-
Số nội dung
1107 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
2
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by phoenix
-
Trích: Việt Nhân NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA CÁC NGÀY TẾT, LỄ, HỘI 3.- Trung Thu Trung Thu là Tết sống thứ ba hoàn toàn có tính cách đàn bà. Trước hết đây là lễ đặc biệt thuộc mặt trăng. Vì thế không mừng đúng vào ngày thu phân là 21 tháng 9 dương lịch, mà lại mừng vào ngày 15 tháng 8, thường là cuối tháng 9. Cứ kể ra thì lễ nào cũng gọi được là thuộc mặt trăng vì theo lịch Viễn Đông thì tháng tính theo mặt trăng biểu thị nguyên lý mẹ. Nhưng lễ này còn có thêm hai nét nữa nói lên nguyên lý mẹ là mừng về đêm, nên có tính chất “ lãng mạn “ nhất (it is undoubtedly the most romantic. Festivals 79). Hai nữa là việc tế tự thì do các bà chủ sự. Tai sao lại thuộc các bà? Lý do sâu xa là vì mùa gặt là công các bà. Thời sơ nguyên đàn ông đi săn, đàn bà ở nhà nghĩ ra việc gieo, mà đã gieo thì rồi có gặt, cho nên mọi tết đều có tính chất mẹ hơn cha. Nhưng vì hậu quả của gặt kéo dài hơn nên có lẽ vì vậy mà tết Trung Thu là một tết mừng mùa gặt, mùa tích trữ (thu tàng) thóc lúa nơi buồng các bà, nên là lễ thuộc các bà hơn và vì thế cũng phát xuất bởi vùng Viêm Việt nhất là Phúc Kiến, theo như các sách cổ nói: old texts tell us that the midautum festival originated in Fukien Province. (Festivals 100) Không hiểu vì từ lúc nào đó thì có một lễ khác gọi là lễ trùng cửu, tuy sau này sáp nhập với Tết Trung Thu nhưng ban đầu là hai Tết khác nhau. Tết Trung Thu hoàn toàn vui vẻ còn trùng cửu thì có mang sắc thái lo âu, xem ra là riêng của dân Việt một dân có nhiều điểm giống với các dân Thái. The festival of “ Double Nine “ belonged to an East Chinese ethnic group, the Yueh. These Yueh were in many respects similar to the Tai. (Festivals 111) Có lẽ vì sự bành trướng của du mục Bắc Phương nên nhiều lần Viêm Việt phải bỏ tất cả để tháo chạy nên lễ trùng cửu tỏ ý lo âu chăng. Ngoài những lý lẽ trên thì ta còn thêm được một chiều kích siêu hình của tết Trung Thu, tức là sự trùng hợp với các số Lạc Thư mà Lạc Thư biểu thị một nền triết đạt quan như đã trình bày trong quyển Dịch Kinh Linh Thể (bài cuối). Thế mà Lạc Thư có những con số hợp với Tết Trung Thu. Vì Lạc Thư gồm 8 lô với một trung cung, và cộng chiều nào cũng được 15, như vậy là có sự trùng hợp với ý cùng của Tết là ăn mừng mùa màng thu gặt thì Lạc Thư cũng là triết đạt quan thâu thái, vì là biểu hiện nguyên lý mẹ đối với nhà Hà Đồ biểu hiện nguyên lý cha. Nguồn: http://www.anviettoancau.net
-
Nói đến Tết Trung Thu th ai ai cũng biết, nhưng không hẵn ai cũng biết về nguồn gốc c a Tết Trung Thu , Hanhnguyen xin mời mọi người cùng đọc và biết về nguồn gốc c a Tết Trung Thu mà Mình vừa sưu tầm được : Tết Trung Thu theo âm lịch là ngày rằm tháng 8 hằng năm. Đây là ngày tết của trẻ em, còn được gọi là "Tết trông Trăng". Trẻ em rất mong đợi được đón tết này vì thường được người lớn tặng đồ chơi, thường là đèn ông sao, mặt nạ, đèn kéo quân, súng phun nước... rồi bánh nướng, bánh dẻo. Vào ngày tết này, người ta tổ chức bày cỗ, trông trăng. Thời điểm trăng lên cao, trẻ em sẽ vừa múa hát vừa ngắm trăng phá cỗ. Ở một số nơi, người ta còn tổ chức múa lân, múa sư tử để các em vui chơi thoả thích. Tết Trung Thu đ có từ thời Đường Minh Hoàng bên Trung Hoa, vào đầu thế kỷ thứ 8. Nguồn gốc Tết Trung Thu t i Việt Nam không biết có tự bao giờ, không có sử liệu nào nói rõ về gốc tích của ngày lễ rằm tháng Tám. Nhiều người cho rằng đây là một nét văn hóa du nhập từ Trung Quốc trong thời gian Việt Nam bị phương Bắc đô hộ. Nhà văn Toan Ánh trong quyển "Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam Quyển Hạ" cho rằng: Theo sách cổ thì Tết Trung Thu b t đầu từ đời nhà Ðường, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh. Năm ấy vào đêm khuya rằm tháng tám, gió mát, trăng tròn thật đẹp, trong khi ngự chơi ngoài thành, nhà vua gặp một vị tiên giáng thế trong lốt một ông lão đầu bạc phơ như tuyết. Vị tiên hóa phép tạo một chiếc cầu vồng, một đầu giáp cung trăng, một đầu chám mặt đất, và nhà vua trèo lên cầu vồng đi đến cung trăng và dạo chơi nơi cung Quảng. Trở về trần thế, vua luyến tiếc cảnh cung trăng đầy thơ mộng, nhà vua đặt ra tết Trung Thu. Trong ngày tết này, lúc đầu chỉ uống rượu trông trăng nên còn gọi là Tết Trông Trăng. Ở Việt Nam, ngày tết Trung Thu đ ợc ông Phan Kế Bính diễn tả trong "VN Phong tục": "ban ngày làm cỗ cúng gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng Nguyệt. Ðầu cỗ là bánh mặt trăng, và dùng nhiều thứ bánh trái hoa quả, nhuộm các màu các sắc, sặc sỡ xanh, đỏ, trắng, vàng. Con gái hàng phố thi nhau tài khéo, gọt đu đủ thành các thứ hoa nọ hoa kia, nặn bột làm con tôm con cá coi cũng đẹp". Ý nghĩa Tết Trung Thu c a người Việt có nhiều điểm đặc biệt khác với Tết Trung Thu c a người Trung Hoa. Theo phong tục người Việt, bố mẹ bày cỗ cho các con để mừng trung thu, mua và làm đủ thứ lồng đèn thắp bằng nến để treo trong nhà và để các con rước đèn. Cỗ mừng trung thu gồm bánh trung thu, kẹo, mía, bưởi và các thứ hoa quả khác nữa. Đây là dịp để con cái hiểu được sự săn sóc quí mến của cha mẹ đối với mình một cách cụ thể. Vì thế, tình yêu gia đình lại càng khắng khít thêm. Cũng trong dịp này người ta mua bánh trung thu, trà, rượu để cúng tổ tiên, biếu ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè, họ hàng và các ân nhân khác. Người Hoa hay tổ chức múa lân trong dịp Tết Nguyên Đán. Người Việt lại đặc biệt tổ chức múa Sư Tử hay Múa Lân trong dịp Tết Trung Thu. Con Lân tượng trưng cho điềm lành. Người Trung Hoa không có những phong tục này. Thời xưa, người Việt còn tổ chức hát Trống Quân trong dịp Tết Trung Thu. iệu hát trống quân theo nhịp ba "thình, thùng, thình". Trai gái dùng điệu hát trống quân để hát trong những đêm trăng rằm, nhất là vào rằm tháng tám. Trai gái hát đối đáp với nhau vừa để vui chơi vừa để kén chọn bạn trăm năm. Người ta dùng những bài thơ làm theo thể thơ lục bát hay lục bát biến thể để hát. Tục hát trống quân, theo truyền thuyết, có từ thời vua Lạc Long Quân đời Hồng Bàng. Ngoài ý nghĩa vui chơi cho trẻ em và người lớn, Tết Trung Thu còn là dịp để người ta ngắm trăng tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai, và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị v.v. Người Trung Hoa không có phong tục này. (st) Nguồn:http://www.vietnam.tu-freiberg.de
-
Tết Trung thu bắt nguồn từ Trung Hoa? Trước tiên xin được nhắc lại với bạn đọc rằng từ Tết là biến âm của từ ‘Tiết’ trong ‘Tiết khí’ mà ra. Ban đầu là dùng để chỉ những lễ đặc biệt của người dân Việt xưa, những dịp này nương theo mùa vụ, còn mùa vụ lại nương theo thời tiết mà thành. Lớn nhất trong năm là Tết Nguyên đán (Xuân) tháng Giêng, hay dân gian còn gọi là Tết cả. Rồi đến Tết Trung thu (Thu) rằm tháng Tám, Tết Đoan ngọ (Hạ) mồng năm tháng Năm, Tết Hàn thực mồng ba tháng Ba…. Thứ hai, Tết Trung thu là của người Việt, tất nhiên không chỉ người Việt, cho dù về sau và hiện nay, các sản phẩm văn hóa gắn liền với sự kiện này đều xuất xứ từ văn hóa Trung Hoa như múa lân (trong Nam)/ múa sư tử (ngoài Bắc), đèn lồng, các câu chuyện về thỏ ngọc và chị Hằng…. khiến gây ra một ngộ nhận rằng tục ăn Tết Trung thu của người Việt bắt nguồn từ văn hóa Trung Hoa. Song đấy là một quy kết nhược tiểu hồ đồ. Người Việt ăn cái Tết lớn nhất của mình vào tháng Giêng và lấy tháng này (tháng Dần) làm tháng mở đầu trong năm âm dương hợp lịch của mình theo người Hoa, điều ấy thì đã hẳn. Song vấn đề được đặt ra ở đây là trước giai đoạn bắt đầu Hoa hóa trong việc ăn Tết ấy thì người Việt ăn Tết hay tổ chức lễ hội chính của mình vào thời gian nào trong năm? Xin thưa, ấy là mùa Thu. Tết của người Việt cổ. Các nhà khảo cổ học đã tìm ra và chứng minh được rằng, Lễ hội lớn nhất của người Việt cổ là vào mùa Thu. Bằng cớ là trên mặt trống đồng in khắc hình ảnh lễ hội, hẳn phải là lớn nhất hoặc/và tiêu biểu nhất nên mới được người xưa chọn khắc lên mặt trống, có thấy hình bông lau, là thứ chỉ nở vào mùa thu. Ở một số nơi tại Đồng bằng Bắc Bộ còn giữ tục ăn Tết Cơm Mới mồng mười tháng Mười, và cả Tết Trùng cửu mồng chín tháng Chín. Nhà văn Vũ Bằng có đề cập tới 2 tết này cùng với hàng loạt tết khác trong tác phẩm nổi tiếng nhất của mình ‘Thương nhớ mười hai’, hồi ức của một nhà văn di cư về đặc sản và những nét văn hóa Bắc Việt men theo 12 tháng. Mong mỏi quanh năm của người dân Việt cũng là nông dân Việt thời xưa thể hiện trong ca dao là ‘Bao giờ cho đến tháng mười’, cũng tức là thời điểm thu hoạch vụ mùa, vụ chính trong năm, bắt đầu một thời gian có ăn và được ăn no, may ra được mùa thì còn là no ấm cho cả năm đó. Trăng trong đời sống người Việt. Người Việt xưa sống bằng nghề nông, thứ nghề phụ thuộc vào thiên nhiên còn hơn là vào con người. Họ phải “Trông trời, trông đất, trông mây. Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm…” trước khi trông vào bản thân mình: “Trông cho chân cứng đá mềm’, chỉ ước ao sao cho “Trời yên bể lặng…” rồi “… mới yên tấm lòng” để mà tính chuyện làm ăn. Và trong hàng loạt cái trông đó thì “Trông trời” là việc đầu tiên. Tất nhiên là phải kết hợp cả việc quan sát trời, trăng, sao, mây mà đoán định thời gian và thời tiết. Song họ quan sát kỹ càng nhất vẫn là mặt trăng. Người Việt có hẳn một bài ca dao tả hình dáng của trăng qua từng ngày một trong tháng: “Mồng một lưỡi trai, mồng hai lá lúa. mồng ba câu liêm, mồng bốn lưỡi liềm, mồng năm…., mồng sáu thật trăng……”. Rõ ràng trăng là một thứ lịch treo trên trời với người Việt. Ở Việt Nam trước đây, học sinh lớp ba đã được học bài ca dao này. Sau cải cách giáo dục thì nó không còn nằm trong sách giáo khoa nữa nên bây giờ trẻ con thành phố ít em biết. Nhưng ở nông thôn thì chắc vẫn vậy. Cách đây vài năm lúc còn ở Việt Nam, có lần vô tình một cậu sinh viên nói với tôi rằng: “Trong tất cả các bài thơ và ca dao, em chỉ còn nhớ mỗi bài ‘Mồng một lưỡi trai, mồng hai lá lúa…’ vì ngày bé phải thuộc bài này để còn đi chăn trâu.” Nông lịch. Thứ lịch mà người Việt dùng là nông lịch, quen được gọi là âm lịch, thực chất là lịch mặt trăng. Từ ‘tháng’ trong tiếng Việt bắt nguồn từ từ ‘trăng’, cũng như ‘month’ có gốc từ ‘moon’. Trong cái tháng theo lịch mặt trăng đó thì đến bây giờ người Việt vẫn giữ lệ thờ cúng vào hai ngày sóc, vọng tức là ngày đầu tháng và giữa tháng, một ngày mặt trăng mờ nhất và một ngày mặt trăng tỏ nhất, trong quan sát của người trần gian. Mùa thu lại là lúc tiết trời mát mẻ, khí hậu dễ chịu nhất so với những khắc nghiệt quanh năm. Ngày rằm tháng Tám là khi trăng sáng nhất và đẹp nhất mà việc nông lại đang lúc nhàn. Lẽ nào một tộc người ưa Lễ hội và thường trực ngắm trăng không chỉ để lo công việc làm ăn mà còn là thưởng ngoạn lại có thể bỏ qua thời khắc này mà không tổ chức một cái gì đó, phải đợi cho đến khi người láng giềng phương Bắc, không mấy khi thân thiện, mách nước dùm? Trăng trong văn hóa Việt Nam và Trung Hoa. Hiện tượng thờ mặt trăng trước cũng rất phổ biến với người Việt, nhất là những vùng ven biển, nơi cuộc sống của cư dân theo nhịp thủy triều. Giờ còn lưu lại ít nhất là câu chuyện thần thoại về thần Độc Cước cùng đền thờ ngài ở Thanh Hóa và Lễ hội trọi trâu ở Đồ Sơn, Hải Phòng. Các nhà nghiên cứu cho rằng câu chuyện đứa bé còn có nửa thân hình trong thần Độc Cước là hình ảnh ám dụ của mặt trăng khi khuyết nhiều hơn khi tròn cũng như sừng trâu trong Hội trọi trâu chính là hình trăng khuyết (lưỡi liềm). Sau cùng, quan niệm về giới của mặt trăng với người Việt cổ là khác với người Hoa. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã lưu ý tới sự khác biệt về văn hóa giữa các sắc dân căn cứ vào quan niệm của từng tộc người về giới tính của các thiên thể như mặt trăng, mặt trời, sao… Ở Việt Nam cũng đã có hai giáo sư là Kim Định (trong Nam) và Trần Quốc Vượng (ngoài Bắc) cùng dựa vào văn hóa dân gian mà cho rằng mặt trăng trong văn hóa Việt mang ‘giống đực’ còn trong văn hóa Trung Hoa là ‘giống cái’. Người Việt nói: ‘Ông trăng mà lấy bà trời’, hay bài đồng giao: ‘Ông giẳng, ông giăng (trăng). Xuống chơi với cháu. Có bầu có bạn…’ hoặc câu chuyện về: ‘Thằng Cuội ngồi gốc cây đa. Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời…’. Trong khi văn hóa Trung Hoa là câu chuyện Ông Tơ Bà Nguyệt và Hằng Nga….. Tất cả những điều trên chỉ để nói rằng Tết Trung thu của người Việt đã có từ xưa, có chăng là sau khi tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, khi tự nguyện, lúc cưỡng bức, suốt một thời gian dài trong lịch sử mà người Việt có du nhập một số tập tục cùng những thành tố văn hóa của người Hoa vừa để làm phong phú thêm nhưng cũng có khi là thay thế hẳn những tập tục khác của mình. Thế cho nên đến bây giờ, nhìn dưới con mắt của người phương Tây chẳng hạn, thì Tết Trung thu của người Việt cũng chẳng khác gì với của người Hoa, có khi còn không phong phú bằng. Nguồn: http://www.radioaustralia.net.au
-
Cội nguồn Tết trung thu Lý Anh (Trích Thời Báo Toronto số 1424 Sept. 22/2007) Tết Trung Thu vào rằm tháng Tám âm lịch là ngày tết truyền thống của một số quốc gia ở Châu Á như Trung Hoa, Việt Nam, Đại Hàn và Nhật Bản. Tính theo âm lich, mỗi năm có 4 mùa : Xuân, Hạ, Thu, Đông, mỗi mùa có 3 tháng. Tháng 8 là tháng thứ 2 của mùa thu, ngày giữa tháng là Rằm tháng Tám được gọi là Tết Trung Thu. Hàng năm, người dân các nước Trung Hoa, Việt Nam, Đại Hàn và Nhật Bổn đều làm bánh để ăn Tết Trung Thu, thưởng thức trăng tròn và đoàn tụ với người thân trong gia đình. Bánh Trung Thu của người Việt và người Hoa cùng một loai. Đại Hàn và Nhật Bản làm loại bánh khác. Cội nguồn Tết Trung Thu Theo truyền thuyết, Tết Trung Thu có từ vài ba ngàn năm nay. Người Trung Hoa thời cổ đại sống bằng nghề chăn nuôi và trồng trọt. Suốt mùa hè trời nắng ấm, người dân chăn nuôi và săn bắn dễ dàng, đầu tháng 8 lại thu hoạch nông sản phẩm, đến rằm tháng 8 bầu trời xanh biếc, trăng rằm trong sáng, cả nhà vui vẻ đoàn tụ, tượng trưng cho " trời và đất hợp nhất", nên mới có Tết Trung Thu. Thời đó, Tết Trung Thu đơn thuần là ngày lễ cúng thần nông, chỉ có cơm rượu, không có các loại bánh như ngày nay. Người Trung Hoa cổ đại cho rằng Tết Trung Thu bắt nguồn từ thời Xuân Thu. Tuy vậy, trước đờ Đường văn tự chưa phát triển, sử sách viết về Tết Trung Thu không nhiều lắm. Từ đời Đường trở đi, nhiều nhà thơ hoặc văn nhân viết những bài thơ hay tác phẩm về Tết Trung Thu, người đời sau mới biết được truyền thuyết và tập tục của nó. Từ đó Tết Trung Thu trở thành ngày lễ cố định hàng năm. Tương truyền Đường Thái Tông nằm chiêm bao bay lên cung trăng, được chị Hằng tặng cho "Nghê Thường vũ y khúc". Tết Trung Thu mới thịnh hành trong dân gian. Các triều đại sau Đường như Tống, Nguyên, Minh, Thanh cho đến ngày nay. Tết Trung Thu trở thành ngày Tết của dân tộc Trung Hoa. Tết Trung Thu lấy mặt trăng làm chủ đề, nên có nhiều truyền thuyết về mặt trăng. Ngày nay các phi hành gia từng đặt chân lên mặt trăng, thấy rõ cảnh hoang dã ớ chốn đó, nhưng truyền thuyết về mặt trăng vẫn in đậm vào tâm khảm ngưởi Trung Hoa hay người Việt Nam, người Đại Hàn và người Nhật Bản. Trong đó chuyện " Hằng Nga lên cung Trăng" được nhiều người thích nhất. Tương truyền rằng thời cổ đại xa xưa có 10 mặt trời xuất hiện, mang tai họa đến cho dân gian. Ngọc Hoàng Thượng Đế biết được tin đó vội sai đại thần Hậu Nghệ xuống phàm, trừ hại cho dân. Hậu Nghệ mang theo bà vợ xinh đẹp là Hằng Nga giáng trần, dùng nỏ thần bắn rơi chín mặt trời. Ngọc Hoàng giận Hậu Nghệ bắn rơi chính người con của ông, không cho trở về thiên đình. Tình cờ Hậu Nghệ được Vương Mẫu cho một lọ thuốc trường sinh bất tử, uống vào có thể bay lên thiên đình. Một hôm nhân lúc Hậu Nghệ đi vắng, Hằng Nga lấy trộm thuốc trường sinh bất tử nuốt vào bụng, thế là biến thành tiên nữ, cứ thế bay lên lẩn trốn trên cung trăng để tránh sự chê bai của các tiên nữ trên trời. Nhà thơ nổi tiếng đời Đường là Lý Thương Ẩn đã làm bài thơ tả Hằng Nga sau khi ăn trộm thuốc tiên phải trốn trên cung trăng nói lên tâm trạng của những kẻ làm những việc sai trái lúc nào cũng tự trách mình Hằng Nga Vân mẫu bình phong chúc ảnh thâm Trường hà tiệm lạc, Hiểu tính trầm Hằng Nga ưng hối thâu linh dược Bích hải thanh thiên dạ dạ tâm Dịch nghĩa Ánh đuốc soi vào tấm bình phong Vân Mẫu Sông Ngân gần lặn, sao Mai cũng chìm Hằng Nga hối hận vì uống trộm thuốc tiên Biển trời xanh biếc đêm đêm phiền muộn. Dịch thơ Bình phong Vân Mẫu ánh đuốc soi Sông Ngân gần lặn, sao Mai rơi Hằng Nga hối hận trộm thuốc uống Biển trời xanh lòng thêm nhoi nhói Đối với người Việt Nam thời cổ đại, Tết Trung Thu được diễn tả trong tục lệ : "Ban ngày làm cỗ cúng tiên, tối đến bày cỗ ngắm chị Hằng". Lễ vật hàng đầu là bánh mặt trăng, ngày nay gọi là bánh Trung Thu, và nhiều thứ bánh nhuộm các màu sắc xanh đỏ tím vàng cũng như hoa quả. Con gái thị thành thì thi tài gọt đu đủ thành các loại hoa, nặn bột làm con giống: Trâu bò, lợn gà, tôm cá trông thật là bắt mắt. Theo sử sách, Tết Trung Thu ở Việt Nam có từ thời xa xưa, từng được khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, là một trong những Trống Đồng Đông Sơn có kích thước to lớn, hình dáng cổ kính, tập trung hoa văn phong phú nhất. Tết Trung Thu cũng chính thức được tổ chức ở kinh thành Thăng Long với các hội đua thuyền, múa rối nước và rước đèn. Theo "Tang Thương Ngẫu Lục", tác phẩm chữ Hán của 2 nhà văn Việt Nam Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án viết khoảng cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, thời vua Lê chúa Trịnh, Tết Trung Thu được tổ chức cực kỳ xa hoa trong phủ chúa. P.Giran, học giả người Pháp cũng từng viết trong " Magie et Religions Annamites, Paris: Challamet, 1912" về Tết Trung Thu. Theo ông, rằm tháng 8 mặt trăng đẹp nhất, lộng lẫy nhất, nên dân gian làm lễ mở hội mừng trăng. Theo phong tục Việt Nam, vào dịp Tết Trung Thu, cha mẹ bầy cỗ cho các con để đón trăng rằm. Các vị mua và làm đủ các loại đèn lồng thắp bằng nến treo trong nhà hoặc cho các con mang đi rước đèn cùng bè bạn. Cỗ mừng Tết Trung Thu gồm : bánh Trung Thu, các loại bánh kẹo khác, trái cây... nhiều hay ít tùy hoàn cảnh của mỗi gia đình. Trong văn học nghệ thuật có nhiều tác phẩm thơ ca, hội họa, âm nhạc miêu tả Tết Trung Thu, trong đó có bài thơ của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu : Có bầu có bạn can chi tủi Cùng gió cùng mây thế mới vui Rồi cứ mỗi năm rằm tháng Tám Tựa nhau trông xuống thế gian cười Người Đại Hàn gọi Tết Trung Thu là ngày hội Chosuk. Trong dịp vui mừng của ngày hội này, người dân Đại Hàn thường bầy tỏ lòng biết ơn của mình đối với Thượng Đế cho họ được mùa, nên đã nghỉ ngơi vui chơi trong 3 ngày. Trước đây giao thông chưa thuận tiện, vào ngày hội Chosuk, những người buôn bán làm ăn ở thành phố thường về quê nhà thăm bà con họ hàng thân thích, những người sống ở quê nhà thì tổ chức hội hè như người Việt chúng ta đón mừng ngày Tết Âm Lịch. Trước ngày hội Chosuk một tháng, các công ty thương mại lớn ở Đại Hàn thường giảm giá hàng cho khách mua về làm lễ vật tặng nhau. Trong ngày hội Chosuk, người Đại Hàn ăn loại bánh làm bằng bột nếp và đậu xanh trộn với đường, họ gọi là "songpyon". Dịp này thanh thiếu nhi Đại Hàn thích nhẩy bài "Kang Kang Su Vol Lae" Rằm tháng 8 người Nhật Bản tổ chức ngày hội Hounen Odori (Hounen có nghĩa là hạnh phúc và giầu có, Odori có nghĩa là nhẩy múa). Dịp này họ thường ra sau vườn hoặc ngồi trước cửa ngắm trăng và ăn mừng ngày hội Hounen Odori bằng loại bánh hình cái gối làm bằng gạo (rice dumplins) người Nhật gọi là "Tsukimi dango" Bánh Trung Thu Nói đến Tết Trung Thu không thể không nói đến bánh Trung Thu. Tại sao rằm tháng 8 lại có tập tục làm bánh Trung Thu tế lễ hoặc thưởng thức? Bánh Trung Thu bắt nguồn từ loại bánh bột mì thời cổ đại. Cách đây trên 3,000 năm, người dân vùng Triết Giang làm loại bánh ngoài vỏ là bột mì, phía trong là nhân đường để tế lễ. Người thời Hán đưa hạt đào, hạt vừng và đậu phụng từ Tây Vực về, thế là xuất hiện loại bánh ngon hơn, tuy mặt ngoài vẫn bột mì nhưng nhân làm bằng hạt đào, mè hoặc đậu phụng. Về sau, bánh Trung Thu đều được cải tiến qua các triều đại. Đầu thời Minh sử sách có ghi " Mười lăm tháng Tám là Trung Thu" người dân trao tặng bánh Trung Thu để chúc nhau đoàn tụ và có cuộc sống bình yên. Còn có câu chuyện khác là Chu Nguyên Chương cuối thời Nguyên lợi dụng phong tục Tết Trung Thu trao bánh cho nhau, sai quân nhét vào bánh mảnh giấy ghi ngày khởi nghĩa để thống nhất hành động, kết quả tiêu diệt được nhà Nguyên, dựng nên nhà Minh. Từ đó bánh Trung Thu ngoài phong tục còn mang thêm ý nghĩ chính trị. Ngoài ra bánh Trung Thu còn tượng trưng cho đoàn viên. Phàm là con cháu Tam Hoàng Ngũ Đế (vua Trung Hoa thời cổ đại) dù xa quê hương đến mấy, khi nhìn và thưởng thức bánh Trung Thu cũng không sao quên được cội nguồn và người thân. Từ ngày có Tết Trung Thu đến nay, bánh Trung Thu được phát triển theo từng giai đọan lịch sử. Bởi vậy người Trung Hoa có câu : Niên niên Trung Thu minh nguyệt dạ Tuế tuế nguyệt bính hữu bất đồng (Năm nào Trung Thu trăng cũng sáng Tuổi nào cái bánh cũng khác nhau) Lý Anh (Toronto 2007) Nguồn:http://tvvn.org/f21/ta-t-trung-thu-ngua-n-ga-c-va-nghae-7441/ (Còn tiếp)
-
Tết Trung Thu của người Việt hay Trung Hoa? Rất mong được mở mang thêm từ các ACE trên diễn đàn. Dưới đây là vài quan điểm: Tết Trung Thu: Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa :::Khải Chính Phạm Kim Thư ::: I.Tết Trung Thu Theo phong tuc người Việt chúng ta, Tết Trung Thu được tổ chức vào giữa mùa thu, tức là hôm rằm tháng tám ta. Trong dịp này người ta làm cỗ cúng gia tiên và bày bánh trái ra sân cúng mặt trăng. Nhân dịp tết này, người lớn thì uống rượu, thưởng trăng, và hát trống quân; trẻ em thì rước đèn, đi xem múa lân, ca hát các bài hát Trung Thu, và vui hưởng bánh kẹo cùng các thứ trái cây do cha mẹ bày ở ngoài sân trong đêm Trung Thu dưới hình thức một mâm cỗ. Theo tục lệ, việc trẻ con thưởng thức bánh kẹo trái cây trong đêm Trung Thu này được gọi là "phá cỗ." II. Nguồn Gốc Tết Trung Thu Người Việt ta ăn Tết Trung Thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch là do ta phỏng theo phong tục của người Tàu. Chuyện xưa kể rằng vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Trong đêm Trung Thu, trăng rất tròn và trong sáng. Trời thật đẹp và không khí mát mẻ. Nhà vua đang thưởng thức cảnh đẹp thì gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ có phép tiên đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh trí lại càng đẹp hơn. Nhà vua hân hoan thưởng thức cảnh tiên và du dương với âm thanh ánh sáng huyền diệu cùng các nàng tiên tha thướt trong những xiêm y đủ màu xinh tươi múa hát. Trong giờ phút tuyệt vời ấy nhà vua quên cả trời gần sáng. Đạo sĩ phải nhắc, nhà vua mới ra về nhưng trong lòng vẫn bàng hoàng luyến tiếc. Về tới hoàng cung, nhà vua còn vấn vương cảnh tiên nên đã cho chế ra Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng tám lại ra lệnh cho dân gian tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm lần du nguyệt điện kỳ diệu của mình. Kể từ đó, việc tổ chức rước đèn và bày tiệc trong ngày rằm tháng tám đã trở thành phong tục của dân gian. Cũng có người cho rằng tục treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám âm lịch là do ở điển tích ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng. Vì ngày rằm tháng tám là ngày sinh nhật của vua Đường Minh Hoàng nên triều đình nhà Đường đã ra lệnh cho dân chúng khắp nơi trong nước treo đèn và bày tiệc ăn mừng. Từ đó, việc treo đèn bày cỗ trong ngày rằm tháng tám trở thành tục lệ. Lại có chuyện kể rằng một vị tướng tên là Lưu Tú ở đời nhà Tây Hán, từ năm 206 trước Tây lịch tới năm 23 Tây lịch, trong lúc quân tình khốn quẫn đã cầu Thượng Đế giúp cho quân lính có đồ ăn để chờ quân tiếp viện. Sau khi cầu Thượng Đế, quân lính tìm được khoai môn và bưởi để ăn. Nhờ đó sau này Lưu Tú mới bình định được toàn quốc và lên làm vua tức là vua Quang Võ nhà Hậu Hán. Ngày mà Lưu Tú cầu được linh ứng là ngày rằm tháng tám. Từ đó nhà vua truyền lệnh cứ đến rằm tháng tám là làm lễ tạ trời đất và thưởng trăng bằng khoai môn và bưởi. Ngày lễ trọng thể vui tươi này được gọi là Tết Trung Thu. Tục lệ này được truyền sang Việt Nam và đã được người Việt sửa đổi để thích hợp với tính tình và phong tục Việt. Người Hoa và người Việt đều làm bánh trung thu để cúng, ăn, biếu thân bằng quyến thuộc, và đãi khách. Điểm chung kế tiếp là người Hoa và người Việt đều tổ chức rước đèn trong đêm trung thu. III. Ý Nghĩa Tết Trung Thu Tết Trung Thu của người Việt có nhiều điểm đặc biệt khác với Tết Trung Thu của người Trung Hoa. Theo phong tục người Việt, bố mẹ bày cỗ cho các con để mừng trung thu, mua và làm đủ thứ lồng đèn thắp bằng nến để treo trong nhà và để các con rước đèn. Cỗ mừng trung thu gồm bánh trung thu, kẹo, mía, bưởi, và các thứ hoa quả khác nữa. Đây là dịp để con cái hiểu được sự săn sóc quí mến của cha mẹ đối với mình một cách cụ thể. Vì thế, tình yêu gia đình lại càng khắng khít thêm. Cũng trong dịp này người ta mua bánh trung thu, trà, rượu để cúng tổ tiên, biếu ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè, họ hàng, và các ân nhân khác. Thật là dịp tốt để con cháu tỏ lòng biết ơn ông bà cha mẹ và để người đời tỏ lòng săn sóc lẫn nhau. Người Hoa hay tổ chức múa lân trong dịp Tết Nguyên Đán. Người Việt lại đặc biệt tổ chức múa Sư Tử hay Múa Lân trong dịp Tết Trung Thu. Con Lân tượng trưng cho điềm lành. Người Trung Hoa không có những phong tục này. Thời xưa, người Việt còn tổ chức hát trống Quân trong dịp Tết Trumg Thu. Điệu hát trống quân theo nhịp ba “thình, thùng, thình.” Ngày xưa trai gái dùng điệu hát trống quân để hát trong những đêm trăng rằm, nhất là vào rằm tháng tám. Trai gái hát đối đáp với nhau vừa để vui chơi vừa để kén chọn bạn trăm năm. Người ta dùng những bài thơ làm theo thể thơ lục bát hay lục bát biến thể để hát. Tục hát trống quân, theo truyền thuyết, có từ thời vua Lạc Long Quân đời Hồng Bàng. Sau này, điệu hát trống quân đã được Vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) áp dụng khi ngài đem quân ra Bắc đại phá quân nhà Thanh vào năm 1788. Trong lúc quân sĩ rất nhớ nhà, ngài cho một số binh lính giả làm gái để trai gái đôi bên hát đối đáp với nhau trong khi người ta đánh trống theo nhịp ba để phụ họa. Do đó, quân lính vui mà bớt nhớ nhà. Điệu hát trống quân được thịnh hành từ thời Nguyễn Huệ trở đi. Người Trung Hoa không có phong tục này. Tết Trung Thu mới đầu là tết của người lớn để thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên, ăn bánh, và uống trà ngắm trăng rằm vào giữa tiết Thu. Dần dần Tết Trung Thu trở thành Tết Trẻ Em hay Tết Nhi Đồng, nhưng người lớn cũng dự phần trong đó. Trẻ em được người lớn chú ý săn sóc như các hội đoàn người Việt hải ngoại đã và đang làm. Các em có dịp vui chơi rước đèn, ca hát, phá cỗ do cha mẹ anh chị bày cho và nhất là có dịp ăn bánh kẹo thả cửa mà không sợ bị quở mắng là “ăn kẹo hư răng.” Trong dịp Tết Trung Thu, các em ở những lớp Việt Ngữ có dịp được học bài hát “Rước Đèn Tháng Tám” một cách thích thú: “ Tết Trung Thu rước đèn đi chơi, em rước đèn đi khắp phố phường. Lòng vui sướng với đèn trong tay. Em múa ca trong ánh trăng rằm. Đèn kéo quân với đèn cá trắm, đèn thiên nga với đèn bươm bướm. Em rước đèn này đến cung trăng. Đèn xanh lơ với đèn tím tím, đèn xanh lam với đèn trắng trắng. Trông ánh đèn rực rỡ muôn màu.” Bài hát “Rước Đèn Tháng Tám” còn hai đoạn nữa, nhưng chúng tôi không nhớ hết để chép vào đây. Lời và nhạc thật là vui tươi, dễ hiểu, và dễ hát. Đa số các em nhi đồng đều thuộc bài này để hát vào dịp Tết Trung Thu. Người Trung Hoa không có sinh hoạt này. Ngoài ý nghĩa vui chơi cho trẻ em và người lớn, Tết Trung Thu còn là dịp để người ta ngắm trăng tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai, và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị v.v. Người Trung Hoa không có phong tục này. Ngoài ra, các thi nhân cũng nhờ có trăng thu mà đã sáng tác bao bài thơ về trăng thu và mùa thu, kể sao cho xiết! Tết Trung Thu là một phong tục rất có ý nghĩa. Đó là ý nghĩa của săn sóc, của báo hiếu, của biết ơn, của tình thân hữu, của đoàn tụ, và của thương yêu. Chúng ta cố gắng duy trì và phát triển ý nghĩa cao đẹp này. Chúng tôi xin chân thành tuyên dương các hội đoàn người Việt ở hải ngoại đã và đang tích cực tổ chức Tết Trung Thu hàng năm cho trẻ em có dịp vui chơi để phát triển cả về thể chất, trí tuệ, và tình cảm của con người Việt. Vai trò của phụ huynh rất là quan trọng trong việc khuyến khích các em tham gia ngày Tết Trung Thu do các hội đoàn tổ chức, và nhất là sự đóng góp tài chánh của quí phụ huynh vào việc tổ chức Tết Trung Thu cho các em lại càng thiết thực hơn. Trong năm Quý Mùi, 2003, ngày Tết Trung Thu là ngày 11 tháng 9 năm 2003, tức ngày 15 tháng tám năm Quý Mùi. (Từ Đặc Trưng) Nguồn:http://tvvn.org/f21/ta-t-trung-thu-ngua-n-ga-c-va-nghae-7441/ (Còn tiếp)
-
Nhân nói chuyện "ông Trời" trích một bài Việt báo đã đưa tin đọc thư giãn làm vui: "Ông Trời có thật? Thứ bảy, 30 Tháng tám 2008, 18:26 GMT+7 Một người đàn ông Trung Quốc đã thề trước Trời đất rằng anh ta không vay tiền của hàng xóm và chỉ một phút sau, kẻ điêu toa đã bị sét đánh! Thế mới biết, Ông Trời cũng có mắt. Anh chàng tên là Tô này thề trước đám đông láng giềng ở thành phố Phúc Thanh rằng mình chẳng vay tiền ai. Trong khi đó, anh Hoàng ở nhà bên lại khẳng định Tô vay mình 500 tệ từ 3 năm trước. "Cách đây 3 năm, anh ta vay tôi 500 tệ nói là muốn mua quà tặng đám cưới một người bạn, nhưng bây giờ thì anh ta lại cãi bay cãi biến," Hoàng ấm ức phân trần với hàng xóm trước cửa nhà Tô. "Tôi đã nói rồi, nếu anh Tô có gan thề với Trời đất rằng anh ta không vay tiền tôi thì tôi sẽ bỏ qua món nợ này." Nghe xong câu này, anh chàng tham tiền lập tức tuyên bố thề thốt rằng không vay bạn tiền. Nhưng nói vừa dứt câu, một tia chớp lóe sáng và sét đánh trúng anh ta. Tô được đưa tới bệnh viện cấp cứu ngay lập tức. Các bác sĩ cũng xác nhận anh chàng đã bị sét đánh! Hiện Tô đang nằm tại khoa hồi sức cấp cứu." Nguồn: http://vietbao.vn/The-gioi/Ong-Troi-co-that/55200970/167/ Sau lần lỡ miệng này, chắc chắn không bao giờ Tô dám mạnh miệng thề thốt những điều điêu trá.
-
Rin86 nhắc nhở rất đúng về 2 khái niệm "mặt trời" và "trời" (ông trời) trong ngôn ngữ của người Việt. Một là danh từ từ chỉ sự vật hiện tượng (mặt trời = Sun) và một là đại từ "ông trời" chỉ một nhân vật quyền năng vô hình (God).' Thần thoại Trung Quốc có câu chuyện Hậu Nghệ bắn rơi chín mặt trời (tổng số 10 mặt trời) khác với sự tích 9 mặt trời trong văn hóa Mường, người H'mông cổ (là câu chuyện mà Rin86 muốn nhắc đến???). Nhân ngày rằm trung thu, post để ACE đọc cho vui. Truyện Hậu Nghệ: Thời cổ xưa, trên Trời có mười Mặt Trời cùng xuất hiện trên bầu Trời, ánh sáng Mặt Trời rực rỡ đã đốt cháy đất đai, đồng ruộng đều khô héo, mọi người nóng đến không thở được, ngã xuống đất hôn mê bất tỉnh. Vì thời tiết quá nóng nực, một số yêu quái mãnh thú cũng từ sông ngòi khô cạn và rừng sâu ẩm thấp chạy ra, làm hại loài người. Thảm hoạ của loài người đã làm kinh động Thiên Đế, Thiên Đế ra lệnh cho thần cung Hậu Nghệ xuống trần gian giúp loài người thoát khỏi cảnh đau khổ. Hậu Nghệ mang theo một chiếc cung màu đỏ, một túi tên màu trắng cho Thiên Đế ban cho, và mang theo người vợ xinh đẹp của mình là Hằng Nga cùng xuống trần gian. Sai khi đến trần gian, Hậu Nghệ trước tiên khuyên mười Mặt Trời mỗi ngày lần lượt thay phiên nhau để một Mặt Trời ra, như vậy vừa mang lại ấm áp cho Trái Đất, mang lại ánh sáng cho loài người, lại tránh Mặt đất phơi quá nóng, nhưng các Mặt Trời đều không nghe lời Hậu Nghệ. Hậu Nghệ bị chọc tức đã bắt đầu cuộc chiến đấu bắn Mặt Trời. Anh lấy chiếc cung đỏ từ trên vai mình xuống, rút mũi tên trắng, bắn vào các Mặt Trời kiêu ngạo và ngang ngược, không bao lâu, mười Mặt Trời có chín Mặt Trời bị bắn rơi. Trên Trời chỉ còn một Mặt Trời, loài người đã có thể an cư lạc nghiệp, bởi vậy họ rất cảm ơn sự giúp đỡ của Hậu Nghệ. Công lao của Hậu Nghệ đã bị các Thiên thần khác ghen tị, họ đến bên Thiên Đế gièm pha, khiến Thiên Đế xa lánh Hậu Nghệ. Cuối cùng Thiên Đế cách chức Hậu Nghệ và vợ anh Hằng Nga xuống trần gian, không cho phép họ trở về Trời. Hậu Nghệ và Hằng Nga bị oan ức đành phải ẩn cư tại trần gian, dựa vào nghề săn bắn của Hậu Nghệ đề sinh sống, cuộc sống rất nghèo khổ. Theo đà thời gian trôi qua, Hậu Nghệ cảm thấy có lỗi với vợ bị mình liên luỵ nên bị đầy xuống trần gian. Anh nghe nói thần tiên Tây Vương Mẫu trên núi Côn Luân có một loại thuốc thần, uống loại thuốc thần này, người có thể lên Trời. Do vậy, anh trèo đèo lội suối, trải qua biết bao gian khổ, đến núi Côn Luân xin Tây Vương Mẫu cho thuốc thần. Điều đáng tiếc là, thuốc thần của Tây Vương Mẫu chỉ đủ dùng cho một người. Hậu Nghệ vừa không nỡ bỏ lại người vợ yêu dấu một mình lên Trời, cũng không muốn một mình vợ lên Trời bỏ lại mình ở trần gian. Do đó anh mang thuốc thần về nhà rồi giấu đi. Nhưng Hằng Nga lại sống không quen với cuộc sống nghèo khổ, nhân lúc Hậu Nghệ không ở nhà, Hằng Nga tìm thấy thuốc thần, liền một mình uống thuốc thần. Bỗng chốc, Hằng Nga thấy người mình ngày càng nhẹ, từ từ bay lên Trời, cuối cùng bay đến Mặt Trăng, ở vào cung Quảng Hàn. sau khi Hậu Nghệ phát hiện vợ bỏ mình từ lên Trời, rất đau khổ, nhưng lại không thể dùng tên thần phương hại Hằng Nga, đành phải chia tay với Hằng Nga. Hậu Nghệ sống lẻ loi một mình, anh tiếp tục đi săn bắn để sinh sống, đồng thời dạy học trò bắn tên, trong số học trò anh có một người tên là Phùng Mông, tiến bộ rất nhanh, không bao lâu đã rất giỏi bắn tên. Nhưng Phùng Mông nghĩ, nếu Hậu Nghệ còn sống thì mình không thể nhất thiên hạ được, bởi vậy có một lần nhân thầy uống rượu say, đã từ đằng sau bắn chết Hậu Nghệ. Lại nói Hằng Nga tuy đã lên Mặt Trăng, nhưng trên đó chỉ có chú thỏ giã thuốc và một ông lão đốn củi. Hằng Nga nhớ lại quãng thời gian tốt đẹp sống chung với chồng và tình cảm ôn hoà giữa trần gian, cảm thấy rất cô độc và lạnh lùng vắng vẻ, bởi vậy Hằng Nga cả ngày buồn bã ngồi trong cung Trăng. Thần thoại của người H'mong (Việt Nam) "Thần thoại HMông kể rằng: Ngày xưa, bỗng đâu mọc về chín mặt trời, tám mặt trăng, cỏ cây muôn loài đều bị thiêu đốt. Đôi trai gái Giàng Dua và Giàng Dự bèn “đốn cây cổ thụ của trời” làm tên nỏ bắn mặt trăng, mặt trời: Mặt trời thò ra chín cái, bắn tất Mặt trăng ló ra tám cái, bắn hết Chỉ sót lại một đôi mặt trăng và mặt trời út. Mặt trăng và mặt trời còn sót sợ quá trốn mất làm cho thế giới tối đen bảy năm liền. Sau, nhờ gà trống gáy gọi mặt trăng, mặt trời mới trở về; từ đó có ngày đêm, muôn loài sinh sôi nảy nở, đường trai gái yêu nhau cũng sinh ra từ đấy: Lúc ấy mới có ngày có đêm Gái Giàng Dua, trai Giàng Dự vội lấy quần áo mặc Người nào biết lớn biết nhỏ thì nói rằng Đó là gái Giàng Dua, trai Giàng Dự mặc quần áo." Trường ca "Đẻ đất, đất đẻ nước" của người Mường nói đến: " ông Cuông Minh Vàng Rậm, nàng Ả Sấm Trời khai mỏ đồng: Đúc được chín mặt trời, Đúc được mười hai mặt sáng (mặt trăng), Mặt trời mọc lên ràng rạng, Mặt sáng mọc lên hừng hừng, ... Nắng nhiều, nắng quá lắm, đến nỗi Tìm nguồn chẳng ra nước mà uống, Làm nương chẳng nên lúa nên màu, ... Lúc ấy có họ nhà Ngao, vốn là thần nỏ: Tay trái vít dây nỏ lăm lăm, Tay phải lắp tên bương vòm vòm, ... Tên bắn sang, mặt sáng rùng mình, Tên bắn trúng, mặt trời rơi rơi, Rụng mặt trời, trời tối như bưng, Tối như vào thung xanh hang đá, ... Bắn rụng hết tám, ai là người đứng ra kêu cho mặt trời duy nhất còn lại lên khỏi chân trời? Ai giải cho được nỗi sợ miên man, ngấm ngầm của người thượng cổ, chẳng biết rồi đây mặt trời có trở lại đuổi đêm tối đi cho con người có được một ngày mai hay chăng? Quyền lực huyền bí của con gà ải (gà rừng) chính là đó: Nó gáy một tiếng ở đằng đông, Gáy vồng sang phía đằng tây, Mặt trời nghe tiếng con gà ải, Mặt trời lên rải nắng vàng, …" Văn hóa Việt thật nhiệm màu. Càng kỳ bí càng thấy hấp dẫn mỗi khi "lấp lánh" tỏa sáng.
-
3.000 cây đổ đồng loạt một cách bí ẩn (Ảnh minh họa) (Dân trí) - Gần 3.000 cây tại một khu rừng cộng đồng ở quận Banke thuộc khu vực phía tây Nepal đã bất ngờ đổ xuống trong vòng 10 phút. Người dân địa phương tin rằng chỉ có sức mạnh siêu nhiên mới làm được việc này. Trang web eKantipur.com đưa tin khoảng 3.000 cây tại rừng Shrikrishna, cách thủ đô Kathmandu khoảng 360km về phía tây, đã bất ngờ đổ xuống hôm thứ 2 tuần trước. Người dân địa phương cho hay, khu vực đã xuất hiện những vết nứt rất sâu. “Không có cơn dông hay bão nào xảy ra trong ngày hôm đó”, Tilak Bahadur Chand, một người dân địa phương nói. Không thể giải thích hiện tượng kỳ bí, người dân đã viện tới giả thuyết là các lực lượng siêu nhiên. Họ bắt đầu bàn tán xôn xao rằng sự việc là một điềm gở và họ đang lo sợ một điều gì đó tồi tệ sắp xảy ra. Tin tức về vụ cây đổ đã nhanh chóng lan đi nhanh chóng và rất đông người dân từ các khu vực lân cận đã ùn ùn kéo đến khu vực để tận mắt chứng kiến hiện tượng bí ẩn. Người dân địa phương cho biết họ đã ngay lập tức báo cho Văn phòng bảo vệ rừng (DFO) về vụ việc. Nhưng họ cho rằng DFO đã không hành động gì để tìm ra sự thật. Hemlal Aryal, quan chức bảo vệ rừng của quận, hứa sẽ sớm tới hiện trường để tìm hiểu vụ việc. Minh Trí Theo Xinhua Nguồn: http://dantri.com.vn/chuyenla/3000-cay-do-...08/9/250599.vip Thử dùng LVĐT để tìm câu hỏi xem sao? 21h17p ngày 13/09/2008 - Quẻ Thương Lưu Niên. Sự thay đổi địa chấn liên quan đến mạch nước ngầm (dòng nham thạch??) đã âm thầm diễn ra từ rất lâu mà không được phát hiện dẫn đến "tai nạn" (Lưu Niên) cho rừng cây (Thương). Việc này gây xúc cảm tiếc nuối dai dẳng chưa thể dứt trong lòng người dân. Người ta sẽ tìm ra nguyên nhân nhưng cần phải một thời gian, chưa thể có ngay câu trả lời. Phải chờ kết quả xem.
-
Xung quanh chiếc bàn xoay kỳ bí ở Nha Trang
phoenix replied to Thủy Tiên's topic in Thông Tin Cập Nhật
Giải đáp hiện tượng 'bàn xoay' Nhiều người đặt tay lên mặt một chiếc mâm. Đọc thần chú và nó sẽ... tự quay. Trò chơi "kỳ lạ" này có ở miền Nam nước ta, được nhiều người cho là thần bí. Các nhà khoa học đã thí nghiệm và kết luận mâm quay là do... lực cơ học, chứ chẳng phải do tác dụng thần bí nào cả. Hiện tượng mâm quay Trò chơi dân gian này đã xuất hiện ở nước ta từ hàng trăm năm trước, được lưu truyền chủ yếu ở một số tỉnh phía Nam (Bình Định, Lâm Đồng, Đà Nẵng..). Mâm quay có cấu tạo hình tròn, được làm bằng gỗ, đồng, nhôm hoặc thuỷ tinh. Mâm được thiết kế đặt trên một ổ trục để giảm ma sát khi quay. Người tham gia chơi đứng quanh, đặt tay lên mâm và "ra lệnh" liên tục trong đầu: "Hãy quay"... Quay thuận hoặc ngược chiều kim đồng hồ là do người chơi quy ước với nhau khi bắt đầu thực hành thí nghiệm. Người chơi đọc liên tục và khi thấy mâm bắt đầu quay (hoặc cảm giác mâm có xu hướng quay) thì nương theo chiều quay của mâm mà đi theo, không được cản lại. Khi mâm đã quay rồi, muốn dừng lại thì mọi người cùng đọc: "hãy dừng lại". Đọc liên tục cho đến khi mâm dừng hẳn lại mới nhấc tay ra. Như vậy, khi mọi người đặt tay lên mâm và cùng đọc khẩu lệnh thì mâm sẽ vâng lời và quay (hay dừng) theo đúng câu thần chú mọi người đang đọc. Vậy thực sự mâm quay có hiểu được ý nghĩ của con người không? Cuộc khảo nghiệm mâm quay Để tìm lời giải đáp, Liên hiệp khoa học công nghệ tin học ứng dụng (UIA) đã lập một đoàn công tác để khảo sát, tìm hiểu bản chất của hiện tượng này. Theo nhận định ban đầu của Hội đồng khoa học UIA, mâm có thể quay được khi và chỉ khi có một lực nào đó tác động vào mâm tạo ra mômen quay - lực này nằm trong mặt phẳng của mâm, có phương vuông góc với bán kính quay (tức là tiếp tuyến với đường tròn quay). Có 4 nguyên nhân có thể tạo ra mô men này, đó là: - Tác động của điện từ trường, - Tác động của lực sinh học, - Tác động của lực cơ học và - Tác động của sức mạnh siêu hình hay cõi giới tâm linh. Đoàn khảo sát chọn địa điểm khá nổi tiếng về hiện tượng mâm quay, là nhà hàng Phong Lan cạnh chùa Tàu, Đà Lạt, nơi báo chí nói nhiều trong những năm qua. Chủ nhà hàng dành riêng một căn phòng để chuyên biểu diễn tiết mục này. Chiếc mâm quay làm bằng gỗ, đặt trên một ổ trục quay được thiết kế khá công phu. Chủ nhà giới thiệu đây là chiếc mâm "gia truyền", có từ thời ông nội, đồng thời giới thiệu cả cuốn sổ ghi cảm tưởng của du khách về sự kỳ diệu của mâm quay. Trước hết, đoàn công tác lật chiếc mâm ra khỏi ổ trục quay, kiểm tra xem trong đó có cài các thiết bị có thể bị ảnh hưởng của sóng điện từ điều khiển từ xa hay không. Phương án này nhanh chóng được loại bỏ vì chẳng tìm được thiết bị nào, hơn nữa từ xa xưa, chiếc mâm đã được biểu diễn như vậy, mà lúc đó cũng chưa thể có thiết bị điều khiển từ xa bằng sóng điện từ như bây giờ. Trong đoàn khảo nghiệm còn có một số nhà ngoại cảm nổi tiếng, họ cho biết không hề tìm thấy sự can thiệp của cõi giới tâm linh trong căn phòng này. Như vậy đã loại bỏ được hai khả năng là mâm quay được do tác động của lực điện từ và cõi giới tâm linh. Thí nghiệm dương tính Để tiến hành thí nghiệm dương tính, nhóm nghiên cứu đã làm theo đúng quy trình như các nhóm khác làm trước đây: Mọi người đứng xung quanh, đặt tay trực tiếp lên mặt mâm và đọc lệnh cho mâm "quay". Lần đầu ra lệnh mâm quay theo chiều kim đồng hồ. Sau hơn 4 phút đọc "thần chú", mâm từ từ quay, càng lúc càng nhanh. Sau khoảng 5 phút, mâm được yêu cầu "dừng lại". Thí nghiệm được lặp lại, nhưng ngược chiều kim đồng hồ. Lần này, chỉ khoảng 3 phút mâm đã quay và khi muốn dừng lại cũng chỉ mất hơn 1 phút. Thí nghiệm âm tính Cuộc thí nghiệm lần ba, giao cho mỗi người tham gia một quả cầu, cỡ quả bóng bàn. Lần này mọi người không đặt tay trực tiếp lên mặt mâm như trước mà phải đặt tay thông qua quả cầu trên mặt mâm. Các quá trình đọc "khẩu lệnh" vẫn y nguyên như trước. Nhưng kỳ lạ thay, mọi người đọc đến 30 phút mà mâm vẫn không nhúc nhích. Dù đổi "khẩu lệnh" đọc ngược lại mâm vẫn trơ trơ bất động. Người chủ nhà rất ái ngại, thốt lên: "Từ trước tới nay, chưa có vụ nào làm thí nghiệm mà mâm không quay. Các bác là nhóm đầu tiên đọc thần chú mà mâm không chịu nghe lời". Lý giải về hiện tượng mâm quay Theo ông Vũ Thế Khanh, thành viên nhóm nghiên cứu của UIA, khi tay người chơi không tiếp xúc với mặt mâm mà phải gián tiếp thông qua mặt cầu, người chơi chỉ có thể tác dụng lực vuông góc với mặt mâm (mà phương này thì không gây ra mômen quay cho mâm). Quan sát kỹ các lần làm thí nghiệm, thấy rõ: người chơi dù vô tình hay cố ý đẩy tay đi thì quả cầu lập tức lăn ngay, không truyền lực ngang xuống mâm được nữa. Cách đặt lực như vậy đã làm cho mâm hết "phép lạ". Thông qua thí nghiệm này, nhóm nghiên cứu kết luận không hề có tác động của lực sinh học hay lực lượng siêu nhiên nào đó như mọi người vẫn nghĩ. Thực tế, mâm chỉ có thể quay được khi và chỉ khi người chơi đặt tay trực tiếp vào mâm tạo mômen quay cho mâm. Nếu lực này bị khử mất do quả cầu lăn thì mâm không thể quay được. Nhưng lực cơ học gây mô men quay do đâu mà có? Khi người chơi đặt tay trực tiếp lên mặt mâm, liên tục đọc khẩu lệnh thì tâm lý phát sinh tự kỷ ám thị, dần dần bị rơi vào ảo giác: hình như đang có lực vô hình nào đó làm cho mâm quay và cảm thấy mâm "chuẩn bị quay", nên người chơi có xu hướng nương theo chiều quay quy ước trong đầu. Khi đó, vô tình hay hữu ý đã gia tăng lực vào mặt mâm. Cứ như vậy, mâm sẽ quay càng lúc càng nhanh hơn. Đấy là chưa kể đến trường hợp trong số đó có một người cố tình đẩy cho mâm quay. Quá trình dừng mâm lại cũng theo nguyên tắc ấy mà phát sinh tâm lý tương ứng. Như vậy, hiện tượng mâm quay là do các lực cơ học tạo ra, chẳng phải là tác động thần bí nào cả. Thật ra, người chơi chưa thực sự trong trạng thái "vô tư", chưa thực sự "vô thức". Do vậy, khi đọc khẩu lệnh họ dần bị rơi vào ảo giác và dĩ nhiên phát sinh hiệu ứng của lực "tự kỷ ám thị". Hiệu ứng này là thủ phạm gây ra lực cơ học tạo mômen quay cho mâm. Tuy nhiên, người chơi không hề nghĩ chính mình là thủ phạm, chính mình bị tự kỷ ám thị nên khi thấy mâm quay thì cho rằng do yếu tố khách quan nào đó. Cùng thí nghiệm trên, nhóm nghiên cứu đã tiến hành với những người có công phu tu thiền hoặc yoga thì mâm không hề quay (vì họ đã tạo được trạng thái vô thức nên không bị chi phối bởi hiệu ứng của sự "tự kỷ ám thị"). (Theo Thế Giới Mới) _________________ Nguồn: http://thezoob1.14.forumer.com/a/gii-p-hin...ay_post384.html -
Xung quanh chiếc bàn xoay kỳ bí ở Nha Trang
phoenix replied to Thủy Tiên's topic in Thông Tin Cập Nhật
Đọc cái này nhớ hiện tượng bói chén. -
Hóa chất dùng tùy tiện trong nông nghiệp hiện tại đang là nguy cơ tiềm ẩn làm phá vỡ cấu trúc gen gây đột biến của nhiều loại sinh vật. Bao gồm cả động thực vật và con người. Trung Quốc hiện nay phát hiện càng ngày càng nhiều động vật và người dị dạng.
-
Phoenix còn một topic dang dở về Long, Lân, Quy, Phụng mà chưa có thời gian để post bài tiếp. Nhân ở đây nói đến con chim Lạc, góp ý nhỏ làm vui. Qua quan sát nhiều hình ảnh về chim phượng, chim trĩ, chim công thì Phoenix nhận thấy hình ảnh chim phượng mà người Trung hoa hay nói tới đã bị biến thể sang gần với hình ảnh của chim công và nó không gần gũi với văn hóa Việt. Chim phượng trong văn hóa cổ Trung Hoa được mô tả với sự cường điệu "đầu gà, hàm én, cổ rắn, lưng rùa, đuôi cá với năm màu và cao sáu thước". Tuy nhiên hầu hết hình ảnh về chim phượng đều thể hiện rất rõ cái đuôi kiều diễm, duyên dáng và sang trọng. Loài chim này mang tính truyền thuyết y hệt như rồng mà Trung Hoa mô tả. Những cái sinh ra từ tưởng tượng thì mang tính biểu tượng nhiều hơn là triết lý. Phoenix cho rằng Chim Hạc - Chim Trĩ của Việt Nam mang ý nghĩa bản cổ khác hẳn với chim Công, chim Phượng của Trung Hoa. Chim Lạc Việt gắn liền với đặc trưng của người Việt là cư dân nông nghiệp. Con chim biểu tượng cho trí tuệ, triết lý vận động cuộc sống chứ không biểu trưng cho sự quyền quý, phúc đức, trung thực, phúc hậu rất dễ hiểu trong xã hội phong kiến lâu dài của Trung Hoa. Chim Lạc Việt được mô tả chân phương đơn giản, ước lệ, thể hiện tri thức, tư tưởng giống như con chim trong quẻ Phong Sơn Tiệm và gần gũi với đời sống của cộng đồng cư dân cổ. Con cò, con vạc, con bồ nông, con hạc đều được vào vật tổ trống đồng. Chim lạc như là logo biểu trưng của người Việt cổ, chỉ bản chất đặc trưng của những người dân gắn liền với hình thái dân cư lúa nước (đầm, bãi, ao hồ), nơi mà loài chim cùng với con người sinh tồn trong một quần thể sinh thái. Hình ảnh chim Lạc cho thấy sự ban sơ, lâu đời hơn rất nhiều so với con chim Phượng (Hoàng). Phải chăng, tiếp nối nền văn minh Lạc Việt, người Trung Hoa không thể hiểu hết tính minh triết của hình ảnh "Lạc", "Rồng" nên họ mới "thêm râu, vẽ vảy" để tạo ra cho mình biểu trưng Rồng - Phượng rất mơ hồ và huyền thoại như ngày nay?
-
Vothuong có những chia sẻ cho các ACE trên diễn đàn, phải cảm ơn Vothuong mới đúng. Chuyện sai sót là chuyện thường mà.
-
Bài trắc nghiệm này khó làm nhỉ!
-
Chuyện "Đám cưới chuột" đã có tác quyền của Nhà xuất bản Kim Đồng nên không thể chia sẻ ở đây. Ai muốn đọc thì liên hệ với Phoenix nhé. B) Một bài "Thách cưới" trong truyện: Em là con gái nhà giàu Mẹ cha thách cưới ra màu xanh xao Cưới em trăm tấm gấm đào Một trăm hòn ngọc, hai mươi tám ông sao trên trời Tráp tròn dẫn đủ trăm đôi Ống thuốc bằng bạc, ống vôi bằng vàng Sắm xe tứ mã đem sang Để quan viên họ nhà nàng đưa dâu Ba trăm nón Nghệ đội đầu Một người một cái quạt Tàu thật xinh Anh về sắm nhiễu Nghi Ðình May chăn cho rộng ta mình đắp chung Cưới em chín chĩnh mật ong Mười cót xôi trắng, mười nong xôi vò Cưới em tám vạn trâu bò Bảy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm Lá đa mặt nguyệt hôm rằm Răng nanh thằng Cuội, râu hàm Thiên Lôi Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi Xin chàng chín chục con dơi góa chồng Thách thế mới thỏa trong lòng Chàng mà lo được thiếp cùng theo chân
-
Truyện "Đám cưới chuột" của nhà văn Tô Hoài đã được Nhà xuất bản Kim đồng mua bản quyền và phát hành lại năm 2004.
-
Báo cáo kết quả thi lại lái xe-Gửi anh Lạc Tướng, chị Thanh Trang
phoenix replied to Beemeo's topic in Lạc Việt Độn Toán
Anh Thiên Đồng văn thơ thật lai láng B) -
Đọc hầu hết các bài viết về bức tranh "Đám cưới chuột" đều bàn luận xung quanh ý nghĩa thâm thúy về sự phân chia quyền thế, đẳng cấp trong các giai tầng xã hội mà người ta thấy có tự xưa đến nay. Tuy nhiên, ở góc độ "ngâm cứu" dường như đó mới chỉ là cái cảm quan về bề nổi. Trong bức tranh "Đám cưới chuột" có một số chi tiết mà Phoenix thấy lưu tâm và đang còn ngẫm nghỉ: - Con mèo (vàng, trắng) - Theo Phoenix hình tượng này giống hổ nhiều hơn (cung Dần??) - Số lượng con vật - 12 con (có bức 13 tính cả "mèo") - 4 con ở trên và 8 con ở dưới (tương quan trùng với cung Ngọ trong tử vi tính từ Cung Dần); chú chuột vác quạt trùng với cung Tý (tính theo chiều ngược kim đồng hồ) - Trên bức tranh có 5 chấm đen xếp thành hình tượng Mộc, Hỏa, Kim, Thủy và Thổ (trung cung) - Màu của bức tranh - xanh, đỏ, vàng, đen và nền trắng của giấy - Có bốn bức tranh về Đám rước chuột và không bức nào giống bức nào. Bức nào của Đông Hồ - Việt Nam cổ?? Ở bức thứ 1, chuột có 12 con nhưng trang phục của con chuột Tiến sỹ lại rất giống quan lại của Trung Quốc (mũ cánh chuồn) Ở bức thứ 2, chuột chỉ có 11 con + 1 Dần = 12 con, trang phục rất đơn giản, chuột chỉ cống cá, không cống chim Ở bức thứ 3 chỉ có 11 con chuột + 1 Rồng Ở bức thứ 4, có tới 14 chuột Nhìn mấy bức tranh này nhớ bài đồng dao: Con mèo mà trèo cây cau Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà Chú chuột đi chợ đằng xa Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo Phoenix thấy bức tranh "Đám cưới chuột" có liên quan đến hình ảnh của lá số tử vi. Tiếc là thời gian hạn hẹp và khả năng cũng có hạn nên chưa tập trung để phân tích được. Chờ chú Thiên Sứ chỉ dẫn vậy.
-
TRANH ĐÔNG HỒ " ĐÁM CƯỚI CHUỘT ": CHUYỆN CỦA MUÔN ĐỜI gửi bởi chauthimyduyen vào ngày 28 Tháng 2 2008 23:18 Một trong những bức khắc hoạ nổi tiếng của làng tranh Đông Hồ là tranh " Đám cưới chuột". Tranh thể hiện khá chân thực và sinh động một hoạt cảnh đám cưới dân gian, nhân vật chính là "chuột" được nhân hoá. Tranh mang bản sắc văn hoá Việt Nam . Đây là tranh treo ngày tết cổ truyền mà dân gian ưa chuộng vì nó vui mắt và chất chứa "chuyện của muôn đời " . Trước tiên, nói về chuyện ngày xuân, các cụ thường bảo :" có nam có nữ mới nên xuân , có đôi có cặp mới nên vần " . Vì thế, tranh tết không thể thiếu chuyện cưới xin, chuyện nam nữ, tình yêu, hạnh phúc. Đó là đề tài muôn thuở . Ở góc nhìn văn hoá , tranh " Đám cưới chuột " thể hiện triết lí âm dương và tín ngưỡng phồn thực. Đối với người Việt , mọi thứ đều đi đôi từng cặp theo nguyên lí âm dương hài hoà : chuột thuộc âm , chẵn ( trong tranh có 12 con : 4 con ở trên, tám con ở dưới ), mèo thuộc dương, lẻ ( trong tranh có 1 con ) ; cô dâu ( âm ), chú rể (dương) . Chuyện mèo chuột , chuyện nam nữ xưa nay muôn đời vẫn thế ! Trong tín ngưỡng Việt Nam, chuột còn tượng trưng cho sự phồn thực ( đẻ như chuột , nơi nào có chuột là nơi đó có cái ăn, có lúa thóc " chuột sa chỉnh gạo , chuột sa hũ nếp "). Ngoài ra, tranh còn phản ánh hai mặt ( trái - phải , trên - dưới ) tồn tại song song của cuộc đời, của xã hội thu nhỏ trong hoạt cảnh vui ngày tết đầy kịch tính . Bên dưới bức tranh là cảnh đám cưới với " ngựa anh đi trước , kiệu nàng theo sau " . Cảnh thật tưng bừng và đầy màu sắc rực rỡ nào lọng che mát, biểu nghênh hôn , kiệy hoa vu quy và họ hàng nhà chuột theo hộ tống . Cả thảy tám con chuột đi theo hàng lối và trật tự , im lặng , chỉ có cái ngoáy đầu nhìn lại phía sau là thấp thoáng vẻ lo âu . Một chú chuột đi sau khiêng kiệu , ngước nhìn biểu tượng ngũ hành ( năm chấm đen). Ngũ hành tương sinh thực chất là âm dương chuyển hoá .Thì ra bên trên bức tranh mới là chuyện thú vị : mèo già đón đường đám rước . Vốn mèo-chuột xung khắc nhau nay bỗng giao hoà. Lúc này , bốn con chuột ( bên trái ) có lễ trình mèo trong ngày cưới . Mèo ( bên phải , được phóng to để phân biệt vị thế xã hội ) cũng im lặng,cụp đuôi dưới bụng,đưa tay nhận quà " chim và cá " trong tiếng loa, kèn trịnh trọng và sự khúm núm dâng hay tay của chuột . "Chim và cá" trong nhận thức của người Việt cũng là qui luật của trết lí âm dương , dựa theo thành ngữ " nhất điểu nhì ngư " thì mọi việc sẽ trôi chảy mau lẹ , để đám rước được an toàn . Nhưng chuyện gì trôi chảy mau lẹ ? chuyện gì đang diễn ra đây ? Đó là mặt trái của cuộc đời , của xã hội : chuyện hối lộ , tham ô . Chuyện này vẫn diễn ra từ xưa đến nay nên đã thành chuyện muôn đời . Bởi phản ánh một cách tế nhị , sâu sắc xã hội qua hoạt cảnh vui ngày tết nên tranh " Đám cưới chuột " sống mãi trong dân gian . Tranh không chỉ vẽ chuyện ngày xưa , chuyện mèo chuột mà là "chuyện của muôn đời" . Nguồn : vanhoahoc.edu.vn
-
Nguyên tác bài viết trên của tác giả Nguyễn Dư Ngày Tết, thử bàn về một tấm tranh Tết Người viết: Nguyễn Dư 30/12/2007 Đám cưới chuột và Trạng chuột vinh quy. Hai tấm tranh cùng mô tả một đám rước có đủ cả cờ quạt, kèn trống, lễ vật. Giữa đoàn rước là hai nhân vật chính, chàng chuột đội mũ cưỡi ngựa đi trước, nàng chuột ngồi kiệu theo sau. Sừng sững giữa đường, một lão mèo già hung dữ ngồi cản lối, giơ vuốt dọa nạt. Tùy theo trong tranh có chữ nghênh hôn, chú rể, hay tiến sĩ, vinh quy người ta gọi là tranh Đám cưới chuột hay Trạng chuột vinh quy. Những ai thích tranh Tết Việt Nam chắc đều biết hai tấm Phân tích ý nghĩa của tranh, các học giả nhận xét rằng: - "Đề tài (tranh Đám cưới chuột) giống tranh Trạng chuột vinh quy: phải đút lót đám quan lại" (1). - "Thoáng nhìn tờ tranh "Trạng chuột vinh quy" còn gọi là tranh "Đám cưới chuột", ta thấy bức tranh diễn tả một đám rước quan trạng chuột vinh quy rất vui. Cũng kèn trống, cờ quạt, mũ mãng, cân đai chỉnh tề, "Chuột anh" cưỡi ngựa hồng đi trước, "Chuột nàng" ngồi kiệu theo sau, đám rước tiến hành trong không khí trang nghiêm, nhưng thực ra họ nhà chuột vẫn có vẻ lo sợ, thấp thỏm, ngơ ngác, mắt lấm la lấm lét nhìn trước nhìn sau. Thực tế chuột rất sợ mèo, không phải là kẻ dễ dàng để chúng đi lại tự do, nghênh ngang như vậy. Nên muốn được yên thân thoát khỏi nanh vuốt "mèo già", họ nhà chuột đã phải trịnh trọng kèn trống rước lễ vật dâng biếu chú mèo đang vểnh râu, trừng mắt ngồi chờ, nào là chim câu béo, cá chép to là những thứ mèo ưa thích nhất, nhưng đồng thời cũng là những lễ vật người dân lao động xưa thường phải đem biếu xén đút lót cho bọn cường hào quan lại. Tính độc đáo của tranh "Trạng chuột vinh quy" là biểu hiện sự chống đối tích cực của nhân dân về tệ nạn tham ô, ăn đút lót của bọn thống trị, là tiếng cười hóm hỉnh mỉa mai sâu cay của nhân dân lao động đối với chúng. Mặc dù trong tranh không chú thích cụ thể về ý đồ phản ánh của tác giả, nhưng nhân dân vẫn hiểu rõ cái chất đả kích của tranh"(2). - "Tranh Chuột đỗ trạng nguyên vinh quy bái tổ, ngựa anh đi trước, kiệu nàng đi sau. Và đám rước vinh quy này mang chim, mang cá tới biếu chú mèo. Trên bức tranh có đề mấy hàng chữ: “Thử bối đệ ngư: chí, chí, chí” nghĩa là đàn chuột dâng cá kêu chí, chí, chí. “Miêu nhi thủ lễ:mưu, mưu, mưu” nghĩa là chú mèo giữ lễ: meo, meo, meo. Lại có hàng chữ nôm ở góc trái phía trên: Tác lạc: nghĩa là làm vui Khôn khôn khôn đã có dễ Đỗ cao cưới vợ tiếng rằng hời Bức tranh này còn gọi là tranh Đám cưới chuột (3). Các nhận xét về ý nghĩa của tấm tranh đều giống nhau. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là tại sao cùng một tấm tranh vẽ một đám rước, hay nói đúng hơn là hai tấm tranh có cùng nội dung, bố cục mà lại có thể lúc thì là đám cưới, lúc khác lại là đám rước vinh quy? Như vậy hóa ra hai đám rước giống nhau? Điều này còn có nghĩa là các học giả mặc nhiên công nhận rằng dù cưới hỏi hay vinh quy, vô danh tiểu tốt hay bảng vàng bia đá, trong cả hai trường hợp các đương sự đều phải đút lót, hối lộ cho quan chức địa phương? Sau lũy tre xanh ngày xưa, đám chuột đồng, chuột nhắt sợ cụ mèo nanh vuốt là chuyện bình thường, dễ hiểu. Nhưng đến cả hàng chức sắc cũng phải sợ hạng chức dịch trong làng thì quả thật là chuyện khó hiểu, khó tin. E rằng tấm tranh có vấn đề, cần phải đem ra bàn. Trước khi bàn, chúng ta hãy cùng nhau trở về xem Rước dâu và Rước trạng nguyên của xã hội ngày xưa. Hy vọng rằng sau đó chúng ta sẽ rút ra được một kết luận. Rước dâu Tục lệ cưới hỏi ngày xưa ở nước ta bắt chước tục của Tàu nên rất rườm rà, phiền toái. Đại để có 6 lễ: - Nạp thái: nhà trai và nhà gái đính ước. - Vấn danh: nhà trai hỏi tên tuổi, ngày sinh tháng đẻ của cô gái. - Nạp cát: tuổi tác, ngày sinh đôi bên thuận hợp, nhà trai chấp nhận đính ước. - Nạp tệ: nhà trai làm lễ hỏi. - Thỉnh kì: nhà trai xin làm lễ cưới. - Nghênh hôn: lễ cưới, rước dâu. Đến đời Lê và đời Nguyễn thì tục lệ cưới hỏi đã dần dần được thay đổi, bớt nặng nề tốn kém, rút ngắn thời gian chờ đợi. Ngày nay từ thôn quê đến thành phố chỉ còn giữ lễ hỏi và lễ cưới. Có khi cả hai lễ được gồm chung, tổ chức cùng ngày cho tiện. Rước dâu nghĩa là nhà trai đến nhà gái để làm lễ rước cô dâu về nhà chồng. "Về vùng hương thôn với nhau, cưới thường đi về đêm. Lúc đi, phải chọn giờ hoàng đạo mới đi, và phải có một người đàn ông dễ tính ra đón ngõ trước, khi ra thì reo ầm cả lên rằng gặp giai, để cho mọi việc được dễ dàng mau mắn. Trong đám cưới có một ông già (kén ông nào hiền lành, mà vợ chồng còn song toàn, lắm con nhiều cháu mới tốt) cầm một bó hương đi trước, rồi đến các người dẫn lễ, kẻ đội mâm cau, người khiêng lợn rượu v.v...Chú rể thì khăn áo lịch sự, có một đám thân thích dẫn đi. Khi đến nhà vợ, dàn bày đồ lễ, người chủ hôn nhà gái khấn lễ gia tiên rồi thì người rể vào lễ (...). Sáng hôm sau thì đưa dâu, nhà trai nhà gái cùng ăn mừng, làm cỗ bàn mời bà con khách khứa (...). Đưa dâu, nhà gái cũng kén một ông già cầm bó hương đi trước, rồi bà con họ hàng dẫn cô dâu đi sau. Đến nhà trai rồi thì một vài bà già dẫn cô dâu vào lạy gia tiên, rồi đưa đi lễ nhà thờ đôi bên bố chồng mẹ chồng (...)(4). Xưa kia, nước ta không có sổ giá thú, thay vào đấy có lễ nộp cheo cho làng. Trước khi cưới, nhà trai phải nộp cheo cho làng của nhà gái. Nộp bằng tiền hay bằng phẩm vật, nhiều hay ít, tuỳ theo lệ của từng làng. Nộp cheo có giá trị như khai báo sổ sách ngày nay. Dọc đường đến nhà gái, thỉnh thoảng nhà trai lại bị trẻ con chăng dây chắn lối, phải cho tiền chúng mới cởi dây cho mọi người đi qua. Lại có đám xin tiền bằng bánh pháo mừng, hoặc bày hương án giữa đường... Nộp cheo, chăng dây, bày hương án cũng là dịp để các chức dịch, người làng, mè nheo, vòi vĩnh tí ti. Đón dâu và rước dâu ngày xưa toàn đi bộ. Sang đầu thế kỉ 20, tại một vài thành phố lớn bắt đầu dùng xe tay, xe song mã. Ngày nay nhiều nơi dùng xe hơi. Phương tiện tuy có thay đổi theo thời, nhưng từ xưa tới nay chưa nghe nói có đám cưới nào có chú rể cưỡi ngựa đi trước, cô dâu ngồi kiệu theo sau, xung quanh nào cờ, nào quạt như trong tranh vẽ! Phải thừa nhận rằng tranh Đám cưới chuột mô tả không đúng một tục lệ quan trọng ngày xưa! Chẳng lẽ nghệ nhân dân gian lại sai lầm như vậy? Rước trạng nguyên Trạng nguyên là người đỗ đầu kì thi cao nhất của khoa cử ngày xưa. Cho tới đầu thế kỉ 20, thi cử ở nước ta được tổ chức mỗi 3 năm một lần. Có 3 kì thi chính là thi hương, thi hội, thi đình. 1- Trước khi thi hương, tất cả sĩ tử phải qua kì sát hạch. Ai đỗ sát hạch mới được ghi tên dự thi hương. Thi hương, được tổ chức ở một số tỉnh lớn như Thừa Thiên, Gia Định, Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Định, Hà Nội (về sau Nam Định và Hà Nội nhập làm một thành Hà Nam), gồm có 4 kì. Phải đủ điểm kì trước mới được vào kì sau. Ai đủ điểm qua được 3 kì đầu thì được vào dự kì chót là kì phúc hạch. Cộng điểm cả 4 kì, điểm cao được đỗ cử nhân, thấp thì đỗ tú tài. Các ông tân khoa cử nhân được quan trường ban thưởng một bộ áo mũ, một cái lọng xanh, được mời ăn yến. Chờ đến năm sau đi thi hội. 2- Thi hội: Các ông cử nhân, tú tài, giáo thụ, huấn đạo, được quyền ghi tên thi hội, tổ chức tại kinh đô. Thi hội cũng chia ra làm 4 kì. Ai đủ điểm thì được vào thi đình. 3- Thi đình: đây là kì thi sau cùng để sắp hạng cao thấp, tổ chức tại sân trong cung điện nhà vua. Thi đình được nhà vua ra đầu bài và chứng kiến cuộc thi. Các quan trường chấm bài, đệ lên vua duyệt lại. Điểm cao thì được đỗ tiến sĩ, thấp thì đỗ phó bảng. Đời Lê, ba ông tiến sĩ đỗ đầu được gọi là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa. Những người đỗ tiến sĩ được xướng danh. Tên tuổi, quê quán được ghi khắc vào bảng vàng, bia đá. Các ông tân khoa tiến sĩ được nhà vua ban cho mũ áo, cân đai, được mời ăn yến. Các ông còn được cưỡi ngựa xem hoa ở vườn thượng uyển, dạo chơi thăm phố xá kinh kì. Trong lúc các ông tân khoa còn vui chơi nơi cung điện, phố phường, thì các chức dịch ở làng được lệnh phải tổ chức đón rước các ông về vinh quy bái tổ. "Đỗ tiến sĩ được nhà vua ban cho áo mũ xiêm ủng, và ban cho cờ biển vinh qui. Cả hàng tổng hoặc nơi trọng văn học thì cả hàng tỉnh phải đem đồ nghi trượng sự thần đi rước. "Ông tân khoa tiến sĩ mặc áo thụng lam, cưỡi ngựa, che đôi lọng, cha mẹ, vợ và ông thầy dạy học mỗi người ngồi một cái võng trần, che một lọng rước vinh qui về làng, thiên hạ kéo nhau đi xem, lại vinh hiển hơn cử nhân nhiều" (4). Nhiều người trong chúng ta còn nhớ đám rước Thời trước: ...Một quan là sáu trăm đồng Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi Chồng tôi cưỡi ngựa vinh qui Hai bên có lính hầu đi dẹp đường Tôi ra đón tận gốc bàng Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem... Nguyễn Bính Anh chồng trong câu chuyện tuy chỉ đỗ tú tài hay cử nhân, chị vợ chưa được ngồi võng, thế mà đám rước cũng đã có vẻ khá long trọng, có lính dẹp đường, có cả làng ra xem. Rước trạng nguyên, tiến sĩ chắc hẳn còn linh đình, rầm rộ hơn nhiều, có cả tổng, cả tỉnh đi xem! Kể từ kì thi lều chõng đầu tiên tổ chức năm 1075, cho đến kì cuối cùng năm 1919, trong suốt gần 9 thế kỉ xã hội phong kiến Việt Nam đã tôn giới nho học lên hàng đầu tứ dân (sĩ, nông, công, thương), dùng khoa cử để tuyển chọn nhân tài. Các ông trạng, ông nghè (tiến sĩ), ông cử, ông tú chia nhau nắm giữ quyền hành. Trạng nguyên, tiến sĩ là biểu tượng của thành công, phú quý, là mẫu người lí tưởng của các chuyện cổ tích có hậu. Các ông thuộc tầng lớp cao nhất của giới quan lại. Từ năm Bảo Thái thứ 2 (1721) về sau, "Duy có chức ngự sử là chức quan đứng đầu trong việc giữ phong hóa pháp điển, chức sứ thần là người có trách nhiệm ngoại giao, tất phải kén người đỗ tiến sĩ, quan tiến triều thì không được dự "(5). Đời Lê, trạng nguyên được cấp 55 người tuỳ hành (những người hầu hạ, sai bảo), bảng nhãn được 50 người, thám hoa chỉ được 45 người. Trạng nguyên, tiến sĩ còn được quyền chọn đất trong tổng để làm nhà. Hàng huyện làm cổng, hàng tổng làm nhà Chọn chỗ nào, hàng huyện phải cho người tới làm cổng, hàng tổng phải cắt người tới đắp nền xây nhà tại chỗ đó. Đặc ân to lớn như vậy nên mới có cảnh: Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng Chưa đỗ tiến sĩ mà đã vậy, huống hồ đỗ trạng nguyên thì phải biết! Xem thế thì đủ thấy rằng các chức dịch trong làng, các quan lại địa phương dù có gian ác, hống hách đến mấy cũng chỉ dám bắt nạt, hà hiếp đám dân thường thấp cổ bé họng, chứ không ai lại dại dột đụng vào gia đình, họ hàng các ông quan lớn tương lai của triều đình. Cho dù có điếc không sợ súng, cũng chả có mèo già nào dám chơi trò vuốt râu hùm, ra ngồi cản đám rước vinh quy của vợ chồng quan trạng. Lớ quớ thì chỉ có nước tù mọt gông! Nói rằng gia đình, họ hàng trạng chuột phải lo sợ, thấp thỏm, mắt lấm la lấm lét nhìn trước nhìn sau, đem lễ vật đi đút lót, hối lộ mèo già, là không có căn cứ. Có chăng là chính mèo già phải lo sửa soạn chạy chọt, đút lót gia đình, họ hàng quan trạng để được một chân điếu đóm ! Chẳng lẽ người vẽ tranh Trạng chuột vinh quy lại tỏ ra không hiểu gì về uy quyền của quan trạng? Tôi không dám nghĩ có chuyện lạ như vậy! Nhưng rõ ràng là tranh Đám cưới chuột và Trạng chuột vinh quy đều không tả đúng tục lệ ngày xưa. Vậy phải hiểu tấm tranh ra sao? Phân tích bố cục của tấm tranh chúng ta thấy dường như tranh được chia thành hai phần, lằn chia khá rõ nét : - Nửa dưới vẽ một đám rước trạng nguyên vinh quy. Đoàn rước đi trên đường cái, hoặc đường làng đã được dọn sạch cỏ, có cờ biển, "ngựa chàng đi trước, kiệu nàng theo sau". - Nửa trên vẽ một đám rước ở thôn quê, hai bên đường cỏ mọc. Đám rước có kèn trống, lễ vật, bị mèo già chắn lối. Đám rước trạng nguyên được vẽ đúng như sách vở mô tả, dễ hiểu. Còn đám rước bị gặp khó khăn, thì thật là khó hiểu. Cảnh này xảy ra ở đâu ? Trong kho tàng văn hoá truyền thống Liễu Đôi có bài thơ ngụ ngôn Đám cưới chuột (6): Mẹ chuột cũng quyết một lòng Chỉ còn một nỗi sợ ông mèo già. Mèo già tính khí la cà, Này rượu hàng hũ, này gà hàng con. Ông mà đã nóng máu lên, Thì thôi tan nát chả còn thứ chi! ... Cưới chuột thì thật là to, Dãy dài dãy ngắn giăng bờ như nêm. Bỗng dưng dừng lại phía trên, Hai họ ngơ ngác ngó lên sự gì? Một đàn mèo xám mặt bì, Cầm dao,cầm gậy lại thì cản ngăn. Mèo Già nhảy đến nhe răng: - "Tao thì lột xác không thằng nào tha! Chúng mày ăn uống la đà, A!Quân xỏ nõ, khinh già nhơn nhơn!" Chuột Trùm mới vái lạy luôn: - "Xin ngài độ lượng rộng lòng thương cho! Sông sâu còn lúc vắng đò, Bởi vì con trẻ biết lo liệu gì! Mong ngài phù hộ độ trì, Chúng con biết rõ mình thì thật hư!" ... Một trời nước biếc non xanh, Đàn chuột lũ lượt vòng quanh bờ dài. Đi đầu là họ nhà trai. Chú rể áo dài quần áo thướt tha. Chuột Trẻ cho chí Chuột Già, Những là áo lượt quần là tốt tươi. Chuột Vàng dâng quả, đội cơi, Miếng trầu thơm miệng đỏ môi họ hàng(...). Nửa trên của tấm tranh chính là minh hoạ của phần đầu Đám cưới chuột này. Nếu đúng là tấm tranh có hai phần như vậy thì chúng ta lại phải trả lời câu hỏi vì sao nghệ nhân lại vẽ hai đám rước khác nhau trên cùng một tấm tranh? Căn cứ vào lời chú trong tranh Bằng Liệt tân khắc lão thử thủ tân (Bằng liệt mới khắc lại chuột già lấy vợ), chúng ta được biết rằng tấm tranh này mới được khắc lại, không rõ năm nào. Đây chỉ là một trong số nhiều dị bản (Durand đưa ra 3 bản (1), Trung quốc có 4 bản (7), mới đây Nguyễn Đăng Chế lại "phục hồi vốn cổ ", khắc thêm 1 bản). Các dị bản được nghệ nhân sửa đổi tuỳ hứng. Ngày nay chúng ta có tranh ghi bằng chữ hán, chữ nôm, chữ quốc ngữ. Tôi cho rằng trong quá trình tái tạo, có nghệ nhân nào đó đã đem ghép hai tấm tranh cùng vẽ đám rước - rước dâu và rước vinh quy - để làm thành một tấm mới. Việc làm gán ghép này đã vô tình tạo ra một nội dung "đầu mèo đuôi chuột" khó hiểu. Các nghệ nhân đời sau tiếp tục chép lại tấm tranh ghép này, không thắc mắc gì cả. Trường hợp ghép tranh như vậy còn được thấy ở tấm Du Xuân đồ trong sách của Durand (1). Ai đó đã ghép hai tấm tranh Tết biệt lập của bộ tranh Oger, đồng thời sửa đổi cả các câu thơ nôm của chính bản. Chúng ta có thể tạm kết luận rằng tấm tranh Tết nổi tiếng của ta đã được ghép từ hai tấm tranh khác nhau, nửa trên là Đám cưới chuột, nửa dưới là Trạng chuột vinh quy. Các chữ trong tranh đã được người đời sau sửa đổi, thêm bớt một cách tuỳ tiện. Nguyễn Dư Tài liệu tham khảo 1-Maurice Durand, Imagerie populaire vietnamienne, EFEO, Paris,1960 2-Nguyễn Bá Vân-Chu Quang Trứ, Tranh dân gian Việt Nam, NXB Văn Hóa,1984 3-Toan Ánh, Làng xóm Việt Nam, NXB Xuân Thu, Hoa Kì 4-Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, NXB Tổng hợp Đồng Tháp,1990 5-Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí (Quan chức chí), NXB Sử học, Hà Nội,1961 6-Bùi Văn Cường-Nguyễn Tế Nhị, Khảo sát văn hóa truyền thống Liễu Đôi, NXB KHXH, Hà Nội, 1982 7-Văn Ngọc, Tranh khắc gỗ dân gian, Diễn Đàn số 88, Paris,1999 Cập nhật ( 30/12/2007 ) Nguồn: vietccsf.org
-
Không biết vì sao mấy hình trên đưa vào đây lại bé tẹo. Nhờ BQT chỉ dẫn giúp nhé.
-
Tiếp theo... Bloc tem này được thiết kế theo bức "Lão thử thú thê" của Trung Quốc? Bức tranh của Trung Quốc có tên gọi "Lão thử thú thê" (Lão chuột cưới vợ), là tranh mộc bản Niên Họa Trung Quốc đời Thanh, khắc in tại Thiệu Dương, Hồ Nam Bức Niên Họa "Lão thử thú thê" này, do nhà văn Lỗ Tấn từng trân giữ và gọi nó là thể tài đích thực truyền thống của Trung Quốc. Ông có nói đến trong tập tản văn "Triêu hoa tịch thập" (1926), chương “Miêu-cẩu-thử”: “Trước giường tôi có dán hai bức Niên hoạ, một là Bát giới chiêu thân (Bát Giới ở rể)... mà tôi không thấy đẹp mắt cho lắm; còn bức kia là Lão thử thú thê vô cùng đáng yêu, từ chú rể, cô dâu, chủ hôn, tân khách, giúp việc, nhân vật nào mõm cũng nhọn, đùi nhỏ, đuôi dài, râu tua, trông rất giống kẻ sĩ, nhưng ăn mặc thì áo hồng, khố lục...” Đàn chuột trong tranh này về hình thể, đường nét, bố cục (cũng phân thành hai phần trên và dưới) và các hàng chữ có thể nói là giữ nguyên văn như trong bức "Đám cưới chuột" của ta. Cũng có tống lễ cho mèo, ban nhạc, đánh chiêng thổi kèn, rước đèn, phu kiệu... Chú rể cưỡi ngựa quay đầu nhìn về hướng cô dâu. Chỉ có vài chi tiết khác là đầu chú rể đội mũ quan triều Thanh (trong bức Đông Hồ là loại mũ cánh chuồn của trạng nguyên) và tay có cầm quạt. Còn hai bên khung cửa kiệu hoa (theo phối cảnh đối xứng) dán 2 câu đối: “Càn khôn định hĩ” (Trời đất định rồi), “Chung cổ lạc chi” (Chuông trống vui vầy). Còn hàng chữ trên cùng bức tranh, có 12 chữ khải: “Sở nam Than trấn tân khắc Lão thử thủ thân toàn bản” và “Bảo duyệt lai” phỏng như tự hiệu, cho biết bức tranh này làm tại Hồ Nam, Thiệu Dương, Sở Nam Than khắc ấn. Nguồn: Toàn Trung Quốc có hơn 80 loại tranh "Lão thử thú thê" được in khắc, nhưng đa số đều họa hình tượng mèo là kẻ thù tự nhiên của chuột, tức vẽ ra thảm kịch chuột là “món ăn” của mèo. Thế nhưng bức Lão thử thú thân của phường tranh Than Đầu này không thường tình ở chỗ là nó không khắc hoạ cái thảm cảnh đó. Cũng như bức đám cưới chuột của Đông Hồ cũng không gây ấn tượng nào về con mèo xuất hiện như một tai hoạ. Như vậy, cách giải thích về bức tranh đám cưới chuột này phải khác và đứng độc lập theo ý nghĩa “cát tường” (là sự tốt lành, thuận lợi, may mắn) của ngày Tết. Rõ ràng ý hướng của của bức tranh này không phải mô tả tình huống rủi ro, bất hạnh. Vì đây là bức tranh gây sự thích thú với trẻ em, nó được “nhi đồng hoá” không còn nhìn sự việc mèo chuột như kẻ thù của nhau trên thực tế. Đồng thời thế giới cổ tích này phản ánh sự cho phép của chúng ta nhìn về một thế giới đại đồng (như trong Dế mèn phiêu lưu kí), thể hiện một sự hoà thuận, cộng tồn, hướng tới nhân tình. Trong ý nghĩa này thì thái độ của người đối với chuột cũng thế, theo tập tục dân gian Trung Quốc xưa, cứ vào mùng 7 tháng Giêng người ta làm lễ cúng cho sinh hoạt của loài chuột, cũng gọi là "Lão thử giá nữ" (Lão chuột gả con gái) hay "Lão thử thú thê" (Lão chuột cưới vợ). Đây có lẽ là “lí do tồn tại” hoạt cảnh bức tranh đám cưới chuột. Và có lẽ người Tàu gián tiếp cũng muốn cầu phồn thực, sinh con đẻ cái như... chuột vậy! Cũng lưu ý và không thể bỏ qua cách chơi chữ nghĩa trong dân gian của người Trung Quốc trong các biểu tượng mang nghĩa cát tường. Hàng chuột trên cùng trước đội nhạc có hai con khiêng lễ vật: ôm gà, nâng cá. “Kê” 鸡 (ji) đồng âm với “cát” (jí) 吉; “ngư” (yú) 鱼 đồng âm với “dư” (yú) 余. Mọi mùa tốt lành, quanh năm dư đủ là lời chúc đẹp cho đám cưới chuột. Dân gian thường dùng hình tượng “kê dương” (ji yáng) 鸡羊 (gà, dê) biểu tượng “cát tường” (ji xíang), lấy “liên hoa lí ngư” 莲花 鲤鱼 (hoa sen và cá chép) biểu hiện “liên niên hữu dư” 连年有余 (hàng năm dư đủ),... đã sớm trở thành nhận thức chung. Như vậy, “kê” cũng là nguyên hình của “phượng”, “lí ngư khiêu long môn” tức cá chép vượt vũ môn thành rồng (cũng chỉ việc đỗ đạt). Ở đây “kê” và “ngư” cũng tượng trưng cho “phượng và long”. Long phượng tức âm dương, càn khôn, nam nữ, vợ chồng. Vì thế “long phượng trình tường” là nghi thức không thể thiếu trong ngôn ngữ chúc tụng hôn nhân. Về nguồn gốc tranh Tết dân gian Việt Nam, có ý kiến cho rằng: tranh mộc bản dân gian Việt Nam - chủ yếu loại tranh dân gian Tết - nguyên thuỷ bắt nguồn từ tranh mộc bản Niên Họa (hay tranh Tết) của Trung Quốc. Hai dòng tranh dân gian tiêu biểu là Đông Hồ và Hàng Trống, về phong cách và đặc điểm chịu ảnh hưởng: Đông Hồ gần với dòng tranh Duy Phường hoặc Dương Gia Bộ (ở Sơn Đông). Hàng Trống gần nhất với dòng tranh nổi tiếng Dương Liễu Thanh (ở Thiên Tân), do sắc thái nghệ thuật và kĩ thuật mộc bản (khắc nét rồi tô màu bằng tay và cũng thường đi về các đề tài truyện, tích). Vấn đề này cần được nghiên cứu một cách khoa học để xác định rõ nguồn gốc của tranh Tết dân gian Việt Nam. Nguồn: http://www.vietstamp.net
-
"Đám cưới chuột" qua tem: Trong dòng tranh Đông Hồ có một tấm tranh được đề tên khác nhau “Đám cưới chuột” hay “Trạng chuột vinh quy”. Thoáng nhìn tờ tranh "Trạng chuột vinh quy” hay “Đám cưới chuột", ta thấy bức tranh diễn tả một đám rước đầy đủ kèn trống, cờ quạt, lễ vật. Đám rước tiến hành trong không khí trang nghiêm,nhưng rất vui. Giữa đoàn rước là hai nhân vật chính: "Chuột anh" mũ mãng, cân đai chỉnh tề, cưỡi ngựa hồng đi trước, "Chuột nàng" ngồi kiệu theo sau. Sừng sững giữa đường, một lão mèo già hung dữ ngồi cản lối, giơ vuốt dọa nạt. Tùy theo trong tranh có chữ nghênh hôn, chú rể, hay tiến sĩ, vinh quy người ta gọi là tranh “Đám cưới chuột” hay “Trạng chuột vinh quy”. Nhìn sâu trong nét vẽ ta nhận thêm rằng họ nhà chuột vẫn có vẻ lo sợ, thấp thỏm, ngơ ngác, mắt lấm la lấm lét nhìn trước nhìn sau.Trên bức tranh có đề mấy hàng chữ : Thử bối đệ ngư: chí, chí, chí nghĩa là đàn chuột dâng cá kêu chí, chí, chí. Miêu nhi thủ lễ: mưu, mưu, mưu nghĩa là chú mèo giữ lễ kêu meo, meo, meo. Lại có hàng chữ nôm ở góc trái phía trên: Tác lạc nghĩa là làm vui Khôn khôn khôn đã có dễ Đỗ cao cưới vợ tiếng rằng hời Tổng thể tấm tranh toát lên việc họ nhà chuột muốn được yên thân thoát khỏi nanh vuốt "mèo già", đã phải trịnh trọng kèn trống rước lễ vật chim câu béo, cá chép to dâng biếu chú mèo đang vểnh râu, trừng mắt ngồi chờ. Tính độc đáo của tranh là biểu hiện sự chống đối tích cực của nhân dân về tệ nạn tham ô, ăn đút lót của bọn thống trị, là tiếng cười hóm hỉnh mỉa mai sâu cay của nhân dân lao động mặc dù trong tranh không chú thích cụ thể về ý đồ của tác giả. Vậy sao hai tấm tranh có cùng nội dung, bố cục mà lại có thể lúc là đám cưới, lúc khác lại là đám rước vinh quy? Phân tích bố cục của tấm tranh chúng ta thấy dường như tranh được chia thành hai phần, lằn chia khá rõ nét (bản khắc chính thống thì rõ nét hơn ) : - Nửa dưới vẽ một đám rước trạng nguyên vinh quy. Đoàn rước đi trên đường cái, hoặc đường làng đã được dọn sạch cỏ, có cờ biển, "ngựa chàng đi trước, kiệu nàng theo sau". - Nửa trên vẽ một đám rước ở thôn quê, hai bên đường cỏ mọc. Đám rước có kèn trống, lễ vật, bị mèo già chắn lối giống như bài thơ ngụ ngôn "Đám cưới chuột" trong kho tàng văn hoá truyền thống Liễu Đôi. Nếu đúng là tấm tranh có hai phần như vậy thì chúng ta lại phải trả lời câu hỏi vì sao nghệ nhân lại vẽ hai đám rước khác nhau trên cùng một tấm tranh? Căn cứ vào lời chú trong tranh "Bằng Liệt tân khắc lão thử thủ tân" (Bằng liệt mới khắc lại chuột già lấy vợ), chúng ta được biết rằng tấm tranh này mới được khắc lại, không rõ năm nào. Đây chỉ là một trong số nhiều dị bản. Các dị bản được nghệ nhân sửa đổi tuỳ hứng. Ngày nay chúng ta có tranh ghi bằng chữ hán, chữ nôm, chữ quốc ngữ. Và trong quá trình tái tạo, nghệ nhân nào đó đã đem ghép hai tấm tranh cùng vẽ đám rước - rước dâu và rước vinh quy - để làm thành một tấm mới. Việc làm gán ghép này đã vô tình tạo ra một nội dung "đầu mèo đuôi chuột" khó hiểu. Các nghệ nhân đời sau tiếp tục chép lại tấm tranh ghép này, không thắc mắc gì cả. Vậy thì tấm tranh Tết nổi tiếng của ta đã được ghép từ hai tấm tranh khác nhau, nửa trên là "Đám cưới chuột", nửa dưới là "Trạng chuột vinh quy". Các chữ trong tranh đã được người đời sau sửa đổi, thêm bớt một cách tuỳ tiện. Nguồn: http://www.vietstamp.net (Còn nữa)
-
Kiến trúc làng trong tâm thức người Việt 07/09/2008 09:04 (GMT + 7) Cấu trúc làng truyền thống với những với những yếu tố điểm như con đê, cổng làng, đình làng, cây đa, bến nước, những nhà vườn - ao khép kín hài hòa, cân bằng với môi trường thiên nhiên, là những đặc trưng cần được bảo lưu và hoàn thiện trong tiến trình phát triển mới. Cổng một làng quê Việt Nam (Nguồn: vitinfo.com.vn) "Qua đình ngả nón trông đình / Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu..." Quê tôi là vùng đất bãi sông Hồng. Mẹ kể, tôi sinh vào một ngày đông muộn. Bà đỡ đã tắm cho tôi bằng thứ nước sông Hồng đã được đánh phèn để bớt đi cái mầu phù sa đỏ quạch. Thuở ấy, với tôi, khái niệm về quê hương cứ nhạt nhòa, xa vời vợi… bởi suốt tuổi thơ tôi lớn lên trong lòng Hà Nội. Hình ảnh về làng quê với mái đình, con đê, bến sông… đến với tôi chỉ qua những chuyện kể của bà, những bài ca dao trên ghế nhà trường mà thầy giáo già dạy tôi thường ngâm nga, tựa như: Qua đình ngả nón trông đình / Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu. Hay những câu thơ của cha tôi: Ngày Xuân trai gái trong thôn / Sang đò trẩy hội trống dồn năm canh / Đò sang lặng gió không trành / Mấy cô nghiêng bóng soi mình sửa ngôi. (Đò chiều – Xuân Thiêm ). Vậy mà, như mảnh đất phù sa bồi đắp theo tháng năm, hình ảnh về quê hương, về cái nôi tôi sinh cứ dầy lên rõ nét, sâu đậm dần cùng với vốn sống, sự hiểu biết của một người đến độ trưởng thành… Nghề kiến trúc đã cho tôi cơ hội đi nhiều, đến với nhiều vùng miền của đất nước. Để cho tôi được trở về, với niềm đau đáu, đam mê … mong tìm thấy ở làng quê nhỏ bé của mình nói riêng và của nông thôn nói chung một cái gì đấy, giản dị thôi, mà sao lại có sức hấp dẫn đến vậy. Dẫu rằng, vùng quê nơi tôi đến hay trở về vẫn còn nghèo lắm, rất nghèo so với những đổi thay đến chóng mặt nơi phồn hoa đô thị trong nền kinh tế thị trường ngiệt ngã. Dấu ấn của kiến trúc làng là gì? Giáo sư kiến trúc Đặng Thai Hoàng, một người có những kiến giải sâu sắc về kiến trúc đô thị thường trăn trở nói với tôi, đô thị của chúng ta, kể cả các thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh đều thiếu những "điểm nhấn" hay "Yếu tố điểm" (Landmarks). Mà theo ông, "Landmarks" là hình ảnh gây ấn tượng cho con người với đô thị, nó tạo ra sự nhận biết về phương hướng, vị trí trong thành phố hoặc trong khu vực. Đó là một loại ký hiệu của cấu trúc đô thị như tháp Eiffel (Paris – Pháp), tháp truyền hình Tower ở Toronto (Canada), tòa tháp đôi Petronas ở Kuala Lumpur (Malaysia)… Tôi đồng ý với nhận xét của ông. Đấy là về đô thị. Còn kiến trúc nông thôn, mà tôi gọi là kiến trúc làng, thì cái cột mốc hay yếu tố điểm kia là cái gì? Đình làng Nông Lục (Bắc Sơn-Lạng Sơn). Ảnh nguồn: photobucket Tôi đã dự nhiều cuộc hội thảo khoa học của các nhà quản lý, của giới quy hoạch, kiến trúc, được nghe nhiều lý luận cao siêu, chung chung có tiếng kêu gọi khi bàn về kiến trúc nông thôn của nhiều vị thức giả. Nhưng những nghiên cứu có tính thực tiễn thì vẫn hiếm hoi lắm! Trên thế giới, không quốc gia nào lại không tồn tại hai môi trường cư trú: Đô thị và Nông thôn. Mà đã có nông thôn là có làng. Nhưng có lẽ, không ở đâu có cấu trúc làng như ở nước ta - Làng Việt. Một kiểu làng đặc trưng của đồng bằng Bắc bộ, sản phẩm của nền văn minh lúa nước, canh tác lạc hậu với “con trâu đi trước, cái cày theo sau". Làng Việt truyền thống có cấu trúc không lớn. Làng nằm kề cánh đồng, ruộng lúa, sở hữu của cư dân trong làng. Làng nọ cách làng kia cũng bởi cánh đồng làng. Từ hàng nghìn đời nay, mối quan hệ xã hội trong làng chủ yếu là thứ quan hệ “ Gia đình – họ hàng – làng nước". Có nhà nghiên cứu dân tộc học cho rằng, làng là sự mở rộng của huyết thống, nước thì xa hơn, nhưng cũng chung một cội nguồn. Có phải vì thế chăng mà trong lịch sử Việt Nam, các vị vua thường xưng "Tổ" hoặc "Tông" như: Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông… cũng bởi từ cội nguồn và huyết thống. Nói như vậy để thấy vị trí của làng quan trọng đến thế nào trong xã hội Việt Nam truyền thống. Cấu trúc không gian của làng không phức tạp, nhưng cũng không đơn giản đến mức đơn điệu. Ở đồng bằng Bắc Bộ, hầu như làng nào cũng có lũy tre xanh bao bọc, dù làng nằm trong đê hay ngoài đê (ngoài bãi). Lũy tre ken dầy bởi lớp lớp cây tre, măng tre… như bức tường thành che chở cho làng khi có cướp, có giặc ngoại xâm, là nơi cung cấp vật liệu cho làng làm nhà, làm công trình công cộng và bao vật dụng sinh hoạt hằng ngày. Muốn vào làng phải đi qua cổng làng. Cổng làng xưa thường xây bằng gạch, nhiều làng ở vùng trung du và xứ Đoài - Hà Tây (nay đã sáp nhập với Hà Nội) thì xây bằng đá ong, liên kết bằng vôi, vữa trộn với mật mía và muối rất chắc chắn. Qua cổng làng là con đường làng lát gạch nghiêng hình mu rùa. Đường làng quanh co... (Ảnh nguồn: static.flickr.com) Từ đây, ta sẽ bước vào thế giới làng với hệ thống đường ngang, ngõ tắt như xương cá, mà đường làng là xương sống. Nhưng dù đi đến đâu, thì nhà nào nhà nấy cứ mở cổng ra là gặp ngõ, qua ngõ là đường làng. Năm này qua năm khác, thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước, tất cả đều đi trên đường làng và đi qua cổng làng. Ai đấy đã ví, cổng làng như một nhà ga, ở đó có đợi chờ, có chia ly, có nước mắt em nhạt nhòa trong chiều muộn tiễn người yêu lên đường đi xa, có dáng mẹ gầy xiêu xiêu suốt một đời tần tảo nuôi con, chờ chồng đằng đẵng suốt cuộc chiến tranh. Giáo sư Hoàng ơi! Với tôi và có thể cả với ông, cái cổng làng bình dị ấy sao không thể là một “Cột mốc", một “Yếu tố điểm" quan trọng trong cấu trúc làng! Một góc Mông Phụ Đường Lâm (Nguồn ảnh : photobucket.com) Trong làng, ngôi Đình có vị trí tâm linh đặc biệt. Đình làng không chỉ là nơi thờ Thành hoàng làng, mà còn là nơi sinh hoạt chung của cộng đồng. Nhà văn Ngô Tất Tố đã từng cho rằng, nếu như làng là xã hội Việt Nam thu nhỏ thời phong kiến, thì Đình là hình ảnh của làng. Nơi đây diễn ra những cuộc họp của bô lão trong làng, trong họ tộc, từ chuyện làm lễ lên lão cho nhà này, phạt vạ nhà kia có con gái không chồng mà chửa… cho đến những việc đại sự như đón sắc phong của vua ban, hội đình, tất tật đều được diễn ra ở sân Đình và theo lệ của làng. Đình làng với kiến trúc đặc sắc từ kỹ thuật dựng lắp đến nghệ thuật chạm khắc trên các hệ vì, bẩy, kẻ đã trở thành tinh hoa của nghệ thuật kiến trúc truyền thống. Nhà trong làng hầu hết là nhà tranh vách đất, sau này đời sống khá hơn là tường gạch, mái ngói. Bố cục nhà trong làng gần như giống nhau, có nhà chính, nhà phụ. Nhà chính thường ba gian hai chái và có hiên rộng. Hiên được che bởi một lớp dại đan bằng tre có thể tháo lắp dễ dàng, vừa kín đáo trong sinh hoạt, vừa tiện mở rộng không gian khi cần thiết, ngăn gió lạnh về mùa đông, che bớt cái nắng gắt chói chang của mùa hè. Nhà chính là nơi ở, nơi thờ cúng tổ tiên, ông bà, nơi tiếp khách. Hai chái nhà thường được xây kín không mở cửa sổ, là nơi để đồ, hoặc dành làm chỗ ngủ cho đàn bà con gái. Nhà phụ là bếp, chuồng lợn, gà. Nhà chính, nhà phụ thường bố cục theo hình chữ L, ôm lấy cái sân rộng. Trước sân là một ao nhỏ được tạo nên bởi quá trình vật đất tôn nền làm nhà, chung quanh bờ ao thường trồng cây lưu niên. Cấu trúc nhà trong làng giản dị, nhưng rất hài hòa với môi trường thiên nhiên trong lành, có ao cá, vườn cây… Chả thế mà nhiều vị quan khi về hưu, cởi bỏ mũ mão cân đai trở về làng vui thú điền viên là vậy. Những mái nhà đỏ san sát trong làng cổ Việt Nam (Nguồn: ttvnol.com) Cấu trúc làng truyền thống có nguy cơ bị phá vỡ Những năm gần đây, người ta hay nói đến cụm từ “Phát triển bền vững". Đây là một khái niệm xuất hiện vào cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, do ủy ban Môi trường và phát triển thế giới đề xướng. Sau Đại hội IX của Đảng, vấn đề phát triển bền vững ở nước ta đã trở thành quan điểm thể hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế thời kỳ 2001 – 2010. Và cũng đã có cả một Nghị quyết về CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn. Chúng ta đang trong tiến trình đô thị hóa mạnh mẽ để theo kịp xu thế chung của thời đại và hội nhập quốc tế. Đó là quy luật tất yếu của sự phát triển. Theo số liệu điều tra gần đây, hàng năm đất nông thôn bị giảm gần ba vạn ha bởi tác động của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và cả xói mòn, lở đất… Điều đó có nghĩa là đất canh tác ngày càng thu hẹp lại. Khoảng cách giữa làng và đô thị không còn xa nữa, thậm chí có nơi phố và làng đã tiếp cận nhau, hòa vào nhau để trở thành Phố – Làng. Cấu trúc làng truyền thống đang đứng trước nguy cơ bị phá vỡ. Đó là một thực tế! Việc đi tìm một mô hình làng mới, cấu trúc mới phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ, nâng cao đời sống của nông dân là vấn đề bức thiết, phải được quan tâm. Hiện nay, nhiều nhà quản lý, quy hoạch và cả trên báo chí hay dùng khái niệm "Đô thị hóa nông thôn". Theo tôi, cần xem lại khái niệm này. Đô thị hóa là quá trình biến một nơi nào đó thành đô thị. Nhưng không vì thế mà biến nông thôn truyền thống Việt Nam thành đô thị của thời hiện đại! Cấu trúc làng truyền thống với những với những yếu tố điểm như con đê, cổng làng, đình làng, cây đa, bến nước, những nhà vườn - ao khép kín hài hòa, cân bằng với môi trường thiên nhiên, là những đặc trưng cần được bảo lưu và hoàn thiện trong tiến trình phát triển mới. Chúng ta đang thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nông thôn là để nông thôn phát triển, để đời sống nông dân được cải thiện, đủ đầy theo xu thế đi lên của xã hội, chứ không làm mất đi bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của nông thôn. Chúng ta cải thiện hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn như xây dựng hệ thống điện, nước sạch, làm đường, mương bêtông, sử dụng hầm chứa rác tạo khí bioga … là hướng đi đúng đắn mà Nghị quyết của Đảng đã từng chỉ rõ. Chúng ta bảo tồn những giá trị văn hóa tốt đẹp được xây dựng từ hàng nghìn năm nay, nhưng kiên quyết xóa bỏ những hủ tục, lệ làng lạc hậụ để xây dựng hương ước mới, phong tục mới, cuộc sống mới trong một xã hội có kỷ cương, dân chủ, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không gian kiến trúc làng truyền thống cần được tôn trọng. (Nguồn: xomnhiepanh) Sẽ ra sao khi cấu trúc làng truyền thống biến mất, thay vào đó là những dãy nhà kiểu hàng phố cao ngất ngưởng 4 – 5 tầng, kiến trúc lai căng, kệch cỡm, với đủ loại biển hiệu xanh, đỏ lòe loẹt mà ta gọi là “Đô thị hóa" Người viết bài này cứ mường tượng ra cái làng xưa yêu dấu của mình sẽ được các kiến trúc sư sắp xếp lại cho hợp lý hơn, tiện lợi hơn, để sau lũy tre làng là những ngôi nhà 1 – 2 tầng xây gạch không nung, mái lợp tôn cách nhiệt. Con đường làng được đổ bê tông, có hệ thống tiêu thoát nước… Ngày ngày, từ cái cổng làng quen thuộc, những nông dân của thời đổi mới ra cánh đồng cao sản làm việc với các nông cụ tiên tiến. Để rồi khi chiều xuống, họ lại trở về sống bình yên trong ngôi nhà ấm cúng với đầy đủ tiện nghi, có nước sạch, xem ti vi hay nghe nhạc trong một khuôn viên có ao cá, vườn cây… Rồi những đêm hội mùa xuân, trên chiếu chèo ở sân đình, các cô gái làng xinh đẹp sẽ lại hóa thân vào những Thị Mầu, Thị Kính qua làn điệu dân ca mượt mà, đằm thắm. Đó là cuộc sống của nông thôn Việt Nam trong tương lai gần mà chúng ta đang hướng tới và phấn đấu. Tôi không hiểu sâu về triết học, nhưng tôi thấy thực có lý khi đọc được ở đâu đó một phát hiện lý thú: Nếu lấy Huế làm tâm, quay một vòng ta sẽ được vòng tròn thái cực âm dương. Cái bờ biển cong hình chữ S của Tổ quốc chính là đường tiếp cận giữa âm và dương ấy. Âm là biển Đông. Còn phía đất liền có dãy Trường Sơn bao bọc là dương. Đất – Cha, Biển – Mẹ là thế. Cội nguồn của dân tộc, của văn hóa truyền thống cũng bắt đầu từ đó, nó bền vững, trường tồn qua cả nghìn năm thuộc Bắc, rồi sau này là gần trăm năm bị kẻ thù phương Tây đô hộ. Và, kiến trúc làng Việt là một phần của mạch nguồn văn hóa dân tộc chảy mãi khôn cùng… Hà Nội – Hưng Yên, mùa nhãn – 2008 KTS Phạm Thanh Tùng Nguồn: http://tuanvietnam.net
-
Vậy là việc "không thể tô trát" đồng nghĩa chấp nhận khiếm khuyết xấu về phong thủy hay là khiếm khuyết không chấp nhận được về tư duy, thưa chú?