Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

wildlavender

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    6007
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    103

Everything posted by wildlavender

  1. Tin Khẩn Cấp Cho Các Bạn Ở USA và Thế Giới INTERNET Ngày 16, tháng 11, 2011 ở USA chính phủ muốn đưa ra cái luật mới "SOPA - STOP ONLINE PIRACY ACT". Cái luật này ý là muốn ngừng trên mạng vi phạm quyền của tác giả. Cái luật này không cho chúng ta share hay đăng bất cứ cái gì không thuộc về của chúng ta. Thí dụ nhưng cái bạn không thể đăng hình của người khác hoặc tấm hình đó thuộc về của bạn. Bạn không thể hát bài nhạc mà không phải bạn sáng tác. Bạn không thể đăng tin tức mà không phải do bạn viết. Thì đừng có nói chi là share hoặc chiếu 1 cái video, music, or game. Cái luật này có thể nói là muốn TIÊU DIỆT INTERNET. Vì chúng ta không thể share và làm bất cừ điều gì nữa. Cho dù bạn thấy cái video hay tấm hình nào đó hay or đẹp, bạn không có thể share lên facebook, twitter, blog, and etc nào của bạn hết. Vì đó là video/picture của người khác. Nếu cái luật này được thông qua, thì online đễ làm gì? Không lẻ chỉ tự mình viết nhật ký hay đọc tin tức mà thôi? Nếu như thế chúng ta có thể tự mở cuốn tập ra viết cũng được hay mỡ báo ra đọc cũng được, cần thiết gì phải lên internet nữa, đúng không? Nếu cái luật này được thông qua, thì rất nhiều rất nhiều trang web sẽ bị đóng (thí dụ như: youtube, facebook, twitter, và bất cứ trang web nào có thể download phim/nhạc/game/and etc.) Lúc đó internet không còn gì ý nghĩa nữa. Các bạn có cảm thấy tai hại của cái luật này hay không?Nhưng cái luật này chưa có được thông qua, họ còn đang bỏ phiếu. Nên các bạn phải nên phản đối mau lên. Luật này ở Mỹ mà được thông qua, thì các nước khác sẽ bắt trước theo mà thôi. Vì internet là Mỹ thủ lãnh. Thủ lãnh mà bị tiêu diệt, thì các nước khác sao không bị tiêu diệt, đúng không? Thế Giới Chưa Có END, nhưng chúng ta đã bị chính phủ tiêu diệt rồi, Where is our FREEDOM? Where is our Liberty? Where is RIGHT? http://www.youtube.c...5757&feature=iv Các bạn có thể tìm hiểu thêm vào những trang web này:http://americancensorship.org/ http://www.techdirt....s-bill-end-intehttp://knowyourmeme..../protect-ip-act Các bạn có thể vào những trang web này để mà gởi lời phản đối:http://americancensorship.org/http://fightforthefuture.org/pipa/http://www.mozilla.org/sopa/http://demandprogress.org/blacklist Phó Tổng Thống USA Ủng Hộ Chúng Ta Chống Lại SOPA: http://www.youtube.c...9E&vq=medium<br Các bạn cũng nên vào những trang web mình cho links để mà phản ảnh đi ok. Nếu cái luật này được chấp nhận là INTERNET DEAD. Đây không phải là giỡn chơi đâu. Tránh đấu cho quyền lợi của các bạn và tương lại cho những con cháu sau này của các bạn nữa. Bên Châu Âu Cũng Phản Ảnh Về SOPA này:http://www.edri.org/...liament_SOPA<br Cái video bên dưới giải thích rất rỏ cho các bạn hiểu: ] ============================================================ Các bạn có thể thầm định lại nguồn thông tin này !
      • 1
      • Like
  2. Câu nói “Của ít lòng nhiều” được xuất phát từ trong kinh Phật Nhân dân ta từ xưa tới nay trải qua bao thiên tai lụt lội, cướp ngày cướp đêm, giặc phương xa xâm lược đói khổ triền miên nên của nả để dành dụm trong nhà thường không được bao nhiêu. Tuy vậy, tấm lòng đùm bọc giúp đỡ nhau giữa người với người lại luôn luôn tỏa sáng trong bất cứ thời kỳ nào. Câu thành ngữ “Của ít lòng nhiều” chỉ vật kỷ niệm, vật được gom góp để giúp đỡ nhau lúc khó khăn tuy giá trị vật chất thì không đáng là bao nhưng tấm lòng, tình nghĩa trong đó thì gấp nhiều nhiều lần giá trị thực của món quà. Câu nói đó cũng ám chỉ có những món quà, món đồ sang trọng nhưng người tặng lại thiếu thiện tâm, chân tình thì cũng không có giá trị nhiều. Câu thành ngữ trên vốn đầu tiên được xuất phát từ kinh Phật và chỉ được dùng trong Phật giáo, sau này mới lan rộng ra nhân dân. Kinh A-xà-thế vương thụ quyết có ghi lại câu chuyện về vua A-xà-thế mời Phật vào cúng cơm chay. Vua cho đốt đèn dầu từ cung vua tới Tịnh Xá Kỳ Hòa nơi Phật ngự. Trong khi đó có một bà già nghèo khổ ăn xin nhưng thành tâm cúng Phật dốc hết tiền ra chỉ mua được đúng một đĩa đèn. Bà đem vào Tịnh Xá cúng và nguyện rằng “Nếu đời sau con được thành đạo như Phật thì xin ngọn đèn này sáng tỏ suốt đêm không tắt”. Sáng hôm sau khi Tôn giả Mục Kiều Liên lên tắt đèn thì thấy tất cả đèn của vua đã tắt, chỉ riêng đèn của bà lão là vẫn còn sáng và không sao tắt được. Nhân chuyện này Phật dạy rằng “Bà già này các kiếp trước đã cúng lễ dâng bái Phật nhiều nhưng không tu hành bố thí nên mới bị nghèo. Sau này bà sẽ thành Phật hiệu là Tu Di Đăng Quang Như Lai”. Vua nghe thấy thắc mắc tại sao mình cúng bao nhiêu là đèn mà lại không thành chính quả, trong khi bà già cúng duy nhất một ngọn đèn lại được? Ông Kì bà tâu lại rằng “Lòng vua không chuyên nhất như bà già kia, vua của nhiều mà lòng ít còn bà già của ít mà lòng nhiều”. Từ đó, ai đi lễ bái Phật cũng khấn là “Con của ít lòng nhiều” để biểu đạt lòng thành tâm của mình. http://facts.baomoi....h-ph%e1%ba%adt/
      • 2
      • Like
  3. Bệnh viện quá tải: Đau đớn riêng của bà Bộ trưởng? Thôi thì lúc này, mỗi người dân phải tự đào tạo mình thành lương y, thành nhà giáo dục để chữa bệnh cho gia đình mình, dạy con cháu mình sống lương thiện tử tế. Bởi thời nào cũng vậy, mọi an toàn về thân thế, tài sản có lẽ nào không liên quan gì đến lòng trong sạch và lương tâm nơi mỗi con người. Ngày 28/11, sau khi thị sát ba bệnh viện lớn tại TP.Hồ Chí Minh (gồm Bệnh viện Ung Bướu, Nhi Đồng 1 và Chấn thương Chỉnh hình), Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã phải than rằng:"Nhìn thấy bệnh nhân nằm trên, nằm dưới, nằm hành lang, một giường dồn 2-3 người, tôi cảm thấy đau đớn". "Tự cầm dao...đâm bụng mình"? Rất nhanh chóng, "đau đớn" ấy của bà Bộ trưởng làm cho dư luận xã hội xôn xao. Nhiều ý kiến cho rằng phải đẩy mạnh xã hội hoá y tế, xây thêm nhiều bệnh viện, đầu tư vật chất kỹ thuật cho các bệnh viện tuyến dưới... Theo tin từ Bộ Y tế, Việt Nam nằm trong danh sách 33 quốc gia có tỷ lệ giường bệnh thấp nhất trên thế giới, 1 giường bệnh/1.000 dân. Định lượng là như thế, còn định tính thì thế nào? Chẳng hạn ít giường bệnh/ số dân, nhưng ít người bệnh, ít người nằm bệnh viện, ít bệnh viện quá tải, thì đó có là điều đáng mừng không? Hơn nữa, xã hội hoá y tế thế nào, khi mở thêm nhiều bệnh viện, phòng khám đa khoa... nhưng cũng vẫn quanh quẩn với các vị giáo sư, bác sĩ trong các bệnh viện công tới khám, chữa (theo lịch "chạy sô")? Niềm tin nào để dân đến với bệnh viện tư, bệnh viện tuyến dưới? Có phải do thiếu đất để xây bệnh viện, thiếu bác sĩ... hay còn thiếu điều gì khác? Câu chuyện bỗng được mở rộng ra khi người ta so sánh giữa việc các sân golf mọc lên như nấm và tình trạng quá tải của các bệnh viện (hầu hết ở tuyến trên). So sánh này có vẻ như khập khiễng, vì xây bệnh viện thì chẳng cần đến đất ruộng như xây sân golf. Tuy nhiên, so sánh ấy có phần chạm đến các giá trị nhân văn, công bằng trong đời sống ứng xử. Trong một bài báo, KTS Trần Huy Ánh nói: "Chúng ta không nên học đòi phát triển sân golf bởi nó không đem lại một nền tảng gì về văn hóa, xã hội cũng như về mặt tình cảm giữa con người với nhau. Trong một đất nước còn nghèo, chúng ta không có lý do gì để dành những hec ta đất màu mỡ, đang trồng lúa, đang nuôi bao nhiêu người nghèo để làm sân golf". Quả đúng như vậy, thực tế như quốc gia Philippine đã phải trả giá vì sân golf. Có không ít người ví rằng, một đất nước từng có tham vọng sản xuất lúa gạo lớn như Philippine không hiểu sao lại "tự cầm dao đâm vào bụng mình" khi phá ruộng để xây sân golf. Nếu gặp khủng hoảng lương thực, điều đó gần như là "tự sát tập thể". Do tầm nhìn chiến lược giới hạn, Việt Nam đang phải bán dần tài nguyên thiên nhiên hữu hạn của mình đã đành. Nhưng chẳng lẽ cũng đang cố gắng bán nốt công sức của người nông dân nghìn đời (mới tạo nên nổi một lớp đất canh tác màu mỡ) để mua về một vài hình ảnh của cái gọi là "công nghiệp", "giàu có", "đẳng cấp" ư? Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến (thứ tư từ phải qua) trong buổi thị sát hoạt động khám chữa bệnh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 - TPHCM ngày 28-11. Ảnh: NLĐ "Căn bệnh nan y" to đùng: Quy hoạch Đói, bệnh, thất học, mất an toàn về thân thể là những hình ảnh chân thực nhất của nghèo đói, kém văn minh. Không cải thiện được những hình ảnh này, thì càng mọc thêm nhiều sân golf (phục vụ cho một thiểu số giàu có) càng phản cảm, càng làm giảm đi giá trị của công bằng trong xã hội. Mới đây, khi tiếp xúc cử tri ở Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói, bệnh viện thiếu mà sân golf nhiều, nhà trẻ thiếu mà khu công nghiệp để đất trống, rồi chuyện sân bay, cảng biển... thì đó là vấn đề ở quy hoạch. Phát biểu của ông Tổng Bí thư đã bắt giùm cái bệnh "đau đớn" cho bà Bộ trưởng. Có nghĩa rằng, không chỉ bà Bộ trưởng Y tế (và ngành y tế) mà các ngành khác cùng đang bị bệnh, đang rất cần chữa trị kịp thời. Bởi mới từ chuyện ba người bệnh nằm chung một giường mà đã chạm đến một căn bệnh nan y to đùng đó là QUY HOẠCH. Ngoài cái bệnh "tư duy nhiệm kỳ", bệnh "lợi ích nhóm" ra, còn có cái bệnh thiếu tầm nhìn "quy hoạch". Những bệnh này đã được nói, bàn rất nhiều và từ rất lâu, sao không thấy ai lên tiếng nhận trách nhiệm? Vậy thì phải tìm cho ra ai là người làm "quy hoạch"? Viện Chiến lược Phát triển trực thuộc Bộ Kế hoạch- Đầu tư? Hay những ai ai có trách nhiệm chuyện này, sao không thấy lên tiếng? Lắng nghe lời than cũng không kém phần đau đớn của bà Bộ trưởng: "Cả xã hội bức xúc về tình trạng quá tải bệnh viện nhưng cuộc sống phải cân bằng giữa cho và nhận. Có cho (ngành y tế) cái gì đâu mà đòi nhận nhiều. Không đầu tư, xây dựng bệnh viện mà dịch vụ đòi tốt thì vô lý, bất công vô cùng" (Theo Thanh Niên). Với quan niệm về "cho" và "nhận" ấy, phải chăng bà Bộ trưởng đã bắt ra cái bệnh "lót tay", cái bệnh "y đức"? Đúng là cuộc sống phải tự cân bằng giữa "cho" và "nhận", giữa "cung" và "cầu"... Nhưng ngành y tế dù có "nhận" ít thì cũng nên phục vụ người dân cho tốt chứ. Nếu chưa có đủ tinh thần vì nhân dân phục vụ ấy thì xây thêm bệnh viện liệu có ổn không? Bởi ngành y tế là người "nhận", nhưng đồng thời cũng là người "cho". Thiết nghĩ, "cho" người khác một cách đàng hoàng thì sẽ "nhận" về những điều tương xứng. Nhưng người ta thông cảm với câu nói này của bà Bộ trưởng. Vì câu nói của bà không chỉ bắt đúng bệnh của ngành y tế, mà còn bắt bệnh đúng bệnh cho ngành giáo dục. Rằng chúng ta được giáo dục thế nào để vì không được "nhận" nên đừng mong tôi "cho" (tốt)... Buồn ơi... ít tiền ơi... không lót tay ơi... chào nhé! Ngành nào cũng lao vào ...chữa? Thực tế, những bệnh viện tuyến trên đang quá tải. Muốn chữa bệnh quá tải là phải xây thêm bệnh viện, phải nâng tỷ lệ phần trăm bác sĩ, giường bệnh lên... Nhưng có làm nhiều đi nữa cũng chỉ là chữa bệnh cấp thời, bở hơi tai trong rượt đuổi với bệnh tật. Ngành cứu hỏa có câu: "Phòng cháy hơn chữa cháy". Ngành Y tế cũng có câu: "Phòng bệnh hơn chữa bệnh"... Đều là triết lý cả! Vậy tai sao chúng ta lại đi chọn giải pháp kém là "chữa"? Đây không chỉ là lỗi "quy hoạch" mà còn là lỗi "hệ thống" (từ dùng của nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An). Vì gần như ngành nào cũng phải lao đầu vào việc "chữa", "chạy chữa" cả. Nhưng nếu có phải "chữa", thì cũng nên chữa cái gốc bệnh trước, thay vì cứ nhằm cái ngọn mà chữa. Thực tế, một đất nước mà bệnh nhân quá tải, bệnh viện liên tục phải xây thêm mà vẫn không đủ cung ứng thì đó là một đất nước bệnh tật. Chất lượng công dân, chất lượng giống nòi thuộc dạng "có vấn đề", nếu không muốn nói là tiềm ẩn những nguy cơ "nan y". Như thế thật chẳng vui vẻ, hạnh phúc gì. Trong ba bệnh viện mà bà Bộ trưởng khảo sát, chúng ta có thể nhìn ra những bệnh quá tải sau: Các loại bệnh ung thư (Bệnh viện Ung Bướu). Các loại bệnh do tai nạn giao thông, tai nạn lao động... (Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình). Các loại bệnh sơ sinh, nhiễm trùng, hô hấp, tiêu hoá, truyền nhiễm (Bệnh viện Nhi Đồng). Rõ ràng các loại bệnh này không phải do Bộ Y tế đẻ ra. Vậy nó đến từ đâu? Vì sao tỷ lệ các bệnh ung thư, tim mạch, béo phì, tiểu đường, bệnh nhi.... đều gia tăng? Vì sao người dân khi lao động, khi tham gia giao thông... ngày càng mất an toàn về thân thể, tính mạng? Cần chữa cái gốc của bệnh Cần phải nhìn sự "quá tải" của các loại bệnh này trong tổng thể TƯƠNG QUAN. Thiết nghĩ, để chữa các căn bệnh này, cần phải quay về với giáo dục, với tầm nhìn của khoa học xã hội và nhân văn, và cả tôn giáo nữa. Cần nghiên cứu một lối sống tích cực, thân thiện với môi trường, nâng cao khả năng tự chăm chóc sức khoẻ, phát huy mạnh mẽ các giá trị nhân văn, tử tế, yêu thương trong cộng đồng. Đó mới là chữa cái gốc của bệnh. Một đất nước không biết yêu động vật, rừng núi sông suối, đến nỗi không kể to nhỏ, con vật gì, tài nguyên gì hở ra cũng bị xẻ thịt, vậy thì làm gì có tương quan giữa con người và môi trường sống. Cảnh quá tải thường thấy ở các bệnh viện Giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu. Vậy "ông" giáo dục đã dạy người ta thế nào để nên nỗi khi họ thành tài, có tiền, có quyền, không ít người lại làm những chuyện như vậy với chính người dân của mình, đất nước mình? Chúng ta giáo dục ra những công dân như thế nào để "sáng tạo" thì ít, "copy" thì nhiều, để đụng vào đâu cũng thấy hoạnh họe, làm gian, làm giả, bòn rút, lọc lừa, gây ô nhiễm, thải các chất độc hại ra môi trường? Vì đâu sự tử tế của con người chúng ta với nhau càng ngày càng vơi dần đi, khi thực phẩm ăn uống hàng ngày, đụng vào đâu cũng thấy phun, tẩm hoá chất độc hại? Người dân không mất an toàn về thân thể, tài sản sao được khi tham nhũng và tai nạn giao thông trở thành quốc nạn nhức nhối? Vì sao xây sân golf, xây khu công nghiệp lại không thể chọn những chỗ thích hợp khác mà cứ nhắm vào đất ruộng, đất rừng màu mỡ mà "quy hoạch" một cách ít nhân văn đến thế? Vậy bệnh viện quá tải chỉ đơn giản là do ít bệnh viện, ít giường bệnh thôi ư? Bệnh viện quá tải còn do người dân bị vô số những cái "bất lương" kia làm cho mắc bệnh ngày càng nặng nữa chứ. Một hộ có người mắc bệnh nặng thì chất lượng sống sẽ bị kéo xuống thấp và nhanh chóng tái nghèo. Nhìn vào sự tương quan rộng lớn, làm sao bà Bộ trưởng Bộ Y tế phải khiến những ông bộ trưởng khác cũng phải hiểu cái "bệnh" ấy để họ đau chung cùng với ngành y. Với vấn đề này, chắc chắn người dân mong, không chỉ ông Bộ Kế hoạch- Đầu tư, Bộ Giáo dục, Bộ Giao thông Vận tải... mà ông "Bộ" chống tham nhũng, lạm quyền cũng nên chia sẻ nỗi đau bệnh tật này với ngành y tế. Nếu không thì mọi sự vận hành vẫn sẽ tiếp tục "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược" dài dài. Vấn đề sức khoẻ, tính mạng liên quan trực tiếp đến lương tâm, sự tử tế, lòng tích thiện, tích phúc của con người với nhau. Nhưng thấy giữa Quốc hội, một số vị đại biểu trả lời chất vấn xong, khuôn mặt cứ như... thoát nạn. Có vẻ như cái "nhóm" của ông, không còn liên quan gì đến "nhóm" khác... Thôi thì lúc này, mỗi người dân phải tự đào tạo mình thành lương y, thành nhà giáo dục để chữa bệnh cho gia đình mình, dạy con cháu mình sống lương thiện tử tế. Bởi thời nào cũng vậy, mọi an toàn về thân thế, tài sản có lẽ nào không liên quan gì đến lòng trong sạch và lương tâm nơi mỗi con người. Tác giả: NAM QUỐC Bài đã được xuất bản.: 07/12/2011 05:00 GMT+7 tuanvietnamnet ===================================================================== Bà Bộ Trưởng này phát biểu cứ như người cung trăng xuống chơi trần gian nhỉ? Hay bây giờ đứng đầu ngành mới được cảm thán cho dân tình, Cảnh tình này người nhà quê chưa lên tp bao giờ cũng rõ như nắng cháy da mưa mát mặt ????
  4. Vật phẩm Nhìn như 1 loại hoa quả nhưng lại là bánh truyền thống của người tạng làm bằng tay chất liệu như bánh đậu xanh của vn, béo và ngọt. Lễ vật gồm , gạo sống, nhang, nước thơm, và dầu gọi chung là mạn đà la. Hoa từ VN mang sang cúng dường Quà gọi là Lộc Thánh được chất lên dầy 2 bên bờ tường dành để phát cho tất cả những khách viếng. Quà đã cao ngất ngưỡng có thể họ đã tính toán được số khách tham dự Sự chuẩn bị cho Lễ cầu nguyện dành cho hàng ngàn tăng lữ, vây quanh khuôn viên của Thopten Choling
  5. Tường thuật tiếp theo về những gì tôi thấy trên hành trình về Đất Phật. Quyền trượng kim cương, pháp khí tối thượng, tượng trưng cho quyền lực tối cao của Kim Cương Thừa 1 trong những pháp khí mà chúng ta có thể thấy ở khắp nơi từ đến đài, bảo tháp. Được làm bằng nhiều vật liệu khác nhau, đồng, sắt ,gỗ.... Những tín đồ phật giáo sùng kính Quyền trượng kim cương, là vật bảo thiêng Nói đến các Pháp khí và bảo khí ở đất nước này thì vô cùng mà người sơ cơ như tôi có tìm hiểu cả đời không hết được, chỉ giới thiệu với các bạn những gì tôi đi qua và lưu lại.
  6. Văn Phòng Trung Tâm có nhận lại THƯ (do bưu điện hoàn gốc) Thần Chú Giải Thoát đến bạn theo địa chỉ trên với lý do : "Không có số nhà" Bạn gần đây hãy đến Vp nhận.
  7. Nghĩa địa súc sanh Xem mà đau, đau quặn, vì nỗi đau của chúng sanh cứ chạy vùn vụt trên đoạn clip ấy.... Con bò bị giết chết trong đoạn clip - Ảnh chụp lại từ clip Đem clip ấy chia sẻ trên facebook và ngay lập tức, nhiều bạn bè vào bình luận. Nhiều người chỉ có thể thốt lên “trời ơi” hoặc “híc”, hoặc “huhu, ác quá đi”… Không phải ác mà phải nói là quá ác, quá dã man thì mới đúng! Khi khoa học phát triển, nó tạo ra quá nhiều tiện ích cho cuộc sống con người. Bên cạnh đó nó cũng tạo ra rất nhiều thứ giết chết con người, hoặc trực tiếp như súng đạn, vũ khí sinh học; hoặc gián tiếp như những thuốc tăng trọng, những sản phẩm “sát hại” tinh thần, lòng bi mẫn của con người như là những dây chuyền giết mổ, những sản phẩm games online, phim ảnh độc hại… Trở lại với đoạn clip trên để thấy, nỗi đớn đau của sinh vật khi bị sát hại, để “phục vụ” máu thịt cho con người. Nếu như có lòng từ, có một chút ít tình thương thì khi thấy cảnh những con gà đi qua dây chuyền cắt cổ gà, những con bò, con heo bị “hành hình” bằng cách khoan vào đầu, chọc huyết dã man như “sự thật về ngành công nghiệp thịt” thì ai mà không xót xa. Làm sao có thể tả hết nỗi oán hờn, nỗi sợ hãi của những chúng sinh sắp lên “đoạn đầu đài” như trong clip mà tôi đã kể trên? Nhiều bạn nhắn tin, đối mặt với sự sân giận, nhẫn tâm của những đồ tể như thế thì bò nào không điên, heo gà nào không cúm, không xuất hiện những virus lạ? Những biến dị trong cơ thể sinh vật cũng không ngoài việc sống trong một môi trường nào đó, ăn một thức ăn nào đó. Và con người đã tạo ra thức ăn tăng trọng cho động vật để tạo ra những biến dị bất thường (heo gà mau lớn, mau đẻ, đẻ nhiều, bò mau cho sữa, sữa nhiều…) để chính con người lại thọ dụng những sản phẩm biến dị ấy vào cơ thể. Cơ thể nào có thể chịu nỗi khi nạp vào một lượng thức ăn chính là những sản phẩm “bất thường” từ thuốc tăng trọng? Ăn một sản phẩm bất thường thì làm sao cơ thể không bất thường với những biểu hiện như căn bệnh ung thư đang trở thành vấn nạn toàn cầu hiện nay? Đó là chưa nói, ngành công nghiệp thịt ấy đã cho ra những sản phẩm đầy sân hận, đầy oán hờn bởi cái cách giết hại một cách quá man rợ, độc ác của những dây chuyền lạnh lùng, vô cảm! Sự sợ hãi và oán hờn ấy tích tụ trong những sản phẩm thịt được bày bán trên thị trường và con người ăn vào thì làm sao tránh khỏi tâm tánh không nổi sân, lòng không bất an, sợ hãi? Nhân quả là ở đó. Và trong cái bụng nhỏ bé của mình đã trở thành nơi chứa đựng không biết bao nhiêu xương thịt chúng sanh, bao nhiêu máu huyết của các loài khác. Nên không ngoa khi nhiều người ví cái bụng mình là “nghĩa địa súc sanh”. Há, không phải ư? Không phải là nghĩa địa thì là gì khi nó là “mảnh đất” chôn vùi thân xác chúng sinh, biết bao máu huyết chúng sinh thành thực dưỡng cho bản thân? Thử quán sâu sắc điều ấy, và xem sự thật về “ngành công nghiệp thịt” từ clip dưới đây, dẫu rất đau lòng để truyền thông, nhưng biết đâu hình ảnh đớn đau này có thể tưới tẩm những hạt từ trong tâm của bạn đọc. Và như một bạn trẻ trên facebook, sau khi xem xong đã bình luận dưới phần chia sẻ rằng: tôi đã phát nguyện ăn chay! Lưu Đình Long Giacngo.online Xem clip "Sự thật đằng sau ngành công nghiệp thịt"
  8. Hình ảnh dưới đây chú thích thêm cho rỏ ý. Dọc theo hai bờ tường phía trong Bảo Tháp Stupa tại Ấn Độ là 1 minh chứng, Các vị Thánh đã được thờ qua hình ảnh vẽ hoặc tượng Cụ thể Vị ngồi bên phải là KhenChen Rinpoche hình này được vẽ từ năm Ngài 14 tuổi. Và Ngài cũng là Hóa thân của Quan Âm bồ Tát đời thứ 8. Và hiện nay....với Wild Ngài Cũng đã được đắp tượng và được tôn vinh như những Vị Bồ tát sống.Tất cả các vị này đều là thánh tăng và hiện còn tại thế.
  9. Hay! Cô cũng có thắc mắc như TĐ từ lâu! Và đem câu hỏi này qua Nepal hỏi 1 Vị rất cao cấp cho nó chắc ! Cô đã được giải thích như sau : Việc tu tập cũng được sắp xếp theo cấp và trình độ và người Cao chứng thực cho người thấp và khi trãi qua từng Cấp + thời gian tu học, các vị ấy cũng phải qua 1 kỳ sát hạch như thực hiện 1 luận án để Hội Đồng thẩm định xác nhận CHỨNG QUẢ. Và Cô cũng còn 1 thắc mắc nữa " Sao biết được Vị này là hóa thân của Chư Phật Bồ tát, đời thứ 8,9,10 gì đó?" Có lẽ sẽ hỏi vào dịp khác .
  10. Chư Thánh Tăng cùng ngồi vào hành lễ, nhưng các Ngài ngồi tại sãnh cạnh nhà quàn. Trong đó có những vị đã nên Thánh khi tuổi đời còn rất trẻ. Và không ít các vị Thánh dân Châu Âu da trắng Còn lại đa số là người nước ngoài gốc Tạng Đây cũng là 1 trong những vị trưởng dòng Mũ Vàng. Thật vinh dự khi được ở cạnh Ngài, dù ít phút giây ....
  11. Phút trao đổi giữa Thánh Tăng và Richard Gere Sao Hollywood Các tăng sĩ vẫn trì tụng đều đặn với bản kinh trên tay... Bên ngoài dòng người và các vị Thánh vẫn tiếp tục tiến về Nhà Lễ Phía trong Nhà Lễ các vị vẫn hành trì không ngừng nghĩ
  12. Đoàn khách viếng lễ ước chừng hơn 20,000 người, trong đó có Đoàn PV ghi hình của Đài ABC Còn có các Vị Thánh Tăng chính thức đến từ các nước cũng như quan chức bang giao Tạng Mật. còn có diễn viên Richard Gere người mà khán giả Vn biết đến qua bộ phim "Pretty Woman" khoảng thập niên 90. Sự có mặt của diễn viên này là điều đương nhiên bởi anh ta đã là phật tử của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Số Phật Tử bên ngoài cũng lặng lẽ cầu nguyện với vòng quay kinh luân (còn tiếp)
  13. Xác nhận có 200,000 đ (hai trăm ngàn đồng) của Vi Tiểu Bảo ủng hộ Từ Thiện.Quỹ hiện có : 2,600,000 đ + 200,000 đ = 2,800,000 đ (hai triệu tám trăm ngàn đồng)
  14. Giai đoạn từ ngày 25/11/2011 Có Smooly_girl đóng góp 500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) và ngày 30/11 Thiên Đồng ủng hộ 100,000 đ (một trăm ngàn đồng) Tổng là 600,000 đ (sáu trăm ngàn đồng) Quỹ hiện có: 2,000,000 đ + 600,000 đ = 2,600,000 đ (hai triệu sáu trăm ngàn đồng)
  15. Việc này ngoài nguyên tắc xác nhận công khai trên diễn đàn em cũng save chi tiết ở bản Word trong ổ máy cá nhân nên cập nhật thường xuyên và bổ sung, nay sự cố xảy ra không ảnh hưởng đến danh sách này đâu ah!
  16. Lạt ma và Hoa hồng vườn tranh luận Ở ngoại ô thủ phủ Lhasa có một tu viện mang tên Sera Monastery mà nếu đến thăm, bạn sẽ chứng kiến một trong những phương pháp tiếp thu kiến thức độc đáo của người Tây Tạng. Sera Monastery nằm dưới chân núi đá khô cằn, ngoại ô Lhasa. Tu viện này thuộc phái Mũ Vàng (Gelugpa - Hoàng Mạo), là 1 trong 3 tu viện quan trọng bậc nhất của Tây Tạng, được xây dựng vào đầu thế kỷ 15. Sera Monastery còn được biết đến với tên gọi Tu viện Hoa hồng, bởi chữ Sera trong tiếng Tạng có nghĩa là hoa hồng, vì khi khởi công xây dựng tu viện vào năm 1419, nơi đây tràn ngập hoa hồng dại. Một khu đồi núi cằn cỗi mà lại có hoa hồng mọc lên, tô điểm thêm cho sự kỳ bí của tu viện này. Thêm nữa, trên một đất nước rộng mênh mông như thế mà các bậc đại sư thời xưa lại chọn khu đất có hoa hồng để xây tu viện, chắc không phải ngẫu nhiên. Tu viện Sera được biết đến như là Trường đại học Phật giáo của Tây Tạng. Khu vực này khá rộng, gồm 3 trường: Sera Mey Dratsang (giáo dục kiến thức cơ bản), Sera Jey Dratsang và Ngagpa Dratsang (đào tạo Lạt ma phái Mũ Vàng có trình độ tương đương cử nhân và tiến sĩ Phật học), tu sinh phải học và thi khoảng 300 loại kinh kệ, chưa kể các môn khoa học khác. Giống như các trường đại học trên giới, tu viện Sera cũng có ký túc xá dành riêng cho tu sinh. Đào tạo Lạt ma chỉ dành cho nam giới từ 16 tuổi trở lên, do đó không hề có nữ tu sinh trong các tu viện ở Tây Tạng. Hiện tại muốn vào bên trong tu viện, bạn phải trình giấy thông hành đặc biệt cho đồn cảnh sát đặt ở đầu đường vào. Vào những buổi chiều, trong vòng từ 1 - 2 tiếng đồng hồ, dưới bóng râm của những tán cây có tuổi thọ hàng trăm năm tuổi, các tu sinh của tu viện Sera tụ tập lại (giống như giờ ra chơi) để trau dồi kiến thức trong không gian gọi là Vườn tranh luận với mặt sân toàn đá cuội. Người đứng đập hai bàn tay vào nhau nghe “chát” một cái, uốn hai cánh tay nhẹ nhàng như một vũ công, rồi hỏi người ngồi một câu gì đó. Người ngồi trả lời, người đứng hỏi tiếp với cùng điệu bộ ấy. Có thể xếp Vườn tranh luận của tu viện Sera vào loại sôi động nhất trong hệ đại học trên toàn thế giới. Qua lời giải thích của anh hướng dẫn viên du lịch người Tạng, sự tranh luận ấy được thể hiện bằng kiến thức phổ thông hoặc thâm sâu tùy theo nội dung câu hỏi và câu trả lời của các tu sinh, ví dụ: Người hỏi: Lá cây có màu gì? Người trả lời: Màu xanh. Hỏi tiếp: Tại sao lá cây có màu xanh? Trả lời: Do diệp lục tố tạo nên. Hỏi tiếp: Tại sao lá cây chuyển sang màu vàng? Trả lời: Đó là dấu hiệu của sự chuyển mùa. Hỏi tiếp: Tại sao lá rụng? Trả lời: Là do lá chết. Hỏi tiếp: Tại sao lá chết mà cây không chết? Trả lời... Cứ như thế, “giờ ra chơi” giúp các tu sinh “truy bài” nhau đi đến tận cùng của tri thức, một cách giúp họ lĩnh hội những tinh tú của nhân loại trong vũ trụ bao la trước khi tốt nghiệp thành Lạt ma. Cuối buổi tranh luận, tất cả tu sinh đội mũ vàng lên tập trung lại để các bậc đại sư giải thích những câu hỏi có phần bí hiểm hoặc câu trả lời chưa thỏa đáng, rồi đưa ra lời giải cuối cùng cho một câu hỏi chưa có lời giải hoặc trả lời chưa trọn vẹn, coi đó như chân lý để các tu sinh nạp thêm vào kho tàng kiến thức của mỗi người. Du khách tham quan tu viện Sera - Ảnh: Đoàn Xuân Hải Trước cuộc chính biến xảy ra vào năm 1959, tu viện này có hơn 5.000 tu sinh, ngày nay con số ấy chỉ còn khoảng 800 người. Cả Lạt ma và tu sinh theo học ở tu viện Sera được đài thọ kinh phí dạy và học (giống như tiền lương cho giảng viên và học bổng cho sinh viên) cho nên không phải muốn vào học là được, phải trải qua một quá trình “xét tuyển” hạn chế và khắt khe. Không phải tất cả tu sinh đều trở thành Lạt ma, những ai không hội đủ điều kiện trong quá trình theo học tại tu viện đều có thể hồi gia hoặc ra khỏi trường, nhập thế để trở thành một con người khác. Sau khi tốt nghiệp và hành đạo, Lạt ma sẽ chọn thời điểm để di hành lên chốn thâm sơn cùng cốc, chọn cho mình một cái hang để khổ luyện trong 3 năm, 3 tháng, 3 tuần, 3 ngày. Tại sao không chọn số 2 hoặc số 4, mà phải là số 3 âu cũng là điều bí hiểm. Nếu tính đủ 1 năm 365 ngày và tháng đủ 30 ngày thì quá trình “hành xác khổ luyện” ấy diễn ra đúng 1.209 ngày. Trong quá trình ngồi thiền nơi hang núi, các Lạt ma rèn luyện và đạt được một số khả năng siêu phàm. Một trong những điều siêu phàm như vậy, theo nghiên cứu của một số nhà Tây Tạng học, là khả năng giao tiếp giữa vị Lạt ma này với vị Lạt ma nọ ngồi cách nhau vài quả núi, tựa như thần giao cách cảm. Với thời tiết khắc nghiệt như Tây Tạng, ăn uống kham khổ và điều kiện sinh hoạt ở mức tối thiểu, chừng ấy ngày ngồi thiền một mình ở chốn hoang vu giá lạnh để đắc đạo xuống núi đủ thấy cơ thể ấy, tinh thần ấy, lý trí ấy bền vững thế nào. Người phàm như tôi, không cần đến 3 tuần, chỉ sống 3 ngày như vậy thôi chắc còn lại cái xác không hồn, nói cách khác sẽ trở thành “linh hồn tượng đá”… Đoàn Xuân Hải
  17. Xác chết của nhà sư đang ngồi thiền 500 tuổi không phân hủy Trên đỉnh một trong những ngọn núi cao ngất trời của khu tự trị Tây Tạng, có một ngôi nhà cầu siêu nhỏ nằm đơn độc trên rìa núi lộng gió. Tại đây có một thi hài vô cùng đặc biệt ngồi thi gan cùng tuế nguyệt. Một nhóm các nhà khoa học quốc tế đã cố gắng tìm ra những bí ẩn đằng sau các câu hỏi này. Chuyến đi của họ tới Tây Tạng đã khám ra được sức phi thường của việc ngồi thiền, các nghi lễ bí ẩn và ranh giới mỏng manh giữa khoa học và siêu nhiên. Giáo sư Victor Mair, nhà nhân chủng học và là một chuyên gia nổi tiếng về Phật giáo tại đại học Pennsylvania đã dẫn đầu nhóm nghiên cứu trong chuyến đi này. Ngôi nhà cầu siêu nhỏ nằm đơn độc trên rìa núi lộng gió. Các nhà khoa học xác định được đây là xác của một nhà sư Tây Tạng có tên Sangha Tenzin. Ông được đặt bên trong một ngôi mộ ở làng Ghuen tại thung lũng Spiti, thuộc bang Himachal Pradesh (Ấn Độ). Giáo sư Victor Mair cho hay xác ướp này ít nhất 500 tuổi: “Sangha Tenzin qua đời vào khoảng thời gian Colombus tìm ra châu Mỹ”. Nhà sư đã viên tịch trong khi đang ngồi thiền theo đúng tư thế mà người ta phát hiện ra ông hơn 500 năm sau. Người dân làng Ghuen đã biết về cái xác từ năm 1975. Năm đó, ngôi làng bị một trận động đất tàn phá và khiến cho một phần của ngôi mộ bị sụt suống. Ghuen nằm ở khu vực gần với biên giới Trung Quốc, đồng thời là một khu vực cấm dưới sự kiểm soát của cảnh sát biên giới Ấn - Tây Tạng. Do đó, hầu như không có người nào biết về cái xác này ngoại trừ dân làng Ghuen. Vào năm 1997, thi hài của nhà sư Tây Tạng được thế giới biết đến nhờ 2 lính tuần tra Ấn Độ được cử đi xem xét một đoạn đường bị sụt lún do động đất ở thung lũng Spiti. Nhà sư Sangha đã ngồi ở tư thế này hơn 500 năm qua. Dù đã hơn 500 tuổi nhưng xác của nhà sư Sangha ở trong tình trạng rất tốt, da không bị sứt mẻ và thậm chí vẫn còn tóc ở trên đầu. Không hề có bất cứ bằng chứng nào của các kỹ thuật ướp xác truyền thống. Giáo sư Mair nói rằng nguyên nhân một phần là do không khí cực kỳ khô và lạnh của khu vực và một phần có liên quan đến các trình tự ngồi thiền mà các nhà sư đạt đến trình độ luyện tập để xua trừ tà ma. “Vào những tháng cuối cùng của cuộc đời, nhà sư không hề ăn uống, chính điều đó đã làm giảm lượng mỡ trong cơ thể và khiến các bộ phận nội tạng của cơ thể co nhỏ lại mà đáng lẽ ra chúng phải bị phân hủy”. Cái xác không đổ sập và rệu rã nhờ có một chiếc dây đay quấn quanh cổ và vòng qua bắp đùi. Chiếc dây đay đóng một vai trò rất quan trọng. Qua nó, các nhà khoa học biết được đây là một phương pháp ngồi thiền bí truyền ít người biết. Chiếc dây làm cho nhà sư phải ngồi thẳng và tập trung vào việc ngồi thiền của mình. Nếu ông thả lỏng người, nút đay sẽ xiết chặt cổ, chặn đường vào của khí ô xi và khiến ông bị ngạt thở. Cho đến nay, trong các cuốn sách về đạo Phật ở Ấn độ có rất ít thông tin nói về về phương pháp ngồi thiền này. Chỉ có duy nhất một bản thảo trong thư viện của chùa Tabo đã từng nhắc đến nó. Từ những hiểu biết của mình về các nghi lễ và môn phái đạo Phật, giáo sư Mair cho biết phương pháp này rất hiếm: “Nó chỉ tồn tại trong một số môn phái ở Nhật và Tây Tạng, vô cùng bí truyền và xuất hiện trong phạm vi những vùng rừng núi hiểm trở. Phương pháp này pha trộn truyền thống Dzogchen của dòng Nyingma”. Thật tình cờ là ngôi làng Ghuen lại nằm cách chùa Tabo khoảng 50 km, đây là ngôi chùa Phật giáo nghìn năm tuổi cổ nhất còn sót lại trên dãy núi Xuyên Himalaya. Làng Ghuen cũng nằm giữa tuyến đường thông thương thường vận chuyển gia vị, len, muối, các loại đá quý và đường qua lại giữa Ấn Độ và Tây Tạng. Theo lời kể của những người dân địa phương thì khoảng 600 năm trước, ngôi làng Ghuen bị bọ cạp quấy nhiễu. Nhà sư Sangha Tenzin lập tức ngồi phục xuống để thiền theo tư thế đã định trước. Người ta nói rằng khi linh hồn của ông rời thể xác, có một chiếc cầu vồng bất ngờ xuất hiện trên bầu trời, còn bọ cạp biến mất một cách bí ẩn khỏi ngôi làng. Đàm Loan-Theo Tibetanaltar
  18. Potala linh thiêng Người Tây Tạng, dù ở bất kỳ nơi đâu trên lãnh thổ Tây Tạng, cũng muốn ít nhất một lần trong đời đến Lhasa để viếng cung điện Potala Di sản thế giới Người Tạng hành hương đến Potala vì nơi đây thờ Phật, đồng thời là nơi ngự trị và an nghỉ của các Đạt Lai Lạt Ma (Dalai Lama) đã viên tịch. Cung điện Potala bắt đầu được xây dựng vào năm 1645 dưới thời Đạt Lai Lạt Ma thứ 5, phải mất 50 năm mới hình thành quy mô như hiện nay gồm Hồng cung và Bạch cung, với tổng cộng 1.000 phòng. Công trình uy nghi này được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vào năm 1994. Hành hương lên cung điện Potala - Ảnh: Đoàn Xuân Hải Chúng tôi đến viếng Potala vào một buổi sáng trời đẹp, nắng dịu dàng điểm xuyết bởi những hạt bông tuyết rơi nhẹ nhàng. Lhasa là một thung lũng được núi bao quanh. Giữa thung lũng có một ngọn đồi và người Tây Tạng đã xây dựng Potala trên ngọn đồi ấy, ở độ cao 3.600m so với mực nước biển, là cung điện cao nhất thế giới hiện nay. Muốn lên đến tầng trên cùng của cung điện - nơi linh thiêng nhất, bạn phải trải qua hơn 300 bậc thang. Ước tính có hàng ngàn người đến viếng Potala mỗi ngày, đa số là người Tạng cùng một thiểu số du khách thập phương. Trong dòng người ấy, bạn dễ dàng nhận biết đâu là người Tạng, đâu là du khách do trang phục và nét mặt. Phần lớn người Tạng hành hương đến Lhasa đều cầm trên tay tràng hạt hoặc “Kinh luân cầu nguyện” (Prayer Wheel - một vật dụng tâm linh đặc trưng của người Tây Tạng), vừa đi vừa xoay (theo chiều kim đồng hồ) và thầm đọc kinh bằng tiếng Phạn. Chúng tôi hăm hở hòa theo dòng người hành hương chậm rãi bước bộ lên Potala. Sở dĩ phải bước chậm rãi vì ở vùng không khí loãng như Tây Tạng, leo hàng trăm bậc thang rất dễ bị hụt hơi. Quan sát thấy cứ lên hết một tầng, nhiều người phải dừng lại để… thở, kể cả du khách phương Tây, đoàn nhà báo chúng tôi cũng không phải ngoại lệ. Chỉ có người Tạng hình như không biết mệt khi di chuyển trên những bậc thang ấy. Cuộc sống gắn liền với núi đồi đã giúp cho họ có đôi chân dẻo dai nên đi lên Potala chỉ là “chuyện nhỏ”, chuyện lớn chính là đức tin. Nơi an nghỉ của các Đạt Lai Lạt Ma Lên cung điện Potala, người Tạng nào cũng tâm niệm phải đặt chân đến các tầng trên cùng vì nơi đó thờ Phật, nơi đặt kim tháp (mộ táng của các Đạt Lai Lạt Ma) và cũng là nơi ngự trị quyền lực chính trị và tôn giáo cao nhất của Tây Tạng trong quá khứ. Lúc ghé thăm phòng tiếp khách của Đạt Lai Lạt Ma, khoảng sân phía trước ghế ngồi của ngài có rất nhiều tấm vải lụa trắng của người hành hương gửi lại. Khi vừa đặt chân đến Lhasa, tôi cũng được anh chàng hướng dẫn viên du lịch người Tạng tặng cho một chiếc khăn như vậy, ý nghĩa của nó là để chúc phúc. Người Tạng hành hương đến Lhasa cầm trên tay “Kinh luân cầu nguyện” - Ảnh: Đoàn Xuân Hải Sự uy nghi và linh thiêng của cung điện Potala khiến người hành hương phải cúi đầu bái lạy, những vị khách lạ cũng không dám làm điều càn quấy. Potala sở hữu vô số hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa lẫn kinh tế, trong đó phải kể đến mộ táng của Đạt Lai Lạt Ma đời trước được làm bằng vàng. Khi đế quốc Anh xâm chiếm Ai Cập, họ đã rinh về mẫu quốc khá nhiều hiện vật thời cổ đại. Trong bảo tàng Anh quốc ở London hiện nay có hẳn một khu vực riêng để trưng bày về nền văn minh Ai Cập, trong đó có cả một ngôi mộ bằng đá hoa cương khá to của Pharaon. Vậy mà lúc xâm chiếm Tây Tạng qua ngả Ấn Độ, người Anh đã không đụng đến mộ táng bằng vàng của Đạt Lai Lạt Ma. Trải qua bao cuộc thiên tai địch họa, kể cả trong cơn bão táp “Cách mạng Văn hóa” (1966-1969) dưới thời Mao Trạch Đông, cung điện Potala vẫn bảo tồn gần như nguyên vẹn những gì hiện hữu bên trong lẫn cấu trúc bên ngoài. Các công trình kiến trúc đặt trên nền đá như Potala có độ bền vững khá cao. Khu Mahattan ở thành phố New York của Mỹ cũng được xây trên một vỉa đá cứng như vậy. Người ta đã xây dựng một khu hành chính khác để các quan chức và nhân viên làm công việc điều hành Lhasa, Potala vì thế đã không còn là trung tâm quyền lực về chính trị của Tây Tạng nữa. Cung điện ấy giờ đây biến thành viện bảo tàng. Thế nhưng đối với người Tây Tạng, hình như cung điện Potala (hay bảo tàng Potala) vẫn hiện hữu với tất cả sự linh thiêng, sùng bái trong tâm tưởng của họ. Bất kể thời tiết ra sao, những đoàn lữ khách hành hương từ khắp mọi miền vẫn đổ về Potala mỗi ngày, họ đến để minh chứng lòng thành với Phật và có lẽ với một ai đó vì nguyên nhân này khác đã không còn hiện hữu nơi đây. Đoàn Xuân Hải
  19. Tây Tạng ngày nay Vùng đất này được người đời gọi là “nóc nhà của thế giới” vì nó nằm quá cao so với mực nước biển. Người khác thì cho nó hai chữ “huyền bí” vì không hiểu hết được sự thâm sâu trong hành vi và suy nghĩ của người dân bản địa. Hồi cuối thế kỷ 19, các nhà thám hiểm phương Tây đã thực hiện những chuyến khám phá vùng đất huyền bí Tây Tạng bằng đường bộ khá gian nan. Ngày nay, du khách đến Tây Tạng - một khu tự trị thuộc Trung Quốc - dễ hơn nhiều vì hệ thống giao thông thuận lợi với xa lộ, tàu cao tốc và đường hàng không. Tuy nhiên, sau khi đã có visa vào Trung Quốc, muốn lên Tây Tạng, bạn buộc phải có giấy phép đặc biệt do chính quyền sở tại cấp. Không có giấy phép đặc biệt, bạn sẽ bị từ chối bước vào vùng tự trị này. Lhasa - Ảnh: Đ.X.H Theo lời mời của Công ty điện tử Samsung Vina, đoàn nhà báo chúng tôi đã làm một chuyến lữ hành đến Tây Tạng bằng đường hàng không. Tưởng di chuyển bằng máy bay (từ sân bay Tân Sơn Nhất) thì nhanh nhưng vất vả không kém vì phải transit ở Bắc Kinh, Thành Đô (thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên) rồi mới đến được Lhasa (thủ phủ của Tây Tạng). Khởi hành lúc 1 giờ sáng, ăn ngủ vật vờ trên máy bay mãi đến chiều tối mới đến được Lhasa. Từ Việt Nam đi qua Mỹ xem ra còn dễ chịu hơn. Lúc hạ cánh xuống phi trường quốc tế Lhasa, qua ô cửa sổ máy bay, tôi thấy khoảng chục chiếc chiến đấu cơ phản lực “trùm mền” nằm dọc theo phi đạo. Có vẻ như đây là phi trường bán quân sự thì phải. Mang tiếng là phi trường quốc tế nhưng thực ra chỉ có duy nhất đường bay từ thủ đô Kathmandu của nước Nepal láng giềng đến Lhasa mà thôi. Ngày trước, từ phi trường vào đến trung tâm thủ phủ Lhasa mất cả tiếng đồng hồ vì phải đi vòng qua núi. Nay thì sự di chuyển bằng ô tô nhanh hơn nửa tiếng vì người ta đã xây đường hầm băng qua núi. Kể từ khi thực hiện chính sách “hướng về phía tây” của chính quyền trung ương, hệ thống hạ tầng cơ sở của Tây Tạng được cải thiện đáng kể. Lhasa là một thung lũng nằm ở độ cao 3.650m, tứ bề được các dãy núi cao hơn 5.000m bao bọc. Không chỉ Lhasa, hầu hết Tây Tạng đều có địa hình núi non trùng điệp, tuyết phủ trắng xóa. Ngay cả đỉnh Fansipan của Việt Nam với độ cao 3.143m, được mệnh danh là “nóc nhà của Đông Dương”, vẫn thấp hơn mặt bằng của Tây Tạng. Với độ cao bình quân hơn 4.000m, có lẽ cả Tây Tạng nằm lọt thỏm giữa những tầng mây. Nơi đất - trời giao thoa - Ảnh: Đoàn Xuân Hải Lhasa rộng khoảng 550 km2, lớn hơn thành phố Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk) một chút, dân số khoảng nửa triệu người chiếm đa số là người Tạng, còn lại là người Hán và Hồi. Tây Tạng nói chung và Lhasa nói riêng đều có thời tiết khắc nghiệt vì không khí loãng. Đầu tháng 11, ngay đêm đầu tiên lưu trú, chúng tôi đã chứng kiến bông tuyết rơi là đà trên phố. Thế nhưng đoàn nhà báo chẳng có ai dám tản bộ dưới bầu trời lãng mạn ấy vì lạnh thấu xương. Tôi đã từng trải qua cái lạnh 0 độ ở châu Âu và Mỹ, thậm chí -5 độ ở Bắc Kinh, nhưng cái lạnh 0 độ ở Tây Tạng hoàn toàn khác, nó có thể quật ngã bạn bất cứ lúc nào. Trong 3 ngày ở đây, mặc dù được trang bị bình oxy để thở, đoàn chúng tôi đã có người ói mửa, chảy máu mũi, môi khô nứt, mặt mày tái mét, ăn không được, ngủ chập chờn nửa tỉnh nửa mê, thậm chí có người chỉ muốn vào bệnh viện vì nghĩ mình… sắp chết đến nơi! Ở Lhasa có một công trình kiến trúc nổi tiếng khắp thế giới: cung điện Potala. Người ta nói rằng nếu chưa viếng Potala thì coi như bạn chưa đến Tây Tạng, tựa như “bất đáo Trường Thành phi hảo hán” nói về chuyện du khách đến Bắc Kinh mà chưa leo lên Vạn Lý Trường Thành thì chưa biết gì về Trung Quốc vậy. Đoàn Xuân Hải thanhnien.online
  20. Trường huyện và khí mạch Thành Hồ Chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm có lưu bút tại động Hồ Công, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa bốn chữ Thanh Kỳ Khả Ái (Xứ Thanh kỳ lạ đáng yêu). Lại hào phóng có riêng cho Vĩnh Lộc câu Đất Phúc xưa nay nhiều thắng tích cần chi tô điểm Võng Xuyên đồ (Võng Xuyên là đất Ba Thục có nhiều danh lam thắng cảnh. Đất Phúc là huyện Vĩnh Phúc thời Tây Sơn kị húy đổi thành Vĩnh Lộc bây giờ). Thắng tích Vĩnh Lộc không thể không kể đến Thành Hồ (chữ của nhà văn Nguyễn Tuân). Thành Nhà Hồ vừa được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Di sản văn hóa thế giới tôn vinh những giá trị độc đáo lạ lùng của quần thể kiến trúc Thành Hồ. Độc đáo từ tác giả, ông vua Hồ Quý Ly chỉ với 7 năm trong nhiệm kỳ mà hậu thế bây giờ vẫn chưa xong cái việc giải mã. Ba tháng xây xong thành. Cung cách, phương pháp cùng chất liệu xây thành? Đàn tế trời ở núi Đún (Đốn Sơn) vừa được phát lộ với cung cách xây cất bày biện tinh vi khiến giới sử học kinh sợ cũng chỉ được xây trong thời gian rất ngắn? Cốt lõi sự thật sau những huyền thoại nhuốm sắc màu bi kịch giữa danh tướng Trần Khát Chân và ông vua Hồ Quý Ly cùng cuộc thảm sát trên núi Đún? Rồi những cải cách đổi mới của ông vua Hồ Quý Ly thời ấy mà bây giờ hậu thế vẫn ngơ ngác lẫn bấn bíu lý giải? v.v... Đã đành là cần lắm những tiếp nối sự lý giải này khác của hậu thế, nhưng tôi mạo muội nghĩ thêm, những việc cần lý giải ấy như một thứ thông điệp, một dạng khí mạch vô hình lẫn huyền diệu dường như đã vận từ khi nào không rõ vào các thế hệ thầy trò trường huyện Vĩnh Lộc? Trường huyện Vĩnh Lộc nằm trên trục thần đạo chiếu thẳng vào Cửa Nam Thành Hồ gần 2km. Trường cũng ở khoảng giữa Thành Hồ với núi Đún (Đốn Sơn), nơi đặt địa điểm Đàn tế trời của Hồ Quý Ly. Xứ mình có ngàn ngàn những trường THPT quen gọi là trường huyện. Nhưng vẫn có cách nghĩ khang khác với trường cấp 3 hay trường THPT huyện Vĩnh Lộc này... Năm ấy tôi may mắn được về dự hội trường. Nhiều ánh mắt dồn tụ đến một học sinh cũ của trường, ông Phạm Quang Nghị. Một trưa đầu năm 1967, từ Trường cấp 3 Vĩnh Lộc, cậu học sinh Phạm Quang Nghị sau giờ tan học hối hả guồng những nhịp chân về nhà. Quê ở Định Tân, Yên Định, nhưng cậu đã theo học cấp 3 Vĩnh Lộc. Với lại đi tắt từ trường huyện Vĩnh Lộc về nhà cũng gần, chỉ phải qua con đò Hoành. Tới bến cũng đã ngả chiều, con đò chở đầy khách đã qua sông. Anh Nghị thầm tiếc phải chi mình nhảo chân thêm tí đã kịp. Bất đồ ngay khi ấy, những tiếng rít xé tai của tốp máy bay phản lực Mỹ xé toang không khí tĩnh mịch của một vùng quê ngày áp Tết. Những tưởng chúng chỉ ào qua để nhắm vào mục tiêu cố hữu mấy năm nay là cầu Đò Lèn. Nhưng bầy máy bay năm chiếc đã vòng lại Đò Hoành. Những cú bổ nhào chết chóc khi xiên xẹo khi thẳng đứng. Bom phá, bom bi, rốc két cứ vùn vụt chém xuống con đò khi ấy đương sắp cập bến Hoành của Định Tân. Và cả những vệt tre pheo làng mạc của mấy xóm ven đê ngập chìm trong lửa. Trận thảm sát dã man ấy khiến làng Hoành, Định Tân 44 năm nay cứ cữ áp Tết lại giỗ tập thể cho 42 người. 69 người bị thương đến giờ nhiều người còn đeo tật. Anh học trò trường huyện Vĩnh Lộc Phạm Quang Nghị thoát chết nhưng hai người em ruột của anh đã chết trong trận bom ấy. ... Máu ở chiến trường nhưng bom đạn Mỹ cũng ùng oàng thứ ném thứ giội hữu hình lẫn vô hình về hậu phương Vĩnh Lộc. Rưng rưng giây phút tưởng nhớ những thế hệ học trò trường huyện bỏ mình vì nước, nhiều cặp mắt đã nhòa lệ trước một cái thúng cũ mèm... Cái thúng, nếu đựng thóc phải ngót một tạ. Nhưng trong thúng không có thóc mà lèo tèo cuốn vở cuốn sách đã ố vàng. Hoàng Văn Dương (niên học 1967-1970) ở Tân Phúc, Vĩnh Phúc. Anh học lớp 10A. Đó là một thanh niên cao lớn, trắng trẻo, thông minh, học giỏi nhất lớp. Ngày anh nhập ngũ, bạn trong lớp đến chia tay, bố anh bê một chiếc thúng to để trước mặt mọi người. Trong lòng thúng một chồng sách. Bố Dương cố gượng cười: “Để lúc em nó về có sách mà học tiếp”. Nhưng Hoàng Văn Dương đã hi sinh ở chiến trường B sau đó 1 năm. Một trăm linh bảy liệt sĩ, các thế hệ học trò Trường cấp 3 Vĩnh Lộc đã thay nhau ngã xuống ở các chiến trường. Tôi không rõ cái thúng ấy gia đình anh Dương liệu giờ có còn? Bảo tàng nhà trường (nếu có) phải giữ bằng được cái thúng ấy! ... Để ý thấy Ủy viên Bộ chính trị Phạm Quang Nghị khi ngồi với các thầy cô và lứa bạn đồng môn cùng với trật môn sinh sau này của trường chả thấy khi nào ông chia sẻ những thông tin nhiều năm nay ông chững chạc ở cương vị một Tổng đốc Hà Thành. Lúc mới tới, ông sà ngay đến bên đám môn sinh người khóa trước khóa sau của trường huyện. Trong số đó, tôi nhận ra GS. TS Trần Quốc Dũng (Xây dựng), PGS. TS Phạm Văn Hảo (Ngôn ngữ học), PGS. TS Lê Văn Hiếu (Ngành Hóa dầu), PGS. TS Trịnh Thị Ngọc (Y tế), PGS. TS Nguyễn Văn Toại (Y tế), TS. Phạm Quang Nghị (Triết học), PGS.TS Nguyễn Hữu Sức (Ngành Hóa), TS. Nguyễn Tiến Dũng, Phó TGĐ Tập đoàn Dầu khí quốc gia. TS Nguyễn Trọng Tín (Dầu khí), TS. Lê Đình Ái (Địa chất), TS Vũ Đình Phú (Nông nghiệp), TS. Phạm Thanh Bình (Lâm nghiệp), PGS. TS Nguyễn Văn Viết (Công nghiệp), NSƯT Hương Thơm (Tuồng), NSƯT Quốc Anh (Chèo) v.v... Các thầy cô trường huyện Vĩnh Lộc Chất giọng rủ rỉ của ông đương bộc bạch với TS Nguyễn Đình Thắng (thời điểm ấy Thắng đương là Phó Chủ tịch Hội Phần mềm Việt Nam) và mấy doanh nhân rằng, trong phạm vi của mình cố gắng tạo mọi điều kiện hỗ trợ để học trò Vĩnh Lộc nói chung và trường huyện nói riêng đang gặp nhiều thiếu thốn có điều kiện để tiếp cận, để làm quen với các loại hình tin học hiện đại. Cũng cần nói qua về ông “phó mềm” nước Việt này một chút. Thắng là cháu đích tôn của cụ Nguyễn Đan Quế, nghị sĩ dân biểu Trung Kỳ nổi tiếng liêm chính, tiết tháo. Thời điểm cụ làm báo Tiếng Dân cho cụ Huỳnh Thúc Kháng, Viện trưởng dân biểu Trung Kỳ, cụ Quế kéo được cụ Huỳnh và cụ Phan Bội Châu (khi đó cụ Phan đương làm cố vấn cho báo Tiếng Dân, tên tờ báo cũng do cụ Phan nghĩ ra) về làng Sóc Sơn của cụ Quế chơi. Tiếng là chơi nhưng làng Sóc Sơn, Biện Thượng quê của chúa Trịnh Kiểm (năm 1946 đổi thành xã Vĩnh Hùng) đã trở thành một địa điểm hội họp bí mật của những người đồng chí hướng. Mật thám Pháp lẽo đẽo mò về tận Sóc Sơn nhưng không làm gì được các cụ! Sau này cụ Quế được cử làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh Thanh Hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1947 cho ông Trần Đăng Ninh đón cụ Quế ra Việt Bắc. Nhưng thời điểm ấy cụ Quế không may bị bạo bệnh và mất ở làng Sóc Sơn. Một trong những người con của Cụ Nguyễn Đan Quế là ông giáo Biển. Thầy Biển dạy lũ chúng tôi thuở trường làng. Thầy Biển là thân phụ của TS Nguyễn Đình Thắng. Thắng có chị gái là Nguyễn Thị Lan cùng lứa với tôi ở trường huyện Vĩnh Lộc. Lan học giỏi lắm. Được chọn đi học ở Liên Xô và sau này là TS về môi trường. Có chuyện vui. Tháp tùng chuyến thăm hữu nghị chính thức CH Ấn Độ cuối năm 2006 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trên chuyên cơ có 3 người cùng làng. NSND Lê Tiến Thọ, Thứ trưởng Bộ VHTT. Người thứ hai là Nguyễn Đình Thắng, Phó CT Hội Phần mềm Việt Nam. (Người thứ 3 là tác giả bài báo này đều ở Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc). Tôi không rõ có phải vì những lời rủ rỉ bộc trực ngày ấy của ông Bí thư Thành ủy không mà Nguyễn Đình Thắng đã làm được nhiều việc thiện? Lên hai chức ( Phó chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần nghe nhìn Toàn cầu AVG kiêm Phó TGĐ Ngân hàng Liên Việt), Thắng cũng làm được hai thứ cho quê nhà Vĩnh Lộc còn đang nghèo khó. Một là thành lập Quỹ Khuyến học mang tên Nguyễn Đan Quế trợ cấp học bổng cho hàng trăm học sinh nghèo vượt khó. Hai là xây trường THCS trị giá 8 tỷ đồng cho xã nghèo Vĩnh Hùng. Nhà văn Nguyễn Khải, một năm đã xa trong một đận đáo Thành Hồ ngồi bấm bấm đốt ngón tay cười, một cái huyện trung du nghèo như Vĩnh Lộc lại là xứ cố đô đế đô lý ra phải nảy nòi ra những nhà cải cách này khác hoặc bét ra cũng là những nhà kinh tế tài danh hằng tâm hằng sản nhưng lại trồi lên những anh chữ nghĩa thế này. Ông hướng cái cười ấy về phía cánh nhà văn nhà báo đi theo là học sinh cũ của trường huyện Vĩnh Lộc - Nguyễn Bảo này, Phạm Hoa này... (sau này có thêm Hoàng Đức Nhuận rồi Lê Quang Sinh và mấy anh nữa). Tôi biết nhà văn Phạm Hoa (tác giả Đùa của tạo hóa nổi danh) nhà ông bên cạnh Thành Hồ đang ấp ủ lẫn triển khai một cách khổ sở cái thi tứ cho một cuốn văn xuôi. Đại để ông đang tìm cái khí mạch cùng sự liên hệ từ vị trí khai quật Đàn tế trời của Hồ Quý Ly cạnh Thành Hồ cùng những hiện vật long ly quy phượng được bốc lên từ hố thám sát do các nhà khoa học của Trường Chiêu Hòa Nhật Bản thực hiện trong nền cũ Thành Hồ đến cái thúng đựng sách của liệt sĩ Dương thời chống Mỹ và gì nữa, cái va ly đựng USD cùng ngân phiếu quốc tế của một doanh nhân người Vĩnh Lộc thành đạt về thăm trường huyện cũ... Xin chúc cho nhà văn làm liền cái khí mạch thăm thẳm ấy, trong đó có việc âm phò dương trợ của cụ Phạm Đốc, hiện mộ vẫn để bên Thành Hồ. (Nhà văn Phạm Hoa là cháu viễn tổ cụ Phạm Đốc, vị đại tướng lừng danh từng tả phù hữu bật cho nghiệp nhà Lê thế kỷ XVI). Cũng xin nhà văn Nguyễn Khải yên lòng. Âm thanh những bước hài nhịp guốc của những Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên... từng lê gót ở Thành Hồ trong kỳ thi đầu tiên Thái học sinh của triều Hồ năm 1401 ấy ít nhiều đã quện hòa với nhịp bước của 17.447 học sinh cấp 3 Vĩnh Lộc các thế hệ từ thuở thành lập trường năm 1961. Khí mạch ấy, sự mách bảo thôi thúc huyền diệu ấy thế nào mà chả nảy nòi, chả phát lộ những danh đấng này khác? Và còn bao thế hệ sau này của trường huyện sẽ làm cái việc dưỡng nhân loại chi công kế tổ tông chi nghiệp nữa chứ? Với lại nửa thế kỷ của trường huyện Vĩnh Lộc vừa qua cũng chỉ là thứ chớp my nhẹ của lịch sử! Chót thu năm Mão Xuân Ba congannhandan.online
  21. Phật Độ Ông Gánh Phân Khi Phật còn tại thế, ở thành Vương Xá có ông Ni Đề thuộc giai cấp hà tiện chuyên làm nghề gánh phân. Mỗi buổi sáng, ông gánh phân trong các nhà trong phố rồi đem ra ngoại ô mà đổ. Thân ông ốm gầy, quần áo rách nát. Phật biết thời kỳ ông Ni Đề được độ. Hôm ấy, đức Phật cùng ngài A Nan đi du hành về phía ông Ni Đề. Ni Đề thấy Phật liền cố tránh né. Phật đi chận đầu và giáp mặt ông. Ông hổ thẹn, quay mặt vào tường và bạch Phật, “Bạch đức Thế Tôn, thân con nhơ uế, xin đức Thế Tôn đừng lại gần, mất sự thanh tịnh.” Đức Phật đến gần bên nói, “Này con, Ni Đề, con có muốn xuất gia học đạo không?” Ni Đề thưa, “Con muốn lắm, nhưng thân con ô uế, nếu xuất gia tu, sẽ làm mất thanh tịnh cho giáo đoàn.” Phật dạy, “Giáo pháp của ta như nước, có thể rửa tất cả vật sạch, vật dơ, không có phân biệt. Giáo pháp của ta như lửa, có thể đốt tất cả vật thơm, vật hôi, không phân biệt. Con muốn xuất gia, ta sẽ độ cho.” Rồi Phật sai A Nan dắt ông ra sông tắm sạch. Phật gọi “Thiện lai tỳ kheo,” râu tóc ông liền rụng, áo pháp mặc tại mình, đủ tướng tỳ kheo. Nghe Phật thuyết pháp, ông tinh tấn tu hành, chứng quả A La Hán. Việc Phật độ tỳ kheo Ni Đề thuộc giai cấp hạ tiện, các nhà giàu có bàn tán với nhau rằng tại sao Phật độ ông Ni Đề làm trở ngại sự cúng dường, lễ bái của họ. Nếu khi họ trai tăng mà có tỳ kheo Ni Đề đến, họ sẽ mời ra. Nếu Ni Đề ngồi chỗ nào, họ sẽ lau quét chỗ đó. Vua Ba Tư Nặc hay tin ấy, đến hỏi Phật. Khi vua đến trước cổng tịnh xá, thấy một vị tỳ kheo tướng hảo quang minh, oai nghi đĩnh đạc, đang ngồi vá y trên tảng đá, có đông chư thiên đứng hầu hai bên. Vua thưa với thầy tỳ kheo, “Nhờ thầy vào bạch Phật, có vua Ba Tư Nặc đến ra mắt đức Thế Tôn.” Thầy tỳ kheo đi xuyên qua tảng đá, vào bạch Phật rồi trở ra lại đi qua tảng đá như đi qua khoảng không. Vua Ba Tư Nặc vào đảnh lễ Phật và bạch Phật, “Vị tỳ kheo ngồi trên tảng đá vá y là ai mà có thần thông tự tại, có đông chư thiên theo hầu?” Đức Phật mỉm cười nói, “Chính là người mà bệ hạ muốn đến hỏi ta, đó là tỳ kheo Ni Đề, đã chứng quả A La Hán.” Phật dạy, “Ví như trong hồ có hoa sen tươi đẹp thơm ngát, bệ hạ có vì bùn nhơ mà bỏ hoa sen tươi đẹp đó không?” Vua Ba Tư Nặc thưa, “Con sẽ nhận lấy hoa sen và xem bùn nhơ như chất liệu để sanh hoa Sen thơm ngát.” Vua sám hối quan niệm phân chia giai cấp và xin tứ sự cúng dường tỳ kheo Ni Đề. Đây là câu chuyện nói lên đạo Phật là đạo bình đẳng không phân biệt giai cấp. Phật thường dạy: Không có giai cấp khi mọi người có nước mắt cùng mặn và máu cùng đỏ.
  22. Nếu ...1 ngày Nếu bạn thấy đêm nay khó ngủ - Cứ nghĩ đến những kẻ không nhà chẳng nệm ấm chăn êm. *Nếu bạn gặp một ngày tồi tệ nơi làm việc - Hãy nghĩ đến những người đã mấy tháng nay không tìm được việc làm. *Nếu bạn chán nản vì mối quan hệ xấu đi - Hãy nghĩ tới những kẻ không bao giờ biết hương vị của thương yêu và được người yêu thương lại. *Nếu bạn buồn phiền vì thêm một cuối tuần vô vị trôi qua - Hãy nghĩ tới những người phụ nữ quẫn bách, quần quật cả ngày, suốt tuần không nghĩ, chỉ mong kiếm được chút tiền còm nuôi mấy miệng ăn *Nếu bạn hư xe dọc đường, phải cuốc bộ vài dặm, mới tìm ra được người giúp đở - Hãy nghĩ tới những ai liệt cả đôi chân, luôn khao khát được bước đi như bạn. *Nếu bạn cảm thây đời mình bị mất mát và băn khoăn về ý nghĩa kiếp người - Xin bạn hãy biết ơn cuộc sống vì có nhiều người đã không được sống hết tuổi trẻ của mình để có những trải nghiệm như bạn. *Nếu bạn cảm thấy mình là nạn nhân của những ai hay cay nghiệt, dốt nát, nhỏ nhen, nghi kỵ - Hãy nhớ rằng việc đời có khi còn tệ hại hơn thế rất nhiều. *Nếu bạn quyết định chuyển những lời này đến một người bạn yêu mến, có thể bạn giúp cho ai đó một ngày thanh thản nhẹ nhàng.
  23. "Cho đi là hạnh phúc hơn nhận về". Một hôm, một sinh viên trẻ có dịp đi dạo với giáo sư của mình. Vị giáo sư này vẫn thường được các sinh viên gọi thân mật bằng tên "người bạn của sinh viên" vì sự thân thiện và tốt bụng của ông đối với học sinh. Trên đường đi, hai người bắt gặp một đôi giày cũ nằm giữa đường. Họ cho rằng đó là đôi giày của một nông dân nghèo làm việc ở một cánh đồng gần bên, có lẽ ông ta đang chuẩn bị kết thúc ngày làm việc của mình. Anh sinh viên quay sang nói với vị giáo sư: "Chúng ta hãy thử trêu chọc người nông dân xem sao. Em sẽ giấu giày của ông ta rồi thầy và em cùng trốn vào sau những bụi cây kia để xem thái độ ông ta ra sao khi không tìm thấy đôi giày." Vị giáo sư ngăn lại: "Này, anh bạn trẻ, chúng ta đừng bao giờ đem những người nghèo ra để trêu chọc mua vui cho bản thân. Nhưng em là một sinh viên khá giả, em có thể tìm cho mình một niềm vui lớn hơn nhiều nhờ vào người nông dân này đấy. Em hãv đặt một đồng tiền vào mỗi chiếc giày của ông ta và chờ xem phản ứng ông ta ra sao." Người sinh viên làm như lời vị giáo sư chỉ dẫn, sau đó cả hai cùng trốn vào sau bụi cây gần đó. Chẳng mấy chốc người nông dân đã xong việc và băng qua cánh đồng đến nơi đặt giày và áo khoác của mình. Người nông dân vừa mặc áo khoác vừa xỏ chân vào một chiếc giày thì cảm thấy có vật gì cứng cứng bên trong, ông ta cúi xuống xem đó là vật gì và tìm thấy một đồng tiền. Sự kinh ngạc bàng hoàng hiện rõ trên gương mặt ông. Ông ta chăm chú nhìn đồng tiền, lật hai mặt đồng tiền qua lại và ngắm nhìn thật kỹ. Rồi ông nhìn khắp xung quanh nhưng chẳng thấy ai. Lúc bấy giờ ông bỏ đồng tiền vào túi, và tiếp tục xỏ chân vào chiếc giày còn lại. Sự ngạc nhiên của ông dường như được nhân lên gấp bội, khi ông tìm thấy đồng tiền thứ hai bên trong chiếc giày. Với cảm xúc tràn ngập trong lòng, người nông dân quì xuống, ngước mặt lên trời và đọc to lời cảm tạ chân thành của mình. Ông bày tỏ sự cảm tạ đối với bàn tay vô hình nhưng hào phóng đã đem lại một mòn quà đúng lúc cứu giúp gia đình ông khỏi cảnh túng quẫn người vợ bệnh tật không ai chăm sóc và đàn con đang thiếu ăn. Anh sinh viên lặng người đi vì xúc động, nước mắt giàn giụa. Vị giáo sư lên tiếng: "Bây giờ em có cảm thấy vui hơn lúc trước nếu như em đem ông ta ra làm trò đùa không?" Người thanh niên trả lời: "Giáo sư đã dạy cho em một bài học mà em sẽ không bao giờ quên. Đến bây giờ em mới hiểu được ý nghĩa thật sự của câu nói mà trước đây em không hiểu: "Cho đi là hạnh phúc hơn nhận về".
      • 3
      • Like
  24. Đã nhận của Chipchip 500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) ủng hộ Suất ăn từ thiện. Quỹ hiện có : 1,500,000 đ + 500,000 đ = 2,000,000 đ (hai triệu đồng)
  25. Mang lại ý nghĩa cho sự sống và cái chết Lời giới thiệu: Bài viết được trích từ một quyển sách của Đức Đạt-Lai Lạt Ma mang tựa đề "Tâm Thức Giác Ngộ, Những lời khuyên Trí tuệ cho con người ngày nay" (L'Esprit en Eveil, Conseils de Sagesse aux hommes d'aujourd'hui, nxb Presses du Chatelet, 2009. Phiên bản tiếng Anh: In My Own Words, nxb Hay House, 2008). Phần chuyển ngữ gồm toàn bộ một chương ngắn (chương 9, tr. 131-140) nêu lên những suy tư về sự sống và cái chết và những lởi khuyên của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma giúp chúng ta phải sống và ra đi như thế nào. Tất cả chúng ta đều ít nhiều ray rứt về vấn đề : làm thế nào để tìm thấy sự thanh thản trong lúc sống cũng như khi cái chết xảy đến? Chết là một hình thức của khổ đau, một thứ kinh nghiệm mà tất cả chúng ta đều tìm cách tránh né, thế nhưng sớm hay muộn thì cái chết cũng sẽ đến với mỗi người trong chúng ta. Dầu sao thì đối diện với sự kiện đáng tiếc đó chúng ta vẫn có thể chọn cho mình một cách đối xử hầu giúp chúng ta đương đầu với sự sợ hãi. Cách mà chúng ta đang sống sẽ là một trong các nhân tố chính yếu có thể mang lại cho chúng ta sự thanh thản và điềm tĩnh trong giây phút lâm chung. Nếu biết cố gắng tạo cho cuộc sống của mình một ý nghĩa nào đó, thì đến giây phút hấp hối ta sẽ cảm thấy ít hối tiếc hơn. Xúc cảm phát sinh trong lúc hấp hối tùy thuộc vào cách sống của chính mình khi còn khoẻ mạnh. Sự tu tập hướng vào những khoảng thời gian vô tận xuyên qua vô lượng kiếp sẽ mở ra cho chúng ta những tầm nhìn xa hơn… Khi chúng ta chấp nhận sự hiện hữu của mình gồm có nhiều kiếp sống nối tiếp nhau, thì cái chết đối với chúng ta cũng chẳng khác gì như thay quần áo thế thôi. Khi quần áo cũ hư nát thì lại thay quần áo mới. Cách suy nghĩ ấy sẽ tác động và ảnh hưởng đến phản ứng của ta khi phải đối đầu với cái chết, nó giúp ta nhận thấy cái chết chỉ là một thành phần bất khả phân của sự sống. Các cấp bậc thô thiển nhất của tâm thức lệ thuộc vào não bộ, chúng tiếp tục vận hành cho đến khi nào não bộ vẫn còn duy trì được sự hoạt động. Khi não bộ ngưng hoạt động thì phần tâm thức thuộc các cấp bậc thô thiển trên đây cũng sẽ bị hủy diệt theo. Não bộ tạo ra các điều kiện cần thiết giúp tâm thức phát lộ những cảm nhận thô thiển. Đối với tâm thức thì các nguyên nhân chính yếu tạo ra nó phát sinh từ dòng tiếp nối liên tục của tâm thức tinh tế, và dòng tiếp nối đó không có khởi thủy. Người thân chung quanh nên nhắc nhở người hấp hối cố gắng phát lộ một thể dạng tâm thức tích cực và duy trì thể dạng đó cho đến khi nào các cấp bậc tri thức thô thiển tan biến hết (tri thức thô thiển gồm các giác cảm, tư duy kể cả sự nhận thức thông thường). Khi đã bắt đầu chuyển sang thể dạng tri thức tinh tế, thì khi ấy người hấp hối chỉ còn biết trông cậy vào tác động phát sinh từ các xu hướng tồn lưu từ trước (tức là nghiệp do mình tạo ra). Khi đã bước vào giai đoạn này thì thật vô cùng khó khăn cho người chung quanh nhắc nhở người hấp hối về các thể dạng đạo hạnh cần phải giữ. Vì thế thật hết sức quan trọng cần phải tập luyện thế nào để tạo ra tri thức trong sáng của cái chết (còn gọi là ánh sáng trong suốt của cái chết) ngay từ lúc còn trẻ để quen dần với nó, hầu sau này giúp ta đương đầu với sự tan biến của tâm thức. Điều đó có thể thực hiện được nhờ vào cách lập đi lập lại các thể dạng của quá trình cái chết nhờ vào phép quán tưởng (tức phép thiền định về quá trình diễn tiến của cái chết). Tóm lại thay vì chỉ biết sợ hãi thì ta nên hăng say suy tư về chuyện ấy. Sau nhiều năm luyện tập kiên trì nhất định ta sẽ cảm thấy mình có đầy đủ khả năng để đối đầu một cách hiệu quả với sự thách đố của cái chết (có nghĩa là khi đã nắm vững được quá trình của cái chết thì ta không còn sợ hãi gì nữa khi cái chết xảy đến thật sự, và hơn thế nữa ta còn có thể hướng quá trình ấy vào sự tu tập để tự giải thoát và không còn phải tái sinh). Vượt lên trên sự sợ hãi Khi đã nắm vững được các thể dạng thâm sâu và tinh tế của tâm thức nhờ vào thiền định (nhận biết và theo dõi được các thể dạng tâm thức thuộc quá trình của cái chết), thì nhất định ta sẽ chủ động được một cách hữu hiệu cái chết của chính mình. Tất nhiên điều ấy chỉ có thể thực hiện được sau khi đã đạt được một cấp bậc tu tập nào đó. Trong tan-tra thừa có nhiều phép tu tập rất cao, chẳng hạn như các phép hoán chuyển tri thức (còn gọi là chuyển di thần thức), tuy nhiên tôi vẫn tin rằng phép luyện tập hữu hiệu nhất trong lúc hấp hối là cách phát huy một tâm thức tỉnh giác. Đấy là phép luyện tập mạnh hơn hết so với tất cả các phép luyện tập khác. Dù rằng cách tu tập hằng ngày của tôi là thiền định từ sáu đến bảy lần về quá trình của cái chết và kèm theo cả các phép luyện tập tan-tra khác, thế nhưng tôi vẫn tin rằng đến khi hấp hối thì thể dạng tâm thức tỉnh giác là thể dạng dễ nhớ hơn hết cho tôi. Đấy cũng là phép tập luyện tâm linh mà tôi quan tâm nhất. Cũng xin ghi nhận là thiền định về cái chết cũng là một cách chuẩn bị cho mình trước khi cái chết thật sự xảy đến, sự chuẩn bị đó sẽ giúp cho ta bớt sợ hãi hơn. Dù chưa thật sự chuẩn bị sẳn sàng để đối đầu với cái chết cụ thể của tôi, thế nhưng đôi khi tôi vẫn tự hỏi rồi đây tôi phải đối đầu với nó như thế nào khi thật sự nó xảy đến. Thật vậy nếu cuộc sống của tôi còn kéo dài thêm thì nhất định tôi sẽ chứng tỏ cho mọi người thấy là tôi sẽ còn thực hiện được nhiều việc. Thế nhưng ý chí muốn được tiếp tục sống đó của tôi cũng phải tương đương với sự hăng say tập luyện để đối đầu với cái chết. Suy tư thường xuyên về cái chết là một yếu tố không thể thiếu sót trong việc tu tập Phật giáo. Sự suy tư đó mang nhiều sắc thái khác nhau. Trước hết là phải thường xuyên thiền định về cái chết, đấy là cách giúp ta không quá bám víu vào sự sống và những quyến rũ của nó. Phương pháp tu tập thứ hai là nhẩm đi nhẩm lại quá trình của cái chết để quen dần với nó hầu giúp ta nhớ lại dễ dàng hơn các giai đoạn mà tâm thức sẽ phải gặp trong lúc hấp hối. Sau khi các cấp bậc thô thiển nhất tan biến, thì tâm thức tinh tế sẽ hiển lộ một cách rõ rệt hơn. Thật hết sức quan trọng phải thiền định về quá trình của cái chết hầu giúp ta quán nhận được thể dạng tâm thức tinh tế một cách minh bạch. Cái chết là một bằng chứng cho thấy thân xác chỉ hàm chứa một tiềm năng giới hạn. Khi nó không còn đủ sức để duy trì sự sống nữa thì ta sẽ chết, và sau đó ta mang một thân xác mới. Cá thể hay cái tôi căn bản, biểu trưng cho một sự kết hợp giữa thân xác và tâm thức sẽ tiếp tục tồn tại sau khi chết (xin chú ý đây là một cách giảng dễ hiểu bằng cách nêu lên "cá thể" hay "cái tôi" trong lãnh vực quy ước, biểu trưng cho cấu hợp thân-xác-tâm-thức, bởi vì khái niệm về "vô ngã tuyệt đối" khá khó để nắm bắt cho tất cả mọi người), và mặc dù phần thân xác mang tính cách cá thể có tan biến hết thì thân xác tinh tế vẫn tồn tại. Nhìn trên khía cạnh đó thì một cá thể không có khởi thủy cũng không có chấm dứt, nó hiện hữu cho đến khi nào đạt được Phật tính. Dầu sao đi nữa thì chúng ta cũng cứ vẫn sợ chết. Ngoại trừ trường hợp khi còn sống ta từng thực hiện được nhiều điều tích cực bảo đảm cho tương lai tốt đẹp của mình trong kiếp sống sau, tức có nghĩa là sẽ không tái sinh trong một thể dạng hiện hữu bất thuận lợi. Trong cuộc sống này dù cho ta chỉ là một người tị nạn bị cắt đứt mọi liên hệ với quê hương mình thì ta vẫn có thể tiếp tục sống còn trong lòng tập thể nhân loại, và vẫn có thể trông cậy vào sự giúp đỡ cũng như sự tương trợ giữa con người với nhau. Thế nhưng khi chết, ta sẽ rơi vào một cảnh huống hoàn toàn khác lạ. Các kinh nghiệm thường nhật thu đạt được trong cuộc sống hiện tại sẽ không còn giúp ích được gì nữa cho ta khi hấp hối. Nếu ta không chuẩn bị cẩn thận thì tất nhiên mọi sự xảy ra sẽ không được suôn sẻ. Luyện tập tâm thức là cách chuẩn bị cho cái chết. Trên một cấp bậc nào đó sự luyện tập ấy là cách phát huy lòng từ bi chân thật và nhiệt thành, hầu thực hiện những hành động tích cực hướng vào sự giúp đỡ các chúng sinh khác (tích lũy đạo hạnh và những điều xứng đáng). Ở một cấp bậc khác, thì đấy là cách luyện tập để chủ động tâm thức của mình (phát huy trí tuệ), và đấy cũng là cách chuẩn bị sâu xa hơn cho tương lai. Sự tập luyện kiên trì sẽ giúp ta chủ động được tâm thức của mình và đấy cũng là mục đích quan trọng nhất của thiền định. Những ai hoàn toàn không tin vào bất cứ thứ gì sau khi chết thì cũng nên xem cái chết là một thành phần đơn giản của sự sống. Sớm hay muộn thì ta cũng phải đối đầu với nó, cách suy nghĩ đó ít ra cũng có thể giúp ta xem cái chết như một sự kiện tự nhiên. Dù cho ta cố tình tránh né và nhất định không nghĩ đến nó đi nữa, thì nào ta có tránh được nó đâu. Để giải quyết vấn đề nan giải ấy, ta có hai giải pháp. Thứ nhất là không nghĩ đến cái chết, tống cổ nó ra khỏi tâm trí - ít ra thì giải pháp này cũng giúp cho tâm trí nhẹ nhõm được đôi chút. Thế nhưng giải pháp ấy lại quá ư phiêu lưu, lý do là vấn đề vẫn còn nguyên và sớm muộn gì thì ta cũng sẽ chạm trán với cái chết. Giải pháp thứ hai là nhìn thẳng vào vấn đề và suy tư thật mãnh liệt đến cái chết. Tôi quen biết một số quân nhân và họ nói với tôi rằng trước khi lâm trận thì họ cảm thấy có nhiều can đảm hơn. Nếu thường xuyên nghĩ đến cái chết thì tâm thức ta cũng quen dần với nó và bớt sợ nó hơn, đến khi cái chết thực sự xảy đến ta sẽ ít cảm thấy bất ngờ và chao đảo hơn. Theo tôi thì sự kiện nghĩ đến cái chết và luôn nhắc nhở đến nó là một điều lợi ích. Chúng ta nên sống một cuộc sống có ý nghĩa. Kinh sách cho rằng sự hiện hữu của chúng ta cũng tương tự như những đám mây trên bầu trời mùa thu. Ta cứ nhìn vào các diễn viên đang trình diễn một vở bi kịch trên sân khấu thì sẽ rõ, sự xuất hiện và biến mất của họ cũng chẳng khác gì với sự sinh và cái chết của con người. Các diễn viên thay hết y phục này sang y phục khác. Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, thế mà hình tướng của họ biến dạng không biết bao nhiêu lần. Sự hiện hữu của ta cũng thế mà thôi. Sự suy sụp của một con người cũng chẳng khác gì một tiếng sét nổ trên không trung hay một khối đá lăn xuống từ một bờ vực thẳm. Trên triền dốc nước bao giờ cũng đổ xuống, không chảy ngược lên được. Sự sống âm thầm rảo bước, thế nhưng hình như ta cứ vẫn vô tình không hay biết. Nếu ta tin rằng việc tu tập tâm linh sẽ mang lại một sự ích lợi nào đó thì biết đâu ta cũng có thể nghĩ đến các kiếp sống tương lai đang chờ đợi mình, thế nhưng thói thường thì không phải thế, từ trong thâm tâm ta chỉ lo đến việc thực hiện các mục tiêu trước mắt trong cuộc sống hiện tại này. Chính vì thế mà mọi sự hoang mang (vô minh) xâm chiếm lấy ta và buộc chặt ta vào chu kỳ hiện hữu. Thật thế ta đang phung phí kiếp sống này của ta. Ngay lúc vừa mới sinh ra đời ta đã bắt đầu tiến dần đến cái chết. Thế nhưng trong khoảng thời gian tốt đẹp nhất của cuộc sống thì ta chỉ lo tích trữ đủ mọi thứ thực phẩm, mua sắm quần áo, tìm thêm bạn bè. Đến khi cái chết xảy đến, nào đâu ta có đem theo được những thứ ấy. Ta dấn thân trong một cuộc hành trình đơn độc đưa ta sang một thế giới khác, không một người đồng hành bên cạnh. Chỉ có một điều duy nhất có thể mang lại lợi ích cho ta: ấy là những gì tích cực mang lại từ sự tu tập trước đây của ta, dù sự tu tập ấy được thực hiện theo phương cách nào đi nữa thì cũng đều lưu lại những vết hằn ăn sâu vào tâm thức của mình (tức là nghiệp lực). Nếu không muốn phung phí một cách vô ích cuộc sống này thì ta nên hướng nó vào việc tu tập, tức có nghĩa là phải biết suy tư về vô thường và các cảnh huống có thể xảy ra cho cái chết của ta, và ý thức được khi vừa mới sinh ra đời thì thân xác của ta đã phải gánh chịu cái bản chất vô thường của chính nó, và chắc chắn là nó sẽ không thể nào tránh khỏi sự tan rã. Sử dụng cái chết để tu tập tâm linh Việc tu tập không nhất thiết chỉ mang mục đích tìm kiếm một số lợi ích trong kiếp sống hiện tại mà đúng hơn là nhắm vào các kiếp sống tương lai sau cái chết. Trở ngại lớn nhất ngăn chận sự tu tập chính là cảm tính cho rằng mình còn sống lâu. Thái độ đó có thể hình dung qua hình ảnh một người quyết tâm xây dựng vĩnh viễn sự sống của mình tại một nơi nào đó. Người ấy lăn xả vào những sinh hoạt thường tình của thế tục, chẳng hạn như vơ vét của cải, xây cất nhà cao cửa rộng, gieo trồng gặt hái, v.v... Trái lại đối với một người biết quan tâm đến các kiếp sống sẽ xảy ra sau này, thì họ sẽ có thái độ của một người đang chuẩn bị đi xa. Một người du hành thận trọng sẽ chuẩn bị trước để đối phó với các khó khăn có thể xảy ra, và nhất định họ sẽ đến đích. Càng suy tư về cái chết lại càng giúp ta ít bị ám ảnh hơn bởi những gì thuộc vào sự sống này, dù đấy là danh vọng hay ngợi khen, của cải hay địa vị. Một người tu tập suy tư về cái chết trong mục đích mang lại những gì thiết thực cho sự hiện hữu của chính mình, đương nhiên sẽ phát huy được một nghị lực khả dĩ mang lại an bình và hân hoan cho những kiếp sống tương lai. Tri thức của cái chết (tức tri thức xảy ra trong khi quá trình của cái chết đang diễn tiến) có thể tạo ra được bằng hai phương pháp thiền định: tức là phép thiền định thông thường và phép thiền định bằng sự phân tích. Dù sao thì trước hết cũng phải chấp nhận bằng lý trí là cái chết không thể tránh khỏi được. Đấy không phải là một thứ luận thuyết tối nghĩa mà đúng hơn là một sự kiện hiển nhiên có thể quan sát được. Người ta ước tính vũ trụ đã được sinh ra cách nay năm tỉ năm, và loài người hiện hữu từ một trăm nghìn năm. Vậy qua cái khoảng thời gian đằng đẳng ấy, đã có người nào thoát chết hay chưa? Cái chết nhất định không thể tránh khỏi, dù có trốn xuống đáy đại dương hay bay bổng lên trời thì cũng không thoát được. Bất kể ta là ai, nhất định ta phải chết. Staline và Mao có phải là hai nhân vật uy quyền nhất trong thế kỷ XX hay không, thế nhưng cả hai cũng chết, và hình như cả hai đều rất khiếp sợ và vô cùng khổ sở khi cái chết gần kề. Lúc còn sống họ là những người cai trị độc tài, chung quanh họ đám hầu cận và bề tôi xun xoe và sẵn sàng tuân lệnh, họ chỉ cần dùng một ngón tay hay một cái liếc mắt là cũng đủ để sai khiến đám người ấy. Họ sử dụng quyền hành một cách thật tàn ác, không tha thứ bất cứ ai tỏ ra không tùng phục họ. Thế nhưng trước cái chết, tất cả những người mà trước đây họ đặt hết tin tưởng và tất cả những gì mà họ hằng trông cậy - uy quyền, khí giới, quân đội - tất cả đều không còn ích lợi gì nữa. Trong hoàn cảnh ấy ai mà chẳng khiếp sợ. Tập luyện phát huy tâm thức của cái chết [bằng thiền định] thật lợi ích: nó [gián tiếp] mang lại ý nghĩa cho sự sống của chính mình, có nghĩa là đối với mình thì sự an bình và niềm hạnh phúc lâu bền sẽ trở nên quan trọng hơn những thú vui hời hợt khác. Luôn nhớ đến cái chết là một cách đập tan các xung năng tiêu cực và các xúc cảm bấn loạn bằng những nhát búa thật mạnh. Muốn khơi động ý thức về cái chết trong tâm thức thì trước hết phải ý thức được bản chất bất định của nó. Có một câu ngạn ngữ như sau: "Giữa ngày mai và một kiếp sống mới, không thể biết được cái nào sẽ xảy đến trước với ta ". Tất cả chúng ta đều hiểu rằng cái chết nhất định sẽ xảy ra một ngày nào đó, thế nhưng chúng ta lại cứ tin rằng cái chết vẫn còn xa, và đấy chính là trở ngại tạo ra mọi thứ khó khăn. Chúng ta thường xuyên bị bủa vây bởi các lo toan vật chất. Chính vì thế mà phải suy tư về cái chết. Kinh sách xưa cho biết rằng không thể đoán trước được kiếp sống của con người trong thế giới này sẽ kéo dài bao lâu, nhất là trong thời buổi nhiễu nhương này thì lại còn khó hơn nữa. Cái chết không tuân theo một quy luật hay một mệnh lệnh nào cả. Bất cứ ai cũng đều có thể chết vào bất cứ lúc nào, dù họ đã già hay còn trẻ, giàu sang hay nghèo khó, bệnh tật hay đang khoẻ mạnh. Không thể nào nắm vững hết các cảnh huống đưa đến cái chết. Nhiều người đang khỏe mạnh không ốm đau gì cả thế nhưng bỗng ngã lăn ra chết một cách thật bất ngờ, trong khi ấy các người đang đau ốm liệt giường thì lại vẫn chưa chết. Nếu đem so sánh giữa con số thật lớn các nguyên nhân đưa đến cái chết và con số thật nhỏ các nguyên nhân bảo toàn sự sống, thì chúng ta sẽ hiểu ngay tại sao cái chết lại hết sức bất định. Chúng ta trân quý cái thân xác con người của chúng ta và tin rằng nó vẫn còn cứng cáp và còn đủ sức chống chỏi được lâu. Thế nhưng thực tế thì lại thường không đi đôi với sự mong ước của chúng ta. Nếu đem so sánh thân xác của mình với đá hay sắt thép thì sẽ thấy ngay là nó mong manh hơn nhiều. Chúng ta ăn để duy trì sự sống và bảo vệ sức khoẻ, thế nhưng trong một số trường hợp thì chính thức ăn lại là nguyên nhân làm cho ta ốm đau và đưa đến cái chết. Tóm lại, không có gì bảo đảm là ta sẽ sống mãi mãi. Ta lo sợ cái chết và xem đấy là một sự chấm dứt cuối cùng của sự sống. Tệ hơn nữa là những gì mà ta gom góp với tất cả hơi sức của mình - nào tài sản, quyền lực, uy danh, bạn hữu hay gia đình - tất cả đều trở nên vô ích không mang lại một sự giúp đỡ thiết thực nào trong những giây phút hấp hối. Dù cho ta là một người đầy quyền lực, dưới tay có cả một quân đội hùng mạnh bảo vệ, thế nhưng khi cái chết xảy đến thì toàn thể đám quân đội ấy cũng chẳng làm gì được. Có thể ta là một người giàu có, sắm được những chiếc xe lộng lẫy, thế nhưng khi đã ngã bệnh và cái chết gần kề thì lúc ấy sẽ không còn cách nào tìm được ai đủ sức cứu ta khỏi chết để bỏ tiền ra mà thuê. Khi phải rời bỏ thế giới này, ta bỏ lại cả tài sản, một đồng xu cũng không mang theo được. Người bạn thân thiết nhất của mình cũng không đi theo mình được. Ta sẽ đơn độc đương đầu với cái thế giới bên kia. Tóm lại chỉ có những gì do sự tu tập mang lại mới có thể giúp đỡ cho mình mà thôi. Thân xác của ta thật quý giá. Ngay từ lúc thụ thai nó đã là người bạn đồng hành vững chắc và đáng tin cậy nhất của ta. Ta cố gắng tối đa để chăm sóc cho nó, cho nó ăn vì sợ nó đói, cho nó uống vì sợ nó khát. Ta tìm cách để nghỉ ngơi khi nó mệt mỏi. Ta sẵn sáng làm bất cứ gì để trau chuốt nó, mang lại mọi thứ tiện nghi cho nó, bảo vệ nó. Thế nhưng trên một khía cạnh khác cũng nên thành thật mà nói: thân xác chính là một kẻ hầu cận trung thành, luôn tìm cách chiều chuộng mình. Thí dụ như sự hoạt động của quả tim chẳng hạn, tuy đơn giản nhưng thật ra sự hoạt động ấy là cả một sự tuyệt vời. Trái tim làm việc không ngừng, có thể nói là không bao giờ ngưng nghỉ dù cho ta đang làm gì, đang thức hay đang ngủ. Thế nhưng khi cái chết xảy ra thì cái thân xác tuyệt vời ấy sẽ bỏ rơi ta. Tri thức (consciousness) của ta và thân xác tách rời nhau, và cái thân xác quý báu của ta trước đây trở thành một thây ma thật ghê tởm. Vì thế, đối diện với cái chết, sự giàu sang và của cải, bạn bè và người thân thuộc, kể cả thân xác của chính mình, tất cả đều không giúp ích cho mình được gì nữa. Chỉ có một thứ duy nhất có thể giúp ta đối đầu với sự xa lạ đang chờ đón ta, ấy là hạt giống đạo hành mà ta đem gieo vào dòng tri thức luôn chuyển động của mình. Hạt giống ấy chính là ý nghĩa của sự sống mà chỉ có sự tu tập mới có thể mang lại cho ta. Vào giây phút hấp hối nếu nhớ lại được thể dạng tỉnh giác của tâm thức sẽ tức khắc mang lại cho ta sự lắng dịu và an bình trong tâm thức (ý thức được ý nghĩa của cái chết, giữ được sự thanh thản, phát lộ được lòng tư bi...). Phát huy một thái độ đạo đức trong khi quá trình của cái chết đang diễn tiến sẽ tạo ra những ảnh hưởng tốt mang lại một sự tái sinh thuận lợi. Vì thế đối với một người tu tập Phật giáo, nếu muốn sống một cuộc sống có ý nghĩa thì phải biết phát huy những thể dạng tâm thức đạo hạnh, vì đấy là những gì sau này có thể giúp ta đối đầu với cái chết. Những cảm nhận tích cực hay tiêu cực của ta trong giây phút lâm chung tùy thuộc vào cách cư xử trong cuộc sống hằng ngày của mình từ trước. Cuộc sống của ta phải hàm chứa một ý nghĩa nào đó, ta phải tạo ra cho mình một thái độ tích cực thoát ra từ hơi ấm tình người và niềm hạnh phúc trong ta. http://www.daobingan.com/news/?type=news&gid=19&nid=81
      • 1
      • Like
×
×
  • Create New...