Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

phoenix

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    1107
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    2

Everything posted by phoenix

  1. Đi tìm căn cước thật của Việt Nam (phần 2) Nam Phan Phần 2: Căn cước Việt Nam qua khám phá DNA và Khảo cổ học Như chúng ta đã biết, với chủ trương Đại Hán thống trị và thống nhất của các triều đại Trung Hoa từ ngàn xưa, mọi dấu tích văn hóa và lịch sử dân tộc nguyên thủy của Việt Nam đều đã bị xóa bỏ hoặc bị tráo trở vay mượn để biến thành một phần văn hóa và dân tộc quan trọng của Trung Hoa. Rất may là máu huyết và lòng đất vẫn còn lưu giữ các quá khứ lịch sử văn hóa và dân tộc ấy một cách hết sức trung thực. Vì thế, trước khi muốn tìm hiểu lại về căn cước thật Việt Nam qua truyền thuyết cũng như sử liệu, chúng tôi muốn đưa vào phần 2 này những khám phá về di truyền học DNA và khảo cổ học để có cơ sở khoa học xác thực hơn. Để có một cái nhìn tổng thể trong bối cảnh tiến hóa chung của nhân loại, chúng tôi xin mạng phép lược trích từ sách The Journey of Man của tác giả Spencer Wells (1) về những dấu tích thiên di của các tổ tiên nhân loại đã để lại trong DNA của tất cả mọi người hiện nay trên thế giới. Qua đó, chúng ta sẽ dễ dàng khám phá đâu là sự khác nhau và giống nhau giữa Trung Quốc và Việt Nam, cũng như các căn cứ để cố học giả Kim Định đã khẳng định “Bách Việt làm chủ trọn vẹn nước Tàu trước người Tàu”. Bản đồ thế giới vẽ bằng DNA: Hành trình của nhân loại, của Spencer Wells Nguồn: press.princeton.edu Theo khảo sát DNA được tổng kết từ nhiều công trình nghiên cứu của các nhà di truyền học đứng hàng đầu thế giới, trong đó có tác giả Spencer Wells, thì tất cả mọi người đang sống trên khắp trái đất đều có huyết thống từ một cặp thủy tổ xuất hiện ở Châu Phi cách nay khoảng 60.000 năm (tr. 55 & 71). Sau đó, có thể vì lý do thời tiết và môi trường sống thay đổi, cũng như sinh đẻ đông đảo (tr. 95 và 108), nên hầu hết hậu duệ của hai cụ đã lần lượt rời Châu Phi ít nhất là trong hai đợt chính như sau: Đợt một rời cách nay khoảng 60.000 – 50.000 năm, đi dọc theo bờ biển phía nam Châu Á, ngang qua Ấn Độ, và đến định cư tại Đông Nam Á trước khi chuyển tiếp đến Châu Úc và các vùng phụ cận (tr. 69, 72, 75 và 100). Trong số này, về sau cũng có những nhóm tiếp tục men theo bờ biển phía Đông Trung Quốc để vào tiếp Bắc Mỹ (tr. 72–3). Cũng nên nhớ là trong thời gian cuối Băng tuyết, eo biển Bering khô cạn và nối liền lục địa Châu Á với Châu Mỹ. Đợt hai rời Châu Phi, đi ngang qua ngã Trung Đông khoảng 50.000 – 45.000 năm (tr. 109–110), sau đó di chuyển tiếp vào vùng đồng bằng Iran hoặc Nam Trung Á (tr. 111). Tại đây lại chia thành hai nhánh (tr.112). Một nhánh đi vòng lên hướng Bắc để vào Trung Á, tạo thành thị tộc Trung Á (tr. 113–4)), sau đó chuyển tiếp qua các thảo nguyên Nam Siberia (tr.118, 120). Về sau, nhánh cũng tách thành hai nhóm. Một nhóm đi về hướng Tây và vào đến Châu Âu khoảng 30.000 năm (tr. 132–3). Nhóm còn lại tiếp tục di chuyển về hướng Đông để vào Mông Cổ và vào miền Bắc Trung Quốc (tr. 110 và 120); số còn lại tiếp tục thiên cư đến Châu Mỹ qua eo biển Bering vào khoảng 20.000–15.000 năm (tr. 139). Riêng nhánh thứ hai, sau khi tách ra khỏi đợt hai ở vùng đồng bằng Iran, đã tiếp tục di chuyển xuống hướng Nam để vào Pakistan và Bắc Ấn Độ (tr. 112–3). Tại đây nhánh này cũng tách ra làm hai nhóm hậu duệ chính. Một nhóm tiến sâu xuống tiểu lục địa Ấn Độ, hợp chủng với những di dân đường biển của đợt một Châu Phi đã đến trước, và trở thành thị tộc Ấn Độ cách nay khoảng 30.000 năm (113). Nhóm hậu duệ còn lại xuất phát từ phía đông núi Hindu Kush và Himalaya, tìm cách vượt những trở ngại của rừng núi cao, tiếp tục di chuyển về hướng đông, tạo thành thị tộc Đông Á (tr. 119). Sau đó, trong khoảng thời gian 10.000 năm trở lại đây, các hậu duệ kế tiếp của nhóm thị tộc Đông Á này đã trở thành những nhà nông Trung Quốc đầu tiên và đã sản sinh đông đảo, tạo ra “Làn sóng Tiến bộ” lan nhanh quanh khu vực Đông Á (tr. 157). Hiện nay các cư dân tại Đông Á có khoảng 60 – 90% huyết tộc của thị tộc Đông Á; còn các cư dân tại Đông Nam Á lại mang một hợp chủng huyết thống vừa của một chủng tộc địa phương và vừa của chủng tộc nông nghiệp Trung Quốc (tr. 119). Mổ xẻ và nhận định. Cũng theo các công trình khảo cứu di truyền học nói trên, cư dân Đông Á đã mang trong giòng máu của mình một sự pha chủng rất phức tạp. “Huyết thống của đợt một di dân đường biển rời Châu Phi không những có một tần số khá cao khoảng 50% tại Mông Cổ, mà còn phổ thông xuyên suốt vùng Đông Bắc Á” (Wells, sđd, tr. 120). Để hiểu điều này hơn, Spencer Wells đã giải thích với một đoạn văn mà chúng tôi xin tóm lược ý như sau: Có thể có những bộ phận di dân đường biển của đợt một Châu Phi, sau một thời gian định cư định canh tại Đông Nam Á, đã dần dà di chuyển tiếp lên hướng Bắc qua hàng ngàn năm để vào lục địa. Sau đó, có thể họ đã gặp và hợp chủng với hậu duệ của nhóm di dân đường bộ phương Bắc, nguyên thuộc nhánh thị tộc Trung Á xuất phát từ các thảo nguyên Nam Siberia và Mông Cổ đến. Dầu vậy, những công trình khảo sát DNA của cư dân Đông Á do Luca Cavalli–Sforza và các cộng sự người Trung Hoa của ông thực hiện lại vẫn cho thấy có sự khác biệt huyết thống giữa người Trung Hoa miền Bắc và người Trung Hoa miền Nam. Thậm chí, tuy cùng thành phần của một nhóm chủng tộc, như người Bắc Hán và Nam Hán, họ sống bên nhau rất gần gũi về địa dư nhưng lại xa nhau về chủng tộc. Nhóm Bắc Hán quần tụ xen kẽ chung với những cư dân khác không Hán tộc, còn những người Hoa Nam (tức Nam Hán) thì tạo thành một nhóm riêng rẽ (Wells, sđd, tr. 120–1). Đây cũng là điều phù hợp với khoa khảo sát sọ não mà trước đây trong chương Dẫn nhập chúng tôi đã có trích lược từ sách Nguồn gốc Việt tộc của tác giả Phạm Trần Anh (2) để dẫn chứng. Theo đó, giữa người Trung Quốc ở miền Hoa Nam và người Việt Nam chúng ta đều có sọ tròn và có chỉ số sọ gần giống nhau. Ngược lại, chỉ số sọ giữa người Trung Quốc Hoa Nam (tức Nam Hán) và người Trung Quốc Hoa Bắc (tức Bắc Hán) lại khác nhau. Hơn nữa, duy nhất chỉ có người Bắc Hán là có sọ dài, giống như người Mông Cổ và Châu Âu (Phạm Trần Anh, sđd, tr. 323 và 328). Đến đây, chúng ta nhận thấy sở dĩ đã có sự khác nhau giữa Bắc Hán và Nam Hán chắc chắn là do hệ quả của môi trường sống và lối sống khác nhau giữa du mục thảo nguyên Bắc Hán và nông nghiệp định cư định canh Nam Hán. Cho dù trước đó đều cùng thuộc đợt hai Châu Phi, nhưng từ thời điểm phân tách ra hai nhánh – một đi vòng qua các thảo nguyên Nam Siberia, Mông Cổ để vào Trung Quốc, và một vòng qua Ấn Độ, Himalaya, vào Đông Á hoặc vòng xuống Đông Nam Á để vào Trung Quốc – thời gian này đã trải qua một quá trình phân hóa hàng ngàn hoặc hàng chục ngàn năm. Xét điểm ý của Spencer Wells trong câu: “Trong khoảng thời gian 10.000 năm trở lại đây, hậu duệ của nhóm thị tộc Đông Á đã trở thành những nhà nông Trung Quốc đầu tiên và đã sản sinh đông đảo, tạo ra Làn sóng Tiến bộ lan nhanh quanh khu vực Đông Á” (sđd, tr. 156). Theo thiển ý chúng tôi, có thể tác giả chỉ nhằm nói đến giai đoạn trồng lúa nước đã trở thành phổ thông sau khi các hậu duệ của nhóm thị tộc Đông Á đã học hỏi kinh nghiệm trồng lúa nước dọc trên hành lang di dân từ Tây sang Đông hoặc từ Nam lên Bắc. Vì thời gian ấy chính là thời kỳ sau các đợt hồng thủy rút đi, tại các vùng ven sông và biển, nhất là từ phía Nam sông Dương Tử trở xuống, đã hình thành nhiều vùng đầm lầy phù sa, lại có gió mùa và có thời tiết ấm áp, nên rất thuận lợi cho việc trồng lúa nước theo kiểu đại trà. Để dẫn chứng cho lập luận trên, chúng tôi xin trích một vài khám phá khảo cổ học đáng lưu ý như sau: Thứ nhất, nhà khảo cổ học người Thái Surin Pookajorn đã khám phá những hạt lúa với đồ gốm và những sản phẩm thủ công thời Đồ Đá Mới như rìu đá tại Hang Sakai (giáp với Mã Lai), có niên đại cách nay khoảng giữa 9260 và 7620 năm (Oppenheimer, sđd, tr.68). Thứ hai, Joyce White, một nhà khảo cổ học Hoa Kỳ, lại khám phá một xã hội nông nghiệp (lúa nước) tại Ban Chiang ở miền Bắc Thái Lan, có niên đại khoảng 6 – 7 thiên niên kỷ TCN (Oppenheimer, sđd, tr. 69)(5). Thứ ba, sau những công trình nghiên cứu khảo cổ học của bản thân cũng như của đồng đội tại vùng Non Nok Tha và những vùng phụ cận ở miền Bắc Thái Lan, Giáo sư Wilhelm G. Solheim II dạy tại Đại Học Hawaii (7) cũng nhận định: Tôi (tức Solheim) đồng ý với Sauer (6) rằng chính cư dân của nền văn hóa Hòa Bình ở đâu đấy trong vùng Đông Nam Á đã biết trồng cây trong vườn nhà đầu tiên, và tôi sẽ không ngạc nhiên nếu đã xảy ra sớm hơn 15.000 năm TCN (...) Theo truyền thuyết lâu nay, người ta cứ cho rằng chính những làn sóng di dân từ phương Bắc xuống phương Nam đã mang theo sự phát triển kỹ thuật đáng kể cho vùng Đông Nam Á. Tôi gợi ý rằng chính nền văn hóa nguyên thủy thời đồ đá mới của miền Bắc Trung Quốc, được biết đến với tên văn hóa Ngưỡng Thiều, đã phát triển từ một chi lưu văn hóa Hòa Bình ở vùng phía bắc Đông Nam Á mà trước đó nó đã di chuyển lên phương Bắc vào khoảng sáu hay bảy thiên niên kỷ TCN. Còn nền văn hóa gọi là Long Sơn gần đây hơn mà người ta tin tưởng đã xuất phát từ văn hóa Ngưỡng Thiều ở miền Bắc Trung Quốc, sau đó bùng lên phát triển về hướng đông và đông nam. Riêng phần tôi lưu ý rằng thật sự văn hóa Long Sơn đã phát triển ở miền Nam Trung Quốc và di chuyển lên phía bắc. Tất cả hai văn hóa này đều đã phát triển từ một căn bản văn hóa Hòa Bình. Trong tác phẩm Eden in the East của mình, Stephen Oppenheimer (4) cũng đã có một lời kết luận tương tự: Stephen Oppenheimer, tác giả Thiên đàng ở phương Đông Nguồn: press.princeton.edu ”Thay vì theo mô thức “lấy Trung Hoa làm trung tâm” với thành kiến cây lúa nước do người Trung Hoa khám phá và trồng, ngày nay chúng ta phát hiện chính “những kẻ mọi rợ phương Nam” gốc Đông Dương, nói ngôn ngữ Nam Á (Austro–Asiatic speaking), đã dạy cho người Trung Hoa biết cách trồng lúa nước” (tr. 71) (7). Ngoài ra, trống đồng còn là một khám phá văn hóa khá độc đáo của tổ tiên Việt tộc chúng ta, vừa phản ánh nét văn hóa nông nghiệp và vừa phản ánh nét văn hóa sông biển. Chúng ta sẽ bàn đến điều này trong một chương khác để đạt chiều sâu hơn. Kết luận. Qua các nghiên cứu nói trên, chúng ta cũng đã bắt đầu thấy được những câu trả lời khá xác thực về nguồn gốc phức tạp văn hóa, cũng như huyết tộc của tổ tiên người Trung Hoa. Họ vừa có văn hóa và huyết tộc du mục thảo nguyên gốc Thổ và Mông Cổ xuất phát từ phương Bắc đến (tức thuộc thị tộc Trung Á), vừa có văn hóa và huyết tộc gốc du mục cao nguyên Tây Tạng, xuất phát từ Himalaya – nhóm này nguyên thuộc thị tộc Đông Á. Họ còn hợp chủng và vay mượn cả văn hóa và huyết tộc của những người bản địa có nguồn gốc văn hóa từ phương Nam và đã đến Trung Quốc trước họ. Nhóm bản địa này nguyên thuộc đợt một rời Châu Phi, đi men theo đường biển. Chính Lạc Việt chúng ta phát xuất từ nguồn gốc dân tộc và văn hóa phương Nam này. Kế đến, họ cũng còn hợp chủng với một nhóm khác nữa, nguyên cùng nguồn gốc thị tộc Đông Á xuất phát từ Himalaya đến, nhưng nhóm này lại đi men theo các sông lớn như Dương Tử, Tây Giang, Cửu Long… Đây chính là nhóm đã đem lại kinh nghiệm trồng lúa nước đầu tiên cho vùng Đông Nam Á, tức bao gồm từ miền cực nam Đông Nam Á đến vùng đồng bằng sông Dương Tử Trung Quốc, kể cả Vân Nam và Ba Thục. Nhóm này về sau chính là tổ tiên của Âu Việt và đã được huyền thoại hóa qua truyền thuyết mẹ Âu Cơ. Thế nhưng, Lạc Việt và Âu Việt là một tổng thể văn hóa và dân tộc Việt Nam, đã được thuật lại qua các truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, mà mới đây Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, Viện Văn học Quốc gia tại Hà Nội, đã gọi là “văn hóa Viêm Việt” khi ông nhận định về triết gia Kim Định trong bộ Tự điển Bách khoa Văn học ấn bản năm 2003 – 2004 tại Việt Nam. © DCVOnline (1) Wells, Spencer : The Journey of Man. NXB Random House Trade Paperbacks, Nöõu Öôùc (2003). (2) Phạm Trần Anh: Nguồn gốc Việt tộc. NXB Việt Nam Ngày Mai, 2007. (3) Xin xem http://www.mevietnam.org/NguonGoc/fv–newlight.html (4) Oppenheimer, Stephen: Eden in the East. NXB Weidenfeld and Nicolson, London , 1998. (5) Khảo cổ học khám phá những làng nông nghiệp lúa mì và lúa mạch xuất hiện đầu tiên tại Jericho Cận Đông, chỉ có niên đại khoảng thiên niên kỷ thứ 5 TCN mà thôi (Wells, sđd, tr. 148–9) (6) Sauer là một nhà địa chất Hoa Kỳ, vào năm 1952 đã nêu lên một giả thuyết tương tự, nhưng các nhà khảo cổ học hồi đó chưa chấp nhận. (7) Từ nay, trong những bài viết chúng tôi, Austro–Asiatic được dịch là Nam Á; còn Austronesian được dịch là Nam Đảo. Tức là dịch từ chữ sang chữ hơn là dịch đúng theo nghĩa. Vì nếu theo nghĩa thì chúng tôi phải dịch Austroasiatic thành Đông Nam Á: lý do là địa bàn nói ngôn ngữ này chủ yếu tại miền Đông và Đông Nam Châu Á. Nguồn: http://www.dcvonline.net/
  2. Trích Những ý kiến tham luận xung quanh bài viết của tác giả Nam Phan Re: Đi tìm căn cước thật của Việt Nam (phần 1) 2008-01-22 00:13:31 Tâm Việt Tổ tiên ta đã sống bên sông Hoàng Hà, cạnh núi Thái Sơn - trước khi tộc Hoa Hạ xâm chiếm [chinhkhiviet.com] Theo Thái Dịch Lý Đông A CHU TRỊ LỤC .... Một ít tài liệu còn lượm lặt được ngay trên lịch sử của nòi Hán. Từ đời Đại Việt, lúc tổ tiên ta còn trên sông Hoàng Hà tranh đấu lấy trung tâm của thiên hạ bấy giờ (Thái Sơn) cho mãi đến lúc xuống đến sông Dương Tử Giang, Ngũ Hồ, Ngũ Lĩnh, trong cái khoảng lịch sử Tàu từ Hoàng Đế đến Chiến Quốc, Xuân Thu cho tới Tần, Hán. a) Trạng huống đấu tranh của Việt, Hán trong khoảng ấy? :wacko: Thần Nông, Viêm Đế, Thuấn phải chăng là nòi Việt, hoặc bằng quân sự hay chính trị đấu tranh mà chiếm được ngôi chí tôn của thiên hạ bấy giờ. c) Lịch sử đấu tranh lấy Thái Sơn và ngôi thiên tử giữa ba nòi Hán, Việt, Di trong khoảng bấy giờ? Sự phân bố của nòi giống ấy? d) Trạng huống Nam thiên của nòi Việt mất trung tâm và chia ra Bách Việt. đ) Sự liên hệ giữa các nước Sở, Ngô, Việt với Việt Đại Việt. e) Trạng huống của sự tái kiến lại trung tâm sinh hoạt Việt bởi đời Việt Thường mà lập ra Hồng Bàng? Sự phân phong lên núi xuống bể linh lạc, thất bại thế nào? Ngày nay sự phân chia và ly tán của Bách Việt càng xa vời đi. 1) Sự liên hệ về các mặt giữa các nòi giống có máu Việt cũ? 2) Sự tái kiến lại Đại Việt cũ trên nền tảng một văn minh Viêm mới? 3) Lý tắc Totem của Tiên Rồng và văn hóa Môn tái kiến? Re: Đi tìm căn cước thật của Việt Nam (phần 1) 2008-01-22 06:42:19 Tâm Việt Lý Đông A là tác giả đã cảnh cáo người Việt về họa diệt chủng, Phương Bắc Hoa Hạ là kẻ thù truyền kiếp của tộc Bách Việt. Re: Đi tìm căn cước thật của Việt Nam (phần 1) 2008-01-22 09:18:40 Nhất Đăng Tìm nguồn gốc bằng lối đo sọ có lẽ là phương pháp gây thích thú cho tôi nhất. Ngày còn nhỏ, cứ nhắm mắt học thuộc lòng : dân Việt nam thuộc giống Melanesian và Indonesian hợp lại. Chẳng biết Indo là gì, Mela là gì, cứ việc học vì nhu cầu trả bài. Đến khi vớ quyển sách của Bình Nguyên Lộc, ông dùng các phương pháp : đo sọ, ngôn ngữ tỷ hiệu cùng khảo cổ học mới thấy nhân chủng học người ta đã tìm ra rất rành mạch, thế nào là chủng Mongolique, thế nào là bắc Mongolique, thế nào là nam Mongolic, thế nào là Indonesian, thế nào mà Melanesian..., rồi trong sách của ông BNL cứ đem tên Kim Định ra để đối chứng, lại đi tìm sách Kim Định để đọc. Thú thật, thoạt đầu đọc sách của thầy Kim Định nuốt không vô vì thật mông lung, nhưng sau khi nghe thầy nói chuyện, dần dần tạm chấp nhận ý kiến của thầy, bắt đầu đọc sách thầy thì thấy rằng tuy hai người dùng hai cách để chứng minh nguồn gốc của dân tộc Việt, kết luận của cả hai đều là : Hoa bắc là đất của giống Bách Việt, bị Tàu Mongolique đuổi dần về phương Nam, Tàu lai giống với dân bị chiếm thành bắc Mongolique, rồi thêm một lần lai giống phía Nam thành Nam Mongolique. Còn dân Việt chính hiệu là Indonesian, pha giống với giống dân Nam đảo Melanesian tạo ra dân Việt. Sau 1.000 năm đô hộ của Tàu, lại bị Tàu bắt đồng hoá, có lai chút Tàu, nhưng yếu tố Tàu trong sọ Việt không nhiều như ở Hoa nam, nên vẫn còn chủng chính chứ không bị thành Nam Mongolique như Hoa nam. May thay, nhờ sự bất khuất của tổ tiên ta mà ta còn giữ được nước Việt hiện nay. Re: Đi tìm căn cước thật của Việt Nam (phần 1) 2008-01-22 11:34:56 Tiêu Phong Chào bác Nhất Đăng, Theo những giáo sư đã từng nghiên cứu nguồn gốc ngôn ngữ Việt (điển hình là giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Hy Vọng), ngôn ngữ Việt trước tiếng Hán có nhiều liên hệ với hệ thống ngôn ngữ của thành phần Mã Lai Đa Đảo (Malayo-Polynesean languages, còn gọi là Austronesian languages). Nếu ta Google Austronesian languages, sẽ thấy tên các nước như , Việt Nam, Mã Lai, Lào, Cam Pu Chia, và Đài Loan nắm trong các vùng nói các thứ tiếng này. TP tin rằng ngôn ngữ học sẽ giúp ích rất nhiều trong việc truy tìm căn cước thật của VN. Còn căn cước của VN cho tương lai thì sao? Re: Đi tìm căn cước thật của Việt Nam (phần 1) 2008-01-23 04:04:29 Nhất Đăng Những di hài hoá thạch tìm được có thành phần Austronesians và austroasiatics. Những di hài tìm được chưa chắc là tổ tiên của dân Lạc Việt hoặc có cũng chỉ phần nào vì có nhiều giống dân cư ngụ ở miền Bắc nước Việt cổ. Không thể khẳng định được khi chưa tìm ra đích xác. Vì theo những nghiên cứu thì cư dân đầu tiên của miền Bắc nước ta là Melanesian và Australoid (thổ dân Úc). Sắc dân này da đen, môi dày, chiều cao cở 1m50-1m55. Có lẽ đây là lý do mà VC cứ rang rảng nói VN là cái nôi của loài người. Dân Việt hiện nay vóc dáng khác. Lượng trống đồng đào được ở những vùng chung quanh chỉ là số ít. Có thể đó là những trống đồng được mua về hay do giao hiếu, quà tặng. Lượng trống đồng nằm trong khu vực miền Bắc nhiều để có thể kết luận đây là trung tâm của trống đồng. Tuy nhiên như tôi đã nói, có dữ kiện, mỗi người tuỳ cách suy luận của mình mà viết. Chưa có gì là khẳng định cả. Thượng cổ sử của Việt nam vẫn còn nằm trong bóng tối. Tiếc là ta đã bị Mã Viện phá huỷ hết gần như tất cả nên giờ này muốn tìm hiểu lại càng khó hơn. Thật thú vị nếu tìm được gốc tích thật của dân ta. Cám ơn bác Tiêu Phong đã trò chuyện. Tôi rất thích đề tài về thượng cổ sử Việt nam. Re: Đi tìm căn cước thật của Việt Nam (phần 1) 2008-01-22 20:04:02 Vô Sắc Một bài viết mang tính nghiên cứu, khoa học, lẽ ra thường khô khan, nhưng lại thật là thú vị, lôi cuốn. Tuy mang tính đại chúng cho mọi người đọc có thể hiểu nhưng vẫn giữ cân bằng, không mất đi những minh chứng, dẫn chứng rõ ràng cụ thể cho một bài viết khoa học. Tuyệt! Tôi không dám lạm bàn về nhân chủng học, di truyền học, chỉ xin góp một chi tiết khá đặc biệt có liên quan đến nguồn gốc, quan hệ láng giềng của dân tộc Việt, cùng ảnh hưởng của chính trị, xung khắc quân sự, đến sự giải thích của lịch sử, kể cả khảo cổ học, liên quan đến bài viết trên. Chúng ta hay nhắc đến, và thường tự hào, về nền văn minh cổ xưa của Việt Nam, qua sự phát hiện ra trống đồng Đông Sơn và Ngọc Lũ (600 BC-100AD) vào những năm 1920-30. Nhiều người Việt cho rằng đây là một nền văn minh độc đáo, riêng biệt, của chúng ta. Tuy nhiên, rất ngạc nhiên là sau này người ta cũng đã đào được các loại trống đồng này tại các đảo của Indonesia (và họ cũng gọi là trống đồng Đông Sơn, có lẽ vì được phát hiện sau các trống đồng đào được tại Đông Sơn, Thanh Hóa), ở miền Nam Trung Hoa, ở miền Bắc Thái Lan, và cả Miến Điện. Riêng người Indonesia, theo một ghi chú bên cạnh một trống đồng của họ triển lảm tại Úc mà tôi xem được cách nay hơn 15 năm, cho rằng các điệu vũ khắc họa trên mặt trống đồng vẫn được người dân Bali (của đảo Bali, Indonesia) ngày nay múa hát. Cách đây 5-7 năm tôi cũng có đọc một bài nghiên cứu dài, thật chi tiết (với rất nhiều hình ảnh), và rất nổi tiếng (được trích đăng lại nhiều nơi), nhan đề: Who Invented the Bronze Drum? Nationalism, Politics, and a Sino-Vietnamese Archaeological Debate of the 1970s and 1980s, của một tác giả Mỹ gốc Trung Hoa, Xiaorong Han (hiện là Ass. Prof. của ĐH Butler, Hoa Kỳ). Bài nghiên cứu nêu lên rất nhiều điều thú vị về nguồn gốc của các trống đồng được xếp loại Đông Sơn (và các loại tương cận). Ông này hình như biết đọc và viết tiếng Việt (các chú thích chữ Việt đều không sai các dấu). Tiếc rằng giờ tôi chỉ tìm thấy được abstract trên net (nên không dẫn link). Ai có thời gian xin tìm giúp cho ai cần. Một giả thuyết trong bài viết là trống đồng (nói chung) xuất xứ từ một sắc tộc (Yoh?) ở Vân Nam, phát triển ra khắp miền Nam Trung Hoa và lan xuống khắp vùng Đông Nam Á. Một chi tiết thú vị ông đưa ra, như nhan đề bài viết đã nêu, là các cuộc tranh cải giữa các nhà khảo cổ và nghiên cứu Việt Nam - Trung Quốc thường mang dấu ấn, không chỉ về tinh thần quốc gia khác biệt (nationalism), mà còn do các thay đổi về quan điểm chính trị, cùng xung khắc quân sự với nhau, trong các thập niên 1970-80. Re: Đi tìm căn cước thật của Việt Nam (phần 1) 2008-01-23 17:28:57 Hoàng Hoa Cám ơn tác giả đã cho đọc một bài khá lý thú. Trong ký ức vốn bị thòi gian bào mòn, tôi còn nhớ một bài văn vần không nhớ của ai, lâu lâu lắm rồi từ khi vừa mới đánh vần đọc được chữ. Địa giới nước tă được mô tả như sau: " Nam giáp Hồ Tôn, Tây Ba Thục, Đông biển, Bắc đến Động Đình Hồ " Như vậy VN ở trọn trong lảnh thổ TQ ngày nay.
  3. Đi tìm căn cước thật của Việt Nam (phần 1) Nam Phan Gần đây, từ trong nước cũng như ngoài nước, đã có khá nhiều sách báo khảo cứu về nguồn gốc văn hóa và dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, dường như vẫn chưa có câu trả lời hoàn hảo và nhất thống về nguồn gốc xuất phát và về thời gian hình thành. Ba ngàn năm, bốn ngàn năm, hay hơn nữa? Từ trong dòng máu Trung Hoa, hay thuộc một chủng khác, độc lập và có văn hóa riêng, hoặc pha chủng cả hai và vay mượn văn hóa của nhau? Hoặc pha chủng với nhiều chủng tộc khác nữa, như Thái, Mường, Mèo, Dao, Tày chẳng hạn, nhưng lại chịu ảnh hưởng vượt trội của Trung Hoa? Hoặc ngược lại, và nói như cố Giáo sư Kim Định: “Bách Việt làm chủ trọn vẹn nước Tàu trước người Tàu”(1). Những điều băn khoăn như thế thật ra cũng rất dễ hiểu, nhất là đối với những người không chuyên khảo lịch sử. Bởi lẽ, nói một cách tổng quát, người Việt chúng ta xưa nay vẫn tin mình là “con cháu Lạc Hồng”, có “bốn ngàn năm văn hiến”, và rằng đất nước đã được vua Hùng dựng lên đầu tiên, với quốc hiệu Văn Lang, tại vùng châu thổ sông Hồng miền Bắc. Tuy vậy, cũng qua sách vở học hành, chúng ta lại được biết khá nhiều chuyện kể lẫn tên gọi về các thủy tổ dân tộc, như Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, hay Âu Cơ, Hùng Vương, đều nghe ra có vẻ Tàu, hoặc nửa Tàu nửa Việt. Rồi nào, cả ở Việt Nam lẫn bên Trung Quốc đều cùng có những địa danh Hà Nội, Hà Bắc, Sơn Tây, Bình Dương... hay những họ Trần, Phạm, Trịnh, Đặng, v.v.... rất giống nhau. Ngay cả câu ca dao “Công cha như núi Thái Sơn...”, mọi người Việt Nam chúng ta đều thuộc, nhưng ít ai biết núi Thái Sơn nằm ở tận vùng Đông bắc Trung Quốc. Còn sông Lạc, một chi nhánh của sông Hoàng Hà, cũng chảy xuyên qua vùng này. Và cũng tại nơi đây đã từng xảy ra những trận đánh đầu tiên giữa các bộ lạc của Hoàng Đế Hoa tộc với các hậu duệ của Viêm Đế Thần Nông cách nay hơn bốn ngàn năm, để mở màn việc chiếm đất và mở rộng bờ cõi xuống phía Nam của Hán tộc phương Bắc. Hơn nữa, sông Lạc cũng là nơi vua Đại Vũ nhà Hạ đã gặp rùa và nhận “Lạc thư” chỉ giáo về cách cai trị thiên hạ, mà bấy lâu nay truyền thuyết lịch sử của Trung Quốc đã tự nhận là một triều đại lớn của họ. Nhưng ngày nay qua nghiên cứu sự mâu thuẫn nội tại từ trong nội dung lịch sử, chúng ta lại nhận thấy vua Đại Vũ không phải là người Hoa Tộc. Chẳng hạn, ông là người Cối Kê - nay gọi là Kế Châu, tỉnh Giang Tô, thuộc vùng hạ lưu sông Dương Tử. Mà vùng này trong thời kỳ ấy đang còn là đất của các tộc Bách Việt. Chính Việt Vương Câu Tiễn được kể là dòng dõi Hạ Vũ, trong thời Xuân Thu Chiến Quốc, cũng đã lên ngôi lập nghiệp tại đây. Thành thử, có khả năng cả hai địa danh Thái Sơn và sông Lạc, cũng như nhiều địa danh và nhiều điển tích khá quen thuộc khác gọi là của Trung Quốc đều có mối liên hệ lịch sử với tổ tiên Bách Việt nói chung và tổ tiên Lạc Việt chúng ta nói riêng. Điều này có nghĩa là có thể vì cái quá khứ lịch sử của tổ tiên dân tộc ta đã bị giấu nhẹm hoặc bị tráo trở vay mượn trong hàng ngàn năm, do quá trình “nam tiến” đồng hóa và thống nhất của Hán tộc phương Bắc, cũng như sau đó do quá trình đô hộ gần một ngàn năm nữa trên phần đất chủ quyền của Việt Nam thời bấy giờ, khiến những gì văn minh, văn hóa của kẻ bị thua Việt tộc nay đã trở thành di sản của kẻ chiến thắng Hán tộc và đã bị quên lãng. Điển hình là hơn 70 đến 80% người Trung Quốc hiện nay còn phát âm theo giọng Việt (Kim Định, sđd, tr. 8). Đồng thời, song song với tiếng Quan Thoại có nguồn gốc ngôn ngữ Hán tộc phương Bắc và được dùng như ngôn ngữ quốc gia chính thức hầu hết các cư dân Trung Quốc ở vùng Hoa Nam đều có ngôn ngữ địa phương riêng của họ và được gọi chung là Việt ngữ. Khoa nghiên cứu về sọ não gần đây cũng cho thấy: Giữa người Trung Quốc ở miền Hoa Nam và người Việt Nam chúng ta đều có chỉ số sọ gần giống nhau. Ngược lại, chỉ số sọ giữa người Trung Quốc Hoa Nam và người Trung Quốc Hoa Bắc (thuộc Hán tộc thuần chủng) lại khác nhau hoàn toàn(2). Và sự khác nhau này cũng đã được DNA di truyền học hiện đại xác định (chúng tôi sẽ trình bày rõ chi tiết hơn vào dịp khác). Cho nên, nói như học giả Kim Định “Bách Việt làm chủ trọn vẹn nước Tàu trước người Tàu”, đó là điều không sai. Hơn nữa về sau này, kể cả trong thời kỳ Việt Nam hoàn toàn tự chủ trên chính đất tổ hình chữ “S” của mình, nhưng vì không có chữ viết riêng (hoặc bị hủy mất như đã có một số tác giả gần đây nêu lên), giới sĩ phu chúng ta nói chung và các sử gia nói riêng đều đã phải học cả chữ Nho lẫn nội dung văn hóa của hệ thống tư tưởng, triết lý và chính trị của Trung Hoa, nên các biên khảo lịch sử đất nước chúng ta đã không sao tránh khỏi những điều thiếu sót, mù mờ, hoặc sai lầm. Phần nhiều những công trình nghiên cứu lịch sử này đều phải dựa vào truyền khẩu của các truyện tích, ca dao, tục ngữ, hoặc dựa vào suy đoán từ sử sách chữ Hán của Trung Hoa. Mãi đến thế kỷ 14, những truyện kể về họ Hồng Bàng mới được một vài sử gia đương thời biên soạn và đưa vào trong hai tác phẩm Việt Điện U Linh và Lĩnh Nam Trích Quái. Sau đó, vào khoảng cuối thế kỷ 15, Ngô Sĩ Liên là sử gia đầu tiên mới chính thức đưa truyền thuyết họ Hồng Bàng vào quốc sử qua bộ Đại Việt Sử ký Toàn Thư của ông(3), mặc dù chính ông đã nghi ngờ tính xác thực nội dung của truyện kể(4). Dĩ nhiên, những điều ngờ vực về tính xác thực như thế không phải là không có lý của nó. Đó không phải là điều vô bổ đối với những hiểu biết khai trí cho hậu duệ chúng ta trong nỗ lực tìm hiểu căn cước thật của Việt Nam bởi lẽ đã là truyền thuyết, nhất là truyền thuyết về đất nước, về dân tộc thì tự bản chất của nó ít nhiều đều chứa đựng tính chất hoang đường, thần thoại. Không những Ai Cập, Hy Lạp, hay Do Thái, Ấn Độ, mà ngay cả Trung Quốc - một đất nước có nền văn hóa rất gần gũi với văn hóa chúng ta, và có khá nhiều sử liệu được ghi chép rất sớm - cũng không sao thoát khỏi tính chất thần thoại hoang đường. Dường như đó cũng là một thứ tiền lệ tri thức của nhân loại, đặc biệt là trong thời kỳ khoa học chưa khởi sắc. Những thiếu sót và sai lầm về lịch sử dân tộc Việt Nam như thế không chỉ từ trong nước và từ những kẻ đô hộ, mà còn do sự tin tưởng chung của thế giới trước đây. Một nhận xét trong bài viết “New Light on a Forgotten Past”(5) của Wilhelm G. Solheim II, Giáo sư Nhân chủng học Đại học Hawaii, đăng trong tạp chí National Geographic tháng 03/1971 có đoạn: “European and American historians generally have theorized that what we call civilization first took root in the Fertile Crescent of the Near East, on its hilly flanks. There, we have long believed, primitive man developed agriculture and learned to make pottery and bronze. Archeology supported this belief, partly because it was in the region of that Fertile Crescent that archeologists did their most extensive digging”. (Lý thuyết của các sử gia châu Âu và châu Mỹ thường cho rằng những gì gọi là văn minh đều bắt nguồn đầu tiên tại vùng Lưỡi Liềm Phì Nhiêu ở Cận Đông, trên những sườn đồi. Đã lâu rồi, chúng ta tin tưởng người cổ sơ ở đó phát triển nông nghiệp và học hỏi làm đồ gốm và đồ đồng. Khảo cổ học đã hỗ trợ niềm tin này, một phần vì các nhà khảo cổ học chỉ loanh quanh đào bới trong khu vực Lưỡi Liềm Phì Nhiêu ấy mà thôi). Nhưng thật ra, cũng theo tác giả Solheim, những khám phá khảo cổ học gần đây ở vùng Đông bắc và Tây bắc Thái Lan, cũng như tại Đài Loan, tại miền Bắc và miền Nam Việt Nam, thậm chí cả những khám phá khảo cổ học ở Mã Lai, Phi Luật Tân và vùng Bắc Úc, cũng cho thấy nhiều dữ kiện và thông tin khả tín để khẳng định: Nền văn minh Hòa Bình cổ xưa nhất đã xuất hiện tại vùng Đông Nam Á cách nay hơn 10.000 năm và đã có nguồn gốc từ Việt Nam. Những điều khám phá và khẳng định trên của Solheim còn tỏ ra phù hợp với công trình nghiên cứu của Stephen Oppenheimer (1998), được viết trong cuốn “Eden in the East”(6) của ông. Căn cứ vào hải dương học, địa chất học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, thần thoại học, và một phần công trình nghiên cứu di truyền học của bản thân, Oppenheimer đã đi đến những kết luận hết sức mới mẻ mà chúng tôi xin tóm lược thành ba điểm có liên hệ nhất với bài viết này như sau: Điểm 1: Cách nay khoảng 20.000 - 18.000 năm, Đông Nam Á là một lục điạ rộng lớn gấp đôi lần ngày nay, bao gồm Đông Dương, Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, và kéo dài đến các vùng mà nay đã trở thành những nhóm quần đảo Sumatra, Java và Borneo. Bởi lẽ mực nước biển của thời bấy giờ thấp hơn ngày nay 120 - 130 mét, nên các khu vực ấy đều là đất liền khô ráo. (tr. 10, 17-8, 29, 80). Điểm 2: Đông Nam Á đã là trung tâm đầu tiên của các nguồn gốc văn hóa và văn minh của thế giới trong thời kỳ tiền sử (tr. 17). Nhưng vì trải qua 3 giai đoạn băng tuyết tan rất lớn của thời kỳ cuối Băng Hà đã xảy ra cách nay khoảng từ giữa 14.000 đến 8.000 năm (tr. 24), nên các nền văn hóa và văn minh tiền sử này đã bị chôn vùi theo với thêm lục địa Đông Nam Á bị ngập sâu dưới lòng biển (tr. 18, 62-3). Đây là điều đã ám ảnh trong các câu chuyện “Đại Hồng Thủy” gần như được phổ biến rộng khắp thế giới từ Đông sang Tây (tr. 24-5). Điểm 3: Cũng từ đó, cách nay khoảng từ 8.000 đến 7.000 năm, đã có nhiều đợt di dân từ các vùng ngập nước, phải phân tán đi vào Châu Úc, hoặc đi vào các nhóm quần đảo Pacific và Ấn Độ, hoặc theo hướng Bắc để vào sâu trong lục địa châu Á nói chung và Trung Quốc nói riêng (tr. 10). Trong khi di tản họ đã đem theo các tập tục văn hóa và văn minh tiền sử của họ, trong đó có những kinh nghiệm trồng trọt và thuần thục gia súc (tr. 71). Dẫu vậy, ở đây chúng ta không nên nhầm lẫn vùng Đông Nam Châu Á là cái nôi xuất phát thủy tổ nhân loại như đã có một số nhà nhân chủng học tin tưởng theo thuyết tiến hóa tại nhiều địa phương (multiregionalism theory). Thật sự, đó chỉ là một trung tâm văn minh rất sớm của thời kỳ tiền sử, mà phát khởi của nó là nông nghiệp, nhất là nông nghiệp lúa nước. Nhiều nghiên cứu di truyền học mới đây, được nhà di truyền học hàng đầu Spencer Wells(7) đúc kết và viết trong cuốn “The Journey of Man ” xuất bản năm 2002, đã cho biết: Tất cả mọi người trên khắp thế giới ngày nay đều là hậu duệ của một cặp thủy tổ quê quán tại Châu Phi. Đặc biệt, trong cuốn sách này còn có một công trình nghiên cứu DNA lấy từ hơn 12.000 cư dân bản địa sinh sống trên khắp vùng Đông Á, do nhà di truyền học Li Jin (Lý Huỳnh) và các đồng nghiệp của ông thực hiện, đã khẳng định: Tất cả huyết tộc của 12.000 người này đều có chung nguồn gốc tổ tiên xuất phát từ Châu Phi cách nay khoảng 50.000 năm (tr. 119-20). Như vậy, mặc dù Việt Nam ta không có hoặc không còn những di tích theo kiểu kiến trúc vĩ đại Trường Thành của Trung Quốc hay Kim Tự Tháp của Ai Cập để lại, nhưng lòng tin của người Việt mình là dòng giống Lạc Hồng, là con Rồng cháu Tiên và đã có bốn ngàn năm Văn Hiến - hay nói như học giả Kim Định “Bách Việt làm chủ trọn vẹn nước Tàu trước người Tàu” - đều đã có cơ sở. Dường như lòng tin này đã có sẵn trong “gene” di truyền của chúng ta. Bản thân chúng tôi trước khi nghiên cứu viết những giòng lịch sử này có thể cũng giống như nhiều người Việt Nam khác, đã không sao hiểu nổi núi Thái Sơn ở đâu mà lại hiện diện trong câu ca dao “Công cha như núi Thái Sơn...”. Nhưng nhờ tìm đọc sách báo và nghiên cứu ngọn ngành như đã khái lược ở trên, nên bây giờ chúng tôi mới vỡ lẽ ra những điều như sau: Thứ nhất, dân tộc ta thuộc một chủng tộc riêng, không những khác với Hán tộc Trung Hoa, mà còn hiện diện trên đất nước Trung Hoa trước họ. Tuy nhiên, dân tộc ta cũng không thuần chủng, mà là một hợp chủng của hai dòng tộc chính là Lạc Việt và Âu Việt, đồng thời đã có nguồn gốc xuất phát từ quê tổ Việt Nam và ngày nay đã được nhìn nhận là chủ nhân của nền văn hóa Hòa Bình. Thứ hai, không những vua Vũ nhà Hạ, mà cả Phục Hy, Thần Nông, Nữ Oa, Đế Nghiêu, Đế Thuấn… đều là những nhân vật vừa có tính cách lịch sử và cũng vừa có tính cách huyền thoại. Tất cả các nhân vật này đều phản ánh từ nguồn gốc văn hóa phương Nam của các tộc nông nghiệp Bách Việt, tức không là Hán tộc và khác với Hán tộc. Thứ ba, Hán tộc là nhánh chủng tộc du mục có gốc Thổ (Turk) và Mông Cổ, xuất phát từ những thảo nguyên ở miền Trung Á và Siberia đến. Họ chỉ mới có mặt ở vùng trung lưu Hoàng Hà, sớm nhất là thời Hoàng Đế (theo truyền thuyết được Sử Ký Tư Mã Thiên đề cập), tức sau thời kỳ Phục Hy và Thần Nông. Nhưng có phần rõ ràng hơn cả, có lẽ họ xuất phát từ thời nhà Chu và cũng chỉ bắt đầu bành trướng Trung Quốc xuống đến vùng Hoa Nam trong thời kỳ nhà Tần và Hán. Thứ tư, các từ ngữ văn minh, văn hóa và văn hiến, cùng với những ý nghĩa của chúng, đều có nguồn gốc xuất phát từ một đất nước đã được mang tên là Văn Lang. Văn Lang thật sự không phải là một đất nước có biên giới rành rọt theo quan niệm quốc gia mà ngày nay chúng ta hiểu. Đó là một miền đất nước được ranh định tại những nơi đã có sự định cư, định canh của các chi tộc Bách Việt và nằm trong phạm vi lãnh thổ Đông Nam Á, phía Bắc tiếp giáp với Trung Nguyên miền Hoa Bắc và phía Nam bao gồm Thái Lan, Mã Lai và Nam Dương. Nét văn hóa độc đáo của Văn Lang là tục xâm mình và dùng rìu búa, một loại dụng cụ vừa dùng để chặt đẽo, nhưng cũng vừa dùng như là vũ khí. Để hiểu biết rành mạch và chi tiết hơn về căn cước thật của Việt Nam, chúng tôi sẽ lần lượt tháo gỡ và trình bày những nguyên nhân nhầm lẫn lịch sử giữa Trung Quốc và Việt Nam ta trong những chương kế tiếp, nếu điều kiện cho phép. Và để đạt được những điều như thế, dĩ nhiên trong tiến trình biên khảo, chúng tôi sẽ phải mượn và trích lại thật nhiều những phần ý, hoặc văn, hoặc cả ý lẫn văn, của một số tác giả mà chúng tôi đọc được trên mạng điện toán, cũng như trong sách báo. Mặt khác, với chủ đích không nhằm đạt chất lượng chuyên khảo, mà chỉ phổ biến kiến thức phổ thông, chúng tôi sẽ tránh tối đa những phần nghiên cứu và từ ngữ quá chuyên môn, hoặc những từ ngữ chẳng những không còn thích hợp với tri thức mới ngày nay mà còn có thể gây ngộ nhận về ý nghĩa lịch sử đích thực. Tiện đây, chúng tôi xin cám ơn trước các tác giả có những phần trích ý, trích văn, đồng thời cũng mong được sự thông cảm về vấn đề tác quyền, nếu có. Vì thật sự đây cũng chỉ là nghĩa vụ chia xẻ tri thức chung đến với mọi người mà thôi. © DCVOnline (1). Kim Định: Nguồn gốc Văn hóa Việt Nam . NXB Nguồn Sáng, Sài Gòn, 1973 (tr. 1). (2). Phạm Trần Anh: Nguồn gốc Việt tộc. NXB Việt Nam Ngày Mai, 2007 (tr. 256-8, 322-4) (3). Đại Việt Sử ký Toàn thư. NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1993 (tr. 23) (4). Nguyên Nguyên: Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương (1): Quốc tổ mang hai giòng máu (www.dunglac.net) (5). Xin xem http://www.mevietnam.org/NguonGoc/fv-newlight.html (6). Oppenheimer, Stephen: Eden in the East. Weidenfeld and Nicolson, London, 1998. (7). Wells, Spencer. The Journey of Man: A Genetic Odyssey. Random House Trade Paperbacks, New-York, 2003. Nguồn: http://www.dcvonline.net
  4. Ai là tổ tiên của cư dân Lưỡng Quảng? Lê Đỗ Huy lược thuật Mấy năm qua, tại Diễn đàn Lịch sử Trung Hoa (China History Forum) đã diễn ra một cuộc thảo luận trực tuyến về nguồn gốc của cư dân hiện nay đang sống tại hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây [Lưỡng Quảng] của CHND Trung Hoa. Dựa vào những tranh luận trên diễn đàn này, một hoạt động sôi nổi, lôi cuốn nhiều người ở Trung Hoa lục địa và hải ngoại tham gia, chúng tôi xin lược thuật để bạn đọc tham khảo. Cuộc thảo luận trực tuyến được thực hiện bằng tiếng Anh, có đôi chỗ chú thích bằng tiếng Hoa, gồm hàng trăm ý kiến dàn trải trên 7 chương, mỗi chương có thể in ra chừng hơn 30 trang giấy khổ A4. Chủ đề của cuộc thảo luận là quan điểm Liên-Bách Việt (Pan-baiyueism), bàn về nguồn gốc chung của người Việt Nam và người nói tiếng Quảng Đông (Cantonese). Các thành viên tham dự diễn đàn này gồm chủ yếu là người Trung Hoa ở phía Nam (nhóm thứ nhất), thường phủ định quan điểm "Liên-Bách Việt", một số người Việt Nam và Việt gốc Hoa (nhóm thứ hai, ít hơn về số người), được xem là cổ súy cho quan điểm trên, và một số ý kiến trung dung. Các tranh luận thường khá gay gắt, nhưng các nhóm có vẻ đồng thuận với một số sử liệu, thường trích từ các công trình nghiên cứu phương Tây sau đây [1] : Vào khoảng đời nhà Chu (1134-770 tCn) và Xuân Thu, tại khu vực phía Nam Trung Hoa giáp với biên giới Trung-Việt ngày nay đã tồn tại những bộ tộc không thuộc Hoa tộc như Bách Việt, Bộc (Pu) [2] ... Tới thời Xuân Thu, người Việt ở khu vực núi Cối Kê (nay là Thiệu Hưng) thuộc Chiết Giang lập ra vương quốc Việt. Nước Việt vào năm 473 tCn đã chinh phục nước Ngô [3] láng giềng, đóng đô ở Tô Châu thuộc Giang Tô. Nhưng rồi Việt bị nước Sở thôn tính năm 306 tCn. Vào thời Xuân Thu, người Đông Việt được xem là cư trú ở vùng nay thuộc phía Đông nước Trung hoa hiện đại, người Dương Việt cư trú ở phía bắc của tỉnh Giang Tô hiện nay. Các bộ tộc Bách Việt khác như Âu Mân sống ở vùng Chiết Giang, Phúc Kiến; Nam Việt sống ở vùng Quảng Đông, Tây Âu ở Quảng Tây, Lạc Việt ở Phúc Kiến... Trong thời kỳ Chiến quốc (480-221 tCn), vương quốc Việt cũng chao đảo dưới những biến động chính trị, giống như các lãnh thổ thuộc Thục và Ba nay thuộc Tứ Xuyên, nhưng lộ trình văn hóa của nó vẫn khác xa văn hóa Trung Hoa “chính thống" [Hán] của lưu vực sông Hoàng Hà. Bắt đầu thời kỳ miền bắc của Dương Tử bị Trung Hoa hóa [Hán hóa] mạnh mẽ. Bức trường thành ngăn các bộ tộc du mục từ phương bắc xuống đã được nước Tần (221-206 tCn) và Yên xây dựng. Khu vực hiện nay thuộc Phúc Kiến lần lượt bị nhà Tần và nhà Hán chinh phạt, nhưng phong kiến Trung Hoa đã không thực sự kiểm soát được vùng đất này. Vào đầu đời Hán (206 tCn - 220), Triệu Đà lập ra vương quốc Nam Việt ở khu vực Quảng Đông, độc lập với triều đình Hán. Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa năm 221 tCn, quân nhà Tần bắt đầu tiến xuống phía nam dọc theo sông Tây Giang tới vùng Quảng Đông hiện nay, và xác lập các quận dọc theo các trục đường chính. Tới năm 112 tCn. Hán Vũ Đế đã chinh phục những vùng phương Nam (Trung Hoa), cùng với vùng nay là miền bắc Việt Nam và cử người Hán cai quản các quận. Dưới đời Hán, ngoài Nam Việt ở viễn nam chủ yếu là ở Lưỡng Quảng và Việt Nam, sử sách còn kể về tiểu quốc Mân Việt ở đông bắc tập trung ở vùng sông Mân Giang, nay thuộc Phúc Kiến (Mân là tên cũ của tỉnh Phúc Kiến). Thời Tam Quốc, Sách Địa lý chuyển luận trong Hán thư chép: "Ở khoảng bảy hay tám ngàn dặm tính từ Giao Chỉ đến Cối Kê (nam Giang Tô hay bắc Chiết Giang), những người Bách Việt có mặt ở mọi nơi, chia thành nhiều thị tộc". Hoạt động di cư của người Trung Hoa (Hán) càng tăng trưởng, người Việt càng bị đẩy vào các vùng đất cằn hơn, và vào rừng núi. Không giống như những người du mục Trung Á như tộc Hung Nô hoặc tộc Tiên ti, người Việt chưa từng thực sự đặt ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với sự bành trướng hay kiềm tỏa của Trung Hoa (người Hán). Thỉnh thoảng họ dấy lên những cuộc đột kích vào khu định cư của người Hoa, mà các sử gia cổ gọi là “những cuộc nổi loạn". Người Trung Hoa (Hán) cho rằng người Việt không văn minh, và hay đánh lẫn nhau. Sự sụp đổ của nhà Hán và giai đoạn chia tách tiếp theo đã đẩy mạnh quá trình Trung Quốc hóa. Các thời kỳ bất ổn và chiến tranh ở miền Bắc Trung Hoa giữa Bắc Triều và Nam Triều, cũng như trong đời Tống đã dẫn tới hoạt động di cư ồ ạt của người Trung Hoa (xuống phương Nam). Hôn nhân dị chủng và giao lưu giữa các nền văn hóa đã dẫn đến sự pha trộn giữa người Trung Hoa (Hán) và không Trung Hoa (không phải Hán) ở miền Nam. Cho đến đời Đường, từ “Việt” đã trở nên một định ngữ chỉ vùng hơn là chỉ một nền văn hóa. Một nhà nước từng nằm ở tỉnh Chiết Giang hiện nay trong thời kỳ Ngũ đại thập quốc chẳng hạn, đã tự xưng là Ngô Việt. Về thời Bắc thuộc, Diễn đàn dẫn luận án phó [?] tiến sĩ của Jennifer Holmgren "Sự đô hộ của Trung Hoa đối với [bắc] Việt Nam" (Chinese Colonisation of Northern Vietnam, 1980) có đoạn viết: Những ghi chép về hoạt động của Trung Hoa ở Bắc Bộ Việt Nam trong 6 thế kỷ đầu thời kỳ thực dân này (Việt Nam gọi là thời Bắc thuộc) cho thấy quá trình Việt Nam hóa đối với các dòng họ Trung hoa. hơn là quá trình Hán hóa đối với người Việt... Sự trêu ngươi như thế cho thấy một số thị tộc Trung Hoa xác lập quyền lợi của dòng họ mình ở Bắc Bộ: định cư dần dần, giúp đỡ mở mang và cuối cùng hoà nhập vào môi trường xã hội kinh tế và chính trị ở Bắc Việt Nam. Kết quả cuối cùng của quá trình này là sự xuất hiện của một tầng lớp thượng lưu Hoa-Việt, quá trình phi thực dân hóa ở vùng viễn nam, và những mưu toan bất thành ở thế kỷ VI để khôi phục nền độc lập, thoát ách đô hộ của phương Bắc. Ví dụ cho quá trình này là sự thăng tiến của Sĩ Nhiếp thời Hậu Hán và những nỗ lực giữ nền độc lập của người nhà ông này sau khi ông qua đời. Từ cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng thế kỷ I đến cuộc nổi dậy của Lý Bôn thế kỷ VI, sử sách của Trung Hoa cho thấy biểu hiện của một sự phụ thuộc về chính trị trên nền nửa độc lập với Bắc triều. Theo dòng thời gian, những thời kỳ có đặc tính bán tự trị ngày càng tăng lên. Xu thế này làm nền cho cuộc nổi dậy của nhà [Tiền] Lý ở giữa thế kỷ VI và cuối cùng là sự phân liệt hoàn toàn khỏi Trung Hoa vào thế kỷ X. Tác động của văn hóa Việt đối với văn hóa Trung Hoa đã không được xác định một cách chính thức, nhưng nó khá rõ rệt. Ngôn ngữ của các tiểu quốc cổ Ngô và Việt tạo nên ngôn ngữ Ngô, và phần nào tới ngôn ngữ Mân ở Phúc Kiến. Những nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho rằng một số từ tiếng Trung Hoa có nguồn gốc từ tiếng Việt cổ chẳng hạn như từ jiang (giang), có nghĩa là sông. Những tàn tích về người Việt có thể quan sát được trong một số nhóm thiểu số ở Trung Hoa. Ở Chiết Giang, nhà hát được gọi là rạp diễn Việt kịch. Tiếng Việt là một bộ phận của tiếng Trung Hoa và thường được gọi là tiếng Quảng Đông. Mẫu tự chính thức và các phương ngữ hình thành từ nó được sử dụng ở Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Hồng Kông, Ma Cao và tại một số cộng đồng Hoa Kiều trên thế giới. Một số tên gọi khác của người Việt còn truyền được tới nay là Yi-Yue (hoặc Yu-Yue/ Ngải-việt), Mân-việt, Sơn-Việt, Dương-Việt (người Việt ở biển), U- Việt và Câu-Ngô. Những nhà nghiên cứu tiếng dân tộc cho rằng tên gọi người Việt có liên quan đến nghề chế biến cây gai dầu ở miền nay là Chiết Giang. Chữ Việt cũng được xem là từ chỉ lưỡi phủ việt, một dụng cụ hay khí giới giống cái búa hay cái rìu, hình chữ nhật, biểu trưng cho quyền lực hoàng gia hay đế chế. Nhiều dụng cụ dạng rìu bằng đá đã được tìm thấy ở Hàng Châu, do vậy, nhiều học giả cho rằng lưỡi việt (búa dùng trong nghi lễ) là một sáng chế của miền Nam. Chữ Việt cũng từng được dùng để chỉ Quảng Đông và Quảng Tây [4] . Cho dù nhiều bộ tộc Việt vẫn thấp thoáng đó đây trên lãnh thổ CHND Trung Hoa và để lại những dấu ấn trong sử sách đến cuối đời Hán, nay chỉ có thể kể tên vài nhóm dân Việt như Palyu “Lai", Bugan “Hualuo hay Huazu”, Bit, Bulang, Hu, Kemu, Khuen, Wa... Di sản lớn nhất của người Việt cổ chính là miền Bắc Việt Nam, miền đất mà họ chạy về đó định cư do sự truy bức của Trung Hoa. Về các tộc thiểu số khác ở khu vực nay là biên giới Trung Việt, theo sách của S. Robert Ramsey. Những ngôn ngữ của Trung Hoa (The Languages of china) tr. 233, không chỉ có Hakka (Khách gia, miền nam gọi là Hẹ), Mân và người Quảng Đông, là những người ở miền Nam Trung Hoa từ đầu, mà từ lâu đời người Thái đã thấp thoáng đóng một vai trò có qui mô ngay trước khi một thiên hạ Trung Hoa lộ rõ. Từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên, những khu vực trồng lúa đã lốm đốm xuất hiện ở lưu vực sông Dương Tử. Vẫn theo S. Robert Ramsey, trong số các tiểu quốc được điểm tên trong lịch sử Trung Hoa có Ngô, ở gần Thượng Hải hiện nay, và Việt nằm dọc theo bờ biển Nam Trung Hoa, là những quốc gia của người Thái. Các quốc gia này dần dần bị Trung Quốc nuốt dần và đa số người Thái đã trở thành người Trung Hoa, qua đồng hóa về văn hóa và ngôn ngữ. Một nhà dân tộc học đã ước tính rằng ít nhất 60% người Quảng Đông có tổ tiên là thổ dân nói tiếng Thái. Về các vùng khác thuộc miền Nam Trung Hoa nói chung: miền Nam Trung Hoa trước thời Hán bao gồm nhiều nền văn hóa gần với Đông Nam Á như văn hóa Đông Sơn. hoặc những nền văn hóa nổi tiếng hơn như Ngải, Di hoặc Ba Thục. Trong đó, văn hóa Điền ở Vân Nam thể hiện những cư dân khác sau thời đồ đồng. Xứ Vân từng cho thấy mối liên hệ về các nhóm người phương Nam với những bức tranh trong hang vẽ pháp sư (saman) khua gươm cong, chuôi có núm tròn kiểu Hán, thể hiện quyền lực trên đầu một đám đông. Người Hán từng có tục xăm mình để trấn áp những chứng bệnh nhiệt đới cũng như những cừu thù trong thời gian chiếm đóng những vùng đất thù địch. Ở Vân Nam, văn hóa hiện đại của địa phương này không có nhiều liên hệ với nền văn hóa thuần Hán của vùng đồng bằng trung tâm cả về tín ngưỡng, trang phục, ẩm thực. Ở Vân Nam, còn tồn tại tục ăn côn trùng. Những nguồn và ý kiến trên thường thuộc về các nhà nghiên cứu phương Tây, ít gây tranh cãi hơn so với những ý kiến dưới đây. Nhóm thứ nhất (người Trung Hoa, đa số là ở lục địa) cho biết một số phát hiện và khẳng định sau: Người Quảng Đông cách đây 2.000 năm là sự pha trộn giữa người Việt tại chỗ và người Hán. Người Việt lúc đó gần với người thiểu số dân tộc Nùng hiện nay ở Việt Nam. Vương quốc Nam Việt gồm những cư dân người Kinh (?) sống ở đó nhưng họ là người Trung Hoa. Quảng Đông và Quảng Tây cũng như quốc gia cổ Nam Việt, không có quan hệ với dân tộc hiện nay mang quốc hiệu Việt Nam. Hoặc họ (người Trung Hoa ở phương Nam) không có quan hệ gì với người Nam Việt, cho dù Triệu Đà, vua Nam Việt lúc đó là người Hán. Trong khoảng 100 năm gần đây người Hoa di cư xuống Việt Nam là từ Lưỡng Quảng và Phúc Kiến. Người Hán phương Bắc, theo nhóm thứ nhất, hầu như không di cư xuống Việt Nam, họ chỉ chạy sang Nam Triều Tiên vào năm 1949 và định cư chủ yếu ở Pusan và Seoul. Người Hoa di cư xuống phía Nam thường không phải là người Hán. Họ tự gọi mình là người Minh Hương, hiện ở Việt Nam còn thế hệ thứ tư của những người Minh Hương, phần nhiều không nói, viết được tiếng Hoa. Người miền Nam Trung Hoa có ngoại hình khác với người Trung Hoa phương Bắc. Nhà Nguyên Mông chia người Trung Hoa thành các nhóm: Mông, du mục người Hán phương Bắc, người Hoa phương Nam. Một vài ý kiến cho rằng người Trung Hoa phương nam có ngoại hình phần nào giống với người Việt Nam. Nhiều người Quảng Đông hiện đại còn giữ được gia phả theo đó tổ tiên của họ di cư từ phía bắc xuống Quảng Đông vào đời Đường (618-907) và đời Tống (960-1279). Cuộc di cư lớn nhất xảy ra vào cuối đời Tống, họ cư trú ở nơi mà người Nam Việt đã bị đẩy xuống Quảng Tây hoặc Việt Nam hiện nay, nơi mà khi đó những người Choang là thiểu số so với người Kinh chiếm đa số. Người Trung Hoa ở phương Nam hiện nay nói chung đã bị Hán hóa. Còn có trên 50 triệu người thuần huyết thống Nam Việt hiện ở Quảng Tây và Quế Lâm. Những người thổ dân thuộc các bộ tộc thiểu số Lê, Tày, Đai..., được chính phủ Trung Hoa xếp vào cùng nhóm với người Choang, nhóm này có tổng dân số trên 20 triệu người. Không có nhiều người Quảng Đông sinh ra ở Việt Nam. Cộng đồng Trung Hoa ở Việt Nam chủ yếu là những người nói tiếng Triều Châu (Tiều) hoặc Phúc Kiến [5] . An Dương Vương (Thục Phán), Triệu Đà, cũng như anh hùng dân tộc của Việt Nam Lý Bí, đều là người phương Bắc Trung Quốc. Nhiều ý kiến của nhóm thứ nhất thường nhấn mạnh rằng họ là những người Quảng Đông thuộc về hệ Hán, hiện chiếm đa số ở khu vực Lưỡng Quảng, và "rất tự hào về nguồn gốc Hoa Hạ và Đông Di của mình", hiện chung sống với "các dân tộc thiểu số” đáng yêu có nền văn hóa rực rỡ, danh giá thuộc về giòng dõi Nam Việt. Rằng đa số người Trung Hoa hiện đại không cho rằng nước Nam Việt lúc đó gần với Âu Lạc (được xem là nằm trong vương quốc Nam Việt) hơn là gần với Trung Hoa. Rằng những người Việt Nam hiện đại kém hiểu biết cần được dạy dỗ, rằng họ chỉ có quan hệ với Âu Lạc, nhưng không có quan hệ gì với vương quốc Nam Việt. Cổ sử Trung Hoa, theo họ chép rằng những người Hán đã tàn sát và đánh đuổi những bộ lạc Việt về phía Nam và xuống đồng bằng sông Hồng trong "các cuộc chinh phạt cướp đất". Có ý kiến khuyên người Việt không nên tự hào về dòng dõi Nam Việt vì đây chính là giống Nam Man [6] . Một số ý kiến cho rằng người Việt nhìn chung là “bội bạc", "quanh co”, đàn ông Việt Nam không chăm chỉ và không chú trọng xây dựng gia đình theo khuôn mẫu Á đông. Có ý kiến lại cho người Việt là đần độn và khờ dại. Cũng có ý kiến cho rằng người Việt hiện đại xấu hổ (?) vì dòng dõi Bách Việt và tìm cách “leo thang" để gắn mình với người Quảng Đông và người Trung Hoa. Và cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ không được người Mỹ ưa chuộng (?) Xin nêu thêm một số phát hiện đến từ cả hai nhóm và các nhà nghiên cứu phương Tây: Nhà Tần (221-206 tCn) cũng có truyền thuyết về con chim thần (tựa như Âu Cơ). Có nhiều người Việt cổ bị đồng hóa thành Trung Hoa nhiều năm trước đây. Chẳng hạn họ Âu-dương đến từ đất Lư Lăng của vương quốc Việt cổ. Có một hoàng tử Việt mang họ này bị nhà Chu bắt. Hậu duệ của ông, một sử gia nổi tiếng nhà Tống mang họ này. Hiện nay, ở một số tỉnh miền Nam Trung Hoa còn nhiều người mang họ này. Một số người Quảng Đông cũng mang họ này. Sử gia đời Tống Âu-dương Tu cho rằng người Việt có cùng một tổ tiên với với người [Hoa?] Hạ, một quan điểm bị nhóm thứ nhất của Diễn đàn này phê phán. Các khu vực Tứ Xuyên, Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam từng có nền văn hóa riêng và dân cư khác biệt, không in dấu lên triều đình Hán hay các nghi thức đặc trưng cho đế chế Trung Hoa. Quảng Châu được Ngô vương Tôn Hạo, vua thứ tư nhà Đông Ngô, chắt của Tôn Quyền, chia tách từ Triều [?] Châu [7] vào năm 264. Có lượng đáng kể của dòng máu Trung Hoa trong huyết quản người Lạc Việt và U Việt. tức là người Việt hiện đại. Những người U Việt thuộc nhóm Bách Việt, bị nhà Thanh (1644-1911) dồn đuổi xuống lãnh thổ Việt Nam. Chuyện chín chúa tranh vua" (Cẩu chúa cheng vùa) của các dân tộc Tày, Nùng… có thể là minh họa cho sử liệu này. Khái niệm “Hán hóa” từng thuộc về những đường biên giới cổ đại thật xa lạ với hiện nay. Không thể xem là những tộc người thiểu số đang không được đãi ngộ ở CHND Trung Hoa, cho dù một số trong họ đã biến mất trong những triều đại phong kiến sau cùng. Miền Nam Trung Hoa từng thuộc những tộc người thiểu số hiện cung cấp một ít di sản phục vụ cho du lịch. Không nên nghĩ rằng tất cả công dân Trung Hoa thực thụ hiện đang cố trở nên càng giống Hán càng tốt. Những dị biệt về tính cách sắc tộc và văn hóa vẫn còn tiềm tàng ở CHND Trung Hoa, thể hiện cả ở nét mặt của những người không phải dân tộc Hán. Những khu vực như Tân Cương hay Tây Tạng về cốt lõi văn hóa vẫn cho thấy sợi chỉ mỏng manh của bản sắc văn hóa và cho thấy rõ ràng nên xem xét cư dân hoặc sở hữu đất đai (!) có thể xem là hoàn toàn Trung Hoa hay không. Sự hiện diện trước đây của những thổ dân không phải người Trung Hoa có thể thấy rõ trong những tài liệu khai quật được. Nhưng công nhận hay không công nhận điều này cũng không thể xem như lý do để chuyển sang đề tài chính trị. Càng không phải duyên cớ để các khu vực khác khoanh vùng để đòi lại… (đây là ý kiến từ phương Tây). Nghiên cứu DNA do các trung tâm ở Thượng Hải, Côn Minh và Hoa Kỳ (Center for Genome Information, Department of Environmental Health, University of Cincinnati, Cincinnati, Ohio 45267, USA) chỉ ra rằng người Bắc Trung Hoa (Tây An và Bắc Kinh) và người Nam Trung Hoa (Quảng Châu, Thượng Hải) có cùng mẫu ADN. Một ý kiến đáng chú ý từ nhóm thứ hai - chủ yếu gồm người Việt hải ngoại, kể cả những người di tản sau năm 1975, trong đó có cả người Việt gốc Hoa - không gặp phải phản kháng của nhóm thứ nhất: Việt là từ mà người Hoa Hạ gắn với thổ dân khu vực đông nam của Trung Hoa mà họ gặp phải. Định nghĩa khái lược này hợp với một địa bàn rất rộng ở Đông Nam Á… bao gồm ngoài đông nam Trung Hoa còn bao gồm Tây Nam nước này. Đông Nam Á xét về vị thế, Đông bắc Ấn Độ, các đảo trên Thái Bình Dương, và Madagascar. Dân này nói tiếng Austronesian, Tai-Kadai, Austroasiatic và Hmong-Mien (Mon-Khmer). [1]Người dịch tổng hợp và chú thêm niên đại để người đọc tiện theo dõi. Chú thích trong bài là của ban biên tập Xưa & Nay. Chú thích của talawas để trong []. [2]Theo một nguồn nữa, các bộ lạc không phải người Hán gồm: Hoa Di (thuộc bộ tộc Lô Lô) hay Xu và Việt ở phía đông, Khuyển Nhung ở phía tây, Di ở phía bắc, Pu, Khương và Man ở phía tây nam và phía nam. [3]Theo một Website phương Tây được công nhận rộng rãi [?], nước Ngô cũng là một quốc gia của người Việt nằm ở nam Giang Tô và bắc Chiết Giang. Giới quý tộc của hai quốc gia này học tiếng Trung, thuận theo pháp luật Trung Hoa và học theo công nghệ quân sự Trung Hoa, phát triển giao thông thủy là chính, và nghề nuôi trồng thuỷ sản, chứ không chỉ làm thuần nông nghiệp. Hai nước này cũng nổi tiếng về nghề đóng tàu và tác chiến trên sông nước, cũng như nghề làm gươm. Vào thời Chiến Quốc, hai nhà nước Ngô và Việt, bắt đầu can thiệp mạnh hơn vào chính trường Trung Hoa. Năm 506 trCn, chiến tranh bùng nổ giữa Ngô và Việt, lúc ác liệt lúc lắng dịu trong suốt 30 năm sau. Tới năm 473 trCn, Việt Vương Câu Tiễn chiếm được Ngô, được các lân bang là Tề và Tấn công nhận. Năm 333 trCn, đến lượt Việt bị Sở thôn tính. [4]Như khái niệm biên khu Việt-Quế được dùng khoảng giữa thế kỷ XX, bên kia biên giới là hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh của Việt Nam. [5]Được phương Tây xem là những nhánh của ở phương Nam có liên hệ với Hán tộc. Tuy nhiên, một trang Web thông dụng của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ phương Tây [?] cho rằng tiếng Phúc Kiến và Triều Châu là phương ngữ phụ trong tiếng Mân. [6]Là một trong số các dân tộc mà người Hán coi là mọi rợ (Đông Di, Tây Nhung, Nam Man, Bắc Địch). Xin lưu ý ở trên có ý kiến của người Quảng Đông hiện đại thể hiện sự tự hào là người Đông Di. [7][có thể ông LĐH nhầm. Sau khi Sĩ Nhiếp chết, năm 226, Đông Ngô đã chia Giao Châu ra làm hai châu: Quảng Châu gồm các quận Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô và Giao Châu gồm các quận Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. và cử Sĩ Huy, con Sĩ Nhiếp làm thái thú Cửu Chân, nhưng Sĩ Huy không tuân lệnh mà dấy binh chiếm giữ Giao Chỉ. Thứ sử Giao Châu là Đái Lương và thứ sử Quảng Châu là Lữ Đại cùng hợp binh tiến đánh và giết chết mấy anh em Sĩ Huy. Khi đó Đông Ngô lại hợp nhất Quảng Châu với Giao Châu như cũ, phong Lữ Đại làm thứ sử Giao Châu, và đến năm 264 mới chia lại thành Quảng Châu (trị sở tại Phiên Ngung, nay là thành phố Quảng Châu) và Giao Châu (trị sở tại Long Biên). Giao Châu mới gồm có 6 quận: Giao Chỉ, Tân Xương, Vũ Bình, Cửu Chân, Cửu Đức và Nhật Nam, bao gồm miền Bắc Việt Nam cộng thêm khu vực Khâm Châu (thuộc Quảng Tây) ngày nay và bán đảo Lôi Châu thuộc tỉnh Quảng Đông) ngày nay.] Nguồn: Tạp chí Xưa & Nay số 295, 11/2007 tr. 30-33 Nguồn: http://www.phamthihoai.org
  5. DCVOnline – Nguồn gốc dân tộc là một đề tài khoa học, phức tạp và còn nhiều tranh cãi. Điển hình là cuộc thảo luận trực truyến ở Diễn đàn Diễn đàn Lịch sử Trung Hoa (China History Forum) về nguồn gốc của cư dân hiện nay đang sống tại hai tỉnh miền Nam nước CHND Trung Hoa (Quảng Đông và Quảng Tây) và xa gần liên hệ đến nguồn gốc người Việt Nam. Cuộc tranh luận có hai nhóm rõ rệt. Một là nhóm người Trung Hoa, đa số là ở lục địa và nhóm thứ hai, đa số là người Việt hải ngoại - kể cả những người di tản sau năm 1975, trong đó có cả người Việt gốc Hoa. Mời bạn đọc muốn tham khảo thêm ghé thăm trang đọc thêm Diễn đàn Lịch sử Trung Hoa và đọc bài của tác giả Lê Đỗ Huy, “Ai là tổ tiên của cư dân Lưỡng Quảng?”, Tạp chí Xưa & Nay số 295, 11/2007 tr. 30-33 đăng lại trên talawas và có thêm chú thích. Trong bài này tác giả Lê Đỗ Huy tường thuật về một nhận định chung của c hai nhóm và những nhà nghiên cứu nước ngoài là: Nghiên cứu DNA do các trung tâm ở Thượng Hải, Côn Minh và Hoa Kỳ (Center for Genome Information, Department of Environmental Health, University of Cincinnati, Cincinnati, Ohio 45267, USA) chỉ ra rằng người Bắc Trung Hoa (Tây An và Bắc Kinh) và người Nam Trung Hoa (Quảng Châu, Thượng Hải) có cùng mẫu ADN. Nhận định này khác với ý kiến sau đây của tác giả Nam Phan: “Ngược lại, chỉ số sọ giữa người Trung Quốc Hoa Nam và người Trung Quốc Hoa Bắc (thuộc Hán tộc thuần chủng) lại khác nhau hoàn toàn. Và sự khác nhau này cũng đã được DNA di truyền học hiện đại xác định.” (trích : www.dcvonline.net) Mời ACE tham khảo tại: Diễn đàn Lịch sử Trung Hoa (Còn tiếp_
  6. Phoenix rất tán đồng đề xuất của chú Thiên Sứ. Phoenix đề xuất thêm, ACE cử ra một người tập hợp và cập nhật danh mục các bài đã sưu tập để tránh bị trùng lặp và tiện cho việc tra cứu.
  7. Không có cách khắc phục hả chú Thiên Sứ?
  8. Trung Quốc binh đao chiến sự nhiều, võ học phát triển là tất yếu. Tuy thế, ai dám khẳng định những chiêu bay lượn phóng chưởng, rồi "truyền âm nhập mật", độn thổ, nội công "hộc máu" là những đặc trưng của võ học Trung Hoa dù nó đầy rẫy, nhan nhản trong phim của TQ, HK, ĐL. Thực tế thì chúng đã góp phần không nhỏ làm cho đông đảo công chúng tin vào sự kỳ diệu của võ học Trung hoa mà chính họ thừa sức để hiểu rằng điện ảnh đã "vẽ" thêm màu sắc cho thực tế. Nhưng những người dân Trung Hoa bình thường nhất hiểu rằng, võ học của họ không phải là sự "bay lượn" như trong phim. Cách đây một thời gian, đài truyền hình đã giới thiệu về 10 trường phái võ nổi tiếng và truyền thống nhất của Trung Quốc. Trong đó có một loại võ cực kỳ đơn giản, nguyên thủy nhưng thiết thực giúp cho những người Trung Hoa yêu nước giành được thế thắng trong cuộc tranh đấu của họ. Như vậy, điện ảnh phải làm vai trò của nó. Vai trò đó không phải chỉ là làm phim tư liệu trung thực về lịch sử mà phải làm ra những bộ phim có tính nghệ thuật và giá trị thẩm mỹ cao (cả mỹ học và nhân văn) đối với đời sống con người từ những tư liệu đó. Phim Việt Nam đa số như cơm tẻ nấu dở: vừa khô, vừa sạn, vừa sượng, vừa nát lại vừa cháy. Chỉ một phần trong số phim ảnh của chúng ta giống như bát cơm nếp thêm, làm người ăn cảm nhận được mùi hương lúa nếp, hình dung được cánh đồng lúa rì rào. Trong khi đó, trên thế giới - hầu hết các bộ phim được công chiếu và thành công đều có chung 1 giá trị là tạo cảm xúc, truyền được cảm xúc đến người xem khiến họ hòa đồng vào tình huống, nội dung phim. Như họ là một nhân chứng cho phim vậy. Phim Hàn Quốc rất dài dòng, lê thê, cốt truyện nhàm nhưng đánh vào tình cảm đời thường của đa số thanh niên, phụ nữ (rất đúng đối tượng). Nó làm người ta dễ cảm thông, dễ hiểu, và dễ bị xúc động cùng nhân vật, tình huống phim. Chưa kể là tác phong và trang mục rất hiện đại, mode của diễn viên thì tạo cảm xúc rất mạnh với giới trẻ. Phim Mỹ cực kỳ đặc trưng về việc truyền thông điệp và cảm xúc. Nếu không đánh vào ấn tượng "sững sỡ" trong các bộ phim viễn tưởng, khám phá.... thì cũng đánh vào tinh thần vươn lên, ý chí với cuộc sống, thái độ tích cực trong các vấn đề mâu thuẫn .... Diễn viên, trang phục, thiết kế cảnh quan thì khỏi nói, làm cho đa số khán giả thấy đúng như (thậm chí hơn) mình mong muốn, không có gì phải chê nữa. Phim Trung Quốc cầu kỳ đến kỹ lưỡng. Sự sáng tạo thì không ngừng. Cùng một cốt truyện có đến cả chục phim mà người xem vẫn có thể xem được. Chẳng mấy ai ngồi phê phán cái ông này mặc không giống ông kia trong truyện. Người xem bị hấp dẫn bởi tình huống chuyển thể trong phim, sự đổi mới trong phong cách diễn viên, thậm chí người ta còn mong chờ để xem diễn viên sẽ mặc trang phục nào thay cho trang phục của chính nhân vật đó mà phim khác đã mặc. Điện ảnh là NGHỆ THUẬT thứ 7. Đã là nghệ thuật thì đòi hỏi đầu tiên của nó là sự sáng tạo. Nhà làm phim có trách nhiệm làm ra cái mới và truyền giá trị từ cái mới đó tới người xem để thể hiện các thông điệp. Thế mà các bác nhà ta cứ lấy lý do lịch sử này nọ để nói rằng phim không khả thi. Sao chẳng nói thằng băng ra rằng: Sợ các nhà làm phim của Việt Nam chẳng làm nổi một bộ phim cho ra phim với đề tài này vì nó quá khó và quá "bó".
  9. Chú Thiên Sứ kính mến, Trong trường hợp vì điều kiện thi công khó khăn khiến cho căn nhà không thể tô trát toàn diện phần tường bao ngoài thì sẽ ảnh hưởng thế nào đến sự hài hòa theo quan điểm của PTLV? Nếu khắc phục thì có giải pháp nào không?
  10. Thiên Đồng kính mến, bao nhiêu ngày mới được cái quẻ Đỗ Đại An. Phải cảm ơn Thiên Đồng nhìu wá :wacko: Xem ra còn mệt mỏi. Không biết Tốc Hỷ tương ứng với phần nào của cái nhà nhỉ?
  11. Phoenix bị bệnh, lấy quẻ cho mình là lộn xộn. Thêm nữa, vốn không chú tâm học hành nên luận quẻ rất "lởm khởm". Lại nhờ Thiên Đồng thêm lần nữa nhé? 1. Phoenix có xin được giấy phép xây nhà sớm không? 2. Việc xin giấy phép có gặp khó khăn, trục trặc hay tốn kém gì không? 3. Việc xây nhà có suôn sẻ, trọn vẹn không? :ph34r: Phiền Thiên Đồng nhé! Có dịp sẽ hậu tạ. :ph34r:
  12. Cây cổ thụ - Linh hồn của Thủ Đô Hà Nội. Ảnh VIT Trong trí nhớ và trong mắt cha tôi, Hà Nội cổ truyền tan biến dần cùng với sự ra đi của những cây cối mà kỷ niệm bám víu vào. Và, vào một dạo xuân, khi cây gạo gốc sần sùi thân cao ngất đứng trước đền Ngọc Sơn, hầu như mùa cuối cùng buông rơi những bông hoa ngô nghê, cha tôi lặng lẽ ra đi trên chiếc ghế, nơi ông tâm tưởng về lòng trung hậu giữa người đời, lòng trung hậu ngay cả với cỏ cây quanh ta. Đã đành, cây là cây. Mọc, lớn, chết. Chết già, chết thui, chết chặt. Thoát chết thui và chết chặt, thành cổ thụ. Cổ thụ, đứng giữa rừng, thân to, tán rộng, sống lâu mà trông vẫn cường tráng, vẫn ngây ngô. Cổ thụ, đứng đầu làng, cạnh những ngôi đền, đình và chùa, giữa người đời và thánh thần, nhìn thấy và nhịn chịu tất thảy, trông giống hệt các bô lão, phải gọi chúng là cụ mới phải. Nhiều khi chúng còn cao tuổi hơn cả những ngôi đình và nếp chùa, già nua hơn những con đường lát gạch móm mém. Và, giả dụ biết nói, chúng sẽ kể cho ta nghe câu chuyện miên mam về những niềm vui và những nỗi thống khổ của các kiếp người và kiếp cây. Làng quê ta đâu đâu cũng bắt gặp những cây - bô lão như thế. Muốn ngả mũ chào, muốn cài dắt nén nhang, tựa như đứng trước một ngôi miếu vô danh Ôi, những cây đa, cây đề, cây si, cây bàng quê ta, bởi sao mà chúng đậm hồn Việt đến thế. Hoa sưa đường Trần Hưng Đạo. Ảnh VIT Cây cổ thụ đứng giữa phố phường hình như cũng thành thị hoá. Thành thị hoá không chỉ bởi chúng được đem trồng thành hành, thành lối hai bên đường hay ở các vườn hoa. Thành thị hoá bởi chúng, như người thị thành, phải chịu sự chen chúc, va chạm và lấn lướt. Thành ra cây ở đô thị nom khô, nom từng trải hơn cây ở làng. Khuôn mặt phố phường có thể hôm nay cũ kỹ và ngày mai có thể tươi trẻ lên, song những cây cổ thụ thì, dù là lá cứ xanh hoặc cứ rụng khi mùa đến, gốc rễ của chúng, tấm thân của chúng vẫn cứ già cỗi đi. Nhìn chúng, ta không thể không suy tưởng rằng cây cũng có tính cách, có tâm tư và có thái độ. Nhận rõ hơn là sự cam chịu, không nói lên lời, trên da thịt những cây cổ thụ ấy.Cha tôi, thời trước, thường kể cho tôi về những cây cổ thụ và những loài cây chỉ mọc ở Hà Nội. Ông nhớ chúng vanh vách, như Ông nhớ các căn nhà và chủ nhân trên các phố Hành Gai, Hàng Đào, Hàng Cân… Ông nhớ tới những cây gạo, vốn là đồ trang sức của chốn quê nghèo, không rõ vì sao lại mọc ở Hà thành lắm thế: một cây ở bên Nhà hát Lớn, chỗ khách sạn Hilton bây giờ, một cây mọc ở sát đường tàu điện, chỗ bệnh viện Đống Đa… Ông than thở về cái sự những cây đa, cao tuổi hơn vài lần các phố phường Hà Nội, bị giam nhốt trong một công sở ở phố Hàng Trống, ở sân sau của một viện bảo tàng. Ông kể về cái cây đa có từ thời phố Hàng Gai còn làm độc nghề in sách và bán sách, nay bị nhà cửa chen lèn, chặt đến nỗi không hiểu làm sao cái cây già khụ ấy còn chưa tắt thở. Ông kể về hàng cây cơm nguội trên một đoạn phố Lý Thường Kiệt, nơi một chiều đầu năm 1947, có chàng trai đất Hà thành giắt trái tạc đạn bên sườn, vác bao cát đặt lên vỉa hè, áp súng vào má, bắn Tây. Một viên đạn từ phía khác kết thúc đời chàng trai phong lưu. Chỗ anh yên nghỉ, trên một con phố ngắn, suốt mấy chục năm, cả thời Tây lẫn thời ta, hai hành long não đẹp như sắp đặt, nghiêng nghiêng cúi mình. Nay con phố này đã thành chợ, nhiều người, lắm hàng, thừa rác. Tiếng chặt thịt cầy nghe rền tai, ghê ghê. Trong trí nhớ và trong mắt cha tôi, Hà Nội cổ truyền tan biến dần cùng với sự ra đi của những cây cối mà kỷ niệm bám víu vào. Và, vào một dạo xuân, khi cây gạo sốc sần sùi, thân cao ngất đứng trước đền Ngọc Sơn mùa cuối cùng buông rơi cùng buông rơi những bông hoa ngô nghê, cha tôi lặng lẽ ra đi trên chiếc ghế mây, nơi ông tâm tưởng về lòng trung hậu giữa người đời, lòng trung hậu ngay cả với cỏ cây quanh ta. Ông ra đi, như cây già, chết tại chỗ vậy. Cho đến bây giờ, mỗi lần đi trên đường Điện Biên Phủ (xưa kia là đường Cột Cờ), tôi chưa bỏ được thói quen đếm xem còn bao nhiêu cây đa để về mách lại với Ông. Cây hoa sữa trên đường Nguyễn Du. Ảnh VIT Mới đây, tôi có dịp đến một đất nước xanh - sạch - tươm và đẹp như thể một vườn hoa khổng lồ. Những thảm cỏ và luống hoa được chăm chút như cái thảm nhà mình. Những thân cây trẻ khoẻ, tán lá mỡ màng, không vương vấn bụi. Những toà nhà ngất trời không một vết nhơ bẩn. Sạch và tươm, tưởng đến mức vô trùng. Sạch và tươm, tưởng như không tưởng. Y hệt một mô hình kiến trúc tỉ lệ 1: 1. Lạ thay, ở chính cái vườn hoa - địa đàng ấy, bỗng dưng tôi nhớ tới Hà Nội với những con phố cũ kỹ, luộn thuộm, đầy kịt chất đời và vị sống. Những con phố che không xuể cái cũ, cái nghèo, cái duyên thầm của mình bởi những cây, những hàng cây cổ thụ. Chúng không đẹp như những cái cây ở đô thị giống như mô hình kia. Chúng là những bộ trang phục cũ kĩ, mộc mạc mà phố phường Hà Nội quê tôi ăn bận vào mình. …Để thoả sức ngắm cây, tốt nhất là cưỡi lên xích lô hoặc xe ôm, cứ việc ngửa mặt, ngước mắt lên mà ngắm, mà ngẫm về cây vào cuối thu đầu đông, vào ban mai, khi nắng vẫn còn non và sương chưa tan hết. Phố tôi ngụ, hai bên mọc đều những cây bàng, cùng nghiêng đầu vào giữa lòng đường, che phủ những dãy nhà cũ và mới với hình hài kiến trúc hãm tài. Những cây bàng làm phố tôi ở giống hệt những con phố tỉnh lẻ khác, giông giống cả những con phố ở Huế, ở mãi tận Côn Đảo. Song, ở những nơi ấy, cây bàng, nhìn kỹ, có khác. Chúng bồng bột hơn. Trong làn sương sáng, rặng cây cơm nguội cuối đường Yên Phụ, trước lối rẽ vào khách sạn Thắng Lợi, quanh năm tán lá lưa thưa và màu lúc nào cũng vàng hoe hoe, cứ tưởng như chúng có bổn phận lưu níu cái đẹp của thu Hà Nội mà thực ra chỉ cảm nhận được vài ba chục ngày, mỗi năm. Tôi thuộc hàng cây đa trên đường Trấn Vũ, Quán Thánh, Yên Phụ và trên những con đường khác. Song tôi chưa thấy cây đa nào mà thân hình có dáng vẻ đồ hoạ và có sức biểu đạt như hai cây trồng trước đình Thanh Hà ở Ngõ Gạch. Chúng tưởng như đã được “chậu cảnh hoá”, không thể mọc cao và bành trướng ra, vì nơi đây con người qua lại phải ý tứ, kẻo va đụng vào nhau. Cây lộc vừng chín gốc ven Hồ Gươm. Ảnh VIT Ở Hà Nội, còn có những đường phố cây trồng theo quy củ từ thời Pháp thuộc; độc cây sấu, độc cây xà cừ, long não, sao đen… Những thứ cây trồng theo trật tự ấy, thoạt đầu chỉ cốt để lấy bóng mát, mọc lâu cũng có được tính riêng đâu. Nói đến đường phố nào, nhớ ngay đến hình ảnh cây cối ở đó, trước khi nhớ đến kiến trúc. Đường Phan Đình với bốn hàng cây sấu, đường Tràng Thi với hai hàng cây bàng rõ to, sao mà đẹp, mà sang, mà nhã đến thế. Đường phố bởi vậy mà có thương hiệu, thương hiệu tạo nên bởi cây. Núp dưới bóng cây hầu như là tất cả: Phật, thánh, thần, ma quỷ, nhà, quán, người đời… Ở Hà Nội, quán nào mà tìm được gốc cây, có đất rộng mươi mét vuông và có tán lá rộng là cuốn hút được khách đến với mình. Nơi những cái quán ấy, cây trở thành cái trụ của ngôi nhà không có mái, trở thành ông chủ của cái tiệm, tạm bợ mà bám trụ lại lâu. Người ta hẹn nhau đến quán này quán nọ, theo gốc cây. Riêng tôi có thói quen chiều chiều, gọi bạn, đến gốc bàng ở ngã ba phố Chân Cầm và Lý Quốc Sư, uống bia. Ở góc phố rộng hơn vài cái chiếu đôi ấy, hễ ngồi xuống là quên hết: sự chật chội, sự nhếch nhác, sự ngó nhòm đầy hiếu kỳ của những ông Tây bà đầm lướt qua trên những chiếc xích lô. … Tôi cứ hay tự vấn, vì sao những cây ở các đường phố mới, vừa trồng mà thân đã có hình hài nghiêng ngả và cong queo, chẳng khác gì những ông cụ non. Thì ra, chỉ vì tiếc công, tiếc tiền và lười biếng mà những người cắm chúng xuống đất, không kẹp vào mấy cái que. Như người ta kẹp răng, cho đỡ vẩu vậy. Quả đúng là cây cối góp phần tạo nên một góc cái duyên, cái riêng của cảnh sắc Hà Nội. Và, nếu nói kiến trúc Hà Nội là một quỹ văn hoá - vật chất độc hiếm, một di sản đô thị thì cây cối cũng không thể tách rời khỏi cái vốn liếng ấy. Y hệt như sông hồ không thể tách lìa khỏi cái cơ thể thống nhất của Hà Nội Đã ai làm cái việc kiểm kê xem trong quỹ cây xanh Hà Nội, có những loại cây gì? Cây gì là phù hợp nhất, lợi ích nhất, đặc trưng nhất? Đã ai kiểm kê xem Hà Nội ta có bao nhiêu cây thuộc diện cổ thụ, đại cổ thụ? Đã ai nghĩ đến việc duy dưỡng chúng, giải thoát chúng khỏi những cái ôm quắp đến nghẹt thở bởi nhà phố? Đã ai kiểm kê xem những còn phố nào, những đoạn phố nào có những loại cây góp phần định đoạt diện mạo không lặp lại, cho chúng? Đã ai nghĩ đến việc bổ khuyết những loài cây quý hiếm đang mất dần, làm cho những con phố trở nên hẫng hụt? Ai nghĩ tới việc chữa trị những cây - bô lão đang thoi thóp? Cây cổ thụ, một dạng di sản, góp phần gìn giữ bộ nhớ cho đô thị. Một lần tản bộ, nhận ra trên đường Trần Phú ở Hà Nội, người ta trồng sấu non vào chỗ những cây mới chết. Một lần tản bộ trên đường Lê Lợi ở Huế, thấy người ta trồng cây long não non vào những cây mới đổ. Mừng và hy vọng, thay cho cây. Hoàng Đạo Kính Nguồn: http://www.vitinfo.com.vn
  13. Chuyện “thầy” phong thuỷ miệt vườn Là người từng thiết kế và thi công nhà, tôi xin phép không đề cập đến phong thuỷ một cách “chính thống” ở đây, mà chỉ chia sẻ vài mẩu chuyện dở khóc dở cười xung quanh chuyện…dở hơi của “phong thuỷ nửa vời”. Hy vọng qua đó có thể giúp được nhiều người khi quyết định một việc rất hệ trọng của đời người: xây cất nhà Cầu thang phải “vẽ” thêm một bậc chẳng giống ai cho phù hợp với cách đếm của “thầy” trong một căn nhà ở Trà Vinh 180 độ... xoay! Anh chị khách hàng của tôi ở Trà Vinh là người tin phong thuỷ và đã trải qua nhiều lần xây nhà. Sau gần hai tháng tiếp xúc trao đổi, tôi mới hoàn chỉnh phương án thiết kế và bản vẽ. Theo đó, tôi bố trí miệng bếp theo hướng đông, phù hợp với kiến trúc căn nhà và được xem là hợp với chủ nhà (cũng là hướng đã được tuân thủ trong ngôi nhà trước đây của họ theo chỉ dẫn của một “thầy” chuyên coi việc cất nhà khá nổi tiếng ở địa phương). Tất cả diễn ra suôn sẻ và sẽ không có sự cố nếu không có một “thầy phong thuỷ” được mời đến sau đó. Anh chị chủ nhà cho biết thầy này khá nổi tiếng ở TP.HCM. Tuy nhiên, khi được đề nghị tham vấn từ đầu, thầy đã không chịu “dời gót ngọc” đến Trà Vinh xem đất, mà chỉ nhận tư vấn qua... điện thoại. Thầy cho biết đã từng coi hướng cất nhà, mở văn phòng và rất nhiều người trong số đó hiện đã thành đạt, đang ăn nên làm ra. Qua điện thoại, thầy bảo cứ thiết kế “vô tư”, đến ngày khởi công thầy chỉ việc xuống xem qua một tí là được! Ngày khởi công, khi nghe chủ nhà trình bày phương án bố trí, thầy phán: “Bếp để hướng này là không ổn! Miệng bếp phải quay về... hướng tây!”. Nghĩa là, hướng bếp theo “trường phái” của thầy phải xoay 180 độ so với hướng bếp thiết kế theo “trường phái” của thầy địa phương. Nhà bếp vốn không đủ rộng, không thể “cứ vô tư, lật qua lật lại là được” như đề xuất của thầy. Phương án thiết kế vì vậy phá sản! Ngày khởi công phải dời lại. Anh chị chủ nhà lục đục, “chiến tranh” có nguy cơ nổ ra. Thầy lên xe về thành phố, bỏ lại ngổn ngang công trường! Phóng lao nên phải theo... “thầy”! Một khách hàng khác của tôi vốn là giáo viên, gia đình có người làm việc trong ngành xây dựng. Khi họ định cất nhà, tôi được mời đến tư vấn thiết kế. Nhưng rồi tôi đã dội ra vì chủ nhà đưa cho bản thiết kế mặt bằng do thầy tự vẽ ra, trên đó thể hiện phòng ốc đầy rẫy “số đen”, “số đỏ” và chi chít các cung mệnh được cho là hợp với gia chủ và các thành viên trong nhà. Điều kiện thầy đưa ra cho chủ nhà là buộc người thiết kế nhất nhất tuân thủ bản vẽ của thầy. Cùng dãy phố, nhưng nhà này so với nhà kia phải “nhô ra hơn một chút, cao hơn một chút (một cục gạch cũng được)” là “xúi quẩy” của không ít thầy phong thuỷ! Vấn đề sẽ không đến nỗi tồi tệ nếu như “bản vẽ” của thầy chỉ có giá trị tham khảo hoặc nếu không cũng không quá phi khoa học như vậy. Theo đó, hằng ngày người chủ nhà này phải đi vào nhà một cách... vòng vèo, tuyệt nhiên không được vào cửa chính, mà phải bằng lối phụ dưới... đáy cầu thang! Ngoài ra, theo bản vẽ thầy đã “binh” thì không hề có một chút diện tích phụ, chủ nhà đã không thể “cựa quậy” gì thêm trong cái không gian... nhà phố trên mảnh đất dự kiến cất biệt thự vườn! Đất rộng là thế, nhưng diện tích cất nhà được thầy ấn định một cách chi li, nhà vệ sinh chỉ vỏn vẹn trên dưới 2,2 mét vuông cho tất cả các phòng, kể cả phòng chính. Sự phân tích, tư vấn nghề nghiệp của tôi hoàn toàn không có tác dụng khi chủ nhà nói cùng với việc đưa ra “phương án thiết kế”, thầy còn bảo đảm: “Cứ làm theo thầy, ngày khởi công bạc tỉ sẽ có trong tay!”. Đỉnh điểm của sự hài hước là khi chủ nhà buột miệng nói với tôi rằng hiện chưa có tiền, nhưng “bấm bụng” làm đại vì “Thầy này giỏi lắm, nhiều người tin thầy lắm!”. Đến nước này, tôi phải hỏi: “Cô không chơi chứng khoán, không kinh doanh bất động sản, vé số trúng bạc tỉ cũng không còn phát hành nữa, mà cô cũng không chơi vé số. Vậy tiền tỉ ở đâu ra?”... Đồng nghiệp của tôi nghe chuyện đều cho rằng đây có vẻ đang là “mốt” trong ngành xây dựng hiện nay, là chuyện buồn cho người hành nghề thiết kế, và cho chính chủ nhà. Có không ít chủ nhà cả tin phải rơi vào tình cảnh dở khóc dở cười, thậm chí vỡ nợ vì lỡ trót phóng lao nên phải theo… thầy! Có người cắc cớ hỏi: “Nếu giỏi vậy, sao thầy không vẽ nhà cho chính mình để ngày khởi công lấy tiền tỉ, mà đi xem cho người khác chỉ để nhận ít tiền công?”. Khi thầy... phán! Sau khi khảo sát hiện trạng một ngôi nhà phố, một “thầy miệt vườn” đã tư vấn cho chủ nhà cần phải cải tạo ngôi nhà ngay lập tức với chiều cao hơn nhà bên cạnh một chút, “cao hơn... một cục gạch cũng được”! Tuy là dãy phố hiện hữu vốn được yêu cầu xây dựng bằng mặt phố, nhưng thầy vẫn cứ bảo phải ốp đá loại dày cho nhô ra hơn nhà kế bên, như vậy làm ăn mới khá! Theo không ít thầy, hành lang từ trước vào nhà sau phải luôn bên tay trái, tức phía trước nhìn vào (!?) Bấy lâu nay, hai hộ cùng buôn bán chung một mặt hàng, vào ra vốn dĩ va chạm xích mích như lẽ thường trong cuộc sống hay gặp phải. Nhưng từ sau tư vấn của thầy, hai căn nhà liền kề trong dãy phố vốn hài hoà nay bắt đầu “chỏi” nhau thấy rõ. Đợi thân chủ của thầy cải tạo nhà xong, hộ kế bên lập tức tự cơi nới (chấp nhận bị phạt do không xin được giấy phép), tất nhiên lần này phải “gác” trở lại bên kia bằng việc nâng mái nhà cao hơn hộ trước... hai cục gạch. Chủ hộ cho biết thực ra không có ý định làm bởi nhà không nhiều người, nhà cũ vốn khá rộng ở vẫn không hết, nhưng vẫn phải làm vì “mỗi lần ra vào nhìn họ là... thấy ghét!”. Lần nọ, ngôi nhà của anh bạn tôi được giới nghề nghiệp đánh giá cao nhờ bố trí khá hợp lý về công năng sử dụng, hài hoà về màu sắc, có phong cách về kiến trúc. Tiến độ hoàn thiện nhà đang vào giai đoạn gấp rút để bàn giao. Không ít người đi ngang thấy nhà đẹp xin vào tham khảo cho ngôi nhà tương lai của mình. Một hôm, nhóm người bà con của chủ nhà ở quê ra đến tham quan, trong đó có một thầy chuyên coi việc cất nhà, ngày cưới hỏi đám tiệc... Đi một vòng nhà, trong khi nhiều người khen thì thầy phán những câu “chết người”! Theo thầy, tất cả việc bố trí của người thiết kế là... “sai”, từ cầu thang cho đến hướng bếp, từ lối vào nhà sau đến số bậc cầu thang... Và “kết luận” nhà này xây xong sẽ làm ăn không ổn, tốn hao tài lực, con cái bất kính... cùng những phán đoán sặc mùi mê tín khác! Chủ nhà đùng đùng nổi giận, dù đủ tế nhị nhưng đã không đủ bình tĩnh nên vội vàng... tiễn “vị thầy” không mời mà đến này! Những trường hợp nêu trên nên được xem như một cảnh báo về mặt trái của phong thuỷ trong đời sống hiện nay. Với những ai đang có ý định cất nhà, lời khuyên đưa ra là phải biết “miễn nhiễm” với những tư vấn, những “chống chỉ định” vô lý dễ dẫn đến những mối bất hoà không đáng có không chỉ đối với chính gia đình mình mà còn cả với láng giềng. Cái gọi là “công thức” được đưa ra bởi rất nhiều “thầy miệt vườn” mà phong thuỷ thực sự tuyệt nhiên không hề có và không hề muốn đạt tới. Bài và ảnh: KTS Lê Công Sĩ (Trà Vinh) Hướng lên cầu thang là một trong những “chống chỉ định” của thầy: có “trường phái” buộc đi lên ngược chiều kim đồng hồ, có “trường phái” buộc phải ngược lại Phần tường không hoàn thiện này là “sản phẩm” của thầy phong thuỷ, hai chủ hộ liền kề không hợp tác với nhau Đó là một trong những câu chuyện éo le khi KTS "gặp" mấy thầy phong thủy trời ơi. Kiến trúc sư khổ, gia chủ khổ và đôi khi hàng xóm cũng khổ vì mấy thầy phong thủy trời ơi này. Ngoài ra còn có những bài viết khác về phong thủy của các kiến trúc sư nhiều kinh nghiệm. Mời bạn đọc trên Kiến trúc & Đời sống số 29, có trên các sạp báo ngày thứ tư, 3.9.2008. Nguồn: http://www.sgtt.com.vn
  14. Về Bình Dương thăm nhà cổ Nguyễn Thị Hậu Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ. Cấu trúc địa chất cơ bản là vùng bán sơn địa nhưng có nhiều dạng địa hình tự nhiên như đồi gò, đồng bằng, sông ngòi, rừng nguyên sinh… Nơi đây là vùng đất lý tưởng vì sự đa dạng về thổ nhưỡng và môi trường sinh thái: vừa giàu có về rừng cây gỗ quý nổi tiếng một thời, vừa có chất đất thuận lợi để trồng cây công nghiệp và có cả đồng bằng phù sa màu mỡ. Trên vùng đất trù phú được thiên nhiên ưu đãi nên nhìn chung dân cư Bình Dương có đời sống ổn định, nền nếp, phong lưu, văn hóa phát triển. Theo Đại Nam Nhất Thống chí thời Tự Đức, Bình Dương xưa thuộc trấn Phiên An, giữa hai huyện Bình Dương (Tân Bình) và Phước Long, dân cư trù mật, nhà ngói, phố chợ liền lạc, là xứ phồn hoa đô hội của đất Gia Định, cả nước không đâu sánh bằng. Ngày nay dấu ấn xứ phồn hoa đô hội ở Bình Dương vẫn còn được lưu giữ qua nhiều ngôi nhà cổ, một loại hình di tích văn hóa độc đáo của vùng đất này. Làng xã ở Bình Dương thường nằm yên bình, tĩnh lặng giữa thiên nhiên đầy cây xanh của vườn cây trái hay vườn cây cảnh, trên vùng đồi gò đã được khai phá thành vườn tược hay trên những cù lao nằm giữa dòng Đồng Nai. Có lẽ phong cảnh nhà vườn với nếp sống phong lưu thể hiện rõ nhất nơi những căn nhà bề thế, cổ kính trên những cù lao trù phú như cù lao Mỹ Hoà, Mỹ Quới (tên cũ của Bạch Đằng, Tân Uyên) cù lao Rùa, cù lao Thạnh Hội… Cù lao ở đây đã được con người chọn để cư trú từ lâu đời, nơi có nhiều dòng họ giàu có “tam đại đồng đường” trong những ngôi nhà cổ đồ sộ giữa vườn cây trái bạt ngàn, không gian tĩnh mịch và môi trường sinh thái trong lành. Tại Bình Dương hầu như có đủ các kiểu nhà thường thấy ở Nam Bộ. Nhà chữ đinh: là loại nhà phổ biến nhất tại Bình Dương. Kiểu nhà này có hai căn, căn nhà trên nằm ngang và căn dưới nằm xuôi, đòn dông của hai căn này thẳng góc với nhau, giống như chữ đinh (丁¡) trong Hán tự. Đặc điểm của nhà chữ đinh là cửa cái của nhà trên trổ ở chiều dài của ngôi nhà, còn cửa cái của nhà dưới trổ ở chiều rộng (tức ở đầu hồi nhà), do đó cửa cái hai căn nhà trên và nhà dưới đều mở ra cùng một hướng, có chung mái hiên trước, tạo sự đồng nhất cho toàn bộ ngôi nhà. Kiến trúc nhà chữ đinh thể hiện ý thức về trật tự phong kiến rất rõ. Nhà trên quan trọng vì là nơi thờ cúng tổ tiên nên thường bề thế, cao hơn nhà dưới, đây cũng là nơi sinh hoạt chủ yếu của nam giới. Nhà dưới là nơi ở chung của gia đình, nơi sinh hoạt thường xuyên của phụ nữ. Dù nhà bằng vật liệu bán kiên cố hay kiên cố, phần lớn nhà chữ đinh tại Bình Dương đều thuộc dạng nhà chữ đinh có cầu nối đặc trưng của miền Trung, tức là nhà có phần trung gian nối vách và mái giữa nhà trên và nhà dưới thành một tổng thể chứ không tách rời nhau. Để cất được một căn nhà chữ đinh, trước tiên phải có diện tích đất khá rộng, sau nữa chi phí cho vật liệu xây dựng khá cao, vì vậy chỉ những gia đình khá giả trở lên mới có khả năng đáp ứng. Có những ngôi nhà chữ đinh diện tích nhà trên đến 250m2 (ngang 10m dài 25m), được xây dựng bề thế với những cột gỗ lớn, các bộ phận trang trí kiến trúc được chạm khắc tinh xảo. Đi khắp Bình Dương, nhất là những nơi có cư dân lâu đời như thị xã Thủ Dầu Một, huyện Tân Uyên, Dĩ An, Thuận An… đâu đâu cũng có những ngôi nhà chữ đinh cổ xưa với dạng nhà vườn giống nhau. Phổ biến là nhà chữ đinh có kích thước trung bình, mái ngói cổ rêu phong, hiền hòa giữa những vườn cây xanh, tạo cho cảnh quan cư trú một vẻ đẹp yên bình và sung túc. Nhà chữ Nhị cũng khá phổ biến tại Bình Dương. Loại nhà này có hai căn: nhà trên ở phía trước và nhà dưới liền ngay phía sau nhà trên, do đó hai cây đòn dông của nhà trên và nhà dưới nằm song song với nhau như chữ nhị (二þ). Bố cục mỗi căn nhà thường là ba gian, tuy nhiên sau này người ta cất nhà dưới dài thêm một gian so với nhà trên để lấy ánh sáng. Nhà dưới là không gian cư trú, còn nhà trên chủ yếu dành làm nơi thờ tự. Nhà chữ nhị cũng thuộc loại nhà có diện tích đất tương đối lớn. Nhà chữ Đinh và nhà chữ Nhị là những ngôi nhà có tuổi khá xưa, phần lớn được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, chủ nhân thường là người giàu có. Tuy đã trải qua trùng tu nhiều lần nhưng nhờ xây dựng bằng các loại gỗ quý, thợ dựng khéo léo và kỹ lưỡng, con cháu có sự lưu tâm giữ gìn nên đến nay vẫn còn khá nguyên vẹn. Nhà ba gian hoặc ba gian hai chái là loại nhà phổ biến trong dân chúng. Không gian của căn nhà vừa để ở, vừa có chức năng thờ tự và tiếp khách. Nhà ba gian phân bố ở vùng nông thôn và cả thành phố. Để tận dụng diện tích làm nhà ở, theo độ che rộng của mái nhà, người ta xây dựng thêm một hoặc hai chái hai bên nhà ba gian. - Nhà năm gian hai chái tại Bình Dương được tầng lớp điền chủ, phú gia, trí thức giàu có ưa chuộng. Kiểu nhà này chiếm diện tích đất rộng, kỹ thuật xây dựng công phu, vật liệu tốn kém vì là sự kết hợp giữa kiểu nhà gỗ truyền thống với phong cách kiến trúc và vật liệu xây dựng của phương Tây, thường được xây dựng vào nửa đầu thế kỷ XX: nền nhà cao có bậc tam cấp, tường xây gạch dày, tô hồ quét vôi. Cột nhà có khi là cột bê-tông nhưng vì kèo gỗ và lợp ngói, có trần nhà. Nhà cổ ở Bình Dương cũng thể hiện tính chất chung của nhà cổ Nam bộ, đó là có kết cấu nhà cột giữa (nhà rôi) và nhà xuyên trính (nhà rường) theo hệ thống khung chịu lực truyền thống như ở miền Bắc, miền Trung. Về sau có thêm dạng nhà đúc kết cấu bê tông chịu lực theo kiểu phương Tây. Nhà cột giữa thuộc kết cấu cổ truyền, cột cái (cột giữa) kết gắn trực tiếp vào đòn dông và giao điểm của hai cây kèo, tạo thành một bộ vì nhà giản đơn, thích hợp với loại hình nhà thô sơ, bán kiên cố. Hạn chế của nhà cột giữa là không gian nhà chật hẹp do sự hiện diện của hàng cột giữa. Nhà xuyên trính còn gọi là nhà rường phổ biến hơn nhà cột giữa. Bộ khung sườn nhà này không có hàng cột cái ở giữa nên không gian nội thất khá rộng rãi. Một số nhà rường biến thể là nhà bát dần được xây cất rất qui mô. Mái ngói của dạng nhà bát dần kéo sà thấp xuống (giống như chữ Bát…..trong Hán tự). Bên ngoài nhìn vào kiểu “mái xụ" này thấy nhà có vẻ thấp, nhưng bước vào bên trong sẽ thấy hệ thống kèo cột và trần nhà rất cao làm cho nhà thoáng mát vì kiểu mái đó có tác dụng che mưa và ánh nắng chói chang vùng nhiệt đới, đồng thời hạn chế được tầm nhìn từ bên ngoài. Nhà ông Trần Công Vàng ở thị xã Thủ Dầu Một là một ngôi nhà rường theo kiểu chữ đinh, gồm 5 gian 2 chái, dài 24m, ngang 22m với 6 hàng 24 cây cột, đầu kèo chạm trổ tinh xảo. Cột nhà xưa thường bằng các danh mộc như sao, cẩm lai, gỗ mun. Bình Dương hiện còn nhiều ngôi nhà cổ có giá trị về kiến trúc và nghệ thuật, niên đại trên dưới 100 năm, chủ yếu tập trung ở thị xã Thủ Dầu Một và huyện Tân Uyên, như nhà ông Trần Văn Tề (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một), nhà ông Trần Văn Hổ (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một), nhà ông Trần Công Vàng (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một), nhà ông Nguyễn Văn Đằng (xã Thạnh Phước, huyện Tân Uyên), nhà ông Đỗ Cao Thứa (xã Thạnh Phước, huyện Tân Uyên), nhà ông Nguyễn Tri Quang (xã Tân An, thị xã Thủ Dầu Một)… Trong số đó có hai ngôi nhà được công nhận Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia vào năm 1993, đó là nhà ông Trần Văn Hổ và nhà ông Trần Công Vàng. Hầu hết nhà cổ ở Bình Dương có giá trị về mỹ thuật kiến trúc và trang trí là nhà chữ đinh. Riêng nhà của một số gia đình giàu có nổi tiếng ở thị xã Thủ Dầu Một, ở huyện Tân Uyên thì có qui mô khá lớn và hình thức đa dạng chứ không chỉ là kiểu nhà chữ đinh truyền thống. Nhà ông Trần Văn Hổ thuộc kiểu nhà 5 gian 2 chái rất rộng lớn, hoàn toàn bằng gỗ chạm trổ kỹ lưỡng từ cột, kèo đến vách. Kiểu nhà này xưa vốn là đặc quyền của tầng lớp quan lại cao cấp thời Nguyễn, thường dân không được phép xây dựng. Nhà ông Nguyễn Văn Đằng theo kiểu nhà chữ công £¨工¤£© có hai gian lớn gọi là Đông lang – Tây lang; hay kiểu nhà chữ khẩu £¨口£© (gồm 4 căn với hướng đòn dông tạo thành hình vuông) của ông Nguyễn Tri Quang. Hầu hết những căn nhà cổ vừa nêu trên đều khẳng định chức năng thờ cúng ông bà tổ tiên và thể hiện niềm tự hào về gia tộc trên các bức đại tự như Trung Nghĩa Đường, Trần Miêu Duệ, Nguyễn Phủ Đường… tại gian thờ chính trong nhà. Việc xây dựng nhà ngày xưa rất công phu. Gia tộc ông Đỗ Cao Thứa cho biết nhà xây 3 năm mới hoàn thành, do những người “thợ Bắc” thi công. Vì địa thế vùng Tân Uyên thấp nên nhà phải đắp nền cao rất công phu. Đất phải lấy từ ấp Bình Hóa (xã Uyên Hưng) vận chuyển bằng xe bò đến bờ sông, sau đó chở đất bằng ghe qua sông rồi mướn người gánh về đổ đắp nền nhà. Nền cao hơn mặt đất 0,8m, xung quanh nền nhà được bọc móng rất kiên cố bằng những tảng đá ong vốn có nhiều ở miền Đông Nam Bộ. Nhà cổ tại Bình Dương là dấu ấn thời kỳ phong kiến giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Hầu hết nhà cửa thời kỳ này còn tồn tại cho tới nay đều nhờ kỹ thuật xây dựng kiên cố với các loại danh mộc quý, chắc như lim, căm xe, cà chất… Khung sườn các nhà xưa hầu hết sử dụng kỹ thuật lắp ghép tự nhiên (lắp mộng) chưa dùng đinh sắt. Các bức vách gỗ phía trước nhà hoặc vách ngăn giữa gian thờ tự với gian nhà trong, những cây kèo, hoành phi, câu đối, bao lam, bàn thờ, trang thờ, bình phong… đều được chạm trổ tinh xảo theo phong cách chạm lộng, chạm thủng, chạm chìm khéo léo. Ngôi nhà vừa là công trình kiến trúc tài hoa, vừa chứa đựng những tác phẩm điêu khắc phản ánh các giai đoạn của nền mỹ thuật Nam Bộ: giai đoạn sớm là chạm trổ trên gỗ mộc, toàn bộ chỉ để gỗ tự nhiên, giai đoạn muộn hơn là dùng sơn ta để sơn son thếp vàng hoặc cẩn ốc, khảm trai, sơn mài… Thời kỳ đầu nhà cổ tại Bình Dương được thi công xây dựng và trang trí chạm trổ bởi các nhóm thợ mộc nổi tiếng khéo tay từ miền Trung vào như thợ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên, Bình Định (thường gọi chung là “thợ Huế”). Bên cạnh đó còn có thợ mộc của “trường phái thợ Thủ” (Thủ Dầu Một) với tay nghề giỏi nức tiếng đã dần đảm trách vai trò chính yếu trong xây cất nhà và trang trí nội thất. “Thợ Thủ” không chỉ hành nghề ở Bình Dương mà còn ở nhiều nơi khác. Người ta rước “thợ Thủ” về xây nhà và nuôi nhóm thợ trong nhà hàng năm để họ chạm khắc trang trí cho ngôi nhà. Những thế hệ nghệ nhân “thợ Thủ” đã trải nghiệm tài nghệ của mình và lưu danh về kỹ thuật xây cất và nghệ thuật trang trí nội thất những ngôi nhà trên khắp Nam Bộ. Trong “Nam kỳ nhân vật phong tục diễn ca” Nguyễn Liên Phong đã nêu: …“Nhà khéo cất tốn bạc muôn Tiếng đồn thợ Thủ ráp khuôn kỹ càng” Những nghệ nhân nghề mộc khéo léo, tài giỏi của Bình Dương xưa đã để lại những tác phẩm nghệ thuật của mình trên các kèo đùi ếch, trên “lá dung” đầu kèo, bao lam, hoành phi, câu đối, bàn ghế, tủ thờ… được chạm, cẩn tinh xảo, làm nổi bật sắc gỗ mộc thanh cảnh, vàng óng, đỏ tươi và sắc mun ánh ngời bóng loáng của sơn ta, của xà cừ… Đặc biệt toàn bộ vách trước những căn nhà truyền thống ở Bình Dương thường được “thợ Thủ” chạm trổ tỉ mỉ tài hoa, tạo nên vẻ đẹp sinh động nhưng tôn nghiêm cho căn nhà. Từng khung vuông, khung chữ nhật của bức vách trước được chạm khắc nhiều đồ án hoa văn các môtíp điển hình như tứ linh, tứ quý, quả lựu, hoa mẫu đơn… Vách trước cũng thường chạm đôi “mắt cửa” hay biểu tượng của âm dương, nhật nguyệt và khung viền cửa trước (bao lam) thường chạm trổ kiểu đòn võng khéo léo. Nhà xưa ở Bình Dương hầu hết lợp ngói âm dương, nền nhà lót gạch tàu đỏ. Trong nhà theo mô thức trang trí nội thất thống nhất, gồm bộ trường kỷ gỗ đen ở gian giữa phía trước bàn thờ, hai gian nhà hai bên bày hai bộ ván ngựa. Ở một góc nhà có tủ kiếng để chưng bày các cổ vật kỉ niệm. Bàn thờ, nhất là các câu đối trên cột hoặc các bài minh bằng Hán tự đặt trên bàn thờ tổ tiên đều được cẩn ốc hoặc sơn son thếp vàng. Nội dung các câu đối, bài minh hầu hết đều đề cao lòng hiếu đễ với ông bà tổ tiên, nề nếp gia phong, việc kính trọng và phụng dưỡng cha me. Ngoài dấu ấn đặc trưng của tâm thức Nho giáo đương thời thể hiện như yếu tố chủ đạo trong nội dung các câu đối, bài minh… chủ đề trang trí trong những ngôi nhà xưa tại Bình Dương còn thấy một nội dung khác của văn hoá Nho giáo, đó là những bài thơ cổ tả phong cảnh hay là điển tích xưa. Ngoài đồ trang trí nội thất chủ yếu bằng gỗ như tủ thờ, bàn thờ, trường kỷ, bộ ván, mấy bộ bàn ghế… trong nhà còn có nhiều đồ gốm Biên Hòa, gốm Lái Thiêu như đôn tròn, lục giác, đôn voi, chậu kiểng, độc bình. Nhiều ngôi nhà cổ còn có vài vật dụng Tây phương như đèn Măng sông, quạt trần, máy hát đĩa… Về Bình Dương đắm mình trong không gian tĩnh lặng của những ngôi nhà cổ giữa khu vườn êm ả, tiếng ồn, khói bụi đường xa dường như không len lỏi vào đến nơi đây, cuộc sống xô bồ gấp gáp chốn thị thành dường như không hiện diện ở nơi đây… Chợt thấy mình như được quay về với những ngày xưa yêu dấu… Tham khảo: Tài liệu của Ban quản lý di tích tỉnh Bình Dương Nguồn: vannghesongcuulong.org
  15. Không gian Mường</b>[/size] Không lâu nữa, khi địa giới của Hà Nội sẽ mở rộng tới một phần của “Tỉnh Mường Hòa Bình”( chữ của Pierre Grossin, một học giả người Pháp-1926) thì không gian Mường sẽ ra sao? Kiến trúc sư ….Rùa Theo truyền thuyết, vào thời vua Hùng, nhờ có Rùa vàng hay Thanh Giang sứ, Thục Vương mới xây dựng xong thành Cổ Loa. Còn theo truyền thuyết Đẻ Đất đẻ Nước, một áng Mo bất hủ của người Mường, thì thầy dạy của Đá Cần- ông tổ kiến trúc của tộc người này lại cũng là cụ… Rùa. Theo Đẻ Đất đẻ Nước, chính trong cuộc đấu tranh sinh tồn, để không bị sát hại, loài Rùa đã mách bảo người Mường: “ Bốn chân tôi là bốn cột cái Hai vỉa sườn là hai mái nhà Xương sống nên đòn nóc bắc kèo cái Xương sườn nên rui Lỗ đầu làm lối lên cửa chạn... » Dường như để thử thách người Mường, ban đầu Rùa bảo người lấy cây lau làm độ (cột nhà), lấy cây lồ cồ (một loại cây thân mềm) làm đòn tay, lấy cỏ may làm lạt buộc. Đương nhiên ngôi nhà đã bị hư hỏng ngay trong lần đầu tiên Đá Cần và nàng dạ Kịt sử dụng. Lần sau bị bắt lại, Rùa van vỉ hết lời mới được tha chết. Rùa nói với Đá Cần: chặt cây sấu làm xà, đẵn cây lim làm cột, lạt buộc bằng cây giang, lợp nhà ba gian bằng cỏ bái. Kể từ đó người Mường mới có « đụn chín quà, nhà chín gian » (đụn- túi, bịch) . Thoát khỏi cảnh « sống trong gốc cây búng, dưới bóng cây nhò, ẩn trong gò cây, gò cối » nhưng nhà người Mường vẫn luôn nương dựa, bám víu thiên nhiên. Nhà sàn thường dựa lưng vào núi, quay mặt ra sông, suối. Xung quanh nhà bao phủ màu xanh của cây lá. Dân ca Mường có câu : Hương thơm hoa gì mà thơm ngào ngạt Thơm hương mít trong nhà Hay thơm hoa cà ngoài ngõ Hay thơm hoa bưởi hoa vong... Người Mường không có không gian sinh hoạt cộng đồng kiểu hạn khuống của người Thái hay nhà rông của người Bana. Người Mường quan niệm: “ngôi nhà không chỉ thuộc sở hữu riêng của gia đình mà còn được xem là sản phẩm thuộc sở hữu chung của cộng đồng” (Đặng Văn Tu- Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi-1988). Ngôi nhà Mường có những phân chia không gian rất ước lệ như Trên- Dưới, Trong – Ngoài. Cầu thang chính đi vào phần Trên, phần Ngoài nơi đặt bàn thờ tổ tiên, bếp chính, nơi đàn ông tiếp khách. Cầu thang phụ bên trái dẫn đến bếp phụ, nơi phụ nữ sinh hoạt. Với sự phân bổ mặt bằng như thế này, không gian sinh hoạt cộng đồng đã thực sự ẩn trong mỗi gian nhà. Thân thiện với thiên nhiên, hòa đồng với đồng bào phải chăng là hai điểm nhấn chính trong bản thiết kế của kiến trúc sư Rùa? Nhà Lang Lang là dòng dõi quý tộc, những người có địa vị cao nhất trong mỗi Mường. Nhà lang thường là nhà sàn có kiến trúc lớn nhất, bề thế nhất. Cùng với nhà lang, còn có nhà tạo, nhà ậu, nõ một biểu hiện sự phân biệt các đẳng cấp trong xã hội Mường. Nhà ậu là của những người khá thân cận với lang. Nhà tạo giành cho những người thuộc tầng lớp bình dân. Nhà nõ của những người nghèo khó. Theo cố giáo sư Trần Quốc Vượng : nhà sàn Mường thường thấp và nhỏ hơn nhà sàn Thái- Tày ở Tây Bắc. Cấu trúc một vì kèo Mường khá đơn giản, chỉ gồm « kẻ », « cang » (quá giang), « toón xay » (đòn tay) « tố ô » ((cột). Nhà sàn Mường thường có 5 gian (voòng). Theo giáo sư Nguyễn Khắc Tụng : bộ khung nhà Mường hình thành trên cơ sở các vì kèo. Bộ vì kèo chưa phải là bộ phận hữu cơ của vì cột, nó chỉ gá vào đòn tay cái, chân của nó khớp một cách lỏng lẻo vào các đầu cột con. Chưa có sự khẳng định kèo thuộc về bộ khung mái hay của vì cột. Trong rất nhiều chuyến đi tìm hiểu văn hóa Mường, tôi không mảy may có cơ hội để quan sát một kiến trúc thuần Mường như từng được các nhà khoa học mô tả. Cơ may chỉ mới đến trong lần thăm bảo tàng Mường của họa sỹ Vũ Đức Hiếu. ( Bảo tàng tư nhân đầu tiên về văn hóa Mường mới được thành lập từ tháng 12 năm 2007. ) Đây là nguyên mẫu một nhà lang ở xóm Chiến, xã Nam Sơn, huyện Tân Lạc. Ngôi nhà của gia đình bà Hà Thị Lệ. Ngôi nhà được bố mẹ bà Lệ làm trước khi sinh bà. Năm nay bà Lệ 106 tuổi. Họa sỹ Hiếu cho biết : hầu hết nhà sàn Mường bây giờ đều làm theo kiểu nhà ... Việt. Đây là một ngôi nhà hiện tồn hiếm hoi và đặc trưng nhất cho kiến trúc cổ truyền Mường. Họa sỹ Hiếu cũng cho biết : dựng một ngôi nhà gỗ Việt chỉ mất gần chục ngày. Nhưng dựng riêng bộ khung cột của nhà lang phải mất hơn một tháng. Do các chi tiết gỗ không có mộng, chốt mà chỉ gá, xếp lên nhau nên quá trình thi công đòi hỏi sự chính xác và cẩn trọng hơn. Từ nhà sàn xuống nhà đất Nếu hôm nay việc kiếm một ngôi nhà thuần Mường đã là rất khó khăn thì trong tương lai không xa nữa, việc tìm một ngôi nhà sàn trên đất Mường chắc chắn sẽ chung một cảnh ngộ. Xa xưa, người cũng như rùa chỉ có thể tồn tại khi bám vào các nguồn nước. Cuộc sống hôm nay có nhiều dòng chảy khác nên nhà đất, nhà bê tông Việt đang dần thay thế nhà sàn Mường. Dọc đường quốc lộ số 6, cũng không nhiều khi người ta còn được chiêm ngưỡng không gian Mường. Chỉ vài nếp nhà sàn duyên dáng sau vạt mía đỏ, những luống cải trắng, xa xa núi đá xanh trập trùng. Nếu có đi sâu vào các Mường Động, Mường Chậm, tinh thần Mường chỉ còn thấp thoáng trên những chòi, lều nhỏ bé ngoài nương ngô, ruộng lúa. Những lớp mái lợp lá gianh, lá sàn bò đang từng ngày được thay thế bằng tấm lợp xi măng. Trong gian nhà nhỏ của một đôi vợ chồng trẻ ở xóm Sung 2 thuộc trung tâm Mường Bi rực rỡ đủ loại màu sơn cùng tranh ảnh Trung Quốc... Mùa khô. Mọi con suối Mường đều khô cạn. Không biết loài Rùa, vật thiêng của tộc Mường, đang tồn tại ra sao? Chỉ thấy rất nhiều những vỏ mai rùa vứt đầy trong xó bếp những nhà hàng đặc sản đang mọc lên nhan nhản dọc tuyến đường Hà Nội- Hòa Bình. a- nhà lang trong Bảo tàng Mường của họa sỹ Vũ Đức Hiếu b- nhà ậu c- Nhà tạo nhỏ bé hơn và được làm toàn bộ bằng tre, nứa, lá. d- Những lều chòi nhỏ bé như cố gắng níu giữ tinh thần kiến trúc Mường e- Những phối cảnh thật khó quên f- Trang trí mới, cũ trong nhà sàn Mường, f8- f10 : Bếp được đẩy ra thành một không gian độc lập với nhà. Mái bếp chủ yếu được lợp bằng lá sàn bò. Nếu luôn có khói bếp, loại lá này có thể dùng được trong 5 năm. g- Chất liệu tre trong kiến trúc Mường h- Kho lúa nhà lang i- Mộ đá cổ rất đặc trưng của người Mường j- K3 : vật đựng nước để rửa chân trước khi lên nhà sàn Nguồn: http://blog.360.yahoo.com/blog-F9xq_Swpbqf...cq=1&p=2344
  16. CHUYỆN CỦA NHÀ RƯỜNG[/size] Người xưa có câu "an cư lập nghiệp", ổn định chỗ mới mong xây dựng được cuộc sống ấm no. Vì vậy, việc xây nhà là việc cả đời người. Dùng những vật dụng chắc chắn là vững chải xây nhà cộng với kinh nghiệm hàng mấy trăm năm, người xưa đã xây dựng nên những căn nhà vừa bền lại vừa kiên cố để có thể "an cư" trong thời tiết khắc nghiệt nắng nóng, mưa dầm ở miền Trung. Kiến trúc nhà rường Trong khu vườn rộng rãi của mình, gia chủ không chỉ xem phong thủy để lựa chọn miếng đất tốt, phù hợp với tuổi mà còn chọn hướng nhà. Có được "thế nhà" tốt nhất, người trong nhà sẽ mạnh khỏe, ăn nên làm ra. Nhà rường thường xoay mặt về hướng nam, nắng sáng và chiếu không chiếu thẳng vào trong nhà chỉ xiên ở hai bên vách. Bếp được dựng ở bên trái, vuông góc với nhà chính, cùng trông ra sân. Khi gió Nam và Đông Nam thổi vào thì vách ngăn không cho gió tạt vào bếp làm lửa tràn ra ngoài dễ cháy nhà. Thông thường, trước nhà chính được trồng một dãy cau, sau nhà vườn chuối xanh um sẽ chắn bớt gió mùa Đông Bắc. Nhà không nằm sát vệ đường mà thụt sâu vào ngõ với cổng lớn uy nghi. Đường dẫn vào nhà có hai hàng chè tau xanh mát, cuối đường là một bình phong cao. Vì vậy, muốn vào nhà, khách phải rẽ sang hai bên để vào. Bình phong giúp cho khách tránh không đường đột khi vào cũng như tạo nên nét kín đáo cho ngôi nhà. Nhà rường chủ yếu được dựng bằng gỗ kiền hoặc gỗ mít. Nóc nhà là cả một bộ khung (giàn trò) với nhiều cột ghép lại mà theo mộng nẽo. Tùy theo số lượng và chiều cao của cột mà nhà rường được chia làm nhiều loại khác nhau. Nhà chia theo căn có: nhà ba gian hai chái và một gian hai chái; chia theo chiều cao hoặc khoảng cách của cột tùy thuộc vào độ dài của trếng (tính bằng thước mộc là 0,40m). Nhà ba gian hai chái có kích thước khác nhau với những tên gọi như: nhà ba hai, nhà ba bảy hoặc nhà bốn hai. Nhà một gian hai chái thì có một cách gọi khác nhau nhà vuông và kích thước tùy theo chủ nhân của ngôi nhà. Từ những con số của cột cái (cột hàng nhất) người ta tính ra kích thước các bộ phận khác như: xà thượng, xà ngồi, quà giàng, xà nách... Nhờ vậy, mỗi cột, xà gỗ làm tách riêng nhưng khi ghép một vào tiền khít và liên kết chặt chẽ với nhau mà không dùng đến một cây đinh thép. Trong bộ phận nóc nhà thì đòn đôông (đòn nóc) là quan trọng nhất. Khi làm lễ cất nóc, người chủ phải xem ngày giờ phù hợp với cung mạng để làm lễ thượng lương. Mái nhà rường được lợp bằng ngói liệt, với hai lớp dày chồng lên nhau. Do vậy, mùa hè rất mát, mùa đông thì ấm áp. Mái nhà có độ dốc từ 15-30 độ nên chống được những cơn bão mà không bị sụt ngói. Kỹ thuật điêu khắc cũng là một nét nổi bật của nhà rường. Phần nhiều các xà lùi hạ, gáy quà giang đều được chạm trỗ hết sức công phu. Các hình mây cuộn, hoa lá hoặc đường diềm trang trí được khắc từng nét nhỏ rất tinh vi chạy dọc theo các đòn ngang nhỏ. Nhà rường ở Kim Long có những điểm khắc biệt so với nhà rường ở nơi khác. Ngoài kiến trúc ba gian hai chái cùng trang trí nội thất: câu đối, hoành phi; người ta còn xây dựng thêm một nhà hiên nhỏ ở ngay trước mặt nhà chính. Nhà hiên dài bằng nhà chính, rộng bằng 1/3; mái lợp tranh hoặc ngói liệt. Nóc nhà hiên được dựng bởi các xà đấu với nhà quà giang mà không có xà nách. Các cột nhà hiên không trong bóng mà vuông vắn, chắc khỏe. Ngôi nhà của ông Lê Hối (1/4 đường Nguyễn Hoàng) và ông Lê Quang Dinh (4/4 đường Hương Bình) vẫn còn giữ được nét kiến trúc đặc biệt đó. Trong số các nhà rường cổ ở vùng Kim Long, nhà anh Dinh mang dạng kiến trúc 1 gian hai chái. Căn nhà vuông này còn toàn bộ giàn trò, rui mèn, đòn tay, liên ba, thanh vọng. Xung quanh được bảo vệ bằng tường vôi, không có cửa hậu. Các đường xuyên thổ, đuôi keo đường chạm lộng, khắc chìm hình áng mây, hoa lá tinh xảo, đường nét mềm mại. Kiến trúc ngôi nhà này gần với kiến trúc ngôi nhà thờ Đặng Huy Trứ ở Hương Trà. Trong nhà, nhiều vật dụng vẫn còn được giữ gìn như: bộ bàn ghế chữ hát (H) có chạm khắc hoa lá, bàn tròn có giá đỡ bốn chân...đặc biệt, trên những hoành phi vẫn còn đọc rõ dòng chữ Hán sơn son thếp vàng: Duy Tân năm thứ 6 (tức năm 1914). Đa số các cột trong nhà rường đều được kê trên một tảng đá phẳng, do vậy cột ít bị ẩm mốc. Trong ba gian nhà, người ta chỉ ở hai gian và hai chái, gian giữa thường được dùng để thờ gia tiên. Vào thăm nhà, khách không thể không cúi đầu để bước qua ngưỡng cửa, nó vừa chắn mưa hắt vào nhà vừa là vật cản nhỏ khiến khách phải cúi đầu bước vào. Ơi những nhà rường, nay còn đâu? Đi dọc con hói nhỏ, chúng tôi không thể tin vào mắt mình khi nhìn thấy một quán nhậu đã "mọc lên" trên ngôi nhà rường cổ. Căn nhà rường dường như còn y nguyên dáng vẻ cổ kính không còn để lại một chút dấu tích. Các đầu xà gỗ hình đầu rồng xoăn theo từng thớ gỗ, những cây cột đen bóng, những cánh cửa buồng khoa màu mun...tất cả như đang còn hiện hữu trong tâm khảm của chúng tôi. Những năm gần đây, nhà rường bỗng trở thành một "của quý" mà người chuộng đồ cổ ưa thích. Những căn nhà gỗ phút chốc có giá bằng cả kho tiền. Nhà rường lần lượt rời bỏ mảnh đất của mình ra đi. Nó được dựng lên trong những sân gạch, trên khu đất của nhà hàng, trong vườn người sưu tập...nhìn những nhà rường ấy chúng tôi thấy sao mà bơ vơ và lạc lỏng đến vậy. Nó như người nhà quê ra phố, những lối nhỏ quen thuộc, vườn cây trái xanh um chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của du khách. Nó vẫn còn nguyên vẹn từ chân cột đến đòn nọc thế mà ngượng ngịu xúng xính trong tấm áo không phù hợp với mình. Qua chiến tranh, thiên tai, nhà rường không còn nhiều. Phần lớn bị xuống cấp, chủ nhà vì khó khăn nên cũng mong bán lấy tiền xây nhà khác. Có người, do ông bà tổ tiên để lại, họ xem ngôi nhà là nhà thờ chung nên không muốn thay đổi, họ để mặc ngôi nhà dần dần xuống cấp, hư hỏng. Người khác mong có chỗ ở cho con cháu nên quyết định bán kiếm vài trăm triệu xây nhà mớị..nhiều nguyên nhân nhưng chỉ một hậu quả: nhà rường dần dần mất đi. Tuy vậy, nhiều chủ nhà vẫn còn tâm huyết với vốn cổ cha ông. Họ hiểu giá trị văn hóa vật thể, truyền thống gia đình nên hết sức giữ gìn. Nhờ sự chăm sóc chu đáo, tận tình của ông Lê Hối mà ngôi nhà rường Kim An không không còn bị mối mọt làm hư hại. Nhà sắp được thay một lớp ngói liệt mới. Ông Lê Quang Dinh còn có một kế hoạch hoàn chỉnh hơn. Nhìn ánh mắt và giọng nói của anh khi dẫn khách đi giới thiệu, chúng tôi hiểu rằng: những ngôi nhà rường vẫn đang được những bàn tay nâng niu, trân trọng và gìn giữ. Những thế hệ sau này sẽ không phải tìm đọc qua sách báo hay đi đến những nơi khác để tham quan vốn cổ của chính làng quê mình. Phục hồi nhà rường- bao giờ? Nhà rường phần lớn đều bị hư hỏng, sửa chữa cho đúng và có tiền để là một vấn đề lớn đối với mỗi nhà. Do vậy, nhiều người vẫn sống trong những ngôi nhà rường bị dột và mối mọt. Dù rất muốn sửa chữa nhưng mọi việc đều ở ngoài tầm tay. Cá biệt, có ngôi nhà được đầu tư hàng trăm triệu để trở thành một nơi di tích thì chủ nhà không đồng ý. Chủ nhà dường như chưa thấu hiểu hết giá trị văn hóa lịch sử ngôi nhà mình đang ở. Đây cũng là một khó khăn lớn trong công việc trùng tu các nhà rường cổ. Những nhà rường khác hoặc thiếu kỹ thuật khi trùng tu, hoặc không có tiền sửa chữạ..Những khó khăn vẫn chất chồng với những người đang tâm huyết phục hồi vốn cổ dân tộc: Nhà rường. Đứng trước tình hình đó, Hội kiến trúc miền Trung vẫn không nhụt chí. Nhiều tháng qua, các chuyên gia đã đi khảo sát, lập đồ án tìm hiểu các nhà rường cổ trên địa bàn tỉnh. Hội cũng có kế hoạch đầu tư kinh phí cho các nhà rường nhằm giữ lại nét kiến trúc rường cổ của dân tộc. Đây thật sự là tin vui đối với những nhà rường đang xuống cấp ở Huế. NGUYỄN LAN Nguồn: http://mimikhanhvan.multiply.com/reviews/item/1
  17. Tìm hiều về nhà cửa ở Bến Tre [ HUIS - NgoiNhaChung.nEt ] Cũng như các tỉnh khác của đồng bằng sông Cửu Long, nhà ở của Bến Tre chủ yếu thường được cất dọc theo đôi bờ các sông, rạch, kênh đào, có con đường đất chạy song song theo dòng nước nối từ nhà này sang nhà khác, kéo dài từ đầu xóm cho đến cuối xóm và có thể tiếp tục đi xa hơn nữa. Dạng thứ hai là loại nhà cất dọc theo các trục giao thông bộ, một bên hay cả hai bên đường còn tùy thuộc vào địa thế của từng nơi.Nhà lớn hay nhỏ đều có sân và vườn (không kể ở các thị tứ, bến sông, bến đò, bến phà, nhà được xây cất sát mép đường để tiện việc buôn bán, bán hàng quán). Thông thường qua ngõ thì đến sân rồi nhà, sau nhà là vườn, nếu đất rộng thì vườn nằm cả hai bên nhà, có trồng cây ăn quả. Quanh vườn là hàng rào cây xanh như bông bụt, chè tàu, kim quýt. Hàng rào mang tính chất quy ước về ranh giới, hay để trang trí hơn là vì mục đích bảo vệ, chống trộm cướp. Cổng vào nhà cũng vậy, thường có ít cửa đóng, đôi khi chủ nhà trồng hai cây bông giấy ở hai bên và uốn giao nhau thành một vòm cong để thêm đẹp nhà. Các quãng dọc theo hàng rào, người ta hay trồng xen những trái cây ăn quả như dừa, xoài, mận, mít hay cây lấy gỗ như so đũa, tràm bông vàng, mù, u, bạch đàn. Tùy theo địa thế rộng hay hẹp và cũng tùy điều kiện kinh tế, sở thích của từng người, mà cách bố trí ngôi nhà trong khuôn viên có khác nhau theo mấy dạng chính sau đây. 1. 2. Sân - nhà - vườn 3. Vườn - sân - nhà - vườn - ao cá 4. Sân - nhà - bến nước (do đất hẹp, nằm sát mé sông hay rạch) 5. Sân - nhà - vườn sau - vườn hai bên (ngôi nhà nằm ở trung tâm khu vườn) Bến Tre thuộc vùng quanh năm nắng nóng, nhưng nhờ nằm trên các cù lao bao bọc bởi những sông lớn và một hệ thống kênh rạch đan, cắt chằng chịt, nên khí hậu được điều hòa, không nóng quá và cũng không lạnh quá. Do đó, nhà cửa của người Bến Tre nói chung đều xây cất thích nghi với môi trường, đất đai, và thời tiết ở địa phương. Nhà có thể được xây cất lớn hay nhỏ bằng gạch hay bằng lá tùy theo điều kiện kinh tế của gia chủ, nhưng Bến Tre ít có kiểu “nhà đạp”, “nhà đá” (nghĩa là xây cất quá tạm bợ) như ở Bạc Liêu, Cà Mau hay Đồng Tháp Mười. Đại đa số nhà ở nông thôn Bến Tre được làm bằng gỗ, lá. Nguyên nhân chủ yếu vì tỉnh nghèo về vật liệu xây dựng, nếu mua ở nơi khác đường vận tải xa, giá thành cao, thêm vào đó, Bến Tre lại bị tàn phá nặng nề nhất trong cuộc chiến tranh vừa qua. Theo các cụ cao tuổi thì xưa kia Bến Tre có rất nhiều tre và cây cổ thụ như sao, dầu, chứ không như bây giờ, lại có nhiều cây gỗ khác như mù u, trâm bầu, mít, sầu đâu ở ngay nơi vườn. Bến Tre xa núi, không có tranh, nhưng lại giàu lá dừa nước. Dừa nước bền hơn tranh và rơm rạ, dùng lợp nhà, làm vách che cũng đẹp hơn. Lá lợp hàng năm thừa cho nhu cầu trong tỉnh, phải bán sang các nơi khác. Nếu như ở miền Bắc, mặt nhà quay về hướng nam được coi như là một sự đúc kết có tính quy luật, vừa để tránh được ngọn gió mùa đông bắc, vừa để đón nhận ánh sáng và những tia nắng ấm mặt trời, thì ở miến Nam, người ta vẫn lưu truyền câu" Lấy vợ hiền hòa, xây nhà hướng nam" tuy nhiên đó không phải là một yêu cầu bắt buộc, bởi vì không nhất thiết các nhà đều phải như thế. Việc quay mặt nhà về hướng nào hoàn toàn tùy thuộc vào sự tiện lợi, hợp lý nhất của địa cuộc và cảnh quan chung quanh. Nếu phía trước là con lộ hay dòng sông lớn, thì nhất thiết mặt nhà phải hướng về phía đó, dù là hướng đông hay bắc. Nhà quay mặt ra sông vừa đón làn gió mát từ dòng sông mang lại, vừa chứng kiến cảnh rộn rịp, đông vui của thuyền bè xuôi ngược, tận hưởng cái đặc ân của thiên nhiên "Một cửa thấy sông nước". Ở cùng một xóm, dù quay mặt ra sông rạch, hay quay về phía mặt lộ (đường liên tỉnh, liên huyện, liên xã) thì vườn nhà này thường liền với vườn nhà kia, mà ranh đất là con mương nhỏ ngập nước. Xưa, việc dựng nhà được quan niệm như là một trong những việc hệ trọng do đó ngoài việc chọn "cuộc đất" vừa ý rồi, còn phải xem ngày lành tháng tốt để dựng nhà, có lễ cúng Thổ địa (thần đất) và tuân thủ một số điều kiêng cữ. Nghèo thì cúng con gà, đĩa xôi, cùng hoa quả. Giàu thì làm đình đám hơn. Nhà khi dựng lên còn có lá bùa bằng mảnh vải đỏ vẽ hình bát quái treo tòn teng dưới đòn dông ở gian giữa. Có người treo nguyên cả cuốn lịch Tàu. Ngày nay, những tập tục mê tín dị đoan về địa lý, phong thủy cũng như một số tín ngưỡng, kiêng kỵ, lạc hậu đã giảm đi khá nhiều. Tuy nhiên một tập tục mang tính cộng đồng của đồng bào cùng xóm cùng làng, tối lửa tắt đèn có nhau vẫn được lưu giữ. Đó là trong làng xóm có người nào làm nhà mới thì những người chung quanh coi như có bổn phận đến giúp đỡ không lấy tiền công. Dưới quyền chỉ huy của người thợ cả, họ mỗi người một việc, thạo gì làm nấy để giúp gia đình chủ lắp ráp, xây dựng ngôi nhà. Nhiều nơi khi dựng nhà, người ta còn bắt vợ lẫn chồng chủ nhà cùng nâng hai đầu cây đòn dông, hay cùng sờ tay vào cây cột cái với hàm ý rằng đây là "của chồng công vợ" tạo nên và họ sẽ sống hạnh phúc với nhau trong ngôi nhà ấy. Gác sang một bên quan niệm dị đoan, ta thấy đằng sau cái động tác tượng trưng ấy một biểu hiện của tinh thần dân chủ, bình đẳng giữa vợ và chồng trong đời sống thôn dã. Khi sườn nhà đã đặt trên các hàng cột, người thợ cả lấy cây "thước tổ" mà ông ta dùng để đo tính toán lắp ráp ngôi nhà đặt trên chiếc bàn ở giữa nhà trên có lễ vật, hương hoa bày sẵn. Mọi người đến giúp dựng nhà đều đứng nghiêm mắt ngước lên phía nóc nhà như biểu thị sự hài lòng và vui mừng chúc tụng chủ nhà mọi sự tốt lành như ý. Các dạng nhà chính: Nhà chữ Đinh Đây là loại nhà rất phổ biến trong tỉnh, vùng này cũng có được cấu tạo gồm một nhà trên và nhà dưới, nhưng khác nhà sắp đọi ở chỗ nhà dưới nằm ngang hàng với nhà trên xoay đầu hồi ra phía sân trước, có cửa vào riêng cùng hướng với nhà trên. Nhà trên và nhà dưới cùng một mặt phẳng nên tiện cho việc bố trí bàn ghế khi có tiệc tùng, cưới xin, đám giỗ v.v… Bộ cửa nhà trên gồm nhiều cánh ghép liền với nhau, chứ không phải chỉ có hai cánh như kiểu nhà Châu Âu. Nhà chữ đinh thường có dãy hàng ba phía trước, nên nắng không bị chói, mưa không bị tạt vào bên trong. Có một tập quán lâu đời là nếu xây nhà chữ đinh thì cổng không mở ngay vào cửa chính của nhà trên, mà lại mở vào phía đi vào nhà dọc (của chữ đinh). Tùy sân trước rộng hay hẹp mà chủ nhà đặt ở đó nhiều hay ít chậu kiểng. Cũng có người không chơi kiểng mà áp dụng công thức: sân vườn - nhà - vườn sau. Ở đây có ao cá, chuồng gia súc, gia cầm, nếu vườn rộng thì có thêm cây ăn quả. Bên cạnh loại nhà chữ đinh thông thường trên đây, một số nơi cải tiến thành loại nhà chữ đinh có sân trong. Theo cấu trúc này, nhà dưới được tách ra khỏi đầu hồi nhà trên, tạo một sân nhỏ phía sau để lấy ánh sáng cho nhà dưới. Đây cũng là nơi đặt thêm hồ nước hay lu chứa nước mưa. Cách bố cục bên trong nhà chữ đinh nói chung gần giống nhau. Ở nhà chính, bàn thờ được đặt ở gian giữa và các gian hai bên. Trước bàn thờ, bên phải và bên trái là nơi đặt đi văng chân quỳ thay cho phản gỗ ngày xưa. Trước bàn thờ gian giữa là nơi bố trí bộ salông hoặc chiếc bàn chữ U với 6 ghế dựa. Nhà khá giả có thêm một tủ búp phê đựng ly tách, chén, bát đắt tiền và vài chai rượu. Các bàn thờ chạm trổ cầu kỳ ngày xưa, nay được thay bằng chiếc tủ thờ kiểu Gò Công, dùng để đặt bàn thờ bên trên, vừa để đựng những đồ đạc quý giá bên trong. Nhà sắp đọi Đây là loại nhà tương đối phổ biến ở nông thôn Bến Tre, gồm một nhà trên (hay nhà trước ba gian và một nhà dưới (hay nhà sau) sắp liền kề cùng chiều dài với nhà trên. Giữa hai nhà có chiếc máng xối chạy suốt từ đầu này đến đầu kia để hứng nước mưa. Nhà sắp đọi thường là nhà lá, cột bằng gỗ mù u, sầu đâu, so đũa, gỗ mít kê trên đá táng. Dãy cột hàng ba phía trước thường làm bằng tre gốc. Ở nơi ven biển thì dùng cây mắm, cây đước hay chà là. Trên cơ sở nhà sắp đọi, người ta còn cải tiến thành một số kiểu nhà khác, như nhà sắp đọi nối dài (phần nối dài có cửa trông thẳng ra sân trước), hay nhà sắp đọi có sân trong (phần mái nhà dưới được tách cách nhà trên độ hai, ba mét, có lối đi với mái che nối liền hai nhà). Sân trong vừa để lấy ánh sáng cho nhà dưới, vừa là chỗ để dãy lu chứa nước mưa. Nhà có chái Thông thường ở nông thôn Bến Tre, nhà ở nông thôn Bến Tre, cũng như Nam Bộ nói chung, gồm có một nhà chính và một nhà phụ. Ngôi nhà chính thường là ba gian, hai mái, hoặc ba gian một chái (khác với miền Bắc là nhà thường không chái). Số gian thường là số lẻ (1-3-5) ít ai chọn số chẵn. Nếu diện tích của hai kiểu nhà bằng nhau, thì nhà ba gian, hai chái nhìn vẫn thoáng hơn, dễ coi hơn nhà ba gian hai chái nhìn vẫn thoáng hơn, dễ coi hơn nhà ba gian một mái chái do tính cân đối của nó. Ba gian giữa được coi như khu vực chính, còn hai chái hai bên thường được làm buồng chứa đồ đạc và làm buồng ngủ cho phụ nữ trong gia đình. Nhà không chái Tuy không phổ biến, nhưng loại nhà này thỉnh thoảng ta vẫn bắt gặp ở nông thôn. Những gia đình nghèo, ít người hay chọn kiểu nhà này, vì cấu trúc đơn giản, dễ làm. Chỉ cần một số cây gỗ, tre để làm sườn còn mái che và hai bên vách đứng thì làm bằng lá dừa nước hay ván gỗ. Cũng có một số nhà tường xây theo kiểu này và lợp ngói, tôn, hoặc phi-brô ximăng. Trong trường hợp này, vách hai bên phải bằng gạch. Trong những năm chiến tranh và cả về sau này, ở nông thôn, nhất là dọc theo những đường cái, người ta xuất hiện loại nhà không chái, và chỉ một chái. Phía mặt tiền được làm cao hơn, mái đổ xuôi, về phía sau. Nhà chữ công Một số nhà xưa còn lại hay xây theo kiểu này. Ngày nay, loại nhà này ít được phổ biến. Về cấu trúc loại nhà này gồm có nhà trên và nhà dưới như kiểu nhà sắp đọi, nhưng thay vì nhà sắp đọi được bố trí hai mái đâu vào nhau, giữa có máng xối để hứng nước mưa, thì ở đây giữa nhà trên và nhà dưới cách nhau một khoảng sân rộng và được nối bởi một nhà cầu dài từ mái sau nhà trên đến mái trước nhà dưới. Cách cấu trúc này tăng thêm ánh sáng cho cả nhà trước và cả nhà sau. Nguồn: http://ngoinhachung.net
  18. Kiến trúc nhà ở của người Lô Lô Nhà được thiết kế ba gian. Gian giữa nhà (gian khách) rộng khoảng 3,5 m, được dựng có nóc gọi là xà đốc (sảng lè). Khi dựng xà đốc người ta phải xem ngày, giờ đẹp... Cũng giống như dân tộc Mông, dân tộc Nùng, dân tộc Bố Y… sinh sống ở các huyện phía Bắc tỉnh Hà Giang, kiến trúc nhà ở của người Lô Lô là nhà trình tường (nhà đất). Khi một gia đình nào đó chuẩn bị làm nhà, ngoài việc chuẩn bị đủ vật liệu để làm nhà ra thì công việc chọn đất và hướng làm nhà ở của người Lô Lô rất quan trọng; xem hướng có đẹp và hợp với gia chủ hay không thì mới quyết định dựng nhà. Nhà ở của họ thường có mặt quay về hướng Nam hoặc Đông Nam. Các hộ gia đình dân tộc Lô Lô thường dựng nhà ba gian, có hộ làm năm gian nhưng rất ít. Khung nhà được làm bằng gỗ tương đối đơn giản được kết cấu dựa trên các kèo gỗ (Lù phù) có từ 3 đến 5 hàng chân. Những vì kèo được liên kết với nhau bằng hệ thống đòn tay, ngang, dọc. Nhà được thiết kế ba gian, gian giữa nhà (gian khách) rộng khoảng 3,5 m. Gian giữa nhà được dựng có nóc gọi là xà đốc (sảng lè), khi dựng xà đốc người ta phải xem ngày, giờ đẹp thì mới dựng. Khi dựng xà đốc chủ nhà buộc một miếng vải đỏ, đóng ba đồng bạc vào thân xà đốc, buộc một túi thóc nếp, một túi ngô nếp lên hai đầu xà đốc. Dựng xà đốc xong, bắt một con gà trống cho uống một tí rượu, rồi thả con gà trống đứng lên xà đốc, làm hai túi bánh dày bố trí hai người đứng ở hai đầu xà tung bánh xuống cho trẻ em trong làng bản ăn. Với ý nghĩa là người ta cầu chúc cho ngôi nhà được xây cất cẩn thận và gia chủ làm ăn phát tài. Không gian nhà được tổ chức theo quy mô hẹp, khép kín. Nhà ở có ba gian và không có chái. Xung quanh nhà có hệ thống tường rào bao bọc (được xếp bằng đá, đây là nét đặc trưng, nét rất riêng của các dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng cao phía Bắc Hà Giang), trước cửa nhà có một sân nhỏ. Gian chính giữa nhà là nơi tiếp khách và uống nước của gia đình. Gian này có một cửa chính rộng 1,2 m, cao 2 m gồm hai cánh khi mở quay vào trong nhà. Gian chính cũng chính là nơi để thờ tự tổ tiên, gia chủ đặt một bàn thờ nhỏ để các hình nhân khắc bằng gỗ ở bên trên (mỗi hình nhân tượng trưng cho một người trong gia đình đã khuất). Gian buồng được đặt ở bên phía tay trái hướng từ cửa chính vào, ở gian buồng này cũng đặt một cửa sổ ở mặt trước. Gian bếp phía bên tay phải, gian này là nơi nấu ăn và là gian dành cho trẻ nhỏ, gian này cũng được lắp đặt một cửa sổ. Gác xép là nơi cất giữ và bảo quản lương thực, và khi nhà có đông khách cũng được dùng để ngủ. Muốn lên được gác xép người ta đã làm một thang gỗ có 9 đến 11 bậc và người ta kiêng không làm cầu thang có bậc là số chẵn. Tường nhà được là bằng đất, đất dùng trình tường không được đổ nước vào để trộn, thường người ta dùng đất có nhiều sỏi hoặc đá xít thì càng tốt, nó giúp cho tường đỡ bị nứt, độ bền cao và có sức chịu lực lớn. Tường nhà có độ dày từ 40 - 50 cm. Mái nhà được lợp bằng ngói máng (ngói âm dương), mái nhà được lợp một hàng úp một hàng ngửa và chồng lên nhau tạo thành rãnh thoát nước khi có mưa. Xung quanh nhà có tường rào bằng đá được xếp đè lên nhau có chiều cao từ 1,5 m - 2 m. Kiến trúc nhà ở của người Lô Lô nói riêng và kiến trúc nhà của các dân tộc thiểu số sinh sống ở các huyện vùng cao phía Bắc tỉnh Hà Giang nói chung, phong cách kiến trúc của họ có nhiều nét tương đồng. Về căn bản là giống nhau và đều là nhà đất. Tuy nhiên ở mỗi dân tộc lại có quan niệm khác nhau về việc chọn đất, hướng đất để dựng nhà. Đối với dân tộc Lô Lô thì việc dựng nhà, kiến trúc nhà ở luôn gắn liền với cuộc đời của mỗi con người./. Chuyên đề Dân tộc và Miền núi Nguồn: http://www.vovnews.vn
  19. NHÀ BA GIAN Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM VÀ PHONG THỦY LẠC VIỆT Phong Châu(*) Ở các vùng nông thôn Việt Nam – nhất là các vùng miền Bắc – các căn nhà 3 gian,1 gian 2 trái, 5 gian là những kiểu nhà rất phổ biến. Sự giàu có hay nghèo hèn của chủ nhân những ngôi nhà, được thể hiện qua qui mô và vật liệu làm nhà; nhưng kiểu dáng hầu như không có sự thay đổi đáng kể. Có thể có một vài biến tấu trong kết cấu kèo, cột, sự nhô ra, thụt vào của các phòng…Ví dụ như kiểu nhà ba gian – Tứ trụ giao nguyên, một thò hai thụt – tức là ngôi nhà ba gian có vì kèo hai lớp hàng ngang, giống như hai tầng cây xuyên. Những căn nhà này được bố trí theo hàng ngang, có mặt tiền rất rộng, có thể có một hay nhiều cửa cùng hướng mặt tiền của căn nhà. Một đặc điểm nữa là kiểu bài trí đồ đạc trong nhà cũng na ná như nhau: Căn phòng chính giữa được bố trí làm phòng khách và nhà thờ. Ngay sát tường đối diện với cửa cái người ta đặt bàn thờ - Thần, Phật và Gia tiên. Theo phép thờ cúng thường người ta đặt bàn thờ Phật ở chính giữa – nếu đứng từ ngoài nhìn vào – bàn thờ Thần đặt bên tay trái, bàn thờ Gia tiên đặt bên tay phải. Trước bàn thờ, người ta thường có đặt một bộ trường kỷ hoặc bàn ghế tiếp khách. Hai bên cột nhà trước bàn thờ, người ta thường treo hoành phi, câu đối, hoặc như nhà nào nghèo trên vách cũng treo tranh hoặc câu đối bằng giấy. Nhà thường không có chia buồng ngang, nên người ta hay đặt hai bộ ván ở hai bên nhà. Nếu có chia làm hai trái thì một bên nhà người ta để cót thóc hoặc giống cây các loại cho mùa sau. Một bên người ta làm phòng ngủ. Thông thường thì khu vực bếp làm riêng, biệt lập hoặc ngăn cách hẳn với căn nhà. Có thể nói: Do sự phổ biến và tồn tại rất lâu đời, nên những kiểu nhà trên trở thành một lối kiến trúc đặc thù, rất phổ biến trong văn hóa nông thôn Việt Nam. Tại sao ông cha ta lại chọn kiểu nhà này? Nếu xét dưới góc độ Phong thủy thì những kiểu nhà này có những đặc điểm chung như sau : * Cách bài trí nội thất trong nhà như trình bày ở trên gợi cho ta một ý niệm về sự cân bằng Âm Dương. * Tất cả các ngôi nhà từ trước đến sau chỉ có một ngăn. Do đó, hướng nhà, hướng phòng, sơn nhà, sơn phòng đều trùng hợp. Trong Phong thủy gọi đó là nhà Đơn trạch . * Thông thường các căn nhà đều được bố trí theo hướng cửa chính là Nam hoặc Đông nam. Các cụ thường ví: “Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng Nam”. Với sự phổ biến kiểu nhà này ở khắp một vùng nông thôn rộng lớn và tồn tại lâu đời, đã chứng tỏ một sự thống nhất về văn hóa xã hội và là một sự lựa chọn có ý thức của tiền nhân. Nhưng tại sao tiền nhân lại chọn kiểu nhà này? Theo cái nhìn của thuật Phong Thuỷ – dù xét theo phương pháp của Dương trạch tam yếu hay Bát trạch minh cảnh và trong điều kiện kinh tế thời xưa – thì đây là một kiểu nhà bảo đảm tối ưu về mặt phong thuỷ cho một căn nhà, trong sự tương quan nội tại của căn nhà đó (Không tính tương quan của căn nhà với cảnh quan môi trường). Điều kiện cần để có sự tối ưu này là căn nhà hợp hướng với cung mạng của chủ nhà. Những sự phân tích dưới đây, được đặt giả thiết là hướng nhà hợp tuổi chủ nhà. 1) Lập luận theo Dương trạch tam yếu: Một căn nhà được coi là tốt thì phía sau nhà phải tốt (Tọa sơn tốt – nói theo thuật ngữ Phong thuỷ) và hướng nhà phải tốt. Vì là nhà đơn, nên tất cả các phịng chính và phụ đều có hướng tốt và toạ sơn tốt. 2) Lập luận theo Bát trạch minh cảnh: Do tất cả các phòng và nhà đều hợp hướng chủ nhà (theo giả thiết đã nêu). Bởi vậy sẽ mang lại sự thống nhất và phát tài cho gia đình. Đến đây, một vấn đề được đặt ra: Theo đồ hình Hậu thiên bát quái từ bản văn cổ chữ Hán thì Hậu thiên bát quái Văn Vương phân Đông & Tây trạch như sau: ĐÔNG TÂY TRẠCH BÁT QUÁI VĂN VƯƠNG Như vậy, bạn đọc cũng thấy chỉ có người mạng cung thuộc Đông Tứ trạch mới có cơ hội được cặp sơn hướng tốt nhất là Bắc – Nam (Phúc Đức). Còn cặp sơn hướng tốt nhất của người Tây Tứ trạch là Tây Nam và Đông Bắc chỉ thuộc loại trung bình (Sinh khí). Không lẽ thuật Phong Thuỷ Đông phương lại chỉ ưu ái cho người thuộc Đông tứ trạch? Nhưng với đồ hình Hậu thiên bát quái đã hiệu chỉnh của Nguyễn Vũ Tuấn Anh (Tìm về cội nguồn Kinh Dịch. Nxb VHTT 2002) thì có sự cân bằng giữa Đông và Tây trạch vì cặp sơn hướng Tây Bắc – Đông Nam (Càn & Khôn) cho người Tây tứ trạch (Phúc Đức) tương ứng với cặp Bắc – Nam (Khảm & Ly) của Đông tứ trạch . Xin xem hình minh hoạ sau: ĐÔNG TÂY TRẠCH HẬU THIÊN LẠC VIỆT Trên cơ sở này chúng ta xem hình minh hoạ dưới đây cho một căn nhà truyền thống theo Phong thuỷ Lạc Việt: TỌA BẮC HƯỚNG NAM Khảm & Ly Phúc Đức trạch thuộc Đông tứ trạch TỌA TÂY BẮC - HƯỚNG TÂY NAM Càn & Khôn Phúc Đức trạch thuộc Tây tứ trạch Qua hình trên, bạn đọc cũng nhận thấy: Đây là điều kiện tối ưu về phong thuỷ cho một căn nhà ở nông thôn Việt Nam (Với yếu tố cần là hợp hướng với cung mạng chủ nhà) dù luận theo phương pháp của Dương trạch tam yếu hay Bát trạch minh cảnh. Phải chăng sự hợp nhất trong cách giải thích về Phong thuỷ theo hai trường phái khác nhau cho căn nhà truyền thống của Việt Nam là cơ sở của một giả thuyết cho rằng: Những phương pháp ứng dụng khác nhau của các trường phái Phong Thuỷ hiện nay, ngày xưa vốn bắt đầu từ một phương pháp thống nhất và nhất quán. Nhưng sự thăng trầm về lịch sử khiến nó bị thất truyền và tán lạc? Chính từ những yếu tố tương tác khác nhau và những phương pháp ứng dụng của nó , mà người Hán sưu tầm được - từ những mảnh vụn còn lại của một nền văn minh Lạc Việt đã sụp đổ - người ta đã coi là những trường phái khác nhau và mâu thuẫn đến khó tin, dù cùng một phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành? Sự phổ biến trong kiến trúc của một kiểu dáng nhà ở các vùng nông thôn Việt Nam là một yếu tố nữa cho thấy sự thống nhất về văn hóa và tri thức, đã chứng tỏ rằng: Khoa Phong thủy lưu truyền trong văn hóa Đông phương, nguyên thủy vốn là một phương pháp nhất quán và hoàn chỉnh; thuộc về một nền văn minh một thời huyền vĩ ở miến Nam sông Dương Tử. Khi nền văn minh này bị sụp đổ vào thế kỷ thứ III trước CN, chính nền văn minh Hán đã tiếp thu một cách rời rạc những mảnh vụn của nó và lập thành những cái mà người ta quen gọi là gọi là trường phái; hỗn độn, mâu thuẫn và không đầu, không đuôi và chỉ là phương pháp ứng dụng. Người viết hy vọng những nhà nghiên cứu quan tâm sẽ đóng góp những ý kiến quý báu. PHONG CHÂU ------------- * Chú thích: Phong Châu là bút danh của Nguyễn Vũ Tuấn Anh khi viết bài này, đã đăng trên một tờ báo nào đó mà lâu ngày không nhớ tên. Trên đây là một bài viết của ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã công bố trên internet. Post lại cho ACE "ngâm" cứu. Bài này còn thiếu đồ hình chưa post được lên. Sẽ bổ sung sau.
  20. Trả Lại Thăng Long Cho Dân Việt Nguyễn Cường Nhân đọc bài viết của một nhà văn khá nổi tiếng, ca tụng về những nét đẹp vừa lãng mạn nên thơ, vừa hào hùng của Hà Nội, mảnh đất biểu tượng cho ngàn năm văn hóa của dân tộc Việt, làm người viết không khỏi nhớ lại một ý tưởng tình cờ đến, trong tiềm thức sau một giấc mơ kỳ lạ, cách đây không lâu. Thật vậy, cái âm hưởng của từ "Hà Nội" dám chắc đã in sâu đậm vào tâm khảm ký ức mọi người, trải qua ít nhất cũng khoảng chừng gần mươi thế hệ, nên đối với đa số không còn phải thắc mắc hay tìm hiểu gì thêm về nguồn gốc hay ý nghĩa của nó. Hà nội là Hà nội, là cái tên như Sài`gòn hay Huế, là tiếng gọi đầu đời của biết bao trẻ thơ, là nơi chốn hẹn hò gặp gỡ của những văn nhân nghệ sĩ, và cũng giống như hơi thở của nhịp sống luân lưu trong hàng triệu triệu con dân Việt, thì sao lại còn phải dài dòng giải thích hay thắc mắc làm gì!? Ðó thường là cảm tưởng chung của những người miền Bắc mỗi khi có dịp hỏi về ý nghĩa của Hà nội. Cũng có một số vị có sự kiên nhẫn độ lượng và thông cảm hơn, đã đưa ra lời giải thích theo sát nghĩa, đơn sơ và dễ hiểu là: Thành phố có con sông (Hồng), hay chính xác hơn, thành phố nằm ở ven sông. Nếu chỉ giản dị như trên, thì chẳng có gì đáng nói, và dĩ nhiên, cũng chẳng có bài viết này. Nhớ lại câu châm ngôn thường nghe nói: không có lửa, sao có khói? Thắc mắc được nêu ra đây là: Tại sao cái tên nguyên thủy "Thăng long" được vua Lý Thái Tổ sáng lập khai sinh ra, kéo dài trong suốt hơn tám thế ky,ủ qua biết bao triều đại, kể cả khi nhà Trần đã cướp ngôi và thảm sát cả nhà dòng họ Lý, bị đổi tên khác là Ðông Ðô, Ðông Quan, rồi Ðông Kinh cả hơn trăm năm, rồi cuối cùng cũng được trả lại cho tên cũ, thì tại sao triều đình nhà Nguyễn lại quyết định bỏ đi, rồi sau cùng thay thế luôn bằng cái tên HàNội? Câu trả lời cho thắc mắc trên sẽ được lần lượt trình bày trong bài viết này, theo chiều hướng suy luận chủ quan của người làm công việc khảo cứu, không nhất thiết phải là hoàn toàn đúng, và chắc sẽ có được tiếng nói phê bình từ nhiều giới độc giả hay các nhà chuyên môn nghiên cứu về văn hóa sử. Thông thường, tên của một địa phương hay thành phố, đa số xuất phát từ một trong hai trường hợp sau: Tên khởi thủy do nhóm người đầu tiên đến khai phá hay lập nghiệp, thường gọi hay đặt cho. Giống như trường hợp tên người do cha mẹ đặt cho từ khi mới sinh ra, thường được giữ luôn đến suốt đời và ít khi bị thay đổi, không ngoài lý do tôn trọng ý kiến của nhửng bậc tiền nhân có công gây dựng. Ngoài ra, giữ được cái tên nguyên thủy còn nói lên tinh thần muốn duy trì truyền thống bảo tồn văn hóa của địa phương, chưa nói đến nhử~ng rắc rối về giấy tờ hay công việc hành chánh khi phải thay tên đổi họ. Do vậy, hiếm khi thấy tên của một thành phố hay thị trấn lớn trên thế giới bị thay đổi, trừ một thiểu số vì lý do chính trị. Ðây thuộc về trường hợp thứ hai với các lý do có thể tạm coi là chính đáng, như một thuộc địa vừa được thâu hồi lại chủ quyền, và tên đường hay tên của thành phố là do ngoại bang đặt cho khi còn đang ở thế mạnh, hoặc đang chiếm đóng lãnh thổ. Dù ở trong trường hợp nào, thì cái tên của một thành phố đều hàm chứa một ý nghĩa nào đó, mà những người thẩm quyền khi đặt tên, phải mất nhiều thời gian suy nghĩ đến, và ít ra cũng có sự đồng thuận của môt số người. Tuyệt đối không thể cho là kết quả của một sự ngẫu nhiên hay tình cờ theo cảm hứng cá nhân được. Hơn nữa, riêng trong trường hợp tiếng Việt thuộc dạng đơn âm, nên dù chỉ có một chữ hay một âm thôi, cũng thường cho ra nghĩa rồi, nói gì đến hai âm ghép vào. Dựa trên những suy tư đó, người viết đã thử truy tìm nguồn gốc ý nghĩa của Hà Nội. Hà có nghĩa là con sông thì đã quá rõ, ai cũng biết cả rồi, không phải nói tới nữa. Riêng chữ "Nội" mới là vấn đề, vì từ "Nội" ở đây đóng vai của một trạng từ hay tĩnh từ. Theo nghĩa đen "Nội" là ở trong như đã giải thích, ngược lại với "Ngoại" là bên ngoài. Nghĩa đen bóng bẩy hơn một chút thì Nội là chính, còn Ngoại là phụ, như ta vẫn thường nói họ nội, hay họ ngoại. Thành phố có con sông chính, hay thành phố có con sông chảy ngang qua là ý nghĩa thuần nhất của Hànội. Có người thì cho rằng vì có Hà Bắc, Hà Nam, Hà Ðông và Hà Tây, nên có cái tên Hà Nội ở giữa, cho hợp lẽ. Giải thích như vậy thì tạm được, nhưng chưa thông và còn thiếu sót. Trước khi có tên Hà Nội thì chỉ có các địa danh như Kinh Bắc và Sơn Tây. Mãi sau này, khi đã có từ Hànội rồi, thì các "Hà" khác mới được khai sinh ra sau cho có vẽ hợp lý. Ðúng ra, tên Hà Nội đầu tiên đã được đặt cho một làng nhỏ nằm trong huyện Nông Cống thuộc tỉnh Thanh Hóa dưới thời vua Lê chúa Trịnh. Sự thật có thể không chỉ đơn giản như vừa nói! Hãy lý luận thêm một chút: Một thành phố có con sông chảy qua là chuyện rất bình thường ở khắp nơi trên thế giới, ngay cả như ở miền Nam chẳng hạn, không là điều hiếm có, thì việc gì phải cần nhấn mạnh Hà "Nội với Ngoại" (hay chính với phụ!?) Vậy, tạm thời quên cái ý nghĩa đen bên ngoài có vẻ như vô tội vạ và ngay thẳng nhất. Còn lại, chỉ có thể là "người ta" thâm nho, muốn chơi "chữ với nghĩa", muốn ám chỉ một ý khác như "Con sông hướng về bên trong" chẳng hạn! Xin nhắc lại, trong tiếng Việt thì giới tự đứng sau danh từ và làm bổ từ, nên theo đúng văn phạm phải là "sông (ở) trong". Nếu đúng, thì quả là một điều cần xét lại. Bỡi vì, một con sông lớn mạnh và bề thế như sông Hồng, phải chảy ra "ngoài" biển cả về với đại dương, mới xứng đáng là rồng mây gặp hội, và nhất là không thể nào lại chịu bị gò bó kềm hãm "trong" đất liền, chật chội nhỏ hẹp như những con kinh, hay cái mương, cái rạch được. Ðây là chưa dám nghĩ tới cái ý quanh co, khi muốn ám chỉ đến cái loại dòng nước cho ra từ "bên trong thân thể của các sinh vật"! Dù sao, trên là chỉ mới nói sơ đến cái nghĩa đen và bóng đơn thuần bề ngoài, nhưng chưa nói đến ẩn nghĩa thâm sâu nhất, mà "người ta" muốn ngầm hiểu, áp đặt vào cái vùng đất địa linh nhân kiệt, tiêu biểu cho cả mấy ngàn năm văn hóa BáchViệt. Rồng hay Long, tuy là giống vật linh thiêng tưởng tượng chỉ có trong truyền thuyết, nhưng nguồn gốc về hình dạng vẫn thuộc vào loài bò sát, có thân mình dài như rắn. Cho nên theo khoa hình tượng học, thì sông được ví như rồng, như sông Cửu long được ví như chín (9) con rồng chảy cong vòng lượn mình uốn khúc qua lại. Rắn hay Rồng, trong tư thế mạnh mẻ và đáng sợ nhất là khi chụp mồi hay để tự vệ, thường ngẩng cao đầu lên, phóng ra "ngoài" hướng về phía trước, để đối diện với nguy hiểm khó khăn hay kẻ địch. Ngược lại, trong thế sơ hở hay yếu nhất thì cuộn tròn lại, quay đầu vào bên "trong" nghỉ ngơi, lúc no mồi phè phởn, hay khi ngủ. Câu trả lời đã bắt đầu xuất hiện một cách khá rõ ràng, giống như ta đem hai bức tranh thật và giả treo sát bên cạnh nhau để so sánh sự tương phản khác biệt. Nếu đem viết hai chữ Hà Nội ngay liền phía dưới Thăng Long thì có thể thấy ngay có sự đối xứng nhịp nhàng. Cùng một ý là sông, thay vì dùng "Long" hay rồng tượng cho sự thông minh cao quý, thì lại biến cho thành "Hà", tầm thường và nhỏ mọn như loài giun rắn. Thay vì "Thăng" tiến, dũng cảm tự tin để hướng thượng đi lên, thì bị làm cho u mê nhu nhược chui rúc vào "Nội" thành hang hóc để cầu an. Rõ là nghĩa đối nghĩa, lời thay lời, theo cách đối đáp thời nho học còn thịnh không thể nhầm lẫn được. Và chỉ cần thế thôi, họ chẳng muốn phải làm mạnh tay hay hảm hại gì cả. Chỉ cần phù phép làm cho con rồng Việt đang tính bay lên, đành chịu quay lại rúc đầu vô bụng ngủ yên cho quên hết mọi việc, cho họ khỏi phải bận tâm lo lắng. Tính đúng ra, thì con rồng Việt đã bị làm cho ngủ say sưa mê mệt đến cả hơn một thế kỷ rưỡi! Nhớ lại, chẳng phải chỉ có người viết mới có ý nghĩ như vậy thôi. Các nhà làm văn hóa, các nhạc sĩ theo trực giác tự nhiên hay cảm tính bén nhạy, cũng đã thấy được điều muốn nói. Phải gọi cho được bản nhạc hùng ca là "Thăng long hành khúc", mà không là "Hà nội hành khúc"! Phải tựa như rồng đang bay lên lượn xuống, uy nghi mãnh liệt, cuồn cuộn như sóng dồn, như hào khí của đắng Quân vương, anh hùng hào kiệt. Phải được vậy thì mới xứng danh là đất của ngàn năm văn vật, niềm hảnh diện của các sĩ phu Bắc Hà! Nếu không, thì chỉ là giống Lươn, giống Trạch chuyên chui rúc ở bờ ao đầm lầy, có gì mà ca tụng, tự hào hãnh diện. Nghĩ cho cùng, không phải là chuyện mê tín dị đoan mà là dữ kiện khoa học, cũng chẳng phải là Sấm truyền mà là Duy Lý Sử Quan, Thống Kê Xác Xuất. Kể từ khi cái vùng đất được vị vua anh minh họ Lý cho mang tên là "Thăng long" đó, thì ít ra cũng đã sản sinh cho đất nước những bộ óc tuyệt vời, những "Phá Tống, Bình Chiêm", "Hội nghị Diên Hồng", hay "Bình Ngô Ðại Cáo". Nếu đã không làm cho đất nước trở thành cường quốc lẫy lừng trong thiên hạ, thì cũng không làm gì hổ thẹn đến vong linh tiền nhân. Nhưng, kể từ khi mang cái tên Hà nội vào, thì may lắm cũng chỉ cho ra đời nhửng nhân tài đại khái như "Truyện Kiều còn, nước ta còn!"; "Thống chế ơi, có tôi đây"; hay là tội nghiệp đáng thương hại hơn "Anh thành công, thì em sẽ thành công; còn anh thất bại, thì em xin chịu thất bại theo anh!" Ôi! còn đâu là cái hào khí của giòng giống Lạc Hồng muôn thuở! Nguyên do nào thúc đẩy vua Minh Mạng ra Sắc lệnh (hay Chiếu Chỉ) đổi Thăng Long ra Hà Nội vào năm 1831, sau khi đã đăng quang nhiếp chính cầm quyền gần một con giáp? Xin trở lại từ đầu, lý do chính ai cũng có thể hiểu là dưới ảnh hưởng chế độ phong kiến thời xưa, cái gì thuộc về Vua đều được ví như rồng, hay ngược lại. Thăng long không còn là kinh đô triều đình thuộc nơi chốn vua ở nữa, nên không được quyền mang tên Long. Tuy nhiên, thắc mắc ở đây là vì sao, trong cả trăm ngàn tên đẹp đẽ có ý nghĩa thiếu gì trong kho tàng văn chương Hán Việt hay Nho học không chọn, mà lại lựa ngay cái tên có vẽ tầm thường như Hà nội vừa nói ở trên, mới là điều cần nêu lên nghi vấn. Phải chăng vì sợ rằng miền đất đó sẽ cho ra những anh hùng cái thế có thể làm nổi chuyện thay ngôi đổi chủ, hay vì sợ hồn ma của vua Lê chúa Trịnh muốn quay về, nên họ đã tìm ra đủ mọi phương cách để phòng ngừa hay chế ngự, bằng ngay cả các biện pháp thuộc lảnh vực huyền học siêu nhiên? Hẳn các vị quan lại đại thần thời đó, phải biết là hơn ngàn năm trước, có một thái thú Cao Biền rất tinh thông về khoa Phong thủy, đã không mấy thành công và cũng gần như bỏ mạng, vì muốn ém cái đầu rồng của nước Việt. Hậu sinh thật đáng kính nể, dùng biện pháp mạnh như ông thầy họ Cao, tính cắt phăng luôn cái đầu rồng thì thất bại, nhưng dùng cách nhẹ nhàng hơn để dụ rồng quay đằu vô bụng ngủ, thì lại thành công hoàn toàn, bằng khoa siêu hình hay tâm linh, phá được cái thế quý địa "Nhả ngọc phun châu", mà các thầy Ðịa lý ví như con rồng đang bay rồi hạ giáng xuống vịnh Bắc Việt để phun nước (?). Trăm dâu không thể đổ đầu tằm! Chắc chắn rằng vua Minh Mạng không chủ động xướng xuất việc này, vì nếu có thành kiến hay nghi ngờ, thì ông đã làm từ khi mới lên ngôi vua. Ngoài ra, ông cũng không giỏi gì lắm về văn chương chữ nghĩa, lại ham mê luyện tập võ nghệ săn bắn, và có nhiều phi tần mỹ nữ nhất trong các ông vua, thì không thể nào lại có những ý tưởng "cao siêu" đến thế. Vậy thì còn lại giả thuyết là do một ông quan nào đó đã "mớm" ý cho vua. Giả thuyết trên tuy có vẽ hợp lý, nhưng vẫn còn thiếu sót. Hãy thử suy luận xa thêm một chút, nếu thật sự đó là sản phẩm trí tuệ của ông quan nào đó nghĩ ra, thì hẳn phải là người thuộc dòng khoa bảng thông minh xuất chúng. Mà đã làmột bậc sĩ phu chân chính được xã hội trọng vọng như vậy, thì danh dự, lương tâm của kẻ sĩ để đâu, để có thể cho phép chính mình xúi dục vua làm cái chuyện ám hãm cho đất nước như vậy. Câu trả lời ở đây chỉ có thể là do kết quả của những ông quan mà trí óc không cao quá cái ghế ngồi của mình, chỉ biết nhìn thấy cái lợi ngắn hạn trứơc mắt, để rồi bị gạ gẫm xúi dục, mua chuộng bỡi những hồn ma bóng quế nào đó! Tất nhiên, chắc sẽ có nhiều người thắc mắc cho rằng, dù giả thuyết trên nếu có đúng đi chăng nữa, thì cũng chỉ là một cái tên gọi, một sự liên tưởng mơ hồ thiếu cơ sở khoa học nào đó, giữa con rồng chỉ có trong huyền thoại với con sông Hồng. Làm sao có thể dám kết luận đó là nguyên nhân cho những sút kém thua thiệt mà cả dân tộc Việt phải gánh chịu về sau này!? Câu trả lời ở đây sẽ là: Tất cả những suy luận trên đều dựa hoàn toàn vào bằng chứng sử liệu, trên cơ sở kiến thức khoa học ngày nay, và không phải là chuyện giả tưởng do trí tưởng tượng sắp đặt, hay từ một sự linh thiêng huyền bí nào cả. Ngôn từ về "Siêu hình" hay "Huyền học" có nói đến ở trên, chính là hiện thân của khoa tâm lý học hay phân tâm học, và kết quả của những cái gọi là huyền bí đo,ù chính là những phương pháp "Tẩy Não" hay nhẹ hơn là "Tự Kỷ Ám Thị" được áp dụng cho ngày nay. Dù sự thật có như thế nào đi nữa, quan trọng hơn hết, vẫn là cái tâm cái ý của những người có quyền lực thời bây giờ khi muốn đổi ra tên Hànội, rồi biến thành hành động thể hiện qua chánh sách xử dụng nhân tài v.v. Thí dụ, trong bộ "Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện" do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn biên soạn, xuất bản vào khoảng năm 1909, viết về chuyện các Hoàng Thân Quốc Thích, cùng các Quan từ thời vua Gia Long cho đến Ðồng Khánh, gần một trăm năm. Nếu bỏ ra các nhân vật thuộc Hoàng Gia Tôn Thất, thì trong tổng số hơn sáu trăm (600) tên của các quan lại, có không quá năm (5) vị là có nguyên quán gốc ở Hànội nói riêng, và không quá 60 vị có nguyên quán từ Nghệ An hay sông Cả trở ra, nói chung cho Bắc Hà. Con số quá khiêm nhường cho một miền đất mà tỷ số nho sinh sĩ tử dám chắc không dưới 30 % của cả nước, vào thời bấy giờ. Rồng là con vật tưởng tượng ai cũng biết, nhưng sở dĩ vân hóa Phương Ðông thường nhắc đến coi như có thật, bỡi vì ngoài vấn đề uy quyền linh thiêng dành cho vua chúa, nó còn là biểu tượng của sự sang giàu, cho trí tuệ hay sự thông minh của con người. Chẳng cần đợi đến khi thực dân Pháp qua hay mãi về sau này, ngay từ thời đất nước còn độc lập và xuyên qua cả ngàn năm lịch sử, ai cũng phải khách quan nhìn nhận là miền Bắc, được coi như cái đầu của con rồng Việt, siêu hình hay thực tế, biểu tượng cho trí tuệ hàng đầu của cả nước. Từ đó, cũng chẳng có gì lạ khi miền đất gọi là Thăng Long, não bộ của đầu rồng, đã là mục tiêu chính để triệt hạ theo đúng sách vở, đánh rắn phải đánh ở cái đầu! Nhìn lại một vài hiện tượng văn hóa đã xảy ra và chỉ khởi sắc từ miền Bắc, như hát Ả Ðào hay Ca Chầu dành cho mấy Ông, hoặc lên "Ðồng Cốt"dành cho mấy Bà. Hát Ả Ðào bình thường đúng là môn văn nghệ giải trí có nguồn gốc từ cung đình cho vua quan thưởng thức. Thế nhưng sau này đã được truyền ra trong dân gian, rồi bị biến dạng thành "nhà chứa" và kèm theo luôn nhà hút á phiện. Những món ăn chơi vừa nói, thật sự đã có từ thời vua Minh Mạng. Lúc đầu chỉ nhắm vào các giới quan lại cựu thần vua Lê miền Bắc, được khuyến khích mượn thú ca kỹ, đi mây về gió tại tư gia để giải sằu, quên đi chuyện cũ mà thôi. Nhưng đến thời vua Tự Ðức thì trở thành thương mại, lan xuống tận giới trung lưu hay thành phần nho học trí thức, và khi người Pháp qua cai trị thì họ lại càng mạnh tay khai thác để biến thành một phong trào "Bảo tồn văn hóa"! Thời đó, giới sĩ phu Hà Thành mà không biết thưởng thức cái món "Hát Ả Ðào", thì không xứng đáng được coi là người lịch lãm. Hiện tượng trên đúng là phù hợp với cái ẩn nghĩa "Hà Nội" hay "Rồng ngủ ". Vả lại, Rồng đang ngủ thì không thể làm gì khác trừ chuyện mơ mộng viễn vông, nên nhân tài Bắc Hà trong thế kỷ qua chỉ có quy tụ vào trong các bộ môn Thơ, Nhạc và Họa hay nói chung là về nghệ thuật, nghĩa là cần có nhiều đức tính mơ mộng và trí tưởng tượng dồi dào, và phải rời xa cái đất gốc thì mới có danh tiếng khá được! Ðó là chưa nhắc đến hiện tượng đa số các văn nghệ sĩ có tiếng ở miền Bắc thời bấy giờ, không ít thì nhiều, đều mang thêm vào cái nghiệp "Ði mây về gió". Trên chỉ mới là những biện pháp dành cho tầng lớp từ trung lưu trở lên, nhưng vẫn chưa đủ, vì miền Bắc nước Việt thời đó phải có ít nhất 90% nông dân. Chính số đông này dù có cha mẹ thuộc thành phần bần nông ít học, nhưng nhờ tính hiếu học và trọng khoa bảng, nên một số không ít cũng cố gắng cho con đi học để có thể vươn lên. Ðối với đám đông quá nhiều này, thì họ lại dùng phương pháp "tự kỷ ám thị". Lợi dụng lòng mê tín và thương con của các bậc cha mẹ, qua lời khuyên bảo của mấy ông Ðồng bà Cốt hay các thầy Pháp Sư đã được huấn luyện và mua chuộng, tìm những cái tên xấu xí, thô tục đặt cho trẻ con. Thế là cái đất ngàn năm văn hiến đó đã một lúc cho ra đời hàng ngàn hàng vạn những "Thằng Cu" và "Cái Hĩm", đã là nơi phát xuất ra một hủ tục phi nhân bản, phản dân tộc, tệ hại nhất trong lịch sử văn hóa của....loài người! Vì, ngay cả những bộ lạc kém văn minh ở miền núi hay bên Phi Châu, cũng không hề gọi tên con mình xấu như vậy. Rõ ràng là người ta muốn cho những mầm non tương lai của nước Việt, phải bị nhập tâm ngay từ khi còn nhỏ: "Luôn luôn phải nhớ là giá trị của chúng mày chỉ xứng đáng với cái tên được gọi"!!! Nhân viết tới đây, không thể không nói đến một trường hợp tương tự thứ hai xảy ra sau cái tên Hà nội, chính là tên của phi trường quốc tế "Nội Bài". Thú thật, người viết không thể hiểu được tâm trạng của cái ông tác giả nào đã đưa ra cái tên kỳ lạ như vậy! Tại sao người ta lại hay thích dùng chữ "Nội"? Có thể nào là kết quả của những nổi lo sợ ám ảnh bởi chữ "Ngoại", vì liên hệ đến ngoại bang hay xài đồ ngoại hóa, nghĩa là không yêu nước? Còn nếu cho là dùng chữ "Nội" vì do từ Hà Nội mà ra, thì sao lại ghép liền với chữ "Bài", mới thật là hết ý kiến vì khó hiểu và vô lý quá! Trước hết, xét về nghĩa lý thì chữ "Nội" là ỡ trong, đã nói rồi và không cần lập lại. Riêng chữ "Bài" thì chỉ có hai nghĩa mà thôi. Nghĩa thứ nhất làm động từ là bài bác hay gạt bỏ đi. Ðiều này hoàn toàn vô lý, vì nếu có ý đó thì "Bài Ngoại" chớ sao lại "Bài Nội"? Nghĩa thứ hai còn lại là khuôn khổ có giới hạn, hay đóng khuôn trong kích thước, như bài học, bài vẽ, bài ngà (thẻ bài), hay bài vị trên bàn thờ. Tạm bỏ qua những nghĩa không ổn, chẳng hạn như phi trường của thủ đô là phải thuộc hạng quốc tế, chỗ máy bay đi khắp bốn bể năm châu, làm sao lại bị hạn chế trong nội địa được! Vậy thì chỉ còn một nghĩa tạm thời có lý là "cái thẻ ở trong (người)". Có thể, theo nhận xét của người khai sinh ra cái tên Nội bài, thì phi trường là chỗ mà ai tới đó phải có cái thẻ bài hộ chiếu thông hành, thẻ xanh, thẻ đỏ, hay gì gì đó.....thì mới được đi(!?) Còn như dân thường không có thẻ, thì chắc suốt đời làm gì được bén mảng đến phi trường, nói chi đến chuyện đi xuất ngoại!. Nghĩa này tuy đơn sơ, nhưng có thể hiểu được. Và nếu chỉ có vậy thì tội nghiệp và buồn cho cái phi trường này quá. Nhưng chưa hết, một giả thuyết khác có thể là trường hợp "chơi chữ' của cụ nào vốn dòng thâm nho mà thôi. Giống như câu chuyện "Quần Thần" hay "Bầy tôi" là ám chỉ "Bồi Tây", biết đâu mấy cụ lại bắt chước ông nghè họ Nguyễn, muốn nói "Nội Bài" đọc lái là "Lại Bồi" (theo cách phát âm sai "N" thành "L") nghĩa là mấy người ra phi trường thời đó để đi xuất ngoại hay công tác nước ngoài chỉ là đi làm "Bồi" cho thiên hạ! Nghĩa này thì có vẽ suy diễn hơi tếu lâm, khó có thể xảy ra. Dám chắc không cụ nào cả gan xâm mình để đùa kiểu như vậy. Tuy nhiên, điểm thắc mắc chính ở đây là người Việt mình, nhất là sĩ phu Bắc Hà rất nhạy cảm về những chữ nói lái, mà cớ vì sao lại không hề có ai thấy từ lúc cái tên đề nghị còn nằm trên giấy tờ? Cuối cùng, nếu tất cả giả thuyết trên đều sai, thì chỉ còn duy nhất một trường hợp, rất là khó chịu khi phải nói ra đây. Số là người viết thích ăn một món mà chỉ có mấy tiệm người Hoa làm mới ngon. Ðó là cái món "Dồi trường", nguồn gốc theo nguyên thủy là do từ "Nội trường" mà ra. Thành thử khi nghe đến cái tên Nội Bài thì tự nhiên người viết lại có ấn tượng mạnh khi nhớ cách nói vắn tắt, bỏ bớt chữ thường hay dùng, thí dụ như "Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội" thì gọi tắt là "Việt Minh". Vậy thì có thể nào "Nội Bài" là do từ 4 chữ "Nội Trường Bài Tiết"?. Nếu đúng vậy, thì quả là chuyện "kinh thiên động địa", quá sức tưởng tượng của mọi người! Ai cũng biết rằng phi trường hay hải cảng đối với một thành phố, có thể được ví như là cái miệng để nuôi sống con người về vật chất, nơi để xuất ra hay nhập vào hàng hóa, cung cấp thực phẩm tiêu thụ cho dân chúng. Riêng về phương dịên tinh thần, và với thời đại không gian này, thì phi trường quốc tế còn là nơi trao đổi tiếp xúc với trí tuệ của thế giới. Những du học sinh về nước, các nhà kinh doanh hay các nhân vật quan trọng (VIP) khi đến phi trường, thì cũng có thể coi như là mang sự thịnh vượng về vật chất hay chất xám về tinh thần cho đất nước, hiểu chung theo nghĩa bóng. Do đó, không thể coi thường, vì vô tình hay bị gạ gẫm (?), khi đặt cho cái tên tếu lâm như vậy. Những người có thẩm quyền, nếu cần, phải truy tìm tông tích nguyên nhân nào, và ai đã chịu trách nhiệm xướng ra cái tên "Nội Bài". Nghĩ "quẩn" thêm một chút, chẳng lẽ bỡi vì có vị danh nhân nào đó, hình như là Mao Trạch Ðông, đã phán "Trí thức không bằng cục phân", nên mới có lý do để "lòi ra" cái tên "Nội Trường Bài Tiết"? Và, một sự liên tưởng khác, biết đâu ẩn nghĩa của Hà Nội chính là "Hà Khứ Quy Nội"? Ðể kết thúc bài viết này, xin có một vài đề nghị chân thành, mong rằng những vị nào có thẩm quyền và cơ hội để làm được chuyện thay đổi tốt đẹp cho đất nước trong tương lai, thì cũng nên cứu xét giùm cho: 1. Trả lại tên cũ là Thăng Long cho thủ đô của nước Việt. Ðây không những là việc làm hợp tình hợp lý, mà còn có ý nghĩa vô cùng, vì trong thiên niên kỷ mới này, người Việt nào cũng mong ước cho đất nước mình sẽ trở thành con rồng đang cất cánh bay lên của châu Á. 2. Bỏ hẳn cái tên "Nội Bài" và thay thế bằng tên nào thanh tao và có ý nghĩa hơn. Thí dụ, tại sao không gọi là phi trường "Hạ Long"? Chữ Hạ Long mà dùng cho phi trường quốc tế ở thủ đô Thăng Long của nước Việt, thì thật là tuyệt vời. Trước hết, nghĩa đen Hạ long là rồng giáng hạ hay rồng đến nhà, vừa nói sự may mắn sẽ đến với mình, mà còn chứng tỏ cho du khách, cái tinh thần quý trọng và hiếu khách của chủ nhà. Mặt khác, theo nghĩa bóng và quan trọng hơn hết, là ám chỉ sự thịnh vượng và nhân tài của thế giới, hay trí tuệ của khắp bốn phương, sẽ cùng nhau theo cánh chim sắt đáp xuống, hội tụ vào càng nhiều càng tốt. Có được như vậy, thì lo gì cái thủ đô Thăng Long hay con rồng nước Việt không thức giấc để chuẩn bị cất cánh bay lên!. Không còn chừng gần mười năm nữa là kỷ niệm đúng 1000 năm ngày khai sinh ra "Thăng Long", kinh đô đầu tiên của nước Việt độc lập và tự chủ, biểu tượng cho tài năng và trí tuệ của giòng giống Lạc Hồng. Vậy thì nhân dịp này và còn chờ gì nữa mà không "LẤY LẠI THĂNG LONG CHO ÐẤT VIỆT"? Nguyễn Cường Sacto 8/2000 phucuong@pacbell.net
  21. Việt Nam thời bán sử và những thông điệp nhân văn (phiên bản tháng 11.2004) Trương Thái Du Bài viết này gợi mở một khả năng, vẽ nên đôi nét sơ sài nhất về thời bán sử Việt Nam trước công nguyên. Tôi mong người Việt Nam đọc giả thuyết, nghiền ngẫm nó và sẽ phản bác, bổ sung hoặc cải sửa tùy thích, bằng bất cứ lý lẽ khả dĩ nào. Cái được mà tác giả hoài bão ở đây là hậu duệ của vua Hùng, của An Dương Vương sẽ thêm một lần nữa tìm đến với tiền nhân oanh liệt thời khai sử, cùng nhau thảo luận những thông điệp nhân văn ẩn mình trong các truyền thuyết đẹp như tranh thủy mặc. [1] Vài điểm tóm tắt nội dung của giả thuyết: a. Nhà nước Văn Lang sơ khai được hình thành tại Động Đình Hồ (Hồ Nam, Trung Quốc) khoảng năm Nhâm Tuất 1199 TCN. Các vua Hùng cuối cùng trong số 18 vua Hùng đã chạy giặc Sở xuống vùng Phong Châu thuộc đồng bằng sông Hồng khoảng TK 7 đến TK 8 TCN. Như vậy lịch sử dân tộc Việt Nam có 3200 năm và lịch sử đất nước là 2700 năm. b. Không tồn tại nước Âu Lạc mà chỉ có nước Tây Âu Lạc do hậu duệ của Thục Hầu (Tứ Xuyên) lưu vong dựng lên, ở khoảng giữa tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây Trung Quốc hôm nay. Âu Lạc nghĩa là Đất Nước. c. Văn minh Thục có niên đại 5000 năm, là một nền văn minh đô thị phát triển rất rực rỡ. Bị nhà Tần chiếm trong thời Chiến Quốc, nhiều nhóm Thục đã di cư. Họ có thể là hạt nhân của văn minh Khơ Me và Chiêm Thành. Người Thục bị Triệu Đà truy đuổi tại Tây Âu Lạc đã chạy xuống đồng bằng sông Hồng, xây dựng đô thị Cổ Loa sơ khai và sau đó bị đồng hóa vào cư dân Văn Lang Phong Châu bản địa. d. Triệu Đà người gốc nước Triệu thời Chiến Quốc, ông ta chưa từng đem quân xuống chiếm đóng đồng bằng sông Hồng. e. Trên trống đồng có ít nhất hai ký tự, đều mang nghĩa Trời, Mặt Trời. f. Giao Chỉ là một địa danh cố định từ năm 111 TCN trở về sau. Trước đó cái tên Giao Chỉ không phải là tên mà người Trung Quốc dùng để gọi vùng đất đồng bằng sông Hồng. 1. Lý thuyết địa đàng Phi châu và những cuộc di dân Lý thuyết địa đàng Phi châu cho rằng loài người tiến hóa từ giống khỉ tại châu Phi. Những cuộc di cư sau này đã đưa con người đến khắp nơi trên mặt đất. Tôi xin dùng công trình nghiên cứu di truyền của Spencer Wells làm nền tảng cho bài viết này. [2] Mặc dù còn rất nhiều ý kiến của các nhà nhân chủng học thế giới không đồng tình với Wells, nhưng nói chung họ chỉ thắc mắc ở thời điểm di cư. Tôi sẽ dùng cách khảo nghiệm duy lý với văn hóa, khảo cổ và lịch sử để cọ sát với lý thuyết di truyền của Wells, hầu mong đưa ra một giả thuyết tham khảo. Với kết luận của Spencer Wells, tôi tính ra: Cuộc di dân đầu tiên từ Phi châu diễn ra cách nay 60 ngàn năm. Đoàn người đi dọc vùng đồng bằng ven biển Nam Á, đến Đông Nam Á họ chia làm hai nhánh. Nhánh thứ nhất đến châu Úc. Nhánh thứ hai rẽ lên phía bắc, rồi dừng lại khá lâu bên bờ nam Trường Giang. Cuộc di dân thứ hai cũng từ Phi châu cách nay 45 ngàn năm. Họ đến Trung Đông, từ Trung Đông hai phân nhóm đã hình thành tiến vào Ấn Độ và vùng tây bắc Trung Hoa. Cuộc di dân thứ ba (không sử dụng trong bài viết này) diễn ra cách nay 40 ngàn năm, đoàn người đến Trung Á và sau đó tràn qua châu Âu. Tại sao họ ra đi? Tất cả các nền văn minh sơ khai đều thờ mặt trời. Những chữ viết đầu tiên của nhân loại ở khắp nơi tương đồng một cách đáng ngạc nhiên ở chữ "mặt trời": một vòng tròn có chấm chính giữa. Thần mặt trời ở Ai Cập là Ra, tại Lưỡng Hà là Samat, ở Nhật là Amaterasu O Mikami (Thiên chiếu đại thần, Thái dương thần nữ). Vua của người Trung Quốc và cả người Inca tận châu Mỹ đều tin mình là con trời hoặc con của thần mặt trời. [3] Hình ảnh mặt trời trên trống đồng Đông Sơn thì thật ấn tượng. Về góc độ khoa học, mặt trời là nguồn sống của trái đất, là năng lượng cho tiến hóa. Đi về phía đông, di cư về phương đông chính là đến gần hơn với mẹ mặt trời. Và thật không có hình ảnh nào đẹp đẽ bằng: loài người đã đi theo ánh sáng mặt trời để phủ kín trái đất. Tại sao cuộc di cư đầu tiên của người Tiền Đông Nam Á dừng lại bên dòng Trường Giang mà không phải xa hơn về phía bắc? Trường Giang hung dữ và quá rộng lớn, đã phần nào cản bước đoàn di dân. Thêm nữa, theo ngành thủy văn, Trường Giang dưới tác động của lực coriolis, bờ bắc lở trong khi bờ nam bồi lắng. Cư dân nông nghiệp có xu hướng chọn vùng phù sa màu mỡ định cư lâu dài. [4] Họ chỉ tiến qua bờ bắc khi đối mặt với nạn nhân mãn, hoặc dưới các nguyên cớ khác. Phân nhánh của đoàn di dân thứ hai tiến vào trung lưu Hoàng Hà bằng hành lang Cam Túc, xây dựng nền văn minh tạm gọi là Hoa Hạ. Ba di chỉ đồ đá có mối liên hệ rõ ràng tạo thành tam giác trung tâm của nền văn minh Hoa Hạ: Đại Địa Loan (hơn 8000 năm) nằm ở mạn phải dòng Thanh Thủy, Tần An, Cam Túc; Bán Pha (khoảng 6 ngàn năm) thuộc Tây An, Thiểm Tây; và Giả Hồ (cũng hơn 8000 năm) tại Hà Nam. Bán Pha và Giả Hồ đều về phía bờ nam Hoàng Hà. Ngoài ra trên bờ bắc Hoàng Hà tại làng Đào Tự, Tương Viên, Sơn Tây người ta vừa đào được 1 tường thành dài 130m, 4500 tuổi. [5] Nó cho thấy hướng phát triển ban đầu của văn minh Hoa Hạ. Di vật của Hoa Hạ chứng tỏ nó không dính dáng gì đến con người của bờ nam Trường Giang, vào thời điểm đó. Kiểu hạn canh trong sản xuất nông nghiệp và quần cư tại các khu đô thị sơ khai cũng là đặc điểm riêng biệt của văn minh Hoa Hạ. Như vậy nền văn minh Hoa Hạ hình thành quốc gia Hạ sơ khai, khoảng năm 2200 TCN phần nào đã sáng tỏ. Các nhà khảo cổ cũng tin rằng lúc này chế độ mẫu hệ của văn minh Hoa Hạ dần dần được thay bằng phụ hệ. Những truyền thuyết truyền hiền, rồi truyền ngôi cho em và cuối cùng là cho con trai trưởng của dân tộc Trung Hoa ẩn chứa quá trình biến chuyển kia. [6] 2. Sự hình thành và phân rã văn minh Thần Nông Thời điểm dừng lại bên dòng Trường Giang, đoàn di dân Tiền Đông Nam Á đã tạo nên một không gian văn hóa và chủng tộc gần gũi khá rộng lớn: phía nam là đồng bằng sông Cả, sông Mã (Việt Nam hôm nay), phía tây cận cao nguyên Tây Tạng, phía đông giáp biển Thái Bình Dương. Tôi tạm gọi đây là văn minh Thần Nông. Thổ nhưỡng và khí hậu tổng thể của khu vực quy định một số đặc điểm của nền văn minh này: sinh sống bằng nghề nông mà chủ yếu là trồng lúa nước, thuần hóa trâu bò làm sức kéo; nghiên cứu thiên văn lịch pháp phục vụ mùa màng, làm thủy lợi; dùng cây cỏ chữa bệnh và khai sinh Đông Y; sử dụng thành thạo ghe thuyền, đánh cá, khai thác thủy sản; họ ăn trầu, nhuộm răng, xăm mình, cắt tóc ngắn, cài nút áo bên trái... Văn minh Thần Nông phát triển đều đặn, có nhiều thành tựu nhưng lưu cữu hai khuyết điểm rất lớn: không tạo ra được chữ viết (hay ít ra là thứ ký tự phổ thông, tiện dụng); do đời sống tự cung tự cấp gắn chặt với lao động trên ruộng lúa nước nên bảo thủ, dẫn đến mất cơ hội đột phá chấm dứt chế độ mẫu hệ. Hệ quả là nền văn minh Thần Nông tồn tại rất lâu ở dạng thị tộc, bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc, chậm vươn đến hình thức nhà nước sơ khai. Sau một thời gian phát triển tại chỗ, những con người của văn minh Thần Nông đủ sức vượt dòng Trường Giang. Họ tiến lên phía bắc, giao tiếp với văn minh Hoa Hạ cũng đang trên đường xuôi về phương nam. Xin hiểu sự giao tiếp này bao gồm cả những tranh chấp, và không thể không có xung đột. Thần thoại Trung Quốc kể chuyện Hoàng Đế đánh nhau với Suy Vưu (con cháu Thần Nông) nói lên điều đó. Văn minh Hoa Hạ và văn minh Thần Nông tiếp xúc nhau ở khoảng giữa hai lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang, đã góp phần tạo nên một nền văn minh bắt đầu có hiến sử là văn minh Trung Nguyên - Hoa Hạ (Trung Hoa). Văn minh Hoa Hạ sẵn có phần bổ khuyết khuyết điểm của văn minh Thần Nông. Nó hấp thụ tất cả tinh túy của văn minh Thần Nông để lớn mạnh vượt bậc, rồi quay ra chèn ép chính thân sinh Thần Nông của mình. Song nó cũng thu nhận hình ảnh Thần Nông vào hệ thống huyền thoại Tam Hoàng, Ngũ Đế mô tả thời khởi thủy của mình. [7] Cái tên Trung Quốc bắt đầu sinh ra từ đây. Nguyên thủy, nó mang nghĩa quốc gia ở giữa thiên hạ vì kiến thức đương thời chỉ mới biết hai nền văn minh, hai chủng tộc lớn là Thần Nông và Hoa Hạ. Chỉ một phần đất đai của văn minh Thần Nông hòa nhập với văn minh Hoa Hạ. Phần lớn còn lại vì trải trên địa bàn quá rộng, rải rác suốt bờ Trường Giang, đặc biệt là phía nam Trường Giang, vẫn tách biệt, đây chính là vùng Bách Việt, như cách gọi của người Trung Hoa sau này. Thành công rực rỡ nhất của cuộc liên giao Thần Nông và Hoa Hạ biểu hiện ở nhà nước Sở đông đúc, rộng lớn, giàu có và tiến bộ, từng làm bá chủ chư hầu đe dọa vương triều Thần Chu (chỉ còn là hình thức sau khi nước Sở ra đời). Sở cũng là nước kế cuối trong lục quốc bị Tần thôn tính sau này, bằng rất nhiều binh lực và xương máu, dù Sở giáp ranh với Tần. Tuy vậy, chưa đầy 13 năm sau khi mất nước, một vị anh hùng có tiền nhân đời đời làm tướng nước Sở là Hạng Vũ, đã đứng lên lấy danh nghĩa phục Sở tiêu diệt nhà Tần, chia đất cho thiên hạ và tự xưng là Tây Sở Bá Vương. Năm 202 TCN Hạng Vũ bại vong trước Lưu Bang. Cao Tổ nhà Hán cũng là người nước Sở. Lịch sử bi hùng của nước Sở tồn tại hơn 500 năm đã vĩnh viễn khép lại. Lịch sử nước Sở bắt đầu bằng việc Thành Vương phong tước Tử của nhà Chu cho Mị Dục Hùng, [8] ở vùng biên viễn phía nam vương quốc Chu. Dục Hùng vốn từng lập công với nhà Chu. Đến đời Hùng Thông, hậu duệ của Dục Hùng (khoảng đầu thời Đông Chu, dưới ngai Hoàn Vương năm 719 đến 697 TCN), nước Sở đã tiêu diệt và sáp nhập rất nhiều lân bang và bành trướng đến vùng Trường Giang. Dù không được Hoàn Vương chấp nhận, Hùng Thông vẫn tự xưng là Sở Vũ Vương và làm chủ các nước chư hầu ở phương đông. Hùng Thông mất, con là Hùng Si nối ngôi cùng các vương triều tiếp theo mở rộng nước Sở xa dần về hướng đông nam, vượt qua dòng Trường Giang hùng vĩ. 3. Nhà nước sơ khai Văn Lang Những biến cố lịch sử diễn ra trên mảnh đất Việt Nam tương đối rõ ràng từ thời Mê Linh liệt nữ trở về sau. Sách sử xưa nhất do chính người Việt viết còn lưu truyền đến ngày nay chỉ xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ 14. Tuy nhiên có một truyền thuyết được nhắc đi nhắc lại là thủy tổ Kinh Dương Vương là cháu 4 đời của Thần Nông, Kinh Dương Vương lấy Long nữ Động Đình Hồ sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân cưới Âu Cơ và đẻ 100 trứng, nở trăm con. Cuộc chia ly êm dịu diễn ra sau đó: Âu Cơ đem 50 người con lên rừng, Lạc Long Quân dẫn số còn lại xuống biển. Nước Văn Lang do Hùng Vương, người con cả theo Lạc Long Quân dựng lên, đóng đô ở Phong Châu, vùng trung du tương đối bằng phẳng thuộc đồng bằng sông Hồng. Rõ ràng đã có một cuộc di cư nằm ẩn trong chính truyền thuyết trên. Khoảng cách giữa Động Đình Hồ và Phong Châu là gần 1000 km theo đường chim bay. Sâu hơn nữa, tham khảo Bình Nguyên Lộc, tôi nghĩ có lẽ truyền thuyết 100 trứng kia nói về cuộc chia tách đại chủng tộc Thần Nông làm hai nhánh lớn: Tây Âu và Lạc Việt. Người Tây Âu đi về vùng núi non phía tây, và ít nhiều thay đổi tập quán sinh sống truyền thống của nền văn minh Thần Nông. Người Lạc Việt tản về phương đông và lưu giữ gần đủ đặc điểm cũ. Bản thân Tây Âu và Lạc Việt vẫn tiếp tục phân hóa thành nhiều nhóm nhỏ nữa. Con số 100 trứng, đáng ngạc nhiên, trùng khớp với tên Bách Việt mà người Trung Hoa đặt ra, để gọi những nhóm dân bờ nam trung và hạ lưu Trường Giang. Đây rõ ràng là dấu vết giao lưu văn hóa Thần Nông và Hoa Hạ, bởi Kinh Thi có câu "Tắc bách tư nam" (chúc có hàng trăm con trai), vậy một trăm hay bách nghĩa là nhiều. Nếu đồng ý với không gian truyện cổ tích là Kinh Dương Vương sinh Lạc Long Quân ở Ngũ Lĩnh (rặng núi phía nam Động Đình Hồ) thì sẽ giải mã được "giặc Ân" trong một truyện cổ tích khác là "Thánh Gióng". Thật vậy, Ân - Thương mất nước bởi dân Chu năm 1066 TCN, việc họ nam tiến trước hoặc lưu vong sau thời điểm 1066 TCN và đụng độ với Lạc Việt là hoàn toàn có cơ sở. Khảo cổ học đã xác định tương đối chính xác kinh đô Ân - Thương nằm giữa tỉnh Hà Nam hiện đại, cách Động Đình Hồ chỉ vài trăm cây số theo đường chim bay. Rất có thể liên minh thị tộc mẫu hệ Văn Lang, hạt nhân của Thần Nông và Lạc Việt, hình thành ở khu vực từ rặng núi Ngũ Lĩnh đến bờ nam Trường Giang mà trung tâm là Động Đình Hồ, sau khi nhà nước Ân - Thương ra đời (khoảng năm 1700 TCN). [9] Tôi tạm tính một đời vua Hùng trung bình 25 năm, chuyện Thánh Gióng xảy ra năm 1066 TCN, suy ra Hùng vương thứ 18 lên ngôi năm 741 TCN. Con số 741 TCN rất thuyết phục, vì nó xê dịch không nhiều với năm tháng nước Sở hình thành và bành trướng về phía nam. Đại Việt sử ký toàn thư ghi năm thứ nhất họ Hồng Bàng là năm NHÂM TUẤT 2879 TCN. Theo chuỗi luận của tôi đưa ra thì kỷ nguyên Văn Lang bắt đầu cũng từ năm Nhâm Tuất nhưng là NHÂM TUẤT 1199 TCN. Văn minh Trung Hoa phát triển xuống, những con người bất khuất nhất không chịu đánh mất bản sắc và lề thói để hòa nhập với văn minh Trung Hoa đã ra đi. Kẻ ở lại cùng người mới xây dựng nên nước Sở. Là cư dân sinh sống bằng ruộng lúa nước, sử dụng thành thạo thuyền bè nên cuộc di cư hình thành hai cách lên đường chính là bộ hành và hải hành, họ chia thành nhiều nhóm thị tộc nhỏ túa về ba phương Tây - Đông - Nam hoặc xuôi Trường Giang ra biển. Mục đích đầu tiên của họ là tìm kiếm một vùng đồng bằng sông nước khác lập nghiệp. Những con người giỏi giang nhất luôn đi xa nhất, tìm được mảnh đất ưng ý nhất, và cuối cùng họ đã đến miền bắc Việt Nam ngày nay. Hiện thực thế kỷ 21 chứng minh điều đó, hậu duệ của đoàn người lưu vong kia lập nên Việt Nam, quốc gia duy nhất trong Bách Việt không bị Hán hóa và thâu nhập đất đai và con người vào nền văn minh Trung Hoa. Đất mới lúc ấy cũng có thể đã có người sinh sống, nhưng chắc chắn dân cư rất thưa thớt, đầm lầy nhiều, rừng nhiệt đới rậm rạp, mùa mưa thì ngập lụt tràn lan. Vì lẽ đó vùng định cư trung tâm được chọn là miền trung du Phong Châu cao ráo. Mang trọn bản sắc Văn Lang ra đi, những con người bất khuất, yêu chuộng hòa bình và tự do vẫn gọi quê mới là Văn Lang, lãnh tụ của họ xưng là Vua Hùng, danh chính ngôn thuận tiếp nối Vua Hùng của nước Văn Lang ở Động Đình Hồ. Hành trình tìm kiếm Phong Châu còn ít nhiều đọng lại trong truyện Sơn Tinh - Thủy Tinh, ở đời vua Hùng thứ 18. Các di chỉ khảo cổ đã khai mở ở Việt Nam không thể bác được giả thuyết di cư này: Phùng Nguyên niên đại 3500 năm (chưa có đồ đồng), Đồng Đậu niên đại trên 3000 năm, Gò Mun vào cỡ thế kỷ 8 TCN, Đông Sơn thế kỷ thứ 7 TCN. Đặc biệt, mọi di chỉ đều nằm trên các khu đồi cao ráo, càng củng cố dự đoán về thổ nhưỡng đã nói. Niên đại xa nhất của trống đồng tìm được ở Việt Nam và Trung Quốc cũng rất gần nhau: khoảng TK 7 đến TK 8 TCN. [10] Địa bàn chính đào được trống đồng rất rộng lớn, nó bao gồm bắc Việt Nam, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quí Châu, Quảng Đông. Ba nơi nhiều trống đồng nhất là Đông Sơn (Thanh Hoá, Việt Nam), Vạn Gia Bá (Vân Nam) và Khu tự trị dân tộc Trang (Quảng Tây). Đáng ngạc nhiên là kiểu trống đồng đẹp nhất cũng là kiểu xưa nhất. Giả thuyết của tôi lý giải được điều này: trên đỉnh cao của mình, nhà nước Văn Lang sơ khai ở Động Đình Hồ, vừa bị văn minh Trung Hoa chèn ép, vừa không vượt lên chế độ phụ hệ được, đã phân hóa thành nhiều nhóm thị tộc nhỏ trôi giạt khắp nơi. Kỹ nghệ đúc đồng tuyệt diệu của họ lan về các hướng theo đoàn di dân. Và thật đáng tiếc, từ đây nền văn minh khu biệt của từng đoàn người lưu vong lần hồi thoái trào, trống đồng ngày càng thô hơn. Văn Lang Phong Châu ở góc độ nào đó, là bước lùi so với Văn Lang Động Đình Hồ. Con người Văn Lang mất quá nhiều thứ trên đường đến châu thổ Hồng Hà. Ràng buộc giữa các thị tộc ngày càng lỏng lẻo, dân ít, địa bàn cư trú dàn trải, lũ lụt chia cắt, dần dần thủ lĩnh tối cao mất hết quyền lực, trở thành biểu trưng tinh thần đơn thuần. Hình ảnh vua Hùng trong thực tế cuộc sống tự động biến mất, nhưng nó mãi mãi lưu truyền giữa tâm thức con người Văn Lang để hoài nhớ về một thời hoàng kim bất diệt. 4. Giải cấu truyền thuyết An Dương Vương Gần đây, việc khám phá di chỉ Tam Tinh Đôi [11] cách Thành Đô 40km (Tứ Xuyên, Trung Quốc) đã hé mở một nước Thục cổ đại có lịch sử từ năm 3000 TCN. Văn minh Thục phát triển rực rỡ, đã hình thành lối quần cư đô thị bề thế hơn cả đỉnh cao triều đại Thương - Ân. Họ là dân tộc đầu tiên của nhân loại biết sử dụng gạch chưa nung để xây nhà cửa, thành quách. Phải chăng họ là nhánh "lên ngàn" của văn minh Thần Nông hoặc một nhánh của đoàn di dân Tiền Đông Nam Á? Sử ký, phần "Truyện Trương Nghi" kể rằng Tần Huệ Vương đã nghe lời Tư Mã Thác đánh Thục, truất phế Thục Vương làm chức Hầu. Như vậy hoàn toàn có khả năng Thục Hầu và nhân dân Thục muốn tránh nhà Tần bạo ngược đã lên đường lưu vong. Đoàn người đi về phương Nam tạo nên cộng đồng Khương, sau này bị nhà Hán lấn tiếp, họ theo dòng Cửu Long đến vùng đất Campuchia ngày nay và góp phần xây dựng nên nền văn minh Khơ Me kiêu hùng. Đoàn người đi về hướng đông dừng chân ở vùng giáp ranh tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, lập nên nước Tây Âu Lạc. Chương "Nam Việt Úy Đà liệt truyện" của Sử Ký chép về nước Tây Âu Lạc này rất rõ, nhiều sử gia không liên hệ được sử liệu đã mạnh dạn nghĩ Tư Mã Thiên viết nhầm Âu Lạc thành Tây Âu Lạc! Sau khi gồm thâu lục quốc nhất thống Trung Nguyên, năm 214 TCN Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư đem 50 vạn quân và dân ô hợp vượt Ngũ Lĩnh, đánh Bách Việt chiếm lấy vùng đất phía đông nam nước Tần rồi lập ra các quận Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải. Nước Tây Âu Lạc của Thục Phán nằm trong Tượng Quận. Nước Văn Lang Phong Châu phía nam Tượng Quận, hoàn toàn không dính dáng đến cuộc chiến kia. Nhân dân Tây Âu Lạc không chịu làm nô lệ đã vào rừng kháng chiến và kết quả là đã giết được Đồ Thư. Sách sử Việt Nam và Trung Quốc đều ghi nhận sơ sài Triệu Đà người huyện Chân Định (nay thuộc Hà Bắc, TQ). Không ai xét sâu hơn Chân Định vốn là đất Triệu thời chiến quốc. Sử Việt chép theo sử Trung Quốc, còn sử Trung Quốc tuân thủ tư tưởng đại nhất thống của triết học Tiên Tần (khởi đi từ Khổng Tử, với nguyên ủy "Tôn Chu nhương Di, nội chư Hạ nhi ngoại Di địch") nên xóa hẳn các tên gọi của Tam Tấn. Tần Đại Đế áp dụng thành công tinh hoa nhân đạo của triết học Tiên Tần, đã chấm dứt vĩnh viễn cảnh chiến quốc nồi da xáo thịt. Tần Thủy Hoàng ra đời tại kinh đô Hàm Đan nước Triệu. Mẹ Triệu Cơ của ông, được Sử Ký ghi nhận là con nhà tai mắt tại đấy. Khi cha ông theo Lã Bất Vi trốn về Tần, mẹ con Tần Thủy Hoàng phải ẩn mình trong dân chúng Triệu và chịu nhiều cảnh cơ cực. Sau khi Trung Nguyên nhất thống, người Triệu lại phải họa đi xây Trường Thành, họ căm tức vua Tần nên bịa chuyện dè bỉu Tần Thủy Hoàng là con hoang của Triệu Cơ và Lã Bất Vi. Dân gian còn đem cả nàng Mạnh Khương gần hai trăm năm trước từ nước Tề đến khóc bên Trường Thành để trù úm đại công nghiệp của Tần Đại Đế. [12] Sẵn ác cảm cũ, vua Tần bắt rất nhiều con dân cứng đầu cứng cổ ở Triệu xung vào đạo quân viễn chinh của Đồ Thư. Triệu Đà ở trong số đó. Sau này cháu Triệu Đà là Minh Vương Anh Tề làm con tin ở Trường An cũng thành thân cùng một người con gái nước Triệu (Sử Ký viết là người huyện Hàm Đan). Bà ta chính là Cù hậu, do làm nội ứng cho nhà Hán chiếm Nam Việt, nên đã bị thừa tướng Lữ Gia giết. Những người Triệu bị đày tập trung tại quận Nam Hải thời đó đã quần cư và tạo thành nhóm dân tộc nhỏ mang tên Triều Châu, phía đông bắc tỉnh Quảng Đông Trung Quốc hôm nay. Năm 208 TCN Triệu Đà thành lập nước Nam Việt. Hán Cao Tổ bình định xong Trung Nguyên không còn sức giải quyết Nam Việt, nên năm 196 TCN đành phong Triệu Đà làm Nam Việt Vương, và dặn Nam Việt phải hòa hợp với Bách Việt. Khi Cao hậu tiếm quyền, Trường Sa Vương cấm vận kinh tế Nam Việt hòng làm Nam Việt suy yếu để dễ bề xâm lăng. Triệu Đà lập tức đem quân đánh Trường Sa, cắt đứt đường thông thương với nhà Hán và chốt giữ các nơi hiểm yếu. Cao Hậu sai Lâm Hi Hầu hỏi tội Triệu Đà, chiến cuộc biên cương giằng co hơn một năm rồi nhà Hán bãi binh vì đám tang Cao Hậu. Rảnh tay với Hán, Triệu Đà dùng tiền của đút lót quý tộc Tây Âu Lạc và Mân Việt để hai nước này chịu lệ thuộc. Sự kiện Trọng Thủy kết hôn với Mỵ Châu chắc chắn ghi nhận thỏa hiệp dễ dãi của những người lãnh đạo Tây Âu Lạc trước âm mưu của Triệu Đà. Trận chiến đánh vào lòng người toàn thắng, năm 179 TCN Triệu Đà tấn công và sát nhập Tây Âu Lạc vào Nam Việt. Từ đó Nam Việt rất rộng lớn, Triệu Đà đường hoàng tự xưng Nam Việt Vũ Đế, đi xe mui lụa vàng như vua Hán. Triệu Đà người Hoa Bắc chỉ quen đánh nhau trên bộ, cho nên không thể tồn tại khả năng ông ta đã tấn công An Dương Vương tại đồng bằng sông Hồng. Mãi đến đầu công nguyên đường bộ khai thông Hoa Nam và Bắc Việt mới hình thành bởi người Hán lưu vong tránh họa Vương Mãng, tuy vậy chắc chắn đường rất khó đi nên đoàn quân của Mã Viện mới phải dùng thuyền. Một bộ phận nhân dân Tây Âu Lạc, những con người bất khuất từng giết Đồ Thư, đã đem tàn quân và bầu đàn thê tử chạy đến châu thổ Hồng Hà. Tôi nghĩ có một nhánh nhỏ người Tây Âu Lạc ra đi bằng thuyền đã ghé vào bờ biển trung bộ Việt Nam. Họ trở thành hạt nhân của nền văn minh Chàm bắt đầu khởi sắc từ thế kỷ thứ 2 sau công nguyên. Những liên hệ Thục - Khơ Me - Chàm trong bài viết này chỉ thuần lý thuyết, trên cơ sở nghiên cứu văn bản và hình ảnh, nhưng tôi tin đô thị sơ khai Cổ Loa, cách dùng gạch chưa nung của người Khơ Me và người Chàm chắc chắn có dấu ấn văn minh Thục cổ đại. Người Tây Âu Lạc và người Lạc Việt ở Văn Lang Phong Châu thực ra rất gần gũi về chủng tộc (các nhóm di dân Tiền Đông Nam Á) và có thể cả ngôn ngữ nữa. Nhóm dân Tây Âu Lạc mất nước nhanh chóng hòa hợp cùng nhân dân bản xứ trên mảnh đất bắc Việt, cải tên nước là Âu Lạc. Họ nối các gò đất, đồi nhỏ thành hai vòng đê ngăn thủy triều và nước lụt tại Cổ Loa, Đông Anh và quần cư trong ấy. Hai vòng đê cũng có thể trở thành chiến lũy, tường thành chống ngoại xâm khi cần. Đến năm 43, Mã Viện củng cố hai vòng ngoài và xây thêm vòng thành nhỏ thứ ba ở giữa để tạo nên Kiển Thành. Độ cao của dấu vết tường thành Cổ Loa xưa xấp xỉ cao độ các con đê hai bờ sông Hồng, sông Đuống xung quanh, xác tín giả thiết Cổ Loa vừa là đê vừa là thành lũy. Rút kinh nghiệm xương máu ở Tây Âu Lạc, người Âu Lạc tạo dựng quan hệ ngoại giao mềm dẻo với Nam Việt để yên ổn sinh sống và làm ăn. Năm 111 TCN Nam Việt bị Lộ Bác Đức xóa tên khỏi bản đồ. Nhà Hán cho người sang thuyết phục Âu Lạc theo mình, với chính sách rất thâm độc là để quí tộc Âu Lạc tiếp tục quản lý những vùng đất của họ. Lãnh tụ Âu Lạc phản đối, tùy tướng của ông ta là Hoàng Đồng đã lật đổ vua, quyết định thuần phục nhà Hán trên danh nghĩa để tránh chiến tranh. [13] Năm 110 TCN nhà Hán phong tước cho Hoàng Đồng, Thạch Đái được cử sang làm Thứ sử quận Giao Chỉ, phủ trị ở Long Uyên. Với sự giúp sức của Hoàng Đồng, Thạch Đái ủy lạo và hợp thức hóa danh vị Lạc Hầu, Lạc Tướng bằng ấn đồng đeo cổ. Chắc chắn mục đích tối thượng của Thạch Đái là âm thầm chia rẽ các liên minh của quí tộc Âu Lạc, không cho Lạc Hầu, Lạc Tướng có cơ hội đoàn kết xây dựng nhà nước chống xâm lăng. Từ Thạch Đái trở đi, phủ trị Long Uyên vẫn tồn tại nhưng chức Thứ sử, Thái thú đôi khi khiếm khuyết và quan trấn nhậm cũng chẳng thường xuyên có mặt. Thực ra Hán triều thừa biết ở thời điểm đó cai trị trực tiếp Âu Lạc là không tưởng, vì quân ít, thủy thổ khắc nghiệt và chắc chắn người Âu Lạc sẽ chống đối đến cùng. Lịch sử Trung Quốc cũng ghi nhận sự mệt mỏi của nhà Hán sau những năm dài xâm lược phương nam, nhiều thân vương, đại thần dâng tấu chương đề nghị vua Hán tạm chấm dứt nam tiến. Thậm chí có thời gian dài họ bỏ hẳn, chẳng ngó ngàng gì đến đảo Hải Nam đã chiếm được hoàn toàn năm 111 TCN. Tuy vậy trong hệ thống hành chính Hán, nước Âu Lạc vẫn được chia làm 2 quận là Giao Chỉ và Cửu Chân thuộc Giao Chỉ Bộ. Trung tâm hành chính của Giao Chỉ Bộ là Nam Hải tức Phiên Ngung, kinh đô cũ của Nam Việt. Xin lưu ý Bộ Giao Chỉ và Quận Giao Chỉ là hai tên gọi khác nhau. Sử gia Việt Nam đã nhiều lần nhầm lẫn, họ suy luận tên Quận đặt cho tên Bộ thì hiển nhiên Quận Giao Chỉ phải là trung tâm của Bộ Giao Chỉ. Giao Chỉ mang nghĩa là nơi liên giao giữa Trung Hoa và những khu vực phía nam mà họ chưa có ý niệm rõ ràng. Bộ Giao Chỉ là mảnh đất liên giao của nhà Hán với Viễn Nam, Quận Giao Chỉ lại là mảnh đất liên giao của Bộ Giao Chỉ với các miền xa khác. Theo tôi chuỗi luận để đặt tên Quận Giao Chỉ và Bộ Giao Chỉ là như vậy. Cũng cần hiểu rằng năm 111 TCN kiến thức địa lý của nhà Hán về Quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và vùng phụ cận rất mơ hồ. Thời Chu còn có từ "Đông Giao" để chỉ vùng đất phía đông xa xôi. Do đó Giao Chỉ thời Chu chưa chắc là Giao Chỉ thời Hán. Nhiều bộ cổ sử Việt Nam dẫn sách Thượng Thư và Sử Ký ghi nhận năm Tân Mão đời Thành Vương (1063 đến 1026 TCN) có Việt Thường Thị phía nam Giao Chỉ đem bạch trĩ cống vua Chu. Xét lãnh thổ nhà Chu lúc ấy, có khả năng Giao Chỉ chính là vùng trung lưu Trường Giang. Vậy Việt Thường Thị chắc hẳn thuộc liên minh thị tộc mẫu hệ Văn Lang Động Đình Hồ. An Nam Chí Lược của Lê Tắc viết: "Nhà Tần lấy Giao Chỉ làm Tượng Quận". Hiểu theo nghĩa Giao Chỉ đã nói thì vùng đất Quảng Tây Trung Quốc thời Tần chính là Giao Chỉ. Khi nhà Tần bành trướng xong Tượng Quận, hiểu biết ngọn ngành về Tượng Quận thì Giao Chỉ dịch chuyển xuống đồng bằng sông Hồng, phía nam Tượng Quận. Nước Âu Lạc vĩnh viễn đi vào quá khứ. Văn minh đô thị mới nhen nhóm ở Cổ Loa đã lụi tàn vì người gốc Thục chia rẽ và mau chóng tự đồng hóa mình với cư dân bản xứ. Đặt giả định Âu Lạc là một nhà nước hoàn thiện, con người Âu Lạc có ý thức sâu sắc về quốc gia và từng bị Triệu Đà thôn tính bằng quân sự (như quan niệm của sách vở chính thống Việt Nam lâu nay), ta sẽ thấy diễn biến lịch sử ôn hòa từ năm 111 TCN đến năm 34 là không bình thường. Sau cả thế kỷ ổn định và phát triển trong nước, xã hội Hán cuối cùng cũng có những thay đổi về chất và lượng, bắt đầu manh nha công cuộc cải cách lớn của Vương Mãng. Đầu công nguyên, lòng tham của vua Hán sống dậy, lập tức Nhâm Diên và Tích Quang được cử sang quận Giao Chỉ và Cửu Chân tiến hành những chính sách mị dân, nhằm thăm dò tiềm lực thuộc địa cũng như khả năng phản kháng của nhân dân nếu áp đặt cai trị trực tiếp. Công việc bọn này chưa xong thì Vương Mãng tiếm ngôi, Trung Nguyên hỗn loạn. Thái thú Giao Chỉ và Cửu Chân không thuần phục Vương Mãng, cắt đứt liên lạc với trung ương, chào đón dân Hán di cư để tạo vây cánh. Ít lâu sau Lưu Tú diệt được Vương Mãng, thành lập nhà Đông Hán. Năm 29 Đặng Nhượng (người thay Nhâm Diên làm thái thú Giao Chỉ) về triều cống Lạc Dương, có lẽ âm mưu cũ đã được Quang Vũ đế cân nhắc. Năm 34 Tô Định nhậm chức Thái thú Giao Chỉ và bắt đầu áp dụng chế độ kềm kẹp hầu mong biến mảnh đất Âu Lạc hôm nào thành miếng bánh ngon trên bàn tiệc thực dân. Dưới sức ép mới, nhân dân Giao Chỉ đã nổi dậy. Mê Linh liệt nữ thất bại trước Mã Viện chính thức biến Giao Chỉ và Cửu Chân thành quận huyện trực trị của nhà Hán, mở đầu kỷ nguyên 800 năm nô lệ cay đắng. Ngoài trọng trách thực dân, Mã Viện phải gánh vác nhiệm vụ dựng cột đồng "chuẩn" ở Giao Chỉ và Nhật Nam để đo bóng mặt trời vào những ngày giờ nhất định trong năm. Từ số liệu ấy, người Tàu sẽ định được vị trí chính xác của Giao Chỉ và Nhật Nam, bổ xung vào địa đồ nhà Hán. Có thể Mã Viện đã bỡn "đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt", song không ngoài mục đích giấu giếm bí quyết khoa học thiên văn địa văn của dân tộc mình dưới màn sương hư ảo. Trường hợp Cao Biền sau này dễ hiểu hơn, ông ta sử dụng thuốc nổ phá gềnh thác hiểm trở cho tàu bè qua lại, nhưng bịa đặt đã dùng phép thuật sai thiên lôi hành sự. Nhà Hán mất 154 năm từ lúc dụ Âu Lạc phụ thuộc đến khi vẽ xong địa đồ Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và áp dụng chế độ trực trị đến huyện sở. Cách tính 800 năm thực sự bắc thuộc của tôi là có căn cứ (đã bớt ra vài đoạn gián cách người Việt giành được độc lập như thời Lý Nam Đế và Khúc Thừa Dụ). 5. Thông điệp nhân văn Ngoài yếu tố lịch sử, truyền thuyết Kinh Dương Vương và An Dương Vương còn mang những thông điệp nhân văn luôn cần được con người Việt Nam ở bất kỳ thời đại nào giải mã. Đất nước và tổ quốc: Sử Ký Tư Mã Thiên trong chương "Khổng Tử thế gia" thuật lời Khổng Tử: "Khâu này nghe nói... Quái vật do nước sinh ra là con rồng". Vậy ta có thể hiểu cha Lạc Long Quân là biểu tượng của "nước". Ngôi nhà của "nước" tất phải ngoài biển, nghĩa gốc của chữ Lạc chính là "nước". Mẹ Âu Cơ tượng trưng cho "đất". Chữ Âu từng được Trần Thánh Tông dùng: "Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã - Sơn hà thiên cổ điện kim âu". Hồ Quý Ly cũng từng cải tên núi Đại Lại (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) thành Kim Âu. [14] Nền văn minh lúa nước được xây dựng từ "Đất" và "Nước" là điều không ai có thể phủ nhận. Người Việt Nam còn gọi tổ quốc mình là "Đất nước" có nguyên căn sâu xa như vậy. Chuỗi luận này có thể dẫn đến việc giải nghĩa từ Âu Lạc là "Đất nước". [15] Bài học đoàn kết: Mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân đã chia rẽ, làm suy yếu nền văn minh Thần Nông. Hai nhánh Lạc Việt và Tây Âu, dù người xuống biển, kẻ lên rừng nhưng đều mất địa bàn sinh sống, phải bước vào hành trình ra đi, trôi giạt. Cả ngàn năm sau họ mới tìm lại được nhau trong nhà nước Âu (Cơ) - Lạc (Long Quân) sơ khai, non trẻ và yếu ớt. Bài học chiến tranh: Mỵ Châu đại diện cho nhân dân Tây Âu Lạc, Trọng Thủy đại diện cho người Nam Việt. Họ chính là nạn nhân đầu tiên và cuối cùng của chiến tranh. Nỗi đau của dân tộc này biến thành ngọc trai, rửa ở cái giếng ai oán thăm thẳm của dân tộc kia, sẽ lấp lánh vẻ đẹp vĩnh hằng của hòa bình và hòa hợp. Bài học cảnh giác: Cảnh giác, trước tiên là cảnh giác với chính mình, cảnh giác với kẻ thù ở hàng thứ hai. Nhà cầm quyền Tây Âu Lạc đã bị vàng bạc và hôn nhân chính trị lung lạc. Ỷ thành cao, vũ khí lợi hại, An Dương Vương buông thả, ruồng bỏ nhân tài Cao Lỗ, khiến nước mất nhà tan. Biển cả và tự do: Lạc Long Quân là con rồng của biển cả. Ông dặn con cháu nếu nguy cấp hãy quay về phía biển gọi "Cha ơi!". Bại trận, An Dương Vương ra bờ biển, lạnh lùng xử tử Mỵ Châu rồi lấy sừng tê rẽ nước mà đi. Thông điệp "ra với biển" đã trở thành tiềm thức trong khối óc mỗi con người Việt Nam từ đó trở đi. Sau này dân Việt Nam đã hơn một lần ra với biển đi tìm tự do: những tùy tướng của Mê Linh Liệt Nữ chạy vào Cư Phong rồi lên thuyền thẳng tiến đến Malacca, họ là người Minangkabau ở Maylaysia và Indonesia hôm nay; hậu duệ nhà Lý thì giong buồm đến Cao Ly; Hồ Quý Ly đáng lẽ không bị bắt làm tù binh nếu không tắp vào bờ biển bắc trung bộ... Thông điệp "ra với biển" ở thế kỷ 21 chắc chắn là mở vòng tay Việt Nam với bè bạn năm châu, từ bỏ suy nghĩ thủ cựu, chấm dứt các hình thức bế quan tỏa cảng. 6. Từ Kinh Dịch đến chữ viết của tổ tiên người Việt Nam Trong quá khứ, không ít sử gia như Kim Định đã nghiệm rằng Kinh Dịch chứa rất nhiều yếu tố vay mượn từ văn minh Thần Nông. Gần đây một bài báo ở Việt Nam tự hào tuyên bố Kinh Dịch chính là di sản sáng tạo của tổ tiên người Việt. Tôi quan sát rất kỹ các tranh luận xưa nay và tự hỏi: "Ngôn ngữ điện toán hiện đại chỉ cần hai tín hiệu CÓ và KHÔNG, khi thể hiện trên giấy nó tương đương số 1 và số 0. Não điện toán dễ dàng đọc mọi văn bản chỉ toàn 0 và 1 đan xen, nối nhau thành chuỗi, vì tốc độ xử lý thông tin của nó rất cao. Nguyên lý khởi đầu của Dịch là Âm Dương sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái. Sau Bát Quái còn có thêm 64 Quẻ. Ký hiệu Dương là một vạch liền, Âm là một vạch đứt. Hoàn toàn tồn tại khả năng văn minh Trung Hoa đã mượn thứ ký hiệu này của văn minh Thần Nông và phát triển thành Kinh Dịch. Như vậy tại sao không thể đặt giả định hệ thống ký hiệu xây dựng từ hai đơn tố Âm và Dương là những chữ cái của một thứ ngôn ngữ bí hiểm nào đó trong văn minh Thần Nông". Đến đây thì tôi thấy cần xét lại một "khuyết điểm lưu cữu lớn" của văn minh Thần Nông là không có chữ viết, đã đề cặp ở mục số 2. Hai đơn tố Âm và Dương rõ ràng đã đan xen, tạo thành chuỗi. Việc nó có thể dùng làm số đếm (hệ nhị phân), chữ cái hoặc chữ viết hay không, không còn phụ thuộc vào khả năng biểu đạt của hai đơn tố ấy, mà phụ thuộc vào khả năng xử lý tín hiệu của con người thời đó. Tôi đã loại bỏ được chất hoang tưởng trong giả định của mình. Tôi đã đến viện bảo tàng lịch sử thành phố Hồ Chí Minh xem 1 chiếc trống đồng Đông Sơn. Trống đồng là linh vật của dân tộc Việt Nam. Rất nhiều nhà khoa học đã đồng ý trống đồng lưu giữ dấu ấn thờ mặt trời của con người buổi bình minh lịch sử. Ở giữa mặt trống có mặt trời tỏa tia. Nửa ngoài mặt trống có 2 cặp vòng tròn đồng tâm chứa rất nhiều vạch liền xếp cạnh nhau. Theo ngôn ngữ Dịch, một vạch là Dương (trong lưỡng nghi), hai vạch là Thái Dương (trong tứ tượng), ba vạch là Càn (trong bát quái), sáu vạch là Càn Vi Thiên (trong 64 quẻ). Tất cả đều chỉ mặt trời hoặc ông trời. Nếu nói những nét liền kia nằm cạnh nhau là những chữ CÀN - CÀN - CÀNXXX...XXX liên tục tức TRỜI - TRỜI - TRỜI... liên tục thì khả dĩ chăng? Hay Thái Dương - Thái Dương - Thái Dương...? Đây chỉ là sự tình cờ thì thật lạ. Nhiều vạch quá, nhìn qua tủ kiếng tôi không thể đếm được bao nhiêu vạch. Nếu tổng số các vạch đó luôn chia hết cho 6, ở bất cứ chiếc trống đồng nào thì giả thuyết của tôi hữu lý nhất. Ngoài ra còn có một vòng tròn đồng tâm khác chạy những đường hoa văn hình "dấu ngã", liên kết các "dấu ngã" này là những vòng tròn nhỏ, có chấm chính giữa. Đây cũng có thể là chữ "mặt trời" giống như chữ "mặt trời" ở nhiều nền văn minh sơ khai khác. Giả thuyết tôi đưa ra nếu đúng sẽ dẫn đến sự xét lại: Ngôn ngữ Dịch là của văn minh Thần Nông. Dùng cơ sở "Phục Hy đặt ra bát quái" [16], Khổng Tử đắp tượng Văn Vương và Chu Công cho học thuyết của ông, bằng cách khẳng định hai người này đã viết "Thoán từ" và "Hào từ". Khả năng "Thoán từ", "Hào từ" và "Dịch truyện" đã được chính Khổng Tử biên soạn, là rất lớn. Cho đến lúc này, theo tôi, chỉ nên đặt câu hỏi Kinh Dịch là di sản sáng tạo của tổ tiên người Việt Nam chăng? Chúng ta chưa có nhiều bằng chứng thuyết phục, chưa so sánh được ngôn ngữ Dịch khởi thủy với Kinh Dịch. Lịch sử Trung Hoa vẫn tồn nghi nguồn gốc Kinh Dịch hai ngàn năm nay. Người Việt Nam hiện đại đang có niềm tin xác đáng hơn bao giờ hết để bước vào cuộc truy tìm bản quyền Kinh Dịch. "Mỏ vàng nhân văn" này hứa hẹn trữ lượng nguồn sống tinh thần vô biên cho con cháu Tiên - Rồng. Tóm lại, tôi tạm dừng công việc của mình ở đây. Nếu có những người ủng hộ trí tưởng tượng của tôi, xin hãy tìm đến các di vật khảo cổ. Câu trả lời thật thuyết phục còn ở rất xa và có thể chẳng bao giờ ta thấy được. Tuy nhiên trò truyện với các vật tạo tác linh thiêng của tổ tiên mình không bao giờ nhàm chán và vô nghĩa. Dù rằng sẽ không ai chứng minh được tôi đúng song chứng minh tôi sai lại càng khó hơn. Cuối cùng cách giải mã ngôn ngữ trên trống đồng của tôi vẫn nên tham khảo, vì không lời khen tặng nào là quá đáng đối với trống đồng và những con người cổ xưa đã đúc nên chúng. 7. Kết luận Bất cứ một giả thuyết nào cũng tự chứa trong nó phản giả thuyết, tức là những yếu tố, những mâu thuẫn có thể triển khai và phá vỡ giả thuyết ấy. Cao Hành Kiện nói rất chính xác: "Những qui luật lớn lao của lịch sử khi không thể giãi bày loài người được, thì con người cũng có thể lưu lại tiếng nói của chính mình. Loài người không phải chỉ có lịch sử, mà còn lưu lại văn học". [17] Với tư cách một cá nhân đi tìm nguồn cội chính mình, tôi muốn khai thác thật sâu áng văn học dân gian truyền miệng nói về thủy tổ Kinh Dương Vương và An Dương Vương, có tham khảo lịch sử, văn hóa và khảo cổ, để viết nên một thứ tạp văn lịch sử nhiều cảm tính. Hợp nhất - phân rã, lên cao - xuống thấp, chói lọi - lu mờ, thành công - thất bại, quần cư - tản mát, đến và đi... những cặp phạm trù này xoắn lấy nhau, vì nhiều nguyên nhân, liên tục đổi chỗ suốt quá trình hướng tới tương lai của bất cứ một nền văn minh nào trên thế giới. Văn minh Văn Lang và Âu Lạc chẳng thể là ngoại lệ, song sức sống không thể phủ nhận của Văn Lang và Âu Lạc ở chỗ nó đã không bị tiêu diệt hoặc đồng hóa bởi Trung Hoa, một nền văn minh tầm cỡ của nhân loại. Đà Lạt tháng 11.2004 Trương Thái Du Thư tịch và chú thích Nam Việt Quốc Sử, Trương Vinh Phương, Quảng Đông Nhân dân xuất bản xã, 1995. Sử Ký Tư Mã Thiên, NXB VH, 1988. Chiến quốc sách, NXB Trẻ, 1989. Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo Dục, 1999. Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Bình Nguyên Lộc, Bách Lộc xuất bản, 1971. Đại cương lịch sử Việt Nam, NXB GD, 2003. Việt Nam sử lược, Trần Trọng Kim. Khâm định Việt sử, Quốc sử quán triều Nguyễn. Và một số trang web. [ 1.] - Chuỗi tạp văn lịch sử của tôi gồm nhiều chủ đề có liên quan đến thời bán sử Việt Nam, xin tham khảo thêm bài "Từ Hai Bà Trưng đến những khắc khoải lịch sử - Phiên bản tháng 6.2004" và "Bảo tàng lăng mộ Nam Việt Triệu Văn Vương tại Quảng Châu - Phiên bản tháng 3.2004". [ 2.] - http://news.nationalgeographic.com/news/20...urneyofman.html [ 3.] - Ông trời là mặt trời đã được người Trung Hoa nhân cách hóa, đây là dấu vết rõ ràng của việc hình thành tín ngưỡng tế tự trời đất của văn minh Trung Hoa. [ 4.] - Bạn đọc thử xem xét các thành phố lớn ở Việt Nam: trên con đường nam tiến của những con người sinh ra từ nền văn minh lúa nước, nơi đặt đô thị dần dần chuyển vị trí từ bờ bồi (phù sa màu mỡ) sang bờ lở (thuận tiện cho thủy vận giao thương). Hà Nội và Hải Phòng gốc đều bên mạn nam sông Hồng và sông Cấm. Huế trải suốt hai bờ Hương giang. Đến Đà Nẵng và Sài Gòn thì chỉ phát triển ở bên lở của sông Hàn và sông Sài Gòn. Văn minh đô thị Việt Nam thành hình, yếu tố cần cho thương gia đã thắng yếu tố thiết yếu với nhà nông. Hai trung tâm buôn bán cổ là Phố Hiến và Hội An tọa lạc tại bờ lở, càng nhấn mạnh lập luận của tôi. [ 5.] - Bạn đọc có thể kiểm chứng thông tin khảo cổ Trung Quốc tôi đã đề cặp tại rất nhiều trang web tiếng Anh. Phiên âm La Mã của các địa danh này như sau: Dadiwan, Gansu ( Đại Địa Loan, Cam Túc); Banpo, Shaanxi (Bán Pha, Thiểm Tây), Jiahu, Henan (Giả Hồ, Hà Nam); Taosi, Shanxi (Đào Tự, Sơn Tây). [ 6.] - Khái niệm mẫu hệ và mẫu quyền có khác nhau nhưng phụ hệ và phụ quyền lại gần như là một. Chế độ mẫu hệ qui định những đứa con trong một gia đình mang họ mẹ, chỉ các con gái mới được giữ quyền thừa kế. Mẫu quyền thì đi xa hơn, quyền hành gia đình và xã hội nằm tất ở nữ giới, lãnh tụ chắc chắn phải là nữ giới. [ 7.] - Người Việt Nam hiện đại hay lầm lẫn ở đây, họ cho rằng Thần Nông là người Tàu, họ đôi lúc phản đối việc xem thủy tổ Kinh Dương Vương của mình là cháu Thần Nông. Có người góp ý với tôi: nếu Thần Nông gốc Tàu thì họ đã gọi là Nông Thần. [ 8.] - Tiên tổ vua Sở là Mị Dục Hùng, con cháu ông ta lấy tên tiền nhân làm họ, có vẻ rất giống một vài nhóm dân tiền Đông Nam Á như Khơ Me. Con gái Vua Hùng tục gọi Mị Nương. Nước Sở còn có tên gọi khác là nước Kinh! Những cái tên chồng chéo này chắc chắn phải có mối tương giao văn hóa nào đó. [ 9.] - Nếu khảo cổ Việt Nam tìm ra bất cứ di chỉ đồ đồng nào, niên đại trước 1700 TCN, có liên hệ rõ ràng với các di chỉ đồ đồng đã công bố như Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn; giả thuyết của tôi sẽ hoàn toàn sụp đổ. [ 10.] - Xiaorong Han, Who invented the Bronze Drum? Nationalism, Politics, and a Sino - Vietnamese Archaeological Debate of 1970s and 1980s. Asian Perspectives, Vol.43, Spring 2004. [ 11.] - http://www.china.org.cn/e-sanxingdui/index.htm [ 12.] - Sách Mạnh Tử có nói "Vợ Hoa Chu và Kỷ Lương khóc chồng mình mà biến cải được phong tục trong nước". Câu này vốn lấy từ chuyện nàng Mạnh Khương nước Tề khóc tế chồng chết trận làm thành lũy sụp mấy thước. Đây cũng là thông điệp thù oán chiến tranh, yêu chuộng hòa bình của nhân dân Trung Hoa thời chiến quốc. [ 13.] - Kịch bản này không hề vô tưởng, nó đã từng xảy ra với Mân Việt năm 135 TCN. [ 14.] - Xin các bậc thông Nho đọc đến đây đừng bảo tác giả nói bậy về chữ Âu. Tôi tin âm Âu mang nghĩa Việt nhưng phải mượn chữ Hán để viết. Tôi muốn bỏ qua chữ Hán mà giải cấu phần ngữ âm. [ 15.] - Nếu bạn đọc thay các chữ "Âu" bằng "Đất", "Lạc" bằng "Nước" vào toàn bộ bài viết này, tôi tin nội dung tôi muốn chuyển tải sẽ sáng tỏ hơn nhiều. Biết đâu cuộc chia ly của cha rồng mẹ tiên trong truyền thuyết lại chính là dấu ấn của một đợt hạn hán khủng khiếp nơi đồng bằng phía nam trung lưu Trường Giang. [ 16.] - Phục Hy là một nhân vật cổ tích rất phức tạp. Các yếu tố của văn minh Thần Nông và Hoa Hạ đan xen, chồng chéo và hòa lẫn vào nhau tạo nên Phục Hy. Trong khuôn khổ có hạn của bài viết cụ thể này, giải mã hình tượng Phục Hy sẽ khiến mạch văn đứt gãy. Xin hẹn bạn đọc cơ hội khác. [ 17.] - Diễn từ nhận giải Nobel của CHK, theo tanvien.net.
  22. Topic: Âu = Khu = U = Mẹ = Đất = Núi by Chuthai Nguồn: http://vny2k.com/ZiendanTiengViet/viewtopi...d=41&id=457 "Trương Thái Du Xin được trao đổi với học giả An Chi – Huệ Thiên Võ Thiện Hoa Xem chi tiết tại đây Trong mục Chuyện Đông Chuyện Tây, Tạp chí Kiến Thức Ngày Nay số Tân Niên 523 ngày 20.02.2005, học giả An Chi có luận bàn xung quanh cách giải cấu hai từ Âu và Lạc tại bài khảo cứu “Thử viết lại cổ sử Việt Nam” của tôi. Bài này là kết quả tổng hợp và chỉnh lý từ 4 bài viết về lịch sử đã từng đến với bạn đọc qua talawas và hiện được nhiều trang web sử dụng, sau khi kho sách vnthuquan.net lưu trữ phiên bản đầu tiên tại: http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?ti...q83a3q3m3237nvn Tôi rất vui vì được một chuyên gia Hán – Nôm quảng học để tâm tới tiền đề ngữ nghĩa thứ hai trong bài khảo cứu ấy. Tuy vậy, xin được trình bày thêm về phương pháp tiếp cận của tôi, hầu mong thảo luận lại một vài nhận định có vẻ đầy truyền thống của ông An Chi. Đầu tiên xin được định nghĩa "giải cấu là gì?" qua hai trích đoạn: 1.http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php...mp;von=20"%5dTrich%20đoạn%201%5b/url%5d:%20"Deconstruction"%20được%20hình%20thành%20từ%20khái%20niệm%20"social%20construct"%20(Kiến%20tạo%20xã%20hội),%20một%20khái%20niệm%20thực%20ra%20đã%20thấy%20có%20ở%20Marx%20trong%20câu%20nói%20nổi%20tiếng%20"Con%20người%20là%20tổng%20hòa%20các%20quan%20hệ%20xã%20hội".%20Các%20nhà%20triết%20học%20thế%20kỷ%20XX%20như%20Lacan,%20Foucault%20và%20chính%20Derrida%20đã%20phát%20triển%20một%20cách%20sâu%20sắc%20khái%20niệm%20này%20và%20cho%20rằng%20toàn%20bộ%20đời%20sống%20xã%20hội,%20bao%20gồm%20không%20chỉ%20triết%20học,%20luật%20pháp,%20khoa%20học...%20mà%20cả%20chủng%20tộc,%20giới%20tính%20và%20thậm%20chí%20ham%20muốn%20của%20con%20người,%20cũng%20chỉ%20là%20sản%20phẩm%20do%20xã%20hội%20kiến%20tạo%20ra%20(social%20construct).%20Nói%20ngắn%20gọn,%20toàn%20bộ%20xã%20hội%20loài%20người%20chỉ%20là%20tập%20hợp%20các%20kiến%20tạo%20xã%20hội%20(social%20constructs)%20hoặc%20đôi%20khi%20cũng%20được%20gọi%20là%20kiến%20tạo%20văn%20hoá%20(cultural%20constructs).%20Vì%20thế,%20theo%20Derrida,%20để%20nghiên%20cứu%20thực%20tại%20(như%20văn%20bản%20chẳng%20hạn)%20cần%20phải%20thoát%20khỏi,%20hay%20phá%20bỏ%20các%20kiến%20tạo%20xã%20hội%20(de-construct%20-%20giải%20kiến%20tạo).%20Derrida%20đề%20xuất%20cách%20đọc%20giải%20kiến%20tạo%20(deconstructive%20readings),%20theo%20đó%20văn%20bản%20không%20thể%20được%20là%20sản%20phẩm%20của%20một%20tác%20giả%20duy%20nhất%20với%20thông%20điệp%20duy%20nhất,%20mà%20chỉ%20là%20nơi%20gặp%20gỡ,%20tranh%20chấp%20của%20vô%20số%20các%20mối%20quan%20hệ%20xã%20hội.%20(Ngô%20Tự%20Lập). 2.%20%5burl="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=3037&rb=07&von=20" target="_blank">Trích đoạn 2: “Vậy đọc/tư duy/viết triết lý là tuần tự thực hành, can thiệp vào đối tượng nghiên cứu theo bốn bước: Bước đầu: nhận ra sự xây dựng đối tượng khu vực nghiên cứu (văn học, triết học, tôn giáo, xã hội, chính trị,) đã sử dụng, đặt cơ sở trên những cặp đối nghịch nào. Bước thứ hai: nêu rõ cái trật tự, hệ thống lớp lang trên dưới các cặp đối nghịch được gắn vào nhau. Một cách tổng quát, khi ta deconstruct, nghĩa là ta can thiệp vào cái công trình xây dựng nào đó, ta sẽ nhận thấy sự xếp đặt theo một lớp lang, trật tự nào đó không dưa trên những bản chất đích thực của từng cặp nhưng ngược lại nó phản ánh một sự chọn lựa chiến thuật, dựa trên một ý thức hệ chủ trì nào đó. Bước thứ ba: Ðảo nghịch/lộn cái trật tự đã được thiết định của hệ thống bằng cách chỉ/trình bày cho thấy rằng khái niệm ở vế dưới (thể xác, vật chất, cá biệt, ác, nữ...) có thể có lý do chính đáng để được xếp lên trên, vào chỗ những khái niệm từ lâu vẫn nằm trên, đè nén áp đảo. Và bước cuối cùng: lập ra một vế/khái niệm thứ ba cho mỗi cặp đối nghịch, vế mới này biến đổi hẳn cấu trúc nguyên ủy của cặp trước, và đồng thời cũng tái tạo chúng, khiến cho cặp đối nghịch nguyên thủy không còn thể nhận diện được nữa. (Đào Trung Đạo). Như vậy "giải cấu" nôm na là tạm gỡ cấu trúc truyền thống để tìm cái gốc của vấn đề. Truyền thống bao giờ cũng thấp thoáng bóng dáng bảo thủ. Do đó luận điểm kinh viện của ông An Chi không khó hiểu, thậm chí với nhiều bạn đọc, nó rất có lý. Tôi xin ví dụ trong đời sống: theo nghiên cứu lâu nay ai cũng biết, đa số người đời thường có xu hướng chọn người yêu giông giống cha hoặc mẹ mình. Dễ hiểu thôi, đứa bé ra đời trong vòng tay ôm ấp thương yêu của cha mẹ. Cử chỉ, nét mặt của cha mẹ nó là biểu trưng đầu tiên của tình thương và sự an toàn. Khi trẻ trưởng thành, gặp ai đó “giông giống”, lập tức "kinh nghiệm" thơ bé được sử dụng để sinh ra mến mộ, thương yêu, tương tư... Theo tôi chữ Âu mà Trần Thánh Tông dùng cũng vậy. Nó là cái tâm thức Việt sâu thẳm mà ít có khả năng tác giả ý thức được. Cho nên cứ tưởng Kim Âu là Hán văn, nhưng tôi tin sự việc phức tạp hơn nhiều. Để cho bài viết bớt lê thê, tôi đã cắt bớt đoạn trích trong Lĩnh Nam Chích Quái: “Long Quân nói: "Ta là nòi rồng, đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên, sống ở trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng thủy hỏa tương khắc, giòng giống bất đồng, khó ở lâu với nhau được". Có rất nhiều điều có thể “giải cấu” trong đoạn này, chẳng hạn “Âm là Lạc Long Quân hay Âu Cơ?”. Nó có chứa đựng nội dung mẫu hệ hay không? Thủy - hỏa tương khắc, nhưng hỏa - thổ lại là tương sinh! Mẹ đất, cha nước? Người Việt Nam hay nói “Đất mẹ” và “Quê cha” vậy thì “Quê cha” ở đâu? Ngoài biển ư? Có ai nói “Đất cha” – “Quê mẹ” không? Quyển Văn Minh Lạc Việt (có ghi trong phần thư tịch bài viết của tôi), trang 81, Nguyễn Duy Hinh nhận định: “Trong thuyết văn có chữ Âu. “Âu tiểu bồn dã tòng Ngõa Khu thanh Ân Lâu phản”. Nghĩa là: Âu là chiếc chậu nhỏ, bộ Ngõa, âm như chữ Khu, đọc Ân Lâu phản (tức Âu). Chú ý chữ mà ngày nay đọc Khu lại đồng âm với Âu, điều đó chứng tỏ ngữ âm đã thay đổi. Chữ Âu viết bộ Ngõa chỉ đồ gốm, không hề chỉ ý người”. Thiết nghĩ gốm cũng không xa đất là mấy, hay nói cách khác đất nung thì thành gốm. Ông Trương Củng, một thành viên Hán học của kho sách vnthuquan.net đã bổ luận hộ tôi: “Chữ Âu 甌 ghép bởi chữ Khu 區 (Khang Hi: vực dã) là vùng đất và chữ Ngõa 瓦 là ngói. Ý Đất trong chữ Âu có thể xuất phát từ âm Khu”. Vậy việc tôi đoán định Âu là Hán tự ký âm Việt ngữ với nghĩa Đất không tùy tiện chút nào. Riêng chữ Âu của Hồ Quý Ly thì ông An Chi sẽ không có căn cứ nào mà bảo đó là từ Kim Âu trong Hán văn. Thật vậy, một bạn đọc thân thiết của tôi (yêu cầu được giấu tên) đã hướng tôi đến liên tưởng mơ hồ sau: U = nhô lên = đồi, núi ~ Vú (nguồn sống nhô lên từ ngực phụ nữ) Vú em = Dưỡng mẫu U = mẹ ~ bu (mẹ già). Khu (đất) ~ U = mẹ. Cho nên có thể Âu = Khu = U = Mẹ = Đất = Núi. Vậy mẹ Âu Cơ là tiên ở trên đất, trên núi là đúng rồi. Kim Âu của Hồ Quý Ly phải là Núi Vàng, chứ không thể là cái chậu bằng vàng được! Phải chăng lời ru “Ầu ơ” của bên nôi của tất cả chúng ta cũng liên quan đến chữ Âu, đến mẹ đất, đến Âu Cơ người mẹ đầu tiên của cả dân tộc Việt Nam. Với chữ Lạc thì lại khác. Ông An Chi so sánh cách lý giải chữ Lạc là nước của nhiều người đi trước với cách của tôi rồi đưa ra một tam đoạn luận khá ngộ nghĩnh. Nếu ông mở lòng, du di cho rằng tôi đã công nhận Lạc là Nước (qua tham khảo sách vở trong quá trình mày mò viết đoạn ấy) thì ông có thể đồng ý với tôi mọi con đường khác đều đi đến kết quả Lạc là Nước. Ngay cả ông Tây viết sử Việt là Keith Taylor cũng tin Lạc là Nước trong quyển “Sự ra đời của Việt Nam” khoảng 25 năm trước. Do đó tôi đánh bạo dùng một câu nói của Khổng Tử để luận mà không cần trích dẫn dài dòng, rắc rối. Điều này sẽ dẫn đến nghi vấn: tôi đã đóng góp thêm vào việc chứng minh Lạc là Nước, hay đơn giản như ông nói đó là sự dễ dãi?. Phương pháp tìm nghĩa của tôi là tìm nghĩa trong ngữ cảnh vì tôi không phải là một nhà ngôn ngữ học. Vì thế tôi không tài nào hiểu nổi chữ Nước trong Đất Nước làm sao lại có thể bắt nguồn từ chữ Lược như ông An Chi tin tưởng. Công đoạn cuối với chữ Âu và Lạc tôi đã dùng một thuật toán tiểu học: Nếu Âu đúng là Đất, Lạc là Nước thì nó sẽ đúng trong mọi trường hợp. Sau đó tôi thay Âu bằng Đất và Lạc bằng Nước vào tất cả khái niệm, tên gọi của nền văn minh Thần Nông (tức vùng đất phía nam Dương Tử) có từ tố Âu và Lạc, và thấy không hề có một từ nào trở thành vô nghĩa. Nếu An Chi nói công thức này sai (như tôi đã lường trước trong chú thích của bài khảo cứu), thì ông nên dẫn chứng sẽ thuyết phục được nhiều người. Sau hết, học giả An Chi hình như hơi thiếu kiên trì khi không thử xét kết quả to lớn mà luận đề Lạc là Nước và Âu là Đất đem đến. Phần lớn kết quả này đều có trong bài viết của tôi, ông An Chi vô tình không nhận ra thì tôi thấy rất lạ. Khi áp luận đề kia vào Sử Ký (Nam Việt Úy Đà Liệt Truyện, Kiến Nguyên dĩ lai hầu giả niên biểu) và Hán Thư (Tây nam di lưỡng Việt Triều Tiên truyện) thì mọi tồn nghi, khó hiểu xưa nay trong ấy cũng sáng tỏ. Thậm chí, nó còn xóa sạch các nghi vấn về dị biệt rắc rối giữa Sử Ký và Hán Thư. Đơn cử 3 chi tiết sau: 1. Người ta từng thắc mắc tại sao Thái Sử Công nói về chiến tranh giữa Nam Việt và Mân Việt thì lại dùng “Âu Lạc tương công (Âu Lạc đánh nhau với Mân Việt)”. Đơn giản là vì người Lạc Việt ủng hộ Triệu Đà làm vua Nam Việt cũng gọi nơi họ sống là Âu Lạc, và Âu Lạc hoàn toàn có thể là tên Việt ký âm bởi Hán tự của nước Nam Việt. 2. Sử ký: “Cố Âu Lạc tả tướng Hoàng Đồng trảm Tây Vu Vương” – Có thể đây là ông tả tướng của triều đình Nam Việt đã đầu hàng quân Hán. 3. Sử Ký viết: Kỳ Tây Âu Lạc lõa quốc diệc xưng vương (phía tây Âu Lạc là nước trần truồng cũng xưng vương). Hán Thư trong cùng sự kiện lại viết: Tây hữu Tây Âu kỳ chúng bán nuy nam diện xưng vương (phía tây có vùng đất dân chúng mặc khố mà cũng quay mặt về phương nam xưng vương). Hàng trăm học giả người thì bảo Tư Mã Thiên thừa chữ Lạc, người bảo Ban Cố thiếu chữ Lạc, không thể thống nhất. Với luận đề của tôi thì chẳng ai thiếu ai thừa cả, họ đều đúng và còn bổ xung cho nhau nữa. Âu và Lạc đều có thể đứng riêng thành tên gọi vùng đất người Lạc Việt sinh sống. Lạc Việt = Nước Việt, nên Tây Âu = Đất Tây = Tây Âu Lạc (Âu Lạc ở đây là Phiên Ngung). Các phương cách mới tìm hiểu ngữ nghĩa những tên gọi đã đi xuyên qua hơn 2000 năm lịch sử không thể được mọi người quan tâm ngay và sớm đi đến đồng thuận. Cứ như chữ Bia (vừa qua mấy chục năm) ông dùng ví von, vài người Tây học tôi tham khảo đã mâu thuẫn kịch liệt với nhau. Đa số không nghĩ như ông, họ bảo Bia là âm Anh - Mỹ, âm Pháp bị biến thành La Ve kia! Tóm lại, tôi rất cảm ơn ông An Chi đã thông qua một bạn đọc mà đến với nghiên cứu của tôi. Hy vọng sau ông “xông đất”, còn nhiều người nữa sẽ tham khảo cách tôi đã tìm ra ngữ nghĩa các từ “Giao Chỉ, Tượng quận, Cửu Chân và Nhật Nam bằng thiên văn; Lạc Việt, Việt Thường, Âu Lạc bằng giải cấu, so sánh và một phép toán ấu học. Thung Lũng Đa Thiện, Đà Lạt 04.3.2005 Chú thích: Mục Chuyện đông chuyện tây, tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, số tân niên (523) ra ngày 20.2.2005 Câu hỏi: Trong thiên nghiên cứu "Thử viết lại cổ sử Việt Nam" (http://vnthuquan.net), tác giả Trương Thái Du có khẳng định rằng quốc hiệu Âu Lạc có nghĩa là "đất nước" (âu = đất; lạc = nước). Do đó Lạc Việt chính là nước Việt". Tác giả biện luận: “Đất nước và tổ quốc: Sử Ký Tư Mã Thiên trong chương “Khổng Tử thế gia” thuật lời Khổng Tử: “Khâu này nghe nói… Quái vật do nước sinh ra là con rồng”. Vậy ta có thể hiểu cha Lạc Long Quân là biểu tượng của “nước”. Ngôi nhà của “nước” tất phải ngoài biển, nghĩa gốc của chữ Lạc chính là “nước”. Mẹ Âu Cơ tượng trưng cho “đất”. Chữ Âu từng được Trần Thánh Tông dùng: “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã – Sơn hà thiên cổ điện kim âu”. Hồ Quý Ly cũng từng cải tên núi Đại Lại (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) thành Kim Âu. Thành ngữ “Tấc đất tấc vàng” khá gần gũi với “kim âu”. Ngựa đá đứng trên đất vàng, thử hỏi làm sao mà non nước Việt Nam chẳng vững chãi Vạn Xuân.” Tác giả còn diễn giải thêm ở chú thích số 15: “Xin các bậc thông Nho đọc đến đây đừng bảo tác giả nói bậy về chữ Âu. Tôi tin âm Âu mang nghĩa Việt nhưng phải mượn chữ Hán để viết. Tôi muốn bỏ qua chữ Hán mà giải cấu phần ngữ âm.” Trên đây là cách "giải cấu" của tác giả Trương Thái Du về hai tiếng "Âu", "Lạc" trong bài đại luận "Thử viết lại cổ sử Việt Nam". Xin hỏi: Ông An Chi có nhận xét gì về sự giải cấu đó? (Ông Phùng Hữu Đảm, Q.3, TP.HCM) Trả lời: Trước nhất, xin nói về tiếng "Lạc". Thực ra thì trước tác giả Trương Thái Du đến gần 34 năm, tại Hội nghị nghiên cứu thời kỳ Hùng Vương lần thứ 4, tháng 4 năm 1971, trong bài tham luận "Thử tìm nguồn gốc ngữ nghĩa của từ tố Lạc", hai đồng tác giả Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc cũng đã giải thích rằng Lạc có nghĩa là "nước". (Xin xem toàn bài trong tập kỷ yếu Hùng Vương dựng nước, t.IV, Nxb KHXH, Hà Nội, 1974, tr.134-41). Trong bài tham luận, hai đồng tác giả cũng đã nhắc đến vấn đề "Lạc Long Quân là giống rồng", "Long Quân hay Long Vương đều có nghĩa là vị vua thống trị miền nước." Khác nhau chỉ là ở chỗ hai đồng tác giả này biện luận kỹ càng hơn còn Trương Thái Du thì lại quá dễ dãi. Ta hãy cùng nhau đọc lại lập luận ngắn ngủi của ông Trương: “Đất nước và tổ quốc: Sử Ký Tư Mã Thiên trong chương “Khổng Tử thế gia” thuật lời Khổng Tử: “Khâu này nghe nói… Quái vật do nước sinh ra là con rồng”. Vậy ta có thể hiểu cha Lạc Long Quân là biểu tượng của “nước”. Ngôi nhà của “nước” tất phải ngoài biển, nghĩa gốc của chữ Lạc chính là “nước”. Thực ra, từ lập luận dễ dãi và lỏng lẻo trên đây, ta chỉ có thể thiết lập tam đoạn luận dưới đây mà thôi: Quái vật do nước sinh ra là con rồng. Lạc Long Quân là "vua rồng". Vậy Lạc Long Quân là ông vua do nước sinh ra. Thế thôi! Chứ ta tuyệt đối không có bất kỳ căn cứ nào để suy ra rằng Lạc có nghĩa là "nước" cả. Nếu ta theo cách lập luận của Trương Thái Du và nếu chẳng may tên đấng phu quân của mẹ Âu Cơ không phải là Lạc Long Quân mà là "Bạch Long Quân" hay "Hắc Long Quân" chẳng hạn, thì Bạch hay Hắc tất nhiên phải có nghĩa là "nước". Rõ ràng là phi lý! Huống chi, nếu cách chứng minh của Trương Thái Du có hoàn toàn đúng đi nữa thì Lạc cũng chỉ có thể có nghĩa là "nước" trong nước tương, nước mắm v.v.. (tạm gọi là nước1), chứ đâu phải là "nước" trong nước Nga, nước Nhật, v.v.. (tạm gọi là nước2). Vì hai thứ "nước" này khác hẳn nhau. Một số tác giả có gợi ý rằng nước2 phải sinh từ nước1 nhưng họ chưa chứng minh được vấn đề một cách đủ sức thuyết phục. Còn Trương Thái Du thì hoàn toàn không chứng minh nên dĩ nhiên là lập luận của ông không có giá trị. Riêng cá nhân chúng tôi lại thấy rằng nước2 tuyệt đối chẳng có liên quan gì đến nước1 cả. Nước2, theo chúng tôi, là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ 略, mà âm Hán Việt hiện đại là lược, có nghĩa gốc là "ranh giới" (Từ nguyên, nghĩa 9; Từ hải, nghĩa 2; Hán ngữ đại tự điển, nghĩa 3; v.v..), rồi nghĩa phát sinh bằng hoán dụ là "vùng đất nằm trong ranh giới đó", và cuối cùng mới có nghĩa hiện hành là "xứ sở". Về nghĩa thì như thế còn về âm thì ta cũng có nhiều thí dụ để minh họa cho mối quan hệ "n ~ 1": ___ nện ~ liện 敕 (cùng nghĩa); ___ nòi ~ lọai 类 , âm xưa là loài (= loài, giống); ___ non (trong núi non) ~ loan 峦(núi nhọn; sống núi, đỉnh núi, v.v..); ___ nỗng (trong gò nỗng) ~ lũng 垄 (gò đất cao); v.v.. Đặc biệt hơn hết là chính chữ lược 略 với nghĩa "mưu chước", lại là nguyên từ của chữ nước trong nước cờ, đường di nước bước, v.v.. Và ta có: ___ lược (= ranh giới) ~ nước (trong nhà nước); và ___ lược (= mưu lược) ~ nước (trong nước cờ); Hai trường hợp đồng dạng từ nguyên học trên đây cho phép ta có thể tin vào lời khẳng định mà chúng tôi đã đưa ra. Bây giờ xin nói về chữ Âu. Vẫn biết Trương Thái Du "muốn bỏ qua chữ Hán mà giải cấu phần ngữ âm" nhưng có "giải cấu" thế nào đi nữa thì cũng phải phân biệt rành mạch Hán ra Hán, Việt ra Việt. Đằng này, tác giả lại đem râu ông nọ cắm cằm bà kia. Làm sao mà chữ Âu trong thơ của Trần Thánh Tông lại có thể có nghĩa là "đất" khi mà nó là tiếng Hán rặt ròng, tiếng Hán 100%. Chữ "Âu" của Trương Thái Du có nghĩa là "đất" hay không là một chuyện chứ chữ Âu 瓯 của Thánh Tông nhà Trần thì dứt khoát phải là "tiểu bồn dã" (chậu nhỏ vậy), "vu dã" (chậu vậy) như đã cho trong Từ hải (nghĩa 1 & 2) và tất cả các quyển từ điển tiếng Hán khác. Và hai chữ Kim Âu của nhà vua là một danh ngữ tiếng Hán chánh tông dùng để ví với sự vững chắc, sự thịnh trị, như trong câu thơ của Tống Khuýnh: Quốc gia toàn thịnh tự kim âu. (Nước nhà toàn thịnh tựa âu vàng) chứ có liên quan gì đến đất cát? Dùng để chỉ một loại thức uống có độ cồn nhẹ, bia là một danh từ mà tiếng Việt phiên âm từ tiếng Pháp bière. Nhưng cũng chính vì thế mà nó chỉ có nghĩa trong những cấu trúc như: bia bọt __ bia Tiger __ bia hơi __ v.v. Chứ nếu, với hai câu Trăm năm bia đá thì mòn Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ, mà ai đó lại bắt từ bia của tiếng Việt phải gánh cái nghĩa của từ bière trong tiếng Pháp thì thật là buồn cười. Trường hợp chữ "âu" ở trên cũng thế mà thôi! Xem ra, việc viết lại cổ sử Việt Nam chẳng đơn giản chút nào! Nguồn: http://vny2k.com/ZiendanTiengViet/viewtopi...d=41&id=457
  23. Ông Trời trong đời sống dân gian Tuệ Chương Từ ngàn xưa, người Việt Nam đã tin Trời, Phật. Từ ngàn xưa là từ lúc nào, do đâu có sự xuất hiện của Trời và Phật. Người Việt theo tam giáo đồng nguyên (Nho, Phật, Lão), nhưng không phải từ khi người Tàu qua đô hộ nước ta, truyền bá tam giáo, người Việt mới tin vào Trời, Phật. Ông Trời trong đạo Nho và ông Trời trong tín ngưỡng tổ tiên người Việt có nhiều điểm rất giống nhau, nhưng không phải ông Trời của người Việt do từ ông Trời trong đạo Nho mà ra. Thoạt kỳ thủy, ông Trời Việt Nam không có máu lai Tàu. Ông là người Việt trăm phần trăm. Ai ai cũng công nhận hai điều: Thứ nhất, trống đồng của người Việt xuất hiện trước ba thời kỳ Bắc thuộc (tính chung cả ba thời kỳ là hơn một ngàn năm, từ năm 111 trước Tây lịch đến 939 sau TL) và thứ hai, những hình vẽ trên trống đồng chứng tỏ cho thấy ít ra, từ khi có trống đồng, người Việt đã biết thờ Trời. Trên mặt trống đồng Ngọc Lũ chẳng hạn, có hình Chim Lạc, Nhà Sàn, Hươu Nai, Thuyền là những hình vẽ nói về đời sống người Việt thời kỳ đó: Săn bắn, đánh cá, ở nhà sàn. Những hình Chim Lạc, Nhà Sàn, Thuyền nầy nằm chung quanh, giữa là mặt trời. Như vậy, mặt trời là Trung tâm, cũng có nghĩa là nguồn gốc của sự sống, là Trung tâm sự sinh hoạt của con người. Ý niệm về trời, hoặc có thể nói dân gian biết thờ trời là có từ thời kỳ đó; nó cũng có nghĩa là người Việt biết về trời, có ý niệm về trời, về sự sống, về sự sáng tạo, phát sinh, sự phát triển, nảy nở là đã có từ trước khi người Tàu qua đô hộ người Việt Nam. Tuy nhiên, có thể sau khi người Tàu qua đô hộ, họ đem cái văn hóa Tàu mà truyền thụ sang ta thì quan niệm về trời của ta có thể có lai giống ít nhiều với ông Trời của Tàu. Nhìn chung, ông Trời là tạo hóa, người Trung Hoa còn gọi là hóa công, có nghĩa là trời sinh ra muôn loài muôn vật, ban cho con người cái nầy, con vật kia cái kia, mỗi con người, mỗi loài vật có những cái đặc tính của nó. Cái đó, người Việt gọi là trời sinh, có nghĩa là trời sinh con người, con vật tự nó có được cái trời cho như vậy. Ví dụ: Con mèo, con chó có lông, Ống tre có mắt, nồi đồng có quai. Có người nói: Mèo, chó có lông, cây tre có mắt là đúng, do trời sinh. Còn nồi đồng là do con người làm ra. Như vậy, cái quai nồi là cái sáng chế của con người, đâu phải trời sinh. Cũng có người cải lại: Cái quai nồi là do người làm ra được là nhờ con người có trí khôn. Trí khôn là do ông trời cho. Thành ra, cái quai nồi dù con người làm, tựu chung cũng là từ cái trí khôn của trời cho, đại khái như truyện cổ tích “Trí khôn tao để ở nhà vậy.” Để rõ hơn, tôi xin kể câu chuyện tiếu lâm như sau: Một ông nhà giàu nọ, có hai anh con rể. Một anh thì quê mùa chất phát, học hành cầm chừng, một anh thì học giỏi, khôn ngoan, hay lý luận, giải thích. Một hôm ông nhà giàu đi dạo mát, gọi hai anh rể đi theo, cũng nhằm mục đích thử tài hai anh nầy. Đi một đỗi, thấy có con ngỗng đang kêu. Ông nhà giàu hỏi: - “Này hai con! Tại sao con ngỗng kêu to thế.” Anh rể khờ (tạm gọi nhưthế), không biết trả lời sao. Anh rể thông (cũng tạm gọi như thế), trả lời: - “Thưa cha! Sở dĩ con ngỗng kêu to là vì “Trường cảnh tắc đại thanh”, có nghĩa là vì nó có cái cổ dài nên nó kêu to.” Ông nhà giàu gật gù khen phải. Đi một đỗi, lại thấy con vịt đang lội trên hồ, ông nhà giàu hỏi: “Này hai con! Tại sao con vịt lại nổi?” Anh rể khờ chưa biết nói sao thì anh rể thông đã nhanh nhảu: - “Thưa cha! “Đa vũ tiểu nhục tắc phù.” Có nghĩa là vì có lông nhiều, thịt ít nên con vịt nổi.” Ông nhà giàu gật gù khen giỏi. Anh rể khờ nảy giờ tức mình lắm rồi, bấy giờ mới nói: - “Chú nói tầm bậy không! “Trường cảnh tắc đại thanh”. Thế con ễnh ương cổ có dài đâu mà nó kêu cũng to vậy, chiếc thuyền có nhục có vũ đâu mà nó cũng nổi. Con ngỗng nó kêu to, chiếc thuyền nó nổi, là tại trời sinh nó ra như thế, chú không nên bày đặt giải thích không trúng đâu vào đâu.” Tại trời sinh nó ra như thế. Đó là quan điểm ông Trời là tạo hóa của người Việt Nam. Vì ông trời sinh ra, nên ông trời chịu trách nhiệm về sự sống của muôn loài do trời sinh. Ví dụ như câu tục ngữ: “Trời sinh voi, trời sinh cỏ”. Nếu ông trời sinh ra con voi thì ông trời phải sinh ra cỏ để voi có thức ăn. Nói chung trời sinh thức nầy thức kia là để làm lương thực cho con vật nầy, con vật kia. Trời sinh ra cây lúa là để con người có lương thực. Truyện cổ tích nói về sự tích con trâu như sau: Một hôm, ông Trời sai một ông thần trên thiên đình cầm hai nắm hạt, một là giống hạt lúa, hai là giống hạt cỏ. Trời dặn: - “Nhà ngươi xuống hạ giới, trước hết là gieo nắm hạt lúa trước. Sau đó, nhà người sẽ gieo nắm hạt giống cỏ.” Vị thần nhận lệnh xong ra đi. Vốn đãng trí nên khi xuống tới hạ giới, thay vì gieo nắm hạt lúa trước, ông ta lại gieo nắm cỏ. Vì vậy, cỏ mọc trước, tràn lan, không còn chỗ cho lúa mọc. Thiếu gạo ăn, dân gian kêu réo thấu trời. Trời bèn cho xem lại, biết rằng ông thần thiên đình làm sai lời dặn nên trời đày ông ta xuống trần làm con trâu ăn cỏ và giúp dân cấy cày làm ruộng. Hai cái sừng trâu là hai cánh chuồn của mũ quan biến dạng mà thành. Hồi tôi còn nhỏ, một hôm bàn bạc chơi với bạn về việc ăn chay. Một người nói: - “Chúa sinh ra heo bò gà vịt là để cho người làm thịt ăn. Vì vậy không nên ăn chay.” Hồi đó, tôi không tin lời bạn, càng ngày càng lớn tuổi, đi học, đọc sách, v.v… Tôi thấy bạn tôi nói sai. Sau nầy, khi đọc sách bàn về các nền văn minh trên thế giới, tôi thấy có sự khác biệt về xã hội ăn rau và xã hội ăn thịt mà tôi đã có bàn một lần. Xã hội Á Đông thiên về trồng trọt nên ăn rau nhiều hơn ăn thịt, xã hội Tây phương, nhất là vùng Trung Đông, thiên về chăn nuôi nên ăn thịt nhiều hơn ăn rau. Từ cách sinh hoạt như thế mới nảy sinh những tư tưởng ăn rau, ăn thịt. Ông Trời sinh ra con người và để cho con người sống được với nhau, ông Trời giữ gìn mọi sự công bằng, hợp lý. Con người ta sống với nhau được là nhờ có công bằng, hợp lý, lẽ phải. Do đó, tục ngữ có câu: “Không trời ai ở với ai.” Không có ông Trời người ta không thể ở với nhau được. Nó có nghĩa rằng sở dĩ con người ở với nhau được là nhờ công lý, công bằng; nếu không có nó, con người sẽ trở thành loài thú dữ, cáu xé, tàn hại lẫn nhau. Vì trời cầm cân nảy mực, là tượng trưng cho sự công bằng. Vì vậy, khi con người thấy có điều gì không hợp lý, bất công thì bèn kêu trời: Trời sao trời ở không cân - Kẻ ăn không hết người lần không ra! Cũng có khi người ta cho rằng sở dĩ có người nghèo khổ, đói rách, vất vả, nặng nhọc là vì người ấy có tội, là người ấy bị “trời đày” (đày ải). Đày còn là nhẹ, người nặng tội hơn thì bị “trời đánh”. Ví dụ như con Cám và bà mẹ ghẻ độc ác, cuối cùng bị “trời đánh chết” và đày xuống địa ngục trong truyện “Tấm Cám” vậy. Người ta có thể thấy vài điểm đồng nhất về trời của Trung Hoa và người Việt. Người Tàu nói: “Nhất ẩm nhất trác sự giai tiền định” (Việc ăn việc uống đều do trời định). Tương tự như thế, Nguyễn Du viết trong truyện Kiều: Trời kia đã bắt làm người có thân, Bắt phong trần phải phong trần, Cho thanh cao mới được phần thanh cao, Có đâu thiên vị người nào, Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai. Thật ra, thuyết tài mệnh tương đố cũng không hẳn là hoàn toàn quan điểm của người Việt. Nó bắt đầu trong tư tưởng của người Trung Hoa. Cũng khi tôi còn trẻ, có lần đi nghe một tu sĩ Công giáo giảng về thượng đế, ông ta cho rằng người Việt thờ trời, tôn giáo của ông thờ thượng đế, vậy nên người Việt Nam nên thờ chúa vì Chúa cũng là Trời. Ngay từ đó, tôi thấy ông ta nói sai. Sự cách biệt giữa thượng đế hay thánh Allah của đạo Hồi và việc thờ Trời của người Việt khá xa. Thượng đế hay thánh Allah là độc tôn. Ông Trời của người Việt chúng ta cũng độc tôn vậy. Nhưng thượng đế hay thánh Allah có một sự cách biệt hẳn với con người. Trước thượng đế con người là nhỏ bé, chỉ quỳ lạy và xin xỏ. Không có ai, dù là các vị thánh, không thể ngang bằng với thượng đế, với đức Chúa trời. Tất cả quỳ xuống và tôn vinh thượng đế. Trước trời, người Việt Nam hay con người, thậm chí cả loài vật, không phải quỳ lạy, van xin và có rất nhiều khi chống lại trời, nếu trời làm điều bất công, làm sai, vì trời là công lý, tượng trưng cho công lý. Chúng ta có thể dẫn chứng bằng chuyện cổ tích “Con cóc là cậu ông trời” chẳng hạn. Một năm trời hạn khá lâu, dưới trần thế đâu đâu cũng thiếu nước, muôn loài muôn vật đều kêu than. Một hôm, cóc nói: “Tôi phải lên thiên đình xin ông trời mưa xuống cho trăm họ được nhờ.” Thế rồi cóc tìm đường lên trời. Đi một đỗi, cóc gặp bầy ong. Ong hỏi cóc đi đâu, cóc nói đi kiện trời vì trời không mưa. Ong cũng nói vì trời không mưa, hoa không nở, ong cũng đói nên cùng đi theo cóc lên kiện trời. Đi một đoạn gặp chú gà trống. Gà đang há hốc thở vì trời không mưa, thiếu nước. Biết cóc đi kiện trời không mưa, gà bèn đi theo. Lại đi thêm một đỗi, cóc gặp con cọp. Cọp đang nằm dài vì đói. Trời không mưa, làm sao thú vật sống được để có thịt cho cọp ăn. Biết cóc đi kiện trời lâu ngày không mưa, cọp bèn đi theo. Tới cổng nhà trời, cóc đánh ba hồi trống. Trời bèn sai thần ra xem kẻ nào dám làm náo động thiên đình. Thần vừa mở cửa, cóc liền nhảy vào bên trong, ong, gà, cọp bèn vào theo. Thấy trời cùng quần thần đang ngồi đánh bài, cóc liền nhảy vào giữa, trách cứ trời sao không ngó xuống nhân gian mà ham mê cờ bạc. Trời giận cóc sao quá hổn láo, bèn sai quân lính vào bắt cóc. Cóc nhảy ra khỏi đám binh lính, rồi gọi ong vào đánh nhau với lính. Bị ong đánh đau, bọn lính bèn chạy trốn. Trời bèn gọi thần sấm vào nhưng chợt thấy gà trống được lệnh cóc vào chiến đấu, thần sấm bỏ chạy mất. Bấy giờ trời gọi chó ngao vào để bắt gà ăn thịt. Gà trống sợ quá, bỏ chạy. Cóc gọi cọp vào tiếp chiến, cọp liền xé thịt chó ngao. Thấy thua, trời sợ quá bèn gọi cóc vào dàn xếp, hỏi cóc muốn gì? Cóc nói: - “Muôn tâu, đã lâu trời không mưa, hạ giới khô hạn, muôn loài khốn khổ, xin trờimưa mau.” Trời liền sai thần mưa xuống trần, mưa liên tiếp ba ngày khắp nơi lụt lội khốn khổ. Cóc lại kiện trời. Trời bèn thỏa thuận với cóc từ nay hễ cóc kêu thì trời mưa, cóc kêu to thì mưa nhiều, kêu nhỏ thì mưa ít. Cóc làm y lời cam kết nên hạ giới mưa thuận gió hòa, nhà nhà an vui, mùa màng tốt tươi. Do đó, trong dân gian có câu ca dao: Con cóc là cậu ông trời, Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho. Trong quan điểm về thượng đế của người Tây phương, thượng đế là tuyệt đối, không bị phê bình chê trách bao giờ. Người Việt cũng như người Tàu khác đi, nhiều khi trách cứ ông trời cắc cớ. Ví dụ như trong Cung Oán ngâm khúc, sau khi trách trời “mà để phận bạc nằm trong má đào” thì lại chê trách ông trời “Chết đuối người trên cạn mà chơi.” (Chết đuối người trên cạn, Tàu gọi là lục trầm). Người Việt thì gọi trời là trẻ tạo “Chẳng ngờ trẻ tạo đành hanh, trách người chi mấy tá” (Quê Người – Tô Hoài-). Trẻ tạo đành hanh là thành ngữ người Việt thường dùng. Người Tàu gọi trời là hóa công, nhưng cũng gọi trời là “Hóa nhi”. Về quan điểm nầy có lẽ người Tàu và người Việt đồng nhất với nhau. Xem ra, ông trời rất gần gũi với người dân, biết lắng nghe tiếng người, nghe muôn loài muôn vật, và rất dân chủ, không độc đoán. Người ta thường vẽ ra một hình ảnh thiên đình, là một triều đình như của vua chúa. Khác với thượng đế và cũng như các vị vua Á Đông, trời có nhiều vị thần vị quan phụ tá vì trời không làm hết việc, và cũng khác với thượng đế, lắm khi trời cũng sai lầm, biết lắng nghe, hối lỗi. Trời cũng có vợ. Vợ trời là bà Tây Vương Mẫu ở núi Tây Thiên. Trời cũng có con cái. Trời rất thương con nhưng cô nào phạm lỗi sẽ bị trời phạt, đày xuống dương thế, như bà chúa Liễu Hạnh hay công chúa Tiên Dung chẳng hạn. Con trai của trời là các vị vua, nên vua được gọi là thiên tử (con trời). http://www.giaodiemonline.com
  24. Nếu là số mệnh trong tử vi thì đâu phải vì lấy người này hay người kia. Chỉ là gia giảm mức độ thôi. Tuổi vợ chồng xấu thì lấy tuổi của con cái, của những người trong gia đình để làm tương quan hóa giải (khắc chế, sinh trợ). (Theo thuyết của lý số Lạc việt_NVTA) Chú Thiên Sứ lớn tuổi rồi, bạn nên đổi cách xưng hô cho phù hợp.
  25. Vô cùng cảm ơn Thiên Đồng đã giúp đỡ. Với kinh nghiệm về quẻ Khai Tốc Hỷ, thật buồn bã khi khai quẻ đã là quẻ này. Đúng là người tính không bằng trời tính. Ra đi một mong chờ lớn. Dù lửa bốc thế nào nhưng gặp con nước lớn, đổ ào ạt cũng phải lụi. Phải chi mà lửa cháy được bùng lên cho át hết nước đi. May mà chủ yếu là tổn thất, ảnh hưởng đến tinh thần, không đến nỗi quá buồn thảm (Tốc Hỷ). Nếu nỗ lực hơn nữa thì cũng được nhưng tất sẽ phải chịu ảnh hưởng do sự nỗ lực này. Chờ đợi mà không có tiếng nói quyết định. Việc bị ngưng trệ, bế tắc, Nội bộ tranh chấp. Có lẽ nhanh là đến 6/9, chậm thì 6 tháng nữa hoặc tháng 9 năm sau. Bất ngờ xuất hiện một số giấy tờ có lợi cho mình, có người nữ giúp đưa thông tin lại. Nhưng chưa đủ sức thuyết phục. Chắc phải chờ sang năm sau quá. Không làm gì cả. Có làm cũng chẳng được. Chỉ thêm vô vọng. Trông chờ vậy thôi. Mà nghĩ mãi chưa ra vì sao Thiên Đồng luận được có người giúp đỡ Phoenix lại cỡ xấp tuổi Phoenix nhỉ??? :wacko: Cần cẩn trọng cho người nữ có quyền và vị thế. Cẩn trọng về tài lợi (đỗ hỏa sinh đại an thổ). Cẩn thận nếu tự bằng lòng, chậm chạp không thức thời, lanh lẹ tranh thủ cơ hội (sự an bình ru ngủ). Một lần nữa cảm ơn Thiên Đồng đã giúp Phoenix. Hy vọng nhanh chóng chiêm nghiệm quẻ.
×
×
  • Create New...