Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

hoangnt

Hội viên
  • Số nội dung

    1909
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    6

Everything posted by hoangnt

  1. Giờ quan sát Giả thiết rằng, nhịp sinh học của con người (cụ thể về vấn đề sinh nở) là một sự vật, vận động trong môi trường tương tác của Vũ trụ tới Trái đất, có chu kỳ thay đổi là 1 tháng, có cấu trúc 12 cung Địa chi phân bố theo giờ trong ngày. Cứ qua 1 tháng, nhịp sinh học vận động qua 12 Địa chi, gồm 2 chu kỳ Ngũ hành (1 âm và 1 dương). Như trên đã khảo sát, cứ tiến hoá qua một bước âm dương hay một Ngũ hành, nhịp sinh học chuyển qua một giai đoạn mới mà các yếu tố của nó có quan hệ sinh ra yếu tố tương ứng ở giai đoạn trước, hay nó vận động được 1 bước theo chiều dòng Hoá khí, ngược chiều tương sinh. Như vậy, cứ qua 1 tháng (gồm 1 chu kỳ Địa chi 2 Ngũ hành), các yếu tố của nhịp sinh học đó dịch chuyển ngược chiều tương sinh 2 bước, cứ qua nửa tháng, dịch chuyển 1 bước. Mặt khác, khí âm dương của Vũ trụ được con người cảm ứng tạo nên một nhịp sinh học (cụ thể về vấn đề sinh nở) . Nhịp sinh học này so với môi trường tương tác của Vũ trụ tới Trái đất là thứ cấp, sinh sau, nên các yếu tố của chúng không thể đồng thời với các yếu tố của sự tương tác Vũ trụ tới Trái đất, mà phải có một độ trễ nhất định. Giả thiết rằng độ trễ này bằng một bước vận động của trường khí Vũ trụ. Điều đó có nhĩa là, khi tương tác của Vũ trụ tác động tới Trái đất bắt đầu ở cung tháng Tý, giờ Tý thì nhịp sinh học bắt đầu ở đầu cung Hợi (Chậm 1 bước so với trường khí từ Mặt trời) Biểu diễn trên sơ đồ quá trình tiến hoá của nhịp sinh học ta được: (xem hình vẽ) + Vòng Địa chi ngoài cùng biểu diễn phân bố cung giờ Địa chi. + Vòng Địa chi trong biểu diễn phân bố các yếu tố nhịp sinh học của con người (cụ thể về vấn đề sinh nở) theo thời gian Địa chi trong ngày. Cứ qua 1 tháng, vòng Địa chi này vận động nghịch 2 bước bằng 60 độ. Qua 12 tháng, Địa chi nhịp sinh học quay nghịch được 2 vòng. + Ở tháng 11 (tháng Tý), vào giờ Tý đầu tiên, nhịp sinh học vào đầu cung Hợi, thể hiện sự chậm 1 bước của trường khí trên Trái đất so với trường khí Mặt trời. Tháng Tý khắc cung Ngọ của nhịp sinh học đang đóng ở cung giờ Mùi. Giờ Mùi xấu. + Ở tháng 12 (tháng Sửu), nhịp sinh học quay ngược 2 bước (60 độ) làm cho vào giờ Tý đầu tháng Sửu, nhịp sinh học đóng ở đầu cung Sửu. Tháng Sửu khắc cung Mùi của nhịp sing học, đang đóng ở cung giờ Ngọ. Giờ Ngọ xấu. + Ở tháng 1 (tháng Dần), vòng Địa chi nhịp sinh học quay ngược tiếp 2 bước (60 độ) làm cho vào giờ Tý đầu tháng Dần. Nhịp sinh học đóng ở đầu cung Mão. Tháng Dần khắc cung Hợi của nhịp sing học, đang đóng ở cung giờ Thân. Giờ Thân xấu. … Căn cứ vào sơ đồ trên ta có thể lập bảng vị trí các cung của nhịp sinh học tương ứng với các giờ trong ngày của tháng như sau: Căn cứ vào bảng trên ta thấy: - Tháng Tý (11) xung cung Ngọ nhịp sinh học đóng ở giờ Mùi trong ngày. Giờ Mùi xấu. - Tháng Sửu (12) xung cung Mủi nhịp sinh học đóng ở giờ Ngọ trong ngày.Giờ Ngọ xấu. - Tháng Dần (1) xung cung Thân nhịp sinh học đóng ở giờ Tỵ trong ngày. Giờ Tỵ xấu. - Tháng Mão (2) xung cung Dậu nhịp sinh học đóng ở giờ Thìn trong ngày. Giờ Thìn xấu. - Tháng Thìn (3) xung cung Tuất nhịp sinh học đóng ở giờ Mão trong ngày. Giờ Mão xấu. - Tháng Tỵ (4) xung cung Hợi nhịp sinh học đóng ở giờ Dần trong ngày. Giờ Dần xấu. - Tháng Ngọ (5) xung cung Tý nhịp sinh học đóng ở giờ Sửu trong ngày. Giờ Sửu xấu. - Tháng Mùi (6) xung cung Sửu nhịp sinh học đóng ở giờ Tý trong ngày. Giờ Tý xấu. - Tháng Thân (7) xung cung Dần nhịp sinh học đóng ở giờ Hợi trong ngày. Giờ Hợi xấu. - Tháng Dậu (8) xung cung Mão nhịp sinh học đóng ở giờ Tuất trong ngày. Giờ Tuất xấu. - Tháng Tuất (9) xung cung Thìn nhịp sinh học đóng ở giờ Dậu trong ngày. Giờ Dậu xấu. - Tháng Hợi (10) xung cung Tỵ nhịp sinh học đóng ở giờ Thân trong ngày. Giờ Thân xấu. Những giờ xấu trên được cổ nhân truyền lại cho hậu thế trong bài ca giờ quan sát được Nguyễn Vũ Tuấn Anh giới thiệu trong nhiều tác phẩm của mình. Căn cứ vào bản trên và các quan hệ Địa chi, ta có thể suy ra các giờ tốt, trung bình trong tháng. Ví dụ: - Tháng Tý (11) hợp cung Tý, Thìn, Thân của nhịp sinh học đóng ở giờ Sửu, Dậu, Tỵ trong ngày. Giờ Sửu, Dậu, Tỵ tốt. - Tháng Sửu (12) hợp cung Sửu, Dậu, Tỵ của nhịp sinh học đóng ở giờ Tý, Thìn, Thân trong ngày.Giờ Tý, Thìn, Thân tốt. - Tháng Dần (1) hợp cung Dần, Ngọ, Tuất của nhịp sinh học đóng ở giờ Hợi, Mão, Mùi trong ngày. Giờ Hợi, Mão, Mùi tốt. - Tháng Mão (2) hợp cung Mão, Mùi, Hợi của nhịp sinh học đóng ở giờ Tuất, Dần, Ngọ trong ngày. Giờ Tuất, Dần, Ngọ tốt. - Tháng Thìn (3) hợp cung Thìn, Thân, Tý của nhịp sinh học đóng ở giờ Dậu, Sửu, Tỵ trong ngày. Giờ Dậu, Sửu, Tỵ tốt. - Tháng Tỵ (4) hợp cung Tỵ , Sửu, Dậu của nhịp sinh học đóng ở giờ Thân, Tý, Thìn trong ngày. Giờ Thân, Tý, Thìn tốt. - Tháng Ngọ (5) hợp cung Ngọ, Dần, Tuất của nhịp sinh học đóng ở giờ Mùi, Mão, Hợi trong ngày. Giờ Mùi, Mão, Hợi tốt. - Tháng Mủi (6) hợp cung Mùi, Mão, Hợi của nhịp sinh học đóng ở giờ Ngọ, Dần, Tuất trong ngày. Giờ Ngọ, Dần, Tuất tốt. - Tháng Thân (7) hợp cung Thân, Tý, Thìn của nhịp sinh học đóng ở giờ Tỵ, Dậu, Sửu trong ngày. Giờ Tỵ, Dậu, Sửu tốt. - Tháng Dậu (8) hợp cung Dậu, Tỵ, Sửu của nhịp sinh học đóng ở giờ Thìn, Thân, Tý trong ngày. Giờ Thìn, Thân, Tý tốt. - Tháng Tuất (9) hợp cung Tuất. Dần, Ngọ của nhịp sinh học đóng ở giờ Mão, Mùi, Hợi trong ngày. Giờ Mão, Mùi, Hợi tốt. - Tháng Hợi (10) hợp cung Hợi, Mão, Mùi cũa nhịp sinh học đóng ở giờ Dần, Ngọ, Tuất trong ngày. Giờ Dần, Ngọ, Tuất tốt. Như vậy, trong năm, các giờ tam hợp: + Thân, Tý, Thìn của các tháng Tỵ (4), Dậu (8), Sửu (12) + Tỵ, Dậu, Sửu của các tháng Thân (7), Tý (11), Thìn (3) + Tuất, Dần, Ngọ của các tháng Mão (2), Mùi (6), Hợi (10) + Mão, Mùi, Hợi của các tháng Tuất (9), Dần (1), Ngọ (5) là các giờ tốt cho nhịp sinh học của con người (cụ thể về vấn đề sinh nở) … Qua các phân tích trên chúng ta thấy, giờ quan sát chính là giờ xung khắc với giờ Thần hợp của Địa chi tháng. Giờ Thần hợp của Địa chi tháng chính là cung giờ mà yếu tố nhịp sinh học của con người (cụ thể về vấn đề sinh nở) có Địa chi tương ứng với Địa chi tháng, cư ngụ. Tương tác của Vũ trụ tới Trái đất hỗ trộ tốt nhất cho nhịp sinh học của con người vào giờ Thần hợp, và gây tác hại nhiều nhất vào giờ Quan sát. Biểu diễn trên bảng ta được: Thần hợp tháng: liên quan đến chu ký của Mặt trăng, chúng ta sẽ quán xét một tương tác có quy luật quan trọng khác sau mặt trời. Chúng ta có thể hiểu là Vận khí do Trái đất quay xung quanh Mặt trời còn liên quan đến chu kỳ vận động của Mặt trăng nữa.Lúc này, tương tác mạnh từ Hệ Mặt trời sẽ bị điều chỉnh tăng hoặc giảm bởi tương tác của Mặt trăng tùy vào vị trí tương đối giữa chúng: Độ lệch của nhịp sinh học hay chính là độ trễ. + Ở tháng 11 (tháng Tý), vào giờ Tý đầu tiên, nhịp sinh học vào đầu cung Hợi, thể hiện sự chậm 1 bước của trường khí trên Trái đất so với trường khí Mặt trời. Tháng Tý khắc cung Ngọ của nhịp sinh học đang đóng ở cung giờ Mùi. Giờ Mùi xấu. Do giữa Trái đất quay xung quanh Mặt trời và Mặt trăng quanh xung quanh Trái đất. Khả năng phải chia nhỏ sự tương tác nữa: 24 tiết khí hoặc 24 hướng La bàn. Ngũ Phúc lâm môn
  2. Cấu trúc tương tác qua Lạc thư hoa giáp: Nguyên khí: từ Vũ trụ (nếu chia nhỏ hệ tương tác nữa như Thái ất...) > Thiên khí - Thiên can: từ Hệ mặt trời > Vận khí (Địa khí) - Địa chi: Trái đất quay xung quanh Mặt trời > Nhân khí - Bản mệnh: Do Vận khí sinh ra. Thiên can từ Hệ mặt trời: vì đủ nhỏ tương ứng 1 đời người, còn nếu xa hơn thì quá lớn và cho Vũ trụ thì ngũ hành chưa vận động tới, do vậy Thiên can chính là tương tác từ Hệ mặt trời tới Trái đất trong chu kỳ 60 năm tổng hợp từ các hành tinh. Nguyên khí mạnh nhất: từ chòm sao Thiên cực Bắc. Chúng ta tưởng tượng có một dòng khí đi xuyên suốt, có nơi sinh, có nơi vượng, có nơi mộ (mạnh - trọng - quý)... Ngũ Phúc lâm môn
  3. Cấu trúc tương tác vạn vật qua Lạc thư hoa giáp: Vận khí (Địa khí) - Địa chi: Trái đất quay xung quanh Mặt trời. Thiên khí - Thiên can: từ Hệ mặt trời. Nguyên khí: từ Vũ trụ (nếu chia nhỏ hệ tương tác nữa như Thái ất...). Bản mệnh: Do vận khí sinh ra. Chỉ khi hiểu rõ Tính thấy, Tâm, Lạc thư hoa giáp. Hậu thiên - Hà Đồ, Tiên thiên - Hậu Thiên, Lạc Thư - Hà Đồ, Ngũ vận lục khí, Khí hậu thiên, sinh vượng mộ, dòng hóa khí - vượng khí, quan hệ xã hội, quy ước trạng thái vận động của vật chất trong học thuyết ADNH... thì mới công phá được Kinh dịch (Chu dịch): đây mới chính là bài toán hiểm trở nhất của lịch sử nhân loại. Kính. Ngũ Phúc lâm môn
  4. Sau khi tổ hợp, xảy ra 24 tổ hợp, như vậy việc thiết lập Giáp Tý khởi nguyên hành Kim cần phản xem xét: - Lý thuyết dựa trên thực tế phản ảnh và đã kiểm nghiệm. - Lý thuyết lập dựa trên thực tế đã kiểm nghiệm và chuyển đổi tương quan. - Cần phải làm rõ được mối quan hệ thống nhất: Bản mệnh (con người) - Trái đất (địa chi) -Hệ mặt trời (Thiên can?) - ... - Ngân hà - ... Vũ trụ (Thiên can???): Tác giả Vô Trước lấy hành Thủy làm gốc ban đầu, chúng ta hãy chú ý tới hành cuối của vòng vận động quy luật Bát quái - Hà đồ của Thiên can và Địa chi cùng là hành Thủy. 5. Bảng Lục thập hoa giáp Giả sử thời gian vũ trụ vận động gồm 5 hành và 10 thiên can như đã xét ở trên. Vận khí của một sự vật chịu tác động của vũ trụ như là một yếu tố con trong sự vận hành của vũ trụ, thể hiện như các thời kỳ Sinh, Vượng, Mộ và sinh ra bản mệnh của sự vật đó. Áp dụng các qui tắc Sinh, Vượng, Mộ ở trên ta xây dựng được sự liên hệ giữa Thiên can và Vận khí như thể hiện trên đồ hình sau: + Trên đồ hình, Thiên can bắt đầu tử hành Thuỷ thể hiện nguyên tắc vạn sự sinh từ Đạo, biến đổi từ Dương, vận động theo chiều tương sinh. + Ở Thời kỳ đầu tiên, Thiên can hoà Vận khí thể hiện cái tính của thời kỳ Tiên thiên, khi mâu thuẫn trong tương tác âm dương còn chưa thể hiện rõ. Làm rõ hơn? +Tiếp theo cứ 3 hành một thời kỳ: Thiên can sinh Vận khí, Thiên can khắc Vận khí, Vận khí khắc Thiên can, Vận khí sinh Thiên can. Tại sao lại phân bố thứ tự như vậy?. Dùng Thiên can trước Vận khí là hợp lý vì Vận khí thuộc Thiên Can (con). + Các thời kỳ Sinh, Vượng, Mộ của Vận khí được thể hiện trên đồ hình. Như vậy, Qua 15 hành thì lặp lại chu kỳ thời gian có hành Thiên can và Vận khí trùng nhau. Chính là điểm khởi đầu Resized to 93% (was 800 x 153) - Bấm vào hình dể xem theo kích thước thật Tiếp theo, Vận khí sinh bản mệnh được thể hiên bằng đồ hình như sau: Trong phân tích, Bác Vô Trước lý giải thế nào về Vận khí sinh Bản mệnh, tại sao lại không hòa, sinh, khắc, bị sinh, bị khắc?. Thật khiếp đảm khi nhìn ra được mắt xích này. Resized to 93% (was 800 x 372) - Bấm vào hình dể xem theo kích thước thật Các hành Thiên can còn được chia nhỏ thành Thiên can gồm 10 yếu tố Nhâm, Quí, Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí bắt đầu từ hành Thuỷ. Đồng thời, vận động của sự vật cũng chia ra thành 12 Địa chi, thể hiện thời gian tiến hoá. Thêm các yếu tố Thiên can, Địa chi vào đồ hình vừa dựng, tiếp tục nó cho tới khi kết thúc chu kỳ gồm các khoảng thời gian mà đặc trưng là các yếu tố Thiên can, Địa chi, Vận khí, Bản mệnh không lặp lại ta được bảng phân bố thởi gian như sau, gồm 60 khoảng: Resized to 93% (was 800 x 258) - Bấm vào hình dể xem theo kích thước thật Áp dụng bảng phân bố đó cho thời gian mỗi khoảng là 1 năm, ta thu được bảng Lục thập hoa giáp mà người xưa truyền lại đã được hiệu chỉnh lại như sau: Chúng ta cùng tìm hiểu lại phải chăng người xưa đã xác lập từ thực tiễn. Trích từ bài viết của Bác Vô Trước: Bảng Lục thập hoa giáp Giả sử thời gian vũ trụ vận động gồm 5 hành và 10 thiên can như đã xét ở trên. Vận khí của một sự vật chịu tác động của vũ trụ như là một yếu tố con trong sự vận hành của vũ trụ, thể hiện như các thời kỳ Sinh, Vượng, Mộ và sinh ra bản mệnh của sự vật đó. Áp dụng các qui tắc Sinh, Vượng, Mộ ở trên ta xây dựng được sự liên hệ giữa Thiên can và Vận khí như thể hiện trên đồ hình sau: + Trên đồ hình, Thiên can bắt đầu tử hành Thuỷ thể hiện nguyên tắc vạn sự sinh từ Đạo, biến đổi từ Dương, vận động theo chiều tương sinh. + Ở Thời kỳ đầu tiên, Thiên can hoà Vận khí thể hiện cái tính của thời kỳ Tiên thiên, khi mâu thuẫn trong tương tác âm dương còn chưa thể hiện rõ. +Tiếp theo cứ 3 hành một thời kỳ: Thiên can sinh Vận khí, Thiên can khắc Vận khí, Vận khí khắc Thiên can, Vận khí sinh Thiên can. + Các thời kỳ Sinh, Vượng, Mộ của Vận khí được thể hiện trên đồ hình. Như vậy, Qua 15 hành thì lặp lại chu kỳ thời gian có hành Thiên can và Vận khí trùng nhau. Resized to 93% (was 800 x 153) - Bấm vào hình dể xem theo kích thước thật Tiếp theo, Vận khí sinh bản mệnh được thể hiên bằng đồ hình như sau: Resized to 93% (was 800 x 372) - Bấm vào hình dể xem theo kích thước thật Các hành Thiên can còn được chia nhỏ thành Thiên can gồm 10 yếu tố Nhâm, Quí, Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí bắt đầu từ hành Thuỷ. Đồng thời, vận động của sự vật cũng chia ra thành 12 Địa chi, thể hiện thời gian tiến hoá. Thêm các yếu tố Thiên can, Địa chi vào đồ hình vừa dựng, tiếp tục nó cho tới khi kết thúc chu kỳ gồm các khoảng thời gian mà đặc trưng là các yếu tố Thiên can, Địa chi, Vận khí, Bản mệnh không lặp lại ta được bảng phân bố thởi gian như sau, gồm 60 khoảng: Resized to 93% (was 800 x 258) - Bấm vào hình dể xem theo kích thước thật Áp dụng bảng phân bố đó cho thời gian mỗi khoảng là 1 năm, ta thu được bảng Lục thập hoa giáp mà người xưa truyền lại đã được hiệu chỉnh lại như sau: Thực sự, phải công nhận tư duy hệ thống của Bác Vô Trước thật là tốt, nghiên cứu kỹ sự hóa khí của Đông y. Ngũ Phúc lâm môn.
  5. Muốn biết tại sao như vậy ta cần biết ý nghĩa và cách lập Lạc thư Hoa giáp. Không chỉ của Giáp Tý và Ất Sửu mà còn các cặp thời gian ADNH khác, tại sao lại nạp như thế. Vấn đề này tôi đã trình bày rõ ràng trong chuyên mục "Cơ sở Học thuyết ADNH - Vô Truoc" và "Công thức tính nhanh bảng Lạc thư Hoa giáp" VinhL tham khảo nhé. Tôi thấy Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt và nội dung Bác Vô Trước viết cực chuẩn, các thông số sử dụng cho ngũ vận lục khí dựa trên các thông số: - Quy ước tương tác từ vũ trụ tới con người (quy luận vận động lớn và quan trọng nhất là Hệ Mặt trời): Thiên can. - Quy ước tương tác từ trái đất cho con người ứng với chu kỳ sống ngắn: Địa chi. - Quy ước sinh diệt cho mỗi hành của Mệnh mỗi người: sinh - vượng - mộ. - Quy ước mỗi trạng thái sự vật, hiện tượng đều phải chịu các tương tác tương đương nhau trong mỗi thời không bao gồm 5 trạng thái: ta khắc nó, ta sinh nó, ta hòa nó, nó sinh ta, nó khắc ta: quy luật tổng thể. Thì lập được bảng Lạc thư hoa giáp một cách logic mà chưa cần biết Thổ sinh Kim làm chuẩn, lúc này khi lập hợp lý thấy rằng: Lục khí xuất hiện và gọi là Ngũ vận lục khí (trong khi bố cục thì xuất hiện tính hợp lý Cách bát sinh tử). Trong Đông Y cũng có, tuy nhiên chúng ta còn phải xem xét các quy luật tương tác xa hơn nữa là 360 năm (180 âm/ 180 dương), trong 180 năm chia 3 chu kỳ sinh vượng mộ nữa... Kính. Ngũ Phúc lâm môn.
  6. huyện khởi nghĩa núi Cham . Dòng Hùng Việt Khởi nghĩa Lam sơn chống nhà Minh Trung quốc xâm lược được coi như khởi đầu từ hội thề ở Lũng Nhai Thanh hóa của Lê Lợi và 18 chiến hữu . Nội dung lời thề Lũng Nhai (theo bản dịch của Hoàng Xuân Hãn) Bui hay Duy (?). Năm đầu niên hiệu Thiên Khánh là năm Bính Thân (1416), quá ngày sóc (mồng một) là ngày Kỹ Mão đến ngày 12 là ngày Canh Dần. Tại nước A-NAM, lộ Khả Lam, tôi là phụ đạo Lê Lợi đứng đầu, với Lê Lai, Lê Thận, Lê Văn Linh, Lê Văn An, Trịnh Khả, Trương Lôi, Lê Liễu, Bùi Quốc Hưng, Lê Nanh, Lê Kiểm, Vũ Uy, Nguyễn Trãi, Lưu Nhân Chú, Trịnh Vô, Phạm Lôi, Lê Lý, Đinh Lan, Trương Chiến. Chúng tôi kính cẩn đem lễ vật, sanh huyết mà thành khẩn dâng lời tâu, cáo cùng Vua Trời, Hậu Đất và các thần linh bậc thượng, trung, hạ, coi các cảnh đẹp sông núi tại các xứ ta . Chúng tôi cúi xin rộng lòng thương, soi xét để chứng cho việc nầy . Rằng có bạn từ xa tới kết tình vui vẻ và rất tin nhau, cho nên phải làm lễ tâu cáo . ................. Ngay vào đầu Bản văn này đã có điểm phải xét lại : ... Năm đầu niên hiệu Thiên Khánh là năm Bính Thân (1416)... Thiên Khánh là Niên hiệu của vua Trần Cảo mà bối cảnh và năm lên ngôi chép trong sử : Trần Cảo tên thật là Hồ Ông , không rõ ông là người ở đâu. Khi khởi nghĩa Lam Sơn bước vào giai đoạn thắng lợi quyết định, tướng nhà Minh là Vương Thông bị thua trận nặng ở Tuỵ Động, phải cố thủ trong thành Đông Quan. Để tìm cách kìm hãm sự phát triển của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, chia rẽ nội bộ người Việt, Thông liền viện cớ tìm lại tờ chiếu của vua Minh Thành Tổ năm 1407 khi đánh nhà Hồ, có nội dung muốn lập lại con cháu nhà Trần mà đòi thủ lĩnh quân Lam Sơn là Lê Lợi phải lập con cháu nhà Trần mới đồng ý giảng hoà và rút quân về nước. Lê Lợi bèn sai người tìm con cháu nhà Trần. Theo sử sách, gặp lúc đó Hồ Ông lánh nạn ở châu Ngọc Ma, tự xưng là cháu nội vua Trần Nghệ Tông, được tù trưởng châu Ngọc Ma là Cầm Quý tiến cử với Lê Lợi. Để đối phó với yêu sách của Thông, muốn quân Minh nhanh chóng rút về, Lê Lợi đồng ý lập Trần Cảo làm vua, với danh nghĩa kế tục nhà Hậu Trần, đặt niên hiệu là Thiên Khánh, còn Lê Lợi tự xưng là Vệ quốc công. Lê Lợi tập trung vào chiến sự, sai quan tả bộc xạ là Bùi Quốc Hưng ở bên cạnh phò tá, nhưng thực chất là để giám sát ông. Riêng sách Đại Việt thông sử lại chép sự kiện này xảy ra ngày 30 tháng chạp năm 1425, tức là trước khi Vương Thông sang Việt Nam. (Trích đoạn wiki – internet bài Trần Cảo) Năm 1425 nghĩa quân Lam sơn mới lập Trần cảo làm vua bù nhìn với niên hiệu Thiên Khánh vậy mà bản văn ghi …hội thề Lũng nhai diễn ra vào năm Thiên khánh thứ nhất Bính thân 1416 tức đi trước tới 9 năm ...? Phải chăng đây là lỗi của những người viết sách ‘Lam sơn thực lục’ ?. Điểm đặc biệt nữa trong văn bản hội thề là quốc hiệu chưa từng nghe ...nước A NAM . Lịch sử Việt chưa lần nào đề cập đến quốc hiệu này ...rất có thể : *A Nam là Nam Đây chỉ là tên nước ‘Nam’ thêm vào âm phụ theo kiểu ngôn ngữ Tai- Kadai thành ra A Nam giống như Cham thành Champa , Cau thành Kauthara...?. *A Nam là phát âm không chuẩn của An Nam . An Nam với chữ An là động từ thì không thể trở thành 1 quốc hiệu , phải đảo lại thành Nam An mới có nghĩa là nước phương Nam an bình , có thể có An Nam vương nhưng không thể có An Nam quốc vương như trong sử sách xưa nay đã viết vì tổ hợp chữ này không có nghĩa , thời Đường đặt ‘An nam đô hộ phủ’ tức cơ quan có nhiệm vụ giữ cho phía nam an ổn chứ không có vùng đất hay 1 đơn vị hành chánh nào gọi là phủ An Nam để rồi từ ‘phủ’ nâng cấp thành ‘nước’ để có quốc vương được , tới nay nhiều người vẫn lầm lẫn ...sở dĩ nước ta có tên An nam vì trước đó là An nam đô hộ phủ ...thực lầm lẫn qúa lớn tới nỗi làm sai lệch Việt sử ; xin hỏi Trung quốc có nước nào tên là An Đông – An Tây _ An Bắc ?. A Nam không thể là An Nam với chữ An là yên ổn nhưng vẫn có thể là An Nam với chữ An Nghĩa khác nhưng đã bị ‘ai đó’ đánh lộn sòng . Sự thực lịch sử Việt vẫn có thời được gọi là An Nam nhưng là chữ An nghĩa là ôn – ấm – nóng kết hợp với chữ Nam là phương Nam cũng có thể hiểu là Nước – Nậm âm cổ giống như trong ngôn ngữ Thái Lào ngày nay, An và Nam hợp thành 1 chỉnh thể theo luật Âm – dương , chữ An này mới chính là chữ trong danh hiệu ‘An Nam quốc vương’ chép trong sử (vấn đề này xin được bàn ở 1 bài viết khác) . *Tiếp đến ta sét xem liệu A nam có thể là Hà nam ? . A nam → Ha Nam→Hà nam về phát âm là điều hoàn toàn có thể còn về mặt ngữ nghĩa phải chăng đây là từ kép cấu thành bởi 2 thành tố chỉ dòng tộc , Nam chỉ người Nam tức người nước Nam có từ thời Khu Liên năm 192 , nước Nam là nước có thủ đô là Lâm ấp hay Nam ấp vua là Lý Nam đế ...đã ghi chép trong sử sách ; Hà chính xác là Hời – Hai số 2 của Hà thư (Hà đồ) trấn phía xích đạo ,cụ thể trong địa lý Việt chỉ tộc người sống ở Bình trị thiên trở vào nam , địa điểm cư trú cực bắc của họ gọi là Đồng hới biến âm của ‘động Hời’ tức động của người Hời ; các từ : động , trại và mường là từ cổ có thể được dùng với nghĩa là đơn vị hành chánh . Tộc phả họ Phạm Việt nam chép : "Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân -Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu ( gọi là xứ Lâm ấp)-tức là Nam Trung bộ ngày nay. ................ Những thông tin địa lý trong tư liệu phải hiệu chỉnh cho khớp với lịch sử – địa lý nước Việt ngày nay : Theo ý trong bài thì Xứ Nam Hà hay Hà Nam cùng 1 nghĩa ; là từ ghép 2 thành tố Nam chỉ người Nam ở Ái châu và Hà chỉ người Hời ở Trung châu . Ái châu là vùng Thanh Nghệ Tĩnh , Trung châu hay ‘châu Trong’là vùng Bình Trị Thiên ngày nay , với nghĩa hẹp chỉ có 2 châu này thì không thể gọi là nước A Nam mà chỉ có thể viết là Xứ A Nam – Hà Nam tức 1 phần của đất nước Nam – Hà rộng lớn hơn nhiều . Tên gọi xứ A nam - Hà Nam đã nối kết được dòng sử xưa và nay của cộng đồng người Chăm ; cho chúng ta thấy dòng sử xuyên suốt : Lâm ấp – (Nam – Hời) - Champa như đã khởi đầu trong Thiên nam ngữ lục ....Khu liên người nước Nam ta . Cuộc khởi nghĩa Khu Liên gắn liền với địa danh Tượng –Lâm , huyện Tượng lâm lại ‘dính’ vào cái mớ bòng bong Tượng quận ..., sử Trung quốc tự hào là chính xác tính bằng phân bằng li , xem sét tới dấu phết dấu phẩy ... nhưng cỡ vài trăm ngàn km2 thì ....hơn 2000 năm vẫn cãi nhau không xác định được Tượng quận nằm ở đâu ...thật nực cười . Tượng lâm ở đâu ? Đấy là vùng đất xa nhất về phương nam của nước Đông hãn , là nơi có cột đồng Mã viện đánh dấu biên giới chôn ở động Cổ sâm – Khâm châu nay thuộc Quảng Tây , thông tin chỉ định rõ như ban ngày ... vậy sao mãi gỉa mù sa mưa thế ?. Chỉ vì lòng người không ngay thẳng mà thôi .... Về địa lý, vương quốc Lâm Ấp ở đâu, lãnh thổ như thế nào còn rất nhiều điểm mơ hồ. Theo sử cổ Trung Quốc thì lãnh thổ vương quốc này là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam, phía nam huyện Lô Dung (Thừa Thiên-Huế ngày nay). Đường thư nói Lâm Ấp từ huyện Tây Quyển (Quảng Bình) trở xuống. Đại Nam Nhất Thống Chí nói Tượng Lâm là Bình Định và Phú Yên.... Chẳng hiểu các vị khoa bảng cả Tàu lẫn ta căn cứ vào đâu mà phán các chữ ...nay là ...nay là ‘chửi bố’ nhau như thế trong khi thông tin không phải là không có ... Thủy Kinh chú cho biết thủ phủ Lâm Ấp lúc đầu không biết ở đâu, sau được biết đặt tại Khu Lật phía nam có sông Lô Dung chảy qua. Xin hỏi dựa vào đâu mà khẳng định ....thành Khu Lật thủ đô của Lâm ấp quốc nay là thành phố Huế ? , sông Lô Dung là sông Hương ???, Đoán mò thì ít ra cũng phải bấu víu vào cái gì đó chứ , bằng chứng vật thể thành quách đền đài ...không , văn bia thư tịch cũng không , liên quan âm ngữ của tên gọi cũng không Khu lật thì dính dáng gì tới Huế chứ , vậy mà dám phán bừa Khu Liên lập nước Lâm ấp ở Tượng lâm nay là miền trung Việt nam ..., không hề để ý gì tới cái cột đồng Mã Viện đánh dấu biên giới cực nam của Đông Hán chôn ở Khâm châu Quảng Tây cũng như thông tin trong sử ....quân Mã viện nếu có cũng chỉ tiến tới Cư phong nay thuộc Thanh hóa rồi rút về Hán quốc thì vùng Bình trị Thiên lấy quan nhà Đông Hán đâu cho dân giết rồi tôn Khu Liên làm vua lập ra nước Lâm ấp ?. Lô dung không phải là danh từ riêng tên con sông , dung chỉ là biến âm của giang danh từ chung đồng nghĩa với sông, Lô dung thực ra là Lô giang hay sông Lô , nó còn có nhiều cách gọi do biến âm khác như ....Lư giang , Lư dung , Lư thủy .v.v. ; hiểu như vậy thì đoạn Thủy kinh chú trở nên xác định rõ ràng không còn gì là mờ mờ ảo ảo ..., viết ‘sông Lô dung’ là do cái bệnh ...thừa chữ y như ...núi Thái sơn ....sông Hồng hà vậy ... Nhìn vào hình : Tượng lâm đất cực nam của nhà Hán nơi có cột đồng phân ranh... , nơi Khu liên lấp nước Lâm ấp mà thủ đô nằm ở bờ bắc Lô giang ...còn gì rõ hơn ?. Giới Sử – địa học Trung quốc đã cố tình gây nhiễu , thực ra chẳng hề có huyện Tượng – Lâm cực nam của quận Nhật nam nào cả , Tượng lâm cứ trên cái nền Dịch học thì nhận ra ngay : đất Tượng lâm là đất Tây – Nam (Tượng = Tây , Lâm =Nam) , là tên gọi miền Vân nam - Quảng tây - Qúy châu Trung quốc , nơi sinh trú của đám Tây – Nam di , là đất của Điểu Man – Điểu Hử ... Bài viết Điểu –cầm - chim đã giúp giải đáp tại sao Lâm ấp khởi đầu ở Tượng lâm – Quảng tây khúc sau tới đời các vua họ Phạm cháu dòng ngoại của Khu Liên lại lộn ngược rơi xuống châu Ái – châu Trung của đất Việt . Vua Lê lợi xưng là Lam sơn động chủ thực ra danh xưng này chỉ là chữ nghĩa hóa tên gọi ‘Đạo Cham’ tức ông đạo Cham cụt lủn xem ra đầy sự quê mùa ..., đạo là lang đạo – phụ đạo nghĩa là người đứng đầu , Cham là vùng đất hay ‘động’ Cham nơi có làng Cham - núi Cham (Lam sơn) . Nước hay xứ A Nam , lộ Khả Lam ...qúa rõ , Khả lam thiết Cam ... Sinh ở kẻ Cham hay làng Cham , dựng nghiệp ở núi Cham , cham ↔chim , chim là điểu vậy . Nơi ấy gọi là lộ Khả lam , khả lam thiết Cam ; cam ↔kiềm↔cầm . Thông tin về Thân thế của vua khai sáng nhà Hậu Lê có đủ cả 2 yếu tố Cầm-Cam lẫn Chim-Cham thì làm sao nói khác : Triều hậu Lê là triều đại của nước A Nam-Nam vua là người Chăm và triều thần là ...Kinh – thượng hoà hợp , xét về mặt bản sắc dân tộc thì đấy là thời hỗn dung ‘Kinh – Hời’ , là đất nước của cả người Kinh lẫn người Hời . Trong Phổ chí mới sưu tầm được của tộc Phan hai làng Đà Sơn và Đà Ly là Hoàng tộc 1 thời của Chiêm quốc có chép : .......................... Nhớ lại, thuỷ tổ chúng ta là : vua Lạc sinh ra tộc chúng ta. Thời thượng cổ sinh sống tại động Thanh Lam (vùng Thanh hóa) , hiệu là bộ Việt Thường, thời trung cổ dời vào Lâm Châu (nay là đất Lâm Bình), thời cận cổ lại dời vào Đà Bàn (nay là đất Bình Định), đổi hiệu là nước Chiêm Thành, bao trùm cả Thanh Hà (nay là đất Thanh Hóa), về nam tới động Thạch Bi (nay là đất Thuận Thành – Phan Rang ), tiếp nối các đời làm chủ đất nước, gồm 68 thế kỷ (đất cũ thổ âm gọi là “dung anh”). Các thế hệ đều dùng chữ khoa đẩu để biên chép... .... ......... Ông (tổ của tộc) nói: Chúng ta là nòi giống Chiêm, là cháu ngoại nhà Trần, nhờ nhà Trần mà diệt được giặc Mật, giặc Đẩu ( Trịnh giác Mật – Sạ Đẩu 2 người nước ngoải tiếm ngôi vua Chàm ), rửa được mối hận của nước nhà không dám quên ơn đức (nhờ đó mà khỏi) cam chịu mười ba châu này là bãi đất trống không chủ. Đất đai của chúng ta, nhân dân của chúng ta không phải nhờ giặc Hồ (nhà Hồ) mà có, mà chúng lại dám chiếm đoạt, phá huỷ động tháp của tổ quốc ta, dày xéo lăng tẩm tổ tiên bên ngoại ta, lẽ nào ta lại đành lòng ngồi yên mà nhìn vậy sao ? Ta đây chờ cho binh lính giỏi, lương thực đủ, ta quyết thừa cơ thu phục đất cũ. Tiếp đến, nghe tin vua Lê khởi nghĩa. Ông nói: dòng giống họ Lê gốc người động Thanh Lam, cùng một nòi giống Chiêm của ta, ông bèn xuất tiền của, kêu gọi các châu huyện chuẩn bị lương tiền cùng các loại thực phẩm để cống hiến cho binh lính nhà Lê. Vua Lê trọng tạ. Đến lúc nhà Lê dựng đựoc cơ nghiệp, phong cho ông tước hầu. ................................ Dĩ nhiên phổ chí đời sau ghi lại bằng ký ức không thể chính xác hoàn toàn nhưng chí ít cũng phải đúng 1 phần ..., cái 1phần ấy đem so chiếu kết hợp với những nguồn thông tin khác ...tổng kết sẽ là sự thật : Lê Lợi là người nước Nam (Lâm ấp) sắc tộc Cham . Xin lưu ý Cham không đồng nghĩa với Hời , Cham – Chim là dòng giống người sinh sống trải từ Qúi châu tức đất Kiềm trung , xuống Lào đất của dòng họ Cầm , xuống mãi phía nam đến miền Trung Việt là đất Cam của người Chàm hay Chiêm thành , đấy là lãnh thổ rộng lớn của nước Nam khởi dựng từ thời Khu Liên hay Khu Linh . Thời Lê Lợi khởi nghĩa đất nước rộng lớn ấy chỉ còn 1 góc gọi là xứ A Nam – Hà Nam hay xứ Nam Hà đúng như tộc phả họ Phạm viết , Nam – Hà chỉ là 1 xứ gồm 2 châu Ái và Trung còn cả nước Nam – Lâm ấp thì lãnh thổ lớn hơn nhiều . Triều đại Lê khởi từ đất phía tây Thanh hóa , nói tây Thanh hoá thực ra là kiểu chơi chữ tránh né sự thực ....nhà Hậu Lê nổi lên ở đất Lào ; nhà nghiên cứu Tạ chí đại Tường viết ... Tập họp Lam Sơn mang tính hỗn hợp Mường Thái chứng tỏ trong liên hệ hôn nhân: mẹ Lê Lợi họ Trịnh, vợ ông cũng họ Trịnh (người Thái- Lào ?) , và họ Phạm (người Cham ?) . Ngày sau , xa cả sau khi Lê đổ, Phạm Đình Hổ còn biết trong lễ tế ở Lam Kinh có xướng bằng tiếng Thái chứng tỏ người ta đã không quên tổ... Tại sao lại phải che đạy sự thật mà đáng lý ra phải công khai trước bàn dân thiên hạ , phải chăng là do ý nghĩ sai lầm .... ‘nước Việt thì vua người Kinh mới đúng là chính thống’ của lớp sử gia thời trước ?. Không phải mãi tới thời hậu Lê , thời nhà Trần đã gọi dòng giống vua Chăm là Lê gia , ....Trần triều uy đức an thiên hạ – Lê gia công trạch định viêm cương ...; gia ở đây không phải là nhà hay triều đại mà là 1 họ tộc , họ Lê là họ tộc trấn giữ Viêm cương - biên cương phía Xích đạo của thiên hạ nhà Trần , Lê là biến âm của Lửa vậy . Âm Cam – Cầm viết bằng ‘Hoả tự’ dù ký âm lại bằng mẫu tự La tinh Kampapura vẫn không mất gốc ... Cam vẫn là Kam ... dù có nối thêm papura vào thì vẫn là nước có biên giới cực bắc là Cam Môn - Hà tĩnh , cực nam là Cam ranh – Khánh hoà . Chim dù có ký âm thảnh Champa hay Chiêm quốc Chiêm thành gì gì nữa ...thì chim cũng vẫn là chim ... Đất xứ ‘Dừa’ thành ra ‘vijaya’ (da = dừa) , Cau thành ‘Kauthara’ vẫn y nguyên về thanh âm nơi cửa miệng ...nào có khác chi ? Phan ranh cùng phân giới với Cam ranh viết sai thành Phan rang chuyển sang chữ Chàm rồi âm lại bằng âm Latinh là Panduranga ...qua bao cuộc ‘bể dâu’ như thế mà vẫn nhận ra âm gốc Phan và ranh-rang của tiếng Việt ...kể cũng lạ thật . Tên vua Cham thì trừ những vị sách vở chỉ chép ‘thần hiệu’ theo Ấn độ giáo không thể nhận ra được còn lại đều là người họ Phạm mà tộc phả xác định có từ thời Hùng vương , Chế này Chế kia tưởng là Chàm ngữ ...nhìn kỹ thì chế Mân - Chế Củ chẳng qua là Chúa tên Mân , Chúa Củ thế thôi , vua họ Trà – chà có thể chỉ là biến âm của cha , như sự biến âm của 2 từ Việt quen thuộc vẫn hay bất ngờ bật ra từ cửa miệng người Việt ...ới cha→ui gia→úi chà→ối dào ... ; vua Po... thì rõ ràng là bố theo kiểu ‘bố cái đại vương – Pi lo co’ không chạy đi đâu được ... Thực kỳ lạ khi hầu hết tên tuổi địa danh quan trọng nước Champa đều là từ gốc Việt ngữ rất ư quen thuộc thân thương . Đọc 1 đoạn trong Chiếu thư đánh Chàm thời Lê thánh Tông khiến không khỏi giật mình... Khi Nhân Miếu lên ngôi cả, thì giống nòi chúng đã rất đông. Nương chốn Cổ Lũy như hang cầy, cậy thành Chà Bàn như tổ kiến. Điên cuồng mất trí, nó ( Trà Toàn) xưng bừa là cha chú , gọi đức vua ta là cháu con; mất đức ra oai, ác chất chồng, giấu sao cho nổi ? Những lời lăng nhục không thể nêu tường.... Nay xét tổng thể lịch sử nước Nam có đô là Lâm ấp từ khi Khu Liên lập quốc ....dám nói thẳng ...chưa chắc Trà Toàn đã xưng bừa...khi gọi ‘vua ta’ là cháu con , lịch sử Việt và Cham còn muôn vàn khuất tất ...xưa nay nghe tên Lâm ấp thì không dám ‘nhận’ nhưng khi gọi đích danh nước NAM thì lập tức nhìn ra ngay ... .Vua Lê Lợi là người Cham thì cuộc chiến Việt - Chiêm thời ấy chỉ là nội chiến mà đã là nội chiến tương tự Chàm Dừa ‘oánh nhau’ với Chàm Cau thì làm gì có tộc thắng tộc thua ...mất nước , thắng thua là chuyện của mấy ông hoàng bà chúa mà thôi ...; Xét cho đến cùng cũng chẳng hề có cuộc Nam tiến của người Việt như xưa nay vẫn thường nghe ...không lẽ người Việt tiến chiếm đất của người nước Nam ? ...thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn ‘ta’ chẳng xưng là đại NAM đấy sao ?. Bài viết này khẳng định bản thân từ ‘Chăm’ mang 1 nội hàm hoàn toàn khác với nghĩa đang dùng , Hời - Hà chỉ là 1 phần của cộng đồng Chăm – Chim to lớn hơn nhiều , đất Cầm – Kiềm – Cam của họ ít ra cũng gấp cỡ chục lần cái nước Kampapura ở Miền Trung Việt nam chép trong sử ngày nay . Lịch sử là sự xuyên suốt cổ kim , tách riêng 1 đoạn nào đó dù là đầu là giữa hay cuối dòng sử mà xem sét thì chắc chắn dẫn đến 1 cái ‘biết’ méo mó lệch lạc bất toàn , đây là điều vô cùng nguy hiểm vì điều đó chính là khởi đầu của chuỗi diễn biến ....biết không đúng→nghĩ sai →làm bậy vô cùng tai hại .
  7. Trên thực tế tôi được tiếp xúc với những quan niệm khác nhau về vấn đề "Không gian Đa Chiều". Ngay trong diễn đàn cũng có vài bài viết của những hội viên cũ về vấn đề này. Thực tế có thấy từ một điểm được xác định trong không gian, có thể tạo ra nhiều chiều vận động của vật thể đó trong một không gian ba chiều quy ước. Thực tế và quy ước là 2 vấn đề khác nhau. Quan niệm về một không gian đa chiều chỉ dừng lại ở ý niệm và không trở thành một hệ biểu hiện có tính hệ thống, có thể mô tả tất cả những hiện tượng trong nội hàm của nó. Ngược lại, thuyết Âm Dương Ngũ hành là một hệ thống lý luận với hệ biểu hiện là Bát quái và Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt có thể mô tả toàn bộ những hiện tượng trong nội hàm của nó: Từ sự khởi nguyên vũ trụ cho đến chu kỳ của nó về thời gian, từ vật chất phi hạt cho đến những thiên hà khổng lồ và chu kỳ vận động có thể phân loại với khả năng dự báo trước mức độ ảnh hưởng liên quan đến xã hội, thiên nhiên, cuộc sống và từng con người. Đó chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại đang mơ ước. Không gian 3 chiều và thời gian 1 chiều, còn vật chất tùy chúng ta quy ước tương ứng với không thời gian, theo Hậu thiên phối Hà đồ ứng dụng cho các phương pháp cổ, người xưa đặt ra 12 chiều: Tổng hợp là 12 chiều. Phương trình Drake N = số lượng của các hành tinh trong thiên hà mà chúng ta mà có thể liên lạc được. R * = tỷ lệ trung bình của các sự hình thành sao mỗi năm trong thiên hà. fp = phần nhỏ của những ngôi sao có hành tinh. ne = số trung bình của các hành tinh có tiềm năng có thể hỗ trợ sự sống cho mỗi ngôi sao có hành tinh. f ℓ = một phần nhỏ trong số những ngôi sao có hành tinh thực sự đi vào phát triển sự sống tại một số thời điểm. fi = một phần nhỏ khác trong số những ngôi sao có hành tinh thực sự đi vào phát triển sự sống. fc = phần nhỏ còn lại phát triển công nghệ phát tín hiệu về sự tồn tại của họ vào không gian. L = khoảng thời gian khi các hành tinh này phát tín hiệu vào không gian. Phương trình Drake.Nhà thiên văn học Frank Drake đã phát triển phương trình Drake để ông có thể ước tính số lượng của các hành tinh nuôi dưỡng sự sống trong thiên hà bằng cách xem xét các yếu tố được liệt kê ở trên. Một ước tính nghiêm ngặt bằng cách sử dụng phương trình Drake được thực hiện vào năm 2001, cũng đã xem xét số lượng của các hành tinh trong khu vực có thể có sự sống (đây là khu vực sinh sống bao quanh một ngôi sao có nguồn nước, nhiệt độ lý tưởng, và có thể quang hợp). Kết quả cho thấy có hàng trăm, hàng ngàn hành tinh có sự sống tồn tại. Nó cũng gợi ý rằng một hành tinh giống như trái đất cách trái đất chỉ một vài trăm năm ánh sáng. Đây là bài toán xác suất với các thông số do chúng ta phân tích trên số liệu thực tế ở mức độ giới hạn trong nhận thức về thực tại. Xét trái đất: để có sự sống của sinh vật thì cần hàng tỷ biến số. Trong hệ mặt trời có trái đất: cần bội số tỷ biến số. Trong hệ sao Bắc đẩu: cần bội số thêm hàng tỷ biến số. Vượt qua Hệ sao Bắc đầu: bội số thêm nữa hàng tỷ biến số. Hệ Ngân hà: bội số thêm nữa hàng tỷ biến số... Hệ sao mà Ngân hà quay quanh....: vô cùng. Tổng hợp thành bài toán giới hạn toán học: Xác suất có sinh vật sống tương tự con người tiệm cận "0".
  8. Nhưng không cần đến người ngoài hành tinh. Chỉ cần có một sinh vật sống tồn tại dưới bất cứ dạng nào thì Thiên Sứ cũng sai. Vũ trụ, nếu nói có sinh có diệt tức sẽ quy trở về trạng thái khởi nguyên Thái cực, lúc này chu kỳ mới lại bắt đầu thì khả năng một loài người giống như chúng ngày nay lại ra đời. Do chúng ta chưa thể xác định được có mấy chu kỳ này đã xảy ra, ngoại trừ các vị thánh, thần thông qua Tính thấy để phát hiện. Như vậy, phải chăng có một sự bất logic nào đó trong dòng chảy lý luận, hay mõi giống loài bị tiêu diệt trong mỗi chu kỳ và Linh hồn của họ rõ ràng vẫn phải còn hiện diện?. Vì điều kiện vũ trụ quay về trạng thái khởi nguyên nên Linh hồn trở về Thái cực tức không còn tính cá nhân hay tồng thể các Linh hồn cá nhân đã hòa nhập vào nhau, dĩ nhiên không còn ý thức như chúng ta đang là.
  9. Tuy nhiên, trong giới cõi âm cũng có tổ chức quản lý xã hội đó là Thiên đình, bao gồm những thần thánh để cai quản linh hồn nhằm ngăn cản sự phá hoại tới loài người đang sống và cả những linh hồn có khả năng thần thông muốn thống trị thế giới. Do vậy, việc điều chỉnh dữ liệu quá khứ chắn chắn cũng phải thông qua tổ chức này, ví dụ không thể thay đổi nhân quả của kẻ giết người hàng loại chẳng hạn... Tôi chỉnh lại, là chúng ta có thể thấy dữ liệu quá khứ chứ không thay đổi được nó do mối quan hệ nhân quả với toàn bộ vũ trụ đã vận động. Việc điều chỉnh sô mệnh chỉ ngay hiện tại qua công năng đặc dị của các bậc thần thánh, cho nên nói Thần biến hóa là vậy. Sự khác biệt khi chúng ta chấp nhận thay đổi này là do Tính thấy - tuyệt đối, tuy nhiên thông thường tùy điều kiện mà các vị Thần cần thay đổi. Nếu đọc cuốn Thiên thư thì chỉ có một cách mà thôi: Chân - Thiện - Nhẫn (Pháp luân công), khi làm mỗi ngày làm điều thiện không kể lớn nhỏ (hành động và trong suy nghĩ) thì đến khoảng >1000 điều thiện thì sự việc sẽ tự vận động.
  10. Tôi sẽ giải tán TTNC LHDP hoặc từ bỏ TT này nếu bất cứ một nhà khoa học nào với bất cứ phương tiện gì - trong vòng 10 năm (*)nữa phát hiện ra sinh vật ngoài trái Đất tồn tại dưới bất cứ hình thức nào. Trước đây - hồi còn là một thanh niên mới lớn - tôi cũng tưởng như vậy. Nhưng sau khi tìm hiểu sâu về Thuyết Âm Dương Ngũ hành tôi thấy hoàn toàn không thể có. Đáng nhẽ tôi tiếp tục phân tích và chứng minh vấn đề "vì sao không thể có sinh vật ngoài trái Đất". Nhưng sự thách đố này thay thế cho bài phân tích đang dang dở trên. Để xác định không có sinh vật ngoài trái Đất còn dễ giải thích hơn vì sao "Không có Hạt của Chúa". ================ Xác suất có người ngoài hành tinh là bằng "0" bởi vì đối với vũ trụ thì không có bài toán xác xuất.
  11. Sau khi phân tích, chúng ta thấy linh hồn là hiện hữu và hoàn toàn có thể tương tác với chúng ta, tương tác này mạnh hay yếu tùy vào khả năng thần thông của họ. Đồng thời, chúng ta cũng nhận định là định mệnh có thật, tuy nhiên định mệnh là cho cuộc sống cõi trần mà thôi. Mặt khác, toàn bộ tác nhân từ vô thủy cho tới hiện tại được mã hóa trong bộ não của chúng ta và chỉ chờ thời điểm thích hợp là tác động, chuyển hóa thành hậu quả của mọi con người qua hành động, tư duy, sáng tạo... điều này đặt ra câu hỏi có thể thay đổi định mệnh được không? Bằng sự suy luận như trên thì để thay đổi định mệnh trong chừng mực thì chúng ta có thể can thiệp vào dữ liệu quá khứ giống như thay đổi dữ liệu máy tính vậy, tuy nhiên dữ liệu quá khứ được lưu trữ qua vô số các tổ hợp âm dương ngữ hành và có liên quan đến toàn bộ vũ trụ quá khứ? Chúng ta cũng xác định Tính thấy là thuộc tính của siêu vật chất có trong đầu não của chúng ta, rõ ràng bằng cách nào đấy chúng ta có thể sử dụng Tính thấy để quan sát lại dữ liệu của quá khứ ở bất cứ thời điểm nào vì Tính thấy có tính chất tuyệt đối, điều này là có thể xảy ra. Lúc này, bằng thần thông hay năng lực tương tác siêu tuyệt, dùng năng lượng trong sạch điều chỉnh lại nguyên nhân quá khứ qua việc điều chỉnh rạng thái dữ liệu âm dương ngũ hành quá khứ. Tuy nhiên, trong giới cõi âm cũng có tổ chức quản lý xã hội đó là Thiên đình, bao gồm những thần thánh để cai quản linh hồn nhằm ngăn cản sự phá hoại tới loài người đang sống và cả những linh hồn có khả năng thần thông muốn thống trị thế giới. Do vậy, việc điều chỉnh dữ liệu quá khứ chắn chắn cũng phải thông qua tổ chức này, ví dụ không thể thay đổi nhân quả của kẻ giết người hàng loại chẳng hạn...
  12. Khái niệm khí trong lý học đông phương nhìn từ Văn Hiến Lạc Việt Thứ ba 19/04/2011 12:00:00 (GMT +7) Tác giả: Nguyễn Vũ Tuấn Anh Nguồn: Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương Mở đầu: Kính thưa quí vị Với mục đích góp phần vào làm sáng tỏ bản chất khoa học của môn Phong thủy – một bộ phận cấu thành quan trọng, vốn bí ẩn từ hàng ngàn năm nay trong văn hóa cổ Đông phương. Có thể nói rằng: Lý học Đông phương mà cốt lõi của nó là thuyết Âm Dương Ngũ hành bao trùm gần như rộng khắp tất cả mọi tri thức trong xã hội Đông Phương cổ. Nó giải thích mọi hiện tượng theo hệ thống phương pháp luận của nó: Từ thiên văn, địa lý, thiên nhiên, cuộc sống, xã hội và con người… Nhứng chính tính thiếu tính nhất quán, thiếu tính hợp lý trong cấu trúc hệ thống, sự rời rạc và mâu thuẫn trong hệ thống phương pháp luận của nó - bên cạnh phương pháp ứng dụng có hiệu quả xuyên qua mọi không gian văn hóa và thời gian trải hàng thiên niên kỷ trong lịch sử văn hóa Đông phương, đã làm nên sự bí ẩn huyền vĩ của nền văn hóa này. Sự khám phá những bí ẩn của văn hóa Đông phương và cụ thể là thuyết Âm Dương Ngũ hành là một đề tài rất rộng và còn cần có sự nghiên cứu tiếp tục và rộng khắp, nhiều mặt của quí vị học giả, của các nhà khoa học quan tâm. Bởi vậy, trong bản tham luận này của chúng tôi chỉ giới hạn để đi tìm một kết luận đúng cho khái niệm về bản chất “Khí” trong Lý học Đông phương nói chung và Phong thủy nói riêng. Nhằm góp phần phục hồi những tri thức đã bị thất truyền của nền văn minh Đông phương, một bộ phận quan trọng trong lịch sử văn minh nhân loại vốn còn nhiều bí ẩn. Những ý kiến của chúng tôi trình bày trong bài viết này, có thể coi như là một giả thiết về một thực tại còn bí ần trong Lý học Đông phương, không tự cho mình là đúng. Rất cần được sự quan tâm, góp ý của những học giả. Khái niệm Khí – một bí ẩn trong Lý học Đông phương Kính thưa quí vị. Trong các sách cổ Lý học Đông phương, hoặc có liên quan đến Lý học Đông phương, có một khái niệm miêu tả một thực tế tồn tại trong vũ trụ, thiên nhiên, cuộc sống và con người rất bí ẩn. Đó là khái niệm “Khí” trong lý học Đông phương. Có thể nói rằng: Khái niệm “Khí” có trong tất cả mọi lĩnh vực và được diễn đạt bằng những thuật ngữ liên quan đến Ngũ hành, hoặc định tính, danh từ để miêu tả hiện trạng cụ thể liên quan đến “Khí”. Khái niệm khí phổ biến đến mức nó có trong những thuật ngữ chuyên môn và cả trong ngôn ngữ đời thường. Bất cứ một thực tế nào trong cuộc sống đều có thể miêu tả liên quan đến “Khí”. Chúng ta có thể rất quen thuộc với các danh từ như: * Trong thiên nhiên thì có: Tà khí, dương khí, âm khí, khí trời, khí đất, hỏa khí, kim khí… * Trong sinh hoạt thì có: Hòa khí, xung khí, uất khí… * Trong cơ thể con người thì có: Hỏa khí, suy khí, khí nhược, khí trệ, khí bế…vv… * Trong phong thủy thì khái niệm Khí được nói đến gần như là một yếu tố quyết định trong Âm trạch, như: Vô khí, sinh khí, tụ khí, tán khí… * Trong Phương pháp coi Tứ trụ, Bốc dịch cũng nói đến suy khí của từng hào. * Trong phương pháp coi tướng thì khí được nhắc đến như: Thần khí, ám khí, hôn khí, vượng khí…vv… * Thậm chí ngay tính chất của cuộc hội thảo của chúng ta đây, cũng có thể miêu tả bằng khái niệm khí, như: tịnh khí, sinh khí, hoặc vương khí…vv… Có thể nói trong tất cả mọi lĩnh vực mà con người quan sát được, đều có thể miêu tả bằng khái niệm “khí”. Trong Đông Y, khí được coi là một thực thể vận động trong kinh mạch, có trong cơ thể người. Vào năm 1967, những nhà nghiên cứu Pháp đã dùng chất đồng vị phóng xạ để hiển thị và xác nhận hệ thống kinh mạch là có thật trong cơ thể người. Nhưng cơ chế tồn tại và hoạt động của hệ thống Kinh mạch và bản chất của “Khí” là gì thì vẫn là sự bí ẩn. Có thể nói rằng: Trong khoa Phong Thủy Đông phương, khái niệm “Khí” được nói đến nhiều nhất. Không chỉ trong cả Âm trạch là phương pháp tìm đất, khu vực cư trú, xây dựng đô thị và cả trong Dương trạch – là phương pháp xây cất nhà cửa, tất cả đều có khái niệm “Khí”, mô tả một thực tại đang hiện hữu và ảnh hưởng tương tác với con người. Nhưng trong các bản văn cổ thì chỉ cho chúng ta những định tính khác nhau về khái niệm “khí” trong từng trường hợp cụ thể, còn bản chất khái quát và chung nhất về khí thì hoàn toàn bí ẩn. Hàng ngàn năm đã trôi qua, khái niệm “khí” vẫn mơ hồ trong nền văn minh Đông phương cổ, bất chấp mọi cố gắng của con người. Mặc dù “Khí” được thừa nhận trên thực tế và được ứng dụng trong phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành trong nền Lý học Đông phương. Cụ thể rõ nét nhất – ma 2mỗi chúng ta đều biết – chính là trong phương pháp luận của Đông Y. Bởi vậy, việc giới thiệu khám phá bản chất của “Khí” – một khái niệm còn bí ẩn trong hệ thống phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành mô tả một thực tại đang hiện hữu – nằm ngoài nhận thức của tri thức khoa học hiện đại, được trình bày trong tiểu luận này là một cố gắng của chúng tôi. Chúng tôi rất hy vọng có sự tham bác của quí vị học giả và các nhà nghiên cứu quan tâm. Kính thưa quí vị. Vấn đề tiếp tục trình bày dưới đây là: Quan niệm về khí trong công trình nghiên cứu của Trung Tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương Khí là một khái niệm căn bản trong học thuật cổ Đông phương. Khí miêu tả một thực tế khách quan tồn tại trên thực tế. Trong phong thủy, khái niệm khí cũng được thể hiện, như là một thực tại tương tác với môi trường. Qua kiểm chứng thực tiễn ứng dụng trải hàng ngàn năm trên các lĩnh vực Đông Y và Phong thủy, đã xác định: Khí là sự tồn tại có thực trên thực tế. Hay nói rõ hơn: Khí - là một thực tại chưa được nhận thức trong tri thức khoa học hiện đại và tồn tại trên thực tế và thể hiện trong Lý học Đông phương; cụ thể là trong phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Chính vì là một thực tại chưa nhận biết của tri thức khoa học hiện đại, nên góp phần cho sự bí ẩn của văn hóa Đông phương cổ. Ta không thể “thấy” được khí bằng các giác quan thông thường, nhưng người ta có thể cảm nhận được sự tồn tại của nó. Nói cách khác: Khí là một dạng vật chất không “thấy” được để phân biệt với một dạng vật chất mà ta có thể “thấy” được bằng giác quan, hoặc bằng các phương tiên kỹ thuật hỗ trợ gọi là hình. Bởi vì “khí” là vật chất cho nên khoa học ngày nay đang cố gắng xác định xem khí là loại vật chất nào mà khoa học nhận dạng được. Đã có những giả thiết cho rằng: “Khí” là không khí, là ánh sáng, là sóng vi ba, …vv... Nhưng tất cả những giả thuyết ấy đều không thỏa mãn tiêu chí khoa học trong việc giả thích các vấn đề và hiện tượng liên quan. Trong các văn bản cổ cũng không hể có một khái niệm rõ ràng về “khí”. Nhưng trên thực tế ứng dụng của Lý Học Đông phương và nhất là trong khoa Phong Thủy – khí là một khái niệm trên thực tế ứng dụng rất quan trọng. Mà người thực hiện chỉ có một cảm nhận mơ hồ về khí do sự tồng hợp từng trường hợp cụ thể ứng dụng liên quan đến khí. Để tìm hiểu bản chất của khái niệm “Khí” trong Lý học Đông phương, chúng tôi cố gắng tổng hợp tất cả những khái niệm ứng dụng liên quan đến Khí trong từng trường hợp cụ thể. * Trong Đông Y Khí là một thực tại có trong các đường Kinh Mạch có trong cơ thể người, với các khái niệm: Thông khí, bế khí, thoát khí, suy khí, vượng, khí, hỏa khí, tà khí, Âm khí, Dương khí…vv…Tổng hợp những khái niệm trong ứng dụng liên quan đến “khí” trong Đông Y , chúng tôi xác định: - Khí không thể là sóng vi ba, sóng diện từ, và tất nhiên không phải là ánh sáng và không khí. - Khí là một trạng thái vật chất vô ý thức, tác động trở lại với vật chất và có trong vật chất. Cụ thể là trong cơ thể con người. - Khí có sự vận động và tương tác. Tức là có thuộc tính vật chất. - Trong cơ thể người, sự vận động của “Khí” có định hướng và mang tính quy luật: Vận động chủ yếu trong các đường Kinh mạch. * Trong thiên nhiên: Khí được mô tả là một thực tại. Được chia làm 60 loại theo Ngũ hành và Âm Dương. Mỗi hành quản lý năm loại khí từ thiếu Dương đến Thái Dương. Thiếu Âm đến Thái Âm. Như vậy, chúng tôi xác định rằng: - Khí là một khái niệm bao trùm không chỉ trong con người mà cả thiên nhiên. - Khí trong thiên nhiên tương tác với thực tại môi trường trái Đất. Vì theo mô tả của cô thư thì khí ảnh hưởng đến thời tiết của trái Đất. * Trong lịch sử hình thành vũ trụ: Cổ thư cũng ghi nhận: “Khi hỗn độn mới phân. Khí Dương nhẹ và trong bay lên thành trời, Khí Âm nặng và đục tụ xuống thành Đất”. Như vậy, chúng tôi xác định rằng: - Khí là một thực tế tồn tại ngay từ khi hình thành vũ trụ theo quan niệm của thuyết Âm Dương Ngũ hành. * Trong Phong thủy Về Dương trạch – tức là điều kiện môi trường trong việc nhận định tính chất tốt xấu của ngôi gia - Khí được mô tả có trong từng căn hộ, từng mọi vị trí trong căn nhà, với các khái niệm cụ thể liên quan là: Dương khí, Âm khí, bế khí…vv… Về Âm trạch – Tức là điều kiện môi trường trái đất – khí được mô tả như sự mô ta trong Đông y với cơ thể người. Trong Âm trạch, khái niệm khí được mô tả nhiều nhất trong phong thủy Âm trạch với khái niệm về long mạch, tự khí, sinh vượng khí…vv… * Trên cơ sở tổng hợp tất cả những khái niệm trong ứng dụng cụ thể liên quan tới khái niệm “khí”, chúng tôi xác định rằng: - Khí là một khái niệm trong hệ thống phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành, phản ảnh một thực tại bao trùm trong lịch sử hình thành vũ trụ và không gian vũ trụ. Khí có trong vạn vật và cả trong không gian, và là một thực tại chưa được phát hiện trong tri thức khoa học hiện đại. Vậy chúng ta phải hiểu khái niệm “Khí” trong Lý học Đông phương như thế nào? Khoa học hiện đại đã xác nhận rằng: “Bản chất của vũ trụ là tương tác. Tính chất của tương tác thế nào thì hình thành bản chất sự vật như thế đó”. Hay nói cách khác: Khoa học hiện đại xác nhận tính tương tác có từ khởi nguyên của vũ trụ. Và khái niệm “Khí” trong Lý học Đông phương cũng tồn tại từ khởi nguyên của vũ trụ. Trên cơ sở này, chúng tôi đã tổng hợp và định nghĩa về khái niệm “Khí” trong Lý học Đông phương như sau: Khí là một dạng tồn tại của vật chất, được hình thành bởi sự tương tác và vận động của những vật thể, đồng thời tương tác lên các vật thể ấy. Tính chất của khí phụ thuộc vào tính chất cấu trúc và tương tác của các vật thể vật chất. Sự vận động của khí được định hình tùy theo vị trí các dạng cấu trúc vật thể vật chất tương tác hình thành nên nó. Để mô tả về khái niệm “Khí” được phục hồi nhân danh cội nguồn Lý học Đông phương, chúng tôi lấy mô hình đồng dạng tương ứng là sự hình thành từ trường khi có sự tương tác giữa hai điện cực và tạo ra dòng điện trong dây dẫn. Từ định nghĩa khái niệm về Khí trong Lý học Đông phương – phục hồi từ phong thủy Lạc Việt – chúng tôi đã ứng dụng để giải thích các vấn đề liên quan trên cơ sở tiêu chí khoa học đã nêu và nhận thấy rằng: Chúng hoàn toàn thỏa mãn những tiêu chí khoa học cho sự định nghĩa này. Chúng tôi hân hạnh trình bày phần tiếp theo về: Ứng dụng khái niệm khí từ Phong Thủy Lạc Việt Tuân thủ theo tiêu chí khoa học cho một giả thuyết khoa học được coi là đúng. Tiêu chí khoa học phát biểu rằng: Một giả thuyết khoa học được coi là đúng, nếu nó giải thích hợp lý hầu hết mọi vấn đề và hiện tượng liên quan đến nó, một cách nhất quán, có tính hệ thống, tính quy luật, tính khách quan và khả năng tiên tri. Để bảo đảm tính thẩm định khoa học, căn cứ theo tiêu chí khoa học, chúng tôi đã ứng dụng cụ thể khái niệm Khí đã được định nghĩa như trên so sánh với từng trường hợp cụ thể trong các cổ thư ghi nhận và đã ứng dụng trong việc thiết kế nhà theo phong thủy Dương trạch. Trên thực tế ứng dụng khái niệm về “khí” – một thực tế tồn tại khách quan được ghi nhận trong Lý học Đông phương – nhân danh sự phục hồi trên cơ sở một nguyên lý xuyên suốt “ Hà Đồ phối Hậu Thiên Lạc Việt” – chính là một yếu tố cấu thành nên sự nhất quán trong việc tổng hợp các trường phái Phong thủy được phát hiện rời rạc trong cổ thư chữ Hán trong khoa phong thủy nguyên thủy được phục hồi nhân danh Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến. * Xác định khí hình thành do sự tương tác của các vật thể, nên chúng tôi xác định rằng: - Vật thể động thuộc Âm thì khí thuộc Dương. Trên nguyên lý trong Âm có Dương. Với nguyên lý này và định nghĩa về Khí theo Phong thủy Lạc Việt thì sự vận động của con người và phương tiện trên xa lộ, hoặc đường đi sẽ tạo Dương khí. Điều này giải thích rằng: Ở những nơi thị tứ, xe cô và người đông đúc tấp nập thì Dương khí thịnh. Khái niệm Dương khí thịnh ở những nơi đô hội, nhà đông người là một khái niệm phổ biến trong phương pháp luận của lý học Đông phương. - Vật thể tịnh, thí dụ như nhà vắng người, hoặc không người ở thì khí thuộc Âm, cũng theo nguyên lý trên. Điều này ứng dụng việc giải thích nhưng ngôi nhà bỏ hoang, hoặc vắng người thường được coi là Âm khí thịnh. - Giải thích khái niệm Dương trạch – dùng trong kiến trúc xây dựng vì chủ yếu là quán xét Dương Khí, nên gọi là Dương trạch. - Giải thích khí hình thành ngay từ tương tác đầu tiên trong vũ trụ và tồn tại trong không gian vũ trụ và khí chính là môi trường tương tác của vạn vật trong vũ trụ - giữa các thiên hà cho đến hạt vật chất nhỏ nhất. - Giải thích sự phân biệt và quán xét Âm Dương khí và lục khí, ngũ vận trong Đông Y. Tính chất của khí phân loại theo Âm Dương và Ngũ hành cho từng trang thái cấu trúc giữa các vật thể. Thí dụ: Trong Hoàng Đế nội kinh nói đến Lục khí vận chuyển hàng năm tương tác với Địa cầu đó là do mối tương quan vị trí của Địa cầu với Thái Dương hệ và vị trí toàn thể của Thái Dương hệ với Ngân Hà. Vị trí khác nhau do sự vận động của vũ trụ, tất nhiên tương tác sẽ khác nhau và do đó tính chất “Khí” sẽ khác nhau, được phân loại theo Ngũ hành. …vv… Kết luận: Sự ứng dụng một thực tại tương tác là “Khí” vô cùng rộng khắp, nên trong một bản tham luận này, chúng tôi chỉ có thể giới hạn trong định nghĩa khái niệm và giới thiệu một số những thành quả ứng dụng đã đạt được một cách giới hạn, nhằm minh chứng tính hợp lý, tính nhất quán và có hệ thống cho khái niêm “Khí”, góp phần khám phá một thực tại bí ẩn của nền văn hóa Đông phương cổ đại. Mà những cổ thư chữ Hán đã không ghi nhận một cách hoàn chỉnh khái niệm này. Sự tìm hiểu và khám phá về “Khí” rất quan trong trong Lý học Đông phương và khoa phong thủy nói riêng. Bởi vì, đó chính là một thực tại tương tác có tính rất quyết định trong viễc nghiên cứu phong thủy và cũng là một yếu tố quan trong để hợp nhất các mảnh vụn còn rời rạc của khoa phong thủy được lần lượt xuất hiện trong văn hóa Hán – khi nền văn hóa Việt sụp đổ ở miến nam sông Dương tử từ hơn 2000 năm trước. Những vấn đề chi tiết hơn được làm sáng tỏ liên quan đến “Khí” trong phong thủy, sẽ còn cần được tiếp tục nghiên cứu trong tương lai và sẽ được trình bày tiếp tục trong tham luận tại Hội Thảo này.
  13. CÁI TA - CON NGƯỜI : cõi dương thế bao la sầu Hầu hết các tôn giáo đều cho rằng có một đấng tối cao hay Thượng đế bằng các danh xưng: Chúa Trời, Thánh Allah, Brahma, v.v… đã sáng tạo nên vũ trụ và các loài, trong đó có loài người. Trong khi Phật giáo nói: “Tất cả các pháp đều vô ngã.” Vô ngã là giáo lý độc đáo của Phật giáo, chưa từng có trong hệ thống tư tưởng của nhân loại. Vì vậy người đời xem Đức Phật là một Đạo sư vô ngã. Giáo lý của Phật phủ nhận thực thể của “cái ta” trong sinh hoạt tâm linh, thậm chí còn lên án cái ta (tôi) bởi vì đạo Phật còn nhìn thấy nó là nguồn gốc của thói ích kỷ, thói bám chấp vào cái gì mà cái ta sở hữu, nguồn gốc của đố kỵ và của tranh chấp. Từ những xung đột giữa các cá thể tới những cuộc chiến hủy diệt giữa các dân tộc, giữa các bộ tộc, các phe đảng đều bắt nguồn từ ảo giác “cái ta”, cái cảm giác cho “cái ta” là người riêng biệt, đặc thù. Nền văn minh của chúng ta đang dựa vào ý niệm “cái ta” và chủ nghĩa cá nhân đang xô đẩy con người về hướng tìm hạnh phúc cho “cái ta” chật hẹp này. Cái ta trong đạo Phật gọi là ngã, trong triết học gọi là bản ngã, còn cái của ta gọi là ngã sở, tức là những sở hữu của cái ta. Chúng sinh trôi nổi trong sinh tử luân hồi cũng vì “cái ta”. Bởi vì nếu không có cái ta thì ai sinh, ai lão, ai bệnh, ai tử, v.v..? Trong đời sống thường nhật, ai cũng muốn được sung sướng, được hạnh phúc trước nhất cho riêng mình (cho cái ta) và đôi khi quên cái hạnh phúc của người khác, mới dẫn đến tính ích kỷ, tranh chấp, giành giựt, tham ô, nhũng nhiễu. Khi cái ta được thỏa mãn thì vui vẻ, khi không được thì u sầu, tức giận, thù ghét, bạo lực. Ÿ Ta là ai? Ta là gì? Những câu hỏi này gần như những công án nền tảng, quan trọng đối với con người và chúng ta chỉ trả lời từ chính đời sống của chúng ta mà thôi. Có thể trả lời ngắn gọn, đơn giản và rất gần với thực tại: “cái ta” là con người, con người gồm có hai phần thân và tâm. Thân là phần vật chất có hình tướng và tâm là phần phi vật chất biểu hiện các khả năng: hiểu biết, suy nghĩ, tưởng nhớ, tính toán, lo âu, yêu thương, ghét bỏ và có vai trò điều khiển thân thể đi, đứng, hoạt động, v.v... Trong đạo Phật gọi chung thân tâm là ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Đây là một đề tài muôn thuở trong đạo Phật bởi vì giáo lý của Ngài dựa trên tuệ giác gọi là vô ngã. Đức Phật đã dạy cho thầy La Hầu La: Thân này không phải là ta, không phải là của ta, cũng không phải ở trong ta mà ta cũng không phải đang ở trong thân (theo Thầy Nhất Hạnh). Trong khi người đời nói tới bản thân (cái ta) như là một cái ngã và có nhiều quan điểm về ngã: + Cho rằng năm uẩn là ta (là ngã) + Cho rằng năm uẩn không phải là ta mà là vật sở hữu của ta. + Cho rằng năm uẩn này không phải là ta nhưng ta có trong năm uẩn đó và năm uẩn này có trong ta. Rất khó suy tư nếu cho là không có ta. Trong các kinh sách của đạo Phật cũng không tránh khỏi sự mâu thuẫn trong ngôn ngữ khi nói: ta trôi lăn trong sinh tử luân hồi vì chấp năm uẩn là ta - Vì vô minh nên chấp danh sắc là ta, v.v.. Nếu nói rằng vô ngã (không có cái ta) thì sự trôi lăn trong sinh tử luân hồi là ai? Chấp ngũ uẩn là ai? Vì thế cho nên đã sinh ra một quan niệm rất vi tế về cái ta. Trường phái Trung Quán tách ra hai cái ta: - Cái ta bẩm sinh, bản năng (còn gọi là cái ta tương đối). - Cái ta khái niệm huân tập theo thói quen và được con người gắn cho nhiều tính chất mà mỗi người tự cho đó là cốt lõi của mình, độc lập và trường tồn (gọi khác là cái ta tuyệt đối). Cái ta bẩm sinh, bản năng, tương đối là một danh từ giả lập để chỉ cái thân năm uẩn; nó có tính quy ước trong việc xưng hô và chỉ định sự khác biệt giữa từng cá nhân trong xã hội. Chẳng hạn khi đi làm thì nói “Tôi đi làm” - cái tôi (ta) này thuộc loại giả lập vì thực tế có cái thân này đi chứ không phải cái thân người khác đi. Cái ta khái niệm chỉ là một ảo tưởng, một lầm chấp, chúng sinh vô minh nên lầm tưởng là cái ta tuyệt đối, thật có. Từ khi chào đời cho đến lúc ra đi, thân thể của con người phải chịu đựng bao thay đổi liên tục và tâm thức là một sân khấu của vô số những trải nghiệm về nhận thức và về tình cảm. Đau xót hơn là con người vẫn lầm chấp gán cho cái ta đó những tính chất thường hằng, đặc thù và tự chủ. Theo Trung Quán, giáo lý vô ngã phủ định cái ta khái niệm, cái ta tuyệt đối này. Vì vậy đức Phật giảng pháp môn vô ngã có mục đích giúp chúng sinh phá trừ cái gốc rễ chấp ngã (cái ta) hầu giải thoát khỏi luân hồi. Chúng ta suy ngẫm được rằng mọi kinh nghiệm sống chính là nội dung của dòng chảy tâm thức, của dòng ý thức liên tục và chúng ta đã lầm gắn nhãn hiệu “cái ta” vào dòng chảy tâm thức, đồng hóa luôn với “cái ta” đó: nhà cửa, xe cộ này “của tôi”, tư tưởng “của tôi”, buồn vui “của tôi”, v.v.. dẫn dắt đến lòng ham muốn chiếm hữu và từ đó kết tinh những khái niệm về mình, về người trong dòng tâm thức của chúng ta. Chúng ta quan sát và nhìn nhận thế giới qua một màn sương vọng tưởng của mình nên liên tục bất đồng với bản chất chân thực của hiện hữu và đưa đẩy ta đến khổ đau sầu muộn. Một cách hiểu thông thường, sự khổ đau xảy ra trên hai phương diện: thể chất và tinh thần (thân và tâm): bệnh tật, đói rét cũng là khổ, những điều bất toại, trái ý, không hợp lòng cũng là khổ và những biến dịch âm thầm trong thế giới vô thường, tất cả đều sẽ trôi đi theo lớp sóng phế hưng cũng là khổ. “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo Nền cũ lâu đài bóng tịch dương” (Bà Huyện Thanh Quan) “Đời hưng vong bao thành quách lâu đài Tự thiên cổ đứng buồn soi đáy nước” (Đinh Hùng) Ÿ Sự cảm nhận + Bạn đang ngắm một bức tượng pha lê tuyệt mỹ tại một cửa hàng lưu niệm, bỗng người bán hàng sơ ý làm rơi xuống đất, tượng pha lê đó vỡ toang. Bạn có hơi tiếc nuối một đôi chút và ra đi - Trái lại nếu giả sử bạn mua tượng đó về nhà để trên tủ và nó bị rơi vỡ, bạn sẽ thốt lên: tượng “của tôi” đã vỡ, sau đó là nỗi buồn. Sự khác nhau giữa 2 trạng thái của bạn là bạn đã gắn “cái tôi” vào bức tượng. + Một ví dụ khác, giả sử có ai đó đã đánh một tát vào má của bạn thì cơn đau đớn chóng hết nhưng điều duy nhất khiến bạn đau khổ chính là “cái ta” bị xúc phạm và bị tổn thương. Trong cách thế giáo dục đối với một con người từ lúc còn thơ ấu cho đến khi cắp sách đến trường, gia đình và kể cả nhà trường đã bắt đầu xem cá thể như một nhân cách, nhân cách này đã được củng cố và ổn định dọc theo thời gian trên nền tảng là tin rằng có tồn tại một “cái ta”. Có thể khẳng định rằng niềm tin vào một “cái ta” được xác lập là một trong những nét nổi trội của nền văn minh. Và chính niềm tin đó đã kết tinh dần dần trong con người những thuộc tính mong manh phù du như quyền lực, danh vọng, địa vị, sắc đẹp, sự thành công, v.v.. Tất cả các thứ đó lại trở thành các yếu tố làm nên bản sắc của ta, của người khác và chính các yếu tố đó khi bất toại, thay đổi, không thuận lợi, không phù hợp với cái ta thì ta trở nên đau khổ. Chúng ta có thể tìm thấy sự thật này rất phổ biến trong văn học (thi ca và âm nhạc). Nhà thơ nổi tiếng Chế Lan Viên đã có lần tâm sự “ta là ai” và sau đó ông đã thừa nhận như là “ngọn gió siêu hình”. Đối với họ niềm tin xác định cái tôi (cái ta) là hết sức quan trọng trong việc sáng tạo và cho rằng cái tôi trữ tình trong thơ là tiền đề cho sự độc đáo và sự suy ngẫm đến hạnh phúc, bất hạnh, đau khổ, được thua, thất bại, mất còn đã làm cho tác phẩm (đứa con tinh thần) thật hơn, lắng đọng hơn, giàu suy tưởng hơn và vì vậy mang nhiều ý nghĩa triết lý nhân sinh hơn. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trầm tư sâu sắc trong dấu chấm hỏi. “Ta là ai, là ai mà trần gian thế Ta là ai, là ai mà yêu quá đời này” Cái ta trong ông hiện thân của sự âm thầm lê từng bước chân hành hương về nơi “chốn cô liêu” hay giam mình trên “căn gác đìu hiu”, đối diện với “tường trắng lặng căm”, trong nỗi đời riêng. “Một mình tôi đi Đời như vô tận Một mình tôi về Một mình tôi về với tôi” Các bậc danh sĩ, vai cha ông của chúng ta sống trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử, dù đang ở chốn quan trường hay rũ áo từ quan, vẫn cùng ru một “điệu buồn” trong “vũ trụ chật hẹp” của “cái ta”. “Mặc ai tỉnh, mặc ai say Chí ta ta biết, lòng ta ta hay Nam nhi sự nghiệp, ơ hờ thỉ Hà tất cùng sầu với cỏ cây” (Nguyễn Bá Trác) Hoặc như: “Kiếp sau xin chớ làm người Làm cây thông đứng giữa trời mà reo” (Nguyễn Công Trứ) Nhà thơ Trần Nhuận Minh cũng không giấu được trong lòng cái hiện hữu mong manh: “Hư ảo hỡi, giữa vô cùng còn mất Ta là ai? Thăm thẳm có ta không?” Nhà thơ Thu Bồn đau xót hơn, trầm lặng hơn trong “cái tôi” ẩn hiện khi giả từ hoàng hôn của một vùng trời kỷ niệm. “Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya Tạm biệt Huế với chiếc hôn thầm lặng Anh trở về hóa đá phía bên kia...” Ÿ Tìm đâu thấy cái ta? Khuynh hướng phổ biến con người tưởng rằng có một chủ thể (cái ta) ở trong não bộ nắm quyền và ra lệnh, điều hành mọi hoạt động của con người, nghĩa là có một trung tâm chỉ huy ở trong đầu. Cái ta này ở trong não bộ nhìn thế giới bên ngoài thông qua 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) con mắt để nhìn, lắng nghe bằng tai và tiếp nhận các biến cố thế giới bên ngoài và tự xây dựng mô phỏng hình ảnh của thế giới đó cho mình. Ngày nay với sự phát triển của ngành khoa học thần kinh não bộ (neuroscience), người ta đã nghiên cứu não bộ và cho biết: não bộ gồm nhiều phần khác nhau, mỗi phần có một chức năng riêng và nếu các phần này không liên kết hợp tác, không thông tin nhau thì ý thức không thể phát sinh được. Vì vậy ý thức không phải là một cái gì có sẵn bên trong bộ não, mà nó là sự truyền thông giữa các tế bào não với nhau. Trong Duy Thức học, đức Phật dạy cho các đệ tử của ngài rằng: thức cũng như sắc, thọ, tưởng và hành chỉ là 1 trong 5 uẩn mà thôi. Không có uẩn nào quyết định, tự mình biểu hiện mà phải dựa trên các uẩn khác. Thức không thể từ đâu đến mà cũng không đi về đâu cả. Trong các bộ sách Duy Thức học có liệt kê 51 tâm sở trong đó có 4 tâm sở bất tịnh: hối, miên, tầm, tư: hối là hối hận; miên là buồn ngủ, dật dờ; tầm là nghĩ và tư là đi sâu vào suy nghĩ. Tất cả 51 tâm sở nằm trong tàng thức ở dạng hạt giống. Mỗi khi một hạt giống có điều kiện vun tưới thì nó sẽ biểu hiện trên ý thức lúc đó, được gọi là “tâm hành”. Vì vậy khi ở dạng hạt giống thì ta không thấy nó ở đâu nhưng không phải là không có mặt, không có mặt là vì chưa biểu hiện. Ta có thể lấy ví dụ như trong cuộc sống hiện tại có những quan chức tham ô vơ vét tài sản của nhân dân đó là tâm hành biểu hiện của “hạt giống tham”, bên cạnh cũng có những người liêm khiết bởi vì hạt giống tham đã được tu tập giảm trừ hoặc chưa có điều kiện vun tưới. Tâm hành gồm có 2 phần: kiến phần (chủ thể) và tướng phần (đối tượng) nên “tâm hành tham” có chủ thể “tham” và đối tượng “tham”. Tất cả 51 tâm sở đều hoạt động theo cách thức như vậy và khi biểu hiện trên tâm thức thì nó trở thành “tâm hành” nhưng khi nhìn vào “tâm hành” thì nó có cả kiến phần và tướng phần và tuyệt đối không thấy “cái ta” (cái ngã) nào cả. Quan niệm của Phật giáo “cái ngã” là một thuật ngữ chỉ ra một dòng liên tục trong thời gian giúp ta kết nối chính mình từ quá khứ và phóng chiếu liên quan đến tương lai. Chúng ta đã lầm lẫn xem “cái ngã” chính là hiện thân con người như một tổng thể vô hình không thể tiếp xúc được nhưng luôn luôn có mặt và biểu hiện được qua các đặc tính của chúng ta từ thuở ấu thơ cho đến lúc lìa đời. Cũng trong cách thức trải nghiệm này mà nhà Triết học Descartes khẳng định “tôi tư duy nên tôi tồn tại” (je pense, donc je suis). Với cách nhìn của Duy Thức học thì khi nói về tư duy thì có tư duy (tầm - tư) mà không cần có chủ thể của tư duy hay nói cách khác: nhận ra hay suy nghĩ về một điều gì đó không đủ để điều đó tồn tại và không chứng tỏ được rằng có một con người đang suy nghĩ, tức là không tồn tại “cái tôi” bởi vì “cái tôi” chỉ là một nội dung hiện hữu một dòng tâm thức đang vận hành liên tục. “Cái tôi” chỉ còn là ý niệm mà thôi. Ÿ Chọn con đường nào? Trong đoạn kết thúc kinh Kim Cương, Phật đã dạy: “Nhất thiết hữu vi pháp Như mộng, huyễn, bào, ảnh Như lộ diệc như điện Ưng tác như thị quán” Các luận sư Phật học giảng giải bốn câu kinh như sau: Ở đây Phật muốn nói rằng những gì chúng ta thấy không phải là tự thân của sự vật, tưởng rằng mình đã nắm được thực tại, kỳ thực mình đang nắm những hình bóng huyễn mộng của nó. Phải quán chiếu sâu sắc như thế để thoát khỏi ảo giác về thực tại, Phật cũng là con người nhưng với tuệ giác siêu phàm đã thấy được các hiện hữu như mộng, huyễn, bào, ảnh. Đức Phật vẫn sống, vẫn ăn và uống nước như chúng ta, nhưng Phật sống với tinh thần vô chấp và vô tướng. Còn chúng ta thì không như thế. Vạn vật tồn tại không phải như ta tưởng, cũng không phải là không tồn tại, “cái tôi” cũng như tất cả các hiện tượng có vẻ như tồn tại nhưng thực ra chỉ là ảo ảnh. Thái độ bám chấp vào cái ngã (cái ta) là đi liền với khổ đau cho mình và cho cả người khác. Buông xả định kiến về hình ảnh riêng tư không cho “cái ta” là quan trọng sẽ giúp chúng ta tạo dựng một không gian nội tâm tự do và rộng rãi như Thánh Gandhi đã sống và đã nói : “Tôi tự giảm trừ bản thân cho tới mức số không” (je me réduis à zéro). Có lẽ như thế và chỉ như thế mới giảm trừ được nỗi ám ảnh của một “dương thế bao la sầu” như nhạc sĩ Đặng Thế Phong đã ngậm ngùi trong các tác phẩm: Giọt Mưa Thu, Con Thuyền Không Bến, Đêm Thu, trong khi tuổi đời của ông còn rất trẻ. Đặng Công Hanh(*)
  14. Những dị biệt giữa Tử Vi Việt Nam và Trung Quốc bao gồm: Cách an mệnh của Tử Vi Việt nam bắt đầu từ cung Dần, trong khi Trung quốc bắt đầu từ cung Sửu Cách tính tuế hạn của Tử Vi Việt Nam tùy thuộc vào chi của tuổi người xem. Trong khi tuế hạn của Trung quốc cố định? Vậy ai hợp lý ai không? Nếu Trung Quốc bất hợp lý thì Tử Vi đẩu số của Hi Di tiên sinh bất hợp lý, và vì vậy không phải là của ngài sáng tác.
  15. Quá trình hình thành quốc hiệu Việt Nam 31/12/2009 Trước và trong thời Hai Bà Trưng, tiên tổ của người Việt Nam hôm nay gọi đất nước mình là gì? Đó là một câu hỏi khó. Tuy vậy, tôi cũng tạm nêu ra từ “Âu Lạc”, trong đó Âu là Đất, Lạc là Nước. Từ ghép “Âu Lạc” mang nghĩa là đất nước hay xứ sở[1]. So sánh hơi khập khiễng thì tổ chức xã hội Âu Lạc khi ấy không khác mấy vùng đồng bào thiểu số Tây Nguyên cách đây trên dưới 100 năm. Nếu người Pháp từng kí âm “Đạ Lạch” thành Đà Lạt (nghĩa gốc là nước của người Lạch, xứ sở của người Lạch) thì người Hán cũng đã kí âm “Đất nước” thành “Âu Lạc”. Chúng ta chỉ hình dung được: dường như Âu Lạc – Đất Nước có qui mô lớn hơn Đà Lạt – Nước Lạch. Từ Âu Lạc xuất hiện lần đầu tiên trong Sử kí của Tư Mã Thiên. Song nó hàm nghĩa rất rộng, đó là một khu vực bao la gồm Quảng Tây, Quảng Đông và miền bắc Việt Nam ngày nay. Vương quốc Âu Lạc nửa hư nửa thực gắn với An Dương Vương hầu như chỉ là sự ghép nối vụng về các mảnh sử liệu rời rạc có sau Sử kí. Trên một góc nhìn nào đấy thì nước Nam Việt của Triệu Đà cũng có thể mang tên bản địa là Âu Lạc. Sử kí viết về nước Nam Việt, nhưng luôn nêu rõ dân là dân Việt, tuồng như trong thông nghĩa Bách Việt (hàng trăm / nhiều tộc Việt khác nhau phía nam Trường Giang). Vậy chủ nhân của mảnh đất Việt Nam hôm nay có phải người Việt không, hay Việt chỉ là một từ ngoại lai mà lịch sử trót dùng. 1. Nước Việt thời Xuân Thu – Chiến quốc. Theo Việt vương Câu Tiễn thế gia (Sử kí thiên 41[2]): Việt vương Câu Tiễn là hậu duệ vua Hạ Vũ. Con thứ vua Thiếu Khang đời Hạ được phong đất Cối Kê để thờ cúng vua Hạ Vũ. Họ khai hoang lập ấp, cắt tóc xâm mình, trải qua hai mươi đời thì đến Doãn Thường. Doãn Thường đánh nhau với vua ngô là Hạp Lư. Doãn Thường chết, Câu Tiễn được lập làm Việt vương. Các chú giải của đoạn Sử kí trên: Sách Chính Nghĩa, trích lại từ Ngô Việt xuân thu (viết vào năm 232 đến 300): Vua Hạ Vũ đi khắp thiên hạ, đến Đại Việt, lên Mao Sơn họp quần thần bốn phương phong thưởng, rồi mất và được an táng tại đó. Đến thời Thiếu Khang, vua sợ không ai tế tự tôn miếu, bèn phong con thứ là Ư Việt hiệu Vô Dư đất ấy. Sách Cối Kê kí viết rằng: Con thứ của vua Thiếu Khang hiệu là Ư Việt, do đó tên nước Ư Việt xuất phát từ tên hiệu ấy. Sách Chính Nghĩa viết: Sách Xuân Thu Công Dương truyện gọi Ư Việt là do vùng đất ấy chưa thông với Trung Quốc. Thông rồi thì gọi là Việt. Sách Xuân Thu Tả truyện cho rằng Việt là tiếng nói của người bản địa (Cối Kê) có âm như thế, dùng từ Việt để ghi lại. Sách Thích Danh của Lưu Hi (219 SCN): Việt mang nghĩa vượt, vì là nước man di khác vòng lễ nghĩa Hoa Hạ. Sau khi Câu Tiễn diệt Ngô, quân Việt vượt sông Hoài cùng các nước Tề và Tấn hội ở Từ Châu, cung tiến vật phẩm cho triều Chu. Chu Nguyên Vương phong Câu Tiễn là Bá, trông coi các chư hầu vùng Giang Nam. Đến đời Việt vương Vô Cương, Sở Uy Vương diệt nước Việt. Con cháu Câu Tiễn cũng như giới quí tộc Việt lưu lạc khắp miền Giang Nam, xưng tiểu vương hoặc quân trưởng và thần phục vua Sở. Đến Tần mạt, hai quân trưởng vùng đất Mân là Dao và Vô Chư giúp Hán cao tổ đánh quân Tần. Năm 202 TCN Vô Chư được phong Mân Việt Vương cai quản vùng phía nam đất Mân (Quận Mân Trung thời Tần). Năm 192 TCN Dao lại được nhà Hán phong làm Đông Âu vương, cai quản vùng phía bắc đất Mân, ở lưu vực sông Âu. Trong Sử Kí của Tư Mã Thiên, Ư Việt (於越) còn được viết là Vu Việt (于越 – Hóa thực liệt truyện SK 129). Sách Thuyết văn giải tự : Vu = Ư dã (là Ư vậy). 2. Dân Âu Việt là ai? Cũng Sử Kí (Triệu Thế gia SK 43[3]) ghi nhận: 夫翦发文身,错臂左衽, 瓯越之民也 / Phu tiễn phát văn thân, thác tí tả nhẫm, Âu Việt chi dân dã / Như người Âu Việt, đàn ông cắt tóc, vẽ mình, đặt vạt áo về bên tay trái. Sách đời sau chú đoạn Sử Kí trên khá nhiều, với mục đích trả lời câu hỏi “Âu Việt chi dân” là ai: - Sách Ẩn nói theo Lưu Thị thì người Châu Nhai, Đạm Nhĩ (Đảo Hải Nam ngày nay) là người Âu nên có từ Âu Việt. - Sách Chính Nghĩa cho rằng họ là người Nam Việt của Triệu Đà. Xét trên đặc trưng văn hóa được Sử Kí ghi nhận thì người Âu Việt, người Ư Việt hay Vu Việt gần như là một. Để chứng minh Ư = Vu = Âu, cần phải có một công trình ngôn ngữ học truy nguyên các ngữ âm Hán cổ, cũng như cách kí âm phương ngữ bằng Hán tự của người Trung Quốc xưa. Chữ Âu ở đây rất quan trọng, nó có liên quan mật thiết với cổ sử Việt Nam, vì một trong những thuật ngữ mù mờ nhất trong cổ sử Việt Nam là từ Âu Lạc. Sử Kí đã dùng những chữ Âu sau: Đông Âu: Xứ sở của Đông Âu vương tên Dao. Từ này xuất hiện trong các thiên: Hiếu Vũ Bản Kỉ SK 12, SK 114, SK 22, SK 30. Âu Lạc : Nói chung toàn khu vực Nam Việt, kể cả Mân Việt / SK 20, SK 113. Người Đông Âu ở bên bờ sông Âu / SK 114, SK 22. Âu Việt : Người Âu Việt / SK 43. Âu nhân : người Đông Âu / SK 130. Âu Thoát : Tên một vùng đất của Hung Nô phía bắc / SK 114. Theo Thuyết Văn giải tự, Âu = 甌:小盆也從瓦區聲 / Tiểu bồn dã tòng Ngõa Khu thanh (Cái bồn nhỏ, bộ Ngõa, âm như chữ Khu). Chữ Âu 甌 ghép bởi chữ Khu 區 (Khang Hi: vực dã) là vùng đất và chữ Ngõa 瓦 là ngói, đồ gốm. Xin đề nghị một liên tưởng dân dã: U = nhô lên = đồi, núi ~ vú (nguồn sống nhô lên từ ngực phụ nữ) = rú (âm Việt cổ chỉ núi, trong từ rừng rú). Vú em = dưỡng mẫu U = mẹ Bu = mẹ già Khu (đất) ~ u = mẹ. Khu = vực = đất Ý Đất trong chữ Âu có thể xuất phát từ âm Khu. Ta có thể có mối tương quan giữa các âm như sau: Ư = Vu = Khu = Âu = U = Bu = Mẹ = Đất = Rú (Núi = Non). Biến âm giữa U sang Âu được ghi nhận khá nhiều: Chu / Châu , Thu / Thâu, U / Âu ( u sầu = âu sầu) … Như vậy, hoàn toàn tồn tại khả năng người Trung Quốc đã dùng Hán tự để kí âm phương ngữ vùng Giang Nam để nói về nước Ư Việt thời Xuân Thu – Chiến quốc. Từ nước Việt bên giòng Trường Giang ấy mà liên hệ ngôn ngữ với nước Việt Nam hôm nay là rất khó thuyết phục, tuy nhiên đặc trưng văn hóa cắt tóc xâm mình tương đồng là không thể phủ nhận. Có chăng một cuộc di cư lớn, kéo dài hàng trăm năm của cư dân và quí tộc Ư Việt sau khi nước Việt bị nước Sở sáp nhập? Nếu hậu duệ Câu Tiễn từng được ghi nhận chạy loạn xuống Mân Việt (địa bàn tỉnh Phúc Kiến ngày nay), thì không có lí do gì không có những nhánh khác đi xa hơn như đến Quảng Đông, đảo Hải Nam, bờ biển Hợp Phố (Quảng Tây) và đồng bằng sông Hồng. 3. Âu Lạc – Lạc Việt Khi hai dân tộc, hai nền văn hóa vì những biến động lịch sử vô tình hòa vào nhau, kết hợp làm một, nó sẽ để lại dấu tích trong ngôn ngữ. Đó sẽ là những tổ hợp từ sinh ra trên cơ sở phối hợp hai từ đồng nghĩa của hai nền văn hóa riêng biệt. Từ mới nọ tất nhiên phải đồng nghĩa với hai từ cũ. Ví dụ: Chó = Má = Chó má (Thái + Việt) Chia = Ly = Chia ly (Việt + Hán) Vậy phải chăng Âu Lạc chính là hợp từ sinh ra bởi Âu và Lạc. Nếu câu chuyện này thuyết phục, thì ta có thể truy ngược được nghĩa Âu. Tại hội nghị nghiên cứu thời kì Hùng Vương năm 1971, trong tham luận “Thử tìm nguồn gốc ngữ nghĩa của từ tố Lạc”, Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc đã giải thích Lạc nghĩa là nước. Hai ông cũng liên hệ được Lạc với Nác (tức nước) theo phương ngữ miền trung Việt Nam. Bằng các phương pháp truy nguyên ngữ âm học, các chuyên gia ngôn ngữ học Việt Nam hiện nay đã đi đến kết luận chữ Giang trong Trường Giang là Hán tự kí âm phương ngữ. Thật vậy, chữ Giang ghép bởi chữ Thủy (mang nghĩa nước, sông) và chữ Công (kí âm). Công có họ hàng với Krông, tức là dòng sông, dòng suối trong ngôn ngữ của cộng đồng người Đông Nam Á cổ và hiện vẫn tồn tại trong ngôn ngữ Tây Nguyên. Trường hợp tên gọi Mêkông[4] (tiếng Thái, tức là mẹ của các dòng sông, dòng suối) cũng vậy. Ngày nay ở Tây Nguyên nhóm từ Đạ / Đak / Krông đều chỉ nước, sông, suối. Theo tôi từ Lạc không đơn thuần chỉ là nước mà nó đôi khi còn được sử dụng với nghĩa Xứ Sở với các dẫn chứng liên hệ như Negeri (tiếng của người Mianagkabau ở Malaysia), Nưgar (tiếng của người Chiêm Thành). Như vậy, khi xâu chuỗi các nghiên cứu trên lại với nhau ta có một nhóm từ tố mang nghĩa rất giống nhau là : Đạ / Đak / Krông / Lạc / Nác / Nước / Nưgar / Negeri. Giả định Âu Lạc = Đất nước đến đây đã trở nên không hề hoang tưởng. Thậm chí nó có thể mở ra cách giải nghĩa một từ có liên đới là Lạc Việt: tên gọi này thể hiện sự kết hợp hai chủng tộc là bản địa (Lạc) với con dân cũ của nước Việt di cư xuống. Ở góc độ nào đó, nó là sự rút gọn của Lạc – Âu Việt. 4. Nam Việt Mở đầu thiên Nam Việt liệt truyện (Sử kí 113[5]) đã thấy Tư Mã Thiên dùng từ Việt với hàm í dân Việt: 秦时已并天下,略定杨越 置桂林, 南海、象郡, 以谪 徙民,与越杂处十三岁 / Tần thời dĩ tính thiên hạ, lược định Dương Việt trí Quế Lâm, Nam Hải, Tượng quận, dĩ trích tỉ dân, dữ Việt tạp xứ thập tam tuế. Nghĩa là: Nhà Tần, sau khi chiếm cả thiên hạ bèn lấy đất Dương Việt chia thành quận Quế Lâm, quận Nam Hải và quận Tượng, bắt những người bị tội đày xuống sống chung với người Việt, việc diễn ra đã được 13 năm. Về tổng thể, thời Tây Hán sách sử Trung Quốc đều thống nhất cho rằng chủ nhân nước Nam Việt là người Việt. Chữ Việt trong tiếng Hán: 越. Thuyết Văn tự giải của Hứa Thận thời Đông Hán định nghĩa: 度也從走戉聲 / Độ dã tòng tẩu việt thanh (Nghĩa là vượt qua, bộ tẩu, âm như chữ Việt là chiếc rìu đá). Một chữ Việt khác đồng âm, đồng nghĩa nhưng dị tự vẫn hay được các bản in xưa nay dùng là 粵. Trong ghi chép của Tư Mã Thiên, con người bản địa nước Nam Việt do Triệu Đà dựng lên là người Việt. Tuy vậy, dường như chữ Việt này được rút từ từ ghép Bách Việt, chứ không dính dáng gì đến nước Việt thời Chiến Quốc trước đó. Bách Việt không phiếm chỉ một dân tộc, một đất nước. Nó gần như là một khái niệm và mang nặng hàm nghĩa văn hóa. Phổ quát nhất và thường được lập đi lập lại là đặc trưng “văn thân, đoạn phát / xăm mình, cắt tóc”. Theo Đông Việt liệt truyện (SK 114)[6] và Việt vương Câu Tiễn thế gia(SK 41)[7], vùng Mân Việt (Phúc Kiến) phía đông bắc Nam Việt là đất nước dưới quyền cai trị của hậu duệ Việt vương Câu Tiễn. Năn 202 TCN nhà Hán phong Vô Chư làm Mân Việt Vương, năm 192 TCN nhà Hán lại cắt một phần phía bắc Mân Việt phong cho quân trưởng Dao làm Việt vương (theo SK 41) hoặc Đông Âu vương (theo SK 114). Thật khó khăn nếu muốn giải nghĩa Triệu Đà lấy tên Nam Việt với hàm í gì. Xét theo ngữ pháp tiếng Hán ta có Nam Việt = Đất nước phía nam nước Việt. Do đó người Việt ở nước Nam Việt có lẽ là người Bách Việt hơn là người Việt đồng chủng với cư dân Mân Việt? Điều này sẽ bị mấy câu văn vần của Thái sử công ở cuối thiên SK 113 phủ nhận, khi mô tả sự kiện Mân Việt đánh nhau với Nam Việt : Âu Lạc tương công, Nam Việt động dao / (Người, xứ) Âu Lạc đánh nhau, (Nước) Nam Việt xáo động. Hơn nữa, tục cắt tóc xăm mình cũng rất thịnh hành ở nước Việt của Câu Tiễn. Có không khả năng giai cấp lãnh đạo Mân Việt là người Việt (con cháu Câu Tiễn), trong khi đại bộ phận nhân dân là người Lạc? 5. Việt nam Sau khi diệt Nam Việt, có một cách đoạn nhiều trăm năm cái tên Nam Việt không được cả người Hán lẫn người Âu Lạc cũ dùng tới. Sau đây là biên niên và tên gọi Việt Nam[8] ngày nay theo dòng lịch sử: Hán: quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam Tam quốc (thuộc Ngô) trở đi : Giao Châu Đường : An Nam Tống : An Nam, như việc phong Đinh Bộ Lĩnh làm An Nam quận vương. Năm 1017 nhà Tống phong Lý Công Uẩn Nam Bình Vương. Năm 1164 nhà Tống lại dùng danh xưng An Nam Quốc Vương cho vua Lý. Minh: An Nam, năm 1428 Lê Lợi thay Trần Cao và được nhà Minh phong làm An Nam quốc vương, sau đến nhà Mạc được phong An Nam đô thống sứ. Thanh: An Nam, như đã phong cho vua Quang Trung là An Nam Quốc vương. Đến năm 1802, lần đầu tiên bắc triều mới chấp nhận để chữ Việt vào quốc danh để thành Việt Nam. Tai sao bắc triều tránh dùng chữ Việt, có những lí do sau: - Sợ nhầm lẫn với nước Nam Việt thời Tây Hán hoặc nước Việt thời chiến quốc. - Chữ Việt nhắc đến một quốc gia độc lập và tự chủ, trong khi bắc triều luôn muốn áp đặt đô hộ trực tiếp hoặc thống thuộc gián tiếp mảnh đất phương nam này như một thuộc quốc. - Chia để trị là một đối sách mà các nước đế quốc ưa dùng. Quá trình Hán hóa các dân tộc thiểu số ở Hoa Nam bắt buộc phải thủ tiêu thuật ngữ Bách Việt. Hán hóa chính là xâm lăng văn hóa, thôn tính văn hóa, bước tiếp theo của vũ lực quân sự. - Sau khi nước Việt thời chiến quốc và nước Nam Việt của Triệu Đà đã bị gộp vào Hán tộc, bắc triều gọi các nước phương nam là Nam cũng có thể xác nhận cách nhìn nhận phi Hán trong văn hóa, con người cũng như cương vực của khu vực này. Ngược lại với bắc triều, các phong trào giành độc lập cũng như các vương triều của cư dân Việt Nam xưa có xu hướng chuộng chữ Việt: Năm 544 Lý Bí tự xưng Nam Việt đế, đặt tên nước là Vạn Xuân. Năm 549 Triệu Quang Phục xưng là Việt Vương. Năm 939 Ngô Quyền mở nước Đại Việt. Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Năm 1054 Lý Thánh Tông đổi quốc hiệu là Đại Việt. Năm 1400 Hồ Quí Ly lấy tên Đại Ngu. Năm 1427 Lê Lợi dùng lại tên Đại Việt. Năm 1802 Nguyễn Ánh lấy tên nước là Nam Việt nhưng Thanh triều đổi thành Việt Nam. Năm 1838 vua Minh Mạng dùng lại tên Đại Nam. Năm 1945 chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định tên nước là Việt Nam. Trường hợp dân tộc Tráng (Choang): Không riêng gì người Việt Nam, người Tráng ở Quảng Tây cũng có một lịch sử chống bắc thuộc dai dẳng và bền bỉ. Từ thời Đường, các lãnh tụ khởi nghĩa của họ đã xưng vương và lấy những danh xưng có liên quan đến từ Việt và từ Nam như: Trung Việt Vương, Nam Hải Vương, Nam Việt Vương. Ngang thời Lý ở Việt Nam, ‎Nùng Trí Cao xuất thân từ tỉnh Cao Bằng đã xây dựng nước Đại Lịch Quốc, sau lại đổi thành Nam Thiên Quốc với cương giới gần phủ kín hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông [9]. Có hai khuynh hướng chủ đạo thiết lập nền độc lập ở các dân tộc phía nam Hoa Hạ: Lãnh đạo từ phương bắc xuống (hoặc hậu duệ nhiều đời của họ), hòa đồng với người phương nam, phát triển văn minh nhà nước tập quyền trên cơ sở thống nhất các bộ lạc tự trị, các vùng quyền lực bản xứ: Tổ tiên Câu Tiễn, Triệu Đà, Hậu duệ Câu Tiễn, Sĩ Nhiếp, Lý Bí, Trần Thủ Độ, Hồ Quí Ly… Người bản xứ đứng lên tự cởi ách đô hộ, xưng vương: Hai Bà Trưng, các tù trưởng người Tráng ở thời Đường, Nùng Trí Cao, Lê Lợi… Không kể Lê Lợi xây dựng vương triều từ nền móng chính trị sẵn có, ta thấy rõ khuynh hướng thứ nhất phổ biến hơn, thành công hơn. Trừ Hồ Quí Ly muốn ngang hàng bắc triều bằng cách đổi tên nước thành Đại Ngu (với giải thích ông là hậu duệ vua Nghiêu khai quốc Hoa Hạ), Sĩ Nhiếp tìm sự độc lập trong khuôn khổ hẹp, đa phần các lãnh tụ chọn từ Việt cho vương quốc mình. Các lí do hữu quan: - Phần nào đó tầng lớp lãnh đạo chính trị phương nam có huyết thống phương bắc, tác động của yếu tố này sẽ khiến họ chủ động thực nghiệm văn hóa chính trị tiến bộ trong khu vực vào quốc gia họ xây dựng trên mảnh đất phương nam. - Dư âm nước Việt tiểu bá phương nam của Câu Tiễn thời chiến quốc có thể là biểu trưng tinh thần, khích lệ các lãnh tụ tự tin và nỗ lực bồi đắp độc lập, tự chủ, thâu tóm quyền lực. Trong í nghĩa ấy, nước Việt mới, dân tộc Việt mới vẫn chứa nội dung phi Hán. - Một cách tự nhiên, từ Việt dần dần hóa thạch vào văn hóa chính trị phương nam với í nghĩa li khai, bất khuất. Nó mang tính chính thống hiển nhiên trong đối nội và đối ngoại của bất cứ chế độ nào. 6. Kết luận Tóm lại, Việt越 là một từ cổ, một từ bình thường trong bể từ vựng giữa đời sống văn minh Hoa Hạ. Nó được áp vào tên nước thời chiến quốc với í nghĩa[10]: Sách Cối Kê kí cho rằng Ư Việt là tên của một hậu duệ vua Hạ Vũ, đến Cối kê lập nên nước Việt để tiện việc thờ tự Hạ Vũ (vốn mất và được chôn cất tại Đại Việt). Sách Chính Nghĩa viết: Sách Xuân Thu Công Dương truyện gọi Ư Việt là do vùng đất ấy chưa thông với Trung Quốc. Thông rồi thì gọi là Việt. Sách Xuân Thu Tả truyện cho rằng Việt là tiếng nói của người bản địa (Cối Kê) có âm như thế, dùng từ Việt để ghi lại. Sách Thích Danh của Lưu Hi (219 SCN): Việt mang nghĩa vượt, vì là nước man di khác vòng lễ nghĩa Hoa Hạ. Vì nhiều lí do (một số đã dẫn ở trên) ngày nay Việt Nam đã trở thành tên gọi chính thống của dải đất hình chữ S bên bờ Tây Thái Bình dương. Để được như thế, hai từ Việt và Nam đã trải qua một quá trình vận động bổ xung ngữ nghĩa hàng ngàn năm, với biết bao thăng trầm của lịch sử. Một lần nữa ta thấy dấu ấn của Triệu Đà ở đây, như một người gieo mầm văn minh chính trị tiến bộ phương bắc vào khu vực có đất nước Việt Nam hôm nay. Nếu có thể phân biệt được con người huyết thống (sinh học) và con người văn hóa trong tổng thể con người nói chung của nhân vật lịch sử Triệu Đà, thì rõ ràng không thể gọi ông là con người văn hóa Hán tộc. Đánh đồng con người huyết thống Hán của ông với con người văn hóa, một thứ văn hóa khởi sinh bởi sự tương tác văn hóa Tiền Hán – Tiền Việt mà ông là nhạc trưởng, là việc làm đành tình đoạn lí. Tôi tin rằng, gần như đã đến lúc người Việt Nam đặt câu hỏi họ là người Việt, người Nam, người Việt Nam hay người Âu Lạc? Văn minh Việt Nam hôm nay đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ về nhận thức quá khứ, với chiều hướng dân trí và kinh tế đi lên, sáng sủa hơn bao giờ hết trong cuộc đời văn hiến đã khá dài của mình. Nó cần định hình và đồng thuận những giá trị mới của lịch sử, trên căn bản hài hòa xưa – nay, trước – sau và thấm đẫm tinh thần khoa học, trung trực. Chắc chắn quá trình vượt thoát, thực thi tinh hoa tự chủ, độc lập truyền thống trong bối cảnh chuyển biến thời cuộc khác trước rất nhiều, sẽ tiềm ẩn nhiều giải pháp hứa hẹn thú vị và lớn lao. ttd, Thảo Điền 3.2007 [1] Xin xem thêm cùng một tác giả: Cổ sử Việt Nam, một cách tiếp cận vấn đề – NXB Lao Động 2007. [2] http://www.guoxue.com/shibu/24shi/shiji/sj_041.htm [3] http://www.guoxue.com/shibu/24shi/shiji/sj_043.htm [4] Nếu Âu là Mẹ, thì sông Âu nơi người Âu Việt sống có thể hiểu là Sông mẹ, sông lớn, tương tự Mêkong. [5] http://www.guoxue.com/shibu/24shi/shiji/sj_113.htm [6] http://www.guoxue.com/shibu/24shi/shiji/sj_114.htm [7] http://www.guoxue.com/shibu/24shi/shiji/sj_041.htm [8] Theo Việt Nam niên biểu, Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim. Bản điện tử của viethoc.com. [9] Đoạn này tham khảo Journal of Southeast Asian Studies, Vol. XVIII, No. 2, September 1987. Người Choang các dân tộc ít người, vùng biên giới Việt – Hoa trong triều đại nhà Tống. JEFFREY G.BARLOW. Bản dịch của Ngô Bắc. [10] Có tham khảo Văn Minh Lạc Việt – Nguyễn Duy Hinh – NXB VHTT 2004.
  16. Qua phân tích trên chúng ta thấy rằng Linh hồn là có thật và nó vẫn chính là chúng ta chứ không ai khác, vẫn suy nghĩ bình thường nhưng cơ thể ở một dạng vật chất nhẹ hơn như sương khói, mà hay gọi là phách, thể vía. Dĩ nhiên, linh hồn vẫn tương tác ngược loại chúng như thường bởi Tính tuyệt đối của Tâm có nghĩa là dùng suy nghĩ để tương tác. Cho nên kinh Bà La Môn giáo nói rằng: Kẻ nào trí tuệ càng rộng mở thì sự tự do càng to lớn. Linh hồn chỉ tồn tại với vạn vật hữu tình chứ không phải là kim loại, oxy, đá... mặc dùng trong chúng hoàn toàn có tính tuyệt đối. Trong giai đoạn khởi nguyên cũa vũ trụ cũng như giai đoạn Hậu thiên, giữa các hạt vật chất vẫn có khỏang "rỗng" của không gian. Liên kết giữa các lớp vật chất của Linh hồn vẫn là Khí Hậu thiên. Linh hồn vẫn tiếp tục chịu nhân quả như thường, không có ngoại lệ cho bất kỳ ai ngay cả tiên thánh, nhưng tiên thánh đã dùng một phương pháp tuyệt diệu để trung hòa dòng Khí nhân quả này. Bởi vì tính tuyệt đối trong mỗi sự vật hiện tượng, đồng thời vũ trụ là thống nhất cho nên các phương pháp tiên tri, độn toán... nhận được kết quả câu hỏi ngay lập tức mặc dù có hàng tỷ tỷ tỷ... biến số liên quan, do thông tin di chuyển với vận tốc vô cùng (không giới hạn do tính tuyệt đối). Điều này sẽ xảy ra các trường hợp sau: - Người tiên tri không cần bất kỳ phương pháp nào để luận đoán, do họ đã hoàn toàn hòa nhập vào tổng thể tức là Ý nghĩ đã thấy được kết quả của câu hỏi ngay trước mắt. - Tiên tri cần dùng dữ liệu có sẵn như Chu Dịch, Độn toán lập trên những quy luật xác định... vì chúng ta chưa phải là những người như trên, do vậy cần thông tin về không thời gian ngay tại lúc cần nhận biết... vậy Chu dịch đã được tổng hợp như thế nào? Đương nhiên sẽ phải lấy con người làm chủ thể. - Hỏi các Linh hồn có thần thông nếu chúng ta có công năng nói chuyện như là thiên nhĩ thông... Ngũ Phúc Lâm Môn.
  17. Cấu trúc Siêu hạt là hình cầu. Trích: Thiên Sứ Phật pháp chia vật chất làm bẩy dạng gọi là "vi trần". Dạng nhỏ nhất là "Lân vi trần" và sau "lân vi trần" thì vật chất không tồn tại ở dang có trọng lượng - nói theo ngôn ngữ khoa học. Nguyên văn bản dịch tiếng Việt là "biến thành hư không". Đây chính là một dạng tồn tại của vật chất mà Lý học gọi là "Khí". Nhưng trong tạng kinh "Phật đỉnh Thủ Lăng Nghiêm" - mà tôi đã trích dẫn rất nhiều trong cuốn sách đã xuất bản : "Đức Phật khai ngộ về tính thấy" (Sau này khi viết lại tôi bỏ đoạn này vì đã định nghĩa lại về vật chất) - thì Phật pháp không coi hư không là hoàn toàn "không". Vì - theo lý luận của Đức Phật - khi người ta nhận thức được hư không thì thì hư không đã chứa đựng "Tính thấy" - chứ không đơn giản là so sánh giữa cái có và cái không. Phật pháp không nói rõ nguyên nhân tại sao chia vật chất làm 7 dạng. Ngũ Phúc Lâm Môn.
  18. Vấn đề khó khăn nhất là lý luận như thế nào giữa Tính thấy (tuyệt đối so với thuộc tính của mọi sự vật, hiện tượng) và ý thức con người trong giai đoạn Hậu thiên? tạo ta sự tự nhận thức, có vẻ như mọi trạng thái vận động được phản chiếu trong Tính thấy như là một tấm gương soi? Nếu giải thích được vấn đề này thì mới suy luận về nguồn gốc của Chu Dịch và Độn Toán. Kể từ khởi nguyên vũ trụ cho tới khi con người hình thành, trải qua quá trình lâu dài từ đơn giản đến phức tạp nhưng hoàn toàn theo quy luật vận động, rõ ràng vật chất hình thành là do sự tương tác của vật chất ban đầu thông qua sự sắp xếp cấu trúc không gian của chúng, một điểm đặc biệt là phải luôn tồn tại trung tâm là vật chất cơ bản, tuyệt đối lý tính và lúc này cơ thể là vô số lớp vật chất tờ vô hình tới hữu hình, chúng ta có thể tóm tắt như sau: Siêu hạt nằm giữa của Tâm - Tâm (chứa và truy xuất tác nhân đồng thời nhận quả xuất hiện) = Ý (phân tích - chọn lựa) - Thức (tưởng tượng là một trạng thái của cơ thể) và các giác quan. Siêu hạt (nhân + vỏ) cứng vô cùng, nhỏ vô cùng, tuyệt đối lý tính như đã phân tích, chẳng hạn trong suốt tuyệt đối, truyền thông tin nhanh tuyệt đối... Chúng ta thấy rằng: Siêu hạt như là tấm gương (Tính thấy) phản ánh quy luật chứa và xuất tác nhân tích lũy từ vô thủy tới hiện tại để tạo ra nhân và ngay lúc đó các tương tác tổng hợp lại tích lũy trong Tâm ngay lập tức để thành nhân hiện tại - Tính thấy đã phản ảnh quy luật chứa, xuất, lưu một cách liên tục nhân quả của mỗi con người liên quan đến quan hệ với toàn bộ vũ trụ từ vô thủy tới hiện tại mà không ngừng nghỉ (quy luật vận động chung) Trong chuỗi vận động này, khi xuất và nhập thông tin từ Thức tới Ý - Tâm tức tương ứng quy luật chuyển đổi các trạng âm dương ngũ hành tới mỗi con người hay còn gọi là nhân quả phản ánh qua Siêu hạt tuyệt đối chính là Sự tự nhận thức. Vậy, cấu trúc Siêu hạt là hình cầu hay hình đa diện đều??? Ngũ Phúc Lâm Môn.
  19. nguyễn thiện nhơn quan hệ bát biến của các quẻ Ứng dụng từ quan hệ bát biến của các quẻ thì khá nhiều như : · Con người với con người : Dùng quan hệ 2 quẻ bản mệnh cửu cung của 2 người để xem có phù hợp với nhau không ? · Con người với không gian : Dùng quẻ bản mệnh cửu cung đối chiếu với hướng nhà ở quy theo quẻ hậu thiên để xem có phù hợp không ? · Con người với thời gian : Dùng quẻ bản mệnh cửu cung đối chiếu với quẻ thời gian quy theo hậu thiên để xem ảnh hưởng tốt xấu thế nào ? · Công việc với thời gian : Công việc được xem là chủ thể, thời gian là khách thể nên cũng đã được đối chiếu như trên để xem xét có thích hợp với nhau không ? Và còn nhiều nữa trong các thuật số …v.v… Ứng dụng tuy nhiều nhưng lý giải các mối quan hệ này thì mãi cho đến nay vẫn rất mù mờ, nên chúng ta lại cùng nhau bàn về chủ đề này một lần nữa dưới đây : Quan hệ bát biến của các quẻ xưa nay thường được trính bày theo quy tắc sau : Nhất biến thượng - Sanh khí. Nhị biến trung - Ngũ quỷ. Tam biến hạ - Diên niên. Tứ biến trung - Tiểu sát. Ngũ biến thượng - Hoạ hại. Lục biến trung – Thiên y. Thất biến hạ - Tuyệt mệnh. Bát biến trung - Phục vị. file:///C:%5CDOCUME%7E1%5CVUKHAN%7E1%5CLOCALS%7E1%5CTemp%5Cmsohtml1%5C01%5Cclip_image001.gif <br style="mso-ignore:vglayout" clear="ALL"> ( Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn ) Ví dụ với quẻ Càn thì : * Nhất biến thượng - Sanh khí : Có nghĩa là biến đổi hào thượng của quẻ Càn từ Dương thành Âm thì ta được quẻ Đoài và quan hệ giữa 2 quẻ Càn - Đoài là Sanh khí. * Nhị biến trung – Ngũ quỷ : Có nghĩa là biến đổi hào trung của quẻ vừa tạo ra từ lần biến đổi trước là Đoài ( chứ không phải của quẻ Càn ) từ Dương thành Âm thì ta được quẻ Chấn và quan hệ giữa 2 quẻ Càn - Chấn ( chứ không phải 2 quẻ Đoài - Chấn ) là Ngũ quỷ. Tương tự tiếp tục : * Tam biến hạ - Diên niên : Biến đổi hào hạ quẻ Chấn từ Dương thành Âm thì Chấn thành Khôn và quan hệ Càn – Khôn là Diên niên. * Tứ biến trung - Tiểu sát : Biến đổi hào trung quẻ Khôn từ Âm thành Dương thì Khôn thành Khảm và quan hệ Càn - Khảm là Tiểu sát. * Ngũ biến thượng - Hoạ hại : Biến đổi hào thượng quẻ Khảm từ Âm thành Dương thì Khảm thành Tốn và quan hệ Càn - Tốn là Hoạ hại. * Lục biến trung – Thiên y : Biến đổi hào trung quẻ Tốn từ Dương thành Âm thì Tốn thành Cấn và quan hệ Càn - Cấn là Thiên y. * Thất biến hạ - Tuyệt mệnh : Biến đổi hào hạ quẻ Cấn từ Âm thành Dương thì Cấn thành Ly và quan hệ Càn – Ly là tuyệt mệnh * Bát biến trung - Phục vị : Biến đổi hào trung quẻ Ly từ Âm thành Dương thì Ly thành Càn và quan hệ Càn – Càn là Phục vị. Với 7 quẻ còn lại thì cũng thế khi biến đổi theo trình tự như trên ta vẫn được kết quả quan hệ như trên không có sai khác gì…..nên có thể tổng hợp lại như sau : *1) Quan hệ Sanh khí : Càn – Đoài , Đoài – Càn. Ly - Chấn , Chấn – Ly. Tốn – Khàm , Khảm - Tốn. Cấn – Khôn , Khôn - Cấn. *2) Quan hệ Ngũ quỷ : Càn - Chấn , Chấn – Càn. Đoài – Ly , Ly – Đoài. Tốn – Khôn , Khôn - Tốn. Khảm - Cấn , Cấn - Khảm. *3)Quan hệ Diên niên : Càn – Khôn , Khôn – Càn. Đoài - Cấn , Cấn – Đoài. Ly - Khảm , Khảm – Ly. Chấn - Tốn , Tốn - Chấn. *4)Quan hệ Tiểu sát : Càn - Khảm , Khảm – Càn Đoài - Tốn , Tốn – Đoài. Ly – Khôn , Khôn – Ly. Chấn - Cấn , Cấn - Chấn. *5)Quan hệ Hoạ hại : Càn - Tốn , Tốn – Càn. Đoài - Khảm , Khảm – Đoài. Ly - Cấn , Cấn Ly. Chấn – Khôn , Khôn - Chấn. file:///C:%5CDOCUME%7E1%5CVUKHAN%7E1%5CLOCALS%7E1%5CTemp%5Cmsohtml1%5C01%5Cclip_image003.gif <br style="mso-ignore:vglayout" clear="ALL"> *6) Quan hệ Thiên y : Càn - Cấn , Cấn – Càn. Đoài – Khôn , Khôn – Đoài. Ly - Tốn , Tốn – Ly. Chấn - Khảm , Khảm - Chấn. *7) Quan hệ Tuyệt mệnh : Càn – Ly , Ly – Càn. Đoài – Chấn , Chấn – Đoài. Tốn - Cấn , Cấn - Tốn. Khảm – Khôn , Khôn - Khảm. *8)Quan hệ Phục vị : Càn – Càn. Đoài – Đoài. Ly – Ly. Chấn - Chấn. Tốn - Tốn. Khảm - Khảm. Cấn - Cấn. Khôn – Khôn. Tới đây thì câu hỏi đặt ra là : Quy tắc biến đổi và các kết quả quan hệ trên do đâu mà có ? Xét 8 quẻ đơn trên ta thấy : * Có 4 cặp khác nhau hào trên, nhưng giống nhau 2 hào dưới ( quan hệ 1 ) *Có 4 cặp khác nhau 2 hào trên nhưng giống nhau hào dưới ( quan hệ 2 ) *Có 4 cặp khác nhau cả 3 hào ( quan hệ 3 ) *Có 4 cặp khác nhau hào dưới, nhưng giống nhau 2 hào trên ( quan hệ 5 ) *Có 4 cặp khác nhau 2 hào dưới nhưng giống nhau hào trên ( quan hệ 6 ) *Có 4 cặp khác nhau 2 hào trên và dưới, nhưng giống nhau hào giữa ( quan hệ 4 ) *Có 4 cặp giống nhau 2 hào trên và dưới, nhưng khác nhau hào giữa ( quan hệ 7 ) *Riêng quan hệ thứ 8 thì 2 quẻ cùng tên phải giống nhau là đương nhiên, nhưng ta vẫn có thể coi như có 8 cặp quẻ giống nhau cả 3 hào. Từ các trường hợp giống nhau và khác nhau của các hào 8 quẻ vừa xét thì chúng ta dễ dàng sắp xếp chúng thành quy tắc biến đổi liên tiếp ngay dù khởi đầu từ hào nào đi nữa. Ví dụ : Ta cũng có thể sắp xếp khởi từ hào dưới lên như sau : Nhất biến hạ - Hoạ hại. Nhị biến trung – Thiên y. Tam biến thượng – Diên niên. Tứ biến trung - Tiểu sát. Ngũ biến hạ - Sanh khí. Lục biến trung – Ngũ quỷ. Thất biến thượng - Tuyệt mệnh. Bát biến trung - Phục vị. Qua đây ta thấy quy tắc trên chỉ là để cho dễ nhớ chứ không phải do sự biến đổi từng hào mà tạo nên các quan hệ giữa các quẻ. Biến đổi từng hào thì quẻ này chỉ thành quẻ kia, còn mối quan hệ giữa chúng với nhau là vấn đề hoàn toàn riêng khác ! Còn với các nhà ngũ hành thì sao ? Căn cứ vào cách quy 8 quẻ Hậu thiên vào 5 hành : Đoài, Càn thuộc Kim, Khảm thuộc Thuỷ, Cấn, Khôn thuộc Thổ, Chấn, Tốn thuộc Mộc, Ly thuộc Hoả, họ lý giải các quan hệ trên theo quy luật sanh khắc nhưng lại có rất nhiều vô lý như vài ví dụ sau : * Quan hệ Sanh khí là vì 2 quẻ mang hành Tương sanh ( 2 cặp Ly - Chấn và Tốn - Khảm ) hoặc Tỷ hoà ( 2 cặp Càn – Đoài và Cấn Khôn ). Tại sao Tương sanh và Tỷ hoà đều cho quan hệ là Sanh khí cả ? Tương sanh phải khác với Tỷ hoà chứ ? Còn riêng trong Tương sanh thì ví dụ : Chấn mộc sanh Ly hoả chứ Ly hoả đâu có sanh Chấn mộc ? Lối giải thích quan hệ này nghe qua thì có vẻ hợp lý nhưng khi phân tích kỹ thì rõ ràng là còn rất nhiều bế tắc ! * Quan hệ Diên niên : thì có 2 cặp Tương sanh ( Càn – Khôn và Đoài - Cấn ). 1 cặp Tỷ hoà ( Chấn - Tốn ) và 1 cặp Tương khắc ( Ly - Khảm ) Hỏi tại sao Tương sanh thì Diên niên mà Tương khắc cũng Diên niên thì sẽ được trả lời theo lối nói lấy được rằng : Tuy Khảm – Ly là Thuỷ - Hoả tương khắc nhưng chúng luôn cần nhau như kiểu “ Thuỷ - Hoả KÝ TẾ vậy ! * Giống như 2 quan hệ này không cần phải phân tích dài dòng 6 quan hệ còn lại làm gì vì cái sai căn bản là Lý thuyết ngũ hành không thể nào hợp nhất với học thuyết Âm Dương Thái Cực được. Hợp nhất thì chỉ như một cây nhỏ khác loài vươn lên vũ trụ không - thời gian là nhờ bám vào cây đại thụ bên cạnh mà thôi Hơn nữa ở đây lại đem cách quy các Hành cho 8 quẻ hậu thiên để giải thích những quan hệ chung nhất của các quẻ là lệch lạc vì 8 quẻ hậu thiên chỉ là sự vận dụng của 8 quẻ tiên thiên vào Không - Thời gian thiên hà chúng ta chứ không phải là 8 quẻ căn bản . Để lý giải được chúng chúng ta phải quay trở lại quá trình hình thành và vận động của 8 quẻ tiên thiên thì mới có hy vọng : Tám quẻ tiên thiên của Khí được hính thành theo quy luật Dẫn Một Cực Ba ( xin xem lại bài Kinh Diệt : Khơi Nguồn Mạch đã đăng vào thang 8 năm 2011 cùng tác giả ) tóm tắc sơ lược như sau : Khối khí Thái cực do Âm Dương trao đổi cho nhau nên phải tự quay quanh mình sau 3 vòng thì hình thành 8 quẻ giống như một quả cam đã lột vỏ có 8 múi mà ta có thể hình dung theo hình vẻ : file:///C:%5CDOCUME%7E1%5CVUKHAN%7E1%5CLOCALS%7E1%5CTemp%5Cmsohtml1%5C01%5Cclip_image004.gif Càn Tốn Đoài Khảm Ly Cấn Chấn Khôn *1) Tám quẻ này hút nhau từng cặp một do lực Âm Dương đối xứng là: Càn – Khôn , Đoài - Cấn , Ly - Khảm , Chấn - Tốn nên quan hệ của từng cặp trong chúng là Tốt mà người đời sau gọi là Diên niên.( Không thể truy tìm người Việt cổ gọi là gì vì thất truyền đã quá lâu xa ! ) *2) Nhưng mỗi cặp thì lại bị Khí Trường của cặp vuông góc với nó cản trở : Cặp Càn – Khôn thì bị cặp Ly - Khảm cản trở và ngược lại câp Ly - Khảm thì bị cặp Càn – Khôn cản trở, mà cùng bên thì cản trở mạnh hơn khác bên nên : Càn – Ly là Tuyệt mệnh mà Càn - Khảm là Tiểu sát. Ly – Càn là Tuyệt mệnh mà Ly – Khôn là Tiểu sát Khôn - Khảm là Tuyệt mệnh mà Khôn – Ly là Tiểu sát Khảm – Khôn là Tuyệt mệnh mà Khảm – Càn là Tiểu sát Tương tự 2 cặp Đoài - Cấn và Chấn - Tốn cũng thế nên ta lại có thêm 2 quan hệ nữa là Tuyệt mệnh và Tiểu sát . *3) Từ vòng quay thứ 4 của Thái cực thì vận tốc quay là Chậm dần đều do lực hút nhau của 8 quẻ qua trục Tâm nên 2 phần Dương và Âm của mỗi bên có khuynh hướng kết hợp lại với nhau do lực hướng tâm ( vận tốc quay Nhanh dần đều thì các quẻ có khuynh hướng tách rời nhau do lực Ly tâm ). Sự kết hợp này thì theo thứ tự từng cặp trong mỗi phần trước ở cả 2 bên, rồi mới đến 2 phần ở từng bên nên vào thời kỳ các quẻ còn riêng lẻ thì ta lại có thêm quan hệ Sanh Khí của từng cặp như sau : Càn – Đoài, Ly - Chấn, Tốn - Khảm, Cấn – Khôn. Đoài – Càn, Chấn – Ly, Khảm - Tốn, Khôn - Cấn. Đến đây thì cho ra 2 hệ quả là : *4) Mỗi cặp Diên niên ( trường hợp 1 ) bây giờ lại bị cản trở không những bởi cặp vuông góc ( trường hợp 2 ) mà còn bởi cặp kết hợp với cặp vuông góc ( trường hợp 3 ) nữa. Sự cản trở này sẽ làm cho quan hệ của 2 quẻ Diên niên với cặp kết hợp trở nên xấu đi và ta lại có thêm 2 quan hệ tiếp, đó là : Ngũ quỷ và Hoạ hại. Ví dụ : Cặp Diên niên Càn – Khôn bị cặp vuông góc Ly - Khảm cản trở thì chúng quan hệ với cặp Chấn - Tốn kết hợp của Khảm – Ly là : Càn - Chấn : Ngũ quỷ , Càn - Tốn : Hoạ hại. Khôn - Tốn : Ngũ quỷ , Khôn - Chấn : Hoạ hại. ( Ở đây cần chú ý là : Theo tính chất cùng bên thì dù quan hệ tốt hay xấu đều mạnh hơn khác bên nên 2 cặp từ ngữ Ngũ quỷ và Hoạ hại có thể người sưu tập đã dùng lộn nhau nếu hiểu Hoạ hại là xấu hơn Ngũ quỷ, nhưng với người xưa thì các quan hệ chỉ là sự hút nhau hay sự đẩy nhau ở mức độ mạnh yếu thế nào chứ không phải là tốt hay xấu ) Các cặp Diên niên khác thì cũng suy ra tương tự…. *5) Quan hệ giữa cặp Diên niên và cặp Sanh khí : Ví dụ : Cặp Diên niên là Càn – Khôn mà Càn – Đoài và Khôn - Cấn là Sanh khí thì quan hệ Càn - Cấn và Khôn – Đoài là thế nào ? Càn với Khôn là Diên niên mà Khôn với Cấn là Sanh khí thì đương nhiên Càn với Cấn phải hút nhau rồi tuy lực có yếu đi ít nhiều nên ta lại có thêm quan hệ thứ 7 là Thiên y. Quan hệ Khôn – Đoài thì cũng thế . Các cặp khác cũng thế, cứ suy ra tương tự….. *6) Thực tế thì khối Khí thái cực khi tự chuyển hoá chỉ tạo thành 8 quẻ nên mỗi quẻ chỉ quan hệ với 7 quẻ còn lại, không có trường hợp nó quan hệ với chính nó, nhưng trong vận dụng tính toán cho các sự các vật thì có rất nhiều loại cùng chung một quẻ tượng lại tương tác, kết hợp hay chống đẩy nhau nên người xưa không thể không xét tới trường hợp này… Hơn nữa theo quy tắc biến đổi từng hào để quẻ này thành quẻ kia thì luôn luôn có trường hợp mỗi quẻ trở về chính nó nên để dễ dàng cho sự vận dụng tính toán họ đã đưa vào quan hệ thứ 8 mà người đời sau gọi là Phục vị. Từ ngữ Phục vị này tự nó đã không nói lên mối quan hệ nào cả, nó chỉ cho ta biết biến đổi đến đấy thì mỗi quẻ sẽ trở về nguyên gốc thế thôi. Thế nên tuỳ vào mỗi trường hợp trong tính toán mà ta sẽ suy ra nó là tốt hay xấu chứ không cố định. Nhưng đến đây thì cũng có thể có thêm thắc mắc :Quan hệ bát biến là của các quẻ trong khối khí thái cực sao lại có thể đem vận dung cho các tính toán cụ thể được ? Như ta đã biết mọi vật mọi sự đều là Tượng của một quẻ nào đấy (quẻ tượng hay quái tượng ), mà đã là Tượng của một quẻ thì phải nằm trong Tượng của một Thái cực tượng chứa quẻ đó nên ta vẫn có 1 Thái cực tượng với 8 quẻ đầy đủ để tính toán quan hệ của chúng với nhau không có gì sai trái cả . Ví dụ : Người xưa xem Gia đình là một Thái cực tượng với Người chồng là tượng của quẻ Càn, người vợ là tượng của quẻ Khôn và các con trai gái là ……. Thì quan hệ căn bản của Chồng -Vợ vẫn phải là Diên niên, nếu vì ngoại cảnh nào đó thân thể hay cuộc sống người chồng biến đổi không còn là Tượng của quẻ Càn nữa mà chuyển sang là Tượng của quẻ khác thì lúc bấy giờ chúng ta mới xét tới quan hệ khácsau…. Tóm lại là : Người đời sau dùng từ ngữ Quan hệ bát biến là không chuẩn xác vì không phải do biến đổi các hào theo thứ tự mà tạo ra các quan hệ, hơn nữa thực chất thì chỉ có 7 quan hệ mà thôi. Những quan hệ này thì phải xét nơi các quẻ tiên thiên chứ không thể xét tứ các quẻ hậu thiên dược. Xét từ 8 quẻ tiên thiên thì phải căn cứ vào sự hình thành và vận động của chúng chứ không thể xem chúng đứng im cố định rồi suy luận lung tung thiếu nền tảng hình thành nên chúng.
  20. Tuy nhiên, câu hỏi của phần viết trên vẫn bỏ ngỏ với giả sử là ngay cả Tính thấy phản ánh nhận thức được chính Nếu chúng ta chấp nhận Tính thấy tồn tại trong giai đoạn khởi nguyên và là nguồn gốc của sự tự nhận thức hay nhận thức phản ánh trong nó và chúng ta hiểu mình đang làm/ nghĩ gì trong giai đoạn Hậu thiên thì rõ ràng, khời nguyên là một Nhận thức to lớn mà Bà La Môn gọi là Brahman? hay Thượng đế có tự ngã tức có ý thức tuyệt đối?. Nếu Tính thấy có từ khởi nguyên, nên rõ ràng phải xuất hiện sự tự ý thức hay đã có sự vận động, điều này là không thể, cho nên Tính thấy chỉ là thuộc tính của trạng thái khởi nguyên Siêu vật chất. Hệ quả tiếp theo là không thể có Thượng đế tự ngã tạo ra vũ trụ và ngay cả trong giai đoạn khởi nguyên không tồn tại ý thức tự ngã, do vậy Thượng đế là thành phần của vũ trụ trong giai đoạn Hậu thiên hay Thượng đế cũng là Nhân thần tức con người cụ thể hóa thần mà thôi. Vấn đề khó khăn nhất là lý luận như thế nào giữa Tính thấy (tuyệt đối so với thuộc tính của mọi sự vật, hiện tượng) và ý thức con người trong giai đoạn Hậu thiên? tạo ta sự tự nhận thức, có vẻ như mọi trạng thái vận động được phản chiếu trong Tính thấy như là một tấm gương soi? Nếu giải thích được vấn đề này thì mới suy luận về nguồn gốc của Chu Dịch và Độn Toán. Ngũ Phúc Lâm Môn.
  21. Tuy nhiên, câu hỏi của phần viết trên vẫn bỏ ngỏ với giả sử là ngay cả Tính thấy phản ánh nhận thức được chính nó trong giai đoạn Hậu thiên thì rõ ràng Hạt các cũng phải thấy chúng ta và nhận thức được vũ trụ? Phân tích tiếp theo, thì lớp vỏ của Hạt nhân không thể thể hiện âm dương ngũ hành cụ thể trong giai đoạn khời nguyên được mà nó phải là ở trạng thái tiềm ẩn thì đúng hơn. Lúc này, các hạt sơ cấp của vỏ phải là bao nhiêu hạt và chúng không vận động mà cấu trúc xung quanh hạt nhân, đồng thời liên kết với các lớp vỏ của các hạt nhân khác. Nếu chúng ta chấp nhận Tính thấy tồn tại trong giai đoạn khởi nguyên và là nguồn gốc của sự tự nhận thức hay nhận thức phản ánh trong nó và chúng ta hiểu mình đang làm/ nghĩ gì trong giai đoạn Hậu thiên thì rõ ràng, khời nguyên là một Nhận thức to lớn mà Bà La Môn gọi là Brahman? hay Thượng đế có tự ngã tức có ý thức tuyệt đối?. Sự vận động nội sinh của Thái cực đã tạo ra sự vận động của toàn vũ trụ cũng được xem là ý muốn của Thượng đế có tự ngã?. Nếu không chấp nhận tính logic này thì chúng ta phải giải thích: trong giai đoạn Hậu Thiên, con người xuất hiện sau một chuỗi vô hạn... tương tác, phát triển... có tư duy và tự ý thức chính mình, đồng thời chấp nhận Tính thấy có trong vạn vật và là một trong những nguyên nhân tạo ra sự tụ nhận biết, vậy thì còn nguyên nhân nào khác về sự tuyệt đối Thái cực và tuyệt đối/ tương đối Hậu thiên? Ngũ Phúc Lâm Môn.
  22. Theo phân tích, Tính thấy là một thuộc tính của một loại Siêu vật chất nào đó và là khởi nguyên của vũ trụ, tuy nhiên nếu chúng ta đưa ra quy ước Siêu vật chất đồng nghĩa hoặc khác hoặc nằm trong ngũ hành. Nhưng nếu Siêu vật chất thuộc ngũ hành thì ó không còn là Siêu vật chất và sẽ phải phân chia nhỏ hơn, do vậy nó phải khác ngũ hành và nếu nó khác ngũ hành đồng nghĩa nó không tuân thủ quy luật âm dương ngũ hành?. Cho nên, Siêu vật chất phải thỏa mã các điều kiện sau: - Vật chất khởi nguyên vũ trụ với các thuộc tính tuyệt đối, ví dụ dây dẫn có điện trở nhưng khi đạt -273độ C thì không còn điện trở. - Phi ngũ hành nhưng thể hiện thuộc tính như trên. - Là loại vật chất nhỏ nhất. Để thỏa mãn các điều kiện trên thì Siêu vật chất phải: - Có hạt Tâm là một hạt vật chất không thể phân biệt âm dương ngũ hành. - Xung quanh là lớp vỏ tương tác với hạt Tâm, lớp vỏ thể hiện âm dương ngũ hành. Tâm và vỏ tạo thành hạt Siêu vật chất. Các tương tương giữa Tâm và vỏ tạo nên thuộc tính tuyệt đối, điều này hàm nghĩa bất kỳ thuộc tính nào của sự vật, hiện tượng trong giai đoạn Hậu thiên đều phản ánh vào trong Hạt siêu vật chất. - Sự liên kết của vô số Hạt siêu vật chất trong không gian vũ trụ tạo thành Vũ trụ khởi nguyên và chúng ta có thể hình dung một vùng nước bao la vô hạn, hoàn toàn tĩnh lặng tuyệt đối mặc dù giữa chúng có liên kết ban đầu và nhửng thuộc tính tuyệt đối ban đầu. Hậu thiên là sự tương tác giữa chúng và tạo ra vạn vật sau khi bằng một lý do nào đó vũ trụ vận động. Nhận định trên không có mâu thuẫn với khoa học nhưng rõ ràng chỉ ra Big bang phi logic và thuộc tính tuyệt đối được xác định như thế nào?. Tuy nhiên, câu hỏi của phần viết trên vẫn bỏ ngỏ với giả sử là ngay cả Tính thấy phản ánh nhận thức được chính nó trong giai đoạn Hậu thiên thì rõ ràng Hạt các cũng phải thấy chúng ta và nhận thức được vũ trụ? Ngũ Phúc Lâm Môn.
  23. Định mệnh có thật hay không đã cần phải giải thích được: Ta nhận thức được chính Ta hay Ý thức nhận thức được chính nó. Bằng việc phân tích thì Tính thấy là phi nhận thức nhận biết được Ý thức và có từ vô thủy tới vô chung, có trong vạn vật và ngoài vạn vật. Nó cũng không phải là vật chất, trong khi đó Ý thức là vật chất. Tính thấy là khởi nguyên vũ trụ, Thái Cực, Đạo, Chân như... như vậy Tính thấy được tích hợp vào thuyết Âm Dương Ngũ hành là Thái Cực mang tính tuyệt đối. Chúng ta chú ý, khởi nguyên vũ trụ cũng cần phải có không gian, vì không thể tồn tại cái Không ngay cả Thái Cực, Thái cực vẫn có tự tính riêng của nó, thời gian không tồn tại với ý nghĩa Thái cực tĩnh hoàn toàn. Vậy, lý giải Tính thấy như thế nào trong thuyết ADNH một cách thuận lợi? khi nó là phi vật chất nhưng phi vật chất hàm nghĩa Không?. Như vậy, Tính thấy vẫn phải là vật chất nhưng nó có những tự tính đặc biệt, khi thế giới vận động sau Thái cực thì các thuộc tính của Tính thấy được phản ánh như thế nào qua sự vật hiện tượng cũng như mối liên quan giữa một Ý thức vật chất và Tính thấy bằng cách nào đó nó nhận diện Ý thức và tạo ra chuỗi phân tích của Ý thức? Điểm mắt xích giữa Tính thấy - Tuyệt đối và Vật chất - tương đối? Tuy nhiên, vật chất vận động chưa hẳn là tương đối? Nếu lấy chuỗi Chủ thể nhận thức với khả năng Ý thức - công cụ nhận thức - đối tượng nhận thức với Tính thấy có trong tất cả?. Vấn đề cực khó là ngay điểm giao giữa cái Tuyệt đối chuyển qua cái Tương đối hay từ cái Phi Ý thức qua cái có Ý thức được lý giải như thế nào?. Tôi hiểu là Tính thấy là một thuộc tính của cái Vật chất ban đầu thì có vẻ hợp lý hơn nếu xét nó trong mối tương quan giữa cái Không - Có, Tuyệt đối - Tương đối, Tiên thiên - Hậu Thiên, Tính thấy - Ý thức. Nếu logic lại thì: Tính thấy là thuộc tính biểu hiện của một dạng vật chất đặc biệt hay gọi là Siêu vật chất. Tính thấy là tính nhận biết được chính nó và bất kỳ cái gì trong giai đoạn Hậu thiên liên quan, tất nhiên cả vũ trụ hay Tính thấy nhận biết được mọi trạng thái của vạn vật nhưng không hàm nghĩa Tính thấy phải hiểu như chúng ta hiểu, tức là nó không có quy ước "quả mít" và chỉ nhận định một tổ hợp các trạng thái thống nhất tạo ra một loại vật chất mà chỉ do con người đặt tên là "quả mít". "Quả mít" chỉ xuất hiện trong giai đoạn Hậu Thiên mà thôi hay chỉ khi xuất hiện con người, điều này lại cho ra một câu hỏi: tại sao lại như thế khi chỉ có con người đặt ra quy ước "Quả mít" (động vật cũng tạo được cho riêng nó) trong khi Tính thấy có ngay trong suy nghĩ của chúng ta? Phải chăng là tính đối xứng gương của Tính thấy? Ngũ Phúc Lâm Môn.
  24. Sau khi loài người xuất hiện, vũ trụ không thể sản sinh ra một sản phẩm nào hoàn hảo hơn con người được nữa và bằng cách nào đó trong vô lượng thời gian (hết 1 chu kỳ vận động của vũ trụ), trí não con người hình thành và là nơi tích chứa nghiệp từ vô thủy (khởi thủy vũ trụ) cho tới hiện tại trong mối liên quan tới vạn vật để tạo nên một định mệnh cho mỗi cá nhân. Vấn đề này đã được Phật giáo nghiên cứu tới tận cùng của ngọn ngành rồi. Trong quá trình sống, việc Nghiệp được xuất ra thành Quả tại mỗi không thời gian tùy theo điều kiện tự nhiên, xã hội, gia đình, cá nhân... xung quanh cá nhân có thể hiểu là định mệnh thời điểm, đồng thời ngay trước thời điểm này hay "0 giây" trước đó, Nhân mới được tích lũy tương ứng qua 6 thức của con người như nhìn, nghe, ngửi, cảm, nếm và suy nghĩ để trở thành tổ hợp Nghiệp... và cứ như vậy thành Định mệnh cuộc đời. Quá trình tương tác này tạo nên Tâm (tồn tại vĩnh cửu là nguồn xuất nhận Nghiệp Quả) cần thiết phải có công cụ của nó hay Linh hồn sau khi chết vẫn phải tồn tại Ý thức, mặc dù khi trong cơ thể sống vẫn có Ý thức và một ví dụ. khi ngủ chúng ta không thể nghĩ được. Cho nên, Linh hồn vẫn là "Ta" nhưng tồn tại cơ thể ở một dạng vật chất "nhẹ hơn". Từ phân tích này, thì tư duy của ta vẫn là của ta, mọi cái khổ đau, sung sướng, thuộc tính tốt xấu... vẫn mãi đeo bám ngay cả khi ở một thế giới "mới". Dĩ nhiên Linh hồn vẫn giao tiếp được bình thường với chúng ta nhưng vì giới hạn của cơ thể sống nên chúng ta không thể thực hiện được ngoại trừ rèn luyện để tạo một số thần thông. Hầu hết, chúng ta không thể tự điều chỉnh mình được vì phụ thuộc vô vàn vấn đế, điều này dẫn đến chúng ta không thể kiểm soát cái Ngã hay Ta được, đó chính là luân hồi tư tưởng chứ không phải luân hồi mang tính thể xác. Trong cơ thể mới, các lớp vật chất phân bố theo luật âm dương ngũ hành vẫn liên kết nhau chặt chẽ qua dòng luân chuyền "Khí". Như vậy, với phân tích trên thì tu luyện theo Phật giáo là triệt để nhất, xây dựng một cái Ta vững mạnh, giúp cho chúng ta khi sống và sau khi chết nhưng "không chết" có những thuộc tính để tồn tại trong bất kỳ môi trường nào mà cũng thấy an lạc, không chỉ vậy các linh hồn có có thần thông, nếu cần vẫn tương tác lại thế giới con người để giúp đỡ, đặc biệt các vị Phật, Bồ tát còn có khả năng "Thấy" được nghiệp quả của mỗi cá nhân như hiện ra trong gương vậy, vì họ đã hòa nhập được vào toàn vũ trụ trong lúc đại định, lúc này thông tin của mọi "đích" cần biết tự động hiện ra trước "mắt" hay có thể hiệu đó là "Tính thấy"?. Nên trí tuệ - sự sáng tạo của con người mới là kỳ diệu nhất. Do vậy, nói cứu người là phải có cầu, có bến chứ niềm tin chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ. Ngũ Phúc Lâm Môn.
  25. Nếu Định mệnh là có thật thì chúng ta lại có câu hỏi như sau: Vì có định mệnh nên Ai là Phật thì sẽ là Phật vậy các con người khác tại sao cố gắng thành Phật? Linh hồn vĩnh cửu có giao tiếp với chúng ta không, dĩ nhiên nó là vật chất. Sau khi loài người xuất hiện, vũ trụ không thể sản sinh ra một sản phẩm nào hoàn hảo hơn con người được nữa và bằng cách nào đó trong vô lượng thời gian (hết 1 chu kỳ vận động của vũ trụ), trí não con người hình thành và là nơi tích chứa nghiệp từ vô thủy (khởi thủy vũ trụ) cho tới hiện tại trong mối liên quan tới vạn vật để tạo nên một định mệnh cho mỗi cá nhân. Ngũ Phúc Lâm Môn.
×
×
  • Create New...