Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Thiên Đồng

Hội viên
  • Số nội dung

    6278
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    75

Everything posted by Thiên Đồng

  1. Đi tìm bản sắc văn hóa dân tộc qua thế giới biểu tượng TS. Nguyễn Văn Hậu Trường ĐHVH Hà Nội (ĐHVH)- Bàn về bản sắc Văn hoá dân tộc quả là một việc làm hết sức khó khăn. Biết bao nhiêu công trình và bút mực nhằm tập trung vào câu hỏi “bản sắc dân tộc là gì?”, nhưng cuộc hành trình truy tìm này vẫn còn tiếp tục. Không thể nói việc làm này là viển vông và không có thật. Bản sắc văn hoá dân tộc bao hàm những mặt được hình thành và gắn bó với dân tộc từ thưở xa xưa, các mặt này được duy trì theo quá trình của lịch sử. Đó là các kiểu quan hệ hay một kiểu lựa chọn riêng của một cộng đồng về một phương thức ứng xử nào đó, khiến cho mỗi dân tộc hiện ra với những nét độc đáo nhằm phân biệt với các dân tộc khác. Có thật nhiều cách trả lời khác nhau về bản sắc dân tộc, và mọi người cũng mặc nhiên công nhận rằng bản sắc dân tộc là cái có thật, nên rất nhiều công trình gắng công tìm hiểu. Nhưng truy tìm theo hướng nào và bằng cách nào là điều cần bàn đến. Bởi một lẽ ngay trong bản thân khái niệm văn hoá cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi do đứng ở nhiều góc độ khoa học khác nhau để nghiên cứu. Song ở đây chúng ta không sa đà vào việc truy tìm một cách kiệt cùng về định nghĩa của văn hoá, vì càng đi sâu tìm hiểu khái niệm này thì càng thêm phức tạp. Tựu chung, xét về mặt biểu hiện, văn hoá là một hiện tượng xã hội mà không phải là hiện tượng tự nhiên, và nó thuộc về giá trị tinh thần. Theo nghĩa chung nhất, văn hoá được xem là toàn bộ những hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ cũng như trong hiện tại tạo thành những chuẩn mực - giá trị, thị hiếu và truyền thống, gọi chung là hệ giá trị - xã hội, một thành tố cơ bản làm nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng dân tộc. Hệ giá trị xã hội nào cũng đều nhằm vào sự thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, nó được biểu hiện trở thành các biểu tượng văn hoá - các khuôn mẫu và chuẩn mực văn hoá. Theo toàn thư quốc tế về phát triển văn hoá (International Thesaurus on Cultural Development) của UNESCO: “Văn hoá là một tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định thế ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt” [1]. Sự hình thành và phát triển văn hoá luôn dựa vào năng lực của con người trong việc nhận thức và sáng tạo ra các loại hình ngôn ngữ kí hiệu - biểu tượng ( Symbol). Bởi lẽ, biểu tượng luôn chứa đựng trong nó những giá trị, mà đằng sau các giá trị thường ẩn dấu một nhu cầu nào đó của con người. Trong mọi nhu cầu của đời sống xã hội thì nhu cầu văn hoá là nhu cầu cao nhất - nhu cầu giải trí và sáng tạo ra các tác phẩm văn hoá. Sự đa dạng của văn hoá biểu hiện tính phong phú và tính nhiều vẻ của thế giới biểu tượng. Khi nhấn mạnh đặc trưng cơ bản của văn hoá là mang tính biểu tượng (Symbolic) thì đó cũng là lý do khiến phải xem xét kĩ hơn về loại hình ngôn ngữ - kí hiệu tượng trưng này. Biểu tượng là gì? Để tạm hiểu, ta có thể gọi nó là cái được dùng để biểu thị một cái gì đó. Nó là hình ảnh tượng trưng được phô bày ra khiến người ta cảm nhận một giá trị trừu suất tức là thế giới của ý nghĩa, cũng là thế giới của văn hoá. Từ điển Petit Larousse cho rằng: “Biểu tượng là dấu hiệu hình ảnh, con vật sống động hay đồ vật biểu hiện một điều trừu tượng, nó là hình ảnh cụ thể của một sự vật hay một điều gì đó”. [2] C.G.Jung - nhà phân tâm học người Thuỵ Sỹ cũng quan niệm về biểu tượng như sau: “Biểu tượng là một danh từ, một tên gọi hay một đồ vật, ngay cả khi là quen thuộc ở trong đời sống hàng ngày, nhưng vẫn chứa đựng những mối liên hệ về mặt ý nghĩa, bổ sung vào cái ý nghĩa ước định hiển nhiên và trực tiếp của chúng”. [3] Trong Dịch thuyết cương lĩnh của Chu Hy, nhà triết học đời Tống cũng giải thích: “Tượng là lấy hình này để tỏ nghĩa kia” [4] , tức là dùng cái tri giác để nói lên cái khó có thể tri giác, hay dùng cái tĩnh để nói cái động, dùng cái cụ thể để nói cái trừu tượng, dùng cái hữu hình để nói cái vô hình v.v… Biểu tượng là loại hình “kí hiệu” rất cổ xưa ra đời từ buổi bình minh của lịch sử hình thành nhân loại. Biểu tượng được coi như là công cụ của tư duy trong tiến trình nhận thức của con người. Nó là con đẻ của sự liên tưởng và tưởng tượng, giúp cho con người khám phá ra thế giới đầy ý nghĩa. Nhiều nhà nhân học văn hoá còn cho rằng “đơn vị cơ bản” của văn hoá chính là biểu tượng - vật hàm chứa thông tin, và là hạt nhân “di truyền xã hội” đầu tiên của loài người. Thế giới biểu tượng là thế giới của ý nghĩa. Quá trình sáng tạo ra hệ thống các biểu tượng cũng là quá trình “khách thể hoá” những “năng lực bản chất người” để tạo nên thế giới văn hoá. Có thể xem văn hoá là toàn bộ thế giới thông tin, không kể di truyền sinh vật, là biện pháp nhằm tổ chức, bảo vệ và truyền bá thông tin. Như vậy, biểu tượng chính là hình thức ngoại hiện của văn hoá, còn hệ thống ý nghĩa nằm bên trong mỗi biểu tượng là nội dung cơ bản của nó. Văn hoá được coi như là một “văn bản” các hệ thống biểu tượng. Biểu tượng bao gồm mọi dạng thức hình ảnh tác động chủ yếu đến thính giác và thị giác gây cho con người những rung động, những cảm xúc về chúng theo nhiều mức độ khác nhau. Biểu tượng có mặt hầu hết trong các mặt biểu hiện của đời sống từ lĩnh vực tôn giáo, nghệ thuật, chính trị, văn hoá - xã hội… cho đến cả trong giấc mơ của con người. Thực chất cuộc sống ngoài những nhận thức bằng tư duy lý tính mang tính khoa học thông qua những hệ thống khái niệm và phạm trù v.v… thì còn biết bao điều không thể hiểu biết trực tiếp được, nên người ta đã dùng một “vật môi giới” làm trung gian nhằm để hiểu được những điều khó có thể tri giác, ta gọi đó là biểu tượng như: “Rồng” biểu tượng cho quyền uy tối cao; “Rùa” biểu tượng cho sự trường tồn, phúc thọ; “Bồ câu” biểu tượng cho hoà bình; “Hoa sen” biểu tượng cho sự thanh cao; “Cái bắt tay” biểu tượng cho sự thân thiện v.v… Biểu tượng là phương thức nhận thức của con người, nó biểu thị toàn bộ tâm cách cũng như tính cách của một dân tộc, tính phong phú của biểu tượng cũng là sự tương ứng với tính đa dạng của cuộc sống, mà con người cần truy tìm và nắm bắt lấy nó, nhằm thoả mãn mọi nhu cầu của con ngưới trong đời sống xã hội. Thế giới biểu tượng là một vùng mù đầy ý nghĩa mà con người là một động vật có năng lực biểu trưng và biết sử dụng các biểu tượng (Homo - Symbolius). Biểu tượng sống tiềm ẩn từ cõi vô thức, mà sự sáng tạo ra các biểu tượng lại ở thế giới hữu thức, tức nó ra đời trong lòng đời sống của con người. Do đó biểu tượng có những chức năng mà qua đó con người có thể khám phá cũng như nhận thức sâu sắc cuộc sống của mình, từ đó tạo ra những biến đổi rất lớn trong sự phát triển toàn diện về nhân cách của mỗi con người, nói khác biểu tượng có chức năng chung nhất là điều chỉnh và định hướng trở lại đời sống xã hội. Nó có vai trò làm động lực thúc đẩy cho xã hội phát triển. Đó cũng là tính văn hoá của biểu tượng. Về chức năng của biểu tượng như đã biết, chức năng đầu tiên của nó là chức năng khám phá ra những giá trị, tức tri giác những điều khó có thể tri giác bằng khái niệm. Đó là sự truy tìm của trí tuệ vào cõi vô minh, nhằm tìm cách biểu hiện ra những ý nghĩa nào đó mà lý trí khó nắm bắt được. Biểu tượng mở rộng trường ý thức trong mọi lĩnh vực, điều mà không thể xảy ra được nếu như đòi hỏi ở biểu tượng một sự chính xác, cụ thể, theo kiểu tư duy logic - khoa học. Vì khoa học là sự biểu hiện bằng các kí hiệu mang tính chính xác như dấu hiệu của toán học. Còn biểu tượng không mang tính cụ thể, chính xác mà nó là cái trừu tượng, đa nghĩa như các biểu tượng Âm - Dương trong Kinh Dịch: Vạch liền (-) là tượng Dương, còn hiểu là cha, mặt trời, lửa, ngày, hoà bình v.v…; Vạch đứt (--) là tượng Âm còn hiểu là mẹ, mặt trăng, nước, đêm, chiến tranh v.v… Ngoài ra, biểu tượng còn có chức năng thay thế, nhằm trả lời những câu hỏi hay thoả mãn một ước vọng nào đó của con người, và chức năng siêu nghiệm để tiếp cận các yếu tố thuộc lĩnh vực tâm linh. Chức năng giao tiếp nhằm giúp cho con người liên kết lại với nhau. Song quan trọng hơn cả là chức năng liên kết xã hội và chức năng giáo dục của biểu tượng. Chức năng liên kết xã hội của biểu tượng thể hiện tính liên kết của cộng đồng. Nó làm cho người ta hoà đồng với môi trường xã hội và nhóm như: biểu tượng “Rồng”, “Tiên” khiến chúng ta nhớ về cội nguồn dân tộc, biểu tượng “Cờ Tổ quốc” cho ta nghĩ mình là người dân đất Việt. Biểu tượng trở thành ngôn ngữ chung của toàn nhân loại, nó biểu thị được những giá trị mang tính chất toàn cầu như những biểu tượng “Hoà bình”, “Tự do” v.v… Ngoài ra, biểu tượng còn có khả năng phát ra những tín hiệu và lập khắc sau đó nó trở thành mệnh lệnh, thúc đẩy mọi người hành động theo mệnh lệnh của trái tim một cách tự nguyện, tự giác mà không cần một sự áp đặt nào của quyền lực. Đó chính là chức năng giáo dục của biểu tượng. Về vai trò của biểu tượng thì nó là nhân tố gợi mở cho ta phát hiện và sáng tạo ra các giá trị mới - giá trị văn hoá. Bởi biểu tượng luôn ở vị trí trung tâm của đời sống văn hoá. Nó là hạt nhân tâm lý cho sự tưởng tượng, làm bộc lộ ra những bí mật của cõi vô thức và trở thành động lực cho sự sáng tạo của thế giới hữu thức… Biểu tượng thực sự vén mở cho ta thấy chân trời của trí tuệ bằng sự cảm nhận những giá trị đúng đắn của cuộc sống. Sau cùng, biểu tượng còn hình thành nên các “khuôn mẫu văn hoá” - khuôn mẫu hành vi trong mọi ứng xử của con người. Các khuôn mẫu này được lắp đi lắp lại nhiều lần trong đời sống xã hội, theo chiều dài lịch sử đã trở thành nếp sống, lối sống, phong tục, tập quán của mỗi cộng đồng dân tộc khác nhau. Thực chất, biểu tượng đã thể hiện được sắc thái riêng của mỗi nền văn hoá và đã tạo thành “cái gen” di truyền của nền văn hoá đó, và biểu tượng đã trở thành “khuôn mẫu gốc” (Archetype) và chuẩn mực văn hoá của mỗi cộng đồng. Sự tìm hiểu biểu tượng cũng là sự nỗ lực của con người muốn vươn tới sự “giải mã” các biểu tượng. Biết bao nhiêu giá trị của biểu tượng đang còn chìm khuất trong huyền thoại, trong nếp sống, cả trong kho tàng văn học - nghệ thuật và lễ hội truyền thống chưa được khám phá. Nói khác đi, các giá trị chuẩn mực xã hội được đúc kết và được biểu hiện trở thành các biểu tượng và đến lượt nó biểu tượng là sự thị hiện ra bên ngoài các giá trị xã hội. Có thể hiểu biểu tượng là hình thức biểu đạt các giá trị, ý nghĩa mà con người đã tìm kiếm và chọn lựa theo một kiểu ứng xử nào đó, một quan hệ nào đó với tự nhiên và xã hội, và các giá trị đó được biểu hiện ra bằng các biểu tượng. Nhận thức các hệ thống biểu tượng và “giải mã” nó để hiểu về những giá trị, những tư tưởng được chìm ẩn trong thế giới của biểu tượng. Đó là một cách thức để chấp nhận, để khám phá ra được tâm lý, tính cách cũng như tinh thần của một dân tộc. Và đó cũng là phương thức để nhận biết về “bản sắc dân tộc”. Để làm rõ quan hệ này, ta có thể tìm hiểu thêm về tính biểu tượng trong huyền thoại truyền thống của mỗi dân tộc. Huyền thoại của nhiều cộng đồng người được bảo lưu cho đến nay thường bị coi là hoang đường và thần thoại, nếu so với cái hiện đại. Nhưng nếu so sánh với quá khứ của lịch sử nhân loại thì chúng ra đời ở một thời điểm đã khá muộn mằn, tức trình độ tư duy và nhận thức con người đã được phát triển. Con người có thể ghi lại những suy ngẫm của mình về vũ trụ, về thế gian mình đang sống và huyền thoại ra đời như một sản phẩm tinh thần thông qua sự cảm thụ, sự nhận thức của con người về hiện thực khách quan và được phản ánh vào trong huyền thoại. Do đó những chất liệu làm nên huyền thoại là có thật chứ không huyền. Có chăng phương pháp sáng tác huyền thoại là phương pháp khái quát hoá, mô hình hoá bằng một loại hình ảnh tượng trưng gọi là biểu tượng và chính các biểu tượng đã chứa đựng trong nó những giá trị, tư tưởng mà cả cộng đồng dân tộc gửi gắm vào đó như biểu tượng mặt trời, một biểu tượng được suy tôn ở hầu hết các dân tộc Đông Nam Á, mà phương Đông là phương của mặt trời mọc. Nó nói lên ý nghĩa là ánh sáng đem lại sự sinh tồn cho vạn vật. Hay biểu tượng “Con Hồng - Cháu Lạc” đã trở thành biểu tượng về nguồn gốc của dân tộc Việt. Ở đây, Hồng Bàng có nghĩa là “chim ngỗng trời lớn”, và như vậy cũng có thể hiểu thêm về một dân tộc được hình thành bởi nền văn hoá sông nước và trở thành nền văn minh lúa nước sau này. Vậy “Hồng Bàng” ở đây không chỉ định một dòng họ mà là một đặc trưng của một thị tộc được dùng để định tên tộc ấy và nó đã trở thành một biểu tượng chung của cả một cộng đồng - dân tộc. Từ những phân tích trên đây, nếu giả định có thể chấp nhận là biểu tượng ra đời trước hết từ nhu cầu sở thuộc xã hội và tính cấu kết cộng đồng. Chúng ra đời trên cơ sở của môi trường sinh tồn tự nhiên mà chỉ các thành viên cộng đồng đó mới cảm nhận được theo cách nghĩ riêng và cách lựa chọn của mình để biến nó thành giá trị tinh thần của cả cộng đồng, như “Rồng” và “Chim” là biểu tượng của tính cộng đồng Bách Việt. “Rồng” và “Chim” đẻ ra trứng là biểu tượng của sự nảy nở, sự phồn sinh, tràn đầy viên mãn. Biểu tượng đã được xác định bằng chính lý do ra đời của nó. Biểu tượng là dấu hiệu biểu hiện ra bên ngoài để nhận biết sở thuộc cộng đồng. Chính biểu tượng đã tồn tại trong lòng cộng đồng và mỗi thành viên trong cộng đồng đó. Biểu tượng buộc người ta thừa nhận nó nếu như người ta muốn tồn tại và mỗi thành viên sẽ là người tự nguyện chấp nhận nó, bởi trong nó luôn chứa đựng những giá trị và nó điễn đạt được những điều mong muốn cũng như những khát vọng của mọi thành viên trong cộng đồng. Ta thấy biểu tượng có một giá trị đối với nhóm, đối với cộng đồng và xã hội, nó có quyền năng tập hợp hay đồng tình về một giá trị, một tư tưởng của cả cộng đồng. Biểu tượng luôn mang xã hội tính vì nó có sức mạnh liên kết xã hội như khi nói: “Con Hồng - cháu Lạc”, hay “Tóc dài - răng đen” thì đó là sự kêu gọi ý thức cộng đồng. Có thể nói bản sắc văn hóa dân tộc chính là sự thể hiện của tâm lý dân tộc, được biểu hiện ra ở lối sống, nếp sống, ở phong tục và tập quán, ở sự ưa thích, cách suy nghĩ và ở cả thang bảng giá trị xã hội, bao gồm cả sở trường và sở đoản. Tất cả cùng hiện ra những nét độc đáo, đặc sắc nhằm phân biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác. Bản sắc văn hóa dân tộc là sự biểu hiện về bản lĩnh sáng tạo của mỗi dân tộc. Nó được kết tinh thành những biểu tượng văn hóa và thông qua các hệ thống biểu tượng, ta có thể hiểu được tính cách của dân tộc đó. Để tìm bản sắc dân tộc Việt Nam ta có thể tìm thấy một vài biểu hiện của những giá trị truyền thống thông qua các biểu tượng văn hóa cụ thể như: Trống đồng, Cồng, Chiêng, Rượu cần, Trầu cau v.v… Tất cả biểu hiện này đã nói lên một nền văn hóa Nam Á bản địa. Và các biểu tượng khác thuộc về văn hóa ứng xử như: “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, “Tối lửa tắt đèn có nhau”, “Bán anh em xa mua láng giềng gần” hay “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” v.v… Ở đây nội dung của chúng đã thể hiện được tính cộng đồng của cả dân tộc. Qua một số ví dụ trên, ta nhận thấy các hệ thống biểu tượng văn hóa - dân tộc đã hàm chứa trong lòng nó những giá trị tư tưởng hết sức sâu sắc và đầy hàm súc, nó thể hiện được tâm lý dân tộc trong quá trình chọn lựa một kiểu ứng xử, một kiểu quan hệ với nhau trong đời sống văn hóa - xã hội. Từ đó, ta có thể hiểu thêm phần nào về bản sắc văn hóa cổ truyền Việt Nam được định hình ở một nền văn minh lúa nước và một nền văn hóa làng xã. Để có thể nắm bắt một cách đầy đủ và chuẩn xác về bản sắc của một nền văn hóa nói chung cũng như bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam nói riêng, chúng ta không chỉ thông qua một vài biểu tượng đơn lẻ mà có thể kết luận ngay điều đó, mà còn phải đi sâu nghiên cứu một cách nghiêm túc toàn bộ các hệ thống biểu tượng truyền thống từ trong các huyền thoại, lễ hội, văn hóa và nghệ thuật dân gian cho đến các khuôn mẫu ứng xử v.v… Có như vậy, mới có thể khái quát một cách chính xác về bản sắc văn hoá dân tộc. Cuộc sống luôn thay đổi, biểu tượng cũng có những đổi thay, nhưng nếu xác định kiểu lựa chọn về những giá trị nào đó, thông qua hệ thống biểu tượng của cả cộng đồng, ta sẽ nhận ra sự khác biệt về mặt tâm cách cũng như tính cách của một dân tộc. Chính sự khác nhau này đã làm nên sự đặc sắc của mỗi nền văn hóa và đó cũng chính là sự thể hiện bản sắc riêng của mỗi dân tộc. Có thể nói, muốn tìm được bản sắc văn hóa dân tộc một cách chính xác thì cần phải tìm thông qua các hệ thống biểu tượng có trong lòng mỗi dân tộc. Tài liệu tham khảo Bộ Văn hóa thông tin (1972) “Mấy vấn đề văn hóa và phát triển ở Việt Nam hiện nay”, NXB Hà Nội, trang 164. Đoàn Văn Chúc (1997) “Văn hóa học”, Viện Văn hóa, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, trang 78. Jean Chevalier, Alain Gheerbran (1997) “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới”, NXB Đà Nẵng, Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội, trang XXIX. Đoàn Văn Chúc (1997) “Xã hội học Văn hóa”, Viện Văn hóa, NXB Văn hóa thông tin, trang 215.
  2. Kinh hoàng “công nghệ” xăng dỏm Thanh Niên – 3 giờ trước Khác với hình dung của nhiều người rằng xăng dỏm chỉ có ở những điểm bán nhỏ lẻ bên lề đường, trong nhiều ngày thâm nhập, PV Thanh Niên đã phát hiện sự thật kinh hoàng đằng sau những chuyến xe bồn chở xăng dầu đến các cây xăng lớn của nhà nước lẫn tư nhân để bán cho người tiêu dùng. Nguyên nhân xảy ra những vụ cháy liên tục cũng có thể từ đây. Bơm chất lỏng vào bồn xăng Theo đúng quy trình vận tải xăng dầu, xe bồn (thường là loại 16.000 lít, 4 hầm chứa) sau khi lấy hàng từ kho phải chở thẳng đến các cây xăng hoặc nhà máy, xí nghiệp để bán cho người tiêu dùng. Thế nhưng, tại TP.HCM, những xe bồn sau khi “ăn hàng” ở Tổng kho xăng dầu Nhà Bè đã rẽ ngang các “trạm pha chế” bí mật. Những bãi đáp bất thường Những ngày đầu đeo bám theo các xe bồn xuất phát từ Tổng kho xăng dầu Nhà Bè, chúng tôi đã rất ngạc nhiên không hiểu nhiều khu vực vắng vẻ, thưa thớt dân cư tại các cung đường Hoàng Quốc Việt, Đào Trí, Huỳnh Tấn Phát... (Q.7) “có cái gì” hấp dẫn mà các tài xế đều tranh thủ đưa xe ghé qua với hành tung bí hiểm. Một đặc điểm chung của những bãi đáp này là rất kín cổng cao tường, phía trước cũng không hề ghi địa chỉ hay tên doanh nghiệp. Trước cổng ra vào luôn có một số thanh niên mặt mày bặm trợn cảnh giới, đi qua đi lại, láo liên quan sát không cho bất cứ người lạ nào có cơ hội tiếp cận. Khi thấy xe bồn quen vừa trờ tới, những người này nhanh chóng mở cổng để xe chạy thẳng vào trong và cánh cổng được đóng lại gần như ngay lập tức. Thông thường, cứ tầm 8 giờ sáng các ngày trong tuần, trừ chủ nhật, từng đợt xe bồn sau khi nhận hàng từ tổng kho liên tục đổ về đây. Khi còn cách bãi đáp không xa, tài xế điện thoại thông báo cho người canh gác để chuẩn bị mở cổng. Cứ vậy, xe bồn ghé vào các điểm tập kết chỉ trong 15 - 20 phút, lâu nhất là nửa tiếng, rồi những cánh cổng lại nhanh chóng được mở để các xe này tiếp tục hành trình chở xăng dầu đến các cây xăng đại lý. Sau khi xe bồn vừa phóng đi, cũng là lúc xuất hiện một lực lượng khác chở lỉnh kỉnh đủ thứ thùng, can nhựa... và chỉ vài phút sau họ đã nhanh chóng rời khỏi với những can nhựa đầy ắp xăng dầu. Trong nhiều ngày quan sát bên ngoài, chúng tôi ghi nhận xe bồn của các hãng xăng dầu lớn như Tổng công ty xăng dầu VN (Petrolimex), Công ty cổ phần cơ khí xăng dầu (trực thuộc Petrolimex), lẫn xe bồn của các doanh nghiệp vận tải được thuê để chở xăng dầu cho các cây xăng như H.P, H.N, T.P, N.B... đều ghé các bãi đáp này một cách bất thường. Vào vai thợ bẫy chim lật tẩy “quy trình pha chế” Các bãi đáp đều được canh phòng cẩn thận nên chúng tôi mất rất nhiều thời gian để tìm cách tiếp cận. Có lẽ ông chủ của các bãi đáp này đều đã có sự tính toán kỹ lưỡng để tránh mọi sự dòm ngó. Hơn chục địa điểm mà chúng tôi phát hiện không chỉ kín cổng cao tường, lau sậy um tùm che khuất mọi tầm nhìn, mà xung quanh cũng không có công trình cao tầng nào để có thể phóng tầm mắt quan sát các hoạt động bên trong. Sau nhiều ngày suy tính, chúng tôi quyết định tiếp cận trực tiếp. Để tránh nghi ngờ của đội ngũ cảnh giới, từ 5 giờ sáng, chúng tôi đóng vai thợ bẫy chim, tay xách lồng chim mồi, vai đeo túi đựng thang dây. Kiên nhẫn chờ đến lúc những người canh gác không để ý, chúng tôi lách ra phía sau, men theo bãi lau sậy dọc đầm lầy, tiếp cận bức tường cao gần 3 mét, dùng thang để vượt tường. Toàn bộ khuôn viên bên trong rộng vài trăm mét vuông, chất đầy thùng phuy, bồn chứa, can nhựa, máy bơm nước... Từ phía cổng, chiếc xe bồn mang biển kiểm soát 57K-8275 (của Công ty cổ phần cơ khí xăng dầu, trực thuộc Petrolimex) vội vã tiến vào khu vực chúng tôi đang quan sát. Xe vừa dừng, rất nhanh chóng, một người đàn ông trong xe trèo lên, cúi xuống một góc của xe cầm lên chiếc kéo. Một cách thuần thục, người này dùng kéo cắt đứt niêm (loại niêm nhựa) của 2 trong số 4 hầm chứa xăng rồi lần lượt mở nắp hầm. Ở bên dưới, 2 người đàn ông chờ sẵn vội vã tháo ống bơm quấn dưới xe ra, xả đầy xăng vào 8 can nhựa loại 50 lít. Sau đó, người bên dưới kéo một ống dây từ máy bơm, đưa lên phía trên nóc xe. Người ở trên nhanh nhẹn cầm lấy ống, bơm vào từng hầm một loại chất lỏng khá trong. Sau khi áng chừng lượng bơm vào tương đương với lượng xăng vừa rút ra, người ở trên tiếp tục chụp lấy một bình loại 1 lít (hoặc xô) do người bên dưới chuyền lên, rồi đổ chất trong bình vào các hầm xăng trên xe. Sau khi hoàn tất các công đoạn trên, người này đóng nắp hầm lại, dùng kéo cắt bỏ phần dây của niêm nhựa đã bị cắt đứt trước đó, chỉ giữ lại miếng nhựa có ghi số niêm, rồi xâu một sợi dây khác qua và quấn niêm vào nắp hầm như cũ. Toàn bộ quy trình trên diễn ra rất nhanh, thao tác của những người này cũng hết sức nhuần nhuyễn, kể cả thời gian xe bắt đầu vào đến khi ra khỏi “trạm pha chế” chỉ mất 15 - 20 phút. Xe vừa đi khỏi, người trong bãi liền nhanh chóng trút từng can xăng vào các thùng phuy và bồn chứa lớn, chờ giao lại cho “lực lượng vận chuyển thô sơ” xuất hiện ngay sau đó. Dùng kéo cắt niêm nhựa trên nắp hầm chứa xăng Phương Thanh - Trần Hơn
  3. Sốc! Choáng! Với tài năng cực kỳ "trẻ" tuổi. http-~~-//www.youtube.com/watch?v=H9gvpn1GTew&feature=related
  4. @ Hoàng My Chào anh Thiên Đồng! em sinh năm Mậu Thìn em hỏi vào ngày 12/12/2011, lúc 01:22 PM giờ Diễn đàn em xin hỏi: 1)Khi nào em sẽ lập gia đình ? Theo quẻ thì nội trong năm tân mão này vẫn chưa lập gia đình. Nhanh thì 2012, chậm 2016. Khả năng 2016. 2) Khi nào em sẽ có đứa con đầu lòng ? Nhanh 2012, chậm 2017 có. 3) Chồng tương lai của em là người như thế nào ?(hình dáng và tính tình?) Người hào phóng, có khiếu ăn nói, chi tiêu tính toán, sống hướng ngoại. Cảm ơn anh Thiên Đồng nhiều! Tôi vẫn còn nghi ngờ cho quẻ này, có thể bạn (nếu là nữ, nếu là nam thì bạn gái của bạn) đang có thai và đang tính chuyện hôn nhân, như vậy thì sang năm có con. @nhkndc Cháu xin xin cảm ơn chú đã xem cho cháu, nay cháu muốn hỏi thêm vào ngày 12/12/2012 lúc 20h25 Cháu muốn hỏi thêm chút về câu 2. hiện cháu và người ấy đã chia tay rồi, bây giờ cũng có người sn 1987 yêu cháu, và cháu nhận lời yêu anh này rồi. cháu muốn hỏi anh này có yêu cháu không? Họ đang dò xét. hay đến xuân sau cháu lại quay lại với anh 1987 trước kia đã yêu hơn 2 năm? Rất khó. cháu mong chú xem cho ạ. @ Tịnh Tâm Có gì thì cứ hồi âm nhé. @Zhuan Tuổi gì: Giờ Nhâm tuất, ngày Mậu Tuất, tháng Nhâm Dần, Năm Đinh Mão. Hỏi vào ngày Mười lăm, tháng Mười hai, năm Tân Mẹo,15 giờ33' (dương lịch). Câu hỏi 01: Cháu muốn hỏi sang năm cháu có công việc không? công việc của cháu có ổn định lâu dài không ạ? và con đường nghề nghiệp của cháu có nhiều biến đổi không? Sang năm đến 3 tháng đầu năm vẵn chưa có việc, sự nghiệp nhiều biến động và thay đổi lớn. tất cả 3 lần thay đổi lớn liên quan đế vị trí địa vị làm nhiều cú sốc nặng. Câu hỏi 02: Cháu đang yêu một người Tân Dậu, cho cháu hỏi sau này có tiến đến hôn nhân với người này thì cuộc sống gia đình hòa hợp không? và sống với nhau có lâu dài không ạ? yêu nhau cứ lấy không cần tư vấn. Câu hỏi 03: Tài chính sau này của cháu như thế nào ạ? Tài lọc nhỏ thì nhanh có, lợi lớn có khó khăn. Cháu xin cảm ơn chú Thiên Đồng! Mong chú giải đáp 3 câu hỏi ( hơi dài) của cháu hihi ^^ @ktsb Hức, đến hẹn lại lên, em lại tham lam xin anh Thiên ĐỒng bớt chút thời gian xú cho em 1 quẻ: Em là nữ sinh ngày 24/08/1984 Hỏi 13h46' ngày 16/12/2011. 1. Cuối tháng 11 âm, đầu tháng 12 âm em có xin được việc không ah? Chắc chắn chưa. 2. Nếu không được thì sớm nhất là khi nào. Tháng 2 âm nhâm thì là sớm, tháng 4 âm là muộn Em chân thành cảm ơn anh! @ zuzubee85, Chào anh Thiên Đồng nhờ anh xem giúp. Chân thành cảm ơn Tuổi : Giáp Tý - Nam (5g30 phút ngày 20 tháng 01 năm 1985 Dương lịch) Hỏi vào ngày 18 tháng 12 năm 2011 lúc 05 giờ 00 phút Dương lịch Câu hỏi 01: Công việc sắp tới của em thế nào? Có thay đổi hay tiến triển gì ko? sẽ có thay đổi, di chuyển công tác nhiều hơn hoặc chuyển sang bộ phận mới phù hợp khả năng ngoại giao. Câu hỏi 02: Chuyện tình cảm có phát triển gì ko? Có. từ từ nhưng tốt đẹp. Chậm mà chắc. Câu hỏi 03: Gia đạo mọi người vẫn tốt? Để hết tháng Chạp (12 âm) xem sao đã. @ngocanh1407 Anh Thiên đồng ơi, em nhờ anh xem dùm em nha. Họ tên: Ngô Thị Như Ngọc, sinh lúc 0h ngày 12/01/1987 (âm lịch) giới tính: nữ hỏi lúc 22h29ph ngày 21/12/2011 câu hỏi 1: lúc trước anh nói công việc của em sẽ thay đổi. giờ nhờ anh xem dùm e sẽ đổi công việc là thời gian nào ạ? tháng 2 hoắc tháng 3 nhâm thìn. câu hỏi 2: nếu thay đổi công việc thì công việc sau có tốt như công việc hiện tại của em không? Sẽ tốt, các điều kiện ngoại giao hay phát triển sẽ tốt hơn, nhưng cũng nên chịu khó nhẫn nhịn. sẽ lắm nhòm ngó. câu hỏi 3: nhà em đang treo biển bán nhà, anh xem việc mua bán có được thuận lợi không, và khi nào sẽ bán được ạ? sang tháng 3 ăm lịch bán được. Em cám ơn anh nhiều @ trada91 Chào anh Thiên Đồng nhờ anh xem giúp. Chân thành cảm ơn Tuổi : Tân Mùi - Nam (22g15 phút ngày 14 tháng 11 năm 1991 Âm lịch) Hỏi vào ngày 22 tháng 12 năm 2011 lúc 00 giờ 37 phút Dương lịch Câu hỏi 01: Em dự định xin đi làm thêm. Theo anh em có nên nộp đơn hay không? Tháng giêng năm 2012 nộp luôn. Câu hỏi 02: Khoảng 10 tháng 1 (dương lịch) e định đi chơi xa. Anh xem giúp e có vấn đề gì xảy ra không ? Đi vui vẽ, không gì đáng lo. Câu hỏi 03: Chuyện tình cảm của em như thế nào? Lại nhiều chuyện giật gân cho có mùi vị, hâm nóng tình iu. Cám ơn anh. @ Bắc giang Kính nhờ anh Thiên Đồng xem giúp e 1 quẻ. Tuổi Ất sửu- nữ. 1. Hỏi vào 15h17' ngày 26/11/2011 âm lịch(20/12/2011 dương) Em thấy được quẻ Kinh Tiểu cát có đúng ko ạ, nhưng e chua biết luận, mong anh luận giùm để em học hỏi thêm. E cám ơn anh. Câu hỏi của em: E đang có ý định chuyển việc, vậy sang năm 2012 em có chuyển được ko, có thuận lợi ko a? Công việc có tốt hơn cv hiện tại ko? sẽ có người giúp đỡ chuyển công tác, người này là sếp nữ, công việc nhiều thú vị. @Wild Kính mong anh Thiên Đồng xem giúp e quẻ dịch, về phương diện tình cảm ạ. Em là nữ, sinh năm Mậu Thìn, e xin quẻ lúc 19h46' ngày 28/12/2011, em xin hỏi: 1. Chúng em có chia tay nhau không? Không biết 2. (Nếu có) Chúng em có quay lại được với nhau k? Không biết 3. (Nếu không) Khi nào chúng em cưới nhau? Không biết Cảm ơn anh Nhiều. @ajinomoto Tuổi gì: MẬU THÌN 1988 Hỏi vào ngày 28 tháng 12 năm...2011 giờ 23H18 (sÉC) ,GIỜ VN LÀ 5H18 AM - 29 tháng 12 năm 2011 dương lịch. Câu hỏi 01: BAO GIỜ CHÁU RA TRƯỜNG ? nhanh 1 năm, chậm 3 năm. Câu hỏi 02: BAO GIỜ CHÁU GẶP 1 NỬA CỦA MÌNH 3 năm nữa tính từ bây giờ. Câu hỏi 03: NGƯỜI ẤY ĐỐI ĐÃI VỚI CHÁU THẾ NÀO ? Không biết. @minhquangha - dạ chào bác thiên đồng. - cháu hỏi vào lúc 22h:28 ngày 30/12/2011 - ngày sinh của cháu 30/08/1985 (ất sửu) - dạ cháu muốn hỏi bác liệu tuổi của cháu là ất sửu với tuổi đinh mẹo hay giáp tý thì tuổi của cháu có thể đến với nhau được với tuổi nào trong 2 tuổi trên ah. Tuổi nào thương mình thì đến với họ. Cả hai đều thương thì đến với người nào mà mình thương thiệt. Yêu nhau không cần coi tuổi, thương nhau cứ cưới. - cháu xin cảm ơn bác nhiều @hk_cmay Kính nhờ chú Thiên Đồng xem giúp cháu ạ. Cháu là nữa, sinh lúc 9h45 ngày 5/4/1989 (tức 28/4, kỷ tỵ) Cháu hỏi vào lúc 23h41' ngày 31/12/2011 Mong chú giải đáp giúp cháu 3 điều sau ạ: - Công việc của cháu năm 2012 có thuận lợi không? không thuận lợi, hoa tài, hoặc bị tiểu nhân chơi xấu, không nên cho mượn tiền. - Gia đình cháu năm 2012 có biến động gì lớn không (nếu có thì là chuyện vui hay buồn ạ)? Chuyện vui liên quan cưới xin hoặc có người thăng quan. - Cháu đang yêu 1 người sinh năm 1976, liệu có đến được với nhau không ạ? Mình tự đến thì sẽ đến. Cháu cảm ơn chú, chúc chú năm mới bình an! Thiên Đồng
  5. Số Phi Bí Ẩn Không biết mọi người đọc The da Vinci code có ấn tượng với con số này không, Bi thực sự bị nó cuốn hút. Tỷ lệ vàng, tỷ số vàng, tỷ lệ thần thánh. Trước nay mọi thứ về chiếm tinh và thiên văn học luôn cuốn hút mình nên The da Vinci code là cuốn tiểu thuýet Bi say mê, đọc và nghiền ngẫm Một số thông tin chung về Tỷ lệ thần thánh này “…. số Phi bắt nguồn từ dãy số Fibonacci- một cấp số nổi tiếng không chỉ vì tổng những số hạng kề nhau sẽ bằng số hạng kế tiếp, mà còn bởi thương số của những số hạng kề nhau có một đặc tính kỳ lạ là đều suýt soát số 1,618- PHI.” (The da Vinci code) Dãy Fibonacci xuất hiện ở khắp nơi trong thiên nhiên. Những chiếc lá trên một nhành cây mọc cách nhau những khoảng tương ứng với dãy số Fibonacci. Các số Fibonacci xuất hiện trong những bông hoa. Hầu hết các bông hoa có số cánh hoa là một trong các số: 3,5,8,13,21,34,55 hoặc 89. Hoa loa kèn có 3 cánh, hoa mao lương vàng có 5 cánh, hoa phi yến thường có 8 cánh, hoa vạn cúc thọ có 13 cánh, hoa cúc tây có 21 cánh, hoa cúc thường có 34, hoặc 55 hoặc 89 cánh. Các số Fibonacci cũng xuất hiện trong các bông hoa hướng duơng. Những nụ nhỏ sẽ kết thành hạt ở đầu bông hoa hướng dương được xếp thành hai tập các đường xoắn ốc: một tập cuộn theo chiều kim đồng hộ, còn tập kia cuộn ngược theo chiều kim đồng hồ. Số các đường xoắn ốc hướng thuận chiều kim đồng hồ thường là 34 còn ngược chiều kim đồng hồ là 55. Đôi khi các số này là 55 và 89, và thầm chí là 89 và 144. Tất ca các số này đều là các số Fibonacci kết tiếp nhau( tỷ số của chúng tiến tới tỷ số vàng). Dãy sổ Fibonacci được thành lập như sau : a0=1, a1=1, aN=aN+a(N-1), với mọi N =2,3,4,5,…… Như vậy có thể ghi ra như sau dãy số Fibonacci : 1,1,2,3,5,8,13,…. Đó là dãy số nổi tiếng nhất trong Toán học và mọi quy luật về sinh sản, đẻ cành đẻ nhánh của thực vật cũng tuân thủ 1 cách kỳ lạ theo dãy số Fibonacci. “……khía cạnh gây sửng sốt thực sự của Phi lại nằm ở vai trò của nó với tư cách là một nhân tố xây dựng mang tính nền tảng trong tự nhiên. Thực vật, động vật và thậm chí cả con người đều có những thuộc tính về kích thước gắn chặt với tỉ số giữa Phi và 1 tới một độ chính xác kỳ bí” “Số Phi có mặt khắp nơi trong tự nhiên, rõ ràng điều đó vượt quá sự trùng hợp, và vì vậy nên người xưa cho rằng con số Phi hẳn là đã được tiền định bởi Đấng Sáng Thế. Các nhà hoa học buổi ban đầu đã tuyên bố 1,618 là Tỉ Lệ Thần Thánh” “… các đường trôn ốc trên quả thông, cách sắp xếp lá trên những nhánh cây, các vạch trên bụng côn trùng…., tất cả đều tuân theo Tỉ Lệ Thần Thánh đến mức kinh ngạc” “Không ai hiểu cấu trúc thần thánh của con người hơn Da Vinci. Thực tế Da Vinci đã khai quật các ngôi mộ để đo đạc chính xác tỉ lệ các cấu trúc xương trong cơ thể con người. Ông là người đầu tiên chứng minh rằng cơ thể con người, nói một cách chính xác theo nghĩa đen, được làm bằng các khối mà tỉ lệ giữa chúng luôn luôn là Phi: Đo khoảng cách từ vai đến các đầu ngón tay rồi chi nó cho khoảng cách từ khuỷu tay đến các đầu ngón tay ta được số Phi, chia khoảng cách từ đầu gối đến mặt đất cho khoảng cách từ hông đến mặt đất, một số Phi nữa, lòng bàn tay, ngón chân cái, các đốt sống….mỗi người trong các bạn đều là một minh chứng sống cho Tỉ Lệ Thần Thánh” “Số Phi cũng được áp dụng trong các kích thước kiến trúc của các công trình nổi tiếng như đền Parthenon Hi Lạp, các kim tự tháp Ai Cập và thậm chí của cả toà nhà trụ sở Liên hợp quốc tại New York. Phi cũng xuất hiện trong cấu trúc tổ chức của các bản sonate của Mozart, bản Giao hưởng số 5 của Beethoven….” “Để khép lại”, Langdon (Nhân vật chính trong tiểu thuyết)vừa nói vừa bước về phía chiếc bảng, “chúng ta quay trở về với các biểu tượng”. Ông vẽ năm đường giao nhau tạo nên một ngôi sao năm cách “Đây là một trong những hình ảnh đầy quyền năng nhất mà các bạn sẽ thấy trong học kỳ này. Bình thường nó được biết đến như là một hình sao năm cánh- hay là pentacle như tổ tiên ta đã gọi- biểu tượng này được nhiều nền văn hoá coi là linh thiêng và huyền bí. Có ai có thể cho tôi biết vì sao lại thế không? Stettner, anh sinh viên khoa toán đó lại giơ tay: “Bởi vì nếu thầy vẽ một hình sao năm cánh, các đường thẳng sẽ tự chia nó thành những đoạn theo Tỉ Lệ Thần Thánh” Langdon gật đầu đầy tự hào với chàng sinh viên: “Rất tốt. Đúng thế, tỉ lệ giữa các đoạn thẳng trong hình sao năm cánh, tất cả đều bằng Phi, khiến cho biểu tượng này trở thành biểu hiện tối hậu của Tỉ Lệ Thần Thánh. Vì lí do này hình sao năm cánh luôn luôn là biểu tưởng của vẻ đẹp và sự hoàn hảo gắn với các nữ thần và tính nữ thiêng liêng” (The da Vinci code) + Nhiệt độ tối thích cho cơ thể chúng ta phát triển là 22.87 độ( chứng minh của các nhà Sinh Học). Đem số 22.87 chia cho 37 độ C( nhiệt độ của cơ thê con người ) thì đúng bằng TỈ SỐ VÀNG +Hình chữ nhật có tỉ lệ Chiều Rộng : Chiều Dài = TỈ SỐ VÀNG sẽ đem lại cho con người ta một cảm giác hài hoà và thấy đẹp nhất. Cho nên các công trình Kiến Trúc thời Trung Cổ( đặc biệt là tại ROME) các tỉ lệ cửa, cổng,… đều tuân thủ 1 cách nghiêm ngặt theo TỈ SỐ VÀNG. +Đo chiều cao của bạn từ RỐN lên đến đỉnh đầu gọi là x , sau đó đo chiều cao của bạn từ RỐN xuống đến chân gọi là y. Dang 2 tay ra là đo chiều dài đó gọi là a. Nếu x/y = TỈ SỐ VÀNG và a/(x+y) cũng bằng TỈ SỐ VÀNG , đó là bạn đã có 1 thân hình của các siêu mãu. Điều này hoàn toàn là sự thật vì các hãng thời trang đều tuân thủ nghiêm ngặt quy định này khi tuyển người mẫu. +Hãy quan sát thử một bông hoa Hướng Dương, phần trung tâm của Hoa ở Nhị và Nhuỵ sẽ thấy các đường xoắn ốc Logarit đi theo đúng với Tỉ Lệ Vàng. Và các nhà Sinh Học nhận thấy rằng, bất cứ loài hoa nào được nhân loại gọi là ĐẸP thì đều có một cái gì đó bố cục liên quan đến Tỉ Lệ Vàng. +Tỉ Lệ Vàng( hay còn gọi là Nhát Cắt Vàng ) xuất hiện khắp mọi nơi trong tự nhiên như một điều kì bí ẩn chứa sau cái đẹp. Mọi cái gì hài hoà cân đối, khiển đôi mắt chúng ta cảm thấy nó cân xứng và đẹp thì ít nhiều đều có liên quan đến Tỉ Số Vàng. Trong toán học và nghệ thuật, hai đại lượng được gọi là có tỷ số vàng hay tỷ lệ vàng nếu tỷ số giữa tổng của các đại lượng đó với đại lượng lớn hơn bằng tỷ số giữa đại lượng lớn hơn với đại lượng nhỏ hơn. Tỷ lệ vàng thường được chỉ định bằng ký tự φ (phi) trong bảng chữ cái Hy Lạp nhằm tưởng nhớ đến Phidias, một nhà điêu khắc và kiến trúc sư của đền Parthenon. Tỷ lệ vàng là một số vô tỷ: (wikipedia)tỉ lệ giữa cạnh dài và cạnh ngắn của hình chữ nhật bằng 1,686. Từ thời cổ đại, hình chữ nhật mà các cạnh thỏa mãn tỉ lệ này được nhiều nhà kiến trúc xem là cân đối và đẹp nhất, được gọi là hình chữ nhật “vàng”. Hình chữ nhật “vàng” có đặc điểm là có thể phân hình đó ra thành các hình chữ nhật “vàng” nhỏ hơn (trong hình chữ nhật ABCD, hình vuông ADEF vẽ trên cạnh ngắn cho ta hình chữ nhật EFBC cũng có tỉ lệ vàng; tiếp tục làm như trên ta lại có hình vuông và hình chữ nhật vàng nhỏ hơn, vv.). This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 600×418. Tỉ lệ vàng (bách khoa toàn thư) Tỉ lệ vàng ( tiếng Latinh : sectio aurea) là một tỉ lệ xác định giữa 2 số hoặc 2 đại lượng . Nó xấp xỉ khoảng 1,618 : 1 . Độ dài trong tỉ lệ vàng trong lĩnh vực Nghệ thuật , Kiến trúc được coi là một tỷ lệ siêu việt. Nó tạo cho con người một cảm giác đẹp , hài hòa và dễ chịu… Tỉ lệ này chúng ta còn có thể gặp rất nhiều trong tự nhiên và toán học với tính chất rất thú vị của nó . Nó còn được gọi là phép chia liên tục hoặc là phép chia thần thánh (tiếng Latinh proportio divina ) . 1) Trước hết ta tìm hiểu về định nghĩa và tính chất cơ bản của nó : Hai số được gọi là có tỉ lệ vàng với nhau khi tỉ lệ giữa số lớn và số bé bằng với tỉ lệ giữa tổng hai số và số lớn . Tỉ lệ này thướng được kí hiệu bằng chữ cái Hy Lạp Φ (Phi). Nếu ta gọi số lớn là a số bé là b thì ta sẽ có định nghĩa sau : * Phi là một số vô tỉ nên ta không thể định nghĩa nó là kết quả của một phép chia 2 số (ví dụ p/q) và không thể sử dụng nó một cách chính xác tuyệt đối, mà chỉ làm tròn trong một chừng mực nào đó với một mục đích xác định ( Ý nghĩa cơ bản của nó trong tự nhiên , hoặc trong lĩnh vực nghệ thuật ) . Tất nhiên Phi cũng không phải là một số siêu việt ví dụ như π hoặc là e. *Nếu ta lấy đoạn lớn trừ đi đoạn bé, ta sẽ được một đoạn bé hơn mà tỉ lệ của trung bình cộng 3 đoạn so với nó lại vẫn là Tỉ lệ vàng . * Nếu một hình chữ nhật có hai cạnh tỉ lệ với nhau theo tỉ lệ vàng , người ta gọi nó là hình chữ nhật vàng. Tương tự như thế người ta gọi một tam giác là tam giác vàng nếu nó có hai cạnh tỉ lệ với nhau theo tỉ lệ vàng . *Nếu tiếp tục ta sẽ có một góc rất có ý nghĩa sau này đó là Góc vàng Ψ (Psi): * Ta cũng có thể gặp Tỉ lệ vàng trong dãy số vô hạn của Leonardo da Pisa mà người ta gọi là dãy số Fibonacci : (Số sau bằng tổng hai số liền trước nó) 0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144, 233….. Có người lấy số đầu tiên là số 1 nhưng theo tôi đầu tiên phải là hai số 0 và 1. Tại sao lại có tỉ lệ vàng trong dãy số Fibonacci ? Thật vậy , nếu dãy số đủ dài ta có thể lấy số liền sau chia cho số đứng trước nó, ta sẽ được tỉ lệ vàng 1,618033988.. 2) Hình học Nguyên nhân của sự yêu thích đối với tỉ lệ vàng có thể là tính bất hợp lý của nó . Điều đó có nghĩa là chính sự bất hợp lý này tạo ra sự khác biệt của nó đối với các tỉ lệ nhỏ của các số nguyên khác (Ví dụ 2/3 hay 3/4 ) , chính là điều mà sự thẩm mỹ cần. Tỉ lệ này đã và đang được dùng để giảm bớt đi sự tròn trịa của các chiều dài sao cho không có một sự đo đạc chính xác về trực quan để kiểm tra. Các hình chữ nhật dưới đây để so sánh tỉ lệ giữa chiều dài của 2 cạnh (Ở đây là chiều rộng và chiều cao) : This image has been resized. Click this bar to view the full image. The original image is sized 604×178. Cùng với các ứng dụng các tỉ lệ này theo chiều từ trái qua phải : 4:3 Tỉ lệ truyền thống của máy thu hình (Cho cả màn màn hình máy vi tính Ví dụ 1024*768 Pixel ) Tỉ lệ này do Thomas Alva Edison năm 1898 đặt ra cho kích thước phim (35mm Film) là 24*18. √2 : 1 Tỉ lệ 2 cạnh của một tờ giấy A4. Nếu cắt đôi theo chiều ngang ta lại được 2 tờ giấy khác với 2 cạnh theo đúng tỉ lệ này. 3:2 Tỉ lệ Film nhỏ 36mm * 24mm. Φ : 1 Tỉ lệ vàng (Hay tỉ lệ thần thánh) ở đây đã được tính tương đối khoảng 144*89 pixel với sai số lý thuyết là 5·10-5 . 5:3 Được sử dụng bên cạnh tỉ lệ 1,85:1 cho màn hình chiếu phim ở rạp. 16:9 Tỉ lệ 2 cạnh của vô tuyến màn ảnh rộng. Cách tạo Tỉ lệ vàng chỉ bằng Thước kẻ và Compa : thực ra có ít nhất 4 cách để tạo tỉ lệ vàng, nhưng ở đây chỉ trình bày một cách đơn giản và được nhiều người sử dụng nhất : Trên đường thẳng vuông góc với AB dựng điểm C sao cho BC bằng 1 nửa AB. Đường tròn tâm C bán kính CB cắt AC tại D. Đường tròn tâm A bán kính AD cắt AB tại S. ta sẻ có điểm S chia AB theo tỉ lệ thần thánh. Hình Ngôi Sao Hình ngôi sao là một biểu tượng kỳ bí có thể gọi là lâu đời nhất của lịch sử. Nó cũng có mối quan hệ với tỉ lệ thần thánh. Thật vậy ta có thể tìm thấy ở bất kì một cạnh nào của hính ngôi sao , kể cả cạnh lớn hay cạnh bé một cạnh khác, mà 2 cạnh này tỉ lệ với nhau theo tỉ lệ thần thánh. Ta sẽ chứng minh điều này : Ta nhận thấy ngay là CD=CC (vì tam giác CDC´ có 2 góc bằng nhau). Theo tam giác đồng dạng ta cũng có rằng: Với chú ý là AB =AC + BC, và đổi tên các đoạn bằng nhau, ta sẽ quay lại đúng định nghĩa trên về Tỉ lệ vàng. Lịch sử Hippasos (khoảng năm 450 trước công nguyên) là một người trong một tổ chức bí mật gọi là Pythagoreer trong việc nghiên cứu hình ngũ giác đã phát hiện ra rằng tỉ lệ giữa 1 cạnh của ngũ giác và một đường chéo của nó không thể là kết quả của một phép chia giữa 2 số nguyên được. Điểu này như là một điều trái ngược với Pythagoreer , bởi vì họ cho rằng có thể biểu thỉ tất cả mọi thứ dưới dạng các số nguyên. Và mỉa mai thay, Hippasos trong việc nghiên cứu hình sao 5 cánh(Biểu tượng của Pythagoreer ) đã tìm ra số vô tỉ, cũng như là tỉ lệ vàng giữa 2 số. Và cùng với việc công bố kết quả này trái với luật lệ của Pythagoreer nên Hippasos đã bị phạt. Người đầu tiên có những miêu tả chính xác cụ thể về Tỉ lệ vàng là Euklid (khoảng năm 300 trước công nguyên ) qua việc nghiên cứu các hình đa giác, hình ngũ giác và sao 5 cánh . Các miêu tả của Euklid được dịch là ”proportio habens medium et duo extrema” mà sau này mọi người quen với cách dịch là ” phép chia theo tỉ lệ trong và tỉ lệ ngoài” . Người tiếp nối Euklid sau này trong việc nghiên cứu tỉ lệ vàng là Franziskanermönch Luca Pacioli di Borgo San Sepolcro (1445 – 1514).Là một giáo viên toán ở Perugia. Ông này gọi tỉ lệ này là tỉ lệ thần thánh và kết luận rằng việc dựng các khối đa diện cần sự giúp đỡ rất lớn của tỉ lệ thần thánh. Ông gọi là ”De Divia Proportione” và cho ra đời 3 cuốn sách riêng biệt vào năm 1509 . Trong cuốn đầu tiên ông chỉ nêu các vấn đề toán học không có một liên quan gì giữa tỉ lệ thần thánh với nghệ thuật . Trong cuốn thứ hai ông đưa ra một đoạn ngắn về sự liên quan giữa bản viết của một người Rom Vitruv từ thế kỉ 1 trước công nguyên với Kiến trúc. Trong này nói về lấy tỉ lệ người như là một khuôn mẫu. Trong cuốn sách của ông bao gồm cả một nghiên cứu của Leonardo da Vinci về người Vitruv. Trong bức tranh nổi tiếng này của de Vinci thì tỉ lệ giữa cạnh hình vuông và bán kính của hình tròn chính là tỉ lệ vàng với độ sai lệch là 1,7 %. Độ sai lệch này không được đưa ra trong cuốn sách của ông. Có một người nữa sau này đã kết hợp ”De Divia Proportione” và nghiên cứu của Da Vinci để đưa ra mối liên quan giữa tỉ lệ vàng và Nghệ thuật là Adolf Zeising (1854). Ông này bị hoàn toàn thuyết phục, rằng mọi vật thể sống đều tuân theo một qui luật tự nhiên về thẩm mỹ, mà cơ bản ở đây là tuân theo tỉ lệ vàng . Ông đã tìm kiếm và nhận thấy rằng tỉ lệ vàng có ở khắp mọi nơi. Bản viết của ông nhanh chóng đã tạo ra một phấn chấn liên quan đến tỉ lệ vàng. Các nghiên cứu về lịch sử cũng cho rằng trước Zeising thì chưa có một ai tin vào tỉ lệ vàng. Định nghĩa tỉ lệ vàng được đưa ra vào năm 1835 chỉ vài năm sau đó đã được Martin Ohm (Anh em trai của Georg Simon Ohm với định luật Ohm nổi tiếng ) đưa vào giảng dạy trong một giaó trình toán. Cụm từ sectio aurea cũng được đưa ra trong thời kì này. Gustav Theodor Fechner nguời sáng lập ra tâm lý học thực hành đã làm một thí nghiệm vào năm 1876 và khẳng định mối liên quan giữa con người và tỉ lệ vàng.Tuy nhiên các kết quả đo về chia các đoạn và Elip lại không chỉ ra điều đó . Nhưng các thí nghiệm mới đây cho rằng các kết quả thời đó đã bị ảnh hưởng nhiều bởi các điều kiện khác nhau. Fechner tìm kiếm xa hơn ở các bức tranh viện bảo tàng ở châu âu và đưa ra kết luận là tỉ lệ theo chiều cao là 4:5 và chiều ngang là 4:3. Điều này rõ ràng là lệch với tỉ lệ vàng. Vào những năm đầu thế kỉ 20 xuất hiện một bài viết về quan sát tỉ lệ vàng của một người Rumani Matila Costiescu Ghyka . Ông đã kết hợp giữa lí thuyết của Pacioli và nghiên cứu về thẩm mỹ của Zeising và đưa đến kết luận là Tỉ lệ vàng như là một bí ẩn của vũ trụ và từ đó dẫn đến tất cả các ví dụ trong tự nhiên. (special thanks to Trần’s blog) (ông Da Vinci mê cái golden ratio này lắm nên ấp dụng luôn vào mấy bức vẽ) nguồn: http://bibella.wordpress.com/2009/03/10/s%E1%BB%91-phi-bi-%E1%BA%A9n/
  6. Lạc Việt Đôn Toán thì tư học bạn giacngo ơi. Ra trang chủ cóp py bài về đọc.
  7. "Nhà chiêm tinh" lại có mác Tây, nghe có hơi hớm "pha học", vậy là được hoạt động công khai ì xèo, báo đăng rầm rộ. Cũng là thầy bói! Còn các Thầy Bói ta thì "mê tín", vì là...thầy bói chứ không ai gọi là "chiêm tinh gia" cho hoàng tráng. Hic. Bởi vậy, Rồng vàng mắc cạn vũng lầy Bói Ta đâu khác bói Tây lắm nào?! Pha học chứng minh xem sao? là thầy bói dạo hay nhà chiêm tinh? Thiên Đồng
  8. Nam mô tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật, Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.
  9. Trong đám cưới nên mướn 2 công an khu vực, 2 bảo vệ đến giữ an ninh đám cưới. Thiên Đồng
  10. Những hình tượng rồng xấu theo quan niệm Phong thủy Lạc Việt
  11. @hunter, Hình như hôm diễn đàn bị lỗi đã "ăn" mất mấy bài viết rồi, cháu cảm ơn chú Thiên Đồng đã xem cho cháu, cháu mạn phép hỏi thêm chú 2 câu nữa được không ạ: 1, Cháu có thể xuất ngoại du học được không ạ? nếu có thì có phải là năm 2013? Đi được. Năm 2014 đi. 2, Sức khỏe mẹ cháu năm sau và những năm tới có gì cần chú ý không ạ? Không đáng lo. Bao tử dư axit chút thôi. Cháu tuổi Kỷ Tị và hỏi vào lúc 12h43 ngày 04/12/2011> Mong tin của chú ạh. Cháu cảm ơn chú nhiều. @canhcut, Cháu chào chú Thiên Đồng, mẹ cháu có bảo cháu hỏi nhờ chú tư vấn 1 việc: Nữ 1969 Hỏi vào lúc 20h20 phút ngày 5 tháng 12 năm 2011 dương lịch - Mẹ cháu có cho một người này vay một số tiền lớn, cũng 1 phần do nể cô chú cháu. Giờ người đó đã đi nước ngoài thì phải. Mẹ cháu muốn hỏi là khoản tiền đó bao giờ người đó sẽ trả lại cho nhà cháu? Tháng 5 năm Nhâm Thìn trả, nếu không trả thì 20014 trả. Chú ơi, vì chú tư vấn rất chuẩn nên chú cho cháu hỏi thêm 1 câu nữa nhé, tại cháu sực nhớ ra một việc muốn hỏi chú, nên nhân tiện hỏi luôn ạ Nữ 1990, giờ hỏi thì cùng giờ với ở trên. - Cửa hàng nhà cháu đang thuê liệu tương lai nhà cháu có mua được không ạ, tại vì giờ người ta đang rục rịch muốn bán? nếu có thì bao giờ ạ? sẽ mua được nhưng nhì nhằn hơi lâu, nhanh thì tháng 5 Nhâm Thìn, chậm tháng 8 âm. Cháu cảm ơn chú ạ Chúc chú luôn mạnh khoẻ vui vẻ ^^ @quynhnhu Anh Thiên đồng ơi, giúp em nữa nha. Nữ, 1984, Hỏi vào lúc 9:05am, ngày 6/12/2011 ( DL) - Em đang tính chuyển việc, khi nào thì chuyển được hả anh? Không chuyển được, sang năm tính. - Khi nào em mới gặp được chồng tương lại của em? Người đó ra sao? Tháng 9 năm Nhâm Thìn, người này tính tình nham hiểm hoặc rất ư vô tư. - Qua năm 2012, em tính học lên cao học, em thấy cái này hơi nặng so với em, anh xem giùm em có học được k anh? Từ từ tính, thong thả. Chưa được đâu. Cảm ơn anh Thiên đồng nhiều nhé, chúc anh sức khỏe và thành công! @quynhvietanh Chàu chào bác Thiên Đồng. Cháu là nữ. SN 28/3/1991 DL. Năm Tân Mùi, giờ hợi. Hôm nay mạn phép xin bác luận cho 1 quẻ. Hỏi vào lúc 10:05A.M ngày 06/12/2011. 1. Tình duyên của cháu không được thuận lợi cho lắm. Cả thèm chóng chán nhưng khi đã yêu thì rất yêu. Đã mấy năm sau tình đầu cháu chưa thực sự gọi là yêu thêm 1 lần nữa. Có mấy lần cặp kè nhưng tất cả chỉ là tình cảm hời hợt. Điều này cũng làm cháu hơi khổ tâm. Xin hỏi bác là sang năm cháu có gặp được tình yêu thật sự lần thứ 2 và đi đến hôn nhân đc không ạ? Vì cháu muốn xác định lâu dài và kết thúc đẹp. Sẽ có mối mới nhưng không đảm bảo lâu dài. 2. Năm 2013 cháu ra trường thì có việc làm luôn không ạ? Liệu cuộc sống mưu sinh về sau có vất vả? Chưa. Lặn lọi con cò, đi làm thời vụ. Ai cũng vất vả. 3. Hôn nhân của cháu có đc hạnh phúc? Ai cũng hạnh phúc, nếu biết làm cho hạnh phúc nở hoa. Cháu xin chân thành cảm ơn bác. Chúc bác luôn vui khỏe! @ Trangtron, Thưa chú Thiên Đồng kính mên. Cháu có một số vấn để muốn hỏi chú. Mong chú giải đáp cho cháu. Cháu là nữ sinh ngày 03/09/1989, tuổi kỉ tị. 1.Cháu cảm thấy tình duyên của cháu không được thuần lợi cho lắm. Mối tình đầu của cháu đã kết thúc cách đây 3 năm.Chú cho cháu hỏi bao giờ cháu sẽ gặp và yêu người thứ 2? Tháng 5 âm Nhâm Thìn, hoặc tháng 12. 2.Liệu tình yêu đó có đi đến hôn nhân và hạnh phúc ko ạ? Chưa. 3.Công việc của cháu hiện giờ tạm coi là ổn định. Liệu sau này có gì trắc trở ko ạ? Chú ý vấn đề tiền bạc hoặc mối quan hệ bạn bè không tốt, có nguy cơ bị gạt tiền. Cháu cảm ơn. @ Tuấn Diệp chào anh Thiên Đồng ạ, E là nữ, tuổi Ất Sửu (1985) Hỏi vào 13h12' ngày 07-12-2011 Câu 1: Từ giờ đến cuối năm âm lịch em có tìm được công việc mới không ạ? (Em đang thất nghiệp) Xin chia vui vì có số đi chơi hơn đi làm. Câu 2: Con đường công danh năm tới của em có khá hơn năm nay không ạ? Sẽ nhiều cố gắng và vất vã. Câu 3: Em tính sang năm sinh bé (2012), tình hình 2 mẹ con có được "mẹ tròn con vuông" ko ạ? 2012 thì không hợp tuổi mẹ, nếu sinh 2012 thì nên thêm đứa 2017, nếu chưa thì cũng đứa 2017 là tốt. Em cám ơn anh! @Princess Hi anh, EM không biết gọi bằng anh có thất lễ không, nếu em có gì không phải mong anh chị dậy và bỏ qua cho em với ạ. Em gửi mãi tin nhắn để nhờ anh giúp mà không được nên em mạo muội up bài lên đây để xin anh tư vấn. Kính mong anh bớt chút thời gian xem giùm em với ạ: Chúng em chuẩn bị cưới, thời gian không còn nhiều mà vẫn phân vân về ngày tổ chức quá, nhờ anh xem hộ chúng em với a. Em và bạn trai em đều sinh năm Bính Dần, btrai em sinh ngày 17-02 âm, giờ Tỵ, em sinh ngày 17-04 âm, giờ Hợi. Chúng em đi xem được ngày cưới trong tháng 2 âm năm sau, có mấy ngày mồng 6;14;15;19 trong đó 3 ngày 6;14;15 nhiều thầy nhắc đến có mỗi ngày 19 chỉ có 1 người xem mà ngày 19 là Chủ Nhật nên gia đình em muốn tổ chức ngày đó nhưng vẫn phân vân. Em cũng tra trong sách chọn ngày theo lịch can chi của tg Hoàng Tuấn thì 3 ngày 6;14;15 đều tốt, ngày 19 là ngày Thoa Nhật tốt nhưng Cửu Tinh lại là Ngũ Hoàng rất xấu nên rất phân vân. Kính nhờ anh xem giúp em nên chọn ngày nào, ngày 19 có đc với tuổi chúng em không ạ. Nếu có ngày nào tốt hơn những ngày em đc biết mong anh chỉ giúp a. Em cảm ơn anh nhiều, mong sớm nhận đc sự tư vấn của anh. Chúc anh mọi điều tốt lành.Hi anh, Chà, bây giờ trả lời không biết kịp không? Tháng tốt nhất là tháng 2 âm: ngày 26 âm, tháng này chỉ có 1 ngày thôi. Tháng tốt nhì: tháng 3 âm ngày 9 (chủ nhật), 17 và 21 âm Chúc hạnh phúc. @ Chú gà trống, Em chào anh Thiên đồng ạ. nhờ anh xem dùm em với. Tuổi gì: Đinh Mão (1987) Hỏi vào ngày 11 tháng 12 năm 2011. 23h09 dương lịch. Câu hỏi 01: Em thấy kỳ này e không tập chung học hành gì được, em muốn hỏi liệu em có phải học lại môn nào không? Mém thi lại. Qua. Câu hỏi 02: Em và bạn gái (bạn gái sinh 1988) nói chia tay rồi, liệu có quay lại không? Cái này nên cố gắng trong hy vọng. Em xin hết. Nhắn thêm: Gỡ bỏ cái logo hình con gà và bỏ cái tên "chú gà trống" thay bằng têm khác đi. Xui lắm. Em cảm ơn anh ạ. Thiên Đồng
  12. Việt Nam tìm tài năng! http-~~-//www.youtube.com/watch?v=S7BlL8WX6kQ&feature=related
  13. Rồng trong ca dao tục ngữ Việt Rồng nằm bể cạn phơi râu, Mấy lời anh nói dấu đầu hở đuôi. Rồng vàng tắm nước ao tù, Người khôn ở với người ngu bực mình. Rồng giao đầu, Phụng giao đuôi, Nay tui hỏi thiệt : Mình thương tui không mình ? Rồng chầu ngoài Huế, Ngựa tế Ðồng Nai, Sông trong chảy lộn sông ngoài, Thương người xa xứ lạc loài tới đây, Tới đây thì ở lại đây, Bao giờ bén rễ xanh cây thì về !.. (Ca dao) Rồng đen lấy nước thì năéng, Rồng trắng lấy nước thì mưa .. .(Tục ngữ) Rồng bay Phụng múa - Rồng mây gặp hội. Rồng đến nhà Tôm - Rồng thiên uốn khúc. Rồng ở với Giun - Vẽ Rồng, vẽ Rắn .. (Thành ngữ) Cần câu sắt, sợi nhợ bạc, uốn lưỡi câu đồng Móc mồi loan phụng câu rồng trên mây. Anh dệt cửi, em kéo hoa Rồng bay phượng múa ai mà chẳng khen. Áo đen năm nút con rồng Nhìn xa con phụng lại gần con qui. Áo anh năm nút chạm rồng Đứng xa con phụng, lại gần con qui. Phụng với rồng cũng đồng nhan sắc Kết cuộc rồi anh Bắc em Nam. Bấy lâu nay liễu bắc đào đông Tự nhiên thiên lý tương phùng là đây Bây giờ rồng lại kháp (gặp) mây Nhờ tay tạo hoá đó đây vuông tròn Bấy lâu vắng mặt đeo phiền Bây giờ kháp mặt bằng tiên kháp rồng Ăn chanh ngồi gốc cây chanh (3) Thầy mẹ gả bán cho anh thật thà. Bây giờ chê xấu chê xa, Chê cửa chê nhà, chê khó chê khăn. Ở đâu yểu điệu thanh tân, Sao anh chẳng chịu cầm cân đi lừả Vàng mười đắt mấy sao anh chẳng muả, Cầm cân đi lừa lại phải thau năm! Thau năm đánh lẫn vàng mười Rồng vàng cuộn khúc đứt đuôi thằn lằn. Ăn như rồng cuốn Nói như rồng leo, Mần Llàm) như mèo mửa Ăn như rồng cuốn Làm như cà cuống lội ngược *** Anh ăn cơm cũng thấy nghẹn Uống nước cũng thấy nghẹn Nghe lời em bậu hẹn, ra bãi đứng trông Biển xanh bát ngát, nhìn không thấy người Mênh mông sông nước xa vời Biết rằng còn nhớ những lời thề xưa Trông ai như cá trông mưa Ngày đêm tưởng nhớ, như đò đưa trông nồm Bậu ơi! bậu có nhớ không? Anh trông ngóng bậu, như rồng ngóng mưa. **** Anh đi làm thợ nơi nao Để em gánh đục gánh bào theo anh Cột queo anh đẽo cho ngay Anh bào cho thẳng, anh xoay một bề Bốn cửa chạm bốn con nghê Bốn con nghê đực chầu về xứ đông Bón cửa chạm bốn con rồng Ngày thời rồng ấp tối thời rồng leo Bốn cửa chạm bốn con mèo Đêm thời bắt chuột, ngày leo xà nhà Bốn cửa chạm bốn con gà Đêm thì gà gáy, ngày ra bới vườn Bốn cửa chạm bốm con lươn Ngày thì chui ống tối trườn xuống ao Bốn cửa chạm bốn con dao Chăm thì liếc sắc, chăm chào thì quen Bốn cửa chạm bốn cây đèn Ngày thì đèn tắt tối thì đèn chong Bốn cửa chạm bốn cái cong Để em gánh nước tưới hồng tưới hoa Ngày mai khi anhvề nhà Trăm năm em gọi anh là chồng em Sưu tầm
  14. (tiếp theo) Lưỡng long tranh châu trên mái ở một chùa Malaysia. Trong phương pháp ứng dụng của Lý học Đông phương là Phong thủy, rồng là thể hiện của năng lượng tồn tại và vận động của tự nhiên, của môi trường trái đất, có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến con người trong mối tương tác mang tính quy luật giữa con người đối với tự nhiên, gọi là Long mạch (mạch rồng). Đó là năng lượng là sức mạnh của vũ trụ ẩn tàng trong lòng đất và thể hiện ra bằng ngoại cảnh bên ngoài được gọi là Loan đầu. Như vậy Long và Loan là một cặp hình tượng Âm Dương, một cái miêu tả sức mạnh của hình tướng bên ngoài, một cái miêu tả năng lượng tiềm lực bên trong của trái đất. Và Long và Loan là một cách khác của hình tượng Chim – Rồng, Lạc – Hồng, hình tượng tổ mẫu và tổ phụ của Lạc Việt, cho thấy dấu ấn nguồn gốc văn hóa Việt trong phong thủy. II. RỒNG TRONG PHONG THỦY LẠC VIỆT Hình tượng rồng có hiệu quả tương tác mang tính khí tốt lành nên là một trong nhiều hình tượng được ứng dụng phổ biến trong phương pháp trấn yểm của phong thủy Lạc Việt nhằm kích hoạt sinh khí cát tường cầu tìm may mắn, lộc lợi phục vụ cho cuộc sống con người. II. 1. Chọn Hình Tượng Rồng Kim khí là loại rất nhạy bén khi kích hoạt khí, nhất là đồ đồng. Do vậy, hình tượng rồng bằng kỹ thuật chế tác đồng của người Việt luôn là vật khí phong thủy mang hiệu ứng cao nhất so với tranh vẽ, tranh thêu, tượng gỗ, tượng đá… Rồng thời Lý, vật khí phong thủy lý tưởng theo Phong thủy Lạc Việt. Tiêu chuẩn để đánh giá hình tượng rồng gọi là tốt phục vụ cho mục đích trấn yểm theo Phong thủy Lạc Việt là hình tượng đó không được phép mang tính sát khí, hung nộ khí hay ác khí. Mà hình thể rồng phải cân đối, nhẹ nhàng thanh thoát nhưng ẩn tàng sức mạnh cuồn cuộn bên trong, khí thế mãnh liệt nhưng không phẩn nộ, nhu mềm hòa nhã nhưng không kém khí oai nghi. Vì thế, con rồng thời Lý với nét uyển chuyển thanh tao, đường cong uốn lượn nhẹ nhàng thanh thoát, nhưng không kém phần uy nghiêm là hình tượng tiêu biểu cho vật khí phong thủy hình rồng. Như vậy những hình tượng rồng với hình tướng hung hãn, dữ dằn, lộ vẻ trấn áp, hung hiểm đều không là hình tượng tốt cho việc trấn yểm theo phong thủy. Hình tượng kiêng kị: 03 rồng và hình tướng hung hãn Chỉ có thể chọn hình tượng một rồng với trái châu trong miệng là tốt. Nếu là hai rồng thì trái châu phải ở giữa hai rồng, gọi lại lưỡng long tranh châu. Rất kiêng kỵ hình tượng ba rồng, vì là hình tượng không may mắn. Rồng là chi Thìn thuộc hành thổ trong ngũ hành, mang sắc vàng, vì vậy đồng khí màu vàng phù hợp cho việc thể hiện rồng – Thìn hành thổ. II. 2. Vị trí đặt hình tượng rồng và hiệu quả phong thủy Một phòng khách hay đại sảnh hoặc phòng làm việc của người đứng đầu cơ quan được thiết kế bố trí hình tượng rồng sẽ kích hoạt khí cát lành trong các mối quan hệ ngoại giao, tạo cơ hội thuận lợi cho việc tương kiến những quý nhân hỗ trợ hay hợp tác. Theo quan niệm Phong thủy Lạc Việt, nên đặt tranh phù điêu rồng hay tượng rồng ở bên trái, bên phải của đại sảnh hay phòng khách hay phòng làm việc của người lãnh đạo cao nhất của cơ quan hay là gia chủ của ngôi nhà. Bởi khi bố trí hình tượng rồng như vậy là cách thể hiện quyền uy của người đứng đầu và là điềm tốt lành trong các mối quan hệ ngoại giao, hay hợp tác, tránh tai tiếng thi phi. Nên đặt tranh phù điêu rồng phía tường đối diện người ngồi với đầu rồng quay sang một phía là sự trấn yểm thể hiện quyền uy, tạo những may mắn trong các quan hệ hay tạo lại mối liên hệ thuận lợi tốt đẹp với người cấp dưới, người làm công, nhân viên thuộc cấp. Kiêng kị rồng thân thể uốn xoắn Nhằm kích hoạt dương khí tạo một nguồn năng lượng tích cực cho vị trí nơi làm việc, một tượng hình rồng bằng đồng được đặt để trên bàn làm việc là một cách bố trí theo phong thủy, tạo hiệu quả tác động tăng cường tâm lý tín nhiệm hay quyền uy của người lãnh đạo được tốt hơn. II. 3. Vị trí kiêng kị Vì hình tượng của uy lực vũ trụ và với hình tướng hùng khí cho nên việc đặt hình tượng rồng sau lưng người ngồi là một điều kiêng kị, bởi sự tương tác vô hình gây hậu quả đáng lo ngại cho vấn đề quyền lực bị lấn áp hay khống chế một cách phi ý thức. Do vậy, theo quan niệm Phong thủy Lạc Việt, việc bố trí như thế là điều không tốt cho việc sử dụng lợi ích phong thủy vào mục đích tốt lành. Tất cả hình tường rồng từ xưa cũng như nay đều ở vị thế rồng chầu ra cổng mà không bao giờ có hình tượng rồng nhìn đối diện người ngồi, tức rồng chầu ngược vào chính diện của người chủ hay người lãnh đạo, bởi theo quan niệm học thuyết Âm dương ngũ hành thuộc nền văn hiến Việt 5000 năm huyền vĩ, nếu rồng ở vị thế nghịch này thì đây dấu hiệu gây bất lợi cho người phải ngồi đối diện với hình tượng ấy. Tp HCM, ngày 04/01/2012. Thiên Đồng ================================= Tham khảo: - Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, NXB Tổng Hợp TpHCM 2003 - Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, NXB Tổng Hợp TpHCM 2007 - Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam. - Phong thủy Lạc Việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh, lưu hành nội bộ. - Nhập môn chu dịch dư đoán học, tg Thiệu Vĩ Hoa, NXB Văn Hóa Thông Tin, 1996. - Các bài nghiên cứu ngôn ngữ Việt của tác giả Lãn Miên. - các trang web liên quan.
  15. Rồng trong văn hóa Việt & Ứng dụng trong Phong thủy Lạc Việt Thiên Đồng – Bùi Anh Tuấn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương Rồng, biểu tượng thiêng liêng, là linh ảnh được nhắc nhớ đến dòng tộc Rồng Tiên Lạc Hồng mà truyền thuyết Hồng Bàng Thị còn lưu lại, là biểu tượng của sức mạnh vũ trụ, sự huyền biến âm dương trong Lý học Đông phương áo bí thuộc nền văn hiến Việt 5000 huyền vĩ bên bờ Nam sông Dương Tử. I. RỒNG TRONG VĂN HÓA VIỆT I.1. Nguồn gốc Lạc Việt Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng: “Ta là dòng Rồng, nàng là dòng Tiên…” đấy là dấu ấn văn hóa phi vật thể đầu tiên ghi nhận Rồng là tổ phụ của dân Lạc Việt, một dấu ấn sống động và huyền bí. Cái nôi ngôn ngữ Việt là cơ sở cho mối liên hệ máu mủ chứng minh nơi “chôn nhao cắt rốn” của hình tượng Rồng là từ trong nôi văn hóa Việt với những âm Rồng = Lòng = Nòng = Long = Hồng = Dòng = Sông…cùng một nôi khái niệm. Do vậy chữ Hồng trong hai chữ Lạc Hồng là hình tượng của Rồng đi cùng một đôi với Chim (Lạc), là Tiên, nên câu “Long phụng hòa minh” để chúc hạnh phúc vợ chồng hòa hợp là âm bản của hình tượng của Rồng và Chim, có nguồn gốc từ văn minh Lạc Việt. Hình được trích từ trên trống đồng Sử ký Tư Mã Thiên, một pho ký sử đáng chú ý của Trung Hoa, đã không có một ghi nhận cụ thể nào cho hình tượng Rồng là biểu tượng của vương quyền, của vua từ thời Tần trở về trước. Khi Triệu Chính lên ngôi xưng đế, vào năm 247 trước Công nguyên,lấy hiệu là Thủy Hoàng Đế thì biểu tượng rồng hay hình ảnh rồng đại diện cho vua cũng không thấy đề cập đến như một sự kiện hay yếu tố chứng minh. Ngược lại, hình tượng rồng với mô típ nguyên thủy, thể hiện bằng ngôn ngữ hội họa cách điệu và tối giản, được thấy trên mặt trống đồng, vật khí biểu tượng của nền văn minh Văn Lang, văn hoá Lạc Việt với những ghi nhận niên đại sớm là khoản thể ký thứ V trước Công nguyên là hình tượng chim đi cùng một đôi với hình cá sấu, tức Lạc – Hồng, chim – rồng. Hai mũ chim rồng Mũ ông Táo thể hiện đầu rồng cùng mô típ của họa tiết trên trống đồng Một hình tượng khác được trích từ họa tiết trên trống đồng cho thấy thể hiên hai nhân vật đang đọc văn bản nào đó mà trên đầu hai nhân vật này như mộc ra hai đầu rất lớn hình chim và rồng. Mạch nối cho hình tượng rồng này không gián đoạn khi trong dân gian, cho đến ngày nay, còn lưu giữ mối dây liên hệ của nó khi hình tượng chiếc mũ ông Công ông Táo, một sản phẩm dùng trong lễ nghi cúng tế, được thể hiện đồng mô típ với đầu rồng trên trống đồng. Như vậy, rồng với hình ảnh khởi thủy sơ khai đã là sản phẩm của trí tuệ Việt tộc được thể hiện và ứng dụng từ lâu trong xã hội Hùng Vương mà tính phổ biến của nó dễ dàng tìm thấy ngay trên họa tiết hoa văn trống đồng thuộc nền văn minh Văn Lang, Bách Việt, với lối cách điệu tinh tế. Hình tượng chim rồng, biểu tượng hỷ sự mang dấu ấn Tiên Rồng - Lạc Hồng. I.2. Truyền thống và lưu dấu rồng Việt Tuy lịch sử có những giai đoạn thăng trầm làm gián đoạn hay mai một đi nét truyền thống Lạc Việt nhưng nó trổi dậy một cách tinh tấn và đặc sắc trong những giai đoạn an bình thịnh trị. Rồng thời Hùng Vương: với nguyên thủy là hình ảnh cá sấu và đi chung với hình chim tạo đủ cặp Lạc Hồng (Chim Rồng) Hình cá sấu và chim (rồng và chim) trên trống đồng. Rồng thời Lý: là một hình tượng hiền hòa với nét uốn lượn hình sin đẹp mắt, nhưng không kém phần dũng mãnh, con rồng thời Lý chứa đựng sự hoạt biến của nhu và cương. Rồng thời Lê: Hình thể khỏe mạnh, phần đầu to hơn, trong vẻ cứng cáp và dữ dằn. Rồng thời Nguyễn: Trông vẻ sắc cạnh với những vẫy, vi, mũi sư tử, răng nanh bén sắc, ẩn trong mây nhưng đầy vẻ chủ động và tự chủ. Điều đáng chú ý rằng rồng thời Lý với chiều dài lịch sử hơn 1000 năm được biết đến khá rỏ ràng nhờ vào những phát hiện khảo cổ trong thời gian khá gần đây. Tuy vậy điều lạ lùng chưa từng đề cập đến là khi quan sát những hình tượng rồng ở Lào, Thái Lan thì phát hiện các hình tượng đó đều có chung một mô típ rồng thời Lý! Đặc điểm nổi bật để nhận ra điều này là mỏm rồng có túm lông nhọn thể hiện như một sừng hay ngọn lửa, răng nanh vượt hàm trên và thân hình như thân rắn. Vấn đề đặt ra là nét văn hóa Việt bằng cách nào được lưu dấu ảnh hưởng đến những vùng lục địa và biển đảo như vậy để trở thành một nét truyền thống đặc sắc của các nước này khác hẳn rồng Trung Hoa khi mà trong quá khứ không hề có một sự đô hộ nào của Việt tộc như sự đô hộ ngàn năm của Trung Hoa trên đất Rồng Tiên? Rồng ở chùa Wat Phrasingh, Chiang Mai, Thailand. có cùng mô tip rồng thời Lý. Tượng rồng ở Thailand cùng mô típ rồng thời Lý Rồng ở Lào cùng mô típ rồng thời Lý. I. 3. Biểu tượng trong Lý học Quan niệm Lý học Đông phương cho rằng Rồng là biểu hiện của sự huyền biến không gian thời gian, là sức mạnh uyên áo của vũ trụ, là biểu tượng của hai thế lực Âm và Dương. Trên mái đình miễu, mái chùa của người Việt bao giờ cũng bắt gặp hình tượng quen thuộc lưu truyền âm thầm trong dân gian là hình tượng hai rồng và quả châu rực lửa ở giữa mà người Việt gọi là “lưỡng long chầu mặt nguyệt”. Nhưng thật ra đó là hình tượng của Âm Dương và Thái cực. Điều này được xác định bởi nhà nghiên cứu Lý học Nguyễn Vũ Tuấn Anh, rằng đó là hình tượng thể hiện Âm Dương cân bằng, bởi hai rồng tượng là Âm và Dương, quả châu là Thái cực ở giữa thể hiện không có sự khinh trọng về một thế lực nào trong hai. Hơn nữa đều đặc biệt đặc trưng là chỉ có văn hóa Việt mới thể hiện nét đặc trưng lưỡng long tranh châu, với quả châu luôn là màu đỏ, đỏ rực, thể hiện tính dương của Thái Cực và quả châu với hình tướng đỏ rực với vầng lửa bao quanh là tượng của mặt trời đỏ, tượng theo lý Dịch là quẻ Ly, do vậy Thái cực đỏ thuộc Hỏa là biểu tượng văn minh phương Nam. Đó là điều khác biệt cơ bản của văn hóa Việt với Trung Hoa và chỉ có ở nền văn minh Văn Lang lúa nước rực rỡ 5000 năm, từ bờ Nam sông Dương Tử. Lưỡng Long tranh châu ở chùa Bối Khê. Lưỡng long tranh châu ở một chùa Thái Lan. (còn tiếp)
  16. Báo bây giờ cũng bà tám hay lá cải lắm. Không biết đâu mà mò! Hic Chừng nào có người ngoài hành tinh lên ti vi các nước tuyên bố "Chúng tôi đã tới quả đất rồi!" và sau đó là người ngoài hành tinh có những hoạt động ngoại giao liên hành tinh ở từng nước, gặp gỡ các vị lãnh đạo, bắt tay "tốt tốt" thì lúc đó mới chịu thực là có người ngoài hành tinh. Bây giờ nói phong lông, người ngoài hành tinh chặn vũ khí tịt ngòi gì đó...nghe thiệt phong lông quá.
  17. @gvt2004 0926675826 quan hệ bạn bè tốt, nhưng không bền, hao tốn tiền tài, dùng trong công việc thì hay gặp hứa hẹn nhưng không chắc. 0976098035 số này chơi hay giao tiếp với người có vẽ hoàng tráng, cấp sếp hay đại gia, hay người khá, lợi lớn thì trong chờ, tiểu hao tiền tài. Nếu làm việc liên quan đến ngoại giao hay thì tốt, làm bất động sản thì eo xèo. Thiên Đồng
  18. 12 Tướng Tinh Đoán Quyết Lấy Tọa Sơn làm chuẩn xem phương nào có đỉnh núi cao đẹp, lấy làm quý. Quyết : Trạng Nguyên Cập Đệ xuất từ đâu. Ở chỗ “Công Tào” khởi ngọn cao, lại có triều sơn cùng nước đẹp. Trước Điện ( Kim Loan) được cử chức Tam Công. Bảng Nhãn cập đệ ít người biết, ở chỗ “Thái Ất” có nguy nga đẹp đẽ, núi cao đoan chính Thái Hoa lang, “Đăng Minh” cao cử tối vi lương. Như thế đoán đất có tướng quân. Ỏ chỗ “Truyền Tống” có đỉnh cao đẹp, nếu thấy “Thắng Quang” đoan chính ngồi, cháu con thường ở đế vương cung. Khởi Quyết : Càn Giáp Đinh sơn (Tuất Càn) khởi, Hợi Mão Mùi sơn (Hợi Nhâm) hành. Khôn Nhâm Ất sơn (Tý Quý) thượng, Thân Tý Thìn sơn (Thìn Tốn) khán. Cấn Bính Tân sơn (Tỵ Bính) lập, Dần Ngọ Tuất sơn tại (Thân Canh) . Tốn Canh Quý sơn ( Mùi Khôn) thị. Tỵ Dậu Sửu sơn (Sửu Cấn) sinh. Chú ý : Lấy song sơn chửơng quyết khởi (Thiên Cương Tinh), thuận hành. Ca Quyết : “Thiên Cương” bày lập ở trong mây, nhọn đẹp sáng trước chẳng đủ vui. Có cố đeo đuổi nghiệp văn chương, khoa trường rơi lệ về chốn cũ. “Thái Ất” Núi nhọn như măng dài, thêm trời chiếu sáng nơi minh đường. Đoán định cháu con đăng khoa giáp, tay cầm hốt ngà trước quân vương. “Thắng Quang” đẹp đẽ chiếu minh đường, nhà trắng Công Khanh Tể Tướng Lang. Năm thước thiên nhan thường chiếu ngự, đai vàng áo tía hồi quê hương. “Tiểu Cát” đỉnh xanh đẹp như ngọn thương, nhọn nhọn cao khởi giữ minh đường. Cháu con cầm giữ Long Xà chạy, sẽ làm tào quan Thất Phẩm lang. “Truyền Tống” Cao nhọn vút trong mây, tuổi trẻ danh hiển thật anh hùng. Tiếng truyền biển nam người người phục. Trở về kim điện chịu ơn trên. “Tòng Khôi” Đỉnh nhọn chiếu mộ đài, xuất sinh văn chương quán thế nhân. Lúc đầu tuy được người ưa thích, mà sau lại thiếu vẻ sang trọng, về già vô danh có chút tiền. “Hà Khôi” Ráp cả thiên hà trước mộ phần, xuất gia thuật sĩ đệ nhất tiên. Triều đình dạy cho Thiên Tử ba Đạo sách, đổi được Kim Ngư giữ được đầu. “Đăng Minh” Tất cả ở trong mây, cao chiếu minh đường gia trạch giàu. Đỗ đạt danh thơm đăng hai Giáp, hình dáng rậm rậm bớt phải lo. “Thần Hậu” Đỉnh cao ngang trời, chiếu mộ phúc biến họa tương liên. Cầu danh kiếm lợi chẳng quay đầu, điểm trán rồng già nguyên tại ruộng. “Đại Cát” cao đẹp vịn đỉnh nhọn, tất nhiên đã kính lại thêm nhàn. Không lo trong bụng mưu kim cổ, danh thơm cuối cùng vào cháu con. “Công Tào” Chen lẫn phá một nửa trời xanh, đoan chính ngọn ngọn tụ nhau lại. Cập đệ đăng khoa đệ nhất danh, trạng nguyên quay về ngựa như mây. “Thái Xung” Thật cao áp hết mộ, nhận thấy cháu con đẹp như rồng. Vậy mà khoa trường rớt hết sạch, thở than lều lạnh thật khốn cùng. Án : 12 Tướng Tinh Quyết, lấy Thái Ất, Thắng Quang, Tiểu Cát, Truyền Tống, Hà Khôi, Đăng Minh, Công Tào là các phương vị có núi cao đẹp đặc biệt, lại lấy thêm Tam Nguyên Ai Tinh bày bố các Quan Vị 1 – 4, 1 – 6, 6 – 8, đồng cung, cũng như có nhà đẹp, nước đẹp, hồ trong xanh, nước có giao tụ tại hướng đầu hoặc cung bên cạnh, phương đó xuất quý, nếu không đạt được các điều kiện trên thì chỉ có hư danh mà không thực quyền. Ngoài ra, muốn xuất quý, phải lo tích âm thiện đức, hiếu dưỡng cha mẹ cho tốt. Càn Giáp Đinh sơn thuận hành, Hợi Mão Mùi sơn thuận hành, Khôn Nhâm Ất sơn nghịch hành, Thân Tý Thìn sơn Nghịch hành. Cấn Bính Tân sơn thuận hành, Dần Ngọ Tuất sơn thuận hành, Tốn Canh Quý sơn nghịch hành, Tỵ Dậu Sửu sơn nghịch hành. A Tư Tiểu Khang dịch
  19. Tết Tết Tết đến rồi! http-~~-//www.youtube.com/watch?v=EQEmHGtQVac&feature=related
  20. Đăng ký tiếp theo 1. Thiên Sứ 2. WildLavender 3. Thiên Đồng 4. Thiên Luân 5. Thiên Anh 6. Trung Nhan 7. Hạt gạo làng 8. Mục Đồng 9. Baosky 10. Tranlong07 11. chauthevinh 12. Thiên Bồng... 13. Soncao 14. Thiên Em 15. tictictacAnh 16. tictictacEm 17. Nguyên Anh 18. Khôi Nguyên 19. An Thanh 20. Biển Xanh 21. Longphibacca 22. Longphibaccua 23. Phucndchong 24. Phucndvo 25. Bá Kiến 26. Babywofl
  21. Tên "hóa rồng" cho bé tuổi Nhâm Thìn - 2012 Bạn băn khoăn về việc đặt tên cho bé yêu sinh năm Nhâm Thìn sao cho hợp với tuổi của bé và giúp bé có sự phát triển tốt đẹp trong tương lai? Bạn có thể tham khảo thêm các thông tin về bản mệnh, Tam hợp hoặc nếu kỹ lưỡng có thể xem Tứ Trụ, Tử Vi (nếu bé đã ra đời mới đặt tên). Có nhiều thông tin hữu ích có thể giúp cho cha mẹ chọn tên hay cho bé. Xét theo bản mệnh Tuổi Nhâm Thìn 2012 mang mệnh Trường Lưu Thủy (nước sông dài). Rồng gặp nước có thể nói là biểu tượng tốt, chính vì vậy nếu được khai thác hết tiềm năng thì hoàn toàn có thể “vùng vẫy” và thành đạt trong xã hội. Bản mệnh Trường Lưu Thủy là yếu tố quan trọng để xác định tên phù hợp cho con, vì vậy các chữ thuộc hành Kim, Thủy hay Mộc có thể chọn làm tên cho con. Ngược lại các bộ chữ gắn với Thổ, Hỏa thì ít nhiều khắc kỵ với tuổi Nhâm Thìn, hoặc bản ngã quá lớn khó dung hòa, hoặc tâm thần mệt mỏi bất định. Lưu ý, chữ ở đây là xét theo chữ Hán, một loại chữ tượng hình. Xét theo Địa Chi Tuổi Thìn thuộc Tam hợp Thân - Tí - Thìn và Lục hợp Thìn - Dậu. Vì vậy, các tên thuộc bộ chữ có liên quan đều có thể coi là tốt đẹp. Ngược lại, nếu liên quan tới Mão (lục hại), Thìn (tự hình), Tuất (lục xung) thì đều không hợp và nên tránh. Xét theo đặc tính Theo quan niệm Á Đông, Rồng được coi là biểu tượng của vua, chính vì vậy những tên gọi thể hiện sự dũng mãnh, can đảm, vị thế tột bậc… sẽ rất hợp với người tuổi Thìn. Ngược lại, các tên gọi làm hạ thấp vị thế của con Rồng thì nên tránh. Các nguyên tắc khác Để chọn tên hay và hợp lý cho bé, các yếu tố về ý nghĩa, thuận ngũ hành (Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ) hay âm luật cũng nên được lưu ý. Các yếu tố này không chỉ giúp cho tên gọi hay hơn mà còn tạo nên những thuận lợi không ngờ cho tương lai sau này. Một cái tên có ấn tượng tốt sẽ giúp con được may mắn, thời vận dễ dàng và thành công vượt bậc. Kỹ lưỡng hơn, việc tham khảo Tứ Trụ và Tử Vi cũng ít nhiều giúp cho bố mẹ đặt cho con tên gọi hay và hợp lý. (Theo Eva.vn) ========================= Nếu là Mậu Thìn là mạng Mộc, vậy gọi là Rồng gì? Rồng Leo cây à? Tốt không? Nếu là Bính Thìn mạng Thổ vậy là rồng nằm đất, là con giun sao? Thiêt Tàu lau mía lau! Thiên Đồng
  22. Dạ, bởi vì lần trước mạng bị rớt nên mất nhiều bài. Trong một chủ đề bàn về đoạn kết nào cho câu truyện "Tấm Cám" là hợp lý, các báo đều có bàn luận loạn xịnh nhưng đều không có cái đoạn kết nào để thanh minh cho con Tấm là ác độc cho nên Sư Phụ đã viết lại đoạn kết mà mẹ hay bà của Sư Phụ kể và Sư Phụ "thuật nhi bất tác" đoạn kết đó. Xin Sư Phụ ghi lại. Bởi đệ tử có một người bạn làm du lịch, trên những đoạn đường dài cũng hay phiếm chuyện, mỗi khi đụng tới truyện cổ tích mà nhất là "Tấm Cám" là phải né đoạn kết hoặc không biết kể sao, kể cho Tây nó nghe thì nó ồ lên bảo là "thật kinh khủng!" thì ...khó nói. Đó cũng là cách truyền miệng trong dân gian nhằm minh bạch cho nghi án về cô Tấm mà biết bao thạc sĩ, tiến sĩ, học giả, học thật...phải đều không lý giải được. Thiên Đồng
  23. Sư Phụ, Thiên Đồng tìm không ra bài viết đoạn kết câu truyện Tấm Cám ở đâu. Xin Sư Phụ viết lại đoạn kết vào dưới mục này cho dể tìm. Cảm ơn Sư Phụ. Thiên Đồng
  24. Sư Phụ, Thiên Đồng tìm không ra bài viết đoạn kết câu truyện Tấm Cám ở đâu. Xin Sư Phụ viết lại đoạn kết vào dưới mục này cho dể tìm. Cảm ơn Sư Phụ. Thiên Đồng
  25. Đăng ký tiếp theo 1. Thiên Sứ 2. WildLavender 3. Thiên Đồng 4. Thiên Luân 5. Thiên Anh 6. Trung Nhan 7. Hạt gạo làng 8. Mục Đồng 9. Baosky 10. Tranlong07 11. chauthevinh 12. Thiên Bồng... 13. Soncao 14. Thiên Em 15. tictictacAnh 16. tictictacEm 17. Nguyên Anh 18. Khôi Nguyên 19. An Thanh 20. Biển Xanh 21. Longphibacca 22. Longphibaccua 23. Phucndchong 24. Phucndvo
×
×
  • Create New...