghĩa. Chỉ sau này, do nhu cầu, người ta thêm nghĩa vào cho nó. Có thể đoán rằng, từ xa xưa, một dụng cụ để thích vào mặt tội đồ đã có, được gọi là cái tân (file:///C:/DOCUME%7E1/VUKHAN%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image002.jpg). Rồi chữ Tân được vẽ ra theo hình tượng của vật này, với nghĩa đắng cay, đau khổ, xót xa, nhục nhã. Từ đó có thể tin rằng, nghĩa đen của Tân Mão là đau khổ, nhục nhã và nghĩa bóng là cay đắng, tân toan. Có thể thấy điều này trong lịch sử Trung Hoa. Ông vua cuối cùng của nhà Thương là Trụ vương (紂王 1154 - 1123 TCN), lại được gọi là Trụ Tân (紂辛) hay Đế Tân (帝辛).Chữ trụ theo nghĩa Hán là tàn nhẫn bất nhân, nhưng theo gốc Việt cổ, lại là đụ. Quả là vết ô nhục thích lên mặt ông vua hoang dâm, tàn bạo. Trong danh xưng Đế Tân, Trụ Tân, chữ Tân cố nhiên không thể là mới vì nếu vậy sẽ phản nghĩa với chữ Trụ ở trên. Do đó, nó chỉ có thể mang nghĩa cay đắng, nhục nhã. Đó là bằng chứng xác nhận, sau khi từ Tân Mão xuất hiện nhiều nghìn năm, tới thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, chữ Tân vẫn chỉ có nghĩa đắng cay, nhục nhã. Từ thời Chu, Trung Hoa có nhiều biến đổi. Vào lúc nào đó, dụng cụ hành hình được thay bằng vật khác nên cái tân bị loại khỏi đời sống. Do không bị lệ thuộc vào một đồ vật cụ thể, theo quy luật sáng tạo chữ vuông, chữ Tân (file:///C:/DOCUME%7E1/VUKHAN%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image004.jpg) được thêm nét cho đẹp (辛)đồng thời mất nghĩa đen đau đớn, nhục nhã, chỉ còn lại nghĩa bóng là cay. Do giao tiếp tăng lên, cuộc sống đòi hỏi phải có thêm nhiều chữ. Nhưng vì không có chữ cái để ghép vần, việc làm ra chữ vuông mới quá khó, buộc phải thực hiện hạ sách là thêm nghĩa cho những chữ đã có. Một trong những cách làm là chuyển nghĩa của những chữ đồng âm cho nhau. Chữ Tân (辛)được thông với chữ Tân (新) để có nghĩa là Mới bên cạnh nghĩa Cay. Sau hơn nghìn năm, tới đời Tần Hán, cái tân để thích vào mặt tội đồ không còn. Cũng do không biết tới Giáp cốt, Kim văn nên không biết rằng chữ Tân (辛) vốn là công cụ hành hình, gây đau đớn, nhục nhã. Cái nghĩa đen nặng nề mất đi, chỉ còn nghĩa là Cay và Mới. Trong tình hình như vây, khi làm sách Thuyết văn giải tự, Hứa Thận viết: "Giáp là vỏ, muôn vật sơ sinh, phải phá vỡ vỏ mà ra. Ất là uốn mềm, vạn vật sinh ra, mềm mại quanh co mà lớn dần lên. Bính là sáng, vạn vật được mặt trời chiếu sáng, ấm nóng mà phát triển. Đinh là mạnh mẽ, vạn vật ngày càng lớn lên mạnh mẽ. Mậu là rậm rạp, cây cỏ ngày càng tốt tươi. Kỷ là ghi nhớ, vạn vật định hình có thể ghi nhớ hình dạng. Canh là thay đổi, vạn vật vừa phát triển vừa thay đổi liên tục. Tân là cay, lại giống với Tân là mới, vạn vật luôn thay cũ đổi mới. Nhâm là hoài thai, vạn vật lớn lên rồi mang cái nhân mới trong mình. Quý là tiêu đi, vạn vật phát triển cực độ ắt phải tiêu đi thay mới". Xét đoạn văn trên ta thấy, Canh đã là thay đổi mà ngay dưới nó, Tân cũng lại “thay cũ đổi mới” quả là không bình thường! Chỉ có mười chi, mà hai chi giống nhau là nghĩa làm sao? Liệu có khỏi trùng lặp, trái với đặc tính cô đọng, hàm súc của cổ văn? Hơn nữa, cùng một từ mà giải theo hai nghĩa đối lập là điều khó thông! Ta cũng biết từ ghép canh cải. Cùng một nghĩa thay đổi, cải nhấn mạnh ý của canh. Cũng như vậy, trong tân toan, toan được ghép thêm để nhấn mạnh nghĩa cay của tân. Điều này cho thấy, trong chữ tân, nghĩa cay là chủ đạo. Có lẽ không phải các vị Thiều Chửu, Đào Duy Anh không biết nghĩa mới của chữ tân nhưng đã không đưa vào từ điển của mình vì nó ít được sử dụng? Vậy, phải chăng việc đưa mới vào giải nghĩa từ Tân Mão vừa vẽ rắn thêm chân, vừa đánh mất sự hiểu biết tế vi về chữ nghĩa?! Phải chăng nghĩa “thông tân” mới phát sinh, bị áp đặt một cách khiên cưỡng vào giải nghĩa từ Tân Mão cổ? Phải chăng, trước chúng ta hơn 2000 năm, Hứa Thận đã mắc sai lầm về phương pháp luận? Và đúng là “Tân không chỉ cay” nhưng Tân Mão không hề là Mới! Ngày Trọng Đông năm Tân Mão * Hình chữ Tân trong Kim văn file:///C:/DOCUME%7E1/VUKHAN%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image002.jpgfile:///C:/DOCUME%7E1/VUKHAN%7E1/LOCALS%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image004.jpg
-
Ngọc bích nguyên sơ chịu nạn, nhà Triệu thu về, Một vườn hoa đẹp diệu kỳ, mùa Xuân đã có chủ, Gió mưa suốt đêm, không cần phải lo sầu.
-
Cặp khái niệm “âm dương” với trật tự âm trước dương sau được hình thành trên cơ sở tổng hợp hai cặp khái niệm quan trọng bậc nhất trong cuộc sống của người trồng lúa nước là “mẹ cha” và “đất trời”. Nó mang đậm nét dấu tích của một truyền thống văn hóa trọng nữ Đông Nam Á, khác hẳn truyền thống trọng nam Trung Hoa thể hiện qua hai cặp từ “phụ mẫu” và “thiên địa”. ThS. Nguyễn Ngọc Thơ đưa ra hàng loạt biểu hiện của tư tưởng âm dương ngũ hành trong mọi lĩnh vực phong tục, tập quán, truyền thuyết... của Việt Nam từ xưa đến nay như những minh chứng cho tính nguyên thủy, tính tự phát của tư tưởng âm dương, lưỡng phân lưỡng hợp trong truyền thống văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á. GS. Trần Ngọc Thêm đến từ Việt Nam đã cho thấy rằng, nguồn gốc của Kinh Dịch không thể tìm trong truyền thuyết mà phải đi tìm trong sự phối hợp giữa điều kiện tự nhiên với bối cảnh lịch sử - xã hội của thực tiễn cuộc sống. Bằng những nghiên cứu tỉ mỉ, với những dẫn chứng rõ ràng, trên cơ sở phân tích tính đặc thù của cuộc sống nông nghiệp lúa nước, tác giả đã chứng minh có sức thuyết phục về nguồn gốc Đông Nam Á của tư tưởng âm dương. Phát triển theo hướng này, báo cáo của ThS. Nguyễn Ngọc Thơ cung cấp hàng loạt tư liệu sống cho thấy tư tưởng âm dương đã thẩm thấu sâu rộng trong cuộc sống dân gian Việt Nam, những biểu hiện này rõ ràng là mang tính nguyên thủy. Hai báo cáo của các nhà khoa học Việt Nam liên kết chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất, cho thấy kiểu văn hóa âm dương ưu tiên mẹ hơn cha, địa hơn thiên, với một tư duy lưỡng phân lưỡng hợp rất thú vị. Nó rất khác lạ với truyền thống trọng nam Trung Hoa và khái niệm lưỡng nghi vốn rất quen thuộc ở Đông Bắc Á”. Truyền thuyết chính là lịch sử, xem xét nó phải trên nhiều phương diện. Đọc chính sử phải đọc cả dã sử nữa, giống như ai khẳng định rằng Chiếu đời đô của vua Lý Công Uẩn viết trong chính sử Đại Việt Sử Ký Toàn thư là là chính xác?, đọc nội dung là thấy mẫu thuẫn với các dã sử, chính sử khác rồi. Nhờ truyền thuyết như I Li Át và Ô Đy Xê mà khám phá được thành Troy ở đâu, các kho báu của các Pharaohs ở nơi nào?, Việt Nam cũng không ngoại lệ. Nguồn gốc Kinh dịch cũng phải tìm trong truyền thuyết mới ra được, như tại sao cho là của vua Phục Hy? làm sao chứng minh được?. Tên của vua đã có câu trả lời rồi - Phục = quẻ Phục trong Kinh dịch; Hy? nếu hiểu mới là siêu. Âm dương tự thân đã có mà không cần cái gì cả nhưng đã xây dựng thành học thuyết thì phải chứng minh theo các tiêu chí khoa học mới được, lịch sự- văn hóa- dân tộc học... là minh chứng khách quan cho học thuyết. Cuốn sách Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam chưa nói lên nhiều điều về học thuyết ADNH. Vị thần Trí tuệ Thoth của Ai Cập torng truyền thuyết đã từng nói: "Ai sử dụng sử liệu của ta là đệ tử của ta".
-
Hoa Mai điểm nở cả trời đất đều là Xuân, Muốn biết Bác Phục hãy hỏi nguyên nhân xưa. Ở khắp nơi tự nó thừa hưởng ngày Thái bình, Bốn biển là nhà hỏi ai là chủ ai là khách.
-
Bạn có thể chú giải rõ thêm khi Ta thay đổi chữ tổng bằng chữ toàn được không? Có nghĩa là Thái cực toàn Không Chào Bác Hà Uyên. Theo ý kiến cá nhân thì: - Thái cực là một định nghĩa cực kỳ chuẩn xác rồi. - Không cũng là một khái niệm nhưng chắn chắn phải sau khái niệm Thái cực. - Tổng và Toàn khác nhau về ý nghĩa của mỗi từ. Như vậy, sự kết hợp cả 3 từ (trạng thái) ở trên là không thể. Kính.
-
Tầm ẩn giả bất ngộ (尋隱者不遇) Giả Đảo Nguyên tác:松下問童子言師採藥去只在此山中雲深不知處 Phiên âm:Tùng hạ vấn đồng tử, Ngôn sư thái dược khứ. Chỉ tại thử sơn trung, Vân thâm bất tri xứ. Dịch nghĩa: Dưới cây tùng hỏi thăm tiểu đồng, Nói rằng thầy đã đi hái thuốc. Chỉ ở trong núi này thôi, Nhưng mây dày nên chẳng biết chỗ nào. Dịch thơ: Gốc thông hỏi tiểu đồng, Thầy đi hái thuốc xa, Chỉ loanh quanh trong núi, Mây mù không rõ ngả.
-
Thái cực tổng bàng Không? Thái cực được xem là trạng thái khởi thủy của vũ trụ và sự bắt đầu xuất hiện một sự vật, hiện tượng mới. "0" là một quy ước cho chúng ta đặt ra và dùng nó làm mốc mang tính so sánh, đối chiếu. Do "tự nhiên" luôn luôn và mãi mãi hiện hữu, cho nên không có cái gì bằng "0" mà chỉ là sự biến đổi "dịch". Khi thiết lập quy ước "0" phải xây dựng một loại các điều kiện tương ứng thường gọi là điều kiện biên. Dĩ nhiên, khi nói "0" chắc chắn nó phải được liên tưởng tới một sự vật, hiện tượng khác nữa mới có giá trị, ví dụ Không có ánh sáng, hai lực cộng lại bằng 0 (chỉ xét lực - tạo điều kiện biên)... Nghiên cứu sự khởi nguyên từ các tôn giáo trên nền tảng Lý học Đông phương thấy rằng: Thái cực giống như một vùng nước nguyên chất rộng lớn đến vô cùng chưa có những biến đổi, mỗi phần tử nước là đơn vị nhỏ nhất của "vật chất" không thể phân chia nhưng lại liên kết với nhau bằng "các loại lực ban đầu", chúng hình thành một vùng nước nguyên sơ, dĩ nhiên chúng sẽ phải có những thuộc tính ban đầu ở trạng thái tiềm ẩn (Tiên thiên). Còn Thái cực xuất hiện trong giai đoạn Hậu thiên thấy rõ nhất là thực vật, động vật, con người mới. Trong đường hình SIN giữa hai miền âm dương có điểm cân bằng gọi là "0" cũng không ngoại lệ, về lý thuyết điểm này xuất hiện trong khoảng thời gian tiệm cận bé đến vô cùng, nhưng nó cũng có thể xem như "0" = 1 năm nếu ta chọn đơn vị nhỏ nhất là 1 năm.Vậy thì, 1 tháng trong năm vẫn có thể quy ước về "0" như thường.Điều này cũng có thể rút ra từ hiện tượng vạn vật luôn vận động không ngừng nghỉ. Ngay sau khi vượt qua trạng thái "0" thì trạng thái này sẽ có các thuộc tính vượng, suy... tùy quy luật, như vậy sẽ tạo ra một vùng tạm gọi là "Mờ", cung Càn mang thuộc tính Kim đới Thủy chính là do tính vượng của Kim hơn bởi vì nếu xét bình thường thì cung Càn phải là hành Thủy. Do hiện tượng vận động xoáy trôn ốc, rõ ràng chu kỳ lớn tuế sai 25.920 năm cũng phải được xem xét hiệu chỉnh từ một chu kỳ vận động lớn hơn, có thể là từ chu kỳ 129.600 năm nhưng vì chu kỳ này quá lớn cho nên tại thời điểm này có vẽ chưa xét tới.Mặc dù vậy, bài toán Thái Ất lại lấy mốc chuẩn >10 triệu năm là một câu hỏi rất cần xem xét, nó mang những đặc trưng âm dương ngũ hành gì và tạo ra các tương tác ban đầu nào tới trái đất, con người mà được chọn như vậy. Tinh Tú bảo rằng từ Giác đến Chẩn: vẫn nằm trong chu kỳ 25.920 năm. Theo nhà ngoại cảm Rachel thì ngày Đông Chí năm nay tương ứng lịch Maya 21/12/2012 sẽ kết thúc chu kỳ tuế sai?.
-
@ hoangnt: Lệch đi 63 độ, theo đó mà tính Lại thêm, tháng Quý Mão, thì chi Mão có biệt danh là "như", ... cho nên, biệt danh của tháng Hai âm lịch Quý Mão là "cực như" Cảm ơn bác Hà Uyên. Cực như có phải là vô xác định chăng?. Kính.
-
BƯỚM HOA Thiên hà động giấc muôn tinh, Sao sa cõi Thế, lộ trình tha hương, Đêm trần mờ mịt khói sương, Ngỡ nơi tiên cảnh, lạc đường bướm hoa. Thanh Lan
-
Quả châu giữa hai rồng ngoài biểu tượng là Thái cực ra, còn là dấu ấn văn minh, văn hóa phương Nam, Lạc Việt. Dịch viết "Ly vi nhật...", quái Ly có nhiều nghĩa như trung nữ, lửa...trong đó có nghĩa là mặt trời. Hình tượng vòng tròn đỏ hay quả cầu đỏ bên trong với vòng rực lửa bao quanh là hình tượng mặt trời thể hiện rỏ ràng nội dung của quái Ly, quái Ly thuộc phương Nam, trong bát quái Hậu Thiên Lạc Việt hay Hậu thiên Văn Vương. Và chính cái di chỉ phương Nam trơ gan cùng tuế nguyệt này là chứng cứ hùng hồn cho cội nguồn của thuyết Âm Dương Ngũ Hành thuộc nền văn hiến Việt 5000 năm huyền vĩ. Đây là những giải thích từ Sư Phụ Thiên Sứ, Nguyễn Vũ Tuấn Anh. . Lưỡng long tranh châu ở chùa Bối Khê Lưỡng long tranh châu ở một chùa tại Malaysia, dấu ấn Việt tộc. Hoàn toàn chính xác, đồng ý với bác Thiên Đồng, chú ý hai con rồng là rồng vàng?.
-
- Ngày 4 tết - Bính Tuất - sao Giác - hào 4 Cấn - cung Thìn - Ngày 5 tết - Đinh Hợi - sao Cang - hào 4 Đoài - cung Thìn - Ngày 6 tết - Mậu Tý - sao Đê - hào 6 Khảm - cung Mão - Ngày 7 tết - Kỷ Sửu - sao Phòng - hào 2 Ly - cung Mão - Ngày 8 tết - Canh Dần - sao Tâm - hào 2 Chấn - cung Mão - Ngày 9 tết - Tân Mão - sao Vĩ - hào 6 Tốn - cung Dần - Ngày 10 tết - Nhâm Thìn - sao Cơ - hào 3 Càn - cung Dần Nếu chúng ta dùng các sao trong Nhị thập bát tú đã được định vị trên bộ lịch hàng năm như năm nay 2012 thì có khả năng đã bị sai, vì theo thời gian các ngôi sao này đã di chuyển vị trí quan sát kể từ thời cổ đại hoặc thời gian quan sát gần nhất?. Cứ mỗi 2.160 năm, vòng Hoàng Đạo quay 30 độ so với vị trí quan sát từ trái đất. Nếu dùng chúng làm các quy ước tương tác thì chưa thấy đề cập đến. Kính.
-
Trong sách "Hỏa Châu Lâm - Pháp Kinh" ngài Mạnh Hỷ nói: "Thiên là thuận, thuận cho nên duy trì sự sống. Địa là bền vững, bền vững cho nên duy trì được sự ổn định. Nhân là tín, tín cho nên mới khiến người ta nghe theo. Ba cái đó đều có, thì vô vi mà hành; Hành là theo quy luật của nó" (火 珠 林 - 宋 - 麻 衣 道 者 - 精 心 校 对 ) Nước Nhật Bản có thể nói, một phần được như ngày nay là họ đã dùng chữ Tín và đi tìm sự Toàn hảo, chữ Tín được tôn cao tới mức bằng sinh mệnh của mỗi cá nhân. Bổ sung thêm ý, vào ngày Xuân phân năm nay và vào giờ Dần dự báo có sự trùng trục các hệ thiên văn trong vũ trụ (vuông góc), hành Mộc vượng nhất trong chu kỳ 25.920 năm (tuế sai), tức thuộc tính dương cực đại tương ứng nữ phái và thuộc về giá trị tâm linh, tinh thần được tôn cao, nhân loại quay trở về chữ Nhân.
-
Tại sao người Dao ăn tết "năm cùng" và người H'Mông ăn Tết "HMông" đều trước Tết nguyên đán Hoa Việt 1 tháng? Người Việt và người Hoa ăn Tết nguyên đán theo lịch kiến Dần (lấy tháng Dần làm tháng Giêng). Người Miêu-Dao ăn Tết trước 1 tháng, chứng tỏ họ lấy tháng Sửu làm tháng giêng, hay họ dùng lịch kiến Sửu. Theo lịch sử của lịch pháp thì chỉ có 1 triều đại duy nhất dùng lịch kiến Sửu chính là nhà Ân Thương. Nhà Chu dùng lịch kiến Tý, nhà Tần dùng lịch kiến Hợi. Tới nhà Hán dùng lại lịch kiến Dần của nhà Hạ và tồn tại tới nay. Vậy phải chăng tộc người nhóm Miêu - Dao là thành phần chính đã làm nên nhà Ân Thương thời Trung Hoa cổ đại? Miêu Dao là nhóm người Nam Á, là một nhánh của Bách Việt nên khả năng nhà Ân Thương cũng chính là triều đại Việt. Nhận định của bác Minh Xuân thấy hợp lý. Đương nhiên, lịch Kiến Dần là lịch chuẩn của Việt Nam. Ân Thương thuộc đất Việt sau khi chia tách thời Đế Minh, theo thời gian, sự phát triển xã hội đã tạo ra các triều đại khác nhau, tổ chức chiến tranh, xâm chiếm là quy luật.
-
Năm mới, chúc tất cả quý bạn hữu tràn đầy vui vẻ và hạnh phúc. " Song Ngư liền địa - Nghi Lộc phát vương, Rồng thiêng hội tụ - Đất Việt hồng ân "
-
Việc nhìn nhận kết quả là các hạt mới sẽ được tìm ra sau khi cỗ máy gia tốc thực hiện vai trò băn phá của mình, tối thiểu là 3 loại hạt nhằm đạt nào đấy tương ứng sự cân bằng trong vũ trụ là âm dương và trung tính. Tuy nhiên, việc nhìn nhận môi trường thì nghiệm sẽ phải thay đổi do quan niệm về hạt cơ bản. Môi trường đường ống được xem là chân không nhằm cho các hạt va chạm theo yêu cầu cũng như đáp ứng thiết bị đo lường, vậy thì theo Lý học môi trường này có phải là chân không hay không?. Rõ ràng, không thể là chân không nếu quan niệm hạt cơ bản là không thể phân chia, vì vậy những hạt này, tự thân nó đã tồn tại trong vũ trụ và có khả năng thẩm thấu qua vật chất "đặc" hơn nó, tia phóng xạ chẳng hạn. Cho nên, nếu kết quả của thí nghiệm ra sao đi nữa, thì chúng ta đã bỏ quên kết quả tương tác giữa hạt cơ bản và vật chất trong môi trường thì nghiệm của đường ống. Nếu hạt cơ bản chính là nhỏ nhất hay đồng dạng với hạt "Khí" đang tồn tại trong vũ trụ thì việc nhận định các hạt mới ít nhất là 3 loại sẽ được tạo ra là chắc chắn.
-
Chúng ta đang chờ kết quả thí nghiệm của cỗ mát gia tốc đang đi tìm hạt của Chúa hay hạt cơ bản của vũ trụ, kết quả vừa qua đang nằm trong sai số đo lường nên chưa thể khẳng định được điều gì chứ chưa nói tới giới hạn của thiết bị đo. Chúng ta cũng có thể giả định kết quả của thì nghiệm có thể xảy ra: - Tìm ra nhiều loại hạt khác nhau: điều này là có thể vì khoa học vẫn chưa khẳng định được. - Không phát hiện và biến mất: sự chuyển đổi trạng thái vật chất qua năng lượng và ngược lại. - Vật chất mời được phát hiện. Sự biến mất của các hạt sau phản ứng giả thiết là xảy ra và thiết bị đo lường có thể kiểm soát thì điều này giải thích ntn?. Khí trong Đông phương có thể là trạng thái cơ bản?. Vì nó cũng là vật chất và có thuộc tính cho nên sự tương tác cũng đã được xác định. Nếu vũ trụ là thống nhất thì nó liên kết tất cả trong vận động và vì vậy sự liên kết xảy ra là tức thời, có nghĩa vận tốc lan truyền sẽ đạt mức vô cùng. Lúc này, giữa vận tốc ánh sáng mà máy gia tốc có thể kiểm soát và tốc độ của vật chất cơ bản có khoảng chênh lệnh ở vô cùng, điều này dẫn kết hệ quả giữa hạt đang bắn phá bởi máy gia tốc và hạt cơ bản phải tồn tại các giai đoạn trung gian hay các loại hạt trung gian, thật dễ hiểu khi bạn dùng tiên đề Vũ trụ là thống nhất. Như vậy, kết quả là các hạt mới sẽ được tìm ra với điều kiện thiết bị đo OK.
-
Xin cảm ơn bác Hà Uyên. Bài viết của Bác thật là chi tiết và công phu, không ngờ con số tích tuế lại chia hết cho 81 (chẳng nhẽ lại là Huyền không phi tinh - vận động của Hệ mặt trời tác động lên quả đất). Các con số quy ước mà Bác dưa ra lại càng không thấy sách nào nói đến (tiếng Việt), mọi sự vận động theo Dịch lý đã được người xưa số hóa hết rồi. Quy ước về số cho 64 quẻ hình như không thấy sách nào chỉ rõ, nếu 2012 là một năm đặc biệt theo lịch Maya và các tiên tri khác thì cũng phải thể hiện trong sự vận động của 64 quẻ, đặc biệt nếu dùng độn toán với nhiều người khác nhau cũng khó thể hiện được nhận định cho sự kiện đặc biệt nào đó trong năm này, như vậy có lẽ chúng ta phải dùng một phương pháp khác để luận, chắc chỉ có Thái ất + Độn giáp +Huyền không phi tinh. Giả sự rằng, một thánh nhân ra đời thì sự kiện này có thể được nhận biết trong các phương pháp cổ Đông Phương trên hay không hay phải nhận "điển" từ trên rót xuống. Trong Hậu thiên bát quái - Hà Đồ thì có vẻ sự Sinh mạnh nhất ở cung Mão hành Mộc (đại diện cho con người và vạn vật) và chuyển tại cung Thìn, dĩ nhiên đối ngược lại là cung Dậu nhưng kết tại cung Tuất. Vậy nếu luận về con người thì sự biến chuyển lớn thì phải thấy tín hiệu cực vượng cho hành Mộc trong chu Lớn? với các kết quả từ các phương pháp trên. Do đó, điểm xuân phân trùng trùc vụ trụ trong năm nay là điểm Siêu Nhân phải xuất hiện???. Như vậy, luận đoán cho năm nay phải dùng Thái Ất (thiên cơ) mới đúng để kiểm tra lại các lời tiên tri. Kính.
-
Trong Thái ất có tính tích tuế: Tính Tích niên (Tuế tích) = (số của năm xem) + 10.153.917 Tích niên chia 3.600 Phần dư của phép chia trên chia 360 Phần dư của phép thứ 2 chia 72 số dư của phép chia này chính là số niên cục. Có một số thuyết tính mốc tích niên từ Trung cổ, năm Giáp Dần đến năm tuổi Việt (tuổi Việt lấy năm dương lịch là năm 2879 TCN cộng với năm xem)Con số 10.153.917 quá đặc biệt, không thấy bất kỳ sách nào chỉ rõ vì sao số năm làm mốc chuẩn trước Công nguyên >10 triệu năm. Năm 2012 có thể là sự trùng trục của Hệ mặt trời... Hệ Thiên hà, như vậy chỉ còn sự đồng trục của Trái đất và Mặt trăng nữa. Sự đồng trục của Trái đất chỉ có 2 điểm (2 ngày) trên vòng Hoàng đạo trong tổng số 360 ngày. Tại 2 điểm này, Mặt trăng cũng sẽ có 2 vị trí đồng trục tương ứng trên đường Bạch đạo và gây tăng hoặc giảm các hiệu ứng tương tác do đồng trục. Như vậy, với giả định trên thì toàn bộ hệ Thiên hà sẽ đồng trục trong 2 ngày của một năm và vì vòng vận động của vũ trụ sau hệ Thiên hà là quá lớn, do vậy coi như đứng yên, từ đó có hệ quả trong năm 2012 toàn bộ vũ trụ sẽ đồng trùng với đơn vị ngày là trong hai ngày ở Xuân phân và Thu phân. Kính.
-
Nếu con người là một chỉnh thể do hàng tỷ tỷ biến số tạo thành, khi sống thì ok nhưng khi chết phải chăng là hết?. Thực tế khách quan chỉ ra linh hồn hoàn toàn còn tồn tại như thường, do vậy lý do nào mà con người sau khi tan rã theo quy luật nhưng linh hồn lại không tuân thủ?. Nếu chúng ta dùng tất cả các học thuyết hiện hữu thì không thể giải thích được về linh hồn, chỉ còn một cách nhìn nhận như sau: - Con người là tinh túy của vũ trụ, dĩ nhiên phải có cái được gọi là "tinh túy" đấy là trí tuệ. Tôn giáo nào mà không coi trí tuệ là đỉnh cao thì chưa đủ tầm và sẽ bị thời gian thiêu cháy. - Trí tuệ không tan rã chính vì nó là thuộc tính của một dạng "vật chất đặc biệt" mà khi mỗi con người hoặc động, thực vật được sinh ra; gần với chúng ta chính là các loài động vật. Như vậy, linh hồn của chúng cũng không tan rã. - Bao quanh "vật chất đặc biệt" này là các lớp vật chất khác nhau, sự tan rã chỉ xảy ra với các lớp vật chất bên ngoài như là một vỏ bọc, chúng ta thấy rõ nhất là hiện tượng con kén, sau khi tách lớp vỏ và trở thành con bướm xinh đẹp. - Vật chất đặc biệt rõ ràng phải là vật chất nguyên thủy của vũ trụ và là nền tảng của các mối liên kết vật chất tạo thành cơ thể và tư duy. LINH HỒN BẤT BIẾN. Có khi chạy thẳng lên đỉnh núi, Kêu vang một tiếng lạnh cả người.
-
Đến chùa chẳng biết đạo đâu Chỉ mong cầu Phật rõ đầu lễ thôi Cầu xin khỏe mạnh hơn người Cầu quan, quan đậu, giàu thôi hơn làng… Tham quan mũ áo xênh xang Xe đưa đỏ gọng, mã hàng đốt đen Lên chức, thôi phải xây đền Hò nhau chạy chức, xây chùa cho mau… Kiểu gì cũng được Phật…rầu… Phật nào độ thế, cút chầu bỏ ngay! Linh thần nhiễm lậu rõ đày Chúa dẹp, thần quỉ cao bay đá nhào… Hết thời Phật đạo rõ đời Sau ngày thế chuyển, Trời rời vào tim… Đình đền chùa miếu tan tên Sư sãi lấy vợ, tu tiên ở nhà…
-
Hiện tượng Lăng một vị vua Hùng thứ VI nằm ngoài hệ thống Đền thờ XVIII thời Hùng Vương là một sự trừng phạt của Hoàng tộc và lịch sử văn hiến Việt, khi vị vua này đã để xảy ra một sự xâm lăng của nhà Ân Thương tàn phá non sông đất Việt ở nam Dương tử. Thời Hùng Vương thứ VI chấm dứt và thay thế bằng thời Hùng Vương thứ VII - được Hội Đồng các Lạc Hầu cử lên. Nhận định này chưa hợp lý. Ngoài lăng mộ vua Hùng Vương thứ VI, còn có "Cột đá thề" của vua An Dương Vương trong mối tương quan. Vua Hùng Vương thứ VI có nói, truyền thuyết ghi nhận: Hãy chôn ta trên núi Cả, để đứng trên núi cao ta còn trông nom bờ cõi cho con cháu. Chúng ta hãy chú ý con số 6. Sự xâm lăng là sự vận động của xã hội ở tầm các quốc gia, do vậy việc chiến tranh không thể quy kết do vua Hùng Vương VI và nếu Ngài có sơ suất cũng chỉ là một mặt của vấn đề. Kính.
-
Lâu quá không quay lại chủ đề, để tiếp nối hãy cùng tư duy: Nếu con người là một chỉnh thể do hàng tỷ tỷ biến số tạo thành, khi sống thì ok nhưng khi chết phải chăng là hết?. Thực tế khách quan chỉ ra linh hồn hoàn toàn còn tồn tại như thường, do vậy lý do nào mà con người sau khi tan rã theo quy luật nhưng linh hồn lại không tuân thủ?. Nếu nói Khí là vật chất con bản nhất hay bản thể (tạm xem như vậy) thì rõ ràng giữa Khí là Linh hồn có mối tương quan như thế nào đấy cũng cần phải phân tích, chưa kể chấp nhận tiên đề vũ trụ thống nhất. Nếu không chấp nhận vũ trụ thống nhất thì các vấn đề trên trước tiên cũng cần làm rõ.