-
Số nội dung
1107 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
2
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by phoenix
-
Thưa chú Vân Từ, Cháu được biết theo Lạc thư Hoa giáp thì tuổi Nhâm Thìn mạng hỏa (TÍCH LỊCH HỎA - 1952); tuổi Kỷ Sửu mạng Thủy (TRƯỜNG LƯU THỦY - 1949); tuổi Mậu Tuất mệnh mộc (BÌNH ĐỊA MỘC - 1958). Theo Phoenix thì nếu bắt buộc phải lựa chọn trong 2 người này, chú Vân Từ nên chọn người Kỷ Sửu. Sẽ có bất đồng quan điểm do ai cũng thấy mình là "sir" cả dù chỉ vì đích chung là làm cho công việc tốt hơn. Người Kỷ Sửu tạo cảm giác khá bảo thủ, khó thay đổi. Nếu làm với người Nhâm Thìn, chú Vân Từ sẽ thấy nể hơn nhưng đồng thời cũng phải san sẻ quyền lợi nhiều hơn, nhường nhịn nhiều hơn cho được việc. Chưa kể, chuyện tiền nong trong cả hai trường hợp cần thống nhất cho kỹ và rạch ròi trước khi bắt tay vào. Mấy lời thiển cận, chú tham khảo trong lúc chờ các cao nhân góp ý. Chúc chú như ý!
-
Cảm ơn anh Lạc Tướng! Mấy quẻ của anh làm Phoenix hồi hộp quá B) Phoenix đang lo giấy phép xây dựng nên phải chấp nhận 'tốn cho mấy việc vớ vẩn". May mà anh có quẻ "Khai Đại An" cho Phoenix an ủi chút xíu. Khai - Đại An cũng có thể là không đi tới đâu rùi. Dù sao cũng có 30% hy vọng. Cảm anh nữa nhé! Chúc anh khỏe!
-
Nếu xét Việt Nam với hàng ngàn năm hình thành và phát triển thì lãnh thổ Việt Nam còn phổ rộng trên 1 phần lãnh thổ Trung Quốc và phần mở rộng như ngày nay là miền Trung, Nam chỉ có về sau này (có trong đồ hình các bạn dựng). Như vậy, nói chuyện Thái Cực áp với địa hình Việt Nam thời cận đại có vẻ khiên cưỡng hoặc là "may mắn" trời cho sau nhiều niên đại phát triển.
-
Những đồ tế lạ trong ngày Vu Lan[/size] Gửi osin cho người cõi âm. Ảnh: Gia đình và Xã hội. Gửi ôsin cho người cõi âm, làm hẳn "nhà máy thủy sản" để tế chồng quá cố... - những chuyện kỳ quặc thế này còn vô số và được giải thích là “từ sự báo mộng”. Vừa đốt mấy thúng tiền vàng, đô la, hai “ông ngựa” cao hơn một mét và một “nhà máy chế biến hải sản” cao gần 3m, bà Toàn 40 tuổi, phố Thái Hà, Hà Nội, vừa sụt sịt: “Ông nhà tôi xấu số, khi có đầy đủ của nả thì không được hưởng. Năm ngoái tôi đã đốt đủ nhà lầu, ôtô, xe SH, máy giặt, tủ lạnh... Năm nay chợt nhớ ra là ông ấy rất thích nhà máy chế biến hải sản nên phải cất công lên tận làng Đông Hồ, (xã Song Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh) để đặt cho ông ấy cái nhà máy này. Biết ông ấy sẽ vui, tôi cũng thấy mãn nguyện”. Cái “nhà máy chế biến hải sản” mà bà Toàn đặt cho chồng có giá là 7 triệu đồng. Bên trong đó, có tất cả các hình ảnh mô phỏng nhà máy thật như phòng làm việc của giám đốc, phòng hành chính, xưởng chế biến... Cũng cầu kỳ không kém, người ta kể lại chuyện ông Bình trú ở đường Mạc Vĩnh Phúc (phường Cát Bi, quận Ngô Quyền, TP. Hải Phòng) từng cất công lên tận làng Cót, Hà Nội để đặt cho con trai một chiếc máy bay bằng giấy. Ông Nguyễn Văn Sỹ, 80 tuổi quê gốc ở làng Đông Hồ, hiện ở phố Yên Hoà (làng Cót cũ), Hà Nội, người trực tiếp làm chiếc máy bay này kể rằng: “Anh Bình đặt chiếc máy bay dài 4 mét cho người con trai là phi công bị tai nạn chết khi chưa đến 30 tuổi. Anh Bình cho tôi một tháng để làm chiếc máy bay này sao cho thật đẹp, thật giống. Khi tôi gọi điện cho anh ấy lên lấy thì anh khen máy bay đẹp nhưng chỉ có một chiếc ghế lái thì không đúng, nên yêu cầu tôi phải làm lại, với đầy đủ... ghế cho hành khách. Thậm chí còn cả yêu cầu phải có hình một tiếp viên đang bê nước cho khách”. Vẫn giọng đều đều, ông Sỹ tiếp: “Có lẽ sợ tôi phật lòng vì yêu cầu bổ sung này, ngoài số tiền đã định, anh ấy còn thưởng luôn cho tôi 1 triệu đồng. Tôi hẹn 2 ngày sau lên lấy. Đúng hẹn, lúc 11h đêm, anh ấy thuê hẳn một chiếc ôtô tải chở cái máy bay về Hải Phòng”. Không chỉ ông Sỹ, nhiều người làm hàng mã chuyên nghiệp còn khẳng định rằng, nhiều người chiều con cái không may chết trẻ, nên đã yêu cầu phải làm một chiếc ôtô “long lanh” như thật, màu sắc, logo, trau chuốt, cánh mở, vô lăng quay trơn tru... Riêng chị Phạm Thị Nguyệt - chủ xưởng sản xuất hàng mã, trú tại số 89, đường Hoa Bằng, phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy cho biết: “Khách hàng đến đặt mã thường kể về những giấc mơ gặp người nhà, hoặc sau khi đi xem bói, gọi hồn gọi cốt thấy người âm về xin cái nọ, đòi cái kia...”. Thậm chí, rất nhiều người chỉ tự nghĩ mà suy ra nhu cầu của người quá cố, như một bà vợ có chồng là bộ đội về hưu, nhất quyết đòi cửa hàng làm cho một hình nhân nam bộ đội để gửi xuống cho chồng... hàn huyên, tâm sự chuyện chiến trường! Một số người khác thì lại đặt làm hình nhân nữ, thậm chí là cả ô sin và vật nuôi trong nhà như chó, mèo... để tế. Đốt cho... oai Để thể hiện oai phong điện thờ của mình, năm nào cũng vậy, cứ đến tháng làm lễ Vu Lan, một ông “thầy” ở Ngã Tư Sở, Thanh Xuân, Hà Nội đã chất vàng mã cao như núi. Sát cửa điện, hai “ông” ngựa giấy lực lưỡng cao ngót 3m, dán giấy xanh đỏ lòe loẹt. Trong điện, những đĩnh vàng bạc và những chồng tiền giấy âm phủ xếp dọc theo chân tường lên tận trần nhà. Giữa điện, hai con voi lớn chen chúc với thuyền rồng, những tòa bảo tháp, những ngai bà chúa, ông hoàng, cùng vài chục hình nhân lớn như người thật. Tất cả đều bằng giấy màu sặc sỡ. Chưa kể thầy có hàng trăm con nhang đệ tử. Họ thường đưa cả cục tiền dầy cộp nhờ thầy sắm lễ và vàng mã luôn. Chẳng ai biết rằng, thầy mua nhiều vàng mã thì được nhiều tiền “phần trăm”, lễ càng lớn thì tiền công của thầy cũng... càng cao. Một chị giúp việc cho thầy kiểm kê lại số hàng mã trong điện vào mùa Vu Lan khẳng định: “4 “ông mã”, mỗi ông 1,5 triệu đồng. Ông voi thì 2,5 triệu đồng. Hai tòa bảo điện để làm lễ “rải quan” (rải tiền cho quan cõi âm) mỗi tòa 1,2 triệu đồng. Ngai bà chúa và thuyền rồng thì trên 3 triệu đồng một bộ. Tổng cộng gần 30 triệu đồng... ra tro. Tất nhiên, những món đồ này thầy đều được các đại gia tài trợ”. Một chủ hàng chuyên làm vàng mã cũng kể rằng, mới đây một xã ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam cũng đặt đủ hình 12 con giáp để tế làng. Người trong xã này quan niệm càng đốt nhiều càng thể hiện được oai phong với… xã bên cạnh. 12 con giáp là tượng trưng cho tuổi của tất cả con cháu trong xã và đốt là để cầu mát mẻ, khoẻ mạnh! Còn các con vật được đốt thì cầu cho vật nuôi nhanh lớn, không bị dịch bệnh. Tất nhiên, cái vụ “oai” nói trên đã tiêu tốn của xã này trên chục triệu đồng. (Theo Gia Đình & Xã Hội) Nguồn: http://vnexpress.net
-
TRUNG TÂM HY VỌNG Một địa chỉ dành cho trẻ chậm phát triển trí tuệ Trung tâm Hy Vọng trực thuộc Hội cứu trợ trẻ em tàn tật thành phố Hà Nội. Nơi đây chuyên tư vấn, chăm sóc, phục hồi chức năng và dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ. Với kinh nghiệm tổ chức, chăm sóc và dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ trên 5 năm (từ năm 1999 đến nay), Trung tâm đã tiếp nhận hơn 100 lượt trẻ đến tư vấn và học tập. Nhiều trẻ đã tiến bộ, biết đọc, viết, biết ứng xử và giao tiếp trong xã hội. Trung tâm hiện có hai cơ sở: • Cơ sở I : tại ngõ 290 Kim Mã, quận Ba Đình, Hà Nội. • Cơ sở II : tại nhà số 32, ngõ 4, phố Đặng Văn Ngữ, quận Đống Đa, Hà Nội. Các phòng học của Trung tâm đều đảm bảo tiêu chuẩn về ánh sáng và không gian yên tĩnh – mát về mùa hè, ấm về mùa đông. Với diện tích từ 18-24 m 2 mỗi phòng, bình quân mỗi trẻ có diện tích 2-3 m 2 để sinh hoạt và học tập. Các lớp học có đầy đủ trang thiết bị cần thiết phục vụ cho việc chăm sóc và dạy trẻ theo chương trình Giáo dục đặc biệt. Mối trẻ đều có sổ theo dõi sức khỏe và kế hoạch giáo dục của cả năm, dựa trên biều đồ nhận biết của từng trẻ. Đội ngũ giáo viên: là các cô giáo có trình độ đại học và cao đẳng sư phạm khoa tiểu học, mẫu giáo, giàu lòng yêu trẻ, có tính kiên nhẫn cao, và sẵn sàng cảm thông, chia sẻ với gia đình trẻ. Với mong muốn được chia sẻ với các gia đình không may có con bị chậm khôn, Trung tâm Hy Vọng sẵn sàng tiếp nhận vào học các trẻ em ở độ tuổi từ 3 đến 11 tuổi, có chỉ số IQ từ 30-50, ở các dạng bệnh sau: * Trẻ bệnh Down * Trẻ bại não sau viêm màng não * Trẻ hẹp sọ não, dẫn đến chậm phát triển ngôn ngữ và trí tuệ * Trẻ động kinh - bại não * Trẻ có hội chứng tăng hoạt động, giảm trí nhớ * Trẻ rối nhiễu hành vi nhẹ * Trẻ tự kỉ Mọi thủ tục cần được hướng dẫn xin liên hệ theo địa chỉ: • Số nhà 32- ngõ 4- phố Đặng Văn Ngữ, quận Đống Đa, Hà Nội. • Điện thoại (giờ hành chính): (04). 8.529.447 • Số máy di động: 0915 542 004 hoặc 0914 322 666 Giám đốc Trung tâm Hy Vọng Bs. Đỗ Thúy Nga. Nguồn: http://www.yoga.com.vn/tthv/gioithieu.html
-
BỆNH UNG THƯ vừa được cập nhật từ Bệnh viện Johns Hopkins, Hoa Kỳ Chuyển ngữ Lê Văn Ngô 1/ Mỗi người chúng ta, trong cơ thể đều có tế bào ung thư. Các thí nghiệm thông thường tế bào này không phát hiện được, trừ khi nó phát triển hàng vài tỷ tế bào ung thư. Khi Bác sĩ nói với bệnh nhân ung thư rằng không còn tế bào ung thư trong người nữa sau khi chữa trị, vậy có nghĩa là các phương pháp và dụng cụ hiện tại không có khả năng tìm đến các tế bào còn sống sót vì qua ít. 2/ Tế bào ung thư thường xảy ra từ 6 đến 10 lần trong đời sống con người. 3/ Khi hệ thống miễn nhiễm (immune systems) của con người mạnh thì tế bào ung thư bị tiêu diệt hoặc không sinh sản được tạo thành khối u (tumor). 4/ Khi một người vướng phải bệnh ung thư, có nghĩa là người đó thiếu sự dinh dưỡng đúng mức: vì di truyền, môi trường, thức ăn, thói quen của đời sống. 5/ Để vượt qua tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng lành mạnh, ta phải kiêng cử và tiếp liệu thêm những cần thiết để làm tốt hệ thống miễn nhiễm. 6/ Chemotherapy (chữa trị bằng hóa chất) là làm đầu độc những tế bào ung thư đang phát triển mạnh nhưng nó cũng tiêu diệt các tế bào khỏe của cơ thể trong tủy xương và tế bào tiêu hóa trong ruột. Nó cũng làm hư hại các cơ quan khác như lá lách (liver) thận (kidneys) tim (heart) phổi (lungs). 7/ Radiation (chữa trị bằng phóng xạ) để tiêu diệt tế bào ung thư, nó cũng đốt cháy và để lại vết sẹo làm hư lại tế bào khỏe và các cơ quan khác trong cơ thể. 8/ Lần đầu tiên chữa trị bằng phương pháp Chemotheraphy hay Radiation thường thì nó làm giảm đi cục u nhọt. Tuy nhiên nếu tiếp tục chữa trị lâu dài nó không có kết quả tiêu diệt hẳn cục u nhọt 9/ Khi cơ thể con người chất chứa nhiều độc tố từ sự chữa trị bằng phương pháp Chemotherapy va Radiation thì hệ miễn nhiễm trong cơ thể sẽ lâm vào tình trạng nguy hiểm hay bị tiêu diệt, từ đấy bệnh nhân không chịu nổi với nhiều biến chứng phức tạp. 10/ Chemotherapy va Radiation có thể gây cho tế bào ung thư biến dạng và trở nên chai lì khó tiêu diệt. Giải phẫu cũng gây cho tế bào ung thư phát triển thêm nhiều mặt khác. 11/ Cách chữa trị tế bào ung thư có kết quả tốt nhất là bỏ đói các tế bào ung thư, nghĩa là không nuôi nó với những thức ăn để nó có thể sinh sản được nữa. Tế bào ung thư được nuôi dưỡng bởi: a/ Đường nuôi tế bào ung thư. Bỏ thức ăn có đường là giảm đi thức ăn quan trọng cung cấp nuôi tế bào ung thư phát triển nhanh. Thay chất ngọt đường bằng chất ngọt thực vật, hoặc tổng hợp thiên nhiên như mật ong Manuka hoặc nước mật đường nhưng rất ít. Muối bàn có hóa chất làm trắng, tốt hơn nên dùng muối biển. b/ Sữa vào cơ thể thành chất nhờn, đặc biệt trong đường tiêu hóa. Tế bào ung thư được nuôi dưỡng bởi chất nhờn đó. Bỏ sữa thay thế bằng sữa đậu nành không đường. Tế bào ung thư sẽ bị đói. c/ Tế bào ung thư phát triển trong môi trường acit. Thịt cơ bản là acit. Ăn cá và một ít thịt gà tốt hơn là ăn thịt bò và thịt heo. Thịt chứa thuốc kháng sinh gia súc, hooc môn tăng trưởng (hormone), ký sinh trùng ...tất cả các thứ này đều có hại, đặc biệt đối với bệnh nhân ung thư. d/ Chế độ ăn uống với 80% rau tươi và nước ép, đậu mè, đậu phụng và một ít trái cây giúp cho cơ thể ở trạng thái trung hòa. 20% còn lại đến từ thức ăn nấu chín. Rau tươi, nước ép giúp cho con men sống có khả năng thẩm thấu vào các mô tế bào trong vòng 15 phút để nuôi dưỡng và làm khỏe thêm các tế bào tốt. Hãy uống nước rau tươi (hầu hết các loại rau kể cả mầm hạt đậu), và ăn rau sống hai hay ba lần một ngày. Những con men sống này bị chết ở nhiệt độ 104ºF hay ở 40ºC. e/ Tránh café, trà và chocolate, các thứ này nhiều cafeine thay thề bằng trà xanh, vì nó có khả năng chống tế bào ung thư. Tốt nhất uống nước lọc. Tránh uống nước vòi (tap water) vì trong có độc tố vi khuẩn và chất sắt nặng (heavy metals), tránh nước cất vì có acid (acidic). 12/ Thịt khó tiêu hóa, phải đòi hỏi nhiều con men sống để tiêu hóa. Thịt chưa tiêu hóa giữ trong ruột trở thành thói rửa dẫn đến tạo thành nhiều độc tố. 13/ Tế bào ung thư được che chở bởi một màng protein rất dai. Cố gắng tránh ăn thịt hoặc một ít mà thôi để con men sống có nhiều thêm tập trung phá hủy màng protein dai dẻo bao bọc tế bào ung thư, khai thông cho tế bào xung kích (killer cell) của cơ thể lọt vào tiêu diệt tế bào ung thư. 14/ Một vài chất phụ thêm sức cho hệ thống miễn nhiễm (IP 6, FLOR, ESSIAC, ANTIOXIDANT, VITAMINS, MINERALS, ect...) để giúp tế bào xung kích (killer cell) cơ bản của cơ thể tiêu diệt tế bào ung thư. 15/ Ung thư là con bệnh của trí tuệ (mind), cơ thể (body), và tinh thần (spirit). Một tinh thần, một ý chí hăng say tích cực vui vẻ giúp cho chiến sĩ ung thư (cancer warrior) sống còn. Sự giận dữ, chấp nê khó khăn, cay đắng, buồn rầu đưa cơ thể vào sự căng thẳng tạo môi trường acid. Hãy học tinh thần yêu thương tha thứ, buông bỏ yêu đời. 16/ Tế bào ung thư không thể phát triển được trong môi trường nhiều oxy. Tập thể dục hằng ngày, hít thật sâu lấy oxy vào khắp các tế bào trong cơ thể. Oxygene là phương pháp trị liệu dùng tiêu diệt tế bào ung thư. Lưu ý : Dr. Edward Fujimoto thuộc bệnh viện Johns Hopkins đã nói trên truyền hình rằng hóa chất Dioxins gây bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư vú. Dioxins là chất độc cao độ đối với tế bào cơ thể. Bác sĩ khuyên chúng ta không nên để đồ ăn trong hộp bằng nhựa hoặc gói bằng plastic và nấu trong Microwave. Hỗn hợp béo và sức nóng cao độ của Microwave làm chất plastic thải ra độc tố Dioxins vào thức ăn, cuối cùng vào tế bào chúng ta. Không dùng bình nhựa chứa nước uống để trong Freezer, dioxins sẽ thải vào nước từ bình nhựa. Bác sĩ khuyên nên dùng ceramic container hoặc glass container. Lê Văn Ngô Tháng 8 năm 2007 Nguồn: http://www.ninh-hoa.com/Khoa-Hoc_Doi-Song-...-BenhUngThu.htm
-
TOA THUỐC GIA TRUYỀN Trị Bệnh: Bại Toàn Thân, Bán Thân, Đau Nhức Cốt Xương Sống, Thấp Khớp, Nhức Mỏi ** Huỳnh Sanh - Sưu Tấm _____________________________ Trạch Lan ------------> 4 chỉ Cam Kỷ Tử -----------> 3 chỉ Xuyên Khung ---------> 2 chỉ Độc Hoạt ------------> 2 chỉ Hổ Cốt hay Cẩu Tích --> 4 chỉ Sinh Địa --------------> 4 chỉ Ngưu Tất -------------> 3 chỉ Nhản Nhục ------------> 5 chỉ Quế ----------------> 2 chỉ Dương Quy ------------> 3 chỉ Thục Địa --------------> 2 chỉ Cam Thảo -------------> 2 chỉ Đỗ Trọng --------------> 4 chỉ Ngâm với 1 lít rượu trắng 37 độ, 1 lít suối không có hơi (gas) hoặc 2 lít rượu vang nếu không muốn pha rượu với nước suối, 200 gram đường phèn. Ngâm độ 2 tuần hay lâu hơn càng tốt. Khi uống nhớ quậy đều lên, uống sau bữa ăn trưa và tối, mỗi lần một liquer nhỏ (ly uống sec). Uống mấy thang cũng được, khi nào hết hẳn bệnh mới ngưng, hay uống tiếp tục càng lâu càng tốt. Nếu bại nặng nên ngâm thêm mật của con hắc cẩu, 1 thang 1 cái mật. ** Tác Giả sưu tầm và đã xử dụng rất công hiệu, cách xử dụng cũng tùy vào sức khỏe của mỗi người nếu như có phản ứng phụ. Nguồn: http://www.ninh-hoa.com/Khoa-Hoc_Doi-Song-HuynhSanh.htm
-
Có lẽ BQT nên ghim một Topic lưu ý các thành viên mới đọc khi bắt đầu tham gia diễn đàn. Trong đó hướng dẫn trước một số nội dung cần lưu ý. Nếu không ai vào cũng hỏi thì riêng việc trả lời cũng quá mất thời gian rùi.
-
Phoenix đang nhờ một người lo giúp việc giấy tờ. Muốn hỏi: 1. Việc có kết quả như ý không? 2. Chi phí có tốn kém không? 3. Có gây vấn đề phiền phức về sau không? Bạn nào rảnh vui lòng giúp Phoenix với. Cảm ơn rất nhiều! B)
-
Hôm nay cô em ở cùng cơ quan được giao trọng trách chuẩn bị lễ cúng. Mất 2 lượt mới mua đủ đồ. May quá heo quay đắt nên "nàng" không mua. :D Nhưng tiếc là nàng lại chỉ mua một con ba ba bé xíu bằng 2 đốt ngón tay để phóng sinh. Cũng tại "nàng" chưa quen với việc này. Lúc thắp hương, đám trẻ con bu kín cả cổng cơ quan, đập cửa ầm ầm, còn đòi trèo vào. Đứa nào cũng nhăm nhe cướp con ba ba. Nhang tàn một nửa, mấy chị em thu con ba ba với đồ vàng mã về. Cửa vừa rút then là lũ trẻ ào vào, tranh cướp, chứi bới lẫn nhau. Không những cướp đồ mà còn đập gần vỡ cái bàn. Rồi còn dùng hoa quả ném đi ném lại và cái bàn để phá. Cúng "cô hồn" mà ngăn chúng thì cũng chẳng ra kiểu gì. Thật buồn, một tập tục Việt mà từ người lập lễ đến người tham gia đều không hiểu được ý nghĩa sâu sắc của nó. Tiếc thay, một nghi thức văn hóa lại vô tình làm cho người ta "thiếu văn hóa" hơn.
-
Trên net có rất nhiều. Mời Như Thông vào các link dưới đây để tham khảo thông tin: Du Quang Chau Nhớ lúc trước, nhóm những người chữa cho hàng trăm bệnh nhân ở Viện y học dân tộc Tp. HCM phải giải tán vì không được khoa học công nhận. Giờ thì lại có "bác sĩ" cảm xạ học Dư Minh Châu. Hic...
-
Một vài tư liệu về hình tượng "Con rắn cắn đuôi" "Con rắn cắn đuôi là biểu tượng của minh triết. Vòng tròn tiêu biểu cho ranh giới của vũ trụ. Con rắn cắn đuôi biểu hiện cho những vòng tròn tự nhiên, tính bất diệt quy định cho thế giới và trật tự vô tận của đời sống. Ở đông phương con rắn còn là biểu tượng sự sống lâu và vui vẻ. Theo truyền thống của Ấn giáo, con rắn là biểu tượng của người thánh thiện. Con rắn cũng là biểu tượng của việc chữa khỏi bệnh và sự trọn vẹn. Sự kiện con rắn lột da mỗi năm nói lên sự tuần hoàn của thế giới và sự thay đổi mới của đời sống. Trích: Giới thiệu về biểu tượng của Thông thiên học Nguồn: http://www.thongthienhoc-cs.fr Thời gian Ấn Độ được biểu thị bằng con rắn cắn đuôi (Oursboros: serpent qui se dévore la queue). Nếu vẽ ra thì chúng ta có một vòng tròn: O. Nhiều khi con rắn không cắn đuôi, nhưng cuốn chung quanh núi Meru cao mất hút vào mây mờ, mù mịt để biểu thị siêu việt thể hay là Brahma tuyệt đối, và lúc ấy ta có thể vẽ bằng một nét dọc là đường kính (kinh tuyến: đường đứng dọc: Verticale), nghĩa là ngược hẳn với đường vĩ của Tây Âu. Bây giờ nói đến nền văn hóa Viễn Đông của chúng ta. Viễn Đông biểu thị thời gian bằng Mã Đồ tức là "Long Mã Phụ Đồ" = con long mã chạy dài, như lời nói "bóng câu qua cửa sổ", tức là đường vĩ nhưng trên lưng lại chở theo cái Hà Đồ, hình tròn để biểu thị thái cực đồ. Hình tròn cũng có thể thay thế bằng nét dọc, hay là kinh tuyến. Như vậy là thời gian Mã Đồ đặc biệt ở chỗ dồn đúc lại một hai nét dọc và ngang nên ta có thập tự nhai + (Croix originelle = nhai là nhai để, sơ đầu, nền móng) ở tại kinh vĩ chập một mà thành. Cũng có thể vẽ nét kinh ngang, nhưng không bỏ được việc nối liền và lúc ấy ta có - - nghĩa là nét dưới chỉ biến dịch có hai đoạn, không liên hệ nhau, gọi là tán, chỉ các hiện tượng dị biệt khác nhau, hay biệt thời: nhưng lại được có nét nối liền chỉ Tụ, chỉ Thường hàng nằm ngầm để nối các hiện tượng xuất xuất, hiện hiện, một tán, một tụ, một hằng, một biến hợp lại làm ra vũ trụ. Đó là mấy nét căn để gọi là cơ cấu thời gian của ba nền văn minh liên hệ đến ta. ........... Ngược lại với Tây Âu, thời gian Ấn Độ được biểu thị bằng con rắn cắn đuôi tức là một lối nhấn mạnh đến yếu tố tụ đến độ nuốt trôi hết những cái chi là tán, là hiện hữu. Nghĩa là nhấn mạnh đến trụ Thường Hằng viên mãn, đến nỗi không còn để chỗ chen chân cho những sự vật biến động nữa. Ta có thể thấy ảnh hưởng đó trong một số môn phái của Phật giáo tiểu thặng: "vạn pháp giai vô" = tất cả mọi pháp (tức sự vật biện hữu) đều là không có, là huyễn ảo, bào ảnh. "nếu có người chạy nhanh đến độ đuổi bắt kịp mũi tên phóng ra một trật do bốn tay thiện xạ, thì cũng chưa chạy mau bằng sự tan rã của các pháp" tức là những yếu tố làm nên sự vật biến hiện trên trần gian này. ........... Trích: Chữ thời - Kim định Nguồn: dunglac.net "........ Trong nghệ thuật, những hình chạm khắc hay vẽ, người ta biểu hiện con rắn ngậm đuôi mình và gọi là ouroboros. Ouroboros tượng trưng cho chu trình tiến hóa khép kín. Chu trình này vận động liên tục và mang tính hồi quy bất tận. trong hình con rắn cuộn tròn có hai nội dung đối lập: con rắn tự cắn đuôi mình kết thành một vòng tròn biểu hiện sự thăng hóa lên cõi trời; hình ảnh con rắn cắn đuôi lại cũng biểu hiện sự giới hạn, bị giam hãm trong một chu kỳ luân hồi, như một hình phạt không bao giờ phát triển, bị trói chặt trong thân phận. Hình ảnh này cũng được phác họa bằng nét màu đối lập khác trên thân mình con rắn nửa đen, nửa trắng, nửa thiện, nửa ác. " Trích: Cánh chung trong văn hóa - Lm Giuse Hoàng Kim Toan Nguồn: http://www.tanhoa.conggiao.net Phoenix thấy hình tượng con "Rồng đá" như đã giới thiệu không có sắc thái của những khái niệm tương tự như đã dẫn trên về "rắn cắn đuôi". Theo Phoenix nó có thể chỉ là một tác phẩm ngẫu hứng của người thợ đá. Họ đã rất chú trọng vào tỉa tót cho đẹp bộ vẩy, còn việc tạo dáng của tượng thì gần như nương vào hình khối của tảng đá có sẵn, tư thế của con vật thể hiện sự co cụm do chật hẹp chứ không toát lên vẻ tinh thần bị chèn ép hay cái thế của con vật. Con vật này giống kỳ đà hơn là rồng hay rắn. Có thể người thợ khi chế tác chưa thể hiện được hết ý phóng tác của mình. Rất tiếc không post được hình lên.
-
Con "Cù" cũng lại là một con nhức đầu. Đến nay con "Cù" được nhắc đến trong sách vở là con gì cũng chưa tỏ tường. Ở đây lại gọi là "rồng Cù". Thật là mới mẻ đối với Phoenix!
-
Có lẽ phải lập trình rồi tra cho nhanh :P
-
Cảm ơn chú Pháp Vân. Phoenix đã hiểu ý chú.
-
Theo kinh nghiệm của những người nghiên cứu thì điều này cũng cần thiết để đảm bảo là nghiên cứu được công nhận thực sự. Vấn đề càng lớn, càng quan trọng thì sự cẩn trọng càng cần thiết. Một chục cái lợi nhỏ không đáng đổi bằng một cái hại lớn. Nếu chú Thiên Sứ đã thấy cần thiết thì thiết nghĩ đó cũng là đề nghị chính đáng.
-
Nhờ chú Pháp Vân giảng rõ thêm về ý này được không ạ? Kính chú!
-
Một hình ảnh rõ hơn của con "RỒNG" đền Đông Cứu. Con này còn được gọi là "rắn thần" theo chú thích của vi.pandapedia.com Người gọi "RỒNG", người gọi "RẮN" - rõ ràng tiêu chí để xác định chính xác là con gì thì còn phải tranh biện nhiều. Không biết có phải do chưa nhìn hình thực không nhưng Phoenix thấy bức tượng này không toát lên cái vẻ thần thái như các bài viết trên nhận định và mô tả: " mỗi chân xòe rộng 5 ngón nắm chặt hai khúc thân kéo vào trước ngực; đầu gục xuống, mắt trợn tròn, miệng há rộng để lộ hàm răng lởm chởm ngoạm khúc thân, quằn quại."
-
Xem thử một số bài viết liên quan đến "RỒNG" thời Lê 1. “Ông Rồng” (21/11/2007) Một ngày cuối năm 1992, cụ Phan Đình Phô (mất 1993) người thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu (Gia Bình) dọn gạch vỡ, đá quanh đền thờ Thái Sư Lê Văn Thịnh thấy một hòn đá dưới gốc cây bàng trước cổng đền nhô lên, liền lấy xà beng đào bới. Cụ Phô đào bới hồi lâu, mở rộng miệng hố thấy lộ ra khối đá lớn được đẽo, chạm đường nét tinh sảo, cụ lấy làm mừng, cố sức khoét sâu, mở rộng thì thấy lộ nguyên hình đầu rồng. “Tiếng lành đồn xa”, bà con trong xóm kéo đến giúp sức và báo hiện tượng lạ với UBND xã Đông Cứu. Trai tráng lực lưỡng kéo đến hợp sức, người dùng đòn tre khiêng, người dùng xà beng, thanh gỗ làm đòn bẩy, chẳng mấy chốc rồng đá ước chừng 3 tấn được chuyển lên sân đền. Rồng đá được đẽo, chạm miêu tả đầu, hai chân trước và một phần thân. Từ mặt đất lên đỉnh sọ rồng cao 0,76 mét, chiều ngang từ phải sang trái rộng 1,12 mét; chiều dọc từ trước ra sau dài 0,96 mét (xin lưu ý: số đo chia hết cho 8). Rồng được chạm vẩy; tai phải đặc, tai trái rỗng, hai chân trước gân guốc, mỗi chân xòe rộng 5 ngón nắm chặt hai khúc thân kéo vào trước ngực; đầu gục xuống, mắt trợn tròn, miệng há rộng để lộ hàm răng lởm chởm ngoạm khúc thân, quằn quại.Về tầm cỡ rồng đá, ông Lê Viết Nga, Giám đốc Bảo tàng tỉnh khẳng định: “Rồng đá to nhất khu vực Đông Nam á”. Về thời điểm lịch sử và ý tưởng của nhà điêu khắc gửi gắm qua tác phẩm này, có nhiều giả thiết khác nhau. Song qua hình tượng rồng Việt Nam, sách (Mỹ thuật Lý Trần - Mỹ thuật Phật giáo, Chu Quang Chứ - NXB Mỹ thuật 2001) đã từng chép như sau: Rồng thời Lý “Mào, mũi và bờm là những thành phần cơ thể được cấu tạo rất sinh động, bằng những nét độc đáo và được mang theo một ý thức nhất định: Mào thoát ra từ môi đến đường sống quyện với răng nanh, xoắn xuýt, rung rinh bốc lên như ngọn lửa; bờm ở sau gáy cuồn cuộn bốc lên nhiều đợt từ cổ họng, cùng với túm râu ở hàm dưới đều uốn lượn nhịp nhàng như làn sóng và bay lướt tựa lá cờ đuôi nheo được gió, mũi cấu tạo bằng những đường cong xếp chồng nhau phập phồng gây ra ấn tượng về nguồn nước...”. Rồng thời Trần “Thành phần cấu tạo của đầu rồng không chặt chẽ như trước: Văn dạng xoắn ốc đôi không thể vắng ở bất cứ con rồng nào thời Lý, thì nay mất dần, bờm và râu kém nhịp nhàng, mào không linh lợi, dần mọc thêm cái tai và cặp sừng cùng kiểu với cái mũi biến dạng đều thuộc về loại thú bốn chân”. Rồng thời Lê “Đầu to, bờm tóc thô dày, mũi lớn, nhiều sợi ria, tai thú, sừng vặn xoắn ốc rồi chẻ chạc, chân gân guốc xòe rộng các ngón”. Rồng đời Cảnh Hưng (1740-1786) “Thể hiện yếu ớt, mảnh khảnh, đi vào công thức cân đối khô khan, kết hợp với chạm nông, nên hình bẹt và cứng, lại bị biến dạng rắc rối. Râu rồng thường bố trí đều đặn, đuôi cong xoắn lại hình xoáy ốc”. Rồng nhà Nguyễn “Gượng gạo, ngơ ngác, chắp vá, vụn vặt, cố làm ra vẻ nghiêm chỉnh mà không đường hoàng được, bộ mặt trở thành gớm ghiếc, đe dọa... thường xuất hiện với phượng, lân, rùa để hợp thành bộ “Tứ linh”. Như vậy, ở mỗi giai đoạn phát triển con rồng có một tính cách riêng, phù hợp yêu cầu thời điểm lịch sử xã hội. Nó chính là thứ ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình, giúp chúng ta nhận biết tương đối chính xác thời khắc ra đời của các công trình kiến trúc, điêu khắc và hội họa được sáng tạo không ghi niên hiệu.Quá trình miêu tả và phân tích trên, cho phép chúng ta nhận định rồng đá được đẽo, chạm vào thời Lê. Nhà điêu khắc tài hoa đã gửi gắm ý tưởng sâu sắc qua rồng đá khái quát hình tượng vua Lý Nhân Tông đớn đau, quằn quại tự giầy vò cõi lòng sâu thẳm về sự đã rồi, bởi vua chỉ bằng một tai nghe lời đường mật của kẻ xiểm nịnh lỡ đầy đọa thầy học của mình, dập vùi hiền tài của đất nước (Trạng nguyên Lê Văn Thịnh hầu Lý Nhân Tông học thuở nhỏ, khi xảy ra nghi án hồ Dâm Đàm, ông ở cương vị Thái Sư, bị Lý Nhân Tông bắt đi đầy ở trại Thao Giang). ý tưởng và giá trị nghệ thuật của rồng đá của nhà điêu khắc xem như lời nhắn gửi các bậc vua chúa, quan lại và người đời, khi giải quyết bất kỳ công việc lớn, nhỏ đều phải thận trọng nghe bằng hai tai, phải xuất phát từ thực tế khách quan, công tâm, sao cho thấu tình, đạt lý. Nguồn: http://www.baobacninh.com.vn (hết trích) Trích lại: Rồng thời Lý “Mào, mũi và bờm là những thành phần cơ thể được cấu tạo rất sinh động, bằng những nét độc đáo và được mang theo một ý thức nhất định: Mào thoát ra từ môi đến đường sống quyện với răng nanh, xoắn xuýt, rung rinh bốc lên như ngọn lửa; bờm ở sau gáy cuồn cuộn bốc lên nhiều đợt từ cổ họng, cùng với túm râu ở hàm dưới đều uốn lượn nhịp nhàng như làn sóng và bay lướt tựa lá cờ đuôi nheo được gió, mũi cấu tạo bằng những đường cong xếp chồng nhau phập phồng gây ra ấn tượng về nguồn nước...”. Rồng thời Trần “Thành phần cấu tạo của đầu rồng không chặt chẽ như trước: Văn dạng xoắn ốc đôi không thể vắng ở bất cứ con rồng nào thời Lý, thì nay mất dần, bờm và râu kém nhịp nhàng, mào không linh lợi, dần mọc thêm cái tai và cặp sừng cùng kiểu với cái mũi biến dạng đều thuộc về loại thú bốn chân”. Rồng thời Lê “Đầu to, bờm tóc thô dày, mũi lớn, nhiều sợi ria, tai thú, sừng vặn xoắn ốc rồi chẻ chạc, chân gân guốc xòe rộng các ngón”. Rồng đời Cảnh Hưng (1740-1786) “Thể hiện yếu ớt, mảnh khảnh, đi vào công thức cân đối khô khan, kết hợp với chạm nông, nên hình bẹt và cứng, lại bị biến dạng rắc rối. Râu rồng thường bố trí đều đặn, đuôi cong xoắn lại hình xoáy ốc”. Rồng nhà Nguyễn “Gượng gạo, ngơ ngác, chắp vá, vụn vặt, cố làm ra vẻ nghiêm chỉnh mà không đường hoàng được, bộ mặt trở thành gớm ghiếc, đe dọa... thường xuất hiện với phượng, lân, rùa để hợp thành bộ “Tứ linh”. 2. Trích: Lịch sử việt nam (thời trung cổ) (nguồn: http://www.avsnonline.net) "4. Hình tượng con rồng Việt Nam Con rồng là một hình tượng có vị trí đặc biệt trong văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam và đã từng là biểu tượng linh thiêng liên quan đến truyền thuyết con rồng cháu tiên của người Việt. Rồng là hình ảnh mà các vua Việt Nam phải xăm lên đùi mình để giữ truyền thống của cư dân ven biển. Đến đời vua Trần Anh Tông (1293-1314) mới chấm dứt tục xăm rồng trên đùi của các vua. Rồng là tượng trưng cho quyền uy tuyệt đối của các đấng thiên tử (bệ rồng, mình rồng). Rồng là hình tượng của mưa thuận gió hòa, là vật linh đứng vào hàng bậc nhất trong tứ linh "long, lân, quy, phụng". Vì thế, hình tượng con rồng Việt Nam tương phản với hình tượng con rồng độc ác, tượng trưng cho cái xấu của các nước phương Tây. Hình tượng rồng đã được hình dung lên từ thời đại Hùng Vương qua con vật thân dài có vẩy như cá sấu được chạm trên các đồ đồng thời ấy. Qua thời kỳ Bắc thuộc dài đằng đẵng, con rồng Việt Nam xuất hiện rõ nét dưới thời Lý. Hình ảnh "rồng bay lên" Thăng Long tượng trưng cho khí thế vươn lên của dân tộc, được đem đặt cho đất đế đô. Rồng thời Lý tượng trưng cho mơ ước của cư dân trồng lúa nước nên luôn luôn được tạo trong khung cảnh của nước, của mây cuộn. Rồng thời Lý là con vật mình dài như rắn, thân trơn nếu là con nhỏ, còn con lớn thì thân có vẩy và lưng có vây. Thân rồng uống cong nhiều vòng uyển chuyển theo hình "Omega", mềm mại và thoải nhỏ dần về phía đuôi. Rồng có bốn chân, mỗi chân có ba móng cong nhọn. Đầu rồng ngẩng cao, há miệng rộng với hai hàm răng nhỏ đang vờn đớp viên ngọc quý. Từ mũi thoát ra mào rồng có dạng ngọn lửa, vì thế được gọi là mào lửa. Trên trán rồng có một hoa văn giống hình chữ "S", cổ tự của chữ "lôi", tượng trưng cho sấm sét, mây mưa. Hình tượng con rồng thời Trần có nhiều biến đổi so với thời Lý. Rồng thời Trần không còn mang nặng ý nghĩa mơ ước nguồn nước nữa. Dạng tự chữ "S" dần dần mất đi hoặc biến dạng thành hình con, đồng thời xuất hiện thêm hai chi tiết là cặp sừng và đôi tay. Đầu rồng uy nghi và đường bệ với chiếc mào lửa ngắn hơn. Thân rồng tròn lẳn, mập mạp, nhỏ dần về phía đuôi, uốn khúc nhẹ, lưng võng hình yên ngựa. Đuôi rồng có nhiều dạng, khi thì đuôi thẳng và nhọn, khi thì xoắn ốc. Các vảy cũng đa dạng. Có vẩy như những nửa hình hoa tròn nhiều cánh đều đặn, có vẩy chỉ là những nét cong nhẹ nhàng. Rồng thời Lê (thế kỷ XV) thay đổi hẳn. Rồng không nhất thiết là một con vật mình dài rắn uốn lượn đều đặn nữa mà ở trong nhiều tư thế khác nhau. Đầu rồng to, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay vào đó là một chiếc mũi to. Thân rồng lượn hai khúc lớn. Chân có năm móng sắc nhọn quắp lại dữ tợn. Rồng thời Lê tượng trưng cho quyền uy phong kiến. Cũng chính bắt đầu từ thời đại này xuất hiện quan niệm tứ linh (bốn con vật thiêng) tượng trưng cho uy quyền của vương triều Rồng đứng đầu trong tứ linh. Ba vật thiêng kia là lân (tượng trưng cho sự thái bình và minh chúa), qui (con rùa - tượng trưng sự bền vững của xã tắc) và phụng (tượng trưng cho sự thịnh vượng của triều đại). Rồng thời Trịnh Nguyễn vẫn còn đứng đầu trong bộ tứ linh nhưng đã được nhân cách hóa, được đưa vào đời thường như hình rồng mẹ có bầy rồng con quây quần, rồng đuổi bắt mồi, rồng trong cảnh lứa đôi. Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng. Rồng được thể hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc ngậm chữ thọ, hai rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc, chầu chữ thọ... Phần lớn mình rồng không dài ngoằn mà uốn lượn vài lần với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi sư tử, miệng há lộ răng nanh. Vậy trên lưng rồng có tia, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua có năm móng, còn lại là bốn móng. Hiện nay hình tượng con rồng tuy không còn tính chất thiêng liêng, tối thượng nhưng vẫn được đưa vào trang trí cho các công trình kiến trúc, hội họa, chạm, khắc nghệ thuật... Trong mọi thời điểm nào, con rồng vẫn là một phần trong cuộc sống văn hóa của người Việt. 3. Thảo luận tại Topic "Con rồng thời Lý và Con rồng thời Lê" tại website maihoatrang.com của hội viên Thien Phong "....... Ngoài ra theo Lịch sử Việt Nam tập 1 của Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội năm 1971 thì: Thời Lý: Dù ở Di tích nào, con rồng đó cũng thống nhất trong quan niệm sáng tác là thể hiện một con vật mình dài, trơn như rắn, uốn quanh nhiều vòng rất uyển chuyển, mền mại với những thành phần cấu tạo (tượng trưng cho nguồn nước và mây mưa) mang niềm mơ ước của cư dân trồng lúa nước. Thời Lê: Con rồng đời Lê Thánh Tông đã chuyển hoá thành hình rồng khoẻ đầu to, có sừng và lông gáy tua tủa, có chân năm móng quặp vào. Hình rồng đó có những nét ảnh hưởng của hình rồng đời Minh và trở thành hình ảnh tượng trưng cho uy quyền phong kiến. Thời Lý: Thời Lê: " 4. Trích:Rồng và Tiên trong lịch sử đồ tượng Việt Nam (nguồn: vnexplore.net) A. Các dạng Rồng. 1. Rồng - Sấu: Hình 1a 2. Rồng sấu - Rắn: Rồng (đầu là cá sấu, dưới là rắn cuộn) trên tấm yểm tâm của áo giáp ở Ninh Bình. 3. Rồng - Rắn với đầu cá sấu: Rìu vai, đồng, thế kỷ 5-3 trước CN, Ðồng Sơn, Bảo tàng lịch sử Hà Nội. 4. Rồng Mèo: Rồng - Mèo là hình dạng rồng in trên mảnh sành được phát hiện ở Bắc Ninh: đầu sấu đã biến mất, đầu ngắn hơn và cổ dài, cánh và vây lưng là những đường vạch dài, râu và lông ở khuỷu chân đã có hình dạng của con rồng Ðại Việt. 5. Con Rồng thời Ngô (939 - 965): Thể hiện trên một viên gạch tìm thấy ở Cổ Loa, chiều dài chung có ngắn, thân mèo, vây lưng cá. 6. Rồng - Rắn: Là hình dạng loài rồng nổi tiếng của Thời Lý (1010 - 1225). Hình (6. a). Và Thời Trần (1225-1400). Rồng thời kỳ này là biểu tượng cho vua, cho sự thịnh vượng. Có điều, con rồng Lý là rồng-văn, còn rồng Trần là rồng - võ, tức rồng Trần dũng mãnh hơn rồng Lý. Hình (6. B). 7. Rồng - Ðầu sư tử/ Lân: Con rồng đời Lê tuy vẫn kế thừa hình tướng của rồng thời Lý - Trần, nhưng cũng đã du nhập ngoại dạng của rồng phương Bắc: dữ, uy nghi. Thời Tây Sơn phục hồi hình dạng của rồng đời Trần và Lê Sơ: thân rồng đẹp, mềm mại và cái đầu dũng mãnh. Ðầu rồng này giống như hình rồng trên đồng tiến Cảnh Thịnh (1792-1802): đầu sư tử/ lân. 8. Rồng thời Nguyễn: Giai đoạn 1802-1883; sự mới mẻ của nó là đuôi xoắn ốc và toả nhiều vây dạng đao lửa dài. Rồng thời Nguyễn giai đoạn 1883-1945 biến đổi theo sự suy đổi của nghệ thuật giai đoạn này: mất đi vẻ tự nhiên và dũng mã 5. Một số hình ảnh rồng: THỜI LÝ: THỜI LÊ: THỜI MẠC:
-
Con này giống cá sấu hơn là "RỒNG". Tiếc là không có cái ảnh chụp rõ hơn. Ra tới HN chắc Phoenix phải đến tận nơi xem. Nó có phải thuộc về thời của thái sư Lê Văn Thịnh hay không mà chỉ dựa vào tư thế của con "Rồng" để khẳng định thì có vẻ chưa ổn. Người ta có thể "đau" hay "uất ức bất lực" về nhiều thứ, huống chi là con "Rồng".
-
Phoenix thiết nghĩ nên dạm ngõ, làm đám hỏi vào năm nay nếu thật cần thiết. Còn đăng ký kết hôn và tổ chức hôn lễ vào năm sau. Trong mọi trường hợp cấp thiết, chỉ cần gia đình thông cảm với nhau là được. Không nên quá vội để không thuận lợi sau này. Kính chúc hạnh phúc!
-
Cúng Rằm tháng bảy như thế nào? Ngày rằm tháng bảy, nhà nhà mua đồ vàng mã, quần áo, mua bỏng, mua khoai, mua kẹo, sắp gạo muối cúng chúng sinh. Chùa tổ chức đọc kinh, cúng cháo. Nhưng cũng lạ, nhiều người lại chen chân đổ xô nhau đến Phủ để thắp nhang cầu khấn cúng chúng sinh. Xem ra, bà con ta trọng tín ngưỡng nhưng lại chẳng có thói quen tìm hiểu xem nội dung, mục đích của nó là gì. Càng ngày, vài tro duy trì văn hóa truyền thống của gia đình càng bị mai một. Thế hệ con cháu không được truyền dạy các ý nghĩa của nghi thức, tập tục khi chính những người lớn tuổi hơn chẳng để tâm coi trọng nhiều. Nhiều người chỉ biết cúng là cúng, chẳng hiểu cúng để làm gì. Như vậy, có lễ mà chẳng có thực lòng cũng phí phạm. Cúng chúng sinh thế nào cho đúng?? Dưới đây là một hướng dẫn. Mong ACE am hiểu góp ý thêm: Thời gian: có thể cúng từ ngày mùng 1 đến 15 tháng 7 âm lịch Giờ cúng: nên cúng vào giờ Dậu Chuẩn bị đồ lễ: 1. Quần áo cho chúng sinh (vàng mã) 2. Đồ ăn: gạo, muối, nước, bỏng, khoai - sắn - ngô - lạc luộc, kẹo bánh, hoa quả .... 3. Tiền vàng mã 4. Cháo nấu bằng gạo tẻ hoặc nếp, cho thêm chút muối, múc ra bát nhỏ 5. Hương để thắp 6. Phóng sinh: chọn con vật muốn phóng sinh (chim, cá, rùa, cua, ốc....) Tất cả đồ lễ là tùy tâm, nhất là về số lượng. Không nên cúng đồ mặn vì quan niệm vong hồn chúng sinh còn đang trong tình trạng chưa thưởng thức được những thứ đồ ăn đó Bày biện: Có thể bày theo bốn phương, tám hướng hoặc chỉ đặt một bàn chung hướng ra phía ngoài đường (ngoài cửa) Nên bày trên bàn thấp, rộng Một số nơi vẫn còn giữ tục trẻ em đi cướp đồ cúng. Chúng đóng giả các vai "cô hồn" đi đến các gia đình để cướp đồ cúng. Gia đình nào được cướp nhiều đồ thì thường vui mừng vì lễ được chứng. Còn trẻ em thì thích thú vì có đồ ăn. Cúng Vu lan: Có thể thực hiện tại chùa hoặc ở nhà. Thời gian: từ 1-15/07 AL Đồ lễ: Có thể chuẩn bị cả các đồ chay, mặn như lễ cúng thông thường Có đèn để thả xuống các dòng chảy lưu thông (sông, suối..) LỄ TRỌNG KHÔNG BẰNG TÂM KÍNH.
-
Nguyễn Du Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, Toát hơi may lạnh buốt xương khô Não ngườI thay buổi chiều thu, Ngàn lau nhuốm bạc lá ngô rụng vàng... Đường bạch dương bóng chiều man mác, Dịp đường lê lác đác mưa sa Lòng nào lòng chẳng thiết tha Cõi dương còn thế nữa là cõi âm. Trong trường dạ tối tăm trời đất, Có khôn thiêng phảng phất u minh... Thương thay thập loại chúng sing Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người Hương lửa đã không nơi nương tựa Hồn mồ côi lần lữa bấy niên... Còn chi ai khá ai hèn Còn chi mà nói ai hèn ai ngu! Tiết đầu thu lập đàn giải thoát Nước tĩnh đàn sái hạt dương chi Muôn nhờ đức Phật từ bi Giải oan cứu khổ độ về tây phương. Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh Chí những lăm cất gámh non sông Nói chi những buổi tranh hùng Tưởngn khi thế khuất vận cùng mà đau! Bỗng phút đâu mưă sa ngói lở Khôn đem mình làm đứa thất phu Giàu sang càng nặng oán thù Máu tươi lai láng xương khô rụng rời Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc, Quỷ không đầu đứng khóc đêm mưa Cho hay thành bại là cơ Mà cô hồn biết bao giờ cho tan. Cũng có kẻ màn lan trướng huệ Những cậy mình cung quế Hằng Nga, Một phen thay đổi sơn hà, Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu? Trên lầu cao dưới dòng nườc chảy Phận đã đành trâm gãy bìng rơi Khi sao đông đúc vui cười Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương. Đau đớn nhẽ không hương không khói Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim. Thương thay chân yếu tay mềm Càngnăm càng héo một đêm một dài. Kìa những kẻ mũ cao áo rộng, Ngọn bút son thác sống ở tay Kinh luân găm một túi đầy Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu. Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm, Trăm loài ma mồ nấm chung quanh Ngàn vàn khôn đổi được mình Lầu ca viện hát tan tành còn đâu? Kẻ thân thích vắng sau vắng trước Biết lấy ai bát nước nén nhang? Cô hồn thất thểu dọc ngang Nặng oan khôn nh9e tìm đường hóa sinh? Kìa những kẻ bài binh bố trận Đổi mình vào cướp ấn nguyên nhung Gió mưa sấm sét đùng đùng Phơi thây trăm họ nên công một người. Khi thất thế tên rơi đạn lạc Bãi sa trường thịt nát máu rơi Mênh mông góc bể chân trời Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào? Trời thăm thẳm mưa gào gió thét Khí âm huyền mờ mịt trước sau Ngàn mây nội cỏ rầu rầu, Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường? Cũng có kẻ tính đường trí phú Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn Ruột rà khôngkẻ chí thân Dẫu làm nên để dành phần cho ai? Khi nằm xuống không người nhắn nhủ Của phù vân dẫu có như không Sống thời tiền chảy bạc ròng Thác không đem được một đồng nào đi. Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm Ngẩn ngơ trong quảng đồng chiêm Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu? Cũng có kẻ rắp cầu chữ qúy Dẫn mình vào thành thị lân la Mấy thu lìa cửa lìa nhà Văn chương đã chắc đâu mà trí thân. Dọc hàng qúan gặp tuần mưa nắng Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng Anh em thiên hạ láng giềng người dưng Bóng phần tử xa chừng hương khúc Bãi tha ma kẻ dọc người ngang Cô hồn nhờ gửi tha phương Gió trăng hiu hắt lửa huơng lạnh lùng. Cũng có kẻ vào sông ra bể, Cánh buồm mây chạy xế gió đông Gặp cơn giông tố giữa dòng Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê. Cũng có kẻ đi về buôn bán Đòn gánh tre chín dạn hai vai Gặp cơn mưa nắng giữa trời Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao? Cũng có kẻ mắc vào khóa lính Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan Nước khe cơm vắt gian nan Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời Buổi chiến trận mạng người như rác Phận đã đành đạn lạc tên rơi Lập lòe ngọn lửa ma trơi Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương! Cũng có kẻ lỡ làng một kiếp Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa Ngẩn ngơ khi trở về già Ai chồng con tá biết là cậy ai? Sống đã chịu một đời phiền não Thác lại nhờ hớp cháo lá đạ Đau đớn thay phận đàn bà, Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu? Cũng có kẻ nằm cầu gối đất Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi Thương thay cũng một kiếp người Sống nhờ hàng xứ chết vùi đường quan. Cũng có kẻ mắc oan tù rạc Gửi mình vào chiếu rách một manh Nắm xương chôn rấp góc thành Kiếp nào cỡi được oan tình ấy đi? Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha Lấy ai bồng bế xót xa U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng. Kìa những kẻ chìm sông lạc suối Cũng có người sẩy cối sa cây Có người leo giếng đứt dây Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành. Người thì mắc sơn tinh thủy quái Người thì sa nanh sói ngà voi Có người hay đẻ không nuôi Có người sa sẩy có người khốn thương. Gặp phải lúc đi đường lỡ bước Cầu Nại Hà kẻ trước người sau Mỗi người một nghiệp khác nhau Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ? Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi Hoặc là nương ngọn suối chân mây Hoặc là điếm cỏ bóng cây Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ Hoặc là nương thần từ Phật tự Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông Hoặc là trong quãng đồng không Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau tre Sống đã chịu một bề thảm thiết Ruột héo khô dạ rét căm căm Dãi dầu trong mấy mươi năm Thở than dưới đất ăn nằm trên sương Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn Tắt mặt trời lẩn thẩn tìm ra Lôi thôi bồng trẻ dắt già Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh. Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ Phóng hào quang cứu khổ độ u Rắp hòa tứ hải quần chu Não phiền trút sạch oán thù rửa không. Nhờ đức Phật thần thông quảng đại Chuyển pháp luân tam giới thập phương Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh. Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao Mười loài là những loài nào? Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh. Kiếp phù sinh như hình như ảnh Có chữ rằng:"Vạn cảnh giai không" Ai ơi lấy Phật làm lòng Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi. Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo Của có khi bát cháo nén nhang Gọi là manh áo thoi vàng Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên. Ai đến đây dưới trên ngồi lại Của làm duyên chớ ngại bao nhiêụ Phép thiên biến ít thành nhiều Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sanh. Phật hữu tình từ bi phổ độ Chớ ngại rằng có có không không. Nam mô chư Phật, Pháp, Tăng Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài -------------------------------------------------------- (Nguyễn Châu biên soạn) Bài văn chiêu hồn đã mô tả cảnh khổ đau của mọi hạng người trong xã hội từ những kẻ quyền thế cao sang đến người xó chợ đầu đường. Tất cả mọi người không ai có thể khước từ cái chết. Tuy "mỗi người một nghiệp khác nhau" nhưng cầu Nại Hà thì không ai có thể không bước qua, chỉ là "kẻ trước người sau mà thôi! Cầu Nại Hà là gì? Tại nơi nào? Theo sách Phật, cầu Nại Hà ở về phía Đông của Thập Điện (tức mười tầng Địa Ngục), những người nghèo hèn và chết yểu (chết trẻ) đều phải đi qua cầu này để vào đường đầu thai sinh vào kiếp khác. Nại Hà là tên con sông ở Địa Ngục có ba cái thác nhỏ, linh hồn các tội nhân khi đến đây phải hỏi xem nơi nào có thể lội qua được để khỏi trầm luân nên gọi là Nại Hà. Con người khi sống trong xã hội thì có phân biệt cao thấp sang hèn nhưng khi chết thì đều bình đẳng! Nhất là chết mà trở thành cô hồn: Thương thay thập loại chúng sinh Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người! Hương lửa đã không nơi nương tựa Hồn mồ côi lần lữa bấy niên Còn chi ai khá ai hèn Còn chi mà nói kẻ hiền người ngủ Cụ Nguyễn Du đã tả cảnh bi thương từ dương gian đến âm phủ: từ tiết đầu thu ảm đạm, thê lương của cõi dương chuyển sang cảnh "trường dạ tối tăm" bi thiết của cõi âm... để nêu ra các loại chúng sanh với những nghiệp cảnh khác nhau nhưng tựu trung đều bi thảm giống nhaụ Nói là "thập lọai" nhưng bài văn đã kể ra cả thảy 16 nghiệp cảnh. Chữ "mười" ở đây không phải là số đếm thông thường mà là tiếng tượng trưng cho sự rộng khắp, tòan vẹn như trong cách nói "mười phân vẹn mười", "nhân vô thập toàn"... Các loại chúng sinh được nhắc đến trong văn tế là: 1. Những kẻ "tính đường kiêu hãnh" tham danh vọng mà quên mạng sống. 2. Những kẻ giàu sang sống trong "màn loan trướng huệ" tự kiêu, tự mãn về nhan sắc... 3. Những kẻ làm quan to "mũ cao áo rộng" cầm ngọn bút sinh sát trong taỵ.. 4. Những tướng sĩ "bài binh bố trận" "đemmình vào cướp ấn nguyên nhung" phơi thây trăm họ để dành công cho bản thân mình... 5. Những kẻ tính đường tr6i phú bôn ba lìa bỏ quê nhà để mong được giàu sang... 6. Những kẻ "rắp cầu chữ quý" 7. Những kẻ vào sông ra bể, trong sóng gío hiểm nguỵ.. 8. Những kẻ thương buôn đường xa 9. Những kẻ phải đi lính 10. Những kẻ sa cơ thất thế rơi vào "buôn nguyệt bán hoa" 11. Những người hành khất "sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan" 12. Những kẻ mắc vòng tù ngục oan khiên 13. Những kẻ hữu sinh vô dưỡng 14. Những trẻ sơ sinh mất mẹ cha 15. Những kẻ chết vì các loại nạn tai: thủy, hỏa, ác thú... 16. Những kẻ vô tự tức không con cái, thân thuộc Nêu ra cảnh khổ của cõi âm Nguyễn Du muốn cảnh giác cõi dương là nơi mà cuộc tranh dành lợi danh, tiền của thường rất gắt gao và hung hãn... Tác giả nhắc cho mọi người thấy rõ rằng: Sống thời tiền chảy bạc ròng Thác không đem được một đồng nào đi Và cuối cùng kêu gọi các loại cô hồn hãy khôn ngoan lắng nghe kinh để nương nhờ ph6ep Phật mà thoát khổ. Lấy Phật làm lòng thì tự nhiên siêu thóat trong luân hồi. Văn tế Thập loại Chúng sinh là một lời cảnh báo cho thế gian đáng cho mọi người suy gẫm... trong ngày Đức Mục Kiền Liên cứu mẹ khỏi khổ hình Địa Ngục để báo hiếu. Nguồn: annonymous.online.fr
-
Giới thiệu vài bài thơ: Cách nhau là đất NGUYỄN QUANG HƯNG A! Rình trông lại em rồi! Đom đóm thở đêm bồi hồi Ngũ sắc choàng lưng thon kéo lại Đốt hình nhân về thay Dìu chốn lối đồng thấp thỏm cườm ta Xa gần nước mây não nuột cuồng quay Chợ Âm Dương mua chịu giấy áo hồng, gối thêu cùng may Tháng Bẩy, âm binh chặn cướp Bùng bùng bát âm buổi em đi xưa Voi mây ngựa xám nườm nượp Mưa lên trắng mấy cho vừa Chòi canh rộng những thiếu thừa Kìa chăn gối chẳng kịp lừa hai vai Dưới miền thăm thẳm đất dài Rồi đây chỉ nở một loài hoa đêm 18/1/2002 Nguồn: e-văn.com.vn
-
Lời Giới Thiệu: Có một số người thắc mắc ngày lễ Vu Lan là dịp để con cái cúng dường trai tăng hầu nhờ đó mà cha mẹ quá vãng được siêu thăng. Nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu, Hoa Sen xin giới thiệu một vài quan điểm về Vu Lan Bồn: “Vu Lan, Mùa Báo Hiếu” hay là “Tháng Bẩy Ngày Rằm Xá Tội Vong Nhân” của tác giả Tâm Viên Ý Mã. Hằng năm, cứ đến rằm tháng bẩy, là nhiều gia đình Việt Nam và Trung Hoa lại bận rộn thiết lễ, nào là Vu Lan, nào là cúng cô hồn lang thang vô thừa nhận. Chùa chiền thì nấu cháo đổ vào lá đa bầy la liệt ngoài cổng với vài xấp áo giấy, vài tờ giấy vàng và lập lòe một bó nhang để những cô hồn vô thừa nhận nương theo làn khói mà về hưởng chút cháo thí! Những nhà làm ăn buôn bán thì lễ vật linh đình hơn, nào là gà, vịt, heo quay, hay ít lắm thì cũng cái đầu heo, cho nó “nặng lễ dễ kêu”, mấy chú cô hồn lỡ hưởng của lễ rồi thì mai mốt hẳn là phải cong cổ ra mà phù hộ gia chủ cho nó đáng đồng tiền bát gạo chứ! Thậm chí ngay đến tài xế lái xe công xa, mà cũng nhiều ông mè nheo được nhà nước trích quỹ đặc biệt chi tiền cho các ông thiết lễ vì bị các ông dọa “không cúng cô hồn, rủi xe lật ai chịu trách nhiệm”. Thế là cấp trên hết vía, thì “trước lễ sau ăn”, chi cho ông tài thiết lễ, mình cũng được nhậụ ké, được tiếng rộng rãi, lại khỏi chịu trách nhiệm. Riêng đối với Phật tử, ngày rằm tháng bảy lễ Vu Lan Bồn, điển tích thì hầu hết Phật tử đều thuộc lòng vì năm nào cũng nghe nhắc đi nhắc lại trên đủ loại chương trình phát thanh, phát hình và báo chí, cho nên kẻ viết bài này chỉ xin tóm tắt rằng có một đệ tử của Đức Phật tên là Mục Kiền Liên, tu hành đắc đạo đã chứng A La Hán, có thần thông. Mẹ chết, ngài dùng thần thông xuống địa ngục tìm thấy mẹ đang chịu hình phạt đói khát, ngài dâng lên chén cơm. Nhưng bà mẹ vừa nuốt vào cổ thì miếng cơm đã hóa thành than hồng đốt cháy cổ bà. Quá thương xót mẹ, Ngài về cầu cứu với Phật. Đức Phật dạy rằng tới ngày rằm tháng bảy, hãy thiết lễ trai tăng, thỉnh cầu chư tăng đến để thọ trai, nhờ sức tâm thanh tịnh sau ba tháng tịnh tu mùa hạ, bà sẽ được giải cứu. Ngài Mục Kiền Liên vâng lời Phật, và quả nhiên, mẹ ngài thoát khỏi địa ngục. Đức Phật đã giác ngộ được bản thể, thoát khỏi vòng luân hồi trong sáu nẻo, ngài biết lý do chính đã nhận chìm con người trong sinh tử là vì cái tật gom góp, tích lũy từ vật chất tới tình cảm, chỉ muốn mọi thứ là của riêng mình, của thân nhân mình, của bè đảng mình, của đất nước mình, vân vân, một cái tật đã có từ niệm vô minh đầu tiên, từ thời vô thủy, mà thuốc chữa thì chỉ có một bài thôi, là bài xả bỏ, còn gọi là bố thí. Cho nên đệ tử của Phật đi trên con đường của Ngài đã xả bỏ hết, từ tình cảm tinh thần cho đến của cải vật chất, vì chỉ có xả bỏ thì tâm mới không bị ràng buộc, hạn hẹp vào thói quen thu thập, cất giữ làm cho mọi người nghi kỵ, xa lánh nhau. Chỉ có xả bỏ thì tâm hồn mới tự giải thoát khỏi sự kìm kẹp của sở hữu, tham sân si, bước được bước đầu trên con đường giải thoát khỏi luân hồi, sinh tử. Cho nên, nhân đây, ngài mở cửa phương tiện để trải phước điền cho đời sau, mọi người vì lòng hiếu thảo với cha mẹ, thân nhân, mà dâng lễ cúng dường trai tăng, tạo một duyên lành với nhà Phật mở lòng ra thực hiện hạnh xả bỏ, tức là hạnh bố thí, đứng đầu trong lục độ vạn hạnh. Mặt khác nhờ người Phật tử cư sĩ cúng dường những nhu cầu cần thiết mà chư tăng ni có thể an tâm tu hành cho tới đạt được bản thể, tự do, tự tại, giữ cho con đường giải thoát được ánh sáng của đèn tuệ thường chiếu. Người Phật tử cúng dường cũng là bước vào đường tu, với hạnh xả bỏ, có đà rồi, sẽ tiếp tục đi thêm những bước trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, vân vân và vân vân. Có người hỏi rằng: - Nếu nhờ lễ Vu lan cúng dường trai tăng mà thân nhân thoát khỏi địa ngục, thì đó có phải là một hình thức hối lộ không? Nghe hỏi như thế, có người đã trợn mắt lên dọa dẫm: - Chết, hỏi bậy, coi chừng bị đẩy xuống địa ngục! Xin đừng sợ những lời dọa dẫm vô căn cứ của những vị bảo hoàng hơn vua chỉ muốn trùm vào đạo Phật một tấm màn thần bí, huyền hoặc, tưởng rằng thế là tôn trọng đạo Phật mà hóa ra đang làm ngược lại. Đức Phật dậy rằng: “Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta vậy”. Cho nên, nếu còn thắc mắc thì cứ hỏi. Xin trả lời: - Đạo Phật quan niệm rằng tất cả pháp giới đều chỉ do tâm tạo. Thế thì địa ngục cũng do tâm tạo. Tâm tham lam, bủn xỉn, độc ác thì tạo thành địa ngục. Tâm chuyển thì địa ngục tan rã. Cho nên, chính trong lúc chư tăng ni thọ thực mà theo đúng giới luật thì không được “tán tâm tạp thoại” (nghĩ vẩn vơ, nói chuyện lăng nhăng) bởi vì nếu phạm giới này thì “tín thí nan tiêu”, nghĩa là phẩm vật dâng cúng mà mình thụ hưởng sẽ khó mà tiêu hóa được (còn có nghĩa là nếu nhận phẩm vật dâng cúng mà không tích cực tu hành thì trong tương lai sẽ phải trả nợ thí chủ). Cho nên, chính là lúc thụ trai đó, chư vị tăng ni lặng lẽ không nghĩ thiện, ác, một hình thức thiền định, đó là lúc tâm lực mạnh nhất. Tất cả chư vị đều lặng lẽ tâm không suy nghĩ (cuồng tâm ngưng nghỉ tức là bồ đề), thì chính thời gian đó, sức tâm của chư vị tỏa ra, ảnh hưởng vào pháp giới, chuyển hóa được những tâm tham lam, keo kiệt, bủn xỉn đang trong địa ngục kia. Ngay khi tâm chuyển thì chính sát na đó, địa ngục tự tan rã, chứ không phải là do chư tăng ni “ăn hối lộ rồi xin xỏ” cho gia chủ được ra khỏi địa ngục. Xin xỏ là tâm niệm ô nhiễm, làm sao mà sánh được với tâm niệm thanh tịnh, không chút vướng mắc của vọng tâm sinh diệt tranh đua, tham lam danh lợi. Tâm thanh tịnh không vướng mắc suy nghĩ có sức mênh mông ngang tầm pháp giới. Cho nên mới có câu: “Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu”. Vậy thì, là Phật tử, nhân lễ Vu Lan, rất nên cúng dường trai tăng để giúp chư vị khỏi lo lắng về phần vật chất, an tâm tu hành đến giải thoát. Phẩm vật cúng dường ít nhiều không khác gì nhau. Chỉ có cái niệm tâm lúc cúng dường, kính trọng người tu hành, mong cho chư vị đạt đạo để Phật pháp trường tồn là quan trọng. Nếu không có tiền để cúng dường mà chỉ có lòng vui mừng khi thấy có người cúng dường thì phước đức cũng bằng nhau, đó là lời Phật dậy. Câu này rất có ý nghĩa, vì người dẹp được tâm ganh tị thì đã là phước quá rồi! Ngoài sự cúng dường trai tăng hoặc tùy hỷ với người cúng dường, xin đừng giết súc sinh để cúng cô hồn. Niệm tâm thanh tịnh của chư tăng ni tỏa trong không gian đó không chỉ hạn hẹp chuyển hóa thân nhân mình, mà chuyển hóa tất cả pháp giới. Nếu mình lại giết súc sinh để cúng, thì mình lại làm cho pháp giới ô nhiễm vì tăng thêm sự đau khổ, lòng thù hận. Nếu tin lời Phật nói: “Tất cả chúng sinh đều là cha mẹ đời quá khứ, và sẽ là Phật trong tương lai”, mà mình còn giết súc vật thì hóa ra mình giết cha mẹ đời quá khứ để cúng cô hồn đời này. Cho nên, có nhiều người đã sáng suốt nhận định ra việc này, họ ăn chay tháng bảy để từ từ tăng thêm đến ăn chay trường, đó là hình thức báo hiếu rộng lớn nhất, không chỉ đối với cha mẹ đời này, mà với cả cha mẹ đời quá khứ nữa. Tâm Viên Ý Mã (Courtesy of Thư Viện Phật Giáo Hoa Sen http://www.jps.net/hoasen.) TÂM VIÊN Ý MÃ Nguồn: Vietbao.com