-
Số nội dung
6007 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
103
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by wildlavender
-
Nhận biết nghiệp duyên Ở đời, có những người khi mới gặp, chúng ta đã cảm nhận sức thu hút và cảm giác dễ gần. Cũng có những người khi mới gặp chúng ta đã thấy ác cảm. Người đó có thể là người tử tế và lịch thiệp, nhưng vì lý do gì đó, khi nhìn thấy họ, ta thấy dâng trào cảm giác khó ưa. Chỉ cần nhìn thấy mặt họ thôi cũng đủ làm cảm xúc chúng ta thay đổi. Đôi khi, chính chúng ta cũng không biết tại sao mình lại có phản ứng một cách tiêu cực như vậy đối với họ. Nếu không có sự kiềm chế, chúng ta có thể đã bày tỏ thái độ không được đẹp mấy đối với những người này qua lời nói cử chỉ không mấy tử tế. Tại sao điều này xảy ra? Duyên cớ của sự ác cảm này là do những mối quan hệ tiêu cực tạo ra với những người này trong một kiếp sống trước. Trong Phật giáo, chúng ta gọi đó là nghiệp duyên. Tuy nhiên, vì chúng ta có thể tạo nghiệp duyên xấu với người khác, chúng ta cũng có thể tạo nghiệp duyên lành với họ. Khi chúng ta tạo nghiệp duyên lành với người ở tiền kiếp, thì trong kiếp sống này, chúng ta tự nhiên sẽ thích họ. Khi thương mến rồi, thì những gì họ nói chúng ta đều thấy hợp lý và có thể dễ dàng chấp nhận được. Ngay cả khi quan điểm của họ méo mó hay lầm lạc, chúng ta cũng đặt niềm tin vào họ và nghĩ rằng họ đang đi đúng đường. Vì vậy, ngay cả khi họ dẫn chúng ta đến con đường sai trái, chúng ta vẫn sẳn lòng đi theo và tin rằng họ là những người làm đúng. Điều này bởi vì nghiệp duyên tích cực giữa ta và họ.Trong khi đó, khi chúng ta có mối nghiệp duyên xấu với người nào rồi thì chúng ta không thể chấp nhận được bất cứ điều gì họ nói. Mặc dù ngay cả khi họ là những người thật chân thành và tốt bụng, chúng ta cũng chẳng thấy họ thành tâm hay tốt lành. Bạn có nhớ câu chuyện về đức Phật, ngài Anan, và người đàn bà nghèo khổ trong làng không? Một hôm đức Phật đi vào ngôi làng của người đàn bà này. Ngài đã không cảm hóa được người phụ nữ này và bà ta chẳng thể nào đón nhận lời dạy của Ngài. Nhưng rồi khi người đàn bà này gặp ngài Anan, bà liền rất quý mến và cảm thấy thu hút bởi ngài Anan. Khi ngài Anan chia sẻ lời dạy của đức Phật đến với bà, thì bà hoan hỉ lắng nghe và nhận ra lời dạy mang lại nhiều lợi lạc. Tình huống này xảy ra là do nghiệp duyên của cả ba trong một kiếp sống trước. Trong kiếp sống đó, người đàn bà này đang đắm chìm trong đau khổ vì mất con. Một vị hành giả đi ngang qua vệ đường và nhìn thấy bà đang khóc. Vị này dừng lại và hỏi tại sao ba khóc. Mặc dù biết những giọt lệ kia là do người phụ nữ khóc con đã chết, vị hành giả lại bình thản giải thích rằng bà không cần phải than khóc đau buồn bởi cái chết của con bà là định luật tự nhiên của kiếp nhân sinh. Phong cách khô khan và lời nói quá thẳng của ông làm cho người phụ nữ cảm thấy ông là người lạnh lùng và khắc nghiệt. Bà cảm thấy giận và bị xúc phạm. Sau đó, một vị hành giả khác cũng tình cờ đi qua con đường này và cũng dừng lại để hỏi lý do tại sao có những giọt nước mắt đau buồn. Khi nghe về cái chết của đứa con bà, vị hành giả đã từ bi an ủi và chia sẻ quan điểm của đạo Phật về cái chết. Vị hành giả đầu tiên chính là tiền thân của đức Phật Thích Ca; vị thứ hai là ngài Anan. Bởi vì nghiệp duyên đã tạo trong lần gặp gỡ đó, mà trong kiếp này, người phụ nữ không cảm mến được đức Phật khi gặp gỡ, mặc dù đây là một vị Phật. Tác động của nghiệp duyên mạnh mẽ như thế đó. Thái độ và hành vi của chúng ta có tầm mức quan trọng trong việc thiết lập các mối quan hệ nghiệp duyên. Mỗi xét đoán nhỏ nhặt hay giọng điệu khắc nghiệt trong một khoảnh khắc có thể tạo nên những nghiệp duyên tiêu cực. Vì thế, chúng ta cần phải chú tâm và nhận thức điều này trong cuộc sống hằng ngày của mình. Chúng ta cũng phải hiểu rằng những cảm giác tốt hay xấu mà chúng ta dành cho ai trong đời mình thực tế đều là do nghiệp duyên đã tạo từ trong các kiếp sống trước. Nghiệp duyên này chi phối nhận thức tốt hay xấu của chúng ta về họ. Nếu chúng ta nhận thức ra được điều này, thì ngay cả khi chúng ta ghét ai, chúng ta cũng có thể bắt đầu thay đổi nhận thức về họ và trở nên thành thục hơn trong việc chế ngự những cảm xúc tiêu cực của chúng ta. Khi đó, chúng ta có thể bắt đầu biến đổi các nghiệp duyên của chúng ta; vì ở mọi khoảnh khắc chúng ta thật sự có thể tạo ra những nghiệp duyên mới với mọi người. Nhưng, nếu chúng ta tiếp tục tin chắc là người kia là kẻ xấu và từ chối không chấp nhận là nhận thức của mình bị chi phối bởi nghiệp duyên, thì chúng ta sẽ tiếp tục duy trì các nghiệp duyên tiêu cực này. Nếu chúng ta thực sự có thể hiểu sự tồn tại và tác động của nghiệp duyên, chúng ta có thể chuyển hoá quan hệ của chúng ta với mọi người. Đây là một cách thực hành chánh niệm trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Từ các bài giảng của Pháp Sư Chứng Nghiệm Biên dịch sang Anh Ngữ bởi nhóm Biên Tập Tịnh Tư Thất Pháp Hạnh chuyễn ngữ sang tiếng Việt
- 17 trả lời
-
- 11
-
-
20 ÐIỀU KHÓ TRONG CUỘC SỐNG Phật dạy làm người có 20 điều khó: 1. Nghèo nàn bố thí là khó. 2. Giàu sang học đạo là khó. 3. Bỏ thân mạng quyết chết là khó. 4. Thấy được kinh Phật là khó. 5. Sanh vào thời có Phật là khó. 6. Nhẫn sắc, nhẫn dục là khó. 7. Thấy tốt không cầu là khó. 8. Bị nhục không tức là khó. 9. Có thế lực không dựa là khó. 10. Gặp việc vô tâm là khó. 11. Học rộng nghiên cứu sâu là khó. 12. Diệt trừ ngã mạn là khó. 13. Không khinh người chưa học là khó. 14. Thực hành tâm bình đẳng là khó. 15. Không nói chuyện phải trái là khó. 16. Gặp được thiện tri thức là khó. 17. Thấy tánh học đạo là khó. 18. Tùy duyên hoá độ người là khó. 19. Thấy cảnh tâm bất động là khó. 20. Khéo biết phương tiện là khó. (Trích trong Kinh 42 chương).http://tuvahanh.com/...ngCuocSong.html
-
Trong thân có bảy báu bố thí: - Một, con mắt chẳng tham các sắc đẹp, vật xinh, ấy là sắc bửu bố thí. - Hai, tai chẳng tham nghe tiếng vui đờn ca xướng hát, là thinh bửu bố thí. - Ba, mũi chẳng tham ngửi mùi thơm vật lạ, là hương bửu bố thí. - Bốn, lưỡi chẳng tham vị ngon béo ngọt, là vị bửu bố thí. - Năm, thân chẳng tham mặc áo quần tốt đẹp, là xúc bửu bố thí. - Sáu, ý chẳng tham danh lợi, ân ái dục tình, là pháp bửu bố thí. - Bảy, tâm chẳng đắm nhiễm dục lạc thế gian là Phật bửu bố thí. Nếu ai biết đặng trong thân mình có bảy báu bố thí thì đặng phước đức hơn là đem bảy báu trong thế gian như: Kim ngân, lưu ly, trân châu, mã não, san hô, hổ phách, trăm ngàn muôn phần đem bố thí cũng chẳng bằng một phần nhẫn đến không thể đem gì so sánh được bảy báu kia. Thực hành pháp bố thí nầy thì mau chóng qua bờ sanh tử.
-
http://pf.kizoa.com/sflite.swf?did=2214769&k=S116396939&hk=1&ns=1&ob=1&origin=share
-
Giếng Hàm Long với truyền thuyết chế ngự rồng dữ Tại thành phố Huế (tỉnh Thừa Thiên - Huế) có 1 giếng rất độc đáo mang tên Hàm Long (miệng của con rồng) trên quốc tự Báo Quốc với truyền thuyết gắn liền lịch sử của các vua triều Nguyễn (1802-1945). Theo truyền thuyết nhiều người xưa kể lại, khi vua Nguyễn từ Bắc vào Huế (xứ Thuận Hóa) định đô thì nhiều đêm liên tiếp có 1 con rồng gây ra mưa gió quấy nhiễu, vua bèn sai thầy địa xem phong thủy thì thấy trước mặt Kinh thành có 1 dãy núi thiêng với nhiều long mạch. Để chế ngự con rồng này cần phải mời bậc cao nhân về yểm long mạch. Sau khi mời các thầy về yểm tại nhiều điểm, quả nhiên sau đó không còn rồng quấy phá vua nữa. Từ đó, dãy núi đó được đặt tên là Bình An Sơn. Hiện vẫn còn hàng chục ngôi chùa được tại núi này. Điểm khởi đầu của các chùa là quốc tự Báo Quốc do thiền sư Giác Phong dựng lên vào cuối thế kỷ XVII. Khi thiền sư đến lập chùa đã có đào 1 cái giếng để lấy nước ngay dưới chân núi. Bỗng từ dưới giếng có mạch nước ngọt tỏa mùi thơm ngát phun ra liên tục như miệng con rồng phun nước nên đặt là giếng Hàm Long. Một sự tích khác là khi đào đúng viên đá dẫn lộ xuống mạch nước ngầm, vì đá quá giống miệng con rồng nên đặt tên Hàm Long. Giếng Hàm Long Bia đá của chùa và xóm Báo Quốc ghi sát giếng: “Giếng Hàm Long có tên chữ Hán là Hàm Long Tĩnh. Theo bộ Hàm Long Sơn Chí thì Giếng xuất hiện cùng thời với việc khai sơn chùa Báo Quốc khoảng năm 1674. Đáy giếng có đá như hàm rồng. Nước trong đá tuôn ra mát lạnh có vị ngọt nên ngạn ngữ có câu: Giếng Hàm Long trong lại ngọt. Anh thương em rày có Bụt chứng tri. Theo Đại Nam Nhất Thống chí: Buổi đầu khai quốc, các quan lại triều đình thường lấy nước giếng này để Vua dùng nên lại có tên nữa là Giếng Cấm”. Nhiều người dân ở xung quanh chùa Báo Quốc cho biết hiện nước giếng không có ai đến lấy uống nữa vì sợ là giếng cấm cho vua. Giếng chỉ được phục vụ cho mục đích thăm quan. Ngày xuân, nếu lên dạo cảnh, thắp hương tại chùa Báo Quốc, du khách hãy đến giếng “miệng rồng” để cầu nguyện cho những điều may mắn, sức khỏe, bình an cho gia đình. Dưới đây là chùm ảnh về giếng Hàm Long: Quốc tự Báo Quốc Giếng Hàm Long nằm ngay dưới chân núi dẫn lên chùa Báo Quốc Một đầu rồng dữ tợn được đắp nổi trước giếng Giếng có mực nước đầy quanh năm Nước giếng xanh vắt Có cá chép vàng bơi lội tung tăng dưới giếng Hàm Long. Liệu cá có hóa rồng trong vài trăm năm tới khi được sống tại giếng thiêng? Tương truyền các viên đá dưới đáy giếng có hình dạng giống miệng con rồng Người dân quanh vùng hay đến thắp hương trước giếng trong ngày lễ Phía sau giếng lúc xưa có 1 cây cổ thụ rất to nhưng giờ không còn nữa vì bị mối mọt ăn chết Du khách cầu nguyện nhiều may mắn, sức khỏe trong năm Nhâm Thìn ở giếng Hàm Long Vùng đất xung quanh giếng vẫn còn rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng mát quanh năm Màu thời gian của giếng Không ai dám dùng nước giếng Hàm Long kể từ khi nước tại đây được tiến vua dùng vì độ ngọt và thơm kỳ lạ không giếng nào sánh bằng. Giếng đã được đậy lại kín bởi 1 tấm lưới sắt đan Hình tượng rồng rất nhiều gần giếng Hàm Long, trên các mái chùa ở dãy núi xưa nơi truyền thuyết kể từng có rồng dữ quấy phá nhà vu. Đại Dương(Dân trí)
-
66 câu Phật học 1. Sở dĩ người ta đau khổ chính vì mãi đeo đuổi những thứ sai lầm. 2. Nếu anh không muốn rước phiền não vào mình, thì người khác cũng không cách nào gây phiền não cho anh. Vì chính tâm anh không buông xuống nổi. 3. Anh hãy luôn cảm ơn những ai đem đến nghịch cảnh cho mình. 4. Anh phải luôn mở lòng khoan dung lượng thứ cho chúng sanh, cho dù họ xấu bao nhiêu, thậm chí họ đã làm tổn thương anh, anh phải buông bỏ, mới có được niềm vui đích thực. 5. Khi anh vui, phải nghĩ rằng niềm vui này không phải là vĩnh hằng. Khi anh đau khổ, anh hãy nghĩ rằng nỗi đau này cũng không trường tồn. 6. Sự chấp trước của ngày hôm nay sẽ là niềm hối hận cho ngày mai. 7. Anh có thể có tình yêu nhưng đừng nên dính mắc, vì chia ly là lẽ tất nhiên. 8. Đừng lãng phí sinh mạng của mình trong những chốn mà nhất định anh sẽ ân hận. 9. Khi nào anh thật sự buông xuống thì lúc ấy anh sẽ hết phiền não. 10. Mỗi một vết thương đều là một sự trưởng thành. 11.Người cuồng vọng còn cứu được, người tự ti thì vô phương, chỉ khi nhận thức được mình, hàng phục chính mình, sửa đổi mình, mới có thể thay đổi người khác. 12. Anh đừng có thái độ bất mãn người ta hoài, anh phải quay về kiểm điểm chính mình mới đúng. Bất mãn người khác là chuốc khổ cho chính anh. 3. Một người nếu tự đáy lòng không thể tha thứ cho kẻ khác, thì lòng họ sẽ không bao giờ được thanh thản. 14. Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác. 15. Hủy diệt người chỉ cần một câu, xây dựng người lại mất ngàn lời, xin anh “ đa khẩu hạ lưu tình”. 16.Vốn dĩ không cần quay đầu lại xem người nguyền rủa anh là ai? Giả sử anh bị chó điên cắn anh một phát, chẳng lẽ anh cũng phải chạy đến cắn lại một phát? 17. Đừng bao giờ lãng phí một giây phút nào để nghĩ nhớ đến người anh không hề yêu thích. 18. Mong anh đem lòng từ bi và thái độ ôn hòa để bày tỏ những nỗi oan ức và bất mãn của mình, có như vậy người khác mới khả dĩ tiếp nhận. 19. Cùng là một chiếc bình như vậy, tại sao anh lại chứa độc dược? Cùng một mảnh tâm tại sao anh phải chứa đầy những não phiền như vậy? 20. Những thứ không đạt được, chúng ta sẽ luôn cho rằng nó đẹp đẽ, chính vì anh hiểu nó quá ít, anh không có thời gian ở chung với nó. Nhưng rồi một ngày nào đó khi anh hiểu sâu sắc, anh sẽ phát hiện nó vốn không đẹp như trong tưởng tượng của anh. 21. Sống một ngày là có diễm phúc của một ngày, nên phải trân quý. Khi tôi khóc, tôi không có dép để mang thì tôi lại phát hiện có người không có chân. 22.Tốn thêm một chút tâm lực để chú ý người khác chi bằng bớt một chút tâm lực phản tỉnh chính mình, anh hiểu chứ? 23. Hận thù người khác là một mất mát lớn nhất đối với mình. 24. Mỗi người ai cũng có mạng sống, nhưng không phải ai cũng hiểu được điều đó, thậm chí trân quý mạng sống của mình hơn. Người không hiểu được mạng sống thì mạng sống đối với họ mà nói chính là một sự trừng phạt. 25. Tình chấp là nguyên nhân của khổ não, buông tình chấp anh mới. 26. Đừng khẳng định về cách nghĩ của mình quá, như vậy sẽ đỡ phải hối hận hơn. 27. Khi anh thành thật với chính mình, thế giới sẽ không ai lừa dối anh. 28. Người che đậy khuyết điểm của mình bằng thủ đoạn tổn thương người khác là kẻ đê tiện. 29. Người âm thầm quan tâm chúc phúc người khác, đó là một sự bố thí vô hình. 30. Đừng gắng sức suy đoán cách nghĩ của người khác, nếu anh không phán đoán chính xác bằng trí huệ và kinh nghiệm thì mắc phải nhầm lẫn là lẽ thường tình. 31. Muốn hiểu một người, chỉ cần xem mục đích đến và xuất phát điểm của họ có giống nhau không, thì có thể biết được họ có thật lòng không. 32. Chân lý của nhân sinh chỉ là giấu trong cái bình thường đơn điệu. 33. Người không tắm rửa thì càng xức nước hoa càng thấy thối. Danh tiếng và tôn quý đến từ sự chân tài thực học. Có đức tự nhiên thơm. 34. Thời gian sẽ trôi qua, để thời gian xóa sạch phiền não của anh đi. 35. Anh cứ xem những chuyện đơn thuần thành nghiêm trọng, như thế anh sẽ rất đau khổ. 36. Người luôn e dè với thiện ý của người khác thì hết thuốc cứu chữa. 37. Nói một lời dối dang thì phải bịa thêm mười câu không thật nữa để đắp vào, cần gì khổ như vậy? 38. Sống một ngày vô ích, không làm được chuyện gì, thì chẳng khác gì kẻ phạm tội ăn trộm. 39. Quảng kết chúng duyên, chính là không làm tổn thương bất cứ người nào. 40. Im lặng là một câu trả lời hay nhất của sự phỉ báng. 41. Cung kính đối với người là sự trang nghiêm cho chính mình. 42. Có lòng thương yêu vô tư thì sẽ có tất cả. 43. Đến là ngẫu nhiên, đi là tất nhiên. Cho nên anh cần phải “ tùy duyên mà hằng bất biến, bất biến mà hằng tùy duyên”. 44. Từ bi là vũ khí tốt nhất của chính anh. 45. Chỉ cần đối diện với hiện thực, anh mới vượt qua hiện thực. 46. Lương tâm là tòa án công bằng nhất của mỗi người, anh dối người khác được nhưng không bao giờ dối nỗi lương tâm mình. 47. Người không biết yêu mình thì không thể yêu được người khác. 48. Có lúc chúng ta muốn thầm hỏi mình, chúng ta đang đeo đuổi cái gì? Chúng ta sống vì cái gì? 49. Đừng vì một chút tranh chấp mà xa lìa tình bạn chí thân của anh, cũng đừng vì một chút oán giận mà quên đi thâm ân của người khác. 50. Cảm ơn thượng đế với những gì tôi đã có, cảm ơn thượng đế những gì tôi không có. 51. Nếu có thể đứng ở góc độ của người khác để nghĩ cho họ thì đó mới là từ bi. 52. Nói năng đừng có tánh châm chọc, đừng gây thương tổn, đừng khoe tài cáng của mình, đừng phô điều xấu của người, tự nhiên sẽ hóa địch thành bạn. 53. Thành thật đối diện với mâu thuẩn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình. 54. Nhân quả không nợ chúng ta thứ gì, cho nên xin đừng oán trách nó. 55. Đa số người cả đời chỉ làm được ba việc: Dối mình, dối người, và bị người dối. 56. Tâm là tên lừa đảo lớn nhất, người khác có thể dối anh nhất thời, nhưng nó lại gạt anh suốt đời. 57. Chỉ cần tự giác tâm an, thì đông tây nam bắc đều tốt. Nếu còn một người chưa độ thì đừng nên thoát một mình. 58. Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ này, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi. 59. Nếu anh có thể sống qua những ngày bình an, thì đó chính là một phúc phần rồi. Biết bao nhiêu người hôm nay đã không thấy được vầng thái dương của ngày mai, biết bao nhiêu người hôm nay đã trở thành tàn phế, biết bao nhiêu người hôm nay đã đánh mất tự do, biết bao nhiêu người hôm nay đã trở thành nước mất nhà tan. 60. Anh có nhân sinh quan của anh, tôi có nhân sinh quan của tôi, tôi không dính dáng gì tới anh. Chỉ cần tôi có thể, tôi sẽ cảm hóa được anh. Nếu không thể thì tôi đành cam chịu. 61. Anh hy vọng nắm được sự vĩnh hằng thì anh cần phải khống chế hiện tại. 62. Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu. Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô, anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh. 63. Người khác có thể làm trái nhân quả, người khác có thể tổn hại chúng ta, đánh chúng ta, hủy báng chúng ta. Nhưng chúng ta đừng vì thế mà oán hận họ, vì sao? Vì chúng ta nhất định phải giữ một bản tánh hoàn chỉnh và một tâm hồn thanh tịnh. 64. Nếu một người chưa từng cảm nhận sự đau khổ khó khăn thì rất khó cảm thông cho người khác. Anh muốn học tinh thần cứu khổ cứu nạn, thì trước hết phải chịu đựng được khổ nạn. 65. Thế giới vốn không thuộc về anh, vì thế anh không cần vứt bỏ, cái cần vứt bỏ chính là những tánh cố chấp. Vạn vật đều cung ứng cho ta, nhưng không thuộc về ta. 66. Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và tâm trí huệ.
-
Rồng trong kinh điển Phật giáo Theo truyền thuyết, rồng là loài vật linh thiêng, có thần thông, có khả năng làm mưa, phun ra khói, lửa, thăng, giáng, ẩn, hiện, biến hóa lớn nhỏ một cách tự tại. Kinh điển Phật giáo có nhiều huyền thọai về Đức Phật liên quan đến rồng, chẳng hạn như: Chín rồng phun nước tắm cho thái tử khi mới đản sinh, Rồng che mưa cho Phật, Phật hàng phục hỏa long, Long vương nghe kinh Thập thiện, Long nữ thành Phật… Rồng trong sự kiện đản sinh Theo kinh Qúa khứ hiện tại nhân quả, khi thái tử Tất đạt đa ra đời có Tứ thiên vương dùng lụa quý của cõi trời đỡ, Trời Đại Phạm thiên và Trời Đế Thích cầm lọng báu đứng hầu hai bên. Lúc này trên không trung có hai vị Long vương phun hai dòng nước ấm và mát tắm cho thái tử. Kinh chép như sau: “…Lúc mặt trời vừa mọc, bà (hòang hậu Ma Da) thấy trong vườn có một cây lớn tên là Vô Ưu, sắc hoa rực rỡ, mùi hương thơm ngát, cành lá bủa rất rộng rất đẹp, liền với tay phải muốn hái hoa kia. Ngay khi đó, Bồ tát từ hông phải bước ra. Lúc ấy, nơi gốc cây cũng hiện ra bảy hoa sen bảy báu (thất bảo) lớn như bánh xe. Bồ tát đứng trên hoa sen không cần người đỡ, tự đi bảy bước, đưa cánh tay phải lên, cất giọng như sư tử rống: “Trong tất cả trời người, ta là bậc tôn quý nhất; vô lượng sinh tử, hôm nay đã chấm dứt. Đời này ta sẽ làm lợi ích cho tất cả chúng sinh”. Vừa nói xong, bốn vị Thiên vương lấy lụa trời đỡ lấy Thái tử, đặt trên ghế báu, Thích Đề Hòan Nhơn và Đại Phạm Thiên Vương tay cầm bảo cái đứng hầu hai bên, Long vương Nan Đà, Long vương Ưu Ba Nan Đà ở trên hư không phun một dòng nước ấm, một dòng nước mát trong sạch tắm cho Thái tử. Thân Thái tử màu vàng ròng, có 32 tướng tốt, phóng ánh sáng rực rỡ chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Tám bộ Trời, Rồng ở trên hư không trỗi các kỹ nhạc, ca tụng khen ngợi, đốt các hương thơm, rải nhiều hoa báu, tuôn xuống như mưa các lọai y trời và anh lạc rực rỡ, không thể tính kể”. Trong kinh Đại Bổn và Vị tằng hữu pháp cũng có nói: Khi thái tử ra đời, thân không dính một chất dơ nào từ lòng mẹ, có bốn Thiên tử đỡ rồi đặt trước Hòang hậu và thưa: “Hòang hậu hãy hoan hỷ. Hòang hậu vừa sinh một bậc vĩ nhân”. Từ hư không có một dòng nước ấm và một dòng nước mát tắm gội cho thái tử. Còn trong kinh Phổ Diệu ghi rằng, lúc Thái tử đản sinh có chín con rồng từ trên hư không phun nước xuống tắm cho thái tử. Chín vì huyền thọai chín rồng phun nước mà sau này có câu kệ tán dương Đức Phật như sau: “Ngọc chất giáng hòang cung, cửu long phún thủy tề mộc dục” (Bản chất thanh tịnh, trong sạch, quý báu như ngọc giáng sinh ở chốn hòang cung, chín rồng phun nước đồng tắm cho thái tử) Rồng che mưa cho Đức Phật Theo Đại Phẩm của Luật tạng, vào tuần lễ thứ ba sau khi thành đạo, khi Đức Phật ngồi thiền định dưới gốc cây Mucalinda thì mưa to gió lớn nổi lên, một con rắn mãng xà đến quấn quanh mình Ngài và cất cao đầu lên che mưa cho Ngài. Trong Đức Phật và Phật pháp của Ngài Nàrada Mahà Thera (Phạm Kim Khánh dịch) ghi sự kiện này xảy ra vào tuần thứ sáu sau khi Phật thành đạo, thời gian Đức Phật chứng nghiệm hạnh phúc giải thóat. Trận mưa bão kéo dài suốt bảy ngày mới chấm dứt. Khi trời quang mây tạnh, con mãng xà tháo mình trở ra và hóa hiện thành một thanh niên chắp tay đứng trước Đức Phật. Đức Phật đã nói cho người thanh niên nghe một bài kệ có nội dung như sau: “Đối với hạng người tri túc, đối với người đã nghe và đã thấy chân lý thì sống ẩn dật là hạnh phúc. Trên thế gian, người có tâm lành, có thiện chí, người biết tự kiềm chế, thu thúc lục căn đối với tất cả chúng sinh là hạnh phúc. Không luyến ái người, vượt lên khỏi dục vọng là hạnh phúc. Phá tan được ngã chấp quả thật là hạnh phúc tối thượng”.[/color] Câu chuyện rắn thần che mưa cho Đức Phật khi truyền sang Trung Hoa đã chuyển thành câu chuyện rồng thần che mưa cho Đức Phật. Chính vì thế mà trong nhiều chùa có tranh ảnh, phù điêu khắc họa hình ảnh Đức Phật ngồi nhập định dưới gốc cây giữa trời mưa to gió lớn, có rồng thần quấn quanh mình và cất cao đầu che mưa cho Ngài. Trong các huyền thọai về Đức Phật được ghi lại trong kinh điển, sau khi lưu truyền qua các nước Trung Hoa, Việt Nam..., hình ảnh rồng thần được thay cho hình ảnh rắn thần. Cũng như trong sự kiện trên (Rắn thần che mưa cho Đức Phật), trong sự kiện Đức Phật hàng phục độc xà (sẽ nói ở phần sau), các kinh điển Bắc truyền ghi lại hình ảnh một con hỏa long (rồng lửa) thay vì là một con rắn độc. Đối với người Ấn Độ thì rắn là con vật thiêng liêng trong khi ở các nước Trung Hoa, Việt Nam thì rồng là linh vật. Phật hàng phục hỏa long Trong kinh Qúa khứ hiện tại nhân quả có thuật lại rằng: Đức Phật muốn hóa độ ba anh em ông Ưu lâu tần loa Ca diếp và các đệ tử của họ, bèn đi đến bờ sông Hằng, nơi họ và các đệ tử trú ngụ. Khi Đức Phật đến nơi thì trời đã tối, Ngài bèn hỏi ông Ca diếp: “Tôi đi lỡ đường, xin ông cho tôi nghỉ nhờ một đêm”. Ông Ca diếp từ chối: “Rất tiếc, ở đây đồ chúng quá đông, không có chỗ nào để mời Ngài nghỉ lại”. Đức Phật nói: “Chỗ nào cũng được. Tôi chỉ xin nghỉ nhờ một đêm thôi”. Ông Ca diếp bèn chỉ về phía một hang động gần đó rồi bảo: “Nơi kia có thể nghỉ tạm được. Tiếc rằng trong đó có một con hỏa long rất dữ, người lạ vào e bị nó làm hại”. Đức Phật nói: “Không sao đâu. “Ngã nội thanh tịnh, ngọai tai bất nhập”(Bên trong ta thanh tịnh, tai họa bên ngòai không xâm hại được. Xin ông vui lòng để tôi ở lại nơi đó”. Đức Phật vào trong hang động, hỏa long nghe hơi lạ bèn bay ra, phun khói độc vào Ngài. Nhưng khi khói độc gần đến chỗ Phật thì bay ngược trở lại. Hỏa long bèn phun lửa, nhưng khi lửa gần đến chỗ Phật thì cháy ngược trở lại hỏa long. Đức Phật bèn nhập định Hỏa quang tam muội hóa lửa cháy sáng cả hang động, lửa của hỏa long bị đẩy lùi. Đức Phật từ bi bảo với nó: “Ngươi đã thấy phép thuật của ngươi còn thấp kém chưa?” Đức Phật bèn đưa bình bát ra và nói: “Ngươi hãy vào đây để tránh lửa”. Hỏa long vội thu mình bay vào trong bát của Đức Phật.Về sau, ba anh em ông Ca diếp và các đồ chúng nhận thấy thần lực và đức độ của Đức Phật không ai sánh bằng, họ đã xin quy y theo Phật. Long nữ thành Phật Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm thứ 12 Đề Bà Đạt Đa có nói sự kiện Long nữ, con gái Long vương thành Phật như sau: Lúc bấy giờ, Bồ tát Trí Tích, thị giả của Phật Đa Bảo bạch xin phép Phật Đa Bảo trở về nước. Đức Phật Thích Ca mới bảo Bồ tát Trí Tích: “Thiện nam tử, hãy chờ giây lát. Ở đây có Bồ tát Văn Thù, ông và Văn Thù có thể cùng nhau ra mắt mà luận nói pháp mầu, xong rồi sẽ về”. Ngay khi ấy, Bồ tát Văn Thù và các Bồ tát tùy tùng ngồi trên hoa sen lớn, từ nơi cung Rồng (Long cung) Ta kiệt la trong biển lớn bay lên hư không, rồi bay đến núi Linh Thứu, từ hoa sen bước xuống, đảnh lễ Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca, kế đến hỏi thăm Bồ tát Trí Tích, sau đó ngồi qua một bên. Bồ tát Trí Tích bèn hỏi Bồ tát Văn Thù: “Ngài qua cung Rồng hóa độ được bao nhiêu chúng sinh?” Bồ tát Văn Thù đáp: “Vô lượng. Nếu Ngài không tin, sẽ tự chứng biết”.Bồ tát Văn Thù nói chưa dứt lời thì có vô số Bồ tát ngồi hoa sen từ biển bay lên đến núi Linh Thứu, trụ trên hư không, tất cả đều do Bồ tát Văn Thù hóa độ. Bồ tát Văn Thù nói: “Ở biển, ta thường tuyên thuyết kinh Diệu Pháp”. Bồ tát Trí Tích hỏi: “Kinh này rất thâm diệu. Vậy có chúng sinh nào siêng tu theo kinh này mà mau thành Phật không?” Bồ tát Văn Thù đáp: “Có con gái của Long vương, mới lên tám tuổi mà đầy đủ trí đức, trong khỏanh khắc phát Bồ đề tâm, được bậc bất thối chuyển, biện tài vô ngại, từ bi rộng lớn, công đức đầy đủ, có khả năng đến Bồ đề”. Bồ tát Trí Tích không tin hỏi: “Chính Đức Phật Thích Ca còn phải trải qua vô lượng kiếp tu tạo nhiều công đức, làm những hạnh khó làm mới thành đạo Bồ đề, làm sao tin được Long nữ trong chốc lát mà chứng thành Chánh giác”.Đàm luận chưa xong, Long nữ bỗng hiện ra, cung kính đảnh lễ Phật rồi đứng qua một bên, nói kệ xưng tán pháp thân và cho biết nhờ nghe được diệu pháp mà nàng đã thành Bồ đề, nhưng việc này chỉ Phật chứng biết mà thôi. Bấy giờ Tôn giả Xá Lợi Phất nói với Long nữ: “Thân gái nhơ uế, có năm điều chướng ngại, còn con đường Phật đạo xa diệu vợi, phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ mới đi hết, mà ngươi nói tu không bao lâu đã chứng được vô thượng Chánh giác. Làm sao tin được?” Long nữ bèn lấy một hạt châu hiến dâng Đức Phật Thích Ca, Đức Phật thọ nhận. Bấy giờ Long nữ hỏi Bồ tát Trí Tích: “Tôi hiến châu, Thế Tôn nhận lấy, việc ấy có mau chăng?” Bồ tát Trí Tích đáp: “Mau”. Bấy giờ Long nữ nói: “Ông hãy lấy thần lực của ông xem đây, tôi thành Phật còn mau hơn việc đó”. Chúng hội liền thấy Long nữ thọat nhiên biến thành nam tử, đủ hạnh Bồ tát, qua cõi Vô cấu phương nam, ngồi hoa sen báu, thành bậc Đẳng Chánh giác”. Câu chuyện Long nữ thành Phật có ý nghĩa cao sâu: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, dù là lòai nào, nam, nữ, già, trẻ, bé, lớn đều có khả năng thành Phật nếu như đầy đủ trí tuệ và công đức phước báu, tu hành không thối chuyển, có tâm từ bi rộng lớn, có vô ngại biện tài. Cũng như Long nữ vốn là lòai rồng (súc sinh), lại mang thân nữ, chỉ mới tám tuổi thôi, nhưng nhờ tu tập, tích chứa công đức phước báu, có tâm tánh, ý chí của bậc nam nhi trượng phu quân tử (Long nữ biến thành thân nam), hội đủ điều kiện nhân duyên (thành tựu Lục độ vạn hạnh, chứng đạt tâm thanh tịnh, sạch vô minh phiền não (qua cõi Vô cấu) mà Long nữ đã thành bậc Đẳng Chánh giác. Theo kinh điển Phật giáo, Rồng là một trong Tám bộ chúng thường theo ủng hộ Phật pháp (Thiên long bát bộ): Thiên (Trời), Long (Rồng), Dạ xoa (Thần Dạ xoa, quỷ Dạ xoa), Kiền thát bà (Thần âm nhạc ở cõi trời, thường tấu thiên nhạc hầu vua trời Đế Thích), A tu la (Phi thiên, các chúng sinh này có phước báu như chư thiên nhưng kém đức, tâm thường sân hận và ưa tranh đấu), Ca lâu la (Kim sí điểu, lòai chim cánh vàng), Khẩn na la (Nhơn phi nhơn, hình dáng giống con người nhưng chẳng phải người, là vị thần đánh pháp nhạc cho trời Đế Thích nghe), Ma hầu la già (Thần mình người đầu rắn, bụng to). Trong các thời pháp của Đức Phật đều có sự tham dự của hàng Thiên long bát bộ. Phan Minh Đức
-
Những giọt nước mắt của Tướng Giáp Thứ Tư, 25/01/2012 14:41 Ai đó đã cho rằng, trong cuộc đời nhiều vị tướng, nhất là tướng của những trận quyết chiến chiến lược, thường không có ước mắt, hay nói đúng hơn là không để rơi nước mắt. Một phút mềm yếu của họ rất có thể làm thay đổi cục diện chiến trường. Thế nhưng, có một vị "tư lệnh của các tư lệnh”- người đã đạt kỳ tích có một không hai: đánh bại 10 danh tướng thế giới (bảy Pháp, ba Mỹ), lại có nhiều phen rơi lệ trong đời. Những giọt nước mắt ấy đã góp phần làm nên một vị thống soái không bao giờ lạnh lùng với sinh mạng của mỗi người lính, không vô cảm trước những nỗi đau của đồng bào, đồng đội. Ông là Võ Nguyên Giáp. Chiến cuộc không phải ván cờ, càng không có nước “thí tốt” Trong dịp sinh nhật lần thứ 100 của vị Đại tướng lừng danh Võ Nguyên Giáp, khi ông đang nằm trên giường bệnh, chính tại căn nhà thân thương của ông, một vị đại tá 84 tuổi đã khiến mọi người rơi nước mắt. Ông là Hoàng Minh Phương, nguyên trợ lý cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông nói: "Riêng với các chiến sĩ Điện Biên Phủ, ân tình với Đại tướng lại càng sâu nặng. Nếu không có quyết định sáng suốt, đêm trắng suy tư để thay đổi cách đánh, từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc tiến chắc của Tổng tư lệnh thì hậu quả không biết đến thế nào. Có lẽ chúng ta ngồi đây đã hy sinh hết cả". Câu nói hôm ấy của Đại tá Phương khiến tôi giật mình nhớ đến câu chuyện xúc động của một ngày hè năm 2004. Năm đó cả nước rộn rã kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên. Ngày 20-4-2004, Điện Biên vui hơn rất nhiều các địa phương khác vì được đón một cố nhân đặc biệt trở lại chiến trường xưa. Tướng Giáp gặp lại đồng đội cũ (2006). Ảnh: Nhà báo - đại tá Trần Hồng Đại tướng và người lái xe lâu nhất của mình (2001). Ảnh: Nhà báo - đại tá Trần HồngVị tướng già 94 tuổi xuất hiện trong hội trường lớn của tỉnh Điện Biên trong tiếng vỗ tay vang dậy không ngớt. Ông bước đi chậm rãi giữa hai hàng danh dự của hơn 300 người lính Điện Biên năm xưa. Nhiều cựu chiến binh thua ông tới vài chục tuổi, nhưng mái tóc thì cũng đã bạc trắng như vị thống soái. Vị tướng già không đeo một tấm huân chương nào, nhưng mỗi tiếng vỗ tay của hàng trăm người đã vào sinh ra tử kia chẳng khác gì một tấm huân chương cao quý dành tặng Đại tướng. Tôi đồ rằng, chắc họ cũng nghĩ như Đại tá Phương: Nếu vị Tổng tư lệnh ấy không vật vã cân não để thay đổi cách đánh, thì chắc là phần đông số họ đã không còn được đứng ở đây ngày gặp lại. Ông bước lên bục, nói ngắn gọn, chậm rãi và đột nhiên cái đầu uyên bác của ông bật ra một câu thật giản dị mà thấm thía: "Chúng ta được gặp nhau đây là quý lắm rồi!". Nghe xong câu ấy, tất cả hơn 300 mái đầu bạc trong hội trường lặng phắc. Vị đại tá già quê Nghệ An ngồi bên cạnh tôi bất giác đưa cánh tay cụt đến gần khuỷu tay lên lau nước mắt. Đúng, những người ở hội trường này chỉ bằng một phần nhỏ chiến sĩ đã vĩnh viễn gửi thân mình vào đất mẹ. Thế thì được gặp nhau đây hẳn là quý lắm rồi. Trong lịch sử nhân loại, không ít vị tướng chấp nhận nướng quân, chấp nhận nhiều lần thí tốt trên bàn cờ chiến cuộc, nhưng Tướng Giáp không - nằm - trong - số - ấy. “Đại tướng không bao giờ coi một trận chiến đấu như một trận đánh cờ. Và chiến sĩ không phải là những con tốt trên bàn cờ. Đại tướng luôn cân nhắc để làm sao giành được thắng lợi cao nhất mà tổn thất về sinh mạng thấp nhất" - Đại tá Trịnh Nguyên Huân, người trợ lý có hơn 30 năm gắn bó với Tướng Giáp, khẳng định. Cố Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, đã thốt lên: “Võ Nguyên Giáp là Tư lệnh của các tư lệnh, Chính ủy của các chính ủy... Ông là một Tổng tư lệnh biết đau với từng vết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh”. Có mặt ở Điện Biên Phủ trong những tháng ngày gian khổ năm 1954, nhà văn Nguyễn Đình Thi từng nhận xét: "Một vị Tổng tư lệnh, đồng thời là người chỉ huy chiến dịch mà viết nhiều thư gửi chiến sĩ với những lời thân mật như anh em, quả là điều hiếm thấy trong chiến tranh các nước!”. Một vị tướng nhân bản, yêu thương binh sĩ như anh em như thế, thì không khó để hiểu: Tại sao trong đời, ông lại có nhiều lần rơi nước mắt. Chuyện kể về những giọt nước mắt Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, hôm đó là ngày 13-4-2004. Chắc chắn không có nhiều lễ mít tinh nghiêm trang nào mà lại có nhiều người khóc đến như vậy. Phát biểu đến đoạn phải nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ, Tướng Giáp tay run run lấy khăn lau nước mắt. Bàn tay nhăn nheo. Những giọt nước mắt chảy chậm trên gò má cũng đã nhăn nheo. Hình ảnh ấy khiến cho ngay cả những kẻ hậu sinh chưa từng có kỷ niệm, chưa từng mất mát bởi trận mạc như tôi còn phải nghẹn ngào chứ nói gì đến những người lính năm xưa đã từng vào sinh ra tử cùng Đại tướng. Đó là lần đầu tiên tôi thấy ông khóc. Sau này, tôi có nhiều dịp qua lại với các vị tướng, tá đã từng gắn bó với ông, họ đều khẳng định Tướng Giáp đã nhiều lần rơi lệ. Đại tá nhà báo, nhiếp ảnh gia Trần Hồng có một gia tài tới hơn 2.000 bức ảnh quý về Tướng Giáp. Một gia tài đủ để ông thanh thản và tự hào. 2.000 bức hình, tấm nào cũng quý, nhưng ông vẫn tâm đắc nhất hai khoảnh khắc chụp được phút rơi lệ của Đại tướng. Kể về giây phút đã trôi qua nhiều năm ấy, Đại tá Hồng vẫn còn rưng rưng giọng: “Đó là bức ảnh tôi chụp Đại tướng đứng bên cạnh tượng Bác Hồ. Buổi trưa hôm ấy, tôi bất chợt đi ngang qua văn phòng thì thấy Đại tướng đang đứng cạnh tượng Bác, mắt đỏ hoe. Tôi vội lấy máy, chụp được ba kiểu thì nước mắt Đại tướng tuôn rơi. Tôi cũng bỏ máy khóc theo. Bức ảnh được đặt tên là "Nhớ Bác" và chính anh Văn đặc biệt thích tác phẩm này”. Nhà văn Sơn Tùng, tác giả của cả một kho tàng về Bác Hồ, cũng được Đại tướng coi là một trong những người tri kỷ. Ông thực sự bất ngờ khi thấy vị Đại tướng bách chiến bách thắng ứa nước mắt. Nhà văn kể: “Trong dịp Tết Mậu Dần 1998, sau khi đến thăm trại thương binh nặng ở Thuận Thành (Bắc Ninh), gặp lại những chiến binh đã để lại một phần thân thể trên nhiều chiến trường khác nhau của đất nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã không cầm được nước mắt. Ông bùi ngùi xúc động bắt tay thăm hỏi từng người và đứng lặng hồi lâu trước những đồng đội thương binh nặng, tàn mà không phế”. Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, vị Tư lệnh Binh đoàn 559 huyền thoại của Trường Sơn năm xưa, cũng không thể nào quên được những giọt nước mắt của Tướng Giáp. Trong chuyến công tác về lại Trường Sơn, Đại Tướng đi thăm con đường 20 huyền thoại tại Quảng Bình, nơi đã phải hứng hàng ngàn vạn tấn bom đạn quân thù, nơi có đèo Phu La Nhích nổi tiếng quật cường, nơi có tám cô gái thanh niên xung phong bị bom vùi chôn sống trong hang đá. Đứng giữa khói hương, trong cái gió lồng lộng đại ngàn, Đại tướng không kìm được nước mát. Khoảnh khắc ấy được lưu lại vô cùng lay động trong những trang hồi ký của Tướng Nguyên: “Những giọt nước mắt dành cho những chiến sĩ vĩnh viễn nằm lại trên trọng điểm này của vị Tổng tư lệnh giữa chiều Trường Sơn thật sự thấm đậm tình người, lắng sâu trong tâm khảm chúng tôi, không thể nào quên được!”. Một tác giả người nước ngoài, TS Virginia Louise Morris, tác giả cuốn sách Đường mòn Hồ Chí Minh - con đường dẫn tới tự do, cũng không thể nào quên được cuộc trò chuyện với Đại tướng. Bà kể rằng Tướng Giáp không ngại ngùng khi nói mình thường khóc khi nhớ đến những gian khổ và mất mát của chiến sĩ Trường Sơn. “Tướng Giáp nói: Ngay bây giờ chúng ta có thể ngồi nghe với nhau những bài hát đó về Trường Sơn và cuộc kháng chiến gian khổ hào hùng của dân tộc Việt Nam. Trong những dịp như vậy, tôi đã khóc... và tôi nghĩ rằng nếu chị là một cô gái Việt Nam vào lúc đó, chị cũng sẽ đi Trường Sơn". Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến tâm sự rất thật của nhà văn Nguyễn Quang Lập, một đồng hương Quảng Bình của Đại tướng. Anh Lập chưa từng gặp Đại tướng nhưng đã khóc òa khi đến xem đoạn kết vở kịch Bài ca Điện Biên năm 1984. Hôm ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến xem kịch. Đoạn kết vở kịch đó, diễn viên sắm vai chính ủy, thay vì đứng trên sân khấu điện về cho chỉ huy sở báo cáo chiến thắng, thì đột nhiên chạy vụt xuống hàng ghế khán giả, nơi Đại tướng ngồi, giơ tay chào, dõng dạc: "Báo cáo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tư lệnh mặt trận, chiến dịch Điện Biên Phủ đã hoàn toàn thắng lợi. Tướng Đờ Cát đang ở trước mặt chúng ta". Cả hội trường đứng lên vỗ tay như sấm rền trong 10 phút, còn anh Lập chạy ra ngoài khóc nức nở vì quá đã, vì hạnh phúc bởi cái kết sáng tạo đã nói hộ bao người: Võ Nguyên Giáp là Đại tướng vĩnh viễn, Đại tướng của nhân dân. Đại tướng để rơi nước mắt vì bao người, thì chẳng có gì khó hiểu nếu bao người rơi nước mắt vì Đại tướng. Xin được kết bài viết bằng đôi câu đối trác tuyệt của GS Vũ Khiêu viết tặng Đại tướng: Võ công truyền quốc sử Văn đức quán nhân tâm. Theo Bùi Ngọc Hải (Phụ Nữ TPHCM)
-
Chuyên gia phong thủy bàn chuyện đầu tư năm Rồng Theo chuyên gia phong thủy Philip Chow, Nhâm Thìn là năm của "con Rồng nước", vì vậy các lĩnh vực liên quan đến Thủy và Mộc sẽ phát, chẳng hạn như vận chuyển,du lịch, nông nghiệp, thời trang và xi măng... Từ tháng 8 năm nay, dự kiến thị trường sẽ phục hồi mạnh mẽ (ảnh minh họa). Năm cũ Tân Mão đã khép lại mở ra những triển vọng cho năm mới Nhâm Thìn với biểu tượng con Rồng luôn được cho là hiện thân của những điều tốt đẹp, sự hùng mạnh, dũng mãnh của tự nhiên.Nhà đầu tư sẽ trở nên e ngại? Hay sẽ thành công hơn khi thị trường vốn khởi sắc trở lại, cùng với loài vật huyền bí “cất cánh” bay lên một tầm cao khác? Mới đây, chuyên gia phong thủy nổi tiếng Philip Chow thuộc Tập đoàn môi giới và đầu tư “Các thị trường Châu Á - Thái Bình Dương” (CLSA) của Hồng Kông đã tiết lộ những phát hiện thú vị về năm mới âm lịch này. Nhìn chung, năm vừa qua thị trường vấp phải nhiều khó khăn. Chow lý giải, nhiều cơ hội bị nhà đầu tư bỏ lỡ vì thỏ (năm Mão ở Việt Nam là năm Thỏ ở Trung Quốc) là loài vật có tính cách nhút nhát, sợ hãi. Ở đây, thầy phong thủy người Hồng Kông đề cập đến việc Trung Quốc hồi năm ngoái tuyên bố không thể cam kết đầu tư vào Quỹ ổn định tài chính châu Âu (EFSF) cho đến khi tình hình Hy Lạp được làm rõ. Đồng thời, Tân Mão cũng là một năm đầy “gánh nặng” bởi sự mất cân bằng của các nguyên tố và tiềm ẩn nguy hiểm khi dư thừa “Hỏa” và “Kim”. Năm Mão mệnh Mộc: Kim khắc Mộc và có thể trị Mộc, trong khi đó Mộc lại sinh Hỏa. Thị trường Trung Quốc năm vừa qua ảm đạm và không gặp nhiều điềm lành. Tuy nhiên, Rồng – loài vật duy nhất được hư cấu trong 12 con giáp – lại được tạo ra từ những chất liệu mạnh mẽ. Hơn nữa, năm 2012 lại không hề có “Hỏa” trong danh mục, và chỉ có một lượng rất ít là “Kim”, tạo nên sự suôn sẻ (năm Thìn mệnh Thủy). Mặc dù vậy, Chow cũng khuyến cáo, nửa đầu năm nay có vẻ sẽ còn một chút ít sự cố, khi mà “con rồng nước màu đen” vẫn còn đang giữ đầu trong nước.Những tháng hè sẽ bị nhiệt thiêu đốt, điều đó có nghĩa là thị trường trong 6 tháng đầu năm còn ảm đạm và tháng 7 sẽ chứng kiến viễn cảnh xấu nhất. “Hãy bán ra vào tháng 5 và rời bỏ thị trường” – Chow khuyên. Một điều đáng lo ngại khác trong năm nay theo nhìn nhận của chuyên gia phong thủy lại chính là Thủ tướng Đức Angela Merkel. Bà Merkel sinh năm Ngọ, mệnh Mộc (Ngựa gỗ) nên sẽ không hợp với năm của “một con Rồng nước”. Trên thực tế, Chow cho rằng, số tử vi của bà Merkel báo trước cho “một năm gây sốc”. Đặt giả thiết cuộc khủng hoảng khu vực đồng euro còn tiếp diễn cho đến hết năm nay thì có thể sẽ leo thang trong mùa hè này.Dù vậy, con Rồng, về bản chất là một người thay đổi cuộc chơi (gamechanger), mang đặc trưng của cả hai sự chuyển hướng ấn tượng và sự thịnh vượng vĩnh cửu. Theo đó, tháng 8 sẽ đóng vai trò như một điểm uốn, một bước chuyển giao khi con Rồng từ biển bay vút lên bầu trời. Quý III sẽ là giai đoạn thị trường hồi phục mạnh mẽ.Chuyên gia phong thủy Hồng Kông cũng cho biết, đối với Trung Quốc năm, tử vi của nhà lãnh đạo Tập Cận Bình sẽ mang lại nhiều điểm tốt lành cho quốc gia này. Tư vấn về hướng đầu tư, Chow cho rằng, năm nay, tất cả quy về hai yếu tốt “Thủy” và “Mộc”. Hay là những lĩnh vực liên quan đến nước như vận chuyển, du lịch và liên quan đến gỗ như nông nghiệp, thời trang. Ông khuyên, năm nay các nhà đầu tư nên quan tâm đặc biệt đến xi măng – một hỗn hợp giữa đất và nước. Người Trung Quốc có câu: Bạn không bao giờ có thể cùng lúc thấy cả đầu và đuôi con Rồng, đó là bởi vì nó di chuyển quá nhanh”, ông nhấn mạnh. Đồng thời cũng dự báo, tiến trình phục hồi của thị trường sẽ có xu hướng giảm dần đến tháng 12 và con Rồng lúc này có vẻ như nghỉ ngơi vào thời gian còn lại của năm âm lịch. Bích Diệp Theo Financial Times
-
Quẻ này thưởng 1 vé đi! Mà không nói rõ vé về ai lo? Cung thê quản chặt phép to? Chi bằng thưởng cặp vé đôi khứ hồi? Vừa xong nhà mới Vừa vui đón kiều (Vịt kều) Năm nay phước bất trùng lai Bác đây bớt oải mà lo Sử Hùng.
-
15 điều đáng ngẫm trong cuộc sống Danh vọng, địa vị, sự thành công và sự giàu có thường có khuynh hướng gia tăng cái tôi của người ta. Vì vậy, người ta sẽ lạc lối, giống như người lạc đường không thể về nhà được. Ai chứa đầy kiến thức thì điếc trước lời phải trái. Khi hai người tranh luận, một người thường đưa cái biết của mình vào. Cho nên rút lại chỉ nghe thấy tiếng của mình mà không học thêm được gì cả. 1. Sống trong hiện tại Phật hỏi đệ tử: - Cuộc sống người ta được bao nhiêu? Các đệ tử thay nhau trả lời: - 80 năm. - Sai. - 70 năm. - Còn sai. - 60 năm. - Sai. - Vậy người ta sống bao lâu? Phật mỉm cười đáp - Đời người chỉ thuộc trong vòng hơi thở. Lời bìnhĐừng ỷ vào quá khứ và cái sắp tới, hãy sống với thực tại. 2. Sau khi chết người ta đi về đâu?Hoàng đế Goyozer đang học thiền với thiền sư Gudo Toshoku. - Bạch thầy, sau khi chết, người ta đi đâu? - Tôi không biết. - Tại sao thầy không biết? - Vì tôi chưa chết. Lời bình Khi sống, con người nên thưởng thức những vẻ đẹp và bí ẩn của cuộc sống theo cái nhiều người sống. Không cần quan tâm đến thế giới sau khi chết. Hãy sống trọn hôm nay, đừng lo ngày mai vì chuyện ngày mai thì mai mới xảy ra. 3. Định mệnh nằm trong bàn tay Thời xưa, có vị tướng quyết tấn công địch dẫu quân địch mạnh hơn gấp nhiều lần. Trên đường tiến quân, ông dừng chân ở một đền thờ cầu nguyện, xin giúp đỡ. Sau đó, ông rút ra một đồng xu và nói lớn với quân sĩ: - Bây giờ, ta sẽ lấy đồng xu để xin keo. Nếu là sấp, quân ta sẽ thắng còn ngửa thì quân ta sẽ bại. Chúng ta phó mặc mạng sống cho định mệnh. Đồng xu bay lên, xoay mấy vòng và rơi xuống đất. - Sấp rồi ! Chúng ta sẽ thắng ! Hãy xông lên chà nát quân thù ! - Ba quân reo hò phấn khởi. Sau trận chiến, toàn bộ quân địch hùng hậu đông đảo bị đánh bại hoàn toàn. Vị phó tướng vui vẻ nói với tướng quân: - Không ai có thể thay đổi được bàn tay định mệnh. Tướng quân chỉ mỉm cười không đáp. Ông xoè tay đưa đồng tiền ra. Cả hai mặt đồng xu đều là mặt sấp. Lời bình Thiên đàng rất công bằng đối với tất cả mọi người, không thiên vị dành riêng cho ai. Sự giúp đỡ duy nhất mà bạn có được là chính bản thân bạn !!! 4. Con sóng nhận thức Nhìn thấy một con sóng cao lớn bên cạnh, con sóng nhỏ tỏ ra bực mình: - Bực ghê. Sóng kia lớn quá, sao ta bé tí. Chúng mạnh mẽ xiết bao sao ta yếu đuối thế này. Con sóng to cười đáp: - Đó là vì không nhận ra gốc gác của mình mà bạn buồn bực thế. - Tôi không là sóng thế là gì? - Sóng chỉ là hình thức tạm thời trong bản chất của bạn. Kỳ thực bạn là nước. Một khi nhận ra bản chất của chính mình là nước, bạn sẽ không còn ấm ức với cái vỏ sóng này và không còn buồn bực gì nữa. Con sóng nhỏ hiểu ra, cười vui vẻ: - À, bây giờ thì tôi hiểu. Bạn và tôi tuy hai mà một. Lời bình Con người cho rằng "ngã" là ta nên xảy ra phân biệt ta và người mà buồn khổ. Thực ra loài người được cấu tạo cùng một bản chất trong thiên nhiên bao la. 5. Thiên đường địa ngục Một vị tướng quân đến gặp thiền sư Ekaku hỏi: - Bạch thầy, thiên đường hay địa ngục có thật hay không? - Thế ngài là ai? - Tôi là tướng quân. Bất ngờ, thiền sư cười lớn: - A ha! Thằng ngốc nào cho ông làm tướng vậy, trông ông giống anh hàng thịt. Tướng quân nổi giận, rút gươm: - Tao băm xác mi ra !!! Thiền sư vẫn điềm tĩnh: - Này là mở cửa địa ngục. Chợt giác ngộ, vị tướng sụp xuống lạy: - Xin... xin thầy tha lỗi cho cử chỉ thô bạo vừa rồi của tôi. - Này là mở cửa thiên đường - thiền sư Ekaku mỉm cười. Lời bình Thiên đường, địa ngục không phải là chỗ con người tới sau khi chết mà nó ở đây và bây giờ! Lành, dữ đều do tư tưởng. Cửa thiên đường địa ngục mở ra bất cứ lúc nào. 6. Thiên đàng địa ngục đều do tâm tạo Có một bà lão biệt danh "mụ già hay khóc". Trời mưa, mụ cũng khóc, trời không mưa mụ cũng khóc. Có người hỏi bà: - Bà lão ơi, sao bà lại khóc? - Tôi có hai con gái, cô chị bán giày vải, cô em bán dù. Khi trời nắng ráo, lão nghĩ tới con em bán dù không được. Khi trời mưa, lão lại lo cho con chị, mưa gió không có khách nào chịu mua giày. - Lão nên nghĩ rằng khi trời đẹp đứa lớn sẽ bán được, khi trời mưa đứa nhỏ bán dù rất chạy. - À, ông có lý. Từ đó, "mụ già hay khóc" thôi khóc. Bà lão cười suốt ngày dù trời mưa hay nắng. Lời bình Một điều lợi hay bất lợi sẽ tuỳ thuộc vào cách nhìn, cách suy nghĩ của bạn. 7. Phật tại giaYangpu về tỉnh Sichuan định tâm tìm kiếm Bồ Tát. Trên đường đi, Yangpu gặp một nhà sư. Nhà sư hỏi: - Cậu đi đâu đấy? - Tôi đi cầu Bồ Tát. - Bồ Tát ở xa, chi bằng đi tìm Phật có hơn không? - Tìm Phật ở đâu bây giờ? - Khi cậu về nhà, thấy người đón cậu trên mình khoác cái mền, chân xỏ dép trái, đó chính là Phật. Theo lời, cậu về nhà thì trời đã khuya. Mẹ cậu nghe con gọi cửa mừng quá vội khoác mền lên người, xỏ dép trái. Bà chạy ào ra mở cửa và khi Yangpu thấy mẹ mình như vậy thì đứng chết lặng. Lời bình Người ta tìm chân lý nhưng điều cần là thực thi ngay trong lòng, không thì khó mà gặp được. 8. Ngón tay chỉ mặt trăngSư Wu Jincang hỏi Lục Tổ Huệ Năng: - Con đọc kinh Đại Bát Niết Bàn bao năm rồi mà vẫn chưa hiểu. Xin tổ sư soi sáng cho. Lục Tổ Huệ Năng cầm quyển kinh đưa cho ni sư, nói: - Ta không đọc được chữ, con hãy đọc, ta sẽ giúp con hiểu. - Tổ không đọc chữ sao ngài hiểu thông nghĩa được? - Jincang rất ngạc nhiên. Lục Tổ Huệ Năng thủng thỉnh đáp: - Chân lý không dựa vào chữ nghĩa. Nó giống như trăng soi trên trời. Trong trường hợp này, chữ nghĩa giống như ngón tay trỏ vậy. Ngón tay chỉ trăng mà nó không phải là trăng. Xem trăng có cần ngón chỉ không? Lời bình Ngôn ngữ văn tự đều là biểu tượng diễn chân lý. Đừng lầm chữ nghĩa với chân lý như đã lầm ngón tay với mặt trăng. 9. Ai đó Kitagaki, thống đốc bang Kyoto, đến viếng đền Tofuku để thăm Keichu - vị sư trưởng đền này. Đệ tử của Keichu vào báo: - Kitagaki, thống đốc Kyoto muốn diện kiến thầy. - Ta không biết thống đốc nào cả - Sư trưởng trả lời. Đệ tử chạy ra nói với Kitagaki: - Thầy tôi yêu cầu ngài lui gót vì không quen thống đốc nào cả. Kitagaki hiểu ra: - Nếu vậy, hãy báo với thầy anh có Kitagaki muốn diện kiến. - Để tôi thử lần nữa. Lần này, sư trưởng ra đón tận nơi: - Ồ, Kitagaki đấy à. Mời vào nhà.Lời bình Danh vọng, địa vị, sự thành công và sự giàu có thường có khuynh hướng gia tăng cái tôi của người ta. Vì vậy, người ta sẽ lạc lối, giống như người lạc đường không thể về nhà được. 10. Càng vội càng chậmMột thanh niên nọ lên núi tìm kiếm sĩ lừng danh để học kiếm thuật. Anh ta hỏi vị sư phụ: - Thưa thầy, nếu con luyện tập chuyên cần thì phải bao lâu mới thành kiếm sư? - Có lẽ 10 năm. - Cha con đã già rồi và con phải chăm sóc ông. Nếu con luyện tập chuyên cần hơn nữa thì mất bao lâu? Lặng yên suy tư một lúc, vị sư phụ đáp: - Trường hợp này có lẽ phải 30 năm. Anh thanh niên không giấu được vẻ nôn nóng: - Trước thầy bảo 10 năm, bây giờ 30 năm. Con sẽ vượt qua mọi trở lực để nắm vững kiếm thuật với thời gian ngắn nhất. - Thế thì anh cần phải ở lại đây 70 năm - Vị sư phụ mỉm cười. Lời bình Những người quá nóng nảy muốn đạt đến kết quả thì hiếm khi thành công. 11. Đèn đã tắt Một anh mù đến từ giã bạn mình. Người bạn cho anh một cây đèn lồng. Anh mù cười hỏi: - Tôi đâu cần đèn lồng. Với tôi, sáng hay tối có gì khác. - Tôi biết. Nhưng nếu không mang nó theo, trong bóng tối người khác có thể đụng vào anh. - Ồ, vậy thì được. Đi được một đoạn, bất ngờ anh mù bị một người đâm sầm vào. Bực mình, anh ta quát: - Bộ không thấy đèn hả? - Đèn của ông đã tắt từ lâu rồi mà. Lời bình Người nào dùng lời kẻ khác để dạy người có thể giống anh mù này. Đèn đã tắt từ lâu, tuy nhiên anh ta không biết điều đó. 12. Bình thường tâm- Bạch thầy, sống theo Đạo một cách siêng năng là thế nào? - Khi đói hãy ăn, khi mệt hãy ngủ. - Đó là những điều mà mọi người thường làm mà? -Không, không ! Hầu hết mọi người đều không làm như vậy. Khi ăn, mọi người đầy những suy tư, ao ước và khi ngủ lại đầy những lo toan. Lời bình Có bao nhiêu người mà mỗi sáng thức dậy mà đầu óc không bận bịu những chuyện quá khứ? Con người phải vứt bỏ những điều nguy đã gây ra bão tố nội tâm và sống theo bản chất nguyên thuỷ của họ vì Đạo nằm ngay trong đời sống hằng ngày. 13. Thiền trong chén trà Vị giáo sư đại học đến gặp thiền sư Nan In để tìm hiểu Thiền. Nan In mời ông uống trà. Nan In rót đầy chén trà rồi mà cứ thế rót thêm. Giáo sư nhắc: - Kìa thầy, chung trà đầy tràn rồi, xin đừng rót nữa. Nan In cười đáp: - Như chung trà này, ông cũng đầy ắp những quan niệm của ông. Nếu trước tiên, ông không cạn chén thì sao tôi có thể bày tỏ Thiền cho ông được. Lời bình Ai chứa đầy kiến thức thì điếc trước lời phải trái. Khi hai người tranh luận, một người thường đưa cái biết của mình vào. Cho nên rút lại chỉ nghe thấy tiếng của mình mà không học thêm được gì cả. 14. Con quỷ bên trong Nhà sư nọ mỗi khi bắt đầu nhập định đều thấy một con nhện khổng lồ làm ông bối rối. Nhà sư liền vấn ý sư Tổ: - Mỗi khi con bắt đầu nhập định thì luôn có một con nhện khổng lồ xuất hiện, dẫu có đuổi thế nào nó cũng không đi. -Lần tới, nếu thấy con nhện xuất hiện, con hãy vẽ một vòng tròn to làm dấu xem nó từ đâu đến. Nhà sư làm đúng như vậy. Khi ông vẽ vòng tròn to vào bụng con nhện, con nhện chạy đi, ông lại có thể tiếp tục thiền định. Sau buổi thiền định, nhà sư rất bối rối khi thấy vòng tròn nằm ngay trên bụng mình. Lời bình Trong cuộc sống, con người gặp phải nhiều xáo trộn và âu lo, phiền nhiễu. Nhưng âu lo tệ nhất thường là từ chính bản thân mình mà ra. 15. Đích tới có một đường đi không cùng Một tăng đồ hỏi Thiền sư Baling Haojian: - Nghĩa lý của sư tổ và ý nghĩa của giáo lý có gì giống và có gì khác nhau? - Khi vịt lạnh, chúng lội xuống nước. Khi gà lạnh chúng đậu trên cây. Lời bình Lạnh vẫn lạnh nhưng phương thức tránh lạnh lại khác nhau. Cùng một mục tiêu nhưng mỗi loài lại có cách riêng của chúng. Để đạt mục tiêu không chỉ có một con đường, không phải ai cũng đi theo một con đường. Hãy khéo chọn... TimHieuDaoPhat.Com Theo Phattuvietnam.net
-
XUÂN CỬA THIỀN GN - Mỗi đêm chúng ta đều tụng Bát-nhã “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không”. Chiếu kiến ngũ uẩn của ai? Ngũ uẩn của mình. Như vậy là soi sáng, xét nét lại chính mình để biết rõ năm uẩn không thật, không có thực thể, từ đó mà qua tất cả khổ nạn. Thân đã không thật thì cảnh bên ngoài có thật được không? Không. Vậy mà con người luôn thấy thân tâm và muôn sự muôn vật lúc nào cũng có thật. Chư Phật, Bồ-tát biết rõ cuộc đời là ảo mộng, đã là ảo mộng thì còn gì quan trọng nữa để lôi cuốn chúng ta chìm trong mê muội. Điều thiết yếu là chúng ta phải khắc tỉnh, mạnh dạn vượt qua ảo mộng. Có một sự tích liên quan đến đến việc gá thân mộng như thế này: Thiền sư “Đả Táo Đọa”, do đập bể ông táo mà thành danh. Ngài tu ở vùng núi Xuân Sơn bên Trung Hoa với một số đồ chúng. Một hôm Ngài dẫn chúng đi dạo núi, đến gần thung lũng thấy một miếu thờ, dân chúng làm thịt bò, trâu, heo, gà dâng cúng liên miên. Hỏi ra được biết vị thần Táo ở miếu này rất linh, cầu gì được nấy. Nghe rồi, Ngài cầm gậy vô miếu, thấy trên bàn thờ có để ba viên gạch, Ngài lấy gậy gõ vào đó nói:“Đây là do gạch đất hợp thành, linh từ đâu lại, thiêng ở chỗ nào ?” Nói xong, Ngài đập một gậy, ba viên gạch bể nát rơi xuống đất. Lát sau trên đường đi, gặp một vị áo xanh mũ xanh quì trước mặt. Ngài hỏi: - Ông là ai ? - Con là thần Táo trong miếu đến tạ ơn Hòa thượng. Ngài nói: - Ta đã làm gì mà ngươi tạ ơn ? - Nhờ ơn Hòa thượng nói lý vô sanh mà con tỉnh ngộ, thác sanh lên cõi trời, bỏ thân đọa đày trong bao nhiêu đời ở tại miếu này. Nói xong ông đảnh lễ rồi biến mất. Thị giả thấy vậy mới thưa: - Bạch Hòa thượng, con hầu Ngài đã lâu mà không được nghe nói lý vô sanh, thần Táo này có phước gì mà Hòa thượng mới nói một câu ông liền ngộ ? Ngài lặp lại câu nói trên cho thị giả nghe và hỏi: - Ông hội không ? - Dạ con không hội. Ngài nói: - Bể rồi! Bể rồi! Rơi rồi! Rơi rồi! Thị giả liền ngộ. Kể chuyện này để quí vị hiểu chỗ chúng tôi dùng chữ gá. Thần Táo gá vào đất gạch mà phải ở đó bao nhiêu năm. Còn chúng ta gá vào cái gì? Gá vào đất nước gió lửa, rồi chấp đó cho là mình, có đau khổ chưa? Cho là mình rồi thì giành hơn giành thua, chấp phải chấp quấy. Bao nhiêu tội nghiệp cũng từ đó mà ra. Nếu bây giờ nhớ thân này là cái mình gá, không có gì quan trọng hết, biết như vậy là biết được lý vô sanh. Thân này là giả tạm, là mộng, mộng thì có gì thật đâu. Trong khi mộng, sanh cũng mộng, tử cũng mộng, sanh không thật sanh, tử không thật tử. Nhận được như vậy thì lý vô sanh hiện tiền. Ngay thân này, nhận được lẽ thật thì thấy đạo, thấy đạo thì thoát ly sanh tử. Ngược lại, chúng ta cứ bám vào thân này cho là thật, là quí rồi xem cái khổ vui, hơn thua của nó là quan trọng, tức nhiên mình bị nó chi phối, không những trong hiện đời, mà cả lúc thọ thân sau. Cho nên ngay thân này chúng ta thức tỉnh, biết được nó là mộng thì tự nhiên có thể lần lần thoát ly, không bị nó cuốn lôi nữa. Do đó thần Táo chỉ nhờ nghe câu: “Đây là do gạch đất hợp thành, linh từ đâu lại, thiêng ở chỗ nào ?”, ông giựt mình thức tỉnh liền buông được cái gạch đất và sanh lên cõi trời. Chúng ta khi biết rõ thân này do đất nước gió lửa hợp thành, không phải thật mình thì sao ? Thật nhẹ nhàng biết mấy, nhưng không chịu buông, cứ bám vào đó mà hơn thua phải quấy. Có những đêm tôi ngồi ở ngoài, đuổi muỗi cắn, tôi rờ thấy xương, thấy thịt, một hồi tôi tức cười quá. Thân này thật không ra gì, gá vào nó cực quá. Gá từng khúc từng mảnh, mà cứ cho là mình, từ đó bao nhiêu cái dở phát sanh, kể không thể hết. Vậy mà cứ hài lòng, động đến là phản đối chống trả mãnh liệt. Chúng ta chỉ cần thức tỉnh thân này tạm gá mượn, lấy đó làm bè qua sông, đừng nghĩ nó là thật, cứ lo bồi bổ tô điểm đủ thứ mà chìm đắm, không qua sông được. Những điều tôi nói trên đây nhằm nhắc nhở cho cả Tăng Ni và cư sĩ. Nếu chúng ta thức tỉnh được điều đó thì chuyện thoát ly sanh tử không khó. Còn nếu chúng ta mê hoài thì không biết chừng nào ra khỏi biển sanh tử. Cho nên chủ yếu Phật dạy lý vô ngã là như vậy. Thấy rõ thân này không phải thật ngã thì tự nhiên thoát ly sanh tử. Nếu thấy là thật ngã thì ngàn đời không bao giờ ra khỏi sanh tử, dù tu hạnh gì cũng thế. Đó là một lẽ thật. Đối với người tỉnh, thương mình là phải tìm ra cái gì thật mình, cái gì không phải thật mình. Chúng ta xét xem nơi mình cái gì thật, cái gì không thật. Thân này thật không ? Không thật. Tạo sao? Vì thân vô thường, duyên hợp tạm có. Nhà Phật nói thân do bốn phần đất, nước, gió, lửa hợp lại thành. Chất cứng trong người là đất, chất ướt trong người là nước, chất động trong người là gió, hơi ấm trong người là lửa. Bốn thứ đó thiếu một thì không sống được. Khi bốn chất đó hợp lại thành thân rồi, muốn thân tăng trưởng lâu dài thì phải mượn đất, nước, gió, lửa bên ngoài bồi bổ thêm hoài. Như vậy nó mới còn, mới tăng trưởng. Như lỗ mũi chúng ta đang thở. Hít vô là mượn, thở ra là trả. Mượn trả, mượn trả… trả ra mà không mượn lại thì tắt thở. Nếu thân thật thì đâu cần mượn, mà mượn thì không thật. Đó là nói về gió. Đến nước, một lát mượn tách nước, mượn rồi trả. Rồi mượn cơm tức là mượn đất, mượn rồi cũng trả. Như vậy chúng ta sống an vui, khỏe mạnh là nhờ mượn trả suông sẻ. Nếu mượn trả trục trặc thì phải đến bệnh viện cứu cấp liền. Thế thì giá trị của con người ở chỗ nào? Chỉ là sự mượn trả, mà chúng ta cứ ngỡ mình thật, mình là chủ tất cả. Khi thấy được thân này vay mượn tạm bợ, chúng ta có bớt quí nó không? Giả sử ai chê, nói mình xấu quá ta có giận không? Đã là đồ vay mượn, xấu tốt có quan trọng gì. Sở dĩ người ta chê một câu mà mình nổi sân đùng đùng là do ta tưởng mình quí, tưởng mình tốt. Còn nếu biết mình là hư giả, người ta nói gì mình cũng cười thôi. Đó là người trí tuệ, ngược lại là kẻ si mê. Như vậy lấy cái tạm bợ làm cái chân thật của mình có được không ? Chắc chắn không được rồi. Đó là tôi nói về thân. Đến tâm, cái gì là tâm mình ? Vấn đề này tế nhị hơn. Lâu nay chúng ta quen cho nghĩ thiện nghĩ ác… là tâm mình. Tôi xin hỏi, từ khi cha mẹ sinh ta ra đến ngày nhắm mắt, mình là một hay trăm thứ tạp nhạp ? Tâm suy nghĩ thiện ác hơn thua phải quấy tạp nhạp, một ngày đổi thay cả trăm lần. Nếu tâm ấy là mình thì chúng ta tạp nhạp mất rồi. Nên phải biết tâm buồn thương giận ghét hơn thua phải quấy chỉ là những mảnh vụn, tạm bợ, chứ không phải thật tâm mình. Đạo Phật chỉ cho chúng ta cái gì là thật nơi mình. Như khi niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, tâm không còn suy nghĩ lăng xăng nữa, mới được đức Phật đón về Cực Lạc. Tại sao phải niệm tới chỗ nhất tâm? Vì tất cả những nghĩ suy đều là tạp nhạp hư dối, không phải thật mình. Lặng hết những thứ đó, tâm chân thật mới hiện bày. Tâm chân thật hiện bày nên Phật mới đến đón. Cho nên niệm Phật phải niệm tới nhất tâm là vậy. Người tu thiền để được định. Định những tâm lăng xăng lộn xộn mà lâu nay chúng ta mê cứ tưởng nó là mình. Những thứ giả dối tạm bợ ấy lặng rồi thì được định. Định tới chỗ cứu kính sẽ được Niết-bàn vô sanh. Như vậy, chủ trương đạo Phật dạy tu là dẹp tâm lăng xăng lộn xộn, trở về tâm chân thật sẵn có nơi mình. Lâu nay chúng ta quên nên cứ chạy theo những thứ lăng xăng thành ra chìm mãi trong sanh tử khổ đau. Năm cũ sắp tàn, bước qua năm mới, chúng tôi mong rằng quí vị tại gia nỗ lực làm đúng tinh thần học hiểu của mình. Còn giới xuất gia lập chí đúng tinh thần người xuất gia, để chúng ta chuẩn bị cho năm mới, cương quyết tiến tới mục đích mình đã định. Mong tất cả chuẩn bị cho năm mới đẹp đẽ hơn, mạnh mẽ hơn, cứng cỏi hơn để đạt được sở nguyện của mình. Đó là lời chúc xuân của tôi. HT.Thích Thanh Từ
-
Thủy trong nhà Chú Hỏa Một trong những ngôi nhà ở nổi tiếng nhất Sài Gòn là nhà chú Hoả. Nhiều tài liệu để lại cho thấy ông Hui Bon Hoa – tên đầy đủ của chú Hoả – là một người giàu lên từ giới bình dân, nhưng ngôi nhà của ông lại là một kiệt tác kiến trúc bác học. Điều đó hoàn toàn khác với cái thông lệ chúng ta thường thấy… Nói không ngoa, chính ông đã tạo nên phong cách chuẩn mực cho nhà ở Sài Gòn trong một thời gian dài, dẫu rằng sau những năm 1930, Art Deco thoái trào. Nhà được xây vào năm 1920, gồm bốn tầng – một trệt, ba lầu, theo phong cách Art Deco rất hiện đại thời đó, ra đời và thịnh hành tại Paris trong những năm 1920. Giếng trời như là chiếc máy lạnh sạch thời kỳ này Khi du nhập phong cách này vào Việt Nam, người Pháp đã đồng thời xử lý tuyệt hảo các ngôi nhà trước cái nóng của xứ nhiệt đới thời chưa có máy lạnh. Với ngôi nhà của chú Hoả, thì cách xử lý này cũng vậy. Art Deco vốn là một phong cách dễ bị tẩu hoả nhập ma khi pha trộn các phong cách khác một cách thô thiển. Nhưng ngôi nhà chú Hoả được “chiết trung” tốt các phong cách giữa phương tây và bản địa. Nói “chảnh” một chút, hồi đó tuy chưa có điện nhiều, nhưng ngôi nhà đã bị “ô nhiễm” vì “quá dư” ánh sáng. Hoa văn trang trí, linh hồn của Art Deco, tạo ra sự mềm mại và thân thiện. Lối đi giữa các phòng với những hình khối bêtông thanh thoát. Không gian cầu thang và đèn trời cửa sổ kính lớn. Tự nhiên và ánh sáng tràn tự nhiên vào những “trùng thiềm” rất lớn này. Nó cho người ta cảm giác sống trong hẻm cao cấp, tĩnh lặng, trốn cái ồn của mặt tiền. Hẻm là môi sinh đặc trưng và muôn sắc của người Sài Gòn. Chú Hoả là nhà kinh doanh bất động sản hẳn “giác ngộ” được không gian sống hẻm này của xứ nhiệt đới hơn ai hết. Chi tiết hoa văn tay vịn cầu thang Bancông của ngôi nhà thiếu một cửa đầy trăm này được tận dụng để phô trương các hoa văn của sắt – chất liệu đến giờ vẫn đang còn đương đại Các hoạ tiết gốm địa phương được đưa vào ngôi nhà đi chung với những hình khối vòm gothique Mặt tiền của ngôi nhà gồm phong cách mái vòm tròn, vòm nhọn, mái cửa vào theo thức bản địa và lối đi hai bên không cho đâm thẳng vào nhà. Người ta có thế nhìn thấy nét “điệp ốc” theo thức trùng thiềm điệp ốc (hiên liền hiên, mái nhấp nhô san sát) của bộ mái nhà này. Bài: Khởi Thức - ảnh: Trần Việt Đức
-
Khoai tây - Thuốc quý chữa nhiều bệnh Một số nước trên thế giới đã dùng khoai tây để chữa một số bệnh về tim mạch và tiêu hóa có kết quả như ở Nga, Ailen, Thụy Điển, Mỹ. Khoai tây có tên khoa học là Solanum tuberosum L., khoai tây chủ yếu được dùng làm lương thực, chế tinh bột dùng trong lương thực, công nghiệp chế cồn, hồ giấy, hồ vải, công nghiệp dược phẩm. Một số nước trên thế giới đã dùng khoai tây để chữa một số bệnh về tim mạch và tiêu hóa có kết quả như ở Nga, Ailen, Thụy Điển, Mỹ. Khoai tây chữa một số bệnh sau đây: - Sốt do say nắng: Dùng củ giã đắp hai bên thái dương và trán (kinh nghiệm Tuynidi). - Đau tim: luộc củ ăn thường xuyên (kinh nghiệm dân gian Nga). Một nhà nghiên cứu ở Ailen và Boston nghiệm thấy chế độ ăn nhiều khoai tây thì tỷ lệ bệnh tim là 29%, trong khi chế độ ăn không có khoai tây tỷ lệ bệnh tim là 42%. - Tăng huyết áp: hoa khoai tây sắc uống thay trà. - Nhồi máu cơ tim: tăng khoai tây trong khẩu phần ăn sẽ giảm được lượng cholesterol có hại trong máu, phòng được nhồi máu cơ tim, đồng thời giảm được nồng độ kali trong máu vốn là nguyên nhân góp phần làm nghẽn mạch. - Dạ dày nhiều dịch vị chua, ruột kém nhu động: Dùng củ khoai tây ép lấy nước uống thường xuyên. - Viêm dạ dày tá tràng; giải độc tiêu hóa: Bột khoai tây pha uống, hoặc liên tục ăn khoai tây cả vỏ. - Đau bụng: vỏ củ khoai tây 10g. Sắc uống. - Nhiễm khuẩn đường hô hấp: xông, hít hơi khoai tây luộc. - Bệnh trầm cảm: ăn nhiều khoai tây kích thích cơ thể tiết ra nhiều insulin và đưa tryptophan lên não dẫn đến tạo ra nhiều seretonin ức chế trầm cảm lo âu. Qua nghiên cứu tiến hành ở Thụy Điển và Mỹ phát hiện thấy những người tự tử là những người mắc chứng trầm cảm có hàm lượng seretonin ở não rất thấp. - Bỏng, eczema, chấn thương: củ khoai tây cắt lát dán, đắp. - Béo phì: ăn khoai tây 8 tuần liền, người béo phì có thể hạ tới 7 kg thể trạng. Theo Lương y Minh Chánh SK&ĐS
-
Sấm tận thế của người Maya và sự thật Các nhà khoa học đã "bật lại" một số giả thuyết về ngày tận thế của người Maya trên trên tạp chí National Geographic. Theo lời sấm dựa trên bộ lịch nổi tiếng cổ xưa của người Maya, ngày tận thế đang gần kề - ngày 21/12/2012. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã "bật lại" một vài giả thuyết này trên trên tạp chí National Geographic. Vũ trụ sẽ bắn phá trái đất Theo thuyết này, năm 2012 Trái đất sẽ lâm nguy khi 2 cực của nó đổi chỗ. Các tiểu hành tinh sẽ va vào trái đất, bức xạ mặt trời làm mất ổn định lớp nhân của trái đất dẫn đến các thành phố bị nhấn chìm xuống biển. Tuy nhiên, theo nhà địa chất Adam Maloof thuộc Đại học Princeton (Mỹ), người nghiên cứu rất sâu về sự thay đổi 2 cực Trái đất, những chứng cứ từ tính bên trong lớp đất đá của trái đất cho thấy hành tinh của chúng ta sẽ trải qua một sự sắp xếp lại rất mãnh liệt. Nhưng tiến trình này phải mất hàng triệu năm, đủ lâu để con người có thể tìm nơi khác sinh sống. Hành tinh X sẽ va vào trái đất Kính viễn vọng không gian Hubble năm 2002 đã chụp được bức hình ngôi sao V838 Monocerotis và những đám mây bụi xung quanh. Đây được cho là chứa đựng bằng chứng về một thế giới ma quái hay còn gọi là hành tinh X đang trên đường tiến đến trái đất. Tuy nhiên, nhà sinh vật học vũ trụ của NASA, David Morrison, cho rằng không có hành tinh nào ở đó cả. "Nếu có một hành tinh đang tiến vào hệ mặt trời trong khoảng 3 năm nữa thì các nhà thiên văn học đã phải tìm hiểu chuyện này từ hàng thập kỷ trước và hiện tại bằng mắt thường cũng có thể nhìn thấy nó". Dải ngân hà thẳng hàng Nhiều người thích ngắm bầu trời tin rằng năm 2012 dải ngân hà sẽ thẳng hàng, một sự kiện chỉ xảy ra sau 26.000 năm. Người ta sợ điều này sẽ khiến trái đất phải đối mặt với những thế lực bí hiểm, có thể gây nên tận thế sớm do sự thay đổi 2 cực hay sự xáo trộn lỗ đen khổng lồ ở trung tâm dải ngân hà. Tuy nhiên, theo David Morrison, không có chuyện dải ngân hà xếp thẳng hàng, mà chỉ có một hiện tượng xếp thẳng hàng là khi đông chí, từ trái đất chúng ta sẽ thấy mặt trời xuất hiện gần trung tâm của dải ngân hà. Thông thường, ngày đông chí sẽ rơi vào ngày 21/12 hàng năm, trùng với ngày theo dự đoán của người Maya. Hiện tượng thẳng hàng này không có bất cứ tác động nào tới sự sống trên trái đất. Người Maya biết trước ngày tận thế Lịch của người Maya không kết thúc vào năm 2012. Nhưng ngày 21/12/2012 lại quan trọng đối với người Maya. Đó là lúc vòng tuần hoàn lớn nhất trong lịch của Maya, khoảng 5.100 năm kết thúc và một vòng tuần hoàn mới bắt đầu. Theo nhà khảo cổ Anthony Aveni, trong suốt thời kỳ cực thịnh, người Maya đã phát minh ra lịch Long Count, loại lịch tuần hoàn dùng để truyền tải văn hoá của người Maya cho thế hệ mai sau. Ngày đông chí năm 2012 là thời điểm kết thúc một kỷ nguyên trong lịch Long Count, vốn bắt đầu từ 11/8 năm 3114 TCN và người Maya gọi mốc này là ngày số không. Tháng 12/2012 là thời điểm kết thúc của lịch và bắt đầu một kỷ nguyên. Dự đoán thực sự của người Maya Nếu người Maya không nghĩ thời gian sẽ kết thúc ở năm 2012, vậy chính xác họ dự đoán gì cho năm này? Nhiều học giả miệt mài tìm tòi các chứng cứ nằm rải rác trong các công trình của người Maya cho rằng đế chế Maya không để lại ghi chép rõ ràng nào dự đoán có gì đặc biệt xảy ra năm 2012. Nhưng người Maya đã để lại một biểu đồ về kịch bản ngày tận thế, dù không ghi ngày. Nó mô tả thế giới sẽ bị ngập lụt, tương tự kịch bản của các nền văn hoá khác. Kịch bản này không phải dùng để đọc theo nghĩa đen, mà chúng được dùng như một bài học dạy về cách cư xử của con người. Phúc Nguyễn vnexpress.net
-
Khách Chết Ngạt Trong Xe Nhồi, Bị Vứt Xác Xuống Đường
wildlavender replied to wildlavender's topic in Thông Tin Cập Nhật
Chả biết làm thế nào mà xóa nhầm bài viết của VusongAnh! Click vào ô trả lời thế là ra bài và mất bài! Xin lỗi VuSongAnh nhé ! -
Giải Nghi Về Nhân Quả
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Tham, Sân, Si goị theo hán tự là Tam Độc, sát nghĩa của Tham là ham muốn, phụ nghĩa là mong cầu, rộng nghĩa là ước mơ! Có thể với kẻ phàm phu tục tử như chúng ta đây vẫn còn và có đủ 3 nghĩa trên nhưng quán xét cho kỹ thì điều chúng ta ham muốn mong cầu ước mơ có gần với chữ Tham trong tam độc không? Ví dụ: 1 đứa trẻ ham học sẽ khác với ham ăn, 1 người tham việc khác với người tham tiền vì vậy chúng ta có thể tạm bằng lòng "tri thức tri túc" thì sẽ không dẫn đến điều ham muốn hay sở hữu cái mà mình không làm ra nó sẽ gây ra cái "tham' trong thuyết giáo của nhà Phật. Có nghĩa là cái ham muốn "bất chính" là con đường đi đến nghiệp quả có ý thức.Còn nhiều người đi chùa hay cầu danh lợi? Họ cứ kiên nhẫn cầu xin nhưng có đạt được không còn tùy phước duyên tự tạo, có phải đấng tối cao nào cũng đáp ứng được tất cả những điều chúng sanh "cầu xin"? Cứ gầy phước, phước tự vươn cao! Cứ gieo nghiệp nghiệp chất chồng! Vài hàng chia sẽ kiến thức nhỏ nhoi, mong bạn suy nghiệm! -
Khách chết ngạt trong xe nhồi, bị vứt xác xuống đường BEE.NET- Lúc 16h20 hôm nay 20/1, trên Quốc lộ 1A đoạn qua Cầu Khuất (xã Thanh Hải, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam), xe khách Chiến Thắng mang biển số 18N-1269 có hành khách tên Bùi Văn Hà, sinh năm 1966 trú tại Xóm 8, xã Nam Điền, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định và con trai.Ông Hà cho biết xe khách nhồi nhét khách quá đông, tới khoảng 60 người trên xe (ông Hà cho biết xe này là xe 24 chỗ - PV) nên con trai ông là Bùi Văn Huấn (SN 1993) khó thở và dần lịm đi. Nạn nhân bị nhà xe vứt xuống đường Không còn kẽ hở nào để di chuyển trong xe nên phải mất tới 20 phút loay hoay mà ông Hà vẫn không thể nào đưa con ra tới cửa xe để kiếm chút... không khí. Lúc Huấn tắt thở, phụ xe, lái xe này vội tìm cách tuồn xác em qua cửa sổ rồi đuổi ông Hà xuống đường. Lái xe và phụ xe Chiến Thắng bỏ lại hai bố con ông Hà và tiếp tục cuộc hành trình. Hành động vô trách nhiệm của tài xế và phụ lái nhà xe Chiến Thắng khiến bà con địa phương vô cùng phẫn nộ. Người cha vật vã bên xác con Trời Hà Nam lúc đó mưa, gió lạnh nhưng xác em Bùi Văn Huấn vẫn chưa được đưa về quê vì chưa có tiền thuê xe. Ông Hà móc túi trong túi ngoài cũng chưa có đầy 100 nghìn đồng. Hiện người dân đã báo công an địa phương và góp tiền cho ông Hà thuê xe đưa xác con về quê. Trời Hà Nam mỗi lúc một mưa to hơn, cái rét thấu da, thấu thịt dường như không ngăn được sự bức xúc hừng hực của người dân địa phương (thôn Đoan Vĩ, xã Thanh Hải, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) trước hành động vô trách nhiệm, không có lương tâm của lái, phụ xe nhà xe Chiến Thắng, Nam Định. Theo tìm hiểu của PV, xe 18N-1269 khởi hành từ bến xe Giáp Bát (Hà Nội) về thị trấn Rạng Đông, Nghĩa Hưng, Nam Định. Một số nhân chứng nơi xác em Huấn bị bỏ xuống xác nhận đây là loại xe 24 chỗ ngồi. Cháu Bùi Văn Huấn cùng bố là Bùi Văn Hà đi khám bệnh từ Hà Nội về. Trên chuyến xe ngày cuối năm này, do quá đông hành khách lại thêm bị ốm nên Huấn đã bị ngạt thở. Thấy con khó thở, ông Hà đã nói với nhà xe dừng lại cho cháu xuống. Tuy nhiên nhà xe vẫn cứ đi cho đến khi em không chịu được và dần dần tắc thở… Mọi người trong xe đều nháo nhác thì lơ xe và chủ xe mới có động tĩnh. Sau khi dừng xe, do khách quá đông không đưa Huấn xuống được bằng cửa lên xuống nên nhà xe đã tống Huấn qua cửa sổ xe và để em xuống ven đường. Hành khách trên xe thương cảm cho hoàn cảnh bố con Huấn nên cũng gom góp tiền để lại. Tuy nhiên sau đó nhà xe yêu cầu tất cả hành khách lên xe để tiếp tục hành trình. Khi thấy xác Huấn bị bỏ bên đường cùng ông bố đang thất hồn và hoảng loạn, người dân chạy ra thì chiếc xe này đã chạy mất hút. Công an xã Thanh Hải ngay sau khi có thông báo của PV đã có mặt tại hiện trường. Người dân bên đường mang chiếu, chăn… đắp cho cháu bé. Mưa càng lúc càng nặng hạt, thương cho số phận nghiệt ngã của 2 cha con ông Hà, mỗi người có mặt ở hiện trường đều một chân một tay, chia buồn, mắc đèn, kéo điện, lợp mái che cho xác cháu bé. Tại thời điểm này, Công an xã Thanh Hải và Công an huyện Thanh Liêm đã có mặt lấy lời khai để giải quyết vụ việc. Ông Nguyễn Văn Tập - Trưởng Công an xã Thanh Hải cho biết: “Chúng tôi đã báo lên cấp trên xin hỗ trợ, hiện Công an huyện đã vào cuộc. Quan điểm của tôi thì lái xe, phụ xe rất vô trách nhiệm, không có lương tâm, coi thường tính mạng của con người. Đó là chưa nói đến việc nhà xe đã vi phạm chở quá khách”. Ông Đồng Văn Sáng - Đội phó Đội điều tra Tội phạm về Trật tự xã hội huyện Thanh Liêm cho biết: “Ngay sau khi nhận được thông tin, chúng tôi lập tức lập hồ sơ vụ án và đang tiến hành điều tra nhanh. Điều quan trọng nhất với tôi khi tiếp nhận vụ án tại hiện trường và ý kiến của người dân tôi suy nghĩ đến vấn đề trách nhiệm, đạo đức của nhà xe”. Hiện vụ việc vẫn đang được cơ quan công an tiến hành điều tra làm rõ. Cám cảnh hiện trường cháu bé chết ngạt bị vứt khỏi xe Người dân địa phương đang biến sự phẫn nộ với nhà xe bỏ khách dọc đường bằng hành động lo hậu sự cho cháu bé. Phóng viên Bee.net.vn đã liên hệ với chủ xe khách Chiến Thắng biển số 18N-1269 qua điện thoại. Chủ xe khẳng định không biết vụ việc vì chỉ ở nhà đưa xe cho người khác lái. Nhưng ngay sau khi nghe phóng viên thuật lại vụ việc, chủ xe lại thừa nhận: “À đấy là bố con đi viện về lên xe tôi rồi xuống thôi. Tôi ở nhà chỉ nghe người nhà thuật lại chứ không phải lái xe”. Sau đó, chủ xe cúp máy. Chúng tôi cố gắng liên lạc lại nhưng chủ xe không nghe máy. Xác cháu Bùi Văn Huấn chơ vơ bên đường Người cha Bùi Văn Hà khóc ngất bên con Người cha cạn nước mắt Nhiều người cùng góp sức.Đào đất đóng cọc... Căng bạt che mưa cho cháu Chính quyền và người dân cùng chung sức Cháu Huấn đã cảm nhận được tình người... Xác lạnh đã ấm hơn. Những hành khách nhân chứng đi trên xe 18N-1269 nếu có thông tin xin vui lòng liên hệ với PV Bee.net.vn qua số máy: 0919 033 628 hoặc gửi thông tin tới email tkts@bee.net.vn. Ngọc Liên - Kim Thái
-
Giải nghi về nhân quả Một số người đặt câu hỏi thế này: “Người tu Phật có thể thay đổi được quả khổ của đời mình không?” Vì đa số Phật tử nghĩ mình tu thì bao nhiêu tội lỗi trước, những điều mình làm đau khổ cho người, đều do công đức tu hành mà tan biến hết. Nếu thay đổi được thì có trái với câu nhân nào quả nấy không? Trong kinh kể đức Phật tu hành đã thành Phật mà còn bị nạn kim thương, mã mạch, tức là vẫn thọ quả báo như thường. Nạn kim thương là chân Ngài bị mũi kiếm đâm lủng. Nạn mã mạch là Ngài phải ăn lúa ngựa hết ba tháng. Phật nói rõ lý do tại ngày xưa Ngài đã từng gieo nhân khổ cho người nên bây giờ tuy đã thành Phật nhưng cũng vẫn phải trả quả cũ. Đệ tử lớn của Ngài là Mục-kiền-liên nổi tiếng thần thông đệ nhất, khi già đi khất thực bị một số ngoại đạo vây đánh nhừ tử. Lúc bị đánh Ngài không dùng thần thông vì muốn trả hết nợ cũ, sau đó đau nặng rồi tịch luôn. Nếu các ngài tu chứng A-la-hán rồi, lẽ ra quả ngày xưa phải tiêu hết, tại sao vẫn phải trả?Do đó các thầy Tỳ-kheo thắc mắc hỏi Phật về việc này. Phật giải thích do trước Ngài đã tạo nhân giết hại nên ngày nay phải bị quả như vậy. Qua những câu trả lời đó chúng ta nghĩ sao? Nhân đã tạo phải chịu quả với những người chưa chứng đạo thì được, nhưng với các vị đã chứng đạo thì có người thắc mắc. Hoặc như trường hợp vua Kế-tân nghe lời ngoại đạo hại Tổ Sư Tử. Ông cầm cây gươm tới trước Tổ hỏi: “Ngài bảo thân năm uẩn đều không, vậy cho tôi cái đầu được không?” Ngài trả lời: “Thân năm uẩn đã không, sá gì cái đầu.” Thế là ông chặt đầu Tổ. Như vậy để nói rằng trước Ngài đã có ân oán với nhà vua trong nhiều đời, nên đến đời này Ngài phải trả. Tới Tổ Huệ Khả ở Trung Hoa, sau khi đắc đạo truyền bá một thời gian, Ngài gặp Tăng Xán truyền y bát rồi nói: “Ta còn một chút nợ phải trả.” Ngài đi tới xứ đó giảng đạo, có người tâu với tri phủ Ngài nói tà thuyết, gây rối loạn quần chúng, tri phủ liền bắt nhốt Ngài cho tới chết luôn. Chúng ta thấy từ Phật là vị tu hành đã hoàn toàn viên mãn rồi, đến ngài Mục-kiền-liên đã chứng A-la-hán, tới các Tổ cũng phải trả oan khiên đời trước. Vậy nói tu hành có thể thay đổi được nhân quả, đúng không? Đa số nói không được, nếu đổi không được thì người ta đặt nghi vấn, như vậy tu hành để làm gì? Đó là những nghi vấn đối với lý nhân quả thật khó hiểu. Vì vậy hôm nay tôi phải giải những nghi vấn ấy để tất cả quí Phật tử hiểu rõ, không còn ngờ vực thì trên đường tu mới tiến, đạt được lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Trong đạo Phật nói nhân quả là nói tới sự chuyển biến luôn trôi chảy không dừng. Cho nên từ nhân đến quả có thể thay đổi tùy theo sự chuyển biến ấy. Hoặc thay đổi ở chiều này, hoặc thay đổi ở chiều nọ, chớ không cố định. Nếu ai nghĩ nhân nào quả nấy cố định thì không đúng lẽ thật, phải thấy rằng nhân quả tùy duyên, tùy điều kiện thuận nghịch, nó luôn luôn chuyển biến. Đã là chuyển biến tức nhiên phải đổi thay chớ không thế nào nguyên vẹn trước sau như một được, phải xác nhận nhân quả cho rõ. Chúng tôi dùng một ví dụ để quí vị thấy dòng chuyển biến của nhân quả. Nhân là hạt hay cái ban đầu, quả là trái hay cái chót. Ví dụ như chúng ta đem gieo một hạt bắp xuống đất, từ hạt bắp đó nếu đủ đất, đủ nước, đủ ánh nắng, nó sẽ chuyển lần lần thành mầm bắp. Từ mầm bắp chuyển lần lần thành cây bắp con, từ cây bắp con chuyển lần lần thành cây bắp lớn. Từ cây bắp lớn dần dần thành trái. Như vậy một dòng chuyển biến từ một hạt nhỏ lần lần thành cây, rồi có quả có trái và cuối cùng rụi mất. Chúng ta thấy nó có dừng ở một chặng nào không? Từ nhân tới quả là một dòng chuyển biến không ngừng. Chúng ta có thể nói hạt bắp nhất định sẽ có trái bắp ăn không? Không hẳn. Có hạt bắp mà không xuống đất, không được nước, ánh nắng, được săn sóc thì nó không thành trái bắp. Có hạt bắp là có nhân, nhân đó có thể thành tựu được quả mà cũng có thể không thành tựu được quả. Phật pháp có cái nhìn hết sức thật. Nhìn đời, nhìn đạo, nhìn tất cả hành động của chúng ta, đều là một dòng thay đổi từ nhân tới quả. Trong khi thay đổi, nó còn có những nhân phụ trợ là nhân thuận để giúp thành hình hoặc nhân nghịch làm cho tiêu tan. Như có hạt bắp gieo xuống đất rồi, nhưng phải là đất tốt, được nước tưới đều thì hạt bắp mới nảy mầm. Khi nảy mầm rồi chúng ta phải săn sóc, bón phân, xem chừng sâu rầy có phá hay không, ta tạo duyên tốt để cây bắp tăng trưởng đều mới đạt được kết quả tốt. Nếu chúng ta để hạt bắp xuống rồi bỏ luôn, không tưới nước, không bón phân, không chăm sóc kỹ lưỡng thì cây bắp sẽ khô khan rồi chết, chớ không thành trái bắp được. Như vậy có nhân chưa khẳng định được sẽ có quả, còn những điều kiện phụ trợ nữa. Phụ trợ thuận thì tăng trưởng có kết quả. Ngược lại phụ trợ nghịch thì tiêu mòn hư mất. Đó là điều hết sức tế nhị, nếu không hiểu quí vị sẽ dễ thối tâm trên đường tu. Nhiều Phật tử tin gieo nhân nào được quả nấy, thấy ai nghèo đói ủng hộ giúp đỡ, sẵn sàng giúp đỡ những khó khổ của mọi người. Nhưng lâu lâu quí vị gặp một tai nạn xảy ra thì buồn trách “tôi làm lành, tại sao lại gặp quả xấu”. Điều này cần phải dè dặt, nếu gặp cảnh xấu không làm lành nữa, chúng ta sẽ thối Bồ-đề tâm thì không có cơ hội thành tựu giác ngộ giải thoát. Ngày xưa tôi có viết một bài đăng báo Từ Quang, tên là “Nhân hoa quả cỏ”. Sở dĩ tôi viết bài này vì lúc tôi bị bệnh phổi phải lên Phương Bối am của thầy Nhất Hạnh ở để trị bệnh và dưỡng bệnh. Lên đó tôi thích trồng một ít hoa chung quanh thất, nên có vài Ni cô trên Đà Lạt tới thăm, mấy cô mua giùm một ít hột hoa xuống cho. Tôi xới một thửa đất theo đúng qui tắc của người làm vườn, rải hạt hoa xuống, mỗi ngày tưới đều đều. Tôi đinh ninh trong bụng chừng nửa tháng hạt hoa lên đầy hết. Đúng vậy, nửa tháng sau tôi thấy lấm tấm thật nhiều, tôi mừng quá. Tới chừng nó lên cao một chút nhìn lại toàn là cỏ không, chẳng có cây hoa nào. Tôi ngạc nhiên, đi quanh luống hoa xem xét kỹ lưỡng, mới phát hiện ra mấy con kiến đi thành lằn giống như đường xe chạy. Chúng lội tứ tung trong mấy luống hoa và ăn hết hạt hoa của tôi. Chừng đó tôi mới vỡ lẽ ra rằng mình ương hạt hoa, tưới tắm đều đặn nhưng quên chăm sóc ngừa kiến, cho nên kiến tha hạt hoa đi hết, chừa lại hạt cỏ thôi. Mình cứ tưới, rốt cuộc hoa đâu không thấy, chỉ thấy toàn là cỏ. Nhân đó tôi viết bài “Nhân hoa quả cỏ”. Đó là sự thật tôi đã chiêm nghiệm. Sự thật đó đã làm cho tôi nghĩ ngợi nhiều. Ngày xưa đi giảng, Phật tử thắc mắc tại sao con làm lành mà cứ gặp tai nạn. Một Phật tử kể hai vợ chồng nọ có vài đứa con, làm ăn tương đối khá. Khi ông anh chồng vô, không biết tại sao hai ông bà chết hết, chỉ còn lại hai đứa con. Người thím dâu thấy thương đem về nuôi. Đó là nhân tốt. Bà nuôi lớn lên, cho đi học đàng hoàng, nhưng tới khi hai cháu ra trường, nó đối xử với bà rất lạnh nhạt. Bà buồn nên gặp chúng tôi, hỏi tại sao con làm tốt mà quả trả lại xấu. Tôi không trả lời được. Lúc ấy mới kêu mấy đứa nhỏ lại hỏi: “Sao thím tốt với tụi con mà tụi con lại xử sự như vậy?” Chúng trả lời thế này: “Buổi đầu thím thật tốt với chúng con, chúng con mang ơn lắm. Nhưng thưa Thầy, mỗi lần làm việc trong nhà, nặng là phần tụi con, còn nhẹ là phần mấy em. Khi đi coi hát thím cho em con mười ngàn, còn tụi con có năm ngàn.” Chúng kể ra đủ thứ chuyện đối xử không công bằng của người thím dâu. Tôi thấy nhân tốt ban đầu nếu chúng ta không khéo giữ gìn, nó sẽ mất. Đứa nhỏ biết nhưng khi còn yếu thế phải nương nhờ thì nó chịu, khi đủ khả năng tách ra rồi, nó lơ là vì cách đối xử của người thím không trọn vẹn thủy chung. Tốt ở ban đầu mà khoảng giữa không tốt, giống hệt như tôi trồng hoa vậy. Có lý do chớ không phải ngẫu nhiên. Chúng ta thấy rằng, đối với nhân quả nếu chỉ nhìn sơ qua thì không bao giờ thấy tường tận. Như người thím nếu thấy kỹ hành động của mình chắc không trách cháu. Cũng như tôi không thấy kiến nên khi cỏ lên tôi ngạc nhiên. Nếu tôi thấy kiến bò vô, tôi sẽ không ngạc nhiên. Có nhân mà không khéo bảo vệ, gìn giữ, giúp nó tăng trưởng thì quả sẽ mất, không nhất định thành quả. Nhân chúng ta đã gieo rồi, từ đó nó là một dòng chuyển biến liên tục. Trong dòng chuyển biến liên tục ấy chia ra hai phần: một phần chuyển biến theo sự tăng trưởng, một phần chuyển biến theo sự hư hoại. Cái gì giúp cho nó chuyển biến để tăng trưởng, nhà Phật gọi là thuận nhân hay thuận duyên. Ví dụ như hạt bắp có đủ đất tốt, có nước, có nắng cũng như sự săn sóc sâu bọ v.v... đó là thuận nhân giúp nó tăng trưởng. Nếu thuận nhân đủ thì bảo đảm hạt bắp sẽ tiến triển thành cây bắp, cho ra quả bắp. Ngược lại, nó không có đủ các thuận nhân thì sẽ bị sâu bọ ăn hoặc thiếu nước, thiếu nắng… mà chết. Nên tuy có nhân hạt bắp mà quả bắp không bao giờ có. Hiểu như vậy quí Phật tử phăng ra, sẽ tìm thấy được ý nghĩa của sự tu hành. Sự tu hành của chúng ta cũng là một dòng chuyển biến. Tại sao? Vì chúng ta tu là tu ba nghiệp của mình, tu ở thân, ở miệng, ở ý. Thân khẩu ý chúng ta luôn luôn khéo tu. Ví dụ Phật tử phát nguyện qui y Tam Bảo, gìn giữ năm giới, đó là gieo nhân tốt rồi. Nhưng từ khi qui y, quí vị cứ nghĩ mình đã qui y Tam Bảo, đã thành người hiền lành, không chịu tu sửa, đinh ninh rằng mình qui y rồi, nhất định Phật đón về Cực Lạc, đó là sai lầm. Nhiều Phật tử nghĩ rằng qui y là cốt sống được mạnh khỏe an vui, chết được theo Phật. Nhưng trên thực tế, quí vị qui y rồi có mạnh khỏe luôn không, nhắm mắt được theo Phật không? Như vậy qui y chỉ là nhân thôi. Từ đó cho tới ngày trăm tuổi là một dòng chuyển biến. Phật tử qui y là nhân lành, từ đó về sau thân miệng ý luôn luôn nghĩ lành, làm lành, nói lành thì nhân lành mới tăng trưởng. Ngược lại chúng ta được nhân lành mà nói dữ, nghĩ xấu, làm ác, thì nhân lành đó không tồn tại. Như vậy đừng tự mãn mình qui y rồi là mọi việc tốt lành, được như ý. Đừng bao giờ nghĩ như vậy. Chúng ta mới gieo nhân, còn phải tạo thuận duyên giúp đỡ cho nhân tăng trưởng. Đó là ý nghĩa của sự tu. Người cứ tự mãn qui y là xong việc thì chưa biết tu. Tôi nhắc thêm, nhiều vị có con hai ba tuổi, đem vô chùa qui y để nó mạnh giỏi. Qui y với ý niệm cho con mạnh giỏi, chớ không phải cho con tu. Do đó nên nhiều chùa có tập tục nuôi con nít. Thầy lên bàn Phật nhất là bàn thờ đức Quan Âm, để một miếng vải đỏ đội trên đầu, tụng chú thuật chi đó, kế thầy xé miếng vải nhỏ cột cho thằng bé. Như vậy bảo đảm nó mạnh giỏi. Thành thử ý nghĩa qui y để tu hành không còn nữa. Chúng ta tu Phật, nên biết nhân quả là một giáo lý căn bản của đạo Phật, không thể nào hiểu lơ là hay sơ sài, mà phải hiểu cho tường tận mới khỏi những ngờ vực. Như Phật tử hồi trước làm điều xấu ác, bây giờ tu rồi có thể chuyển đổi được quả xấu do mình làm trước kia không? Tôi khẳng định rằng nếu chúng ta tu chân chánh có thể chuyển đổi được, còn hết hay không thì tùy, chớ có chuyển đổi. Tôi nói như vậy để quí vị hiểu rõ, không phải hồi xưa mình làm cho người khác khổ trăm phần, bây giờ tu suốt đời cũng bị trả quả khổ trăm phần như xưa. Như vậy tu làm gì? Cho nên nhất định phải có thay đổi nhưng thay đổi thế nào, đó là vấn đề khác. Ở đây để tường tận hơn, chúng tôi chỉ cho quí vị thấy ý nghĩa nhân quả mà lâu nay chúng ta chỉ hiểu một chiều. Ví dụ có người làm được việc lành, cứ nghĩ mình làm lành cho ai đó, mai kia sẽ được quả lành trở lại. Nhưng nếu quả lành không đến, vị ấy đâm ra thối tâm. Như vậy là chưa hiểu hết lý nhân quả. Trong nhà Phật nói nhân quả có hai trường hợp: một là tạo nhân tốt được quả tốt, hai là tạo nhân tốt nhưng không được quả tốt. Tại sao vậy? Ví dụ hồi xưa mình đã cư xử với người đó rất xấu, bây giờ thấy họ khó khăn mình giúp. Hồi xưa xấu trăm phần trăm, bây giờ giúp mới bốn năm chục phần trăm, mà nghĩ đã có ơn với người ta rồi. Khi thấy họ không thèm biết ơn, lúc đó mình tức tại sao giúp đỡ như vậy mà không biết ơn? Nhưng so với quá khứ mình xấu, cái tội cũ trả chưa đủ mà bây giờ đòi ơn, làm sao chấp nhận được? Cho nên tuy giúp mà người kia vẫn chưa thỏa mãn. Nếu hiểu được nhân quả chúng ta chỉ cười thôi, giận làm chi. Ngược lại có những người mình giúp họ một chút thôi, mà họ rất biết ơn, rất nhớ mình. Vì ta không nợ họ, nên giúp một chút họ cũng thấy mình tốt. Hiểu vậy, khi giúp ai ít mà người đó nhớ ơn, muốn tìm cách đền đáp lại, chúng ta biết mình với người đó chưa có nợ nần cũ. Còn người mình lo thôi là lo mà họ vẫn không thèm biết ơn, cũng không có gì trách, cười thôi. Hiểu được nhân quả như vậy quí Phật tử mới yên lòng tu. Nếu không nắm rõ lý nhân quả, chúng ta nhìn cuộc đời rất bực bội. Phật tử nào tu hành khá, khi tạo nhân liền được hưởng quả. Như quí thầy quí cô hoặc Phật tử giúp ai, không nghĩ họ phải trả ơn mình. Thấy người khổ cứ giúp, khả năng tới đâu giúp tới đó, miễn họ bớt khổ là mình mừng, họ vui mình vui, như thế đủ rồi, không mong cầu chi hết. Như vậy nhân mình tạo ra là giúp người bớt khổ, được vui. Thấy người vui mình vui theo, đó là gieo nhân gặt quả liền. Nhân quả có ngay hiện đời, không trông đợi xa xôi. Cả ngày mình giúp người này vui, người nọ vui. Họ vui bao nhiêu mình vui bấy nhiêu. Rõ ràng tạo nhân liền có quả. Nếu chúng ta trông chờ đền đáp, nhiều khi người ta đáp không như mình mong muốn thì dễ bực bội, hờn trách. Chỉ cần thấy người ta hết khổ được vui, mình vui theo đó là quả tốt rồi. Bởi vậy Bồ-tát giúp tất cả chúng sanh mà không chán. Vì chúng sanh hết khổ được vui thì Bồ-tát vui rồi, đâu có chờ đợi. Còn chúng ta giúp chúng sanh dễ chán lắm. Tại sao? Tại mình giúp ai thì muốn người ta biết ơn và đền ơn lại. Nếu họ không biết ơn đền ơn thì mình buồn, không muốn giúp nữa. Bồ-tát thấy chúng sanh đang đói, đưa miếng bánh mì cho họ ăn. Ăn xong họ cười là Bồ-tát vui rồi, khỏi cần nghĩ gì. Như vậy hai thái độ tạo nhân quả khác nhau, một cái mong có sự thù đáp, một cái không mong sự thù đáp dẫn tới hai kết quả khác nhau. Nhân quả không mong sự thù đáp là nhân quả của người biết đạo sâu xa. Tạo nhân quả như thế mới là lẽ chánh của người tu Phật. Nhân quả cũng có hai cách chuyển biến: thứ nhất là chuyển biến do tác động bên ngoài, thứ hai là chuyển biến do nội tâm. Ví dụ như hồi xưa mình ở địa vị cao, có những người phụ giúp mình ở địa vị thấp. Bấy giờ ta không nghĩ tới cái khổ của người dưới, nên hiếp đáp làm họ khổ. Vì họ ở dưới nên mình làm khổ, họ không dám nói, không dám tỏ thái độ oán hờn, nhưng trong lòng ôm ấp một trăm phần trăm oán hờn. Tới lúc nào đó thay đổi, họ có địa vị cao hơn mình, bấy giờ họ sẽ khởi niệm trả thù mình. Nhưng rất may, khi đó mình thức tỉnh học đạo và biết tu. Nhờ thế mình hiểu được luật nhân quả nên vui vẻ đón nhận những quả khổ do mình đã tạo ra lúc trước, không than van oán hờn người ta. Đó là một cách chuyển nhân quả. Quí vị Phật tử tụng kinh Bát-nhã “chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách” là thấy thân năm uẩn không thật, liền vượt qua tất cả khổ ách. Thân năm uẩn không thật thì lời khinh chê, chửi mắng cũng không thật. Hồi xưa mình khinh bỉ chửi mắng người ta một trăm phần trăm, bây giờ họ tìm tới trả thù, cũng khinh bỉ chửi mắng mình một trăm phần trăm. Nếu hiểu đạo, thấy thân năm uẩn không thật, khi bị chửi mắng mình thù giận hay cười? - Cười. Ngày xưa bị mình hành phạt họ khổ sở, bây giờ họ hành phạt mình cười không khổ, như vậy trả hay không trả? Trả hay không trả, không thể nói khẳng định được. Nếu không trả tại sao họ chửi mắng, hành phạt mình? Họ chửi mắng hành phạt mình là trả thù rồi. Đối với người kia họ thấy trả, nhưng đối với mình không thấy trả gì hết. Khi mê mình nói họ con bò, họ giận quá chừng. Bây giờ mình tỉnh, họ nói mình con bò, mình cười vì biết người ấy nói bậy. Như vậy là trả mà như không trả gì hết. Người thế gian chịu mê hay chịu tỉnh? Chịu mê. Bởi vậy Phật nói chúng sanh đáng thương. Tất cả chúng ta đau khổ là vì mê lầm. Từ mê lầm cứ liên miên chịu khổ những chuyện không đáng giận, không đáng buồn, không đáng khổ. Nếu tỉnh nghe người ta nói những lời sai lời bậy mình cười thôi, có gì buồn có gì khổ. Nhiều Phật tử nói, mình quấy họ chửi nhịn được, mình không quấy họ chửi làm sao nhịn. Tôi sẽ trả lời mình không từng quấy mà họ chửi, mình thương họ tại vì họ điên, không hiểu gì hết mới chửi như thế. Mình làm quấy người ta chửi, mình nhận để sửa. Mình không từng làm quấy, họ chửi mình thương họ. Như vậy có tu chưa? - Tu. Học đạo là học tỉnh giác, chớ đừng mê. Phật tử tuy học Phật mà gặp mấy cảnh trái nghịch chịu mê hơn chịu tỉnh. Đó là điều đáng thương. Trường hợp thứ hai, nếu ngày xưa mình làm người ta khổ nhiều, lẽ ra bây giờ họ có cơ hội trả thù lại, nghĩa là làm khổ mình, nhưng trong thời gian khổ họ đến với đạo và biết tu, nhờ thế họ thấy nếu trả qua trả lại thì tất cả oán hờn cứ chồng chập không bao giờ hết, hiểu vậy rồi họ liền hỉ xả, bỏ hết. Hồi xưa mình làm họ khổ, bây giờ có đủ cơ hội nhưng họ vẫn không làm mình khổ, đó là do họ biết tu. Tâm của người nhận oán hờn biết tu thì quả cũng bớt cho người gây oán hờn. Chúng ta biết tu thì ai thù oán, ta tha thứ hỉ xả. Ai tạo nhân khổ cho mình, ta không trả lại. Cũng như mình biết tu dù người khác muốn đến trả quả xấu, mình cũng vẫn an lành tự tại. Như vậy sự tu chuyển biến cả tâm hồn của người tạo quả và người trả quả, hai bên đều chuyển biến tốt. Ngược lại, nếu hai bên không biết tu thì trả đủ, hồi xưa vay một trăm phần trăm, ngày nay trả tới hai trăm, tại vì nó lớn theo thời gian, cũng như cho vay có lãi vậy. Như thế vay vay trả trả không cùng. Cho nên Phật dạy tu là phải hiểu thấu đáo đạo lý để gỡ bỏ những oán hờn, đau khổ. Chúng ta được an vui, người khác mới an vui. Tu là đem lợi lạc lại cho bản thân và mọi người. Nếu không biết tu, chúng ta cứ gay cấn người này người kia, vay trả trả vay, kiếp kiếp đời đời sống trong oán hờn thù hận, không bao giờ hết khổ đau. Đó là ý nghĩa nhân quả. Trường hợp khác, nhân quả có thể tiêu giảm mà không do nội tâm của người hoặc của ta. Như ngày xưa mình hung dữ, xử sự với một kẻ khác tàn nhẫn, bây giờ họ có thế lực muốn trả thù lại. Nhưng từ khi chúng ta thức tỉnh biết tu, làm lành, giúp người này người nọ, chung quanh ai cũng thương, cũng quí. Người kia tới trả thù, thì hàng xóm liền khuyên can vì thấy mình hiền tốt. Nhờ nhiều người khuyên can, kẻ kia giận mười cũng giảm còn năm bảy thôi. Đó cũng là nhân quả chuyển biến theo chiều giảm bớt. Nhờ tu quả khổ của chúng ta giảm, cho nên nhân quả luôn đổi thay, không cố định. Có khi đổi thay chiều thuận, có khi đổi thay chiều nghịch. Đứng về mặt nhân quả, chúng ta tin chắc nhân nào dù xấu mấy, nhưng nếu chúng ta cố gắng chuyển đổi nó cũng đổi thay đôi phần. Như ngài Mục-kiền-liên bị người ta đánh cho tới chết, Ngài nhớ đời trước đã từng hại họ, bây giờ họ trả thù. Ngài chịu đòn để trả hết mối nợ cũ, được giải thoát sanh tử, lúc đó Ngài buồn giận hay vẫn thản nhiên? Vẫn thản nhiên, đau mà không tức, không buồn vì biết đây là chuyến chót trả cho rồi. Như vậy trả nợ đối với Ngài là chuyện vui, trả mà không khổ. Như Tổ Huệ Khả khi bị nhốt trong khám, Ngài nói còn chút nợ phải trả chuyến này cho rồi. Quí Phật tử vay nợ của ai năm mười năm, tới bây giờ còn chút ít, nếu có tiền nên trả hay để thiếu nợ? Có tiền trả phứt cho rảnh tay. Cho nên đem tiền trả vui chớ không buồn giận. Vì vậy Tổ Sư Tử nói thân năm uẩn này không thật, sá gì cái đầu. Đối với các ngài nợ cứ trả, cười trả chớ không khổ như chúng ta. Càng học đạo quí Phật tử thấy càng vui. Bởi vì tất cả những gì đến, chúng ta thấy tường tận rồi cười, không buồn phiền. Người chưa hiểu đạo khổ đủ thứ, người ta nói hơn mình một tiếng là chịu không nổi, bị lấn lướt một chút chịu không nổi, bị khinh một chút chịu cũng không nổi. Cái gì cũng chịu không nổi hết, riết cả lồng ngực chứa đầy oán hờn thành ra bệnh tim, gần chết khổ sở vô cùng. Bây giờ hiểu rồi chúng ta nhìn mọi thứ chỉ cười thôi. Quí vị thấy chúng ta giận ai chứa trong lòng, mỗi khi đang ngủ ngon giấc, giật mình thức dậy nhớ lại chuyện oán thù thì ngủ không được nữa. Cứ trằn trọc nhớ sao họ làm như vậy, lăn qua trở lại mất ngủ, rồi mất ăn, đó là nhân của bệnh. Hiểu rồi mình cười thôi, cái gì qua cho qua luôn, hơi đâu phiền giận. Như vậy chúng ta thản nhiên tự tại, sống trong cuộc đời rất vui. Tu là như vậy, chớ không phải qui y để được mạnh giỏi. Nhiều Phật tử hiểu lầm tu là mọi tai nạn qua hết. Làm sao qua hết được! Tu là tu, còn chuyện hờn oán do mình gây ra từ trước, người ta vẫn hờn oán. Ngày xưa mình làm cho người đó khổ quá, họ giận mình. Bây giờ biết tu thì tâm mình an ổn thanh tịnh, nhưng người kia đâu có hết giận. Mai mốt gặp mình, họ xả ra một lần cho đã giận, nếu chúng ta biết tu thấy những việc ấy không có giá trị, chỉ đáng thương thôi thì mình không khổ. Như vậy mình sẵn sàng trả nợ, nhưng trả một cách nhẹ nhàng thảnh thơi. Tôi thường nói cuộc đời này đã dành sẵn cho chúng ta rất nhiều điều bất như ý. Muốn được an ổn chúng ta phải khéo tu, chỉ khéo tu mới thoát khỏi những điều đau khổ khi gặp bất như ý, chớ đừng có cầu nguyện. Phật tử hay cầu nguyện quá, cầu nguyện cho con hết phiền não, cho tai qua nạn khỏi. Cầu nguyện như vậy có được không? Nhiều khi tôi xấu hổ vì chỗ này. Phật tử tin tưởng, ai cũng muốn gởi tên cho thầy cầu an, mà thầy bệnh phải đi bác sĩ, không tự làm an cho mình được. Thành ra tôi rất xấu hổ không đủ sức làm cho Phật tử an. Tôi chỉ dạy giáo lý cho Phật tử hiểu, rồi tự quí vị giải cho mình an, mình tỉnh, chớ cầu an chưa chắc được an. Chừng nào suốt ngày suốt tháng suốt năm tôi không bệnh, không bất như ý tôi mới dám cầu an cho Phật tử. Chớ quí thầy còn bệnh, còn gặp những việc bất như ý thì cầu cho quí Phật tử khó quá. Đó là lẽ thật, mà lẽ thật nói ra đôi khi mếch lòng một chút. ho nên tôi xin nhắc cho quí Phật tử nhớ, chúng ta đã tu là phải tỉnh giác, thấy được lẽ thật, thấy được chân lý. Hiểu được lẽ thật rồi, mọi khó khăn chúng ta giải quyết một cách hết sức dễ dàng. Ngày xưa người ta hay nói do oan trái mới làm vợ chồng, cha con, mẹ con, anh chị em… oan trái trong thù hận hay thương yêu. Những đứa con trái nghịch cha mẹ lại thương nhiều, còn mấy đứa hiếu thảo lại thương ít. Đó cũng là nhân quả, bởi vì thương mới trả hết nợ, còn ghét trả không hết. Cha mẹ phải thương những đứa con ngỗ nghịch, đuổi không đành để trả, trả chừng nào hết, không đuổi nó cũng đi. Còn những đứa con có hiếu là nợ cha mẹ, nên nó phải trả, nhiều khi cha mẹ không ngó ngàng tới nữa. Bởi vì nếu nó trả mà cha mẹ cứ săn sóc trở lại nhiều quá thì chừng nào hết nợ? Cho nên người nào trả mà cha mẹ không ngó ngàng nên mừng, như vậy mau hết nợ. Hiểu thế, gặp hoàn cảnh nghịch làm chúng ta đau khổ mình cũng cười, nợ thì phải trả không oán trách ai hết. Người có tâm tu hành là đã có nhân lành, quí Phật tử biết đến chùa, nghe quí thầy giảng là điều hết sức tốt. Bởi có sẵn nhân lành nên ngày nay tìm tới chỗ lành. Như vậy từ đây về sau quí vị phải khéo tạo những trợ nhân tốt để duyên lành của mình mãi mãi liên tục không dứt. Có thế quí Phật tử mới sống cuộc đời an vui tự tại, được nhiều điều tốt đẹp. Cho nên khéo tu là điều hết sức hệ trọng, chúng ta cần phải thực hành triệt để, chớ không thể nói suông. Càng tu càng hết khổ, càng tu càng tăng trưởng niềm vui, tăng trưởng sự an lạc. Ai tu không được như vậy là tu chưa đúng với Phật pháp. Để kết thúc, tôi nhắc quí Phật tử ráng tạo duyên tốt, làm tăng trưởng nhân lành của mình. Làm sao mỗi năm quí vị mỗi tỉnh giác sáng suốt, để trở thành người Phật tử chân chánh, sống cuộc đời an vui hạnh phúc, tự tại trong thế gian nhiều buồn khổ này. HT Thích Thanh Từ __._,_.___
-
Đã nhận 6,800,000 đ (sáu triệu tám trăm ngàn đồng) của Chương trình "Sản Phụ 14t..." do BW chuyển giao nhập lại vào Quỹ Từ Thiện. Quỹ hiện có: 7.850,000 đ + 6,800,000 đ = 14,650,000 đ (mười bốn triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng)
-
Năm Rồng Có Hên Không? Tương truyền rằng ngày xửa, ngày xưa có một nhân-sĩ tên là: Đại Nhiêu đã lập ra “Thập-Can” và “Thập-Nhị-Chi” để giúp người ta tính-toán thời-gian. Việc tính giờ cũng có liên-quan đến quán-tính của 12 loài vật này: - Tý (23-1 giờ): Lúc Chuột đang hoạt-động mạnh.-Sửu (1-3 giờ): Lúc Trâu chuẩn-bị đi cày.-Dần (3-5 giờ): Lúc Hổ hung-hãn nhất.- Mão (5-7 giờ): Lúc Trăng sáng nhất (mắt thỏ ngọc).- Thìn (7-9 giờ): Lúc đàn Rồng quây mưa (quần-long-hành-vũ).- Tỵ (9-11 giờ): Lúc Rắn không hại người.- Ngọ (11-13 giờ): Ngựa có dương-tính cao nên được xếp vào giữa trưa.- Mùi (13-15 giờ): Lúc Cừu ăn cỏ không ảnh-hưởng tới việc cây cỏ mọc lại.- Thân (15-17 giờ): Lúc Khỉ thích hú.- Dậu (17-19 giờ): Lúc Gà bắt đầu vào chuồng.- Tuất (19-21 giờ): Lúc Chó phải trông nhà.- Hợi (21-23 giờ): Lúc Heo ngủ say nhất. Câu chuyện “sự tích” 12 con giáp của lịch phương Đông rất đơn-giản và khá thú-vị. Một lần, vị Tiên cai-quản trần-gian cho mời tất cả các con vật trên thế giới tới dự tiệc chào năm mới. Lời mời đã được gửi đi với tất-cả thành-ý, nhưng cuối cùng chỉ có 12 con vật tới dự tiệc. Cảm-kích sự nhiệt-tình của 12 con vật đó, Tiên Ông đã tặng cho chúng một món quà ý-nghĩa, đó là tên của chúng sẽ được đặt cho các năm trong lịch mặt Trăng. Thứ tự đặt tên của 12 “vị khách” này cũng rất đơn giản, ai đến trước được đặt trước, ai đến sau thì nhận năm tiếp đó. Chú Chuột bé xíu là “vị khách” đầu tiên và vì thế được đặt tên cho năm đầu tiên, và anh Heo ục-ịch là “khách” cuối-cùng nên phải nhận năm chót nhất trong 12 con giáp. Mỗi “khách” cũng được chọn những vật đại-diện cho mình như: loại đá quý, loại hoa, cùng những nhân-tố đại-diện khác như màu sắc, mùa trong năm và cả giờ trong ngày. Người phương Đông dùng lịch mặt Trăng tin rằng những ai sinh vào năm của con vật nào sẽ mang hầu-hết những đặc tính cả tốt lẫn xấu của con vật đó. Và nếu họ dùng những vật đại diện của con vật đó thì sẽ nhận nhiều may mắn trong cuộc sống. Xuân Nhâm-Thìn (2012 dương-lịch) đang xôn-xao trở về khắp trong và ngoài nước, trong khuôn-khổ hạn hẹp của bài viết này. Chúng tôi chỉ xin nói về con Rồng như sau: Một số tài-liệu trong Tử-Vi cho rằng: Đây là con vật duy-nhất trong bộ Tứ Linh “Long-Lân-Quy-Phụng” có mặt trong 12 con giáp, nên Thìn luôn được coi là tuổi may-mắn nhất trong 12 năm tuổi. Người tuổi Thìn luôn được miêu-tả là những người rất quyết-đoán, mạnh-mẽ đầy nghị-lực và rất tài-ba, họ có thể thành-công ở hầu-hết mọi lĩnh-vực. Bên cạnh đó, người tuổi Thìn cũng khá may-mắn vì luôn có được sức-khoẻ tốt. Nói về con Rồng. Xưa nay nhiều người vẫn cho rằng Rồng là một con vật tiêu-biểu cho vương quyền của phương Bắc và sau đó nó được chọn làm một trong 12 con giáp của cung Hoàng-Đạo. Rồng là một hình-tượng có vị-trí đặc-biệt trong văn-hóa, tín-ngưỡng của dân-tộc chúng ta và đã từng là biểu-tượng linh-thiêng liên-quan đến truyền-thuyết “Con Rồng Cháu Tiên” (Lạc-Long-Quân & Âu-Cơ) Một tài-liệu trong thư-viện Đà-Nẵng ghi rằng: Rồng là hình-ảnh mà các vua Việt-Nam phải xăm lên đùi mình để giữ truyền-thống của cư-dân ven biển. Đến đời vua Trần-Anh-Tông (1293-1314) mới chấm dứt tục xăm rồng trên đùi của các vua. Rồng là tượng-trưng cho quyền-uy tuyệt-đối của các đấng Thiên-tử (bệ Rồng, mình Rồng). Rồng là hình-tượng của mưa-thuận-gió-hòa, là vật linh đứng vào hàng bậc nhất trong Tứ-Linh "Long, Lân, Quy, Phụng". Vì thế, con Rồng Việt-Nam tương-phản với hình-tượng con Rồng độc-ác; tượng-trưng cho điều xấu của các nước phương Tây. Hình tượng Rồng đã được phác-họa lên từ thời đại Hùng-Vương qua con vật thân dài có vẩy như cá sấu được chạm trên các đồ đồng thưở ấy. Trải suốt thời-kỳ Bắc thuộc dài đằng-đẵng, con Rồng Việt-Nam xuất-hiện rõ nét dưới thời Lý. Hình ảnh Rồng bay lên (Thăng-Long) tượng-trưng cho khí-thế vươn cao của dân-tộc nên được đem đặt cho đất đế-đô. “Thăng-Long Hà-Nội đô-thành. Nước-non ai vẽ nên tranh họa-đồ. Cố-Đô rồi lại Tân-Đô. Nghìn năm văn-vật bây giờ vẫn đây.” (Trích: Tục-Ngữ Ca-Dao Việt-Nam) Rồng thời Lý tượng-trưng cho mơ-ước của cư-dân trồng lúa nước nên luôn-luôn được tạo trong khung-cảnh của nước, của mây Trời cuồn-cuộn. Nó là con vật mình dài như Rắn, thân trơn nếu là con nhỏ, còn con lớn thì thân có vẩy và lưng có vây. Thân Rồng uốn cong nhiều vòng uyển- chuyển theo hình "Omega", mềm-mại và thoai-thoải nhỏ dần về phía đuôi. Rồng có bốn chân, mỗi chân có ba móng cong nhọn. Đầu ngẩng cao, há miệng rộng với hai hàm răng nhỏ đang vờn đớp viên ngọc quý. Từ mũi thoát ra mào rồng có dạng ngọn lửa, vì thế được gọi là mào lửa. Trên trán có một hoa-văn giống hình chữ "S", cổ-tự của chữ "Lôi", tượng trưng cho sấm-sét, mây-mưa. Hình-tượng con Rồng thời nhà Trần có nhiều biến đổi so với thời Lý. Rồng thời Trần không còn mang nặng ý-nghĩa mơ-ước nguồn nước nữa. Dạng tự chữ "S" dần-dần mất đi hoặc biến-thể, nhưng lại xuất-hiện thêm hai chi-tiết đó là cặp sừng và đôi tay. Đầu Rồng uy-nghi và đường-bệ với chiếc mào lửa ngắn hơn. Thân tròn lẳn, mập-mạp, nhỏ dần về phía đuôi, uốn-khúc nhẹ-nhàng, lưng võng hình yên ngựa. Đuôi có nhiều dạng, khi thì đuôi thẳng và nhọn, khi thì xoắn ốc. Các vẩy cũng đa-dạng. Có vẩy như những nửa hình hoa tròn nhiều cánh đều-đặn, có vẩy chỉ là những đường cong mềm-mại. Rồng thời Lê (thế kỷ XV) thay đổi hẳn. Rồng không nhất thiết là một con vật mình dài Rắn uốn- lượn đều-đặn nữa mà ở trong nhiều tư-thế khác nhau. Đầu to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to. Thân lượn thành hai khúc lớn. Chân có năm móng sắc nhọn quắp lại dữ-tợn. Rồng thời Lê tượng-trưng cho quyền-uy phong-kiến. Cũng chính bắt-đầu từ thời-đại này xuất-hiện quan-niệm về “Tứ Linh” (bốn con vật thiêng) tượng-trưng cho uy-quyền của vương-triều. Rồng đứng đầu trong “Tứ Linh”. Ba vật thiêng kia là Lân (tượng trưng cho sự thái-bình và minh Chúa), Quy (con Rùa - tượng-trưng sự bền-vững của xã-tắc) và Phụng (tượng-trưng cho sự thịnh-vượng của triều-đại). Rồng thời Trịnh-Nguyễn vẫn còn đứng đầu trong bộ “Tứ-Linh” nhưng đã được nhân-cách-hóa, đưa vào đời thường như hình Rồng mẹ có bầy rồng con quây-quần; Rồng đuổi bắt mồi; Rồng trong cảnh lứa đôi.Con Rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy-nghi tượng-trưng cho sức-mạnh thiêng-liêng; được thể-hiện ở nhiều tư-thế, ẩn mình trong đám mây hoặc ngậm chữ “Thọ”, hai con Rồng chầu mặt Trời, chầu hoa Cúc, chầu chữ “Thọ”... Phần lớn mình chúng không dài ngoằn mà uốn-lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra phía sau. Mắt thì lộ lớn, mũi Sư-Tử, miệng há lộ răng nanh. Vẩy trên lưng Rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình-tượng Rồng dùng cho Vua có năm móng, ngoài ra chỉ bốn móng mà thôi. Hiện nay con Rồng tuy không còn tính chất thiêng-liêng, tối-thượng nữa, nhưng vẫn được đưa vào trang-trí cho các công-trình kiến-trúc, hội-họa, chạm, khắc nghệ-thuật... Trong mọi thời- điểm nào; con Rồng vẫn là một phần trong cuộc sống văn-hóa của người Việt-Nam chúng ta. Nếu dựa vào những tài-liệu nêu trên thì “Năm Rồng Sẽ Rất Hên”; người mang tuổi Rồng ắt-hẳn sẽ có một đời sống sung-túc, vương-quyền, bề-thế? Đó là lý-do mà những gia-đình Việt-Nam có Dâu hiền, Rể thảo luôn bảo nhau rằng: “Có con trong năm nay: Nhâm-Thìn sẽ rất tốt!” hoặc ai ai cũng trông mong cho nền kinh-tế nước nhà vực dậy như Rồng bay, oai-phong trong mây Trời lồng-lộng. Chứ không ngái-ngủ, eo-xèo như năm con Mèo sắp sửa trôi qua! Dẫu thế nào, căn-bản của một cuộc sống hạnh-phúc chính là sự an-bình tự trong tâm-hồn của mỗi nhân-sinh. Biết cho đi không chừng-mực bằng những công-việc từ-thiện, từ tâm và nhất là biết lãnh-nhận không phàn-nàn, không oán hờn, thù-hận. Khi chúng ta gieo hạt giống tốt cho đời, chắc-chắn sẽ nẩy mầm hoa trái thơm-ngọt, tốt-tươi. Người xưa thường bảo: “Gieo Gió – Gặt Bão” hoặc “Ở Hiền – Gặp Lành”. Khi “Tâm” tịnh thì tất-cả quanh ta đều yên-bình, an-lạc; lúc “Tâm” động thì chúng ta sẽ bị cuốn theo sóng gió, ba đào của “Tham, Sân, Si”: tiền tài, danh vọng và nhục-dục nhân-gian. Năm hết, Tết đến. Thay mặt cho tất-cả những anh-chị-em thiện-nguyện-viên của gia-đình “Chân Quê” xin kính-chúc quý độc-giả khắp nơi trên thế-giới được nhiều sức-khỏe; nhất là: “TÂM-THƯỜNG AN-LẠC” “CUNG-CHÚC-TÂN-XUÂN”. Diamond Bích-Ngọc (sưu-tầm và biên-soạn)
-
Gia Đình Sản Phụ 14 Tuổi Xin Cho Con Về Chết
wildlavender replied to BabyWolf's topic in Những Mảnh Đời Cần Cứu Giúp
Đã xác nhận bên Quỹ Từ Thiện, TĐ theo dõi và báo lại 2 chị ấy giúp cô. -
Đã nhận của Sunnyday81 1,000,000 đ (một triệu đồng) ủng hộ Quỹ Từ Thiện Quỹ hiện có: 6,850,000 đ + 1,000,000 đ = 7,850,000 đ (bảy triệu tám trăm năm mươi ngàn đồng)
-
Xác nhận có 2,000,000 đ (hai triệu đồng) của Chị Tuyết (canada)và Em gái tại TP HCM ủng hộ Quỹ Từ Thiện.Quỹ hiện có: 4,850,000 đ + 2,000,000 đ = 6,850,000 đ (sáu triệu tám trăm năm mươi ngàn đồng)