hoangnt
Hội viên-
Số nội dung
1909 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
6
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by hoangnt
-
Quy hoạch chi tiết đền thờ Hai Bà Trưng và thành cổ Mê Linh Thứ Bảy, 22.1.2011 | 22:28 (GMT + 7) Sở Quy hoạch và Kiến trúc Hà Nội đã phối hợp với UBND huyện Mê Linh tổ chức công bố và bàn giao Điều chỉnh cục bộ Quy hoạch chi tiết bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa đền thờ Hai Bà Trưng và khu vực thành cổ Mê Linh. Theo đó, nội dung điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất sẽ gồm 3 khu vực. Khu vực I là khu nội đền đã được đầu tư xây dựng, có tổng diện tích khoảng 3,2ha được giữ nguyên trạng, bao gồm các công trình Nghi môn; nhà Tả mạc, Hữu mạc; hồ bán nguyệt trước nhà Tiền tế; nhà Tiền tế, Trung tế, Hậu cung; Hòm thư bí mật của đồng chí Trường Chinh; Hồ mắt voi; Suối cạn; Đền thờ thân phụ mẫu Hai Bà; Đền thờ ông Thi Sách; Đền thờ các Tướng của Hai Bà (nhà bia); Trụ đá thề… Khu vực II để bố trí các công trình phụ trợ và tổ chức các hoạt động văn hóa phục vụ lễ hội như bãi đỗ xe, quảng trường, công viên cây xanh, hồ nước.. có tổng diện tích khoảng 6,61ha.Khu vực III tiếp giáp với khu dân cư thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh dành để bố trí khu vườn cây ăn quả, hồ mắt voi 2, công trình phục chế Thành ống (thành cổ)… có diện tích khoảng 1,12ha. Về quy hoạch giao thông sẽ điều chỉnh các vị trí bãi đỗ xe phân tán theo quy hoạch đã phê duyệt trước đây thành một bãi đỗ xe tập trung có diện tích khoảng 5.550m2, bố trí tại khu vực phía Tây Nam khu di tích để phục vụ tốt nhu cầu đỗ xe của du khách trong các ngày lễ hội và góp phần giải quyết nhu cầu đỗ xe hàng ngày của dân cư trong khu vực lân cận. Khu di tích Đền thờ Hai Bà Trưng và khu vực thành cổ Mê Linh nằm tại làng Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh nghiên cứu lập quy hoạch và hoàn thành tháng 7.2010 với quy mô tổng diện tích nghiên cứu quy hoạch là 129.745m2. Hà Nguyễn Những di tích lịch sử về vùng Mê Linh hiện còn Phụ lục I. Vị trí thủ đô Mê-linh : Vị trí của thủ đô Mê-linh thời Lĩnh Nam, ngày nay bao gồm khu tam giác ba huyện Lương-sơn, Quốc -oai, Thạch-thất thuộc tỉnh Sơn Tây. Hay nằm trong khu vực bao gồm bởi : _ Phía Tây là sông Đà, bao bọc hai hòn núi Ba Vì (1281 m), Vua Bà(1031 m) _ Phía Bắc do sông Thao, sông Lô đổ vào sông Hát. _ Phía Đông bao bọc bởi sông Đáy. _ Phía Nam thuộc vùng Chương-mỹ. II. Di tích thờ kính anh hùng thời Lĩnh Nam quanh Mê linh : Di tích mà chúng tôi tìm được quanh vùng Mê-linh, cho đến nay (1988), còn tất cả 45 đền thờ anh hùng thời Lĩnh-Nam. Đa số thờ các vị tuẫn tiết trong trận đánh Cẩm Khê. Dưới đây liệt kê những đền thờ, miếu chính, theo số thứ tự. Con số trong ngoặc cuối dòng để chỉ số anh hùng : 1.- Phạm Thông, Phạm Như. Tướng thuộc quyền Tương-liệt đại vương Nguyễn Thành-Công, tử chiến thành Mê-Linh. (2 vị) 2.- Vũ Trinh-Thục, Công-chúa Bát-Nàn, phụ trách toàn bộ hệ thống Tế-tác ngày nay là Tình-báo quốc gia. Nếu vào thời Việt-Nam Cộng-hòa thì bao gồm Tổng-nha Cảnh-sát, Phòng-nhì bộ Tổng-tham-mưu, Phủ đặc ủy Trung-ương tình-báo. Nếu ở Hoa-kỳ thì bao gồm cả CIA lẫn FBI. Nếu tại Việt-Nam hiện thời thì gồm bộ Công-an, Cục Quân-báo, Tổng cục 2.. (3) 3.- Chu Chiêu-Trung, Chu Đỗâ-Lý. Đệ tử anh hùng Chu Bá, tuẫn quốc sau vua Trưng, khi Mã Viện tiến đánh Cửu-chân .(5) 4. Ba chị em Chiêu Nương: Chiêu Anh Nương, Chiêu Hoa Nương, Chiêu Tiên Nương. Trong đội hộ giá vua Trưng. Tử chiến trận Mê-linh. (8) 5.- Ba anh em họ Cao. Cao Chiêu Hựu, Cao Đà, Cao Nguyệt Nương, trong đội quân Tây Vu . Tuẫn quốc trận Nam-hải. (11) 6.- Nguyễn Nga. Tuẫn quốc trận Hành Sơn. (12) 7. Phùng Vĩnh-Hoa. Một trong 12 nữ đại công thần thời Lĩnh-Nam. Đại bác học thời Lĩnh-Nam. Ngài được phong tước Công-chúa Nguyệt Đức, lĩnh Tư-đồ triều đình Lĩnh Nam). (13) 8.- Chu Tước. Tướng chỉ huy đội Thị-vệ. Tuẫn quốc trận Cẩm Khê. (14) 9. Sáu mẹ con Ngọc Ba. Không rõ họ. Mẹ tên Ngọc Ba. Năm con gồm hai gái Ngọc Bích, Ngọc Hồng. Ba trai Minh Thiên, Minh Nhân, Minh Đức. Tất cả tuẫn quốc trận Cẩm-khê. (20) 10.- Ba tướng họ Đặng: Đại, Trung, Thiếu. Tuẫn quốc trận Lãng Bạc. Cả ba đều là tướng chỉ huy đội tiễn thủ. (23) 11.- Ông Cai, không rõ họ, chức tước. Tuẫn quốc trận Lãng-bạc. (24) 12.- Nhất Trung A, Nhị Trung A. Thuộc đạo quân Tây-vu. Tuẫn quốc trận Hành Sơn. (26) 13.- Lý Minh. Tướng kị binh. Tuẫn quốc trận Lãng Bạc. (27) 14.- Đao Khang. Tướng thuộc đạo binh Tây-vu. Tuẫn quốc trận Lãng Bạc. (28) 15.- Ả-Lã. Tướng thuộc đạo binh Tây-vu. Tuẫn quốc trận Cẩm Khê. (29) 16.- Sa-Lãng. Tướng thuộc đạo binh Tây-vu. Tuẫn quốc trận Cẩm Khê.(30) 17.- Chu Hải-Diệu. Tướng thuộc đạo binh Tây-vu. Tuẫn quốc trận Nam Hải . (31) 18.- Lôi-Chân. Tướng thuộc đạo binh Tây-vu. Tuẫn-quốc trận Hành-sơn. (32) 19.- Nguyễn An, Ngự-trù của vua Trưng. Tuẫn quốc trận Cẩm Khê. (33) 20.- Hoàng Đào, Tướng chỉ huy đội Thi-vệ. Tuẫn quốc trận Lãng Bạc. (34) 21. Ả Tự, Ả-Huyền, Thương-Cát. Tướng thuộc đạo binh Tây-vu. Tuẫn quốc trận Cẩm Khê. (37) 22.- Đỗ Năng Tế, Tạ Thị Cẩn, Không giữ chức vụ gì, được tôn là Quốc-sư. Đền thờ hai ngài tại thôn Mỹ- giang, xã Tam-hiệp, huyện Quốc-oai ngoại thành Hà Nội. Hai ông bà được thờ chung. Ông bà là thầy dạy của vua Trưng và Trưng Nhị. Tuẫn quốc trận Cẩm Khê. (39). 23.- Phùng Thị Chính. Tướng phó thống lĩnh Tế-tác (Tình báo quốc gia)). Tuẫn quốc trận Nam Hải. (40) 24.- Man-Thiên, Man-Đà. Người phụ trách giữ đền nói Man-Thiên là sinh mẫu vua Trưng. Man Đà là cậu vua Trưng. Cả hai cùng tuẫn quốc trận Cẩm Khê. (42)). III. Những hiện vật thời Lĩnh Nam quanh vùng Mê Linh : Quanh Mê-linh, cho đến năm 1980 còn tìm được rất nhiều di vật thời Lĩnh-Nam. Một trong những loại di vật chính là trống đồng. Các nhà khảo cổ Việt Nam thường nhắc đến trống Đồng. 1. Trống đồng, Nhiều giả thuyết cho rằng trống đồng được chế vào thời Hùng-vương. Giả thiết này tương đối vững, tin được. Vì khi dùng quang tuyến xác định niên đại đã chứng minh rõ ràng điều đó. Trong khi tìm kiếm tài liệu về Anh Hùng Lĩnh Nam, chúng tôi đã thấy nói đến trống Đồng rải rác ở khắp các cuốn phổ. Huyền thoại nói rằng phò mã Sơn Tinh dâng nhiều lễ vật lên vua Hùng, cầu hôn với công chúa Mỵ Nương. Trống đồng đó trước 1945 còn để tại hang Địch-lộng, vùng Ninh-bình. Hồi 1945, thuật gia đã viếng thăm, được thấy trống này. Không biết nay có còn không ? Huyền thoại nói rằng trong trận đánh giữa Phù Đổng Thiên vương với giặc Ân, « trống đồng hơn trăm chiếc, đánh rung động cả Sàøi Sơn ». An Tiêm từ đảo trở về, vua Hùng truyền đánh trống đồng đón rước. Đấy là trống được nhắc đến trong thời vua Hùng. Thời vua An Dương vương trống đồng cũng xuất hiện : Trận đánh giữa Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung với Đồ Thư tại vùng núi Đông-triều ngày nay : « Trống đồng đánh vang dội, quân Tần khiếp vía ». Đến thời Lĩnh Nam, sau khi thành đại nghiệp, vua Trưng bàn với Công-chúa Nguyệt-đức Phùng Vĩnh Hoa về việc đúc trống đồng. Công chúa hội ý với Tây-vu Thiên-ưng lục tướng, rồi truyền đúc 6 loại trống khác nhau, tướng trấn thủ sáu vùng là Nhật Nam, Cửu Chân, Giao Chỉ, Tượng Quận, Quế Lâm, Nam Hải. Tây-vu lục tướng được đề cử đúc trống. Các ông đề nghị khắc hình chim. Công chúa Gia-hưng (Trần Quốc) đề nghị thêm hình thuyền với người chèo đò, cuối cùng hoa văn trên trống được đưa ra triều nghị. Trống đồng được dùng trong quân, trong lễ nghi thời ấy. Năm 1923 tìm thấy trống đồng trong vùng Mê linh, gọi là trống Sơn Tây. Năm 1932 tìm thấy gần chùa Tùng-lâm, thuộc xã Mỹ -lương, huyện Chương-mỹ, 5 cây số Bắc Miếu-môn một trống đặt tên là Tùng-lâm (I). Gần đây, năm 1959 tìm thấy một trống nữa đặt tên là trống Tùng-lâm (II). Năm 1959, tìm thấy trống lớn ở xã An-tiên huyện Mỹ -đức gần chùa Hương-tích. Năm 1961 tìm thấy ở Thượng-lâm một trống, đặt tên là trống Miếu-môn (I). Năm 1966 đã tìm thấy một trống ở đồi Ro, xã Long- sơn, huyện Lương-sơn, phía Tây Nam chợ Bến 5 cây số. Đặt tên là trống đồi Ro. Năm 1973, tìm thấy ở cánh đồng Vọng-châu, xã Phú- lương, huyện Quảng-oai, nay là huyện Ba-vì, gần đê sông Hồng, 2 trống đặt tên là Phú-lương (I-II). Năm 1975 tìm thấy trống Đồng bên bờ trái sông Côn (3 cây số tây bắc huyện lỵ Thạch Thất) một trống nữa, mang tên trống Thạch Thất. Năm 1976 lại tìm thấy một trống lớn cạnh đền thờ công chúa Nguyệt Đức Phùng Vĩnh Hoa gọi là trống Miếu Môn (II). Tương truyền đây là trống lệnh của vua Trưng ban cho Công chúa Nguyệt Đức, khi bà lĩnh chức tổng trấn Tượng-quận, đem quân đánh nhau với Ngô Hán, Vương Bá. Chúng tôi hiện giữ hai trống đồng tại Paris. Một do vua Trưng ban cho Công chúa Gia Hưng Trần Quốc, khi bà nhận lệnh đem thủy quân đánh lên vùng Bắc Nam Hải (Ngày nay ngang với Hương Cảng). Trận này bà giết chết đại đô đốc Hán là Đoàn Chí. Một do vua Trưng ban cho Bình Tây đại tướng quân, Công chúa Thánh Thiên, làm trống lệnh, tổng trấn Nam Hải (Quảng Đông ngày nay). 2. Hiện vật, chiến cụ, Thời Pháp thuộc cũng như sau này, trong vùng Mê-linh và phụ cận, các toán khảo cổ đã đào được rất nhiều búa, rìu, lao, mác, là vũ khí chế tạo thời vua Trưng, chôn cất, còn lại. - Năm 1924, toán nghiên cứu địa dư Đông Dương đào được tại Quảng-oai một hố. Trong hố có 43 cái rìu, 12 cây giáo, 2 cây kiếm. Hiện vật này được đem về Pháp. - Năm 1925, toán tìm kiếm mỏ của người Pháp, đào được một hầm chứa 5 cây đao, 7 cây búa, 12 cây giáo. Hầu hết đều mục nát. Nơi tìm thấy là xã Hà-hiệp, huyện Quốc-oai. - Tháng 6 năm 1979, tại xã Hà-bằng, đã đào được một hầm ở độ sâu 0,50-0,70 cm 44 chiếc rìu, một chiếc giáo. Việc tìm thấy trống đồng, vũ khí quanh Mê-Linh là truyện rất thường. Song các tỷ dụ trên, cho thấy đó là nơi chôn cất tập thể, có tính chất cất giấu, chứng tỏ xưa kia, đây là bãi chiến trường thời vua Trưng. IV. Vị trí của đất Mê Linh trong sách sử cổ. Bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc-sử quan triều Nguyễn, khi chú thích về địa danh Cẩm-khê đã dẫn sách Thủy kinh chú của Dịch Đạo Nguyên như sau : « Theo sách Việt Chí, Cẩm-khê là Kim-khê ở phía Tây Nam huyện lỵ Mê-linh ». Vị trí của thành Mê linh ở trung tâm Cổ-lỗi trang. Về thành Mê-linh Cao Hùng Trưng ghi trong An Nam chí vào giữa thế kỷ 17. Sách Đại nam nhất thống chí của Quốc-sử quán triều Nguyễn dẫn sách Cao Hùng Trưng như sau : « Thành cổ Mê Linh, theo An Nam chí thì Mê Linh ở phía tây phủ Giao Châu. Thời thuộc Hán là huyện của quận Giao Chỉ. Nhà hậu Hán vẫn theo như trước. Giữa thời Kiến Vũ, hai bà Trưng đóng đô ở đây ». « Thành cổ Phong Châu, theo An Nam chí chép : Ở phía tây bắc phủ Giao Chỉ, tức đất Mê Linh thuộc quận Giao Chỉ đời Hán ». « Thành cổ Bình Đào, theo An Nam chí thì thành cổ Bình Đào ở phía tây bắc phủ Giao Châu, tức thuộc huyện Yên Lãng bây giờ... » Sau khi thành đại nghiệp, vua Trưng cho xây thành Mê Linh , cùng cung điện. Các cung điện mà lịch sử còn ghi được gồm : - Điện Kinh Dương, nơi vua thiết đãi triều, tiếp các Lạc vương, Lạc công. Trong điện có vẽ hình nguồn gốc phát tích của Quốc Tổ Hùng Vương : Vua Đế Minh kết hôn với Tiên nữ ở hồ Động Đình. vua Đế Minh tế cáo trời đất, phong cho con thứ là Lộc Tục làm vua Lĩnh Nam. Lạc Long Quân kết hôn với Âu Cơ đẻ ra trăm trứng. Sự tích An Tiêm làm lịch. Sự tích Phù Đổng Thiên Vương. Sự tích vua An Dương. Sự tích Vạn tín hầu Lý Thân xây thành Cổ Loa. Sự tích Trung tín hầu Vũ bảo Trung giết Đồ Thư. Sự tích Cao cảnh hầu chế nãy nỏ thần. - Cung Âu Cơ, nơi vua Trưng ở. - Điện Minh Đức, nơi vua Trưng làm việc hàng ngày cùng với Tam công, Tể tướng và Lục bộ. - Phủ Lạc Long, nơi vua thiết tiêu triều. - Phủ Thiên Vương, nơi vua Trưng luyện võ cùng với triều thần. - Phủ An Tiêm, nơi nghiên cứu Thiên văn, Lịch số, chép sử. Tục lệ do Quốc Tổ Hùng Vương để lại, là tổ chức lễ tế trời đất gọi là lễ Nam Giao. Ý nghĩa rằng : nhà vua thay trời đất cai trị muôn dân. Lễ Nam Giao trên một nền đất gọi là dàn Nam Giao ở phía Nam kinh thành. Di tích của thời Lĩnh Nam là chỗ dân Nam Giao xưa, nay thành xã Nam Giao thuộc tổng Hòa Lạc, tức xã Tân Xã, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây. V. Kết luận : Kết lại, thủ đô Mê Linh thời Lĩnh Nam hiện vẫn còn đầy đủ di tích. Nào đền thờ các anh hùng tuẫn quốc, nào các hố chôn vũ khí, nào trống đồng, nào dàn Nam Giao. Hồi 1952, thuật gia đã được viếng cố đô Mê Linh, lặn lội khắp vùng. Bấy giờ mới 13 tuổi. Mãi tới năm 1990 mới được trở lại nghiên cứu chi tiết. Đến nay (1990) sau 1948 năm, trải không biết bao nhiêu lớp sóng phế hưng, mưa nắng, nhưng cố đô vẫn không bị mai một. Dân chúng vẫn thờ kính, tưởng nhớ công đức chư vị anh hùng. Tôi đã tổ chức một cuộc du lịch Việt-Nam cho những người yêu văn hóa lịch sử tộc Việt. Đoàn gồm 36 người, chia ra: Việt 9, Pháp 20, Đức 3, Anh 2, Hòa-lan 1, Bỉ 1. Chi phí rất rẻ, vì chúng tôi chia phí tổn đồng đều. Tôi làm hướng dẫn viên (Nhưng cũng trả tiền như mọi người). Đoàn đã viếng thăm 10 kinh đô tộc Việt: 1. Phong-châu thời vua Hùng. 2. Cổ-loa thời vua An-Dương. 3. Mê-linh thời Lĩnh-Nam. 4. Vạn-xuân thời Tiền Lý. 5. Trường-yên thời Đinh, Tiền Lê. 6. Thăng- long thời Lý, Trần, Lê. 7. Tây-đô (Thanh-hóa) thời nhuận Hồ. 8. Đồ-bàn, Chiêm-quốc. 9. Thần-kinh (Huế) thời Nguyễn. 10. Sài-gòn, thời Việt-Nam cộng-hòa. Không biết do tôi thuyết trình hay do hoàn cảnh lịch sử, mà thính giả tỏ ra cực kỳ xúc động khi viếng Mê-linh và Cổ-loa. Chính tôi cũng cực kỳ rung động khi thuyết trình. Nếu các cơ sở du lịch của người Việt tại hải ngoại đọc được những dòng này, mà tổ chức hành hương 10 cố đô của tộc Việt, thực là vừa nhắc nhở du khách nhớ đến những thời oanh liệt của tổ tiên ta, vừa thu được nhiều...tiền. Mong lắm. - Truyền thuyết Thần Kim Qui và Nỏ Thần – Người Việt Nam chỉ biết qua truyện Thần Kim Qui hiện lên giúp vua An Dương Vương xây Thành Cổ Loa. Sau khi xây xong thần tặng cho vua móng rùa làm nẫy nỏ. Mỗi phát bắn ra hàng ngàn mũi tên. Vì vậy ngài mới thắng Đồ Thư và 500000 quân nhà Tần, đánh cho Triệu Đà bại bao phen. Sau Triệu Đà cho con là Trọng Thủy ở rể Âu Lạc, ăn cắp móng rùa, rồi vua An Dương Vương mất nước. Ngược với truyền thuyết đó, trong các cuốn phổ chép về sự tích thời Âu Lạc, thì Vạn Tín Hầu Lý Thân (Lý Ông Trọng) là người vẽ đồ hình, tìm vị trí xây thành Cổ Loa. Cao Cảnh Hầu Cao Nỗ và em là Cao Tứ là tác giả chế ra 3 loại nỏ thần khác nhau, khinh nỗ, trung nỗ và đại nỗ. Nhiều người ít học sử cứ cho rằng không có thành Cổ Loa. Truyện nỏ thần là truyện hoang đường. Sự thật thành Cổ Loa đến thế kỷ thứ 19 vẫn còn. Đến năm 1945 thành vẫn còn được mấy dãy tường trên 4 mét. Theo Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ, trong bộ sách Anh Hùng Lĩnh Nam thì bản phụ chú nghiên cứu về thành Cổ Loa đã được tác giả phỏng theo tài liệu của trường Viễn Đông Bác Cổ Hà Nội. Như vậy “Nẫy nỏ thần với Thần Kim Qui” là một truyện bịa đặt. Thành Cổ Loa di tích vẫn còn đó, đây là một công trình kiến trúc xây cất theo vòng xoáy trôn óc. Nẫy Nỏ Thần là một sáng tạo khoa học của tiền nhân, chứ không phải là truyện hoang đường. Đều này cho thấy rằng, dân Việt đã sớm có một văn minh hơn các dân tộc chung quanh.
-
Việc tồn tại Thăng Long thành là hiển nhiên, tuy vậy cũng phải xem nó bị phá hủy như thế nào. An Dương Vương xây thành Cổ Loa trong việc chuẩn bị kháng Tần, lịch sử không thấy ghi nhận thành bị phá hủy. Trong việc mất nước bởi Triệu Đà, trong truyện Nỏ thần ghi nhận vua rời kinh thành với Mỵ Châu. Chúng ta hiểu ẩn ý rằng ngài rời Thanh Long Thành chứ không phải Cổ Loa như đã phân tích trước, nó chỉ là thành chiến lược (hộ thành), như vậy trong chiến tranh với Tần, quân Tần không phá hủy, điều này cũng giống như các cuộc chiến với quân Minh, Mông Cổ... Bắc thuộc sau nhà Triệu, với cuộc nổi dậy của Hai Bà trưng lên ngôi trong 3 năm, đóng đô Mê Linh, theo truyền thuyết. Vậy chúng ta phải xem lại thời Bắc thuộc đóng ở đâu và Mê Linh phải chăng là nơi Hai Bà Trưng lên ngôi. Vì Bà Trưng lên ngôi trong thời gian ngắn và ta lại tiếp tục bị Bắc thuộc, vậy cũng xem sau đó quan cai trị ở đâu để nắm Giao Châu?. Vua Trần Nhân Tông có nói: "Chính sử chân giả đảo điên". Nên 200 năm sau một số sự kiện lịch sử trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên với các nhận xét, thực sự... sai bét, không có lợi cho Đại Việt. Một câu hỏi là sách sử của ta bị quân Minh đốt rụi và đem về nước thì Đại Việt Sử Lý viết dựa trên nền tảng nào?
-
TÍNH MINH TRIẾT VIỆT TRONG CHUYỆN TẤM CÁM Thiên Sứ SỰ KIỆN VÀ VẤN ĐỀ Chuyện Tấm Cám là một câu chuyện nổi tiếng trong văn hoá dân gian Việt Nam, vốn được truyền miệng từ đời này sang đời khác. Chuyện Tấm Cám có kết cấu rất hoàn chỉnh và mang một nội dung sâu sắc với nhiều tình tiết phức tạp. Những dị bản của loại chuyện như thế này có nhiều ở những nền văn hoá lâu đời của nhân loại. Thí dụ như truyện Lọ Lem.,,,, Riêng truyện Tấm Cám có nhiều tình huống và chi tiết mang hình tượng văn hoá đặc thù của người Lạc Việt, như: Trầu cau, chiếc rìu, nằm võng....Điều này chứng tỏ nó thuộc loại văn chương bác học và bị khuyết danh vì những thăng trầm lịch sử, chứ không phải là loại văn học bình dân và được sáng tạo và phát triển bởi quần chúng.Sự tồn tại của truyện Tấm Cảm trải qua bao thăng trầm của lịch sử Việt, đã chứng tỏ một sức sống mãnh liệt từ ngay trong nội dung câu truyện. Sức sống ấy nằm ngoài tầm mơ ước của những nhà văn gạo cội của thế giới, ước mơ cho đứa con tinh thần của mình.Nhưng ngày nay, đang xuất hiện một xu hướng khá mạnh mẽ nhằm phủ nhận những giá trị văn hoá truyền thống Việt, kể cả trong và ngoài nước. Ngoài cái xương sống của truyền thống văn hoá sử - Từ gần 5000 năm văn hiến, bị gọi là chứng minh “khoa học” xuống còn 2500 năm lịch sử và sự khởi nguồn của dân tộc Việt - Thời Hùng Vương - chỉ là một liên minh 15 bộ lạc với những người dân ở trần đóng khố tồn tại ở khỏang 300 năm từ thế ký thứ VII trước CN - thì những câu chuyện nổi tiếng trong văn hoá dân gian Việt cũng bị xuyên tạc và hạ thấp giá trị nội dung theo cách hiểu truyền thống. Chuyện Thạch Sanh thì được họ coi là có nguồn gốc Khơ Me, Chuyện Trương Chi thì bị coi là cuộc tình giả tạo thương vay khóc mướn của Mỵ Nương. Tất nhiên, Tấm Cám cũng trong tầm ngắm của xu hướng phủ nhận giá trị văn hoá Việt. Có thể nói rằng: Cả một trào lưu phủ nhận giá trị văn hoá truyền thống Việt cả trong lẫn ngoài nước. Điều này được chính họ thừa nhận khi phát biếu công khai rằng: Quan niệm lịch sử mới phủ nhận những giá trị văn hoá sử Việt được “Hầu hết những nhà khoa học trong nước và công đồng khoa học thế giới thừa nhận” (*). Truyện Tấm Cám nổi tiếng trong văn hoá dân gian Việt là cũng một trong những đối tượng của họ.Họ phân tích và chứng minh rằng: Chuyện Tấm Cám là câu chuyện man rợ. Sự tàn ác và vô nhân của mẹ con nhà Cám, sự bạc nhược, thụ động của cô Tấm. Đến khi Tấm thành đạt do may mắn lại có hành động trả thù dã man: Luộc chín người em làm mắm, gửi cho mẹ kế.Tôi nghe một người kể về một sinh viên ngoại quốc học về văn hoá Việt đã chất vấn giáo sư Việt Nam về nội dung truyện Tấm Cám như trên. Vị giáo sư này đã không trả lời được, (Theo câu chuyện kể thì là một sinh viên một nước Đông Á). Ngay bây giờ, những người bạn của tôi đang xem blog này có thể kiểm chứng qua thông tin dưới đây từ web vietnamnet.net. Sách "mầm non" hủy hoại thế giới tuổi thơ? Thứ bảy, 29/12/2007, 16:14 GMT+7 Nếu tìm vào thế giới của một đứa trẻ Mỹ chắc chắn bạn sẽ không thể không gặp chuột Mickey, vịt Donald, nàng tiên cá hay ông già Noel… Tương tự như vậy, tìm vào ký ức tuổi thơ của bất cứ người Việt Nam nào, chắc chắn sẽ có cô Tấm, mụ dì ghẻ, ông Bụt… Thế nhưng đã không ít lần các bậc phụ huynh lâm vào sự bối rối khó xử khi bị trẻ “vặn” lại: Tại sao cô Tấm hiền lành lại giết cô Cám, và còn băm xác Cám làm mắm rồi gửi cho mẹ Cám ăn? Sách trẻ em được bán tại các hiệu sách và trường mầm nonNhững thắc mắc tưởng chừng “vu vơ” nhưng khiến các bậc cha mẹ, thầy cô đau đầu. Phải giải thích làm sao với những tâm hồn thơ trẻ về cách “hành xử” của cô Tấm trong khi hàng ngày chúng ta vẫn dạy các em phải hiền ngoan, phải vâng lời, phải vị tha, phải… đủ thứ! http://tintuconline..../vanhoa/178784/ Tôi xin trả lời bài viết này: Chính một số đám người lớn dốt nát bây giờ đã dạy cho trẻ con theo cách hiểu của họ vê truyện Tấm Cám - một truyên thuyết đã thuộc về văn hóa truyền thống Việt. Từ ngàn xưa cho đến tuổi thơ của chúng tôi đã đi qua với câu chuyện Tấm Cám. Trong tuổi thơ chúng tôi không nhìn thấy sự "man rợ" của cô Tấm, mà chỉ nhìn thấy kẻ xấu bị trừng phạt xứng đáng với tộic ác của nó. Bởi vì cha mẹ chúng tôi và tổ tiên của người Việt khi lưu truyền câu truyên này trong văn hóa Việt, đã không dạy chúng tôi như vậy. Nhưng chỉ kể từ khi cả một hệ thống văn hóa lịch sử truyền thống Việt bị một bọn dốt nát hủy hoai với sự bóp méo nội dung. Trẻ thơ mới phải tập phủ nhận những giá trị văn hóa Việt. Mượn vỏ bọc một bài viết về giáo dục trẻ em, tác giả này trên Vietnamnet.net đã bị ảnh hưởng, hay không quên góp phần phủ nhận những giá trị văn hóa Việt. Nếu cứ chẻ hoe từng sự kiện như cách phân tích và chứng minh ở trên, thì dễ làm cho người có kiến thức trung bình tưởng rằng: Đây là một phát hiện sâu sắc và ủng hộ cách nhìn méo mó trên cho một tác phẩm văn hoá dân gian lâu đời của dân tộc Việt.Nhưng không lẽ – qua bao thăng trầm của lịch sử - cả một dân tộc trân trọng lưu truyền một câu chuyện dân gian lại không có nổi một cảm quan nhậy bén về nội dung câu truyện đó sao? Bởi vậy, tôi viết bài này thể hiện một cái nhìn của tôi về câu truyện Tấm Cám nhằm khẳng định giá trị nhân bản và tính minh triết sâu sắc của nền văn hoá truyền thống Việt trải gần 5000 năm văn hiến. *CÂU CHUYỆN TẤM CÁM VÀ TÍNH MINH TRIẾT VIỆT DỊCH Có thể nói hầu hết những người ở thế hệ chúng tôi đều đã qua thời thơ ấu trong không gian của truyền thống văn hoá Việt do thế hệ trước truyền lại. Đó chính là những chiếc bánh chưng, bánh dầy, những bức tranh dân gian đầy màu sắc sinh động, các trò chơi trẻ em như “Ô ăn quan”, “Chi chi chành chành”…hoặc những câu chuyện đượm màu huyền thoại như: "Thạch Sanh", "Trương Chi – Mỵ Nương”…..v.v….Tất cả hầu như đều mang một ý nghĩa minh triết Việt. Chuyện Tấm Cám cũng là một câu chuyện như vậy. Với tâm hồn trong sạch của tuổi thơ, chúng tôi cảm nhận được ở chuyện Tấm Cám về cái thiện đã thắng cái ác và kẻ ác phải trả giá cho việc làm của họ. Câu chuyện Tấm Cám không chỉ mang một triết lý nhân sinh về tính nhân quả gần gũi với giáo lý Phật giáo, mà còn chưa đựng trong đó cả một giá trị minh triết Đông phương. Đó chính là sự minh triết Việt Dịch. Có thể khẳng định rằng: Hầu hết những di sản văn hoá phi vật thể Việt để lại cho hậu thế đều mang tính minh triết rất sâu sắc. Mỗi câu ca dao tục ngữ đều là một châm ngôn về con người và cuộc sống, về cách xử thế hàng ngày, hoặc đó là những lời khuyên khôn ngoan về các tri thức thiên nhiên xã hội và con người. Trong những di sản văn hoá độc đáo ấy, chúng ta nếu chịu suy nghĩ và tìm tòi, còn thấy cả những chìa khoá giải mã những bí ẩn của giá trị Đông phương. Đây là điều mà tôi đã nhiều lần trình bày trên các diễn đàn lý học. Những nội dung của các câu chuyện này đều có một mục đích thống nhất và trùng khớp về những giá trị bí ẩn của văn minh Đông phương, chứ không phải là những hiện tượng riêng lẻ, ngẫu nhiên trùng lặp. Câu chuyện “Con Tấm. Con Cám” của dân tộc Việt, ngoài những giá trị về tính minh triết và nhân văn Đông phương, còn là giá trị khám phá sự bí ẩn của Đông phương của Việt Dịch. Chính vì nội dung rất sâu sắc và tính minh triết của câu truyện này, đã khiến cho tác phẩm có một sức sống vượt thời gian và không gian trải hàng ngàn năm thăng trầm của lịch sử Việt. Một thời gian mà tất cả các tác giả của nhân loại hiện đại, không một ai dám mơ ước cho những tác phẩm vĩ đại của họ. Mở đầu câu truyện, chúng ta thấy cảnh ngộ của Tấm thật là bi đát: Cha mẹ mất sớm và ở với dì ghẻ.Đây là những mâu thuẫn đầu tiên của con người, trong mối quan hệ xã hội. Mâu thuẫn này không mang nặng tính ý thức hệ, như sau này khi xã hội loài người phát triển. Đối tượng chính trong câu truyện này là bà mẹ Cám và Tấm, cô Cám chỉ là một cái cớ để câu truyện diễn tiến. Sự tồn tại của ba nhân vật nữ chính và sự bị đát của cô Tấm cho thấy một hoàn cảnh thuần Âm, được biểu tượng bằng ba người đàn bà trong gia đình. Đó chính là tượng của quẻ Thuần Khôn và địa vị của cô Tấm, trưởng nữ, tượng của quẻ Tốn Mâu thuẫn xã hội là một thực tại và nó phát triển theo quá trính phát triển của lịch sử nhân loại. Mâu thuẫn đầu tiên và sơ khai nhất chính là mối quan hệ gia đình. Hoàn cảnh của cô Tấm trong câu chuyện là một ví dụ. Nếu câu chuyện giải quyết theo hướng người mẹ kế của cô Tấm có ý thức nhân đạo, nuôi cô Tấm như con đẻ của mình. Như vậy, sẽ có Dương (Ý thức thuộc Dương) trong Âm (Ba người đàn bà) thì Âm Dương đã cân bằng và câu chuyện bi thương này diễn biến theo chiều hướng khác. Nhưng bà mẹ của Cám lại sống theo bản năng của người đàn bà trong mối quan hệ giữa con mình và con không do mình đẻ ra. Trong giai đoạn đầu, tính thuần Âm chỉ đạo toàn bộ sự diễn tiến và phát triển của câu truyện. Âm càng phát thì mâu thuẫn ngày càng tăng. Chuyện bắt đầu chỉ là con tép, rồi lên con cá. Sau đó, khi mối quan hệ xã hội ngày càng phát triển trong lịch sử tiến hoá của loài người thì nhu cầu về ăn mặc cũng phát triển. Phần Dương trong một hoàn cảnh thuần Âm này chỉ là mơ ước của Tấm với hình tượng ông Bụt hiện lên mỗi khi hoạn nạn. Với những người nghiên cứu về Kinh Dịch, chúng ta đều biết rằng: Trong một quẻ 6 hào thì quái Thượng phía trên là Dương, quái Hạ, phía dưới là Âm. Qua ba giai đoạn gian truân trong gia đình và phát triển từ thấp đến cao, chính là ba hào Âm của quái Hạ: Ba sự kiện đó là giỏ tép bị tráo, cá bống bị giết và sự đau khổ của Tấm khi phải nhặt thóc một cách vô vọng cho ước mơ của mình. Đây chính là hình tượng ba hào Âm cuối của quẻ thuần Khôn. Trong giai đoạn này, Đến Hào hai – Hào Lục nhị là Hào Âm chính vị theo lý Dịch - hình tượng của con cá bống mỗi khi Tấm cho ăn, có một câu ca kỳ lạ: Bống bống bang bang Bống ăn cơm vàng, cơm bạc nhà ta. Chớ ăn cơm hẩm, cháo hoa nhà người. Câu ca nổi tiếng này được các bà mẹ Việt truyền từ đời này sang đời khác – qua bao thăng trầm của giống nòi – khi kể lại câu truyện cho đứa con thơ dại. Mỗi khi đọc bài ca này, mắt mẹ lại ánh lên nhìn vào mặt con, như muốn truyền cảm tình yêu mái ấm gia đình mà mẹ là người chở che, bao bọc. Cũng như chuyện thằng Bờm, sự quay cuồng bão tố của không. thời gian lịch sử không làm thay đổi một chữ. Ở đây, trong bài ca này của cô Tấm, cũng không hề bị sửa chữa bởi một ý thức hàn lâm ngớ ngẩn. Tại sao thể nhỉ? Ông cha ta dùng ngoa ngữ chăng? Cơm của Tấm cũng là cơm lại là cơm của con nhà nghèo, làm sao gọi là cơm vàng cơm bạc được?Phải chăng đây chính là hình tượng, nhắc nhở hậu thế đừng vội quay lưng với những di sản của ông cha. Mà trong đó, ẩn chứa những giá trị vô giá không thể so sánh với những giá trị vật chất tầm thường. Khi Tấm cưỡi ngựa hồng, mặc áo đẹp, đội nón quai thao, mang hài đi dự lễ hội, thoả mãn ước mơ của mình thì câu chuyện bước sang một cấu trúc khác. Mâu thuẫn của mối quan hệ giữa con người với con người trong gia đình, đã chuyển sang mâu thuẫn trong quan hệ xã hội: Mâu thuẫn về danh vọng và quyền lực.Tấm đang ở trong hào Lục tứ của quẻ thuần Khôn thuộc Âm. Xã hội loài người liên tục phát triển thì mâu thuẫn xã hội tiếp tục phát triển với những hình thái mới của nó. Qua giai đoạn thuần Âm của ba hào của quái Khôn hạ, mâu thuẫn xã hội chuyển sang một hình thái mới là Dương trong Âm của 3 hào trong quái Khôn thượng của quẻ Thuần khôn. Diễn biến của câu truyên từ lúc này về sau không có hình ảnh của ông Bụt (Tính Dương trong quái Hạ thuần Âm). Trong hào lục tứ chính vị, Tấm được tấn phong hoàng hậu chỉ dưới hào Cửu Ngũ là hào của vua. Nếu như lúc Tấm trở về làng, mẹ con nhà Cám phục tùng hoàng hậu, giữ đạo quần thần. Tức là có ý thức trong mối quan hệ xã hội (Thuộc Dương) thì câu truyện có thể chấm dứt ở đây. Và đây cũng là kết thúc của một câu chuyện dị bản tương tự của văn hoá cổ Châu Âu trong câu chuyện Lọ Lem. Nhưng nền văn minh cổ của người Việt đã tiếp tục câu chuyện sâu sắc hơn nhiều, theo đúng tinh thần của Dịch học: Quẻ thuần Khôn chưa đi hết 6 hào của nó và mâu thuẫn xã hội tiếp tục phát triển. Tấm bị mẹ con nhà Cám lừa giết chết, khi đang trèo lên cây cau và biến thành con chim vàng anh. Đây là lần biến hoá thứ nhất của hào Lục Tứ. Sự tranh chấp quyền lực - mâu thuẫn trong quan hệ xã hội - vẫn tiếp tục xảy ra và Âm vẫn thắng Dương: Con chim vàng anh hoá thân của Tấm bị giết. Đến đây sự kiện chuyển sang hào lục ngũ: Linh hồn của Tấm biến thành cây xoan tiếp tục oán than. Cám tiếp tục truy sát, chặt cây làm khung cửi . Sự kiện tột cùng của hào Thượng lục trong quẻ thuần Khôn và cũng là lúc Âm đạt đến đỉnh cao nhất: Tấm trở thành cái khung cửi và là một công cụ của Cám.Chúng ta cũng nhận thấy rằng: Trong giai đoạn sau được diễn tả thông qua 3 hào thượng của quẻ Thuần Khôn - từ lục tứ đến thượng lục - không có hình ảnh của Bụt trong câu chuyện. Linh hồn của Tấm - thuộc Dương trong Âm (Hồn người chết) - trực tiếp tham gia diễn biến câu truyện, thay thế cho hình tượng ông Bụt. Nhiềư nhà phê bình văn học đã cho rằng: Đây là hình ảnh chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo. Nhưng vớin cách nhìn của tôi thì đây chính là sự minh hoạ đặc sắc cho tính vi diệu của Dịch học, có sự tương đồng với Phật Pháp. Để chứng tỏ điều này, chúng ta có thể xem lại bản văn sau đây trong Kinh Dịch: Hệ Từ thượng truyện. Chương V. Tiết 2 viết: Ngẩng lên xem thiên văn, cúi xuống xét địa lý, cho nên biết cái cớ của sáng tối. Quay về nguyên thuỷ của vạn vật, theo dõi đến cuối cùng, nên biết được bài học về sống chết . Tinh khí hợp lại sinh ra vạn vật . Hồn thoát ra tạo nên biến hoá, nên biết được tình trạng của quỉ thần. Như vậy, qua đoạn trích dẫn trên “Hồn thoát ra ngoài tạo nên biến hoá”, cho thấy tinh thần của Dịch rất gần gũi với giáo pháp của Phật về sự luân hồi. Bởi vậy nên có sự ngộ nhận chuyện Tấm Cám có ảnh hưởng của Phật giáo. Điều này cũng giống như sự tích Chử Đồng Tử hoặc sự tích Cây Nêu, đều có hình ảnh của Đức Phật. Nhưng hình tượng cây Nêu là một giá trị văn hoá phi vật thể thuần Việt: Chỉ có ở văn hoá Việt Nam mới có cây Nêu. Còn những quốc gia ảnh hưởng Phật pháp khác, không có hình tượng này. Điều này cho thấy hình tượng cây nêu là một sản phẩm văn hoá thuần Việt và không có nguồn gốc từ Phật giáo. Nhưng chính tính gần gũi của tư tưởng Dịch học và Phật pháp, nên sự tích cây Nêu đã dùng hình ảnh chiếc áo cà sa của Đức Phật phủ lên cây nên. Đây là một biểu tượng sự che chở của Phật Pháp cho những giá trị văn hoá Việt trong sự bi tráng của lịch sử giống nòi, vì tình gần gũi của những giá trị minh triết trong văn hoá truyền thống Việt với Phật pháp. Quay trở lại với nội dung câu chuyện Tấm cám, chúng ta thấy rằng: Mâu thuẫn đã lên đến tột đỉnh trong quan hệ xã hội của con người. Đó là mâu thuẫn ở đỉnh cao của quyền lực: Tấm và Cám trong sự tranh giành địa vị Hoàng Hậu. Âm tính đã phát triển đến hào Thượng Lục trong quẻ thuần Khôn. Vì tính thuần Âm nên mâu thuẫn không được giải quyết. Linh hồn của Tấm vẫn khắc khoải với sự đau khổ, oan trái của mình. Nhưng về Lý Dịch thì sự việc phải chuyển hoá. Chiếc khung cửi bị Cám đốt hoá thành tro đã chuyển hoá câu chuyển sang một hoàn cảnh mới: Nhất Dương sinh, theo nguyên lý cực Âm sinh Dương của Dịch. Quả Thị là một biểu tượng tuyệt vời trong trường hợp này. Đây là một loại quả (Trái cây) chỉ dùng trong việc thờ cúng của văn hoá truyền thống Việt. Quả thị chỉ có mùi hương (Mùi vị thuộc Dương – hình thể thuộc Âm) và không ăn được. Thị ơi! Thị à! Thị rụng bị bà. Bà để bà ngửi, chứ bà không ăn! Các bà mẹ Việt Nam kể lại câu chuyện này, cũng có bà bảo rằng: Chính vì vậy mà quả thị từ đó về sau không ăn được.Linh hồn của Tấm nấp trong quả thị và phục sinh từ quả thị. Đây là hình tượng của quẻ Phục. Nhất Dương sinh Chúng ta cũng sẽ tìm thấy hình tượng của quẻ này trên bãi đá cổ Sapa (Xin xem bài: LẠC THU CHU DỊCH TRÊN BÃI ĐÁ CỔ SAPA. Văn hiến Lạc Việt. vietlyso.com).Tấm đã sống lại và ở với bà lão. Như vậy, khi linh hồn cô Tấm nằm trong quả thị và hàng ngày bước ra giúp dọn việc nhà thì câu chuyện đã đang ở trong hào Nhất Dương sơ Cửu của quẻ Phục. Khi bà lão rình phát hiện được Tấm và xé bỏ quả thị đi thì cô Tấm hoàn Dương. Cô Tấm sống với bà lão, chính là hào 2 Cửu nhị của quẻ Lâm và câu chuyện đang diễn biến trong nội hàm của nó. Ngôi Dương của hào cửu nhị không đắc chính. Tấm còn đang chịu cảnh đất khách quê người.Câu chuyện tiếp diễn khi nhà vua tình cờ vi hành qua hàng nước của bà lão. Một tình tiết rất độc đáo ở giai đoạn này và có lẽ cũng là lời giáo huấn của tiền nhân, chính là hình ành của miếng trầu têm cánh phượng. Trầu cau là một giá trị đặc thù của văn hoá Việt. Trầu têm cánh phượng chính là hình tượng của một giá trị cao nhất của nền văn hoá đó. Và chỉ có cô Tấm mới thực hiện được điều này. Toàn bộ đoạn này, cha ông ta đã gửi gấm lại cho đời sau một thông điệp: Chính những giá trị văn hoá Việt là tiền đề cho sức sống và sự phát triển của dân tộc Việt. Nhờ miếng trầu têm cánh phượng, nhà vua đã đưa cô Tấm trở về hoàng cung và là chính cung hoàng hậu. Câu chuyện đang ở hào Cửu Tam. Dương đắc ngôi dương. Nhưng đến đây nếu chúng ta vội cho rằng: 3 hào Âm của quẻ Thuần khôn đã biến thành ba hào Dương là tượng của quẻ Địa Thiên Thái thì thật sai lầm. Sự phủ nhận một giá trị văn hiến Việt trong câu truyện Tấm Cám và là nguyên nhân để Thiên Sứ tôi viết tiểu luận này, chính là ở đoạn cuối của câu chuyện. Đây chưa phải là quẻ Địa Thiên Thái. Về tượng quái thì quẻ Khôn trong Địa thiên thái và trong quẻ thuần Khôn đều giống nhau. Nhưng là những người đã tìm hiểu về Dịch thì chúng ta sẽ thấy rằng:Ý nghĩa của cùng một quái nhưng ở hai quẻ khác nhau sẽ khác nhau. Quái thượng Khôn trong quẻ Thuần Khôn và quái thượng Khôn trong quẻ Địa thiên thái, mặc dù giống về hình tương nhưng không thể cùng một nội dung. Sự tuần hoàn của tạo hoá khiến mỗi quẻ ở vị trí khác nhau trong vòng tuần hoàn vô tận, sẽ không giống nhau dù giống tượng. Điều này giải thích là số Tử Vi trùng dữ kiện 60 năm trước và 60 năm sau, dù giống hệt nhau nhưng không thể giống nhau . Sao Thiên Mã 100 năm trước là con ngựa, nhưng 100 năm sau là xe hơi. Người sinh cùng ngày giờ tháng năm , nhưng ở hai hoa giáp khác nhau sẽ có độ số khác nhau….Bởi vậy, quái Khôn trong quẻ Thuần Khôn tượng là bà mẹ của Cám, nhưng quái khôn trong quẻ Địa thiên Thái thì lại khác hẳn về tính chất. Đó chính là sự chuyển hoá tính chất khi những sự kiện diễn biến liên tục ở đoạn cuối. Cám chết vì tham vọng vô độ. Cô ta không từ một cách nào dể đạt mục đích. Lòng tham đã dẫn đến sự ngu xuẩn, thể hiện bằng hành động tự dội nước sôi vào mình. Bà mẹ Cám ăn thịt con mà không biết. Đây là một hình tượng rất ấn tượng vì tính khủng khiếp của nó. Nhưng về tính minh triết của hình tượng này lại cho thấy: Chính bà mẹ Cám đã giết dần con mình khi xui con lao vào tội ác. Bà mẹ Cám đã ăn thịt chính con bà từ lâu. Đến khi thấy hậu quả của tội ác chính bà thì bà ta cũng chết. Bởi vậy, chính hình ảnh ấn tượng này lại là sự cảnh tỉnh cho lòng tham của con người làm ảnh hưởng đến thế hệ sau.Khi bà mẹ Cám – tượng cho quái Khôn trong quẻ thuần Khôn chết và Tấm - trưởng nữ, tượng quái Tốn – chính thức thay thế trong vị trí hoàng hậu làm Mẫu nghi thiên hạ - Một nội dung khác của quái Khôn để cuộc đời mở ra với quẻ Địa thiên thái. Và cũng chính hình tượng này lại cho thấy vị trí của Tốn (Trưởng Nữ - Tấm) phải thay thế cho quái Khôn – Mẹ Cám trong Việt Dịch với Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ. HÌNH MINH HỌA HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ'''''''''..........................''''''''& HẬU THIÊN VĂN VƯƠNG PHỐI LẠC THƯ Được phục hồi từ những di sản văn hóa truyền thống Việt............................Theo cổ thư chữ Hán Câu chuyện Tấm Cám với cái nhìn chủ quan của tôi thì đây chính là nội dung sâu sắc đầy tình minh triết của văn hiến Lạc Việt. Nếu trong quí vị và anh chị em quan tâm đến tiểu luận này, có người cũng thích xem các loại truyện cổ tích của các dân tộc trên thế giới, hẳn cũng biết có nhiều chuyên mang nhiều tình tiết giống chuyện Tấm Cám của Việt Nam. Thí dụ như: Tình tiết phục sinh từ quả thị trong Tấm Cám thì trong “Già Thu gặp tiên”, “Tú Uyên Giáng Kiều”….hoặc một số truyện trong 1001 đêm lẻ. Chuyện “Nàng Bạch Tuyết và bẩy chú lùn” cũng có nhiều nét tương đồng với chuyện Tấm Cám. Nhưng có thể nói, chỉ có truyện Tấm Cám của Việt Nam mới có nhiều tình tiết trong một mạch truyện xuyên suốt, mang tính minh triết thông qua những hình tượng của nó, hơn hẳn những chuyện dị bản của những nền văn hoá khác.Do đó, nếu chỉ với cái nhìn thông thường thì cũng thật là bất công khi những kẻ ác như mẹ con nhà Cám không bị trừng trị. Trong truyện Thạch Sanh, chàng Thạch Sanh cũng tha chết cho mẹ con Lý Thông đấy chứ! Nhưng cũng sẽ không thể gợi lên một ước mơ công lý, nếu những nhân vật này không bị sét đánh chết. Câu truyện Tấm Cám đã sống với nền văn hoá dân tộc Việt trải hàng thiên niên kỷ, còn chưa đựng nhiều nội dung sâu sắc thuộc về nền minh triết Lạc Việt. Nhưng do khả năng của tôi chỉ có hạn nên không phân tích được hết ý.Hy vọng các bậc cao nhân sẽ tiếp tục khám phá và tìm ra những gía trị đích thực của nó. Chân thành cảm ơn sự quan tâm của các bạn.
-
Bản Chất Thật Của Pháp Luân Công?
hoangnt replied to Kim Cương's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Thần Trí tuệ Thoth đã nói "Ai sử dụng dữ liệu của ta là đệ tử của ta". Cho nên, phải trích dẫn ai đã nói trước hay đã viết rồi, nền tảng nào... Pháp luân công là một phương pháp tu tập cũng như muôn vàn phương pháp khác, dựa trên nền tảng các tài liệu có trước đó, học từ các vị thầy trước đó hoặc đã được mạc khải bởi các vị thầy vô hình. Như vậy, nó là một pháp môn đã có nhưng hiệu chỉnh tốt hơn, do vậy SP Lý Hồng Chí là người truyền pháp cũng có thể xem là một trong những người có duyên trợ pháp trong thời kỳ này. Không thể xem ngài là vị Phật hoặc Chúa... được, nhưng có thể xem là truyền nhân của một pháp môn thôi, như võ thuật vậy. Nên đọc kỹ lại, SP Lý Hồng Chí nói rằng: thời gian ngài truyền pháp môn này sắp kết thúc, bởi đó là nhân duyên, dự kiến trước 1996 nhưng đã kéo dài tới nay, hãy đọc cuốn "Chuyển Pháp luân". Nên cao thủ khi biết rằng: chả có gì là của ta cả. -
(4) Long môn tào điểm ngạch. Tháng 3 cá chép vượt cửa Rồng để thành rồng, nếu không vượt nổi thì bị chấm trên trán mà trở về. Linh Thứu Nhàn thiền sư, có hòa thượng Minh Thủy hỏi: “Thế nào là mau được pháp thân?” Sư đáp: “Nhất thấu Long môn vân ngoại vọng Mạc tác Hoàng hà điểm ngạch ngư” (Một khi đã tới cửa rồng, ngó trời ngoài mây Thì chớ làm cá sông Hoàng Hà bị chấm trên trán) Xem Truyền đăng lục 10 tờ 278b18-19. Long môn là một tên đất tại tỉnh Tứ Xuyên ở Trung Quốc, ở đấy có cái vực rất to ăn thông với sông Dương Tử. Tương truyền ở đó có cái ao tên Vũ Môn. Tục truyền hễ đến tháng 7 nước to, cá chép các nơi kéo về đua nhau nhảy qua cửa đáy. Con nào nhảy qua thì hóa thành rồng. Con nào không thì bị một chấm trên trán, mà trở về. Ở nước ta, theo Kiến văn tiểu lục 6 tờ 13b4-7 thì Long Môn ở tại đất những động Dĩ lý và Hào trang của Mộc Châu, ở đấy “có một ngọn núi ở trung lưu sông Đà, đá lớn lộn xộn, mỗi năm đến ngày 8 tháng 4, các bày cá bơi ngược dòng mà lên, nhưng chỉ các chép một hai con thì có thể được. Giao Châu ký nói: “Có Long môn, nước sâu trăm tầm, cá lớn lên đó thì hóa thành rồng”.
-
Kỳ lạ 2 bức tượng Huyền Thiên Trấn Vũ ở Hà Nội Nhắc đến Trấn Vũ, người ta nghĩ đến đền Quán Thánh, nơi có pho tượng đồng thánh Huyền Thiên Trấn Vũ quý giá. Nhưng ít ai biết rằng, ở Ngọc Trì, Thạch Bàn, Gia Lâm, Hà Nội cũng có một pho như thế với quy mô và kiến trúc mang nhiều nét tương đồng. Huyền Thiên Trấn Vũ bằng đồng nặng 4 tấn Thần Trấn Vũ có thể coi là hình ảnh giao thoa giữa hai nền văn hóa, vừa mang đậm truyền thuyết dân gian Việt Nam lại pha chút văn hóa Trung Quốc. Trong thần thoại Trung Quốc ghi lại thần Trấn Vũ được Ngọc Hoàng giao cho cai quản phương Bắc, lo việc mưa, gió, có bộ hạ theo hầu là rắn và rùa. Cũng bởi vậy, hình ảnh thần Trấn Vũ thường xuất hiện cùng biểu tượng quy, xà. Còn trong truyền thuyết của Việt Nam, thần Trấn Vũ là vị thần có công giúp An Dương Vương trừ tinh bạch kê quấy rối việc xây dựng thành Cổ Loa. Huyền Thiên Trấn Vũ bằng đồng nặng 4 tấn. Những người dân trong thôn Ngọc Trì luôn coi bức tượng khổng lồ bằng đồng như một bảo vật. Dân trong làng thuộc làu câu chuyện vua Lê Thánh Tông (1460-1497) trên đường đem quân đi chinh phạt phương Nam có nghỉ chân tại Cự Linh (tên gọi xưa của vùng đất Ngọc Trì). Đêm ấy, thánh Trấn Vũ hiển linh báo mộng phù trợ nhà vua. Nhân cái tích ấy, sau khi chiến thắng, vua cho lập đền và tạc tượng thờ, gọi là Hiển linh Trấn Vũ quán. Đền được xây dựng trên thế đất linh với “quy xà hội tụ”. Trước mặt là cánh đồng rộng có gò đất như hình rùa đang phục trước đền. Ôm trọn phía sau ngôi đền là con đê sông Hồng cao uốn lượn. Theo PGS.TS Trần Lâm Biền, nếu để ý, phần lớn các khu vực gần đê sông Hồng đều có đền thờ Huyền Thiên Trấn Vũ với mục đích để cầu mưa thuận gió hòa, trị thủy hoặc tiêu thủy. Như vậy, không có sự khác biệt ở hai pho tượng Trấn Vũ ở đền Quán Thanh hay ở Ngọc Trì. Chỉ khác nhau ở chức năng của vị thánh này khi được thờ ở hai nơi khác nhau. Như ở đền Quán Thánh là để trấn yêu ma, quỷ quái ở kinh toàn, canh giữ toàn bộ phương Bắc. Còn pho đặt ở Ngọc Trì lại chỉ có chức năng trị thủy, diệt thủy quái ở những khu vực thường bị nước lụt hoành hành. Những trùng hợp kỳ lạ Khi đền mới dựng, tượng Trấn Vũ tạc bằng gỗ. Nhưng để thờ suốt 292 năm thì hư hại quá nhiều. Đến thời Lê Hiển Tông thì đã không còn khả năng phục chế. Bấy giờ, Vua Lê Hiển Tông thấy pho tượng gỗ không tương xứng so với đức thánh Huyền Thiên Trấn Vũ bèn hạ lệnh cho người khẩn trương quyên đồng của dân chúng gần xa về đúc tượng. Các nghệ nhân đúc đồng lúc bấy giờ phải mất hơn 14 năm miệt mài lao động. Cùng những bức tượng đất hình thù kỳ lạ. Cứ mỗi lần đúc xong lại thấy chưa xứng với sự uy nghi bề thế của thần Trấn Vũ, lại một lần nữa đắp đồng cho tượng cao dần lên, to dần lên và ngày càng uy nghiêm, mang hùng thái của một vị tướng canh giữ cõi Bắc. Trên tấm bia “Trấn Vũ điện bi ký” dựng năm 1820 cũng ghi lại: “Năm Đinh Sửu Cảnh Hưng (1757) đúc tượng đồng. Mỗi lần chiêm ngưỡng tượng thần lại muốn to lớn hơn nên tiết đông chí năm Mậu Thân 1788) đúc lại tượng... đến tháng tám năm Nhâm Tuất (1802) thì hoàn thành”. Việc đúc pho tượng này cũng tồn tại hai thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng, tượng được đúc vào thời Tây Sơn, có thể lúc đầu chưa dám đúc ngay vì có thời gian nhà Tây Sơn dẹp bỏ các đền, chùa và thu chuông đồng để đúc vũ khí… Chỉ đến khi nhà Tây Sơn bỏ chính sách này, thì việc đúc tượng mới được tiếp tục tiến hành. Tuy nhiên, theo PGS. TS Trần Lâm Biền qua những dấu tích nghệ thuật trên pho tượng cho thấy, nhiều khả năng tượng được đúc từ cuối thời nhà Nguyễn, khoảng thế kỷ 19. Bởi cho đến nay chưa hề phát hiện được pho tượng thời Lê Trung Hưng nào được đúc theo lối kiến trúc, nghệ thuật như vậy. Chẳng hạn như đường lượn sóng ở nếp áo theo hình hoa văn sen lượn qua lượn lại rất mạnh, lối nghệ thuật này phổ biến ở cuối thời nhà Nguyễn chứ không hề có ở thời Lê Trung Hưng. Ngay cả tạo hình cắm râu bằng kẽm vào tượng cũng xuất hiện rất muộn. PGS.TS khẳng định, tượng này mang nhiều chi tiết ở các kiểu tượng muộn, ít khả năng có niên đại từ thời Lê như những thông tin trước đây đã từng công bố. Trải qua bao mưa nắng thời gian, pho tượng vẫn phần lớn bảo toàn được nguyên dạng so với dáng vẻ ban đầu. Tuy nhiên, cũng có những chi tiết đồng đã xuất hiện dấu hiệu xuống cấp, hoen gỉ, phần đồng lộ ra từng mảng nhỏ làm mất đi vẻ hoàn hảo vốn có của bức tượng. Mấy chục năm trước, một số hộ dân trong làng đã quyên góp tiền, sơn lên pho tượng một lớp áo bào, phủ một lớp sơn lên bề mặt tượng để bảo vệ tượng. Cũng từ đấy, pho tượng mới mang dáng vẻ như ngày nay, ngoài lớp áo bào, dưới đầu gối tượng cũng được tô vẽ họa tiết hoa sen cách điệu thành hình hổ phù tạo điểm nhấn tăng sự uy dũng cho pho tượng. Có một sự trùng hợp kỳ lạ là pho tượng này mang nhiều nét tương đồng với tượng Trấn Vũ ở đền Quán Thánh. Cả hai bức tượng đều được đúc trong tư thế ngồi uy nghiêm trên một bệ gạch cao, đầu để trần, mặt tròn, mắt mở to, nhìn thẳng, mày rậm, mũi to, cằm tròn, miệng khép, môi dày, có ria mép, tai to, tỏa ra dáng dấp uy nghiêm lạ lùng. Tay trái tượng để trước ngực, đang bắt quyết. Tay phải úp xuống đốc kiếm. Mũi kiếm chúc xuống chồng lên mai rùa. Pho tượng Trấn Vũ ở Ngọc Trì rộng 1,7 mét, dài 2,9 mét. Tượng cao 3,8 mét, nặng khoảng 4 tấn. Những con số gần như trùng khớp với pho tượng ở đền Quán Thánh mặc dù hai pho tượng được đúc vào hai giai đoạn khác nhau. Ông Mai Hồng Binh - Trưởng tiểu ban quản lý di tích phường Thạch Bàn cho biết, nếu không sớm có kế hoạch trùng tu, tôn tạo, di vật vô giá ở đây có thể sẽ vĩnh viễn bị lãng quên theo thời gian. (Theo An ninh thủ đô)
-
VIỆT NAM thời lập quốc từ truyền thuyết đến lịch sử Vấn đề của chúng ta là phải phục hồi sự thật lịch sử, phải xét lại nhân vật Hoàng Đế có phải là tổ tiên của Hán tộc như Tư Mã Thiên đã viết hay không? Lịch sử thời cổ đại khi mà nhân loại chưa có chữ viết, chưa có hình thức sử biên niên thì làm sao sử gia cổ đại của Hán tộc có thể ghi lại một cách trung thực những sự kiện lịch sử ở Trung nguyên. Hán tộc chủ trương tiêu diệt Việt tộc, triệt tiêu văn hoá nên không còn văn bản cổ nào viết về thời cổ đại. Chính vì vậy, các sử gia Hán đã xuyên tạc, bóp méo thậm chí sửa đổi sự thực lịch sử nên họ đã viết một cách mập mờ, bí hiểm, để từ đó thêm những chi tiết để làm cơ sở cho những việc tô điểm nhân vật Hoàng Đế m họ tự nhận là tổ tiên của họ. Các sử gia “đại Hán” đều cho rằng Hoàng đế (2700-2600TDL) là tổ tiên lỗi lạc của Hán tộc ở lưu vực Hoàng Hà. Sau khi đánh thắng bộ lạc Viêm Đế ở phía Tây và Li Vưu ở phía Nam , trở thành thủ lĩnh của liên minh bôc lạc ở Trung Nguyên. Tư Mã Thiên với sử quan chính thống “Đại Hán” đã không chép gì về Thần Nông nhưng xem Hoàng Đế là ông Tổ của Hán tộc. Cổ sử Trung quốc cũng cho rằng Hoàng Đế là Hiên Viên hoàng đế, để từ cơ sở này, mặc nhiên tự nhận là người kế thừa triết lý Âm Dương từ thời Phục Hy. Đây là một sự cố ý mạo nhận với lý của kẻ mạnh, thế mà sách sử xưa nay cứ rập khuôn sao chép luận cứ này..! Ngày nay, các nhà Trung Hoa học đều có chung một nhận định là lịch sử Trung Quốc chỉ mới bắt đầu từ đời Thương Chu. Ngay các học giả Trung Hoa như V.K. Tinh, Wang Kwo Wu và Quách Mạt Nhược đều xác định là tất cả các huyền thoại về các vị vua cổ xưa không thấy ghi trong giáp cốt đời Thương mà mới chỉ ghi trong sách vở thời Xuân Thu Chiến Quốc mà thôi. Nhóm Tân học là nhóm “Nghi cổ phái” do Quách Mạt Nhược chủ xướng đã bác bỏ thời Tam Hoàng Ngũ Đế là của Trung quốc. Chính Lương Khải Siêu cũng thừa nhận là lịch sử Trung quốc mới chỉ có khoảng 4 ngàn năm nay mà thôi. Thật vậy: 1. Nếu Hoàng Đế là tổ tiên của Hán tộc thì dứt khoát là phải ghi trên giáp cốt đời Thương rồi, nên Khổng Tử (551–479 TDL) đã không hề nhắc tới nhân vật Hoàng Đế một lần nào. 2. Huyền thoại về thủy tổ Bàn Cổ mới được nói đến trong quyển Tam Hoàng. Những nhân vật huyền sử như Phục Hi, Nữ Oa không hề được nhắc tới trong các sách cổ như Kinh thi, Trúc thư kỷ niên và đặc biệt là không hề thấy xuất hiện trong đồ đồng hoặc Bốc từ đời Thương.Thần Nông được Mạnh Tử thời Xuân Thu Chiến quốc nhắc tới còn Hoàng Đế mới chỉ được biết tới vào thế kỷ thứ III TDL mà thôi. 3. Thời kỳ Xuân Thu chiến quốc là thời các quốc gia Bách Việt vượt nổi lên, hết Việt xưng bá thời Xuân Thu rồi Sở lãnh đạo liên minh 6 nước chống Tần thời Chiến quốc. Chính vì vậy, thời kỳ này huyền sử Việt mới xuất hiện với cc nhn vật Phục Hi, Nữ Oa, Thần Nông, Hoàng Đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn và Vũ nhà Hạ của Việt tộc. Khổng Tử đại biểu của Hán tộc biết rõ điều này nên không hề nhắc tới nhân vật Hoàng đế. 4. Với Cổ sử khảo của Tiều Chu (199-270) Tam ngũ Lịch của Từ Chỉnh (khoảng 200-260) Đông Kỷ của Vỹ Chiếu (204-273) Đế Vương thế kỷ của Hoàng Phủ Mật (215-181). Tất cả sử gia này bảo lưu các tài liệu khẳng định họ Thần Nông có liên quan huyết thống với Việt tộc. Thế Bản viết “Việt họ Mi, con Tước với Sở cùng tổ, là hậu duệ của Chúc Dung, Chúc Dung chỉ là đọc ngược tên Viêm đế tức là Đế Viêm”. Theo Sơn Hải Kinh thì Chúc Dung thực ra là cháu 3 đời của Đế Viêm, đó chính là Đế Minh theo truyền thuyết họ Hồng Hàng. 5. Cổ sử chép: Hoàng Đế sinh ở gò Hiên viên lấy đức “Thổ” lên làm vua nên gọi là Hiên Viên Hoàng Đế. “Ngũ Đế kỷ” chép:“Hoàng Đế tức Hiên viên Hoàng Đế, vua nước Hữu Hùng ở phía Tây Bắc tỉnh Thiểm Tây và Sơn Tây”. Cổ sử chép “Hữu Hùng quốc vương… cũng như Hữu Ngu thị Đế Thuấn ..” mà theo từ điển Từ Hải thì chữ “hữu” chỉ là trợ từ nên vua nước Hữu Hùng thực ra là “ Hùng Quốc Vương”, vua họ Hùng của thị tộc lấy họ Hùng làm tên nước. Thiểm Tây, Sơn Tây là địa bàn sinh tụ của Lạc bộ Chuy, phải chăng Hoàng Đế chính là vị vua họ Hùng gọi là Hùng Quốc Vương? Theo Nguyễn Đoàn Tuân trích dẫn cổ thư thì năm Hồng Bàng thứ 183 tức 2697 TDL, chư hầu tôn một người họ Công tôn ở đất Thọ Khâu chuyên trồng loại dược thảo khúc Dật nên còn có tên là Khúc phụ. Thời kỳ này, nước biển rút dần nên bán đảo Sơn Đông là một hòn đảo đang được bồi đắp khiến vịnh Giao Châu thu hẹp dần. Năm 20 tuổi, thủ lĩnh họ Công Tôn dời đến bến Cơ Thủy, lấy họ mẹ là Cơ. Bến Cơ Thủy gần huyền hồ trong vùng ngã ba Tam giang Bắc gồm sông Vị, sông Hoàng và sông Lạc, nơi đây có gò Hiên viên nên thủ lĩnh họ Công Tôn lấy hiệu là Hiên Viên để nhận là hậu duệ của Hiên Viên Hoàng Đế thuở xa xưa. Hiên Viên Hoàng Đế có trước cả Phục Hy, Thần Nông mà sách xưa viết là Toại Nhân đứng đầu tam Hoàng là Toại Nhân, Phục Hi và Thần Nông. Công Tôn có hiệu cũ là Hữu Hùng, lấy tên đất làm hiệu chung cho cả họ Công Tôn. Đông phương Sóc đời Hán nghiên cứu sách Trúc thư kỷ niên viết rằng vị thủ lĩnh này đi thăm vùng sông Lạc là địa bàn cư trú của Lạc bộ Chuy, thấy phương Nam có những làn mây sáng đỏ, bèn hỏi các bô lão Dương Quảng Thành, Phong Hậu, Thiên Lão, Lực Mục, Đại Hồng, Thường Thiên là những bậc kỳ tài về Đạo đức và y đạo thì được cho biết rằng đó là ánh sáng toả ra do hai sao, một đỏ một vàng cùng xuất hiện vào vận hội Giáp Tý nguyên thứ tư. Vì đó mà vị thủ lĩnh này mặc áo vàng và xưng là Hoàng đế. Trong một lần đi qua sông Lạc thấy cá to nổi lên và cầu được mưa, sau đó lại nhận được Đồ thư xuất Hà. Theo một truyền thuyết khác thì Hà Đồ do Phục Hi cách đây khoảng 3500TDL, khi đi tuần thú ở sông Hoàng Hà thấy Long Mã từ dưới sông hiện lên, trên lưng có Hà Đồ ghi việc trời đất mở mang. Lạc thư là do vua Đại Vũ năm 2205 TDL khi đi trị thủy ở sông Lạc thấy rùa thần nổi lên trên mu rùa vẽ Lạc thư. Trúc thư Kỷ niên chép rằng Hoàng đế cai trị được năm chục năm thì Phượng Hoàng xuất hiện là thời thái bình thịnh trị của Việt Tộc. Năm mươi năm là con số ngũ hành trong triết lý Âm Dương của Việt tộc. Thư tịch cổ Trung Quốc chép rằng Hoàng đế đứng đầu ngũ đế, lấy số 5 làm Trung cung nạp thổ (hành thổ) ứng với bộ Ngũ Điển. Ngũ Điển là bộ sách của các đời Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Cao Tân và Đường Nghiêu. Ngu Thuấn. Gốc của Ngũ Đức, Ngũ hành để nói về tiểu đạo đó là đạo làm người. Phượng Hoàng là vật tổ biểu trưng của chi Âu Việt và vùng Thiểm Tây-Sơn Tây, ngã ba Tam giang Bắc gồm sông Vị, sông Hoàng, sông Lạc là địa bàn cư trú của Việt tộc. Âm Dương ngũ hành và những con số linh là của Việt tộc… Tất cả đã cho chúng ta thấy là nếu nhân vật Hoàng Đế có thật thì dứt khoát Hoàng đế phải là Đế Hoàng của Việt tộc hậu duệ của ông tổ Thần Nông, nhưng thuộc dòng Thần Nông phương Bắc. Đời Chu Thành Vương năm thứ 6 (1110 TDL),Việt Thường cử sứ giả đến triều Chu biếu chim Bạch Trĩ. Quan Trủng Tể (thừa tướng) là Chu Công Đán nhớ lời Hoàng Đế có lời thề rằng “ Giao chỉ ở ngoài phương xa, không được xâm phạm…”. Nguồn sử liệu trên cho thấy Hoàng đế có liên hệ huyết thống với Việt tộc. Theo Từ Hải thì Hoàng Đế và Li Vưu đều là những thị tộc trưởng nên tranh giành nhau ngôi thủ lĩnh mà thôi. Truyền thuyết xưa kể rằng Thần Nông và Hoàng Đế cùng một ông Tổ là Thiếu Điển và thư tịch cổ cũng cho biết Đế Hoàng ở Tân Trịnh Hà Nam chứ không phải từ Tây Bắc vùng Thiểm Tây, Sơn Tây như Hán sử viết. 6. Thư tịch cổ Trung Hoa ghi rõ là nguyên phi của Hoàng Đế là Luy tổ. Luy tổ phát minh ra nghề nuôi tằm và chế ra thứ xe gọi là dọi chỉ để kéo kén ra tơ. Cổ sử Trung Quốc gọi Bách Việt ở Hoa Nam là Nam man, chữ man viết với bộ Trùng. Theo các nhà Trung Hoa học như H. Wiens thì miền Nam là cái nôi của nghề trồng dâu nuôi tằm nên Luy Tổ phải là người Việt. Mặt khác, cũng theo học giả này thì Cổ thư Trung Hoa chép rằng Hoàng Đế cưới vợ cho con là Chuyên Húc (Chan Yi) là người Thục Sơn, ni Thục thuộc vùng Ba thục, địa bàn sinh tụ của chi Lạc bộ Chuy Việt tộc có vật biểu là chim. Chuyên Húc đẻ ra con đầu lòng là Đế Cốc (2.435-2369TDL). Đế Cốc, con của Chuyên Húc cũng lấy vợ người Thục Sơn sinh con sau làm vua Kinh Man. Đế Cốc là cháu của Hoàng Đế mà cổ sử lại chép Đế Cốc là cháu Đế Thiếu Hạo thuộc Bái điểu tộc thờ chim (Âu Việt), như vậy nhân vật Hoàng Đế mà Tư Mã Thiên đề cao là tổ tiên nhân dân Hán chính là Đế Hoàng của Việt tộc. Sự thực lịch sử này đã được nhà Trung Hoa học nổi tiếng Học giả W. Eberhard công bố là vào khoảng năm 450TDL, một học giả nào đó đã mang Hoàng đế nguyên là một vị thần nhỏ trong địa phận Sơn Đông lên làm vị vua đầu tiên của dân tộc Trung Quốc. Tư Mã Thiên đã dựa vào đó mà chép rằng Hoàng Đế là quốc tổ của Hán tộc. Trên thưc tế, nếu Hoàng Đế là người Hán thì thư tịch cổ, sách sử Thương phải chép rồi, trong khi nhân vật Hoàng Đế mới chỉ được biết đến vào thời Xuân Thu Chiến quốc là thời kỳ nở rộ của Bách Việt. Vả chăng, Sơn Đông là nơi sinh tụ của Lạc bộ Tri ca Việt tộc mà cổ sử Trung quốc gọi là Đông Di nên vị thần Đế Hoàng phải là người Việt cổ. Như vậy, Đế Hoàng, Đế Chuyên (còn gọi là Xuyên Húc), Đế Cốc, Đế Chí, Đế Nghiêu, Đế Thuấn và Hạ Vũ đều là dòng dõi Thần Nông của Việt tộc. Vì vậy, thư tịch cổ Trung Hoa mới chép rằng “Chuyên Húc chi thời, Giao Chỉ để lệ” nghĩa là thời Đế Chuyên Húc Giao Chỉ đã có nền văn minh rực rỡ rồi. Tư Mã Thiên trong sử ký, phần Câu Tiễn thế gia cũng xác nhận “Tiên tổ của Câu Tiễn là miêu duệ của vua Vũ tức là con thứ của Đế Thiếu Khang nhà Hạ, họ Hạ Hầu. Cổ sử Trung quốc ghi năm Quí Tỵ 2148 TDL,Vua Đại Vũ nhà Hạ hội chư hầu ở Cối Kê và năm Quí mão 2085 TDL, vua Thiếu Khang nhà Hạ phong cho con thứ ba là Vô Dư ở đất Việt”. Sự thật lịch sử một lần nữa được hậu duệ của Việt tộc khẳng định khi Hùng Dịch và các vua Sở nhận là hậu duệ của Hiên Viên Hoàng đế. Vua các nước Trịnh và hoàng tộc một số nước ở bán đảo Sơn Đông như Tề, Lỗ, Trần cũng đều nhận là con cháu của Thần Thái Sơn và lấy họ Khương là họ của Đế Thần Nông của Việt tộc. Cổ thư Trung Hoa cũng chép đời Hoàng đế sai Thương Hiệt theo dấu chân chim tạo ra lối chữ gọi là Điểu triện. Theo Kim Định thì chữ Thương có nghĩa là kho lúa, là xanh chỉ phương Đông, còn Hiệt là chim chỉ phương Nam cùng nghĩa với việc ngắm vết chân chim nghĩa là ngắm nền văn minh Việt đi với Chim Hồng Bàng. Như vậy chính Thương Hiệt đặt ra lối chữ theo lối chân chim gọi là Điểu Triện của Việt tộc. Đến triều Chu, Thái sử Trứu mới sửa Điểu triện của Việt tộc thành “Đại triện” còn gọi là “Trứu thư” chính thức của Hán tộc. Tất cả chứng cứ trên góp phần phục hồi chân lý khách quan của lịch sử: Hoàng đế chính là người Việt chứ không phải tổ tiên của nhân dân Trung Quốc. Một vài sách cổ có viết Hoàng đế là người Hán cũng không thuyết phục được ai vì như Khổng Tử đã than rằng “Làm sao bàn được lễ tục của họ? Tài liệu thì chẳng còn mà người hiền cũng đã mất…” Chính vì thế, Khổng Tử với lập trường dứt khoát dù theo triều Chu cũng không hề nhắc tới Hoàng đế một lần nào. Mặc dù biết rằng nhân vật Hoàng đế mới được một sử gia nào đó, đã mang một vị Thần ở vùng Sơn Đông địa bàn cư trú của Lạc bộ Tri lên làm Tổ Tiên Hán tộc nhưng các sử gia Hán tộc vẫn tô điểm và tôn thờ là “Thủy Tổ” của họ để lấp vào khoảng trống mù mờ về nguồn gốc tổ tiên của họ. Như vậy thời đại Tam Hoàng ngũ đế của Trung Hoa thời cổ đại phải hiêủ là sau Toại Nhân được xem như thủy tổ loài người, kế đến là Phục Hi họ Thái Hạo và Thần Nông họ Thiếu Hạo. Ngũ Đế là Đế Hoàng, Đế Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn đều là Việt tộc mới đúng. Một vấn đề khác cũng phải đặt ra là sau thời đại Đế Hoàng, mà cổ sử Trung quốc nhận là của họ nên họ viết theo cú pháp Hán là Hoàng Đế, tới họ Đào Đường tức Đế Nghiêu đóng đô ở Bình Dương, Sơn Tây. Đế Nghiêu truyền ngôi cho Đế Thuấn đóng đô ở Bồ Bản, Sơn Tây. Thuấn truyền ngôi cho Vũ lập ra nhà Hạ, Vũ truyền ngôi cho con là Khải. Thế mà Mạnh Tử lại bảo rằng vua Thuấn là Rợ Đông Di. Từ điển Từ Hải cũng cho biết rằng tổ tiên và con cháu vua Thuấn đều được phong ở đất Đông Di. Đây chính là một nghi vấn lịch sử cần phải làm sáng tỏ mặc dù Tư Mã Thiên đã đính chính điều này và cho rằng vua Thuấn là người Tàu bị xem là Đông Di vì thói quen hồi đó là như thế. Luận điệu này xem là ra không có tính thuyết phục. Tại sao lại có thói quen gọi một người đồng chủng nhất là một vị vua của mình là man di, mọi rợ điều này hết sức vô lý. Thực tế lịch sử cổ đại Trung quốc cho biết vua Tàu chỉ phong vương cho những nước lân cận khi những nước này mạnh khiến Hán tộc tạm thời phải chấp nhận. Thay vì chưa thống trị được thì coi như chư hầu miễn là hàng năm triều cống cho Thiên Tử, việc phong vương và chế độ chư hầu có tính ngoại giao chiếu lệ để chứng tỏ uy vệ của Thiên Triều buộc các chư hầu phải khuất phục thế thôi. Thư tịch cổ cũng cho biết rằng Vua Thuấn tuần du phương Nam và chết ở núi Thương Ngô. Núi Thương Ngô trước có tên là núi Cửu Nghi ở miền Bắc tỉnh Hồ Nam . Hai bà vợ đi theo than khóc rồi chết ở sông Tương nên dân gian gọi là Tương phi. Sông Tương ăn lên tới Ba Thục, nguồn tại Long Uyên và chảy vào hồ Động Đình. Trong hồ Động Đình có đền thờ Sương quân là con của vua Nghiêu. Cổ thư chép rằng Thuấn đi lấy vợ người Việt ở phương Nam đã ở rể tại nhà vợ. Sách Lễ Ký XVII, Nhạc Ký triệt 2 viết: “ Đế Thuấn là một nông dân Việt ở Lôi Trạch phát minh ra đàn Huyền 5 dây để ca bài Nam Phong. Ong Qui chế ra nhạc để thưởng chư hầu. Ai đức cao tài cả thì đoàn vũ đông người, ai đức ít thì đoàn vũ ít người. Cứ xem đoàn vũ thì biết đức ai cao”. Theo “Văn Hiến Thông Khảo” của Mã Đoan Lâm thì lúc đầu Tam Miêu không chịu thuần phục nên Thuấn đã cho múa bài Nam phong và bài vũ Li Vưu để chứng tỏ cùng một nguồn cội thì chư hầu mới tuân phục. Theo Đổng Trọng Thư thì Li Vưu là vua phương Nam, có lúc làm quan xem thiên văn làm lịch, có cánh mà không bay được hàm ý là thuộc chi Au Việt thờ Chim. Theo Kim Định thì Li Vưu có nghĩa Rồng Vàng chúa cao cả là người có 4 mắt, 6 tay với 2 phụ tá là thần gió và thần mưa. Li Vưu cũng là tên một bài vũ gồm nhiều vũ nhân nhất 9x9= 81 người. Li Vưu cũng còn chỉ lá cờ hay xuất hiện trên trời như hình sao chổi đuôi cong. Một nguồn cổ thư khác cũng chép là ban đầu Tam Miêu không phục, Thuấn sai ông Vũ đi đánh cũng không được nên Thuấn chế ra đàn Huyền 5 dây để hát bài Nam phong. Cổ thư chép là ông Vũ thì múa, Ong Thuấn và ông Vũ cả hai đều mặc áo lông chim vào rồi cầm khiên múa, sau 3 năm ( con số linh của Việt tộc) thì Tam Miêu mới phục vì nhận ra Thuấn Vũ là cùng một nền văn hóa của cùng một chủng tộc. Theo các công trình nghiên cứu thì chữ Hạ có nghĩa là mùa Hạ phương Nam, nơi phát xuất của ngũ hành nên chữ Hạ còn chỉ lông chim ngũ sắc lấy từ núi Vũ sơn về làm trang sức cho người múa. Nhà nghiên cứu Vũ Bình thì khi giải mã chữ “vũ” cổ đã cho rằng đó là dáng múa điển hình của cư dân nông nghiệp khi cầu mưa và vũ có quan hệ mật thiết với lễ dâng hương của truyền thống thờ cúng Tổ tiên của cư dân nông nghiệp. Theo Hoài Nam Tử thì vua Vũ khi đến miền dân ở trần, là một chi tộc Việt gọi là Khoả loã thì cũng giữ phong tục là cởi trần đóng khố. Vấn đề gốc tích của vua Vũ lại sáng tỏ khi cổ sử Trung quốc ghi rõ năm Quí Tỵ (2.198 TDL), vua Đại Vũ nhà Hạ hội chư hầu ở Cối Kê thuộc U-Việt và năm Quí Mão ( 2085TDL), vua Thiếu Khang nhà Hạ phong cho con thứ là Vô Dư ở đất Việt. Cổ thư chép vua Vũ được ban cho “Cửu Trù” cũng là “Cửu Đỉnh” rồi chia nước ra làm 9 châu. Theo Kim Định trích dẫn Danses thì truyền thuyết kể rằng vua Vũ khi đi trị thủy, đào sâu xuống lòng sông thì gặp mả của Phục Hi, mở ra thấy Phục Hi đang quấn đuôi với Nữ Oa rồi Đại Vũ lại được ban cho Lạc thư cũng trên dòng sông Lạc. Hai con sông cùng có tên Lạc là địa bàn của cư dân Lạc Việt. Lạc bộ Chuy (điểu) là chi Âu Việt ở Sơn Tây, Thiểm Tây và Lạc bộ Trãi ở Bắc Hà Nam . Hai thủy danh gắn liền với tộc danh đã cho thấy Đại Vũ là người Việt vì chỉ có ông Vũ mới được con rùa nổi lên ở sông Lạc, đội quyển sách Lạc thư có 9 khoản để trị thủy. Nói cách khác, huyền sử cho chúng ta thấy rằng quyển sách đó là tinh hoa Việt : Hồng Phạm Cửu Trù với Lạc thư để Đại Vũ lập ra nhà Hạ của Việt tộc. Đặc biệt gần đây các nhà khảo cổ Trung Quốc vừa tìm thấy một cổ vật hình rồng làm từ hơn 2 ngàn viên Lam ngọc có niên đại 3.700 năm ở khu khảo cổ Nhị Lý Đầu, thành phố Yên Sư tỉnh Hà Nam. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng khu vực này trước đây là thủ đô của nhà Hạ (2.100-1.600 TDL), chứng cứ khảo cổ này một lần nữa xác minh nhà Hạ là của Việt tộc. Cổ thư Trung Quốc chép vua các nước Ngô, Việt đều là con cháu Hoàng Đế, Đại Vũ và chính họ cũng xác điều này. Chính sử ký của Tư Mã Thiên chép Tổ Tiên của Câu Tiễn vua nước Việt là dòng dõi vua Vũ, hiện ở núi Cối Kê tỉnh Triết Giang TQ bây giờ vẫn còn đền thờ vua Vũ. Sử ký cũng ghi các vua nước Sở đã nhận rằng họ là hậu duệ của Hiên Viên Hoàng đế. Hùng Dịch là cháu vua Xuyên Húc (còn gọi là Chuyên Húc) tổ của nhà Hạ. Cổ thư cũng chép Xuyên Húc thuộc dòng Cao Tân, Cao Dương của Việt còn để dấu ấn trong sự tích trầu cau. Đế Cốc thay Xuyên Húc lại là cháu của Thiếu Hạo, dòng Thần Nông, chi tộc thờ chim (bái điểu tộc) chính là chi Âu Việt. Đế nghiêu là con thứ của Đế Cốc, em của Đế Chí, như vậy Đế Nghiêu cũng thuộc dòng Thần Nông. Sự thật lịch sử này sẽ làm đảo lộn tất cả những kinh điển sử sách của Hán tộc từ trước tới nay. Đời Hạ được coi là bắt đầu văn minh với kỹ thuật đúc đồng, kỹ thuật cất nhà. Vua Đại Vũ nhà Hạ cho đúc Cửu đỉnh và chia nước thành 9 châu dựa trên 9 chi tộc lớn mà đến bây giờ sách giáo khoa Trung Quốc vẫn phải công nhận là ngôn ngữ Tàu có tất cả 10 phương âm trong đó Hán tộc chỉ có một ngôn ngữ chính gọi là Quan thoại ở vùng Đông Thiểm Tây, Bắc Hà Nam, Nam Hà Bắc và Nam Sơn Tây còn lại là chín phương âm toàn là âm Lạc Việt. Đó là Tần ngữ, Yên Tề ngữ, Thục ngữ, Việt ngữ, Mân ngữ, Giang Hoài ngữ, Ngô Việt ngữ, Điền Kiềm ngữ và Sở ngữ (13). Chín châu đời nhà Hạ gồm : - Châu Ung ở vùng Thiểm Tây Cam Túc. - Châu Ký ở Sơn Tây là kinh đô của Đường Nghiêu và Ngu Thuấn và nhà Hạ. - Châu Duyện ở Sơn Đông nơi có núi Thái Sơn về sau là nước Tề và nước Lỗ. - Châu Lương là vùng Tứ Xuyên phía Tây Nam Thiểm Tây. - Châu Dự là vùng Hồ Quảng giữa Kinh sơn và Hoàng Hà. - Châu Thanh cũng ở vùng Sơn Đông. - Châu Kinh là vùng Hồ Quảng giữa núi Kinh và Hành sơn. - Châu Dương là vùng Giang Nam gồm cả Thái Hồ. - Châu Từ là vùng ở giữa núi Đại và sông Hoài. Đối chiếu truyền thuyết với thư tịch cổ, căn cứ theo kết quả của khoa Tiền sử học và kết quả đo chỉ số sọ của cư dân Hoa Bắc (Trung Quốc) sẽ làm sáng tỏ những ẩn ý gói ghém trong truyền thuyết. Thư tịch cổ Trung Quốc xác định ở vùng Hoa Bắc nguyên là địa bàn cư trú Tây Nhung ở phía Tây Thiểm Tây và Rợ Đông Di(14) tức Lạc bộ Trãi cũng đọc là Trĩ, có địa bàn ăn khớp với rợ Đông Di tức tỉnh Sơn Đông và ở trên nữa là tỉnh Hà Bắc. Cổ thư Trung Hoa tả Rợ Đông Di xâm mình, nhuộm răng đen. Sách Nhĩ Nhã viết là Lạc bộ Trĩ, chữ Lạc giống như chữ Lạc họ của Long Quân. Khi Hán tộc tràn xuống, họ vượt biển đi xuống phương Nam , một số rút lên rừng núi cao nguyên nhưng rồi theo thời gian họ bị đồng hoá thành người Sơn Đông. Tuy vậy, mãi đến thời Hán, họ lại nổi lên mà Sử Hán gọi là giặc Huỳnh Cân tức giặc khăn vàng (15). Nhà bác học Shiro Kogoroff đo chỉ số sọ người Sơn Đông là 81,7 gần với chỉ số sọ Việt. Sau khi diệt nhà Hạ, triều Thương mở đầu lịch sử Trung quốc chỉ chiếm được một diện tích bằng hai tỉnh rưỡi gồm Nam tỉnh Sơn Tây, Đông Thiểm Tây, Bắc Hà Nam, Nam Hà Bắc và một vùng đất nhỏ của tỉnh Sơn Đông m thơi. Cứ liệu lịch sử này xác định Việt tộc đã có mặt ở Hoa Bắc, phíaTây Thiểm Tây tức Thanh Hải và Hà Bắc, Sơn Đông. Thực tế này được Khoa Tiền sử Học xác nhận là cách đây hơn 5000 năm, đợt thiên cư của Việt tộc qua Cam Túc xuống lưu vực sông Hoàng Hà ở Hoa Bắc một thời gian ngắn rồi định cư ở Hà Bắc, Sơn Đông. Từ trước đời nhà Hạ Việt tộc đ định cư ở lưu vực sông Bộc ở Hoa Bắc nên cổ sử ghi rõ là Bách Bộc. Từ nơi sinh tụ tiên khởi, Việt tộc đã thiên di về hướng Đông Nam dọc lưu vực sông Hoàng Hà từ Thanh Hải xuyên qua hành lang Cam Túc xuống Sơn Tây rồi định cư ở Hà Bắc Sơn Đông(16). Điều này hoàn toàn phù hợp với truyền thuyết là Thần Nông chia làm hai nhánh: Thần Nông phương Bắc, truyền từ Đế Nghi đến Đế Lai, đến Đế Du Võng thì xảy ra việc tranh giành ngôi thủ lĩnh. Cuối cùng Hoàng đế tức Đế Hoàng lên ngôi thủ lĩnh, thành lập các triều đại Đế Chuyên (Húc), Đế Cốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đại Vũ nhà Hạ sau đó bị Thành Thang (Thương) đánh đuổi để chiếm lĩnh địa bàn này thành lập triều Thương của Hán tộc. Đối chiếu với kết quả của khoa khảo tiền sử, chúng ta biết tộc người mà cổ sử Trung Quốc gọi là Rợ Đông Di chính là đợt thiên di của Lạc bộ Trĩ cách đây là 5000 năm. Ngành Thần Nông phương Bắc do Đế Du Võng là thủ lĩnh, cũng gọi là Thần Nông nhưng là hậu duệ của Đế Viêm Thần Nông, vị vua cuối cùng của dòng Thần Nông phương Bắc, làm chủ vùng Hà Bắc, Sơn Đông. Đây chính là thời kỳ xảy ra chiến tranh giữa các bộ lạc để giành quyền thống lĩnh Trung Nguyên khiến một số phải vượt biển xuôi Nam, định cư ở Đài Loan, Hải Nam, Trung Việt hoặc ngược lên phía Bắc định cư ở Đại Hàn, Nhật Bản. Thời kỳ này, một bộ phận do Đế Du Võng lãnh đạo tràn xuống Hoa Nam đã gặp phải sự đề kháng của những chi tộc Việt khác mà Li Vưu là hậu duệ của Thần Nông phương Nam từng làm vua một chư hầu ở cuối đời Thần Nông. Li vưu thống lĩnh mấy anh em tù trưởng các bộ lạc đánh Du Võng. Lúc bấy giờ, thủ lĩnh một chi Việt tộc khác cũng gọi là Viêm đế, vua nước Hùng ở phía tây Bắc tỉnh Sơn Tây và Thiểm Tây đem quân tới đánh diệt Li -Vưu ở cánh đồng Trác Lộc. Cổ sử Trung Quốc ghi là Hoàng Đế cũng đánh bại Du Võng ở Phản Tuyền phía Đông huyện Bảo An tỉnh Trực Lệ cũ. Đây chính là thời kỳ chiến tranh tao loạn, nhân dân thống khổ, Việt tộc phải ly tán sang Cao Ly, Nhật Bản và xuống phương Nam . Truyền thuyết là những trang chiếu giải trung thực nhất của người xưa. Việc tìm hiểu những ý nghĩa hàm ẩn trong chiều sâu ý niệm của dòng sống sinh động thuở xa xưa là điều hết sức cần thiết để tìm về nguồn cội giống dòng. Bằng thái độ duy lý và với phương pháp khoa học, chúng ta nghiên cứu vấn đề một cách nghiêm túc, điều này không có nghĩa là vội vàng cho rằng chúng ta sống trong thời đại ngày nay, với tri thức khoa học thì làm gì có chuyện người sinh ra trứng, từ đó cho rằng truyền thuyết hoang đường, phản khoa học. Đó là thái độ khoa học kiểu Jean Poirier phê phán những quan niệm giả tiến hóa. Vấn đề là tại sao người lại đẻ ra trứng, tại sao là100 trứng? Chuyện ngược đời này cho ta ý niệm gì? Đó mới là cốt lõi sinh tử của bức thông điệp người xưa gửi lại cho chúng ta, để chúng ta “giải mã” bức thông điệp lịch sử của tổ tiên ta. II. VẬT TỔ BIỂU TRƯNG CỦA VIỆT TỘC A. VẬT TỔ CHIM Các công trình nghiên cứu về nhân loại học cho chúng ta biết rằng khi một xã hội thị tộc phát triển đến một giai đoạn nhất định nào đó thì người nguyên thủy bắt đầu tìm hiểu về cội nguồn thị tộc của họ. Ở thời kỳ tri thức loài người còn ở mức độ nhất định chưa phân biệt được ranh giới giữa xã hội loài người với thiên nhiên vạn vật muôn loài. Họ cho thiên nhiên có những sức mạnh kỳ bí, nên cho rằng thị tộc có một quan hệ huyết thống mật thiết với một động vật hoặc thực vật nào đó. Từ ý niệm ban sơ này, họ coi động vật mang ý nghĩa thần linh như vật tổ biểu trưng để che chở bảo vệ họ trong cuộc đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên và các bộ tộc khác.Từ đó, người cổ đại sùng bái vật tổ thần linh và coi đó là biểu tượng của thị tộc, ý niệm này được các nhà nhân loại học gọi là Totem. Totem là dịch âm chữ “toten” trong ngôn ngữ Indian nghĩa là tông tộc(17). Tuy người cổ xưa sùng bái nhưng không có nghĩa là tôn giáo vì tự thân chữ toten là tông tộc đã bao hàm ý nghĩa biểu trưng cho giống dòng thị tộc. Thật vậy, các di chỉ đào được Hà Mẫu Độ có khắc hình tượng con chim, điều này có nghĩa là Việt tộc đã sùng bái totem chim như vật tổ thiêng liêng của mình. Sách Tả truyện chép: “Họ Hoàng Đế lấy mây để làm dấu, họ Thái Hạo lấy Rồng, họ Thiếu Hạo lấy chim…”. Điều này có nghĩa là tộc Thái Hạo coi Rồng là totem, Thiếu Hạo coi chim là vật biểu. Sách Thuyết Văn giải tự viết: “Man Di phương Nam theo côn trùng, Địch ở phương Bắc theo Khuyển. Lạc ở phương Đông theo Trĩ, Khương ở phương Tây theo Dương ..” Từ di chỉ khảo cổ đến nguồn sử liệu minh văn gợi cho chúng ta biết về totem vật tổ biểu trưng của Việt tộc là Rồng và Chim. Chi tộc Âu Việt thờ vật biểu chim nên người xưa thần thánh hoá Âu Cơ là chim hoá thành tiên thì phải đẻ ra trứng là chuyện dễ hiểu, bình thường thế thôi. Nhờ vậy, thế hệ cháu con biết về cội nguồn tông tộc thuở khai nguyên để nhận biết nhau cùng là một nguồn căn gốc cội. Thật vậy, hình ảnh những vũ nhân hoá trang thành chim, đầu dắt lông chim trên mặt trống đồng thể hiện “Totem” vật tổ biểu trưng là chim của Việt tộc. Các tài liệu dân tộc học và những người bản địa ở Tây Bắc Việt Nam cùng một Totem “Chim” đã góp phần xác minh cùng một cội nguồn dân tộc. Tộc Xá người Khmer (Tây Khương) còn gọi là Xá Cẩu đến ngày nay vẫn duy trì việc sùng bái vật tổ Chim. Trong các tộc Khmer có đến 24 họ mang tên các loài chim nhưng quan trọng nhất là chim Phượng Hoàng đất vì nó là chúa tể muôn loài chim. Ngôn ngữ dân tộc học gọi là “THRÀNG” mang một ý nghĩa óng ánh, nhấp nháy, tương tự như “Mling” chỉ mộ Trang chuyên khảo về lịch sử và văn minh HÙNG VIỆT. ***** Đã mấy ngàn năm rồi bụi thời gian phủ lấ́p , nay từng mảng tối được gỡ bỏ , lịch sử HÙNG VIỆT dần hiện ra rực rỡ như mặt trời lúc hừng đông . Xiết bao tự hào hỡi ngưởi họ HÙNG . Ads
-
Cách vật trí trí - nếu giải thích chắc hiểu được.
-
Văn hóa Nguyễn Kết Thục Phán An Dương Vương: Huyền thoại cho sự sống còn của căn tính Việt Kính tặng Gs Lê Mạnh Thát, người đã chỉ ra manh mối để nghĩa lí ẩn mật của truyện Thục Phán có thể được phơi bày ra. Tóm lược Là vấn đề chưa được giải quyết thoả đáng trong nghiên cứu cổ sử Việt, truyện tích vua An Dương Thục Phán [1] được thấy là có liên hệ với niềm tin về khởi nguyên đất nước và triều đại của người Phù Nam và Chămpa – tất cả đều có nguồn gốc Ấn Độ. Hình tượng vua An Dương chính yếu là sản phẩm chuyển dịch từ Mahābharatā. [2] Một số tình tiết nhất định trong Jātaka (Tiền thân Phật) cũng được nhận diện, và sự kiện này cho thấy truyện tích vua An Dương là một dàn dựng tinh vi có dụng ý giải thích hiện trạng và nuôi dưỡng niềm tin vào ngày mai cho người Việt xưa. Đất nước Việt, tượng trưng với thành Cổ Loa, gặp phải nghịch cảnh vì người Việt ỷ lại, với nhà vua thể hiện qua hình tượng An Dương Thục Phán, không ý thức khả năng tự phòng hộ của mình, không biết có, như thần Kim Qui nói, “giặc ở sau lưng…” Mặc dù nằm dưới áp lực nhưng họ sẽ không chìm đắm, đánh mất chính mình, mà sẽ như Cổ Loa sừng sững trên vùng bùn lầy sông nước, nếu họ còn biết liên hệ mình với đất nước như ngọc châu được đem rửa trong nước giếng Cổ Loa, và nếu họ biết “gìn giữ huệ mạng”, như vua Phán cầm giữ sừng tê văn 7 tấc. Tác giả của truyện tích này là ai và hoàn cảnh hình thành của truyện ra sao, được thấy khá rõ qua những ý tứ và hình ảnh được cài đặt trong truyện. 1. Thục Phán An Dương Vương, như người quan tâm đến sử học biết, là một câu hỏi lớn. Vị vua này chỉ được đề cập rất trễ trong thư tịch cổ; lần đầu tiên chỉ như một ghi chú trong Hậu Hán thư (khoảng đầu thế kỉ 5), về quận Giao Chỉ như “đất cũ của An Dương Vương”. Các sách sử viết nhiều thế kỉ trước đó, dù nói nhiều về Triệu Đà và nước Nam Việt nhưng không đề cập đến vị vua này, cũng như việc gọi là Triệu Đà diệt nước Âu Lạc. Sử kí của Tư mã Thiên (145? – 90? tr.t.l.) cho biết, [3] sau khi lập nước Nam Việt, xưng đế và do đó phải đánh nhau với quân Hán ở khu vực núi Dương Sơn, Triệu Đà đã nhân cơ hội quân Hán bãi binh mà “dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới [theo ngữ cảnh, hẳn là chỉ gần khu vực giao tranh] và đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc, bắt lệ thuộc.” Về sau, Triệu Đà đã biện giải với sứ Hán rằng ông xưng đế là để không ngang hàng với các vua chúa lân cận: “Ở phía Đông đất Mân Việt chỉ vẻn vẹn nghìn người, cũng xưng hiệu là “vương”; ở phía Tây, nước Âu Lạc là nước trần truồng, cũng xưng là “vương”. Không thấy kể thêm sự kiện có ý nghĩa nào khác, cho quan hệ giữa Nam Việt và các nước như Âu Lạc cho đên khi quân Hán tiến đánh và hạ được Phiên Ngung, kinh đô Nam Việt vào năm 111 tr.t.l. Bấy giờ vua quan Nam Việt kẻ bị bắt người đầu hàng. Riêng ở Quế Lâm, quan giám quận ở đây đã “dụ dẫn Âu Lạc đi theo nhà Hán”, nói cách khác, tiếp tục chấp nhận làm chư hầu, nhưng bây giờ là đối với Trung Hoa thay vì Nam Việt. Mô tả Sử kí từ đầu đến cuối không cho thấy Nam Việt đã tiến đánh hay tiêu diệt các nước lân cận, và ít nhất là Âu Lạc vẫn có lãnh tụ, tự trị cả trước lẫn sau khi Nam Việt được thành lập rồi bị nhà Hán diệt! Nhưng như các sử gia đầu tiên của Việt Nam có lẽ cũng đã thấy, (nguyên văn) câu biện giải của Triệu Đà có thể được đọc theo một cách khác, phù hợp với tin tưởng “hợp lí” là triều đại các vua Hùng đã bị diệt mất. Trong thời hiện đại, do giả định rằng thời đại các vua Hùng là một hình thức liên minh bộ lạc trong một địa bàn tương đối nhỏ hẹp ở Bắc Bộ, niềm tin truyền thống quả có giá trị mong muốn khi mà nước Âu Lạc “ở trần… xưng vương” là bước tiến của người Việt cổ cả về lãnh thổ lẫn hình thái tổ chức. Một cái nhìn như thế cũng có vẻ đáng tin. Có nhiều khả năng một nước Tây Âu được thành lập do ảnh hưởng của thời Chiến quốc (khoảng 400 – 221 tr.t.l.), tương tự như sự thành lập nước Nam Việt. [4] Theo đó, dễ hiểu nếu liên minh bộ lạc của người Lạc Việt bị Tây Âu hàng phục, hoặc hai nước này sát nhập vào nhau, trở thành Âu Lạc. Dĩ nhiên người làm được chuyện này là người mà sử sách và truyền thuyết dân gian Việt Nam nói đến: Thục Phán. Đây không phải là khả năng độc nhất. Thục Phán có hay không có thì nước Việt cổ, do ảnh hưởng như trên và có thể những điều khác, vẫn đi vào một giai đoạn mới thể hiện với sự xây dựng thành Cổ Loa. Nhưng ý tưởng này không có chỗ đứng theo hiểu biết cho đến vài năm qua. Nó còn tạo thêm vấn đề, ít nhất vì bấy giờ chưa có đủ dữ kiện để nói, giá như việc Thục Phán xây thành Cổ Loa chỉ là huyền thoại thì thành này vẫn có từ trước chứ không do Mã Viện làm ra về sau! 2. Sử liệu xưa đã không có ích gì mấy trong việc truy tìm sử tính Thục Phán, để nói ít nhất. Việc khảo sát các truyền thuyết dân gian thì “… cứ gạt dần mọi chi tiết thêm sau, thì hình tượng cuối cùng của nhân vật Thục Phán trong truyền thuyết Cổ Loa hoá ra chỉ hiện lên rực rỡ với đủ bảy sắc cầu vồng để rồi chịu chung số phận tan đi trong khoảng không, mà chẳng lưu lại chút thực chất lịch sử nào cả?” Đó là câu hỏi được Nguyễn Từ Chi và Trần Quốc Vượng đặt ra, theo cách cho thấy là, nghiên cứu truyền thuyết dân gian không đem kết quả đáng mong muốn. [5] Hai học giả này hi vọng rằng, Thục Phán tuy vậy vẫn có thật và chính là nhân vật “ở trần… xưng vương” được nhắc gián tiếp trong Sử Kí. Hi vọng này dĩ nhiên chỉ có được xương thịt khi được hỗ trợ, biện minh bằng một lí giải hợp lí nào đó về nguồn gốc của “Thục” trước tên Phán, về tên hiệu “vua An Dương” v.v., tức là phải nói được Thục Phán có thể là ai, từ đâu đến. [6] Một lời giải đầy đủ (và không mang tính “ông đồ tân thời”) đã được Tạ Đức đề nghị trong tương quan với luận thuyết của ông về nguồn gốc người Lạc Việt. [7] Gốc của tên Thục Phán và tên hiệu An Dương theo đó gần với phát âm Trung Hoa (Ngan-Yang và Shu Pan) so với âm Việt, và khó hiểu là Thục Phán không phải là tên, mà mang nghĩa Chúa Đất/Chúa Người. Về tên gốc của những tên như Cổ Loa, Khả Lũ, Loa thành v.v., đề nghị đưa ra không cho thấy một liên hệ ngữ nghĩa với những tên dân gian kẻ Chủ, thành Chủ mà Gs Trần Quốc Vượng thấy là quan trọng, bên cạnh việc vua An Dương được gọi là vua Chủ. Liên hệ này quả đáng lưu tâm vì một cái tên như kẻ/thành Chủ có thể nói lên phần nào cái nhìn của người Việt cổ về Cổ Loa như một công trình kiến trúc vĩ đại, có một không hai (trong thước đo Đông Nam Á), và như một điểm quần cư, giao thương quan trọng, với người bên trong và lãnh tụ của họ khác biệt với người bên ngoài v.v. Một tên cụ thể mang nghĩa Chủ, trong tiếng nói tiền Việt-Mường, theo đó có vẻ có nhiều khả năng là có ngay trong thời gian thành được tạo dựng, so với những tên, ví dụ, (thành) Ốc hay Hình Ốc. Một lí do là những cái tên như thế, nếu là tên gốc, có thể hàm nghĩa thành đã được dựng lên theo mô hình hoàn chỉnh, trong sự so sánh với các thành khác về hình thù và ý nghĩa hoặc biểu tượng gán cho chúng. Người Việt cổ phải đi rất xa, hoặc có hiểu biết về, hay có thượng khách từ, những phương trời rất xa, để có một so sánh như vậy. Trong bối cảnh Văn hoá Đông Sơn, cũng không dễ hiểu là sự đặt tên thành đã có từ căn bản những so sánh nếu có như vậy. Vấn đề là, Chủ là một tên Nôm, mà qui luật biến âm thông thường đã dẫn tới hai từ mà nếu người ở Cổ Loa có dùng trên 2.000 năm trước, thì người nơi khác có lẽ thấy xa lạ dù có chung kho từ vựng Môn-Khmer. Tên có từ sự truy tầm ngữ âm là *klủ hoặc *tlủ, [8] trong khi từ có nghĩa “chủ”, “chúa” trong tiếng Môn và Khmer là cao và caw, mà tiếng Việt ngày nay còn bóng dáng. Cùng với cao/caw, một từ Khmer khác, poñ, có thể lập tức tạo nên những liên tưởng, dù thoạt nhìn không đi đến đâu. Poñ mang nghĩa chủ / chúa một phạm vi, khu vực giới hạn (đầy ý nghĩa khi nghĩ đến các phát hiện khảo cổ về Văn hoá Đông Sơn!). Phải chăng có một điều bất thường gì đó ở đây, vì Cao/Caw làm nghĩ đến Cao Lỗ, còn Poñ đến Phán trong Thục Phán (Shu Pan theo âm Trung Hoa), và chẳng những thế mà còn Fan, phiên âm Trung Hoa của một từ đặt trước tên một loạt tướng tá và vua chúa Phù Nam, Lâm Ấp? Fan của Lâm Ấp, Phù Nam (Phạm trong cách đọc Hán-Việt) chính ra là gì, là vấn đề được bàn cãi từ lâu. Nhưng gần đây đã có lí luận khẳng định rằng nó không có gì khác hơn là poñ. [9] Không có lí do đáng kể để không nghĩ poñ thuộc về những từ ngữ Môn-Khmer vẫn được người Việt cổ trên 2.000 năm trước chia sẻ với những cộng đồng người khác thuộc cùng ngành ngôn ngữ. Thế thì phải chăng (thành) Chủ nguyên là (thành) Poñ, hoặc một tên có phát âm giống như thế, nhưng do một lí do nào đó trong thời thuộc Hán (từ năm 43) mà tên này này bị thay thế, chỉ còn ý nghĩa được dân gian lưu giữ (trong mức độ cường điệu, vì bấy giờ thành Cổ Loa đã trở nên một biểu tượng thiêng liêng của đất nước xưa)? Một loạt vấn đề phát sinh với suy đoán như vậy. Nhưng tất cả đều được giải quyết trong quan hệ với một câu trả lời cho vấn đề vua An Dương mà Gs Lê Mạnh Thát gợi ra từ khá lâu. Trong một công trình về lịch sử Phật giáo Việt Nam của mình, sử gia này nói, trong một dòng ngắn ngủi, rằng “khoảng năm 400 xuất hiện truyện An Dương Vương và Triệu Đà phỏng theo bản anh hùng ca Mahābharatā của Ấn Độ.” Cũng ngắn gọn nhưng với hai dẫn chứng cụ thể là một câu thấy trong một bài tham luận năm sau đó. [10] Chỉ cần nhìn lướt qua kích thước đồ sộ của Mahābharatā là đủ hình dung rằng phát hiện này không phải ai cũng có được. 3. Có sự giống nhau lạ lùng giữa các hình tượng Triệu Đà và vua An Dương ở một phía và ở phía khác Dhuryodhana và Arjuna. Ngay những cái tên cũng thế. Nhưng không chỉ truyện An Dương và Triệu Đà mà thôi: Hiện tượng này cũng thấy có đối với phần lớn tình tiết ghi trong sử sách cũng như truyền thuyết dân gian về vua An Dương. Việc tìm hiểu xa hơn lại còn đưa đến một phát hiện dị thường khác. Điều này có một vai trò trong việc nhận diện sự hình thành và dụng tâm, hậu ý đàng sau truyện An Dương, và không chỉ như thế. Do đó, hãy nói về nó trước. Không ai ngờ, cho đến nay, nhưng sự kiện là một truyện tích về Arjuna, nhân vật chính trong Mahābharatā đã được dùng trong huyền thoại về nguồn gốc đất nước của vương quốc Phù Nam vào khoảng. thế kỉ 1 và, về sau, của một triều đại Chăm. Truyền thuyết mở nước Phù Nam, như sứ Tàu ghi lại vào giữa thế kỉ 3, đại khái nói đến một chiến sĩ phương xa tên Hun-tian bị “nữ vương” Liu-ye tấn công, nhưng Hun-tian chiến thắng, hàng phục được Liu-ye và từ đó trị vì Phù Nam. Truyền thuyết này vẫn được xem, rất hợp lí, như chứa đựng một ít nhân tố lịch sử và, nhờ bia kí Chăm ở Mĩ Sơn (thế kỉ 7), Hun-tian được truy ra như phiên âm Trung Hoa của từ Sanskrit Kaundinya. Liu-ye thì bị xem như một kết quả ghi chép quá sai lạc để truy tầm tên gốc Phù Nam. [11] Thật ra thì không có gì là sự thật lịch sử trong đó. Đọc truyện Arjuna gặp Uloopi, [12] bị hại thế này thế kia, ta sẽ dễ dàng thấy truyện kia đơn giản là một phiên bản của truyện này. Ngay cả tên của nhân vật chính cũng thế. Điều này tuy vậy không có nghĩa, đồng thuận của học giả về nhân tố lịch sử trong truyền thuyết mở nước Phù Nam là hoàn toàn sai! Liu-ye rõ ràng gần gũi kì lạ với Uloopi, như thể là một phiên âm sai lạc và thiếu sót của cái tên Ấn Độ này. Nhưng có lí do để tin sứ Tàu đã phiên âm đúng, chỉ có người Phù Nam đã gọi chệch đi một chút cái tên của Uloopi. Điều này được thấy rõ với chính cái tên của người gọi là mở nước Phù Nam, Kaundinya. Kaundinya là “Con ông Kundina” hoặc “Con bà Kundini”. Biết truyện tích về Arjuna thì biết một nhân vật nữ quan trọng trong Mahābharatā mang tên Kunti. Bà này là mẹ Arjuna. Arjuna cũng có thể mang tên khác là “Con bà Kunti” – nếu xem những người con khác của Kunti như không có, hay xem Arjuna cao cả, vượt trội giữa họ. Từ “Con Kunti” đến “Con Kundini” không có một khoảng cách nào đáng kể khi đã biết tương đồng giữa hai truyện tích. Sai biệt rất nhỏ về tình tiết truyện tích và những cái tên như thế đưa đến ấn tượng hiển nhiên rằng huyền thoại lập nước của Phù Nam chỉ là một bản sao chép truyện Arjuna và Uloopi với một ít biến đổi tên tuổi, để che dấu sự mô phỏng đó. Thật ra thì không phải. Che giấu lối đó thì không đi đến đâu. Như một qui luật, khi thấy một ít tương đồng truyện tích, nhìn vào Kaundinya thì có thể nghĩ đây là một tên khác cho Arjuna, và cái tên này được tạo ra từ các phụ âm gần gũi với 3 phụ âm chính k, n, d của tên trên. “Con Kunti” đúng là một cái tên như thế. Phụ âm mới là điều quan trọng. Lạ lùng, kì dị đối với người ngày nay nhưng điều này được cho là rất thông thường nơi người Ấn xưa - để mô phỏng lời một thẩm quyền lớn về văn nghĩa học (ngữ văn học) Sanskrit, nó (và một số điều khác) không có gì lạ đối với người quen thuộc với các qui luật văn học alamkārasāstra. [13] Điểm quan trọng, và như đã ngụ ý ở trên, Kaundinya, như một tên mới đặt ra cho Arjuna, có hàm ý đề cao, tôn sùng trong đó, là “sự tô điểm, làm trang nghiêm” (S. alamkāra) niềm tin vào Arjuna. Tương tự với trường hợp cái tên Liu-ye. Theo đó, có thể lí luận, một điều thoạt nhìn như ăn cắp, vay mượn truyện tích, không có nhân tố lịch sử, thật ra chỉ có nghĩa, những người lãnh đạo Phù Nam thấy quá trình mở nước của họ “ứng nghiệm kì diệu” với câu chuyện Arjuna gặp Uloopi và từ đó dùng truyện này như một chân lí thiêng liêng về khởi nguyên của đất nước. Nhận thức này có bao nhiêu phần chủ quan thì không thế biết được. Còn Chămpa? Gs Michael Vickery cho thấy là không hề có một Chămpa thống nhất như trong niềm tin phổ biến, mà hầu như chỉ có những ốc đảo độc lập, đôi khi thù nghịch nhau. [14] Theo đó mà nói, có ít nhất một trong các tiểu quốc Chăm đã giống như trường hợp Phù Nam. Huyền thoại Chăm được nhắc ở đây thì xuất hiện sau (nhưng hẳn là sớm hơn niên đại của bia Mĩ Sơn, thế kỉ 7), nhưng cũng chẳng khác chi Phù Nam ở sự tin thờ Arjuna. Nói như thế thoạt nhìn sai trái, vì truyện tích ghi lại trên bia Mĩ Sơn có một vài chi tiết khác lạ, nổi bật là, nhân vật nữ được ghi chép như “công chúa Soma con vua rồng” (S. nāga) chứ không phải Uloopi hay dạng địa phương hoá của tên này. Phiên bản giống như thế cũng thấy có từ khoảng. thế kỉ 1 ở Nam Ấn và một hai hải đảo Đông Nam Á, và các học giả đã không biết được nguồn gốc từ đâu. Nhưng biết chuyện Arjuna & Uloopi thì lập tức hiểu ngay: Uloopi là công chúa con vua rồng, và cô này không xa lạ gì với tai nạn mà Arjuna mắc phải, liên quan đến soma, ở đây nghĩa là rượu độc! Dùng Soma như một tên mới cho cô công chúa này là để nói, nhờ món rượu quỉ quái kia mà Arjuna mới chung sống vui vẻ với Uloopi để câu chuyện mở mang triều đại của mình diễn ra giống như kinh sách nói! 4. Sự có mặt của niềm tin Ajurna ở Phù Nam và Chămpa không có nghĩa là phiên bản Chăm đã có vì ảnh hưởng Phù Nam, hoặc, như trong niềm tin quen thuộc, Chămpa có quan hệ mật thiết với Phù Nam. Ngay Lâm ấp (thế kỉ 2) và Chămpa cũng không có liên hệ gì với nhau ít nhất trong thời gian đầu (Vickery 2005, đd.). Như đã nói những Fan trước tên của các tướng, vua ở các nước này không là gì khác hơn là poñ, không nói lên một liên hệ gì giữa họ hơn là tất cả đều là chủ/chúa trong tiếng nói xưa. Khác biệt tinh tế giữa hai phiên bản Phù Nam và Chămpa góp phần cho thấy sự tin thờ Arjuna đã có vì sự có mặt sớm sủa và rộng rãi của ảnh hưởng Ấn Độ. Trễ nhất là từ khoảng. thế kỉ 1 tr.tl. trở đi ảnh hưởng này đã có không chỉ ở Nam và Trung bộ Việt Nam ngày nay, mà còn ở Vân nam. Sự kiện quen thuộc là cổ thư Trung Hoa cho biết, vào thế kỉ 1, khi tiến chiếm khu vực này người Hán đã biết đến một cộng đồng người Ấn sinh sống ở đây. Khu vực Bắc Bộ, như thế, khó là biệt lệ như ấn tượng dễ có do việc học giả thường chỉ xoáy vào tính bản địa của Văn hoá Đông Sơn. Điều này càng trở nên rõ ràng hơn nữa do sự kiện “đường An Nam thông sang Thiên trúc” gần đây được biết như không đơn giản chỉ là đường biển. [15] Thế thì phải chăng có thể nghĩ, việc sử dụng truyện tích Arjuna và nói chung huyền thoại Mahābharatā ở Bắc Bộ, trong quan hệ với truyền thuyết vua An Dương, đã có từ rất sớm chứ không đợi đến khoảng đầu thế kỉ 5? Một lí do để nói sự vay mượn, vận dụng như nó được trình bày sau đây, không có sớm như thế, là sự có mặt của những từ ngữ Hán-Việt, như An Dương, Trọng Thuỷ v.v. Điều này tuy vậy không khó giải thích mặc dù trong các thế kỉ đầu công nguyên người Việt nói chung xa lạ với tiếng Hán và văn hoá Trung Hoa. Sự kiện là các thập niên cuối của thế kỉ 2 chứng kiến những thành phần quan lại và trí thức người Hán trong đạo Phật ở Việt Nam. Phải qua một giai đoạn “quá độ” dài trong đó có nỗ lực học hiểu, sử dụng tiếng Hán để đạo Phật không là một tín ngưỡng mà chỉ người bản xứ tin theo, mà trở thành một thực tại người Hán hiểu được và, như trường hợp Mâu tử cho thấy, bỏ đi sự tự tôn về học thuật và tín ngưỡng Trung Hoa và không chia sẻ cái nhìn về người Việt cổ của giới thống trị và tay sai bản xứ. [16] Có lẽ không quá đáng khi nói, khoảng. nửa thế kỉ sau khi Nam Việt bị xoá tên, những thành phần ưu tú có mặt ở Việt Nam xưa, vì đòi hỏi chính trị và tôn giáo cũng như do sự kiện người Việt không dùng văn tự, đã bắt đầu việc sử dụng tiếng Hán. Truyện An Dương, như sẽ thấy, không có sự vay mượn tình tiết theo cơ chế ảnh hưởng thông thường, mà do một học giả cố ý tạo ra. Các tu sĩ Phật giáo Ấn Độ thời xưa được biết là có chuẩn bị cho việc truyền giáo bằng việc học trước tiếng nói của đối tượng v.v. Ông này chắc chắn cũng không khác, không xa lạ lắm với từ ngữ Trung Hoa và cũng không hẳn tạo dựng truyện này chỉ để nói riêng với người Việt mà thôi. Có những lí do để nói xa hơn. Giữa những điều khác, chúng ta biết, vào khoảng. thế kỉ 2, một vài tình tiết Mahābharatā đã có bóng dáng của chúng trong một truyện minh hoạ giáo lí Phật giáo mà về sau trở thành truyện 23 của Lục độ tập kinh, cũng như trong truyện Âu Cơ và Lạc Long quân, phiên bản mới của huyền thoại khởi nguyên dân tộc. [17] Các tình tiết này có trong truyện An Dương. Một điều quan trọng cũng là khả năng có sự sử dụng những từ ngữ Việt cổ, rất cổ đến mức nếu không cân nhắc những điều đã nêu liên quan đến quan hệ Hán-Việt, dễ có xu hướng nghĩ rằng, truyện này đã được tạo ra trước thời gian người Hán thật sự có mặt ở Việt Nam. [18] Từ Khmer poñ từ đó Phán (và nhất là Phớn theo dân gian!) trong Thục Phán có, thì có thể giải thích cách khác, [19] nhưng có nhiều điều cho thấy Thục có quan hệ ngữ âm và ngữ nghĩa với các từ tiền-Việt-Mường *?do:k, “thuyền, đò” và *?do:lh, “nổi”, [20] và sự kiện này không thể nói là tình cờ. © 2006 talawas [1]Trừ phi có ghi chú khác, truyện tích nòng cốt về vua An Dương Thục Phán sử dụng trong bài này có thể xem trong Đại Việt sử kí toàn thư, bản dịch của Viện Khoa học Xã hội, Hà Nội 1993, Ngoại kỷ Q1, "Kỷ nhà Thục”. [2]Tài liệu tham khảo được sử dụng là Mahabharata, bản dịch thoát của Guni Martin do E. Hegelund hiệu đính, Ørnen 1988, và A Classical Dictionary of Hindu Mythology and Religion, Geography, History, and Literature (1879, Reprint London 1979) của John Dowson (1820-1881). Với internet, người đọc dễ có một ý niệm cụ thể bằng việc tìm đọc ở, ví dụ, answers.com về Arjuna (the warior prince), Krishna, nói chung là các tên tuổi được ghi trong bài (theo như phát âm trong tiếng Anh). Các thông tin ở đây nhìn chung chính xác - trừ sử tính và niên đại của Krishna và cuộc đại chiến trong Mahabharata, những điều ghi theo tin tưởng Ấn giáo hơn là đồng thuận trong nghiên cứu khoa học. [3]Có thể xem Triệu Đà và nước Nam Việt, Sử kí Tư Mã Thiên, Nhữ Thành tuyển dịch. [4]Nguyễn Từ Chi & Trần Quốc Vượng, Vua chủ, trong Nguyễn Từ Chi, Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, tr. 208-9 (vanhoanghethuat.org.vn) [5]Như một hệ luận của lí giải đưa ra trong bài này, không có mấy tính dân gian trong phần lớn truyền thuyết dân gian về Thục Phán mà hai tác giả này đã đề cập. [6]Nguyễn Từ Chi & Trần Quốc Vượng, đd., tr. 205. [7]Tạ Đức, “Phải chăng người Việt cổ là một nhóm Lava cổ?”, bài 1 & 2, talawas, 3/2005 [8]Trần Trí Dõi, “Tiếp tục tìm hiểu vể xuất xứ và ý nghĩa địa danh Cổ Loa”, ngonnguhoc.org, 12/2005. [9]Michael Vickery, “Champa Revised”, ARI Working Paper Series, No. 37, March 2005, Asia Research Institute, National Univ. of Singapore. Nghiên cứu trước đó của ông được nêu ở trang 18. [10]Lịch Sử Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế (1999), chg. XIIIb, và Le Manh That & Budden Gyoshi, “Buddhism in Vietnam” (paper presented at the International Association of Asian Studies, held in Houston, TX, February 21-26, 2000), với dẫn chứng nằm ở chú thích 57. Như người viết được biết sau khi đă hoàn thành bài này, Gs Lê Mạnh Thát cũng từng nói sơ qua vấn đề này trong, “Bàn về một phương pháp khoa học tích cực trong công trình nghiên cứu văn hoá Việt Nam”, Khuông Việt số 6, 2/2003. [11]Sơ lược về các truyền thuyết Phù Nam, Chăm, Khmer, và về lí do vì sao chúng được xem như chứa đựng một nhân tố lịch sử, có thể xem Chad Raymond, “Regional Geographic Influence on two Khmer Polities”, Journal of Third World Studies, Spring 2005, phần đầu. [12]Để có một ý niệm về chuyện này và sự giống nhau giữa huyền thoại Phù Nam/Chăm v.v. và truyện Arjuna & Uloopi, xem Arjuna. [13]Christian Lindtner, “Some Sanskritisms In The New Testament Gospels”, The Adyar Librabry Bulletin, 65 (2001), đoạn cuối. [14]Vickery 2005, đd., ví dụ tr. 80. [15]Bin Yang, “Horses, Silver, and Cowries: Yunnan in Global Perspective”, Journal of World History, Vol. 15 No. 3, September 2004. [16]Xem Lê Mạnh Thát, Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam, Sài Gòn 2000, tập I, Chg. II. [17]Nt., tập I, phần II và Nguyễn K., “Đi tìm mặt mũi truyền thuyết Hồng Bàng”, Giao Điểm 3/2006 [18]Một ý niệm về tiếng Việt cách đây khoảng. 2.000 năm được thấy ở Ngonngu.net, ”7 Giai đoạn phát triển của Lịch sử tiếng Việt”, GD tiền Việt-Mường. [19]Chẳng hạn có thể thăm dò khả năng tác giả đã sử dụng tên gọi poñ của người dùng tiếng Khmer (ở Trung Bộ, v.v.) để thay thế cho một từ Việt-Mường có cùng nghĩa. [20]Có thể xem S. Starostin, Viet-Muong etymology 5. Chuyện kể về và chung quanh vua An Dương, với những thần Kim Qui, Triệu Đà, Mị Châu, thành Cổ Loa của-truyền-thuyết v.v., thoạt nhìn là kết quả của một vận dụng kĩ thuật văn học Ấn Độ trên chất liệu anh hùng ca Mahābharatā, theo đó những tên người v.v. được “dịch âm” và/hoặc dịch nghĩa, trong liên hệ ít nhiều với những sự việc, sự kiện quen thuộc với người bản địa. [1] Mặc dù vậy, có thể khẳng định, ít nhất là mọi sự không bắt đầu như một trò “chơi chữ”, mà khởi đi cái nhìn về thành Cổ Loa như biểu tượng đất nước Việt cổ. Như trên đã giả định, thành được biết qua một tên cổ mang nghĩa thành Chủ, có âm giống như Poñ. Từ đây “có âm giống như XYZ’”được tạm ghi là ~XYZ. Một phần do cái tên thành ~Poñ, tác giả liên tưởng đến vua Pandu của huyền thoại Mahābharatā, rồi Pandava, các “con dòng Pandu”. Lí do khác sẽ được đề cập ở các phần cuối. Tên họ đầy đủ Thục Phán từ đây mà có, qua việc “dịch âm”, hay tạo ra một từ mới từ một số phụ âm gốc, sao cho từ này có cùng số âm tiết như từ gốc. Trong các phụ âm của Pandava, hai phụ âm p và n đã yên chỗ, với tên ~Poñ, tức Phán (và Phớn!) trong dạng về sau. Với hai phụ âm còn lại, d và v, có thể nghĩ, như một minh hoạ, đến Đào Vi, Nhưng nếu thế thì tên họ đầy đủ có đến 3 âm tiết, không trung thành với tên gốc (pandava đọc như pan-daw, hai âm tiết). Do đó, để đủ số âm tiết gốc, từ d một từ Việt nữa được tạo ra, và từ này có phát âm và ý nghĩa gần gũi với hai từ cổ *?do:k và *?do:lh, như sẽ thấy. Có thể nghĩ Thục đơn thuần là biến dạng của từ này chứ không phải chính tác giả đặt thêm trong dụng ý tạo một liên tưởng về nước Thục xưa ở Trung Hoa (mặc dù người Ấn từ xa xưa đã biết đến nước Thục, như Sử Kí Tư Mã Thiên cho phép nghĩ; x. Bin Yang 2004, đd.) Dù sao, như nhân vật chính, một lãnh tụ giỏi chiến trận, Thục Phán được nối kết với nhân vật quan trọng của Mahābharatā, vị vương tử dòng Pandava giỏi giang nhất, Arjuna. Từ đây chúng ta có Thục vương tử An Dương: Vương tử là dịch nghĩa, và ~An Dương, dĩ nhiên là “dịch âm” của Arjuna – hoàn toàn sát xao (Arjuna phát âm như “Arjun”). Ghi nhận là ở đây cũng có sự dịch nghĩa: “Dương” nói lên được một nghĩa của Arjuna, “sáng (đối với tối)”, “màu của ban ngày”! Như một qui luật, những cái tên quan trọng đều phải vừa dịch âm vừa dịch nghĩa. Và, dĩ nhiên, truyện tích thì giống hệt: An Dương phải có tài xạ tiễn, có Nỏ thần “bắn một phát 10 mũi tên” vì Arjuna thiên hạ vô địch về bắn tên, có cây cung thần Gandiva và cũng thường “bắn một lúc 10 mũi tên”. [2] Nhưng không chỉ như thế. An Dương cũng phải có bạn/cố vấn/người chỉ đạo là Cao Nỗ/Cao Lỗ và, trước và trên hết, thần Kim Qui, một phần vì Arjuna có Krishna. Cao Lỗ có thể là một vị thần có sẵn. Trong trường hợp này có lẽ chỉ “họ” Cao (Cao/Caw trong tiếng Môn/Khmer) được giữ nguyên, tên thì được sửa đổi để nói chung có được các phụ âm của tên Krishna (k, r và/hoặc n). Nhưng thần linh này phải trở thành người, để “hợp lực” cùng thần Kim Qui nói lên đầy đủ tính cách thần/người của Krishna. [3] Về thần Kim Qui, Keith Taylor suy đoán (hợp với giả thuyết về An Dương của ông) rằng đây là thần chiến tranh của Tàu. Nhưng không có lí do gì để phải đi xa như thế, dễ thấy nhất là vì Krishna, trong một tiền kiếp của mình, là thần Rùa Kurma. Tuy nhiên do nhiều sự kiện sẽ đề cập, thần Rùa trong căn bản không có chỉ vì Arjuna mang theo Krishna vào truyện Thục Phán. Dù sao, một phần do Krishna cũng được gọi bằng tên Hari, nói lên màu vàng, nên thần rùa phải là thần Rùa Vàng! Việc Cao Lỗ/Nỗ và thần Kim Qui giúp xây thành Cổ Loa thì tương đối không dễ thấy như được tạo ra từ chất liệu Ấn Độ. Nhưng thật ra điều này cũng có - từ sự biến đối, đảo ngược tình tiết về việc Krishna dạy cách thoát khỏi Chakravyuha, “Luân trận”. Thế trận huyền diệu, kì bí này không một ai có thể ra thoát, trừ Arjuna. Và do nó có hình xoắn ốc 7 vòng, nên thành quách tượng trưng cho nước Việt xưa cũng phải có 9 vòng xoắn ốc, chu vi 9 dặm, như sách cổ Trung Hoa đã chép lại. [4] Các con số 7 và 9 là những số hên của, theo thứ tự, truyền thống Ấn và Việt cổ. Chakra-vyuha, “thế trận Chakra”, được chuyển thành “thành Kẻ/Cổ ~Loa”. Kẻ Loa (cũng như An Dương v.v.) là một cái tên có vấn đề một phần vì Loa (và An Dương v.v.) là tên Hán-Việt, theo lẽ thường không thể có từ thời người Việt cổ chưa bị ảnh hưởng Hán. Dĩ nhiên nó không thể là tên gốc. Nhưng chúng ta cũng không còn phải nghĩ nó do người Hán đặt ra; [5] như đã nói không có gì khó hiểu ở việc tác giả biết ít nhiều tiếng Hán trong thời điểm nó còn xa lạ với người Việt nói chung. Rồi thì Kẻ/Cổ Loa, vì cái tên của nó, mà phải trở thành nơi vua An Dương giao chiến với Triệu Đà. Triệu Đà đúng là phiên bản Việt của Dhuryodhana, cả ở tính cách nhân vật lẫn ở góc độ ngữ học. Từ các phụ âm của tên gốc, tác giả tạo ra một tên họ Việt nào đó, nhưng hẳn là ông đã kinh ngạc vì sự “thần diệu”, “linh thiêng” của văn tự Sanskrit (như nhiều người ngày nay, ở cả Đông lẫn Tây): Ông có vẻ không có mấy tự do trong sự tìm kiếm. “Triệu Đà”, hoặc một tên Việt cổ gần gũi, tương đương tên họ này, là ứng viên thích hợp nhất trong số những tên họ mà ông có thể nghĩ được, và “Triệu Đà” trong kí tự Hán sẽ trở nên “Zhao Tuo”, tên vua Nam Việt. Ông hoàng gian trá, nham hiểm của huyền thoại có được xương thịt của một nhân vật có thật! Nhưng không phải vì vua Nam Việt đã thật sự đến và đánh nhau với người Việt cổ tại Cổ Loa, hay vì nơi đó thật sự đã xảy ra một cuộc đại chiến giữa Tàu và Việt. Nó phải là bãi chiến trường vì Luân trận đàng sau cái tên Kẻ/Cổ Loa dẫn tác giả trở lại với Kurukshetra, nơi xảy ra cuộc đại chiến lừng danh nhất của huyền thoại Ấn Độ, giữa hai phe phái mà Thục Phán và Triệu Đà Ấn Độ là đại diện. 6. Với thành Cổ Loa được nối kết với cuộc chiến trăm phần chết chín mươi chín (!) của huyền thoại, vòng tròn “chơi chữ” trên cái tên và truyện tích Arjuna khởi đi từ thành cổ biểu tượng của đất nước Việt, đã được vẽ xong. Tác giả đi sang vấn đề làm Arjuna Việt Nam đại bại, trái ngược hoàn toàn với truyện tích gốc. Không có lí do thiết yếu nào để phải làm thế nếu chỉ muốn tạo ra một bản dịch sự tích Ấn Độ. Thế nhưng ông vẫn làm, bằng một nối kết rất li kì. Arjuna Việt Nam có thể làm gì để đi tình trạng bi thảm kia? Những cái tên quan trọng Arjuna, Krishna, Pandava có vẻ không giúp ích gì cho việc tìm kiếm một truyện thích hợp. Nhưng quay sang tên Việt của nhân vật chính, ~Thục (Phán) có thể làm liên tưởng đến một cái tên như Shukra trong Mahābharatā. Thoạt tiên, có thể đó chỉ là một trong nhiều cái tên. Vậy thì có liên tưởng gì hữu ích từ cái tên của thần hộ trì đất-nước Rùa Vàng? Rùa Vàng, Sanskrit Hare Kachapa làm một cái tên như Kacha hiện ra. Cũng không hẳn nói lên gì. Nhưng nghĩ ngợi một chút thì nhớ đến một truyện bên lề (nếu tác giả là một tu sĩ!) trong đó Kacha “đi đôi” với Shukracharya. Shukracharya là một đạo sư của phe asura (a-tu-la/ ”thần dữ”). Ông có một thần chú làm kẻ chết sống lại, khiến phe địch không thể chiến thắng được. Do đó vị đạo sư của phe deva (đề-bà/ “thần lành”), đã tạo ra một điệp vụ, gửi người đến nằm vùng để dò biết bí mật của thần chú linh diệu kia. Điệp viên là Kacha, con trai của ông này. Trong thời gian làm công tác điệp báo trong đất địch, anh ta làm thân với, và được Devayani, con gái của chính Shukracharya thương yêu. Thế là và điệp viên Kacha thành thái tử Trọng Thuỷ (mà Sử kí Tư Mã Thiên không biết đến trong ghi chép về vua Nam Việt Zhao Tou). Con gái đạo sư thì trở thành Mị Châu công chúa Âu Lạc – không hiểu đây có phải là sự cố ý, không dịch tên để nói không nên so sánh hai nhân vật này? Thần chú trong truyện gốc hiển nhiên trở thành móng rùa thần! Còn những tình tiết như Mị Châu rải lông ngỗng trắng rồi bị giết chết? Chúng cũng hình thành từ một nối kết cũng li kì của chất liệu Ấn Độ. Để thấy như thế, trước hết cần nhắc rằng chuyện Mị Châu vì tình làm mất nước được chính tác giả cho biết, “sự thật” không hẳn như vậy. Những gì còn ghi lại trong sách xưa, từ văn tự cho đến hình ảnh tượng trưng, đều có thể xem như tác giả muốn nói khác đi. Việc đồng nhất máu Mị Châu với ngọc châu không tì vết, rửa trong nước giếng Cổ Loa thì ngời sáng bội phần, chỉ là một trong nhiều trường hợp. Còn có thể đoán - một khi biết người Ấn xưa liên hệ màu trắng với điều lành thiện, trong sạch (nghiệp trắng, đối với nghiệp đen) -, tình tiết rãi rắc lông ngỗng trắng (cực kì vô lí như vẫn được nói đến xưa nay) có hàm ý, con gái vua Việt chỉ tạo “nghiệp trắng” thôi, tức là vô tội, vô can, không dính dáng gì đến chuyện kể của ông. Phỏng đoán này đúng nếu có thể hiểu theo “nghĩa nước đôi”. Nhưng “nghĩa nước đôi” không phải là không có, cả trong truyện An Dương lẫn những truyện được cấu tạo theo lối tương tự. Dù sao, sự kiện là những hàm ngụ về sự vô tội của Mị Châu cũng tương phản với chuyện kể cô con vua này hại nước hại nhà vì tình, cũng như với chính việc thần Kim Qui đòi hỏi vua An Dương phải giết con. Chuyện Mị Châu rãi rắc lông ngỗng và bị giết, như thế, có thể được hiểu như một tín hiệu, một gợi ý rằng gốc tích của chuyện này phải tìm nơi khác hơn là Mahābharatā. Mị Châu được tác giả liên hệ với ngỗng trắng, qua nệm lông ngỗng. Và Mị Châu một mặt làm hại nhà hại nước vì không giữ miệng, đáng tội chết, mặt khác lại được ngầm biện hộ như vô can, vô tội. Một con ngỗng trời “nạn nhân” của trò tranh thắng, chẳng tội tình chi nhưng bị ném đá chết thảm, là một trong hai con ngỗng trời trong một truyện Tiền thân Phật. Trong một truyện Tiền thân khác, cũng có chuyện hai con ngỗng trời, nhưng ở đây chúng có quan hệ với một con rùa không gìn giữ được thân mạng do tật lắm miệng. Rõ ràng sự vay mượn ở đây cũng không thể cho là không có. Tác giả có vẻ như còn cố tình khi cho thấy, riêng truyện con rùa bị khẩu nghiệp mà ông sử dụng không phải là bản chính, mà là bản như được thấy trong Panchatantra (thế kỉ 3 tr.t.l.). Khác với bản chính, nơi cặp ngỗng trời không có tên tuổi, ở đây chúng mang tên Samkatha và Vikatha (“Bé” và “To”). [6] Ngọc trai trong truyện Mị Châu, như Lĩnh Nam chích quái ghi chép, được gọi là Đại Cưu và Tiểu Cưu - vừa dịch nghĩa vừa “dịch âm”! Thoạt nhìn thì sự việc vay mượn cả chất liệu Phật giáo chỉ làm tăng thêm ấn tượng rằng truyện Thục Phán hoá ra chỉ là một hư cấu do chắp vá truyện tích sẵn có. Thật ra thì sự có mặt của chất liệu Phật giáo trong tương quan với việc Arjuna Việt Nam thua cuộc góp phần quyết định để ngăn chận một cái nhìn như thế. Không thể có một lí giải nhất quán về truyện này trừ phi bắt đầu, như đã giả định ở phần trên, với cái nhìn của tác giả về thành Cổ Loa như biểu tượng của đất nước Việt cổ. Hiện trạng Cổ Loa như tác giả thấy là hiện trạng đất-nước Việt cổ, qua lăng kính của một khung tư duy mà kinh truyện Phật giáo có vai trò quan trọng. Liên hệ điều này với chuyện Mị Châu, thì khi cô công chúa này (và người khác, sẽ nói) được đồng nhất với ngỗng trời, thì Thục Phán hiển nhiên là con rùa lâm nạn. Nhưng rõ ràng việc tạo khẩu nghiệp (tiết lộ bí mật nỏ thần) đã không do rùa Thục Phán mà lại bị đẩy sang cho ngỗng trời Mị Châu. Một lí do cho sự đảo điên này là, hình tượng rùa nói lên khả năng được đề cao rất mực trong đạo Phật: khả năng tự hộ trì, tự bảo hộ. Chuyện quen thuộc - ít nhất cho hàng tu sĩ Phật giáo xưa - là Phật đã từng kể một dụ ngôn trong đó một vị Phật (= bậc đại giác) đã vượt qua bờ sông bên kia (= giác ngộ) nhờ được chở trên lưng rùa, và con rùa này được kể là tiền thân của tôn giả Nanda, em cùng cha khác mẹ của Phật và là người dễ sa ngã nhưng cuối cùng đạt đến mức độ cao nhất trong khả năng tự thắng, tự hộ trì. Hình tượng Kim Qui, thần Rùa hộ trì đất-nước đã có từ đây, như cái “thần hồn”, “bản chất” của Thục Phán tức thành Cổ Loa như con rùa lâm nạn (x. ph. 8) chứ không đơn giản vì Arjuna kéo cả Krishna vào truyện Thục Phán. Đầy ý nghĩa là Nanda có mặt trong một trong các truyện Tiền thân mà tác giả sử dụng - truyện có nhắc đến con ngỗng trời vô tội chết thảm. [7] Truyện này kể nước Kalinga gặp nạn lớn, và không giải trừ được nạn lớn cho mình vì không làm được như nước Kuru kế bên, đó là không biết giữ tròn Pañcaśīla, Năm Giới. Sử phật giáo cho biết nước Kuru là nơi Phật đã đưa ra những giảng dạy quan trọng. Cổ Loa được tác giả liên hệ với cả hai nước này: “Bản chất” là Kuru, nhưng hiện tại, thời tác giả, đang lâm nạn, đang như Kalinga. Thế nên không có gì lạ ở chỗ thành quách tượng trưng cho đất nước Việt có tên ~Kha Lũ / ~Khả Lũ trước khi nó, theo đòi hỏi của “văn pháp”, được đặt thêm tên ~Kẻ/Cổ Loa nhằm nói lên hình xoắn ốc của Luân trận. Điểm phải lặp lại là truyện Tiền thân này có nhắc, ngay từ đầu, chuyện ngỗng trời vô tội chết thảm, trong khi chuyện rùa lâm nạn do lắm miệng lại được, như đã nói, gợi ý như lấy từ Pañcatantra. Đây là một tác phẩm Phật giáo Sanskrit, có mục đích giảng dạy thuật trị nước cho con cái vua. Và hiển nhiên các mẫu tự đầu của tên tác phẩm này, cũng như của tên Sanskrit/Pali của “5 Giới”, đều làm liên tưởng đến Poñ/Phán. 7. Với truyện cô công chúa Việt vì tình làm nhà tan nước mất, câu nói của thần Rùa Vàng với vua An Dương, “Giặc ở sau lưng nhà vua đó!”, bên cạnh việc nương tựa trên truyện tích và, đặc biệt, niềm tin Phật giáo để nói về An Dương/Cổ Loa như con rùa đầy khả năng phòng hộ nhưng đang lâm nạn, không thể nói là tác giả không có dụng tâm sâu xa. Nó, và vòng tròn chữ nghĩa của tác giả, thoạt nhìn đã được vẽ trọn vẹn với các tình tiết này. Nhưng tác giả cho thấy ông không nghĩ như thế. Vấn đề này không thể có nơi người khác, truớc hết kẻ xem văn tự như chìa khoá vào chân lí, mà chúng ta biết là phổ biến ở cả Đông lẫn Tây trong thế giới xưa, kể cả người Do Thái và Ấn vốn có một hệ thống qui luật chiết tự và tạo từ lạ lùng, mang chức năng của công thức toán học ngày nay. Như được phát hiện và đề cập nhiều nhất trong trường hợp Do Thái xưa, từ ngữ, câu văn trong Kinh Thánh được tin là ẩn chứa nhiều ý nghĩa thâm sâu, huyền diệu chứ không chỉ mỗi một ý nghĩa trên “bề mặt văn tự”. Nỗ lực thuyên giải Lời Thần theo lối này đưa đến sự hình thành một hệ thống các qui luật mà người ta áp dụng trên những câu văn, nhóm từ ngữ v.v. được chọn tuỳ theo một chủ đề nhất định. Kết quả dĩ nhiên là những “chân lí mới”. [8] Trường hợp người Ấn xưa không khác mấy, nhưng không mấy “dính mắc vào văn tự”. Có suy đoán rằng người Do Thái xưa, từ sau cuộc viễn chinh đến Ấn của vua Hi Lạp Alexander, đã học một vài qui luật “bói chữ” Ấn Độ. Một “bí mật công cộng” của giới chuyên gia Sanskrit hiện nay dường như là cái rừng thần thánh Ấn Độ có thể đã có trong cái khung của các kĩ thuật này. Tác giả của chúng ta hiển nhiên dùng đến một vài kĩ thuật này để dựng chuyện. Không thể nói ông tin vào Mahābharatā như người Ấn giáo, nhưng chắc là ông xem năng lực của “công thức văn tự” như hiển nhiên. [9] Nhưng cho dù như thế thì, như người khác, ông hẳn phải không thấy vấn đề gì, nếu không nói thấy “kết quả tính toán” của mình như một “mầu nhiệm”. Thật vậy, “điều kiện ban đầu” ông đưa vào “công thức” của mình là thành Cổ Loa biểu tượng của đất nước Việt cổ, có chủ là vua Việt cổ thông qua hình tượng An Dương. Việc để An Dương mất nước dĩ nhiên có nghĩa, nó cuối cùng thuộc về Triệu Đà. Nhưng khi “thành Cổ Loa Ấn Độ”, Kurukshektra, từng thuộc về cha Dhuryodhana, thì chẳng phải kết quả “tính toán” của ông rất là “chính xác”, nói lên được một giai đoạn nhân quả, vật hoàn cố chủ? Nhưng đây chính là vấn đề của tác giả. Nước Kuru, mà ông đồng nhất ngay từ đầu với Cổ Loa (qua tên Khả Lũ; x. ph. 6) là một đất nước biết thực hành Chánh pháp. Vòng tròn văn tự ông sử dụng trong mục đích giải thích hiện trạng không may của nó, lại biến nó thành nước Kuru của thần thoại Mahābharatā (x. ph. 5; kśetra nghĩa là thành, đất, lãnh địa…), nơi phải trải qua một cuộc sát phạt kinh khủng và, do việc tác giả để An Dương thua trận, phải thuộc về kẻ chiến thắng. Vấn đề này thuần tuý lí thuyết – nó hẳn xảy ra trong tâm trí ông vì ông cài lời giải vào chuyện kể. Theo lẽ thường không thể nói vấn đề này, và lời giải cho nó, có ảnh hưởng gì đến thính chúng của ông, ít nhất vì họ không biết đến truyện tích gốc để liên tưởng, đồng nhất Kurukshektra với Cổ Loa v.v., tương tự một kĩ sư biết diệu dụng của một phương trình nhưng không biết nó có những vấn đề làm đau đầu nhà vật lí lí thuyết. Nhưng đó là xét theo lí thông thường. Nhìn từ niềm tin của ông, dù người nghe không biết, không hiểu nhưng điều này, một khi có tính bất thiện, thì sẽ có tác dụng tai hại cho họ, ảnh hưởng đến tiềm thức, làm họ dễ dàng chấp nhận tình trạng lệ thuộc, bị mất nước vào tay kẻ mạnh – trong truyện kể đó là Dhuryodhana, ngoài đời thật là quân Hán! Lời giải đó là tình tiết nước giếng Cổ Loa có đặc tính làm sắc ngọc sáng bội phần. Thoạt nhìn, không có bất kì lí do nào để phải đưa ra giếng Cổ Loa, và chẳng những thế nước giếng này lại có đặc tính rửa ngọc. Nhưng giếng Cổ Loa phải có để nói lên ý thành Cổ Loa/đất nước Việt không bị chìm đắm dù đang gặp nạn lớn, dù giặc đang có ở đó. Manh mối nằm ở cái tên Trọng Thủy. Là kết quả của sự “dịch âm” Kacha, Trọng Thủy còn mang nghĩa “nước nặng”, có lẽ đúng ra là “làm nước nặng”. Trọng Thủy tự tử ở giếng Cổ Loa, tức làm nước nặng hơn (!), theo đó thành quách Cổ Loa, khác bản chất với giặc, nên phải không chìm mà nổi, *?do:lh, như thuyền, *?do:k? Dấu hỏi dĩ nhiên phải bỏ nếu “họ” Thục của An Dương đúng là có liên hệ âm thanh và ý nghĩa với các từ ngữ cổ ở trên. Nhưng còn những manh mối khác nữa. Còn chính đặc tính rửa ngọc của giếng Cổ Loa? Nếu nói đặc tính này được tạo ra chỉ vì mục đích giải oan cho con gái vua Việt thì không đúng, vì không những ngọc châu do máu Mị Châu, mà hễ là “ngọc trai ở biển Đông” (ngọc trai Việt, theo ngữ cảnh) thì sẽ trở nên sáng láng đẹp đẽ bội phần khi đem rửa ở nước giếng Cổ Loa. Nhưng chi tiết này lại chính là manh mối đầy ý nghĩa để giải quyết vấn đề “thiếu minh bạch” nêu trên. Đây là nói (với tiềm thức của người nghe, dĩ nhiên!), rằng Cổ Loa chẳng khác chi Pandyan hay nước của người Pandyas, hay nước giếng Cổ Loa như thể ở Pandyan. Điều này đưa đến “cảm nhận” rằng Cổ Loa là đất nước Thục Phán chứ không hề thuộc về Triệu Đà hay Trung Hoa, trước cũng như sau khi nó bị chiếm! Nghe thì li kì, không chỉ vì Pandyan là một nước có thật. Nhưng nhớ lại logic Mị Châu + nệm lông ngỗng > Mị Châu là ngỗng, thì vận động mà tác giả muốn thiết lập nơi sâu thẳm của cái tâm người khác là như sau: Ngọc trai của vương quốc nam Ấn Pandyan là sản phẩm nổi tiếng, được đem bán/trao đổi hầu như khắp cùng thế giới ngay từ thời cổ đại; tình tiết nước giếng rửa ngọc “do đó” có tác dụng “đồng nhất” nước giếng “của Cổ Loa” với “của Pandyan”. Điều còn lại là sự li kì, đối với người ngày nay, của phép dịch thuật hình thức: “Của Pandyan” chẳng có gì khác với “của Pandava” khi được “dịch” sang tiếng Việt; cả hai đều có thể chuyển thành “của Thục Phán” - không sai luật vì có chung phụ âm dùng trong “của Thục Phán”! Thế nên đất-nước tượng trưng với Cổ Loa trước sau như một thuộc về phe ta, giống như Mị Châu cả trước lẫn sau, cả máu lẫn xương thịt đều là châu ngọc! Nhưng không chỉ Mị Châu mà thôi. Mị Châu là con gái vua Việt. Như đã nói tác giả cho máu Mị Châu biến thành ngọc châu/ngọc trai, rồi sau đó nói cả xác thân Mị Châu cũng biến thành “đá ngọc” hay, theo Lĩnh Nam Chích Quái, “giếng ngọc”. Con Vua Việt, như thế, rõ ràng là Châu Ngọc. Nhưng như thế thì “suy ra” con dân vua Việt cũng là châu ngọc, dù là châu ngọc viết thường chứ không viết hoa, là “Tiểu Cưu” chứ không phải “Đại Cưu” (x. ph. 6). Và, như ngọc trai biển Đông đem rửa trong nước giếng Cổ Loa, con dân Việt nếu còn biết liên hệ mình với đất-nước Cổ Loa, thì sắc Việt sẽ chỉ ngời sáng bội phần chứ không bị giặc dữ làm lu mờ, nhơ bẩn, hư hại! 8. Truyện tích vua An Dương Thục Phán là một dựng đặt với chủ ý rõ rệt, nhưng có vẻ nó cũng được cài đặt những ý tứ mà trong tin tưởng của tác giả có tác dụng điều chỉnh, giải trừ ở bình diện vô thức, đối với những ngộ nhận vì truyện này. Một bằng chứng nữa nằm ở ngay chi tiết về gốc tích Thục Phán: Ba Thục. Như còn lưu giữ trong truyện kể dân gian, Thục Phán người Ba Thục, hay từng đi học ở Ba Thục, rồi đồng thời cũng sinh sống ở Cổ Loa, hoặc người Ba Thục nhưng đến Cổ Loa sinh sống. [10] Từ xưa học giả đã lúng túng trước những chi tiết lấn cấn, mâu thuẫn như thế, chẳng hạn vì hiểu Ba Thục như nước Ba và nước Thục ở Trung Hoa thời cổ. Không loại trừ khả năng “Ba Thục” hiểu như lối trên đã không có ngay trong buổi đầu mà do người sau sửa đổi lại từ một địa danh xa lạ nào đó có âm giống, thì vẫn thấy đúng là vô lí. Không thể có chuyện chỉ có một thân mà cùng một lúc ở, hay đến, hai (ba) nơi khác nhau, Cổ Loa và ~Ba (và) Thục ở tận Tứ Xuyên. Nhưng hoàn toàn logic, những chi tiết như thế nhìn chung có ý nói, Thục Phán không đi đâu, về đâu, từ đâu đến cả. Kiểm chứng với văn tự thì đúng như thế: ~Ba Thục là một cái tên với đầy đủ âm tiết và những phụ âm “quan trọng” của tên gốc, đơn giản cũng chỉ là dịch âm Pandava, nghĩa là ~Ba Thục chính là ~Thục Phán. Thục Phán từ Ba Thục đến Cổ Loa sinh sống, và Thục Phán từ Cổ Loa đi học ở Ba Thục, theo đó không khác gì nhau, chẳng có cái gì đi đâu về đâu – rất hợp lí khi Thục Phán từ bao giờ vẫn ở yên một chỗ, vì không có gì khác hơn là thành Cổ Loa nhân cách hoá, như được giả định ngay từ đầu (x. ph. 5). [11] Bên cạnh cái tên gốc của thành Cổ Loa, Poñ, một lí do khác, quan trọng, khiến thành quách này được nhân cách hoá thành vua An Dương là địa hình khu vực Cổ Loa nói chung: Đó là một khu vực lồi lõm, bao quanh là sông nước, nằm gần như sát mé biển, [12] với nhiều gò, doi đất cao xen giữa là những đầm lầy, những bãi bồi – một kaccha như người Ấn gọi. Và kachapa trong tiếng Ấn là con rùa! Thành Cổ Loa hẳn phải hiện bày như thể đang lập lờ giữa bùn lầy, sông nước vào thời đó, và trong một cảm nhận, liên tưởng nhất định với hoàn cảnh người Việt, của một tâm trí mà khung tư tưởng là kinh truyện, nó trở thành con rùa đầy khả năng tự che chở nhưng - như trong các truyện Tiền thân đã nêu - ỷ lại hoặc không biết vận dụng đúng chỗ khả năng này của mình và/hoặc - như con rùa của một truyện Tiền thân khác nữa! [13] - quyến luyến chỗ ở của mình không chịu từ bỏ khi cần, nên gặp tai hoạ lớn. Tất cả có thể không có gì xa hơn một sự chạnh lòng và nỗi cám cảnh con dân Lạc Việt đang (có nguy cơ?) bị thống trị, sửa đổi tập tục, tín ngưỡng v.v. Nhưng sự trùng hợp không dừng lại ở đây. Khi liên tưởng từ địa hình kaccha của vùng Cổ Loa đến hình thù kachapa của thành quách xưa, tác giả có thể đang ngồi, hay đứng, ngắm nhìn toàn cảnh khu vực này từ trên cao, ngắm nhìn theo hướng nam, vì vùng này thấp dần từ bắc xuống nam. Phía sau lưng ông, theo đó, là phương bắc. Người Hán thì từ phương bắc, và dĩ nhiên, trong thời tác giả, họ là giặc dữ. Thần Kim Qui đã phải nói với vua An Dương một câu có thể được hiểu như nói lên ý này, “Giặc ở sau lưng nhà vua đó!” Sau lưng tác giả, bên phía “đất địch”, thì có Tượng quận – hay cũng là Quận Tượng nếu “đất ta” được tác giả hiểu như một phần khác của khu vực này. Như một vùng mà nhà Tần (246-206 tr.t.l.) xem như thuộc về Trung Hoa, Quận Tượng gồm cả đồng bằng Bắc và Bắc Trung bộ dù không có lí do để nghĩ chính quyền Tần bấy giờ biết rõ hay có ảnh hưởng gì ở đây. Theo sự phân định của nhà Hán từ năm 76 tr.t.l. trở đi, Tượng quận, như một quận của họ, chỉ là vùng tây Quảng Tây và nam Quí Châu ngày nay. [14] Nhưng không có gì lạ nếu những vùng không thuộc quận Tượng này vẫn tiếp tục được người bản địa xem như một phần Quận Tượng xưa của họ. Dẫu thế nào thì Quận Tượng cũng đang ở trong tay giặc - trong huyền thoại Ấn Độ lẫn ngoài đời thật. Quận Tượng từng bị Triệu Đà con-người-thật đánh chiếm rồi thành lập nước Nam Việt. Triệu Đà-Dhuryodhana thì chiếm đoạt Hastinapura, thủ đô và vương quốc mà quyền chủ tể thuộc về kẻ chiến thắng trong cuộc đại chiến của huyền thoại Ấn. Hastinapura, dịch sát nghĩa, là Thành phố Voi! 9. Thế nên truyện vua Phán mất nước hầu như không thể không có. Sự thật trước mắt, thành ~Poñ nửa chìm nửa nổi bên sông nước và đang trong tình trạng bị chiếm đóng (hay uy hiếp?), đang như con rùa lâm nạn trong các truyện Tiền thân, trở thành nước Kalinga hay một Kuru-không-biết-giữ-5-Giới cũng của truyện Tiền thân, khi ý tưởng về Tượng quận dẫn đến cuộc đại chiến của thần thoại có liên quan đến Hastinapura. Dụng tâm tạo dựng một câu chuyện giáo huấn theo tinh thần Pañcatantra có thể đã bắt đầu từ đây. Khi người xưa đồng nhất đất nước với vua, hình tượng vua Phán bại trận với “thần hồn” là thần Rùa hộ trì đất nước hình thành, rồi được liên hệ với Arjuna của huyền thoại Ấn. Bằng sự chuyển dịch, cải biên, đảo lộn, biến đổi truyện tích của thần thoại Ấn và bên cạnh đó, hay theo ý hướng có từ, chất liệu truyện Tiền thân, tác giả vẽ ra cái nghịch cảnh nước mất nhà tan do con dân Lạc Việt - với vua thể hiện qua hình tượng An Dương Thục Phán - dù đầy khả năng nhưng ỷ lại hoặc thiếu phòng bị, không biết mình có “giặc ở sau lưng …”, hay “giặc ở bên mình” chẳng khác Mị Châu có Trọng Thủy. Nhưng đây chỉ là mặt nổi của thông điệp. Sâu xa hơn, mặc dù đang trong nguy biến, đang bị đè nặng vì áp lực nhưng con dân Việt sẽ không chìm đắm, đánh mất chính mình, mà như Cổ Loa sẽ sừng sững trên vùng bùn lầy sông nước, nếu họ còn biết liên hệ mình với đất nước như ngọc châu được đem rửa trong nước giếng Cổ Loa, và nếu biết “gìn giữ huệ mạng”, tượng trưng với “sừng tê văn dài 7 tấc”, linh vật nhờ đó vua An Dương có thể “xuống nước mà đi”, “nước cũng vì ngài mà rẽ ra”. Hình ảnh sừng tê dường như được dùng đến không hơn một lần trong Mahābharatā, chỉ để nói đến việc một nhân vật bị tên cắm vào trán (Mahābharatā 8.15)! Trong Kalpasutra của đạo Kì-na, hình ảnh này cũng có, nhưng lại chỉ là một trong rất nhiều hình ảnh đưa ra đế mô tả cuộc đời khổ hạnh của vị giáo chủ. Chỉ trong đạo Phật, hình tượng này mới được trình bày với thi tính và ý nghĩa triết lí dàn trải trong cả một bản kinh, kinh Tê Ngưu (?). [15] Ở đây sừng tê giác được dùng để nói lên cái hùng tráng, siêu tuyệt của con người tự lực tự cường, đơn độc trên đường tìm cầu Giác ngộ, không như đám đông, không để mình lôi kéo theo thường tình của đám đông v.v. Như để người khác không lầm lẫn, tác giả cho sừng tê dài “7 tấc”, để tạo ra một liên tưởng. Rất li kì với tâm trí ngày nay, một lần nữa, nhưng sừng tê, như tượng trưng cho “Pháp bảo” v.v. trong đạo Phật, khi ghép (!) với số 7 (bỏ “tấc”!), thì có được “7 Yếu tố đưa đến Giác ngộ” (S. saptabodhyangāni; phân tích/phân biệt đúng sai, chánh niệm, không câu chấp v.v.), rồi 7 yếu tố này lại là một trong “7 Chiếc Cánh Giác Ngộ”. Đó là những cốt tuỷ của đạo Phật, quen thuộc trong mọi truyền thống, là “huệ mạng”. Không thể nói là đổ oan cho tác giả, vì ông đã từng dùng chất liệu của 3 truyện tích Phật giáo, ở một chỗ có ý nghĩa đặc biệt của truyện Thục Phán. Nhưng như thế thì dễ hiểu là sừng tê 7 tấc có khả năng chắp cánh cho thành Cổ Loa/vua An Dương, khiến ở bùn, nước mà vẫn nổi như thuyền, không chìm! Hiển nhiên đây là một manh mối nữa để nói ~Thục có liên hệ ngữ nghĩa (và ngữ âm) với những từ tiền Việt-Mường đã kể, trong dàn dựng của tác giả nhằm giải thích hiện trạng và nhắc nhở, nuôi dưỡng ý thức về đất nước. Truyện có thể dựng trong một vài chớp mắt nếu một dụng tâm như thế không có. Và rõ ràng tác giả đã thành công lớn. Ngoài ảnh hưởng sâu rộng, lâu dài nơi người Lạc Việt ở Bắc và bắc Trung bộ, có thể nghĩ truyện vua An Dương Thục Phán cũng góp phần khiến những cộng đồng người nơi khác tiếp tục tưởng tiếc lãnh thổ xưa của họ, những trường hợp Quận Tượng trước khi bị sát nhập vào Nam Việt rồi sau đó bị người Hán xoá tên. Và nếu nó hình thành trước thời hai Bà khởi nghĩa, có thể hiểu vì sao công cuộc này được hưởng ứng đồng loạt ngay ở những vùng xa xôi bên phía “đất địch”. Tháng 5/2006 © 2006 talawas [1]Xem Nguyễn K. (2003), “Giêsu, Bụt Do Thái? ..”, Tm. 7, phần đầu, để có một trình bày cụ thể về các kĩ thuật mà một số giống hệt như kĩ thuật được đề cập ở đây. [2] “Bắn một phát 10 mũi tên” lấy từ Đại Việt sử lược, Nguyễn Gia Tường dịch, Tp. Hồ Chí Minh 1993, tr. 4. Lĩnh Nam chích quái và Toàn thư, đd., không có chi tiết này. Đây là một trong nhiều dấu chỉ của nỗ lực tìm kiếm nhân tố lịch sử của truyền thuyết. Nói chung cả ba tác phẩm này vì thế mà bỏ đi những chi tiết như thành Cổ Loa 9 dặm 9 vòng v.v. [3]Quan hệ An Dương và Cao Lỗ như nói trên không đúng lắm với trình bày trong sách Việt xưa. Mặt khác các trình bày này chịu ảnh hưởng quan niệm vua tôi của khổng giáo. [4]Trần Quốc Vượng 1969, như được dẫn trong ???, Thành Cổ Loa thời Âu Lạc. [5]Cổ Loa như tên do người Hán đặt ra, là vấn đề được nhắc lại rõ ràng trong Trần Trí Dõi 2005, đd. [6]Cả bản Pali lẫn phiên bản pañcatantra (và phiên bản Hi Lạp, Pháp v.v.) có thể xem trong thu tập của Gs. D.L. Ashliman. Bản dịch Việt của bản Pali là “215.Truyện Con Rùa”, Kinh Tiểu Bộ - Tập V - Khuddaka Nikàya, Ht Thích Minh Châu và Gs Trần Phương Lan dịch, Phẩm Biranatthambahaka. [7]Truyện này được nhắc đây đó trong kinh sách sơ thời vì người sát sanh là một tu sĩ, nhưng nhìn chung người đạo Phật xưa biết nó trước và trên hết qua một truyện Tiền thân được đề cập ở đây. Bản dịch tiếng Anh, xem No. 276. Kurudhamma Jātaka, trong The Jataka Volume II, W.H.D. Rouse dịch, E. B. Cowell biên tập (1895). [8]Nguyễn K. 2003, như ct. 22. [9]Không có niềm tin Ấn giáo, niềm tin vào “công thức văn tự” này có thể càng làm tác giả gia tăng sự nghi ngờ về Mahābharatā như chỉ là một sáng tạo văn học không có mấy thực chất, do không ít tên tuổi, tình tiết trong truyện tích này có thể thấy như do vận dụng các “công thức” này mà có. Ghi nhận thêm rằng trong tác phẩm này cũng có vô số mô thức số 5 (5 anh em pandava v.v.), nhiều cái tạo ấn tượng là tình tiết trong đó bị gò ép hoặc tạo dựng chỉ để nói lên sự thiêng liêng của con số này. Mặt khác, điều dường như chưa ai lưu ý, sự có mặt thường xuyên của mô thức số này góp phần cho thấy tính cách cổ sơ của một số sự tích trong tác phẩm, đó là nhiều thế kỉ trước khi Mahābharatā được công nhận như thành hình vào khoảng. thế kỉ 4, 5 tr.t.l. [10]Như các trường hợp đề cập đến “truyện kể dân gian” về Thục Phán trong bài, ở đây các chi tiết này cũng được lấy từ Nguyễn Từ Chi và Trần Quốc Vượng, đd. [11]Cũng hợp lí, dĩ nhiên, nếu Thục Phán không là Cổ Loa nhân cách hoá mà thuần túy là một cái tên không thực chất, có từ Pandava –tức là không có giả định ~Phán có từ Poñ. Nhưng khả năng Thục Phán như Cổ Loa nhân cách hoá được nhiều dữ kiện hỗ trợ và, như người đọc có thể nhận ra trong bài này , vẫn đứng vững ngay cả khi tên gốc của thành Cổ Loa không phải là Poñ. [12]Khoảng. 2.000 năm trước, biển phải lấn sâu vào khu vực này do mực nước biển cao hơn bây giờ ít nhất là 1m. [13]Thích Minh Châu và Trần Phương Lan, đd., Phẩm Thiện Pháp, “178. Chuyện Con Rùa”. Bản Anh dịch: No. 178 Kachapa Jakata [14]Ghi chú của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam trong bản dịch Toàn thư, đd., chú thích 31. [15]Để có những thông tin về giá trị lịch sử và nội dung kinh này, có thể dựa vào các link dẫn trong bài Rhinoceros-sutra. Ngoài nghi ngờ trên, cuộc chiến tranh với nhà Tần cũng có thể Phượng Thành bị phá hủy. Sau khi hết chiến tranh một phần đất Văn Lang không thu hồi được giống như thời vua Hùng Vương VI, điều này dẫn đến Triệu Đà là quan của nhà Tần ở vùng lãnh địa này, hợp dòng chảy lịch sử.
-
Các vấn liên quan đến vua Hạ Vụ tại Đồ Sơn Hải Phòng: - Phối hợp trị thủy hoặc/ và - Học hỏi trị thủy hoặc/ và - Cưới vợ người Việt... - Bang giao chốn quê hương vua Thần Nông. Khả năng phối hợp trị thủy là khó khăn do sự ngăn cách bởi con sông lớn hùng vĩ Dương Tử. Học hỏi trị thủy là khả năng xảy ra do cư dân Văn Lang có truyền thống nông nghiệp lâu đời. Nếu do lấy vợ Việt mà huy động chư hầu là khó khăn vì đức tính của vua Hạ Vũ ghi nhận rõ trong Kinh Thư, như vậy khả năng Hạ Vũ quen biết cô gái Đồ Sơn qua hội nghị này. Bang giao với chốn quê hương xác xuất nhỏ vì rõ ràng trước đó phải ghi nhận ít nhất một lần nữa. Truyền thuyết hóa gấu: gấu cũng còn được gọi là Hùng. Đền thờ vua Vũ tại Bắc Việt Nam vẫn có nhưng không phổ biến. Vậy thì cách giải thích là vua Vũ hội tụ chư hầu đi học học phương pháp trị thủy của Văn Lang, được vua Hùng Hoa Vương tổ chức tại Đồ Sơn, trong khoảng thời gian này vua Vũ quen biết và lấy vợ Việt. Từ việc này, chứng tỏ kinh đô Văn Lang không ở bất kỳ Bộ nào của Văn Lang mà chính tại Phong Châu - Phượng Thành, đây là lý do vua An Dương Vương thay ngôi Hùng Duệ Vương cũng lấy đây làm kinh đô. Sau này, nhà Triệu đóng đô ở Phiên Ngung nên có sự nghi ngờ Phượng Thành bị phá hủy là do Triệu Đà. Vậy thì trong truyền thuyết và huyền thoại nào khác có liên quan đến vua Đại Vũ không? - Tôi nghi ngờ là câu chuyện Tấm Cám. Long Môn sẽ luận giải sau.
-
Hang đá Long Môn (tiếng Trung: 龍門石窟) hay Long Môn động, phiên âm Hán-Việt Long Môn thạch quật tọa lạc cách thành phố Lạc Dương 12 km về phía nam, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Các hang động này, chủ yếu mô tả các chủ đề về Phật giáo, được chạm khắc rải rác dọc theo hai núi Xiangshan (về phía đông) và Long Môn sơn (về phía tây). Sông Y Hà chảy theo hướng bắc giữa chúng. Vì lý do này, khu vực này thường được gọi là Y Khuyết (Cổng của sông Y). Từ phía bắc đến phía nam, khoảng cách có hang đá là 1 km. Cùng với hang Mạc Cao và Hang đá Vân Cương, hang đá Long Môn là một trong 3 địa điểm điêu khắc cổ đại nổi tiếng nhất ở Trung Quốc. Long Môn (chữ Hán giản thể: 龙门县, âm Hán Việt: Long Môn huyện) là một huyện thuộc địa cấp thị Huệ Châu, tỉnh Quảng Đông, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Long Môn nằm ở trung bộ Quảng Đông, có diện tích 2058 kilômét vuông, dân số năm 2002 là 320.000 người. Chính quyền huyện Long Môn đóng ở nhai đạo Long Thành. Đến thời điểm 1/7/2005, huyện Long Môn được chia thành các đơn vị hành chính gồm 1 nhai đạo Long Môn; 10 trấn: Long Điền, Bình Lăng, Long Giang, Lộ Khê, Ma Trá, Sa Kính, Vĩnh Hán, Long Đàm, Địa Phái; 1 hương dân tộc dao Lam Điền. Dãy núi Long Môn (tiếng Trung: 龙门山, Hán-Việt: Long Môn sơn) là một dãy núi chủ yếu nằm tại khu vực phía bắc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc. Nó cũng là khu vực có phong cảnh đẹp có tiếng. Dãy núi Long Môn là ranh giới phía tây bắc của bồn địa Tứ Xuyên, chạy theo hướng đông bắc-tây nam. Phía đông bắc nó bắt nguồn từ huyện Thanh Xuyên, địa cấp thị Quảng Nguyên, trong khu vực là ranh giới giữa hai tỉnh Tứ Xuyên và Thiểm Tây, phía tây nam chạy tới khu vực nằm trong huyện Lô Định thuộc châu tự trị dân tộc Tạng Cam Tư ven sông Mân Giang, tổng cộng dài khoảng 500 km, bề ngang ước đạt 30-70 km, độ cao trung bình 1.000-1.500 m, chạy qua các địa cấp thị như Quảng Nguyên, Miên Dương, thành phố Thành Đô cùng châu tự trị dân tộc Tạng-Khương A Bá. Nó là đường phân giới giữa bồn địa Tứ Xuyên với cao nguyên Xuyên Tây. Ngọn núi cao nhất trong dãy núi này là Cửu Đính sơn, với độ cao 4.984 m trên mực nước biển, nằm trong địa phận thị xã Bành Châu. Dãy núi Long Môn trước đây còn gọi là “Trà Bình sơn” hay “Tiên sơn”, theo truyền thuyết là quê hương của Đại Vũ. Trong dãy núi này có Ngân Hán câu cùng vô số điểm có cảnh quan đẹp, với các loài động thực vật quý hiếm như củng đồng (Davidia involucrata), thủy sam (Metasequoia glyptostroboides), ngân hạnh (Ginkgo biloba), gấu trúc lớn (Ailuropoda melanoleuca), gấu trúc nhỏ (Ailurus fulgens). Trong khu vực dãy núi Long Môn người ta đã thành lập Khu bảo hộ tự nhiên cấp quốc gia Bạch Thủy Hà, Khu cảnh quan cấp quốc gia Long Môn Sơn, Công viên địa chất Long Môn Sơn (chủ yếu ở khu vực thuộc Bành Châu) và Vườn rừng rậm cấp quốc gia Bạch Lộc, đều là các khu bảo hộ tự nhiên. Ngày 12 tháng 5 năm 2008, tại khu vực dãy núi Long Môn đã xảy ra động đất Vấn Xuyên năm 2008 với tổn thất nặng nề. Các vấn liên quan đến vua Hạ Vụ tại Đồ Sơn Hải Phòng: - Phối hợp trị thủy hoặc/ và - Học hỏi trị thủy hoặc/ và - Cưới vợ người Việt... - Bang giao chốn quê hương vua Thần Nông.
-
8.Hùng triều thứ : 8- Hùng Việt NhậtNguyêt52 Vua khai sáng :– Tuấn Lang Danh hiệu khác trong Việt sử : Tản Viên, Sơn tinh, Tản Viên sơn thánh quốc chúa đại vương, Nguyễn Tuấn. Danh hiệu khác trong Hoa sử : Đại vũ, Hạ vũ Niên đại : 2200 trước CN Truyền thuyết về Sơn Tinh thì nhiều vô vàn, nhưng rõ nhất là truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh, tổng kết ta có thông tin: Sơn Tinh là người đã chiến thắng Thủy Tinh, ý nói đã thành công trong việc trấn áp cơn hồng thủy khủng khiếp, tái tạo lại quốc gia, được Hùng Vương gả con gái và truyền ngôi, Sơn Tinh Tản Viên lên ngôi vẫn giữ hiệu là Hùng Vương, đối chiếu với sử liệu Trung Hoa ta nhận ra Sơn Tinh và Hạ Vũ chỉ là 1 nhân vật , cũng trị thủy gian lao vất vả, cũng tận tâm tận lực đến 3 lần đi qua nhà nghe tiếng con khóc mà không có thời giờ bước vào nhà. Ngày nay, Sơn Tinh vẫn được dân chúng chung quanh núi Ba Vì thờ với tên hiệu đầy đủ là: Tản Viên Sơn Thánh Quốc Chúa Đại Vương. Trong dân gian, Sơn Tinh còn có rất nhiều tên khác: Sơn Tinh – Tản Viên – Cao Sơn – Quí Minh – Nguyễn Tuấn V. v… với các ‘thần tích’ khác nhau đôi chút. Danh hiệu Tản Viên là rõ nhất về ý nghĩa nối dòng Hùng, dòng Tản Viên tiếp nối dòng Hiên Viên, hay Hiền Vương chuyển tiếp sang Tuấn Vương như thế rất rõ ràng trong việc liên tục quốc thống Họ Hùng : Đế Minh → Đế Nghi → Đế Lai → dòng Tản Viên – Hạ Vũ . Nguyễn Hồng Sinh công bố trong “Kinh Dịch Huyền diệu và Ứng nghiệm” một thông tin cũng rất hay: Kinh Dương Vương ở đây là Hùng Lạc Lâm lang được tôn là ‘Nam Triều Thánh Tổ Ngọc Hoàng Thượng Đế’ và vợ được tôn là ‘Đệ Nhị Thượng Ngàn Thánh Mẫu’. Hùng Vũ Vương – Hiên Viên được tôn là “Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng Đế’ Hùng Việt Vương – Tản Viên được tôn là “Tản viên sơn thánh quốc chúa đại vương” là sự tiếp nối hợp lẽ dòng Hùng. Truyền thuyết Sơn tinh Thuỷ tinh viết :...nước càng dâng lên thì núi càng vượt cao hơn nữa...ta chợt hiểu về ý nghĩa chữ Việt trong danh hiệu Hùng Việt , Việt là ký âm của từ Vượt của Việt ngữ , Vượt lũ ...đợt biển tiến Holosen , một thảm họa khủng khiếp mà cha ông ta đã kiên cường vượt qua sau cùng đã chiến thắng tai trời ách nước tất cả những thông tin về thời bi tráng ấy được cô lắng vào 1 nhân vật đó là Hùng Việt – Tuấn lang; từ Tuấn là ký âm bằng chữ Nho sai làm mất ý nghĩa chữ Tản trong Tản viên, Tản là tán đồng âm với Tốn là 1 quẻ của bát quái nghĩa là gió Hoa ngữ là phong chỉ phương tây đối lập với phương động - quẻ Chấn , Tản viên hay Tản vương đồng nghĩa với Tốn lang (không phải Tuấn) nghĩa là vương của đất Phong hay tây vương , Truyền thuyết Việt nói vua Hùng đóng đô ở Phong châu chính là chữ Phong này, đất Phong hay phong kinh của nhà Chu khi mới dựng nước cũng cùng một nghĩa , 2000 năm sau nhà Đường lập Phong châu đô hộ phủ cũng chính là chữ phong này. Chính nghĩa Ngô Việt xuân thu nói: "Vũ đi khắp thiên hạ, trở về ĐẠI VIỆT, lên núi Mao để họp quần thần bốn phương, phong người có công, phong tước người có đức, chết rồi táng ở đây. Vũ là vua Hạ vũ , 2 chữ ‘Đại Việt’ ở đây đã khẳng định sự liên quan giữa danh hiệu Hạ vũ và Hùng Việt vương- Tuấn lang ,núi Mao thực ra là Mưu , mưu-mẹo chỉ phương tây như đã xác định trong bài ‘thập nhị địa chi Việt’ cũng chính là núi Tản , tản biến âm của Tốn , quẻ Tốn là phong –gió trấn hướng tây trong Tiên thiên bát quái .(nhìn trong không gian 3 chiều) Tóm lại Tốn lang là vương của đất Phong tức đất phía tây của quốc gia tương tự như : Viêm lang là vương phương bức (bắc). Lâm lang là vương phương nam hay cõi Nam giao. Sau cùng kế nghiệp Tốn lang là Lung lang hay Linh lang nghĩa là vương phương đông hay động mà ta sẽ kể đến ở chương sau ; như thế đất nước đã trọn đủ 4 cõi. Kinh Dương Vương có nghĩa là vua hay Chúa phương Nam hay phương Nước ngược với Viêm phương (phương Dịch Lý) nên trong lịch sử có nhiều Kinh dương vương như Lâm lang, Tuấn lang.v.v. trong truyền thuyết Đạo Giáo Trung Hoa do không hiểu chữ ‘Hùng’ nghĩa là gì nên thời gian tiếp nối người ta “bịa” ra điều rất ngộ nghĩnh … sự kiện ông Vũ được truyền ngôi và trở thành Hùng Vương … biến ra : ông Vũ hoá thành con gấu … theo Hán ngữ ‘Hùng’ là con gấu; vợ của ông Vũ sợ quá chết hóa ra hòn đá núi, chữ đá núi này chắc chắn có “gốc” là chữ “Đồ Sơn”, tên vợ ông Vũ là “Đồ Sơn Thị”. ‘Đồ’ là biến âm của từ đá, sơn là núi, qua 5, 7 lần dịch và sao chép …. từ Đồ Sơn biến ra ‘Đá núi’ thì cũng không lạ lắm. Vua Vũ đã có lần hội chư hầu ở Côi kê..., hầu hết các sách sử đều chép như thế chỉ riêng có ông Trần trọng Kim trong Việt nam sử lược viết vua Vũ hội chư hầu ở Đồ sơn ; xét kỹ ta thấy ông Trần trọng Kim đúng vì lúc vua Vũ hội chư hầu làm gì đã có đất Cối kê, cả hai ba trăm năm sau khi vua Vũ chết thì Thành vương thời nhà Hạ trung hưng mới phong cho con thứ đất ấy làm chốn riêng thờ vua tổ , sử còn chép rõ..: vua tôi cắt tóc ngắn , xâm mình lội nước lao động cật lực khai phá đất mới...., vì là đất dành riêng thờ vua Vũ hay Hùng Việt nên sau này lập quốc vẫn gọi là nước Việt. Khi hình thành nên tộc Kinh-Lạc dòng máu người họ HÙNG đã là sự hòa huyết của 3 thị tộc gốc: người dòng CẢ của phương bắc, người CỬU_LÊ của phương tây, người MUN hay MIÊU của phương nước hay nam xưa tức phương bắc ngày nay. Truyền thuyết Việt nói : KINH DƯƠNG VƯƠNG kết hôn cùng LONG NỮ con ĐỘNG ĐÌNH QUÂN; thế là người họ Hùng đã đi hết đoạn đường mà tạo hóa sắp đặt để hòa thêm dòng máu thứ 4 vào huyết thống của mình dòng máu của LONG tộc ở phương ĐÔNG, diễn biến này được Truyền thuyết lịch sử Trung hoa viết :Vua ĐẠI VŨ lấy vợ là ĐỒ SƠN THỊ, Đồ sơn thị là người con gái ở ĐỒ_SƠN ; phải chăng là bãi biển Đồ sơn ở Hải phòng bắc Việt hiện nay ? cổ thư trung hoa có nói đến việc họ KINH XUYÊN và ĐỘNG ĐÌNH đời đời là thông gia.. Hùng Việt Vương – Tuấn Lang vẫn giữ quốc hiệu là Nam bang hay Lạc quốc . Ta nên chú ý về những từ đồng âm dị nghĩa nếu không sẽ không thể hiểu khi đọc lịch sử Trung Hoa vì trong cổ sử chứa rất nhiều Dịch tượng . Thí dụ: cũng là từ Mun hay Man, khi dùng chỉ người Mông Cổ hay Mãn thì có nghĩa là người phương Nam (phương của Dịch Lý), vì phương Nam trong Ngũ Sắc là phương màu Đen là Huyền Thiên. Còn khi dùng để chỉ định sự vật theo màu sắc thật, thì ý nghĩa khác hẳn như gọi người Khmer là người Miên, người Miến Điện là Môn ý nói họ có màu da đen. Mun → Môn → Miên. Núi thờ Tản Viên Sơn thánh là Núi Ba Vì, truyền tích của Việt Nam theo các tư liệu dân gian mới tìm được thì vua Hùng có 3 người con: Nguyễn Nghi Nhân, Nguyễn Minh Khiết và Nguyễn Long Cảnh. Trong bối cảnh cổ sử đó nhiều người cho là: Nguyễn Nghi Nhân là đế Nghi, Nguyễn Minh Khiết là đế Minh như thế thì không ổn, gây ra sự lộn xộn rối rắm vô cùng, Nguyễn Minh Khiết là vua Hùng lại trở thành con vua Hùng …, đế Nghi là con cả vua Hùng lại trở thành anh em sinh đôi của đế Minh tức vua Hùng ...thực không hiểu nổi. Ta có thể hiểu theo cách nhìn mới hợp lý hơn: Nghi Nhân, Minh Khiết, Long Cảnh là 3 cộng động người đã tái lập quốc gia họ Hùng sau cơn hồng thủy Holocene, 2.000 năm trước Công Nguyên. Nghi Nhân là cộng đồng người Lửa là con cháu đế Nghi, Hùng Hy Vương ở An Ấp do ông Cao Giao lãnh đạo. Minh Khiết là cộng đồng người Kinh ở Lạc Ấp, do ông Vũ hay Sơn Tinh (cũng có tên là Cao Sơn, Quí Minh Lãnh đạo). Long Cảnh là cộng đồng người ở nơi sau này là Lương Ấp, là con cháu của Long Nữ – Đồ Sơn Thị là vợ ông Vũ hay Tản Viên. Như thế trong cơn nguy nan do giặc nước gây ra, 3 cộng đồng đã đồng sinh đồng tử vượt thắng thiên tai và Tản Viên được thờ cùng với 2 thủ lãnh dân đất Đào và dân Lương Ấp thành ta có Núi Ba Vì. Dân tộc Việt tồn tại tới tận ngày nay, vẫn gọi tổ quốc mình là “Nước” và nhận định mình là người “Kinh” đủ thấy ấn tượng thời Hùng Việt Vương in đậm trong tâm thức con người đến chừng nào trên 4.000 năm qua bao cơn quốc nạn, sử sách bị tiêu hủy, bị tráo đổi nhưng “bia miệng vẫn còn trơ trơ”. bất chấp sự tàn độc và muôn vàn mưu ma chước qủy ta vẫn là ta thuở nào. Cổ sử Trung Hoa rất coi trọng ông Hạ Vũ thực ra không có ông Hạ Vũ, Hạ Vũ nghĩa là Vua Hạ Khi về già muốn truyền ngôi cho ông Cao giao nhưng ông đã chết trước, điều này cho thấy Hạ Vũ nhận vương quyền từ họ Cơ, họ của Hoàng Đế, nay muốn trao lại cho chính họ Cơ nhưng Cao Giao đã chết, nên ông Vũ muốn truyền ngôi lại cho ông Ích là con ông Cao Giao nối tiếp dòng Hùng Vũ (ông Vũ là con rể) theo đúng quan niệm đạo đức truyền thống. Nhưng sự việc đã diễn biến khác để sau đó có triều Hùng Hoa Vương kế tiếp. Trong việc trị thủy của Hạ Vũ, cổ thư Trung Hoa có nói đến một điển hình “khai sơn phá thạch” đó là ông đã đục bạt cả một phần ngọn núi tên là Long Môn Sơn để khai thông dòng nước chảy ra biển. Hán Thư cũng có đoạn ngắn nhắc đến việc trị thủy: “Ở Giao Chỉ trước Công Nguyên, người Giao Chỉ đã đắp đê ngăn không cho nước sông Long Môn tràn bờ gây lụt lội…” Để chỉ định chính xác Long Môn xưa, nay là con sông nào thì các nhà khoa học còn phải mất nhiều công sức, ở đây ta chỉ có thể liên kết 2 sự kiện: Núi Long Môn chắn dòng sông Long Môn là nơi Hạ Vũ đã “khai sơn phá thạch” khiến thông dòng nước chấm dứt cơn hồng thủy để ức đoán chính là vùng sông Đà núi Tản nơi có đền thờ Sơn tinh quốc chúa, với công trạng như thế đương nhiên ông Vũ trở thành thủ lĩnh của tổ quốc thời phục hưng, sử chép là ông được vua Hùng gả con gái và truyền ngôi , đô ấp của ngài là Khang địch , chữ địch là biến âm của chữ đoạt tên khác của quẻ Đoài cũng dùng chỉ phương tây trong hậu thiên bát quái , Khang hay khăng là phía tây theo Hà thư như vậy đô ấp Khang đoạt đồng nghĩa là Tây đô. Hùng Việt-Tuấn lang đã theo lệnh đế Thuấn tiến đánh Tam miêu nhưng không thành công, sau vua không đánh nữa mà lo mở mang “văn đức” để giáo hoá thiên hạ, chúa Tam miêu đã đến chầu nghĩa là thần phục như xưa. Thời Hùng Việt Vương, Hạ Vũ đã gây ấn tượng rất sâu sắc trong lòng người Việt không bao giờ phai mờ và người Việt coi ông là tổ trực tiếp của quốc gia – dòng giống mình, trong dòng chảy liên tục của lịch sử, triều Hùng Việt Vương – hay Tản Viên Quốc Chúa cũng là thời điểm đặc biệt: là bản lề giữa ngàn năm lập quốc, thời đúc kết các dòng tộc thành một dân tộc thống nhất để sau đó chuyển mình trở thành 1 vương quốc. Về mặt lịch sử cũng chấm dứt thời sơ sử đề bắt đầu thời lịch sử. Dấu tích thời Hùng Việt -Tuấn lang lưu lại trong lòng đất đã được khảo cổ học Việt nam khám phá - khai quật và đặt tên là nền văn hoá Phùng nguyên, tuy còn đang tiếp tục nghiên cứu nhưng sơ bộ xác định các hiện vật thu được có nhiều nét tương đồng với các hiên vật cùng niên đại thuộc về nền văn minh tạm gọi là của người Tày cổ phân bố rộng từ núi rừng bắc Việt nam tới tận bờ Châu giang như vậy là hoàn toàn trùng khớp với đất Nam giao...(chỉ )thời Đường- Nghiêu Mở nước về phương nam xưa.
-
4. Chi Chấn: Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, không rõ năm sinh, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 tr. TL), không rõ truyền được mấy đời vua đều xưng là Hùng Hoa Vương, ở ngôi tất cả 342 năm, từ năm Đinh Hợi (2254 tr. TL) đến năm Mậu Thìn (1913 tr. TL). Ngang với Trung Quốc vào thời Đế Quýnh nhà Hạ. Wiki: Hạ Vũ (chữ Hán: 禹; 2205 TCN – 2198 TCN[1]) là vị vua đầu tiên của nhà Hạ trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người đầu tiên xác lập chế độ cha truyền con nối. Tên khi sinh của ông là Tỉ Văn Mệnh (chữ Hán: 姒文命), thường được gọi là Đại Vũ (大禹). Như vậy Hùng Hoa Vương và Hạ Vũ cùng thời, do hai người là khác nhau cho nên khả năng công tác trị thủy là phối phợp giữa Hoa Nam và Hoa Bắc, đây là lý do lại sao có cuộc hội ngộ chư hầu tại Đồ Sơn - Hải Phòng.
-
Lịch sử gia kém thật. Trống đồng: thế kỷ VII - II TCN, chưa thử C14. Chưa tìm dữ liệu vùng Hoa Nam như Quảng Châu, Hồ Nam... Chưa đi thực tế Hoa Nam và thu thập tài liệu thực tế... như tác giả Trần Đại Sĩ. Có vua An Dương Vương, Triệu Đà thì lịch sử trước đó??? Có dữ liệu ngoại giao Nghiêu, Thuấn, Hạ... với Văn Lang mà chưa logic được vấn đề. Chưa xem lại truyền thuyết và huyền thoại Trung Hoa. Nếu chấp nhận Quảng Châu và Quảng Đông là thuộc Văn Lang cũ thì mối quan hệ lịch sử chưa được tập hợp... Mối quan hệ văn hóa chung giữa các quốc gia chưa được phân tích... Nói chung yếu ở mức độ LOGIC các vấn đề của lịch sử: Về sự thành lập nhà nước Văn Lang đời Hùng Vương, Việt sử Lược là bộ sử xưa nhất của nước ta còn lại đến nay chép rằng: “Đến thời Trang Vương nhà Chu (696-681 tr.CN), ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, hiệu là nước Văng Lang, phong tục thuần hậu chất phác, chính sự dùng lối kết nút. Truyền được 18 đời đều gọi là Hùng Vương. Dùng dữ liệu này thật là tầm phào ,quá kém.
-
Lý Ông Trọng Cuối đời Hùng Vương thứ XVIII có người tên Lý Thân, huyện Từ Liêm, đất Giao Chỉ. Khi đẻ ra rất to lớn, cao đến 2 trượng 3 thước, tính tình hung hãn, phạm tội giết người, tội ác đáng chết, Hùng Vương tiếc mà không nỡ giết đi. Đến thời vua An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng muốn đem quân sang đánh nước ta, An Dương Vương bèn đem Lý Thân tiến dâng cho nhà Tần. Thủy Hoàng mừng lắm, phong cho làm chức Tư Lệ Hiệu Úy. Khi Thủy Hoàng đã lấy được thiên hạ, sai Lý Thân đem quân giữ đất Lâm Thao, Hung Nô không dám xâm phạm cửa ải, Thủy Hoàng phong Lý làm Phụ Tín Hầu, cho trở về nước. Về sau, Hung Nô lại sang xâm phạm cửa ải, Thủy Hoàng nhớ tới Lý Thân bèn sai sứ người sang triệu về. Lý Thân không chịu đi, trốn vào rừng núi, vua Tần trách quở, An Dương Vương tìm mãi không được, nói dối là Lý đã chết vì bệnh tả. Tần sai sứ sang khám, An Dương Vương bèn nấu cháo đổ xuống đất để làm chứng cứ. Vua Tần đòi mang xác sang, Lý Thân bất đắc dĩ phải tự vẫn. An Dương Vương sai lấy thủy ngân bôi lên xác rồi đem nộp vua Tần. Thủy Hoàng rất thương tiếc, mới đúc tượng đồng, đặt hiệu là Ông Trọng, đem dựng ở ngoài cửa Tư Mã, đất Hàm Dương. Trong bụng tượng chứa mấy chục người để lay cho tượng cử động, Hung Nô trông thấy tưởng là quan Hiệu Úy còn sống, không dám đến gần cửa ải. Tới đời Đường, Triệu Xương sang làm quan Đô Hộ đất Giao Châu, đêm mộng thấy cùng Lý Thân giảng sách Xuân Thu, Tả Truyện, vì thế nên hỏi thăm nhà cũ, lập đền thờ để cúng. Đến lúc Cao Biền dẹp giặc Nam Chiếu, Lý hiển linh cứu trợ, Cao Biền bèn sửa sang lại đền miếu, tạc gỗ làm tượng, gọi là đền Lý Hiệu Úy, nay gần bên sông lớn, thuộc xã Bố Nhi (nay là xã Thụy Hương), huyện Từ Liêm, cách phía Tây thành Thăng Long khoảng 50 dặm. Mỗi năm giữa mùa xuân, đền đều có tổ chức tế lễ.
-
Hai câu đối xưa trên cổng đền Ngọc Sơn thật phù hợp với sự Khai sáng của Châu Âu, hay "khai dân trí" của cụ Phan Chu Trinh: Giúp người cái chính là mở đường cho người ta đi Cứu đời đường lối là làm tỏ lẽ đời cho người ta hiểu
-
Thần y Hoa Đà là người nước nào? Thần y Hoa Đà, theo trí tưởng tượng của người Trung Quốc (NLDO)- Hoa Đà qua đời cách nay gần 1.800 năm, mọi người đều ngưỡng mộ danh tiếng ông, cũng như không ai nghi ngờ ông không phải là người Trung Quốc. Nhưng các nhà khoa học trong và ngoài Trung Quốc hiện nay vẫn chưa thống nhất quan điểm: Thần y Hoa Đà có phải là người Trung Quốc? Danh tiếng thần y Hoa Đà (?-208) có thể nói là không ai không biết, đặc biệt giới y học cổ truyền phương Đông tôn xưng ông là Y tổ. Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung đã tái hiện một Hoa Đà y thuật siêu quần, tinh thông dưỡng sinh, cứu nhân độ thế không phân biệt ranh giới, đẳng cấp, như cứu thương cho Chu Thái (Đông Ngô), rạch xương lấy tên cho Quan Công (Tây Thục), chữa bệnh đau đầu cho Tào Tháo (Bắc Ngụy) nhưng sau đó bị Tháo nghi ngờ đem giam trong ngục mà chết, y thư Thanh nang cũng bị vợ đốt mất. Ngoài ra, trong những bộ chính sử như Hậu Hán thư, Tam Quốc chí cũng đều có ghi chép những câu chuyện về vị thần y này Hoa Đà và thần thoại Ấn Độ Thuyết của Trần Diễn Cách, giáo sư sử học ở Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc, cho rằng Hoa Đà là người Ấn Độ. Trong bài nghiên cứu “Truyện Hoa Đà, Tào Xung trong Tam Quốc chí với truyện cổ Phật giáo”, giáo sư Trần cho rằng những câu chuyện như Tào Xung cân voi, Hoa Đà trị bệnh, thậm chí cả “Trúc Lâm thất hiền” cũng đều mang bóng dáng của thần thoại Ấn Độ. Tam Quốc chí là do sử gia Trần Thọ vâng mệnh Tấn Vương viết, bút pháp nghiêm cẩn, cứ liệu chính xác, nhưng chắc chắn ông đã tiếp thu, chịu ảnh hưởng lớn của những câu chuyện Phật giáo Ấn Độ lưu truyền rộng rãi trong dân gian lúc bấy giờ. Sự tiếp thu này được ẩn rất kín đáo, không dễ phát hiện làm cho việc giám định thật giả trong cổ sử càng khó khăn. Giáo sư Trần Diễn Cách cho rằng chữ “Hoa Đà” trong tiếng Thiên Trúc (tức tiếng Phạn, Pali của Ấn Độ cổ) bắt nguồn từ chữ “Agada” có nghĩa là “dược”, Hán văn cổ thường dịch là “A Ca Đà” hoặc “A Kiệt Đà”. “A Ca Đà” lược bớt chữ “A”, đọc thành như “Hoa Đà”, cũng như “A La Hán” lược đi chữ “A” đọc thành “La Hán” vậy. Theo Tam Quốc chí của Trần Thọ thì Hoa Đà tự là Nguyên Hóa, vốn tên thật là “Phu” chứ không phải “Đà”. Giáo sư Trần cho rằng do dân gian đương thời đem Hoa Phu so sánh với danh y trong thần thoại Phật giáo, do đó mới gọi là “Hoa Đà” tức xem như “dược thần”. Ý của giáo sư Trần rất rõ ràng: “Hoa Đà” là do đọc trại từ “Agada”, lấy từ thần thoại Ấn Độ - vốn được lưu truyền rất mạnh vào thời Ngụy Tấn và đã được Trần Thọ đưa vào trong lịch sử Trung Quốc. Vả chăng, “Đà” làm tên riêng ở Trung Quốc rất ít thấy. Thuyết của giáo sư Trần được nhiều người ủng hộ. Giáo sư Lâm Mai Thôn trong bài viết “Ma phất tán” và nhân tố ngoại lai trong “phương thuật đời Hán” đã mở rộng thuyết của giáo sư Trần. Ông nói: “Agada” trong tiếng Phạn hàm nghĩa chỉ thuốc giải độc, thường chỉ thuốc viên. Theo sử liệu, Hoa Đà là người chế được “Ma phất tán” có công dụng như morphin, làm cho bệnh nhân mê đi để thực hiện phẫu thuật. “Ma phất tán” thực ra được các cao tăng Thiên Trúc bào chế, thành phần gồm hoa mạn đà la, xuyên khung, bạch chỉ, ô đầu... Giáo sư Lâm nói: “Cái tên “Hoa Đà” là lấy từ tiếng Phạn, y thuật mang đậm nhân tố Ấn Độ, tình lý rất rõ ràng. Chỉ cần cẩn thận suy xét về hoàn cảnh xã hội mà Hoa Đà hành y thì có thể thấy thuyết của giáo sư Trần không phải là phỏng đoán suông Trần Thọ trong Tam Quốc chí đã chép rất nhiều chuyện lạ về thần y Hoa Đà. Giáo sư Trần Diễn Cách cho rằng chuyện Hoa Đà trị bệnh cho Tào Tháo hoàn toàn là sao chép lại, chuyện mổ bụng cắt khối u trong bụng hay làm cho người bệnh mửa ra những con trùng màu đỏ... đều là chuyện sao chép vì đó thực ra là chuyện chữa bệnh của thần y Kỳ Vực bên Ấn Độ. Truyện Tam Quốc chí ghi rằng khi Hoa Đà trị bệnh mà phải dùng đến mổ xẻ thì dùng “Ma phất tán” cho uống để mê đi, sau đó mới mổ ra chữa, xong rồi may lại như cũ, 4-5 ngày thì bệnh khỏi, khoảng một tháng sau thì vết thương lành hẳn. Giáo sư Trần cho rằng câu chuyện trên hoàn toàn giống chuyện thần y Kỳ Vực chữa bệnh cho con trai trưởng lão Trị Cao Thiểm Di trong thần thoại Phật giáo. Trong chuyện Hoa Đà chữa bệnh cho thái thú Quảng Lăng là Trần Đăng, Hoa Đà cho Trần uống 2 thang thuốc, Trần nôn ra 3 thang trùng màu đỏ lúc nhúc... Chuyện này cũng lấy nguyên trong truyện cổ Phật giáo. Chuyện Hoa Đà chữa bệnh cho Tào Tháo cũng mô phỏng hệt như thần y Kỳ Bá chữa bệnh cho bạo quân. Hoa Đà Trung Quốc không phải thần y ? Theo giáo sư Trần, không chỉ trong Hoa Đà truyện của Tam Quốc chí là chuyện cổ Phật giáo mà những chuyện khác như Tào Xung cân voi cũng vậy. Ông cho rằng: “Voi lúc bây giờ không phải là loài thú phổ biến ở Trung Nguyên, tiếng gọi “Hoa Đà” cũng là từ âm Thiên Trúc Theo khảo cứu của nhiều nhà nghiên cứu, Hoa Đà sinh vào năm Vĩnh Gia nguyên niên đời Đông Hán (145), chết năm Kiến An thứ 13 (208), thọ 64 tuổi. Thuyết này không đáng tin vì trong Hậu Hán thư-Hoa Đà truyện ghi rằng: “Đã gần trăm tuổi mà dung mạo như tráng niên, người đương thời gọi là tiên”, có thể thấy Hoa Đà không chỉ sống 64 tuổi. Theo Tam Quốc chí, Hoa Đà “du học bốn phương, thông hiểu kinh sách, lại giỏi thuật dưỡng sinh, tuy đã trăm tuổi mà như tráng niên. Lại giỏi về phươ Theo khảo cứu của nhiều nhà nghiên cứu, Hoa Đà sinh vào năm Vĩnh Gia nguyên niên đời Đông Hán (145), chết năm Kiến An thứ 13 (208), thọ 64 tuổi. Thuyết này không đáng tin vì trong Hậu Hán thư-Hoa Đà truyện ghi rằng: “Đã gần trăm tuổi mà dung mạo như tráng niên, người đương thời gọi là tiên”, có thể thấy Hoa Đà không chỉ sống 64 tuổi. Theo Tam Quốc chí, Hoa Đà “du học bốn phương, thông hiểu kinh sách, lại giỏi thuật dưỡng sinh, tuy đã trăm tuổi mà như tráng niên. Lại giỏi về phương dược, thuốc hợp thành thang chỉ vài vị, châm cứu chỉ vài lần là bệnh khỏi”. Giáo sư Trần khẳng định, người gọi là Hoa Đà có thể là người từng tồn tại vào đời Đông Hán, cũng có thể là người huyện Tiều, nước Bái, đồng hương với Tào Tháo (nay là thành phố Hào Châu, tỉnh An Huy). Thậm chí người này cũng có am hiểu y thuật và dưỡng sinh ít nhiều nhưng không phải là thần y. Về sau người này biến thành “Hoa Đà” là do dân gian đã đem chữ “Đà” (Dược vương thần) của Ấn Độ gán lên. Người Trung Quốc này đã gặp may mắn cực lớn, trở thành nhân vật thần bí được mọi người kính ngưỡng. Hoa đà là người Ba Tư? Năm 1980, bác sĩ Tùng Mộc Minh Tri, chuyên khoa nghiên cứu thuốc mê, Đại học Y quốc gia Nhật Bản, đã đăng nghiên cứu của ông trên tạp chí chuyên ngành Thuốc mê với nhan đề “Hiểu biết mới nhất về lịch sử khoa học thuốc mê: Danh y Hoa Đà đời Hán thực ra là người Ba Tư (nay gọi là Iran)”. Theo vị bác sĩ người Nhật này, từ “Hoa Đà” là phiên âm của từ “x. Wadag” trong tiếng Ba Tư cổ xưa (còn gọi là An Tức, nay là Iran). “Wadag” có nghĩa là chúa hoặc thần, vì vậy nó không thể là tên người mà có ý nghĩa nhân xưng, tôn xưng như chúa công, các hạ hay ngài, tiên sinh. Nếu người được gọi mà làm nghề thuốc thì “x.Wadag” có nghĩa là “tiên sinh tinh thông y thuật”. Đồng thời người Ba Tư vào thời Hán đã theo “con đường tơ lụa” mà qua phía Đông, vào Trung Quốc. Hoa Đà hẳn là người Ba Tư theo con đường này mà vào du học ở Từ Châu như nhiều sách đã nói. Người Ba Tư theo “con đường tơ lụa” vào trung nguyên là thuyết đáng tin cậy. Thơ Lý Bạch có câu: “Hồ cơ mặt như hoa, bên lò cười gió đông”, “Hồ cơ” là “người con gái Hồ xinh đẹp”, chính là cô gái người Ba Tư. Căn cứ vào đó, bác sĩ Tùng Mộc khẳng định: “Hoa Đà mà xưa nay cứ cho là người Trung Quốc, thực ra là người Ba Tư”. Không có thần y Hoa Đà mà có 2 vị thần y Hoa và Đà.
-
Đền thờ Ngọc Hoàng (ANTĐ) - Dáng vẻ tĩnh mịch, trầm uy của đền Đậu An (xã An Viên-Tiên Lữ-Hưng Yên) không khác nhiều với những ngôi đền ở các làng quê Việt. Nhưng khi tìm hiểu về lịch sử và kiến trúc của ngôi đền, người ta ngỡ ngàng khi biết rằng: ngôi đền này là nơi duy nhất tại Việt Nam thờ Ngọc hoàng Thượng đế cùng các thiên thần và cũng là ngôi đền có kiến trúc đặc biệt khi chất liệu tạo nên ngôi đền được tạc nên từ những khối đá nguyên khối. Facebook Twitter 0 bình chọn Viết bình luận Lưu bài này Theo truyền thuyết, đền có từ thuở khai thiên lập địa thờ Ngũ lão tiên ông xuống trần khai khẩn đất hoang, dạy dân chúng biết săn bắn, hái lượm, diệt trừ thú dữ và còn dạy dân chúng vùng đồng bằng sông Hồng biết làm lúa nước. Đền Đậu An chính thức được ghi tên vào lịch sử với tên gọi là Thụy Ứng Quán vào năm 226 trước Công nguyên. Sau khi nhân dân đến Quán thắp hương, xin lộc thấy ứng đã chung tay góp tiền xây dựng Quán dần trở thành một quần thể di tích với tên gọi đền Đậu An thờ Ngọc Hoàng. Kiến trúc của ngôi đền được xây theo lối kiế́n trúc cổ hình chữ Đinh và được làm phần nhiều từ gỗ lim. Nhưng riêng tại Cung đệ nhất và đệ nhị của tòa chính lại được làm bằng đá từ cột trụ, câu đối, hoành phi cho tới bức tường. Trải qua bao thế kỷ, những hạng mục này vẫn đứng vững theo thời gian. Đền Đậu An không chỉ nổi tiếng với kiến trúc độc đáo và bề dầy lịch sử mà phần lễ hội hàng năm cũng có nhiều điều thú vị và khác biệt. Bắt đầu từ năm 1664, lễ hội mới bắt đầu được mở và từ đó đến nay, tục lệ này được tổ chức hàng năm. Cảnh đánh hổ được diễn ra vào ngày mùng 8-4 âm lịch vô cùng hấp dẫn, thu hút hàng nghìn người tham dự. Tháp cổ bằng đất nung Trong đền có một ngọn tháp 9 tầng bằng đất nung, hoa văn theo lối Chămpa mà theo truyền thuyết, đây là nơi thăng giáng của Ngọc Hoàng khi xuống đền Đậu An. Ngọn tháp có niên đại từ thời nhà Trần và đã được trùng tu vào năm 1664. Ngoài ra, ngôi đền còn có tấm bia từ thời Hậu Lê ghi công đức của các du khách có tấm lòng hảo tâm và một chiếc khánh đá cổ. Đặc biệt, có nhiều bức tượng thiên thần cổ hiện đang vẫn được lưu giữ tại cung cấm. Trước khi ngôi đền được Bộ VH-TT&DL công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia vào năm 1989, thì một phần của ngôi đền đã bị phá đi làm trường học tạm và điện chính trở thành hội trường của xã. Sau khi được công nhận là di tích cấp quốc gia, ngôi đền mới được trung tu phần tháp cổ 9 tầng vào năm 2001. Nhưng, theo ông Nguyễn Ngọc Bình - Trưởng ban Quản lý di tích thì hình dáng chưa được khôi phục như hiện trạng ban đầu. Trong khi đó, rất nhiều hạng mục khác của đền Đậu An đã xuống cấp nghiêm trọng như trong 3 gian tòa đá và hậu cung đã lún nứt chỉ dùng cột để chống đỡ. Các mái ngói cũng đã dột nát, các cột và vì kèo đã bị mối ăn. Tuy đã nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền xã nhưng theo ông Nguyễn Ngọc Bình: “Nguồn kinh phí để tôn tạo di tích lại chủ yếu được huy động từ du khách thập phương và bà con trong thôn xóm hoặc các nhà hảo tâm đóng góp. Ông Ngô Phi Hùng một doanh nhân đang sinh sống và làm việc tại Liên bang Nga đã cúng tiến 200 triệu đồng để sắm đồ lễ và xây lại nhà Mẫu. Ông Đỗ Anh Bốn đã xây dựng 3 tòa tẩm, xây dựng lại giếng trước cổng đền trị giá ngót nghét 200 triệu đồng”. Tuy vậy, một di tích lịch sử cấp quốc gia đã xuống cấp cần có một quy hoạch tổng thể trước khi bắt tay vào trùng tu. Việc trùng tu không thể chỉ dựa vào nguồn kinh phí của các tổ chức và cá nhân. Rất mong những người có trách nhiệm hãy cứu lấy ngôi đền quý, đừng để nó bị tàn phế trước sự tàn phá của thời gian và con người.
-
Tìm Hiểu Về Pháp Luân Công - Pháp Luân Đại Pháp
hoangnt replied to VuongChu's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Hãy dẹp cái tôi sang 1 bên chịu khó tìm hiểu xem Pháp Luân Công là gì mà đến cả giáo sư, nhà khoa hoc, mọi tầng lớp trong xã hội đều khen. Kẻ chê đều là kẻ không biết gì về phật pháp và những kẻ theo thuyết vô thần. Lời lẽ không được trao chuốc nhưng có lẽ cảnh tỉnh được vài người còn quá mê muội. Cũng nên nghiên cứu. Chưa tập bao giờ nhưng đọc hiểu đây là phương pháp khí công kết hợp rèn tâm tính. Nên đọc cuốn Chuyển pháp luân. -
Thật ra cháu nghĩ tranh luận hay chứng minh là tốt. Càng nhiều ý kiến tranh luận thì càng đi tới gần chân lí thôi. Cháu thì chẳng nghĩ là ông phó giáo sư này có " ý đồ phủ nhận truyền thống văn hóa sử Việt " đâu. Tại vì mục đích bài nói của ổng là chuyện khác mà. Tuy nhiên, cách nhìn và sở học khác nhau nên ý kiến khác nhau thôi. Chỉ có tranh luận và chứng minh, bảo vệ luận điểm của mình thì mới đi tới sự thật. Nếu sự thật là sự thật thì ko ai che dấu được đâu. Trước sau gì cũng phải công nhận thôi. Hợp lý. Thật ra ông không phủ nhận, nhưng nói lịch sử Việt 800 TCN là sai do phân tích và tổng hợp dữ liệu của cá nhân. Mục đích bài nói tập trung vào sự tha hóa của con người, cùng chấp nhận sự thật trong một hệ thống loạn mục đích + vô trách nhiệm mà không có phản kháng tối thiểu với ý phân tích là không tổng hợp từ văn hóa cổ... Kính.
-
Tôi nghi ngờ Sơn Tinh là Hùng Vương IV tức Hùng Hoa Vương (đầu chi IV). Từ Hùng Vương 1 tới 6 chỉ có Hùng Vương 4 và 5 chưa có câu truyện nào, mặt khác nếu Sơn Tinh là Hùng Vương 4 hay Hùng Hoa Vương thì ta chú ý chữ lót HOA chỉ ra hàm ý ngài là con rể nên lấy chữ lót gần phái Nữ. Trong lịch sử Hùng Vương có 3 công chúa là Ngọc Hoa, Quỳnh Hoa và Tiên Dung, tuy nhiên Ngọc Hoa công chúa là vợ củ Tản Viên Sơn Thánh (vợ cả), cho nên Mỵ Nương chính là Quỳnh Hoa, vậy thì nhận định trên là hợp lý nhất. Thân.
-
Thục Phán không ít hơn 3 lần đem binh đánh vua Hùng, lần cuối cùng Tảng Viên Sơn Thánh cũng không ít hơn 3 lần đánh bại, đẩy lùi Thục Phán, nhưng lần cuối cùng Ngài khuyên vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán. Không có chuyện Sơn Tinh khuyên vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán. Sơn Tinh chỉ là nhân vật hư cấu mà thôi. Sơn Tinh khác với Tản Viên Sơn Thánh. Sơn Tinh lên ngôi vua Hùng vì ngài không có con trai nối dõi. Tuy nhiên gia phả về Tản Viên là rất nhiều. Tản viên Sơn Thánh không nối ngôi mà là Thục Phán - lập cột đá thề (Nỏ thần An Dương Vương và Mỵ Châu - Trọng Thủy). Từ đó mới nảy sinh dân gian xem Triệu Đà là giăc xâm chiếm - đóng đô Phiên Ngung, Quảng Đông. Thành Cổ Loa vẫn còn đó nhưng đô thành Hùng Vương? chính là Thăng Long, tên cũ Phượng thành. Thời Hai Bà Trưng không thấy nó thành này mà đóng đô Mê Linh, như vậy trước đó nó hoặc bị Hán phá hủy hoặc Triệu Đà. Trong cuộc chiến với nhà Tần thì vẫn còn vì Thục Phán lên ngôi đóng đô tại Bắc Việt mà không ở Quảng Châu. Nếu sau đó xây thành Cổ Loa mà quân tướng ở trong Làng Cả - Việt Trì là không tưởng. Nếu Hán phá thành thì không cần thiết vì sử dụng chính thành làm hệ thống quản trị luôn (đang rất mạnh), cho nên nó phải bị phá bởi triệu Đà vì Đà đóng đô ở Phiên Ngung, nếu duy trì thành này là nguy hiểm bởi sự nội dậy nội công ngoại kích là lại về tay Lạc Việt.Vậy Triệu Đà chỉ duy trì thành Cổ Loa phía tả ngạn mà thôi. Cho đến nay, không thấy bất kỳ gia phả nào của họ Triệu Đà ở Việt Nam??? để xem xét hay đền thờ Triệu Đà và họ hàng to lớn. Nếu xét ý đồ của mỗi câu chuyện thì Sơn Tinh chắc chắn khác hoàn toàn Tản Viên Sơn Thánh vì ngài là vua Hùng (lần đầu tiên truyền ngôi cho con rể). Theo thời gian Hà đồ phát minh (tạm sử dụng) thì Hồng phạm cửu trù đã có, do vậy Sơn Tinh trước cả thời Hạ Vũ. Hạ Vũ Trị Thủy có vẻ giống Sơn Tinh thắng Thủy Tinh và truyền ngôi cũng tương tự, vậy phải chăng là một?. Tuy nhiên, nội dung Thượng Thư thì xác định văn hóa, địa chí Hoa Bắc. Vậy sự lồng ghép có chủ ý là khó khăn và không logic, cho nên Hạ Vũ không thể là Sơn Tinh.Mặc khác, sử ta cũng ghi chép Việt Thường bang giao chim trĩ, rùa lịch... là một chúng cứ khá rõ nét, cũng như vua Nghiêu nói: đánh phương Nam là không được. Tôi nghi ngờ Sơn Tinh là Hùng Vương IV tức Hùng Hoa Vương (đầu chi IV).
-
Sĩ Nhiếp và Lâm ấp Bách Việt trùng cửu . Tóm tắt về Sĩ Nhiếp theo Đại Việt sử ký toàn thư: “(Vương) Họ Sĩ, tên húy là Nhiếp, tự là Ngạn Uy, người huyện Quảng Tín, quận Thương Ngô. Tổ tiên người Vấn Dương nước Lỗ, hồi loạn Vương Mãng ở Bắc triều, tránh sang ở đất Việt ta, đến vương là sáu đời. Cha là Tứ, thời Hán Hoàn Đế làm Thái thú Nhật Nam. Khi còn ít tuổi, vương du học ở kinh đô nhà Hán, theo học Lưu Tử Kỳ người Dĩnh Xuyên, chuyên trị sách Tả thị Xuân Thu, có làm chú giải: được cử hiếu liêm, bổ làm Thượng thư lang, vì việc công bị miễn chức; hết tang cha, lại được cử mậu tài, bổ làm Huyện lệnh Vu Dương, đổi làm Thái thú Giao Châu, được tước Long Độ Đình hầu, đóng đô ở Liên Lâu (tức là Long Biên). Sau nhà Trần truy phong làm Thiên Cảm Gia Ứng Vũ Đại Vương.” Câu đối ở cổng đền Sĩ Nhiếp tại thôn Tam Á – Thuận Thành – Bắc Ninh: Khởi trung nghĩa công thần tâm kì / bỉ hà trường thử hà trường / an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp. Thị sự nghiệp văn khoa cử tích / trị diệc tiến loạn diệc tiến / tối củ tứ thập niên, chính sách chửng biểu Giao Châu. Tạm dịch: Với tấm lòng trung nghĩa công thần, việc này việc kia đều bền, sáu trăm năm đức khoan dung để lại giúp dựng cơ đồ Lâm Ấp. Nhờ sự nghiệp văn hóa khoa cử cũ, thời bình cũng như thời loạn, bốn mươi thu qui củ chính sách làm rạng tỏ Giao Châu. Câu đối này có một thông tin rất lạ: đức độ để lại của Sĩ Nhiếp đã giúp cai quản nước Lâm Ấp 600 năm. Phải hiểu việc này thế nào đây? Thái thú Giao Châu Sĩ Nhiếp thì có liên quan gì đến người Lâm Ấp? Xem lại sử chỉ thấy có Toàn thư, Ngô Sĩ Liên bình về Sĩ Nhiếp: "Tục truyền rằng sau khi vương chết đã chôn, đến cuối thời nhà Tấn đã hơn 160 năm, người Lâm Ấp vào cướp, đào mộ của vương, thấy mình mặt vẫn như sống, cả sợ lại đắp lại, người địa phương cho là thần, làm miếu để thờ gọi là "Tiên Sĩ Vương". Có lẽ là khí tinh anh không nát, cho nên thành thần vậy". Chuyện này thật rối rắm. Người Lâm Ấp vào đào mộ Sĩ Nhiếp, sau đó đền thờ lập tại đó lại ghi “lòng khoan dung của Sĩ Nhiếp giúp Lâm Ấp tồn tại 600 năm”. Theo chính sử Lâm Ấp lập quốc từ Khu Liên vào khoảng năm 137-138 (hoặc 187-190). Sau đó họ bên ngoại của Khu Liên là họ Phạm kế nghiệp. Họ Phạm trị vì Lâm Ấp tới năm 757, tiếp theo là thời gian của Hoàn Vương. Như vậy Lâm Ấp là quốc gia đã tồn tại khoảng 600 năm, cai trị bởi Khu Liên và họ Phạm. Vài dòng từ thông tin của gia tộc họ Phạm:"Theo "Lộ Sử" và "Nguyên Hà Tính Toản", Lưu Ly thuộc dòng họ Đường Đế Nghiêu lập ra nước Đường Đỗ Thị (nay ở tỉnh Sơn Tây,TQ). Vào cuối đời Tây Chu,TQ. Chu Tuyên Vương tin vào những điều huyền hoặc, thượng đại phu là Đỗ Bá không làm theo bị Tuyên Vương giết. Con là Đỗ Thấp Thúc trốn sang nước Tấn. Người đời sau thương Đỗ Bá là người trung lập miếu thờ gọi là "Miếu Đỗ Chủ" cũng gọi là "Hữu Tướng Quân Miếu". Thấp Thúc trốn sang nước Tấn làm quan Sĩ Sư nên đổi từ họ Đỗ ra họ Sĩ (đó là vào thời vua Chu U Vương 781-771 TCN). Đến đời chắt của Thấp Thúc là Sĩ Hội (Sĩ Hội là người tín nghĩa, ôn hòa mà không nhu nhược, uy nghiêm mà không dữ tợn). Ông có công dẹp những nước thuộc giống Xích Địch nên được vua nhà Chu phẩm phục chức Thượng đại khanh lại kiêm chức Thái phó và được phong ở đất Phạm, nên lại đổi ra họ Phạm. Sĩ Hội là ông tổ của họ Phạm ở Trung Quốc người đời thường gọi ông là Phạm Mạnh, con là Phạm Mang cháu là Phạm Phường (đó là vào thời vua Chu Định Vương 607-571 TCN). Vào những thời gian sau đó quyền lực nước Tấn rơi vào tay một số họ, các họ tiêu diệt lẫn nhau để tranh dành quyền lực cuối cùng nước Tấn bị ba họ Hàn-Triệu-Ngụy chia làm ba nước, các sử gia gọi là Tam Tấn. Khi đó, họ Triệu lấy danh nghĩa vua Tấn kết hợp với họ Ngụy và họ Hàn đánh họ Phạm và họ Trung. Phạm Cát Xạ và Trung Hàng Di phải chạy đến Triều Ca (kinh đô nhà Thương) cố thủ. Triều Ca vỡ những người con cháu họ Phạm phải chạy sang nước Tề. Từ đó con cháu họ Phạm lưu lạc khắp mọi nơi." Tức là Sĩ Nhiếp có thể mang họ Phạm. Đây là thông tin mang tính quyết định cho phép suy đoán: - Chữ “nhiếp” trong câu đối trên cho thấy thực ra tên Sĩ Nhiếp chỉ là một danh hiệu với nghĩa kẻ sĩ nhiếp chính, rất phù hợp với ghi chép về công trạng của Sĩ Nhiếp gồm góp phần giáo hóa Nho học và an trị Giao Châu trong 40 năm đầu thời Tam Quốc. Sĩ Nhiếp không phải là họ Sĩ. - Sĩ Nhiếp mang họ Phạm, chính là tiền nhân của các vị vua Lâm Ấp họ Phạm sau này. Việc người Lâm Ấp ra Luy Lâu đào mồ Sĩ Nhiếp 160 năm sau thực ra là họ đi tìm mồ mả tổ tiên, “bốc mộ” cha ông và lập đền thờ. Người ngoài không hiểu chuyện nên “tục truyền” là người Lâm Ấp thấy sợ mà lấp mộ lại. Xem lại con đường sự nghiệp của Sĩ Nhiếp được chép trong Toàn thư: "Đinh Mão, năm thứ 1 [187], (Hán Trung Bình năm thứ 4). Vương có ba em trai tên là Nhất, Vĩ và Vũ. Bấy giờ Thứ sử Chu Phù bị giặc Di giết chết, châu quận rối loạn, vương bèn dâng biểu cử Nhất làm Thái thú Hợp Phố, Vĩ làm Thái thú Cửu Chân, Vũ làm Thái thú Nam Hải. Vương độ lượng khoan hậu, khiêm tốn, kính trọng kẻ sĩ, người trong nước yêu mến, đều gọi là vương. Danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng trăm người.” Thời điểm anh em Sĩ Nhiệp làm thái thú các châu cũng chính năm “giặc Di” Lâm Ấp giết thứ sử Chu Phù và là năm Khu Liên lập nước Lâm Ấp. Nước Lâm Ấp theo cách hiểu ngày nay là vốn là huyện Tượng Lâm của quận Nhật Nam, nổi dậy giết thứ sử Giao Chỉ bộ. Ấy vậy mà trong lúc thứ sử Giao Chỉ bộ bị giết thì thái thú Giao Châu là Sĩ Nhiếp lại vẫn sống đoàng hoàng, thậm chí còn đang lo dạy học và được người địa phương kính trọng. Giải thích làm sao đây khi cả bộ Giao Chỉ bị người Lâm Ấp tấn công, giết thứ sử mà anh em nhà họ Sĩ lại "an trị" được vùng này? Thậm chí danh sĩ các nơi còn kéo về tụ họp như chưa hề có chuyện Lâm Ấp đánh giết thứ sử. Chỉ có thể hiểu được nếu anh em nhà họ Sĩ đã "thông đồng" với người Lâm Ấp, hoặc chính anh em Sĩ Nhiếp là người Lâm Ấp đã nổi dậy chiếm các quận ở Giao Chỉ năm 187. Câu đối khác ở cổng đền Sĩ Nhiếp: Huynh đệ liệt quận hùng phong trì Ngụy Ngô khởi uy trị gia dĩ đặc sắc Thi thư giáo nhân hóa lý bổ Nhâm Tích dẫn văn minh phái ư tiền hà. Tạm dịch: Hùng khí anh em trị yên các quận vang xa tới Tào Ngụy Đông Ngô, đặc sắc uy nghiêm cai quản Giáo hóa nhân lý bởi sách văn bổ sung cho Nhâm Diên Tích Quang, dẫn đầu văn minh chính phái. Anh em Sĩ Nhiếp đã “dàn xếp các quận” của Giao Chỉ bộ một cách ổn thỏa, tiếng tốt bay xa tới tận Ngụy, Ngô. Thời Tam quốc có 3 nước Ngụy, Ngô và Thục. Nước Thục nằm ngay sát Giao Chỉ bộ. Vậy mà tiếng lành của anh em Sĩ Nhiếp chỉ bay tới Ngô và Ngụy thôi là làm sao? Tất cả sử sách ghi về giai đoạn này của Sĩ Nhiếp chẳng có tí nào nói đến nước Thục cả. Lâm Ấp hiện nay cho là được chép là từ tên "huyện" Tượng Lâm mà ra. Làm gì có chuyện khởi nghĩa cấp huyện ở miền Trung mà đánh ra tận ngoài Bắc giết được thứ sử. Tượng Lâm phải là cấp quận, chắc trong đó có phần "Tượng" là quận lập ra dưới thời nhà Tần. Tượng Quận thì không thể ở miền Trung được mà chí ít cũng phải ở miền Bắc Việt hoặc ở vùng Quí Châu (tức Cửu Chân xưa). Huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam... Có lẽ Lâm=Nam. Tượng Lâm là Tượng Quận và Nhật Nam, hay Cửu Chân và Nhật Nam là 2 quận lớn trong Giao Chỉ bộ. Nếu Cửu Chân ở Quí Châu thì Nhật Nam chắc phải là Quảng Tây ngày nay. Nhật Nam là nơi Sĩ Tứ, cha Sĩ Nhiếp làm thái thú. Với cái nhìn như vậy có thể thấy: - Anh em họ Sĩ thực ra là những người tham gia khởi nghĩa của Khu Liên ở Tượng Lâm = Cửu Chân + Nhật Nam. Sau khi Khu Liên mất họ bên ngoại Khu Liên là họ Phạm, tức là họ hàng nhà Sĩ Nhiếp, lên thay, duy trì Lâm Ấp trong 600 năm. - Khởi nghĩa Khu Liên ở Quí Châu (Cửu Chân), Quảng Tây (Nhật Nam), sau đó là cả Ích Châu (nơi Sĩ Nhiếp đã thuyết phục bọn Ung Khải hàng nhà Ngô) là phạm vi của ... nhà Thục Hán Lưu Bị. Như vậy Sĩ Nhiếp thực ra đã là thuộc nước Thục. Như trên, câu đối cho thấy Sĩ Nhiếp là tổ tiên họ Phạm của Lâm Ấp. Anh em ông ta đã tham gia vào khởi nghĩa của Khu Liên khi lập quốc Lâm Ấp và đóng một vai trò không nhỏ trong khởi nghĩa này ở Giao Châu. Chính vì Sĩ Nhiếp đã thuộc nhà Thục nên " liệt quận hùng phong" của anh em Sĩ Nhiếp mới chỉ bay xa đến "Ngụy Ngô" mà thôi. Lại một lần nữa xem lại thông tin từ gia phả họ Phạm: "Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân -Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu ( gọi là xứ Lâm ấp)-tức là Nam Trung bộ ngày nay. Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trc CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Viêt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa ( xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay). Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm, khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An , diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế (766). Thấy xứ Lâm ấp phải lo chống đối với nhà Đường ở phía Bắc, nên thừa cơ hội này, người Chà Và (Java, Inđônêxia ngày nay) gồm các bộ tộc Dừa và bộ tộc Cau kéo sang xâm chiếm xứ Lâm ấp và lập nên Vương quốc Chiêm Thành vào năm 705. Phạm Chính, con của Phạm Trung, cháu nội cuả Phạm Chí, khi thất bại trở về, đành phải chịu nhận vùng đất quanh thành Châu Sa làm xứ tự trị của dòng họ Phạm. Hiện nay, tại núi An Điềm, xã Bình Chương, huyện Bình Sơn , còn có đền thờ vị Triệu tổ họ Phạm là Đại lang Phạm Duy Hinh." Như vậy Lâm Ấp thành lập bắt đầu từ họ Lý: Khu Liên = Lý Khu Kiên = Lưu Bị. Lưu Bị sau khi tiến lên phía Bắc đã lập nên nhà Tây Thục. Anh em Sĩ Nhiếp là những người đã tham gia khởi nghĩa của Lưu Bị trên khu vực các quận của Giao Chỉ bộ và sau khi giết thứ sử Chu Phù đã cai quản các vùng này. Khi Ngụy diệt nhà Thục của họ Lý, chỉ thâu tóm được phần phía Bắc. Phần phía Tây Nam (vùng Tây Bắc và Lào ngày nay) vẫn do Mạnh Hoạch nắm giữ và phần Nam (Giao Châu) do họ Phạm của Sĩ Nhiếp nắm giữ vẫn tồn tại độc lập. Nhà Thục của họ Lý mất, họ Phạm lên ngôi ở phần Nam – Lâm Ấp này. Nước Lâm Ấp tiếp tục tồn tại thêm 500 năm nữa. Không ít lần họ Phạm đã tấn công ra Bắc, đòi lại vùng đất của tổ tiên mình (Sĩ Nhiếp). Điển hình là chuyện Phạm Dương Mại đề nghị vua Nam Tống cho cai quản Giao Châu: “Nhâm Thân, [432], (Tống Nguyên Gia năm thứ 9). Mùa hạ, tháng 5, vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại sai sứ sang cống nước Tống, xin lĩnh Giao Châu. Vua Tống xuống chiếu trả lời vì đường xa không cho.” Nếu không phải tổ tiên họ Phạm đã từng cai quản Giao Châu thì đề nghị trên của Phạm Dương Mại là quá vô lý. Cái lý ở đây chính là Sĩ Nhiếp, thái thú Giao Châu, là người họ Phạm, nên Lâm Ấp mới thường xuyên muốn lập lại quyền lực của mình ở Giao Châu. Cho đến tận cuối thời kỳ Lâm Ấp, khi lãnh thổ Lâm Ấp bị mất vào tay nhà Tùy, họ Phạm vẫn tiếp tục đấu tranh cùng với Mai Thúc Loan và Phùng Hưng để “Bắc tiến”. Phạm Thị Uyển là hoàng hậu của Mai Thúc Loan đã cầu đầu cánh quân chống giữ với nhà Đường ở La Thành và mất bên sông Tô Lịch. Mấy người em của bà là Phạm Miện, Phạm Huy là tướng của Phùng Hưng (thần tích đình Hòa Mục). Điều này cho thấy vai trò của họ Phạm xuyên suốt từ thời Sĩ Nhiếp sang Lâm Ấp tới Nam Chiếu (Phùng Hưng). Có thể nước Lâm Ấp của họ Phạm và nước của Hoàn Vương, rồi Chiêm Thành sau này là hai nước khác nhau. Lâm Ấp là quốc gia của người Kinh (họ Phạm) rất rõ ràng. Hoàn Vương, Chiêm Thành là người Chăm, có từ thời Sa Huỳnh. Lâm Ấp là một phần của nước Thục thời Tam quốc. Biên giới phía Nam quãng khoảng dãy Hoành Sơn (Quảng Bình). Còn Chiêm Thành thì ở xa hơn nhiều về phía Nam, qua đèo Hải Vân. Chữ trên Lăng Sĩ Nhiếp Vị “Nam giao học tổ” Sĩ Nhiếp như vậy thực sự là một người Việt, có công lao rất lớn đối với lịch sử Giao Châu nói riêng và Việt Nam nói chung. Thật đáng buồn là với cách nhìn nhận như hiện nay, Triệu Vũ Đế, rồi Sĩ Nhiếp, Cao Biền đều bị gán mác “Tàu” vào. Đền miếu của họ bị bỏ trơ trọi. Người Việt lúc nào mới biết nhìn lại đúng gốc gác tổ tiên của mình?
-
HIện tại tra cứu hình ảnh Sao Tam bích nhưng không thể thấy hình dáng nó như thế nào?. Kính.
-
Cái "không cùng" vốn đồng thời là "giới hạn tột cùng" (vô cực nhi thái cực). Chỉ vì Nó không có điểm tận cùng nên Nó luôn có thể đi tới cùng. Nó không đạt được cái gì cả nếu Nó không đi tới tận cùng. Đồng thời, Nó không đạt được cái gì cả nếu Nó có một điểm tận cùng. Hiện thực được miêu tả dưới góc nhìn của tương lai ! Hư từ "nhi" = cái đang đến, bắt đầu với, ... thực tại hóa - nhi - phía trước / thực tại hóa - nhi - phía sau. Hư từ này, nó biểu hiện không thay đổi sự vận hành của nó trong hiện thực. Nó chứng minh kích thước của tương lai. Nó cho ta chức năng phát triển của hiện thực. Trong một số sách có đề cập Vô cực sinh Thái cực hoặc trước Thái cực là Vô cực. Thái cực là cái mốc khởi thủy của vũ trụ, đây là một quy ước được đặt ra, mặt khác hiện thực khách quan cho ta nhận thức sự biến đổi của vật chất (vạn vật hữu hình và vô hình, bao hàm cả tâm linh) đưa ta một nhận định sự tự thân tồn tại của vạn vật và tính quy luật vận động của vũ trụ. Sự biến dịch của vạn vật (sinh thành diệt) cùng sự tự thân tồn với tính vô hạn về mặt không gian, trạng thái vật chất của vũ trụ cho phép có sự nhận định về Thái cực như đã trình bày qua kinh sách tôn giáo và lý học là hợp lý (lúc này Bigbang là trật lấc, thuyết này không phù hợp, luận giải đơn giản thôi), kết quả là vũ trụ cũng sẽ bị phân rã nhưng thời gian rất lâu xa nhưng không phải vô cùng (chúng ta không thể xác định). Tuy nhiên vì quá lớn so với lẽ biến dịch của vạn vật, giả sử so cả Thiên hà nên cũng tạm cho nó là vô cùng. Sự tan rã không hàm nghĩa mọi thứ "biến mất" mà chỉ quay về như "trạng thái khởi nguyên mới nhưng không giống khởi nguyên ban đầu về thuộc tính" và vòng quay mới lại tiếp tục. Vậy thì, Vô cực không thể trước Thái cực hoặc nó có thể là một quy ước xác định tính vô hạn về mặt không thời gian qua vòng lặp vận động của vũ trụ. Kính.