-
Số nội dung
6007 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
103
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by wildlavender
-
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Tôi rất áy náy mỗi khi nhận được lời cám ơn như trên đây! gần như các phật tử hoặc chuẩn Phật tử đều chưa hiểu hoặc chí ít chưa xem kỹ nội dung của bản Thần Chú cao cấp này nên thường gọi là "bùa chú" điều tôi lo lắng cho tất cả là tinh thần cảm nhận thế nào các bạn đón sự chuyển hóa không chút lợi lạc! -
Có rất nhiều cách hóa giải hận thù. Hận thù làm cho con người tức giận và muốn trả thù. Hận thù làm cho con người mất đi lòng thương yêu, làm con người hao tốn năng lượng kể cả về tinh thần lẫn thể xác. Chính vì nuôi lòng thù hận, sự lo lắng, buồn phiền, sự bất toại nguyện, sự không bằng lòng mà con người dễ bệnh và đánh mất chính mình từ suy nghĩ, lời nói cho đến hành động dẫn đến làm khổ chính mình, làm khổ người và làm khổ muôn loài vạn vật khác. Cách 1: Quán Nhân Quả:Quán nhân quả là nhìn mọi việc với đôi mắt nhân quả. Tất cả mọi việc xảy ra đều có nhân của nó. Do chính mình đã gieo nhân hại người, lừa gạt người, dối người mà ngày nay mình lại bị quả có người hại, lừa gạt hay dối mình. Do biết quán xét như vậy, mình biết lỗi của mình cho nên tự hứa không hại người, lừa gạt người hay dối người nữa và biết chấp nhận nhân quả xảy ra hằng ngày, không thù hận ai, chỉ biết tha thứ cho người hại, lừa gạt hay dối mình. Bởi vì chỉ có tha thứ mới chuyển đối được nhân quả, chỉ có tha thứ mới chuyển thù thành bạn, chỉ có tha thứ mới làm cho tâm hồn chúng ta thanh thản, an vui và vô sự, chỉ có tha thứ mới đem lại hạnh phúc thật sự cho cuộc đời này. Có lúc chúng ta suy nghĩ rằng mình có bao giờ hại, lừa gạt hay dối người đó đâu mà sao mình lại bị người đó hại, lừa gạt hay dối gạt? Thưa không, nhân quả rất công bằng, không phải là mình chưa hại, lừa gạt hay dối người đó. Trong cuộc đời chỉ cần mình đã từng gieo nhân sống không thành thật, dối gạt, hay hại bất kỳ ai thì mình sẽ bị quả có người khác lừa gạt, dối gạt hay hại mình. Chính mỗi lần chúng ta gieo nhân xấu là chính chúng ta đã phát ra môi trường một từ trường ác, chính từ trường ác đó sẽ tương ưng với những người có từ trường ác có tính hãm hại, lừa gạt hay dối người.Chính từ trường ác của mỗi chúng ta sẽ giao cảm tương ưng với hàng chục hàng trăm người khác để bị quả báo. Do vậy chỉ cần chúng ta gieo một nhân ác thì không phải chúng ta chỉ bị một quả xấu, mà là rất nhiều quả ác. Giống như đối với cây thực vật, khi con người gieo một hạt giống xuống đất, khi hạt giống đó nảy mầm, lớn thành cây, đơm hoa kết trái, cây đó có rất nhiều trái. Một nhân sanh nhiều quả là quy luật của tự nhiên. Có khi chúng ta nghĩ rằng, đúng là trong cuộc sống có lúc chúng ta chỉ hãm hại, lừa gạt hay dối người một chút nhỏ, không đáng để lo, không ảnh hưởng gì nhưng tại sao chính chúng ta lại bị hãm hại, lừa gạt hay bị lừa dối thảm hại đến như vậy? Cũng giống như hạt và quả của cây thực vật, có hạt và quả nào là đồng lượng đâu, ai cũng muốn khi gieo một hạt nhỏ xuống đất thì có quả to. Quả có khi nặng gắp rất nhiều lần hạt. Nhân quả con người cũng vậy, chỉ cần gieo một nhân nhỏ, chúng ta phải bị chịu trả quả rất nặng nề và thảm khóc. Do hiểu rõ những đặc tính của nhân quả như vậy, chúng ta hãy chấp nhận nhân quả hiện tại. Hãy luôn thương yêu và tha thứ cho tất cả mọi người làm hại đến ta, không nên giữ lòng thù hận mà lại làm khổ chính mình và người nữa. Chính tha thứ sẽ chuyển quả mọi nhân quả xấu ác thành nhân quả thiện, chính tha thứ sẽ chuyển đổi cuộc đời của con người từ đau khổ thành hạnh phúc. Cách 2: Quán tâm Từ:Người quán tâm từ là người luôn sống với lòng thương yêu chân thật giống như một người mẹ thương yêu con cái, dù là con cái phạm tội lỗi gì người mẹ vẫn thương yêu và tha thứ bỏ qua tất cả mọi lỗi lầm của con cái. Do hiểu rõ cuộc sống của con người phải bôn ba kiếm sống từng chén cơm manh áo, chật vật suốt cả ngày. Người sống với lòng thương yêu chân thật là người không màng danh lợi, buông xả tất cả, đã từ bỏ mọi bản ngã. Do vậy dù ai gây hại gì cho mình, kể cả đánh đập hay giết mình người đó đều thương yêu và tha thứ. Họ không tiếc bỏ một vật gì, không bao giờ coi vật gì là của mình, ai là của mình, không chiếm hữu ai, tôn trọng mọi việc làm của người khác. Dù cho ai hãm hại, lừa gạt hay lừa dối, người có tâm từ đều thương yêu vì họ nghĩ rằng những người kia đều vì sự sống để lừa gạt, để dối trá, để hạm hại. Tóm lại người sống với tâm từ có lòng thương yêu rộng lớn, bao phủ tất cả như lòng thương yêu của một người mẹ, không phân biệt thân sơ, không phân biệt loài vật hay người, họ không bao giờ muốn hại ai, phạt ai, kiện ai. Tâm họ chỉ có lòng thương yêu đa hướng rộng lớn. Chính vì vậy mà họ có thể tha thứ cho tất cả mọi ai làm hại đến họ dễ dàng.Cách 3: Quán tâm Bi:Quán tâm bi là quán sự đau khổ của người khác để từ đó phát sinh ra lòng thương yêu của chúng ta. Giống như khi chúng ta thấy những người nghèo khổ, chúng ta liền muốn giúp đỡ, bố thí tiền bạc, v.v…Quán tâm bi chính là vậy. Người hãm hại, lừa gạt hay dối mình là người đã tạo nghiệp xấu, chính vì họ tạo nghiệp ác thì họ sẽ phải chịu hàng chục, hàng trăm quả báo xấu và nặng gắp chục trăm lần những gì họ đã gây cho người khác. Khi tư duy đến đây chúng ta sẽ thấy rõ những sự đau khổ của họ trong tương lai mà thương yêu họ. Đồng thời chúng ta cũng phải biết thương yêu chúng ta nữa. Bởi vì khi chúng ta bị hại, bị lừa gạt hay bị lừa dối, chúng ta nghĩ đến trả thù là chúng ta đã tự gieo thêm nhân xấu cho chính mình, chính vì lại gieo thêm nhân xấu thì phải bị gặt những quả xấu trong tương lại, khiến cho cuộc đời của chúng ta hết đau khổ này chồng lên những đau khổ khác. Khi chúng ta trả thù thì người khác lại tìm cách hãm hại mình nữa, oan oan tương báo lúc nào mới chấm dứt, nhân quả ác chồng chất lên, chưa trả hết cái này lại bị cái khác chồng lên biết chừng nào mới trả xong hết những nghiệp ác cũ. Hiểu rõ như vậy thì chúng ta hãy chấm dứt gieo những nhân hận thù, đó là cách giúp chúng ta tạo cuộc sống an vui, là cách giúp cho người khác không tạo thêm nhân quả ác nữa. Đó là cách quán tâm bi, đó là cách biết sống thương yêu chính mình và thương yêu người.Cách 4: Quán tâm Hỷ:Sau khi quán được tâm từ và tâm bi thì đến hỷ là vui vẻ không còn hận thù nữa thì mới gọi là quán hỷ. Nếu chưa thể vui vẻ được thì quán từ bi chưa xong.Cách 5: Quán tâm Xả:Khi tâm không còn nghĩ đến giận hờn hay thù hận ai nữa một cách thanh thản thì đã biết rằng đã buông xả tất cả. Người sống với tâm xả luôn chấp nhận tất cả mọi việc đến với tâm diệt ngã, buông xả, luôn nghĩ mọi người là người tốt, người thiện người lành. Không bao giờ nghi ngờ ai, nghĩ xấu về ai. Luôn tin tưởng mọi người. Dù ai hại mình họ đều nghĩ người đó đều đang giúp mình, đang thương yêu mình, đang tạo điều kiện tốt cho mình. Cách 6: Chỉ nhìn lỗi mình, không nhìn lỗi người.Người biết nhìn lỗi mình là người biết quán nhân quả, lỗi do mình đã tạo nhân xấu trong quá khứ cho nên ngày nay bị người khác hãm hại, lừa gạt hay dối trá với mình.Chỉ cần luôn thấy lỗi mình thì sẽ luôn thương yêu và tha thứ cho người hại mình.Cách 7: Quán vô thường:Là cách quán mọi việc trên đời này đều bất biến, không cố định, luôn thay đổi. Gọi là quán vô thường.Dù ai làm hại mình, dối gạt mình hay lừa gạt mình thì sau này người đó cũng thay đổi, trở nên người tốt, người thiện. Do vậy hãy thương yêu và tha thứ cho mọi người, đừng giữ trong lòng những điều xấu về họ nữa. Ai nhìn đời bằng con mắt nhân quả hay duyên hợp thì sẽ hiểu rõ mọi pháp đều vô thường. Khi tâm thực sự thấm nhuần lý vô thường này thì tâm sẽ luôn bất động thanh thản an lạc và vô sự. Tóm lại, có rất nhiều phương pháp để có thể sống trong thương yêu và tha thứ, mỗi người trong cuộc sống sẽ tự chọn cho mình một hoặc vài phương pháp thích hợp tùy hoàn cảnh, tâm trạng của mình. Miễn sao phương pháp đó giúp cho chính người đó không sống trong thù hận, sân giận hay ghen tức. Những cách trên là những cách hợp với tác giả bài viết. Mong rằng tất cả bạn đọc chia sẻ những phương pháp riêng của chính các bạn để tác gia được học hỏi thêm, nhằm giúp cho cuộc đời này thêm nhiều niềm vui và hạnh phúc, loại bỏ mọi thù hận, tức giận và ganh ghét.
-
Đã nhận của Bảo Hằng 500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) ủng hộ 3 trẻ bị bỏ rơi tại Chùa Từ Ân. Quỹ hiện có: 15,150,000 đ + 500,000 đ = 15,650,000 đ (mười lăm triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng)
-
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Tiêu chí đầu tiên là nơi ai cũng thấy "ngoài cửa chính" sau đó là trong nhà nơi trang trọng và ngay tầm nhìn thấy mỗi ngày. -
Đã nhận của Thanhhuong_geo 500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) ủng hộ Quỹ Từ Thiện. Quỹ hiện có: 14,650,000 đ + 500,000 đ = 15,150,000 đ (mười lăm triệu một trăm năm mươi ngàn đồng)
-
Nhóm từ thiện dự kiến sẽ đến Chùa Từ Ân vào thứ bảy tuần ngày 6/2/2012 nhằm đúng vào ngày 13 tiết lập Xuân để thăm và tặng quà cho các cháu, Cô không nhớ chính xác nhưng trên đường đi Vũng Tàu.
-
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Cô đã gởi cho 3 bạn sáng nay! -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
@ DarkKnightmon và VanAnh9391, sẽ gởi vào ngày mai. Cô không sót 1 ai cả trừ trường hợp lỗi do nơi phát chuyển, đây là tâm nguyện của Cô mà! -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Cám ơn Moc Phong Linh đã theo dõi kỹ Topic này! @ nhim koi ! Cô gởi cho con 2 bản chú đấy, yên tâm đi khoảng 2 ngày thôi sẽ nhận được vì cô gởi express cho tất cả các bạn theo danh sách trên. -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Cô sẽ gởi đến vananh9391 4 (bốn) bản chú, rất cần dán ngoài cửa 1 bản cho mọi người nhìn thấy! Con bảo quản tốt khi chuyển nhà vẫn gỡ ra đem đến nhà mới được. -
Kính Mong Cô Wild Tư Vấn Về Việc Từ Thiện
wildlavender replied to Chim Chích Bông's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Ok CCB ! Từ Thiện mà ! ai làm cũng được giờ nào cũng được ngay cả khi tâm khởi lên thành ý là đã công đức rồi! -
Ngày xuân đọc truyện cổ tích "Chuyện tình Trương Chi" qua ngòi bút của Phạm Duy Khiêm. Xin giới thiệu quí độc giả vài truyện cổ tích xa xưa trong tập truyện ngắn nổi tiếng Légendes des Terres Sereines của Phạm Duy Khiêm viết bằng tiếng Pháp năm 1941. Phạm Duy Khiêm sinh năm 1908 tại Sài Gòn, mất năm 1974 tại Pháp. Là con nhà văn Phạm duy Tốn, ông cũng trở thành nhà văn nổi tiếng viết bằng tiếng Pháp trong giới người cũ chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp. Sau khi xong tú tài tại ViệtNam ông sang Pháp du học, tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm và Thạc Sĩ về văn phạm năm 1935. Tác phẩm chính -Việt Nam Văn Phạm soạn chung với Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ năm 1941. -De Hanoi à la Courtine, tự truyện, năm 1941. Năm 1958 in lại đổi tên là La Place d’un Homme, Plon,Paris -Légendes des Terres Sereines, Paris: Mercure de France, 1942 -La Jeunes Femme de Nam Xuong, truyện dài 1944. -Nam et Sylvie, truyện dài Plon,Paris, 1957. Légendes des Terres Sereines, Huyền Thoại Miền Đất Thanh Bình là tập truyện cổ tích gồm 30 huyền thoại, giai thoại đời xưa, đoạt giải thưởng Văn chương Đông Dương 1943, được đón nhận nồng nhiệt. Năm 2009 được Harry Aveling dịch ra tiếng Anh (Legends from Serene Lands: Classical Vietnamese Stories by Pham Duy Khiem, translated from the French by Harry Aveling, Prestige, New Delhi, nd, ca 2009). Viết tập truyện này, Phạm Duy Khiêm muốn giới thiệu những giá trị tinh thần của người Việt Nam với Tây phương, tác phẩm cho thấy Phạm Duy Khiêm rất am tường về phong tục và văn hóa cổ nước nhà, văn chương của ông bay bướm và sâu sắc. Những truyện cổ dân gian đơn sơ giản dị đã được cây bút tuyệt vời của Phạm Duy Khiêm biến thành những áng văn chương tuyệt tác để đời. Tôi lựa bốn đề tài được nhiều người ưa chuộng: Khối Tình Trương Chi, Hòn Vọng Phu, Mỵ Châu Hay Chiếc Nỏ Thần, Truyện Trầu Cau và dịch theo nguyên bản tiếng Pháp do nhà Editions Philippe Picquier tái bản năm 2003. Khối Tình Trương Chi Ngày Xưa có anh Trương Chi, Người thì thậm xấu hát thì thậm hay. Ngày xửa ngày xưa đã lâu lắm rồi, một tiểu thư con quan thượng thư yêu kiều diễm lệ sống cấm cung trên lầu son gác tía. Tiểu thư thường tựa cửa đọc sách, thêu thùa, đôi khi nàng đưa mắt nhìn xuống con sông lững lờ trôi bên dưới rồi thả hồn mơ mộng trông theo dòng nước uốn mình khuất vào đồng ruộng xa xăm. Có lúc tiểu thư liếc nhìn chiếc thuyền đánh cá cỏn con. Anh thuyền chài nghèo hay hát. Từ xa nàng không thấy mặt mũi, cử chỉ anh ta nhưng tiếng hát vọng tới tai nàng, giọng hát hay, bài ca não nuột. Không ai biết bài ca, tiếng hát của anh có gợi lại trong lòng cô nàng cảm xúc, mơ mộng gì không nhưng hôm nào vắng bóng chàng bên dưới dòng sông thì lạ thay, nàng lại ngóng chờ anh cho tới tận chiều. Tiểu thư mỏi mòn trông chờ anh thuyền chài hết ngày này sang ngày khác cũng chẳng thấy bóng dáng anh đâu. Nàng ngả bệnh, các thầy lang không tìm được nguyên nhân nào đã khiến tiểu thư đau yếu, song thân lo lắng, thế rồi tự nhiên nàng hết bệnh: Tiếng hát trở lại dưới sông. Nghe con hầu trình lên sự việc, quan lớn bèn cho gọi người thuyền chài tới gặp tiểu thư. Vừa thấy mặt anh, nàng như tỉnh cơn mê, không còn muốn nghe tiếng hát. Nhưng chàng đánh cá đáng thương lại bất thần bị tiếng sét ái tình rồi mắc bệnh tương tư. Tình yêu tuyệt vọng khiến anh tiều tụy gầy mòn, tàn tạ chết như một ngọn đèn cạn dầu, mang theo mối hận tình xuống dưới tuyền đài. Mấy năm sau, gia đình cải mả, bốc mộ anh lấy hài cốt đem chôn. Họ thấy trong quan tài một khối đá mờ mờ đục bèn đem gắn phía trước thuyền làm món đồ trang trí. Một hôm ông quan thượng thư đi ngang qua nhìn thấy thích bèn hỏi mua về giao cho thợ tiện thành cái tách trà. Mỗi khi rót trà vào người ta thấy anh ngư phủ hiện lên thong thả chèo thuyền quanh chén. Nghe nói thế tiểu thư muốn thấy tận mắt xem sao. Nàng rót chút nước trà vào chén, anh thuyền chài hiện ra khiến nàng xúc động khóc vì hồi tưởng đến chuyện đã qua. Một giọt lệ rơi xuống tách khiến nó tan ra thành nước . Trong một kiệt tác phẩm lừng danh của ViệtNam, hai câu thơ sau nhắc đến huyền thoại này. Nợ tình chưa trả cho ai. Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan. Tuyền đài nghĩa là ở bên kia, nơi mà cánh đồng có nhiều hoa cỏ, những bóng cây bất tử xanh tốt quanh năm. Nhưng “nợ tình” ở đây có ý nghĩa gì? Ai trả nợ cho ai? Người ta có thể nghĩ người con gái nợ chàng trai vì anh đã yêu nàng cho tới chết mà chẳng được đền bù. Mãi về sau nàng mới trả nợ tình khi rơi lệ khóc cho mối tình kết tinh và đã khiến nó tan thành nước. Niềm cảm thương cho số phận hẩm hiu của chàng và lòng hối hận đã khiến chàng đau khổ sẽ xoa dịu những phiền muộn của chàng ở nơi âm cảnh. Đối với người Việt Nam truyện này còn mang nhiều ý nghĩa hơn thế. Họ tin rằng tình duyên do tiền định, mọi cuộc xum vầy, kết hợp đều là hậu quả tất nhiên của mối duyên nợ có từ kiếp trước. Khi hai người kết nghĩa phu thê ấy chỉ là họ cùng tự giải món nợ chung. Vì thế cô tiểu thư con quan phải hội ngộ với anh thuyền chài nghèo khó mặc dù hoàn cảnh đã phân chia anh chị. Khi nàng nghe tiếng hát cất lên từ dưới dòng sông và khi chàng ngày đêm tương tư, tưởng nhớ tới dung nhan người đã gặp thì cả hai đã tìm đường tiến tới kết hợp với nhau và trái tim mù lòa của họ đã đập theo nhịp điệu của định mệnh. Nhưng chàng và nàng đã không kết hợp với nhau lúc sống. Duyên nợ vẫn còn đó nên sau khi chết anh thuyền chài vẫn không biến dạng đi được. Khối đá trong mờ mà người ta thấy trong quan tài của anh không phải chỉ là vật thể tồn tại của mối tình cảm sâu xa sau khi xác thân tan rã nhưng nó chính là con người của chàng, hình hài của chàng ở bên kia thế giới hay bộ mặt của số mệnh còn dang dở khiến nó phải kết tinh lại để đợi chờ. Về sau người con gái cúi nhìn tách trà trong mờ nơi phảng phất giấc mộng đẹp đã tàn. Nàng nhận thấy mối duyên nợ đã buộc mình vào anh thuyền chài và hối tiếc đã không sớm nhận ra bổn phận của nàng vào lúc mà nàng không gặp được hạnh phúc. Nhưng nàng cũng biết sự kết hợp của hai người phải làm trọn vẹn bên kia cuộc đời phù du này. Có thể nàng đã linh cảm thấy giây phút trọng đại ấy đã gần kề. Giọt lệ tình của nàng đã khiến tách trà tan biến thành nước để trộn lẫn với nhau trong sự kết hợp giải thoát cho cả hai người. (Nguyên tác Le Cristal D’Amour của Phạm Duy Khiêm, Trọng Đạt dịch)
-
http://www.wimp.com/amazingpainter/
-
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Cô đã gởi đến tất cả các bạn sáng nay. -
Kính Mong Cô Wild Tư Vấn Về Việc Từ Thiện
wildlavender replied to Chim Chích Bông's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Chính xác là Tuổi người đang bị hạn, chứ không phải tuổi của người đi làm từ thiện đâu CCB ơi! Thứ nữa là vật phẩm từ thiện mang tính chay tịnh chứ không nhất thiết là 50 kg muối thì đúng như CCB băn khoăn! Ví như họ vừa gặp hạn vừa nghèo nữa thì sao? Chẳng cần 50 thùng mì mà là 50 gói mì v.v.....50 gói bột nêm loại nhỏ kèm trong gói mì ví dụ vậy....hiểu ý Cô chứ? -
Đây có phép tắc nào gọi họ là những người tri thức không? Ứng xử của họ thật cao cả giữa những khó khăn đời thường!!! http://nld.com.vn/20120128091329457p0c1002/chuyen-chua-ke-ve-2-nguoi-trung-so-doc-dac.htm
-
Văn minh nhân loại toàn cầu thường hay vinh danh những con người hay người con trí thức nhưng họ quên rằng ngay cả người nông dân làm ra hạt lúa cũng có tri thức chuyên môn trong canh tác tri thức công bằng xã hội "Chồng cày, vợ cấy, con trâu ra đồng" tri thức ứng xử quy tắc "Hiếu ,Lễ,Nghĩa" làm đầu. Tôi lo sợ cho cái trí thức "công danh quên bạn, Bố Mẹ già bất kính, phụ nghĩa tào khang" họ lại có cả sàng kiến thức để bao biện an toàn cho cái bất nghĩa vô nghì của mình đối với cội nguồn văn hóa dân tộc hay mùi hương của đất tổ quê cha. Và tôi cũng cảm thán cho những cái nhìn xa trông rộng và vì thế họ thường què quặt thương tổn bởi lỗ chân trâu ngay cửa nhà mình. Một chút cảm nhận của riêng tôi, người chưa từng được đứng trong hàng ngũ "trí thức".
-
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Có thể thứ hai ngày 30/1/2011 Cô sẽ thực hiện gởi lại cho quangnh 5 bản chú với dạng CPN, tất cả các bạn đính kèm số đt bao giờ cũng đảm bảo cho việc nhận thư. -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Cám ơn Bạn đã nhớ đến quẻ luận ngày trước! Tuy nhiên bạn muốn thỉnh nhận bao nhiêu Thần Chú Wild không rõ số lượng? Khởi tâm ấn tống rất tốt nhưng nên xem lại các bài viết trước Wild đã giãi trình việc này nhiều lần khi nhiều người có cùng mong muốn như bạn. -
"Ranh" ngôn *Chân dài phải khôn thì mới dồn được đại gia vào chỗ dại. *Mọi dối trá đều chung một gốc nhưng lại ra những hoa trái khác nhau. * Thực phẩm dành cho trí tuệ thường là thứ không ăn được. * Một số người lầm tưởng rằng, dân chủ, đó là khi tổng thống có thể nói trên truyền hình mọi điều ông ấy muốn. * Khó nhất là chứng minh những điều hiển nhiên đúng. * Nếu các chân dài thích bạn thì có nghĩa bạn là đại gia hoặc bạn đang làm ra vẻ bạn là đại gia. * Càng lắm tội, càng vội lên chùa. * Hạnh phúc nhất không phải là người phụ nữ có đức ông chồng tuyệt nhất mà là người phụ nữ nghĩ rằng mình đang có một ông chồng tuyệt nhất. * Tình dục không phải thứ quan trọng nhất trong cuộc sống. Quan trọng nhất là làm sao để nó không trở nên nhàm chán. * Với người khôn thì trót dại cùng cũng thích. * Người chồng tồi là người không bao giờ thích bồ bịch. * Bạn càng thành công thì ở gần bạn càng ít người vui vì sự thành công của bạn. * Thông minh không phải là người đọc nhiều mà là người suy nghĩ nhiều về những điều đã đọc. * Hôn nhân không phải cách tốt nhất để gìn giữ tình yêu, nhưng tình yêu là cách tốt nhất để gìn giữ hôn nhân. * Những người thông minh và những người xinh đẹp đều mắc chung một tật: cứ tưởng như thế là mãi mãi. * Nghi lễ phổ biến nhất ở một số nơi chính là giả lễ chúa Mường. * Mức độ thành công được xác định không phải bởi những gì ta đã đạt được, mà bởi những trở ngại ta đã vượt qua. * Người đàng mình mới hay bội tình. * Hạnh phúc, đó là thứ duy nhất càng san sẻ càng gia tăng. * Trong tình yêu không ai nợ ai cả. Tình yêu, đó là khi không thể nào sống khác. * Đã là chân dài thì phải oai vòng một. * Người thông minh biết tận dụng những điều kiện thuận lợi, người anh minh biết tạo ra chúng. * Thủ lĩnh đích thực thường đứng ở phía sau. Giống như người chăn gia súc. * Con chó ngoan nhất là con chó bông. * Quan trọng không phải là kiếm to hay dài, mà là kiếm pháp. * Khi bạn chỉ có búa thì mọi sự đều chẳng là cái đinh gì
-
Sức mạnh của nội tâm HH Gyalwang Drukpa Cách chúng ta ứng xử trước một hoàn cảnh nhất định có thể chuyển hóa cái nhìn của chúng ta đối với hoàn cảnh ấy cũng như đối với cả thế giới 'Biết trân trọng và tri ân' là chìa khóa duy trì sự cân bằng trong cuộc sống. Khi con người ta may mắn có được thành công, ta không nên để cho sự thành công hay sự kiêu mạn xâm chiếm tri giác của mình, mà ngược lại hãy biết trân trọng và tận hưởng những điều ích lợi từ sự thành công ấy. Tương tự như vậy, khi gặp thất bại, hãy đừng để cảm giác buồn đau chi phối tri giác của mình, mà cũng lại phải biết trân quý những trải nghiệm và bài học rút ra được từ những thử thách ấy. Hãy nên tự nhủ rằng vì vạn sự vô thường nên những điều tồi tệ rồi cũng sẽ chuyển hóa trở thành tốt đẹp nếu chúng ta ứng xử tích cực trước mỗi khó khăn. Lý do chính khiến mọi người bị những thăng trầm chi phối là bởi vì chúng ta thiếu trí tuệ biết trân trọng và tri ân cuộc sống. Không có trí tuệ hiểu biết, chúng ta không thể biết trân quý và tri ân. Tôi không cho rằng thế giới này là một nơi xấu xa tồi tệ mặc dù vào những thời điểm khó khăn nhất định nhiều người có thể không đồng tình với ý kiến này. Sở dĩ tại sao tôi lại tin như vậy vì cách thức chúng ta ứng xử trước một hoàn cảnh có thể chuyển hóa cái nhìn của ta đối với hoàn cảnh ấy cũng như đối với cả thế giới này. Chẳng hạn như khi nền kinh tế ở trong giai đoạn phát triển thịnh vượng, chúng ta nên biết trân trọng niềm hạnh phúc mà mình đang được tận hưởng nhờ thặng dư tài chính. Điều căn bản mà chúng ta cần phải hiểu rằng niềm hạnh phúc đích thực đến từ việc chúng ta biết sẻ chia niềm vui, và nếu có thể là biết sẻ chia những gì mình có, và mang hạnh phúc đến với mọi người. Như thế, bằng cách khai triển nguyên nhân của hạnh phúc và trân trọng niềm hạnh phúc ấy, chính là chúng ta đang đầu tư vào hạnh phúc để càng them nhiều niềm vui và hạnh phúc nảy nở hơn. Ngược lại, nếu chúng ta không biết học cách tri ân thì điều đó lại trở thành cần phần nghèo nàn nhất trong cuộc đời và hạnh phúc mà con người ta có được từ sự thành đạt thế gian sẽ hoàn toàn bị uổng phí. Tôi tin tưởng rằng sự đầu tư cho một tương lai tốt đẹp hơn có thể được thực hiện một cách giản đơn thông qua trí tuệ biết trân trọng và tri ân. Một điều tối quan trọng là mọi người cần biết học cách trân trọng và tri ân; nếu không họ sẽ vẫn mãi khổ đau và tự gây áp lực và căng thẳng cho chính bản thân mình. Stress hay sự căng thẳng là hệ quả của sự thiếu linh hoạt và không biết chấp nhận thực tại. Nói cách khác, stress gây ra bởi bám chấp và tham cầu mạnh mẽ. Khi hy vọng và mong cầu có mặt, thì đồng thời sẽ xuất hiện sự sợ hãi cái điều mình mong cầu ấy sẽ không trở thành hiện thực hoặc sẽ hiện khởi cảm giác bất an khiến cho con người ta lo sợ sẽ đánh mất những gì họ đang có, nghĩa là bất kỳ những gì họ mong đợi có thể sẽ không xảy ra như mong muốn. Vì thế stress không chỉ là tác nhân khởi đầu mà còn có sức ảnh hưởng rất lớn. Cũng có thể nói rằng do không biết trân trọng và tri ân, chúng ta không vững vàng trong cuộc sống và do đó chỉ toàn đánh cược với hạnh phúc của mình và cố gắng với trò chơi may rủi. Biết trân trọng và tri ân sẽ mang lại sự hài lòng biết đủ và nhờ vậy là niềm hạnh phúc. Rốt cuộc thì tất cả chúng ta đang sống trên thế giới này đều mưu cầu hạnh phúc, chẳng phải vậy sao? Mọi việc chúng ta làm đều tạo quả, và tôi tin rằng con người ta không nên hành động tùy tiện hay thiển cận chỉ nhắm tới những kết quả tạm thời chóng vánh mà thiếu đi trí tuệ hiểu biết nền tảng căn bản là biết trân trọng và tri ân; điều đó sẽ dẫn tới rất nhiều vấn đề rắc rối trong cuộc sống. Chẳng hạn như nếu chúng ta biết tri ân mẹ trái đất của mình, biết trân trọng chính chúng ta, tất cả mọi người và vạn vật, chúng ta sẽ không khi nào muốn hủy diệt phá hoại trái đất, làm hại bản thân mình, mọi người và vạn vật, mà ngược lại chúng ta sẽ trân quý bản thân, thế giới và mọi sinh linh trên trái đất này. Không có gì là không thể, vậy tại sao chúng ta không dồn tâm sức vào việc chuyển hóa những tiêu cực thành tích cực? Khi chúng ta có thể học được cách trân trọng và sống với yêu thương, thì món quà tặng sẽ che chở bảo vệ ta khỏi những thất bại và chắc chắn thành công và hạnh phúc sẽ đến với ta ở bất cứ nơi đâu và với bất cứ điều gì mình làm. Cho dù thế giới này có sụp đổ hay không cũng không phải là vấn đề vì sức mạnh nội tâm được tích lũy dồi dào nhờ trí tuệ hiểu biết cảm thông và trân trọng tri ân sẽ nâng đỡ chúng ta bình an vô sự, không mảy may thương tổn trước những thăng trầm thịnh suy trong cuộc đời. http://www.drukpavietnam.org/index.php?option=com_content&view=article&id=624%3Asc-mnh-ca-ni-tam&catid=89%3Akinh-sach-tu-tp&Itemid=89〈=en
-
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Tôi sẽ gởi đến bạn vào thứ hai ngày 30/1/2012, hy vọng với tất cả sự tín tâm toàn gia bạn nhận được sự chuyển hóa! -
Sống thiện chết lành.. (Good life, Good death) Rinpoche Nawang Gehlek Chúng ta là ai ? Lần đầu tiên tới Hoa kỳ tôi do dự khi nói về sự tái sinh bởi vì tôi nghĩ mọi người không thích thú gì về điều ấy hoặc có thể chưa thể hiểu đựơc điều ấy. Tôi e ngại họ nghĩ rằng đó là các câu chuyện thần tiên hoặc là một loại tẩy não tôn giáo. Nhưng khi tôi nói điều này, tôi ngạc nhiên thấy nhiều người gật đầu tán đồng, như thể họ chấp nhận và thích thú với điều ấy. Tại sao họ chấp nhận nó một cách dễ dàng như thế trong khi một người như tôi, một lạtma tái sinh đã từng bỏ cả một đời cố gắng tìm hiểu điều ấy, mà có lúc rất khó khăn để chấp nhận nó? Tại sao một số người Hoa kỳ ngồi xuống để lắng nghe một người lạ từ Tây tạng thuyết giảng về sự tái sinh lại tìm thấy điều ấy đơn giản và dễ dàng chấp nhận? Đó là một câu hỏi lớn đối với tôi. Tôi suy ngẫm về điều này và trao đổi với một số người. Tôi được biết họ thích thú điều này bởi vì đó là một cái gì “bí hiểm“. Có thể họ nghĩ rằng qua sự tái sinh họ có thể trở lại nhân thế trong cùng con người cũ với đầy đủ sự hiểu biết cuả kiếp trứơc. Tôi ngờ rằng đó là lý do nhiều người chấp nhận nó mà chẳng hề biết nó là cái gì. Một hệ lụy cuả ý tưởng ấy là sự tiếp tục tồn tại cuả kiếp người làm cho người ta dễ dàng chấp nhận nó, ít nhất là trên ngôn từ, nếu chưa có sự thông hiểu. Vậy mấu chốt là gì? Như tôi am hiểu, có một bất ngờ lớn. Bất ngờ là sự tồn tục cuả một cá nhân rất tinh tế. Ký ức thì không. Đời sống con người không tồn tục như thế. Sự tái sinh cuả chúng ta có thể là một cơn lốc xoáy cuồng điên không thể kiểm soát đựơc mà trong đó chúng ta bị thổi tung lên giống như những chiếc lá vàng mùa thu không biết sẽ rơi vào nơi đâu. Một trong những đại đệ tử cuả Đức Phật là ngài Mahakatyayana, khi đi ngang qua một khu rừng với một đám đệ tử. Khi ho tới một cái hồ, một người đàn ông, một ngừơi đàn bà, và đứa con nhỏ cuả họ đang ăn một con cá vừa bắt đựơc. Trong lúc con chó cuả họ cũng đang sủa đòi ăn. Khi thấy cảnh này, Mahakatyayana dừng lại và bật cười. Mọi người muốn biết lý do. Ngài giải thích: “ Kiếp trứơc, đứa trẻ nhỏ mà bà mẹ đang ẵm cho bú là người đàn ông bị chồng cuả bà ta giết hại vì đã tấn công bà ta. Con cá họ đang ăn chính là ông cuả đứa bé và con chó đòi ăn chính là bà cuả vợ ông ta “. Sự tương tục Chúng thắc mắc chúng ta là ai, từ đâu đến, sẽ đi vè đâu, và đến đó bằng cách nào. Đây không phải là những câu hỏi mới. Hai ngàn năm trăm năm trước đây, Phật đã đựơc hỏi chúng ta ở đâu và khi nào bắt đầu cuộc sống và có hay không sự chấm dứt tái sinh. Câu trả lời cuả Phật là sự im lặng, bởi vì sự khởi đầu là không thể xác định đựơc. Không có một thần thức mới đựơc sinh ra, và cũng không từng có thần thức nào bị đoạn diệt. Mọi thần thức đều nổi lên trên mặt theo cách nào đấy. Đó là lý do chúng ta tiếp tục đi từ kiếp này sang kiếp khác. Tất cả chúng ta vẫn là cùng một con người, trong vô lượng thời gian. Đó chính là điều cơ bản giáo lý cuả Phật cho rằng mọi giống hữu tình từng là mẹ cuả ta. Đây có thể là một câu nói mâu thuẫn, và tôi chẳng thể chứng minh đựơc một cách khoa học. Thực ra, rất khó để minh chứng sự tái sinh. Nhưng đó là tiền đề cuả sự tái sinh : không có thức mới sinh ra; mọi người trôi lăn trong vòng luân hồi miên viễn từ sinh tới tử, rồi từ sinh tới tử. Mọi thần thức hiện có sẽ luôn tồn tại. Và mọi thần thức có tiềm năng trở thành trí huệ, có đầy đủ tự do để từ những cảm tính tiêu cực cùng dấu ấn cuả nó-- để trở nên có phẩm chất vô cấu nhiễm và trí huệ. Thần thức thay đổi hình dạng liên tục. Vì thế để xác định ai là ai là điều rất khó bởi vì sự thay đổi từ kiếp này sang kiếp khác rất đột biến. Nhận thức mọi người là sự tái sinh là nhận thức cuả Phật. Trong nền văn hóa Tây tạng cuả chúng tôi, thời tiền Cộng Sản, chúng tôi có phát triển một hệ thống để nhận dạng những sự sống như thế, một Lạt Ma hiện thân là người tiếp tục trở lại cho một mục tiêu đặc thù nào đó. Họ đựơc gọi là Tulkus--”Tul” có nghiã là thể hiện và “ku” là hình thức, hình dáng. Tulkus là những người đã giải thoát khỏi những xúc động tiêu cực (u minh) và có thể giúp đỡ người khác giải thoát. Hệ thống Tulkul --hay những người tái sinh được nhận diện-- bắt đầu là Karmapa, khoảng năm thế kỷ sau khi Phật giáo vào Tây tạng. Đến lần tái sinh thứ 16, người đã nhập diệt năm khoảng đầu thập niên 1980, mỗi lần tái sinh như thế Karmapa để lại 1 bức thư cho biết người tái sinh kế tiếp là ai. Không lâu sau đó là Đạt Lai Lạt Ma Panchen Lama, và hàng ngàn những vị khác đựoc xác nhận. Và trong một vài trường hợp sự tái sinh gấp bội cuả cùng một Tulku cũng đựơc xác nhận. Ở mức độ giác ngộ, khả năng thể hiện là không giới hạn. Đối với các vị Lạt Ma phát triển cao, đời sống cuả dĩ vãng và tương lai cũng bình thường như hôm qua và ngày mai vậy. Đôi khi họ nói chuyện với nhau về đời sống sắp tới như thể họ đã sắp đặt sẵn cả rồi. Tôi đã đựơc nghe kể về một Lạt Ma nổi tiếng bị bịnh liệt rung (Parkinson). Một ngày nọ, đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 thấy một người co giật rất mạnh, ngài bảo người đó, “Tôi sẽ không nói cho ông nghe những chuyện thông thường, như được sống lâu, như tiếp tục giúp đỡ chúng sinh, nhưng tôi nói rằng khi tôi thấy một em bé bảo tôi rằng “tôi là người có chiếc mũi lớn“ tôi sẽ hân hoan vì đã gặp lại ông tái sinh“. Vị Lạt Ma trở về nhà trong lòng thảnh thơi với cuộc đối thoại ấy, và chỉ ít lâu sau, ông ta chết. Có nhiều cách để nhận ra các Tulkus. Một trong các cách đó là Tulku tự xác định được hình tích cuả mình, một Tulku có thể khám phá ra mình ngay từ giai đoạn sơ sinh. Ngay sau khi vị Đạt Lai Lạt Ma đựơc sinh ra trong thế kỷ 16, ông mở to mắt, quay nhìn về hướng Tashi Lunpo, tu viện cuả Đạt Lai thứ nhất và bắt đầu cầu nguyện. Ông đọc thuộc lòng các câu mật chú ngay khi mới biết nói, được 3 tuổi, khi bị bà mẹ la rầy, ông hát bài hát nói với bà rằng “Con sẽ không ở lại nơi đây; con có một căn nhà đẹp hơn với nhiều phòng ốc ở Tashi Lunpo“. Mẹ ông tò mò hỏi “Con từ đâu lại đây ?“ ngài trả lời “Khi con chết, trong lúc người ta bó xác con bằng dây thừng mang con tới chỗ thiên táng, con thấy có vị hộ pháp Mahacala mặc áo giáp đi giầy sắt, mang mặt nạ dữ tợn đưa con tới đây”. Ông kể tên người đã buộc nhục thể ông. Khi lên 7 ông nhận ra vị hộ giáo già giúp việc cho ông khi còn ở tu viện và ông cầu chúc sức khoẻ cho vị này. Vị này bật khóc. Một hệ thống chung để nhận biết các vị Phật tái sinh, mà ngay cả Đức Đạt lai lạt ma thứ 14 đã đựơc nhận diện là nhận xét xem vị tái sinh đó có nhận biết được một số những trang dụng cá nhân trước đây cuả mình hay không, chẳng hạn như sâu chuỗi, kiếng đeo mắt, Rồi thời gian đựơc sinh ra cũng là một yếu tố. Vì còn có thể có những điềm triệu siêu nhiên đặc biệt mà nhiều người chúng kiến khi xẩy ra sự tái sinh đó nữa, chẳng hạnh như cầu vòng xuất hiện trên mái nhà cuả đứa trẻ vừa được sinh ra hoặc một bông hoa nở giữa mùa đông, có trường hợp một con quạ đậu trên ngọn phướn để canh gác ngày đêm cho đứa trẻ suốt 2 năm. Những giấc mơ tiên tri và linh thị là những điều thường thấy, đặc biệt nếu có nhiều em bé cùng được xác nhận bởi một điềm triệu thì sự chọn lựa sau đó đựơc xác định bởi một Lạt Ma tôn kính có khả năng linh thị. Tôi biết điều này nói ra nghe có vẻ kỳ quái nhưng ở Tây tạng đó là những điều bình thường như ở đây quí vị nghe tiên đoán thời tiết hàng ngày vậy. Sự tái sinh cuả một vài đại sư trước đây không đựơc công nhận một cách chính thức mặc dầu một số người biết rõ họ là ai. Đại sư Tashi Namgyal tái sinh là tôi là một ví dụ. Trước khi điều ấy xẩy ra, tôi đã lấn cấn nghĩ là mình có thể là Panchen Lạt Ma tái sinh hoặc một ai khác. Nhiều toán tìm kiếm tới nhà tôi để xem tôi có phải là đứa trẻ họ muốn tìm kiếm hay không. Để xác định xem tôi có phải là Panchen Lạt Ma, một phái đòan lớn đi bằng hai ba chục con ngựa đến gặp tôi. Khi đó tôi mới lên 3, và tôi nhớ lại đám đông đó nhiều người quá. Tôi mong muốn đựơc xác minh là Panchen Lạt Ma , vì nếu đựơc như vậy tôi sẽ có một địa vị trọng vọng như cha tôi, là người không những chỉ là Lạt Ma tái sinh mà còn đựơc sinh vào gia đình cuả Lạt Ma thứ 13. Sự kiện ông là một Lạt Ma được trọng vọng đã đưa tôi vào nhiều danh sách điều tra tái sinh khác nhau. Khi Tashi Namgyal chết, những người trong viện cuả ông và các vị hộ pháp đã đem phát tán hầu hết cuả cải và vật dụng cuả ông vì họ không mong đợi ông tái sinh. Họ chỉ còn giữ lại một tấm thảm và một chiếc hộp nhỏ lúc họ đi kiếm tìm sự tái sinh cuả ông. Họ mệt mỏi kiếm tìm và hi vọng sự việc sẽ qua đi. Cha tôi cũng không ít cơ hội nói rằng ông chẳng tin tôi là một Lạt Ma tái sinh, tuy ông cũng tin rằng bằng phương cách nào đó tôi có thể giác ngộ theo Phật. Ông nghi ngờ về toàn bộ hệ thống Tulku; ông cho rằng hệ thống có quá nhiều điểm xung yếu cho các hoạt động chính trị lợi dụng. Một vị Rimpoche đựơc tôn kính nói rằng sự tái sinh cuả Tashi Namgyal chắc hẳn là con trai cuả một vị lạt ma tiếng tăm ở tại Lhasa, điều ấy có vẻ ám chỉ đến tôi. Cha tôi đã tìm mọi cách để ngăn cản quá trình xác nhận này, tới mức độ ông chỉ đồng ý nếu tôi được nâng lên một cấp độ cao hơn, ông hi vọng đoàn khảo tra sẽ từ chối yêu cầu ấy mà cho tôi yên. Nhưng vị được trao phó cho việc xác nhận tái sinh cuả vị tiền thân cuả tôi lại trở thành quan nhiếp chính Tây tạng và ông đã nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ cuả mình. Một sự thực bất ngờ đối với cha tôi là tôi được phong tước và được xác nhận lúc tôi lên 4. Tôi được gởi tới nơi tu tập gần nhà với vị thầy đầu tiên, rồi sau đó vào tu viện Drepung khi lên 5. Trong buổi lễ tiếp nhận tôi ở tu viện, thầy tôi bảo “ Ta hi vọng con sẽ hoàn tất những bài học ở tu viện này càng nhanh càng tốt và ở lại Lhasa đễ giảng dạy cho hàng trăm ngàn người khác. “ Rằng tôi thực sự là hiện thân tái sinh cuả vị cao tăng có tên là Tashi Namgyal. Nếu không phải vậy, chắc hẳn họ đã không nói tôi là đứa trẻ ngoan và mong ước một đứa trẻ như tôi sau này hướng dẫn hàng trăm ngàn người. Yêu cầu này cho tôi thấy rõ ràng trách nhiệm cuả tôi với tha nhân, cũng như những mong đợi cuả người khác vào tôi vậy. Nó tạo nên trong tôi một định hướng chắc chắn, một chương trình cho cuộc đời tôi. Tôi ở lại Drepong tới năm tôi 19, khi tôi trốn thoát qua Ấn độ, nơi tôi còn tiếp tục tu hành thêm một ít năm nữa. Khi tôi 20, có một cuộc nổi loạn tuổi trẻ trong tôi, nghi ngờ rằng có lẽ tôi đã là trò giải trí trong tuổi trưởng thành qua vụ việc tái sinh, nỗi hoài nghi ấy nổi lên mạnh mẽ hơn bao giờ. Tôi đã đọc tự truyện cuả các vị lạtma tái sinh khác nhau. Rất nhiều người trong truyện hồi tưởng lại tiền kiếp cuả họ. Nhưng khi tôi cố gắng nhớ lại bất kỳ điều gì có kiên quan đến tiền kiếp cuả mình như bạn bè, những sự kiện đáng nhớ thì hoàn toàn là số không. Tôi hoang mang, Tôi là ai đây? Một kẻ khật khùng? Thời gian sinh sống tại Delhi trong thời gian 60-70, tôi đau khổ vô vàn. Khi một người bạn cuả gia đình tôi, cô ta lập gia đình với 1 gia đình dòng dõi hoàng gia ở Ladakh, bị chết ở Delhi. Cha cô nhờ tôi làm phép siêu chuyển thần thức cho cô, một phép tôi đã từ lâu không làm và tôi cũng chẳng có đủ công cụ để thực hiện phép này, chẳng hạn như hợp chất phải đặt vào chiếc miện đội vào đầu người chết. Thêm vào đó là nỗi nghi ngờ cuả tôi không biết phép này có kết quả hay không. Tôi đến gia đình người chết lúc 6 giờ chiều. Tôi ngồi một mình với thi hài người đàn bà đã chết và đọc một bài kinh rất chậm rãi với tất cả sự chú tâm cuả tôi. Khi tôi niệm chú chuyển thần thức, tôi tập trung toàn bộ trí lực vào công việc đang làm. Một trong những vị thầy cuả người chết là Bakula Rimpoche, là một thành viên trong quốc hội Ấn lúc bấy giờ. Ngay ngày hôm sau, ông ta bảo với tôi rằng người quá cố đã đến viếng ông vào khoảng 7 giờ chiều, đúng là khoảng thời gian tôi làm phép chuyển thần thức cho cô hợp nhất với trí huệ giác ngộ. Điều ấy càng làm cho tôi bối rối phân vân, nhưng đồng thời nó cũng đánh động sự hồ nghi cuả tôi. Nó chỉ ra rằng một điều gì đó đã xẩy ra, dù rằng tôi không thể khẳng định một cách trọn vẹn. Dĩ nhiên, tôi không phải là người duy nhất ở đó-- cũng có những Lạt Ma khác hiện diện--nhưng duy nhất có tôi với người chết trong lúc làm phép, và thời gian xẩy ra sự việc chứng tỏ có một việc làm nào đó có kết qúa. Tôi nhớ lại buổi thảo luận về sự hồ nghi cuả tôi với các thầy Ling và Trijang Rimpoche. Các vị đã chăm chú lắng nghe tôi . Những hiểu biết về sự tái sinh đến với tôi một cách tiệm tiến qua một qúa trình tu học những lời dậy cuả Phật tổ. Qua Kinh sách. Qua các cuộc thảo luận, qua các cuộc thực hành thiền định. Đến nay tôi có thể nói một cách khẳng định rằng tôi tin vào sự tái sinh. Điều ấy đến từ trong cõi tâm thức thẳm sâu, một loại toàn tri. Không có lời nói, một sự hiểu biết đến từ bên trong. Đó là lý do tôi tin vào sự tái sinh-- không những chỉ bởi Phật tổ đã nói như thế. Một số bạn bè bảo tôi rằng điều này chỉ xẩy ra với điều kiện ở Tây tạng, nhưng cũng có thể nói rằng vì phương Tây thiếu lòng tin vào điều ấy. Ở Tây tạng, chúng ta có thể nghe hoặc biết về những đứa trẻ tiếp nối câu chuyện dang dở với người lớn tuổi ngay ỡ nơi họ đã ra đi trong kiếp trước, thực hành các lễ nghi tôn giáo mà họ không thể biết đựơc, hoặc nhất định cho rằng họ đã sinh sống tại những căn nhà thuộc các thành phố mà họ chưa từng tới đó bao giờ, quen biết những người họ chưa hề gặp trong đời. Nếu tôi không tin vào sự tái sinh, dĩ nhiên những điều này là phi lý. Nhân và duyên (causes and condition) Điều tin tưởng của tôi đến từ sự chiêm nghiệm nhân và duyên, nhân và qủa. Khi nhìn vào thực tại, chúng ta có thể thấy rằng mọi việc không xẩy ra một cách tình cờ. Luôn có một nguyên nhân, và luôn có một cơ duyên. Có những nhân và duyên cho sự sinh, cho sự chết, cho đau ốm, cho mạnh khỏe, cho hạnh phúc, vui thú. Có những nhân và duyên cho tôi được nuôi day và tái sinh ỡ Tây tạng, cho tôi bị bắt buộc rời xa quê hương và cuối cùng đến Hoa kỳ. Phật tổ đã nhìn sâu vào nhân và duyên cuả mọi nguồn cội khó khăn và đã tìm ra lý do. Nhưng ngài đã phân biệt rạch ròi giữa nhân và duyên. Khi một người bị chết bất đắc kỳ tử, chẳng hạn như vì sự xụp đổ cuả một cây cầu, Đức Phật đã hỏi tại sao ngưiời đó lại bị chết, ngài đưa ra 2 câu trả lời khác nhau. Có một nhân cơ bản và có nhiều duyên tác hợp. Nhân căn bản là người chết đó đã gây tổn thương cho những người khác trong khoảng thời gian nào đó, bất kể vô tình hay cố ý. Câu trả lời thứ hai là trong một điều kiện nào đó đã làm cho cây cầu bị xập-- chẳng hạn một dòng nước chẩy xiết, một đà cầu bị gẫy, một chân cầu bị cuốn trôi. Phật gọi những điều kiện này là duyên.Từ nhãn quan tinh thần, khi bạn thắc mắc tại sao con người đau khổ, bạn sẽ thấy hai lý do khác nhau, một nhân cơ bản và những duyên tác động. Trong đời sống hàng ngày cuả chúng ta, chúng ta luôn gặp những hoàn cảnh khó khăn không mong đợi, ngay cả khi chúng ta chẳng công kích gây hấn với ai. Chúng ta bị tai nạn. Hoặc về tinh thần hoặc vật chất, chúng ta vật lộn với nó và cố gắng tìm ra lý do tại sao những điều ấy lại xẩy ra. Chúng ta cố tìm ra một câu trả lời bằng mọi cách. Chúng ta làm công việc khám nghiệm tử thi để tìm ra nguyên do cuả một cái chết. Hoặc khi 1 chiếc phi cơ ngộ nạn, chúng ta cố tìm ra điều gì sai sót đã xẩy ra, bằng cách tiêu những món tiền lớn và một khối lượng thời gian để tìm kiếm chiếc hộp đen. Chúng ta bị cuốn hút bởi các duyên. Nguyên nhân cơ bản thì chẳng bao giờ được lưu tâm có thể vì do khoa học chưa chấp nhận nó hoặc cho nó nói lên một lời giải thích. Ở Tây tạng, chúng tôi có lẽ thích tìm hiểu sâu vào nguyên nhân cơ bản-- đắm chìm như thể chúng tôi đang ở trong các viễn cảnh tâm linh--và không tìm đủ những duyên tác hợp. Nhân dân Tây tạng có thể đã quá bận tâm về đời sống tương lai cuả họ trong giai đoạn Trung cộng xâm chiếm. Còn những người cộng sản thì họ chắc chẳng bao giờ suy nghĩ đến nguyên nhân cơ bản khi họ đến xâm lăng đất nước chúng tôi. Là một người Mỹ gốc Tây tạng, tôi đã có cơ hội duy nhất để nhìn vào cả hai nền văn hóa. Sự bất lợi trong việc tiêu phí quá nhiều thời gian và tiền bạc trong việc tìm kiếm những cơ duyên kết hợp mà chẳng lưu ý tới nguyên nhân cơ bản, nguồn gốc cuả vấn đề. Bạn có thể có câu trả lời tạm bợ cho một tại họa đã xẩy ra, nhưng chừng nào nguyên nhân cơ bản chưa đựơc phát hiện thì bạn cũng chẳng thể nào ngăn chặn điều ấy không tái diễn. Không tìm ra nhân, ngay cả các duyên là đúng, sự việc vẫn chưa hiện thực. Như đất ẩm và mầu mỡ cũng chẳng thể nở hoa nếu không có hạt giống, tương tự như có hạt mà không có những điều kiện cây trồng thích ứng vậy. Vì là những người thực dụng, chúng ta thiết lập những nguyên tắc và những điều kiện an toàn--Rất nhiều điều che chở chúng ta khỏi những bất hạnh. Tất cả những điều này đựơc thực hiện để mong tránh cho chúng ta những khổ đau, và chẳng có vấn đề chúng ta có nên tiếp tục phòng ngừa những khổ đau trong những phương tiện chúng ta đang có. Tuy nhiên nên có những cuộc tìm kiếm sâu xa nguyên nhân cuả sự đau khổ, cuả sự sinh, lão, bịnh, tử trong đời sống mà chúng ta phải chấp nhận không có chọn lựa. Những nhà tâm lý điều tra nguyên nhân cuả sự đau khổ nhưng chỉ đạt được từ những nguyên nhân vật chất-- nhửng cơ duyên tác hợp. Những cố gắng đi đến phần thâm sâu cuả vấn đề, chúng ta khảo sát về thời thơ ấu, có đôi khi còn đi ngược tới giai đọan còn nằm trong bào thai cuả bà mẹ. Điều này có vẻ hữu ích, tái lập sự bình an tinh thần, một ý nghiã cuả sự an toàn, và lòng tự tin, vì nó có thể dẫn đến lớp sâu nhất trong nguyên nhân, và đôi khi nó còn tạo nên những vấn nạn sâu xa hơn. Nhìn lại cách đây hai ba chục năm, ngay cho cả quãng thời gian gần hơn mươi mười năm lại đây, thật là khó hồi tưởng lại chính xác những điều chúng ta đã trải qua. Thật khó mà hình dung lại điều gì đã xẩy ra mới hôm qua, thậm chí mới giờ trước đây thôi. Cố gắng hồi tưởng thường đưa tới những ước đoán. Một hồi niệm mơ hồ về sợ hãi có thể trở nên một đề tài để truy tìm. Do vậy, một người cha có bộ râu quai nón hoặc một ông chú có thể trở thành một tiêu điểm để điều tra về nguyên nhân cuả nỗi sợ hãi. Người ta bắt đầu tự hỏi “Ông ấy đã làm gì mình ? Tại sao tôi sợ? Có phải ông ấy đã từng đánh đập tôi? Có phải ông ấy từng sách nhiễu tình dục tôi? “Một vài mảnh vụn hồi ức nổi lên và chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta đã tìm ra kết qủa. Nhưng chẳng có cách nào xác định đựơc một điều gì đó có xẩy ra hay không. Một số người bị lạm dụng, hành hạ, một số người khác không. Điều ấy tạo thêm những nỗi khổ đau cho gia đình nói chung và đặc biệt giữa “ người có bộ râu quai nón” và người bị đau khổ. Như vậy chúng ta không nên điều tra các vấn đề cuả chúng ta hay sao? Đó không phải là câu trà lời. Nhưng nhất định đó không thể là cuộc điều tra tốt. Chỉ có một cuộc khảo sát thông suốt toàn bộ hơn. Đi tới tận cùng sự việc có nghiã là đi xa hơn điều gì đã xẩy ra từ thời thơ ấu. Nghiã là cần thiết phải tìm ra nguyên nhân cơ bản. Chúng ta đưa rất nhiều nỗ lực vào việc hoàn thành mục tiêu cuả chúng ta, nhưng chúng ta mới chỉ thực hiện được một nửa. Nếu chúng ta hoàn thành được hơn thế, chúng ta tự coi là đã may mắn lắm rồi. Trong thực tế, ngay cả khi chúng ta không thể làm được một nửa điều chúng ta muốn làm chính là dấu hiệu cuả sự thiếu tự do. Không những chúng ta thiếu tự do để hoàn thành mục tiêu do mình đặt ra, mà chúng ta thiếu cả tự do trong đau ốm, tuổi già và sự chết. Đó là chân lý cuả đau khổ, là điều Đức Phật đã nhìn thấy. Cái gì gây ra sự khổ đau ? Những thói quen cảm tính tiêu cực cuả chúng ta tạo ra sự khổ đau và ngăn chặn sự tự do cuả chúng ta. Tự do có thể là cuả chúng ta nhưng chúng ta đã không tạo ra những cơ duyên cần thiết để có thể đạt đựơc lợi ích cuả nó. Khi Đức Phật nói rằng ngài đã tìm ra con đường giải thoát khỏi khổ đau, chúng ta coi như ngài đã khám phá ra con đường đi tới tự do. Loại tự do nào? Tự do trong việc hình thành đời sống và cách sống cuả chúng ta. Những đạo sư truyền thống chỉ ta rằng mỗi người trong chúng ta đều thực hiện những hành động xấu và tốt trong kiếp này hay kiếp khác. Những hành động xấu đưa tới thêm những khổ đau và sự mất tự do, và đó là lý do tại sao chúng ta phải sửa chữa những thói quen cảm tính tiêu cực là điều quan trọng. Hành động tốt dẫn tới tự do và đời sống tốt đẹp. Đó là lý do tại sao chúng ta phải cấp thiết phát huy đạo đức, bởi vì chúng ta là các chuyên gia về sự tinh ranh, bịp bợm. Họ cũng chỉ cho chúng ta biết rằng sở dĩ chúng ta có cuộc sống phúc lạc hiện tại cũng là do những việc làm tốt chúng ta đã làm, và vì chúng ta nhẫn nhục, khoan dung, đạo đức trong kiếp trước. Đó là lý do tốt nhất cho chúng ta phát triển những đức tính ấy. Tôi đến đây không phải để thuyết phục các bạn về sự tái sinh. Đó là nền văn hóa cuả chúng tôi, hệ thống tín ngưỡng cuả chúng tôi-- không phải cuả các bạn. Tôi thực sự đơn giản là yêu cầu các bạn hãy tìm sự thích thú trong ý tưởng này trong đôi chút thời gian--cho ý tưởng ấy đôi chút hồ nghi rằng điều ấy có thể có hoặc không có và tìm xem nó sẽ thay đổi viễn quan cuả bạn về đời sống và cái chết ra sao. Các bạn có thể chẳng tìm ra một sự khẳng định nào trọn vẹn về sự tái sinh, nhưng chắc các bạn cũng chẳng thể nào loại trừ nó đựơc. Chưa có ai từng chứng minh rằng nó chưa hề xẩy ra. Nếu bạn cho phép một chút ít hồ nghi về sự tái sinh, câu hỏi ta là ai và ta từ đâu tới sẽ trở thành câu hỏi “Điều gì đã xẩy ra giữa kiếp trước và kiếp này?” Hoặc trong những tiền kiếp cuả chúng ta, khoảnh khắc chúng ta suy tư về điều ấy, viễn quan cuả chúng ta đã thay đổi. Các vị thầy giác ngộ đã tìm ra nguyên nhân chân thực cuả sự khổ đau, cuả những rắc rối, những ngăn trở tự do cuả chúng ta. Họ nhấn mạnh tới những cảm tính tiêu cực-- sự giận dữ, ràng buộc, ghét bỏ, và ganh tị-- “Đó là nguyên nhân cơ bản trói buộc chúng ta trong vòng luân hồi sống và chết. Từ những cảm tính tiêu cực đưa tới những hành động tiêu cực, từ hành động tiêu cực dẫn tới nghiệp xấu, và từ nghiệp xấu đưa tới luân hồi”. Khởi đầu cuả tự do trong chu kỳ cuả sự khổ đau là cách thừa nhận rằng, chúng ta đang có sự giận dữ, ràng buộc, ghét bỏ, và ganh tị. Chúng ta có trách nhiệm về hành động cuả mình. Đó là điều đúng đắn phải làm. Vì có nhìn thẳng vào các cảm tích tiêu cực, chúng ta mới gạt bỏ được chúng. Khi chúng ta nhìn thấy có rắc rối chúng ta có thể sửa chữa. Nếu không chúng ta sẽ phải trả giá các hành động tiêu cực cuả mình bằng thân thể và tâm linh cuả mình trong hiện tại hay trong hậu kiếp. Điều này chẳng có gì mới-- hậu qủa xấu cho những hành động xấu. Rất nhiều nền văn hóa đã dùng sự sợ hãi đễ kiểm soát con người. Tôn giáo thường dùng địa ngục để răn đe như là một phương cách kỷ luật.Trong thế giới Tây tạng cổ xưa, ngay cả trộm cướp cũng do dự khi giết người bởi vì họ tin rằng sẽ phải trả giá bằng sự đau đớn với chính da thịt thể xác cuả họ. Nhưng các bạn cũng đừng cho rằng tôn giáo chỉ dùng đe dọa để khuất phục con người. Các bạn hãy dùng chút ít thời gian để phân tích xem các cảm tính tiêu cực có thể làm cho chúng ta khổ đau và duy trì sự khổ đau từ kiếp này tới kiếp khác như thế nào. Hãy suy ngẫm về khả năng cuả các bạn. Nếu không suy ngẫm về các điều ấy, sẽ là một sự lãng phí qúa lớn, bởi vì là một con người chúng ta có một bộ não rất kỳ diệu. Điều chúng ta có thể làm là vô biên. Chúng ta có cùng khả năng như tất cả các vĩ nhân khác đã từng sống. Chỉ có sự khác biệt là họ biết tận dụng những cơ hội. Vậy hãy suy nghiệm về điều ấy và hãy để cho tâm trí ta thay đổi. Hãy sử dụng tốt nhất những khả năng cuả mình, đặc biệt là tâm trí. Chúng ta có thể đổi thay cách sống một lần cho mãi mãi. Vị thầy đầu tiên cuả tôi bảo rằng đời này giống như nơi ngã tư đường. Nó có thể đi theo nhiều hướng khác nhau, một trong những hướng đó đưa ta tới sự giác ngộ kỳ diệu. Tại sao chúng ta không sử dụng ? Không có thời điểm nào thuận lợi hơn lúc này. Huyền thọai Phật giáo Ấn độ có nói về một loại hoa có tên là Utamuwara, là loại hoa chỉ xuất hiện khi có một vị Phật sắp ra đời, và chỉ nở khi vị Phật này giác ngộ, rồi sau đó kéo dài theo thời gian cuả các bài giảng cuả Phật. Các Phật tử nói rằng chúng ta vẫn còn trong khoảng thời gian hoa nở. Khả năng cho mỗi chúng ta đạt tới toàn năng và giác ngộ vẫn còn. Ngay cả khi chúng ta không thể hoàn thành trong kiếp này thì chúng ta vẫn còn có thể tiếp tục trong kiếp kế tiếp. Ngô văn xuân - chuyển ngữ
-
NHƯ LÀ MỘT ĐIỀU CẢNH TỈNH .... NHƯ LÀ MỘT ĐIỀU CẢNH TỈNH ... Hoa nở, rồi lại tàn…. Nét đẹp thiếu nữ rồi cũng phai tàn theo thời gian…. Tiền bạc, cơ ngơi sự nghiệp, của cải, vật chất: có đó – mất đó…. Sinh đó, diệt đó…. Hòa bình rồi lại chiến tranh, không ai biết được ngày mai…. Hiroshima năm nào, chớp mắt đã thành cát bụi…. Đừng tự hào với bất cứ cái đẹp giả tạo nào mà mình đang có trên thân thể này, vì chỉ cần 1 sự cố xảy ra, nó sẽ hư – xấu và bị hủy hoại hoàn toàn…Nó là giả! Đôi chân ấy có thể mất đi, đôi mắt ấy có thể mù lòa, trí não ấy sẽ không còn minh mẫn…. Ngay cả sự vật cũng không thể trường tồn với thời gian, huống chi thiên nhiên, con người, và lòng người…. 2 chữ “Ái Tình”… Đời người: Sinh – Lão – Bệnh – Tử, có gì vui ??? Trong thế giới tạm bợ, ngập tràn khổ đau này, loay hoay mãi, cuối cùng chỉ có thể tìm được cái gọi là “thanh thản” và “bình yên” khi an trú dưới ánh sáng Phật Pháp…. Để tránh bất hạnh khổ đau, hãy gắng sống tốt và theo sát lời Phật dạy. “Không làm các điều ác – Thường làm các việc lành”. Dù rằng Nhân quả – Nghiệp báo đã làm chủ cuộc đời, nhưng tu thân – tích đức HOÀN TOÀN CÓ THỂ GIẢM NHẸ TỘI – NGHIỆP để có 1 cuộc sống tốt đẹp hơn, tinh thần nhẹ nhàng thanh thản hơn. Đừng tiếp tục sa lầy. Đừng tiếp tục trì hoãn. Đời người sống nay chết mai. Hãy mau mau trở về dưới chân Phật…Trích dẫn: “Thân này là vô thường, là khổ, là vô ngã, thấy thân này là bất tịnh uế nhiễm, hôi thúi (đàm, nước tiểu, phân,máu,mủ,..), bệnh tật, khổ đau, thấy những người thân quyến thuộc là nhân quả, là những người vay nợ với nhau, không có chi là thường còn, vĩnh viễn, các pháp trong thế gian này không phải của mình nữa, là do duyên hợp, là đau khổ, là trói buộc, thương nhớ chỉ là một sự tạm bợ trong khi thân này còn sống, đến khi nó hoại diệt rồi thì sự thương nhớ kia cũng không còn, nó sẽ tan ra thành mây khói.”
-
- 2
-
-
Thật thích thú khi nhìn tận mắt thực và động vật phát triển khả năng tạo hóa ban cho chúng.Nhà quay phim phải vất vả, kiên nhẫn lắm mới được những thước phim hiếm quý này cho chúng ta thưởng thức. http-~~-//www.youtube-nocookie.com/embed/xHkq1edcbk4?rel=0