-
Số nội dung
1107 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
2
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by phoenix
-
Tết Trung thu xưa và nay Múa lân, một tiết mục quan trọng trong phần hội của đêm Trung thu Tết (chữ Nôm) chính là đọc chệch chữ tiết (chữ Hán) mà ra. Ở Việt Nam, trong một năm có nhiều cái tết, mỗi tết lại ứng với một mùa, một tiết và mang một ý nghĩa nhất định. Tết Trung thu là một trong 4 tết quan trọng nhất trong năm theo nông lịch cổ, đó là: Một tết đầu xuân (Tết Nguyên đán), một tết giữa thu (Tết Trung thu), đệm giữa là tết vào hè (Tết Đoan ngọ) và tết đầu đông (Tết cơm mới 10-10). Theo các nhà khảo cổ học thì Tết Trung thu ở Việt Nam có từ thời xa xưa, đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Còn theo văn bia chùa Đọi năm 1121 thì từ đời nhà Lý, Tết Trung thu đã được chính thức tổ chức ở Kinh thành Thăng Long với các hội đua thuyền, múa rối nước và rước đèn. Đến đời Lê - Trịnh thì Tết Trung thu đã được tổ chức cực kỳ xa hoa trong phủ Chúa mà “Tang thương ngẫu lục” đã mô tả. Nghiên cứu về nguồn gốc Tết Trung thu, theo học giả P.Giran (trong Magiet Religion, Paris, 1912) thì từ xa xưa, ở Á Đông người ta đã coi trọng mặt trăng và mặt trời, coi như một cặp vợ chồng. Họ quan niệm mặt trăng chỉ sum họp với mặt trời 1 lần 1 tháng (vào cuối tuần trăng). Sau đó, từ ánh sáng của chồng, nàng trăng mãn nguyện đi ra và dần dần nhận được ánh dương quang - trở thành trăng non, trăng tròn, để rồi lại đi sang một chu kỳ mới. Do vậy, trăng là âm tính, chỉ về nữ và đời sống vợ chồng. Và ngày rằm tháng Tám, nàng trăng đẹp nhất, lộng lẫy nhất, nên dân gian làm lễ mở hội ăn tết mừng trăng. Còn theo sách “Thái Bình hoàn vũ ký” thì: “Người Lạc Việt cứ mùa thu tháng Tám thì mở hội, trai gái giao duyên, ưng ý nhau thì lấy nhau”. Như vậy, mùa thu là mùa của thành hôn. Là một nước nông nghiệp nên Tết Trung thu ở nước ta theo lễ thức nông nghiệp, có cả phần lễ và phần hội. Tinh thần của lễ thức đó trước hết thể hiện ở ý thức của người nông dân đối với mùa vụ. Tháng Tám gieo trồng đã xong, thời tiết dịu đi, là lúc “muôn vật thảnh thơi” (bia chùa Đọi 1121), người ta mở hội cầu mùa, ca hát vui chơi. Dưới ánh trăng thu, các lão nông uống trà, nhắm rượu, ngắm trăng, thưởng nguyệt, chiêm nghiệm, dự đoán, tiên tri. “Muốn ăn lúa tháng Năm, trông trăng rằm tháng Tám”. “Tỏ trăng 14 được tằm, đục trăng hôm rằm thì được lúa chiêm”. Người Việt hiện nay còn giữ được ít nhất hai lễ trong rằm tháng Tám. Đó là lễ cúng trăng (trời đất) và lễ cúng gia tiên trên ban thờ Tổ. Cả 2 lễ đều có những lễ vật tương tự như nhau: Hoa, các loại quả, bánh nướng, bánh dẻo, rượu. Riêng lễ cúng gia tiên có thêm đĩa xôi. Ngoài những sản phẩm nông nghiệp (hoa, quả, rượu, xôi) có 2 loại bánh mà người Việt dành riêng cho lễ cúng rằm tháng Tám là bánh dẻo và bánh nướng, một loại tròn, một loại vuông, phản ánh nhận thức thô sơ của người Việt cổ: Trời tròn, đất vuông. Khi phá cỗ, người ta tin rằng các lễ vật đều mang một ý nghĩa thiêng liêng, ăn uống để tiếp thêm sức mạnh của trời đất, làm cho ta có đủ sức chống lại mọi thiên tai, thiên dịch. Người Việt xưa không mấy khi dùng đèn lồng, trừ rằm tháng Tám người ta đua nhau mua đèn ông sao, đèn con thỏ, đèn con cóc (thiềm thừ), đèn cá chép... Đó là những vật phẩm biểu trưng nhiều hàm ý. Đèn con thỏ biểu hiện cho mặt trăng (ngọc thỏ). Đèn con cóc (thiềm thừ) biểu thị sự cầu mong mưu thuận gió hòa của cư dân trồng lúa nước theo điển tích “con cóc là cậu ông trời”. Đèn cá chép là bắt nguồn từ tích cá chép vượt vũ môn, cá chép hóa rồng, với ý nguyện cầu mong cho nhân hòa, vật thịnh, con cháu học hành giỏi giang, tấn tới. Một hoạt động không thể thiếu được trong phần hội của rằm tháng Tám, đó là múa sư tử (thực ra là múa lân vì sư tử không có sừng). Người Việt dùng múa sư tử trong nhiều lễ hội với những ý nghĩa biểu trưng khác nhau. Trong cơ cấu của đội múa, có 3 nhân vật: Sư tử, tráng sĩ, ông địa. Sư tử là biểu trưng của trời (thiên), còn tráng sĩ - nhân, ông địa - đất. 3 nhân vật không đối kháng mà luôn tạo ra sự phối hợp hài hòa. Thiên - địa - nhân hòa hợp là ước vọng sâu xa của cư dân lúa nước Việt Nam. Với những người cho là múa lân thì lại có sự giải thích khác. Họ cho rằng lân là con vật cực hiền (nhân thú). Con lân chỉ xuất hiện khi thánh nhân ra đời hoặc thời thịnh trị. Cho nên, múa lân trong ngày Tết Trung thu là cầu mong cho vua sáng, tôi hiền, đất nước thái bình, hưng thịnh. Nó chẳng những thể hiện ở ý thức mà cả trong hành động. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, lễ hội Tết Trung thu ở nước ta cũng có nhiều thay đổi theo thời gian. Song dù thay đổi thế nào thì cái “thần” của nó vẫn còn giữ được, đó là tính chủ thể, sự vui chơi hồn nhiên của trẻ và sự quan tâm của mọi người đối với các em. Ở các xã, phường, trung tâm văn hóa, các nhà trường đã có nhiều hình thức tổ chức phong phú, vừa mang tính chất dân gian, vừa mang tính nâng cao, như: Rước đèn, múa lân, hát đồng dao, vui chơi múa hát theo chủ đề đón chị Hằng Nga, vui Trung thu cùng chú Cuội... đã tạo cơ hội cho các em gặp gỡ, vui chơi, cộng cảm và hưởng thụ nghệ thuật. Tết Trung thu, một lễ thức nông nghiệp ở nước ta, một cái tết của trẻ mà ở đó các em được phát huy hết đức tính tốt đẹp của mình, được vui chơi thỏa thích, được hòa mình vào trong thiên nhiên kỳ thú và được đắm mình trong vòng tay nhân ái của mọi người. Đó là một lễ hội truyền thống đã ăn sâu vào tâm thức người Việt, một nét đẹp văn hóa cần được giữ gìn và phát huy. Quách Duy Bịch (Hà Tây điện tử) Nguồn: www.sankhauvietnam.com.vn
-
TẾT TRUNG THU -Sự tích và nguồn gốc 10:16' 22/09/2004 (GMT+7) Mừng Trung thu Tết Trung thu giờ đây đã trở thành ngày hội với mọi gia đình, nhất là trẻ em. Tết Trung thu đến vào rằm tháng Tám, đang giữa độ mùa thu, mùa mát mẻ và đẹp nhất trong năm. Từ đầu tháng, người ta đã chuẩn bị những cổ đèn muôn màu, muôn sắc, hình thù độc đáo, các đồ chơi của trẻ nhất là hình ông tiến sĩ giấy cùng bánh dẻo, bánh nướng, gọi chung là bánh trung thu để đón Tết. Trẻ em mang những lồng đèn màu sắc sặc sỡ thắp sáng thành từng đoàn dài kéo nhau đi các thôn ngõ để ca hát reo vui dưới ánh trăng. Khi những ngày Rằm cận kề, các đoàn múa lân, múa sư tử rầm rộ với tiếng kèn, tiếng trống, tiếng pháo càng thêm náo nhiệt. Nguồn gốc tết Trung thu Theo sách cổ thì Tết Trung thu bắt đầu từ đời nhà Đường, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh. Nguyên vào năm đó, đêm rằm tháng Tám trời thật đẹp, trăng tròn sáng tỏ, gió mát hây hây, say cảnh đẹp của trời đất, nhà vua ngự chơi ngoài thành mãi đến trời khuya. Lúc đó, một ông già râu tóc bạc phơ trắng như tuyết chống gậy đến bên nhà vua. Trông người và theo cử chỉ, nhà vua đoán ngay là một vị thượng tiên giáng thế. Ông già kính cẩn chào nhà vua rồi hỏi: - Bệ hạ có muốn lên cung trăng không? Nhà vua liền trả lời là có. Vị tiên liền đưa chiếc gậy lên trời, hoá phép ra một chiếc cầu vòng, một đầu giáp cung trăng, một đầu ăn xuống đất. Tiên ông đưa nhà vua trèo lên cầu vòng, chẳng bao lâu đã đến cung trăng. Phong cảnh nơi đây thật đẹp, một vẻ đẹp khác xa nơi trần thế. Có những tiên nữ nhan sắc với xiêm y cực kỳ lộng lẫy, xinh như mộng, đẹp như những bài thơ hay, nhảy múa theo những vũ điệu vô cùng quyến rũ, đủ muôn hồng nghìn tía. Nhà vua đang say sưa với những cảnh đẹp thì tiên ông đưa nhà vua trở lại cung điện. Về đến trần thế, nhà vua còn luyến tiếc cảnh trên cung Quảng và những giờ phút đầy thơ mộng nên để kỷ niệm ngày du Nguyệt điện, nhà vua đã đặt ra Tết Trung thu. Trong ngày Tết này, người ta uống rượu thưởng trăng nên còn gọi là Tết Trông trăng. Trăng thu Trăng với trung thu Tết Trung thu sơ khởi là Tết Trông trăng nên nói đến Tết Trung thu không thể bỏ qua trăng được. Trăng được in hình trên mặt bánh Trung thu, trăng được vẽ trên mặt đèn đêm rằm tháng Tám. Từ những năm tháng ở tiểu học, học sinh đã được dạy trăng là một hộ tinh của trái đất xoay quanh trái đất, mỗi vòng là một tháng theo âm lịch. Ta thấy được mặt trăng nhờ ánh sáng mặt trời chiếu vào. Tuỳ theo vị trí của trăng với mặt trời và quả đất ta thấy trăng khuyết hay tròn. Khi nào bóng quả đất che kín hết mặt trăng là có nguyệt thực mà người xưa gọi là Gấu ăn trăng. Người xưa đã đem chậu thau, mâm đồng, thanh la, não bạt ra gõ tới khi hết nguyệt thực, tức cho tới khi gấu sợ tiếng gõ ở trần gian phải nhả mặt trăng ra. Những linh vật ở cung trăng Trên cung trăng có nhiều linh vật thuộc quyền cai quản của Thái âm thần nữ. Những linh vật này đều hiền từ và ngoan ngoãn, trong số đó đáng kể nhất là con Thiềm thừ và Ngọc thỏ. Con Thiềm thừ là một giống cóc, đầu có sừng bằng thịt, bụng có vệt chữ bát màu đỏ. Tiền thân Thiềm thừ là nàng Hằng Nga, vợ chàng Hậu Nghệ, vua xứ Hữu Cung, có tài thiện xạ bách phát bách trúng. Hậu Nghệ có dịp lên vườn Lãnh Uyển, xin đức Giao trì Vương mẫu ban cho thuốc trường sinh bất tử. Mang thuốc về, Hậu Nghệ không uống ngay mà phải mang quân đi đánh giặc nên cất thuốc vào lò. Ở nhà nàng Hằng Nga ăn trộm thuốc uống rồi sợ quá bay lên cung trăng ra mắt Thái âm thần nữ kể rõ sự tình, cầu xin thần che chở. Thái âm biến Hằng Nga thành con Thiềm thừ đem giấu ở một nơi kín đáo trong cung Quảng Hàn. Hậu Nghệ đi trận về thấy mất cả vợ lẫn thuốc tức giận lắm nên quyết tìm nàng cho bằng được. Thời ấy trên trời có mười mặt trời, ngờ vọ trốn trong những mặt trời này nên Hậu Nghệ đã bắn rơi chín mặt trời nhưng vẫn không thấy vợ. Hậu Nghệ bớt lại mặt trời thứ mười để lấy ánh sáng ban ngày, cũng như chàng không bắn rơi mặt trăng vì ban đêm chỉ có một mặt trăng. Chàng cần ánh sáng ban đêm để đi tìm vợ nhưng vẫn không thấy Hằng Nga. Nàng vẫn biến hình ẩn núp trong cung Quảng cho tới ngày nay. Con Ngọc thỏ Trung thu đến với mọi người, mọi nhà Ngày xưa có lúc mất mùa, người vật đều nhịn đói. Các loài vật khó kiếm thức ăn nên tàn sát lẫn nhau. Loài thỏ yếu đuối, không khí giới tự vệ, không dám thò đầu ra ngoài kiếm ăn. Chúng đành nằm một chỗ kín đáo cùng nhau nhịn đói. Đã đói lại rét, chúng rủ nhau tới một đống lửa do ai đốt sẳn và nằm quanh đống lửa nhìn nhau, mắt con nào cũng ươn ướt heon lệ. Trước tình trạng não nề ấy, một con thỏ vì thương đồng loại đã nhảy mình vào đống lửa tự thui để những con khác có cái ăn cho đỡ đói. Vừa lúc đó, đức Phật đi qua, Ngài thầm khen nghĩa khí của con thỏ nên nhặt nắm xương tàn của nó, hoá phép cho nó thành hình khác toàn bằng ngọc thơm tho và trong sáng, đưa nó lên cung Quảng Hàn và xin cho nó được lưu lại ở đây. Cây Đan quế Ngoài các linh vật tại cung Quảng Hàn còn có bóng một cây mà ở trần gian nhìn lên ta thấy hình đen trên mặt trăng. Đó là cây Đan quế tức là cây quế đỏ. Theo sách Trung Hoa, cây này cao 105 mét, gốc lớn vô cùng, đường kính ước vài ba trượng. Cây sống hàng ngàn vạn năm. Gỗ và vỏ rắn như thép. Gốc cây có nhiều vết băm đổ vì quanh năm lúc nào cũng có người cầm búa bổ vào gốc cây. Đó là thằng Cuội nhưng theo người Tàu thì hắn là Ngô Cương. Xưa kia Ngô Cương đã tu tiên đắc đạo nhưng sau làm nhiều điều càn bậy trong chốn tiên cung nên bị đức Ngọc Hoàng nổi giận bắt đày xuống cung trăng, giao cho việc chặt và bóc vỏ cây Đan quế. Vỏ cây Đan quê cứng như thép nên Ngô Cương chặt không nổi. Bởi vậy cho tới ngày nay, Ngô Cương vẫn cố chặt và bóc vỏ cây. Bởi vậy người trần mỗi đêm trông lên lại thấy bóng chàng đang lúi húi ở gốc cây. Truyện thằng Cuội Ca dao có câu: Thằng Cuội ngồi gốc cây đa Bỏ trâu ăn lúa gọi cha ời ời! Cha còn cắt cỏ trên trời Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên. Uống rượu trông trăng Thằng Cuội chính là cái bóng người trên cung trăng mà người Tàu gọi là Ngô Cương và cây Đan quế, chúng ta gọi là cây Đa thần. Thằng Cuội là kẻ “Đi nói dối cha, về nhà nói dối chú”, suốt đời nói dối đánh lừa người. Sau cùng nó đánh lừa được một lão trượng hiền lành nên lão trượng cho nó một cây đa thần có thể dùng lá chữa bệnh người chết sống lại. Lão trượng dặn nó mang về phải luôn luôn tưới cho cây tốt tươi. Cuội nghe lời lão trượng mang cây đa về trồng ở mé Đông và dặn vợ hàng ngày phải tưới nước cho cây. Lão trượng dặn Cuội là cây Đa thần kỵ nước tiểu, trồng cây ở hướng Đông thì mọi người phải đi tiểu ở hướng Tây, bằng không cây sẽ dông lên trời mất. Về nhà Cuội vũng dặn vợ và người nhà: “Có tiểu thì tiểu đằng Tây, chớ tiểu đằng Đông cây dông lên trời”. Hàng ngày Cuội vào rừng đốn củi, ở nhà vợ Cuội vẫn tưới cây rất chăm chỉ. Cho đến một hôm vì vợ Cuội mải mê công việc khác quên không tưới cây, chợt Cuội về đến ngõ, vợ Cuội mới nhớ ra. Sợ đi múc nước tưới cây chồng sẽ nhìn thấy và mắng nên nàng chạy tới gốc cây vạch váy tiểu vào đó và đã phạm vào điều kiêng. Nàng vừa tiểu vào gốc cây, cây bỗng từ từ nhổ gốc và bay lên trời. Cuội vừa về tới nơi, thấy cây dông lên trời, sẳn có chiếc cuốc trong tay, Cuội liền móc vào gốc cây mong giữ cây lại. Nào ngờ cả Cuội và cây Đa đều bay lên cung Quảng cho tới ngày nay. Chẳng biết ở trên cung trăng, Cuội có nhìn thấy dưới trần gian và ngắm chúng ta không nhưng hàng năm vào ngày Rằm tháng Tám, mọi người vẫn uống rượu trông trăng và ngắm nhìn Cuội. Nguồn: nguoivienxu.vietnamnet.vn/
-
LỊCH SỬ HÒN NON BỘ Phan Quỳnh Chơi cây cảnh, chơi đá tảng, chơi non bộ, là môn chơi tao nhã, hấp dẫn, từ ngàn xưa của người Việt, kể cả các dân tộc phương đông và ngày nay thú chơi này đã lan rộng sang các nước phương tây . Non bộ là núi nhân tạo , dùng đá , vữa hồ , đất , ... , tạo cảnh thiên nhiên hùng vĩ với hang động , ghềnh thác , núi cao biển rộng của cảnh thật hay cảnh tưởng tượng , được bàn tay nghệ nhân khéo léo bầy xếp , gắn tạc , đục đẽo , để dàn trải trong vườn cảnh , hay trong hồ cá , hoặc ngay trong chậu cạn , đồng thời điểm xuyết, trang trí rêu cỏ , cây cối nhỏ bé có dáng vóc cổ thụ , một số hình tượng (như mục đồng , ngư ông , tiều phu , tiên ông , đạo sĩ , ... , chùa tháp , đền miếu , cầu đường , ghe thuyền, thác nước đổ , phun sương , phun khói , cù lao , muông thú bằng sành , bằng đất sét v.v. ...) hầu diễn tả một sự tích , một câu chuyện làm cho non bộ có nội dung và linh hoạt , gợi hình , gợi cảm cho người thưởng ngoạn . Có non bộ cao lớn hàng chục , hàng trăm thước tây , ví dụ hòn Ộ Vạn Tuế SơnỢ của vua Lý Thái Tông chế tác năm Mậu Thìn 1028 , và cũng có non bộ bé nhỏ bằng gang tay hay nhỏ hơn Theo Lê Văn Siêu thì : không thể căn cứ vào lớn nhỏ mà luận về sự quí giá của non bộ . Nhiều khi nhỏ mà toàn thể là một cục long não , hoặc là một hình hết sức đẹp bầy trên án thư của nhà ẩn sĩ , để những khi nhà ẩn sĩ mở sách thánh hiền ra đọc và đốt một đỉnh hương trầm cho khói tỏa lên cây lên núi như những làn mây thì dẫu người trần mắt thịt đến đâu cũng phải thấy ngay m?t vẻ gì là tiên phong đạo cốt. Người ta lại còn dùng núi đá ấy để làm nghiên mực nữa . Ta hãy tưởng tượng một cái bể nước con con với rêu , cỏ , cây , nhỏ lí tí trên một hòn non nhỏ bằng đá trắng , với những từng đá lăn tăn như dợn sóng , ôm lấy một mảng đá như một cái thung lũng để mài mực , và nhà nho cầm bút chấm vào nghiên mực ấy để viết những vần thơ , thì ta thấy rằng người Việt Nam xưa dẫu chẳng tiên thì cũng đã chẳng còn gì là tục nữa . (1) I Nghĩa ngữ. Non bộ là thuật ngữ cổ thuộc gốc Nam Á . Từ Bộ có nghĩa là dáng vẻ, bắt chước, phỏng theo, nhái theo, kiểu cách, mô phỏng, ra vẻ, v.v.... ví dụ : giả bộ, làm bộ, điệu bộ, bộ dạng...Từ Non có nghĩa là núi . Cùng một nghĩa chỉ núi với các từ trong ngữ hệ Malayo-Polynesiene và Mon-Khmer thuộc văn minh Nam Á , chúng ta thấy từ Ph-num của người Miên, từ Phơnơm của người Mạ, từ Bơnơn của người Bà-na dọc Trường sơn , từ B-non của người Ê-đê nam Tây nguyên , từ Gu-nong hay phunông của người Mã-lai, , từ Phu của người Thái, từ B-nam của cổ Phù-nam (2), v.v. ... Khi xưa tiếng Hán đang còn đóng khung ở vùng phía bắc sông Hoàng-hà, sông Vị-hà thì nó chưa thể có nhiều những từ nêu lên tên gọi của những sản vật mà chỉ phương nam mới có , do đó có sự vay mượn , ảnh hưởng qua lại . Những danh từ chỉ thực vật như cảm lãm ( trám ) , phù lưu ( trầu ) ba la mật ( mít ) v.v. ... chắc chắn là những danh từ vay mượn các ngôn ngữ vùng nhiệt đới . Để chỉ sông , phía Bắc , người Hán gọi là Hà , nhưng từ sông Dương Tử trở về Nam lại gọi là Giang . Theo các nhà Địa danh học giang là một từ vay mượn , thanh phù công ( ) đứng cạnh bộ chấm thuỷ ( )trong chữ giang ( ) rất dễ dàng gợi cho chúng ta nghĩ đến Kion ( Miến ) , Kon ( Katu ) , Karan ( Mơ Nông ) , Krong ( Chăm ) , Không ( Mường ) , Hông ( Khả) , Krông ( Bà Na ) , Khung ( Thái ) , Sôngai ( Mã Lai ) , cũng như nghĩ đến Sông trong tiếng Việt (3) , ( Việt Miên Lào có chung con sông là Mê-kông ). Có khi chiều ảnh hưởng chỉ đi theo một đường thẳng đơn giản, từ bên này sang bên kia, nhưng cũng nhiều khi mũi tên có thể đi đường vòng từ A sang B , rồi lại từ B quay trở về A. Ví dụ ở tiếng Nam Á có danh từ chỉ một thứ võ khí ta gọi là Ná (So sánh với Na của Mường , của Chức , nả của La-ha [Mường-la] , Hna của Bà Na , của Ê-dê, Mnaá của Sơ Đăng, Sa-Na của Kơ-ho, S-Na của Miên, Snao của Raglai, Na của Mạ, Hnaá của Gia Rai , Sơ-Na của Srê, Sna của Chăm Phan Rang, Phan Rí, Nả của Thái hay Pnả của Mã Lai ), có nhiều cơ sở để có thể khẳng định chính từ tên gọi này được nhập vào vốn từ vựng của người Trung Quốc , sản sinh ra tiếng Hán có cách đọc Hán Việt cổ là Nõ hay Hán Việt hiện nay là Nỗ ( [ ] tổng hợp của thanh phù Nô [ như nô bộc] đứng trên chữ Cung tượng hình [ ]) rồi lại quay trở về Việt Nam được đọc theo Nôm là Nỏ. Nỏ là một phát minh của người phương Nam . Từ Non bộ hay Bơnơn Bouy là mô phỏng núi , dáng vẻ núi non, nhái theo núi non, hoặc còn gọi là núi giả , sau này được các nho sĩ, sử gia chuyển ngữ sang chữ Hán mà cách đọc Hán Việt là giả sơn . Nhưng thuật ngữ giả sơn lại không được thông dụng ở Trung quốc , kể cả Hoa Nam và Hoa Bắc . Người Trung quốc quen dùng thuật ngữ Bồn tài (p-en tsai - cây trong chậu) Bồn cảnh (p-en ching - cảnh trong chậu) , mãi đến cuối thời Nguyên (1271-1368) , thời Minh (1369-1643) mới xuất hiện danh từ chữ Hán hoàn chỉnh có cách đọc Hán Việt là Sơn Thủy Bồn Cảnh ( shan shui p-en ching - cảnh sơn thuỷ trong chậu ) (4) , để chỉ lối chơi giống hệt như lối chơi non bộ ở Việt Nam . Người Thái Lan có lối chơi Mai khèn ( cây lùn ) hay Mai dăt ( cây uốn ) , người Nhật có lối chơi Bonsai ( bồn tài - cây trong khay , trong chậu ) , Bonseki (bồn thạch - đá trong khay , trong chậu ) . Theo tác giả Nguyễn Vọng thì : Người Nhật có nghệ thuật đặt đá trên khay để trưng , không có cây cỏ . Giả thử đá ấy có hình dáng một trái núi thu nhỏ ta cũng không nên coi đó là một non bộ (5) . II Những gợi ý của non bộ. Non bộ ở Việt Nam có từ bao giờ ? Chưa thấy có tài liệu nào trả lời dứt khoát câu hỏi này, nhưng rõ ràng cây và đá đã có sự liên hệ mật thiết lâu đời và đóng góp tích cực vào sinh hoạt vật chất và tinh thần của tổ tiên người Việt . Ngay từ thời đại các vua Hùng dựng nước , ngót năm ngàn năm nay, chúng ta đã được biết hình ảnh mơ hồ của một non bộ : có đá, có cây, có mây nước, có đền miếu, v.v... gói trọn trong một tình tiết cảm động . Đó là truyện Trầu cau ( xem Lĩnh Nam Chích Quái) , một nguồn cảm hứng dồi dào cho các văn nhân nghệ sĩ sau này của các bộ môn thơ , văn , vũ , nhạc , họa , điêu khắc v.v.... Những tín ngưỡng tối cổ . 1/.Trở ngược thời gian về hàng chục ngàn năm trước Công nguyên, sau khi dời bỏ đời sống trong hang động và săn bắn hái lượm để xuống định cư tại đồng bằng sông Hồng , sông Mã , chuyển sang đời sống nông nghiệp lúa nước (lạc điền), người Việt cổ vẫn còn bảo lưu được những đồ trang sức , những dụng cụ và công cụ sản xuất xa xưa bằng đá được đẽo mài , khoan , tiện, chế tác rất xinh xắn , đều đặn , khéo léo như vòng tay , khuyên tai , nhạc khí (đàn đá ) , rìu đá , cuốc đá , mũi tên đá , v.v.... đồng thời họ còn giữ tục thờ đá , tục thờ cây , tín ngưỡng tối cổ của nhân loại mà nay vẫn còn tàn dư ở các nhóm dân tộc tại bán đảo Đông Dương và trải rộng đến các vùng hải đảo miền đông nam châu Á . Trước 1945, tại một số làng thôn quê Bắc Việt, chúng ta vẫn còn thấy trước cổng mỗi nhà về phía trái dựng một hòn đá . Theo các cụ già xưa kể lại thì hòn đá này được gọi là con chó đá , đặt trước cổng để xua đuổi tà ma , quỉ mị , bảo vệ gia chủ , cho dù hòn đá không có vóc dáng của một con chó . Vua Lê Thánh Tông có bài thơ tả con chó đá này như một tướng quân chức quyền bao trùm một cõi , lòng son sắt thờ chúa , gìn giữ giang sơn . Đọc Lĩnh Nam Chích Quái , đọc Việt Điện U Linh Tập , hoặc Quảng Châu kí, Giao Châu Ngoại Vực Kí , cho dù các sử liệu cổ xưa này đã bị các nho sĩ , sử gia xưa nhuận sắc , uốn sửa theo lăng kính Khổng giáo , chúng ta ngày nay vẫn nhìn thấy nhiều khe hở nói về tục thờ đá thờ cây xa xưa ở Việt Nam xuyên qua các từ ngữ như Ông Đống ( pù đống trong tiếng Tày), Thạch Khanh , ..., truyện tảng đá có vết chân to lớn của người anh hùng làng Dóng thời Hùng vương ở núi Sóc Sơn , Bắc Ninh , hoặc truyện Mộc tinh , hay truyện Đô Lỗ Thạch thần , vị thần bảo trợ cho Thục An Dương Vương tại thành Cổ Loa, truyện Man Nương với phép linh của phiến đá , nằm trong một gốc cổ thụ , tạc thành bốn tượng Vân, Vũ, Lôi, Điện tại chùa Dâu. Tương tự ở các nhóm dân tộc Nam Á khác cũng có những nghi thức cầu nguyện hay thờ phụng thần cây thần đá . Ví dụ người Chăm Phan Rang , Phan Rí có tục thờ hòn đá tượng chưng cho Kút , thờ Linga, người Sê-đăng nam Tây nguyên có thần thoại thần đá, thần núi xuyên qua truyện Nữ thần Hoa Lan , người Lào có tục thờ Thitsana Hỉn, người Thái có tục Soat-non conhin , người Tagalog vùng đảo Luzon có tục Bato manalangin ( thờ đá) , tục Puno pananampalataya (thờ cây) , người Visaya vùng đảo Palawan có tục Batu gui-ampo (thờ đá) , người Ilocano vùng đảo Mindanao có tục Mula Icararag (6) . 2/.Ngoài tục thờ đá , thờ cây , một gợi ý nữa liên quan đến thú chơi non bộ ở VN là tín ngưỡng về hang động và Thần Tiên Bất Tử . Trong những năm 1934-1939 trường Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội đã khai quật một số cổ mộ của cư dân tỉnh Bắc Ninh , Bắc Việt , khoảng các thế kỷ trước và sau Công nguyên . Những mộ táng này được xây bằng gạch , đôi khi bằng đá , gắn nhau bởi một thứ hồ vữa đặc biệt rất dắn chắc để nhái theo hình thể hang động thiên nhiên , có nhiều động , nhiều phòng , mái vòm cong , thông nhau bởi những đường hầm địa đạo . Khảo cổ học đã xếp những mộ táng này vào giai đoạn văn minh Lạch Trường (7) . Văn minh Lạch Trường mà mộ táng trải rộng ở các tỉnh Bắc Việt, bắc Trung Việt và lưa thưa ở một vài nơi phía nam Hoa Nam thuộc Trung Quốc, liên quan đến một tín ngưỡng dân gian người Việt thời thượng cổ : tín ngưỡng về Hang Động, còn gọi là Động Trời hay Động Thiên . Theo tín ngưỡng này thì trong lòng một hòn núi lớn có những hang động rất linh thiêng mà cái vòm tượng trưng vòm trời, lòng đáy phù hợp với đất , cửa vào những hang ấy là biên giới giữa thế giới vật chất và thế giới siêu hình (8) . Từ xưa, sống lâu vẫn là mơ ước của con người , họ than thở về sự ngắn ngủi của đời sống trần gian và người Việt xưa nay thường tin tưởng và khao khát về một đời sống trường cửu nơi thế giới bên kia về sau bên bờ biển xa xăm hay siêu việt trên núi cao vút chín từng mây , hang động được coi rất thiêng liêng và là cung điện của các Thần Tiên bất-tử . Tín ngưỡng hang động với Thần Tiên bất tử có một dấu ấn đậm nét của triết lý phồn thực , đặc trưng của của các dân tộc ở Nam Á trước khi có ảnh hưởng văn hóa Hán Tạng tràn từ phương Bắc xuống. Do đó không lạ gì hòn non bộ thường được đặt vào những nơi thờ nữ thần ở Việt Nam mà Rolf A. Stein hay nói đến. Ta thấy có những tục lệ đã nói lên được một ý thức tập thể về hang động hoặc thần thoại về Thần Tiên . Động Thẩm Lệ ở Yên Bái , Bắc Việt , được coi linh thiêng , hàng năm trai gái đến tụ tập hát giao duyên , khai xuân phát động nguồn sinh lực của tạo vật , thần thoại về Việt Tĩnh , thần thoại Giáng Tiên với hang Từ Thức , thần thoại Hồ Công động , Kim Sơn động , Chấn Linh động , Hương Tích động , v.v. ... , ngoài ra còn cả một nhóm thần thoại dòng Đạo Nội lấy Chử Đồng Tử làm Sáng tổ của đ?o Thần Tiên bất-tử (9). Triết sử gia Hồ Thích nhận xét rằng từ khi Trung Quốc bắt đầu Ộkhai hóaỘ các dân tộc xung quanh , chủ yếu là các dân tộc phương Nam , thì đồng thời với việc các dân tộc này hấp thụ nền văn hóa phương Bắc , đạo Thần Tiên Bất Tử cùng với các chuyện thần thoại giàu chất trữ tình hấp dẫn của họ cũng được mang vào Trung Nguyên . Trong sách Trung Quốc Triết Học Sử , ông viết : Các tân dân tộc hấp thụ nền văn hóa Trung-nguyên là điều rõ ràng, thiết-tưởng không cần phải nói thêm. Nhưng cùng một lúc, các chuyện thần thoại giầu tính-chất hấp dẫn của các quốc gia trên được mang vào đất Trung-nguyên. Chúng ta thử xem các chuyện thần-thoại trong các tác phẩm văn học của Khuất Nguyên (người Sở thuộc Bách Việt) , Tống Ngọc, tất cả đều là những mẫu chuyện mà nền văn học phương Bắc không bao giờ có, ...Có lẽ thuyết thần-tiên cũng do đấy mang sáp-nhập vào văn-minh Trung-quốc chăng? (10) Học giả Rolf A. Stein của trường Viễn Đông Bác Cổ đã tổng kết : Từ địa linh và tiên cảnh , thế giới của Thần Tiên bất tử , đến quá trình ma thuật tiền hóa học , và đến sự trầm tư mặc tưởng thần bí, tất cả đều qui về một toàn bộ rất hệ thống mạch lạc những đề tài, hình ảnh, liên tưởng hệt như hệ thống cảnh hòn non bộ. (From the holy place and paradisiacal site, the land of the Immortals, to alchemical processes and mystical meditation, everything leads to a strongly coherent assemblage of themes, images, associations - a complex identical to that accompanying miniature gardens)(11) Rolf A. Stein còn cho biết tại các đền miếu chùa chiền và tư gia ở Việt Nam , dù giàu hay nghèo đều chơi non bộ . (Two preliminary facts about Indochina should be presented right away: nui non bo (miniature rocks covered with dwarf plants and set incotainers of water) are commonly present in both pagodas and private homes, even in those of the poor (not often in Hanoi, but frequently in Hue) ; and the rocks placed in the courts of pagodas, thus forming part of the sacred enclosure, are almost always accompanied by parallel verses in Chinese.)(12) Một hiện tượng cần được nghiên cứu kỹ hơn để kết luận là trong khi ảnh hưởng văn hóa phương Bắc đã tràn ngập vào đất nước Vạn Xuân và sau này là Đại Cồ Việt , lối chơi non bộ đã rộ phát tại phương Nam nhưng chưa thấy sử sách hay tài liệu nào nói về lối chơi này ở phương Bắc, cho mãi đến thời kỳ các triều đại Nguyên, Minh, Thanh chúng ta mới thấy hiện tượng chơi non bộ Sơn Thủy Bồn Cảnh nở rộ tại Trung quốc Nguồn: http://www.daichung.com/116/24.shtm
-
Khảo cổ Việt Nam soi sáng văn minh Đông Sơn-phần mộ
phoenix replied to phoenix's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Khảo cổ Việt Nam soi sáng văn minh Đông Sơn-tiếp theo và hết Nguyễn Ðức Hiệp Môi trường sống Ta có thể biết chút ít về thế giới động vật, thực vật và môi trường sống ở thời đại Đông Sơn qua các di tích đông, thực vật ở các di chỉ, mặc dầu chúng có ít và không được bảo quản tốt. Ngoài ra còn có các hình tượng, hình vẽ.. ở các di vật, các tư liệu, thư tịch cổ của Trung quốc ở giai đọan muộn của văn hoá Đông Sơn hoặc thời Hán sau này. Đã có những di tích động vật nuôi phổ biến: voi thuần, chó nhà, lợn nhà và trâu bò. Các di tích này được tìm thấy trong các di trỉ và được thể hiện trên các hình khắc và tượng (thí dụ các hình vẽ trên đá vách núi Hoa Sơn, Quảng Tây giáp Lạng Sơn biên giới hiện nay, cho thấy có chó nhà). Trong di tích Đông Sơn ở Làng Vạc, cũng tìm thấy những hạt thóc luá, trấu. Lúa thuộc loại hạt tròn, gần giống lúa chim hoặc lúa nếp. Nông nghiệp là hoạt động chính yếu của cư dân Đông Sơn. Theo Thuỷ Kinh Chú và Nam Phương thảo mộc trạng, thì vùng Giao Chỉ, Cửu Chân trồng nhiều nếp và dùng nếp nấu rượu. Cũng trong “Nam phương thảo mộc trạng” của Kê Hàm (xuất bản năm 304) về thực vật ở khu vực nhiệt đới Quảng Tây, Quảng Đông và Bắc Việt Nam, ta có thể thấy được môi trường thực vật như sau: cây bầu, cây chuối, cây tre, lúa, tùng bách, dương sĩ, xoan, dâm bụt, hoa nhài, hoa súng, mía, hạt tiêu, trầm hương, nhãn, vãi, dừa, chà là, nho, khế, chanh, rau muống, rau cải.. Qua một ít các di tích xương răng ở các di chỉ Đông Sơn và trên các hình tượng, ta chỉ thấy hình ảnh hạn hẹp của thế giới động vật. Loài thú thì có hổ, voi, tê giác, huơu sao, bò bưóu, cá sấu. Ngoài ra còn có loại chim thuộc bộ cò (cò, vạc, bồ nông..) thường đến miền Bắc Việt nam khi di cư về phương Bắc . Theo Lĩnh Nam Chích Quái, thì người Việt xưa thường ăn canh cá, biết dùng cá tôm làm mắm. Theo truyền thống người Việt ít ăn thịt trừ những dịp lễ tết, hội hè. Như vậy ta có thể cho rằng thức ăn của người Đông Sơn xưa chủ yếu là gạo, bột và hải sản. Các di chỉ trong mộ thuyền cho thấy dân cư Đông Sơn biết làm chiếu cói, vải. Vải mặc dầu mũn nát, đã cho thấy có nghề se sợi, dệt vải. Ngoài ra đồ gổ đều có lớp sơn, chứng tỏ nghề sơn đã xuất hiện từ vài ba thế kỷ trước Công nguyên. Văn hoá và đời sống Đông Sơn Heger cho rằng các hình ảnh trên trống Sông Đà là ngày hội khánh thành trống với các thuyền chở người đi dự, họ là những khách cầm thoa để đánh trống. Ngày khánh thành trống là một ngày hội lớn cho cả cộng đồng. Theo Loofs-Wissoma, trống đồng là vật tượng trưng cho quyền lực của người cầm quyền. Một thứ quyền uy kiểu tôn giáo ở Bắc Việt Nam mà các tù trưởng ở khắp mọi nơi, kể cả vùng Đông Nam Á, tìm đến để xin ban cho trống đồng, để làm vua một cách hợp pháp (1). Tuy nhiên thuyết này không đựợc tán thành vì không những chỉ ở Việt Nam mới có đúc trống mà ở miền Nam Trung Quốc, và các vùng lân cận ở Đông Nam Á cũng có đúc trống. Sự có mặt khắp nơi của trống đồng là do sự giao thoa văn hoá trong vùng (Trịnh Sinh trong “Văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam”). Theo nhiều nhà khảo cổ thì nhiều hình ảnh trên trống đồng phản ảnh ngày hội mùa để gặt lúa nước và thu thập mùa màng. Đoàn người vừa đi vừa múa tay cầm giáo, lao, rìu hay nhạc cụ. Họ mặc trang phục lông chim, mũ chim. Một số người mặc áo choàng lông chim mà chỉ ngày lễ hội lớn mới mang ra mặc. Người Dayak ở Borneo vẫn còn phong tục mặc áo và mũ lông chim trong các buổi lễ. Như ta biết, trong truyền thuyết Trọng Thủy, Mỵ Châu, cũng có đề cập đến áo choàng lông ngỗng dành cho công chúa. Ngày hội mùa cũng mang tính chất tín ngưỡng phồn thực mong cho mùa màng tốt tươị Hình ảnh trên tang trống của đôi trai gái trên mặt trống cầm chày giã vào cối phản ảnh tính chất trên. Trên thạp đồng Đào Thịnh còn có các cặp trai gái đang giao phối. Ngày nay, tục lệ trai gái giao duyên ngày hội mùa mong cho mùa mang tốt tươi là vết tích của tín ngưỡng phồn thực còn lại ngày nay trong dân gian Việt Nam. Trên trống đồng Ngọc Lũ, ta cũng thấy trong một ngôi nhà sàn, một đôi nam nữ ngồi với tay và chân giao vào nhau, đang hát đối đáp trong lúc ở góc có người đang ngồi đánh trống đồng. Nghi lễ đâm trâu, đâm bò cùng có phản ảnh trên trống đồng như trên trống đồng Làng Vạc, với hình bò và các chiến binh cầm rìu, giáo nhảy múa. Tục này vẫn còn phổ biến ở các dân tộc Đông Nam Á và các dân tộc sống ở Tây Nguyên Việt Nam. Ngày hội cầu mưa, cầu nước lên hay rút là những ngày hội mà nhiều xã hội nông hay ngư nghiệp coi trọng để thời tiết mưa thuận gió hoà. Nhiều trống Đông Sơn có tượng cóc trên mặt trống gần mép trống, ngoài các vòng tròn đồng tâm. Có khi có cóc mẹ cõng cóc con như trên trống Hữu Chung . Hình tượng cóc thường gắn với sự cầu mưa vì “con cóc là cậu ông Trời” như dân gian Việt thường nói. Tiếng trống đồng cũng biểu hiện cho tiếng sấm. Người xưa trong hội cầu mưa đánh trống để thức tỉnh thiên nhiên mang lại mưa cho vạn vật. Trống vì vậy có mục đích quan trọng trong đời sống dân Đông Sơn. Trên các tang trống Đông Sơn như Sông Đà, Làng Vạc, Miếu Môn.. ta có thể thấy nhiều hình thuyền diển tả cảnh bơi chải. Tục bơi chải (bơi thuyền dưới nước và bơi thuyền tượng trưng trên cạn) thường thấy trong hội đua thuyền ở các làng thờ thần nước ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Ngay cả trong thơ văn đời Đường, cũng có bài nhắc đến tục dùng trống trong lễ nghi về thần sông. Mặc dù vào thời Đường đã là 5 thế kỷ sau khi văn minh Đông Sơn tàn lụi, như dư âm các dân tộc Việt vùng Hoa nam vẫn còn vọng lại ở kinh đô Trường An. Kinh đô Trường An có vị trí đặc biệt là nằm giữa vùng ranh giới của hai vùng văn hóa Hoa Nam và Hoa Bắc. Tống khách nam quy hữu hoài Lục thủy noãn thanh tần Tương đàm vạn lý xuân Ngõa tôn nghinh hải khách Đồng cổ trại giang thần Tỵ vũ tùng phong ngạn Khán vân dương liễu tân Trường An nhất bôi tửu Toà thượng hữu quy nhân (Hứa Hồn) (Tiễn khách trở về Nam - Nuớc biếc làm ấm cỏ lau xanh, Hồ Tương vẻ xuân vạn lý, Bình rượu gạch nằm đón khách đi biển, Trống Đồng cúng thần sông, Núp mưa bên bờ có tùng và phong, Ngắm mây bến sông có dương liễu, Một ly rượu ở Trường An, Trên tiệc có người về quê) Bát phách Man Khổng tước đuôi kim tuyến trường Phạ nhân phi khởi nhập Đinh Hương Việt nữ sa đầu tranh thập thúy Tương hô quy khứ bội tà dương (Tôn Quang Hiến) (Tám điệu gõ người Man - Chim tước đuôi kim tuyến dài lê thê, Sợ người bay lên đậu ở Đinh Hương, Cô gái Việt đầu bãi cát tranh nhau nhặt sỏi, Kêu nhau trở về nhà lưng quay lại ánh tà dương) Bồ Tát Man từ Mộc thiên hoa ánh tùng từ tiểu Việt cầm thanh lý xuân quang hiểu Đồng cổ dữ Man ca Nam nhân kỳ trại đa (Tôn Quang Hiển) (Đền bồ tát người Man - Ngôi đền nhỏ trong bụi cây toả ánh hoa mộc miên, Trong tiếng hót chim Việt thấy ánh sáng ban mai mùa xuân, Trống Đồng và bài hát Man, Người Nam cầu cúng nhiều) Ngoài ra còn các bài thơ của Ôn Đình Quân hay Đổ Mục (9) Độc thần từ Đồng cổ trại thần lai Mãn đình phan cái bồi hồi Thuỷ đối giang phố quá phong lôi Sở sơn như haọ yên khai (Ôn Đình Quân) (Đền thần bến sông - Trống đồng cầu cúng thần, Đầy sân cờ lọng bồi hồi, Gió sấm lướt trên mặt nước bến sông, Khói mây mờ núi Sở như tranh vẽ) Trên trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ, ta còn thấy hình người ở trần, bị trói quặt tay sau lưng ngồi trên sàn thuyền, trước mặt là những người cầm vũ khí. Có thể đây là lễ hiến tế cho thần nước, nạn nhận bị giết rồi quẳng xác xuống sông cho thuỷ thần. Theo tài liệu dân tộc học thì trong lễ cầu nước có lễ hiến tế để cống và chiều lòng thuỷ thần. Ngay cả gần đây ở vùng ven sông Hồng, sông Đáy và sông Mã vẫn còn tục bắt con gái hoặc con trai ném xuống sông cống Hà Bá trong khi nước lụt lội (1) Trên trống cũng có hình các loại nhà sàn: nhà sàn mái cong hình thuyền với hai đầu vểnh trang trí hình chim và nhà sàn mái tròn. Trong nhà sàn hình tròn có chia làm hai gian chứa lương thực. Các vết tích của nhà sàn như cọc, gỗ.. đã được khai quật và khám phá trong những đợt khai quật đầu tiên của người Pháp ở Đông Sơn. Cư dân Đông Sơn sống gần sông nước xây nhà sàn để tránh nước lên và thú dữ. Ngoài ra mặc dầu chưa có chứng cớ trực tiếp từ khảo cổ học, người Đông Sơn còn có thể có tục xâm mình, tục ăn đất, tục uống nước bằng mũi qua tư liệu sử học (như trong Hán thư, Lĩnh Nam chích quái), dân tộc học hay dân gian. Các hình tượng và cấu trúc trên mặt trống biểu hiện thêm gì? . Ngoài các thuyết cho rằng là biểu tượng ngày hội trống, tục bái vật (totem), nghi lễ cầu mưa... Cấu trúc trên trống có thể cho ta biết về triết lý và quan niệm sống của chủ nhân trống đồng. Theo Trần Quốc Vượng thì quan niệm sống của chủ nhân trống đồng đã được ghi và kết tinh trong các hình tượng và mô hình trên tang trống. Ông đã dùng kết quả nghiên cứu liên ngành từ dân tộc học và xã hội học để cho thấy quan niệm lưỡng hợp và lưỡng phân trong đời sống tâm linh của người Đông Sơn. N.I Nicolin trong bài “Trống đồng Đông Sơn và quan niệm cây thế giới” (4) (dịch từ nguyên tác Nga đăng trên tạp chí Khoa học Xã hội) đã so sánh rất hay và lý thú về truyền thuyết người Mường và biểu tượng trên trống đồng Đông Sơn. Dựa vào các khám phá và nhiều ý kiến về biểu tương trên trống đồng của các nhà khảo cổ Việt Nam gần đây (như Lê Văn Lan) cho rằng trống đồng Đông Sơn biểu hiện mô hình thế giới: mặt trống phía trên là thiên giới và trần giới, phần tang trống là thuỷ quốc và mặt dưới là âm phủ, Nicolin cho rằng có sự liên hệ mật thiết giữa trống đồng, biểu tượng trên mặt trống và huyền thuyết của người Mường, một dân tộc rất gần với người Việt. Trong tâm linh và thần thoại người Mường về sáng tạo vũ trụ, con người, “cây cuộc sống” biểu hiện nguyên lý về trật tự thế giới đối nghịch với trạng thái hỗn mang khi thế giới tạo lập. Trong truyền thuyết sử thi “Đẻ đất đẻ nước”, một văn bản chính yếu của văn hoá Mường Ngày xưa sinh đời trước Dưới đất chưa có đất Trên trời chưa có trời, Trên trời chưa có ngôi sao đỏ đỏ Dưới đất chưa có ngọn cỏ xanh xanh Con nhà, con người muốn dậy Chưa có mặt mủi “Cây cuộc sống” xuất hiện chấm dứt tình trạng hổn mang Mọc lên một cây xanh xanh Cây xanh có chín mươi cành Cành mọc lên trời lá xanh biết cựa Thân trên mặt đất thân cây biết rung Cành bung xung có tiếng đàn bà con gái Cành chọc trời biến nên cật đứa cái Là ông Thu Tha Cành bung xung biến nên cật đứa con maí Là bà Thu Thiên Ra truyền: làm nên đất nên trời Tâm linh về “cây cuộc sống” cũng có ở các dân tộc Việt, Lào (4). Cây là hiện thân số phận của con người trong dân tộc người Ê Đê. Tục thờ cây cối là một tín ngưỡng xưa của người Việt. Truyền thuyết trầu cau thể hiện tục thờ cây (10). Theo Trần Quốc Vượng (9), thì tục thờ mẫu Liểu Hạnh, một trong Tứ Bất Tử, thì Liễu Hạnh, cùng hai đàn em trong Phủ là chầu Quỳnh, chầu Quế cũng như tên chồng của Mẫu là Đào lang, đều là tên cây, hoa. Ông cho rằng tục thờ mẫu Liễu Hạnh có liên hệ cội nguồn với tục thờ cây cối. Cây cũng đdại diện cho bộ tộc người Chàm trong truyền thuyết lịch sử: bộ tộc dừa, bộ tộc cau. Cùng với cái chết của cây crêc (cây sắt) thì đất nước cũng diệt vong. Cũng vậy trống đồng biểu hiện “cây thế giới” cũng có thể biến thành cây chết, với sự khám phá trong một ngôi mộ cổ: trống bị lật ngược với mặt trên bị thủng. Ở thế kỷ 1 sau công nguyên, Mã Viện nhà Hán sau khi chinh phục dân tộc Lạc Việt đã thu thập và nấu hết các trống đồng “cây sống” tượng trưng cho sức mạnh dân Việt. Mã Viện cũng dựng lên một “cây chết” trụ đồng với dòng chữ: “Đồng trụ triết, Giao chỉ triệt”. Theo Minh sử thì “Trống mất thì vận người Man cũng mất” cho thấy vị trí của trống đồng trong sự sống còn của bộ tục chủ nhân làm trống. Giữa mặt trống ở trung tâm là hình “ngôi sao” mặt trời với 14 tia sáng, tượng trưng cho tục thờ Mặt trời. Sau các vòng tròn đồng tâm trang trí, là vòng thứ 6 mô tả xã hội loài người, các hội hè nghi lễ, các hình vẽ nhà sàn, các hình người đánh trống, đánh cồng. Cồng sử dụng trong ngày hội tượng trưng cho sự sinh sản thịnh vượng. Người Mường theo tập tục mẫu hệ, chiếc cồng biểu hiệu cho bộ ngực người phụ nữ và chiếc cồng với những quả bí ngô liên kết với nhau biểu tượng cho sự phồn thực. Trên trống đồng, ta thấy có nhiều mo-típ về chim, và người ăn mặc dưới dạng chim. Sự phồn thực cũng có thể liên quan đến nhóm hình trên trống Ngọc Lũ: hình một người đàn bà và một người đàn ông dùng chày giã gạo trong cối đá. Phía trên nhóm hình này là bầy chim bay liệng - đó là linh hồn trẻ nhỏ chuẩn bị đầu thai vào lòng phụ nữ. Cũng như chim Lạc của bộ tộc người Lạc Việt, theo người Mường thì thuỷ tổ của họ được coi là loài chim. Thế giới trên vòng tròn đồng tâm thứ 8 thể hiện thế giới loài vật. Thế giới này được thể hiện bởi hai đàn chim và hai bầy hươu (hoẵng). Trong “Đẻ đất đẻ nước”, bên cạnh cây thế giới ta cũng thấy hoẵng và chim Đàn hoẵng chầu ở giữa Lũ phượng hoàng chầu ở trên Lũ chim nên chầu ở cành si, cành đa. Trên vòng đồng tâm thứ 10, vẽ 18 con chim bay và 18 con chim đậu. Các con chim bay giống như những tia mặt trời liên kết thiên giới với trần giới. Những con chim đậu ở nước (thuỷ điểu) liên kết trần giới, thiên giới với thuỷ quốc. Đằng sau các thuỷ điểu là những con ếc đúc nổi bằng đồng. Các loài ếch này coi là trung gian giữa thiên giới và trần giới với tiếng kêu báo hiệu mưa từ trời. Trong dân gian Việt nam, con cóc ếch vẫn còn được gọi là “cậu ông Trời”. Như vậy trên “cây thế giới” trống đồng, ta thấy cả những biểu tượng thể hiện tâm linh và văn hoá của chủ nhân trống đồng. Nó liên kết thiên giới, trần giới, xã hội loài người và thuỷ quốc. Tham khảo (1) Hà Văn Tấn chủ biên - Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam, Viện khảo cổ học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994 (2) Bửu Cầm - Tương quan giữa những hình chạm trên trống đồng Việt tộc và bài “Đồng Quân” trong Sở từ, Tập san Sử Địa, Số 25, 1973, Saigon, trang 49-80. (3) Phạm Minh Huyền, Diệp Đình Hoa - Vị trí địa điểm khảo cổ học Thiệu Dương (Thanh Hóa) trong văn minh Đông Sơn, Khảo cổ học, 2/1981, trang 19-34. (3b) Nguyễn Duy Hinh - Đồ đồng vùng Đông Nam Trung Quốc, Khảo cổ học, 2/1982, trang 29-33. (3) Phan Đức Mạnh - Lịch sử nghiên cứu khảo cổ học thời tiền sử Đông Nam Bộ, Tạp chí Khoa học Xã hội, Tp. HCM, 13 (III/92), 1992, trang 47-52 (4) N.Ị Nicolin - Trống đồng Đông Sơn và quan niệm cây thế giới, Tạp chí Khoa học xã hội, Tp Hồ Chí Minh, 12, II/92, trang 60-68. (5) Ha Văn Tấn - Văn hoá Phùng Nguyên, nhận thức mới và vấn đề, Khảo cổ học, 1/1978, trang 5-22 (6) Chử Văn Tần - Về văn hoá Sa Huỳnh, Khảo cổ học, 1/1978, trang 52-60. (7) Diệp Đình Hoa - Người Việt cổ phương Nam vào buổi bình minh dựng nước, Khảo cổ học, 1/1978, trang 61-69. (8) Trịnh Cao Tưởng - Kiến trúc đình làng, Khảo cổ học, 2/1981, trang 56-64. (9) Trần Quốc Vượng - Theo dòng lịch sử, những vùng đất, thần và tâm thức người Việt, Nxb Văn Hoá, Hà Nội, 1996. (10) Nguyễn Đăng Thục - Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tập 1, Nxb Tp HCM, 1992. NGUYễN ÐứC HIệP Nguồn: http://vannghesongcuulong.org -
Khảo cổ Việt Nam soi sáng văn minh Đông Sơn-phần một Nguyễn Ðức Hiệp Bài này viết để giới thiệu về nền văn minh Đông Sơn và sự liên hệ của văn minh Đông Sơn với các văn minh khác trong vùng (như Sa Huỳnh). Sự hiểu biết về văn hóa Đông Sơn còn được nhiều đóng góp về sau này nên sẽ không ngạc nhiên khi có những thuyết và tranh luận giừa các nhà khoa học nghiên cứu về nguồn gốc, biểu tượng, văn hóa Đông Sơn. Từ các thập niên 50 đến 80, các nhà học giả Việt nam đã khai quật khám phá và đóng góp nhiều hiểu biết quan trọng về văn hóa Đông Sơn và công bố trong các tạp chí Khảo cổ học, Lịch Sử, Xã hội, các hội nghị khoa học trong và ngoài nước. Nhiều nghiên cứu có giá trị của Hà Văn Tấn, Chử Văn Tần, Phạm Văn Kỉnh, Diệp Đình Hoa, Phạm Minh Huyền.. bằng quốc ngữ chưa được biết nhiều ở các học giả nước ngoài . Đáng chú ý, là từ các di chỉ tiền Đông Sơn khám phá ở các vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ đến các nghiên cứu về dân tộc và xã hội học, ta có thể thấy sự phát triển liên tục của văn hoá, văn minh Đông Sơn và cho thấy tính chất nội sinh và bản địa của nó. Các yếu tố ảnh hưởng từ ngoài, mà nguồn chính là từ vùng thảo nguyên Trung Á, thể hiện ở một số nhỏ hoa văn động vật và phong cách, cho thấy sự trao đổi văn hoá, kinh tế qua con đường từ trung du Bắc bộ đến Vân Nam và Tứ Xuyên qua sự trung gian của văn hoá Điền ở vùng Hoa nam. Các điều kiện nghiên cứu tuy không đầy đủ như ở các nước khác, nhưng phẩm chất và nội dung rất phong phú. Ông Tạ Chí Đại Trường, một sử gia miền Nam trước 1975, trong một bài báo gần đây ở Mỹ, đã chỉ trích các nghiên cứu khảo cổ học ở Việt Nam là quá thiên về sự tự hào dân tộc và hoài nghi về các kết quả nghiên cứu. Ông ngay cả chỉ trích nhà sử học Mỹ Keith Taylor đã đến Việt Nam học hỏi và nghiên cứu các kết quả cùng với các nhà khảo cổ và sử học trong nước để kết thúc luận án tiến sĩ của ông mà sau này ông xuất bản cuốn sách với tựa đề “The birth of Vietnam”. Dĩ nhiên ngoài các công bố ít nội dung và có tính chất “diễn văn” mà ta có thể thấy dễ dàng và gạn lọc được ở các tạp chí khoa học trong nước, các nhà nghiên cứu vẫn biết được và trân trọng đa số các kết quả nghiên cứu có giá trị trong nước. Ông Tạ Chí Đại Trường đã có chút khách quan khi nhận định về khảo cổ học ở Việt Nam, nhưng khác với ông, tôi cho rằng các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cũng có giá trị và đáng trân trọng. Vừa đây Viện Khảo cổ học với đã xuất bản quyển sách "Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam" (Nxb Khoa Học Xã hội, Hà Nội, 1994, với sự tài trợ của Toyota Foundation tổng hợp một phần sự hiểu biết về văn hóa Đông Sơn từ các học giả Việt Nam. Đây là một bước nhỏ trong công việc tổng quan về vấn đề tìm hiểu văn hoá Đông Sơn ở Việt Nam. (1) Sơ lược về khám phá và nghiên cứu văn hóa Đông Sơn Năm 1924, một nông dân làng Đông Sơn (Thanh Hóa), sau cơn nước lũ, đi câu cá ở bờ sông Mã, ngẫu nhiên phát hiện một số đồ đồng nằm trong lòng đất nơi bờ sông bị lỡ. Khi viên thương chính người Pháp, L. Pajot, thích chơi đồ cổ, mua được số đồ đồng trên và phát hiện sự tình, đã vội vàng báo cho trường Viễn Đông Bác cổ. L. Pajot được uỷ nhiệm tiến hành những cuộc đào bới ở địa điểm trên. Thế là tên làng Đông Sơn trở thành nổi tiếng dành cho "thời đại đồng thau ở Bắc kỳ và Bắc Trung kỳ" khi Victor Goloubew ở trường Viễn đông Bác cổ công bố về các di vật đào được ở Đông Sơn trên tạp chí khoa học. Trường Viễn đông bác cổ (Ecole Francais d'Extreme-Orient), thành lập năm 1900, trước đó đã sưu tập được một số đồ đồng như trống đồng Ngọc Lũ lấy từ chùa Long Đọi Sơn, Hà Nam (1903) và mua lại từ bộ sưu tập của Demange và D'Argence (1913 và 1927) mà trước đó họ đã thâu lượm và mua lại từ dân ở các vùng từ Bắc Ninh, Hà Đông, Sơn Tây tới Ninh Bình và Thanh Hóa. Năm 1918, H. Parmentier đã công bố sự giống nhau kỳ lạ giữa hoa văn trên trống Ngọc Lũ với hoa văn trên các đồ đồng khác trong bộ sưu tập D'Argence. Trước đó, năm 1902, F. Heger, nhà nghiên cứu người Đức về các trống đồng ở Đông Nam Á đã xếp trống loại Ngọc Lũ (Đông Sơn) là trống đẹp và cao thuộc loại I (Heger I) trong 4 loại trống. Sự khám phá ở Đông Sơn đã khởi động cho các cuộc tìm hiểu và nghiên cứu có hệ thống về thời đồng và văn hóa Đông Sơn của các học giả nhiều nơi trên thế giới. Năm 1934, nhà học giả người Áo, R. Heine-Geldern đã đề nghị gọi nền văn hóa đồ đồng ở Việt nam là "văn hóa Đông Sơn". Từ đó về sau các nhà nghiên cứu về văn hoá đồ đồng ở Đông Nam Á và Nam Trung quốc đã gọi chung nền văn hoá này là văn hóa Đông Sơn. Sau năm 1954, các nhà khảo cổ Việt Nam đã khám phá ra nhiều di tích thuộc văn hóa Đông Sơn. Cho đến nay, 125 di tích đã được phát hiện ở khu vực Sông Hồng, Sông Cả và Sông Mã ở Việt Nam không kể các di tích Tiền Đông Sơn (Hà Văn Tấn, "Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam", 1994). Riêng số trống đồng loại I Heger (tức trống Đông Sơn) đã lên tới 143 chiếc. Trong đó có những trống đẹp, trang trí gần giống trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ như trống Cổ Loa phát hiện năm 1982 và trống Hy Cương phát hiện ở Đền Hùng mới đây. Trong năm 1997, các trống trên và nhiều trống khác đã được trưng dụng ở khắp nơi trong cuộc triển lãm đặc biệt về Thăng Long truyền thống tại Viện Bảo tàng Lịch sử, Hà Nội Trong thư tịch lịch sử Việt Nam cũng có nói đến trống đồng trong sinh hoạt đời sống như lễ đông cô thời Lý, sứ Nguyên nghe trống đồng nhiều nơi khi sang Đại Việt dưới đời Trần. Đáng chú ý là ở chùa Đồng Cổ, Thanh Hoá có một tấm bảng gỗ khắc năm Bảo Hưng thứ 2 Tây Sơn (1802) của Tuyên Công Nguyễn Quang Bàn, con trai Nguyễn Huệ, ghi chép khá tỉ mỉ về trường hợp phát hiện và đo đạc khảo tả chiếc trống đồng cổ đặt trong chùa (1). Về sau chiếc trống này được người Pháp đưa vào trường Viễn đông Bác cổ. Trong luật Hồng Đức thờ Lê cũng có nói đến điều lệ trừng phạt lấy cắp hay phá hỏng tượng Phật và chuông dồng cổ. Có thể nói việc sử dụng trống đồng dần dần biến đi sau đời Trần cùng với các trống đồng. (2) Niên đại và nguồn gốc Đông Sơn Thuyết cho rằng kỹ thuật làm trống đồng được truyền từ các các bộ tộc ấn-Âu (Indo-european) sang Nam Trung quốc rồi từ đó xuống Bắc Việt Nam lúc đầu đã được nhiều học giả như Parmentier, Finot, Maspero .. chấp nhận. Giả thuyết này được nghiên cứu từ sự giống nhau giữa các hoa văn, kỹ thuật của trống Đông Sơn và trống đồng của các bộ tộc indo-european. Cách đây vài năm và gần đây (đầu năm 1998), các nhà khảo cổ Trung quốc và phương Tây đã khám phá và công bố một vài mộ chôn của các người bộ tộc indo-european, Tochara, ở miền Tây TQ và cho thấy họ đã đi đến vùng này và gần hơn ở Nam và Bắc Trung Quốc. Những người này sau đó bị tuyệt chủng. Sự khám phá này cho thấy giả thuyết trên có thể đúng nhưng cần có sự nghiên cưú kỷ lưỡng hơn. Mặc dầu không thống nhất trong sự xác định về niên đại của trống đống và văn hoá Đồng ở Đông Nam Á và Nam Trung Quốc, hiện nay các nhà khảo cổ cho rằng thời gian này kéo dài từ khoảng thế kỷ 9BC đến thế kỷ 1 sau công nguyên. Thời gian này tương đương với thời Hùng Vương đến giai đoạn đầu của Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam. Theo Đào Duy Anh, căn cứ vào thư tịch cổ Trung Quốc và Việt Nam, thi văn hoá Đông Sơn khởi từ thế kỷ 8BC đến thế kỷ 1 sau công nguyên. Ông chia ra làm 3 giai đoạn phát triển: giai đoạn 1 là giai đoạn hưng thịnh điển hình với các trống Ngọc Lũ, Hoàng Hạ tương đương với thời kỳ hưng thịnh Hùng Vương. Giai đoạn 2 là giai đoạn tiến triển với trống Việt Khê, thạp Đào Thịnh, tương đương với cuối thời Hùng Vương và An Dương Vương. Giai đoạn 3 là giai đoạn suy vi, tương đương với thời kỳ đầu Bắc thuộc, Tây Hán và Đông Hán. Trần Mạnh Phú dựa vào diển biến hoa văn trên trống đồng cũng chia văn hoá Đông Sơn ra 3 giai đoạn như trên của Đào Duy Anh với giai đoạn 3 thuộc thời đại dồ sắt từ thế kỷ 2 trước công nguyên đến đầu thế kỷ 1 sau công nguyên. Nhà khảo cổ Phạm Văn Kỉnh và Lê Văn Lan chia văn hoá Đông Sơn theo thời đại khảo cổ: giai đoạn đầu (sơ kỳ) của thời đồng thau với di tích của văn hoá Gò Mun, giai đoạn trung kỳ thuộc vào thời kỳ hưng thịnh đồng Đông Sơn và giai đoạn cuối là thời đại sắt cũng là mạt vận của văn hoá đồng Đông Sơn với đồ Tần-Hán có mặt bên cạnh đồ bản địa Đông Sơn, từ thế kỷ 3 trước công nguyên đến thế kỷ 1 sau công nguyên. Hà Văn Tấn thì cho văn hoá Đông Sơn ở 2 giai đoạn: giai đoạn đồng thau và giai đoạn sắt. Nguyễn Linh thì không chia văn hoá theo giai đoạn mà nhìn tổng quan văn hoá Đông Sơn nằm trong thời hưng thinh và suy vong của thời đại đồng thau, từ thế kỷ 7 trước công nguyên đến khi nhà Hán sang cai trị cũng là lúc mạt vận của văn hoá Đông Sơn .Chử Văn Tần cũng như Nguyễn Linh coi văn hoá Đông Sơn tổng quan trong giai đọan cuối của một nền văn minh Đông Sơn khởi từ văn hoá Phùng Nguyên. Phạm Minh Huyền chứng minh trong nền văn hoá Đông Sơn có sự phát triển khác nhau ở các địa phương, sớm nhất ở vùng sông Hồng rồi đến sông Mã. Sự kết thúc cũng khác nhau đánh giấu sự xuất hiện của đồ minh khí và tăng trưởng của đồ ngoại lai. Ông chia văn hoá Đông Sơn thành ba loại hình cơ bản: loại hình sông Hồng, loại hình sông Mã và loại hình sông Cả. Các loại hình có một số nét phong cách địa phương. Cũng nên nhắc lại là từ miền Nam Trung Quốc xưa kia ở vào khoảng niên đại của trống đồng (thế kỷ 9 BC đến thế kỷ 2 AD) là vùng cư ngụ của các bộ tộc Bách Việt trước khi bị Hán hoá. Ở đây, văn hoá Đông Sơn cũng phát triển ở các bộ tộc vùng Hoa Hạ. Các lễ nghi, sinh hoạt của các dân trong thời này đã cho thấy rõ ràng tính chất của văn hoá Đông Sơn. Bửu Cầm (2), trong bài triển khai từ nghiên cứu của Lăng Thuần Thanh “Đồng cổ đồ văn dữ Sở từ Cửu ca” (đăng trong Quốc lập trung ương nghiên cứu viện viện san đệ nhất tập, Đài bắc 1954, tr. 403-417) cho thấy họ Lăng dùng bài Đông quân trong Cửu ca của người dân Sở và những tài liệu dân tộc học về người A-Mi ở Đài Loan, người Nagas ở Assam cùng người Dayak ở Borneo để giải thích hình chạm trên trống đồng. Theo Bửu Cầm, Cửu ca của dân tộc Sở chẳng khác gì những bài “văn chầu” của đạo “thờ chư vị” ở nước ta. Nước Sở ngày xưa tuy rộng lớn nhưng dân tộc Sở không quá phức tạp, phần nhiều là giống Bộc, Lão tức Việt tộc, hoặc nói theo ngôn ngữ đời nay là giống Indonesian. Chính Sở vương Hùng Cừ đã nói: “Ta là man di, không cùng hiệu thụy với Trung quốc”. Đồ đồng và trống đồng khám phá ở khu vực đông Nam Trung quốc được chia ra ba nhóm (3b) nằm trên 3 khu vực Tả Giang, Hữu Giang (giáp ranh với biên giới Việt Nam hiện nay) và Quế Giang-Tương Giang (giữa tỉnh Hồ Nam và Quý Châu). Đây cũng là vùng của các nhóm bộ tộc Việt: Lạc Việt, Câu Đinh, và Tây Âu. Các hoa văn trên một số trống đồng và rìu đồng giống hoa văn của nhóm Lạc Việt ở Bắc Việt Nam nhất là các rìu đồng hình hia tìm được ở vùng bộ tộc Tây Âu. Vùng Quế Giang của nước Tây Âu giáp với Hồ Nam bên kia Ngũ Lĩnh là địa phận xưa của văn hoá Sở.. Từ thập niên 60 đến nay, các học giả Việt Nam đã khai quật nhiều di tích Tiền Đông Sơn và Đông Sơn và đã công bố nhiều công trình nghiên cứu gần đây cho thấy có sự liên tục của các nền văn hoá. Từ đó đã khẳng định là nguồn gốc kỹ thuật và trống đồng Đông Sơn là nội sinh từ bản địa chứ không phải di từ bên ngoài vào (1). Tuy không phủ định là có sự giao lưu văn hoá giữa Đông Sơn ở Việt Nam, Nam Trung Quốc và vùng đồng cỏ phía Tây cho đến văn hoá Hallstatt Châu Âu, nhất là sự tương quan của một số hoa văn như các hoa văn ngôi sao trung tâm, xoắn ốc, thừng tết.. nhưng có rất nhiều hoa văn đặc biệt bản địa mà chỉ có ở Đông Sơn Việt Nam như nhà sàn, thuyền, người mặc áo lông chim, chim, cá, voi, hổ, hươu, cóc ... . Đặc biệt “thần thái Đông Sơn” trên trống đồng có tính chất bản địa Lạc Việt và khác xa với thần thái của trống đồng và đồ đồng của các văn hoá khác. Với nhiều địa điểm dã được khai quật và nghiên cứu, như Gò Bông, Gò Mun, Gò Chiền, Đồng Dậu, Đường Cổ (Vĩnh Phú), Thiệu Dương, Quỳ Chử, Núi Nấp, Hoa Lộc (Thanh Hoá), Rú Trăn (Nghệ Tỉnh).., các nhà khảo cổ học Việt Nam đã đem lại sự hiểu biết sâu rộng hơn về các giai đoạn phát triển của văn minh Đông Sơn từ đồng thau đến sắt từ vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ tới lưu vực sông Mã . Giai đoạn Đông Sơn mà chúng ta thường biết từ khi Đông Sơn được khám phá chỉ là tiêu biểu cho một nền văn hoá phát triển từ khoảng thế kỷ 2BC đến các thế kỷ sau công nguyên. Những nghiên cứu trên phương diện địa tầng cũng như di vật tại các di tích cho biết sự liên hệ của các tầng văn hoá, như di tích Đồng Đậu chứa 3 tầng văn hoá từ Phùng Nguyên đến Gò Mun. Các hoa văn của Phùng Nguyên cũng đã được tìm thấy ở văn hoá Đông Sơn, cũng như sự chuyển tiêp của các loại hình đồ gốm, hoa văn trên đồ gốm cho thấy sự kế tiếp của các truyền thống văn hoá (1)(Chương VI, Hà Văn Phùng). Văn minh và văn hoá Đông Sơn có thể được hiểu rộng hơn bao gồm bắt đầu từ giai đọan văn hoá Đồng Đậu, Gò Mun, Gò Chiền cho đến giai đoạn Đường Cổ ở vùng Trung du Bắc Việt tương đương với giai đoạn Đồng Ngầm, Quì Chử tới Đông Sơn ở vùng sông Mã, Thanh Hoá (3a). Có thể tóm tắt văn hoá Đông Sơn là sự liên tục của nền văn minh Đông Sơn bắt đầu từ giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên ở sông Hồng, văn hoá Quỳ Chữ ở sông Mã và Rú Trăn ở sông Cả. Văn hoá Sông Hồng sông Mã Sông Cả Niên đại Thời đại khảo cổ Văn hoá Tiền Đông Sơn Văn hoá Phùng Nguyên Văn hoá Hoa Lộc Nhóm di tích Đền Đồi-Rú Ta 800-700 Sơ Đồng Văn hoá Đông Đậu Nhóm di tích Đồng Ngầm ? 600-500 Trung Đồng Văn hoá Gò Mun Văn hoá Quỳ Chử Nhóm di tích Rú Trăn 400-300 Hậu Đồng Văn hoá Đông Sơn Loại hình Đường Cồ Loại hình Núi Nấp Loại hình làng Vạc 200-100, CN100-200 Đồng - sơ Sắt Khi nói tới văn minh Đông Sơn ở Việt Nam, ta có thể hiểu nó bao trùm thời gian và không gian nói trên ở Bắc Việt Nam. Đặc trưng nhất của văn minh Đông Sơn là đồ đồng mà nổi bật là trống đồng. Các nhà khảo cổ Việt nam đã tìm được rất nhiều trống đồng kể cả trống đồng loại Heger I đẹp nhất như trống Hoàng Hạ, Cổ Loa, Hy Cương.. tương đương với trống Ngọc Lũ tìm được trước đó . Riêng trống đồng loại Heger I đã lên đến 143 chiếc, chưa kể hơn 100 trống minh khí (1). (3) Các di tích và di vật văn hóa Đông Sơn Di tích Di tích Đông Sơn được phát hiện ở khắp Đông Nam Á (Việt Nam, Lào, Thái Lan, Indonesia) và Nam Trung Quốc. Việt Nam là nơi có mật độ và số lượng di chỉ nhiều nhất, tập trung ở lưu vực sông Hồng và lưu vực sông Cả, sông Mã. Di tích cư trú, di tích mộ thuyền được phát hiện dọc sông Hồng đến Vĩnh Phú, các tỉnh đồng bằng sông Hồng, sông Đuống, Thanh Hoá, Nghệ An. Đa số các di tích được khảo sát chi tiết và bảo tồn (một số như Đông Sơn, Thiệu Dương được khai quật và khảo sát nhiều lần), ngoài ra còn một số được khai quật “chữa cháy” khi được khám phá tình cờ ở các công trường, nhà máy, thuỷ lợi.. các hiện vật được lưu giữ nhưng không còn di tích bảo tồn . Ngoài ra ở Hoa Sơn, Quảng Tây, gần biên giới Trung -Việt hiện nay, giáp Lạng Sơn là di tích nghệ thuật trên đá lớn nhất của văn minh con người, với khổ 200m x 40 m các hình vẽ chạm trên triền núi dọc sông Zuo. Trong các hình người (phù thuỷ hay chiến sĩ cầm gươm có vòng ở cán), có các hình trống với mặt trời ở giữa. Đồ đồng Đông Sơn Đồ đồng Đông Sơn gồm giáo, riều, mủi tên, chậu đồng, thố đồng.. nhưng nổi bật nhất là trống đồng . Nghề luyện kim đồ đồng và làm trống đống của người xưa đạt đến cao độ mà ngay cả gần đây vào các thập niên 60, 70 các chuyên gia ở Viện Khảo cổ Việt Nam đã bao lần tìm cách đúc lại các trống đồng mà không thành công. Công cụ sản xuất gồm lưỡi cày, lưỡi cuốc, thuổng, xẻng.. dùng trong nông nghiệp . Đã có hơn 200 lưỡi cày đông Đông Sơn đã được tìm thấy. Các loại vũ khí gồm có giáo, lao, tên, nỏ, rìu, dao, kiếm ngắn, tấm che ngực. Mũi tên có nơi tìm được tới vạn chiếc như ở kho Cầu Vực. Trong vùng Cổ Loa, mủi tên đã được phát hiện ở nhiều nơi. Các đồ dùng sinh hoạt thì có thạp đồng, thố đồng, bình, lọ, chậu, nồi, ấm, bát đĩa, thìa ... Một số thạp đồng Đông Sơn có hoa văn và hình tượng trang trí tỉ mỉ và đẹp như trống đồng. Thạp đồng nổi tiếng như thạp Đào Thịnh tượng trưng và thể hiện cao điểm của nghệ thuật văn hoá Đông Sơn. Trống đồng Đông Sơn (Heger 1) cũng đã được phát hiện ở Gia Lai-Kontum (1921), Thủ Dầu Một, Sông Bé (1934) (3) và gần đây ở Bình Định (1998) cho thấy ảnh hưởng và sự liên lạc giữa khu văn mình Đông Sơn và Sa Huỳnh ở Trung Nam Bộ cho tới khu vực văn hoá Đồng Nai (di chỉ Dốc Chùa, Sông Bé khai quật năm 1977 đã cho thấy thời kỳ đồng thau phát triển bản địa tại khu văn hoá Đồng Nai).. Đồ gốm và thủy tinh Trong đợt khai quật ở Đông Sơn năm 1967, các nhà khảo cổ Việt Nam đã tìm đưọc bình gốm cổ cao, vai khép thân thấp, đặc trưng của loại hình gốm Sa Huỳnh. Trước đây, các loại hình gốm loại đèn và vịt nước cũng được biết ở các di chỉ Đông Sơn (7). Đặc biệt có sự tương quan của các hoa văn trên gốm và hoa văn trên đồ đồng Đông Sơn. Rất nhiều đồ trang sức thủy tinh được khám phá ở các di tích mộ táng Đông Sơn. Tuy vậy số lượg và chất lượng không bằng các vật thủy tinh ở các di tích Sa Huỳnh từ Bình Trị Thiên tới Đồng Nai (trong các mộ chum, điển hình của văn hoá Sa Huỳnh) nhất là khuyên tai có mấu và khuyên tai hai đầu thú. Di vật đồ thủy tinh là chứng cớ khảo cổ cho thấy sự liên lạc và ảnh hưởng giữa hai văn hoá Sa Huỳnh và Đông Sơn. Mật độ các đồ thuỷ tinh tìm thấy ở các di chỉ Đông Sơn càng ngày càng nhiều đi từ đồng bằng sông Hồng xuống phía Nam và nhiều nhất là ở Làng Vạc vùng sông Cả, Nghệ An. Trong sự liên hệ giữa Đông Sơn và Sa Huỳnh, ta nhận thấy đồ đồng Đông Sơn được khám phá rãi rác ở khu văn hoá Sa Huỳnh (đồ đồng tìm được rất ít ở di chỉ mộ chum Sa Huỳnh) ngược lại các đồ gốm và dồ trang sức thủy tinh mang đặc sắc của Sa Huỳnh được tìm thấy ở các mộ táng và di chỉ Đông Sơn. Các di chỉ mộ chum Sa Huỳnh ở Hàng Gòn, Dầu Giây, Đập Suối (Xuân Lộc, Đồng Nai) được xác định bằng C14 vào khoảng cách đây 2300 năm, tức là vào khoảng của niên đại đồng Đông Sơn ở Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc. Về màu sắc và thành phần hoá học, thuỷ tinh Sa Huỳnh và Đông Sơn tương tự như nhaụ Vòng tai và tay đa số là maù xanh lá cây già, xanh lơ, xanh lá mạ. Ngoài thành phần hoá học cơ bản của thuỷ tinh là oxid silic (SiO2), thuỷ tinh Sa Huỳnh và Đông Sơn không có oxid chì (PbO). Trong thời đại muộn hơn (vaì thế kỷ sau Công nguyên), thuỷ tinh tìm được ở Trà Kiệu, Lâm Đồng có chì. Đây là điều chứng tỏ có sự thay đổ kỹ thuật nấu thuỷ tinh so với giai đoạn sớm hơn thuộc văn hoá Sa Huỳnh và Đông Sơn (1). Ngoài những di vật đồng và gốm, thủy tinh nói lên sự trao đổi giữa 2 văn hóa, Hà Văn Tấn (5) đã nghiên cứu những đồ gốm khai quật ở các di chỉ văn hóa Phùng Nguyên (mà cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Tiền Việt Mường có niên đại trước Đông Sơn) và cho thấy có sự liên hệ với các đồ gốm Lapita khám phá ở các di chỉ các đảo Nam Thái Bình Dương (New Caledonia, Solomons, Tonga, New Britain, New Hebrides..). Theo Chử Văn Tần (6), có sự tương quan rất nhiều giữa loại hình gốm và hoa văn ở gốm Sa Huỳnh với các gốm ở di chỉ văn hoá Gò Bông-Hoa Lộc (Thanh Hoá) ở đầu thời đại đồng thau, trước Đông Sơn. (4) Đời sống vật chất, văn hóa và tâm linh người Đông Sơn Để tìm hiểu đời sống và văn hoá Đông Sơn, ngoài các thông tin và tư liệu từ các di chỉ khảo cổ khai quật được, các nhà học giả Việt Nam còn dựa vào các thư tịch cổ của Trung Quốc như Thủy Kinh Chú, Quảng Chí, Hậu Hán thư, Giao Châu ngoại vực ký.. và Việt Nam như Lĩnh Nam Chích quái, Việt Điện U Linh, Vân Đài Loại Ngữ (Lê Quý Đôn). Các nguồn tư liệu qui giá khác là dân tộc học và văn hoá dân gian Việt Nam. Con người Đông Sơn Các cảnh tượng sinh hoạt trên mặt trống đồng cho ta thấy người Đông Sơn có đời sống gắn liền với sông, nước. Các di chỉ mộ thuyền được tìm thấy rất nhiều ở các tỉnh ven biển như Thái Bình, Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình mà cách nay hơn 2 ngàn năm nằm giáp với biển Bắc Bộ, cho thấy họ có nguồn gốc và liên hệ mật thiết với biển. Mộ thuyền cũng đã được tìm thấy ở nhiều nơi ở Đông Nam Á (Kalimantan, Thái Lan, Phi Luật Tân). Đối với cư dân gần nước, khi sống họ dùng thuyền khi mất chiếc thuyền cũng đưa họ đi qua thế giới bên kia. Theo Goboulew, trong buổi lễ chiêu hồn Tiwah của người Dayak ở Borneo, khi có người mất, họ có “thuyền vàng” đưa linh hồn người mất đến thiên đường giữa hồ mây. Theo ông Trịnh Cao Tưởng (8) nghiên cứu về đình làng Việt Nam, vị trí và địa thế lành hướng về sông nước của đình làng và kiến trúc đình Việt Nam mang hình tượng của một con thuyền hay cái lầu thuyền cho thấy âm hưởng của tâm thức người xưa vẫn còn để lại ảnh hưởng trong cuộc sống của người Việt Nam. Về phương diện chủng tộc, có thể biết được giống người Đông Sơn qua các xương để lại trong các di tích. Rất nhiều đã bị mũn nát nhưng từ các năm 70, đã tìm được một số xương sọ ở các di tích như Núi Nấp, Quỳ Chử. Lê Văn Cường đã so sánh sọ các cư dân hiện đại trong vùng Đông Nam Á đến Papua, Úc và Eskimo để đưa đến dạng chủng tộc của con người Đông Sơn. Có hai loại hình đã được phân tích: loại hình Indonesien và loại hình Đông Nam Á. Loại hình Indonesien thuộc ngành Mongoloid với nhiều đặc điểm Australoid, trong khi loại hình Đông Nam Á mang đậm yếu tố Mongoloid nằm trong chủng tộc Nam Á của ngành Mongoloid. Các sọ tìm ở Việt Nam trong thời đại đá giữa và đá mới không hề thấy có sọ thuần Mogoloid, cho thấy nhóm loại hình Indonesien cổ được hình thành ngay từ thời đá mới bên cạnh các loại hình khác như Australoid và các loại hình hổn chủng khác. Cư dân Đông Sơn là hậu duệ của loại hình Indonesien do hổn chủng tăng mạnh vào thời đại kim khí. Trong các mộ thuyền khai quật, các nhà khảo cổ Việt Nam đã thấy các người Đông Sơn đều nhuộm răng đen. Tục nhuộm răng đen và ăn trầu là tục xưa ở các dân tục vùng Đông Nam Á, và các đảo Thái Bình Dương. Tục này vẫn còn phổ biến ở Việt Nam đầu thế kỷ 20. Người Đông Sơn là các bộ tộc vùng trung du giao thoa với các bộ tộc vùng bờ biển và đồng bằng gốc Malaỵ Hai nguồn này là gốc Âu Việt và Lạc Việt mà sử sách và truyền thuyết đã để lại. Mối giây liên lạc giữa vùng núi và vùng biển đã được thể hiện ở truyền thuyết Âu Cơ, Lạc Long Quân và Sơn Tinh, Thuỷ Tinh. Các mộ thuyền Đông Sơn được tìm thấy ở dọc các vùng trũng ven sông: từ Việt Khê, Hải Phòng, qua Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội (cầu Giấy, sông Tô) đến Hà Sơn Bình. Đặc biệt các mộ thuyền khám phá ở vùng sông Châu, Hà Nam đều quay đầu về hướng núi Đọi. Mộ thuyền bắt nguồn từ vùng Đông Nam Á hải đảo với truyền thống không ít hơn 2,500 năm lịch sử. Từ vùng ven biển nó hội nhập vào văn hoá Đông Sơn, ngược theo các sông vào các vùng trũng hai bên tả ngạn sông Hồng. Cùng với nó là sự hội nhập hàng ngàn từ gốc ngữ hệ Malayo-Polynesian vào tiếng Việt. (9) Không những thế trong thời gian này, vùng Bắc Việt Nam cũng là nơi các thuyền nhân từ phương xa đến. Theo Trần Quốc Vượng (9), thì truyền thuyết An Tiêm và quả dưa đỏ từ Tây qua thì An Tiêm là người đến nước Văn Lang của vua Hùng là người từ xứ Ấn. Tây Vu - biến âm của Tây Âu - bao gồm miền Đông Anh và Tiên Du là một bộ lạc lớn Âu Việt, là mủi nhọn đi xuống vùng đồng bằng Lạc Việt . Người Tây Âu cũng là hậu duệ của chủ nhân văn hoá Phùng Nguyên, Đồng Đậu là kết hợp của người trung du và vùng Quảng Ninh gốc hải đảo. Những cư dân Tày, Thái cổ, vừa gần gủi Nam Á vừa gần gủi Nam Đảo mà học giả Karl P. Benedict gọi là Kadai hay Nam Thái (austro-Thai) có lẻ là chủ nhân chính của văn hoá Phùng Nguyên (9). Nói tóm lại con người Đông Sơn, mà hậu duệ là người Việt hiện nay ở bán đảo Đông Dương, là giao chủng của các giống dân từ bờ biển, đồng bằng và miền trung du Bắc phần. Tiếng Việt hiện nay đã mang di sản của sự giao thoa trên với gốc từ Mon-Khmer, Tày-Thái, Malay và Tạng Miến. NGUYễN ÐứC HIệP
-
VĂN HÓA ĐÌNH LÀNG © Giáo Sư NGUYỄN ĐĂNG THỤC Cơ cấu tổ chức căn bản của xã hội nông dân Việt Nam là cái Làng do chữ Lang là bộ lạc cổ xưa để lại. Lang vốn là một thị tộc, góp thị tộc lại thành Làng. Làng là đơn vị xã hội công cộng nguyên thủy sót lại, cho nên nguyên tắc tổ chức căn cứ vào tinh thần dân chủ công cộng nguyên thuỷ. Trong làng ấy, tất cả sinh hoạt tinh thần và vật chất công cộng đều tập trung chung quanh cái “nhà chung” gọi là Đình làng, hay là cái Đình. Cái Đình trong tâm hồn nông dân có một hình ảnh thân mật, một ý nghĩa linh động như thế nào, thì chỉ xem như nó phản chiếu qua những câu ca dao sau đây đủ biết: Đêm qua tát nứơc đầu Đình Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen Em được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhà… Lại như: Trúc xinh trúc mọc đầu Đình Em xinh em đứng một mình cũng xinh. Đã thấy hình ảnh cái Đình đã in sâu trong tâm khảm người nông dân Việt, luôn luôn được nhắc nhở đến. Các nhà văn hóa Pháp trước đây đã sớm nhận thấy, như P.Giran viết: “Cái Đình là nơi thờ thần bảo hộ mỗi làng, chính là trung tâm đời sống công cộng của đoàn thể; chính ở đấy có những hội đồng kỳ mục, chính ở tại đấy họ giải quyết các vấn đề hành chính và tư pháp nội bộ; chính ở tại đấy có những cuộc tế lễ, tóm lại tất cả hành vi sinh hoạt xã hội Việt Nam đều diễn ra ở đây. “Thần bảo hộ hay Thành hoàng đại biểu linh động tổng số những kỷ niệm chung, những nguyện vọng chung. Ngài hiện thân cho tục lệ, luân lý và đồng thời sự thưởng phạt trừng giới; chính Ngài thưởng phạt khi nào dân làng có người phạm lệ hay tôn trong lệ làng. Sau cùng Ngài còn là hiện thân đại diện cho cái quyền tối cao bắt nguồn và lấy hiệu lực ở chính xã hội nhân quần. Hơn nữa Ngài còn là môi giới của tất cả phần tử của đoàn thể, Ngài kết thành khối, như là một thứ nhân cách tinh thần mà tất cả thuộc tính cốt yếu đều có thấy ở mỗi cá nhân” (P.Giran, Magie et religions Annamites, 1918 trang 334-335). Và J.Y.Claeys cũng viết: “Chắc hẳn qua cái Đình người ta có thể nghiên cứu chắc chắn hơn cả về những tập tục nhiều khi rất phức tạp, thường là cảm động; luôn luôn mới lạ, biểu lộ đặc trưng đời sống tinh thần của xã thôn Việt Nam”. (J.Y.Claeys, Introduction à l’étude l’Annam et du Champa, Hanoi 1934) Vậy Đình là linh hồn của Làng, hưng thịnh cũng vì hướng Đình, suy bại cũng vì hướng Đình. Muốn biết vận mệnh của một Làng, kẻ hay người dở, tính tình nhân sự của nó hãy còn hướng Đình. Đủ biết vai trò của Đình trọng đại đối với dân làng đến thế nào. Chung quanh Đình là Chùa thờ Phật, là Văn chỉ thờ chư hiền Nho giáo, xa xa là Điện là Miếu thờ chư vị lão giáo. Duy Đình thờ Thành hoàng của làng là tín ngưỡng chung bắt buộc tất cả dân làng. Đủ tỏ Thần đạo là tôn giáo chính, bản lai của dân tộc. Vậy Đình trước hết là nơi thờ tự Thành hoàng, vị thần chung của toàn thể dân làng tín ngưỡng chung thờ, ngoài tín ngưỡng cá nhân riêng hoặc Phật giáo hoặc tín đồ Phật tử, hoặc Lão giáo hoặc tín đồ Vật linh, Chư vị, Thần tiên, hoặc Nho giáo của tín độ Văn học, Tư văn. Thần đạo mới là công giáo của một làng vậy. Thứ đến Đình còn là nơi hội họp việc làng, bầu cử ngôi thứ trong ban kỳ mục để cai quản tất cả công việc chung, từ việc sinh tử giá thú của cá nhân, cho đến việc phạt tạ, xử án vi cảnh. Bảo vệ thuần phong mỹ tục của đoàn thể, việc an ninh trật tự đến việc phân chia điền địa hoa màu. Tóm lại Đình là một công sở của làng như tòa đô sảnh của một đô thị ngày nay. Đình còn là nơi hội hè, sau khi tế lễ, các đại biểu của làng từ đàn anh đến đàn em ăn uống, chia phần lộc thánh có ý nghĩa thiêng liêng vì “một miếng ở làng còn hơn một sàng xó bếp”. Sau khi ăn uống rồi, thường có các cuộc biểu diễn văn nghệ bình dân, ca hát, đánh cờ, đánh bạc tất cả các trò tiêu khiển tập thể của nông dân. Ngày thường, sân Đình còn là nơi họp chợ làng, hành lang có khi dùng làm trường học làng, Đình trung còn là nơi nghỉ chân của vua quan triều đình đi tuần thú dừng chân v.v… Nay hãy tuần tự xét cứu các phương diện văn hóa dân tộc của Đình làng như sau: NGUYÊN LAI CỦA ĐÌNH LÀNG Cũng như chữ Làng do danh từ Lang cổ xưa để lại, Đình là cái nhà thờ tổ chung cho các thị tộc cũng phải có từ thời cổ xưa, như chúng ta vẫn thấy hiện nay ở các nhóm đồng bào miền núi, gọi là Mường hay đồng bào Thượng, dòng dõi Việt Nam cổ thuộc thời chủng tộc Anh-đô-nê-diêng, Mã-lai-nê-diêng. Theo Nguyễn Văn Huyên nghiên cứu về kiểu nhà sàn cao cẳng ở Đông Nam Á châu (Introduction à l’étude des maisons sur pilotis dans l’Asie du S.E 1934), kết luận về kiến trúc Đình Yên sở cho là giống hệt với kiến trúc nhà cửa dân Minangkabas đảo Sumatra. L.Bezacier trường Viễn Đông Bác Cổ viết về cái Đình rằng: “Cái Đình với cái Chùa là một trong những kiến trúc nhiều ý nghĩa nhất ở Bắc Việt. Nguyên lai của nó chưa rõ lắm. Có khi muốn cho là ở Tàu. Sách Ying Tsao fa che nói rằng kiến trúc ấy có ở bên Tàu từ thời Hán. Đình là một nơi yên cư của dân. Chữ Đình nghĩa là dừng chân hay ở lại, phán xét hay xếp đặt. Như thế chẳng chứng minh gì về nguyên lai Tàu cả, chúng ta có khuynh hướng tin rằng nguyên lai của nó là Anh-đô-nê-diêng. Nên để ý rằng đấy là cái kiến trúc độc nhất của Việt Nam xây dựng trên cột. Chúng ta không thấy có sử kiện nào khác với nguyên tắc ấy. Ở Tàu, phương pháp kiến trúc ấy hình như người ta không biết. Và cái Đình của Tàu thì xây dựng ngay trên mặt đất. Trái lại tất cả kiến trúc Anh-đô-nê-diêng đều xây trên cột. Hơn nữa chúng ta thấy ở tất cả dân tộc Anh-đô-nê-diêng gồm cả dân Mọi, kiểu nhà chung trên cột là nơi để hành khách dừng chân yên nghỉ theo nghĩa đen của chữ Đình. Chúng ta cũng lại thấy lối kiến trúc ấy trên mặt trống đồng Đông Sơn. Kiểu mẫu rõ ràng là Anh-đô-nê-diêng như ông Goloubew đã chứng minh, cho đến khi nào có thêm tài liệu khác. Hiện nay kiến trúc này như đã đem vào Tàu do tay các nhà chinh phục đời Hán, khi dân Hán đô hộ phương Nam nước Tàu với Bắc Việt ở những thế kỷ đầu kỷ nguyên. Vả lại đấy không phải một ảnh hưởng Việt Nam hay Anh-đô-nê-diêng độc nhất mà chúng ta nhận thấy ở các kiến trúc Tàu.” (L.Bezacier, Essais sur l’art Annamite, 1944) Vậy kiểu mẫu kiến trúc Đình làng phải tìm nguyên lai ở văn hóa Đông Sơn trên đặc trưng kỹ thuật trống đồng hay Đồng Cổ. Và như các nhà khảo cổ đã chứng minh, văn h1oa Đông Sơn Trống đồng có trước khi văn hóa Trung Hoa của Hán tộc tràn xuống miền Nam nước Tàu, vượt dãy Ngũ lĩnh du nhập vào cõi đất Lĩnh Nam gồm Phiêu Ngung (Quảng Châu ngày nay) Giao Chỉ (Bắc Việt) Nhật Nam (Bắc Trung Việt). Ông Nguyễn Văn Khoan có tả đặc chất một ngôi Đình như sau: “Đình là đền thờ Thành hoàng làng. Đình được xây cất ở một nơi hơi xa cách với nhà ở. Nó thường gồm một bộ những gian nhà khá rộng có thể chứa được bàn thờ thần, đồ thờ, và chỗ để cho nhân dân đến hội họp trong những ngày lễ. Nói chung, Đình trước hết gồm có một tòa nhà hình chữ Đinh T ngược, mà đường chính giữa dựng ngược là cung điện còn đường ngang là nhà tế. Gian ấy gọi là hậu cung hay đình trong. Trước mặt có một gian nhà khác. Gần dài như gian hậu cung độ 3, 5 hay 7 hàng cột tuỳ theo từng làng giàu hay nghèo. Chính gian này gọi là Tiền tế hay Đình ngoài mà các kỳ mục mặc áo thụng xanh làm lễ thần vào ngày lễ chính thức. Giữa hậu cung và Tiền tế có một cái sân ngăn cách. Kế nhà Tiền tế, ở đàng trước có hai hàng nhà dọc xây ở bên trái và bên phải đối diện nhau, đấy là 2 bên hành lang. Chúng dài chừng 3 đến 7 hàng cột, có khi nhiều hơn. Chính ở tại hai bên hành lang ấy người ta sửa soạn việc tế lễ, nào là đồ sính tế trâu, bò, lợn, gà và xôi cúng, cùng là dọn cỗ bàn ăn ở Đình. Sân Đình có thể có cửa ba cánh đồ sộ đóng lại giữa khoảng đầu hồi hai hành lang. Thường thì sân Đình bỏ ngỏ cửa ra vào chỉ có bốn cột xây, có khi nối với nhau bằng những bức tường. Trong hậu cung có bàn thờ thần, hoặc là tượng hay thói thường là một cái Ngai hay Ỷ, phủ lụa đỏ hay vàng, ở trên đặt một chiếc mũ quan và đôi ủng. Linh hồn hay vía thần được biểu hiệu bằng sắc phong của nhà vua, mà người ta dựng trong hôm sắc sơn son thiếp vàng. Hậu cung luôn luôn đóng kín ngày thường ngăn cách với gian Tiến tế bằng những cánh cửa đặc hay lủng, chỉ được mở vào ngày lễ. Vì thế mới gọi hậu cung là cung cấm, chỉ có người kỳ mục làm chức cai đám hay tế đám với ngừơi thủ từ có quyền ra vào mà thôi. Ở khoảng hàng cột chính giữa gian tiền tế và ngay trước mặt hậu cung có dựng cái hương án bằng gỗ trạm và sơn, ở trên mặt có bầy đồ thờ: những đỉnh trầm, cây nến, đèn treo, ống bình nhang, bình cắm hoa, cờ quạt, lộ bộ và bát bửu. (Bát bửu: đàn sáo, lẵng hoa, thư kiếm, bầu rượu, túi thơ, thơ, bút, khánh, quạt). Ở các gian giữa các hàng cột khác, đất được kê cao lên thành một cái bục sàn bằng gỗ hay nền xây. Trên nền ấy có trải chiếu, các vị bô lão đứng với kỳ mục vào những ngày lễ và hội đồng. Ở gian Tiền tế cũng thế: gian hàng cột giữa dành cho việc thờ cúng nghi lễ. Trên các bục là các ngừơi không thuộc hạng bô lão và kỳ mục đứng dự lễ. Trong các Đình thờ nam thần thường thấy có một con ngựa gỗ sơn đỏ hay trắng kích thước bằng ngựa thật, đặt trên cái thùng gỗ có bánh xe. Nó được đặt ở một trong các gian trên, hay ở một gian riêng biệt của nó. Khi nào Đình thờ nữ thần thì con ngựa kia được thay thế bằng cái võng gai điều mắc vào đòn trạm trồng ở hai đầu. Cái đòn ấy đặt trên cái giá ba gian chéo, lợp mái tre đan theo hình mai rùa. Ngày lễ lớn, ngựa được đóng yên cương rực rỡ, cáng được kết lụa và phủ màn the màu. Ở trong ấy ngụ có linh hồn thần linh. Người ta rước ra khỏi Đình trong cuộc rước long trọng đi theo xe thần, ngựa được giắt đi bằng dây lụa, võng cáng được các cô con gái đồng trinh khiêng. Xe của thần tức là kiệu cũng thuộc vào bộ đồ lễ là một cái ngai hay long đình làm bằng gỗ trạm và sơn son thiếp vàng. Có từ 8, 12 đến 16 người đàn ông khiêng trên cái khung chữ nhật bằng gỗ trạm rồng, sơn son thiếp vàng do các đòn hợp thành. Đấy là yếu tố chính trong cuộc rước. (Nguyễn Văn Khoan, Essai sur le Đình, BEFEO, t.30 p.107-139) ĐÌNH VỚI TÍN NGƯỠNG NÔNG DÂN VIỆT NAM. “Thần Đạo” Đình là trung tâm tín ngữơng của làng, điều ấy đã hiển nhiên. Nhưng tín ngưỡng ấy là tín ngưỡng gì, như thế nào, từ đâu xuất hiện, đấy là những vấn đề quan hệ mật thiết đến văn hóa của một nhóm người sống thành đoàn thể. Nguyễn Văn Huyên, sau khi đã nghiên cứu công phu về các hội hè ở Đình làng như (Les fêtes de Phù Đổng – Hanoi 1948, Chants et danses d’Ailao aux fêtes de Phù Đổng (Bắc Ninh) trong BEFEO, t.39; Contribution à l’étude d’un génie tutilaire annamite Li Phuc Man trong BEFEO t.38) có kết luận về cái loại tôn giáo Đình làng đối với nông dân Việt như sau: “Tất cả làng tham gia vào đấy (các hội tế lễ ở Đình Làng) trong hạnh phúc cũng như trong đau khổ. Tín ngưỡng ấy được truyền tụng chắc hẳn không có chi thay đổi trải hàng mấy thế kỷ. Tất cả năng lực hoạt động của đoàn thể công xã đều tập trung vào đấy và tan biến vào đấy. Những năng lực ấy đã đem cho sự sùng bái kia một khuôn khổ tổ chức vững chắc hơn cả khuôn tổ chức của một tôn giáo thông thường”. (Nguyễn Văn Huyên, La civilisation annamite, Hanoi 1944) Sau khi thiết lập phả đồ lịch sử các Đình thờ Thành hoàng làng kể từ thời tiền sử Việt Nam, ông Nguyễn Văn Huyên đã rút ra một kết luận về duy cách xa xăm của tôn giáo xã thôn. Ông viết: “Người ta có thể giả thuyết rằng những miền thờ các vị thần ấy đều là những đất chiếm cứ đầu tiên bởi ngừơi Việt đi từ phương Bắc xuống hay từ bờ biển lên để tìm đất phù sa màu mỡ. Cái giả thuyết ấy được chứng nhận bằng những di tích lịch sử cổ xưa người ta có thể khám phá ở các địa hạt như Phú Thọ, Vĩnh Yên trước hết. Ninh Bình, Bắc Ninh về sau với đền thờ các vua chúa quốc tộc đầu tiên như Hùng Vương (Phú Thọ), lăng Thái Phú Sĩ Vương (Bắc Ninh), nhà mồ Nghi Vệ (Bắc Ninh), chùa Khám hay Ngọc khám (Bắc Ninh), Bút Tháp (Bắc Ninh), Khương Tự (Bắc Ninh), thành Cổ Loa (Vĩnh Yên), động Hoa Lư (Ninh Bình), đấy là sào huyệt đầu tiên của người Việt.” (Nguyễn Văn Huyên, Etude d’un génie tutilais Annamite p.15-16 BEFEO 1939) Như thế đủ tỏ cái tục sùng bái Thành hoàng hay là Thần đạo vốn là một tín ngưỡng cố hữu của dân tộc vậy. Nay hãy theo ông Nguyễn Văn Khoan trong khảo luận “Essai sur le Đình et le culte du génie tutilaire des villages au Tonkin. BEFEO t.30 p.107-139” để định vị trí cho những tục sùng bái ở Đình trong toàn bộ hệ thống tín ngưỡng của người Việt, hết sức phức tạp. Người Việt sùng bái Trời Đất, Thần linh trong ấy, Phật, vong hồn, anh hùng và danh nhân. Ông khoan phân ra làm ba nhóm các loại sùng bái: Nhóm thứ nhất gồm: - Sùng bái chính thức: thờ Trời Đất, Thần Nông, Khổng Tử - Sùng bái nông thôn: thờ Thành hoàng làng, thổ thần, Phật. - Sùng bái gia đình: thờ Tổ tiên, ông Táo quân. Những sự thờ cúng ấy là phổ thông thường xuyên, có những ngày lễ nhất định. Chủ lễ do nhà nước hay đoàn thể chỉ định: Quan lại và kỳ mục trong làng tế Trời Đất, Thần nông, Thành hoàng. Sư vãi lễ Phật, trưởng tộc hay gia trưởng lễ tổ tiên. Đền được xây cất và giữ gìn với tiền của chính phủ khi nào thuộc về sùng bái quốc gia như Văn miếu, xã tắc, tịch điền. Nếu là sùng bái nông thôn thì quỹ làng phải đài thọ. Các ngày lễ đã chỉ định ở trong “Khâm định đại nam hội diễn sử lệ” đối với sùng bái chính thức, và đối với sùng bái nông thôn đã có lệ làng quyết định. Sùng bái tổ tiên thì do sách “Gia lệ” của Chu Hy quy định, trong đã có một chương dành cho sùng bái táo quân. Thí dụ ngày lễ Khổng Tử mỗi năm 2 lần, ngày đinh đầu xuân và thu, còn ngày lễ thần làng là ngày huý kỵ trong tiểu sử của Thần, đản nhật hay tử nhật, hay một ngày nào khác tuỳ theo lệ làng. Lễ nghi rất tỉ mỉ, và nếu ai làm sai tục lệ thì sẽ bị thánh phạt hay làng phạt. Nhóm thứ hai gồm: Những sùng bái bình dân: sùng bái vong hồn, thần linh chư vị nghĩa là tất cả thần linh nhiều vô kể theo hầu Liễu Hạnh thánh Mẫu hay các tướng tá của Trần Hưng Đạo thánh Phụ, tóm lại tất cả thần linh có ảnh hưởng vào đời sống của người. Có ba loại sùng bái bình dân chính được quần chúng tin mộ là sùng bái chư vị, tướng tá của Thánh Trần và thần các quan của pháp sư. Có nhiều loại kiến trúc dùng vào việc thờ cúng trên đây ở Bắc Việt. Người ta gặp thấy khắp nơi, trong làng, giữa đồng ruộng, bên đường, với diện tích quy mô lớn nhỏ khác nhau kể từ dinh thự rộng lớn có vườn tược cổ kính cho đến những ổ con con trên cành cây hay những nền gạch bệ xây góc đường. Mỗi thứ kiến trúc ấy mang một tên khác nhau tuỳ theo với vị thần được thờ cúng như: Đình làng là nhà làng ở trong có bàn thờ một hay nhiều vị Thành hoàng hay thần bảo trợ làng. Đền là một cung điện của cả nước hay của một địa phương, một xứ, quy mô lớn rộng dựng lên để kỷ niệm một ông vua, vị thần hay một danh nhân lịch sử có công ơn với dân với nước. Đền thờ phụ nữ thì gọi là Phủ, như Phủ Giày thờ Liễu Hạnh ở Nam Định chẳng hạn. Chùa là một cung điện thờ Phật có nhiều tòa nhà gạch với tường, tháp, nhà thất cho sư tiểu. Chùa nhỏ ở nơi hẻo lánh chân núi hay cửa rừng thường gọi là Am. Ngừơi ta hay xây Am ở bên cạnh nghĩa địa để thờ vong hồn, gọi là chùa Âm hồn hay Am chúng sinh. Miếu là một cái cung nhỏ, có khi chỉ có mấy cái bệ trên một nền gạch ở giữa đồng, dứơi gốc cây để thờ thần canh nông thổ thần hay nhân vật bất đắc kỳ tử. Điện là một cái đền nhỏ thờ quan binh hầu đức Thánh Trần Hưng Đạo, hay thờ các quan âm binh của pháp sư. Tĩnh để thờ chưa vị thì thường cũng như cái điện nhỏ của tư nhân. Cây hương hay cây Nhang là một cái nóc con hay bệ xây dứơi mái nhà, hoặc ở trước sân nhà, hay trong vườn để thờ thần sao của chủ nhà. Văn miếu là một ngôi đền thờ Khổng Tử với chư hiền đệ tử của Ngài, xây dựng ở các tỉnh lỵ. Đấy là đền Văn học. Ở phủ huyện thì gọi là Văn chỉ. Ở tổng, xã thì gọi là Từ chỉ. Ngoài ra ở thời vua chúa, còn có nền Nam giáo, nền xã tắc, nền Tịch điền. Vọng hay Hành cung nữa, để cho vua quan làm lễ Thiên Địa, Ruộng đất hay bái vọng vào triều đình. HỘI HÈ ĐÌNH ĐÁM Phương ngôn nói “đình đám người mẹ con ta” đủ tỏ sự chú ý của nhân dân trong làng vào việc đình đám hội hè của mỗi làng cùng nhau chia sẻ nỗi vui buồn sướng khổ của đoàn thể làng chung quanh cái Đình. Các hội hè tế lễ ở Đình tỏ lòng tín ngưỡng đối với Thành hoàng của làng được định lệ như sau: Vào ngày 1 (sóc) và 15 (vọng) mỗi tháng. Ngoài ra còn có xuân tế vào ngày đinh đầu tháng 2, và thu tế vào ngày đình đầu tháng 8. Lễ hạ điền khi cấy lúa, thượng điền khi cấy xong, lễ thượng tân dâng lúa mới vào tháng 9, lễ thượng nguyên vào 15 tháng giêng hàng năm, cũng gọi là lễ kỳ yên, lễ trung nguyên vào 15 tháng 7 là lễ xá tội vong linh của nhà chùa mà dân làng đã phụ họa vào cả cho Đình, lễ động thổ hay khai ấn vào 7 tháng giêng bắt đầu các công việc làm ăn. Vào dịp tết 3 tháng 3 hay hàn thực (ăn nguội), tết 5 tháng 5, tết 15 tháng 8 hay trung thu, lễ lạp tiết vào 2 tháng 12 là lễ hết năm… Vào những ngày lễ ấy đều có cúng thần ở Đình. Ngoài ra còn những lễ bất thường như sinh tử giá thú khao vọng của cá nhân trong làng. Trên Đình có thứ tự giữ việc đèn nhang quanh năm, cũng gọi là cai đám. Ngày lễ trọng đại nhất trong năm là vào đám hay vào hội, thường vào mùa xuân hay mùa thu, nhân dịp kỷ niệm vị Thành hoàng. Tháng giêng ăn tết ở nhà Tháng hai cờ bạc Tháng ba hội hè Hội hè là nói về hội hè đình đám của dân làng. Trong năm vào hội ấy, 5 hay 10 ngày trước khi mở hội, người ta phải trai giới, tẩy uế. Suốt trong ngày hội, hàng ngày có tế lễ trên Đình như tế Thần và rước sách linh đình, cỗ bàn cờ quạt, hát xướng cả trò giải trí công cộng được phô diễn trình bày, nào hát bội, hát chèo, đánh vợt, chọi gà, đánh cờ, thi đua đủ thứ… Làng ta mở hội vui mừng Chuông kêu, trống đóng vang lừng đôi bên Lòng ngai thánh ngự ở trên Tả văn, hữu vũ bốn bên rồng chầu Sinh ra nam tử công hầu Sinh ra con gái vào chầu thánh quân. (Ca dao) TẾ LỄ, HÌNH THỨC THỜ PHỤNG Nghi lễ thờ phụng trong thần đạo ở đình làng có hai loại: lễ thường và đại lễ hay tế, khác nhau về số lạy và tuần rượu. Trong lễ thường thì đồ cúng đặt trên bàn thờ, người thủ từ hay cai đám đốt nhang, lạy bốn lạy để nghênh thần, rồi quỳ xuống, chắp tay vòng cánh tay đưa lên ngang trán theo kiểu khấn. Trong khi ấy, một ngừơi phụ tá rót rượu lần thứ nhất vào 3 cái ly trên bàn thờ, người phụ tá thứ hai đọc lời khấn, khấn xong lại rót rượu lần thứ hai. Chủ sự đứng lên, lễ hai lễ, người ta lại rót rượu lần thứ ba. Chủ sự lễ bốn lễ gọi là lễ tạ, người ta hóa tờ văn khấn, và lễ tất. Hai người phụ tế đến lễ bốn trước bàn thờ. Trong khi lễn, âm nhạc chỉ thu lại có hồi chiêng hồi trống thôi. Đại lễ hay tế đình đòi sự công tác của nhiều kỳ mục:1 chủ tế, 1 bồi tế, 1 đông xướng, 1 tây xướng, nhiều chấp sự từ 2 người trở lên. Tất cả đều phải mặc áo thụng xanh, đội mũ tế, đi hài, quan thì đội mũ cánh chuồn, đi hia, mặc áo trào, tay cầm hốt, có 3 hàng chiếu trải trước bàn thờ, cái nọ sau cái kia. Chiếu thứ nhất liền với bàn thờ, người ta dâng rượu và khấn; chiếu thứ hai để ẩm phúc; chiếu thứ ba là chính chỗ đứng của chủ tế mỗi khi hành lễ ở hai chiếu trên xong. Bồi tế luôn luôn theo sau chủ tế, và chấp sự thì đứng thành hai hàng bên phải và bên trái. Xướng tế cũng đứng hai bên chủ tế ở đàng trước mặt. Tất cả cử động của chủ tế, bồi tế, chấp sự trong khi tế đều do đông xướng hô to lên và tây xướng nhắc lại. Trước hết đông xướng hô: 1) Khởi chinh cổ tức là nổi chiêng trống lên! Tức thì có 3 hồi chiêng trống bắt đầu chậm rãi để rồi đổ hồi. 2) Cử nhạc: phường bát âm cử hành. Sau đấy bắt đầu vào các trình tự hành lễ, vẫn theo lời xướng như sau: a. Cử sát tế vật: xem lại đồ tế, hai người chấp sự cầm nến theo chân chủ tế giúp làm việc ấy. b. Ế mao huyết: chôn lông và máu sinh tế. c. Chấp sự giả các tư kỳ sự: các chấp sự viên sửa soạn, ai nấy đứng vào chỗ. d. Tế quan dữ chấp sự quan các nghệ quán tẩy sở chấp sự viên và chủ tế đến chỗ rửa tay. đ. Quán tẩy: rửa tay. Họ rửa tay vào cái chậu nước bưng đến. e. Thuế câu: lau tay vào cái khăn tay đỏ. g. Bồi tế quan tựu vị: các bồi tế trở về chỗ chiếu hàng thứ ba, xếp hàng trông vào bàn thờ. h. Tế quan tựu vĩ: chủ tế về chỗ đứng ở giữa chiếu thứ ba trứơc hàng bồi tế. i. Thượng hưởng: Dâng nhang, một chấp sự viên đem nhang trầm, một người đem đỉnh trầm cho chủ tế đốt lên, giơ lên trước mặt rồi trao cho chấp sự viên đem đặt trên bàn thờ. k. Nghênh thần cúc cung bái: lạy để tiếp nhận thần, chủ tế và bồi tế lễ bốn lễ, theo lời xướng. l. Hương: đứng lên m. Bình thân: thẳng người chỉnh tề. n. Hành sơ hiến lễ: dâng lễ rượu lần thứ nhất. p. Nghệ tửu tôn sở: bò đến chỗ để rượu, chủ tế đến bàn rượu. q. Tư tôn giá cử mịch: người hầu rượu này cất khăn phủ bàn rượu đi. r. Trước tửu: chủ tế rót rượu vào chén. s. Nghệ đại vương thần vị tiền: chủ tế đến chiếu thứ nhất, hai chấp sự viên cầm bầu rượu và đài chén cùng đến đấy để dâng rượu tế thần. t. Quị: chủ tế quỳ xuống giữa chiếu thứ nhất, chấp sự quỳ hai bên chầu vào chủ tế. u. Tiến tước: chấp sự bưng chén đến cho chủ tế, chủ tế cầm lấy dâng lên ngang mây, rồi trả lại cho chấp sự. v. Hiến tước: chấp sự bưng bầu rượu và khay chén rượu lên bàn thờ, người thủ từ đỡ lấy đặt vào bàn thờ. x. Phủ phục: chủ tế lễ rạp xuống. y. Hương: chủ tế đứng lên. 1. Bình thân: chủ tế đứng thẳng tề chỉnh. 2. Phục vị: chủ tế trở lại chỗ cũ chiếu thứ ba 3. Độc chúc: đọc văn tế, do một ngừơi bưng bài văn tế để trên cái giá đến trước mặt chủ tế. 4. Nghệ độc chúc vị: chủ tế trở lại chiếu thứ nhất. Người lý tưởng hay tư văn chuyên đọc văn tế đến bên trái chủ tế. 5. Đại quỵ: tất cả chủ tế, bồi tế, độc giả đều quỳ. 6. Chuyển chúc: người bưng giá văn đặt xuống bên trái chủ tế và bắt đầu đọc văn tế. 7. Phủ phục: chủ tế và bồi tế cùng lạy hai lễ theo lời xướng ngôn. 8. Hương: đứng lên. 9. Bình thân: đứng ngay ngắn. 10. Phục vị: chủ tế trở về chỗ cũ chiếu thứ ba, thế là xong tuần rượu thứ nhất. 11. Hành á hiến lễ: lại cử hành tuần rượu thứ hai bắt đầu từ “Nghệ tửu tôn sơ” đến “Phục vị”. 12. Hành chung hiến lễ: lại cử hành tuần thứ ba cũng như trên. Sau ba tuần tiến rượu, đến phút trịnh trọng nhất của buổi lễ là đại biểu của làng (cai đám) tiếp nhận trực tiếp ân đức của thần bằng cách ăn một miếng đồ cúng trên bàn thờ, ấy là lúc tham thông giữ y với Thành hoàng làng. 13. Ẩm phúc: uống phúc, một chén rượu và ăn miếng trầu cúng trên bàn thờ. 14. Nghê ẩm phúc vị: chủ tế đến giữa chiếu thứ hai để uống phúc thần ban. 15. Quỵ: chủ tề quỳ xuống 16. Ẩm phúc: chủ tế uống chén rượu cúng. 17. Thụ tộ: nhận miếng thịt phần. Thịt phần có khi thay bằng miếng trầu. 18. Phủ phục: lễ hai lễ để tạ thần. 19. Hương: đứng lên. 20. Bình thân: đứng thẳng. 21. Phục vị: trở lại chỗ cũ, hàng chiếu thứ ba. 22. Lễ từ cúc cung bái: chủ tế và bồi tế lễ bốn lễ để tạ thần, theo lời xướng. 23. Hương: đứng lên. 1. Bình thân: đứng ngay ngắn. 2. Phần chúc: đốt tờ văn tế. 3. Lễ tất: tế xong. Dân làng lần lượt vào lễ bốn lễ. Trong suốt buổi tế, âm nhạc nổi lên, gồm có chiêng trống, kèn, trống con, và phường bát âm: sênh tiêu, đàn nguyệt, đàn tằm, đàn nhị, sáo trống bốc một mặt, tiu và cảnh). Trên đây là hình thức tín ngưỡng Thần đạo trong ấy chúng ta đã nhận thấy cái điểm chính này là tinh thần tham thông giữa Thành hoàng với đại biểu của đoàn thể, tham thông trực tiếp cụ thể bằng sự ẩm phúc cụ thể trong buổi tế, còn về sau thì các phần tử làng chia nhau phần cúng thần. Cho nên mới có phương ngôn: Một miếng ở làng bằng một sàng xó bếp. Vì “một” miếng ở làng là phần lộc thánh, không phải miếng ăn vật chất mà là cái phần thánh linh có tính chất tâm linh siêu nhiên nuôi dưỡng đời sống tinh thần. Do đấy mà thần Thành hoàng được lấy làm tiêu chuẩn tối cao của đoàn thể để quyết định giá trị, ngôi thứ trong làng vậy. Ngôi quý trọng nhất dĩ nhiên, căn cứ theo hàng tế tự gần hay xa thần Thành hoàng, ấy là ngôi chủ tế hay Tế đám. Ông đứng đầu hàng 12 quan viên, có quyền quyết định ưu tiên về tất cả việc làng trừ việc vi cảnh, công dịch, và giao dịch với chính quyền trung ương. Ông được hỏi về chi thu của làng và là đại biểu của làng với thần Thành hoàng. Dân đinh trong một làng có đẳng cấp: Trước hết là các cụ hay bô lão trong làng, gồm những vị đến tuổi nào được miễn dịch, dự vào tế tự và chiếu hương ẩm không phải lý gì đến việc làng vì đã làm xong phận sự. Sau các cụ thì đến 12 quan viên đảm đương tất cả công việc tế tự Thành hoàng làng. Người đứng đầu trong 12 quan viên ấy tự nhiên được cử ra làm Tế đám hay Chủ tế, giữ sổ chi thu và cùng với tất cả quyền lợi của quan viên giống như quyền lợi của các cụ bô lão. Quan viên hợp thành chiếu thứ nhất trong Đình cùng với các cụ. Chiếu thứ hai là chiếu của sáu Lềnh mà nhiệm vụ là mua sắm đồ tế lễ. Chiếu thứ 3 và thứ 4, mỗi chiếu 6 ngừơi mà nhiệm vụ là trông nom bày biện đồ tế tự trong ngày vào đám và tế lễ. Chiếu thứ 5 gồm 6 người nhiệm vụ hầu cỗ bàn. Sự phân ngôi thứ trong Đình làng như thế là căn cứ vào tuổi tác trong hương ẩm bạ. Ngoài các ngôi thứ trên còn có cấp tư văn là một hội bán công trong làng, gồm các vị có chức tước khoa bảng với triều đình. Họ có dự vào tế lễ của Đình làng nhân dịp xuân tế hay thu tế. Tư văn lập thành cái hội hầu như biệt lập ở trong làng đối với các ngôi thứ trong Đình làng căn cứ vào tế lễ trên kia. Nay hãy xét về nội dung tôn giáo Thần Đạo cổ truyền của dân tộc nông nghiệp Á Đông. “Thiên sinh thần vật, thánh nhân tắc chi” (Dịch), “Trời sinh ra vật thần, bậc thánh lấy làm phép tắc”. Vậy thần hay thần linh trong trí óc dân Việt có ý nghĩa thế nào? Chẳng thiêng ai gọi là Thần (phương ngôn). Thần là ngụ ý một quyền năng siêu phàm, thiêng liêng hay linh thiêng, cho nên thường hay nói Thần linh, danh từ Hoa Việt. Sở dĩ là Thần vì có cái đức Linh vậy. Chữ Linh đứng một mình hay là đi đôi với một chữ nữa như Anh, hoặc Linh ta thường gặp thấy ở các miếu, đền thờ Thiên Nhân trong đám dân Việt Nam. “Nó chõ vào cái đà thúc đẩy của nhựa cây mùa xuân, cái mana (khí năng lực nảy nở của thảo mộc cỏ cây, cái sức màu mỡ của đất cũng như cái sức nảy nở của cây cỏ” (Elles (Anh Linh) désignent la pensée de la sève au printemps le mana, la force génératrice de la végétation, la fertilité autant que la fécondité – Rolfstein BEFEO 1942, t.XLII). Vậy thần linh có nghĩa là những năng lực thiên nhiên, đặc biệt nhất là cái sinh lực được nhân cách hóa của nhân dân nông nghiệp để thờ phụng. Đạo Thần như thế đặt trọng tâm vào ý nghĩa Linh là Nguồn sống, sinh thành khắp vũ trụ theo như tin tưởng cổ truyền của xã hội nông nghiệp Á Đông. “Thiên địa chi đại đức viết sinh”. Cái đức vô hạn của Trời Đất là sinh thành (Dịch). Đấy cũng là trọng tâm của giáo lý Áo Nghĩa Thư (Upanisads) Life is immense: Prano virat: “Nguồn sống thì vô biên”. Bởi vì nguồn sống vĩnh cửu, miên trường tồn tục là lý tưởng tối cao của nhân dân Á châu xưa nay, sớm trực giác thấy rằng: “Everything has sprung from immortal life and is vibrating with life” (Sadhana, Tagore). “Tất cả đã từ trong nguồn sống vĩnh cửu phát xuất và đều rung động với nguồn sống”. Cho nên thi hào R.Tagore mới tiếp tục dẫn chứng Áo Nghĩa Thư (Upanisads) để giải thích tín ngưỡng truyền thống Á châu. “Chúng ta được dạy để nhìn nhận bất cứ sự vật gì trong thế giới như là được Thượng Đế bao bọc che chở. Ta quỳ vái và quỳ vái Thượng Đế ngự tại ngọn lửa và dòng nước, thấm nhuần toàn thế giới, ngự tại mùa màng hàng năm cũng như tại những cây cổ thụ” (We are enjoined to see whatever there is in the world is being enveloped by God. I bow to God over and over again who is in fire and water, who permeates the whole world, who is in the crops as well as in the perennial trees) (Sadhana, R.Tagore). Cái tín ngưỡng truyền thống ấy, chính linh mục L.Cadière cùng các nhà nhân chủng học trường Viễn Đông Bác Cổ đã nhận thấy ở bình dân Việt Nam vậy. Linh mục L.Cadière viết trong Tín ngưỡng và tập tục tôn giáo của dân Việt (Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens, t.III tr.68-70, BEFEO) “Danh từ tôn giáo ngụ có nhiều trình độ, nhiều sắc thái. Nếu người ta hiểu tôn giáo là tín ngưỡng vào một Đấng Tuyệt đối, lớn vô cùng, hoàn toàn vô cùng; vào sự phối hợp bằng tinh thần với Đấng vô sở bất tại, ở đâu cũng có; vào sự phối hợp bằng lòng bồng bột với Đấng chí thiện ngự trị và bảo vệ tất cả; sau hết là vào sự biết ơn về những đức toàn vẹn vô hạn của Ngài bằng một nghi thức phụng thờ xứng đáng, hiểu tôn giáo như thế thì người Việt không có tín ngưỡng. Quan niệm về một Đấng tuyệt đối không được họ để ý. Họ sống không có Thượng Đế. Nhưng nếu người ta hiểu tôn giáo là tín ngưỡng, tín ngưỡng thực tế ảnh hưởng hành vi nhân sinh, vào một thế giới siêu nhiên, thì phải nhận rằng dân Việt có cái đức tính ấy ở trình độ rất cao. “Người dân Việt, có thể nói rằng sống trong không khí siêu nhiên. Họ thấy khắp nơi ảnh hưởng của những quyền năng thần bí hành động vào cuộc đời họ cách xấu hay tốt. Bất cứ một người Việt nào thuộc về bất cứ giai cấp nào trong xã hội đều không thoát khỏi sự ám ảnh của siêu nhiên. Người gánh hàng rong chạy trên đường; người thợ cầy dưới ruộng, ông quan ngồi bàn giấy, bà mẹ trong gia đình, người tiều phu trên sườn núi, người ngư phủ chăng lưới, hết thảy đều bận tâm về ảnh hưởng của Thần linh vào hành động đang làm của họ, tất cả đối với họ đều là điềm báo rằng bên cạnh họ, trên đầu họ còn có những hành động khác đi đôi với họ, thế lực hơn họ và chính nhờ vào những thế lực vô hình hợp tác ấy mà những cố gắng của họ thành công hay thất bại. Con nhện sa, tiếng chuột rúc, con quạ bay, con gà gáy, người ăn xin hiện ra trước mặt, ra ngõ gặp người, con chim kêu, chiếc đũa rơi xuống đất khi ngồi vào ăn, ngọn lửa trong bếp than hay hát, hàng ngàn sự việc vô ý nghĩa biểu lộ cho mắt họ tính cách điềm lành hay dữ. Tất cả sự việc lành hay dữ, nhất dữ đều quy vào cho Thần linh. “Người ta sẽ chê trách rằng đấy là sự sợ hãi đã gây ra những tín ngưỡng ấy. Mặc dù nguyên nhân hoặc là một tính tình này hay tính tình khác, sự thật thì người Việt vẫn tin hành động và cử chỉ trong bầu không khí siêu nhiên. Siêu nhiên ám ảnh họ, họ không thoát khỏi ban ngày, ban đêm giấc mộng cũng không thể giải thoát cho họ vì mộng cũng là những biểu hiện của Thần linh. “ Thần linh vô sở tại; một tảng đá rơi, cây cổ thụ đổ, rừng âm u, vực sâu trong con sông, ngọn núi cao, một việc nước giản dị giữa cánh đồng, mỗi một miếng đất, thửa ruộng một xó tối đều là cư sở của Thần linh. Thần linh ở khắp nơi nhập vào khắp cả, tất cả đều thuộc về Thần linh. “Cái tín ngưỡng vào thế giới Thần linh ấy, bao bọc lấy đời sống của người Việt, thúc giục họ phải cúng lễ. Trước khi hành động phải cầu xin sức phù hộ của Thần, gạt những động cơ có thể làm cho Ngài bất bình; nếu trong khi đang hành động Thần linh tỏ ý bất bình, thì mau sớm phải lễ tạ. “Sùng bái tổ tiên cao quý hơn, nhưng tại căn bản, cả hai tín ngưỡng mật thiết quan hệ với nhau. Tổ tiên mất đi rồi, không còn nhìn thấy người nữa, nhưng các ngài không từng rời khỏi gia đình. Các ngài lưu ý đến con cháu các ngài, ảnh hưởng vào hạnh phúc hay bất hạnh của chúng tuỳ theo trương hợp chúng có làm tròn hay không làm tròn những bổn phận của đạo hiếu. Hơn nữa các ngài ngự ở tại trong gia đình và hiên tại trên bài vị Tổ tiên. Vị nào không sờ đấy, đã được rước sang nhà thơ họ, đều được mời về ngày giỗ ngày tết để cùng san sẻ vui buồn với toàn thể gia đình. Người ta luôn luôn nghĩ đến mời các ngài tham dự các việc lớn trong đời sống chung cưới hỏi, sinh nở của một phần tử gia đình. Tư tưởng tổ tiên chi phối toàn thể đời sống gia đình cũng như tư tưởng thần linh chi phối đời sống hằng ngày của người dân Việt. Chủ gia đình là một giáo chủ tôn giáo ấy và y truyền lại giáo chức ấy cho người con trưởng trong gia đình. Gia đình nào mà dòng giáo chức ấy tắt là một điều bất thường vậy. Đời sống xã hội, đối với người dân Việt chỉ là đời sống gia đình mở rông thì cũng thấm nhuần tín ngưỡng. Thành hoàng hay Thần bảo hộ mỗi cộng đồng, có sắc phong của triều đình hay không, là những quyền nămg làm ra mưa và được mùa; dẹp hỏa tai hạn hán, dịch tễ. Bởi thế cho nên nhân danh các ngài mà nắm mạ đầu tiên cấy xuốn cũng như giạ lúa đầu tiên gặt lên đầu tiên gặt lên đều được đoàn thể biết ơn dâng lên cho Thành hoàng. Và vào những ngày nhất định hàng năm, dân làng tế lễ linh đình. Các kỳ mục hay chức sắc trong làng đều là cha mẹ trong làng, được chọn ra làm chủ tế cho các cuộc tế lễ ở Đình, trên đấy có những giáo sĩ khác chủ tế cho cuộc tế phổ quát hơn, như các quan làm chủ tế cho hàng tỉnh, vua làm chủ tế cho toàn quốc. Xem thế biết rằng không có gì trong đời sống của nhân dân Việt Nam thoát khỏi ảnh hưởng của tôn giáo. Tôn giáo đón nhận con người Việt từ lúc mới sinh ra, dắt dẫn y cho đến khi xuống nhà mồ, và sau khi chết đi còn giữ y trong vòng ảnh hưởng. Khi người ta nhận thấy gốc rễ thâm sâu của những thể siêu nhiên ở trong tâm hồn Việt Nam, người ta không thể đừng không nhận cho rằng dân tộc này tín ngưỡng rất thâm trầm. “Và nếu người ta ngược lại về mấy thế kỷ trước kỷ nguyên Thiên Chúa, thì những tín ngưỡng vẫn như thế, những tập tục vẫn giống nhau, ít nhất về những điểm cốt yếu. Khổng Tử viết: “Quỷ thân chi vị đức, kỳ thịnh kỹ hồ! Thị chi nhị phất kiến thính chi nhi phất văn, thể vật nhi bất khả di, sử thiên hạ chi nhân, trai minh thịnh phục dĩ thừa tế tự. Dương dương hồ như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu. Thi viết: Thần chi cách ti bất khả độ ti, thần khả dịch ti. Phù vi chi hiển thành chi bất khả yểm như thử phù” (Trung Dung). “Cái đức linh của Quỷ Thần thịnh vượng lắm thay! Nhìn mà chẳng thấy, nghe mà không thông, thể hết mọi vật mà không sót, khiến trong thiên hạ phải trai giới tinh khiết, ăn mặc nghiêm trang để tế lễ, rực rỡ như ở trên đầu, như ở bên trái bên phải khắp nơi. Kinh Thi viết: Việc quỷ thần đến không thể lường, huống hồ lại có thể lờn được sao?” Ôi tế văn hiển hiện, thành thật không che dấu như thế đấy!” Vậy Thần đạo là cái tín ngưỡng đức linh, nguồn sống cửu tràn ngập vũ trụ, tức là thế giới siêu nhiên thấm nhuần bao phủ đời sống của nhân loại Á châu. Cái tín ngưỡng ấy thuộc về tín ngưỡng tâm linh đòi có sự sống toàn diện hơn là hiểu biết, bằng lý trí, phát triển trực giác sáng tạo hơn là ý niệm minh bạc có hệ thống. Radhakrishnan viết trong “East and West in Religion”: “Ở Đông phương tôn giáo là đời sống của tâm linh hơn cả. Nó là tri giác về sự đồng nhất của người ta với tinh thần, chân lý, tình yêu và mỹ cảm trong vũ trụ. Quan điểm ấy không quan trọng hóa vai trò của những mệnh đề tri thức. Nó thừa nhận chúng như là những cố gắng rụt rè để đơn giản hóa thực tại. Nó tin tưởng Thần linh thì bất tận và khả năng biểu hiện của Ngài thì vô hạn số. Có một cái gì siêu ngôn ngữ mà không một danh từ nào đạt tới được tuy rằng nó linh động tất cả danh từ và đem cho chúng thể chất và ý nghĩa. Hàng thế kỷ trước Do Thái và thánh ca David chúng ta nghe thấy lời cầu khấn của một thi sĩ Ai Cập vô danh lên Thượng Đế không phải là bạn hay cứu thế, không phải phỏng theo hình ảnh nhân loại hay tượng trưng vào khám thờ bằng đá. Không nhìn thấy được Ngài; Ngài không có thủ từ hay đồ lễ. Người ta không thờ Ngài trong đền; Ngài không biết có định sở nào hết. Không có ngai thờ Ngài được tô vẽ hình ảnh. Không một dinh thự kiến trúc nào có thể giữ được Ngài. Vô danh là tên Ngài trên trời, và hình Ngài không biểu hiện, bởi vì tất cả hình ảnh Ngài đều sai lầm, nhà của Ngài là vũ trụ, chứ không phải một dinh sở nào của con người làm ra. “Hình thức tín ngưỡng xa vời sự thật cũng như với ý nghĩa. Ý nghĩa không cho phép đo lường bằng mực thước bề ngoài. Muốn thẩm định ý nghĩa của một ý niệm hay tượng trưng tôn giáo, chúng ta phải khám phá giá trị nó diễn tả và thành tựu. Tinh thần không bị bó buộc vào một hình thức nào cả, dù hình thức ấy có thích hợp mấy đi nữa. Các tôn giáo Đông phương đều phi tín điều (non-dogmatic) và tín đồ của chúng theo lẽ thường đều có gì có thể gọi là tư cách tâm linh. Họ không bài bác điều thiện chỉ vì không phải chí thiện. Họ kính trọng cá nhân vì nó như thế chứ không cố tìm cách tu sửa nó trái cả với ý muốn của nó nữa. Trên trời không những có nhiều lâu đài mà cũng có nhiều đường lối để đi đến nữa. Ấn Độ giáo và Phật giáo công nhận rằng mỗi hình thức tín ngưỡng đều có hàm ngụ một trình độ chân lý nào, với hậu quả đáng ngờ rằng tất cả các loại sùng bái và mê tín ngoại lai đều có thể thấy được trong khu vực của hai tôn giáo trên kia. “Một kết quả tự nhiên của sự khác nhau về khuynh hướng là ở Đông phương, tôn giáo là một vấn đề tu tĩnh tin thần hơn là học vấn phiền tỏa. Chúng ta học vấn chân lý không bằng phê phán và biện luận mà là bằng cách sống thâm trầm và biến đổi bình diện ý thức. Thượng Đế không phải hình thức tối cao để hiểu biết mà là bản thể tối cao để thực hiện”. Có lẽ chính vì “God is not the highest form to be known but the highest being to be realised” như Radhakrishnan đã phân biệt hai tinh thần tôn giáo Tây phương và Đông phương, một đằng thiên về trí thức (intellectualism) một đằng thiên về tâm linh (spiritualism), mà đối với dân Việt Nam, như lời LM. Cadière đã nói: dân Việt “sống không có Thượng Đế, sống trong siêu nhiên!” Như thế chẳng phải tinh thần thực hiện của tôn giáo đấy ư? Thực hiện cái gì, nếu chẳng phải cái tri giác về đồng nhất thể của người với tinh thần Chân Thiện Mỹ ở vũ trụ đấy ư?. Như thế là thiếu về “ý niệm Thượng Đế”, là thiếu về lý trí hiểu biết, nhưng “sống trong siêu nhiên” là sống cảm thông bằng tình cảm và ý chí để mở rộng triển khai tâm hồn hướng về cao cả đại đồng. Bởi vậy mà đời sống tín ngưỡng của nhân dân Việt Nam là cả một lịch trình thực hiện cái đức Linh, là Nguồn sống tràn ngập vô biên qua tất cả các trình độ biểu hiện, kể từ ngọn cỏ, lá cây, hòn đá, dòng nước cho đến hang động đầu tiên, Tổ tiên thần thánh, từ Thổ thần, Thành hoàng ở địa phương cho đến Quốc giáo Thiên Địa. Nay hãy tuần tự theo dõi lịch trình tín ngưỡng thực hiện ấy như sau: Tục sùng bái cây Ở Bắc Việt có tục sùng bái cây. Dưới gốc cây người ta hay đặt những bình vôi mẻ sứt là thứ đồ gia dụng của gia đình Việt Nam có tục cổ truyền ăn trầu. Tục ăn trầu, là một truyền thống của dân tộc theo truyện cổ tích Trầu Cau hay Tân Lang phải có đá tô thành vôi, trái cau với lá trầu không, hợp thành bộ ba là “miếng trầu làm đầu câu chuyện”. Bình vôi chứa đựng vôi tô lá thứ đồ dùng được trọng đãi cho nên khi nào bể vỡ, người ta không vứt đi mà phải tàng trữ lại ở gốc cây. Vứt đi là một điều tối kỵ. Ở đây không phải là một tục lễ giáo mà người ta đặt bình vôi dưới gốc cây. Đây là một tín ngưỡng có tính cách ma thuật như sự hợp hóa mầu nhiệm của đá với cây. Bình vôi chưa đựng sức ma thuật, một quyền năng huyền bí mật thiết quan hệ đến mệnh vận trong nhà. Nếu vôi bám thành bờ trên miệng bình thì trong nhà làm ăn thịnh vượng. Bình vôi bể vỡ là một điềm gở báo trước việc dữ sắp xảy đến. Bởi thế nên mỗi khi có bình chẳng may bể vỡ ngừơi ta kiêng không dám vứt đi vào chỗ tạp uế mả phải đem chồng chất dưới gốc cây vì gốc cây là nơi đặc biệt hình như có duyên nghiệp với chất đá vôi, và cũng là nơi tụ sinh khí rất hợp cho sự lưu trữ những đồ dùng cũ; nhằm làm bình vôi ở gốc cây lại càng tụ được nhiều sinh khí hay thần linh (prana = mana). Vì thế mới phát xuất ra tục thờ Cây vậy. Hoặc tục thờ Cây có từ trước vì lý do huyền bí mầu nhiệm của sức nẩy nở sinh sôi ở thảo mộc. “Người trồng cây lúa hành động với cách thức tương tự với cách thức ma thuật (magique) hay tôn giáo (religieux) nhưng hành động của họ không có hiệu quả ngay. Gặp thời tiết nhất định trong một năm, tuỳ theo vị trí các ngôi sao quyết định, nó bắt đầu làm đất, một công việc lạ kỳ không trông thấy kết quả tức thì. Trong đống đất đã vun xới ấy, nó vùi những củ hay hạt giống ăn được mà nó cần dùng để nuôi thân. Sau đấy, một khi làm xong công tác tập truyền ấy rồi, nó chờ đợi. Nó giữ gìn các mảnh đất đã cấy hay đã gieo hạt bằng một hàng rào để ngăn cản các muông thú không được quấy nhiễu đến sự ấp ủ nẩy nở của các mầm hạt kia. Nó tự bảo vệ một cách tiêu cực. Một vài tháng sau nó thu hoạch gấp bội phần kết quả của những vật nó đã vùi xuống đất”. (René de Hetrelon, Essai sur l’origine des différences de mentalité entre l’Occident et l’Extrême-Orient). Bởi thế mà người nông dân Việt Nam mới chọn gốc cây, nhất là cây cổ thụ làm nơi tụ khí linh thiêng, nhân đấy gửi gắm những bình vôi gia dụng lâu đời. Vôi là chất đá, lâu đời đá kết thành tinh, tụ lại gốc cây là giống thảo mộc cùng với đá trầu có tiền duyên thì càng làm tăng quyền năng linh thiêng ma thuật. Một gốc cây nào có nhiều bình vôi cũ sẽ biến thành nơi thờ cúng. Từ đây ma thuật biến sang tôn giáo rồi vậy. Có hai dòng tín ngưỡng sùng bái, một thuộc về Nữ thần, một thuộc về Nam thần. Bản tính Đất Cây đồng nhất phần lớn thần linh ngự trong Cây Đất hay Đá, cho nên có thể bảo rằng Đá, Đất thuộc về Nam thần, Cây Cỏ thuộc về Nữ thần. Nam thần = Địa linh nhân kiệt. Thường thấy giữa đồng ruộng Bắc Việt một cái gò, cái đống đất có cây cổ thụ che phủ một cái bệ xây làm nền. Nông dân chung quanh đem hương hoa, rượu, xôi, gà đến cúng tế, vì đấy là một đền hay nền thờ Thổ Thần. Ngừơi ta kiêng xâm phạm vào khu vực này, cây không được chặt, đất không được cuốc. Nhiều khi nền thờ xây cũng không có, cây với gò bằng với mặt bờ ruộng. Nền thờ Tổ tiên có 3 hình thức: - một cái gò có cây cổ thụ che phủ - một cái gò ở trên có xây cái bệ dưới cây cổ thụ - một gốc cây với một bệ xây. Hình thức thứ hai đủ bộ hơn cả, người ta đem đến gốc cây bầy hiện trên bệ thờ các đồ lễ. Gia chủ quỳ vái khấn khứa, vào ngày 1 hay 15 mỗi tháng. Cũng có khi vào ngày, thường là đặc biệt. Ở đây chỉ thấy có đàn ông đến lễ chứ không thấy đàn bà vì đàn bà không biết khấn Thổ Thần. Bởi thế mà có thể nói rằng đàn ông lễ Thổ Thần thuộc về Nam tính, gò đất là chính, cây chỉ là phụ. Những Thổ Thần hành động trong một phạm vi nhất định. Nông dân tin các ngài trông nom che chở phù hộ cho ruộng đất của một làng, một xóm, cho nên ở một làng người ta thấy có nhiều bệ thờ Thổ Thần, hay Thần Đống. Những đồ lễ cúng Thổ thần không phải chỉ có Thổ thần hưởng mà thôi. Ngoài đồ lễ Thổ thần còn có đồ lễ cúng cho vong linh chúng sinh nữa. Đấy là những cô hồn không thừa tự, chết đường chết chợ, xa cửa xa nhà, vô thừa nhận, không nơi nương tựa cho nên quây quần chung quanh Thổ thần làm môn hả. Những cô hồn ấy rất nguy hiểm có thể quấy rối địa phương bằng dịch tễ. Bởi thế nhân dân phải cúng lễ cầu yên hàng năm vào mùa hè. Lễ này thường làm tại nơi thờ Thổ thần. Các thần bảo hộ cho làng gọi là Thành hoàng cũng thuộc về một hạng Thần linh. Thành hoàng cũng như Thổ thần chủ tế của làng; được thờ ở trong Đình làng, nơi họp bàn việc làng của các đàn anh trong làng. Như thế chứng tỏ đàn ông mới cúng Thần. Gần Đình thường thấy những cây cổ thụ không ai được xâm phạm. Cái Đình ở đây thay cho cái bệ ở giữa đồng cho nên người ta cúng tế ở trong Đình chứ không ở tại gốc cây. Đến đây tục thờ Cây hay thần linh trên cây đã tiến hóa. Trọng tâm đã từ cây truyền vào Đền, Đình. Tuy thế mà Cây cối vẫn giữ tính cách linh thiêng vì là thuộc về thần, nhưng bàn thờ thần Thành hoàng là bài vị, sắc phong thần của nhà vua để ở trong cung Đình hay torng Khám trên kiệu khi rước sách. Sự tương tự giữa Thổ thần và Thành hoàng là ở chỗ Thành hoàng cũng cai quản chúng sinh của một địa hạt mình bảo hộ. Hai lần một năm nhân dân cũng làm lễ kỳ yên chúng sinh ở cửa Đình và chúng sinh không có quyền vào trong Đình của Thành hoàng. Cả hai, Thổ thần và Thành hoàng đều là thần linh. Nghi lễ thuộc về địa phương. Rõi theo sự tiến triển về cấp trật Thần đạo thì người đi đầu từ chúng sinh, Thổ thần, Thành hoàng đến Đức Thánh. Uy quyền đức Thánh lan ra khắp một xứ, ở đâu cũng có tín đồ, và nghi lễ được quy định theo quốc giáo. Đức Thánh thuần tuý Việt Nam của nhân dân sùng bái thì có đức Thánh Trần Hưng Đạo Vương, đức Thánh Ông hay Lê Văn Duyệt là phổ thông hơn cả, bên cạnh đức Thánh Khổng hay Khổng Phu tử ở Trung Hoa đem vào được thờ ở Văn miếu thuộc tín đồ Nho sĩ. Thế lực đức Thánh như đức Thánh Trần lan khắp cả nước từ Lạng Sơn, Thanh Hóa. Sự tích Thánh Trần thuộc về lịch sử cũng như sự tích Đức Ông vậy. Riêng Thánh Trần là vị anh hùng vĩ đại của dân tộc, sau khi giải cứu quốc gia khỏi cuộc xâm lăng Mông Cổ, Ngài rút về yên nghỉ và quy tiên ở Phả Lại. Cho nên ở đấy có đền thờ Ngài gọi là đền Kiếp bạc hàng năm xưa kia quốc dân tấp nập đến hành hương vào ngày 15 tháng 8, là ngày kỵ có mở hội 5 ngày. Phương ngôn nói: Tháng 8 giỗ cha tháng 3 giỗ mẹ. Giỗ cha tức là quốc phụ Trần Hưng Đạo Vương hay là Thiên phụ so với Địa mẫu là thánh mẫu Liễu Hạnh giỗ vào tháng ba. Từ đằng xa, đền hiện ra đàng sau đám cây cổ thụ nguy nga mà nhân dân cho là linh thiêng, có quyền năng thần bí siêu nhiên. Theo sách Cương Mục thì vào thời Lê, vua Thái Tông có sắc lệnh cấm không được chặt những cây ấy và dân tin rằng chỉ hái một cái lá cũng đủ ốm đau. Đức tính linh thiêng của những cây ấy là do thuộc quyền sở hữu của Thánh Trần, nên phần quyền năng thiêng liêng của Ngài đã ngụ ở tại đấy. Ngoài ra một điểm đặc biệt là nhân dân đến hành hương ở đền Kiếp bạc gồm có một số lớn phụ nữ nữa, thành ra nghi lễ Nam Thần một khi trở nên quốc giáo đã mất tính cách nguyên thuỷ, không còn nghi lễ thuộc riêng cho đàn ông. Người ta tin rằng quyền năng hay đức tính của Thánh Trần ngự trị tất cả chúng sinh ma quỷ bởi thế mà người ta đến cầu xin đức Thánh trừ tà trị bịnh. Hàng năm đức Thánh đã chứng tỏ trị được các bệnh hiểm nghèo và giải trừ tà ma ôn dịch. Ngài chữa bằng phép thần kỳ trong những ngày hội. Đức Thánh giáng hiện xuống để sai khiến một số thầy pháp, thầy bùa, cô đồng bà cốt. Các người Thánh ấy mất hẳn cá tính ngày thường, cử động như có thần lực sai khiến thật, nào thắt cổ, nào cắt lưỡi. Thánh Trần cũng giáng ngự xuống các bà đồng khiến cho mất cả ý thức phụ nữ để cử động như đàn ông vậy. Họ ăn mặc khăn trầu áo ngự mầu ngũ sắc loè loẹt. Sau buổi lễ hành hương họ về làng họ để bắt tà ma cùng chữa bệnh. Một ký giả ngoại quốc được mục kích đám rước Thánh Trần ở Hà Nội ngày 31-5-1908 kể lại rằng có nhiều ông đồng xuyên thiết lạch thủng qua má và rạch lưỡi bằng dao, máu chảy đầm đìa. Máu ấy được hứng vào các tờ giấy bản để phân phat cho tín đồ dùng làm bùa trừ tà chữa bệnh. Ý nghĩa những hành vi ấy thật rõ rệt: đức Thánh Trần có quyền linh thiêng đã truyền một thần quyền năng ấy vào ông đồng, bà đồng và máu kia thấm vào giấy bùa cũng có đặc tính ma thuật như chính máu của Ngài vậy. đấy là đại khái lịch trình tiến hóa của thần linh thuộc Nam tính có liên hệ mật thiết với cây cối cổ thụ linh thiêng, kể từ Thổ thần địa phương đến Thành hoàng và đức Thánh ở quốc gia, ba cấp thần linh chi phối lễ nghi của toàn quốc. Nữ thần Phàm cây linh thiêng thuộc về Nữ thần thì người ta nhận thấy ngay ở những đồ mã treo trên cành: nào hài, nón lá, đồ dùng của phụ nữ. Những đồ lễ ở gốc Cây của Nữ thần là do phụ nữ đem cúng vào ngày sóc (1) và vọng (2) hằng tháng. Cũng có trường hợp đặc biệt đàn ông đến cúng lễ ở cây Nữ thần nhưng là trường hợp ít nhất, còn phổ thông thì chỉ phụ nữ mới đến cúng lễ Cây Nữ thần. Khi nào Cây linh được thờ chưa lâu thì ở dứơi gốc không có xây cất chi cả. Người ta cúng bái ngay tại bên đường. Rồi chợt một ngày kia, người đến lễ bái đông đảo, lối xóm xây cất ở gốc Cây một cái lều tranh hay một bệ thờ cao chừng 1m50 kiểu mẫu phổ thông của nhiều Đền, Miếu sau này. Miếu có kiểu diện tích chừng 4 hay 5 thước vuông, trong đó không phải chỉ có 1 bệ thờ mà còn cả những bài vị thần linh nữa. Bài vị này còn để đem đi rước, vì tất cả thần linh đều tập trung ở đấy. Và cũng như miếu Thổ thần, miếu Bà cô, sẽ dần dần thay thế cho Cây trở nên danh tiếng linh thiêng vì n hiều kỳ tính uy linh hiệu nghiệm, các nơi người ta kéo đến hành hương và bấy giờ Miếu đã trở nên Đền, như đền Sòng ở Thanh Hóa, chẳng hạn. Giữa Miếu và Đền không có chi khác về nghi lễ cũng như đối với Cây. Vẫn là nơi của đa số phụ nữ đến lễ bái Nữ thần. Trong hàng các đền ngoài Bắc Việt có tiếng linh thiêng là đền Sòng, đền Phủ Giầy, huyện Vụ bản tỉnh Nam Định thờ thánh mẫu Liễu Hạnh công chúa. Hàng năm vào 3 tháng 3 nhân dân đến hành hương tấp nập. Có nhiều cung điện được xây cất chung quanh ngôi đền chính, trước mặt có hai gốc Cây cổ thụ tại cửa vào đền. Ở đây đa số tín đồ là phụ nữ, nhưng vì Nữ thần đến bậc quốc tế, có sắc vua phong cho nên cũng có cả tín đồ đàn ông đến lễ bái cầu khấn. Cũng như ở Kiếp bạc, các ông đồng bà đồng có hai nhân cách, nhưng ở đây cử động êm đềm không quá dữ tợn như ở Kiếp bạc. Tóm lại, Cây linh được sùng bái là nguyên lai của đạo thờ Thần mà trình độ có sai khác như sau: 1. Cây đứng không. 2. Cây có phủ một bệ xây 3. Cây có miếu 4. Cây có đền 5. Cây vừa có đền lẫn miếu Trong hàng các Nữ thần được cúng bái ở Cây hay trong đền miếu, có thần cao thấp, bà chúa, đệ tử, như ở trần gian. Nữ thần có ba hạng: cô, bà cô, đức mẫu hay thánh mẫu. Cô là con gái, bà là gái có chồng nhưng chết trẻ, đức bà có thể là bà chúa. Tất cả đều là linh hồn phụ nữ xưa kia sống ở thế gian. Đức linh của các vị ấy là trinh tiết đến lúc chết. Thánh mẫu Phủ Giầy tuy có chồng nhưng lòng trinh tiết suốt đời. Trên đây là đại khái tín ngưỡng thần đạo Nam và Nữ của nhân dân nông nghiệp Việt Nam, chưa có pha trộn với những yếu tố ngoại lai. Những tín ngưỡng cổ xưa của bình dân về Cây linh về sau còn châm chước với tín ngưỡng ngoại lai như Phật giáo và Đạo giáo. Trong một ngôi chùa Bắc Việt người ta thường thấy chia ra làm 2 khu thờ lớn nhỏ khác nhau, và ngoài cửa còn có một vài cây cổ thụ như cây Bồ đề, hay cây Đa, cây Gạo. Tục ngữ nói: Thần cây Đa, ma cây Gạo”. Cung giữa chùa là để thờ Phật có tượng. Gian bên có 3 pho tượng Nữ thần ở trên bệ, dưới có tượng quan tướng Ngũ Hổ. Như vậy đủ thấy chùa Việt Nam thờ hỗn hợp hai yếu tố với nhau là Phật giáo ngoại lai và Thần đạo bản xứ. Ba tượng Đức bà trong chùa có thuộc tính riêng. Đức bà ở giữa là thánh mẫu Cửu Thiên Huyền Nữ coi việc trên trời. bên phải là Đức bà địa mẫu coi việc trên mặt đất. Bên trái là Đức bà mẫu Thoải coi thuỷ phủ. Đấy là đủ cả Tam phủ: Thiên phủ, Địa phủ, Thuỷ phủ thuộc về tín ngưỡng của Đạo giáo, và tín ngưỡng phổ thông còn tin rằng do Ngọc hoàng tối cao đã chỉ định mỗi Đức bà phải trông coi một khu vực. Mặc dầu có ảnh hưởng pha trộn của tín ngưỡng Phật giáo và Đạo giáo, tín ngưỡng thờ phụng Đức bà do sùng bái đức linh của Cây biến hóa ra, vẫn giữ được đặc tính cốt yếu và nguyên thuỷ của nó. Trong gian thờ ở chùa nghi lễ thờ cúng chư vị vẫn là nghi lễ ở Miếu, Đền. Tín đồ đến lễ Phật trước rồi mới xuống lễ Chư Vị với những lời khấn riêng, lễ vật riêng. Phần nhiều là phụ nữ đến lễ chùa và đền, miếu, đàn ông rất thưa. Ở chùa phụ nữ tín đồ có nhiều tục lệ kiêng kỵ; họ họp thành một hội Bà vãi, ngày rằm, mùng một tụ họp đến ăn chay niệm Phật. Những bữa ăn ấy cũng tựa như bữa ăn ở Đình làng của phái đàn ông, cũng chia ngôi thứ lộc phần khác nhau, vãi trong xã hội cũng thuộc vào hạng có tuổi, có hạnh được kính trọng cũng như các bô lão đàn ông trong làng vậy. Tổng chi tục sùng bái Cây linh ở Việt Nam xưa có hai phương diện, một nghi lễ cho đàn ông thờ cúng Nam thần, và một nghi lễ cho đàn bà thờ cúng Nữ thần. Hình như nhân dân chia làm hai xã hội tôn giáo khác nhau, và trạng thái lưỡng diện ấy chính là đặc trưng của văn minh Bắc Việt hay Việt tộc xưa. Bắt đầu người ta đến lễ bái ở Cây linh, rồi dần dần người ta xây bệ dưới gốc Cây, kế đến miếu, để rồi trở nên Đền, ảnh hưởng đi từ địa phương nhỏ ra khắp nước. Đàn ông là Đình làng, đàn bà đi chùa làng. Đình chùa là hai đầu cực đoan, đầu Âm và đầu Dương của một cái trục duy nhất của xã hội Việt Nam vậy. Tóm lại Thần đạo bắt nguồn từ tục thờ Cây đầy nhựa sống mầu nhiệm, tượng trưng cho đức hóa dục nảy nở sinh thành và hiểu biết – vì ở đâu có sự sống là có hiểu biết. Rồi Cây trở nên Cây Nêu trồng trước cửa Đình hay trước sân nhà vào dịp tết Nguyên Đán đầu năm. Rồi cái đức linh ở Cây được nhân cách hóa thành Thần linh thiện hay ác, nam hay nữ có liên quan ít nhiều đến quyền năng ma thuật thiên nhiên. Nghiên cứu kinh điển cổ Ấn Độ liên quan đến tục thờ Cây, Odette Viennot trong sách Le culte de l’Arbre dans l’Inde ancienne, có kết luận: “Trong những văn kiện ấy, cây thường được coi như có những đức tính mầu nhiệm và bản chất thì đồng nhất với nguyên lý linh thiêng. Còn về nghi thức quy định những tế lễ của triều đình hay của gia đình trong những lời chú giải Bàlamôn giáo, thì Cây được họ coi như trung tâm linh địa với đá và nước. Đi đôi với bản tính mầu nhiệm mà có thật của thần linh biến hóa thì có sự sáng tạo hữu ý về một Linh Địa, trong đó các yếu tố thiên nhiên trở nên tượng trưng được xếp đặt vào trong một khoảng vây bọc. “Như vậy là Cây thần thoại đầy mầu nhiệm phân phát tất cả phúc lành siêu phàm và tượng trưng cho trí thức sinh sống và nẩy nở. Nhưng trong nghi thức đối chiếu, cột tế (yupa) Cây hương ở trung tâm Thánh đường là một cái cây bật rễ, trơ trợi, mất cành, sau cùng được trồng lại nhà nhờ bùa chú, nước phép phục hồi lại cho nó những đức tính cơ bản được siêu hóa. Lễ nghi đã làm cho nó mạnh thêm khi trước và nhờ vào những thủ tục ấy nó có thể làm môi giới với thần linh. “Nhưng chúng ta nhận thấy rằng cái quan niệm Cây hương cột thiêng dựng ở giữa Linh địa để mang lên Thần linh lễ phẩm cũng như cây vũ trụ vừa từ dưới đất mọc lên, vừa từ trên trời xuống, để bảo vệ hai cõi thế giới cách biệt không làm cho tư tưởng bình dân đãng trí mất những tín ngưỡng cổ truyền về đức thiêng của Cây. Cái tín ngưỡng ấy diễn tả ra bằng nhiều cách: nhất là tục lệ ma thuật có mục đích mang lại cho tín đồ những phúc lành, nó có thể cầu mong và bằng những chỉ giáo cho chủ nhà cúng tế trong gia đình những lời khấn với điều giới có liên hệ đến Cây”. Và cái tục thờ Cây cổ truyền ở Ấn Độ đã được Phật giáo thâu nhận, nhất là ở hình thức cây nhân cách hóa cho nên ở thần thoại về những kiếp trước của đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngừơi ta thấy rất nhiều sự tích liên hệ đến thần linh cây cối. Và chính tại dưới cây Bồ Đề mà Đức Thích Ca đã đắc đạo Chính giác. © Giáo Sư NGUYỄN ĐĂNG THỤC Nguồn:dunglac.net.
-
G.S. Ôn Năng Khang TRỜI QUA VĂN NGÔN TRUYỀN KHẨU VIỆT NAM Mục I: Vũ Trụ Qua Nhận Thức Thần Linh: Trong buổi bình minh của lịch sử loài người, tương tự những dân tộc khác, người Việt, khi mà tinh thần duy lý và thực nghiệm chưa được phát huy, đã nhìn vũ trụ bằng sự sợ hãi, tin tưởng. Từ đó đẻ ra những hình thức tín ngưỡng như: cúng, lạy, van xin, cầu khẩn, bói toán, đồng bóng… nhằm mục đích bảo vệ đời sống mà họ chưa đủ lý trí, óc phán đoán suy luận, nghị lực, ý chí, cũng như tự do để xây dựng và gìn giữ. Bằng một cái nhìn khái quát, chúng ta thấy diễn trình nhận thức về vũ trụ của người Việt cũng bắt đầu từ giai đoạn bái vật giáo, tiến đến đa thần giáo, và dừng lại ở độc thần giáo như nhận thức của phần đông nhân loại. Cái nhìn của người Việt về vũ trụ ở giai đoạn này là một cái nhìn đầy tính chất bỡ ngỡ, ngạc nhiên. Từ đó nảy sinh lòng bái phục, biết ơn hay sợ hãi. 1. Vũ Trụ Qua Cái Nhìn Bái Vật: Trước hết, chúng ta hãy nhận xét đến nhận thức vũ trụ có tính cách bái vật. Chúng ta thấy người Việt thờ kính từ một cái cây, một hòn đá, đến một con vật. Có thể nói đây là kết quả sự tác động của những đối tượng đó vào đời sống của người Việt, làm cho họ hạnh phúc hay đau khổ, thí dụ: tục thờ cây c i như cây đa, cây đề có thể bắt nguồn từ lý do mà chúng tôi ước đoán sau đây. Trong đời sống nông nghiệp vất vả, lam lũ, một lúc nào đó người nông phu Việt sau buổi cầy mệt nhọc lên ngồi nghỉ ngơi ở gốc cây đa, cây đề và cảm thấy lại sức nhanh chóng. Vì chưa có kiến thức khoa học để biết rằng sở dĩ họ cảm thấy khỏe khoắn vì phổi hấp thụ được nhiều dưỡng khí do cây nhả ra lúc hô hấp nên họ cho rằng cây có một quyền năng mầu nhiệm. Và từ đó, họ nhìn những cây to bóng mát (cây đa, cây đề) như những vị thần linh. Tục ngữ có câu: “Vị thần phải nể cây đa.” Cũng trong tín ngưỡng bái vật, người Việt còn thờ Ông bình vôi và tôn kính cái bếp lò mà họ gọi là Ông đầu rau. Khi bếp lò bằng đất quá cũ, họ đem để dưới gốc cây đa. Cũng trong nhận thức bái vật phát sinh từ lòng biết ơn, chúng ta phải kể đến sự kính trọng một loài vật bé nhỏ là con cóc. Ca dao có câu: “Con cóc là cậu Ông Trời, Ai mà đánh nó thì Trời đánh cho.” Hai câu trên do truyện cổ cóc lên kiện Trời vì đã lâu Trời làm hạn hán. Sau khi đại thắng binh tướng nhà trời cóc đặt điều kiện khi nào cóc nghiến răng thì Trời phải mưa. Trời bằng lòng.[1] Vì nhận thấy mỗi khi cóc nghiến răng là Trời sắp mưa, người Việt rất kính trọng cóc vì mưa rất cần thiết cho mùa màng. Bây giờ chúng ta xét đến động lực thứ nhì tạo thành tín ngưỡng bái vật là lòng sợ hãi: “Người ta tin rằng có nhiều hòn đá có thần. Nhất là những hòn đá kỳ hình, quái tượng ở hang động hay trước cửa đền chùa, hoặc những hòn đá ở giữa ghềnh hoặc ở bờ biển thường gây nguy hiểm cho ghe thuyền.”[2] Nếu những vật gì gây tai họa cho cuộc sinh hoạt được xem như có thần thì những loài thú nào gây nguy hiểm cho sinh mạng của mình cũng được người Việt thờ kính. “Cá voi được thờ như một vị thần bảo hộ của dân miền biển, cũng như cọp (Ông Cọp, Ông Ba Mươi) thì được dân miền rừng thờ.”[3] Voi và rắn là hai loài thú dữ cũng được người ta kính sợ mà tôn xưng; voi là “Ông Vâm”, rắn là “Ông Lốt”. Thậm chí đến chuột, một giống vật nhỏ bé, hay ăn thóc gạo, có thể gây ra nạn đói cũng được gọi là “Ông Tí”, “Ông Thiêng”.[4] Sau khi lược xét quan niệm bái vật của người Việt, chúng ta nhận thấy cái nhìn của họ có những nét tương đồng với các dân tộc khác, chẳng hạn người Ấn. “Người Naga (thổ dân Ấn trước khi người Aryan tới) thờ vô số thần: thần đá, thần cây, thần gấu, thần cọp, thần sông, thần núi. Naga là rồng thần, Hanuman là khỉ thần, Nandi là bò mộng thần, Yaksha là cây thần.”[5] Như vậy chúng ta nhận thấy bái vật là nhận thức của những người ngây thơ và yếu đuối. Vì ngây thơ không hiểu rõ tương quan giữa những hiện tượng thiên nhiên với con người nên dễ phát sinh lòng biết ơn hay kính phục. Vì yếu đuối bất lực trước những thế lực có thể đem lại tai họa, đe dọa sinh mạng của họ, con người phải thờ kính chúng. 2. Vũ Trụ Qua Cái Nhìn Đa Thần: Sau khi từ lòng sợ hãi hoặc biết ơn, từ đó nhìn xung quanh mình bằng cái nhìn bái vật người Việt bắt đầu cố gắng giải thích những hiện tượng tự nhiên có ảnh hưởng xa gần đến đời sống của họ. Lối giải thích này dĩ nhiên không phải bằng tương quan như chúng ta ngày nay mà bằng trí tưởng tượng của họ. Do đó mưa, gió, sấm, chớp, theo lòng tin của người Việt đều do thần tạo nên. “Thần Mưa là thần hình Rồng, thường xuống hạ giới hút nưóc biển, nước sông vào bụng rồi bay lên trời cao phun nước ra làm mưa cho thế gian có nước uống và cày cấy, cây cỏ trên mặt đất được tốt tươi. Thần Mưa thường theo lệnh Trời đi phân phát nước cho các nơi. Công việc này nặng nề, một mình thần Mưa làm không xuể nên Trời phải mở cuộc thi chọn giống thủy tộc có tài trở thành Rồng hút nước phun mưa giúp sức thần mưa. Cuộc thi chọn Rồng này diễn ra ở Vũ Môn, thuộc tỉnh Hà Tĩnh ngày nay. Do đó trong dân gian có câu ca dao về việc cá chép hóa Rồng: “Mồng ba cá đi ăn thề, Mồng bốn cá về, cá vượt Vũ Môn.”[6] Ngoài những vị thần điều khiển việc thời tiết, người Việt tin rằng mỗi nơi, mỗi khu vực đều có thần cai quản. Tục ngữ có câu: “Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá.” Một vị thần khác vô cùng quen thuộc với các gia đình Việt Nam là thần Bếp, còn gọi là Táo Quân hay Vua Bếp. Ca dao có câu: “Thế gian một vợ, một chồng Chẳng như Vua Bếp hai ông một bà.” Tóm lại, chúng ta nhận thấy sự cố gắng giải thích các hiện tượng vũ trụ hoặc những đối tượng vật giới của người Việt là hậu quả của nhận thức đa thần, theo đó không có việc gì là không có thần chủ nhiệm, không có nơi nào là không có thần cai quản. 3. Vũ Trụ Qua Cái Nhìn Độc Thần: Theo sự tiến hóa của nhận thức, từ phức tạp đến đơn nhất, dần đần người Việt thấy rằng những vị thần của họ cũng cần phải có một vị thần tối cao điều khiển, chỉ huy thì mới có thể hoạt động trật tự và hiệu quả. Nếu không sẽ có một sự tranh chấp tạo ra hỗn loạn. Do đó, người Việt tưởng tượng rằng ở trên các vị thần có một vị thần duy nhất, tối cao mà họ gọi là Trời. Ông Trời, trong quan niệm của họ là người sinh ra loài người và muôn vật. Tục ngữ có câu: “Trời sinh, trời dưỡng.” hoặc: “Trời sinh voi, sinh cỏ.” Từ lòng tin ấy, họ thành khẩn cầu nguyện: “Lạy Trời mưa xuống, Lấy nước tôi uống, Lấy ruộng tôi cày, Lấy đầy bát cơm, Lấy rơm đun bếp.” Ta có thể so sánh ông Trời của người Việt với thần Prajapati, chủ tể mọi thần linh trong tín ngưỡng của người Ấn: “Sự thờ thần Prajapati về sau gần như thành nhất thần giáo cho tới khi thần đó bị thần Brahma đoạt mất địa vị.”[7] Tóm lại, từ quan niệm đa thần giáo có tính cách phiếm thần người Việt đã tiến đến quan niệm độc thần giáo, mang màu sắc nhất nguyên luận. Mục II: Vũ Trụ Qua Nhận Thức Siêu Hình: Ở mục I, chúng ta thấy trí tưởng tượng và tình cảm chi phối cái nhìn của người Việt về vũ trụ ngoại giới. Như đứa trẻ thơ, người Việt dễ bị những sức mạnh vô hình chế ngự, điều khiển khiến họ tin kính và thờ phụng những quyền lực siêu nhiên mà chúng ta gọi là thần quyền. Tính mệnh và đời sống của họ dường như phó mặc cho quyền lực đó chi phối. Nhưng dần dần, con người nói chung, người Việt nói riêng tiến hoá hơn. Người Việt bắt đầu biết quan sát những hiện tượng vũ trụ quanh mình. Họ bắt đầu đặt ra câu hỏi và tìm cách giải đáp. Nghĩa là họ không chỉ thỏa mãn với điều trước đây họ tin tưởng, thờ phụng. Họ đặt vấn đề nguyên nhân và hậu quả, lý do đầu tiên và cuối cùng cuả đời sống. Người Việt muốn giải thích mọi hiện tượng bằng thái độ vừa khôn ngoan hợp lý, vừa có tính cách phổ quát. Ý hướng muốn hiểu biết tận ngọn nguồn của sự vật ở người Việt khác nào hai câu thơ sau đây của thi hào Nguyễn Du: “Trăm năm tính cuộc vuông tròn, Phải dò cho tới ngọn nguồn, lạch sông.”[8] Trăm năm là cuộc sống vợ chồng, mà cũng có thể là cuộc nhân sinh. Như Khổng Tử đã nói: “Đạo của người quân tử lấy đạo vợ chồng làm đầu dây mối nhợ, nhưng nếu xét cho cùng cái lý của nó, chính là đạo của Trời Đất.”[9] Hạ Kinh của Kinh Dịch bắt đầu từ hai quẻ Hàm và Hằng, trong khi Thượng Kinh bắt đầu bằng hai quẻ Kiền và Khôn, có ý so sánh sự liên hệ giữa đạo Trời Đất và đạo vợ chồng. Bởi vì người xưa tưởng rằng Trời hình tròn, còn Đất hình vuông. Trời Đất cũng có nghĩa là sự sinh thành, nên tục ngữ Việt có câu: “Mẹ tròn con vuông.” để nói lên ý nghĩa thành tựu viên mãn. Chúng ta nhận thấy nếu trước đây Trời được tin tưởng như căn nguyên của vạn vật, thì bây giờ Trời là đối tượng của óc suy luận, thắc mắc. Người Việt nhận thức về Trời Đất, tức là về thời gian và không gian đã bao trùm bên trên và bên trong cuộc sống của mỗi người chúng ta..Trời ,bởi vậy được biểu thị như Tình yêu thuần khiết, trí tuệ siêu việt và ý chí công chính. 1. Trời, nguồn yêu thương: Ý niệm về tình yêu thương bao hàm ý niệm về sự sinh thành, che chở. Tục ngữ Việt có câu: “Trời sinh, trời dưỡng.” hoặc: “Trời che đất chở.” Người Việt quan niệm Trời ở đây giống như người mẹ, mà vạn vật là con cái. Tiếng “Mẹ” cũng có nghĩa là cái nguồn nước chân thực nuôi sống muôn loài cho nên Lão Tử mới nói: “Ta quý Mẹ Thực: ngã độc dị ư nhơn, nhi quý Thực Mẫu.”[10] Trời hay vũ trụ là nguyên nhân tác thành vạn loại, có nghĩa vạn loại và vũ trụ cùng là một. Nói cách khác không thể tách rời sự sống ra khỏi vũ trụ cũng như không thể tách rời vũ trụ ra khỏi sự sống. Sự sống và vũ trụ là một đại thể không thể chia cách. Chúng tác thành nhau theo luật hỗ tương. Đời sống bao gồm ý nghĩa về sự sinh diệt, về hạnh phúc và đau khổ, về những gì đã được thực hiện hay chưa thực hiện. Bởi vậy tình yêu thương của Trời là năng lực sáng tạo, tài bồi. Đứng trước sự lớn lao cao rộng của vũ trụ người Việt dường như thấy mình bé lại, thấy mình như trẻ thơ đang nằm trong lòng mẹ, được hơi ấm và giòng sữa ngọt nuôi nấng. Cảm nhận này được nói lên trong câu tục ngữ: “Trời cao Đất dày.” Tiếng “dày” mang ý nghĩa “đầy đặn”, “trọn vẹn”. Tiếng “cao” biểu lộ sự “sáng suốt”, “tinh anh”. “Cao”, “dày” là đức lớn của Trời. Cái đức ấy chủ sự Sinh. Vì vậy người Việt không muốn ai “bứng cây sống, trồng cây chết”. Ca dao Việt có câu: “Người trồng cây hạnh, người chơi, Ta trồng Cây Đức để đời về sau.” Cây Đức ở đây tức là cây sống (tree of life). Khi người Việt nói: “Trời cao biển thẳm” thì tiếng “thẳm” bao hàm một ý nghĩa sâu xa, không thể đo lường. Những hình dung từ (tính từ): dày, sâu, cao, thẳm… dùng để ca ngợi đức độ, tình yêu thương của Trời. Câu tục ngữ “Trời che Đất chở” cho ta một ý niệm về lòng bao dung, đùm bọc khiến ta liên tưởng đến một mái nhà ấm cúng, mà nóc nhà tượng trưng cho đỉnh cao chót vót. Điều này khiến ta liên tưởng đến Thái Cực của quẻ Kiền trong Kinh Dịch. Tục ngữ có câu: “Con có cha, như nhà có nóc.” Tiếng “con” chỉ loài người và vạn vật; tiếng “cha” chỉ sự che chở, đùm bọc. Tiếng Trời mà người Việt dùng ở đây bao gồm cả vũ trụ, trong đó có Trời Đất. Một ngôi nhà với cái nóc cao cũng phải nhờ vào nền móng mới đứng vững. Đời sống cũng vậy, không thể không nương tựa vào Đất, khác nào bầy con phải nương tựa vào Mẹ. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Con nên nhờ phúc Mẹ.” Cái ý niệm Trời cha, Đất mẹ đó của người Việt chính là lấy đức Sinh làm nền tảng bởi vì đức lớn của Trời Đất hay vũ trụ là sự sinh hóa. Trời là nguồn gốc của sự sinh hóa nên nhận thức về Trời là nhận thức về sự sống. Mà yếu tố căn bản để cấu thành sự sống là tình yêu thương. Tình yêu là sự tổng hợp của hai nguyên lý Cha và Mẹ, hay Trời và Đất. Đây có thể gọi là một đại nguyên lý của vũ trụ mà người Việt đã quan niệm: “Có Cha, có Mẹ thì hơn, Không Cha, không Mẹ, như đờn đứt dây.” Cả một đại hòa điệu của cuộc sống sẽ trở thành im lìm, tan rã, chết chóc nếu cái nguyên lý này vì một sự rủi ro nào đó biến mất, tức là không còn tương ứng với nhau nữa. Như vậy, vũ trụ, nếu nhìn toàn bộ là một nguyên động lực biến đổi không ngừng mà người Việt gọi là “Trời che đất chở.” Sự che chở ấy biểu thị tính cách vững vàng, ổn cố mà nguồn gốc của nó là cái lý Thái Cực hay bản chất tuyệt đối. Nói cách khác, chính cái vô sinh đã tác thành sự sống hay cái hữu sinh. Và nếu một vật hữu sinh thiếu yếu tố bên ngoài tạo nên nó, tức là thiếu sự bồi bổ, thì nó sẽ bị phân hoại. Tục ngữ Việt có câu: “Cha sinh, Mẹ dưỡng” Dưỡng là điều kiện bồi bổ cần thiết để tạo lập sự quân bình của đời sống vật chất và tinh thần. Chính điều kiện này đã tài bồi vật hữu sinh, làm cho nó liên tục hiện hữu. Ở vạn vật, ý niệm “hữu sinh, hữu dưỡng” của người Việt nhằm mục đích tạo lập thế quân bình. Tình yêu chính là cái gạch nối giúp cho người Việt cảm thông được cái đại thể của vũ trụ, van vật. Trong đoạn trên chúng ta đã biết tình yêu của Trời là Đức sinh hóa mà đặc tính chung là sự tài bồi. Khi nhận thức được vũ trụ có năng lực sáng tạo (sinh hóa) và tình yêu (sự che chở) người Việt đã khám phá được chiếc cầu nối giữa tha nhân và chủ thể, giữa vũ trụ và vạn vật. Nói khác, họ không còn đứng về phía mình để nhìn vũ trụ một cách khách quan, mà họ đã xâm chiếm mạch máu, đường gân của vũ trụ. Họ biến Trời thành cái Tôi-Chủ-Thể, nghĩa là Trời đã sống trong tôi, đã hiện diện như tôi hiện diện. Và còn đang tiếp tục. Đây là Siêu-Việt-Tính thường tại, không cần vấn nại, dọ hỏi lý do. Ở đây chúng ta không thấy có sự hoài nghi hay phân biệt. Chỉ có thái độ đoan chắc, tin tưởng giữa chủ thể và khách thể, giữa vũ-trụ-hiện-hữu và cái-tôi-hiện-hữu. Vậy, siêu hình học về vũ trụ là một thứ siêu hình hướng nội, vừa có tính cách duy tâm, nhưng không phải duy tâm, mà đứng ngoài duy tâm, vừa có tính cách một luân lý nhưng không phải luân lý, mà đứng ngoài luân lý. 2. Trời, nguồn sáng: Trong ngôn ngữ của người Việt, “Trời” được đối với “Đất”. Nếu chúng ta gọi Trời là nguồn sáng thì phải nghĩ Đất là bóng tối. Cũng như khi nói tới “động” thì phải nghĩ tới “tĩnh”, nói “dương” thì nghĩ tới “âm”, nói “cao” thì nghĩ tới “thấp”… Đó là luật đối xứng trong vũ trụ mà người Việt đã nhận thức một cách khái quát dựa trên giác quan và óc suy luận. Nếu phân loại, “Trời” được đi kèm với những tiếng sau đây: Trời-Sáng-Ngày-Động-Dương-Tinh Thần-Mạnh-Cứng-Cao… Như vậy khi nói tới Trời, người Việt nghĩ tới cái gì cao cả, mạnh mẽ, cứng cỏi, sáng láng. Ở đây đúng như ông Trần Trọng Kim đã nhận xét: “Văn đời cổ thường ít có những trừu tượng danh từ cho nên hay dùng những cụ thể danh từ để nói những điều cao siêu.”[11] Khi người Việt nói “cao xanh” thì ta không nên hiểu là bầu trời hay các tầng khí quyển, mà phải hiểu cái nghĩa tiềm ẩn. “Cao xanh” là cái lẽ cao siêu nhiệm màu của vũ trụ mà con người khó dùng giác quan để thăm dò. Tri thức hữu hạn của con người khó lĩnh hội, khó nhận biết một vũ trụ lớn lao vô hạn. Cõi giới đó con người không nghe được, không tiếp cận được sự lớn lao của nó. Mặc dù nhận thức của họ tỏ ra bất lực trước sự sâu thẳm, bao la của vũ trụ, nhưng từ trong cõi lòng thầm kín con người vẫn hướng vọng về một thế thăng bằng giữa cái cực tiểu và cái cực đại, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa tinh thần và thân xác. Chính vì cảm nhận được phần tối tăm ngu dốt, bé nhỏ, yếu hèn của mình con người luôn tìm cách vươn lên, tìm cách lấp hố sâu ngăn cách giữa mình với vũ trụ. Nói cách khác, họ muốn thoát khỏi bóng tối để đến ánh sáng. Sự sáng láng của Trời được người Việt học hỏi và ca ngợi. Tục ngữ có câu: “Trời cao có mắt.” hoặc: “Đèn trời soi xét.” Lòng tin tưởng vào sự sáng láng của Trời được biểu lộ qua bài ca dao sau đây: “Người ta đi cấy lấy công, Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề: Trông trời, trông đất, trông mây, Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm. Trông: cho chân cứng đá mềm, Trời êm biển lặng mới yên tấm lòng.” Những tiếng “trông” trong bài này được lặp đi lặp lại chín lần. Tiếng “trông” ở câu 2 bao gồm ý nghĩa của 8 tiếng “trông” ở những câu dưới. Trông nhiều bề: 1/ Trời, 2/ Đất, 3/ Mây, 4/ Mưa, 5/ Nắng, 6/ Ngày, 7/ Đêm, 8/ Chân cứng đá mềm, trời êm, biển lặng. Những tiếng “trông” trong bài ca dao ở trên đã không còn quỵ lụy như tiếng “lạy” trong bài “Lạy trời mưa xuống…” (mà chúng ta đã bàn ở Mục I). Tiếng “trông” ngoài nghĩa “tin cậy”, còn có nghĩa “quan sát”, nếu hiểu theo tinh thần thực nghiệm. “Trông” có nghĩa nhìn thấy bằng trực giác siêu hình, mà đối tượng là cái nhiều bề, cái bao quát cả thời gian và không gian, cả chiều kích thứ tư như quan niệm của Einstein. Cái chiều kích sâu thẳm đó tuy chúng ta chưa thể nào dò biết được nhưng nó đã biểu lộ chân tướng bên ngoài. Tục ngữ Việt có câu: “Coi mặt mà bắt hình dong.” “Hình dong” là toàn vẹn thân tâm của con người hay là cái đại thể của vũ trụ. Chúng ta nhận biết được sự sáng láng của vũ trụ nhờ sự soi sáng của mặt trời, mặt trăng. Cũng như chúng ta nhận biết được một con người là do thấy rõ tâm hồn của họ hiện ra ngoài mặt. Nói cách khác, là dựa vào cái rõ ràng, cái đã biết để phán đoán, hiểu biết phần tiềm ẩn. Suy ra nếu muốn hiểu thiên ý (bản ý của trời) thì trưóc tiên phải quan sát thiên tượng (mặt trời, mặt trăng…). Bản chất của thiên tượng là sự sáng, do đó chúng ta có thể tin tưởng hoàn toàn vào ý hướng sáng suốt của trời. Điều này phần lớn các tôn giáo và triết học của nhân loại đều đề cập đến. 3. Trời, nguồn lực: Chúng ta thường nghe người Việt nói: “Trời làm,” “Trời lấy,” “Trời ở” như trong những câu ca dao sau đây: “Trời làm một trận lăng nhăng, Ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông!” hoặc: “ Của Trời, Trời lại lấy đi, Giương đôi mắt ếch làm chi được Trời?” hoặc: “Trời sao Trời ở không cân, Kẻ ăn không hết, người mần không ra?” Những động từ “làm, lấy, ở” làm chúng ta nghĩ đến một nguồn lực bất diệt nào đó ở vũ trụ siêu hình. Nếu trước đây, chúng ta thấy người Việt xem mặt trời, mặt trăng là biểu hiện một trí tuệ sáng láng của Trời, soi chiếu cho cuộc đời của họ. Nhưng chỉ nhìn như vậy, chưa đủ giải thích lý do hay nguồn gốc đã biến mặt trời thành năng lượng ánh sáng. Nói cách khác, Trời làm cách nào để thấu hiểu tâm hồn con người? Nghĩa là, Trời có phải là một chủ lực, một sức mạnh để điều khiển và chế ngự vạn vật không? Cái gì đã khiến: “Nước trong giòng khi trong khi đục,” và “Sông kia khi lở khi bồi.” Nếu câu “Trời cao có mắt” tượng trưng cho trí tuệ, sự minh triết của Trời thì ở đây Trời không nói mà làm. Câu tục ngữ “Trời sinh, Trời dưỡng” cho ta ý niệm về sự tác thành và nuôi nấng. Nhưng sự sinh dưỡng ấy không chỉ ở thể xác bề ngoài mà còn ở tâm tính bên trong nữa. Nói cách khác, nó bao gồm cả nội dung và hình thức mà người xưa gọi là Thiên Chí hay Nguồn Lực của Trời. Mặc Tử, một triết gia Trung Hoa thời Chiến Quốc đã nhận ra Thiên Chí như một kết tinh của tư tưởng, học thuật Nho Giáo thời thượng cổ. “Thật vậy, Thiên Chí là do Thiên Mệnh hay Thiên Đế mà có. Mệnh cũng có nghĩa là thứ nghiêm pháp được ban ra từ tay kẻ có quyền lực. Chẳng hạn người ta nói Vương Mệnh, Quân Mệnh, Định Mệnh. Vậy chữ Mệnh đồng nghĩa với chữ Chí, tức là cái năng lực quyết định và thực thi một việc gì can dự đến sự sống chết của ai.”[12] Vậy Thiên Chí là cái lương tri lương năng của vũ trụ, tức là nguyên lý điều khiển hoạt động của vạn vật. Người Việt đã quan niệm việc Trời Đất lưu hành bằng hai tiếng “úp, mở.” Úp mở ám chỉ một cái gì khó có thể bộc lộ tường tận, một tác động thu hút (úp) và trương nở (mở). Một cái gì vừa thấy đấy rồi bỗng biến mất như sự nhấp nháy của các vì sao trên dải Thiên Hà mà người Việt gọi là “Cửa Trời.” Ca dao Việt có câu: “Xưa kia nói nói thề thề, Bây giờ bẻ khóa trao chìa cho ai?” Chìa và khóa ở đây là cái then máy để đi đến chỗ ngẫu cơ (chẵn lẻ) hòa hợp, âm dương giao hội của Trời Đất cũng như con người. Ý niệm về thời gian biến đổi là một sức mạnh đã chi phối không những ngoại vật mà còn ngay cả đời sống con người: “Làm người phải nghĩ thân sau, Đất luôn cũng lở, huống cầu bắc ngang.” “Đất luôn”: là đất liền, tức là cái gì bền bỉ, vững chắc. Nhưng cái liền cũng có khi đứt. Vật lý học đã phân tích trong một mảnh hạt nguyên tử có nhiều mảnh hạt khác. Sự liền và đứt, sự cố định và bất định, sự úp mở…tương đối tương liên để tạo nên sự biến dịch. Vậy Trời là bậc đã nắm cái chìa khóa đóng mở này. Bằng con mắt quan sát thực nghiệm, người Việt đã trực nhận một điều vượt ngoài suy tưởng. Họ muốn từ bỏ nhận thức thần linh để đi tới việc phân giải những hiện tượng thiên nhiên bằng cái nhìn toàn diện. Họ cố gắng tìm một nguyên động lực duy nhất chế ngự và điều hành sự vật. Quan niệm về quyền lực siêu nhiên hay Thiên Chí nằm rải rác trong những câu tục ngữ mà chúng ta đã lược xét ở trên. Chúng tôi nhận thấy người Việt không dựa trên những lý số phức tạp để phỏng đoán lẽ tiến thoái đóng mở của Trời Đất mà họ xử dụng trực giác tâm linh để nhìn về nguyên lý tuyệt đối mang tính cố định thường hằng mà họ xem là nguyên lý mẫu mực. Nguyên lý này vừa là hữu thể (être) vừa là vô thể (non-être). Nguyên lý đó được xem như khởi nguyên của năng lực tinh thần. Vì vậy khi chúng ta nghe người Việt nói: “Mẹ tròn, con vuông” làm chúng ta nghĩ tới tấm lòng bao la của vũ trụ và sự biến thành sinh hóa muôn thuở của thời gian. Mẹ và con ở đây có thể sánh ngang với Trời và Đất. Ở đây, nhận thức vũ trụ của người Việt nhắm vào chiều hướng động lực siêu hình hay Thiên Chí làm chúng ta liên tưởng tới ý niệm Hữu Thể (l’être) của Heidegger gắn liền trong một thời gian và không gian duy nhất. Mục III: Vũ Trụ Qua Nhận Thức Thực Nghiệm: Nhận thức thực nghiệm về vũ trụ khác với nhận thức thần linh và nhận thức siêu hình ở phương pháp, đối tượng và mục đích. Thực vậy, quan niệm về thần thánh đến đây đã nhường bước cho quan niệm về con người. Một con người dứng giữa hai đối cực vô tận về sự nhỏ bé (microcosm) và sự lớn lao (macrocosm), về thần linh và thú vật. Con người thay vì chỉ sống bằng đam mê, cảm xúc, tưởng tượng, bằng tin tưởng theo tập quán, còn biết hoài nghi những gì được xem là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Con người biết dùng trí quan sát để thăm dò thực tại cụ thể, dùng tri giác để lãnh hội, dùng ý chí và nghị lực để thực thi những điều mình hiểu biết, để kiểm nghiệm đúng, sai. Lịch sử, xã hội, và con người Việt đã nhiều lần chứng tỏ khả năng nhận thức về thực tế của họ trên mọi lãnh vực xã hội, tôn giáo, chính trị, quân sự với những tác phẩm văn chương nghệ thuật có giá trị cao. Về mặt khoa học vũ trụ mặc dù người Việt chưa có những nhà bác học cỡ lớn, chưa có những máy móc tinh xảo để khảo sát các hiện tượng hữu hình. Nhưng người Việt cũng không cố chấp về một giả thuyết được coi là chân lý ngàn đời về vũ trụ. Trước đây nhiều lần chúng tôi đã đề cập đến tiếng “Trời” trong ngôn ngữ Việt và chúng tôi đã trình bày quan niệm của họ về “Trời” như thế nào. Bây giờ một lần nữa chúng ta tìm hiểu quan niệm về Trời qua nhận thức thực nghiệm. Trước đây, trong nhận thức thần linh, chúng ta thấy họ tin tưởng và kính sợ TRỜI (viết hoa) xem như một vị thần tối linh, nắm trong tay mọi quyền sinh tử họa phúc. Qua nhận thức siêu hình, chúng ta thấy Ông Trời mà trước đây họ cầu xin, lạy lục trở thành một nguyên lý phổ biến bao trùm vũ trụ và nhân sinh, ở ngoài mọi lý do của vũ trụ hữu hình. Trời ở đây tượng trưng cho người nắm cán cân luật pháp, có uy quyền như một vị quan tòa hay một ông vua, ông cha. Bây giờ đến nhận thức thực nghiệm, ông Trời tối cao của họ đã mất bản chất thiêng liêng hoặc duy lý trừu tượng mà trở thành một hiện tượng có thể quan sát được. Ông trời (viết thường) đồng nghĩa với thiên nhiên, với tạo vật, với vũ trụ hữu hình, là đối tượng của tinh thần tìm hiểu, chế ngự, khắc phục. Một ông trời có tính cách tương đối, hoặc vô tính, bị con người nhìn bằng đôi mắt tò mò, phê phán. Chúng ta hãy nghe người Việt đặt vấn đề: “Trời sao trời ở không cân, Kẻ ăn không hết, người mần không ra.” Qua câu ca dao trên chúng ta nhận thấy ý thức của người Việt đã chuyển hướng. Thay vì chấp nhận những quan niệm cũ về trời một cách mù quáng, họ trở nên hoài nghi. Người Việt không còn xem trời là đấng đã sáng tạo ra vũ trụ nữa. Những tiếng họ nói thông thường như: trời mưa, trời nắng, trời tốt, trời xấu, trời lạnh, trời nóng… đã trở thành những tiếng thông thường để diễn tả những hiện tượng biến đổi của vũ trụ. Đó là quan niệm về một thiên nhiên nhiều mặt, bất thường, tương đối và phức tạp: “Đố ai biết : lúa mấy cây? biết : sông mấy khúc? biết : mây mấy từng? Đố ai quét : sạch lá rừng, Để ta van gió : gió đừng rung cây.” Chúng ta biết rằng muốn có tinh thần thực nghiệm phải có sự tò mò, ngạc nhiên về những gì mình chưa biết. Sự tò mò kích thích tính hiếu kỳ của nhà khoa học khi ông đối diện sự ngu dốt mênh mông của con người. Trước những bí mật của vũ trụ tự nhiên người Việt đã sử dụng những câu đối, câu vè, câu hỏi nhằm mục đích đưa con người tới gần chân lý. Dựa vào những vật quen thuộc mà giác quan có thể nhìn thấy được: cây lúa, con sông, đám mây, ngọn lá, trận gió, là những đối tượng có trong không gian và thời gian mà ai cũng có thể nhận biết, người Việt đã khéo dẫn dụ chúng ta bước vào một thực tại vượt ngoài tầm nhận thức để đi tới một thực tại siêu nhiên mà chúng tôi tạm gọi là thực tại siêu nghiệm. Nói cách khác, đó là thực tại tự nhiên nhưng vượt ngoài nhận thức thực nghiệm của con người. Phân tích bài ca dao trên, chúng ta thấy người Việt thách thức: “Đố ai biết?” bằng ba lần đặt câu hỏi khi nêu lên những thí dụ thông thường trước mắt, để nói lên ý nghĩa của giới hạn (mây mấy từng), của phức số (lúa mấy cây), và của thời gian (sông mấy khúc). Đó là những vấn đề lớn của tri thức nhân loại: không gian, thời gian, định lượng… ở tầm độ tuyệt đối của sự quan sát. Còn trên hành vi thì sao? Biết và làm tất nhiên phải đi đôi. Điều mà ta có thể biết được thì cũng có thể thực thi được, dù sớm hay muộn, dù ngay bây giờ hay mai sau. Nhưng làm gì có mai sau, khi mà ở tầm độ tuyệt đối ta không còn thấy có thời gian? Vậy nên, một lần nữa người Việt lại thách: “Đố ai quét sạch lá rừng?” Hành động biện minh cho lý thuyết. Nếu ở câu trên lý thuyết được xác nhận thì chắc hẳn chúng ta phải nhờ một cuộc thí nghiệm chắc chắn sẽ tạo lập ở câu dưới. Nói cách khác, nếu có người trả lời biết, ắt họ sẽ làm được. Tuy nhiên như ta đã thấy, về mặt luận lý, câu đố đã đưa chúng ta vào chỗ bí, thì về mặt hành động nó lại càng làm ta bối rối hơn. Người ra câu đố biết mình không thể làm được việc “van gió đừng rung cây” thì làm sao trong thiên hạ có người “quét sạch lá rừng”? Câu đố trên sau khi nêu rõ tính cách giới hạn của hành vi và tri thức con người, nó đã dẫn ta đến một kết luận rằng: vũ trụ và nhân sinh có cùng năng lực tự tạo. Nghĩa là không do bàn tay của một vị thần chủ, một ông trời hoặc đấng tạo hóa nào sắp đặt cả. Chúng tôi dùng chữ “tự nhiên thành tựu” để chỉ sự tự sinh tự diệt của vũ trụ. Như vậy, một vật chất trong vũ trụ biến mất không phải là chết đi, là tiêu diệt mà thật sự để cấu thành một mảnh hạt mới, một vật chất khác. Thời gian ở giữa sự biến đổi hay tiêu diệt của một vật chất này và sự tái sinh một vật chất khác nhanh chóng đến nỗi ta không thể nào quan sát được khoảng cách trước sau. Vậy chữ “tự nhiên thành tựu” mà chúng tôi dùng để biểu thị nguồn gốc vũ trụ vượt ngoài không gian, thời gian và nhận thức hữu hạn của con người. Chúng ta hãy tìm hiểu câu ca dao sau đây: “Núi kia ai đắp mà cao, Sông kia ai bới, ai đào, mà sâu?” Thật là một câu hỏi mà thoạt nghe chúng ta thấy quá trẻ con, ngây thơ. Nhưng xin chớ vội mỉm cười. Bởi vì sự giải thích về cấu tạo địa cầu qua các thời kỳ địa chất vẫn không làm chúng ta thỏa mãn. Ngày nay, chúng ta đòi hỏi muốn biết những mảnh hạt và những đám mây khinh khí lỏng tạo thành mặt trời và những vì tinh tú kia từ đâu mà có, và chúng được cấu tạo bằng cách nào? Chúng ta biết chúng là vật chất, nhưng không thấu triệt nguồn gốc của vật chất, cùng cách thức vật chất cấu thành. Nếu không có bàn tay của vị thần chủ hay ông trời nào đó tạo dựng thì tiếng “ai” được nhắc đi nhắc lại ba lần trong câu ca dao trên đây không gì khác hơn là “tự nhiên thành tựu.” Và, nếu khoa học sau này tiến bộ, trả lời được cho con người câu hỏi đó, chính là vì tự bản chất câu hỏi không nêu lên một xác định nào về chân lý tuyệt đối cả. Như vậy, đứng trên quan điểm vũ trụ luận, người Việt khi tìm hiểu nguồn gốc vũ trụ, chỉ đặt vấn đề hơn là giải quyết một cách hàm hồ, võ đoán. Trước kia, người ta tưởng căn bản của vật chất chỉ gồm ba mảnh hạt là dương-điện-tử (proton), âm-điện-tử (electron), và trung-hòa-tử (neutron) tạo thành hạt-nhân-nguyên-tử (nucleus). Nhưng người ta cũng chưa biết được nguyên nhân và bản tính vật chất. Các nhà khoa học đã hoài nghi ba mảnh hạt trên chưa phải là duy nhất. Năm 1932, nhà vật lý Hoa Kỳ David Anderson đã khám phá trong âm-điện-tử (electron) có phi-âm-điện-tử (antielectron) mà điện tích không giống với điện tích âm. Điều này đã chứng minh cho lý thuyết của nhà vật lý Anh quốc Paul Dirac công bố trước đó. Năm 1955, hạt phi-dương-điện-tử (antiproton) được chế tạo ở Đại Học Berkeley, Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đứng trên quan điểm nhận thức, những vật-chất (matter) và phi-vật-chất (antimatter) cho ta biết một quan niệm về tổng hợp vật chất là do hai nghịch chất mà thành. Và một sự tương xứng được cấu thành bởi sự bất tương xứng. Nói cách khác, nếu đứng ở quan niệm nghịch để nhìn sang quan niệm thuận thì thuận niệm kia sẽ biến thành nghịch niệm này. Tức là, cái phải của người có thể là cái trái của ta, và cái phải của ta có thể là cái trái của người. Như vậy vạn vật trong vũ trụ đều có tính cách tương đối. Tuy nhiên, người Việt đã muốn vượt lên khỏi hai chiều đối nghịch mâu thuẫn đó. Họ muốn đi tìm một chân lý hòa điệu, vượt qua hai trạng thái thuận nghịch. Họ nhắm vào hiệu quả của vật chất, tức là cái năng lượng, hơn là tìm hiểu trạng huống đối nghịch. Đó là quan niệm về một vũ trụ toàn diện mà chúng tôi gọi là vũ trụ tự nhiên hay siêu nghiệm. Từ quan niệm toàn diện đó, người Việt không còn đứng ở lãnh vực siêu hình để nhìn về vũ trụ mà xử dụng giác quan thông thường để quan sát sự vật. Do đó, những hiện tượng vũ trụ dưới tầm mắt thông thường có một tương quan chặt chẽ với nhau, giữa hai chiều hướng tưởng như đối nghịch, bất tương ứng: “Trăng bao nhiêu tuổi trăng già, Lúa bao nhiêu tuổi gọi là lúa non?” Một lần nữa, chúng ta lại thấy vấn đề thời gian (non, già) được đem ra chất vấn. Thời gian sở dĩ có là vì có chuyển động. Nếu đứng ở địa cầu, thì một năm có khoảng 365 ngày. Nhưng nếu so với Thủy Vương Tinh (Pluto), hành tinh cách xa mặt trời khoảng 5,875 triệu km, thì một năm ở đó bằng 284 năm ở địa cầu. Điều này nói lên tính chất không đồng nhất của thời gian và không gian, tức là thời gian chỉ là một khái niệm tương đối. Như vậy,chúng ta nhận thấy người Việt không quả quyết có Một Nguyên Nhân Duy Nhất cấu thành vật chất. Họ cũng không khẳng định có một thời gian đồng nhất và hiện tượng bất biến của vũ trụ. Qua những câu đố vừa trưng dẫn, chúng ta nhận thấy họ quan niệm vũ trụ là phức tạp, biến đổi, tương đối. Nói một cách khác, chúng ta có định luật: “Sự đơn giản cùng cực của vật chất là do sự phức tạp cùng cực của nó sinh ra”, hay ngược lại: “Sự phức tạp cùng cực sinh ra bởi cái đơn giản cùng cực”. Đó là cái nhìn động và tĩnh về vũ trụ: cái đơn giản là cái tĩnh, cái phức tạp là cái động. Hay nói một cách luận lý: cái đơn giản là cái phân tích được, và cái phức tạp là cái tổng hợp. Vậy, lý do sinh thành vũ trụ hiện tượng không chỉ là luật nhân quả tất định, mà còn ngẫu nhiên, còn bất định, còn điều kiện, còn nhu cầu hỗ tương,… Vì thế, đứng trước cái phức tạp và sự biến đổi liên hồi của vũ trụ vật chất, người Việt không phân định thời gian trước sau, hoặc khoảng cách không gian xa gần. Họ chỉ đặt câu hỏi mở đường cho tinh thần khám phá và phát minh. Một tầm độ nhận thức bao gồm cả động và tĩnh, cả đơn giản và phức tạp, cả siêu nhiên và thực nghiệm. Ở đây, chúng ta không đánh giá vào thành quả hay giá trị của lý thuyết mà người Việt muốn nêu lên. Chỉ cần nhìn vào những câu hỏi mà họ đặt ra tới tấp trong các câu đố, bài vè… chúng ta cũng thấy được tinh thần khách quan và cẩn trọng của người Việt khi họ đứng trước những hiện tượng hữu hình và vô hình, giữa cái hữu hạn và cái vô hạn. Nếu ánh sáng là năng lượng của mặt trời thì chúng ta có thể nói tư tưởng hay nhận thức là năng lượng của con người và nhịp độ co giãn của mặt trời cũng giống như ý thức phản tỉnh, tự giác của con người. Ý thức đó giúp cho con người vươn lên khỏi mọi ràng buộc, mọi hệ thống, mọi ý thức hệ để hòa nhập vào trong sự Im Lặng không-thời-gian, không-không-gian, vô thủy vô chung. Nói cách khác, họ muốn rút gọn tất cả mọi câu hỏi thành một tiếng, và chỉ một tiếng thôi: “AI?” Rồi im lặng hoàn toàn. Đó chính là phương pháp người Việt áp dụng để tìm hiểu vũ trụ, để cuối cùng thoát ra khỏi giới hạn của vũ trụ. G.S. Ôn Năng Khang Davis, August 20, 2005. Tiểu sử Giáo sư Ôn Năng Khang. Sinh năm 1946 tại Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên, Việt Nam. Tốt nghiệp cao học Triết Học Đông Phương tại Trường Đại Học Văn Khoa, Sàigòn năm 1972 với đề tài “Diễn Trình Nhận Thức Của Người Việt Nam Qua Văn Ngôn Truyền Khẩu.” Giảng dạy Tư Tưởng Việt Nam tại Đại Học Vạn Hạnh, Sàigòn từ 1973-1975. Từ 1995 giảng dạy tại Đại Học dân lập Văn Lang và hiện đang tiếp tục nghiên cứu văn ngôn truyền khẩu Việt Nam [1] Nguyễn Văn Ngọc, TRUYỆN CỔ NƯỚC NAM, Tập 2, Saigon, Thăng Long, 1958 page 13-18. [2] Đào Duy Anh, VIỆT NAM VĂN HÓA SỬ CƯƠNG, Saigon, Bốn Phương, 1951 page 222. [3] Đào Duy Anh, s.đ.d., page 222. [4] Phan Kế Bính, VIỆT NAM PHONG TỤC, Sài Gòn, Phong trào Văn hóa 1970, page 320. [5] Will Durant, THE STORY OF CIVILIZATION, Part I, New York Simon and Schuster 1958, page 402. [6] Doãn Quốc Sỹ, THẦN THOẠI VIỆT NAM – TRUNG HOA, Sài Gòn Sáng Tạo, 1971, page 33. [7] Will Durant, s.đ.d., page 403. [8] Nguyễn Du, ĐOẠN TRƯÒNG TÂN THANH, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo, Sài Gòn Tân Việt, in lần thứ 8, page 123, câu 1331-1332. [9] Trần Trọng Kim, NHO GIÁO, quyển Thượng, Sài Gòn Tân Việt, in lần thứ 3, page 79. [10] ĐẠO ĐỨC KINH, bản dịch của Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Sài Gòn Khai Trí 1961, page 117. [11] Trần Trọng Kim, s.đ.d., page 68. [12] Nguyễn Đăng Thục, LỊCH SỬ TRIẾT HỌC ĐÔNG PHƯƠNG, Tập I, Saigon Duy Nhất, in lần thứ 2, 1961, page 264.[/size] Nguồn: anviettoancau.net
-
Sự tích cây Kim Giao Truyện cổ tích - Văn học dân gian Ngày xửa ngày xưa, có một đôi trai gái yêu nhau tha thiết lắm. Người con trai tên là Kim, người con gái tên là Giao. Cả hai đều là con của nhưng gia đình nghèo túng, quanh năm làm thuê, làm mướn, nhưng ai nấy cũng lương thiện và rất tốt bụng. Hai bên bố mẹ rất ưng thuận làm thông gia với nhau. Kim và Giao thề nguyện với nhau sẽ kết bạn trăm năm. Nếu không lấy được nhau thì sẽ ở vậy suốt đời. Mối tình của họ trong như nước suối, sáng tợ như trăng rằm. Ngờ đâu sóng gió nổi lên, giặc phương Bắc kéo sang xâm lấn quê nhà. Quan lại địa phương hèn nhát đánh không lại, giơ tay đầu hàng và cấu kết với chúng bóc lột, vơ vét của dân lành. Kim theo trai tráng trong làng gia nhập nghiã quân, chống lại bọn cường hào và kẻ thù xâm lược. Không may, anh bị giặc bắt được, chúng hành hạ anh thậm tệ và đầy lên một vùng rừng núi hoang vu hẻo lánh. Người ngày nay đặt tên cho vùng này là rừng Cúc Phương, thuộc huyện Hoàng Long. Bị hành hạ khổ sở và nhớ thương gia đình, nhớ thương người yêu quá đỗi, Kim lâm trọng bệnh, không bao lâu thì chàng qua đời. Bạn tù và người dân điạ phương cảm mến, thương chàng đã sống chí tình chí nghĩa, họ đem xác chàng chôn cất cẩn thận giữa rừng, bên cạnh một giòng suối. Người con gái tên Giao từ khi xa người yêu cũng ngày đêm thương nhớ khôn nguôi. Rất nhiều trai làng và cả bọn quan lại, địa chủ giàu có trong làng mê mẩn sắc đẹp của nàng đến gạ hỏi nhưng nàng chẳng chịu một ai, nhất định từ chối tất cả. Nàng xin phép cha mẹ cho mình lên đường đi tìm người yêu. Cha mẹ thương con gái chân yếu tay mềm không muốn cho đi. Nhưng dù cha mẹ khuyên lơn, cản trở, nàng vẫn nhất định ra đi. Ðường xá xa xôi, núi rừng hiểm trở, nàng cứ vừa đi vừa hỏi đường, đóng giả người ăn mày để qua mắt bọn trộm cướp và quan lại. Hết ngày này đến tháng nọ, cuối cùng nàng cũng tìm đến được chỗ mà Kim đã từng bị giam cầm. Nhưng than ôi, khi nàng đến nơi thì người trong làng báo rằng Kim đã chết. Tê dại cả người, nàng lê gót trở lại trong rừng tìm mộ người yêu theo lời chỉ dẫn của họ. Tìm được mộ chàng, nàng ôm lấy vật vã khóc than, nước mắt như mưa. Rồi nàng kiệt sức mà chết. Xúc động trước cảnh tình của hai người, dân trong làng lại đào huyệt chôn nàng sát cạnh mộ của chàng Kim. Hai nấm mộ nằm sóng đôi giữa khu rừng vắng. Một thời gian sau, ở giữa hai nấm mộ mọc lên một thứ cây có thân rất thẳng, dân địa phương chưa bao giờ thấy. Lá cây phía trên có màu xanh thẫm, bóng láng, phía dưới màu trắng bạc. Cây tỏa ra một mùi thơm ngan ngát như mùi trầm quí giá. Người ta đồn rằng cứ đêm về, từ cây ấy vọng ra một thứ tiếng trầm trầm như tiếng người hát, nghe ai oán và buồn vô cùng. Quan lại trong làng tức giận, cho là cây có ma, cho người đến đốn đi. Trong lúc đứng xem quân lính chặt, bọn chúng bị nhựa cây văng phải vào mặt, về nhà được ít lâu thì hai mắt bị mù. Còn cái cây lạ thì chồi lại bật lên, chẳng bao lâu lại xanh tốt như cũ. Dân làng từ ấy trở đi cho là cây thiêng, bảo nhau không ai được chặt đi. Có lời đồn khi có ai bị cảm cứ đến hái ít lá đem về xông thì sẽ khỏi bệnh. Ðiều kỳ lạ hơn nữa là nếu lấy gỗ cây này chuốt làm đũa, bỏ vào thức ăn có độc, quanh đầu đũa sẽ sủi bọt mầu đen báo cho ta biết. Từ đó, nó trở thành một thứ cây quý vô cùng. Người trong làng đã đặt tên cho loại cây này là cây Kim Giao
-
: Những Cây Cổ Thụ Nổi Tiếng Nhất Thế Giới :: Những cây cổ thụ lão niên đó là chứng tích của lịch sử loài người, và chúng đáng được quý trọng vì tuổi thọ. Liệu Unesco có cần phải đưa chúng vào danh sách di sản thế giới chăng? Nhà thực vật học Jean-Marie Pelt khẳng định rằng “những cây cổ thụ là các dấu tích độc đáo đã vượt qua thời gian, mang nặng truyền thuyết và lịch sử”. Thế nhưng những sức mạnh của thiên nhiên đó lại ít được người ta biết đến hơn là các đền đài. Đúng là một sự bất công cho dù chúng có thể chết, bởi vì khi còn sống, chúng cũng được bảo vệ. Cây sồi Marie-Antoinette ở lâu đài Versailles là biểu trưng. Nó đã được cứu sống nhờ một bà hoàng hậu thích nằm nghỉ dưới bóng mát của nó. Bị đốn vào tháng 2.2005 lúc được 324 năm tuổi, thân của nó sẽ được trưng bày gần vườn ươm Trianon. Cách Rouen 50 kilômét, tại Allouville-Bellefosse có một cây sồi khác vẫn còn đứng vững từ thời nhiễu loạn cuối thế kỷ 17. Vào năm 1696, vị linh mục giáo phận địa phương cho khoét một hốc trong thân cây để làm nhà nguyện và phòng ở của một tu sĩ ẩn dật. Nơi đó đã trở thành địa điểm hành hương nguyện cầu Đức Mẹ. Một thế kỷ sau, khi những cái đầu rơi rụng như sung, cây sồi nhà nguyện đó sống sót được nhờ thiên tài của thầy giáo Jean-Baptiste Bonheur. Ông cho đóng tấm biển đề “Đền thờ của Lý trí” lên thân cây. Khi những người cách mạng kéo đến định đốn “cái ổ thuyết giáo” đó, họ đành rút đi khi nhìn thấy tấm biển lý tưởng của cách mạng. Cây El Arbol ở thành phố Tule, Mexico (Ảnh: mexicomaxico) Kích thước những cây cổ thụ đó tương xứng với tuổi tác của chúng. Tại Mexico, trên khuôn viên của thành phố Tule có cây “El Arbol”, một cây tùng bách hơn 2.000 năm tuổi với chu vi gốc đến 58 mét. Trước khi người Tây Ban Nha đến xâm chiếm vào năm 1556, cây tùng bách đó sống giữa khu đầm lầy, nhưng giờ đã khô cạn. Vào năm 1994, nhà chức trách Mehico lo lắng khi thấy cây chết dần. Các khoa học gia nhận định rằng cây bị thiếu nước. Thế là người ta bắt đầu tưới cho cây thường xuyên và du khách không được đến quá gần cây. Tuy nhiên những cây cổ thụ bách niên lại rất yếu ớt, chúng là nạn nhân đầu tiên khi môi trường chung quanh bị hư hại. Tại Morondava trên đảo Madagascar có một con đường trồng những cây baobab khổng lồ tạo nên cảnh tượng kỳ vĩ. Những thân cây thẳng trơn vươn lên trời, tận cùng là một tán lá nhỏ. Người dân Mehico hay nói đùa rằng chúng bị quỷ dữ nhổ đi rồi trồng ngược rễ lên trên. Madagascar có 7 loài trong tổng số 8 loài baobab trên thế giới, nhưng loài baobab ở Morondava đang bị đe dọa bởi nạn cháy rừng và vì dân làng thường lấy vỏ cây lợp mái nhà. Vào tháng 3 vừa qua, hội “Những người bạn của Trái đất” đã đề ra một chiến dịch bảo vệ cây moabi - loài cây lớn nhất trong rừng già châu Phi - mà một số sống đến 2.500 năm. Thổ dân Pygmée xem chúng như là thần rừng và dùng chúng vì các đặc tính trị bệnh, còn người Bantou lấy hạt của chúng để trích dầu. Cây moabi bảo vệ và nuôi dưỡng các bộ tộc ở vùng châu thổ sông Congo. Đồng thời chúng cũng là nguồn lợi: 3/4 số cây moabi được xuất cảng sang Pháp để đóng tủ bàn. Do nạn phá rừng ồ ạt nên cây moabi có nguy cơ tuyệt chủng trong những thập niên tới. Có gần 80% rừng nguyên sinh đã bị con người tàn phá. Những cây thông Bristlecone trong sa mạc White Mountains ở California có tuổi thọ tương đương với các kim tự tháp ở Ai Cập. Chúng được phát hiện vào thập niên 50 trên độ cao 3.000 mét, và 17 cây trong số đó vượt quá 4.000 năm tuổi, và cây “Mathusalem” già nhất thế giới hiện nay đã được 4.771 năm. Vào năm 1964, một sinh viên địa lý học đi lùng tìm một cây già hơn. Do sơ suất nên anh ta làm gãy cái khoan trong một thân cây và cho nhân viên kiểm lâm đốn cây. Sau đó người ta đếm được thân cây đó có đến 4.950 vòng tuổi. Quả là một kỷ lục bị tàn lụi quá nhanh. Cây thông Bristlecone trong sa mạc White Mountains (Ảnh: scotthaefner) Ở Nhật, những cây long não rất thiêng liêng. Chúng mọc trong các đền thờ Thần đạo của những thành phố ven biển. Tại Atami cách thủ đô Tokyo 70 kilômét có cây long não lớn thứ nhì trong nước. Trong thập niên 70 nó đã chịu được một đợt sóng thần, gốc cây khổng lồ của nó chắn lại sự tấn công của bức tường nước cuồng nộ. Từ đó những kẻ tín ngưỡng đổ xô đến để cầu nguyện thần cây và đi quanh gốc cây. Theo truyền thuyết, mỗi vòng theo chiều kim đồng hồ sẽ phù hộ người ta thọ thêm 1 năm tuổi, hay sẽ giảm thọ 1 năm nếu đi ngược lại. Tại một tu viện ở thị trấn cổ Ayatuya cách Bangkok 80 kilômét về phía Bắc có một cây đa mà rễ của nó bao lấy một pho tượng đầu đức Phật. Nhưng ai đã đặt pho tượng vào đấy? Vào thế kỷ 18, quân Miến Điện xâm lăng đã tàn phá khu vực đó, cướp bóc các đền miếu và chặt đầu những bức tượng. Có lẽ một trong số đó đã tình cờ rơi vào gốc cây đa rồi được rễ cây ôm lấy. Một cây sồi được đặt tên là “cây sồi quạ” ở Erle (Đức) có hình dáng rất ghê gớm. Ngày trước đó là nơi đặt miếu thờ thần chim Wotan. Nó nổi tiếng vì vào thế kỷ 13, hoàng đế xứ Westphalie đã lập một tòa án bí mật dưới gốc cây để xử tội những kẻ chống đối. Đến thế kỷ 19, thân cây bị mục ruỗng hoàn toàn. Bên trong đó, bá tước Clèves mở tiệc đãi 20 quan khách. Gốc cây có đường kính 12 mét, và hiện nay cây phải sống dựa vào những giá đỡ. Một cây đa ở Sri Lanka là cây thiêng liêng nhất thế giới. Nó xuất xứ từ chính cây đa mà đức Phật đã ngồi tu vào thế kỷ thứ 6 trước CN. Trước khi cây này chết đi, một công chúa Sri Lanka đã cho chiết cành đem về trồng tại Anuradhapura. Mới đây, phe “Những con hổ Tamil” ở Ấn Độ định cho nổ mìn cây đa mà họ cho là biểu tượng của “sự áp bức của Phật giáo” đó. Cây đa ở Sri Lanka là cây thiêng liêng nhất thế giới (Ảnh: harappa) Tại Madagascar, các rễ cây từ một cây đa duy nhất đã mọc lên thành nhiều cây đa con. Cách đây 200 năm, một trận hạn hán đã đe dọa cả đất nước. Để làm dịu cơn giận dữ của thần linh, các thầy tu đã hiến tế một trinh nữ. Cây đa đã mọc lên từ thân xác của cô gái đó. Cách đây 200 năm, một trận hạn hán đã đe dọa cả đất nước. Để làm dịu cơn giận dữ của thần linh, các thầy tu đã tế lễ một trinh nữ. Cây đa mọc lên từ thân xác của cô gái đó. st Nguồn: triam.forumgogo.com
-
CÂY LANH – BIỂU TƯỢNG TRONG VĂN HÓA DÂN GIAN H’MÔNG TS. Trần Hữu Sơn Biểu tượng là một đơn vị cơ bản của văn hoá, văn hoá là một tập hợp hệ thống các biểu tượng. Do đó nghiên cứu văn hoá cần coi trọng nghiên cứu biểu tượng. Giải mã được các biểu tượng, tìm hiểu được các biểu tượng là tạo được chìa khóa mở cánh cửa bản sắc văn hoá các dân tộc. Văn hoá dân gian tộc người Hmông giàu bản sắc, xuất hiện nhiều hệ thống biểu tượng đặc thù như biểu tượng về hệ thống cây (có các biểu tượng cây tre, cây lanh, cây thuốc phiện, cỏ tranh, ngải cứu, cây ngô, cây kê, cây quả bầu...) biểu tượng về hệ thống loài vật (con gà, con trâu, con ngựa, con lợn, con hổ, con chó...) Hoặc biểu tượng về đồ vật như cây khèn, cái ô, tù và, cái giường... Các biểu tượng trên có tần số xuất hiện nhiều trong lễ nghi, tín ngưỡng phong tục tập quán và văn học dân gian. Trong chuyên đề nghiên cứu này, chúng tôi tập trung giải mã một số biểu tượng tiêu biểu như cây lanh, cây tre, con gà, con lợn. I. Biểu tượng cây lanh 1. Cây lanh (chaoz mangx) thuộc họ gai mèo, có tên gọi khác là cây “áma”. Đây là loại cây lấy sợi làm vải mặc của người Hmông. Biểu tượng tấm vải lanh đã được Bùi Xuân Tiệp giải mã, đồng thời cũng được Lê Trung Vũ phân tích. Nhưng các tác giả chủ yếu giải mã biểu tượng lanh trong lễ hội Gầu Tào và dân ca Hmông. Trong chuyên đề này chúng tôi tìm hiểu biểu tượng cây lanh phản ánh trong các loại hình văn hoá Hmông. Nhưng điều quan trọng hơn là nhằm phân tích các chức năng của biểu tượng cây lanh (và các sản phẩm của lanh) trong đời sống văn hoá Hmông. 2. Nhu cầu quan trọng để duy trì sự sống của con người là nhu cầu về Ăn và Mặc. Cây lanh nhằm đáp ứng nhu cầu mặc của người Hmông. Và từ cuộc sống đời thường, cây lanh trở thành cây thiêng trong tín ngưỡng Hmông. Sợi dây lanh trở thành vật dẫn đường nối thế giới đang sống (thực tại) với thế giới của tổ tiên, thần linh (siêu nhiên). Bất kỳ ngôi nhà của ông thầy cúng “Txir nênhz” (sa man) nào cũng đều phải được trang trí bằng sợi lanh vắt qua các cây tre. Nhà thầy cúng Hmông đơ (trắng) bắc 3 cây tre. Nhà thầy cúng Hmông Si ở xã Suối Giàng Văn Chấn Yên Bái bắc 4 cây tre nhỏ có cả lá, cả gốc. Ngọn tre có lá đặt bên trái bàn thờ, gốc quay về bên phải. Bốn cây tre được buộc ở 4 vị trí khác nhau: một cây bắc ngang phía trên bàn thờ thầy cúng (tha nếnh) một cây bắc ngang phía trên cửa chính, hai cây bắc trên nóc nhà (dưới xa lóc), các cây được nối với nhau bằng 3 sợi lanh. Các sợi lanh này là những dây dẫn đường cho các hồn ma phụ tá thầy cúng từ thế giới siêu nhiên về ngự ở bàn thờ. Đồng thời khi xuất hồn đi tìm hồn ma, hồn của thầy cúng cũng đi theo các sợi lanh sang thế giới bên kia. Sợi sây lanh cũng là sợi dây dẫn đường giao linh hồn của vật dâng cúng cho người chết. Trong lễ tang (ma tươi) người Hmông khi mổ lợn, mổ trâu dâng cúng người chết, gia đình tang chủ phải buộc sợi lanh vào cổ trâu, lợn, nối với cổ tay người chết. Như vậy, vật hiến tế qua cây cầu là sợi dây lanh sẽ sang thế giới bên kia, dâng cho người chết. Thầy sa man muốn nhìn thấy thế giới bên kia, xuất hồn đi vào thế giới siêu nhiên phải có tấm vải lanh đen phủ trên mặt. Tấm vải lanh cũng là phương tiện giúp thầy sa man sang thế giới của ma (thế giới siêu nhiên), chức năng dẫn đường nối hai thế giới thực tại và siêu nhiên được phản ánh trong nhiều nghi lễ cầu cúng chữa bệnh, giải hạn “sàu su, thi su” cầu mùa ... của người Hmông. 3. Lanh còn là vật bảo vệ người Hmông. Hàng năm, trước khi vào mùa phát nương, làm rẫy, người Hmông ở huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An tổ chức lễ cúng bảo vệ hồn những người trong gia đình. Toàn bộ thành viên gia đình phải ở trong nhà khi làm lễ cúng. Thầy cúng lấy sợi dây lanh bôi máu chó buộc xung quanh vách nhà với ý niệm hồn của mọi người được bảo vệ, không gặp tai nạn khi làm nương rẫy. Người Hmông ở xã San Sả Hồ Sa Pa tổ chức lễ giải hạn “Tù sú” lễ “Tù sú” tổ chức theo từng dòng họ. Trong nghi lễ của họ Sùng, người trưởng họ dùng một tấm vải lanh trắng nhúng nước thiêng cúng gà, cầu mong thần linh nhập vào tấm vải lanh và che chở cho các thành viên dòng họ. Kết thúc buổi lễ, trưởng họ dùng kéo cắt vải lanh làm nhiều mảnh phát cho từng hộ gia đình. Các gia đình chôn mảnh vải lanh ở trước cửa nhằm tạo ra bức tường vô hình ngăn chặn ma ác vào nhà. Riêng trưởng họ lại treo tấm vải lanh ở trước cửa chính trừ tà ma cho cả dòng họ. Lanh không chỉ bảo vệ người trong thế giới hiện tại mà còn là thứ vũ khí diệu kỳ giúp linh hồn người chết vượt muôn ngàn thử thách tìm về với thế giới của tổ tiên. Trong “bài ca chỉ đường” (Tang ca – Kruôz cê) linh hồn người chết nhờ có lanh họ mới lên đến thế giới tổ tiên. Trên đường đi, linh hồn sẽ qua núi sâu róm, nhưng nhờ có giống cây lanh, linh hồn đã vượt qua: “Người đi gặp tổ tiên Người sẽ gặp rất nhiều con sâu Sâu to như chày giã gạo Sâu bù xù lông như đầu dê Người Hán có vải lụa làm giày cho người đi Dẫm phải con sâu mà đi Người Hmông không có vải lụa Người Hmông lấy sợi lanh đan thành đôi giày Người dẫm lên đầu sâu Vượt núi sâu róm mà về với tổ tiên” Trên đường đi, linh hồn còn phải vượt qua núi đá rồng, đá hổ. Và cũng nhờ có túm sợi lanh, hồn người đã vượt qua: “Mình sẽ đến nơi đá con rồng, đá con rồng há mồm rộng như hang động Ma ông bà tổ tiên lấy xâu sợi lanh nhét luôn vào mồm đá con rồng Mình cũng nhét sợi lanh vào miệng rồng Khi thấy đá con rồng ngậm mồm rồi mình cười cùng ma ông bà đi. Mình sẽ đến nơi đá con hổ, đá con hổ há miệng rộng như hang đá Ma ông bà tổ tiên lấy xâu sợi lanh nhét luôn vào miệng đá con hổ Mình cũng lấy xâu sợi lanh nhét luôn vào miệng đá con hổ. Khi thấy đá con hổ đã ngậm miệng rồi mình mới cùng ma ông bà mình đi”. Như vậy lanh trở thành hành trang không thể thiếu của người Hmông khi sang thế giới bên kia. Hành trình về với tổ tiên, đầy gian nguy, nhiều thử thách, lắm kẻ thù rình rập, nhưng nhờ có LANH, người Hmông vẫn vượt qua. 4. Lanh là tín hiệu văn hoá tộc người. Người Hmông luôn tự hào về truyền thống sử dụng vải lanh. Trang phục lanh trở thành tiêu chí phân biệt người Hmông với các dân tộc khác. Người con dâu Hmông trước khi về nhà chồng được mẹ đẻ tặng bộ trang phục thêu bằng vải lanh. Và khi về nhà chồng, con dâu có nghĩa vụ tặng bố mẹ chồng trang phục vải lanh. Đây là bộ trang phục bố mẹ chồng sẽ mặc sang thế giới bên kia. Theo quan niệm người Hmông, người chết không mặc trang phục lanh, tổ tiên sẽ không nhận. Vì vậy, ngày nay, người Hmông khi còn sống có mặc vải công nghiệp bằng sợi bông, sợi tổng hợp nhưng khi khuất núi về với tổ tiên phải mặc trang phục lanh. “Tổ tiên có hỏi mình ở trên trần gian về được cái gì đem theo. Thì mình thưa: Con ở trần gian về, cái gì chẳng được Được một chiếc khăn lanh, một chiếc áo lanh Được một chiếc quần lanh, một thắt lưng lanh Một đôi giày lanh, một đôi xà cạp lanh”. Trong bài tang ca Hmông lềnh Sa Pa người Hmông thường nhấn mạnh: “Nữ người Hán biết kéo sợi, kéo ra sợi nhung sợi lụa Nữ người Hán biết dệt thành vải lụa, vải nhung. ... Nữ người Hmông chỉ kéo ra được sợi lanh, sợi đay Nữ người Hmông dệt thành vải lanh, vải đay”. Hoặc: “Nữ người Sã lấy chồng, nữ mặc áo nhung Nữ người Hmông lấy chồng, nữ mặc váy lanh” Trang phục lanh đối với người Hmông là trang phục đẹp nhất. Vải lanh của người Hmông sánh ngang với gấm vóc, lụa điều của người Hán: “Nàng lớn lên ra ngoài Mặc ba bộ áo lanh sánh cùng ba bộ lụa Hán”. 5. Biểu tượng cây lanh xuất hiện trong thơ ca dân gian với tần số cao nhất trong số các biểu tượng về cây lanh. Trong các bài thơ ca giao duyên, thơ ca than thân (tiếng hát làm dâu, tiếng hát mồ côi) do Doãn Thanh sưu tầm có hơn 30 khổ thơ đề cập đến lanh (cây, sợi, guồng). Người phụ nữ Hmông luôn gắn liền với nghề trồng lanh dệt vải, bó sợi lanh như là vật bất ly thân của người phụ nữ. Trên đường đi làm, trên đường đi gặp người yêu, hoặc nghe người yêu hát... người phụ nữ luôn xe lanh, nối sợi lanh. Vì vậy, biểu tượng nổi bật của lanh là biểu tượng về người phụ nữ Hmông: cây lanh là hình ảnh của người phụ nữ, cuộn lanh phản ánh tính cách người phụ nữ, hạt lanh là số phận người phụ nữ... Người phụ nữ lấy chồng tốt thì: ... “Em như cây lanh xanh Mọc ở nơi đất phẳng” - Hoặc lấy phải người chồng không xứng đôi: “Em lấy người chồng không xứng đôi Như hạt lanh nương tra vào bãi ruộng” Biểu tượng lanh xuất hiện trong thơ ca dân gian Hmông (nhất là thơ ca dao duyên) với nhiều ý nghĩa, cung bậc khác nhau của tình yêu, tình vợ chồng như sự thủy chung, niềm hạnh phúc, sự chia lìa, nỗi bất hạnh, giận hờn, trách móc, an ủi..v.v.. Niềm hạnh phúc của vợ chồng là cùng trồng lanh dệt vải, thêu hoa văn: - “Mình ơi! Ví dù ta lấy được mình Mình làm vụ lanh đôi ta mặc lành” - Nỗi thất vọng, than thân như “guồng xa xe chỉ lanh”: “Guồng xa xe chỉ lanh Xe được sợi chỉ xoắn Dù mình biết biến, ta biết hóa Thì cũng như mặt trời ghẹo mặt trăng trên đỉnh non cao” - Niềm khao khát được hạnh phúc, chống trả sự chia lìa: “Giá thân em là sợi lanh, sợi tơ Anh cuốn vào người để sợi cùng anh ở Giá mình em là sợi lanh, sợi chỉ Anh cuốn vào người để sợi cùng anh đi” Thậm chí khi tình yêu bị ngáng trở, nam nữ Hmông sẽ vùng lên như cây lanh nhỏ bé nhưng lật đổ được cây thông, bảo vệ tình yêu: “Cây lanh đổ hất vào cây thông Cây thông đổ nhòa trên mặt đất Đôi ta kết bạn tình hạnh phúc đường này Ta chỉ có đường nói mà không có đường lìa” Như vậy, lanh là biểu tượng đặc sắc của văn hoá Hmông. Từ đời sống thường ngày, lanh đã vào thơ ca trở thành biểu tượng của người phụ nữ, của tình yêu, niềm khát khao hạnh phúc. Biểu tượng cây lanh càng sâu sắc hơn khi cây lanh, vải lanh, sợi lanh được đặt ở vị trí trang trọng linh thiêng. Lanh thành cây thiêng, vật dẫn đường sang thế giới siêu nhiên, lanh là vũ khí thiêng trừ tà Nguồn: www.vanhoalaocai.vn
-
Cây gạo trong văn hóa tâm linh Việt Nam [/size] --- không rõ tác giả --- Đồng Văn Một sáng đầu hè râm mát, mấy anh em chúng tôi đến thăm chùa Bút Tháp nơi có pho tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhân đã từng làm ngẩn ngơ nhiều khách quốc tế. Đang chăm chú ngắm gác chuông khối vuông vức hai tầng tám mái với cả hệ thống đầu đao cong cong vênh lên, đăm đắm chiêm ngưỡng đoá sen khổng lồ lúc nở gợi mở nơi đất Phật thanh tịnh, bỗng có tiếng "bụp" của một vật nhẹ rơi, tôi như sực tỉnh trở về với thực tại; anh bạn cùng đi bảo: Hoa gạo rơi đấy, nó kia kìa. Tôi đã được xem nhiều hoa, kể cả lúc nó rụng, dù rã ra từng cánh hay rơi cả bông, nó đều buông nhè nhẹ, thậm chí còn là là bay để rồi đậu khẽ xuống đất, không để ý thì chẳng ai hay. Vậy mà hoa gạo rụng lại gây sự chú ý ngay. Tôi nhặt bông gạo cầm trên tay, nó to bằng búp sen này. Anh bạn tôi khi nhìn nó rơi, thấy vạch một đường sáng từ trên nền trời cao xuống đất, khá nhanh, như sao đổi ngôi. Tôi bỗng ngước nhìn lên ngọn cây, sừng sững chừng 15-20m, lấm tấm nơi đầu cành những bông hoa sáng đỏ như bầu trời sao, cũng từng tầng từng lớp. Phải chăng đó là chốn hư không, nơi siêu thoát của các linh hồn? Anh bạn tôi lại bảo đây là không gian thiêng, vậy cây gạo là bát hương khổng lồ đấy, mỗi bông hoa là đầu một nén hương đang cháy. Ý nghĩ nào cũng hay hay, tôi trở lại ngắm bông gạo trên tay và giật mình nhận ra nó chính là bát hương nhỏ xinh. Này nhé, đài sen năm cánh cứng dày xoè dựng đứng, lại bóng láng như tráng men da lươn, từ đó lại xoè ra năm cánh đỏ như những tai bát hương, bên trong dựng đứng năm bó nhị vây quanh một bó ở giữa cứ như những bó tăm hương. Có nhẽ chỉ cây gạo, hoa gạo mới cho ta cảm giác cụ thể về cái ĐẸP và vẻ THIÊNG. Và tôi nhớ đến câu nói ở cửa miệng người già: "Thần cây đa, ma cây gạo". Người già đi dự lễ tang bảo là đi đám ma, đi đưa ma; và khi nói đến sinh thời của người đã mất thì bảo là hồi mồ ma. Vậy ma là chỉ người khuất núi, chẳng thế mà người miền núi thờ ma tổ tiên. Thế thì "ma cây gạo" hẳn là chỗ nương tựa của người thân ở thế giới bên kia - nhất là các cô hồn. Hẳn thế nên nhiều người thường thắp hương ở gốc những cây gạo già. Đơn sơ thế thôi, nhưng nhân đạo biết bao! Chăm sóc quá khứ thì hiện tại sẽ được tương lai nâng niu. Không như gốc đa thờ thần phải xây miếu. Và tôi chợt nuối tiếc cây gạo đại thụ phải mấy trăm tuổi ở góc sau Văn Miếu Hà Nội cứ đầu hè lại thắp sáng một mảng trời, và xa xưa trên cành cao thường thu hút quạ về đậu và làm tổ, vì thế người Pháp viết về Văn Miếu gọi đó là "ngôi đền quạ" (Le temple des corbeaux). Người xưa giải thích quạ là kim ô, là thiên sứ báo trước điềm trời. Cây gạo lá thưa, nhiều chim đậu hót, nhưng không kín đáo nên chỉ có quạ làm tổ thôi, và như thế cây gạo mang tư cách là cây vũ trụ. Cũng chính vì thế mà trong lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên, khi dựng đàn lễ, người ta chôn chắc bốn cột liên kết với nhau thành hình vuông, trong mỗi cột lồng một cây tua, ở giữa chôn cây nêu và bao giờ cũng phải trồng một cành gạo thẳng to bằng cổ tay, sau đó buộc trâu vào cây nêu và tiến hành các nghi lễ đâm trâu; một thầy cúng đọc lầm rầm những lời cầu giàng phù hộ, và người ta tin rằng những lời thiêng đó sẽ theo hồn trâu leo qua cây gạo là trục vũ trụ lên tầng trên. Thế mà vài mươi năm trước, vì hương hoa của thập phương ngày đêm không ngớt mà cây gạo ở Văn Miếu Hà Nội bị chặt oan! Nội thành Hà Nội còn hai cây gạo ở bờ hồ Hoàn Kiếm, thì cây gạo ở trước đền Ngọc Sơn ốm o rồi chết. Tuy không cứu được nó, nhưng để cây gạo ở trước "Nhà đèn" không phải lẻ loi, công ty Công viên và cây xanh Hà Nội đã mang một cây gạo nhỏ từ Hà Tây về trồng thế chỗ. Dù sao hiện nay những người Hà Nội biết đến cây gạo bờ hồ, cứ phải ra các đền chùa ở ngoại thành và các tỉnh lân cận mới được chiêm ngưỡng nó và chiêm nghiệm tâm linh dân tộc! Lại nhớ người Ba Na có tục chị em nào ngoại tình thì bị buôn làng trói vào cây gạo và đánh trăm roi. Hình phạt này không chỉ để gai gạo cùng với đòn roi hành hạ thân xác mà còn là toà án tinh thần cáo với ma và Giàng. Gốc gạo có nhiều vấu to nổi khối và do đó có nhiều hốc, người xưa quan niệm đó là nơi hồn ma trú ngụ, thân gạo thẳng lại có gai được xem là những nấc thang để hồn ma trèo lên các tầng cao mà hòa nhập vào vũ trụ. Cây gạo đôi khi trồng ở ven đê, ven lộ vừa để người sống mở quán hàng nước, vừa để cô hồn bơ vơ có chỗ nương tựa. Nhưng gạo thường được trồng ở sân bãi của đền chùa, tức những không gian thiêng, ngoài những ý nghĩa đã nêu, còn để các hồn ma được nương bóng Thần, Phật mà mong siêu thoát. Cây gạo lá thưa ít bóng mát, gỗ gạo nhẹ xốp không tiện để đóng đồ dùng, có nghĩa giá trị thực dụng - kinh tế không đáng kể. Nhưng các làng quê đều rất quan tâm đến việc trồng cây gạo để góp phần vào diện mạo văn hóa làng mình. Trong tư duy liên tưởng của người Việt, tên cây gạo còn gợi đời sống cơm no, và quả gạo khi nở bung ra những túm bông trắng có thể thu gom làm chăn gối, nhưng cơ bản là gợi áo ấm, "cơm no, áo ấm" là "hạnh phúc đơn sơ, ước mơ nho nhỏ" của người nông dân, vậy mà bao đời chỉ là hoài vọng, đến nay mới thành hiện thực. Vì quả gạo nở ra bông, nên cây gạo có tên Hán Việt là miên thụ (cây bông), và Tây Nguyên gọi là cây pơ-lang. "Hoa mộc miên", "hoa pơlang" đã được các nhạc sĩ thổi hồn thành những bài ca đắm say, da diết, tung bay... Đi sâu vào tư liệu dân tộc học và móc nối suy tư, chúng ta có các cảm nhận trên. Dù sao vẫn là chủ quan. Nhưng sử cũ đã ghi rất rõ cả nghìn năm trước dân tộc ta coi cây gạo là cây thiêng, cây vũ trụ, là thiên sứ mang thông điệp của Trời báo điềm lành cho dân cho nước: Đầu thế kỷ X, Cao Biền cắt yểm long mạch nước ta, thì năm 936 thiều sư La Quý An đã trồng cây gạo ở chùa Minh Châu đất Cổ Phát (còn gọi Diên Uẩn) để trấn trị lại, và đọc kệ nói rõ khi nào cây gạo có hình rồng leo thì đến ngày Thổ (tức Mão - thỏ, mèo) tháng Thử (tức Tý = chuột) năm Kê (tức Dậu = gà) sẽ có vua sáng lập ra vương triều nhà Lý. Đầu thế kỷ XI quả nhiên cây gạo đó bị sét đánh để vết lại như hình rồng leo và cũng là bài sấm thi khẳng lại chuyện xưa. Sau đó quả nhiên vào mùng 2 tháng Tý (tháng 1 tức tháng thứ 11 âm lịch) năm Kỷ Dậu (1009), Lý Công Uẩn (Ông họ Lý người làng Diên Uẩn) lên ngôi hoàng đế, lập vương triều Lý, mở ra kỷ nguyên Đại Việt rạng rỡ. Vì làng Diên Uẩn có cây gạo bị sét đánh nên đổi tên là Đình Sấm, là Dương Lôi (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), hiện còn đền thờ bà Phạm Thị Ngà là thân mẫu vua Lý Thái Tổ và đình có đủ ngai, sắc thờ tám vua nhà Lý (Lý Bát Đế), hàng năm vẫn mở hội kỷ niệm ngày sinh Lý Công Uẩn (12 tháng 2 âm lịch). Nguồn: vanbutl.9.forumer.com
-
Đổ xô cúng vái 'cây thiêng' 3 gốc Cảnh bát nháo phía trước cây 3 gốc. Ảnh: Thanh Niên Những đoàn người tấp nập lên đỉnh Gia Lào, huyện Xuân Lộc (Đồng Nai) để đốt đồ dưới cây Đa 3 gốc. Hoạt động mê tín dưới gốc "cây thiêng" đang diễn ra nhộn nhịp. Trên đường ghé cây "thiêng", một người phụ nữ tên Nga hành nghề bán nhang đèn, đồ cúng không ngớt lời quảng cáo: "Ai có đức tin, lòng thành, cúng thần hậu hỉ thì cầu gì được nấy ngay. Nhiều người được sơn thần cho toại ý làm ăn khấm khá, tai qua nạn khỏi lên đây cúng trả lễ lớn lắm!". Thấy bóng dáng du khách, đội ngũ cò nhang đèn lập tức sán lại chèo kéo, mời mọc mua lễ vật cúng sơn thần và kể hàng loạt chuyện linh thiêng của cây ba gốc. "Cây thiêng" núi Chứa Chan là một cây đa cổ thụ cao khoảng 50m, thân cây được hình thành từ 3 gốc rễ chụm lại. Kính, thợ sơn giải nghệ đang sống bằng nghề bán chim phóng sinh quả quyết: "Hồi trước, vùng này toàn cây đại thụ nhưng sau đó bị sơn tặc đốn hạ cả rồi. Cây 3 gốc là cây đại thụ cuối cùng của vùng. Lẽ ra nó cũng chung số phận với ngàn cây khác nhưng do dáng quá độc và nhất là ai đưa lưỡi cưa vào đều gặp điềm xúi quẩy nên đều ngán". Cò cúng, người bán nhang đèn, bán chim phóng sanh, thậm chí người khấn thuê, đốt lễ vật... chen chúc nhau ở khu vực "cây thần". Một "cò cúng" dọa nhóm 3 người phụ nữ: "Tùy vận, tùy hạn, tùy cung, tùy số mà chọn lễ vật, khấn, lạy cho phù hợp. Nhiều người vô tâm vô ý, khấn bừa, cúng bừa đã bị vật chết rồi đó!". Để thuận tiện cho việc cúng kiếng, người ta đã tiến hành xây gạch bao quanh gốc cây da. Nhang đèn, bánh trái các loại vung vãi khắp nơi. Sau mỗi phần đồ bị đốt, bà quản gốc cây da không ngần ngại đề nghị khách hành hương bồi dưỡng chút ít tiền công đốt đồ. Một người phụ nữ gầy tong nhiệt tình chỉ dẫn người mới đến: "Cúng giải hạn cho người 30 tuổi phải sắm đủ mâm lễ 30 món, mỗi lần khấn thuê giá thấp nhất 5.000 đồng". Theo một người dân lâu năm ở đây, cây 3 gốc 1 ngọn thực ra là một cây đa sống ký sinh lâu năm trên thân cây đại thụ, hút hết dưỡng chất của cây này mà thành. Nhiều năm qua, lợi dụng sự mê tín thái quá của khách hành hương mà người cò cúng, khấn thuê phịa đủ thứ chuyện quỷ ma hòng lừa mị. (Theo Thanh Niên) Nguồn: www.vnexpress.net
-
Trích: Linh thiêng Nghĩa trang Liệt sỹ Trường Sơn "..........Khu trung tâm Nghĩa trang nằm trên một ngọn đồi cao 32,4 mét, Đài tưởng niệm (Đài Tổ quốc ghi công) bằng đá trắng cao vút uy nghiêm, rỗng ruột và khuyết ba mặt, thể hiện nỗi mất mát vô cùng. Sát sau Đài tưởng niệm, cân đối hài hòa như có bàn tay nghệ nhân sắp đặt là một cây bồ đề. Đây là cây bồ đề tự mọc. Nghĩa trang khánh thành được 6 tháng, vào tháng 10/1977 đột nhiên mọc lên cây bồ đề này. Và dường như sợ có người nhầm lẫn mà nhổ đi, cây bồ đề lớn rất nhanh, chẳng mấy đã vươn cành lá um tùm, che mát Đài tưởng niệm. Anh ái dừng chân dưới gốc bồ đề nói: “Chúng tôi đã tìm hiểu, trong vòng bán kính khoảng 10 cây số xung quanh đây không hề có bồ đề”. Cây bồ đề trở thành cây thiêng của Nghĩa trang Liệt sỹ Trường Sơn....." Nguồn: vietbao.vn
-
[color="#006400] TRIẾT LÝ CÂY ĐA Th.S. Nguyễn Ngọc Thơ (Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh) Đã đăng trên Tạp chí Phong cách sống (Lifestyle) số tháng 4/2008 Từ lâu rồi, Đông Nam Á được thế giới biết đến như một xứ sở đa chủng tộc, đa văn hóa song lại có chung những yếu tố văn hóa cốt lõi như nghề nông nghiệp lúa nước, lối sống nông thôn, tín ngưỡng mẫu hệ, niềm tin vật linh, sùng bái phồn thực v.v.. Trong số các biểu tượng văn hóa đặc sắc chung của cả vùng, ta không thể không kể đến biểu tượng cây đa (tên khoa học banyan tree, thuộc chi ficus). Chẳng biết tự bao giờ cây đa đã trở thành một hình ảnh không thể phai mờ trong tâm tưởng mỗi người con Việt Nam. Trong tiềm thức, cây đa sum suê nơi đầu làng, sừng sững trong gió mát đêm xuân và hiên ngang trong sắc vàng nắng hạ, luôn vươn mình ngạo nghễ với thời gian dù cả dân tộc đã trải qua bao bước thăng trầm của thời cuộc. Không ai biết người Việt đã bắt đầu trồng và yêu quý cây đa tự bao giờ, chỉ biết rằng cây đa cùng với bến nước và mái đình sớm đã trở thành bộ ba biểu tượng sinh động của văn minh làng xã nước nhà. Cũng từ đấy, cây đa đi vào văn học dân gian, vừa gần gũi, mộc mạc, vừa thoát tục, thánh khiết. Có hai vị trí trồng cây đa, một ở cổng làng và một ở ngoài đồng (hay ven đường). Cây đa đầu làng được sánh đôi cùng giếng nước, cả hai được ví như biểu tượng phồn sinh của trời cha và đất mẹ. Theo luật ngũ hành, cây đa được trồng phía bên trái sân đình, còn giếng nước tọa lạc ở phía đối diện. Cả hai ôm lấy một khoảnh sân đình vừa đủ rộng cho dân làng sum họp mỗi dịp hội hè. Nếu như giếng nước là biểu tượng nữ tính (nơi giữ lại giọt nước – giao tử - của trời cha gieo xuống lòng đất mẹ để vạn vật sinh sôi), thì cây đa lại là biểu tượng nam tính. Nhìn từ xa, cây đa in lên trời xanh với dáng vẻ hiên ngang quân tử, sừng sững một cách oai vệ. Hơn thế, cây đa còn mang nét đặc thù của riêng mình, từng chùm rễ mọc tít ở trên cành đung đưa lơ lửng trên không, khi tiếp đất sẽ trở thành các nhánh thân phụ bao trùm cả một khoảng không gian rộng lớn quanh thân. Nhiều cây đa già cỗi, thân chính đã mất, sự sống vẫn cứ tiếp diễn thông qua các thân phụ như thế. Nói một cách hình tượng, từng nhánh rễ (thân phụ) của cây đa được ví như những chiếc sinh thực khí của trời cha, xuất phát từ cành (nối với trời) trổ xuống cắm sâu vào lòng đất mẹ, tạo nên thế giao hòa đất – trời, mẹ - cha, âm – dương cho vũ trụ tiếp tục cuộc hành trình. Giữa cánh đồng bao la, thoáng hiện đó đây vài bóng cây đa xanh ngát, trong cái nắng hè chói chang, bóng cây đa sẽ là thiên đường cho khách đi đường nghỉ mát, gặp gỡ làm quen. Một quán nước sơ sài được dựng lên để phục vụ ẩm khách. Cũng từ gốc đa ven đường này, nhiều mối tình đã nảy nở, đơm hoa kết trái để tình yêu và hạnh phúc dâng tràn. Ấy vậy, chính cái sum suê của cây đa đã biến nó từ “thiên đường giữa nắng hè” thành “chốn u linh tịch mịch” khi màn đêm buông xuống. Bơ vơ giữa đồng, cây đa đón từng làn gió đêm lùa về, từng cành đa khua vào nhau, phát ra những âm thanh “kẽo kè kẽo kẹt”, cứ như các bà các cô đang đánh võng ở trên cành. Những đêm trăng về, ánh sáng chiếu xuống từng chùm lá non, làm phản chiếu những tia màu xanh, đỏ, vàng giữa màn đêm u linh, càng làm cho không gian trở nên tịch mịch. Quanh gốc đa ven đường, người ta có thể đếm đến hàng chục miếu thờ lớn, nhỏ san sát nhau, trong đó có ngôi miếu to nhất dùng để thờ thần cây đa (Đại thụ linh thần). Cạnh đó là các miếu thờ vong linh của những người vô gia cư chết bờ bụi, chết vì bệnh tật, chết bất đắc kỳ tử v.v.. Dân gian tin rằng những vong linh này khó siêu thoát nên cần lập miếu thờ để dân làng an tâm sinh sống. Xen lẫn trong đám rễ cây, những chiếc bình vôi cũ kỹ cũng được mang ra thờ. Theo niềm tin, những chiếc bình vôi đã qua sử dụng, đến lúc miệng bình đã bị vôi đông kín thì trở nên “linh thiêng” nên được các bà mang ra gốc đa thờ, gọi đó là “ông bình vôi”. Chính người chủ quán nước dưới gốc đa có kiên nhẫn lắm thì cũng chỉ nán lại được một thời gian như trong câu “Có quán tình phụ cây đa, Ba năm quán đổ cây đa vẫn còn” Đêm, chó cắn nhát gừng ở đầu làng, trong nhà các cụ bảo con cháu mình: “các bà, các cô về thăm làng đấy!”. Bởi thế dân có câu "Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề". Cây đa đôi khi còn được dân gian thần thánh hóa bằng cách gán cho nó đặc tính thần thánh, như có thể chữa trị bệnh trong Sự tích chú Cuội. Lấy cây đa làm trung tâm, trong tứ phương đông, tây, nam, bắc thì hướng đông lại đặc biệt được coi trọng. Theo ngũ hành, hướng đông là hướng của mặt trời mọc, hướng của hành Mộc, hướng của sự sống tương lai nên cần được bảo vệ. Chính vì thế, trước khi đi chữa bệnh làng xa, chú Cuội có dặn vợ rằng “Có đái thì đái bên tây, đừng đái bên đông cây dông lên trời!”. Mọi hành động xúc phạm đến linh hồn cây đa đều bị trừng phạt, như chính vợ chú Cuội đã phải trả giá cho sự cả gan của mình: mất cả chồng lẫn cây! Vậy đó, cây đa vừa gần gũi song cũng lắm nét linh thiêng, thần bí. Không riêng gì ở Việt Nam, các dân tộc Đông Nam Á khác cũng trân trọng sự hiện diện của cây đa. Trong văn hóa Thái, Khmer vốn cũng có quan niệm vạn vật hữu linh nên cây đa cổ thụ được ví là cây thần, thường được trồng quanh các đền, chùa, miếu, mạo nhằm làm tăng thêm nét uy nghiêm, linh thiêng của không gian. Đặc biệt hơn, trong văn hóa Mã Lai đa đảo, cây đa còn được hiểu là biểu tượng của sự che chở, của sự sống, sự phồn sinh và thịnh vượng. Câu chuyện sáng thế là một ví dụ điển hình. Xưa, Thượng đế vì chán cảnh quả đất xám xịt nên đã tạo ra vạn vật như cây cối, muông thú trên đó rồi ngắn nhìn. Vạn vật tranh nhau mà sống, song không có loài vật nào có đủ túi khôn để cai quản hết thảy các loài vật khác. Nghĩ thế, Thượng đế dùng đất sét trộn máu của mình, nặn nên hình tượng một người đàn ông, rồi thổi hơi thở của mình vào miệng, nhờ thế cơ thể đất sét hắt xì và sống dậy. Ngài đặt tên chàng là Adam. Adam sinh sống cùng muông thú, chàng dùng trí khôn của mình để cai quản. Ngày qua ngày, cuộc sống trở nên vô vị, Adam buồn bã. Thượng đế nghĩ cánh giúp chàng. Lợi dụng lúc Adam ngủ say, Thượng đế đã lấy bớt một chiếc xương sườn của chàng, nhào với đất sét và máu của mình để tạo nên cơ thể người phụ nữ rồi đặt tên là Ivi (Ivi trong tiếng Đông Nam Á cổ nghĩa là xương sườn). Thượng đế cho Ivi đi theo sống cùng Adam. Hai người đã tìm đến sống ngay dưới tán cây đa chằng chịt rễ. Lần lượt những đứa con của họ ra đời. Thượng đế rất thương con cháu của mình nên quyết định trao cho họ thông điệp bất tử. Thượng đế vốn vô hình nên không thể xuất hiện trước mặt con cháu để trao tin, Ngài giao trọng trách ấy cho một con quạ. Quạ đi tìm Adam và Ivi. Khi bay đến ngọn cây đa, quạ bắt đầu thấy đói bụng, nhìn quanh thì thấy có một con rắn vắt vẻo trên cành, miệng đang thưởng thức một miếng mồi ngon. Với bản tính tham lam, quạ và rắn đã thỏa thuận với nhau, quạ trao cho rắn thông điệp bất tử, còn rắn nhường cho quạ miếng mồi. Kết quả, rắn là loài vật đặc biệt, khi trưởng thành đến một mức độ nhất định lại lột da sống tiếp, còn loài quạ bị Thượng đế trừng phạt, trở thành biểu tượng của cái chết, của điềm gở, và rằng loài người bằng mọi cách phải xa lánh nó. Bởi thế, người Đông Nam Á rất có ác cảm với loài quạ, họ tin rằng ở đâu có tiếng quạ kêu là ở đó sẽ có điều xui xẻo. Lần thứ hai, Thượng đế giao trọng trách ấy cho một con vật hiền lành: con thỏ. Song, giống như quạ, thỏ không thể cưỡng lại được sự hấp dẫn của những củ cải to mọng nên một lần nữa thông điệp bất tử bị thất truyền. Thỏ bị Thượng đế xẻ môi trên để trừng phạt. Vậy là sau hai lần cố gắng, Adam, Ivi và con cháu của mình không gặp may mắn. Đến lúc này, Thượng đế nghĩ rằng có thể đó là số phận của loài người, rồi Ngài bỏ đi nhã ý cho loài người bất tử, vì thế con người ai cũng đều phải chết sau mỗi trăm năm. Con cháu Adam, Ivi ngày một đông đúc, chúng di tản về các nơi để tìm thức ăn, lâu dần biến đổi giọng nói và màu da, tách biệt nhau để hình thành các dân tộc khác nhau trên trái đất. Theo nhà nghiên cứu Stephen Oppenheimer, thần thoại sáng thế này về sau được truyền đến Lưỡng Hà, Trung Đông, tại đó nó đi vào văn hóa Do Thái rồi đi vào Kinh Thánh trong truyền thống Ki-tô giáo phương Tây. Ngày nay, hễ mỗi lần hắt xì, người phương Tây lại bảo “God bless you!” (Thượng đế ban phúc cho bạn!) như một chứng tích của thần thoại sáng thế gốc gác Đông Nam Á này. Sự sống sẽ mãi tiếp diễn. Khát vọng sống và vươn lên sẽ mãi tiếp diễn. Và rằng cây đa sẽ vẫn mãi là biểu tượng văn hóa đặc sắc trong đại gia đình Đông Nam Á nông nghiệp truyền thống. Tài liệu tham khảo: Toan Ánh: Làng xóm Việt Nam, NXB TP.HCM 1999 Trần Ngọc Thêm: Bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB TP.HCM 2001 Stephen Oppenheimer: The Eden in the East – the drowned continent of Southeast Asia, Pheonix 1998. Nguồn: http://www.vanhoahoc.edu.vn[/color]
-
Cây đa-biểu tượng truyền thống của làng quê Việt Nam if Từ bao đời nay, mỗi người Việt đều coi mái đình, cây đa như một biểu tượng của làng quê truyền thống. Ý nghĩa biểu tượng đầu tiên của cây đa là sự trường tồn, sức sống dẻo dai. Không phải ngẫu nhiên mà những bậc cao niên, những người đã có nhiều thành tựu ở một lĩnh vực nào đó thường được đồng nghiệp và xã hội coi là "cây đa, cây đề", biểu tượng cho sức làm việc quên mình, dẻo dai, cho sự tích lũy kiến thức phong phú. Cũng với ý nghĩa trường tồn ấy, cây đa xuất hiện trong ca dao như một nhân chứng của thời gian, chứng kiến những sự đổi thay của con người, của đất trời, đôi khi là cả một vòng đời người: Trǎm nǎm dầu lỗi hẹn hò Cây đa bến cũ con đò khác đưa. Cây đa cũ, bến đò xưa Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ Hầu như làng quê truyền thống nào ở Bắc Bộ cũng có những cây đa cổ thụ được trồng thường ở đầu làng, cuối làng, giữa làng và ở bên cạnh các di tích. Cuộc sống sinh hoạt của làng diễn ra sôi động xung quanh gốc đa. Với người dân quê, gốc đa là nơi bình đẳng nhất, không có sự phân biệt ngôi thứ: Không tiền ngồi gốc cây đa Có tiền thì hãy lân la vào hàng Gốc đa là nơi trẻ nhỏ nô đùa, thỏa thích nhặt búp, hái lá, chơi những trò chơi dân gian. Gốc đa cũng là nơi dân làng ngồi nghỉ chân sau những giờ lao động mệt nhọc, trước khi về làng hoặc đi khỏi làng. Gốc đa còn là nơi hẹn hò của trai gái: Em đang dệt vải quay tơ Bỗng đâu có khách đưa thơ tới nhà Hẹn giờ ra gốc cây đa Phượng hoàng chả thấy thấy gà buồn sao. Không chỉ có vậy, cây đa làng Việt còn là biểu tượng tâm linh của con người. Trong làng, cây đa có mặt ở nhiều vị trí khác nhau nhưng hầu như nó không vắng bóng ở các di tích, đặc biệt là đình chùa. Tục ngữ có câu: "Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề" Hay: "Cây thị có ma, cây đa có thần" Cây đa xanh tốt tỏa bóng làm cho các di tích trở nên linh thiêng hơn, con người khi bước đến di tích cũng cảm thấy được thư thái hòa đồng hơn với thiên nhiên. Cây đa được coi là nơi ngự trị của các thần linh dân dã và các linh hồn bơ vơ. Cây đa nào càng già cỗi, càng xù xì, rậm rạp thì càng gắn bó với thần linh. Gốc đa ở các di tích thường được dân chúng thắp hương chung để tỏ lòng tôn kính các vị thần linh dân dã hoặc cầu cho những linh hồn bơ vơ về nương nhờ lộc Phật không đi lang thang quấy nhiễu dân làng. Như vậy, cây đa luôn là biểu tượng đẹp với hầu hết các ý nghĩa chuẩn mực của biểu tượng: vừa hiện hữu, vừa tiềm ẩn, huyền bí, vừa mang hơi thở cuộc sống, vừa mang đậm yếu tố tâm linh. Phải chǎng chính sự kết hợp này đã tạo nên biểu tượng cây đa có sức sống bền lâu trong vǎn học dân gian, vǎn thơ bác học và trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam. Theo hanoi.vnn Nguồn: www.raovat.com
-
Một số hình ảnh cây đa ở Việt Nam Cây đa Tân Trào Cây đa và cây đề ở đền thờ quận công Hoàng Công Chất Cây đa và cây duối làng Cổ Tiết - Quỳnh Xá Đền Mẫu Hoa Dương - Phố Hiến Cây duối cổ thụ - Đống Điện, làng Đó/ An Phú, xã Quỳnh Hải. Cây gạo đình làng Xuân Mỹ, An Ấp _Phạm An Phú Cây đa làng Mông Phụ - Đường Lâm
-
Trích: Hà Nội - Văn hóa và Phong Tục -Lý Khắc Cung CÂY ĐA Xung quanh Đền Bà ở làng Ỷ La, Tuyên Quang có mấy cây đa khổng lồ nổi cộm lên như những ngôi nhà lầu nối tiếp nhau. Chúng đan kết lại với nhau bằng những chùm rễ phụ bạt ngàn, bao la. Chúng đu đưa trước gió như những chiếc võng treo thờ ở các đền Mẫu, phủ Mẫu. Đây là hình tượng gợi ý cho các bà mẹ thời xa xưa làm ra lưới bắt cá, tết võng và làm nghề dệt vải Thạch vải. Thạch Sanh ngày xưa có một túp lều tranh dưới gốc cây đa. Ông Bụt nhân từ cũng từ những cây đa hiện ra. Cây đa bề thế, bệ vệ, to cao vời vợi. Các cành cao thả dài xuống đất rồi lại sinh ra rễ mẹ, rễ con, bền vững và đầy sức sống. Cây đa yêu đời, đẹp đẽ và nó tượng trưng cho sự phồn sinh và tuổi thọ Biểu tượng của " Hội những người cao tuổi thế giới" được thể hiện qua hình ảnh một cây đa cổ thụ. Cây đa trần trụi với vẻ nguyên thuỷ, có những điều ẩn chứa, có những điều rối rắm và huyền ảo. Nó tượng trưng cho sự trống trải, cho sức mạnh vật lý và địa lý. Nó thu hút vào mình những tia sét, những dòng điện trường. Những đêm mưa to gió lớn, cây đa đã chống chọi lại với gió bão, dũng cảm phi thường. Cây đa xòe tán xanh và rộng ra để che nắng, che mưa cho mọi người. Nó che chở cho mọi người. Nó là cây mẹ, làm cho con người yên tâm với nụ cười, nước mắt, hướng về vĩnh cửu. Người ta gọi cây đa làng, cây đa huyện, cây đa bãi, cây đa bến sông, cây đa xóm, cây đa chợ v.v… Cây đa là điểm ghi nhớ, điểm đánh dấu nổi bật, đại diện cho một nơi chốn đáng được lưu ý. Cây đa chứng kiến những thăng trầm của các lớp người, trong tín ngưỡng dân gian, có tục thờ cây đa. Bên gốc đa thường có một cái miếu nhỏ đặt bát hương, những chiếc bình vôi để hương khói cho thần cây đa: “Thần cây đa, ma cây gạo”… Chàng và nàng gặp gỡ hẹn hò, thề thốt với nhau bên gốc cây đa. Họ bảo: “Có cây đa biết mối tinh đôi ta”. Cây đa tha thiết và thiêng liêng: "Trăm năm, đành lỡ hẹn hò…Cây đa bến cũ, con đò năm xưa”? Cây đa cũng là nhân vật, là thành viên của xóm làng: "Giếng nước, cây đa tiễn chàng trai ra trận"! Cây đa là hình ảnh cao đẹp, là cả một bức tranh hoành tráng gắn bó với mái đình, chùa, miếu, giếng thơi v v… dựng nên cả một thế giới tinh thần bền vững cho mọi người từ khi còn trẻ thơ cho đến lúc về già. Cây đa tượng trưng cho vẻ đẹp quê hương. Nó góp thêm màusắc, âm thanh cho làng quê êm đềm. Nó vẫy gọi những đàn chim nhiều màu đến hội tụ, làm tổ rỉa quả đa chín. Và thỉnh thoảng vào những buổi đẹp trời từ những cành đa nhằng nhịt, tung ra những trận mưa chim. Người ta nhìn lên mặt trăng huyền ảo, thấy những nét đậm nhạt mà nghĩ ngay ở nơi đó có hình ảnh cây đa và chú cuội. Thế rồi cái huyền thoại ấy ăn sâu vào lòng người: "ánh trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng cuội già, ôm một mối mơ". Ngày xưa, ở trên thân cây đa thường có những tờ cáo thị, yết thị. Thời kỳ cách mạng xuất hiện những tờ hiệu triệu đồng bào sản xuất, chiến đấu, đoàn kết… Người quan họ có bài "Lý cây đa” nổi tiếng. Đó là một bài hát rất hay nói về anh trai làng đi đến gần gốc đa, nhìn thấy cô gái thắt lưng xanh mà đem lòng yêu mến… Sau một ngày làm việc vất vả buổi chiều mát mẻ, người ta thường tụ tập nhau bên gốc đa. Họ uống chè vối hút thuốc lào rồi kể chuyện với nhau, bàn bạc và bình luận về cuộc sống. Đôi khi, bên quán nước nhỏ cạnh gốc đa có đôi vợ chồng xẩm kéo nhị, hát lên bài "Anh khoá" làm bâng khuâng cả đám đông người nghe. Nhà nghiên cứu người pháp M. Colami đã viết hẳn một cuốn sách về cây đa ôm tảng đá tại làng Thanh Khê huyện Do Linh, tỉnh Quảng Trị. Cây đa Tân Trào là hình ảnh quê hương cách mạng mùa thu không bao giờ phai mờ trong tâm trí người Việt nam qua câu thơ "Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào". Người Hà Nội thường hay nhắc đến cây đa Cổ thụ nổi tiếng: cây đa nhà Bò. Xưa kia, ở ngay cạnh nó là nhà đúc tiền. Bây giờ có một nhà hộ sinh. Qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, cây đa cũng gánh chịu trên mình đầy những vết thương chiến tranh. Cây đa cửa quyền ở phố Hàng Bông có những chuyện kể quái dị kiểu Liêu trai chí dị. Chuyện kể rằng cứ chập tối, thỉnh thoảng có những cô gái rất đẹp ngồi trên những chiếc xe tay có người kéo, đi thăm các cây đa quanh vùng Hà Nội rồi biến mất lúc nào không biết. Ngày hôm sau, người phu xe sẽ rất đắt khách. Cây đa chùa Hai Bà ở Đồng Nhân phải cần đến hơn mười sải tay mới ôm xuể. Cây đa ở làng Vân Hồ có hàng trăm rễ rủ xuống đất như một chiếc mành mành lớn, đeo trên mình hàng trăm chiếc bình vôi cổ kính và những bát hương lập lòe ánh lửa và khói ở quanh nhà Bác cổ (nay là Viện Bảo tàng lịch sử) có 6 cây đa lớn. Gần Hồ Tây, quãng đầu Thuỵ Khuê có cây đa gọi là cây đa cô Son bên cạnh miếu cô Son. Đó là nơi xưa kia anh khoá Hồng và cô Son gặp nhau và chia tay nhau. Cây đa chùa Bà Đanh nguy nga như một lâu đài. Tại phố Quán Thánh có ba cây đa chụm lại gần nhau, rợp bóng cả một khu phố. Người ta dựng ngay cạnh đó một quán cà phê gọi là quán cà phê Quán Thánh người ta cũng thường nhắc đến cây đa làng Lủ, cây đa sông Tô Lịch, cây đa Hàng Gai v.v… Những vị cao tuổi uyên thâm, đức độ, được mọi người tôn kính gọi là các vị cây đa cây đề. Lại có cả những cụm từ cửa miệng như: cúng cháo lá đa, trạch đẻ ngọ đa, con nhà sãi chùa đi quét lá đa, cậy thần phải nể cây đa. Cây đa là một vẻ đẹp, là biểu tượng, là hình ảnh sinh động của làng quê Việt nam. Nó góp Phần làm cho văn hoá làng xã thêm đậm đà, lấp lánh. Nguồn: http://vnthuquan.net
-
Trích: Người Việt, rừng và nạn phá rừng Nguyễn Tùng và Nelly Krowolski* Nguồn : Tạp chí Thời Đại Mới Người Việt, rừng núi và nạn phá rừng I. Các tín ngưỡng gắn liền với núi rừng Cũng như người Hán, người Việt tin rằng mỗi ngọn núi đều có một vị thần cai quản, gọi là sơn thần hay thần núi. Vị thần núi nổi tiếng thiêng liêng nhất mà phần đông người Việt đều biết qua truyền thuyết Sơn Tinh-Thuỷ Tinh là thần núi Tản Viên hay Ba Vì ở tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội chừng 60 km về phía Tây. Nhiều làng ở đồng bằng sông Hồng và ngay cả ở vùng Thanh Nghệ thờ thần Tản Viên làm thành hoàng. Mẫu Thượng Ngàn (mặc áo xanh) đóng vai trò quan trọng trong tín ngưỡng hầu bóng Tam Phủ hay Tứ Phủ. Cũng như Mẫu Thuỷ hay Mẫu Thoải (mặc áo trắng), bà được nhiều đền nhỏ thờ riêng hơn Mẫu Thượng Thiên (mặc áo đỏ, bà thường được đồng hoá với chúa Liễu Hạnh). Ở xã Ðường Lâm (Hà Tây) chẳng hạn, điện thờ Mẫu Thượng Ngàn được xây trên một ngọn đồi của làng Cam Lâm, còn đền thờ Mẫu Thoải thì được xây ở làng Hà Tân bên cạnh sông Hồng, trong khi ở tiền đường của chùa Mía hay Sùng Nghiêm (Ðông Sàng) thì lại thờ cả Tam Toà Thánh Mẫu. Theo Léopold Cadière, tục thờ Mụ Rú trong một ngôi đền ở Quảng Trị tương ứng với tục thờ người khai canh đầu tiên ở địa phương này trước đây vốn là một khu rừng, và vẫn tiếp tục bảo vệ đất đai cho dân làng chống lại sự xâm chiếm của các làng bên cạnh. Cũng theo ông, Mụ Rú là tên địa phương của Bà Mộc trong tín ngưỡng Ngũ Hành, bên cạnh Bà Hoả và Bà Thuỷ, cũng được thờ trong ngôi đền nói trên. Trong số các thú vật sống ở rừng, người Việt sợ và trọng nhất voi và cọp nên gọi chúng là Ông. Họ tin rằng khi sống lâu năm cọp cũng có thể thành tinh như rắn. Mặt khác người Việt cũng tin là những người chết hay cảm thấy ngạt thở trong khi ngủ là vì bị ma mộc đè: ma mộc ở trong một cây gỗ dùng làm cột hay sườn nhà. Cũng nên nhắc đến tục thờ các cây cối linh thiêng: cũng giống như ở Trung Quốc, đó là các thứ cây "uy nghi nhờ cành lá sum sê và nhờ sống lâu năm. Khi già đi, chúng trở thành linh thiêng và siêu nhiên hoá ; người ta tin là chúng có được một quyền lực siêu việt" (H. Doré, Cadière, 1992). Như vậy, các cây cổ thụ có thể thành tinh, nhưng thông thường thì chúng là nơi trú ngụ của của thần hay yêu, tinh, ma, quỷ, như một câu tục ngữ đã khẳng định: "Thần cây da, ma cây gạo, cú cáo cây đề". Ở Huế và Quảng Trị, L. Cadière đã kiểm kê các loại cây linh thiêng có ma, quỷ và nhất là con tinh ở: cây bồ đề, cây sanh, cây da, cây bàng, cây sung, cây giáng châu. Ông còn nhắc trường hợp của một cây mun và một cây gõ (hay gụ), cả hai đều già đến mấy trăm năm nên không ai dám chặt vì sợ bị thần cây hay thần sống trong cây vật chết. Cũng theo L. Cadière, các người tiều phu chẳng bao giờ dám đốn một cây gỗ trên đó có cây quả hộp hay hộp ma (một loại dương xỉ biểu sinh sống bám vào thân hay cành của các cây to) mọc vì sợ thần sống trong cây báo thù. Phân tích các đặc tính mà các loại cây nói trên có chung với nhau, ông nhận xét là tất cả đều có lá "xanh sẫm, dày và mạnh mẽ", một dáng vẻ độc đáo hay lạ lẫm và thường là rất già. Tục thờ cây được biểu hiện bằnh nhiều cách: vài cây hương cắm bên gốc cây hay trên cành, vài thứ đồ mã, các bình vôi bị vỡ hay có miệng bị bít kín nằm chất chồng dưới gốc cây. Ðôi khi một bàn thờ khá tử tế hay một cái miếu nhỏ được dựng sát gốc cây: tất cả tuỳ thuộc ở quyền lực linh thiêng của các vị thần.
-
Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết: Một kỳ tài “Giải Phóng Môi Sinh” Hà Nhân Văn Bão tố, nóng lạnh, núi lở, biển dâng, động đất v.v… đều ngoài tầm tay của con người, do một Mẹ Thiên nhiên. Hội Ðịa Lý quốc gia Hoa Kỳ, xuất bản tập sách với nhiều hình ảnh quí giá, nhan đề “Sức mạnh của Thiên nhiên” (Powers of Nature – NGS, Wash, DC., 199 pp, với những hìnhảnh tuyệt đẹp và sống động). Cuốn sách quí giá trên lôi cuốn độc giả thật mê say và kỳ thú, từ sự thay đổi dáng hình của trái đất với lục địa và biển cả cách đây 200 triệu năm rồi 135 triệu năm, 65 triệu năm cho đến trái đất ngày nay. Dù là tay vô thần triệt để, trước sóng thần tsunami ở ÐNÁ và bão Katrina ở Hoa Kỳ cũng phải cúi đầu kinh khiếp trước sức mạnh của Mẹ thiên nhiên. Từ ngàn xưa, ta có thể nói một cách đầy tự hào và hãnh diện: Tổ tiên ta đã biết thờ kính Mẹ Thiên nhiên qua Ðạo Mẫu VN , xuất phát từ đời vua Hùng. Ngày nay, HNV tôi có thể nói mà không sợ quá đáng, khiên cưỡng hay đề cao: Tiến sĩ Mai Thanh Truyết là “đệ tử” của đại đạo Thiên Nhiên, môi sinh và môi trường. Nói được như thế là HNV tôi đã sưu khảo và đã nghe cả trăm bào viết và nói của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết và đài RFA trong nhiều năm qua. Nói một cách tâm linh, hẳn là bà Chúa Thượng Ngàn (Ðạo Mẫu) và Mẫu Thoải (Thủy Tiên Thánh Mẫu) chắc sẽ thưởng công cho nhà khoa học lỗi lạc này. Trận giá lạnh kinh khủng ở Việt Nam hiện nay từ miền Trung đến Thượng du miền Bắc, DO ÐÂU? Tất nhiên là do Mẹ Thiên Nhiên, ngoài tầm tay của Nhà nước CSVN. Hơn nửa thế kỷ mới có một trận rét và giá buốt khủng khiếp như thế, kéo dài cả tháng; 54.000 trâu bò và gia súc chết! Nhưng ở mặt khác, rất khoa học, lại do con người VN đã tiếp tay với Mẹ Thiên Nhiên. Về Một Nhà Khoa Học Môi Sinh Việt Nam Nhà khoa học Mai Thanh Truyết đã liên tiếp lên tiếng về môi sinh và họa phá rừng ở Việt Nam trên đài Á Châu Tự Do (RFA) và trên báo. Tôi sưu tầm được gần 30 bài báo thật giá trị, phong phú và cô đọng của TS Mai Thah Truyết, quê ở Tân Phú Thượng, tỉnh Hậu Nghĩa cũ, đậu Tiến sĩ “Cơ cấu hóa học hữu cơ”, ÐH Pháp quốc (Chimie Organique Structurale), cựu Trưởng khoa Hóa Học ÐH Sư Phạm sàgòn, Giám đốc Học vụ ÐH Cao Ðài, Tây Ninh, chuyên gia Nghiên cứu Y sinh hóa ÐH Y Khoa Mineapolis. Với cách nói và hành văn của TS Truyết rất nhẹ nhàng, bình dị, dễ hiểu, có thể nói rất Việt Nam và rất miền Nam với hàng chục năm ông nói và viết về môi sinh, môi trường, thiên nhiên, rừng cây, ô nhiễm. Ông đã đem lại ơn ích rất lớn quê hương Việt Nam. Theo dõi báo chí trong nước, có hàng tá bài nói và viết của TS Truyết đã được sao chép lại gần như nguyên văn đăng vào mục khoa học trên nhiều báo ở Hà Nội và Sàigòn như SGGP, Hà Nội Thanh Niên, Tuổi Trẻ… Nếu đã nghiên cứu về Ðạo Mẫu Việt Nam và khoa học Môi sinh hiện đại, t sẽ thấy TS Truyết quả là một gạch nối giao lưu và phản ảnh truyền thống trọng kính Mẹ Thiên Nhiên , núi rừng và sông biển của ông cha ta xưa. việt Nam có tục thờ CÂY mà học giả Pháp , LM thừa sai L. Cadière đã trình bày khá cặn kẽ: “Le Culte des Arbres” – (BEFEO T.XVIII, 1918). Bà Chúa Thượng Ngàn trong Ðạo Mẫu Tứ Phủ là bà nữ thần coi rừng cây lớn, phải làm lễ cúng bà, phải trồng 6 cây nhỏ để gọi là “trả lại bà Chúa”. Trước ngày Chùa Hương mở hội, phải làm lễ cúng bà Chúa gọi là xin bà cho mở cửa rừng núi ở bìa rừng Bình-Trị-Thiên thường dựng miếu thờ Bà Rú hóa thân bà Thượng Ngàn coi núi rừng. Năm Bính Ngọ (1126), vua Lý Nhân tông ban chiếu chỉ: “Cấm dân chúng mùa Xuân không được chặt cây” (Ðại Việt Sử ký toàn thư, Q.II, tr. 24a). Thập niên 1990, Âu Mỹ hốt hoảng trước họa môi sinh và Thiên nhiên bị tàn phá, Âu Mỹ nhất loạt nói lên cao trào bảo vệ và Giải phóng Môi sinh, Môi trường. Ðặc san khảo cứu khoa học Dedalus của Hàn Lâm Viện Nghệ thuật và khoa học Mỹ ấn hành số đặc biệt, trên 300 trang với chủ đề “THE LIBERATION OF ENVIRONMENT” (Giải phóng môi trường – Dadalus, Summer 1996, vol. 125, no.3). Giáo sư K.M. Meyer-Abich, giảng dạy Triết học Thiên nhiên: Tiến đến một nền Triết học Sinh học Trung đạo (tạm dịch) (Humans in Nature: Toward a Physiocentric Philosophy- Báo đã dẫn, tr. 213-232). Qua công trình nghiên cứu, nói trên đài RFA và viết trên báo của TS Truyết, quả thực ông là một chiến sĩ cách mạng môi sinh trong cuộc giải phóng môi trường mà ông nhắm hẳn về quê hương Việt Nam. Với những bài khảo cứu, đại loại như “Năng lượng methanol”, “Tế bào năng lượng” và môi sinh ở Việt Nam, có thể tập trung thành một bộ sách mấy trăm trang. Nếu giới lãnh đạo CSVN biết lắng nghe, thiết nghĩ đại họa môi sinh ở Việt Nam đâu đã đến nỗi thê thảm như ngày nay. Trận rét kinh khủng này nếu năm 1945 có thể giảm bớt độ giá rét đi rất nhiều vì rừng cây núi đồi chưa trơ trụi, vì còn cây đa cổ thụ, còn lũy tre làng che chở. Hà Nhân Văn 3/2008 Nguồn: http://www.hinhtran.com
-
Tâm Linh Cây Cỏ & Con Người Nguyễn Mộng Khôi Giữa thập niên sáu mươi, nhà Bác học Cleve Backster chế ra máy Dò Nói Dối, người Mỹ gọi là Lie Detector hay Polygraph, máy này có thể phát hiện những thay đổi về mạch đập, những bất thường của nhịp thở ..v..v... mà Backster cho rằng do tinh thần căng thẳng, không giữ được bình tĩnh khi người bị thẩm vấn có những điều uẩn khúc, những chuyện muốn dấu diếm. Cơ quan Trung Ương Tình Báo( CIA) dùng Lie Detector để điều tra những nghi can. Họ thấy máy này đem lại kết quả tốt nên năm 1986 Backster được CIA mời ra cộng tác và sau đó được cử làm Giám Ðốc Trường Huấn Luyện Dò Nói Dối và Sở Nghiên Cứu Backster(Polygragh Instruction School and The Backster Research Foundation)ở San Diego California. Từ đó, tên tuổi Ông được nhiều người biết đến, nhưng Ông chỉ thật sự nổi danh và được các khoa học gia thế giới cảm phục khi ông tình cờ tìm ra thảo mộc có tâm linh hay là cây cỏ có khả năng biết được ý định của con người. Một buổi sáng được nghỉ, Ông ngồi ngắm những chậu hoa, những chậu cây trong nhà, như một nhân duyên, Ông chú ý đến một cây có lá to và dày như lá đa trong một chậu cảnh, đã một tuần không được tưới nước, đất khô, thân cây cũng khô. Ông bổng nẩy ra ý định: - Thử cắm hai đầu dây của một điện kế(galvanometer) cực nhậy vào cái lá rồi tưới nước vào gốc cây. Nước dần dần lên thân và lá, nhưng cây kim điện kế vẫn đứng im. Rồi một ý nghỉ khác đến với Ông: - Hay là thử đốt chiếc lá này xem sao? Ông chỉ mới có ý nghĩ đốt chiếc lá tức thì kim điện kế bỗng nhẩy lên như bị điện dật. Ông tự hỏi, chẳng lẽ Ông nhìn lầm? Chẳng lẽ lá cây đọc được tư tưởng của Ông mà biểu lộ phản ứng sợ hãi hay sao? Nghĩ như vậy Ông làm thử lần thứ hai. Tay cầm hộp quẹt như sắp sửa đốt chiếc lá, nhưng Backster tự nhủ sẽ không đốt; thì điện kế cũng không nhúc nhích. Lần thứ ba ông nhất định sẽ đốt chiếc lá. Lúc đó trong phòng lặng gió kim điện kế đột nhiên nhẩy mạnh. Nhìn chiếc lá bị đốt một phần Backster thấy sung sướng trong lòng vì sự tình cờ mà biết được linh tính lá cây. Sự khám phá này làm Ông thích thú hơn là phát minh ra máy Dò Nói Dối hồi ba thập niên trước. Ông muốn công bố ngay cho mọi người biết. Nhưng Ông kịp ngừng lại, thái độ đúng của nhà khoa học là phải thử nghiệm đầy đủ, khách quan để không đưa tới kết luận sai lầm, thiên kiến và chủ quan... rồi, Ông định phát triển, nghiên cứu sang nhiều loài thảo mộc khác. Có tới 25 loại cây cỏ được nghiên cứu gồm nhiều loại lá, loại quả và loại củ. Sau những cuộc nghiên cứu thận trọng của Ông và các cộng sự viên. Ông chính thức công bố rằng: - Cây cỏ có trực giác tâm linh Chúng không có mắt, tai, mũi, miệng; không có óc; không có thần kinh hệ... thì cái biết của chúng hẳn phải khác với cái biết của con người. Con người có giác quan nhưng không có trực giác tâm linh như chúng. Dù một bác sĩ tâm lý giỏi cũng không biết được ý định của một kẻ điên khùng sắp đốt nhà mình. Suy nghĩ như vậy làm cho Backster phấn khởi Ông mở rộng cơ sở nghiên cứu và càng khám phá ra những điều mới lạ. Từng mảnh lá tách rời cũng phản ứng như nêu ở trên và người ta gọi là Phản Ứng Backster. Nhà Sinh thực vật(biologist) Ingo Swann, theo dõi cuộc nghiên cứu của Backster và viết trong quyển The Real Story(chuyện có thật). Quyển sách được phát hành ngày 15-11-1998 trong đó có đoạn: - Sự nghiên cứu(của Backster) khởi đầu chỉ là một khám phá hầu như tình cờ vào năm 1996 là thực vật có khả năng nhận thức và tự động đáp ứng những xúc cảm mạnh thuận theo ý chí con người ... những cây cỏ của bạn, biết là bạn đang nghĩ gì.(His research started with the 1996 almost accidental rediscovery that plants are sentient and respond to the spontaneous emotions and strongly express intentions of relevant humans... Your plants know what you are thinking). Phản ứng Backster còn đi sâu xa hơn và cho biết thêm là cây cỏ phản ứng không phải trước những mối nguy do con người tạo ra, mà cả những bất trắc, không tạo ra bằng ý định. Một con chó bất thần bước vào phòng, một người vốn ghét cây cỏ đi tới cũng làm điện kế nhẩy. Những cử động của một con nhện tiến đến, cũng gây phản ứng cho cây. Ông Backster đã làm thí nghiệm và chứng minh những điều đó trước các sinh viên trường Ðại Học Yale(Hoa Kỳ) trong trường hợp trên, một khi có người tới đuổi nhện và ngay trước khi nhện chạy đi kim điện kế đã hạ xuống. Y như là trước khi nhện chạy thì cái quyết định rút lui của nó đã được cây tiếp nhận. Cây đã thấy hết nguy hiểm và không phản ứng nữa. Một cuộc thí nghiệm khác chứng minh rằng khi sống cạnh nhau, cây để ý canh chừng nhau sợ bị quấy rầy nhưng khi có một động vật tới gần, mối nguy gần hơn cây cỏ quay sang canh chừng động vật. Những điều còn làm cho chúng ta kinh ngạc là cây có trí nhớ và tình cảm. Chúng nhận biết những kẻ chuyên phá hoại hoặc những người hay chăm sóc chúng. Ông Charles A. Lewis trong quyển Ý Nghĩa Của Cây Cỏ Trong Ðời Sống Chúng Ta(The Meaning of Plants in our Lives) viết: - Sự say mê nghiên cứu về những liên kết giữa cây cỏ với tâm trí con người mà những tương tác làm tăng thêm hạnh phúc ở ngoại cảnh và môi trường có tác động đến đời sống con người(Fascinating research can lead to enhanced well-being and an appreciation of the environment). Một gia đình an vui, hạnh phúc, cây cỏ trong nhà cũng tươi tốt. Khi người chăm sóc cây cối, cái tương tác tâm linh giữa Cây và Người làm cho cả hai đều khỏe mạnh hơn. Ðó là lý do tại sao những cây mọc gần nhà thường tốt hơn những cây mọc xa. Vậy chúng ta hãy nâng niu, trân trọng từng cọng cây chiếc lá. Hãy dành một chút thì giờ để chăm sóc cây cỏ và vườn tươi(lawn and garden) sức khỏe chúng ta có thể nhờ đó mà tốt hơn. Ngược lại những người thường xuyên chặt phá cây cối thường gặp điều kém may mắn hay nhuốm bịnh là vì khi cây bị xâm phạm, phản ứng tâm linh yếu ớt của cây đánh vào thủ phạm. Mỗi lần một ít, lâu dần người đốn cây sẽ bị bệnh nặng. Có thể người xưa sống an vui, hạnh phúc vì cái thú Ðiền Viên chăng? Các nhà sinh thực học thế giới rất hứng thú đang theo dõi công cuộc nghiên cứu của Backster, hiện đã có 7000 nhà bác học yêu cầu Ông thông báo cho biết kết quả nghiên cứu kèm theo các tài liệu khoa học. Những máy móc tối tân hơn được Ông thâu nhận, nhất là những máy ghi các nhịp luồng điện. Và cuộc nghiên cứu được tiến hành với kế hoạch tinh vi, được ghi chép đầy đủ. Các tài liệu được thu thập và xếp loại cẩn thận. Nếu Backster chứng nghiệm được Tâm Linh Cây Cỏ thì kỹ sư Kirlian đã chụp được hào quang của chúng. Kirlian, tên đầy đủ là Semyon Davidovich Kirlian(1900-1980) sinh tại tỉnh Krasnoda, xứ Amenia nước Nga. Năm 1939 Ông cùng vợ là Valentina đã phát minh ra máy Chụp Hào Quang gọi là Kirlian Electrophotographic Camera(gọi tắt là máy Kirlian). Ông bà này đã áp dụng từ trường của điện vào thuật chụp hình của sinh thực vật (Bio Electrography ). Một tấm ảnh chụp chiếc lá của máy Kirlian hiện ra như một thế giới điểm sáng. Chung quanh nó là hào quang(Corona ). Những tia lửa nhỏ màu ngọc lam, màu da cam, phát ra từ trung tâm và đi xa theo những kinh xác định. Không phải chỉ lá mới có hào quang. Cây càng lớn, càng già, hào quang càng rực rở và Trường Sinh Lực( bio field) càng mạnh. Trường Sinh Lực (TSL) chính là sức mạnh vô hình của thảo mộc. Có những tiều phu vừa đốn xong một đại thụ bỗng lăn đùng ra chết. Có thể người này đã chặt phải một linh mộc có TSL quá mạnh. Trong tín ngưỡng nhân gian ta, có tục thờ cây đa. Bên gốc đa già, thường có một cái miếu nhỏ, đặt bát hương, những chiếc bình vôi, để hương khói cho Thần Linh. Do kinh nghiệm của cha ông truyền lại thì cây lớn có Thần lớn. cây nhỏ có Thần nhỏ: - Thần cây đa, ma cây gạo. Trong kho tàng văn chương bình dân, ta còn thấy những câu tục ngữ xưa, có ý răn đe, những người chặt cây, phá rừng. Ðó là nghề nguy hiểm nhất: - Nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá. Nhờ sự khám phá về năng lực sinh học và hào quang của thảo mộc. Một số khoa học gia người Nga thực nghiệm rằng, rau cỏ (vegetable) nào có hào quang càng sáng thì càng nhiều bổ dưỡng ẩm thực. Họ nói: - Hào quang của rau cỏ giảm bớt khi bị nấu chín. Những tấm hình Kirlian cho thấy rau sống có hào quang chói sáng hơn rau luộc. (A Kirlian photogragh of a raw vegetable shows a brighter and more defined corona than a cooked one). Nhiều bác sĩ Tây Phương gần đây cũng đồng ý và viết thành sách. Họ khuyên chúng ta nên dùng thực phẩm tươi. Một tờ báo ở Thụy sĩ ca ngợi bác sĩ Bircher Benner: - Bác sĩ Bircher Benner, người đổi mới những bữa ăn điểm tâm không nấu chín thức ăn trong dưỡng đường của ông ở Thụy sĩ. Ông khuyên rằng thức ăn tươi luôn dùng trước bữa ăn đã nấu nướng, Ông tin chắc thức ăn tươi làm kích thích hoạt động điện của tế bào, vì vậy tăng cường sinh lực cũng như toàn bộ tiêu hóa được tốt hơn( DR. Bircher Benner innovator of Swiss Muesli for use in his clinic in Switzerland, advised that raw food always be taken first, before cooked meal. He believed that raw food stimulate the electrical activity of cells thereby enhancing the vitality as well as improving the rohole digestive process) Ðộng vật cũng có trường sinh lực và tác động mạnh mẽ tới con người. Trong tạp chí y khoa Health Care số 2-2000 có ghi những điều đáng chú ý giữa con người và vật nuôi làm cảnh(Pet) như sau: - Những người yêu thích súc vật và nuôi làm cảnh trong nhà như: Chó, mèo, chim, cá, gà ..v..v.. thường có sức khỏe tốt hơn và sống lâu hơn. Những bệnh nhân bị áp huyết cao, bệnh đau tim, bệnh trầm cảm(depression) cũng lợi lạc hơn những người không nuôi một động vật nào. Các cuộc thử nghiệm của một số bác sĩ Tâm Bệnh Lý (Psychologist) Mỹ và Úc cho biết số người bị tắc mạch máu đã giảm đi hai lần và số người có chất mỡ (cholesterol) cao trong máu sẽ giảm đi nếu chủ nhà có nuôi vài con pets Nhóm khoa học gia thuộc viện đại học U. S. C Tiểu Bang California còn đi xa hơn trong lãnh vực nầy. Họ bảo bệnh Alzheimer dường như phục hồi trí nhớ và cả đến nạn nhân của tử thần AIDS cảm thấy lạc quan và tỏ ra yêu đời hơn khi họ được làm chủ một con vật mà họ ưa thích. - Con người cũng có Trường Tâm Linh, Trường Sinh Lực như thực vật và động vật. Kirlian đã chụp hình bàn tay và ngón tay đều có hào quang, giống như hào quang của chiếc lá. Hào quang nấy bước đầu cho biết về tình trạng sức khỏe của các sinh vật rồi tới tâm trạng của các sinh vật đó. Khi sức khoẻ hoặc tâm trạng thay đổi thì hào quang đó đổi thay theo. Nhiều bác sĩ người Nga khẳng định và viết trong sách Y Học của họ ... Trong quá khứ, hình chụp Kirlian được dùng vào nhiều mục liên quan tới diện mạo, thần sắc của sức khỏe và tâm/ sinh lý. Hình ảnh thật rỏ ràng trong sự tiên đoán những hiện trạng bệnh tật như nhiều hình thức Ung Thư, những bệnh về Bướu, Phong thấp, Xưng khớp Xương, bệnh Thần Kinh, bệnh Suy Nhược v..v... Họ tin chắc hình chụp Kirlian có thể tiên đoán những bệnh từ lúc khởi đầu ngay trước khi có những triệu chứng phát hiện nó là một dụng cụ rất ích lợi để đoán trước bệnh(... Kirlian photograghy has been used in the past for a variety of purpose relating to psycho/physiological aspects of health. It has been clearly shown to be effective in diagnosing conditions such as the various forms of cancer, Cystic, fibrosis, Rheumatoid, Arthritis, Schizophrenia, Depression and Others. It is believed that Kirlian photography can predict the onset of disease prior to symptoms showing, making it a useful tool in early diagnosis) Một số thống kê mới đây cho thấy rằng, người độc thân mau chết hơn người có gia đình. Ban đầu các nhà y học đánh giá là do vấn đề sinh hoạt tình dục. Nhưng ngay cả những người độc thân có quan hệ tình dục ngoài hôn nhân cũng vẫn chết sớm. Người ta lại cho rằng khi có gia đình ổn định, con người được chăm sóc tốt hơn nên sức khỏe cải thiện hơn. Thật ra đó chỉ là lý do phụ, lý do chính là tình thương yêu chân thật của vợ chồng đã tạo ra Năng Lực Tâm Linh( hay TSL) làm cho khoẻ hơn. Những huyệt đạo (sensitive points of body) trong khoa châm cứu (Acupuncture) Ðông y hình như có liên quan đến vùng Không Gian Tâm Linh của con người. Ðến ngày nay Tây y đã công nhận huyệt đạo là có thật. Khi châm cái kim hoặc kích thích vào một huyệt đạo thì nó có tác dụng lên cơ thể. Ðiển hình nhất là Châm (punctuare) gây Tê (numb) trong giải phẩụ Y học Tây Phương phải dùng thuốc tê để làm tê liệt các thần kinh rồi mới mổ xẻ. Các nhà châm cứu Ðông Y chỉ việc châm một số huyệt vào phần cơ thể là họ có thể giải phẩu bình thường. Các tác dụng cụ thể của huyệt đạo buộc các Bác Sĩ Tây Y phải công nhận là có huyệt đạo. Nhưng nó nằm ở đâu thì không ai thấy. Các Bác Sĩ Tây y lấy dao mổ ra, họ không thấy gì ở trong và cũng không thấy một sự liên hệ của Huyệt Ðạo đó với các thần kinh chung quanh, Huyệt Ðạo Hoàn Toàn Không nhưng mà tác dụng của nó thì Có Thật và các huyệt đó nối nhau thành một hệ thống huyệt đạo (Ðường của những huyệt). Trong cơ thể con người có nhiều đường. Ðường Kinh Nhâm đi từ môi dưới xuống trước hậu môn. Ðường Ðốc Kinh đi từ hậu môn tới đỉnh đầu rồi đi về phía môi trên. Còn có Ðường Kinh khác như là Túc Thái Dương, Bàng Quang Kinh.. v..v... những hệ thống kinh Huyệt này chứng tỏ một cách chắc chắn rằng Cơ Thể Nầy Ngoài Cấu Trúc vật Chất, Còn Có Một Cấu Trúc Tâm Linh Vô Hình rất là thật mà qua các Huyệt mình mới hiểu được nó. Qua những sự nghiên cứu của Backster, Swann, Lewis, Kirlians... chúng ta rút ra một hệ luận, không gian tâm linh tuy vô hình nhưng có tác dụng. Những ý nghĩ thầm kín của chúng ta vẫn lặng lẽ tạo nghiệp. Ðối với những người hiểu luật Nghiệp Báo, hiểu rỏ sức ảnh hưởng của Tư Tưởng và môi trường chung, họ sẽ giữ tâm hồn để không bị nhiễm bẩn bởi các dòng tư tưởng ác trong không gian, đồng thời họ chân thành cầu nguyện cho mọi người đều tốt đẹp, họ thường rải tâm từ bi đến muôn loài, từ con người, con thú đến tận cây cỏ lá hoa. Nguồn: camxahoc.vn
-
Thế Ứng Xử Của Người Việt Với Cây Và Hoa --- Trần Quốc Vượng --- Thời đại nào cũng cần cây, để thỏa mãn mọi nhu cầu phức tạp của con người. Từ thời đại nông nghiệp, ngoài cây cỏ tự nhiên đã có cây trồng - cây tự nhiên được thuần hóa, thuần dưỡng hóa, được văn hóa hóa... Cây và cây trồng để ăn (làm thức ăn). Cây và cây trồng để mặc (làm nguyên liệu may quần áo). Cây và cây trồng để ở (làm vật liệu kiến trúc, bàn ghế, giường phản, làm hàng rào, lũy). Cây và cây trồng để đi lại (để đan thuyền nan, đóng thuyền gỗ, ghe bàu đi sông đi biển). Và cây và cây trồng để ngắm, để chơi, gọi là Cây cảnh. Con người không chỉ sống để ăn - ngủ... Con người có năng lực biểu tượng hóa - cũng là văn hóa hóa - đã biến cây thành biểu tượng với mọi nhu cầu Chân - thiện -mỹ. Biểu tượng của Tre Trúc - như lời thơ Hán Việt trên một tranh dân gian - là Tiết tháo, vô tư: Vị xuất thổ thời tiên hữu tiết Đáo lăng vân xứ dã hư tâm (chưa ra khỏi đất đà có tiết cao vút mây mờ vẫn tâm không) Sen là một biểu tượng của Trong sạch, thanh cao: Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. "Phật ngự trên tòa sen" là sự nghệ thuật hóa, tôn giáo hóa của biểu tượng Sen trong trắng thanh tao. Ở Trung Hoa cổ, từ thời đại Kinh thi đến thời đại Đường thi và sau này nữa, đào, đào hoa là biểu tượng người con gái đẹp. Đào chi yêu yêu Chước chước kỳ hoa Chi tử vu qui Nghi kỳ thất gia (Cây đào xinh xắn, mơn mởn sắc hoa, nàng đi lấy chồng, êm ấm cửa nhà). Một tiếc nuối "em đã có chồng..."? Khứ niên kim nhật thử môn trung Nhân diện đào hoa tương ánh hồng Nhân diện bất chi hà xứ khứ Đào hoa y cựu tiếu Đông phong (Năm trước ngày này tại cửa này Hoa đào cùng với mặt người ánh tươi Người đi đâu biệt mất rồi Hoa đào năm ngoái còn cười gió Đông Đấy là tư duy liên tưởng Hoa - Người. Người - Hoa, đã có ảnh hưởng lớn đến thi ca Việt Nam, đến Nguyễn Du - Kiều. "Vẻ chi một đóa yêu đào..." đến tử vi - tướng số "Số đào hoa" "Kiếp đào hoa". Người con gái: "Làm hoa cho người ta hái, làm gái cho người ta trêu". Với Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, cái thanh lịch kẻ Chợ được biểu tượng bằng nhài, bằng mai: Chẳng thanh cũng thể hoa mai Dẫu không lịch sự cũng người Thượng kinh. Chẳng thanh cũng thể hoa nhài Chẳng lịch cũng thể con người Tràng An. Rồi nào là: Ngát thơm hoa sói, hoa nhài Không khéo thợ thầy Kẻ chợ (Hà Nội) Yêu người trồng hoa "vừa đảm vừa xinh" và yêu luôn cả "hoa nàng" hay ngược lại "nàng Hoa": Phiên rằm chợ chính Yên Quang Yêu hoa anh đợi hoa nàng mới mua! Ai trong chúng ta mà chẳng biết người ta, từ lâu lắm rồi thích đặt tên con gái bằng tên các loài hoa "Hoa Mai Lan Lý mặn mà cả tư", đến người giúp việc là gái thì cũng vẫn là "con sen, con nhài" đối ứng với gia nhân là nam thì dùng quả "thằng cam, thằng quít". Từ trước Công nguyên (xem Hán thư, Nam phương thảo mộc trạng...) ở Giang Nam, người ta quý quất, nhà trồng nhiều "quất" coi như có nhiều nô bộc, do vậy quất được gọi là "mộc nô". Có hiểu vậy mới hiểu vây mới hiểu được câu thơ của vua Trần Thánh Tông nước ta vịnh cảnh Thiên Trường (Nam Định) (xem Thơ văn Lý Trần tập II): Bách bộ sinh ca cầm bách thiệt Thiên hàng nô bộc quất thiên đầu. (Trăm tiếng chim ca trăm tiếng sáo Nhìn hàng nô bộc quất nghìn cây) PGS. TS Trần Lâm Biền đã có bài viết rất hay về không gian tâm linh quanh cây cối. Nhà văn Tô Hoài cũng có cùng ý tưởng như vậy: Cây cao bóng cả, đại / cổ thụ đểđược "thiêng hóa", đã thành tục ngữ: Thần cây Đa, ma cây Gạo, cú cáo cây Đề. Không ai trồng Đa, Đề trong sân cửa nhà tư gia. Không nhà nào trồng Gạo đầu cổng ngõ. Đa trồng ở đình, ở đầu làng. Đề trồng ở chùa với ý niệm "Bồ đề" (Giác ngộ thành Phật - Buđha). Cây Đại (Chăm-pa) thường thấy ở đền. Cây Si (khi) "cây Vũ trụ" trong các ánh mo Mường. Trong tâm thức dân gian người Tày, người Kinh, người miệt biển cây Xương Rồng xua đuổi tà ma. Xương Rồng được trồng làm hàng rào không phải chỉ vì xương gai của nó. Chuyện "cổ thụ thiêng" vẫn lưu truyền trong tâm thức người Việt, từ Hà Nội đến Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh: Cây có tuổi thọ gấp bao nhiêu đời người "sống lâu thế phải tại sao chứ" (Tô Hoài). Và thế là "cây có hồn": Tục thờ Cây là một tín ngưỡng dân gian Việt Nam, tín ngưỡng dân gian ấn Độ, tín ngưỡng dân gian toàn nhân loại. Và tự nhiên hình thành câu ví: Nguyễn Tuân, Văn Cao... là những bậc "đại thụ" trong làng văn nghệ Việt Nam! Và Việt Nam xưa - coi Cây cũng như Người "Trông cây lại nhớ đến Người" (Đỗ Nhuận và dân gian xứ Nghệ). Và có tục Khảo cây vào ngày Đoan Ngọ mồng 5 tháng 5 ta. Chính tôi đã được nghiệm sinh tục khảo cây từ tấm bé. Nhà bà nội tôi có trồng cây Hồng xế ngoài sân, cây này mấy năm không ra quả. Ngày tết Đoan Ngọ, buổi sớm mai, bà tôi gọi thằng nhỏ lên dặn dò câu gì đó, nghe xong nó trèo tót lên cây Hồng. Dưới gốc cây, bác phó Nghiễm, người nhà lực lưỡng của bà tôi cầm chày gỗ nện vào gốc Hồng: - Hồng! Trên cây thằng nhỏ đáp: - Dạ! Bác phó: - Sao mày chậm ra quả thế? Chát! chát! Thằng nhỏ: - ối! ối! Đau quá! Con xin ông! Bác Phó: - Năm nay mày phải ra quả nhớ! Nhớ chưa? Thằng nhỏ: - Vâng! vâng! con xin nhớ ạ! Một màn "hài kịch cây trồng!" mọi người cười vui. Năm ấy Hồng ra quả thật. Bố tôi, một kỹ sư canh nông thời Tây thuộc địa bảo: - Đấy là ma thuật trồng cây (magie de culture). Ma thuật cũng là công nghệ (Technologie). Đấy là để "kích thích" cây trồng! "Thiêng". Và "Giải thiêng". Và "Giữ thiêng". Giáo sư Từ Giấy và Hội Sinh vật cảnh Việt Nam đã từ kinh nghiệm dân gian châu thổ Bắc Bộ: - Nhất canh trì (ao) Nhì canh viên (vườn) Ba canh điền (ruộng) - Thứ nhất thả cá... mà hình thành ra công thức VAC, sau còn gọi là hệ sinh thái VAC hay RVAC (Ruộng - Vườn - Ao - Chuồng). Tôi đã viết về ba loại hình vườn bắc -trung - nam của một Việt Nam: Vườn miền bắc: ngang hàng thẳng lối tương đối trong một hệ sinh thái phồn tạp (đa canh) có rào, có dậu, kề ao - dù có như "vườn Bùi" của cụ Tam Nguyên Yên Đổ ở Bình Lục - Hà Nam: Ao sâu nước cả khôn chài cá Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà Cải chửa ra hoa, cà chửa nụ Bầu vừa rụng rốn mướp đương hoa... (Đây là quãng thời gian ngoài Giêng - Hai) Vườn miền trung: cái tự nhiên và cái nhân vi vẫn gần gụi, đan cài vào nhau. Vườn miền nam: Với công nghệ "lên líp (liếp) trồng cây" và có chuyên canh đặc sản ở "miệt vườn". Có một nền "văn minh miệt vườn" (chữ của cụ Sơn Nam) ở Nam Bộ. Chỉ nói riêng vườn miền bắc: qua thí dụ nhà bà tôi, một nhà khá giả nhà quê xứ Nam Hạ Nam Hà: Khuôn viên nhà bà tôi rộng chừng một mẫu hơn (nhà quan lớn Tam Nguyên Yên Đổ có 9 sào vườn và một mẫu ao). Có nhà ở và nhà thờ. Không có tục cắm hoa trong nhà cả tháng cả năm như ngoài Kẻ Chợ ( đây là một "ảnh hưởng Tây", ông bà tôi coi là "dã man" vì hoa chóng héo, phí công người trông!) Tô Hoài nói đúng: ngay ở Kẻ Chợ, phong tục cành đào Tết không phải là lối chơi thời cổ. Bàn thờ, án thư, bàn nước không có chỗ cho hoa đào (Bắc) hay mai vàng (Nam). Chỉ có "hoa cúng", bày trong đĩa đặt trên bàn thờ tổ tiên ban thờ Thần Phật, ngày mồng Một, ngày Rằm, ngày Tết. Cái cốt lõi giữa ban thờ là "mâm ngũ quả" bày trên mâm bồng sơn son. "Nải chuối xanh quả bưởi - bòng, quả Phật thủ (bàn tay Phật), cam quýt chẵn đôi, chẵn chục. ở miền nam, bà con có phần "chơi chữ", bầy quả dừa ("vừa"), quả đu đủ ("đủ"), quả soài ("sài" "vừa đủ sài" như mong ước)... Hai bên ban thờ là hai cây mía tím to, được gọi là "mía ông vải", "gậy chống ông vải" để cả ngọn, mà nhà nhân học - văn hóa giải mã là biểu tượng của sự phồn thực. Nhà - Hiên - Sân - Vườn: mô hình nhà khá giả ở châu thổ Bắc Bộ. Dưới sân, trước hàng hiên, nhà ông bà tôi cho trổ gạch trồng ít cây hoa: ngâu, mộc hai bên con sấu ở bậc thềm, rồi hồng, ròi đào phai, rồi mai... Trong sân giáp vườn, là đỗ quyên, là quất, là sói, là nhài. Rồi vườn giáp sân, là cây tùng, cây bách, cây vạn tuế cầu mong ông bà tôi sống lâu thượng thọ. Mà lạ thay, cây này chết, thì ông bà tôi cũng lần lượt lánh đời... Đó hoàn toàn là những cây cảnh. Tôi mơ màng nhớ tới căn nhà ức Trai - Nguyễn Trãi bên bờ sông Tô cận kề Kẻ Chợ: - Hé cửa, đêm chờ hương quế lọt - Quét hiên ngày lẹ bóng hoa tan. Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện cùng tôi đã phục dựng căn nhà Nguyễn Trãi từ thơ văn Nguyễn Trãi nhập dịp kỷ niệm 600 năm danh nhân văn hóa (1380-1980). Cửa số, là hệ thanh gỗ, kéo lên, xập xuống, không phải là cửa chớp - cửa kính kiểu nhà Tây. Hiên - sân nhà ông tôi, là "vang bóng một thời" - thời đại ức Trai. Như nhà cụ Tú Lan làng Mọc, phụ thân nhà văn Nguyễn Tuân... Ở ngoài vườn cây ăn quả, thì thong dong trước sân là hàng cau. Người nông dân dậy sớm, khi trời còn tối đất, đứng ở hiên nhìn lên ngọn cau thấy phớt sáng là biết thời gian. Nhiều khi dưới hàng cau hay ở ngay đầu hồi đàng Đông, bà con nhà quê dựng giàn trầu. Bà tôi già, lại sang, nên thích ăn lá trầu vàng. Song cũng có khi trời đã tối mà trong ang đồng đựng trầu của bà tôi đã hết, bà tôi phải lọ mọ ra đầu hồi hái ít lá; vừa hái bà tôi vừa lẩm nhẩm mấy câu cầu khấn. Bà bảo: Đêm, trầu không cũng đi ngủ như người, mình hái vài lá thôi cũng phải xin vì đánh thức nó, nhiều khi nó giận, héo rũ cả giàn! Bố tôi thì giải thích: Đêm có sương, hái lá, còn cuống tươi, sương muối ngấm vào thân trầu, có thể hại cả cây trầu! Ven bờ rào, chỗ ít nắng, bà tôi cho trồng bưởi, mít, ổi. Bố bảo: Cây có vỏ da trơn là loại á nhiệt - ôn đới, không cần nắng nhiều. Nhãn vỏ sù sì, đích thị cây nghiệt đới, phải trồng chỗ thoáng để hoa nhãn "phơi mầu" mới sai quả; nhãn lại cần nước, nên trồng dọc bờ ao bờ đầm bờ trũng. Cam quýt chanh trồng vườn trên ao, đánh vun ụ gốc to, sai quả. Trên cành cam quýt, nuôi ít tổ kiến vàng để nó diệt loài sâu đục thân cây cam quýt hút nước ngọt. Sau này, tôi đọc trong sách Nam phương thảo mộc trạng của Kế Hàm đời Tấn, thấy từ thế kỷ 3 "Người Giao Chỉ" (Việt cổ) đã áp dụng kỹ thuật này cùng kỹ thuật chiết cành vào mùa Xuân: Cái hoa Xuân nở, cái lá Xuân xanh Ai muốn chiết cành, hãy đợi mùa Xuân! Dùng kiến diệt sâu, dùng côn trùng diệt côn trùng được người Mỹ xem là kỹ thuật nông nghiệp hiện đại, áp dụng ở Mỹ - Canada từ 1850! Thuở bé tôi cũng từng tận mắt xem bố tôi ghép cây: Chặt ngang thân bưởi "bánh tẻ". Dùng dao nhỏ sắc, tách tước ra một miếng vỏ tươi hình chữ nhật, bỏ đi. Lấy ở thân cam chỗ có mấu mầm, cũng khéo léo tách tước ra một miếng vỏ vừa y diện tích vỏ tước trên thân bưởi, đem ghép vào vừa khít, lấy lạt buộc trên dưới chỗ mầm quanh thân bưởi. Nhựa sống bưởi dâng từ gốc lên nuôi mầm cam, ít lâu sau mầm đâm nhánh, bà tôi sẽ có cây cam thân bưởi, quả to hơn mà ngọt cũng như cam! Cũng không ai trồng bụi chuối trước cửa nhà mà thường trồng sau nhà, đầu hồi nhà, chỗ nẻo vắng quanh vườn. Chuối trổ buồng năm một, chặt buồng thì cũng chặt luôn cây chuối, thái lõi cho lợn ăn (người cũng có thể ăn nõn chuối non - đấy là món "loóng" của người Mường - người Huế mà Phó Giáo sư Từ Chi đã phát hiện sự tương liên giữa ẩm thực Mường - ẩm thực Huế (hay ăn rau dại bán ở chợ Đông Ba). Gốc chuối "mẹ" để nguyên, sẽ đẻ ra thân chuối con, cứ thế, cứ như thế như thế, cả đời... Vườn sau nhà bà tôi trồng xoan; quanh bờ ao trồng tre, sung, bòng, nhót, ổi. Đầy trên lũy tre là các tổ chim cò, vạc. Vạc đi ăn đêm, tối bà tôi nghe tiếng vạc, chép miệng "Kêu như vạc", sáng sớm về tổ lại chãng chọe nhau, đú đởn với nhau lại "kêu như vạc" rồi mới ngủ ngày. Da diết thương nhớ cảnh: Cái cò mà đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao... "Thân cò lặn lội" là thân người dân cày đầu đội nón mê, lưng khoác áo tơi lá, chân đất lấm bùn lầy... Người dân nghèo ngày trước ít trồng hoa. ở nông thôn, nhà "có máu mặt" mới trồng bụi sói, bụi nhài. Nên nói thành thật, như Tô Hoài là cây hoa, cây cảnh nảy sinh từ cung vua, phủ chúa, dinh quan lớn, nhà phú hộ mà nhất là ở chốn phồn hoa thị thành. Song xin chớ nên quên: Đình - Đền - Chùa - Miếu... ngày trước là những trung tâm văn hóa - tôn giáo (tôn giáo cũng là văn hóa) thì cũng là những trung tâm trồng cây cổ thụ, rồi cảnh hóa những cây cổ thụ đó (si, sanh, đa...) và trồng cây hoa, cây quả, cây thuốc chữa bệnh... Và chính từ Đền - Chùa mà nhiều giống cây có nguồn gốc ngoại sinh, qua giao lưu văn hóa - được hội nhập vào bộ cây giống Việt Nam rồi truyền bá ra Dân gian. Trên tạp chí Châm cứu Sông Bé (1994), thạc sĩ Lê Thị Liên và tôi đã công bố việc phát hiện tấm bia "Tế bệnh điền" thời Trần Minh Tông (1314 - 1328) ở chùa núi Dục Thúy (Non Nước - Ninh Bình), nói rõ các chùa thời Trần được vua cấp ruộng trồng cây thuốc chữa bệnh cho dân. Sau đại thắng Bạch Đằng (1288) Hưng Đạo đại vương lui về Kiếp Bạc, trồng cây hoa, cây thuốc chữa bệnh cho dân. Hai dải núi Nam Tào, Bắc Đẩu chầu vào đền Kiếp Bạc gọi là Dược Sơn và cho đến nay làng có đền Kiếp Bạc nổi tiếng đó vẫn mang tên Dược Sơn. Những nhà nghiên cứu văn học, Phật học đều nhớ bài thơ "Cáo tật thị chúng" hay tuyệt vời của thiền sư Mãn Giác (1052 - 1096) có liên quan đến các cây hoa, cây mai nhà chùa trồng đời Lý: Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai Sự trục nhãn tiền quá Lão tòng đầu thượng lai Mạc vị xuân tàn hoa tận lạc Đình tiền tạc dạ nhất chi mai. (Xuân đi trăm hoa rụng Xuân tới trăm hoa cười Trước mắt việc ruổi mãi Trên đầu già đến rồi. Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua hiên trước một cành mai!) "Nhất chi mai" thanh quý biết bao. Trồng Hoa để thưởng ngoạn, để liên tưởng, để triết lý về lẽ sinh tử, về cuộc Đời! Đại thiền sư Giác Hải cũng tư duy với Hoa và Bướm: Xuân lai hoa điệp thiện tri thì Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ Hoa điệp bản lai giai thị huyễn Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì. (Xuân sang hoa bướm khéo quen thì Hoa bướm cần ưng theo hạn kỳ Bản lai hoa bướm đều huyền ảo Hoa cười bướm lượn bận lòng chi). Cũng ở thời Lý, theo Sử chép (Sử nói ở bài này chủ yếu là nhắc đến bộ chính sử Đại Việt sử ký toàn thư), triều đình nhà Lý đã có cả một vườn thượng uyển là Hoa lâm (Rừng hoa nay thuộc Mai Lâm - Đông Anh, Hà Nội), cũng gọi là Hoa Viên (Vườn hoa) ở đó có đền thờ tổ tiên nhà Lý (theo lời truyền miệng dân gian ở Mai Lâm, đây là quê mẹ Lý Công Uẩn - Huyền tích khác nói bà mẹ họ Phan này người Đình Sấm - nay thuộc xã Tân Hồng, Từ Sơn, Bắc Ninh). Ta nên nhớ trại Hàng Hoa - Ngọc Hà nổi tiếng Hà Nội có ngôi đình nổi tiếng đã được xếp hạng thờ Hoa nương (nàng Hoa) tương truyền là người thời Lý, 9 tuổi đã theo cha đi đánh giặc lập công (Xem Hoàng Đạo Thúy Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, Hội văn nghệ Hà Nội, 1969). Tôi cho rằng từ thời Lý, vùng Ngọc Hà đã có làng Hoa của kinh thành Thăng Long và dân làng Hoa thờ bà chúa Hoa - Hoa nương - làm nữ thần bảo hộ của làng mình. ở đó đến đầu thời Lê (xem sử chép, 1516) đã tồn tại chợ Hoàng Hoa (Hoàng Hoa = Hoa Cúc). Lý - Trần - Lê theo Sử chép Thăng Long có phường Yên Hoa (đời Nguyễn đổi gọi là Yên Phụ) ở đó và ở Mai Dịch đều có cánh đồng Bông (trước thế kỷ 18 người Bắc gọi Hoa là Bông như người Nam hiện nay), có phường Kim Hoa (đời Nguyễn đổi là Kim Liên) có đầm sen (nay là công viên Bảy Mẫu (Thống Nhất). Chợ Hoa Thăng Long ngày trước chủ yếu là bán hoa cúng ngày Một, ngày Rằm (phiên Rằm chợ chính Yên Quang; Yêu Hoa anh đợi hoa nàng mới mua). Nhưng ở thị thành ngày trước, không loại trừ việc bán cành hoa để cắm lọ độc bình ở những nhà khá giả, quyền quý. Ca dao dân gian Kẻ Chợ có câu: Trách người quân tử bạc tình Yêu hoa rồi lại bẻ cành bán rao. Đó là nhân một hiện tượng hiện thực (bẻ cành hoa đem bán) mà triết lý về nhân tình thế thái. Cũng như cụ Đặng Tiến Nam, Tô Hoài, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường suy đoán rằng các vườn hoa là khởi nguyên tự các nhà vương hầu quý tộc Lý, Trần. Các nhà sử học ta hầu như chưa có một công trình nào viết về lịch sử nghệ thuật trồng hoa, thưởng hoa (họ còn mải viết "đại sử" về chiến tranh, kinh tế, xã hội). Bộ mặt điền trang - thái ấp Lý, Trần, nào ai đã biết rõ. Theo một cách tiếp cận lịch sử qua thơ văn (mà người Mỹ gọi là Intellectual History), ta có thể hình dung được ít nhiều. Xin hãy đọc ít bài thơ của đại tư đồ Trần Nguyên Đán đời Trần, ông ngoại Nguyễn Trãi (Xem Thơ văn Lý, Trần. Tập III). Bài 1: Cửu nguyệt hữu nhân lai phỏng đồng tái (Tháng chín có người đến thăm nhà, cùng làm thơ) Trích: Kích hạ nhiêm nô xiết cảnh linh Xuất môn hỷ tiếp tử khâm thanh Tự ngu cố thác hoa mê viện Tập tĩnh thời quan thảo mãn đình... (Dưới cửa kính, người gia nô rậm râu giật chuông báo hiệu. Ra cửa mừng đón khách áo xanh, Vui ngắm cảnh hoa đầy cả viện. Quen yên tĩnh, thường xem cây cỏ đầy sân). Bài 2: Thu nhật (Ngày thu): Lâm lưu mao xá bản phi quynh Tiểu phố thu thâm hứng chuyển thanh. Mai tảo cúc phương hiền tử đệ Tùng thương trúc sấu lão công khanh... (Ngôi nhà tranh bên sông khép cánh cửa ván, Trong vườn nhỏ giữa mùa Thu, cảm thấy rất thú vị, Mai nở sớm, cúc đưa hương: đệ tử người hiền, Thông xanh, trúc gầy, bậc công khanh già) Bài 3: Cửu nguyệt tam thập nhật dạ hữu cảm (Cảm xúc đêm 30 tháng Chín): ... Vãn cúc tảo mai tân phú quý. Thanh đăng hoàng quyển cựu sinh nhai. (Cúc muộn, mai sớm là phú quý mới, Đèn xanh, sách vàng là nghiệp nhà xưa). Xem thơ Băng Hồ và các tác giả khác, có thể hình dung được cái mà Sử không chép. Thời Lý đã có vườn thượng uyển ở phía Tây Cấm thành ("Hướng Tây cấm chi danh viện" - Văn bia chùa Đọi, 1121). Đời Trần cũng vậy. Bài thơ họa vần "Ban yến cho những người đỗ tiến sĩ ở điện Quan Đức" của nhà vua của Băng Hồ có câu: Cấm uyển tân tình thụ ảnh tà... (Trong vườn cấm, nắng mới lên, bóng cây nghiêng). Bài họa thơ nhà vua "Tháng chín ngắm cúc" nêu rõ: Vụ tẩy yên hoa mãn cấm thành Hoàng hoa thời tiết hảo thu thành Hàm sương ngọc nhị kình thiên trọng ánh nhật kim ba chiếu hạm minh... (Sương mù tan, khói và hoa đầy cả cấm thành, mùa hoa cúc trong tiết thu đẹp, nhị ngọc ngậm sương nặng trĩu vươn lên. Bông vàng nhuốm nắng rực rỡ trước hiên...). Tôi đã về thăm Tức Mặc - Thiên Trường nhiều lần, dò tìm cung điện xưa, dòng sông cũ, vườn cây - hoa của thượng hoàng Trần thuở trước và đã viết bài cho tạp chí Sinh vật cảnh nói về làng Hoa xứ Nam. Phạm Sư Mạnh (nửa đầu thế kỷ 14) đại quan đời Trần, nổi tiếng văn học, có 2 bài thơ ghi lại việc hầu vua về Thiên Trường. Bài 1: ... Hải thành thổ cống bao cam quất (Thành vùng biển, đồ cống có cam, quất) Bài 2: ... Lưỡng ngạn tân sương kim quất quốc (Sương mới đôi bờ đất quất vàng) Quất thành Nam, cũng như đỗ quyên, cho đến nay còn nổi tiếng. Nguyễn Phi Khanh, con rể Trần Nguyên Đán, phụ thân Nguyễn Trãi, khẳng định trong thơ Thiên Trường có vườn ngự uyển của thượng hoàng: Bài 1: Thiên Trường thí hậu hữu cảm (Cảm xúc sau khi thi ở Thiên Trường) ... Đông phong ngự uyển, hoa rung động Tế vũ càn khôn liễu sắc tân. (Gió Đông (gió xuân), trong vườn ngự uyển, dáng hoa lay, Mưa nhỏ đầy trời, nhành liễu xanh non). Đến Tức Mặc Thiên Trường ngoại thành Nam Định hôm nay, tôi vẫn thấy thôn Liễu Nha (quê Trần Lê Văn) và cùng anh hồi tưởng bến Liễu của dòng sông Châu thời Trần năm nao, ngày nào..." ngạn thụ đông tây kỳ phất lược" (Cây cối đông tây cờ lật phật); "Liễu phố tam thu vũ, Quân bồng bán dạ thanh" (Mưa thu trên bến Liễu, Thánh thót rỏ mui thuyền); "Biển chu bạng liễu quá tiền khê" (Thuyền men rặng liễu lướt khe đi)... Để khẳng định thời Lý Trần, các đấng quân vương quý tộc đều có Hoa viên, tôi xin dẫn thêm một chứng trong Lĩnh Nam chích quái (viết lại năm 1501), truyện Hà Ô Lôi: Nhà quận chúa Trần bên bờ sông Tô có cả một vườn hoa đua sắc, Hà Ô Lôi giả xin làm một chân cắt cỏ, vào vườn cắt sạch cả cỏ cả hoa để bị bắt giữ và tìm cách hát ca để gụi gần Quận chúa. Đầu thời Lê, ở Thăng Long, nhà các quan đều trồng hoa là điều Sử chép chắc chắn: Năm Kỷ Dậu (1429), tháng Ba, ngày 20, vua hạ lệnh: "Cho đô tổng quản và quản lĩnh các đạo cùng các quan viên ở các phường trong kinh thành biết rằng: Hiện nay đất của các công hầu bách quan đều có phần nhất định, phải nên trồng cây, trồng hoa và rau đậu, không được bỏ hoang...". ở trên, ta đã nhắc đến nhà ức Trai bên bờ sông Tô mà bạn ông, tiến sĩ Lý Tử Tấn gọi là "Biệt khai thành thị nhất lâm tuyền" (Giữa nơi thành thị, mở riêng một cõi lâm tuyền) Trên mảnh đất được vua chia: Cung dư tịch địa bán trăn tinh (Hơn cung đất hẹp nửa đầy gai) Đất cày gõ ải, lảnh ương hoa. Nguyễn Trãi đã cho dựng nhà - vườn, theo tả lại của bạn ông là Nguyễn Mộng Tuân: Nhất điều thủy lãnh tri Tam quán Tứ bích gia bần phú lục kinh Mai ảnh nguyệt niên lai giáng trướng Hà hương phong đệ tống sơ linh. (Một dòng nước lạnh, nhà quan Tam quán, Bốn vách nghèo xơ, chỉ toàn sách vở Trăng võ bóng mai lên trướng đỏ Gió đưa hương sen vào song thưa) Cũng theo Lý Tử Tấn, nhà ức Trai có giậu trúc: Khánh lai trúc ngoại hữu trà yên (Khách đến bên giậu trúc có khói trà). Đọc thơ Nguyễn Trãi, ta thấy ở thế kỷ 15 Thăng Long - Đại Việt có các loại cây - hoa được chuộng sau đây: Mai - Cúc - Trúc - Tùng - Lan (sau gọi là tứ quý: Mai - Lan - Cúc - Trúc) - Đào - Mẫu Đơn - Thiên Tuế - Mộc - Nhài - Sen - Hòe - Đa già - Dương... (Xem Quốc âm thi tập trong Nguyễn Trãi toàn tập, 1969). Đến thời Lê Trịnh thì việc chơi hoa - cây cảnh đã được Phạm Đình Hồ nêu rõ trong Vũ trung tùy bút: "Buổi ấy, bao nhiêu loài trân cầm dị thú, cổ mộc, quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, chúa đều sức thu lấy không thiếu một thứ gì... Bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng ra ngoài dọa dẫm. Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt khướu hay, thì biên ngay hai chữ: "Phụng thủ" vào. Đêm đến các cậu trèo qua tường thành lẻn ra đem tay chân sai lính đến lấy phăng đi rồi buộc tội đem giấu vật cung phụng để dọa lấy tiền...! Như vậy, ta có quyền nói, từ ngàn năm nay nước ta có truyền thống văn hóa chơi - thưởng Hoa - Cây cảnh." Nguồn: http://www.suutap.com
-
Thờ cây là tín ngưỡng có tính tối cổ phổ biến khắp các châu lục, trên thế giới cho đến ngày nay. Nó là biểu hiện sự gắn bó mật thiết giữa con người với sinh thái tự nhiên. Ở mỗi quốc gia, vùng miền, hội giáo ý nghĩa việc thờ cây có những nội dung khác nhau. Ý nghĩa thờ cây giữa phương Đông và phương Tây cũng có nhiều nét khác biệt. Phật giáo thờ cây bồ đề như một sự tôn kính hình ảnh của đức Thích Ca ngồi tu hành và cây bồ đề - nơi Đức Phật ngộ là biểu tượng của tư tưởng và lòng đại từ bi. Ở Châu Âu, cây thông cây tùng được Cơ đốc giáo thờ để trừ ma quỷ. Người Ai Cập thờ cây cọ Người La Mã và Hy Lạp thờ cây linh sam Người Đức thờ cây sồi Người Chàm có tục thờ dừa, thờ cau. Trong văn hóa Việt Nam, tục thờ cây cũng rất phổ biến và sự tôn kính đã đi vào tiềm thức chưa phai của dân Việt. "Đẻ đất đẻ nước của người Mường Việt nhắc đến cây si. Người Mường coi cây si như một loại cây cội nguồn Người Việt có hẳn chuyện Mộc tinh trong Lĩnh Nam chích quái. Người Việt thờ mẫu thượng ngàn và thờ cây đa, cây gạo ở mọi làng quê, đình chùa, miếu mạo. Nhiều gia đình ở Miền Bắc giờ vẫn giữ tục thờ mía và ngày tết (được coi là loại cây đặc sản từ thời Hùng Vương) Người Dao thờ cây đa, cây sấu Người Nùng, người Mường, Người Dao có hẳn lễ mở cửa rừng với bàn thờ thần cây sau những ngày xuân. ..... Lúa gạo được coi là loại cây lương thực được tôn vinh truyền thống. Sản phẩm từ nó luôn được đưa vào vật phẩm thờ của người Việt trong các nghi lễ cúng tế nông nghiệp. Đối với người Việt, cây cối là loại sinh thể đặc biệt, có đời sống trực giác tâm linh y như con người; có năng lượng phát ra và tương tác được với năng lượng của con người. Vì vậy, cây cối được người Việt sử dụng trong phép điều hòa môi trường sống (phong thủy) như là những nội dung chủ đạo (cùng đá, nước, núi, phương hướng..). Mặt khác, cây còn được coi là nơi trú ngụ của các vị thần linh hay ma quỷ. Dân gian người Việt có câu: "Thần cây da, ma cây gạo, cú cáo cây đề". "Cây thị có ma, cây đa có thần" "Ở cho phải phải phân phân Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa" Nhớ lúc 9 tuổi, có lần Phoenix mơ thấy gặp quỷ ở gốc cây đa, tỉnh dậy sững sờ mất mấy tiếng chưa hoàn hồn. Cây đa này nằm trên con đường đi học hàng ngày. Trưa hoặc chiều đi về, Phoenix với nhóm bạn thường hay trèo lên nghịch ngợm hái búp đa để thổi hoặc hái quả để ăn. Lần đó mơ thấy cùng nhóm bạn đi chơi, thấy cái cửa ở gốc cây tò mò chui vào. Bên trong hốc cây là một căn hầm rộng, xếp sắp vật dụng như cái bếp. Mấy đứa loay hoay tò mò rồi đi kiếm đồ ăn. Gặp một bà lão bảo chờ nấu món rất ngon, mấy đứa rất hý hửng. Đến lúc bà ta bê chiếc nồi bốc khói nghi ngút lên bàn thì mấy đứa tranh nhau mở ra. Ai ngờ, khi bà ấy múc thức ăn đặt ra đĩa thì là một bàn tay quỷ, móng vuốt dài đen ngòm và đầy lông lá. Hết hồn, cả đám chạy thục mạng. Lần đầu tiên trong đời Phoenix biết cảm giác thế nào gọi là "chạy bán sống bán chết". Nào ngờ chạy muốn quỵ cái chân mà bỗng dưng thấy có tay ai tóm lấy sau lưng áo. Quá hoảng, Phoenix vùng vẫy, quẫy đạp cực lực. May quá nhờ vậy mà tỉnh giấc. Tim đập thình thịch. Ngồi trọn luôn đến sáng. Đến cả vài tháng sau cũng không đi đường ấy tới trường. Chuyện trên là chuyện mơ. Mà bắt nguồn từ chính câu: "cây đại có ma, có đa có thần" nghe lỏm được từ người lớn. Chuyện thật 100% cho đến bây giờ nghĩ lại vẫn còn nhớ cảm giác kinh khiếp lúc ấy B) Nói chuyện hồn cây, ở miền Bắc có tục hái trầu phải hát xin; muốn hồng ra trái phải diễn trò đánh gốc, roi muốn ra nhiều quả phải bứt lá; cay buồng trổ đầu không được bứt hái vì mất trái..... Tục trò chuyện với cây cối rất phổ biến (y như người Việt có tục nói lời hóa kiếp trước khi giết một con vật sống). Đây là một chủ đề rất hay chưa có nhiều công trình nghiên cứu. Rất hy vọng qua topic này chúng ta có được nhiều tài liệu để tham khảo.
-
“BÙA” BÁT QUÁI DƯỚI NHÃN QUAN VIỆT DỊCH (Bài trích trong Văn Hóa Cổ Việt của Nguyễn Việt Nho được đọc lại và có sửa đôi điều) Tâm thức Việt đang đơm bông kết trái Đem Rồng Tiên để viết lại sách kinh NGUYỄN VIỆT NHO Cũng như Tứ Tượng, nói Bát Quái phải đề cập hai phần: Phần số và phần hình. Phần số: Bát Quái hay tám số đó là: số 1 Cấn (); số 2 Khảm (); số 3 Tốn (); số 4 Chấn () số 5 Li (); số 6 Đoài () ; số 7 Càn (), số 8 Khôn (). Sắp theo thứ tự như trên là theo sự chuyển đổi từ các con số của hệ thập phân sang hệ lý số. Sách Dịch thường sắp: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Li, Khôn, Đoài là sắp theo BQHT. Học giả Trần Trọng Kim trong “Một Cơn Gió Bụi” nơi trang 61 gọi “8 chữ số này là 8 chữ tối cổ của ta”; 8 “chữ tối cổ” nầy thật ra không phải là loại chữ thông thường mà là chữ số, gọi là ĐẠO TỰ để dẫn vào Đạo Lý Việt: “Tám từ trên là tám số Âm Dương Hệ số nầy khác với hệ thông thường Không phải dùng để cân, đo, đong, đếm Mà nó dùng giúp ta chiêm nghiệm Đạo luật, qui trình biến dịch âm dương Nói khác đi là mở lối chỉ đường Cho ta rõ Đạo Thường trong vũ trụ…” (Bát Quái và Đạo Lý Cổ Việt của TĐ Nguyễn Việt Nho) BQ do Tứ Tượng phát triển mà thành, nên người xưa gọi “õTứ Tượng sanh Bát Quái”õ. Thật ra BQ chẳng phải là bùa (Bùa Bá Quái) của điều mê tín dị đoan như nhiều người nghĩ về nó. Có một số không ít sách Dịch đặt vấn đề BQ do ai lập nên? Đặt vấn đề như thế là chưa nắm rõ nguồn gốc của Dịch và chỉ làm cái “Dị Dịch, Yiệt (Việt) Dịch”õ trở thành “ũNan Dịch”õ; nghĩa là chỉ làm cho cái Việt dịch vốn giản dị, dễ hiểu trở nên thêm rắc rối, khó hiểu mà thôi. Chuyện các ông “ũCon Trời”õ nói về nguồn gốc BQ do Phục Hy thấy con Hà Mã và Rùa Thần xuất hiện nơi sông Hoàng Hà và sông Lạc Thủy là chuyện hoang đường, được phịa đặt nhằm cướp quyền trước tác môn Dịch Số Hà Lạc của tộc dân Việt Thường (dân Việt cổ) thuộc Bách Việt. Thật ra Bát Quái và Bát Quái Đồ chỉ là 8 con Tiên Rồng (Âm Dương) của Thường Số được viết dưới hệ 3 nét, của tiền nhân Việt sắp xếp một cách hợp lý trên hai đồ hình: Môn toán lý số Tiên Rồng này chỉ ra rằng: Dùng 3 nét (hào) sẽ lập ra hệ Bát Quái là hệ 8 số. Tám số đó là: 0 Khôn (); 1 Cấn (); 2 Khảm (); 3 Tốn (); 4 Chấn (), 5 Li (); 6 Đoài (); 7 Càn (). (Xin xem phần cách chuyển đổi các hệ số tóan học, nơi mục viết hệ lý số trong VHCV. Còn nếu giải theo hình vẽ thì: Tứ Tượng Đồ khi xoay chuyển sẽ bị gãy ngọn mà thành BQ. (vật chất đều không đứng yên, tất cả đều chuyển hóa, đêàu nằm trong động thái (dynamic) trong qui luật tiệm tiến và đột biến. Khi vật chất nằm trong giai đoạn Tứ Tượng sẽ tiếp tục biến hóa sang giai đoạn BQ như hình dưới: (Đồ hình trên gợi ra sự tương đồng giữa ý nghĩa các biểu tượng của một số tôn giáo: Tứ Tượng và hình ảnh của Thập Tự Giá của TCG, Bát Quái của tư tưởng Việt và chữ VẠN của Phật Giáo...) BQ có hai đồ hình: Tiên Thiên Bát Quái (TTBQ) và Hậu Thiên Bát Quái (HTBQ). Từ trước đến nay các sách Dịch, của ta cũng như của Tàu, đều có quan niệm chung rằng: TTBQ là hình đồ của Vũ Trụ thuở ban đầu và HTBQ là Vũ Trụ về sau. Nói như thế là không được chính xác, bởi lẽ: Vũ Trụ vốn mênh mông vô tận về không gian và vô thỉ vô chung, không đầu không cuối về thời gian và vật chất chứa trong nó luôn luôn biến đổi: Lúc thì xảy ra chỗ này sinh, khi thì ở nơi khác diệt ... Chu kì sanh diệt cứ tiếp diễn miên viễn thì làm thế nào minh định được vũ trụ lúc nào là ban đầu lúc nào về sau? Đúng ra, ngay như “Big Bang”, nĩ cũng chỉ giới hạn trong một vùng nào đó. Vũ Trụ được tạo ra bởi Big Bang, cũng chỉ là một Vũ Trụ nằm trong cái Vũ Trụ mênh mông không bờ bến, không thể nghĩ bàn như người xưa nói: “Ngoài Trời có Trời”... Tiên Thiên hay Hậu Thiên BQ nên hiểu là chương đầu và chương sau của BQ. Hai chương là hai hình: Một âm để nói lên định hình, định phương, định vị và hình dương nhằm nói lên định thời, định tính và định luật cho vật chất trong chu trình sinh diệt, từ không (vật ở dạng energy) sang có (dạng material) và từ có sang không của mọi vật trong hoàn vũ. A. TIÊN THIÊN BÁT QUÁI (TTBQ) Tiên Thiên hay Hậu Thiên là do sự sắp xếp khác nhau về vị trí tám con Lý Số Tương Đối. Khi sắp xếp khác, ý nghĩa của nó cũng sẽ khác: Tiên Thiên nhằm nói lên tính thể cùng những qui luật chi phối sự biến hóa của vật chất như đã nói trên. a. Hình đồ TT BQ: Các con thường số được sắp xếp trên Tiên Thiên ở đây là được định hướng lại cho phù hợp với cách định hướng bản đồ hiện nay và phù hợp với vị trí Việt Thường xưa cũng như Việt Nam ngày nay. (Lối định hướng cũ: hướng Bắc cũ là hướng Nam bây giờ): CÀN (): Phương Bắc; KHÔN số 8 (): Phương Nam; KHẢM số 2 (): Phương Đông; LI số 5 (): Phương Tây; CẤN số 1 (): Đông Nam; TỐN số 3 (): Đông Bắc; CHẤN số 4 (): Tây Nam; ĐOAI số 6 (): Tây Bắc. B) Qui luật rút ra từ TT BQ: 1. Qui luật biến hóa theo chu trình: Tám Quái Tiên Thiên là tám con lý số tương đối được sắp trên một hình tròn. Nếu ta để ý sẽ thấy các con số biểu diễn vật chất ở mỗi thời kì từ 0 tới 7 của hệ Thập Phân hay từ con Khôn () tới con Càn (); đến 8 với hệ Bát Quái nó sẽ trở về con 0 trở lại. 9 sẽ là con 1 Cấn (); 10 là con Khảm () 11 là 3 Tốn (); 12 là 4 Chấn ()... 15 nếu dùng 3 nét của hệ Bát Quái nó sẽ trở lại là 7 Càn (). Nếu viết nữa con 16 viết ra binary sẽ là 10000 tức là Khôn () (Vì dùng 3 nét nên chỉ sử dụng ba con số không (0) nên hai con 0 và 1 nằm bên trái sẽ không dùng đến). Qua hình đồ ta thấy vật chất được biểu diễn đi từ 0 (hay 8) tiến lên 1, 2, 3 rồi sang 4 rồi tiến đến 5, 6, 7 để cuối cùng đến 8 để rồi lại bắt đầu một chu trình mới, lập lại như trên một cách miên viễn. Ta ước định con 0 Khôn () là lúc bắt đầu, sự ấn định đó phải được hiểu là định cho cái mức bắt đầu của một chu trình (Trước đó đã có và sau khởi điểm này chu trình sẽ được tương đối lập lại). Hình đồ TTBQ nói lên vật chất biến đổi theo chu trình, cũng vì thế môn Dịch học gọi là Chu Dịch. (Chu Dịch mang lấy nghĩa là chuyển dịch theo chu trình, chứ không phải Dịch có nguồn gốc từ đời Chu bên Tàu như nhiều người đã lầm tưởng. 2. Qui Luật Đối Cực Tạo Quán Tính Xoay: Nhìn vào hình đồ Tiên Thiên ta thấy các con số của các hướng (Nam _ Bắc ; Đông _ Tây ; Đông Nam _ Tây Bắc; Đông Bắc _ Tây Nam) đều là những con số đối nghịch ta gọi là đối cực qua tâm điểm: Bắc Càn đối xứng với Nam Khôn; Đông Khảm đối xứng với Tây Li; Đông Bắc Tốn đối xứng với Tây Nam Chấn; Đông Nam Cấn đối xứng với Tây Bắc Đoài (xem hình). Muốn thấy rõ tính đối xứng, hãy đặt dấu trừ đằng trước số đó nó sẽ thành số kia. Thí dụ: _ () = (); _ () = (). (Theo cách đổi dấu của Đại Số Học) Việc đối xứng qua trục này khiến Càn Khôn (trời đất) và Li Khảm (lửa nườc) không tiêu diệt nhau mà tạo thế xoay biến: hai đối cực tạo nên quán tính xoay. Điều này nếu đem áp dụng trong chính trị vào thời Tự Đức, nếu ta đừng ngã hẳn vào Khổng Giáo mà tiếp nhận cả Khổng, Lão, Phật và Thiên Chúa thì hẳn nhiên các ông cố Đạo Tây không có lý do cậy vào thực dân Pháp đánh nước ta và nếu ta tiếp nhận cả Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha... để giao thương, biến đất Việt vào thế xoay lập thì hẳn nhiên hóa giải được các thế lực và đất nước hẳn nhiên đã tránh được họa xâm lăng của Pháp ngót 100 năm ... Nghĩ cũng cần nói thêm ở đây: hai đối cực này chỉ mang tính đối xứng tương đối mà không có đối xứng một cách tuyệt đối. Nhiều người từ trước đến giờ vẫn lầm tưởng để dẫn đến quan niệm vũ trụ đối xứng: Điều này TTBQ đã ngầm chỉ rõ cho chúng ta thấy là tất cả các con trên đồ hình Bát Quái như Càn Khôn (trời đất), Li Khảm (nước lửa), Cấn Đoài... là những con số tương đối và khi đã là những con số tương đối thì sự đối xứng cũng chỉ mang tính tương đối, nghĩa là qua BQTT, ta cũng đã thấy được là vũ trụ không đối xứng (tuyệt đối). Thoạt nhìn qua chúng ta đều thấy có sự đối cực trong vũ trụ: Có sáng có tối, có ngày có đêm, có đực có cái, có âm có dương, có Nam có Bắc, có đúng có sai, có còn có mất, có sống có chết, có hạt cơ bản mang tên B Meson và phản hạt B Meson, có vật chất và có phản vật chất..., nghĩa là có sự đối xứng trong vũ trụ! Một cách tương đối nói thế cũng không sai, nhưng trên bình diện tuyệt đối thì vũ trụ vốn phi đối xứng. Chính nhờ vũ trụ phi đối xứng nên mới có động, có động mới có sinh, biến, như TTBQ đã diễn bày. Điều này cũng đã được James Cronin và Val Fitch năm 1964 khám phá sự phi đối xứng của cặp K meson và phản K meson và mới đây được tạp chí Physical Review Letters số tháng 7 năm 2001 do các nhà vật lý quốc tế làm việc tại Trung Tâm Gia Tốc của trường Đại Học Stanford, Palo Alto, CA minh xác. 3. Qui Luật Tiệm Tiến (Law of Progressive Change): Qua hình đồ ta thấy: từ con 0 Khôn () đến con 3 Tốn () là: 0 Khôn () 1 Cấn () , 3 Tốn () bên tay phải hình tròn và từ con 4 Chấn () đến 5 Li () đến 6 Đoài () đến 7 Càn () nằm bên tay trái vòng tròn nói lên ý vật chất biến từ từ như thể từ thể khí hư vô của buổi hỗn mang Khôn () đã tựu đọng dần thành một lớp thể đặt bao ngoài được tượng hình bằng con Cấn () như thể sự cấu thành lớp vỏ trái đất trong chu trình tạo thiên lập địa. Và khi đã tượng hình lớp thạch quyển qủa đất đã hứng chịu và tích tụ được nước mưa từ ngoài không gian đổ vào tạo nên lượng Khảm nước ở thời kỳ con 2 Khảm (). Có nước là có sinh vật và rồi sinh vật phát triển về lượng và về chủng loại biểu thị bằng con Tốn (). Đối chiếu với luật tiến hóa của Charles Darwin (1809_ 1882): Đây là giai đoạn sinh vật phát sinh từ biển tiến dần (tiêảm tiến) đến loài bò sát, rồi tiến đến khỉ. Qui luật của Luật Tiệm Tiến được tìm thấy một lần nữa trên hình đồ là giai đoạn con 4 Chấn (), 5 Li (), 6 Đoài () đến con 7 Càn (): Lôi là lúc sinh ra người (mà lời huyền thoại ám chỉ Lạc Long Quân là con 4 Chấn nằm hướng Đông của Hậu Thiên Bát Quái), tiệm tiến lần đến 5 Li (): ý chỉ loài người văn minh dần, đến 6 Đoài () mang nghĩa loài người tiến lên sống thành một xã hội có tổ chức. Con 6 viết ra Thường số với hệ 6 nét là con Trạch Địa Tụy (). Tụy là nhóm hợp: Con Tụy nói lên ý niệm này. 7 Càn (): hàm ý con người rồi sẽ tiến triển tới mức tối đa. Mọi sự thay đổi trong đó đều diễn ra từ từng sát na và trong từng thời gian đó, trong từng bộ phận trong vật chất đều xảy ra hai hiện tượng trái nghịch: sinh và diệt. Sinh là thời kì dương tăng âm giảm; tử là thời kì dương giảm âm tăng, tất cả đều diễn ra trong tiệm tiến. Sinh, tử thể hiện mà ta thấy chỉ là thời điểm của đột biến rõ nét, thật ra tử hay sinh đều đã diễn ra một cách tiệm tiến và sau đó mới đột biến. Thế nên Khổng Tử đã chữ nghĩa hóa qui luật tiệm tiến và đột biến này và nói rằng: “Tôi thí vua, con giết cha không phải xảy ra trong một sáng, một chiều, cái mầm móng đã tích lũy từ trước”õ Tóm lại, đoạn trên cho ta thấy: Tiên Thiên BQ phát biểu lên qui luật tiệm tiến của sự vật trong chu trình sinh diệt của nó. 4. Qui Luật Đột Biến (Sudden Change): Con 3 Tốn và 4 Chấn cũng như 7 Càn và 8 Khôn nêu lên luật đột biến. Có hai loại đột biến là: đột biến thăng tiến dòng và đột biến qui căn. _ Đột biến thăng tiến dòng là sự biến đổi, nói theo từ khoa học bây giờ là do sự tác động môi trường bên ngoài bắn vào (beam, charger) làm thay đổi chuỗi di truyền bên trong khiến cho sinh vật biến đổi chủng loại. Đây như là việc biến đổi khỉ thăng tiến thành người ... trên hình đồ là con 3 Tốn chuyển sang điểm con 4 Chấn (xem hình). Giai đoạn khỉ thành người được đề cập rõ hơn trong phần: “Luật Thường Đối Chiếu Với Thuyết Tiến Hóa của Darwin”, trong VHCV. _ Đột biến Qui căn là sự đột biến để trở về lại cái gốc ban đầu cho một chu trình mới; là sự chuyển thành từ con 7 Càn sang con 8 Khôn thấy trên đồ hình. Nói theo Albert Einstein đây là sự phân tán năng lực từ thể vật chất (Material) sang dạng năng lượng (Energy), nghĩa là giai đoạn phân hủy tối đa của thời kì hoại, tử, nghĩa là từ thể hữu hình sang thể vô hình, vô trạng. Cũng như Càn đột biến sang Khôn, Khảm sẽ đột biến thành hỏa. Để áp dụng qui luật nầy, chiếc đèn Aqueon của công ty Heat & Glo của Mỹ được thắp bằng nước (H20), thay vì bằng dầu, bằng cách cho dòng điện 220V chạy qua bình nước để phân tích nước ra thành Oxy và khí Hydrogen, sau đó Hydro sẽ được đốt cháy và được Oxy bổ sung vào làm cho độ sáng tăng thêm. Hậu qủa: đèn nầy là đèn lý tưởng để bảo tôàn môi sinh vì không cho ra khói và chất độc. Cũng hy vọng qua cách ứng dụng “thủy đột biến thành hỏa”, nước sẽ là nhiên liệu sạch cho loài người sử dụng vào việc phục vụ trong nhiều lãnh vực khác nữa như thay thế điện năng nguyên tử hay xăng dầu để chạy máy... Cứ đà con người ngày càng gia lăng làm ô nhiễm môi trường, các khoa học gia tin rằng hiệu ứng nhà kính do khì thải nhiên liệu đốt cháy trong vòng một thế kỷ nữa sẽ làm địa cầu nóng lên và làm đầu hai cực địa cầu sẽ không còn băng trong mùa hè. Tan băng như vậy sẽ làm cho mực nước biển hiện giờ có thể cao thêm hàng 100 mét tạo ra nạn đại hồng thủy mà hậu qủa sẽ nhận chìm nhiều vùng trên địa cầu... Hy vọng nhiên liệu bằng nước là nhiên liệu sạch sẽ được loài người sử dụng để tránh nhiều tai họa không lường cho con người trên địa cầu... 5. Qui Luật Tương Đối Dù trong thời kì diệt, vật chất cũng không có mất hoàn toàn. 0 Khôn (_ _) không đồng nghĩa với không còn gì. Hình thể không còn như xưa nhưng tính thể vẫn không mất hay nói cách khác như Lavoisier là nó chỉ biến hoá sang thể trạng khác mà thôi “Rien ne se crée, rien ne se perd, il ne se que varie”. Ngay cả trong thời kì sinh, cái “thành” của vật chất cũng không mang tính hoàn mĩ mà vẫn mang tính bất toàn trong đó. Qua dịch số sẽ thấy rõ điều này: Trong thời kì diệt, con 7 Càn trở về con 8 Khôn là con 0 Khôn nhưng con 0 ở đây không mang nghĩa là không có gì, bởi lẽ nếu viết sang hệ nhị phân ta sẽ thấy rõ: Con 8 hệ thập phân là con 1000 hệ nhị phân và nếu chuyển sang hệ bát quái chỉ sử dụng 3 hào (3 nét) sẽ là con Khôn. Đúng ra con Khôn đó phải viết là () nhưng vì chỉ sử dụng có 3 nét nên một nét dương (___) của con 1 hệ nhị phân bị lọt ra ngoài. Thế nên con 0 hay con Khôn ấy là con 0 tương đối, biểu thị cho vật ở trong thời kì diệt cũng chỉ bị diệt tương đối. Trong thời sinh cũng vậy: Con 7 cũng chỉ là tương đối bởi gần tới 7 là đến điểm tới hạn, vật chất liền đột biến. Điều này được nhà bác học Einstein chứng minh qua công thức: E=mC2: E là năng lượng; m là trọng khối (mass) và C là tốc độ ánh sáng đi trong một giây. Và, qua công thức đó, năng lượng E (Energy) không bao giờ bằng 0 mà nó hoặc âm hoặc dương. Điều này chứng tỏ trọng khối “m” không bao giờ bị triệt tiêu, nói cách khác, tất cả đều tương đối trong chu trình biến hóa như đã nói. Định luật này được gọi là định luật tương đối ... Trên phương diện tôn giáo, qua Bát Quái Tiên Thiên còn có thể làm sáng nghĩa luật Luân Hồi của nhà Phật là sự biến diễn trong một chu trình miên viễn và luật Nhân Qủa do sự huân tập âm dương (thiện ác) của một Thái Cực. Ngoài ra nó cũng cho ta hiểu câu kinh “õsăùc tức thị không, không tức thị sắc; sắc bất dị không, không bất dị sắc”õ: “Sắc không” tất cả chỉ là sự vật ở vào trạng thái của “hữu” và “vô” trong nghĩa tương đối: hữu không ở trong thể trạng tỉnh, trụ mà biến đổi không ngừng; vô không nghĩa là không có gì mà là sự vật ở vào thể của trạng vô trạng, hình vô hình mà con 8 Khôn hàm ý. Cũng trên phương diện tôn giáo, một chút dương còn lại được gọi là hồn sẽ huân tập khí từ ngoài để luân hồi hay để hình thành “Xác loài người ngày sau sống lại...” (Kinh Tin Kính TCG) Qua 5 qui luật của TTBQ vừa trình bày trên cho ta thấy hai thuyết sau đây không được vững: @ TTBQ là hình đồ vũ trụ ban đầu Thật ra, vũ trụ vật chất biến hóa theo chu trình từ vô thỉ đến vô chung. Chu trình vốn không có khởi đầu, không có chấm hết. Việc định đầu hay cuối là do ta ước định cho nó để mở đầu cho một chu trình mà thôi. Điều này tựa như bảo con gà hay cái trứng, cái nào có trước. Bởi đầu óc con người mang tính nhị nguyên, thấy sống chết là hai thể biệt lập tuyệt đối, dẫn đến ý niệm chết là không còn gì; từ đó người ta nghĩ rằng có sự phát nguyên và sự chấm dứt, có đầu có cuối mà không nhận ra là sống chết là hai thể trạng luân phiên (rotate) tựa như con số chẵn (âm) và lẻ (dương) hay ngày đêm luân phiên nối tiếp nhau mãi. Nền tảng triết Tây phương mang ảnh hưởng Thiên Chúa Giáo, vẫn còn vướn mắc vào ý niệm này mà không thấy được rằng: Hết sống tới chết, hết chết tới sống và trong sống có chết, trong chết có sống, miên viễn... Chết vốn nó không là mất hẳn cũng như con số âm vẫn có dương nằm trong, một chút xíu dương ấy sẽ mở màng cho một chu kỳ sinh tới. Điều này cũng minh xác rằng: Mọi sự mọi vật đều có xuất xứ từ trước vô cùng và sẽ miên viễn đến vô tận. Sự sống đời đời hay địa ngục miên viễn phải được hiểu là việc không bao giờ mất cái dương khí Càn hay cái âm khí Khôn trong mọi vật mà thôi. Hiểu như vậy thì không còn có sự mâu thuẫn giữa Thiên Chúa Giáo với Thường Giáo hay Phật Giáo. @ Thuyết Big Bang Về Cấu Tạo Vũ Trụ Theo thuyết này, vũ trụ được cấu tạo do một vụ nổ lớn. Nhưng như mọi người đều hiểu được rằng Vũ Trụ vốn không đầu không cuối về thời gian và như vậy cái hình thái của Vũ Trụ Sau Big Bang hẳn đã có cái trước nó. Big Bang là thời điểm để kết thúc một thời kỳ sanh, nó “ũtử đột ngột”õ, do đột biến, để mở đầu cho thời kì sinh mới. Và cái Big Bang đó ta cũng phải hiểu rằng, cũng giới hạn trong một vùng không gian của nó vì vũ trụ vốn vô cùng vô tận nên vụ nổ cho dầu là “Big Bang” (Vụ Nổ Lớn); cũng phải hiểu rằng đó cũng chỉ là một vùng không gian vũ trụ nào đó đi vào thời kì diệt và nổ là thời điểm đột biến qui căn của nó để mở cho một chu kì sinh mới nữa mà thôi. Điều này cũng có ý: nơi này một phần vũ trụ đang bị diệt để bắt đầu cho một chu trình sinh mới và ở một nơi nào đó trong vũ trụ cũng có thể có một hệ khác đang sinh, đang tồn tại... và cái mà ta thấy bị diệt đúng ra nó cũng chỉ biến thể mà thôi. Thế thì, phải nói rằng: Có hằng hà sa số "vũ trụ" trong vũ trụ vô cùng vô tận. Big Bang tạo vũ trụ chỉ là một vùng vũ trụ trong cái vũ trụ bao la không thể nghĩ bàn! c. TTBQ Và Các Gian Đoạn Xảy Ra Trên Quả Đất Sau Big Bang Ngoài ra Tiên Thiên còn có thể dùng để giải thích các giai đoạn tiến hóa từ khai thiên lập địa đến lúc con người xuất hiện trên trái đất trải qua 7 giai đoạn, như sau: _ Giai đoạn 1: Từ con 0 tiến lên con 1 Con 0 Khôn Dịch số có tượng là: (): Tượng hình là đất từ thể khí của thời điểm sau Big sang 1 Cấn (): Cấn có tượng như là lớp thạch quyển bao bọc mặt ngoài qủa đất như ta thấy ngày nay. _ Giai đoạn 2: từ 1 sang 2. Con 2 là con Khảm (). Khảm là nước: Đây là lúc có nước xuất hiện trên hành tinh này. Nhưng nước bởi đâu mà có? Câu trả lời là: Cả qủa đất và các hành tinh trong Thái Dương Hệ (Solar System) đều quay chuyển trong chu trình riêng của nó, có một lúc nào đó trong quá khứ, nhiều tỉ năm về trước, tiến gần sao Bắc Đẩu (Great Bear), là sao mà các khoa học gia gọi là khối cầu tuyết. Rồi hết thảy các hành tinh và hộ tinh của Thái Dương Hệ được nước từ sao này bắn vào, nhưng các tinh thể khác như Sao Thổ, Mộc, Hỏa, Kim... cùng một số hộ tinh khác vì kích cỡ cũng như khoảng cách từ chúng đến mặt trời không thích hợp để tạo ra hiện tượng lồng kính để lưu giữ nước như trái đất, nên ngày nay ở các nơi đó ta chỉ tìm thấy dấu tích chứng tỏ trước đây có nước mà nay thì không còn. Riêng qủa đất, nhờ nằm ở vị thế thích hợp nên tạo được hiện tượng lồng kính và bảo tồn được nước: Có nước là có sự sống. Sinh vật bắt đầu xuất hiện khi có nước vì hội đủ Tứ Đại là: Đất, nước, Lủa, Gió... Con 2 Khảm () có tượng hình như là sinh vật (cá) bơi trong nước. _ Giai đoạn 3: Từ 2 lên 3. Con 3 viết là con Tốn () là Phong, Dịch Lý có nghĩa là khí, gió và cũng còn có nghĩa là sự phát triển lan tràn. Đây là giai đoạn các loài sinh vật sinh sôi và phát triển trên khắp cùng trái đất, từ các loại rong rêu đến thảo mộc đến các loài dưới nước, các giống trên cạn, muôn thú trên rừng, chim chóc trên trời... và các sinh vật lúc này đã phát triển cao trong chủng giống của nó và điểm phát triển cao nhất của giai đoạn này là thời điểm hình thành các con người-khỉ (hầu nhân). _Giai đoạn 4: Giai đoạn xuất hiện con người: Con 4 viết sang hệ số tượng ý là con Chấn (). Trong hình đồ Hậu Thiên Bát Quái (là hình định vị), con 4 Chấn nằm phương Đông mà Huyền Thoại dòng tộc nói là nơi xuất hiện của Rồng Lạc Long Quân. (nên hiểu là nơi và lúc xuất hiện loài người). Nơi Tiên Thiên con 4 Chấn () nằm hướng Tây Nam là hướng đối cực của Đông Bắc của con 3 Tốn (). Tốn () sang Chấn (), còn có nghĩa là Lôi có được do đột biến thăng tiến dòng như đã nói phần trên, nói lên giai đoạn khỉ thành người như trong Thuyết Tiến Hóa của Darwin. Khỉ thành người? Nhiều người đã đả kích quan điểm này và Darwin đã không giải thích được thõa đáng các câu hỏi được đặt ra như: Nếu cho rằng khỉ thành người là đúng thì tại sao cho đến nay người ta lại không thấy được con khỉ nào thành người nữa? Con người từ khỉ? sao con người không thấy có cái đuôi? Nếu khỉ thành người thì trên rừng cho đến nay chẳng còn khỉ nữa mới đúng chứ?... Và không lấy gì làm tin khi bảo do lao tác thúc đẩy tiến trình tiến hóa để khỉ thành người ... Để giải tỏa vấn đề này, qua sự chiêm nghiệm đồ hình TTBQ, được giải thích như sau: Như trên đã nói: tất cả Thái Dương Hệ của chúng ta trong khi xoay chuyển đã hứng được nước từ sao Bắc Đẩu để có được sinh vật phát sinh; rồi lại tiếp tục quay đến một lúc nào đó nó tiếp cận với sao Nam Tào, được sao này bắn (beam, charger) dương khí vào làm thay đổi chuỗi DNA khiến nó đột biến thăng cấp dòng để thành người. Điều này có thể kiểm chứng qua khoa khảo cổ học: Các nhà khảo cổ ghi nhận rằng cách nay từ 2 triệu rưỡi tới 3 triệu năm có sự biến đổi khí hậu địa cầu. Sự “biến đổi khí hậu” nầy khiến một số giống khỉ đã trở thành người khỉ (hầu nhân) … . Cái xương cùng nơi người là dấu vết cái đuôi khỉ còn sót lại của sự tiến hóa từ khỉ thành người.. . Có thể nói dương khí từ Nam Tào “beam” vào qủa đất đã đồng loạt biến đổi tất cả những loài khỉ tiến triển tởi mức độ hội đủ đột biến để trở thành hầu nhân, đều thành hầu nhân và những dòng hầu nhân nào đã tiến hóa cao khi nhận được dương khí từ Nam Tào, đều được đột thăng cấp dòng để thành người. Có nghĩa là loài người không phải bắt đầu từ một cặp Adong - Eva mà từ nhiều cặp như vậy. “Homo ancestors” ụ là nhiều căp hầu nhân đột biến (dĩ nhiên thứ hầu nhân đột biến có cả đực và cái, chứ không là “ông được nặn ra trước rồi mới nặn ra bà cho đàn ông có đôi” để rồi từ đó sinh ra ý kỳ thị nam nữ như sự giải thích TK/TCG). Giống người đầu tiên xuất hiện do sự bột phát, phát sinh từ các giống khỉ cao cấp... “do khí hậu biến đổi” hay nói khác đi là do dương khí vũ trụ “beam” vào làm thay đổi chuỗi DNA trong khỉ cao cấp khiến cho có sự đột biến thăng cấp dòng Và thời vị thích ứng để có sự đột biến có thể đòi hỏi hàng nhiều nhiều triệu năm, thế nên ta không thể tận mắt chứng kiến sự kiện khỉ thành người… Người đứng ra chống đối mạnh mẽ nhất lý thuyết tiến hóa của Darwin là Thiên Chúa Giáo La Mã và Tin Lành: Họ chố mạnh vì nếu thuyết nầy đúng, thì cái nền tảng giáo lý TCG nói về quyền năng sáng tạo của Chúa Cha bị sụp đổ, vì: Con người sinh ra không phải là do Thần Cha (GOD) sáng tạo mà do tiến hóa từ những dạng sống thấp hơn. Sự tiến hóa của sinh vật từ cấp thấp đến cao đối với các khoa học gia được xem như hiển nhiên, không có gì để bàn cãi nữa như Hàn Lâm Viện Quốc Gia Khoa Học (Hoa Kỳ) đã viết: “Trong cộng đồng khoa học, không còn có sự tranh luận về sự tiến hóa có xảy ra hay không, và không có bằng chứng nào chứng tỏ là sự tiến hóa đã không xảy ra”. Và trước một việc được xem như là hiển nhiên, Giáo Hồng nổi tiếng của La Mã, Ngài Jean Paul II, năm 1966 phát biểu: “Thân xác con người có thể không phải là sự sáng tạo tức thời của Thượng Đế, mà là kết quả của một quá trình tiến hóa dần dần...Những kiến thức mới nhất dẫn đến việc phải chấp nhận Thuyết Tiến Hóa hơn chỉ là một giả thuyết.” (The human body may not have been the immediate creation of God, but is the product of a gradual process of evolution… Frech (sic?) knowledge leads to recognition of the theory of evolution as more than just a hypothesis. (Trích lại của Trần Ngọc Chung: CON NGƯỜI VÀ VŨ TRỤ, trên sachhiem.net _ Giai đoạn 5: Con 5 viết ra hệ số tượng ý là con Li có nghĩa là sáng, là văn minh; ý chỉ là giai đoạn con người giũ bỏ lần tính mang rợ, hoang sơ của loài thú mà bước vào thời kì văn minh. Con Li nếu được viết dưới hệ 6 nét sẽ là con Li Địa Tấn: có nghĩa là tiến tới, tiến lên, từ buổi sơ khai với dụng cụ sản xuất bằng đá tiến đến ngày nay chế tạo phi thuyền lên không gian. _ Giai đoạn 6: Con 6 là con Đoài nằm hướng Tây của Hậu Thiên có ý chỉ giai đoạn gặt hái nhiều thành qủa tiến bộ. Đoài mang nghĩa đẹp đẽ, hướng Tây chỉ thành qủa (Đông bình Tây qủa). Hơn nữa nếu viết con 6 với hệ 6 hào nó sẽ là con Trạch Địa Tụy. Tụy là nhóm hợp, là thời điểm con người sống quần tụ có tổ chức thành quốc gia xã hội tiến bộ... _Giai đoạn 7: Con 7 là con Càn là thời kỳ con người tiến lên tột bực. Nếu viết số này với hệ 6 nét nó sẽ là con Thiên Địa Bỉ chỉ ra thời kì khó khăn bế tắt, sắp có đột biến qui căn vì sự thái qúa của nó... để mở ra chu trình mới. Giai đoạn 7 cũng là giai đoạn cuối cùng kết thúc một chu trình biến hóa của vật chất, kể cả loài người. Qua sự trình bày trên ta thấy: có một điều lạ là qua TTBQ, ta có được lối giải thích sự hình thành vũ trụ và con người không khác với lối giải thích của Thuyết Tiến Hóa Darwin d. TTBQ và Đồ Hình Biến Diễn Vật Chất: Nối các điểm từ 0 Khôn sang 1 Cấn, 2 Khảm, 3 Tốn đến 4 Lôi, 5 Li, 6 Đoài, 7 Càn rồi nối lại Khôn, ta sẽ có đồ hình Vô Cực là con 8 nằm ngang, chỉ ra sự biến hóa vật chất diễn biến từ vô cùng đến vô cực. e. TTBQ và Huyền Sử Việt Trong Lam Sơn Thực Lục có câu rằng: “Vật gốc tự trời, người gốc tự tổ”. Đó là theo cái nhìn gần, nghĩa là định móc từ khi có con người trên qủa đất. Cổ sử huyền thoại nhìn còn xa hơn nhiều: Huyền sử Việt có thể dẫn ra cái nguồn gốc dòng tộc đến tận cái khởi thủy uyên nguyên của nguồn gốc con người từ đâu đến mà lời văn huyền thoại là “Dòng Viêm Đế gốc gác từ Thần Nông”õ. Dòng Viêm Đế là dòng Vua xứ nóng của Chín Mặt Trời trong Huyền Thoại Mường Việt (khác với chuyện mười mặt Trời của Tàu sau bị Hậu Nghệ bắn rụng hết chín nên hiện nay chỉ còn 1!) Nước ta đã có thời kỳ lấy tên là Xích Qủi nghĩa là Con Đỏ là con của Viêm Đế. Nguyễn Trãi cho là: “Người gốc tự tổ”, là muốn kể từ thời Hùng Vương mà thôi. Thật ra người cũng có gốc tự trời nếu kể từ Thần Nông là “Trứng Vũ Trụ” nếu ta hiểu từ Thần Nông là một huyền tự, nghĩa Nông là không, là nòng, là con Âm Khôn () trong Bát Quái Tiên Thiên! Cổ sử huyền thoại Việt nói: “Thần Nông sanh ra Đế Nghi và Đế Minh. Trong một cuộc tuần thú Phương Nam Đế Minh lấy Vụ Tiên sinh Kinh Dương Vương” Thần Nông là Tổ Huyền Thoại mà huyền thoại là lời truyền để mong đạt ý, trong ý này Thần Nông là khởi thủy Vô Cực: Thần Nông là Thần Không (mà từ hiện đại là Lãnh Không Mênh Mông Của Vũ Trụ), là trứng vũ trụ. Từ cái Lãnh Không (Không: không mang nghĩa là không có gì, mà là con không tương đối, nghĩa là bên trong vốn có chứa những Ánh Điểm dương tính) vật chất bắt đầu được hình thành như lời Dịch diễn tả: “Hữu sinh tự vô”. Từ “ũThần Nông”õ nếu được hiểu theo lối cổ của Văn Hóa Khoa Đẩu Nòng Nọc thì Thần Nông là thần trung tính gồm cả Nòng “0”: Âm; Nọc “1”: Dương (Lối chữ viết ngày nay còn tìm thấy có trên trống đồng); Chữ Nông là chữ gốc có nghĩa là không (chỉ con 0: âm) cũng có thể biến dạng thành Nống hay Nọc (dương). Từ Thần Nông này tựa chữ KE của chữ Việt cổ, nó vừa chỉ bộ phận sinh dục nữ: Kẽ, khe, le, l..., vừa chỉ bộ phận sinh dục nam: que, cọc, c..., (Bá Đa Lộc trích trong tự điển Bồ Đào Nha). Ta có thể hiểu ở đây Thần Nông ám chỉ cho cái Trứng Vũ Trụ Lưỡng Cực Nguyên Sơ, là cái Lãnh Không trong đó có ánh điểm, rồi theo thời gian, tự vận hành trong nó, hai cực Âm Dương dần dần hiển lộ thành Thái Cực chứa hai Lưỡng Nghi mà lời Dịch viết rằng: “Thái Cực sinh Lưỡng Nghi” và lời huyền thoại là: “Thần Nơng sinh ra Đế Nghi và Đế Minh” Theo văn huyền thoại, thời Lưỡng Nghi là thời của ĐẾ NGHI ở phương Bắc và ĐẾ MINH hay Viêm Đế ở phương Nam và hiểu theo Huyền Thoại hay Huyền Sử hai vua đó ám chỉ thời kì phân cực hay trực phân của Trứng Vũ Trụ Thần Nông, như các đồ hình biểu thị bên dưới: Thời Địa hành hay Tứ Đại là Đất, Nước, Lửa Gió được Lý Số viết dưới dạng là: Đất Cấn; Nước Khảm); Gió Tốn và Lửa Li. Đây là thời kỳ mà huyền sử mượn hình ảnh của Thần Nông, Vụ Tiên, Kinh Dương Vương và Tiểu Long Nữ để diễn ý. Và, các vị: Thần Nơng, Đế Minh, Vụ Tiên, Long Nữ, Kinh Dương Vương được xem như là TỔ TIÊN TIỀN TỔ Phần dưới đây xin trình bày Tầng Bát Quái Nhân Gian được nhắc đến qua Chín Mặt Trời Mường Việt: Theo huyền Thoại: “Kinh Dương Vương (KDV) lấy Long Nữ là con của thủ lãnh xứ Động Đình Hồ sinh ra Sùng Lãm về sau làm vua lấy hiệu là Lạc Long Quân (LLQ). LLQ lấy Âu Cơ sinh ra trăm trứng, nở trăm con là các Hùng Vương.” Nếu được diễn đạt bằng hình đồ lời huyền thoại trên, sẽ là đồ hình Chín Mặt Trời Dòng Viêm Đế của Tầng Bát Quái Nhân Gian (là giai đoạn Tiên Thiên Khí Tứ Đại chuyển sang Hậu Thiên Nhân Gian). Và, các vị LLQ, AC cùng các vua Hùng được xem như là các bậc TỔ TIÊN THỦY TỔ của dòng Việt (cũng là của lồi người) Phần trái đồ hình diễn tả mặt trời thời Thiếu Âm gồm: Long Nữ, Âu Cơ và các Tiên Nữ Phương Nam. Bên phải là thời Thiếu Dương gồm: Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và các vua Hùng. Sáu biểu tượng này là sáu mặt trời do bởi hai “Mặt Trời” Thái Dương Đến Minh và Mặt Trời Thái Âm Vụ Tiên mà ra. Và Mặt Trời Thái Dương Đế Minh cùng Mặt Trời Thái Âm Vụ Tiên từ mặt Trời Thần Nông Vô Cực: Tất cả là Chín Mặt Trời Mường Việt từ Thần Nông (Lãnh Không Vũ Trụ) đến Đế Minh, Kinh Dương Vương, LLQ, đến Các Vua Hùng là thuộc dịng Viêm Đế (Vua xứ Nóng phương Nam) Dòng Thần Nông Phương Nam Viêm Đế tính qua các dòng vua (1/2 vòng dương tay phải đồ hình mà không kể 1/2 vòng âm tay trái) sẽ là: Đế Minh, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Các Vua Hùng. Phần huyền sử trên giải thích được tụ lệ thờ cúng đa thần của tộc Việt, như thờ Thần Nơng, thờ Mặt Trời, thờ Chư Tiên, thờ LLQ / ÂC, thờ các vua Hùng… Theo cổ sử Tàu, dòng Thần Nông Bắc là các vua: _ Đế Nghi (2889 - 2884 BC)_ Đế Lai (2843 - 2794 BC ) _ Đế Li (2795 - 2751 BC)_ Đế Du Võng (2752 - 2696 BC). Ghi chú: Sử Tàu, ghi năm tháng các đời vua này là đã bóp chết tính huyền sử, khiến tính huyền nhiệm được dấu kín bên trong nhằm truyền đạt ý dưới dạng vô ngôn như huyền sử Việt không còn. Nhờ vào các huyền tự như: “Thần Nông, Đế Minh, Kinh Dương Vương, Vụ Tiên, Lạc Long Quân, Âu Cơ...” giúp ta “đọc” được dòng Huyền Sử Việt và chính nhờ huyền sử đã dẫn ra nguồn gốc uyên nguyên từ khởi thuỷ của dòng tộc, cũng là nguồn gốc của con người nói riêng và vạn vật nói chung. Nghĩa là cổ sử huyền thoại của ta đã nêu bật được vũ trụ quan Việt, đặt nền móng cho nền Việt Dịch dẫn vào Đạo Dịch khách quan và muôn đời đúng của vũ trụ vật chất. Nếu nhìn không sâu xa, Việt tộc tôn thờ Thần Vật như thờ Rồng, hoặc một số loài chim (chim Hạc, chim Phụng, chim Bồ Nông, chim Bồ cắt...), một số loài thú như hưu, man, kì lân, rùa, rắn..., và hơn thế nữa thờ cả cái dương vật và âm hộ, thì ta thấy như là dòng Việt mê tín, vẫn giữ sự tôn thờ của những dân tộc man di, lạc hậu, thiếu văn hóa... Nói theo thánh Kinh Thiên Chúa Giáo là đã “chối bỏ tôn thờ Đức Chúa Trời để thờ Thần Vật!” nhưng nếu bình tĩnh suy gẫm và có cái nhìn xuyên suốt và bao quát, thì sự tôn thờ trên mang ý nghĩa nhắc về biểu tượng…. .., qua huyền tự cần ghi tâm để nhớ về nguồn cội và để nêu lên cái vũ trụ quan dòng Bách Việt cổ xưa. Thí dụ: Chim Bồ Nông (có trên trống đồng) là biểu trưng cho Thần Nông Trứng Vũ Trụ; Chim le le: Vụ Tiên; hưu đực (cũng có trên trống đồng): biểu tượng Kinh Dương Vương; Thuồng luồng, Rồng hay Trâu nước: Biểu tương Lạc Long Quân; Chim trĩ trống: Hùng Vương; ốc, ngao, nghêu: Âu Cơ ..., và những vật thờ cúng như trống đồng, trái cau là hình ảnh Trứng Vũ Trụ Thần Nông, buồng cau là Bọc Trăm Trứng của Me Âu Cơ... Nếu có được cái nhìn này thì huyền thoại là “sử miệng truyền dòng”, những hình ảnh trên trống đồng là “sử đồng”õ như Bác sĩ Nguyễn Xuân Quang gợi ý qua quyển “Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Việt", nhằm truyền tộc...và các đồ hình Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái... ta có thể hiểu như là “Lý Số Sử Đồ” của dòng tộc vậy. g. TTBQ và vấn nạn: Chết có phải là mất không? Nhìn vào đồ hình: Con Khôn chỉ ra thời điểm trong chu trình vật chất bị hủy hoại triệt để, có thể xem là đột biến từ thể trạng sống của con Càn sang chết là Khôn. Con Khôn là con 0 tương đối vì có thể xem nó như con 8 Khôn của Bát Quái hay con 64 Khôn trong hệ 64 Quái của Dịch số. Để dễ thấy hãy dùng hệ nhị phân để đối chiếu: Con 8 là 1000 và con con 64 là 1000000 (nhị phân); Bát Quái chỉ dùng 3 hào dịch và 64 Quái chỉ dung 6 hào nên con 1 của 1000 và của 1000000 bị bỏ lọt ngoài trong hệ Dịch số: Con 1 không được viết vào không có nghĩa là nó không có và điều này có nghĩa: con Khôn là con 0 tương đối. Điều này cũng hàm lấy nghĩa khi “tử” là lúc bị “Khôn”õ nhưng một chút khí dương “õsanh”õ là con 1 nằm ngoài vẫn còn tồn đọng, nghĩa là dẫu “õchết”õ vẫn “không mất” hẳn như câu: “Chết là thể phách, còn là tinh anh”. Cái 1 “tinh anh” của sự sống vẫn còn để rồi, khi có điều kiện, sẽ huân tập những yếu tố bên ngoài mà hình thành trở lại trong một chu trình sinh tử mới mà Phật Giáo gọi là “luân hồi”, Công Giáo nói là “xác loài người về sau sống lại”, còn Dịch xếp Quẻ KI TẾ (xong rồi) tiếp đến là Qủe VỊ TẾ (chưa xong, chưa hết)! TTBQ chỉ ra rằng con Khôn là 0 tương đối; con 8, con 16... là lúc kết thúc một chu trình và cũng là lúc bắt đầu chu trình mới. B. HẬU THIÊN BÁT QUÁI (HTBQ) a. Đồ Hình HTB Q Hậu Thiên Bát Quái còn có tên khác là Hậu Thiên Việt Thường (là người Việt Cổ). Tiên Thiên là chương đầu thì Hậu Thiên là chương sau của Bát Quái: Hậu Thiên là hình đồ mang âm tính so với hình Tiên Thiên. Hậu Thiên cũng gồm tám số âm dương như hình Tiên Thiên, nhưng Hậu Thiên được sắp xếp trên một hình vuông (sách cũ vẫn xếp trên hình tròn và định hướng cũng khác với lối định hướng với hình này, xem hình đồ bên dưới): Hai trục chính của Hậu Thiên là hướng Đông Tây (Lôi Đoài); hướng Bắc Nam là Thủy Hỏa. Hình HTBQ nhằm định phương và định vị vật thể trong không gian: Hình vẽ HTBQ này khác với khác với sách Tàu. Vì HT Việt Thường là của ta, nên tôi định hướng lại cho phù hợp với phương hướng nước nhà từ khi lập quốc đến bây giờ và trong cách định hướng này hướng Bắc Nam được định theo qui luật chung về định hướng bản đồ ngày nay: Khảm: Bắc; Li: Nam; Chấn: Đông; Đoài: Tây; Cấn: Đông Bắc; Tốn: Đông Nam; Càn: Tây Bắc; Khôn: Tây Nam (Xem hình) b. Qui Luật Định Phương Và Định Vị Của Hậu Thiên. Hậu Thiên Bát Quái nhằm nêu lên hai lãnh vực: 1._ Phương vị qủa đất trong vũ tru: Phương Bắc Hậu Thiên là con 2 Khảm (), phương Nam là con 5 Li (). Khảm cũng mang nghĩa là lạnh lẽo, Li () là ấm áp. Điều này nói lên đầu phía Bắc địa cầu được định vị hướng về Bắc Đâău lạnh lẽo, hướng Nam quay về Nam Tào ấm áp. (cả hai đầu Bắc và Nam cực đều đóng băng giá là vì không nhận được nhiều ánh sáng của mặt trời rọi vào). Trên bình diên âm dương: phía Bắc Hậu Thiên là Con Khảm mang tính âm; phía Nam con Li mang tính dương. Theo qui luật: âm thì hấp dẫn dương, dương thu hút âm. Điều này giúp cho các khoa học gia có hướng để giải thích tại sao các chất thuốc khai quang được Mỹ rải trong các thập niên 60 - 70 ở chiến trường Việt Nam của thế kỷ qua, nay lại bay về tích tụ nơi cực nam của địa cầu: Qủa đất mà ta đang sống có thể xem như là một Thái Cực mang tính âm dương trong nó: Lục địa có hình chữ S cắt đại dương và chia địa cầu ra làm hai phần hệt như Thái Cực. Thuốc khai quang là chất hóa học mang âm tính cao, nó là một loại auxin tăng trưởng, nếu dùng liều lượng vừa phải nó giúp cây chóng lớn và khi được dùng với liều cao khiến tế bào cây tăng trưởng qúa nhanh làm vỡ các tế bào này khiến cây chết. Vì nó là chất mang âm tính, nên bị nam cực là cực dương hút vào và tích tụ tại đây. Chất khai quang bởi mang âm tính, làm tế bào tăng trưởng nhanh nên nhất định sẽ có những ảnh hưởng không tốt cho loài người: Các chuyên gia Việt Mỹ đang nghiên cứu vấn đề này. Ta hãy chờ xem kết qủa. 2._ Phương Vị Nước Việt qua Hậu Thiên Lãnh thổ tuy có đổi nhưng phương hướng vẫn không khác: Phương Nam nước ta nắng ấm luôn luôn là còn đường sống còn của dòng tộc. Tộc Việt đã xuôi Nam trong dọc dài lịch sử để tránh ý đồ đồng hóa và sự tàn bạo của phương Bắc: Tổ tiên ta chọn thần vật chim Hồng chim Lạc là loài chim thiên di trốn tuyết làm vật tổ để di chúc “bia miệng” truyền lại cho con cháu muôn đời sau: Phải xuôi Nam tìm nắng ấm khi đất Bắc còn nặng dày băng tuyết! Nhìn trên hình Hậu Thiên Việt Thường (Hậu Thiên Bát Quái) ta thấy con 2 KHẢM được được thiết ở hướng Bắc, con 5 LI ở phương Nam chỉ ra rằng phương Bắc khó khăn lạnh lẽo, phương Nam nắng ấm. Đây là di chúc bằng đồ hình và lời lý số ... c. Các Hướng Chính Của HTBQ: _ Hướng Bắc: Qua bao thăng trầm, ranh giới Việt Nam từ thời Hồng Bàng cho đến giờ biết bao lần thay đổi, nhưng hướng Bắc vẫn luôn luôn tiếp giáp với lãnh lẽo về khí hậu, khó khăn về chính trị như được nêu trên hình trên đồ BQHT là Quái Khảm: Khảm mang cả hai nghĩa trên (Khó khăn và lạnh lẽo). Từ thời Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân đến thời các vua Hùng, nước ta đều bị quấy phá từ phương này, tiếp đến bị Hán Tộc đô hộ và giờ thì Tàu Cộng giành đất, lấn biển. _ Hướng Nam Quái Li chỉ ra phương có nắng ấm; xuôi Nam là con đường sống còn như lời di chúc truyền dòng của Tiên Tổ qua việc chọn loài Thiên Di trốn tuyết là vật tổ của Việt Tộc. Li là sáng, là con đường sáng sủa của dòng Đại Việt. Nếu viết con 5 Li sang 6 nét là con Li Địa Tấn. Tấn chỉ ra hướng tiến dòng tộc, được Ngu Í (sic?) Nguyễn Hữu Ngư làm rõ nghĩa di chúc nầy bằng những lời đầy chất thơ: “Mặt đất Bắc nặng dày băng tuyết Sự sống còn le lói như ma trơi Giống chim Hồng, chim Lạc khắp nơi nơi Vội vỗ cánh xuôi Nam tìm náng ấm Và tự hẹn đến mùa xuân khoe thắm Người tung tăng và chim véo von ca Sẽ cùng nhau ngược dòng Nam tiến Trở về thăm quê cũ đợi ai mà” _ Hướng Đông hình đồ: con số 4 Chấn. Chấn là Lôi, nằm hướng biển Đông BQHT, chỉ ra hướng Long Cung của LLQ (nghĩa bóng là hướng biển, hướng phát xuất của con người trên trái đất). Đối dòng Việt hướng Đông là hướng biển từ thời lập quốc đến giờ, cũng là hướng “đám con theo Cha xuống biển” vào thời LLQ và sau ngày 30 tháng Tư của thời đại chúng ta ... _ Hướng Tây con 6 Đoài: nghĩa của Đoài là thành qủa, là đẹp đẽ, ý chỉ kết qủa tư tưởng của Đông phương sẽ được hình thành, kết quả ở phương Tây (như ý nghĩa hàm chứa qua sự sắp xếp trên bàn thờ cúng Ông Bà “Đông bình Tây qủa”)... Chiêm nghiệm thực tế ta thấy từ tôn giáo đến tư tưởng dẫn đạo nhân sinh, đến khoa học đều phát xuất tự phương Đông và để rồi nở rộ ở phương Tây, chẳng khác nào cái định số mặt trời mọc phương Đông và lặn ở phương Tây. Hướng Tây này còn có ý chỉ ra sự thành công của đám con theo Cha sau sự kiện năm 1975 như là được “Định tại thiên thư”, như đồ hình HTBQ đã chỉ ra ... d. Các Hướng Phụ Của HTBQ: Cái lý trí mà con người đã hành xử để có tiến bộ như ngày hôm nay quả không ai có thể phủ nhận được, nhưng không vì thế mà phủ nhận được định phận, định số. Phần định vị nói lên định số do Hậu Thiên lập ra đã cho ta thấy rõ điều này qua phần trình bày bốn phương chính như trên. Ngoài ra, bốn hướng phụ là Đông Bắc, Đông Nam, Tây Nam và Tây Bắc cũng định ra phương hướng hành động cho dòng Việt: _Đông Bắc: con số 1 Cấn (), chỉ ra sự ngưng đọng, sự sự tụ tập, điểm tụ, ở đây chỉ gốc gác, nơi phát sinh dòng tộc: Con Cấn nằm Đông Bắc đồ hình chỉ ra hướng phát xuất, nơi khởi tụ ban đầu (Hạ lưu đồng bằng sông Dương Tử, vì hướng tiến dòng Việt là Đông Bắc ở Tây Nam. Con Cấn ngồi nghĩa chỉ quê Mẹ, còn có nghĩa là núi, ý bị ngăn chặn, ngụ ý khó phát triển được về hướng này. _ Đông Nam con 3 Tốn () là Phong, gió; còn có nghĩa là phát triển lan tràn; Tốn hành mộc chỉ ra hướng của cây cỏ xanh tươi, ruộng đất trù phú... là hướng Nam nước ta bây giờ và trong tương lai có thể là hướng giao dịch phát triển với các nước vùng Đông nam Á... _Tây Nam con 8 Khôn () nghĩa là nhu thuận là hướng phát triển chính của dòng tộc. _ Tây Bắc con 7 Càn (): Đây là hình ảnh của sự trùng điệp của núi rừng. Con 7 này nếu viết ra với hệ 6 nét sẽ là con Thiên Địa Bỉ (), có nghĩa là bỉ cực. Trên hiện thực địa dư, Tây Bắc nước ta giáp núi cũng vừa giáp ranh với Hán tộc từ thời Văn Lang Âu Lạc và giáp với Trung Cộng ngày nay. e. HTBQ và Cấu Trúc Thành Thăng Long Một điều rất đáng ngạc nhiên là Cổ thành Thăng Long được Vua Lý Công Uẩn xây dựng vào đầu thế kỷ thứ 11, lại có cấu trúc gồm đủ các hình Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng và rõ nét nhất là Bát Quái Hậu Thiên, mang tính đặc thù Việt mà không nơi nào trên thế giới có được. Điều nầy được ông Lê Văn Siêu khám phá và chỉ ra trong cuốn Văn Minh Việt Nam, xin lược trích: “Về vị trí thành Thăng Long, Lý Thái tổ nói: Đây là chỗ hướng hội của núi sông, chỗ yếu hội của bốn phương, có hổ cứ, long bàn, chính ngôi Đông Tây Nam Bắc”...“Về xây dựng: đường vòng chạy quanh nội thành biểu tượng cho Thái Cực. Hai nhánh sông Tô Lịch, bên hữu có hồ Lãng Bạc úng thủy; bên tả thông ra đường lưu thủy, là sông Nhị Hà: Đó là biểu tượng cho Lưỡng Nghi” “Cung điện nhà vua ở giữa, có bốn mặt đều nhau: Ấy là Tứ tượng; thêm bốn kiến trúc bốn cổng ấy là Bát Quái... Các kiến trúc nội thành sắp đặt đúng tám hướng: Kiền Khảm Cấn Chấn Tốn Li Khôn Đoài. Ấy là cái thế: “Dữ tứ thời hợp kỳ tự” (Cùng bốn mùa giao hợp mà sắp đặt trật tự); “dữ quỷ thần hợp kỳ linh” (Cùng quỷ thần giao hợp mà thiêng liêng). Chấn Đoài (Đông Tây) là dữ nhật nguyệt hợp kỳ minh (cùng với mặt trời, mặt trăng hóa hợp mà cùng sáng), “Khôn Kiền (Tây Nam và Tây Bắc) là dữ thiên địa hợp kỳ đức” (Cùng với thiên địa hợp với cái đức của mình) ...“Mỗi hướng có một ý nghĩa riêng phù hợp với sự xây dựng của hướng đó: “Kiền (Tây Bắc): Dĩ quân chi (chủ vào việc quân), phải cúng rắn, cương quyết thì có Giảng Vũ Đường, chùa Trấn Bắc, Trấn Vũ. “Đối với Kiền là Tốn (Tây Nam): Tốn dĩ thuận chi (chủ vào việc thuận hảo), phải mềm dẻo thì có Văn Miếu, Trường Thi, Quốc Tử Giám. “Khảm (chính Bắc) dĩ hãm chi, chủ dùng mưu mẹo để thắng địch (địch ở phương Bắc) thì có não thủy Tây Hồ. Đối với Khảm là Li (ở chính Nam) Li dĩ lệ chi, chủ sự sáng sủa đẹp đẽ, thì có Kim Liên (Bông sen vàng rực rỡ) “Khôn (ở Tây Nam) dĩ tái chi, chủ lấy sự chịu đựng, kiên nhẫn để thủ thắng thì có làng Thịnh Hảo. Đối xứng với Khôn là Cấn nằm hướng Đông Bắc, chỉ việc nên ngừng thì phải ngừng, chớ tham, thì có làng Nhật Tân, Quảng Bá ... Đoài nằm chính Tây, dĩ duyệt chi, lấy mềm dẻo làm cho bằng lòng và chịu theo thì có chùa Nhật Trụ. Đối xứng với Đoài là Chấn (chính Đông): Chấn dĩ cổ chi, lo việc cổ động, có chùa Thạch Cổ trống bằng đá” (Văn Minh Việt Nam Lê Văn Siêu trang 66, 67, 68) Sở dĩ tôi dài dòng trích dẫn vì thấy đây là một sự khám phá vô cùng quan trọng, chẳng những nói lên tính kiệt tác của tác phẩm kiến trúc, phối hợp rất hòa điệu giữa thiên nhiên và nhân tạo, mà qua cấu trúc nầy nó còn như là một đi chúc chính trị muôn đời cho hậu thế dòng Việt để có sách lược đối đầu với kẻ địch từ tứ phương đến. Tôi nghĩ nếu những người làm chính trị và làm văn hóa kế thừa mà đã hiểu ý nghĩa di chúc nầy, chắc đã giúp cho dân, cho nước biết là bao! Để làm rõ nghĩa “di chúc chính trị” tôi muốn viết thêm phần chồng hai hình Bát Quái lên nhau: C. VIỆC CHỒNG HÌNH BÁT QUÁI Chồng hình nhằm chỉ ra con đường hành xử tổng quát cho dòng Việt Tộc. Các con lý số do việc chồng hình mà có, có thể xem như là di chúc chính trị tổng quát do vị thế địa dư (Géopolitique) của nước để từ đó dòng Việt có phương sách đối ứng để sống còn và vươn lên: _ Lấy Tiên Thiên chồng lên Hậu Thiên để biết cái “Thiên định”õ hay “Định tại Thiên thư”õ chỉ ra số phần của đất nước ta. _ Lấy Hậu Thiên chồng lên Tiên Thiên chỉ ra “ũNhân Định”õ nhằm giúp ta có được hướng đi cho phù hợp với hoàn cảnh địa dư Thiên Định. 1. Tiên Thiên chồng lên Hậu Thiên (xem lại hình): Để biết định số, định phận hay THIÊN ĐỊNH cho đất nước và dân tộc, các con lý số thuộc hệ 6 nét do sự chồng hình chỉ ra định số nước nhà như là một “õĐịnh phận tại thiên thư”: _ Hướng Bắc: Thiên Thủy Tụng (): Tụng mang nghĩa tranh tụng, tranh chấp. Trên hiện thực, số này qủa ứng với phía Bắc nước ta trong suốt qúa trình dựng và giữ nước bởi phương này tiếp giáp với Tàu... _ Hướng Nam: Địa Hỏa Minh Di (): là mờ mịt, vô định của những bước chân gian truân lần mò khai phá, chỉ ra hướng Nam tiến của dân tộc phải mò mẫn trong “Minh Di”. _ Đông: Thủy Lôi Truân (): Truân mang nghĩa truân chuyên, ngặt nghèo: Hướng Đông nước ta từ khởi thủy cho đến hôm nay vẫn là hướng biển mà ta vẫn thường gọi là Nam Hải (biển của người Nam (nói Nam trong nghĩa để phân biệt với người Hán phương Bắc). Hướng Đơng này tuy không thường xuyên đối đầu với quân thù như hướng Bắc nhưng cũng không kém phần nguy hiểm: Ngày xưa Kinh Dương Vương và con là Sùng Lãm (sau lên ngôi là Lạc Long Quân) cũng đã nhiều lần gặp khó khăn, truân chuyên với các tộc dân sống các đảo nằm hướng Đông mà lời huyền thoại gọi là chống lại bọn “Ngư Tinh”. Trong lịch sử cận đại, các nước như Trung Quốc, Pháp, Nhật đã sử dụng hướng Đông giáp biển để xâm nhập vào. Gần đây là Tàu, Nga và Mỹ cũng sử dụng hướng này để tiếp tế chiến cụ hay từ biển bắn pháo vào hoặc dùng hướng này để đưa quân vào nưóc ta. Ngoài ra hướng Đông này cũng là cánh cửa chính mở ra cho cuộc đời đầy gian truân của những người vượt biên xa tổ quốc: Ngày xưa Lạc Long Quân đã lìa vợ và dẫn một nửa con xuống biển. Ngày xưa Hoàng Thân Lý Long Tường đã bầu cọ vợ con tìm đường sang Triều tiên để lánh nạn nhà Trần... Hướng Tây là con Hỏa Trạch Khuê (). Khuê là chia lìa, chống đối. Đây là một trong những quẻ xấu nhất trong các quẻ Dịch mà ý các hào như: hào 1 nói việc mất ngựa; hào 2 nói việc muốn gặp chủ để mưu sự thì phải gặp trong ngõ hẻm; hào 3 mô tả như xe bị ngăn chặn không tiến được, người thì bị xâm vào mặt, xẻo mũi; hào 4 nói chuyện chia lìa chống đối; hào 5 nói người cùng phe cấu cắn lẫn nhau; hào 6 nói việc ngộ nhận lẫn nhau “Thấy con heo đầy bùn, thấy chở qủy đầy xe” (Xin đọc Quẻ Khuê trong Dịch). Quẻ này trong Kinh dịch được đặt sau qủe Phong Hỏa Gia Nhân điều này mang lấy ý người trong gia đình chia cách, li tán và đặt trước qủe Thủy Sơn Kiển vốn là con số 10,Kiển có tượng Khảm () trên Cấn () là khó khăn trên quê hương đất mẹ nên gia đình chia cách!). Làm thế nào để giải quyết những nan đề này? Đặt Hậu Thiên trên Tiên Thiên để có lời giải đáp. Việc chồng hình này còn cho chúng ta con dường chính trị đại cương muôn đời đúng bởi đất nước được thiên định nằm trong thế chính trị địa dư, géopolitique đặt biệt của nó. 2. Hậu Thiên Chồng Lên Tiên Thiên: nhằm nêu lên Nhân Định để hành xử cho phù hợp với định số nêu trên. Thực hiện việc chồng hình, ta sẽ có được 4 con Dịch Số nằm ở 4 hướng chính (những hướng phụ vì một hình là vuông một hình là tròn nên khi chồng lên các con trên các hướng phụ, trên hai hình đồ không trùng lên nhau nên ta sẽ không xét đến): _ Hướng Bắc con Thủy Thiên Nhu (): Nhu có ba nghĩa: 1) Nhu là mềm mỏng (như nhu mì). 2) Nhu là nuôi ăn (trong nghĩa nhu yếu phẩm) 3) Nhu là kiên nhẫn chờ đợi (thời cơ). Cả ba nghĩa đều hữu lý trong phương sách của dân tộc để áp dụng làm sách lược giải quyết trong việc đối đầu với định số Thiên Thủy Tụng ở phương Bắc, như được nêu trên. Dầu muốn dầu không cái thực tại nguy hiểm to lớn luôn luôn đeo đuổi, đe dọa tự ngàn đời như là một định số mà dân tộc ta không thể không đối đầu, là một hiện thực. Không để bị đồng hóa như nhiều tộc dân khác mà suốt mấy ngàn năm kiên cường chống trả quyết liệt để tồn tại, để chờ ngày khôi phục quê cha đất tổ là điều đáng cho ta tin tưởng ở tương lai và cũng là điều đáng để hảnh diện với thế giới, bởi vì nước láng giềng của ta ở phương Bắc luôn luôn nuơi mộng bành trướng mà lại đơng về dân và rộng về đất hơn ta hàng nhiều chục lần. Đối với phương Bắc áp dụng lý số Nhu trong cả ba ý nghĩa của hẳn là đúng đắn: 1. Nhu trong nghĩa nhu hòa mà không là nhu nhược: Đối ngoại khôn khéo, mềm mỏng hẳn nhiên Nhu không đồng nghĩa với nhược mà dùng phương sách nhu thắng cương. 2. Nhu trong nghĩa nuôi ăn: Hiệp thương buôn bán với đất nước có dân số cả tỉ người hẳn là nguồn lợi tức dồi dào để nuôi dân. 3. Nhu trong nghĩa chờ đợi cơ hội trở lại quê xưa: Sông có khúc, người có lúc và nước thì có vận hạn của nó. Tất cả đều vận chuyển theo chu trình, chu dịch, nên dùng Nhu trong nghĩa kiên trì chờ đợi... Lãnh thổ Việt tộc (Bách Việt) khi xưa là cả Hoa Nam bây giờ, có ranh giới tận cùng phương Bắc là sông Dương Tử; chu dịch mang nghĩa đi là trở về, thì dĩ nhiên ta được quyền hy vọng một ngày nào đó dân tộc ta sẽ trở lại đất cũ quê xưa, cùng nhau “ngược dòng Nam tiến”. Với một dân tộc kiên cường và trí tuệ, điều mơ ước này không là chuyện viễn vông: Binh pháp Tôn Tử có chỉ ra rằng phân lực chỉ là hạ sách trong sách lược để phân thắng bại. (Trung sách và thượng sách là phân thế và phân thanh: Nhất phân lực, nhì phân thế, bách phân thanh) _ Hướng Nam Hỏa Địa Tấn (). Tấn có nghĩa là tiến lên: Như ta đã rõ ở phần trên định số nước nhà về phương Nam là Địa Hỏa Minh Di (), là mờ mịt có nghĩa là phương Nam không phải con đường quang đãng được mở sẵn để đón chờ ta, nhưng dân tộc chẳng còn phương cách nào khác hơn là mở đường đi về phương này. Nói khác đi Tấn về phương này là con đường sống còn của dòng Việt trong khi chờ ngày ngược dòng Nam tiến vậy! Theo tượng qủe Tấn là: Li () trên Địa () nghĩa tiến lên trong sự sáng suốt và đơi khi cũng phải dùng đến binh lửa nữa (Muốn biết “ũTấn” thế nào xin đọc Quái Tấn trong kinh Dịch). _ Hướng Đông Lôi Thủy Giải (). Giải là cởi, là tan, là giải quyết, giải nạn... Đây là lời giải cho hướng Đông của con Thủy Lôi Truân do sự chồng hình nêu lên định số như nói phần trên. Nghĩa của Gỉai là phương cách làm cho hết kiển, hết truân, hết Bỉ. (Trong Kinh Dịch sau quẻ Kiển là qủe Giải). Thoán từ quẻ Giải khuyên: “Đi về Tây Nam thì lợi”. Và đi về Tây Nam có hai nghĩa: 1. Nghĩa đen nó chỉ hướng địa dư, nhằm chỉ ra con đường tiến của dân tộc là con 5 LI () của Hậu Thiên (nếu nối từ điểm xuất phát dòng tộc cho đến vị thế nước Việt nam hôm nay ta thấy rõ con đường tiến của dân tộc là đi về hướng Nam, hay chính xác hơn là hướng Đông Bắc Tây Nam) . 2. Hướng Tây Nam trong hình Hậu Thiên là con Khôn () chỉ Mẹ, chỉ đức nhu mì đạo đức (Theo mẹ lên núi là “Nhân giả nhạo sơn”, là đi theo đường nhân). Nếu viết con 8 hướng này sang hệ 6 nét Dịch nó sẽ là con Địa sơn Khiêm nói lên tính khiêm hạ, nhún nhường. Đó còn là lối đức trị, là con đường chính yếu để giải nạn. Ta hãy nghe lời Thoán quẻ Giải này để nghiền ngẫm mà biết ý của nó: “Giải: Lợi Tây nam, vô sở vãng, kì lai phục, cát. Hữu du vãng, túc, cát”. (Giải nạn: Đi về phương nam thì lợi, đừng đa sự, cứ khôi phục lại như cũ thì tốt (khôi phục Đạo Ông Bà, khôi phục Văn Hóa Hà Lạc ... Giải thích thêm của tác gỉa chữ “như cũ”) Khi có điều đáng làm, làm cho chóng, thì tốt (Nguyễn Hiến Lê dịch). _ Hướng Tây: Trạch Hỏa Cách (): Cách là sửa đổi, cải cách nằm trong nghĩa của cách mạng, để giải quyết nan đề “Khuê” (chống đối, chia lìa) do định (số cho đất nước được nêu trên. Và “Cách” Kinh dịch viết: Trong Dịch quẻ Cách () được đặt sau qủe Tĩnh (). Tĩnh là cái giếng, chỉ nước ao tù ngưng đọng, nước giếng muốn xài được phải phải múc sạch nước cũ nhiều cáu bẩn, rác rưới đi để thay bằng nước trong lành khác mới xài được: Đó là ý nghĩa của Cách đặt sau Tĩnh. Thoán từ Cách viết là: “Cách: Dĩ nhật nãi phu, nguyên hanh lợi trinh. Hối vong”: Nguyễn hiến Lê dịch là: Thay đổi: “Phải lâu ngày người ta mới tin được; phải rất hanh thông, hợp chính đạo thì người ta mới phục. Được vậy thì không phải ăn năn”. ý: Vì là hai hình một tròn (Tiên Thiên), một vuông (Hâu Thiên) nên khi đem chồng lên nhau, các hướng phụ các quái sẽ không trùng lập, nên ta không xét các hướng phụ khi chồng hình. Tóm lại, qua phần trình bày trên ta thấy Bát Quái không là cái bùa mà là tám con số viết theo hệ số Âm Dương Dịch số, nhằm nêu lên qui luật của vũ trụ và Đạo lý của nhân sinh. Riêng cho Việt Nam, BQ còn như là một di chúc chính trị vô cùng qúi gía của tiền nhân Việt để lại cho con cháu muôn đời... “Bùa Bát Quái” hầu như được rất trân trọng treo nơi mọi mọi gia đình Việt Nam: Treo trên đòn thượng lương, treo nơi cửa chính ra vào, nơi thờ phượng, nơi đình làng, thánh thất…và tơi còn nghe nói: trước năm 75 Bát Quái còn được treo ngang hàng với tượng Chúa Jesus nơi một nhà thờ Dòng Tên ở Sài Gòn. Sự trân trọng nầy đối với Bát Quái thật xứng đáng nếu xem nó như là một công án trong thiền môn: Hằng ngày nhìn nó, tư duy về nó…rồi sẽ có một ngày ta sẽ ngộ được nó Bát Quái không là một cái bùa trừ ma, ếm qủi mà là cuốn Sách Ước của dòng tộc mà lãnh vực ứng dụng của nó thì vô cùng, miễn sao hiểu được cái nghĩa “tùy thời chi nghĩa” của nó (Tùy thời chi nghĩa đại hỉ tai!): Hiểu được Bát Quái thì ước gì được đó! BÀI 2: HUYÊN THOẠI, DỊCH VÀ DI SẢN VĂN HÓA DÒNG TỘC TĐ NGUYỄN VIỆT NHO Huyền thoại là những lời kể lại Mong cháu con phải mãi mãi ghi lòng Bởi dấu che những bí ẩn bên trong Phải thành kính ta mới mong thấu hiểu (1) Chữ “Rồng Tiên” đây chỉ là biểu hiệu Mà người xưa mượn để chỉ Âm (_ _) Dương (___) “Ông” và “Bà” là hai thể nghịch thường Nhưng kết chặt cùng chung trong một cặp (Như thể là Âm Dương trong Thái Cực) Rồi trăm dòng từ đó được sinh ra Thể tựa như hình vẽ của Lạc Hà Từ Thái Cực nẩy sinh ra trăm trứng…(2) Trứng” hai hình, như âm dương, phải ứng: “Đông có mầy và tây lại có tao”(3) Như còn vang lời dạy của ca dao Và Hà Lạc với lời răn LI ( ), LÍ ( ) (4) Bị đô hộ ngót hơn mười thế kỷ Làm thế nào để truyền lại cháu con Làm thế nào để di chúc mãi còn Nếu không gửi ý truyền qua huyền thoại ? Hùng Vương 6 muốn truyền di chúc lại Cho Tiết Liêu trao hai bánh chưng, dầy Hình Đồ Thư (5) được gợi ý qua đây Để con cháu nhớ Rùa thần vật tổ (6) Là Sách Ước không lời xưa cổ Chấm rỗng đầy trên mu giáp Rùa Thần Trăm trứng nầy là hệ của thập phân Dùng hào vẽ thành âm dương Số Dịch Leibnitz, về sau, làm điều ơn ích Dựa vào đây chế tác digital Để mở màng cho nhân loại bước vô Ngưỡng cửa mới của ngành tin học Vì không lời nên Dịch kinh khó đọc Vì cao siêu nên lắm kẻ tranh giành Vì qúa xưa nên lắm bọn lưu manh Sửa sách sử để đoạt quyền trước tác… Sự tương đồng “sách” cổ xưa Hà Lạc Với bao nhiêu huyền thoại của nước nhà Mấy điều nầy cũng qúa đủ nói ra Cội nguồn của Đạo Ông bà: Đạo Dịch! Dẫu có kẻ cho mị ma đả kích: Cổ hũ rồi, còn ơn ích gì đây Bảo Tiết Liêu mượn hai bánh chưng, dầy Để tỏ rõ rằng đủ tài trị nước Hùng Vương 6 qua đây đã chọn được Người hiền tài để thay thế ngôi vua? Lục lại chuyện xưa, tôi muốn phân bua Rằng “Sách Ước” là Dịch Kinh dòng Việt… Hãy nuôi lấy một tinh thần bất diệt Hãy tiến lên như quái Tấn ( ) khuyên ta Hổ tương nhau như LI ( ), LÍ ( ), Ông, Bà Đừng để mất di chúc nhà truyền lại: Hoàng, Trường Sa phải ghi lòng nhớ mãi Bất động sản nầy là khẳn định của Ta Và Dịch Kinh là Sách Ước Ông Bà Là di Sản Tinh Thần dòng giống Việt! ________ (1): Lấy ý câu: “Chí thành thông thánh” (2): Đoạn văn nầy nhắc chuyện huyền thoại “Tiên” (Bà: Khôn (_ _): Âm), “Rồng” (Ông Càn (___): Dương) “đẻ con” và “chia con” nhằm gợi ý: Âm dương kết hợp sinh ra mọi loài và gợi ý tổng số chấm đen trắng trên Rùa Thần hay Bọc Âu Cơ và số chấm trên hai hình Hà đồ (55 chấm), là số của Mẹ đi “theo cha ra biển” (hình nêu lên định tính và định luật mang tính dương) và Lạc Thư (45 chấm) của cha trao Mẹ mà huyền thoại bảo rằng nửa con (nửa tương đối) theo Mẹ lên núi, nhằm chỉ ra định hình và định vị của vật chất trong không gian. Tổng số “con này đều mang gene “Rồng” (trắng) và “Tiên” (đen) nói lên vật chất đều chúa bên trong tính của cha mẹ Càn Khôn. (3): Lời Cha Rồng trong huyền thọi chia con 4): Li ( ): mang số của Lạc thư là con 45, nghĩa của nó là sáng, cũng còn có nghĩa là lệ là lệ thuộc, là vơ; LÍ: THIÊN TRẠCH LÝ ( ): là số 55 của Hà Đồ, khi viết ra Dịch số là con Thiên Trạch Lí; Lí có nghĩa là chồng lên hay là chồng. Đạo Li Lí là đao vợ chồng và cũng là Đạo của Hà Lạc và vì Hà Lạc một hình vuông, một hình tròn nên Đạo LI-LÍ cũng là đạo vuông tròn. (5): Đồ Thư: Hà Đồ và Lạc Thư, cũng gọi là Hà Lạc: Nhắc chuyện Hùng Vương 6 mở cuộc thi tuyển chọn người kế vị và người trúng tuyển là Tiết Liêu khi ông nầy làm hai bánh chưng dầy tượng trưng cho hai hình Hà Lạc. Hai hình nầy là cơ sở hình thành nền văn hóa Hà Lạc cũng gọi là văn hóa Rồng Tiên… (6): Hình đồ Rùa thần là đồ hình tạo ra bởi Hà đồ và Lạc thư, vuông tròn chồng lên nhau: Hình của Mẹ mang số 55 cũng là tổng số chấm đen trắng trên hình Hà Đồ và hình của Cha Lạc thư mang số 45 … Nguồn: http://www.anviettoancau.net/
-
TRUYỆN CỔ TÂY NGUYÊN TRONG TƯƠNG QUAN TRUYỆN CỔ ĐÔNG NAM Á LÊ HỒNG PHONG (*) 1.Huyền thoại Tây Nguyên và những motif chung Đông Nam Á: Trong huyền thoại Đông Nam Á rất phổ biến motif cây. Huyền thoại Mường có motif cây si sinh thành nhiều thứ, trong đó có motif cây sinh chim, chim sinh bầu. Người Việt có bọc trăm trứng trăm con; người Mường có bầu trăm trứng. Hai dân tộc đều có truyền thuyết chứa đựng chi tiết sinh ra nhiều người miền xuôi, người miền núi. Huyền thoại Mường có 3 trứng nở ra Lang Đá Cần, Lang Đá Cài, và nàng Vạ Hai Kịp. Tiếp đó là motif hôn nhân anh em ruột; Lang Đá Cái lấy Vạ Hai Kịp… Dịt Dàng tìm cây Chu, chặt cây. Cùng motif cây lạicó những motif nhỏ. Huyền thoại Lào, Ê Đê, Chăm, K’Ho… cũng đều xuất hiện motif chặt cây thần – cây che mặt trời, che sự sống cộng đồng. Chặt cây, máu cây sinh thú, cây có máu như người, người như cây, như thú, máu như người, người như cây sinh thú, sinh người. Cây thuốc đá Keo reng của người Mường, cây thuốc tiên của Cuội (Việt - Mường), cây hồi sinh, gậy hồi sinh (Sơn Tinh), cây lúa có hạt lớn tự về nhà (Ê Đê, Việt…), cây sống lại, cây sinh người (Mạ, K’ Ho), cây bản mệnh của người (Ê Đê), cây vận mệnh dân tộc (Chăm), cây lúa từ phân chim (K’Ho), từ hạt bám kẽ chân mà người lấy được lúa thần (Indonesia), cây tre hoặc măng sinh ra người (Malaysia, Philippin)… Ở Tây Nguyên cao 2000m cũng có huyền thoại lụt với sự phổ biến của motif lụt và motif bầu, có motif bầu - mẹ. Trong 307 dị bản do Đặng Nghiêm Vạn sưu tầm và công bố, các dân tộc Tây Nguyên rất ít motif bầu - mẹ so với type (kiểu) truyện quả bầu Lào mà Nguyễn Tấn Đắc đã khái quát. Ở truyện cổ Lào, Trời làm lụt, ba ông Khún đóng thuyền lên trời tránh lụt, trờI cho trâu, trâu chết, mọc dây bầu một quả (motif bầu, motif cái duy nhất), chọc thủng bầu, các bộ tộc Lào chui ra, chặt cây đa, giết đại bàng cứu sự sống cộng đồng. Theo huyền thoại Mạ, K’Ho (Nam Tây Nguyên) thì sau nạn lụt, anh chị em - cặp duy nhất sống sót cũng tương tự nhiều huyền thoại khác ở Đông Nam Á, mà cơ bản sinh ra ba dân tộc: Kon Prum (Chăm), Kon Chau (người Thượng) và Kon Yoan (Việt)… Tính chất chung của huyền thoại Lào và huyền thoại Tây Nguyên trước hết là ở lớp văn hoá muộn của nó; người Thượng phải tiếp xúc với Chăm, Việt thì mới bổ sung thêm lớp văn hoá mới vào huyền thoại của mình; cũng như sự thống nhất ba bộ tộc Lào Thưng, Lào Lùm, Lào Xủng trong một nước Lạn Xạng đã được biểu hiện vào trong huyền thoại tộc người của Lào… Do vậy, huyền thoại Đông Nam Á dù cổ xưa, cũng không hoàn toàn quá xa thời đại chúng ta sống. Với huyền thoại Philippin, Sicalak và Sicabai là cặp đầu tiên được sinh từ măng tre, vẫn là motif cây sinh người trong tổng thể motif cây. Giã gạo, trời xa đất, lược thành trăng, lò lửa thành mặt trời. Ở huyền thoại nam Tây Nguyên: bầu trời từ lưng trâu, mặt trăng từ sừng trâu…; mặt trời, mặt trăng đều được rèn bởi N’ Đu. Mặt trời, lò lửa có nét gần nhau về màu đỏ, sức nóng, khả năng đốt cháy; tục giữ lửa, thờ lửa cũng gắn với thờ mặt trời, cả hai đều cần cho sự sống. Người có phép kêu mưa, gọi gió, giữ gương thiêng, được tôn xưng và tin tưởng như một thủ lĩnh tín ngưỡng (Pơtao Ea, Pơtao Pui) mà chúng ta quen dịch thoát là vua ! Mặt trời trong huyền thoại Philippin buồn, đòi lấy vợ, con gái thủ lĩnh tự nguyện lấy thần để ánh sáng mạnh lên cho cộng đồng sinh sống. Người Tây Nguyên cũng quan niệm về mặt trời với tính chất nhân hoá như vậy. Đó là một thế giới khác vừa như người vừa hùng mạnh hơn người, thế giới mặt trời gồm nhiều “người - mặt trời” có già, trẻ, gái, trai, có thủ lĩnh là mơtao, pơtao mặt trời. Mô hình tổ chức cộng đồng người chi phối xã hội thần linh. Trình độ tư duy nguyên thuỷ chi phối cách hình dung về thế giới thần, quan hệ thần - thần, thần – ma, thần và ma với người… Có núi lửa ở Philippin là do người vi phạm điều cấm (tự tiện leo núi, dám nhìn núi vàng núi bạc). Người R’măm Tây Nguyên cho rằng đất sụp (núi lửa tiền sử Tây Nguyên) là do ăn thịt heo thiêng ! Người Mạ và K’Ho cho rằng người ta có thể đuổi ma ra khỏi người – ma, để người – ma thành người thường, trong khi đó, ai ăn con heo – ma sẽ thành người – ma. Huyền thoại Miến có nhiều mặt trời thiêu huỷ thế giới: biển dâng tận trờI (motif lụt). Ba anh em: Sun - Mặt trời - Mặt trăng ghét nhau, Sun đuổi theo hai anh đòi lại thuốc bất tử, che lấp nhau thành nhật thực, nguyệt thực… Người nam Tây Nguyên quan niệm trăng, trời tìm nhau, che lấp nhau… thành nhật thực, nguyệt thực. Người Miến quan niệm có bốn vị thần đầu tiên xuống trần, nặn bốn cặp đầu tiên bằng đất, hong lửa thần, thành bốn chủng trắng, đỏ, tối, đen. Người Tây Nguyên cũng được nặn ra bằng đất màu, sống trong hang rồi chui lên trên…(Ê Đê, M’nông, K’ho, Mạ…) Loại người thứ nhất chết trong hồng thuỷ, các tộc người hiện nay là loài người thứ hai. Tổ tiên người Miến đến từ cõi trời Dan với các bama bất tử, Tây Nguyên theo tín ngưỡng đa thần (các Yang, Yàng). Dan – Yan – Yang, Yàng là các từ cùng gốc? Điều này phải cậy nhờ các nhà ngôn ngữ học lịch sử. Motif thỏ cung trăng có trong huyền thoại San và Miến của Mianma: thỏ bạc ngồi nhà thuỷ tinh 15 cửa, mỗi đêm mở 1 cửa, 15 ngày mở 15 cửa, tiếp tục đóng lần lượt mỗi đêm thêm 1 cửa thì được một tháng. Ở huyền thoại Trung Quốc có Hậu Nghệ, Hằng Nga và cây trường sinh trên cung trăng; huyền thoại Mường có cây đa và chú Cuội, còn huyền thoại Tây Nguyên chưa thấy thỏ và cây bất tử. Thở có rất nhiều trong truyện cổ tích Tây Nguyên nhưng tính chất ngụ ý pha tính chất hài. Người Indonesia quan niệm trời đất ban đầu là một khối do ánh sáng, bọt biển, hơi nước (văn hoá biển), nhưng là nhất thể, hỗn độn, bãng lãng, bời lời như huyền thoại Hy Lạp, Việt, Mường… Trời sinh nhiều con, con của trời khóc nhớ thành sương, con của trờI giận thành bão… Người Mạ, K’Ho cho rằng tổ tiên - thần linh ban đầu hoá thân sáng tạo: Kblop thành cá, KB’ la thành muối, K’los thành sắt… II.Cổ tích Tây Nguyên và những motif chung Đông Nam Á: Các motif cổ trong huyền thoại vẫn duy trì theo những cách khác nhau trong cổ tích. Đó là các motif cây trong đó có phổ biến là motif cây si, đa, bầu; motif chim; motif thần xuất hiện để thử thách, giúp đỡ con người; motif mới như mồ côi, mang lốt, biến hoá, kết hôn, motif dũng sĩ diệt ác thú cứu người đẹp qua type truyện Thạch Sanh, motif con chung con riêng qua type truyện Tấm Cám rất phổ biến ở Đông Nam Á. Kiểu (type) truyện Thạch Sanh thuộc loại phổ biến nhất Đông Nam Á, đã được Nguyễn Bích Hà nghiên cứu thành công trình riêng, có kế tục Hoa Bằng, Cao Huy Đỉnh, Hoàng Tiến Tựu…Kiểu truyện này có nhiều motif chung: motif dũng sĩ; motif cây đa; tín ngưỡng và tục tế thần tự nhiên bằng người sống; motif diệt ác thần (chằn tinh, đại bàng, mãng xà) cứu người; motif cô gái câm, motif tiếng đàn (tiếng hát) đuổi thú, đuổi thù cứu cộng đồng; motif kết hôn, lên ngôi… Người Việt có thêm niêu cơm thần – khát vọng no đủ của cư dân lúa nước, trong motif tha thức chung của Đông Nam Á, người Việt để Thạch Sanh tha thứ mẹ con Lý Thông, nhưng trên đường về lại bị sét đánh, hoá thân thành bọ hung. Kiểu truyện mồi coi với quan hệ chị em khác mẹ cũng phổ biến ở khu vực Đông Nam Á. Ở Việt Nam, người Việt và các dân tộc phía Bắc khá gần nhau ở mâu thuẫn chị em cùng cha và mâu thuẫn dì ghẻ - con chống; người Chăm lại mâu thuẫn con đẻ - con nuôi; người Mạ cũng có motif chị em con cô con cậu, chưa đặt vấn đề dì ghẻ đúng như trình độ phát triển của một xã hội cuối mẫu hệ (Ít và Dong)… Cùng type (kiểu, truyện nhưng các dân tộc ở Đông Nam Á cũng có những điểm khác biệt nhất định: mẹ Chăn Tha (Lào) hoá thân thành rùa vàng, thành bồ đề - biểu tưởng Phật giáo; Tấm (Việt - Việt Nam) biến hoá nhiều kiếp, có Phật xuất hiện nhưng với danh xưng Bụt đậm nét dân gian; truyện cổ Mạ thì nhân vật không hoá thành xoan, thị… mà thành chim, trúc, măng, dưa leo, quýt…Không gian cư trú canh tác, tín ngưỡng và quan hệ với tự nhiên chi phối chi tiết cây trong motif cây và nhiều motif khác. Sự tha thứ là motif chung của cổ tích Tây Nguyên cũng như hầu hết cổ tích Đông Nam Á; trong khi đó, Tấm của người Việt lại trừng phạt em và dì ghẻ, nhưng không phải là vấn đề bàn ở đây. Xét về các motif chung, các nội dung tín ngưỡng, phong tục, quan hệ thiện – ác… trong truyện, cả sự kết thúc truyện, lại thấy truyện cổ Tây Nguyên, cổ tích Chăm gần gũi Đông Nam Á hơn. Sự phổ biến của nhân vật mồ côi trong cổ tích giúp chúng ta xem xét lại một số quan điểm chung về sự ra đời và phát triển của thể loại cổ tích, về nội dung đấu tranh giai cấp của truyện mồ côi nói riêng cổ tích nói chung. Yếu tố thần kỳ cũng rất đậm đặc trong cổ tích nhiều nước, khiến chúng ta không thể lấy thần kỳ làm tiêu chí phân loại cổ tích được. Các tín ngưỡng nguyên thuỷ bản địa, các phong tục, các lễ hội, các lĩnh vực văn hoá vật chất và tinh thần được phản ánh trong cổ tích làm cho cổ tích Đông Nam Á hàm chứa những giá trị văn hoá rất phong phú. III. Truyện hài - ngụ ngôn Tây Nguyên so vớI Đông Nam Á Ở Tây Nguyên rất phổ biến type truyện mà các nhân vật là động vật như thỏ, rùa, khỉ, cọp, voi… mà người kể chuyện gọi trân trọng là ông thỏ (pàng pài), ông cọp (pàng klìu)… Về cơ bản, truyện không chú trọng đến đời sống hay tập tính loài vật, mà thông qua các động vật và quan hệ vật - vật để ngụ ý một vài đặc điểm của con người và quan hệ người - người theo hướng ngụ ngôn. So sánh với truyện cổ Đông Nam Á thì chất ngụ ngôn ở đây chưa cao, chưa súc tích, chưa cô đọng. Dung lượng truyện rất lớn, hành động nhân vật lặp đi lặp lại theo các motif bắt chước, motif mẹo lừa, motif khôn - dại. Đồng thời với yếu tố ngụ ngôn là sự kết hợp với yếu tố hài. Chúng tôi cho rằng, với Tây Nguyên, truyện hài và truyện ngụ ngôn chưa phát triển thành hai thể loại độc lập mà đang trong quá trình vận động, đang ở giai đoạn tiền thể loại: tiền - truyện hài và tiền - ngụ ngôn. Trong khi đó, truyện ngụ ngôn ở một số dân tộc Đông Nam Á đã phát triển với tư cách một thể loại ngắn, tính ngụ ý cao, tính chất hài vẫn còn nhưng dù sao cũng đã có một thể loại truyện cười riêng. Trong truyện cổ Thái Lan, có truyện về loài chim mà kết cấu tương tự truyện về thỏ, và truyện về rùa của Tây Nguyên. Độ kết dính giữa các tiểu truyện cũng còn khá lỏng lẻo mà khi thay đổi trật tự một số tiểu truyện, giá trị toàn hệ thống cơ bản được giữ nguyên. Tuy nhiên, từng tiểu truyện về loại chim có thể được kể độc lập với tính chất ngụ ngôn của nó; còn từng tiểu truyện về rùa hay về thỏ ở Tây Nguyên thì tính chất hài trội hơn bài học ngụ ngôn. Với người Việt (Việt Nam), người Khmer (Việt Nam và Campuchia), và người Lào (Việt Nam và Lào) đều có chung một tiểu loại truyện trạng (Trạng Quỳnh, Xiêng Miệng, Thơ Mênh Chây…). Truyện trạng Đông Nam Á có sự tương đồng về kết cấu hệ thống, tính chất liên hoàn xâu chuỗi thông qua nhân vật chính; có một số motif chung mà chưa biết nước nào mượn của nước nào: Thuốc ngon cơm, gà trống không biết đẻ, Nhờ phận cung nữ… trong Xiêng Miệng rất gần gũi với Món ăn mầm đá, Sao sáng xứ thanh, Rau cải tiến chúa trong Trạng Quỳnh; cả Lào và Campuchia đều chung nhau các motif: Tôi không dám nhặt; Tôi nhặt tất cả… Và trong truyện trạng của ba dân tộc, chủ thể của ba quốc gia này đều có những chuyện lỡm sứ Tàu, vua Tàu… Tuy nhiên, về phương diện nào đó, truyện về thỏ hay truyện về rùa của Tây Nguyên vẫn có nét chung về tính chất đồ sộ, kết cấu lỏng lẻo, về tính chất liên hoàn, tính chất hài như truyện trạng (Trạng Quỳnh, Xiêng Miệng, Thơ Mênh Chây, Cuội…) ở Đông Nam Á. Phải chăng truyệng Trạng có tiền thân từ truyện thỏ, rùa? Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu thêm để sáng tỏ tiến trình phát triển các thể loại truyện cổ Đông Nam Á. IV.Nguyên nhân sự tương đồng của truyện cổ Tây Nguyên và Đông Nam Á. 1.Các dân tộc có cùng gốc tộc người hoặc cùng vùng cư trú ngày xưa khiến kho tàng truyện cổ của họ có thể có nhiều nét chung. Nhiều nhà nghiên cứu đã nổ lực dựng lại hệ thống huyền thoạI Việt - Mường cổ (Phan Ngọc – Phan Đăng Nhật). Tuyển tập huyền thoại Đông Nam Á mà chúng tôi đang khảo sát cũng coi Đẻ đất đẻ nước là huyền thoại Việt Mường … là theo quan điểm Việt và Mường cùng gốc. Một bộ phận người Nguồn từ Quảng Bình vào cư trú ở Lâm Đồng, năm 1999, đoàn sưu tầm của chúng tôi đã ghi được hàng chục đơn vị hát Đúm của họ về tình yêu mà không cần phiên dịch, bởi cư dân này nói bằng thứ tiếng Việt - Mường cổ, gần phương ngữ Nghệ Tĩnh ngày nay. Phải chăng, trong quá khứ, Nguồn cũng từ Việt - Mường mà ra? Các bộ phận Thái bao gồm Thái (Trung Quốc), Thái (Việt Nam), Thái (Thái Lan)… có lẽ cũng vậy; rất tiếc chúng tôi chưa đủ tư liệu để so sánh truyện cổ của các cộng đồng này. 2.Các dân tộc di cư, xen cư, giao lưu văn hoá có thể dẫn tớI sự tương đồng về thể loại, kiểu truyện, tác phẩm hay motif Trong kho tàng truyện cổ Lào đã tồn tại các truyện: Nàng Xip xoỏng (Mười hai cô gái), Khăm pha (Mồ côi), Khăm pha – nàng Ngà (Mồ côi và nàng Ngà), Bò mi pho (Không có cha)… Những truyện này đã được sưu tầm, in ấn. Tháng 1 – 2000, Đoàn sưu tầm văn học dân gian tại Bản Đôn cũng thâu lượm được dị bản của các truyện này tại vùng cư trú của người Lào (và các cư dân nói tiếng Lào) có quốc tịch Việt Nam. Tính chất giao lưu văn hoá trong cộng đồng dân tộc Bản Đôn là có thật, nhưng trước đó, sự chuyển cư của người Lào từ Lào qua Việt Nam đã khiến cho trong tổng thể truyện cổ Tây Nguyên hay truyện cổ Việt Nam có bộ phận truyện cổ Lào với những nét tương đồng nhất định với truyện cổ Lào tại Lào, và có lẽ tại cả một số nước khác trong vùng Đông Nam Á. 3.Các dân tộc và truyện cổ của họ cùng chịu ảnh hưởng một nguồn văn hoá chung nào đó theo những đường thẳng và vòng khác nhau cũng là một trong những nguyên nhân của sự tương đồng văn hoá và văn học. Hầu hết các quốc gia Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của văn hoá Ấn và các tôn giáo Ấn. Chính thế mà truyện cổ Thái Lan lại xuất hiện nhiều nhân vật tu sĩ, đạo sĩ theo cả hai hướng thiện và ác. Trong đó còn thấy nhân vật Cò thông thái Ấn Độ, cu gáy Ấn Độ, thần điểu Garuda, Garuda diệt rắn Naga… Truyện cổ Chăm và văn hoá Chăm có Po Naga – Mẹ xứ sở, Ôn Gru (một chức sắc tôn giáo)… Truyện cổ Tây Nguyên và văn hoá Tây Nguyên có Nak Grài - thần rắn sáng tạo ra sông; suối; Po Grù (thầy tu, thầy giáo, người săn được 30 con voi trở lên…)…Ấn Độ có tuyển tập ngụ ngôn Panchatantra nổi tiếng, và các dân tộc Đông Nam Á cũng vay mượn theo mức độ khác nhau để có Munlatantai và Nangtantai (Lào), Tantri (Indonesia), Nangtantai (Thái Lan)… Như vậy, tôn giáo Ấn và văn hoá Ấn có thể sang các nước ở Đông Nam Á trực tiếp; trong khi cũng tôn giáo ấy và văn hoá ấy lại lên Tây Nguyên của Việt Nam gián tiếp qua con đường văn hoá Chăm, Lào… Xét bề mặt, văn hoá một dân tộc có thể đến một dân tộc khác bằng con đường tôn giáo; nhưng suy cho cùng là văn hoá một dân tộc có thể đến một dân tộc khác qua văn hoá nếu nghĩ rằng khởi thuỷ mọi tôn giáo đều ra đời trên cơ sở văn hoá nguyên thuỷ, và nếu công nhận tôn giáo cũng là một trong những lĩnh vực văn hoá đặc thù trong tổng thể văn hoá. Nhiều cư dân Tây Nguyên theo Tin Lành và Công giáo, khiến cho huyền thoại tộc người của họ ít nhiều có xáo trộn bởi một số chi tiết ngoại lai, thì ông Phật lại có mặt trong truyện cổ Lào Bản Đôn (Việt Nam), và ông ấy cũng được dân gian hoá thành Bụt trong cổ tích người Việt… 4.Sự giống nhau ngẫu nhiên giữa các dân tộc cùng trình độ. Cùng kéo dài một cách bất thường tư duy nguyên thuỷ, tín ngưỡng nguyên thuỷ, tổ chứ xã hội nguyên thuỷ mạt kỳ… cùng phải đặt ra những câu hỏi, những vấn đề cần giải quyết tương tự như nhau cũng có thể làm xuất hiện những nét tương đồng ngẫu nhiên trong truyện cổ, trong văn hoá giữa các dân tộc cho dù không cùng nguồn gốc, không giao lưu. Nói ngẫu nhiên vì chưa giao lưu, không chung nguồn gốc, không chịu ảnh hưởng cùng một nguồn, nhưng xét trong tiến trình phát triển con người, phát triển văn hoá nhân loại thì những vấn đề chung cần giải quyết như nhau trong thời điểm lịch sử khác nhau của từng dân tộc lại là tất nhiên, là mang tính quy luật. V.Tiểu kết: 1.Sự tương đồng trong khu vực văn hoá Đông Nam Á là có thật, cơ tầng văn hoá chung dẫu có chịu tác động bởi các nền văn minh lớn, nhưng vẫn có cái nền gốc chắp thêm cành lá mới. Những giá trị truyền thống là không thể phủ nhận, cần phát huy; nhưng cũng có những nhược điểm cần khắc phục của khu vực: văn hoá viết chưa đột phá để vượt lên hiện đại hoá; dựa vào nền tảng văn hoá dân gian để phát triển là đúng nhưng không được nệ cổ; tích cũ của dân tộc, của khu vực, của văn hoá Ấn chi phối văn học nghệ thuật truyền thống, chi phối lối kết công thức chưa làm thoả mãn thị hiếu công chúng hiện đại. 2.Từ tảng nền văn hoá chung, các dân tộc Đông Nam Á có triển vọng hội nhập, cùng phát triển, kể cả giao lưu nghiên cứu và phát triển nghiên cứu trong sự phát triển toàn diện và thịnh vượng chung của khu vực văn hoá. 3.Các dân tộc còn có nhiều cái độc đáo làm nên bản sắc từng dân tộc để không hoà tan, để vừa nhận, vừa cho, tạo sự hài hoà khu vực và nhân loại. Do phải đi tìm cái chung mang tính khu vực. Do phải đi tìm cái chung mang tính khu vực, nên bài viết tạm gác lại cái riêng để tìm hiểu nét tương đồng là chính. Cần tiếp tục so sánh văn hoá, văn học hai dân tộc hoặc hai quốc gia trong Đông Nam Á để khẳng định cái chung và cái độc đáo của từng dân tộc, từng quốc gia Đông Nam Á. TAY NGUYEN’S FOLK TALENTS AND IT’S RELATIONS TO SOUTHEAST ASIAN FOLK TALES LE HONG PHONG The article first explores legends of Tay Nguyen and the Southeast Asia through major motifs: tree, flood, foetus, etc. Common motif of folk tales of Tay Nguyen (Central Highlands of Vietnam) and the Southeast Asia are also presented, from motifs originating from legends to new motifs: tree, foetus, knights, mute girl, singing instrument, sisters, marriage, ascending the throne, etc. The article also introduces a set of inter – genre tales: Tay Nguyên’s humour – fable and its relations to fable, humorous stories, truyen trang (folk of first laureates of doctorate) of Vietnam and the Southeast Asia. The similarities in the folk tales of the ethnic group as well as the multi – ethnic countries can be explained by the common ancestry origins, cultural exchanges, the same cultural influence or by coincidence. The article mainly focuses on the similarity between folk tales of various ethnic groups rather than the characteristics of each culture and literature. The latter issue shoud be explored in more details to highlight the unity in diversity in the cultures of the region. TÀI LIỆU THAM KHẢO. Giải mã truyện cổ Lào theo phương pháp tiếp cận văn hoá học (Phạm Đức Dương), t/c Văn học, H., số 1/ 1998, tr 51 – 58. Hợp tuyển văn học Lào (Tuyết Phượng và … biên soạn, dịch), Nxb, VH, H., 1981. Huyền thoại về nạn hồng thuỷ và nguồn gốc tộc người (Đặng Nghiêm Vạn), Nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam, t1, Nxb VHDT, H., 1997, tr 803 – 863. Huyền thoại Mạ - K’Ho (Lê Phong), Một số vấn đề văn học Việt Nam, Nxb. Văn học, H., tr 15 – 36. Panchatantra (Huỳnh Ngọc Trảng… dịch), Nxb. Trẻ, Tp. HCM, 1987. Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong cổ tích Việt Nam và Đông Nam Á (Bích Hà), Nxb. GD, H, 1998. Thần thoại Đông Nam Á (Trương Sĩ Hùng biên soạn), Hội Văn Nghệ Quảng Nam – Đà Nẵng, 1988. Truyện cổ Thái Lan (Ngô Văn Doanh… tuyển soạn), Nxb. Trẻ, Tp. HCM 1990. Truyện cổ tích Mạ - K’Ho qua tư liệu điền dã ở Lâm Đồng (Lê Phong), giữ gìn và phát huy tài sản văn hoá các dân tộc ở Đông Nam Bộ, Nxb. KHXH, H., 1998, tr 270 – 296. Truyện trạng Đông Nam Á (Trương Sĩ Hùng biên soạn), Sở VHTT Gia Lai – Kontum, 1987. Văn học Ấn Độ, Lào, Campuchia (Lưu Đức Trung…), Nxb. GD, H., 1989. Vặn học các nước Đông Nam Á, Viện Đông Nam Á xuất bản, H., 1983. Về phương pháp so sánh trong nghiên cứu văn hoá dân gian (Chu Xuân Diên), Tập san Khoa học, ĐHTH Tp. HCM, số 1/ 1994, tr 45 – 55. Về các nền văn học dân tộc ở Đông Nam Á (Nguyễn Tấn Đắc), Tạp chí VH, H., số 8/1995, tr 2 – 4.
-
Vài hình ảnh trăng và Tết trung thu (st): Tường Vinh Phi Long Trung thu ở chùa Bình An - Phi Long http://www.vietastro.org/forum/showthread.php?t=901