Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Thiên Đồng

Hội viên
  • Số nội dung

    6278
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    75

Everything posted by Thiên Đồng

  1. tài liệu để tham khảo: Sử thuyết HÙNG VIỆT - I ***** Nghĩ thuyền hà thạch tố thanh ba Lũng lại tranh nghênh xứ Bái qua Lô Thủy phân ( phiên ) ly Thao tục ( tụ ) Lạc Văn lang nhật nguyệt Thục sơn hà Phạm sư Mạnh thế kỷ 14 Thiên hạ họ HÙNG Bài 1 - Sử thuyết họ HÙNG. Phần I - Khái luận . A - Tản mạn về sự biến âm trong tiếng VIỆT và HOA Một từ luôn có 2 phần ; phần thanh và phần tự hay chữ, trong bài này chỉ nói đến phần thanh không nói đến phần chữ, vì bàn đến phần chữ là đã đi vào lãnh vực chuyên sâu của ngôn ngữ học, đã là phần chuyên thì người ‘thường’ không dám lạm bàn. Cũng như bao sự việc khác, ngôn ngữ phát triển và biến đổi theo thời gian, và vị trí địa lý, nó thay đổi theo từng vùng và dân tộc. Nếu không đi nhiều cũng như không tiếp xúc thường với những người ở các nơi khác nhau, ngay chính người Việt ở thời truyền thông hiện đại, giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt cũng chưa chắc đã trọn vẹn . Ta có thể nói là có sự khác nhau, chứ không nên xác định là sai hay đúng; chỉ có thể nói sai hay đúng so với chuẩn quốc gia, mà chuẩn quốc gia cũng là một qui định, cùng nhau qui ước là viết như thế và đọc như vậy cho thống nhất trong một chuẩn để thông tin, chuyển tải ngôn ngữ đạt được sự chính xác – tránh việc ông nói gà bà hiểu ra là vịt. Ta có thể nêu vài sự khác biệt hay thay đổi lớn trong ngôn ngữ Việt ngày nay: - Trước đây khoảng trăm năm, khi được “La Tinh hóa” Quốc ngữ , âm ‘tr’ được viết và đọc là ‘bl’, thí dụ: Blời → Trời; Blu → Trâu không phải thay đổi rồi thôi mà có nhiều chữ vẫn song hành như: rung rinh → lung linh có nhiều sự biến đổi khác, nếu không hiểu rõ, có thể ta sẽ hiểu sai hay không hiểu nổi nhiều vấn đề, nhiều sự việc của quá khứ xa xôi. Với âm ‘l’ nhiều người miền Bắc phát âm thành âm ‘n’. Thí dụ: phương Nam → phương Lam; làng nước → nàng lước Nếu sự thay đổi âm ‘l’ và ‘n’ lại chồng lên sự thay đổi của âm ‘r’ và ‘l” thì sự khác biệt đi quá xa coi như không có sự liên quan, … nhưng nếu chúng ta liên kết những biến đổi qua các tầng nấc trung gian sẽ thấy là chúng có liên quan với nhau. ‘rú’ trong ‘rừng rú’ có nghĩa là ‘núi’, ta xem diễn biến chuyển đổi như sau: rú → lú → lúi → núi r→ l l→ n rừng → lừng → lừm → lùm (bụi) lâm (Hán-Việt) Lần theo từng mắt xích như trên, ta thấy rõ ràng “lâm” đâu có phải là từ ngoại. Còn có nhiều thay đổi nếu không biết sẽ không hiểu nổi nhiều vấn đề của lịch sử như: Âm ‘r’ còn có thể biến âm thành ‘d’ như: râm (bóng râm) → bóng dâm Âm ‘l’ biến âm thành ‘nh’: ló → lú (lên) → nhú (lên), nhô (lên); lớn lao → nhớn nhao Từ kép: siu siu (ngủ) → thiu thiu (ngủ) siêu siêu (ngủ) Cũng có nhiều sự khác biệt rất lớn giữa phương ngữ miền Bắc và phương ngữ Nam bộ, chỉ xin khái quát vài điều rõ ràng mà thôi: - Âm ‘v’ miền Bắc, miền Nam đọc thành ‘d’, ngay trong cách phát âm tên quốc gia cũng có sự khác biệt: Việt Nam → diệc nam (viết theo cách phát âm); nếu nói “Việt” từ gốc Hán có nghĩa là “vượt” thì “diệc” hay “diệt” là gì? Âm ‘h’ ở miền Bắc thì ở miền Nam biến thành ‘gh”; tương tự âm ‘q’ cũng vậy. Thí dụ: đi hoài → đi ghoài (mãi) quốc gia → ghuấc gia hay guốc gia. Nguyên âm tiếng Việt như ‘u’ biến thành ‘o’, như tùng → tòng ‘u’ biến thành ‘âu’, như chu → châu ‘â’ biến thành‘ư’’, như nhất → nhứt, chân → chưn Thời khá xưa chữ ‘khởi’ đọc là ‘khỉ’; chữ ‘mày’ miền Trung đọc là ‘mi’, ‘ông’ → ‘ôn’. Như thế sự khác biệt thực thiên hình vạn trạng. Đó mới chỉ là chuyện trong nhà, còn xét đến những biến âm của từ thuần Việt và Hán Việt thì còn nhiều điều phải bàn lắm như chữ ‘lâm’ và ‘lùm’ ở trên. Ta quen gọi là từ Hán Việt, thực ra chưa chắc như thế, nhiều khi còn ngược lại là đằng khác. Thí dụ: sông và xuyên; sưng và sơn; kênh lạch và kinh lạc Có nhiều từ xét về sự hợp lý theo thời gian cấu thành, tưởng là xuất phát từ Hán ngữ nay chỉ là từ biến âm của từ “Nôm”. Thí dụ: người Việt thường nói, ‘họ hàng – hang hốc’ nếu nghiệm ra ta thấy đây là cặp từ ghép mang tính giải thích, chú dẫn về nguồn gốc : ‘hàng’ xuất phát từ ‘hang’, ‘họ’ phát xuất từ ‘hốc’. Từ thưở hồng hoang khi con người còn “ăn hang ở lỗ” thì mỗi một hang là nơi cư trú của một thị tộc gồm từ vài chục đến vài trăm người, và nhiều hang như thế hợp thành một bộ tộc hay bộ lạc, trong mỗi hang lại có nhiều ngõ ngách gọi là ‘hốc’, mỗi hốc thường là nơi cư trú của một đại gia đình; sau này dù con người không còn ở hang nữa nhưng từ ‘hang’ và ‘hốc’ vẫn được dùng để chỉ một tập thể người có liên hệ với nhau. điều đặc biệt là chúng không dừng lại ở tiếng Việt mà còn biến thành từ Hoa hay từ Hán Việt: hang → hàng (Việt) hương (Hoa) hốc → họ (Việt) hữu (Hoa) Vậy ta có thể quyết định xem nhóm từ hang – hốc → hương – hữu là từ Việt gốc Hán hay là từ Hán gốc Việt? Xét về mặt lịch sử hình thành thì không thể nào nói khác : đó là từ Hán gốc Việt. Tương tự như vậy, khi ta xét cặp từ ‘kênh lạch’ và ‘kinh lạc’: ‘kênh lạch’ là đường dẫn truyền nước trong tự nhiên nó có trước cả khi con người có hệ ngôn ngữ , sau được định danh là ‘kênh’ và ‘lạch’; còn ‘kinh lạc’ là đường dẫn truyền khí huyết trong con người; nó là thành tựu tuyệt vời của nền khoa học nói chung, y học Trung Hoa nói riêng tức là lúc con người đã văn minh lắm rồi, nói như vậy chắc chắn từ ‘kinh lạc’ bắt nguồn từ ‘kênh lạc’. Các nhà ngôn ngữ học ngày nay xác định hơn 50% từ Việt là từ Hán Việt – nói như thế có 2 điều phải bàn: 1. Có hơn 50% là từ Hán Việt là mới xem xét đến số lượng từ dùng chung, còn cộng cả số từ biến âm, bắt nguồn từ nhau thì tỉ lệ lẫn lộn Việt – Hoa còn lớn hơn nhiều. 2. Nói từ Hán Việt là từ Việt có nguồn gốc ở ngôn ngữ Hán là thói quen có tính áp đặt; sự áp đặt này xuất phát từ ưu thế số lượng mà ra. Khách quan mà xét thì sự áp đặt trên có nguồn cơn từ lịch sử, qua hàng ngàn năm nước Việt chỉ là một chư hầu của nước Hán (ta cứ tạm gọi như thế), …. nên nói từ ‘Hán Việt’ hay từ Việt gốc Hán là hợp lý và nhiều người mặc nhiên chấp nhận, coi như chuyện bình thường, không ai thắc mắc, từ quan tới dân, từ trí thức tới người tốt nghiệp bình dân giáo dục không ai đặt dấu chấm hỏi. Như đã dẫn ở vài thí dụ ở trên, chuyện không đơn giản như quán tính lịch sử đã tạo nên, 2 ngôn ngữ Hoa Việt quấn quýt vào nhau chặt chẽ hơn ta tưởng, ngay trong Kinh Dịch là linh hồn của văn minh Trung Hoa cũng không phải là thấp thoáng, mà tràn đầy tiếng Việt!? Quẻ Lửa → Ly Sấm → Chấn Tán (Toán) → Tốn Kiềng, Còng→ Kiền, Càn Cản , căn → Cấn Căm hay cóng là tên khác của qủe khảm hay cống . Khôn thì rõ ràng là từ Việt (khôn ngoan, trí khôn hay khuân vác, khuân mang) Lịch sử và văn minh Trung Hoa cũng rõ ràng kết cấu gằng “gạch” Việt, như: -vua → vũ xuất phát từ Kinh Dịch : Vàng là màu trung tâm của ngũ sắc. -Vàng → hoàng → vương -cha, chủ , chúa → chu, chiếu, triệu (họ) -bản (làng) → bang (quốc) -gốc (→ guốc) → quốc . -nhà → gia -giêng – hai → giang – hồ (hải) -lu (mờ) → người Lu hay liêu -căm là lạnh → người Kim -mun (đen) → mông, minh, Mãn [người hay nước] Đặc biệt 2 từ có mối liên hệ quan trọng đến vận mệnh nước Hán là “quan” và “từ” lại là đích thị dịch từ chữ Nôm: “quan” là dịch chữ ‘nhìn’ hay chữ ‘nom’; và“từ” dịch chữ ‘thương’ (tình thương). Quan Trung: vùng đất phía nam. Quan thoại: tiếng nói phương nam. Quang Vũ (viết Quan thành Quang): là ông vua phương nam, như vậy ông vua khai sáng triều đúng ra phải là nước Đông Hán đâu có phải vua Trung Hoa.vì chính người Hán nhận mình là Quan tộc. Chữ “từ” là dịch sang hán ngữ chữ “thương” của tiếng Việt. Theo Dịch lý, thì phương đông là phương của tình cảm (quẻ Khảm), nghĩa là phương của sự thương cảm giữa người và người (trong chữ Hán, thương là thương tật, ) ,đồng thời phương đông cũng là phương của màu xanh. xanh → thương – thanh, nên sau này Trung quôc có nhà Thương, nhà Thanh. Như thế: từ = thương = phương đông chỉ vùng Sơn Đông hiện nay, xưa là đất nước Tề (Từ → Tề). là chốn mà lịch sử Trung Hoa gọi là Nam Man và Đông Di; đã là man – di thì vùng Hà Bắc, đất tổ của nhà Đông Hán và Sơn Đông là đất nước Tề (Từ) thời Chiến Quốc, nước Ngụy thời Tam Quốc không thể nào là Trung Hoa được. Về sự thiên biến, vạn hóa trong tiếng Việt giữa xưa và nay, ta đơn cử một đoạn trong sớ tấu của Trần Cương Trung, sứ giả nhà Nguyên (thế kỷ 13) dâng lên vua theo bản dịch của Lê văn Siêu trong Việt Nam Văn Minh Sử như sau: “Tiếng nói của dân Tru Ly gọi ‘trời’ là ‘bột mạt’, ‘mặt trời’ là ‘phù bột mạt’, ‘mặt trăng’ là ‘bột văn’, ‘gió’ là ‘giáo’, ‘mây’ là ‘mai’, ‘núi’ là ‘can ngỗi’, ‘nước’ là ‘lược’, ‘mắt’ là ‘mạt’, ‘mồm’ là ‘mạnh’, ‘cha’ là ‘chá’, ‘mẹ’ là ‘ná’, ‘con trai’ là ’can đa’, ‘con gái’ là ‘can ái’, ‘chồng’ là ‘chùng’, ‘vợ’ là ‘đà bị’, ‘tốt’ là ‘lĩnh’, ‘không tốt’ là ‘chương lĩnh’, cả thảy là như thế, tiếng nói gấp mà nổi, phần lớn giống như tiếng chim, …” Chắc chắn phiên âm tiếng Việt bằng chữ Hán có nhiều lệch lạc, nhưng qua đó ta vẫn còn nhận ra: ‘gió’ là ‘giáo’ ‘mây’ là ‘mai’ ‘nước’ là ‘lược’ ‘mặt trăng’ là ‘bột văn’ (âm Nam bộ = dăng = trăng; chữ ‘bột’ không đoán được) ‘mắt’ là ‘mạt’ ‘mồm’ là ‘mạnh’ (miệng) ‘cha’ là ‘chá’ ‘mẹ’ là ‘ná’ (má, nạ) ‘con trai’ là’can đa’ ‘con gái’ là ‘can ái’ ‘chồng’ là ‘chùng’ ‘vợ’ là ‘đà bị’ (đàn bà) ‘tốt’ là ‘lĩnh’ (lành) ‘không tốt’ là ‘chương lĩnh’ (chẳng lành) những chữ còn lại không đoán ra được, đặc biệt tên của dân tộc ta viết là ‘Tru Ly’ có thể đoán: ‘Tru’ biến âm của từ ‘chúa-chủ ’; ‘Ly’ biến âm của từ ‘Lửa’ nghĩa là dân của ‘vua lửa’ hay vua vùng nhiệt đới. Mới 700 năm mà đã khác xa như thế, nói chi đến 2, 3 ngàn năm trước!? Hỏi còn bao nhiêu từ cổ mà ngày nay chúng ta nhận ra được? Ở đoạn trên, riêng từ ‘núi’ là ‘can ngỗi’ có thể đoán: ‘can’ là ‘cấn’, một quẻ trong Bát Quái, tượng trưng cho ‘núi’ và chúng ta chú ý từ ‘nước’ là ‘lược’ vì nó có liên quan đến quốc hiệu cổ xưa của Việt Nam mà ta sẽ tìm hiểu ở phần sau. Về sự liên quan giữa ngôn ngữ Hán và Việt còn nhiều khía cạnh phải xem xét. Thí dụ: tên Nôm và tên chữ của một số địa danh ở Việt Nam, tên Nôm là tên gọi, ; tên chữ là tên viết bằng Hoa tự như: Làng Vầy → Làng Sơn Vi Làng Tó → Làng Vũ Đại Vi là Vây ( vây cá); từ ‘Vầy’ → ‘Vây’, ký âm Hán tự là ‘Vi’ như thế nếu nói ‘Vi’ là từ Hán Việt e không đúng, ‘Vi’, ‘Vây’, ‘Vầy’chỉ là những phương âm của cùng một chữ mà thôi. Còn ‘Tó’ viết thành ‘Vũ Đại’ mới đúng là dịch sang Hán tự; tó là to, to → đại. Việc dịch những danh từ riêng của Việt sang Hán tự cũng gây đau đầu lắm! Như từ ‘Vũng Quýt’, một địa danh ở miền Trung của Việt Nam, nếu hiểu ‘Vũng’ là danh từ chung là một vùng nước sát đất liền tương đối được che chắn kín gió, … như Vũng Tàu, Vũng Rô, thì chữ ‘vũng’ là ‘Vịnh’ trong Hán ngữ. ‘Quýt’ là tên riêng nếu chuyển ngữ thành ‘Quất Vịnh’ thì có thể nhận ra, nhưng phiên âm theo Hán tự để viết thành ‘Dung Quất” thì sai xa lắm, người dân ở Vũng Quýt đọc lên cứ ngỡ là một địa danh nào đó ở bên tầu . Việc dùng Hán tự để ký âm các từ gốc La Tinh đôi khi tạo nên những cụm từ … quái dị …, về nghĩa thì không có rồi, và về âm thì chuyển đi xa lắc xa lơ … phải có óc tưởng tượng siêu lắm mới tìm thấy sự liên quan, như: England ký âm thành Anh Cát Lợi , France thành Phú Lãng Sa. Washington → Hoa Thịnh Đốn. (ông) Ghandi → (Thánh) Cam Địa, v.v… Khổ một nỗi sự ký âm này là bắt buộc vì 2 hệ thống chữ khác nhau hoàn toàn nên không có cách nào khác. Tới đây người đọc có thể thông cảm với người viết và mặc nhiên chấp nhận một độ lệch nào đó của âm ngữ khi dẫn chứng tư liệu lịch sử Việt Nam từ cổ đại cho đến cận đại vì tất cả được viết bằng chữ Nho hay nói rõ hơn là những từ Việt được ký âm bằng chữ Hán, sự lệch lạc đôi khi rất xa, nhưng ta có thể nhận ra được nếu nó nằm trong một thể hoàn chỉnh, có đầu có đuôi, có đối chứng V.v… nếu có hẳn một hệ thống xuyên suốt thì trở nên hiển nhiên, rõ ràng không phải bàn nữa, ta có thể khái lược hệ thống “biến từ ” Việt – Hoa trong những từ chĩ người lãnh đạo quốc gia như sau : 1. Cao – cả → cổ nghĩa là người đứng đầu, thủy tổ như ông Bàn Cổ; Cổ Thục; Cổ Tẩu. → cô, cơ: cũng là người đứng đầu như ‘Hiên Viên là tổ họ Cơ; ông Cơ Xương, Cơ Phát . → Cao: ông cao Giao; Thái Cao; Cao Tân; Cao Dương; Cao Sơn. → Câu: Câu Tiễn (Việt Vương) Chữ Tôn viết sai là Tông trở thành đế hiệu của các vua Việt Nam và Trung Hoa từ đời Đường, Lý về sau. Căn cứ vào cấu trúc cụm từ thì rõ ràng ‘Tôn”, ‘Tông’ tương đương với chữ ‘Vương’. Thí dụ: Lý Thái Tôn, Lý Cao Tôn, V.v… 2. Vua → Vũ: chỉ hoàng đế khai quốc như Hạ Vũ, Võ Vương, Chu Vũ Vương, Hán Vũ Đế, Vũ văn Giác, Quách Vu. 3. Chục → chúa, chủ sau biến thành Triệu như: họ Triệu: Triệu Chính, Triệu Đà, Triệu Khuông Dẫn, V.v… đặc biệt ngôn ngữ Thái – Lào có từ ‘chậu’ nghĩa là ‘ông hoàng’, khi ký âm bằng Hán tự thì các vua Champa trở thành họ ‘Chế’ như: Chế Củ, Chế Mân, Chế Bồng Nga, V.v… 4. Lửa → Ly (quẻ) là ngọn lửa, mặt trời, nghĩa bóng chỉ ‘hoàng đế’ sau biến thành họ ‘Lý’, họ ‘Lê’ như: Lý Bôn, Lý Bí, Lý Uyên, Lý Công Uẩn; Lê Lợi, Lê Hoàn, (Hán tự ký âm sai thành họ Lưu) 5. Đức: chỉ nhân vật có địa vị cao trọng như: đức Chúa, đức ông, V.v… Hán ngữ ký âm thành Đế đồng nghĩa với vua, chúa; âm Khmer là ‘cham đéc’ nghĩa là ông hoàng. 6. Xuất phát từ ngũ sắc của Dịch lý , người ta tạo nên các từ: Vàng → vương → hoàng nghĩa là vua; ‘viên’ chỉ vật tròn → vương. Trong lịch sử có: Đinh Hoàn, Lê Hoàn, Hiên Viên, Tản Viên, … 7. Các tước vị của quí tộc Trung Hoa: không 0 → công hai 2 → hầu ba 3 → bá tư 4 → tử năm 5 → nam Từ hệ thống “chuyển ngữ” này, ta có thể khẳng định, trước khi Hán tự được dùng để viết sử thì đã có lịch sử Trung Hoa viết bằng một thứ chữ khác với Hán tự, đó chắc chắn là kiểu chữ{văn} “khoa đẩu” của nhà Thương- Chu, Ngũ kinh cũng được chép bằng thứ chữ này. Từ đời Tần người ta mới dùng kiểu chữ “tiểu triện” thay thế, loại chữ tiểu triện qua nhiều lần cách tân về cách viết trở thành Hán tự ngày nay; người Việt không gọi là Hán tự mà gọi là “chữ Nho”, phải chăng ‘Nho’ là biến âm của ‘nhỏ’ đồng nghĩa với ‘tiểu triện’, người Việt ưa dùng điệp ngữ “Nho nhỏ” cũng là một dẫn chứng có giá trị cho hướng suy nghĩ như trên. Bản thân dân du mục phương Bắc khi chiếm đóng Trung Hoa chưa có hệ thống văn tự riêng nên dùng luôn hệ thống văn tự Trung Hoa làm quốc văn vì không có cách nào khác, từ đó chữ tiểu triện biến thành Hãn tự, điều này giải thích sự mâu thuẫn trong tâm thức người Việt Từ Hán trong Hãn tộc là một nỗi ám ảnh kinh hoàng do những thống khổ người Việt phải chịu thời vong quốc. Nhưng từ ‘Hán’ trong ngôn ngữ Hán, người Việt gọi là chữ Nho thì lại có vị trí trân trọng đặc biệt và được gọi là chữ của “thánh hiền”. nguồn: http://nguyenquangnh...1-HUNG-VIET.htm
  2. Mừng sinh nhật TuyetMinh Zô Zô Zô...!!!!
  3. Bé người nước ngoài hát bài "Chú ếch con" Bằng tiếng Ý và tiếng Việt. Tuyệt cú mèo! http-~~-//www.youtube.com/watch?v=u52OucJUazE
  4. Đăng ký tiếp theo 1. Thiên Sứ 2. WildLavender 3. Thiên Đồng 4. Thiên Luân 5. Thiên Anh 6. Trung Nhan 7. Hạt gạo làng 8. Mục Đồng 9. Baosky 10. Tranlong07 11. chauthevinh 12. Thiên Bồng... 13. Soncao 14. Thiên Em 15. tictictacAnh 16. tictictacEm 17. Nguyên Anh 18. Khôi Nguyên 19. An Thanh 20. Biển Xanh
  5. Luận Hình Thể Nhìn Long lấy Thế, xem Huyệt lấy Hình. Thế là Thần hiện ra, Hình là Tình lộ ra. Bỏ Thế thì lấy gì nhìn Thần của Long; Bỏ Hình lấy gì xem Tình của Huyệt. Bởi thế Tổ Tông cần có Thế cao vút, Lạc Mạch cần có thế giáng xuống, Xuất Thân cần có thê che chắn, Quá Hạp cần có thế dừng lại, Hành Độ cần có thế nhấp nhô, quanh co, Chuyển Thân có chỗ dựa sau lưng, thế đi về trước. Hoặc hăm hở phi lên, tựa như tuấn mã, hoặc phô bày tầng lớp, như sóng lấn sóng...Có thế như vậy tất là Chân Long. Không được như vậy tất là Giả Long. Tuy có mạch núi đi đến, chẳng qua cũng là cứng rắn hoang dối. Thảng có hình Huyệt tất cũng là giả hoa, đó là điều chắc chắn. Pháp xem xét Thế trước cần lên cao mà quan sát, tiếp theo Thân Long mà bước, lại từ hai bên phải trái mà xem xem, đối diện nhìn kỹ, tất có Chân Thần. Chỗ linh hiển với chỗ chạy lại, chỗ dừng tụ đều có thể tự mình biết rõ. Đến như Pháp xét Hình, có sáu thể là Viễn Biển Khúc Trực Phương Ao. Tỷ mỉ là bốn Cách Oa Kiềm Nhũ Đột, tiếp lấy thừa Kim tương Thủy, Huyệt thổ Ấn mộc làm pháp chứng minh, tất là Huyệt Tình khó trốn. Thừa Kim cũng tức trong Ngũ Hành, lấy Tròn làm Kim, lấy uốn lượn làm Thủy, lấy thẳng cao làm Mộc, phàm là Chân Huyệt, tất chỗ viên động, Oa Kiềm viên tại đỉnh, Nhũ Viên tại hạ, Đột viên tại giữa, nếu trong Oa Kiềm có Nhũ Đột, trên Nhũ Đột lại có Oa Kiềm. Tức gọi là Nhật La Văn Thổ Súc, tức là Thiếu Âm và Thiếu Dương của Huyệt vậy. Thừa lại dựa Thừa ở chỗ vầng tròn, động Khí ở giữa. Nếu là giữa thủy có Viên Động có thể thừa, trái phải tất có Vi Mang, thủy quanh co bao bọc, giao nhau trước Huyệt, Tiểu Minh Đường là cái gần nhất ngay trước mắt. Giả tưởng chỗ hai thủy giao mà hướng đến. Ấn Mộc tức là chỗ bên ngoài Thủy, tức là hai bên Chân Sa chầu tụ, khép Hạp trước Huyệt, cách bức một khoảng, hợp với Thủy Nội Minh Đường. Tức cánh ve sừng trâu, tức nếu có Thủy tất ấn chứng nơi Sa đó, cũng là nơi Khí dừng thủy giao, nếu không có Sa đó tất là thoát Khí tiết tán. Không phải Chân Huyệt. Cái gọi Huyệt tất có các điều trên, lại có Ngũ Thổ Tứ Bị, là đất quý báu, đúng là Chân Huyệt. Còn như ngoại hình và nội Khí không phù hợp, thì chỉ là Giả Hình mà thôi. Huyệt chính như Huyệt của người trong châm cứu, nhất định biết nó không dễ. Nếu Tứ Vi đã đủ, ở giữa tất có khí ấm, tức hỏa Khí. Đó là cái cần khi quan sát Huyệt. Bởi vậy cái cần trong Địa Lý không hề ngoài Hình Thế. Nay đã hiểu thuật này, chẳng hư đàm Tinh Quái Phương Vị. Đó là Tinh Nghĩa, nếu ở chỗ hình thế địa lý thực tiễn trái mắt nói sằng, cải biến địa lý hỗ hào, chân nhân không biện, để nhầm người vào tà lộ.
  6. Hay! nhưng quá mũi lòng. Những nghệ sĩ thật sự nghèo. http-~~-//www.youtube.com/watch?v=MBi6hBrpgqQ&feature=related
  7. Tám chuyện... Thời kinh tế chưa mở cửa, khoản chừng thập niên 90 trở về trước người rất nể sợ và né tránh đến kinh hãi hai số 7 và 8. Thời đó không có một công ty nào, cơ sở nào, hàng quán nào...thấy dám dùng biển hiệu có số 7 hay số 8, và nhất là số 8. Người ta kiêng số 8 như là phương tây kiêng số 13 hay ngày nguyệt kỵ "mồng năm mười bốn hăm ba"! Bởi số 7 là cây cuốc và số 8 là cái còng, còng số 8! Cả hai số đều biểu hiện cho hình ảnh...tù tội. Đố ai thấy được bảng hiệu 888 hay 8888 hay 777 như bay giờ! Ấy vậy mà khi làng gió kinh tế thổi mạnh vào qua cánh cổng mở toang thì bổng nhiên số 8 trở nên đẹp đẽ, may mắn làm sao! Chỉ tội số 7 còn kẹt lại, bị lọt sổ, bởi người ta theo "phong thủy" tàu nói rằng 7 là thất, thất là thất lạc, cũng như thất tình...nghĩa là mất (!) nên không dùng. Tàu Đài Loan hay Tàu lục địa đều không dùng vì số xấu nên Ta cũng nhất quán không dùng và chịu chấp nhận 7 là "thất" = "mất" mà dễ dàng bỏ qua hình ảnh 7 là cây cuốc Made in Việt Nam trước đó...vì nó...vô lý...không có "cơ sở pha học"! May cho con số 8, được số phận lên hàng Vơ - đét, là con số may mắn nhất theo phong thủy Tàu, bởi 8 là âm "bát" theo Tàu đồng âm Phát. Vậy là hình ảnh cái còng số 8 được "giải phóng", không còn ai sợ tra tay vào còng nữa! Bát là Phát!! Ô hô!! Vậy nên số xe, số điện thoại, số nhà, bảng giá, số...cái gì có số thì phải có Bát = Phát mới là số đẹp! cho nên số điện thoại hay số xe cứ 88 hay 8888 hay 8888888 càng tốt! máy cửa hàng bán vật khí phong thủy thì cũng để giá theo "phong thủy" vd 168 (nhất lộc phát), 688 (lộc song phát), 689 (lộc phát cữu)... hầm bà lằng ba cái nhì nhằng! Nghĩ cũng lạ! 8 là "bát", người cứ nghĩ đồng âm phát, nhưng chẳng ai chịu nghĩ "bát" cũng đồng âm với "bác" trong "bác bỏ", "bác nháo", nghĩa là không nên, cũng chẳng được và bác nháo hầm bà lằn! Mà dân thường dùng từ bình dân dùng từ "bà tám" để chỉ ai đó nói nhiều hay nhiều chuyện, tàu lau. Vậy mà với số 8 cho bảng hiệu công ty thì không ai dám nói là "công ty tám"! Hay cho số xe thì cũng không gọi là "xe tám", cho điện thoại thì không ai dám phạm húy gọi là "điện thoại tám"! Thiệt là "tám"! Nói ra thì người ta cho rằng nói gỡ, nếu số 8 đọc đúng Made in Việt Nam là "Tám" thì nó dễ trùng với âm "dám" trong "dám làm", và cũng trùng với âm "khám" nghĩa là phòng giam trong trại giam hay là hình ảnh cả trại giam như Khám Chí Hòa. Chết dữ! Theo Ta thì 8 là "dám", là "khám", nghĩa là liều lĩnh để kết cuộc vào khám, tức vào tù! Ôi trời ôi, thế thì phải theo Tàu thôi, phải sính ngoại thôi! Ngoại lúc nào cũng đúng cũng hay hơn nội! (sic!) Nếu thế thì chọn thử một "ngoại" nào xa xa hơn chút để thử tham khảo xem sao?! Tiếng Tây Francais, số 8 là Huit đọc là "uýt", nghe đồng âm quýt (quýt xéo!), cút (cút xéo!), huýt (huýt gió), huyết (máu me!). Ây chà chà! Theo ngoại Tây phăng xè thì còn ghê hơn! Thôi, theo ngoại Ăng le thử xem? Tám là Eight, đọc như là "ây", giống như ngạc nhiên thốt ra "ây!", hay có ý chưa đồng ý "ậy!". Cũng không được. Thử thêm tiếng của nước bè bạn là Cambochia xem sao? số 8 đọc là "b'ram bay", phân âm ra là bờ ram bay hay bờ ram bày, nghe như ram bày. Nghe như "làm bậy"! Thế thì chết dữ! Bạn cũng không chơi được! Vây đó, thiên hạ cứ nhào theo cái gọi là "chọn số theo phong thủy" cho nên mới có chuyện điện thoại số đẹp giá hàng tỷ. Thiệt là khỉ! Vài dòng lạm bàn, không dám gọi là mê tín vì người ta tin 8, bát là phát theo 'cơ sở pha học Tàu" (Đính chính: Tàu lau mía lau!) Thiên Đồng
  8. Tám chuyện... Thời kinh tế chưa mở cửa, khoản chừng thập niên 90 trở về trước người rất nể sợ và né tránh đến kinh hãi hai số 7 và 8. Thời đó không có một công ty nào, cơ sở nào, hàng quán nào...thấy dám dùng biển hiệu có số 7 hay số 8, và nhất là số 8. Người ta kiêng số 8 như là phương tây kiêng số 13 hay ngày nguyệt kỵ "mồng năm mười bốn hăm ba"! Bởi số 7 là cây cuốc và số 8 là cái còng, còng số 8! Cả hai số đều biểu hiện cho hình ảnh...tù tội. Đố ai thấy được bảng hiệu 888 hay 8888 hay 777 như bay giờ! Ấy vậy mà khi làng gió kinh tế thổi mạnh vào qua cánh cổng mở toang thì bổng nhiên số 8 trở nên đẹp đẽ, may mắn làm sao! Chỉ tội số 7 còn kẹt lại, bị lọt sổ, bởi người ta theo "phong thủy" tàu nói rằng 7 là thất, thất là thất lạc, cũng như thất tình...nghĩa là mất (!) nên không dùng. Tàu Đài Loan hay Tàu lục địa đều không dùng vì số xấu nên Ta cũng nhất quán không dùng và chịu chấp nhận 7 là "thất" = "mất" mà dễ dàng bỏ qua hình ảnh 7 là cây cuốc Made in Việt Nam trước đó...vì nó...vô lý...không có "cơ sở pha học"! May cho con số 8, được số phận lên hàng Vơ - đét, là con số may mắn nhất theo phong thủy Tàu, bởi 8 là âm "bát" theo Tàu đồng âm Phát. Vậy là hình ảnh cái còng số 8 được "giải phóng", không còn ai sợ tra tay vào còng nữa! Bát là Phát!! Ô hô!! Vậy nên số xe, số điện thoại, số nhà, bảng giá, số...cái gì có số thì phải có Bát = Phát mới là số đẹp! cho nên số điện thoại hay số xe cứ 88 hay 8888 hay 8888888 càng tốt! máy cửa hàng bán vật khí phong thủy thì cũng để giá theo "phong thủy" vd 168 (nhất lộc phát), 688 (lộc song phát), 689 (lộc phát cữu)... hầm bà lằng ba cái nhì nhằng! Nghĩ cũng lạ! 8 là "bát", người cứ nghĩ đồng âm phát, nhưng chẳng ai chịu nghĩ "bát" cũng đồng âm với "bác" trong "bác bỏ", "bác nháo", nghĩa là không nên, cũng chẳng được và bác nháo hầm bà lằn! Mà dân thường dùng từ bình dân dùng từ "bà tám" để chỉ ai đó nói nhiều hay nhiều chuyện, tàu lau. Vậy mà với số 8 cho bảng hiệu công ty thì không ai dám nói là "công ty tám"! Hay cho số xe thì cũng không gọi là "xe tám", cho điện thoại thì không ai dám phạm húy gọi là "điện thoại tám"! Thiệt là "tám"! Nói ra thì người ta cho rằng nói gỡ, nếu số 8 đọc đúng Made in Việt Nam là "Tám" thì nó dễ trùng với âm "dám" trong "dám làm", và cũng trùng với âm "khám" nghĩa là phòng giam trong trại giam hay là hình ảnh cả trại giam như Khám Chí Hòa. Chết dữ! Theo Ta thì 8 là "dám", là "khám", nghĩa là liều lĩnh để kết cuộc vào khám, tức vào tù! Ôi trời ôi, thế thì phải theo Tàu thôi, phải sính ngoại thôi! Ngoại lúc nào cũng đúng cũng hay hơn nội! (sic!) Nếu thế thì chọn thử một "ngoại" nào xa xa hơn chút để thử tham khảo xem sao?! Tiếng Tây Francais, số 8 là Huit đọc là "uýt", nghe đồng âm quýt (quýt xéo!), cút (cút xéo!), huýt (huýt gió), huyết (máu me!). Ây chà chà! Theo ngoại Tây phăng xè thì còn ghê hơn! Thôi, theo ngoại Ăng le thử xem? Tám là Eight, đọc như là "ây", giống như ngạc nhiên thốt ra "ây!", hay có ý chưa đồng ý "ậy!". Cũng không được. Thử thêm tiếng của nước bè bạn là Cambochia xem sao? số 8 đọc là "b'ram bay", phân âm ra là bờ ram bay hay bờ ram bày, nghe như ram bày. Nghe như "làm bậy"! Thế thì chết dữ! Bạn cũng không chơi được! Vây đó, thiên hạ cứ nhào theo cái gọi là "chọn số theo phong thủy" cho nên mới có chuyện điện thoại số đẹp giá hàng tỷ. Thiệt là khỉ! Vài dòng lạm bàn, không dám gọi là mê tín vì người ta tin 8, bát là phát theo 'cơ sở pha học Tàu" (Đính chính: Tàu lau mía lau!) Thiên Đồng
  9. Làm đẹp: dở khóc dở cười SGTT.VN - Thật cắc cớ, chất silicon làm nệm giường mà đem vào làm khổ đôi gò bồng đảo. Chuyện rùm beng ở Pháp Bộ trưởng Y tế Pháp Xavier Bertrand khuyến khích 30.000 phụ nữ lấy túi độn dỏm ra. Công ty Pháp PIP (Poly Implant Prosthesis) sản xuất các túi độn với chất silicon công nghiệp không đạt chuẩn y tế. Thật là cắc cớ. Silicon sệt dùng làm nệm giường mà đem nhét vào làm đẹp đôi gò. Một cuộc họp của các nhà khoa học Pháp và các chuyên gia với viện Ung thư quốc gia đưa ra kết luận là “Không có tăng nguy cơ ung thư ở các phụ nữ mang túi PIP”. Có thể nhẹ người nhưng lại sợ bể túi độn vú. Hội phụ nữ đặt túi yêu cầu nhà nước phải tài trợ thay thế túi độn cho mọi phụ nữ không phân biệt lý do đặt túi. Lo âu tràn lan. Được thành lập bởi Jean Claude Mas, mỗi năm PIP sản xuất khoảng 100.000 túi độn vú trong gần suốt hai thập niên, trước khi bị cấm vào năm 2010. Trên thế giới có khoảng 300.000 phụ nữ mang túi độn loại này, nhằm làm bộ ngực to lớn hoặc tái tạo vú. Các túi này được xuất khẩu sang các nước Mỹ Latinh như Brazil, Argentina, Colombia; ở Tây Âu như Anh, Đức, Tây Ban Nha, Ý; và Úc. Anh – Pháp: láng giềng quay lưng Trận Waterloo hay trận Austerlig. Ngày 23.12 Pháp và Anh cho ra thông điệp tréo cẳng ngỗng. Pháp thúc giục 30.000 phụ nữ lấy túi độn PIP ra vì nguy cơ túi bể (1.000 túi) và viêm nhiễm cùng kích thích. Anh có khoảng 30.000 đến 40.000 phụ nữ bị hệ luỵ. Quan chức Anh, Sally Davies nói: “Những phụ nữ mang túi độn PIP đừng hoảng loạn. Chúng tôi không thấy mối liên hệ giữa ung thư hoặc gia tăng nguy cơ bể túi. Có thắc mắc, nên nhờ bác sĩ của mình tư vấn. “Lấy túi độn tự nó cũng có nguy cơ”. Bà có lý, lấy túi ra đáng lo. Túi mới toanh để vào ngon. Nếu túi bể, dính vào chung quanh gây nhiều rối rắm. Lấy ra rồi để trống thì kẹt lắm. Da được căng lên thì nay nhăn nhúm lại. Để túi mới xịn thì tốn kém. Ai ngờ khổ vì đôi gò bồng đảo. Ở Pháp có khoảng 5% bể túi, so với 1% ở Anh. Sao Pháp làm mạnh như vậy. Chắc là Chính phủ Pháp lo hoảng rồi. Công ty PIP đã hoạt động trên đất Pháp từ 2001, mà sao tháng 4 năm ngoái mới bị đóng cửa. Rồi cũng chẳng thấy xử tội gì cả. Tay hàng thịt Mas và các thành viên ban chấp hành vẫn nhởn nhơ. Năm tới bầu cử, chính phủ Sarkozy phải lo sốt vó vụ này. Vào thời điểm rơi vào suy thoái kinh tế và nợ nần mới. Cũng phải lấy tiền công quỹ 78 triệu USD đền thôi. Sợ nhất là bể túi. Hội Phẫu thuật viên thẩm mỹ tạo hình nước Anh có quan điểm khác với chính quyền. Có hơn 270 phụ nữ Anh dự kiến kiện các dưỡng đường đã đặt túi PIP cho họ. Bác sĩ thẩm mỹ Hancock (bệnh viện Liverpool) nói: “Túi bể, chất bên trong bị xì dính trực tiếp vào thịt hậu quả khó lường”. Nên lấy túi ra. Ai có chứng kiến túi bể, silicon như keo sệt xì ra, bác sĩ không tài nào lấy hết được — Bác sĩ cực lắm, người bệnh lo lắm. Nhớ lại một thời túi độn silicon ở Mỹ Túi độn vú là thiết bị y khoa được dùng để tăng kích thước vú hoặc tái tạo vú sau đoạn nhũ hoặc sửa chữa khuyết tật bẩm sinh. Túi độn gồm một vỏ bao silicon và chất làm đầy (phần lớn là gel silicon hoặc nước muối). Khoảng 5 — 10 triệu phụ nữ toàn cầu mang túi độn. Túi PIP không có dịp làm khổ Hoa Kỳ. FDA Hoa Kỳ (cơ quan Quản lý thuốc và thức ăn) cấm dùng túi silicon từ 1992, sau khi có nỗi sợ hãi lan tràn vì liên quan với vài bệnh tự miễn và ung thư. Liền theo là làn sóng kiện tụng. Nhà sản xuất túi silicon Mỹ lớn nhất thời bấy giờ, bị phá sản sau khi bồi thường 4 tỉ đôla cho kiện tụng. Vào những năm 1980, túi chứa gel silicon bị rút khỏi thị trường. Chỉ có túi nước muối được dùng. Trong thập niên 1990, viện Y học Hoa Kỳ không thấy có mối liên hệ silicon với ung thư hoặc bệnh tự miễn. Đến năm 2006, FDA chuẩn nhận túi độn silicon trở lại thị trường với hai loại mới. Tiến sĩ Jeffrey Shuren, quan chức cấp cao của FDA nói “các dữ liệu hiện nay không cho thấy là các túi đựng gel silicon liên hệ với ung thư, bệnh mô liên kết hoặc vô sinh”. Lập tức có lời cảnh giác khách hàng là các túi độn silicon không phải không có nguy cơ. Nên chụp cộng hưởng từ (MRI) mỗi hai năm để rà tìm túi silicon bể âm thầm, khác với túi nước muối rách xì nước và xẹp xuống. Khoảng 20 — 40% phụ nữ làm ngực to lên cần mổ sửa trong 8 — 10 năm sau. Tháng 1.2011, FDA cảnh báo là có thể có mối quan hệ với một loại ung thư hiếm gặp (ung thư hệ hạch lymphô). FDA cũng cho biết là 60 ca ghi nhận trên toàn cầu thì quá ít để kết luận là các túi độn liên hệ với bệnh này. Tháng 6.2011 FDA đưa ra kết luận: các túi độn silicon an toàn và có hiệu quả khi dùng theo hướng dẫn. Năm ngoái 2010, có hơn 400.000 phụ nữ được đặt túi độn vú và hơn 60% chọn túi silicon. GS.BS Nguyễn Chấn Hùng
  10. Trạch cát xuân Nhâm Thìn Tất niên, xuất hành, khai trương, động thổ. Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương Tiễn năm cũ đi đón xuân mới đến, người Việt ta, theo phong tục Đông phương cổ truyền, có tục ăn Tất Niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài lộc, tránh hung tìm cát. Ban biên tập diễn đàn Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương sưu tầm, tìm hiểu so sánh, đối chiếu đề xuất về các ngày gọi là tốt để quý vị bạn đọc tham khảo. Tất Niên: Đây là ngày kết thúc một năm làm việc vất vả, ngày nhìn lại những thành quả lao động của năm cũ. Ngày tốt theo Việt lịch: 28 . 12 năm Tân Mão, nhằm ngày thứ bảy 21. 01. 2012 Tây lịch. Đây là ngày Tư Mệnh Hoàng Đạo sẽ là một kết thúc tốt đẹp cho trăm nghiệp trăm nghề để chuẩn bị cho một năm mới vạn sự an lành. Giờ tốt nhất trong ngày: Giờ Tỵ. Từ 9g20 đến 11g20 Xuất Hành: Ngày tốt theo Việt lịch: mồng 09 tháng Giêng năm Nhâm Thìn, nhằm ngày: thứ ba 31.01. 2012 Tây lịch Đây là ngày Bảo Quang Hoàng Đạo là ngày tốt cho cầu quan, cầu tài, cầu lộc, thăng tiến và phát triển trong mọi sự. Giờ tốt trong ngày: Giờ Thìn, từ 7g20 đến 9g20 Giờ Ngọ, từ 11g20 đến 13g20 Giờ Thân, từ 15g20 đến 17g20 Giờ Dậu, từ 17g20 đến 19g20 Hướng Xuất Hành: Hướng tốt xuất hành là hướng Tây chếch về Tây Nam Hướng được coi là tốt thì cũng kén người hùng chí và có bản lãnh. Hướng Tốt Để Động Thổ: Theo Huyền Không Lạc Việt, niên tinh 6 nhập trung, sao Ngũ Hoàng và Nhị Hắc giao lâm tại hai phương Nam Bắc, phương Đông Nam gặp Thái Tuế, phương Tây Tây Bắc xung Thái Tuế, tam sát ở Đông Nam, Nam và Nam Tây Nam, do vậy phương động thổ an toàn nhất là hướng Tây chếch Tây Nam. Cụ thể là phương Dậu Canh. Ngày Tốt Khai Trương: Ngày tốt theo Việt lịch: Mồng 09 tháng Giêng năm Nhâm Thìn, nhằm ngày: thư ba 31.01. 2012 Tây lịch Đây là ngày Bảo Quang Hoàng Đạo là ngày tốt cho cầu quan, cầu tài, cầu lộc, thăng tiến và phát triển trong mọi sự. Giờ tốt trong ngày: Giờ Thìn, từ 7g20 đến 9g20 Giờ Ngọ, từ 11g20 đến 13g20 Giờ Thân, từ 15g20 đến 17g20 Giờ Dậu, từ 17g20 đến 19g20 Hoặc ngày 16 tháng Giêng năm Nhâm thìn, nhằm ngày thứ ba 07.02.2012. Đây là ngày Tư Mệnh Hoàng Đạo là ngày phúc đức tôt cho những người bền chí, cầu tiến. Giờ tốt trong ngày: Giờ Tỵ, từ 9g20 đến 11g20 Giờ Mùi, từ 13g20 đến 15g20 Giờ Dậu, từ 17g20 đến 19g20 Tuổi Tốt Để Xông Đất và Mở Hàng Khai Trương: Chọn tuổi: Đinh Tỵ, Đinh Dậu, Mậu Dần. Tân Dậu, Nhâm Ngọ, Giáp Dần, Kỷ tỵ Các tuổi mang chữ Canh cũng tốt nhưng tốt hơn nếu gia chủ đã có gia đình, là: Canh Dần, Canh Ngọ, Những tuổi như trên được mời mua mở hàng khai trương đầu năm,động thổ xây sửa nhà, dự lễ về nhà mới, đi đón cô dâu về nhà chồng, tiễn đưa người thân đi làm ăn xa, đón em bé từ bảo sanh viện về nhà, dự lễ cúng đầy tháng, dự lễ cúng thôi nôi cho em bé, dự lễ cúng đáo tuế, cúng thất tuần cho gia chủ sẽ được cát tường đại lợi. Nhưng hãy chọn người tử tế đàng hoàng, nhân cách đầy đủ, trí tuệ thông minh, hiền hậu nhân từ. Phúc lộc đầy đủ. Lưu ý là họ phải không trong thời gian thọ tang. Nam nữ đều tốt. Người được mời xông đất, khai trương đâù năm kiêng mặc áo trắng hoặc đen. Áo mặc tông màu xanh lá cây là thuận nhất với năm tới. Năm nay có lẽ là năm mà lý học Đông phương và các nhà khoa học dễ nhất trí về một nền kinh tế toàn cầu còn khó khăn hơn.. Cầu chúc quý vị một năm mới LỘC LỢI THÔNG TỨ HẢI – TÀI NGUYÊN ĐẠT TAM GIANG
  11. Trạch cát xuân Nhâm Thìn Tất niên, xuất hành, khai trương, động thổ. Trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương Tiễn năm cũ đi đón xuân mới đến, người Việt ta, theo phong tục Đông phương cổ truyền, có tục ăn Tất Niên, xuất hành, xông đất, chọn ngày khai trương và chọn ngày xây sửa nhà để cầu may mắn, tài lộc, tránh hung tìm cát. Ban biên tập diễn đàn Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương sưu tầm, tìm hiểu so sánh, đối chiếu đề xuất về các ngày gọi là tốt để quý vị bạn đọc tham khảo. Tất Niên: Đây là ngày kết thúc một năm làm việc vất vả, ngày nhìn lại những thành quả lao động của năm cũ. Ngày tốt theo Việt lịch: 28 . 12 năm Tân Mão, nhằm ngày thứ bảy 21.01. 2012 Tây lịch. Đây là ngày Tư Mệnh Hoàng Đạo sẽ là một kết thúc tốt đẹp cho trăm nghiệp trăm nghề để chuẩn bị cho một năm mới vạn sự an lành. Giờ tốt nhất trong ngày: Giờ Tỵ. Từ 9g20 đến 11g20 Xuất Hành: Ngày tốt theo Việt lịch: mồng 09 tháng Giêng năm Nhâm Thìn, nhằm ngày: Chủ nhật 31.01. 2012 Tây lịch Đây là ngày Bảo Quang Hoàng Đạo là ngày tốt cho cầu quan, cầu tài, cầu lộc, thăng tiến và phát triển trong mọi sự. Giờ tốt trong ngày: Giờ Thìn, từ 7g20 đến 9g20 Giờ Ngọ, từ 11g20 đến 13g20 Giờ Thân, từ 15g20 đến 17g20 Giờ Dậu, từ 17g20 đến 19g20 Hướng Xuất Hành: Hướng tốt xuất hành là hướng Tây chếch về Tây Nam Hướng được coi là tốt thì cũng kén người hùng chí và có bản lãnh. Hướng Tốt Để Động Thổ: Theo Huyền Không Lạc Việt, niên tinh 6 nhập trung, sao Ngũ Hoàng và Nhị Hắc giao lâm tại hai phương Nam Bắc, phương Đông Nam gặp Thái Tuế, phương Tây Tây Bắc xung Thái Tuế, tam sát ở Đông Nam, Nam và Nam Tây Nam, do vậy phương động thổ an toàn nhất là hướng Tây chếch Tây Nam. Cụ thể là phương Dậu Canh. Ngày Tốt Khai Trương: Ngày tốt theo Việt lịch: Mồng 09 tháng Giêng năm Nhâm Thìn, nhằm ngày: thứ ba 31.01. 2012 Tây lịch Đây là ngày Bảo Quang Hoàng Đạo là ngày tốt cho cầu quan, cầu tài, cầu lộc, thăng tiến và phát triển trong mọi sự. Giờ tốt trong ngày: Giờ Thìn, từ 7g20 đến 9g20 Giờ Ngọ, từ 11g20 đến 13g20 Giờ Thân, từ 15g20 đến 17g20 Giờ Dậu, từ 17g20 đến 19g20 Hoặc ngày 16 tháng Giêng năm Nhâm thìn, nhằm ngày 07.02.2012. Đây là ngày Tư Mệnh Hoàng Đạo là ngày phúc đức tôt cho những người bền chí, cầu tiến. Giờ tốt trong ngày: Giờ Tỵ, từ 9g20 đến 11g20 Giờ Mùi, từ 13g20 đến 15g20 Giờ Dậu, từ 17g20 đến 19g20 Tuổi Tốt Để Xông Đất và Mở Hàng Khai Trương: Chọn tuổi: Đinh Tỵ, Đinh Dậu, Mậu Dần. Tân Dậu, Nhâm Ngọ, Giáp Dần, Kỷ tỵ Các tuổi mang chữ Canh cũng tốt nhưng tốt hơn nếu gia chủ đã có gia đình, là: Canh Dần, Canh Ngọ, Những tuổi như trên được mời mua mở hàng khai trương đầu năm,động thổ xây sửa nhà, dự lễ về nhà mới, đi đón cô dâu về nhà chồng, tiễn đưa người thân đi làm ăn xa, đón em bé từ bảo sanh viện về nhà, dự lễ cúng đầy tháng, dự lễ cúng thôi nôi cho em bé, dự lễ cúng đáo tuế, cúng thất tuần cho gia chủ sẽ được cát tường đại lợi. Nhưng hãy chọn người tử tế đàng hoàng, nhân cách đầy đủ, trí tuệ thông minh, hiền hậu nhân từ. Phúc lộc đầy đủ. Lưu ý là họ phải không trong thời gian thọ tang. Nam nữ đều tốt. Người được mời xông đất, khai trương đâù năm kiêng mặc áo trắng hoặc đen. Áo mặc tông màu xanh lá cây là thuận nhất với năm tới. Năm nay có lẽ là năm mà lý học Đông phương và các nhà khoa học dễ nhất trí về một nền kinh tế toàn cầu còn khó khăn hơn.. Cầu chúc quý vị một năm mới LỘC LỢI THÔNG TỨ HẢI – TÀI NGUYÊN ĐẠT TAM GIANG
  12. Mừng Sinh Nhật Thiên Luân và HoangTrieuHai Vui Vẽ - Vui Tươi - Xả Láng
  13. Mất văn hóa là nguy cơ lớn của một dân tộc. Kẻ cướp đất đã nguy hiểm, còn cướp văn hóa thì nguy hiểm gấp ngàn lần hơn.
  14. LẠC VIỆT TRÁNG (CHOANG), ZHUANG, NAM TRUNG QUỐC. Tác giả Nguyễn Xuân Quang đứng trước bảng hiệu Làng Tráng Zhuang trong Trung Tâm Văn Hóa Sắc Tộc Quảng Tây tại Nam Ninh. (ảnh Michelle Mai Nguyễn). Như chúng ta, Tráng Việt Zhuang là một thứ Lạc Việt trong Bách Việt, Người Mặt Trời, như đã thấy họ thờ Mặt Trời còn vẽ lại trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây cách đây trên dưới 2.700 năm (Đạo Mặt Trời Của Bách Việt, bacsinguyenxuanquang.wordpress.com). Cảnh Tế Lễ mặt trời, thờ mặt thời của Lạc Việt Tráng Zhuang vẽ trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây (ảnh của tác giả). Vì thế hiển nhiên họ có văn hóa Lạc Việt ngành Thần Nông Lạc Long Quân như nhánh Lạc Việt Việt Nam. Họ cũng như nhánh Lạc Việt Việt Nam nhận mình là con cháu của Rồng. Bước vào một làng Tráng Zhuang thường thấy các trụ cổng làng thờ Rồng: Trụ cổng làng thờ thần Rồng, thần tổ của người Tráng Zhuang tại Làng Tráng Zhuang (ảnh của tác giả). Lưu ý trụ tròn mang âm tính (khác với trụ vuông có góc cạnh mang dương tính) biểu tượng của ngành nòng nước giống như ta đã thấy ở Đền Động Đình thờ Long Vương, ông ngoại của Lạc Long Quân ở hồ Động Đình (xem Hồ Động Đình). Giống như Việt Nam, văn hóa của họ cũng có cốt lõi dựa trên lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng. Hai vị thần tổ của họ là một vị thần Chim và một vị Thần Rồng: Thần tổ đầu chim ở Làng Tráng Zhuang (ảnh của tác giả). Lưu ý Thần tổ chim đầu có sừng. Ta đã biết chim sừng (hornbill) mỏ cắt, chim khướng, chim Việt là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế họ Khương (Sừng), thần tổ của ngành Nọc mặt trời Viêm Việt. Quanh cổ thần có vành sóng nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang nghĩa dương, lửa, mặt trời. Tấm che ‘hạ bộ’ hình cờ nọc mũi tên có các tua viền hình sóng lưỡi lửa. Tay cầm kiếm nhọn, thẳng biểu tượng cho nọc, dương, mặt trời nọc thái dương. Bao quanh người có những ngọn lửa… Vị thần chim sừng này là hình bóng của thần mặt trời Viêm Đế. Mẹ Tổ Âu Cơ của chúng ta mang hình ảnh chim Tiên thuộc ngành chim Sừng Mỏ Cắt, Chim Việt thần mặt trời Viêm Đế. Ngành rắn, nước, mặt trời âm (theo duy dương) hay không gian (theo duy âm) ứng với Thần Nông thấy rõ qua vị thần tổ đầu rồng: Thần tổ đầu rồng (ảnh của tác giả). Lưu ý thần tổ rồng có sừng là thần tổ của ngành Nòng Thần Nông. Rồng là dạng thần thoại hóa của rắn sừng (Rắn Việt ), theo duy âm là biểu tượng cho Thần Nông không gian. Viền trên áo có hình sóng nước. Tấm che ‘hạ bộ’ cũng có viền tua sóng nước. hai tay cầm kiếm đầu cong vòng cung mang âm tính biểu tượng cho không gian. Vì là thần âm, nước nên thần hai tay cầm hai cây kiếm. Số 2 là số chẵn, số âm trong khi đó vị thần Chim ngành lửa, dương chỉ cầm có một cây kiếm thẳng. Số 1 là số lẻ, số dương. Dưới chân có hình sóng cuộn bạc đầu… Đây là hình bóng của Thần Nông không gian của ngành Rắn, Rồng. Lạc Long Quân thế gian thuộc ngành nòng Thần Nông không gian này. Rõ như ban ngày Tráng Zhuang có hai vị thần tổ chim-rắn, Tiên-Rồng giống hệt Việt Nam chúng ta. Việt Nam có một gốc Lạc Việt. Lạc Việt Tráng Zhuang ruột thịt với gốc Lạc Việt Việt Nam. Hiển nhiên văn hóa Tráng Zhuang có cốt lõi là Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng như văn hóa Việt Nam. Họ cũng có ngôi nhà thờ phượng ngày nay gọi là nhà cộng đồng giống như nhà Lang Mường, nhà đình Việt Nam: Nhà cộng đồng kiểu nhà sàn Tam Thế (ảnh của tác giả). Những ngôi nhà cộng đồng, nhà hội kiểu nhà sàn này giống hệt nhà làng, nhà đình của Việt Nam, ngày nay dùng làm nơi hội họp, gặp gỡ của giới trẻ. Lưu ý mái cũng có đầu đao nhưng ở giữa nóc nhà có một kiến trúc hình thuyền cho thấy rõ họ thuộc đại tộc nước Rồng Lạc Long Quân. Họ còn giữ được truyền thống cổ không như các đình làng dòng Lạc Long Quân của chúng ta hiện nay trên nóc bây giờ toàn thấy hình rồng kiểu rồng long Trung Hoa. Người Lạc Việt Tráng Zhuang ruột thịt với nhánh Lạc Việt Việt Nam nên họ cũng có trống đồng thuộc đại tộc trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn. Hình trống đồng còn thấy vẽ trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây có tuổi cùng thời với trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Hình trống đồng vẽ trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây (Đạo Thờ Mặt Trời Của Bách Việt, bacsinguyenxuanquang.wordpress.com). Trống đồng là tộc biểu, tộc bảo của người Tráng Zhuang (hình chụp tại Làng Tráng Zhuang). Trống đồng Tráng Zhuang thuộc loại trống đồng tượng Nước Nguyễn Xuân Quang IV tức trống chệt Heger IV hình cái âu hay nồi úp thuộc đại tộc mặt trời Nước Lạc Long Quân. Trống đồng tượng Nước Tráng Zhuang chỉ là một tộc trong đại tộc trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn có trống biểu là trống Đông Sơn hình Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI hay Heger I (xem Cơ Thể Trống Đồng). Trung Quốc hiện nay dốc hết toàn lực ra quảng bá trống đồng Tráng Zhuang nói riêng, trống Nam Trung Hoa nói chung để lôi cuốn du khách và cố tình nói cho thế giới là văn hóa trống đồng phát gốc từ Vân Nam (họ cho là trống Vạn Gia Bá ở Chử Hùng là trống cổ nhất) rồi truyền qua Việt Nam (sic). Họ cố tình chiếm đoạt văn hóa đại tộc Đông Sơn của Việt Nam để dễ bề đồng hóa Việt Nam về mặt văn hóa. Khắp Nam Trung Hoa nhất là ở Nam Ninh, thủ đô của người Tráng Zhuang, chỗ nào cũng thấy những điêu khắc, kiến trúc về trống đồng đồ sộ. Đặc biệt nhất là Bảo Tàng Viện Sắc Tộc Quảng Tây, Nam Ninh xây theo hình trống đồng. Bảo Tàng Viện Sắc Tộc Quảng Tây, Nam Ninh Lưu ý tên Bảo Tàng Viện được viết bằng chữ ‘quốc ngữ’ ABC Tráng Zhuang ở dưới chữ Hán giống như Việt Nam ngày nay người Tráng Zhuang dùng chữ Quốc ngữ ABC. Tráng Zhuang là Lạc Việt có gốc hay ruột thịt với Tai (thái) vì thế ngôn ngữ Tráng Zhuang ruột thịt với Tầy Thái. Họ có một thứ chữ tượng hình cổ một ngàn năm dựa trên Hán ngữ (một thứ chữ ‘nôm’ Tráng Zhuang) và hiện nay chữ viết chính thức được viết bằng mẫu tự ABC (giống như Việt Nam ngày nay dùng chữ Quốc ngữ). Ta đã biết trống đồng nguyên khởi là trống biểu của Vũ Trụ giáo là họ biễu, quốc biểu, tộc biểu (như thấy qua các trống Quảng Xương, Hòa Bình, Phú Xuyên, Trống Miếu Môn I…) về sau ở các trống muộn thường có tượng cóc/ếch gọi là trống ếch trống mưa, mang khuôn mặt thờ sấm mưa nổi trội lên làm lu mờ đi ý nghĩa biểu tượng nguyên thủy của trống. Các trống Nam Trung Hoa và các quốc gia khác như Lào, Campuchia, Thái Lan… gọi trống đồng là trống ếch trống mưa. Ở tộc Tráng Zhuang cũng vậy, họ coi trống đồng là trống biểu tượng cho sấm, mưa. Trống tiêu biểu mà họ hãnh diện nhất là Trống Đại Lôi (Great Thunder Drum). Thờ trống sấm mưa nên họ thờ thần sấm mưa: Miếu thờ Thần Sấm qua biểu tượng ‘đĩa sấm’ Lửa-Nước Càn-Khôn vũ trụ giao hòa (ảnh của tác giả). Trang phục cũng thấy có những nét giống trang phục cổ truyền ViệtNam rang phục nam nữ của một tộc Tráng Zhuang (ảnh của tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Sắc Tộc Quảng Tây, Nam Ninh). Đa số các chi tộc Tráng Zhuang mặc trang phục mầu đen (rõ nhất là chi tộcNapo). Mầu đen là mầu của nước thái âm của tộc Nước, mặt trời Nước ứng với Rắn (Rồng) Lạc Long Quân. Tộc nước Lạc Việt nhuộm răng đen là vậy. Lưu ý khăn đội đầu của người nam mang hình ảnh khăn đóng của Việt Namvà khăn trùm đầu của người nữ mang hình ảnh chiếc khăn vuông đen cổ truyền của phụ nữ Việt Nam. Họ cũng có tục ném còn (ném một trái cầu tròn qua lỗ của một đĩa tròn) giống như một vài sắc tộc ở miền Bắc ViệtNam. Ném còn (ảnh của tác giả). Ném còn, tung còn là trò chơi nòng nọc, âm dương. Quả cầu tròn và đĩa tròn mang hình ảnh chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ chấm nọc nguyên tạo (.) và chữ nòng vòng tròn (O). Chữ chấm nọc dương biểu tượng cho nọc, dương sinh tạo, bộ phận sinh dục nam nguyên tạo. Vòng tròn có lỗ là chữ nòng O có một nghĩa là bột phận sinh dục nữ nguyên tạo. Ném trái còn lọt vào vòng tròn để cho nòng nọc, âm dương giao hòa. Trong lễ cưới một vài sắc tộc ở miền Bắc Việt Nam (trong đó có người Mường?), chú rể cầm quả cầu, cô dâu cầm một cái vòng tròn có dán giấy kín biểu tượng cho màng trinh, họ đứng cách nhau một khoảng xa về phía hai họ. Chú rể phải ném cho tới khi quả cầu lọt vào được vòng tròn chọc thủng tờ giấy màng trinh mới chính thức trở thành người chồng. Trò chơi nòng nọc, âm dương giao hòa này là một nét của cốt lỗi văn hóa lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng. Vân vân… nguồn: http://bacsinguyenxu...06/img_3467.jpg
  15. Kỳ lạ mây sóng thần vần vũ trên trời Bầu trời tối sầm và trông như cơn ác mộng của mọi người dân biển, dù đồng hồ đang chỉ 10h sáng. Hiện tượng kỳ lạ này xảy ra vào cuối tuần qua tại Alabama, Mỹ. Một hàng dài những con sóng khổng lồ, cuồn cuộn nối đuôi nhau nơi chân trời và chầm chậm quét về phía trước. Người dân Alabama vừa kinh sợ, vừa sửng sốt, đã chụp lại quang cảnh và gửi về trạm khí tượng thủy văn địa phương. Đường dây nóng của cảnh sát và nhà chức trách liên tục bị nghẽn. Câu hỏi được đặt ra nhiều nhất, hiển nhiên là “Cảnh sóng thần trên bầu trời kia có nghĩa là sao? Liệu đó có phải là điềm báo thảm họa?”. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, những đám mây hình sóng thần này chính là thí dụ điển hình của “Sóng Kelvin – Helmholtz”, được hình thành khi hai lớp không khí va chạm vào nhau. Dù được ghi nhận trên bầu trời hay dưới đại dương, dạng chuyển động nhiễu loạn này luôn được hình thành khi một tầng “lỏng” chuyển động nhanh trượt lên trên một tầng khác dày hơn, chuyển động chậm hơn. Trong trường hợp này, tầng khí quyển thấp nhất (50-100), gần sát mặt đất có độ ổn định cao hơn so với các tầng khí quyển phía trên vào buổi sáng. Chừng nào nhiệt độ mặt đất chưa tăng lên do nhiệt từ mặt trời thì tầng thấp vẫn ổn định hơn tầng cao. Sóng Kelvin-Helmhotlz sẽ xảy ra khi gió xuyên qua các tầng khí này, gây mất ổn định phần trên cùng của tầng đáy và nhồi thêm không khí vào các tầng dao động. Kết quả là tầng khí ổn định bị nâng lên, lạnh đi và đặc lại. Tới một mức độ nào đó, toàn bộ quá trình này sẽ trở nên hữu hình và tạo ra những hình thù kỳ dị trên bầu trời. Tương tự, sóng nước sẽ hình thành khi các tầng “lỏng” phía trên (ví dụ như không khí), chuyển động nhanh hơn các tầng “lỏng” bên dưới (thí dụ như nước). Khi sự khác biệt giữa tốc độ của gió và nước tăng tới một mức nào đó, sóng sẽ vỡ ra và tạo thành chuỗi hình Kelvin-Helmholtz (được đặt tên theo hai nhà khoa học Đức phát hiện ra hiện tượng này). Trước đó, các nhà khí tượng cũng đã thu thập được nhiều hình ảnh mây kỳ lạ do sóng Kelvin-Helmhotlz gây ra. Trọng Cầm
  16. @HellKnight1a, Đầu tiên bạn nói thần giao cách cảm, sau lại nghĩ trúng bùa ngải, lại đi xin tư vấn để an thần bằng...tử vi. Bạn đang muốn gì? Nếu muốn trị bệnh thần giao cách cảm thì nên tìm đến nhà ngoại cảm. Nếu muốn trị bị thư yếu thì tìm đến thầy pháp. Nếu muốn hỏi tử vi thì ở đây đã có người giải rồi. Đừng biến tâm trí mình thành cái sọt rác của tất cả những thứ vớ vẩn. Vài hàng vẩn vơ. Thiên Đồng
  17. Giá mà huy tượng của Hội Đông Y Việt Nam có đồ hình Âm Dương theo truyền thống Việt như sau đây thì ngành đông y Việt Nam sẽ có biết bao Thần Y như Thần Y Võ Hoàng Yên.
  18. Bí ẩn sự tích "cáo chín đuôi" ở hồ Tây Lật giở lịch sử và đầy kỳ bí khi biết câu chuyện liêu trai: hồ Tây chính là "lăng mộ" chôn xác cáo chín đuôi. Theo sách Lĩnh Nam chích quái, thành Thăng Long xưa hiệu là Long Biên, hồi thượng cổ không có người ở. Vua Thái Tổ nhà Lý chèo thuyền ở bến sông Nhĩ Hà, có hai con rồng dẫn thuyền đi, cho nên đặt tên là Thăng Long, rồi đóng đô ở đấy. Xưa ở phía Tây thành có hòn núi đá nhỏ, phía đông gối lên sông Lô Giang. Trong hang, dưới chân núi, có con cáo trắng chín đuôi sống hơn ngàn năm, có thể hóa thành yêu quái, thành người hoặc thành quỉ đi khắp nhân gian. Thời đó, dưới chân núi Tản Viên, người Mán chôn gỗ kết cỏ làm nhà. Trên núi có vị thần rất linh thiêng, người Mán thường thờ phụng. Thần dạy người Mán trồng lúa, dệt vải làm áo trắng mà mặc cho nên gọi là Bạch Y Man (Mán áo trắng). Con cáo chín đuôi biến thành người áo trắng nhập vào giữa đám dân Mán, cùng ca hát rồi dụ dỗ trai gái trốn vào trong hang núi. Người Mán rất khổ sở. Long Quân bèn ra lệnh cho lục bộ thủy phủ dâng nước lên công phá hang đá. Cáo chín đuôi bỏ chạy, quân thủy phủ đuổi theo, phá hang bắt cáo mà nuốt ăn. Nơi này trở thành một cái vũng sâu gọi là đầm Xác cáo, tức Tây Hồ ngày nay. Sau lập miếu, tức Kim Ngưu Tự để trấn áp yêu quái. Cánh đồng phía Tây Hồ rất bằng phẳng, dân địa phương trồng trọt làm ăn, nay gọi là Hồ Đỗng (hang cáo). Đất ở đây cao ráo, dân làm nhà mà ở, nay gọi là Hồ Thôn (thôn Cáo). Chỗ hang cáo xưa, nay gọi là Lỗ Khước Thôn. Vậy, hồ Tây chính là là lăng mộ chôn xác cáo chín đuôi? Mang huyền thoại này đi hỏi những người dân sống lâu năm ở khu vực xung quanh hồ thì được bác Văn (ở phố Trần Vũ) cho biết: "Gia đình tôi có 3 đời sống ở nơi này. Truyền thuyết về hồ Tây thì có rất nhiều, nào là hồ Trâu vàng, đầm xác cáo, hồ Dâm đàn... Về huyền thoại cáo chín đuôi, tôi được nghe rằng, trước đây, vùng đất này là rừng núi hết sức hoang vu, ít người qua lại. Lúc đó, trên một ngọn núi giữa vùng có một con cáo chín đuôi. Nhờ hàng ngàn năm tu luyện, cáo đã thành tinh, phép thuật hết sức lợi hại...".Và có vẻ như khơi đúng mạch, bác Văn ngược về quá khứ, cứ kể như mình là người chứng kiến sự việc: Con cáo chín đuôi lúc biến thành cô gái xinh đẹp, lôi dụ các chàng trai; lúc lại thành chàng thanh niên tuấn tú đi tán tỉnh thôn nữ; khi lại là quỷ dữ dọa người đến khiếp sợ... Nó làm thế là vì muốn bắt được càng nhiều người đưa về hang sâu để ăn thịt dần...Trong khi đó, vẫn là câu hỏi về cáo chín đuôi ở hồ Tây, cụ Thanh, 70 tuổi, sống ở đê Yên Phụ, lại kể: Vì con hồ tinh có pháp thuật cao cường và mưu mô quỷ quyệt, nên dân chúng không còn cách nào khác, bèn họp cả làng thắp hương cầu khấn lên trời cao, xin Ngọc Hoàng ra tay cứu giúp. Hồ tây Động lòng thương hại, Ngọc Hoàng sai thần Huyền Thiên hạ giáng dùng phép thuật giết chết hồ tinh... Khi Huyền Thiên thực thi pháp thuật đánh nhau với hồ tinh thì trời đất tối mù, đất đá lở tung, cây cối bật gốc. Hai bên quần nhau mãi đến khi hồ tinh bị Huyền Thiên cắt đứt chín đuôi và dẫm nát dưới chân, thì bỗng dưng... vùng đất sụt xuống dưới sâu. Ngọc Hoàng phòng xa khả năng hồ tinh sống lại, nên hạ lệnh cho thần Mưa đổ nước xuống ngâm vĩnh viễn xác cáo. Từ đó, vùng nước mới này được gọi là đầm Xác cáo. Trong cuốn sách viết về hồ Tây, cũng như trên nhiều phương tiện truyền thông, nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc nhận xét: Hồ Tây là hồ thuộc loại linh thiêng nhất Việt Nam. Không chỉ ông mà trong tâm thức nhiều người Hà Nội, hồ Tây đã và đang được tin như là long mạch lớn nhất của thủ đô cổ kính. Theo ông Phúc, cái tên xưa nhất của hồ Tây là đầm Xác cáo và truyền thuyết gắn liền với công đức của Lạc Long Quân giúp người dân có cuộc sống yên bình, mà không bị loài yêu tinh quấy phá. Thần đã truy đuổi con cáo vào tận hang và sau đó, cho nước ngập hang làm chết cáo...nguồn: theo Đất Việt
  19. @ Võ Đức Cường, Sách viết về Phong thủy Lạc Việt thì chư có. Muốn có thì bạn theo học lớp Phong thủy Lạc Việt. Còn sách cơ bản để hiểu nguyên lý của các môn lý học thì bạn tì Cuốn Hà Đồ trong văn Minh Lạc Việt. Các sách tham khảo nghiên cứu khác là: - Tìm về cội nguồn Kinh Dịch. (*) - Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại. - Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục thập hoa giáp.(*) - Tính minh triết trong tranh dân gian Việt nam.(*) - Định Mệnh có thật hay không? (tựa khác là Đức phật khai ngộ tính thấy) Hiện tại trung tâm nghiên cứu Lý Học Đông Phương chỉ còn các cuốn có đánh dấu (*) trên. Tuy nhiên bạn có thể tải trên mạng cũng có. Thiên Đồng
  20. Có một thánh nhân vĩ đại mà ai ai cũng biết, chỉ cần đưa bất cứ hình nào vị này cũng tìm được Trung Cung, vị này không xuất phát từ phương Đông mà là phương Tây nên có thể gọi là Tây Thánh, vị đó là...AUTOCAD! Thật là một thánh nhân đa năng! Thiên Đồng
  21. Phật bảo: Phàm làm việc gì, trước phải xét kỹ hậu quả trước khi làm việc ấy. Chúc bạn nmay mắn lần sau. Thiên Đồng
  22. Trời! Sao mình bị lên chức HLV bóng đá hồi nào vậy? Coi chừng FiFa nó điều tra thì chít! Thôi vậy đi, Tôi, Thiên Đồng bị làm HLV CLB bóng đá Lý học Đông Phương, xin từ chức và nhượng chức này lại cho Thiên Bồng, một thành viên sáng giá của CLB đầy đủ năng lực của một HLV, cầu thủ, dự bị và cổ động viên. Như vậy lịch sử CLB bóng đá Lý học Đông Phương sớm có một trang sử đáng lập kỷ lục guy nét là HLV đầu tiên từ chức vì lý do "bị làm". Xin cảm ơn quý vị quan tâm. Thiên Đồng
  23. @ nguoivosu, Tháng 12 âm có ngày 8, 12, 16 là ngày tốt. Chọn 1 trong 3 ngày đó. TD
  24. Số của nữ: Tháng 10 âm vừa rồi đi xa mất lộc nhỏ, hay tài sản nhỏ. Năm nay người này tuy vất vả nhưng cũng có lộc nhỏ. Số của nam: 0919126557, 0919126557công việc lai rai, chủ yếu là vuột cơ hội, được cái là có cơ hội du lịch. Năm nay người này chạy đôn chạy cháo nhưng ngốc mỏ. Số dt này nên đổi.
×
×
  • Create New...