-
Số nội dung
6007 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
103
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by wildlavender
-
Đã nhận 200,000 đ (hai trăm ngàn đồng) của Longphibaccai ủng hộ Quỹ Từ Thiện.Quỹ hiện có: 1,900,000 đ + 200,000 đ = 2,100,000 đ (hai triệu một trăm ngàn đồng)
-
Chuyển giờ và khắc giao thừa ! Kính chúc Bác Thiên Sứ Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Lý học Đông Phương bước sang 2012 đạt nhiều bước tiến trong việc vinh danh nền VĂN HIẾN VIỆT. Chúc toàn thể ACE thành viên hội viên 1 năm mới thành công hạnh phúc thắng lợi hoàn mỹ.
-
TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN 2011 Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương Wildlavender Quỹ từ Thiện của Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương đã được sự tín nhiệm của quí vị hội viên giầu lòng hảo tâm đóng góp, nhằm giúp đỡ cho những mảnh đời bất hạnh. Qua một năm tích cực hoạt động, nhân Tất Niên năm 2011 và chuẩn bị bước sang năm mới, thay mặt ban Tử Thiện của Trung Tâm, chúng tôi công bố tường minh tổng kết hoạt động của Quỹ Từ Thiên như sau: Được sự đóng góp của ACE sinh hoạt trong và ngoài diễn đàn từ tháng 1/2011 đến 31/12/2011. Số tiền tổng cộng nhận được là: 135,100,000 đ (một trăm ba mươi lăm triệu một trăm ngàn đồng). Đã trao tặng 133,000,000 đ (một trăm ba mươi ba triệu ngàn đồng) 25 trường hợp và các hoàn cảnh đặc biệt trong đó gồm có: * 1 chương trình Tôn tạo Tịnh Thất Quan Âm tỉnh Lâm Đồng. * 1 chương trình chia sẽ Nhân Dân Nhật Bản trong trận Động đất sóng thần lịch sử. * 5 Chương trình trao tặng suất ăn cho Bệnh nhân nghèo đang điều trị tại BV Ung Bướu TP HCM. * 3 trường hợp Các cháu mồ côi. * 15 cá nhân hoạn nạn hiểm nghèo. Thay mặt Ban Điều hành Diễn Đàn, xin chân thành tri ân những tình cảm đóng góp của tất cả ACE xa gần đã tạo điều kiện cho chúng tôi làm chiếc cầu nối đến với bao mãnh đời.Nguyện hồi hướng những phước báu này đến với toàn thể chúng sanh đang còn ngập chìm trong bể khổ nhân gian. Xin nhận con làm công cụ hòa bình, nơi nào hận thù xin cấy trồng yêu thương.Nơi nào hận thù ,xin cấy trồng tha thứ..........
-
Danh sách này còn thiếu Trung(Phu Nhân) phải ko ah?
-
Happy Birthday and Enjoy TuyetMinh! Năm mới ! Xinh tươi mới !
-
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Rest in Peace và các bạn thân mến! Đây là tâm nguyện và cũng là đại nguyện mong đem lại lợi lạc cho toàn thể chúng sinh của những ACE đã đóng góp tài vật cùng công sức hành trì của các Thánh Tăng Rinpoche để Wild thực hiện, một lời cám ơn của các bạn đủ tăng nhiều phước báu, nhưng ở đây chúng tôi "nguyện hồi hướng tất cả công đức này đến những ai còn đang vướng kiếp nạn và nguyện không giữ lại chút gì cho riêng mình"" vì lẽ trên Wild chỉ mong sao các bạn nhận được nhiều sự chuyển hóa từ thần chú GIẢI THOÁT màu nhiệm. -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Đã xem tin nhắn của ajinomoto, những gì cần kíp để giúp gia đình Ajinomoto, Cô gởi đầy đủ hơn! Cần thêm thông tin trao đổi với cô qua dt đính kèm ngoài bì thư. Chúc các thành viên của gia đình tai qua nạn khỏi ! -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Bác sẽ gởi đến con 15 bản chú có được không? Có thể vào ngày mai nhưng không biết Bưu Điện có nghĩ lễ thì gián đoạn 1,2 ngày chậm đến. Hy vọng con phân đủ cho các bạn và hồi đáp Bác ở đây nhé! -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Chỉ cần có tín tâm vì đây là Thần Chú của Đức Phật không đòi hỏi một nghi thức nào cả! -
Ngọn tháp 'chọc trời’ trong lòng đất ở Việt Nam Đó là tòa bảo tháp được xây dựng vào khoảng thế kỷ 11, gắn liền với truyền thuyết về chiều cao “chọc trời” mà những người đứng ở kinh thành Thăng Long (cách 20km) vẫn có thể nhìn thấy. Cuối năm 2008, trong quá trình đào móng xây dựng lại tòa Tam bảo trong Dự án trùng tu, tôn tạo chùa Phật Tích (huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh), các nhà khảo cổ đã phát hiện ra nền móng của một tòa bảo tháp kỳ vĩ được xây dựng từ thời Lý mà sử sách đã ghi lại. Theo các sử liệu, tòa tháp 1.000 tuổi này có chiều cao 42m, tương đương với một tòa nhà 10 tầng thời hiện đại. Trải qua nhiều thế kỷ, bảo tháp đã bị đổ và mất dần dấu tích trong các triều đại sau nhà Lý. Nền móng bảo tháp được phát lộ có hình vuông, trong lòng rỗng, được xây dựng trên sườn đồi và nằm sâu trong lòng đất 3,2m, xung quanh được gia cố, đầm chặt bằng sỏi và đất sét đồi. Phần đáy của móng tháp cao 8,7m so với bờ giếng cổ thời Lý dưới cổng chùa Phật tích. Kích thước chân tháp 9,1m x 9,1m, tường tháp mỗi cạnh dày trung bình 2,4m đến 2,43m, lòng tháp rộng 4,18 đến 4,20m, diện tích 82,81m2. Móng tháp có hai tầng xây giật cấp, chồng lên nhau. Gạch xây tháp được xếp theo hàng ngang, phần đầu gạch đâm ra ngoài, mỗi hàng trung bình xếp 6 viên gạch với nhiều kích thước khác nhau. Chất kết dính để xây dựng tháp hoàn toàn là đất sét nhuyễn, không hề có bất kỳ một chút vôi vữa hay chất kết dính nào khác. Các mạch vữa mỏng đến nỗi nhìn bề ngoài chẳng khác gì các viên gạch được xếp chồng lên nhau… Với các đặc điểm trên, các chuyên gia đã nhận định kỹ thuật xây nền móng tháp ở chùa Phật Tích là hết sức độc đáo, chưa bao giờ thấy trong các công trình khảo cổ ở Việt Nam. Bởi vậy, các nhà khoa học đã nhất trí bảo tồn nền móng tháp trong lòng chùa Phật tích bằng một phương pháp táo bạo, chưa bao giờ thực hiện ở Việt Nam, đó là xây dựng chùa mới phía trên nền móng tháp nhưng vẫn bảo toàn nguyên vẹn di tích này bằng một khu vực bảo tồn và trưng bày trong lòng đất. Giờ đây, những khách thập phương lần đầu tiên đi thăm chùa Phật Tích sau quá trình trùng tu sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi đặt chân vào tòa Tam bảo của chùa. Tại đây, ngay dưới chân pho tượng A-di-đà làm bằng đá – một bảo vật quốc gia có từ thời Lý, du khách sẽ nhìn thấy nền móng tòa bảo tháp hoành tráng nằm trong lòng đất thông qua một lớp kính trong suốt thay cho mặt sàn. Phía sau tòa Tam bảo là hai lối đi xuống tầng hầm, nơi có thể quan sát cận cảnh di tích nghìn tuổi này từ nhiều góc độ khác nhau… Dưới đây là một số hình ảnh PV ghi nhận: Tòa tam bảo của Chùa Phật Tích là nơi đặt tượng A Di Đà bằng đá - bảo vật quốc gia có từ thời Lý. Ngay dưới chân tượng nền móng tòa bảo tháp hoành hiện ra nằm trong lòng đất, sau một lớp kính trong suốt thay cho mặt sân. Dưới ánh đèn huyền ảo và không gian thanh tịnh của ngôi chùa, tàn tích của tòa tháp thiêng liêng như gợi lại vầng hào quang của triều Lý- triều đại lập quốc của người Việt. Phía sau tòa tam bảo là 2 lối đi xuống tầng hầm nơi có thể quan sát cận cảnh di tích. Nền móng bảo tháp có hình vuông, trong lòng rỗng. Mỗi cạnh của tháp rộng 9,1m Mỗi cạnh của tháp rộng 4m2. Tường tháp dày 2m4 Gạch xây tháp được xếp theo hàng ngang phần đầu gạch đâm ra ngoài mỗi hàng trung bình xếp 6 viên gạch với nhiều kích thước khác nhau. Chất kết dính để xây dựng tháp hoàn toàn la 2đất sét nhuyển, các mạch vữa mỏng đến nỗi nhìn bề ngoài chẳng khác gì các viên gạch xếp chồng lên nhau. Trên mỗi viên gạch có đề: Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo (Vua thứ ba, đời Lý , năm Long Thụy Thái bÌnh tứ niên tạo) hoặc "Chương Thánh Gia Khánh". Theo sử sách, Long Thụy Thái Bình là niên hiệu của Vua Lý Thánh Tông từ năm 1504 - 1508. Đến năm 1509 , Vua đổi sang niên hiệu " Chương thánh Gia Khánh" cho đến năm 1065 . Long Thụy Thái Bình năm thứ tư tức là năm 1507. Tượng A Di đà nhìn từ nền móng của tòa bảo tháp chọc trời một thuở. Các chuyên gia nhận định kỷ thuật xây nền móng tháp ở chùa Phật Tích là hết sức độc đáo chưa bao giờ thấy trong các công trình khảo cổ khác ở VN. Chùa Phật Tích (Vạn Phúc tự) nằm dưới chân núi Phật Tích (còn gọi là núi Lạn Kha) thuộc huyện Tiên Du,tỉnh Bắc Ninh. Đây là một trong những ngôi chùa đầu tiên ở nước ta có dấu ấn Phật giáo Ấn Độ, truyền vào từ khoảng thế kỷ thứ II sau công nguyên. Nơi đây từng là một trong những trung tâm của Kinh đô Phật giáo Luy Lâu, với những công trình kiến trúc nguy nga, đồ sộ. Trong đó, nổi tiếng nhất là tòa bảo tháp được xây dựng từ thời Lý, kết tinh của nhiều giá trị văn hóa, nghệ thuật đương thời được nhiều sử liệu ghi lại. Hồng Quân ( Đất Việt
-
Bản Chất Của Khổ Đau
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Bản chất của khổ đau (tiếp theo & hết) Giác Ngộ - Vì sự vật vô thường, nhưng muốn nó vĩnh viễn làm sao có được. Tất cả mọi việc là vô thường, biến đổi, nhưng người khôn thì đổi được, như Phật, Bồ tát chuyển đổi phân, nước, bùn thành hương sen. Kinh Hoa Nghiêm gọi là chúng hoa, nghĩa là tất cả mọi người, ai cũng tốt được, cũng an lạc được, cũng có hương đặc thù; nhưng chúng ta không biết sử dụng cho tỏa hương, vì tham vọng và vô minh mà làm khổ đau cho mình và người. Nếu không biết cách chuyển hóa, khổ đau sẽ chất chồng - Ảnh minh họa Có một vị Tỳ kheo thưa với Phật rằng lúc chưa xuất gia, họ có tiền, có quyền; nhưng theo Phật tu, bỏ hết, nay lại thấy Phật dạy Bồ tát làm các việc công đức, thì họ không làm được nữa. Đương nhiên có quyền, có tiền thì mình làm người mỉm cười dễ, lấy an vui của người làm mình an vui là dễ. Cho người đói miếng bánh mì, họ mỉm cười, ta cũng sung sướng khi thấy họ vui. Vì vậy, người có quyền, có tiền hành Bồ tát đạo dễ; nhưng hết tiền, hết quyền vẫn làm được việc. Như Tỳ kheo Mã Thắng chỉ với tâm an lạc cũng làm cho người giải thoát... Các bậc chân tu làm cho cuộc đời tốt đẹp bằng tâm an lạc của các Ngài. Chúng ta tu hành, từ bỏ đời sống vật chất, có thế giới tâm linh, từ bỏ khổ đau, có đời sống an lạc, mới làm cho người an lạc thật sự. Còn ta cho họ một ổ bánh mì, họ mỉm cười lúc đó thôi, vì sau đó, cái đói của họ cũng tăng lên mà chúng ta không thể giúp họ no mãi được. Vì vậy, kinh Niết Bàn nói rằng ta bố thí mà làm cho chúng sinh tăng thêm tham vọng là người bố thí tự chuốc họa vào thân, vì không thể tiếp tục đáp ứng tham vọng của họ, họ trở thành thù và giết ta. Còn ta bố thí cho họ và giúp họ hiểu đạo, được giải thoát, thì giải thoát của họ là giải thoát của ta. Bỏ tục xuất gia là bỏ thế giới khổ đau, ta sống với thế giới Niết bàn an lạc, tác động cho người an lạc theo. Thật vậy, thực tế nếu chúng ta được tiếp cận với các bậc chân tu đức hạnh, họ sẽ ảnh hưởng tâm ta được an lạc. Bỏ thế giới vật chất, ta phải có thế giới tâm linh; còn bỏ vật chất mà không có tâm linh là mất hết. Trước có nhiều vật chất theo Phật tu hành, nhưng không nhập được cửa giải thoát là mất trắng. Phật tử đừng phạm sai lầm này. Ta bỏ gia đình và công việc, tìm đến tu Một ngày an lạc, nhưng không an lạc là mất trắng thì càng tu càng khổ. Tu hành chúng ta được gì? Bồ tát biến đổi phân, nước, đất thành hương. Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng ai phát tâm tu theo Phật cũng tỏa hương, nếu là công nhân thì là công nhân tiên tiến, nếu là học sinh là học sinh giỏi, nếu là lãnh đạo là người tài ba được mọi người yêu quý, v.v… Nói chung, làm việc theo tâm niệm của Bồ tát đều đạt kết quả tốt, giả sử làm một việc nhỏ nhất như lượm một cây gai bỏ giữa đường vứt vào thùng rác để người khác không giẫm phải, thì việc đó cũng có công đức. Còn ác ma thì đem đinh rải trên đường đi, làm khổ mọi người. Bồ tát làm an lạc cho cuộc đời, trong khi ác ma làm cuộc đời đau khổ thêm. Tất cả mọi người tự giải thoát cho mình và cho người, vì Niết bàn và khổ đau đều là ảo, do chúng ta tạo ra. Chúng ta không tạo nguyên nhân khổ, nhưng tạo con đường giải thoát, thì càng tu càng giải thoát, cho đến đạt được quả vị Phật. Bước đầu, Phật dạy thấp nhất phải suy nghĩ kỹ rằng thân này bất tịnh để chúng ta không khởi tâm tham ái, đoạn trừ tham dục. Đối với người nhiều tham đắm sắc, Phật dạy ra nghĩa địa, nhìn xác chết để thấy thân bất tịnh của ta và của đối tác, chúng ta liền sanh tâm ghê tởm, thì cắt được cái khổ của tham dục. Kinh Bát Đại Nhân Giác dạy rằng: “Tham dục nhiều lụy khổ thêm nhiều. Dạt dào sanh tử bao nhiêu. Cũng vì tham dục mọi điều gây nên”. Trên bước đường tu, nhìn lại dòng lịch sử dài của loài người, chúng ta bắt gặp được các vị hiền thánh, Như Lai và bạo chúa, thì thấy Phật hạnh phúc nhất, rồi đến các vị Bồ tát, hiền thánh, ẩn sĩ. Còn người đau khổ nhất là vua chúa, đau khổ thứ hai là các nhà kinh doanh và đau khổ thứ ba là các tiểu thương, thứ tư là các thợ thuyền. Và người không đau khổ là các thầy tu, vì tâm họ là Không, nhưng không phải vật chất Không. Chúng ta đừng hiểu lầm điều này. Tâm không tham đắm vật chất, mà phước báu họ có đầy đủ là thế giới vật chất có đủ, như Đức Phật Di Đà có vô lượng công đức ở thế giới Cực lạc, không thể đo lường được. Ngài trang nghiêm cuộc sống bằng công đức, không tham vọng. Có công đức và có trí tuệ mới từ không tạo thành có. Quá trình hành Bồ tát đạo của Phật Di Đà tạo được vô lượng công đức, ngày nay chúng ta gọi là sức người, sức của. Công đức đó là phước báu có nhiều của, nhưng nếu không có trí tuệ và không có người hợp tác, thì sự nghiệp cũng dễ mất. Sức người rất quan trọng và xây dựng được người tốt cho đến thành hiền thánh là những người có năng lực cao tột, chắc chắn sẽ tạo thành xã hội tốt đẹp. Còn tập hợp toàn người xấu, xã hội phải xấu. Đầu tiên Phật Di Đà xây dựng An dưỡng quốc, không phải bỏ hết để không có gì. Tu không có gì để trắng tay là sai. Tuy “Bản lai vô nhất vật”, nhưng phải nhớ thêm rằng “Vô nhất vật trung vô tận tạng”; nghĩa là trong cái không có, nhưng công đức phải sanh mới thành kho vô tận. Người Việt chúng ta cũng có câu “có đức mặc sức mà ăn” là nghĩa này. Thực tế chúng ta thấy người có đức khi bị sa cơ thất thế cũng có người thương giúp đỡ họ. Phật Di Đà thành tựu như thị công đức trang nghiêm do hành Bồ tát đạo, do cứu nhân độ thế, mới có được vô lượng công đức. Người thủ đắc sự nghiệp vật chất là mối tranh chấp lớn của lòng tham, sẽ dẫn đến tai họa, khổ đau. Đức Phật buông bỏ tất cả, nhưng Ngài tại thế, những cơ sở vật chất quan trọng nhất đều là của Phật, điển hình là vườn ngự uyển của vua Tần Bà Sa La trở thành Trúc Lâm tịnh xá của Phật, hoặc Kỳ Hoàn tịnh xá của Phật được lát vàng đổi đất. Và Phật Niết bàn cả mấy ngàn năm mà ngôi chùa Phổ Quang này và tất cả ngôi chùa trên thế giới, ai cũng nghĩ là của Phật. Khối Phật ngọc đẹp nhất thế giới cũng khắc thành tượng Phật và Thái Lan có tượng Phật bằng 5 tấn vàng. Có thể khẳng định rằng Phật buông bỏ tất cả, nhưng công đức của Ngài lớn đến độ tồn tại từ nghìn xưa cho đến ngày nay và mãi đến nghìn sau chắc chắn vẫn còn. Đó chính là Chân không diệu hữu. Chúng sinh vì quá tham lam nên cánh cửa tâm linh bị bít kín mà chỉ mở toang cánh cửa đau khổ; nhưng nếu biết đóng cánh cửa vật chất, mở cánh cửa tâm linh thì công đức sẽ sinh ra rất nhiều. Tóm lại, bản chất của khổ đau và Niết bàn là một. Nếu vô minh khởi là sinh tử khổ đau. Chơn như khởi là Niết bàn, Cực lạc. Mong rằng tất cả Phật tử tu hành, từng bước tiến vào thế giới tâm linh cho đến ngày thành tựu quả vị Vô thượng Chánh đẳng giác. HT.Thích Trí Quảng -
Bản chất của khổ đau Giác Ngộ - Đức Phật đưa ra bốn chân lý là Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Mở đầu Phật dạy Khổ đế, cho nên nhiều người lầm tưởng đạo Phật là yếm thế vì cho rằng cuộc đời này là biển khổ. Nhưng thực chất của đạo Phật ở Diệt đế, tức Niết bàn. Tập đế là nguyên nhân đưa đến khổ đau và Đạo đế là phương pháp tu tập để thoát khỏi khổ đau, chứng Niết bàn an lạc. Vì vậy, đạo Phật là đạo dẫn đến sự an lạc, không phải khổ đau. Đức Phật nói rằng thế giới không khổ đau, mà hoàn toàn an lạc thanh tịnh; khi tâm chúng ta thanh tịnh thì thế giới an lạc - Ảnh minh họaĐức Phật dạy rằng do vô minh, vọng kiến ngăn che, nên sanh các tánh ham muốn khác nhau mà tạo ra các tội sai biệt, mới bị khổ đau. Như vậy, khổ không có thực, nhưng do con người tạo ra. Khổ đau này ở đâu? Khổ đau có trong sinh tử, hay trên hiện tượng giới là thế giới sanh diệt, tức thế giới ảo mới có sanh diệt thì mới có khổ đau. Vì khổ đau là ảo, không thực, nên tùy theo tham vọng của từng người mà có khổ đau khác nhau. Đức Phật tu đắc đạo, được an lạc hoàn toàn, tức Ngài trở về sống với thể tánh sáng suốt. Và từ thể tánh khởi lên mới có tư tưởng chơn như duyên khởi, tức từ bản thể sáng suốt khởi, cho nên tạo thành thế giới quan an lạc hoàn toàn là Niết bàn và Tịnh độ. Thế giới an lạc là Tịnh độ, tâm Phật là Niết bàn. Đức Phật nói rằng thế giới không khổ đau, mà hoàn toàn an lạc thanh tịnh; khi tâm chúng ta thanh tịnh thì thế giới an lạc. Vì tâm thanh tịnh, trí tuệ sáng suốt, sẽ không khởi vọng kiến vô minh. Vọng kiến vô minh là thấy sai, chấp sai và hành động sai dẫn đến vô số tội lỗi, cho nên kết cuộc là khổ đau. Vì vô minh vọng kiến sanh ra khổ đau, nên Đức Phật đưa ra phương pháp thấp nhất cho loài người tu là 37 trợ đạo phẩm, gọi là Đạo đế, tức pháp tu diệt khổ từ thấp đến cao. Bước thứ nhất, Phật dạy muốn phá bỏ ảo giác này, chúng ta mượn đối tác với ảo giác để dứt trừ nó. Nghĩa là từ thế giới hiện tượng vật chất là Hữu, Phật đưa ra pháp Không để làm đối tác tu hành. Vì vậy, bước đầu Phật dạy chúng ta quán Không để thấy tất cả mọi hiện tượng trên cuộc đời này là Không, thì sẽ chấm dứt được khổ đau trong sinh tử. Vì nghĩ mọi thứ là có, là sung sướng, mới chạy theo ảo giác này, khiến cho ta phải bị hết khổ này đến khổ khác. Đức Phật ví như người khát nước trong sa mạc thấy nước, nhưng cái thấy đó chỉ là ảo giác, không phải nước thật, cho nên càng tiến sâu vào để lấy nước thì càng khát thêm mà thôi. Vì vậy, khổ đau phát xuất từ cái thấy có, mới khởi tâm ham muốn, để rồi phạm phải những tội lỗi khác nhau. Từ thế giới sanh diệt quán Không để đối trị với Hữu, tức nhìn thế giới này là Không, nên vọng tâm không sanh, chúng ta có được cái ảo giác thứ hai là Niết bàn. Mặc dù Niết bàn này tuy không thực, chỉ là ảo giác, nhưng không làm chúng ta đau khổ như ảo giác sanh diệt. Vì vậy, người phát tâm tu hành đầu tiên phải thực tập pháp này. Thực chất cửa chùa gọi là Không môn. Thiền sư Thanh Từ nói Phật tử đứng trước cửa chùa, không chịu bước vô. Đừng hiểu lầm rằng tới chùa mà không chịu vô, lại đi trở ra. Ý Ngài muốn nói rằng đã đi thẳng vô chùa rồi, nhưng không vào được cửa Không, giải thoát của Phật. Họ vẫn đi chùa, lạy Phật, tụng kinh, nhưng không hiểu Phật pháp, mà cứ chấp vào văn tự kinh, chấp vào tượng, là họ làm nô lệ vật chất của đạo Phật, trong khi không nô lệ vật chất thế gian. Phật tử từ nhà đến chùa, trên đường đi, đầu óc nghĩ đủ thứ, bước vô chùa tâm trí lại tiếp tục lăng xăng, nói năng lăng xăng và hành động lăng xăng, là họ đã vào chùa, nhưng sống ngoài cửa Không. Với tâm đầy ắp những dữ kiện như vậy, nên quỳ trước tượng Phật mà khóc sướt mướt, kể lể đủ chuyện, là chưa vào chùa. Bước vào chùa, ta phải được giải thoát. Điển hình như Mã Thắng nhập cửa Không, tâm Ngài hoàn toàn trống không, không khởi bất cứ vọng niệm tham đắm. Thân tâm và hoàn cảnh hoàn toàn giải thoát như vậy, dù Ngài không sở hữu tài sản gì, nhưng Trưởng lão Xá Lợi Phất trông thấy liền được giải thoát theo. Quý vị làm thí nghiệm trên bước đường tu, sẽ nhận ra lý này. Riêng tôi, trong khoảng thời gian dài suốt 20 năm cầu đạo, đi từ vị trưởng lão này đến trưởng lão khác, nhìn thấy các Ngài, phiền não tự rơi rụng, không cần nói gì cả. Thầy và ta mỉm cười, im lặng vào cửa Không; đó là thực chất của đạo. Còn thầy nói hết lời, ta cũng không hết phiền não là những người trong sinh tử nói chuyện với người sinh tử. Có vị dạy chúng ta đủ thứ, nhưng càng dạy thấy mình bị gò bó ràng buộc, không an lạc; còn không dạy mà mình an lạc. Câu chuyện giữa Ca Diếp với Đức Phật đưa hoa sen lên, Ca Diếp mỉm cười là bài pháp vô ngôn. Thực tế Phật có đưa hoa sen hay không và Ca Diếp có mỉm cười thật hay không, điều này không quan trọng. Quan trọng là chúng ta thấy Đức Phật hiện hữu trên cuộc đời như hoa sen. Vì vậy, Phật được tiêu biểu bằng hoa sen, mà về sau, người ta lại chạm tượng Phật ngồi trên hoa sen và Đức Phật Di Đà ngồi trên hoa sen lớn như bánh xe; nhưng chúng ta hiểu như vậy không được, vì Phật được biểu tượng bằng hoa sen không dính nước, nở trong bùn mà bùn không làm ô nhiễm hoa sen được. Hoa sen tỏa hương là gì? Nghĩa là sanh tử và Niết bàn là một; bùn cũng là hương, hương này do bùn mà tạo thành, còn không biết thì biến hương thành bùn. Ngày nay chúng ta dễ chứng minh điều này. Các loại hương mà chúng ta tổng hợp được là trích từ hoa mới có nước hoa, nhưng hoa hút phân và nước mà cho hương. Vì vậy, trên bước đường tu, chúng ta bắt đầu nhận thức được thực chất của sự vật. Kinh Hoa Nghiêm nói quả Bồ đề thuộc về chúng sinh, vì không có chúng sinh, Bồ tát không thành Vô thượng Đẳng giác. Chúng ta nghĩ Bồ tát tìm đạo ở đâu? Phật dạy tìm ngay trong chúng sinh, hay kinh Duy Ma, Phật dạy tìm Phật đạo trong 64 dị kiến ngoại đạo, tức tìm trong vô minh, chấp trước, khổ đau của chúng sinh thấy có dị kiến ngoại đạo. Thật vậy, vì có vô minh, vọng kiến, nên tạo vô số tội lỗi, mới có khổ đau và đáp ứng khổ đau của quần chúng mới có dị kiến ngoại đạo sinh ra. Đức Phật cho biết nếu Ngài nói ngay rằng chân lý không có khổ đau, thì người ta sẽ theo ngoại đạo. Vì vậy, Phật phải dùng phương tiện nói cuộc đời là khổ, tức nói như vậy cho người trong sinh tử. Ngoại đạo thì cứ khai thác cái khổ và tham vọng của chúng sinh. Họ nghe và theo mới đi sâu vào tội lỗi, như có người tham nghĩ cách kiếm tiền nhiều, mua đất, coi ngày mở cửa hàng, mới tìm đến thầy bói và thầy bói khai thác cái mảng tham lam này của chúng sinh. Nếu người có phước đời trước, may mắn được một chút, lại tiếp tục đến thầy bói nhờ lần thứ hai, thứ ba, chắc chắn sẽ thất bại. Thầy bói không bao giờ nói đúng quá ba lần, vì lúc cái phước của người tham lam chấp trước này cạn kiệt, nên họ phải khổ đau. Có thể nói mọi suy tính do vô minh khởi, thì vô minh này là ảo, nên tạo thành tội lỗi cũng là ảo. Vì vậy, Đức Phật dạy trong kinh Nguyên thủy rằng tất cả chúng ta tu đều có thể đạt được an lạc giải thoát. Đầu tiên Phật dạy thực tập pháp quán Tứ niệm xứ để dứt tham vọng, hết khổ đau, vì càng tham vọng thì càng khổ, hạn chế tham vọng thì ít khổ và không có tham vọng thì không khổ. Biết vạn vật vô thường, sinh diệt biến dị, nếu theo con đường này phải khổ, vì kết thúc của tất cả sự vật đều là Không. Cho nên, Phật dạy quán thân bất tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. (Còn tiếp) HT.Thích Trí Quảng
-
Hôm nay nhận của chauthevinh : 300,000 đ (ba trăm ngàn đồng)Baby Wolf : 200,000 đ (hai trăm ngàn đồng) Tổng cộng : 3,600,000 đ (ba triệu sáu trăm ngàn đồng) Sẽ chuyển ra Đà Nẵng theo tk của VusongAnh
-
Ông Lão Nhặt Rác Trả Lại 45 Triệu Đồng Nhặt Được
wildlavender replied to Thiên Sứ's topic in Những Mảnh Đời Cần Cứu Giúp
Hôm nay Wild nhận được 300,000 đ của ChautheVinh và 200,000 đ của Babywolf trao tặng Bác Cho ở trường hợp trên, Wild kết sổ được tổng số tiền là 3,600,000 đ (ba triệu sáu trăm ngàn đồng) sẽ chuyển ra cho VusongAnh đến trao cho Bác. -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Địa chỉ này, cô sẽ chuyển phát tay đến dzule gần nhà Cô. -
NHÂN NÀO QUẢ NẤY Một hôm một người đàn ông trông thấy một bà lão với chiếc xe bị ‘pan’ đậu bên đường. Tuy trời đã sẩm tối anh vẫn có thể thấy bà đang cần giúp đỡ. Vì thế anh lái xe tấp vào lề đậu phía trước chiếc xe Mercedes của bà rồi bước xuống xe. Chiếc xe Pontiac củ kỉ của anh vẫn nổ máy khi anh tiến đến trước mặt bà. Dù anh tươi cười nhưng bà lão vẫn tỏ vẻ lo ngại. Trước đó khoảng một tiếng đồng hồ không một ai dừng xe lại để giúp bà. Người đàn ông này liệu có thể hãm hại bà không? Trông ông không an toàn cho bà vì ông nhìn có vẻ nghèo và đói. Người đàn ông đã có thể nhận ra nỗi sợ hãi của bà cụ đang đứng bên ngoài chiếc xe giữa trời lạnh. Anh biết cảm giác lo sợ của bà như thế nào rồi. Cái run đó, nỗi lo sợ trong lòng đó mới là lý do tự nó thành hình trong ta. Anh nói: - “Tôi đến đây là để giúp bà thôi. Bà nên vào trong xe ngồi chờ cho ấm áp? Luôn tiện, tôi tự giới thiệu tôi tên là Bryan Anderson.” Thật ra thì xe của bà chỉ có mỗi vấn đề là một bánh bị xẹp thôi nhưng đối với một bà già thì nó cũng đủ gây phiền não rồi. Bryan bò xuống phía dưới gầm xe tìm một chỗ để con đội vào và lại bị trầy da chổ khớp xương bàn tay một hai lần gì đó. Chẳng bao lâu anh đã thay được bánh xe. Nhưng anh bị dơ bẩn và hai bàn tay bị đau xát. Trong khi anh đang siết chặt ốc bánh xe, bà cụ xuống cửa kiếng và bắt đầu nói chuyện với anh. Bà cho anh biết bà từ St. Louis đến và chỉ mới đi được một đoạn đường. Bà không thể cám ơn đầy đủ về việc anh đến giúp đỡ cho bà. Bryan chỉ mỉm cười trong lúc anh đóng nắp thùng xe của bà lại. Bà cụ hỏi bà phải trả cho anh bao nhiêu tiền. Bryan chưa hề nghĩ đến hai lần là sẽ được trả tiền, đây không phải là nghề của anh. Anh chỉ là giúp người đang cần được giúp đỡ và Chúa, Phật biết đã có rất nhiều người trong quá khứ ra tay giúp anh. Anh đã sống cả đời mình như thế đó, và chưa bao giờ anh nghĩ sẽ làm chuyện ngược lại. Anh nói với bà cụ: nếu bà thật sự muốn trả ơn cho anh thì lần khác khi bà biết ai cần được giúp đỡ thì bà có thể cho người ấy sự giúp đỡ của bà, và Bryan nói thêm: “Và hãy nghĩ đến tôi…” Anh chờ cho bà cụ nổ máy và lái xe đi thì anh mới bắt đầu đi về. Hôm ấy là một ngày ảm đạm và lạnh lẽo nhưng anh lại cảm thấy thoải mái khi lái xe về nhà và biến mất trong hoàng hôn. Chạy được vài dặm trên con lộ bà cụ trông thấy một tiệm ăn nhỏ. Bà ghé lại để tìm cái gì để ăn và để đỡ lạnh phần nào trước khi bà đi đoạn đường chót để về nhà. Đó là một nhà hàng ăn trông có vẻ không được thanh lịch. Bên ngoài là hai bơm xăng cũ kỹ. Cảnh vật rất xa lạ với bà. Chị hầu bàn bước qua chỗ bà ngồi mang theo một khăn sạch để bà lau tóc ướt. Chị mỉm cười vui vẻ với bà dù phải đứng suốt ngày để tiếp khách. Bà cụ để ý thấy chị hầu bàn này đang mang thai khoảng tám tháng gì đó nhưng dưới cái nhìn của bà, bà thấy chị không bao giờ lộ sự căng thẳng hay đau nhức mà làm chị thay đổi thái độ. Bà cụ thắc mắc không hiểu: tại sao khi cho, một người dù có ít, lại cho một người lạ mặt rất nhiều. Rồi bà lại chợt nhớ đến anh chàng tên Bryan hồi nãy. Sau khi bà ăn xong, bà trả bằng tờ giấy bạc một trăm đô-la. Chị hầu bàn mau mắn đi lấy tiền để thối lại tờ bạc một trăm của bà cụ nhưng bà cụ đã cố ý nhanh chân bước ra khỏi cửa rồi. Lúc chị hầu bàn quay trở lại thì bà cụ đã đi mất. Chị hầu bàn thắc mắc không biết bà cụ kia có thể đi đâu. Khi để ý trên bàn chị thấy có dòng chữ viết lên chiếc khăn giấy lau miệng. Nước mắt vòng quanh khi chị đọc dòng chữ mà bà cụ viết: - “Cô sẽ không nợ tôi gì cả. Tôi cũng đã ở vào tình cảnh thiếu thốn giống như cô. Có ai đó đã một lần giúp tôi giống như bây giờ tôi đang giúp cô. Nếu cô thực sự nghĩ rằng muốn trả ơn lại cho tôi thì đây là điều cô nên làm: Đừng để cho chuỗi tình thương này kết thúc ở nơi cô.” Bên dưới tấm khăn giấy lau miệng bà cụ còn lót tặng thêm bốn tờ giấy bạc 100 đô-la. Thật ra, có những bàn ăn cần lau dọn, những hủ đường cần đổ đầy, và những khách hàng để phục vụ nhưng chị hầu bàn đã hoàn tất việc ấy để sửa soạn cho qua ngày mai. Tối hôm đó khi chị đi làm về và leo lên giường nằm thì chị vẫn còn nghĩ về số tiền và những gì bà cụ đã viết cho. Làm thế nào bà cụ đã biết chị và chồng của chị cần số tiền ấy? Với sự sanh nở đứa bé vào tháng tới, điều ấy sẽ là khó khăn…. Chị biết chồng chị lo lắng đến mức nào, và trong lúc anh ta nằm ngủ cạnh chị, chị cho anh một cái hôn nhẹ và thì thào bên tai anh: - ‘Mọi chuyện sẽ tốt đẹp cả. Em thương anh, Bryan Anderson, ạ.’ Có một cổ ngữ “NHÂN NÀO QUẢ NẤY”. Hôm nay tôi gửi bạn câu chuyện này, và tôi yêu cầu bạn chuyển tiếp nó. Hãy để cho ngọn đèn này chiếu sáng. Đừng xóa nó, đừng gửi nó trở lại. Chỉ việc chuyển câu chuyện này đến một người bạn. Những người bạn tốt, giống như những vì sao…. Bạn không luôn luôn trông thấy họ, nhưng bạn biết họ luôn luôn có mặt ở đó. Tôn Thất Bàng chuyển ngữ ====================================================================== Đừng để cho chuỗi tình thương này kết thúc ở nơi đây! Tôi muốn mượn câu nói của Bà Cụ để kết câu chuyện này, trong quan hệ xã hội con người ta hay nói đến sự sòng phẵng hay công bằng nhưng đằng sau đó vẫn có những toan tính "được phần ta thiệt phần người" chỉ có sự sòng phẵng 1 cách vô vu lợi như câu chuyện trên mới thật sòng phẵng tình người và cứ thế x lên x lên nhiều hơn nữa.
-
- 5
-
-
Danh sách tham dự ngưng ở đây sao?
-
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Cô đã gởi đến Libra theo địa chỉ Hà Nội. -
Vợ Hát 'tìm Lại Giấc Mơ' Trong Đám Tang Chồng
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tâm Sự - Giao Lưu
Yếu lòng thì lại càng sớm tìm 1 nơi nương tựa đó Bác, thường những người như thế này họ sống nhiều cảm xúc và sẽ sớm đi qua lời hẹn ước. Đồng ý với Bác quan điểm này, -
Vợ hát 'Tìm lại giấc mơ' trong đám tang chồng Người vợ trong chiếc áo tang, cầm mic hát tặng người chồng đã khuất ca khúc "Tìm lại giấc mơ". Clip này được đưa lên mạng vào ngày 24/12. Theo chia sẻ trên trang Youtube, người chồng tên là Hoàng Thụy Phi Vân (xã Gia Tân 2, huyện Thống Nhất, Đồng Nai), qua đời vào ngày 5/3/2011 khi mới 37 tuổi. Trong đám tang, vợ anh là chị Đỗ Hoàng Yến không vật vã khóc than mà lại cầm mic hát tặng chồng ca khúc mà khi còn sống anh rất thích. Trước khi cất tiếng hát, chị tâm sự với chồng: "Cảm ơn cuộc đời đã cho em được gặp anh, cho em được làm vợ anh. Đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất đối với em". Trong khói hương nghi ngút, những câu hát "Em yêu anh, yêu không hối tiếc, em yêu anh, yêu bằng cả trái tim. Nhưng sao anh, anh vội vàng ra đi, ra đi không chút tiếc thương..." làm những người dự đám tang không cầm được nước mắt. Bản thân chị Yến cũng nhiều lần nấc nghẹn. Đưa lên mạng được 2 ngày, clip nhận được rất nhiều phản hồi của cộng đồng mạng. Có bạn cho rằng, khi bé cứ tưởng khóc nhiều mới là đau buồn nhất. Lớn rồi mới hiểu, đau buồn nhất là lúc không còn có thể khóc thêm được. "Xin chia buồn cùng hai mẹ con và gia đình", độc giả này viết. Một người khác thì chia sẻ, tình yêu và nỗi đau đớn, sự tiếc thương có thể được biểu hiện theo nhiều cách. Nó không vi phạm đạo lý, không làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Chỉ một bài hát thôi, nhưng nó cũng đã đủ nói lên tất cả. *Clip vợ hát tặng chồng đã khuất trong đám tangKiều Trinh ngoisaonet
-
Đây là NGHÈO quá thành NGHỆ SĨ đường phố chứ hok phải nghệ sĩ nghèo đâu Thiên Đồng !
-
Chữa bệnh bằng trái tim và tâm linh GNO - Những hệ thống y học truyền thống như Ayurveda, Siddha hay Unani đều dựa vào thiên nhiên và mang tính lành mạnh. Sau đó y học Tây Tạng kết hợp những yếu tố tự nhiên với một số nguyên tắc được quy định trong chiêm tinh học. Nguồn gốc Y học Tây Tạng (TT) bắt đầu từ giai cấp lao động nghèo. Ban đầu họ tự chữa bằng mẹo để qua khỏi cơn bệnh. Dần dà họ hoàn thiện thêm nhiều cách thức chữa bệnh tự nhiên từ các quốc gia lận cận, kết hợp với tính tâm linh mà Phật giáo đã thừa nhận. Người Tây Tạng đã khám phá ra nhiều bài thuốc cơbản, như dùng bơ nấu chảy đắp lên vết thương để cầm máu, hay dùng nước nóng đểtrị chứng không tiêu. Những bài thuốc dân gian này đã giúp người dân đẩy lùi những bệnh trầm trọng. Khi Thần Y Đệ Nhất Yuthok Yonten Gonpo soạn cuốn Gyueshi -bản gốc nội dung cơ bản của y học TT - thì ông soạn dựa trên hệ thống y học bản địa cùng với các hệ thống y học của các nước láng giềng. Ngày nay, sự hành nghề y, những công cuộc nghiên cứu và những công thức dược phẩm khác nhau của y học TT đều dựa trên cuốn Gyueshi. Theo y học TT, thân thể và trí óc con người thường bị rối loạn bởi những hoạt động bất thường của 3 nguồn năng lượng sinh học là Loong, Tripa, và Baeken. Triết lý Phật giáo hiểu thấu được hệ thống y học TT: thân thể và tâm trí của con người có liên quan với nhau, không thể được đối xử riêng biệt. Một bác sĩ uyên bác của TT nhận biết một cách rõ ràng những nguyên nhân và điều kiện gây ra sự rối loạn của cơ thể thông qua phương pháp chẩn đoán bằng bằng mắt, kiểm tra bằng tay và vấn đáp. Khi bệnh nhận đã được điều trị bằng những phương thuốc tốt nhất mà vẫn không hồi phục, chúng ta cần phải xem xét lại những hànhđộng đã gây ra nghiệp ở quá khứ và hiện tại của bệnh nhân. Chính vì thế, sách Gyueshi có ghi rằng: Bác sĩ TT phải thông minh, từ bi, tận tụy, cần cù, khéo léo và đạo đức. Ngày nay, các bác sĩ TT được đào tạo tại Viện Men-Tsee-Khang (Viện Chiêm tinh và Y học Tây Tạng), đòi hỏi không những phải nắm vững chuyên môn y thuật, mà còn phải hiểu biết toàn diện về khoa chiêm tinh (hay còn gọi là tử vi học) và những ảnh hưởng của vũ trụ đối với sinh vật hữu tình. Nền y học TT nhận ra có một sức sống liên tục luôn chạy khắp bên trong cơ thể chúng ta. Thậm chí khi những thuốc men tốt nhất không thể chữa khỏi bệnh, người ta vẫn tin rằng sức sống đó đang bị xáo trộn. Do vậy, phải đánh giá lại nghiệp quá khứ và hiện tại của bệnh nhân, để có thể xácđịnh cơn bệnh ấy là do nghiệp. Dựa vào đức tin của người TT, những chuyển động của hành tinh cũng ảnh hưởng đến ngũ uẩn của chúng ta. Cho nên, dựa vào những vị trí hiện tại của các hành tinh, bác sĩ có thể khuyên bệnh nhân nên làm gì mỗi ngày, bao gồm cả việc tắm rửa và ăn uống. Thảo mộc ở dãy núi Hy Mã Lạp Sơn là chất liệu chủ yếu trong thành phần dược phẩm, cũng được hái dựa theo vị trí của các hành tinh để bảođảm có hiệu quả. Các bác sĩTT cũng phải nghiên cứu về sự di chuyển của sinh lực này để hiểu biết về cơn bệnh của bệnh nhân. Họ quan sát sinh lực này di chuyển như thế nào và nó sẽ điđến đâu để dựa vào đó mà cho thuốc. Hoặc họ xem xét những diễn biến bên ngoài của bệnh nhân để điều trị. Chữa bệnh bằng phương pháp y học TT bắt đầu từ bên trong, và người bác sĩ phải hiểu và chấp nhận rằng bệnh tật bắt nguồn từ trong chính bệnh nhân. Bước đầu tiên là bác sĩ phải “thanh lọc tâm linh”cho bệnh nhân, biến đổi bệnh nhân thành một người mới hoàn toàn. Tuy nhiên, sẽkhông chữa được nếu người bệnh không có niềm tin. Chữa bệnh đòi hỏi cần có đức tin. Khi tâm hồn đã bị khóa chặt, sự chữa bệnh không thể diễn ra. Đó là lý do tại sao bệnh nhân phải tin vào bác sĩ và cách điều trị. Ngày nay, các y bác sĩ TT đang tìm cách xúc tiến việc thực hiện toàn bộ gowa-rigpa (hiểu biết và trí tuệ), hệ thống y học TT, thiên văn học và chiêm tinh học trong việc chữa bệnh. Điều quan trọng nữa là phải cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế cho tất cả mọi người không kể giai cấp, màu da, tín ngưỡng. Chúng ta nên áp dụng hệ thống y học Tây Tạng vào đời sống hàng ngày, cũng như tất cả mọi nghiên cứu y học và sản xuất thuốc men được thực hiện ở Viện Men-Tsee-Khang nên thích hợp theo từng địa phương. Giáo sư Tiến sĩ Dorjee Rapten Neshar Thủy Ngọc (Theo buddhistchannel.tv)
-
Giữ lời hứa với Ban Giám Hiệu, Wild trở lại Trường Nuôi dạy trẻ khuyết tật Gò Vấp với 5 ổ bánh Buche Noel cho các em mùa Giáng sinh Hy vọng các em có không khí giáng sinh hơn với 5 chiếc bánh của chúng ta.
-
Rũ bỏ và đứng lên Có một người nông dân nuôi một con la để chuyên chở hàng hoá ra chợ bán. Hôm ấy, sau một buổi sáng làm việc mệt nhọc, người nông dân để con la đứng bên một miệng giếng cạn. Thật không may, con la sảy chân rơi xuống giếng. Nó kêu rống lên cầu cứu. Người nông dân đến xem xét. Ông ta thấy rằng để đưa con la lên khỏi giếng phải mất rất nhiều công sức, trong khi đó, nó đã là một con la già nua mà ông đã muốn loại bỏ từ lâu. Sau một lúc cân nhắc, người nông dân quyết định sẽ mua một con la mới chứ không bỏ công sức cứu con vật khốn khổ. Ông ta gọi một người hàng xóm đến và họ cùng xúc đất lấp giếng. Con la vô cùng phẫn nộ. Ban đầu nó không hiểu tại sao người ta có thể đối xử với mình như vậy. Nhưng rồi, nó thấy rằng có căm phẫn cũng chẳng ích gì. Và nó bỗng để ý thấy mỗi xẻng đất hất xuống mình nó, nó có thể rũ bỏ (shake-off) và bước lên trên (step up). Thế là con la bắt đầu làm cái công việc giải cứu chính mình. Mỗi xẻng đất đổ xuống trên mình, nó lại rũ bỏ và bước lên trên. Dần dần, đất đầy lên và con la bước ra khỏi miệng giếng. Những đất đá tưởng sẽ vùi lấp con la lại trở thành phương tiện để cứu thoát nó. Đôi khi, trong cuộc sống của bạn, có những lúc bạn tưởng như tuyệt vọng vì bao nhiêu khó khăn đổ ập xuống mình. Vậy hãy làm như con la thông minh kia: Rũ bỏ và đứng lên (shake-off and step up). Và bạn sẽ thấy, những khó khăn tưởng như vùi lấp ta hoá ra lại là những phương tiện để nâng cao con người ta lên.
-
Ông Lão Nhặt Rác Trả Lại 45 Triệu Đồng Nhặt Được
wildlavender replied to Thiên Sứ's topic in Những Mảnh Đời Cần Cứu Giúp
Chưa ah ! Thưa Bác! Em có bảng chi tiết bên Quỹ Từ Thiện.