hoangnt
Hội viên-
Số nội dung
1909 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
6
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by hoangnt
-
Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Đầm Một Đêm (Nhất Dạ Trạch – Tiên Dung và Chử Đồng Tử) Hùng Vương truyền tới đời thứ ba sinh được một Mỵ Nương (1) đặt tên là Tiên Dung, đến tuổi 18 dung nhan đẹp đẽ, không muốn lấy chồng, thích chu du vui chơi khắp nơi trong thiên hạ. Vua đành chịu vậy, không cấm đoán được. Mỗi năm vào khoảng tháng hai tháng ba Tiên Dung lại sắm sửa thuyền bè chèo chơi ở ngoài biển, vui quên trở về. Hồi đó ở làng Chử Xá ven sông, có người dân tên là Chử Vi Vân sinh được một người con trai là Chử Đồng Tử. Cha từ, con hiếu, nhà gặp hỏa hoạn, của cải sạch không, chỉ còn lại một khố vải duy nhất, cha con ra vào thay nhau mà mặc. Tới lúc cha già lâm bệnh gần chết bảo con rằng: “Cha chết cứ để trần mà chôn, giữ khố lại cho con, để khỏi xấu hổ”. Con không nỡ làm theo, liệm khố rồi đem chôn. Đồng Tử thân thể trần truồng đói rét khổ sở, đứng ở bên sông cầm cần câu cá; hễ nhìn thấy có thuyền buôn qua lại thì đứng ở dưới nước mà xin ăn. Bất ngờ thuyền của Tiên Dung xốc tới, chiêng trống nhã nhạc, cờ lọng huy hoàng, kẻ hầu người hạ rất đông. Đồng Tử rất kinh sợ, không biết chạy trốn đi đâu. Trên bãi cát có khóm lau sậy, lưa thưa dăm ba cây, Đồng Tử bèn nấp trong đó, bới cát thành lỗ nằm xuống phủ cát lên mình. Lát sau, Tiên Dung cắm thuyền dạo chơi trên bãi cát, ra lệnh đào hố, lấy lau vây màn làm chỗ tắm. Tiên Dung vào màn, cởi áo dội nước, cát trôi mất để lộ ra thân hình của Chử Đồng Tử. Tiên Dung hổ thẹn hồi lâu, thấy là con trai bèn nói: “Ta vốn không muốn lấy chồng, nay lại gặp ngươi, cùng ở trần với nhau trong một hố, đó chính là do trời xui khiến vậy. Ngươi hãy mau đứng dậy tắm rửa”. Tiên Dung ban cho quần áo mặc rồi cùng xuống thuyền mở tiệc vui chơi. Người trong thuyền đều cho đó là cuộc giai ngộ xưa nay chưa từng có. Đồng Tử kể lại tình cảnh của mình, Tiên Dung ta thán, muốn nên vợ chồng. Đồng Tử cố từ chối, song Tiên Dung nói rằng: “Đây do trời chắp nối, sao lại cứ chối từ?”. Người theo hầu vội về tâu lại với Hùng Vương. Vua giận nói: “Tiên Dung không thiết tới danh tiết, không màng tới của cải của ta, ngao du bên ngoài, hạ mình lấy kẻ nghèo khổ, còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa, rồi cấm không cho Tiên Dung trở về”. Tiên Dung nghe sợ không dám về, bèn cùng Đồng Tử mở chợ búa, lập phố xá, cùng dân buôn bán, dần dần trở thành phố chợ lớn (nay là chợ Thám). Thương nhân nước ngoài tới lui buôn bán, kính nể tôn Tiên Dung và Chử Đồng Tử làm chủ. Có người lái buôn giàu có nói với Tiên Dung rằng: “Người bỏ một dật (2) vàng, cùng tôi ra ngoài bể mua vật quí, sang năm có thể thành mười dật”. Tiên Dung cả mừng bảo Đồng Tử: “Vợ chồng chúng ta do trời tác thành, đồ ăn thức mặc do người làm nên, vậy nên đem vàng cùng phú thương ra biển buôn bán làm ăn”. Đồng Tử bèn cùng lái buôn đi buôn bán. Đến núi Quỳnh Vi, trên núi có am nhỏ, bọn lái buôn thường ghé lại đó lấy uống nước. Đồng Tử lên am chơi, trong am có sư tên gọi Phu Quang truyền phép cho Đồng Tử, Đồng Tử ở lại học phép, giao tiền cho lái buôn mua hàng. Sau bọn lái buôn quay lại am chở Đồng Tử trở về. Sư bèn tặng Đồng Tử một cây trượng và một chiếc nón mà nói rằng: “Linh thiêng ở những vật này đây”. Đồng Tử trở về, giảng đạo lại cho Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ, liền bỏ phố phường, chợ búa cơ nghiệp, rồi cả hai đều tìm thầy học đạo. Có lần, trên đường đi xa, trời tối chưa về kịp nhà, tạm nghỉ ở giữa đường, cắm trượng che nón mà trú thân. Đến canh ba, thấy hiện ra thành quách, lầu ngọc, điện vàng, đền đài, kho tàng, xã tắc, vàng bạc, châu báu, giường chiếu, chăn màn, tiên đồng, ngọc nữ, tướng sĩ, thị vệ, la liệt trước mắt. Sáng hôm sau, ai nấy trông thấy cũng kinh ngạc lạ lùng, đem hương hoa, lễ vật tới dâng xin làm bề tôi, có văn võ trăm quan, chia quân túc vệ, lập thành nước riêng. Hùng Vương nghe tin, cho rằng con gái làm loạn, bèn sai quân tới đánh. Quần thần của Tiên Dung xin đem quân ra chống giữ. Tiên Dung cười mà bảo: “Điều đó ta không muốn làm, do trời định đó thôi, sống chết tại trời, há đâu dám chống lại cha, chỉ xin thuận theo lẽ chính, để mặc cho cha chém giết”. Lúc đó, dân mới tới theo đều kinh sợ tản đi, chỉ có dân cũ ở lại với Tiên Dung. Quan quân tới, đóng trại ở bãi Tự Nhiên, chỉ còn cách con sông lớn thì trời tối không kịp tiến quân. Nửa đêm, bỗng nhiên gió lớn nổi lên, cát bay, cây đổ, quan quân hỗn loạn. Tiên Dung cùng thủ hạ, thành quách phút chốc bay bổng lên trời. Đất chỗ đó sụt xuống thành cái đầm lớn. Ngày hôm sau, dân chúng không thấy thành quách đâu cả, đều cho là linh dị. Về sau, dân lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, gọi đầm là đầm Nhất Dạ (Nhất Dạ Trạch, nghĩa là đầm một đêm), gọi bãi là bãi Tự Nhiên, còn gọi là bãi Mạn Trù (hố tắm), và gọi chợ là chợ Hà Thị (chợ Hà). Sau đến đời tiền Lý Nam Đế, bọn nhà Lương đem quân sang xâm lược, vua Lý Nam Đế sai Triệu Quang Phục làm tướng cự địch. Quang Phục đem quân ẩn nấp trong đầm. Đầm sâu rộng lớn, bùn lầy, rất khó ra vào, Quang Phục dùng thuyền độc mộc, dễ bề đi lại, quân giặc khó biết tung tích ở đâu. Đêm đến dùng thuyền độc mộc lẻn ra đột kích, đánh cướp lương thực, cầm cự lâu ngày làm cho quân giặc mệt mỏi, trong ba bốn năm không hề đối diện chiến đấu. Bá Tiên than rằng: “Ngày xưa, nơi đây một đêm mà thành đầm nhà trời, đúng vậy!” (3). Nhân gặp loạn Hầu Cảnh, vua nhà Lương bèn gọi Bá Tiên về, cho tì tướng là Dương Sàn thống lĩnh sĩ tốt, Quang Phục ăn chay lập đàn ở giữa đầm, đốt hương cầu đảo, bỗng thấy thần nhân cưỡi rồng bay vào trong đầm mà bảo Quang Phục rằng: “Ta tuy đã lên trời, nhưng linh hiển còn đó, ngươi có lòng thành cầu tới, ta đến để giúp đánh dẹp giặc loạn”. Dứt lời, tháo vuốt rồng trao cho Quang Phục, bảo: “Đem vật này đeo lên mũ đâu mâu (4), đánh đâu diệt đó”. rồi bay mất lên trời. Quang Phục được vuốt rồng, xông ra đột kích, quân Lương thua to, chém được Dương Sàn ở giữa trận, giặc Lương phải lùi. Quang Phục nghe tin Nam Đế mất, bèn lên ngôi lấy hiệu là Triệu Việt Vương, xây thành ở Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh (5). Chú thích: 1) Con gái của Vua Hùng gọi là Mỵ Nương (xem truyện Hồng Bàng). 2) Dật: Một đơn vị đo lường thời xưa. 3) Bản A 2914 còn có thêm câu: “Ôi, mà ngày hôm nay, đêm đêm đồn quân án giữ mà chẳng biết giặc núp nơi đâu” 4) Mũ đâu mâu: Đâu mâu兜鍪 là cái mũ trụ, mũ quân lính đội lúc ra trận. 5) Nay là Bắc Ninh (Nguyễn Hữu Vinh dịch) . Bình: • Đa số các truyện trong Lĩnh Nam Chích Quái nói đến đời Hùng Vương thứ 3, như truyện này. Số 3 là số thiếu dương trong Dịch học. Thiếu dương là bắt đầu khởi động, bắt đầu đi lên, cho nên là con số quan trọng, dù chỉ là nhỏ (“thiếu”). Thực ra số 3 rất quan trọng cho tâm thức con người, hầu như trong tất cả mọi nền văn minh trên thế giới. Có một điều gì đó làm cho con người mê chuộng số 3: Trời đất người, body mind spirit, chúa ba ngôi, bố mẹ con, đầu mình tứ-chi, bắc trung nam, tam bảo Phật Pháp Tăng… • Lòng hiếu thảo của Chử Đồng Tử với cha thì rất rõ — nhường cái khố duy nhất cho cha. Nhưng điều này còn nói lên sự quan trọng của việc tiễn người ra đi. Cho đến ngày nay người Việt vẫn tin người chết ở cõi âm cần dùng nhiều thứ, cho nên tục đốt vàng mã vẫn còn rất mạnh. Cái khố cho bố không phải chỉ để mai táng cho trịnh trọng, mà vì bố còn cần dùng nó hàng ngày ở cõi âm. Cho đi cái khố duy nhất còn là để chuẩn bị cho đoạn sau—một Chử Đồng Tử hoàn toàn trần trụi. • Con người trần truồng là con người thật sự, chính hắn ta, như là trời sinh, không một mảnh vải để làm cho hắn nhìn khác đi một tí. Con người không trau chuốt, không giả tạo, không dối trá, không ảo tưởng… Khi chúng ta đến với nhau bằng con người thật của mình, chúng ta dễ gần gũi nhau hơn, dễ “kết” nhau hơn. Con người trần truồng còn là biểu tượng của cái tâm nguyên thủy của con người. Tâm trong sáng chưa bị lu mở bởi mọi chấp trước thế gian. Con người trần truồng, về mặt vật thể, còn có nghĩa là người nghèo nhất trong thiên hạ, thực sự nghèo đến mức không có khố che thân. • Chử Đồng Tử câu cá ở bờ sông, và phải đứng dưới nước để xin ăn: Văn hóa “nước” của người Việt mà ta đã nói đến trong Truyện Hồng Bàng. Nước là quê mẹ, nước là tổ quốc. Liên hệ tâm thức giữa người Việt với quê hương tổ quốc, ít ra là trên bình diện ngôn ngữ, có lẽ mạnh nhất trên thế giới, vì chẳng có gì quan trọng cho đời sống con người bằng nước, và ta dùng từ đó để gọi tổ quốc. • Tiên Dung và Chử Đồng Tử gặp nhau là duyên tiền định: Số lấy con vua thì nghèo rớt mồng tơi vẫn lấy con vua. Số lấy chồng nghèo thì mình là con vua vẫn lấy anh chàng nghèo nhất nước. Đây là thuyết nhân duyên của nhà Phật. Nghiệp của các kiếp trước dự một phần lớn trong việc định đời sống của ta kiếp này. Tâm hiếu thảo của Chử Đồng Tử kiếp này cũng dự một phần trong việc định đời sống của chàng kiếp này. • Tiên Dung và Chử Đồng Tử gặp nhau khi cả hai cùng trần truồng cũng là biểu tượng của tâm nguyên thủy của con người. Trong vũ trụ quan Phật giáo, tâm nguyên thủy của ta và nền tàng nguyên thủy của vũ trụ là một—là Không. Khi chúng ta giác ngộ, tâm ta không còn si mê, trở về trạng thái tinh tuyền nguyên thủy—Không. Ta và Không là một. Hai người trần truồng (Tiên Dung và Chử Đồng Tử) là biểu tượng cho hai tâm nguyên thủy, mà hai tâm nguyên thủy thì chỉ là một—là Không—biểu tượng của sự kết hợp thành vợ chồng, hai thành một. • Lấy nhau làm vua cha cả giận. Đây nói lên tính tự chủ của Tiên Dung, tự định đoạt đời mình. Tiên Dung là người nổi bật nhất về tự chủ trong truyện này. Về sau ta thấy Tiên Dung cũng chủ động trong việc làm ăn buôn bán. Dấu vết của chế độ mẫu hệ rất mạnh trong văn hóa Việt, như đã nói trong Truyện Hồng Bàng và Truyện Trầu Cau. • Ở đây chúng ta thấy có sự phối hợp của “duyên tiền định” và “ý chí” của con người. Thực ra dây không phải là hai điều khác nhau và trái ngược nhau như nhiều người lầm tưởng. Ý chí của con người cũng là một “nhân/duyên” trong hàng triệu “nhân/duyên” khác ảnh hưởng đến đời sống của hắn ta. Nhân duyên gồm có (1) nhân duyên của bao kiếp trước, (2) nhân duyên của các sự việc trong kiếp này và (3) ý chí và nỗ lực của ta. • Thay vì cùng nhau ở ẩn, Tiên Dung và Chử Đồng Tử lại mở chợ búa buôn bán. Đây là triết lý nhập thế rất tích cực. • Nhờ ra bể buôn bán và gặp thầy học đạo: Đây là triết lý hướng ngoại trong việc trị quốc. Mở rộng ra ngoài, liên hệ với bên ngoài, giao thương với bên ngoài, thì trí tuệ mới mở rộng được. Đương nhiên là điểm này còn nói đến việc Phật giáo du nhập vào nước ta qua đường biển, trực tiếp từ Ấn độ như nhiều sử gia Phật sử đã nói đến (cùng với đường từ Trung quốc ở hướng Bắc sang). • Thầy cho Chử Đồng Tử cây gậy và cái nón: Đây rõ ràng là các vật để đi đường. Tức là triết lý nhập thế, “đạo vào đời”, của các thiền sư. Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma thường xuất hiện với cây gậy mang một chiếc dép; Phật Di lặc, gọi là hotei ở Nhật, là vị sư thường mang cây gậy và một bao (đồ chơi trẻ em). Nón thì che nắng, cây gậy là để bảo vệ và chống thú dữ trên đường đi, v. v… Nhưng chúng còn là biểu tượng gì? – Nón là một vòng tròn lớn, trống rỗng, trên đầu, là biểu tượng của Không–chân tánh của chính mình và của toàn thể vũ trụ–chân lý tối hậu của Phật pháp. “Không” bao trùm tất cả, như nón che toàn thân ta. (Đây cũng tương tự như một chiếc dép của Bồ Đề Đạt Ma thường được xem là biểu tượng của Một. Tất cả là Một, và một đó là Không). – Cậy gậy chống đở thường xuyên là biểu tượng cho giáo pháp—giới , định, tuệ–mà ta phải tu tập hàng ngày, để chống chọi lười biếng, si mê và thoái hóa. • Thành quách xuất hiện trong một đêm, trên đường học đạo: Chuyện này rất giống với phẩm Hóa Thành Dụ trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, khi một đạo sư làm thành quách giả cho các đệ tử nghĩ tạm trên đường tu học gian nan. Phật giảng tam thừa–Thanh Văn thừa (giác ngộ thành Alahán), Duyên giác thừa (giác ngộ thành Bích Chi Phật), Bồ Tát thừa (giác ngộ thành Bồ tát)–cũng chỉ là các “hóa thành” để tạm nghĩ, trên cùng một con đường Phật thừa (thành Phật). • Thành quách hiện ra một đêm, biến mất một đêm, cũng nói đến lẽ vô thường của đời sống—thành quách lâu đài vương giả cũng chỉ là phù du, hiện mất mất hiện chỉ một đêm. Tên “Đầm Một Đêm” (Nhất Dạ Trạch) nhấn mạnh đến lẽ vô thường đó. • Truyện này rõ là huyền thoại và triết lý 100 %, ngoại trừ việc Triệu Quang Phục sau này dùng Đầm Dạ Trạch làm căn cứ kháng chiến chống quân Lương là lịch sử. Truyện vuốt rồng và mũ đầu mâu của Triệu Quang Phục, nếu có vào thời Triệu Quang Phục, thì hẳn nhiên đó là mưu kế chiến tranh tâm lý. (Trần Đình Hoành bình)
-
Triệu Đà mất (137 TCN), truyền ngôi cho cháu đích tôn là Triệu Hồ. Triệu Hồ ở ngôi 12 năm (136-125), khi mất truyền ngôi cho con là Anh Tề. Anh Tề từng làm con tin ở nhà Hán, lấy người con gái họ Cù, sinh con tên Hưng, sau khi lên ngôi lập Cù thị làm hoàng hậu, Hưng làm thế tử. Anh Tề cũng ở ngôi được 12 năm thì mất (113 TCN). Thế tử Hưng được lập làm vua, nhưng Cù thái hậu làm nhiếp chính. Cù thái hậu ngang nhiên tư thông với sứ giả nhà Hán là An Quốc Thiếu Quý, vốn là người tình cũ khi ở đất Hán khi chưa lấy Anh Tề. Tể tướng Lữ Gia (có tài liệu nói ông là người Việt) làm quan trải ba đời vua Triệu, được lòng dân hơn vua, muốn làm loạn. Thái hậu muốn mượn tay nhà Hán giết Lữ Gia. Lữ Gia về nhà dấy quân, giết vua và Cù thái hậu cùng bọn sứ giả nhà Hán, lập cháu của Triệu Đà là Kiến Đức làm vua, tức là Triệu Thuật Dương Vương (112 TCN). Hán Vũ đế sai Hàn Thiên Thu mang quân đánh Nam Việt. Lữ Gia đón đánh giết được Hàn Thiên Thu. Hán Vũ đế liền sai Dương Bộc, Lộ Bác Đức đem đại quân sang đánh, Triệu Thuật Dương Vương Kiến Đức và Tể tướng Lữ Gia đều lần lượt bị bắt và bị hại (111 TCN). Nhà Triệu và nước Nam Việt tính từ Triệu Đà đến Triệu Kiến Đức là 5 đời vua, tồn tại 97 năm (207 - 111 TCN). Từ năm 137 - 111 = 26 năm - như vậy tể tướng Lữ Gia cùng thời với Trọng Thủy, người Việt làm quan ở thành Phiên Ngung. Lữ Gia (chữ Hán: 吕嘉,?-111 TCN), tên hiệu là Bảo Công (保公) [1] là Tể tướng của bốn đời vua nhà Triệu nước Nam Việt. Ông là người nắm chính trường nước Nam Việt những năm cuối và cuối cùng thất bại trước cuộc xâm lăng của nhà Hán. LĂNG MỘ TRIỆU VĂN ĐẾ Ở QUẢNG CHÂU (Nguyễn Duy Chính) Triệu Văn Đế - Triệu Văn Vương kế tục Triệu Đà làm vua Nam Việt và làm sao chứng minh ông là con của Mỵ Châu - Trọng Thủy với ghi nhận là lăng một của Triệu D(à vẫn chưa tìm ra? DẪN NHẬP Giới nghiên cứu đã có nhiều tranh biện Triệu Đà và con cháu ông có nên liệt kê vào một trong những triều đại trong quốc sử hay chỉ nên coi như thời điểm mở đầu cho một giai đoạn ngoại thuộc kéo dài hơn 1000 năm? Chúng ta vẫn chưa có câu trả lời chính xác và những bộ sử lớn của nước ta như Đại Việt Sử Ký triều Lê, Khâm Định Việt Sử triều Nguyễn tuy có chép đến nhưng các sử thần không coi là chính thống.1 Thế nhưng thái độ ngạo nghễ của bản thân Triệu Đà đối với nhà Hán cũng như ý chí bất khuất của tể tướng Lữ Gia lãnh đạo một cuộc chiến đấu chống xâm lăng sau này, nên không ít người trong chúng ta vẫn coi nhà Triệu phần nào đại diện cho tính khí quật cường của dân tộc. Nguyễn Trãi khi viết Bình Ngô Đại Cáo cũng liệt kê họ Triệu như một triều đại của Việt Nam: ... tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc, dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhấr phương . ...(...自趙丁李陳之肇造我國,與漢唐� ��元而各帝一方 ) nghĩa là ... từ các triều đại Triệu, Đinh, Lý, Trần xây dựng nước ta, cùng với Hán, Đường, Tống, Nguyên (của Trung Hoa) mỗi bên một phương làm chúa tể... Tuy địa vực của thời kỳ này khác xa lãnh thổ của nước Việt hôm nay, triều đại nhà Triệu cũng như nhà Thục (An Dương Vương) vẫn được chép vào quốc sử, nên việc tìm hiểu thời kỳ đó ít nhiều cũng soi sáng những sinh hoạt xã hội trong thời kỳ mà tài liệu còn ít ỏi, mù mờ. Cho đến nay, các sử gia vẫn cho rằng việc du nhập một số định chế đời Hán chỉ được tiến hành trong thời Bắc thuộc, khi nước ta trở thành một phần lãnh thổ của họ. Những khám phá mới đây cho thấy lập luận này không đứng vững mà trong nhiều thiên niên kỷ, một nền văn minh riêng biệt đã tồn tại ở vùng Đông Nam Á mà địa giới lan rộng tới cả vùng Hoa Nam. Những khác biệt rất rõ rệt của văn minh phương Nam – ngồi xổm, đội khăn, ăn trầu, nhuộm răng, đi chân đất ... – và những tập quán bản địa đến nay cho thấy người Việt chúng ta vẫn còn rất nhiều gần gũi với phương Nam hơn là bị đồng hoá bởi phương Bắc. Trong khi văn minh Hoa Hạ mang tính khép kín của một đại lục thì những dân tộc tiếp giáp với biển cả có nhiều sinh hoạt phóng túng hơn và việc trao đổi đa phương với các nền văn hoá khác vẫn còn tiếp tục. MỘT KHÁM PHÁ BẤT NGỜ Nếu ai đọc qua Tam Quốc Chí đều biết đến cái tên Tôn Quyền ( 孫權 ), con thứ của Tôn Kiên, em của Tôn Sách, người được mệnh danh là mắt biếc, râu tía, trong thế tam phân thiên hạ kế vị anh làm chúa tể đất Giang Đông. Khi làm chủ nước Ngô (bao gồm cả miền nam Trung Hoa và miền bắc nước ta ngày nay), Tôn Quyền nghe nói trong các ngôi mộ của họ Triệu – tức Triệu Đà và con cháu – có nhiều bảo vật nên sai tướng là Lã Du ( 呂瑜 ) đem quân xuống Quảng Đông tìm kiếm, tất cả những nơi nghi là lăng mộ họ Triệu đều được đào sâu ít nhất 3 thước (Tàu). Công cuộc khai quật để lấy châu báu đó chỉ thành công một phần và quân Ngô chỉ tìm ra mộ của Anh Tề ( 嬰齊 ), cháu gọi Triệu Đà bằng ông cố 2, lấy được rất nhiều vật quí. Thế nhưng trong suốt hai ngàn năm qua, mộ của Triệu Đà và cháu là Triệu Muội ở đâu vẫn không ai tìm được. Tháng 8 năm 1980, trong khi tiến hành việc xây dựng một công trình ở phía bắc gò Tượng Cương ( 象崗 ), tỉnh Quảng Châu người ta vô tình tìm thấy một ngôi mộ cổ mà sau này mới biết rằng chính là mộ của Triệu Muội ( 趙眛 )3. Tượng Cương là tên của một ngọn núi nhỏ chỉ cao có 49.71 mét, chung quanh đã khai phá xây cao ốc từ thập niêm 1970s. Điều đáng ngạc nhiên là khi đào sâu vào đá núi đến 20 thước tây, lúc đó mới gặp ngôi mộ này, thành thử suốt hơn hai nghìn năm không ai biết đến. Việc tìm ra ngôi mọâ được sách vở tường thuật như sau: Hôm đó, một chiếc máy đào đất to lớn liên tục đào vào Tượng Cương Sơn, khoét sâu vào núi một lỗ hủng lớn. Đột nhiên mỏ máy bổ xuống một tảng đá, dội lên nên thợ phải ngừng lại xem xét, không biết là vật gì, tất cả đồng ý di chuyển máy sang đào ở bên cạnh nhưng đâu đâu cũng toàn là đá phiến, rõ ràng là phần trên của một ngôi mả đá. Đoàn công nhân phải ngừng lại và báo cáo lên huyện để chờ cấp trên cử nhân viên khảo cổ đến xem xét. Sau khi tiến hành điều tra, các nhà nghiên cứu đi đến kết luận rằng đây là một ngôi mộ được tạc vào trong núi, phía nam có một mộ đạo (đường hầm) thông xéo vào dài chừng hơn 20 mét, chèn đầy đất và đá tảng chạy dài tới cửa mộ.4 Theo Mạch Anh Hào (Mai Yinghao - 麥英豪 ), giám đốc danh dự của Viện Bảo Tàng thành phố Quảng Châu5 trong bài tường trình tại Hội Nghị Khảo Cổ Đông Nam Á từ ngày 9 đến ngày 13 tháng 3 năm 19956 tổ chức tại Hội Nghị Sảnh, đại học Hương Cảng thì vì có kinh nghiệm với nhiều lần khai quật khác không mấy thành công, thành phố Quảng Châu đã quyết định thực hiện công trình này bằng cách cố giữ ngôi mộ cho được nguyên trạng bằng cách đào ngang thay vì đào từ trên xuống theo lối thông thường và dự định sẽ xây dựng một viện bảo tàng ngay tại đây để duy trì một di tích quan trọng.7 Ngày 25 tháng 8 công tác khai quật ngôi mộ này thực sự bắt đầu. Việc mở cánh cửa đá đầu tiên cũng gặp khó khăn. Khi xây ngôi mộ này, cổ nhân thực hiện hai khung cửa đá cách nhau chừng 10 mét theo một đường hầm thoai thoải. Đằng sau khung cửa đá có một bộ phận, khi cửa đóng lại sẽ tự động tuột ra khiến cho vòm cửa sụp xuống. Cửa đằng trước cũng có một cơ quan bí mật khiến cho toán khảo cổ phải đục đá ra mới vào đường hầm được. Ngôi mộ chính có diện tích chừng 100 m2, bao gồm 7 gian phòng, trần cao 2 mét, chung quanh tường đều lát bằng đá xanh, dưới sàn lát gỗ. Sau khi vào được mộ rồi, các nhân viên khảo cổ bắt đầu công việc thu dọn cho sạch sẽ. Việc dọn dẹp đáng kể nhất là những gian phòng phía tây, là nơi tàng trữ các loại khí dụng và châu báu, rất nhiều đồ tuỳ táng (đồ chôn theo người chết). Nghiên cứu kỹ lưỡng, đội khảo cổ quyết định sẽ nằm bò ngay trên ván gỗ để phân loại tại chỗ. Sau khi xúc hết đất cát trong căn phòng chính, người ta thấy lộ ra dấu vết của một quan tài gỗ và một hình người. Mộ chủ được đặt trong một bộ quần áo bằng ngọc theo lối chôn các bậc vương hầu đời Tây Hán8, ngang lưng đeo mười thanh kiếm bằng sắt có khảm vàng, thanh dài nhất là 1.46 mét. Trong những ngôi mộ đời Hán đã khai quật, đây là thanh kiếm thép dài nhất từ trước tới nay. Trên đầu mộ chủ có móc vàng và trang sức bằng ngọc, chế tạo khéo léo, lót dưới ót là túi dệt bằng tơ, đựng ngọc trai. Chung quanh mộ chủ cũng vương vãi rất nhiều món đồ khác được điêu khắc tỉ mỉ là những món ngọc quí giá đời Hán. Trong khi mọi người còn đang suy đoán không biết người chết mặc áo ngọc này là ai vào buổi chiều ngày 22 tháng 9 một việc khá bất ngờ xảy ra. Một đội viên trong nhóm khảo cổ vô tình phát hiện một chiếc ấn vàng, núm hình rồng cuộn, sáng lấp lánh đặt ở khoảng giữa ngực và bụng của mộ chủ. Sau khi dùng bàn chải quét sạch lớp bụi đất đóng ở trên chiếc ấn, lật ngược lại thì thấy dưới đáy khắc bốn chữ “Văn Đế Hành Tỉ” ( 文帝行璽 ) theo lối tiểu triện Việc tìm ra chiếc ấn vàng này đã cho phép các nhà nghiên cứu xác định được người nằm trong ngôi mộ chính là vua thứ hai nhà Triệu nước Nam Việt, tên chính là Triệu Muội, là cháu gọi Triệu Đà bằng ông. Triệu Đà làm vua rất lâu, sống thọ9 nên khi qua đời, con ông đã chết rồi nên truyền ngôi cho cháu. Bốn chữ khắc trên ấn cũng đặt ra nhiều câu hỏi, không phải chỉ cho các sử gia Trung Hoa mà cho cả Việt Nam. Theo sử cũ, Triệu Đà xưng đế nhưng về sau thần phục nhà Hán được phong là Nam Việt Vương. Tuy nhiên nếu Triệu Muội vẫn dùng con dấu Văn Đế thì chúng ta có thể tin rằng Triệu Đà cũng là người mở đầu cho một chính sách ngoại giao kéo dài tới tận ngày nay. Đó là tuy thần phục và chấp nhận được triều đình Trung Hoa phong vương (lúc này là Nam Việt Vương, sau này là An Nam quốc vương ...) nhưng chỉ trên hình thức, trên thực tế các vua nước ta vẫn tự cho mình là hoàng đế, ngang hàng với Trung Hoa. Chính vì thế nên Triệu Muội đã sử dụng con dấu “Văn Đế hành tỉ”. BỐ CỤC CỦA NGÔI MỘ Theo các nhà chuyên môn, ngôi mộ được kiến trúc theo bố cục tiền triều hậu tẩm10 (phía trước là triều đình, phía sau là cung điện của vua ở), xây bằng tổng cộng hơn 750 phiến sa nham ( 砂巖 ) bao gồm tất cả trước sau 7 gian phòng. Việc đục núi làm lăng (phách sơn vi lăng - 劈山為陵 ) để khỏi phải đắp đất bắt đầu từ thời Tần – Hán nhưng chỉ trở thành một định chế từ đời Đường mà thôi. Từ bên ngoài vào theo một thông đạo thoai thoải đi xuống chừng 10 thước thì đến cửa vào thứ nhất. Thông đạo này kiến trúc như một ống hình vuông dài kết thúc bằng hai cánh cửa đá, trên cửa có gắn phô thủ (鋪首)) bằng đồng xanh có khắc hình đầu thú. Qua khỏi cửa đến phòng ngoài (tiền thất) ở giữa, hai bên là hai phòng ngang (đông nhĩ thất và tây nhĩ thất). Kế đó là phòng chính để mộ chủ, hai bên có hai phòng (đông trắc, tây trắc) và sau cùng là một nhà kho. Bố cục của toàn thể ngôi mộ theo hình chữ giáp (甲) được đặt theo hướng đầu về phương bắc, chân ở phương nam. Phòng trước (tiền thất) Trên tường của phòng trước vẽ nhiều hình dùng hai màu đen và đỏ các biểu tượng văn hoá mà nhiều loại người Trung Hoa hiện nay vẫn còn sử dụng. Căn phòng đó có cửa thông ra bốn bên, cửa phía nam tiếp với lối vào, cửa phía bắc vào phòng mộ chủ. Hai cửa này có cánh cửa bằng đá còn hai cửa hai bên sang phòng phía đông, tây chỉ là hai lỗ trống mà thôi. Phòng hông (nhĩ thất) Hai phòng phía đông và phía tây có chứa nhiều loại đồng khí, trong đó có các loại chuông, khánh đá, nhạc khí, binh khí và ngọc khí. Ngoài ra còn một người bị chôn theo (tuẫn táng). Phòng chính Phòng chính để mộ chủ còn gọi là địa cung vốn dĩ hình vuông tất cả lát đá nhưng lại không có các hình vẽ như tiền thất mà đều để trần. Hai bên phải trái cũng có hai phòng nhỏ, có cửa thông sang. Đằng sau phòng này có một phòng nhỏ làm kho chứa. Phòng chứa Ngay sau phòng để xác mộ chủ là một nhà kho (trữ tàng thất) để chứa thực phẩm. Đây là phòng nhỏ nhất trong bảy gian phòng, hình dáng tương đối vuông vức. Tuy nhỏ nhưng trong phòng chất hàng trăm vật dụng chồng lên thành nhiều tầng bao gồm đồ đồng và đồ sành sứ trong đó có các loại đồ nấu ăn, đồ đựng thức ăn và bồn rửa. Những nồi niêu dưới đáy còn vết tro than chứng tỏ những vật này thường được sử dụng để nấu ăn cho mộ chủ, nay đem chôn theo người chết. Để cho Triệu Văn Đếâ sinh hoạt, ngoài đồ dùng còn có rất nhiều loại thực phẩm, hầu hết chứa trong các loại đồ đồng và đồ sành sứ. Trong hơn 30 đồ đựng thấy có các loại thịt gia cầm, gia súc, hải sản được giám định như sau: thịt bò, thịt heo, thịt gà, sơn dương, cá mè, tôm, ếch, chân rùa, sò hến và cá chép tổng số gần 20 loại khác nhau. Trong ba chiếc hũ sành, người ta còn tìm thấy khoảng 200 con chim sẻ lúa11 đã chặt đầu, chặt chân. Chim sẻ là một đặc sản đất Quảng Đông, như vậy món ăn này đã có từ hơn 2000 năm trước. CÁC BẢO VẬT TRONG MỘ Theo tổng kết sơ khởi người ta liệt kê được hơn 200 món ngọc khí, điêu khắc tinh mỹ, hơn 500 món thanh đồng và nhất là một bộ áo mặc cho người chết bao gồm nhiều miếng ngọc khâu với nhau bằng tơ. Đây là ti lũ ngọc y ( 絲縷玉衣 ) sớm nhất mà người ta tìm thấy được ở Trung Hoa. Ngoài ra người ta còn kiếm được một bộ thanh đồng đồng chung ( 青銅筩鍾 )12 5 cái, một bộ nữu chung13 ( 鈕鐘 ) 14 cái, một bộ câu dược ( 勾鑃)14 8 cái trên có khắc “Văn Đế cửu niên” là những món đồ đồng mà người ta cũng từng tìm thấy trong các ngôi mộ đời Hán khác. Trong mộ có tất cả 23 chiếc ấn là số lượng nhiều nhất trong những ngôi mộ cổ trong đó chiếc ấn Văn Đế Hành Tỉ là ấn vàng lớn nhất kiếm thấy đời Hán. Trong số 36 cái đỉnh đồng có 8 cái khắc hai chữ Phiên Ngung ( 蕃禺 ), lại có những vật dụng nguồn gốc từ Tây Á và Phi Châu như đồ trang sức bằng vàng gắn hạt châu, hộp bằng bạc, ngà voi, nhũ hương ... minh chứng nước Nam Việt cách đây 2000 năm đã có buôn bán và giao dịch với nhiều nước trên thế giới bằng đường thuỷ. Hành tỉ Con dấu này vuông vức 3.1 cm, núm hình rồng cuộn, so với các ấn vàng khác cùng thời có phần lớn hơn. Theo cổ tịch, ấn đời Hán được qui định là một tấc (khoảng 2.2 cm), xem ra nước Nam Việt không tuân theo qui tắc của Hán triều mà có tiêu chuẩn riêng. Con du long trên ấn cuộn theo hình chữ S, giương vuốt nhe nanh trông rất hùng tráng, không có sừng nhưng hai tai to, thân có vảy, phần dùng để cầm trơn bóng nên các chuyên viên khẳng định rằng đây là con dấu được dùng hàng ngày khi còn sinh tiền chứ không phải được đúc để chôn theo khi đã chết. Núm ấn hình con rồng cũng là một câu hỏi lớn về vị thế của vua Văn Đế. Cứ như qui luật, một khi thần phục Trung Hoa, vua các phiên thuộc chỉ được phong vương, đúng lý ra phải là Triệu Văn Vương. Ấn của phiên thuộc đời Hán làm bằng ngọc, núm hình con li hổ ( 螭虎 ), một động vật thần thoại, đầu rồng nhưng không có sừng, có bốn chân mà ta thường gọi là con lân. Năm 1968, người ta đào được ở vùng phụ cận lăng của Hán Cao Tổ tại Thiểm Tây một chiếc ấn làm bằng bạch ngọc có khắc “Hoàng Hậu Chi Tỉ” ( 皇后之璽 ), núm hình con lân. Chiếc ấn này các chuyên gia khẳng định là của Lã hậu, vợ Lưu Bang. Việc đúc ấn núm hình rồng bằng vàng lại lấy hiệu là Văn Đế chứng tỏ tổ chức hành chánh và xã hội nước Nam Việt hoàn toàn độc lập với Trung Hoa. Ngoài ra, với những qui mô người ta tìm thấy trong mộ mà ít nhiều như một triều đình thu nhỏ, chúng ta có thể cho rằng nước Nam Việt thời đó tương tự như nhà Tần, pha trộn với một số tập tục bản địa của vùng Lĩnh Nam chứ không phải bắt chước nhà Hán như trước đây vẫn lầm tưởng. Cũng theo sử sách ghi chép, các vua nhà Hán đều không xưng đế khi còn sống. Những tên gọi như Cao Đế, Văn Đế, Vũ Đế ... đều là thuỵ hiệu ( 謚號 ), do quần thần căn cứ vào công nghiệp của tiên vương rồi truy phong nên ấn của vua Hán không hề có các loại “Cao Tổ chi tỉ”, “Vũ Đế chi tỉ” và cũng không chôn theo khi qua đời vì triều đình nhà Hán có một bảo ấn gọi là truyền quốc tỉ ( 傳國璽 ), được coi như tín vật chính thức truyền ngôi, lưu giữ đời vua này sang đời vua khác. Nếu vị vua nào khi chết có ấn chôn theo thì đó là ấn được đúc khi lâm chung theo ý của đương sự chứ không phải là ấn dùng khi còn sống. Một thắc mắc khác cũng đáng nêu lên là theo sử Trung Hoa, vua thứ hai của triều đại nhà Triệu đất Nam Việt vẫn chép là Triệu Hồ (趙胡), sao con dấu này lại có tên là Triệu Muội (趙眛), liệu có gì sai sót hay không? Đối với người Việt chúng ta có lẽ đây là một nghi vấn lớn nhưng theo các chuyên viên ngôn ngữ tại Quảng Châu thì vào thời Tây Hán, ngôn ngữ vùng Lĩnh Nam và trung nguyên hoàn toàn khác hẳn, tên của Triệu Muội chép trong sử không phải là tên chính thức ghi trên giấy tờ qua lại mà chỉ là chữ ký âm do lời khai của các sứ thần được cử đến, khi về triều tâu lại với Hán đế và thường chỉ dùng một chữ Hán tương tự. Hiện nay tại vùng nam Trung Hoa, âm “muội” vẫn còn phát âm giống như “hồ” nên việc dùng chữ nọ ghi âm chữ kia không phải là chuyện đáng ngạc nhiên.15 Ngoài con ấn Văn Đế Hành Tỉ người ta còn tìm thấy một chiếc ấn vàng có khắc hai chữ thái tử (泰子). Chiếc ấn này một chiều 2.6 cm, một chiều 2.4 cm không vuông hẳn. Thời cổ người ta dùng lẫn lộn hai chữ thái (太 và 泰) cho nên chiếc ấn có lẽ là của Triệu Muội khi ông chưa lên làm vua, chỉ mới là người được chỉ định kế nghiệp. Thế nhưng đây cũng là một nghi vấn sử học vì theo sách vở con Triệu Đà là thái tử Trọng Thuỷ chết trước khi ông qua đời, trên danh nghĩa Triệu Muội chỉ là cháu nội, không thể được truyền vị thái tử, liệu có phải là của cha ông để lại hay chăng? Ngoài chiếc ấn thái tử, người ta cũng tìm thấy 4 chiếc ấn khác chôn theo 4 người đàn bà trong đó có một chiếc ấn có khắc 4 chữ Hữu Phu Nhân Tỉ (右夫人璽). Chiếc ấn này vuông vức 2.2 cm được đúc bằng vàng ròng trong khi 3 chiếc còn lại là đồng mạ vàng không gọi là tỉ mà chỉ là ấn. Theo qui định, chỉ ấn của hoàng hậu mới được gọi là tỉ, như vậy một trong bốn người đàn bà địa vị rất cao và việc xưng hô của triều đình Nam Việt không theo cách thức nhà Hán mà theo phong tục của dân địa phương. Từ điểm này nhiều người đã xác nhận rằng nhà Triệu sau hai đời đã bị Việt hoá khá nhiều, không phải chỉ là một bản sao của triều đình phương bắc nữa. Cho đến nay, những sử gia Trung Hoa đều cố gắng dùng điển lệ của nhà Hán để giải thích các di chỉ trong mộ Triệu Muội nên nhiều điểm chưa rõ ràng, biết đâu nếu các nhà khảo cổ Việt Nam bước vào nghiên cứu rất có thể đưa ra được một vài đáp số và bí ẩn chưa tìm thấy. Hình 2: Ấn vàng Văn Đế Hành Tỉ và ngọc giác bôi Đồ bạc Hộp bạc hình tròn, chiều cao 12 cm, đường kính chỗ lớn nhất là 14.9 cm, nặng 572.6 gram tìm thấy trong phòng đặt quan tài mộ chủ, trong hộp có chứa 10 hộp nhỏ đựng thuốc viên. Theo sự giám định của các chuyên gia về nghệ thuật tạo hình, chất liệu và đường nét trên hộp thì hộp này không phải do người Trung Hoa chế tạo mà có nguồn gốc từ đế quốc cổ Ba Tư (550 TTL – 330 TTL) còn dược hoàn có lẽ là thuốc do người Ả Rập bào chế16. Tính niên kỷ và thời gian trị vì, Văn Đế Triệu Muội thân thể không được tráng kiện, việc chôn theo thuốc men để dùng ở thế giới bên kia không phải là chuyện lạ. Ngoài chiếc hộp này, người ta cũng tìm thấy một số đồ bằng bạc khác như chậu rửa (tẩy - 洗), chén uống rượu (chi -?), khoá đai (đái câu - 帶钩) ... là đồ dùng hàng ngày của Việt vương. Trong số 7 chiếc khoá đai thì có năm hình dáng khác nhau, đầu nhạn, đầu rùa, đầu rồng, đầu rắn ... điêu khắc tinh vi đẹp đẽ. Những đái câu này dài 18.4 cm, hình cong, có gắn bảo thạch tìm thấy trong phòng để quan tài của mộ chủ. Theo những nhà chuyên môn lượng giá, những món đồ này cho thấy trình độ kỹ thuật thời đó rất cao. Khoá đai dùng để đeo kiếm, đao, túi tiền hay ấn tín ... không chỉ để thắt lưng như ngày nay. Đồ đồng Tổng số các đồ đồng trong mộ Triệu Văn Đế Triệu Muội lên tới hơn 500 món, vừa đa dạng, vừa tinh mỹ mang nhiều tính chất bản địa của vùng Lĩnh Nam. Trong số này người ta nhận thấy bao gồm đồ dùng nhà bếp, đồ ăn uống, tửu khí, nhạc khí, các loại dùng trong xe cộ, thắng ngựa ... Người Trung Hoa phân biệt khá chi li về những đồ đựng bằng đồng và không phải đồ vật nào có ba chân cũng đều gọi là đỉnh17. Đồng khí dùng để đựng chia làm ba loại khác nhau, đựng đồ ăn (food vessels) bao gồm lịch (鬲), đỉnh (鼎), nghiễn (甗), Về đỉnh đồng có tất cả 36 cái, bao gồm ba kiểu khác nhau của người Hán, người Sở và người Việt trong đó 9 cái có khắc hai chữ Phiên Ngung (蕃禺) là những sản phẩm được đúc tại kinh đô Nam Việt (nay thuộc Quảng Tây, Trung Hoa). Đặc biệt hơn cả có một đỉnh lớn kiểu người Việt, cao 54.5 cm, trong đỉnh có khắc hai chữ “thái quan” (泰官) là chức quan chuyên về việc ăn uống thường ngày cho nhà vua. Bình đồng có 9 cái, một cái nạm vàng (銅提簡) cao 37 cm, cổ dài, bụng phình ra, chỗ nào cũng khảm vàng lấp lánh là một nghệ phẩm đặc biệt. Ngoài ra còn có 9 cái thạp đồng (銅提簡) là một trong những món đặc trưng của dân Việt. Trên một chiếc thạp đồng cao 40.7 cm có một vành đai khắc bốn hình thuyền quấn liền theo thân thành một hình dài liên tục, mỗi thuyền có 5 người đội mũ lông chim, đi chân đất, đầu thuyền có treo một đầu người, đầu thuyền có cắm hai lá cờ cũng bằng lông chim. Năm người trên thuyền mỗi người một kiểu, kẻ thì cầm giầm chèo thuyền, kẻ thì đánh trống, kẻ cầm binh khí, có kẻ lại đang giết địch thủ. Người ta giải thích rằng vì đất Quảng Châu giáp với biển cả nên thường phải đối phó với những kẻ thù theo đường biển tiến vào nên những hình vẽ miêu tả việc giao chiến và tiêu diệt kẻ địch. Trong thuyền cũng thấy vẽ các loài hải sản như rùa, chim, cá ... hình thái sinh động, nét vẽ sắc bén chứng tỏ đã đạt tới một trình độ mỹ thuật cao. Những hình đó tương tự như những hình chúng ta khá quen thuộc trên các loại trống đồng tìm thấy ở miền Bắc nước ta. Hình 2: Một vật bằng đồng trong mộ Triệu Muội Ngoài những món kể trên người ta còn tìm thấy 39 tấm gương đồng, chế tạo tinh xảo, đúc nổi hình rồng, mây, núi ..., cái lớn nhất đường kính 41 cm là kính lớn nhất tìm thấy tại Trung Hoa đời Tây Hán, coi như quốc bảo. Trên kính này có vẽ người, vật bằng màu, khi tìm thấy vẫn còn các màu xanh lục và trắng, chính giữa có hai người đang đấu kiếm, bên ngoài có 4 người khác đứng xem, nét vẽ sinh động như thật. Chung quanh gương và bên trong cũng có đường lượn nổi liên tục (liên hồ văn - 連弧紋) và hình mây cuốn (quyển vân văn - 卷雲紋). Cũng có những tấm gương gọi là lục sơn kính - 六山鏡 là kiểu mẫu khá độc đáo thời Chiến Quốc ít thấy trong đời Hán18. Lục sơn kính trong mộ Triệu Muội là cổ vật đầu tiên đào được mặc dù trong các viện bảo tàng vẫn có trưng bày những kính tương tự nhưng là của gia bảo do tư nhân giữ được chứ không phải chôn dưới đất.19 Cũng nên nói thêm, trong mộ Triệu Muội người ta tìm được một số tổ hợp kính (組合鏡). Như chúng ta đã biết gương là dụng cụ để soi mặt, một món đồ không thể thiếu của phụ nữ mọi thời đại. Khi chưa chế được gương bằng thuỷ tinh, người ta đúc gương bằng đồng rồi mài cho nhẵn bóng để dùng, nếu không thì soi vào nước. Chiếc gương đồng thời xưa bao gồm hai mặt, một mặt nhẵn, còn mặt kia thường được trang trí bằng những hoa văn hay hình điểu thú, có khoen để buộc vào thắt lưng. Đồng thời cổ thường pha thiếc, tuỳ theo nhiều ít mà cứng hay mềm, thô tạo hay nhẵn nhụi. Chính vì cần đáp ứng nhu cầu mềm để dễ điêu khắc và cứng để dễ đánh bóng mà soi nên người Trung Hoa nghĩ ra cách đúc gương thành hai mảnh với hai hợp chất khác nhau cho hai nhiệm vụ gọi là tổ hợp kính. Nghề đúc đồng là một tuyệt nghệ của vùng Lĩnh Nam nên việc trong mộ có nhiều tổ hợp kính tinh xảo không phải là chuyện lạ. Ngoài những tấm gương đồng (銅鏡), trong mộ cũng có những bồn lớn vừa để chứa nước rửa, vừa để soi mặt gọi là giám (鑒), khi tìm thấy bên trong còn nhiều loại thực phẩm như thịt heo, thịt dê, thịt gà, cá, rùa ... là những món ăn thông dụng thời đó. Trong mộ cũng có 11 cái lò hương, nắp có chỗ thoát hơi. Hương liệu vốn dĩ là sản phẩm độc đáo của nước ta nhất là các tỉnh miền Trung nên lò hương bằng đồng cũng là một sản phẩm có tính địa phương, nói lên kỹ thuật đúc đồng của phương nam có những nét đặc sắc mà trung nguyên chưa theo kịp. Chuông đồng Có ba loại chuông cổ khác nhau theo tên gọi: nữu chung ( 鈕鍾 ), dũng chung ( 甬鍾 ) và đồng câu điêu ( 銅句鑃 ). Chuông đồng thời này chưa giống như các loại chuông về sau này, thường nhỏ hơn, một bộ có nhiều cái để đánh ra nhiều âm thanh được dùng chủ yếu trong lễ nghi như một hình thức trung gian tiếp xúc với thần linh. Âm nhạc cũng rất thông dụng trong các cuộc vui chơi, yến tiệc. Tại phòng phía đông trong mộ có chứa nhiều loại nhạc khí, bên cạnh còn có một nhạc sư tuẫn táng. Nhạc khí chia ra nhiều loại khác nhau bằng đồng, bằng đá, bằng gốm, bằng tơ. Riêng về nhạc khí bằng đồng, người ta tìm thấy một bộ nữu chung 14 cái, dũng chung một bộ 5 cái, câu điêu một bộ 8 cái. Nữu chung là sản phẩm của Nam Việt, cái lớn nhất cao 24.2 cm, cái nhỏ nhất cao 11.4 cm. Dũng chung, cái lớn nhất cao 49 cm, cái nhỏ nhất cao 38 cm, hình ống tròn. Câu điêu lớn nhất cao 64 cm, hình hơi vuông, cán đặc, miệng hình cung. Trên thân các câu điêu có khắc lõm hàng chữ triện: Văn đế cửu niên nhạc phủ công tạo ( 文帝九年樂 府工造 )20 từ thứ nhất đến thứ tám là những món đồ có niên đại rõ rệt duy nhất vào thời này. Người ta cũng đánh thử những câu điêu này, tiếng vẫn còn tốt. Đồng qua, đồng kiếm và hổ tiết Trong mộ có rất nhiều loại binh khí. Ngoài 15 thanh kiếm thép, các món khác đều làm bằng đồng. Món đồ hiếm quí nhất là một thanh đồng qua Trương Nghi ( 張儀銅戈 ) trên có khắc hàng chữ “vương tứ niên tương bang Trương Nghi” ( 王四年相邦張儀 ) ứng vào thời Tần Huệ Vương ( 秦惠王 ), do Trương Nghi trông coi chế tạo đủ biết đây là một món binh khí từ nước Tần đem vào Nam Việt chứ không phải là sản phẩm bản xứ. Ở gian phòng phía tây người ta tìm thấy một thanh đồng kiếm, hình dáng theo kiểu nước Sở thời Chiến Quốc là thanh kiếm duy nhất làm bằng đồng tìm thấy trong ngôi mộ này. Người ta còn tìm được một hổ tiết trên đúc nổi hình con cọp, tư thái sinh động trong tư thế sắp sửa vồ mồi, đầu ngửng lên, há miệng nhe răng, lưng khum đuôi cuộn lại trên thân có dát vàng thành hình vằn là hổ tiết duy nhất mà người Trung Hoa tìm thấy từ trước đến nay. Trên hổ tiết này cũng còn một hàng chữ dát bằng vàng: “Vương Mệnh: Xa Đồ” ( 王命車徒 ). Có ba loại: hổ tiết, long tiết và nhân tiết là các loại lệnh phù dùng trong quân sự để điều binh. Chỉ những ai cầm các lệnh phù này mới có thể điều động được quân đội và chiến xa. Đồng phương, ấn hoa ( 印花 ) Phương ( 鈁 ) là một loại bình đựng rượu miệng hình vuông, bụng hơi phình, trên có khắc những đường nét phức tạp. Kỹ thuật chế tạo những bình này đã tinh vi. Một trong những hiện vật quan trọng nhất mà người ta tìm thấy trong mộ Triệu Muội là hai ấn bằng đồng một to, một nhỏ dùng để ráp vào nhau in lên vải làm mẫu thêu. Người thợ sẽ dùng hai mẫu này để in lên vải đúng vị trí của hình sau đó thêu bằng tay theo vết đã có sẵn. Hai mẫu này tương tự như mẫu người ta tìm thấy trong mộ ở Mã Vương Đôi ( 馬王堆 ), Trường Sa ( 長沙 ). Ấn thêu có hình ngọn lửa, mây và núi non này được coi như chứng cớ sớm sủa là tơ lụa có hình thêu đã được sản xuất một cách qui mô tại Nam Việt và mẫu in trên vải có thể là bước khởi đầu cho nghề in hình và chữ lên giấy, là những phát minh mà người ta cho rằng cũng phát xuất từ thời Hán. Đặc biệt hơn nữa, mẫu hình không phải chỉ gồm một bản gốc mà có thể ghép hai hay nhiều mẫu với nhau để thành những mẫu phức tạp.21 Đồ trang trí Trong số đồ trang trí nội thất có một bức bình phong bằng sơn mài có những bản lề và mảnh kết hợp bằng vàng ròng đúc theo hình rồng cuộn, chim sẻ ... Kiếm sắt, mâu sắt, giáp sắt Trong mộ Triệu Văn Đế Triệu Muội có đến hơn 700 món đồ sắt bao gồm nhiều loại vật dụng khác nhau dùng trong việc trồng trọt, công nghệ và binh khí. Giáp sắt cao 58 cm tổng cộng 709 miếng vảy hình vuông, góc tròn kết lại với nhau, thích hợp cho khí hậu nóng và ẩm của phương nam, khác hẳn kiểu áo giáp của miền bắc dùng cho khí hậu nóng và khô. Kiếm sắt tổng số 15 cái trong đó một thanh đeo phía eo trái của mộ chủ, bao kiếm bằng tre, cán bằng gỗ có quấn dây tơ. Bốn thanh kiếm có cán khảm ngọc màu xanh vàng, điêu khắc tinh tế, bên dưới có hình thú đục nổi (phù điêu) rất sinh động. Đặc biệt nhất trong số có một chiếc mâu làm bằng sắt pha đồng và khảm vàng, trên khắc văn hình mây rất đẹp mắt nên người ta cho rằng nếu k hông phải là vũ khí tuỳ thân của Triệu Muội thì cũng là một loại nghi trượng tượng trưng cho uy quyền của bậc đế vương. Ngọc Bích Có cả thảy 56 món ngọc bích trong mộ Triệu Văn Đế, riêng trong phòng để quan tài đã có đến 47 món nên người ta cho rằng mộ chủ ưa thích ngọc. Trong những ngọc khí này, những món đặc sắc nhất phải kể đến những món ngọc bích điêu khắc hình rồng, và một đại ngọc bích đo được 33.4 cm là món ngọc lớn nhất, điêu khắc tinh mỹ. Đại ngọc bích được các nhà khảo cổ ban cho mỹ danh “bích trung chi vương”22 (vua các loại ngọc bích). Vật bằng ngọc phía bên phải ở trên được các nhà khảo cổ đoán rằng đây là một khúc trong nhiều mảnh nối liền thành sợi đai để đeo kiếm. Hộp bằng ngọc Hộp ngọc tìm thấy trong căn phòng chứa quan tài mộ chủ là loại ngọc xanh, ánh màu vàng, thân hộp hình viên trụ cao 77 cm, có khắc hình hai con phượng và nhiều hình chạm nổi (phù điêu) rất đẹp, kết cấu tinh vi, nhẵn nhụi đáng được coi là một tuyệt phẩm trong ngọc khí. Ti lũ ngọc y Y phục bằng ngọc là một hình thức tẩn liệm độc đáo của thời Hán. Sau thời Đông Hán người ta không còn tìm thấy lối mai táng tương tự như vậy nữa. Ngọc y được qui định theo đẳng cấp có kim lũ, ngân lũ, đồng lũ ngọc y (các sợi dây buộc các mảnh ngọc với nhau bằng vàng, bạc hay đồng). Các chư hầu của nhà Hán thường dùng kim lũ. Riêng Triệu Văn Đế thì dùng tơ để kết nối những miếng ngọc với nhau (ti lũ ngọc y - 絲縷 玉衣 ) là bộ áo ngọc đầu tiên người ta tìm ra và duy nhất từ trước đến nay. Bộ ngọc y này dài 1.73 mét, tổng cộng là 2291 mảnh tết lại bằng tơ màu đỏ thành nhiều hình kỷ hà, sắc thái dễ coi. Ấn ngọc, ngọc bội và ngọc giác bôi Ấn ngọc Có tất cả 9 cái ấn ngọc trong đó có 3 chiếc khắc văn tự (6 chiếc kia không có chữ) đều là ấn hình vuông, tìm thấy trên thân người của mộ chủ khắc các chữ Triệu Muội ( 趙昧 ), Thái Tử ( 泰子 ) và Đế Ấn ( 帝印 ). Chính từ các con dấu này chúng ta có thể xác định rằng Triệu Vương tự xưng là đế, ngang hàng với vua nhà Hán chứ không chịu nhún mình thần phục như sử Trung Hoa vẫn thường khẳng định. Ngọc bội Hình 3: Một món đồ ngọc tinh xảo Việc đeo những đồ trang sức tạc bằng ngọc là một truyền thống đã có từ lâu ở phương Đông. Người ta tin rằng đeo ngọc trong người có thể giúp cho thân thể mạnh khoẻ, trừ được tà khí nên ngọc vẫn thường được tạc thành đồ trang sức và cũng tượng trưng cho giới quyền quí. Trong mộ của Triệu Văn Đế Triệu Muội có tất cả hơn 130 món đồ làm bằng ngọc, nhiều món rất tinh mỹ và quí giá chẳng hạn như một khối ngọc tạc hình sừng tê, một khối ngọc tạc hình hai con rồng chầu, giương nanh trừng mắt rất sinh động. Một số món ngọc của các phi tần người ta cho rằng có thể ráp lại với nhau theo nhiều cách tuỳ theo trường hợp và sáng kiến của người đeo. Ngọc giác bôi Tìm thấy ngay trong phòng để quan tài là chén của mộ chủ dùng dài 18.4 cm, miệng hình ống, đường kính chỗ nhỏ nhất 5.8 cm, chỗ lớn nhất 6.7 cm trông như một cái tù và, rất lạ mắt. Đây là món đồ mà các chuyên gia đánh giá là “độc nhất vô nhị” trong các món ngọc khí đời Hán. Cái chén ngọc này làm bằng loại ngọc trong mờ, có gân nổi từ xanh nhạt sang màu nâu tạc từ một khối đá nguyên thuỷ và phải dùng nhiều loại kỹ thuật khác nhau, khắc nông hay sâu.23 Các món đồ sứ ( 陶器 ) Trong mộ của Triệu Muội người ta tìm thấy 371 món đồ sứ bao gồm đồ để đựng, đồ để nấu và các loại dùng hàng ngày. Ngoài ra còn có các món thuộc về minh khí là đồ chế tạo riêng để chôn theo người chết được mô phỏng theo những vật dụng hàng ngày mà mộ chủ thường dùng trong đó có đỉnh, bích (món đồ của bậc vua chúa cầm theo tước vị của mình), vò, chén, bát ... Đặc biệt nhất trong một số vò và đỉnh có bốn chữ Trường Lạc Cung Khí ( 長樂宮器 ) và đã đưa ra nghi vấn cho những nhà nghiên cứu: “Có thực trong cung Triệu Việt Vương có cung Trường Lạc hay chăng?”. Trường Lạc Cung là tên của một cung điện tại Trường An, chính là cư sở của vua và hoàng hậu nhà Hán, việc một số đồ sứ hiện hữu trong mộ của Triệu Muội thực đáng lưu tâm. Vải vóc, tơ lụa Quảng Châu vốn dĩ là hải cảng quan trọng hơn cả của miền Nam và vào thời đại nước Nam Việt được coi như thương khẩu quốc tế, buôn bán trao đổi không chỉ với các dân tộc nằm trong đại lục Trung Hoa mà còn cả với nhiều quốc gia từ Nam Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương cho tới tận Phi Châu. Theo lịch sử, phương Nam đã biết trồng dâu nuôi tằm từ lâu, gần đây tại miền Bắc nước ta cũng đã tìm thấy mẫu vải trong mộ cổ từ thời Đông Sơn. Trong mộ Triệu Muội, các loại vải tìm thấy phong phú cả về số lượng lẫn chủng loại. Trong căn phòng phía tây, người ta tìm được vải vóc xếp thành tầng, trong số đó bao gồm cả lụa ( 絹 ), là (朱羅), đồ thêu (綉), và nhiều loại the mỏng ... Những loại tơ lụa này khi xuất thổ đều bị mủn nát, thành bụi cao đến 2, 30 cm, tính ra không dưới 100 xấp vải, chồng lên nhau khoảng 700 lớp. Các đồ tuỳ táng cũng có một số lớn được quấn vải, chẳng khác gì người ta dùng giấy gói những hàng hoá để chuyên chở đi nơi khác. Các loại vải tìm thấy cũng được nhuộm màu khác nhau và cho thấy ở vào thời kỳ này, vải đã khá phổ biến ở phương Nam để dùng trong giao dịch, buôn bán với các nơi khác. Ngà voi, ngọc trai Trong mộ cũng tìm thấy ngà voi còn nguyên chiếc, tổng cộng 5 cái, lớn nhất dài 1 mét 26, đặt chồng lên nhau cao 57cm. Theo các chuyên gia về sinh vật học, những ngà voi này không phải voi Á Châu mà to lớn giống như ngà voi Phi Châu nên người ta cho rằng đây không phải là sản vật bản địa mà do các thương thuyền từ nước ngoài đem đến Quảng Châu. Ngoài ngà voi còn nguyên trong mộ cũng có một số món đồ và vật dụng khắc bằng ngà. Trong túi gối đầu đặt dưới bộ ngọc y người ta tìm thấy 470 viên ngọc trai, đường kính từ 0.1 đến 0.4cm là ngọc trai còn ở dạng thiên nhiên chưa giũa gọt. Theo một số nhà khảo cổ giải đoán, ngọc trai có lẽ dùng để trừ tà ma và đây cũng là lần đầu tiên một chiếc gối như thế được tìm thấy. Ngoài ra trong một chiếc hộp sơn lớn người ta tìm được một số lớn ngọc trai khác, nặng tổng cộng 4117 grams, đường kính từ 0.3 đến 1.1 cm. Tuẫn táng (殉葬) Trong mộ Triệu Muội người ta tìm thấy cả thảy 15 người tuẫn táng. Tuẫn táng là chôn người sống theo để hầu hạ, phục dịch cho người chết ở thế giới bên kia, một tục lệ khá phổ biến ở thời kỳ phong kiến cổ đại. Mười lăm người này chia ra như sau: - Phòng trước 1 người gác cửa (cảnh hạng lệnh - 景巷令) - Phòng trước phía đông (đông nhĩ thất) 1 người có nhạc khí kèm theo chắc là nhạc công. - Phòng phía đông chôn theo 4 cung phi của Triệu Muội cùng nhiều món ngọc khí, đồng khí, đào khí. Ngoài ra còn có thêm bốn cái ấn như đã miêu tả ở trên. - Phòng phía tây có 7 người cùng với các đồ dùng nhà bếp, có lẽ đây là đầu bếp và người phục dịch. Cũng nơi đây mỗi người có chôn theo một hay hai chiếc gương đồng. - Trong mộ đạo còn có 2 người, có lẽ một người là vệ sĩ, một người là xa phu. Theo những chuyên gia giám định thì tất cả những người tuỳ táng này đều bị đánh mạnh vào ngực cho chết rồi chôn theo. Trong tất cả những ngôi mộ đời Hán đào được ở Trung Hoa, ngoài mộ của Triệu Muội, người ta không thấy có hiện tượng tuẫn táng. Tục lệ này ở Trung Hoa chỉ có từ đời Tần trở về trước.24 Kiến trúc Theo các chuyên gia về lăng mộ của Trung Hoa, ngôi mộ Triệu Văn Đế thực ra không thấm vào đâu với một của các vì vua chúa khác và kém cả nhiều mộ của vương tôn, hoàng thất. Ngôi mộ này nằm giữa một ngọn đồi thạch anh, một loại đá biến chất khá cứng, khi khai thác công nhân đã phải dùng búa đẽo từng miếng một. Vào thời kỳ ngôi mộ này được kiến tạo 21 thế kỷ trước khi kim loại còn hiếm hoi, việc đào khoét một ngọn núi nhỏ thành một hang động lớn như thế không phải là chuyện dễ dàng. Theo các tính toán thì ngôi mộ của Triệu Văn Đế sử dụng đến hơn 750 phiến đá để làm tường, lót sàn, xây cột, làm cửa ... mỗi thứ lớn nhỏ, dày mỏng một khác. Những phiến đá đó không phải cùng một loại mà bao gồm cả sa thạch, huyền võ, hoa cương trong đó sa thạch tương đối mềm nên được dùng nhiều hơn cả. Tuy nhiên khi đối chiếu các mẫu đất đá ở phụ cận, các nhà nghiên cứu không tìm thấy nơi nào có các loại đá dùng trong kiến trúc ngôi mộ này. Điều đó khiến họ đưa đết nghi vấn là các tảng đá đó được đục từ một nơi nào đó sau đó mới chuyên chở về để xây mộ. Một việc khá tình cờ đã đưa đến câu trả lời. Một nông dân vô tình đào được một cái đục bằng đồng (銅鑿) ở một nơi cách ngôi mộ này khoảng 100 dặm và các nhà khảo cổ xác định rằng tuổi của nó khoảng hơn 2000 năm và người ta cũng tìm thấy nơi ngọn núi Liên Hoa gần đó loại hoa cương cùng loại với đá dùng để xây mộ Triệu Muội và người ta đưa đến kết luận rằng nhà Triệu đã thiết lập một loại công xưởng tại đây để đục đá, sau đó dùng thuyền theo Châu Giang chở về. Chính đó là lý do tại sao ngôi mộ giữ được bí mật phải đến hơn 2000 năm sau mới vô tình tìm thấy. Tính theo kỹ thuật và phương tiện của thời đại, người ta cho rằng riêng việc đục đá cũng phải tốn hàng mấy tháng trời và dùng hàng trăm nhân công. Nghiên cứu thêm về ngôi mộ, vì mộ thất nằm sâu trong đất đến 20 thước, rộng hàng trăm thước vuông, người ta cho rằng việc kiến trúc phải khởi đầu bằng cách đào một giếng to từ trên đỉnh đồi đi xuống, lớn hơn ngôi mộ để đưa những phiến đá mà trọng lượng không dưới 3, 4000 kg, có tảng dài tới 5.5 mét. Việc sử dụng những tảng đá để xây dựng cũng là một thay đổi so với các triều đại trước thường chỉ xây cất một phần bằng gỗ và phần nào miêu tả hình thái sinh hoạt của triều đình trong một qui mô nhỏ. KẾT LUẬN Từ những di vật trong ngôi mộ của Triệu Văn Đế chúng ta thấy các bậc đế vương đời nào cũng muốn sống lâu để hưởng thụ và lại còn muốn tiếp tục nếp sống vương giả ngay cả khi đã qua đời. Trong mộ Triệu Muội người ta cũng tìm thấy một số thuốc viên có lẽ là những “linh đan” mong uống vào có thể “trường sinh bất tử” mà thời cổ các đạo sĩ thường bỏ nhiều công lao chế luyện. Những viên thuốc này khi phân chất người ta tìm thấy các loại đá quí tán thành bột, nhiều loại hoá chất trong đó có lưu huỳnh, hùng hoàng, chì và chu sa. Rất có thể Triệu Muội đã trúng độc khi dùng các loại linh đan này. Theo một số nghiên cứu, vua chúa đời Hán dùng đến 1/3 tài nguyên quốc gia vào việc xây dựng lăng tẩm.25 Nhà Thương, nhà Chu, nhà Tần đều xây những ngôi mả khổng lồ mà đến nay người ta vẫn chưa khám phá hết. Vào thời đó, tục tuỳ táng còn thông dụng nên vua chúa nào cũng chôn theo mình về thế giới bên kia một số cung tần, mỹ nữ, quan quân, gia nhân, xe ngựa ... Một ngôi mộ nước Tề tại Sơn Đông có đến 600 bộ xương ngựa. Chúng ta còn chờ đợi thêm những khai quật và nghiên cứu những học giả mới dám khẳng định về đâu là cái nôi của văn hoá quan trọng này. Tuy nhiên, những khai quật cũng cho thấy từ nhiều thế kỷ trước TL, miền Lĩnh Nam đã có một nền văn minh khá rực rỡ trong đó nhiều kỹ thuật được áp dụng rộng rãi đồng thời với các khu vực khác trên toàn cõi Trung Hoa cho thấy việc nhiều sử gia cho rằng chỉ đến sau khi bị lệ thuộc nước Tàu các dân tộc miền Nam mới học được một số “văn minh Hoa Hạ” không còn đứng vững. Chúng ta có thể tin tưởng rằng trong cùng một thời kỳ, nhiều trung tâm văn hoá tồn tại có những trao đổi, học hỏi lẫn nhau nhưng không phải chỉ một chiều từ phương Bắc đi xuống. Việc chiếc ấn vàng của Triệu Muội có khắc bốn chữ Văn Đế Hành Tỉ cũng là một chứng cớ quan trọng khác. Nước Nam Việt đã sinh hoạt một cách độc lập và không chịu phong vương của nhà Hán như người ta thường hiểu lầm. Triệu Muội đã tự xưng là Triệu Văn Đế ngay từ khi còn sống, không phải là một thuỵ hiệu sau khi chết. Chúng ta cũng có thể suy luận thêm là chính Triệu Đà lúc sinh tiền cũng tự xưng là Triệu Vũ Đế chứ không phải chỉ đến tước Vương như sử Trung Hoa đã chép. Lẽ dĩ nhiên, chiếc ấn vàng cũng là một đề tài đáng bàn rộng thêm một chút. Theo suy nghĩ thông thường, chúng ta thường cho rằng ấn là để đóng dấu son lên các văn thư của nhà vua. Thực ra cho tới thời kỳ này, khi giấy chưa được phát minh và công văn còn viết trên những thanh tre kết lại, ấn tượng trưng cho thẩm quyền (token of authority) và tư thế của sở hữu chủ hơn là một tín hiệu để in trên thư từ, văn kiện26. Phần lớn người ta sử dụng dấu để đóng lên một tác phẩm như đã tìm thấy trên những hình nhân trong mộ Tần Thuỷ Hoàng và còn lưu truyền về sau trên đồ sứ và các đồ dùng có nguồn gốc là đất sét. Chiếc dấu của Triệu Văn Đế cũng mang ý nghĩa đó nên chôn theo trong mộ như một thứ thông hành khi về thế giới bên kia. Một trong những giả thuyết mà các nhà nghiên cứu đưa ra là vùng Lĩnh Nam nói chung và miền Bắc nước ta nói riêng chỉ có cơ hội phát triển một khi Trung Nguyên có loạn. Trong thời kỳ đó, khi nước Tàu các phe phái thanh toán lẫn nhau để làm bá chủ, tình hình kinh tế bị kém sút nhiều và giới thương nhân quốc tế không đến buôn bán được nên chuyển hướng sang Giao Châu để tìm đường sang Trung Hoa theo đường bộ. Những thời kỳ nước ta mạnh lên hầu như bao giờ cũng đi nghịch chiều với phương Bắc. Vào thế kỷ thứ 10 sau Công Nguyên, khi nhà Đường tàn lụi, Trung Hoa chia ra thành nhiều nước nhỏ nên việc kiềm chế các khu vực lệ thuộc ở phương Nam cũng nới ra tạo cho một số thổ hào đứng lên phất cờ độc lập mở đầu cho một kỷ nguyên mới trên đất nước ta. Khi nhà Tống bị đe doạ bởi các giống dân du mục phương Bắc, nước ta cũng có dịp vùng lên để mở ra một thời kỳ thịnh trị mà ngày nay chúng ta gọi là văn minh Lý Trần. Thời kỳ nhà Triệu cũng tương tự như thế nên Nam Việt cũng trở thành một trung tâm thương mại quốc tế, lưu lại nhiều dấu tích qua ngôi mộ của Triệu Muội. Nếu tính về ảnh hưởng của văn minh Hán tộc thì nhà Triệu là giai đoạn đầu tiên chúng ta bị đồng hoá một cách qui mô nhưng nếu đứng ở phương diện chính trị thì giai đoạn này người Việt đã được tổ chức thành quốc gia trong khi các nước chung quanh như Chiêm Thành, Chân Lạp, Xiêm La, Ai Lao còn đang trong tình trạng bộ lạc. Về phương diện sử liệu, trước thời nhà Triệu không ai biết chắc tổ chức xã hội của người Việt đã tiến đến đâu nhưng chắc chắn rằng trước khi Triệu Đà chiếm cứ nước ta, dân cư bản địa đã có một nền văn minh rất cao mà một số di tích còn lưu lại trong ngôi mộ Triệu Muội. Trong nhiều thời kỳ, một triều đại mới đã tìm cách xoá sạch mọi dấu tích của các triều đại cũ để nhấn mạnh vào tính chính thống của mình. Trong những năm gần đây, một số di chỉ quan trọng được tìm thấy trong vùng Lĩnh Nam, Vân Quí và miền bắc nước ta đã khiến nhiều vấn đề lịch sử cần được nhìn lại dưới một lăng kính mới. Tháng 11, 2006 1 Trong tấu nghị của các sử thần nhà Nguyễn (ngày 10 tháng 6 năm Tự Đức thứ 9 tức 11-07-1856) thì từ An Dương Vương tới Ngô Quyền không được liệt vào chính thống mà chỉ tính đời Hùng Vương, sau đó tới Đinh Tiên Hoàng. ... An Dương Vương là người nước ngoài, nhân dịp người ta suy yếu, trước thì cậy sức mạnh để kiêm tính nước người, sau vì tin quỉ thần quái dị mà bị người khác lừa gạt, bỗng khởi lên, bỗng bị diệt, không được trọn đời. Triệu Vũ Đế chiếm cứ Phiên Ngung, chống nhau với nhà Hán, nhưng rồi cũng bỏ danh hiệu hoàng đế mà xưng thần ... Tóm lại, các thời đại ấy đều chưa có thời đại nào gọi là chính thống được. Đến thời đại Đinh Tiên Hoàng, trong nước mới được thống nhất. Vậy Đinh Tiên Hoàng nên liệt vào chính thống để nối tiếp với quốc thống Hùng Vương. Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (bản dịch Viện Sử Học, nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1998) tập I, tr. 23. 2 Theo sử nước ta nhà Triệu bao gồm Triệu Đà (Vũ Đế), Triệu Hồ (Văn Vương), cháu nội Vũ Đế, con trai Trọng Thuỷ, Triệu Anh Tề (Minh Vương, con trưởng của Văn Vương), Triệu Hưng (Ai Vương, con thứ của Minh Vương), Triệu Kiến Đức (Thuật Dương Vương) tổng cộng 5 đời vua, 97 năm (207-111 TCN). Vì Triệu Vũ Đế sống rất thọ (121 tuổi), làm vua đến 71 năm nên khi chết truyền ngôi cho cháu chứ không cho con. 3 Tức vua Văn Vương Triệu Hồ ( 趙胡 ), theo sử nước ta. 4 Thượng, Lung ( 尚瓏 ), Dương Phi ( 楊飛 ). Trung Quốc Khảo Cổ Địa Đồ (中國考古地圖 ) The Map of China Archaeology (Bắc Kinh: Quang Minh Báo xb xã, 2004) tr. 181. 5 Nguyên danh là Quảng Châu thị Bác Vật Quán Danh Dự Quán Trưởng 6 Conference on Archaeology in Southeast Asia 7 Mai Yinghao: “Excavation, Preservation and Utilization – Examples of Field Archaeology in Guangzhou” (麥英豪: 發掘,保護,使用。廣州田野考古例� � ),, Archaeology in Southeast Asia, The University of Hongkong, 1995 tr. 357-59. 8 Năm 1968, ở Mãn Thành (滿城), Hồ Bắc người ta khai quật hai ngôi mộ của Trung Sơn Tĩnh Vương Lưu Thắng ( 劉勝 ) và vợ, tìm được 2800 món đồ quí. Hai người này được đặt trong một bộ quần áo bằng ngọc tương tự như của Triệu Muội nhưng dây tết các mảnh ngọc làm bằng vàng (ngọc y kim lũ), một bộ tổng cộng 2690 mảnh, một bộ 2156 mảnh. New Archaeological Finds in China, 1974, tr. 9-10. 9 theo sử Tàu ông thọ 90 tuổi còn theo sử ta thì thọ đến 121 tuổi (?) 10 前朝後寢. Theo kiến trúc cung điện đời xưa, phần trước gọi là “triều” là nơi vua họp với quần thần để bàn việc nước, phía sau gọi là “tẩm” là nơi vua và thân tộc sinh hoạt, ăn, ở. Kiến trúc này cũng được tạo dựng tông miếu và lăng mộ. 11 禾花雀 12 chuông đồng hình ống 13 chuông có núm để cầm 14 một loại nhạc khí cổ tương tự chiếc lục lạc, dùng trong tế lễ hay yến tiệc 15 Tạ Hồng Ba ( 謝洪波 ), Trung Quốc Lịch Đại Đế Vương Lăng Mộ Chi Mê (中國歷代帝王陵墓之謎- Zhong Guo Li dai Di Wang Ling Mu Zhi Mi) (Cáp Nhĩ Tân: Cáp Nhĩ Tân xb xã, 2005) tr. 60 16 Đặc điểm của chiếc hộp bạc này là có chân, một kiểu dáng mà người Trung Hoa thời đó chưa thịnh hành đủ biết nếu không phải là do người ngoại quốc mang tới thì cũng là do công nhân địa phương bắt chước theo. 17 Ngày nay khi nói đến đỉnh chúng ta thường nghĩ đến một loại vạc có ba chân. Theo truyền thuyết, vua Đại Vũ ( 禹 ) đúc 9 cái đỉnh lớn, trên có khắc sông núi cỏ cây để truyền cho hậu thế. Chỉ những ai tài đức vẹn toàn mới làm chủ được những đỉnh này và nếu như bất xứng thì đỉnh sẽ qua tay người khác. Cái đỉnh trở nên một biểu tượng của đức độ và những vì vua đời Hạ (1989-1766 B.C.), đời Thương (1766- 1122 B. C.), đời Chu (1122-221 B. C.) đều lấy việc truyền đỉnh coi như một kế thừa chính thống. Tuy nhiên, người Trung Hoa chưa tìm được đỉnh nào có từ đời Hạ và những đỉnh của đời Thương, Chu tìm được không phải là các đỉnh lớn như sử sách miêu tả. 18 Ở mặt sau của tấm gương có những chạm khắc hình chữ sơn 山 để thành hình tam giác, tứ giác, ngũ giác, lục giác. Lối trang trí hình kỷ hà này ít thấy ở các đời sau. 19 Theo Tạ Hồng Ba trong Trung Quốc Lịch Đại Đế Vương Lăng Mộ Chi Mê (Cáp Nhĩ Tân, 2005) thì loại gương đồng này là kiểu mẫu của nước Sở thời Chiến Quốc nhưng ngay trong các ngôi mộ của nước này người ta cũng chỉ tìm được các loại kính có 3 chữ sơn, 4 chữ sơn. Đây là chiếc kính có 6 chữ sơn đầu tiên tìm thấy mà lại ở một quốc gia khác. 20 thợ trong nhạc phủ chế tạo năm Văn Đế thứ 9 (129 TTL) 21 Lothar Ledderose, Ten Thousand Things tr. 158-9 22 璧中之王 23 Maurizio Scarpari, Ancient China – Chinese civilization from its Origins to the Tang Dynasty (New York: Barnes & Noble Books, 2000) tr. 181 24 Một ngôi mộ đào được ở An Dương, Hà Nam đời Thương có đến 90 người tuẫn táng bao gồm thê thiếp và đầy tớ 25 The Han dynasty rulers, for example, are said to have spent one third of the state revenue on imperial tombs. Lothar Ledderose, Ten Thousand Things, tr. 65. 26 Lothar Ledderose, tr. 159 PHỔ HỆ HỌ TRIỆU Triệu Đà ( 趙佗 ) Nam Việt Vũ Đế ( 武帝 ) Tại vị 67 năm (203 TTL – 137 TTL) | Triệu Muội ( 趙眛 ) Nam Việt Văn Đế ( 文帝 ) Tại vị 16 năm (137 TTL – 122 TTL) | Triệu Anh Tề ( 趙嬰齊 ) Nam Việt Minh Vương ( 明王 ) Tại vị 10 năm (122 TTL – 113 TTL) | Triệu Hưng ( 趙興 ) Tại vị 1 năm (113 TTL) | Triệu Kiến Đức ( 趙建德 ) Tại vị chừng 2 năm (112 TTL – 111 TTL) TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Diệp Bội Lan ( 葉佩蘭 ). Văn Vật Thu Tàng Giám Thưởng Từ Điển ( 文物收藏鑒賞辭典 ). Bắc Kinh: Đại Tượng xb xã, 2004. 2. Ebrey, Patricia Buckley. The Cambridge Illustrated History of China. London: Cambridge University Press, 1996. 3. Không tác giả. New Archaeological Finds in China: Discoveries during the Cultural Revolution. Peking: Foreign Languages Press, 1974. 4. Ledderose, Lothar. Ten Thousand Things: Module and Mass Production in Chinese Art. NJ: Princeton University Press, 2000. 5. Mạc, Kiệt ( 莫杰 ) chủ biên. Quảng Tây Phong Vật Chí ( 廣西風物志 ). Quảng Tây: Quảng Tây Nhân Dân xb xã, 1984. 6. National Palace Museum. Chinese Cultural Art Treasures. Đài Bắc: Quốc Lập Cố Cung Bác Vật Viện, 1967. 7. Nhiều tác giả. Conference papers on Archaeology in Southeast Asia. ( 東南亞考古論文集 ) Hongkong: The University Museum and Art Gallery, The University of Hong Kong, 1995. 8. Nhiều Tác Giả. Lịch Sử Văn Hoá Trung Quốc ( 中國文化史 ) 2 tập (Trần Ngọc Thuận, Đào Duy Đạt, Đào Phương Chi dịch). Hà Nội: nxb Văn Hoá – Thông Tin, 1999. 9. Đồng, Ân Chính ( 童恩正 ). Nam Phương Văn Minh ( 南方文明 ). Trùng Khánh: Trùng Khánh xb xã, 1998. 10. Scarpari, Maurizio. Ancient China: Chinese Civilization from its Origins to the Tang Dynasty. New York: Barnes & Nobles, 2000. 11. Tạ, Hồng Ba ( 謝洪波 ). Trung Quốc Lịch Đại Đế Vương Lăng Mộ Chi Mê ( 中國歷代帝王陵墓之謎 - Zhong Guo Li Dai Di Wang Ling Mu Zhi Mi). Cáp Nhĩ Tân: Cáp Nhĩ Tân xb xã, 2005. 12. Tài liệu internet www.guangzhou.gov.cn 13. Thượng, Lung ( 尚瓏 ), Dương Phi ( 楊飛 ). Trung Quốc Khảo Cổ Địa Đồ ( 中國考古地圖 ) The Map of China Archaeology. Bắc Kinh: Quang Minh Báo xb xã, 2004. 25 14. Vainker, Shelagh. Chinese Silk: A Cultural History. NJ: Rutgers University (Theo st Khanhngoc PDS) nguồn: http://covattinhhoa....hread.php?t=392 Bảo tàng lăng mộ Triệu Văn Vương tại Quảng Châu Trương Thái Du Đa số bản đồ du lịch phổ thông của thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông Trung Hoa đều có giới thiệu về Bảo tàng lăng mộ kiểu Tây Hán của Nam Việt Triệu Văn Vương. Đây là một địa chỉ văn hóa cực kỳ phong phú và giá trị trong vùng Hoa Nam. Bảo tàng nằm tại số 867 đường Giải phóng bắc, hơi chếch về bên trái cổng chính công viên Việt Tú nổi tiếng. Năm 1983, khi san một quả đồi nhỏ để xây dựng các công trình dân sinh, tình cờ một ngôi mộ đá rất xưa, không hề có dấu tích bị xâm phạm, được phát lộ. Ngành khảo cổ học vào cuộc và thật bất ngờ, những di vật tìm được cho thấy đây là nơi yên nghỉ hơn hai ngàn một trăm năm qua của Nam Việt Vương Triệu Hồ. Triệu Hồ có thể là con Trọng Thủy [1], cháu nội Triệu Đà (? – 137 trước CN), ông ở ngôi được 16 năm (từ 137 đến 122 TCN) [2]. Mộ Văn Vương nằm lẹm vào triền đồi, gồm nhiều tảng đá xếp chồng lên nhau tạo thành không gian an táng bên trong. Cửa mộ là hai phiến đá được mài đẽo khá vuông vắn. Đà cửa cũng bằng đá, đã gẫy nhưng chưa sập hẳn, có lẽ do không chịu nổi sức nặng của khối đất đỏ bazan bên trên sau nhiều lần thấm đẫm nước mưa suốt hơn hai thiên niên kỷ. Tổng diện tích sàn mộ trên dưới 25 thước vuông, chia làm 6 khu gồm sảnh chính, gian quàn thi thể và 4 phòng chứa đồ tùy táng. Xác Văn Vương nằm trong quan tài gỗ 2 lớp, được tẩm liệm kín bằng những mảnh ngọc mỏng hình chữ nhật, liên kết với nhau bởi chỉ tơ. Tuy nhiên mọi chất liệu hữu cơ đã bị phân hủy hoàn toàn. Ngay đến bộ xương người nay chỉ hiện hữu vẻn vẹn hai mảnh hàm còn nguyên bộ răng khá hoàn chỉnh. Năm 1988, một viện bảo tàng đồ sộ được khánh thành trên chính ngọn đồi này. Người ta giữ nguyên hiện trạng hầm mộ, làm vòm che, đường dẫn để khách có thể bước xuống tham quan. Hơn một ngàn hiện vật còn khá nguyên vẹn lấy ra từ mộ được bảo quản và trưng bày trong các gian bảo tàng xây dựng phía sau. Nó phản ánh một cách trung thực, khách quan và rất đầy đủ chi tiết về chính trị, kinh tế và văn hóa của một triều đại nổi bật ở Hoa Nam, vốn không được tín sử Trung Hoa mô tả kỹ lưỡng cũng như xem trọng đúng mức. Các di vật chính hiện trưng bày: Khá nhiều thao ấn [3] bằng vàng và ngọc khắc chữ triện như Long kim ấn “Văn đế hành tỉ”, Quy kim ấn “Thái tử”, Ngọc ấn “Triệu muội” (Muội có khả năng là tên khác của Triệu Hồ hoặc một danh xưng khiêm tốn của Nam Việt Vương với triều đình Tây Hán); các loại đồ gốm, nồi đồng, búa sắt, rìu sắt, dao, rựa, lò nướng thịt, lưới đánh cá, tiền đồng… Khánh đá, chuông đồng, tù và bằng ngọc bích… Mực tàu, nghiên mực… Thuốc bắc, sừng tê giác, ngọc trai… Bình nước, bình rượu, ly chén đĩa bằng đồng và ngọc, khuy áo vàng bạc đồng, gương đồng, tráp bạc, phù ngọc, chân bình phong đồng, tay nắm cửa đồng, đèn đồng, chân nến ngọc, vật trang sức bằng vàng bạc đồng ngọc bích ngọc trai; tượng mỹ thuật gốm, đá, đồng và ngọc, đỉnh trầm… Áo giáp sắt, giáo, mác, thương đao bằng kim khí, mũi tên đồng, kiếm sắt chuôi nạm ngọc… Tất cả đồ vật nói chung được chế tác ở một trình độ khá tinh xảo, thẩm mỹ cao, hoa văn đẹp nhưng nhỏ bé và giản dị [4]. Xét về quy mô, mộ Nam Việt Văn Vương khá khiêm tốn so với nhiều ngôi mộ cùng thời khác từng phát lộ ở Trung Hoa. Nó cho thấy khu vực Bách Việt nói chung và Nam Việt nói riêng còn kém phát triển ở khía cạnh nào đó, trong bức tranh toàn cảnh từ thời Tây Hán trở về trước. Dù sao đi nữa, ở thì hiện tại di tích mộ Nam Việt Văn Vương chứa đựng những giá trị lịch sử vô giá cho các dân tộc Bách Việt xưa kia và người Việt Nam hiện đại. Giữa bối cảnh các vùng đất của Nam Việt cũ như Quảng Tây, Quảng Đông đã bị Hán hóa đến tận chân lông kẽ tóc, sự độc lập của Việt Nam ít nhiều sẽ giúp việc nghiên cứu quá khứ khách quan và công bằng hơn. Ví như tên đầy đủ của bảo tàng hiện nay là : Tây Hán Nam Việt Vương mộ bác vật quán; chữ “Tây Hán” được khuyên hiểu là “kỷ Tây Hán, thời Tây Hán, kiểu Tây Hán”. Song tác giả vẫn thấy chữ này như một chiếc cũi vô hình, trói buộc nhận thức, định dạng di tích mộ Nam Việt Văn Vương trong vòng cương tỏa của nền văn hóa Hán tộc, mặc dù ý chí độc lập và tự cường gần 100 năm của các triều đại Nam Việt Vương là không thể phản bác. Bằng chứng là từ thời Triệu Đà, Nam Việt đã chịu xưng vương trước nhà Hán nhưng Triệu Hồ vẫn sử dụng ấn “Nam Đế hành tỉ”, chữ Đế xem như một biểu tượng bất khuất. Tuy còn những bất đồng thuận trong việc nhận định vai trò 5 đời vua Nam Việt giữa dòng lịch sử Việt Nam, song sử gia Việt Nam vẫn nên có những nghiên cứu nghiêm túc, đầy đủ về ngôi mộ này. Chẳng hạn có gì khác nhau giữa bó tên có mũi bằng đồng còn như mới trong viện bảo tàng đã nêu và loại nỏ và tên do Cao Lỗ, tướng của An Dương Vương chế tạo ra? Nếu truyền thuyết An Dương Vương là có thực, hiển nhiên nhiều di vật trong mộ Triệu Hồ sẽ là vật chứng so sánh có một không hai với những khám phá khảo cổ Việt Nam về An Dương Vương và Loa thành trong tương lai. Quảng Châu nay chính là Phiên Ngung xưa, kinh đô Nam Việt. Nhìn những cao ốc tân kỳ thi nhau vươn lên trời cao, núi đồi bị bạt dần, lòng người không khỏi tiếc nuối. Ngung sơn, nơi có mộ Nam Việt Vương Triệu Đà chắc ở đâu đó trong lòng thành phố [5]. Mong những cọc móng các công trình xây dựng đồ sộ đừng phạm phải hài cốt Triệu Đà. Tuy nhiên chính những khối bê tông muôn hình muôn vẻ kia đang muốn vĩnh viễn che giấu tích xưa, người cũ. Thêm nhiều yếu tố tinh thần của con người và xã hội mới, vô hình chung hiện tại dường như đã đoạn tuyệt với quá khứ, bằng việc gia cố và chôn chặt những mộ phần cổ kính một cách chắc chắn hơn bao giờ hết. Quảng Châu 3.2004 Chú thích: [1] Nói “có thể” là vì: Các sách sử xưa nay ở VN đều cho rằng Trọng Thủy tự tử theo Mỵ Châu vào năm 208 trước CN, năm An Dương Vương bại trận trước Triệu Đà. Như thế ít nhất Triệu Hồ phải sinh ra cùng năm đó. Vậy đến năm 122, khi mất, Triệu Hồ đã 86 tuổi. Xem hàm răng còn nguyên vẹn trong mộ sẽ thấy bất thường. Đại Việt sử ký toàn thư (NXB KHXH – Hà Nội 1993), Ngoại kỷ, Quyển 2 (phần Văn Vương) ghi nhận Triệu Hồ mất năm 52 tuổi có vẻ hợp lý với di cốt nhưng mâu thuẫn với những niên biểu khác trong cùng kỷ ấy. [2] Các niên biểu ở đây đều lấy từ phụ chú của Viện Bảo Tàng Lăng mộ Nam Việt Vương tại Quảng Châu. Có vài khác biệt so với Việt sử. [3] Thao ấn là loại ấn nhỏ để đeo, có dây choàng vào cổ. Tiếng Hán hiện đại đùng từ “Nữu ấn” để chỉ “Thao ấn”. [5] Khâm định Việt sử thông giám cương mục (NXB GD Hà Nội 1998), Tiền biên, Quyển 1, ghi chú : Sách Thái bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử đời Tống, mô tả Ngung Sơn chỉ cách Huyện lỵ Nam Hải (tức Phiên Ngung) 1 dặm về phía bắc. [4] Theo tôi biết trên mạng có ít nhất hai bài đã viết về lăng mộ này. Một của Trương Quang tại http://perso.wanadoo...3quangchau.html và một của Mai Thế Phú tại http://www.sgtt.com.vn/cacsobaotruoc/439_4...mditichviet.htm Cả hai bài đều mắc những lỗi lớn giống nhau trong mô tả lăng mộ, và có khả năng bài thứ hai là bản “xào” từ bài thứ nhất. Tuy nhiên cũng nhờ thông tin từ hai bài này mà tôi đã tìm đến được Viện bảo tàng. ……………… Về bản quyền bài này: Nội dung ở đây được sửa chữa từ bản đã xuất hiện trên trang web viethoc.com, 4.2004. Về bản quyền chung: Tất cả các bài tạp văn kí tên Trương Thái Du dưới 30 ngàn chữ đều được tác giả để ở chế độ bản quyền mở. Mọi cá nhân hoặc tổ chức có thể tải về miễn phí từ vnthuquan.net. Các hình thức sử dụng đuợc chấp nhận rộng rãi: trích dẫn, in trên báo, in thành sách, tái lưu trữ ở các loại “diễn đàn” hoặc kho sách điện tử khác.v.v.. Xin miễn sửa đổi hoặc biên tập thêm. Tác giả chỉ chịu trách nhiệm bản thảo tại kho sách vnthuquan.net với các phiên bản tu chỉnh sau ngày 01.01.2006.nguồn: vnthuquan.net Cháu nội Triệu Đà tên là gì ? Tất cả các sách sử xưa nay đều thống nhất theo Sử Ký của Tư Mã Thiên, ghi tên tục của Triệu Văn đế là Triệu Hồ (cháu nội Triệu Đà, làm vua Nam Việt từ 137 đến 124 trước Công nguyên). Năm 1983 khảo cổ Quảng Đông đã khai mở ngôi mộ táng của Triệu Hồ tại một ngọn đồi trong nội thành Quảng Châu. Chiếc ấn vàng tùy táng khắc chữ triện “Văn đế hành tỉ” khiến các chuyên gia không thể nghi ngờ ngôi mộ này là của ai khác. Tuy nhiên, vấn đề tên tục của Triệu Văn đế đã gây nên tranh cãi, cũng như hé lộ nhiều khả năng về một loại ngôn ngữ dùng Hán tự ký âm có liên quan mật thiết đến chữ Nôm Việt Nam. Người ta không thể tìm được bất cứ chữ Hồ nào giữa các di vật trong mộ phần Triệu Văn đế, ngoài hai con dấu trình bày dưới thể triện ghi rõ Triệu Mạt (赵眜). Một số tài liệu Việt ngữ trên mạng đôi khi phiên âm là Triệu Muội. Thực ra Mạt và Muội trong các sách cổ từ thời Hán trở lại đây thì đồng nghĩa và hay dùng lẫn lộn. Chữ Mạt này gồm hai phần Mục (目) và Mạt (末). Rất dễ nhầm lẫn giữa Muội 眛 và Mạt 眜 vì Muội ghép bởi Mục (目) và Mùi (未). Mạt và Mùi chỉ khác nhau ở chỗ hai nét ngang dài ngắn đổi chỗ cho nhau. Chiếu theo Thuyết Văn (quyển tự điển có từ thời Đông Hán), Mạt nghĩa là mắt mờ. Nếu chỉ xét chữ Mạt ở góc độ thuần Hán thì không lý gì một vương tử và sau này là thái tử, là thiên tử suốt một vùng Lĩnh Nam, lại có cái tên xấu và vô nghĩa như vậy. Có ý kiến cho rằng âm Mạt theo phương ngữ Hoa Nam hiện nay rất gần với âm Hồ. Phải chăng cháu Triệu Đà được đặt tên theo nghĩa Nam Việt, rồi sau đó phải dùng chữ Hán có âm gần giống để ghi lại trên giấy tờ, ấn tín. Chính vì thiếu thống nhất và không gian cách trở, ở Lĩnh Nam ký âm thành Triệu Mạt, trong khi tại Trung Nguyên các sử quan viết thành Triệu Hồ. Nguyên tắc ký âm ấy, là những mầm mống quan trọng đầu tiên để hình thành hệ thống sử dụng Hán tự xây dựng chữ viết vùng Lĩnh Nam, trong đó chữ Nôm Việt Nam là một nhánh lớn đáng ghi nhận. Đặc biệt, Mạt trong chữ Nôm ngày nay, người Việt Nam vẫn đang đọc là Mắt. Tham khảo thêm chữ Nôm cổ của người Choang ở Quảng Tây, ta thấy họ đọc từ Mạt trong Triệu Mạt là [bo:t]. Rất gần với Bột trong Bột Mạt và Phù Bột Mạt. Xin lưu ý, dân tộc Choang Quảng Tây có những nhánh lưu trú lâu đời tại Việt Nam và hiện được định danh là Tày/Nùng. Quyển “Kiến Văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn đã dẫn tư liệu của sứ nhà Nguyên chép rằng thời Trần người Đại Việt gọi trời là Bột Mạt, mặt trời là Phù Bột Mạt. Như vậy có không khả năng Bột Mạt là trùng ngữ do sự cộng sinh giữa hai ngôn ngữ khác nhau? Nghĩa là Bột Mạt = Bột = Mạt = Trời. Nó tương tự như Chia Ly = Chia = Ly. Nếu nghiên cứu sâu sắc theo chiều hướng trên, có rất nhiều khả năng giải nghĩa chữ Mạt trong từ Triệu Mạt ý chỉ trời, ngôi vị thượng tôn của nước Việt cổ, mà biểu trưng rõ ràng nhất là hình ảnh ở giữa trống đồng Đông Sơn. Chúng tôi hy vọng bài báo nhỏ này sẽ khơi gợi một chủ đề lý thú cho các chuyên gia khảo cổ và ngôn ngữ chuyên nghiệp ở Việt Nam. Trong góc nhìn nghiệp dư và rất cảm tính của mình, chúng tôi thấy chữ Mạt có cơ hội trở thành chữ Nôm đầu tiên còn chứng tích của dân tộc Việt Nam hiện đại. Ngoài ra lăng mộ Triệu Mạt đã trở thành một viện bảo tàng lớn tại Hoa Nam. Nó còn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa lịch sử có liên quan hữu cơ đến quá trình hình thành quốc gia Việt Nam xưa kia. Chẳng hạn những bó mũi tên đồng giống y hệt loại tên đã đào được ở vùng Cổ Loa, một chiếc thạp Đông Sơn với hình thuyền đặc trưng… Ảnh . Kho đồ tùy táng lúc mới mở huyệt mộ. Nhìn rõ chiếc thạp Đông Sơn. Chiếc thạp này có lẽ từng có nắp nhưng đã bị mục nát. Ảnh chụp từ sách Nam Việt Quốc Sử, tác giả Trương Vinh Phương GS ĐH Trung Sơn, Quảng Đông nhân dân xuất bản xã, 1995. Thảo Điền 2.2009, nguồn: vannghesongcuulong.org
-
Văn hóa <br class="clearfloat"> EmailPrint <br class="clearfloat"> Lễ hội Tây Thiên - Đến với Mẫu, về với Phật 30/03/2010 13:54 <br class="clearfloat"> Hàng năm vào ngày 15/2 âm lịch, tại xã Đại Đình, huyện Tam Đảo (Vĩnh Phúc) lại long trọng tổ chức lễ hội Tây Thiên truyền thống. Lễ hội được tổ chức ba ngày với phần tế lễ và nhiều trò chơi dân gian như thi hát dân ca của người dân tộc thiểu số Sán Dìu, thi nấu cơm, thi hú đáo, làm bánh chưng, bánh dày, kéo co, chọi gà... Du khách đến lễ hội Tây Thiên. (Ảnh: Internet) Tây Thiên là nơi thờ Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu, người được Hùng Chiêu Vương thứ 7 lập làm Chính Vương Phi, có công giúp vua dẹp giặc, mở mang bờ cõi, thống nhất giang sơn, dạy dân trồng lúa, giữ lửa trong buổi bình minh của dân tộc. Xong công việc, bà lại trở về quê hương tại thôn Đông Lộ, xã Đại Đình, huyện Tam Đảo ngày nay, rồi “hóa” tại đây. Bao đời nay, các triều đại từ Đinh, Lý, Trần, Lê đều sắc phong bà là Tam Đảo Sơn Trụ Quốc Mẫu Tối Linh Đại Vương, hàng năm cử các quan đại thần lên cúng tế. Tưởng nhớ công đức của bà, nhân dân trong vùng lập đền thờ để hương khói hàng ngày. Đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên nằm trên đỉnh núi Thạch Bàn, thuộc dãy Tam Đảo, có 5 đền lớn được xây từ thế kỷ 16-17, cách khu nghỉ mát Tam Đảo 15km đường núi. Nơi đây cũng vừa xây dựng Thiền Viện Trúc Lâm lớn nhất cả nước, cùng với cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ vẫn còn giữ nguyên vẻ nguyên sơ, quanh năm có mây mù, thông reo, chim hót. Theo nhiều tư liệu nghiên cứu, Tây Thiên còn là chốn tổ phật giáo Việt Nam. Vào khoảng 2300 trước Công Nguyên, nơi đây đã có chùa “Tây Thiển cổ tự.” Năm 2450 trước Công Nguyên, một lần Vua Hùng Vương thứ 7 lên núi Tam Đảo cầu tiên đã thấy ở đây có chùa thờ Phật. Ngày nay Tây Thiên vẫn còn lưu giữ được ba ngôi mộ cổ ghi danh hiệu các thiền sư: Giác Linh Ngã, Võng Sơn Thiền Sư, Cúc Khê Thiền sư. Xác định đây chính là cái nôi của phật giáo, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam đã khởi công xây dựng Thiền Viện Trúc Lâm trên nền chùa cổ Thiên ân cổ với tổng số vốn đầu tư 30 tỷ đồng, có diện tích rộng 4,5ha, rừng ngoại vi rộng 50ha. Khi xây dựng thiền viện, các nhà khoa học còn tìm thấy hàng ngàn hiện vật có niên hiệu từ thời Lý, Trần, Lê, Mạc, Nguyễn và các di chỉ khảo cổ về phật giáo minh chứng rõ thêm về chốn tổ phật giáo. Ngày ngày thiền viện đón hàng trăm phật tử, du khách trong và ngoài nước hành hương về “cội nguồn Phật giáo Việt Nam," thắp hương khấn Phật và thưởng ngoạn cảnh đẹp của núi rừng Tây Thiên. Năm 1991, khu di tích danh thắng Tây Thiên đã vinh dự được nhà nước xếp hạng là di tích danh thắng cấp Quốc gia. Tỉnh Vĩnh Phúc đã quy hoạch khu danh thắng Tây Thiên thành khu du lịch trọng điểm của tỉnh và đầu tư hàng trăm tỷ đồng xây dựng nhiều công trình phục vụ du khách bốn phương về tham quan./. Theo Vietnam+
-
Bí ẩn tiền làm đường TT - Đầu tư xây dựng đường cao tốc với chi phí quá đắt đỏ đã được nói tới rất nhiều, nhưng đến nay điều này vẫn còn là một bí ẩn. Quả thực là phí làm đường ở VN lúc nào cũng cao hơn so với các nước, kể cả những quốc gia có tiềm lực về kinh tế như Trung Quốc, Mỹ, Đức... >> Phí làm đường cao tốc: đắt hơn cả Mỹ Ví như đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương có chi phí 9,9 triệu USD/km cho bốn làn xe cơ giới. Đường cao tốc TP.HCM - Long Thành - Dầu Giây đang được xây dựng dự kiến chi phí lên tới 18,3 triệu USD/km. Đường cao tốc Bến Lức - Long Thành có chi phí xây dựng dự kiến tới 28,2 triệu USD/km. Trong khi đó, tại Trung Quốc chỉ khoảng 6 triệu USD/km, tại Mỹ chỉ khoảng 8 triệu USD/km. Ngay cả ở nước Đức, 1km đường cao tốc cũng chỉ tiêu tốn 6,7 triệu euro, tương đương 160 tỉ đồng. Nếu như đường cao tốc ở VN to, đẹp, bền bỉ... hơn so với đường cao tốc của các nước thì tiền đầu tư cao hơn cũng là lẽ đương nhiên. Đằng này, đem chất lượng các tuyến đường cao tốc ở VN so với các nước nói trên thì đường sá của VN không hề trội hơn, nếu không muốn nói là tệ hại, khổ ải khi phải duy tu bảo dưỡng hằng năm với khoản kinh phí bỏ ra toàn... tiền tỉ. Nhìn vào đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương, tuyến giao thông được coi là đường cao tốc đúng chuẩn đầu tiên của VN với tổng chi phí đầu tư gần 10.000 tỉ đồng, cũng đủ biết, khi mà con đường này mang rất nhiều tai tiếng về chất lượng (đường sụt lún, hư hỏng, xuống cấp thường xuyên, tai nạn liên tục). Ngay cả tuyến quốc lộ 1A, người và phương tiện lưu thông trên đường lâu nay cũng than phiền vì nhiều nỗi: chi chít những ổ gà, ổ voi, cầu cống xập xệ, thường xuyên gây tai nạn... Vài trăm tỉ đồng để làm mới 1km đường giao thông rồi liền sau đó điều mà nhân dân được “hưởng thụ” là phải đi lại trên con đường thiếu an toàn (chưa kể Nhà nước phải bỏ tiền sửa chữa) thì thật không chấp nhận được - uổng phí tiền bạc, ngân sách quốc gia. Điều mà dư luận hiện nay quan tâm và rất muốn biết đó là với số tiền được duyệt để chi xây dựng từng kilômet đường cao tốc (kể cả các tuyến đường giao thông khác), chủ đầu tư và nhà thầu thi công có nghiêm chỉnh làm đúng, làm đủ hay không? Nếu làm đúng, làm đủ thì tại sao đường lại nhanh hư hỏng, yếu kém do đâu? Người dân cũng muốn biết khi duyệt dự án, các ngành chức năng có xem xét, tự hạch toán ra chi phí đầu tư trước khi phê duyệt để kiểm định lại chi phí hay là “ngả theo chiều gió”, dẫn đến tiền làm đường lúc nào cũng cao ngất? Hơn lúc nào hết, rất cần một hành động thẩm tra, kiểm toán để xác định cụ thể chi phí làm 1km đường cao tốc, hay 1km đường tỉnh lộ, huyện lộ, liên thôn, liên xã... là bao nhiêu để đảm bảo nguồn tiền đóng thuế của dân bỏ ra xây dựng là đúng, là đủ, là không bị “hớ” và cũng không thừa để rồi tiền chảy lung tung mà chất lượng công trình thì cứ nay chắp mai vá.
-
Chữ Khoa Đẩu trong lịch sử thời Nghiêu Thuấn đã có nói, tuy nhiên cho tới thời Tần Thủy Hoàng chắc đã trải qua nhiều lần cải biến cho nên kiểu chữ nào được gọi là Khoa Đẩu cũng chưa chắc chắn. Bác Lãn Miên có bài dịch "Thương Hiệt Thiên" để tham khảo không ạ, hiện tại không thấy nói đến. Kính.
-
Chuyên gia nổi tiếng phản đối đề án trụ sở Bộ GT 12000 tỷ đồng "Tôi tin với một Bộ trưởng bộ GTVT có lương tâm, các cán bộ có lương tâm thì đó là điều hạnh phúc hơn là việc ngồi trong một trụ sở to hoành tráng". Như đã đưa tin, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải (GTVT) Đinh La Thăng vừa phê duyệt đề án trị giá 223.000 tỉ đồng để hiện đại hóa trụ sở làm việc, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, phát triển đội tàu biển, máy bay, đào tạo nguồn nhân lực theo đề án công nghiệp hóa - hiện đại hóa Bộ GTVT đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Theo đề án, để hiện đại hóa công tác quản lý, chỉ đạo điều hành ứng dụng công nghệ thông tin trong khối hành chính sự nghiệp và trường, viện cần tới 278 tỉ đồng tới năm 2030 cho 24 danh mục phần mềm, cơ sở dữ liệu (153 tỉ đồng giai đoạn 2012-2015 và 125 tỉ đồng cho giai đoạn 2016-2020). Riêng khối doanh nghiệp cần tới hơn 227 tỉ đồng đến năm 2030 cho các loại phần mềm quản trị doanh nghiệp. Với việc đầu tư, nâng cấp nhà làm việc đảm bảo tiêu chuẩn tại văn phòng bộ, tám tổng cục, cục chuyên ngành và 22 tổng công ty, sáu trường, viện, Bộ GTVT ước tính cần 12.174 tỉ đồng cho đến năm 2030 (riêng từ 2012-2015 cần 7.950 tỉ đồng). Trong đó, đầu tư trụ sở văn phòng bộ là 1.000 tỉ đồng và các tổng cục, cục là hơn 4.800 tỉ đồng. Số tiền đầu tư này nhằm xây dựng trụ sở mới cho một số cục chưa có trụ sở làm việc, nâng cấp trụ sở làm việc của các đơn vị đã chật chội, xuống cấp. Ngay sau khi đề án được phê duyệt, đã có khá nhiều thông tin trái chiều về đề án này. Để hiểu rõ vấn đề hơn, Phóng viên báo Giáo dục Việt Nam đã có cuộc phỏng vấn chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan về vấn đề này. Bà nghĩ gì về đề án vừa được Bộ trưởng Đinh La Thăng ký duyệt liên quan đến việc nâng cấp nhà làm việc đảm bảo tiêu chuẩn tại văn phòng bộ, tám tổng cục, cục chuyên ngành và 22 tổng công ty, sáu trường, viện của Bộ GTVT? Chuyên gia Phạm Chi Lan: Tôi nghĩ, hiện tại muốn có một trụ sở khang trang hiện đại là nguyện vọng chính đáng của tất cả các đơn vị như các doanh nghiệp cũng như các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là bộ xây dựng thì sẽ dùng tiền ngân sách. Và trong điều kiện kinh tế hiện nay đang khó khăn như thế này, ngân sách nhà nước đang có đòi hỏi thắt chặt chi tiêu, đầu tư từ ngân sách để vừa tăng hiệu quả và vừa giảm bớt những gánh nặng trên những nguồn nộp thuế thì đề xuất này của Bộ GTVT là không hợp thời. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, chính phủ đang thực hiện việc cắt giảm chi tiêu, kiềm chế lạm phát, việc duyệt đề án này của bộ GTVT nói lên điều gì, thưa bà? Chuyên gia Phạm Chi Lan: Nó thể hiện là hình như Bộ GTVT không nghĩ đến bối cảnh chung mà chỉ đề xuất riêng cho mình như vậy. Thêm nữa là ngành GTVT cũng là ngành còn đòi hỏi đầu tư rất nhiều để cải thiện hạ tầng giao thông chung đỡ ách tắc cho xã hội hiện nay nhưng mà mọi việc trong vài tháng nay bộ GTVT đề xuất đều là đánh qua phí vào đầu người dân. Trong khi những biện pháp để cải thiện hạ tầng giao thông thì chưa thấy đâu. Vậy mà bây giờ tiền lại muốn dồn vào để đầu tư cho trụ sở hoành tráng như vậy thì thử hỏi ngân sách dành cho giao thông rồi ngân sách lại dùng để cho Bộ GTVT xây dựng trụ sở lớn như vậy thì liệu hạ tầng giao thông có cải thiện được trong thời gian tới hay không? Đó cũng là trách nhiệm của bộ và bộ phải nghĩ tới. Nếu có sự ưu tiên của bộ bây giờ thì đó nên là sự ưu tiên cho phát triển hạ tầng giao thông hơn là cho việc xây dựng trụ sở bộ, các tổng cục và cục của ngành. Thời gian vừa qua, bộ trưởng Đinh La Thăng có nhiều đề xuất liên quan đến chuyện thu phí gây nhiều dư luận trái chiều. Trong một cuộc phỏng vấn, Bộ trưởng Thăng có nói tới vấn đề thu phí là để có kinh phí làm giao thông. Tuy nhiên, nay Bộ GTVT lại có đề án như vậy thì theo bà, việc này có gây ra hiểu nhầm cho người dân về việc bộ thu phí để xây dựng trụ sở? Chuyên gia Phạm Chi Lan: Tôi không nghĩ là sẽ gây ra hiểu lầm như vậy đâu. Bởi vì có muốn huy động được tiền của dân thi cũng phải hỏi ý kiến của dân, phải có sự phê duyệt của Quốc hội và nhất là sự đồng tình từ người dân chứ không phải muốn thu bao nhiêu là thu được. Thêm nữa là nếu có thu được phí từ dân để cải thiện hạ tầng thì cái đó phải được đầu tư vào hạ tầng đồng thời có sự giám sát của người dân chứ không phải ngành giao thông thu được rồi thì muốn tiêu gì thì tiêu. Nếu danh nghĩa là thu để cải thiện hạ tầng GTVT mà thực tế lại thu để xây dựng trự sở thì điều đó không thể có được. Vấn đề xây dựng trụ sở to hoành tráng, mua xe “xịn” đã từng chịu nhiều chỉ trích từ dư luận. Theo bà, với đề án như vậy của Bộ GTVT, dư luận có để yên? Chuyên gia Phạm Chi Lan: Tôi tin chắc, xã hội sẽ không để cho Bộ GTVT làm như vậy. Và cả chính phủ, quốc hội cũng sẽ không để cho Bộ GTVT làm như vậy. Sẽ không có hiểu nhầm đó vì người dân hiểu rằng tiền họ đóng để làm gì. Xã hội bây giờ thông tin rộng rãi và người ta hoàn toàn có thể phản hồi ngay khi có vấn đề. Tôi nghĩ là dư luận sẽ lên tiếng thậm chí là lên án một đề án như vậy. Và cho dù tiền của dự án như vậy, Bộ GTVT có thể huy động từ chỗ này chỗ khác trên danh nghĩa là ủng hộ bộ, hỗ trợ bộ thì tiền từ mặt bằng cũ hiện nay được nhà nước cho phép bộ bán đi lấy tiền xây dựng trụ sở mới cũng không phải là hợp lẽ. Vì trụ sở hiện nay bộ đang dùng, nhà nước quyết định di dời đi thì đó là đất của công, tài sản của quốc gia chứ không phải tài sản của riêng các bộ. Cái này không phải do bộ làm ra nên bộ muốn tiêu gì thì tiêu. Các cơ quan nhà nước phải hiểu rõ, mọi nguồn đầu tư và phát triển đều là từ ngân sách, từ tiền thuế của người dân chứ không phải là từ đâu cả. Bộ không phải là cơ quan kinh doanh nên cũng không có quyền nói vì tôi kinh doanh tốt nên được doanh nghiệp cho hưởng cái nọ, cái kia. Điều đó là không thể có được. Ngay cả việc Bộ trưởng Thăng nhận cái xe do một đơn vị phía dầu khí tặng cũng đã làm xôn xao dư luận và hầu hết ý kiến được đưa ra thì tôi hiểu người dân không đồng tình kể cả nguyên lãnh đạo của các cơ quan. Trong đề án có nêu: với nguồn vốn đầu tư cho các hạng mục nhà làm việc, trang thiết bị, dự án, đào tạo nghề, Bộ GTVT đề nghị các doanh nghiệp tự huy động, cân đối các nguồn vốn tự có, vốn vay, ODA, vốn huy động từ xã hội. Bà nghĩ sao về vấn đề này? Chuyên gia Phạm Chi Lan: Tôi cho rằng phải có 2 việc phải tách bạch ra: trụ sở của bộ là cơ quan công quyền là trụ sở của cơ quan nhà nước, không có doanh nghiệp lẫn vào đó. Không thể lẫn lộn trụ sở của bộ với trụ sở dành cho doanh nghiệp. Đã là doanh nghiệp dù là thuộc bộ và là doanh nghiệp nhà nước thì cũng phải lo trụ sở riêng. Nếu bộ GTVT để chung một “rọ” thì sẽ tạo ra sự không minh bạch rất lớn, từ đó sẽ tạo sự hiểu nhầm trong chi tiêu. Tôi cho rằng bộ GTVT xây dựng thì lo cho trụ sở của bộ, nơi làm việc cho bộ trong điều kiện ngân sách cho phép nếu phù hợp với yêu cầu hiện nay của nhà nước về việc di chuyển bộ để tập trung vào một số nơi và ra khỏi trung tâm thành phố thì điều nhà nước cũng sẽ bố trí một khoản ngân sách nhất định cho việc đó. Tiền xây dựng của bộ không thể nói là tự huy động từ ODA hay là vay mượn ở đâu được vì ODA suy cho cùng cũng là đất nước mình đứng ra vay đất nước khác rồi gánh nặng trả sẽ đè nặng lên vai các thế hệ sau này nếu không phải trả sớm ngay bây giờ. ODA không phải là tiền cho không. Không có chuyện bộ nọ bộ kia đứng ra huy đọng ODA cho mình để xây dựng trụ sở cho mình được. Tôi nghĩ là các nước cung cấp ODA cho mình cũng không ai cung cấp cho việc xây dựng trụ sở cơ quan. Họ cũng phải chịu sự giám sát của người dân đã đóng tiền cho chính phủ nước khác đã cung cấp ODA cho mình. Còn các nguồn khác thì tôi cũng không nghĩ là nhà nước đứng ra đi vay. Tôi tin là chính phủ không cho phép các bộ được tùy tiện đứng ra tự đi vay để làm việc nọ việc kia nhất là đi xây trụ sở cho mình. Tóm lại, tôi hoàn toàn không ủng hộ đề án này của bộ GTVT. Tôi nghĩ rằng trên đất nước này còn rất nhiều nơi người dân đi đường vẫn phải lầy lội. Nói trong ngành giao thông thì với số tiền hàng nghìn tỉ đồng như vậy không dám nói là sẽ phủ kín đường nhựa trên đất nước này nhưng nó sẽ giúp cho dân bớt khó khăn đi. Tôi tin với một Bộ trưởng bộ GTVT có lương tâm, các cán bộ có lương tâm thì đó là điều hạnh phúc hơn là việc ngồi trong một trụ sở to hoành tráng. Rộng hơn, trên đất nước này còn thiếu bao nhiêu trường học, bao nhiêu bệnh viện, các cơ sở y tế phục vụ cho người dân. Tôi nghĩ con số như vậy là quá lớn trong khi nhà nước đang còn yêu cầu phải cải cách hành chính, thu hẹp hoạt động, tổ chức hoạt động sao cho hợp lý. Cảm ơn bà đã trả lời phỏng vấn! Theo Tuệ Minh Giaoduc.net Bảo tàng lịch sử, Tượng đài chiến thằng... muỗi tất. Thật là một quốc gia kinh hồn. Nên nhớ" phí giao thông các loại kể cả bảo trì đã đóng trong xăng dầu rồi...
-
Qua lịch sử của tể tướng Lữ Gia của nhà Triệu, qua ba đời vua là một sự kiện chứng minh rằng Nam Việt hoàn toàn thống nhất, người Việt tại Phong Châu (Bắc Việt Nam) tham gia chính sự và làm ở các vị trí then chốt của triều đình. Sự kiện mộ Triệu Muội được khai quật tại Quảng Đông cho thấy các triều vua sau có lăng mộ chôn tại đây và rõ ràng thành Phiên Ngung là kinh đô của Nam Việt như sử đã ghi chép. Tể tướng Lữ Gia có khả năng cùng thời với Trọng Thủy, chưa kiểm tra lại mốc thời gian và một lần nữa nhận định Thánh Chèm và Bạch Tỉnh Cung chính là Trọng Thủy và Mỵ Châu. Việc Triệu Đà tấn công Trường Sa chỉ ra một phần đất Hồ Nam bị mất sau trận chiến chống Tần của Aa Dương Vương. Triệu Đà tấn công Trường Sa với ý đồ lấy Dương Tử làm vách ngăn xâm lấn của Bắc Phương, dĩ nhiên phải tấn công cả đất Việt Cũ. Nếu Triệu Đà tấn công trường Sa thì Vân Nam bắt buộc phải thuộc Nam Việt vì nếu thuộc Tần thì Triệu Đà không thể tấn công Trường Sa do quân tiếp viện có thể đánh xuống. Phân tích này sẽ được kiểm tra lại các thông tin lịch sử. Thành Cổ Loa hay Tư Long ta hiểu là Bạch Long Thành hoặc Bạch Thành, còn Phượng Thành tức Thăng Long thành thời Lý hiểu là Hoàng Thành (kinh đô), cả hai thành gọi là Long Phượng thành mới đúng. Hình ảnh An Dương Vương được rùa vàng đưa xuống biển Đông sẽ được hiểu như thế nào? Theo Bách Việt Trùng Cửu đó là Huyền Thiên Trấn Vũ của Đạo giáo.
-
Huyền bí nơi phát tích đạo Phật Việt Nam Đình Tú đăng ngày 22/04/2012 Ngồi thiền nhưng trong đầu lại hiện lên cảnh một ngôi chùa với những ngôi mộ cổ hiện lên rõ mồn một. Không biết vị trí chính xác ở đâu chỉ thấy trên mái chùa phấp phơ sương trắng với một vòng hào quang chói lòa. Sư thầy Thích Thanh Toàn nói như thế khi kể về việc bắt đầu đi tìm lại ngôi chùa nay chỉ còn là dấu tích. Đam mê đạo Phật và có căn tu từ nhỏ, sư thầy Thích Thanh Toàn khi chính thức tu hành tại chùa Tây Thiên (Tam Đảo, Vĩnh Phúc) đã tự đặt câu hỏi: "Phật giáo Việt Nam khai sinh từ đâu?". Câu trả lời chỉ có trong một số tài liệu ít ỏi về Phật giáo và vẫn chưa ngã ngũ mà sư thầy tìm đọc được. Hành trình tìm chùa Địa Ngục "Một giả thuyết cho rằng chùa Địa Ngục trên đỉnh Tam Đảo, Vĩnh Phúc là nơi Đức Chử Đồng Tử sau khi học phép tiên của sư tổ Phật Quang đã ẩn tu ở Nê Lê đã khai sáng ra đạo Phật của nước Việt. Thế nhưng chùa Địa Ngục ở đâu và còn hay mất thì không ai rõ. Đã có nhiều khảo cứu tìm chùa Địa Ngục mà không ai tìm được", sư thầy Thích Thanh Toàn nói. Không biết tiền nhân mách bảo hay Đức Phật hiển linh đã chỉ đường cho tôi tìm được chùa Địa Ngục, nơi được coi là khai sinh ra Phật Giáo Việt Nam". Mùa thu năm 2008, trong lõi rừng Tam Đảo, một đoàn người cõng ba lô lần đường đi trong đêm tối. Trong đoàn người, nhà sư vừa dẫn đường vừa niệm Phật hiệu. Sáu người khác là hai phật tử từ Hà Nội lên, 4 nhân vật còn lại là người dân tộc bản địa thông thuộc đường đi lối lại. Những con dốc xuyên rừng dựng đứng làm chậm hẳn bước tiến của đoàn người. Đi từ đầu giờ Tí (23g) mà mãi đến giờ Mão (7g), khi ánh mặt trời đã lấp lóa đỉnh núi họ vẫn chưa tìm được chùa Địa Ngục. "Lạc đường rồi!", sư thầy Thích Thanh Toàn, người dẫn đầu đoàn người buông tiếng thở dài. Chùa Địa Ngục hiện nay dựng trên nền cũ. Ảnh: M.Phương. "Đó là lần thứ sáu, tôi có mặt cùng sư thầy Thích Thanh Toàn và đoàn người đi tìm dấu vết chùa Địa Ngục nhưng thất bại", cô Trần Thị Huyền, một phật tử ở Thanh Xuân, Hà Nội nói. Quyết tâm “phải tìm bằng được chùa Địa Ngục” của sư thầy Thích Thanh Toàn được cụ thể bằng chuyến đi thứ 7 giữa bạt ngàn rừng xanh và núi cao Tam Đảo. Chuyến đi thứ 7 của sư thầy và đoàn người kéo dài 4 ngày đêm. Dấu chân của họ có ở khắp hang cùng, núi hẻm trên dãy núi Tam Đảo linh thiêng. Đến ngày thứ 4, khi lương khô của đoàn người đã cạn, nước uống cũng chỉ đủ cho nửa ngày thì trên ngọn núi cao nhất của dãy Tam Đảo hiện ra nền móng của một hoang tích. Những dãy đá làm móng vẫn còn nguyên vẹn nhưng đã chìm trong cỏ dại cao ngập đầu người. "Cuối cùng Đức Phật cũng không phụ Phật tâm. Móng chùa Địa Ngục rộng hơn 400m2 đã được xác định. Nền cũ đã hoang phế nhưng vẫn thoảng tiếng kinh kệ, hương trầm", sư thầy Thích Thanh Toàn không dấu niềm vui khi kể lại. Nơi phát tích đạo Phật Việt Nam? Năm 2009, sau khi phát hiện ra chùa Địa Ngục, sư thầy Thích Thanh Toàn phát tâm thư công đức dựng lại chùa: "Ngậm ngùi thay! Trước cảnh thăng trầm, biến đổi vô thường của tạo hoá, các đại danh lam, cổ tự, bảo tháp nay chỉ còn đống gạch vụn đổ nát, chất dày bởi lớp bụi thời gian. Dẫu biết vạn vật có sanh tức có diệt, có thành tức có hoại, là kẻ hậu học chúng ta không thể vô tâm trước cảnh hoang tàn đó". Hàng ngàn ngày công lao động của người dân địa phương đã góp sức làm đường mòn lên núi. Đại hồng chung cũng được đúc để đưa lên. Nhưng đến tận năm 2012, ngôi chùa cũng vẫn chỉ là một chiếc lán nhỏ trên nền cũ. Kiến trúc của chùa hiện tại đáng quý nhất là 4 tháp mộ cổ được phục dựng trước cổng. Theo lời sư thầy Thích Thanh Toàn thì cạnh chùa có tới 7 ngôi mộ cổ chứ không chỉ là 4. Mộ cổ được dựng lại cao chừng 6m. Tầng trên theo dạng tháp cổ, phần phía dưới là mộ phần. "Phục dựng lại chùa không chỉ là phần kiến trúc mà còn phải phục dựng lại cả phần lịch sử đã mất. Nhiều tài liệu của cả Phật giáo và lịch sử đều cho rằng chùa Địa Ngục là nơi phát tích của Phật giáo Việt Nam từ thời Hùng Vương"- sư thầy Thích Thanh Toàn nói. Mộ tháp tại chùa Địa Ngục được phục dựng. Ảnh: M.Phương Sư thầy Thích Thanh Toàn trích dẫn: Chùa Địa Ngục không rõ xây từ thời nào, nhưng theo cuốn Kiến Văn Tiểu lục của Lê Quý Đôn mô tả là một khối kiến trúc vuông vức, mỗi cạnh dài khoảng một trượng, các tường bao quanh chùa đều bằng đá. Thường ngày hai cánh cửa ra vào khóa kỹ bằng một khóa sắt lớn và trong khuôn viên có đặt viên đá ghi rõ: Địa Ngục tự (tức chùa Địa Ngục). Tuy nhiên, điều này không đủ chứng minh Địa Ngục tự là nơi phát sinh Phật Giáo Việt Nam. Nhưng những cứ liệu lịch sử của trong bài Phật giáo thời Hùng Vương, GS - Thiền sư Lê Mạnh Thát lại cho rằng điều này có thể chứng minh được. "Ta may mắn có một tài liệu là Lĩnh Nam Trích Quái. Truyện Nhất Dạ Trạch của Lĩnh Nam Trích Quái ghi lại việc Chử Đồng Tử đã được nhà sư Phật Quang tại núi Quỳnh Viên (Tam Đảo, Vĩnh Phúc) truyền dạy giáo lý Phật giáo" . GS Lê Mạnh Thát cũng chứng minh Quỳnh Viên là một trong những địa danh tại Tây Thiên mà Phật giáo truyền vào nước ta từ thời Hùng Vương (tương đương với thời đại ASOKA- A Dục vương, một vị vua Ấn Độ). Cùng quan điểm với sư thầy Thích Thanh Toàn, tác giả Thích Kiến Nguyệt trong tài liệu "Tây Thiên - Chiếc nôi của Phật Giáo Việt Nam" đã khẳng định: "Tây Thiên phát xuất từ ý nghĩa nơi các nhà sư "Tây Thiên" từ Ấn Độ đến tu hành. Vì theo trong kinh từ Tây Thiên chỉ cho nước Ấn Độ, cũng như từ Đông Độ chỉ cho nước Trung Hoa. Tác giả Thích Kiến Nguyệt cũng cho rằng: chùa Địa Ngục là một trong những chùa cổ nhất của thiền phái Tây Thiên tại Việt Nam. Đình Tú
-
Sau trận Trác Lộc, một bộ phận dân cư ở đây đã theo Lạc Long Quân di cư xuống Việt Nam. Chính những người di cư này đã góp máu huyết sinh ra người Việt hiện đại, tổ tiên gần nhất của người Việt Nam ngày nay. Truyền thuyết cũng như chính sử Trung Quốc ghi nhận, khoảng 2600 năm TCN, họ Hiên Viên thống lĩnh các bộ lạc du mục Mông Cổ tấn công liên quân Việt của Đế Lai và Lạc Long Quân ở Trác Lộc trên sông Hoàng Hà. Lãnh tụ quân Việt Đế Lai (Si Vưu) tử trận, quân du mục tràn vào chiếm vùng hoàng thổ, tôn Hiên Viên làm Hoàng đế với nghĩa vua của vùng hoàng thổ. Nối kết sự kiện này với những tư liệu hiện có, ta hình dung kịch bản sau: Việc xâm lăng của quân du mục diễn ra dai dẳng hàng nghìn năm. Quân Việt thường xuyên đánh trả, ngăn bước kẻ xâm lược. Trác Lộc là trận lớn, mang tính chiến lược quyết định. Sự bại trận của dân nông nghiệp như là hệ quả tất yếu của cuộc sống. Nhận thức được điều này, Lạc Long Quân, trị vì nước Xích Quỷ, chuẩn bị phương án chiến lược là chuyển về hậu phương phía nam lập kế lâu dài. Vì vậy, sau khi Đế Lai hy sinh, ông và bộ phận tinh hoa của quân dân Việt lên thuyền xuôi Hoàng Hà ra biển rồi theo gió mùa đông bắc xuống phía nam, đổ bộ vào vùng Nghệ An. Do cùng nòi giống và tiếng nói – có lẽ là ngôn ngữ Môn-Khmer như khoa học xác định sau này, đoàn thuyền nhân của Lạc Long Quân được người bản địa tiếp nhận, như được ghi trong Ngọc phả Đền Hùng. Đoạn văn này chưa thể lập cơ sở lịch sử được, chỉ là thông tin tham khảo, ví dụ sao biết Đế Lai là Si Vưu và Si Vưu được lý giải như thế nào, chưa kể là Hoàng Đế? Một quốc gia không hàm nghĩa phải co1 cùng chủng tộc - nếu thế thì giải thích loài người ban đầu phát sinh từ đâu và dùng khảo cổ thì cứ mỗi lần phát hiện cái xưa hơn thì phải lặp lại giả thuyết (như sau khảo cổ thấy người Châu Á cổ hơn Châu Phi thì???). Những phân tích trên cho thấy, lịch sử tộc Việt có hai thời kỳ: * Thời kỳ đầu, khoảng 40.000 năm trước, người Việt cổ Australoid từ đất Việt đi lên khai phá Trung Hoa. * Thời kỳ thứa hai, từ sau 2.600 năm TCN, người Việt từ lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử trở về Việt Nam dựng nước Văn Lang. Người trở về mang theo nguồn gen Mongoloid phương Nam, làm chuyển hóa đại bộ phận dân cư Việt Nam thành người Việt hiện đại. Do vậy, có thể kết luận là, “người trở về đã chuyển hóa di truyền dân cư Việt mà không phải là sự đồng hóa.” Sự kiện này phù hợp với câu ca Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong Nguồn chảy ra. Khi trở về Việt Nam, tổ tiên của chúng ta ghi nhớ nơi phát tích trực tiếp là Núi Thái, sông Nguồn vùng Sơn Đông nên đặt thành câu ca truyền đời cho con cháu. Cũng như truyền thuyết, câu ca mang vẻ bí ẩn. Nhưng về mặt tâm linh, một số người trong chúng ta cảm nhận rằng, núi ấy, sông ấy có gì đó gắn bó với tổ tiên mình. Hoàn toàn không chắc chắn. Câu thơ trên định vị địa bàn sinh sống của người Việt cổ hợp lý nhất. Khu vực này và cả vùng Hàn Quốc có chữ nòng nọc, cận với nước Tề - nước có nền văn hóa phát triển, đất cũ của Khương Thái Công triều Chu?. Khi nhà Chu dời đô, rõ ràng phải có một bộ phận dân cư cùng tộc di chuyển theo và hình thành nước Chu là chủ chốt và các chư hầu. Tại thời điểm này đã có hàng ngàn bộ lạc vùng Hoa Bắc rồi, trên 1500 năm sau Đường Tăng đi thỉnh kinh phải đi qua hàng trăm quốc gia... Giả sử Việt bị Hán hóa thì người các châu ở Hoa Nam sẽ bị Hán Hóa mạnh mẽ hơn, chúng ta chú ý sau 5 đời là được lấy nhau rồi. Theo Đác Uyn vè tiến hóa nhân loại thì con người từ vượn người hình thành, không có gì khó hiểu cả, nhưng thời điểm nào hình thành và khu vực nào trên trái đất sẽ phải phụ thuộc vào khảo cổ hóa thạch là chính - từ đây khẳng định nguồn gốc từ Phi Châu khởi nguyên rõ ràng chỉ là kết quả ban đầu.Để lý giải có lẽ phải dùng một học thuyết khác bao trùm hơn. Còn có một sự kiện Đại hồng thủy và lục địa Atlantic nữa trong dòng chảy lịch sử?.
-
Thập mục ngưu đồ 10 bức tranh chăn trâu Chúng tôi xin giới thiệu về “Mười bức tranh chăn trâu” hay “Thập mục ngưu đồ” để chúng ta cùng nhau tư duy, quán chiếu. Bộ tranh được phát hiện sớm nhất tương truyền là của Thiền sư Quách Am (Kakuan hay Kuoan Shihyuan (1100 – 1200), cũng thường được gọi là Khuếch Am Sư Viễn) người Trung Quốc, sinh vào thời nhà Tống thế kỷ XII. Thiền sư dựa vào các bản luận cũ của tiền nhân rồi họa 10 bức tranh chăn trâu, mượn hình ảnh tượng trưng của trâu trong Lão giáo, rồi viết bài tụng và lời bình bằng văn xuôi. Bộ tranh của ngài thuần chất Thiền, sâu sắc hơn các bộ tranh của các bậc tiền bối và từ đấy trở thành nguồn cảm hứng sâu xa cho các thế hệ sau này phỏng theo đó mà vẽ ra thêm nhiều bức họa khác nữa. Từ đó càng có thêm nhiều bộ tranh mới hoặc màu, hoặc đen trắng, bắt đầu xuất hiện ở các chốn già lam, thiền viện. Những bộ tranh này cũng phản ảnh được nhiều khuynh hướng khác nhau trong sự tu tập, không thống nhất một cách khô khan, mà lại uyển chuyển sáng tạo, tùy duyên truyền pháp. Nhưng vậy là không chỉ có một bộ, mà có nhiều bộ “Thập mục ngưu đồ” khác nhau, tất cả đều đượm nhuần tinh thần Phật giáo Bắc Tông. Tuy có nhiều bộ tranh nhưng về hình thức thì bộ nào cũng như bộ nào, mỗi bộ điều có 10 bức, mỗi bức có một bài tụng bằng thơ tứ tuyệt và mỗi bài chú giải bằng văn xuôi cho cả tranh và bài kệ. Còn về tinh thần thì tranh tuy có nhiều, nhưng có thể xếp thành hai loại: Đại thừa và Thiền Tông. Loại tranh theo khuynh hướng Đại thừa vẽ lại quá trình tu chứng, từ việc tự thắng bản năng mình, đến tự tri và cuối cùng là đạt đến tự tại. Loại tranh theo khuynh hướng Thiền tông khắc họa tiến trình thực nghiệm tâm linh với ba giai đoạn: sai tâm bắt tâm, tâm vô tâm và tâm bình thường. Trong mỗi loại, tranh vẽ khác hết, nhưng bài tụng và bài chú riêng cho mỗi loại không thay đổi. Hình ảnh người mục đồng tượng trưng cho giới thể, cho thiền định, cho chính trí, nói chung là cho chánh pháp của đức Phật. Con trâu tượng trưng cho cái tâm của chúng sinh, cái tâm ấy là cái tâm vọng tưởng, tâm phân biệt, chất chứa đầy phiền não, mê lầm và dục vọng. Chúng sinh lấy giáo pháp chân chính của đức Phật để chữa trị các sự mê lầm và dục vọng này thì cũng tương tự như người mục đồng trị con trâu hoang dã đầy tật chứng vậy! Dưới dây là bộ tranh “Thập mục ngưu đồ”, 10 bức tranh chăn trâu của Thiền sư Quách Am và của Giáo sư Thiền học Daisetz Teitaro Suzuki. Trâu chuyển dần từ đen (trâu đen tức là tâm còn buông thả) sang trắng (tâm được thuần phục dần). Tranh 1: Tìm trâu <a href="http://1.bp.blogspot.com/-7yn2D6y92HM/Tym9lyqR5xI/AAAAAAAAASc/k1Ng6WpFaDM/s1600/Tr%C3%A2u+1.jpg" style="clear: left; float: left; margin-bottom: 1em; margin-right: 1em;"> Thật ra con trâu chẳng bao giờ thất lạc. Nó vẫn sờ sờ ra đó, đâu phải kiếm tìm? Chẳng qua chỉ vì ta rời xa thực tướng của mình nên ta không thể thấy nó. Trong sự mê muội của sắc tướng mà ta mất dấu vết của nó. Ở xa căn nhà, ta thấy nhiều ngõ đan nhau, nhưng đâu là con đường chính. Lòng tham và sợ hãi, tốt và xấu ràng buộc lấy ta. Tranh 2: Thấy dấu Hiểu dược lời dạy, ta thấy dấu chân của trâu. Rồi ta biết rằng, như nhiều dụng cụ được chế tạo từ kim loại, muôn vàn sắc tướng điều do ngã tạo ra. Làm sao ta thấy được thực và ảo nếu ta không phân biệt? Khi chưa vào được cửa, hẳn nhiên ta phải tìm cho ra con đường. Tranh 3: Được trâu Nó sống trong rừng đã lâu, nhưng ta bắt được nó hôm nay! Sự đắm say cảnh sắc đã làm nó lạc đường. Vì ham muốn cỏ ngon hơn, nó lang thang phiêu bạt. Tâm của nó còn bướng bỉnh và không chịu thuần phục. Nếu muốn nó nghe lời, ta phải dùng roi. Tranh 4: Chăn trâu Trâu bị kiềm chế bấy giờ có lẽ đã đau đớn vì bị dây vàm kéo lỗ mũi, lại sợ lãnh thêm những đòn roi, nên bắt đầu dần dà chịu phép, chịu khuất phục. Trâu bị giơ roi dắt đi, nhưng đầu đã sạch trắng ra. Tuy là trâu hết chạy tới chạy lui hung hăng hùng hổ, nhưng trẻ chăn trâu vẫn phải nắm chặt sợi dây vàm xỏ mũi mà kéo nó đi, chưa dám buông thả, tay chưa dám bỏ cây roi. Chú dắt trâu đi nhẹ nhàng, không còn phải dùng sức lực lôi kéo hay roi vọt đánh đập nữa. Tranh 5: Thuần phục Đến đây là được chút nhàn rỗi vì đã tu được nửa chặng đường rồi, ít còn phải dụng công nhiều nữa. Người luyện tâm lúc này đã hoàn toàn điều phục được tâm ý mình và sống trong tỉnh thức. Tâm ý đã thanh tịnh, người tu thật an lạc, thấy được sự màu nhiệm của cuộc sống. Thấy ra tu là hướng nội, là chuyển chính nội tâm mình trở nên thanh tịnh tốt đẹp, không phải là chuyển cảnh vật bên ngoài theo ý mình. Tranh 6: Cưỡi trâu về nhà Cưỡi trâu ta thong thả quay về nhà. Tiến sáo (tiêu) của ta réo rắt lúc chiều tà. Ngón tay láy nhịp, ta hòa điệu không ngừng. Ai nghe nhạc khúc du dương này xin tấu cùng ta. Cuộc tranh đấu đã qua, được hay thua điều không khác. Ta hát bài ca của tiều phu và thổi điệu đồng giao. Cưỡi trâu, ta ngắm mây trôi bồng bềnh. Ta đi tới, dù ai đó có gọi giật lại. Tranh 7: Quên trâu còn người Pháp bất nhị. Chỉ tạm mượn chuyện trâu, cũng như sự tương quan giữa thỏ và bẫy, giữa cá và lưới, giữa vàng và cặn, hay trăng vừa ló khỏi mây. Một tia sáng xuyên suốt vô thỉ vô chung. Ta điều phục tâm nhưng thật ra chẳng có chi để điều phục. Bởi tánh giác là của ta, theo ta suốt dọc đường sinh tử. Giờ ta có thể ung dung tự tại với tánh giác của ta, bỏ mặc roi thừng là thứ tạm bợ. Tranh 8: Dứt cả hai Vòng tròn tượng trưng cho “Viên Giác”. Trâu và người chăn, tâm và cảnh dứt hết là hiển hiện ánh chân như lung linh trong màu cỏ nội hoa ngàn. Nhiễu sự đã qua, tâm không còn chướng ngại. Ta không mong cầu cõi giác ngộ. Ta cũng không trú vào nơi không giác ngộ. Vì ta không vướng mắc vào cả hai, mắt không hề nhìn thấy ta. Nếu hàng vạn chim cùng hoa trên đường ta đi, sự tán thán đó cũng chỉ là hư vô. Tranh 9: Trở về nguồn cội Ngay từ ban đầu, chân lý đã sáng tỏ. Qua thiền định, ta quán đến sắc tướng hợp tan. Cội nguồn là tâm thể chân thật, nó vốn sẵn như vậy, không cần phí công để tìm, không cần phí sức để trở lại. Thấy nghe mà không biết tốt xấu, hay dở, cũng giống như mù, như điếc nên nói mù câm. Trong am là chỉ cho tâm thể thênh thang trùm khắc không có một vật gì ngoài nó. Chừng đó mới thấy tự tại, thấy nước mênh mông, thấy hoa tự nở hồng, nở tía mà không bận tâm, không vướng mắc. Đó là phản bổn hoàn nguyên, gọi là vào cảnh giới Phật. Tranh 10: Thòng tay vào chợ Thiền sư mặc áo phô bày ngực, chân không giày dép đi vào chợ, làm những việc rất tầm thường như người đời. Miệng cười hỉ hả, không cần gìn giữ giới hạnh mẫu mực của người tu, không thuyết giảng giáo lý cao sâu mầu nhiệm. Chỉ làm con người rất bình thường để dạy cho những người bán cá, bán thịt ở ngoài chợ, ở quán rượu, là những nơi mà con người ở đó ít biết đến đạo đức, khiến cho họ có chút đạo đức biết lối tu hành. Đó là trọng trách giáo hóa của người tu đã đến chỗ viên mãn. Chỗ này là chỗ thiết yếu, hành giả cần phải hiểu rõ, người tu sau khi vào cảnh giới Phật tức là đã triệt ngộ, rồi mới vào cảnh giới ma để lăn xả vào đời, làm lợi ích cho đời. Thiền sư Quách Am và Giáo sư Thiền học Daisetz Teitaro Suzuki Chúng ta cùng thảo luận trên cơ sở học thuật Thiền và kinh nghiệm của người chứng đặc và đang trên đường rèn luyện.
-
Đình Chèm thờ Lý Ông Trọng quay về hướng Bắc được người ta lý giải Lý Ông Trọng có vợ là công chúa vua Tần Thủy Hoàng. Khi ông hồi hương thì vợ ngài cũng về theo nhưng vì nhớ nhà xin chồng trở về đất Bắc, rồi không quay lại. Trong đình, Lý Ông trọng quay về phương Bắc với lý do nhớ vơ hay canh chừng phương Bắc? được người ta lý giải rất khác nhau. Lữ Gia Lữ Gia (chữ Hán: 吕嘉,?-111 TCN), tên hiệu là Bảo Công (保公) [1] là Tể tướng của bốn đời vua nhà Triệu nước Nam Việt. Ông là người nắm chính trường nước Nam Việt những năm cuối và cuối cùng thất bại trước cuộc xâm lăng của nhà Hán. Binh biến giết Cù Hậu Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, Lữ Gia là Tể tướng ba đời vua Triệu, từ Văn Vương (136 - 125 TCN), Minh vương (124 - 113 TCN), Ai vương (112 TCN) tới Thuật Dương vương (112-111 TCN). Minh Vương Triệu Anh Tề đã có con lớn là Triệu Kiến Đức với một bà vợ người Việt, nhưng vì yêu Cù Hậu là người Hán nên lập con nhỏ của Cù Hậu là Hưng lên thay. Năm 113 TCN, Minh Vương chết, Hưng nối ngôi, tức là Ai Vương. Trước kia, thái hậu chưa lấy Minh Vương, đã từng thông dâm với An Quốc Thiếu Quý người Bá Lăng. Năm ấy nhà Hán thấy nước Nam Việt vua nhỏ nên sai An Quốc Thiếu Quý sang dụ Ai Vương và thái hậu vào chầu, như đối với các chư hầu nhà Hán, lại sai biện sĩ là bọn Gián nghị đại phu Chung Quân tuyên dụ, dũng sĩ là bọn Ngụy Thần giúp việc, vệ úy Lộ Bác Đức đem quân đóng ở Quế Dương để đợi sứ giả. Triệu Hưng còn ít tuổi, Cù thái hậu là người Hán, Thiếu Quý đến, lại tư thông. Người nước biết, phần nhiều bất bình không theo thái hậu. Thái hậu sợ, muốn dựa uy nhà Hán, nhiều lần khuyên Triệu Hưng và các quan xin nội phụ nhà Hán, bèn nhờ sứ nhà Hán dâng thư, xin theo như các chư hầu của nhà Hán, cứ 3 năm một lần vào chầu, triệt bỏ cửa quan ở biên giới. Vua Hán bằng lòng, ban cho Ai Vương và Thừa tướng Lữ Gia ấn bằng bạc và các ấn nội sử, trung úy, thái phó, còn các chức khác được tự đặt lấy. Cù thái hậu đã sửa soạn hành trang lễ vật quý giá để cùng Ai Vương vào chầu. Tể Tướng Lữ Gia tuổi cao chức trọng, người trong họ làm trưởng lại đến hơn 70 người, con trai đều lấy con gái vua đời trước, con gái đều gả cho con em vua và người tôn thất, cùng thông gia với Tần Vương ở quận Thương Ngô (nhà Hán). Trong nước Nam Việt, ông được lòng dân hơn cả vua. Lữ Gia nhiều lần dâng thư can Ai Vương nhưng Ai Vương không nghe. Lữ Gia quyết định làm binh biến, thường cáo ốm không tiếp sứ giả nhà Hán. Các sứ giả nhà Hán đều muốn hại ông, nhưng thế chưa thể làm được. Triệu Hưng và thái hậu cũng sợ phe Lữ Gia khởi sự trước, muốn nhờ sứ giả nhà Hán trù mưu giết ông. Cù thái hậu bèn đặt tiệc rượu mời sứ giả đến dự, các đại thần đều ngồi hầu rượu. Em Lữ Gia làm tướng, đem quân đóng ở ngoài cung. Tiệc rượu mới bắt đầu, thái hậu bảo ông rằng: "Nam Việt nội thuộc [Trung Quốc] là điều lợi cho nước, thế mà tướng quân lại cho là bất tiện là tại sao?" Ý Cù thái hậu muốn chọc tức sứ giả. Sứ giả còn đương hồ nghi, chần chừ chưa dám làm gì. Lữ Gia thấy tai mắt họ có vẻ khác thường, lập tức đứng dậy đi ra. Thái hậu giận, muốn lấy giáo đâm ông nhưng Ai Vương ngăn lại. Lữ Gia bèn ra chia lấy quân lính của em dẫn về nhà, cáo ốm không chịu gặp vua và sứ giả, ngầm cùng các đại thần chống đối. Ai vương vốn nể uy tín của Lữ Gia nên không có ý giết ông. Lữ Gia biết thế nên đến mấy tháng không hành động gì. Thái hậu muốn một mình giết Gia nhưng sức không làm nổi. Hán Vũ Đế nghe tin Lữ Gia không nghe mệnh, mà Triệu Hưng và thái hậu thì cô lập, không chế ngự nổi, sứ giả thì nhút nhát không quyết đoán, lại thấy Hưng và thái hậu đã nội phụ rồi, chỉ một mình Lữ Gia làm loạn, không đáng dấy quân, muốn sai Trang Sâm đem 2.000 người sang sứ. Sâm từ chối không nhận. Hán Vũ Đế bèn bãi chức Sâm. Tướng Tế Bắc cũ là Hàn Thiên Thu hăng hái xin đi. Hán Vũ Đế bèn sai Thiên Thu và em Cù thái hậu là Cù Lạc đem 2.000 người tiến vào đất Việt. Lữ Gia bèn hạ lệnh cho trong nước rằng: "Vua còn nhỏ tuổi, thái hậu vốn là người Hán, lại cùng với sứ giả nhà Hán dâm loạn, chuyên ý muốn nội phụ với nhà Hán, đem hết đồ châu báu của Tiên vương dâng cho nhà Hán để nịnh bợ, đem theo nhiều người đến Trường An rồi bắt bán cho người ta làm đầy tớ, chỉ nghĩ mối lợi một thời, không đoái gì đến xã tắc họ Triệu và lo kế muôn đời". Ông bèn cùng với em đem quân đánh, giết Triệu Ai Vương và Cù thái hậu, cùng tất cả sứ giả nhà Hán, rồi sai người đi báo cho Tần Vương ở Thương Ngô và các quận ấp, lập con trưởng của Minh Vương là Thuật Dương hầu Kiến Đức làm vua, tức là Triệu Thuật Dương Vương. Phá Hàn Thiên Thu Tháng 11 năm 112 TCN, Tể tướng Lữ Gia đã lập Thuật Dương Vương lên ngôi, quân của Hàn Thiên Thu tiến vào Nam Việt, đánh phá một vài ấp nhỏ. Lữ Gia bèn mở một đường thẳng để cấp lương cho quân. Khi quân nhà Hán đến còn cách Phiên Ngung 40 dặm, thì ông xuất quân đánh, giết được bọn Thiên Thu. Sau đó ông sai người đem sứ tiết của nhà Hán cho vào trong hòm để trên núi Tái Thượng (tức là đèo Đại Dũ) dùng lời khéo để tạ tội, một mặt phát binh giữ chỗ hiểm yếu. Ông chất đá giữa sông gọi là Thạch Môn. Thế yếu bại binh Vua Hán nghe tin Thiên Thu bị giết, sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức xuất phát từ Quế Dương, Lâu thuyền tướng quân Dương Bộc xuất phát từ Dự Chương, Qua Thuyền tướng quân Nghiêm [2] xuất phát từ Linh Lăng, Hạ lại tướng quân Giáp [3] đem quân xuống Thương Ngô, Trì Nghĩa hầu Quý [4] đem quân Dạ Lang xuống sông Tường Kha, đều hội cả ở Phiên Ngung. Mùa đông năm 111 TCN, tướng Hán là Dương Bộc đem 9000 tinh binh hãm Tầm Hiệp, phá Thạch Môn lấy được thuyền thóc của quân Triệu, kéo luôn cả các thuyền ấy đi, đem mấy vạn người đợi Lộ Bác Đức. Bác Đức cùng Bộc hội quân tiến đến Phiên Ngung. Triệu Thuật Dương Vương và Lữ Gia cùng giữ thành. Dương Bộc tự chọn chỗ thuận tiện đóng ở mặt đông nam; Lộ Bác Đức đóng ở mặt tây bắc. Vừa chập tối, Dương Bộc đánh bại quân Triệu, phóng lửa đốt thành. Bác Đức không biết quân trong thành nhiều hay ít bèn đóng doanh, sai sứ chiêu dụ. Ai ra hàng đều được Đức cho ấn thao và tha cho về để chiêu dụ nhau. Dương Bộc cố sức đánh, đuổi quân Triệu chạy ngược vào dinh quân của Lộ Bác Đức. Đến tờ mờ sáng thì quân trong thành đầu hàng. Triệu Vương và Gia cùng với vài trăm người, đang đêm chạy ra biển. Bác Đức lại hỏi những người đầu hàng biết chỗ ở của Lữ Gia, bèn sai người đuổi theo. Hiệu úy tư mã là Tô Hoằng bắt được Kiến Đức, quan lang Việt là Đô Kê (có bản chép là Tôn Đô) bắt được Lữ Gia. Các xứ ở Nam Việt đều xin hàng. Lữ Gia và Triệu Vương sau đó đều bị quân Hán giết. Theo truyền thuyết, khi ông bị bắt và chém đầu, một con chó đã cắp đầu của ông và bơi qua sông và chôn dấu. Hiện nay, đền thờ Lữ Gia vẫn còn tại một làng ở xã Quang Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Theo một số truyền thuyết khác thì sau khi bị quân Hán chém đầu nhưng chưa đứt hẳn, ông phóng ngựa chạy về vùng đất Vụ Bản, Nam Định. khi chạy đến thị trấn Gôi bây giờ thì gặp 1 bà hàng nước. Lữ Gia hỏi là người bị chém mất đầu có sống được không, bà hàng nước cười nói người mất đầu thì làm sao sống được, tức thì đầu của Lữ Gia lìa khỏi thân. dân vùng Vụ Bản chôn và lập đền thờ ở nhiều nơi trông huyện. Tương truyền đầu, thân và chân của ông được thờ ở ba làng khác nhau. Ngày xưa có hội rước tại các đình, miếu thờ ông trong khắp huyện, to gần bằng hội Phủ Dày. Truyện này được ghi trong " Thiên Bản lục kỳ " là một trong 6 truyện kỳ lạ của vùng đất Thiên Bản xưa(nay là Vụ Bản) Nhận định Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư, Ngô Sĩ Liên nhận định về việc ông giết Ai Vương và Cù thái hậu như sau: "Tai họa của Ai Vương, tuy bởi ở Lữ Gia mà sự thực thì gây mầm từ Cù Hậu. Kể ra sắc đẹp đàn bà có thể làm nghiêng đổ nước nhà người ta thì có nhiều manh mối, mà cái triệu của nó thì không thể biết trước được. Cho nên các tiên vương tất phải đặt ra lễ đại hôn, tất phải cẩn thận quan hệ vợ chồng, tất phải phân biệt hiềm nghi, hiểu những điều nhỏ nhặt, tất phải chính vị trong ngoài, tất phải ngăn ngừa việc ra vào, tất phải dạy đạo tam tòng, thì sau đó mối họa mới không do đâu mà đến được. Ai Vương ít tuổi không thể ngăn giữ được mẹ, Lữ Gia coi việc nước, việc trong việc ngoài lại không dự biết hay sao? Khách của nước lớn đến, thì việc đón tiếp có lễ nghi, chỗ ở có thứ tự, cung ứng có số, thừa tiếp có người, sao đến nỗi để thông dâm với mẫu hậu? Mẫu hậu ở thẳm trong cung, không dự việc ngoài: khi nào có việc ra ngoài, thì có xe da cá, có màn đuôi trĩ, cung tần theo hầu, sao để đến nỗi thông dâm với sứ khách được? Bọn Gia toan dập tắt lửa cháy đồng khi đang cháy rực, sao bằng ngăn ngay cái cơ họa loạn từ khi chưa có triệu chứng gì có hơn không? Cho nên nói: Làm vua mà không biết nghĩa Xuân Thu tất phải chịu cái tiếng cầm đầu tội ác; làm tôi không biết nghĩa Xuân Thu tất mắc phải tội cướp ngôi giết vua, tức như là Minh Vương, Ai Vương và Lữ Gia vậy." Đối với việc nước Nam Việt mất, các sử gia có ý kiến như sau: Theo Lê Văn Hưu: "Lữ Gia can ngăn Ai Vương và Cù thái hậu không nên xin làm chư hầu nhà Hán, đừng triệt bỏ cửa quan ở biên giới, có thể gọi là biết trọng nước Việt vậy. Song can mà không nghe, thì nghĩa đáng đem hết bầy tôi đến triều đình, trước mặt vua trình bày lợi hại về việc nước Hán, nước Việt đều xưng đế cả, có lẽ Ai Vương và thái hậu cũng nghe ra mà tỉnh ngộ. Nếu lại vẫn không nghe theo, thì nên tự trách mình mà lánh ngôi [tể tướng], nếu không thế thì dùng việc cũ họ Y, họ Hoắc [5], chọn một người khác trong hàng con của Minh Vương để thay ngôi, cho Ai Vương được như Thái Giáp và Xương Ấp[6] mà giữ toàn tính mệnh, như thế thì không lỗi đường tiến thoái. Nay lại giết vua để hả lòng oán, lại không biết cố chết để giữ lấy nước, khiến cho nước Việt bị chia cắt, phải làm tôi nhà Hán, tội của Lữ Gia đáng chết không dung." Theo Ngô Sĩ Liên: "Ngũ Lĩnh đối với nước Việt ta là ải hiểm cửa ngõ của nước cũng như Hổ Lao của nước Trịnh, Hạ Dương của nước Quắc. Làm vua nước Việt tất phải đặt quân chỗ hiểm để giữ nước, không thể để cho mất được. Họ Triệu một khi đã không giữ được đất hiểm ấy thì nước mất dòng tuyệt, bờ cõi bị chia cắt. Nước Việt ta lại bị phân chia, thành ra cái thế Nam-Bắc vậy. Sau này các bậc đế vương nổi dậy, chỗ đất hiểm đã mất rồi, khôi phục lại tất nhiên là khó. Cho nên Trưng Nữ Vương (Trưng Trắc) tuy đánh lấy được đất Lĩnh Nam, nhưng không giữ được nơi hiểm yếu ở Ngũ Lĩnh, rốt cuộc đến bại vong. Sĩ Vương [7] tuy khôi phục toàn thịnh, nhưng bấy giờ còn là chư hầu, chưa chính vị hiệu, sau khi chết lại mất hết; mà các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần chỉ có đất từ Giao Châu trở về Nam thôi, không khôi phục được đất cũ của Triệu Vũ Đế, cái thế khiến nên như vậy." Đền thờ, lăng mộ, lễ hội Tương truyền Lữ Gia sinh ra ở huyện Lôi Dương quận Cửu Chân (nay là huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hoá) có cha là hào trưởng Lữ Tạo người lương thiện, phúc hậu làm nghề lang y; mẹ là người tài sắc, công dung tên là Trương Vĩ, con gái hào trưởng Vũ Ninh (vùng Bắc Ninh ngày nay). Tại quận Cửu Chân có tên họ Hàn hung nghịch, tàn bạo vốn là hào trưởng thấy Gia chí khí hơn người nên muốn thu nạp làm tay chân. Gia không chịu khuất phục nên gã thâm thù, cho tay chân đến cướp phá, hành hung gia quyến. Biết không thể sống được nên cả gia quyến đã bỏ quê tìm kế an thân. Khi đến Nam Trì (xã Đặng Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên) thấy khu đất nơi ngã ba sông đất đai tươi tốt, dân cư thuần hậu nên đã lưu tạm ở đây hành nghề lang y. Ở Nam Trì, Gia kết nghĩa anh em với Nguyễn Danh Lang (Lang Công). Nguyễn Danh Lang làm tướng 3 triều nhà Triệu nước Nam Việt. Khi Nguyễn Danh Lang mất, Lữ Gia truyền cho dân làng lập đền thờ. Khi Lữ Gia bị quan Tây Hán chém đầu có truyền cho quân sĩ quê Nam Trì đưa xác về Nam Trì an táng và thờ cùng Lang Công. Đền thờ lúc sơ khởi nằm trên đất làng Nam Trì hiện nay nhưng không rõ địa điểm cụ thể. Thời Đường, Cao Biền sang Giao Châu đánh giặc Nam Chiếu, kết nghĩa anh em với 2 vị thần Lang Công (Nguyễn Danh Lang), Bảo Công (Lữ Gia), cưới 2 bà phu nhân Lự nương, Lữ nương quê đây và dựng lại đền thờ Lang Công, Bảo Công. Khi Cao Biền hóa, dân làng thờ cùng 2 vị trước. Phía tây đền là phủ thờ Lâu Lương công chúa (phu nhân của Lữ Gia) và 2 bà phu nhân Cao Vương. Thời Hậu Lê, Thánh địa lý Tả Ao chọn đất, chuyển làng, dựng lại chùa, đền nên sau khi Tả Ao hóa dân làng thờ cùng với 3 vị trước. Lăng mộ Tể tướng Lữ Gia, Tướng Nguyễn Danh Lang hiện ở làng xã Đặng Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên. Lễ hội Nam trì hay lễ hội Bảo, Lang, Biền là lễ hội chung của ba làng Nam Trì, Đới Khê và Bảo Tàng. Lễ hội tổ chức vào tháng 9/3 âm lịch hàng năm. Lễ gồm Tế Thần và rước Thần. Tế Thần là các buổi cúng lễ ca ngợi công đức, dâng hiến lễ vật lên các vị Thần. Rước Thần là rước các vị Thần về Đình Ba Xã. Đình Ba Xã xưa kia là Nhà hội đồng của 2 vị Bảo, Lang và Hành cung của Cao Vương lúc sinh thời (nay là mộ 2 vị Thần Lang Công, Bảo Công) ở cuối làng để 3 anh em vị Thần thờ ở 2 thôn (Bảo Tàng, Đới Khê) tụ hội. Hội là ca hát 10 ngày, đánh cờ, đấu vật. Ngoài ra, còn có rất nhiều nơi thờ Lã Gia như ở Hà Tây, Hà Nội, Nam Định nhất là huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc. Tên đường phố, địa danh Tên của ông được đặt cho hai đường phố nhỏ tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Phố Lữ Gia ở Hà Nội là một phố nhỏ, dài 180m, bắt đầu từ phố Trần Xuân Soạn đến phố Hoà Mã, thuộc quận Hai Bà Trưng. Thời Pháp thuộc phố có tên là phố Luyrô (Rue Luro). Sau 1945 đổi thành Lữ Gia, đến 1979 đổi thành Lê Ngọc Hân. Tên của ông còn được đặt cho tên một số chung cư, cao ốc, doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh. Điện Kính Thiên - Trung tâm kinh thành Thăng Long Toàn cảnh điện Kính Thiên xưa. (Ảnh do bác sĩ Charles Edouard Hocquard chụp giai đoạn 1884 -1885) Điện Kính Thiên được xây dựng từ thế kỷ 15 là một cung điện quan trọng, nơi cử hành các nghi lễ long trọng nhất của triều đình, nơi đón tiếp sứ giả nước ngoài và là nơi vua thiết triều, bàn những việc quốc gia đại sự. Theo dòng lịch sử Theo “Đại Việt Sử ký toàn thư,” điện Kính Thiên được xây dựng năm 1428 đời vua Lê Thái Tổ và hoàn thiện vào đời vua Lê Thánh Tông. Điện Kính Thiên được xây dựng trên núi Nùng, ngay trên nền cũ của cung Càn Nguyên-Thiên An thời Lý, Trần. Lấy Càn Nguyên đặt tên cho điện coi chầu, Lý Thái Tổ đã chọn đúng trung tâm của trời đất đặt ngai vàng để trị nước. Sau các vua nhà Lý, các vua nhà Trần, nhà Lê đã cho xây dựng hệ thống thành lũy tại đây. Khu vực quan trọng là Cấm Thành (hay còn gọi là Long Thành hoặc Long Phượng Thành) trong thành Thăng Long thời Lý-Trần-Lê. Trung tâm là điện Càn Nguyên, Thiên An thời Lý- Trần, điện Kính Thiên thời Lê. Từ năm 1788, khi vua Quang Trung đóng đô ở Phú Xuân-Huế và sau đó nhà Nguyễn (1802-1945) cũng định đô tại đây thì thành Thăng Long trở thành trụ sở của Trấn Bắc Thành. Năm 1805, vua Gia Long cho xây dựng khu vực này làm hành cung để vua sử dụng mỗi khi các vua nhà Nguyễn “Bắc tuần.” Tên “Thành cổ Hà Nội” xuất hiện từ năm 1831, khi vua Minh Mạng thực hiện cuộc cải cách hành chính lớn, thành lập các tỉnh trên cả nước, trong đó có tỉnh Hà Nội. Thành Hà Nội chính là trụ sở của tỉnh Hà Nội. Thời Pháp thuộc, vào cuối thế kỷ 19, thực dân Pháp phá bỏ hành cung Kính Thiên và xây dựng trụ sở chỉ huy pháo binh tại đây. Ngôi nhà này được gọi là nhà Con Rồng (hay còn gọi là Long Trì), do phía trước và sau đều có rồng đá chầu. Sau ngày 10/10/1954, khi quân ta vào tiếp quản Thủ đô, khu vực này trở thành nơi làm việc của Bộ Quốc phòng. Năm 2004, Bộ Quốc phòng bàn giao lại một phần diện tích khu vực trung tâm (trục chính tâm) Thành cổ Thăng Long-Hà Nội cho Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội quản lý. Kiến trúc Điện Kính Thiên là di tích trung tâm, là hạt nhân chính trong tổng thể các địa danh lịch sử của Thành cổ Hà Nội. Trước điện Kính Thiên là Đoan Môn rồi tới Cột cờ Hà Nội, phía sau có Hậu Lâu, Cửa Bắc. Hai phía Đông và Tây có tường bao và mở cửa nhỏ. Các cửa này đã được nhà nước bảo hộ Pháp liệt hạng từ năm 1925 cùng với một số di tích khác ở thành cổ. Điện Kính Thiên là công trình trung tâm của hoàng cung thời nhà Lê (thế kỉ 15-18) ở Thăng Long-Đông Kinh (Hà Nội). Năm 1428, sau chiến thắng quân Minh, Lê Thái Tổ tiếp tục đóng đô tại Thăng Long, cho xây dựng sửa sang lại Hoàng thành bị hư hại. Điện Kính Thiên được xây dựng trong thời kì này. Đến năm 1886, điện bị phá hủy, hiện chỉ còn di tích thềm bậc và nền điện (trong khu Thành cổ Hà Nội ngày nay). Năm 1886, quân Pháp đã xây dựng một toà nhà hai tầng ngay trên chính nền điện Kính Thiên để làm Bộ Chỉ huy pháo binh. Quan sát kiến trúc điện Kính Thiên qua các bức ảnh do người Pháp chụp cuối thế kỷ 19, chúng ta có thể thấy Điện Kính Thiên là một kiến trúc gỗ gồm hai nếp hình chữ Nhị (二). Nhà làm kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái với các góc đao cong. Bờ nóc của cả hai nếp nhà đều đắp nổi đôi rồng chầu mặt trời. Quanh điện có sân rộng được xây lan can bao cả bốn phía. Dấu tích điện Kính Thiên hiện nay chỉ còn là khu nền cũ. Nền điện dài 57m, rộng 41,5m, cao 2,3m và thềm bậc xây bằng đá xanh tạo thành ba lối vào. Phía Nam nền điện còn có hàng lan can cao hơn 1m. Mặt trước, hướng chính Nam của điện Kính Thiên là thềm điện xây bằng những phiến đá hộp lớn gồm 10 bậc có bốn rồng đá chia thành ba lối lên đều nhau tạo thành Thềm Rồng. Thềm bậc có kích thước: ngang 13,7m, dọc 4,45m, cao 2,1m với đôi rồng đá khắc chạm năm 1467 là những bộ phận điêu khắc bằng đá còn tương đối nguyên vẹn. Rồng đá điện Kính Thiên là một di sản kiến trúc nghệ thuật tuyệt tác, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc thời Lê sơ. Được chạm trổ bằng đá xanh, rồng đá có đầu nhô cao, đầu to, mắt tròn lồi, sừng dài có nhánh, bờm lượn ra sau. Thân rồng uốn lượn mềm mại thành nhiều vòng cung, nhỏ dần về phía nền điện, trên lưng có đường vây dài nhấp nhô như vân mây, tia lửa. Phía Bắc của nền Điện Kính Thiên còn có một thềm 7 bậc lên xuống, nhỏ hơn so với bậc thềm chính ở phía Nam. Hai bên bậc thềm có hai rồng đá niên đại Lê Trung Hưng (thế kỷ 17-18), rồng dài 3,4m, uốn 7 khúc, thân có vẩy ở lưng như hàng vây cá, chân rồng 5 móng… Hai bên lan can trang trí hoa sen, sóng nước, đao, lửa, vân mây… Nền và thềm bậc điện là di tích ít ỏi trong kiến trúc hoàng cung thời Lê còn sót lại đến ngày nay, phần nào phản ánh được quy mô hoành tráng của điện Kính Thiên xưa. Ngày nay, không gian nơi này đã trở thành một di tích “kép” cho cả hai thời đại: Điện Kính Thiên của Hoàng thành Thăng Long xưa và Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam - di tích lịch sử quan trọng của lịch sử hiện đại Việt Nam. Tháng 10/2004, khi chính thức mở cửa đón du khách, khu vực Thành cổ-Điện Kính Thiên đã trở thành một trong những điểm tham quan cực kỳ hấp dẫn khách du lịch./. Hoàng thành có thể hiểu là toàn bộ kinh thành. Long thành tức vòng thành ngoài. Phượng thành tức vòng thành nội hay Tử cấm thành. Trọng tâm là nơi vua ngự bàn chính sự gọi là Kim Loan điện. Phượng thành là tên gọi thời Lý Nam Đế, tới thời Lý gọi là Thăng Long thành, như vậy thời Lý đã kết hợp tên gọi cũ tạo nên sự hòa hợp thành cũ mới của tiền nhân nên gọi là Long Phượng Thành. Tuy nhiên, Long Biên theo tôi vẫn là vùng tiếp giáo sông Hồng và phía bên kia sông là Loa thành hay Tư Long tức Bạch Thành hay Bạch Long thành.
-
Tôi nghĩ: - Bạch = Trắng chỉ phương Tây - Tỉnh là nước, chỉ phương Bắc. Bạch Tỉnh Cung là công chúa nước ở phía Tây Bắc, chính là nước Tần, khớp với truyền thuyết về thánh Chèm. Tên khác của Tần là Chân Định, cũng với nghĩa Tây Bắc tương tự (Định = Tây, Chân chỉ đầu cuối, phương Bắc). Hoangnt sẽ xác nhận lại qua việc kiểm tra thông tin lịch sử. Tuy nhiên việc thông hiếu giữa Tần và Âu Lạc là chuyện lớn, điều này phải có trong các cuốn sử khác, nếu không chỉ có sự giải thích hợp lý các sự kiện liên quan. Tây Bắc cũng về vùng Quảng Tây, có một phần giáp Việt Nam, nên cuộc chiến giữa An Dương Vương và Hùng Vương 18 xảy ra vài lần - lý giải sự hồi phục năng lực quân đội và khả năng tấn công thuận lợi của Quảng Tây. Chân Định là quê của Triệu Đà, Sử Ký Tư Mã Thiên có nói. Kính.
-
Gian trong cùng của ngôi đình có hai bức tượng: tượng Thượng Đẳng Thiên Vương cao 2 trượng và bức tượng công chúa nước Tần - Hoàng phi Bạch Tỉnh Cung cao trượng 8 có dư. Hiện ở Đình Chèm vẫn còn lưu giữ chiếc lư hương ngàn năm tuổi rất quý hiếm... Bạch tức Trắng hay phương Tây. Tỉnh là quẻ Tỉnh trong Kinh Dịch - giếng nước hay Thủy = Lạc. Nên dịch: Bạch Tỉnh Cung là Cung của công chúa nước Âu Lạc hoặc công chúa Thủy Tinh. Hợp phố: sông Hiệp phố, nơi sản xuất ngọc trai. Hoàn: trở lại. Châu: ngọc trai. Hiệp phố hoàn châu là ngọc trai trở lại sông Hiệp phố. Thời Hậu Hán có quan Thái thú cai trị nước ta rất bạo tàn, bắt dân đi mò ngọc trai ở Hợp phố cho hắn. Vì thế, ngọc trai bỏ Hợp phố đi qua nơi khác. Mãi sau có quan Thái thú khác nhơn đức thanh liêm, ngọc châu lại quay trở về Hợp phố. Thành ngữ: Hợp phố châu hoàn, có ý nói: Cái gì quí giá đã mất nay lại trở về với chủ cũ. Châu về Hợp Phố là nghĩa đen, tuy nhiên nghĩ bóng của nó chính là câu chuyện Mỵ Châu Trọng Thủy tức Mỵ Châu về làm dâu họ Triệu vùng Hợp Phố (Quảng Đông). Trong câu chuyện truyền thuyết trên, nước mắt Mỵ Châu biến thành ngọc trai biển Đông. Nếu dùng thành ngữ này hoàn toàn lý giải hợp lý sự phân tích trên. Sau cùng nước ta thuộc về nhà Hán, vị tướng quan trọng của nhà Triệu sau cùng là Lữ Gia, vậy ông là ai sao lại có mặt ở Việt Nam mà làm tướng nhà Triệu đóng đô ở thành Phiên Ngung, Quảng Đông ta phải lý giải được điều này vì nghi ngờ đô thành nhà Triệu thời kỳ này chuyển về Âu Lạc?
-
[ Khám phá dòng họ Lý từ khởi nguồn đến Lý Công Uẩn (1) Đã bước sang năm 2010 - năm của 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Đầu năm mới, TS Nguyễn Việt, Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á đã đưa ra loạt bài viết thể hiện một góc nhìn rất riêng về nhà Lý - triều đại khởi dựng Thăng Long. TT&VH xin trân trọng giới thiệu bài viết dưới đây của ông. TS Nguyễn Việt Từ gương đồng họ Lý ở Giao Châu Đây được coi như một trong số ít dòng họ xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Việt Nam. Bằng chứng khảo cổ đã phát hiện được từ thế kỷ 2 sau CN, họ Lý đúc gương đồng (Lý thị tác kính). Thảo luận về những gương Lý thị tác kính, có người phản biện rằng biết đâu những gương đó được đúc ở Trung Nguyên rồi đem lưu hành ở Việt Nam, chứ chưa chắc họ Lý đã thực sự có mặt ở Việt Nam từ thời đó. Năm 2006 tôi có dịp đi Nhật thảo luận về vấn đề gương đồng với những chuyên gia hàng đầu thế giới tại Nhật Bản và mọi người đi đến nhất trí dự đoán khả năng có một trung tâm đúc gương riêng ở Giao Châu. Gương Lĩnh Nam đào được khá nhiều ở Giao Châu. So với những sưu tập gương ở Lạc Dương, Hồ Nam, Triết Giang, Sơn Đông... đều không thấp kém hơn, đặc biệt ở giai đoạn gương đồng phát triển nhất, từ thế kỷ 1 trước CN đến thế kỷ 3 sau CN. Hơn nữa, Lý thị không chỉ đúc gương mà còn làm gốm, đúc các đồ đồng thông dụng khác. Trên một đồ đựng bằng đồng khai quật tại Quảng Đông còn nguyên dòng minh văn, tạm dịch: Vào trung tuần tháng bảy năm thứ năm đời Nguyên Sơ (năm 143 sau Công nguyên) Lý Văn Sơn người Tây Vu điều hành việc đúc đồng. Huyện Tây Vu lúc đó là một huyện nhỏ do Mã Viện tách ra từ huyện Tây Vu cũ thành ba huyện: Tây Vu, Phong Châu và Vọng Hải. Huyện Tây Vu đời Nguyên Sơ bao gồm cả vùng đất Bắc Ninh, Bắc Giang trọng tâm là các vùng Quế Võ, Phả Lại, Thiên Thai... Trên một chiếc vò sành đời Hán được Clemant Huet sưu tầm tại Thanh Hóa trước Thế chiến I, hiện trưng bày tại gian Việt Nam của Bảo tàng Hoàng gia Bỉ về nghệ thuật và lịch sử (Brussel) có khắc dòng chữ: "Kiến hòa tam niên nhuận nguyệt trấp nhật Lý thị tác". Tạm dịch: Họ Lý sản xuất ngày hai mươi tháng nhuận năm thứ ba đời Kiến Hòa (năm 149 sau Công nguyên). Trong quá trình Hán hóa, một bộ phận các tộc danh Lý ở Lĩnh Nam đã dần biến thành họ Hoa, một bộ phận ở Giao Châu trở thành họ Việt. Chúng ta sẽ không sa đà quá sâu về vấn đề gương đồng ở đây. Hiện tượng gương họ Lý xuất hiện ở Việt Nam không thể tách rời sự hiện diện của dòng họ đó. Các gương minh văn ghi họ đều không phải là hàng thương mại. Chúng gắn với từng dòng họ cụ thể, dùng để vinh tôn chủ nhân dòng họ hoặc làm quà tặng những nhân vật quyền quý trong xã hội. Kết hợp với các nguồn tài liệu khác, chúng ta có thể xác nhận sự hiện diện của một dòng họ Lý có tiềm lực về kinh tế, chính trị trong thời kỳ đầu lịch sử Bắc thuộc ở Việt Nam. Họ Lý Việt Nam và họ Lý Trung Quốc Nhân vật lịch sử họ Lý người Giao Châu làm quan đời Hán được ghi nhận sớm nhất là Lý Tiến, tự là Đăng Cao (năm 137sau CN). Niên đại này rất phù hợp với những gương đồng Lý thị tác kính và những hiện vật khảo cổ học có minh văn "Lý thị" đã phát hiện ở Việt Nam. Trước đó, truyền thuyết dân gian ghi nhận nhân vật họ Lý người Việt làm tướng đời nhà Tần là Lý Ông Trọng, đền thờ rất linh thiêng ở Chèm, huyện Từ Liêm, phía bắc Hà Nội. Theo thần tích Đền Chèm, Lý Ông Trọng tên thật là Lý Thân (Thận), người làng Chèm, sống ở thời Hùng Duệ Vương (Hùng Vương thứ 18) và thời An Dương Vương. Ông có sức vóc to lớn, giỏi võ nghệ, giúp nhà Tần đánh đuổi giặc Hung Nô. Sau khi Lý Ông Trọng về quê, quân Tần làm tượng đồng giả hình nhân khổng lồ của ông để dọa đánh quân Hung Nô. Gương đồng thời Lý Tiến, Lý Cầm (cuối TK 2 sau CN) phát hiện ở vùng Kinh Môn (Hải Dương). Chữ Lý bắt đầu sau hai chấm nổi ở góc Tây Nam gương Một ông thành hoàng họ Lý khác hiện được thờ ở đền Bạch Mã (phố hàng Buồm, Hà Nội) là Lý Tiến đã giúp vua Hùng đánh giặc Ân cùng thời Thánh Gióng. Thống kê những nhân vật lịch sử có liên quan trong thời Bắc thuộc, ta nhận thấy hàng chục thứ sử, thái thú hay hào trưởng, quan lại mang danh họ Lý. Người họ Lý là Lý Thiện, người Nam Dương (Hồ Nam) làm quan sớm nhất với chức Thái thú Nhật Nam và Cửu Chân đời Hán Hiển Tông. Tuy nhiên, trong số các nhân vật họ Lý được lưu danh không phải ai cũng có nguồn gốc Giao Chỉ. Khi phân tích về Sĩ Nhiếp và Lý Bí, các sử gia đều nhắc đến nguồn gốc bao nhiêu đời đến và sống ở Giao Chỉ. Điều đó có nghĩa rằng số dân từ vùng khác đến ngụ cư ở đồng bằng sông Hồng hồi đầu Công nguyên rất lớn. Tổ Lý Bí cũng từ phía Bắc sang đất Việt sớm hơn, từ thời Tây Hán, qua 7 đời thành người Việt. Đến thời Lý Bí tính ra cũng trải hơn 20 đời. Dòng họ Lý, theo thống kê gần đây nhất, đứng đầu Bách Tính của Trung Quốc về số lượng người. Tình hình có lẽ cũng tương tự ở Việt Nam nếu tính một số lượng lớn dòng họ Nguyễn chuyển sang từ họ Lý trong đời nhà Trần. Có hai lý do giải thích hiện tượng này và đều liên quan đến các họ Lý thời Bắc thuộc. Thứ nhất, trong khối Bách Việt vùng Lĩnh Nam có một khối lượng lớn các tộc Lý - Lão (Lee, Liao). Dưới tác động của Trung Nguyên thời nhà Chu (Xuân Thu - Chiến Quốc), nhiều nhóm tộc đã tham gia chính sự Trung Nguyên hoặc tự hình thành các mô hình tổ chức xã hội kiểu Chiefdom (thủ lĩnh). Theo cách đặt tên, họ truyền thống, thì địa danh, tộc danh sẽ được dùng cho tính danh, quốc danh. Vì vậy, tùy mức độ phát triển mà những cư dân của các chiefdom, tiểu quốc Lý, Lão vùng Lĩnh Nam chuyển mang họ Lý. Sau này, chúng ta sẽ lấy làm dễ hiểu tại sao trong chiến cuộc chống quân Lương, Lý Bí, Lý Thiên Bảo, Lý Phật Tử lại thường hay rút về các động Lão, Ai Lao... Khối họ Lý lớn nhất xuất hiện vào khoảng Chiến Quốc - Tần Hán, mang đậm màu sắc bản địa Lĩnh Nam gắn bó chặt chẽ với văn hóa Yue (Việt) . Trong quá trình Hán hóa, một bộ phận các tộc danh Lý ở Lĩnh Nam đã dần biến thành họ Hoa, một bộ phận ở Giao Châu trở thành họ Việt. Rất có thể họ Lê ở Việt Nam cũng bắt nguồn sâu sắc từ một nhánh Lý Lão nào đó giống như họ Lý. Thứ hai, họ Lý trong quá trình phát triển ở Trung Nguyên đã mở ra một triều đại rực rỡ vào loại nhất trong lịch sử Trung Hoa, đó là nhà Đường với vị hoàng đế đầu tiên là Lý Thế Dân. Hào quang của nhà Đường đã lôi cuốn tiếp các tộc người nhỏ ở Giang Nam, Tây Tạng, Sơn Đông, Mãn Châu còn trong tình trạng cộng đồng nguyên thủy nhận họ Lý. Đó là lớp họ Lý thứ hai mang đậm màu sắc ảnh hưởng của họ Lý Hoa Hạ thời Đường. Tạo lập vương triều Chúng ta cần nhấn mạnh vai trò họ Lý thời Bắc thuộc, bởi trong thời kỳ này có nhiều danh nhân họ Lý là sợi dây gìn giữ và phát triển bản chất cát cứ, độc lập của Giao Chỉ và cuối cùng đã góp phần tạo lập vương Triều Lý, nền tảng Đại Việt vững vàng với kinh đô ngàn năm Thăng Long. Thống kê danh sách hàng ngũ quan lại hàng đầu đã cai trị Giao Châu trong thời bắc thuộc (Thứ sử, Thái thú, Đô úy, Tiết độ sứ...) có thể nhận thấy trung bình mỗi thế kỷ xuất hiện vài ba người họ Lý, trong đó có những thứ sử họ Lý đã từng chủ chương cát cứ độc lập. Tiêu biểu nhất là cuộc nổi dậy của Lý Bí lập nước Vạn Xuân giữa thế kỷ 6. Điều đó chứng tỏ họ Lý ở Giao Châu chẳng những tiếp tục tồn tại và phát triển, hình thành một nhóm tộc hùng mạnh ở vùng đất Tây Vu, Phong Khê, Long Biên cũ mà còn mở rộng ra nhiều địa bàn của Giao Châu. Trong thời loạn 12 sứ quân, đó là lực lượng nòng cốt của sứ quân Lý Khuê (Lãng Công). Sứ quân này trấn trị vùng Siêu Loại, tức vùng văn hóa lịch sử sông Dâu, sông Đuống, Luy Lâu thời Hán. Thế hệ tiên tổ của Lý Công Uẩn tương truyền từ đất Mân trở về hẳn đã bắt rễ với nhóm tộc Lý này. Sau ngày lập quốc, chính đây trở thành vùng "đất tổ" của dòng vương thất Lý. Sau khi nhà Trần diệt nhà Lý đã chủ trương làm tuyệt dòng họ Lý bằng cách đổi toàn bộ họ Lý ra họ Nguyễn. Chữ Lý trở thành một chữ cấm kỵ trong mấy trăm năm đời Trần. Vì vậy, họ Lý trở nên ít ỏi như ngày nay, thay vào đó là vô số họ Nguyễn. Vì thế không nên quên rằng Lý Công Uẩn đã có thể thực hiện được các ý tưởng chính trị của mình, trong đó có việc quyết định dời đô, là có nhờ vào lực lượng đông đảo các dòng tộc Lý ở Giao Châu đương thời. Tiến sĩ Nguyễn Việt - báo Thể Thao Văn Hóa VN Ai trao "sổ đỏ" cho Lý Công Uẩn ? Năm 1010, thành Đại La trở thành thành Thăng Long. Vậy thời điểm đó ai là người trao thành Đại La cho Lý Công Uẩn? Dựa theo những ghi chép từ lịch sử, phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng Thành Đại La được xây dựng từ năm 621 do Đại tổng quản Giao Châu của nhà Đường là Khâu Hòa thực hiện. Sau gần 400 năm, thành Đại La trở thành thành Thăng Long. Cần xem lại như đã phân tích trước đấy, nhiều lúc đọc phân tích chọn lựa của sử gia Việt phát chán ngấy. Cửa Bắc Hoàng Thành. “Chính khách” ít được nhắc tới Theo ghi chép của thần phả, thần tích và rất nhiều tài liệu khác thì Lưu Cơ là người trông coi toà thành Đại La cho đến tháng 7 năm 1010 (âm lịch) khi Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Thời điểm trao thành Đại La lại cho nhà Lý, Lưu Cơ đã gần 70 tuổi, đó cũng là lúc ông cáo quan về hưu. Ngược lại thời gian trước đó, sau khi thống lĩnh thiên hạ, dẹp yên 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng đã chọn Hoa Lư làm kinh đô chứ không phải là Đại La hay Cổ Loa. Thành Đại La được giao cho Đô hộ phủ Thái sư Lưu Cơ quản lý. Như vậy, Lưu Cơ là người đã cai quản và tu sửa thành Đại La cho đến lúc nhà Lý ra tiếp quản toà thành này trong quãng thời gian hơn 40 năm. Trước đó, thành Đại La là dinh thự hành chính của các triều đại phong kiến phương Bắc sang đô hộ nước ta. Toà thành này mang đậm kiến trúc và phong thuỷ lệ thuộc phong kiến phương Bắc. Trước khi “bàn giao” thành lại cho Lý Công Uẩn, Lưu Cơ đã có công cải tạo thành một toà thành của nước Đại Việt. Công lao gìn giữ, cải tạo của Thái sư Lưu Cơ được Tiến sĩ Nguyễn Việt- Giám đốc Trung tâm tiền sử Đông Nam Á lý giải: “Thành Đại La cũng như thành Luy Lâu do Sĩ Nhiếp đắp trước đó đều mang bản chất là thành hướng Bắc. Dựa vào ghi chép trong An Nam chí lược và Việt Sử lược (sách viết vào khoảng đời Trần) thì tòa thành Đại La do Trương Bá Nghi và Cao Biền đắp đều có bốn mặt hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Ghi chép của An Nam chí lược về tòa thành do Trương Bá Nghi đắp cho biết rõ mặt thành phía Bắc là mặt chính, mở ba cửa và trên đó đều có lầu che. Hai mặt Đông, Tây cũng có ba cửa không lầu che. Riêng mặt Nam là mặt thông với khu dân cư mở tới 5 cửa trên đặt trống, loa. Như vậy, cũng giống như Luy Lâu, mặt Nam thành tuy là mặt phụ nhưng lại dành cho các hoạt động dân cư, còn mặt chính mang tính nghi lễ ngoảnh về phía Bắc”. Khách tham quan trước lầu công chúa. Trước khi trao thành cho vua nhà Lý, toà thành này hoàn toàn đã ngoảnh về hướng Nam như một sự minh định sự độc lập tự chủ. Tiến sĩ Nguyễn Việt cho rằng: “Lưu Cơ là người đầu tiên biến tòa thành Đại La thuộc địa hướng Bắc trở thành một tòa thành hướng Nam độc lập tự chủ. Vì khi đó, Hoàng đế Đại Việt ở Hoa Lư, tức ở về phía Nam tòa thành Đại La. Vì vậy, chắc chắn mọi hướng nhìn của cổng thành và dinh thự đời các Tiết độ sứ cũ phải được sửa đổi. Ðó chính là điều lý giải hợp lý nhất cho sự có mặt phong phú di tích kiến trúc Hoa Lư tại các cuộc khai quật Hoàng thành Thăng Long gần đây”. Như vậy, nhắc đến nhân vật trao lại thành Đại La cho Lý Công Uẩn, còn phải nói đến công lao biến một toà thành phục vụ cho phong kiến phương Bắc thành một toà thành độc lập của nước Đại Việt. Lưu Cơ là ai? Đó là câu hỏi không ít người đặt ra khi mà Đại lễ 1.000 năm Thăng Long đã điểm. Nghìn năm qua, người ta nhớ dấu mốc Lý Công Uẩn dời đô chứ không nhớ nhiều đến người trao lại kinh đô. Lưu Cơ không chỉ đơn thuần là người trao lại “sổ đỏ” thành Đại La cho vương triều nhà Lý mà vị Thái sư này còn được biết đến là một trong những vị khai quốc công thần nhà Đinh. Ông có công giúp Đinh Tiên Hoàng đánh dẹp, chấm dứt loạn 12 sứ quân, dân gian thường nhắc đến ông là một trong tứ trụ triều Đinh gồm: Bặc (Nguyễn Bặc), Điền (Đinh Điền), Cơ (Lưu Cơ), Tú (Trịnh Tú). Theo sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Lưu Cơ người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (Ninh Bình). Từ thuở nhỏ, ông đã cùng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú kết bạn với Đinh Bộ Lĩnh, cùng nhau chơi trò đánh trận cờ lau. Đền thờ Thái sư Lưu Cơ ở Đại Đồng, Văn Lâm, Hưng Yên. Theo một số thần tích và ghi chép khác thì Lưu Cơ người quê ở Bồ Bát, Bạch Liên, Yên Mô, Ninh Bình, là đồng hương gần với Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Trịnh Tú. Lớn lên theo học Tri Hối tiên sinh ở Gia Viễn. Sau khi cha mẹ mất, ngoài 20 tuổi ông theo Đinh Bộ Lĩnh đánh giặc, trực tiếp dẹp sứ quân Lý Khuê ở Siêu Loại. Trong buổi thiết triều xưng danh quan tước đầu tiên của triều đình nhà Đinh, theo Việt sử lược, ông đứng tên đầu và được trao chức Thái sư Đô hộ phủ, cai quản toàn bộ Giao Châu, đóng đại bản doanh ở Phủ Đô hộ cũ, tức thành Đại La. Lưu Cơ là tướng đi theo Đinh Bộ Lĩnh hùng cứ ở Hoa Lư thời nhà Ngô. Cả Đinh Điền, Trịnh Tú và Nguyễn Bặc cũng tham gia vào lực lượng này. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, Nguyễn Bặc được phong làm Định quốc công, Đinh Điền được phong làm Ngoại giáp, Lưu Cơ được phong làm Đô hộ phủ sĩ sư. Theo Đại Việt Sử Lược thì chức vụ Đô hộ phủ sĩ sư của Lưu Cơ chính là Thái sư ở Đô hộ phủ Đại La. Theo ý kiến khác dựa vào thần phả các di tích thành Đại La thì Lưu Cơ là Thái sư Đô hộ phủ, cai quản toàn bộ Giao Châu, đóng đại bản doanh ở Phủ Đô hộ cũ, tức thành Đại La. Khi đó ông chừng 30 tuổi. Ông làm quan đến gần 70 tuổi thì cáo lão về hưu trí ở quê nhà, 3 năm sau thì mất, thọ 73 tuổi. Hiện đền thờ ông còn ở làng Đại Từ, xã Đại Đồng, Văn Lâm, Hưng Yên (đất Siêu Loại cũ). Tương truyền đó là nơi ông đóng quân dẹp loạn sứ quân Lý Khuê năm 967. Hôm nay, chúng tôi quay lại Đại Đồng, nơi năm xưa Lưu Cơ đã dẹp một trong 12 loạn sứ quân. Đó là một vùng quê yên bình, chỉ cách Hà Nội hơn 30km. 10 thế kỷ trôi qua, mọi thứ đã đổi khác, chỉ còn ngôi đền người dân lập nên để thờ ông. Ngôi đền nhỏ được người dân hương khói chu đáo hàng trăm năm nay là một di tích trong quần thể di tích thuộc xã Đại Đồng. Mảnh đất này là nơi còn lưu giữ được nguyên vẹn cấu trúc của làng quê Đồng bằng Bắc Bộ. Và đặc biệt, đó là nơi ghi lại dấu tích của Thái sư Lưu Cơ, người đã có công lao rất lớn đối với Hoàng thành Thăng Long. Lý Nam Đế là vị vua đầu tiên đóng đô ở nơi mà sau này Lý Thái Tổ dời đô đến, nơi trở thành Thăng Long. Năm 621, thành do Đại tổng quản Giao Châu của nhà Đường là Khâu Hòa đắp, gọi là Tử Thành, có chu vi 900 bộ. Kế đó, vào năm 767, Kinh lược sứ nhà Đường là Trương Bá Nghi đã cho đắp thêm cao hơn, gọi là La Thành. Năm 791, một quan cai trị khác là Triệu Xương đắp lại kiên cố hơn. Năm 808, Trương Chu đắp thêm một lần nữa… Đến năm 866, Cao Biền đến đây “giữ phủ xưng vương” và đắp thành hoành tráng như đã nói. Nhưng Thành Long Biên của Lý Nam Đế là tiền thân xưa nhất của thành Đại La. Ở thành này, Lý Nam Đế đã dựng cung Vạn Thọ làm nơi triều hội và xây chùa Khai Quốc tồn tại đến ngày nay (nay là chùa Trấn Quốc). Thành Nguyễn
-
Qua câu chuyện Mỵ Châu - Trọng Thủy chúng ta thấy có một số đặc điểm: - Có vẻ gì đấy tương tự Hùng Vương 18 truyền ngôi cho An Dương Vương: Con Trọng Thủy làm vua Nam Việt. - Tình hình lịch sử: nhân tài kiệt xuất ở Phong Châu vào thời An Dương Vương là chưa có để có thể lãnh đạo quốc gia. - Vận nước đang xuống ngay cả An Dương Vương không có con trai nối dõi sau Hùng Vương 18. - Sự chưa thống nhất nội bộ Lạc Việt qua việc phá thành Cổ Loa khi xây dựng qua hình ảnh con gà trắng ma quái. - Triệu Đà chỉ là một bộ tướng Nhâm Ngao mà đã có tài năng thu phục các châu khác, ta biết rằng một châu này cũng đã to gấp mấy lần Phong Châu rồi. Chiến tranh giữa hai bên có thể ngăn chặn bằng giao ước cưới xin giữa hai bên, đặc biệt Triệu Đà tôn trọng văn hóa Việt và được dân các vùng này tôn trọng. Mặt khác lúc này nước Tần đang có biến động lớn, điều này chỉ ra thời thế đang nghiêng về họ Triệu. - An Dương Vương và các cận thần chắc rõ về Dịch lý nên có thể hiểu rõ thời cuộc tức vận nước là như vậy. - Việc Mỵ Nương cùng Trọng Thủy sánh đôi và con cái họ có thể nối ngôi tức nắm toàn bộ Nam Việt hay Văn Lang cũ. - Sử Ký Tư Mã Thiên nói: cháu Triệu Đà lên ngôi chứ không phải con Triệu Đà và cũng không thấy nói về Lý Ông Trọng nào cả, tôi chưa kiểm tra các sách sử khác như thế nào. Tần Thủy Hoàng lấy Đức là Thủy: Thủy cũng có nghĩa phương Bắc. - Câu chuyện Lý Ông Trọng cho thấy: diễn tiễn rất phù hợp dự tính của An Dương Vương là ngăn chặn sự xâm lấn từ phương Bắc gần 100 năm; cháu mình lại làm vua duy trì đất nước, Lý Ông Trọng có tình cảnh "tự tử" giống như câu chuyện Mỵ Châu trọng Thủy, khả năng Tần Thủy Hoàng tạc tương đồng Lý Ông Trọng có vẻ bất khả thi... - Việc Lý Ông Trọng làm quan cho Tần là không thể vì lúc này Triệu Đà đang cát cứ vùng giữa Âu Lạc và Tần. Sau khi thống nhất quốc gia thì Tần Thủy Hoàng mới ngăn Hung Nô, điều này chỉ ra sự kiện trên sẽ phải xảy ra sau khi Tần tấn công Âu Lạc tức bất hợp lý. - Sự kiện rùa thần giúp An Dương Vương một lần nữa có thể chính là Tản Viên Sơn Thánh, người khuyên vua Hùng Vương 18 truyền ngôi cho An Dương Vương. Vậy việc dùng nước giếng rửa ngọc trai hàm ý dùng lịch sử họ Triệu để làm sáng tỏ lịch sử An Dương Vương là hợp lý nhất. Đình Chèm là đình của làng Chèm (Thủy Phương), xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Đây là một công trình kiến trúc có nghệ thuật chạm khắc độc đáo. Đình thờ Thượng đẳng Thiên vương Lý Ông Trọng (Lý Thân hay Đức Thánh Chèm), một nhân vật huyền thoại và Hoàng phi Bạch Tĩnh Cung sống vào thời An Dương Vương. Đình Chèm là một trong những ngôi đình được coi là cổ nhất nước Nam [1]. Từ ngàn năm nay, đình Chèm vẫn là nơi thờ cúng tín ngưỡng của người dân ba làng: làng Hoàng, làng Mạc và làng Chèm - Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội. Lý Thân (Đức Thánh Chèm) sinh vào thời Hùng Duệ Vương, mất vào thời Thục An Dương Vương. Thuở nhỏ ông là một cậu bé cực kỳ khôi ngô, có tầm vóc cao lớn lạ thường. Lớn lên, Lý Thân văn giỏi, võ tài, tính tình hiếu nghĩa, cương trực. Thời bấy giờ có giặc Ai Lao, Chiêm Thành và phía Bắc thường hay quấy nhiễu biên thùy. Nhà vua xuống chiếu cầu người tài đức ra dẹp giặc cứu nước. Phủ Quốc Oai bèn tiến cử Lý Thân. Ông lĩnh ý đi dẹp tan giặc, lập được nhiều công lớn. Cuối đời vua Duệ Vương, đất nước Văn Lang bị quân Tần xâm lược, ông hợp với Thục Phán cùng quân dân lạc Việt chống giặc hàng chục năm trời. Cuối cùng giặc phải quay đầu bỏ chạy, Thục Phán lên làm vua lấy hiệu là An Dương Vương. Lúc bấy giờ khi nhà Tần bị giặc Hung Nô quấy phá. Tần Thủy Hoàng đắp Vạn Lý Trường Thành mà không ngăn chống nổi bèn sai sứ sang cầu An Dương Vương cho tướng tài sang giúp. Triều đình nhà Thục bèn cử Lý Thân sang giúp nhà Tần để tạo mối bang giao giữa hai nước. Tần Thủy Hoàng thử tài thấy văn đạt “Hiếu Liêm” (tiến sĩ), võ đạt “Hiệu úy” (Tổng chỉ huy) bèn phong ông làm tư lệnh Hiệu úy và nhờ Ông đi dẹp giặc Hung Nô, cho xuất 10 vạn quân trấn ải Hàm Dương. Thắng trận trở về, vua Tần phong ông chức Phụ Tín Hầu và gã công chúa cho. Vua Tần cũng ngỏ ý muốn giữ ông ở lại nước Tần nhưng ông đã từ bỏ vinh hoa phú quý, đem theo vợ con trở về quê hương. Về nước, ông được vua Thục An Dương Vương phong tước Đại Vương. Sử Ký Tư Mã Thiên: Nam Việt Úy Đà liệt truyện. Để tưởng nhớ công đức của Đại Vương, dân làng lập đền thờ ông tại Đình Chèm. Tuy vậy, không rõ đình được xây dựng lần đầu khi nào. Theo lời kể của dân làng thì đình có niên đại cách đây hơn 2000 năm. Song hiện trong đình chỉ lưu giữ được nhiều hình chạm khắc gỗ phong cách thế kỷ 18, có hai pho tượng vợ chồng Lý Thân bằng gỗ sơn son thếp vàng tạc năm 1888. Hàng ngàn năm nay, Đình Chèm vẫn ngự sát bên bờ sông Hồng nặng phù sa. Những mái cong của ngôi đình được phủ lên một lớp rêu phong cổ kính. Đình Chèm được xây dựng theo lối kiến trúc nội công ngoại quốc, chắc chắn và công phu. Bên trong đình, các cột, mái được chạm trổ tinh vi; bên ngoài có tam quan, 4 cột đồng trụ cổ kính. Gian trong cùng của ngôi đình có hai bức tượng: tượng Thượng Đẳng Thiên Vương cao 2 trượng và bức tượng công chúa nước Tần - Hoàng phi Bạch Tỉnh Cung cao trượng 8 có dư. Hiện ở Đình Chèm vẫn còn lưu giữ chiếc lư hương ngàn năm tuổi rất quý hiếm... Làng Chèm nằm cạnh sông Hồng (cách cầu Chương Dương chừng 12 km), nên thương xuyên bị lũ lụt đe dọa. Vào năm 1902, đình được kiệu lên cao thêm 2,4 mét chỉ bằng các dụng cụ của nhà nông như: đinh bừa, quang gánh... Công việc diễn ra trong vòng một năm trời và kết quả cực kỳ mỹ mãn. Cả một ngôi đình nặng hàng trăm tấn toàn bằng gỗ quý với những cột kèo phức tạp được “kiệu” lên cao ngang với mặt đê sông Hồng. Cuộc kiệu đình này tốn hết 500 đồng tiền Đông Dương mà công xá ngày ấy chỉ có 7 xu một ngày . Hiệp thợ kiệu đình do ông Vương Văn Địch ở làng Văn Trì chủ trì. Hội Chèm diễn ra từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 5 âm lịch, trong đó ngày 15 là ngày hội chính. Các nghi thức quan trọng của lễ hội đều được tổ chức tại Đình Chèm. Nói là hội Chèm, song đây không phải là hội của duy nhất làng Chèm, mà kỳ thực là của một cụm làng ven sông Hồng, vì ngoài làng Chèm còn có các làng Liên Mạc, Hoàng Mạc cùng tham gia với tư cách là hai làng em. Đáng xem nhất là lễ rước nước sáng ngày 15, có ba con thuyền rồng của ba làng bơi ra giữa sông Hồng múc nước sông đổ vào chĩnh rồi biểu diễn quay thuyền ba vòng trước khi bơi vào bờ. Sau đó là đám rước nước vào đình. Đây là dấu vết của tín ngưỡng thờ nước của người thời cổ. Đám rước cũng có nhiêu nghi thức cổ truyền đáng để các nhà văn hoá học và dân tộc học quan tâm nghiên cứu. Và cuối cùng tại hội này còn có cuộc thi thả chim bồ câu, các đàn chim bồ câu được thả cho bay lên trời, thường là cao tới vài ngàn mét và nếu đạt được những quy định thì sẽ được giải.. Đình Chèm không chỉ là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ kính mà nó còn mang trong mình sự tích về một vị tướng tài, đức có công dẹp giặc cứu nước. Câu chuyện nhà Tần là tượng máy Lý Ông Trọng tương ứng với "Rối Nước Việt" - một đặc sản có một không hai của thế giới đã có từ ngày ấy.
-
Đã từ rất lâu, đền Chèm gắn với một nhân vật huyền thoại cuối thời Hùng Vương - Lý Thân, hay còn gọi là Lý Ông Trọng. Thần phả Đền Chèm ghi rằng Lý Ông Trọng sống trong khoảng thời Hùng Duệ Vương (Hùng Vương thứ 18) và thời An Dương Vương. Tương truyền xưa kia ở làng Chèm có một thanh niên vóc người to lớn tên là Lý Thân. Ông tham gia quân đội Tần chống giặc Hung Nô phía Bắc. Sự kiện này nếu có thật thì phải xảy ra ở thế kỷ thứ 4, thứ 3 trước Công Nguyên, tức khi nước Tần bắt đầu nổi lên vào cuối thời Chiến Quốc và trở thành đế chế nhà Tần ở nửa sau thế kỷ 3 trước Công nguyên. Theo khảo sát gần đây nhất về dòng họ Lý thì có khả năng dòng họ Lý Thân thuộc tộc Tây Âu, sau này là nòng cốt của bộ Tây Vu thời Tây Hán.Dòng tộc Lý này di chuyển từ vùng các tiểu quốc người Việt ở Lĩnh Nam (như Điền, Dạ Lang, Ai Lao, Tây Âu…) chạy về phía nam sau khi bị Sở rồi Tần o ép giành đất. Trong khung cảnh đó, câu chuyện Lý Thân tham gia quân Tần đánh Hung Nô chỉ có thể xảy ra khi nhà Tần đã thống nhất thiên hạ (cuối thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên). Lý Thân sau khi tham gia quân đội nhà Tần đã chạy xuống phía nam, tới vùng đất Âu Lạc. Đây cũng là thời điểm xảy ra cuộc sáp nhập Tây Âu-Lạc Việt với vai trò nổi lên của Thục Phán An Dương Vương. Việc Lý Thân không tham gia quân Tần nữa khiến nhà Tần phải làm tượng hình nhân đóng giả ông để dọa quân Hung Nô chứng tỏ mối bất hòa đã diễn ra gay gắt giữa quân Tần ở Lĩnh Nam với khối tộc Tây Âu (diễn ra trong khoảng từ năm 219 đến năm 208 trước Công nguyên). Điều đáng chú ý là hành trạng của Lý Thân không ghi lại công đức giống như các vị thần hay thành hoàng khác ở nước ta (như có công đánh giặc giữ nước, khai khẩn lập làng hay dạy nghề…) nhưng ông lại được coi như một biểu trưng đối kháng trong tâm linh người Việt. Giới nghiên cứu đặt câu hỏi, vì sao Lý Thân được nhân dân tôn kính và thờ phụng? Tài liệu trong các sách sử cung cấp hai dữ liệu có thể lý giải điều này. Một là Lý Thân có cơ thể khổng lồ phi thường và chữ "Thân" mang tên ông có thể ám chỉ điều đó. Người Tần làm tượng khổng lồ của ông là để dọa quân Hung Nô. Hai, tên thờ phụng của Lý Thân là "Ông Trọng". Trọng là chữ Hán ghi âm Việt “Đùng” hay “Tùng” trong nghĩa “to đùng to đoàng”. Thờ Ông Trọng tức là thờ Ông Đùng. Đó là hiện tượng rất phổ biến trong xã hội Mường cổ truyền. Những hòn núi đá to lớn đứng một mình sừng sững thường được người Mường gọi là Ông Đùng và thờ cúng như một thần linh khổng lồ. Ông Đùng - Ông Trọng chính là ông Khổng Lồ , một biểu trưng được thờ cúng trong thần thoại Việt Nam. Những thông tin trên cho ta thấy có sự kết hợp giữa hiện tượng một nhân vật lịch sử có thân thể to lớn khác thường với tục thờ thần khổng lồ của người Việt cổ. Đền Chèm thờ Lý Ông Trọng được ghi nhận là tàn tích phong tục thờ cúng rất cổ xưa của người Việt - tục thờ thần khổng lồ hay còn gọi thần đá, thần núi (Sơn Thần). Và việc thờ phụng Lý Ông Trọng có thể là hiện tượng thu nhỏ của việc thờ thần Sơn Tinh ở Núi Tản (Ba Vì) trong tâm linh Việt Cổ./. Tiến sĩ Nguyễn Việt-Nguyễn Mạnh (Vietnam+) Với việc xem xét Lý Ông Trọng - Lý Thân có trong sử sách thời Tần của Tư Mã Thiên và các sách khác nữa?. Mỵ Châu - Trọng Thủy: Như đã phân tích về sự nghi ngờ Lý Ông trọng là Triệu Úy Đà - Triệu Đà là không hợp lý, tuy nhiên lại cho ta thấy khả năng Lý Ông Trọng chính là Trọng Thủy (Thủy là phương Bắc, Tần Thủy Hoàng lấy hiệu tương ứng hành Thủy...). Nếu Triệu Đà theo phong tục Việt thì khả năng Trọng Thủy cũng theo gia phong này. Việc Mỵ Châu và trọng Thủy lấy nhau được sự chấp thuận của vua An Dương Vương nên xét ở khía cạnh thống nhất Văn Lang về lại một mối lại một lần nữa, trong khi vua An Dương Vương chỉ có một mình con gái và không có người nối ngôi - thời thế của lịch sử là như vậy. Câu chuyện gà trắng phá thành Cổ Loa khi xây dựng nói lên sự chưa thống nhất tại Phong Châu sau khi An Dương Vương lên ngôi và sau khi thắng quân Tần. Vậy, Trọng Thủy sẽ phải là người tiếp quản Phong Châu còn Triệu Đà quản lý Nam Việt tại Phiên Ngung - Quảng Châu. Do đó hậu duệ truyền 5 đời của vua triệu Vũ Đế chính là con cháu An Dương Vương hay đời cuối cùng của vua Hùng Vương chi thứ 18, và đấy là lý do Triệu Đà được suy tôn là Thần tại Văn Lang và Lý Thân hay Trọng Thủy là Thần đất Việt (2 cha con là Thánh Thần). Câu chuyện Mỵ Châu (Mỵ Nương?) -Trọng Thủy với cái chết Mỵ Châu và nước mắt hóa thành ngọc trai phải dùng giếng ngọc - Việt Tỉnh (một quẻ của Kinh Dịch) làm sáng tỏ được.
-
DUY-THỨC-HỌC NGỌC-HUỆ-CHƠN Có một nhà tâm-lý-học đã làm một cuộc thí nghiệm bằng cách nuôi hai con voi con vừa mới đẻ được mang về từ trong một khu rừng: - Con voi A được cột vào chân một sợi dây nhỏ dài cở 30 m, đầu giây buộc chặt vào một thân cây lớn. - Con voi B được thả đi tự do trong vườn Mấy năm sau cả hai con đều lớn. Ông bắt cả hai, cùng cột mỗi con bằng một sợi giây nhỏ dài cở 30m vào một thân cây. Nhưng con voi A, vì đã quen với sợi giây từ trước nên không có phản ứng gì lại. Trái lại con voi B thì vì quá quen tự do đi lại khắp nơi nên bèn bứt giây để tiếp tục tự do trong khu rừng rộng lớn. Với con voi A, vì đã bị cột giây từ nhỏ nên khi lớn lên dù đã có đủ sức mạnh để bức phá sợi giây, nó vẫn không làm. Là vì sao? Tại vì voi A tin rằng giây chính là một phần của cuộc đời nó. Nó tin rằng cuộc đời nó chỉ hoạt động trong một vòng tròn bán kính 30m đó mà thôi. Nó không nghĩ rằng nó có thể đi ra ngoài ranh giới đó. Nó không nghĩ và không cần biết là bên ngoài ranh giới đó, có những rừng cây rộng lớn, có suối nước trong tươi mát, nào là đồng cỏ xanh tươi. Nó cũng không suy nghĩ để tìm hiểu rằng bên ngoài thế giới của nó còn có đồi núi bao la, và đồng hoang chim hót. Nó chỉ bằng lòng với cuộc đời đã có với những bó cỏ khô được người mang tới cho nó. Nhiều khi có lủ trẻ nhỏ bắt nó phải làm trò, phải qùi lạy mới chịu cho nó những khúc mía ngọt ngon. Như vậy nó sống ở trong tình trạng gò bó mà nào nó có biết chăng? Cái gì đã khiến cho nó phải chấp nhận hoàn cảnh của nó đã có? Chính vì tư tưởng hạn hẹp của nó. Trong tư tưởng hạn hẹp của nó đã ăn sâu trong tiềm-thức nó từ bao giờ mà nó không biết. Nói theo danh từ nhà Phật thì: “Trong Mạt-Na-Thức của nó có những chủng-tử trói buộc ý-thức của nó khiến nó không thể hoạt động ra ngoài phạm vi đã quyết định.” Đối với loài người, có hàng ngàn sợi giây vô hình đã trói buộc ta từ bao đời số kiếp mà ta không hay biết! Ta chỉ hoạt động, được suy nghĩ trong một thế giới vô cùng hạn hẹp, và trở thành nô lệ. Ta tưởng rằng cuộc đời chỉ bắt đầu bằng một tuổi thơ trong trắng, nhưng cũng không tránh khỏi những lo âu sợ hãi do sức ép gây nên bởi khó khăn vật chất hoặc tinh thần. Rồi một ngày một lớn lên, ra đời tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nếu tâm thức không có một sự thăng hoa đáng kể thì ta sẽ thấy cuộc đời vô vị với đủ tuồng hỉ nộ ái ố cho đến ngày cùng khi nằm xuống. Chúng ta cũng như những con voi A trong cuộc thí nghiệm trên mà ta nào có biết!. Nhưng trái lại, loài người có một trí nhớ cao hơn muôn loài. Do đó mà một số người hay triết gia bắt đầu tìm hiểu và mơ ước về những thế giới mới và nhận thức được tâm-thức chúng ta đã trói buộc mà ta không hay biết. Các nhà tâm lý đã khám phá ra những ý thức, tiềm thức và siêu-thức, nhưng những điều họ khám phá và tìm ra được thì trên 25 thế kỷ nay đã có đức Phật Thích-Ca đã khám phá ra rồi mà còn đi xa hơn nữa. Vậy chúng ta thử tìm hiểu Duy-Thức là gì? Duy-Thức-Học (Logic of Knowledge) là một khoa-học nghiên cứu sự nhận-thức của con người về tất cả các sự vật và hiện tượng trong vũ-trụ, những nhận thức đó. Những tiến triển của tâm-thức lên tới một mức độ càng cao, đa số do sự suy tưởng hoặc tu tập, như là tham thiền nhập định. Những sự vật và hiện tượng trong vũ-trụ rất đa dạng và không thể nào đem ra mà nói hết được nên nhà Phật mới miễn cưỡng đặt ra cho chúng một cái tên chung là “Pháp”. Bất kỳ việc chi, dầu nhỏ hay lớn, hữu-hình hay vô-hình, tốt hay xấu, hữu-vi hay vô-vi, chơn-thật hay hư-vọng đều có thể gọi là “Pháp”. Và từ những nguyên-tắc, những lẽ thường, lý nhỏ cho đến tôn-giáo, lại cái Luật chung bao gồm Vũ-trụ, làm một với Hư-Không, cũng gọi là “Pháp”. Nếu đem sự hiểu biết mà nghiên cứu các “Pháp” thì quá phức-tạp nên Phật mới chia nó ra là 100 Pháp, gồm có: 1 - Tâm-Pháp: có 08 nhóm. 2 - Tâm-Sở-Pháp: có 51 nhóm. 3 - Sắc-Pháp: có 11 nhóm. 4 - Tâm Bất tương ứng Hành-Pháp: có 24 nhóm. 5 - Vô-Vi-Pháp có 06 nhóm. Mặc dù đã phân chia như vậy, nhưng sự nghiên cứu cũng còn nhiều việc khó khăn. Người viết chỉ xin nói sơ lược về sự nhận thức đối với các “Pháp” đó ra sao mà thôi chớ chưa dám đi sâu vào khía cạnh nầy. Một cậu sinh viên trung-học được thầy giải cho biết 5 giác quan để nhận thức. Đó là: Mắt (để trông) - Tai (để nghe) - Mũi (để ngửi) - Lưỡi: (để nếm) - và Da (để tiếp xúc). Trong cuốn “Bài học thực tiển về cảm-quang-tuyến thuật” do nhà xuất bản Gabriel ấn hành, Lesourd quan niệm “điện giác” là một trong “không phải Ngũ-Quan” mà là “Lục-Quan” của ta. Theo ông thì có 6 Giác-Quan, chung quy chỉ là một “Giác Quan” ở trong óc mà chia ra nhiều chức vụ phân tán ra nhiều nơi, như: - “Mắt” dùng những làn điện để “Thấy” gọi là “Thị-Giác”. - “Tai” dùng những làn điện để “Nghe” gọi là “Thính-Giác” - “Mũi” dùng những làn điện để “Ngửi” gọi là “Khứu-Giác” - “Lưỡi dùng những làn điện để “Nếm” gọi là “Vị -Giác” - “Da” dùng những làn điện để “Cảm” gọi là “Xúc-Giác” - Còn “Thần-Kinh-Hệ” và “Tiềm-Thức” dùng những làn điện để “Biết” gọi là “Điện-Giác” Cũng theo Lesourd thì mỗi người có “Điện-Giác” khác nhau từ trình độ đến cách sử dụng và hiệu quả. Mới đây, năm 1968, trong cuốn “Ngũ-Quan và một vài giác-quan khác”, do Nouveaux Horizons xuất bản, Robert Froman dựa vào những phát minh mới nhứt về khoa-học, nhứt là khoa Cơ-Thể-Học, Thần-Kinh-Học để giải quyết rằng con người không phải “Cảm-Giác” chỉ bằng “Ngũ-Quan” mà thôi. Các dây thần-kinh chìm ngấm trong sâu thẳm của con người còn nhiều khả-năng để con người tri-giác vũ-trụ và kẻ khác một cách tinh-vi hơn, nếu biết khai thác hết các cảm-quan của mình. Đức Phật nhờ đoạt được “Chánh-Đẳng Chánh-Giác” mà Ngài đã soi thấu được những phần sâu thẩm nhứt của Tâm-Linh con người và Ngài đã dạy chúng ta, không những có “Giác-Quan thứ 6” mà còn có “Giác-Quan thứ 7 và 8 nữa” Khi bắt đầu giảng về “Duy-Thức-Học” thì chỉ có một số ít cao-đệ (như Đức Di-Lạc Bồ-Tát) hiểu nổi mà thôi. Ngài biết rằng môn này rất khó, nên mỗi khi có người nào hỏi về một vấn đề gì có liên quan đến Duy-Thức-Học thì Ngài lại giảng thêm một chút nửa. Do đó sự giảng-huấn của Ngài bàng bạc ở nhiều bộ kinh, nên không thành một hệ-thống rõ rệt vì đó mà lại càng khó khăn cho những người tu học sau nầy. Mùa Thu năm 1783, trên vòm trời xứ Anh và Pháp, có xảy ra một hiện-tượng người bay luyện trên cao, làm cho mọi người thán phục. Còn những người không thấy mà chỉ nghe nói lại nên không tin, cho là chuyện thần-thoại. Đến ngày nay, hiện-tượng ấy không còn bị coi là chuyện hoang đường nữa, mặc dầu nó không thường xảy ra. Những làn điện quang-tuyến, là những hiện-tượng điện-từ giống như là điện sáng. Tai nào thâu bắt được nó ít ra phải là tai thu quan-tuyến có khả-năng chuyển thành âm thanh. Người có điện-giác là người thích nghi để bắt những làn điện quang-tuyến. Năm 1960, ông Clyde E. Ingalls, giáo sư khoa điện-cơ-học tại học đường Cornell, quả quyết rằng chính ông đã “nghe” được Radar. Ông cũng bảo rằng, có nhiều người khác cũng nghe được như ông. Theo ông, cái nghe nầy không phải dùng bằng lỗ tai thông thường, mà người có điện-giác chỉ dùng bằng một thứ lỗ tai riêng và cơ quan ấy đến ngày nay vẫn còn trong vòng bí mật. Mùa Hè năm 1962, bên Nga có loan tin rằng, có một người đàn bà có thể dùng mấy đầu ngón tay “đọc” chữ in, trong lúc bị bịt mắt. Cuối năm 1963, ông Youtj, giáo sư tâm-lý-học tại đại-học-đường Columbia, quả quyết rằng bà Patricia Stanley có thể dùng mấy ngón tay búp măng của bà mà phân biệt được màu sắc. Suốt mùa Hè năm 1963, trong 50 giờ thí nghiệm, bà Stanley dùng bàn tay đã phân biệt được các màu sắc. Cách phân biệt màu sắc trong trường hợp trên, người ta gán cho đó là “Giác-Quan thứ 6” (6ième sens) tức là “Điện-Giác”. Các nhà Tâm-Lý gọi lối hiểu biết đó bằng một danh từ lạ “Tri-Giác Ngoại Cảm” (TGC) mà người Pháp gọi là “Perceptio extra sensorielle” và viết tắt là:”PES” Có ba thứ TGC quan trọng nhứt: a/- Viễn-Cảm (Télépathie): Là khả-năng dùng một giác-quan nào ngoài các giác-quan thông thường để truyền-đạt hay thu nhận tư-tưởng, tình-cảm cho người hay từ người ở xa. b/- Hiển-Thị (Clairvoyance): Là khả-năng dùng một giác-quan nào ngoài các giác-quan thông thường để ý-thức, những đối-tượng hay hiện-tượng khách-quan. c/- Tiên-Tri (Prémonition): là khả-năng biết trước những việc chưa xảy ra. Phân tích ba hình thức TGC nói trên, ta có thấy một giác-quan nào ở trong bóng tối hành-động đó. Chứng minh nó như hiện-tượng lý-hóa không được mà chối bỏ nó thì không ổn. Ngày nay ta hiểu được phần nào về môn học nầy là nhờ ở công ơn của hai vị Bồ-Tát “Thế-Thần” (Vasubandhu) và “Vô-Trước” (Asanga). Hai vị nầy sống khoảng 900 năm sau đức Phật nhập Niết-Bàn, vốn tu theo đạo Bà-La-Môn và đã đoạt được một số thần-thông đáng kể. Sau vì nhận thấy cứ tiếp tục con đường cũ thì không thể tiến sâu thêm được và nhứt là khó có thể giải-thoát khỏi luân-hồi sanh-tử cũng như khó có thể đáp ứng được hạnh nguyện cứu đời nên cả hai vị (hai anh em ruột) đều nghiên cứu Phật-Pháp và sau cùng, quy-y theo Phật. Nhờ có thần-thông cao thâm, hai vị đã xuất hồn lên cõi trời Đâu-Suất và được đức Di-Lạc Bồ-Tát trực tiếp truyền dạy về Duy-Thức-Học. Điều nầy nghe có vẻ huyền-bí; nhưng tác phẩm về Duy-Thức của hai vị để lại ngày nay có hệ-thống và hết sức rành mạch là một bằng chứng. Sau nầy, các nhà tâm-lý-học Đông-Tây dựa vào một phần các sự hiểu biết được truyền lại rồi ra công nghiên cứu thêm về một số những giác-quan mới mà họ gọi là “Tiềm-Thức - Siêu-Thức”. Hai thức nầy có một vài điểm giống như “Mạt-Na-Thức” (giác-quan thứ bảy) và “A-Lại-Da-Thức”(giác-quan thứ tám). Thử nghiên cứu sơ lược từng giác-quan một, thí dụ trái cam: 1/- “Mắt” hay “Thị-Giác” cho ta những hình ảnh của mọi sự vật. Ví như: Trái cam màu vàng là đối tượng hiểu biết của mắt nên gọi là “Nhãn-Trần”. Sự hiểu biết do mắt mang lại gọi là “Nhãn-Thức”. 2/- “Nhĩ-Thức” là sự hiểu biết do tai mang lại. Đối tượng của Nhĩ-Thức là Nhĩ-Trần. Trong thí dụ trái cam thì trái cam không phát ra âm thanh, nhưng “Nhĩ-Thức” vẫn hoạt động. Ta vẫn nghe “cái không tiếng” của trái cam. 3/- Về mũi, ta có “Tỉ-Thức” và “Tỉ-Trần”. Là (trái cam có mùi cam). 4/- Về lưỡi, ta có “Vị-Thức” và “Vị-Trần”. (trái cam ngọt ngào). 5/- Về thân, ta có “Thân-Thức” và “Thân-Trần” (trái cam có vỏ sần-sùi nếu ta tiếp xúc với nó). Vậy thì, dùng cả năm giác-quan kể trên ta cho rằng ta có một hiểu biết khá đầy đủ về trái cam. Sự thật thì không phải vậy. Tại sao? Vì mỗi giác-quan của ta đều phải có một trung khu thần kinh trong đầu điều khiển. Nếu các trung-khu đó hoạt động tốt thì giác-quan mới hoạt động được: - Trung khu thần kinh “thị-giác” điều-khiển “mắt” quan sát (nhân-trần) - cho nhãn-thức. - Trung khu thần kinh “thính-giác” điều-khiển “tai“ quan sát (nhĩ-trần) - nhĩ-thức. - Trung khu thần kinh “tỉ-giác” điều-khiển (tỉ-trần) - cho tỉ-thức. - Trung khu thần kinh “vị-giác” điều-khiển (vị-trần) cho vị-thức. - Trung khu thần kinh “xúc-giác” điều-khiển (thân-trần) cho thân-thức. Các trung khu thần kinh đó gọi là các “Căn”. Nhờ đó ta có “Nhãn-căn, Nhĩ-căn, Tỉ-căn, Thiệt-căn, Thân-căn”. Các căn nầy gọi là các căn vật-lý vì nó nằm ở hệ thần-kinh của mọi người. Các nhà chuyên môn giải-phẩu y-học có thể tìm hiểu chúng một cách dễ dàng. Riêng “Thân-Căn” gồm cả hệ thần kinh cảm-giác rất dễ tìm thấy. Trong chiến tranh, có nhiều trường hợp một binh sĩ bị đạn bắn trúng “Nhãn-Căn”. Mặc dầu anh ta không chết và mắt vẫn còn nguyên vẹn nhưng anh ta vẫn bị mù. Vì “Nhãn-Căn” đã hỏng, mặc dù mắt vẫn tiếp xúc với “Nhãn-Trần” nhưng không còn có “Nhãn-Thức” nữa. Vậy thì, “Nhãn-Thức” phải có “Nhãn-Căn’’ mới hoạt động được. Cũng vậy, đối với “Nhĩ-Căn, Tỉ-Căn, Thiệt-Căn, Thân-Căn”. 6/- Bây giờ ta hãy thử có một trái cam đặt ở phòng bên cạnh. - Mắt ta không nhìn thấy trái cam. - Mũi ta không ngửi thấy trái cam. - Tai ta không nghe thấy trái cam. - Lưỡi ta không nếm thấy trái cam. - Thân ta không tiếp-xúc với trái cam. Thế nhưng nếu ai nói có một trái cam ở phòng bên cạnh thì ta hiểu ngay. Vậy thì giác-quan nào đã cho ta sự hiểu biết nầy? Thưa rằng đó là do “Ý-Thức” (thức thứ sáu). Ý-Thức là một thức rất quan trọng trong mỗi con người, vì “Ý-Thức” có thể cảm thọ được những hiện tượng vô-thể-chất trong khi năm thức trước hoàn toàn bất lực. Ý-Thức có thể tổng hợp những hiểu biết mang lại bởi năm thức trước. Do đó cho một hiểu biết đầy đủ hơn. Sự hiểu biết bởi năm thức trước thuần là do cảm thọ, thiếu suy luận, diễn dịch, không có phán đoán, ước lượng, do đó sẽ bị mờ đi, không hồi tưởng lại được nếu không có ý-thức góp phần suy luận, tổng hợp, diễn dịch. Ví như, người đọc sách: nếu mắt vẫn nhìn chữ mà không có ý-thức để ý vào, thì với “Nhãn-Thức không thể hiểu được nghĩa và giá trị quyển sách, đừng nói chi tới chuyện tường thuật lại những gì đã nói. Trường hợp không có năm thức trước hổ trợ, ý-thức vẫn hoạt động được một cách độc lập. Thí dụ 1: “Tôi tưởng tượng những cảnh thiên đàng, địa ngục, chỉ bằng ý-thức mà không cần qua năm thức trước (vì những thức trước chưa tiếp xúc với những cảnh giới đó bao giờ). Chỉ khi nào đưa ra sự sáng tạo vô thể-chất vào thực tại cụ thể thì ý-thức mới cần tới năm thức” Thí dụ 2: Họa-sĩ Walt Disney muốn thiết lập một khu giải trí. Ông phải nhờ ý-thức phác họa mô hình tưởng tượng rồi mới dùng mắt, tay, thiết lập đồ án và xây dựng theo sự chỉ đạo của ý-thức. Con người và xã-hội loài người, tiến-hóa hay thối-hóa là hoàn toàn do quyết định của “ý-thức” sáng tạo. Đúng vậy, “ý-thức” giúp con người biết suy nghĩ phán đoán làm việc thiện, tu hành, xây dựng đưa con người lên hàng thánh-nhân. Nhưng nó cũng hay chấp-pháp, mê thanh, mê sắc trần, đưa con người theo các chiều hướng dục-vọng, mở cho họ những cửa địa ngục sa đọa. Nhà duy-thức-học gọi ý-thức là ”Công vi thủ, tội vi khôi” (nói về công thì thức nầy hơn hết, còn luận về tội thì nó cũng đứng đầu). Cho nên, tất cả nền văn minh của nhơn loại đều là sản phẩm của ý-thức sáng tạo. 7/- Cũng như năm thức trước, ý-thức cũng cần phải có một ý-căn thì mới hoạt động được. Vậy ý-căn nằm đâu? Các nhà y-học với con dao giải phẩu đã không tìm được ý-căn nơi hệ thần-kinh của con người. Nói cách khác, ý-thức đã không có một căn vật-lý có thể trông thấy được mà căn của ý-thức lại là một căn tâm-lý. Căn tâm-lý nầy được đặt tên là “MẠT-NA-THỨC” (hay thức thứ 7). Vậy “Mạt-Na-Thức” chính là căn của thức thứ 6 (Ý-Thức). Dựa vào đâu để tìm ra thức nầy? Dựa vào những quan-sát tâm lý: a/- Một người đang ngủ, sáu thức trước của họ không còn hoạt động nhận thức nữa nhưng các cơ quan nội tạng vẫn hoạt động nhịp nhàng không rối loạn. Vậy phải có một thức nào điều khiển những hoạt động nầy. Người nằm ngủ đó vẫn sống, không phải là một cây thịt vô trí. Mạt-Na-Thức vẫn chỉ huy các hoạt động. Nếu ta lấy tay chọt vào hông người nằm ngủ thì vẫn có cử động lăn qua một bên để tránh né. Nếu ta gãi vào chân, họ lấy chân đá để tự vệ. Nếu ta lấy lông gà dụi nhẹ vào mặt họ vẫn đưa tay lên phủi chổ bị khích động. Những hành động đó hoàn toàn vô thức, cho do Mạt-Na-Thức điều khiển mà thôi. b/- Giả dụ như ta hồi tưởng lại thành phố Saigon mà ta đã lìa xa từ nhiều năm nay, hình ảnh thành phố đáng yêu ấy hiện ra thật rõ nét và là đối tượng nhận thức của ý-thức. Vậy thì cái gì đã cất dấu hình ảnh thành phố nầy trong suốt bao năm qua để hôm nay lại cung cấp ảnh tượng cho ý-thức phân biệt nhận thức? Thưa chính là “Mạt-Na-Thức”. Có nhiều khi ta muốn hồi tưởng lại hình ảnh mà nghĩ mãi không ra, bởi vì Mạt-Na-Thức không cung cấp ảnh tượng. Nhưng có khi ta không muốn nhớ mà Mạt-Na-Thức cứ cung cấp. Trường hợp nầy ảnh tượng có thể hiện ra trong giấc mơ. Những hình ảnh đã cất dấu tự bao giờ (có khi từ kiếp trước) vẫn hiện ra trong giấc mơ mà ta không dùng ý-thức để kiểm-soát nổi. c/- Trường hợp những người bị tình nhân phụ bạc,không sao quên được hình ảnh của người yêu. Ý-Thức thì muốn chối bỏ, nhưng Mạt-Na-Thức vẫn giữ mãi hình ảnh người yêu cũ, cả trong lúc thức cũng như trong giấc mơ. Vậy Ý-Thức muốn nhận thức những ảnh tượng thực-chất bên ngoài thường phải nhờ tới năm thức trước cung ứng; còn đối với những ảnh tượng bên trong nó cần phải được sự cung-ứng của Mạt-Na-Thức. Không có Mạt-Na-Thức thì nó hoàn toàn bất lực trước những hiện-tượng nội-giới. Mạt-Na-Thức có công quản thủ những ảnh tượng thế giới bên trong để làm hình thành cho thế giới kiếp sau, nên còn gọi là “Truyền-Thống-Thức”. Điều này có thể giúp ta giải thích được một vài hiện tượng về số mạng con người. d/- Ví như: Cô A xinh đẹp đang độ thanh xuân, có 5 anh B,C,D,E,F đến xem mắt. Cô dùng ý-thức để quan sát so sánh, phân tách mọi vấn đề của năm anh đó một cách chính xác, nhưng cô không thương anh nào cả. Ý-Thức thường không có sự chấp-ngã và hay dùng lý-trí. Đến khi có anh G tới thì cô bị tiếng sét ái-tình và quyết định sẽ chọn anh G, mặc dầu sự phán đoán bằng lý-trí cho thấy anh G không có điểm nào nổi bật hơn năm anh kia cả. Trường hợp này Mạt-Na-Thức của cô có thể đã mang hình ảnh của anh G từ một kiếp nào xa xôi hoặc một lời thề hẹn biển nào đó đã nằm sẵn trong Mạt-Na-Thức của cô (cất dấu ở A-Lại-Da-Thức) và nó đã điều khiển cô một cách mãnh liệt đến đỗi cô không có thể quyết định theo lý-trí được. Nhà thiền-học thường khuyên các đệ tử phải luyện khổ hạnh để tránh những vấn đề tình-dục và luyến-ái. Vì vấn đề này thường khắc sâu vào Mạt-Na-Thức để chấp ngã rồi mãnh liệt kéo con người vào vòng luân-hồi sinh-tử với bao hệ lụy đau đớn. Nhà bác-học Sigmund Freud nhận xét có 80% những hành động của con người là do tình-dục điều khiển một cách khéo léo từ trong Tiềm-Thức (Mạt-Na-Thức) mà ta không biết. Mạt-Na-Thức mang tánh-chất chấp ngã tạo ra biết bao ý tưởng ích kỷ tham lam tự ái, ngã-mạn che lấp đi phần Nhân -Tính và Phật-Tính có sẵn trong mỗi con người. Nó cũng làm trung-gian giữa thức thứ sáu (Ý-Thức) và thức thứ tám (A-Lại-Da-Thức) trong lãnh vực sinh hoạt giữa nội-giới và ngoại-giới. Không có đấng Thượng-Đế hay một vị thần, tiên nào có thể làm cho Mạt-Na-Thức của ta được trong sạch, nếu không phải chính ta. 8/- Như trên đã nói, mọi hình ảnh do Ý-Thức đưa vào, được Ý-Căn (Mạt-Na-Thức) cất dấu rồi sau đó lại cung cấp để Ý-Thức có thể hồi tưởng lại. Mà cất ở đâu? Xin thưa rằng để ở trong một kho tàng, đó là A-Lại-Da-Thức (thức thứ tám, tiếng Phạn gọi là “chứa đựng”). Cũng như thức thứ bảy, ta không tìm thấy nó dưới hình thức vật-lý, mà nó có thể chứng nghiệm thấy bằng tâm-lý: a/- Một người bịnh bị chụp thuốc mê rất say đến nổi bác-sĩ cầm dao mổ bụng cũng không hay biết. Trong trường-hợp này, cả bảy thức (trong đó có Mạt-Na-Thức) đều không hoạt-động. Nhưng người đó vẫn không chết; vậy thì thức nào đã điều khiển cơ thể của người đó trong lúc đang nằm trên bàn mổ? Đó là A-Lại-Da-Thức. b/- Khi con người mới được tạo hình trong bào thai, phải trải qua 4 tháng mới tạo thành được các căn vật-lý. Trong thời gian đó, các thức trước vẫn còn nằm trong trạng-thái nguyên-thể, chưa tác dụng hiện khởi. Phải có một năng-lực huyền-bí nào đóng vai trò kết hợp tổ chức hoàn thành hệ thống bộ máy con người.? Năng-lực huyền-bí đó chính là A-Lại-Da-Thức. A-Lại-Da-Thức hoạt-động hoàn toàn trong phạm vi nội giới, rất khó phân loại và nhận thức. Ta có thể ví nó như bình điện mà các thức khác dùng điện lực để tạo ra các hiện tượng: ánh sáng, hơi nóng, âm thanh, v.v...Chỉ khác là bình điện nầy ta không nhìn thấy được bằng mắt thường. Vì là một kho tàng nên A-Lại-Da-Thức còn được gọi là “Tàng-Thức” Nó chứa đựng tất cả mọi nghiệp quả của con người và tồn tại vĩnh-viễn đối với thời-gian và không-gian. Ngay cả lúc người đã chết, bảy thức đều tan biến nhưng hình ảnh, suy luận, chấp ngã hoặc các hành vi hướng thượng hoặc ái-dục của các thức trước được cô động lại thành những chủng-tử và được cất dấu trong A-Lại-Da-Thức. Tất cả những chủng-tử đó giống như mọi nghiệp quả của cá nhân để điều hành cho sự tạo thành một kiếp luân-hồi mới phù hợp với những nghiệp quả mà nó đang mang sẵn. Trường hợp như những thần đồng (ví như nhạc-sĩ Mozart) cũng là do những biểu-thức đã thâu nhập từ kiếp trước được cất giữ ở A-Lại-Da-Thức. Để dễ hiểu về hoạt động của A-Lại-Da-Thức, xin tóm tắt qua lược đồ ở trang sau. Khi còn bé, các cụ thường dạy rằng: Đừng làm điều gì ác, vì có hai vị thần ở hai bên vai sẽ ghi chép tất cả mọi hành động của ta để đến khi ta chết sẽ trình lên Diêm Vương phán xét. Hai vị thần đó thật ra chỉ là biểu-tượng của A-lại-da-thức có thể ví như một tờ giấy trắng. Mỗi khi ta làm một điều ác (hoặc nghĩ một điều ác) tờ giấy đó được ghi bằng một chấm đen (một chủng-tử xấu). Khi ta nghĩ hoặc làm một hành động thiện tờ giấy đó được ghi một chấm son (một chủng-tử tốt). Đến khi ta chết đi, thể xác và mọi giác-quan ngưng hoạt động. A-lại-da-thức xuất ra sau cùng và vẫn tồn tại dưới hình thức trung-ấm-thân. Dù ta không nhìn thấy nó nhưng nó vẫn hoạt động trong cõi hư-vô với những ba-động tuần hoàn mà tần số của các chủng-tử mà nó mang theo. Trái đất chúng ta đang sống cũng luôn luôn bao phủ bởi những ba động dưới dạng thức những sóng điện-tử (électromagnétic waves). Những làn sóng nầy ta không nhìn thấy nhưng ta có thể chứng nghiệm được vì tác dụng của nó trên kim nam-châm của các la bàn. Nếu các ba-động của A-lại-da-thức của người chết có một tần số nằm trong giới hạn tần số của các sóng điện-tữ của trái đất thì trái đất này vẫn còn phù hợp với nghiệp-lực của người chết và chắc chắn người này sẽ lại tái sanh trong thế giới này. Nhĩ Thức Tĩ Thức Thiệt Thức 1.------ Thân Thức Hoạt-động độc-lập của Ý-Thức Nhãn Thức Mọi nghiệp-quả của Ý-Thức 2. Ý-thức 3.Tạo nghiệp 4. Mạt-na-thức 5. Cất giấu 6. A-lại-da-thức (kho tàng chứa đựng tất cả mọi chủng tử) 7. Trả nghiệp hoặc tạo nghiệp mới 8. Trả nghiệp Thế nhưng, trở lại trong kiếp sau, người chết chưa chắc sẽ lại mang thân xác của con người. Vì sao? Vì trong giới hạn tần số ba động của trái đất lại chia ra làm nhiều khu vực nhỏ có liên quan tới các cõi trên ở trong trái đất. Vùng có tần số cao thanh nhẹ có tương-quan tới cõi thiên (hoặc Thiên-Đàng). Các vùng có tần số thấp hơn (nhưng vẫn trong giới hạn) tương-quan tới các cõi: Nhân (người) - Atula - Súc-sinh - Ngạ-quỷ - Địa-ngục. Giả dụ, một người mà A-lại-da-thức mang những chủng-tử tuy không tốt lắm nhưng cũng không xấu lắm. Tần số ba-động của nó hợp với trái đất và người này sẽ luân-hồi làm người. Nhưng cũng một người trung-bình nhưng lại có một điểm nổi bật là hết sức dâm đảng chẳng hạn. Ba-động của A-lại-da-thức của người này tuy cùng phù hợp với trái đất nhưng tánh dâm đảng ăn sâu làm tần số ba-động hơi xuống thấp một chút; và người đó sẽ trở lại dưới hình thức một súc sanh (con heo chẳng hạn) Cũng vậy, một người quá tham lam và bủn-xĩn sẽ trở thành ngạ quỷ, một người hiếu sát sẽ sa địa ngục. Trong kinh Lăng-Nghiêm, Phật đã dùng Phật-nhãn soi chiếu rất nhiều trường-hợp và đã chỉ rõ những nghiệp quả của mỗi loại người cùng những thế giới mà họ sẽ được chào đón sau khi hết hạn làm người. Đó là cõi trời Đâu-Xuất, cõi Đạo-Lợi, cõi Tịnh-Độ v.v... Những người ở cõi này có tâm địa tốt hơn chúng ta nên luôn luôn thương xót và mong muốn chúng ta được thoát khỏi thế giới hiện nay để tới những thế-giới tốt hơn với những tần số ba-động phù hợp. Người đó sẽ ở cõi thiên đàng với những thú vui vô cùng thanh-tao để rồi tiếp tục tu hành với những bước đường thăng-hoa cao hơn của tâm-thức. Giả dụ, có một người tu hành cũng đã đến mức khá cao nhưng chưa tiêu diệt hết hoàn toàn dục vọng. Nhờ ở A-Lại-Da-Thức khá thanh nhẹ, “linh hồn” (quan niệm linh hồn của dân gian không được đúng như điều Phật dạy, nhưng được cái dể hiểu. Do đó ta vẫn có thể tạm dùng danh từ này) anh ta “bay” lên gần tới một cõi thiên đường nào đó. Nhưng ba động linh hồn của anh còn mang tính chất của dục-vọng mà ở cõi này chỉ toàn là những thú vui thanh cao mà thôi, không có một mùi vị nào của luyến-ái hạ đẳng dục giới. Do đó khi tới gần thế giới này anh ta sẽ cảm thấy khó chịu không thoải mái và linh hồn anh ta sẽ tự động “bay” đi chỗ khác, hoặc bị hấp-lực của thế giới phù hợp hơn. Không có một con quỷ nào gác cửa thiên đàng không cho anh vào cả, nói cách khác, con quỷ của dục-vọng còn nằm ngay trong lòng anh ta và nó luôn luôn kéo anh ta tới chỗ phù hợp với nó. Tóm lại, ngày nào ta còn mê đắm sắc trần chính là ngày đó ta còn chối bỏ thiên đàng, chớ các vị chúa, các vị trời hay bất cứ vị nào tu cao hơn chúng ta cũng luôn luôn mong cho chúng ta tới được “bờ bên kia” và xả bỏ được những khổ đau của nghiệp lực. Điều cần nhớ là, tất cả các sinh vật đều có A-Lại-Da-Thức cả. Chỉ trừ đất đá, sông biển hay vật vô tri là không có mà thôi. Còn thì tất cả các loại thực vật và động vật đều có, kể cả những sinh vật hết sức sơ đẳng như một con vi khuẩn chẳng hạn. Nghiên cứu về thành phần của mỗi nhận thức là một điều cần thiết cho Duy-Thức-Học. Lược qua về các thành phần của thức, ta có thể kể mỗi nhận-thức đều gồm có bốn phần: - Kiến Phần: phần chủ thể của nhận thức. - Tướng Phần: phần đối tượng của nhận thức. - Tự Chứng Phần: kiểm chứng sự khảo sát của kiến phần xem đúng hay sai. - Chứng Tự Chứng Phần: kiểm soát lại sự kiểm nghiệm kể trên. Ví dụ: Một bức tranh của Picasso là “Tướng Phần”. Người xem tranh là “Kiến Phần” Khảo sát xem bức tranh hay đẹp chỗ nào là “Tự Chứng Phần” Đánh giá trị lại sự khảo sát đó xem đúng hay sai là “Chứng Tự Chứng Phần”. Ta có thể dùng bất cứ thức nào để khảo soát các pháp trong vũ-trụ, nhưng sự nhận-thức thường cũng phải trải qua các thành phần kể trên. Thế nhưng mặc dầu vậy, sự nhận thức của con người vẫn luôn luôn sai lạc. Vì sao? Thưa rằng cũng chỉ tại những chủng-tử nằm trong A-Lại-Da-Thức nó làm cho trí ta kém sáng suốt nên mới sai lầm mà thôi. Một khi đã sai lầm trong nhận xét (tức vô minh) tất nhiên sẽ đưa tới những hành động sai lầm và do đó khởi đầu một loạt những chuỗi lầm lạc đưa ta từ vô-minh đến lão-tử. Chúng ta hãy cùng nhìn một con sông: - Một người mang chủng tử mê thích tắm và bơi lội chẳng hạn sẽ nhìn thấy con sông như một giòng nước mát có thể mang lại cho ta những cảm-giác sảng khoái. - Một người thích đánh cá sẽ coi con sông như một mối lợi cho anh ta. - Con cá lại coi con sông là một môi trường sinh sống dễ chịu và sảng khoái. - Người thích đi du lịch sẽ coi con sông là một phương tiện để cho anh ta chèo thuyền một cách thích thú, ngắm cảnh vật thanh-tú ở hai bên bờ sông. - Loài rồng lại coi con sông là một nơi có thể xây lâu đài, lầu các. Con sông vẫn là con sông. Nó không phải là những cái kể trên. Ta không thể nhìn được thật tướng của nó nếu ta cứ “chấp ngã” mà nhìn nó theo chủ quan của ta. Mà khi đã chấp ngã tất nhiên ta sẽ hành động sao cho thỏa mãn cái ngã của ta đã. Thế là trong rất nhiều trường hợp, hành động sẽ sai lầm, sẽ tạo nghiệp xấu. Chính vì cái nhìn thấy những nhận thức sai lầm của con người mà Phật đã dạy thuyết “Tam Tánh” mà sự nghiên cứu sâu rộng sẽ đưa chúng ta đến những nhận xét hết sức sâu sắc về tự tánh của vạn-pháp. Thuyết “Tam Tánh” gồm có: 1/- Biến Kế Sở Chấp Tánh 2/- Ý Tha Khởi Chấp Tánh. 3/- Viên Thành Thật Tánh. “Sở Chấp” là do chấp trước mà có. Thí dụ về con sông trong phần trước, mỗi người nhận xét theo sự chấp trước của mình, cho nên hình ảnh con sông đã bị sai lạc đi nhiều do suy luận xét nghiệm của ý-thức vọng tưởng. Suy rộng ra mỗi sự vật trong thế giới nầy chỉ là hình ảnh méo mó mà ta đã nhận thức được do sự chấp trước vọng tưởng mà có.. Nó không phải là hình ảnh thật mà đã phải mang một tánh chất khác đi gọi là “biến-kế-sở-chấp-tánh”. Một thí dụ dễ hiểu hơn: Một người nhát hay sợ ma, trong A-Lại-Da-Thức đã có những chủng tử của sự sợ hải. Một đêm kia, khi trở về nhà, mở cửa phòng tối om, thấy một vật màu đen lù-lu đứng ở góc phòng. Thế là vì quá sợ hãi, anh ta vừa chạy vừa la: “ma! ma! Cứu tôi với”. Cũng vì quá sợ nên mất sáng suốt mà anh ta quên luôn không còn nhớ hồi chiều, trước khi đi ra khỏi nhà, chính anh đã đem treo chiếc áo dài màu đen ở chỗ đó. Trường hợp này, chiếc áo dài màu đen đã bị anh ta “biến-kế-sở-chấp” nên tưởng là con ma đứng đó. Rồi nay nhờ có “ý-tha-khởi-chấp”nên anh nhìn thấy được sự vật một cách đúng hơn. - Ý-Tha là: dựa vào, ỷ-lại vào. “Tha” là người khác hoặc vật khác. Ỷ lại vào người khác nên anh ta mới nhận ra cái áo hồi chiều. Những người lân cận, nghe tiếng la bèn cầm đèn chạy vào soi sáng căn phòng. Lúc đó, con ma ở đâu không thấy mà đó chỉ là một chiếc áo dài đen mà thôi. Nhờ vào người khác có đèn mà anh đã nhận ra chiếc áo là chiếc áo, không còn tưởng đó là con ma. Và anh cũng như đa số chúng ta đều cho nhận xét của anh là đúng, không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng đức Phật lại dạy rằng:”nhận xét thế cũng chưa phải là đúng hẳn” Chỉ khi nào ta nhìn thấy chiếc áo đen đó với “Viên-Thành-Thật-Tánh” của nó thì mới là đúng đắn. “Viên” là viên mãn, “Thành” là thành tựu, “Thật” là chơn thật. Cái áo là một “Pháp”. Muốn nhìn “Pháp” này cho đúng thì phải nhìn được thể tánh chân thật bất biến của nó. Đó là thể-tánh chân như ở trạng-thái nguyên thể của nó. Thể tánh này thường trụ bất diệt, hoàn toàn không bị chi phối bởi nhân duyên sanh diệt. Tất cả các pháp trong thế gian đều phải được nhìn như vậy mới đúng hoàn toàn. Và khi nhận xét đúng , ta sẽ hành động đúng. Có điều là muốn nhìn được một cách toàn vẹn như vậy ta phải có một trí-tuệ khá cao. Tất cả những “thức” của chúng ta đều được tinh luyện một cách sáng chói, không còn bị che lấp bởi những màn vô minh, những vọng tưởng chấp ngã nữa thì mới sáng suốt được. Ta phải nhìn được tự tánh Chân-Tâm của chính ta trước đã. Ngày này tâm ta còn dong ruổi chạy theo những ảo-ảnh phù-du, những lạc thú nhứt thời thì Chân-Tâm vẫn còn bị che lấp, ta không sao có thể nhìn thấy cái “Bản-Lai Diện-Mục” của chính ta, nói chi tới sự hiểu biết cái “Viên-Thành Thật-Tánh” của Vạn-Pháp. Chỉ những bậc Chân Tu tới mức độ thật cao thì tất cả các thức của họ mới thăng hoa được tới đỉnh tuyệt-vời để họ có được cái nhìn thấu suốt được vạn-pháp. Lúc đó, thức không còn được gọi là thức nữa mà chúng đã biến thành những trí. 1.- Năm thức trước biến thành: “Thành Sở Tác Trí” 2.- Ý-Thức biến thành: “Diệu Quan Sát Trí” 3.- Mạt-Na-Thức biến thành: “Bình Đẳng Tánh Trí” 4.- A-Lại-Da-Thức biến thành: “Đại Viên Cảnh Trí” Đi sâu vào định-nghĩa và hành-dụng của những trí-tuệ kể trên là một việc làm không thể nào hoàn hảo được. Vì trong nhơn-loại hiện nay ít có người đã đạt được toàn thể bốn trí đó. Một người đã có đủ những trí nói trên kể như đã tiến bộ đến một độ cao của một vị Phật, hay ít ra một vị Bồ-Tát “nhứt sanh bổ xứ”. Tuy nhiên, trên con đường khởi hành từ một phàm phu cho tới quả vị Phật, trí của chúng ta một ngày một sáng tỏ và từng chặng một, chúng ta vẫn đạt được những sự trong sáng đáng khích lệ. Nó giúp chúng ta mỗi ngày một sáng suốt để có thể tự thắp lên những bó đuốc soi đường cho chúng ta đi. Xin trở lại chiếc áo đen kể trên; Những người phàm phu bình thường và không sợ ma sẽ nhận xét về chiếc áo đó như thế nào? Thường họ bảo rằng: - Chiếc áo này khá đẹp nếu mặc đi dự dạ hội chắc sẽ làm ta nổi bật. - Hoặc chiếc áo này đi đôi với đôi giày bóng loáng chắc sẽ làm tăng thêm vẻ đẹp. - Hoặc áo đắt tiền mặc nó ta sẽ được nhiều người nể trọng vì nó chứng tỏ ta giàu và sang trọng. - Hoặc chiếc áo còn mới tinh, không còn chiếc nào tốt hơn để đi chơi với người bạn mới quen. Đại khái nó toàn là những nhận xét mang tánh chất “ngã chấp” (nghĩ đến ta) Và nếu ta suy nghĩ xa một chút ta có thể thấy có bóng dáng của dục-tình quỷ sứ đứng ở đằng sau. Lẽ dĩ nhiên nếu họ có đạt được một đêm vui tạm bợ thì rồi sau cũng khó tránh những hệ lụy phiền toái. Cuộc sống của phàm phu thường thường là như vậy cả. Và họ sẽ xoay vần mãi trong sáu nẻo luân-hồi khiến đức Phật Thích-Ca đã phải bao thương xót, mà đã phải vất-vả suốt bao nhiêu năm chỉ cho họ con đường siêu-việt, con đường của hạnh-phúc tuyệt-đối, con đường của giải thoát. Đối với những người bình thường, tự cho rằng: “ăn hiền ở lành” nhưng không nghĩ đến chuyện tu hành gì cả, thì sự nhận xét về chiếc áo kể trên có lẽ cũng không khác bao nhiêu qua sự nhận xét của phàm phu. Thế nhưng, đối với người đã phát tâm đi vào con đường đi tìm chơn lý, dù chỉ mới tu chưa có gì cao thâm cả, nhưng A-Lại-Da-Thức đã có được những chủng tử đầu tiên dẫn dắt họ trên con đường hướng thiện thì dù quan sát cái áo hay bất cứ một đối tượng nào cũng đưa họ tới những nhận xét khác hơn. Ví dụ: Cái áo nó có thể là đối tượng của “Bồ-Đề-Tâm”. Cái áo này được tạo nên do biết bao công lao của người thợ dệt vải và người thợ may, đó là chưa nói đến người canh tác vun trồng và cả chính cây bông vải nữa, rồi chúng cũng đã phải trải qua biết bao dãi nắng dầm mưa. Tất cả chúng sanh, dù là người hay là cây cỏ đều thật đáng thương trong vòng luân-hồi sanh tử. Vì thương các chúng sinh đó nên ta phải phát nguyện tu hành tinh tấn để sau này có thể trở lại lập hạnh bồ tát góp công giúp nước cứu đời. Cái áo đó cũng có thể chứa hình ảnh “Tam Thiên Đại Thiên” thế giới. Cái áo đó được thành hình nhờ cây bông. Cây bông đã hút bao nhiêu chất lượng của nước, của gió, lửa để tạo nên sự sống. Nó mang hình ảnh mặt trời, của người săn sóc nó. Ban đêm nó hòa nhập cùng mặt trăng, ánh sao biểu tượng những thế giới xa xôi. Cây bông và Tam-Thiên Đại-Thiên Thế-giới chỉ là một. Đứng về phương diện tuyệt-đối thì một hột bụi cũng có thể chứa mội cõi bao-la. Do đó vấn đề lớn hay nhỏ không còn là vấn đề nữa. Điều đó cho chúng ta thấy tánh-chất bình đẳng của Vạn-Pháp. Vượt khỏi mọi chấp trước, người tu hành sẽ không còn thấy Nhị-Nguyên đối đãi nữa. Tâm trong sáng hội nhập làm một cùng bản-thể của vũ-trụ bao-la. Dĩ nhiên càng tu lên cao thì “Thức” và “Trí” càng trong sáng. Những thần thông diệu dụng sẽ nẫy nở. Những hiểu biết sẽ không còn bị những giới hạn ngăn cách nữa cho đến ngày đạt được “Chánh-Đẳng Chánh-Giác”. Những quang-năng của các vị chơn tu là điều chúng ta khó có thể nghĩ bàn, vì chúng ta chưa có những chứng nghiệm tâm-linh như những vị đó. Do đó nếu có nói thì cũng chỉ là nói theo sách vỡ được truyền lại mà thôi. Muốn hiểu biết thêm về những vấn đề “Duy-Thức” cao thâm khác không cách gì khác hơn là chính chúng ta được hoàn toàn trong sáng, đứng trên tất cả mọi thiện ác đối đãi để phần Phật-Tánh trong mỗi người chúng ta được phát huy một cách tối đa. Lúc đó mới có hy vọng đạt được “Đại-Viên Cảnh-Trí”. Duy-Thức-Học khó mà tóm tắt trên vài trang giấy mà còn rất nhiều vấn đề đầy hứng thú khác nữa. Thế nhưng, người nào ưa thích môn học này sẽ bỏ thêm nhiều thì giờ để học hỏi thêm. Nơi đây, chỉ xin phép đưa ra một vấn đề cuối cùng là chúng ta làm thế nào để xóa sạch các “vết đen” và ngay cả các “vết son” của A-Lại-Da-Thức. Có người cho rằng, ta làm một “hành động thiện” (như bố thí chẳng hạn) A-Lại-Da-Thức ghi một nét son. Nhưng chúng ta lại phải sống thêm một kiếp nữa để thụ hưởng thành quả của hành động này. Do đó làm sao thoát khỏi luân-hồi sinh tử? Và họ kết luận là không nên làm ác là dĩ nhiên nhưng cũng không nên làm cả việc thiện nữa ! Vậy có đúng hay không? Người viết xin trả lời ngay; không nên làm ác là đúng. Nhưng nếu không làm gì cả (tức là cả thiện lẫn ác) tức là đã chấp vào “Hư-Vô”. Chính cái Hư-Vô sẽ trói buộc chúng ta. Và nếu ta đã bị trói buộc vì bất cứ cái gì, kể cả cái “Hư-Vô” thì chúng ta không thể nào thực hiện được sự “tự do, trong sáng tuyệt đối”. Vậy ta phải làm thế nào để có thể vẫn bố thí mà không “bị” hưởng thành quả của hành động vậy? Điều này Phật đã dạy rõ ràng:”Phải thực hiện “Bố Thí Ba-La-Mật” (Là bố thí mà tâm hoàn toàn vắng lặng, hoặc không nổi lên một vọng niệm mong cầu phước báo nào). Ta bố thí mà hoàn toàn không thấy có người được bố thí, có của bố thí, có hành động bố thí, ngay cả chính ta, cũng không thấy liên quan đến sự bố thí nữa. Theo Phật như vậy mới là đúng cách. Tu tập theo hạnh “Lục Ba-La-Mật” gồm :” bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ.” Ta phải thực hiện tất cả bằng “một cách Ba-La-Mật” như trên thì mới là đúng cách. Nếu gặp phải một oan-ức sẽ không để động tâm (tức là không khiếu nại) Nếu ta bị kẻ khác làm nhục và nếu tu “Ba-La-Mật” thì ta sẽ thấy; không có kẻ làm nhục, không có người bị nhục, cả mối nhục cũng không có... Thế mới là “Nhẫn Nhục Ba-La-Mật” Còn những “vết đen trong A-Lại-Da-Thức” thì sao? Có thể xóa bỏ được không? Thưa rằng cách xóa bỏ thường tình nhứt là trả cho xong nghiệp báo. Vì định luật nghiệp-báo tác dụng rất mạnh mẻ hầu như không ai có thể tránh khỏi. Thế nhưng, đối với người tu, có thể sẽ được trả một cách nhanh chóng hơn hoặc nhẹ nhàng hơn. Sự thành tâm sấm hối cũng sẽ làm giảm nhẹ khá nhiều nghiệp báo nặng nề. Ví như: Một người can tội trộm cắp chẳng hạn, ngoài sự sấm-hối sẽ mang đồ trộm trả lại cho chủ nó. Người can tội sát nhân sau khi thành tâm sấm hối sẽ để cả quảng đời còn lại làm ngược lại sát sanh. Người đó có thể vẫn phải trả nghiệp nhưng chắc chắn sẽ nhẹ hơn. Rồi một đêm nào đó, anh ta có thể nằm mơ thấy có người đâm anh bằng một lát dao chẳng hạn, thế là trả xong mối nợ. Vậy ta cần nhớ, A-Lại-Da-Thức là một thức quan trọng bực nào. Ví dầu ta có chết nó vẫn không mất mà sẽ theo ta mãi mãi cho đến ngày nó biến thành “Đại-Viên Cảnh-Trí”. Tóm lại, xin vắn tắt về vấn đề “A-Lại-Da-Thức” sẽ dẫn dắt con người ra sao, sau khi chết: Chết là gì? Đối với đa số nhơn loại, chết là một bản án mà tất cả mọi người sẽ phải lãnh. Không ai có thể chứng nghiệm tâm-linh về cái chết. Và nếu ta không tìm hiểu hoặc không sửa soạn trước thì cái chết quả là đáng sợ thật. Chính vì thế mà nhiều người đã gia công tìm hiểu nó. Khi tắt thở, là tim ngừng đập, các quan-năng ngừng hoạt động từ từ. Sau tám tiếng đồng hồ, A-Lại-Da-Thức mới thật sự xuất ra khỏi thân thể. Từ đó, nó lại hoạt động như một giác-quan và mới đầu, người chết không biết là mình đã chết. Dưới hình thức tâm-linh, họ vẫn hoạt động như một người bình thường. Chỉ đến khi giao tiếp với những người thân thuộc không còn thực hiện được nữa là lúc đó người chết mới biết là mình đã chết, Đối với một người bình thường, không có đức tin sâu đậm hoặc không sửa soạn từ trước thì lúc đó cái tình cảm nổi lên mạnh mẽ, nhứt là sự sợ hãi kinh khủng. Trong khi đó, A-Lại-Da-Thức vẫn hoạt động, nhưng nó bị sự trì kéo của “nghiệp lực” một cách mạnh mẽ. Lúc đó linh-hồn đứng trước một cơn phong ba bão táp để rồi bị cuốn hút đi đầu thai một cách nhanh chóng. Trong trường hợp này, ý nghĩ cuối cùng của người chết giữ một địa vị hết sức quan trọng. Một người suốt đời chỉ nghĩ đến sự tham-lam và ích-kỷ, tất nhiên sự tham-lam đã nằm sâu trong tiềm-thức và đến lúc lâm chung ý nghĩ cuối cùng cũng là sự tham lam. Nó làm vẩn-đục A-Lại-Da-Thức và do đó sự cuốn hút sẽ đi về các cõi u-tối. Một người dâm đảng cũng vậy, ý nghĩ cuối cùng mang theo dục-vọng thấp hèn, tất sẽ đưa A-Lại-Da-Thức bị cuốn hút vào các vùng súc sanh. Có người cho rằng thường người ta bị bịnh hoạn lâu ngày hoặc già yếu rồi mới chết. Ở tuổi già khả năng tình dục đâu còn gì đáng kể nên đâu có sợ bị cuốn hút bởi giới cấm thứ ba. Nhưng các nhà y-học đã chứng minh rằng dù khả năng sinh-lý của con người đã mất hẳn nhưng cảm nghĩ tình-dục vẫn còn rất mạnh trong một số người. Do đó ý nghĩ cuối cùng trong trường hợp này cũng là một điều rất nguy hại nếu họ không biết và không tìm cách thanh lọc từ trước. Những người phạm các giới cấm khác như: sát sanh, đạo tặc, tà dâm, dối trá, rượu chè, nếu không có nhiều thiện nghiệp kéo lại tất cũng sẽ trôi theo giòng nghiệp-lực của họ để tới những cõi thấp hơn. Thường thì các trường hợp luân-hồi xảy ra hầu như tức khắc sau khi chết, chậm nhứt là sau 49 ngày, nhưng cũng có những trường hợp đặc biệt. Thí dụ như: Người quá luyến-ái cõi trần, quá luyến-ái vợ con hoặc các thân nhân cũng quá luyến ái họ thì sự luyến-ái quá độ tạo thành một sợi giây ràng buộc rất mạnh khiến linh hồn không bị cuốn hút đi ngay. Nó cứ vất vưởng ở nơi chốn cũ dưới hình thức những hồn ma bóng quế. Nó cũng vẫn còn đủ cả hỉ, nộ, ái, lạc và nhứt là sầu bi. Trong trường hợp này vùng hào quang quanh “thân xác” họ (thân xác tâm-linh) nhiều khi cô động lại trông như những cục lửa mà đôi khi cá thể thấy được nơi các căn nhà nổi tiếng là có ma. Nhưng không có căn nhà nào có ma một cách vĩnh-viễn cả. Vì trước sau gì thì những tình cảm cũng phải phai lợt và những linh hồn đó cũng vẫn phải trôi theo giòng nghiệp lực, chỉ mau hay lâu mà thôi. Mau thì vài tháng hoặc vài năm, lâu thì có thể tới vài chục năm, ít khi tới hàng thế kỷ. Các nhà y-học và tâm-lý-học hiện nay cũng đã xác nhận. Nếu ta nghĩ nhiều về một vấn đề gì trung khu thần kinh chỉ huy về vấn đề đó sẽ được mở rộng, các trung khu khác sẽ bị thu hẹp lại hoặc bị dập tắt. Một người niệm Phật nhiều, trung khu “niệm Phật” sẽ gia tăng, các trung khu khác sẽ yếu đi. Một cậu học trò siêng học, trung khu học hành và trí nhớ sẽ gia tăng, các trung khu khác sẽ kém đi. Riêng đối với những người đã sửa soạn tâm-thức từ trước thì cái chết không những chẳng có gì đáng sợ cả mà trái lại, là một cơ hội quan trọng để họ tiến những bước dài. Những người có một cuộc sống cao cả, có nghĩa là họ đã sửa soạn đầy đủ cho một chuyến đi thật vinh quang, như nhà tu tịnh-nghiệp là một ví dụ. Ngay từ khi cuộc sống đang xuân nở họ đã phát nguyện vãng-sinh tịnh-độ, quyết không tạo thêm nghiệp mới dù vẫn nhập thế một cách hùng tráng và quả cảm. Niệm hồng danh đức Phật A-Di-Đà là một phương pháp hay. Nhiều người biết trước được ngày sẽ ra đi. Nhiều người thoát xác ngay khi đang ngồi thiền-định với chánh-niệm thay cho ý nghĩ cuối cùng. Không còn nghi ngờ gì, hạnh nguyện vãng sanh của họ chắc chắn sẽ được đáp ứng. Năng-lực tiếp dẫn của đức Phật A-Di-Đà có một sức mạnh lớn gấp nhiều lần những trì kéo của các cõi ô-trược. Theo các nhà thiền-học đã mở được “Huệ” thì năng-lực này thường hiện ra dưới hình thức một luồng ánh sáng vàng hoặc trắng hoặc rất trong sáng. Còn có thể thấy được hóa thân của đức Phật A-Di-Đà, đức Quan-Thế-Âm cùng những bông sen nở trên ao thất bảo và khi nào tới cõi tịnh-độ, họ sẽ bước ra từ những bông sen đó. Sở dĩ có nhiều người không được tiếp dẫn là vì họ không có hạnh nguyện vãng sanh Tây-Phương hoặc không có đức tin kiên cố. Sự thiếu đức tin và hạnh nguyện làm cho ba động của A-Lại-Da-Thức của họ không cùng một tần số với tần số ba động của các luồng sóng tiếp dẫn. Có những người đã trót phạm nhiều giới cấm với một A-Lại-Da-Thức hết sức nặng nề thì phải thành khẩn sấm hối trong lúc lâm chung cùng với hạnh-nguyện không thối chuyển vẫn có năng-lực đưa họ vào đường cứu rỗi dù ở phẩm trật kém hơn. Những kẻ đắm chìm trong vòng danh lợi, tham-sân-si và dục-vọng thì lại nhiều vô số kể. Do đó ta không lấy làm lạ khi đức Phật dạy rằng được sống ở một kiếp người là một điều đáng quý, nhưng tiếc thay, hầu hết nhơn loại sau khi lìa bỏ kiếp người, chỉ muốn trở lại làm người bình thường thôi cũng là điều rất khó, nên kinh Lăng-Nghiêm đã dạy: “Bỏ mất thân xác người, muôn kiếp khó tìm lại được”. Những người căn cơ chưa được cao lắm thường nhờ một số nhà tu hay một vài thân nhơn giúp đở trong lúc lâm chung, gọi là “người hộ niệm” Vậy thì dù có người hộ niệm hay không, vấn đề quan trọng là phải luôn cẩn trọng với ý nghĩ cuối cùng. Điều này không chỉ đúng với Phật-Giáo mà cũng đúng với hầu hết các tôn-giáo, như bên Ấn-Độ-Giáo, thánh Gandhi là một trường hợp điển hình. Ai cũng biết thánh Gandhi là một nhà giải phóng vĩ đại của dân-tộc Ấn, cha đẻ của thuyết “bất bạo động”. Suốt bao năm trời tranh đấu với thực dân Anh, Ngài chỉ có một thứ khí giới, đó là lòng “Nhân-Ái”. Nhưng không hiểu vì nghiệp quả nào khiến cuối cùng ngài đã bị một kẻ cuồng-tín bắn chết. Trước khi chết ngài giơ tay lên và nói: “Xin tha tội cho kẻ bắn mình” Tất nhiên cả thế giới phải thán phục sự cao cả của ngài. Sự tha tội bằng lòng cao cả là một điều đúng không sai, nhưng đứng trên phương diện “Duy-Thức” thì sự tha tội ngay lúc đó chính là một sự cứu rỗi cho chính ngài Gandhi trước đã. Vì sao? Vì trong lúc đó, người bị bắn hết sức đau đớn, mà lại phải chấm dứt con đường cách mạng đang theo đuổi và đang cần thiết sự có mặt của mình. Nếu trong lúc đó, tâm-thức của ngài Gandhi nẩy lên một sự khó chịu hoặc một tức giận hận thù kẻ đã chấm dứt thì ý nghĩ cuối cùng của ngài chắc chắn sẽ kém trong sáng. Nghiệp-lực chắc chắn sẽ tác dụng tức khắc ngay trên A-Lại-Da-Thức của ngài và nó sẽ lôi kéo ngài vào con đường thù hận. Xuyên qua việc làm của ngài cho ta được biết, chắc chắn ngài đã nắm vững những vấn đề kể trên một cách rất sâu sắc. Ở thế kỷ 20 đã qua, đánh dấu những bước tiến vĩ-đại của khoa-học. Việc xử dụng năng lượng hạt nhân, khoa-học không gian, tia sáng laser là những nét đậm đáng kể. Trong y-học và thiên-văn-học cũng có nhiều phát-kiến quan trọng. Trong thập niên cuối cùng của thế kỷ, sự phát minh ra máy điện tử góp một phần không nhỏ vào đời sống của nhơn loại. Nhưng điều đáng ngạc nhiên hơn cả là: Sự tiến bộ của khoa-học đã đẩy lui một số đức-tin có tánh cách thần-bí, đồng thời lại đi gần tới những điều Phật dạy đã trên 25 thế kỷ. Ai cũng từng biết Phật dùng “Huệ Nhãn” chỉ dạy về đời sống của những con vi trùng trong một ly nước. Lúc đó, có ít người chịu tin, cho đến ngày khoa-học phát minh ra kính hiển-vi. Ta cũng đã biết rằng tất cả các sinh-vật trên thế gian này đều có giác-quan, do đó có một A-Lại-Da-Thức. Từ những loài thực-vật thô sơ đến các loài động vật và sau cùng là loài người, A-Lại-Da-Thức vẫn theo sát từng cá nhân một qua hàng triệu triệu kiếp luân-hồi cho đến khi thành Phật thì nó mới biến mất để trở thành “Đại-Viên Cảnh-Trí” Một con vi-khuẩn là một vật trung-gian giữa thế-giới vô-sinh và thế-giới hữu-sinh. Dù ai cho nó thuộc loại vô-sinh cũng được hay cho nó là hữu-sinh cũng đúng. Từ trước cho đến thế kỷ 20, chúng ta hầu như không biết gì đến cấu-trúc của những sinh-vật này cho tới khi hai nhà bác-học James Watson và Francis H.Crick tìm ra sự liên hệ của chúng với hai chất RNA (Ribonucleic Acid) và DNA (Desoxyribonucleic acid). Ngày nay, người ta đã có những hiểu biết tiến bộ hơn về các loại vi khuẩn, và đối với những vi khuẩn thô sơ, cấu trúc của chúng chẳng khác gì cấu trúc của các phân tử hữu cơ RNA hoặc DNA. Nhìn lại sự cấu-trúc của con vi-khuẩn HIV (vi khuẩn gây nên bịnh AIDS, một bịnh thời sự) được các khoa-học-gia thuộc Trung-Tâm Nghiên-cứu CHIRON trình bày. Nhìn trên biểu đồ của vi-khuẩn này khi chúng đang sanh sản trong một tế bào bị nhiễm trùng, ta thấy nó được tạo bời hai nhánh DNA với chi-chít những chữ ATCG nối liền nhau: “A: Adenine “T: Thymine “C: Cytosine “G: Guanine ATCG được gọi là những bases: A bao giờ cũng được nối liền với T, tạo thành cặp A-T C bao giờ cũng được nối liền với G, tạo thành cặp C-G Tất cả có 9737 cặp bases này trên thân xác của con AIDS virus. Mỗi cặp A-T hoặc C-G được gọi là một chủng-tử được sắp xếp trên nhánh DNA. Nghiên cứu về sự sắp xếp những chủng tử này trên nhánh DNA được gọi là sequencing (xếp thứ tự) Chính thứ tự của những chủng tử này đã tạo nên tánh-chất của những con vật, dù nhỏ bé thô sơ nhưng cũng có đủ cả cảm-giác, trí khôn hoặc ngu độn (vô-minh). Khi chúng tấn công những tế bào của cơ thể con người thì con người sanh ra những kháng-thể (antibodies) để chống lại chúng. Nhờ sự tinh khôn, chúng biết biến đổi cấu-trúc (Mutation) để tránh né được sự chống trả của các kháng-thể và bảo toàn sự sống. (Điều này gặp khó khăn cho sự chế tạo các thuốc chủng). Những con vật nào nghiệp xấu hoặc vô-minh không biến đổi kịp thì bị tiêu diệt. Đối với sanh vật đơn bào, chúng mang theo những Nhiễm-Sắc-Thể (Chromosomes). Trên những nhiễm sắc thể này, người ta tìm thấy những căn mang tánh cách di truyền của con vật gọi là những gènes (di-truyền-căn). Thường những nhiễm sắc thể này cũng được cấu tạo bởi DNA. Chính những DNA này, nói rõ hơn, sự sắp xếp những chủng tử trên những DNA này đã chỉ huy số mạng của con vật. Hiện nay, khoa học đã phát minh được những phương pháp hóa-học có thể cắt xén hoặc sắp xếp lại thứ tự bằng cách ghép (splicing) những chủng-tử A-T hoặc C-G trên DNA của các tế bào để bắt con vật đơn-bào hay các tế-bào sống phải theo ý muốn của con người. Ở đây, người viết xin miễn đi sâu vào vấn đề quá chuyên môn và phức-tạp. Chỉ biết rằng ngành nghiên cứu tuy gọi là recombinant DNA hiện mở ra những phạm vi nghiên cứu vô cùng rộng lớn. Bước lên đến loài người là loài thượng đẳng hơn cả trong cõi Ta-Bà này thì sự nghiên cứu mang tánh chất phức-tạp hơn nhiều. Loài người cũng có những nhiễm-sắc-thể. Trên những nhiễm-sắc-thể cũng có những căn nguyên di truyền gọi là gènes và những nhiễm-sắc-thể này cũng được tạo bởi DNA. Thế nhưng DNA của loài người rất phức tạp. Thay vì chỉ có khoảng trên 9000 chủng tử như AIDS virus, người ta ước lượng có tới 3 tỉ chủng-tử A-T hoặc C-G trên DNA của người. Người ta đang làm sequencing (nghiên cứu thứ tự) những chủng-tử đó. Nhưng nếu làm xong và vẽ được cái biểu đồ DNA của loài người thì phải mất rất nhiều giấy mực. Do đó người ta chủ trương thu gọn từng đoạn một rồi dùng máy computer để ghi lại những dử-kiện về DNA của người. Đến khi cần nghiên cứu, nhà bác-học chỉ bấm máy lên là có ngay đoạn nghiên cứu. Nghiên cứu về các đoạn DNA của loài người, lại mở ra một phạm vi vô cùng rộng lớn và thích thú. Hiện nay người ta đã tìm được những chủng tử nào đặt ở đoạn nào thì sẽ chỉ huy số mạng của con người như thế nào. Một số các bịnh di truyền chẳng hạn đã tìm thấy nguyên do bằng những chủng-tử trên một đoạn nhứt định của DNA. Ngay đến giới cảnh sát hiện cũng đã tìm ra được một số những chủng-tử trên DNA chỉ huy tâm-thức của những kẻ tội phạm. Như vậy thì có sự liên hệ nào giữa A-Lại-Da-Thức của con người với DNA mà họ mang theo hay không? Mặc dầu A-Lại-Da-Thức là cái mà ta không thể nhìn thấy, nhưng phát-kiến mỗi ngày một sâu rộng về các gènes, các DNA có thể cho ta một hình ảnh tượng trưng của A-Lại-Da-Thức. Vì sao? 1/- Vì DNA mang theo các chủng-tử tượng trưng cho nghiệp-thức của con người qua các nẻo luân-hồi. Các chủng-tử đó khi gặp đúng “duyên sanh” sẽ chỉ-huy hành-động của con người đó. Người đó sẽ bị chỉ-huy từ trong siêu-thức, khó bề cưỡng lại được, chỉ trừ khi họ luôn luôn cảnh giác, luôn luôn tìm cách thăng hoa tâm-thức. Thí dụ: Một kẻ chết đi, mang theo một mối hận thù mà anh ta quyết sẽ trả. Chủng-tử hận thù nằm trọn trong A-Lại-Da-Thức nhiều năm nhiều kiếp. Cho tới một kiếp nào đó DNA của anh ta có những chủng-tử A-T và C-G nằm ở vùng hận thù. Tới khi nghiệp-thức đưa đẩy anh ta tới những cơ-hội đã trả hận, dù lương-tâm le-lói có cố gắng cản ngăn, nhưng anh ta vẫn bị điều khiển mạnh mẽ từ trong tâm-thức, với tiếng kêu gào của thù hận và anh ta khó có thể cưỡng lại được hành động của ngón tay khi bấm vào cò súng. Nhưng giả dụ như anh ta là một người tu hành và đã học được sự tha thứ. Những chủng-tử trên vùng thù hận sẽ mất dần cùng lúc với sự trong sáng của tâm-thức thì những cơ hội trả hận thù sẽ không còn đủ sức đưa anh ta vào tội ác nữa. 2/- Các chủng-tử A-T và C-G vì hết sức nhẹ nên dễ bị thu hút bởi các sức mạnh tinh-thần (dầu tinh-thần của một con người bình thường). Sự sắp xếp của chúng mới là điều khá quan trọng. Chúng sẽ được sắp xếp theo nghiệp-lực của chủ-thể. Cũng có những vùng gọi là vùng vô-ký. Mặc dù cũng vẫn có những chủng-tử A-T và C-G nhưng người ta không biết nó chỉ huy vấn đề gì trong cuộc sống con người. Ta có thể coi những vùng đó tượng-trưng cho sự cao cả của con người đứng trên mọi thiện ác. Sự sắp xếp những chủng-tử không phải là cố định. Một nhà tu với tâm-thức một ngày một trong sáng có thể cải đổi sự sắp xếp này. Nếu không thì biểu đồ DNA chính là một lá số tử-vi hết sức chính xác mà người ta có thể “xem” được ở mỗi cá nhân từ khi được lọt lòng mẹ. Tuy nhiên, lúc nào cũng nên nhớ rằng: “Đức năng thắng số” Kết luận bài viết đúc kết hôm nay: Những điều đã trình bày trên đây hiện đang được hàng trăm các phòng thí nghiệm trên khắp thế giới gia công nghiên cứu và chứng nghiệm. Chúng ta chỉ cần “ngồi chờ” khoa-học tiến bộ trong một thời gian nữa trước khi đi đến những kết luận vững chắc. Nhưng xin nhớ rằng, ngồi chờ, nhưng cố nâng cao tâm-thức cho thật trong sáng, đứng trên mọi “thiện ác đáo đầu chung hữu báo” để nhìn thấy sự đời không có gì vô cớ mà xảy ra. Vì mắt phàm không thấy được những gì đã tích trử trong A-Lại-Da-Thức. Chờ đến lúc nào đó sự việc phát hiện ra rồi, chừng đó mới hối tiếc. Kính mong người đọc bình tâm suy nghĩ và cố rán thực hiện những lời dạy của các đấng Vô Hình khuyến dạy. Mong thay! NGỌC-HUỆ-CHƠN Tài liệu tham khảo: - Kim-Định - Triết lý Giáo Dục - NXB. Ra Khơi - Nguyễn-Đăng-Thục - Triết-Lý đối chiếu - NXB. Nhị-Khê - Hoàng-Xuân-Việt - Thuật Luyện Tâm - NXB Đồng Tháp - Nguyễn-duy-Dung - Tâm hồn của Bạn - Hoàng-Xuân-Việt - Giác Quan thứ 6 là gì? - Nguyễn-thanh-Giảng - Duy-Thức-Học & Khoa-học hiện đại - Trung-Tâm nghiên-cứu Chiron
-
@hoangnt Anh xem thế nào không thì tảo hỏa nhập ma. Đang rất rõ ràng, không tẩu hỏa nhập ma đâu vì về lý thuyết Nhân Quả thì não của chúng ta có thể chứa dữ liệu ở mức độ vô cùng.
-
Vô Trước: [Như vậy, do thống nhất và đấu tranh với nhau giữa các lực lượng âm, dương, trong vạn tượng hình thành ba lực lượng là Chung, Âm, Dương với bản chất được mô tả ở trên, được gọi là Tam tài. Tam tài thể hiện sự tương tác thống nhất và đấu tranh với nhau của các lực lượng âm, dương trong vạn tượng. Quan hệ tương tác giữa ba lực lượng này làm cho Vạn tượng cân bằng và phát triển. Với sự phân tích trên thì Hạt cơ bản luôn phải có 3 yếu tố và vì vậy môi trường khởi nguyên của vũ trụ sẽ tồn tại một trạng thái liên kết nào đó sao cho vũ trụ tĩnh lặng, đồng nhất mọi hướng. Vì vậy môi trường giữa các Hạt cơ bản là "lực" với một trạng thái vật chất, rõ ràng là phải thô hơn Hạt cơ bản. Hạt cơ bản như mô tả chính là Lân vi trần còn các lực ban đầu như một lớp vỏ bọc. Bằng một đột biến nào đấy, vũ trụ vận động và thế giới Hậu Thiên ra đời. Các sự vật, hiện tượng mà chúng ta thấy hoặc chưa nhận biết đều phải xảy ra trong "lòng vũ trụ" hay trong một môi trường của trạng thái khởi nguyên, điều này chỉ ra ngay tại bây giờ chúng ta đang được "nhúng" trong trạng thái đó. Thế giới Hậu Thiên xuất hiện, lúc này các tương tác giữa các Hạt cơ bản sẽ bị điều chỉnh tương ứng (Tán) do việc hình thành các trạng thái vật chất khác nhau (Tụ) và tới cực hạn, "lực" không còn đủ sức "giữ" các trạng thái vật chất và vũ trụ tan rã. Để giải thích Linh hồn chúng ta dựa vào: Thuyết âm dương ngũ hành. Thuyết tiến hóa Đác Uyn. Thiên văn hiện đại. Chính bản thân con người và sinh vật.
-
Tác phẩm "Đại Việt quốc Lý gia Thái tổ Hoàng đế thiên đô kỷ sự bi" Đăng ngày: 21:13 05-10-2010 Thư mục: Vạn cơ thanh hạ Chương pháp toàn bức ảnh tư liệu: bản thảo trên giấy Đoạn 1: 大越國李家太祖皇帝遷都紀事碑 Đại Việt quốc Lý gia Thái Tổ hoàng đế thiên đô kỷ sự bi. (Bia chép việc dời đô của Thái Tổ hoàng đế nhà Lý nước Đại Việt) Đoạn 2: 雅南文學舘纂修 臣 陳光德 拜撰 戶部工商銀局秘書郎 臣 阮光維 謹書 工部員外郎 臣 範明善 範德智 敬鑿 夫帝都者,天子之京師;眾方之要會,体象乎天地;經緯乎陰陽。于以帝乘乾位而統萬民;居闕庭以成百制。察八荒之形勢,合天星垣局以開都;計萬載之基圖,得王氣正龍而啓宇。懋建皇極,蓋得天宜,浩浩巍巍,毓英儲秀。是故聖帝京畿,不壯不麗何以顯威;黎庶樞基,無廣無雄豈能仰德? 洪惟我大越李家太祖神武皇帝陛下,纘承丕緒,撫有四方,天運神功,日新睿聖。天眷命而符慶兆,誕生以白犬之文;運啓昌而示休徴,降臨有震檀之跡。德澤如九天雨露,潤及飛潛;仁恩似一宇陽明,熙周動植。以濟物 Nhã Nam văn học quán Toản tu thần Trần Quang Đức bái soạn Hộ bộ Công Thương ngân cục Bí thư lang thần Nguyễn Quang Duy cẩn thư Công bộ Viên ngoại lang thần Phạm Minh Thiện, Phạm Đức Trí kính tạc Phù đế đô giả, thiên tử chi kinh sư, chúng phương chi yếu hội, thể tượng hồ thiên địa, kinh vĩ hồ âm dương. Vu dĩ đế thừa Càn vị nhi thống vạn dân, cư khuyết đình dĩ thành bách chế. Sát bát hoang chi hình thế, hợp thiên tinh viên cục dĩ khai đô, kế vạn tải chi cơ đồ, đắc vương khí chính long nhi khải vũ. Mậu kiến hoàng cực, cái đắc thiên nghi, hạo hạo nguy nguy, dục anh trữ tú. Thị cố thánh đế kinh kỳ bất tráng bất lệ hà dĩ hiển uy? Lê thứ xu cơ vô quảng vô hùng khởi năng ngưỡng đức? Hồng duy ngã Đại Việt Lý gia Thái tổ Thần Võ hoàng đế bệ hạ! Toản thừa phi tự, phủ hữu tứ phương, thiên vận thần công, nhật tân duệ thánh. Thiên quyến mệnh nhi phù khánh triệu, đản sinh dĩ bạch khuyển chi văn, vận khải xương nhi thị hưu trưng, giáng lâm hữu chấn đàn chi tích. Đức trạch như cửu thiên vũ lộ, nhuận cập phi tiềm, nhân ân tự nhất vũ dương minh, hy chu động thực. Dĩ tế vật ... (Toản tu ở Văn học quán Nhã Nam thần Trần Quang Đức bái soạn Bí thư lang ở Công Thương ngân cục bộ Hộ thần Nguyễn Quang Duy cẩn thư Viên ngoại lang ở bộ Công thần Phạm Minh Thiện, Phạm Đức Trí kính tạc Xét đế đô, là nơi kinh sư của thiên tử, chính đất trọng yếu của muôn phương, án chiếu theo trời đất, dọc ngang với âm dương. Để mà đấng đế vương, ở ngôi Càn thống trị muôn dân, ngồi cung thất dựng nên trăm luật. Xem kỹ càng tám cõi thế đất, hợp thiên văn, địa lý đặng khai đô; Nghĩ sâu xa muôn thuở cơ đồ, được vương khí, mạch rồng mà cất điện. Ra công xây nền hoàng cực, cũng do được lẽ thiên nghi, nguy nga biết mấy, rộng lớn khôn bì, chứa đựng đẹp kỳ, dưỡng nuôi tinh tuý. Bởi vậy, kinh kỳ của thánh đế không tráng không lệ, lấy gì hiển uy? Then chốt của lê dân, chẳng lớn chẳng to, làm sao ngưỡng đức? Lớn lao thay Thái tổ Thần Võ Hoàng đế bệ hạ nhà Lý nước Đại Việt ta! Tiếp nối ngôi cả, vỗ về bốn phương; trời giúp kiến tạo thần công, ngày một rỡ ràng thánh trí. Trời ban số nên cho điềm tốt, sinh ra thời chó trắng hiện văn truyền; Đời sắp yên mới dấy việc lành, giáng thế có thân cây in vết sấm. Nguồn Đức ấy tựa chín tầng móc ngọt, tưới tắm loài cá lội chim bay; suối Nhân kia như một sớm nắng mai, thấm đẫm khắp cỏ cây muông thú. Lòng những niệm cứu người độ thế) Đoạn 3: 渡人爲念,遣慈航而泛苦津;以博施惠眾為心,揚慧炬而昭暗室。禦九五縱觀民物,抱太亨鎮鼎天南,履至尊普暢皇風,膺正統闡弘文獻。是以乾坤朗泰,宇宙豐亨,四幅謐寧,三陽軒豁。于斯林林總總,歌詠唐衢;皞皞熙熙,調光玉燭。庚戌順天元年,太祖以華閭城湫隘,不足為帝王居,欲遷之,乃手詔曰:昔商家至盤庚五遷,周室逮成王三徙。豈 三代之數君俱徇已私,妄自遷徙?以其圖大宅中,為億萬世子孫之計。上謹天命,下因民志,苟有便輒改;故國祚延長,風俗富阜。而丁黎二氏,乃徇已私,忽天 命,罔蹈商周之跡,常安厥邑於茲;致世代弗長,算數短促,百姓耗損,萬物失宜。朕甚痛之,不得不徙。況高王故都大羅城,宅天地區域之中,得龍 độ nhân vi niệm, khiển từ hàng nhi phiếm khổ tân, dĩ bác thi huệ chúng vi tâm, dương huệ cự nhi minh ám thất. Ngự cửu ngũ túng quan dân vật, bão Thái Hanh trấn đỉnh thiên Nam, lý chí tôn phổ sướng hoàng phong, ưng chính thống xiển hoằng văn hiến. Thị dĩ càn khôn lãng thái, vũ trụ phong hanh, tứ bức mật ninh, tam dương hiên khoát. Vu tư lâm lâm tổng tổng, ca vịnh Đường Cù; hạo hạo hy hy, điều quang ngọc chúc. Canh Tuất Thuận Thiên nguyên niên, Thái tổ dĩ Hoa Lư thành niểu ải, bất túc vi đế vương cư, dục thiên chi, nãi thủ chiếu viết: “Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi tam đại chi sổ quân câu tuần kỷ tư vọng tự thiên tỉ? Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế. Thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh, Lê nhị gia, nãi tuần kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp ư tư, chí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ. Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung, đắc long (Lòng những niệm cứu người độ thế, đưa thuyền từ vượt bể trầm luân; Chí vốn toan ích nước lợi dân, giương đuốc tuệ soi vùng ám tối. Trên cửu ngũ rộng xem muôn vật, giữ Thái Hanh trấn định trời Nam, đạp ngôi báu thổi ngọn hoàng phong, nắm chính thống xiển dương văn hiến. Bởi vậy, càn khôn sảng lãng, vũ trụ thênh thang, bốn cõi yên vui, một trời thông suốt. Này đây, hân hoan chốn chốn, ca ngợi đời Nghiêu; sáng sủa nơi nơi, rõ ra thịnh thế. Canh Tuất, Thuận Thiên năm thứ nhất, Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đô, bèn tự tay viết chiếu rằng: "Xưa, nhà Thương đến Bàn Canh thì năm lần thiên đô, đời Chu tới Thành Vương thì ba phen dời đổi. Há phải mấy vị quân vương thời Tam Đại, theo ý riêng mà tự tiện đổi dời? Làm thế để ở chỗ trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy tiện thì dời đổi. Cho nên, vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Thế mà hai họ Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng) Đoạn 4: 得龍蟠虎踞之勢, 正南北東西之位,便江山向背之宜;其地廣而坦平,厥土高而爽塏;民居蔑昏墊之困,萬物極繁阜之豊。遍覽越邦,斯為勝地。誠四方輻輳之要會,為萬世帝王之上都。朕欲因此地利以定厥居,卿等以為何如。羣臣皆曰:“陛下為天下建長久之計,上以隆帝業之丕洪,下以措斯民扵當庶,所利如此,誰敢不從”。 於戲!天理浩大,聖化久微,然眾曜有暝晦之期,元氣有餒虛之日,千古之滄桑,於斯知甚矣。刹那石爛松枯,星移斗轉,去聖逾遠,正道不初,國俗澆漓,文風頽靡,為當世士大夫者莫無切齒腐心,擗踊而痛絕之焉!當今遷京偉業,歷千周年,舉國同禧,普天交慶,臣等 叨承聖上之恩,遹紹先儒之志,下情無任,渴仰熙朝,迺續文風,仿乎舊制,採石斲碑,磨 bàn hổ cứ chi thế, chính nam bắc đông tây chi vị, tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải; dân cư miệt hôn điếm chi khốn, vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội, vi vạn thế đế vương chi thượng đô. Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng dĩ vi hà như?” Quần thần giai viết: “Bệ hạ vi thiên hạ kiến trường cửu chi kế, thượng dĩ long đế nghiệp chi phi hồng, hạ dĩ thác tư dân ư đương thứ, sở lợi như thử, thùy cảm bất tòng!” Ư hy! Thiên lý hạo đại, thánh hóa cửu vi, chúng diệu hữu minh hối chi kỳ, nguyên khí hữu nỗi hư chi nhật, thiên cổ chi thương tang, ư tư tri thậm hỹ. Sát na thạch lạn tùng khô, tinh di đẩu chuyển, khứ thánh du viễn, chính đạo bất sơ, quốc tục kiêu ly, văn phong đồi mĩ, vi đương thế sĩ đại phu giả, mạc vô thiết sỉ phủ tâm, thống tuyệt chi yên! Đương kim, thiên đô vĩ nghiệp, lịch thiên chu niên, cử quốc đồng hy, phổ thiên giao khánh, thần đẳng thao thừa thánh thượng chi ân; duật thiệu tiên Nho chi chí, hạ tình vô nhiệm, khát ngưỡng hy triều, nãi tục văn phong, phỏng hồ cựu chế, thái thạch trác bi, ma (rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tốt tươi phồn thịnh. Xem khắp nước Việt, đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương đất nước, đúng là nơi kinh đô bậc nhất của muôn đời đế vương. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?" Bề tôi đều nói: "Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế, ai dám không theo". Hỡi ôi! Lẽ trời rộng lớn, đạo thánh bền lâu, song tinh tú cũng có lúc lu mờ, nguyên khí cũng có thời trống rỗng, cuộc bể dâu thiên cổ, tới giờ kể xiết bao. Thấm thoắt, đá nát tùng khô, sao dời vật đổi, thánh hiền xa cách, chính đạo khác xưa, nếp tốt đà điêu linh, phong tục đà đạm bạc, kẻ sĩ đại phu đương thời ai chẳng nghẹn lòng mắm lợi, vỗ ngực dậm chân mà đau đớn thay cho! Đến nay, nghiệp lớn dời đô, trải nghìn năm chẵn, cả nước mừng vui, khắp trời rộn rã; chúng thần trộm nhờ ơn lớn của thánh thượng, gắng noi chí cả của tiên Nho, lòng này biết mấy cảm hoài, khắc khoải thuở nao rực rỡ, bèn nối văn phong, phỏng lệ cũ, chọn đá đẽo bia, mài) Đoạn 5: 磨硯撰紀。竊以:刻石為文一擧,自古有之,所以垂功德於有永,囑子孫之不忘,善者瞻之激昂,惡者瞻之羞怯。斯石之立也,欲賴天威以懲穨俗,凴神武而黜異端,末願金甌永固,寰寓肅清,文教重興,俗臻殷富。臣 器匪夙成,學當淺拙,誠惶誠恐,拜手頓首而獻銘曰: 欽維吾皇! 統禦萬方. 祇膺乾命, 正氣聖王. 且夫帝闕, 環宇中央. 軆象天地, 經緯陰陽. 宅中圖大, 民受其祥. 皇帝陛下, 明並曜英. 乾坤鍾粹, 日月儲精. 仁翔海表, 愛及蒼生. nghiên soạn kỷ. Thiết dĩ: khắc thạch vi văn nhất cử, tự cổ hữu chi, sở dĩ thuỳ công đức ư hữu vĩnh, chúc tử tôn chi bất vong, thiện giả chiêm chi kích ngang, ác giả chiêm chi tu khiếp. Tư thạch chi lập dã, dục lại thiên uy dĩ trừng đồi tục, bằng thần võ nhi truất dị đoan, mạt nguyện kim âu vĩnh cố, hoàn ngụ túc thanh, văn giáo trùng hưng, tục trăn ân phú. Thần khí phỉ túc thành, học đương thiển chuyết, thành hoảng thành khủng, bái thủ đốn thủ nhi hiến minh viết: Khâm duy ngô hoàng, Thống ngự vạn phương. Chỉ ưng Càn mệnh, Chính khí thánh vương. Thả phù đế khuyết, Hoàn vũ trung ương. Thể tượng thiên địa, Kinh vĩ âm dương. Trạch trung đồ đại, Dân thụ kỳ tường. Hoàng đế bệ hạ, Minh tịnh diệu anh. Càn khôn chung túy, Nhật nguyệt trữ tinh. Nhân tường hải biểu, Ái cập thương sinh. (nghiên viết chữ. Thiết nghĩ: Việc khắc đá viết văn, đời xưa đã có, cốt để nêu công đức cho mai hậu, dặn cháu con ấy đừng quên; người lành xem thời phấn chấn, sục sôi, kẻ ác thấy mà thẹn thùng, khiếp đảm. Việc lập bia này những muốn, mượn thiên uy dẹp tan bại tục, nhờ thần võ phế bỏ dị đoan, cuối cùng mong nước non bền vững, vũ trụ lặng trong, văn hiến trùng hưng, nếp lành nồng đượm. Thần tài chẳng bao lăm, học còn thô thiển, hết sức sợ hãi, chắp tay dập đầu dâng lời minh rằng: Khâm duy bệ hạ! Thống ngự muôn phương. Xứng ngôi Thiên tử, Đáng bậc thánh vương. Xét nơi đế khuyết, Đặt ở trung ương. Án theo trời đất, Ngang dọc âm dương. Mưu toan nghiệp lớn, Dân được an tường. Hoàng đế bệ hạ, Sáng suốt anh minh. Càn khôn chung đúc, Nhật nguyệt kết tinh. Lòng nhân cao cả, Yêu thương sinh linh) Đoạn 6: 順天庚戌, 遷都羅城. 天垂慶兆, 黃龍現形. 最為勝地, 以昇龍名. 高而爽塏, 廣而坦平. 萬物繁阜, 衆庶安生. 時歷千載, 伏蒙福霛. 扶持貺佑, 清穆繁荣. 追思隆澤, 竪碑作銘. 頌帝邁德, 勳績昭明. 伏願今後, 百廢俱興. 國人奮發, 志于雪螢. 煙火消盡, 海内肅清. 干戈摧折, 世界長寧. 龍飛庚寅年正月吉日造於京。 Thuận Thiên Canh Tuất, Thiên đô La thành. Thiên thùy khánh triệu, Hoàng long hiện hình. Tối vi thắng địa, Dĩ Thăng Long danh. Cao nhi sảng khải, Quảng nhi thản bình. Vạn vật phồn phụ, Chúng thứ an sinh. Thời lịch thiên tải, Phục mông phúc linh. Phù trì huống hựu, Thanh mục phồn vinh. Truy tư long trạch, Thụ bi tác minh. Tụng đế mại đức, Huân tích chiêu minh. Phục nguyện kim hậu, Bách phế cụ hưng. Quốc nhân phấn phát, Chí vu tuyết huỳnh. Yên hỏa tiêu tận, Hải nội túc thanh. Can qua tồi chiết, Thế giới trường ninh! Long phi, Canh Dần niên, Chính nguyệt, Cát nhật tạo ư kinh. (Thuận Thiên Canh Tuất, Dời đô La thành. Trời ban điềm tốt, Rồng vàng hiện hình. Thực vùng thắng địa, Thăng Long nên danh. Rộng mà bằng phẳng, Cao mà trong lành. Muôn vật tươi tốt, Dân chúng an sinh. Trải nghìn năm chẵn, Nhờ đội oai linh. Phù trì ban phúc, Hoà thuận phồn vinh. Tưởng nhớ đức trạch, Dựng bia viết minh. Ca tụng công đức, Rạng rỡ huân danh. Nguyện cầu sau nữa, Trăm nghề phục hưng. Lòng người phấn chấn, Gửi chí học hành. Khói lang tắt cả, Bốn bể thanh bình. Giáo gươm bỏ hết, Hoàn vũ an ninh. Long Phi, ngày lành, tháng Giêng, năm Canh Dần, tạo ở Kinh thành.)
-
Bản Chất Thật Của Pháp Luân Công?
hoangnt replied to Kim Cương's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
THẬP MỤC NGƯU ĐỒ (HAY MƯỜI BỨC TRANH TRÂU) Tác giả: Kakuan [Khuếch Am Sư Viễn: Kakuan Shion (J); Kuoan Shiyuan ©, khoảng 1150 - LND]) Trần Trúc Lâm chuyển ra Việt ngữ Từ tập '10 Bulls'; sao lục bởi Nyogen Senzaki và Paul Reps; Tranh do Tomikichiro Tokuriki. Sự giác ngộ mà Thiền nhắm tới, cũng do đó mà Thiền xuất hiện, tự nó lộ bày. Cũng như tri kiến, chợt có, chợt không. Nhưng con người trần tục bước đi trong yếu tố thời gian cũng như hắn đi trong bùn, kéo lê gót chân và bản lai diện mục của hắn. Cho nên, ngay cả Thiền cũng phải dung hòa và chấp nhận con đường tiệm ngộ mà dẫn đến đốn ngộ. Đó là mục đích của cuốn tập này. Trong thế kỷ thứ 12, Thiền sư Trung Hoa Kakuan họa bức tranh mười con trâu, dựa trên hình mười con trâu của Lão giáo, rồi viết lời nhận xét bằng văn xuôi và vần. Bản của Ngài thuần chất Thiền, sâu sắc hơn các bản trước, thường chỉ dừng ở KHÔNG của bức tranh thứ 8. Từ đấy, nó trở thành nguồn cảm hứng sâu xa cho các thiền sinh, và khá nhiều tranh phỏng theo bức họa của Kakuan đã được vẽ ra bao nhiêu thế kỷ. Bức họa dưới đây là bản mới nhất sáng tác bởi nhà nghệ nhân mộc bản nổi danh Tomikichiro Tokuriki, con cháu của giòng dõi nghệ nhân lâu đời và chủ nhân của trà thất Daruma-do (Daruma là chữ Nhật của Bồ Đề Đạt Ma, Tổ Thiền tông Trung Hoa thứ Nhất). Tranh chăn trâu của ông đẹp chân phương và ý nghĩa vô hạn chẳng khác gì tranh gốc của Kakuan. * Dưới đây là bản tu chính từ lời dẫn nhập của Nyogen Senzaki và Paul Reps trong ấn bản dịch lần thứ nhất. Con trâu là nguyên khí miên viễn của đời sống, chân lý vận hành. Mười con trâu biểu hiện cho những bước tuần tự trong sự chứng ngộ bản lai diện mục (hay thực tánh, hay phật tánh). Sự tuần tự này vẫn còn công hiệu như thời Kakuan (1100-1200) khai triễn từ các tác phẩm cổ và vẽ tranh trâu. Ở Hoa Kỳ, tám thế kỷ sau chúng tôi cũng làm cùng một công tác để giử cho trâu sống động. (Ở Tokyo, Tukuriki cũng đã làm như thế.) Một sự hiểu biết về nguyên tắc sáng tạo vượt qua thời gian và nơi chốn. Thập mục ngưu đồ còn hơn cả thơ, hơn cả tranh. Nó là sự khai thị về giác ngộ tâm linh hàm chứa trong bất kỳ thánh kinh nào của con người. Mong rằng cũng giống như vị Thiền tổ Trung Hoa, đọc giả khám phá ra được vết chân tự tại của ngài, mang cây trượng mục tiêu của ngài và chiếc vò rượu thực đam mê, thường vi hành phố chợ để giác tha. * 1. ĐI TÌM TRÂU (TẦM NGƯU) Trong cánh đồng của thế gian này, ta không ngừng vạch cỏ cao đi tìm trâu. Theo những dòng sông không tên, lạc vào những đường mòn chằng chịt trong những dãy núi xa, Sức đã kiệt và thân rã rời nhưng ta vẫn chưa tìm thấy trâu đâu cả. Ta chỉ nghe côn trùng rã rích trong rừng suốt đêm. Lời bàn: Con trâu chẳng bao giờ thất lạc. Nó vẫn sờ sờ ra đó đâu phải kiếm tìm? Chẳng qua chỉ vì ta rời xa thực tướng cuả mình nên ta không hề thấy nó. Trong sự mê muội của giác quan mà ta mất cả dấu vết của nó. Ở xa căn nhà, ta thấy nhiều ngỏ đan nhau, ta không biết đâu là con đường chính. Lòng tham và sợ hãi, tốt và xấu ràng buộc lấy ta. 2. TÌM ĐƯỢC DẤU CHÂN TRÂU (KIẾN TÍCH) Dưới những tàn cây dọc theo bờ sông, ta tìm thấy những dấu chân trâu! Ngay cả dưới làn cỏ thơm ta thấy những dấu chân của nó. Lần sâu vào những dãy núi xa chúng được tìm thấy. Những vết này không thể che dấu được như mũi ngước nhìn trời. Lời bàn: Hiễu được lời dạy, ta thấy dấu chân của trâu. Rồi ta biết rằng, như nhiều dụng cụ được chế từ một kim lọai, muôn vàn thực thể đều do ngã tạo ra. Làm sao ta thấy được thực và ảo nếu ta không phân biệt? Khi chưa vào được cửa, hẳn nhiên ta phải tìm cho ra con đường. 3. THẤY TRÂU (KIẾN NGƯU) Ta nghe có tiếng hót của chim họa mi. Nắng ấm, gió êm, lau lách xanh tươi dọc bờ sông, Ở đây trâu nào trốn được! Họa sĩ nào có thể vẽ được cái đầu lớn này, cặp sừng to nọ? Lời bàn: Nếu ai nghe tiếng, có thể cảm nhận được nguồn. Vừa khi lục căn hòa hợp, cửa đã nhập. Bất cứ căn nào vào ta cũng đều nhìn thấy đầu con trâu! Sự hòa hợp này cứ như muối tan trong nước, như sắc màu trong thuốc nhuộm. Vật dù nhỏ bé nhất cũng không rời khỏi bản ngã. 4. BẮT ĐƯỢC TRÂU (ĐẮC NGƯU) Sau một cuộc đánh vật vất vả ta nắm được nó. Ý chí và sức lực của nó dữ dội không suy suyển. Nó vùng chạy lên đồng cao ngàn mây che phủ, Hoặc đứng sững dưới vực sâu không có nẽo vào. Lời bàn: Nó sống trong rừng đã lâu, nhưng ta bắt được nó hôm nay! Sự đắm say cảnh sắc đã làm nó lạc đường. Vì ham muốn cỏ ngon hơn, nó lang thang phiêu bạc. Tâm của nó còn bướng bỉnh và không chịu thuần phục. Nếu muốn nó nghe lời, ta phải dùng roi. 5. THUẦN HÓA TRÂU (MỤC NGƯU) Roi và dây thật là cần, Không thì nó lại chạy càn xuống con đường đất bụi. Được huấn luyện tốt thì tự nhiên nó trở nên nhu hòa. Rồi khi được thả, nó biết nghe lời chủ. Lời bàn: Một niệm khởi thì niệm khác theo sau. Khi niệm đầu nẫy sinh từ giác ngộ, thì những niệm kế tiếp là chân thực. Do mê muội mà mọi vật trở nên không thực. Ảo tưởng không từ ngoại cảnh mà bởi chủ quan. Hãy nắm chặt dây xỏ mũi và không nên nghi ngại. 6. CỞI TRÂU VỀ NHÀ (KỊ NGƯU QUI GIA) Cởi trâu, ta thong thả quay về nhà Tiếng tiêu của ta réo rắc chiều tà Ngón tay láy nhịp, ta hòa điệu không ngừng. Ai nghe nhạc khúc du dương này xin tấu cùng ta. Lời bàn: Cuộc tranh đấu đã qua; được hay thua đều không khác. Ta hát bài ca của tiều phu và thổi điệu đồng giao. Cởi trâu, ta ngắm mây trôi bồng bềnh. Ta đi tới dù ai có gọi giật lại. 7. KHÔNG CÒN TRÂU (VONG NGƯU TỒN NHÂN) Cởi trâu, tôi về đến nhà Lòng tôi thanh thản. Cũng thế, trâu yên nghỉ. Chiều buông xuống an hòa diệu vợi, Trong căn nhà tranh, tôi cất roi và dây. Lời bàn: Tất cả đều là Pháp bất nhị. Ta chỉ tạm mượn chuyện trâu. Nó cũng như sự tương quan giửa thỏ và bẩy, giửa cá và lưới, giửa vàng và cặn, hay trăng vừa ló khỏi mây. Một tia sáng xuyên suốt vô thỉ vô chung. 8. CẢ TRÂU VÀ KẺ CHĂN ĐỀU KHÔNG (NHÂN NGƯU CÂU VONG) Roi, dây, người, và trâu - tất cả tan vào KHÔNG. Cõi trời bao la nên không điều gì có thể để lại dấu. Làm thế nào một bông tuyết có thể tồn tại trong lửa hồng? Đây là vết chân của chư Tổ. Lời bàn: Nhiễu sự đã qua. Tâm không còn chướng ngại. Ta không mong cầu cõi giác ngộ. (Dịch giả thêm: "... Vô khổ, tập, diệt đạo. Vô trí diệc vô đắc" ..."Tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố. Vô hữu khủng bố viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết Bàn" Xem Bát Nhã Tâm Kinh - LND). Ta cũng không trú vào nơi không giác ngộ. Vì ta không vướng mắc vào cả hai, mắt không hề nhìn thấy ta. Nếu hàng vạn chim cúng hoa trên đường ta đi, sự tán thán đó cũng chỉ là vô nghĩa. 9. TRỞ VỀ NGUỒN (PHẢN BẢN HOÀN NGUYÊN) Đã nhọc lắm công mới quay được về nguồn. Biết thế khởi đầu nên bị mù và điếc! An trú trong nhà mình, chẳng bận tâm đến sắc đến không, Con sông mãi trôi êm đềm và hoa vẫn đỏ. Lời bàn: Ngay từ ban đầu, chân lý đã sáng tõ. Qua thiền định, ta quán đến sắc tướng hợp tan. Nếu ai không chấp vào sắc tướng thì vốn đã tự tại. Nước xanh lóng lánh, núi thẩm đậm màu, và ta thấy cái đang tạo hình và cái đang tan rữa. 10. THÕNG TAY VÀO CHỢ HAY NHẬP THẾ (NHẬP TRIỀN THÙY THỦ) Ngực trần chân đất, ta chen vai cùng nhân thế. Áo rách bụi nhơ, nhưng ta thật an hòa. Ta nào cần ma thuật để được sống lâu; Ngay lúc này, trước mặt ta, hàng cây khô sống lại. Lời bàn: Bên trong cánh cổng của ta, chư thánh chẳng biết ta. Vẻ đẹp của mảnh vườn ta không ai thấy được. Tại sao người ta phải đi tìm dấu chân chư Tổ? Ta thõng tay vào chợ với bầu rượu và quay về với gậy trúc. Ta ghé tửu quán và phố chợ, và bất cứ ai ta nhìn cũng thành giác ngộ. Hình như sắp xếp bức 8 là 9 và ngược lại. Kakuan (1100-1200) khai triễn từ các tác phẩm cổ và vẽ tranh trâu: chưa chắc là tác giả. -
Lý Nam Đế Lý Bí (544-602) Năm Ất Dậu (265), nhà Tấn đánh bại Ngụy, Thục, Ngô, đất Giao Châu lại thuộc về nhà Tấn. Nhà Tấn lại phong cho họ hàng ra trấn trị các nơi, nhưng các thân vương cứ dấy binh chém giết lẫn nhau, làm cho anh em cốt nhục tương tàn, nước Tấn nhanh chóng suy yếu. Nhân cơ hội ấy, các nước Triệu, nước Tần, nước Yên, nước Lương, nước Hạ, nước Hán v.v...nổi lên chiếm cả vùng phía Bắc sông Trường Giang, nhà Tấn chỉ còn vùng đất ở Đông Nam, phải dời đô về Kiến Nghiệp (Nam Kinh ngày nay) gọi là nhà Đông Tấn. Năm Canh thân (420), Lư Du cướp ngôi nhà Đông Tấn, lập ra nhà Tống ở phía Nam. Nước Trung Quốc phân ra làm Nam Triều và Bắc Triều. Bắc triều có nhà Ngụy, nhà Tề và nhà Chu, nối nhau làm vua. Nam triều có nhà Tống, nhà Tề, nhà Lương và nhà Trần trị vì. Năm Kỷ mùi (479) nhà Tống mất ngôi nhà Tề kế nghiệp, trị vì được 22 năm thì nhà Lương lại cướp ngôi nhà Tề. Nhà Lương sai Tiêu Tư sang làm thứ sử Giao Châu. Cũng như các triều đại phong kiến Trung Quốc thuở trước, các viên quan lại nhà Lương sang cai trị Giao Châu đã áp dụng những biện pháp khắc khe, độc ác khiến dân Giao Châu cực khổ trăm bề , người người đều oán giận. Bởi vậy, năm 542, Lý Bôn đã lãnh đạo dân Giao Châu nổi lên đánh đuổi Tiêu Tư, chiếm giữ thành Long Biên lập nên nhà nước đầu tiên. Lý Bôn còn gọi là Lý Bí quê ở Long Hưng Thái Bình, xuất thân từ một hào trưởng địa phương. Tổ tiên Lý Bí là người Trung Quốc, lánh nạn sang nứơc ta từ cuối thời Tây Hán, khỏang đầu công nguyên. trải qua 07 đời, đến Lý Bí thì dòng họ Lý Bí đã ở Việt Nam hơn 5 thế kỷ. Chính sử Trung Quốc đều coi Lý Bí là "Giao Châu thổ nhân" Lý Bí sinh ngày12 tháng 9 năm Quý Mùi (17-10-503). Ông là con độc nhất trong gia đình. Bố là Lý Tỏan mẹ là Lê Thị Oánh (người Ái Châu Thanh Hóa) từ nhỏ Lý bí đã tỏ rõ là cậu bé thông minh, sớm hiểu biết. Khi Lý Bí 5 tuổi thì cha mất, 7 tuổi mẹ qua đời, Cậu bé bất hạnh phải đến ở với chú ruột. Một hôm có một vị pháp tổ tiền sư đi qua, trông thấy Lý Bí khôi ngô, tuấn tú; liền xin Lý Bí đem về chùa Linh Bảo nuôi dạy. Quả hơn mười năm đèn sách chuyên cần, lại được vị thiền sư gia công chỉ bảo, Lý Bí trở thành người học rộng, hiểu sâu, ít người sánh kịp. Nhờ có tài văn võ kiêm tòan, Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương. Có thời kỳ Lý Bí ra làm quan cho nhà Lương, nhận chức giám quân (kiểm soát quân sự) ở Cửu Đức, Đức Châu (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Nhưng do bất bình với bọn đô hộ tàn ác, Lý Bí bỏ quan, về quê, chiêu binh mãi mã chống lại chính quyền đô hộ. Tù trưởng ở Chu Diên (Hải Hưng) là Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục, mến tài đức Lý Bí đã đem quân nhập với đạo quân của ông. Rồi Tinh Thiều, Phạm Tu, và hào kiệt các nơi cùng nổi dậy hưởng ứng. Tháng giêng năm Nhâm tuất (542), Lý bí khởi binh tấn công giặc. Không đương nổi sức mạnh của đoàn quân khởi nghĩa, thứ sử Tiêu Tư khiếp sợ không dám chống cự, vội mang của cải, vàng bạc đút lót cho Lý Bí xin được toàn tính mạng, chạy về Trung Quốc. Không đầy 3 tháng, Lý Bí đã chiếm được hầu hết các quận, huyện và thành Long Biên. Được tin Long Biên thất thủ, vua Lượng lâp tức ra lệnh cho quân phản công chiếm lại. Bọ xâm lược vừa kéo sang bị Lý Bí cho quân mai phục đánh tan. Đầu năm Quý dậu (543) vua Lương lại huy động binh mã sang xâm lược một lần nữa. Tướng sợ giặc còn khiếp sợ còn dùng dằng chưa dám tiến quân, thì Lý Bí đã chủ động ra quân, đón đánh giặc ở bán đảo Hợp Phố , miền cực bắc Châu Giao. Quân Lương mười phần chết bảy, tám. Tướng địch bị giết gần hết, kẻ sống sót cũng bị vua Lương bắt phải tự tử. Tháng hai năm Giáp Tý (544) Lý Bí tụ xưng là Hòang Đế lấy hiệu là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân (ước muốn xã tắc truyền đến muôn đời), đặt kinh đô ở miền cửa sông Tô Lịch ( Hà Nội) và cho dựng điện Vạn Thọ làm nơi vua quan họp bàn việc nước. Triều đình gồm có hai ban văn võ. Phạm Tu được cử đứng đầu hàng quan võ. Tinh Thiều đứng đầu hàng quan văn, Triệu Túc làm tái phó, Triệu Quang Phục là tướng trẻ có tà cũng được trọng dụng. Không thấy tên kinh đô? Lý Nam Đế sai dựng một ngôi chùa lớn ở phường Yên Hoa ( Yên Phụ) lấy tên là chùa Khai Quốc, sau này trỏ thành một trung tâm phật giáo và phật học lớn của nước ta. Chùa Khai Quốc là tiền thân của chùa Trấn Quốc, trên đảo cá vàng (Kim Ngư) ở Hồ Tây (Hà Nội). Việc Lý Bí đặt tên nước là Vạn Xuân, tự xưng là Hoàng Đế, lập một triều đình riêng ngang hàng với nước lớn phương bắc là sự khẳng định chủ quyền độc lập dân tộc, sự bền vững muôn đời của đất trời phương nam. Xem lại Lý Bí là người Hoa Bắc?
-
Câu đối ở đền thờ Lý Nam Đế tại Giang Xá - Hoài Đức: Thiên Đức hồng cơ long tỉnh Bắc Vạn Xuân cung quyết phượng thành đông Dịch Thiên Đức mở nền móng tại quận rồng ở Bắc Vạn Xuân dựng cung điện gọi phượng thành bên Đông "Phượng Thành Đông" có thể là chỉ thành Thăng Long. Như vậy rất hợp với câu đối tại đền Bạch Mã là đều có nói Phượng thành. Lý Nam Đế (chữ Hán: 李南帝; 503–548) là vị hoàng đế sáng lập nhà Tiền Lý và khai sinh nhà nước Vạn Xuân trong lịch sử Việt Nam. Ông tên thật là Lý Bí (李賁), còn gọi là Lý Bôn[1], người làng Thái Bình, phủ Long Hưng[2], Việt Nam (khoảng Thạch Thất và thị xã Sơn Tây, Hà Nội). [1] Lý Nam Đế có tài văn võ. Ông đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, đánh đuổi được quân đô hộ, rồi xưng là Nam Đế (vua nước Nam), đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên (chưa rõ ở đâu, có lẽ gần thành phố Bắc Ninh ngày nay). Phía Đông là so với Sơn Tây nên chắc chắn chỉ tới khu vực Thăng Long thành. Ông lấy tên Phượng thành có nhiều ý nghĩa: Phượng cũng là phương Nam, là Ly Hỏa... biểu tượng nước Nam. Chùa Trấn Quốc (鎭國寺) nằm trên một hòn đảo phía Đông Hồ Tây (quận Tây Hồ), chùa có lịch sử 1500 năm, được coi là lâu đời nhất ở Thăng Long - Hà Nội. Kiến trúc chùa có sự kết hợp hài hoà giữa tính uy nghiêm, cổ kính với cảnh quan thanh nhã giữa nền tĩnh lặng của một hồ nước mênh mang. Là trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long vào thời Lý và thời Trần. Với những giá trị về lịch sử và kiến trúc, chùa Trấn Quốc nổi tiếng là chốn cửa Phật linh thiêng, là điểm thu hút rất nhiều tín đồ Phật tử và khách tham quan, du lịch trong ngoài Việt Nam. Chùa được xây dựng lần đầu vào thời vua Lý Nam Đế (544 – 548) ở trên bãi sông Hồng, thuộc địa phận làng An Hoa, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên (phường Yên Phụ, quận Tây Hồ ngày nay)[1]. Khi đó ngôi chùa được đặt tên là Khai Quốc. Đến triều Lê Thái Tông thế kỷ 15, chùa được đổi tên là An Quốc. Đến năm 1615, do bờ tả bãi sông Hồng bị lở đến sát nền chùa nên dân và chính quyền đã cho dời toàn bộ chùa về hòn đảo Kim Ngư nằm gần bờ phía Đông của Hồ tây. Năm Canh Thân (1620) con đường dẫn vào đảo cũng đã được hoàn thiện. Chùa có tên là Trấn Quốc vào cuối thế kỷ 17, đời vua Lê Hy Tông. Chùa Trấn Quốc chính là một dấu hiệu của đế đô, chưa kể Thăng Long tứ trấn . Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng tên Phượng thành này là tên cổ thời Hùng Vương và Lý Nam Đế thống nhất quốc gia và khôi phục lại mà thôi. Về kinh đô của nước Vạn Xuân: "Lý Nam Đế có tài văn võ. Ông đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, đánh đuổi được quân đô hộ, rồi xưng là Nam Đế (vua nước Nam), đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên. Về Thành long Biên: Thành Long Biên toạ lạc tại xã Hoà Long huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, nay là xã Hoà Long. thành phố Bắc Ninh.( Sách Dư địa chí Bắc Ninh). Hiện nay tại xã Hoà Long, thành phố Bắc Ninh còn rất rõ dấu tích một dạng thành cổ. Thành cổ nằm sát đê sông Cầu, có dạng hình tròn, thành nội là một ốc đảo dạng hình tròn có diện tích khoảng 50ha; hào nước bao quanh chỗ rộng nhất đến 147m, chỗ hẹp nhất cũng hơn 100m,chu vi ngoài của hào nước dài 3340m, ngoài hào nước có đường bao quanh dài 3865m. Tổng diện tích khu vực này là 112,5 ha. Không rõ ràng lắm, xây thành Long Biên ở Bắc Ninh nhưng xây chùa "Trấn Quốc" ở Hà Nội???. Trấn quốc là bảo vệ đất nước, phải ở trung tâm tức kinh đô. Nhưng thời gian trị vị của vua Lý Nam Đế quá ngắn ngủi, nên chùa trấn Quốc có thể là một ngôi chùa đã có trước đó và được chỉnh trang lại. Ngày nay, chúng ta có cầu Long Biên - được đặt tên sau 1500 năm, tuy nhiên vẫn phải có ý nghĩa của nó, có thể xem là Long Biên là ranh giới của Tư Long thánh - thành Cổ Loa bên kia sông Hồng (Nhị Hà) tức khu vực Hà Nội ngày nay đang ráp ranh sông Hồng. Vậy thì tại sao Sử Ký Đại Việt Toàn Thư lại ghi chép vua Lý Nam Đế đóng đô ở Long Biên??? dựa trên dữ liệu nào???
-
Vấn đề Khí được xem là Lân vi trần là dạng vật chất nhỏ nhất - làm sao có thể chứng minh và phân loại các hạt như trên? Nếu chấp nhận Hạt cơ bản là nhỏ nhất thì giai đoạn khởi nguyên vũ trụ thì toàn bộ không gian chỉ bao gồm các hạt cơ bản liên kết với nhau, đồng chất - vậy thì rõ ràng giữa chúng phải tồn tại các lực tương tác ban đầu, điều này chỉ ra sự mâu thuẫn rằng: nếu chỉ có hạt cơ bản thì tương tác giữa chúng cũng là vật chất thì phải là hạt gì hay tự thân Hạt cơ bản liên kết?. Như vậy, logic thì liên kết ban đầu này là lớp vỏ của Hạt cơ bản và là một dạng vật chấp cấp thấp hơn tức hạt lớn hơn nhằm tiềm ẩn hay tàng trữ các trạng thái Âm dương Ngũ hành của vạn vật. Lúc này giữa Hạt cơ bản và lớp vỏ sẽ là các lực liên kết tạo thành: Nhân - Vỏ - Lực ban đầu của vũ trụ. Sau khi vũ trụ vận động, vạn vật hình thành thì KHÍ được hình thành hay ngay trong giai đoạn khởi nguyên đã có KHÍ? Chúng ta cũng có thể dùng lý luận này chứng minh Linh hồn tồn tại được.
-
Cảm ơn Bác Minh Xuân về thông tin quý. Như vậy, một trong những bí ẩn cần xử lý là tại sao tên Phượng thành mà không phải là một tên khác cũng là một câu hỏi khó khăn. Triệu Đà và nước Nam Việt trong dòng chảy lịch sử Việt Nam Bài viết này được mặc thảo theo đề nghị của Giáo sư trợ giảng Hàn Hiếu Vinh tức Xiaorong Han (Khoa Lịch sử và Nhân loại học, ĐH Butler - Hoa Kỳ). Hy vọng đây sẽ là đóng góp nhỏ vào nỗ lực mà ông Hàn đang ôm ấp cùng một số đồng nghiệp tại Trung Hoa lục địa: Hóa giải những mâu thuẫn lịch sử quốc gia giữa Việt Nam và Trung Hoa trên cùng một chủ đề nước Nam Việt thời Tây Hán. Tuy vậy, góc nhìn ở đây sẽ bị ràng buộc bởi khuôn khổ những giả thuyết tổng thể về cổ sử Việt Nam trong "Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam" mà tác giả đã từng giới thiệu trên các báo điện tử . Qua đây, tôi cũng xin thay mặt ông Hàn gửi lời mời trân trọng đến các cây bút chuyên nghiệp hơn góp thêm tiếng nói, hầu đa dạng và phong phú hóa các quan điểm Việt Nam về Nhà Triệu và nước Nam Việt. 1. Những mô tả về nước Nam Việt của hiến sử Việt Nam trước năm 1400: Tập hiến sử đầu tiên của Việt Nam còn bảo tồn dược đến hôm nay là An Nam Chí Lược của Lê Tắc (viết năm 1335). Ở quyển Đệ nhất Lê Tắc xếp nhà Triệu là khởi triều, nếu không kể một ít nguồn gốc Giao Chỉ - Việt Thường dựa vào tích "Giao Chỉ chi nam hữu Việt Thường quốc" được nhiều sách đời sau dẫn từ Thượng Thư Đại truyện. Song có một phần sự kiện liên quan được kê cứu như cổ tích. Nhà Tần (246-207 trước công nguyên) lấy Giao Chỉ làm Tượng-Quận; đến khi nhà Tần loạn thì Đô-uý quận Nam-hải là Triệu-Đà nổi binh đánh lấy hết các quận quốc, rồi tự lập làm vua. Khi ấy, Hán-Cao-Tổ sai Lục-Giả qua lập Đà làm Việt-Vương. Sau khi Cao-Tổ băng, Cao-Hậu cấm Nam-Việt mua đồ sắt của Trung-Quốc, Đà tiếm hiệu xưng đế, rồi phát quân đi đánh Trường-Sa. Văn-đế lại sai người đưa thư qua trách Đà. Đà có ý sợ, bèn bỏ hiệu đế, nguyện làm tôi và cống hiến phẩm vật. Năm Kiến-Nguyên thứ 3, (vua Võ-đế, 142 trước công nguyên) Đà mất, con cháu họ Triệu truyền xuống bốn đời, kể được hơn chín mươi năm. Võ-đế sai Chung-Quân đi sứ qua Nam-Việt để dụ vua Việt tên là Hưng vào chầu, Hưng muốn đi, nhưng bị tướng Lữ-Gia can ngăn, vua không nghe, Gia làm phản, nổi binh đánh giết vua và cả sứ-gả nhà Hán, lập Kiến-Đức là anh khác mẹ lên làm vua Nam-Việt. Năm Nguyên-Đinh thứ 5 (112 trước công nguyên), Vệ-Uý là Lộ-Bác-Đức xuất mười vạn quân qua đánh Nam-Việt, năm thứ sáu, mới đánh bại người Việt, lấy đất đó chia làm các quận: Nam-Hải, Thương-Ngô, Uất-Lâm, Hợp-Phố, Giao-Chỉ, Cửu-Chân, Nhật-Nam, Châu-Nhai và Đam-Nhỉ, mỗi quận đặt Thái-thú để cai trị. Phần "Cổ tích" Việt-Vương-Thành, tục gọi là thành Khả-Lũ, có một cái ao cổ, Quốc-vương mỗi năm lấy ngọc châu, dùng nước ao ấy rửa thì sắc ngọc tươi đẹp. Giao-Châu Ngoại-Vực-Ký chép: hồi xưa, chưa có quận huyện, thì Lạc-điền tuỳ theo thuỷ-triều lên xuống mà cày cấy. Người cày ruộng ấy gọi là Lạc-Dân, người cai-quản dân gọi là Lạc-Vương, người phó là Lạc-Tướng, đều có ấn bằng đồng và dải sắc xanh làm huy hiệu. Vua nước Thục, thường sai con đem ba vạn binh, đi chinh phục các Lạc-Tướng, nhân đó cử giữ đất Lạc mà tự xưng là An-Dương-Vương. Triệu-Đà cử binh sang đánh. Lúc ấy có một vị thần tên là Cao-Thông xuống giúp An-Dương-Vương, làm ra cái nỏ thần, bắn một phát giết được muôn người. Triệu Đà biết địch không lại với An-Dương-Vương, nhân đó trú lại huyện Võ-Ninh, khiến Thái-Tử Thuỷ làm chước trá hàng để tính kế về sau. Lúc Cảo-Thông đi, nói với vua An-Dương-Vương rằng: "Hễ giữ được cái nỏ của ta, thì còn nước, không giữ được thì mất nước". An-Dương-Vương có con gái tên là Mỵ-Châu, thấy Thái-Tử Thuỷ lấy làm đẹp lòng, rồi hai người lấy nhau. Mỵ-Châu lấy cái nỏ thần cho Thái-Tử Thuỷ xem, Thuỷ xem rồi lấy trộm cái lẩy nỏ mà đổi đi. Về sau Triệu-Đà kéo quân tới đánh thì An-Dương-Vương bại trận, cầm cái sừng tê vẹt được nước vào biển đi trốn, nên Triệu-Đà chiếm cả đất của An-Dương-Vương. Nay ở huyện Bình-Địa, dấu tích cung điện và thành trì của An-Dương-Vương hãy còn. Đại Việt sử ký (Lê Văn Hưu - 1272) Năm 1272 Lê Văn Hưu viết xong bộ Đại Việt sử ký gồm 30 quyển. Hiện nay sách này đã thất truyền. Theo Trần Trọng Kim, quyển sử ấy chép việc từ Triệu Vũ Vương đến Lý Chiêu Hoàng. Đại Việt sử lược (Khuyết danh - năm 1388) Sách này đầu tiên kể đến Hoàng Đế, một vị vua truyền thuyết của Trung Hoa không thống thuộc được Giao Chỉ. Qua đời Trang Vương (696 - 682 TCN) thì vua Hùng xuất hiện. Phần truyền thuyết về họ Triệu trong An Nam Chí Lược đã được biên tập bớt hoang đường. Cuối đời nhà Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi rồi lên thay. Phán đắp thành ở Việt Thường, lấy hiệu là An Dương Vương rồi không cùng với họ Chu thông hiếu nữa. Cuối đời nhà Tần, Triệu Đà chiếm cứ Uất Lâm, Nam Hải, Tượng quận rồi xưng vương đóng đô ở Phiên Ngung, đặt quốc hiệu là Việt, tự xưng là Võ Vương. Lúc bấy giờ An Dương Vương có thần nhân là Cao Lổ chế tạo được cái nỏ liễu bắn một phát ra mười mũi tên, dạy quân lính muôn người. Võ Hoàng biết vậy bèn sai con là Thủy xin sang làm con tin để thông hiếu. Sau nhà vua đãi Cao Lỗ hơi bạc bẽo. Cao Lỗ bỏ đi, con gái vua là Mỵ Châu lại cùng với Thủy tư thông. Thủy phỉnh Mỵ Châu mong được xem cái nỏ thần, nhân đó phá hư cái lẫy nỏ rồi sai người trình báo với Võ Hoàng. Võ Hoàng lại cất binh sang đánh. Quân kéo đến, vua An Dương Vương lại như xưa là dùng nỏ thần thì nỏ đã hư gẫy, quân lính đều tan rã. Võ Hoàng nhân đó mà đánh phá, nhà vua ngậm cái sừng tê đi xuống nước. Mặt nước cũng vì ngài mà rẽ ra. Đất nước vì thế mà thuộc nhà Triệu. Câu cuối cùng trong phần trích trên là lí do căn bản để Đại Việt sử lược xếp nhà Triệu là một triều đại Việt Nam, kéo dài 93 năm với các đời vua: Triệu Vũ Đế, Triệu Văn Vương, Triệu Minh Vương, Triệu Ai Vương, Triệu Vệ Dương Vương. Cái nhìn của hiến sử Việt Nam với nhà Triệu và nước Nam Việt phải đặt trong toàn cảnh lịch sử chính trị - xã hội Việt Nam cùng thời. Dưới lăng kính tiến hóa chính trị và vận động xã hội mới nêu bật được những mâu thuẫn nội tại của sử sách Việt Nam và con người Việt Nam trên cùng một dữ liệu lịch sử. Học giả người Nhật, Yumio Sakurai, qua nghiên cứu cách định cư và nông nghiệp thời Lý đã lập luận nhà Lý là một triều đại địa phương, nhiều thế lực địa phương khác đến thế kỉ 13 mới bị nhà Trần trấn áp hoàn toàn (1). Đây phải chăng là tàn tích của nạn "xứ quân" từ thế kỉ 10. Tuy vậy, tác giả bài này không tin rằng thế kỉ 13 mô hình nhà nước phân quyền kia đã được thay bằng công thức phong kiến tập quyền tuyệt đối. Bằng chứng nằm tại "Hịch tướng sĩ" năm 1284 của Trần Hưng Đạo. Mặc dù là "Tiết chế" thống lĩnh toàn quân, lời văn của Trần Hưng Đạo trong "hịch tướng sĩ" mang phong thái khuyến dụ hơn là quân lệnh bắt buộc phải tuân theo. Như vậy tại đỉnh cao đoàn kết chống ngoại xâm, ở thời thịnh trị nhất của nhà Trần, dấu vết phân quyền chưa phai nhạt thì không có lẽ nào đến khi Trần mạt hình thức ấy có nhiều thay đổi. Niên đại 1388 của Đại Việt sử lược là thời kì Trần mạt. Lúc này một nhân vật lịch sử còn nhiều tranh cãi sắp bước lên vũ đài chính trị Việt Nam là Hồ Quí Ly. Các chính sách cai trị của họ Hồ một lần nữa khẳng định quyết tâm tập quyền của ông: 1. Làm tiền giấy, cải cách thuế má, thống nhất tài chính. 2. Định phục phẩm quan lại, cải tổ địa giới hành chính như đổi một vài lộ làm trấn, đặt thêm quan chức ở lộ, phủ, qui ước các lộ ghi chép sổ sách và đem về kinh báo cáo mỗi cuối năm. 3. Cải cách giáo dục, thi cử, đưa toán pháp vào quá trình chọn người tài v.v.. Với nhà nước phong kiến phân quyền, tính chính thống của kẻ mạnh nhất đặt trên cơ sở cầu phong Bắc phương. Tệ phân quyền ấy là căn nguyên của những hành động mà sau này sử sách Việt Nam qui là "phản quốc": từ thời Trần qua đến đầu thời Lê, nhiều lần quí tộc Việt Nam sang Trung Hoa "rước giặc" về để mong thiết lập vương triều cho chi họ mình. Đến thời Hồ Quí Ly, việc nhập khẩu Nho Giáo vào Việt Nam đã hạ bệ tính chính thống kia và cố gắng chuyển việc cầu phong thành quan hệ ngoại giao, tuy chưa được bình đẳng nhưng cũng nói lên sự trưởng thành to lớn của đất nước Việt Nam. Chính Hồ Quí Ly, chứ không ai khác đã đặt nền móng cho việc nhìn nhận lại nước Nam Việt và dòng họ Triệu trong dòng chảy lịch sử Việt Nam. 2. Các quan điểm sau năm 1400 Ở Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên - dưới triều Lê Thánh Tông 1460 đến 1497), lần đầu tiên hiến sử Việt Nam truy nguyên gốc tích của mình từ kỷ Hồng Bàng với Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân rồi mới đến Hùng Vương, An Dương Vương và Triệu Vũ Vương Lê Thánh Tông là ông vua đã rút ra được bài học nóng vội của Hồ Quí Ly, để áp dụng thành công đường lối chính trị Nho Giáo Trung Hoa vào đất nước Việt Nam. Nhu cầu "chính danh" đã đưa rất nhiều huyền thoại, cổ tích trong dân gian thành chính sử. Ngô Sĩ Liên được thay mặt trí thức Việt Nam đương thời trả lời câu hỏi "Ta là ai? Từ đâu tới?" cho dân tộc Việt Nam. Những quyển sử cũ chỉ đuợc thêm vào chứ không bớt đi hoặc tách ra, và họ Triệu được để yên cho đến khi xuất hiện Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ năm 1775: Xét sử cũ: An Dương Vương mất nước, để quốc thống về họ Triệu, chép to 4 chữ: "Triệu Kỷ Vũ Đế". Người đời theo sau đó không biết là việc không phải. Than ôi! Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là Đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Triệu Đà khởi ở Long Xuyên, lập quốc ở Phiên Ngung, muốn cắt đứt bờ cõi, gồm cả nước ta vào làm thuộc quận, đặt ra giám chủ để cơ mi lấy dân, chứ chưa từng đến ở nước ta. Nếu coi là đã làm vua nước Việt, mà đến ở cai trị nước ta, thì sau đó có Lâm Sĩ Hoằng khởi ở đất Bàn Dương, Hưu Nghiễm khởi ở Quảng Châu, đều xưng là Nam Việt Vương, cũng cho theo Quốc kỷ được ư? Triệu Đà kiêm tính Giao Châu, cũng như Ngụy kiêm tính nước Thục, nếu sử nước Thục có thể đưa Ngụy tiếp theo Lưu Thiện, thì quốc sử ta cũng có thể đưa Triệu tiếp theo An Dương. Không thế, thì xin theo lệ ngoại thuộc để phân biệt với nội thuộc vậy. Với lý do này, Ngô Thì Sĩ đã loại họ Triệu khỏi chính sử Việt Nam. Ông gộp năm đời Triệu Vương thành một kỷ Ngoại thuộc, tương đương với các kỷ ngoại thuộc Hán, Tùy, Đường sau đó. Thực ra lí luận của Ngô Thì Sĩ mang tính nhất thời, trong cái nhìn địa phương hãn hữu. Ông phân biệt rạch ròi "Than ôi! Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là Đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam", nghĩa là Việt Nam ngày nay chẳng dính dáng gì đến cương vực bao la của Nam Việt khi xưa. Vì không cùng quan điểm với họ Ngô nên Tự Đức vẫn cho Quốc Sử Quán ghi danh các vua Triệu như là tiền triều trong Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (giữa TK 19). Hơn nữa lời phê của ông sau khi nhà Hán diệt nhà Triệu là câu trả lời dứt khoát: ngày xưa bờ cõi của tổ tiên ông bao gồm nhiều quận trong Giao Chỉ bộ! Lời phê - Xét chung từ trước đến sau, đất đai của nước Việt ta bị mất về Trung Quốc đã đến quá một nửa, tiếc rằng vua sáng tôi hiền các triều đại cũng nhiều người lỗi lạc hiếm có ở trên đời, mà vẫn không thể nào lấy lại được một tấc, đó là việc đáng ân hận lắm! Thế mới biết việc thu hồi đất đai đã mất, từ đời trước đã là việc khó, chứ không những ngày nay mà thôi. Thật đáng thương tiếc. Sau khi Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ thực dân năm 1945, nền sử học cộng sản non trẻ áp dụng ngay phép biện chứng duy vật lịch sử vào môn lịch sử. Tình cờ nhãn quan của Ngô Thì Sĩ rất hợp với quyết tâm xây dựng nền móng bản địa cho lịch sử Việt Nam, cộng với chủ nghĩa dân tộc dâng cao, vấn đề Nam Việt và Triệu Đà giờ đây có thể tóm gọn trong một đoạn văn của Đào Duy Anh: Nhà Triệu không phải là quốc triều Sách Toàn thư, sau khi nêu lên quốc thống của ta bắt đầu từ Hồng Bàng Thị, đến Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, mười tám đời Hùng Vương, rồi đến Thục An Dương Vương, thì chép luôn nhà Triệu làm một triều đại chính thống. Các sử thần thời Lê, kế tục phương pháp và quan điểm Lê Văn Hưu ở đời Trần (quan niệm lịch sử phản dân tộc) không thấy rằng Triệu Đà làm vua nước Nam Việt ở miền Quảng Đông, Quảng Tây, đối với nước Âu Lạc mà nghĩ xâm lược, chỉ là một tên giặc cướp nước chứ không phải là một đế vương chính thống. Mãi đến cuối đời Lê mới thấy có một nhà sử học là Ngô Thì Sĩ, tác giả sách Việt sử tiêu án, phản đối việc cho họ Triệu tiếp nối quốc thống của An Dương Vương. Có lẽ do ảnh hưởng của ý kiến ấy cho nên sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục của triều Nguyễn không chép riêng nhà Triệu làm một kỷ chính thống nữa, nhưng vẫn cứ chép cả lịch sử nhà Triệu vào phạm vi quốc sử của ta. Các nhà sử học tư sản của ta cũng chịu ảnh hưởng của quan điểm phản dân tộc ấy, cho nên Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim cũng chép kĩ càng về lịch sử nhà Triệu, và Những trang sử vẻ vang của Nguyễn Lân thì biểu dương Lữ Gia là trung thần của nhà Triệu làm vị anh hùng dân tộc đầu tiên của chúng ta. Đối với dân tộc ta thì Triệu Đà là giặc cướp nước, mà lịch sử của nhà Triệu ở nước Nam Việt không thể nằm trong phạm vi lịch sử Việt Nam (2). Cố giáo sư Đào Duy Anh là ông thầy uyên bác của đa số các nhà sử học có tiếng Việt Nam hiện nay, nhóm người mê tín thuyết bản địa của văn hóa và văn minh Việt Nam. Nhưng trớ trêu, những tác phẩm nghiên cứu lịch sử quan trọng nhất trong sự nghiệp của ông Đào, lại khẳng định người Việt "có thể" di cư bằng thuyền đến đồng bằng sông Hồng sau khi nước Việt của Câu Tiễn bị xóa sổ thời Chiến Quốc (3)! Lời lẽ nặng nề của Đào Duy Anh ở trên, xét cho cùng mang khẩu khí chính trị nhiều hơn là tinh thần nghiên cứu trung thực, khách quan vốn luôn hiện hữu ở nhiều công trình mang tên ông. 3. Lời bình Trong "Một cách tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam" tôi đã đưa ra giả thuyết mới về ngữ nghĩa của từ Âu Lạc. Thật may mắn, khi dùng giả định Âu Lạc = Đất nước = Non nước = Xứ sở trên chủ đề Nam Việt này thì mâu thuẫn của các nhà sử học Việt Nam phần nào sáng tỏ. Quả tình, thuật ngữ Âu Lạc nếu không phải là tên của vương quốc do An Dương Vương lập ra, thì nó sẽ thống nhất một vùng đất rộng lớn là Quảng Tây, Quảng Đông và Bắc bộ Việt Nam thành một lãnh thổ khá tương đồng về văn hóa. Như vậy, nếu nhìn nhận cương giới của người dân Việt trước thời Triệu Đà gồm Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc Bộ Việt Nam thì việc Nhà Triệu tiếp nối An Dương Vương như một triều đại chính thống là hợp lí. Bản thân An Dương Vương cũng đã "cướp nước" của các vua Hùng kia mà! Nếu đã loại Triệu Đà, nên chăng loại luôn An Dương Vương, cùng xếp họ vào kỷ nội thuộc. Rõ ràng cái gọi là "quan niệm lịch sử phản dân tộc" của cố Giáo sư Đào Duy Anh rất khiên cưỡng và khó đứng vững. Nước Nam Việt cùng năm đời Việt Vương là một hiện hữu lịch sử không thể phủ nhận và có liên quan hữu cơ với lịch sử Việt Nam. Tài liệu xưa nhất đã nhắc đến nó và gần như cùng thời với nó là Sử Kí của Tư Mã Thiên. Tuy nhiên do đặc điểm quá cô đặc, gãy gọn của cổ văn Trung Hoa mà hiện hữu ấy không ngừng được tranh cãi, mổ xẻ, suy luận theo những chiều hướng nhiều khi mâu thuẫn đến hoàn toàn trái ngược. Về phía Việt Nam, nước Nam Việt của Triệu Đà trong những trang sách còn phải ngụp lặn giữa quá trình tiến hóa nhận thức, xã hội và chính trị không ngừng của con người Việt Nam hàng ngàn năm qua. Giả sử nếu mai này thuyết các vua Hùng từng xuất phát từ Động Đình Hồ rồi di cư xuống đồng bằng sông Hồng qua Quảng Tây được chấp nhận rộng rãi, thì việc tái chấp nhận Triệu Đà như một vương triều phong kiến chính thống lại sẽ được đặt ra. Nói cho cùng, càng nhiều suy biện, càng nhiều giả thuyết, càng nhiều nỗ lực cày xới trên những bình nguyên quá khứ mang tên hiến sử, chẳng qua cũng là việc phải làm vì sự phát triển sử học mà thôi. Không bao giờ nên để các trang sử bất biến. Tĩnh tức là tử. Không chỉ có ngày hôm qua là đối tượng nghiên cứu của lịch sử, mà bản thân khoa học lịch sử cũng rất cần phân luận, bởi nó là gương mặt, là tư duy, là trình độ phát triển, là thước đo vận động (tiến hoặc lùi) của chính thời đại dung dưỡng nó.