Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

phoenix

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    1107
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    2

Everything posted by phoenix

  1. Đòi tiền công nuôi – con kiện mẹ Con chết thì mang lại cho mẹ danh hiệu ‘Bà mẹ anh hùng’, tiền tuất và nhà tình nghĩa. Con sống mang mẹ ra tòa. Kiện. Đòi tiền nuôi dưỡng. Đòi chia đôi giá trị nhà tình nghĩa. Vụ việc càng trở nên um sùm khi được thông tin tới đại chúng kèm theo tuyên bố của nguyên đơn “Osin nuôi người già còn có lương nữa là tôi”. Đại biểu quốc hội, nhà khoa học, nhà sử học, bộ trưởng, cho chí dân thường đều phẫn nộ lên tiếng. Cao điểm của sự kết án ngoài tòa là lời đề nghị bổ sung vào bộ luật hiện hành tội bất hiếu. Kể thế thì con đúng là không ra con, đau cho bà mẹ quá thật. Nhưng nguyên đơn kiện có lí do: bị mẹ từ và cắt quyền thừa kế. So với bao nhiêu vụ án dân sự xoay quanh quan hệ gia đình ở Việt Nam hiện nay thì vụ con kiện mẹ này có vẻ chưa là gì. Cứ mở mục pháp luật ở mọi tờ báo in hay báo mạng tại Việt Nam ra thì hết hồn. Nào là con đánh mẹ gãy gần hết xương sườn. Nào là con bóp cổ bố chết lè lưỡi. Mà con đó toàn trong ngoài tuổi nhi bất hoặc (40 tuổi), nghĩa là được coi như đã rành rẽ sự đời, lẽ người. Hay như vụ mẹ Việt kiều kiện con trong nước vì tội chiếm đoạt tiền bạc đất đai, đến nỗi mẹ già chỉ còn có độc niềm vui rỉ rả với mấy nấm mồ người thân thích vừa quy tập lại không làm sao thăm mộ được, nghĩ cho cùng cũng có kém phần đau đớn đâu. Tuy nhiên, kiểu quan hệ gia đình bị chi phối bởi tiền bạc này chẳng phải mới được sáng tạo bởi ông con bà mẹ anh hùng. Trước cách mạng, Vũ Trọng Phụng trong “Số đỏ” đã cho nhân vật Văn Minh kết án ông nội: ”Già rồi không chịu chết là vô đạo đức”. Sau cách mạng những gần nửa thế kỉ, Nguyễn Huy Thiệp lại cho nhân vật Đoài làm chủ tịch hội nghị gia đình đề nghị anh em biểu quyết: “Ai đồng ý bố chết giơ tay?” (Không có vua). Nếu biết rằng không có sự sáng tạo nào lớn hơn được sự thật cuộc đời thì sẽ thấy hiện trạng xã hội qua những bi hài kịch gia đình này thật kinh khủng. Một hình dung khác Bảo cái ông mang mẹ đi kiện đòi công nuôi dưỡng là bất hiếu hết mức thì cũng chưa thật đúng, vì đã dùng đến khái niệm này, dùng đến hai cái chữ Tàu này thì phải biết thêm rằng kẻ bị coi như bất hiếu nhất là kẻ (tội nghiệp) không có con, mà phải là con giai, theo như quan niệm đời xưa: “bất hiếu hữu tam, vô hậu vĩ đại” (bất hiếu có 3 loại, không có con nối dõi tông đường là tội bất hiếu lớn nhất) Điều đáng ngạc nhiên đầu tiên là ông can đảm hơn người, vì ông không ngại phơi bày bi kịch gia đình trước công luận. Điều đáng ngạc nhiên thứ hai là cách thức đưa tin của báo chí trong nước, bao giờ cũng kết án trước khi có án quyết cuối cùng của tòa. Điều đáng ngạc nhiên cuối cùng, to nhất, là những ý kiến phê phán người con (ngay cả của những người nổi tiếng hoặc được mặc định là lý trí hơn đời) cũng đầy chất cảm tính, đỉnh điểm của chất cảm tính là đề nghị bổ sung vào bộ luật hiện hành tội bất hiếu như đã nói ở trên. Chúng ta thử hình dung, nếu ông Thành không kiện mẹ ra tòa mà chỉ tuân theo câu “mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh”, đóng cửa hành nhau, ngược đãi mẹ trong phạm vi gia đình. Hay là bà mẹ ông, cụ Trước, không phải là ‘Mẹ Việt Nam anh hùng’, hay là thay vì con kiện mẹ giờ mẹ kiện con như thường thấy, chắc chắn cách đánh giá của dư luận xã hội sẽ khác, và chắc chắn vụ việc sẽ không ầm ĩ đến mức này, dù nỗi não nuột của bà mẹ già thì vẫn thế. ......... Xin xem thêm Nguồn: http://www.radioaustralia.net.au/
  2. Mẹ bị con trai kiện đòi tiền công nuôi dưỡng showarticletop("http://vietbao.vn","70129788") Vài câu chào hỏi, nói rõ mục đích cuộc viếng thăm bất ngờ, cụ Trước xúc động, mắt rưng rưng trên khuôn mặt gầy gò, khắc khổ bộc bạch tâm sự về cuộc đời cơ cực nuôi con để đến bây giờ con kiện mẹ đòi tiền công nuôi dưỡng . Cụ Nguyễn Thị Trước với thân hình gầy gò và lưng đã còng Chúng tôi theo con đường mòn nhỏ quanh co với lời chỉ dẫn của bà con thôn Suối Đùm (Đại Đình, Tam Đảo,Vĩnh Phúc) tìm về nhà cụ Nguyễn Thị Trước. Ngay từ đầu thôn mọi người đã xôn xao bàn tán chuyện con trai cụ Trước là ông Ngô Xuân Thành kiện cụ ra tòa đòi tiền công nuôi dưỡng. Con đường làng của thôn Suối Đùm những ngày tháng 6 này dường như khó đi hơn bởi người dân trong thôn đang trong vụ thu hoạch lúa. Rơm được rải khắp các con đường dẫn vào thôn. Vượt qua một con dốc cao, chúng tôi mới có mặt tại nhà bà cụ Nguyễn Thị Trước. Lúc chúng tôi đến thì cụ đang quét nhà, thấy khách tới chơi, cụ niềm nở mời chúng tôi vào. Vài câu chào hỏi, nói rõ mục đích cuộc viếng thăm bất ngờ, cụ Trước xúc động, mắt rưng rưng trên khuôn mặt gầy gò đầy khắc khổ bộc bạch tâm sự về cuộc đời cơ cực nuôi con để đến bây giờ con kiện mẹ đòi tiền công nuôi dưỡng. Nuôi con trong gian khổ Cụ Nguyễn Thị Trước quê gốc ở Tam Dương (Vĩnh Phúc), là con một gia đình nhà nông đông con. Cụ kết hôn với cụ ông Ngô Văn Thái năm 20 tuổi và rồi lần lượt sinh được 5 người con: 3 trai, 2 gái. Khi mang thai người con trai trưởng là ông Ngô Xuân Thành cụ ốm liên miên, xanh xao vàng vọt. Rồi khi sinh hạ thì cụ suýt chết vì đẻ khó. Đứa con lành lặn ra đời nhưng cụ ốm liệt giường mất mấy tháng. Vì gia đình nghèo khó không có gì bồi bổ nên cụ không có sữa cho con. Thương con thơ dại, cụ đã phải đi tìm từng sản phụ trong thôn để xin sữa cho con. “Thời bấy giờ làm gì có sữa ngoài mà nuôi, mà có thì nhà tôi cũng không có tiền mà mua”- cụ Trước kể lại. Cụ còn nhớ những đêm Thành khóc đòi sữa mà cụ chỉ biết khóc cùng con. Đêm hôm khuya khoắt, hai vợ chồng không dám sang nhà hàng xóm xin, đứa trẻ đói khóc vang cả nhà, không ai trong nhà ngủ được. Đến khi Thành 5 tuổi thì bị một cơn sốt nặng khiến cả 2 cụ lại một lần nữa lao đao. Cụ Trước đã bỏ cả ruộng vườn cho chồng chăm sóc để cụ trông con. Cụ thương Thành vì ngay từ lúc sinh đã không có sữa đến tuổi biết nói, biết đi thì lại bị ốm đau thường xuyên. Nhiều đêm cụ không dám chợp mắt bởi phải quạt cho con ngủ, lau mồ hôi lăn trên trán của con, dỗ con khi con trở mình… Chạy vạy khắp nơi để lo tiền thuốc men cho con khiến gia đình bà kiệt quệ, cụ và chồng đã phải nhịn ăn để mua đồ bồi bổ cho con. Thấm thoát rồi Thành cũng đã lớn khôn… Rồi những đứa con tiếp theo cứ thế ra đời. Gia đình đông con nên cuộc sống của hai cụ ngày một vất vả. Cụ Trước cho hay: “Khổ nhất là thời kỳ trong chiến tranh bom đạn. Cơm không có mà ăn nên gia đình chúng tôi toàn phải ăn khoai sắn trừ bữa, thậm chí cả hai vợ chồng đều phải nhịn mà nhường khoai sắn cho 5 đứa con”. Con trai út của cụ là ông Ngô Quốc Bình đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ ở chiến trường Campuchia năm 1979, hiện an táng ở Tây Ninh. Những người con còn lại đều có gia đình riêng và cuộc sống đã ổn định. Riêng ông Thành đã 4 lần lấy vợ và đều tự tay cụ Trước mang lễ vật đến hỏi vợ cho con. Bản di chúc Năm 1997, cụ Ngô Văn Thái nằm liệt giường, hầu như không có khả năng qua khỏi. Cụ Trước kể: “Lúc đó, tôi nào có biết gì. Thấy nó bảo là giấy tờ chứng nhận gì đấy. Ông điểm chỉ rồi, bây giờ đến lượt bà – Nó nói với tôi vậy”. Cụ Trước kể, sau khi ông Thái qua đời năm 1998, thấy cụ Trước sống cô đơn một mình nên ông Thành có ý muốn nuôi cụ. Tiếng là ông Thành nuôi mẹ nhưng cụ Trước vẫn ở nhà mình, chỉ có ăn uống là ông Thành mang cơm và thức ăn sang cho cụ. Và cũng không phải ông Thành nuôi không mẹ vì cụ Trước có tiền trợ cấp cho mẹ liệt sỹ và hai sào ruộng (mà ông Thành canh tác). “Mình già rồi có ăn được gì nhiều đâu, đôi khi chỉ cần lưng cơm với bát canh là xong bữa. Thế mà nó cứ rêu rao nuôi tôi tốn kém”, người mẹ già nói trong đau khổ. Năm 2004, khi Nhà nước quyết định hỗ trợ 17 triệu đồng cho cụ Trước để làm nhà tình nghĩa thì ông Thành đưa bản di chúc ra và đòi những quyền lợi của mình được hưởng. Trước những đòi hỏi vô lý và thái độ ngang ngược của ông Thành đối với người mẹ của người anh cả, ông Ngô Quốc Khánh là con thứ của cụ vô cùng bức xúc, đã thay mặt những người con còn lại của cụ đứng ra giải quyết vụ việc. Ngôi nhà tình nghĩa mà ông Thành đòi một nửa tiền xây dựng “Tôi cảm thấy rất đau lòng khi trong cùng một gia đình lại xảy ra việc tranh chấp đó. Cùng một bọc đẻ ra mà lại có người con đối xử với mẹ đi ngược lại đạo lý làm người” - Ông Khánh chua xót tâm sự với chúng tôi. Cả gia đình ai cũng ủng hộ người mẹ và thấy bất bình trước thái độ và hành động của ông Thành. Bà con thôn trên, xóm dưới nhiều người chê bai, có người nhận xét: “Tôi chưa từng thấy có người con ruột nào lại đối xử với bà mẹ đã 90 tuổi tệ bạc đến vậy. Chăm sóc mẹ bằng tiền của mẹ lại còn tính công nuôi dưỡng. Thật là đại nghịch bất đạo”. Còn cụ Trước thì nước mắt đã cạn khô, cả cuộc đời cụ chăm sóc và nuôi dạy cho các con trưởng thành chẳng mong các con đền đáp. Những ai chứng kiến phiên tòa phúc thẩm diễn ra ngày 28/4/2008 vừa rồi đều xót thương cho cụ Trước khi ông Thành tuyên bố thẳng thừng trước Tòa: “Mẹ tôi chết rồi”. Nước mắt của cụ lã chã trên mặt cùng những tiếng nấc nghẹn ngào trước lời nói của người con trai mà người mẹ già đã mang nặng đẻ đau. Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa Nguyễn Xuân Đường Tại phiên tòa, mọi người đều bàng hoàng trước những đề nghị của ông Thành. Ông Thành yêu cầu cụ Trước phải thanh toán cho ông tiền công nuôi dưỡng cụ mỗi ngày 50.000 đồng kể từ ngày 07/7/1997 đến ngày 08/7/2005 là 146.050.000 đồng; công bảo quản duy trì khối tài sản là 600.000 đồng/1 tháng kể từ ngày 07/7/1997 đến ngày xét xử sơ thẩm; trả tiền chặt cây gồm 3 cây trám, 3 cây sui, 3 bụi tre trị giá 10.000.000 đồng; 1 bộ đỉnh đồng trị giá 4.000.000 đồng và một nửa số tiền mà Nhà nước cho cụ làm nhà là 8.500.000 đồng. Tất cả những yêu cầu của ông Thành đều dựa trên bản di chúc của cụ Thái và cụ Trước mà theo lời cụ Trước thì ông đã đưa cho họ điểm chỉ. Trước tòa, ông Thành không một lần gọi cụ Trước bằng mẹ. Khi chủ tọa phiên tòa hỏi: “Thế ai nuôi anh từ lúc anh lọt lòng cho đến khi anh tự mình kiếm sống” thì ông Thành dõng dạc trả lời: “Trách nhiệm bà ấy đẻ tôi ra thì phải nuôi tôi”. Khi được hỏi về cảm nhận khi xét xử vụ án này thì ông Nguyễn Xuân Đường, thẩm phán, chủ toạ phiên toà cho hay: “Đây là một vụ án hy hữu xảy ra từ trước đến giờ của tỉnh Vĩnh Phúc. Tôi đã ngồi cả mấy tiếng đồng hồ trong phòng làm việc riêng của tôi để khuyên giải ông Thành, nhưng ông ấy không chịu nghe. Cách đối xử của ông Thành với cụ Trước không khác gì kiểu thời đại phong kiến ngày xưa: Cha chết thì mẹ phải theo con trai. Toà án đã bác bỏ những yêu cầu vô lý đó thì ông ta kêu sẽ kiện lên cấp cao hơn. Tôi tin rằng dù có kiện đến cấp nào đi chăng nữa thì cũng không có luật nào quy định con nuôi mẹ mà mẹ phải trả tiền”. Nắm lấy bàn tay run run của cụ, tôi khẽ hỏi: “Nếu ông Thành ăn năn hối lỗi thì cụ có tha thứ cho ông Thành không?”. Cụ lặng im, không nói, quay đầu ra cửa. Tôi cố nhìn theo ánh mắt ấy. Hai khóe mắt trên gương mặt nhăn nheo đang rơi lệ. Rồi như để kìm cơn xúc động, cụ bỗng bấu chặt bàn tay tôi: “Đánh kẻ chạy đi chứ ai đánh người quay lại”. Ngọc Mai Việt Báo // (Theo_Tien_Phong) Nguồn: vietbao.vn
  3. Vụ việc hy hữu "con kiện mẹ đẻ ra toà đòi tiền công nuôi dưỡng" xảy ra tại tuyện Tam Đảo gây phẫn nộ trong dư luận thời gian qua. GS Nguyễn Lân Dũng, một trong nhiều người con của dòng họ Nguyễn Lân nổi tiếng về hiếu đễ, bất bình: "Chữ Hiếu của ông Thành để đâu rồi?". GS Nguyễn Lân Dũng: "Hãy để lại cho con cháu không phải là đất đai, tiền của mà là một nền học vấn, một lý tưởng cao đẹp và một ý chí tiến thủ". - Thưa GS, ông có cảm nhận và suy nghĩ trước hiện tượng băng hoại đạo đức như vụ việc con kiện mẹ đẻ ra tòa đòi tiền công nuôi dưỡng xảy ra tại Vĩnh Phúc? - Tôi nghĩ rằng có lẽ trên đời này hy hữu lắm mới có những người con như vậy. Đáng tiếc đấy lại là một gia đình liệt sĩ, một gia đình có người con quên cả thân mình để hiến dâng cho Tổ quốc. Công sinh thành của Cha Mẹ ví như trời biển. Từ xa xưa người Việt Nam mình ai cũng thuộc câu "Công cha như núi Thái Sơn, Công mẹ như nước trong nguồn chảy ra, Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con". Chữ Hiếu của ông Thành để đâu rồi? Ông kiện tiền nuôi dưỡng Mẹ đẻ của mình thế thì ai nuôi ông nên người hôm nay? Ông không biết suy tính xem con cái ông sẽ nghĩ gì về ông, chưa kể đến hàng xóm, láng giềng, họ hàng, bè bạn. Nhẽ nào ông sống một mình trên đời này? Bao nhiêu người đau khổ vì cha mẹ mất sớm trong khi mình chưa kịp có thời gian bao nhiêu để phụng dưỡng, báo hiếu cho cha mẹ mình. - Câu chuyện trên tuy là hy hữu, nhưng lại không phải là dẫn chứng duy nhất về sự bất hiếu của con cái đối với cha mẹ trong xã hội hiện nay. Vậy cần phải làm gì để ngăn chặn, lên án, tẩy chay hiện tượng trên, thưa GS? - Tôi nghĩ nên coi đây là bài học để giáo dục những người con bất hiếu, những người vô lương tâm, nhất là những kẻ vì nghiện hút mà bòn rút hết của cải của cha mẹ để thỏa mãn tệ nạn xấu xa của mình. Ngày nay người ta coi những người bị nghiện như bệnh nhân, như nạn nhân chứ không phải là phạm nhân. Nhưng những đứa con hiếu thảo biết nghĩ đến công sinh thành, nuôi dưỡng của bố mẹ thì không bao giờ sa chân vào con đường nghiện ngập hoặc ăn chơi trác táng. Thật bất hạnh thay cho những gia đình có những đứa con, niềm hy vọng lớn nhất của những người làm cha, làm mẹ, mà phải trông thấy con mình sa ngã, hư hỏng. Nên dùng câu chuyện này để giáo dục thanh thiếu niên. Sống phải có lý tưởng, phải mong muốn đóng góp cho xã hội và đó là sự đền đáp công ơn sinh thành của cha mẹ, công ơn dạy dỗ của thầy cô và sự chăm sóc của xã hội. Nếu chỉ nghĩ đến bản thân mình thì đâu còn có cái gọi là nhân cách? Tôi tin rằng ngay địa phương ông Thành sinh sống, bà con láng giềng cũng sẽ tỏ thái độ giúp ông Thành nhận ra sự thất đức của mình và cần cúi đầu xin lỗi người mẹ già đã cả đời hy sinh nuôi dưỡng mình nên người. Dù giữa mẹ con có điều gì hiềm khích với nhau thì phận làm con đương nhiên phải bỏ qua cho mẹ của mình và nếu có sự va chạm về quyền lợi thì có khó khăn gì mà không biết nhường cho mẹ. Tôi rất tiếc là chúng ta ít in lại những cuốn sách Quốc văn giáo khoa thư mà bao thế hệ trước đã từng thuộc lòng từng câu, từng chữ. Truyện Nhị thập tứ hiếu cũng cần in lại và khuyến khích thanh thiếu niên đọc để noi theo. - Theo GS thì việc giáo dục đạo đức nói chung, lòng hiếu đễ nói riêng cho mỗi con người cần phải bắt đầu từ đâu? - Ngoài gia đình thì nhà trường cũng phải góp phần giáo dục ngay từ khi trẻ đến lớp Mầm non. Cây phải được uốn từ khi còn non mới có thể vươn thẳng lên được. Tất nhiên làm bố, làm mẹ thì phải gương mẫu và hết mực thương yêu con cái. Những đứa trẻ hư hỏng thường rơi vào trường hợp các gia đình bất hòa, cha mẹ ly dị nhau hoặc sống với nhau vì ngjhĩa vụ chứ không vì tình nghĩa. Không ít gia đình mải lo kiếm tiền mà sao nhãng việc giáo dục con cái. Hãy để lại cho con cháu không phải là đất đai, tiền của mà là một nền học vấn, một lý tưởng cao đẹp và một ý chí tiến thủ. Chúng tất sẽ giỏi giang hơn mình và cũng sẽ không thiếu thốn gì về vật chất khi thực sự có tài năng và chí tiến thủ. Cha mẹ sống không liêm khiết, gian dối, lừa lọc người khác, nịnh hót người trên, bắt nạt người dưới … thì làm sao mong con cái mình nên người, dù cho có để lại cho chúng hàng núi của cũng vậy mà thôi. Xin cảm ơn Giáo sư! Theo VTC Nguồn: http://svdanang.com
  4. Ông Dương Trung Quốc nói gì về vụ con kiện mẹ?</h2> "Gieo gió thì ắt gặp bão. Trường hợp ông Thành đòi người mẹ bồi thường và tính toán chi li như vậy là mất đạo đức, là bất hiếu. Nếu tính sòng phẳng, chi li ra thì tại sao không tính số tiền bố mẹ nuôi ông ta từ lúc lọt lòng?" Con đẻ kiện mẹ ra tòa đòi tiền công nuôi dưỡng Bà cụ bị con trai kiện: “Tôi từng bị con nhổ nước dãi vào mặt" “Ô sin còn được trả công, huống hồ… con nuôi mẹ” Video: Cụ già 90 tuổi bị con trai kiện đòi tiền nuôi dưỡng "Ông con" tiếp tục "ôm" đơn kiện mẹ GS Nguyễn Lân Dũng: Chữ Hiếu của ông Thành để đâu? Nhà sử học Dương Trung Quốc, Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tổng Biên tập Tạp chí Xưa & Nay bày tỏ quan điểm bất bình của mình trước vụ việc con kiện mẹ đòi tiền công nuôi dưỡng. Theo ông Quốc, hiện tượng này tuy là cá biệt khi đưa lên phương tiện thông tin đại chúng, nhưng những dạng con cái bất hiếu với bố mẹ trên thực tế hiện nay không ít... Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Trường hợp ông Thành đòi người mẹ bồi thường và tính toán chi li như vậy là mất đạo đức, là bất hiếu". ẢnhH.Nguyên - Ông đã từng nghe hoặc chứng kiến việc con kiện mẹ ra toà đòi tiền công nuôi dưỡng lần nào trong "lịch sử" chưa?- Vụ con kiện mẹ ra toà để đòi tiền công nuôi dưỡng ở xã hội hiện nay quả là chuyện “hy hữu”. Tôi nghĩ cơ quan pháp luật đã xem xét nhiều khía cạnh khác nhau và có một phán quyết hợp tình hợp lý. Đây là một hiện tượng gây bức xúc trong xã hội bởi vì nó nằm ngoài sự tưởng tượng của mọi người. Nói chính xác hơn, đó là sự suy đồi đạo đức xã hội trước sự phát triển của đời sống và là mặt trái của kinh tế thị trường. Rất đáng lo lắng. - Theo quan sát của ông thì liệu đây có phải là hiện tượng cá biệt trong mối quan hệ truyền thống gia đình Việt Nam xưa nay, hay đó là đại diệncủa tình trạng con cái bất hiếu với cha mẹ, anh em bất nghĩa với nhau... đang có chiều hướng gia tăngtrong xã hội hiện nay? - Thời phong kiến ngày xưa, tội nặng nhất là tội bất hiếu, sau đó là bất trung với triều đình, với nhà vua. Và chữ Hiếu chính là thứ để phân biệt giữa con người với con vật. Tội bất Hiếu là tội rất nặng. Trường hợp ông Thành đòi người mẹ bồi thường và tính toán chi li như vậy là mất đạo đức, là bất hiếu, thêm nữa người mẹ lại không còn khả năng lao động để gánh vác kinh tế gia đình. Bây giờ đặt câu hỏi ngược lại là ai trả cho người mẹ công ơn nuôi dưỡng người con trai trưởng thành? Nếu mà tính sòng phẳng, chi li ra thì tại sao không tính số tiền bố mẹ nuôi ông ta từ lúc lọt lòng, thậm chí các cụ ngày xưa còn tính từ lúc nằm trong bào thai… đến lúc trưởng thành. Riêng chuyện đó đã thấy bất Hiếu, bất Nghĩa rồi, chưa nói đến phi đạo đức. Vụ việc này cũng là một sự cảnh tỉnh cho toàn xã hội. Ngoài dư luận xã hội, cần tiếng nói của pháp luật, phải đặt lên “bàn” pháp luật. Tôi tin rằng, không có một pháp luật nào bảo vệ cho hành vi đó. Tôi cho rằng, hiện tượng này tuy là cá biệt khi đưa lên phương tiện thông tin đại chúng, nhưng những dạng con cái bất hiếu với bố mẹ trên thực tế không ít, cả những cuộc tranh giành tài sản trong gia đình, gia đình có cả cha mẹ, anh chị em ruột… ngày càng xuất hiện nhiều hơn. Và chính hệ thống pháp luật phải càng quan tâm đến những hiện tượng trên mà điều chỉnh cho phù hợp, đồng thời, tạo ra được dư luận xã hội nhằm lên án những hành vi đó. Chúng ta đã có một số chính sách đối với người cao tuổi trong đó có những người già không có được sự chăm sóc của con cái. Tôi nghĩ rằng ở đây cũng phải đề cập đến giá trị đạo đức, cho dù xã hội phát triển đến mấy nhưng người ta vẫn phải nhắc đến việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ… Có như vậy mới tạo được ra xã hội phát triển tiến bộ nhưng vẫn giữ được những giá trị đạo đức truyền thống. -Vậy theo ông, cần phải làm gì để ngăn chặn từ gốc những hành vi tương tự mà điển hình là vụ việc con kiện mẹ đòi tiền nuôi dưỡng ở Vĩnh Phúc vừa qua? - Phải tạo ra một diễn đàn để mọi người bày tỏ, tâm sự… để từ đó tìm ra sự đồng thuận. Chúng ta đang sống trong một xã hội trong quá trình chuyển đổi lớn, đương nhiên những giá trị đạo đức có thể thay đổi, vì vậy, trong từng vụ việc như vậy, chúng ta nên tìm ra một sự đồng thuận để có thể giữ gìn và phát huy được giá trị đạo đức xã hội. Tôi tin rằng giá trị đạo đức không bao giờ bị lạc hậu cả. -Cũng có ý kiến cho rằng, việc giáo dục đạo đức, lòng hiếu đễ cho con người phải bắt nguồn từ mỗi gia đình trước tiên? Ông nghĩ sao? - Có một câu nói dân gian của người xưa, nhưng rất sát thực là “Cái nợ đồng lần”, tức là các mối quan hệ luôn luôn được kế thừa. Chúng ta đối xử với cha mẹ mình như vậy, rồi thì con cái mình sẽ đối xử với mình ra sao? Chính cái mối quan hệ đó đặt ra cơ sở đạo lý giá trị lâu dài, tức là mối quan hệ nhân quả trong đời sống xã hội. "Gieo gió thì ắt gặp bão", có nhiều tác động dẫn đến đạo đức xã hội đang bị “xói mòn”, nhưng tôi cho rằng hiện nay cha mẹ không thường quan tâm nhiều đến con cái, mà họ thường quan tâm đến tạo điều kiện cho con cái phát triển. Và như vậy, những cái tích lũy tài sản thường thường được xã hội hoá nhiều hơn, đưa vào xã hội nhiều hơn. Đây cũng là một mặt tiến bộ. Vụ việc chúng ta đang bàn trên liên quan đến pháp luật thì toà án phải xét xử, mà Luật chưa hoàn chỉnh thì chúng ta phải hoàn thiện dần. Ngoài ra, chúng ta phải tạo ra toà án dư luận thì theo tôi mới có giá trị. Nguyên Bộ trưởng TN & MT Mai Ái Trực: Pháp luật không thể tiếp tay cho hành động bất hiếu Vụ việc con kiện mẹ đòi tiền nuôi dưỡng là biểu hiện xuống cấp về đạo đức trong xã hội. Từ câu chuyện này đặt ra yêu cầu cấp thiết là các gia đình phải quan tâm, giáo dục con cái ngay từ trong gia đình, từ thuở ấu thơ. Gia đình là cái nôi nuôi dưỡng từng con người, trong đó gương ông bà, bố mẹ là rất quan trọng. Con cái sẽ noi theo tấm gương đó để sống và nếu nhìn thấy bố mẹ đối xử với ông bà thế nào, thì con cái sẽ đối xử lại với bố mẹ như thế. Vụ việc nói trên, theo tôi, không phải là hiện tượng cá biệt về sự đối xử bất hiếu của con cái với cha mẹ đâu, mà đó chỉ là sự kiện điển hình, đặt ra cho xã hội phải suy nghĩ. Có hai việc cần làm rất quan trọng để giải quyết vấn đề trên, đó là gia đình phải quan tâm, giáo dục con cái từ cái lúc còn bé và thứ hai nữa là phải làm gương cho con, thiếu một trong hai vế đều hỏng, vì nếu chỉ làm gương không chưa đủ mà còn phải giáo dục, vì xã hội có sự tác động rất mạnh mẽ đến suy nghĩ, nhân cách của mỗi con người. Và tất nhiên, trong vụ việc này, pháp luật không thể tiếp tay cho hành động bất hiếu, trái đạo lý của ông Thành được. H.Nguyên(thực hiện) Nguồn: http://news.gate.vn
  5. Bà cụ bị con trai kiện: “Tôi từng bị con nhổ vào mặt" Nghe được thông tin "xưa nay hiếm", con trai kiện mẹ ra tòa để đòi tiền công nuôi mẹ lên tới gần 150 triệu đồng và đòi chia một nửa ngôi nhà tình nghĩa của chính quyền địa phương tặng cho mẹ liệt sỹ, nhóm PV chúng tôi đã có mặt ở thôn Suối Đùm, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm hiểu rõ sự việc "kỳ lạ" trên. Video clip: Con kiện mẹ đòi tiền công nuôi Nguồn: http://clip.vn Con trai đòi tiền công nuôi mẹ 150 triệu đồng Nguồn: vietbao.vn showarticletop("http://vietbao.vn","70128889") Thấy thiệt thòi trước việc mẹ đẻ được xã cấp nhà tình nghĩa, ông Ngô Xuân Thành (Vĩnh Phúc) đã kiện mẹ ra tòa để đòi tiền công nuôi dưỡng bà suốt 8 năm với tổng số tiền lên tới gần 150 triệu đồng. Ông Ngô Xuân Thành là con trai cả của hai cụ Nguyễn Thị Trước và Ngô Văn Thái ở xã Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1997, hai cụ làm di chúc giao cho ông Thành quản lý toàn bộ tài sản của các cụ khi các cụ qua đời. Tuy nhiên, năm 1998, cụ ông mất, ông Thành và cụ bà mâu thuẫn nên cụ bà đã xin hủy bỏ bản di chúc, không cho ông Thành hưởng số tài sản như đã ghi. Việc làm của cụ Trước là đúng luật và Tòa án cũng đã phán quyết như vậy. Cụ Trước là mẹ liệt sĩ nên năm 2005, địa phương quyết định xây tặng cụ ngôi nhà tình nghĩa. Ông Thành không cho xây dựng nhà trên đất của hai cụ mà ông cho rằng đang thuộc quyền sử dụng của ông, bất chấp việc Tòa án đã phán quyết hủy bản di chúc. Địa phương lại cấp cho cụ Trước 100 m2 đất ở chỗ khác và xây tặng cụ ngôi nhà tình nghĩa trị giá khi đó 17 triệu đồng. Tự thấy thiệt thòi, bức xúc, ông Thành liền kiện, đòi cụ Trước phải chi trả công ông nuôi dưỡng cụ từ 7/7/1997 đến ngày 8/7/2005 (ngày cụ chuyển sang nhà tình nghĩa ở). Ông Thành tính mỗi ngày 50.000 đồng, tổng cộng là 146 triệu đồng tiền nuôi cụ. Ông cũng đòi cụ Trước muốn ở ngôi nhà tình nghĩa thì phải trả cho ông 8,5 triệu đồng bằng một nửa giá trị ngôi nhà, vì theo ông đây là nhà chung của cả bố ông nên đòi được hưởng một nửa. Tòa dân sự TAND tỉnh Vĩnh Phúc vừa xử phiên phúc thẩm bác bỏ đơn kiện của ông Thành đòi cụ Trước bồi thường công ông nuôi dưỡng. Tòa cũng bác bỏ yêu cầu của ông Thành đòi mẹ mình phải chi trả cho ông giá trị nửa ngôi nhà tình nghĩa mà địa phương xây tặng cụ. Ông Thành đang dự kiến đòi lại "công bằng" ở cấp cao hơn. Theo TTXVN
  6. Chiếc yếm cổ truyền Yếm là trang phục cổ truyền, làm tôn thêm vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam và đi vào thơ ca, tục ngữ dân tộc một cách tự nhiên. Người Việt sống gắn với nền văn minh lúa nước, luôn mong muốn con đàn cháu đống để tăng sức lao động và điều đó đã chi phối quan niệm về vẻ đẹp. Người con gái được coi là đẹp phải có dáng lưng ong và biết tôn vinh cái lưng ong ấy bằng trang phục yếm - váy cổ truyền. Văn hóa mặc yếm cũng có từ đó. Yếm đi vào ca dao, dân ca... Vẻ đẹp của nó vẫn phát huy qua sự biến tấu của những mẫu áo người phụ nữ Việt Nam hiện đại. Các cô thôn nữ của làng quê truyền thống vùng châu thổ Bắc Bộ, không những khéo léo tinh tế trong nết ăn, nết ở, mà còn rất khéo léo tinh tế trong cách phục sức cho phần thân thể phía trên của mình là lưng và ngực. Cái đẹp chứa đầy nữ tính nhất, thuộc về thân người phía trên của phụ nữ Việt cổ, không hẳn là khuôn mặt tròn trịa trăng rằm, hay trái xoan, đôi mắt lá răm hay dao cau, cái miệng có đôi môi ăn trầu đỏ thắm, hay cổ ba ngấn kiêu sa, hoặc đôi vai xuôi tròn, mà chính là lưng được thắt đáy nhỏ nhắn, kiểu lưng ong. Và một người phụ nữ đã có lưng ong, ắt hẳn dáng người phải đẹp một cách ăn ý, đẹp trong toàn thể con người, dáng điệu và phẩm hạnh. "Những người thắt đáy lưng ong. Đã khéo chiều chồng lại khéo nuôi con", ca dao từng khẳng định. Việc coi nét đẹp nhất là lưng ong này cũng dựa trên văn hóa của một dân tộc mà trong vài nghìn năm đã sống, tồn tại và phát triển với văn minh lúa nước cổ truyền. Do là "dân ruộng thứ thiệt", nên chú trọng nhất đến sự sinh sản thịnh vượng của mùa màng, lúa gạo, hoa trái và nhân lực làm ruộng, tự nhiên mà theo tín ngưỡng phồn thực. Chẳng gì hơn đối với dân ruộng là thóc lúa đầy bồ, rau cỏ hoa trái trĩu xanh tươi, "con đàn cháu đống", bốn mùa "mưa thuận gió hòa", cho trời yên biển lặng, "chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa". Từ đó, lẽ dĩ nhiên, người Việt cổ trọng thị một thứ kiểu dáng của thân hình người phụ nữ với mâm cao cỗ đầy, lưng ong thắt đáy, với quan niệm "những người có kiểu dáng như thế, sẽ làm vợ đảm, mẹ hiền, chồng con được nhờ phúc ấm". Ảnh: hinhtran Phụ nữ Việt xưa thường tự tay cắt may yếm bằng chất liệu tơ tằm, vốn là kết quả của nghề tằm tang truyền thống, ra đời rất sớm với nghề trồng lúa nước. Sau khi phát minh ra yếm, thật thuận tiện, không bị bó chặt như cái áo lót cầu kỳ ren rua kiểu cách của thời nay, họ nghĩ cách mặc thế nào cho đẹp và phù hợp với từng hoàn cảnh xã hội. Khi ở nhà, không phải chợ búa, cấy hái, họ thường mặc yếm trắng - váy đen buông chùng, hoàn toàn để hở lưng, hai cánh tay, đôi vai... Khi ra đường, đi "công chuyện", họ mặc thêm áo cánh, phủ ngoài là áo dài vừa phải, có thắt lưng tôn vinh lưng ong. Đi chơi hội, du xuân, thăm nom nhau, ngày vui, ngày Tết, họ mặc cầu kỳ hơn, với yếm nhiều màu sắc. Trong đó, các sắc độ của màu đỏ được sử dụng nhiều nhất: đỏ điều, hoa đào, râm bụt, xác pháo, đỏ tươi, đỏ cam... Áo cánh khoác ngoài thường được chọn màu chói chang đến nhức mắt, như vàng chanh, cam chín, vàng hườm, cùng với thắt lưng xanh bỏ giọt đung đưa theo bước đi tinh tế, uyển chuyển của thân người. Để có một bộ cánh hoàn hảo, người phụ nữ thường dùng thêm đồ trang sức vàng bạc đeo cổ, cổ tay, tai và đội nón quai thao, hoặc đội khăn mỏ quạ, bên trong là tóc vấn... Dân gian ca tụng yếm trắng: Yếm trắng mà vã hước hồ. Vã đi vã lại anh đồ yêu thương. Đàn bà dễ được chú ý khi mặc yếm thắm, biết phô ra: hở lườn mới xinh. Không phải ngẫu nhiên, Nguyễn Nhược Pháp viết bài thơ Chùa Hương, để nhấn mạnh vào cái đẹp thiếu nữ xuân thì của người con gái lên chùa: Em đeo dải yếm đào - Quần lĩnh áo the mới - Tay cầm nón quai thao... Nhà thơ chân quê Nguyễn Bính thì tỏ ý không bằng lòng khi em gái thôn nữ ra tỉnh may đồ mới, bỏ lại cái chân quê của yếm áo cổ truyền. Ông đã vặn vẹo đau khổ: Nào đâu chiếc yếm lụa đào. Chiếc khăn lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?... Còn nhà thơ Hoàng Cầm viết riêng cho yếm một huyền sử, mang tên "Hội yếm bay" trong tập "99 tình khúc Hoàng Cầm" (Nhà xuất bản Văn học 1996): Ngất núi ô kìa anh vỗ nhịp Bay cờ triệu yếm ríu ran ca Ngũ sắc chen nhau cầu lễ hội Nuột nà cởi bỏ áo hoa khôi... Yếm để lại một văn hóa trang phục giàu nữ tính và thấp thoáng trong biến tấu đa dạng của các mẫu mã áo lót, áo dài, áo đầm của những người đẹp Việt Nam hiện đại. Lược theo Thể Thao và Văn Hóa Nguồn: http://www.baodatviet.vn
  7. Lang thang trong miền yếm đẹp Bắt đầu vẽ về đề tài người con gái Việt trong trang phục cổ truyền từ năm 1999, sau một thời gian dài lặng lẽ sáng tác và bán tranh ra… nước ngoài, một ngày kia, Phạm Mai Châu bỗng nhận ra rằng, hàng nhái tranh của anh đang bị bày bán đầy ở các Gallery… Yếm xinh Tác phẩm Yếm đào bên sen trắng của Phạm Mai Châu. Thời xưa, yếm thường được gọi là áo giao lãnh, vốn là thường phục của người đàn bà đất Việt. Yếm đã đi vào những câu ca dao, tục ngữ, những câu thơ lãng mạn, những câu chuyện tình vương vấn với những mảnh yếm thắm lụa đào của một nàng gái đẹp… “Một thương tóc bỏ đuôi gà/ Hai thương ăn nói mặn mà có duyên/Ba thương má lúm đồng tiền/Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua/ Năm thương cổ yếm đeo bùa…” Người đẹp nằm nghiêng Những người đẹp nằm nghiêng, nửa thực nửa ảo, gợi nhớ đến một thiếu nữ ngủ ngày của thi sĩ Hồ Xuân Hương làm cho quân tử dùng dằng đi chẳng dứt. Những chiếc lưng trần, chỉ có một sợi dây yếm hững hờ như không có. Những bờ vai thon, nuột nà, những ngón tay đẹp như bước ra từ nhạc của Trịnh Công Sơn:“Từng ngón xuân nồng, bàn tay em năm ngón anh ru ngàn năm…” Hoa và thanh âm không lời Tác phẩm Hoa chuối Người và hoa, khó có thể nói vẻ đẹp nào hấp dẫn hơn. Dường như cả hai cần phải có nhau, để tăng thêm sức gợi cảm và qua tên những loài hoa gợi tâm trạng của những nàng trong tranh. Sen tàn, sen nở, sen búp, sen trễ nải như chính người đang suy ngẫm, sen rơi từng cánh vương vất hiện hữu bên người. Cầm đàn, mà không đánh đàn, nhưng dường như, ta vẫn thấy đâu đây thanh âm của từng phím đàn. Đàn tính, đàn tỳ bà, đàn đáy, đàn nguyệt… được những ngón tay thon nâng niu. Hai vẻ đẹp, một của sự hiện hữu, một của vô hình, nhưng tất cả, đang tràn đầy cảm xúc trong tranh của Phạm Mai Châu. Những vạt áo dài tinh khôi, sống động, căng đầy sức xuân đời tươi trẻ. Vẻ đẹp của người con gái xưa, nhưng nét đẹp lại rất hiện đại. Một mình giữa Đẹp Nụ thanh xuân e ấp đằng sau mỗi chiếc yếm dường như mong manh mà ẩn chứa cả vũ trụ bí ẩn, thúc giục sự sống cần được cảm nhận và khám phá trong cõi tạm này. Áo giao lãnh, yếm thắm, váy mùa non thô nhuộm bùn, chiếc áo choàng cũng nâu non, tạo nên một cõi sang trọng, hiện đại, đẹp đến ngẩn ngơ. Với phong cách siêu thực gợi người xem cảm nhận cái đẹp giữa ranh giới hư ảo, Phạm Mai Châu, họa sĩ lãng tử tâm sự: “Tôi muốn miêu tả vẻ đẹp xưa của người con gái Việt trong trang phục cổ truyền, âm thanh của kiến trúc xưa, hoa lá cỏ cây, ánh sáng và không gian mây trời. Cũng giống như tâm trạng con người, cũng thay đổi, biểu hiện vui buồn. Sự hài hòa giữa ánh sáng, âm thanh của thiên nhiên và vẻ đẹp của con người là đề tài của nhiều tác giả và mỗi người thể hiện nó với cảm nhận và sự tưởng tượng riêng của mình”. Lan Anh HOẠ SĨ PHẠM MAI CHÂU Sinh ngày 24-12-1953 1971: tốt nghiệp hệ bảy năm trường Cao đẳng Mỹ thuật Công nghiệp Việt Nam 1989: tốt nghiệp Ontario College of Art, Toronto, Ontario, Canada, Chuyên ngành Mỹ thuật, Thiết kế nội thất, Công nghiệp và Đồ họa. Hiện đang công tác tại Khoa tạo dáng công nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội . Đã có triển lãm cá nhân và nhóm tại nhiều nơi: Hà Nội, TP.HCM, HongKong, Mỹ, Canada. Giải Nhì về tranh năm 1975 Giải Nhất về tượng năm 1977 ( Nguồn vtc.vn/ http://cuasotinhoc.vn)
  8. Ảnh sưu tầm từ internet.
  9. Yếm thắm mỏng manh Bộ văn hoá thông tin Cô thôn nữ tóc vấn khăn, yếm cổ xây hoặc cổ viền với quần sồi, quần lĩnh mộc mạc là hình ảnh tiêu biểu cho lối ăn mặc xưa. Chiếc áo yếm của người phụ nữ Việt Nam xưa trông thật đơn giản nhưng thực ra có rất nhiều loại. Chiếc áo yếm đã có mặt trong đời sống từ thuở vua Hùng dựng nước xa xưa với chiếc cổ xây được khoét tròn và viền một cách tỉ mỉ. Chiếc cổ áo tưởng chừng như quá đơn giản này lại tôn thêm vẻ đẹp của chiếc cổ thiếu nữ ba ngấn. Ngoài ra còn yếm cổ xẻ, mới hơn là yếm cổ kiềng. Những dải yếm với màu sắc khác nhau từ hai mép yếm buộc choàng sau lưng, dải thừa buông xuống váy. Các cô gái thị thành thích mặc yếm trắng, yếm hồng, còn ở nông thôn mặc yếm nâu, hoa hiên, khi lễ hội là yếm đào, yếm đỏ... Thông thường, yếm mặc trong áo buông vạt, nên một phần yếm trước phô thấp thóang sau hai tà áo. Hình ảnh người phụ nữ thôn quê giữa ngày hè nóng bức mặc yếm không, để cả phần lưng và lườn hở từng đươc coi là đẹp: Đàn bà yếm thắm hở lườn mới xinh. Nhưng áo yếm không chỉ đơn giản là một thứ trang phục mà còn có những ý nghĩa và giá trị về tinh thần cũng như nghệ thuật. Lãng mạn trong các câu ca dao, chiếc yếm ấm áp tình người đã trở thành một hình ảnh đẹp, trong sáng của tình yêu: Trời mưa trời gió kìn kìn. Đắp đôi dải yếm nghìn chăn bông. Tình yêu có biết bao điều kỳ diệu. Chính vì vậy, người ta không thể mang những thực tế logic thường ngày để đánh giá nó. Chỉ một đôi "dải yếm" thôi cũng có thể sưởi ấm lòng người vượt qua sự giá lạnh đáng sợ của mùa đông: Thuyền anh mắc cạn lên đây. Mượn đôi dải yếm làm dây kéo thuyền. Tính phi thực tế của cách nói ngoa dụ trong ca dao mới tài tình, mới tuyệt diệu làm sao khi chàng trai mượn đôi dải yếm để kéo đò mắc cạn còn nàng thôn nữ lấy đôi dải yếm để bắc chiếc cầu qua con sông tình cảm cho người mình yêu: Ước gì sông rộng chừng gang. Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi. Sự ngăn sông cách núi trong cách nói và trong thơ ca cổ xưa chính là sự xa cách của những tâm hồn, những nỗi lòng mong nhớ. Nỗi niềm trong câu ca dao cũng giống như một ước nguyện khó có thể và nói đúng hơn là không thể nào thực hiện được. Dòng sông sao có thể "chừng gang" và "dải yếm" sao có thể trở thành cây cầu. Đó là lối nói thậm xưng quen thuộc trong dân gian. Dòng sông này cũng có thể là tồn tại trên thực tế nhưng có thể chính là dòng sông ngăn trở trong lòng của mỗi người. Câu ca dao này đã vượt qua khuôn khổ của lễ giáo phong kiến. Chiếc cầu dải yếm là một sự tượng hình ý nhị đầy ẩn ý. Nó cũng như là lời bày tỏ tình cảm của một cô gái ẩn chứa sự thẹn thùng trong mỏng manh của "cầu dải yếm". Nó vừa rất gần mà cũng rất xa. Bước qua cây cầu "dải yếm" là ngưỡng cửa của những tâm hồn, của những thể xác đang rạo rực, đang yêu. Ý nhị và trữ tình hơn khi cô gái muốn mượn dải yếm nơi mình, ấp ủ tình cảm trong sáng muốn gửi gắm tới chàng trai: Trầu em têm tối hôm qua. Buộc trong dải yếm mở ra mời chàng. Không chỉ gợi cho người ra một vẻ đẹp cao quý, trong sáng mà hình ảnh "áo yếm" còn là một cái gì đó hết sức thực tế và trần tục. Yếm dùng để che ngực bởi vậy xung quanh chiếc yếm này là những câu chuyện trữ tình. Theo quan niệm xưa những màu chói như màu đào, màu thắm chỉ các cô gái bạo dạn mới dám mặc, và khi đã mặc thì đến nhà tu hành cũng không thể nào tránh khỏi những đam mê trần tục: Ba cô đội gạo lên chùa Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư Sư về sư ốm tương tư Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu. Ý nghĩa biểu cảm của chiếc áo yếm cũng giống như cái duyên đằm thắm, mặn mà của người con gái. Với một mảnh vải vát nhọn ở phía dưới được vòng quanh cổ và ngang ngực bằng những dây buộc mảnh, kín đáo mà hết sức tự nhiên chân thực nó đã góp phần tạo ra một cái đẹp hoàn hảo, làm say lòng bao nhiêu quân tử. Hơn thế, chiếc áo yếm còn hàm chứa trong nó bao nhiêu tình, bao nhiêu ý: Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím Em có chồng rồi trả yếm cho anh Hoa cúc vàng nở ra hoa xúc xanh Yếm em em mặc, yếm chi anh đòi Lời đối đáp của những người có tình, rất thật, rất nhẹ nhàng, mà lại bông đùa. Hoa tình yêu giờ đã đổi màu, không vàng, không tím cũng giống như tình yêu đã không cập được đến bến bờ hạnh phúc. Vẫn là người con gái ấy, vẫn áo yếm duyên dáng chỉ khác rằng hoa cúc đã màu xanh và chiếc áo yếm như lời ước hẹn nay đã thành lỗi hẹn. Sự trách móc mang chút dỗi hờn chưa dứt giữa hai người. Dải yếm mỏng manh không thể níu người ở lại nhưng cũng đủ làm vương vấn một chút tình. Con người mang theo cuộc sống trong mình luôn luôn chuyển động nhưng sự độc đáo và đặc sắc của áo yếm dường như là một vẻ đẹp vĩnh hằng. Yếm có mặt từ thuở trong nôi tới khi có sự gặp gỡ Đông Tây, để từ đó người phụ nữ lựa chọn, nhập thân chiếc yếm cổ truyền vào chiếc nịt ngực hiện đại. Ngày nay, trong cuộc sống hàng ngày, người ta không còn mặc yếm nữa. Nhưng không phải vì thế mà giá trị nghệ thuật của nó bị mất đi. Ta có thể thấy những cô áo yếm với áo tứ thân, nón quai thao tại những ngày hội hoặc nghe hát chầu văn. Vẫn là nó, vẫn đơn giản mà cuốn hút kỳ lạ không gì thay thế được. Và cũng chính vì vậy mà nó vẫn tiếp tục là nguồn cảm hứng sáng tác không chỉ cho thơ ca hiện đại mà còn cho các nhà tạo mẫu. Những bộ trang phục cách tân dựa trên hồn của chiếc áo yếm luôn luôn đầy sự khám phá và sáng tạo. Ở một nơi nào đó rất xa, có lẽ chiếc áo yếm vẫn còn tồn tại ngay cả trong cuộc sống thường ngày. Nguồn: http://tieulun.hopto.org
  10. Chiếc yếm và cuộc hành trình cùng thời gian Trong trang phục truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, chiếc yếm là cái được tôn vinh nhiều nhất trong ca dao và thơ. Chiếc yếm là báu vật của tình yêu, là “của làm tin”, là thứ gói ghém bao lời thề nguyền, hẹn ước. Trong ca dao, chiếc yếm còn được thăng hoa trở thành biểu tượng của giấc mơ hạnh phúc, của khát vọng tình yêu ngọt ngào, quyến rũ, đắm say. "Khăn nhỏ đuôi gà cao Em đeo dải yếm đào Quần lĩnh áo the mới Tay cầm nón quai thao" Khổ thơ miêu tả cô gái đương thì với trang phục "ngày xưa" của Nguyễn Nhược Pháp trong bài thơ Chùa Hương đã in sâu vào tâm trí bao thế hệ người Việt. Yếm đào, quần lĩnh, áo the, nón quai thao... bây giờ còn đâu? Và chúng ta hãy đến với chiếc yếm đào. Vào những ngày vui, những dịp hội hè, đình đám, những ngày tết đến, xuân về, ở vùng đồng bằng Bắc Bộ thuở xưa chiếc yếm đào cùng với cái áo tứ thân, cái khăn mỏ quạ, chiếc nón quai thao, chiếc dây lưng đũi lại tỏa sáng với sức cuốn hút kỳ lạ. Và nó đã trở thành biểu tượng của vẻ đẹp mộc mạc dịu dàng, e ấp và trong sáng, hồn hậu nhưng đầy sức hấp dẫn của người phụ nữ Việt Nam xưa. Hàng trăm năm đã trôi qua! Ngày nay, những dây lưng đũi, những áo tứ thân, những váy Kinh Bắc, những áo dài mớ ba, mớ bảy... đã gần như được cất vào bảo tàng dân tộc. Thỉnh thoảng, người ta mới được nhìn thấy nó trong những vở chèo, hay những bài ca, điệu múa dân gian. Thế nhưng, một điều thật kỳ lạ là, có một tấm áo mỏng manh, nhỏ bé, khiêm nhường, vẫn làm say lòng người. Đó chính là chiếc yếm. Vậy điều gì đã tạo cho chiếc yếm mong manh sức sống dị thường đến thế? Xin bắt đầu câu chuyện về chiếc yếm đào từ nơi nó được sinh ra. Tương truyền, chiếc yếm xuất hiện đầu tiên ở vùng Kinh Bắc, thuộc đất Bắc Ninh ngày nay. Mục đích ban đầu của nó là một tấm áo sinh ra để mặc lót, che cái phần gợi cảm nhất trên cơ thể người phụ nữ. Và như vậy, chiếc yếm có vai trò như chiếc “áo con” mà các cô gái vẫn mặc ngày nay. Chiếc yếm xưa có cấu trúc không cầu kỳ. Đó là một mảnh vải vuông, phía dưới được vát nhọn, vòng qua cổ và ngang ngực bằng hai sợi dây buộc mảnh. Trong những ngày vui hoặc các dịp hội hè, đình đám, những cô gái trẻ thường mặc yếm đào, yếm hồng, hoặc yếm thắm... khoác bên ngoài là chiếc áo tứ thân, hoặc áo dài mớ ba, mớ bảy. Còn trong các ngày lao động, họ thường mặc yếm trắng, yếm xám... khoác bên ngoài là chiếc áo nâu giản dị. Nhưng nhìn chiếc yếm đẹp nhất là khi nó được mặc mà không cần sự "hỗ trợ" trang phục khác. Một tấm lưng trần che hờ bằng một mảnh vải mỏng manh, vẻ đẹp vừa dịu dàng, vừa thuần khiết trong sáng, vừa trần tục và gợi cảm, đủ khiến bất cứ chàng trai nào nhìn thấy cũng phải xiêu lòng. Dấu vết lịch sử của chiếc yếm mà ngày nay người ta còn tìm lại được là ở ngôi nhà cổ số 38 phố Hàng Đào. Ngôi nhà này là trụ sở Ban Quản lý phố cổ Hà Nội, nhiều nét kiến trúc của nó đã bị sửa sang theo hướng hiện đại hóa nhưng may mắn vẫn còn giữ lại được một tấm bia đá ghi lại đây vốn là đình thờ cụ tổ của những người bán yếm lụa. Ngay từ cửa ra vào, người ta có thể bắt gặp dòng chữ đen nổi bật trên nền vôi vàng. “Đồng Lạc quyến yếm thị” nghĩa là: “Ngôi đình của chợ bán yếm lụa” (giáo sư Trần Quốc Vượng dịch). Qua những dấu tích để lại, chúng ta có thể biết rằng phố Hàng Đào xưa là chợ bán yếm lụa to nhất, nhộn nhịp và đông đảo nhất kinh thành Thăng Long. Và có lẽ cái tên Hàng Đào cũng ra đời và tồn tại từ thuở đó. Các cô gái ngày xưa từng có một ước mơ thật táo bạo: "Ước gì sông hẹp một gang. Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”. Vì sao cô gái không thích bắc cầu bằng một thứ khác? Dải lụa? Hay chiếc khăn buộc đầu? Mà cứ khư khư bắc cầu bằng dải yếm? Có lẽ... vì cả chàng trai và cô gái đều ngầm hiểu một sự thật bí mật, tế nhị mà vô cùng táo bạo rằng, dải yếm chính là thứ mà chàng trai khát khao được chiêm ngưỡng nhất trong trang phục, trên cơ thể người thiếu nữ. Theo thời gian, chiếc yếm càng đi vào thơ, vào nhạc, và đặc biệt tỏa sáng trong nghệ thuật nhiếp ảnh. Đỗ Lan Hương với bộ sưu tập ảnh yếm của mình đã vượt qua tất cả các tác giả khác để trở thành đại biểu Việt Nam duy nhất đi tham dự Hội nghị nhiếp ảnh Á - Âu, tổ chức tại Singapore tháng 6/2002. Và tại đây, bộ sưu tập của chị đã gây sửng sốt với bạn bè quốc tế. Bên cạnh những bức ảnh lộng lẫy, cầu kỳ, với nghệ thuật tượng trưng, siêu thực... bộ sưu tập ảnh của Lan Hương càng tỏ ra giản dị và thuần khiết. Bởi nó phù hợp với những bức tranh người phụ nữ Việt Nam xưa với dải yếm, trên nền của những mảng tường vôi bạc màu mưa nắng, những viên gạch, viên ngói phủ màu rêu xanh, những vườn cây, giếng nước, sân đình bàng bạc hắt lên một không gian xưa. Họ là hiện thân của vẻ đẹp truyền thống đầy nhân văn, ẩn chứa cả một nền văn hóa nguyên sơ, phong phú, hồn hậu và chân tình. Một cái đẹp chỉ có ở Việt Nam và chỉ bắt gặp ở những người phụ nữ Việt Nam. Đỗ Lan Hương kể lại, chị đã mất hàng tháng trời làm việc cật lực tại chùa Bổ ở Bắc Ninh, ngôi chùa mà theo chị còn giữ lại nhiều nhất những nét kiến trúc xưa cũ. Dễ hiểu vì sao, những tấm ảnh của Đỗ Lan Hương lại được chọn để trưng bày vĩnh viễn tại Ngôi nhà nhiếp ảnh Á - Âu. Sàn diễn thời trang cũng là nơi người ta được khám phá những vẻ đẹp vừa truyền thống vừa hiện đại về chiếc yếm. Rất nhiều nhà tạo mẫu thời trang có tên tuổi hiện nay như La Hằng, Tiến Lợi, Thu Hằng... đã lấy đề tài chiếc yếm làm nguồn cảm hứng sáng tạo cho các trang phục của mình. Tiến Lợi được nhắc đến nhiều với bộ sưu tập thành công của anh mang tên: “Sắc màu quê ngoại”. Ở đó, người ta bắt gặp rất nhiều màu tím biếc, tím hồng... màu truyền thống của chiếc yếm cổ đang lung linh tỏa sáng. Anh tâm sự rằng, “Sắc màu quê ngoại”, với anh, nghĩa là màu của bà và của mẹ, màu của quê hương, của tuổi thơ với những gì trong sáng nhất. Thông điệp mà anh muốn gửi gắm sau một thời gian dài mày mò, sáng tạo và tham gia những khóa học thời trang ở một số nước trên thế giới, là: “Tại sao các nhà thiết kế Nhật Bản tìm được chỗ đứng trên thời trang quốc tế bằng chiếc Kimono mà các nhà thiết kế thời trang Việt Nam lại không tự khẳng định vị trí của mình từ chiếc yếm cổ truyền”. Bây giờ, trong làng diễn thời trang, thỉnh thoảng người ta vẫn còn nhắc lại câu chuyện của người mẫu Trần Bảo Ngọc. Đoạt giải Hoa hậu qua ảnh báo Thế giới phụ nữ năm 2000, Trần Bảo Ngọc đã nhận được một phần thưởng là một chuyến du lịch sang Italia. Trước khi đi, chị đã băn khoăn rất nhiều về việc lựa chọn trang phục để mặc tại nước bạn. Sau nhiều trăn trở, cuối cùng, chị đã xếp trong vali của mình những bộ trang phục cách tân từ chiếc yếm đào và váy vùng Kinh Bắc. Chị đã hồi hộp và lo lắng suốt chuyến đi vì sợ trang phục của mình rất có thể trở nên lạc lõng. Nhưng thật không ngờ, trong những buổi dạ tiệc, dạ hội, trang phục của Bảo Ngọc đã gây sự thích thú và ngưỡng mộ với bạn bè Italia. Họ đã hỏi chị rằng: “Vì sao chị chưa một lần đến Italia mà có thể chọn một trang phục đẹp và phù hợp đến thế?”. Bảo Ngọc trả lời: “Tôi không hề biết đến điều đó. Trang phục tôi mặc hoàn toàn là yếm, áo váy truyền thống của Việt Nam đã được cách tân”. Và ngày hôm sau, dạo bước trên những con đường của thủ đô Roma, Bảo Ngọc ngỡ ngàng nhận thấy ngợp trời là những màu tím biếc, tím hồng và những kiểu dáng rất giống chiếc yếm cổ truyền của Việt Nam. Trang phục truyền thống mà chị lựa chọn lại hoàn toàn phù hợp với trang phục châu Âu những năm 2000. Thì ra, chiếc yếm cổ xưa lại mang trong nó một vẻ đẹp hiện đại và sức hấp dẫn không chỉ vượt thời gian mà còn vượt không gian nước ta, ra nước ngoài. Cuộc hành trình vượt thời gian của chiếc yếm, chính là cuộc hành trình của cái đẹp giản dị luôn luôn tỏa sáng Đỗ Thanh Hương Nguồn: http://antgct.cand.com.vn
  11. 38 Hàng Đào - đình chợ yếm lụa Hà Nội xưa. Mặc dù nhà sử học Dương Trung Quốc, người đang ở trong một ngôi nhà khá cổ ở phố Hàng Đường, đã từng nghi vấn liệu có hay không phố cổ Hà Nội, song thủ đô vẫn cứ phải tiến hành công tác phục chế những ngôi nhà lâu đời của mình. Năm 1995, Ban Quản lý các dự án thí điểm phố cổ, phố cũ, trực thuộc Sở Văn hoá Thông tin Hà Nội đã được thành lập. Năm 1998, ban được đổi tên thành Ban Quản lý phố cổ, do Phó Chủ tịch Thành phố làm trưởng ban, chủ yếu giải quyết những vấn đề phố cổ ở quận Hoàn Kiếm. Năm 1995, Ban đã đưa ra con số 1000 ngôi nhà cổ. Năm 2000, sau nhiều ‘vật đổi sao dời’, con số này đã sụt xuống đáng kể, có lẽ chỉ còn số trăm… Tuy nhiên, đến tháng 10 năm 1999, bà Tô Thị Toàn, kiến trúc sư, Phó Ban quản lý phố cổ Hà Nội cho biết: Mới chỉ có ‘độc trọi’ một ngôi nhà cổ số 87 phố Mã Mây, một con phố nằm theo chiều lượn của sông Hồng, là đã được cải tạo, tôn tạo, với kinh phí 330 triệu đồng. Năm 2000, tháng 4, một ngôi nhà cổ, ngôi đình thì đúng hơn, số 38 Hàng Đào đã được tôn tạo với chi phí lên tới 600 triệu đồng Việt Nam. Hai ngôi nhà tôn tạo với con số tiền tỷ này là do hảo tâm của thành phố Toulouse tài trợ, còn sức người, sức của giải toả hai ngôi nhà này là do Hà Nội tự chịu trách nhiệm. Thế là giữa một dãy phố buôn bán sầm uất nhất Hà Nội, bắt đầu từ Hàng Đào, Hàng Ngang, kéo dài đến Hàng Đường và mặt tiền chợ Đồng Xuân mới, đã xuất hiện ngay từ quãng đầu phố Hàng Đào một ngôi đình được phục chế với hệ thống cổng, sân, nhà hai tầng bên trong, các câu đối, các vách ngăn… cho đến sân sau trồng hoa cỏ hẹp và thắt lại theo địa hình đúng như ở các ngôi nhà hình ống vốn san sát bên nhau ở phố Hàng Đào. Bên trên cổng giữa, dưới mái cổng là một hàng chữ Hán đen nổi bật trên nền vôi vàng. Giáo sư Trần Quốc Vượng cho biết năm chữ này là ‘Đồng lạc quyến yếm thị’. Thì ra đây là ngôi đình của chợ bán yếm lụa ngày xưa của Hà Nội. ‘Đồng lạc quyến yếm thị' (từ phải sang trái) - Đình làng Đồng Lạc, ngôi nhà số 38 Hàng Ngang Hà Nội (Minh Thái) Đình Đồng Lạc - một di tích còn sót lại. Theo giáo sư Trần Quốc Vượng, ngày xưa Thăng Long là một thành phố sông, hồ. Nơi chúng tôi đang đứng đây, số 38 Hàng Đào, xưa có lẽ là một chợ bán yếm của một phường nghề chuyên nghề dệt nhuộm truyền thống. Dãy nhà số chẵn được xây dựng theo thuật phong thủy bao giờ cũng thấp hơn dãy nhà số lẻ. Ngày xưa, bên kia phố Hàng Đào có hồ Thái Cực thông với Hồ Gươm bằng một con lạch nhỏ, sau bị lấp lại thành phố Cầu Gỗ. Ngày xưa ấy hai phường Đồng Lạc và Thái Cực cùng chung một phố bán hàng, vậy nên Hà Nội ba mươi sáu phố phường đã có tình trạng ‘một phường hai phố’ và ‘một phố hai phường’. Các nhà tôn tạo ngôi đình Đồng Lạc số 38 Hàng Đào này đã hết sức chú ý đến cổng đình. Các cánh cửa của cổng ra vào vẫn được phân bổ theo nguyên tắc truyền thống: cửa giữa to cao, cửa hai bên thấp. Tất cả những chữ Hán ở cổng đình và ở một số câu đối treo ở gian trong, cách cổng đình một cái sân giời và ở trên gác hai của ngôi đình, đều được cán bộ Viện Hán Nôm đến dập chữ, rồi thuê thợ phục hồi như cũ. Vật thể quan trọng nhất còn lại của đình Đồng Lạc chính là một tấm văn bia gắn trên tường bên phải gần điện thờ trên tầng hai. Trăm năm bia đá cũng mòn, tấm văn bia dầu dãi nắng mưa rất khó đọc, tuy thế giáo sư Trần Quốc Vượng vẫn đọc được bốn chữ ‘Quyến yếm thị đình’, diễn Nôm là đình của chợ bán yếm lụa. Người soạn văn bia là ông Phạm Đình Hoãn, cử nhân, quê ở phủ Khoái Châu Hưng Yên. Đình này được lập ra từ thời Hậu Lê. Cũng theo giáo sư Trần Quốc Vượng, văn bia đã cho hay: đình Đồng Lạc được sáng lập từ thời Hậu Lê do ông Nguyễn Công Trung và bà Nguyễn Thị Từ dựng lên đầu tiên và đã từng bị hoả hoạn trước năm 1856. Thăng Long xưa từng rất phát triển nghề dệt lụa. Có thể hình dung ra một nửa phần đầu của phố Hàng Đào xưa là một chợ bán yếm lụa to nhất, nhộn nhịp, đông đúc người bán mua nhất ở Thăng Long. Thứ yếm dệt từ chất liệu tơ tằm được ưa chuộng bởi khi mặc người ta cảm thấy vừa dễ chịu thoải mái, lại vừa kín đáo. Tất nhiên, trước khi có văn hoá mặc yếm thì phải có nghề dệt vải cổ truyền trước đã. Theo truyền thuyết, nghề trồng dâu nuôi tằm ươm tơ lụa có ở nước ta từ thời Hùng Vương và công chúa Thiều Hoa con vua Hùng thứ 6 đã phát minh ra nghề dệt lụa. Chung quanh Thăng Long xưa nghề dệt vải lụa đã xuất hiện như một nghề với những làng dệt cổ truyền: làng Nghi Tàm, làng Dâu, làng Thúy Ái… Từ con tằm nhỏ đã cho ra các sản phẩm phong phú: tơ, lụa, lượt là, gấm, vóc, nhiễu, the, đoạn, lĩnh, dũi, địa, nái, sồi, thao, vân… Thế kỷ 18, người Việt còn dệt được các loại lụa đẹp từ các vân tinh xảo: vân tứ quý, vân hồng điệp, vân trúc điều, vân phương thọ, vân chữ hỉ, chữ triệu… Trong cuốn ‘Vương quốc Đàng ngoài’, tác giả Baron đã mô tả: “Kỹ nghệ dệt tơ lụa ở đây rất phát triển đến nỗi kẻ giầu, người nghèo đều mặc quần áo bằng tơ lụa”. Cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, giáo sĩ Bissachèse đến Thăng Long và các tỉnh Bắc Kỳ đã nhận xét: kỹ thuật của nghề dệt ở Thăng Long và Bắc Kỳ đã đạt tới mức độ cực thịnh. Ý nghĩa văn hoá của nhà 38 Hàng Đào. Trong tổng thể bộ trang phục phụ nữ xưa, cái yếm là đồ lót mặc trong cùng, ôm lấy khuôn ngực, che chắn và trang điểm bên trong, làm đẹp bên trong. Yếm cổ là một miếng vải đặt chéo lên ngực người phụ nữ, góc trên cổ khoét tròn. Yếm cổ xẻ khoét xuống thấp hơn, hình chữ V. Nếu sâu hơn nữa gọi là yếm cánh nhạn. Nhưng yếm được tạo dáng rất ý tứ, không bao giờ lộ vùng ngực thái quá như các loại yếm hiện đại bây giờ. Trong nếp nhà truyền thống, phụ nữ thường tự mua lấy tơ tằm mà may yếm cho mình. Thế thì tại sao Thăng Long Kẻ chợ lại còn xuất hiện cả một cái chợ dành cho phường bán yếm? Tôi dự đoán trong cái ngày huy hoàng yếm lụa xa xưa ấy, từ các chốn làng quê, những sản phẩm tuyệt hảo của tơ tằm đã đổ về đây để đàn bà con gái Thăng Long những ngày sắp lễ hội, rủ nhau đến chọn tơ tằm may yếm lụa, và không chỉ thế, họ còn sắm sửa lụa là gấm vóc để may quần áo tứ thân, năm thân, áo cánh, thắt lưng, khăn vấn… và kể cả đồ trang sức vàng bạc nữa. Ngôi nhà 38 Hàng Đào đáng được tôn tạo vì ý nghĩa văn hoá của nó. Nguồn: http://www.radioaustralia.net.au
  12. Nguồn: http://www.quehuong.org.vn/ Áo yếm - di sản trang phục Việt Nam Hình ảnh những cô gái thướt tha trong tà áo dài duyên dáng từ lâu đã trở thành biểu tượng của Việt Nam. Tuy nhiên, nhìn lại quá trình phát triển lịch sử trang phục dân tộc, Việt Nam không chỉ có áo dài mà còn có áo yếm - thứ trang phục không thể thiếu của người con gái xưa. Xưa kia áo yếm thường chỉ được gọi với cái tên nôm na là cái yếm, đó là thứ trang phục đã có từ bao đời nay và vẫn còn giữ được cho đến ngày hôm nay. Không chỉ vào chốn cung đình với các mệnh phụ công nương, cái yếm còn ra ruộng đồng "dầm mưa dãi nắng" với người nông dân và cùng với chiếc áo tứ thân, cái yếm theo chị em đến với hội đình đám, góp phần tạo nên bộ "quốc phục" của quý bà thời xưa. Cái yếm xuất hiện trong cuộc sống của người dân Việt Nam từ lâu nhưng mãi tới đời nhà Lý cái yếm mới "định hình" về cơ bản. Theo dòng lịch sử, cái yếm không ngừng biến đổi, nâng cao tính thẩm mỹ qua những lần cải tiến. Tuy nhiên, "cuộc cách mạng" của cái yếm chỉ xảy ra vào đầu thế kỷ trước khi cái quần kiểu Tây và cái váy đầm xoè xâm nhập vào Việt Nam. Ơ' thế kỷ 17, cái yếm vẫn chưa có sự thay đổi lớn lao về hình thức. Thế kỷ 19, cái yếm có hình vuông vắt chéo trước ngực, góc trên khoét lỗ làm cổ, hai đầu của lỗ, đính hai mẩu dây để cột ra sau gáy. Nếu cổ tròn gọi là yếm cổ xây, cổ nhọn đầu hình chữ V gọi là yếm cổ xẻ, đít chữ V mà xẻ sâu xuống gọi là yếm cổ cánh nhạn. Bước sang thế kỷ 20, áo yếm càng được sử dụng phổ biến với nhiều kiểu dáng và mẫu mã phong phú. Dành cho người lao động có yếm màu nâu dệt bằng vải thô. Người lớn tuổi mặc yếm màu thẫm. Con gái nhà gia giáo mặc yếm nhiều màu, trang nhã và kín đáo. Loại yếm "ỡm ờ", màu sặc sỡ, cổ cắm sâu trễ quá bờ ngực, "thách thức" chỉ dân "trời ơi" dạng Thị Mầu mới mặc. Thời kỳ "cách tân" này, cổ yếm thường được "dằn" thêm ba đường chỉ để "bảo hiểm" hoặc may viền lằn vải, thêu hoa cặp theo đường biên cổ. Một loại yếm hay được các cô gái sử dụng nữa là "yếm đeo bùa". Gọi là yếm đeo bùa bởi người mặc chúng thường để xạ hương vào trong túi vải nhỏ đeo cạnh yếm, đó chính là thứ vũ khí vô cùng lợi hại của các cô gái thời xưa... Không chỉ vậy, chiếc yếm còn làm nên những câu chuyện tình yêu vô cùng độc đáo. Xưa, các cô gái khi hẹn hò người mình yêu thường "ém" một miếng trầu trong chiếc yếm của mình, dân gian gọi đó là "khẩu trầu dải yếm". Có lẽ không có thứ trầu nào "linh thiêng" hơn loại trầu dải yếm này. Để trở thành "quốc phục" của quý bà quý cô trước khi chiếc áo dài ra đời, đi kèm với cái yếm là chiếc áo cánh khoác ngoài không cài cúc. Khi ra ngoài bên ngoài chiếc yếm phải có thêm chiếc áo dài, chiếc váy lưỡi trai bằng lĩnh, dải lụa đào hoặc màu mỡ gà thắt ngang lưng, cái xà tích bạc lủng lẳng, bộ "độ nghề" ǎn trầu bên phía cạnh sườn, chân mang dép. Chưa hết, phục trang ra đường còn phải kể đến là hai chiếc khǎn đội đầu: khǎn nhiễu (quấn bên trong) và khǎn mỏ quạ (trùm bên ngoài). Nếu đúng dịp hội hè đình đám các cô gái thường trang bị thêm cho mình chiếc nón quai thao, tóc vấn cao cài lược. Suốt chiều dài lịch sử, cái yếm đã đi vào "giấc mơ" của biết bao thế hệ mày râu. "Trời mưa lấy yếm mà che - Có anh đứng gác còn e nỗi gì?". Đáp lại, các nàng cũng chẳng vừa: "Ước gì sông hẹp tày gang - Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi". Cái yếm là thứ trang phục vừa kín đáo, vừa... “ỡm ờ” một cách nghệ thuật và độc đáo. Chả thế mà Thị Mầu nói với chàng nô:" Gió xuân tốc dải yếm đào - Anh trông thấy oản sao không vào thắp hương!". Thu Hương
  13. Thời Nguyễn, duy trì loại phấn nụ dùng cho cung đình ở Huế. Loại phấn này được chế từ nước mưa để trong, bột nhũ thạch cao loại hảo hạng (nhập từ Trung Quốc) trộn với 10 vị thuốc bắc, phải qua ngâm ủ, phơi nắng, phơi sương, chế biến theo công thức đặc biệt và lưu truyền bí mật. Phấn chỉ có 2 màu trắng và hồng. Phoenix đã thử nghiệm loại phấn này, phấn không giữ được lâu nhưng độ mịn và trơn của da thì rất rõ, lại thêm không bị mụn. Tuy nhiên, về lâu dài chắc chắn da sẽ bị sạm do chất cao lanh. Tục Ăn trầu của người Việt là để thay thuốc hơn là làm đẹp. Môi đỏ chỉ là hệ quả may mắn cho phái nữ. Khi ăn trầu, chất vôi, chất polyphenol trong lá trầu, chất tannin và alkaloid trong cau giúp làm thơm miệng, sạch răng và giúp tiêu khí, chống ợ chua, sôi bụng, trị giun sán .... Nước trầu chữa được sài đẹn. Trên thực tế, ăn trầu nhiều làm lở môi (nứt khe), thâm môi chứ không làm đỏ môi. Thời cụ Nguyễn Du đã ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc khá nhiều, trong khi đó mỹ phẩm của các triều đại Trung Quốc xa xưa đã rất phát triển. Mặc nhiên mỹ phẩm của Việt Nam thời đó cũng sẽ ăn theo ít nhiều. Trở lại thời hồng hoang, người Việt cổ được mô tả là tộc người hay vẽ lên cơ thể các hình với mục đích tạo uy lực và gây nhầm lẫn cho kẻ thù (thú). Các loại bột đá + các chất keo trong cây cối tự nhiên hoàn toàn có thể được khai thác để làm màu vẽ. Ở các tộc người chậm phát triển còn tồn tại hiện nay, đặc trưng này còn tồn tại rất rõ (các nước thuộc nam Phi, châu Úc...). Riêng vụ ăn chơi thì thời nào cũng vậy. Xã hội chứa nhiều giai tầng và ở đâu có hưởng thụ hoan lạc ở đó sẽ có "tệ nạn". Không chừng, đời xưa còn "ăn chơi" mạnh bạo hơn bây giờ vì điều kiện quyền lực và vật chất có thể đạt tối đỉnh. Trong sử sách cái xấu thường ít được lưu truyền.
  14. Anh (chú) Tầm nhìn mới quả là có vốn ngôn ngữ thật phong phú. Kính phục <_<
  15. Nguồn: dothi.net Tòa nhà Ngân hàng Trung Hoa Tòa nhà Ngân hàng Trung Hoa (Bank of China Tower - BOC) là một trong những tòa nhà được coi là biểu tượng của đặc khu hành chính Hong Kong. BOC nổi bật giữa khu trung tâm với kiến trúc khá bắt mắt và hiện vẫn là trụ sở chính của Ngân hàng Trung Hoa. Bank of China Tower tại trung tâm Hong Kong. Ảnh: Wikipedia BOC do KTS I. M. Pei thiết kế. Ông KTS người Mỹ gốc Trung Quốc từng đoạt giải thưởng danh giá Pritzker này là chủ nhân của rất nhiều công trình nổi tiếng thế giới như Kim tự tháp bằng kính tại bảo tàng Louvre Pháp, bảo tàng Lịch sử Đức, khu trưng bày nghệ thuật quốc gia Mỹ... Ông được coi là một trong những KTS thành công nhất thế giới trong thế kỷ 20. BOC tọa lạc ở số 1 Garden Road, gần nhà ga trung tâm MTR, khởi công năm 1985 và khánh thành ngày 17/5/1990. BOC có chiều cao 369 m (tính cả phần anten phía trên), với 70 tầng, sử dụng vật liệu chính là khung thép và kính, theo phong cách hoàn toàn hiện đại. Tổng diện tích sàn sử dụng là 100.000 m2. Đây là tòa nhà cao nhất Hong Kong và châu Á cho tới năm 1992. Đây cũng là tòa nhà đầu tiên ngoài biên giới nước Mỹ vượt qua độ cao 305 m. Hiện nay, BOC là tòa nhà cao thứ ba ở Hong Kong, sau Trung tâm tài chính quốc tế và Central Plaza. Thiết kế của tòa nhà là một hình ảnh biểu trưng, có hình dáng của một cây tre nhỏ đang vươn lên. Nó còn là biểu tượng của sức sống và sự thịnh vượng. Toàn bộ kết cấu được chống bởi 5 cột thép chính tại 5 góc của tòa nhà, với các khung hình tam giác biến đổi theo nhiều hướng khác nhau. Khối nhà phía dưới 47 tầng mở cửa rộng rãi cho công chúng. Phần trên, việc ra vào được kiểm soát rất nghiêm ngặt. BOC nổi bật so với những tòa nhà xung quanh, về cả chiều cao, thiết kế và chất liệu. Ảnh: About I. M. Pei đã bị phê phán rất nhiều khi chọn thiết kế cho BOC, nhất là khi xét đến lĩnh vực phong thủy. Kết cấu với các góc nhọn là điều rất kiêng kỵ trong phong thủy, vì theo nguyên tắc, nó sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và sự thịnh vượng của người cự ngụ. Những hình chữ X ở mặt ngoài tòa nhà cũng được coi là không tốt. Ông Pei đã phải sửa lại thiết kế rất nhiều lần, nhưng cuối cùng vẫn giữ nguyên những đặc điểm chính. Nhìn tổng thể, tòa nhà cũng có hình dáng như một lưỡi dao khổng lồ, cũng là điều không thể chấp nhận được trong phong thủy. Nếu quan sát từ trụ sở chính của HSBC Hong Kong, có thể dễ dàng nhận ra điều này. BOC được xây dựng trên mảnh đất có diện tích 6.700 m2 nơi trước đây là Murray House, một ngôi nhà có từ giữa thế kỷ 19 theo phong cách Victoria. Khu đất sau đó được thu hồi và Chính quyền Hong Kong bán lại với giá 1 tỷ đôla Hong Kong vào tháng 9/1982, thời điểm mà người ta vẫn bàn tán liệu trong tương lai Hong Kong có trở về Trung Quốc hay không. Mọi người nói rằng 1 tỷ đôla là cái giá quá hời vì trước đó, một mảnh đất có diện tích 6.250 m2 của cơ quan Hải quân, được bán với giá 1,82 tỷ đôla Hong Kong tiền mặt. Khu đất BOC phải trả lần đầu 60 triệu USD, phần còn lại trả góp trong 13 năm sau đó với lãi suất 6%. Thế nhưng, vụ mua bán này thực chất cũng không rẻ như người ta tưởng bởi chỉ số Hang Seng Index của thị trường chứng khoán Hong Kong đã giảm 80 điểm và đôla Hong Kong mất khoảng 1,5% giá trị chỉ một ngày sau vụ mua bán. Linh Hương tổng hợp
  16. Nguồn: dothi.net Trụ sở chính HSBC ở Hong Kong Tòa nhà của ngân hàng lớn nhất Hong Kong này nằm ở số 1 Queen's Road, ngay khu trung tâm. Tòa nhà do KTS nổi tiếng người Anh, Norman Foster, thiết kế và do Tập đoàn Xây dựng Wimpey Construction thi công. >> Tòa nhà Ngân hàng Trung Hoa Mặt tiền tòa nhà. Ảnh: Wikipedia Công trình nổi bật giữa Hong Kong vào buổi tối. Ảnh: Greatbuildings. Kể từ khi ý tưởng hình thành cho tới khi hoàn tất, công trình đã mất tới 6 năm (từ 1979 đến 1985). Tòa nhà cao 180 m với 47 tầng và 4 tầng hầm. Công trình đã sử dụng khoảng 30.000 tấn thép và 4.500 tấn aluminium, được thiết kế theo dạng module. Có rất nhiều phần đã được gia công tại Anh, sau đó chuyển qua đường tàu biển tới Hong Kong. Điều đặc biệt của tòa nhà là không có những cột, dầm bê tông hoành tráng phía bên trong như hầu hết các công trình nhà cao tầng khác. Người ta đồn với nhau rằng thiết kế đặc biệt đó cho phép công trình có thể tháo dỡ và chuyển đi nơi khác. Ở đây, có thể nhìn thấy những tấm gương khổng lồ ở khắp mọi nơi. Ánh sáng tự nhiên "được phép" tràn ngập mọi không gian. Những thang cuốn và các tấm gương khổng lồ trong tòa nhà. Ảnh: Greatbuildings Hệ thống cột được coi là có thể di động bên trong tòa nhà. Ảnh: Greatbuildings Tòa nhà là một trong số ít những cao ốc không có thang máy nâng từ tầng dưới lên đến tầng trên cùng. Thay vào đó, thang máy chỉ dừng ở một số ít tầng và các tầng được nối với nhau bằng những thang cuốn. Một phần hành lang và ban công mới của khu nhà do KTS Greg Pearce của One Space thiết kế. Pearce cũng là KTS chính của hệ thống ga tàu tốc hành RMT Hong Kong. Ý tưởng chính của tác giả là sử dụng hệ thống kính với phong cách tối giản, phần hành lang mới được thiết kế để tạo sự tương đồng cho thiết kế hiện có của Foster. Phía khu sau của tòa nhà là hai tượng sư tử khá lớn. Mặt chính của tòa nhà nhìn thẳng ra cảng Vitoria, không bị bất cứ một chướng ngại nào phía trước nên nơi đây được coi là có phong thủy rất tốt, điều mà cả người Trung Quốc (sở hữu) và người Anh (thiết kế) đều rất quan tâm. Ngoài ra, phía sau của tòa nhà còn có hai tượng sư tử rất lớn. Bức tượng này được đúc ở Thượng Hải năm 1935 sau đó được chuyển tới Hong Kong. Cả hai từng bị người Nhật nung chảy trong Thế chiến thứ hai nhưng đã được khôi phục sau đó. Xét về góc độ phong thủy, việc hai chú sư tử án ngữ ở cửa sau của tòa nhà có ý nghĩa giúp cho doanh thu của ngân hàng luôn ổn định. Tâm Anh tổng hợp
  17. Giới thiệu 01 bài thơ của tác giả Đông Hồ - người Việt Nam tử vì "thơ" Mua Áo Chiếc áo năm xưa đã cũ rồi, Em đâu còn áo mặc đi chơi. Bán thơ nhân dịp anh ra chợ, Đành gởi anh mua chiếc mới thôi! -- Hàng bông mai biếc màu em thích, Màu với hàng, em đã dặn rồi. Còn thước tấc, quên! Em chửa bảo: Kích tùng bao rộng, vạt bao dài ? -- Ô hay! Nghe hỏi mà yêu nhỉ! Thước tấc anh còn lựa hỏi ai Rộng hẹp, tay anh bồng ẵm đó, Ngắn dài, người mới tựa bên vai! (Sưu tầm)
  18. Một chút thư giãn cho đỡ "ngán". Ngọc Hoàng cũng chửi thề. Một nhà sư và một cao bồi chơi golf với nhau, mỗi lần đánh trượt, tay cao bồi lại chửi thề. Ông sư tức lắm, mấy lần nhắc nhở mà hắn vẫn quen miệng, cuối cùng ông quở hắn: - Anh mà còn chửi thề nữa là Ngọc hoàng sẽ giáng sét vào anh đấy! Ở gậy sau, tay cao bồi chưa dứt tiếng chửi thì một tiếng sét vang lên... Ông sư lăn ra chết. Trên trời vọng xuống tiếng lẩm bẩm: - Mẹ kiếp, lại đánh trượt rồi! (sưu tầm).
  19. Nguồn: http://www.vantuyen.net Chửi Tác giả: Trần Văn Giang MDC K68 1. Chửi Lời mở đầu: Bài này bàn về sự chửi và chửi thề. Mặc dù tác giả đã hết sức cố gắng tránh dùng những chữ nghĩa đen mà chỉ dùng ẩn ý, nghĩa bóng, hoặc nói trại đi, hoặc dùng chữ có thể hiểu ngầm được cho các ngôn từ chửi. Nhưng rất tiếc, và ngoài ý muốn, nhiều lúc vẫn không thể hoàn toàn tránh được các trường hợp phát âm hoặc chữ viết với ý nghĩa thô tục. Xin nhấn mạnh là nếu đề tài này không thích hợp với quí vị độc giả thì xin phép quị vị dừng ở đây và xin miễn đọc những dòng kế tiếp. Ngôn từ để chửi đã có từ thời tiền sử lúc con người mới biết cách nói chuyện với nhau; và tiếng chửi thề cũng đã tiến triển theo văn minh con người qua vài ngàn năm. Mọi người đều tự nhiên biết chửi thề chứ môn chửi thề không có dạy ở trường nào cả. Chửi thề được dùng như một trong những phương tiện để diễn đạt tư tưởng của con người từ hình thức thấp nhất thấy ở cuộc sống của giới bình dân ít học, 'dân ngu khu đen,' cho đến hình thức cao nhất trong các mẩu đối thoại của giới thượng lưu, quí tộc và ngay cả trong thơ, văn đã được phổ biến rộng rãi. Người ta nói âm nhạc là một ngôn ngữ quốc tế. Mọi người đều có thể nhận ra được ngay một bài nhạc ngoại quốc hay hoặc dở mặc dù chúng ta không hiểu lời của bản nhạc ngoại quốc đó như thế nào. Vấn đề chửi thề cũng y hệt như vậy. Sống ở đất Mỹ đã lâu, chúng ta thấy nhiều tiếng chửi thề trong Anh Ngữ nếu đem dịch ra tiếng Việt thì thấy nó cũng chẳng xa lạ gì cả. Như vậy, mặc dù địa thế cách xa nhau cả ngàn dặm, chữ dùng để chửi của tiếng Việt cũng tương tự như tiếng Mỹ. Thật lạ. Sự chửi thề có thể làm cho người nghe rất bực mình hoặc nổi giận nếu được dùng không đúng chỗ và không đúng lúc. Đôi khi tiếng chửi thề, nếu dùng đúng lúc và với một giọng đặc biệt, có thể làm người nghe buồn cười. Trong sự gặp gỡ đối thoại giữa các bạn bè thân thiết, tiếng chửi thề có thể xem như chấp nhận được. Nhưng tiếng chửi thề, mặc dù là nhẹ nhàng nhất, không thể chấp nhận được nếu phát rất tự miệng của một trẻ em! Ta thấy cũng cùng một tiếng chửi thề, nếu được nói ra từ một người làm quan lớn, hoàng gia Anh chẳng hạn, thì thấy có vẻ khôi hài; nhưng ngược lại nếu nó nói ra từ một anh chàng tài xế xe đò thì chỉ thấy cái ý nghĩa tục. Ngoài ra, cùng một chữ chửi thề nhẹ được xem như vô thưởng vô phạt hôm nay có thể trở thành không thể chấp nhận được trong tương lai. Giáo lý của các tôn giáo lớn đều đồng ý một điểm là: không nên chửi thề. Có tôn giáo còn cho việc chửi thề là một trọng tội, tuyệt đối không nên làm. Phật Giáo có về ôn hòa hơn, khuyến cáo đạo hữu là chửi thề sẽ làm nghiệp chướng của con người nặng nề thêm. Phật giáo cho rằng chúng ta chửi thề vì cái tâm của chúng ta không yên. Cứ mỗi lần chửi thề, chẳng khác nào như mình tự bỏ thêm một cục đá vô dụng vào cái túi hành trang của mình trên đường đi đến niết bàn. Nho Giáo khắt khe hơn một chút dùng chữ tượng hình để chỉ trích việc chửi thề. 'Hàm huyết phún nhân,' chửi thề cũng như mình ngậm máu phun vào người khác. Chưa biết người khác có bị ảnh hưởng gì không nhưng chính miệng mình đã dơ bẩn truớc rồi ['Tiên ố ngã khẩu'] Thiên Chúa Giáo có vẻ tích cực và rõ ràng nhất trong việc nhắn nhủ giáo dân đừng chửi thề. Thiên Chúa Giáo cho rằng chửi thề là lời của ma quỉ không phải lời Chúa. Các lời răn thấy rất nhiều trong thánh kinh. Trong 10 điều răn tối cao nhất của Thiên Chúa Giáo [Ten Commandments] , điều thứ 3 nói là : 'đừng gọi tên chúa một cách vô ích.' Nói nôm na là 'đừng chửi thề.' Ephesian 4:29 khuyên: 'Chỉ dùng miệng mình để nói ra những lời tốt đẹp, hữu ích cho người nghẹ' Đại để cũng nhắc nhở là 'đừng chửi thề.' Peter 3:10 tuyên bố là : 'Người muốn có đời sống tốt đẹp thì tránh dùng những chữ thô tục của quỉ.' Rõ ràng và xúc tích nhất là James 3:9-12 : 'Tại sao chúng ta lại dùng chính cái miệng đã đọc kinh cầu nguyện, vinh danh Chúa để chửi những lời thô tục? Nước mặn và nước ngọt đâu có thể nào chẩy ra từ cùng một con suối được?' Lại một lần nữa phúc âm dậy 'đừng chửi thề.' Trong thực tế, đời sống phức tạp làm cho chúng ta khó sống một cách thánh thiện ' có nghĩa là sống mà không chửi thề. Tao sao chúng ta phải chửi thề? Bởi vì chúng ta là con người với đầy đủ 'hỉ, nộ, ai', ố.' Thấy những điều trái tai gai mắt không thể bỏ qua được, không nhịn được. Mọi chuyện đều có nguyên dọ Nếu chúng ta tin tưởng là chúng ta có lý do chính đáng, thì chửi thề đuợc. Tôi có lần chứng kiến tận mắt một tai nạn đụng xe trên phố Bolsa. Một tài xế người Việt định vượt qua đèn vàng để đi cho mau. Nhưng chỉ trong một vài giây, anh chợt nhớ là tại ngã tư có đặt máy chụp ảnh để chụp những xe vượt đèn vàng. Vì sợ bị phạt nặng, anh đổi ý, thắng xe lại khi xe của anh đã lấn qua lằn dành cho bộ hành băng qua đường. Anh vội vàng gài số 'dé cho xe lùi lại một chút. Mọi chuyện dường như tốt đẹp nhưng có một điều tại hại là anh quên không đổi từ số 'dé về số 'đi tới.' Đến khi xanh bật lên lại, anh tống ga một cái thì xe của anh chạy giật lùi và đụng vào đầu xe của một anh chàng Mỹ trắng đang đậu cùng hàng ngay phía sau xe của anh. Anh chàng Mỹ bước ra khỏi xe nổi giận và gọi anh chàng VN là 'con của một con chó cái' [son of the *censored*]. Anh chàng VN nghe chửi thì cũng nổi nóng vì cả mẹ của anh lẫn anh đã bị anh chàng Mỹ nầy hạ thấp xuống ngang hàng với chó mẹ và chó con. Anh liền trả lễ lại bằng cách gọi anh Mỹ trắng là 'một tên vô lại loạn luân' ['Mother F+++++'] May mà người đi đường kịp thời nhảy vào ngăn cản sự ẩu đả và gọi cảnh sát đến can thiệp nếu không đã có chuyện 'phúc bất trùng lai họa vô đơn chí' xảy ra cho anh. Và rất có thể chiều tối hôm đó anh phải nằm trong nhà thương, hoặc trong nhà tù của County, suy gẫm lại sự đời! Có trường hợp ngoại lệ là các anh chàng du đãng băng đảng dùng chữ chửi thề như để phô trương cái nhãn hiệu của mình. Các tay anh chị dùng chữ chửi thề như là dấu chấm câu trong các cuộc đối thoại bình thường của họ mỗi ngày, không phải là lúc nóng giận - Mở đầu một câu bằng tiếng chửi thề, và kết thúc câu bằng tiếng chửi thề khác. Nhiều cuốn phim của Mỹ rất hay. Nhưng đạo diễn lại cố tình cho các tài tử dùng tiếng chửi thề rất tục để được xếp vào loại phim 'NC-17' hoặc 'PG' với mục đích cho phim được ăn khách hơn. Ngay cả các chương trình trên TV hàng ngày, các diễn viên cũng chửi thề rất tục một cách không cần thiết. Nhiều khi chúng ta không biết phải giải thích như thế nào cho con cái lúc cả gia đình cũng quay quần ngồi xem TV với nhau! Một trong những lời nói được trích ra từ những cuốn phim hay của Mỹ và được công dân Mỹ xử dụng, lập lại nhiều nhất - là một câu chửi thề nhẹ 'Frankly, my dear, I don't give a damn. ...' trong cuộc đời thoại của hai nhân vật chính, là nàng Scarlett và anh chàng Rhett Butler, của phim Cuốn Theo Chiều Gió' [Gone With The Wind] như sau: Scarlett : 'Rhett, Rhett... Rhett, if you go, where shall I gỏ What shall I dỏ' Rhett Butler : 'Frankly, my dear, I don't give a damn. ...' Người Mỹ còn dùng câu nói này và thay chữ 'damn' bằng những chữ có 4-mẫu tự [4-letter word] khác tục hơn. Cách chửi thề có thể phản ảnh trình độ hiểu biết, sự trí thức, của cá nhân nói ra chữ đó. Khi đối thoại, tiếng chửi thề nhiều khi được dùng để khỏa lấp sự dốt nát ' Có nghĩa là không thể tìm ra chữ nào thích đáng để diễn tả tư tưởng của mình. Ngoại trừ việc thuật lại cuộc đối thoại của các tay du đãng, văn viết mà có đệm chữ chửi thề thì mới thật đáng trách. Không như lúc nói chuyện, người viết có nhiều thời giờ suy nghĩ để tìm chữ cho đúng. Người đọc có thể bỏ qua lỗi chính tả, lỗi văn phạm, câu chuyện dở nhưng ít khi chấp nhận văn viết có chữ chửi thề. Trong văn học sử VN, có nhiều thi-sĩ chửi rất tài tình. Đứng đầu danh sách này có lẽ là Cao Bá Quát. Cao Bá Quát làm hai câu thơ trước khi bị xử tử chém đầu vì tội làm quân sư cho một đám loạn quân: "Ba hồi trống dục mồ cha kiếp Một lưỡi gươm đưa bỏ mẹ đời." Có nhiều văn bản ghi lại là 'đù chá thay vì 'mồ chạ' Theo tôi, vì luật đối chữ của hai câu thơ trên, chữ 'đù chá chỉnh hơn là 'mồ chạ' Sự sửa chữa ở đây có lẽ vì làm cho câu thơ bớt tục đi. Người chửi nhiều nhất qua thơ phải kể đến thi sĩ Trần Tế Xương. Trần Tế Xương còn gọi là Tú Xương, chỉ thi đậu được bậc tú tài. Vào cái thời của ông, đậu tú tài không đủ để ra làm quan. Ông chỉ là nho sĩ trói gà không chặt, không tìm được việc làm để nuôi vợ con mà phải sống rất nghèo khổ, sống bám vào người vợ đảm đang buôn thúng bán mẹt quanh bờ sông. Ông hận đời và lên tiếng chửi bởi tứ tung. Ông chửi Huyện Đ làm chủ khảo trong một cuộc thi của ông là gian dối và dốt như sau: "Thánh cắt ông vào chủ việc thi Đêm ngày coi sóc chốn trường qui Chẳng hay gian dối vì đâu vậy Bá ngọ + thằng ông biết chữ gì" (Chê Ông Huyện Đ) + Bá ngọ là tiếng chửi của nhà sư! Ông chửi một cậu Ấm tên là Kỉ con một ông nhà giàu như sau: "Ấm Kỉ, này đây tớ bảo này: Cha con mày phải cái này cay! Thôi đừng điếu tráp nghênh ngang nữa Thằng Tiểu Phù Long nó chửi mày" (Chửi Cậu Ấm) Hết chửi người, ông quay ra chửi đất, nơi ông cụ ngụ: "Có đất nào như đất ấy không? Phố Phường tiếp giáp với bờ sông Nhà kia lỗi phép con khinh bố Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng Keo cú người đầu như cứt sắt Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng Bác Nam hỏi khắp người bao tỉnh Có đất nào như đất ấy không?" (Đất Vị Hoàng) Dưới thời Pháp thuộc, chính quyền bảo hộ của Pháp đưa Nguyễn Văn Tâm ra làm Thủ Tướng bù nhìn, dưới sự lãnh đạo của vua bù nhìn Bảo Đại. Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm chỉ biết nhắm mắt nghe theo Tây chỉ đâu đánh đó chẳng làm được việc gì ích lợi cho dân cho nước cả. Khi về hưu, có một nho sĩ tặng ông một tấm liễn với 4 chữ như sau: 'Đại Điểm Quần Thần.' Câu liễn đọc qua có ý nghĩa ca ngợi tài đức của Thủ Tướng trong quá trình phục vụ vua và dân Việt! Thủ Tướng treo tấm liễn nầy giữa đại sảnh một cách hoan hỉ. Đột nhiên một buổi đẹp trời, Thủ Tướng vội vàng cho người xé bỏ tấm liễn đị Lý do là có một cụ đồ nho khác giải thích cho Thủ Tướng Tâm về bốn chữ trên cái liễn đó như sau: Đại là to. Điểm là chấm. Đại Điểm là chấm to. 'Chấm tó đọc ngược lại là 'chó Tâm.' Cái màn chửi xéo này thật ngoạn mục. Có nhiều chữ mang nghiã tục từ vùng này nhưng ở vùng khác lại không có nghĩa như vậy, Chẳng hạn như người Bắc đúng chữ 'Đồ' để chỉ bộ phận kín của phái nữ. Nhưng trong Nam chữ 'Đồ' lại được dùng một cách rộng rãi mà không có gì là tục cả. Gia đình tôi là Bắc Kỳ di cư vào Nam năm 1954, bà cụ tôi phải mất một thời gian thật dài mới quen được cách dùng chữ 'Đồ' của người miền Nam : ăn đồ, mua đồ, bán đồ, giặt đồ, cầm đồ..v..v Bây giờ chúng ta thử phân tích hai chữ 'Đồ Ăn.' Đồ-Ăn chỉ có nghĩa đơn giản là thực phẩm, một vật cần thiết cho sự sinh sống của mọi người và hẳn nhiên là không có gì tục cả. Tuy nhiên, nếu tách riêng chữ 'Đồ' ra khỏi chữ 'Ăn' và ráp chữ 'Đồ' với các chữ khác [hoặc ráp chữ 'Ăn' với các chữ khác], cứ như vậy, tự chúng ta có thể lập thành một tự điển chửi thề: đồ điên, đồ khùng, đồ khốn nạn, đồ ngu, đồ mất dậy ' nếu tên một súc vật hoặc tên một nghề nghiệp đê tiện, bất hợp pháp được thêm vào sau chữ đó thì sự sĩ nhục có thể gia tăng gấp bội: đồ chó đẻ, đồ ngu như bò, đồ voi dầy, đồ khỉ ' đồ ăn cướp, đồ ăn trộm, đồ đ+ ngựa ' Câu chửi thề bắt đầu bằng chữ 'Ăn' mới đưa sự sĩ nhục đi đến mức cao nhất. Chẳng hạn các chất cặn bã do cơ thể bài tiết ra mà đem ghép với chữ 'Ăn' hoặc là các bộ phận kín của nam nữ nằm ở các vị trí mà ánh sáng mặt trời không bao giờ chiếu vào, được đem ghép với chữ 'Ăn.' [Xin tự hiểu ngầm!] Nếu chúng ta chẳng may bị nghe chửi bằng những chữ 'Ăn' này, có thể là sắp đến lúc phải đánh nhau rồi. Tóm lại, đề tài chửi thề có thể viết thành nhiều cuốn sách. Tuy nhiên chữ chửi thề nếu được dùng một cách thích đáng hoặc có một mục đích rõ ràng nó có thể làm cho ngôn ngữ của chúng ta có thêm chiều sâu, thêm màu sắc và bớt khô khan. Ngoài ra, nếu chúng ta không thể tìm được chữ thích đáng để nói. Tốt nhất là đừng nói gì cả. Im lặng là vàng.
  20. Bài trả lời của GSVS Trần Ngọc Thêm trước các ý kiến khen chê tác phẩm "Cơ sở văn hóa Việt Nam" trong diễn đàn thuvien-ebook.com. Nguồn: http://thuvien-ebook.com/forums/archive/in...php/t-3440.html tnthem06-07-2007, 01:19 AMXin chào các bạn, Xin tự giới thiệu: tôi là Trần Ngọc Thêm, người đang được các bạn nhắc tới ở đây. Hôm nay tình cờ tôi vào Diễn đàn này. Và tôi rất lấy làm thú vị khi được đọc về mình ở đây. Vì sự kính trọng với cách đặt vấn đề rất khách quan và khoa học của điều hành viên, người khởi xướng chủ đề này là anh tovanhung, tôi sẽ lần lượt giải đáp những vấn đề khoa học và cả phi khoa học đã nêu ra ở đây. Cuốn Cơ sở văn hoá Việt Nam của tôi ra mắt chính thức lần đầu tiên năm 1995. Đúng là ý́ kiến thảo luận rất nhiều, khen, chê đều có cả. Chê (tôi ghi theo trí nhớ, theo thứ tự xuất hiện thì có đầu tiên là bài của Nguyễn Văn Dương (tạp chí Văn nghệ tp. HCM), rồi đến bài của Trần Mạnh Hảo (trên báo Văn nghệ). Bài của Trần Mạnh Hảo viết lời lẽ rất nặng nề, nhiều chỗ có tính thoá mạ (ai đã biết TMH thì không có gì lạ, vì phong cách của nhà văn này là như thế). Mà báo Văn nghệ lúc bấy giờ rất thiếu khách quan. Tôi gửi bài trả lời đến thì họ lờ đi không đăng. Thông qua những kênh thông tin không chính thức tôi được biết rằng vì họ đã trót đăng bài của Trần Mạnh Hảo là chiến hữu của họ rồi nên đành phải vừa chửi vừa bịt mồm nạn nhân. Sau có một nhà báo thấy vậy đã đăng một bài dài phỏng vấn tôi trên báo Văn nghệ nhan đề “Gặp gỡ tác giả Cơ sở văn hoá Việt Nam”. Bài phỏng vấn này giải toả được nhiều điều mà TMH đã nêu ra. Báo Văn nghệ đăng tiếp bài của Cao Tự Thanh. Và lại một lần nữa bài trả lời của tôi gửi đến báo Văn Nghệ tiếp tục rơi vào im lặng. Nghiên cứu văn hoá và thể nghiệm sự nghiên cứu này, tôi hiểu rất rõ rằng lối làm việc cảm tính, thiếu tinh thần khoa học là một đặc trưng phổ biến của cư dân nông nghiệp lúa nước. Nhưng đến mức điều đó gặp ở khắp nơi, từ người thất học đến người có học, từ người viết bài đến người có trách nhiệm đăng bài thì đáng buồn biết bao, và ta sẽ hiểu rõ vì sao VN chậm tiến. Sau bài của Cao Tự Thanh, tôi có biết đến 2 bài nữa thiên về "chê" sách của mình. Bạn doom (21-09-2006) khẳng định rằng người chê thì "đông như quân nguyên" liệu có cảm tính quá đáng hay không? Nếu thực như vậy xin bạn vui lòng cho tôi danh sách các bài này để tôi tìm đọc và học tập. Để khỏi mất thì giờ chạy theo trả lời từng bài, trong lần tái bản thứ 3 cuốn “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam” (năm 2001), tôi đã tập hợp các ý kiến phản bác của Nguyễn Văn Dương, Trần Mạnh Hảo, Cao Tự Thanh cùng một sô người khác và hệ thống hoá chúng lại để trả lời trong phần phụ lục của sách này. Những ý kiến trả lời đó đã đăng trên mạng http://www.vanhoahoc.edu.vn , thành 4 bài như sau: 1- Trần Ngọc Thêm. Đối thoại cùng bạn đọc: về khái niệm “văn hóa” và cấu trúc văn hóa (http://www.vanhoahoc.edu.vn/vn/Nghien-Cuu/Ly-Luan-Van-Hoa-Hoc/Nhung-Van-De-Chung/Tran-Ngoc-Them-Doi-Thoai-Cung-Ban-Doc-Ve-Khai-Niem-Van-Hoa-Va-Cau-Truc-Van-Hoa/) 2- Trần Ngọc Thêm. Đối thoại cùng bạn đọc: về hai loại hình văn hóa (http://www.vanhoahoc.edu.vn/vn/Nghien-Cuu/Ly-Luan-Van-Hoa-Hoc/Loai-Hinh-Van-Hoa-Va-Pho-Quat-Van-Hoa/Tran-Ngoc-Them-Doi-Thoai-Cung-Ban-Doc-Ve-Hai-Loai-Hinh-Van-Hoa/) 3- Trần Ngọc Thêm. Đối thoại cùng bạn đọc: về quan hệ văn hóa phương Bắc và phương Nam (http://www.vanhoahoc.edu.vn/vn/Nghien-Cuu/Van-Hoa-The-Gioi/Van-Hoa-Trung-Hoa/Tran-Ngoc-Them-Doi-Thoai-Cung-Ban-Doc-Ve-Quan-He-Van-Hoa-Phuong-Bac-Va-Phuong-Nam/) 4- Trần Ngọc Thêm. Đối thoại cùng bạn đọc: về vấn đề âm dương ngũ hành (http://www.vanhoahoc.edu.vn/vn/Nghien-Cuu/Ly-Luan-Van-Hoa-Hoc/Vu-Tru-Quan-Phuong-Dong-Voi-Ly-Luan-Van-Hoa-Hoc/Tran-Ngoc-Them-Doi-Thoai-Cung-Ban-Doc-Ve-Van-De-Am-Duong-Ngu-Hanh/) Những vấn đề Cao Tự Thanh đặt ra trong bài post ở trên đều có lời giải đáp trong 4 bài trên. Các bạn nào quan tâm, xin mời ghé đọc. Bạn flyingmagician (bài post 09-08-2006, 10:55 AM) có viết “nhớ mang máng là ông Thêm này xào xáo từ cuốn Việt nho cũng nhiều”. Xin trả lời: Thứ nhất là không có cuốn nào tên là “Việt nho” hết. Chỉ có một chủ thuyết như vậy của Lương Kim Định được trình bày trong nhiều sách khác nhau. Thứ hai, bất kỳ ai viết sách đều có trách nhiệm tham khảo các tác giả đi trước. Tôi tham khảo chỗ nào của ai thì dù là dẫn ý hay dẫn lời đều có chú xuất xứ đàng hoàng. Sau khi đọc sách của tôi, có rất nhiều bạn đọc (nay đều đã lớn tuổi) từng là học trò của GS. Lương Kim Định, đã liên hệ với tôi, ủng hộ tôi, nhưng̀ CHƯA CÓ MỘT AI kiện cáo tôi về chuyện tôi đạo văn thầy của họ. Xin hãy có trách nhiệm hơn với mỗi lời mình nói ra, cái gì biết rõ thì nói, cái gì không biết rõ thì hỏi chứ đừng nên nói "mang máng" như vậy. Lại càng không nên khẳng định võ đoán và vô trách nhiệm như bạn doom (21-09-2006). Bạn chocopie (21-08-2006, 08:23 PM) nhận rằng “năm 1999 mình là sinh viên của ông Thêm” và bạn đã viết: “Cuốn của Trần Ngọc Thêm vẫn còn là giáo trình của một số trường Đại Học, đáng buồn thay nó vẫn võ đoán như vậy, không có gì thay đổi”. Mỗi năm số người đã nghe tôi giảng (cả SV và các hệ khác) trung bình khoảng gần 1.000 người. Trong đó, khoảng 1/4 là những người thông minh, 1/4 là những người yếu kém, số còn lại thuộc diện trung bình (trung bình khá và trung bình kém). Cho dù chocopie thuộc loại nào trong số đó và thái độ của bạn ra sao thì tôi cũng luôn rất vui mỗi khi gặp lại học trò cũ của mình. “Ngày trước ông Thêm tự hào về cuốn này lắm, lúc đó mình chưa đủ hiểu biết để phản biện lại những gì viết trong cuốn sách đó, bây giờ đọc bài của các bạn mình mới hiểu ra được nhiều điều” (chocopie, 21-08-2006, 08:23 PM). Nói “tự hào” về cuốn CSVHVN thì hơi võ đoán quá. Nếu đáng tự hào thì tôi tự hào với “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam” là một cuốn chuyên luận (dành cho người nghiên cứu – còn CSVHVN là giáo trình dành cho SV). TVBSVHVN dày gần 700 trang khổ lớn, đầy đủ và chi tiết hơn cuốn CSVHVN, cho đến nay đã tái bản 5 lần (1996, 1997, 2001, 2004, 2006), đã được dịch ra tiếng Pháp (cũng đã xuât bản 2 lần - 2001, 2006). Bản dịch tiếng Anh sắp ra mắt. Bản dịch tiếng Đức đang thực hiện. Đã có lời đặt hàng xin dịch ra tiếng Ý và tiếng Nhật. Tôi không chủ quan nhưng phải công bằng mà nói rằng những nhà khoa học, những người xuất bản... trong nước và nước ngoài chắc không đến nỗi gà mờ để in đi in lại và dịch thuật một tác phẩm không có giá trị. Những người đọc trẻ và lớn tuổi, trong nước và nước ngoài, tuy không có đều kiện nghe tôi trình bày trực tiếp như chocopie nhưng chắc họ cũng không đến nỗi gà mờ để phí tiền mua một ấn phẩm không có giá trị. Điều đó có nghĩa là các cuốn sách của tôi, tuy lúc đầu có ý kiến thế này thế kia, nhưng cuối cùng ý kiến khẳng định đã thắng. Trong kết quả đó, có phần đóng góp của những người đã ra sức phủ định – những phê phán của họ, tuy về lý luận chung thì sai, nhưng họ đã phát hiện ra một số chi tiết tôi nêu chưa chính xác, một số chỗ nói chưa rõ ý, giúp tôi sửa lại cho hoàn chỉnh hơn. Ấy là chưa kể, việc chê bai thái quá thường đem lại một kết quả trái ngược, trở thành một lời quảng cáo hiệu nghiệm không kém gì khen. Điều tôi vừa nói cũng chính là câu trả lời cho băn khoăn “đáng buồn thay nó vẫn võ đoán như vậy, không có gì thay đổi” của chocopie. Cuộc đời không dài để cứ lấn bấn về một công trình đã xong, nhưng cái chính là tôi chưa bao giờ phải quay lưng lại với những đứa con tinh thần của mình. Bây giờ nhìn lại tôi thấy tổng thể hệ thống quan niệm của mình không hề sai, nhiều điều thậm chí đã được giới khoa học chứng minh đầy đủ hơn. Bản thân tôi vẫn giữ nguyên hệ quan điểm đó và đang phát triển trong những công trình sắp ra mắt. Bạn đọc có thể thấy phần nào sự phát triển ấy qua nhiều bài có trên http://www.vanhoahoc.edu.vn. Tôi luôn mong nhận được những ý kiến tranh luận, phản bác. Các bạn có thể trao đổi với tôi trên diễn đàn này hay diễn đàn của website www.vanhoahoc.edu.vn (http://www.vanhoahoc.edu.vn) (nếu trao đổi trên các diễn đàn khác thì vui lòng báo giùm cho tôi theo địa chỉ ngocthem@gmail.com ). Chỉ cần người phản bác có thiện tâm, vì mục đích khoa học trong sáng, tôi sẵn sàng – như người xưa hay nói – “rửa tai để lắng nghe”. Nếu do hiểu lầm mà phản bác, tôi sẽ trao đổi lại. Nếu phản bác đúng, tôi sẵn sàng tiếp thu với lòng biết ơn. Theo tôi, dù là người chưa quen biết hay học trò cũ, dù là bè bạn hay kẻ thù, thì khi đã lên Diễn đàn, tức là ra công luận, đừng nên xem đây như một nơi vắng mặt khổ chủ để mà “nói cho sướng miệng” “sau lưng”. Hãy nên có trách nhiệm hơn với người khác và với chính lương tâm của mình. Nếu đã từng là học trò thì trách nhiệm đó có lẽ lại càng nặng nề hơn gấp bội.
  21. Nhân trao đổi liên quan đến cuốn sách của GSVS Trần Ngọc Thêm, post thêm một bài tham khảo. Nguồn: thuvien-ebook.com Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm (Cao Tự Thanh) Ngay sau khi vừa được phổ biến rộng rãi, quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam (http://www.dunglac.net/tranngocthem/) của tác giả Trần Ngọc Thêm (http://www.dunglac.net/tranngocthem/) (Trường Đại học Tổng hợp thành phố HCM in, 1995) đã thu hút sự chú ý của nhiều người đọc sách. Bởi vì mặc dù chỉ là một tài liệu lưu hành nội bộ, đây lại là hóa thân của công trình Tính hệ thống của văn hóa Việt Nam - một đề tài khoa học cấp Bộ đã được nghiệm thu năm 1994 đồng thời là hậu thân của giáo trình cùng tên đã được đưa vào giảng dạy trong một số trường Đại học vài năm gần đây. Tác dụng xã hội của quyển sách do đó đã vượt khỏi phạm vi một công trình nghiên cứu văn hóa thông thường, nên việc nhìn nhận giá trị đích thực của nó là một điều cần thiết. Giở qua Cơ sở văn hóa Việt Nam, một người đọc bình thường cũng có thể thấy ngay rằng nó chứa đựng khá nhiều sai sót, trước hết do kiến thức cơ sở của tác giả về văn hóa và lịch sử Việt Nam. Báo Văn nghệ số 17 và 18 ngày 27. 4 và 4. 5. 1996 đã đăng tải một bài viết nêu ra hàng loạt sai lầm kỳ quặc loại cốm thóc nếp tẻ chiêm mùa trong quyển sách. Cũng có thể kể thêm nhiều ví dụ tương tự, chẳng hạn thực dân Pháp “lập ra Nam Kỳ tự trị” sau khi đánh chiếm luôn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ năm 1867 (tr. 385), “Kim Đồng thời đánh Pháp, Võ Thị Sáu thời đánh Mỹ” (tr. 398)... Tuy nhiên, các học giả lớn đôi khi không biết tới những sự thật nhỏ, vả lại đó là hệ thống những sai sót mà người đọc bình thường nào cũng có thể đính chính ngay không cần tới “cách tiếp cận hệ thống” hay “phương pháp hệ thống - cấu trúc” sang trọng như Trần Ngọc Thêm, nên chúng chỉ làm tổn thất uy tín của riêng tác giả chứ không phương hại gì tới khoa văn hóa học. Điều quan trọng đáng nói là bên cạnh cái kiến thức cơ sở cần phải đính chính và bổ sung khá nhiều ấy, Trần Ngọc Thêm còn có một kiến thức lý thuyết và lý luận nông cạn và chắp vá về văn hóa. Chính sự nông cạn và chắp vá này mới làm hại cho văn hóa học, với các sai lầm của quyển sách về cả nội dung khoa học lẫn định hướng thực tiễn, về cả phương pháp nghiên cứu lẫn thao tác chứng minh. Tình hình này thể hiện đặc biệt rõ nét ở hai chương đầu (Văn hóa học và văn hóa Việt Nam và Văn hóa nhận thức), mà trước tiên là ngay từ định nghĩa về văn hóa. Khởi đi từ cách hiểu “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”, Trần Ngọc Thêm đi tới kết luận văn hóa gồm bốn đặc trưng (tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh) và ba chức năng cơ bản (tổ chức xã hội, điều chỉnh xã hội, giáo dục) (tr. 20 - 24). Ở đây không phải chỗ để vạch chữ tìm nghĩa, nhưng tính chủ động, tính nhân đạo hay chức năng nhận thức, chức năng định hướng, chức năng tái tạo thế giới... của văn hóa là những điều cần đề cập mà chưa được đề cập hay đề cập chưa đúng mức trong quyển sách cho thấy Trần Ngọc Thêm chưa thực sự nắm vững bản chất của văn hóa. Bởi vì văn hóa là một hệ thống giá trị, nhưng nhìn từ một góc độ khác, nó còn là một thế giới quan (worldview) thể hiện và phản ảnh sự lựa chọn của con người trong những điều kiện sống nhất định, sự lựa chọn này biến hệ thống các giá trị văn hóa thành hệ thống chuẩn mực xã hội trước hết trong các hành vi sáng tạo. Và ngay định nghĩa nói trên cũng chưa chính xác. Các giá trị văn hóa luôn luôn được tạo ra trong những điều kiện cụ thể và một cách có mục đích, nên văn hóa không chỉ bao gồm các giá trị được tạo ra mà còn cả những cách thức sáng tạo và sử dụng các giá trị ấy. Dĩ nhiên những cách thức này cũng là những giá trị do con người tạo ra, nhưng đó là một loại giá trị đặc biệt, mang ý nghĩa định tính và đóng vai trò thước đo về trình độ phát triển của mọi nền văn hóa. Vì nếu phương thức phát triển của hệ thống các giá trị được tạo ra chủ yếu là thay thế, phủ định lẫn nhau thì của hệ thống những cách thức sáng tạo và sử dụng này chủ yếu lại là kế thừa, bổ sung cho nhau, nên nó lưu trữ nhiều kinh nghiệm và trí tuệ hơn đồng thời cũng có khả năng dự báo và định hướng cao hơn. Nói theo ngôn từ của các nhà ngôn ngữ học thì đây chính là các yếu tố ngữ pháp và phong cách của một nền văn hóa, cũng vận động và thay đổi theo lịch sử nhưng luôn mang tính ổn định, thống nhất cao hơn hẳn so với các yếu tố từ vựng và ngữ âm. K. Marx từng có một kết luận cần nhắc lại về vấn đề này “Những cá nhân biểu hiện đời sống của mình như thế nào thì họ là như thế ấy, do đó họ là như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ sản xuất cũng như cách họ sản xuất” (K. Marx và F. Engels, Tuyển tập, tập I, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 269). Cho nên với định nghĩa của Trần Ngọc Thêm, người ta sẽ không thấy được sự khác biệt văn hóa giữa hai cái ngạnh trên chiếc lưỡi câu thời tiền sử và thời hiện đại : trên phương diện là một giá trị được tạo ra thì cái ngạnh ấy đã được hoàn chỉnh hàng ngàn năm trước về mặt công cụ để đảm bảo chức năng giữ chặt con cá câu được của nó rồi, nên sự phát triển văn hóa ở đây chỉ nằm trên phương diện cách thức tạo ra, tức kỹ thuật chế tác công cụ ma thôi. Tương tự, hai ca sĩ tài năng đều có thể thành công khi trình bày cùng một bài hát nhưng chắc chắn họ sẽ đưa lại cho người nghe hai cảm xúc thẩm mỹ khác nhau : rõ ràng nhiều giá trị văn hóa đã được tạo ra ngay trong quá trình con người sử dụng - tiêu dùng các giá trị văn hóa. Tóm lại, định nghĩa nói trên chỉ mới đề cập tới cái lượng, cái hình chứ chưa giới thiệu được về cái chất, cái thần của văn hóa. Không lạ gì mà Trần Ngọc Thêm đã chạy theo số lượng khi nỗ lực giành quyền tác giả cho phương Nam, cho Bách Việt các giá trị loại Hà đồ, Lạc thư trên một đường hướng ít minh bạch và với những thao tác thiếu thẳng ngay kiểu nhập nhằng đánh đồng phương Nam với Việt Nam, Bách Việt với Lạc Việt. Ở đây cũng cần nhìn qua sự hiểu biết của tác giả Cơ sở văn hóa Việt Nam về những khái niệm loại âm dương, Ngũ hành, Bát quái..., vì giới thiệu chúng trong chương Văn hóa nhận thức, Trần Ngọc Thêm đã công nhiên gieo rắc nhiều kiến thức sai trái ngoài việc mặc nhiên coi chúng là uyên nguyên của truyền thống triết học và tư tưởng Việt Nam. Trước hết, hãy nói tới những kiến giải về âm dương. Triển khai hai phạm trù nhận thức này vào việc tìm hiểu lịch sử văn hóa, trong nhiều chương sau, Trần Ngọc Thêm đã nhiều lần nhắc lại về hai hệ thống văn hóa - nền văn hóa du mục (và gốc du mục) trọng dương thiên động phương Bắc và nền văn hóa nông nghiệp trọng âm thiên tĩnh phương Nam. Lối phân loại và khái quát lịch sử văn hóa của nhân loại theo một mô hình đăng đối như thế chính xác tới mức nào thì tạm thời chưa bàn, chỉ cần nói ngay rằng Trần Ngọc Thêm đã sai lầm ngay từ những kiến giải về âm dương với việc lấy hình thức làm loại hình, đem khái niệm làm thuộc tính. Ví dụ ở đoạn về “Hai quy luật của triết lý âm dương”, Trần Ngọc Thêm viết “Quy luật về Bản chất của các thành tố : không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong dương có âm và trong âm có dương”, rồi nêu ra hai yêu cầu khi xác định tính chất âm dương của một đối tượng là phải “xác định đối tượng so sánh” và “xác định cơ sở so sánh” (tr. 82). Chỉ có một điều gần đúng, vì phải được đặt vào ít nhất là một quan hệ với ít nhất là một sự vật, hiện tượng khác cùng hệ thống thì một sự vật, hiện tượng mới có thể được coi là âm hay dương, chứ tự thân nó thì chẳng âm cũng chẳng dương gì cả, cũng như Thái cực vốn vô đối nên không phân âm dương vậy. Nhưng thao tác gần đúng ấy lại bị “sai hóa” trong hệ thống cấu trúc kiến thức về âm dương của Trần Ngọc Thêm mà trở thành một lối lập luận bị động, đối phó vì bị gắn với một quan niệm sai lạc gán cho tất cả các sự vật trên đời hai thuộc tính âm hay dương hoặc ít hoặc nhiều! Chính vì vậy mà quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam đầy rẫy những lập luận ngụy khoa học và kết luận phi lịch sử kiểu “... tên gọi các đối lập cơ bản, thiết yếu (cũng tức là xuất hiện trước nhất) đều tuân theo thứ tự âm trước, dương sau : âm dương, vợ chồng, chẵn lẻ, vuông tròn... (tên gọi các đối lập không cơ bản như cha mẹ, ông bà... xuất hiện muộn hơn, do vậy đã chịu ảnh hưởng gốc du mục trọng nam, trọng dương tính)” (tr. 91). Thật không sao tin nổi rằng tiếng Việt có từ “vợ chồng” trước khi có những từ như “bố cái”,”cha mẹ”, và thật không rõ vì sao tổ tiên ta lại nói “đực cái”, “trống mái” mà không nói ngược lại cho nó trọng âm, trong khi chắc chắn họ phải có ý niệm về đực cái trống mái trước khi có ý niệm vợ chồng mà cũng không cần gì chịu ảnh hưởng của văn hóa gốc nào. Hơn thế nữa, nếu triển khai lập luận và kết luận ấy thì có lẽ ngay cả các nhà ngôn ngữ học cũng đớ lưỡi không nói được các từ ghép loại sông núi - núi sông, trắng đen - đen trắng, ngày đêm – đêm ngày, gạo thóc - thóc gạo là được cấu tạo theo thứ tự trọng âm hay trọng dương ! Bởi vì âm dương là một cặp khái niệm biểu kiến trong tư duy triết học của người phương Đông cổ, nó phản ảnh và khái quát hóa một cách đơn giản nhưng hàm súc sự khác biệt mang tính thống nhất biện chứng giữa các hiện tượng, lãnh vực và quá trình của thế giới chứ không phải là bản chất hay thuộc tính của các hiện tượng, lãnh vực và quá trình ấy... như lối nhận thức và suy diễn của Trần Ngọc Thêm. Về Ngũ hành thì phức tạp hơn, nên Trần Ngọc Thêm càng hiểu ít hơn. Quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam giảng giải về Ngũ hành sinh khắc theo kiểu trực quan giống hệt các sách Tử vi nhập môn, nhưng tác giả chưa hiểu được sự tinh tế của cổ nhân khi đặt ra các quan hệ ấy nên mới giải thích Mộc khắc Thổ như “cây hút chất màu của đất” (tr. 104). Nói như vậy thì là Thổ chứ đâu phải Thủy sinh Mộc? Quan hệ tương sinh tương khắc ở đây cũng là những phạm trù biểu kiến trong tư duy triết học của người Trung Hoa cổ, chúng phản ảnh sự mâu thuẫn có tính hiện tượng, bề mặt và sự thống nhất có tính bản chất, bên trong của giới tự nhiên. Nếu Trần Ngọc Thêm thực sự có một “cách tiếp cận hệ thống” thấu đáo và nhất quán thì sẽ thấy ngay rằng các quan hệ tương khắc là các quá trình cơ lý không đưa tới những biến đổi về chất (đất ngăn nước, nước dập lửa, lửa nung sắt, sắt chặt cây, rễ cây phá đất), còn các quan hệ tương sinh mới là các quá trình hóa sinh đưa tới những biến đổi về chất của Ngũ hành. Bên cạnh đó, để phản ảnh chi tiết hơn về giới tự nhiên, các quan hệ sinh khắc còn được chia ra làm hai dạng xuất nhập, chẳng hạn Kim khắc Mộc là Kim khắc xuất còn Mộc bị khắc nhập, Kim sinh Thủy là Kim sinh xuất còn Thủy được sinh nhập..., ngoài ra còn phải kể tới các quan hệ trùng hành kiểu “Lưỡng Hỏa Hỏa diệt, lưỡng Kim Kim khuyết, lưỡng Mộc Mộc chiết” mà có lẽ Trần Ngọc Thêm chưa biết. Nếu nhìn trên một diễn tiến tương sinh khởi từ Thổ (Thổ là mẹ muôn vật, Thủy là nguồn muôn vật, không có Thổ không sinh, không có Thủy không trưởng...) thì quá trình vận động của Ngũ hành là Thổ => Kim => Thủy => Mộc => Hỏa => Thổ... Tuy nhiên, Thổ sinh Kim nhưng khắc Thủy tức là khắc cái mà Kim sinh, Kim sinh Thủy nhưng khắc Mộc tức là khắc cái mà Thủy sinh...: rõ ràng người xưa đã thấy sự chuyển hóa giữa hai mặt thống nhất và đối lập trong quá trình vận động, phát triển của thế giới. Nhưng mô hình Ngũ hành còn thiếu sót trong việc phản ảnh một thế giới thống nhất, hoàn chỉnh, đa dạng và tự vận động. Thứ nhất, nó bao gồm năm yếu tố đẳng lập nên phải được thể hiện bằng một hệ thống không gian, không thể “nhất ngôn dĩ quán chi” nên lại tạo ra ý niệm về một thế giới bị chia cắt thành năm phần trong nhận thức, mặt khác thế giới ấy có điểm không nhất quán : hành Thổ về phương vị thì có vai trò định vị, thống thuộc các hành còn lại vì đứng ở trung ương còn trong quan hệ cả tương sinh lẫn tương khắc thì lại ngang hàng với bốn hành kia vì phải nằm trên một chuỗi năm điểm liên tục để đảm bảo tính liên tục trong sự vận động của thế giới. Thứ hai, sơ đồ tương sinh không ghi nhận được một cách đồng thời các quan hệ tương khắc (Thổ => Thủy => Hỏa => Kim => Mộc => Thổ...), bằng chứng là ngay cả Trần Ngọc Thêm với “phương pháp hệ thống - cấu trúc” được vài giáo sư khen nức nở mà cũng phải vẽ thành hai bảng riêng rời với sự bố trí Ngũ hành khác hẳn nhau chứ không hệ thống hóa và đồng hiện được trong một cấu trúc chung nhất (tr. 104), tình hình này không ăn khớp với quy luật trong khắc có sinh trong sinh có khắc nói theo triết lý âm dương. Thứ ba, các sơ đồ ấy không phản ảnh được đầy đủ thực tế, chẳng hạn Thủy khắc Hỏa nhưng gặp lúc “nước gáo lửa xe” thì kẻ bị cháy nhà chỉ còn cách bỏ của chạy lấy người, hay Thổ khắc Thủy nhưng vẫn có chuyện “Đê dài sắp vỡ, một vốc đất khó nỗi duy trì” nói như Nguyễn Trãi, mặt khác nhìn lên hai sơ đồ sinh khắc thì chỉ thấy Thổ là Thổ hay Thủy là Thủy, không có các dạng đan xen, phối hợp giữa năm hành kiểu “Thổ đới Thủy, Hỏa đới Kim” như giới Tử vi về sau tạo ra, tóm lại không làm rõ được sự khác biệt giữa lượng và chất, giữa nguyên lý và thực tế... Thứ tư, các quan hệ sinh khắc nói trên không thể hiện rõ sự vận động nội tại của sự vật, những thay đổi, chuyển biến mà đặc biệt là ở các quan hệ tương khắc chỉ được mô tả như các vận động có động lực bên ngoài. Chính các thiếu sót ấy đã hạn chế khả năng ứng dụng của thuyết Ngũ hành trong đời sống xã hội, trong việc tổng kết, lý giải và dự báo về hiện thực xã hội, và người xưa đã tìm tới Bát quái. Tới Bát quái thì phải thẳng thắn để nói rằng Trần Ngọc Thêm không biết gì cả nhưng lại viết khá nhiều và đặc biệt là như rất biết, đây dường như cũng là biệt tài của một số học giả đời nay... Truyền thuyết từ Bát quái Tiên thiên tới Bát quái Hậu thiên thật ra phản ảnh quá trình hình thành rồi định hình của Bát quái, chứ hoàn toàn không phải vì thay đổi mục đích sử dụng như Trần Ngọc Thêm viết (hay chép đâu đó) rằng với sự điều chỉnh để làm chính trị của Chu Văn vương, hệ thống Bát quái Tiên thiên phản ánh các hiện tượng tự nhiên đã trở thành mô hình Bát quái Hậu thiên phản ánh các hiện tượng xã hội (tr. 111 - 113). Từ khi hình thành, Bát quái luôn luôn hướng tới mục đích tìm hiểu hiện thực khách quan trong đó chủ yếu là đời sống xã hội. “Quái giả quải dã. Huyền quải vật tượng dĩ thị ư nhân, cố vị chi quái” (Quái (quẻ) là quải (treo). “Treo” các hiện tượng thiên nhiên lên để tỏ việc cho người, nên gọi là quái). Các tượng quẻ như Trời Đất Lửa Nước... là một cách nói hình tượng (về cả ngôn ngữ lẫn chữ viết thì Càn Khôn Ly Khảm đều không phải là Thiên Địa Hỏa Thủy), các danh hiệu Chấn Trưởng nam, Đoài Thiếu nữ... cũng chỉ là một cách nói hình tượng để dễ ghi nhớ thứ tự theo âm dương của sáu quẻ Chấn Khảm Cấn Tốn Ly Đoài, còn phương vị của Bát quái trong không gian cũng tương tự như Ngũ hành, đều là các quy ước mang tính biểu trưng. Nhưng điều quan trọng nhất mà Trần Ngọc Thêm không biết về Bát quái là nó không mô tả một thế giới năm thành phần như Ngũ hành. Nó coi thế giới là nhất nguyên nhất thể (Thái cực), các khác biệt của thế giới là do sự vận động nội tại tạo ra (Thái cực sinh Lưỡng nghi), và bản thân các khác biệt ấy cũng hàm chứa sự vận động nội tại phủ định chính chúng (Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, tức trong Thái âm có Thiếu dương, trong Thái dương có Thiếu âm)..., còn nó là các hiện thực khác nhau trong quá trình vận động nói trên. Sơ đồ Bát quái nhờ vậy đã giản lược được yếu tố không gian, nên Bát quái chỉ còn phải phản ảnh thế giới trong sự vận động của nó trên trục thời gian, hay nói gọn hơn, mỗi quẻ trong Bát quái là một thời điểm của hiện thực. Do không biết điều sơ đẳng này, Trần Ngọc Thêm đã trượt dài trên con đường sai lạc tới bảng so sánh Ngũ hành và Bát quái về lối tư duy với các cứ liệu (nhờ suy diễn mà có) là mỗi hành trong Ngũ hành “có nhiều nghĩa, vừa cụ thể vừa trừu tượng, có quan hệ tương sinh tương khắc, bao quát được cả trung tâm”, còn mỗi quẻ trong Bát quái “chỉ có một nghĩa, luôn rất cụ thể, không có quan hệ gì với quẻ khác, bỏ trống trung ương” (tr. 115). Nhưng không thể so sánh Ngũ hành với Bát quái kiểu ấy, vì nó cũng giống như nói “Anh ấy bị thương hai lần, lần ở chân nặng hơn lần ở Trường Sơn” vậy. Ngũ hành trước hết là các yếu tố tự nhiên, được khái quát hóa thành hệ thống khái niệm phản ảnh nhận thức của con người về các hiện tượng, lãnh vực và quá trình của giới tự nhiên, còn Bát quái là các khái niệm nhân tạo, được vận dụng như hệ thống phương tiện để nhận thức về các quá trình của thế giới, đặc biệt là của hiện thực xã hội. Cần nói thêm rằng phải hiểu một quẻ (cả đơn quái lẫn trùng quái) là một thời điểm biểu kiến của hiện thực thì mới đúng tinh thần “Dịch giả dịch dã” (Dịch là biến đổi) của kinh Dịch. Chính vì nhìn nhận Bát quái trên một sơ đồ không gian như Ngũ hành nên Trần Ngọc Thêm mới nói liều rằng mỗi quẻ trong Bát quái không có liên hệ gì với quẻ khác và Bát quái bỏ trống trung ương. Hệ thống các quẻ trong Bát quái liên hệ với nhau rất chặt chẽ, chẳng hạn mỗi quẻ (đơn quái) đều có thể biến thành bảy quẻ kia nếu đổi các hào dương thành hào âm và ngược lại, còn cái trung ương mà Trần Ngọc Thêm cho là thiếu ấy thì thật không ai chỉ ra được cho thời gian. Nếu nói cho thật đúng với kinh Dịch thì trung ương của Bát quái chính là cái không gian biểu kiến tức phần thể là đồ hình Thái cực Lưỡng nghi Tứ tượng, chứ Bát quái chỉ là phần dụng của cái thể Thái cực ấy mà thôi... Cũng có thể đọc thấy một vài đoạn viết liều lĩnh tương tự về Tứ đại (đất nước lửa gió), tóm lại về triết học cổ phương Đông thì sự hiểu biết của Trần Ngọc Thêm hiện tại may ra chỉ đủ để nghe giảng mà biết chứ chưa đủ để tự học mà hiểu, vậy lấy gì mà dạy cho các sinh viên bất hạnh phải học âm dương Ngũ hành Bát quái qua quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam? Sau chương Văn hóa nhận thức, quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam còn có một số chương mang tên Văn hóa tổ chức cộng đồng..., Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội, tóm lại tác giả chia văn hóa làm bốn phân hệ là Nhận thức, Tổ chức cộng đồng, Ứng xử với tự nhiên, Ứng xử với xã hội, trong đó những vấn đề như Phật giáo được xếp vào phân hệ Ứng xử với xã hội còn những vấn đề như Tín ngưỡng được xếp vào phân hệ Tổ chức cộng đồng. Thật là một cấu trúc có thể làm đảo lộn quan niệm của những người tìm hiểu văn hóa trong nhiều năm, có điều không thấy tác giả nêu ra căn cứ nào để lý giải về cách phân loại văn hóa không giống ai ấy. Con người không còn là con vật từ khi họ biết sản xuất, nghĩa là có ý thức sáng tạo ra những giá trị vốn không có trong tự nhiên. Và nếu lấy sự phân công lao động làm tiêu chuẩn phân loại thì có thể chia các hoạt động xã hội của con người ra làm năm kiểu (lãnh vực) cơ bản là sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần, quản lý, giao tiếp và tái sản xuất sinh học - xã hội. Sự nghiên cứu, phân loại văn hóa không thể tách rời năm lãnh vực hoạt động cơ bản này. Nhưng khởi đi từ một kiến thức thiếu sót về văn hóa học, Trần Ngọc Thêm lại đi tới một tiêu chuẩn phân loại độc đáo kiểu như xếp Phong tục vào phân hệ Tổ chức cộng đồng (Đời sống cá nhân) và xếp Nho giáo vào phân hệ Ứng xử với xã hội! Nhưng Nho giáo đâu phải chỉ là một cách ứng xử? Hệ thống học thuật - lý luận (Nho học) bao gồm vũ trụ quan, lịch sử quan của nó là một giá trị tinh thần to lớn, và hệ thống chuẩn mực xã hội - tam cương ngũ thường của nó đã thực sự là yếu tố cơ bản trong hoạt động quản lý xã hội của các quốc gia Nho giáo suốt nhiều trăm năm. Và cũng dễ thấy là Trần Ngọc Thêm không biết gì về Nho giáo từ nội dung học thuật tới lịch sử phát triển nên đã áp đặt cho nó những yếu tố “nông nghiệp phương Nam” theo một lối suy diễn rất kỳ lạ. Chẳng hạn câu Khổng tử trả lời Tử Lộ trong Trung dung theo đó ông chia sự mạnh mẽ ra “Nam phương chi cường” và “Bắc phương chi cường” rồi khẳng định người quân tử theo “Nam phương chi cường” thì Trần Ngọc Thêm hiểu đó là “cái mạnh của phương Nam” và “cái mạnh của phương Bắc” (tr. 349) rồi kết luận là Khổng tử đề cao văn hóa phương Nam! Nam phương, Bắc phương đây tức Nam diện (quay mặt về Nam, chỉ kẻ trên) và Bắc diện (quay mặt về Bắc, chỉ kẻ dưới), và hai khái niệm nói trên phải được hiểu là “Cái mạnh của người trên” và “Cái mạnh của người dưới” mới đúng với học thuyết của Khổng tử vốn chia con người làm hai loại là người trên – người dưới, quân tử - tiểu nhân, kẻ lao tâm - kẻ lao lực... Cái học về văn hóa của Trần Ngọc Thêm đại để chắp vá như thế, nên cứ khai thác một vài khía cạnh hình thức để tách sự vật ra khỏi hệ thống có thật của nó rồi ấn vào hệ thống của mình. Và hệ thống về văn hóa của Trần Ngọc Thêm ra sao? Nét độc đáo trong lập luận của Trần Ngọc Thêm là căn cứ vào triết lý âm dương mà chia văn hóa thành hai hệ thống du mục (và gốc du mục) trọng dương thiên động phương Bắc và nông nghiệp trọng âm thiên tĩnh phương Nam. Từ góc độ thao tác luận mà nhìn thì hệ thống ấy quả rất nhất quán và chặt chẽ, có điều nó chỉ phản ảnh kiến thức về văn hóa của tác giả chứ không phải về hiện thực văn hóa của loài người. Thứ nhất, nếu triển khai lập luận Bắc là du mục, Nam là nông nghiệp ấy thì văn hóa Việt Nam trước thế kỷ XVII sẽ mang tính du mục cao hơn văn hóa Campuchia, nhưng chính người Việt Nam chứ không phải người Campuchia đã khai phá thành công đồng bằng Nam Bộ, hay vào thế kỷ XVII - XVIII văn hóa Việt Nam ở Đàng Trong sẽ mang tính nông nghiệp cao hơn ở Đàng Ngoài..., mà mọi người đều biết vào thời gian này đời sống văn hóa - xã hội Đàng Trong lại chịu ảnh hưởng kinh tế hàng hóa tiền tư bản nhiều hơn ở Đàng Ngoài chứ không phải mang nhiều yếu tố nông nghiệp “trọng âm thiên tĩnh” hơn. Thứ hai, với việc lấy hình thức làm loại hình mà coi hoạt động chăn nuôi kiểu du mục không thuộc phạm trù sản xuất nông nghiệp như Trần Ngọc Thêm thì nông nghiệp chỉ còn là trồng trọt đồng thời phải kể thêm vài loại văn hóa khác như “văn hóa du nông” của nhiều tộc người du canh du cư ở miền núi hay “văn hóa đánh bắt” của các cư dân hải đảo... Thứ ba, chia văn hóa làm hai hệ thống có nguồn gốc Bắc - Nam, Trần Ngọc Thêm vô hình trung còn sa vào một loại quyết định luận địa lý về văn hóa, vì nhìn từ khía cạnh phương pháp nghiên cứu thì hệ thống hai nền văn hóa trọng âm - trọng dương ấy là một kết luận đã có trước khi chứng minh, không xuất phát từ thực tế văn hóa sử. Thứ tư, hệ thống của Trần Ngọc Thêm không những không lý giải được sự phát triển văn hóa trong những hoàn cảnh khác nhau về kinh tế, xã hội, khoa học, chính trị... mà còn không làm rõ được cả sự tiến triển văn hóa nói chung, vì với những dương biến thành âm, âm biến thành dương kia thì văn hóa sử chỉ còn là một vòng tròn không lối thoát chứ đừng nói tới việc bước qua kỷ nguyên Tin học... Tất cả những điều nói trên khiến Cơ sở văn hóa Việt Nam trở thành một công trình không có giá trị thực tiễn cũng như khoa học : mặc dù thừa hưởng và sử dụng kết quả đúng đắn và phát hiện quan trọng của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều ngành khoa học, nó cũng vẫn không tổng kết được, không lý giải đúng và dĩ nhiên càng không thể dự báo về văn hóa Việt Nam. *** Để chỉ ra đầy đủ và lý giải rốt ráo những sai lầm trong quyển Cơ sở văn hóa Việt Nam thì còn phải tốn thêm rất nhiều giấy mực, đây là chưa nói tới việc vì tiết kiệm thời giờ của người đọc mà bài viết này không đề cập tới những chứng cứ đáng buồn về sự liêm khiết trí thức của Trần Ngọc Thêm... Nhưng những điều đó nếu có cần thiết cũng không quan trọng. Điều quan trọng nhất là phải xử sự với quyển sách một cách xứng đáng. Nó phải được đưa ra khỏi hệ thống các giáo trình văn hóa học hiện hành trong các trường Đại học càng sớm càng tốt. Còn về trách nhiệm để cho một thứ khoa học phẩm nhiều sai lầm mà ít kiến thức như vậy được công nhiên lưu hành đến nay trong các trường Đại học thì xin nhường lời cho giới chức hữu quan. Cao Tự Thanh Tháng 7. 1996 Mời các bạn xem các bài trả lời của Tác giả Trần Ngọc Thêm: 1- Trần Ngọc Thêm. Đối thoại cùng bạn đọc: về khái niệm “văn hóa” và cấu trúc văn hóa (http://www.vanhoahoc.edu.vn/vn/Nghien-Cuu/Ly-Luan-Van-Hoa-Hoc/Nhung-Van-De-Chung/Tran-Ngoc-Them-Doi-Thoai-Cung-Ban-Doc-Ve-Khai-Niem-Van-Hoa-Va-Cau-Truc-Van-Hoa/) 2- Trần Ngọc Thêm. Đối thoại cùng bạn đọc: về hai loại hình văn hóa (http://www.vanhoahoc.edu.vn/vn/Nghien-Cuu/Ly-Luan-Van-Hoa-Hoc/Loai-Hinh-Van-Hoa-Va-Pho-Quat-Van-Hoa/Tran-Ngoc-Them-Doi-Thoai-Cung-Ban-Doc-Ve-Hai-Loai-Hinh-Van-Hoa/) 3- Trần Ngọc Thêm. Đối thoại cùng bạn đọc: về quan hệ văn hóa phương Bắc và phương Nam (http://www.vanhoahoc.edu.vn/vn/Nghien-Cuu/Van-Hoa-The-Gioi/Van-Hoa-Trung-Hoa/Tran-Ngoc-Them-Doi-Thoai-Cung-Ban-Doc-Ve-Quan-He-Van-Hoa-Phuong-Bac-Va-Phuong-Nam/) 4- Trần Ngọc Thêm. Đối thoại cùng bạn đọc: về vấn đề âm dương ngũ hành (http://www.vanhoahoc.edu.vn/vn/Nghien-Cuu/Ly-Luan-Van-Hoa-Hoc/Vu-Tru-Quan-Phuong-Dong-Voi-Ly-Luan-Van-Hoa-Hoc/Tran-Ngoc-Them-Doi-Thoai-Cung-Ban-Doc-Ve-Van-De-Am-Duong-Ngu-Hanh/)
  22. Nguồn: http://www.mottramdo.com/blog/viewblog/33729 Chửi bậy Từ thời xa xưa ... lâu lắm rồi ý , cái thời ông bà già bọn ấy cắp sách tới trường ý Người ta quan niệm : " Chửi bậy " là xấu , rất xấu , cực kì xấu , nói chung là xấu ... xấu , xấu lắm , xấu nhắm nhắm ! 1 học sinh giỏi , nhà giàu , đẹp trai ... cũng chỉ vì 1 câu vô tình chửi bậy mà có thể bị tẩy chay , không có cô gái nào muốn tiếp cận ... Vậy mà bây giờ , chửi bậy nó trở thành một cái gì đó khó có thể thiếu được đối với tất cả mọi người Từ các bác xe ôm vô cùng tôn kính đến các bác tài xế xe bus đức cao vọng trọng Từ các giám đốc công ti kinh doanh rau củ quả , thịt bò , thịt gà , thịt lợn , thịt chó , thịt nọ thịt kia , nói chung là thịt ở các vỉa hè , xó chợ ... đến các giám đốc công ti giải trí , kinh doanh "thịt" cho người lớn ... (thịt này mình cũng thích ) Từ các bác nông dân chân to đến các bác nông dân chân bé , kể cả các bác nông dân chân thối Từ già đến trẻ Từ các quán nước vỉa hè đến các quán karaoke ... Từ ngoài đường về đến nhà ... từ nhà lại đến trường học ... Từ học sinh đến sinh viên , kể cả giáo viên cũng dính chàm Từ trường chất lượng cao , "truẩn quốc gia" đến các trường vớ va vớ vẩn Từ các bạn trai đến các bạn gái Từ các bạn học ngu , chơi giỏi đến các bạn học giỏi chơi ngu ... và đặc biệt có cả các bạn học ngu , chơi cũng ngu. Tớ cũng xin được lấy dẫn chứng luôn.Hôm rồi thằng bạn call đi uống cafe Ngồi góc quán cà phê có mấy thằng tây xì xồ cái mẹ gì nghe như đàn gẩy tai trâu, ngứa kon dáy. Bỗng thấy thằng bạn bật dậy đi sang bàn bọn nó, vừa cười tươi vừa nói - Hey, hê lố, DM thằng tây Thấy nó ngẩn ra một lúc hỏi lại: - What’s your name? - My name’s Minh -DM thằng Minh. Bọn tây ở Hà Nội cũng nhiễm nhiều cái thói quen chửi bậy. Đợt tớ còn gặp 2 thằng tây đi xe đạp chỗ ngã tư Phạm Ngọc Thạch gặp nhau giơ tay chào nhau: - A..DM ri chác - DM mai kơn Cả đường quay lại nhìn với ánh mắt tò mò. Hỏi ra mới biết, các ku nói thế nhưng cũng chả hiểu nó có nghĩa <Nói bậy thì đi chỗ khác mà chơi> gì nữa. Vì thấy các bạn trẻ Hà Nội gặp nhau hay nói đm nên tưởng là 1 câu chào. Chửi bậy đã là một phần trong cuộc sống, chỗ nào cũng chửi được, đến trẻ con cũng chửi… thậm chí là rất phũ, nhất là cái bọn chọi con 10x, chửi những câu làm tôi giật mình: - ĐM mày làm bố mày chết rồi đấy - Cả nhà mày ý, mày có tinh chưa mà đòi làm bố tao. Tớ là tớ sợ nhất cái bọn 10x này này, bé mà láo, bé mà gấu, bé mà dâm… ôi thôi. Thói côn đồ và những hành vi thú tính tuổi học sinh giờ không phải hiếm. Với cái kiểu dạy con chửi bậy từ bé thì đấy là kết quả tất yếu. Hôm mình ra chỗ trường Đặng Trần Côn A chứng kiến tận mắt có bà bế đứa bé chỉ vào đứ bé khác đứng trước mặt: - ịt pẹ mày, chửi nó đi con… ịtttt…. pẹeee… màyyyy…. Dường như bây giờ chửi bậy trở thành một nét văn hóa của người Việt mất rồi Rút cuộc chửi bậy nhằm mục đích gì? Mà tại sao phải chửi bậy? Theo tâm lý học thì như thế này: Chửi bậy là một hiện tượng thường gặp trong xã hội , một kiểu phản xạ tâm lý để bầy tỏ thái độ ,hoặc là cách giải toả bức xúc ,khi chửi chủ thể thường đem những phạm trù sau ra để gắn với khách thể : Có 6 phạm trù hix chả biết có nhớ hết không . Thứ nhất ... Là hành vi tính dục mang tính bất thường ( bất thường ví dụ như ảnh hưởng đến danh dự loạn luân hay les or gay .._) Thứ hai ... là khuyết tật hay khiếm khuyết mang tính bẩm sinh hay có thể phát sinh trong xã hội ( bẩm sinh ví dụ như mắt bị lác , về khiếm khuyết phát sinh trong xã hội có thể như bị vợ bỏ , hay cắm sừng ... ) Thứ ba ... Những thứ mang tính đối lập và kị dơ với con người với chuẩn mực chung của cộng đồng ... Ví dụ như những danh từ bẩn thỉu nhơ nhớp , nhầy nhụa , những tính từ phản cảm với chuẩn mực xã hội như sự ngu ngốc , dâm đãng quá trớn , Hoặc một tư duy không phù hợp với chuẩn mực hiện tại , như khủng bố .... Thứ 4 .... Bôi nhọ những gì thiêng liêng , gắn bó với khách thể .. Thứ 5 ... Tâng bốc những điều sai sự thật , ca ngợi những hành động không theo chuẩn mực xã hội để mỉa mai chủ thể .. Thứ 6 ... Dùng ngôn ngữ body để chế diễu , ví dụ chổng mông vào mẹt , hay dùng trỏ ngón trỏ như kiểu mỹ ... Với mỗi tính cách người , mỗi vùng , mỗi giới người ta lại chửi khác nhau... Không phải ai cũng chủi theo kiểu vô văn hoá .. Thiếu văn hoá nhất là chửi theo kiểu từ 1 - 4 ... Ở VN rất hay chửi kiểu từ 1 - 4 .. Ở các nước hồi giáo kiểu thứ 4 rất ít , vì lý do tín ngưỡng người ta sợ xúc phạm đến bất kể những gì linh thiêng , dù sự linh thiêng đó không thuộc tín ngưỡng của mình . Hay dùng kiểu thứ 6 nhất là các nước phương tây .. .. Kiểu thứ năm rất được dân khối C ưa chuộng , và là kiểu có văn hoá nhất hehê , hay dùng trong ngoại giao , hay chính chị cũng thỉnh thoảng gặp , một số đối tượng còn làm thơ .... Ví dụ chửi đểu 1 số nhà máy lãng phí điện... " Mặt trời đỏ rực đằng đông , Nước ta không kém đèn hồng đằng tây .. ." Người ta có thể kết hợp các kiểu từ 1 - 6 lẫn lộn để bôi nhọ hay sỉ vả đối tượng , tuy nhiên khi dùng lẫn lộn đôi khi phản tác dụng , không làm cho đối tượng thấy bị sỉ vả mà còn làm người ta cười đểu mình... Tuỳ đối tượng và nghề nghiệp và giới mà chửi... Nói về chửi cũng khá nhiều chuyện để nói , mà đây là một vấn đề tế nhị ,Tớ xin nói để mấy ấy hiểu thêm về một khái niệm thôi.. Qua chuyện chửi nhau cũng có thể đánh giá đôi chút về con người , Hàng tôm hàng cá chửi nhau 1 kiểu , hàng cá với hàng điện tử chủi nhau 1 kiểu , mỗi người 1 cách... Và mỗi người có 1 cách ứng xử trước việc bị chửi ... Thường thì chó cứ sủa và người cứ đi , Nhưng sometimes cũng fải chiến chứ... không thì thiết thòi vãi <Nói bậy thì đi chỗ khác mà chơi> Ps: Viết xong Entry này, Chỉ ngồi chờ mọi người comment thôi đấy (Nhưng nhớ đừng chửi bậy. Tớ đau đầu lắm)
  23. Nguồn: http://5nam.ttvnol.com Người Việt chửi Nguyễn Thị Tuyết Ngân - Trần Ngọc Thêm (trích từ cuốn Tìm về bản sắc văn hoá VN của GSTS Trần Ngọc Thêm) "Nói đến chửi, người Việt Nam nào cũng nghĩ ngay đó là hiện tượng vô văn hoá, người ta liên tưởng tới những câu chửi tục, những lời chửi "rỉa róc", chửi "như vặt thịt" người ta. Thực ra thì nói vậy nhưng không phải vậy! Cuộc sống phức tạp vốn nhiều quan hệ nên hay có va chạm, xung đột. Mà đã có xung đột thì cần giải quyết. Người ta có thể hoà giải bằng "đối thoại", song cũng không ít người sử dụng "đối đầu". Mà đối đầu "hiền lành" nhất có lẽ là "đấu võ mồm", tức là chửi nhau . Việc chửi (nhau) thì dân tộc nào cũng có, thậm chí có từ rất lâu đời. Lối chửi phổ biến ở mọi dân tộc, mà người Việt cũng biết, là sử dụng các từ ngữ chỉ bộ phận sinh dục, bài tiết, quan hệ tình dục ... mà "ném" vào mặt đối phương. Họ gán cho đối phương là "họ hàng" của các loài vật mà theo họ có nhũng đặc tính xấu, bị xã hội chỉ trích: chó, bò, lợn (heo), rắn rết, giòi bọ, dê (xổm) ... Một số người mát tính hơn, họ chỉ hạ thấp đối phương 1 cách tương đối. Họ hạn chế ở mức độ vì đối phương với những thứnhư: giả nhân, ngợm, quỷ quái, yêu tinh ... Họ nêu những khiếm khuyết hoặc gán ghép cho đối phương những khiếm khuyết vật chất, tinh thần, xã hội, ví dụ: (đồ, con, quân, lũ, bọn) què, mù, ..., ngu, ngốc, điên, khùng ..., đểu cáng, ác độc, vô luân, bất hiếu, ...; lừa đảo, ăn cắp ... Các cách chửi này phổ biến nhưng không phải là tiêu biểu cho người Việt. Với bản chất của 1 dân tộc có nếp sống cộng đồng tình cảm, ưa tế nhị, truyền thống của VN là chửi có bài bản, có văn vẻ, có vần điệu và đặc biệt là có thể kéo dài tuỳ ý. Chúng tôi nhớ 1 bài thơ châm biếm ra đời vào khoảng năm 1974 mở đầu bằng mấy câu như sau: Chỉ vì mất một con gà Rêu rao bà chửi suốt ba ngày liền Chỉ sang tứ phía láng giềng Réo từ nội ngoại, tổ tiên mười đời ... Chỉ bốn câu này cũng đã đủ cho ta thấy phần nào lối chửi thâm thuý của người Việt! Phụ nữ VN vốn rất hiền lành, nết na, nhưng cũng không chịu để ai bắt nạt (ăn hiếp). Mất 1 con gà không phải là chuyện lớn, nhưng nếu cứ tiếp tục mất như thế thì không thể chấp nhận được. Bởi vậy mà phải ra tay "dằn mặt" để ho kẻ có tính xấu kia từ nay đừng có động đến gia đình "bà". Vơsi 1 dân tộc luôn coi trọng chữ tín và danh dự hơn hết thảy mọi cái ở đời thì cách tốt nhất là phải làm cho đối phương mất mặt trước cộng đồng. Thông thường, người ta tức lúc nào thì chửi lúc đó. Người VN truyền thống thì không như vậy, họ chờ khi có thật đông ngưwòi thì mới chửi và khi chửi lại cố tình đệm thêm "ới làng trên xóm dưới" hoặc "ới trời cao đất dày" như mời gọi thêm mọi người trong cả cộng đồng đến nghe. Trong lối chửi của người Việt, cái hấp dẫn người nghe không phải là những lời tục tĩu, mà là những lời xưng hô không theo lẽ thông thường. Bình thường người ta "xưng khiêm hô tốn", còn khi chửi thì người ta cố tình làm ngưwọc lại: " Cha bố tiên nhân thằng Cò! Cha bố tiên nhân thằng Cốc! Cha họ nội họ ngoại, họ gần họ xa, họ năm đời giở lên, họ ba đời giở xuống nhà thằng Cò, thằng cốc! Cha tam đại, tứ đại, ngũ đại mai thần chủ thằng Cò, thằng Cốc! Cha đứa già đứa trẻ, đưa nhớn đứa bé, đứa mẹ đứa con, đứa đỏ như son, đứa vàng như nghệ nhà thằng Cò, thằng Cốc, bảo nhau định vỗ nợ của bà! " (trích truyện Khao của Đỗ Phồn). Trong đoạn trên, không có từ ngữ tục tĩu nào mà ta vẫn nhận ra ngay đây là lời chửi. Người chửi đã tự tôn mình lên mức ngang hàng với cha của "bố tiến nhân" dòng họ nhà đối phương. Người Việt vốn rất kính trọng ông bà tổ tiên (thể hiện qua tục thờ cúng tổ tiên), nên không thể nào chịu được khi bị chửi "tên cái" (tên của bố mẹ, ông bà ... hoặc các từ thay thế kiểu như tam đại, tứ đại ... ). Có thể nói, đây là 1 nguyên nhân dẫn đến thói quen giấu tên của người Việt. Cái hay của các bài chửi kiểu này còn ở chỗ các ý được liên kết với nhau 1 cách hợp lý, lặp kèm với đối, đi với nhau chan chát: họ nội họ ngoại , họ gần họ xa , họ năm đời giở lên , họ ba đời giở xuống , đứa già đứa trẻ , đứa nhớn đứa bé , đứa mẹ đứa con , đứa đỏ như son , đứa vàng như nghệ Và đây nữa là lời chửi của 1 người đàn bà mất gà được ghi lại trong tiểu thuyết Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan: " Làng trên xóm dưới, bên sau bên trước, bên ngược bên xuôi! Tôi có con gà mái xám nó sắp ghẹ ổ, nó lạc ban sáng, mà thằng nào con nào, đứa ở gần mà qua, đứa ở xa mà lại, nó dang tay mặt, nó đặt tay trái, nó bắt mất của tôi, thì buông tha thả bỏ nó ra, không thì tôi chửi cho đơới! Chém cha đứa nào bắt gà nhà bà! Chiều hôm qua, bà cho nó ăn nó hãy còn, sáng hôm nay con bà gọi nó nó hãy còn, mà bây giờ nó đã bị bắt mất. Mày muốn sống mà ở với chồng với con mày, thì buông tha thả bỏ nó ra, cho nó về nhà bà. Nhược bằng mày chấp chiếm, thì bà đào mả thằng tam tứ đại nhà mày ra, bà khai quật bật săng thằng ngũ đại, lục đại nhà mày lên. Nó ở nhà bà, nó là con gà, nó vềnhà mày, nó biến thành cú thành cáo, thành thần nanh đỏ mỏ; nó mổ chồng mổ con, mổ cả nhà mày cho mà xem!Ới cái thằng chết đâm, cái con chết xỉa kia! Mày mà giết gà nhà bà thì một người ăn chết một, hai người ăn chết hai, ba người ăn chết ba. Mày xuống âm phủ thì quỷ sứ thần linh nó rút ruột ra ..." Ở đây người chửi vẫn dùng nghệ thuật lặp và đối là chủ yếu: làng trên xóm dưới , bên sau bên trước , bên ngược bên xuôi ; [h]đứa ở gần mà qua , đứa ở xa mà lại , nó dang tay mặt , nó đặt tay trái , nó ở nhà bà - nó về nhà mày ...[/h] - tất cả tạo nên 1 nhịp điệu như những bài thơ văn xuôi đầy cảm hứng sáng tạo và luôn được ngươi chửi thay đổi, biến báo tuỳ theo đối tượng nghe.Tuy rủa xả như vậy, nhưng đối phương vẫn không chửi lại hoặc dùng "võ tay chân" với người chửi, bởi vì toàn bộ bài chửi chỉ là những lời cạnh khoé, bóng gió, chả ai dại gì mà ra mặt. Mặt khác, việc chửi tuy không nêu đích danh nhưng nhờ một số chi tiết ám chỉ nên ai cũng hiểu người chửi muốn ám chỉ ai, nhờ vậy mà vẫn đạt được mục đích làm cho đối phương mất mặt trước cộng đồng và hả cơn giận trong lòng. Với cách diễn đạt bóng gió, đày tính ám chỉ về nội dung và có cấu trúc chặt chẽ, vần điệu, nhịp nhàng về hình thức, lối chửi của người Việt Nam đã bước vào hàng "nghệ thuật"; nó có lẽ không những không còn thuộc loại hiện tượng "vô văn hoá" nữa, mà đã trởthành 1 hiện tượng độc đáo góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hoá VN cổ truyền. Tuy rằng ngày nay "nghệ thuật chửi" này đang mai một dần, nhưng không phải ngẫu nhiên mà ở nơi này nơi khác nó đang được "sân khấu hoá". Nó là 1 bằng chứng độc đáo và hùng hồn rằng ngay cả trong lúc giận dữ, chửi nhau, con người cũng có thể giận dữ, chửi nhau "1 cách có văn hoá"."
  24. Nếu là quả đồi thì có lẽ không đúng. Chỗ này phải có đất ẩm, những cây bụi (nếu cây có khô héo thì là do nắng nhưng bản chất khu đó phải có ẩm của nước). Phoenix nghĩ, phần hài cốt không nằm tại khu vực tọa độ nơi hy sinh như đang biết. Có thể nó lệch sang phía khác hoặc ở hẳn chỗ khác.
  25. Ta là ai? Nguồn: http://dongtac.net Thứ tư 7, Tháng Ba 2007 Mức độ viếng thăm : 1% Ảnh bên: Tượng chim (Việt?) bằng đồng, khoảng 5600 TCN (Bảo tàng Di chỉ Sanxingdui ở Trung quốc) Tiên tổ người Việt Nam lần đầu tiên trả lời câu hỏi “Ta là ai?” trong bài thơ thần bất hủ: Nam quốc sơn hà nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Sách trời (thiên thư) ở đây nhiều khả năng là Thượng thư, tương truyền do Khổng Tử san định. Phần Đại truyện, Thượng thư chép: “Năm Tân Mão đời Chu Thành Vương (1063 – 1026 TCN) có Việt Thường Quốc phía nam Giao Chỉ đến kinh đô nhà Chu giao hảo, tặng chim bạch Trĩ”. Nam Man truyện trong Hậu Hán thư cũng viết đại ý như vậy: “Giao Chỉ chi nam hữu Việt Thường Quốc. Chu công cư nhiếp lục niên, chế lễ tác nhạc, thiên hạ thái bình. Việt thường thị dĩ tam tượng trọng dịch nhi hiến bạch trĩ”. Trĩ là một loài gà rừng có lông đẹp. Khai phím điện não đầu xuân Ất Dậu, tôi muốn đưa ra cách hiểu mông muội của mình về “Việt Thường Quốc” - 越裳国. Sử cũ của người Việt rất bất nhất: An Nam chí lược của Lê Tắc (1335) xem Việt Thường thuộc Cửu Chân, tức Thanh Hóa ngày nay. Đại Việt sử lược (1388) xếp Việt Thường trong 15 bộ lạc xưa của Việt Nam. Đại Việt sử ký toàn thư (1697) coi chữ Việt trong Việt Thường là cội rễ của tên gọi Đại Việt sau này, Giao Chỉ cũng như Việt Thường đều thuộc Bách Việt, Châu Dương. Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ (1775) cho rằng Việt Thường là 1 trong 15 bộ của Văn Lang và diễn giải nước Việt khi đến giao hảo với nhà Chu tự xưng là Việt Thường. Khâm định Việt sử (TK 19) định vị Việt Thường thuộc Thuận Hóa, miền trung Việt Nam, cũng là 1 trong 15 bộ của nước Văn Lang. Như đã tiền luận ở các bài viết trước tại talawas, Giao Chỉ đầu thời Chu là vùng Đan Dương (hiện thuộc Hồ Bắc, Trung Quốc). Người Lạc Việt gọi tổ quốc, gọi mảnh đất mình sống là Đất Nước, hoặc Nước. Người Trung Nguyên dùng Hán tự ký âm Đất Nước thành Âu Lạc hay dịch nghĩa Nước là Quốc. Vậy Việt Quốc có thể hiểu là Nước Việt, là Lạc Việt. Vậy thì Việt Thường Quốc có liên quan đến Lạc Việt hay không sẽ nằm trong ngữ nghĩa của từ “Thường”. Ai cũng biết "thường" thuộc bộ y mang nghĩa sơ khai là cái "quần". Cho nên tôi đoan nghi chữ "thường" mà cổ văn Trung Hoa gán thêm cho người Việt chính là tấm "khố" đặc trưng của văn minh Lạc Việt, của người Văn Lang và hiện nay nó vẫn minh diện trên trống đồng. Trong chiều hướng này, "Việt Thường Quốc" là Nước Việt (Lạc Việt), nơi có những con người mặc khố và ở trần. Tục đóng khố ở trần của người Lạc Việt xưa cũng được nhắc đến trong Sử ký, quyển 113 Nam Việt Uý Đà Liệt truyện: “Kỳ Tây Âu Lạc lõa quốc diệc xưng vương”. Ngoài ra với nguyên tắc "đồng âm thông giả", "thường" có thể là bình thường, nhỏ, bé... (như trong từ thường dân). Do đó "Việt Thường Quốc" cũng có thể là Nước Việt nhỏ, nước bình thường, kẻ ở chiếu dưới so với nhà Chu. Xin hiểu đây là kiểu mà sử sách Trung Hoa hay dùng để chỉ các nước phi Hán một cách tự cao tự đại. Hiển nhiên trong trường hợp này "thường quốc" khác hẳn "thuộc quốc", nó chứng tỏ sự độc lập không thể khác được từ buổi bình minh lịch sử của Lạc Việt. Tròn một vòng Ất Dậu, từ đận non nước Việt Nam cởi bỏ xích xiềng nô lệ, ngành sử học ở đây vẫn chưa trả lời thỏa đáng câu hỏi: “Người Việt, nước Việt, chúng ta là ai?”. Ngày xuân khai bút, xin được nêu ra một cách diễn giải Việt Thường Quốc chính là Lạc Việt, đầu thời Chu trung tâm của nó nằm tại Động Đình Hồ. Trương Thái Du Thung Lũng Đa Thiện, Đà Lạt Mùng 3 tết Ất Dậu
×
×
  • Create New...