hoangnt
Hội viên-
Số nội dung
1909 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
6
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by hoangnt
-
Linh hồn đang dạo chơi đấy mà, thường có hình tròn phát quang. Một số kinh quang được che khuất một phần bởi thân và lá cây.
-
Sau khi xem xét, tôi nhận định như sau để ACE cùng nhau phản biện: Đại vận 60 năm chưa chắc dùng huyền không phi tinh, do vậy không thấy dùng kết quả phi tinh này trong các sách Huyền không. Vận 20 năm: Dùng phi tinh thuận gọi là dương ( + ). Đang được dùng cho một ngôi nhà cần quán xét hay một ngôi làng, thành phố, quốc gia, trái đất. Ngôi gia là một chỉnh thể quy ước từ thuộc tính con người nhưng do Sơn Hướng làm các tương tác chính cho ngôi nhà và đó cũng chính là gia đình, cho nên bắt buộc quán xét về mặt tổng thể và chi tiết. Niên vận 1 năm: Dùng phi tinh nghịch gọi là âm ( - ). Trong môn phong thủy Bát trạch, mỗi cá nhân được phân thành Đông tứ trạch và Tây tứ trạch, trong mỗi Phi cung (Cung mệnh) có sự thay đổi quy luật thuộc tính các cung. Đồng thời phi cung cũng thay đổi nếu là Nam mạng hoặc Nữ mạng. Như vậy, trong quan hệ phi tinh thì Phi tinh năm (Niên tinh) chính là quy ước Cung mệnh theo quy luật cửu tinh và giữa Nam và Nữ mạng có quy luật tiếp khí khác nhau. Theo Bát trạch, Phi cung (Mệnh quái) rõ ràng theo quy luật Niên vận chu kỳ 9 năm quay trở lại. Tôi đang kiểm tra Nam mạng phi nghịch và Nữ mạng phi thuận theo tính tương hợp Tính: Lý thể hiện tính Âm - Dương, Thể biểu hiện hình Dương - Âm hoặc ngược lại. Trong phi tinh Niên vận, khi quán xét tương tác cho toàn thế giới hay chính là trái đất, thì tâm quán xét đặt ở đâu - chính là giao kinh tuyến và vĩ tuyến. Nguyệt Vận: Dùng phi tinh nghịch (dùng Trái đất là chủ thể). Nếu xét tương Nam hoặc Nữ sẽ tương ứng như trên. Ít dùng. Nhật vận: Dùng phi tinh nghịch (dùng chính Mình làm chủ thể). Nếu xét tương Nam hoặc Nữ sẽ tương ứng như trên. Ít dùng. Nguyệt vận và Nhật vận được quán xét rất kỹ càng trong Đông Y vì liên quan đến các hoạt động có tính quy luật của các cơ quan nội tạng. Chúng ta vẫn còn những bí ẩn sau: - Bản chất quy ước của Cửu tinh quy ước xây dựng từ các tương tác theo quy luật vận động??? - Niên tinh có quan hệ với quy ước Lạc thư hoa giáp (Tử vi?) hay không - rỏ ràng là có nhưng??? Ngũ Phúc lâm môn.
-
Kết quả quá xét: Đại vận 60 năm chưa chắc dùng phi tinh. Vận 20 năm: Dùng phi tinh thuận gọi là dương ( + ). Niên vận 1 năm: Dùng phi tinh nghịch gọi là âm ( - ). Nguyệt Vận: Dùng phi tinh nghịch (dùng Trái đất là chủ thể). Nhật vận: Dùng phi tinh nghịch (dùng chính Mình làm chủ thể). Theo Bát trạch, Phi cung (Mệnh quái) rõ ràng theo quy luật Niên vận chu kỳ 9 năm quay trở lại. Vậy thì bản chất quy ước của Cửu tinh quy ước là ??? và do vậy, Niên vận tạo mệnh quái, chúng có quan hệ Lạc thư hoa giáp như thế nào ??? Kết quả quá xét: Đại vận 60 năm chưa chắc dùng phi tinh. Vận 20 năm: Dùng phi tinh thuận gọi là dương ( + ). Niên vận 1 năm: Dùng phi tinh nghịch gọi là âm ( - ). Nguyệt Vận: Dùng phi tinh nghịch (dùng Trái đất là chủ thể). Nhật vận: Dùng phi tinh nghịch (dùng chính Mình làm chủ thể). Theo Bát trạch, Phi cung (Mệnh quái) rõ ràng theo quy luật Niên vận chu kỳ 9 năm quay trở lại. Vậy thì bản chất quy ước của Cửu tinh quy ước là ??? và do vậy, Niên vận tạo mệnh quái, chúng có quan hệ Lạc thư hoa giáp như thế nào ???
-
Về tên gọi các tháng âm lịch trên lịchChủ nhật, 01/11/2009, 00:30 (GMT+7)Hiện nay, trên nhiều ấn phẩm và một số loại lịch blốc 2010 có in cả những cách gọi âm lịch theo dân gian và cách gọi theo văn bản. Phòng nghiên cứu lịch (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết, tên gọi các tháng 11, 12 là Một, Chạp có nguồn gốc từ tiếng Việt cổ. Theo cố GS Hoàng Xuân Hãn, gọi tháng 11 là Một xuất phát từ phiên âm (Một, Mmột, Mười một) hay tháng 12 là Chạp có từ (Trap, Tlap, Lap)… Hiện nay các từ Một hay Mười Một, Chạp hoặc Mười Hai đều được sử dụng song song. Nhiều người chỉ dùng Một, Chạp cho các tháng âm lịch và hiện chưa có văn bản nào quy định việc thống nhất một tên gọi. GS Trần Quốc Vượng viết: Tôi chưa thấy ai là người Việt cổ truyền lại gọi sau tháng mười là tháng mười một - mà phải gọi là tháng Một. Còn Tháng Chạp tức tháng 12 là tháng đi chạp mả, thăm sửa mộ phần, làm cỗ cúng tập thể tổ tiên (giỗ cho từng cụ, chạp cho mọi thế thứ tổ tiên). Cũng theo cách gọi của âm lịch, ngày một và ngày 15 hàng tháng gọi là ngày mồng một và ngày rằm. Từ thực tế vừa nêu, thiết nghĩ từ nay khi in lịch, hoặc khi nói và viết, khi đối chiếu ngày, tháng, năm dương lịch với âm lịch, mọi người đều có thể gọi tháng sau tháng Mười là tháng Một, rồi đến tháng 12 là tháng Chạp, tháng một là tháng Giêng, tháng hai… theo cách gọi truyền thống của người Việt. Hẳn là làm được như vậy chúng ta đã thiết thực giữ một nét riêng độc đáo của văn hóa Việt Nam. Nét mới của lịch năm nay là ở phần thông tin về ngày tháng âm lịch in bên trái một số loại blốc trung 4 màu, trung pơ-luya 1 màu, đại 4 màu… có dùng cách tính tháng theo thứ tự tháng Mười âm lịch rồi đến tháng Chạp, tháng Giêng… là cách gọi đúng ngày tháng âm lịch theo truyền thống của người Việt Nam... Còn cách gọi tháng 11, tháng 12, tháng 1 (nhưng phải thêm chữ âm lịch) cũng là cách gọi bình thường, nên cả hai cách đều có thể được sử dụng miễn sao phù hợp với tập quán dân gian và chủng loại ấn phẩm sử dụng Trước đây tôi nhận định lịch cổ Việt Nam là lịch Kiến Dần nhưng sau khi xác định tên gọi dân gian âm lịch cổ Việt Nam thì phải là lịch Kiến Tý, thể hiện đầu chu kỳ vận động ADNH và thề hiện cái Một của vũ trụ thống nhất qua tên gọi. Như vậy thì, Tết Nguyên đán của văn minh Lạc Việt là ngày sinh nhật của toàn bộ vũ trụ. Văn minh Việt kỳ tuyệt.
-
Chúng ta có một câu hỏi chung như sau: Huyền không phi tinh áp dụng cho 4 loại: Vận (20 năm), Niên (1 năm), Nguyệt (tháng), Nhật (ngày) cho một căn nhà nào đấy có Sơn, Hướng, Chủ nhà (nam hoặc nữ). Thì loại nào là phi tinh thuận, loại nào phi tinh ngịch?
-
PHÂN TÍCH: Nhưng chính vì lịch sử xuất hiện của nó vào thế kỷ XIX, nhưng chính nó lại mâu thuẫn với dự kiện quan trong ban đầu của khoa Bát trạch Minh Cảnh - được coi là ra đời vào thế kỷ thứ III sau Công nguyên. Đó là cách tính mệnh cung theo năm của gia chủ. Cách tính mệnh cung của gia chủ trong phái Bát Trạch chính là nguyên tắc phi tinh Huyền Không theo nguyên lý Nam Dương phi nghịch là Âm và Nữ Âm phi thuận là Dương. Một sự nghịch lý về nội dung trong lịch sử có xuất phát từ cổ thư chữ Hán: Cái có sau hàng ngàn năm là Huyền Không lại là cơ sở của cái ra đời từ hàng ngàn năm trước. Vấn đề này cần kiểm tra lại từ các quy ước tương tác. Trong Lạc thư hoa giáp 60 năm, chúng ta thấy mỗi năm đều có Vận khí và Thiên khí, giữa chúng có 5 mối quan hệ như đã trình bày. Nếu trong năm nào đó mà có đứa trẻ sinh ra thì Bản mệnh sẽ tương ứng do Địa khí sinh ra theo chiều tương sinh và Bản mệnh cũng sẽ có 5 mối quan hệ với Thiên khí. Như vậy, tương tác từ Hệ mặt trời tới một vị trí nào đó trên trái đất hoàn toàn đã được xác định qua Thiên khí và Địa khí, chỉ còn xác định mốc thời gian khởi điểm cho vòng tương tác. Vòng vận động của Thiên khí theo chiều thuận kim đồng hồ so sánh tới một vị trí trên trái đất. Bộ môn phong thuỷ Lạc Việt là một sự tổng hợp tất cả các phương pháp ứng dụng rời rạc trong cổ thư chữ Hán và các phương pháp còn lưu truyền trong dân gian với một nguyên lý căn để nhất quán là "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ". CỬU CUNG LẠC THƯ..................................................CỬU CUNG HÀ ĐỒ Phối Hậu Thiên Văn Vương ..................................Phối Hậu Thiên Lạc Việt Trên cở sở này và tính hợp lý của mọi vấn đề và các hiện tượng liên quan đến Lý học Đông phương, Phong thủy Lạc Việt đã ứng dụng trong phương pháp Huyền Không Lạc Việt phi tinh. Phương pháp phi tinh theo Huyền Không Lạc Việt khác trên Lạc Thư từ cổ thư chữ Hán. Sư khác biệt giữa Huyền Không lạc Việt với Huyền Không trong cổ thư chỉ ở các phương vị phía Nam của Hà Đồ. Đây cũng là khác biệt chủ yếu của phương pháp Huyền Không Lạc Việt khi phi tinh, còn tất cả mối quan hệ phân tích tương quan các sao trong Huyền không và các mối tương quan khác và phương pháp luận trên cơ sở thuyết Âm Dương Ngũ hành không thay đổi. Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ là nguyên lý căn để cho nên việc chuyển phương Nam là hoàn toàn chuẩn xác. PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG CỦA HUYỀN KHÔNG LẠC VIỆT Vũ trụ vận động không ngừng, tiền nhân đã phát hiện sự vận động đó có tính quy luật theo cửu tinh, được xem như 9 trường khí của 9 tinh thể lớn ảnh hưởng đến sự sống và các hoạt động trên trái đất. Người đời sau không hiểu biết tạo ra sự nhầm lẫn dẫn đến tệ mê tính dị đoan trong các môn lý học đông phương, nhất là không hiểu biết về sự tương tác của các hành tinh Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ lên trái đất chúng ta đang sống. Sự tương tác này được gọi là “Thiên khí”, vận hành theo chiều thuận là dương số lẻ, là chiều từ số nhỏ đến số lớn. Còn khí của quả đất gọi là “Địa khí” có tính chất đục nặng vận hành theo chiều nghịch là âm số chẳn, chiều từ các số lớn đến các số nhỏ. Tiền nhân đã thể hiện hai chiều quay đó trong Hà đồ, tuy con người không nhìn thấy sự tương tác, nhưng vẫn biết sự tương tác đó tác động đến đời sống muôn vật, tạo nên sự thịnh suy của muôn vật. Theo phân tích cá nhân, Trái đất quay xung quanh Mặt trời và 7 hành tinh khác cũng vậy. Tương tác từ Mặt trời gọi là Địa khí (Địa chi) và tổ hợp tương tác của tất cả các Hành tinh trong Hệ mặt trời tới Trái đất gọi là Thiên khí (Thiên can). Như đã phân tích, quy luật Thiên khí đang xem xét tương ứng với Địa khí theo chiều thuận còn Địa chi cũng đang vận hành theo chiều thuận: điểm này cần xem xét lại các quy ước?. II - 1. Tính chất của cửu tinh: - Số 1: Nhất bạch Tham lang: Là cát tinh đứng đầu. * Âm dương, ngũ hành: Dương thuỷ * Màu sắc: Xanh đen. * Cơ thể: Thận, tai, máu huyết * Về con người: là con trai thứ Tính chất của Cửu tinh thực ra là tính chất ADNH của con người, do tính chất tương tác cũng là ADNH cho nên tương ứng. Mặt khác, Phi tinh Huyền không xem xét tương tác tới ngôi nhà. Tam nguyên cửu vận: Cửu tinh tương tác tạo nên ảnh hưởng đến mọi mặt trên trái đất, cái dễ cảm thấy nhất đó là khí hậu hàng năm, và chi phối đến tháng ngày giờ, sự chi phối này có chu kỳ nguyên vận hay là đại vận là một giáp 60 năm, tiểu vận hay là Vận khí 20 năm, mỗi nguyên có 3 vận, tam nguyên cửu vận có 180 năm vừa đúng với cửu tinh chín vận. Ví dụ ta lấy tam nguyên cửu vận gần đây nhất: Thượng Nguyên: * vận 1: 1864 - 1883, * vận 2: 1884 - 1903 * vận 3: 1904 - 1923 Trung Nguyên: * vận 4: 1924 - 1943 * vận 5: 1944 - 1963 * vận 6: 1964 - 1983 Hạ Nguyên: * vận 7: 1984 - 2003 * vận 8: 2004 - 2023 * vận 9: 2024 - 2043 Đại vận: Theo Huyền không Lạc Việt dựa theo phép tính lấy thời điểm năm hành tinh Kim. Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ cùng mặt trăng, mặt trời tạo thành một đường thẳng gọi là thất tinh hợp bích làm điểm khởi đầu của năm đầu kỷ nguyên niên lịch, nên năm giáp tý đầu tiên tương ứng với nhất bạch thuỷ tinh, như vậy lấy năm Kinh Dương Vương lên ngôi vào năm Nhâm tuất 2897 trước công nguyên đến nay thì đã trãi qua 84 đại vận. Đại vận 84 này thuộc hạ nguyên của tam nguyên thứ 28, tức là đại vận của Tam bích mộc tinh.(vẽ bảng số 43 trang 222 sách "Tam nguyên cửu vận" của Giáo sư Hoàng Tuấn) Tiểu vận: Mỗi tiểu vận là 20 năm, hiện nay đang là hạ nguyên của tam nguyên thứ 28, kéo dài từ năm 1984 đến năm 2043 thuộc đại vận Tam bích mộc tinh. Hạ nguyên có 3 tiểu vận, đó là vận 7, vận 8, vận 9. Năm 2009 thuộc tiểu vận 8 bắt đầu từ năm 2004 đến năm 2024 của hạ nguyên. Tam nguyên cửu vận đang đặc trưng cho tương tác đơn vị nhỏ nhất là 20 năm, và đại diện cho tương tác này là từ nơi nào tới ngôi nhà mà chúng ta đang quan tâm?. Rõ ràng, tương tác này từ ngoài Hệ mặt trời cho nên gọi là Huyền Không. Đường di chuyển của cửu tinh (Lường Thiên xích). Hà đồ và Lường Thiên Xích: Hà đồ thực chất là qui luật tương quan biểu kiến của Ngũ Tinh trong Thái Dương hệ với mặt trời và mặt trăng. Các sao này được sắp xếp theo một trật tự đặc biệt mà 9 cung của Hà đồ đã thể hiện, đây cũng là bàn phi tinh cố định, như trong hình vẽ sau: Chúng chỉ thay đổi theo không gian và thời gian với một đường đi cố định được gọi là quỹ đạo chuyển động cố định của các sao còn gọi là phi tinh, mà người xưa gọi là Lường Thiên Xích. Trong hình vẽ trên, những số trong 9 ô vuông là số của sao phi tinh. Ô vuông ở giữa gọi là Trung cung còn các cung khác đại diện cho 8 cung ở 8 hướng xung quanh theo nguyên lý " Hậu Thiên bát quái Lạc Việt phối Hà đồ". Ta có thứ tự như sau: - Từ trung cung số 5 đi lên Tây bắc số 6. - Từ Tây bắc số 6 xuống Nam số 7. - Từ Nam số 7 lên Đông bắc số 8. - Từ Đông bắc số 8 đến Tây số 9. - Từ Tây số 9 lên Bắc số 1. - Từ Bắc số 1 xuống Đông nam số 2. - Từ Đông nam số 2 lên Đông số 3. - Từ Đông số 3 qua Tây nam số 4. - Tư Tây nam số 4 về lại trung cung số 5. Lường Thiên Xích chia ra làm 2 loại đó là loại Thuận và loại Nghịch. Loại thuận bắt đầu từ Trung cung là số 5 rồi đi theo chiều tăng đến 6, 7, 8, 9, 1, 2, 3, 4. Lường Thiên Xích Nghịch thì lại bắt đầu từ số 5 rồi đi theo chiều giãm xuống đến 4, 3, 2, 1, 9, 8, 7, 6. Nếu Thiên khí tương tác thuận chiều kim đồng hồ thì tương tác ngoài hệ Mặt trời là ngịch lại tức ngược chiều kim đồng hồ, vấn đề này cần xem xét lại. Và chúng ta cũng xem xét lý giải quy ước tương tác 9 ô Hà đồ? II - 4. Tinh bàn: -Vận bàn: Cần xác định vận bàn: * Năm xây dựng mới ngôi gia. * Năm sửa lại đa phần lại ngôi gia. * Năm bắt đầu dọn vào ở trong ngôi gia. Khi đã xác định được năm của ngôi gia rồi thì xem năm đó thuộc vận nào trong tam nguyên cửu vận. Xác định được vận thì đem số sao của vận đó vào Trung cung rồi di chuyển theo Lường Thiên Xích thuận mà sắp xếp các sao ở chín cung. Ví dụ: Năm 2009 nằm trong vận 8 (2004-2024) thuộc hạ nguyên của tam nguyên cửu vận. Đưa sao Bát bạch vào trung cung di chuyển theo chiều thuận. - Sơn tinh: Còn gọi sơn bàn phi tinh, nghĩa là sao phi tinh ở phương toạ của sơ đồ nhà theo vận bàn đưa vào trung cung, căn cứ theo tam nguyên long ở phương toạ là âm hay dương để di chuyển sao phi tinh theo chiều thuận hay nghịch. Sao phi tinh sơn bàn thường đặt bên trái của sao phi tinh vận bàn. -Hướng tinh: còn gọi là hướng bàn phi tinh, nghĩa là sao phi tinh ở phương hướng của sơ đồ nhà theo vận bàn đưa vào trung cung, di chuyển thuận nghịch theo tam nguyên long âm dương ở hướng. Sao phi tinh hướng bàn thường đặt bên phải của sao vận bàn. Sơn Hướng là quan trọng của ngôi gian cần quán xét tương tác là chắc chắn. II - 5. Địa bàn: Là bàn cố định của phi tinh hay còn gọi là cửu tinh đồ căn bản được sắp xếp theo các cung của Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ. Sự chuyển động của khí trong vũ trụ là không ngừng theo năm, tháng, ngày, giờ. Cổ nhân đã dùng cửu tinh làm chủ cho sự thay đổi của thời gian đó. Mỗi sao của cửu tinh sẽ làm chủ một khoảng thời gian là năm tháng ngày giờ, vì vậy mỗi năm, tháng, ngày, giờ có một sao chủ. Sao chủ xếp vào vị trí trung cung của cửu cung và các sao khác di chuyển theo lường thiên xích thuận. -Niên tinh: Là sao quản năm, dùng cửu tinh phối với năm, ví dụ năm 2009 là sao cửu tử nhập trung cung và cũng là sao quản năm. Phi tinh cho vận 20 năm nhưng có phi tinh cho mỗi năm, chứng tỏ quy ước chung cho các hệ tương tác: Ngoài mặt trời ,Hệ Mặt trời, Mặt trăng xung quanh Trái đất (Nguyệt tinh) và Trái đất tự quay (Nhật tinh). -Nguyệt tinh: Là mỗi tháng có một sao phi tinh làm chủ quản lý chi phối tháng đó. Ví dụ từ ngày 7 tháng 11 năm 2009 đến ngày 7 tháng 12 năm 2009 là sao ngũ hoàng quản. -Nhật tinh, Thời tinh: Cũng tương tự như niên nguyệt, thi ngày và giờ cũng có một sao làm chủ và nó chi phối khoảng thời gian mà nó làm chủ. Sự ảnh hưởng của niên nguyệt tinh mạnh nhất thường là những nơi có sự hoạt động thường xuyên và mạnh, như cửa, cổng ra vào, phòng bếp, phòng ngủ. Ngoài ra còn xét kết hợp với sao sơn hướng tinh ở khu vực chúng đến để xem xét tốt xấu tuỳ theo tính chất của sao niên nguyệt tinh. II - 10. Các loại sao sát và những kiêng kỵ. -Thái tuế: Thái Tuế - vật thể thuộc Âm - là sao lớn nhất gần trái Đất và nhóm sao II ngoài vòng Thiên Thạch. Thái tuế là mộc tinh (Jupiter) lớn nhất trong thất tinh, nên khi nó đi tới đâu thì nó sẽ kéo hết dương khí về nơi đó. Theo quan niệm về "Khí" của Phong thủy Lạc Việt: Tất cả khí ngoài trái Đất đều thuộc Dương so với trái Đất. Nên sự tương tác rất mạnh về Dương Khí. Dương khí vượng ở hướng tất suy ở sơn và Âm khí vượng ở Sơn tất suy ở hướng. Mà hướng là dương, tọa là âm vì thế mà kỵ hướng, tuế phá ngược lại vì do dương khí bị kéo hết về nơi thái tuế nên tuế phá hoàn toàn là âm khí nên kỵ tọa. Thái tuế kỵ hướng không kỵ tọa, bởi vì thái tuế tính dương động kỵ hướng là do nơi hướng thường là nơi hoạt động vào ra của con người nên động càng thêm động, vì thế cũng kị mở cửa theo hướng của năm sinh để tránh không xung phạm Thái tuế. Thí dụ người tuổi Sửu không mở cửa hướng Sửu, người tuổi Tý không mở cửa hướng Tý, các tuổi khác cũng như vậy, để tránh tới năm tuổi Thái tuế đến cửa mà gây ra nhiều chuyện phiền toái. -Xung Thái tuế: là Thái-tuế xung khắc với năm sinh của chủ nhà. Thí dụ người sinh năm Dần thì niên canh Thái-tuế của người đó là Dần. Dần lại tương xung với Thân nên gặp năm Thân, tức là năm “niên canh xung Thái-tuế” thì người này phải tránh hành động tại 2 cung Dần, Thân để tránh khỏi bị trắc trở. -Nơi có phi tinh tốt gặp Thái tuế thì tốt thêm, nơi có phi tinh xấu mà gặp Thái tuế thì càng thêm xấu. -Thái tuế Có 2 loại là Thái tuế theo năm và Thái tuế theo phi tinh: *Thái tuế theo năm: là Thái tuế tính theo các địa chi của năm và phương vị mang tên địa chi đó. Ví dụ: Năm Tý Thái tuế ở phương Tý (phía Bắc), năm Sửu Thái tuế ở phương Sửu (phía Đông Bắc)… * Thái tuế theo phi tinh là Thái tuế theo sao cửu tinh của năm. Ví dụ: Năm 2009 là năm Sửu, phương Sửu ở Đông bắc, mà Đông bắc theo bàn phi tinh cố định là Bát bạch làm đại diện, phi tinh đại diện của năm Sửu là Cửu tử, đem Cửu tử nhập trung cung di chuyển theo Lường Thiên xích thuận thì sao Bát bạch đến phương Tây Nam, như vậy Thái tuế phi tinh năm 2009 Kỷ sửu là ở phương Tây Nam. Tuế phá: Phương đối ngược lại với phương Thái-tuế là phương Tuế-phá. Phương Thái-tuế nơi hoàn toàn có khí dương, ngược lại phương có Tuế-phá là nơi hoàn toàn có khí âm. Vì thế đây là 2 cung âm dương đối lập, tương khắc, tương xung. Như vậy khi các cung này ở trong vị trí tốt thì rất tốt mà trái lại thì rất xấu. Các ngày Tuế-phá cũng được tính theo như thí dụ sau đây: Năm Tý, Thái-tuế địa bàn ở phương Tý thì Tuế-phá ở phương ngược lại là phương Ngọ nên các ngày Ngọ như Giáp Ngọ, Bính Ngọ... đều là ngày Tuế-phá có khí âm cực mạnh. Do đó khi phạm vào thì dể gặp tai họa nhất là người tuổi Tý. Thái tuế sẽ xem xét cô lập trong trường hợp đặc biệt sau.
-
Chúng ta có thể chú ý trong quá trình nhận định về các quy ước của của các phương pháp: - Tính hòa, sinh, khắc, bị sinh và bị khắc của một trạng thái ADNH sự vật chủ thể so với khách thể. Điều này cho thấy các thuộc tính ADNH của mỗi tổ hợp đều tương đương nhau, ví dụ hành Mộc của hệ Mặt trời hòa hành Mộc của con chim chẳng hạn... Hay hành Mộc của toàn bộ vũ trụ hợp hành Mộc của con người. - Tên gọi là chỉ sự vật, hiện tượng hiển lộ qua thuộc tính đặc trưng và âm dương so sánh đồng đẳng, ví dụ Cha là đàn ông và Mẽ là người đàn bà. Trong đó Cha biểu tượng quẻ Càn và Mẹ với biểu tượng quẻ Khôn. - Quẻ Càn, Khôn là biểu tượng thuộc tính ADNH. Càn có thuộc tính âm và Khôn mang thuộc tính dương, hay biểu tượng Lý của sự vật, hiện tượng. Do vậy, Cha - thể dương với biểu tượng Càn - tính âm và Mẹ - thể âm vớ biểu tượng Khôn - tính dương. Hệ quả thực tại nhận biết, người phụ nữ sẽ thọ hơn đàn ông vì mang thuộc tính dương, gần nguyên thủy của vạn vật, với so sánh đồng đảng. Nếu nhận định về Vụ trụ một cách độc lập thì Vũ trụ vẫn vận động thep quy luật và vẫn được quy ước theo nguyên lý ADNH, nhưng nếu chúng ta thiết lập chủ thể và khách thể là Vũ trụ thì Vũ trụ chỉ còn toàn là Khí mà thôi, do sự vô cùng của nó.Lúc này, Khí được quy ước về Âm/ Dương mà không ở trạng thái Ngũ Hành.
-
[ Những nguyên lý căn bản của Huyền Không Lạc Việt và phương pháp ứng dụng Thứ hai 16/05/2011 12:00:00 (GMT +7) Tác giả: Phạm Hữu Để - Hoàng Triều Hải Nguồn: Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương I - LỊCH SỬ HUYỀN KHÔNG VÀ HUYỀN KHÔNG LẠC VIỆT I - 1. Giới thiệu sơ lược về lịch sử Huyền Không từ cổ thư chữ Hán. Trường phái Huyền không ứng dụng trong phong thủy ngày nay, tương truyền do Thẩm Trức Nhưng sống vào cuối đời nhà Thanh, đầu thời Trung Hoa Dân quốc biên soan và lưu truyền. Nó được giới phong thủy Trung Hoa coi như là bô kinh điển phong thủy cuối cùng của các phương pháp ứng dụng trong khoa Phong thủy Đông phương. Thẩm trức Nhưng nghiễm nhiên được coi là ông tổ của phái Huyền Không, bởi sự công bố của ông. Cuốn sách được phổ biến ở Việt nam hiện nay là: "Thẩm thị Huyền không học - Phong thủy trong bối cảnh kiến trúc hiện đại" , do Nguyễn Anh Vũ dịch và được Nxb Văn Hóa Thông Tin phát hành năm 2003, đã xác nhận tác giả chính là Thẩm Trức Nhưng. Tuy nhiên, những tài liệu khác lại ghi rõ nguồn gốc của phương pháp này không phải do Thẩm Trức Nhưng sáng tạo với tư cách là một tác giả. Trong cuốn: " Cổ Dịch Huyền không học" - Nxb Đại Học Quốc gia 2001 viết: Vào mùa hè năm Quí Dậu 1873 thời vua Đồng Trị. Thẩm Trức Nhưng cùng học trò là Hồ Bá An, đến Vô Tích đã dùng khoản vàng lớn biếu hậu duệ của Chương Trong Sơn để mượn đọc. Hai người trong một ngày đêm đã có chép lai mang về. Qua ngghiên cứu, chỉnh lý rồi biên nhập vào sách "Thẩm thị huyền không học", sau đó để lại cho đời. Trường phái này căn cứ trên những quy ước về sự vận động của cửu tinh trên 9 phương vị (8 phương và ở giữa – Trung cung), tùy theo thuộc tính quy ước của cửu tinh và vị trí của nó để luận cát hung cho ngôi gia. Cho đến ngày nay, phương pháp Huyền Không rất phổ biến và được ứng dụng rộng rãi ở các quốc gia và vùng lãnh thổ có ảnh hưởng văn hóa Đông phương cổ. Nhưng cho đến ngày hôm nay, những nhà nghiên cứu Phong Thủy vẫn chưa thể biết được vì nguyên nhân nào để có những nguyên lý và khái niệm cũng như phuơng pháp luận của phương pháp Huyền không. Bởi vì, ngay cả sách của Thẩm Trức Nhưng cũng chỉ được coi là một bản thảo chưa hoàn chỉnh, mà cuốn sách chính thức được dịch ở Việt Nam - mà chúng tôi trình bày ở trên - được coi là do được nhiều môn đồ bổ chú và hoàn chỉnh. Như vậy, lịch sử Huyền Không được coi như xuất hiện vào thời cận đại của nền văn hóa Hán trải hàng ngàn năm và được coi là bộ kinh điển phong thủy cuối cùng được công bố. Nhưng chính vì lịch sử xuất hiện của nó vào thế kỷ XIX, nhưng chính nó lại mâu thuẫn với dự kiện quan trong ban đầu của khoa Bát trạch Minh Cảnh - được coi là ra đời vào thế kỷ thứ III sau Công nguyên. Đó là cách tính mệnh cung theo năm của gia chủ. Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã minh chứng rằng: Cách tính mệnh cung của gia chủ trong phái Bát Trạch chính là nguyên tắc phi tinh Huyền Không theo nguyên lý Nam Dương phi nghịch là Âm và Nữ Âm phi thuận là Dương. Một sự nghịch lý về nội dung trong lịch sử có xuất phát từ cổ thư chữ Hán: Cái có sau hàng ngàn năm là Huyền Không lại là cơ sở của cái ra đời từ hàng ngàn năm trước. Trong khi đó, những bản văn chữ Hán cho thấy rằng khoa Huyền không học trong phong thủy có khả năng tồn tại trước cuối đời Thanh trong văn hóa Hán. Theo “Địa lý chính tông” Trần Đoàn chân truyền cho Ngô Khắc Thành những bí ảo của địa lý thiên văn. Ông truyền cho Ngô Khắc Thành cuốn “Thanh Nang”, Ngô Khắc Thành truyền cho con là Ngô Cảnh Loan, Ngô Cảnh Loan vì không có con trai nên truyền cho con gái, người con gái này truyền ra ngoài cho Liêu Vũ (Liêu Kim Tinh – Liêu Công). Liêu công vì chuyện gia đình đau buồn mà chết, lúc đương thời khi ông còn thưc hành phong thủy, có 2 người hầu không biết chữ nhưng nhớ được bí quyết của ông, họ tiếp tục thực hành và truyền bá qua 11 đời sau thì tới Lưu Bá Ôn. Thời nhà Minh có phong thủy gia, nhà thuật số phương đông nỗi tiếng phù tá Chu Nguyên Chương lập nên nhà Minh là Lưu Bá Ôn. Sau Lưu Bá Ôn thì ngày càng mai một do nhiều yếu tố và nhất là quy luật “bảo mật” của tông phái, mãi đến cuối thời Minh, Vô Cực Tử hiệu là Khởi Ông, truyền học thuật cho Tưởng Đại Hồng. Tưởng Đại Hồng là người ở Trấn Hưng Trạch huyện Tùng Giang tỉnh Giang Tô, hiệu là Đỗ Lăng Phu tử, sinh vào giờ Thìn ngày 27 tháng 12 năm Bính Thìn (1616). Tưởng Đại Hồng truyền cho Khương Diêu, nhưng dặn không “tiết lộ thiên cơ”. Cuối thời nhà Thanh, huyền không có 6 phái: phái vô thường của Chương Trọng Sơn, phái Thượng Ngu của Trương Tâm Ngôn, phái Tô Châu của Chu Tiểu Hạc, phái Tương Sở của Y Hữu Bản, phái Quãng Đông của Sài Dân Sơn, phái Điền Nam của Phạm Nghi Tân. Trong 6 phái đó thì Chương Trọng Sơn là nỗi bật nhất vì sự luận đoán cực kỳ chính xác và thuật phong thủy cao siêu. Chương Trọng Sơn tức Tuệ Tây Vô Tăng Đạo Nhân, thông hiểu dịch số đại huyền không, viết nhiều tài liệu khảo sát thực địa, chỉ để lại cho con cháu sử dụng. Thẩm Trúc Nhưng kết thân với con trai Chương Trọng Sơn, mượn tài liệu quý đã ngộ ra những điều tiền nhân chưa nói rõ hoặc tối nghĩa, như trước tác “Thanh Nang Áo Ngữ” của Dương Quân Tùng. Họ Thẩm người Tiền Đường, tên Thiệu Huân, hiệu Trúc Nhưng, ông là người say mê môn phong thủy, do sự tác động của người Thầy nói rằng: “Phái Huyền Không không phải là chính phái, không đáng học”, nên đương thời ông xem Huyền Không như con thú dữ cần tránh xa và ông xem Tưởng Đại Hồng được tôn là đầu não của phái Huyền Không là đại địch. Do tình cờ biết được thực tế ứng dụng có hiệu quả của phái Huyền Không, nên sau đó Thẩm Trúc Nhưng không dám khinh thường phái Huyền Không nữa và ông đã bỏ tâm sức để tìm hiểu về phái Huyền Không. Thẩm Trúc Nhưng thường hay oán giận tiên sinh Tưởng Đại Hồng, vì họ Tưởng được Vô Cực chân truyền môn Huyền Không, nhưng họ Tưởng bị chấp trước câu: “Thiên cơ bất khả tiết lậu”, nên chỉ bí mật truyền thụ cho một số ít đệ tử và cấm đệ tử của mình phổ biến rộng rãi cho mọi người. Cuối đời Thanh, bộ “Thẩm Thị Huyền Không Học” do Thẩm Trúc Nhưng trước tác, được xem là tập đại thành và đặt dấu chấm hết cho thời kỳ bí truyền của phái Huyền Không. Như vậy, chúng ta cũng thấy tính tam sao thất bản và sự lưu truyền không hoàn chỉnh của riêng phái huyền không (Gồm sáu phái trong một phương pháp) và sự mâu thuẫn với các phái khác. Huyền không lúc đầu không được coi là "Danh môn, chính phái". Bởi vậy, mặc dù hiệu quả của phong thủy trên thực tế chính là nguyên nhân để nó tồn tại trong xã hội Đông phương. Nhưng chính vì tính mâu thuẫn, mơ hồ và thất truyền – nên một thời rất dài khi tiếp xúc với nền văn minh Phương Tây, trong điều kiện khoa học kỹ thuật hiện đại ở buổi đầu sơ khai - khoa Phong thuỷ đã bị liệt vào loại “mê tín dị đoan”. Điều này chỉ có thể giải thích một cách hợp lý rằng: Phong thuỷ chính là một phương pháp ứng dụng nhất quán, hoàn chỉnh và là hệ quả của một tri thức về thiên nhiên, cuộc sống, vũ trụ và con người được lý thuyết hoá - đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Học thuyết này đã thất truyền khi văn minh Lạc Việt bị sụp đổ ở miền nam sông Dương tử. Những giá trị của nền văn minh này bị tan tác và lưu truyền trong dân gian. Bộ môn phong thuỷ Lạc Việt là một sự tổng hợp tất cả các phương pháp ứng dụng rời rạc trong cổ thư chữ Hán và các phương pháp còn lưu truyền trong dân gian với một nguyên lý căn để nhất quán là "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ". Trong bài tham luận này, người viết xin được trình bày nguyên lý căn để của Phong thủy Lạc Việt và phương pháp ứng dụng của một thành tố tương tác quan trong trong phong thủy Lạc Việt đó chính là Huyền không Lạc Việt. I - 2. Nguyên lý căn để của Phong Thủy Lạc Việt. Vởi những thành quả nghiên cứu mới nhất của nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, đã chứng minh rằng: Hà đồ là qui luật vận động của Ngũ tinh trong Thái Dương hệ. Gồm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ trong mối liên hệ với Mặt trời, Mặt trăng được quan sát từ trái Đất. Hoàn toàn không như cổ thư chữ Hán miêu tả là do những vòng xoắn trên lưng con Long Mã hiện lên ở sông Hoàng Hà, vua Phục Hy thấy được làm ra Hà Đồ. Tính hợp lý của Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ cũng được chứng minh trong các công trình nghiên cứu đã xác định rằng: Đó là đồ hình nhất quán xuyên xuốt trong mọi ứng dụng liên quan đến Lý học Đông phương. Nhất quán với nguyên lý xuyên suốt này - tính nhất quán là tiếu chí khoa học - Phong thủy Lạc Việt phi tinh trên cửu cung Hà Đồ, không phi tinh trên cửu cung Lạc Thư như phương pháp Huyền Không từ các bản văn văn chữ Hán liên quan đến Huyền không trong Phong thủy. CỬU CUNG LẠC THƯ..................................................CỬU CUNG HÀ ĐỒ Phối Hậu Thiên Văn Vương ..................................Phối Hậu Thiên Lạc Việt Trên cở sở này và tính hợp lý của mọi vấn đề và các hiện tượng liên quan đến Lý học Đông phương, Phong thủy Lạc Việt đã ứng dụng trong phương pháp Huyền Không Lạc Việt phi tinh. Phương pháp phi tinh theo Huyền Không Lạc Việt khác trên Lạc Thư từ cổ thư chữ Hán được so sánh trên đồ hình sau: Qua sự trình bày trên, chúng ta thấy rằng: Sư khác biệt giữa Huyền Không lạc Việt với Huyền Không trong cổ thư chỉ ở các phương vị phía Nam của Hà Đồ. Đây cũng là khác biệt chủ yếu của phương pháp Huyền Không Lạc Việt khi phi tinh, còn tất cả mối quan hệ phân tích tương quan các sao trong Huyền không và các mối tương quan khác và phương pháp luận trên cơ sở thuyết Âm Dương Ngũ hành không thay đổi. Phần tiếp theo đây, chúng tôi giới thiệu về tuính ứng dụng cụ thể của Huyền Không lạc Việt để các nhà nghiên cứu về phong thủy tiện so sánh cụ thể những luận điểm và phương pháp ứng dụng của Huyền Không Lạc Việt với cổ thư chữ Hán. II - PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG CỦA HUYỀN KHÔNG LẠC VIỆT Vũ trụ vận động không ngừng, tiền nhân đã phát hiện sự vận động đó có tính quy luật theo cửu tinh, được xem như 9 trường khí của 9 tinh thể lớn ảnh hưởng đến sự sống và các hoạt động trên trái đất. Người đời sau không hiểu biết tạo ra sự nhầm lẫn dẫn đến tệ mê tính dị đoan trong các môn lý học đông phương, nhất là không hiểu biết về sự tương tác của các hành tinh Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ lên trái đất chúng ta đang sống. Sự tương tác này được gọi là “Thiên khí”, vận hành theo chiều thuận là dương số lẻ, là chiều từ số nhỏ đến số lớn. Còn khí của quả đất gọi là “Địa khí” có tính chất đục nặng vận hành theo chiều nghịch là âm số chẳn, chiều từ các số lớn đến các số nhỏ. Tiền nhân đã thể hiện hai chiều quay đó trong Hà đồ, tuy con người không nhìn thấy sự tương tác, nhưng vẫn biết sự tương tác đó tác động đến đời sống muôn vật, tạo nên sự thịnh suy của muôn vật. II - 1. Tính chất của cửu tinh: - Số 1: Nhất bạch Tham lang: Là cát tinh đứng đầu. * Âm dương, ngũ hành: Dương thuỷ * Màu sắc: Xanh đen. * Cơ thể: Thận, tai, máu huyết * Về con người: là con trai thứ - Số 2: Nhị hắc Cự môn: là sao xấu, hung. * Âm dương, ngũ hành: Âm hoả đới thổ. * Màu sắc: Nâu đỏ. * Cơ thể: bụng và dạ dày * Về con người: Là người mẹ, người vợ. - Số 3: Tam bích Lộc tồn: Là sao xấu. * Âm dương, ngũ hành: dương mộc. * Màu sắc: màu xanh lá cây đậm. * Cơ thể: mật, vai và tay * Về con người: là con trai trưởng - Số 4: Tứ lục Văn xương: là sao tốt. * Âm dương, ngũ hành: âm kim. * Màu sắc: Xám trắng. * Cơ thể: đùi và 2 chân. * Về con người: con gái trưởng. - Số 5: Ngũ hoàng Liêm trinh: Là sao xấu nhất, còn gọi là đại sát tinh. * Âm dương, ngũ hành: Thổ * Màu sắc: màu vàng * Về cơ thể: không * về người: không - Số 6: Lục bạch Vũ khúc: Là sao tốt. * Âm dương, ngũ hành: Âm kim đới thuỷ. * Màu sắc: màu xanh da trời. * Cơ thể: đầu, mũi, cổ, xương, ruột già * Về con người: Là người cha, người chồng, người đứng đầu. - Số 7: Thất xích Phá quân: Là sao xấu. * Âm dương, ngũ hành: Dương hoả. * Màu sắc: màu đỏ * Cơ thể: mắt, tim, ấn đường. * Về con người: con gái giữa. - Số 8 : Bát bạch Tả phù: Là sao tốt. * Âm dương, ngũ hành: Âm mộc. * Màu sắc: màu xanh lá cây nhạt. * Vơ thể: lưng, ngực và lá lách. * Về con người: con trai út. - Số 9: Cửu tử - Hữu bật: là sao trung tính. * Âm dương, ngũ hành: Dương kim. * Màu sắc: màu trắng. * Cơ thể: phổi, miệng, lưỡi * Về con người: con gái út. II -2. Tam nguyên cửu vận: Cửu tinh tương tác tạo nên ảnh hưởng đến mọi mặt trên trái đất, cái dễ cảm thấy nhất đó là khí hậu hàng năm, và chi phối đến tháng ngày giờ, sự chi phối này có chu kỳ nguyên vận hay là đại vận là một giáp 60 năm, tiểu vận hay là Vận khí 20 năm, mỗi nguyên có 3 vận, tam nguyên cửu vận có 180 năm vừa đúng với cửu tinh chín vận. Ví dụ ta lấy tam nguyên cửu vận gần đây nhất: Thượng Nguyên: * vận 1: 1864 - 1883, * vận 2: 1884 - 1903 * vận 3: 1904 - 1923 Trung Nguyên: * vận 4: 1924 - 1943 * vận 5: 1944 - 1963 * vận 6: 1964 - 1983 Hạ Nguyên: * vận 7: 1984 - 2003 * vận 8: 2004 - 2023 * vận 9: 2024 - 2043 Đại vận: Theo Huyền không Lạc Việt dựa theo phép tính lấy thời điểm năm hành tinh Kim. Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ cùng mặt trăng, mặt trời tạo thành một đường thẳng gọi là thất tinh hợp bích làm điểm khởi đầu của năm đầu kỷ nguyên niên lịch, nên năm giáp tý đầu tiên tương ứng với nhất bạch thuỷ tinh, như vậy lấy năm Kinh Dương Vương lên ngôi vào năm Nhâm tuất 2897 trước công nguyên đến nay thì đã trãi qua 84 đại vận. Đại vận 84 này thuộc hạ nguyên của tam nguyên thứ 28, tức là đại vận của Tam bích mộc tinh.(vẽ bảng số 43 trang 222 sách "Tam nguyên cửu vận" của Giáo sư Hoàng Tuấn) Tiểu vận: Mỗi tiểu vận là 20 năm, hiện nay đang là hạ nguyên của tam nguyên thứ 28, kéo dài từ năm 1984 đến năm 2043 thuộc đại vận Tam bích mộc tinh. Hạ nguyên có 3 tiểu vận, đó là vận 7, vận 8, vận 9. Năm 2009 thuộc tiểu vận 8 bắt đầu từ năm 2004 đến năm 2024 của hạ nguyên. II -3. Đường di chuyển của cửu tinh (Lường Thiên xích). Hà đồ và Lường Thiên Xích: Hà đồ thực chất là qui luật tương quan biểu kiến của Ngũ Tinh trong Thái Dương hệ với mặt trời và mặt trăng. Các sao này được sắp xếp theo một trật tự đặc biệt mà 9 cung của Hà đồ đã thể hiện, đây cũng là bàn phi tinh cố định, như trong hình vẽ sau: Chúng chỉ thay đổi theo không gian và thời gian với một đường đi cố định được gọi là quỹ đạo chuyển động cố định của các sao còn gọi là phi tinh, mà người xưa gọi là Lường Thiên Xích. Trong hình vẽ trên, những số trong 9 ô vuông là số của sao phi tinh. Ô vuông ở giữa gọi là Trung cung còn các cung khác đại diện cho 8 cung ở 8 hướng xung quanh theo nguyên lý " Hậu Thiên bát quái Lạc Việt phối Hà đồ". Ta có thứ tự như sau: - Từ trung cung số 5 đi lên Tây bắc số 6. - Từ Tây bắc số 6 xuống Nam số 7. - Từ Nam số 7 lên Đông bắc số 8. - Từ Đông bắc số 8 đến Tây số 9. - Từ Tây số 9 lên Bắc số 1. - Từ Bắc số 1 xuống Đông nam số 2. - Từ Đông nam số 2 lên Đông số 3. - Từ Đông số 3 qua Tây nam số 4. - Tư Tây nam số 4 về lại trung cung số 5. Lường Thiên Xích chia ra làm 2 loại đó là loại Thuận và loại Nghịch. Loại thuận bắt đầu từ Trung cung là số 5 rồi đi theo chiều tăng đến 6, 7, 8, 9, 1, 2, 3, 4. Lường Thiên Xích Nghịch thì lại bắt đầu từ số 5 rồi đi theo chiều giãm xuống đến 4, 3, 2, 1, 9, 8, 7, 6. Tam nguyên long Huyền không coi vấn đề thuần khí như là một trong những yếu tốt bắt buộc, vì thế, nó được xem như là yếu tố xác định họa phúc, tốt xấu của một ngôi gia. Khi một ngôi gia có được một tinh bàn vượng sơn vương hướng rồi thì cũng nên chú ý đến việc thuần khí theo tam nguyên long, nghiã là cần xem cấu trúc hình thể trong ngôi gia đó có theo được sự kết hợp tốt theo tam nguyên long hay không, ví dụ như cổng, cửa, bếp, phòng … Tam nguyên long cũng chỉ là một yếu tố trong các yếu tố xem xét một ngôi gia tốt xấu mà thôi. 1 - Thiên nguyên long. * 4 sơn dương: Càn , Khôn, Cấn, Tốn. * 4 sơn âm: Tý , Ngọ, Mão , Dậu. 2 - Nhân nguyên long. * 4 sơn dương: Dần, Thân, Tỵ, Hôi. * 4 sơn âm: Ất, Tân, Đinh, Quý. 3 - Địa nguyên long. * 4 sơn dương: Giáp, Canh, Nhâm , Binh. * 4 sơn âm: Thìn, Tuất, Sửu , Mùi. II - 4. Tinh bàn: -Vận bàn: Cần xác định vận bàn: * Năm xây dựng mới ngôi gia. * Năm sửa lại đa phần lại ngôi gia. * Năm bắt đầu dọn vào ở trong ngôi gia. Khi đã xác định được năm của ngôi gia rồi thì xem năm đó thuộc vận nào trong tam nguyên cửu vận. Xác định được vận thì đem số sao của vận đó vào Trung cung rồi di chuyển theo Lường Thiên Xích thuận mà sắp xếp các sao ở chín cung. Ví dụ: Năm 2009 nằm trong vận 8 (2004-2024) thuộc hạ nguyên của tam nguyên cửu vận. Đưa sao Bát bạch vào trung cung di chuyển theo chiều thuận. - Sơn tinh: Còn gọi sơn bàn phi tinh, nghĩa là sao phi tinh ở phương toạ của sơ đồ nhà theo vận bàn đưa vào trung cung, căn cứ theo tam nguyên long ở phương toạ là âm hay dương để di chuyển sao phi tinh theo chiều thuận hay nghịch. Sao phi tinh sơn bàn thường đặt bên trái của sao phi tinh vận bàn. -Hướng tinh: còn gọi là hướng bàn phi tinh, nghĩa là sao phi tinh ở phương hướng của sơ đồ nhà theo vận bàn đưa vào trung cung, di chuyển thuận nghịch theo tam nguyên long âm dương ở hướng. Sao phi tinh hướng bàn thường đặt bên phải của sao vận bàn. II - 5. Địa bàn: Là bàn cố định của phi tinh hay còn gọi là cửu tinh đồ căn bản được sắp xếp theo các cung của Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ. Sự chuyển động của khí trong vũ trụ là không ngừng theo năm, tháng, ngày, giờ. Cổ nhân đã dùng cửu tinh làm chủ cho sự thay đổi của thời gian đó. Mỗi sao của cửu tinh sẽ làm chủ một khoảng thời gian là năm tháng ngày giờ, vì vậy mỗi năm, tháng, ngày, giờ có một sao chủ. Sao chủ xếp vào vị trí trung cung của cửu cung và các sao khác di chuyển theo lường thiên xích thuận. -Niên tinh: Là sao quản năm, dùng cửu tinh phối với năm, ví dụ năm 2009 là sao cửu tử nhập trung cung và cũng là sao quản năm. -Nguyệt tinh: Là mỗi tháng có một sao phi tinh làm chủ quản lý chi phối tháng đó. Ví dụ từ ngày 7 tháng 11 năm 2009 đến ngày 7 tháng 12 năm 2009 là sao ngũ hoàng quản. -Nhật tinh, Thời tinh: Cũng tương tự như niên nguyệt, thi ngày và giờ cũng có một sao làm chủ và nó chi phối khoảng thời gian mà nó làm chủ. Sự ảnh hưởng của niên nguyệt tinh mạnh nhất thường là những nơi có sự hoạt động thường xuyên và mạnh, như cửa, cổng ra vào, phòng bếp, phòng ngủ. Ngoài ra còn xét kết hợp với sao sơn hướng tinh ở khu vực chúng đến để xem xét tốt xấu tuỳ theo tính chất của sao niên nguyệt tinh. II - 6. Chính thần & Linh thần Đồ hình của Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ có cửu tinh bài bố như sau: - Chính thần là dùng nơi cao sơn của sao đương vận mà thu nhận khí. Như vận 8 thì lấy phương vị Bát bạch Cấn - làm chính thần. Phương vị của Chính Thần cần có cao sơn thực địa. - Linh thần là phương đối lại của chính thần. Phương vị LinhThần cần sông nước, trũng thấp. Thí dụ: Như vận 8 phương đối lại của chính thần là phương vị Tứ - Tốn (Tây nam) làm linh thần. Chính thần quàn 10 năm đầu của vận 20 năm. Linh thần quản 10 năm sau. Riêng vận 5 có 20 năm, mười năm đầu lấy Nhị Khôn làm Linh thần và mười năm sau lấy Bát (Cấn) làm Chính thần. Coi về Chính thần, Linh thần của đương vận là coi về vượng suy của một thành phố hay khu dân cư, ví dụ : vận 8, phương vị của Linh thần nằm ở phía Tây Nam. Do đó, nếu khu vực đó của thành phố hay khu dân cư ... mà có sông, hồ hoặc biển... thì rất tốt, chủ vượng phát về mọi mặt. Ngược lại, nếu khu vực đó lại có thế núi, thế đất tiến dần cao thì ngôi làng hay đô thị đó sẽ gặp nhiều việc không tốt. Còn về ngôi gia cư thì lấy sơn tinh đương vượng làm Chính thần và hướng tinh đương vượng làm Linh Thần. Phương Linh thần nên có Thuỷ, thấp trũng hay đường đi. Nếu phương vị của Hướng tinh sinh, vượng khí lại vào vị trí của Linh thần đương vận mà có thuỷ, thấp trũng hay đường đi thì tốt lại càng thêm tốt, đã vượng càng thêm vượng. Hướng tinh sinh vượng khí vào vị trí Chính thần của đương vận thì vẫn cần có thuỷ thì mới vượng phát được, còn gặp cao sơn thì suy. II - 7. Cấu trúc hình thể với phi tinh: Khi lựa chọn đựơc một mảnh đất hay một khu đất để quyết định xây một ngôi gia, hay một ngôi gia đã hoặc đang ở, ta kiểm tra hướng, xem hướng của ngôi gia có bị kiêm hướng hay bị phạm điêù gì không, sau đó ta cần chú ý đến cấu trúc hình thể trong và ngoaì ngôi gia có hợp với phi tinh Huyền Không Lạc Việt hay không, để hiệu chỉnh cho thích hợp. Cấu trúc hình thể bên trong ngôi gia với phi tinh: Cấu trúc hình thể bên trong của một ngôi gia cần được điều chỉnh sắp xếp cho phù hợp với phi tinh, nghĩa là ở những nơi có phi tinh hướng sinh khí, vượng khí thì nên bố trí lối đi, hành lang, cầu thang, vật chứa nước, hồ cá, vòi nước, tranh ảnh thuỷ mặc… Còn ở những nơi là sinh vượng khí của sơn tinh nên làm phòng ngũ, bếp, bàn làm việc. Cấu trúc cảnh quan bên ngoài ngôi gia với phi tinh: Cảnh quan xung quanh ngôi gia phối với phi tinh cũng rất quan trọng, ở những khu vực có hướng tinh sinh vượng khí thì cần trống thoáng, như có hồ nước hay đường đi làm hư thủy làm cho hướng tinh được đắc cách mà tốt hơn. Ngược lại tại khu vực sinh vượng của hướng tinh mà có núi đồi, nhà cao, cây cao áp sát ngôi gia thì hướng tinh bị thất cách làm cho ngôi gia không hưởng được khí sinh vượng của phi tinh nên không tốt. Còn ở những khu vực có sơn tinh sinh vượng khí thì cần có cao sơn thực địa như núi đồi, nhà cao tầng, cây cao…còn ngược lại thì không tốt. Tùy theo tinh bàn của từng ngôi gia mà cần có bố trí cho thích hợp, ví dụ như ngôi gia có tinh bàn thướng sơn hạ thủy thì cần có sự bố trí ngược lại mà người xưa gọi là cách đảo kị long, hoặc theo cách thu sơn xuất sát. II - 8. Phân cung. Bắt đầu từ tâm nhà chia mặt phẳng diện tích làm 8 phương vị: 1) Bắc: Từ 337, 5 độ - 0độ (Chính Bắc) - 22, 5 độ; Quái Khảm quản. 2) Đông Bắc: 22,5 độ - 45 độ (Chính Đông Bắc) - 67, 5 độ. Quái Cấn quản. 3) Đông: 67,5 độ - 90 độ (Chính Đông) - 112,5 độ. Quái Chấn quản. 4) Đông Nam: 112, 5 độ - 135 độ (Chính Đông Nam) - 157, 5 độ.Quái Khôn quản. 5) Nam: 157, 5 độ - 180 độ (Chính Nam) - 202,5 độ.Quái Ly quản 6) Tây Nam: 202,5 độ - 225 độ (Chính Tây Nam) - 247.5 độ. Quái Tốn quản 7) Tây: 247,5 độ - 270 độ (Chính Tây) - 292, 5 độ. Quái Đoài quản. 8) Tây Bắc: 292,5 độ - 315 độ (Chính Tây Bắc) - 337, 5 độ. Quái Càn quản. - 24 Sơn hướng. Tám cung đó tính từ Càn thuận chiều kim đồng hồ là: Càn , Khảm , Cấn , Chấn , Khôn , Ly , Tốn , Đoài . Trong Phong thủy mỗi phương quản 45 độ. Nhưng thực tế cho thấy do những yếu tố tương tác khác nhau, mà không thể có nhà nào chính hướng và có những sai lệch. Sự sai lệch này cũng có những tương tác khác nhau trong cùng một phương. Bởi vậy trong phong thuỷ người ta mới chia nhỏ mỗi phương thành 3 vị trí khác nhau gọi là sơn hướng. Do đó, 8 phương có tổng cộng là 24 sơn hướng. Mỗi cung như vậy lại chia làm 3 sơn. Mỗi sơn quản 15 độ. Tên gọi của các sơn hướng lần lượt như sau: 1: Càn: Gồm ba sơn Tuất - Càn - Hợi. 2: Khảm: Gồm ba sơn Nhâm - Tý - Quí. 3: Cấn: Gồm ba sơn Sửu - Cấn - Dần. 4: Chấn: Gồm ba sơn Giáp - Mão - Ất. 5: Khôn: Gồm ba sơn Thìn - Khôn - Tỵ. 6: Ly: Gồm ba sơn Bính - Ngọ - Đinh. 7: Tốn: Gồm ba sơn Mùi - Tốn - Thân. 8: Đoài: Gồm ba sơn Canh - Dậu - Tân. Chúng ta đều biết rằng: Hợi Tý Nhâm Quý thuộc Thủy - Màu xanh dương; Giáp Ất Dần Mão thuộc Mộc - Màu xanh lá cây; Tỵ Bính Ngọ Đinh thuộc Hỏa - Màu đỏ; Thân Canh Dậu Tân thuộc Kim - Màu trắng Nguyên lý này trùng khớp một cách hợp lý giữa La Kinh và Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt. - Phân độ: Mỗi phân độ chiếm chỉ 5 độ trên La bàn. Gọi là 72 phân kim ứng với 72 Địa sát trên toàn Thiên Bàn. Ngoài ra các vòng La Kinh còn chia 60 phân mạch Bảo châu. Mỗi phân mạch Bảo châu chiếm 6 độ Địa bàn. Sự phân chia các phương vị trên La kinh còn nhiều phức tạp khác, Nhưng chỉ dùng nhiều trong Âm Trạch. Trong Dương Trạch thì chúng ta chỉ cần đến sự phân độ như trên và nắm vững cách tính một số vòng sao. 12 địa chi sơn trong tam hợp bàn, mỗi sơn có 5 ô Giáp tý, khi nạp âm thì ngũ hành của mỗi hoa giáp sẽ khác nhau, như Tý sơn có Giáp Tý (kim), Bính Tý (Thuỷ), Mậu Tý (Hoả), Canh Tý (Thổ), Nhâm Tý (Mộc). 12 sơn cộng lại 60 giáp tý, còn gọi 60 Thấu địa long, hoặc ngũ tý khí. Phép lập hướng phải biết tiết chế bớt khí quá vượng và bổ sung khí cho khí quá yếu. - Phân Kim : Phương pháp phân kim cụ thể như sau: -Sơn Tý có: Giáp Tý (Kim), Bính Tý (Hỏa), Mậu Tý (Thủy), Canh Tý (thổ), Nhâm Tý (mộc). -Sơn Sửu có: Ất Sửu (Kim), Đinh Sửu (Thuỷ), Kỷ Sửu (Thủy), Tân Sửu (thổ), Quí Sửu (mộc) -Sơn Dần có : Bính Dần (Thủy), Mậu Dần (thổ). Canh Dần (mộc), Nhâm Dần (kim), Giáp Dần (Thuỷ). -Sơn Mão có : Đinh Mão (Thủy), Kỷ Mão (thổ), Tân Mão (mộc), Quý Mão (kim), Ất Mão (Hỏa). -Sơn Thìn có : Mậu Thìn (mộc), Canh Thìn (kim), Nhâm Thìn (Hỏa), Giáp Thìn (Thủy), Bính Thìn (thổ). -Sơn Tỵ có : Kỷ Tỵ (mộc), Tân Tỵ (kim), Quý Tỵ (Hỏa), Ất Tỵ (Toả), Đinh Tỵ (thổ). -Sơn Ngọ có : Canh Ngọ (thổ), Nhâm Ngọ (môc), Giáp Ngọ (kim), Bính Ngọ (Hỏa), Mậu Ngọ (Thủy). -Sơn Mùi có : Tân Mùi (Thổ), Quý Mùi (Mộc), Ất Mùi (Kim), Đinh Mùi (Hỏa), Kỷ Mùi (Thủy). -Sơn Thân có : Nhâm Thân (kim), Giáp Thân (Hỏa), Bính Thân (Thủy), Mậu Thân (thổ), Canh Thân (mộc) -Sơn Dậu có : Quý Dậu (kim), Ất Dậu (Hỏa), Đinh Dậu (Thủy), Kỷ ̉ Dậu (thổ), Tân Dậu (mộc). -Sơn Tuất có: Giáp Tuất (Thủy), Bính Tuất (thổ), Mậu Tuất (mộc), Canh Tuất (kim), Nhâm Tuất (Hỏa). -Sơn Hợi có: Ất Hợi (Thủy), Đinh Hợi (thổ), Kỷ Hợi (mộc), Tân Hợi (kim), Quí Hợi (Hỏa). Nguyên tắc sử dụng phân kim là ở chỗ vượng thì tiết giảm, suy thì bổ cứu, tránh hung theo cát, tức tránh tương khắc (nếu khắc xuất là tiết), theo cát (sinh nhập, ngang hoà là cát, sinh xuất là tiết). Tóm lại là phải vận dụng linh hoạt. Ngoài ra cần lưu ý đến làn ranh phân kim, nếu phạm sẽ dẫn đến ngũ hành lẫn lộn mà có nhiều hung sát II - 9. Cách bố trí sơ đồ nhà kết hợp phi tinh. -Phòng bếp: Bếp là nơi chế biến nguồn dinh dưỡng cho mọi người, chủ về nhân đinh, cho nên nó có tầm ảnh hưởng đến tất cả mọi người trong một ngôi gia về sức khoẻ, sự bình an và tài lộc vì thế bếp phải đặt tại phương vị tốt (Vị trí tọa tốt) có các sao là sơn tinh sinh vượng tiến khí và các sao tốt. Hướng bếp phải là hướng tốt, có các sao là hướng tinh sinh vượng tiến khí. Hướng nhà và vị trí bếp hay hướng bếp phải cùng Tam nguyên long, cụ thể là hướng nhà là Thiên nguyên long thì vị trí bếp, hướng bếp là Thiên nguyên long hoặc là Nhân nguyên Long. Hướng nhà là Nhân nguyên long thì hướng bếp và vị trí bếp là Nhân nguyên long hoặc là Thiên nguyên long. Còn Địa nguyên long chỉ nên phối với Địa nguyên long, không kết hợp được với Nhân nguyên long hay Thiên nguyên long, nếu kết hợp sẽ không được tốt. - Không nên đặt bếp tại Hướng tinh 2; 5 vì hoả sinh thổ. Sao 5 là Ngũ Hoàng Liêm trinh: chủ bệnh tật hao tài. Sao 2 là nhị hắc bệnh phù: Chủ bệnh tật. - Không nên đặt tại nơi có vượng sinh tiến khí của hướng tinh. Nếu đặt thì dễ bị hao hụt về tài chính. Vị trí đặt bếp là tính theo 24 sơn tính từ tâm nhà, chứ không tính theo tâm phòng bếp. - Dời bếp vào hướng phạm thái tuế: Nếu là cung có sơn tinh đang vượng thì rất tốt, còn không thì tai hoạ. Chỉ nên tránh vào tháng phạm thái tuế và trực xung thái tuế (Thí dụ: năm 2009, thái tuế cung Sửu thì nên tránh tháng, ngày, giờ Sửu và Mùi (trực xung). Hướng bếp nên hướng về hướng tinh là: * Nhất bạch: Hành thuỷ là thuỷ hoả ký tế nên là bếp cát * Tam bích, bát bạch: Mộc sinh hoả là bếp cát. * Nhị hắc, ngũ hoàng: Nhị hắc là bệnh phù, ngũ hoàng là đại sát nên kỵ -Phòng khách: Là nơi tụ hợp các thành viên trong gia đình, nơi tiếp khách, nghĩ ngơi tạm thời, chổ ngồi, nằm, uống trà, hút thuốc, tụ tập nói chuyện, thư giãn, nghe nhạc, xem truyền hình, đọc sách, làm việc, vì thế nó có vai trò cũng quan trọng. Do những ngôi nhà trong thành phố thường bị hạn chế về diện tích sử dụng, thì phòng khách thường cũng là phòng ăn. Vị trí tốt thường bố trí ở trung tâm ngôi gia, ở khu vực có sơn tinh sinh khí xa, ví dụ như vận 8 là sơn tinh nhất bạch, vận 7 là sơn tinh cửu tử, vận sáu là bát bạch… II - 10. Các loại sao sát và những kiêng kỵ. Thần sát: -Sao bản mệnh: là sao quản năm sinh của một người nào đó, ví dụ: nếu người đó sinh năm 2009, thì sao bản mệnh là cửu tử. -Bản mệnh sát và đích sát: Trong phi tinh của niên, nguyệt, nhật, thời, ở tại phương vị nào có phi tinh là sao bản mệnh thì gọi là bản mệnh sát, phương vị đối lập với phương bản mệnh sát tức là đối xung gọi là “đích sát”. Phương bản mệnh sát và phương đích sát đều là các phương đại hung, không được phạm đến. - Ám kiến sát: Sao phi tinh của niên nguyệt nhật thời nhập trung cung, phương vị có số sao phi tinh nhập trung cung thì gọi là phương vị ám kiến sát của niên nguyệt nhật thời đó. Phương vị ám kiến sát cũng là phương đại hung. -Thái tuế: Thái Tuế - vật thể thuộc Âm - là sao lớn nhất gần trái Đất và nhóm sao II ngoài vòng Thiên Thạch. Thái tuế là mộc tinh (Jupiter) lớn nhất trong thất tinh, nên khi nó đi tới đâu thì nó sẽ kéo hết dương khí về nơi đó. Theo quan niệm về "Khí" của Phong thủy Lạc Việt: Tất cả khí ngoài trái Đất đều thuộc Dương so với trái Đất. Nên sự tương tác rất mạnh về Dương Khí. Dương khí vượng ở hướng tất suy ở sơn và Âm khí vượng ở Sơn tất suy ở hướng. Mà hướng là dương, tọa là âm vì thế mà kỵ hướng, tuế phá ngược lại vì do dương khí bị kéo hết về nơi thái tuế nên tuế phá hoàn toàn là âm khí nên kỵ tọa. Thái tuế kỵ hướng không kỵ tọa, bởi vì thái tuế tính dương động kỵ hướng là do nơi hướng thường là nơi hoạt động vào ra của con người nên động càng thêm động, vì thế cũng kị mở cửa theo hướng của năm sinh để tránh không xung phạm Thái tuế. Thí dụ người tuổi Sửu không mở cửa hướng Sửu, người tuổi Tý không mở cửa hướng Tý, các tuổi khác cũng như vậy, để tránh tới năm tuổi Thái tuế đến cửa mà gây ra nhiều chuyện phiền toái. -Xung Thái tuế: là Thái-tuế xung khắc với năm sinh của chủ nhà. Thí dụ người sinh năm Dần thì niên canh Thái-tuế của người đó là Dần. Dần lại tương xung với Thân nên gặp năm Thân, tức là năm “niên canh xung Thái-tuế” thì người này phải tránh hành động tại 2 cung Dần, Thân để tránh khỏi bị trắc trở. -Nơi có phi tinh tốt gặp Thái tuế thì tốt thêm, nơi có phi tinh xấu mà gặp Thái tuế thì càng thêm xấu. -Thái tuế Có 2 loại là Thái tuế theo năm và Thái tuế theo phi tinh: *Thái tuế theo năm: là Thái tuế tính theo các địa chi của năm và phương vị mang tên địa chi đó. Ví dụ: Năm Tý Thái tuế ở phương Tý (phía Bắc), năm Sửu Thái tuế ở phương Sửu (phía Đông Bắc)… * Thái tuế theo phi tinh là Thái tuế theo sao cửu tinh của năm. Ví dụ: Năm 2009 là năm Sửu, phương Sửu ở Đông bắc, mà Đông bắc theo bàn phi tinh cố định là Bát bạch làm đại diện, phi tinh đại diện của năm Sửu là Cửu tử, đem Cửu tử nhập trung cung di chuyển theo Lường Thiên xích thuận thì sao Bát bạch đến phương Tây Nam, như vậy Thái tuế phi tinh năm 2009 Kỷ sửu là ở phương Tây Nam. Tuế phá: Phương đối ngược lại với phương Thái-tuế là phương Tuế-phá. Phương Thái-tuế nơi hoàn toàn có khí dương, ngược lại phương có Tuế-phá là nơi hoàn toàn có khí âm. Vì thế đây là 2 cung âm dương đối lập, tương khắc, tương xung. Như vậy khi các cung này ở trong vị trí tốt thì rất tốt mà trái lại thì rất xấu. Các ngày Tuế-phá cũng được tính theo như thí dụ sau đây: Năm Tý, Thái-tuế địa bàn ở phương Tý thì Tuế-phá ở phương ngược lại là phương Ngọ nên các ngày Ngọ như Giáp Ngọ, Bính Ngọ... đều là ngày Tuế-phá có khí âm cực mạnh. Do đó khi phạm vào thì dể gặp tai họa nhất là người tuổi Tý. -Tam sát: Là phần bên hông vuông góc với trục Thái Tuế và Tuế Phá theo chiều thuận từ Thái Tuế đến Tam sát, Tam sát chính là nơi giao lưu tương tác Âm Dương theo chiều thuận do ảnh hưởng của Thái Tuế và tuế phá gây nên, còn gọi là 3 sao có sát khí là Tuế sát, Kiếp sát và Tai sát. Ba điểm này cần thận trọng khi động thổ, tu sửa... Thí dụ Thái Tuế cung Sửu thì Tam sát ở cung Thìn. Có 3 loại tam sát năm, tháng và ngày. - Những năm Dần - Ngọ - Tuất: Tam sát ở phía BẮC. - Những năm Hợi - Mão - Mùi: Tam sát ở phía TÂY. - Những năm Thân - Tý - Thìn: Tam sát ở phía NAM. - Những năm Tỵ - Dậu - Sửu: Tam sát ở phía ĐÔNG. Tam sát chỉ kiêng kỵ ở phương toạ, không kiêng kỵ ở nơi hướng của ngôi gia. Nếu xây nhà, nhập trạch vào năm có tam sát đến toạ thì mới bị ảnh hưởng xấu. Ngoài ra cũng cần chú ý đến phương vị của giường ngủ, nếu giường ngủ mà nằm tại khu vực của tam sát thì tránh ra khu vực đó trong năm bị Tam sát. -Ngũ hoàng sát: Ngũ Hoàng đại sát còn gọi là "Mậu Kỷ Đô thiên sát". Nếu Ngũ hoàng xuất hiện ở sơn hướng nên tránh, vì Ngũ Hoàng là tối hung không thể xâm phạm, khu vực mà có sao Ngũ Hoàng bay đến trong năm thì cần phải tránh, chứ không xung phạm. Nếu xung phạm thì lập tức sẽ có những biến động, hoặc tai họa nguy hiểm, đang tốt thành xấu, người cư ngụ ở nơi có Ngũ Hoàng sẽ bị ảnh hưởng đến sức khoẻ và tiền bạc. III - KẾT LUẬN Chúng tôi quan niệm rằng: Bản chất của Phong thủy là ứng dụng những quy luật tương tác trong thiên nhiên, vũ trụ và con người. Đây chính là những thực tại khách quan đang tác động đến cuộc sống của chúng ta. Trong bài viết này, chúng tôi hân hạnh giới thiệu một trong những yếu tố tương tác quan trong. Đó chính là sự vận động có tính quy luật của các vì sao trong Thái Dương hệ lên trái Đất và ảnh hưởng đến cuộc sống của con người - mà chúng tôi cho rằng: Đó chính là nhận thức thực tại được qui ước, ký hiệu hóa trong phương pháp Huyền không, ứng dụng trong phong thủy. Huyền không Lạc Việt với nguyên lý căn để là "Hà Đồ phối Hậu thiên Lạc Việt" và phương pháp ứng dụng căn bản, nhằm minh chứng tính nhất quán, tính hệ thống và khả năng giải thích hợp lý các vần đề liên quan so với sự huyễn ảo của Phong thủy từ văn bản cổ. Đó chính là yếu tố làm sáng tỏ tính khoa học của Phong Thủy theo tiêu chí khoa học. Đó chính là sự hiệu chỉnh để làm sáng tỏ chân lý, chứ không phải là sự phủ nhận những giá trị ứng dụng có hiệu quả đã được thừa nhận trong ứng dụng trải hàng ngàn năm của khoa Phong thủy Đông phương. Những phương pháp luận trong ứng dụng, được giới thiệu trong bài viết này ở trên đã chứng tỏ điều đó. Chúng tôi cũng không có tham vong ngay bây giờ có thể giải thích tất cả những bí ẩn của Lý học Đông phương. Đây là một công trình nghiên cứu đòi hỏi thời gian và sự đóng góp của nhiều con người, thậm chí có thể là nhiều thế hệ. Nhưng trong bài viết này, chúng tôi chỉ giới hạn ở việc minh chứng tính khoa học của phoing thủy - qua Phong thủy Lạc Việt - là sự thống nhất các phát hiện rời rạc, hiệu chỉnh những sai lầm và khiếm khuyết dẫn đến mâu thuẫn và mơ hồ của khoa Phong thủy. Từ đó, chúng tôi hy vọng rằng: Hội Thảo phong thủy lần này, sẽ là những bước mở đầu cho sự khám phá những bí ẩn của văn hóa Đông phương, mang trong nội dung của nó những nhận thức kỳ vĩ của thiên nhiên, vũ trụ và con người. Chúc hội thảo thành công tốt đẹp. Cảm ơn sự quan tâm của quí vị. ----------------------------- Tài liệu tham khảo. -Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt - Nguyễn Vũ Tuấn Anh. -Trạch vận tân án - Thẩm Trúc Nhưng và các tác giả. -Tìm hiểu cổ dịch huyền không - Hồ Kinh Quốc. -Phong Thuỷ Huyền Không Học - Bình Nguyên Quân. -Ứng dụng phong thuỷ trong xây dựng và đời sống - Vũ Đình Chỉnh. -Lý thuyết tam nguyên-cửu vận và nguyên lý dự báo cổ-Hoàng Tuấn. -Huyền học và nhà ở hiện đại – Chung Nghĩa Minh. -Giáo trình lớp PTLVII – Lưu hành nội bộ. -Tài liệu của anh Kép Nhật. -Địa lý toàn thư – Lưu Bá Ôn và các tác giả. -Phong thủy trong đời sống hiện đại – Nguyễn Hoàng Hải. -Thẩm thị huyền không học – Nguyễn Anh Vũ biên dịch. -Thủy Long Kinh-Long mạch bí truyền – NXB Hải Phòng. -Bí mật gia cư âm trạch và dương trạch – biên soạn: Duy Nguyên, Trần Sinh.
-
Chúng ta kiểm tra lại các quy ước tứ Dương trạch, Bốc dịch... (Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt và Tìm về cội nguồn Kinh dịch - Nguyễn Vũ Tuấn Anh): Thuận tự nạp chi các quái Dương và Âm trong Hậu Thiên Văn Vương Tốn Khôn cần đổi chỗ. Đồ hình minh họa Tính chất quái tượng qua Hậu Thiên bát quái nguyên thủy và Hà đồ Như vậy chúng ta hiểu rằng, quy ước: Càn, Khảm, Cấn, Chấn: Quái Dương. Khôn, Ly, Tốn, Đoài: Quái Âm. Nữ (Âm Thổ) hợp với quái Dương, vượng nhất ứng rất dương là quái Cấn. Nam (Dương Thổ) hợp với quái Âm, vượng nhất ứng rất âm là quái Tốn. Do vậy, Nếu bản mệnh Thổ, nam ứng Tốn và nữ ứng Cấn. Chúng ta tiếp tục kiểm tra lại phương pháp Huyền không phi tinh là tương tác từ Hệ mặt trời tới một vị trí địa lý của Trái đất (quái Cấn) có gì sai khác theo quy ước hay không.
-
Phận tích: - Hành Thổ luôn tương hợp với mọi Hành khác hay mọi hướng Bát trạch khi xem xét về mặt tổng thể nhưng về chi tiết thì cần phải phân tích. - Như vậy, trong 8 hướng Bát trạch sẽ phải có sự tương hợp hoặc xung khắc phân cấp, chúng ta đi vào chi tiết hơn qua Âm Thổ (Nữ) và Dương Thổ (Nam). - 8 phương sẽ tương ứng: Càn Khảm Cấn Chấn: Âm - ứng Âm Thổ, tương hợp Cấn - dương nhất trong Âm. Khôn Ly Tốn Đoài: Dương: ứng Dương Thổ, tương hợp Tốn - âm nhất trong Dương. Theo cổ thư, Nam Khôn và Nữ Cấn, cổ thư sai độ số Tốn Khôn, do vậy kết quả đúng là Nam Tốn Nử Cấn. Quán xét biểu đồ, hoàn toàn hợp lý. Vậy, Nam Tốn và Nữ Cấn (đối xứng quan Trung cung)
-
Để xác định được trường hợp Bản mệnh Nam/ Nữ hành Thổ ứng với các hướng thuận lợi trong Bát trạch, điều bắt buộc là chúng ta phải hiểu rõ các quy ước tương tác, chủ thể và khách thể trong mối quan hệ quy luật vận động, vì vậy tôi xác nhận lại một số ý để cùng ACE cùng tham gia cho ý kiến: - Tương tác từ toàn bộ các Hệ vận động ngoài hệ Mặt trời (Vũ trụ) được xem là đồng nhất, do vậy tương tác tới cấp thấp hơn sẽ chỉ được quy ước là Khí âm và Khí dương mà thôi - Nguyên khí. - Thiên Can là quy ước tương tác từ toàn bộ các hành tinh trong Hệ mặt trời tới Trái đất (không Mặt trời). - Địa chi là quy ước tương tác từ Mặt trời tới Trái đất. Hướng hợp trong Bát trạch chỉ có 8 trường hợp của Bản mệnh ứng Kim, Mộc, Hỏa Thủy, còn hành Thổ thì cổ thư nói Nam - thuộc Khôn và Nữ - thuộc Cấn.. - Bản mệnh (Tuổi) là quy ước thuộc tính tổng thể của một sinh vật hữu tình (con người Nam/ Nữ) được sinh ra bởi Địa chi. Trong bảng Lạc thư hoa giáp, chúng ta có 60 Bản mệnh (30 âm/ 30 dương). - Tương tác từ Mặt trăng quanh xung quanh Trái đất trong chu kỳ khoảng 1 tháng. 6Ngày tương ứng Ngũ vận lục khí. - Tương tác do từ trường Trái đất quay quanh trục trong 1 ngày. Một số chú ý: - Trong Hệ mặt trời: Trái đất thuộc hành Âm Mộc (Cấn). - Bản mệnh Thổ luôn do Địa chi Hỏa sinh ra. - Hành Thổ luôn tương hợp với mọi Hành khác hay mọi hướng Bát trạch khi xem xét về mặt tổng thể nhưng về chi tiết + Nam/ Nữ. - Mặc dù Trái đất thuộc Âm Mộc nhưng thuộc tính được xác định theo tương sinh từ Mặt trời trong vòng vận động 1 năm. - Bản mệnh do Địa chi sinh nhưng Địa chi lại có mối quan hệ không tách rời với Thiên Can. Do vậy, giữa Bản mệnh và Thiên can sẽ xảy ra các trường hợp sinh, khắc, hòa...
-
Tổng hợp các đồ hình liên quan đến việc xây dựng Lạc thư hoa giáp và Bát trạch: * Chú thích: Lý Ngũ hành tương sinh thuộc Dương, nhưng vật thể hiện lý thuộc Âm; theo nguyên tắc trong Âm có Dương và ngược lại. Điều này đã minh chứng ở phần trên”Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên và Lạc thư Hà đồ”: Tổ Mẫu biểu tượng của Âm sinh; “lên núi“ biểu tượng của Dương. Trong bảng Lạc thư hoa giáp, chúng ta có 60 Bản mệnh (âm/ dương), tuy nhiên khi xem xét hướng hợp trong Bát trạch chỉ có 8 trường hợp của Bản mệnh ứng Kim Mộc Hỏa Thủy, trong khi đó theo Lạc thư còn có Bản mệnh hành Thổ? Vậy thì Bản mệnh Nam/ Nữ hành Thổ này được xem xét như thế nào? trong các quan hệ: - Thiên can - tương tác từ ngoài Hệ mặt trời (vũ trụ). Năm - Địa chi - tương tác từ Hệ mặt trời tới trái đất. Tháng - Tương tác từ Mặt trăng quanh xung quanh Trái đất. Ngày - Tương tác do từ trường Trái đất quay quanh trục. Giờ Năm - tháng - ngày - giờ sinh chính là tổ hợp các tương tác trên trong luận đoán mệnh Tử Vi...
-
Lý Học Đông Phương Và Vấn Đề Sinh Vật Ngoài Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Sứ's topic in Lý Học Lạc Việt
Tôi xin trả lời câu hỏi của tác giả cuốn Thượng đế và khoa học là Jean Guitton: Câu hỏi cuối cùng và đáng sợ nhất. Nó đã mở đầu và sẽ kết thúc cuộc đối thoại này: Ý nghĩa của vũ trụ như thế nào? Tất cả cái đó đưa ta đến đâu? Tại sao có cái gì đó còn hơn không có gì" Tự nhiên như nhiên, vận động có quy luật, vậy thôi. Đưa ta đi theo nó, quy luật của nó, bắt ta vận hành hay ta là con cờ trên bàn cờ của nó, do vậy ta phải thích nghi với nó. Điều này phải nhận thức được Linh hồn là gì? Vĩnh cửu hay không?. Tự thân vạn vật đã có, chả cần có gì hay không mà phải thích nghi như thế nào với các thuộc tính của ta? Tôn giáo, tự bản thân nó không dựa trên một học thuyết nào hay chỉ phân tích logic bởi các nhà thần học không thôi thì mãi mãi chỉ đi vào ngõ cụt, không bao giờ tìm thấy chân lý. Xã hội luôn thay đổi, thuộc tính con người có lẽ vẫn chỉ vậy cho nên không sớm thì muộn thì tôn giáo là công cụ tuyệt hảo để quản lý những con người chưa được tiếp cận trí tuệ (khoa học cổ kim) về vũ trụ và đáp ứng mục đích của một số ngưới, không có giới hạn quy ước về chức vị, danh phận. Đây là cuộc chơi của chính con người chứ không phải của vũ trụ. -
Lý Học Đông Phương Và Vấn Đề Sinh Vật Ngoài Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Sứ's topic in Lý Học Lạc Việt
Trong cuộc chiến giữa tôn giáo và khoa học, về bản chất vẫn là sự mâu thuẫn nhau về lời giải thích khởi nguyên của Vũ trụ - là tại sao Vũ trụ được tạo ra, do nguyên nhân gì đấy? Thượng Đế phải chăng?. Gần 5000 năm trước, triết gia Lão Tử đã giải thích rồi: đó là tự nhiên như nhiên, có cái gì đấy trước cả Thượng đế, mà theo ta hiểu trong nền khoa học ngày nay đó là một dạng Tiên đề. Để chứng minh, chỉ cần chứng minh Vũ trụ vận động có quy luật và Ý thức là vật chất - thật dễ dàng. Ý thức của con người, mà con người là vật chất chẳng nhẽ tạo ra cái phi vật chất? cái tìm hiểu phải là đặc trưng của Ý thức và nền tảng vật chất của nó. Nếu ta gán Ý thức vào Phi vật chất thì lại trả lời Phi vật chất là gì - cái vòng luẩn quẩn của Tôn giáo hay trong Tây Du ký gọi là vòng Kim cô. Nếu biết rằng Linh hồn là vĩnh cửu thì Ý thức được xác định như thế nào? một chuỗi vòng luẩn quẩn cho tới muôn năm: Cuốn Thượng đế và khoa học chưa giải quyết được do phân tích vào chi tiết của thế giới Hậu thiên (thành quả khoa học) và vẫn chưa chấp nhận một Tiên đề cho Vũ trụ khởi nguyên (nó chính là giới hạn của Nhận thức nếu không chấp nhận một thực tại hiển nhiên) mà thôi và chỉ sau khi chết, mỗi cá nhân mới có thể hiểu rõ?. Thực ra, Lý học Đông phương và đạo Phật đã giải thích từ đời tám hoánh nào rồi. Tại sao chúng ta không chấp nhận Tiên đề khởi nguyên của Vũ trụ và cứ muốn gán cho một ai đó sáng tạo ra? vì: Bản ngã độc tôn. -
Lý Học Đông Phương Và Vấn Đề Sinh Vật Ngoài Trái Đất
hoangnt replied to Thiên Sứ's topic in Lý Học Lạc Việt
Thái cực hay vũ trụ khởi nguyên ở trạng thái thuần tịnh với một sự kiện nào đấy nó vận động bằng chính nội năng của mình và hình thành thế giới Hậu thiên như ta thấy. Thực tại phản ánh quy luật sinh diệt cho vạn vật, tuy nhiên đối với Vũ trụ toàn thể thì rõ ràng nó không tuân thủ quy luật bởi vì tính cân bằng động của chính nó - điều này cũng tương đương cân bằng tịnh trong gian đoạn khởi nguyên. Do vậy, Vũ trụ vận động là mãi mãi. Hình vòng tròn: Chứng minh: Trong chủ đề Định mệnh có thật hay không đã phân tích Tính thấy là thuộc tính tuyệt đối của trạng thái siêu vật chất khởi nguyên vào nó chính là nguyên nhân tạo nên ý thức sau hàng vạn năm tích lũy kinh nghiệm và lưu trữ trong bộ não. Điều này chứng minh rằng chỉ một động niệm của chúng sinh hữu tình là Hậu thiên vận động bởi tính Tuyệt đối. Từ tính thấy và thuyết ADNH, chúng ta nhận thấy Linh hồn bất tử - hàm nghĩa nó cùng song hành với thế giới Hậu thiên và chính Linh hồn với Tâm của vạn vật hữu tình là một động lực kích hoạt sự vận động của Vũ trụ khi nó tiệm cận sự tan rã. Có một số bài toán khác, dựa trên nền tảng siêu vật chất, chúng ta có thể chúng minh dễ dàng: Một đoạn thẳng nếu chia nhỏ thì đến vô cùng: Sai - vì siêu vật chất là tồn tại và nhỏ nhất, cho nên đường thằng chia phần tử nhỏ nhất là bằng hạt siêu vật chất, do vậy đoạn thẳng là hữu hạn. Tiên đề: qua 2 điểm chỉ vẽ được một đường thẳng và chỉ một mà thôi - chưa chắc, do xung quanh các hạt siêu vật chất có lớp vỏ cho nên đường thẳng quy ước (vật chất) bị "lệch" trong môi trường lớp vỏ của chính chúng. Nhưng chấp nhận sai số vật lý, giống như vận tốc ánh sáng. -
Tôi điều chỉnh lại nhận định như sau: Kết quả lý luận Lạc thư hoa giáp của Bác Vô Trước chính xác. - Trường khí từ ngoài Hệ mặt trời tác động tới là không thay đổi do thời gian vận động của Âm dương Ngũ hành của các trường khí là qúa lớn và trùng nhau, cho nên trường khí gọi chung là từ Vũ trụ: Nguyên khí. Có thể hình dung như cái quạt với nhiều nan quạt, tương ứng phần giữa 2 nan là một hệ vận động..: .Thiên can - Thiên khí. Xích đạo trời. - Trường khí từ Hệ mặt trời tác động vào Trái đất + Trường khí do Trái đất tự quay quanh trục: Địa chi - Địa khí (Sinh vượng mộ). Thiên can tác động vào Địa chi qua quy tắc hòa, sinh, khắc, bị sinh, bị khắc. Vòng Hoàng Đạo. - Bản mệnh là do Địa chi sinh ra mà không theo quy tắc 5 trạng thái trên, do con người sống trên Trái đất - hai chân tiếp đất: Nhân khí. - Nhịp sinh học do trường khí Mặt trăng quanh xung quanh Trái đất tác động, vị trí Mặt trăng giữa trái đất và mặt trời trong chu kỳ vận động của nó tạo ra giờ Thần hợp và giờ Quan sát, trong đó xem xét tính Tam hợp. Lục hợp... của Âm dương ngũ hành. Vòng Bạch đạo, tạo độ chênh khoảng 5 độ so với Hoàng Đạo. Vấn đề Lục thập hóa giáp sẽ được phát triển trên cơ sở Bát trạch.
-
Vậy anh giải thích thế nào với Nam 1982 : phi cung Đoài và Nữ 1982 phi cung Càn? Cả 2 đều cùng năm sinh và cùng Tây Tứ Trạch. Trong quá trình phân tích, rất cần phản biện. Quá khứ, các cao nhân không thể hoàn thành bởi lý do không đủ dữ liệu và nghiên cứu 1 mình. Nhờ Thiên Luân giải thích thêm. Thân
-
SH Thiên Đồng. Ok, cũng đã trích nhưng sẽ phân chia như đã viết, dòng chảy thông tin đang vận động. Chúng ta chú ý, trong Lạc thư hoa giáp có 60 Bản mệnh cho cả Nam lẫn nữ, tuy nhiên do thuộc tính giữa hai phái là đối nghịch Âm Dương cho nên khi xét tương tác từ một Hệ tương tác nào đấy thì phải đảo nghịch lại tương tác lại. Chẳng hạn Nam sinh 1975 là Đông tứ trạch thì nữ sinh 1975 (cùng năm) phải là Tây tứ trạch. Điều này áp dụng cho mọi Hệ tương tác nếu có dùng Bản mệnh, chẳng hạn Huyền không phi tinh. Mặt khác, nếu xét nội tại của Bản mệnh chẳng hạn cho Nam hoặc nữ thi sao? Đông y chẳng hạn? Rõ ràng không phải như vậy, mà có thể là tương khắc và tương sinh?. Hai quy tắc hoàn toàn khác nhau. Ngũ Phúc lâm môn
-
Phương vị tốt xấu theo Hậu thiên Bát quái nguyên thủy (Tìm về cội nguồn Kinh dịch - Nguyễn Vũ Tuấn Anh) Trạng thái âm dương ngũ hành thực tại khách quan của mỗi Bản mệnh con người đã được người Việt quy ước thành các cung Thiên Y, Lục sát... (Bát trạch). Như vậy, dễ dàng hiểu rằng Bát trạch chính là tương tác của từ trường trái đất quay xung quanh trục của nó (tổng thể) và tương tác chi tiết khu vực của trái đất qua mạch khí gọi là con Trạch (trạch nhà). Trên cơ sở những luận điểm đã trình bày trong cuốn sách này về sự đổi chỗ hai quái Tốn, Khôn và kết hợp Hậu thiên Bát quái nguyên thủy với Hà đồ, chúng ta tiếp tục phân thành bốn cặp cùng hành tương ứng với các phương vị tốt xấu tương quan như sau: Đồ hình minh họa Hà đồ và Hậu thiên bát quái nguyên thủy Chúng ta tiếp tục phân làm 4 cặp cùng hành là: Cặp cùng hành Thủy gồm: Càn (Âm thủy); Khảm (Dương thủy) Cặp cùng hành Mộc gồm: Cấn (Âm mộc); Chấn (Dương mộc) Cặp cùng hành Hỏa gồm: Khôn (Âm hỏa); Ly (Dương hỏa) Cặp cùng hành Kim gồm: Tốn (Âm kim); Đoài (Dương kim) Trên cơ sở phân loại này (xem hình trên), chúng ta lần lượt xét tương quan của từng cặp quái cùng hành ở vị trí trung cung với phương vị tốt xấu tương ứng của bốn cặp theo Hậu thiên Bát quái nguyên thủy, chúng ta bắt đầu từ cặp cùng hành Càn Khảm tại trung cung tương ứng với phương vị tốt xấu như sau: Qua cặp cùng hành Càn Khảm chúng ta thấy rằng: * Khi cặp Càn, Khảm tại trung cung tương ứng với chính nó thì ta sẽ được tính chất Lục sát, Phục vị đổi chỗ cho nhau. * Khi cặp Càn, Khảm tại trung cung tương ứng với cặp Cấn, Chấn (Mộc) thì ta sẽ được tính chất Thiên y, Ngũ quỷ đổi chỗ cho nhau. Quy luật này tiếp tục được lặp lại khi cặp Càn, Khảm tại trung cung tương ứng với cặp cùng hành Hỏa (Khôn, Ly) và Kim (Tốn, Đoài). Đây cũng là hai cặp có sự hiệu chỉnh ở vị trí Tốn, Khôn theo Hậu thiên Bát quái nguyên thủy đã trình bày ở trên. Sự tương ứng của mỗi cặp cùng hành tại trung cung với các cặp cùng hành ở tám phương vị tốt xấu tạo ra tính chất không đổi nhưng hoán vị cho nhau, hoàn toàn đúng trong trường hợp ứng dụng Hậu thiên Bát quái nguyên thủy. Hay nói một cách khác: Ở Hậu thiên Bát quái nguyên thủy, sự tương ứng những cặp cùng hành tại trung cung với các phương vị tốt xấu tương ứng có qui luật hợp lý cho những vấn đề được đặt ra. Ngoài ra, tính chất đối nghịch Âm Dương ở các phương vị tốt xấu cho các cặp cùng hành cũng hoàn toàn trùng khớp. Điều này không thể thực hiện được ở Hậu thiên Bát quái mà cổ thư chữ Hán ghi nhận vì sự sai lệch phương vị Tốn, Khôn. Xin xem đồ hình minh họa sau: Sự chứng minh ở trên đã cho thấy rằng: @ Tính hợp lý của phương vị Hậu thiên Bát quái nguyên thủy, không chỉ giới hạn trong Kinh dịch mà ở cả những vấn đề liên quan trong những học thuật cổ Đông phương có ứng dụng thuyết Âm dương Ngũ hành. Cụ thể trong trường hợp này là thuật Phong thủy. @ Qua sự tương ứng của từng cặp phân theo Ngũ hành và sự tương quan với các hành khác đã chứng tỏ Bát quái chỉ là những ký hiệu siêu công thức thể hiện tính chất của Ngũ hành. Trong thuật Phong thủy thì quẻ Khôn (tượng Đất – tức Địa) có một ý nghĩa rất quan trọng. May thay, nó lại sai lệch. Có lẽ Cao Biền thất bại từ đấy. Đã có một bài viết ngắn trên một tạp chí khá phổ biến, giới thiệu về giả thuyết của một nhà khoa học Hoa kỳ cho rằng: “Trái đất là một sinh thể sống”. Giả thuyết này sẽ có khả năng chứng minh đúng, nếu thuật Phong thủy khôi phục hoàn chỉnh những luận thuyết của nó, chứng minh được rằng những sinh khí trong huyệt đạo của Địa cầu liên quan đến sự phát triển của con người. Ngũ Phúc lâm môn
-
Đưa Truyện Kiều Lên Lịch: Thúy Kiều Mặc Trang Phục Việt Hay Tàu?
hoangnt replied to wildlavender's topic in Mạn Đàm
Một bức tranh với tay nghề hết sức điêu luyện. -
Để xác định thành quả thiên văn trong thuyết Âm dương ngũ hành, cha ông ta đã lưu dấu trong việc đặt tên sai sao Thủy và sao Kim. Theo quy tắc Thổ (Mặt trời) sinh Kim (sao Kim)... do vậy, như trích dẫn sau: tên sao Kim thay bằng sao Thủy và ngược lại. Cả thế giới sử dụng thành quả của dân tộc Việt nhưng đã không còn nhận biết. Cũng từ hiện tượng giờ Quan sát, chúng ta cũng thấy hiện tượng tương ứng Nhật Nguyệt đồng tranh. 1) Lý giải nguyên lý Nhật Nguyệt đồng tranh Sửu Mùi trên Hà đồ Cũng qua đồ hình trên, chúng ta thẩm định lại câu phú: “Nhật Nguyệt Sửu Mùi, bất hiển công danh” thì thấy rằng: Sửu Mùi chính là đường Bạch Đạo. Tức là nơi ánh sáng của Mặt Trời (Sao Thái Dương / Nhật), Mặt Trăng (Sao Thái Âm / Nguyệt) kết thúc ở đó và cản trở nhau. 2) Sao Kim và sao Thủy: Sự lý giải vấn đề này, liên quan đến sự hình thành Hậu thiên Bát quái nguyên thủy đã lý giải ở trên; đồng thời cũng là sự minh chứng bổ sung, rõ nét hơn về tính lý giải sự vận động của vũ trụ từ khởi nguyên cho đến những vấn đề liên quan đến con người của kinh Dịch. Sự lý giải xin được trình bày như sau: Khi trái đất được hình thành và chịu ảnh hưởng của những sự tương tác trong vũ trụ, thì ảnh hưởng lớn nhất chính là sự vận động của Thái dương hệ. Trong 9 hành tinh của hệ Mặt trời mà nhân loại phát hiện được tính từ trong ra ngoài là: 1) Sao Thủy – 2) sao Kim – 3) trái Đất – 4) sao Hỏa – (Giữa quĩ đạo của sao Hỏa & Mộc, có một “Vành đai thiên thạch” với số lượng lên tới hàng 100.000 tảng; kích cỡ mỗi tảng từ hàng trăm mét đến vài trăm km, bay chung quanh Mặt trời) – 5) sao Mộc – 6) sao Thổ – 7) Thiên Vương – 8) Hải Vương – 9) Diêm Vương. Các nhà Thiên văn học hiện đại đã chia 9 hành tinh này thành 2 nhóm. Đoạn trích dẫn sau đây trong sách Vũ trụ quanh em (Nxb Giáo dục – 1998 – Nguyễn Thị Vượng & Nguyễn Thanh Hương; trang 48) chứng tỏ điều này: Căn cứ vào các tính chất vật lý, người ta chia các hành tinh của hệ Mặt trời thành 2 nhóm: – Nhóm I gồm có Thủy tinh, Kim tinh, Trái đất và Hỏa tinh. – Nhóm II gồm có Mộc tinh, Thổ tinh, Thiên Vương tinh và Hải Vương tinh. Các hành tinh trong cùng một nhóm có các tính chất như: Tỉ trọng trung bình, kích thước, thành phần hóa học gần giống nhau. Như vậy, chúng ta có 2 nhóm hành tinh mỗi nhóm gồm 4 hành tinh. Vậy, hành tinh thứ 9 Diêm Vương tinh thuộc nhóm nào? Thật khó xếp hành tinh này vào nhóm nào, vì nó có thành phần hóa học giống hành tinh nhóm 2, nhưng lại có kích thước giống các hành tinh nhóm I. Qua đoạn trích dẫn trên đây, bạn đọc cũng nhận thấy rằng: các nhà khoa học hiện đại đang đặt vấn đề nhóm loại các hành tinh của hệ Mặt trời; nhưng họ cũng đang lúng túng khi xếp loại sao Diêm Vương tinh. Người viết nhận xét rằng: sự phân cách tự nhiên giữa 2 nhóm chính là “Vành đai Thiên Thạch” đã trình bày ở trên. Trên cơ sở thuyết Âm dương Ngũ hành liên hệ với các hành tinh được đặt tên theo Ngũ hành, xin được trình bày một ý tưởng phân loại các hành tinh trong hệ Mặt trời thành hai nhóm Âm & Dương. Sự phân loại này, về căn bản không thay đổi so với sự phân loại của Thiên văn học hiện đại, nhưng đưa thêm Mặt trời vào hệ thống phân loại của 9 hành tinh thuộc Thái dương hệ. Với cách phân loại theo Âm dương Ngũ hành sẽ dẫn đến sự liên hệ với quái Cấn ở trung cung cho mạng phụ nữ trong thuật Phong Thủy như sau: Trong sự phân loại này, thì hai nhóm theo cách chia của Thiên văn học hiện đại, đều nằm trong hai nhóm theo thuyết Âm dương Ngũ hành. Ở nhóm Âm, đặt vấn đề Mặt trời thuộc hành Thổ ở trung tâm Thái dương hệ. Điều này phù hợp với tính chất trung tâm thuộc Thổ trong Lạc thư Hà đồ. Xin xem hình minh họa dưới đây. Đến đây, xin lưu ý bạn đọc là: theo thiên văn học cổ Đông Phương thì sao Thủy (theo cách gọi ngày nay, có xuất xứ từ văn minh Tây Phương), trước đây gọi là sao Kim; sao Kim (theo cách gọi ngày nay), trước đây gọi là sao Thủy. Hiện tượng này, được chứng tỏ bởi đoạn trích dẫn dưới đây, trong sách Chu Dịch Vũ trụ quan (sách đã dẫn, trang 160): Căn cứ vào chu kỳ hành tinh thời cổ đại ghi chép (Ban Cố, Tiền Hán thư), đối chiếu với thiên văn học hiện đại, đưa ra cứ liệu con số thì đa số chu kỳ hành tinh phù hợp tương đối tốt. Khác biệt duy nhất là sao Kim đời cổ tương đương với sao Thủy (Mercury), và sao Thủy đời cổ tương đương với sao Kim (Venus). Như vậy, trong nhóm Âm gồm 4 hành tinh trong thiên văn hiện đại – nếu gọi tên theo thời cổ sẽ là: sao Kim – sao Thủy – Địa cầu – sao Hỏa; thì trong nhóm này – nếu tính luôn Mặt trời thuộc hành Thổ theo cách chia mới thì chúng ta sẽ thấy một chiều Ngũ hành tương sinh (*) từ trong ra ngoài; nhưng thiếu hành Mộc ở đúng vị trí của Địa cầu. Xin xem hình minh họa dưới đây: * Chú thích: Lý Ngũ hành tương sinh thuộc Dương, nhưng vật thể hiện lý thuộc Âm; theo nguyên tắc trong Âm có Dương và ngược lại. Điều này đã minh chứng ở phần trên”Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên và Lạc thư Hà đồ”: Tổ Mẫu biểu tượng của Âm sinh; “lên núi“ biểu tượng của Dương. Trong khi đó, theo phần chứng minh ở trên thì quái Cấn thuộc Âm Mộc – khi liên hệ Hậu thiên Bát quái nguyên thủy với Hà đồ. Như vậy – (trùng khớp với các hiện tượng liên quan giữa kiến thức Thiên văn học hiện đại và các vấn đề đã đặt ra về những nguyên lý căn bản của thuyết Âm dương Ngũ hành và Hậu thiên Bát quái nguyên thủy – đã được chứng minh và phục hồi từ nền văn minh Văn Lang) – chúng ta hoàn toàn có cơ sở để đặt Trái đất chính là hành Mộc, cụ thể là Âm Mộc – tượng là quái Cấn (Đã chứng minh ở trên: Hà đồ & Hậu thiên Bát quái nguyên thủy). Xin xem hình minh hoạ ở trên. Với cách phân chia theo thuyết Âm dương Ngũ hành sẽ lý giải những hiện tượng đang được quan tâm sau đây: @ Theo lý Âm dương Ngũ hành – trong cách phân chia như trên – sẽ không có hành tinh thứ 10 trong hệ Mặt trời sau Diêm Vương tinh, có thuộc tính tương tự như những hành tinh đã phát hiện mà khoa thiên văn học hiện đại đang tìm kiếm. Nếu có, thì khả năng chỉ là vành khăn khí hoặc bụi bao quanh Thái dương hệ. Bởi vì, đã có sự cân bằng Âm dương và Ngũ hành như sau: Nhóm 1– thuộc Âm: Mặt trời và 4 hành tinh vòng trong –theo lý tương sinh thuộc Dương là: Thổ – Kim – Thủy – Mộc (Địa cầu) – Hỏa. Trong đó, Mặt trời – trong cùng – có kích thước của hành tinh nhóm II (mặc dù lớn hơn rất nhiều). Nhóm 2 – thuộc Dương: năm hành tinh vòng ngoài – theo lý tương khắc thuộc Âm là: Mộc – Thổ – Thủy (Thiên Vương) – Hỏa (Hải Vương) – Kim (Diêm Vương). Trong đó, hành tinh Diêm Vương – ngoài cùng – kết thúc chu kỳ Âm dương Ngũ hành sinh – khắc, nên có kích thước của hành tinh nhóm I (trở lại trạng thái ban đầu). Luận điểm này trái ngược với luận điểm của ông Lưu Tử Hoa. Trong luận văn tiến sĩ bảo vệ tại Paris, ông Lưu Tử Hoa chứng minh rằng: có khả năng tồn tại một hành tinh thứ 10 trong Thái dương hệ. Đoạn trích dẫn sau đây trong sách Chu Dịch vũ trụ quan (sách đã dẫn, trang 159) để bạn đọc tham khảo: Trong trời đất, muôn vật đều xuất phát từ trung tâm, nhưng phải đến Âm dương tác động vào vũ trụ để sinh ra muôn vật. Thực thể muôn vật cũng đều là Âm dương. Phù hiệu dương được thể hiện bằng một vạch liền, phù hiệu âm thể hiện bằng một vạch đứt. Các quẻ trong Bát quái chỉ là những phù hiệu vạch liền và vạch đứt mà thôi. Sự sắp xếp của Bát quái là đại biểu tổ hợp cụ thể nhất và có hệ thống nhất trong vũ trụ. Trong vũ trụ, thái dương hệ đã được nghiên cứu khá tường tận. Do đó, muốn luận chứng ý nghĩa vũ trụ của Bát quái, trước hết, phải luận chứng nó tồn tại trong thái dương hệ hay không. Ông Lưu Tử Hoa sắp xếp hành tinh trong thái dương hệ phối hợp với Bát quái, mỗi quẻ của Bát quái đối ứng với mỗi tinh cầu, và phát hiện tính quy luật rõ ràng (1). Có thể định ra thuộc tính quẻ của ba thiên thể trong Bát quái. Ngay trong “Thuyết quái” cũng đã viết: “Ly vi nhật, Khảm vi nguyệt, Khôn vi địa”. (Ly là Mặt trời, Khảm là mặt trăng, Khôn là đất). Trong quan niệm người Trung Quốc cổ đại thường có 5 tinh cầu: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Căn cứ vào thuộc tính Ngũ hành có thể xác định phương vị sắp xếp không gian. Ông Lưu Tử Hoa cho đông nam là vị trí dương, tây bắc là vị trí âm, thì ba sao mộc, hỏa, thổ của vị trí dương ở cùng một vị trí của ba quẻ Chấn, Đoài, Kiền thuộc vị trí dương của Bát quái, cho nên có thể theo thứ tự đem quẻ Chấn hợp với sao mộc, quẻ Đoài hợp với sao hỏa, quẻ Kiền hợp với sao thổ. Cũng nguyên lý đó, hai quẻ Tốn, Cấn ở vị trí dương còn lại, đối ứng với hai sao Kim, Thủy, vì vậy, đem quẻ Tốn hợp với sao kim đời cổ, quẻ Cấn hợp với sao thủy đời cổ. Căn cứ vào chu kỳ hành tinh thời cổ đại ghi chép (Ban Cố, Tiền Hán thư), đối chiếu với thiên văn học hiện đại, đưa ra cứ liệu con số thì đa số chu kỳ hành tinh phù hợp tương đối tốt. Khác biệt duy nhất là sao kim đời cổ tương đương với sao thủy (Mercury), và sao thủy đời cổ tương đương với sao kim (Venus). Ngoài ra, Mặt trời, mặt trăng, ngũ tinh (5 sao), Lưu Tử Hoa thống nhất gọi là tinh cầu sơ kỳ. Trung Quốc cổ đại phát hiện có bốn sao, gọi là bốn sao góc, Lưu Tử Hoa thống nhất gọi là tinh cầu hậu kỳ. Lưu Tử Hoa đem ba sao có trong đó so sánh với ba sao Vương tinh (Thiên vương tinh, Hải vương tinh và Minh vương tinh), tức là: Đạo tinh (sao Đạo) tương đương với Thiên vương tinh (sao Thiên vương), Thiên Cẩu tinh (sao Thiên cẩu) tương đương với Hải vương tinh (sao Hải vương), Chủng lăng tinh (sao Chủng lăng) tương đương với sao Minh vương tinh (sao Minh vương). Còn có (sao) Nữ bạch vẫn không có hành tinh hiện đại đối ứng với nó. Như vậy, vẫn thiếu một hành tinh có thể đối ứng với Nữ bạch tinh (sao Nữ bạch). Lưu Tử Hoa đề xuất một giả thuyết, vẫn tồn tại một hành tinh còn chưa phát hiện, đặt tên là Mộc vương tinh (sao Mộc vương) (2). Tất cả những điều Lưu Tử Hoa trình bày trên, là để chứng minh tinh cầu của thái dương hệ cũng phải tồn tại từng đôi phối hợp. Nếu không, quan hệ Âm dương ngang hàng của thái dương hệ sẽ không thể duy trì được lực lượng Âm dương ngang hàng, thái dương hệ sẽ chóng tan vỡ. Do đó, ông đã kết hợp nguyên lý Dịch học với tri thức thiên văn học hiện đại để tiến hành nghiên cứu. Trước hết, ông suy luận thêm hình sao chôn ốc của Mor (nhà thiên văn học người Pháp, 1928) kết hợp với số Hà đồ Lạc thư. Mor cho rằng: cấu tạo hệ thái dương là ánh sáng Mặt trời chiếu trên vân sao chôn ốc, do đó, lấy thái dương hệ làm trung tâm chia thành hai chi nhánh, một chi nhánh sản sinh sao kim, địa cầu, sao mộc; một chi nhánh sản sinh nhất cầu, sao thủy, sao hỏa. Lưu Tử Hoa thay số Hà đồ, Lạc thư vào hình thái cực và cũng chia thành hai hệ, dùng Bát quái phối hợp với nó. Sau đó, tính toán ước giản mật độ và tốc độ tinh cầu, thì hằng số của nó đều thành từng đôi phối hợp với nhau, chỉ có thiên vương tinh (sao thiên vương) vẫn thiếu đôi phối hợp, điều đó giúp Lưu Tử Hoa dự đoán ra hệ thái dương tồn tại hành tinh thứ 10 (xem hình vẽ). -------------------------------------------------------- Chú thích hình vẽ: 1. Hình này vẽ ra theo số lý phối hợp từng đôi với tinh cầu, kết hợp với Dịch học là bộ phận hạt nhân luận văn tiến sĩ của Lưu Tử Hoa. 2. Hình này lấy tám sao thời kỳ đầu (sơ kỳ) phối hợp với Bát quái, và căn cứ vào số lý chia thành ba đôi phối hợp, chứng minh cho nhau theo cứ liệu con số (mật độ) tốc độ tinh cấu từng đôi phối hợp. Ước số mỗi đôi phối hợp là 60. Trong đó, phối hợp từng đôi: hệ địa nguyệt với hệ thổ nhật; Mộc tinh và Kim tinh; Thủy tinh và Hỏa tinh. Điều đó hiển nhiên phù hợp quy luật thái cực gộp ba làm một, Âm dương Ngũ hành phối hợp với nhau. 3. Chấn, Cấn, Đoài, Tốn đại biểu bốn sao mộc, hỏa, kim, thủy, là phát triển ra từ hai sao chủ thể, đại biểu là Kiền Khôn, trở thành 4 sao mẹ trong hành tinh. Từ 4 sao mẹ sinh ra 4 sao con, đại biểu là lâm, cấu, độn, phục (4 sao vương tinh). 4. Bốn sao vương tinh bao gồm cả một vương tinh đã dự đoán, 9 là hằng số giống nhau của (mật độ) tốc độ của mỗi đôi vương tinh phối hợp. 5. Ba đôi của tám sao thời kỳ đầu (sơ kỳ) phối hợp thành đôi và dung hoà (mật độ) tốc độ của hai đôi vương tinh là 198, đó là trung tâm tuyệt đối của hệ thái dương, tương đối với quan hệ Bát quái và thái cực (3). thiên văn hiếm gặp nhất thế kỷ - phải đến 105 năm nữa mới lặp lại - sao Kim đi ngang qua mặt trời. Sao Kim hiện ra như một chấm đen tròn nhỏ lướt từ từ qua đĩa sáng của mặt trời do khoảng cách giữa trái đất và sao Kim khá xa. Ảnh: AP. Hiện tượng trên có tên là Venus transit, xảy ra khi sao Kim - hành tinh song sinh và có quỹ đạo nằm trong quỹ đạo của trái đất - đi vào giữa trái đất và mặt trời cũng giống như nhật thực. Tuy nhiên, do khoảng cách giữa trái đất và sao Kim khá xa nên khi hiện tượng xảy ra người xem thấy hành tinh này hiện ra như một chấm đen tròn nhỏ lướt từ từ qua đĩa sáng của mặt trời. "Hiện tượng diễn ra trong 6 tiếng 40 phút. Đây hầu như là cơ hội cuối cùng cho mỗi người để ngắm nhìn sao Kim qua đĩa mặt trời, vì phải đến năm 2117 hiện tượng mới xuất hiện lần nữa", ông Nguyễn Đức Phường, Hội Thiên văn và Vũ trụ Việt Nam nói. Nhiều nước trên thế giới quan sát được hiện tượng này. Các khu vực như Đông Á, châu Đại dương, Thái Bình Dương, một phần Bắc Mỹ quan sát được toàn phần quá trình kể từ khi sao Kim bắt đầu đi vào và đi ra khỏi đĩa mặt trời. Châu Âu, Đông Bắc châu Phi, Nam Á và Đông Nam Á bắt đầu quan sát được hiện tượng từ lúc sáng sớm ngày mai khi sao Kim đã đi vào đĩa mặt trời. Trong khi đó vùng Bắc Mỹ và một phần Nam Mỹ quan sát được hiện tượng lúc mặt trời lặn. Sơ đồ minh họa những nơi có thể nhìn thấy được sao Kim đi ngang mặt trời vào ngày 5-6/6/2012 tại các nơi trên thế giới. Đồ họa: HAAC. Tại Việt Nam, theo anh Trần Thái Sơn, câu lạc bộ thiên văn nghiệp dư TP HCM (HAAC), chúng ta không quan sát được quá trình đi vào đĩa mặt trời của sao Kim, nhưng sẽ xem được các diễn biến tiếp theo cho đến tận khi sao Kim ra khỏi mặt trời. "Ở Việt Nam, ngay từ khi mặt trời vừa ló, sao Kim đã nằm trong đĩa mặt trời, và tiếp tục diễn tiến qua đĩa mặt trời cho đến khi kết thúc vào khoảng 11h50 trưa mai", Thái Sơn cho hay. Xem mô phỏng sao Kim đi ngang qua mặt trời Cứ hơn một thế kỷ, hiện tượng này mới xảy ra hai lần cách nhau 8 năm. Trong thời đại của chúng ta, hai lần cách nhau 8 năm xảy ra vào ngày 8/6/2004 và ngày 6/6/2012 tới đây. Để chờ đón hai lần tiếp theo, chúng ta sẽ phải đợi đến ngày 11/12/2117 và ngày 8/12/2125. Những lần gần đây nhất sao Kim di chuyển ngang qua mặt trời là vào các năm 1639, 1761, 1769, 1874, 1882 và 2004. Do đó, lần Venus transit này là sự kiện không thể bỏ qua cho bất cứ ai yêu thích bầu trời. Cách quan sát sao Kim đi qua mặt trời an toàn KHÔNG nhìn trực tiếp vào mặt trời bằng mắt thường, ống nhòm hay kính thiên văn. Mắt có thể bị tổn thương nặng, thậm chí là mù ngay lập tức. Không dùng phim X- quang, kính râm, giấy nhôm gói quà, các thiết bị tự chế để làm giảm ánh sáng của mặt trời khi quan sát, vì những dụng cụ đó không đảm bảo lọc được các tia tử ngoại, hồng ngoại, gây tổn thương cho mắt. Để quan sát mặt trời an toàn, người quan sát có thể mua những tấm kính lọc mặt trời để bao phủ thiết bị quan sát hoặc mua một chiếc kính lọc để đeo vào mắt. Cách an toàn và đơn giản nhất là quan sát gián tiếp mặt trời - sử dụng kính thiên văn hay một mắt của ống nhòm để chiếu ảnh của đĩa mặt trời lên một tấm bìa trắng. Hình ảnh xuất hiện trên tầm bìa sẽ an toàn cho việc quan sát cũng như chụp ảnh, nhưng phải chắc chắn là đã che đi ống finder của kính thiên văn hay mắt không sử dụng của ống nhòm và nghiêm cấm tất cả mọi người nhìn qua đó. Hương Thu Ngũ Phúc lâm môn
-
[ Biểu diễn trên sơ đồ quá trình tiến hoá của nhịp sinh học ta được: (xem hình vẽ) + Vòng Địa chi ngoài cùng biểu diễn phân bố cung giờ Địa chi. + Vòng Địa chi trong biểu diễn phân bố các yếu tố nhịp sinh học của con người (cụ thể về vấn đề sinh nở) theo thời gian Địa chi trong ngày. Cứ qua 1 tháng, vòng Địa chi này vận động nghịch 2 bước bằng 60 độ. Qua 12 tháng, Địa chi nhịp sinh học quay nghịch được 2 vòng. + Ở tháng 11 (tháng Tý), vào giờ Tý đầu tiên, nhịp sinh học vào đầu cung Hợi, thể hiện sự chậm 1 bước của trường khí trên Trái đất so với trường khí Mặt trời. Tháng Tý khắc cung Ngọ của nhịp sinh học đang đóng ở cung giờ Mùi. Giờ Mùi xấu. + Ở tháng 12 (tháng Sửu), nhịp sinh học quay ngược 2 bước (60 độ) làm cho vào giờ Tý đầu tháng Sửu, nhịp sinh học đóng ở đầu cung Sửu. Tháng Sửu khắc cung Mùi của nhịp sing học, đang đóng ở cung giờ Ngọ. Giờ Ngọ xấu. + Ở tháng 1 (tháng Dần), vòng Địa chi nhịp sinh học quay ngược tiếp 2 bước (60 độ) làm cho vào giờ Tý đầu tháng Dần. Nhịp sinh học đóng ở đầu cung Mão. Tháng Dần khắc cung Hợi của nhịp sing học, đang đóng ở cung giờ Thân. Giờ Thân xấu. … Căn cứ vào sơ đồ trên ta có thể lập bảng vị trí các cung của nhịp sinh học tương ứng với các giờ trong ngày của tháng như sau: ị trí tương đối giữa chúng: Độ lệch của nhịp sinh học hay chính là độ trễ. + Ở tháng 11 (tháng Tý), vào giờ Tý đầu tiên, nhịp sinh học vào đầu cung Hợi, thể hiện sự chậm 1 bước của trường khí trên Trái đất so với trường khí Mặt trời. Tháng Tý khắc cung Ngọ của nhịp sinh học đang đóng ở cung giờ Mùi. Giờ Mùi xấu. Tôi tổng hợp như sau: Kết quả lý luận Lạc thư hoa giáp của Bác Vô Trước chính xác. - Trường khí từ ngoài Hệ mặt trời tác động tới là không thay đổi do thời gian vận động của Âm dương Ngũ hành của các trường khí là qúa lớn và trùng nhau, cho nên trường khí gọi chung là từ Vũ trụ: Nguyên khí. Có thể hình dung như cái quạt với nhiều nan quạt, tương ứng phần giữa 2 nan là một hệ vận động... - Trường khí từ Hệ mặt trời tác động vào Trái đất: Thiên can - Thiên khí. - Trường khí do Trái đất tự quay quanh trục Địa chi - Địa khí (Sinh vượng mộ). Thiên can tác động vào Địa chi qua quy tắc hòa, sinh, khắc, bị sinh, bị khắc. - Bản mệnh là do Địa chi sinh ra mà không theo quy tắc 5 trạng thái trên, do con người sống trên Trái đất - hai chân tiếp đất. - Nhịp sinh học do trường khí Mặt trăng quanh xung quanh Trái đất tác động, vị trí Mặt trăng giữa trái đất và mặt trời trong chu kỳ vận động của nó tạo ra giờ Thần hợp và giờ Quan sát, trong đó xem xét tính Tam hợp của Âm dương ngũ hành. - Độ chênh nhịp sinh học do thực tế phản ánh và xây dựng lý thuyết Nhịp sinh học trên. Chú ý Ngũ vận lục khí tương ứng 2 tháng (2 chu kỳ trăng tương đương 5 vận lục khí giữa Hệ mặt trời và trái đất tự quay). - Chú ý khởi thủy tính toán quy luật bắt đầu từ hành Thủy và trạng thái tương hợp như trên. Hiện tại Bác Vô Trước chưa lý giải hợp lý? Đế tính tác động lớn hơn tức ngoài Hệ mặt trời như các phương pháp cổ Tử vi và Thái ất, chúng ta tiếp tục quy ước lớn dần lên. Đồng thời Nguyên khí bao trùm tất cả cần phải được xem xét trong mối quan hệ như thế nào? Mặt khác, cơ sở nào Phong thủy quy ước về Đông - Tây tứ trạch của mỗi Bản mệnh so với 8 hướng: Phúc đức, Thiên y, Ngũ quỷ, Tuyệt mệnh? trước khi hiểu Tử vi? Cũng phải xem nhịp sinh học như nhịp tim, nhịp thở, ngủ nghỉ... Ngũ Phúc lâm môn
-
1.2. Âm lịch mà ta đang dùng có nguồn gốc từ Trung Quốc mà theo truyền thuyết là do Hoàng Đế (黃帝, 2698 tCn-2599 tCn) phát minh ra và có cơ sở vững chắc từ năm 841 tCn. Nhưng từ đó đến nay đã từng nhiều lần thay đổi mốc định ngày, tháng đầu tiên: - Nhà Hạ (夏, 2205-1766 tCn) chọn tháng Dần (tháng thứ nhất hiện nay) làm tháng Giêng. Quẻ Thái 泰 (小 往 大 來 , 吉, 亨: Tiểu vãn đại lai, cát, hanh tức: là cái nhỏ, đi, cái lớn lại, tốt, hanh thông) ở Dần cung, khí hậu ấm áp trở lại, tiện cho việc nông, nên ngày Tết Nguyên Đán vừa là ngày lễ mừng mùa Xuân trở lại, vừa là ngày lễ bắt đầu năm mới. Đây là Lịch kiến Dần. - Nhà Thương (商, 1766–1122 tCn), chọn tháng Sửu (tháng thứ 12) làm tháng Giêng. Quẻ Lâm 臨 (Nội quái là ☱ Đoài 兌 hay Đầm, Ngoại quái là ☷ Khôn 坤 hay Đất 地; 元亨, 利貞-至于八月有凶: lớn lên và tới, rất hanh thông, chính đính thì lợi.) ở Sửu, Sửu là trâu, trâu thuộc Thổ là Đất, Đất có thể ngăn nước, chống rét nên trong lễ Lập Xuân người ta làm trâu bằng đất để tống khí lạnh đi. - Nhà Chu (周, Zhou, 1122–256 tCn) chọn tháng Tý (tháng thứ 11) làm tháng Giêng. Quẻ Phục 復 (Nội quái là ☳ Chấn 震 hay Sấm 雷, Ngoại quái là ☷ Khôn 坤 Đất 地; tượng ngoài núi lại còn có núi nữa) ở Tý cung, tháng 11 thuộc tiết Đông chí, dương bắt đầu sinh, khôi phục lại nguyên khí. Đấy là Lịch kiến Tý. - Nhà Tần (秦, 221 tCn-206 tCn) chọn tháng Hợi (tháng thứ 10) làm tháng Giêng. Theo Kinh Dịch thì quẻ Khôn 坤 (Nội quái là ☷ Khôn 坤 Đất 地, Nội quái là ☷ Khôn 坤 Đất 地; Đất mẹ, nhu thuận, sinh sản và nâng đỡ muôn vật) ở Hợi cung ( bởi Khôn và Đất, là đầu mối mọi cuộc biến thiên) và tháng 10 thì khí dương đã hàm chứa ở dưới. Đấy là Lịch kiến Hợi. - Đến đời Hán Vũ đế (漢禹帝, 144 tCn) quay lại lấy tháng Giêng là Dần, Lịch kiến Dần và sử dụng từ thời đó đến ngày nay không thay đổi nữa. Lịch Kiến Dần (Lạc Việt) mới chính xác phù hợp thuyết Âm Dương Ngũ Hành, dĩ nhiên cùng song hành Dương lịch. Tuy nhiên, chú ý sự chuyển mùa tiết do Tuế sai, ví dụ nếu tính từ thời vua Kinh Dương Vương lên ngôi tới nay khoảng 5000 năm, so Tuế sai là đã thay 1 mùa tiếp tối rồi, như Xuân đã thành Hạ tại một vùng đất. Điều này cũng cần xem tại Tử Vi & các phương pháp cổ - có thể đã sai lệch hoàn toàn nếu Âm lịch (Bản mệnh cá nhân) không chỉnh theo Tuế sai . Tháng Chạp - Hợi: 12: Ngày 23/ 12: Tết Ông Công Ông Táo. Tháng Giêng - Tý: 01: Tết Nguyên đán, Tết Thượng Nguyên. Tháng Hai - Sửu: 02. Tháng Ba - Dần: 03: Ngày 10/ 3: Giỗ Tổ Hùng Vương.
-
“VẬN KHÍ BÍ ĐIỂN” CỦA HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG QUA THƯ TỊCH HÁN NÔM VÀ ỨNG DỤNG NGÔ QUYẾT CHIẾN ĐỖ VIẾT PHƯƠNG Học viện Quân y Thuyết Vận khí của Hải Thượng Lãn Ông xin được sơ lược trình bày qua các điểm dưới đây: - Ngũ vận lục khí được gọi tắt là vận khí, đây là một trong những học thuyết quan trọng của y học cổ truyền phương Đông, học thuyết vận khí, giải thích sự biến hoá khí hậu thiên thời của giới tự nhiên. Người xưa cho rằng, mọi sự biến hoá của khí hậu thiên thời đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến vạn vật trong vũ trụ, đặc biệt là con người. Trên quan điểm chỉnh thể của y học cổ truyền, học thuyết vận khí lấy học thuyết âm dương ngũ hành làm trung tâm “thiên nhân tương ứng”, “nhân thân chi tiểu thiên địa”. Con người là vũ trụ thu nhỏ... Mọi sự biến đổi phức tạp của vũ trụ đều có thể xảy ra những biến đổi trong cơ thể con người. - Ngũ vận: là thuỷ, kim, thổ, mộc, hoả (ngũ hành) phối hợp với thiên can trong quá trình vận động để suy đoán tuế vận của mỗi năm. - Lục khí: là phong, nhiệt, hoả, thấp, táo, hàn phối hợp với địa chi để suy đoán tuế khí của mỗi năm (tính chất của khí hậu từng năm phụ thuộc vào khí của năm đó). - Vận khí: là kết hợp cả hai “ngũ vận” và “lục khí”. Học thuyết vận khí được vận dụng làm sáng tỏ mọi sự liên quan, ảnh hưởng qua lại trong giới tự nhiên cũng như trong cơ thể con người. - Học thuyết vận khí được vận dụng vào y học người xưa cho rằng: Con người luôn có sự quan hệ rất mật thiết với giới tự nhiên, mọi sự sinh hoạt của con người nhất thiết phải thích ứng với mọi biến hoá của giới tự nhiên, vì vậy các nhà Y học xưa thường lấy con người so sánh đối chiếu với giới tự nhiên để suy đoán. - Nội dung học thuyết vận khí: gồm ba vấn đề lớn luôn chuyển dịch và biến đổi: thiên (trời), địa (đất), nhân (con người). - Mục đích: nghiên cứu học thuyết vận khí (trên phương diện y học) là nắm chắc quy luật biến hoá của thời khí (khí hậu thiên thời) để suy đoán dự đoán nguyên nhân sinh bệnh của ngoại cảm (tà khí lục dâm). Vì vậy lấy biến hoá khí hậu của các tiết quý trong mỗi năm để suy đoán việc phát sinh bệnh tật trong năm đó, để tham khảo trong chẩn đoán và điều trị các bệnh trên lâm sàng. Khi nghiên cứu học thuyết vận khí cần phải nắm vững hai vấn đề. Một là nắm chắc học thuyết âm dương ngũ hành, chủ yếu là quan hệ ngũ hành sinh khắc. - Hai là nắm vững tên gọi ngũ hành can chi để vận dụng. Can chi là gọi tắt của thiên can và địa chi. Thiên can có 10 (gọi là thập can) là: giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý. Địa chi có 12 (gọi là thập nhị chi) là: tý, sửu, dần, mão, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi. Can chi trong ngũ vận lục khí đều sử dụng tên đại diện để suy đoán. - Thuộc tính âm dương của thiên can: thiên can và địa chi đều có thuộc tính âm dương khác nhau. Giữa can và chi thì can thuộc trời (thuộc dương), chi thuộc đất (thuộc âm), trong chi cũng có chi âm chi dương khác nhau. Theo tuần tự số lẻ là dương, số chẵn là âm (dương là thái quá, âm là bất cập), ta có: - Dương can: (1) Giáp (3) Bính (5) Mậu (7) Canh (9) Nhâm - Âm can: (2) Ất (4) Đinh (6) Kỷ (8) Tân (10) Quý - Dương chi: (1) Tý (3) Dần (5) Thìn (7) Ngọ (9) Tân (11) Tuất - Âm chi: (2) Sửu (4) Mão (6) Tị (8) Mùi (10) Dậu (12) Hợi + Ngũ vận – Lục khí – Can chi – Ngũ hành - Thiên can phối hợp với ngũ vận. Đại vận: 1 – Giáp 2 - Ất 3 - Bính 4 - Đinh 5 - Mậu 6 - Kỷ 7 - Canh 8 – Tân 9 – Nhâm 10 – Quý ↓ ↓ ↓ ↓ ↓ Thổ Kim Thuỷ Mộc Hoả - Địa chi phối hợp với ngũ hành. Tuế hội: 3 – Dần 6 - Tị 9 – Thân 12 – Hợi 5 – Thìn 2 – Sửu 4 – Mão 7 - Ngọ 10 – Dậu 1 - Tý 11 – Tuất 8 – Mùi ↓ ↓ ↓ ↓ ↓ ↓ Mộc Hoả Kim Thuỷ Thổ Thổ - Địa chi phối hợp với tam âm, tam dương và lục khí, khách khí. 1- Tý 2 – Sửu 3 – Dần 4 – Mão 5 – Thìn 6 – Tị 7 - Ngọ 8 - Mùi 9 - Thân 10-Dậu 11-Tuất 12-Hợi ↓ ↓ ↓ ↓ ↓ ↓ Thiếu Âm Quân Hoả Thái Âm Thấp Thổ Thiếu Dương Tương Hoả Dương Minh Táo Kim Thái Dương Hàn Thuỷ Quyết Âm Phong Mộc + Ứng dụng ba phương thức trên - Ứng dụng khi suy đoán đại vận, đại vận chủ soái của một năm dùng để giải thích sự biến đổi khí hậu của cả năm và là cơ sở để suy đoán khách vận. - Ứng dụng để suy đoán tuế hội (trong 60 năm có 8 tuế hội) - Ứng dụng khi suy đoán khách khí - Phương pháp suy đoán được ứng dụng cụ thể: theo y văn y học cổ truyền Trung Quốc, phương pháp ghi năm dựa theo can chi kết hợp có vào khoảng thế kỷ thứ 2 – 3 sau công nguyên, trước thời Đông Hán chỉ được dùng để ghi ngày còn sau đời vua Quang Vũ mới được dùng để ghi ngày, tháng, năm. Phương pháp này hiện nay trong âm lịch vẫn còn dùng. (1) Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý (2) Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi (1): Thiên can (2): Địa chi Tên mỗi năm đều có cấu tạo một thiên can, một địa chi kết hợp. Ví dụ: Giáp Tý (Giáp là thiên can, Tý là địa chi) Ất Sửu: (Ất là thiên can, Sửu là địa chi) Phương pháp này ngoài ra còn được áp dụng cho ngày, tháng, giờ. * Chuyển dịch của ngũ vận: di chuyển, vận động không ngừng (không dừng lại), ngũ vận được chia ra thành: đại vận, chủ vận, khách vận. - Đại vận: chủ về biến hoá khí hậu của cả năm. Theo thiên can chúng ta có: Giáp, Kỷ đại vận là thổ vận Ất, Canh đại vận là kim vận Bính, Tân đại vạn là thuỷ vận Đinh, Nhâm đại vận là mộc vận Mậu, Quý đại vận là hoả vận Mỗi vận chủ suốt cả năm, chu kỳ của nó là 5 năm. Theo ngũ hành tương sinh thì trong 30 năm mỗi kỷ, mỗi vận chủ 6 năm, trong 60 năm mỗi vận chủ 12 năm (theo ngũ hành, cứ mỗi hành trong vòng giáp tý (60) năm có 12 năm chủ về biến hoá khí hậu của cả năm). Đại vận của cả năm có thái quá và có bất cập. Quy luật chung: năm dương thái quá khí của năm ấy lưu hành. Năm âm bất cập thì khí tương khắc, khí của năm ấy lưu hành. - Chủ vận là chỉ sự biến đổi bình thường của các vận quý (một năm có 5 giai đoạn) trong một năm. Suy đoán chủ vận bắt đầu từ ngày tiết Đại hàn, mỗi vận quý chiếm khoảng 73 ngày lẻ 5 khắc. Theo ngũ hành tương sinh: Mộc thuộc sơ vận Hoả thuộc nhị vận Thổ thuộc tam vận Kim thuộc tứ vận Thuỷ thuộc cuối vận Khí hậu bình thường của chủ vận lấy thuộc tính ngũ hành của lục khí. Sơ vận: mộc khí chủ phong, nhị vận hoả khí chủ thử nhiệt, tam vận hoả khí chủ thấp, tứ vận kim khí chủ táo, cuối vận thuỷ khí chủ hàn (khí hậu ở các giai đoạn của mỗi năm là giống nhau). - Khách vận: chỉ sự biến đổi khí hậu khác thường trong 5 vận quý của mỗi năm. Suy đoán khách vận dựa theo năm thiên can đại vận là sơ vạn, khách vận kết hợp với 5 tiết quý và 5 bước suy đoán. Sơ vận Nhị vận Tam vận Tứ vận Cuối vận Giáp Kỷ Thổ Kim Thuỷ Mộc Hoả Ất Canh Kim Thuỷ Mộc Hoả Thổ Bính Tân Thuỷ Mộc Hoả Thổ Kim Đinh Nhâm Mộc Hoả Thổ Kim Thuỷ Mậu Quý Hoả Thổ Kim Thuỷ Mộc Tóm lại: - Đại vận là suy đoán biến hoá khí tượng của các năm, 10 năm một vòng theo thiên can (5 năm thái quá, 5 năm bất cập). - Chủ vận là chủ biến hoá khí hậu bình thường của 5 giai đoạn trong một năm. - Khách vận là suy đoán khí hậu khác thường của năm giai đoạn (tiết quý) của mỗi năm. * Chuyển dịch của lục khí: là sáu khí trong vũ bao gồm: phong, nhiệt, hoả, thấp, táo, hàn. Mỗi năm lục khí được chia làm hai loại: chủ khí và khách khí. - Chủ khí là chỉ biến đổi khí hậu bình thường - Khách khí là chỉ khí hậu biến đổi thất thường Khách chủ gia lãm (khách khí thêm chủ khí) phân tích sâu thêm sự biến hoá phức tạp của khí hậu. - Chủ khí: là khí chủ thời dùng để chỉ rõ quy luật khí hậu bình thường trong mỗi năm, có ý nghĩa giống như vận chủ tứ thời. Lục khí chủ thời cố định hay biến đổi được gọi là chủ khí. - Phương pháp suy đoán chủ khí: chủ khí chủ thời được chia làm sáu giai đoạn. Sáu giai đoạn này lại được chia làm 24 tiết tự. Bắt đầu từ ngày tiết Đại hàn thuộc sơ vận (quyết âm phong mộc) qua bốn tiết khí chuyển dịch một bước. Thứ tự của nó từ sơ khí đến cuối khí. Liên quan 6 giai đoạn 6 khí và 24 tiết khí: Lục bộ Sơ Nhị Tam Tứ Ngũ Cuối (lục) Lục khí Quyết - Âm Phong – Mộc Thiếu - Âm Quân – Hoả Thiếu Dương Tướng – Hoả Thái - Âm Thấp – Thổ Dương minh Táo - Kim Thái – Dương Hàn - Thuỷ Tiết tự Đại – hàn Lập – xuân Vũ – thuỷ Kinh – trập Xuân – phân Cốc – vũ Thanh minh Lập – hạ Tiểu – mãn Hạ - chí Mang chủng Tiểu – thử Đại – thử Xử – thử Lập – thu Bạch – lộ Thu – phân Sương giáng Hàn – lộ Lập - đông Tiểu – tuyết Đông – chí Đại – tuyết Tiểu – hàn Chủ khí nói rõ biến hoá khí hậu bình thường trong một năm, mỗi khí chủ 60 ngày và 78 khắc rưỡi, tuy nhiên cũng như ý nghĩa chủ vận tứ thời, nhưng trong thời gian chủ khí có khác nhau. Ví dụ: khí hậu bốn mùa nói chung: xuân ôn (phong), hạ nhiệt (hoả), thu lương (táo), đông hàn và hạ trưởng chủ thấp (bảng trên là lục khí: phong, thử, thấp, hoả, táo, hàn chia ra 6 bước là chuyển dịch cụ thể). - Khách khí: khách khí để giải thích khí hậu biến hoá khác thường hàng năm có thay đổi, khác với chủ khí cố định. “Khách ở lại là không bình thường” vì (khách là đi qua) nên gọi là khách khí. - Phương pháp suy đoán khách khí: khách khí chuyển dịch là do khí âm dương nhiều hay ít và thứ tự chuyển dịch là: quyết âm (âm), thiếu âm (âm), thái âm (âm), thiếu dương (dương), dương minh (dương), thái dương (dương). Mỗi năm có một khí chủ lĩnh, từng năm chuyển dịch tuần toàn không ngừng đó là khách khí chủ quản một năm. - Những năm khách khí chủ lĩnh suy đoán thế nào? Khí tự nhiên theo địa chi làm cơ sở. Năm Tý Ngọ trên thấy thiếu âm, năm Sửu Mùi trên thấy thái âm, năm Dần Thân thấy thiếu dương, năm Mão Dậu thấy dương minh, năm Thìn Tuất thấy thái dương, năm Tý Hợi thấy quyết âm. Địa chi mỗi năm phàm là trùng Tý Ngọ không chuyển đến thiên can. Tý và Ngọ khách khí đều thuộc thiếu âm tư thiên, Sửu và Mùi khách khí đều thuộc thái âm tư thiên... Mỗi tuần hoàn 6 năm 6 khí, mỗi tuần hoàn của địa chi là 12 năm (6 âm chi và 6 dương chi). Trong 60 năm chuyển dịch 5 vòng, lục khí tuần hoàn 10 vòng. Quy luật năm chi với tư thiên tại tuyền. Năm chi Tư thiên Tại tuyền Tý Ngọ Thiếu âm – Quân hoả Dương minh – Táo kim Sửu Mùi Thái âm – Thấp thổ Thái dương – Hàn thuỷ Dần Thân Thiếu dương – Tướng hoả Quyết âm – Phong mộc Mão Dậu Dương minh – Táo kim Thiếu âm – Quân hoả Thìn Tuất Thái dương – Hàn thuỷ Thái âm – Thấp thổ Tỵ Hợi Quyết âm – Phong mộc Thiếu dương – Tướng hoả + Dựa theo quy luật biến hoá, thắng phục của khách khí; khách chủ gia lâm; chủ khách thuận nghịch; thuận nghịch chủ khách với biến đổi khí hậu. Biểu hiện sự thịnh suy của vận khí được ứng dụng để suy đoán theo thập nhị quái. Tổng hợp bảng thịnh suy của vận khí tương hợp để suy đoán bệnh tật và trạng thái thiên thắng, yếu tố bản tạng (yếu tố cơ địa của từng người bệnh) trên cơ sở đó đề ra phương pháp điều trị và dự phòng (có bảng phụ lục kèm theo). + Ứng dụng bảng lục thập niên vận khí tương hợp. - Thiên văn can chi và tạng phủ. Giáp Kỷ hoá thổ ? Thiên văn ngày nay cho rằng Giáp Kỷ hoá thổ là do lực tương hỗ (lực điện trường trong vũ trụ), khi mặt trời (định tinh trên thiên không) chiếu vào sao thổ ánh sáng khúc xạ lên nền trời xuất hiện quang phổ màu kiềm, cổ nhân gọi “kiềm thiên kiến vận”. Năm mậu quý hoá hoả khi mặt trời chiếu vào sao hoả, khúc xạ có quang phổ mầu đỏ cổ nhân gọi “đan thiên kiến vận” mậu quý hoá hoả. - Khi mặt trời chiếu vào sao Thuỷ cổ nhân gọi: “huyền thiên kiến vận. Bính Tân hoá thuỷ”. - Khi mặt trời chiếu vào sao Mộc, quang phổ màu xanh cổ nhân gọi: “thanh thiên kiến vận, Đinh Nhâm hoá mộc” - Khi mặt trời chiếu vào sao Kim cổ nhân gọi: “bạch thiên kiến vận, Ất Canh hoá kim”. Trong thập Can có âm Can và dương Can (dương Can thuộc số lẻ thường thái quá, âm Can thuộc số chẵn thường bất cập). - Địa chi từng năm liên quan đến tạng phủ kinh lạc. - Như đã nói ở trên (mục địa chi phối hợp lục khí) ta có: Tý Ngọ → thuộc thiếu âm quân hoảSửu Mùi Thìn Tuất → thuộc thái âm thấp thổDần Thân → thuộc thiếu dương tướng hoảMão Dậu → thuộc dương minh táo kimTỵ Hợi → thuộc quyết âm phong mộc Chủ khí là đại biểu ngũ tạng Khách khí là đại biểu lục kinh (tam âm tam dương). Khách khí khi thì hoạt động trên vũ trụ (thuộc tư thiên). Khi thì vận động trong khí quyển và sâu trong lòng đất gọi là tại tuyền (tuyền đài). Những năm có tương khắc, khách khí thường gia lâm vào chủ khí tác động vào chủ vận và chủ khí. Vận khí khách hành khác loại thì ít bệnh tật. Vận khí cùng hành cùng loại tai hại vô cùng. Năm Vận hoả, khí tư thiên cũng hỏa thì gọi là thiên phù. Hoả cộng hoả là lưỡng hoả làm theo thời tiết nóng gấp đôi trạng thái thiên thắng thuộc về nhiệt, rêu lưỡi hình lưỡi chất lưỡi đều biểu hiện nhiệt. Năm vận hoả, năm chi cùng là hoả (Tý Ngọ) gọi là tuế hội thời tiết nắng nóng bệnh tật hoả thịnh tăng cao, hình thể lưỡi thon gọn khô, chất lưỡi ráng đỏ rêu vàng, trạng thái thiên nhiệt, thực nhiệt. Năm vận hoả, tư thiên hoả, năm chi cũng hoả gọi là thái ất thiên phù. Tử vong rất cao, hình lưỡi thuộc cực nhiệt. Năm vận hoả tư địa (tại tuyền) hoả gọi là đồng thiên phù. Năm vận hoả năm chi của khí tư thiên là hoả gọi là đồng tuế. - Thiên văn được vận dụng trong y học. Một đêm ngày: quả đất tự quay quanh trục của mình một vòng. Một tháng: mặt trăng quay quanh quả đất một vòng theo hình số tám (bát quái). Một năm: quả đất quay xung quanh mặt trời một vòng 10 thiên can (góc trời) 12 địa chi (cành đất). - Thiên can liên quan đến tạng phủ Giáp (1) Dương mộc → ĐởmKỷ (6) Âm thổ → TỳẤt (2) Âm mộc → CanCanh (7) Dương kim → Đại trườngBính (3) Dương hoả → Tiểu trườngTân (8) Âm kim → PhếĐinh (4) Âm hoả → TâmNhâm (9) Dương thuỷ → Bàng quangMậu (5) Dương thổ → VịQuý (10) Âm thuỷ → Thận * Địa chi liên quan đến ngũ hành (đã giải thích rõ ở phần trên) Địa chỉ: Tý Hợi (Â - D) Thuỷ Thìn Tuất (D) Thổ Dần Mão (D - Â) Mộc Sửu Mùi (A) Thổ Tý Ngọ (Â - D) Hoả Thân Dậu (D – A) Kim Cơ chế sinh bệnh theo ngũ vận lục khí có liên quan đến trạng thái thiên thắng. Chủ yếu là khí hậu khắc cơ quan và tạng phủ. Tuỳ theo bản tạng thiên thắng mà phát ra bệnh khác nhau liên quan đến kinh mạch, lạc mạch. - Do thuộc tính khác nhau của nguyên nhân gây bệnh, và yếu tố thể chất khác nhau của mỗi người mà có sự khác nhau về chứng trạng và cơ quan phát bệnh. Việc phát bệnh phụ thuộc vào biến hoá khí hậu “ngũ vận lục khí”. Ngũ vận thái quá hay bất cập. Lục khí tư thiên hay tại tuyền mà dẫn đến bệnh tật khác nhau. Ví dụ: năm Đinh Nhâm là năm thuộc vận mộc, Đinh là vận mộc bất cập thì Nhâm là vận mộc thái quá, mộc bất cập tức là táo khí lưu hành, Mộc thái quá tức là phong khí lưu hành. Khi táo khí lưu hành: phát sinh kỳ bệnh, da xanh, đau sườn, đau bụng dưới, dễ đi lỏng, bệnh hàn nhiệt khái thấu. Trong đó xuất hiện triệu chứng của ba tạng: tỳ, can, phế tất nhiên trong trạng thái thiên thắng sẽ có biểu hiện ở lưỡi về rêu lưỡi, chất lưỡi, hình thể ở vùng giữa lưỡi, hai bên rìa lưỡi và 1/3 trước lưỡi, các chỉ tiêu lượng hoá pH, nhiệt độ lưỡi, soi mao mạch lưỡi (thiệt chẩn) sẽ bị chi phối nhất là trên cơ thể bình thường mà có trạng thái thiên thắng trùng với sự biến đổi của khí hậu và ngũ vận lục khí. Nếu như năm mộc thái quá phong khí lưu hành kỳ bệnh, ăn uống kém, không ngon miệng, gầy gò, mệt mỏi, thường đau ngực sườn, hay giận dữ, bụng chướng đầy, các triệu chứng tập trung vào tỳ, vị, can trạng thái thiên thắng sẽ biểu hiện bằng biến đổi rêu lưỡi, chất lưỡi và hình thể lưỡi theo sự phân vùng của tạng phủ trên lưỡi, cụ thể là giữa lưỡi và hai bên rìa lưỡi. Năm Tý Ngọ (địa chi) tại tuyền là thiếu âm quân hoả. Tư tiên là dương minh táo kim, khí tư thiên chủ nửa năm đầu, khí tại tuyền chủ nửa năm sau, như vậy thì việc phát bệnh trong năm cũng khác nhau. Thiếu âm quân hoả tư thiên nhiệt (dâm) thiên thắng lại gặp trạng thái thiên thắng về nhiệt lại càng nhiệt thái quá. Kỳ bệnh: trong ngực tức nóng, họng khô, hồi hộp, sườn phải đầy đau, hàn nhiệt, khái nhiệt khái thấu, nôn máu, ỉa máu, đái máu. Bệnh biểu hiện chủ yếu tâm, phế, can, các hình thể lưỡi ở trạng thái thiên thắng biểu hiện biến đổi nhiều ở đầu lưỡi và hai bên rìa lưỡi. Nếu dương minh tại tuyền táo (dâm) thiên thắng, kỳ bệnh hay nôn, miệng đắng, tâm, sườn, ngực đau, bệnh biểu hiện phế và can, biểu hiện hình thể lưỡi và các chỉ tiêu lượng hoá trong các trạng thái thiên thắng sẽ thay đổi. - Vận dụng trong dự phòng và điều trị. Biện pháp không dùng thuốc. + Châm cứu theo cấu trúc thời gian (Tý Ngọ lưu trú và linh quy bát pháp hay linh quy phi đăng) + Bấm huyệt, chích nhể theo cấu trúc thời gian - Khí công xoa bóp trong dưỡng sinh phòng bệnh - Dùng thuốc + Thu hái thuốc uống thuốc theo cấu trúc thời gian (thời dược học). + Dựa vào mối liên quan chặt chẽ giữa biến đổi khí hậu (học thuyết vận khí) với việc phát sinh phát triển và các trạng thái thiên thắng ở người khoẻ, có lợi cho biện chứng dự phòng và điều trị lâm sàng. Cụ thể là việc lập ra các phương thuốc chính xác. Ví dụ: khí phong thiên thắng thì dùng thuốc tân lương để phát tán trừ phong, khi hoả nhiệt thiên thắng thì dùng thuốc tả hoả, khi thấp thiên thắng thì dùng thuốc thông hạ nhuận táo. Hàn thiên thắng thì dùng thuốc ôn nhiệt táo hàn. Vì vậy cần phải dựa vào yếu tố bản tạng trạng thái thiên thắng ở người khoẻ bình thường cũng như mắc bệnh để có hướng dự phòng và điều trị bằng cách sử dụng phương dược để thay đổi bản tạng của người bệnh. - Hải Thượng Lãn Ông cho rằng: “tiên học Dịch hậu học Y” Dịch với Y phải hiểu đúng nghĩa là: thượng tri thiên văn, hạ tri địa lý, trung tri nhân sự. Thượng chi thiên văn nghĩa là phải xem yếu tố bản tạng và trạng thái thiên thắng của người bệnh: thiên hàn, thiên thấp, thiên nhiệt hoặc là thiên thấp nhiệt liên quan đến vận và khí (là bản mệnh - đã nói ở trên) hạ tri địa lý nghĩa là xem xét về khí hậu về thiên thời về môi trường của địa danh mà người bệnh đang sống; trung tri nhân sự nghĩa là phải xem xét nội bộ gia đình mối quan hệ với bè bạn hoàn cảnh và điều kiện sống, nghề nghiệp, buôn bán, lỗ lãi thất thường đều ảnh hưởng đến tính chất nặng nhẹ sự thăng trầm của tất cả trạng thái bệnh lý. Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.75-92 BẢNG PHỤ LỤC /// /// THỊNH SUY CỦA SÁU MƯƠI NĂM VẬN KHÍ TƯƠNG LÂM 六 十 年 運 氣 相 監 盛 衰 圖 Ngũ Phúc lâm môn
-
Chú ý: Toàn bộ nhịp sinh học còn phải điều chỉnh vi lượng do Tháng nhuận, chu kỳ tuế sai nữa. Nền văn minh Văn Lang đã tồn tại huy hoàng gần 3000 năm. Đó là một sự lý giải hợp lý cho thời gian hình thành, phát triển của một học thuyết tầm cỡ mà sự ứng dụng của nó bao trùm lên mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và con người một cách sâu sắc vi diệu. Đây cũng là một sự chứng minh chủ nhân đích thực của Âm Dương lịch Đông phương thuộc về nền văn minh Văn Lang, khẳng định câu ca dao của tổ tiên truyền lại và được dân gian trân trọng lưu truyền qua hàng thiên niên kỷ. Ai về nhắn họ Hy – Hòa Nhuận năm sao chẳng nhuận vài trống canh. Nhuận năm: lịch các quốc gia đã điều chỉnh. Sao chẳng nhuận vài trống canh: thế giới đã quên điều chỉnh bổ sung thời gian do hiện tượng Tuế sai 25920 năm: 1/25920 x 360 độ. Canh: 1/100 ngày = 1/120 giờ cổ đại = 1/240 giờ hiện nay. Nhân một đêm trăng thanh gió mát, không biết có một tao nhân mặc khách nào đã ngẫu hứng thú: Một năm có mấy mùa Xuân, Một ngày có mấy giờ Dần ai ơi. Ngũ Phúc lâm môn