-
Số nội dung
1107 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
2
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by phoenix
-
Nghi án phong thủy: Trụ đồng Mã Viện Thiên Đức Hằng nằm cứ vào ngày 6-2 âm lịch lể kỷ niệm hai bà Trưng được cử hành tại nhiều nơi có người Việt sinh sống. Đây là một sinh hoạt có tính lịch sử truyền thống. Vào năm 40 sau công nguyên Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị quê ở Mê Linh đã dựng cờ khởi nghĩa trước là trả thù cho chồng sau là đánh đuổi quân xâm lượt, Hai Bà đã lấy được 65 thành trì và sau đó là xưng vương họ Trưng. Năm 42 scn Mã Viện theo đường biển xua quân đánh trở lại. Trước thế giặc mạnh, quân hai bà chống cự không nổi, rút lui về Cẩm Khê và tan hàng từ đó. Sau khi xâm chiếm đất Giao Chỉ Mã Viện cho thực hiện hai công trình là: Dựng trụ đồng Mã Viện tại động Cổ Sâm, châu Khâm và xây thành Kiển Giang hình tổ kén ở Phong Khê. (hình số 1) (Đền thờ Hai Bà Trưng tại xã Hát Môn, Sơn Tây đang trong giai đoạn trùng tu) Nguồn: Thiên Đức 8/2005 Trang lịch sử này đã gây nhiều tranh cãi về nhiều vấn đề như là : - Nguyên do khởi nghĩa của hai bà vì thù chồng hay vì nợ nước? - Hai bà lập nên chế độ mẫu hệ đầu tiên ở Việt Nam chăng? - Ngày lễ kỷ niệm của hai bà cũng có sự khác biệt? Ngày 6/2 hay 6/3 Âm lịch? - Nguyên do cái chết của hai bà nhảy sông tự tử hay bị chém đem đầu về Trung Quốc? Cho dù có đặt nghi vấn như thế nào chăng nữa chúng ta cũng phải thừa nhận một điều là Bà Trưng là vị nữ vua đầu tiên tại Việt Nam, một vị vua thành tựu do công sức và tài trí trực tiếp đánh quân xâm lược. Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa do lòng yêu nước chân chính của mình, xuất thân từ giai cấp quí tộc, chứ không phải từ quan niệm đấu tranh giai cấp. Hai bà Trưng đã tạo dựng nên truyền thống vẻ vang nữ anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam. Một câu hỏi đặt ra là: tại sao trong suốt gần 2000 năm kế tiếp dân tộc ta vẫn không xuất hiện được một vị nữ anh hùng thứ hai có tầm cỡ Bà Trưng cho dù lịch sử Việt Nam là lịch sử của chiến tranh chống ngoại xâm từ đó cho đến nay? Phải chăng người phụ nữ Việt Nam yếu hèn? Hay là có sự cản trở bởi một huyền lực nào đó xuất phát từ thời gian sau khi Hai Bà Trưng thua trận, đất nước rơi vào sự đô hộ của người Hán, mà lịch sử chưa làm sáng tỏ chăng? Thật vậy nghi vấn đó phát xuất từ hai hành vi cụ thể đầy bí ẩn của Mã Viện sau khi xâm chiếm đất nước ta chưa được lý giải rõ ràng. Theo Khâm Định Việt Sử Thương Giám Cương Mục trang 24-25 ghi :” Trưng vương cùng em gái là Nhị cự chiến với quân Hán, quân vỡ, thế cô, đều bị thất trận chết. Mã Viện đuổi đánh tàn quân của hai bà là bọn Đô Dương đến huyện Cư Phong thì hàng phục được họ. Mã Viện lập cột đồng để ghi địa giới tận cùng của Nhà Hán... Sách Thủy Kinh Chú của Lịch Đạo Nguyên chép rằng: Mã Văn Uyên (tức Mã Viện) dựng cái mốc đồng để làm giới hạn cuối cùng của đất phía nam Trung Quốc.... Sách Nhất Thống Chí nhà Đại Thanh có chép: Tương truyền cột đồng ở về động Cổ Sâm châu Khâm, Mã viện có thề rằng: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” nghĩa là “Cột đồng ấy gãy thì Giao Chỉ bị diệt”, nên người Việt đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên mãi thành gò đống cao. Đó vì sợ cột đồng ấy bị đổ gãy. Mã Viện nhà Hán đắp thành Kiển Giang Vì thấy huyện Tây Vu có đến ba vạn ba nghìn hộ, Mã Viện xin chia ra làm hai huyện Phong Khê và Vọng Hải. Vua Hán y cho Mã Viện lại lập thành quách, đặt tỉnh ấp (xóm làng), đắp thành Kiển Giang ở Phong Khê. Thành này hình tròn như cái Tổ kén. Nên gọi là thành Kiển giang. Ba năm sau Mã Viện về nước. http://viethoc.org/eholdings/sach/kdvstgcm.pdf A/-Trụ Đồng Mã Viện: Trải qua một thời gian dài bị đô hộ dưới thời Hán thuộc, trụ đồng Mã Viện đã hoàn toàn mất hết dấu tích nhưng vẫn còn để lại nhiều nghi vấn lịch sử như sau: I/- Sự thật của trụ đồng: Trụ đồng Mã Viện là một câu chuyện có thật, đã được ghi vào sử liệu của cả hai nước Trung Hoa và Việt Nam. Đây không phải là một huyền thoại hay là hư cấu. Vào đời vua Trần Thánh Tôn đã cho người đi tìm lại dấu tích cột đồng nhưng không thấy. “Tháng 4 mùa hạ.( 1272) Sai viên ngoại lang là Lê Kính Phu sang hội với người nhà Nguyên biện luận việc cương giới. Nhà Nguyên sai Ngột Lương sang hỏi giới mốc đồng trụ ngày trước, nhà vua phái Lê Kính Phu đi hội đồng khám xét. Kính Phu nói với Nhà Nguyên rằng: “Chỗ cột đồng do Mã Viện dựng lên lâu ngày bị chìm lấp, nay không thể biết ở chỗ nào được.” Việc đó sau cũng thôi. ...( KDVSTGCMCB Quyển VII tr. 219) “Tháng 8 mùa thu (1345) Sai sứ sang nhà Nguyên. Nhà Nguyên sai Vương Sĩ Hành sang hỏi địa giới cột đồng ngày trước. Nhà vua sai Phạm Sư Mạnh sang Nguyên biện bạch sự việc này.” (KDVSTGCMCB quyển IX Tr.279) II/- Vị trí của trụ đồng: Đa số sử liệu đã thống nhất vị trí của trụ đồng như sau: - Sách Nhất Thống Chí nhà Đại Thanh chép: Cột đồng ở về động Cổ Sâm, châu Khâm - Đại Việt Sử Ký Toàn Thư Ngoại Ký của Lê Văn Hưu Quyển III Tr. 22 ghi : Mã Viện bèn dựng cột đồng làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán. Cột đồng tương truyền ở trên động cổ Lâu, châu Khâm. Tóm lại theo sử liệu trên có thể kết luận là trụ đồng nằm ở vùng Châu Khâm tại động Cổ Sâm hay Cổ Lâu thuộc vùng biên giới cực bắc Giao Chỉ cũng là cực nam nhà Hán. Một vấn đề cần được sáng tỏ nữa là: châu Khâm là huyện biên giới giữa Giao Chỉ và Nam Hán hiện nay nằm ở đâu? Theo tài liệu nghiên cứu mới nhất của bác sỹ Trần Đại Sỹ, Giám đốc Trung Quốc sự vụ, viện Pháp Á “ Thử tìm lại biên giới cổ của Việt Nam bằng cổ sử, bằng triết học, bằng di tích và hệ thống DNA” http://www.vietnamsante.com/trandaisy/tds-...ngoctocviet.pdf Sau khi dẫn chứng lịch sử thời hai bà Trưng, di tích, cổ vật, cùng kết quả thử nghiệm DNA đã kết luận rằng: Biên giới cổ của nước Việt Nam với các triều đại Hồng Bàng, Âu Lạc, Lĩnh Nam phía Bắc quả tới hồ Động đình, phía Tây giáp Tứ Xuyên. Sự phát hiện này có thể xác quyết một điều là vị trí trụ đồng nằm ở biên giới phía Bắc Việt Nam qua thời gian đô hộ đã bị Trung quốc lấn chiếm và vùng đất động Cổ Sâm (Cổ Lâu) hiện nằm sâu trong lãnh địa Trung Quốc hiện nay. III/- Ý nghĩa câu “Trụ đồng chiết, Giao Chỉ diệt” Trong hầu hết cổ sử Trung Quốc và sử Việt ghi chép lại, giải thích câu này chỉ là một lời thề. Điểm này có nhiều nghịch lý. 1.- Đây không thể là một lời thề, thật vậy Mã Viện là người đi chinh phục và vui mừng thắng trận, nên không có động cơ nào để tạo ra một lời thề ghi trên trụ đồng. Vì vậy sách sử gọi đây là lời thề là không đúng sự thật. 2.- Ý nghĩa câu chữ “Trụ đồng chiết, Giao Chỉ diệt” ngầm ý hăm dọa cũng như gây hận thù với dân tộc Giao Chỉ rất là phi chính trị. Theo sử sách cho biết Mã Viện là một danh tướng văn võ song toàn giỏi quân sự lẫn chính trị, có thể nào ngây ngô đưa ra một lời thề phi chính trị như trên hay không? Tất nhiên là không, vì thế Mã Viện cố tình ghi khắc câu này tất phải có mưu đồ sâu độc nào đó đối với đất nước Giao Chỉ vậy. 3.- Đa số sách sử Trung Hoa cũng như Việt Nam đều giải thích câu: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt là trụ đồng gãy thì dân Giao chỉ bị giết. Chữ CHIẾT mà dịch là gãy đúng với ngôn ngữ , thế nhưng trong trường hợp này có điều không ổn. Vì rằng một cột trụ đồng kim loại, đặt ruột dựng giữa thiên nhiên thì làm sao có thể gãy được? nếu so với một cây cau, một cây dừa thân mộc, cao, tán cây rộng lung lay trước gió bão còn có thể đứng vững. Thì đây là một nghịch lý. Do vậy sự dịch thuật câu chữ này hoàn toàn sai lầm một cách cố tình nhằm che dấu một bí mật lịch sử mà người viết sẽ phân tích ở phần sau. IV/- Công dụng của trụ đồng: Hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi và cũng chưa có lời đáp thích hợp. 1)- Theo sử gia Phạm Văn Sơn chuyện cột đồng Mã Viện thiết tưởng không đáng tin lắm chỉ nên coi là một giai thoại không hơn không kém... Nếu coi cột đồng Mã Viện là một mỹ đàm thì chép vào sử để làm một câu chuyện kể chơi cho có thú vị thiết tưởng không hại gì. (Việt sử Tân Biên tr.199). Đây chỉ là lối nói huề vốn khi không lý giải được những nghịch lý của câu chuyện trụ đồng, do vậy không đáng tin cậy. Viết lịch sử của một dân tộc cần sự nghiêm túc chứ không phải là chuyện mỹ đàm, kể chơi cho vui. 2)- Theo tác giả Trương Thái Du trong bài “Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam (Talawas - lịch sử) Cột đồng Mã Viện dựng năm 43 ở quận Giao Chỉ và Tây Đồ Di cũng chính là đài quan trắc thiên văn ... Trong công tác thiên văn thời Mã Viện, để xác định những vùng đất mới, cần phải tiến hành quan trắc các chỉ số năm này qua năm khác. Cột thiên văn chuẩn phải vừa tránh được thời tiết xâm hại, vừa bền vững nên chất liệu đồng đã được chọn. Muốn đo đầy đủ thì phải cử người ở lại làm việc, ít nhất là hằng năm tập hợp số liệu đem về kinh đô. Chuyện dân gian Việt Nam kể rằng Mã Viện từng dựng cột đồng ở Bắc Việt lại càng khẳng định đây là cột thiên văn chứ không phải mốc giới. Chẳng ai đem mốc giới để giữa nơi đô hội, để mỗi người đi qua ném một hòn đá vào đấy mong cột đừng đổ. Câu “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” của Mã Viện ngầm bảo phải coi sóc “đài thiên văn” bỏ túi kia cẩn thận. Cơ sự là thế! Con toán thiên văn nhỏ của tôi ở tiểu mục 1 là minh họa suốt bài viết này. Giả thiết này khó thuyết phục bởi những nghịch lý sau: Một cột đồng đặc ruột thuần túy trồng giữa trời mưa nắng không thể gọi là một đài (?)thiên văn được. Theo người viết hiểu ý của tác giả là trụ đồng Mã Viện được sử dụng như là một cái cột chuẩn để đo lường sự di chuyển của bóng mặt trời, mặt trăng.... Nếu chỉ với công dụng như vậy thì chẳng cần phải dùng cột đồng làm gì cho năng nhọc, thực hiện khó khăn (từ việc gom đồng, đúc cột, điêu khắc, di chuyển, dựng cột...), rất tốn kém tiền bạc, công sức và thời gian. Ngoài ra còn viện lý do khỏi bị thời tiết xâm hại lại không chuẩn. Vì rằng cột đồng to và cao đủ để đo bóng mặt trời thì rất nặng hằng tấn tạo sức ép trên một tiết diện nhỏ thì với thời tiết mưa lụt khí hậu ẩm thấp, đất ướt, mềm nở ra rất dễ bị lún, hay đổ ngã nguy hiểm. Với độ lún hằng năm của trụ đồng, thì độ đo đạt lại càng thiếu chính xác, sẽ làm giảm mất giá trị công dụng nói ở trên. Với trụ gỗ tốt vừa nhẹ, bền, dễ kiếm, dễ bảo quản, dễ thay thế, lại đạt yêu cầu trên có lẽ hợp lý hơn cột đồng. Với uy danh của một tướng lãnh thống trị đương thời chắc chắn có rất nhiều cách để bảo quản trụ đồng cần gì phải ngầm bảo dân bị trị phải coi sóc “đài thiên văn” bỏ túi kia cẩn thận bằng câu “Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt” vừa vô chính trị đối với một vị tướng văn võ toàn tài, vừa mất tư cách đạo đức của một kẽ đi thống trị. Với toán công tác thường trực ghi số liệu báo cáo hằng năm không đủ sức bảo quản trụ khí tượng hay sao, mà cần phải ngầm bảo dân bị trị coi sóc? 3)- Theo cổ sử, cột đồng chỉ là cột mốc biên giới mà thôi. Lối giải thích này cũng không thỏa đáng. Nếu là cột mốc biên giới tại sao không ghi những thông tin cần có của vùng biên giới lại ghi câu : “Trụ đồng chiết , Giao Chỉ diệt” trên cột đồng?. Thứ nữa là cột mốc biên giới tại sao không đặt tại những con đường đi giữa ranh giới của hai nước, mà lại đặt tại một hang động trong vùng hẻo lánh? B/- KIỂN THÀNH: Là công trình cụ thể thứ hai của Mã Viện đã hoàn thành trước khi về nước. Theo sách sử giải thích thành Kiển Giang có hình tổ kén của con tằm, như vậy nó có hình tròn và dài túm hai đầu, chứ không đơn giản là hình tròn ghi trong sử liệu, đã đem lại nhiều ngộ nhận cho người đọc sử. Hình dáng của Kiển Thành cũng đem là nhiều nghi vấn. Thật vậy đây là loại thành quách quân sự rất hiếm thấy trong sử sách, là loại hình dài và ốm có rất nhiều nhược điểm như sau: - Dễ bị tàn phá bởi thời tiết gió bão, thật vậy một trường thành dài và ốm sẽ hứng chịu nhiều sức tàn phá của gió bão hơn là một bức thành ngắn, tròn hay vuông và rộng. - Mục đích xây thành cho dân ở vì dân số đông mà lại xây thành hình ốm và đài là không kinh tế và khó có thể thỏa mãn đầy đủ nhu cầu phát triển cư dân về lâu dài. - Về mặt quân sự một trường thành dài rất khó trấn thủ vì tốn kém nhiều nhân lực canh gác, và khó tiếp ứng từ đầu này đến đầu khác. Vì thế câu hỏi đặt ra là tại sao không xây thành hình vuông, đa giác lồi hay hình tròn bình thường như những thành quách khác mà lại xây thành hình cái kén? Ẩn ý của kiến trúc này là gì vẫn chưa được giải đáp trong sử sách. Tóm lại, những nghịch lý trên của lịch sử đã trải qua gần 2000 năm vẫn chưa được lý giải minh bạch dưới nhãn quang của các nhà sử học hay nhà khảo cổ. Thế nhưng, nếu nhìn sự việc trên đây bằng nhãn quang của một nhà phong thủy thì tất cả mọi nghi vấn trên đều được giải đáp thỏa đáng. Thật vậy đây là một trận đồ phong thủy mà Mã Viện bày ra nhằm hãm hại đất nước Giao Chỉ. Hai Bà Trưng đối với Việt Nam là những anh hùng dân tộc, thế nhưng theo quan niệm của triều đình Hán hai bà Trưng chỉ là yêu tặc. Theo An Nam Chí Lược (trang 40) do tác giả Lê Tắc là người Việt nam, chạy qua sống ở Trung Hoa và viết sử theo quan niệm của Trung Hoa như sau: Năm Kiến Võ thứ 16 của Hán Quang Vũ Đế (sau công nguyên 40), người đàn bà Giao Chỉ là Trưng Trắc làm phản, quận Cửu Chân và quận Nhật Nam đều hưởng ứng theo. đành các quận ấp, cướp được 60 thành, rồi tự lập làm vua... Đến năm Kiến Võ thứ 19 Mã Viện chém yêu tặc là Trưng Nhị (Nhị là em gái của Trưng Trắc) và đánh luôn dư đảng, bọn Đô Lương, đến huyện Cư Phong, bọn này chịu đầu hàng... http://viethoc.org/eholdings/sach/ancl.pdf Vào thời đại nhà Hán, thuật phong thủy, địa lý rất thịnh hành, tất cả những công trình xây dựng mồ mả, lâu đài đều tuân hành nghiêm túc quy luật địa lý phong thủy. Ảnh hưởng bởi quan niệm này, Mã Viện sau khi trừ diệt được hai Bà Trưng(?)đã bày một trận đồ phong thủy để diệt tận gốc yêu quái, trừ hậu hoạn, nhằm hãm hại đất nước ta không còn vua nữ giới nữa bằng những hành động như sau: 1- Mã Viện cho dựng một trụ đồng tại động Cổ Sâm hay Cổ Lâu, nghi vấn đặt ra là tại sao không đặt nơi đồng bằng trống trải dễ thấy hay tại những con đường đi lại giữa hai nước như là cột mốc bình thường mà lại đặt tại một hang động? Chỉ có thể trả lời là động Cổ Sâm chính là huyệt hàm rồng kết phát làm vua của đất Giao Chỉ nên Mã Viện muốn phá hủy để đất nước không còn vua nữa, dễ bề cai trị. Nếu tự nhiên Mã Viện cho đào sâu xuống để chôn hoàn toàn một trụ đồng mà không có lý do chính đáng thì mọi người sẽ nghi ngờ, và gặp nhiều khó khăn trong thực hiện, vả lại cũng kém hiệu quả về mặt phong thủy. Vì thế mà Mã Viện đã thâm độc, cho dựng đứng trụ đồng không cần phải chôn sâu và ghi khắc câu chữ “Trụ Đồng chiết, Giao Chỉ diệt” bề ngoài như là hăm dọa, nhưng thực chất là khiêu khích lòng tự ái dân tộc của dân Giao Chỉ, sau đó ngầm hỗ trợ cho người dân mỗi ngày ném gạch đá vào trụ đồng để chôn lấp. Sự việc này có hai tác dụng thứ nhất là giữ cho trụ đồng không bị nghiêng ngả với thời gian, thứ hai trụ đồng nặng hàng tấn tạo một sức ép mạnh trên một tiết diện nhỏ thì dễ dàng từ từ lún sâu vào lòng đất mỗi khi thời tiết mưa ẩm, đất nở và mềm ra. Có như vậy mới che dấu được quỷ kế thâm độc của mình và tác dụng phong thủy lại càng tăng cao. 2- Ý nghĩa thật sự của câu: “Đồng trụ chiết... Giao Chỉ Diệt”, Đây là một câu thần phù còn ẩn dấu một hai chữ để che đậy âm mưu phá huyệt phong thủy. Thật vậy chữ chiết ở đây không có nghĩa là gãy mà có nghĩa là tách làm hai, ví dụ như chiết cành chẳng hạn. Do đó câu trên nên giải thích là “trụ đồng tách huyệt (đế vương) ra làm hai, vua Giao Chỉ bị giết.” Chứ không thể dịch là trụ đồng bị gãy, dân Giao Chỉ bị giết hoàn toàn phi lý. Như vậy câu trên có hai chữ bi ẩn dấu là chữ huyệt và chữ vương. 3- Kiển Thành hình cái kén, nếu chúng ta tách rời hai sự kiện này ra thì sẽ không thấy âm mưu sâu độc của Mã Viện, vì thế người viết, kết hợp cả hai sự kiện này bằng một hình vẽ tượng hình, bạn đọc sẽ thấy rõ ràng hơn: (hính so 2) (Bùa lưỡng nghi (loại tượng hình) Nguồn: Thiên Đức Hình dáng Kiển Thành, tổ con tằm, Âm, Thủy, tượng hình của người đàn bà, kết hợp với hình dáng trụ đồng Mã Viện, Dương, Hỏa, tượng hình của người đàn ông. Theo Kinh Dịch lý thuyết Vũ trụ: Thái Cực - Lưỡng Nghi - Tứ Tượng - Bát Quái. Theo thuật phong thủy, nói về nhà cửa thường sử dụng bùa bát quái để trấn yểm hướng xấu. Trong phạm vi rộng lớn của một đất nước, bùa bát quái không có hiệu lực, vì thế Mã Viện đã sử dụng một loại bùa rất hiếm hoi đề cập trong sách vở đó là loại bùa Lưỡng Nghi tức là bùa Âm Dương có hiệu lực cao hơn bùa bát quái hai bậc theo Kinh Dịch. Loại bùa này được thực hiện bởi hai công trình: Kiển Thành, Âm thủy và trụ Đồng Mã Viện, Dương Hỏa. Ngoài ra, nói theo kiểu dung tục thì Mã Viện đã chơi một trò rất thô bỉ là “Đóng cọc người đàn bà Giao Chỉ” nhằm triệt tiêu con đường kết phát vương quyền cho nữ giới Việt Nam sau này. Với chứng cứ đê tiện này cũng có thể chứng minh truyền thuyết quân Mã Viện lúc giao chiến với đội quân nữ giới của Hai Bà đã chơi trò đồng loạt “Truồng cởi” làm hổ thẹn nữ binh không phải là không có lý. Tóm lại câu chuyện trên có thể kết luận như sau: - Cột đồng Mã Viện là một dụng cụ phong thủy chôn tại động Cổ Sâm nhằm mục đích phá vỡ huyệt kết phát vương quyền của đất Giao Chỉ. - Câu “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” là một câu thần phù hay nói đúng lời là một lời nguyền có hiệu lực cho đến khi được giải mã(?) - Hình dáng Kiển Thành kết hợp với trụ đồng Mã Viện tạo nên một đạo bùa Lưỡng Nghi nhằm trấn yểm không cho người đàn bà Giao Chỉ (mà thời nhà Hán gọi là yêu nữ) tiếp nối truyền thống anh hùng dân tộc. Sở dĩ loại bùa chú này có hiệu lực lâu dài bởi hội đủ những điều kiện sau đây: - Đặt đúng huyệt vị - Điều quan trọng nhất không ai có thể hại mình bằng chính mình hại mình. Dựa vào nguyên tắc này Mã Viện đã thâm hiểm khích tướng để cho dân Giao Chỉ ném đá vào trụ đồng để giữ vững cho chôn trụ đồng có thời gian tự lún sâu vào huyệt đạo tạo thêm hiệu lực cho bùa trấn yểm. - Thời gian hiệu lực của bùa chú càng lâu dài nếu bí mật của nó chưa được tiết lậu, các sử gia Trung Quốc vì quyền lợi Trung Quốc đã che đậy sự việc này và dối trá cho đây chỉ là cột mốc biên giới đơn thuần mà không có giải thích toàn bộ sự kiện. Và theo truyền thuyết bùa ngải, phong thủy, nếu một người mà dùng bùa chú hại người khác nếu được cao nhân cứu giải thì loại bùa chú đó sẽ trở lại tác động với chủ nhân của nó. Vì thế người Trung Quốc rất sợ phản đòn và rất kín miệng về sự việc này. Ngoài ra để cho đất Giao Chỉ không còn huyệt phát vua chúa nữa, Hán tộc đã âm thầm cướp trắng một phần đất của Giao Chi, trong đó có vùng châu Khâm động Cổ Sâm và xóa tan dấu tích để người dân Việt không còn phương cách truy cứu. Và sự việc này cũng không được ghi chép vào sử sách. Trong thời đại không gian điện tử hiện nay, nhiều người sẽ đánh giá câu chuyện kể trên thuộc vào loại hoang đường nhảm nhí. Tin hay không là tùy mỗi người, nhưng với chứng cứ và lý luận khó có thể phản biện như trên, trong tư cách là một người nghiên cứu phong thủy lâu năm, Thiên Đức trân trọng bố cáo: Trước trời đất và mọi người chứng giám rằng: Những âm mưu đê tiện của Mã Viện người Trung Quốc đã dùng thủ thuật phong thủy để ám hại dân tộc Giao Chỉ, nay đã được phơi bày ra ánh sáng. Phải chấm dứt ngay mọi uy lực của lời nguyền và trao trả hiệu quả thảm hại lại cho cố chủ. Cấp! Cấp! tuân lệnh! Để tăng thêm uy lực hóa giải lời nguyền của Mã Viện, khẩn mong các bạn có cơ duyên đọc bài viết này thì xin cho một lời nguyền rủa từ đáy lòng mình trả lại cho Trung Quốc là nơi xuất phát nguồn gốc của câu chuyện. Thiên Đức mong mỏi các nhà viết sử tiếp nhận thông tin này và tiếp tục làm sáng tỏ sự việc hòng trả lại sự thật cho lịch sử với cầu mong giải tỏa lời nguyền rủa gớm ghiếc để cho dân tộc Việt Nam có thể có những nữ anh hùng dân tộc trong tương lai vậy. Thiên Đức trân trọng trình báo. Nguồn: http://www.vnfa.com/aot/ot_tdmv.html
-
Nốt ruồi này nằm trên xương quai xanh mà, có phải vai đâu.
-
Anh Công Minh có đề tài này rất hay. Chờ anh post tiếp.
-
Mấy nét về cội nguồn - Văn minh văn hóa Việt Nam
phoenix replied to phoenix's topic in Cổ Văn Hoá Sử
Một vài đặc điểm của nền văn minh Việt Nam Trong lịch sử nhân loại có rất nhiều nền văn minh khác nhau. Nền văn minh Việt là một trong những nền văn minh ấy. Đó là nền văn minh không tạo nên sự kì vĩ bằng những công trình pha đầy máu và nước mắt như Kim Tự Tháp hay Vạn Lý Trường Thành. Nền văn minh Việt là sự kết hợp những tinh hoa trí tuệ của con người Lạc Việt, để lại những tri thức vô cùng to lớn mà đến nay người ta vẫn sử dụng. Nhà sử học người Anh, Arnold Toynbee chuyện nghêin cứu các nền văn minh nhân loại cho rằng : Trên thế giới có hàng trăm đất nước, hàng nghìn dân tộc mà chỉ có 34 nền văn minh. Nền văn minh Việt là một trong số đó. Nền văn minh Việt ra đời sau nền văn minh Triều 200 năm và trước nền văn minh Nhật 200 năm. Cả ba nền văn minh này đều có sự hấp thu một phần từ văn minh Trung Hoa cổ đại Một đặc điểm nổi bật đầu tiên của nền văn minh Việt là sự hình thành dân tộc từ rất sớm . Dân tộc Việt được hình thành từ sự cố kết các bộ tộc trong cuộc đời đấu tranh chống ngoại xâm và thiên tai dịch bệnh. Bởi vậy để tồn tại, ý thức dân tộc Việt đã được định hình từ rất sớm. Có thể nói từ sự thúc bách của cuộc sống và cuộc chiến đã tạo nên sự hình thành dân tộc Việt. Qua các thời đại, sự cố kết các dân tộc ngày càng chặt chẽ, những cuộc kháng chiến chống Tống, Nguyên, Minh.....đã đi vào huyền thoại, trở thành những thiên anh hùng ca bất hủ của dân tộc Việt. Một nét đặc biệt nữa trong nền văn minh Việt là "sự không chối từ " (chữ dùng của J.Fey). Nền văn minh Việt rất cởi mở trong việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm phong phú nền văn minh của mình. Đó là điểm xuyên suốt trong quá trình lịch sử dân tộc việt, có thể thấy rõ sự đan xen trong văn hóa Việt-Hán, sự hòa nhập trong văn hóa Việt-Pháp, và cả văn hóa Việt-Mỹ...Đó là sự hòa nhập chứ không phải hòa tan, một sự chọn lọc tất yếu của những tinh hoa văn hóa. Hơn nữa, Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, với một không gian văn hóa rộng lớn, sự pha trổnanh hưởng hấp thụ lẫn nhau là một tất yếu. Chính điều đó đã tạo nên sự thống nhất trong đa dạng của nền văn minh Việt. "Sự không chối từ" đó còn là tư tưởng không bài ngoại. Đã có rất nhiều tôn giáo tới Việt Nam và tôn giáo nào cũng tìm được cho mình những mầm mống tốt khi họ gieo những "hạt giống" vào vùng đất này. Các tôn giáo đến Việt Nam đều có những sắc thái riêng. Thật khó tìm được nơi nào trên thế giới có một Thiên Chúa giáo vừa thờ cúng Chúa vừa thờ cúng tổ tiên, và sẽ chẳng bao giờ thấy được một Hồi giáo như ở Việt Nam chỉ được lấy...1 vợ(!) (Đạo Hồi quy định là đàn ông có thể lấy 4 vợ). Đạo Phật đến với người Việt khá sớm, từ thế kỉ thứ II, đem tư tưởng sắc sắc không không và quan niệm vô thường trong cuộc đời, nhưng cũng đề cao sự tương cảm(compassion) giữa vạn vật và chúng sinh. Đạo Phật đã để lại dấu ân sâu đậm trong tâm hồn Việt. Ở Việt Nam luôn có tinh thần khoan dung(tolerance) và không hề có chiến tranh tôn giáo. Nói đến nền văn minh Việt còn là nói đến Hằng Số Mẹ. Hình ảnh người phụ nữ được đề cao, coi trọng và không có sự phân biệt nam nữ như nền văn minh Việt "tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ", "...Kìa dáng ai như dáng mẹ dáng chị tôi". Hình ảnh người mẹ, người chị đã trở nên rất thân thuộc trong cuộc sống thường ngày. Tín ngưỡng thờ nữ thần là một đặc trưng cơ bản của cư dân trồng lúa nước. Điều này ta sẽ không thể thấy đuợc trong nền văn minh Trung Hoa rộng lớn với tư tưởng Nho gia trọng nam khinh nữ, hay trong sự phân tầng xã hội bàlamôn một cách gay gắt như Ấn Độ. Và càng không thể tìm được trong nền văn minh trọng dương, ưa chinh phục, ưa mạnh mẽ như người phương Tây. Huyền thoại về mẹ Âu Cơ đã khơi nguồn cho sự ra đời của dân tộc Việt, người mẹ đã dẫn dắt dân tộc Việt lên non xây dựng cơ đồ. Chính vì thế chế độ mẫu hệ còn để lại chứng tích khá rõ nét trong đời sống xã hội của cư dân Việt. Có thể kể thêm một nét dặc sắc nữa trong nền văn minh Việt là ngôn ngữ Việt. Một ngôn ngữ với tiếng nói độc âm, có sáu thanh rất giàu nhạc điệu, đủ khả năng diễn tả mọi tư tưởng, tình cảm của người Việt. Trong không gian phương Đông bao trùm bởi sự ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn Độ, ngôn ngữ của Nhật, người Hàn đều là sự cách tân vay mượn từ ngôn ngữ Hán. Ngôn ngữ của người Thái, người Malaysia đề là ảnh hưởng của ngôn ngữ Ấn. Ngôn ngữ của người Việt đã có sự khác biệt bằng hệ thống chữ La tinh giữa bầu trời văn hóa phương Đông rộng lớn. Nền văn minh Việt còn là sự thấm đượm tư tưởng trọng thực tiễn, chứ không thực dụng. Người Việt rất coi trọng thiên nhiên, mỗi gốc cây là một vị thần, mỗi ngọn núi là một thần linh "núi có Thổ Công, sông có Hà Bá"... Chính bản chất coi trọng thiên nhiên nên người Việt luôn có ý thức bảo vệ, giữ gìn thiên nhiên. Đó không phải là tư tưởng thần bí (Mystique) hay tư tưởng siêu hình (pensée métaphysique). Sự gần gữi với thiên nhiên đã giúp người Việt bám trụ được với mảnh đất đầy bão lũ khắc nghiệt. Tục thờ cúng tổ tiên cũng là nét riêng, rất đặc sắc trong nền văn minh Việt. Đây còn là một mặt của chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam. Tục thờ cúng tổ tiên là sự thấm nhuần lòng yêu thương con người, sự biết ơn đối với cha anh. Không những thế, đó còn là lòng kính trọng đối với những vị anh hùng dân tộc như : Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Hồ Chí Minh ..... Tục thờ cúng tổ tiên đã ăn sâu vào tâm hồn Việt, nó không phải tôn giáo mà là một nét riêng trong bản sắc văn hóa Việt. Ngày nay, trong xu thế hội nhập với thế giới, mỗi dân tộc cần nhìn nhận lại mình trước khi tham gia vào cuộc chơi. Vốn liếng của mỗi dân tộc không gì khác hơn nền văn minh của chính họ. Dân tộc Việt cũng vậy, chúng ta cũng có một nền văn minh thật tuyệt vời, điều đó đòi hỏi mỗi con người đất Việt phải biết gìn giữ và phát huy. Làm sao trong quá trình hội nhập vào đại dương nhân loại, soi xuống đó ta vẫn thấy được hình bóng của ta, vẫn thấy được dáng dấp của cây tre mảnh mai gầy guộc nhưng đầy sức sống đến lạ kì như chính Việt Nam ta vậy!!!!!!!! Ngô Xuân Nghĩa (Đại học khoa học Huế) (Trang 42-43-44 cuốn tạp chí Kiến thức ngày nay, số 547) -
Mấy nét về cội nguồn - Văn minh văn hóa Việt Nam Nửa đầu thiên niên kỷ thứ I trước công nguyên, nghĩa là nhà Tần chưa nổi dậy, trước cuộc chinh phạt phương Nam của Tần Thủy Hoàng, miền Bách Việt phương nam chưa tiếp xúc với người trung nguyên Hoa Hạ, Trung Quốc, "vào thời kỳ này trong sự nhận thức của các sĩ phu phương Bắc, họ mới chỉ biết đến nước Việt của Câu Tiễn. Sau này trong quá trình tiếp xúc, bằng nhiều con đường khác nhau, họ dần dần biết thêm các nước khác nhau ở khu vực này mà trước tiên là Ðông Âu (lấy tên con sông Âu mà dân nước này cư trú ven bờ), là một nước khá hùng mạnh cho nên người Trung Nguyên bấy giờ thường dùng từ Âu để chỉ các nhóm người Việt sống ở Lĩnh Nam..." (Ðặng Kim Ngọc, "Vấn đề Việt Nam trong lịch sử cổ đại và trong sử sách Trung Quốc và Việt Nam", Nghiên cứu lịch sử số 6 (231), 1986 tr. 51). Căn cứ từ các nguồn tài liệu giá trị trong cổ thư Trung Quốc, tác giả Ðặng Kim Ngọc trong bài khảo luận kể trên, khảo cứu từ các bộ "Thượng Thư", "Chu Lễ" và "Quốc Ngữ" về các chư hầu của nhà Chu. Vào thời kỳ này, Âu Việt hay Âu Thục vẫn còn tồn tại ở miền Trung (tỉnh Tứ Xuyên ngày nay), một vùng núi non chập chùng phía thượng lưu Mâu Giang ( thời Tam Quốc là ích châu). Theo cách phân chia chư hầu, thì Âu Việt chưa phải là chư hầu của nhà Chu (1122 - 221 trước công nguyên). Các dân tộc chung quanh lãnh thổ Hán tộc, người Hán gọi là Bắc Ðịch, Tây Nhung, Ðông Di và Nam Man. Bộ tộc Âu Việt cùng một hạng với Tây Nhung. Các vua Hán tự xưng là thiên tử (con trời), đặc ra hệ thống ngũ phục. Phục là phục vụ thiên tử. Sách Chu Lễ mục Quan Chức thì viết rõ: "Phục: Phục sực thiên tử dã", nghĩa là Phục tức là làm việc cho thiên tử vậy. Nhà Chu lấy kinh đô (kinh sư) làm trục trung tâm tức lấy nơi thiên tử ở làm chuẩn (lấy Hàm Dương, kinh đô Tần Thủy Hoàng hay Trường An đời Hán đều ở tỉnh Thiểm Tây ngày nay). Nước chư hầu ở cách kinh đô 500 dặm gọi là "điện phục", nước ở cách kinh đô 100 dặm gọi là "hầu phục", "yêu phục" hay "hoang phục" ở cách xa kinh đô từ 1500 đến 2000 dặm. Theo sách Hoa Dương Quốc Chí đời Tấn (q.1 và q.13), nước Thục tức Âu Việt ở phía đông, liền với nước Ba, phía bắc thành Ðô (ích châu), phía nam là nước Việt (Tây Thi gái nước Việt và Việt Vương Câu Tiễn). Như vậy nước Thục thuộc về hoang phục. Nước Văn Lang của tộc Lạc Việt ở phía Nam dãy Ngũ Lĩnh, không thuộc ngũ phục, nghĩa là không nằm trong khu vực chư hầu Trung Quốc dù là hoang phục. Lãnh thổ Lạc Việt - Bách Việt ở phía Nam Ngũ lĩnh. Theo ngọc phả đền Vua Hùng do Tiến sĩ Nguyễn Sỹ Cố soạn năm Hồng Ðức thứ 2 (1471): "Hùng Vương bách noãn tiên cung thủy bộ linh thần" và bản "Hùng đô thập bát điệp thánh vương" soạn năm 1472, ghi rõ 15 bộ sách của nước ta thời Văn Lang trong đó có bộ Ai Lao Di (không phải nước Ai Lao ngày nay), bộ Quảng Ðông và bộ Quảng Tây. Phục cũng có nghĩa là triều cống. Văn Lang ở ngoài ngũ phục tức không triều cống thiên tử Hán tộc. Cho nên sách Thiên Nam Ngữ Lục, bộ thi sử cây 137 - 138 viết: "Ắt còn dòng dõi thiên hương Ðã ngoài ngũ phục khả phương trạch người" (ý nói, Lạc Long Quân tuy ở ngoài cõi ngũ phục, vẫn là dòng dõi thiên hương, vẫn chọn được nàng Tiên Âu Cơ, con vua Ðế Lai làm vợ). Người Quảng Ðông cho đến nay vẫn tự nhận mình là Việt nhân (chữ Việt nhân Quảng Ðông thuộc bộ mễ, Việt trong Việt Nam thuộc bộ tẩu). Trước đời Tần Thủy Hoàng (221 - 209 trước công nguyên), Lưỡng Quảng hay Lĩnh Nam thuộc cương vực Văn Lang "kể từ thời Tần Thủy Hoàng để chinh phục Bách Việt phương nam, dân Hoa ở trung bộ di cư xuống Quảng Ðông từ Tây An, dọc theo Hán tử xuống Hán tử xuống Tây Giang đến Quảng Ðông. Ðến đời Ðông Hán trào lưu di cư xuống Quảng Ðông mới mạnh. Ngay trước thời nhà Hán (206 trước công nguyên - 220 sau công nguyên), miền Quảng Tây còn ở ngoài phạm vi ảnh hưởng Trung Hoa và theo đấy thì ít có ảnh hưởng Hán học" La Hương lâm (giáo thụ), "Sự bành trướng văn hóa Trung Hoa về phương Nam và sự phát triển học thức ở Quảng Ðông", Khảo cổ Tập san số VIII, Sài Gòn 1974 tr. 115 - 142, bản dịch của Giáo sư Nguyễn Ðăng Thục). Cương vực Bách Việt - Lạc Việt: Từ Hoa Nam đến Ninh Thuận. Dân Lưỡng Quảng tuy Hán hóa nhưng vẫn có riêng văn học và truyền thống Lưỡng Quảng. Người Quảng Ðông cho đến nay vẫn dùng tiếng Quảng Ðông, Bạch Thoại (hay Quan Thoại) là ngôn ngữ thứ hai mặc dầu là ngôn ngữ chính thức của Trung Quốc. Nhiều học giả Tây Phương như Aucohrt lại ngộ nhận "Người Việt Nam gốc ở Trung Hoa. Năm 334 trước công nguyên bị dồn xuống phương Nam". Ðiều này đúng một phần, như tộc Thục Âu Lạc bị dồn xuống phưong Nam từ thượng lưu sông Mân Giang. Nhưng Lạc Việt là dân bản địa, cương vực trải dài từ phía Nam hồ Ðộng Ðình cho đến Cửu Chân, Nhật Nam (Việt Thường). Phan Rang ngày nay coi là ngoài biên. (Về Bình Thuận, Ninh Thuận, Ðại Nam Nhất Thống Chí, phần "kiến trí duyên cách" chép: "Ðất đây nguyên xưa là nước Nhật Nam ở kiến ngoại (ngoài biên) sau là đất của Chiêm Thành" (Ðại Nam Nhất Thống Chí, q.XII, tỉnh Bình Thuận, tr.7). Chẳng phải một tộc Âu Việt phiêu dạt về phương Nam, các tộc Liêu Ðiền (Quý Châu, Vân Nam) cũng phải chạy về phương Nam cũng như các tộc Thái, Tày, Mèo (Miêu), Dao đều thuộc dòng Tầy Thái Bách Việt (chữ Thái theo thuyết văn cắt nghĩa là một giống cỏ, có thể đây là loại ngũ cốc như kê và lúa trồng ở sườn đồi theo kiểu đốt rẫy nên có bộ hỏa. Thái là tiếng cổ của nước Thục (Âu Việt) ở Tứ Xuyên được phiên âm ra Hán). Học giả Aucohrt cho rằng, năm 334 người Việt ở bên Trung Hoa bị dồn xuống phía Nam, không thấy tác giả nêu lên biến cố lịch sử nào để lấy năm 334 làm điểm mốc. Ông cho rằng giống Việt ở Trung Hoa biến mất chỉ còn lại giống Việt ở Việt Nam duy trì bản sắc riêng (P. Aucohrt, "Les Annamites avant la dynastie chinoise des Han" Les Revue Indochinoise, TXL n 9&10, 1923, tr.229-249). Nhận định trên đây rất xác thực. Lấy dân tộc Nùng làm thí dụ, địa bàn cư trú thời viễn cổ ở miền Lưỡng Việt tức là các dân tộc Ô Hử, Lái, Lạo trong dòng Bách Việt. Người Nùng, theo học giả Pháp Aurousseau là con cháu của người Tây Âu Lạc Việt (L. Aurousseau, "La premiere conquete des chinois des pays annamites", BEFEO, tr. XXIII, 1923). Dân Nùng có mặt ở thượng du vào thế kỷ cuối trước công nguyên, tiếp tục di cư vào Việt Nam cho đến đời nhà Tống (960-1279) và mãi sau này. Nhờ vậy còn bảo tồn được văn hóa, truyền thống và ngôn ngữ cũng như có riêng văn tự là chữ nôm Tày, Nùng... Những tộc Việt còn sống sót ở Hoa Nam đều đã bị Hán hóa. Hoặc trở thành thiểu số như dân tộc Choang ở Quảng Tây. Dân Choang (dòng Bách Việt) phiêu bạt đến bắc Diến Ðiện, là tổ tiên của người Shan Diến Ðiện. (xem Từ Tùng Thạch, Việt Giang lưu vực nhân dân xứ, Trung Hoa thư cục xuất bản, Bắc Kinh, 1941). Nùng tuy là một tộc riêng nhưng có nhiều quan hệ lịch sử với tộc Choang và cùng một huyết hệ Bách Việt. Quảng Tây một số nhóm Nùng như Dù Nùng được coi là dân tộc Choang (xem Y Quần, Ngã quốc dân tộc giản giới, Dân Tộc Học xuất bản, Bắc Kinh, 1958). Chúng tôi trình bày dài dòng như trên là chủ ý để nói rõ rằng ta chỉ ảnh hưởng văn minh học thuật Trung Quốc kể từ thời Triệu Ðà với nước Nam Việt (207-111 trước công nguyên). Nhưng ảnh hưởng ấy chưa đáng kể. Giao Châu dưới thời đô hộ Hán cho đến thế kỷ đầu công nguyên vẫn là bầu trời riêng. Năm 43 sau công nguyên, Mã Viện dẹp xong cuộc tổng khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, y dâng biểu lên vua Quang Vũ (25-57) nhà Ðông Hán, trong tờ biểu, Viện tâu rằng "Luật Việt so với luật Hán vẫn có 10 điểm khác nhau (hậu Hán thư, q.54 - Mã Viện liệt truyện, dẫn bởi Vũ Văn Mẫu. Cổ Luật Việt Nam Lược khảo, Sài Gòn 1970, q.1, tr. 61-62). Như vậy, sau 155 năm kể từ năm 111 trước công nguyên, nhà Tây Hán cướp nước Nam Việt, luật Việt vẫn còn tồn tại. Tính từ triều đại nhà Thục nước Âu Lạc (257-207 trước công nguyên). Trở về thời vua Hùng Văn Lang, Nam Bắc còn cách ly rất rõ rệt, ta chưa từng chịu ảnh hưởng văn minh học thuật Hoa Hán. Ta có riêng lịch phép (tất nhiên là còn sơ giản), ta đã có kiến thức về thiên văn và một nền dịch ý phương Nam qua đạo vuông tròn, thuyết âm dương và cờ ngũ hành với thuyết ngũ hành. Ðạo Tiên, Ðạo Mẫu và tín ngưỡng thành hoàng, đạo thờ tổ tiên là sản phẩm tinh thần của Lạc Việt phương Nam và của Bách Việt, khởi từ văn minh Sở Việt. Họ Tầu và họ Việt Ta thường có thói quen, thấy ai mang họ hơi khác với người Việt đã vội cho đó là họ Tầu như họ Mâu, họ Sử, họ Phù... Lại có người cho rằng, dưới thời đô Hán, vì chưa có chữ nôm, một số họ Việt đã bị Hán hóa do nhu cầu hành chánh của đô hộ Hán. Ðiều này chỉ là phỏng đoán. Họ Trưng, họ Hoàng, họ Thi vẫn còn tồn tại cho đến thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa. Dân tộc Mường vẫn duy trì họ Việt cho đến nay như họ Quách, họ Hà, họ Cầm... Các dòng họ cổ còn tồn tại đến nay như họ Tiêu, họ Chử, họ Sử... có thể là một số họ không thể chuyển tả qua chữ Hán nên đã bị Hán hóa theo âm. Bộ Trung Quốc Tính Thi Tập của Ðặng Hiến Kim xuất bản ở Ðài Bắc năm 1971 trong đó lược kê được 5652 họ, có họ tên đôi, ba, tên bốn, tên năm. Họ đơn chỉ có một tên như họ Lý thì rất nhiều (năm 1995, Bắc Kinh thống kê cho biết có vào khoảng 80 triệu người họ Lý ở Hoa Lục. Hàng năm họ Lý ở Hoa Kỳ tổ chức đại hội tại Boston). Có những họ lấy bộ tộc làm họ như họ Nùng, như Nùng Trí Cao triều Lý (sau họ Nùng đổi thành họ Nông). Như họ Khương (dân tộc Khương) hay lấy tên một miền như họ Tống (thuộc nước Tống). Người họ Lý Hoa Nam thuộc Thái, Nùng, Tầy lấy tên bộ tộc làm họ (nước Lý, hậu thân của nước Nam Chiếu ở Vân Nam thuộc tộc Thái). Toàn Thư ghi họ Lý của các vua triều Lý là từ bên Tầu qua, thực ra là từ Lĩnh Nam. Từ bên Tầu qua chưa phải là dân Hoa Hán. Một số họ ở Hoa Nam như Trần, Sử, Thi, Triệu... là dấu tích thị tộc Bách Việt.Họ Lý gốc là dân tộc Lý (trong dòng bách Việt, nước Ðại Lý, nay là Vân Nam). Họ Liêu, gốc từ dân tộc Liêu (dòng Bách Việt). Hoặc lấy tên của ông thủy tổ làm cho họ như họ Tư Mã, họ Công Tôn... Trong số gần 6000 họ Trung Hoa, có 2000 họ đôi, 120 họ ba chữ, 6 họ gồm 4 chữ, 3300 họ đơn, trong số này chỉ có vào khoảng vài trăm họ thấy trong các họ Việt Nam nhưng thông dụng thì chỉ có vào khoảng vài chục họ. Ta có họ Trần khá phổ thông thì Tầu cũng có họ Trần. Tầu có họ Bạch, họ Sử, họ Phù, họ Giang, ta cũng có những họ này nhưng rất ít. Dân tộc Mường cũng có họ Bạch. Họ Bạch Việt Nam tuy hiếm nhưng nhiều người đậu đạt cao. Trạng nguyên Bạch Liêu, người làng Nguyễn Xá, Nghệ An, đậu Trạng nguyên kỳ thi Thái Học sinh (Tiến sĩ) đời vua Trần Thái Tôn năm 1266 (Ðại Nam Nhất Thống Chí, Cao Xuân Dục, Tổng tài biên soạn, q. 14 & 15, Bộ văn hóa giáo dục Sài Gòn. 1965, tr. 122) Họ Cao ở Nghệ An, theo thể phả, thủy tổ là ông Cao Lỗ, gốc Ngòi Sảo, Bắc Ninh, người đã chế tạo ra nỏ liễn mà Triệu Ðà gọi là nỏ thần. Họ Cao di ra Thăng Long rồi từ Thăng Long vào Nghệ An, sau một hệ trở ra Sơn Nam (Nam Ðịnh) định cư tại đây. Thám Hoa Cao Quýnh đậu Tiến sĩ (cập đệ, đệ tam danh) triều Lê Thánh Tôn năm 1415 là hậu duệ của Thủy tổ Cao Lỗ, không dính dáng gì đến họ Cao của Tầu Ðại Nam nhất Thống Chí, sđd, tr.126) Một số họ Lý ở Bắc Ninh, đồng bằng sông Hồng và Thanh Nghệ Tĩnh hiện nay, không có gốc gác thân tộc bên Tầu (hoặc là do trải qua nhiều đời rồi đã Lạc Việt hóa). Họ Lý thuộc các vua triều Lý sau khi bị Trần Thủ Ðộ cướp ngôi cho nhà Trần, buộc phải đổi họ Lý thành họ Nguyễn với lý do "kỵ húy" ông tổ của họ Trần là Trần Lý. Nhưng nhiều hệ họ Lý không liên hệ với hoàng tộc nhà Lý thì vẫn duy trì họ Lý mà nhà Trần cũng không bắt tội. Phần chú, Việt Lược Sử Lược, ghi: "Theo sách Mộng Kê Bút Ðàm của Thẩm Hoạt đời Tống thì Lý Công Uẩn gốc là người Mân (Phúc Kiến). Tiến sĩ Từ Bá Tường, người Quảng Tây, nhà Tống trong thư gửi cho Công Uẩn cũng nói: "Tiên thế đại vương vốn là người đất Mân. Tôi nghe nói công khanh ở Giao Chỉ cũng nhiều người đất Mân" (Việt Sử Lược, bản Hán văn, q.II, tập 1ab, bản dịch Trần Quốc Vượng, tr. 64 "Về nhà Lý" xem "Cương Mục chính biên" q.II tr.4 - Toàn Thư bản kỷ, Kỷ nhà Lý, q.II, tr.1a) Mân là Mân Việt, cũng như dân Lưỡng Quảng thường gọi là Việt Ðông (như Từ Hải, một nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du "Họ Từ tên Hải vốn người Việt Ðông"). Họ Lý Mân Việt là họ Lý Việt tộc cũng như họ Lý hiện nay ở Quảng Tây, dân tộc Choang và họ Lý dân tộc Nùng đều là họ Lý Việt tộc (Âu Việt). Nếu gán ghép họ Lý Lạc Việt, họ Lý Mân Việt, họ Lý Việt Ðông và họ Lý Âu Việt (Tày Nùng - Choang) với họ Lý Tầu (Hoa Hán) là điều hết sức sai lầm. Dân tộc Mường cũng có họ Cao, theo tài liệu của một Quan Lang tỉnh Hòa Bình "Quan Lang khởi tổ từ cuối đời Văn Lang là những con thứ, cháu thứ nhà vua chia phong cho họ Ðinh, họ Quách, họ Bạch, họ Xậ, họ Cao, sáu họ làm quan lang" (Quách Ðiền, "Quan Lang Hòa Bình về thời thượng cổ" Nam Phong tạp chí số 100, tháng 10 & 11, 1925).Ðại Nội Huế Họ Sử tỉnh Hà Tĩnh không liên hệ gì với họ Sử bên Tầu. Sử Hy Nhan, quán làng Ngọc Sơn, huyện Can Lộc, trạng nguyên đời vua Trần Duệ Tôn (1372-1377) ông đậu khoa Tiến sĩ năm 1374 (năm đầu tiên của học vị tiến sĩ, được gọi là Thái Học sinh). Ông Trạng Hy Nhan "không sách nào là không đọc nên vua đặt họ là họ Sử (Ðại Nam Nhất Thống Chí, sđd, q.13, tỉnh Hà Tĩnh, tr.88) Tìm trong "Trung Quốc Nhân Danh đại từ điển" ta sẽ thấy nhiều danh từ gốc Bách Việt nếu đem so với bộ "Bách Việt tiên hiền chí" mà Linh mục học giả Vũ Ðình Trác đã sưu tầm được. Trong bộ tự điển đồ sộ này, ta tìm thấy danh nhân Khương Công Phụ, tưởng đâu là người Hán. Khương Công Phụ là người Việt, sinh quận Nhật Nam (Nghệ Tĩnh bây giờ) qua Tầu du học, đậu tiến sĩ đời vua Ðường Ðức Tôn (780-804) làm quan Hàn Lâm Học sĩ, thăng đến chức Gián Nghị Ðại Phu đồng trung thư môn hạ bình chứng sự, đại thần triều đình (Trung Quốc Nhân danh đại triều, Thượng Hải, Thương vụ ấn thư quán xuất bản, tr. 644). Khương Công Phụ nổi danh triều nhà Ðường với "Ðối Ðình Sách" tức luận án tiến sĩ của ông trong kỳ thi Ðình do vua Ðường Ðức Tôn chủ tọa nên rất được vua Ðường trọng dụng. Danh nhân Khương Công Phụ nổi danh trong văn học giới nhà Ðường với bài phú "Mây trắng rọi bể xuân", Giáo sư Bùi Cầm đã dịch qua Việt văn (xem Bùi Cầm, Khương Công Phụ, bài phú Mây Trắng Rọi Bể Xuân, bản Hán văn và bản dịch - văn Hóa tập san số 54, tháng 9, 1960, tr. 1116). Ðọc Pháp Hoa Tâm Muội của Khương Tăng Hội, ta sẽ dễ ngộ nhận cho rằng chắc nhà sư này là người Tầu. Nhưng đấy là một nhà sư Trung Á nước Khương. Theo Pelliot, "Ðầu thế kỷ thứ ba trước công nguyên, cũng tại Bắc Kỳ, vì mục đích buôn bán mà gia đình Nguyệt Thị Khang Tăng Hội (Pelliot dịch là Khang) đã định cư. Khang Tăng Hội về sau đã là một trong dịch giả trứ danh về kinh Phật sang chữ Hán. Vẫn ở Bắc Kỳ năm 226 Tần Luận, người La Mã đã tới. Chắc hẳn cũng ở Bắc Kỳ vào năm 255 đã hoàn thành bản dịch sang Hán văn đầu tiên bộ kinh Phật Pháp Hoa Tam Muội" (xem Paul Pelliot, tựa dẫn "Mâu tử hay lý hoặc luận", Khảo cổ tập san, số VII, 1971, tr. 31) Thủ đô Bắc Kinh xây từ triều nhà Minh (1368-1644), Trung Quốc rất tự hào với đàn Nam Giao và Tử Cấm Thành, một kiến trúc vĩ đại của Á Ðông. Danh nhân Nguyễn An, người Việt, là kiến trúc sư vẽ kiểu dựng kinh đô Bắc Kinh. Nguyễn An, người phiên âm ra tiếng Quan Thoại hay tiếng Quảng Ðông, và viết chữ Hán, thì ông là người Tầu. Và cũng chẳng bao giờ Trung Quốc nêu danh tánh ông là người Việt (xem Nguyễn An, một người Việt Nam dựng thành Bắc Kinh, Ðông Thanh số 1, tháng 7, 1932, tr. 53-55). Nguồn gốc Giao Châu của Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Hoa Nam Khảo cứu và trình bày về nền nhân chủ nhân văn Phương Ðông mà Việt Nam là tụ điểm giao lưu, trước hết phải trở về cỗi nguồn văn minh văn hóa và truyền thống Việt tộc khi chưa chịu ảnh hưởng văn minh học thuật Hoa Hán. Ngay như Phật giáo Việt Nam cũng phải trở về cỗi nguồn từ thưở Luy Lâu, đầu công nguyên. Ngày nay đã có nhiều tài liệu giá trị và khả tín cho thấy Phật giáo truyền vào Việt Nam trực tiếp từ các nhà sư Ấn Ðộ Luy Lâu, thủ phủ của đô hộ Hán cũng là trung tâm Phật giáo đầu tiên của Giao Châu và toàn vùng Hoa Nam. Giáo sư Ðại Ðức Lê Mạnh Thát trong một công trình sưu khảo công phu, có thể nói rất có giá trị, qua các tài liệu thật phong phú đã cho ta thấy rõ điều mà tôi nêu trên. Qua công trình của Giáo sư Lê Mạnh Thát, ta có thể nói Phật giáo Giao Châu là cội nguồn khởi thủy của Phật giáo Việt Nam và miền Nam Trung Quốc (xem Lê Mạnh Thát, "Phật giáo truyền vào nước ta từ lúc nào ?" (Tạp chí Tư Tưởng, Ðại học Vạn Hạnh, Sài Gòn số 5 & 6 tháng 7 & 8, 1973 và số 7 tháng 9, 1973, số 8 tháng 11 & 12, 1973)). Tìm về Phật giáo Việt Nam thời mở đầu công nguyên, từ thế kỷ thứ nhất, ta sẽ thấy đây là nền Việt Phật với nhiều sắc thái đặc thù và độc đáo. Chùa Dâu là ngôi chùa đầu tiên của Việt Nam được xây cất từ đầu thế kỷ thứ 3, tọa lạc trên làng Dâu, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành. Chùa còn có tên là Thiền Ðịnh, Duyên Ứng, Pháp Vân. Có lẽ phải nói đây là ngôi chùa còn tồn tại từ thời Hán thuộc đến nay. Theo truyền thuyết và dã sử trong dân gian thì một số nữ tướng của Hai Bà Trưng ở chùa. Vậy thì thời gian những năm 40-45, Giao Châu đã có chùa Phật giáo (xem Cao Thế Dung, Việt Nam Bình Sử Võ Ðạo, q. 1, nxb. Tiếng Mẹ, Phoenix 1993, tr. 2270). Chùa Bà Dâu ngoài thờ Phật còn thờ Man Nương tức bà Pháp Vân gắn liền với huyền tích Man Nương, người làng Mãn Xá, tu ở chùa Linh Quang, thụ giáo Thiền sư Khâu Ðà la người Thiên Trúc (Ấn Ðộ). Dân làng Dâu tạc tượng thờ Bà ở chùa Thiền Ðình, lại tạc tượng Pháp Vũ tức Bà Dậu thờ ở chùa Thành Ðạo, tượng Phi Tướng. Tượng Pháp Ðiện tức Bà Ðàn thờ ở Chùa Phương Quang. Chùa có cả tượng thờ Kim Ðồng, Ngọc Nữ, khuôn dáng y phục và phong cách Việt Nam (Chùa Dâu, Chùa Ðàn, xem Võ Văn Tường, Việt Nam Danh Lam cổ tự, nxb. KHXH, Hà Nội 1972, tr. 43). Lý Hoặc Luận, tác phẩm đầu tiên của Phật giáo Á Ðông viết bằng Hán tự lại do Mâu Bác viết tại Luy Lâu, Giao Châu. Học giả Pháp Pelliot viết về Mâu Tử và Lý Hoặc Luận như sau: "Chắc hẳn ông sinh ở Thương Ngô tức Won Tcheon trên Tây Giang (Si Kiang) hiện tại. Ông lui xuống Bắc Việt ở với mẹ chắc hẳn ngay trước khi vua Linh Ðế băng hà". Mâu Từ với Lý Hoặc Luận tức là luận về sự nghi hoặc. Pelliot dịch ra Pháp văn là "Meou Tseu ou les doutes levées". Về tác phẩm này, Pelliot viết: "Các loại tác phẩm như thế tôi không từng thấy trong văn chương Trung Hoa trước thời Mâu Bác có tác phẩm nào giống hệt cả". Giao Châu thời Mâu Bác là nơi tụ hội các danh sĩ Trung Quốc. "Trong thời rối loạn cuối thế kỷ thứ hai ở lục địa Trung Hoa, đất Bắc Việt (Giao Chỉ) là nơi còn hòa bình yên ổn. Nhiều học giả di cư đến đấy mà sự tò mò trí thức của họ thấy điều kiện thuận lợi cho sự hỗn tạp các dân tộc và tín ngưỡng khác nhau do hoạt động thông thường đã đến đấy tụ hội". Văn đối đáp của Mâu Tử không giống văn đối đáp của triết gia Trung Hoa thời cổ. Sau Mâu Tử, và nhất là từ thế kỷ IV người ta thấy xuất hiện nhiều tác phẩm khác cùng loại ấy. Nhưng không có tác phẩm nào giàu biện chứng như thế và có lẽ vì thế mà không một tác phẩm nào được phổ thông bằng tác phẩm Mâu Tử (xem: Mâu Tử hay Lý Hoặc Luận, tựa dẫn của Pelliot, Khảo cổ tập san số VIII, Sài Gòn 1971, tr. 29). Mâu Bác sinh ở Thương Ngô, địa bàn cư trú của dòng Bách Việt xưa ở cõi Lĩnh Nam. Cửu Ca Sở Từ: Văn chương Việt tộc không phải của Tầu "Cửu Ca" là những bài hát dùng trong việc tế tự của dân nước Sở gồm 11 thiên, mỗi thiên dành cho một vị thần. Thiên sau cùng gọi là Lễ Hồn là bài hát tống (tiễn) thần. ở nước Sở và các nước bị Sở thôn tính, đạo đồng bóng rất thịnh hành. Sách "Cổ Ðiển Học Hân Thưởng" mô tả Cửu Ca của nước Sở như sau: "Ðồng cốt có nhiệm vụ câu thông giữa người và thần, khéo múa hát, cho nên đạo đồng bóng đạt đến một trình độ nhất định có thể xúc tiến sự phát triển nghệ thuật. Cửu Ca do đó mà sản sinh. Cửu Ca đã phản ảnh lòng nhiệt ái về việc sanh sôi nẩy nở và ý muốn trưng cầu hạnh phúc của nước Sở, đồng thời cũng phản ánh niềm sùng kính của họ đối với những người đã hy sinh cho tổ quốc, lời lẽ thanh tân tú lệ, cảm tình sung mãn, chân thật. Tuy Khuất Nguyên có góp tài hoa vào đó nhưng nói về việc thành tựu thì nên qui công cho thi sĩ vô danh trong dân gian" (sđd, tác giả vô danh, do Phục Hán ấn hành, Ðài Loan 1964, tr. 172. Giáo sư Bùi Cầm dịch và chú thích). Cửu Ca là nhạc chương tôn giáo của dân tộc Sở đã có trước thời Khuất Nguyên, ông chỉ là người sửa lại, bỏ đi những lời quê mùa. Các học giả Hoa Lục, Ðài Loan và Nhật Bản đều nhất trí về ý kiến Cửu Ca là của dân tộc Sở. Nước Sở thuộc giống Bộc, Lão tức Việt tộc. Chính vua nước Sở là Hùng Cừ đã nói: "Ta là man di, không cùng hiệu thụy với Trung Quốc" (xem Tư Mã Thiên Sử ký, q. 40, tr. 3b).Cổ thư Trung Hoa gọi chung Việt tộc là Bách Bộc hay Di Lão, Khảo Bộc, Chủ Lão, Cưu Lão, Cửu Lê, sau mới phân ra, gọi giống Việt ở Tây Nam là Bách Bộc, ở Ðông Nam là Bách Việt. Thời viễn cổ, miền Hồ Bắc và Hồ Nam Trung Quốc ngày nay là lãnh thổ của người Bộc, Lão. Theo cổ thư, Bộc, Lão và Việt cùng một giống. Ðịa bàn cư trú của Bộc, Lão bao gồm cả tứ Xuyên, Vân Nam và Quý Châu ngày nay. Cổ thư về đời Ðường, Bộc còn gọi là Bặc. Thời Ðường (618-906) ở quận Kiều Vi (Tứ Xuyên ngày nay) vẫn còn là khu vực của người Bặc, ở đây có trống đồng, hát và diễn tấu trống đồng (Việt tộc). Các điệu hát của dân Bặc, người Tầu gọi là Di Ca (Di ca đồng cổ bất thương sầu - Trống đồng hát rợ cho lòng buồn thương). Hiện nay ở Hoa Nam còn sót lại một số tộc Việt như người Lão ở Hoa Nam vẫn còn tồn tại tục đánh trống đồng, hát, khấn vái và cầu chúc, thường dùng chữ "tá" làm tiếng đệm, là chữ quen dùng trong Sở Từ. Sách Hậu Hán Thư - Dạ Lang truyện có nói đến giống Di Lão. Sách Hoa Dương Quốc Chí, Nam Trung Chí chép rằng ở huyện Ðàm Hòa, quận Kiến Ninh có người bộc Lão, huyện Linh Châu có người Chủ Lão, quận Vĩnh Xương có Mâu Bộc, Cưu Lão, Phiêu Việt, Khoa Bộc. Nước Sở vào đời vua Hùng Dịch, kinh đô ở Ðơn Dương (huyện Tỷ Quy, tỉnh Hồ Bắc) sau dời đến Kinh Sơn (huyện Nam Chương, Hồ bắc). Theo sách Thũy Kinh Chú, Sở Văn Vương dời đô từ Ðơn Dương đến đất Dĩnh. Như trên đã trình bày sơ lược Trung Quốc rất tự hào về Sở Từ với Cửu Ca và khúc Ly Tao của Khuất Nguyên, coi đó là những áng văn chương trác tuyệt của văn học cổ Trung Quốc nhưng lại là của Việt tộc. Học giả Lăng Thuần Thành nghiên cứu về trống đồng và Sở Từ Cửu Ca đã đi đến kết luận: Cửu Ca chính là nhạc chương của dân tộc Bộc Lão (Việt tộc). Dân tộc Bộc Việt (hay Lão Việt) là chủ nhân của các trống đồng chẳng những ở Việt Nam ngày nay mà trống đồng còn khởi nguyên ở miền trung du Trường giang (sông Dương Tử) quanh vùng đầm Vân Mộng (hai tỉnh Hồ bắc và Hồ Nam). Một số tác giả cổ thư Trung Quốc cho rằng Khuất Nguyên sáng tác Cửu Ca, trong Khuất Nguyên Ngoại Truyện của Thẩm Á Chí đời Ðường cho rằng: Khuất Nguyên đã từng đi chơi vùng sông Nguyên và sông Tương, dân ở đó có tục thích cúng tế, làm nhạc ca để vui lòng thần, lời rất quê mùa, ông nhân đó ở lại núi Ngọc Tử để làm Cửu Ca. Thực ra Khuất Nguyên chỉ sửa lại Cửu Ca của người đồng tộc. Chu Hy trong sách "Sở Từ tập Chú" viết một cách rõ rệt: Ngày xưa, ở ấp Dĩnh nước Sở, giữa khoảng sông Nguyên và sông Tương, dân ở đó có tục tín ngưỡng thờ thần (quỷ đây chỉ linh hồn mà không phải quỷ trong nghĩa ma quỷ) và thích thờ cúng. Mỗi khi cúng tế thì khiến đồng cốt hát múa để làm vui thần (...). Khuất Nguyên sau bị phong trục (bị đày) thất thế mà cảm nên mới sửa lại lời ca, bỏ những chữ quá đáng" (Ghi chú về Chu Hy (1130-1200) một triết gia danh tiếng Trung Hoa đời nhà Tống, người tỉnh An Huy, đậu Tiến sĩ năm 18 tuổi, làm quan được ít lâu thì bỏ về, mở trường dạy học ở Phúc Kiến nên người đời sau gọi học phái của ông là Mâu Phái, tác giả các bộ Dịch bàn nghĩa, Dịch học khải mông, Tứ thư thập chú, Văn tập, Ngũ lục, Gia lễ...). Cửu Ca có 11 bài, sao gọi là Cửu Ca? Trong Sở Từ Sớ, Lục Thời Ung cho rằng "Quốc thương" và "Lễ hồn" là hai bài không thuộc Cửu Ca. Trong "Chiêu Minh Văn Tuyển" thì chỉ có Cửu Ca, không có Quốc thương và Lễ hồn. Riêng Quốc Thương là bài hát của người nước Sở dùng để cúng tế những chiến sĩ đã chết vì tổ quốc. Người xưa chết non (chưa quá 20 tuổi) gọi là Thương. Thương trong Quốc Thương chỉ trai tráng đã bỏ mình nơi chiến trường. Quốc Thương thể hiện tinh thần yêu nước và lòng sùng kính của dân Sở đối với anh hùng của dân tộc "vị quốc vong thân". Các tộc Việt sau này cũng một tinh thần và lòng sùng kính như vậy (xem Nguyễn Ðình Chiểu, Văn Tế sĩ dân lục tỉnh, Văn tế Trương Công Ðịnh, Văn tế Vong hồn mộ chi nghĩa...). Tín ngưỡng thờ Trời và thần thánh Dân tộc Việt Nam từ thời viễn cổ lấy việc thờ Trời làm đầu. Trong Cửu Ca, Ðông Hoàng Thái Nhất (tức là đấng chỉ có một - thái nhất - là trời, tức là hoàng (Thiên thu thủy trong sách Trang Tử có chữ Ðại Hoàng chỉ Trời) đồng nghĩa với Thượng Hoàng trong Cửu Ca. Vân Trung Quân là thần mây, có thuyết cho là Thần Mặt Trăng. Tương quân và Tương phu nhân không phải là Nga hoàng hậu và Nữ Anh, con vua Nghiêu và vợ vua Thuấn. Khi cúng lễ hai vị thần này, hai bên đối đáp với nhau và múa. Lời hát đầy tình tự luyến ái. Ðại tư mệnh là vị thần chủ quản thên mệnh của mọi người. Ðông quân là thần mặt trời (trống đồng Ðông Sơn có liên quan đến tín ngưỡng thờ mặt trời của dân Lạc Việt, xem M. Colani, Vestiges d’un culte solaire en Indochine - BIIEH, T III, Fasc 1, 1940, tr. 37-41 - Những dấu tích của tục thờ mặt trời ở Ðông Dương). Thiếu tư mệnh là vị thần chủ quản của thiếu niên nhi đồng. Ðông quân là thần mặt trời. Hà Bá là thủy thần. Sơn quỷ là thần núi thuộc nữ tính. Thờ thần phổ biến nhất trong các tộc Bách Việt và cũng như Lạc Việt. Sau Thủy thần là thờ các anh hùng dân tộc đã chết cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc thì Sở Việt thế nào thì Lạc Việt cũng như thế. San định lại Cửu Ca, Khuất Nguyên mô tả: Bộc Lão (Việt tộc) thường cúng 9 thần trời đất, sông núi (từ Ðông Hoàng Thái Nhất đến Sơn quỷ). Bản thân Khuất Nguyên cũng là dân Bộc Lão (về Khuất Nguyên và tác phẩm Ly tao, tham khảo: Du Quốc Ân, Khuất Nguyên, Hương Cảng Học Lâm thư điếm xuất bản 1959). Hai chữ "sông núi" thiết thân nên sông núi còn để chỉ đất nước, đồng nghĩa với giang sơn. Học giả Lăng Thuần Thanh so sánh văn chương Cửu Ca và văn dạng trên trống đồng, cho thấy đều chỉ một dạng tế thần. Những hình trạm trên trống đồng phần nhiều có tính chất tôn giáo như múa hát, đua thuyền, đều là những động tác trong các buổi lễ tế trời, đất núi sông. Theo Lãng tiên sinh, "Dân tộc Lão ngày xưa ở trên bờ nước nên họ dùng thuyền để nghinh (rước) thần và tống (tiễn) thần, dù là thiên thần (Lăng Thuần Thanh, Ðồng cổ đồ văn dữ Sở Từ Cửu Ca, tlđd, tr. 403) Các hình khắc chạm trên trống đồng Ðông Sơn, Ngọc Lũ, trống đồng Mường, cũng một dạng vẽ và ý nghĩa như thế, như trống đồng của Việt tộc ở Hoa Nam.Văn minh Việt tộc là một sợi chỉ vàng kéo dài xuyên suốt từ quê hương Bộc, Lão Việt tộc cho đến phương Nam Lạc Việt, Việt Thường. Từ khởi thủy, khai nguyên, ta đã khác với văn minh Hán tộc. Về mặt tín ngưỡng thì thờ trời, đất, là đấng tối cao. Sau là các thần linh mà thủy thần là trọng yếu hơn cả. Bởi vì Việt tộc lấy nước làm gốc. Nước Non là một từ kép, không tách rời. Nước cũng là bản tinh của Việt tộc tức dân tộc tính tức thủy tinh. Nền dân chủ Việt hoàn thành từ thuở "dựng đất dựng trời" từ có núi sông trong ý niệm riêng của Việt tộc, không dính dáng gì đến ông Bàn Cổ là thần thoại của Hoa Hán. Thủy thần mà dân Sở Việt thờ (sông Tương, sông Nguyên) là một cặp nam nữ chứ không lẻ loi. Dân Hán sau này vì nhận Sở Từ là tinh hoa ưu việt của nền văn học cổ Trung Quốc cho nên họ cũng diễn dịch hai vị thủy thần mà dân Việt thờ và ca tụng trong Cửu Ca. Bài "Tương phu nhân" là bài ca cúng Nga Hoàng và Nữ Anh (như đã viết ở trên, xin nhắc lại, là con gái vua Nghiêu và vợ vua Thuấn). Nhưng không phải như vậy, vua Thuấn lên ngôi được 30 năm, Hậu Dực tức Nga Hoàng mới mất. Hậu Dực không có con. Nữ Anh sinh con là Quân và sau khi vua Thuấn chết, nàng theo con đến ở đất Thương vì Quân được phong tước ở đó. Tại đất Thương có mộ của Nữ Anh (Theo sách Trúc Thư Kỷ Niên, trích dẫn bởi Lăng Thuần Thanh, bản dịch của Bửu Cầm, tlđd, tập san Sử Ðịa số 25, 1973, tr. 59). Như vậy, hai vị thủy thần trong Cửu ca không phải là hai bài Hoàng người Hán mà là một cặp mới có hai bà ca Tương Quân và Tương phu nhân. Lạc Long Quân và Âu Cơ trong huyền thoại của Lạc Việt cũng đều là hai vị thủy thần, một nam một nữ y như Tương Quân và Tương phu nhân của Sở. Cội nguồn văn minh Việt tộc qua một vài nét về chữ Nôm Các di khảo cổ học đã cho thấy Việt tộc thời viễn cổ đã có văn tự, trước cả Hoa Hán, nếu không thì cùng thời với Hoa Hán đời Thương Ân. Nhà khảo cổ Pháp V. Golouchew đã tìm ra dấu tích của một loại văn tự cổ của Việt tộc khắc trên các hốc đá của vùng Chapa, thượng du Bắc Việt (xem V. Golouchew "Roches gravés dans la région de Chapa, BEFFO, T XXV, 1925, tr. 423). Chữ Nôm là một thành tựu rất to lớn của dân tộc Việt trước khi có chữ Quốc ngữ. Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) gọi là "Quốc âm Hán tự", ông đề nghị triều đình Huế soạn thảo và ấn hành bộ tự điển Nôm cũng như sử dụng chữ Nôm trong các loại công văn của chính phủ (Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Hà Nội 1944, tr. 358).Chữ Nôm có từ thời nào? Có thuyết cho rằng từ thời Sỹ Nhiếp làm Thái thú Giao Chỉ (187-226), một Thái thú "học vấn uyên bác" (xem Việt Sử Lược, bản Hán văn q.I, tr.5a - bản dịch Trần Quốc Vượng, Hà Nội 1960, tr. 22). Nhưng cũng chưa có tài liệu nào căn cớ rõ rệt. Nói chung thì chữ Nôm đã có từ thời viễn cổ. Một số tộc trong dòng Bách Việt đã có hai loại chữ viết giống như chữ Nôm của ta. Người Thổ hay Tầy cũng có chữ Nôm gọi là "Nôm thổ" (trên thực tế, danh xưng "Thổ" chỉ là để chỉ người địa phương tức chủng tộc Thái ở thượng du, vân Nam và Quảng Tây). Theo học giả Văn Hựu, trong một bài khảo cứu nhan đề "Quảng Tây - Thái Bình phủ thuộc thổ châu huyện ty dịch ngữ khảo" ông Văn Hựu nêu lên 104 tục tự của Phủ Thái Bình (Quảng Tây) trên quan điểm văn tự học, ông đem so sánh với chữ Nôm Việt Nam. Người Thổ vùng này đồng tộc với người Thổ Quảng Tây. Kết quả đem đối chiếu hình thể chữ Nôm ở vùng Cao Bằng Lạng Sơn và ở Thái Bình phủ có 38 định lệ mà hàng trên là chữ Nôm của người Thổ Cao Bằng Lạng Sơn và hàng dưới là người Thổ phủ Thái Bình (Văn Hựu, tlđd, Tạp san Sở Nghiên cứu ngôn ngữ - Viện nghiên cứu quốc lập trung ương, Ðài Bắc, số 6, kỳ IV, tr. 497, dẫn trong Trần Kinh Hòa "Hình thái và niên đại sản xuất của chữ Nôm", tạp chí Ðại Học (Huế) số 35&36 tháng 10&12, 1963, tr. 730). Giáo sư Nguyễn Văn Huyên trong bài khảo cứu về văn minh Việt Nam, sưu tập được bài "Chúc Hôn Ca" bằng chữ Nôm của người Thổ Cao Bằng Lạng Sơn thì chữ Nôm của người Kinh và Nôm Thổ đã có liên hệ mật thiết (xem Nguyễn Văn Huyên, La Civilisation Anamite, Hà Nội, 1944, tr. 251). Sỹ Nhiếp là người Quảng Tây, địa bàn của dân tộc Bách Việt xưa tức cõi Lĩnh Nam. Quảng Tây còn một thứ "tục tự" (giống như chữ Nôm Thổ và rất gần gũi với chữ Nôm Kinh). Các chữ "tục tự" này có thời viễn cổ và sau này thấy trong các bộ sách như Quế Hải ngu hành chí và Lĩnh ngoại đại đáp đời nhà Tống (960-1279). Theo tác giả Lê Dư, khi Sỹ Nhiếp tới Giao Chỉ, phỏng theo những tục tự của Quảng Tây mà chế ra chữ Nôm (Sở Cuồng Lê Dư, chữ Nôm với chữ Quốc ngữ, Nam Phong tạp chí số 127, tháng 5, 1932, tr. 495). Xa hơn nữa là chữ "khoa đẩu" đã xuất hiện từ thời Hùng Vương văn Lang cho ta thấy dân tộc Việt đã sớm có văn tự, cỗi nguồn văn minh văn hóa Việt tộc phát xuất từ đây chưa từng tiếp xúc và ảnh hưởng văn minh Hoa Hán. St
-
Văn-Minh Nước và Hàng-Hải Thời Cổ của Việt-Nam (Nước, Yếu-tố Văn-hoá Căn-bản của Dân-tộc) Bài Tựa Cuốn Sách Môi-trường đời sống thay đổi luôn luôn, nền văn-hoá dân-tộc cũng thay đổi. Tìm hiểu sự liên-hệ giữa môi-trường sinh-sống và nền văn-hoá của tổ-tiên ta trong quá-khứ là một việc làm thật cần-thiết. Sách này trình-bày các đặc-tính của dân ta qua khía-cạnh hàng-hải. Việc nghiên-cứu cho thấy rằng dân-tộc Việt là giống dân tiên-phong của nhân-loại trong các sinh-hoạt hàng-hải. Câu phát-biểu này có vẻ như chủ-quan hay giả-tưởng? Khi cuốn sách này sắp hoàn-thành, có một người hỏi chúng tôi ý-tưởng như vậy có quá lớn lối không? Thú thực, chính chúng tôi đã từng tự hỏi mình như vậy. Cách đây bốn thập-niên,[1] khi chúng tôi khởi đầu việc nghiên-cứu đề-tài này, các tài-liệu liên-hệ đến cổ hàng-hải trong thư-viện Việt-Nam còn quá ít ỏi. Theo cách quản-lý sách vở thời đó, các tài-liệu loại này thường để riêng lẻ nên dữ-liệu xem ra không mấy giá-trị. Một số kiến-thức thu-thập được mới chỉ là những giả-thuyết, đang được kiểm-chứng. Tuy vậy, dần theo thời-gian, trong những dịp di-chuyển đó đây, chúng tôi góp nhặt thêm nhiều tài-liệu mới và chứng-cớ về cổ hàng-hải Việt-Nam cứ tăng dần. Tổng-hợp lại, chúng tôi nhận thấy rằng thành-quả về hàng-hải của tiền-nhân chúng ta thật vĩ-đại. Dân ta đáng được kể là đi đầu trong mọi phát-minh về vận-chuyển[2] đường thủy thời cổ. Cuốn sách này ra đời nhằm trình-bày những kết-quả nghiên-cứu đó. Sinh-sống tại một ngã tư quốc-tế, dân-tộc Việt có nhiều sinh-hoạt về văn-hoá thật là độc-đáo. Trong buổi bình-minh của nhân-loại, người Đông-Nam-Á mà trong đó đáng kể nhất là người Việt-Nam, đã đi đầu trong các sinh-hoạt hàng-hải. Nhiều phát-minh thời cổ về hàng-hải mới tìm thấy hồi gần đây đã được xác-nhận là của các dân-cư sinh-sống trong vùng Biển Đông. Theo một số nhà khoa-học, những công-trình này thật là vĩ-đại, những thành-tựu về vận-chuyển đường thủy đã thực-sự đóng góp rất nhiều cho văn-minh của nhân-loại. Nhiều người trên thế-giới nghĩ rằng Việt-Nam nói riêng, hay Đông-Dương nói chung, là sản-phẩm của sự giao-tiếp giữa hai nền văn-hoá lớn Trung-Hoa và Ấn-Độ. Tuy vậy hai nền văn-hoá này chỉ mới xâm-nhập nước ta chừng hơn 2,000 năm trở lại đây. Nếu đem so-sánh với số tuổi của các nền văn-minh “nước” Hoà-Bình/Đông-Sơn khởi-sự từ mười mấy ngàn năm về trước thì văn-minh của cả hai nơi Trung-Hoa và Ấn-Độ đều muộn hơn rất nhiều. Du-khách đến Việt-Nam để biết gì? Hiển-nhiên, cả hai nền văn-minh Trung-Hoa và Ấn-Độ đã không bao giờ tiến-triển được đến cực-điểm tại nước ta. Nếu du-khách muốn coi sự tiến-bộ của văn-hoá Trung-Nguyên và Khổng-giáo, họ sang Trung-Hoa. Nếu du-khách muốn xem sự huy-hoàng của văn-hoá Ấn-giáo và Phật-giáo, họ sang Ấn-Độ. Nếu du-khách muốn chiêm-ngưỡng những kiến-trúc vĩ-đại, họ sẽ thất-vọng vì người Việt-Nam vốn ảnh-hưởng “văn-minh nước” trọng nhân-bản, không bao giờ phí sức cho bất kỳ một công-trình xây cất nào quá tốn kém tài-nguyên và sinh-mạng con người. Những điều đáng kể ở Việt-Nam là những sinh-hoạt đặc-thù Việt-Nam. Những nét văn-hoá này đã ra đời trước khi có Khổng, có Phật; chúng đẹp đẽ vô cùng và cũng đi trước thời-kỳ người Trung-Hoa và người Ấn-Độ xuất-hiện trên bán đảo Đông-Dương. Một trong những nét đặc-thù Việt-Nam mà chúng tôi muốn giới-thiệu trong cuốn sách này là hàng-hải và văn-hoá liên-quan đến nước. Các sinh-hoạt của dân ta ngày xưa, ở ngoài biển, trong sông, trên mặt nước, dưới lòng nước, cạnh bờ nước đã tạo thành một thứ văn-hoá mà chúng ta có thế gọi là “Văn-hoá nước” Trong đời sống Việt-Nam thời cổ, văn-hoá “nước” bao la như Biển Đông, bát ngát trải dài vượt cả ra ngoài chân trời và tầm hiểu-biết của con người. Theo Bernard Philippe Groslier, biển cả đã gợi ra trong trí óc người dân Đông-Dương cái ấn tượng về nguồn-gốc của muôn loài, một tâm-tưởng đến cả thế-giới trước khi khai thiên lập địa và cũng là nơi quê-hương cho người chết (tức tổ-tiên của họ) trở về. Trên địa-bàn “nước” này, tiền-nhân chúng ta đã có những phát-minh đầu tiên về ghe thuyền. Bè, thuyền độc mộc, mái chèo, cánh buồm, bánh lái, cây xiếm... là một số nhỏ trong nhiều công-trình sáng-tạo làm tăng-tiến sự tiến-hoá của nhân-loại. Tuy mới thoạt nghe qua, chúng ta có thể nghi-ngờ; nhưng thật sự không phải hoàn-toàn vô-lý vì nhiều ít cũng có dẫn-chứng. Bên cạnh các phát-minh đó, những màu sắc huy-hoàng của văn-hoá dân-tộc Việt: thờ kính tổ-tiên, nam nữ bình-đẳng, kính người già, giúp đỡ người yếu đuối hoạn-nạn, nặng tình quê-hương, nhân-loại bốn biển là nhà, trọng-nghĩa khinh-tài, không vì lợi mà phù-thịnh, yêu-mến thiên-nhiên, hiền-hoà nhưng can-đảm, kỷ-luật và cũng hiên-ngang như hình-ảnh của người thủy-thủ trước phong-ba, không sợ cả cái chết v.v... Những nét đẹp của Việt-Nam không thể hiện qua vật chất, tất cả đều nặng về tinh-thần. Nhờ các ưu-điểm và sức mạnh tinh-thần như vậy, quốc-gia ta mới tồn-tại đến ngày nay. Nhiều người Việt-Nam đã bỏ nhiều thời-giờ, có thể cả đời người, để nghiên-cứu, học-hỏi Khổng, Phật, Lão, Chúa Cứu thế, Kinh Dịch... Tuy thế, chúng ta cũng cần phải “đầu tư” thêm nhiều nhân-lực và thời-gian để tìm hiểu về nền văn-hoá căn-bản của dân-tộc. Gạt bỏ ra ngoài những lớp sơn ngoại-lai phủ-lấp ở trên, nền văn-hoá bản-địa sẽ hiện ra. Trong thời niên-thiếu của chúng tôi, một số người “trí-thức tiểu-tư-sản” Việt-Nam, được sinh ra từ những gia-đình “Cửa Khổng, sân Trình” tự cho mình may-mắn. Một số người khác nghĩ rằng phải vào đời “dưới bóng từ bi” hay “trong sự cứu-rỗi của Chúa”... mới là niềm hạnh-phúc. Cho đến nay, có thể thấy rằng điều may-mắn và niềm hạnh-phúc chung của toàn-thể người Việt chúng ta là cùng được thừa-hưởng một nền văn-hoá cổ xưa, thực-sự có tính-chất nhân-bản do tiền-nhân để lại. Thứ văn-hoá đó mới nghe như lạ-lùng, chúng tôi xin gọi là nền “Văn-hoá Nước”. Có người chưa từng nghe nói trong cái gia-tài quý-giá này lại chứa đựng một thứ lạ-lùng là nền Văn-hoá Nước. Văn-hoá này lại rất cổ. Sau hàng chục ngàn năm sinh-hoạt tự-do, vẫy-vùng trong trời nước Biển Đông, dân Việt đã chế-ngự thiên-nhiên, tạo-dựng nông-nghiệp, phát-triển hàng-hải, mang văn-minh đi khai-hoá khắp nơi, vượt cả hai đại-dương Thái-Bình và Ấn-Độ. Thật là những khám-phá quý-giá nếu sau này chúng ta tìm lại được toàn-vẹn cái nguyên-lý đích-thực của nền Văn-hoá Nước kỳ-diệu này của tổ-tiên. Buckminster Fuller, dù không phải là dân vùng Biển Đông, sau khi nghiên-cứu xong luận-án “Cơ-học Chất Lỏng”, đã hết sức thán-phục triết-lý sống của người dân nước, dân thuyền vùng Đông-Nam-Á. Fuller tin tưởng rằng triết-lý “nước” là con đường lý-tưởng nhất và ông còn mong-mỏi rằng vì sự sống còn của nhân-loại trong tương-lai, con người nên noi theo chân-lý “nước” để tiết-kiệm vật-liệu, năng-lượng[3] v.v... Như các loài di-điểu bay về tổ cũ hay loài cá hồi bơi lại nguồn suối ngày xưa, người Việt chúng ta có Tổ, có Nguồn rất linh-thiêng để trở về. Quốc-gia Việt-Nam được chúng ta gọi là Nước Việt-Nam. Vậy Nước là Quốc-Gia, vớ đầy đủ cả lãnh-thổ, cả dân-tộc. Nguồn-gốc dân ta gắn liền với Nước, tức là địa-bàn Việt-Nam thời nguyên-thủy. Người Việt-Nam chúng ta không thể nào mãi mãi vô-tình quên-lãng công-trình vĩ-đại của tổ-tiên trên lãnh-vực hàng-hải. Những thế hệ sau này cần bảo tồn, phát huy hay ít nhất cũng phải lưu-giữ, tiếp nối truyền-thống cao-quý ấy. Chúng tôi thiết nghĩ rằng ngành giáo-dục Việt-Nam nên thêm một phần thuyết-giảng về văn-hoá “nước”, các bảo-tàng-viện Việt-Nam cần thiết-lập nhiều đồ-án trình-bày về khảo-cổ hàng-hải, lịch-sử hàng-hải, triết-lý dân-tộc liên-hệ đến “nước”. Sách giáo-khoa sử, địa Việt-Nam không thể gọi là đầy đủ nếu không đề-cập đến hàng-hải. Sách nói về văn-minh Việt-Nam hay văn-minh thế-giới mà không đả-động gì tới văn-minh nước của nhân-loại nói chung và văn-minh nước của dân ta nói riêng thì thật là thiếu-sót. Một mảnh lớn hồn nước, hồn quê-hương Việt-Nam truyền qua nhiều thế hệ nằm ở đó. Yêu văn-hoá “nước” cũng là yêu nước, thương đồng-bào. Tìm hiểu để thấu-triệt văn-hoá “nước” nhiều hơn, chúng ta yêu Tổ-quốc nhiều hơn, thương dân-tộc hơn. Sách bàn đến văn-hoá Việt-Nam cần thêm một phần giới-thiệu về sinh-hoạt của dân ta thời tiền-sử mà trong đó những sinh-hoạt sông nước biển cả và những tiến-bộ hàng-hải cần được đề-cập tới. Nói đến hàng-hải thời cổ, chúng tôi mặc-nhiên đi vào cổ-sử. Theo ông Bình-Nguyên-Lộc thì “lịch-sử cổ-đại ít người để chân tới vì đó là một lĩnh-vực hóc búa, tư liệu quá ít nên phải học quá nhiều môn phụ-thuộc, thành thử chợ ế khách”...[4] Những kiến-thức hàng-hải dẫn-chứng trong cuốn sách này không nhiều, thường chỉ là những chi-tiết lặt-vặt rút ra từ các cuốn sách ngoại-ngữ Anh, Pháp, Đức, Tây ban Nha, Nga, Trung-Hoa...[5] Trong tình-thế tranh-chấp Hoàng Sa, Trường Sa hiện nay. Thành-tích hàng-hải của tiền-nhân ngang dọc đại-dương chính là những tài-liệu chứng-minh hùng-hồn về chủ-quyền Việt-Nam trên Biển Đông Trong cảnh tha hương, cùng đồng-bào tìm về nguồn cội, chúng tôi muốn đóng góp thêm ở đây một số ý-kiến mới về giả-thuyết nguồn-gốc dân-tộc Việt-Nam. Chúng tôi không dám quả-quyết những điều trình-bày trong cuốn sách này là hoàn-toàn chính-xác. Để vấn-đề này được thêm sáng-tỏ, xin bạn đọc tiếp-tục thảo luận và nghiên-cứu. Nền văn học dân-tộc, theo đúng nghĩa phải phản ảnh các sinh-hoạt của dân-tộc ấy. Tuy vậy văn học nước ta đã có một khoảng trống quá lớn về hàng-hải. Ngày xưa, nền văn-hoá “nước” tiền tiến của nhân-loại đã khởi-sự tại vùng quê-hương chúng ta. Cho đến nay, sinh-hoạt sông biển vẫn tiếp-tục quan-hệ đến dân ta biết là nhường nào. Thế nhưng, văn học đã vô-tình lãng-quên. Thật là buồn khi người nước ngoài đã khám-phá ra khá nhiều chi-tiết về nền văn-minh cổ hàng-hải của ta, mà chính chúng ta thì lại hoàn-toàn không hay, không biết. Kết-quả khảo-cứu chúng tôi trình-bày trong cuốn sách này được coi như viên đá tạm thời dùng lấp bớt khoảng trống văn học lớn lao đó. Qua những chứng-tích của lịch-sử hàng-hải, chúng tôi tìm ra những niềm tự-hào dân-tộc[6]. Trong lãnh-vực này, thực-sự người Việt-Nam xứng đáng là bậc đàn anh của Trung-Hoa. Không những chúng ta đã đi trước người Trung-Hoa, mà rất có thể chúng ta đã vượt xa mọi dân-tộc khác về các tiến-bộ đã đạt được trong khi sinh-hoạt trên biển. Chúng tôi mượn lời của Học-giả Trần Trọng Kim đề-tựa cuốn “Việt-Nam Sử-Lược” (in lần thứ nhất, Sài Gòn, 1971; q.1) để chép ra đây như lời trần-tình cùng bạn đọc: “Bây giờ ta chưa có áo lụa, ta hãy mặc tạm áo vải, tuy nó xấu-xí nhưng nó có thể làm ta đỡ rét. Nghĩa là ta hãy làm thế nào cho những thiếu-niên nước ta ngày nay ai cũng biết đôi chút sự-tích nước nhà, cho khỏi tủi quốc-hồn. Ấy là cái mục-đích của soạn-giả, chỉ có thế thôi. Nếu cái mục-đích ấy mà có thể tới được thì tưởng bộ sách này là bộ sách có ích vậy”. Sách này viết một đề-tài chưa bao giờ được khai-phá, trong khi đó, chúng tôi không phải nhà văn chuyên-nghiệp lại chẳng phải chuyên-gia nghiên-cứu toàn-thời, nên sự sai-sót không thể tránh khỏi. Kính xin độc-giả lượng thứ cho. Vũ Hữu San 2005 [1] Sau khi tốt-nghiệp Trường Sĩ-Quan Hải-quân và hoàn-tất việc thực-tập hải-nghiệp, tác-giả có dịp thăm viếng Nhật Bản năm 1963. Khi thấy xứ này có nhiều viện nghiên-cứu hải dương, tác-giả nảy sinh việc tìm kíếm tài-liệu hàng-hải cổ Việt-Nam. [2] Vào các thập-niên 1950, 1960: khi cán-bộ ngành hàng-hải được khởi-sự huấn-luyện tại Việt-Nam, danh-từ “vận-chuyển” là tên những môn học kỹ-thuật về điều-khiển chiến hạm hay thương-thuyền như vận-chuyển chiến-thuật, vận-chuyển cặp cầu, tách bến… [3] Naga: Cultural Origins in Siam and the West Pacific” của Sumet Jumsai, Singapore, Oxford University Press, xuất-bản 1988, trang 174 [4] “Nguồn-gốc dân-tộc Việt-Nam” trang 70. [5] Cuốn sách hoàn-toàn không mang tính “Sử”. Như Cố đạo L. Cadière thường nói: “Chúng tôi không có tham-vọng viết sử, chúng tôi chỉ lôi ra ánh sáng và thu-thập cho thật nhiều tài-liệu vững để dành cho các sử-gia đời sau.” [6] Phàm đã là một dân-tộc sinh tồn trên hoàn vũ, đã có một cái lịch-sử chính đáng, thì phải gìn giữ những sự vẻ vang trong lịch-sử của dân-tộc mình, nghĩa là gìn giữ lấy những đức tính hay tốt mấy nghìn năm ông cha để lại, khiến cho nước nào, dân-tộc nào đối với mình cũng đem lòng kính trọng. Nói tóm lại, là một cái tính-chất của một dân-tộc đã trải lâu năm kết-tinh lại như hòn ngọc mài không mòn, như sắt nguội đánh không bể thì mới gọi là đạo-đức được. Lời Cụ Phan Chu Trinh (1872-1926). Nguồn:http://vanhoanuoc.tripod.com
-
(tiếp) Tác giả Nguyễn Quang Trọng cho rằng vào thời kỳ Đồ Đá (không minh định đá cũ, đá giữa hay đá mới) dân Cổ Việt lúc ấy thuộc chủng Australoid nói tiếng Austric vì cách sinh sống khác nhau, dần dần phân chia thành hai nhóm: nhóm nói tiếng Nam Á (Austro-Asiatic) sống trên đất liền và nhóm nói tiếng Nam Đảo (Austranesia) sống ở vùng đồng bằng ven biển. Bắt đầu thời đá mới, trước là vì nhu cầu dân số gia tăng, sau vì biển tiến, hai tộc đã phân chia, lại cùng tìm về đồng bằng các sông nay thuộc Bắc Việt, sống đan xen với nhau và kết hợp lại với nhau. Tác giả đã ví sự kết hợp này, mà ông gọi là kết hợp yếu tố văn hóa Biển - Lục Địa, với chuyện Ấu Cơ kết hợp với Lạc Long Quân, một cuộc kết hợp êm thắm vì là kết hợp giữa hai tộc người vốn cùng một chủng tộc và một ngôn ngữ. Chuyện đó xẩy ra vào khoảng 4.000 năm cách ngày nay và ông kết luận "Cuộc phối hợp văn hóa hoàn tất vào thời Đông Sơn (850 trước CN đến 280 sau CN), tạo thành một văn hóa chung cho cư dân bản địa". Về điểm này, chúng tôi xin được nhắc lại quan điểm của chúng tôi đã phát biểu trước đây. Thứ nhất, vào thời điểm trước khi có nạn Đại hồng thủy cuối cùng (từ 18.000 năm trước, nước biển bắt đầu dâng mỗi năm 1cm, đến 8.000 năm trước nước biển đột ngột dâng cao nhận chìm toàn bộ đồng bằng Nanhailand đến tận Việt Trì ngày nay), dân cư đồng bằng Nanhailand còn thống nhất, nói tiếng Austric chứ chưa chia làm hai Austronesian và Austro-Asiatic. Thứ hai, vào lúc này (từ 18.000 năm đến khoảng 50.000 năm trước) chắc đã có sự đột biến di truyền, và người nói tiếng Austric ấy chắc đã là da vàng, tóc thẳng mà khảo cổ học gọi là Nam Mongoloid, chứ không còn da đen, tóc quăn, mũi rộng thuộc Hắc chủng, mà khảo cổ học gọi là Australoid. Sự đột biến di truyền xẩy ra vào thời điểm nào thì còn cần có thêm những cuộc sưu khảo, nhất là những thí nghiệm về di truyền học DNA mới có thể khẳng định được. Thứ ba, khi nước biển dâng, chia Đông Nam Á ra thành Đông Nam Á hải đảo và Đông Nam Á đất liền thì lúc đó người nói tiếng Austric cũng bắt đầu chia hai : phần ở hải đảo và ven biển nói tiếng Austronesian và phần ở sâu trong lục địa nói tiếng Austro-Asiatic. Thứ tư, chỉ khi nước biển bắt đầu rút (khoảng 5.500 năm cách ngày nay), trả dần lại đồng bằng sông Hồng mới thì người đã di tản đi nơi khác vì nạn Đại hồng thủy nay mới đổ về tái htiết đồng bằng này, và đó cũng là thời kỳ dựng nước Văn Lang. Lạc Long Quân Nam Đảo và Ấu Cơ Nam Á kết hợp với nhau vào lúc này. Và đây là điểm khác biệt giữa chúng tôi với tác giả. Lạc Long Quân gặp Ấu Cơ khoảng từ 5.500 năm trước, từ lúc nước biển bắt đầu lui chứ không phải vào 4.000 năm trước đây khi biển tiến. Nhưng tại sao Lạc Long Quân và Ấu Cơ lại chia lìa, người đem 50 con lên núi, người đem 50 con xuống biển? Sự chia lìa đó xẩy ra vào lúc nào? Truyền thuyết chỉ nhắc lại lời Lạc Long Quân: "Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, ở lâu với nhau không được, nay phải chia ly". Dù có nói thêm một câu: "Hữu sự bảo cho nhau biết, đừng quên". Cái thông điệp mà truyền thuyết đómuốn gửi đi, qua câu nói của Lạc Long Quân, vẫn còn là một bí ẩn. Nói tóm lại, về vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam, đã đến lúc chúng ta đặt vấn đề với giả thiết Bắc xuống Nam, và nghiêm túc thử nghiệm giả thiết Nam lên Bắc. Thực ra, chúng ta cũng chẳng còn quyền lựa chọn nào khác vì khoa học, nhất là khoa di truyền học, đã lựa chọn dùm chúng ta: Khởi thủy, người Hiện Đại (Homo Sapiens - Sapiens) từ Đông Phi đến Đông Nam Á; rồi từ đó họ tiến lên phía Bắc. Sau vì có sự phối hợp với chủng từ Tây Bắc xuống, họ hợp thành cái cốt lõi của dân sống ở Trung Quốc ngày nay. Đó là giai đoạn Nam lên Bắc. Giai đoạn này khoảng từ sau 40.000 năm cách ngày nay cho đến 3.000 năm cách ngày nay thì Trung Hoa bắt đầu có loạn Xuân Thu Chiến Quốc. Đến khi nhà Tần thống nhất lục quốc, nhất là từ khi nhà Hán cai trị Trung nguyên, những dân thuộc Đại tộc Bách Việt ở các nước lưu vực sông Dương Tử xuôi về Nam, không chịu sự đồng hóa của người Hoa Hán đã di dần về phương Nam. Một số những người thuộc nhóm này đã sát nhập với dân Lạc Việt. Giai đoạn này kéo dài cũng cả ngàn năm, nhưng những thiên di từ đời Tần đến đời Đông Hán (khoảng 300 năm trước CN đến 100 năm sau CN) có lẽ là quan trọng hơn cả. Chúng tôi tin rằng đó là một phần của kết luận về nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Cung Ðình Thanh Nguyễn văn Tuấn Nguyễn Ðức Hiệp Tài liệu tham khảo và chú thích: 1. Nguyễn Khắc Ngữ, "Nguồn gốc Dân tộc Việt Nam", Nhóm Nghiên cứu Sử Địa Việt Nam xuất bản, Montréal: 1985; Bình Nguyên Lộc, "Nguồn gốc Mã Lai của Dân tộc Việt Nam", Nhà xuất bản Lá Bối, Sài Gòn: 1971. 2. Gần đây mới thấy có "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam" của Trần Ngọc Thêm - Nhà xuất bản Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng 3/2001. 3. Đọc "Một số vấn đề lý luận về Lịch sử Tư tưởng Việt Nam", sách lưu hành nội bộ, Hà Nội: 1984 - Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Triết học xuất bản. 4. Phạm Huy Thông, "Năm mươi năm tìm hiểu văn hóa Hòa Bình", Khảo cổ học, số 1 & 2/1984. 5. W. G. Solheim II, "Thắp sáng lại quá khứ bị lãng quên", Tạp chí National Geographic số tháng 3/1971, bản dịch của Hoài Văn Tử & Vĩnh Như, trong Tập San TƯ TƯỞNG số 2, tháng 4/1999. 6. W. G. Solheim II - Bài đã dẫn [5]. 7. Ngô Thế Phong ,"Dấu vết văn hóa Hòa Bình ở Đông Nam Á", Khảo cổ học, số 1 & 2/1984. Chữ Phức hợp Kỹ thuật Hòa Bình (Techno-complex) là đề nghị của C. F. Gorman, học trò của W. G. Solheim II. Xem thêm "The Hoabinhnian and after : subsistence pattern in S.A. during the Latest Pleistocene and Early Recent periods" - Word Archaeology 2: 300-320, 171; "Hoabinhnian: A pebble-teal complex with Early Plant association in S.A.", Science, CL XIII No.3868, 14 Feb 1969. 8. Higham C, "The Bronze Age of Southeast Asia", Cambridge University Press, 1966. 9. R. H. Geldern, "Research on Southeast Asia : Problems and Suggestions", American Anthropologist, No.4, New York, 1996. 10. David N. Keightly (biên tập), "The Origins of Chinese Civilization", University of California Press, Berkeley, Los Angeles: 1983. 11. Li Chi, "The Beginnings of Chinese Civilization", Seattle: 1957. 12. I. R. Solin Khanov, 1979 : 37. Theo Trịnh Sinh, "Những hiện vật đồng đỏ trong văn hóa Đông Sơn", Khảo cổ học số 1/1992; "Nhận dạng trống giả cổ", Khảo cổ học, số 4/1997. Đọc thêm "The Cradle of the East" của Ping-Ting- Ho, phần Appendix I", "Excavation at Non Nok Tha, Northeastern Thailand, 1968", Interim Report, Asia Perapective XIII (1970), p.139; "Early Bronze in Northern Thailand", 1968 của W.G. Solheim II.; "Further Evidence to Support the Hypothesis of Indigenous Origins of Metallurgy in Ancient China" do Noel Barnard đọc trong Hội nghị Berkeley 1978 và in trong The Origins of Chinese Civilization - University of California Press, 1980. 13. "It will use the big rivers as language conduct, but the direction of dipersal is the exact reverse of the Himalaya centrifugal radiation hypothesis" - "Linguistic Diversity in Space and Time" - Johana Nicols, trích theo Eden in the East, trang 138-139. 14. J. Y. Chu và đồng nghiệp, "Genetic relationship of populations in China", Proc. Natl. Acad. Sci, USA 95, 11763-11768, 1998. 15. Cung Đình Thanh, "Gốm cổ tại Việt Nam và vai trò của nó trong văn hóa tiền sử", Tập San TƯ TƯỞNG số 12 tháng 2/2001. 16. Đọc "The Origins and Early Cultures of The Cereal Grains and Food Legumes" của Te-Tzu Chang, Chương 3 trong "The Origins of Chinese Civilization" - sđd [10]. 17. Cung Đình Thanh, "Khái niệm về biển tiến ở Việt Nam" và bài "Sự thuần hóa cây lúa nước và ảnh hưởng của nó đối với tư duy người Việt Cổ", Tập San TƯ TƯỞNG số 3, tháng 7/1999. 18. Trích Eden in the East (trang 70-71) của Stephen Oppenheimer: "The prime "home" the most likely of rice - where climatically, the least manipulation is required to grow it - are in tropical Indo-China down to the Malay border Burma Bangladesh and the extreme South coast of China" - Peter Bellwood - "The Prehistory of Southeast Asia and Oceania" - Collins, Auckland, 1978; "Rice, though, was clearly pivotal t the Neolithic stay-athome mainland Indo-China from a very early stage, that is, if the Sakai cave findings are confirmed we now have a strange new image : Instead of the sinocentric model with the Chinese inventing rice cultivation, we have Austro- Asiatic speaking "Southern Barbarians" from Indo-China teaching the knowhow about rice to the Chinese". 19. Fritjof Capra, "The Tao of Physics", Fontana Paperbacks, London, 1983. 20. Con người được cấu tạo bằng nhiều tỷ tế bào. Tất cả các tế bào đều có cấu trúc giống nhau: trong mỗi tế bào đều có một cái nhân (nucleus) nằm chính giữa. Cái nhân này có chứa những chất liệu di truyền mà ta thường gọi là DNA (viết tắc từ chữ deoxyribonucleic acid). Mỗi nhân thường có hàng triệu DNA. DNA gồm có bốn mẫu tự (yếu tố hóa học): A (adeline), C (cytosine), G (guanine), và T (thymine). Một mảng DNA tạo thành một gien. Và nhiều gien tạo thành một bộ di truyền hay nhiễm sắc thể, còn gọi là chromosome. Con người có 23 nhiễm sắc thể. 21. A. Vu-Trieu và đồng nghiệp, "HLA-DR and DQB1 DNA polymorphisms in a Vietnamese Kinh population in Ha Noi", Tập san European Journal of Immunogenetics, năm 1997, bộ 24, trang 345-356. 22. Khoảng cách di truyền (hay còn gọi là genetic distance) là một thông số di truyền học đo lường mức độ khác nhau giữa các nhóm dân. Chỉ số này có giá trị tối thiểu là 0 (tức hai nhóm dân giống nhau về mặt di truyền), và giá trị tối đa là 1 (tức hai nhóm dân hoàn toàn khác nhau). 23. R. Ivanova và đồng nghiệp, "Mitochondrial DNA polymorphism in the Vietnamese population", Tập san European Journal of Immunogenetics, năm 1999, bộ 26, trang 417-422. 24. W. Kim và đồng nghiệp, "Y chromosomal DNA variation in East Asian populations and its potential for inferring the peopling of Korea", Tập san Journal of Human Genetics, năm 2000; bộ 45, trang 76-83. 25. S. W. Ballinger và đồng nghiệp, "Southeast Asian mitochondrialDNA analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration," Tập san Genetics, năm 1992, bộ 130, trang 139-45. 26. C. G. Turner, "Major features of Sundadonty and Sinodonty, including suggestions about East Asian microevolution, population history, and late Pleistocene relationships with Australian aboriginals", Tập san American Journal of Physical Anthropology, năm 1990; bộ 82, trang 295-317. 27. T. Hanihara, "Population prehistory of east Asia and the Pacific as viewed from craniofacial morphology: the basic populations in east Asia, VII", American Journal of Physical Anthropology, năm 1993, bộ 91, trang 173-87. 28. Đột biến (mutation) là một sự kiện sinh học xảy ra ở trong tế bào. Gien được cấu trúc bằng một chuỗi DNA gồm 4 mẫu tự A, G, C, T. Khi một chuỗi DNA bị thay đổi, tức đột biến (chẳng hạn như từ GCAATGGCCC thành GCAACGGCCC) thì các đặc tính sinh học liên quan đến gien, chẳng hạn như mật độ xương, có thể bị thay đổi. 29. Bing Su và đồng nghiệp, "Y-chromosome evidence for a northward mi-gration of modern humans into eastern Asia during the last Ice Age," American Journal of Human Genetics, năm 1999, bộ 65, trang 1718-1724. 30. Yuehai Ke và đồng nghiệp, "African origin of modern humans in East Asia: a tale of 12000 Y chromosomes," Science, năm 2001, bộ 292, trang 1151-1153. 31. Bing Su và đồng nghiệp, "Polynesian origins: insights from the Y chromosome," Tập san Proceedings of the National Academy of Science (USA), năm 2000, bộ 97, trang 8225-8228. 32. Xin đọc bài "Các Vua Hùng dựng nước Văn Lang", Tập San TƯ TƯỞNG số 13, tháng 4/2001, trg 7. 33. Alberto Piazza, "Human evolution: towards a genetic history of China", Nature, Vol. 395, No. 6703, 1998. 34. Li Yin và đồng nghiệp, "Distribution of halstypes from a chromosome 21 region distinguishes multiple prehistoric human migrations", Proc. Natl. Acad. Sci. USA, Vol. 96, pp. 3796-3800, 1999. 35. Kwang-Chih-Chang, "The Archaeology of Ancient China", New Haven, Conn: 1968. 36. Barnard Noel, "Radiocarbon Dates and Their Significance in the Chinese Archaeological Scene: A list of 420 Entries from Chinese", Sources Published up to Close of 1979, Canberra. 37. Hà Văn Tấn dẫn theo Chapell (1987 - 83), "Năm lần nước biển lên xuống ở Đông Nam Á thời hậu kỳ Pleistocène", Khảo cổ học, số 1/1992; và "Sự biến chuyển từ Pleistocène đến Holocène ở Đông Nam Á" cũng cùng số. Cũng có thể xem thêm Tập San TƯ TƯỞNG các số 2, 3, 4, 7, 12, 13, 18. 38. Dẫn theo "The Cambridge Encyclopedia of Human Revolution", Cambridge University Press. Nguồn: vietsciences.free.fr (Hết)
-
(Tiếp) III. Bây giờ, chúng tôi muốn phát biểu vài điều về vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt. Phải nói ngay rằng đây là một vấn đề phức tạp, vì chúng ta vẫn còn thiếu thốn dữ kiện khoa học liên quan đến người Việt để phát biểu một cách khẳng định. Vì thế, người ta vẫn còn suy đoán, và có khi suy đoán thiếu cơ sở. Có thể nói hai giả thiết phổ thông liên quan đến vấn đề này: một là giả thiết [có lẽ chiếm đa số quần chúng] cho rằng người Việt có nguồn gốc từ người Trung Hoa; và giả thiết hai [có lẽ phần thiểu số] cho rằng người Việt có nguồn gốc từ Mã Lai (tức là kết luận của Bình Nguyên Lộc). Chúng tôi cho rằng cả hai giả thiết này đều cần phải xét lại, bởi một lý do đơn giản: hai giả thiết đó thiếu dữ kiện khoa học làm cơ sở, và chưa được phản nghiệm. Giả thiết về nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt phần lớn dựa vào các dữ kiện khảo cổ và ngôn ngữ. Những dữ kiện về đặc tính cơ thể và các chỉ số nhân trắc (như màu da, xương, sọ, khuôn mặt, v.v..) từng được dùng làm các đơn vị thông tin để nghiên cứu nguồn gốc dân tộc và sự tiến hóa của loài người. Nhưng các đặc tính này thay đổi theo thời gian, và chịu ảnh hưởng vào môi trường sinh sống. Chẳng hạn như chiều cao của con người trong vòng 200 năm qua đã tăng một cách đáng kể do những cải thiện về dinh dưỡng và môi trường sinh sống. Ngay cả cấu trúc xương cũng thay đổi theo thời gian và môi trường. Do đó các đặc tính nêu trên không phải là những thông tin lý tưởng cho việc nghiên cứu lịch sử di truyền của con người. Những dữ kiện về ngôn ngữ cũng có nhiều khiếm khuyết, vì mức độ tương đương về từ ngữ không thể nói lên một cách đầy đủ khuynh hướng di cư của các sắc dân. Ngay cả việc xác định mức độ tương đồng từ ngữ giữa các ngôn ngữ cũng là một vấn đề mang tính kỹ thuật mà các nhà nghiên cứu vẫn chưa đồng ý về phương pháp làm. Vả lại, sự tương đồng giữa các ngôn ngữ có thể là một hằng số mang tính văn hóa, chứ không hẳn do các cơ chế sinh học và di truyền. Nói tóm lại, những bằng chứng khảo cổ và ngôn ngữ không phải là những loại thông số đáng tin cậy để xác định nguồn gốc dân tộc. Trong quá khứ, giới khảo cổ học và nhân chủng học dựa vào các bằng chứng về khảo cổ, xương, hóa thạch, v.v. để phát triển lý thuyết, nhưng những đối tượng này hàm chứa nhiều hạn chế thông tin về tiến hóa, vì mối quan hệ phức tạp giữa môi trường và tiến hóa. Hậu quả của sự tập trung vào các đối tượng như thế trong một thời gian dài đã làm cho chúng ta xao lãng các dữ kiện cho chúng ta nhiều thông tinhơn: đó là gien (20). Không giống như xương sọ, những thay đổi trong gien thường xảy ra theo những qui luật mà chúng ta hiểu khá rõ, và vì thế gien và các đặc điểm của gien, như tầng số gien, cấu trúc DNA, phân phối gien, v.v... cho chúng ta những thông tin cực kỳ quí giá về sự tiến hóa của con người. Ngày nay, những tiến bộ phi thường trong ngành di truyền học và sinh học phân tử (molecular biology) trong mấy năm gần đây đã cung cấp cho ngành nhân chủng học một phương tiện cực kỳ quan trọng trong việc xác định lịch sử tiến hóa của con người và mối liên hệ giữa các dân tộc. Giá trị của di truyền học trong việc truy tầm nguồn gốc dân tộc đã được đánh giá cao về mức độ tin cậy. Di truyền học là một cửa sổ để chúng ta nhìn lại quá khứ của chúng ta. Tuy nhiên, những nghiên cứu về di truyền học trong người Việt còn cực kỳ khiêm tốn, nếu không muốn nói là không đáng kể. Trong thời gian khoảng 10 năm trở lại đây, đã có một số bằng chứng, tuy gián tiếp, nhưng cũng đủ để chúng ta có lý do để xem xét lại lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt. Những bằng chứng này là: • Trong một nghiên cứu trên 103 người ở Hà Nội, các nhà nghiên cứu Việt - Pháp phân tích DNA trong hai gien (HLA-DR và DQB1), và so sánh kết quả này với các sắc dân thuộc châu Đại Dương (Oceania) và Đông Á. Sau khi ước tính khoảng cách di truyền (genetic distance) giữa các sắc dân, các nhà nghiên cứu kết luận rằng cấu trúc di truyền của hai gien này trong người Việt gần với người Thái và người Hoa. Các nhà nghiên cứu này kết luận rằng dữ kiện của họ phù hợp với giả thuyết người Việt có nguồn gốc từ người Trung Hoa và Thái-Nam Dương (21). Tuy nhiên, sau khi xem xét kỹ phần phương pháp nghiên cứu, chúng tôi cho rằng kết luận này rất có thể không đúng, vì : (a) nghiên cứu này chỉ dựa vào hai gien mà thôi (con người có khoảng 35 đến 39 ngàn gien), và với những yếu điểm của mtDNA, các ước đoán về khoảng cách di truyền không ổn định; (:) ngay cả trong bài báo các nhà nghiên cứu không xây dựng được một cây di truyền nào, và cũng chẳng phân tích phát sinh chủng loại thì không thể phán đoán về chiều hướng di cư hay nguồn gốc dân tộc được. • Khoảng hai năm sau, các nhà nghiên cứu này lại tiến hành một nghiên cứu khác trên 50 người cũng ở Hà Nội, và cũng qua dùng kỹ thuật PCR (polymerase chain reaction) họ phân tích 6 "restriction enzymes", và ghi nhận khoảng cách di truyền (22) giữa người Việt và người Hoa rất thấp (chỉ 0.0022), nhưng giữa người Việt và Ần Độ thì tương đối cao hơn (0.0468), có nghĩa là quan hệ giữa giống người Việt và Hoa gần nhau hơn so với quan hệ Việt và Ần (23). Nghiên cứu nàycũng có những yếu điểm như nghiên cứu trình bày phần, tức là số lượng gien quá ít (trong trường hợp này chỉ có một gien), và tác giả cũng không tính toán mức độ biến thiên của chỉ số khoảng cách di truyền, nên không thể nào phát biểu khoảng cách giữa Việt - Hoa gần hơn khoảng cách giữa Việt - Ần. Thực ra, sau khi tính toán lại, chúng tôi thấy hai khoảng cách di truyền (Việt - Hoa và Việt - Ần) không có sự khác biệt đáng kể (non-significant)! Tuy nhiên, một nghiên cứu khác trên 5 gien trong nhiễm sắc thể Y trong hai nhóm dân: Bắc Á (Bắc Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, và Mông Cổ), và Nam Á (Nam Dương, Phi Luật Tân, Thái, và Việt Nam) cho thấy người Việt gần với các nhóm dân Bắc Á (nhất là Hàn Quốc) hơn là các nhóm dân Nam Á (24)! Chúng ta biết rằng, qua nghiên cứu của Giáo sư Chu (14), người Hoa phía Bắc Trung Quốc có cấu trúc di truyền khác với người Hoa phía Nam Trung Quốc. Do đó, phát hiện này quả rất khó giải thích. Càng khó giải thích hơn nữa khi phần lớn những người Việt trong nghiên cứu này là cư dân ở Hà Nội, tức gần miền Nam Trung Quốc. • Trong một nghiên cứu dùng mtDNA, Ballinger và đồng nghiệp (24) ghi nhận rằng chỉ số biến thiên (trong di truyền học gọi là Fvalue) trong người Việt cao nhất trong các sắc dân vùng Đông Nam Á. Tuy nhiên, các tác giả kết luận một cách mơ hồ rằng các dữ kiện này cho thấy "người Á châu có nguồn gốc từ nhóm dân Nam Mông" (nguyên văn : "The greatest mtDNA diversity and the highest frequency of mtDNA with HpaI/HincII morph 1 were observed in the Vietnamese suggesting a Southern Mongoloid origin of Asians") (25). Thực ra, các dữ kiện mà tác giả trình bày không cho phép họ kết luận như thế, bởi vì họ chỉ 7 nhóm dân Á châu mà thôi, và cũng chỉ nghiên cứu trên vài mẫu gien rất nhỏ. Nhưng qua số liệu của các nhà nghiên cứu này, chúng tôi có thể phát biểu rằng trong hai gien mà họ nghiên cứu, người Việt có lẽ là một sắc dân cổ nhất trong vùng Đông Nam Á. • Năm 1998, Giáo sư Chu và đồng nghiệp (thuộc Trường Đại học Texas (14)) phân tích 15 đến 30 mẫu "vi vệ tinh" DNA (microsatellites) để thử nghiệm sự khác biệt di truyền trong 24 nhóm dân từ nhiều tỉnh khác nhau ở Trung Quốc, 4 nhóm dân vùng Đông Nam Á (hai thuộc thổ dân Mỹ, một thuộc thổ dân Úc châu, và một thuộc Tân Guinea), 4 nhóm dân da trắng (Caucasian), và 3 nhóm dân Phi châu. Bằng một phương pháp phân tích thống kê có tên là "phân tích phát sinh chủ?g loại" (Phylogenetic analysis)", một số kết quả đáng ghi nhận như sau: (i) hai nhóm dân có sự khác biệt rõ ràng nhất là Phi châu và các dân không thuộc Phi châu; (ii) tất cả các nhóm dân Đông Nam Á "tập hợp" thành một nhóm, và nhóm dân có đặc tính di truyền gần họ nhất là người thổ dân Mỹ châu, kế đến là thổ dân Úc châu, và Tân Guinea (Những kết quả này cũng phù hợp với thời gian định cư ở Úc châu (khoảng 60,000 đến 50,000 năm trước đây, và thời gian định cư ở Mỹ châu (từ 30,000 đến 15,000 năm trước đây); (iii) các nhóm dân miền nam Trung Quốc phân phối thành ba nhóm, gọi là S1, S2, và S3 (ngoại trừ nhóm S2 là người Hán từ tỉnh Henan, phần còn lại (S1 và S3) gồm các sắc dân trong vùng Yunnan); và (iv) các sắc dân miền bắc Trung Quốc phân phối thành hai nhóm, gọi là N1 và N2. Nhóm N1 gồm 6 sắc dân nói tiếng Altaic, một nhóm Hán tộc miền bắc từ tỉnh Yunnan. Nhóm N2 gồm 4 sắc tộc thiểu số có lịch sử sinh sống lâu đời ở miền bắc, trong đó có một sắc tộc từ tỉnh Ninxia [6]. Từ những phát hiện trên, chúng ta có thể đặt ra một số mô hình để giải thích, nhưng mô hình thích hợp với dữ kiện của Giáo sư Chu và đồng nghiệp là các dân tộc miền Bắc Á được tiến hóa từ các dân tộc Đông Nam Á châu. Các dữ kiện liên quan đến răng, sọ [26-27] cũng nhất quán với mô hình này. Do đó, Giáo sư Chu và đồng nghiệp kết luận rằng: "Tổ tiên của các nhóm dân Đông Á ngày nay có nguồn gốc từ Đông Nam Á." • Nhưng nghiên cứu của Giáo sư Chu và đồng nghiệp có một điểm yếu, đó là họ dựa vào vi vệ tinh DNA, một chất liệu di truyền rất "nhạy" (sensitive) và dễ bị đột biến (mutation [28]). Để khắc phục nhược điểm này, một nhóm nghiên cứu khác đã tiến hành một nghiên cứu độc lập và qui mô hơn để xác định nguồn gốc Đông Nam Á của dân tộc Trung Hoa. Nhóm nghiên cứu Mỹ - Trung Quốc phân tích DNA trong nhiễm sắc thể Y [29] trong các nhóm dân Hán (thuộc 22 tỉnh của Trung Quốc), 3 nhóm dân Đông Bắc Á (Buryat, Đại Hàn, và Nhật Bản), 5 nhóm dân Đông Nam Á (Cambốt, Thái Lan, Mã Lai, Batak, và Java), và 12 nhóm dân ngoài Á châu (3 nhóm từ Phi châu, 3 từ Mỹ châu, 2 từ Ấu châu, và 4 từ châu Đại dương). Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng mức độ biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) trong các nhóm dân Đông Nam Á cao hơn trong các nhóm dân thuộc vùng Bắc Á. Điều này có nghĩa là các sắc dân ở Đông Nam Á có một quá trình định cư lâu dài hơn là các nhóm dân Bắc Á. Dùng các phương pháp phân tích di truyền quần thể (population genetics), các nhà nghiên cứu kết luận rằng con người thời đó đã di cư từ Phi châu sang đến Đông Nam Á [30] vào khoảng 60 ngàn năm về trước, và sau đó đã di chuyển lên phía Bắc Á (kể cả Trung Quốc ngày nay) và Siberia [29]. Ngoài ra, còn có bằng chứng di truyền cho thấy các nhóm dân Polynesians cũng có nguồn gốc từ Đông Nam Á [31]. Những dữ kiện di truyền học mà chúng tôi tóm lược trên đây tuy chưa hoàn toàn đầy đủ để chúng ta khẳng định nguồn gốc dân tộc Việt, nhưng đủ để chúng ta phát biểu rằng: xác suất mà người Việt có nguồn gốc [hay di dân] từ Trung Quốc là cực kỳ thấp, nếu không muốn nói là con số gần zêrô. Bây giờ chúng tôi muốn nhân cơ hội này để bàn thêm vài điều chung quanh vấn đề nguồn gốc dân tộc và văn minh Việt Nam. Theo Nguyễn Quang Trọng, dân Đài Loan ở trên núi, ít bị Hán hóa, có thể coi như nhóm dân tiêu biểu cho người nói tiếng Nam Đảo vì họ còn giữ được gien nguyên thủy và còn sống theo văn hóa cổ. Mặt khác, những cư dân sống ở vùng Phúc Kiến, Kim Môn, Quảng Đông, Bắc Việt có thể cũng cùng một gốc với dân cổ Đài Loan này, và quê hương của họ có thể là thềm lục địa chung quanh đã bị biển tràn ngập. Vì vậy, [tác giả viết] "tại sao không thể xem vùng thềm biển này, trước khi hồng thủy đến, là một trung tâm văn hóa lớn của dân nói tiếng Nam Đảo". Dữ kiện ông đưa ra để minh chứng cho thuyết này là chày đập vỏ cây cho mềm để làm khố che thân đã tìm được ở bờ biển Nam Trung Hoa từ Hồng Kong đến Bắc Việt. Về điểm này chúng tôi cũng đã từng đề nghị, ngoài vùng đất Sundaland, đồng bằng Nanhailand, châu thổ sông Hồng xưa, là trung tâm văn minh Đông Nam Á thời đó, cũng có thể là nguồn gốc của văn minh toàn cầu (32). Có điều chúng tôi không khẳng định đây là trung tâm văn hóa của dân nói tiếng Nam Đảo (Austronesian) vì chúng tôi nghĩ, cũng như W. Solheim II, dân thời đó còn nói chung tiếng Austric chưa chia hai Nam Đảo và Nam Á. Về quá trình tiến triển dân tộc Việt, Tác giả Nguyễn Quang Trọng đưa ra vài đề nghị rất đáng bàn thêm, mà theo cách hiểu của chúng tôi, như sau : Bước 1: Người cổ thiên di từ Phi Châu đến Đông Nam Á, khi gặp biển Đông ngăn chặn, họ chia theo hai hướng : một lên phía Bắc đến sống ở miền Nam Trung Hoa, và càng ngày càng tiến về Bắc đến tận Mông Cổ; một đi về phía Nam đến thềm Sunda, khi đó còn nối liền lục địa với các đảo phía Nam, đến tận Úc Châu. Tất cả đều là người chủng tộc Australoid (da đen, tóc quăn, mũi to...) Bước 2: Lớp di dân lên phía Bắc Đông Á, đổi dần nhân dạng vì môi trường lạnh, gió, ít nắng. Khoảng 15.000 năm trước giống này lai với chủng Altaic thiên di từ Tây Á đến đổi thành chủng Bắc Mongoloid (da trắng vàng, mắt hí, tóc thẳng ...) Bước 3: Chủng Bắc Mongoloid này bành trướng về phía Nam lai với chủng Australoid vào khoảng giữa đất Trung Hoa (nay) để tạo thành chủng Nam Mongoloid (da ngăm đen, tóc gợn sóng ...) Theo tác giả, chủng lai Nam Mongoloid này chính là tổ tiên của người Cổ Việt, Khmer, Thái, Miến, Mã Lai, Nam Dương, cả những người ở hải đảo Thái Bình Dương. Bước 4: Xin trích nguyên văn của tác giả: "Trên đất Việt Nam, vào thời đồ đá, cư dân thuộc chủng Australoid ban đầu nói cùng tiếng gốc Austric, dần dần phân thành hai nhóm dân nói tiếng khác nhau theo vùng họ ở, vì cách sinh sống khác nhau. Nhóm nói tiếng tiền Nam Á sống phía trong lục địa, trú trong hang động vùng cao (văn hóa Hòa Bình). Nhóm thứ hai nói tiếng tiền Nam Đảo, sống vùng đồng bằng ven biển, vào lúc ấy mức biển thấp, vùng này lan ra xa ngoài đường biển hiện tại trên vịnh Bắc Việt do thềm lục lài thoai thoải. Tại vùng vịnh Bắc Việt, dọc từ bờ biển Móng Cái tới Quảng Ngãi qua đến đảo Hải Nam", và ông kết luận : "Trong chừng mực nào đó, vùng vịnh Bắc Việt, kể cả (đảo) Hải Nam có thể xem là lãnh thổ của một phần tổ tiên người Việt, thuộc thành phần nói tiếng Nam Đảo, từ 15 ngàn năm trước ! Văn hóa Hạ Long và các văn hóa tiền Nam Đảo khác sau đó đã góp phần quan trọng vào sự hình thành văn hóa và con người Việt Nam". Bước 5: Bắt đầu từ thời đá mới, dân nói tiếng Nam Á trong đất liền và dân nói tiếng Nam Đảo dọc bờ biển đều tăng nhanh nên cùng tràn về châu thổ các sông. Sự hợp chủng của hai sắc dân này có lẽ xẩy ra khoảng 4.000 năm cách ngày nay. Và tác giả đặt câu hỏi phải chăng sự gặp gỡ này đưa đến truyền thuyết Lạc Long Quân Nam Đảo từ phía biển lên và Ấu Cơ Nam Á từ vùng núi xuống, và đi đến kết luận : "Như vậy Tiên Ấu Cơ Nam Á và Rồng Lạc Long Quân Nam Đảo là tổ tiên Lạc Việt lẫn Bách Việt (phía Nam Trường Giang), và những Viêm Đế, Thần Nông của huyền thoại Hán xa xưa, nếu có, có lẽ không dính dáng đến tổ tiên tộc Việt". Cũng theo tác giả: "Cuộc phối hợp văn hóa hoàn tất vào thời Đông Sơn tạo thành một văn hóa chung cho cư dân bản địa". Bước 6: Cũng xin trích nguyên văn : "Như đã nói ở trên, cuộc sống chung này tương đối hòa bình vì các di tích khai quật cho thấy tại Đồng Đậu, cư dân ?đột nhiên? biết chế tạo vũ khí. Để tự vệ ? Để giải quyết những tranh chấp về quyền lợi và ảnh hưởng ? Từ đó đưa đến những khủng hoảng mất mát chia lìa (năm mươi con theo cha, năm mươi con theo mẹ ?) hoặc đến lúc suy vi sau thời kỳ sung mãn". Và để kết luận, ông cho rằng người dân Việt đã lai nhiều suốt thời tiền sử và trong thời Hoa thuộc, nhưng văn hóa Việt thành hình từ văn hóa bản địa của những tộc nói tiếng tiền Nam Á trong lục địa và tiền Nam Đảo vùng thềm lục địa nên giữ được độc lập quốc gia trong khi toàn vùng Trường Giang đều bị Hán hóa. Trong những giai đoạn này, ba giai đoạn sau có nhiều điều khó hiểu cần bàn lại, nhiều chỗ hình như chưa được thống nhất, và về thời gian hình như có nhiều chỗ chồng chéo. Có điểm chúng tôi đồng ý (ba giai đoạn đầu), và cũng đã từng chủ trương như vậy, nhưng cũng có điểm chúng tôi không đồng ý. Nguyễn Quang Trọng giả thiết người Đông Nam Á đi ra hải đảo Thái Bình Dương hay lên phía Bắc đều thuộc chủng Australoid (da đen, tóc quăn, mũi to), rồi vì sống trong môi trường lạnh, gió, ít nắng ở miền Bắc, họ biến đổi nhân dạng với chủng Altaic mà dần dần thành chủng Bắc Mongoloid (tóc thẳng, mắt hí, da vàng trắng). Chủng Bắc Mongoloid này khi bành trướng về phương Nam một lần nữa lại lai với chủng Australoid đã sống trước ở đó mà tác giả gọi là giữa đất Trung Hoa, để thành người Nam Mongoloid (da ngăm đen, tóc dợn sóng ...). Theo tác giả, đây là tổ tiên của người Việt, Khmer, Thái, Miến, Mã Lai, Nam Dương, cả những người ở hải đảo Thái Bình Dương. Điều này cũng tương đồng với một giả thiết mà các nhà nghiên cứu về nguồn gốc người Trung Hoa đã tranh cãi nhau về ba mô hình (33): • Mô hình 1: Giả thiết người Hoa Nam là từ Hoa Bắc di xuống pha trộn với dân bản địa mà hình thành. • Mô hình 2: Ngược lại, giả thiết người Bắc Trung Hoa là hậu duệ của người phương Nam. • Mô hình 3: Dân cư ở cả hai miền tiến hóa và phát triển độc lập. Như đã thấy, Nguyễn Quang Trọng theo mô hình 1. Mô hình này có ưu điểm là nó có vẻ phù hợp với bản đồ ngôn ngữ ở Trung Quốc, đã một thời được nhiều nhà ngôn ngữ học công nhận. Chúng tôi sẽkhông đi vào chi tiết bởi nó rất phức tạp mà cũng không cần thiết. Nhưng qua phân tích DNA của nhóm Giáo sư Chu (mà chúng tôi đề cập trên đây), mô hình này không còn thích hợp nữa. Nói một cách khác, các dữ kiện di truyền học cho thấy tổ tiên của những người nói tiếng Altaic từ Đông Á đã di cư vào Á châu từ ngã Đông Nam chứ không phải từ ngả Trung Á (14). Nghiên cứu của các nhà nhân chủng học uy tín khác Lugi Luca Cavallli-Sforza (Đại học Stanford), Li Yin (Đại học Stanford và nhiều học giả khác cũng nhất quán với mô hình này (34). Liên quan đến sự khác biệt về đặc tính cơ thể (người hải đảo da sậm, tóc quăn, trong khi người sống trong lục địa có da vàng, tóc đen, không quăn), chúng tôi thấy có vài điều cần thảo luận như sau: Thứ nhất, không có gì chứng minh được người Australoid da đen, tóc quăn, mũi to đã lên phía Bắc đến tận Mông Cổ ngày nay. Nếu tại đất nay thuộc lãnh thổ Bắc phần Việt Nam, trong 70 xương sọ mà ta sưu tầm được cho đến ngày nay, 38 xương sọ thuộc thời Đồ Đá (cũng không xác định được niên đại rõ ràng), phần lớn do học giả Pháp tìm ra trước 1945 (29 sọ trên 38 cái) cho là thuộc chủng Australoid, Indonesian, Malanesian Ẫ và 32 sọ, đa số do học giả Việt tìm thuộc thời Đồng Sắt ngược lại, phần lớn là chủng Mongoloid vào những năm chưa có sự chứng minh ngược lại của di truyền học, đã một thời là nguyên nhân cho thuyết nguồn gốc người Việt tại đất liền là do cư dân hải đảo Thái Bình Dương di cư vào (35). Chúng ta không thấy bảng xương sọ tương tự như ở Trung Quốc. Những xương cốt thường được nói đến nhiều nhất và được coi là tổ tiên của người Trung Hoa là 3 bộ xương do J. Anderson tìm được ở Chu Khẩu Điếm (Chou-Kon-Tien). Thời đó, vì thiếu những phương tiện khoa học đo đạc chính xác nên có người đã cho xương này là tổ tiên của người Hoa có từ rất xa xưa! Sau này nhờ có phương tiện định tuổi bằng C14, Noel Bernard đã chứng minh được niên đại của xương đó chỉ là 16.922 năm trước CN (2k - 136-0; Bernard 1980) (36). Cũng có người chứng minh được đó chẳng phải là xương của một gia đình vì ở ba tầng lớp khác nhau trong hang (Weiderich, 1939), lại thuộc ba chủng khác nhau và chẳng liên hệ gì đến người Trung Hoa hiện nay cả (Wu, 1961) (27). Sở dĩ có hiện tượng đó vì phương pháp cổ điển để tìm chủng tộc và niên đại của các sọ thời trước chỉ là phương pháp so sánh (so cái chưa biết với mẫu đã biết gốc tích). Trong trường hợp đó, giá trị của các kết luận rất tương đối. Xương cốt cổ đào được nhiều nhất ở Yang-Shao là xương thuộc chủng Nam Mongoloid, giống với người Hoa hiện đại mà cũng giống cả với người Việt và các chủng Đông Nam Á khác. Vậy lấy gì để khẳng định người Australoid da đen, tóc quăn, mũi to đã di cư đến tận cực Bắc Trung Hoa ngày nay ? Thứ hai, giả thiết người Australoid đến Bắc Đông Á, rồi vì sống trong môi trường lạnh, gió, ít nắng nên dần dần thay đổi nhân dạng là cho con người thay đổi hình dạng chỉ do yếu tố môi sinh ngoại tại. Thực sự, muốn có sự thay đổi hình dạng phải có sự đột biến di truyền (28). Đó là một sự kiện sinh học xẩy ra trong tế bào, do sự tương tác giữa môi trường và sinh học. Giả thiết rằng người Australoid lai với người Altaic (các dân tiêu biểu là Buryat, Yakut, Uyghur, Mãn Châu, Hán, Đại Hàn, Nhật) thì lại càng khó hiểu vì người Altaic, theo di truyền học đã chứng minh cũng do người Đông Nam Á di lên chứ không phải từ Trung Á đi lại như trên vừa trình bầy. Có thể họ lai với một sắc dân đến muộn hơn từ Trung Á và Ấu Châu, như sẽ nói rõ hơn ở sau, nhưng đó là chuyện xẩy ra về sau khi băng hà lần cuối cùng đã tan. Thứ ba, chủng Bắc Mongoloid vì nhu cầu bành trướng, tràn xuống phương Nam, gặp chủng Australoid đã cư ngụ sẵn nơi đây, lai giống mà thành người Nam Mongoloid. Đây là tổ tiên của chủng Bách Việt. Ý kiến này rất mới, chỉ tiếc tác giả đã không đưa dữ kiện chứng minh để có thể kiểm nghiệm lại một cách khoa học. Mặt khác, những dữ kiện khoa học có được đến ngày hôm nay hình như không hỗ trợ cho giả thiết của tác giả. Về phương diện di truyền học, phân tích di truyền của Giáo sư J. Y. Chu và đồng nghiệp, cộng với nhiều phân tích DNA gần đây như trên vừa trình bầy, đã cho thấy ngược lại phát biểu của Nguyễn Quang Trọng rằng người Nam Mongoloid đã từ Đông Nam Á, phía Nam Trung Hoa, bành trướng lên phía Bắc. Nói rõ hơn, người Hoa Bắc là hậu duệ của người Hoa Nam. Cây hệ di truyền từ cuộc nghiên cứu của Giáo sư Chu cũng cho thấy đã không có sự hợp chủng giữa dân Hoa Nam (Nam Mongoloid) với dân Altaic. Chỉ có sự hợp chủng giữa dân Altaic với các dân cư đến muộn hơn từ Trung Á và Ấu Châu, sau thời băng hà cuối cùng (15.000 trở lại đây). Về phương diện khảo cổ học, hầu hết xương cốt tìm thấy được ở văn hóa Ngưỡng Thiều đều thuộc chủng Nam Mongoloid, giống người Trung Hoa hiện đại, cũng giống với những người hiện đại tại các quốc gia Đông Nam Á khác, đặc biệt ở Việt Nam. Không thấy dấu hiệu hợp chủng có tính toàn diện giữa Bắc Mongoloid và Australoid như Nguyễn Quang Trọng phát biểu. Nói tóm lại, qua các dữ kiện di truyền học gần đây, tuy còn hạn chế (vì những nghiên cứu về di truyền học trong vùng Đông Nam Á, nhất là với người Việt, còn ít), nhưng chúng tôi thấy có thể phát biểu rằng người hắc chủng từ Phi Châu di cư đến Đông Nam Á lục địa, khi tiếp cận biển Đông, thì một phần đi thẳng ra các hải đảo Thái Bình Dương và Úc Châu, lúc đó vẫn còn là hắc chủng; phần khác trụ lại tại Đông Nam Á, ở địa điểm đâu đó, có thể là lưu vực con sông nay mang tên sông Hồng, vì may đã hội đủ cơ duyên nên có đột biến di truyền, và do đó, từ giống hắc chủng (da ngăm, tóc xoăn) đã biến đổi thành giống hoàng chủng (da vàng, tóc đen, sợi thẳng). Từ đó, họ mới bắt đầu di chuyển lên hướng Bắc, nay là đất Trung Hoa. Giả thiết của chúng tôi dựa trên ba cơ sở như sau : Một, mực nước biển lên xuống. Trước thập niên 60 thế kỷ trước, người ta chỉ biết có độ 5 thời kỳ bằng hà (nước biển xuống), gián băng (nước biển tăng), nhưng ngày người ta đã biết được có đến 20 kỳ trong khoảng 2 triệu năm qua. Riêng trong hậu kỳ Pleistocène khoảng từ 125.000 năm đến 10.000 năm trước ngày nay, nghĩa là khi loài người Hiện Đại (Homo Sapiens Sapiens) đã xuất hiện thì mực nước biển ở Đông Nam Á cũng đã 5 lần lên xuống. Những lần xuống đó là vào khoảng 115.000 năm, 90.000 năm, 55.000 năm, 35.000 năm và lần cuối cùng 18.000 năm cách ngày nay (37). Ở 90.000 năm trước khi nước biển xuống thì người Hiện Đại chưa đến vùng Đông Nam Á. Họ đến khoảng 60.000 năm trước đây, vậy khi nước biển xuống khoảng 55.000 năm trước, chính là lúc người Hiện Đại Đông Nam Á đất liền bắt đầu thiên di ra các hải đảo Nam Thái Bình Dương, vì lúc đó nước biển cạn dần, đã nổi lên những triền đất nối liền với đại lục. Vậy gần như người Hiện Đại từ Đông Phi Châu thiên di đến Đông Nam Á đã có dịp tiến thẳng ra hải đảo vì khí hậu thích hợp và vì thuận đường lui tới. Lúc đó họ vẫn còn thuộc dân hắc chủng. Khảo cổ học đã có dấu tích của người Hiện Đại ở Úc Châu, khoảng 50.000 năm trước đây, ở New Guinéa 40.000 năm . Hai, điều kiện môi trường và khí hậu. Người Hiện Đại Đông Phi tiến được ra hải đảo Thái Bình Dương nhưng lại chưa thể tiến ngay lên phía Bắc vì lúc đó miền Bắc đang trong thời băng hà. Không khí chỉ ấm dần từ 40.000 năm trước cho đến 21.000 năm trước lại bắt đầu thời kỳ băng hà cuối cùng thường gọi là băng hà Wurm. Sau lần băng hà cuối cùng này, không khí ấm lại dần cho đến nay khoảng từ 15.000 năm trước (34). Chính trong thời kỳ ấm lại giữa hai khoảng băng hà (- 400.000 đến - 21.000 năm) người Hiện Đại đã tiến lên phía Bắc là đất Trung Hoa ngày nay. Khảo cổ học cho thấy dấu tích của họ ở đại lục khoảng 35.000 năm trước, ở Đài Loan khoảng - 30.000, họ vượt eo biển Beringa khoảng - 30.000 (lúc đó nước biển xuống như trước lần biển xuống cuối cùng nên eo biển đã thành một giải đất liền). Ta thấy dấu tích người Hiện Đại ở bờ biển Tây Mỹ Châu khoảng - 30.000. Họ là tổ tiên của văn hóa Maya, còn dấu vết ở Nam Mỹ ngày nay (38). Tất cả những điều trên đã được khoa di truyền hiện đại ngày nay xác định là đúng : người da đỏ ở Mỹ Châu, người thổ dân ở Úc Châu có yếu tố di truyền giống với người Đông Nam Á, và Đông Á (đều thuộc chủng Nam Mongoloid) và khác với người Bắc Á (thuộc Bắc Mongoloid). Ba, hội đủ tính đột biến di truyền. Về điểm này, còn cần thêm nhiều phân tích, nhiều chứng cớ, mới có thể trở thành một giả thuyết có tính khoa học. Tuy nhiên, khảo cổ học đã chứng minh được những người thiên di lên phía Bắc, cả những người sang Mỹ Châu, không còn hay còn rất ít yếu tố hắc chủng. Không thể kết luận họ lên phía Bắc vì lạnh, vì ánh sáng mặt trời hay nhiều gió mà biến đổi đi như vậy (như từ da đen, tóc xoăn thành da vàng hay trắng, tóc thẳng, mũi nhọn), dù không ai phủ nhận môi trường bên ngoài có làm thay đổi hình dạng con người. Nhưng để thay đổi cả hình dáng, màu da, râu tóc một cách triệt để như da đang đen trở thành trắng hay vàng, tóc đang quăn trở thành thẳng, mắt đang nâu trở thành xanh . thì phải có sự thay đổi nhiễm sắc thể DNA trong gien mà giới di truyền học gọi là có sự đột biến di truyền. Sinh học phân tử cho chúng ta biết rằng đột biến di truyền là một quá trình chậm, do nhiều yếu tố (trong đó có yếu tố môi trường, như tia sáng mặt trời, và tiến hóa) gây nên. Đột biến DNA dẫn đến nhiều thay đổi (và bệnh tật), trong đó có cả những thay đổi về hình dáng cơ thể như tóc, tai, da, mắt. Nguồn: vietsciences.free.fr (Còn tiếp)
-
(tiếp) II. Trước hết, chúng tôi muốn bàn và phát triển thêm những điểm trong bài viết của Nguyễn Văn Tuấn mà tác giả Nguyễn Quang Trọng cho rằng có thể gây ngộ nhận : Thứ nhất, về giả thuyết người Hòa Bình tràn lan về phía Nam (Indonesia), lên hướng Bắc (Trung Hoa) và sang hướng Tây (Thái Lan), tác giả Nguyễn Quang Trọng, tuy không bác hẳn, nhưng tỏ vẻ không đồng ý với quan điểm này vì có hàm ý văn hóa Hòa Bình (Bắc Việt) còn trẻ hơn các văn hóa kể trên. Dụng cụ đá ở Hòa Bình có niên đại trẻ hơn dụng cụ đá ở Úc Châu, và "Theo tôi (NQT), chữ ?người Hòa Bình? dùng cho các di tích ở nơi khác không có nghĩa là người Hòa Bình - Bắc Việt - vào thời điểm đó (7.000 đến 12.000 năm trước) đã tràn lan đến những nơi khác như Thái Lan, Indonesia, Úc, Trung Hoa". Thực ra, niên đại văn hóa Hòa Bình là một vấn đề đương đại, vì cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa nhất trí. Cụm từ "Văn hóa Hòa Bình" được giới khảo cổ học chính thức công nhận từ ngày 30-01-1932, do đề xuất của Madeleine Colani, sau khi đã được Đại hội các nhà Tiền sử Viễn Đông họp tại Hà Nội thông qua. Khởi thủy, cụm từ này được dùng để nói đến nền văn hóa cuội được ghè đẽo trên khắp chu vi hòn cuội để tạo ra những dụng cụ từ thời đá cũ đến thời đá mới (Choppers, hay chopping tools). Qua thời gian, tất nhiên cụm từ này đã được đề nghị mang những tên khác nhau và có những ý nghĩa cũng khác nhau. Lúc đầu, nó chỉ nói về nền văn hóa có khoảng không gian là Bắc phần Việt Nam, và khoảng thời gian không quá 5.000 năm trước đây (4). Nhưng khoảng không gian lẫn thời gian trên được nới rộng dần. T. M. Matthews có lẽ là người đầu tiên đã đem Văn hóa Hòa Bình vượt khỏi lãnh thổ Việt Nam đến các vùng Đông Nam Á, và rồi người ta nói đến Văn hóa Hòa Bình ở Miến Điện, Kampuchia, Lào, Mã Lai Á, Sumatra, Thái Lan, Ần Độ, Tứ Xuyên ... Nhưng có lẽ không ai mở rộng ảnh hưởng của Văn hóa Hòa Bình bằng Gs. W. G. Solheim II. Về không gian, ông đã đưa Văn hóa Hòa Bình, phía Đông Bắc đến Phi Luật Tân, Nhật Bản, phía Tây đến Thái Lan, phía Nam đến tận Úc Đại Lợi và phía Bắc bao trùm cả hai nền văn hóa cổ của Trung Hoa là Ngưỡng Thiều (Yan Shao) và Long Sơn (5). Về thời gian, ông không định rõ, nhưng tuyên bố không ngạc nhiên nếu thấy việc thuần hóa cây lúa nước đã có tại Hòa Bình từ 15.000 năm trước Công Nguyên, và những dụng cụ đá mài có lưỡi bén tìm thấy ở Bắc Úc Châu có tuổi khoảng 20.000 năm trước Công Nguyên đo bằng C14 có nguồn gốc từ nền Văn hóa Hòa Bình. Đấy là chưa kể đến dự phóng của ông về niên đại Hòa Bình lên đến 50.000 năm trước khi ông viết "Đông Nam Á và tiền sử học thế giới" đăng trong Viễn Cảnh Châu Á, tập XIII năm 1970 (6). Riêng trong phạm vi nước Việt Nam ngày nay, Văn hóa Hòa Bình được khoa học khảo cổ phân chia thành ba thời kỳ: • Hòa Bình sớm hay Tiền Hòa Bình, có niên đại tiêu biểu là di chỉ Thẩm Khuyên (32.100 ± 150 trước Công Nguyên (TrCN)), Mái Đá Điều, Mái Đá Ngầm (23.100 ± 300 TrCN). • Hòa Bình giữa hay Hòa Bình chính thống, tiêu biểu bởi di chỉ Xóm Trại (18.000 ± 150 BC), Làng Vành (16.470 ± 80 TrCN). • Hòa Bình muộn, tiêu biểu bằng di chỉ ở Thẩm Hoi (10.875 ± 175), Sũng Sàm (11.365 ± 80 BP, BLn - 1541/I). Tính cách rộng lớn và phức tạp của Văn hóa Hòa Bình đã đến độ có đề nghị đổi tên Văn hóa Hòa Bình thành Phức hợp Kỹ thuật Hòa Bình (7). Chúng tôi đồng ý cụm từ "Văn hóa Hòa Bình" nay được dùng để chỉ nền văn hóa đá mới có đặc tính chung rộng khắp tại Đông Nam Á, Bắc lên đến Nhật Bản, Nam xuống tận Úc Châu, và không nhất thiết nó phải phát xuất từ Hòa Bình, Việt Nam. Nhưng văn hóa thiên di theo con người, và gần đây đã có dữ kiện di truyền học cho thấy có lẽ người Đông Nam Á, gần gốc Phi Châu hơn Đông Bắc Á và người Việt Nam có lẽ là sắc dân cổ nhất của Đông Nam Á (chúng tôi sẽ bàn thêm về điểm này trong phần sau). Thứ hai, có phải kỹ thuật làm đồ đồng thau (dụng cụ, vũ khí) của cư dân Đông Sơn có trình độ cao nhất, nhì thế giới? Tác giả Nguyễn Quang Trọng không đồng ý với phát biểu này của chúng tôi, ông cho rằng trình độ đúc đồng của cư dân Đông Sơn (từ 700 năm trước CN về sau) quả rất cao, nhưng không thể nói là cao hơn các nơi khác, nhất là những nơi này đã có kỹ thuật đúc đồng xưa hơn Đông Sơn rất nhiều. Tác giả nêu một thí dụ về kỹ thuật đúc đồng ở Sanxingdai (Bắc Trung Hoa) cổ hơn Đông Sơn mấy ngàn năm, Thái Lan, xưa hơn Đông Sơn 1.000 năm, và ở các nơi khác như Irak, Ai Cập, vùng Cận Đông cũng sớm hơn Đông Sơn rất nhiều. Rất tiếc là tác giả không dẫn chứng được những niên đại chính xác ("mấy ngàn năm" là mấy ngàn? Sớm hơn là sớm như thế nào?), và nguồn gốc của những dữ kiện được nêu ra. Nhưng chúng ta cứ giả thiết kỹ thuật đồng của những nơi này đã có trước mấy ngàn năm, cái niên đại 700 năm trước CN (mà ông gắn cho là niên đại của văn minh Đông Sơn) đi nữa, thì cũng không chắc đã có trước kỹ thuật của văn minh Đông Sơn, bởi một lẽ giản dị, niên đại 700 trước CN chỉ là niên đại của Đông Sơn trễ, Đông Sơn trẻ nhất. Như sẽ được dẫn chứng dưới đây, Văn hóa Đông Sơn kể từ thời Phùng Nguyên cho đến nay, vẫn có thể coi là nền văn hóa đồng thau có niên đại xưa nhất so với niên đại văn hóa đồng thau ở các nơi khác trong vùng Đông Nam Á và Đông Bắc Á. Bốn nhà nghiên cứu có uy tín khác viết về Văn hóa Đông Sơn đầu tiên ở Việt Nam là V. Gouloubew, R.H. Geldern, B. Karlgrenvà O. Jansé, đều lầm khi cho nền văn minh độc đáo này có nguồn gốc ngoại lai, từ nơi khác truyền đến. Người thì cho nó bắt nguồn từ Trung Hoa; người đi xa hơn, cho nó bắt nguồn từ văn minh Hallstatt ở Ấu Châu, truyền qua vùng thảo nguyên Ấu Á, đến Trung Hoa trước khi truyền vào Đông Sơn (8). Có người lại dựng lên một nguồn gốc xa xôi từ văn minh Mycèle Hi Lạp và theo một hành trình rất nhiêu khê qua trung gian các nền văn minh Trung Ấu, rồi Trung Á, đến đây mới chia hai ngả, một theo đường Tế Xuyên, Vân Nam truyền vào Việt Nam, và một theo lưu vực sông Hà, sinh ra văn hóa đồng thau đời nhà Thương ở Trung Hoa (9). Những nhận xét này tuy có tính ngạo mạn, nhưng có thể hiểu được, bởi lúc đó chưa phát hiện được những nền văn hóa đồng thau nội địa xưa hơn và là tiền thân của văn hóa đồng thau ở Đông Sơn, kể từ Phùng Nguyên, nên các nhà nghiên cứu trên cứ nghĩ, văn hóa đồng thau tìm thấy ở Đông Sơn, là văn hóa đồng thau duy nhất tại Việt Nam. Thực ra, đồng thau tìm thấy ở Đông Sơn chỉ là giai đoạn chót của một nền văn hóa đồ đồng đã có lâu đời ở Việt Nam kể từ Phùng Nguyên. Hơn nữa, thời đó khoa học chính xác chưa tiến bộ, văn minh Tây phương đang hồi cực thịnh, văn minh đồng thau Đông Sơn lại quá rực rỡ, chứng tỏ nó phát xuất từ một nền văn minh tối cổ cực kỳ cao. Những nhà nghiên cứu gốc Tây phương này, có thể do niềm tự tôn làm lu mờ sự khách quan của mình, nên không thể ngờ một nền văn minh lớn, đã để lại những di vật hoành tráng như vậy lại do tổ tiên những người mà dưới mắt họ, thấy đang bị ngoại bang đô hộ, sống lam lũ, nghèo khổ, thiếu văn minh - đã sáng chế ra! Nhưng sự hiểu lầm đó đến nay đã thuộc về dĩ vãng, ít nhất là sau Hội nghị Quốc tế họp ở Berkeley bàn về Nguồn gốc văn minh Trung Hoa năm 1978, mà các bản tham luận, sau khi các dữ kiện được kiểm nghiệm, so sánh với ý kiến của các học giả khác, đã được xuất bản năm 1980 (10). Cho đến lúc này (tức 1980), người ta thấy đồ đồng Đông Sơn có niên đại xưa nhất (đồ đồng tìm thấy được ở Tràng Kênh thuộc Văn hóa Phùng Nguyên có niên đại C14 = 1425 ± 100BC [bLn - 891] so với đồ đồng cổ nhất của Trung Hoa ở Anyang có niên đại C14 = 1300 BC theo Anderson hay 1384 BC theo Lichi) (11); đồ đồng Đông Sơn cũng có kỹ thuật cao nhất vì đã biết pha với chì khiến hợp kim có độ dai bền đặc biệt (hợp kim đồng ở Thái Lan hay nhiều nơi khác có thể pha chế đồng với sắt, thiếc, antimoin như Đông Sơn nhưng không có chì) (12). Có lẽ Nguyễn Quang Trọng đã hiểu đồ đồng Đông Sơn theo nghĩa hẹp là đồ đồng tìm thấy ở làng Đông Sơn, Thanh Hóa. Tuy đồ đồng tìm thấy ở đây đầu tiên, nhưng tuổi của nó không phải sớm nhất mà trẻ nhất trong nền văn hóa mang tên Đông Sơn. Người ta đã chứng minh được nó là hậu duệ của những sản phẩm đồng từ Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun trước khi đến vùng Đông Sơn, Thanh Hóa. Bốn nền văn hóa này, mỗi nền văn hóa có những nét độc đáo riêng, nhưng cùng thuộc một chủng tộc làm chủ. Chúng kế thừa nhau một cách chặt chẽ, liên hệ với nhau một cách khắng khít. Bởi vậy khoa học ngày nay gọi chúng một tên chung là Văn hóa Đông Sơn. Như trên đã nói, Đông Sơn là nơi tìm ra đồ đồng ở Việt Nam đầu tiên nhưng lại là giai đoạn sau cùng của văn minh đồng thau này, kéo dài hơn 2.000 năm, khởi đầu từ Phùng Nguyên khoảng 4.000 năm cách ngày nay (C14 Gò Bông = 1850 ? 60 BC [bLn - 3001]). Đây là một hiểu lầm đến nay thì không còn nhiều người mắc phải và cũng không tai hại như sự hiểu lầm ở điểm 3 dưới đây mà nhiều nhà nghiên cứu về cổ học Việt Nam còn đang lúng túng chưa có câu giải đáp minh bạch. Thứ ba, về đồ gốm Việt Nam xuất khẩu khắp Đông Nam Á, đến tận Malanesia, trước khi có ảnh hưởng của Ần Độ, tác giả Nguyễn Quang Trọng viết "tôi e rằng có sự nhầm lẫn về điểm này", vì theo tác giả, "Hòa Bình là văn hóa không có đồ gốm, hay có rất ít vào thời kỳ cuối (Bắc Sơn)". Có lẽ tác giả viết như thế vì ông đã căn cứ vào mẫu đồ gốm tìm được ở Hang Đắng thuộc rừng Cúc Phương, có niên đại C14 = 7.665 năm trước đây, mà các nhà khảo cổ Việt Nam cho thuộc thời kỳ Văn hóa Bắc Sơn hay Văn hóa Hòa Bình muộn. Viết như thế là rất thận trọng, cũng giống như sự thận trọng của những nhà khảo cổ học Việt Nam, những người đã đích thân đào những di tích khảo cổ trên đất nước mình và khai quật được những di vật - ở đây là đồ gốm - và khi định niên đại thì những gốm này, ngay cả những gốm cổ nhất, cũng có niên đại trẻ hơn niên đại của gốm ở các nơi khác (Nhật Bản, Trung Hoa, Thái Lan, cả một số những đảo Thái Bình Dương), nghĩa là những nơi mà những ngành khác đã chứng minh được do người thuộc văn hóa Hòa Bình di cư đến đem theo cả văn hóa của mình. Sự bất lực không giải thích được điều mâu thuẫn này dẫn đến những hiểu lầm đáng tiếc. Gốm là một di vật rất quan trọng nếu không muốn nói là quan trọng nhất trong ngành khảo cổ, vì nó phản ảnh rõ nhất, đầy đủ nhất nếp sống, tư duy, nói chung, văn hóa của người xưa. Vậy thì, dù các ngành khoa học khác cho thấy người thuộc văn hóa Hòa Bình có thể là nguồn gốc của nhân loại Đông Á, mà gốm Hòa Bình lại có niên đại trẻ hơn gốm các nơi khác cũng sẽ làm cho nguồn gốc nhân loại Đông Á từ người thuộc văn hóa Hòa Bình trở thành có tì vết! Chính vì hiểu rõ sự quan trọng của gốm trong vấn đề giải thích đời sống tiền sử và sự mâu thuẫn có tính sinh tử này mà chúng tôi đã cố công tìm hiểu. Và chúng tôi nghĩ là chúng tôi đã tìm ra được câu trả lời cho vấn đề khó khăn này bằng bài "Gốm cổ tại Việt Nam và vai trò của nó trong văn hóa tiền sử", đăng trong Tập San TƯ TƯỞNG số 12 tháng 2 năm 2001. Những ý kiến đã giúp chúng tôi tìm được câu giải đáp, ngoài những di vật khảo cổ rất phong phú mới tìm thấy ở Việt Nam và Nam Trung Hoa trong những năm gần đây, trước hết, phải kể đến kiến giải của GS. W. G. Solheim II, khi ông giả thiết gốm Văn Thừng, đặc trưng của gốm Hòa Bình phải có niên đại 15.000 năm cách ngày nay dù ông chưa có trong tay tài liệu để chứng minh. Tiếp đến, ý kiến của GS. S. Oppenheimer trong sách "Địa đàng tại phương Đông" giả thiết về một sự hiện hữu của vùng Sundaland coi như nguồn gốc của nhân loại Đông phương, có thể của cả thế giới. Rồi thuyết về ngôn ngữ học của nhà ngữ học Johana Nichols và các nhà ngôn ngữ mới khác chứng minh ngôn ngữ Đông Nam Á Austronesian và Austro - Asiatic từ miền biển, miền thấp, ngược các con sông tiến lên miền cao, miền núi, chứ không phải từ miền núi xuôi xuống miền biển theo dọc dòng sông (13). Quan trọng nhất là các bằng chứng về di truyền học khẳng định rằng nguồn gốc người Hiện Đại (Homo Sapiens - Sapi-ens) từ Đông Phi Châu đến Đông Nam Á, rồi từ đó mới thiên di đi các nơi khác (14). Việc tìm hiểu về đời sống tiền sử, đời sống thời chưa có chữ viết, chúng ta không thể chỉ trông cậy vào một ngành khảo cổ học mà phải phối hợp các ngành đó để tiếp cận sự thực. Và một khi những lý thuyết này có điều gì chồng chéo, mâu thuẫn nhau thì bổn phận của nhà viết cổ sử, các nhà phân tích nói chung phải so sánh, cân nhắc và thực hiện một sự tổng hợp các khoa ngành một cách thận trọng. Nếu sự tổng hợp này vẫn còn khó khăn để rút ra một kết luận, phải biết trong trường hợp này khoa học nào nói tiếng nói quyết định. Ngày nay, di truyền học DNA, tuy sinh sau đẻ muộn, nhưng có độ chính xác cao nhất, và thường nói tiếng nói quyết định khi những mâu thuẫn trong những ngành cổ học khác không giải quyết được vấn đề. Có lẽ cũng nên nói thêm về một điểm nhỏ, Nguyễn Quang Trọng đã nói đến là gốm Lapita nổi tiếng nhất Đông Nam Á tìm được ở các đảo Thái Bình Dương, cụ thể đó là vùng bờ biển phía Tây đảo New Caledonia. Không thấy Stephen Oppenheimer hay Peter Bellwood đề cập đến trong các thuyết "Chuyến tầu nhanh, chậm" hay "chuyến tầu nhanh" của ông là do từ gốm Phùng Nguyên mà ra. Chúng tôi xin nói ngay rằng gốm Phùng Nguyên không phải là gốm cổ nhất ở Việt Nam (Phùng Nguyên nay thuộc vùng Vĩnh Phú, sâu trong đất liền). Những gốm cổ nhất, sau Hang Đắng, là gốm tìm thấy ở bờ biển từ Hạ Long, Cái Bèo, Đa Bút, Quỳnh Văn vào đến Bầu Tró, Sa Huỳnh. Đây là một điều trái với qui luật bình thường của khảo cổ, như đã trình bày trong bài viết trên nên xin miễn nói lại ở đây. Chỉ xin nhấn mạnh rằng khảo cổ học đã chứng minh được gốm Lapita mà Nguyễn Quang Trọng nói ở trên có nguồn gốc từ gốm trong hang động ở Thường Xuân (Thanh Hóa), Quỳ Châu (Nghệ An), Xóm Thân (Quảng Bình), là con đẻ của các gốm Đa Bút, Quỳnh Văn, Bầu Tró nói ở trên (15). Thứ tư, về quê hương của kỹ thuật trồng lúa mà chúng tôi phát biểu là ở quanh vùng Đông Nam Á đã được giới khoa học trên thế giới bàn luận đến từ lâu, đã tạm thời đi đến kết luận trong đại hội bàn về nguồn gốc dân tộc Trung Hoa ở Berkeley như nói ở trên. Riêng Tập San TƯ TƯỞNG cũng đã nhiều lần bàn đến, cụ thể là trả lời mục Bạn Đọc Góp Ý trong TƯ TƯỞNG số 12 (trang 27 - 28). Chúng tôi xin không bàn vào chi tiết nữa. Trong phần trên, Nguyễn Quang Trọng có nhắc đến bữa cơm tiền sử nấu với gạo của lúa mọc hoang tìm thấy ở hang Diaotonghuan 13.000 năm trước, và một số địa danh đã biết thuần hóa lúa nước từ 9.000 năm trước trở lại đây. Chúng tôi mong sẽ có dịp bàn lại về vấn đề này. Ở đây, chỉ xin nói ngay vào chủ đề điều 4, rằng đề tài này hầu như đã được giới khoa học quốc tế, kể cả khoa học gia hàng đầu Trung Hoa đồng thuận : quê hương lúa nước ở vùng Đông Nam Á. Quê hương lúa nước ở vùng Đông Nam Á là một sự thực, dù còn nhiều chi tiết cần tìm hiểu, bàn luận thêm. Nay nếu cứ đem những tiểu tiết che lấp đại thể thì vấn đề chỉ thêm rối rắm. Ngay sự thực trước mắt ngày nay cũng cho thấy người Hoa Hán ăn mì, người Hoa Nam, cả Nhật Bản, Đại Hàn và các dân Đông Nam Á khác ăn gạo. Chính thuyết trình viên người Trung Hoa, GS. Te-Tzu-Chang, phát biểu trước hội nghị quốc tế cũng trình bầy rõ, xét theo lịch sử Trung Hoa, lúa mạch là thực phẩm chính từ thời tiền sử đến nhà Chu, lúa tắc, mạch và đậu nành là thực phẩm thời Xuân Thu - Chiến Quốc, lúa nước chỉ là thực phẩm phổ biến tại Trung Hoa từ đời Hán về sau. Như vậy, phải chăng ông đã khẳng định lúa nước thuộc văn hóa phương Nam, chỉ trở thành thực phẩm chính ở Trung Hoa khi đất đai phương Nam thuộc tộc Bách Việt đã sát nhập vào Trung Hoa (16). Ngay cả tác giả Nguyễn Quang Trọng sau khi đã nêu ra một số những địa danh từ Trường Giang trở về Nam có niên đại lúa nước xưa hơn vùng châu thổ sông Hồng, cũng xác nhận người Cổ Việt, nhưng đây là U Việt ở vùng Cối Kê (Hemedu ngày nay) đã dậy Hoa Hán trồng lúa nước (chứ không phải dân Lạc Việt ở châu thổ sông Hồng, mà di vật liên quan đến lúa nước tìm được ở Sũng Sàm mới chỉ không quá 3.500 năm cách ngày nay). Mặt khác, ông lại quay sang phía Tây để phát biểu di tích hạt lúa ở Thái Lan tuy xưa hơn ở Việt Nam, nhưng không xưa bằng ở Nam Trường Giang (ông không tin vào niên đại C14 = 9260 - 7620 BP đã dẫn trong sách của S. Oppenheimer), nên quê hương lúa nước không phải ở Thái Lan. Những con số tác giả nêu ra đều có cơ sở. Có điều ông không để ý đến yếu tố quan trọng nhất là toàn bộ đồng bằng Bắc Việt ngày nay đã bị nhận chìm dưới làn nước biển suốt từ 8.000 năm đến 5.000 năm trước đây (5.500 năm trước nước biển mới bắt đầu rút). Đấy là nói đồng bằng ngày nay. So với đồng bằng sông Hồng từ 18.000 năm đến khoảng 30.000 năm trước đây, nó nhỏ hơn nhiều. Lúc ấy, nước biển thấp hơn ngày nay 130m, châu thổ sông Hồng xưa (cứ gọi như vậy) kéo dài đến tận đảo Hải Nam. Vậy nếu lúa nước có được thuần hóa thì di tích phần lớn đã bị hủy hoại (ở phần nước biển đã rút trả lại đất đai như ta thấy ngày nay) hay hãy còn ở sâu dưới lòng biển (ở phần vẫn bị nước biển tràn ngập). Việc không tìm ra di vật lúa nước có niên đại tối cổ (cổ hơn ở phần đất nay là Trung Hoa hay Thái Lan) cũng như việc không tìm ra di vật gốm tối cổ, ngoài lý do nó bị nước biển tàn phá, còn có thể vì nền khảo cổ của ta còn non trẻ lại thiếu phương tiện, nước ta trước đây có chiến tranh lại không quan tâm đến việc kêu gọi các nhà khảo cổ quốc tế tới thực hiện việc thám quật khảo cổ như các nước lân cận, chứ không hẳn vì không có. Vả lại, dù quê hương cây lúa ở Thái Lan, ở Nam Trường Giang, hay ở châu thổ sông Hồng, vấn đề quê hương của kỹ thuật trồng lúa nước ở quanh vùng Đông Nam Á cũng vẫn đúng, chẳng có gì phải đặt dấu hỏi, đặt nghi vấn cho một sự thực đã được khoa học và dư luận quốc tế chấp nhận như vậy. Theo thiển ý, lý giải như vậy mới không trái với kết quả nghiên cứu di truyền học, hải dương học, ngôn ngữ học như đã trình bày. Và như vậy tưởng mới là tiếp cận sự thực (17). Thứ năm, về câu phát biểu của chúng tôi rằng trước khi tiếp xúc với người Hán, tổ tiên chúng ta có một nền văn minh rất cao, nếu không muốn nói là cao nhất Đông Nam Á. Thực ra, tổ tiên chúng ta với tổ tiên những người vùng Đông Nam Á, nếu xét tự nguồn gốc thì cũng chỉ là một. Tổ tiên chúng ta và tổ tiên những người thuộc các nước vùng Đông Nam Á chỉ coi như khác nhau trong thời gian sau này mà thôi. Nguyễn Quang Trọng đặt câu hỏi đúng "Thế nào là văn hóa (văn minh) cao nhất Đông Nam Á?" Bởi riêng từ văn minh cũng đã có nhiều nghĩa mà cho đến nay vẫn chưa có nghĩa nào được mọi người cùng chấp nhận, vậy làm sao có thể chấp nhận thế nào là văn minh cao nhất? Nương theo lý luận của tác giả, đại khái ta có thể nói văn minh Tây phương (Western civilization) là cao nhất. Chẳng thế mà suốt hơn bốn thế kỷ qua, nền văn minh này đã thực hiện được những tiến bộ khoa học rất ngoạn mục, chinh phục các phần đất khác trên thế giới, bắt dân các nơi đó làm nô lệ cho họ. Nhưng cũng chính nền văn minh này là nguyên nhân của những cuộc chiến triền miên (thế chiến I, thế chiến II) có thể đưa nhân loại đến chỗ diệt vong. Trong trường hợp này thì văn minh nhất lại đồng nghĩa với man rợ nhất. Nay, nếu lấy tiêu chuẩn của những nhà viết văn minh cổ sử mà xét, thì một xã hội được coi là văn minh khi có được những sáng chế đưa nhân loại thoát khỏi thời kỳ mông muội. Ba sáng chế quan trọng nhất trong tiêu chuẩn này là sự phát minh ra kỹ thuật thuần hóa lúa nước, kỹ thuật hàng hải và kỹ thuật xây dựng đô thị (18). Và theo cái chuẩn này thì những ngưới chủ nhân của Văn hóa Hòa Bình, như các mục trên đã đề cập, được hiểu là những người phát xuất từ Đông Nam Á, tổ tiên của người Bách Việt, đáng gọi là có nền văn minh cao nhất thời ấy, nghĩa là thời mà nhân loại mới bước từ đời sống mông muội sang đời sống văn minh. Đó mới chỉ nói đến nền văn minh vật chất, chưa nói đến văn minh tinh thần. Khảo về văn minh tinh thần, về triết học tư tưởng của người cổ Việt, thì hiện tại, gần như chưa có ai nói tới một cách có hệ thống. Những tư tưởng Đông phương rất cao thâm như Nho, Lão, Phật . đều nói là hoặc của người Trung Hoa, hoặc của người Ần Độ, không có gì là của tổ tiên người Việt. Nhưng nếu đã khẳng định bằng di truyền học DNA, ngôn ngữ học, hải dương học, khảo cổ học, dân tộc học, tập tục truyền thống học... rằng người Hòa Bình, tức người Bách Việt ở Đông Nam Á đã có sớm nhất và là nguồn gốc của văn minh Đông phương thì cũng phải khẳng định tư tưởng đầu tiên, nền văn minh tinh thần đầu tiên của nhân loại Đông phương cũng do người Hòa Bình này khởi động. Điều này đến nay không có văn bản nào nói như vậy vì từ khi con người sáng chế được ra chữ viết đủ để ghi chép lại thành sách, người thuộc Đại tộc Bách Việt đã mất độc lập về tay người Hoa Hán, vì vậy những văn minh văn hóa của người Bách Việt, nếu có, (và chắc phải có), đều đã trở thành văn minh Trung Hoa. Nằm trong khung "văn minh" đó, tư tưởng của người Cổ Việt cũng đã được mang nhãn hiệu Trung Hoa cả. Tuy nhiên, vẫn còn có nhiều thứ như di vật khảo cổ, văn minh truyền khẩu, tập tục truyền thống . nếu biết "đọc" chúng, biết khai thác thì chúng sẽ cho ta biết nền văn hóa, văn minh tinh thần đó gốc gác nó từ đâu, nội dung chân chính của nó như thế nào. Nay chỉ nói về hoa văn trên trống đồng Đông Sơn, nếu biết giải mã, ta sẽ thấy chúng thuộc một nền văn minh tinh thần rất cao, gần với văn minh hậu nguyên tử, văn minh lượng tử như điều Giáo sư F. Capra đã nói đến (19). Nhưng đó không phải là đối tượng của đề tài này. Nói như vậy chỉ để làm cơ sở để phát biểu rằng, trước khi tiếp xúc với người Hoa Hán, quả người Hòa Bình, tổ tiên chúng ta đã có một nền văn minh rất cao. Còn việc nghi ngờ văn minh này không chắc là "cao nhất", bằng cớ là đã bị người Hoa Hán đánh thua vì họ có kỹ thuật quân sự dựa trên văn minh đồ sắt cao hơn văn minh đồng thau của tổ tiên ta thì lại là một vấn đề khác. Nó không hề phủ định đã có thời tổ tiên ta có nền văn minh cao nhất. Nguồn: vietsciences.free.fr (Còn tiếp)
-
Văn minh cổ và nguồn gốc dân tộc Việt Nam Nguyễn Văn Tuấn - Cung Ðình Thanh - Nguyễn Ðức Hiệp Một vài ghi chép thêm về văn minh cổ và nguồn gốc dân tộc Việt Nam I. Có lẽ, phát biểu rằng thế kỷ 21 là thế kỷ của văn hóa chắc không quá đáng, bởi vì một khuynh hướng chung hiện nay là các quốc gia trên thế giới đang (hay sắp) qui tụ với nhau thành nhiều nhóm dựa trên văn hóa, mà không dựa trên ý thức hệ (như Chủ nghĩa Cộng sản và Chủ nghĩa Tư bản trong thời gian qua). Trong thế kỷ 21, người ta sẽ hỏi "Anh là ai", thay vì "Anh thuộc phe nào" trong thế kỷ vừa qua. Tức là một sự chuyển biến về nhận dạng từ ý thức hệ sang văn hóa. Nhưng câu hỏi "Chúng ta là ai" tuy đơn giản, câu trả lời thì không đơn giản chút nào. Tổ tiên chúng ta xuất phát từ đâu, họ đến Việt Nam bằng cách nào, vẫn còn là những vấn đề khoa học, đòi hỏi nhiều nghiên cứu về di truyền học, khảo cổ học, và ngôn ngữ học. Từ thập niên 60 thế kỷ trước, nhiều người, nhất là giới trẻ, đã khao khát muốn tìm về nguồn gốc dân tộc. Nhiều đoàn thể đã tự chọn cho mình cái mục tiêu "về nguồn". Đến khi chiến tranh trên quê hương chấm dứt năm 1975, rồi cả triệu người phải bỏ nước ra đi, sự khao khát tìm về cội nguồn trong những người xa quê hương này lại có phần gia tăng, dù người ta đã phải vất vả nhiều hơn cho cuộc sống mới. Nhưng khi tìm trong cổ sử Việt, về đời sống tinh thần của người xưa, để thực hiện việc về nguồn này, người ta chỉ gặp một cảnh hoang sơ: ngoài một số truyền thuyết, và những lời răn thực tế trong tục ngữ ca dao, những tác phẩm để lại, phần lớn do người ngoại quốc viết, thường đã bị khoa học ngày nay vượt qua từ lâu, không kể một số không ít đã được sáng tác với dụng ý xuyên tạc sự thực, bôi bác nguồn gốc dân tộc, hạ thấp giá trị văn hóa cổ truyền. Trong cảnh tiêu sơ đến thảm hại đó, cũng đã xuất hiện vài quyển sách có thiện ý muốn viết lại cho trung thực nguồn gốc dân tộc mình (1). Nhưng được thực hiện trong hoàn cảnh tư liệu thiếu thốn, các sách này chưa đạt được mục đích, vả cũng đã nhanh chóng bị khoa học ngày nay vượt qua. Ở trong nước, nhờ có đội ngũ những nhà biên khảo khoa học xã hội đông đảo, có những cơ quan chuyên nghiên cứu về triết học, văn hóa và khoa học xã hội có tổ chức, nên có được nhiều biên khảo chuyên ngành và công phu hơn. Nhất là về phương diện khảo cổ, từ thập niên 60 (thế kỷ trước), ngành này đã đạt được những kết quả vô cùng ngoạn mục. Nhưng những tác phẩm nghiên cứu có hệ thống và khoa học vẫn còn cực kỳ ít, ngoại trừ tập một vài tác phẩm mới xuất bản gần đây (2). Đặc biệt về phương diện triết học tư tưởng, nhiều hội nghị đã được triệu tập, nhưng vẫn đi đến kết luận hết sức lạ lùng là: trong hoàn cảnh tài liệu hiện tại, còn quá sớm để có thể hình thành một tác phẩm loại này(3). Trong bối cảnh như vậy, chúng tôi, một nhóm tư nhân rất thiếu phương tiện, nhưng đã quyết tâm làm việc trong hoàn cảnh thiếu thốn, không có tài trợ từ bất cứ nguồn nào, đã tự cho mình trách nhiệm góp phần trong việc soạn thảo những tài liệu cung ứng cho khát vọng tìm về cội nguồn, mà chúng tôi biết trước là rất khó khăn, này. Một tập san mang tên Tư Tưởng, với mục đích phi thương mại, chỉ lưu hành trong nhóm thân hữu và các nhà biên khảo có lòng với văn hóa dân tộc, sống rải rác khắp mọi nơi trên thế giới, đã được phát hành từ đầu năm 1999 để làm cây cầu nối những ai muốn thực hiện con đường tìm về cội nguồn. Đến nay Tập san đã ra được 19 số. Cách đây không lâu, Giáo sư Stephen Oppenheimer, một nhà nghiên cứu y học nhưng từng nghiên cứu về thời tiền sử, có xuất bản quyển sách "Eden in the East" bàn về văn minh Đông Nam Á. Cuốn sách làm chấn động giới nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á. Nhận thấy quyển sách có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc tìm hiểu nguồn gốc dân tộc, nên một người trong nhóm chúng tôi (Gs. Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn) có viết một bài điểm sách, và nhân đó, đưa đề nghị "Đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc và văn minh Việt Nam" đăng trên Tập San Tư Tưởng số 15 tháng 8 năm 2001. Bài điểm sách đã được nhiều tạp chí trong và ngoài nước in lại, và chúng tôi đã nhận được khá nhiều góp ý cũng như phê bình. Vấn đề đặt ra được sự hưởng ứng nồng nhiệt của nhiều người ở trong cũng như ngoài nước. Trong số những tác giả đã khai triển thêm đề tài này bằng những bài phê bình hết sức xây dựng, Tác giả Nguyễn Quang Trọng, trong bài "Về nguồn gốc dân tộc Việt Nam và ?Địa đàng ở phương Đông? của ppenheimer" (Hợp Lưu, số 64) là đáng bàn thảo thêm, và đó cũng là đề tài chính của bài viết này của chúng tôi. Chúng tôi cám ơn tác giả Nguyễn Quang Trọng và các tác giả khác đã bỏ công viết những bài thảo luận có giá trị về vài điều mà chúng tôi đã nêu ra một cách vắn tắt trong bài điểm sách. Bởi bài viết trước của chúng tôi nằm trong dạng "điểm sách", nên chúng tôi không có cơ hội khai triển thêm những điều đã phát biểu. Trong bài này, chúng tôi muốn trình bày thêm một vài quan điểm chung quanh những ý kiến của tác giả Nguyễn Quang Trọng, và chắc cũng là ý kiến của một số bạn đọc quan tâm khác. Cố nhiên, có một số điểm chúng tôi sẽ không đề cập đến, không phải vì chúng tôi đồng ý (hay không đồng ý) với tác giả, mà chỉ vì muốn hạn chế trong phạm vi những điều có liên quan đến bài điểm sách của chúng tôi. Nguồn: vietsciences.free.fr (Còn tiếp)
-
Anh Thiên Đồng kính, Kiểm tra hộp thư hộ nhé, full quá rùi! :)
-
Mời các bạn tham gia giải một bài toán dân gian: Hai người đi buôn bán trâu Muốn đổi được lợn phải qua khâu đổi gà Cả hai bàn tính gần xa Trâu ông bằng số trâu ta. Nhập bầy '' Một trâu đổi được bầy gà Gà bầy bằng số đâu trâu này'',là buông ! Được gà rồi đi kiếm chuồng ''Mỗi lợn phải tình đổi luôn mười gà Đổi xong dư số gà ra Đổi thêm chú lợn mén để mà dễ cưa đô.'' Câu hỏi: Người nhận lợn choai phải được bù mấy con gà mới công bằng? B) B) :P :P :lol:
-
Tục ra gà - Một nét văn hóa ở Chu Hóa, Phú Thọ Ở xã Chu Hóa (Lâm Thao), tục ra gà cho các bé trai sinh trong năm có từ thời phong kiến cách đây hàng trăm năm. Đến khi hòa bình lập lại, đình làng trở thành nhà kho HTX nông nghiệp, tục ra gà tạm thời bị quên lãng. Song 10 năm trở lại đây, đình làng được khôi phục, theo đó tục ra gà được coi trọng và trở thành phong tục không thể thiếu trong những ngày đầu năm mới. Tục ra gà được 2 làng: Làng Thượng và làng Hạ duy trì và bảo tồn. Thời phong kiến, tục ra gà vào ngày mùng 5 tết được tổ chức rất công phu: gia dình nào sinh được con trai (gọi là Đinh), Sẽ chọn một con gà trống từ 3-4kg (không chọn gà thiến), trước Tết 4-5 tháng nhốt gà vào lồng, hàng ngày bón cho gà ăn 3 lần/ngày bằng cơm nóng trộn cám gạo loại 1. Đến ngày 5 tết, gia chủ mổ gà, thổi xôi làm lễ gánh ra đình làng. Lễ cúng bắt đầu từ 1 giờ sáng, lần lượt từng gia đình nhờ các cụ già thông thao cúng lễ sau khi cúng xong trời vừa sáng, tổ chức thi xem con gà nhà ai to đẹp nhất. Mọi người tin rằng gà càng to, đẹp thì đứa trẻ sẽ khỏe mạnh, hay ăn chóng lớn. Sáng ra, dân làng đến xem rất đông và cùng nhau hưởng lộc ngay tại đình. Ngày nay, các gia đình không tổ chức bón gà được mà chọn con gà trống to cỡ 3,5-4,5kg, cúng xong mang về nhà mời anh em nội tộc đến ăn mừng cho dòng họ có thêm 1 cháu trai khỏe mạnh. Không chỉ các cháu sinh ra ở 2 làng trên được làm lễ ra gà mà cả các cháu sống với bố mẹ ở mọi miền của Tổ quốc thì ông bà, họ hàng ở quê vẫn tiến hành làm lễ ra gà khi có thành viên mới chào đời. Tục ra gà ở 2 làng Thượng và làng Hạ ở Chu Hóa mang đậm tính chất tín ngưỡng về phong tục thờ cúng phật ở đình làng của người Việt cổ. Thông qua hình thức này, ngay từ khi sinh ra, con người đã gắn chặn với tổ tiên, cộng đồng. Đây là nét đẹp truyền thống văn hóa của một làng quê cần được bảo tồn để thế hệ con cháu luôn luôn nhớ về cội nguồn, quê hương. Cùng với tục ra gà, ở Chu Hóa còn nhiều lễ hội như: Hát đúm, chọi trâu... vẫn chưa được khôi phục. Rất mong sự quan tâm của ngành văn hóa, các cấp, các ngành để Chu Hóa trở thành điểm dừng chân hất dẫn trong hành trì du lịch về cội nguồn. Nguồn: bentinhyeu.info
-
GÀ CÚNG GIAO THỪA Theo quan niệm của người Việt Nam chúng ta con gà là loại tam sinh nó đại diện cho trời, đất, nước vì: Đầu giống rồng, mình giống công, đuôi giống tôm. Không những thế gà theo chữ Hán còn gọi là kê mà kê nghĩa là vàng. Thích vì lẽ đó nhà ai Tết đến mâm cỗ cúng giao thừa cũng chuẩn bị con gà để cúng. Nhà tôi cũng vậy! Tuy bây giờ mẹ tôi đã ngoài 80 tuổi nhưng mẹ tôi bao giờ tối 30 tết tuy không trực tiếp thịt được gà để cúng giao thừa nhưng mẹ luôn nhắc con dâu thịt gà cho cẩn thận để làm lễ cúng giao thừa. Để có được con gà cúng giao thừa cho vừa ý, cho đẹp việc đầu tiên phải chọn gà rất kỹ. Con gà trống mào phải đỏ tươi (chưa đạp mái người ta vẫn gọi là gà trống cưỡng) gà mào tươi rồi song phải nhú cao đều nhau, lông mượt nhanh nhẹn, da căng vàng, ức đầy, chân nhỏ (tức là loại gà ri thịt mới thơm) gà nặng từ 1,2 kg đến 1,4 kg là vừa, gà to quá bầy không đẹp, thịt kém ngọt nhiều xương. Ngày trước mẹ tôi còn khỏe, bao giờ mẹ tôi cũng nuôi lấy mươi con gà trống cùng lứa, đến tết mẹ chọn những con gà như thế để cúng giao thừa, bây giờ các con đi công tác cả nên việc chăn gà không được như xưa. Mẹ tôi dặn con dâu đi chợ mua gà về cởi trói chân gà ra nhốt vào chuồng lấy nửa ngày rồi hãy thịt, mẹ tôi giảng giải rằng: Nếu không thả gà cho nó đi lại thì máu nó làm sao lưu thông được, nếu thịt gà ngay máu tụ ở giữa các khuỷu chân gà thì cho nhà năm nay có động mồ mả, nếu đọng máu nhiều ở xung quanh cẳng gà thì cho rằng chú bác, anh em năm nay bất hoà, đấy là chưa kể máu đọng ở các kẽ chân gà thì cho rằng năm nay nhà ta khuynh gia bại sản. Tuy rằng những điều này không phải là linh nghiệm nhưng mẹ tôi cứ cẩn thận dặn như vậy. Tôi thì nghĩ rằng dù sao đi chăng nữa chân gà mà đen thì con gà cúng cũng không đẹp lắm. Làm gà cũng phải công phu hơn gà làm các món ăn khác vì đây là gà cúng. Trước tiên vặt lông ở dưới tai gà, dùng dao sắc cắt một nhát không quá sâu cho tiết ra hồng rồi hứng vào bát, trong bát cho một chút nước để tiết gà xốp, mịn. Khi cắt tiết không cầm đầu gà chặt quá dễ bị tụ máu, đầu gà dễ bị đen, điều này mẹ tôi nhắc nhiều lần tuy rằng mẹ biết chúng tôi đã thuộc. Khi cắt tiết gà phải để cho chảy hết máu, nếu để gà đập cánh trong chậu nước đun sôi thì dễ gãy cánh, không tạo được con gà đẹp. Cắt tiết gà xong, nhúng gà vào nước nóng khoảng 70oC (pha 4 phần nước sôi, một phần nước lạnh) nếu nước ở 100oC gà non dễ bị rách ra. Nhổ sạch lông bóc màng chân, bóc vỏ sừng, sát muối toàn thân để tẩy hết mùi của lông, rửa gà nhiều lần cho sạch. Sau khi làm lông, rửa gà sạch đến khâu mổ gà được coi là khâu rất quan trọng. Gà mổ moi chứ không được mổ phanh. Muốn mổ gà moi được đẹp khâu đầu tiên là cắt đứt đoạn da ở diều, lôi diều và cuống họng ra, cắt ngang bụng dưới cách hậu môn 2-3cm (vết cắt dài khoảng 4 cm) lấy nội tạng da, khoét hậu môn để lòng rồi khỏi thân gà. Sau đó làm lòng sạch để ráo nước. Dùng lạt buộc cổ giữa hai cánh gà định hình như con gà sống cổ vươn cao, hai cánh xoè như hai cánh tiên, đôi chân cài vào trong bụng cho gọn. Luộc gà phải chọn nồi sâu lòng, cho nước vào nồi ước lượng đủ ngập gà (chú ý nước luộc gà phải ở 50oC mới cho gà vào vì làm như vậy gà ít tiết nước gà ra, giữ được độ ngọt cho gà). Cho muối, gừng, hành đập nát vào nồi để gà có mùi thơm lâu. "Lưu ý gà phải xấp khi chín mới đẹp. Khi đun sôi rồi thì hạ nhiệt đun nước sôi lăn tăn" nếu đun lửa to gà dễ bị nứt da. Rồi cho tiết vào luộc, khi gà nổi lên, nước có nhiều váng béo, dùng tăm xiên thử vào đùi gà, thấy nước tiết ra không đỏ là gà đã chín vớt ra nhúng gà vào nước sôi để nguội, rửa sạch da gà, để ráo nước. Xoa một chút mỡ gà tạo cho da gà vàng, béo mọng để lâu da không bị nhăn nheo. Đặt gà lên đĩa to, tháo dây bầy ngay ngắn, mỏ cài bông hoa hồng đỏ rực (tiết, lòng bầy dưới bụng gà) bầy thêm một đĩa muối tiêu, chanh, ớt thái mỏng và một ít lá chanh thái chỉ cho thêm phần hấp dẫn. Làm được con gà như ý cả gia đình rất vui, yên tâm đón một năm mới tốt đẹp. Lê Văn Cơ http://www.vhttdlvinhphuc.vn
-
Con gà trong văn hóa Việt Con gà xuất hiện sớm nhất trong văn học dân gian ở đồ sính lễ của Sơn Tinh đi hỏi Mỵ Nương công chúa. Mà đó là giống gà đặc biệt trong bộ ba giống thú lạ gồm voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao. Gà là loại gia cầm quen thuộc trong cuộc sống con người, vừa để ăn vừa để chơi. Chơi thì có giống công, trĩ, gà lôi, gà chọi. Con công, được ví như hoa hậu của các loài chim, thật ra là một giống gà có bộ cánh sặc sỡ. Nuôi chim công, chim trĩ ngày xưa chỉ các tầng lớp quý tộc mới có. Còn để làm thức ăn có đủ các giống gà ngon thịt, nhiều trứng như gà ri, gà rừng. Một số tên địa danh đã gắn với tên gà thành đặc sản như gà Hồ, gà Đông Cảo... Trong thơ của bà Huyện Thanh Quan có câu "nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc, thương nhà mỏi miệng cái gia gia". Cái gia gia ở đây chính là chim gia gia hay còn gọi là gà gô, một loại gà rừng thường gáy dồn vào sáng sớm hoặc chiều hôm. Thú chơi gà chọi là một trò vui dân gian đã có từ lâu. Có những khi thú chơi này đã khiến nhiều người quên lãng việc chính sự. Trong bài Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn có câu "cựa gà trống không đâm thủng áo giáp giặc" để nhắc nhở tướng sĩ nhà Trần đừng có vui thú chơi bời mà quên rèn việc quân, bảo vệ đất nước trước họa xâm lăng của quân Nguyên. Trong tranh dân gian Đông Hồ, hình ảnh con gà biểu tượng cho sự no ấm, đầy đủ. Tranh gà treo ngày Tết là phong tục đẹp, đã đi vào những câu thơ nổi tiếng của thi sĩ Hoàng Cầm: Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp. Từ thuở ấu thơ, đã nghe trong tiếng ru của mẹ có hình ảnh con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi. Lớn lên một chút, được bài học về ứng xử trong cộng đồng khôn ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau. Hình ảnh con gà thật là quen thuộc trong cuộc sống chúng ta. Người lớn vẫn nói với con trẻ hóc xương gà, sa cành khế để nhắc nhở cẩn thận khi ăn và khi chơi. Thịt gà thì ngon thật nhưng xương gà rất giòn và nhọn sắc, ăn vội mà hóc thì khó gỡ, cũng như trèo khế xảy tay mà ngã thì khốn. Tuy vậy cũng đừng quen thói gà què ăn quẩn cối xay chỉ khôn vặt ở nhà mà quên mất lẽ đời, con gà tức nhau tiếng gáy, đầu gà còn hơn má lợn, trong đời cũng phải có sự ganh đua, có sự thay đổi tư duy để vươn lên hoàn thiện cuộc sống. Mọi sự đơn điệu dễ trở nên nhàm chán. Phong tục bói chân gà không biết có tự bao giờ, chỉ biết rằng giống gà có khả năng đặc biệt là xương bị gãy tự hồi phục lại được. Chó liền da, gà liền xương mà lại. Ngày Tết vào nhà ai nghe các cụ giảng giải về thuật xem bói chân gà để đoán biết việc của năm mới cũng là một nét tâm linh đáng suy nghĩ. Người xưa đã nói về trách nhiệm và hậu quả của một việc làm có ảnh hưởng đến các việc khác bằng một câu rất ngắn gọn: bút sa gà chết. Nếu bất cứ một vị công bộc nào của dân cũng nhớ đến câu này mỗi khi đặt bút ký một quyết định nào đó thì sẽ bớt đi những chuyện không hay. Xuân năm ngoái, chưa bao giờ người ta lại nhắc đến giống gà nhiều như thế bởi vì đại dịch cúm gia cầm đe dọa sức khỏe con người trên toàn thế giới mà gà là loại gia cầm được con người nuôi phổ biến nhất. Trong gia đình của nhiều người Việt, chưa bao giờ lại có tình trạng mâm cơm cúng gia tiên vắng bóng chú gà sống thiến vì loại virus H5NI nào đó. Rất may là chúng ta cũng đã từng bước phong tỏa được sự lây lan của loại bệnh đáng sợ này. Dù sao thì con người cũng không thể loại bỏ được giống gà ra khỏi đời sống của mình. Cũng như hình ảnh con gà đã đi vào lời ăn tiếng nói của dân ta như một sự tất yếu khách quan. Mà quả nhiên là vậy, tiếng gà gáy sáng quen thuộc biết bao với mỗi làng quê bình dị. Một nước giàu mạnh như nước Pháp hẳn cũng có lý do để chọn con gà làm biểu tượng cho xứ sở Gaulois. Hãy xem chú gà trống đang đứng trên đống rơm cất tiếng gáy mà xem. Hùng dũng và hãnh diện biết bao, ò ó o... trời đã sáng rồi. (TGPN) ST.
-
Bài trắc nghiệm dưới đây chắc sẽ làm các bạn thích thú hơn nhiều so với món "Bói chân gà". Chân gà là một trong những món khoái khẩu của dân nhậu cũng như dân không nhậu. Chân gà có nhiều loại và nhiều cách làm nhưng chủ yếu là luộc và nướng. Ăn chân gà là cả một nghệ thuật nếu có thời gian nghiên cứu và phát triển lý luận có thể nâng lên thành Chân Gà Đạo, bởi ăn chân gà không chỉ đơn thuần là nhai và nuốt. Không phải vô lý mà chân gà còn đựơc dùng làm công cụ cho việc xem bói, trong chân gà ẩn chứa nhiều bí ẩn nên việc ăn chân gà như thế nào xét về khía cạnh khoa học cũng nói lên tính cách của bạn, cũng như những gì đã, đang và sẽ xảy ra với bạn. Sau một quá trình ăn chân gà, theo dõi, để ý nghiên cứu và nhặt nhạnh lung tung có thể khái quát về việc ăn chân gà như sau : 1. Bạn thích ăn chân gà to - Bạn là người dễ dãi, tính tình thẳng thắn, bộc trực. Sống hướng ngoại, có lòng nhiệt tình và vị tha. Tuy nhiên bạn rất dễ nóng tính, bảo thủ. Bạn yêu say đắm và nồng nàn nhưng cũng nhanh chán. Bạn thích hợp cho những công việc đòi hỏi sự sáng tạo, ngẫu hứng nhiều hơn là sự tỷ mẩn và tính toán. 2. Bạn thích ăn chân gà nhỏ - Bạn là người có tính cẩn thận, ngăn nắp. Cũng giống như chất lượng của món chân gà nhỏ này, bạn là người có thể đứng một mình. Điều cuối cùng, bạn là một người rất chăm chỉ, kiên định, hơi hướng nội và muốn mọi việc tuân theo các lề lối từ trước. Cũng giống như chiếc chân gà nhỏ nhắn bạn không cần phải tỏ ra sang trọng hay bảnh bao. Mọi người yêu quí bạn chính vì sự chắc chắn, giản dị và tính kỷ luật của bạn. Trong một môi trường thân quen và thoải mái, mọi người đều sẽ quí mến, ấp áp, nhạy cảm và vững chắc 3. Bạn thích ăn chân gà luộc - Bạn là người vui tính và cởi mở. Mặc dù đôi lúc bạn cũng nổi cáu, nhưng bạn dễ dàng vượt qua những lúc khó khăn và vui tươi trở lại. Tính cách thân thiện của bạn là một điểm tốt trong con mắt người khác giới, nhưng nó có thể làm cho bạn đời của bạn cảm thấy bất an. Sự thiếu tình cảm của bạn có thể là một bất lợi, nhưng sự hoà đồng của bạn làm bạn trở nên được mến mộ. Bạn cùng giới thường thấy bạn khó hiểu bởi suy nghĩ vô tư của bạn. Nhưng đó lại là điểm hấp dẫn những người khác giới có cùng tính cách với bạn. 4. Bạn thích ăn chân gà nướng - Giống như chân gà nướng được bao phủ bởi nhiều loại gia vị khác nhau, bạn luôn trầm tĩnh và tạo được những bất ngờ. Bạn là tuýp người hướng dẫn những hoạt động xã hội và thích được chăm sóc người khác. Tuy nhiên, bạn cần phải tách khỏi những việc đó để có thể nghỉ ngơi, thư giãn. Tóm lại bạn là một người yêu sự vui vẻ nhưng không sợ thử thách, thích được hoạt động và thích sống ngoài trời. Sự pha trộn không quá rắc rối của bạn khiến bạn trở nên thú vị nhưng vẫn giữ được vẻ trầm tĩnh. Sự nhiệt tình và bản tính ưa hòa đồng của bạn sưởi ấm những người quanh bạn và làm mọi dịp trở nên vui vẻ. 5. Bạn ăn chân gà từ khuỷu ăn xuống - Cá tính của bạn là sự kết hợp sự dịu dàng, phiêu lưu, chăm chỉ và hòa đồng. và thường đem lại cho những người xung quanh một cảm giác thú vị. Bạn là một người không quá nghiêm túc, yêu thích sự vui nhộn. Bạn là một người rất linh hoạt với những nhu cầu của người khác. Sự cân bằng giữa sự mạnh mẽ và tính vui nhộn giúp bạn trở nên có trách nhiệm nhưng dám chấp nhận thử thách. Một khía cạnh được thể hiện rất rõ ở bạn là thích tìm kiếm cảm giác hồi hộp và rất năng động. Người khác có thể phải đào sâu hơn mới có thể nhận ra nội tâm phong phú và sâu sắc của bạn. 6. Bạn ăn chân gà từ ngón ăn lên - Kiểu ăn này thể hiện rõ nhất tính cách của bạn. Lịch lãm và đầy tính trí tuệ, cách ăn này thường ở những người rất nghiêm túc và trưởng thành. Chỉ có những nhà lãnh đạo và những cá nhân thực sự thành đạt mới thể hiện rõ ý nghĩa quan trọng của Chân gà đạo. Bạn có thể phù hợp với khá nhiều hoàn cảnh. Mặc dù bạn có thể là VIP nhưng vẫn rất hoà đồng và dân dã. Bạn không sinh ra dành cho những điều tầm phào hay những việc làm vô nghĩa. Bạn thích sự thành đạt và luôn hướng tới các mục tiêu. Bạn có tham vọng nhưng cũng khá thoải mái. Bạn rất tự tin và táo bạo. Không ai có thể chơi xấu với bạn. Có trách nhiệm, hơi kín đáo, luôn bình thản và trầm tĩnh là những nét tính cách đặc trưng của bạn. Đầy sáng tạo và luôn tích cực, mọi người yêu quí những người như bạn bởi sự tự tin luôn toát ra từ bạn. 7. Bạn tiện tay thế nào thì ăn từ phía đó - Bạn còn rất trẻ con và ngộ nghĩnh đúng không? Đôi khi bạn hay hờn dỗi, nhõng nhẽo một chút với những người lớn hơn, nhưng bạn vẫn rất dễ thương và được mọi người yêu mến. Điểm yếu của bạn là quá nhí nhảnh, đến nỗi có khi sẽ bị cách ly trong những việc đại sự của người lớn, tệ hơn nữa là ý kiến của bạn dễ bị bác bỏ chỉ vì bạn quá trẻ con. Nhưng đừng lo, bạn chỉ cần nghiêm túc hơn một chút thôi. 8. Bạn ăn chân gà từ giữa ăn ra - Bạn thích sự nhẹ nhàng, thoải mái. Sự cân bằng giữa lý trí và tình cảm tạo nên con người bạn. Tương tự như vậy, bạn cũng cần sự cân bằng để trở nên hoàn thiện, thời gian để bộc lộ bản thân và thời gian để giao tiếp với những người khác. Có thể nói không có gì có thể làm bạn quá bối rối. Nếu mất bình tĩnh, bạn thường hay buồn rầu và cần thời gian để tự suy ngẫm. Bạn không thích những gì quá mạnh mẽ hay quyết liệt. Mặc dù dịu dàng nhưng bạn không quá ngọt ngào. Bạn khá bí hiểm vì khó ai có thể đoán trước được những điều bạn sẽ làm. Chính bạn cũng không thể hiểu tại sao mình có thể lúc thì dịu dàng, lúc lại nhẹ nhàng hoặc sâu sắc hay nghiêm túc. Những người thuộc nhóm này thường rất phức tạp, nhưng tự tin và rất sâu sắc. 9. Bạn ăn chân gà lần lượt từ ngón cái đến ngón út - Bạn thích chăm sóc người khác và đó là lý do bạn trở thành một người anh/chị lớn trong con mắt người khác. Mọi người thấy thoải mái và thú vị khi nói chuyện với bạn, điều đó giúp bạn giành được niềm tin ở họ. Điều này cũng gây ấn tượng tốt lên phe khác giới, những người đa cảm và trẻ tuổi hơn bạn. 10. Bạn ăn chân gà lần lượt từ ngón út đến ngón cái - Bạn là kiểu em út điển hình trong mắt người khác giới. Bạn phụ thuộc và ít có chính kiến. Trong số các loại người, bạn là người của gia đình nhất. Bạn có một thôi thúc mãnh liệt được chiếm lĩnh bạn đời. Bạn cũng tận dụng mọi cơ hội để thu hút sự chú ý của người khác. Ấn tượng đầu tiên bạn tạo ra ở người khác giới là cái nhìn và tâm hồn đồng cảm. Điều đó cũng là lý do khiến người khác luôn sẵn lòng che chở và bảo vệ bạn. Bạn nên mặc những quần áo gọn gàng và sạch sẽ để được hâm mộ hơn nữa. 11. Bạn ăn chân gà từ ngón giữa ăn ra - Trong số các kiểu, bạn là người sở hữu vẻ đẹp quyến rũ nhất. Vẻ ***y của bạn thu hút sự chú ý của người khác và làm bạn trở nên nổi tiếng, tuy vậy hầu hết chỉ biết tới vẻ đẹp bên ngoài của bạn. Bạn không nên tin quá vào những lời lẽ ngọt ngào của người khác. Bạn nên thể hiện tài năng và trí thông minh của mình để người khác có ấn tượng về bạn không chỉ bởi vẻ đẹp bên ngoài mà cả khả năng bên trong. 12. Bạn ăn chân gà không để ý ngón nào - Mặc dù có thể bạn ăn nhanh hay chậm nhưng việc này cho biết có đôi khi bạn khá trưởng thành và trầm tĩnh, nhưng về cơ bản, bạn luôn muốn thêm vào cuộc sống sự thú vị và tính ngẫu hứng. Giống như làm bất kỳ việc gì đó, bạn làm cuộc sống của những người xung quanh trở nên sôi động, dễ dàng trò chuyện với người khác và luôn nhìn vào mặt tốt đẹp của mọi vấn đề. Bạn luôn bận rộn với các hoạt động và với mọi người xung quanh. Bạn không phải là một người sợ hãi trước các thách thức và những hoạt động mới. Bạn là tuýp người ưa cạnh tranh, thích bảo vệ chính kiến của mình và không bao giờ nhường nhịn ai. Bạn rất nổi bật và mọi người có thể nhận ra bạn từ rất xa. 13. Bạn ăn nhanh và gặm không kỹ - Ưa ồn ào và luôn nồng nhiệt. Thích phiêu lưu, bạn luôn tràn ngập sức sống và năng lượng. Tốc độ ăn của bạn tượng trưng cho nguồn năng lượng bất tận của bạn. Cho dù là đi du lịch hay học tập, bạn luôn thích xáo trộn mọi việc lên một chút và cảm thấy buồn chán nếu mọi việc diễn ra quá chậm chạp.Bạn có rất nhiều mặt cá tính với rất nhiều sở thích khác nhau. Mọi người bị bao vây bởi sự hăng hái của bạn và họ luôn mong chờ bạn sẽ làm họ ngạc nhiên với những kế hoạch "kinh dị" của bạn. Có một điều chắc chắn, sẽ không bao giờ có điều gì gọi là buồn chán xung quanh một người như bạn. 14. Bạn ăn chậm và kỹ càng từng đốt - Bạn có vẻ già dặn và sành sỏi. Mặc dù không ngang ngược cho lắm, nhưng trông bạn lúc nào cũng có vẻ rất lãng tử, lành lạnh hoặc bất cần đời. Bạn là mẫu người dễ nghe tâm sự chứ ít tâm sự với bất kỳ ai. Ai cũng có thể tựa vào vai bạn, chia sẻ vui buồn cùng bạn. Mọi người sẽ vui lắm khi có một người bạn như bạn đấy. (ST)
-
Phong tục Việt Nam lưu truyền một môn bói Phoenix cho rằng cực kỳ gần gũi và đậm nét văn hóa là "bói chân gà". Sách Trung Hoa gán cho tục bói chân gà (bà Cửu Thiên Huyền Nữ) những tính huyền bí như chuyện tìm ra Hà đồ Lạc Thư. Có rất nhiều sách viết về bói chân gà. Ngày trước, Phoenix thấy mẹ mỗi khi vào dịp Tết đều rất cẩn thận cắt đôi chân gà, nhúng nước sôi rồi buộc lạt treo lên nơi thoáng gió. Đôi chân gà ấy không được ăn, mà dùng để làm một việc tâm linh: Bói vận gia đình trong năm mới. Dưới đây giới thiệu một bài thơ trong vô số các bài viết về bói chân gà. BÀI PHÚ COI GIÒ GÀ Đầu năm ra mắt mồng ba Cùng ông Hành Khiển cùng là Hành Binh Bói giò phải bói cho tinh Xem tường màu sắc chân hình rủi may Đôi giò cần để thẳng ngay Nhuận hồng vàng ánh năm nay chắc giàu No rồi chụm móng khít khao Đỡ cái chắt chẻ cũng giàu cũng sang Đỏ mà gân máu nổi loang Là điềm hao của tan hoang cửa nhà Trắng xanh bền bệt thây ma Ấy điềm tang ông bà cháu con Da gà tươi mượt vàng son Đi thi chắc đậu đi buôn chắc lời Khe chân gà hở tơi bời Tiền vô nhiều cũng phủi rồi tay không Ba ngón đội lên một chồng Tốt thì có tốt, phải phòng người trên Nhờ người giúp đỡ mới nên Tự mình tự chủ không bền được đâu Cũng ba ngón chân chụm đầu Một hàng ngang mặt, thúng đâu đựng tiền Ngón cái mà cong nghiêng nghiêng Đâm vô khe hở, lụy phiền đến nơi Quan phi khẩu thiệt tơi bời Tai bay vạ gió kêu trời sao đang Bốn chân cong quẹo loạn hàng Cả năm bương chảy biết đàng nào yên No rồi như nở cười duyên Da hường tươm mỡ của tiền đầy kho Da chân xam xám màu tro Gân xương khô héo có lo cũng nghèo Đôi giò cái trễ cái treo Bên ngay bên quẹo nằm queo một mình Da vàng mỡ đọng lung linh Làm chơi được thiệt, mặc tình vui chơi Bốn ngón đều ngay lên trời Nồi gọ xẹp lép thì thôi còn gì ! Gặp năm tuổi xấu thêm nguy Ốm đau tang chế, quan phi tụng đình Ngón chân rời rạc thân hình Thiếu người giúp đỡ, thiếu tình hữu giao Gặp cơn sóng gió ba đào Một tay lèo lái, ai nào giúp ta ! Chân gà cấm hở, quẹo ra Da gà tươi nhuận mới là bình an Cùng gà ra mắt nghiêm trang Làm gà kỹ lưỡng, luộc càng thêm tinh Có thang chắc có thần linh Cầu ông Hành Khiển Hành Binh hộ trì Cho mình gặp hội khả vi Mỗi chu niên trọn, chu kỳ bình an Mùng ba Tết tới bước sang Lại cúng ra mắt huy hoàng như xưa.
-
"Đại Cát" trong biện luận của nhà nghiên cứu lý học Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Mời click vào link dưới đây: Con gà và tính minh triết trong dân gian
-
THỬ TÌM BÓNG DÁNG CON GÀ TRONG NGÔN NGỮ DÂN GIAN VÀ TRONG VĂN THƠ VIỆT NAM. Con gà, và đặc biệt là tiếng gà gáy là những hình ảnh và âm thanh thân thương quen thuộc ở nông thôn, làng xóm Việt Nam. "Chó giữ nhà, gà gáy trống canh". Chính vì vậy người ta rất dễ tìm thấy hình ảnh con gà và tiếng gà gáy trong nhiều câu thành ngữ, tục ngữ, cũng như trong văn thơ, có liên quan đến đặc tính của gà, xấu cũng có mà tốt cũng nhiều. Con gà có một nhược điểm mà ngôn ngữ dân gian ghi nhận, chính là thị giác kém cỏi vào lúc trời chạng vạng tối: Quáng Gà. Ngoài ra loài gà thường mắc chứng bệnh sâu mắt làm hỏng thị giác, vì vậy nó bị gán thêm hai chữ gà mờ. Hai tiếng này thường được dùng theo nghĩa bóng, chỉ những kẻ thiếu hiểu biết trong một lãnh vực nào đó. Từ đó mới có thêm câu ngây ngô như gà mờ, lờ mờ như đom đóm đực. Ngoài ra, gà có dáng dấp ngơ ngác, lơ láo, nên người ta thường bảo ngơ ngác như gà con mất mẹ, gà mở cửa mả. Thành ngữ gà mở cửa mả là một lối nói đặc biệt của phương ngữ Nam bộ, được nhà tự điển Huỳnh Tịnh Của giải thích như sau: gà dùng mở cửa mả rồi thì khờ, không còn biết đàng nào mà đi. Trong Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức (Lê ngọc Trụ hiệu đính) đã nói rõ hơn : Con gà ôm từ nhà ra nghĩa địa rồi được thả ra giữa đông người, trước tiếng mỏ tiếng chuông và tiếng tụng kinh trong lễ mở cửa mả, nên khờ khạo ngơ ngác. Tội nghiệp nhất là mấy chú gà con lạc mẹ, đã không tự kiếm ăn được mà còn bị đe dọa bởi sự xuất hiện của mấy con quạ, con diều hâu, vì thế nên có câu: sểnh nạ quạ tha, (nạ là mẹ). Con gà, trong lúc tìm thức ăn, thường hay bới móc bừa bãi lung tung, nên có câu vắng chủ nhà gà bới bếp, hay vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm (Câu này bị tam sao thất bổn, nên có nhiều nơi nói là vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm). Thành ngữ này thường được dùng để ám chỉ khi ông sếp (hay cha mẹ) đi vắng thì nhân viên (hay con cái) tha hồ làm gì thì làm. Gà nhà bươi phá trong nhà đã đành, nhưng gà của hàng xóm mà vào bươi phá nhà mình mới là phiền. Vì vậy có câu trấu trong nhà để gà ai bới. Phương tiện chính để kiếm ăn của gà là cặp giò. Nếu cặp giò mà có bề gì thì con gà đành nằm một chỗ, chỉ còn cái mỏ mổ bậy chung quanh, vì vậy có câu gà què ăn quẩn cối xay. Riêng mấy chị gà mái, ngay sau khi đẻ trứng thì kêu lên inh ỏi, nên có câu gà đẻ gà cục tác, Câu này ám chỉ những hành động ngớ ngẩn dại dột cái kiểu lạy ông tui ở bụi này... Nhưng cũng có nhiều chị gà mái không hiền, nên mới có câu gà mái đá gà cồ. Nhiều người đã dí dỏm ghép chung với câu tiếng Hán nữ kê tác quái gà mái đá gà cồ. Mượn hình ảnh của một nữ quái kê để ám chỉ mấy mụ đàn bà có thói ăn hiếp đức ông chồng.. Trong khi con gà mái bị chê vì hành động lấn lướt đức lang quân, thì anh gà trống lại được khen về đức độ đảm đang và đùm bọc đám con cái, nên có câu gà trống nuôi con. Câu nói này để chỉ những người đàn ông góa vợ, mà vẫn một lòng tận tụy nuôi con. Liên quan đến tiếng gáy, dân gian còn nhận xét rằng gà tức nhau tiếng gáy, câu nói này còn ám chỉ nhừng ngưòi có tính hơn thua. Gà một chuồng, có khi cùng một mẹ, có lúc bôi mặt đá nhau. Và cũng để tránh cảnh nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn, dân gian đã có lời khuyên khôn ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau. Ngày xưa, mỗi khi muốn xin xỏ việc gì, người dân thường phải nhờ đến mấy ông thầy ký viết đơn hộ. Khi đơn viết xong, phải giết gà mà đãi ông ta. Vì vậy mới có câu bút sa gà chết. Câu này cũng nhắc nhở mọi người, trước khi quyết đinh điều gì phải cân nhắc kỹ lưõng, nhất là khi đặt bút xuống ký trên bất cứ giấy tờ gì. Trong ngôn ngữ dân gian Việt Nam, con gà trống chưa bao giờ có đuợc hình ảnh kiêu kỳ, uy nghi như trong ngôn ngữ dân gian của Pháp, chẳng hạn như Fier comme un coq (kênh kiệu như con gà trống). Người nông dân Pháp quan niệm rằng con gà trống là vua trong sân gia cầm (roi de la basse-cour), từ đó mà có lối nói ẩn dụ: être le coq du village (là nhân vật quan trọng nhất làng). Người Anh cũng đã dùng danh từ con gà trống: the cock để ám chỉ ngưới cầm đầu, kẻ tai mắt. Đây là một cương vị mà con gà trống Việt Nam chưa có được. Trong ngôn ngữ dân gian, dường như người ta chỉ vờ khen bộ lông con gà trống: con gà tốt mã vì lông để mà chê bai về một khả năng của giống đực khác;....nhanh như gà.. ! Chỉ trong một số câu đố dân gian, thì anh gà trống mới được mô tả oai phong một chút : Chân đạp miền thánh địa Đầu đội mũ bình thiên Mình thì bận áo mã tiên Ban ngày bảy vợ, đêm nằm riêng kêu trời Hoặc là : Trên đầu đội sắc vua ban Dưới thời yếm thắm, dây vàng xum xoe.. Con gà thì chẳng có gì hay ho lắm, tuy nhiên tiếng gáy của con gà lại mang nhiều biểu tượng, mà biểu tượng đặc biệt là về thời gian. Khi mà người ta còn tính thời gian đêm năm canh ngày sáu khắc, lúc mà chiếc đồng hồ vẫn còn là một cái gì xa lạ với dân gian, thì tiếng gà gáy là một cái gì thật quan trọng: Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương. Tiếng gà gáy thì vô tri vô thức, nhưng khi đưa vào văn thơ, đã trở thành một hiện tượng quan hệ mật thiết với con người. Trong văn học, tiếng gà cất lên giữa vui buồn chìm nổi, giữa thao thức trằn trọc của con người. Ta hãy nghe Nguyễn Du tả trong truyện Kiều : Những là đo đắn ngược xuôi Tiếng gà nghe gáy đã soi mái tường Lầu mai giữa lúc còi sương Mã Sinh giục giã vội vàng ra đi Lúc này Kiều đã bán mình chuộc cha, Mã Giám Sinh hối hả đưa Kiều về nhà chứa tú bà, để sau đó Kiều mắc mưu phải bỏ trốn theo Sở Khanh : Tiếng gà xao xác gáy mau Tiếng người đâu đã mé sau dây dàng Nàng càng thổn thức gan vàng Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào Khi rơi vào tay của Hoạn thư, Kiều lại tìm đuờng bỏ trốn : Mịt mù dặm cát đồi cây Tiếng gà điểm nguyệt dấu giày cầu sương Canh khuya thân gái dặm trường Phần e đường sá phần e dãi dầu Trong Chinh Phụ Ngâm, người chinh phụ đêm ngày nhớ thương trông ngóng chồng, năm canh trằn trọc: Buồn rầu nói chẳng nên lời Hoa đèn kia với bóng người khá thương Gà eo óc gáy sương năm trốn Hòe phất phơ rũ bóng bốn bên Đến Thơ Mới thời 1932-1945, con người thường hiện ra bơ vơ, lạc loài, ngơ ngác giữa xã hội nhân quần , ta hãy nghe Huy Cận than thở: Tới ngã ba sông nước bốn bề Đến chiều gà lại gáy bên đê Tiếng gà gáy ban đêm làm cho ngưới ta thêm ưu tư trằn trọc, xót thương cho thân phận cô đơn chiếc bóng của mình. Tiếng gà gáy buổi chiều càng thúc giục người ta trước một quyetá định khó khăn nào đó. Nhưng tiếng gà gáy buổi trưa lại làm cho lòng dạ não nùng, da diết nhớ lại những kỷ niệm buồn từ một thời nào đó xa xăm. Nhà thơ Lưu Trọng Lư viết : Những lần nắng mới hắt qua sông Xao xác gà trưa gáy não nùng Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng Chập chờn sống lại những ngày không Tiếng gà cũng là biểu hiện của những cuộc chia tay. Lúc ấy tiếng gà lại là nỗi lo âu của những ngưới sắp phải nói lên lời từ biệt. Ta hãy nghe tiếng gà của Xuân Diệu trong bài thơ nỗi tiếng Lời Kỹ Nữ: Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt, Mắt run mờ kỹ nữ thấy sông trôi Du khách đi Du khách đã đi rồi Và tiếng gà của Lưu Trọng Lư trong bài thơ Giang Hồ : Mời anh cạn hết chén này Trăng vàng ở cuối non tây ngậm buồn Tiếng gà đã rộn trong thôn Nửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nay.. Khi tiếng gà gáy dồn dập, hối thúc, như tiếng đập cửa réo gọi giang hồ kiếp ấy trọn đời phiêu linh, và gỡ tay vướng để theo lời non nước. Vì vậy, với nhà cách mạng Phan Bội châu, tiếng gà chính là biểu tượng của thức tỉnh, của đấu tranh : Dậy! Dậy! Dậy! Bên án một tiếng gà vừa gáy Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng Đời đã mới, người càng nên đổi mới Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội Xúm vai vào gánh vác cựu giang sơn Trong kho tàng văn chương Việt Nam, tiếng gà gáy đã có một vị trí nhất định của nó. Và với mỗi một người trong chúng ta chắc chắn tiếng gà gáy cũng đã để lại trong lòng ít nhiều kỷ niệm. Riêng những người sống tha phương, đã bao nhiêu năm thiếu vắng tiếng gà trong đời sống, nếu có lần trở lại quê nhà, bất chợt nghe được tiếng gà gáy, sẽ cảm thấy lòng man mác bâng khuâng, nhớ lại một thời vui buồn nào đó. Tiếng gà, cuối cùng, cũng đã trở thành một biểu tượng của quê hương, của một mất mát, trong lòng những người Việt Nam xa xứ. Thụy Nguyên (phỏng theo tài liệu của Liễu Thy và Lê Đình Ky) Nguồn: ninhhoa.com
-
Bức tranh gà dân gian 0:6', 1/2/ 2005 (GMT+7) Nhà thơ Tú Xương - nhà thơ trào phúng nổi tiếng của nước ta - trong bài thơ "Xuân" đã viết: "Đì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột/ Om sòm trên vách bức tranh gà". Gà trống gáy sáng - tranh dân gian Đông Hồ Hai câu thơ vừa giàu hình tượng dân gian, vừa mang nội dung thực tế, hóm hỉnh, yêu đời. Tác giả ca ngợi pháo chuột và tranh gà, là một trong những nhu cầu không thể thiếu được của người Việt Nam trước đây trong dịp Tết đến: nó được liệt vào hàng "danh mục" ngày Tết cùng nhiều thứ khác, như "thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ; nêu cao, tràng pháo, bánh chưng xanh". Riêng bức tranh gà mà tác giả nêu lên ở đây trông đến "om sòm", vui mắt quá! Bởi vì nó rực rỡ giàu sắc màu; và cũng bởi vì nó đẹp- đẹp ở hình tượng sinh động có ý nghĩa với đời; đẹp ở cách diễn tả, vừa thực vừa được cách điệu phong phú. Hãy nhìn con gà trong bức tranh "Con gà trống gáy sáng". Hình dáng của nó thật oai vệ, chân trái dựa nhẹ bên khóm trúc, chân phải đặt lên mỏm đá mấp mô, toàn thân như đang trườn lên phía trước, đầu ngẩng cao, mất mở to, ức ưỡn ra, đuôi xòe rộng. Đó là lúc gà đang chuẩn bị cất tiếng gáy chào buổi bình minh đẹp nắng. Dáng điệu ấy cộng với màu sắc rực rõ của lông, của đuôi, của cánh, của bối cảnh thiên nhiên bao quanh… tạo nên một bản hòa tấu hùng dũng, hỗ trợ cho gà đang đóng một vai trò quan trọng trong đám gà đàn của mình, trong cái giây phút "báo thức" thiêng liêng mà chỉ có nó mới có được cái diễm phúc ấy trong đời sống của người Việt Nam. Thiên nhiên thật là thiết yếu. Nó quyện chặt vào người như da với thịt, vì vậy trong hầu hết các tranh, người ta thường tô điểm cho "nhân vật chính" của bức tranh bằng mây, trăng, nước, bướm, chim, cỏ cây, lá, hoa… Nhiều khi cái thiên nhiên ấy chỉ mang tính chất trang trí nhưng cũng nói lên được sự gắn bó chặt chẽ giữa nó và người, vật như thế nào. Em bé ôm gà - tranh dân gian Đông Hồ Đó là chưa kể một công thức nghệ thuật khác: khi vẽ gà thì vẽ kèm hoa cúc (còn vẽ vịt thì kèm hoa sen) - theo phương ngôn "cúc kê, liên áp" nghĩa là cúc gà, sen vịt. Có người bảo đó là từ cái ý mang nội dung thực tiễn: gà là giống vật thường kiếm mồi quanh bụi cúc trong vườn nhà; còn vịt thì thích bơi lội dưới hồ sen trước ngõ; lại có người bảo một cách thực dụng hơn: thịt gà ướp với cúc; thịt vịt nhồi hạt sen thì sẽ ngon, bổ tuyệt, do vậy mà có hình tượng trên. Dù sao đi nữa, thêm cúc và sen (hoặc hoa, hoặc lá) vào tranh gà chẳng những không làm giảm giá trị nghệ thuật mà còn tăng thêm ý nghĩa của bức tranh. Bức tranh "Gà mẹ gà con" hay "Gà đàn", với nhiều cách diễn tả khác nhau là một trong những loại tranh gà đẹp nhất còn giữ lại cho đến nay. Trên tranh, con gà mái lớn đang ngậm con ong, đang hiền từ, chăm chút các con. Mười chú gà đứng quanh gà mẹ: con đang rỉa lông, con đang đùa chạy, con nấp dưới bụng mẹ… Mỗi con mỗi vẻ khác nhau, như dường như tất cả đang hướng về một phía, phía miếng mồi của gà mẹ vừa kiếm được. Hai chân gà mẹ giang ra chịu đựng sức nặng của hai chú gà con đang đứng trên lưng, đồng thời cũng chuẩn bị giữ thế trước sự giành mồi của các con gà, sắp bổ nhào tới. Ngoài cái ý nghĩa tượng trưng cho sự giàu có, no đủ, bức tranh còn toát ra một "mối tình mẫu tử" thiêng liêng, một sự đoàn tụ sum vầy của gia đình gà. Đặc biệt, bố cục tranh khá chặt chẽ, giàu nhịp điệu. Sự sắp xếp chỗ đứng của từng con gà rất được chú ý, khiến người xem thấy được ngay cái rộn ràng, vui vẻ của đàn gà. Cạnh đó, một số con được vẽ công phu, có sự nghiên cứu cẩn thận (như con ở góc trên cùng và ở góc cuối cùng bên phải bức tranh): cái lối xòe đôi cánh, cái lối choãi chân, quay nghiêng đầu, uốn thân mình… trông vừa thực, vừa cách điệu, giàu nghệ thuật. Có tranh "Gà đàn" thì cũng có tranh "Lợn đàn", cũng như có tranh "Em bé ôm vịt" thì cũng có tranh "Em bé ôm gà". Tranh dân gian luôn giữ cái thế đăng đối: đăng đối ý, đăng đối hình tượng và đăng đối cả khi treo tranh. Với "Em bé ôm gà" (dân gian gọi là bức "Vinh hoa"), cái khỏe cái mạnh của em bé không chỉ được diễn tả ở da thịt nở nang, hồng hào mà còn ở cách ôm gà (hoặc ôm vịt) của em bé. Tay này, bé đè chặt con gà vai nổi cao, cánh tay đưa thẳng xuống, tay kia giữ cái ức con vật kéo lại. Mình bé hơi vặn theo chiều của con vật đang cố trườn lên phía trước, như đang cố tung cánh thoát thân. Đầu gà ngẩng cao, mắt sáng lên, hai chân dạng mạnh đạp xuống đất, đuôi chổng lên trời… song dường như gà hoàn toàn bất lực trước sức mạnh và sự điềm tĩnh chủ động của em bé. Sự vùng vẫy của gà đối lập với sự yên vui, hồ hởi tiềm tàng ở em bé tạo nên một nội dung mang ý nghĩa tâm lý, có kịch tính. Trong bức tranh "Đại cát", gà được dân gian quan niệm vừa cấm quỷ, vừa cầu may. Hình ảnh chú gà trống oai vệ, hùng dũng biểu tượng cho sự thịnh vượng, cho 5 đức tính tốt của nam giới (người quân tử): tính văn (mào đỏ tựa như mũ cánh chuồn), tính vũ (cựa gà), tính dũng (không sợ địch thủ), tính nhân (kiếm ăn theo đàn, cùng với đồng loại), tính tín (gáy báo giờ chính xác). Do vậy, chú gà trống măng tơ được miêu tả vừa chạy, vừa kêu cục tác, trông no nê, tràn đầy sức sống. Đuôi chú tủa ra như đám cỏ hoa trước gió; cánh chú xòe nhẹ với hàng lông đẹp tựa lưỡi kiếm; đầu ức của chú một màu vàng mỡ màng dễ ưa. Chỉ một mình gà thôi nhưng không vắng lặng chút nào. Dáng chạy nhanh nhanh ấy, cách diễn tả lông đuôi lông cánh ấy lại thêm cái màu vàng rực ấy… tất cả đã tạo ra một sức xao xuyến ngập tràn, một biểu tượng cho sự thịnh vượng của đất nước, của con người. Từ lâu, con gà "Đại cát" đã đi vào lòng người Việt Nam như một lời chúc, mang ý nghĩa nghênh xuân, một ý cổ động và được lặp lặp lại trong nhiều tranh khác. Nhà thơ Hoàng Cầm đã viết: Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong/ Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp" là vậy! Ngày xuân, cảnh vật như được hồi sinh sau mùa đông rét giá, cây cối đâm chồi nảy lộc, mọi người tin rằng việc tốt hay xấu xảy ra ở ngày Tết sẽ có ảnh hưởng cả năm, cho nên, được một lời chúc hay có một hình ảnh tươi vui trong mấy ngày xuân, thì rất có giá trị. Do vậy, tranh gà cũng là một loại tranh chúc tụng của ghi nhận vào trong kho tàng tranh dân gian Việt Nam. Từ cảm hứng đó, nhà thơ Hoài Anh đã có bài thơ về "Bức tranh Gà" như sau: Khuôn tranh làng Hồ Thơm mùi gỗ thị Vỏ xơ mướp khô Vuốt trên giấy bản Sắc màu đã tô Bác thợ lật giấy Con gà đứng dậy Ô sao bỗng thấy Mắt gà chớp nhanh Mắt bác không chớp. Cái mào lửa cháy Cổ vươn tiếng gáy O o bình minh Chân vàng sừng sững Đầu gà như phượng Đuôi xòe đuôi trĩ Mình tựa mình công Sống hơn gà sống Nòi gà để lại Từ đời cha ông Ấp bằng hơi thở Nuôi bằng tấm lòng Tấm lòng ngàn xưa. Ngàn sau nở mãi Trẻ như cô gái Khỏe như lúa đồng Con gà xòe lông Bảy màu cầu vồng Màu đen than cói Màu xanh gỉ đồng Màu lam lá chàm Màu vàng hạt dành Màu trắng chất điệp Vỏ sò vỏ hến Quê bờ biển xanh Như còn long lanh Bao mùa xuân qua Để màu hồng lại Sông núi cho xanh Hồn nước sống mãi Con gà đứng canh Bác thợ ngắm tranh Thấy lòng vỗ cánh Thấy đời lại xanh Ôi người nghệ sĩ Tên là dân gian Góp cùng trời đất Con gà Việt Nam Gà từ trong tranh Gà ra cuộc đời Gáy lên! Gà ơi! . Trần Xuân Toàn Nguồn: www.baobinhdinh.com.vn
-
Con gà và con người Việt Nam Nguyên Thắng Gà Cao Lãnh đối với gái Tân Châu, lại còn tôn gà lên trước người đẹp! Từ trước tới nay, kẻ viết những hàng này vẫn đề quyết rằng đó là vì vần vì điệu nó quá bó buộc đó thôi. Xin các bà các cô cứ tin bằng lời, đừng có cắc cớ mà vặn hỏi hơn nữa. Hãy thương cho, đừng bắt những kẻ có máu me chọi gà phải rạch ròi phân minh bên gà, bên tình, bên nào mê hơn... "Tè té te, Te..." Mặt trời chưa ló dạng, giọng gáy cao, thanh, đã vang ven rừng, như kêu như gọi như khiêu khích. Gà trong chuồng khi ấy bừng giấc, vội vỗ cánh, cất tiếng gáy của mình lên, trầm hơn, ồ ề hơn, phụ hoạ vào bản hoà tấu chào rạng đông. Khắp đất nước Việt Nam, từ biên giới phía Bắc qua Hoàng Liên Sơn đến vùng đất phèn Cà Mau rặt những tràm, bần với đước, không đâu có rừng mà không có mặt anh gà rừng. Cái anh chàng thậm hay dắt đàn mái của mình đi kiếm ăn chung với những đàn công. Dân Sài Gòn chỉ cần ra đến Trảng Bom, nhẹ bước len vào ven rừng là đã có thể ngắm cảnh công, gà lẫn lộn cùng đi kiếm ăn. Và phải nói là bên cạnh con công rực rỡ một màu xanh lá cây lấp lánh những mặt nguyệt, thì anh gà rừng trống cũng chẳng nhượng oai phong. Lông mã ở cổ ở lưng óng ánh, từ vàng ấm chuyển qua da cam đến đỏ mận, từ vai ra đến đầu cánh là màu cánh dán, rồi đồng đỏ, rồi tới lớp lông cánh đen nhánh; đuôi dài có cặp lông vút cong, xanh đen chiếu ánh lục. Một anh chàng ai đã biết qua thì chẳng dễ gì quên được, mà lại sinh sống như hàng xóm láng giềng với con người, thời buổi hoang sơ lại càng là thân cận, lẽ nào không có chỗ đứng trong huyền thoại của người Việt? Thế mà tìm mãi không ra. Chính vì là huyền thoại Việt đã tan nát, chỉ còn sót lại ngày nay một vài mảnh vụn. May là còn đó sử thi Mường Đẻ đất đẻ nước (1), còn ghi nhớ những huyền thoại xa xưa, khi mà văn hiến Trung Hoa chưa tràn ngập xã hội, ngôn ngữ, văn hóa làm cho người Kinh quên mất đi nhiều chuyện thuở mà Việt Mường còn là một. Nào, chúng ta hãy cùng nhau lần dở những cảm nhận, suy tư lý giải thời thuỷ tổ để tìm xem anh chàng gà được đứng ở vị trí nào trong hệ miêu tả lịch sử vũ trụ và con người Việt Mường cổ xưa. Sử thi kể rằng ban đầu đất trời hỗn mang: Vùng đất ngày xưa còn bạc lạc, Vùng nước ngày xưa còn bời lời, Trời với đất còn dính làm một. Nhưng rồi có một lần, mưa, mưa dầm, mưa mãi, Nước vượt khỏi bảy đồi, Nước dâng qua chín đồi bái, Năm mươi ngày nước rút, Bảy mươi ngày nước xuôi, Nước rút dọc có lối ra, Nước rút ngang có lối tránh, Mọc lên một cây xanh xanh, Cây xanh có chín mươi cành, ... Cây ấy sinh ra ông Thu Tha, bà Thu Thiên, hai ông bà: Ra truyền: làm nên trời đất, Ra truyền: làm nên lứa đôi Cây chết đi sinh ra các mường, sinh ra con người đầu tiên là mụ Dạ Dần, mụ Dạ Dần đẻ ra hai trứng, nở ra cun Bướm Bạc và cun Bướm Bờ. Hai con gái vua Trời xuống chơi dưới mường trần, lấy Bướm Bạc, Bướm Bờ sinh con, đẻ cái. Con út là chim Tùng trống, chim Tót mái. Trứng chim Tùng chim Tót đem ấp. Bỗng thấy nứt trứng pỏ, Thấy nở trứng chiếng, Nghe ồn ào tiếng Lào, Nghe lao nhao tiếng Kinh, Nghe ình ình điếng Mọn, Nghe nhốn nháo tiếng Siêng Quan, Nghe xôn xao tiếng Thái, Nghe hổi hải tiếng Mán, Nghe nháo nhác tiếng Mẹo ... Thoại kể các vùng mường Hà Sơn Bình gần với truyền thuyết Âu Cơ hơn: Chim Ây, Cái Ứa sinh ra một trăm trứng. Chín mươi bảy cái nở trước thành 50 người Kinh đi về miền đồng bằng và 47 người Mường, người Thái, người Lào ngược lên vùng rừng núi, ... Đã có trời có đất có nước, có người rồi nhưng ngày tháng vẫn chưa có. Khi ấy ông Cuông Minh Vàng Rậm, nàng Ả Sấm Trời khai mỏ đồng: Đúc được chín mặt trời, Đúc được mười hai mặt sáng (mặt trăng), Mặt trời mọc lên ràng rạng, Mặt sáng mọc lên hừng hừng, ... Nắng nhiều, nắng quá lắm, đến nỗi Tìm nguồn chẳng ra nước mà uống, Làm nương chẳng nên lúa nên màu, ... Lúc ấy có họ nhà Ngao, vốn là thần nỏ: Tay trái vít dây nỏ lăm lăm, Tay phải lắp tên bương vòm vòm, ... Tên bắn sang, mặt sáng rùng mình, Tên bắn trúng, mặt trời rơi rơi, Rụng mặt trời, trời tối như bưng, Tối như vào thung xanh hang đá, ... Bắn rụng hết tám, ai là người đứng ra kêu cho mặt trời duy nhất còn lại lên khỏi chân trời? Ai giải cho được nỗi sợ miên man, ngấm ngầm của người thượng cổ, chẳng biết rồi đây mặt trời có trở lại đuổi đêm tối đi cho con người có được một ngày mai hay chăng? Quyền lực huyền bí của con gà ải (gà rừng) chính là đó: Nó gáy một tiếng ở đằng đông, Gáy vồng sang phía đằng tây, Mặt trời nghe tiếng con gà ải, Mặt trời lên rải nắng vàng, … Rồi mường đón Lang Cun Cần lên đứng đầu. Lang được rùa vàng dạy cách thức làm nhà, cột nhà như chân rùa, mái nhà như mai rùa, đòn nóc như xương sống , xếp rui như sườn dài sườn cụt, chái như đuôi rùa, ... ; được Tun Mun đến xin thần Tà Cắm Cọt cách thức làm ra lửa, Mun Mòng đi cõng nước về; được nàng Dặt Cái Dành lên mường trời xin Ả Tiến Tiên Mái Lúa các giống lúa. Đã có gạo ăn, đã học được lang Khấm Dậm cách làm rượu nhưng nhà Lang Cun Cần Dưới sân chưa có lợn chạy ra , Chưa có đàn gà gáy khuya dậy sớm, ... Nàng Dặt Cái Dành lại lên mường trời, Đưa được lợn đực làm giống, Cõng được lợn cái làm nòi, Quảy đôi gà ri ... về nhà lang cho sinh sôi nảy nở, và nàng Dặt Cái Dành Truyền mẹo cho cả mường, Nuôi lắm gà vàng, Nuôi sang lợn béo, Đồng chì tam quan hết thiếu lợn chạy ra, Đã lắm gà gọi khuya, gọi nắng ... Tiện lợi biết chừng nào! Gà nhà cũng như gà rừng có phép gọi cho mặt trời mọc, cho tan bóng tối, cho nắng vàng lên, cho xanh ruộng lúa, cho đẹp nương dâu. Mà nào phải chỉ có bấy nhiêu mà thôi đâu. Từ ấy, khách đến chơi nhà, trong sân đầy đủ gia cầm, có thể ... nướng gà cong cựa, Dọn cỗ dọn bàn, Dọn cơm ăn rượu uống, Khách khen khách chuộng ... Chủ khách hể hả. Chỉ khổ thân anh gà. Đã đành là anh có uy quyền huyền bí, tiếng gáy của anh ra lệnh cho mặt trời mọc, cho đều đặn ngày lại ngày cứ mãi mãi tiếp nối nhau xua bóng tối ban đêm. Nhà nhà phải chuộng anh, nuôi nấng anh để bảo đảm cho ngày mai trời lại sáng. Nhưng anh đã ra thân chim lồng cá chậu. Da anh lại béo, thịt anh thơm, và thêm thơm ngon gấp bội khi biết đáp ứng yêu cầu "cục tác lá chanh" của anh. Người Kinh ai là kẻ còn biết đến anh như một uy quyền cầm chịch cho thời gian? Tuy nhiên còn rơi rớt lại vài tục lệ dựa trên lòng tin vào anh làm phương tiện cho người phàm mắt thịt hé nhìn vào thế giới huyền bí. Hẳn có những anh những chị còn nhớ tục trong nhiều gia đình, gà đem cúng rồi, cặp chân để xem bói. Một tục tương tự với lối bói chân gà ấy đã được ghi trong khúc ca Cổn Chu Kéo Lội kể chuyện Bù Lạch, Bù Lèm đi chặt cây thần Chu Đá Lá Chu Đồng về xây dựng cung vua Dịt Dàng. Đoàn quân Ngựa đi đông như đàn dòi, Voi đi đông như đàn kiến, Trống tiến trước tiến sau, Gươm giáo như lau như nứa ... Đi bốn mươi thợ già, Đi ba mươi thợ trẻ, Đi để đánh rìu rèn dao ... Giữa đoàn quân, lính và thợ, ta nhận thấy Có chí ông mo già, Mang xương gà bán bói ... Công việc trọng đại, không thể thiếu thày mo bói giúp cho lãnh đạo quyết định được sáng suốt. Bói xương gà hẳn là rất tiện trong quân lữ. Và cho những ai ăn thịt gà! Chắc vì thế mà đến những năm gần đây còn người Kinh biết bói chân gà. Chẳng hay còn ai biết một cách dùng gà để bói khác được nhắc đến trong đoạn Lang Cun Cần lấy em gái là nàng Vạ Hai Chiêng làm vợ, Trời nổi cơn giữ, Cử cơn bão cơn dông, ông phải trốn vào rú ... Bấy giờ, Chu chương mường nước, Phải sợ phải lo, Vội xách bu gà ra xem bói ... Dù sao đi nữa, ngoài việc bói toán, gà có mặt trong mỗi dịp đình đám. Như đám cưới mường, trong các lễ vật của đằng trai Có khiêng bánh, khiêng cơm thịt gà mở cổng ... Và phong tục thách cưới Mường, theo bản lưu truyền ở Thạch Thành, thì lễ vật đằng trai Lang Cun Cần phải đem đến nhà gái Có gà chín cựa, Có ngựa chín cương, Có vàng chín trăm nén, na ná với truyền thuyết Việt ở Hà Đông, Sơn Tây kể chuyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh, lễ hỏi có Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao. Gà dùng làm lễ vật để cho con người giao cảm với thế giới thiêng liêng, để cho quỷ thần phù hộ trở thành tục lệ "gà thờ" của một số làng đồng bằng sông Hồng. Chúng ta cứ đọc lại truyện Con gà thờ của Ngô Tất Tố mà xem. Từ thái độ xử sự đến lời lẽ thành kính của nhân vật ông chủ nhà trong truyện, tất cả đều toát ra tính chất thiêng liêng khi con gà trở thành lễ vật. Ông ta phải thân hành đến tận làng Hồ, lăn lóc suốt mười mấy ngày để kén cho được giống khi lớn nặng ít nhất là năm cân ta, và chọn được hai con gà con mới bỏ mẹ. Mua hai con là để phòng trong thời gian nuôi dưỡng hai năm chẳng may có mất đi một thì vẫn còn một. Nhưng khi đã chọn để làm lễ vật rồi, "Nhờ giời nếu nó còn cả thì, một con lễ đình, còn một con nữa tôi đem lễ chùa, chứ không dám bán mà cũng không dám ăn. Vì rằng mình đã thành tâm nuôi về việc thờ, nếu đem bán hay ăn, ấy là đắc tội với quỷ thần". Và sau khi đã sửa lễ ra đình để trình với "đức thượng đẳng" là đã mua được gà, phải làm chuồng riêng cho gà ở. Lấy nước cho gà uống, tung thóc cho gà ăn đều tự tay ông chủ nhà làm lấy không dám giao cho ai, sợ không được cẩn thận mà mất tinh khiết đi. Bà mẹ ông chủ nhà bị ốm nặng, thế mà bà cụ gạt phắt không cho gọi con lên thăm vì cớ "Việc thờ không thể nói chơi. Cứ để thầy mày trông nom cho gà. Gọi lên làm gì!". Gà hơi ể mình một tị, ông chủ bỏ cả cơm nước, gắt vợ, gắt con; theo ông, gà mắc bệnh là do vợ con ông ta không thành kính mà ra: "Đã bảo không được gọi " người " là gà, cả nhà không đứa nào nghe! ..., nếu như " người " có làm sao, chúng bay còn khổ với ông! Ông thì tống cổ mẹ con nhà mày!". Kính cẩn đến từng tiểu tiết một. Kỹ thuật luộc "gà thờ" thật khác thường. Ngô Tất Tố tỉ mỉ ghi rằng: " ... Dùng tre làm cốt và dây cuốn ngoài, họ buộc cho hai cơn gà ngỏng cổ, giương cánh, đứng trên mâm ...., làm cho con gà thành ra cái hình con phượng ngậm bức cuốn thư. ... Luôn trong một lúc họ bắc bếp đến sáu chiếc nồi ba mươi, nồi nào nước cũng gần đến miệng. Nửa đêm, cả sáu nồi đều sủi. Người ta liền bưng cả hai mâm gà xuống đó. Dưới hai ngọn đèn hai dây sáng như ban ngày, năm sáu cái gáo chĩa vào các nồi múc nước dội từ đầu gà trở xuống. Và cứ dội luôn như thế không lúc nào ngơi, hết nồi nước ấy, họ lại nấu nồi nước khác, trong bếp không lúc nào không sẵn nước sôi. Dội đến sáng thì gà vừa chín. " ... Công cuộc chia cỗ, Ngô Tất Tố cũng tả sinh động trong truyện Nghệ thuật băm thịt gà. Ta hãy xem anh mõ làng chia phần một con gà "không nhỏ lắm, ước chừng một người ăn cố mới hết ": ..."Tiếng dao công cốc đụng vào mặt thớt nhịp nhàng như tiếng mõ của phường chèo, không lúc nào mau, cũng không có lúc nào thưa. Mỗi tiếng cốc là một miếng thịt băng ra. Miếng nào như miếng nấy, đứt suốt từ xương đến da, không còn dính nhau mảy may. ... Té ra cái mình con gà, hắn đã băm được 92 miếng." Luộc gà đã là một nghệ thuật – gà đứng trên mâm đồng như con phượng xoè cánh mỏ ngậm hoa, thịt vừa chín tới, toàn thân không một nơi nào bị nứt da – thì chặt thịt gà cũng chẳng kém gì, phải ba đời làm mõ cha truyền con nối mới thành thục. Ấy cũng là hệ quả của quan niệm "Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp". Vào thời buổi mà Ngô Tất Tố viết loạt phóng sự Việc làng quan niệm đó đã sinh ra nhiều tập tục hủ lậu. Thời gian trôi qua, cuốn theo chiều gió biết bao tục lệ làng xã. Ngày nay, đặt mình vào chỗ người xưa thành tâm tin tưởng trong lễ vật có phần thiêng liêng thần bí của quỷ thần thì "miếng thịt giữa làng", ngoài sự kiện khẳng định quyền bất khả xâm phạm của mỗi người dân trong xã hội làng xã, còn thêm kích thước thần bí, cá nhân hoà mình vào cộng đồng dân làng trong giao cảm với quỷ thần, cùng thọ hưởng phúc lành do thần linh phù hộ. Tuy nhiên từ quan điểm xem gà như là một sức mạnh thần bí gọi cho mặt trời mọc hay như là lễ vật để người giao cảm với quỷ thần, thì không sao lý giải nổi những nét tình cảm thân mật trong ngôn ngữ thường ngày. Cái từ "người" mà ông chủ nhà dùng trong truyện Con gà thờ là ngôn ngữ của một kẻ kính cẩn cúi đầu trước thần linh, hai tay nâng con gà lên, đưa nó vào cái thế giới phi nhân, xa lắc xa lơ thế giới người trần mắt thịt. Trái lại, trong trò chuyện hàng ngày ta hay đem người sánh với gà và nhiều khi coi gà hệt như người. So sánh từ hình dáng như dè bỉu "Cái đồ mặt gà mái!" cho đến tính tình, cư xử. Gặp người làm ăn đầu voi đuôi chuột kiểu Trình Giảo Kim chỉ được ba búa, bà con ta hay buột miệng phán: "Ối chào! coi bộ tịch dữ dằn vậy chớ chỉ giỏi có nước nạp". "Giàng nạp" là lúc hai con gà mới xáp vào không mổ cắn mà vỗ cánh tung chân lên đá, thường chưa ăn thua gì, phải sau đó vô "giàng kèo" gà cắn vào lông, vào da nhau mà đá, khi ấy trận đấu mới thật sự quyết liệt. Lại có một cụm từ hay thần sầu để tả người con gái dậy thì, hôm trước còn là bé gái chẳng thấy gì đặc sắc, hôm sau bỗng da thịt mơn mởn nụ hoa mới hé, tươi mát như trái đào tơ, dáng di uyển chuyển dịu dàng như dòng suối chảy. Cô bác, anh em trầm trồ "Úi chu choa! Con nhỏ trổ mã con gái!". Thật quá đỗi bất ngờ, cái lối ví von đem trạng thái bé gái thoát vỏ kén tuổi thơ mà nên duyên nên dáng phụ nữ cho sánh với chú gà choai lột xác, đang mờ nhạt trong đàn hốt nhiên bay vọt lên bờ dậu vỗ cánh cất tiếng gáy đầu tiên, người người chóa mắt vẻ hiên ngang một kẻ mới nhận ra mình là dũng sĩ, chói chang màu sắc lông mã mới trổ. Phải là những kẻ, ngày lại ngày, chẳng bao giờ biết chán, say sưa ngắm gà và ngắm người, bằng con mắt và bằng tấm lòng; chẳng hạn như những ai hay hát hay hò: Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh Gái nào bảnh bằng gái Tân Châu ... Gà Cao Lãnh đối với gái Tân Châu, lại còn tôn gà lên trước người đẹp! Từ trước tới nay, kẻ viết những hàng này vẫn đề quyết rằng đó là vì vần vì điệu nó quá bó buộc đó thôi. Xin các bà các cô cứ tin bằng lời, đừng có cắc cớ mà vặn hỏi hơn nữa. Hãy thương cho, đừng bắt những kẻ có máu me chọi gà phải rạch ròi phân minh bên gà, bên tình, bên nào mê hơn. Làm ra quyết liệt thì chẳng khác dồn hắn ta vào tình thế như hồi còn nhỏ chị đi chợ về, cho bánh mà lại vấn nạn: "Nào, nói cho chị nghe em yêu bánh hay yêu chị?" Xét để mà thương, cái máu me này đã có từ xưa, xưa lắm, có trời may ra mới biết nổi là nó đã lậm vào da, vào thịt, vào tâm hồn từ khi nào. Chỉ thấy rằng từ thời xa xăm, ngày Lang Cun Can chia đất cho con, ông bà ngoại đã căn dặn cháu: Tháng tư, người ta rủ nhau đi chọi gà, Cháu chớ đi chọi gà ... Và vào một thời điểm chính xác hơn, sử sách còn ghi việc thế kỷ thứ 13 Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn răn đe tướng sĩ khi năm mươi vạn quân Nguyên rầm rập đe doạ biên cương: Có kẻ lấy chọi gà làm vui, có kẻ lấy đánh bạc làm thú ... Lỡ ra quân Mông Thát đến thì cựa gà trống không thể đá thủng giáp giặc, thuật đánh bạc không thể làm mưu quân ... Bấm đất ngón tay, sơ sơ ít nhất cũng là đã bảy tám trăm năm rồi. Mà vị tiết chế thống lĩnh thiên hạ chư quân sư, cũng như bà ngoại trong sử thi, và còn bao nhà cầm quyền khác sau đó quá lo! Giặc đến, tướng sĩ máu mê chọi gà ấy đã xăm chữ "Sát Thát" trên mình, đánh tan những đạo quân hùng mạnh nhất thế giới đương thời. Mê gà thì chẳng riêng ở đất Việt mà còn nhiều nơi khác. Trong một công trình nghiên cứu sâu sắc trò đá gà C. Geertz (2) có nhận định: Ai đã sống ở Bali trong một thời gian nào đó thì thấy rành rành là về tâm lý người đàn ông Bali đồng nhất hóa một cách sâu đậm bản thân họ với gà của họ. Mê, mê tít mê tơi, có lẽ người Nam Dương được tám lạng thì người Việt cũng phải nửa cân. Tuy nhiên trong quan hệ người dân Việt và gà chọi có điểm khác với sự kiện Geertz nhận xét nơi người Bali. Quả là chủ gà người Việt biết rõ chi ly về súc lực độ bền con gà của mình. Quả là biết tường tận tính tình nó ra sao: qua các đợt "sổ" nghĩa là bịt cựa cho đá tập đợt, đã cho nó chạm trán với các con gà khác chẳng có lối đá khác biệt nhau, để biết nó ứng phó với từng loại đối thủ, cao hơn thì thế nào, thấp hơn ra sao; khi gặp con gà chui đầu trốn dưới lườn, khi phải địch thủ chơi trên dằn cổ nó xuống, nó trả đòn có điểm nào kém, điểm nào hay. Chẳng những biết nó có đòn độc hay không, trổ đòn độc ra lúc nắm đầu hay nắm vai địch thủ, biết nó thuận cả bên trái lẫn bên phải hay chỉ thiện nghệ một bên. Còn tìm biết cho rõ những yếu kém của nó như cái đầu hơi khờ, như nước khuya đôi cánh hay xệ, vân vân và vân vân ... Biết chuẩn xác, chính vì đã không đồng hóa con gà với bản thân mình, vì biết nhìn gà với một khoảng cách. Vì lẽ, không hiểu gà cho thật khách quan thì có gà hay mà ôm đi đá cũng thường chỉ chuốc lấy cái thua. Tôi không bao giờ quên lần bác T., một người nổi tiếng giỏi đá gà, nghiêm khắc rỉ tai: "Bộ mày quên gà là anh hùng rồi sao!" khi thấy tôi mới phiến phiến xem qua chưa kịp cân nhắc lợi hại hơn thiệt đã a thần phù muốn làm sổ ghi tiền "độ" để cho con Ô Miến Điều của tôi "đụng" với con Ó Mã Lại từ Cần Thơ lên. Và tôi chợt hiểu tấm lòng những kẻ gánh trách nhiệm "cáp độ", trân trọng gà như tráng sĩ, đến trường đấu chỉ có một sống một chết. Tính mạng và danh giá hoàn toàn giao phó vào tay người. Chủ giỏi thì sở trường tài nghệ được thi thố, phần thắng nghiêng về mình, chủ kém nhè chỗ yếu của mình lại đưa cho đối thủ cứ đó mà ghè thì chỉ biết lấy cái chết đền bù cho cái khờ cái dại của chủ. Nghệ thuật "cáp độ" là đó. Gà mình hay đòn đá hầu, cắn vào họng mà đá, đòn đánh dập khí quản cho đối thủ nghẹt thở, cựa đâm thủng hầu, thủng họng, cựa lọt vào "hang cua" tên gọi chỗ trũng bên vai - cắt đứt động mạch dưới đòn ở ngay nơi đó, địch thủ chết không kịp ngáp; đã biết vậy thì phải "cáp" với con gà cao hơn cái đầu, gà mình đưa mỏ là chụp dính hầu dính cổ, tha hồ thi thố đòn độc. Lại kì kèo bên địch chấp thuận gà mình nặng cân hơn, viện cớ mình đã phải chịu ẹp để gà họ cao vượt cả cái đầu. Được thuận đòn lại hơn cân hơn sức, chưa vào sới là đã thủ phần lợi thế. Trái lại, sức mình bền đó, đòn mình mạnh đó, rủi mắc phải tật cái đầu chạy hơi khờ, chủ đã chẳng biết tìm cho địch thủ chỉ biết nắm vai đá, lại nhè bắt đấu với con gà đá sỏ thiện nghệ thì có khác chi đưa đầu mình cho nó khẽ, láng cháng không khỏi bị một cựa ngay "ông địa" - nơi đỉnh đầu sát sau mồng - hay ngay mang tai. Khi ấy cho là có mạnh mấy đi nữa cũng chỉ còn nước lăn đùng ra thua trận. Có quan niệm gà là anh hùng mới có giai thoại sau đây. Ông Đỗ Văn Y - về sau làm An Hà ấn quán ở Cần Thơ - hoạt động phong trào Duy Tân, bị Pháp bắt. Ông ở lại Pháp học ít năm. Khi về nước, đồng chí cũ bày tiệc khoản đãi. Muốn dọ lòng ông, tiệc vui, ra đầu đề Gà trống hạn vận mò, o, ô, cô, phụ. Ông Y làm bài thơ rằng: Đêm khuya thức dậy tối đen mò Cất tiếng kêu người gáy ó o Rơi máu trường nhung lòng chẳng gớm Xàu mình chiến hậu tiếng không ô Dòng nòi quyết giữ thân tròn vẹn Cựa sắc nào nài phận quả cô Một độ ăn thua trời đất biết Ân đền nghĩa trả cái công phu Tiệc tan, có người mật báo với Pháp ông Y về nước hội họp đồng chí mưu tính đại sự, có mấy câu thơ làm bằng ... Chuyện xưa đã lui vào dĩ vãng chẳng mấy ai còn nhớ. Đầu năm Quý Dậu xin nhắc lại mua vui, thành tâm cầu chúc người Việt đối đãi với nhau được như người thời trước đối với con gà, để cho ai ai cũng có điều kiện đem tài mình ra đá đáp với thách thức của thời đại; dân Việt không bị biến thành ra đàn gà công nghiệp chỉ để thịt, để đẻ ra đôla. Nguyên Thắng (1) Những trích dẫn về huyền thoại Mường đều lấy từ Hoàng Anh Nhân, Tuyển tập truyện thơ Mường (Thanh Hoá) Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1986 và Trương Sĩ Hùng, Sử thi thần thoại Mường, Nhà xuất bản văn hoá dân tộc, Hà Nội 1992. (2) Clifford Geertz, Deep play : Notes on the Balinese cockfight, (canh bạc lớn: ghi chép về đá gà ở Bali), Daedalus, Vol 101, no 1, 1972. Nguồn: www.diendan.org
-
BIỂU TƯỢNG TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN CHÙA ĐỌI Viết bởi Lại Phi Hùng Đạo Phật vào nước ta ngay từ những năm đầu công nguyên. Người Việt cổ gặp gỡ Phật ở tinh thần bình đẳng bác ái, cứu khổ, cứu nạn, mặt khác lại bản địa hóa Phật theo tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, để Phật trở về đời sống thực. Vua Lý Nhân Tông (Vua thứ tư thời Lý) đã tích cực truyền bá đạo Phật trong sự kết hợp hài hòa như vậy. Tháp Sùng Thiện Diên Linh do ông đích thân cho xây dựng (1118-1122) là biểu tượng thiêng liêng về Phật, nhưng ý nghĩa tên gọi của nó lại thể hiện sự sùng ái, cầu mong những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Bên cạnh tháp, ông để lại nhiều di vật, văn vật mang biểu tượng dân gian bản địa, hàm chứa nhiều ý nghĩa vừa sâu xa vừa hiện thực. Biểu tượng chim: Một di vật ở chùa Đọi gây được sự chú ý của nhiều người là tượng "đầu người mình chim", di sản văn hóa của người Chăm (người Chăm gọi là chim thần Kinari). Tượng có bộ mặt giống con người hiện thực, thể hiện sự trầm tư, vẻ đẹp dịu dàng nhưng lại rất rạng rỡ, phảng phất hình bóng của người Chăm với chiếc khăn quấn đầu rủ từ thái dương xuống vai. Có thể biểu tượng chim thần Kinari được người Chăm lấy từ môtíp chim thần Guruda trong thần thoại Ấn Độ và đã bản địa hóa nó về nội dung, cách tân về nghệ thuật. Biểu Tượng Tín Ngưỡng Dân Gian Chùa Đọi Lại Phi Hùng Đạo Phật vào nước ta ngay từ những năm đầu công nguyên. Người Việt cổ gặp gỡ Phật ở tinh thần bình đẳng bác ái, cứu khổ, cứu nạn, mặt khác lại bản địa hóa Phật theo tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, để Phật trở về đời sống thực. Vua Lý Nhân Tông (Vua thứ tư thời Lý) đã tích cực truyền bá đạo Phật trong sự kết hợp hài hòa như vậy. Tháp Sùng Thiện Diên Linh do ông đích thân cho xây dựng (1118-1122) là biểu tượng thiêng liêng về Phật, nhưng ý nghĩa tên gọi của nó lại thể hiện sự sùng ái, cầu mong những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Bên cạnh tháp, ông để lại nhiều di vật, văn vật mang biểu tượng dân gian bản địa, hàm chứa nhiều ý nghĩa vừa sâu xa vừa hiện thực. Biểu tượng rồng: Được chạm khắc xung quanh và trên trán bia Sùng Thiện Diên Linh, trên vách tháp cũng chạm khắc nhiều mảng rồng ổ. Rổng biểu tượng tín ngưỡng của các cư dân canh tác lúa nước, ẩn dụ sự cầu mong mưa thuận gió hoà để phát triển sản xuất nông nghiệp. Trên trán bia chạm hai con rồng đối xứng, chầu vào hàng chữ Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (Tháp bia Sùng Thiện Diên Linh - nước Đại Việt, triều vua Lý thứ tư). Rồng còn được dùng làm vật trang trí trên gạch đất nung: thân hình tròn trịa với nhiều khúc uốn lượn, chân dài và nhỏ dần về phía đuôi, vừa có dáng dấp của một con rắn, vừa có hình thù của cá sấu. Hình rồng còn thô sơ như vậy là do tái hiện tín ngưỡng của cư dân Việt cổ sống ở đồng bằng sông nước với tục thờ rắn và cá sấu, lấy các loài thuỷ tộc này làm vật tổ. Huyền thoại họ Hồng Bàng (giải thích nguồn gốc các dân tộc người Việt cổ) kể rằng, Lạc Long Quân (vị tổ của người Việt đồng bằng) là từ một loài rắn hóa thân mà thành. Rắn + cá sấu theo trí tưởng tượng dân gian được trừu tượng hóa, dần trở thành hình tượng rồng, để rồi, rồng cũng được các triều đại phong kiến Việt Nam chọn làm biểu tượng của vương quyền, càng về sau vẻ mạo càng thể hiện thế bậc uy quyền phong kiến của nó. Khắc rồng vào bia Sùng Thiện Diên Linh ghi hiệu triều đại mình giữa nơi thờ Phật, phải chăng Lý Nhân Tông có ý tưởng đưa tín ngưỡng dân gian - đặc điểm cơ bản của bản sắc văn hóa dân tộc lúc đó-vào việc truyền bá đạo Phật; để kết hợp giữa vương quyền và thần quyền nhằm củng cố và xây dựng Nhà nước phong kiến tự chủ của mình, làm hưng thịnh dân tộc, thực hiện giấc mơ rồng vàng của Lý Thái Tổ ngay từ buổi rời đô về Thăng Long để mở ra kỷ nguyên với nền văn hóa Đại Việt - Thăng Long rực rỡ. Biểu tượng chim: Một di vật ở chùa Đọi gây được sự chú ý của nhiều người là tượng "đầu người mình chim", di sản văn hóa của người Chăm (người Chăm gọi là chim thần Kinari). Tượng có bộ mặt giống con người hiện thực, thể hiện sự trầm tư, vẻ đẹp dịu dàng nhưng lại rất rạng rỡ, phảng phất hình bóng của người Chăm với chiếc khăn quấn đầu rủ từ thái dương xuống vai. Có thể biểu tượng chim thần Kinari được người Chăm lấy từ môtíp chim thần Guruda trong thần thoại Ấn Độ và đã bản địa hóa nó về nội dung, cách tân về nghệ thuật. Theo các nhà nghiên cứu dân tộc học và văn hóa dân gian thì trước khi đạo Phật cùng văn hóa Ấn Độ du nhập vào Đông Nam Á, các cư dân ở đây (kể cả người Việt - Mường cổ, người Chăm cũng như nhiều tộc người khác cư trú ở vùng rừng núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên ở nước ta) đã có tín ngưỡng khá phổ biến là tục thờ chim, chim trở thành vật tổ. Trong mo Đẻ đất đẻ nước của người Mường (cùng gốc với người Việt cổ) thì chim Tùng - chim trống, chim Tót-chim mái (có dị bản gọi là chim Ấy, chim Ứa) là vị tổ sinh ra người Mường, người Việt, người Dao… Bà Âu Cơ trong huyền thoại họ Hồng Bàng là nhân vật hóa thân từ nòi tiên (chim) trong tục thờ chim của người Lạc Việt. Như vậy tượng "đầu người mình chim" được các vua Lý đem từ Chiêm Thành về và chạm khắc trên các cột trong kiến trúc là do có sự tương đồng về tín ngưỡng dân gian giữa người Việt và người Chăm trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á thời viễn cổ. So sánh biểu tượng chim thần Guruda trong thần thoại Ấn Độ, trong việc thờ Phật với biểu tượng chim trong tín ngưỡng của các tộc người ở Đông Nam Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng thì thấy: Chim thần Guruda trong thần thoại Ấn Độ là vật cưỡi của thần Vinus (thần huỷ diệt), lúc thì mang hình dáng loài chim, lúc thì đầu chim, nửa dưới có chân giống người, là kẻ thù của thần rắn. Cả chim thần và rắn thần ở đây trước, sau vẫn là "vị thần", không có gốc gác gì liên quan đến sự hình thành các tộc người. Trong việc thờ Phật, Guruda biểu tượng cho sức mạnh Phật pháp, phò Phật về cõi hư vô, tịch diệt. Chim theo tín ngưỡng dân gian của các tộc người cư trú trên rừng núi nước ta bởi được coi là vật tổ nên biểu hiện cho sự sinh sôi nảy nở. Theo quan niệm lưỡng hợp, lưỡng phân của người Việt cổ thì, chim và rắn tuy khác nòi nhưng lại có thể hỗn mang với nhau. Vì vậy, huyền tích về Âu Cơ - vị tổ của các cư dân sống trên rừng núi hôn phối với Lạc Long Quân - vị tổ của các cư dân sống ở đồng bằng sông nước, là âm hợp dương để sinh 100 trứng, nở ra 100 người con trai và sau đó lại phân chia: 50 con theo mẹ (âm) lên rừng núi (dương), 50 con theo cha (dương) xuống đồng bằng (âm) (1). Thời Lý, tín ngưỡng này chỉ gặp gỡ quan niệm của Phật ở chỗ đều coi loài vật gần gũi với loài người, có thể hóa kiếp thành nhau trong vòng chuyển hóa luân hồi. Vì thế mà các vua Lý đã đem tượng "đầu người mình chim" vào chùa (ở một số chùa nước ta thời Lý - Trần thường trang trí nơi bệ đá Phật ngự bốn góc có bốn chim thần Guruda nâng Phật bay lên). Biểu tượng rùa vàng: Phần đầu bia Sùng Thiện Diên Linh dành đoạn ngắn giảng giải về "cái diệu thể huyền tịch" và lịch sử đạo Phật. Phần chủ yếu còn lại ca ngợi công lao, tài trí của vua Lý Nhân Tông, đặc biệt là tài thiết chế các mô hình kiến trúc: "… Gặp lúc trung du cảnh đẹp, muôn việc nghỉ ngơi thì vua vận dụng "sự kỳ diệu của mưu thần" vào việc chế thuyền ngự nguy nga, to đẹp như cảnh thần tiên trên bể, chế tạo mô hình rối nước rùa vàng mà mọi cảnh đều sinh động như người gỗ đánh chuông, đài sen 7 tầng có bánh xe chuyển động…". Đoạn văn miêu tả trên đã cường điệu tài trí của vua Lý Nhân Tông trong sự vận dụng "sự kỳ diệu của mưu thần". Vậy mưu thần ở đâu, do ai phò giúp? Có phải ở nơi Phật? Trong tín ngưỡng của một số tộc người cư trú ở vùng núi nước ta thời viễn cổ có tục thờ thần rùa. Sử thi Đẻ đất đẻ nước của người Mường cho biết, nhân vật có tài thiết kế, xây dựng chính là thần rùa vàng. Thần rùa vàng giúp con người dựng ngôi nhà theo kiểu cấu trúc giống cái mai của mình, nguyên vật liệu thì có gỗ để làm kèo cột, luồng nứa làm sàn nhà, còn lá tranh làm mái. Ở Rùa, theo tư duy về vũ trụ của người Việt cổ, đã hợp đủ các yếu tố âm dương (vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước, vừa cứng lại vừa mềm, vừa động lại vừa tĩnh) nên ẩn dụ về sự kết cấu vững bền, về sức sinh sôi, về trường tồn. Vì thế, nhà nước Văn Lang chuyển thành nhà nước Âu Cơ ở trình độ tổ chức cao hơn là do tộc người có tục thờ rùa (có thể là các tộc Tày - Thái) đã dung hợp với con cháu của bà Âu Cơ (chim) và ông Lạc Long Quân (rắn - rồng). Vua Thục Phán - An Dương Vương có nguồn gốc từ tộc người thờ thần rùa nên ông mới có được "sự kỳ diệu của mưu thần" trong việc xây loa thành và chế tạo nỏ thần (nói khác đi là trong việc xây dựng và bảo vệ nhà nước Âu Lạc). Nếu như chuyện họ Hồng Bàng giải thích nguồn gốc dân tộc, thì chuyện rùa vàng đề cập đến nhiều vấn đề trọng yếu trong nghiệp dựng nước và giữ nước trên tất cả các mặt văn hóa, chính trị, quân sự, ngoại giao… của người đứng đầu đất nước đối với vận mệnh của quốc gia. Nhà Lý mở ra kỷ nguyên Đại Việt nhưng vẫn dựa vào văn học dân gian (văn hóa dân gian nói chung) làm nền tảng tinh thần để củng cố quốc gia độc lập, tự chủ của mình. Phải chăng bài học rùa vàng lúc nào cũng có trong ý thức của các vua Lý: "sự kỳ diệu của mưu thần" mà văn bia Sùng Thiện Diên Linh nhắc tới chắc có sự liên tưởng đến câu chuyện rùa vàng? Và tài trí của Lý Nhân Tông trong thiết chế các mô hình kiến trúc (xây dựng đất nước) được ví như sự kỳ diệu trong việc xây thành Cổ Loa và chế tạo nỏ thần của vua An Dương Vương xưa kia. Trở về với rối nước rùa vàng thời Lý, mà văn bia đã miêu tả, ta dường như thấy "… Lòng sóng rung rinh. Rùa vàng nổi lên đội ba quả núi. Nước chảy nhịp nhàng, rùa nở phô vảy đẹp, chuyển động bốn chân và nhe răng, trợn mắt phun nước biểu diễn, điệu sáng sủa trên mặt nước tràn đầy. Động này, cửa nọ tranh nhau mở, xuất hiện nhiều thiên thần nhuần nhị, nét mặt thanh tân, há đâu phải vẻ đẹp người dương thế. Tay nhỏ nhắn mềm mại múa điệu hồi phong, mắt nhìn mây biếc và ca khúc vân hội. Chim phượng có sừng hợp nhau thành đôi. Tất cả đều múa phô diễn". Rối nước là sản phẩm văn hóa dân gian của người Việt canh tác lúa nước, là sinh hoạt văn hóa phổ biến trong hội hè ở các làng quê sau những vụ mùa bội thu. Nghệ thuật này được Lý Nhân Tông phát triển, ông cho chế tạo mô hình rối nước rùa vàng làm trò diễn trong cung đình, nơi thiêng liêng Phật ở như chùa Đọi. Lý Nhân Tông tuy đi theo đạo Phật nhưng không phải để hướng về cõi niết bàn cực lạc hư vô mà tìm về thú vui đời thực. Đó là biểu hiện ý nguyện của cư dân nông nghiệp nước ta đã có từ xa xưa, luôn cầu mong cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân cường vật thịnh. Điều đó cũng giải thích rằng: bên cạnh việc đưa đất nước thành quốc gia Phật giáo, Lý Nhân Tông rất chú trọng đến phát triển sản xuất nông nghiệp (nghề trồng lúa nước và trồng dâu nuôi tằm), biến nước Đại Việt thành một quốc gia văn minh nông nghiệp thuở ấy. Qua phân tích ý nghĩa một số biểu tượng tín ngưỡng dân gian còn lưu lại trong các di vật ở chùa Đọi, có thể khẳng định rằng: thời Lý, tín ngưỡng dân gian thấm sâu vào mọi thiết chế xã hội, làm cho vua, dân, Phật gần nhau và Phật giáo được dân gian hóa, được biểu hiện ra thành ước vọng về cuộc sống hiện thực tốt đẹp. Qua đây, chúng ta thấy Lý Nhân Tông thực sự tiêu biểu cho các ông vua phong kiến Việt Nam trong lịch sử biết tiếp thu có chọn lọc văn hóa - tư tưởng nước ngoài để làm giàu cho văn hóa dân tộc Việt Nam. Chú thích: 1. Xin xem Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 2001. Trích Văn Hoá Nghệ Thuật Nguồn: http://daitangkinhvietnam.com
-
Cây sấu nghìn năm tuổi ở Lạng Sơn Một nhánh “bạnh vè”cỡ hai người dang sải tay. Bản Nầng, xã Tân Đoàn, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn có cây sấu cổ thụ tuổi thọ trên dưới nghìn năm, gốc cây to hàng chục người ôm không xuể. Cây sấu này được dân bản đặt miếu thờ và hết lòng gìn giữ, bảo vệ.Bản Nầng - “quê hương” của cây sấu cổĐể đến Bản Nầng, xã Tân Đoàn, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn phải ngược lên những cua dốc trên những đỉnh núi cheo leo. Từ trung tâm xã lên tới Bản Nầng còn độ chục cây số nhưng nếu đi “xe ô-tô gầm cao” thì cũng mất khoảng nửa tiếng. Cũng may là người dân nơi đây sớm quyết tâm mở mang con đường nên việc lên với Bản Nầng có phần dễ dàng hơn. Bản Nầng ngút ngàn cây xanh, được coi là “rốn hồi” của xã, của tỉnh Lạng Sơn. Cây hồi ở Bản Nầng nổi tiếng lắm, có năng suất cao, hoa đẹp đủ Pét coóc (từ 8 đến 10 cánh to đều nhau), có phẩm chất tinh dầu tốt nhất... Chủ tịch xã Đinh Văn Bé cho biết, Bản Nầng có 25 hộ dân với 125 nhân khẩu chủ yếu là dân tộc Tày và Nùng Phàn Sình sống trên sườn núi, đồi khá cao. Hiện ở Bản Nầng có tới 87 ha rừng hồi, hầu như nhà nào cũng có, nhiều nhà có tới trên ba nghìn cây hồi. Có cây già tới mấy trăm tuổi. Cây sấu cổ ở xứ Lạng. Cây sấu cổ “hóa thần” được bản làng ra quy ước bảo vệ Dưới chân dốc đường dẫn lên Bản Nầng, cây sấu cổ trải qua bao đời vẫn tồn tại trên sườn núi Lùng Pá. Ông Hoàng Lê Minh, Giám đốc xí nghiệp giống lâm nghiệp vùng Đông Bắc cho biết: “Cây sấu này cao 40 m. Có thể nói cây sấu là một trong những cây già nhất Việt Nam, có thời gian trên dưới nghìn năm tuổi!”. Chúng tôi lách qua những cây leo và thớ đá để vào sát gốc cây. Là người miền rừng nhưng quả thật, tôi ít thấy có cây nào cổ thụ như vậy. Gốc cây chia thành những nhánh to nổi cao, chục người ôm không xuể, sải dài trên mặt đất tạo nên những “bạnh vè” rắn chắc chạy ra tứ phía... Anh Đinh Văn Bé ngước nhìn lên những tán lá khỏa lấp cả một vùng trời râm mát rồi tâm sự: “Cây sấu này năm nào cũng có quả. Chỉ có quả chín rụng xuống dân bản mới nhặt để ăn, chứ không ai trèo lên cây được. Một là do thân cây quá to, hai là sợ “thần cây” trừng phạt. Hằng năm cứ đến dịp mùa thu, lá sấu rụng bớt lộ ra những quả sấu lúc lỉu vàng óng nom rất đẹp mắt !”. Nói rồi anh dẫn tôi đến một cái miếu nhỏ “ngự” bên cạnh. Tiếng gió đưa rì rào bên tai như những khúc nhạc âm u... Tôi được biết, những cây 30 tuổi trở lên, ở nước ngoài người ta đã phải đưa vào danh sách, lập hồ sơ mô tả, lưu giữ và được coi là tài sản quốc gia. Anh Đinh Văn Bé cho biết: Năm ngoái có một số lâm tặc đến dân bản để gạ mua cây sấu cổ với giá gần 40 triệu đồng. Khi ấy, có người góp ý nên cho họ chặt hạ cây gỗ đi bởi cây này chẳng phải của ai, quả sấu thì không hái được, nhỡ mưa to, gió lớn cây đổ xuống sẽ nát hết hoa màu, ruộng vườn... Thế nhưng cán bộ xã cương quyết giữ cây và nói đó là “thần linh” của bản. Cái miếu nhỏ này đêm rằm vẫn đỏ hương nghi ngút. Thế là cây được giữ lại. Thôn bản còn lập ra quy ước bảo vệ cây, không ai được động đến. Sở dĩ bọn lâm tặc “để ý” đến cây sấu bởi đó là cây quý hiếm, thêm nữa, vân gỗ sấu rất đẹp, bền y như gỗ lát, đặc biệt là không nứt nẻ rất thích hợp cho đóng đồ sập gụ, giường tủ... Chúng tôi mỏi cổ ngước nhìn cây sấu. Anh chủ tịch xã cẩn thận đi vòng quanh “mố” cây xem xét có mối mọt gì không. Nỗi lo giữ cây, giữ rừng hiện hữu trên gương mặt người trẻ tuổi đứng đầu một xã vùng sâu, vùng xa. Trên cành sấu có những quả sấu xanh đang ngả vàng. (Tiền phong) Nguồn: www.phiem-dam.com
-
Lễ hội cúng thần rừng của dân tộc Pu Péo Nhằm bảo tồn, phát huy bản sắc các dân tộc Việt Nam và được sự hỗ trợ của Dự án phát triển dân tộc Pu Péo giai đoạn 2005-2010, ngày 8/7/2008, Ban Dân tộc tỉnh Hà Giang phối hợp với UBND huyện Đồng Văn, UBND xã Phố Là tổ chức Lễ hội cúng thần rừng tại thôn Chúng Trải, xã Phố Là (Đồng Văn). Lễ hội cúng thần rừng của dân tộc Pu Péo có từ lâu đời, tồn tại và phát triển cùng với nhiều thế hệngười Pu Péo; là sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng dân gian, gắn với đời sống triết lý đa thần của cư dân nông nghiệp như: Thần suối, thần sông, thần núi, thần rừng, thần cây... đã tạo ra sắc thái văn hóa riêng trong đời sống cộng đồng. Lễ hội không những có giá trị sâu sắc về tinh thần mà còn khẳng định vai trò, vị trí của cộng đồng gắn với thiên nhiên. Hòa đồng cùng thiên nhiên, tôn trọng, bảo vệ thiên nhiên, coi rừng là bạn, gắn bó với rừng, bảo vệ rừng đã trở thành ý thức chung của cộng đồng người Pu Péo, được thể hiện ở từng gia đình, làng bản và cũng từ đó rừng sinh thủy phục vụ đời sống, sản xuất, cải tạo môi sinh và có giá trị trong thực tiễn cộng đồng. Mỗi khu rừng thiêng được người dân bảo vệ chăm sóc không những mang lại giá trị vật chất, tinh thần cho cộng đồng làng bản mà còn góp phần bảo vệ, phát triển môi trường sinh thái chung. Trong thời gian một ngày, với không khí tưng bừng, đoàn kết của các dân tộc trong xã, phần lễ đã được các nghệ nhân dân gian dân tộc Pu Péo thực hiện nghiêm túc, đảm bảo những yêu cầu cơ bản theo phong tục tập quán truyền thống của Lễ cúng thần rừng. Phần hội được toàn thể nhân dân trong xã tham gia hưởng ứng sôi nổi. Với những nội dung thi đấu các môn thể thao truyền thống như đẩy gậy, kéo co, đánh yến, chơi “ào”, nhảy cóc đã thu hút đông đảo bà con các dân tộc trong xã tham gia. Ngoài ra, còn có chương trình múa hát các làn điệu dân ca, hát đối đáp, giao duyên được các nghệ nhân dân gian của xã trình bày, thể hiện được cuộc sống hàng ngày của bà con dân tộc Pu Péo xã Phố Là. Nhân dịp này, đồng chí Mai Ngọc Hướng, Phó Ban Dân tộc tỉnh, Trưởng Ban tổ chức Lễ hội cúng thần rừng và lãnh đạo huyện Đồng Văn đã trao giải thưởng cho các vận động viên tham gia các môn thi đấu thể thao và các nghệ nhân tham gia Lễ hội. Nguồn: www.archives.gov.vn
-
Ngày còn nhỏ ở Hà Nội, Phoenix thường được người chú cho đi chơi mỗi khi ngày rằm Trung Thu. Nhà cách Hàng Mã không xa nên Hàng Mã là đích đến và cũng là tâm điểm của dòng người trên phố phường Hà Nội tụ hội. Phố Hàng Mã ngày thường không mấy khi đông đúc nhưng ngày rằm Trung thu thì chen chân không có chỗ bước. Đối với lũ trẻ con như Phoenix thời ấy, ngày rằm Trung Thu ở Hàng Mã như là được dạo chơi trên cung trăng vậy. Dọc lối đi là những lẵng thiên nga đôi, thiên nga đơn làm bằng bông và bột gạo. Rất nhiều tò he, hình bột nặn đủ màu, đủ dáng. Rôi vương miện, cây dừa, tranh cắt giấy ....... Đèn lồng là thứ nhiều nhất, lung linh nhất và cũng là thứ hầu hết trẻ con ao ước. Đèn làm bằng giấy hoặc làm bằng bóng kính màu xanh, đỏ vàng. Xương đèn làm bằng tre. Có đủ các loại đèn: đèn đẩy, đèn kéo kéo quân, đèn con thỏ đánh trống. Đối với đèn treo thắp nến thì phổ biến nhất là đèn con thỏ, đèn con cóc và đèn con cá. Trí óc trẻ thơ khi ấy chỉ thắc mắc là sao không có nhiều những con khác mà năm nào cũng chỉ có từng ấy con vậy thôi. Sau này lớn, biết đến con "Thiềm Thừ" mới hiểu vì sao cung trăng gọi là cung thiềm và vì sao rằm trung thu có đèn con cóc, con thỏ, Lớn hơn nữa, những ngày tìm đọc tài liệu về văn hóa Việt Nam càng khâm phục vô cùng ông bà tổ tiên với đời sống dân gian giản dị nhưng minh triết và âm thầm bền bỉ sống mãi với hồn dân tộc. Người Trung Hoa chỉ có thể mô tả "Thiềm Thừ" to lớn, tốt đẹp, đã sống 8000 tuổi, dưới họng có chữ son trên cung trăng ( Sách Ấu học Tầm Nguyên) mà chẳng thể giải thích thêm vì sao con "Thiềm Thừ" lại gắn với cung Trăng, ngày rằm tháng 8. Và vì sao trẻ em Việt đêm trăng thường hát: "Dung dăng dung dẻ, dắt trẻ đi chơi! Đến ngõ nhà trời, lạy cậu lạy mợ, cho cháu về quê, cho bê đi học, cho cóc ở nhà, cho gà bới bếp".... [/color]