-
Số nội dung
6278 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
75
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Thiên Đồng
-
Đã nói là "Phong thủy hiện đại" mà còn có cái quan niệm cổ lổ sĩ như thế này: thì quả là..."hại điên nặng"! Thiệt là vớ vẫn không chịu nỗi!!!
-
KIM TỰ THÁP AI CẬP BÀI 2 :Các Kim Tự Tháp ở Ai Cập Biên Khảo : Đức Chính C.- Quần thể Kim Tự Tháp ở Abusir: không hiện hữu Kim Tự Tháp lừng danh như Kim Tự Tháp Đỏ Khufu[1] nhưng ở đây còn nhiều Kim Tự Tháp tuy không còn tốt lắm nhưng có giá trị lịch sử vì niên đại cách chúng ta khá xa (một số cách nay khoảng 4.000 năm). Quần thể Kim Tự Tháp Abusir nằm bên tả ngạn sông Nil, giữa quần thể Giza và quần thể Saqqara. Nghĩa là đối diện chéo với thủ đô Cairo bên bờ bên kia sông Nil. Tại quần thể này được nghiên cứu nhiều nhất là các Kim Tự Tháp Sahure, Neferirkare, Neferefre, Amenemhet I, và Khentkaues. 1.- Kim Tự Tháp Sahure: Kim Tự Tháp này cao 48 m, đáy vuông có cạnh 78,5 m, độ lài mặt Kim Tự Tháp 50°11’40″; có niên đại vào triều đại thứ 5 Ai Cập cổ đại và hiện được biết là Kim Tự Tháp có niên đại cổ nhất ở khu quần thể này. Nhà Ai Cập học đầu tiên đến tìm hiểu Kim Tự Tháp này là Perring hồi thế kỷ 19, và ít lâu sau Lepsius tiếp nối việc nghiên cứu. Mãi đến thế kỷ 20 Ludwig Borchardt mới nghiên cứu đào sâu và viết một tác phẩm đồ sộ gồm 2 quyển về nó. Thế nhưng bí ẩn của Kim Tự Tháp hình như vô tận, bắt đầu từ năm 1994 chính phủ Ai Cập mở cửa cho du lịch văn hóa khu quần thể này thì Kim Tự Tháp Sahure lại đón nhận thêm nhiều phát hiện mới về nó từ những nhà nghiên cứu du lịch tham quan. Như đã nói, Kim Tự Tháp này có từ triều đại thứ 5 nên sự hủy hoại của thời gian không nhỏ. Từ đó việc nghiên cứu trở nên khó khăn, nhất là dáng vẽ ban đầu của nó. Những khai quật chỉ cho biết Kim Tự Tháp được xây dựng trên một mặt nền có lót ít nhất hai lớp đá vôi trắng khai thác từ mỏ đá Maasara gần đó. Riêng phần lõi nằm trên 6 lớp đá vôi và đáng chú hơn nữa Kim Tự Tháp này không hoàn toàn có đáy vuông như những Kim Tự Tháp khác và hành lang dẫn vào trong làm thành những bậc thang. Bỏ qua chi tiết đó, Kim Tự Tháp Sagur có cấu trúc giống những Kim Tự Tháp khác. Chung quanh cũng có những công trình liên quan đến tín ngưỡng như sân, đền thờ, đường đấp, … Riêng khoảng sân trước Kim Tự Tháp có 16 cột đá nguyên khối ganite đỏ có khắc vương hiệu pharaoh Sahure. Những mảnh di chỉ tìm thấy ở sân này cho biết ở đây từng chạm cảnh Pharoh Sahuree chiến thắng người Asians và Libya. Phía bên trong sân có thêm nhà nguyện và các công trình phụ khác rồi mới là cổng vào Kim Tự Tháp. Các nhà Ai Cập học dựa vào đó cho rằng sân này xưa kia diễn ra những cuộc tế lễ cho Pharaoh Sahuree. Đây là nét khá đặc thù của Kim Tự Tháp Sagure. 2.- Kim Tự Tháp Neferirkare: cao 70 m, cạnh đáy vuông 105 m, góc lài 53°7’48″; xây vào triều đại thứ 5. Kim Tự Tháp Neferirkare được đánh giá là Kim Tự Tháp lớn nhất và được bảo tồn tốt nhất ở khu quần thể Abusir dù hình ảnh bên ngoài hoang tàn như một gò mối. Đây là Kim Tự Tháp an táng Pharaoh Kakai, Kalai là vương hiệu của Neferirkare. Dựa trên lý thuyết sự tràn rộng ra của phế tích, Lepsius cho rằng Kim Tự Tháp này là Kim Tự Tháp bậc thang với 6 tầng bậc. Kim Tự Tháp có một hành lang trổ ở mặt phía bắc và dẫn thẳng vào phòng quàn xác ướp Pharaoh. Trước phòng này là một tiền sảnh thấp hơn mặt nền Kim Tự Tháp khoảng vài mét. Trong Kim Tự Tháp có hai phòng quan xác ướp thiết kế theo trục Đông Tây, phần lớn đã hư hại và nhiều khối đá ở đây được lấy đi xây dựng công trình nơi khác. Khai quật khu ngoài Kim Tự Tháp cho thấy có nhiều chiếc thuyền bằng gỗ được chôn phía Bắc và phía Nam Kim Tự Tháp. Theo nghiên cứu, lúc nguyên thủy Kim Tự Tháp không có miếu đường thờ Pharaoh, nó được xây sau này bởi vị Pharaoh nối ngôi. Miếu đường này có những hàng cột hình hoa sen. Bao quanh phức hợp Kim Tự Tháp này là vòng tường bằng gạch bùn mà ngày nay dấu vết của nó vẫn có thể nhận ra được. 3.- Kim Tự Tháp Neferefre: cao 65 m, độ lài không rõ; niên đại vào triều đại thứ 5. Kim Tự Tháp này được khảo sát tiên phong bởi Perring, Lepsius, de Morgan, Borchardt và một số nhà nghiên cứu khác. Nhưng các nhà nghiên cứu này không thống nhất với nhau vị Pharaoh từng nằm ngủ yên bên trong: có người cho là Kim Tự Tháp của Neferefre, số khác nói của Shepseskare. Cuối cùng đến thập niên 1970, đoàn nghiện cứu của Đại Học Prague (Tiệp Khắc) làm một nghiên cứu có hệ thống mới xác định là Kim Tự Tháp Neferefre. Kết luận đó được dựa vào các manh mối: Manh mối 1: Trong miếu đường cạnh Kim Tự Tháp tìm thấy một mẫu giấy cói papyrus ghi rõ là nơi thờ Pharaoh Neferefre; Manh mối 2: một khối đá vôi tìm thấy ở một ngôi làng vùng Abuzir được xác định khả dĩ có nguồn gốc từ Kim Tự Tháp Neferirkare (mục số 2). Dữ kiện trên khối đá này suy đoán ra là Kim Tự Tháp của Pharaoh Neferefre. Khảo cứu cơ thể học trên xác ướp cho thấy vị Pharaoh nằm nơi này trạc 20-23 tuổi và đây cũng là chứng cứ tin rằng đó là Neferefre. Kim Tự Tháp này có lẽ cũng là Kim Tự Tháp bậc thang. Trên nóc có mái bằng làm từ thứ đá mịn, đáng tiếc phần này đã bị lấy đi gung vào việc khác từ thời xưa. Lối vào bằng đá granit hồng nằm ngay giữa mặt Bắc Kim Tự Tháp, hơi uốn cong theo hướng Đông-Nam trước khi đến tiền phòng của nơi quàn xác ướp. Tiền phòng và phòng quàn Pharaoh bố trí theo trục Đông-Tây, làm bằng đá vôi trắng mịn thớ. Bên ngoài có phức hợp này có tường bao bằng gạch bùn. Phía Đông có một sân, chếch về phía bắc có khu để đồ thờ và bên hông có miếu đường. 4.- Kim Tự Tháp Amenemhet I: Pharaoh Amenemhet I là người khai sáng triều đại thứ 12 và trọ vì khoảng 30 năm, thuộc thời vương quốc thứ hai (năm 1975-1640 trước Công nguyên). Triều đại này Ai Cập cổ đại rất hùng cường, bao gồm cả vùng Hạ Nubia. Năm 1882 nhà Ai Cập học Maspero lần đầu tiên đi sâu vào bên trong Kim Tự Tháp Tiếp theo vào những năm 1894-1895, hai nhà khảo cổ người Pháp Gautier và Jequier nối tiếp công việc thám hiểm này. Quy mô nhất là chuyến thám hiểm của Viện Bảo Tàng Metropolitan Museum (Newyork) kéo dài từ năm 1902 đến năm 1934. Vào trong Kim Tự Tháp cũng bắt đầu từ mặt phía Bắc, theo con đường dẫn xuống sâu dưới mặt đất. Con đường này lát gạch granit hồng, cũng tận cùng ở phòng quàn xác ướp Pharaoh. Những khối đá này có dấu vết cho thấy sử dụng lại vật liệu thu hồi từ các Kim Tự Tháp khác như Kim Tự Tháp Khufu, Khafre, Unas, … Những hành lang có nhiều hình ảnh chạm khắc liên quan đến Pharaoh Amenemhet I. Lõi làm bằng khối đá vôi nhỏ lấy tại địa phương; có độn thêm cát, đá vụn và gạch bùn để lấp các khe hở. Phần xây bên trên làm bằng gạch bùn nên theo thời gian hư hại rất nhiều, hiện nay chỉ còn cao 20m. 5.- Kim Tự Tháp Khentkaues: nằm phía Nam Kim Tự Tháp Neferirkare, được Ludwig Borchardt thám hiểm lần đầu tiên. Ban đầu Borchardt chỉ đánh giá đây là cặp mộ cổ song táng, mãi đến thập niên 1970 đoàn khảo cổ học Tiệp Khắc mới xác định rõ là Kim Tự Tháp của Pharaoh Khentkaues. Những hình ảnh và ký tự chạm trong Kim Tự Tháp này cho biết nó được xây làm hai thời kỳ. Giai đoạn đầu khởi công trong thời gian Khentkaues dang trị vì (khoảng 10 năm) và tạm ngưng khi vua băng hà. Một thời gian sau mới được vị Pharaoh mới, là người con trai Niuserre của ông, tiếp nối công trình. Cũng như nhiều Kim Tự Tháp khác ở Abusir, Kim Tự Tháp này cũng bị hư hại nặng: chỉ còn cao 4m. Nhờ sự khảo sát và khai quật của đoàn Tiệp Khắc người ta mới biết đây là một Kim Tự Tháp có lõi làm bằng đá vôi chất lượng cao. Hành lang dẫn vào bên trong cũng bắt đầu ở vách phía Bắc bằng đá vôi trắng, và cũng dẫn đến phòng quàn Pharaoh. Phòng quàn cũng bằng đá vôi trắng và trên trần là một khối lớn phẳng. Trong Kim Tự Tháp cũng có một phòng quàn nhỏ dành cho hoàng hậu. Di chỉ khai quật cũng cho thấy bên ngoài có một Kim Tự Tháp nhỏ dùng cúng tế, một sảnh rộng có cột đỡ trần. Tất cả đều nằm phía đông như những Kim Tự Tháp khác. (còn tiếp) [1] Kim Tự Tháp Khufu còn gọi là Kim Tự Tháp Đỏ vì nguyên thủy nó có lớp ốp lát bằng đá graphite đỏ bên ngoài; cũng gọi là Kim Tự Tháp Lớn vì là Kim Tự Tháp lớn nhất. Nó là một trong 7 kỳ quan cổ đại còn sót lại đến ngày nay. nguồn: http://khanhhoathuynga.wordpress.com/
-
Tài liệu tham khảo: Địa Lý Tỉnh Tâm Lục Long thế trú , khán tả hữu , nhất thủ bất hồi chung hữu cữu , tả Long hữu Hổ lưỡng biên tề , nhi tôn hưng vượng đa điền thổ .Tại nơi Long đến , xem trái phải , không có bên nào quay lại thì xấu , hai bên Long Hổ tương bằng thì con cháu hưng vượng ruộng đất nhiều . Tả hữu Long , Hữu hữu Hổ , thử địa tu giáo hậu Phúc cửu , tả hữu Long Hổ hữu ao phong , quả mẫu chủ gia nam đoản thọ . Trái có Long , phải có hổ , nên nhiều Phúc lâu dài , Long Hổ mà bị khuyết hãm thì quả phụ làm chủ gia đình , nam nhân đoản thọ . Long yếu long xiển , hổ yếu phục , Hổ tuần Long bàn phương thị Phúc , nhược hoàn Long Hổ bất tương nhiêu , huynh đệ tương tranh nan cộng ốc . Long cần nhất phải đầy đặn , Hổ cần quy phục , Hổ thuần Long cuộn đó là đất Phúc , Long Hổ mà không đầy đủ khoan thứ thì huynh đệ tranh giành không thể chung 1 nhà . Hổ yếu loan , Long yếu quan , Long Hổ cục tàng tự ngọc hoàn , thử thị phúc Long lai kết huyệt , gia trung kim ngọc tích như sơn . Hổ phải lõm , Long phải thắt , Long Hổ hợp cục như hình chiếc vòng ngọc , đó chính là nơi Long kết huyệt , trong nhà vàng ngọc chất như núi . Long yếu ngang , Hổ yếu giáng , huyệt như khuê nữ thủ Lan Phòng , thử thị chân Long lai tác huyệt , hạ chi tất định xuất Triều Lang . Long phải nghển đầu , Hổ phải phục xuống , thế huyệt như khuê nữ trong Lan Phòng , đó là chân Long thành huyệt , táng vào tất có con cháu làm quan lớn . Long thủ đê , Hổ hùng khi , Hổ cao Long oải bất tương nghi , trưởng tử bần cùng tiểu tử phú , cái duyên sơn thủy bất tương tề . Long hạ thấp , Hổ hùng mạnh coi thường , đó là cái tượng Hổ cao mà Long thấp kém , con cả nghèo khó , con thứ lại giàu đều do sự sơn thủy không cân bằng . Hổ như cung , Long như phong , Long Hổ loan loan tự hữu dung , cánh đắc tài lộc sơn thế khang, kỳ gia phú quý phúc hưng long . Hổ hình vòng cung , Long cao như non , Long Hổ cong cong thế chứa vào , lại thêm tài lộc sơn thế mạnh , gia đình vì thế mà phú quý hưng thịnh . Long vi hồ , Hổ vi thi , tả hữu hoàn bão nhất lưỡng chi , thử thị hoạch tài sơn tác thế , kỳ gia hậu tích vượng tàm ty . Long như hình trái hồ lô , Hổ như hình cái thìa , tả hữu ôm vòng một hai nhánh , đó là long thế của núi hoạch tài , nên trong nhà chứa nhiều lụa là gấm vóc . Thanh Long quý , khởi phong tiêm , điệp điệp bài lai thế tháp thiên , sản xuất tử tôn đa phú quý , vi quan thực lộc vị tam công . Thanh Long quý , khởi lên ngọn nhọn , liên tiếp như những ngọn tháp hướng trời xanh , đó là nơi sinh ra tử tôn phú quý , làm quan hưởng lộc , tới Tam Công . Thanh Long cao , khởi lâu đài , nhi tôn quan chức thử trung lai , định xuất trưởng phòng nhân cập đệ , mã tiền hát đạo trạng nguyên hồi . Thanh Long cao , nhô lên hùng tráng như tòa lâu đài , con cháu dần dần tiến lên trên quan lộ , định ra trưởng phòng con thi đậu , trước đầu ngựa mở đường trạng nguyên về . Thanh Long loan , tự lâu thuyền , uyển chuyển như cung dục thượng huyền , điịnh chủ nhân thương đắc tài bảo , gia trung vạn khoảnh trí trang điền. Thanh Long chạy từ từ , thế cao nhấp nhô như lâu thuyền , uyển chuyển như cung giống trăng thượng huyền , tất chủ nhân buôn bán phát tài , có điền trang rộng lớn . Thanh Long tiêm , như án kiếm , hoành tại diện tiền nhân ác kiến , nhi tôn định chủ pháp trường hạ , xích xuất cát hầu nhân bất thiện . Thanh Long nhọn sắc , như thanh kiếm nhọn , chạy ngang trước mặt người thấy ác , con cháu lần lượt đi ra pháp trường , nếu sát vào hơn thước như cắt cổ thì người trong nhà toàn một lũ độc ác . Long sơn hung , thế thô ác , đái thạch sàm nham tự ngưu giác , trường phòng tất định xuất hung nhân , niên kỷ chu niên ôn hỏa tác . Núi phía Long hung ác , thế thô đá núi nhọn lô nhô như sừng trâu , trưởng phòng tất sản sinh ra kẻ hung ác , năm qua năm lại luôn bị bệnh dịch hỏa tai . Thanh Long thoán , bài chuyển đầu , hướng ngoại tùy lưu thủy bất thu , định sinh nhi tôn ly hương tổ , tam niên ngũ tái tẩu tha châu . Thanh Long tán lọan hồi đầu ngổn ngang , thủy theo hướng ngoại chảy đi không tụ lại , con cháu nhất định ly hương cầu thực , táng sau 3 – 5 năm phải bỏ quê mà đi . Long Thượng Lộ , tung chuyển hành , định chủ niên niên tai họa sinh , nhi tôn định chủ huyền lương tử , chỉ nhân long thượng hữu nhân hành . Trên tay Long có đường đi dọc ngang , thì năm nào cũng sinh tai họa , con cháu treo cổ mà chết cũng chỉ bởi trên Long có người đi lại . Long tiêm tà , tức mao diệp , thử thị Thần Long đái quỷ kiếp , gia chiêu đạo tặc thử trung sinh , canh xuất hung , bại gia nghiệp . Trên Long nhô mũi nhọn mà nghiêng ngửa , đó là Thần Long mang Quỷ Kiếp , nhà như mời trộm cắp đến , rất xấu , bại gia nghiệp . Thanh Long thối , tam lưỡng phiến , băng toái thiết kỵ huyệt tiền kiến , nhi tôn bần chi thụ cô hàn , định chủ đề la mịch thực biến . Thanh Long chia ra làm 2 , 3 lớp kỵ nhất là lở bể trước mặt huyệt , con cháu nghèo khó cô quả , ngày nào cũng vác rá đi vay . Bạch Hổ quý , ngưu giác thế , hựu tự ngân thi đáp phạn sơn , thử thị quan sa nhân hãn kiến , tá phụ tá xã tắc nhập triều . Bạch Hổ quý , thế như sừng trâu , như cái thìa xúc vào núi cơm , thế đất quan sa rất hiếm gặp , làm quan đến thừa tướng trong triều đình . Ban Hổ sơn Phụng như bán nguyệt , hựu tự ngân sơ lai hướng huyệt , thử thị bảo sa nhân hãn thức , tam phòng cập đệ triều kim khuyết . Bên tay Hổ và núi Phụng tạo thành hình bán nguyệt , giống như cái lược bạc hướng vào huyệt , đó là thế sa ít người biết , con của tam phòng ( Con trai thứ 3 ) làm quan triều đình . Bạch Hổ cát , hữu tú phong , lỗi lỗi bài lai tự phúc chung , định chủ tiểu phòng phát tích , môn lan hỷ khí náo thông thông . Bạch Hổ tốt , có đỉnh núi đẹp , đá đẹp xếp lại như cái cốc uống rượu , con thứ vợ lẽ phát , nhà cửa khí lành tràn đầy . Hổ sơn hùng , tam miêu nhi , hồi đầu vọng huyệt dục hàm phàm , định chủ nhi tôn tao Hổ giảo , thời sư ngộ thử yếu tiên tri . Núi bên Hổ hùng mạnh , như ba con mèo quay đầu lại muốn nuốt lấy huyệt , chủ việc con cháu bị hổ cắn , người làm thầy khi gặp cần phải đoán trước . Bạch Hổ tủy , như nhân chỉ , tai sinh quan phi lai điểm chỉ , nhi tôn đổ phó mại điền viên , hựu sinh phụ nhân hoa tửu uyển . Bạch Hổ như cái mỏ chim , như ngón tay người ,tai họa sinh ra từ quan sự điểm chỉ , con cháu vì cờ bạc mà phải bán ruộng vườn , còn con gái thì đàng điếm . Bạch Hổ đầu , tự giảo trường, chủ nhân tự ải điếu cao lương , nhược thị đoạn khanh đầu lạc thủy , tử tôn tao nịch táng hương tuyền . Địa thế Bạch Hổ , dài ra như sợi dây , chủ người treo cổ lên xà nhà , nếu đầu Hổ mà chui xuống nước , con cháu phải cái họa chết chìm . Hổ Sơn thoán , như phản thủ , hựu tự nga mi phong bài liễu , phụ nhân dâm loạn hữu phong thanh , hoa tửu táng thân nhân đoản thọ . Núi bên Hổ tán loạn như cánh tay ngược , lại giống nga my ( Nhỏ cong ) hoặc gió đùa lá liễu , con gái trong nhà dâm loạn có tiếng . Trong gia đình tất cả đều đoản thọ , chôn mình trong hoa rượu . Hổ chủy trường , tự trì thương sang , nhi tôn phá bại đạo hung cường , thương đầu hướng ngoại ngoại hương uất , hướng nội gia trung tự sát thương . Hổ mõm dài , như cầm dáo mác , con cháu là đồ hung cường phá bại , mũi dáo chĩa ra ngoài thì người ngoài hương chết ( Thôn ấp đối diện bị ) , chĩa vào trong thì tự gây sát thương . Bạch Hổ Tiêm , như bả bút , thiết kỵ tiêm tùy lưu thủy xuất , nhi tôn bả huyệt mại điền trang , phụ nữ tùy nhân đào tẩu thất . Bạch Hổ nhọn , như cầm bút , nhất thiết kỵ nơi mũi nhọn đó theo nước chảy đi , ứng con cháu bán nhà cửa ruộng vườn , nữ nhân thì bỏ nhà theo trai . Hổ sơn cao , sinh ác thạch , huyệt nội kiến thời chung bất cát , nhi tôn quải giáp khứ đầu quân , tất tại trung tử phòng trung xuất . Núi bên Hổ cao , sinh đá ác , huyệt nơi đó chẳng bao giờ tốt , con cháu lần lượt mặc giáp đầu quân , tất xuất từ con giữa . Long Hổ lưỡng bình chính , phú quý thiên nhiên định , Long Hổ tự lâu hang , điển tích phóng sinh tiền , Long Hổ lưỡng phân phi , phụ tử các đông tây . Long Hổ cân bằng chính đáng , sự phú quý do trời định , Long Hổ như lâu thuyền , chính là nơi sinh tiền của , Long Hổ chia làm hai đường , cha con không gần nhau . Long Hổ lưỡng trực xứ , nhi tôn tổn thê thất , Long Hổ lưỡng thuần hòa , tử tức tiện đăng khoa , Long Hổ lưỡng tiêm xạ , nhi tôn tao thụ đả . Long Hổ từ hai bên thẳng đến , con cháu hay bị tục huyền , Long Hổ đều thuần hòa , con cháu đều đỗ đạt , Long Hổ hai bên bị mũi nhọn chĩa vào nhau con cháu hay bị đánh đập . Long Hổ lưỡng đê lạc , mại điền vô khâu giác , Long Hổ lưỡng yêu đê , tử tức thụ cô quả , Long Hổ khuất khúc khứ , du thực lộ tử thị . Long Hổ hai bên thấp xuống mà tán loạn , bán ruộng vườn không còn một mảnh nhỏ , Long Hổ mà chỗ eo lưng thấp võng xuống , con cháu chịu cảnh cô quả , Long Hổ cong vẹo đến , chắc chắn đi kiếm ăn rồi chết đường chết chợ . Long Hổ tiêm xạ phần , nội phản tự gia truân , Long Hổ khi huyền vũ , tử tôn thường thụ khổ , Long Hổ lưỡng bài nha , phú quý đạt kinh hoa . Long Hổ chĩa mũi nhọn vào mộ phần , trong nhà có kẻ phản nghịch rất vất vả , Long Hổ coi thường Huyền Vũ , con cháu rất khổ , Long Hổ chầu như nha môn , phú quý thành đạt lớn . Long Hổ quyền đầu khởi , trùy hung ứng khốc tử , Long Hổ lưỡng giao thương , pháp tử mệnh tuthường Long Hổ như thùy chưởng , khất thực thường du đãng . Long Hổ như hai nắm đấm giơ lên đánh , ứng khóc con , Long và Hổ đấu nhau pháp chết phải đền mạng , Long Hổ như bàn tay đánh xuống , con cháu là đồ khất thực du đãng . Long Hổ lưỡng môn nha , đổ bác bất quy gia , Long Hổ tự liên châu , gia môn phú hữu dư , Long Hổ như qua hồ ,tư tài thường truy thủ . Long Hổ hai bên mở ra như chữ Y , cờ bạc không thèm về nhà , Long Hổ như chuỗi hạt châu , trong nhà giàu có dư thừa , Long Hổ như cái bầu , thừơng đeo duổi tiền tài vật chất . Long Hổ trực hạ khanh , thiếu tử nhập hoàng tuyền , hữu Hổ hựu vô Long , trưởng tử thụ cô cùng , hữu Long vô Hổ ứng , lộ tử mao tùng định . Long Hổ thẳng chúi xuống , hay có người chết non , có Hổ không có Long , con trưởng chịu cô đơn khốn cùng , có Long không Hổ ứng , nghèo rồi chết bờ chết bụi . Long trường Hổ trực xúc , mại điền tịnh mại ốc , Long đoản Hổ trực trường , mại ốc cập mại đường , Long bạn tam tiêm nhập , tam tử mệnh trung cấp . Long dài Hổ thẳng đến như khẩn cấp , bán hết ruộng vườn , Long ngắn Hổ thẳng dài , bán nhà dần để ăn , bên cạnh Long có ba mũi nhọn xâm hại . Con trai thứ 3 mệnh nguy cấp . Long bạn tam tiêm trường , tức phụ thụ tai ương , Long bạn sơn vi xuất , gia hữu thử đầu tặc , Hổ bạn kiến vi vi , thường bị tặc nhân khi . Bên cạnh Long là ba mũi nhọn dài , đàn bà trong nhà chịu tai ương , bên cạnh Long có ngọn núi nhỏ nhô ra , trong nhà có kẻ đào tường khoét vách , bên cạnh hổ thấy những thứ nhỏ nhỏ , thường hay bị lừa đảo . Hổ đê Long khuynh niêm , y thực kỳ gia bảo , Long miên Hổ khẩu cao , khẩu thiệt náo tào tào , Long tiêm lai xạ Hổ , thích diện tha hương khứ . Hổ cúi thấp Long nghiêng sát vào , trong nhà cái ăn cái mặc thật quý báu , Long ngủ Hổ há to miệng , hay có chuyện tranh cãi , Long nhọn bắn vào Hổ , bị thích chữ vào mặt đày nơi xa . Hổ tiêm xạ Long đầu , hoàn thị phối tha châu , Long ngoại nhất sơn tùy , dưỡng tử định gian phi , Hổ ngoại nhất sơn tùy , dưỡng nữ bị nhân mê . Mũi nhọn bên Hổ bắn vào Long , cũng bị phát vãng nơi xa , bên ngoài Long có một ngọn núi đi theo , con nuôi là kẻ gian phi , ngoài Hổ có một ngọn núi theo , con gái nuôi bị người ngoài quyến rũ . Thanh Long nhược trực khứ , đoán định mại điền cao , Hổ xuất tự đà thương , ám địa bị nhân thương , Long thượng tiêm bút khởi , tử tức đăng khoa đệ . Thanh Long đi thẳng , đoán là bán ruộng tốt , Hổ như ngọn thương đâm ngược trở lại , là đất xấu chủ người bị đâm lén , trên Long khởi lên như quản bút , con cháu đỗ đạt . Hổ thượng lưỡng tiêm phong , vô tử bả tôn củng , chỉ khả Long khi Hổ , bất khả Hổ khi Long , Long bạn trọng trọng khởi , trưởng nam đa phú quý . Trên Hổ có hai ngọn nhọn , không con phải để cháu cúng , chỉ tốt khi Long mạnh hơn Hổ , không tốt khi Hổ hơn Long , bên Long thế đi hùng dũng , trưởng nam rất giàu có . Hổ bạn điệp phong cao , tiểu tử tận anh hào , Thanh Long tùy Bạch Hổ , liên tịnh mại điền trang , Bạch Hổ cản Long hành , khả Hổ hữu dinh sinh . Bên Hổ trùng trùng ngọn cao , con nhỏ là kẻ rất anh hùng , Thanh Long theo sau Bạch Hổ dần dần bán hết điền trang , Bạch Hổ cản đường đi của Long , thì Hổ nào có thể mưu sinh . Long sơn hồi bão Hổ , tôn ty dâm dục sự , Bạch Hổ bão Long đầu , dâm dục bât tri tu , Thanh Long sinh ác thạch , trưởng tử tao ác tử . Núi bên Long quay lại bọc hết Hổ , trong nhà có sự dâm loạn tôn ty , Bạch Hổ ôm chặt Long đầu , dâm dục không biết xấu hổ , Thanh Long có đá dữ , con lớn chết dữ . Bạch Hổ đầu ngang tàng , tiểu vị chủ ôn hoàng , Long thượng khởi tiêm phong , trưởng tử kết tiền lung , Hổ thượng khởi tiêm phong , dưỡng nữ tự phù dung . Bạch Hổ đầu ngang tàng , tiểu vị ( con út ) chủ bệnh dịch , trên Long khởi mũi nhọn , con lớn có nhiều tiền , trên Hổ khởi mũi nhọn , con gái nuôi đẹp mà mất sớm . Thanh Long vi Cát Thần , nghi khởi khố nhi uyển duyên , Bạch Hổ vi hung Thần , nghi phủ phục nhi thuần phục , vô Long , yếu thủy nhiễu tả biên , vô Hổ , yếu thủy cư hữu bạn , tiên đáo hậu đáo ,loan hoàn bão huyệt , già tế nhập phong , vật linh xuy tán , sinh khí thủy giai , tự bản thân sinh xuất viên tịnh , nghịch thủy sáp thượng giả lực trọng , thuận thủy cung bão giả lực khinh , nghịch thủy bất kỵ hùng cường , thuận thủy tối hiềm nhược nhuyễn . Thanh Long là Cát Thần , nên di chuyền cần mềm mại , Bạch Hổ là Hung Thần , nên cần phải cúi đầu thuần phục , không có Long ,cần có thủy chảy vòng bên trái , không Hổ cần thủy ở bên phải , đến trước đến sau chảy rộng ra ôm bọc huyệt , che chắn để tụ gió , không khiến bị thổi tan đi , sinh khí thế mới tốt , tự bản thân sinh ra đẹp đẽ , nước đi ngược đến thì sức mạnh , nước đi thuận ôm vòng thì lực nhẹ nhàng , nươc đi nghịch không kỵ hùng mạnh , nước đi thuận không nên quá yếu . Thâp Cát Cách Viết ( Mười Cách tốt ) : Giáng phục tỷ hòa , tốn nhượng bài nha , đới ấn , đới kiếm , đới nha đao , giao hội khai tĩnh thị dã . Thập Hung Cách Viết ( Mười cách xấu ) : tương đấu , tương thôn , tương xạ , phi tẩu , thôi xa , chiết tí , phản bối , đoản súc , thuận thoán , giao lộ thị dã . Thêm có : Cao mạnh đè xuống trước mặt , chặt ngang lưng , ghét chủ phá toái , đá nham nhở thô thiển , gầy yếu giơ xương , cắm đầu xuống sông , ôm vào ụ đất , dưới nách gần sa nhọn , tất cả đều kỵ , bên tay Hổ còn sợ hơn . Thế Anh Sưu Tầm Lược Dịch ; Cụ Tri Tri Kiểm Duyệt Hiệu Đính !
-
Cảnh Giới Tối Cao Của Phong Thủy “Sơn Hoàn Thủy Bão , Tàng Phong Tụ Khí , Khí Tụ Hữu Tình” là cảnh giới tối cao mà Phong Thủy Học truy cầu , cũng là cái mà phong thủy luôn đề cao và nghiên cứu . Khí , không có gì là Thần Bí hay trừu tượng . Phong Thủy học bắt đầu từ Đại Khí , Không Khí . Không Khí lưu động thì thành ra gió , Trong Phong Thủy , nghiên cứu gió chính là để xem vì sao sản sinh tốt xấu . Vì sao trong lúc lưu động lại nảy sinh tốt xấu ? là vì có sơn xuyên hà nhạc ( Núi đồi sông suối ) . Không khí đí qua núi cao tất bị ngăn trở , thay đổi phương hướng và tốc độ . Gió bắc thì lạnh lẽo , gió năm nóng ẩm , lốc bão thì là quá mạnh mà sinh tai họa , đó là các kiến thức thông thường . Toàn Cảnh Thập Tam Lăng ( 13 Lăng Mộ Của Các Hoàng Đế Minh Triều ) Chúng ta sống trong các ngôi nhà cao tầng ( Chung cư ) cũng giống như núi cao , nó làm biến đổi phương hướng và tốc độ của gió , gió mang không khí đi vào theo cửa và cửa sổ ( Phong Thủy Học gọi là khí khẩu ) mà vào trong nhà , tạo ra ảnh hưởng đối với người và động vật trong nhà . Tốt xấu từ đó mà sinh ra . Trong Phong Thủy có hai khái niệm đối lập là “Vượng Khí” và “Suy Khí” , hai cái này cũng không có gì Thần Bí . Vượng Khí là khí tốt , Suy Khí là khí xấu tất cả đều do môi trường , thời gian tạo nên . Xem xong Phong Thủy cần cái biến vị trí cửa , cửa sổ cũng phương hướng , là để đón vượng khí vào mà thôi . Cho nên nghiên cứu phương vị mở cửa , cửa sổ chính là một vấn đề lớn của Phong Thủy Học . “Khí Thừa Phong Tán , Giới Thủy Tắc Chỉ” là một thuật ngữ quan trọng trong Phong Thủy . Ý nghĩa của nó là khi không khí chuyển động mà gặp sông biển thì dừng lại . Sông Biển chính là một nơi không khí ít khi tán rộng . Khí ở chỗ này ngưng tụ lại từ nhiều hướng khác nhau ( Đây cũng chính là nguyên nhân hình thành các vùng khí tập trung sản sinh ra bão , lốc ) . Chọn lựa tựa núi quay ra biển chính là một kinh nghiệm đúc kết trải qua nhiều đời . Nó phù hợp với nguyên tắc : “Sơn Hoàn Thủy Bão , Khí Tụ Hữu Tình” . Đề Có Được Phong Thủy Tốt Nên Theo Bốn Nguyên Tắc Lớn Như Sau : 1.Sảnh ( Phòng Khách ) Nên Lớn , Phòng Ngủ Nên Nhỏ . Phòng khách là nơi cả nhà hoạt động sinh hoạt suốt ban ngày , nên cần rộng rãi , thoáng mát . Còn phòng ngủ lại không nên quá lớn , bày vật không nên quá thưa thớt rời rạc . Không khí đương nhiên cần lưu thông , tuy nhiên nếu như 3 mặt đều có cửa sổ , nên đóng bớt lại . Vì như thế khí sẽ tán . 2.Không Nên Chọn Tầng Quá Cao . Không nên sống ở nơi cô lập trên cao , như ngày trước khi còn ít người xây nhà cao , có một số người xây nhà cao vưới xung quanh bốn bên , như thế Phong Thủy Học gọi là Cô Cao ( Cô đơn cao một mình ) . Cô tức là vị trí cô lập , không có chỗ tựa sau , không có chỗ dựa bên cạnh , không có bạn bè , không có sự giúp đỡ . Cao là quá ư nổi trội , chót vót , tất nhiên bị cô lập . Nhà bị Cô Cao sẽ không được che chắn , mưa gió trút vào , lại bị gió dữ . “Khí Thừa Phong Tác Tán – Khí gặp gió thì loãng ra” , mà khí tán sẽ phá tài , tổn thân , người và tài sản đều tổn thất , chỉ còn lại cô đơn , yếu ớt , dần dần biến thành tiêu điều , điêu linh . 3. Mô Thức Đẹp Chuẩn Của Phong Thủy . Khi lựa chọn nên chọn vị trí trung tâm , nơi đó sau lưng phải có núi , gọi là “Kháo Sơn – Tựa núi .” . Ở bên trái gọi là “Thanh Long” ; Bên phải gọi là “Bạch Hổ” . Trước mặt mở ra một khoảng lớn . Tốt nhất là một vùng đất rồi tiếp đến là một vùng nước trong xanh đẹp đẽ hữu tình , như thế gọi là “Minh Đương” . phía sau Minh Đường nến có núi . Gần gọi là “Án Sơn” xa gọi là “Triều Sơn” . Như thế là bốn núi vây quanh , ở giữa là đất bằng hoặc sông hồ , gọi là “Sơn Hoàn Thủy Bão” . Núi bốn bên che chắn , chặn luồng gió quá mạnh , bảo hộ cho những người sống trong nhà . Khí do núi cao đi xuống được vùng đất bằng phẳng hoặc vùng nước trước mặt ngưng tụ lại , trong mát , quyến luyến hữu tình . Chọn lựa một vùng đất như thế để ở tất nhiên sẽ có đủ Phúc Lộc Thọ Khang Ninh , phát Phú Phát Quý . 4 . Kháo Sơn Nên Là Vật Thể To Lớn Vững Chắc . Kháo Sơn ( Núi tựa phía sau nhà hoặc mộ huyệt ), còn có tên là “Tứ Nghĩa – Ban Ơn Nghĩa ” , tức là có vai trò rất lớn . Trong quan hệ giao tiếp với người khác thường là "Tựa trên quản dưới " cho nên đây chính là người đề bạt cho bạn , là người đứng phía sau bạn . Tả Thanh Long , Hữu Bạch Hổ , tức là trợ lực . Tức là thuộc cấp của bạn , hoặc trợ thủ , bạn bè . Minh Đường , đại biểu trước mắt . Án Sơn biểu tượng cho danh tiếng . Triều Sơn biểu tượng cho sự kính phục , cung phụng của người khác đối với bạn . Cũng đại biểu cho quý nhân đến với bạn . Cao một phân là Núi , thấp một phân là thủy . Trong Phong Thủy Học hiện đại lấy nhà cao làm núi, đường đi là thủy từ đó mà xem xét phán đoán Thế Anh.
-
- 2
-
-
Tâm Linh Không Tôn Giáo
Thiên Đồng replied to Thiên Đồng's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Ý nghĩa của Chân ngôn thần chú trong việc chữa lành Chân ngôn là một đơn âm hoặc chuỗi âm thanh đầy năng lực, những âm thanh này chứa đựng hàng loạt sóng âm ba và năng lượng. Khi trì tụng, chân ngôn không chỉ giúp tiêu trừ bệnh tật, phiền não, nghiệp chướng mà còn có năng lực kết nối, hợp nhất tâm chúng ta với những tầng tâm thức cao hơn. Chân ngôn hay thần chú như vậy là chìa khóa trực tiếp giúp hiển lộ vũ trụ pháp giới bên ngoài và bên trong, là công cụ nhanh chóng, nhẹ nhàng, hiệu quả để tiếp cận những kênh năng lượng linh thiêng từ các chiều tâm thức cao hơn. Công lực của chân ngôn phụ thuộc vào trạng thái thiền định và nội chứng của bạn và đặc biệt vào sự hướng đạo chỉ dẫn từ một bậc Thầy tâm linh giác ngộ. Chân ngôn thần chú là sự kết hợp của các chữ chủng tử linh thiêng phát ra những năng lượng tâm linh tích cực, một chân ngôn hay còn gọi là một Mantra không phải là lời cầu nguyện mà là bản chất sâu kín của thực tại nên đôi khi người ta trì tụng như là tán tụng. Trong tiếng Phạn, từ "Man" là "suy nghĩ", trong khi từ "Tra" có nghĩa là "giải phóng bản thân khỏi thế giới vật chất".Việc kết hợp nghĩa hai từ này tạo thành "Mantra" có nghĩa là tư tưởng được giải thoát và bảo vệ hay còn gọi là Bảo hộ tâm. Chân ngôn bí mật và linh thiêng diễn đạt những âm thanh và tinh túy năng lượng cơ bản để mang lại sự hài hòa của những yếu tố giữa thân và tâm.Trì tụng một chân ngôn đem lại năng lượng chữa lành kỳ lạ và giúp chúng ta đạt được sự cân bằng giữa thân và tinh thần, giống như thức ăn cung cấp cho cơ thể thì chân ngôn thần chú nuôi dưỡng chữa lành tâm hồn cho mỗi chúng ta. Theo cách này, chân ngôn chính là sự hỗ trợ tinh thần đầy năng lực, nó không chỉ là những âm thanh theo những quy ước mà là sự cộng hưởng những năng lượng nguyên sơ vi tế đã sẵn có trong mỗi chúng ta. Khi trì tụng chân ngôn sóng âm ba được cộng hưởng phát ra những năng lượng chữa lành nhẹ nhàng khắp thân tâm chúng ta. Diễn đạt dưới góc độ tâm linh, chân ngôn là phương tiện giao tiếp, kết nối của Bản Tôn, chư Phật và Bồ Tát với chúng sinh để có thể đem lại sự tịnh hóa nghiệp chướng và chứng ngộ cho hết thảy vạn loài hữu tình. Về cách thức, nói chung, người mới trì tụng chân ngôn đầu tiên nên trì tụng để nghe rõ âm thanh mình trì tụng để sóng âm ba của chân ngôn phát ra lan tỏa sâu hơn vào tim và cuối cùng chúng ta có thể an trụ trong sự an tịnh, để siêu thanh bên trong tự nhậm vận hoạt động. Trên quan điểm thực hành, điều này vô cùng quan trọng. Có một số chân ngôn mà chúng ta phải trì tụng lặng lẽ trong tự thân. Tuy nhiên, có một vài chân ngôn không được phép trì tụng nếu không được nhận quán đỉnh hoặc khẩu truyền từ bậc Kim cương Thượng sư. Trong trường hợp này, chúng ta cần đón nhận sự hướng đạo chính thức về cách sử dụng chân ngôn. Sở dĩ bậc Thầy tâm linh cần truyền trao chân ngôn thần chú cho đệ tử vì khi bậc Thầy giác ngộ tán tụng khẩu truyền cho đệ tử mình, cũng là ban truyền dòng ban phúc gia trì không gián đoạn để các đệ tử có năng lực gia trì và tiếp tục thực hành chân ngôn đạt được thành tựu. Nhờ vậy, năng lực và công đức tu trì chân ngôn sẽ tăng trưởng theo cấp số nhân. Trong thiền định Phật giáo, nhiều thứ có thể được sử dụng làm đối tượng của thiền định như hơi thở được sử dụng để nhiếp tâm tránh niệm, việc tỉnh giác lúc đi được sử dụng làm thiền định đi, những cảm xúc được sử dụng làm sự tập trung trong sự phát triển của lòng từ bi và quán tưởng hình ảnh và đối tượng được sử dụng trong việc thiền quán. Chân ngôn là âm thanh, từ hay cụm từ cũng được sử dụng là đối tượng của thiền định, âm thanh của chân ngôn có thể được trì tụng to hay trì tụng thầm. Chân ngôn liên quan đến các yếu tố lịch sử cụ thể hay các Bản Tôn nguyên mẫu hay cũng có thể không có liên quan những điều trên. Ví dụ chân ngôn liên quan đến Đức Phật lịch sử là: "Om muni muni mahamuni Shakyamuni svaha", chân ngôn liên quan đến Bản tôn Đức Avalokiteshvara Quán Thế Âm Bồ Tát là "Om mani padme hum", hay Chân ngôn Prajnaparamita Bát Nhã Ba la mật "Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha" không chỉ liên quan với một bậc giác ngộ mà còn với một bộ kinh nổi tiếng là kinh Bát Nhã ba-la-mật (trí tuệ hoàn hảo). Vô Úy -
Tứ tượng trong phong thủy hiện đại 16/11/2011 08:45 Phong thủy kinh điển sử dụng những hình ảnh đầy màu sắc để mô tả một thế đất đẹp, đó là khu đất hội tụ Tứ tượng: Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ và Chu Tước. Tứ Tượng hay tứ thánh thú là một khái niệm hình tượng trong triết học phương Đông, tượng trưng cho các con thú thiêng trong các chòm sao Trung Hoa cổ đại: Huyền Vũ của phương Bắc, Thanh Long của phương Đông, Bạch Hổ của phương Tây và Chu Tước của phương Nam. Hình thế núi cao ba bề gợi cho ta nhớ tới một chiếc “ghế bành”, biểu tượng của cuộc sống tiện nghi. Thế đất Tứ Tượng bao gồm: - Huyền Vũ (rùa đen) là trái núi phía sau ngôi nhà, lý tưởng nhất là nằm ở phương Bắc. - Thanh Long (rồng xanh) là ngọn đồi phía tay trái ngôi nhà, tốt nhất là nằm ở phương Đông. - Bạch Hổ (hổ trắng) là ngọn đồi phía tay phải ngôi nhà, nó phải thấp hơn đồi Thanh Long bên trái và núi Huyền Vũ sau nhà. - Chu Tước (chim sẻ đỏ) là gò đồi nhỏ trước mặt nhà, lý tưởng nhất là ở phương Nam. Nếu đứng từ trong nhà nhìn ra, Thanh Long ở bên trái, Bạch Hổ bên phải, Huyền Vũ ở sau và Chu Tước ở trước. Phong thủy hình thế dựa chủ yếu vào thế đất xung quanh ngôi nhà. Thế giới hiện đại đã khác xa thế giới của người xưa, cảnh quan thay đổi quá nhiều. Các thành phố đông đúc với những khu chung cư san sát mọc lên khiến người ta phải thay đổi cách luận giải và áp dụng lý thuyết phong thủy. Những tòa nhà cao tầng được xem như núi, đường cao tốc được nhìn nhận như sông. Hình thế của các căn hộ chung cư được xác định dựa theo vị trí của toàn bộ tòa nhà. Trong phong thủy hiện đại, thật khó tìm được thế Tứ Tượng lý tưởng. Tuy nhiên, các biện pháp sau đây có thể giúp bạn cải thiện phong thủy hình thế nơi bạn ở. - Huyền Vũ: Nền đất phía sau nhà phải cao hơn nền phía trước nhà. Xây một ụ đất giống như lưng rùa để tạo Huyền Vũ. Lý tưởng nhất là Huyền Vũ nằm ở phương Bắc của ngôi nhà. Rùa đen. Nếu không có cách nào tạo được mô đất nói trên, hãy treo một bức tranh rùa ở phần sau của ngôi nhà, hoặc tốt hơn nữa thì nuôi rùa ở vị trí này. Nuôi một con là đủ vì con số gắn với rùa là số 1. Rùa được cho là có thể mang lại vận may quý nhân phù trợ, sự trường thọ cũng như sự bảo vệ lâu bền. Nếu không có điều kiện nuôi rùa thì đặt một tượng rùa bằng đá hoặc bằng đồng cũng rất tốt. Kích hoạt Huyền Vũ là một trong những biện pháp quan trọng trong phong thủy. - Thanh Long: Rồng là biểu tượng mang lại may mắn. Trong phong thủy hình thế, việc chọn được thế đất nhấp nhô, nơi rồng trú ẩn, được coi là hết sức tốt lành. Nhìn từ trong ra ngoài, đồi Thanh Long nằm bên trái ngôi nhà. Nên bố trí để thế đất bên trái cao hơn bên phải. Rồng 4 móng Rồng 5 móng Rồng trú ngụ ở phương Đông. Nếu bạn không có điều kiện thay đổi môi trường bên ngoài thì có thể treo ảnh rồng trên bức tường phía Đông ngôi nhà hoặc đặt tượng rồng ở phía Đông phòng khách. Nên chọn rồng bốn móng, tránh rồng năm móng (chỉ dùng cho vua chúa), vì mức năng lượng quá lớn do rồng năm móng tạo ra có thể không phù hợp với bạn. - Bạch Hổ: Mãnh thú này cũng quan trọng không kém Rồng. Thanh long tạo ra cuộc sống tốt đẹp còn Bạch hổ lại giúp duy trì cuộc sống này. Đồi Bạch Hổ nằm bên phải ngôi nhà và nhất thiết phải thấp hơn đồi Thanh Long. Người ta tin rằng nếu thế đất bên phải cao hơn, Bạch Hổ mạnh hơn sẽ lấn át Thanh Long. Điều này cực kỳ nguy hiểm vì Hổ dữ có thể gây hại cho những người sống trong nhà. Bạch hổ - Chu Tước: Chim đỏ là biểu tượng của phương nam hay khoảng đất trống phía mặt tiền ngôi nhà. Khu vực này cần bằng phẳng, hoặc ít nhất là thấp hơn đất đằng sau, bên trái và bên phải nhà. Chu Tước được cho là mang lại cơ hội tiền tài vật chất. Treo tranh hoặc đặt tượng gà ở phía Nam phòng khách để kích hoạt Chu Tước. Vật lớn chặn trước ngôi nhà được xem như trở ngại với những công việc bạn đang thực hiện. Thành công sẽ tới một cách khó khăn. Tồi hơn nữa bạn có thể mất mát nặng nề. DiaOcOnline.vn - Theo Ngôi Sao =================================================== Để cho sự suy luận nhất quán và logich, Thiên Đồng tôi xin suy tiếp như sau: Phía Thanh Long nên nuôi con rồng, nhưng thời nay rông chắc không thể tìm nên do vậy thay bằng con kỳ đà, rồng Comodo, cá sấu. Hic nhưng mà cái này cỡ đại gia trở lên mới chơi được, dân thường thì...ngóc mỏ. Thôi thì thây bằng con rắn hay con...cuốn chiếu cũng được?! Phía Bạch Hổ cứ y theo...nuôi hổ! Cái này cũng cỡ đại gia trở lên trên mới nuôi được! Thôi thì thay bằng con tiểu hổ meo meo chắc cũng xong! Phía Chu Tước thì dễ quá! Nuôi con công...mà cái này cũng cỡ đại gia...trở ngược lên trên! Thôi thì thay bằng con...gà chắc cũng xong! Không phượng thì gà cũng được. Con nào xối mỡ cũng ngon mà! Ôi! Phong thủy hiện đại...hại điện quá đi! (nói theo giọng phim kiếm hiệp nha!) Hehe
-
KIM TỰ THÁP AI CẬP BÀI 2 :Các Kim Tự Tháp ở Ai Cập Biên Khảo : Đức Chính B.- Quần thể Kim Tự Tháp ở cao nguyên Giza: Cao nguyên này nằm ven thủ đô Cairo của Ai Cập, cách khoảng 25 km về hướng Tây Nam. Nguyên xưa nơi này có một thành phố cổ tên là Giza, bên bờ sông Nil. Nơi đây nổi tiếng với Kim Tự Tháp lớn Giza (tức Kim Tự Tháp Cheops) được coi là một trong 7 kỳ quan cổ đại của thế giới và tượng nhân sư khổng lồ. Điều đáng nói là 6 kỳ quan cổ đại kia không còn nữa và chỉ biết qua lời truyền tụng trong sách vở thì Kim Tự Tháp Giza vẫn sừng sửng như thách đố thời gian. Cao nguyên thung lũng[1] Giza 11 Kim Tự Tháp, 4 ngôi đền và 3 miếu đường. Đường vào khu vực này có 3 ngã. Ở đây chỉ giới thiệu 3 Kim Tự Tháp nổi tiếng của ba đời vua liên tiếp nhau: Khufu, con trai là Khafre và cháu nội Menkaure. 1.- Kim Tự Tháp Giza, tức Kim Tự Tháp Cheops: Kim Tự Tháp này còn gọi là Kim Tự Tháp Khufu vì được dựng lên để làm nơi an nghỉ cho vị vua này. Đây là Kim Tự Tháp cổ nhất và vĩ đại nhất trong số ba Kim Tự Tháp nổi tiếng ở quần thể này. Pharaoh Khufu là vị vua triều đại thứ 4. Theo truyền tụng ông đã huy động nhân lực xây dựng Kim Tự Tháp này mất 14-20 năm. Đó là thời gian vào khoảng những năm 2560 trước Công nguyên. Sự to lớn của công trình được thực hiện vào thời đại ấy quả làm chúng ta kinh ngạc. Kim Tự Tháp Khufu là công trình cao nhất do nhân loại dựng lên và vững tồn suốt 3800 năm nay. Người ta tin rằng kiến trúc sư của công trình là vị tể tướng (âm tiếng Ai Cập là vizier) tên là Hemon chỉ huy. Thuở ban đầu Kim Tự Tháp này cao 146,6 m, nhưng do bị xói mòn nên nay chỉ còn cao 138,8 m. Đáy của nó ghép 440 khối đá vôi, mỗi khối đá vuông vức 0,524 m. Người ta tính ra công trình này ngốn 5,9 triệu tấn đá vôi, chiếm thể tích 2.500.000 m3. Như vậy nếu thời gian dài 20 năm thì mỗi ngày sử dụng hết 800 tấn đá, chỉ khai thác và di chuyển bằng thủ công và công cụ thô sơ. Những khối đá này được đặt chồng lên nhau rất khít tạo thành một công trình rất chuẩn về mặt phương hướng theo tín ngưỡng Ai Cập cổ đại. Công trình nghiên cứu của nhà Ai Cập học Flinders Petrie kéo dài 2 năm liền (1880-82) cho thấy các Kim Tự Tháp và đền thờ ở vùng này dĩ nhiên có cả Kim Tự Tháp Khufu) đều trực chỉ về hướng chính Bắc với độ lệch 4 phút về hướng Tây. Lại nữa, các cạnh của đáy Kim Tự Tháp chỉ sai biệt nhau có 58 mm và lệch góc 1 phút độ. Điều này cho thấy vào thời đó trình độ đo đạc và định phương hướng của Ai Cập đạt trình độ rất cao. Mặt ngoài Kim Tự Tháp có lát một lớp đá bao làm nhẵn bề mặt nhưng thời gian đã làm bong tróc nhiều (ở hình 1 chỉ còn một phần trên chóp). Đặc biệt trận động đất lớn năm 1301 sau Công nguyên góp phần làm bong lở thêm rất nhiều. Các bố trí nội thất theo khuôn phép tín ngưỡng của Ai Cập cổ đại. Cũng có các hành lang, phòng Pharaoh, phòng Hoàng hậu, phòng ngầm và ống thông chỉa thẳng lên thiên cực bắc của bầu trời. Tuy nhiên theo truyền thống Kim Tự Tháp Ai Cập, phần lõi bên trong làm bằng đá di chuyển từ nơi khác đến. Phòng Pharaoh làm bằng thứ đá granite đỏ lấy tận vùng Aswan, đầu nguồn sông nil, cách đó trên 900 km. Howard Vyse ước lượng phòng này làm từ 8-9 khối đá granite đỏ có trọng lượng 25-80 tấn mỗi khối. Trong phòng có bệ quàn xác ướp vị Pharaih này. Phòng Hoàng hậu nhỏ hơn làm bằng đá vôi lấy tại chỗ. 2.- Kim Tự Tháp Khafre: Kim tự Tháp này cao 143,5 m, đáy có cạnh 215,25 m, độ nghiêng 53010’. Sử dụng 1.659.200 m3 đá (trung bình mỗi khối đá nặng 2,5 tấn) và xây dựng vào khoảng năm 2570 trước Công nguyên. Riêng phần đá ốp lát mặt ngoài ước tính đến 7 tấn. Khafre là con nối ngôi của Pharaoh khufu, anh của Djedefre, và ông chỉ trị vì Ai Cập có vài năm. Kim Tự Tháp này hơi nhỉnh hơn Kim Tự Tháp của tiên vương Khufu. Khi đương vị, Pharaoh này từng mơ ước xây một Kim Tự Tháp cho riêng mình cao lớn hơn cả của phụ vương, nhưng vì sớm băng hà nên không thể tự thân hoàn thành ý nguyện. Sau đó kiến trúc sư Chepren mới thực hiện, vì thế còn gọi là Kim Tự Tháp Khafre – Chepren. Thực ra đây là một cụm công trình gồm Kim Tự Tháp chính, Kim Tự Tháp phụ và một số công trình nhỏ khác như đền thờ, miếu đường, đường đắp, … Đi vào Kim Tự Tháp chính có hai lối làm chồng lên nhau. Lối vào phía trên cách mặt đất 15 m hiện hay dùng để vào tham quan bên trong. Một lối vào khác nằm ngay phía dưới giống như là lối ra vào dự phòng cho lối vào phía bên trên, nhưng con đường này dẫn thẳng đến phòng quàn xác ướp Pharaoh. Các lối vào này được phát hiện vào khoảng thế kỷ 13-17 sau Công nguyên, nhưng vào đến tận các gian phòng phải đợi đến năm 1818, nhờ công của Giovanni Belzoni. Ông đã khám phá ra một chiếc quách làm bằng đá granite hồng (2.62×1.06m) nhưng trống rỗng không có xác ướp, tương tự trường hợp của Kim Tự Tháp Khufu. Hiện chỉ khám phá ra 2 phòng trong Kim Tự Tháp này. Một phòng ngầm sâu dưới đất, khoét vào tầng đá gốc. Còn phòng kia xây ngay trên tầng đá gốc. Phòng thứ nhất có lẽ dùng để chứa lễ vật cúng kiếng như những Kim Tự Tháp khác; phòng thứ hai có lẽ dùng quàn xác ướp Pharaoh vì trong đó có một chiếc quách bằng đá granite đen[2]. Bên ngoài Kim Tự Tháp ốp đá granite hồng vùng dưới và đá vôi Turah ở phía trên. Tuy nhiên các lớp ốp bị bong nhiều do các trận động đất trong quá khứ. Cấu trúc nội thất tương tự như Kim Tự Tháp Khufu. Bên cạnh Kim Tự Tháp chính có Kim Tự Tháp nhỏ dành cho việc cúng kiếng. Kim Tự Tháp nhỏ này hầu như đã bị phá hủy toàn bộ, chỉ còn vết tích cho thấy nó từng tồn tại. 3.- Kim Tự Tháp Menkaure: Pharaoh Menkaure quyết định xây dựng Kim Tự Tháp cho mình tại cao nguyên Giza khi thấy vùng an táng Memphite tỏ ra chật hẹp. Lúc đầu Diodorus Siculus mô tả Kim Tự Tháp này và gọi là Kim Tự Tháp Mykerinos; mãi đến sau năm 1837 Vyse, người thăm dò sâu vào lòng kiến trúc này, đặt lại là Kim Tự Tháp Menkaure. Ban đầu Kim Tự Tháp Menkaure cao khoảng 65-66 m, tức koảng 1/10 khối lượng xây dựng Kim Tự Tháp Khufu thôi. Nhưng cũng như các Kim Tự Tháp khác, nó cũng có ngôi đền riêng và được dẫn vào Kim Tự Tháp bằng một con đường đắp cao lên. Đặc điểm của công trình này là lớp đá lót móng được chọn lựa kỹ, nhất là ở góc Đông-Bắc Kim Tự Tháp. Lớp nền này dày gấp 2,5 lần Kim Tự Tháp của phụ vương Khafre. Cũng khác với truyền thống xây dựng Kim Tự Tháp, phần lõi dùng đá địa phương thay vì đá từ nơi xa mang đến (chỉ ốp đá mang từ xa về). Duy chỉ lớp đá ốp lát là granite hồng mang từ Aswan về, nhưng lại không mài nhẵn hòan toàn và chỉ ốp cao 15 m. Bố trí lối vào cũng có hai lối đi trên và dưới; lối đi phía dưới kết thúc ở phòng chứa đồ thờ cúng và lối còn lại vào phòng Pharaoh. Ngoài ra còn phải kể có một lối đi khác không dùng đến nối phía dưới tiền sảnh. Cũng khác với cha và ông nội Khufu, buồng quàn hình chữ nhật theo hướng Bắc Nam, ốp đá granite hồng (thay vì nguyên khối). Vách phía Tây phòng Pharaoh có cái quách bằng đá basalt và trên vách trang trí hình ảnh thần Anubis. Cũng khác với Kim Tự Tháp của ông nội và cha, công trình này không có hố thuyền. Ngược lại làm riêng một Kim Tự Tháp nhỏ cho Hoàng hậu. Vị Pharaoh này có 3 Hoàng hậu nên xây 3 Kim Tự Tháp. Kim Tự Tháp Hoàng hậu 1 có độ cao ban đầu 28,4 m, độ nghiêng 52015’. Chu vi đáy 44 m. Kim Tự Tháp Hoàng hậu 2 có chu vi đáy 31,24 m và Kim Tự Tháp Hoàng hậu 3 có chu vi đáy 31,24 m. Những Kim Tự Tháp này có hình bậc thang. (còn tiếp) Xin vui lòng liên hệ với tác giả Đức Chính : [1] Gọi là thung lũng không chính xác nhưng tạm dùng theo thói quen dịch sai của người đi trước. Các tài liệu nước ngoài hay dùng từ “valley” chỉ vùng này. Thực tế từ “valley” vừa có nghĩa thung lũng vừa có nghĩa là lưu vực một con sông lớn duy nhất. Khi lưu vực đó bao gồm nhiều con sông nhánh tẻ ra từ con sông cái người ta dùng từ “basin” (như trường hợp sông Amazon hay sông Cửu long). Vùng Giza này nằm bên bờ sông Nil nên thuộc lưu vực sông Nil, chứ không phải thung lũng sông Nil (thung lũng theo nghĩa tiếng Việt là vùng thấp giữa các dãy núi) Tương tự như vậy chúng ta sẽ gặp từ Thung Lũng Các Vì Vua (đúng ra là Lưu Vực Các Vì Vua). Lí do tiếng Anh và tiếng Pháp (vallée) dùng từ này để chỉ thung lũng lẫn lưu vực 1 con sông là vì các thung lũng thường có duy nhất 1 con sông nhỏ chảy qua. Do vậy với vùng đồng bằng có 1 con sông duy nhất tưới tiêu họ dùng từ “valley’ thay cho “basin”. Để tránh cho bạn đọc khỏi bỡ ngở tôi vẫn tiếp tục dùng sai “thung lũng Giza”. [2] Nói là có lẽ vì phìng thứ 1 không có các kệ hốc để đồ thờ cúng như các Kim Tự Tháp khác, còn quách phòng thứ 2 không có xác ướp. http://khanhhoathuynga.wordpress.com
-
Pháp tùy hỷ Này Cỏ May, ta có pháp Di Lặc. Rong chơi 4 mùa mà vẫn làm lợi lạc cho chúng sanh. Đi khắp nhân gian mà vẫn vô quái ngại, tùy duyên mà thọ hưởng cái thú vị ẩn tàng trong sự sự việc việc. Chẳng có việc chi là nghiêm trọng cả, đều là trò chơi của Thượng Đế sắp đặt để vui đùa đấy mà. Cho dù là Ma Quỉ vẫn theo ta nô đùa từ bỏ việc phá hại chúng sanh. Hề hề. . .Vẫn có người ác, và Quỉ ác theo phá hoại nhưng chẳng qua chỉ để làm nổi rõ cái tâm thiện, tâm từ, cái lòng vị tha vô ngã chẳng chấp chẳng trụ của người tu. Thành bại, vinh nhục, được mất, có không. . . .đối với ta đều là vô nghĩa, bởi chẳng ích gì khi rong chơi vô sở cầu, tùy duyên mà nô đùa cùng loài người, Thánh Thần và Ma Quỉ. . . .hì hì. . . . Ta chẳng cần phát công trị bệnh, chỉ cùng ta chơi đùa, uống trà, bỏ qua phiền giận, tùy hỷ với kẻ khác thì tự nhiên có được sức khỏe. . . .Ta chẳng cần kiếm tiền, vì chúng sanh luôn mời ta ăn, đi chơi và chỗ ở để được sức khỏe và niềm vui không nguyên nhân. . . . Ta không bị bệnh. Mà dù có bệnh thì đi chơi tự nhiên hết, không hết thì luyện công sẽ hết, luyện công không hết thì uống thuốc, uống thuốc không hết thì kệ mẹ nó, chứ chẳng có chi mà buồn lo. Bởi ai mà không chết, không bệnh. . .vấn đề là không khổ vì nó thôi. Hề hề. . . Ta có pháp Di Lặc nên tự nhiên được vậy. Cái gì mà chẳng là trò chơi Nếu thấy công việc chỉ là công việc thì địa ngục Nếu thấy công việc chỉ là trò chơi đầy thú vị, ngươi đang ở trên thiên đàng Làm là chơi Tu cũng chỉ là trò chơi Mà thành Phật cũng để chơi thôi mà Đừng nghiêm trọng hóa vấn đề Hề hề. . . Ông Mập /Ban Mê/9/3/2011
-
Huyền thoại - linh thiêng Phủ Tây Hồ Men theo con đường rợp bóng cây cuối khu biệt thự Tây Hồ ở thủ đô Hà Nội, giữa bát ngát hương sen và cảnh đất trời hòa quyện trong ánh nắng chiều tà, doi đảo nhỏ được người xưa ví là “bãi đất cá vàng” nhô ra giữa mặt nước lung linh, đúng là cái thế “đầu rồng, thân rồng, rùa cõng” khiến khách vãn cảnh cảm thấy âm dương đối đãi, tâm hồn mình thư thái lạ. Vượt qua cổng Phủ Tây Hồ sừng sững bên cây đa cổ, con đường vào phủ uốn lượn theo mép hồ lơ thơ liễu rủ lại đưa bước chân du khách tới hai cây vối lớn hiếm thấy và một cây si cổ thụ ngay trước cửa Động Sơn Trang, vươn những chùm rễ đại ra mặt nước cho chim chóc đua nhau về làm tổ. Cảnh đẹp nên thơ ấy là một trong những lý do khiến Phủ Tây Hồ luôn thu hút khách thập phương đến bằng đường bộ cũng như bằng đò trên hồ Tây. Truyền thuyết về công trình văn hóa tín ngưỡng được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia này cũng là điều khiến không ít du khách trầm trồ tán thưởng. Sự tích vị Thánh Mẫu thờ trong Phủ Tây Hồ được người dân tổng Thượng, huyện Phụng Thiên xưa (nay là vùng Yên Phụ, Nghi Tàm, Tây Hồ, Quảng Bá, Xuân La, Vạn Dâu) kể lại rằng: Quỳnh Hoa là con gái Ngọc Hoàng thượng đế ở Đệ nhị Thiên Cung, do đánh rơi chén ngọc dâng rượu chúc thọ đã phải xuống trần gian đầu thai làm Giáng Tiên - con gái thường dân Lê Thái Công ở An Thái - Vân Cát - Vụ Bản - Nam Định vào năm 1557. Lớn lên, có nhan sắc tuyệt trần, lại giỏi thi thơ, song lấy chồng và sinh con - một trai, một gái - thì Giáng Tiên về trời. Nàng giáng trần lần thứ nhất để gặp lại người thân, có hai nữ thần Quế Nương, Thị Nương hậu vệ; lần hai hiển linh để cứu nhân độ thế, trừng phạt kẻ bất lương trêu ghẹo người này, lại gia ơn cho kẻ khác và du ngoạn khắp chốn danh lam, giáng bút đề thơ. Có truyền thuyết kể rằng chính tại mảnh đất Phủ Tây Hồ ngày nay, Quỳnh Hoa đã tái ngộ xướng họa thơ văn cùng Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (lần thứ nhất đàm đạo tại xứ Lạng) trong vai cô chủ quán tửu lâu Tây Hồ phong nguyệt, ít ngày sau Trạng Bùng quay lại đã thấy biến mất cả người lẫn quán, chỉ còn hồ nước mênh mông. Quỳnh Hoa đã được dân chúng lập phủ thờ, đặt tên là Bà Chúa Liễu Hạnh, được xem là một trong bốn vị “tứ bất tử”, là tấm gương về sự tự mình tạo lấy hạnh phúc. Bà Chúa Liễu Hạnh theo quan niệm dân gian đã trở thành một mẫu quyền năng vô lượng và phân thân, hóa thân thành các thần linh cai quản muôn mặt của vũ trụ: Mẫu Cửu Thiên Huyền Nữ cai quản trên trời, Mẫu Thượng Ngàn cai quản núi rừng, Mẫu Thủy (hay Mẫu Thoải) cai quản trên sông biển, thể hiện sự ngưỡng mộ chân thành, coi trọng vai trò của người mẹ. Theo KTĐT, http://quehuongonline.vn
-
Cổ tự Viên Đình và những xá lợi bí ẩn Theo giadinh.net.vn GiadinhNet - Từ xa xưa, chùa Viên Đình (Đông Lỗ, Ứng Hoà, Hà Nội) đã nổi tiếng là ngôi cổ tự linh thiêng. Từ xa xưa, chùa Viên Đình (Đông Lỗ, Ứng Hoà, Hà Nội) đã nổi tiếng là ngôi cổ tự linh thiêng vì được xây dựng trên nền đất có hai cây duối khổng lồ. Ngày nay, Viên Đình được biết đến nhiều hơn bởi đây là nơi còn giữ được gần như nguyên vẹn những nét kiến trúc cổ xưa và quả chuông đồng ngót ngét nghìn năm tuổi. Hơn thế nữa, đây cũng là chùa duy nhất Việt Nam có rất nhiều xá lợi Phật và xá lợi thánh tăng. “Thần mộc hộ quốc” Chúng tôi tìm về Ứng Hoà trong những ngày Hà Nội nhuốm sắc thu. Những cơn mưa xối xả như muốn lau sạch mọi bụi bặm, nóng bức của mùa hạ. Ngôi chùa nằm sát ngay làng đàn Đào Xá – làng có truyền thống làm các loại đàn nổi tiếng của miền Bắc. Hướng mặt ra cánh đồng bát ngát màu xanh của thôn Viên Đình, tổ đình Vĩnh Long (một tên gọi khác của chùa Viên Đình – PV) nằm khép mình dưới những hàng cây sanh đại thụ. Ở đây hoàn toàn không có những hàng cột sơn son thiếp vàng, không có những toà tiền đường đỏ thắm màu ngói... Tĩnh lặng trong tự tại là những hàng cột gỗ cũ kỹ, mái chùa cũng cong vút đầu đao xỉn màu rêu và những toà tiền đường nối tiếp nhau trầm mặc. Viên Đình được xây dựng từ thời nhà Lý nhưng vẫn giữ được nguyên vẹn kiến trúc cổ xưa. Ảnh: TG Theo đại đức Thích Chơn Phương – trụ trì chùa Viên Đình: Chùa được một vị vua nhà Lý cho xây dựng ở đây là bởi nó gắn liền với sự tích về hai cây duối. Chuyện kể rằng, vào đầu thời nhà Lý, để phát triển đạo Phật, đích thân nhà vua đã vi hành đến những vùng quê để tìm thế đất xây chùa. Khi đi đến vùng đất này, nhìn thấy hai cây duối đại thụ đứng cạnh nhau, mang dáng dấp của một cặp “vợ chồng” rồng rất lạ (chính vì thế mà chùa còn có tên là tổ đình Vĩnh Long – phát thịnh lâu dài hoặc bay lên như rồng- PV), vua bèn cho xây dựng chùa trên nền đất có hai cây duối và sắc phong cho cặp duối đại thụ này là “Thần mộc hộ quốc”. Sau khi chùa xây dựng xong, nhà vua còn cho đúc quả chuông đồng nặng hơn hai tấn và khắc lên đó một bài minh. Theo dân gian: Đầu thế kỷ XV (vào thời Hậu Lê – PV), trên vùng đất Đông Lỗ đột nhiên xuất hiện nhiều yêu ma về càn quấy khiến cho cảnh sống nơi đây trở nên tiêu điều, xơ xác. Nhiều người dân vì quá sợ hãi đã phải bỏ làng, bỏ xứ đi nơi khác. Một đêm, trong làng có người thanh niên tên Huỳnh Huệ nằm mơ thấy một vị thần báo mộng cho biết, chỉ có tiếng chuông trong chùa Viên Đình mới có thể đuổi hết yêu ma. Từ đó, tiếng chuông chùa liên tiếp được ngân vang mỗi khi người dân trong vùng bị nhiều sự không may ập đến. Người thanh niên Huỳnh Huệ cũng đã xuống tóc tu ngay tại chùa Viên Đình, hầu mong trả nghiệp duyên với cuộc đời. Trải qua bao biến đổi thăng trầm của thời gian, hai cây duối đại thụ và quả chuông ngàn tuổi vẫn còn nguyên vẹn ngay trong khuôn viên của chùa. Nhờ nhân duyên đưa đẩy, đến năm 2002, đại đức Thích Chơn Phương được được cử về làm trụ trì tại chùa và cũng từ đây, mối lương duyên giữa ngôi chùa cổ với những hạt xá lợi được cho là hiện thân của đức Phật, của thánh tăng... được nối dài thêm. Để chưa đầy 10 năm sau, đã được Trung tâm kỷ lục Việt Nam tôn vinh: Đây là ngôi chùa duy nhất ở Việt Nam có nhiều xá lợi Phật nhất. Toàn cảnh tủ thờ 30 bảo tháp chứa xá lợi đức Phật và xá lợi các vị thánh tăng ở chùa Viên Đình. Đại đức Thích Chơn Phương bên bảo tháp chứa xá lợi do ngài Tăng thống Myanma cúng dường. Những viên xá lợi kỳ bí Dẫn chúng tôi đến bên tủ kính có những bảo tháp chứa xá lợi đức Phật, đặt ở ban thờ các vị tổ sư, Đại đức Thích Chơn Phương mỉm cười hiền từ bảo chúng tôi ngắm cho thật kỹ. Nhìn những bảo tháp lung linh với muôn hình dáng, bên trong là những xá lợi to nhỏ đủ kích thước và màu sắc, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng. Có những xá lợi như hạt sỏi nhưng lại nặng và rất cứng. Có những xá lợi tròn như hòn bi nhưng đặt xuống một tờ giấy phẳng lại chỉ đứng một chỗ chứ không lăn đi. Có những viên tưởng chừng đặt lên lòng bàn tay sẽ rất dễ dàng, ấy vậy mà không dễ cầm được... Trong hơn 30 bảo tháp, mỗi tháp chứa hàng chục đến hàng trăm xá lợi to nhỏ khác nhau. Khi tôi hỏi về những viên xá lợi, Đại đức chia sẻ: “Tất cả những xá lợi mà chùa có được tôi không hề xin, cũng không gợi ý, hoàn toàn do các tăng ni phật tử tự nguyện phát tâm...”. Đại đức Thích Chơn Phương kể, mối lương duyên với những “báu thân” của đức Phật được bắt đầu kể từ lần hành hương thăm đất Phật Ấn Độ đầu tiên vào năm 2003. Trong lần đi ấy, Đại đức đã có duyên kỳ ngộ với hoà thượng Thích Huyền Diệu – Chủ tịch Liên đoàn Phật giáo thế giới, trụ trì Việt Nam Phật Quốc Tự tại Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ - Nepal. Sau khi đã tường tận về nguồn cội thiêng liêng của cổ tự Viên Đình, hoà thượng Thích Huyền Diệu đã phát tâm Bồ Đề cung tiến một viên xá lợi của đức Thích Ca Mâu Ni cho đại đức Thích Chơn Phương. Đây là một trong những viên xá lợi hiếm hoi được thỉnh từ Nepal – từ chính 8.400 báu thân của đức Thích Ca Mâu Ni khi ngài hoá diệt. Duyên kỳ ngộ Khỏi phải nói cảm giác vui mừng đến tột độ khi nhận được báu vật linh thiêng này “Lễ đón nhận xá lợi hôm đó được bà con Phật tử hoan hỷ tổ chức lớn chưa từng thấy. Đây là phước duyên lớn lao mà không phải ngôi chùa nhỏ nào cũng có được. Xá lợi này hiện đang được tôn thờ trong ngôi bảo tháp lớn nhất của chùa” – đại đức Thích Chơn Phương chia sẻ. Sau đó, Hoà thượng Thích Huyền Diệu cũng đã đích thân về thăm chùa và tặng chùa thêm một cây bồ đề lấy từ Ấn Độ. Như được khởi duyên, trong vòng chưa đầy 10 năm, đại đức Thích Chơn Phương đã có dịp đi tới 54 quốc gia trên thế giới. Ngay cả những đất nước có Phật giáo phát thịnh như: Nepal, Sry Lanka, Ấn Độ, Myanmar, Mỹ, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản... ngài cũng đã đi tới mấy lần. Và lạ kỳ thay, những lần đến những nơi này, Đại đức đều được các quý thầy hoặc Phật tử tự nguyện phát tâm cúng dường xá lợi. Cho đến nay, chùa Viên Đình đã có hơn 30 tháp xá lợi Phật, xá lợi các bậc A la hán và xá lợi Thánh tăng... do 8 nước cúng dường với 9 lần nghinh đón. Trong số xá lợi chùa hiện có, có cả xá lợi máu, xá lợi não, xá lợi xương, xá lợi tóc... Chỉ vào những hạt ngọc tròn trĩnh, long lanh chứa trong bảo tháp, Đại đức cho hay: “Theo kinh Phật, xá lợi là hiện thân của đức Phật và các vị thánh tăng đắc đạo, chính vì vậy xá lợi rất nhiệm mầu. Xá lợi sẽ tự bay đi nếu đến nơi nào đó không hợp duyên và xá lợi sẽ tự sinh sôi hoặc chuyển hoá màu sắc nếu công năng tu tập nơi đó rốt ráo. Kỷ niệm đáng nhớ, ngoài lần đầu tiên được nhận xá lợi thì với đại đức Thích Chơn Phương, chính là một lần ngài vào TP Hồ Chí Minh tham dự một pháp hội thì được công chúa Thái Lan cúng dường y pháp và sau đó được chính công chúa cùng đoàn tuỳ tùng thỉnh xá lợi từ Thái Lan mang về tận chùa cúng dường. Cùng với xá lợi, công chúa Thái Lan còn cúng dường một pho tượng Phật ngọc dát vàng. Ngay cả ngài Tăng thống Myanmar cũng đã từng về viếng thăm chùa ba lần. Lần cung nghinh xá lợi gần đây nhất là lần đại đức qua Butan để được truyền trao thụ quán đỉnh A xà lê. Khi chuẩn bị về nước thì lại có một quý thầy phát tâm cúng dường ngọc xá lợi. Như vậy, tính sơ sơ mỗi năm chùa lại có cơ duyên được cung nghinh xá lợi đức Phật một lần. Hà Tùng Long
-
- 1
-
-
Tư liệu tham khảo: Giải Mã Bí Ẩn Phong Thủy Kinh Đô Ánh sáng Paris Thứ ba, 03 Tháng 5 2011 00:08Hình thành từ rất sớm, nhanh chóng trở thành kinh đô của nước Pháp rồi sau đó là trung tâm văn hóa, nghệ thuật của cả châu Âu trong suốt nhiều thế kỷ, cũng chẳng phải ngẫu nhiên người ta gọi Paris bằng mỹ từ "Kinh đô ánh sáng". Thế nhưng có lẽ ít người biết rằng, sự hưng thịnh ấy có một mối liên hệ sâu xa với sự lựa chọn vị trí và cách thức quy hoạch của kinh đô nước Pháp... 1. Có thể nói, trên thế giới khó có thành phố nào có thể sánh kịp với Paris. Dù cho trí tưởng tượng của bạn phong phú tới mức nào thì một khi bạn đã bước chân vào thành phố này, bạn sẽ bị sức quyến rũ của nó hớp hồn. Còn những người nào từng đến Paris, hẳn sẽ không còn cảm thấy kỳ lạ với cảnh thiên đường nữa, vì rằng những gì thiên đường có thì Paris cũng có. Từ trước khi quốc gia Pháp được thành lập, đã có Paris cổ đại, đó chẳng phải là điều ngẫu nhiên. Paris vốn là vùng đất đế vương, với dãy núi Apls uốn lượn bao quanh và dòng sông Seine chảy xuyên qua nước Pháp, cũng là xuyên qua Paris, biến nơi đây trở thành trung tâm của các hành trình thương mại đường thủy lẫn đường bộ. Khi Henry IV thiết lập quan hệ hôn nhân với dòng họ Medici thì sức mạnh của Florence đến Paris. Rồi sự hùng mạnh của vua Louis XIV sau đó đã đem đến một sức sống mới cho Paris. Điện Versailles trở thành tượng trưng của đế chế quân chủ Pháp đồng thời cũng trở thành trung tâm văn hóa nghệ thuật của châu Âu. Cuối cùng là vị Hoàng đế vĩ đại Napoleon, người đã làm chủ cả châu Âu, đồng thời đem về Paris vô số những tác phẩm nghệ thuật tinh túy nhất của châu lục này, biến Paris trở thành thành phố mỹ lệ bậc nhất thế giới. Trong vòng 300 năm qua, dù thế giới có biến đổi thế nào thì người ta vẫn không thể không nhắc tới Paris như một phần trung tâm của thế giới. Paris không chỉ là một thành phố mà với người Pháp nó còn là một biểu tượng. Một thành phố muốn phát triển có thể không dựa vào núi nhưng nhất định phải gần nguồn nước. Nước là máu của mạch đất, huyết mạch phải ngày đêm tuôn chảy thì mới đem lại nguồn năng lượng nuôi dưỡng sự phát triển của thành phố. Không có nước, một thành phố khó có thể tồn tại được. Nếu như thành phố có một con sông chảy xuyên qua trung tâm của nó thì thành phố ấy càng là nơi hội tụ linh khí. Đặc biệt là khi con sông này lại bắt nguồn từ một ngọn núi thiêng, nơi bắt nguồn của dòng nước thánh thì thành phố đó càng may mắn hơn. Dòng sông Seine chảy xuyên qua lòng Paris chính là một dòng sông như vậy. Và đương nhiên, thành phố may mắn đó chính là Paris. Hay nói cách khác, sông Seine không chỉ là biểu tượng của Paris mà còn là nguồn gốc của vận đại cát của thành phố hoa lệ này. Từ thời xưa, Paris hình thành và phát triển cũng bắt đầu từ hai bên bờ dòng sông Seine nổi tiếng này. Khi chảy qua Paris và chảy vào vùng Normandie, các thung lũng sông bắt đầu được mở rộng ra, đó cũng là khi dòng sông Seine gặp sông Marne chảy từ phía đông Paris. Từ xưa, sông Seine đã trở thành con đường giao thông huyết mạch, thuyền bè qua lại suốt năm. Đường giao thông trên sông Seine có thể thông với sông Rhine, sông Rhone,... biến Paris trở thành trung tâm của giao thông đường thủy ở châu Âu. Lượng hàng hóa vận chuyển trên sông Seine luôn đứng đầu cả nước Pháp. Người ta thường nói nước là biểu tượng của tiền tài, nguồn nước vượng thì tài lộc thịnh. Có lẽ chính vì thế Paris mới trở thành trung tâm về kinh tế của cả nước Pháp. 2. Từ phía đông nam của bồn địa, sông Seine chảy theo hướng tây bắc, đến vùng bằng phẳng ở giữa bồn địa Paris, dòng sông chảy chậm lại, uốn lượn thành hình cung lớn xuyên qua trung tâm của Paris. Thành ra, sông Seine vào Paris theo hướng đông nam, sau đó chảy theo hướng tây bắc, rồi chuyển dần theo hướng tây nam và ra khỏi Paris theo hướng này. Chính vì thế, người Paris có một thói quen bất biến từ trước tới nay là gọi bờ phía bắc của sông Seine là hữu ngạn còn bờ nam sông Seine là tả ngạn. Cách gọi này trùng khít với cách định hướng trong phong thủy truyền thống: Đứng tại bờ sông, mặt hướng theo dòng chảy con sông, tay phải gọi là hữu ngạn, tay trái thì gọi là tả ngạn. Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét kết cấu phong thủy của Paris thông qua hai khu vực theo cách phân chia này. Tả ngạn sông Seine là một khu vực hình cánh quạt nằm bên bờ trái con sông. Nó bao gồm khu vực 6 của Paris, nơi tập trung những di tích cổ kính nhất của Paris từ thời sơ khởi. Đó là nơi tập trung những phần tinh hóa văn hóa của Paris hoa lệ, nơi sản sinh và nuôi dưỡng văn học, triết học, nghệ thuật và cả cách mạng. Cho tới nay, lịch sử huy hoàng của khu vực tả ngạn vẫn khiến nó giữ một địa vị cực kỳ quan trọng về văn hóa và nghệ thuật. Hữu ngạn sông Seine là nơi tập trung những cửa hàng cao cấp, các ngân hàng, tập đoàn tài chính, các công ty bảo hiểm, các sàn giao dịch chứng khoán,... Nếu như bờ trái là trung tâm của văn hóa và nghệ thuật thì bờ phải con sông chính là trung tâm thương mại không chỉ của người Paris, không chỉ của người Pháp mà còn là của cả châu Âu. Đây là thiên đường mua sắm của các ngôi sao nổi tiếng thế giới. Vẻ phồn hoa, đô hội và ưu nhã của khu hữu ngạn sông Seine có thể nói là khó có nơi nào trên thế giới bì kịp. Với Paris, sự phân chia tả ngạn hữu ngạn không đơn thuần là sự phân chia về mặt địa lý, nó còn mang ý nghĩa tượng trưng. Tả ngạn và hữu ngạn, hai khu vực mang hai đặc điểm hoàn toàn khác nhau, một giàu truyền thống, cổ kính tới mức kinh điển, một lại xa hoa, hiện đại khó có nơi nào bị kịp, một âm, một dương, cả hai đều vị sự tồn tại của khu vực còn lại mà tự nỗ lực phát triển. Thiếu một trong hai, Paris sẽ không còn là một Paris theo đúng nghĩa nữa. Trong quan niệm phong thủy của người Trung Quốc xưa có nói đến một quy luật, đó là "hữu giang vi cát", nghĩa là nằm ở bờ phải của con sông thì là điều lành. Trên thực tế, cây cỏ ở bờ phải con sông thường phát triển rất tươi tốt, đó là nơi thích hợp để chăn nuôi. Còn bờ trái con sông thường cây cỏ không phát triển tốt như bờ phải, thành ra những gia súc sinh trưởng ở khu vực này thường gầy gò, ốm yếu. Nghĩa là, cùng trên một con sông, nhưng bờ phải là nơi thích hợp hơn cho sự định cư sinh sống của con người. Điều này cũng có nghĩa là so với bờ trái thì bờ phải sẽ mang lại cho con người sự giàu có, cuộc sống sẽ thoải mái hơn. Nhưng cuộc sống cũng không đơn thuần chỉ có vật chất mà còn có tinh thần. Chính vì vậy, nếu như bờ phải mang lại cho con người cuộc sống vật chất giàu có thì bờ trái mang lại cho con người sự giàu có về tinh thần. Đó có lẽ là lý do mà khu vực bờ trái sông Seine lại là nơi văn hóa rất phát triển. 3. Nếu đi bộ trong thành phố Paris, sẽ có một cảm giác rất rõ ràng, rằng tất cả những con phố đều thông với đường lớn, tuy nhiên, đường thẳng lại rất ít. Kỳ thực, đây chính là điểm độc đáo và lãng mạn của Paris. Cho đến nay, Paris vẫn phát triển theo kết cấu hình bầu dục hình thành từ thời ban đầu. Biên giới của Paris không ngừng mở rộng, khiến chu vi của hình bầu dục này không ngừng lớn dần. Ban đầu chỉ phát triển về hướng đông nhưng sau đó tiếp tục phát triển về hướng tây. Toàn bộ Paris chia làm 20 khu với khu trung tâm là Châtelet. Nếu như nhìn từ trên xuống thì Paris trông giống như một con cá lớn. Bố cục của từng khu phố, từng con đường của Paris giống như những hoa văn trên mình con cá khổng lồ ấy. Mặc dù Paris cũng là do các nhà thiết kế quy hoạch nên, tuy nhiên, rõ ràng là các nhà thiết kế về sau không cố ý làm như vậy. Những con đường của Paris rất cổ kính, gần như giữ nguyên vẹn từ thời ban đầu thành phố được xây dựng. Dòng sông Seine uốn lượn trong trung tâm thành phố, công thêm một bố cục rất tự nhiên và nguyên sơ đã trở thành ưu điểm trong thế cục phong thủy của Paris. Tuy nhiên, nếu như các con đường giao nhau theo các góc nhọn, trong phong thủy là điều kiêng kỵ thì ở Paris lại xuất hiện vô số. Ở đây các ngã tư không nhiều, nhưng ngã năm thì vô số và nhiều nhất là những ngã tám, ngã chín. Trong phong thủy người ta gọi đây là "lộ xung sát", biểu hiện cho điềm dữ. Vậy vì sao Paris lại có bố cục như vậy? Trên thực tế, bố cục này chỉ có thể hình thành ở Paris mới đem lại năng lượng và sức sống, bởi vì chỉ có Paris mới có dòng sông Seine uốn lượn nhiều lần trong trung tâm của thành phố. Đó cũng chính là lý do vì sao, cho đến tận ngày nay, Paris vẫn và sẽ là kinh đô ánh sáng của châu Âu và thế giới. Hải Phong (Theo báo Trung Quốc)
-
- 1
-
-
Tư liệu tham khảo: Giải trừ các thế sát phong trong phong thủy. 1- Cắt cước sát: Cắt cước có nghĩa là cắt chân, bị què quặt, không đủ sức chiến đấu. Đó là các nhà ở sát bờ biển (không có con đường trước nhà), kế bên xa lộ hay cạnh đường rầy xe lửa, hoặc gần đường phi đạo. Nhà ở sát bờ biển — Cách hóa giải: - Nên trồng hàng cây chặn gió từ phiá biển thổi vào nhà (phải cao hơn cưả ra vào), nếu không trồng được hàng cây thì nên để các chậu cây kiểng trấn án. - Làm hàng rào colourbond màu vàng lợt (cream) hoặc vàng xanh lá cây. - Cất thêm mái che, chung quanh được bao bọc bởi kiếng hoặc perspex trong suốt và hành lang bên trong nên treo một quả thủy tinh cầu (crystal ball) để hoá giải âm khí. Nhà ở kế bên xa lộ — Cách hóa giải: - Mặc dù có bức tường ngăn chận tiếng ồn phát ra từ sự vận chuyển của xe cộ, gia chủ cũng nên trồng hàng cây hoặc đặt nhiều chậu kiểng để thu hút trọc khí do động cơ nổ thải ra. Bên trong cũng nên có một cây kiểng loại indoor và nhất là đặt hồ cá chỉ nuôi một con hoặc mười con (mười tính 1). Nhà cạnh đường rầy xe lửa — Cách hóa giải: - Làm hàng rào colourbond màu sắc theo ngũ hành tương sinh đối với mệnh của gia chủ. - Trồng giàn bông giấy màu đỏ, trắng hoặc tím để che chắn ác khí. - Phía trên cưả ra vào gắn một gương lồi nhỏ có đường kính trên 50mm. Nhà ở cạnh phi đạo — Cách hóa giải: - Loại nhà này bị nặng nhất trong các thế Cắt cước sát, không thể hoá giải. Theo khoa Phong Thuỷ, nơi mà khí bị chuyển động bất thường thì khí vùng đó sẽ bị đảo điên. Thử nghĩ mỗi ngày có hàng ngàn chuyến bay lên xuống, nội tiếng ồn cũng đủ làm cho con người bị giảm thọ, huống chi rủi ro bị “tai bay họa gửi”? - Chỉ có thể giải trừ bằng cách bán hoặc cho người khác mướn, tức “Tam thập lục kế, tẩu vi thượng kế” (ba mươi sáu kế, chạy là thượng sách). Theo binh pháp, người cầm quân phải biết tiến thoái, chạy để bảo toàn lực lượng không phải là thua. Dương trạch cũng vậy, nếu gia chủ không sớm rời xa thì sẽ gánh lấy thiệt hại do tai họa gây ra. 2- Cô Dương Sát: Nơi thờ phượng như nhà thờ, chùa, đình, miếu… thường được xây dựng nơi có linh khí, nếu địa chưa được linh thì về sau nhờ nhiều tín đồ thường xuyên cầu nguyện, hay do nhang khói cùng những lời vái van cuả thập phương bá tánh nên sinh khí tích tụ ngày càng nhiều, lâu năm cuộc đất này sẽ biến thành điạ linh. Những căn nhà nằm đối diện với nơi thờ phượng đều bị trúng thế Cô dương sát, vượng khí trong nhà bị nơi thờ phượng cuốn hết. Cách hóa giải: - Làm hàng rào colourbond màu sắc theo ngũ hành tương khắc đối với màu cuả căn nhà làm nơi thờ phượng và tương sinh với mệnh gia chủ. - Treo gương bát quái phía trên chính giữa cửa trước để triệt tiêu sức hút để giữ vượng khí lại trong căn nhà. Nếu căn nhà không trực diện với nơi thờ phượng mà nằm lệch một bên thì dùng gương lồi là đủ. - Hoặc trồng một giàn bông giấy ở cạnh hàng rào phía trước để ngăn chận, giàn này phải cách xa cửa chính hơn 5m. - Treo hai phong linh ở hai bên, góc dưới mái nhà phía trước.(st) 3-Cô Độc Sát: Còn gọi là “Khẩn thủy trược tẩu”, có nghĩa là nước chảy xuống bên dưới quá nhanh, không thể đọng lại trên mặt đất, do đó khí không thể tụ. Nhà ở trên núi cao, hay nhà nằm trên vị trí thế đất cao, đất ở phía trước và phía sau thấp có độ dốc trên 35 độ (tính từ mặt đường), hoặc cao ốc đứng riêng biệt không có các cao ốc khác ở kế cận. * Nhà ở trên núi cao, hay nhà nằm trên vị thế đất cao: a) Phía sau là vực thẳm hay thế đất thấp sâu, nước không thể đọng lại khi mưa lớn. - Loại nhà này không thể hoá giải, một là ở lại chấp nhận thương đau, hay là bỏ chạy lấy người. Tốt nhất, gia chủ nên chọn cách thứ hai: dù lỗ cũng phải bán, lấy tiền mua căn nhà khác để tránh hậu hoạ.- Khoa Phong thủy khuyên không nên cất nhà nằm đơn độc trên đỉnh núi, đồi, hay nơi có thế đất cao hơn đất ở xung quanh. Vì các vị trí này dễ bị sấm sét, cuồng phong bão tố và nhất là vì không có nước nên khí không tụ (gió làm tan khí), cuộc đất không thể sinh vượng, những người cư ngụ sẽ bị tai họa hay bệnh hoạn (ở trên cao, nên thường nhận các tia ác xạ, phóng xạ độc hại từ bên ngoài cũng như bên trong trái đất). B) Phiá sau dựa lưng vào vách núi cheo leo hiểm trở, không có cây cối hay chỉ có cây khô và vài tảng đá nằm ở vị thế như sắp sưả lăn xuống. Cách hóa giải: * Phiá trước nhà: - Trồng hai trụ sắt hai bên drive way để giữ khí (phía trong đất cuả gia chủ). Mỗi trụ có đường kính 120mm trở lên (đổ concrete vào bên trong), sau khi chôn xuống đất còn cao 1m2, phía trên hai trụ này đặt hai bóng đèn 60 watts, cho cháy sáng mỗi đêm từ 8-10 giờ tối. - Treo phong linh bên dưới mái hiên, phía bên phải (từ cửa chính nhìn ra). Mỗi khi nghe âm thanh của phong linh vang lên liên tục, nên khép bớt hoặc đóng cửa lại ngăn ác khí. * Phía sau nhà: - Xây tường bằng gạch hay bằng đá (chận trọc khí), có sắt bên trong, cao 2m4 để có đủ sức ngăn chận các tảng đá có trọng lượng 100 kg lăn xuống. - Trồng hàng cây xanh cạnh bức tường để cho sinh khí được vượng mới mang lại sự tươi vui và hưng thịnh của gia chủ. c) Phía sau dựa vào vách núi có cây cối xanh tươi. - Phía trước trồng hai cột sắt hai bên drive way ở ngay cổng, phía trong đất của gia chủ. Mỗi trụ có đường kính 120mm trở lên, sau khi chôn xuống đất còn cao 1m2, phía trên hai trụ này đặt hai bóng đèn 60 watts, cho cháy sáng mỗi đêm từ 8-10 giờ tối. - Phía sau treo một phong linh dưới mái bên trái từ cửa nhìn ra vách núi để thu hút sinh khí. * Cao ốc đứng riêng biệt - Nằm trên cao nên dễ bị các tia ác xạ (tác động nghịch của từ trường trái đất và từ trường của các hành tinh tạo ra sự xung đột mà thành, các tia này sẽ tách rời phóng xuống mọi nơi cao trên mặt đất, khoa học gọi các tia đó là tia ác xạ). Trúng tia ác xạ con người thường bị mệt mỏi, nhức đầu, không còn sáng suốt để làm việc. Nếu cường độ của tia ác xạ quá mạnh sẽ gây ra ung thư cho những người trúng phải nó. Cách hóa giải: - Treo gương lồi có đường kính lớn hơn 20cm bên ngoài cửa sổ phòng ngủ. - Đặt một hồ cá kiểng (1.4m x 70cm x 50cm) tại phòng khách, nuôi nhiều cá. Nếu chăm sóc kỹ, cá vẫn chết thường xuyên, cần phải xem xét lại. - Để cây kiểng bên cạnh hồ cá. Nếu cây này ngày càng tàn úa, thay cây khác vẫn không xanh tươi thì tốt nhất nên dọn đi nơi khác để tránh hiểm nguy. 4-Câu Liêm Sát: Nhà có đất rộng chiều ngang phía trước, xe ra vào bằng hai cổng, một bên vào, một bên ra. Drive way này có hình cánh cung, bề lồi hướng vào cửa nhà. Cách hóa giải: - Đổ concrete thêm, làm cho cánh cung này trở thành hình chữ nhật. - Hoặc xây bồn phun nước, hình tròn ở chính giữa sân. - Hay đặt nhiều chậu cây kiểng thấp khoảng 1m để che chắn, phía trên cửa chính treo một gương lồi. 5 -Đao Trảm Sát: Nhà ở bên trái của con đường chữ L hay bên phải chữ L ngược phía, con đường giống như lưỡi dao chém vào căn nhà. Cách hóa giải: - Bên hông nhà về phía có con đường làm hàng rào colourbond cao 1m8, màu sắc theo ngũ hành tương sinh đối với mệnh gia chủ. - Bên hông gần hàng rào nhà, trồng một hàng 8 cây tùng hay cây bách để trấn án. - Hoặc trồng một cột sắt lớn (đường kính 30cm, cao 80cm), trên có ngọn đèn, có chụp tròn bao phủ. Cột này nằm trong phần đất của gia chủ, càng gần con đường càng tốt. - Tránh đặt gương phản chiếu dọc hông nhà, vì gương sẽ tạo ra ảnh ảo, tức thêm hình lưỡi dao phía đối diện nên sẽ bị họa hại nhiều hơn. 6-Đoạn Hổ Sát: Đối diện với căn nhà, phía bên phải bên kia đường có một mái nhà lớn hình chữ L ngược đầu, như lưỡi của máy chém ở vị trí sẵn sàng rơi xuống bất cứ lúc nào. Hóa giải bằng cách sơn tường và mái nhà đang cư ngụ xung khắc (theo ngũ hành) với màu của mái nhà lớn hình chữ L ngược đầu. Thí dụ mái nhà hình chữ L ngược đầu sơn màu grey (Kim), căn nhà của gia chủ đã có tường gạch đỏ (Hỏa), mái ngói màu đỏ (Hỏa), coi như tự nó hóa giải. 7-Độc Âm Sát: Là dương trạch nào ở gần bên nhà quàn, kế nhà xác, sát bên bệnh viện hay khu vực nghĩa trang, bị sự tích tụ của loại khí nặng nề tức âm khí và tử khí. Cách hóa giải: - Làm hàng rào colourbond màu đỏ, màu burgundy (triệt tiêu âm khí). - Đặt gương phản chiếu (40cm x 4m) cách mặt đất 40cm đối diện với các nơi trên (phản hồi tử khí). - Treo 4 phong linh dưới mái 4 góc nhà (phá sự tích tụ của âm khí). - Gắn đèn neon bốn phía (cháy sáng từ 8 đến 10 giờ tối) và gắn đèn tự động sáng khi có người bước vào (ngăn chận và phá sự xâm nhập của âm khí). - Treo bát quái tại cửa chính, nếu nhà nằm trực diện (triệt tiêu âm khí và tử khí). - Trong nhà nên treo 4 thủy tinh cầu nơi thiếu ánh sáng (tạo sinh khí). - Nên đóng cửa chính khi mặt trời lặn, và mở cửa khi mặt trời mọc (chận âm khí, thu dương khí). 8- Tà Thương Sát Nhà bị con đường lộ đâm xéo tới là bị trúng Tà thương sát. Nếu đâm vào bên trái cửa ở vị trí của Thanh Long, người nam bị tổn hại, nếu đâm bên phải ở vị trí của Bạch Hổ, người nữ bị thiệt thòi. Nếu bị ngay chính diện cửa thì tất cả những người cư ngụ đều bị tổn hại về tài sản. Cách hóa giải: -Làm hàng rào colorbond cao 1m8 ngăn chận và trồng hàng cây che chắn bên trong. - Nếu nhà có tầng lầu, phía trên treo hoặc đặt một gương lồi loại 20cm đến 30cm trực diện với con đường đâm vào nhà. - Làm hồ phong thủy phía trước nhà để giữ sinh khí. Dùng hệ thống điện tự động mở nước chảy ban ngày, tắt ban đêm. 9-Thám Đầu Sát: Phía sau tòa nhà đối diện trên cao nhất có mái hiên (như carport). Hình tòa nhà đối diện này có phần trên là cổ, phần dưới là thân, nhìn từ xa giống như mất đầu, nên gọi là Thám đầu sát (người xưa gọi là Thảm đầu sát, thảm là thảm khốc, thảm thương, rùng rợn vì mất đầu nên người đời sau tránh né đọc trại ra thành Thám). Vì trong Thám đầu sát đã có sẵn Kiệu sát, nên muốn hóa giải thế này trước hết phải hóa giải thế Kiệu sát, sau đó hóa giải thế Thám đầu sát như sau: - Đặt hai con kỳ lân màu vàng (Thổ) trên trụ gạch hai bên cổng vào, nhìn về hướng tòa nhà đối diện. Để một con rồng màu đen (Thủy) trên nắp hồ cá cảnh trong nhà. Phía sau đã có con rùa màu đỏ (Hỏa), trong hồ cá cảnh đã có sáu con cá màu hoàng kim (Kim) trong phần hóa giải Kiệu sát. Phía trước bên trái cửa chính đặt một chậu cây kiểng hình chim phượng hoàng (Mộc). dùng biểu tượng Tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng) phối với ngũ hành mới giải trừ được thế Thám đầu sát này. 10-Thanh Sát: Trong khu vực nhà đang ở có tiếng động thường xuyên từ hãng xưởng, như tiếng búa đập tại các lò rèn và nơi làm cửa sắt hay tiếng nổ lớn của máy xe nơi “độ xe đua”. Nhà bị âm thanh hoặc tiếng động lớn hay nhỏ thường xuyên xảy ra là bị Thanh sát. Cách hóa giải: - Treo phong linh ở bốn góc nhà, loại lớn nhất. - Mở nhạc vừa đủ nghe bên trong nhà để giảm bớt tiếng động bên ngoài. - Nới thêm phòng kiếng để ngăn chận bớt âm thanh, nhớ treo thủy tinh cầu ngay chính giữa phòng này. Thanh sát chỉ xảy ra vào ban ngày trong giờ làm việc, nếu gia chủ và những người cư ngụ đều đi làm ban ngày thì không cần hóa giải, nếu âm thanh hoặc tiếng động còn xảy ra sau giờ làm việc, báo cho Hội đồng Thành phố (Council) giải quyết. 11-Thích Diện Sát: Đối diện trước cửa nhà có vách đá dốc thẳng hoặc đứng trước cửa nhìn thấy một ngọn núi cao là căn nhà bị trúng thế Thích diện sát. Cách hóa giải: * Đối diện trước cửa nhà có vách đá dốc thẳng - Trồng hàng cây để che chắn, để người ngồi trong nhà hay đứng ngay cửa không trông thấy vách đá đó. - Treo hai phong linh bên dưới mái nhà phía trước. * Đứng trước cửa nhà nhìn thấy một ngọn núi cao - Đặt hai con Kỳ Lân màu vàng (Thổ) trên trụ gạch hai bên cổng vào, nhìn về hướng ngọn núi cô độc. - Treo gương lồi nhỏ, có đường kính 6cm trên khung cửa đối diện. - Bên trong nhà nên treo quả thủy tinh cầu màu xanh nước biển lợt. 12-Thiên Trảm Sát: Khoảng giữa hai dãy nhà, có một con đường chính giữa chĩa thẳng vào nhà đang ở, gió thổi tới rất mạnh làm khí không thể tụ gọi là Thiên trảm sát. Sát khí này từ khoảng trống xông tới nên nó là hư sát. Cách hóa giải: - Trồng hàng cây tùng hoặc bách để ngăn chận ác khí này. - Làm bồn phun nước nổi, hình tròn (cao 80cm, đường kính rộng 4m), có hòn non bộ (giữ sinh khí), chung quanh bên trong vòng tròn có trồng cây kiểng. - Treo phong linh ở giữa mái nhà phía trước, khi nào nghe phát ra âm thanh liên tục, nên đóng cửa chính lại. 13-Thương Sát: Đối diện phía trước nhà là con đường cụt (no through road), nhà này bị kẹt vào thế Thương sát. Cách hóa giải: - Làm bồn phun nước nổi, hình tròn (cao 80cm, đường kính rộng 4m), có hòn non bộ (giữ sinh khí), chung quanh bên trong vòng tròn có trồng cây kiểng (hút ác khí). - Hoặc trồng giàn bông giấy màu đỏ che chắn trước cửa chính, giàn bông này phải cách cửa chính hơn 5m. - Hay làm hàng rào colourbond cao 1m8 ở phía trước để ngăn chận ác khí, đồng thời dán loại vinyl reflextive vào phần trên của kiếng các cửa sổ để phản chiếu ánh đèn xe vào ban đêm. 14-Thủy tinh sát: Nhà đang nằm ở dưới thung lũng hay phía sau có con suối, ao hồ tù hãm. Nhà ở vùng đất thấp ẩm ướt quanh năm suốt tháng hay nhà có đất nền cửa cao hơn thế đất bên trong. Các căn nhà bị ngập lụt hoặc đọng nước khi có mưa lớn, tuy vượng thủy nhưng không thể hấp thụ được vượng khí nên bị liệt vô thế Thủy tinh sát. * Nhà đang nằm ở dưới thung lũng hay phía sau có con suối, ao hồ tù hãm. - Làm hàng rào colourbond màu xanh lá cây lợt (mộc) cao 1m8. - Sơn vách và mái nhà màu xanh lá cây (mộc) nếu được. - Treo một cây quạt xếp trong phòng khách (khi cuốn quạt lại, chiếu dài từ 76cm đến 80cm) dùng biểu tượng quạt trấn bại khí. * Nhà ở vùng đất thấp, ẩm ướt quanh năm suốt tháng. - Thông thường các nhà này được Council tài trợ để đưa phòng ốc lên cao, nếu không được xét tài trợ nên đổ concrete cho nền cao lên, chung quanh cũng nên đổ tráng để sân không bị ẩm ướt, chỉ chừa lại phần landscaping trồng cây kiểng. - Treo hai thủy tinh cầu bên trong nhà, cách cửa chính và cửa sau 4m. - Trồng bốn gốc nhà bốn cây, loại lớn cần hút và tiêu thụ nhiều nước. - Đổ concrete ngoài sân hoặc lót gạch màu vàng thổ (paving). * Nhà có đất nền ngạch cửa cao hơn thế đất bên trong. - Nếu trời mưa, nước không bị ngập bên trong thì không bị ảnh hưởng. Nhưng nếu bị ngập nước, phải đổ nền lên ngang bằng ngạch cửa. - Lót gạch bông màu vàng cream bên ngoài và bên trong nhà (thổ khắc thủy). - Treo quả thủy tinh cầu loại lớn chính giữa nhà để thấy ấm cúng và thông vượng khí. 15-Tiễn Xạ Sát: Đối diện phía trước căn nhà có vật thể nhọn hay bên kia đường có góc tường cao ốc chĩa thẳng vào cửa chính (góc 45 độ) giống như mũi tên bắn tới là bị phạm thế Tiễn xạ sát. Vì góc nhọn chĩa tới, sát khí theo đó tiến thẳng vào nhà, đây là thực sát. Nếu ngay vật thể nhọn hay góc tường cao ốc bên kia đường, có hàng rào colourbond, cây án sẵn ở bên đó hoặc đã có cây che phía bên này, vô hình chung nó đã bị vô hiệu hóa ảnh hưởng tác hại, không cần hóa giải. Bằng không, cách hóa giải như sau: - Trồng hàng cây che chắn trực diện với góc nhọn. - Làm hàng rào colourbond 1m8 để che chắn. - Treo một thủy tinh cầu trực diện với vật thể nhọn hoặc góc tường cao ốc. 16-Tiễn Đao Sát: Nhà nằm ở vị trí giữa ba hay bốn con đường giao nhau như chữ Y hay chữ X, hai cạnh của hai con đường (nằm hai bên căn nhà) giống như lưỡi kéo sắp cắt đôi căn nhà này, theo khoa Phong thủy thế này là Tiễn đao sát. Cách hóa giải: - Làm hàng rào colourbond màu burgundy (hỏa) 1m8 để che chắn, đồng thời trồng hàng cây tùng loại cao dọc theo bên trong hàng rào. - Hoặc trồng hai trụ sắt (đường kính 14cm, trong có concrete) hai bên phía trước, cách góc nhọn nhà trong khoảng 1m. - Nếu nhà có tầng lầu, phía trên lầu nên đặt một gương lồi đối diện với con đường. 17-Tuyệt Mệnh Sát: Nhà nằm dưới triền núi, bên trên có tảng đá lớn nằm cheo leo sắp rớt. Nhà nằm cạnh mặt đường nhưng ở thế đất thấp sâu bên dưới con đường. Nhà nằm bên dưới, cạnh xa lộ cao bên trên. Cả ba đều bị phạm thế Tuyệt mệnh sát. Vị trí này làm cho khí đến và đi rất nhanh, ác khí hoặc trọc khí tích tụ bao quanh nên tai nạn thường xảy ra bất ngờ. * Nhà nằm dưới triền núi, bên trên có tảng đá lớn nằm cheo leo sắp rớt. - Xây hàng rào bằng đá dài bằng chiều ngang căn nhà, cao 1m8, bề dầy 80cm. - Trồng bốn cây Palm gần hàng rào, loại có rễ chắc chắn để ngăn chận. - Đặt một chậu kiểng (cây lucky) trong phòng khách, nơi người ngồi thường xuyên nhìn đến. Nếu bên trên không có tảng đá cheo leo sắp rớt, gia chủ không cần hóa giải vì căn nhà không bị thế Tuyệt mệnh sát. Hoặc có căn nhà khác nằm độn giữa che chắn tảng đá cheo leo là tự nhiên căn nhà được hóa giải, không cần bận tâm. * Nhà nằm cạnh mặt đường nhưng ở thế đất thấp sâu bên dưới con đường. Nhà nằm bên dưới, cạnh xa lộ cao bên trên. Hai loại nhà này trúng thế Tuyệt mệnh sát rất nặng, không thể hóa giải, tốt nhất nên giải trừ bằng cách dọn đi nơi khác để tránh cảnh “theo ông bà” một cách “bất đắc kỳ tử”. 18-Xung Thiên Sát: Xung thiên có nghĩa là bốc lên. Nhà ở trong khu vực lò luyện thép, nhà máy chế Ciment, Concrete. Mở cửa ra là thấy ống khói đang phun lửa hay khói đang bốc lên. Nhà này bị triệt vì thế Xung thiên sát. Trọc khí bao phủ cả vùng nên những ai ở trong căn nhà này đều bị bệnh. Cách giải trừ hay nhất là nên dọn đi nơi khác (cho dù bị lỗ vốn) để tránh bị giảm thọ. 19-Xuyên Tâm Sát Nhà bị con đường trước mặt chĩa thẳng vào (nhưng nếu phía trước căn nhà có round about thì tác hại của ác khí bị hóa giải). Hay đối diện phía bên kia đường có trụ điện hoặc cây lớn án ngay cửa chính (nếu ngã đổ về phía nhà sẽ đúng ngay trung tâm) cả hai đều bị Xuyên tâm sát. * Nhà bị con đường trước mặt chĩa thẳng vào. - Làm hàng rào colourbond màu burgundy, cao 1m8 trước nhà để che chắn, đồng thời trồng hàng cây dọc theo bên trong hàng rào. - Treo bát quái ngay giữa, trên khung cửa chính. Nếu có lầu, các cửa số phải được dán lớp vinyl reflextive, phản chiếu ánh đèn xe vào ban đêm. - Làm bồn phun nước nổi, hình tròn (cao 80cm, đường kính rộng 4m), có hòn non bộ (giữ sinh khí), chung quanh bên trong vòng tròn có trồng cây kiểng (hút ác khí). * Đối diện căn nhà phía bên kia đường có trụ điện hoặc cây lớn án ngay cửa chính. Nếu được dời cửa chính qua vị trí khác, bằng không nên: - Lập một cột cờ trực diện với trụ điện hoặc cây lớn, cao 4m, trên có treo lá cờ Úc có chiều dài 1m2, chiều ngang 60cm. - Đặt hồ cá cảnh trong phòng khách, nuôi một con cá (nhất bạch tham lang hành Thuỷ). Nên nuôi cá La Hán. Nguồn: Phong Thuy Tong Hop
-
- 2
-
-
Chiêu Sinh Lớp Phong Thủy Lạc Việt Nâng Cao
Thiên Đồng replied to Quản Trị Viên 07's topic in Hoạt Động Của Diễn Đàn
Hiện tại trung tâm vẫn chưa thấy chuyển khoản Phạm Tuấn Long. Bạn kiểm tra lại và trung tâm cũng kiểm lại xem sao? Thiên Đồng -
Khoa Học Nói Về Đức Phật
Thiên Đồng replied to Thiên Đồng's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
-
CÁC NHÀ KHOA HỌC NÓI VỀ ĐẠO PHẬT http-~~-//www.youtube.com/watch?v=qwwi6U8KBTw
-
Chương 9: DỤNG THẦN, NGUYÊN THẦN, KỴ THẦN, CỪU THẦN Dụng Thần tức là Dụng Thần thuộc các loại đã kể trước. Nguyên Thần là hào sinh Dụng Thần. (Ví như Dụng Thần là Tý Thủy, thì Thân Dậu Kim sinh Tý Thủy gọi là Nguyên Thần, tức là Thần gốc sinh ra Thủy). Kỵ Thần tức là hào khắc Dụng Thần. (Ví như Dụng Thần là Tý Thủy, thì Thìn Tuất Sửu Mùi Thổ là Kỵ Thần của Tý Thủy). Cừu Thần tức là hào khắc Nguyên Thần, không cho sinh trợ Dụng Thần, trở lại sinh Kỵ Thần để Kỵ Thần khắc hại Dụng Thần. (Ví như Thân Dậu Kim là Nguyên Thần của Tý Thủy, thì Cừu Thần là Tỵ Ngọ Hỏa, khắc Thân Dậu Kim và sinh trợ cho Thìn Tuất Sửu Mùi Thổ). Giả như Kim là Dụng Thần. Sinh Kim là Thổ, Thổ là Nguyên Thần. Khắc Kim là Hỏa, Hỏa là Kỵ Thần. Khắc Thổ, sinh Hỏa là Mộc, Mộc là Cừu Thần. Bất luận chiếm việc nào, trước coi hào nào là Dụng Thần. Đã đặng Dụng Thần, coi có vượng tướng không? Có Nguyên Thần động mà sinh phò chăng? Có Kỵ Thần động mà khắc hại chăng? Giả như tháng Thìn, ngày Mậu Thân, chiếm cho cha mới đau; đặng quẻ Càn vi Thiên, biến ra Phong Thiên Tiểu Súc. Càn Vi Thiên è Tiểu Súc --- Phụ Mẫu Tuất Thổ Thế --- Huynh Đệ Thân -O- Quan Quỷ Ngọ è - - Phụ Mẫu Mùi Thổ --- Phụ Mẫu Thìn Thổ Ứng (Nguyệt Kiến) --- Thê Tài Dần Mộc (Ám Động – Ngày Thân xung Dần) --- Tử Tôn Tý Thủy Một người cầm quẻ này đến hỏi tôi. Tôi trả lời: - Bệnh mới phát gặp xung thì mạnh. Quẻ này thuộc về quẻ lục xung. - Nhưng cha tôi đau nặng lắm, xin Thầy coi ngày nào mạnh? - Trong quẻ này, Thìn Thổ, Mùi Thổ, Tuất Thổ, ba từng Phụ Mẫu là ba hào Thổ, phải chọn hào nào vượng mà dùng. Nay Thìn Thổ Phụ Mẫu, trúng Nguyệt Kiến (tức hào Thìn gặp tháng Thìn), tức là dùng Thìn Thổ làm Dụng Thần. Hiện giờ bệnh trầm trọng là vì ngày Thân xung Dần Mộc thành ám động, Mộc động để khắc Thìn Thổ. Khách liền hỏi: - Trong quẻ Ngọ Hỏa phát động, Dần Mộc tuy cũng ám động, mà trở lại sinh Ngọ Hỏa, thành ra sinh Thìn Thổ. Kinh Bốc nói: "Kỵ Thần và Nguyên Thần đồng động, thì lưỡng sinh (hai chỗ sinh). Nay thầy chỉ nói: "Dần Mộc khắc Thìn Thổ, mà chẳng nói: "Ngọ Hỏa sinh Thìn Thổ, là tại sao? - Ngọ Hỏa tuy động hóa ra Mùi Thổ, Ngọ Hỏa và Mùi hạp. Ngọ Hỏa tương hạp, chẳng sinh Thìn Thổ, cho nên Thìn Thổ bị Dần Mộc khắc, chẳng đặng Ngọ Hỏa sinh, cho nên bệnh thế rất trầm trọng. Phải chờ ngày Sửu xung trừ Mùi Thổ, thì Ngọ Hỏa hết hạp, mới có thể sinh Thổ. Chừng đó tai nạn sẽ thối. Quả nhiên đến ngày Sửu, bệnh nhân trổi dậy. Chương10: NGUYÊN THẦN, KỴ THẦN SUY VƯỢNG Nguyên Thần sinh được Dụng Thần mà cần phải Vượng Tướng mới có sức sinh. Nguyên Thần sinh được Dụng Thần, có 5 trường hợp: 1. Nguyên Thần vượng tướng, hoặc đồng với ngày tháng, hoặc đặng ngày tháng, hay động hào sinh phò. (Tỷ như, Kim là Dụng Thần, Thổ là Nguyên Thần gặp tháng Mùi Thổ là Nguyên Thần vượng tướng, hoặc gặp hào Thổ động sinh, tức là đúng với câu trên). 2. Nguyên Thần động hóa hồi đầu sinh, hay hóa tiến thần. (Ví như Nguyên Thần là Thân Kim động hóa Thìn Tuất Sửu Mùi là hóa hồi đầu sinh; nếu Thân Kim động hóa Dậu là hóa tiến thần). 3. Nguyên Thần Trường Sinh, Đế Vượng ở ngày chiếm quẻ. (Thí như Tý Hợi Thủy xủ quẻ nhằm ngày Thân gọi là Trường Sinh, nếu gặp ngày Hợi Tý gọi là Đế Vượng). 4. Nguyên Thần cùng Kỵ Thần đồng động. (Tỷ như Tý Hợi Thủy là Nguyên Thần động, lại được thêm Kim là Kỵ Thần cùng động. Vì Kim động sinh Thủy, Thủy động sẽ sinh Dụng Thần Mộc). 5. Nguyên Thần vượng động, trúng không hay hóa không. (Ví như Nguyên Thần Tí lâm Tuần Không động, gặp ngày tháng sinh trợ, hoặc Nguyên Thần là Mộc động hóa ra Tí lâm Không, thì dù lâm Không hoặc hóa Không, sau ngày Ngọ xung Không hoặc ngày Tý xuất Không vẫn hữu dụng). Chiếm trúng Không, hay hóa Không, cho là vô dụng thì không phải vậy. Sao chẳng biết động chẳng phải là Không, phải ăn với ngày xung Không, thật Không mới là hữu dụng. Cho nên cho là kiết, hay sinh Dụng Thần. Trên có 5 trường hợp, mà Dụng Thần đều có sức. Chiếm các việc đều cát. Như tháng Dậu ngày Tân Hợi, chiếm cầu Tài. Đặng quẻ Đoài vi Trạch, biến ra quẻ Lôi Thuỷ Giải. Đoài vi Trạch Giải - - Phụ Mẫu Mùi Thổ Thế -0- Huynh Đệ Dậu Kim è - - Huynh Đệ Thân Kim --- Tử Tôn Hợi Thủy - - Phụ Mẫu Sửu Thổ Ứng --- Thê Tài Mão Mộc -0- Quan Quỹ Tỵ Hỏa è - - Thê Tài Dần Mộc Đoán rằng: ngày Giáp Dần sẽ có tài, theo ý nguyện. Khách hỏi: - Mão Mộc, Tài hào đã không mà lại bị Nguyệt phá, bị Kim khắc. Hào đầu Tỵ Hỏa Quan, tuy sinh Thế, ngày Hợi xung Tán, lại hóa Tuần Không, sao lại gọi rằng cát? - Thần triệu cơ (lộ ra) ở động, tôi không bao giờ nói tán, Chính vì Tỵ Hỏa hóa Không cho nên hiện giờ tôi không thấy tài, Chờ ngày Giáp Dần ra khỏi (xuất) Không thì tương kiến. Dần Tài Mộc sinh Quan, Quan sinh Thế, quả tới ngày Dần ban, mới thấy ngày Mộc đặng Tài. Nguyên Thần tuy hiện, mà đôi khi không sinh được Dụng Thần, có sáu trường hợp: 1. Nguyên Thần hưu tù chẳng động, hoặc động mà hưu tù, lại bị tương khắc (Tỷ như Dụng Thần là Dần Mão Mộc, Nguyên Thần là Hợi Tý Thủy, mùa Hạ tháng Mùi thì Thủy vô khí, nếu không động, hoặc động mà hóa ra Thìn Tuất Sửu Mùi Thổ, hoặc hóa ra Dần Mão Mộc) 2. Nguyên Thần hưu tù lại gặp Tuần Không, Nguyệt Phá (Ví như Nguyên Thần Hợi Tý Thủy gặp tháng Ngọ, lại hào Hợi hay Tý lâm Tuần Không) 3. Nguyên Thần hưu tù, động hóa thoái thần (Nguyên Thần Tý gặp mùa Hạ, tuy động nhưng hóa Hợi, là hóa thoái) 4. Nguyên Thần hưu tù mà lại suy tuyệt (Nguyên Thần Tí Hợi Thuỷ không động, lại gặp mùa Hạ) 5. Nguyên Thần nhập tam Mộ (ví như Nguyên Thần Hợi Tý Thủy nhập Tam Mộ: gặp ngày Thìn là Nhật Mộ, gặp hào Thìn động gọi là động Mộ, động hoá ra hào Thìn gọi là hóa Mộ) 6. Nguyên Thần hưu tù, động và hóa tuyệt, hoá khắc, hóa phá, hóa tán (tỷ như Dần Mão Mộc gặp mùa Hạ, động mà hóa ra Thân Dậu) Dẫn lên là thấy sinh mà chẳng có sức sinh, ấy là Nguyên Thần vô dụng. Tuy có, mà như không. Kỵ Thần động mà khắc hại Dụng Thần, có 5 trường hợp: 1. Kỵ Thần vượng tướng, hoặc gặp ngày, tháng, động hào sinh phò, hoặc đồng với ngày tháng chiếm quẻ. 2. Kỵ Thần động, hóa hồi đầu sinh, hóa tiến thần. 3. Kỵ Thần vượng động, trúng Không hay hóa Không. 4. Kỵ Thần trường sinh, đế vượng, nhằm nhật thần (lâm ngày). 5. Kỵ Thần và Cừu Thần đồng động. Dẫn lên các Kỵ Thần cũng như búa riều. Chiếm mọi việc đều hung. (Xem lại mục Nguyên Thần để hiểu rõ hơn về Ngũ Hành sinh khắc) Kỵ Thân tuy động, lại có khi không khắc được Dụng Thần, có 7 trường hợp: 1. Kỵ Thần Hưu Tù chẳng động, động mà hưu tù, bị ngày, tháng, động hào khắc. 2. Kỵ Thần tịnh trúng Tuần Không, Nguyệt Phá. 3. Kỵ Thần nhập Tam Mộ. 4. Kỵ Thần suy, động hóa thoái thần. 5. Kỵ Thần suy, mà lại tuyệt. 6. Kỵ Thần đông, hóa tuyệt, hóa khắc, hóa phá, hóa tán. 7. Kỵ Thần cùng Nguyên Thần đồng động. Đó là những Kỵ Thần không có sức. Chiếm mọi việc, hóa hung làm cát. (Xem lại mục Nguyên Thần vô dụng để hiểu rõ hơn về Ngũ Hành sinh khắc) Dẫn lên là luận Nguyên Thần và Kỵ Thần có sức, cùng không có sức, còn Dụng Thần cũng cần phải có khí. Thảng như Dụng Thần không có gốc, tuy rằng Nguyên Thần có sức cũng khó sinh, cho nên Kỵ Thần không đủ sức, thì cũng không đủ mừng. Như tháng Tỵ, ngày Ất Mùi, tự mình chiếm bệnh, đặng quẻ Trạch Phong Đại Quá, biến ra quẻ Hỏa Phong Đỉnh. -X- Tài Mùi Thổ è --- Tử Tỵ Hỏa -0- Quan Dậu Kim è - - Tài Mùi Thổ --- Phụ Hợi (Thế) --- Quan Dậu --- Phụ Hợi - - Tài Sửu (Ứng) Tự mình chiếm bệnh, lấy Thế hào là Hợi Thuỷ làm Dụng Thần, bị Mùi Thổ Kỵ Thần động mà khắc Thuỷ. May đặng Dậu Kim, Kim sinh Hợi Thuỷ, thì cả hai hào đều tiếp tục tương sinh, hóa hung ra cát. (Tham Sinh Kỵ Khắc) Nào dè Hợi Thủy, tháng xung, ngày khắc, gặp Nguyệt phá và bị khắc, tuy có sinh phò, mà sinh không nổi, như cây không rễ, hàn cốc chẳng hồi Xuân. Quả sau, chết ở ngày Quý Mão, ứng với ngày Mão, là vì ngày xung khử Nguyên Thần. Đó là chỗ gọi: "Dụng Thần không gốc, Nguyên Thần có sức cũng khó sinh".
-
Bát nhã là gì -Bát nhã là gì? - Có cái thấy sự vật "như nó đang là" - Đó chính là giác ngộ? - Không phải thế. - Tại sao không? - Có cái biết như vậy, chứ không phải có cái kinh nghiệm như vậy. - Như vậy là cái biết vay mượn. - Không phải thế, nó là cái biết đích thực và là phát hiện của hành giả. - Bát nhã chưa phải, vậy bát nhã ba la mật đa hay đại bát nhã có phải là giác ngộ? - Đúng vậy. - Gọi là "đại bát nhã" hay "bát nhã cùng cực" có phải để chỉ tính toàn diện của trạng thái "như thị". - Không phải "bát nhã" là bộ phận và "bát nhã ba la mật đa" là toàn diện. Mà bát nhã là cái biết đỉnh cao của tâm trí sơ bộ về giác ngộ. Còn "bát nhã ba la mật đa" hay đại bát nhã là cái kinh nghiệm của sự thể nhập tánh. - Xin cho một thí dụ? - Như người đứng bên này sông muốn biết cảnh vật bên kia sông. Người ấy có thể leo lên một đỉnh núi cao để nhìn sang, khắc có cái thấy thật sự không vay mượn về cảnh vật bên kia bờ. Nó như là một phát hiện đích thực. Trường hợp này tương tự như trạng thái "bát nhã". Nhưng nếu người ấy qua sông đến bờ bên kia, khắc sẽ biết cảnh vật bên kia bờ bằng kinh nghiệm thật chứ không phải tầm nhìn. Đây là trường hợp của bát nhã ba la mật đa. Do vậy nên ba la mật đa ( paramita) được dịch là "sang bờ bên kia" là vậy. - Cảm ơn ông về buổi nói chuyện hôm nay. - Hề hề! . . tôi tưởng vậy chứ chưa chắc đã vậy. Xin ông vui lòng hỏi các vị thiện tri thức rồi bảo cho tôi biết với! TƯỞNG VẬY/29.9.2004
-
Hàn Quốc phá 'thế trận' tàu cá Trung Quốc VnExpress – 19 giờ trước Lực lượng tuần duyên Hàn Quốc phá thế trận của hàng chục tàu Trung Quốc, bắt tổng cộng 15 tàu cá và hơn một trăm ngư dân Trung Quốc vì xâm phạm lãnh hải. tàu Trung Quốc, bắt tổng cộng 15 tàu cá và hơn một trăm ngư dân Trung Quốc vì xâm phạm lãnh hải. Bản đồ vùng biển Hoàng Hải và đánh dấu hai khu vực xảy ra các vụ việc xâm phạm trái phép của tàu cá Trung Quốc … Các thông tin trên đây được báo chí Hàn Quốc đưa tin rầm rộ trong những ngày qua. Tuy nhiên phía Trung Quốc chưa có phản ứng chính thức nào. Khoảng 16h25 hôm 19/11, một tàu tuần tra của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Jeju, Hàn Quốc, ngăn chặn một tàu cá Trung Quốc và sau đó đưa tàu này về gần đảo Jeju để điều tra, tờ của Hàn Quốc đưa tin. Vụ việc xảy ra ở địa điểm cách đảo Chuja của Hàn Quốc khoảng 12 km về phía tây bắc, và cách đảo Jeju khoảng 50 km về phía tây. Ảnh Hàn Quốc phá thế liên hoàn của tàu cá Trung Quốc Tàu tuần tra của Hàn Quốc (màu trắng ở phía xa) đuổi theo một nhóm tàu cá Trung Quốc hôm 16/11. Các tàu này quây … Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hàn Quốc điều thêm tàu tuần tra và trực thăng tới để trấn áp các tàu cá Trung Quốc. Ảnh: … Một xuồng máy cao tốc chở một toán lính đặc nhiệm của Hàn Quốc áp sát tàu cá Trung Quốc. Ảnh: AFP Các ngư dân Trung Quốc tỏ ra không hợp tác, bất chấp sự xuất hiện của nhóm đặc nhiệm. Ảnh: AFP Nhóm đặc nhiệm của Hàn Quốc sau đó nhanh chóng tiến lên các tàu của "hạm đội" Trung Quốc. Ảnh: AFP Lực lượng cảng sát biển của Hàn Quốc có mặt sau đó. Trong ảnh là một cảnh sát biển Hàn Quốc đang giám sát việc … Tuy nhiên, chiếc tàu cá bị bắt đã kêu gọi sự trợ giúp và 25 tàu cá khác của Trung Quốc đáp lại bằng cách dàn thế trận đe dọa Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hàn Quốc, đồng thời đòi thả chiếc tàu đồng hương. Các thủy thủ Trung Quốc thậm chí khua rìu, ống nước bằng đồng và gậy tre trên boong tàu của họ, dẫn lời Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hàn Quốc.Trước diễn biến này, phía Hàn Quốc buộc phải điều thêm 12 tàu tuần tra và hai trực thăng tới trấn áp. Hai tàu cá nữa của Trung Quốc sau đó bị bắt, nhưng các thủy thủ trên hai tàu này đã chạy trốn sang các tàu bạn. Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hàn Quốc truy đuổi các tàu Trung Quốc nhưng bất thành do thời tiết xấu. Giới chức Hàn Quốc cho hay 5 lính nước này bị thương nhẹ sau vụ việc. Hiện chưa rõ có bao nhiêu thủy thủ Trung Quốc bị bắt. Đây là lần thứ hai các tàu cá Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Hàn Quốc chỉ trong vòng 3 ngày. Trước đó, vào ngày 16/11, 126 ngư dân và 12 tàu cá của Trung Quốc đã bị bắt giữ khi hoạt động trái phép gần đảo Ochong, gần thành phố Gunsan, tỉnh Bắc Jeolla của Hàn Quốc. Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hàn Quốc đã phải huy động 12 tàu tuần tra, 4 máy bay và 20 lính đặc nhiệm có vũ trang mạnh với súng K5, lá chắn và súng phóng lựu. Theo tờ , khoảng 200.000 tàu cá của Trung Quốc được cho là đang hoạt động trái phép trong vùng biển thuộc chủ quyền của Hàn Quốc, bất chấp việc 1.762 tàu cá của Trung Quốc đã được cấp phép đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế của Hàn Quốc và thu được 65.000 tấn cá các loại. Giới chức Hàn Quốc đang cân nhắc những biện pháp mạnh tay hơn để ngăn chặn các hoạt động trái phép của tàu cá Trung Quốc. Nhật Nam ==================================== Cá ăn kiến thì cũng có lúc kiến ăn cá! Thiên Đồng
-
@ Mon No, Chồng 1981 vợ 1985, chọn 2016 là tốt nhất. Hợp mẹ và hợp cha, đúng cách Song Nguyên. Chúc hạnh phúc. Thiên Đồng
-
Tranh Đông Hồ – một dòng tranh luôn bám theo thời cuộc Quả thật, cách “nhại” tranh Đông Hồ để “giễu” các vấn đề của cuộc sống đương đại của họa sĩ trẻ Phạm Huy Thông – đang diễn ra tại Trung tâm Văn hóa Pháp, 24 Tràng Tiền, Hà Nội (kéo dài đến 15/7/2009) có thể để lại nhiều tiếng cười sảng khoái. Song cũng có những ý kiến khắt khe cho rằng, như thế có vẻ làm “tầm thường hóa” dòng tranh cổ kính của cha ông. Vậy tranh Đông Hồ có thể phản ánh cuộc sống đương đại hay không? Để trả lời cho những thắc mắc này, chúng tôi xin giới thiệu bài viết khám phá những điều thú vị về tranh Đông Hồ – một dòng tranh luôn bám theo thời cuộc. Từ cảnh nhảy đầm đến… nhà chứa! Ai cũng biết trong phong trào Âu hóa, cái món “nhảy đầm” đã được du nhập vào Việt Nam khiến các cụ đồ Nho phải lắc đầu lè lưỡi. Nhảy đầm đã đi vào tranh Đông Hồ với bức tranh cùng tên, và hiện nay vẫn còn ván khắc để in. Bức tranh mô tả một quầy bar, có ly, cốc, có bồi bàn, có rượu vang hoặc champagne, hình vẽ cũng thô mộc thôi, nhưng rất rõ một sinh hoạt thuộc địa, với hai cặp giai thanh gái lịch trong điệu valse uyển chuyển. Nhảy đầm (tranh Đông Hồ) Bức tranh đôi Phong tục cải lương – văn minh tiến bộ vẽ ông Tây – bà đầm đi “picnic”, một bên chú thích là Phong tục cải lương moa tăng phú, còn bên kia: Văn minh tiến bộ, tọa (toa) tăng xương. Theo lý giải của họa sĩ Trần Hậu Yên Thế, thì đây là cách chửi kiểu bồi tiếng Tây của một ông đồ cũng thật hay, Toa tăng xương = Toi attention/ Mày liệu hồn, Moa tăng phú = Moi, je m’enfiche/ Tao mặc kệ. Cả hai câu có nghĩa đầy phẫn nộ: Phong tục thay đổi, thì mày liệu hồn; Văn minh tiến bộ, tao đếch cần. Bức tranh đôi Phong tục cải lương - văn minh tiến bộ Bộ tranh đôi Trai tứ khoái – gái bảy nghề, nghệ nhân đã rất khéo đổi câu vè quen thuộc trong dân gian chê các cô gái hư hỏng: “Ngồi lê là một, dựa cột (lười nhác) là hai/ theo giai là ba/ ăn quà là bốn/ trốn việc là năm/ hay nằm là sáu/ đánh cháu là bảy” thành “đăng sê (nhảy đầm) là một/ theo mốt là hai/ đánh bài là ba/ đàn ca là bốn/ trốn nhà là năm/ đi săm (nhà chứa) là sáu/ Mang cháu (chửa hoang) là bảy. Bộc lộ sự phê phán riết róng cái việc đánh mất thuần phong để đi vào bại tục. Chỉ một góc nhỏ thôi trong tranh Đông Hồ đã cho ta thấy nghệ nhân với trách nhiệm xã hội đã đóng vai trò phê phán quyết liệt những thói xấu từ quan trường đến đời sống dân sự. Họ là nghệ nhân nhưng cũng là những nhà báo trứ danh đó chứ! Tranh Đông Hồ: luôn bám theo thời cuộc Chỉ từ đời sống dân gian, chẳng có ai định hướng mà tranh Đông Hồ cũng có đủ loại từ tranh giáo khoa, phong cảnh, phong tục, sinh hoạt, tín ngưỡng, tranh truyện (dựa theo cổ tích) tranh lịch sử, châm biếm và hài hước, chẳng thiếu thể loại gì. Tranh Gái bảy nghề Có thể nói, một đặc điểm rất đáng nể của tranh Đông Hồ là luôn bám theo thời cuộc. Ta để ý mảng tranh châm biếm, những bức tranh như Trê cóc, Đám cưới chuột, Đánh ghen, Hứng dừa cách nay vài trăm năm đến những tranh Trai tứ khoái, gái bảy nghề vẽ về thói sinh hoạt đàng điếm của đám trai gái thành thị thời thực dân Pháp đến các tranh vẽ người Pháp Văn minh tiến bộ, phong tục cải lương cách đây sáu bảy mươi năm tự nhiên đóng vai trò phản biện xã hội với con mắt phê phán khá sắc cạnh. Thế mới biết nghệ nhân quan sát cuộc sống và hiểu cuộc sống khá kỹ lưỡng. Có thể nói đó là loại tranh biếm xuất hiện rất sớm ở Việt Nam, ở tư thế độc lập, cao cấp in màu tử tế và được xã hội chấp nhận, giữ gìn. Tranh Đám cưới chuột quá nổi tiếng, ai cũng biết nhà chuột trong buổi nghinh hôn phải lo lễ lạt cho bề trên là ông miêu để được vênh vang rước dâu. Nhưng vào thời mua quan bán tước, nghệ nhân ta chế lại hai chữ “nghinh hôn” thành “tiến sĩ”. Cảnh rước dâu thành cảnh rước tiến sĩ vinh quy, cũng lễ lạt cho mèo để được danh phận. Đám cưới chuột (trái) được “chế” lại thành đám rước Tiến sĩ (dưới) với đầy tính thời cuộc Ai cũng biết tranh đôi Đánh ghen chê cười cảnh lẽ mọn, ông chồng rụt rè can ngăn vợ cả: Thôi thôi bớt giận là lành… còn Hứng dừa thì “đấy trèo đây hứng” quả là ngoạn mục của sự phồn thực. Nhưng lại có một dị bản Đánh ghen, Hứng dừa nữa của thế hệ sau gần chúng ta hơn, khá đặc biệt với chú thích mới: Ở tranh Đánh ghen, cảnh ông già đang lộn xộn trong cảnh tranh chấp vợ cả vợ bé, ông tuyên bố gân guốc với bà cả “nhân lão tâm bất lão” (người già nhưng lòng chưa già!), quyết tâm giữ bà hai. Còn Hứng dừa thì đi xa hơn trong phồn thực với chú thích lẩy từ câu Kiều có sửa đi đôi chút: “trong như ngọc, trắng như ngà”, chẳng phải là anh chồng đang nói về cô vợ “nuy” sao? Tranh Đánh ghen và Hứng dừa (cũ) Tranh Đánh ghen và Hứng dừa (mới) Họa sĩ Đỗ Đức (TT&VH, nguồn: http://khanhhoathuynga.wordpress.com
-
- 1
-
-
KIM TỰ THÁP AI CẬP BÀI 2 :Các Kim Tự Tháp ở Ai Cập Biên khảo: Đức Chính Kim Tự Tháp ở Ai Cập quả là kiến trúc quá kỳ bí trước mắt mọi người, kể cả các nhà khoa học. Chúng đồ sộ đến mức người ta luôn đặt câu hỏi với phương tiện thô sơ thời xưa làm sao người Ai Cập có thể xây dựng được. Nhiều giả thuyết được đặt ra về cách xây dựng chúng sẽ đề cập ở Bài 3, song song đó có những huyền thoại được dựng lên nhằm giải thích Kim Tự Tháp. Tựu trung có hai huyền thoại được nhắc đến nhiều: - Cư dân lục địa huyền thoại Atlamtis của Platon di dân đến Ai Cập sau khi lục địa này chìm. Họ dựng Kim Tự Tháp theo mẫu hình ở quê cũ; - Do người ngoài Trái đất ghé lại và dựng lên. Cả hai huyền thoại này ngoài việc thiếu cơ sở chứng cứ, vả lại còn có một mâu thuẫn mang tính lịch sử để bác bỏ: sự hình thành Kim Tự Tháp có một diễn trình nhất định qua các khảo cứu khai quật. Các Kim Tự Tháp hình chóp đúng nghĩa không đột nhiên xuất hiện trên đất Ai Cập mà là sự biến đổi dần từ hình thái thấp đến cao. Vào thời tiền sử, các di chỉ khảo cổ cho thấy các thủ lãnh bộ lạc được chôn trong các hố ở sa mạc. Do điều kiện khí hậu nóng và khô ráo các thi hài thường khô đét lại thành xác ướp tự nhiên. Có lẽ vì hiện tượng này mà tín ngưỡng ướp xác ra đời. Dưới con mắt thần quyền của người Ai Cập cổ đại, các thủ lãnh là hiện thân cho thần linh nên không thể vùi xác trong hố cát mãi. Họ đã dựng lên một gò mộ vuông vức cho các vị này vào Sơ kỳ thời Triều đại (năm 3000-2500 trước Công nguyên) bằng đất bùn phơi khô. Với loại vật liệu này các ngôi mộ không thể trụ đứng được với thời gian cho chúng ta ngày nay chiêm ngắm, nhưng các khai quật khảo cổ ở Nagada và Hierakonpolis đã chứng minh sự tồn tại của chúng vào thời kỳ này. Các khai quật cũng cho thấy người Ai Cập thời ấy bắt đầu có tục thờ thần Âm phủ Orisis (như Diêm Vương theo tín ngưỡng người Việt và người Hoa). Điều này chứng tỏ tín ngưỡng vãng sinh Ai Cập đã manh nha, nghĩa là họ đã có ý niệm tâm linh khá rõ về cái chết cách nay gần 5.000 năm. Đến cuối thời Sơ kỳ Triều đại bước sang Thời vương quốc cổ (năm 2500-2100 trước Công nguyên) mới có những lăng mộ vững chắc mang hình thái của ngôi đền. Tại Meidum vẫn còn một lăng mộ được các nhà nghiên cứu cho rằng có lẽ của Pharaoh Snofru (triều đại thứ 4 thời Vương quốc cổ). Lăng mộ này có những đàn tế nhỏ hình vuông ở trên nóc nên có thể coi là tiền thân của loại Kim Tự Tháp bậc thang thời Vương quốc cổ. Trước di tích này còn có nhiều lăng mộ của các pharaohs khác (triều đại 1,2 và 3) đơn giản hơn và ít kiên cố hơn, nay chưa phát hiện ra. Cho thấy Kim Tự Tháp là loại hình lăng mộ được phát triển từ đơn giản đến phức tạp, diễn trình của chúng tuân theo sự tiến hóa tâm linh thời Ai Cập cổ đại. Qua thời Vương quốc cổ các pharaohs có quyền lực của một quân vương đúng nghĩa. Các vị này nắm giữ trong tay toàn bộ tài lực và nhân lực của Ai Cập với cơ chế quân chủ thần quyền. Quy mô tổ chức xã hội nhờ đó khá hoàn thiện và Kim Tự Tháp bậc thang với đòi hỏi tập trung tài nguyên và sức người cao đã ra đời. Trong cuốn The Penguin Historical Atlas Of Ancient Egypt – 1996, tác giả Bill Manley viết: “Thực sự nhiều dinh thự to lớn nhất trên đất nước do hoàng tộc triều đại thứ 3 và thứ 4 chiếm giữ, trong số đó có các tể tướng (vizirs) của triều đình. Nếu đây là mốc phù hợp để ấn định bước khởi đầu Thời Vương quốc cổ, vậy chắc hẳn Kim Tự Tháp bậc thang Negerykhet (hay còn có tên là Djoser) là Kim Tự Tháp bậc thang lớn và cổ nhất ở các phức hợp Kim Tự Tháp Sakkara được dựng lên dành cho các vị thánh vương”[1]. Thế là từ gò mộ, sau khi chuyển tiếp lên thành đền thờ, đã bước đầu biến thành Kim Tự Tháp bậc thang. Sau Kim Tự Tháp bậc thang là Kim Tự Tháp mặt cong (bent pyramid), một hình thái trung gian của Kim Tự Tháp hình chóp đúng nghĩa. Sự chuyển tiếp này không rõ vì yếu tố tâm linh gì, nhưng rõ ràng cho thấy trình độ kiến trúc thời đó đã có một bước tiến đáng kể. Với hình thái vuông vức rõ ràng dễ xây dựng hơn mặt cong. Cuối cùng là Kim Tự Tháp hình chóp như chúng ta thường nghĩ. Loại Kim Tự Tháp này có mặt nhẵn bao gồm 4 mặt tam giác hội tụ ở đỉnh trên một đáy hình vuông. Từ mặt cong qua mặt nhẵn đòi hỏi một quá trình tích lũy kiến thức xây dựng lớn và lâu dài. Tiêu biểu Kim Tự Tháp hình chóp là Kim Tự Tháp Lớn Kheops (xem ở phần dưới). Nhà Phật thường nói: “Có sinh ắt có diệt”, quy luật này đúng với Kim Tự Tháp. Đến thời Vương quốc mới (triều đại 18, 19 và 20) Kim Tự Tháp không được huy động xây dựng nữa, các pharaohs được mai táng trong cách hầm khoét sâu vào vách đá, như ở Thung Lũng Các Vì Vua ở Thebes (vùng Thượng Ai Cập) và Thung lũng Các Bà Hoàng. Khu di tích Thung Lũng Các Vì Vua có 62 ngôi mộ táng trong vách đá và được UNESCO công nhận là Di Sản Văn Hóa của nhân loại. Hình như sự thay đổi này không do yếu tố tín ngưỡng, mà do yếu tố chính trị xã hội. Triều đại lúc bấy giờ suy yếu, quyền lực bị phân tán và xã hội bất ổn. Việc xây dựng Kim Tự Tháp tốn hao nhiều tài nguyên không thể thực hiện được. **** Cho đến nay, giới nghiên cứu cho biết có nhiều quần thể Kim Tự Tháp dọc bên bờ sông Nil. Ở bài này đề cập đến các khu: - Quần thể Kim Tự Tháp ở Abu Rawash - Quần thể Kim Tự Tháp ở Abusir - Quần thể Kim Tự Tháp ở Dahshur - Quần thể Kim Tự Tháp ở Fayoum - Quần thể Kim Tự Tháp ở Giza - Quần thể Kim Tự Tháp ở Saqqara A.- Quần thể Kim Tự Tháp ở Abu Rawash: Khu Kim Tự Tháp này tuy nằm cách khu Kim Tự Tháp Giza vài cây số về phía Bắc nhưng ít người lai viếng vì còn quá ít điều để tham quan. Khu này hiện chỉ có Kim Tự Tháp Djedefre đáng chú ý , nhưng lại là phế tích. Còn cái gọi là và Kim Tự Tháp Lepsius chỉ là gò xây bằng gạch bùn. 1.- Kim Tự Tháp Djedefre: nguyên thủy cao 67m hiện hư hại nhiều, hiện chỉ còn là một đống đá di chỉ. Pharaoh Djedefre là triều vua thứ 3 của triều đại thứ 4, con trai của Pharaoh Khufu. Dẫn vào Kim Tự Tháp có một con đường đắp cao từ hướng Đông-Bắc dẫn đến, cuối đường là lớp tường bao nay đã sụp lỡ nhiều đoạn. Bên trong khuôn viên có miếu thờ ở phía Đông và Kim Tự Tháp vệ tinh ở phía Nam. Kế miếu thờ có hố thuyền. Cũng như phần lớn các Kim Tự Tháp khác, phần lõi được xây dựng bằng loại đá từ nơi khác chuyển đến, còn phần ngoài làm bằng đá địa phương. Bên trong khuôn viên tường bao người ta tìm thấy các mảnh vỡ của độ chừng 120 bức tượng, chủ yếu tạc hình pharaoh Kjedefre ngồi trên ngai vàng. Độ ba đầu tượng này được tìm thấy, một đang cất giữ ở Viện Bảo Tàng Louvre ở Paris và một ở Viện Bảo Tàng Ai Cập Cổ Đại ở Cairo. Các nhà nghiên cứu từng cho rằng các pho tượng này bị người anh em cùng cha khác mẹ đồng thời cũng là người nối ngôi vị pharaoh Khafre phá hủy để báo thù cho người anh cùng cha khác mẹ khác là Kauab bị Kjedefre giết giành ngôi. Tuy nhiên giả thuyết này bị nhiều người phản bác, cho rằng các ngôi tượng bị các cư dân trong dùng phá hủy dần dà theo thời gian vì được bảo vệ kém (Kim Tự Tháp này nằm khác biệt lập) 2.- “Kim Tự Tháp” Lepsius: thực ra đây chỉ là kiến trúc bằng đá bùn nằm ở cực đông mũi đất nhiều gò núi, được đoàn khảo sát Lepsius phát hiện và họ tin rằng đó là Kim Tự Tháp. Nói đúng ra kiến trúc này đã được J. Perring phát hiện từ thập niên 1830, sau đó được Bisson de la Roque khảo sát chi tiết thêm và gần đây được nhà khảo cổ học Ai Cập NabilSwelim hoàn tất công trình nghiên cứu hồi giữa thập niên 1980. Đây có phải là Kim Tự Tháp hay không vẫn còn là đề tài gây tranh cãi. Nhóm của nhà nghiên cứu Verner cho là không phải, còn nhóm của Lehner cho là Kim Tự Tháp bậc thang cấp tỉnh lẻ [2]. Có nhà nghiên cứu cho rằng kiến trúc này được dựng lên vào cuối triều đại thứ 3 (như trình bày ở trên là giai đoạn chưa có dấu hiệu rõ nét có sự xuất hiện Kim Tự Tháp), nhưng Verner cho rằng ít nhất phải vào triều đại thứ 5 hay thứ 6 (tức trễ hơn) và luận chứng rằng lõi của nó có khối đá mang từ nơi khác đến theo truyền thống Kim Tự Tháp. Hiện nay một số nhà nghiên cứu tin nó là Kim Tự Tháp của Pharaoh Huni, hoặc giả là Pharaoh Neferka vì một số điểm sau: Trong Kim Tự Tháp này có một khối đá mang từ nơi khác đến và gạch làm bằng đất bùn xây lên trên với độ nghiêng 75-76 độ. Với độ nghiêng này theo lý thuyết lúc ban đầu nó phải cao 107 đến 150 m. Một hành lang dốc 25 độ theo trục Bắc-Nam dẫn xuống phòng mộ hình vuông và phòng mộ được bố trí theo trục đứng so với Kim Tự Tháp như thường thấy ở những cái khác. (còn tiếp) [1] In fact, many of the highest offices of the land were occupied by members of the royal family itself-including most of the vizirs of the 3rd-4th Dynasties. If there is a convenient marker for the beginning of the Old Kingdom, then it is surely the Step Pyramid of Negerykhet (Djoser) at Sakkara, the earliest of the vast pyramid complexes of the god-kings. [2] Kim Tự Tháp tỉnh lẻ, theo các nhà Ai Cập học, là những Kim Tự Tháp nhỏ, hình bậc thang và không làm lăng mộ.
-
Tranh lấy cảm hứng từ tranh Đông Hồ Những bức tranh của họa sĩ trẻ Phạm Huy Thông lấy bố cục và cảm hứng từ tranh dân gian Đông Hồ đã khai mạc chiều ngày 16/6/2009 tại Trung tâm Văn hóa Pháp (24 Tràng Tiền Hà Nội). Xem triển lãm mới thấy giá trị và sức sống bền lâu của nghệ thuật dân gian khi người nghệ sĩ biết cày xới trên mảnh ruộng của cha ông để lại… 1. Cách đây mấy năm, tôi đưa Gérald Gorridge, một họa sĩ Pháp, thầy giáo của Trường Đại học Angoulême ở Bordeau chuyên vẽ tranh truyện về thăm làng tranh Đông Hồ. Sau khi nghe giải thích về những bức tranh quê, ông đưa ra nhận xét: “Thì ra mỗi bức tranh đều được xuất phát từ một câu chuyện”. Tranh Lợn đàn của Đông Hồ (trái) và tranh của Phạm Huy Thông Sau chuyến đi một ngày ấy, Gérald đã nảy ra ý tưởng sẽ lập một dự án vẽ truyện tranh lấy cảm hứng từ tranh Đông Hồ. Cuốn Kể mới ra đời vào năm 2004 là kết quả của dự án giữa trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội và Alliance Francaise (Trung tâm Văn minh Pháp) do ông khởi xướng đã ra đời. Phải nói ý tưởng đó thật tuyệt vời nhưng quá trình thực hiện, các họa sĩ trẻ trong đó có những sinh viên đang theo học tại trường đã không làm được theo ý tưởng của Gérald Gorridge. Cuốn sách giống tranh truyện hành động của Âu châu, tinh thần Đông Hồ bị khuất lấp vì các bạn trẻ chưa kịp đọc được cốt lõi tinh thần của người làng Hồ. Xem các họa sĩ trẻ vẽ hiện đại, học theo tinh thần hội họa phương Tây tôi cứ thấy tiếc tinh thần phương Đông ẩn chứa sau các bức tranh dân gian, tranh thờ cúng khá đặc sắc nhưng không thấy ai tìm hiểu, hoặc tìm hiểu mà chưa thấm để tìm cảm hứng từ đó. Tôi đoán chắc rằng với tinh thần và sức trẻ, một khi đã ngộ ra việc đó thì sẽ có những bức tranh gây biến động đời sống sáng tác trong giới trẻ. Chắc chắn là vậy. 2. Tôi đã không phải chờ lâu. Triển lãm tranh của họa sĩ trẻ Phạm Huy Thông đã làm được điều đó. Lấy cảm hứng từ trong tranh của người xưa để áp vào cuộc sống hôm nay là cách mà Phạm Huy Thông đã khéo léo dùng để tạo ra những bức tranh của mình vừa hóm hỉnh vừa tức cười. Xem đây người ta mới thấy giá trị và sức sống bền lâu của nghệ thuật dân gian khi người nghệ sĩ biết cày xới trên mảnh ruộng của cha ông để lại. Phạm Huy Thông đã nhìn tranh đôi Tiến tài tiến lộc thành một hình ảnh đối xứng cụ thể đầy chất trào lộng: tiến tài bê hộp bột giặt Tide, tiến lộc thì đang bê chiếc giày trên tay để quảng cáo hàng. Tranh Rước trống là lũ trẻ vui nhộn đẩy xe kem, ồn ào như chợ vỡ, chơi đàn thả bóng bay trên đường phố. Tranh nhà nông với con trâu thành ông nông dân ngán ngẩm vì mất đất rao bán trâu và bắn số điện thoại di động lên mình trâu để người mua tiện liên hệ. Khoáy âm dương trên mình tranh Lợn đàn biến thành những chiếc băng cối đồ sộ, mõm lợn thành muôn vàn những chiếc loa loe xoe như đang muốn rống lên thống thiết. Tiến sĩ vinh quy thời nay ngồi trên xe tăng lao rầm rầm trên đường phố với loa phóng thanh giống các loa công cộng chĩa về mọi ngả, hai bên sườn xe là những trung nam bản xã áp sát tiền hô hậu ủng hết cỡ cho cái vẻ vang công thành danh toại. Tranh Phú quý của Phạm Huy Thông Em bé trong tranh Phú quý thì tay cầm micro, tay ôm đài, xung quanh ngổn ngang các thiết bị âm nhạc với đám dây nhợ lằng nhằng cũng đang xả âm thanh chát chúa… Người xem không thể không mỉm cười cách phê phán thời hiện đại được dựng lên từ tinh thần trào lộng của người xưa, quyết liệt hơn người xưa, hài hước hơn người xưa, thật là một sự đồng hành đầy duyên nợ không thể không khiến người xem sau những trận cười vãi nước mắt lại ngậm ngùi về thế sự. Không thể nói hết cái hay, cái dí dỏm hài hước mà họa sĩ đã khéo đắm mình vào cuộc sống dân gian và thế sự tạo dựng lên trong một bài viết ngắn. Các bạn hãy đến với phòng tranh, đắm mình vào đó để sống với hiện tại và nhớ về cha ông ta một thời, để cùng chia sẻ với họa sĩ và cảm nhận về tinh thần văn hóa một thời của người dân đồng quê Việt. Hoạ sĩ Đỗ Đức (TT&VH)
-
Chương 7: ĐỘNG BIẾN Sáu hào không động thì chẳng biến. Hễ động thì biến. O là Dương, động thì biến Âm - - X là Âm, động thì biến Dương --- Giả như quẻ Càn, hào 1 động hóa thành quẻ Tốn --- --- -O- - - Nếu quẻ Càn, hào 1 và hào 3 động thì hóa thành quẻ Khảm -O- - - --- -O- - - Giả như quẻ Khôn, hào 2 động biến thành quẻ Khảm - - -X- --- - - Nếu quẻ Khôn, ba hào đều động thì biến thành quẻ Càn -X- --- -X- --- -X- --- Giả như chiếm đặng quẻ Thủy Thiên Nhu, biến ra Thiên Thủy Tụng -X- Thê Tài Tý Thủy --- Huynh Đệ Tuất Thổ --- Huynh Đệ Tuất -X- Tử Tôn Thân Kim --- Phụ Mẫu Ngọ Hỏa -O- Huynh Đệ Thìn Thổ - - Phụ Mẫu Ngọ Hỏa --- Quan Quỷ Dần Mộc -O- Thê Tài Tý Thủy - - Quan Quỷ Dần Mộc Ba hào trên là quẻ Khảm, tức là Khảm ở ngoài: Thân Kim, Tuất Thổ, Tý Thủy, cho nên hào thứ 4 là Thân Kim, hào thứ 5 là Tuất Thổ, hào thứ 6 Tý Thủy; biến ra quẻ Càn, tức là Càn ở ngoài: Ngọ Hỏa, Thân Kim, Tuất Thổ; cho nên Thân Kim biến ra Ngọ Hỏa, Tý Thủy biến ra Tuất Thổ. Hào giữa không động nên không biến. Ba hào dưới là quẻ Càn, tức là (nội) Càn ở trong: Tý Thủy, Dần Mộc, Thìn Thổ, cho nên hào thứ nhất là Tý Thủy, thứ 2 là Dần Mộc, thứ 3 là Thìn Thổ; biến ra quẻ Khảm là (nội) Khảm ở trong: Dần Mộc, Thìn Thổ, Ngọ Hỏa; cho nên Tý Thủy biến ra Dần Mộc, Thìn Thổ biến Ngọ Hỏa, Hào giữa không động nên không biến. Những hào mới biến ra, theo lục Thân, thì lấy theo lục Thân của quẻ CHÍNH (quẻ đầu) mà lấp vào. Xem lại cách an lục Thân quẻ trên sẽ rõ. Chương 8: DỤNG THẦN Hào Phụ Mẫu: Chiếm cho cha mẹ, thì lấy hào Phụ Mẫu trong quẻ làm Dụng Thần. Hoặc cho ông bà của ta, cha mẹ của chú bác, của cô dì, phàm lớn hơn cha mẹ ta, hay là bằng như chú bác cô dì, cùng là Thầy, cha mẹ vợ, cha mẹ của vú nuôi bái nhận, tam phụ bát mẫu. Hoặc tôi tớ hay người làm chiếm cho chủ, đều lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng Thần. Chiếm về trời đất, trời mưa, thành ao, tường rào, nhà cửa, ghe xe, áo quần, khí cụ (đao, kiếm...), bô vải, tạp hóa, cùng là tấu chương, văn thư, văn chương, thi cữ, thư quán, văn khế, giấy tờ, đều lấy hào Phụ Mẫu làm Dụng Thần. Vật loại rất nhiều, tại người thông biến. Nói tóm lại, các vật loại có tính cách tỷ hộ hay tỷ trợ thân ta, tức là nuôi nấng, che chỡ, đỡ đần cho ta đều thuộc hào Phụ Mẫu. Phụ Mẫu là hào khắc Tử Tôn, là Kỵ Thần của Tử Tôn. Hào Quan Quỷ: Chiếm công danh, quan phủ, việc quan, lôi đình (sấm động), quỷ thần, xác chết, vợ chiếm cho chồng đều lấy hào Quan Quỷ làm Dụng Thần. Chiếm yêu nghiệt, loạn thần, đạo tặc, tà xí, những điều nghi kỵ lo âu, những lo sợ, tai họa, cũng đều lấy hào Quan Quỷ làm Dụng Thần. Vật loại cũng nhiều, nói tắc lại là những món câu thúc, khắc chế, thân ta đều thuộc hào Quan Quỷ. Hào Quan Quỷ là hào khắc Huynh Đệ, là Kỵ Thần của Huynh Đệ. Hào Huynh Đệ: Chiếm anh em, chị em ruột, cùng là những bà con trong họ, như con cô dì chú bác, anh em rễ, anh em bạn, trời gió, đều lấy hào Huynh Đệ làm Dụng Thần. Anh em là người ngang hàng, đồng loại. Người kia đắc chí thì người nọ xâm lăng, thấy Tài thì đoạt. Cho nên chiếm Tài vật, lấy hào này làm thần cướp của, cướp tài; chiếm mưu sự, lấy nó làm thần cách trở; chiếm vợ hầu, tôi tớ, lấy nó làm thần hình thương khắc hại. Chiếm cho anh rễ, em rễ, lấy Thế hào làm Dụng Thần mỗi khi tôi (tức Thánh Dã Hạc) đều thấy nghiệm. Chiếm cho anh em chú bác và cô cậu, lấy hào huynh đệ làm Dụng Thần thì không nghiệm, rồi phải lấy Ứng hào làm Dụng Thần. Hào Thê Tài: Chiếm cho Thê Tài, tôi tớ, tay sai, phàm những người của ta sai khiến, đều lấy hào Tài làm Dụng Thần. Chiếm hóa Tài, châu báu, vàng bạc, kho vựa, tiền lương, nhất thiết các món để dùng, nào là tài vật, nào là thập vật, khí minh (trời nắng sáng), đều lấy hào Tài làm Dụng Thần. Hào Thê Tài là hào khắc hào Phụ Mẫu, là Kỵ Thần của Phụ Mẫu. Hào Tử Tôn: Chiếm cho con cháu, con cái, con rễ, con dâu, môn đồ, phàm theo hàng với con cháu của ta, đều lấy hào Tử Tôn làm Dụng Thần. Chiếm cho trung thần, lương tướng, y sĩ, y dược, tăng đạo, cửu lưu thuật sĩ, binh tốt, trăng sao, đều lấy hào Tử Tôn làm Dụng Thần. Chiếm lục súc (chó mèo heo gà nuôi trong nhà), cầm thú, cũng lấy hào Tử Tôn làm Dụng Thần. Tử Tôn là Thần phúc đức, là thần chế Quỷ, là Thần giải phiền rầu, ưu nghi, mà cũng là Thần bác (khắc chế) quan, tước chức. Nên gọi phước Thần, mọi việc chi gặp nó thì vui vẻ. Chỉ có chiếm công danh thì kỵ nó mà thôi
-
Hành Trình Kỳ Lạ Của Một Lạt Ma Người Việt
Thiên Đồng replied to Thiên Đồng's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Hành trình kỳ lạ của một người Việt đến Tây Tạng Kỳ 1: Đến Lhasa Thanh Niên – Thứ sáu, ngày 18 tháng mười một năm 2011Vài ngày sau khi đến Lhasa, Lạt ma Thubten Osall Nguyễn Tấn Tạo đã xuất hiện trên đường phố với pháp phục màu vàng chói uy nghiêm của một thiền sư khiến dân chúng cả thành Lhasa kinh ngạc và lo lắng giùm cho ông, vì đây là điều cấm kỵ từ lâu ở xứ này. Sự xuất hiện khác thường Theo ghi chép của ông trong Nhật ký tham bái Ấn Độ - Tây Tạng (chưa xuất bản) thì thời ấy việc mặc pháp phục màu vàng đi giữa thành phố Lhasa là vi phạm luật định: “Bất cứ ai nếu thấy mặc đồ vàng thì phải bị bắt và đánh đuổi ra, vì xứ Lhasa trọng sắc vàng lắm. Sắc Phật chỉ đặng làm y, làm áo, làm mão, còn ai dùng làm chăn, làm quần, làm vớ, làm giày bằng sắc vàng ấy thì bị phép nước bắt đánh đòn, lột đồ ấy rồi đuổi ra khỏi nơi cư ngụ. Nhơn dân quăng đá mắng chưởi. Ấy là tục lệ xứ này vậy”. Sau vài giây phút ngỡ ngàng, dân chúng thành Lhasa đã yên lòng vì thấy đi bên cạnh ông là những quý tộc và những viên chức hộ tống đưa ông đến dinh của một vị quan cấp cao nhất Lhasa đương thời, mà ông gọi là “thừa tướng” cho dễ hiểu: “Quan thừa tướng cho người lại bảo bần đạo phải đắp y bi sô (tức pháp phục màu vàng của tỳ kheo) chứ không nên bận đồ Tây Tạng đi yết kiến” và đó là một đặc ân hiếm thấy. Trước kia, đã có những vị tỳ kheo các vùng khác đến Tây Tạng nhưng cũng không được mặc sắc vàng như ông. Vì thế, khi ông xuất hiện, người lớn trẻ em đang đứng “trên đường và hai bên phố đều dòm ngó xầm xì”... Đến dinh thừa tướng cũng vậy: “Cả người trong dinh đều thấy, đã đồn rân khắp thành thị, phần đông đều hiểu trước thầy là người quen của nhà thừa tướng”. " " Chùa Tây Tạng ở Bình Dương (do Lạt ma Nguyễn Tấn Tạo khai sơn) hiện nay với phong cách kiến trúc theo mô hình các cổ tự ở Himalaya - Ảnh: Võ Văn Tường Quan thừa tướng và phu nhân mời ông ngồi trên đơn, còn những người khác tháp tùng “ngồi trên rầm trên đất”, vì tục người Tây Tạng không có bàn ghế bằng gỗ. Phu nhân đeo ngọc châu “tóc rẽ làm hai, đeo trên hai góc ngôi sao, bỏ xả hai bên tai (chạy xuống) khỏi vai, đoạn dưới tóc bính, rồi đâu hai bính ra sau lưng, có một sợi ngọc điệp cột hai bính ấy”. Bà bưng một cái đĩa bạc trên có đặt sẵn bình trà, bình sữa và bình đường cũng bằng bạc, đem đến mời ông. Lần thứ hai, vào 1.7.1936, quan thừa tướng lại sai người đến mời ông lần nữa, lần này để xem hát ở dinh. Hết lớp hát khoảng 9 giờ đêm, phu nhân đãi trà và chính tay bà quẹt lửa cho ông đốt thuốc. Tiếp kiến pháp vương Chính nhờ thừa tướng và phu nhân cùng các lạt ma có uy tín lúc bấy giờ ở Lhasa mà sau đó ông được giới thiệu để tiếp kiến Pháp vương Bodalama lần thứ nhất ngày 3.7.1936. Ấy là một ngày có ý nghĩa rất lớn đối với ông trong chuyến hành hương. Là vì lần đầu tiên ông yết kiến pháp vương có “mặt mày sáng láng, ngồi trên long đơn, trước có tợ sơn son phết vàng, trên đơn trải gấm Tây Tạng, nội bộ chỉ có bần đạo đắp y vàng rực từ trên sắp dưới, làm cho quốc vương chăm chỉ ngó ngay, khiến các lạt ma và quan nội điện đều để mắt”. Pháp vương rất hài lòng, ngài cầm một nắm dây lụa điều màu đỏ quấn lên cổ ông thân thiết. Khi ra về, dân chúng hai bên đường phố Lhasa thấy sợi dây điều màu đỏ trên cổ ông đều biết ông ở trong ngự điện thiền cung mới ra nên tỏ thái độ cung kính chiêm ngưỡng ông. Ông yết kiến pháp vương lần nữa vào ngày 4.10.1936, sau đó được pháp vương ban pháp danh là Thubten Osall Lama. Theo ông giải thích: “Thubten là tên của đức Tả tê Lama thái thượng hoàng đã băng. Thubten (có nghĩa là): vòng cứng bền chắc của kim cương. Còn chữ Osall (có nghĩa là): ánh sáng mặt trời - tên của đương kim quốc vương lạt ma, nên bần đạo biết Thubten Osall có nghĩa là Huệ Nhựt (có thể hiểu là: ánh sáng trí huệ phóng chiếu rực rỡ như mặt trời)”. Được pháp vương và các lạt ma, quý tộc Tây Tạng giới thiệu, ông đã đến thăm điện Potala - nơi được mệnh danh là trái tim hoặc linh hồn của thủ phủ Lhasa, tận mắt quan sát, chiêm ngưỡng và ghi lại cảnh chùa cất trên đỉnh núi với rất nhiều đèn lưu ly thắp bằng beurre tại các điện, với nhiều lầu nhiều nóc mà nóc nào cũng thếp vàng khiến ông “chói mắt vì thấy nhiều điện Phật toàn bằng vàng ròng, lư đèn, lục bình các món cũng vậy... Ôi đến nơi: thấy tháp cao lớn, cả trên dưới đều thếp bọc vàng ròng, chạm trổ, ngọc thạch xanh, đỏ, vàng, trắng, lưu ly, pha lê, trân châu, thủy xoàng của quan dân cúng dường gắn khắp tháp”. Những ghi nhận của ông về điện Potala hoàn toàn phù hợp với tài liệu do Lạt ma Lobsang Rampa cung cấp sau này qua cuốn Các lạt ma hóa thân (Lê Nguyễn dịch, NXB VH-TT 2003). Theo đó, điện Potala là một cung điện khổng lồ xây trên miệng một núi lửa đã tắt và trên nền móng của một cung điện cũ, ngọn hỏa sơn này “chứa trong lòng nó những hang động bí mật với hàng ngàn đường hầm tỏa ra tứ phía. Có những hang động cất giấu nhiều tài liệu cổ xưa hàng chục thế kỷ. Có những kho chứa châu báu, vàng ngọc từ thời đại xa xưa. Rất ít ai được biết đến những chỗ này (...) những mạch vàng lớn khoảng mấy chục thước bề ngang, ngày xưa nhiệt độ cao đã làm vàng chảy ra như sáp nến về sau nguội dần, đông đặc lại thành những mạch vàng dài như một con rồng uốn khúc. Bây giờ chắc hiểu tại sao người ta xây cung điện khổng lồ lên trên miệng núi lửa như thế (...) nếu không biết che giấu, Tây Tạng có thể trở nên một chiến trường đẫm máu do lòng tham vô độ của con người” (sđd trang 63). Ông cũng đã đi nhiều chùa lớn và tu viện khác thuộc vùng phụ cận của Lhasa, để rồi một hôm - ông bất ngờ gặp một đại sư bí mật trong hẻm núi vắng lạnh và trở thành chuyện lạ nhất của chuyến hành hương. Vì chính cuộc kỳ ngộ đó đã đánh thức trí nhớ và công phu tu tập từ tiền kiếp của ông... Kỳ 2: Rời xứ tuyết Trước ngày rời Lhasa, Lạt ma Thubten Osall Nguyễn Tấn Tạo đã gặp một vị Tổ sư sống ẩn dật trong hốc núi tuyết... Gặp Tổ sư trong núi lạnh Vào một ngày rằm, ông cùng Lạt ma Shamden (là vị Lạt ma được Pháp vương Tây Tạng cử đến ở cạnh ông) ra một bờ suối lớn vùng phụ cận Lhasa. Suối này uốn lượn thông đến các dãy núi cao và xa hút tầm mắt. Đến khúc quẹo vắng vẻ, ông tách ra đi dạo một mình và đột nhiên cảm thấy đường đi quen quen, giống với con đường ông đã thấy trong một giấc mộng trước đó. Quanh co gần cả buổi sáng, cuối cùng đến một hẻm núi vắng lạnh, bên trong có một người đang chờ ông, đó là vị Tổ sư (chữ của ông dùng) sống ẩn dật lặng lẽ không biết đã bao nhiêu năm ở đây. Ông đảnh lễ ngài. Ngài lấy một tấm đá có khắc mấy dòng chữ đưa cho ông bảo hãy nhận lấy để hành trì pháp môn của Đức Bồ đề Đạt ma chính lý. Tiếp đó ngài đem yếu lý Tâm kinh Bát nhã ba-la-mật-đa ra truyền: “Ôi nhờ ngài chuyển tư tưởng mở cả trí não của bần đạo, làm cho bần đạo đoạt lý tâm kinh, mới biết đó là đại thần chú của tam thế chư Phật. Đảnh lễ cảm ơn giáo hóa. Ngài cười rồi đứng dậy rờ đầu bần đạo rằng: Nhân duyên trong đạo nhiều kiếp qua rồi, nay gặp nhau cũng còn dìu dẫn. Bông ưu đàm nải búp (đơm nụ) chẳng bao lâu sẽ trổ...”. Trong khoảng thời gian nhanh chưa đầy một búng ngón tay, ngài vẽ một bông sen trong lòng bàn tay phải của ông, nói: “Kinh (mang) tên bông này (ngươi) có tụng đọc mà chẳng đoạt lý hay sao?” (Kinh Diệu pháp liên hoa - tức Pháp Hoa). Ngài lại “móc một cục đất dưới chân (đất mềm) nắn ra hình một cái chén, đoạn thổi một hơi khô queo. Ngài hỏi cái chi? Bần đạo đáp: Đất...”. Ngài khen: “Đúng lắm... trước nó là đất, bây giờ ra hình là cái chén”. Có ý bảo rằng: Đất có thể tạo nên nhiều thứ đồ dùng hình trạng khác nhau như chén, đĩa, bát, bình hoa... Nhưng cái thể chung nhất của các thứ đồ vật ấy vẫn là đất thôi. Người có con mắt đạo nhìn xuyên qua những hình tướng sai biệt bên ngoài để thấy cái “đồng nhất”, cái “nhất thể”, cái “nguyên sinh” của vạn vật, vốn không hai, không khác. Nếu có cái hai, ba, bốn, năm và nhiều vô lượng nữa thì vẫn chỉ là những “hoa đốm trên không” rốt cuộc sẽ bị hoại diệt như kinh Kim Cương chỉ rõ: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”. Nghĩa là phàm thứ gì có tướng trạng (như con người, các loài vật, nhà cửa, bàn ghế, cây cối, núi non, rừng rậm, tinh tú, các thiên hà) đều phải theo thời gian hư hoại. Từ nghĩa đó, Tổ nhìn thẳng vào ông chuyển trí để ông “thấu đáo kinh Kim Cương nghĩa lý nhiệm màu” và kêu lên: “Ôi! Tu trong mấy kiếp, đoạt lý một giờ...”. Trở về nhà, ông không kể lại gì về chuyện mình đã gặp Tổ sư, mãi đến trước ngày rời Lhasa khoảng nửa tháng ông mới hỏi Samdhen: “Này huynh, vậy chớ huynh có biết hướng nam nơi dãy núi từ Bumpari chạy dài theo mé suối lớn có vị đại đức Lạt ma nào ẩn dật tu hành nơi ấy chăng?”. Samdhen đáp: “Khi tôi còn nhỏ trong khoảng 9 năm trời ở tại chùa Dzêsbung tôi đã nghe nói có nhiều vị đại Lạt ma ẩn dật trong hang núi để tu hành cao pháp (pháp tối thượng) nhưng ít ai gặp đặng các ngài... nhưng làm sao thầy biết vậy mà hỏi tôi?”. Ông đáp: “Nếu tôi không biết thì làm sao hỏi huynh đặng (...) tôi có đến gặp đại lão Lạt ma, người thông tiếng Hindou lắm”. Samdhen nài nỉ hỏi vị đại lão Lạt ma ấy nói gì. Ông bộc bạch thiệt tình: “Có, nhưng tôi không thể nói lại cho huynh hiểu... Vì nghe qua thì hiểu, mà nói lại thật khó lắm!”. Tháp tròn tại chùa Tây Tạng (Bình Dương) tạo hình theo phong cách mỹ thuật Tây Tạng - Ảnh: Giao Hưởng Về lại Việt Nam Sau hơn 5 tháng ở Lhasa (28.5 đến 29.10.1936), ông từ biệt Pháp vương Tây Tạng và các Lạt ma để lên đường về lại Việt Nam. Chuyến về lượt này đông hơn, vì có thêm 8 mã tử tháp tùng và 36 con ngựa thồ đồ đạc, với lộ trình phải trải qua từ Xhuxul, Bede, Namcachê, Ralum, Yăngsê, Khăngma, Kala, Tunna, Pharijong (trả ngựa), tiếp đến: Gialinkha, Chima, Natăng, Linhđam, Tchongthapa, Arakara, Kalimpong. Trên những chặng đường đó, ông ghé qua nhiều xóm làng tuyết phủ như Dranhđaziga, Yokăng, Samadước, Xhalu, vượt qua đỉnh Kharula, Nađăng, Zêlêla, ghé các quán gió hú hẻo lánh ở Nepal để uống vài ly trà nóng biệt ly... Đến chân dãy Himalaya, ông theo các tuyến xe lửa đi thấp dần xuống đồng bằng có nắng và đặt chân vào đất Ấn Độ, tới Calcutta, rồi xuống tàu đi Ceylon, hồi tưởng mới ở đỉnh núi tuyết lạnh lẽo, bây giờ tựa như chớp mắt ngủ dậy “sáng ra đã thấy biển mênh mông” quanh mình. Lên bờ, ông ra mắt “giáo chủ tại Đại học đường Pali” và nhận thêm một pháp danh tiếng Pali nữa: Manjusri (Manhgiusshri). Qua chuyến đi, ông ghi nhận tượng ngài Di lặc thờ ở Ấn Độ (và ở Tây Tạng) có khác với tượng Di lặc đang thờ ở Việt Nam (và Trung Quốc)... Về lại Việt Nam, trong sáu năm từ 1944-1950, Lạt ma Thubten Osall Nguyễn Tấn Tạo (tức thiền sư Nhẫn Tế - Minh Tịnh) đã dịch bộ Lăng Nghiêm tông thông (do Nam Nhạc Tăng Phụng Nghi soạn), sau này được ấn hành bởi Thành hội Phật giáo TP.HCM, năm 1997, gồm hai tập, 1.463 trang (tái bản trọn bộ bởi NXB Tôn Giáo - Hà Nội 2002). Giao Hưởng nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/ -
@ Hơi & Mao, Nên chọn 8/12 âm giờ Mùi 13g-15ghay giờ Dậu 17g-19g. hay chọn 12/12 âm giờ giờ tị 9g-11g. Chúc hạnh phúc Thiên Đồng