Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

hoangnt

Hội viên
  • Số nội dung

    1909
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    6

Everything posted by hoangnt

  1. Cảm ơn bác Lãn Miên Theo chiết tự, chữ Vương là nối giữa nhất nhị tam hay thiên - địa - nhân; còn chữ Đế không rõ chiết tự mang ý nghĩa gì. Kính.
  2. Trong dòng chảy văn hóa Đông phương, về lý học thì mối quan hệ giữa một dân tộc và vị quân vương đều có thể tiên tri sự hưng thịnh qua các phương pháp của học thuật cổ, bác Lãn Miên có thể giúp nhận định về các chữ: - Đế: hoàng Đế Quang Trung... - Vương: vua, quân vương, vua Hạ Vũ... - Chúa: Con vua cháu chúa, vua Lê chúa Trịnh... - Quân thần: thần tử... Trân trọng.
  3. Hán Thái Tổ Cao Hoàng Đế, nhưng thường được gọi tắt là: Hán Cao Tổ (chữ Hán chính thể: 漢高祖, latin hóa: HànGāozǔ) (256 TCN [3] – 1 tháng 6 năm 195 TCN) là vị Hoàng đế sáng lập nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông họ Lưu tên Bang (劉邦), sử quan đời Hán chép là Lưu Quý vì ông là con thứ ba trong gia đình [4]. Ông ở ngôi Hoàng Đế 8 năm (từ năm 202 TCN đến 195 TCN), nếu tính cả thời gian đầu (từ năm 206 TCN lúc ông mới xưng Vương) thì thời gian ở ngôi tổng cộng là 12 năm. Lưu Bang là một trong vài người sáng lập triều đại trong lịch sử Trung Quốc có xuất thân từ giai cấp nông dân (một ví dụ nổi bật khác là Chu Nguyên Chương, người sáng lập triều đại nhà Minh). Trong giai đoạn đầu, Lưu Bang đã được biết đến với danh hiệu "Bái công", với chữ "Bái" là đề cập đến quê hương của ông. Ông cũng được phong là "Hán vương" bởi Hạng Vũ khi Hạng Vũ chia đế chế Tần thành Mười tám nước. Lưu Bang được biết đến bởi danh hiệu này trước khi trở thành Hoàng đế của Trung Quốc . Lưu Bang được sinh ra trong một gia đình nông dân ở huyện Phong thuộc Giang Tô. Tên cha mẹ của ông không được ghi lại trong lịch sử và chỉ được gọi là "Lưu Thái Công" (刘太公) và "Lưu Ẩu" (刘媪 [5]). Người ta nói rằng mẹ ông do mang thai với rồng mà sinh ra Lưu Bang [6]. Đế Nghiêu, người có nguồn gốc từ Hoàng Đế được tuyên bố là tổ tiên của Lưu Bang. Hầu hết các gia đình quý tộc của Trung Quốc đều tuyên bố là có nguồn gốc từ Hoàng Đế [7] Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Lưu Bang có mũi cao, râu dài giống rồng và có 72 nốt ruồi trên chân trái [6]. Ông không lo nghĩ đến sản nghiệp, không câu nệ chuyện nhỏ nhặt. Tính tình tuy khá buông thả (Sử ký mô tả là “thích rượu và gái”[8]), song lại thẳng thắn, lôi cuốn, lại biết nhẫn nhục và khoan dung. Lưu Bang từng phải đi phu ở Hàm Dương và trông thấy vua Tần Thủy Hoàng. Sau đó ông làm Đình trưởng ở Tứ Thượng. Từ đó, ông quen biết và thân thiện với những người như Hạ Hầu Anh, Tiêu Hà, Tào Tham. Trong khi uống rượu với bạn bè của mình trong các quán rượu địa phương, họ thường nhận thấy hình bóng của một con rồng trên người Lưu Bang bất cứ khi nào ông say rượu [9]. Các chủ quán rượu cảm thấy Lưu Bang là một người phi thường và thường cho ông uống rượu miễn phí. Một ngày kia, một người đáng kính tên là Lã Công đến huyện Bái. Tại đây Lã Công gặp Lưu Bang – lúc đó mới làm chức đình trưởng. Cho rằng Lưu Bang sẽ làm nên nghiệp lớn, Lã Công bèn gả con gái là Lã Trĩ cho Lưu Bang. Bà sinh được 1 con gái (Lỗ Nguyên Công chúa) và 1 con trai tên là Lưu Doanh. bản đồ Trung Quốc thời chiến quốc khoảng năm 350 TCN Như vậy vùng Giang Tô, quê Hán Cao Tổ thuộc địa lý nước Việt (Câu Tiễn)
  4. Cảm ơn bác Lãn Miên. Như vậy, người phụ nữ Việt với chữ lót Thị và đạo Mẫu đã mang một ý nghĩa hết sức tôn kính và có gốc từ thuyết Âm dương Ngũ hành, những từ cổ còn sót lại như Thần Nông Thị, Hạ Vũ lấy vợ Đồ Sơn Thị... đã cho ta một mối liên hệ thật cổ xưa. Rõ ràng, nền văn hóa Việt thật nhân bản, tôn trọng vai trò của người phụ nữ, nhưng không đồng nghĩa thời cổ đại với chế độ Mậu hệ vì chế độ quân vương có vua là người nam như chuyện tuyển rể nối ngôi Sơn Tinh - Thủy Tinh. Tra cứu lại cổ sử Trung Quốc, hoàn toàn không xác định được dân tộc Hán là dân tộc nào? còn Hoa Hạ thì càng rối rắm. Có thể Hán là có từ khi Hán Cao tổ Lưu Bang lên làm vua chăng. Lịch sử Trung Quốc là cuộc tranh giành quyền lực liên miên giữa các dân tộc, cho nên đặc trưng chung nhất là không rõ rệt: Hàn ,Sở, Tiệu, Ngụy, Tấn... mênh mông khói lửa. Kính.
  5. Chào anh Hoangnt. -Theo anh thì dùng cái gì xác định đại vận. -Dựa vào đâu cho rằng niên vận là phi tinh âm, còn niên tinh dương bỏ đi đâu, tại sao nam là ly nữ là càn (nam đoài nữ càn - theo PTLV) và ngược lại nữ là ly nam là càn (nữ đoài nam càn- theo PTLV). -Niên, nguyệt, nhật là chỉ thời gian, mà thời gian thì chúng ta thấy là chỉ đi tới là chiều thuận thì tại sao anh cho rằng là phi tinh nghịch, vậy quy ước nghịch và thuận của anh là như thế nào, anh hay lấy chiều kim đồng hồ mà nói để NDS hiểu cái quy ước thuận nghịch của anh. Theo lý giải của Nhidiasinh thì như thế nào?
  6. Chung quanh truyện Nam Chiếu . Dòng Hùng Việt Trích tộc phả họ Phạm Việt nam : "Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân -Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu ( gọi là xứ Lâm ấp)-tức là Nam Trung bộ ngày nay. Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trc CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Viêt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa ( xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay). Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm, khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An , diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế (766). ……………………… Đối chiếu với thông tin trong sử sách chỉnh sửa thành : "Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân -Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là ái châu (Thanh Ngệ Tĩnh ) và Trung châu (Bình Trị Thiên ) gọi là xứ Lâm ấp - tức Trung bộ ngày nay. Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Hiếu -Tây Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trc CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà - Nam Hời (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hiếu - Tây Hán chiếm lại Nam Viêt, nhà Triệu diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương lập nước Nam – kinh đô là Lâm ấp vua đầu là Lý khu Kiên sử Việt gọi là Lý Nam đế . Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa - Vijaya ( xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay). Đến đời vua Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa , vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua tổ họ Phạm (chính là 18 Hùng vương ) , khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh (Sri Vijaya – Qua oa ) về hợp cùng Mai Thúc Loan tức Mai Hắc đế (766) chống lại quân nhà Đường , về sau Phùng Hưng con của Phùng Tói Cái trước là tướng của Mai Hắc đế đánh lui quan quân nhà Đường phục hưng nước Nam , Phùng Hưng được tôn là Bố Cái Đại vương (Pi lô cô- Bì la Cáp) chúa nước Nam hay Nam chúa viết sai đi thành Nam Chiếu . Lấy phần Tộc phả họ Phạm đã chỉnh sửa và chính sử Việt đối chiếu với truyện Nam Chiếu – Lĩnh nam trích quái nhận ra : Thông tin trong truyện Nam Chiếu là những dòng sử bị bỏ sót của lịch sử Việt nam . 2 chữ Nam Chiếu nghĩa là chúa nước Nam tạo thành xương sống của câu chuyện có chiều dài thời gian sấp xỉ 1200 năm . Nam chiếu nghĩa là chúa nước Nam chính là : - Nam Việt vũ – Triệu Đà ; Triệu không phải họ mà là biến âm của Chậu – Chiếu –chuá , chuá Nam Việt gọi tắt là Nam chúa . - Lý Nam đế (hậu) Lý Bí ; Nam đế là vua nước Nam cũng là Nam chiếu -Nam chúa . - Mai Hắc đế , Hắc là màu đen sắc của phương nam tương tự Huyền thiên , Mai hắc đế là ông vua nước Nam họ Mai hay My . - và cuối cùng là Phùng Hưng –Bố cái đại vương ; câu đối nơi đền thờ ....Phong thành phủ lỵ thái Nam bang ...chỉ ra nơi đóng đô là Phong thành , nước là nước Nam ...vua nước Nam đương nhiên là Nam chiếu - Nam chúa . Đặc biệt Khu Liên được dân chúng tôn làm vua nước Lâm Ấp năm 192 , Thực ra không có nước Lâm Ấp , Lâm ấp là lối viết tắt của đại ấp Lâm nghĩa là thủ đô nước Lâm- nước Nam , Nam →Lam→Lâm ... rõ ràng Khu Liên là Nam Chiếu – Nam chúa , Khu Liên trong tộc phả họ Phạm biến thành Lý khu Kiên (Khu Liên thiết Kiên) ..., có nhà nghiên cứu nghi ngờ khu Liên không phải là nhân vật mà là tộc danh vì năm 137 cũng đã có 1 cuộc nổi loạn của Khu Liên ...không lẽ 2 cuộc binh biến cách nhau 55 năm cùng do 1 người cầm đầu ?, Thiên Nam ngữ lục làm sáng tỏ thêm vấn đề với câu ...Khu Linh người nước Nam ta ..; đầu tiên câu thơ này đã minh định nước ta tức nước của tiền nhân người Việt nam xưa tên là nước Nam , thông tin thứ 2 quan trọng không kém ....không phải là ‘Khu Liên’ mà là ‘Khu Linh’ , Khu Linh thiết Kinh ...phải chăng đây chính là tên của tộc người đa số đã tạo nên cộng đồng người nước Nam tức dân Nam ? . Khu Linh thiết Kinh ; từ Kinh nghĩa là gì ? -Kinh cũng là Canh chỉ hướng ngược với La , La – Canh là 2 đầu của La bàn còn gọi là kim chỉ Nam dùng xác định phương hướng như thế La - Canh đồng nghĩa với Bắc – Nam , Kim chỉ Nam 1 trong những phát minh lớn lao đã làm thay đổi lịch sử nhân loại . -Kinh – Canh là sợi dệt ngang dùng chỉ đường kẻ ngang – trục nằm nói chung đối phản với Tung – tưng –tâng chỉ đường thẳng đứng- trục đứng , Canh ↔cánh ↔cành ....ngang cành bứa ...(Canh =hoành) , trong Thập can thì can canh là số 6 đối lập với can Tân –tưng là số 7, chu kỳ Thập can là đi hết 1 vòng trở về trung tâm là số 5 ở giữa Hà thư ; Canh và Tân bắt đầu cho vòng sau vì thế ta có từ kép ‘Canh-Tân’ nghĩa là đổi mới ... -Kinh – Canh nghĩa là cô đặc lại ; là ý niệm cơ bản của âm – dương ...phần khí nhẹ bốc lên thành trời ...phần nặng chìm xuống cô –đặc lại thành ra đất ... Xét như thế thì Thiên Nam ngữ lục đã trực tiếp chỉ ra ...tộc Kinh đã tạo nên nước Nam . Chuyện Nam Chiếu chưa đầy trang giấy mà gói trọn 1200 năm lịch sử người họ Hùng thực là 1 tuyệt phẩm về lịch sử chỉ tại xưa nay người ta chưa nhìn thấu , chưa nắm bắt được vấn đề do lượng tin chứa trong vài hàng chữ ...vớ vẩn lớn qúa sức tưởng tượng nên đã có người cho ‘Lĩnh Nam trích quái’ là chuyện ... trâu ma rắn thần .. . Cạnh chữ Việt , chữ Nam đã gắn bó với con cháu nhà Hùng từ thời thượng cổ ,không phải chỉ có hơn ngàn năm ngự trị của Nam chúa viết ở truyện Nam chiếu – Lĩnh Nam trích qúai mà từ thời Đế Nghiêu đã ....mệnh Hy Thúc trạch Nam Giao , tới thời Lý ở cận kim thời đại còn viết ...Nam quốc sơn hà Nam đế cư ..., thời Nguyễn đã có những năm tháng chữ NAM độc quyền trong quốc hiệu của con cháu nhà Hùng ( nước Đại Nam thời vua Minh Mạng ). Có người cho quốc hiệu Việt nam ngày nay là ghép từ 2 thành phần An Nam – Việt Thường mà thành ... điều này không ổn vì tự thân người Việt chưa bao giờ nhận mình là An Nam , đấy là cái tên do vua quan con nhà ‘giời’ đặt ra chỉ 1 cộng đồng người mà họ tự cho là chư hầu của họ , thậm chí ‘nó’ có thể chỉ là sản phẩm do bọn bồi bút gia nô dốt nát tưởng tượng ra rồi chép vào sử ...vì An Nam quốc gốc là An Nam đô hộ phủ với chữ An là vỗ yên , làm cho yên ổn ...thì cụm từ ‘An Nam quốc’ thành ra chẳng nghĩa ngọn gì , sử liệu Trung quốc trước nhà Tống từng có chúa Chăm được phong là An Nam tướng quân Lâm Ấp vương chứ không hề có An Nam quốc vương . Truyện Nam chiếu gói ghém thông tin lịch sử ngàn năm qúa sức dài , diễn tiến trước sau dựa vào phân kỳ lịch sử Trung quốc mà danh xưng các triều đại Trung quốc thì đầy những cái bẫy chữ nghĩa , Hán thì nào Tây Hán Đông Hán Bắc hán Nam Hán rồi hậu Hán , Hán triệu ...lu bù Hán ; Tấn cũng tương tự thế ...có cả đống Tấn , xin lưu ý những chữ nam bắc tây đông tiền hậu đều là do đời sau viết sử tự ý thêm vào chứ bản thân các triều đại ấy chỉ có mỗi chữ Hán hay Tấn trần trụi ...như thế hỏi làm sao tránh khỏi lầm lẫn ...râu ông này cắm cằm bà kia ...chính việc ‘cắm lộn’ râu này đã khiến truyện trong sách lĩnh Nam trích qúai trở nên ...trâu ma rắn thần ...vì khi đối chiếu với những tư liệu lịch sử khác ...thấy chẳng ra đâu vào với đâu ... Nếu bình tâm Phân tích và hiệu chỉnh truyện Nam Chiếu ... vẫn có thể lắng lọc tìm được những Thông tin qúy gía của lịch sử Việt . Thời Hiếu Vũ Đế, Thừa tướng của Triệu Đà là Lữ Gia không thần phục nhà Hiếu, giết sứ Hán là bọn An Quốc và Thiếu Quý. Hiếu Vũ sai Lộ Bác Đức và Dương Phác đem quân chinh phạt, bắt được Vệ Dương Vương Kiến Đức và Lữ Gia, thôn tính cả nước , phân đất đặt quan cai trị. Họ Triệu mất nước, con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau hội họp nhau ở phía Tây và Bắc Giao chỉ giết các quan lệnh cai trị của nước Đông hãn , xưng là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu , Triệu hay Chiếu cũng nghĩa là chủ – chúa . Cuối đời nước Đông hãn thiên hạ rối loạn, có người thổ tù là Triệu Ông Lý tức Lý Bí cũng là con cháu của Triệu Vũ Đế, anh em đông đúc, thảy đều dũng lược hơn người, ai nấy đều nể phục, cùng hợp lại với quân Nam Chiếu, được hơn hai vạn người,bèn xưng đế lập nước NAM , kinh đô là Lâm ấp có đất đai phía đông tới biển ,phía tây tới Ba Thục ,phía nam giáp nước Bà Dạ,phía bắc giáp Cửu Chân , Triệu ông Lý – Lý Bí xưng là Lý Nam đế nghĩa là vua nước Nam . Nhà Tấn sai tướng là Tư Mã ...? ( Tư mã là họ của vua nhà Tấn) đem quân sang đánh ; Nam Chiếu thua to chạy về đất Ai lao gọi là nước Đầu Mô (Đạo Minh - Đinh ?) . Quân Nam Chiếu lùi về phía nam ở cả một vùng từ núi Thiên Cầm tới các vùng Hà Hoa, Cao Hoàng, Hoành Sơn, Ô Đặc, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Đổ, Vọng Án và Lỗi Lôi, núi cao bể rộng, sóng gió hiểm trở, không có một vết chân người. Ông Lý mai phục ở rừng núi hiểm trở nơi đầu nguồn sông mà đánh, rồi lại tới nấp ở núi Liên Vị, địch tới thì mình đi, địch đi thì mình tới, sáng ra tối vào, cầm cự trong 4, 5 năm trời, không hề đối đầu. Quân nhà Tấn không chịu nổi lam chướng, chết hơn quá nửa, bèn rút quân về không chiếm được đất phía Nam của Nam chúa . Đời Tam Quốc, Tôn Quyền nhà Ngô sai Đái Lương, Lữ Đại đánh diệt anh em Sĩ Huy phong họ làm Thái Thú Giao chỉ để đánh dẹp Nam Chiếu cũng không thể đánh nổi . Đời Tùy tướng Lưu Phương tiến quân chiếm mất phần đất bờ biển của Nam Chiếu nay là Thanh Nghệ tĩnh . Sang đời Đường Nam Chiếu thần phục nhà Đường cả 1 giải đất Tây và Bắc Giao chỉ được tự trị gọi là châu KI Mi hay CƠ MY. Năm Nhâm Tuất (722) là năm Khai Nguyên thứ 10 về đời vua Huyền Tông nhà Đường, ở Hoan Châu có một người tên là Mai Thúc Loan nổi lên chống cự với quân nhà Đường. Mai Thúc Loan là người huyện Thiên Lộc, tức là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh bây giờ, mặt mũi đen sì, sức vóc khỏe mạnh, thấy quan nhà Đường làm nhiều điều tàn bạo, dân gian khổ sở, lại nhân lúc bấy giờ lắm giặc giã,ông ấy bèn chiêu mộ những người nghĩa dũng, rồi chiếm giữ lấy một chỗ ở đất Hoan Châu (nay thuộc huyện Nam Đường tỉnh Nghệ An) rồi xây thành đắp lũy, xưng hoàng đế, tục gọi là Hắc Đế”. Hắc đế tức Nam Chúa – Nam Chiếu (Hắc – màu đen chỉ phương Nam theo Dịch học nay lộn ngược thành phương Bắc) đem châu báu ngà ngọc hiến cho nước Tây Bà Dạ (Chân Lạp hay Sri vijaya ?), xin chỗ sinh sống ở vùng đất trống ven bờ biển. Khi ấy nước Tây Bà Dạ chia đều đất ra thành hai lộ. Một lộ trên từ Cầm châu dưới tới Diễn Châu gọi là lộ Lâm An (?) giao cho Mai Hắc đế ., từ Hoan Châu (Hà Tĩnh hay Quảng Bình ?) đổ về phía nam gọi là lộ Già la hay vijaya sau gọi là Chàm Dừa, trung tâm là vùng Bình định ngày nay . Lộ Già la – Vijaya sau tách khỏi liên bang Sri vijaya – Tây bà Gia và hợp nhất với đất Cau ở vùng Khánh hoà ngày nay , năm 757 trung tâm chính trị ‘Dừa – Cau’ chuyển về đất Khánh hoà thuộc Chàm Cau từ đó gọi là nước Hoàn vương , năm 875 đổi thành nước Chiêm thành – Chămpa . Cầm châu ở tây – bắc Nghệ An nay là tỉnh Xiêng khoảng nước Lào , xưa là đất đông Mường Xwa và đã có thời là phủ Trấn Ninh thuộc lãnh thổ Đại Việt đây cũng chính là đất Bồn Man trong Chuyện Nam Chiếu này . Sử sách Trung Quốc cũng ghi chép về liên minh quân sự này: “An Nam có Mai Thúc Loan làm phản, xưng Hắc Đế, dấy dân chúng 32 châu, bên ngoài liên kết với các nước Lâm Ấp, Chân Lạp, Kim Lân, chiếm giữ vùng Hải Nam, quân chúng có 40 vạn” (Tân Đường thư). Sau nhà Đường cho quân đánh Mai hắc đế , Mai hắc đế chống không nổi thua chạy.. . lui quân về xứ Bồn Man xưng là Đầu hoành Mô quốc Bồn Mang ... Khoảng niên hiệu Đại Lịch 791 (VNSL), chưa rõ đích xác vào năm nào, nhân lòng căm phẫn của nhân dân, Phùng Hưng và em là Phùng Hải đã phát động một cuộc khởi nghĩa lớn chống chính quyền nhà Đường. Phùng Hưng nghĩa là người đất Phong tên gọi là Hưng ...hoặc giả cũng có thể là danh hiệu chỉ người đã làm hưng khởi đất Phong ...chứ không phải họ và tên , Theo Sử thì Phùng Hưng về sau được xưng tụng là ‘Bố cái’ đại vương đặt tên nước là nước Nam như trong câu đối ở đền thờ ông ....Phong thành phủ lỵ thái Nam bang Việt nam sử lược viết : Ở phía Tây Bắc đất Giao Châu, tức là ở phía Tây tỉnh Vân Nam bây một xứ người nòi Thái ở. Người xứ ấy gọi vua là chiếu. Trước có 6 chiếu là Mông Huề, Việt Thác, Lãng Khung, Đằng Đạm, Thi Lãng, Mông Xá. Chiếu Mông Xá ở về phía Nam nên gọi là Nam Chiếu. Trong khoảng năm Khai Nguyên (713-742) đời vua Huyền Tông nhà Đường, Nam Chiếu là Bì La Cáp cường thịnh lên, mà 5 chiếu kia suy hèn đi. Bì La Cáp mới đút lót cho quan Tiết Độ Sứ đạo Kiếm Nam là Vương Dục để xin hợp cả 6 chiếu lại làm một. Triều đình nhà Đường thuận cho, và đặt tên là Qui Nghĩa. Từ đó Nam Chiếu càng ngày càng thịnh lên, đem quân đi đánh Thổ Phồn (Tây Tạng) rồi dời đô lên đóng ở thành Thái Hòa (thành Đại Lý bây giờ). Nhưng theo nhà nghiên cứu Bách Việt 18 : .........Sách Lịch sử Thái Lan chép (Wyatt, David K.): Năm Khai Nguyên thứ 26 (738), Bì La Các cầu Đường trợ giúp đánh bại La Quân Chiếu Điên Chi Thác, Lãng Khung Chiếu Chí La Quân, Thi Lãng Chiếu Bàng La Điên, Việt Tích Chiếu Vu Tặng, Mông Hề Chiếu Nguyên La, sách nhập ngũ chiếu. Nhà Đường phong cho Bì La Các làm Vân Nam Vương, ban danh là Mông Quy Nghĩa. Bì La Các lấy vùng tây Nhị Hà (tức Nhĩ Hải) làm cơ sở kiến lập nên Nam Chiếu Quốc. Năm sau, dời đô về thành Thái Hòa (tức thành cổ Đại Lý ngày nay). Khun Borom được các sử gia Thái Lào xác định là vua Bì La Các (Piloko), người khởi đầu nước Nam Chiếu vào đầu thế kỷ 8 dưới triều Đường. Bì La (Pilo) thiết Bố. Bì Lô Các cũng là Bố Cái. Như vậy có thể thấy Khun Borom của người Lào Thái chính là Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng của Việt Nam, người đã khởi nghĩa chống nhà Đường vào thế kỷ 8: Thanh chấn Lý Đường, Thuận Đức niên gian uy Bắc khấu Vận thừa Mai Đế, Phong thành phủ lỵ thái Nam Bang. Niên hiệu của Khun Borom – Bố Cái được câu đối trên chép là Thuận Đức, đóng đô tại Phong Thành, lập nước là Nam Bang. Có thể thấy Phong thành đây chính là Mường Then – Điện Biên, nằm ngay cạnh tỉnh Phong Xa Lỳ của Lào. Nam Bang là nước phía Nam hay Nan Chao (theo tiếng Thái nghĩa là nước của người phương Nam). Nan Chao là Nam Chiếu. .............. Truyện Nam chiếu – chúa nước Nam chính là dòng sử liên tục sấp sỉ 1200 năm Khởi từ thời Triệu Đà hay Chúa Đầu dựng nước Nam Việt truyền cho tới Phùng Hưng – Bì la Cáp xưng vương , niên hiệu Thuận Đức quốc hiệu Nam bang – nước Nam đã không được thể hiện đầy đủ trong lịch sử Việt nam đây là sự thiếu sót vô cùng lớn . Nước Việt nam ngày nay không chỉ kế thừa lịch sử nước Đại Việt mà còn kế thừa cả lịch sử nước Nam Chao oai hùng từng 1 thời thống nhất Đông nam Á lục địa . ; Rất có thể quốc hiệu “Việt – Nam” hiện nay chính là “Đại Việt – Nam Châu” vậy .
  7. Tôi rất cảm hứng nội dung: GIÁO SƯ LƯƠNG KIM ĐỊNH NGƯỜI CHỈ ĐƯỜNG ĐẾN KHO TÀNG MINH TRIẾT VIỆT. Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Giám đốc TTNC LHDP Có lẽ tất cả chúng ta ở đây đều biết đến câu ca dao nổi tiếng của nền văn hóa truyền thống Việt: “Ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn”. Đây cũng chính là câu ca dao mà giáo sư Lương Kim Định nhắc tới trong lời tựa cuốn sách của ông : “Triết lý cái Đình”. Câu ca dao tưởng như rất trực quan, rất bình thường, dân dã ấy, như chỉ là một ngạn ngữ khuyên con người Việt Nam hãy dùng những gì mình có. Vì nó là của ta. Cho nên nó tự do hơn và khoáng đạt hơn khi phải mượn tạm những gì của người khác. Sâu xa hơn, vì nó là của ta, nên nó là những giá trị đích thực. Nhưng ai cũng biết cái “ao ta” ấy chỉ là một hình tượng cho sự sở hữu của ta. Và chỉ khi nó là của ta thì ta mới có tự do vùng vẫy trong cái “ao ta” ấy, “dù trong, dù đục”. Trong hay đục thì chưa biết. Nhưng đoạn chót của câu ca dao ấy đã khẳng định : “ao nhà vẫn hơn”. Như vậy, nó đã xác định rằng: “Ao ta” hơn hẳn “ao người”. Nhưng “ao ta” ở đâu và “ao người” ở đâu? Phải chăng để đi tìm cái “ao ta” ấy người xưa đã muốn nhắc nhở con cháu tìm về cội nguồn? Và cội nguồn của Việt tộc, chính là cái “ao ta” ấy sẽ hơn hẳn “ao người”!? Một sự tương đồng, nhưng rõ ràng và thẳng thắn hơn với nội dung minh triết sâu xa của câu ca dao trên, chính là bài ca của cô Tấm. Mỗi khi cho cá ăn - tài sản ít ỏi và duy nhất của cô - để chia sẻ tâm tư khi phải sống chung với mụ dì ghẻ độc ác, cô Tấm lại cất tiếng gọi: Bống bống bang bang. Bống ăn cơm vàng, cơm bạc nhà ta. Chớ ăn cơm hẩm, cháo hoa nhà người. Như vậy, đến bài ca của cô Tấm thì những cái gì của ta, nó không còn mơ hồ giữa “trong” hay “đục”. Mà nó đã là sự khẳng định giá trị đích thực của nền minh triết Việt: Cũng là cơm. Nhưng cơm của Tấm là “cơm vàng, cơm bạc” là giá trị đích thực chói sáng của nền minh triết Việt. Còn cái giống như thế, cũng là “cơm”, nhưng là “cơm hẩm, cháo hoa nhà người”. Nhưng những hạt cơm vàng, cơm bạc của cô Tâm từ ngày xửa, ngày xưa ấy, đã rơi vãi đâu đây trong lịch sử thăng trầm của Việt tộc? Có cái gì để thay thế phép lạ của Bụt sai khiến đàn chim đến nhặt hết những hạt sạn sỏi trộn chung với thóc , để trả lại một màu vàng óng, nguyên sơ của thúng thóc được tạo ra với bao công sức cần lao của con người?
  8. Đúng là Hồn Việt ghi dấu trong ngôn ngữ. Theo các nhà nghiên cứu sử nghi ngờ, thì vua Hạ Vũ lấy người con gái ở Đồ Sơn tức Đồ Sơn Thị. Mặt khác, trong tên họ người phụ nữ Việt Nam, hầu hết đều lấy chữ lót là Thị - bác có thể luận giải chữ Thị này không. Chắc chắn, câu chuyện Tấm Cám còn ẩn ý về quả Thị hay chữ lót Thị như trên. Nếu luận giải hợp lý, thỉ chắc chắn nghi ngờ chi tiết cổ sử trên là chính xác. Kính.
  9. Một câu hỏi là: Hạt của Chúa là hạt nhỏ nhất vào tạo cấu thành vạn vật trong vũ trụ - làm sao ta biết hạt Giggs vừa phát hiện là nhỏ nhất? Không ai có thể trả lời nổi, cho nên phải vận dụng một lý thuyết tổng hợp, thường gọi là triết học. Tặng thêm 1 câu hỏi: trong trạng thái Biabang, phải chăng chỉ toàn là Hạt Giggs? chắc chắn botay.com. Dĩ nhiên, kết quả sẽ không phải có một loại Hạt Giggs, hãy chờ xem. Thành quả khoa học giúp cho đời sống con người về mặt vật chất và tinh thần ngày càng tốt đẹp hơn, chắc không ai phủ nhận nhưng nếu dùng thực nghiệm để tìm nguồn gốc vũ trụ lúc sơ khởi sẽ bị bế tắc hoàn toàn bởi lý do kết quả của thực nghiệm chỉ là tìm hiểu cái tương đối, còn cái tuyệt đối là mãi mãi không thể khám phá qua công cụ, chưa kể đây là một vũ trụ rộng lớn đến vô cùng. Do vậy, phải dùng phương pháp suy luận bắc cầu. Tốc độ vũ trụ cấp I: 11.2 km/giây thì đến bao giờ đi tới tâm Ngân hà? với bán kính 10.000 năm ánh sáng???. Chỉ dùng Lý học Đông phương thì sẽ tới ngay. Kính.
  10. Đọc chỉ thấy toàn là lý thuyết và lý thuyết, không hề có một chút thực nghiệm nào để chứng minh các ý của lý thuyết đó là đúng cả. Cho dù từ trước tới nay trí tưởng tượng của con người luôn luôn đi trước thực nghiệm nhưng một điều không thể chối cãi rằng không phải tất cả các ý tưởng của con người đều trở thành hiện thực khách quan của thế giới tự nhiên. Theo tôi thực nghiệm vẫn đầy dẫy, từ phản ánh hiện thực khác quan của tự nhiên cho tới thành quả khoa học, hay các phương pháp ứng dụng học thuật cổ Đông phương. Theo học thuyết Tây Tạng, cái gì con người nghĩ ra được đều có thể thực hiện được, thần thông là một ví dụ điển hình nhất nhưng không lạm dụng nó. Sức mạnh của ý thức con người có thể vật chất hóa những cái mà chúng ta có thể hình dung như ngay lập tức làm cho một trận mưa hoa từ trên trời rơi xuống... cái này thì khoa học... chịu thua, không thể giải thích được. Linh hồn là gì mà lịch sử nhân loại luôn tìm cách tìm hiểu nó, cho tới nay... bí luôn. Cuốn truyện Người vô hình là viễn tưởng trong thời nay nhưng đối với Huyền học cổ thì còn siêu hơn nhiều. Mọi lý thuyết mà con người nghĩ ra đều có người tin không nhiều thì ít. Sự tin này người ta thường gọi là "Đức Tin" và "Đức Tin" này nhiều hay ít phụ thuộc vào từng người cũng như uy tín của người đưa ra lý thuyết đó. Tưởng rằng một sự kiện mà Galileo bị đưa lên ngọn lửa của giàn thiêu là quá đủ rồi nhưng thực tế lại không phải như vậy mà hiện nay vẫn còn ti tỷ người không tin vào thực nghiệm, họ vẫn tin dựa vào chính cái "Đức Tin" cuồng nhiệt của họ. Như Vo Truoc không tin vào thực nghiệm của các nhà Khoa Học nên cho rằng: "Để thoát khỏi những mâu thuẫn đó, họ sáng tạo ra đủ thứ như vật chất tối, hạt của chúa, .... y như ngày xưa người ta sáng tạo ra thần Dớt, Chúa Trời, ... vậy. Chỉ có điều, họ bịa ra một cách "khoa học" mà thôi. Thế là trở thành Thiên tài và nhận giải Nobel!" . Có 8400 pháp môn áp dụng, tùy khu vực văn hóa và căn cơ của mỗi người. Đức tin là điều kiện cần nhưng không đủ. Vấn đề bác Vô Trước nhận xét thì để bác ấy cần làm rõ mới đúng. Vo Truoc là một bằng chứng đại diện cho những người sống trong nền văn minh của khoa học kỹ thuật ngày nay lại không tin vào khoa học kỹ thuật có thể đưa cuộc sống của con người càng ngày càng tốt đẹp hơn như có điện, ô tô, máy bay, các dây truyền sản xuất hiện đại... . Với những người như Vo Truoc thì bất kỳ một bằng chứng khoa học nào được tìm ra thì đều không tin và câu cửa miệng của họ là: "họ bịa (nghĩa là KHÔNG CÓ... , BỊP BỢM...) ra một cách "khoa học" mà thôi". Theo những người như Vo Truoc thì nền văn minh ngày nay có được là do những cái đầu "Viện Sĩ" của họ làm lên chắc?. Bác Vu Long nhận xét chưa hợp lý và nhận định về bác Vô Trước hơi quá. Có thể bác Vô Trước đã nhận thấy một sự kết hợp giữa khoa học và Lý học Đông Phương chăng? Tôi thấy, Hành lang học thuyết ADNH của bác Vô Trước là một công trình nghiên cứu rất nghiêm túc và công phu, dĩ nhiên còn có những cái cần làm rõ và bổ sung nếu bác Vu Long chỉ ra rõ ràng để thảo luận. Một câu hỏi là: Hạt của Chúa là hạt nhỏ nhất vào tạo cấu thành vạn vật trong vũ trụ - làm sao ta biết hạt Giggs vừa phát hiện là nhỏ nhất? Không ai có thể trả lời nổi, cho nên phải vận dụng một lý thuyết tổng hợp, thường gọi là triết học. Kính.
  11. Nguyễn Việt * Từ gương đồng họ Lý ở Giao châu Họ Lý được coi như một trong số ít dòng họ xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Việt Nam. Bằng chứng khảo cổ đã phát hiện được từ thế kỷ 2 sau CN, họ Lý đúc gương đồng (Lý thị tác kính). Thảo luận về những gương Lý thị tác kính, có người phản biện rằng liệu những gương đó được đúc ở Trung Nguyên rồi đem lưu hành ở Việt Nam, chứ chưa chắc họ Lý đã thực sự ở Việt Nam từ thời đó. Tôi có dịp vào năm 2006 đi Nhật thảo luận về vấn đề gương đồng với những chuyên gia hàng đầu thế giới tại Nhật Bản và đều đi đến nhất trí dự đoán khả năng có một trung tâm đúc gương riêng ở Giao Châu. Gương Lĩnh Nam đào được khá nhiều ở Giao Châu. So với những sưu tập gương ở Lạc Dương, Hồ Nam, Triết Giang, Sơn Đông... đều không thấp kém hơn, đặc biệt ở giai đoạn gương đồng phát triển nhất, từ thế kỷ 1 tr.CN đến thế kỷ 3 sau CN. Hơn nữa, Lý thị không chỉ đúc gương mà còn làm gốm, đúc các đồ đồng thông dụng khác. Trên một đồ đựng bằng đồng khai quật tại Quảng Đông còn nguyên dòng minh văn : “ Nguyên Sơ ngũ niên thất nguyệt trung Tây Vu Lý Văn Sơn trị xạ trước (chú) hữu”. Tạm dịch : Vào trung tuần tháng bảy năm thứ năm đời Nguyên Sơ ( năm 143 sau Công nguyên) Lý Văn Sơn người Tây Vu điều hành việc đúc đồng. Huyện Tây Vu khi này đã là huyện nhỏ do Mã Viện tách ra từ huyện Tây Vu cũ thành ba huyện : Tây Vu, Phong Châu và Vọng Hải. Huyện Tây Vu đời Nguyên Sơ bao gồm cả vùng đất Bắc Ninh, Bắc Giang trọng tâm là các vùng Quế Võ, Phả Lại, Thiên Thai... Trên một chiếc vò sành đời Hán được Clemant Huet sưu tầm tại Thanh Hóa trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, hiện trưng bày tại gian Việt Nam của Bảo tàng Hoàng gia Bỉ về Nghệ thuật và Lịch sử (Brussel) có khắc dòng chữ :”Kiến hòa tam niên nhuận nguyệt trấp nhật Lý thị tác”. Tạm dịch: Họ Lý sản xuất ngày hai mươi tháng nhuận năm thứ ba đời Kiến Hòa (năm 149 sau Công nguyên). Chúng ta sẽ không sa đà đi quá sâu về vấn đề gương đồng ở đây. Hiện tượng gương họ Lý xuất hiện ở Việt Nam không thể tách rời sự hiện diện của dòng họ đó. Các gương minh văn ghi họ đều không phải là hàng thương mại. Chúng gắn với từng dòng họ cụ thể, dùng để vinh tôn chủ nhân dòng họ hoặc làm quà tặng những nhân vật quyền quý trong xã hội. Kết hợp với các nguồn tài liệu khác, chúng ta có thể xác nhận sự hiện diện của một dòng họ Lý có tiềm lực về kinh tế, chính trị trong thời kỳ đầu lịch sử Bắc thuộc ở Việt Nam. *Họ Lý Việt Nam và họ Lý Trung Quốc Nhân vật lịch sử họ Lý người Giao Châu làm quan đời Hán được ghi nhận sớm nhất là Lý Tiến, tự là Đăng Cao ( năm 137sau CN). Niên đại này rất phù hợp với những gương đồng Lý thị tác kính và những hiện vật khảo cổ học có minh văn “Lý thị” đã phát hiện ở Việt Nam. Trước đó, truyền thuyết dân gian ghi nhận nhân vật họ Lý người Việt làm tướng đời nhà Tần là Lý Ông Trọng, đền thờ rất linh thiêng ở Chèm, huyện Từ Liêm, phía bắc Hà Nội. Theo thần tích Đền Chèm, Lý Ông Trọng tên thật là Lý Thân (Thận) - chú ý Thận mang hành là Thủy, người làng Chèm, sống ở thời Hùng Duệ Vương (Hùng Vương thứ 18) và thời An Dương Vương. Ông có sức vóc to lớn, giỏi võ nghệ, giúp nhà Tần đánh đuổi giặc Hung Nô. Sau khi Lý Ông Trọng về quê, quân Tần làm tượng đồng giả hình nhân khổng lồ của ông để dọa đánh quân Hung Nô. Truyện Lý Ông Trọng trong Việt Điện U Linh nhưng trong chính sử Trung Quốc - sử ký Tư Mã Thiên lại không nói về Lý Ông Trọng. Một ông thành hoàng họ Lý khác hiện được thờ ở đền Bạch Mã (phố hàng Buồm, Hà Nội) là Lý Tiến đã giúp vua Hùng đánh giặc Ân cùng thời thánh Gióng. Thống kê những nhân vật lịch sử có liên quan đến thời Bắc thuộc, ta nhận thấy hàng chục thứ sử, thái thú hay hào trưởng, quan lại mang danh họ Lý. Người họ Lý là Lý Thiện, người Nam Dương (Hồ Nam) là quan sớm nhất với chức Thái Thú Nhật Nam và Cửu Chân đời Hán Hiển Tông. Tuy nhiên, trong số các nhân vật họ Lý được lưu danh không phải ai cũng có nguồn gốc Giao Chỉ. Khi phân tích về Sĩ Nhiếp và Lý Bí, các sử gia đều nhắc đến nguồn gốc bao nhiêu đời đến và sống ở Giao Chỉ. Điều đó có nghĩa rằng số dân từ vùng khác đến ngụ cư ở đồng bằng sông Hồng hồi đầu Công nguyên rất lớn. Tổ Lý Bí cũng từ phía bắc sang đất Việt sớm hơn, từ thời Tây Hán, qua bảy đời thành người Việt. Đến thời Lý Bí tính ra cũng trải hơn 20 đời. Dòng họ Lý, theo thống kê gần đây nhất, đứng đầu Bách Tính của Trung Quốc về số lượng người. Tình hình có lẽ cũng tương tự ở Việt Nam nếu tính một số lượng lớn dòng họ Nguyễn chuyển sang từ họ Lý trong đời nhà Trần. Có hai lý do giải thích hiện tượng này và đều liên quan đến các họ Lý thời bắc thuộc. Thứ nhất, trong khối Bách Việt vùng Lĩnh Nam có một khối lượng lớn các tộc Lý - Lão (Lee, Liao). Dưới tác động của Trung Nguyên thời nhà Chu (Xuân Thu - Chiến Quốc), nhiều nhóm tộc đã tham gia chính sự Trung Nguyên hoặc tự hình thành các mô hình tổ chức xã hội kiểu Chiefdom ( thủ lĩnh). Theo cách đặt tên, họ truyền thống, thì địa danh, tộc danh sẽ được dùng cho tính danh, quốc danh. Vì vậy, tùy mức độ phát triển mà những cư dân của các chiefdom, tiểu quốc Lý, Lão vùng Lĩnh Nam chuyển mang họ Lý. Sau này, chúng ta sẽ lấy làm dễ hiểu tại sao trong chiến cuộc chống quân Lương, Lý Bí, Lý Thiên Bảo, Lý Phật Tử lại thường hay rút về các động Lão, Ai Lao... Khối họ Lý lớn nhất xuất hiện vào khoảng Chiến Quốc - Tần Hán, mang đậm màu sắc bản địa Lĩnh Nam gắn bó chặt chẽ với văn hóa Yue (Việt) . Trong quá trình Hán hóa, một bộ phận các tộc danh Lý ở Lĩnh Nam đã dần biến thành họ Hoa, một bộ phận ở Giao Châu trở thành họ Việt. Rất có thể họ Lê ở Việt Nam cũng bắt nguồn sâu sắc từ một nhánh Lý Lão nào đó giống như họ Lý. Thứ hai, họ Lý trong quá trình phát triển ở Trung Nguyên đã mở ra một triều đại rực rỡ vào loại nhất trong lịch sử Trung Hoa, đó là nhà Đường với vị hoàng đế đầu tiên là Lý Thế Dân. Hào quang của nhà Đường đã lôi cuốn tiếp các tộc người nhỏ ở Giang Nam, Tây Tạng, Sơn Đông, Mãn Châu còn trong tình trạng cộng đồng nguyên thủy nhận họ Lý. Đó là lớp họ Lý thứ hai mang đậm màu sắc ảnh hưởng của họ Lý Hoa Hạ thời Đường. * Tạo lập vương triều Chúng ta cần nhấn mạnh vai trò họ Lý thời bắc thuộc, bởi trong thời kỳ này có nhiều danh nhân họ Lý là sợi dây gìn giữ và phát triển bản chất cát cứ, độc lập của Giao Chỉ và cuối cùng đã góp phần tạo lập vương Triều Lý, nền tảng Đại Việt vững vàng với kinh đô ngàn năm Thăng Long. Thống kê danh sách hàng ngũ quan lại hàng đầu đã cai trị Giao Châu trong thời bắc thuộc (Thứ sử, Thái thú, Đô Úy, Tiết độ sứ…) có thể nhận thấy trung bình mỗi thế kỷ xuất hiện vài ba người họ Lý, trong đó có những thứ sử họ Lý đã từng chủ chương cát cứ độc lập. Tiêu biểu nhất là cuộc nổi dậy của Lý Bí lập nước Vạn Xuân giữa thế kỷ 6. Điều đó chứng tỏ họ Lý ở Giao Châu chẳng những tiếp tục tồn tại và phát triển, hình thành một nhóm tộc hùng mạnh ở vùng đất Tây Vu, Phong Khê, Long Biên cũ mà còn mở rộng ra nhiều địa bàn của Giao Châu. Trong thời loạn 12 sứ quân, đó là lực lượng nòng cốt của sứ quân Lý Khuê (Lãng Công). Sứ quân này trấn trị vùng Siêu Loại, tức vùng văn hóa lịch sử sông Dâu, sông Đuống, Luy Lâu thời Hán. Thế hệ tiên tổ của Lý Công Uẩn tương truyền từ đất Mân trở về hẳn đã bắt rễ với nhóm tộc Lý này. Sau ngày lập quốc, chính đây trở thành vùng “đất tổ” của dòng vương thất Lý. Ảnh : Gương đồng thời Lý Tiến, Lý Cầm (cuối TK 2 sau CN) phát hiện ở vùng Kinh Môn (Hải Dương). Chữ Lý bắt đầu sau hai chấm nổi ở góc tây nam gương. Sau khi nhà Trần diệt nhà Lý đã chủ chương làm tuyệt dòng họ Lý bằng cách đổi toàn bộ họ Lý ra họ Nguyễn. Chữ Lý trở thành một chữ cấm kỵ trong mấy trăm năm đời Trần. Vì vậy, họ Lý trở nên ít ỏi như ngày nay, thay vào đó là vô số họ Nguyễn. Vì thế không nên quên rằng Lý Công Uẩn đã có thể thực hiện được các ý tưởng chính trị của mình, trong đó có việc quyết định dời đô, là có nhờ vào lực lượng đông đảo các dòng tộc Lý ở Giao Châu đương thời./. Tài liệu tham khảo : Ueno Yoshifumi, 2003, The Lines of Pan Long Jing Mirrors, trong Bulletin of the National Museum of Japanese History, vol. 100, March 2003, tr.10. Quảng Châu Hán mộ, Bắc kinh, 1984. Gương đồng ở Quảng Tây, NXB Văn Vật, Bắc kinh, 2004, tr. 91. Quảng Đông tỉnh Bác vật quán, 1981, Quảng Đông tỉnh Đức Khánh Đại Diệu Sơn Thạc Kiến Đông Hán văn vật, trong Khảo cổ, số 4-1981. Schotsmans, Janine, 1986, Clemant Huet and the origins of the Vietnamese Collection of the Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels. Trong Southeast Asian Archaeology 1986, I. and E. Glover biên tập, BAR International Series, tr. 241-250. Người trao chìa khóa thành Đại La cho Lý Công Uẩn [1/11/2010] Ai là người trao “sổ đỏ”thành Đại La cho Lý Công Uẩn ? Nguyễn Việt Thành Đại La bản chất là tòa thành thuộc Tùy Đường khi trở thành kinh đô Thăng Long vào tháng 7 năm 1010 đã là một kinh đô Đại Việt được chuẩn bị hoàn tất. Thời gian chuẩn bị ngắn ngủi chỉ vài tháng trời không thể đủ nếu phải xây dựng một kinh đô mới. Vậy nền tảng vật chất cho kinh đô mới Thăng Long đã được chuẩn bị như thế nào? Bài viết sau đây của TS Nguyễn Việt sẽ đưa ra một cách lý giải về điều này. * Chuẩn bị dời đô chỉ trong 5 tháng Tháng 7 âm lịch năm 1010, thuyền rồng đưa triều đình nhà Lý từ Hoa Lư cập bến dưới chân thành Đại La. Theo biên niên sử, ý tưởng dời đô có thể hình thành thực sự từ mùa xuân năm đó. Vốn là, sau khi lên ngôi cuối năm 1009, Lý Công Uẩn thu xếp việc triều chính, làm lễ lên ngôi, ăn Tết ở Hoa Lư rồi tháng hai năm 1010 về thăm quê Cổ Pháp (Bắc Ninh). Đối với Lý Công Uẩn, ý tưởng tái lập nơi đặt bộ máy điều hành đất nước ở vị trí trung tâm đồng bằng sông Hồng – là trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa của đất nước đương thời hẳn đã hình thành từ lâu, nhưng thời điểm mang tính quyết định rời đô từ Hoa Lư về Đại La hẳn đã xuất phát từ cuộc thăm quê mùa xuân năm 1010. Chúng ta đều biết, Lý Công Uẩn người gốc Giao Châu, được giới thiệu xung cấm vệ quân từ hơn mười năm trước, dưới triều nhà Tiền Lê. Từ đó, cuộc sống của viên tướng cấm vệ, rồi lấy vợ, sinh con đã gắn liền ông với kinh đô Hoa Lư. Nhưng ngay sau khi lên ngôi, ông đã về thăm quê và hình thành rất nhanh quyết định dời đô. Chỉ ba tháng sau khi thăm quê, tức vào tháng năm năm ấy, ông đã hoàn chỉnh kế hoạch dời đô và chính thức tuyên bố trước triều đình bằng Chiếu Dời đô. Như vậy công cuộc thực sự chuẩn bị cho Dời đô chỉ diễn ra trong vòng năm tháng trời (từ tháng hai đến tháng bảy năm 1010). Sử sách ghi nhận, ngay khi chuyển về kinh đô Thăng Long, triều đình đã ổn định được ngay. Các ghi chép sau đó về việc xây dựng thêm các cung điện chỉ là để mở rộng các hoạt động của triều đình. Điều đó chứng tỏ tòa thành Đại La khi trở thành kinh đô Thăng Long vào tháng 7 năm 1010 đã là một kinh đô Việt được chuẩn bị hoàn tất. Sự chuẩn bị này có thể được tăng cường từ tháng 5, tức sau Chiếu Dời đô. Nhưng rõ ràng thời gian ngắn ngủi chưa đày 2 tháng trời không thể đủ nếu phải xây dựng một kinh đô mới. Vậy nền tảng vật chất cho kinh đô mới Thăng Long đã được chuẩn bị như thế nào?. * Thời Lý Bí đã từng lập thành bên sông Tô và lược sử thành Đại La Lịch sử chọn mảnh đất Thăng Long làm trung tâm đất nước sớm nhất có thể bắt đầu với lũy thành Tô Lịch của Lý Bí trong cuộc chiến chống quân Lương thế kỷ 6. Đây là lũy thành quân sự được Lý Nam Đế xây dựng từ trước. Sau khi thất trận ở Chu Diên (vùng Hưng Yên, Hà Nam), quân đội nước Vạn Xuân đã rút về cố thủ tại đây. Chúng ta chưa có nhiều bằng chứng để khẳng định lũy thành này là kinh đô của nước Vạn Xuân đương thời. Nhưng dường như do hoạt động của triều đình nước Vạn Xuân dày đặc ở vùng quanh Hà Nội ngày nay như Long Biên, Ô Diên, Dạ Trạch... nên sau khi bình định lại Giao Châu, xuất hiện tên một huyện mới là Tống Bình, tương truyền do nhà sơ Tống (một trong số Lục Triều – sáu triều đại thay nhau trị vì Trung Quốc sau thời Tam Quốc, thế kỷ 4-6) đặt ra, trong đó có một phần Hà Nội ngày nay. Đầu thế kỷ 7, thứ sử nhà Tùy là Khâu Hòa đã đặt thủ phủ Đô hộ Giao Châu ở Tống Bình và xây thành lũy đô hộ phủ đầu tiên ở kề sông Tô Lịch vào khoảng thời gian đó. Tòa thành của Khâu Hòa có tên là “Tử thành”. Tử thành (hay Tử Cấm thành) là cách gọi những vòng thành trung tâm trong cùng để bảo vệ vua và hoàng thất. Ở Giao Châu, đó là nơi che chở cho bộ máy đô hộ cao nhất, nơi ở và điều hành của Thứ sử. Chúng tôi cho rằng vị trí “Tử thành” hẳn đã được chọn tâm điểm ở ngay trên gò Nùng nay là vị trí điện Kính Thiên. Các đời về sau, đã đều duy trì điểm cao tâm linh đắc địa này. Dấu vết gạch ngói, giếng nước có niên đại Tùy Đường khai quật được ở khu vực Hoàng Thành gần đây đã xác nhận sự có mặt của kiến trúc Tùy Đường trong Hoàng Thành. Thành La rồi Đại La sau này được nhiều đời thứ sử tu bổ, mở rộng, trong đó chủ yếu tập trung vào việc xây dựng vòng thành bao bên ngoài Tử thành, tức vòng thành hiện nay còn lại dấu vết, trên đó có những đoạn trùng với tòa thành vô băng xây dựng vào đời Nguyễn và vòng đê thành bao dọc theo sông Tô Lịch và sông Hồng mở rộng hơn về phía tây và phía nam Hoàng thành. Tiêu biểu nhất đối với thành Đại La là công cuộc hoàn thiện của Cao Biền cuối thế kỷ 8 đầu thế kỷ 9. * Người sửa tòa thành hướng Bắc thành hướng Nam Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng tòa thành Đại La bắt đầu từ Khâu Hòa đến Cao Biền đều xây dựng theo thể chế thành trì địa phương của đế chế Tùy, Đường. Có nghĩa rằng các mặt chính của tòa thành và dinh thự hành chính đều ngảnh về phía nơi Hoàng Đế nhà Tùy, Đường ngự trị. Thành Đại La cũng như thành Luy Lâu do Sĩ Nhiếp đắp trước đó đều mang bản chất là thành hướng bắc. Dựa vào ghi chép trong An Nam chí lược và Việt Sử lược (sách viết vào khoảng đời Trần) thì tòa thành Đại La do Trương Bá Nghi và Cao Biền đắp đều có bốn mặt hướng đông, tây, nam, bắc. Ghi chép của An Nam chí lược về tòa thành do Trương Bá Nghi đắp cho biết rõ mặt thành phía bắc là mặt chính, mở ba cửa và trên đó đều có lầu che. Hai mặt đông tây cũng có ba cửa không lầu che. Riêng mặt nam là mặt thông với khu dân cư mở tới 5 cửa trên đặt trống, loa. Như vậy, cũng giống như Luy Lâu, mặt nam thành tuy là mặt phụ nhưng lại dành cho các hoạt dộng dân cư, còn mặt chính mang tính nghi lễ ngảnh về phía bắc. Vậy tòa thành vốn hướng bắc này trở thành tòa thành hướng nam từ bao giờ ? Trong lịch sử Việt Nam, chắc chắn “sự hướng bắc” của thành Đại La gắn liền với bộ máy thần phục ở Giao Châu với nhà Đường. Đời Tiết độ sứ cuối cùng không phải người Giao Châu là Chu Toàn Dục (905), sau đó do Nhà Đường sụp đổ, Trung Quốc rơi vào tình trạng rối loạn, Nam Bắc triều, Ngũ Đại - Thập Quốc, các thế lực hào trưởng Giao Châu nổi lên chiếm quyền Tiết độ sứ ở, như cha con họ Khúc (Thừa Dụ, Thừa Mỹ), họ Kiều (Công Tiễn), họ Dương (Đình Nghệ). Các Tiết độ sứ này tuy là người Giao cát cứ nhưng trên danh nghĩa vẫn thụ phong và thần phục các triều đình Trung Hoa, vì vậy đến tận khi Ngô Quyền xưng vương (939) tòa thành Đại La vẫn là một tòa Đô hộ phủ hướng bắc. Có lẽ, đó là lý do Ngô Quyền không chọn Đại La làm kinh đô mà chọn Cổ Loa, một tòa thành bản chất hướng Nam. Thành Đại La gần như bỏ hoang từ những năm 939 đến khi Đinh Tiên Hoàng thống lĩnh thiên hạ lập nước Đại Cồ Việt. Tuy nhiên, kinh đô Nhà Tiền Lê lại được chọn đặt ở nơi hiểm yếu Hoa Lư đất Trường Châu (Ninh Bình hiện nay). Thành Đại La với cương vị trung tâm quản lý, điều hành mọi sự ở Giao Châu được giao cho Đô hộ phủ Thái sư Lưu Cơ, người đồng hương và cũng là tên đứng đầu trong hàng quan được danh xưng trong buổi lễ lên ngôi Hoàng đế của Đinh Tiên Hoàng. Vai trò của Lưu Cơ vì thế có thể sánh ngang hàng Phó Vương giúp Đinh Tiên Hoàng cai quản phần đất trọng yếu và nhiều tiềm năng kinh tế nhất của đất nước đương thời, đó là toàn bộ miền Bắc nước ta từ Ninh Bình hất trở lên. Lưu Cơ là ai ? Chúng tôi sẽ dành một bài dành riêng viết về nhân vật lịch sử kín đáo này. Ở đây chỉ giới thiệu tóm tắt. Theo thần tích và ghi chép trong sử sách thì Lưu Cơ người Ái Châu (vùng đất có lúc bao gồm cả khu vực Thanh Hóa và Ninh Bình hiện nay), quê ở Bồ Bát, Bạch Liên, Yên Mô tức thuộc đất Ninh Bình, là đồng hương gần với Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc, Lê Hoàn. Lớn lên theo học Tri Hối tiên sinh ở Gia Viễn. Sau khi cha mẹ mất, ngoài 20 tuổi ông theo Đinh Bộ Lĩnh đánh giặc, trực tiếp dẹp sứ quân Lý Khuê ở Siêu Loại. Trong buổi thiết triều xưng danh quan tước đầu tiên của triều đình nhà Đinh, theo Việt sử lược, ông đứng tên đầu và được trao chức Thái sư Đô hộ phủ, cai quản toàn bộ Giao Châu, đóng đại bản doanh ở Phủ Đô hộ cũ, tức thành Đại La. Khi đó ông chừng 30 tuổi. Ông làm quan đến gần 70 tuổi thì cáo lão về hưu trí ở quê nhà, ba năm sau thì mất, thọ 73 tuổi. Hiện đền thờ ông còn ở làng Đại Từ, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên (đất Siêu Loại cũ). Tương truyền là nơi ông đóng quân dẹp loạn sứ quân Lý Khuê năm xưa. Như vậy có lẽ chính Lưu Cơ là người đầu tiên biến tòa thành Đại La thuộc địa hướng bắc trở thành một tòa thành hướng nam độc lập tự chủ. Vì khi đó, Hoàng Đế Đại Việt ở Hoa Lư, tức ở về phía nam tòa thành Đại La. Vì vậy, chắc chắn mọi hướng nhìn của cổng thành và dinh thự đời các Tiết độ sứ cũ phải được sửa đổi. Ðó chính là điều lý giải hợp lý nhất cho sự có mặt phong phú di tích kiến trúc Hoa Lư tại các cuộc khai quật Hoàng Thành Thăng Long gần đây. *Không thể quên vai trò của Lưu Cơ dịp 1000 năm Thăng Long Theo ghi chép của thần phả, thần tích thì có lẽ Lưu Cơ trông coi tòa thành này cho đến khi cáo quan về hưu năm gần 70 tuổi. Như vậy, chẳng những Lưu Cơ là người đã cai quản và tu sửa thành Đại La của An Nam Đô hộ Phủ nhà Đường trở nên một tòa thành Đại Việt, mà ông còn là người chuẩn bị mọi điều kiện cơ sở hạ tầng cho cuộc rời đô của Lý Công Uẩn. Chính điều này giải thích tại sao chỉ trong một thời gian rất ngắn, triều đình nhà Lý đã có thể di chuyển từ Hoa Lư ra Thăng Long. Vậy là chúng ta đã tìm ra chính Lưu Cơ là người đã trao chìa khóa và “sổ đỏ” tòa La thành Đại Việt cho Lý Công Uẩn sau hơn 40 năm trông coi tu tạo tòa thành này. Với ý nghĩa đó, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long không thể quên vai trò của vị Thái sư người Ái châu đáng kính này./.
  12. Triệu Đà Phát tích Họ tộc Triệu là một họ tộc phát triển sớm ở trung lưu sông Hoàng Hà. Từ thời Xuân Thu, khi nhà Chu khởi nghiệp Thiên tử, Triệu tộc là một trong số các chư hầu hùng mạnh. Liên minh Triệu, Nguỵ, Hàn nổi tiếng trong thời Chiến Quốc vốn dĩ là dư ảnh của một liên minh bộ lạc trước thời lập quốc cua ba dòng tộc lớn mà tộc danh sau đó đã trở thành quốc danh. Cuối thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, nước Triệu là một tiểu quốc láng giềng hùng mạnh của nước Tần, đã từng giữ thái tử nhà Tần – cha của Tần Thuỷ Hoàng làm con tin. Khi Tần Thuỷ hoàng thống nhất Trung Hoa, Triệu tộc hoàng thất gần như bị tuyệt diệt. Con dân nước Triệu tuân theo chính thể mới của đế chế Trung Hoa đầu tiên. Nhiều người họ Triệu làm quan cho nhà Tần (Triệu Cao chẳng hạn). Triệu Đà vốn là một con dân tộc Triệu của nước Tần thống nhất, đã tham gia đội quân chinh phục vùng đất Việt phương nam. Sử ký, một cuốn sách do Tư Mã Thiên, người sinh sau Triệu Đà khoảng 100 năm cho biết, quê Triệu Đà ở Chân Định (Hà Bắc, Trung Quốc). Sự việc này đáng tin, bởi vì sau khi Triệu Đà xưng đế cát cứ ở Phiên Ngung quận Nam Hải (Quảng Châu), nhà Hán đã cho người phá mồ mả tổ tiên Triệu Đà ở quê, sau này, qua bức thư của Hán Văn Đế phủ dụ Triệu Đà có nói đến việc Hán Văn Đế cho người sửa sang trông nom mồ mả và họ hàng Triệu Đà. Đây là sự kiện lớn được nhiều sử sách đương thời và sau này ghi nhận. Như vậy ông là người Hoa Hạ chính gốc. Có mấy sự kiện giúp xác định thời điểm Triệu Đà sống cùng với người Việt. Hán thư có một dòng cho biết Triệu Đà tham gia nam chinh năm 20 tuổi, trước khi Lưu Bang lập nhà Tây Hán 13 năm , tức Tần Thuỷ Hoàng năm 28 ( năm 219 trước Công nguyên). Như vậy, theo những nghiên cứu mới nhất, Triệu Đà sinh vào khoảng 239 trước Công nguyên, mất vào năm Kiến Nguyên tứ niên (137 trước Công nguyên), thọ 102 tuổi. Tuy là người Hoa Hạ, nhưng theo Sử ký cũng như ghi chép trong Hán thư, ông sớm cùng chủ tướng của mình là Nhâm Ngao có ý định cát cứ. Nhất là sau khi Tần Thuỷ Hoàng bị Lưu Bang, Hạng Vũ tiêu diệt lập ra nhà Hán, tư tưởng lập quốc gia riêng chống Hán của Triệu Đà thể hiện rất rõ. Lực lượng quân Tần do ông chỉ huy trở thành đám tướng lĩnh lưu vong. Hoặc phải đầu hàng nhà Hán, hoặc tiếp tục chống lại nhà Hán. Ông đã chọn con đường chống Hán. Chỗ dựa chính để Triệu Đà chống Hán chính là địa danh nhân kiệt Bách Việt. Nên nhớ rằng, Nhâm Ngao, Triệu Đà cùng quân đội Tần mới chỉ cai trị ở một vùng đất mới lạ này trong vòng 13 năm thì nhà Tần xụp đổ (từ 219 đến 207 trước Công nguyên) . 13 năm thời gian là quá ngắn ngủi để tạo dựng một thể chế hoàn chỉnh và một nền văn hoá mới. Vì vậy, đội quân Tần không hàng Hán muốn tồn tại được ở đất Bách Việt phải trở thành đội quân Bách Việt. Đó là lý do tại sao Triệu Đà không thể lập lại một nước Triệu của nhà Triệu theo họ của mình mà phải chọn tên nước là Nam Việt. Bản thân ông lấy vợ người Việt, đền thờ một trong số phu nhân người Việt của ông hiện ở Đồng (Đường) Xâm (Kiến Xương, Thái Bình). Trọng Thuỷ là con Triệu Đà cũng gửi rể Âu Lạc. Những nghiên cứu về đồ tuỳ táng chôn trong các khu mộ táng Nam Việt cũng như xương cốt và ADN cổ phản ánh rõ ràng ưu thế Việt tộc trong quốc gia Nam Việt của Triệu Đà. Trong mộ vua Nam Việt cũng như mộ các quan thứ sử, huyện lệnh Nam Việt đều chôn theo những bảo vật của người Việt thuộc nhóm văn hoá Đông Sơn, như trống đồng, thạp đồng, rìu chiến và nỏ...Gần đây, chúng tôi nhận thấy chiếc thạp đồng Đông Sơn số 2505-29 thuộc Bảo tàng Barbier-Mueller ở Geneve rất giống chiếc thạp chôn trong mộ của Nam Việt Văn đế Triệu Muội, cháu ruột Triệu Đà và là vị vua thứ hai của Nam Việt . Chiếc thạp mới phát hiện này có khắc 22 chữ Hán theo phong cách Nam Việt, trong đó hai chữ đầu ghi địa danh có thể đọc được là Long Xoang. Theo chúng tôi rất có thể đây là một biến âm của chữ Long Xuyên, nơi Triệu Đà làm huyện lệnh trước khi lập nước Nam Việt. Như vậy, có thể đây chính là chiếc thạp liên quan đến Triệu Đà. Chiếc thạp trong mộ Triệu Muội có thể là do Triệu Đà ban tặng lại. Nước Nam Việt do Triệu Đà lập ra rõ ràng là một quốc gia của người Việt. Một nhà nước chống laị sự bành chướng của văn hoá Hán. Dưới sức ép của nhà Hán, cũng như Nam Việt, một loạt tiểu quốc Bách Việt khác ra đời : Đông Âu, Tây Âu, Lạc Việt. Sự cọ sát giữa các tiểu quốc này có lẽ cũng tương tự như tình trạng các nước chư hầu dưới thời Chu Thiên tử. Tây Âu đã xát nhập được với Lạc Việt, trở thành Âu Lạc, thủ phủ ở Cổ Loa. Nam Việt gây hấn với Đông Âu rồi cuối cùng thôn tính Âu Lạc trở thành một tiểu quốc hùng mạnh ở khoảng giữa thế kỷ 2 trước Công nguyên. Sau khi Triệu Đà mất, nước Nam Việt bị chia rẽ và suy yếu, bị sát nhập vào nhà Hán sau Đông Âu vài chục năm (111 trước Công nguyên) . Triệu Đà trong chính sử Việt Nam Giao tiếp Hoa Hạ và Bách Việt vào khoảng nửa sau thiên niên kỷ I trước Công nguyên. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đều thừa nhận cuộc vận động nông nghiệp, tụ cư, văn minh và nhà nước sớm ở vùng sông Hoàng và sau đó lan xuống lưu vực sông Hoài, Hán và sông Trường Giang. Với sự hình thành các trung tâm kinh tế chính trị mạnh dưới thời Thương, Chu, thế giới người Hoa Hạ sông Hoàng đã tạo ra một cơn lốc xoáy văn hoá lan rộng ra xung quanh. Về phía nam, cơn lốc văn hoá đó nhanh chóng kích thích các trung tâm văn hoá tiền sử muộn ở trung và hạ lưu sông Trường Giang. Kết quả là sự hình thành một loạt quốc gia mới ở khu vực phương nam, lớn nhất phải kể đến : Sở, Ngô và Việt. Cục diện chiến tranh thời Chiến Quốc đã tao ra một làn sóng di dân hoà bình từ khu vực Hán hoá sớm ở lưu vực Trường Giang (Thục, Sở, Ngô, Việt…) xuống các trung tâm văn hoá Bách Việt thuộc Vân Nam (Điền), Tứ Xuyên (Trung Sơn, Dạ Lang), Ngũ Lĩnh (Quế Lâm, Tượng, Tây Âu ), Đông Hải (Mân, Đông Âu), Nam Hải (Lạc Việt). Đương thời đó là những vùng chịu ảnh hưởng của ba nền văn hoá đồng thau bản địa : Điền (Vân Nam), Ba Thục (Tứ Xuyên) và Đông Sơn (Bắc Việt Nam, Lưỡng Quảng). Bên cạnh các nhóm tộc người Bách Việt bản địa bắt đầu xuất hiện ở Hoa Nam những dòng tộc hoa hạ mới. Sự đan xen văn hoá Hoa Việt đầu tiên giúp thành tạo một hệ thống đồ đồng mới mang tên Hoài thức ở trung và hạ lưu Trường Giang. Cuộc đan xen lần này phức tạp hơn bởi địa hình phương nam bị chia cắt bời nhiều hệ núi cao, sông dày đặc. Vào khoảng cuối thiên niên kỷ I trước công nguyên ở toàn vùng Hoa Nam đã xuất hiện một số vùng văn hoá khác Hán lớn : Điền (Vân Nam), Dạ Lang (Tứ Xuyên, Quý Châu), Đông Âu (Triết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến), Tây Âu (Quảng Tây), Nam Việt (Quảng Đông, Quảng Tây), Lạc Việt (Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc Việt Nam). Trong khi đó văn hoá Đông Sơn còn khá nguyên dạng. Sự biến đổi mới chỉ xuất hiện ở các tỉnh miền núi phía bắc và dọc ven biển miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Tại những nơi này, bộ tuỳ táng Đông Sơn được bổ sung bởi những yếu tố mới mang phong cách phương Bắc, như một số đồ đựng dùng trong lễ nghi, ăn uống và đồ gỗ sơn then. Điển hình nhất là các mộ Đông Sơn chôn trong quan tài thân cây khoét rỗng, như mộ Việt Khê, La Đôi, Kiệt Thượng, Châu Can, Châu Sơn, Phú Lương, Ngoại Độ, Động Xá, Yên Bắc …Khi khai quật các mộ gạch đầu công nguyên tại Việt Nam, nhà khảo cổ học Thuỵ Điển Olop Janse đã mạnh dạn đề xuất khái niệm văn hoá Lạch Trường nhằm diễn tả sự biến đổi của văn hoá Đông Sơn bản địa dưới tác động của các yếu tố văn hoá phương bắc. Trong Hội nghị 100 năm Khảo cổ học Việt Nam (Hà Nội, 12.2001) tôi đã đề xuất mở rông khái niệm văn hoá Lạch Trường với nội dung là sự tham gia của các yếu tố văn hoá phương bắc vào văn hoá Đông Sơn lên đến tận thế kỷ 4,5 trước Công nguyên, tức là với làn sóng nam tiến tránh nạn binh đao từ thời Chiến Quốc, mà Việt Khê là hiện tượng mở đầu tiêu biểu. Hình ảnh phiên chợ đa tộc được mô tả bằng tượng khối trên mặt một trống đồng trong văn hoá Điền khắc hoạ bức tranh sinh động nhất cho hiện tượng giao thoa hội nhập thời Chiến Quốc và hậu Chiến Quốc ở khu vực Hoa Nam này. Trong khung cảnh đó phải thừa nhận ý thức tộc người mặc dầu đã hình thành nhưng chưa xuất hiện ý thức đối kháng và hằn thù dân tộc như sau này. Đó là môi trường mà sử sách đã ghi nhận sự tham gia của cá tộc người phương nam vào dòng chảy văn hoá phương bắc cũng như ngược lại vai trò của các dòng tộc phương bắc trong các thành tựu văn hoá phương nam. Sự tích hình thành Lạc Long Quân, Âu Cơ tạo sinh ra trăm trứng nở thành trăm con trai trong đó có Hùng Vương đầu tiên gắn với chuyến nam du của Kinh Dương vương từ Hồ Động Đình (Hồ Nam, Trung Quốc), Lý Ông Trọng ở đền Chèm. Cuộc chinh phục mang tính quân sự đầu tiên của văn minh Hoa Hạ xuống vùng Bách Việt diễn ra vào đời nhà Tần (cuối thế kỷ 3 trước Công nguyên). Sau nhiều lần bị người Việt đánh bại, đến năm 219 nhà Tần mới khai thông con đường xuống phía nam, lập ra quận huyện ở Nam Hải (vùng Lạc Việt ở Quảng Đông, Quảng Tây và Dương Việt ở Hồ Nam) cũng như ở vùng núi Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên. Đây là lần đầu tiên chính quyền Hoa Hạ xác lập được ở Bách Việt Lĩnh Nam. Cuối đời Tần, quan lại Hoa Hạ của nhà Tần ở cả hai khu vực này đều cát cứ, lập quốc gia riêng cắt đứt quan hệ với Trung Nguyên. Ở Nam Hải, Triệu Đà giết các Trưởng lại người Hoa Hạ, liên kết với người Việt lập ra nước Nam Việt. Nước Nam Việt của người Việt hay người Hoa Hạ Cương vực Địa bàn đầu tiên của nước Nam Việt là quận Nam Hải, gồm vùng núi Hồ Nam (bắc Ngũ Lĩnh) đến Trường Sa (thư Hán Văn đế gửi Triệu Đà), toàn bộ Quảng Đông và một phần Quảng Tây phía ven biển đông nam (mộ Quý huyện La Bạc Loan). Đô thành đóng ở quận lỵ Nam Hải có tê là Phiên Ngung (nay là Quảng Châu). Để cai trị nước mới này, việc đầu tiên, Triệu Đà thay thế tướng lĩnh Hoa Hạ không trung thành với mình bằng thủ lĩnh người Việt (Sử ký, Hán thư, Toàn thư). Cùng một phản ứng như Triệu Đà, nhiều thủ lĩnh bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc các nhóm Bách Việt khác có lãnh thổ giáp ranh với nhà Hán đều xưng vương dưới dạng thần phục hoặc chống lại nhà Hán, như Đông Âu Vương, Mân Việt vương, Dạ Lang vương, Tây Âu vương, Điền vương (và có thể cả Hùng vương nữa). Trong giai đoạn đầu, chưa đủ sức chinh phục, nhà Tây Hán thực hiện chính sách phong vương cho các thủ lĩnh bộ lạc hay tiểu quốc cát cứ vùng biên trấn (thư của Hoài Nam Vương Lưu An, Toàn thư, tr.147). Các tiểu quốc biên trấn quan hệ với Tây Hán dưới dạng thiên tử chư hầu. Nhà Triệu đã từng bước mở rộng lãnh thổ Nam Việt trong phạm vi bang giao hoà bình và quân sự với các tiểu quốc Việt láng giềng. Từ năm 185 trước Công nguyên, sau khi Lã Hậu nhiếp chính đã thực hiện một loạt biện pháp cứng rắn với các tiểu quốc phiên trấn. Đặc biệt là chính sách cấm giao thương biên ải với Nam Việt ở vùng Trường Sa (Hồ Nam). Phản ứng trước chính sách của Lã Cao Hậu, năm 182 trước công nguyên Triệu Đà xưng Đế , tấn công Trường Sa, công khai chống lại nhà Tây Hán. Năm 181 trước công nguyên, nước Nam Việt được mở rộng gần như toàn bộ phần đông của Hoa Nam nhờ việc đã thần phục được cả Đông Việt (Triết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến), Âu Lạc (Quảng Tây và Bắc Việt Nam). Có hai viên quan dưới thời Triệu Đà đã sang quản lý Giao Chỉ và Cửu Chân, sau khi nước Nam Việt mất, nhờ việc đem nộp sổ hộ khẩu hai quận này mà cả hai được nhà Tây Hán cho tiếp tục làm quan coi đất cũ. Điều này cho thấy việc ghi nhận Kỷ Nhà Triệu tính từ năm 181 trước Công nguyên của Việt Sử lược là xuất phát từ khi Âu Lạc (Giao Chỉ, Cửu Chân) xát nhập vào Nam Việt là có cơ sở. Triều đình và hoàng thất Triều đình Nam Việt còn mang nặng màu sắc chế độ thủ lĩnh bộ lạc. Điều này được sứ giả nhà Hán là Lục Giả mô tả lại rất rõ qua hai lần đi sứ sang Phiên Ngung (“vua ngồi xổm tiếp sứ giả”). Văn tự Hán ở Nam Việt rất kém phát triển. Có thể nhận thấy thông qua những minh văn chữ Hán được khắc rất xấu và mắc nhiều lỗi chính tả trên cả những đồ ngự dụng dành riêng cho Hoàng Đế và phu nhân trong mộ Nam Việt Văn Đế Triệu Muội. Nước Nam Việt tuy của một ông vua Hoa Hạ nhưng duy trì nhiều phong tục và luật lệ hoàn toàn khác Hán. Dường như ông cháu Triệu Đà đã cố tình duy trì như vậy để khắc hoạ tính khác Hán của triều đình Nam Việt của người Việt. Bản thân Triệu Đà lấy vợ Việt . Đến đời con là Trọng Thuỷ tương truyền cũng gửi rể Âu Lạc. Vị vua thứ năm (Thuật Dương Vương) cũng lấy vợ người Việt. Có lẽ chỉ có Anh Tề (vua thứ ba) lấy vợ họ Cù người Hán khi làm Thái tử con tin sống trên đất Hán. Năm 111 nước Nam Việt mất vào tay nhà Tây Hán sau 93 năm tồn tại, trong đó riêng Triệu Đà đã ở ngôi điều hành đất nước tới 71 năm. Hoàng thất họ Triệu đã là thành tố chính hình thành một dòng tộc Triệu lớn mạnh hiện còn phổ biến trong số người Choang, Tày Nùng ở Quảng Tây và các tỉnh biên giới miền bắc nước ta như Cao Bàng, Hà Giang, Bắc Cạn, Lạng Sơn… Khảo cổ học Việt Nam đã khai quật được những gương đồng ghi rõ minh văn “Triệu thị tác kính” thuộc những thế kỷ đầu công nguyên. Họ Triệu cũng từng hai lần phục quốc thành công trong thời bắc thuộc với Triệu Quốc Đạt cùng em gái là Triệu Thị Trinh (Triệu Ẩu) vào thế kỷ thứ 2, và Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương) vào thế kỷ thứ 6. Triệu Đà trong chính sử Việt Nam Thái độ của sử gia Việt Nam qua các đời đối với Triệu Đà Triệu Đà và nước Nam Việt được ghi chép rất sớm trong chính sử Trung Quốc. Chính sử Việt Nam được xây dựng chính thức dưới triều đại nhà Lý, nhưng sách sử còn lại hiện chỉ có ở đời nhà Trần. Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu đời Trần hiện còn lưu lại trong Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư) đời Lê rồi sau đó được biên dẫn lại trong Việt sử Thông giám cương mục đời Nguyễn. Ngay từ những cuốn sử chính thống đầu tiên đó, nền sử học chính thống của nước ta đã ghi nhận vai trò của những nhân vật lịch sử đã có công trong việc tạo dựng và dành lại độc lập dân tộc. Lời than của Lê Văn Hưu được ghi lại trong Toàn thư (tập 1, tr.160) khi nhận định về tình trạng đất nước dưới quyền thống trị của các thứ sử, thái thú nhà Hán phản ánh tâm trạng của nhân dân, triều đình và sử gia Việt Nam đương thời :”Xem sử đến thời nước Việt ta không có vua, bị bọn thứ sử người Bắc tham tàn làm khổ, Bắc kinh đường xa không biết kêu vào đâu, bất giác xen lẫn cảm thương hổ thẹn, muốn tỏ lòng thành như Minh Tông nhà Hậu đường, thường thắp hương khấn trời : Xin trời vì nước Việt ta sớm sinh thánh nhân, tự làm đế nước nhà, để khỏi bị người phương Bắc cướp vét”. Vì vậy, phàm bất kể nhân vật thuộc gốc tích thế nào mà có ý tưởng và hành động đem lại độc lập cho nước Việt đều được nhà nước Lý, Trần và các sử gia tôn vinh. Đó là lý do tại sao Kỷ Nhà Triệu và Kỷ Sĩ Vương đã tồn tại suốt trong chính sử phong kiến Việt Nam. Việc “Bình Ngô Đại cáo” do Nguyễn Trãi soạn đã tuyên nhà Triệu lên mở đầu cho chuỗi triều đại độc lập của Việt Nam (“Trải qua Triệu, Đinh, Lê, Lý, Trần…”) cũng nằm trong hệ tư tưởng chung đó. Có thể nói, Lê Văn Hưu là người đã thiết lập nền nếp đó, khi ông nhận xét về Triệu Đà :” Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là “lão phu”, mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu bắt chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân tâm, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương bắc không thể lại ngấp nghé được”. Tuy nhiên, nếu chúng ta so sánh kỹ về kỷ nhà Triệu trong Đại Việt sử ký toàn thư và Việt Sử lược ta thấy Việt Sử lược chỉ tính nhà Triệu có 74 năm thôi chứ không phải 93 năm như Toàn thư. Do đâu mà có sự sai khác đó ? Đó là tác giả Việt Sử lược chỉ tính thời gian nhà Triệu từ khi sát nhập Âu Lạc vào Nam Việt mà thôi, trong khi Toàn thư tính toàn bộ thời gian tồn tại của Nam Việt. Triệu Đà và nước Nam Việt bắt đầu bị phê phán để đưa ra khỏi chính sử Việt Nam từ Ngô Thì Sĩ khi ông viết Việt sử Tiêu án dưới thời Tây Sơn cuối thế kỷ 18. Đây là thời kỳ dân tộc ta vừa trải những biến động xã hội lớn, trong đó xuất hiện những tư tưởng chống xâm lược, phục hưng dân tộc phi thường của Quang Trung Nguyễn Huệ đồng thời xuất hiện tư tưởng bán nước, cõng rắn cắn gà nhà của Gia Long Nguyễn Ánh và Lê Chiêu Thống. Trong hoàn cảnh đó xuất hiện ý thức bài ngoại trong hệ tư tưởng một số sử gia Việt Nam. Với hệ tư tưởng đó, Triệu Đà, Sĩ Nhiếp là những người gốc Hoa Hạ đương nhiên không thể được tôn vinh như trước nữa. Quốc Sử quán triều Nguyễn sau đó đã tôn trọng quan niệm của những người viết sử thời Trần, Lê về Triệu Đà và Sĩ Nhiếp. Thậm chí, để tôn vinh lại quốc hiệu Việt, triều đình nhà Nguyễn đã từng tái sử dụng quốc hiệu “Nam Việt” và danh xưng “Hoàng Đế” của Triệu Đà nhằm đối chọi với mưu đồ bành chướng của nhà Thanh. Hai ngôi đền thờ Triệu Đà hiện còn ở Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên) và Đồng Xâm (Kiến Xương, Thái Bình) đều nhận được sắc phong ca tụng công đức và kinh phí tu sửa của các đời vua Lê, Nguyễn. Đó cũng chính là ý nguyện của những người dân trong vùng. Trong thời đại chúng ta, Lãnh tụ Hồ Chí Minh khi sử dụng lịch sử như một vũ khí động viên tinh thần yêu nước của nhân dân, đã tiếp thu tư tưởng làm sử truyền thống đó khi Người cũng mở đầu chuỗi các triều đại Việt Nam độc lập bằng nhà Triệu . Cho đến ngày hôm nay, không phải mọi nhà sử học đều có cùng quan điểm đánh giá tích cực về Triệu Đà và nước Nam Việt, trong đó tiêu biểu nhất là ý kiến có phần cực đoan của ông Lê Mạnh Thát trong tác phẩm : “Lục độ tập kinh và Lịch sử khởi nguyên dân tộc Việt”. Một số tư liệu khảo cổ có liên quan đến Triệu Đà và nước Nam Việt 1- Mộ táng thời Nam Việt ở Quảng Đông, Quảng Tây Nam Việt tồn tại 93 năm (207 đến 111 trước Công nguyên). Về mặt khảo cổ học chúng ta có một hệ thống mộ táng thuộc thế kỷ 2 trước Công nguyên ở Quảng Đông, Quảng Tây làm chuẩn so sánh cho khái niệm khảo cổ học Nam Việt. Tiêu biểu nhất là mộ Nam Việt Văn Đế Triệu Muội Quảng Châu, Quảng Đông, mộ một viên quan thuộc hàng huyện lệnh ở La Bạc Loan, Quý Huyện, Quảng Tây và hệ thống mộ Quảng Châu, Hợp Phố được xếp vào niên đại Tây Hán sớm. Thoạt đầu, các nhà khảo cổ học Trung Quốc xếp các mộ này vào văn hoá Tây Hán nói chung. Nhưng càng ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng như quốc tế ưa dùng thuật ngữ Nam Việt hay Giao Chỉ để hàm chỉ sự khác biệt mang tính địa phương của văn hoá khảo cổ dưới tác động của nước Nam Việt tương tự như hiện tượng nền văn hoá vào thời Tây Hán nhưng rất khác Hán ở Vân Nam (văn hoá Điền). Nền tảng của nền văn hoá này là văn hoá đồng thau Bách Việt, trong đó yếu tố Đông Sơn khá đậm nét. Như phần trên đã nói, trước khi đoàn quân Tần nam chinh Bách Việt vào cuối thế kỷ 3 trước Công nguyên, do những biến động chính trị ở lưu vực sông Hoàng Hà, Dương Tử, nhiều quý tộc, thương nhân và bại tướng người Sở, Ngô, Việt (Câu Tiễn) đã di chuyển xuống phía nam hoà nhập với các nhóm Bạch Việt còn lại ở Hoa Nam. Họ có thể là những người gốc Hoa Hạ hoặc là người Bách Việt đã Hoa Hạ hoá trong quá trình dăm bảy trăn năm gia nhập khối chư hầu của nhà Chu, từ thời Xuân Thu qua Chiến Quốc. Sự tham gia của làn sóng này thể hiện ở ba hướng : A - Hướng qua Tứ Xuyên đi vào tây nam đến khu vực Điền Trì mang nặng màu sắc văn hoá Sở. B- Hướng qua Tứ Xuyên, Quế Châu đi vào tây nam Ngũ Lĩnh (Quảng Tây, huyện Văn Sơn thuộc Vân Nam) nơi đầu nguồn của các dòng sông chính đi về phía Đông vào Quảng Đông – sông Tây Giang và vào Việt Nam, sông Hồng, Lô, Chảy. C- Hướng ven biển, từ vùng nước Việt cũ của Câu Tiễn, cửa sông Trường Giang, lưu vực sông Hoài, xuống Đông Âu (Triết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến) và Lạc Việt ở Quảng Đông (Trung Quốc), Quảng Ninh (Việt Nam), đồng bằng ven biển Việt Nam. Chính làn sóng này đã tham gia làm biến đổi màu sắc các nền văn hoá khảo cổ bản địa ở khu vực này, nền tảng cho sự ra đời một loạt tiểu quốc mang màu sắc chế độ thủ lĩnh phương nam, như Điền, Dạ Lang, Tây Âu, Nam Việt, Đông Âu, Mân Việt, Lạc Việt. Ngoài những yếu tố rất chung của Trung Nguyên, mỗi hướng mang theo tính địa phương của mình hoà nhập vào những nhóm Bách Việt phương nam lớn bị chia cắt nhiều bởi địa hình sông núi phương nam. Văn hoá Nam Việt thoạt đầu chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hàng vạn quân tướng người Hoa Hạ nước Tần đồn trú, đặc biệt ở các khu vực quận huyện (Phiên Ngung, Hợp Phố, Quý Châu). Sau khi Nhà Hán thành lập, chỉ trừ không đày 5 năm dưới thời Lữ Hậu cấm giao thương, nền văn hoá Nam Việt có quan hệ trao đổi mạnh với Trung Nguyên thông qua Trường Sa (Hồ Nam). Điều đó giải thích tồn tại nhiều dấu ấn văn hoá Tây Hán trong bộ di vật Nam Việt bên cạnh những đồ Đông Sơn bản địa và đồ đã từng ảnh hưởng Hoa Hạ thời Chiến Quốc. Việc so sánh với các ngôi mộ cùng thời ở Trường Sa, như mộ Mã Vương Đôi, mộ Vương Quang sẽ giúp thấy tính khác biệt của bộ đồ Nam Việt chính là ở khối lượng đồ gốm và đồ đồng phong cách Đông Sơn, Nam Hải. 2- Mộ táng niên đại tương đương Nam Việt phát hiện trên lãnh thổ Việt Nam Những mộ Đông Sơn chôn trong quan tài thân cây khoét rỗng tìm được phổ biến ở dồng bằng miền bắc nước ta sẽ cho chúng ta những tư liệu so sánh tốt nhất với những biến đổi văn hoá nói ở phần trên. Ngôi mộ sớm nhất thuộc loại này vẫn là mộ số 1 ở Việt Khê. Niên đại hợp lý cho mộ này là khoảng thế kỷ 3-4 trước Công nguyên, tức thuộc niên đại Chiến Quốc, thời điểm trước khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc và cử đoàn quân nam chinh Bách Việt. Nhóm mộ cùng loại ở Châu Can (Hà Tây) cũng nằm ở khung niên đại này. Họ là những người sử dụng gốm Đường Cồ thuần tuý. Công cụ, vũ khí bằng đồng mang đậm nét phong cách Đông Sơn. Đồ gỗ sơn then xuất hiện sớm, mới chỉ dừng ở đồ uống (nhĩ bôi), đĩa, khay, cán giáo. Đồ đựng đồng ảnh hưởng kiểu dáng phương bắc nhưng được chế bằng nghệ thuật đúc và trang trí Đông Sơn. Mộ Nam Việt muộn hơn. Nhờ so sánh với đồ tuỳ táng trong mộ La Bạc Loan và mộ Nam Việt Văn Đế Triệu Muội chúng ta có thể nhận ra niên đại và tính chất Nam Việt trong bộ đồ tuỳ táng chủ nhân mộ thân cây khoét rỗng ở Kiệt Thượng thuộc Chí Linh (Hải Dương) và loạt mộ cùng loại khai đào ở vùng trũng dọc sông Đáy thuộc hai huyện Phú Xuyên, Ứng Hoà (Hà Tây). Đồ đựng dùng trong ăn uống tiêu biểu là đĩa có vành dạng chậu, quai hổ phù, vật rót rượu dạng “Di”, các nạo đồng mỏng đi cùng bộ đồ Đông Sơn điển hình. Hà Nội, 30.5.2008 Nguyễn Việt Thạp đồng Đông Sơn của huyện lệnh Long Xoang (Xuyên) Triệu Đà [10/26/2008] Có thể phát hiện chiếc thạp đồng Đông Sơn của Triệu Đà (with english abstract) Nguyễn Việt Chúng tôi đã theo đuổi chiếc thạp đẹp này từ gần chục năm nay. Người sưu tầm được chúng là bà Phạm Lan Hương, một nhà sưu tầm Việt kiều Pháp. Hiện tại chiếc thạp thuộc về Bảo tàng Barbier-Mueller (Geneva - Thuỵ Sĩ). Tôi được bà Mattet, Giám đốc Bảo tàng này mời sang thăm Bảo tàng năm 2001 và hân hạnh được ông Jean-Paul Barbier-Mueller, một nhà nhân học đồng thời là chủ nhân Bảo tàng trực tiếp giới thiệu sưu tập thạp đồng quý giá của ông. Xin mở ngoặc để giới thiệu, chính ông cũng là người đã sưu tầm chiếc trống Đông Sơn vào loại lớn nhất (đường kính mặt 158 cm) tại Indonesia và khi Bảo tàng Nhân học ở Quai Brandy (Paris) thành lập, ông đã tặng nó cho Bảo tàng này, và hiện nó được trưng bầy ở vị trí trang trọng nhất mở đầu cho phần trưng bày về Đông Nam Á. Chiếc thạp tôi muốn nói tới mang ký hiệu BMM-2505-29, cao 42cm, nặng 11,500 kg (không kể phần nắp đã mất), thuộc loại thạp có vành gờ miệng đạy nắp đồng. Thạp có đôi quai hình chữ U ngược trang trí bện thừng và hoa văn nổi hình chữ S rất tinh tế. Ở giữa mỗi quai hình chữ U ngược là một quai vành khuyên bốn ngấn. Cụm quai này tạo bởi khuôn rời nên đã làm hỏng phần băng hoa văn phức hợp gồm hai băng chấm rải, hai băng răng cưa bạc lấy đồ án chính là băng hình chữ S nằm biến thể thành dạng ô trám. Chính giữa thân thạp là băng gồm 4 hình thuyền chiến với kiểu tạo hoa văn in chìm rất giống thạp Hợp Minh (Yên Bái) và mộ Việt Vương (Văn Đế Triệu Muội) ở Quảng Châu. Đây là những thuyền chiến chở chiến binh mang rìu chiến kiểu gót hài, có lầu với người đứng bắn cung nỏ ở trên và đồ đồng lớn bên dưới, có trống trụ ở giữa thuyền, nơi thường trói một tù binh quay mặt ngược với chiến binh. Điều đáng nói nhất là sự thể hiện rất rõ nét hình tượng tù binh bị trói gập cánh khuỷu và chiến binh Đông Sơn tay cầm đầu lâu cũng như đầu lâu treo trước mũi thuyền – cái mà một số nhà nghiên cứu đã từng lầm tưởng là mái chèo mũi thuyền trên một số trống đồng. Gần sát đáy là băng phức hợp được tạo bởi năm băng gồm hai chấm rải, hai vòng tròn tiếp tuyến có chấm giữa bọc lấy băng rộng trơn không có hình. Giá trị nhất của chiếc thạp còn là một dòng gồm 22 chữ Hán chạy song song ở phần trống gần sát gờ miệng. Chính đây là cơ sở để chúng tôi nêu giả thuyết về chủ nhân chiếc thạp có thể là Triệu Đà. Tôi đã từng công bố và dịch những dòng chữ này[1], tuy nhiên chữ thứ hai trong số 22 chữ này vẫn còn để trống. Gần đây, trong khi tiếp tục theo đuổi giải nghĩa chữ này, tôi đã nhận thấy tự dạng chữ này khá gần với chữ „Xoang“, và hai chữ đầu chỉ địa danh của 22 chữ trên miệng thạp có thể đọc là „Long Xoang“. 龍 xoang / 重 六 (衡) / 名 曰 果 / 第 未 五 十 二 / 容 一 廿 一 斗 七 升 半 升 Dưới đây tôi trình bày một số cơ sở làm chỗ dựa cho việc dự đoán mối quan hệ giữa chiếc thạp này với Triệu Đà. -Thứ nhất là sự gần gũi giữa chiếc thạp này với chiếc thạp trong mộ Việt vương Văn đế Triệu Muội ở Quảng Châu. Triệu Muội là cháu ruột Triệu Đà, lên ngôi khi Triệu Đà mất năm 138 tr.Cn. Triệu Muội mất vào năm 122 tr.Cn. Vì lý do nào đó, hai tai quai hình chữ U lộn ngược của thạp Triệu Muội bị cắt cụt một nửa đều nhau[2]. Về kích thước, trang trí và cấu trúc có thể thấy hai thạp này như hai anh em sinh đôi (cao 42cm và 41 cm). Sự giống nhau ở cả những chi tiết cấu trúc các vành hoa văn và nhất là ở nội dung và kiểu thể hiện băng thuyền người ở giữa thân thạp. Khác biệt chỉ là tiểu tiết. Sự giống nhau này cho phép nghĩ rằng chúng được làm ra từ hai khuôn đúc khác nhau nhưng cùng một lúc trong cùng một xưởng bởi cùng một người thợ cả. -Thứ hai, chữ Long Xoang trên thạp BMM-2505-29có thể là cách ghi âm của huyện Long Xuyên, nơi Triệu Đà làm huyện lệnh trước khi thay Nhâm Ngao làm Hiệu Uý quản Nam Hải rồi lập nước Nam Việt. Nhiều khả năng chiếc thạp này (cũng như thạp Triệu Muội) được đúc trong những năm đầu khi Triệu Đà mới cùng quân Tần xuống cai quản vùng huyện Long Xuyên quận Nam Hải (trong khoảng từ 214 tr.Cn, khi nhà Tần bình xong Dương Việt đến 209 tr.Cn, khi Triệu Đà rời Long Xuyên về Phiên Ngung thay Nhâm Ngao). Khoảng thời gian này Triệu Đà là người Hoa Hạ vừa mới xuống vùng Bách Việt nên mới có dòng chữ :“Danh Viết Quả“ ( 名 曰 果 ). – Tên (thạp) gọi là Quả nhằm ghi tiếng địa phương dùng để gọi chiếc thạp.Chiếc thạp trong mộ Triệu Muội có thể là do Triệu Đà ban tặng. -Đơn vị đo lường thạch, thăng, đấu ... trên thạp BMM 2505-29 hoàn toàn giống đơn vị đo lường Nam Việt thể hiện trên minh văn trong mộ La Bạc Loan[3] và mộ Nam Việt Vương Triệu Muội. -Chủ nhân chiếc thạp BMM 2505-29 phải là người rất giàu có. Chiếc thạp này có dòng ghi số hiệu :“Đệ vị ngũ thập nhị“( 第 未 五 十 二 ), tức là đồ vật đứng thứ 52. Cách ghi này tương tự cách thống kê đồ vật tuỳ táng trong mộ một huyện lệnh người Hán khác đương thời ở Quý Huyện – La Bạc Loan và mộ Nam Việt Văn Đế Triệu Muội. -Triệu Đà và quan lại người Hán ở nước Nam Việt chịu rất nhiều ảnh hưởng của văn hoá Việt. Bản thân ông lấy vợ người Việt (hiện có đền thờ phu nhân người Việt của Triệu Vũ Đế ở Đồng Xâm, Kiến Xương, Thái Bình). Các con, cháu, chắt của ông cũng đa phần lấy vợ người Việt. Trống đồng, thạp đồng là những báu vật Đông Sơn được chôn theo trong mộ vua quan nước Nam Việt. Có một vấn đề đặt ra là nơi phát hiện chiếc thạp này. Theo bà Phạm Lan Hương, chiếc thạp được bà sưu tầm có nguồn gốc Thanh Hoá. Ở Thanh Hoá hiện mới có một chiếc thạp cùng cỡ và cũng có hoa văn thuyền người phát hiện được ở Xuân Lập. Chúng ta chưa rõ Triệu Đà khi mất chôn ở đâu. Hiện tại mới biết hai nơi thờ vị hoàng đế Nam Việt đầu tiên này trên đất nước ta : Long Hưng Điện (Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên) và Đồng Xâm (Kiến Xương, Thái Bình). Khu vực phát hiện những chiếc thạp lớn có trang trí đẹp cùng thời hai chiếc thạp kể trên là vùng trung lưu Hồng Hà, từ Việt Trì đến Lào Cai (Vạn Thắng, Đào Thịnh, Hợp Minh, Lào Cai). Chúng tôi ngờ rằng chiếc thạp BMM 2505-29 có thể khai quật được ở vùng các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn... là nơi nằm trong phạm vi ảnh hưởng trực tiếp của nước Nam Việt sau khi Triệu Đà thu phục được Âu Lạc, sau một hồi lưu lạc đã đến tay những người sưu tầm cổ vật xứ Thanh rồi từ đó đến tay nhà sưu tâm Việt kiều họ Phạm. Vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mã sau khi thuộc Nam Việt do ở xa đã được Triệu Đà giao cho hai viên quan đại sứ cai quản. Hai viên quan này đã đầu hàng nộp hộ khẩu hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân cho Phục Ba đại tướng quân nhà Tây Hán Lộ Bác Đức vào năm 111 tr.Cn, khi nhà Tây Hán thôn tính Nam Việt (Hậu Hán thư). Vì vậy ít có khả năng mộ Triệu Đà chôn cất ở Giao Chỉ, Cửu Chân. Phối hợp với những người sưu tầm cổ vật chúng ta có hy vọng lần tìm ra nơi đã phát hiện ra chiếc thạp này, từ đó lần tìm mối liên hệ với chủ nhân của nó mà như đã trình bày ở trên có nhiều khả năng là của Triệu Đà. Hình minh hoạ : 1- Thạp đồng BMM 2505 – 29 và chi tiết trang chí 2- Thạp đồng B59 trong mộ Nam Việt Vương Triệu Muội (Hồ) và chi tiết trang trí 3- Những chữ khắc trên thạp đồng BMM 2505-29<br clear="all"> English Abstract This bronze situlae belongs to the Barbier-Mueller Museum in Geneva (Swissland) and cares registered number BMM 2505-29. It’s seemly the twin sister of one, which was discovered from Nanyue King Zhao Mei in Kwangzhou under registed number B59. As reported, the bronze situlae of Nanyue King B59 is ca 40cm high. The Geneva situlae BMM 2505-29 is one centimeter higher (ca 41 cm). Both have so similar decorative bande on the body part that they muss be made by same metallurgic master. The dicided evidence to hypothese that the situlae BMM 2505-29 might belong to Zhao Dou is 22 chinese letters carved on the margin of situlae’s rim. These letter are carved directly on the outside of situlae wall after complet casting. They look like as ones carved on many Nanyue bronze objects, which man found in Lobouwan and Nanyue King’s tombes. That mean the letter aren’t in quatrangle but much longer uniform. The carving isn’t professional. Because that occures many dictional erros. However, the formula of letter containe is same as comtemporary carved bronze containing objects. Thank such formula, the bad carved or loss letters could be identified. The translation and explaination of these letter are published by the author in vietnamese journal Khao Co Hoc (Archaeology), vol. 5-2007. They could be read as following : “ 龍 xoang / 重 六 (衡) / 名 曰 果 / 第 未 五 十 二 / 容 一 廿 一 斗 七 升 半 升“ The second letter could be read XOANG. It might be change for XUYEN of Long Xuyen, district name, where Zhao Dou reigned in first years after Chin’s conqueration in Nan Hai (214 – 208 BC). The owner of this sitular muss be very rich man. The sitular stand in the rang “wei” of 52th nummeration ( 第 未 五 十 二 ). The owner might be foreigner of Yue tribes. It is evidenced by carved letters :” the situlae is called as Quo” ( 名 曰 果 ). Every weights and measures of this situlae are similar to Nanyue collected from inscriftions of Lobouwan and Nanyue King funeral objects. The situlae BMM 2505-29 is collected in non-archaeological context from Vietnam. It’s studied and laboratorialy analysed very details. I believe that it related to Nanyue first King Zhao Dou, who had a clear trend basing on Yue tribes again to Han. He maried Yue ladies, sent his son (Thuy) to marie with Au Lac King’s prinsess (My Chau). The last generations of Nanyue Kings maried also with Yue ladies. The King Zhao Mei and the Nanyue mandarin of Lobouwan brough Dongsonian bronze drums and situlaes with to underworld. The situlae B59 might be the gift, which Zhao Dou sent to his grand-son Zhao Mei. Acknowledge Dr. Jean-Paul Barbier, the owner and Dr. Mattet, the director of the Barbier-Mueller Museum in Geneva let me to visit and to study this situlae. They help me to publish my paper about Dongsonian situlae in their Museum Journal "Art&Culture". Hereby I would thank deeply them. [1] Nguyễn Việt, 2006, The Dongsonian Situlas, trong Arts and Cultures, Geneva . Nguyễn Việt, 2007, Minh văn trên đồ đồng Đông Sơn, trong Khảo cổ học, 5-2007. [2] Tây Hán Nam Việt Vương mộ, NXB Văn Vật, Bắc Kinh, 1991. [3] Quảng Tây Quý Huyện La Bạc Loan Tây Hán Mộ, NXB Văn Vật, Bắc Kinh, 1984 Âu Lạc và Giao Chỉ - một số vấn đề ngữ âm học lịch sử [10/20/2008] „Âu Lạc“, „Giao Chỉ“ - Một số vấn đề từ ngữ âm học lịch sử Nguyễn Việt Văn tự Hoa Hạ được xem xét hệ thống từ văn giáp cốt ( khắc chữ trên xương) đời Ân Thương. Trước đó, trên gốm màu thời đại đá mới Ngưỡng Thiều đã xuất hiện khá nhiều ký tự được coi như một trong những cội nguồn sâu xa của chữ Trung Quốc sau này. Tuy nhiên chúng tôi không xếp những ký tự đó vào hệ thống văn tự Hoa Hạ. Hệ thống văn tự Hoa Hạ phát triển dưới nhu cầu mở rộng giao lưu chính trị, xã hội của nhà nước sớm Trung Hoa mà khởi đỉnh có thể nói là thời kỳ Ân Thương. Tiếp sau giáp cốt, hệ thống văn tự này được phát triển dưới dạng minh văn ( văn khắc trên đồ đồng, đồ đá, gốm ). Minh văn đời Chu được coi như là đỉnh cao phát triển hệ thống văn tự Hoa Hạ. Chính trong khoảng này, minh văn Hoa Hạ lan xuống vùng văn hoá phía nam, thuộc lưu vực sông Trường Giang và đặc biệt phát triển trong thời Chiến Quốc. Lúc này, ngoài minh văn người ta còn phát hiện kiểu viết văn tự Hoa Hạ trên lụa, trên thẻ tre, gỗ và in trên gạch xây mộ. Tuyến phát triển văn tự Hoa Hạ từ giáp cốt đến minh văn rồi đến cách viết trên lụa, tre, gỗ và sau cùng là trên giấy được coi như tuyến phát triển văn tự chủ đạo và chính thống ở toàn vùng Đông Á. Không loại trừ, trong quá trình phát triển xã hội dạng tiền nhà nước và nhà nước, nhiều tiểu quốc khác ở xung quanh văn minh Hoa Hạ đã hình thành văn tự riêng của mình. Trong quá trình hòa nhập, phát triển, ngôn ngữ văn tự Hoa Hạ đã được làm phong phú thêm ở các hệ thống phương ngữ, phương tự đó. Các nhà nghiên cứu cổ Hán tự đã chỉ ra nhiều ví dụ điển hình như vậy, như trường hợp chữ Giang (sông), Đạo (lúa gạo), Nỗ (nỏ)...khi ngôn ngữ này lan toả xuống phương Nam. Cũng tương tự như vậy, người ta cũng tìm thấy những phát triển và biến đổi ngôn ngữ Hoa Hạ khi nó lan sang phía Đông (Di), đọng lại trong Hán tự cổ của ngôn ngữ Triều Tiên, Nhật Bản, hay lên phía Bắc (Hồ) với ngôn ngữ của người Mông Cổ và phía Tây (Khương) với ngôn ngữ Tây Tạng, phía Nam (Việt) với ngôn ngữ các nhóm trong Bách Việt cổ đại. Cụm từ „Âu Lạc“ mà chúng ta sẽ thảo luận dưới đây được tiếp nhận chính từ các thư tịch cổ Trung Hoa, được ghi lại bằng văn tự Hán khi văn tự này lan toả xuống phương Nam (Bách Việt). Trong bài viết này, việc phân tích lịch sử và ngữ nghĩa của tên gọi „Âu Lạc“ sẽ đi theo tuyến phục dựng so sánh ngôn ngữ học lịch sử. 1- Chữ „Âu“ 甌 trong Âu Lạc 甌 駱 Từ „Âu“ 甌 bắt đầu xuất hiện sớm nhất trong thư tịch Trung Quốc từ thời Chiến Quốc, Tần - Hán, tức là khi ảnh hưởng của ngôn ngữ và văn tự Hoa Hạ đã bắt đầu phổ biến ở vùng Giang Thuỷ (Trường Giang, Dương Tử ) . Chính sự tham gia vào chính trị Trung Nguyên dưới dạng tiểu quốc (liệt quốc) của Chu thiên tử đã đưa các tiểu quốc Trường Giang, trong đó tiêu biểu nhất là Sở, Ngô, Việt hoà nhập vào thế giới ngôn ngữ văn tự Hoa Hạ. Khi đã ổn định thành một thế lực chính trị dưới dạng chư hầu nhà Chu, tầng lớp trí thức của văn hoá Sở, Ngô, Việt bắt đầu sử dụng Hán tự đề ghi chép mô tả về các hiện tượng địa lý tộc người ở phía nam. Âu Việt, Mân Việt và sau đó Lạc Việt là ba cụm từ xuất hiện vào loại sớm nhất trong khái niệm Bách Việt để chỉ những nhóm Việt chưa tham gia vào chính trị Trung Nguyên và để phân biệt với nhóm Việt đã lập quốc của Việt Vương Câu Tiễn. Theo chỉ dẫn của giáo sư Hidenori Okamura ở Đại học Kyoto, một trong những chuyên gia Nhật Bản hàng đầu trong nghiên cứu cổ Hán tự, thì người ta bắt đầu ghi nhận sự phổ biển của từ này trong Sử Ký của Tư Mã Thiên, người sống ở Trung Quốc trong thế kỷ 2 trước Công nguyên. Chữ Âu xuất hiện trong sách của ông tồn tại dưới dạng địa danh : Đông Âu, Tây Âu, Tây Âu Lạc và Âu Lạc . Chữ Âu được thể hiện bằng hai phần, bên trái là bộ Khu ( Ou ) trong nghĩa „Khu Vực“ và bên phải thể hiện nghĩa bộ Ngoã ( Oa ) với ngữ nghĩa một đồ đất nung có thể che đậy (ngói) hoặc chứa đựng.... Trong các sách công cụ giải thích văn tự Hán cổ ( Nhĩ Nhã, Từ Nguyên, Từ Hải...), chữ Âu như vậy bao hàm nghĩa một đồ đựng tương tự như cách chúng ta hiện vẫn dùng : âu đựng cơm canh. Chữ „Kim Âu“ đôi khi xuất hiện trong sách sử, cũng vì thế còn được hiểu theo nghĩa đen là „âu đựng làm bằng vàng“ và nghĩa bóng là „ biểu tượng sự toàn vẹn và vững chắc của lãnh thổ một nước“ . Khi đi sâu nghiên cứu địa danh và ngôn ngữ cổ nước ta thời dựng nước, tôi đã để ý đến hai cụm từ mà Tư Mã Thiên ở những chỗ khác nhau đã sử dụng. Đó là Đông Âu, địa danh và cũng là tộc người trong nhóm Bách Việt tồn tại trong thời Chiến Quốc ở vùng nam Triết Giang, bắc Phúc Kiến hiện nay và Tây Âu, địa danh, cũng là tên tộc người ở vùng Quảng Tây. Nhờ có sự phân biệt Đông, Tây (Âu) mà ta có thể nhận ra từ Âu cũng là từ chỉ địa danh, địa vực (làng xóm, sông hồ, núi non, tộc người...). Đông Âu dịnh hình từ Chiến Quốc và tham dự sớm hơn vào chính trị Trung Nguyên. Khi nhà Tần thống lĩnh Trung Quốc, cũng như Nam Hải, đất Đông Âu và đất Mân cũng đã thành quận huyện của đế quốc Tần, nhưng Tây Âu thì chưa. Sang đời Tây Hán, dưới thời Cao Tổ, Lữ Hậu, đất Đông Âu còn tương đối tự trị, có Đông Âu vương cai quản tương tự như tình trạng và tước phong của Nam Việt vương Triệu Đà. Đến năm 138 trước Công nguyên, Đông Âu mới thuộc Hán. Trong một chiếu thư của Triệu Đà viết gửi Hán Vũ đế, cũng được chép trong Sử Ký, thì Đông Âu, Mân Việt trùng với Đông Việt, thuộc phạm vi Phúc Kiến, Giang Tô, được mô tả là phía Đông của nước Nam Việt và Tây Âu ở phía Tây của Nam Việt ( thủ phủ Nam Việt là Phiên Ngung, tức Quảng Châu hiện nay) . Trên bản đồ, khoảng ở giữa Tây Âu và Đông Âu chính là hệ núi Ngũ Lĩnh. Nam Việt là quốc gia vốn xuất phát điểm từ quận Nam Hải, nơi Nhâm Ngao và Triệu Đà làm quan nhà Tần, sau đó mở rộng lên cả bắc Ngũ Lĩnh, thậm chí đến tận giáp Trường Sa. Dãy núi Ngũ Lĩnh vì thế có thể hiểu là „Âu“. Cư dân Việt sống ở vùng Ngũ Lĩnh được người Hoa Hạ đời Chiến Quốc gọi là Âu Việt. Người Việt ở về phía đông (thực ra là đông bắc) của Ngũ Lĩnh được gọi là Đông Âu (địa danh Đông Âu đời Tần chính là trấn thành Ôn Châu từ đời Tuỳ đến đời Thanh). Người Việt sống ở phía Tây (thực ra là Tây Nam) Ngũ Lĩnh được gọi là Tây Âu. Từ những dự kiện lịch sử trên tôi cho rằng Âu là một từ cổ bản địa được dùng để ám chỉ khối núi Ngũ Lĩnh nằm giữa vùng cư trú của người Việt. Âu Việt là chỉ nhóm Việt sống quanh vùng Ngũ Lĩnh, trước hết là chỉ nhóm Việt sống ở vùng bắc và đông bắc Ngũ Lĩnh – tức là nhóm Âu Việt tiếp xúc sớm nhất với văn hoá Hoa Hạ. Khi văn hoá Hoa Hạ đặt được cơ tầng chính trị của mình ở phía nam Ngũ Lĩnh vào đời Tần thì mới xuất hiện khái niệm và thuật từ Tây Âu, chỉ nhóm Âu Việt ở phía tây nam Ngũ Lĩnh. Chúng ta cũng có thể gặp dạng chữ mang ý nghĩa tương tự tình trạng Đông Tây Âu như Đông Lĩnh - Tây Lĩnh, Đông Cương - Tây Cương, Đông Sơn - Tây Sơn... sau này. Hướng suy đoán của chúng tôi cho rằng : „Âu“ (Ou ) thuộc ngôn ngữ cổ phương nam, hàm nghĩa một vùng núi cao. Suy đoán này có chút cơ sở, khi mà sau này chúng ta bắt gặp từ Âu Cơ - người đàn bà vùng núi , một thành phần hợp thành của Âu Lạc - nguồn cội thần thoại của người Việt Nam ta hiện nay. Trong một nghiên cứu gần đây (13.7.2005) được giới thiệu trên trang Web „China History Forum“ (chinahistoryforum.com), Trương Thái Du (Zhang Taiyou) đã gợi ý giải thích ngữ âm chữ Âu với nghĩa cổ của từ „U“ trong tiếng Việt – gò cao, u biếu, ụ đất, sau đó trở thành hàm nghĩa vú của người phụ nữ , u già, thày u...- người mẹ. Kiểu vận hành ngôn ngữ này giống như cách người Việt Mường gọi mấm – vú, măm - trẻ em bú tý, mớm – cho trẻ em ăn, bầm - mẹ, chăm bẵm – nuôi trẻ...Gợi ý này cần được các chuyên gia ngữ âm học lịch sử kiểm chứng thêm. Trong phạm vi logic mà chúng tôi đang theo đuổi thì có thể xác nhận phần nào tính hợp lý của gợi ý đó. Chữ Âu bao hàm cả nghĩa nổi cao lẫn nghĩa người mẹ. Âu Cơ trở thành Người mẹ ở vùng núi, ở phía Tây. Khu vực địa lý từ Triết Giang, Phúc Kiến trở xuống nước ta mới có hiện tượng rõ ràng núi ở phía tây và biển ở phía đông. Quan niệm gắn phía tây với núi ( mặt trời khuất núi) có vẻ là một quan niệm phương nam. Chữ Âu trong ngôn ngữ Hán sau này cũng hàm chỉ vùng núi phía Tây, như trường hợp Âu Dương Phong – Tây độc. Hình tượng Âu Cơ – Lạc Long Quân rất liên quan đến quan niệm Tây Vương Mẫu – Đông Vương Phụ phổ biến vào thời Đông Hán, đặc biệt trong phạm vi văn hoá Ngô Việt. Chữ Âu, từ nghĩa đen chỉ hiện tượng nhô cao được dùng để gọi những vùng núi – như hiện tượng Ngũ Lĩnh. Trong nghĩa „Kim Âu“ chính chữ Âu ám chỉ một khối Núi hàm nghĩa Đất Nước tương tự cách dùng „vững như núi Thái Sơn“, „vững như bàn thạch“. Kim Âu vì vậy có thể hiểu là Đất nước yêu quý (như vàng). 2- Chữ „Lạc“ 駱 trong“ Âu Lạc“ 甌 駱 Trong khung cảnh nghiên cứu về ngữ nghĩa Lạc Việt, Âu Lạc thì chữ „Lạc“ được giải thích hợp lý nhất cho đến nay, theo chúng tôi, vẫn là của Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc . Theo đó Lạc là ghi âm bằng chữ Hán của âm Rặc, Rạc, Đắc, Đác, Nác, Lác đều chỉ nước, sông...thuộc ngôn ngữ cổ Việt Mường, Nam Á, Môn – Khơ me. Chữ Lạc có khá sớm và khá đa dạng trong ngôn ngữ Hoa Hạ và Hán tự. Nó trở thành một từ khá nổi tiếng đương thời khi mà Lạc Thuỷ, tên nhánh sông quan trọng ở trung lưu Hoàng Hà, tham gia vào các sự kiện chính trị quân sự Trung Nguyên thời Chu (Xuân Thu), rồi Lạc Dương một thời gian dài trở thành thủ phủ của Đế quốc Đông Hán. Đã có rất nhiều thảo luận xoay quanh chữ Lạc khi mà sử sách ghi chép về thời cổ đại Việt Nam luôn gắn với từ này. Thoạt đầu, chữ Lạc trong Lạc Thuỷ gồm bộ ghi âm là „các“ và bộ ghi nghĩa là „thuỷ“. Đến khi nhà Đông Hán chọn Lạc Dương làm kinh đô thì chữ „Lạc“ sử dụng bộ „các“ ghi âm nhưng lại dùng bộ „duy“ để ghi nghĩa. Sang thời Tam Quốc, khi Tào Tháo dùng Lạc Dương làm thủ phủ của nước Nguỵ thì chữ „Lạc“ lại xuất hiện trở lại với nghĩa bộ „thuỷ“ . Trong Sử Ký của Tư Mã Thiên chúng tôi đặc biệt chú ý đến cách ghi chữ Lạc gắn với Âu Lạc. Chưa thấy trường hợp nào Tư Mã Thiên viết chữ Lạc Việt độc lập. Tuy nhiên „Lạc Việt“ lại là một vùng tộc danh hàm chỉ về phía đông nam ven biển xa xăm được biết đến từ thời Chiến Quốc . Tư Mã Thiên đã dùng chữ Lạc (Việt) trong cụm từ Tây Âu Lạc, Âu Lạc tới ba lần trong phần Nam Việt Uý đà Liệt truyện. Chữ „Lạc“ này vẫn giữ âm chữ „các“ nhưng dùng bộ „mã“ ghi nghĩa. Trong một chuyên khảo của Hoa Bằng ông đã chỉ ra thêm cách viết chữ „Lạc“ trong „Lạc Việt“, „Lạc Hầu“, „Lạc Tướng“ của sách Giao Châu ngoại vực, Thuỷ Kinh chú... đều dùng bộ „trãi“ thay bộ „mã“. Sự phong phú của cách ghi hình chữ „Lạc“ trong „Lạc Việt“ thường phản ánh đó là lối dùng chữ ghi âm hơn là ghi nghĩa. Chữ „Lạc“ đã được dùng để ghi âm NƯỚC trong ngôn ngữ cổ Việt Mường. Dõi theo cách ghi chép của Tư Mã Thiên và các sách khác muộn hơn vài ba thế kỷ, ta có thể hiểu rằng song song tồn tại với nước Nam Việt của Triệu Đà giai đoạn đầu (thời Tần) là Tây Âu và Đông Âu, sau đó xuất hiện Tây Âu Lạc rồi Âu Lạc. Điều này phản ánh tiến trình lịch sử : Tây Âu sau đó đã hoà nhập với Lạc Việt để tạo ra Tây Âu Lạc hay Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương. Trong quá trình phát triển sau đó, nước Nam Việt của Triệu Đà đã bao gồm cả Âu Lạc sau năm 179 tr.Cn. Các sách sử sau Tư Mã Thiên mấy thế kỷ như Hán Thư, Hậu Hán Thư, Thuỷ Kinh Chú... đều chép nhiều về người Lạc Việt, như một tộc danh lớn ở vùng ven biển Quảng Tây, Quảng Đông và Bắc Việt Nam, tộc danh này trùng với khái niệm là cư dân bản địa của Giao Chỉ, Giao Châu . Đến tận đời Tống, khi Chu Khứ Phi mô tả về Phương Nam, thì Lạc Việt vẫn là một tộc danh lớn ở Quảng Đông. Xem ra, Lạc trong Lạc Việt rồi Lạc Long Quân gắn với nước rất nhiều. Lạc Việt, người Việt ở vùng sông nước thấp ven biển, Lạc Long Quân là vị vua Rồng Nước. Hình tượng Rồng Nước - Lạc Long được đối hợp sau này với Âu Cơ – chim núi tạo nên thể lưỡng hợp thấp - cao, đất - biển, núi - đồng bằng. Biểu trưng Cha Rồng mẹ Chim (Mẹ tiên trên núi là quan niệm chỉ xuất hiện sau khi đạo Lão phát triển ở Việt Nam từ Thế kỷ 2 sau Cn) được khảo cổ học phát hiện hàng loạt trên các đồ đồng từ thế kỷ 1 tr. Cn đến thế kỷ 2 sau Cn (hình ). Quan niệm Rồng, Phượng tượng trưng cho Vua, Hoàng Hậu có nguồn gốc sâu xa từ đây. Như vậy, „ Âu Lạc“ là địa danh, tộc danh và cả quốc danh Việt cổ, bao hàm lãnh thổ và cư dân thuộc văn hoá Đông Sơn (trồng lúa nước, dùng trống đồng, rìu xéo...) phân bố ở một phần Quảng Tây, Vân Nam (Trung Quốc) và Bắc Việt Nam. Âu Lạc tồn tại thực sự và có lẽ ra đời vào khoảng đầu thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên, là sự phối hợp hoà bình của Tây Âu và Lạc Việt – hai nhóm Việt cổ lớn nhất còn lại trong vùng chưa bị Hán hoá, một ở vùng cao miền núi và một ở vùng thấp ven biển . Sự phối hợp Âu Lạc đó nhằm chống lại sức ép thôn tính của nước Nam Việt láng giềng của Triệu Đà. Biểu tượng thần thoại của Âu Lạc là Rồng Nước ( Lạc Long, Giao Long) và Chim Núi (Âu Cơ). Biểu tượng này được thể hiện vào đời thuộc Hán bằng hình rồng bốn chân và chim công. Trước đó, hình ảnh Đông Sơn kết tụ của hai biểu tượng này chính là loài chim nước phổ biến trên trống đồng (chim Lạc mỏ dài bắt cá). Trong suốt thời Hán, khái niệm người Lạc Việt luôn trùng với địa danh hành chính Giao Chỉ, Giao Châu. 3- Chữ Giao trong địa danh Giao Chỉ, Giao Châu Chữ Giao trong văn tự tượng hình Hoa Hạ xuất hiện từ rất sớm, biểu trưng cho hiện tượng tiếp xúc, giao cắt. Truy nguyên chữ Giao, một số nhà nghiên cứu đã có xu hướng giải thích Giao Chỉ, Giao Châu theo hướng đó, tức là chỉ vùng đất có sự giao tiếp giữa nước (biển) và đất do ảnh hưởng của thuỷ triều . Chúng tôi lại có ý định truy tìm nguồn gốc chữ Giao trong Giao Chỉ, Giao Châu theo hướng ngôn ngữ học lịch sử, bắt nguồn từ địa danh Keo (chùa Keo) ở Thái Bình, Nam Định và Bắc Ninh và Keo, Kẹo nhằm chỉ người ở vùng thấp trong ngôn ngữ cổ Đông Nam Á. Trong một buổi trao đổi học thuật ở đại học Kyoto năm 2006, khi được hỏi chữ Giao trong Giao Chỉ, Giao Châu xuất hiện thế nào và từ bao giờ trong thư tịch cổ Trung Hoa, giáo sư Hidenori Okamura đã nói ngay rằng Tư Mã Thiên là người đầu tiên đã sử dụng chữ Giao với hàm ý chỉ vùng thấp ngập nước ven biển khi ông gắn chữ Giao với Giao Long nhằm chỉ một loại rồng ở vùng ngập nước, ảnh hưởng mạnh của thuỷ triều phía đông nam Trung Hoa cổ đại . Thực ra, khi kiểm định kỹ lại Sử Ký của Tư Mã Thiên, thời Hán Cao Tổ đã từng có chức Giao hầu ( tước Hầu của vùng đất Giao ) do Lữ Sản em trai của Lữ Hậu đảm trách. Lữ Sản sau này được Lữ Hậu phong làm Lữ vương (tước Vương của vùng đất Lữ - nơi phát tích của tổ tiên Lữ Hậu). Trước khi chết, Lữ Hậu chia quân đội nhà Hán làm hai khối lớn, chính Lữ Sản được kiêm quản quân phương Nam. Điều này khiến ta có thể phỏng đoán đất Giao mà Lữ sản từng được phong hầu ở phương Nam, gắn với Giao Chỉ, Giao Châu chăng ? Đào Duy Anh và Nguyễn Đổng Chi dẫn nhiều sách sử Trung Hoa viết từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc, như Kinh Thư, Mặc Tử, Hoài Nam tử, Hàn Phi tử, Thiếu vi thông giám để chứng minh từ trước thời Hán, trong quan niệm của người Hoa Hạ thì phía nam, thấp, ẩm ướt đã là vùng Giao mà sau này tương ứng với Giao Chỉ, Giao Châu. Theo Thẩm Đính Bản trong “Trung Quốc Lịch sử Địa lý Khái thuật” thì phải đến tận sau khi nhà Tây Hán thôn tính nước Nam Việt ( năm 111 tr. Cn) mới xuất hiện địa danh Giao Chỉ, tên một vùng bao gồm những quận hành chính như Thương Ngô, Uất Lâm, Nam Hải, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Tượng Quận. Sang thời Đông Hán, Giao Chỉ đổi thành Giao Châu vẫn bao gồm các quận như cũ, trong đó quận Giao Chỉ vẫn ở khu vực hạ lưu sông Hồng hiện nay. Tên Giao Chỉ quận thay bằng Giao Châu trong thời Đông Tấn, lại được dùng trong thời Tuỳ, đến thời Đường lại trở lại Giao Châu nằm trong An Nam Đô hộ phủ của Lĩnh Nam Đạo. Sử sách nhà Tống, Nguyên sau này vẫn dùng thuật từ “Giao nhân” (người Giao) để chỉ quân dân nhà Lý, Trần. Chúng tôi nhận thấy có sự trùng hợp giữa cách gọi Lạc Việt ( tộc danh thời Chiến Quốc ) với Giao Chỉ, Giao Châu (địa danh hành chính từ Tây Hán về sau) cho cùng một vùng đất bao gồm Quảng Đông, Quảng Tây, đồng bằng và trung du sông Hồng ở bắc Việt Nam. Theo chúng tôi, đó không phải là hệ thống tộc danh tự xưng mà là tộc danh, địa danh ước đặt xuất hiện trong văn tự Trung Hoa cổ đại. Người Việt thuộc Văn hoá Đông Sơn không tự xưng mình là Việt Nước ( Việt Rặc ) mà là những nhóm người Bách Việt khác ở vùng cao xung quanh gọi những người Việt ở vùng thấp nhiều đầm hồ là (Việt) Rặc và những người Bách Việt ở vùng thấp đã gọi những người ở vùng cao là (Việt) Âu. Tương tự như vậy là sự phân định giữa Lục Chân lạp và Thuỷ Chân Lạp sau này ở vùng nam Đông Dương thời cổ đại. Chắc hẳn trước đó đã có sự phân biệt giữa Phù Nam cạn và Phù Nam nước (văn hoá Óc Eo). Sự kiện Âu Lạc cũng phản ánh tình trạng đó. Đặt tên phân định tộc người dựa trên những đặc trưng địa lý cư trú là một hình thức phổ biến trên toàn thế giới, trong đó cao - thấp, núi - biển, cao khô - thấp ướt... là dạng hiện tượng thuộc loại phổ biến nhất. Việc nhất trí với quan điểm giải thích của Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc dẫn đến sự đồng nghĩa của Lạc (nước, thấp) với Giao. Theo tôi, cách lý giải Giao là vùng giao tiếp của đất ngập - cạn do ảnh hưởng của thuỷ triều cũng không mâu thuẫn với những dữ kiện Giao Long, Giao Chỉ, Giao Châu. Tuy nhiên, nếu thừa nhận đó là cách đặt tên theo nghĩa của ngôn ngữ Hán thì phải giải thích tại sao những vùng như vậy ở khắp ven biển đông bắc và đông Trung Quốc cổ đại lại không có địa danh Giao lớn như vậy. Trong thời kỳ chữ Hán còn mới phát triển, chưa đủ mô tả những khái niệm và hiện tượng mới, thì khi người xưa muốn dùng Hán tự để ghi tộc danh, địa danh mới lạ họ thường dùng Hán tự để ghi lại âm mà người dân bản địa thường dùng. Người dân bản địa ở đây không phải là người dân tự xưng danh, mà thường là họ dùng để phân định những tộc láng giềng. Sự chuyển hoá cách gọi người ở vùng thấp ngập nước đông nam Trung Quốc và bắc Việt Nam từ Rặc (Lạc) sang Keo (Giao) có thể phản ánh sự biến đổi trong thành phần cư dân tộc người ở vùng Ngũ Lĩnh vào đời Hán. Những người này đã gọi người Lạc Việt cũ bằng cách gọi mới là Keo (thấp) song song tồn tại với cách gọi Rặc (nước) trước đó. Và chữ Giao đã được sử dụng để ghi âm lại cách phân định này . Theo nghiên cứu ban đầu, âm Keo có nhiều yếu tố ngôn ngữ Tày Thái. Sự thay thế cư dân dùng Keo thay cho Rặc có thể phản ánh xu hướng nam tiến của nhóm cư dân nói ngôn ngữ Tày Thái cổ và sự vắng bóng dần ở vùng bắc Đông Dương các nhóm cư dân Nam Á, Môn Khơ me. Chỉ và Châu trong Giao Chỉ và Giao Châu đều cùng một nghĩa chỉ địa danh cư trú lớn, tương tự nghĩa của chữ “vùng” . Có lẽ cũng không cần nhắc lại suy diễn thiếu cơ sở khoa học của nhiều học giả trước đây cho rằng “chỉ” là ngón chân choạc ra của người Việt hay đi trên thuyền. Khảo sát nguồn gốc thay đổi Chỉ và Châu từ Hán đến Đường có thể lần tìm ngữ nghĩa chính xác của chữ Chỉ trong Giao Chỉ. 4- Hùng Vương và Văn Lang Hùng Vương : Nhiều nhà nghiên cứu đã từng đề xuất khả năng nhầm lẫn tự dạng giữa chữ Lạc và chữ Hùng . Bởi lẽ có nhiều thư tịch cổ dùng Lạc vương, Lạc tướng, Lạc hầu trong thời Hùng Vương. Tuy nhiên trong dân gian không ai thay Hùng vương bằng Lạc Vương cả. Điều đó chứng tỏ sự tồn tại thực của cách gọi Hùng Vương trong lịch sử. Giáo sư Hoàng Thị Châu và Trần Quốc Vượng từng gợi ý truy tìm chữ Hùng từ chữ Khun, Cun trong ngôn ngữ cổ Đông Nam Á hàm nghĩa to lớn, người đứng đầu . Người xưa đã dùng chữ Hán để ghi nhận lại cách gọi của người Việt với thủ lĩnh của mình bằng chữ Hùng. Tuy nhiên phải xác nhận rằng, khác với trường hợp Âu Lạc, Lạc Việt, Giao Chỉ, Giao Châu, trong các thư tịch đương thời và gần đương thời của Trung Quốc hầu như không có tài liệu nào nói đến Hùng Vương và nước Văn Lang. Những điều tìm thấy trong sử sách về Hùng Vương và Văn Lang đều có niên đại muộn hơn sự đương tồn của các sự kiện này nhiều trăm năm về sau. Điều đó chứng rỏ những khái niệm này đã từng tồn tại dưới dạng trường ca, sử thi hay mo then Việt cổ trước khi được ghi chép lại bằng văn tự Hán. Theo logic đó, tôi ủng hộ cách truy tìm như các giáo sư Hoàng Thị Châu và Trần Quốc Vượng đã làm. Văn Lang : Cụm từ này đã thấy được chép lại trong Thuỷ Kinh chú (Lâm Ấp ký) , nhưng chủ yếu xuất hiện trong các văn liệu chữ Hán ở Việt Nam, sớm nhất hiện biết là từ đời Lý, Trần như trong những sách chính sử Việt Sử Lược, Đại Việt sử ký (toàn thư) và dã sử Lĩnh nam trích quái, Việt điện u linh tập. Nguồn tư liệu để các tác giả viết về thời Hùng Vương, Văn Lang trong các sách đó chủ yếu là từ truyền miệng hoặc chép lại từ những sách của các tác giả trước đó mà nay đã thất truyền. Những sách được chép lại đó, cho dù có lãng mạn lắm cũng khó sớm hơn được Tư Mã Thiên, đa phần từ thế kỷ thứ 3 AD trở về sau. Có nghĩa rằng, nguồn tư liệu của những tác giả trước, nếu có cũng duy nhất là truyền miệng dưới dạng Sử thi, Mo, Then như cách lưu sử của nhiều dân tộc thiểu số hiện nay. Khi diễn giải về chữ Văn Lang với tư cách một tộc danh, quốc danh dưới thời Hùng Vương nhiều sử gia phong kiến nước ta cũng làm theo lối triết tự : Văn Lang là tục xăm vẽ chàm hình giao long ở trên người để tránh thuỷ quái xâm hại . Việt sử lược có kể ra tên 15 bộ tồn tại dưới thời Hùng Vương, trong đó, thủ lĩnh bộ Văn Lang có tài pháp thuật đã áp chế thống lĩnh các bộ khác, trở thành Hùng Vương vào thời Chu Trang vương . Tên một số bộ này tiếp tục tồn tại dưới thời thuộc Hán, nhưng tên Văn Lang thì không thấy nữa. Nhiều nhà nghiên cứu đã thử phục nguyên một cách khá thuyết phục tên các bộ này bằng phương pháp ngôn ngữ học lịch sử, như Câu Lậu là bộ lạc thờ Trâu (C’lâu) phát âm theo tiếng Việt Mường cổ tương tự như trường hợp quả Trám được ghi âm Hán là Cảm Lãm (C’lám), Từ Liêm (Chèm)…Hy vọng bằng cách này chúng ta có thể sẽ suy tìm được tên thật và ý nghĩa thật của “Văn Lang”. 5- Chữ “Thường” trong Việt Thường Thị và chữ “Tượng” trong Tượng Quận Sử gia các đời thường lúng túng với hai địa danh còn khá lờ mờ này vốn được xuất hiện khá sớm trong thư tịch Trung Hoa lẫn Việt Nam. Cả hai địa danh này (Việt Thường Thị và Tượng Quận) đều gắn với những ghi chép vào loại đầu tiên của học giả sử dụng văn tự Hoa Hạ ghi chép về vùng đất Hoa Nam, như Sử Ký (Tư Mã Thiên), Thuỷ Kinh Chú, Giao Châu Ngoại vực ký…. Các sách sử Việt Nam sau này sớm nhất vào khoảng Lý Trần đều dẫn lại từ các nguồn sách trước sau công nguyên vài thế kỷ đó. Hiện tại, trong một số sách chuyên khảo về địa lý, địa danh cổ Trung Quốc, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đa phần nghiêng về hướng quy tụ địa bàn gốc của “Việt Thường Thị” và “Tượng Quận” vào khu vực Nam – Tây Nam Ngũ Lĩnh, tức vùng đất Quảng Tây và lân bang (một phần đông nam Vân Nam, một phần tây nam Quý Châu) ngày nay . Theo sử sách, Việt Thường Thị có quan hệ chính thức với thế giới Hoa Hạ dưới thời Chu thông qua việc dâng chim trĩ, nhiều lần thông dịch (tức phải đi qua nhiều tộc người khác Hoa Hạ). Địa danh Tượng quận xuất hiện vào thời Tần, trước đó, thời Chiến Quốc, đơn vị “quận” mới chỉ xuất hiện ở vùng bắc Ngũ Lĩnh, thuộc tỉnh Hồ Nam (Trường Sa Quận, Cửu Giang Quận). Đó là phạm vi nhóm Bách Việt mới tham gia vào cục diện chiến quốc dưới ảnh hưởng của văn hoá Ngô, Sở, trùng với cái gọi là Dương Việt (Yang Yue) trước đó. Trước khi nhà Tần đặt quận huyện ở vùng Dương Việt và Nam Hải (214 tr.Cn) vùng Tượng Quận có tên gọi là Thương Ngô (Shang Wou). Lần theo trật từ cách người Hoa Hạ gọi và ghi chép về vùng đất Hoa Nam, nơi các nhóm Bách Việt ngự trị chúng ta thấy có sự lan dần về phía nam theo trục Hồ Nam (Trường Sa, Cửu Giang) với những tên gọi đều khá gần gũi với những âm Yang (Dương Việt), Shang (Thương Ngô), Chang ( Việt Thường), Siang (Tượng Quận). Theo chúng tôi, những chữ ghi âm Hoa Hạ thoạt đầu không hẳn luôn mang ngữ NGHĨA, tức là nó chưa hẳn đã xuất phát từ nhu cầu ám nghĩa ( ví dụ Trường Giang – sông dài, Hoàng Hà – sông có nước phù sa đất vàng – hoàng thổ, Hồng Hà – sông có phù sa màu đỏ …) mà nặng về ghi âm. Vì thế một âm có thể có nhiều cách ghi khác nhau. Những âm tương tự như trên được ghi bằng những chữ khác nhau, nhưng dường như đều có một mẫu số chung là mô tả một cộng đồng tộc người nằm trong một khối tộc lớn hơn (Việt, Ngô). Mẫu số chung đó gần với khối tộc mà từ sau công nguyên mới dần định hình trong địa bàn này : Cháng hay Choang (Zhang, Zhuang). Thoạt đầu họ được phân định với những nhóm Bách Việt khác bằng âm Yang (Dương Việt) rồi Shang (Thương Ngô ). Vì thế, Việt Thường thị (Chang Yue) có thể hiểu ám chỉ thủ lĩnh một khối họ tộc (thị) tổ tiên người Choang miền núi trong nhóm Bách Việt, có thể là nhóm cư dân phân bố ở miền tây Quảng Tây, đông nam Vân Nam (huyện Văn Sơn), cực bắc Việt Nam (Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang…) hiện nay - một bộ phận quan trọng của Tây Âu sau này. Vào đời Chu, từ vùng này đến lưu vực sông Hoàng, nơi Chu Thiên tử ở còn rất xa và phải qua nhiều vùng tộc người và tiểu quốc khác nhau. Tượng Quận xuất hiện sau nữa, vào đời Tần, khi người Hoa Hạ dùng đơn vị quận để chỉ những vùng đất mà họ đã chinh phục hoặc đã đặt được quan hệ thần thuộc. Cuộc hành quân của Đồ Thư đã khai phá tuyến Trường Sa, Cửu Giang vượt Ngũ Lĩnh vào sâu đất Việt. Tuy nhiên đoàn quân Tần Hoa Hạ này chỉ đến được Nam Hải (Quảng Đông) và lân bang. Một trong những đất lân bang đó là Tượng Quận. Theo chúng tôi, Tượng quận là khối vùng tổ tiên người Choang (khi này vẫn được gọi là Yuê) đã bị lệ thuộc quân Tần. Các nhóm Choang Việt còn lại thuộc vào Tây Âu. Việc người Hoa Hạ gọi tên vùng là Tượng Quân bắt đầu ghi nhận cách đặt tên ghi âm ám nghiã vào thời Tần Hán. Chữ “Tượng” được chọn hàm chủ ý gắn liền phiên âm Shiang với ngữ nghĩa liên quan đến hiện tượng phân bố voi và sử dụng voi trong vùng này. Đối với người phương bắc thời đó, thì đây là thế giới phổ biến của voi . 6- Cổ Loa, Khả Lũ Chúng ta có thể bắt đầu với phát hiện mối liên quan của “Cửa Lò” với ngữ âm malayo – Kuala. Tôi được nghe gợi ý này lần đầu từ giáo sư Trần Quốc Vượng từ cách nay gần 20 năm. Tôi tán thành gợi ý này và bắt đầu thu thập những bằng chứng dấu vết ngữ âm học lịch sử mang dấu vết malayo song hành với việc tìm những chứng cứ khảo cổ của văn hoá Sa Huỳnh, Mã Lai-Đa Đảo, Nam Đảo (Malayo-Polinesien hay Austronesien) trên đất nước ta. Bài này tập trung vào vấn đề văn hoá xã hội ở thời điểm bản lề trước sau Công nguyên, bản lề Tiền sử - Sơ sử và Lịch sử nhà nước sớm, bản lề hoà nhập dân tộc huyết thống và văn hoá ở miền bắc Việt Nam – cái nôi của dân tộc. Vì vậy, trước mắt giới hạn ở “Cổ Loa”. Kuala có nghĩa chỉ một cửa sông. Ngôn ngữ Malay là một bộ phận quan trọng của ngôn ngữ Nam Á. Hiện tượng tồn tại một số ngôn ngữ khác trong hệ ngôn ngữ Việt là rất bình thường. Điều khó khăn là lần tìm ra con đường vận hành nguyên thuỷ của nó. Điều này có một điểm hạn chế lớn ở nước ta đó là ngành ngôn ngữ học lịch sử cỏn kém phát triển. Những nghiên cứu thí điểm của các nhà ngôn ngữ tiền bối như Maspero, Audricour, Nguyễn Thị Châu, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn, Phạm Đức Dương và những nhà ngôn ngữ học lịch sử nghiệp dư khác trước đây đã hé mở một hướng tiếp cận có tính thuyết phục cao, trong đó việc giải mã lớp phủ Hán văn lên một số hiện tượng ngôn ngữ cổ bản địa. Gần đây, TS Phạm Văn Đấu có thông báo và hỏi tôi về hiện tượng hệ thống địa danh “Cua”, “Khùa”…mà ông mới phát hiện khi điền dã khảo sát một cụm làng cổ tương truyền là nơi giam giữ tù binh thợ người Chiêm Thành trong các cuộc hành quân nam tiến từ Lý Thường Kiệt đến Lê Thánh Tông. Điều này gợi lại cho tôi giả thiết công tác từ lâu về cuộc thảo luận được sới lên từ đầu thế kỷ 20, khi Maspero bắt tay nghiên cứu “Royal de Van Lang” (Nhà nước Văn Lang), đó là vấn đề thành Cổ Loa và thành Khả Lũ. Chúng ta có thể khảo sát nhiều hiện tượng địa danh gắn với cách Hán hoá các ngữ âm cổ tương tự như các loại hình địa danh K... và L như Cổ Loa, Kẻ Loa, Khả Lũ. Vấn đề này đã từng được Đào Duy Anh để ý khi ông viết "Đất nước Việt Nam qua các đời". Theo hướng này, cần tìm nghĩa Cổ Loa, Khả Lũ theo hướng Kuala, Cửa Lò, tức một vùng ngã ba sông hay dạng bến cửa sông, có liên quan đến cư dân chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ Mã Lai - Đa đảo vào khoảng thiên kỷ I trước Công nguyên. Hiện tại, ngoại trừ những công cụ kiểu Sơn Vi phát hiện ở một số nơi vùng Cổ Loa (Gò Đường Cấm) thì những cư dân lập làng sớm nhất ở Cổ Loa là những người Đồng Vông, dùng gốm xốp nặng và nhiều viên đá làm chì lưới đánh cá gần gũi với lối sống của cư dân biển từ cách nay khoảng 4000 năm. Trên đây chỉ là những gợi ý cách tiếp cận. Để chứng thực hay chứng không thực vấn đề, rõ ràng cần nhiều công sức nghiên cứu hơn nữa. Yên Giang, 10.12.2007
  13. Việt Điện U Linh tập (dẫn nhập) Last Updated on Thứ Ba, 17 Tháng Năm 2011 21:59 Thứ Tư, 16 Tháng Giêng 2008 03:10 Từ khi được hoàn thành đến nay, Việt Điện U Linh Tập đã gây một tiếng vang không nhỏ trong giới văn học Việt Nam, mặc dầu chưa được khắc in một cách chính thức, tác phẩm đã được sao đi chép lại nhiều lần, đã được các học giả tiếm bình, tăng bổ, tùng biên, trùng bổ, đã trở thành những bản thần tích của nhiều thần từ miền trung châu và nhất là đã cung cấp nhiều tài liệu cho lịch sử. Một tác phẩm như vậy là một tác phẩm đã có nhiều người đọc, có ảnh hưởng lớn và cần phải được chúng ta chú trọng đến hơn. Phần dẫn nhập này sẽ đề cập đến soạn niên của tác phẩm, tác giả và những bản chép tay, nội dung, giá trị và ảnh hưởng của Việt Điện U Linh Tập. I. Soạn niên của tác phẩm Soạn niên của tác phẩm đã được ghi rõ ở cuối bài Tựa của Lý Tế Xuyên. Đó là năm Kỷ Tị, Khai Hựu nguyên niên, tức là năm 1329. Nhưng có nhiều học giả hoài nghi sự xác thực của soạn niên này cũng như họ đã không đồng ý mà cho rằng Lý Tế Xuyên là một nhân vật đời Trần. Ý kiến của các học giả ấy không phải là không có căn cứ lịch sử và bởi vậy chúng tội sẽ trình bày dưới đây hai quan niệm khác nhau về soạn niên của tác phẩm. A. Tác phẩm và tác giả thuộc vào đời Lý Hai học giả đã chủ trương Việt Điện U Linh Tập và Lý Tế Xuyên không thuộc vào đời Trần là Chư Cát Thị và Hoàng Xuân Hãn. Trong bài tựa đề năm Giáp Ngọ (1774) khi kiểm lại Việt Điện U Linh Tập, Chư Cát Thị, người Hồng Đô (Hải Dương), Biên Tu bộ Lễ đời của Lê Văn Hưu và cho rằng Lý Tế Xuyên chỉ chép phần tiếp theo mà thôi(1). Như vậy, theo Chư Cát Thị thì Việt Điện U Linh Tập là một tác phẩm được viết vào đời Lý nhưng Lý Tế Xuyên là một văn sỹ đời Trần. Lý Tế Xuyên không phải là một tác giả đầu tiên và duy nhất của Việt Điện U Linh Tập. Ông chỉ là một trong những người đã tăng bổ tác phẩm. Lý do của Chư Cát Thị đã căn cứ trên nhiều văn liệu có thể tin cậy được, đó là những tác phẩm mà chính Lý Tế Xuyên đã nhiều lần dẫn chứng, tỉ dụ Giao Châu Ký của Triệu Xương, Giao Chỉ Ký của Tăng Cổn, Sử Ký hoặc còn gọi là Đại Việt Sử Ký và Ngoại Sử Ký của Đỗ Thiện v.v… Chuyện Sỹ Nhiếp là chuyện đầu tiên của Việt Điện U Linh Tập gần như là một bản sao lại chuyện Sỹ Nhiếp của Tam Quốc Chí(2) ; ngoài ra, Lý Tế Xuyên còn nghiên cứu dã sử, tục truyền, nhất là những thần tích của các làng v.v… và như vậy, nói rằng sách của ông đã có từ đời Lý cũng không phải là vô lý hẳn. Tuy nhiên, nếu đứng trong quan điểm tôn trọng tiền nhân của các nhà văn xưa, ta có thể một phần nào hiểu được rằng sự sử dụng tài liệu, và làm ngược lại sẽ là đi ngược với tinh thần ấy, đi ngược lại tập quán và phong trào. Như chính Lý Tế Xuyên đã tuyên bố trong bài Tựa, ông có thể là một người đầu tiên đã chép lại sự thực “tuỳ thiển kiến ti văn chép thành bộ U Linh này”. Những tài liệu đã dẫn chứng một cách minh bạch dĩ nhiên xác nhận sự hiện diện của những tác phẩm đã có trước nhưng không phải vì thế mà phủ nhận phần sáng tác của Lý Tế Xuyên. Những tác phẩm đã dẫn chứng ở đầu các chuyện, theo Lê Quý Đôn (3) đến nay đều thất truyền, do đấy, ta không có đủ bằng chứng để biện biệt chỗ nào là của Lý Tế Xuyên, phần nào là của những sách đã dẫn, nhưng ít nhất phần sắp đặt các tình tiết trong chuyện, cách bố cục tác phẩm, sự duy nhất trong lời văn cũng như tính cách nhất trí của câu khẳng định một phần sáng tạo mà người đọc kỹ có thể nhận ra ngay. Việc xét sách này sách kia không làm giảm bớt phần độc sáng của Lý Tế Xuyên mà chỉ biểu lộ sự khiêm tốn, tinh thần trung thực có thể nói được là khoa học (4) của ông mà thôi. Trong cuốn Lý Thường Kiệt xuất bản tại Hà Nội năm 1949, trong lời chú số 1 trang 20, sau khi cho rằng những tài liệu mà Lý Tế Xuyên dùng có thể có từ đời Lý, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã viết: “Tựa sách Việt Điện U Linh có niên hiệu “Hoàng Triều Khai Hữu nguyên niên” tức là đời Trần Hiến Tông (1329). Nhưng họ tác giả là họ Lý. Biết rằng tất cả họ Lý bấy giờ đã phải đổi ra Nguyễn, ta có thể nghĩ rằng Lý Tế Xuyên ở đời Lý. Chức của Lý Tế Xuyên (giữ kinh Đại Tạng, thư hỏa chính chưởng, trung phẩm phụng ngự, chuyển vận sứ ở An Tiêm lộ) rất có thể là chức đời Lý. Nếu thật như vậy thì đến đời Trần có kẻ sao lại, thêm và chữa sách Việt Điện U Linh”. Theo như trên, giáo sư Hoàng Xuân Hãn còn đi xa hơn Chư Cát Thị nữa và phỏng đoán Lý Tế Xuyên là một nhân vật đời Lý; nhận xét của giáo sư căn cứ trên sự kiêng huý của đời Trần. Trong An Nam Chí Lược (5), Lê Trắc viết: “Họ Trần thay lập tất cả tông tộc nhà Lý và dân chúng có họ Lý đều bắt đổi ra họ Nguyễn để dứt lòng mong mỏi của dân”. Trong Việt Sử Lược và Thiền Uyển Tập Anh, tất cả họ Lý đều viết thành họ Nguyễn; phần 2 của Việt Sử Lược đáng lẽ đề là nhà Lý, đã đề là nhà Nguyễn (6), Lý Đạo Kỷ viết là Nguyễn Đạo Kỷ, Lý Triệt viết là Nguyễn Triệt v.v… (7) Lý Tế Xuyên không thể nào dám đề rõ ràng tên họ của ông trên đầu tác phẩm nếu tác phẩm được làm vào đời Trần và nếu Lý Tế Xuyên là người đời Trần, như vậy Lý Tế Xuyên sống vào đời Lý và Việt Điện U Linh Tập trong tình trạng hiện nay là tình trạng của một tác phẩm đời Lý đựơc tăng bổ và hiệu đính dưới đời Trần. Nhưng theo chỗ nghiên cứu của chúng tôi, lý luận của giáo sư Hoàng Xuân Hãn có thể bổ sung được. Trước hết, sự kiêng huý tuy có thực nhưng không phải lúc nào cũng tuyệt đối. Trong cuốn Lý Thường Kiệt trang 451, giáo sư cho biết “tên Lý Đạo Thành trong Việt Sử Lược (1073) đã đổi ra Nguyễn Nhật Thành”, họ Nguyễn huý tên Trần Lý, ông tổ của nhà Trần, chữ đệm bị đổi thành Nhật để tránh tên huý của Trần Hưng Đạo. Xem Việt Sử Lược, quyển II, tờ 15a, ta thấy rõ điều ấy, nhưng cũng chính trong Việt Sử Lược, quyển II, tờ 10a, tên của Lý Đạo Thành chỉ phải việt là Nguyễn đạo Thành. Lại nữa, nếu Lý Tế Xuyên là một nhân vật đời Trần thì tên họ của ông cũng đã phải đổi ra họ Nguyễn rồi, không cần phải là một nhân vật đời Lý mới phải đổi tên. Vả lại, trường hợp của Việt Điện U Linh Tập có lẽ không thể so sánh với một cuốn như Việt Sử Lược được. Nhờ một sự tình cờ của lịch sử, cuốn Việt Sử đã bị thất truyền ở Việt Nam nhưng đến thế kỷ thứ 18, đời Càn Long nhà Thanh đã được ấn hành và được Tiền Hi Tộ, tự là Tích Chi, người Kim Sơn (Giang Tô), hiệu đính. Như vậy, Việt Sử Lược không bị cái nạn tam sao thất bản làm cho sai lạc đi; ngược lại, Việt Điện U Linh Tập vì một sử rủi ro, đã bị sửa chữa rất nhiều; ngay ở thế kỷ XV, Nguyễn Văn Chất đã viết Việt Điện U Linh Tập Bổ Tục, rồi đến thế kỷ thứ XVIII, Độn Phủ Lê Hữu Hỉ, năm 1712, trong bài Bạt Việt Điện U Linh Tập (8) đã phải than phiền rằng “đời truyền Việt Điện U Linh đã lâu, nhưng đều lầm lẫn khó đọc”. So sánh những bản chép tay hiện còn giữ được như bản A47, A75, A1919, A1879, ta đủ thấy sự sai biệt trầm trọng như thế nào (9). Do đấy, trong những thời kỳ mà sự sửa chữa là cái quyền riêng của người sao, khi mà sự kiêng huý không còn lý do tồn tại nữa thì cái tên Nguyễn Tế Xuyên được đổi ra là Lý Tế Xuyên không có khó khăn gì. Sau cùng, giáo sư Hoàng Xuân Hãn còn cho biết chức vụ của Lý Tế Xuyên là một chức vụ đời Lý. Đã đành, kinh Đại Tạng (10) đã được Minh Sưởng và chưởng thư ký là Hoàng Thành Nhã mang từ Trung Hoa về từ mùa xuân năm Đinh Mùi (1007). Nhà Lý càng trân trọng hơn đối với kinh điển của nhà Phật nhưng trong Toàn Thư cũng như trong Cương Mục, ta không thấy một đoạn nào nhắc nhở đến chức vụ của Lý Tế Xuyên; ngược lại (11), Toàn Thư đã hai lần nói tới; một lần vào đời Trần Nhân Tông (12) và một lần vào đời Trần Minh Tông (13); như vậy Thư Hỏa Chính Chưởng là một chức vụ đời Trần, có lẽ không phải là một chức vụ đời Lý; lại nữa, Lý Tế Xuyên còn kiêm chức Chuyển Vận Sứ An Tiêm Lộ. Theo Aurousseau, An Tiêm Lộ dưới đời Trần thuộc vào tỉnh Nam Định hiện nay (14). Từ năm 1916, Maspéro đã căn cứ vào chuyện Lý Phục Man trong Việt Điện U Linh Tập để quả quyết có một Đỗ Thiện (15) là tác giả một cuốn Sử Ký viết vào khoảng 1287-1329; Gaspardone (16) trong Bibliographie Annamite ấn hành năm 1934, đã công nhận chức vụ của Lý Tế Xuyên là những chức vụ đời Trần. Đó cũng là ý kiến của Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục (17) viết năm 1777. B. Tác giả và tác phẩm thuộc vào đời Trần Trừ Chư Cát Thị và Hoàng Xuân Hãn, tất cả những nhà học giả đã nghiên cứu về Việt Điện U Linh Tập đều khẳng định tác phẩm này là một sáng tác đời Trần. Chúng tôi đã trình bày những ý kiến của Lê Quý Đôn, Maspéro, Gaspardone, Durand trong đó lập luận của hai giáo sư Gaspardone và Durand tỏ ra vô cùng vững vàng. Đối với một tác phẩm vừa có tính cách sử học vừa có tính cách văn học như Việt Điện U Linh Tập, sự khảo sát về soạn niên cần phải được đặt trên những căn bản khác; căn bản ấy có thể là kinh tế, phong tục, xã hội, luân lý, nhưng trước hết và quan trọng hơn tất cả là vấn đề quan điểm, vấn đề ý thức hệ. Định đoạt được vấn đề này tức là một phần nào giải quyết được vấn đề soạn niên. Vậy ý thức hệ được trình bày trong tác phẩm là ý thức hệ gì? Nói một cách, cái tư tưởng nào đã điều động tinh thần của các nhân vật trong tác phẩm? Họ đã nghĩ những gì? Đã hành động ra làm sao? Đời sống của họ có được đặt theo một tiêu chuẩn nào không? Trước hết Lý Tế Xuyên đã tuyên bố ngay trong bài Tựa năm 1329: “Thông minh chính trực đủ để xưng thần, trừ dâm thần, tà quái, yêu ma, vọng quỷ thời không được lạm xưng như thế”. Thông minh chính trực, theo tác giả, là những “vị biểu dương được vĩ tích, âm phù được sinh linh”, là những người “đương thời thì khí thế lừng lẫy, lai diệp thì anh linh chói lọi”. Thần của tác giả không có gì là mê tín, dị đoan. Trong truyện Lý Thường Kiệt, tác giả viết: “Người dân nào ham chuộng ma quỷ, đồng bóng huyễn hoặc dân chúng thì bị ông (Lý Thường Kiệt) trừng phạt sa thải để khử trừ ô phong, cho nên lúc bấy giờ có cái dâm từ nào thì đều biến ra làm hương hỏa của các vị phúc thần cả”. Như vậy, thần của Lý Tế Xuyên chỉ là một người, nhưng người ấy đã sống với tất cả sức mạnh của một con người, và bởi đó đã trở thành như một nhân vật linh thiêng và vẫn có liên lạc mật thiết với loài người một khi đã quá cố. Thần ở đây rõ ràng là những người đã “tận kỳ tính”, những con người đã “thành”, nghĩa là những con người hoàn toàn theo kiểu mẫu của nho phong. Cái tính cách nho phong hiển hiện trong từng cử chỉ của nhân vật, trong từng ngôn ngữ của họ. Lòng trung quân của Lê Phụng Hiểu, sĩ khí của Lý Thường Kiệt, tinh thần khảng khái của Trương Hống và Trương Hát, sự trinh liệt của Mỵ Ê, tinh thần tề gia lấy sự hiếu đễ làm trọng của Tô Lịch, đó là tất cả cái hình nhi hạ của nhà nho, ăn khớp với cái nhân sinh quan rất cao của họ về con người. Lòng sùng thượng nho học rõ rệt trong việc sắp đặt Sĩ Nhiếp làm đề tài đầu tiên của tác phẩm trong bố cục của tác phẩm được chia ra làm lịch đại đế vương, lịch đại phụ thần, hạo khí anh linh. Như vậy, ý thức hệ điều động tác phẩm của Lý Tế Xuyên là ý thức hệ nho giáo. Thời đại của tác giả là một thời đại bắt đầu ghi những năm thinh vượng đầu tiên của nho giáo, khác hẳn cái không khí êm đềm, thanh tịnh nhưng cũng đầy rẫy những chuyện mê tín dị đoan của nhà Lý. Cái tinh thần nho học mạnh mẽ sáng sủa của nhà Trần không phải một phút một chốc mà được hình thành; nó đã du nhập đầu tiên vào Việt Nam cùng với Phật giáo, nó đã được triều đình nhà Lý ủng hộ chính thức năm 1070 khi Lý Thánh Tông trùng tu Văn miếu ở Thăng Long; năm 1195 nó đã được coi là bình đẳng với Phật giáo; có những vị thiền sư như Quảng Nghiêm (1122-1190), sư Tĩnh Giới (?-1354) Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) Chu An (?-1370), Phạm Sư Mạnh, Lê Quát v.v… lãnh đạo. Năm 1329, Lý Tế Xuyên đang sống giữa cái xôn xao ấy của thời đại ông; ông đã mạnh bạo đứng trong hàng ngũ của “phái mới” tức là phái Nho học; tác phẩm của ông là một nhân chứng của một thời đại đang nỗ lực thanh toán với những cái “cũ” để hoàn toàn theo mới không một chút do dự. Đã đành, còn một đôi bóng dáng của cái tinh thần thần thoại đời Lý, tỉ dụ sự biến hiện của một nhân vật và dù sao đi nữa, năm 1329 vẫn chưa là năm thắng lợi hoàn toàn của Nho họ, chứng cớ là trong Việt Sử Lược hoàn thành năm 1377, sau Việt Điện U Linh Tập gần nửa thế kỷ, tính chất hoang đường quái đản đời Lý vẫn còn bộc lộ rõ ràng. Như vậy, theo tinh thần tổng quát của tác phẩm ta có thể tin rằng năm 1329 là soạn niên của Việt Điện U Linh Tập và Lý Tế Xuyên là một văn sĩ đời nhà Trần, mặc dầu các chứng cứ chưa được minh bạch như ta mong muốn. II. Tác giả Tất cả những bản Việt Điện U Linh Tập chép tay nếu có chua tên tác giả thì đều đề là Lý Tế Xuyên. Ngay những học giả không cho tác phẩm vào đời Trần cũng không phủ nhận quyền tác giả của Lý Tế Xuyên, nhưng về thân thế và sự nghiệp của ông, hiện nay ta chưa có tài liệu gì rõ rệt. Lịch sử cũng như những văn bản chính thức như Đăng Khoa Lục không thấy nhắc nhở đến tên ông. Phan Huy Chú trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, Lê Quý Đôn trong Nghệ Văn Chí chỉ nói đến ông một cách sơ sài. Ta chỉ có thể căn cứ trên chức vụ và trên tác phẩm để tìm kiếm một đôi nét về thân thế và sự nghiệp của Lý Tế Xuyên. Về chức vụ, mỗi bản chép tay đều chép mỗi khác. Theo 4 bản chép tay của trường Viễn Đông Bác Cổ hiện còn giữ được (18), chức vụ của Lý Tế Xuyên đã được đề như sau: Bản A.2879 ghi: Thủ Đại-Tạng Kinh Trung-Phẩm Phụng-Ngự Bản A.751 ghi: Thủ Đại-Tạng Kinh Thư-Hỏa Chính-Chưởng Trung-Phẩm Phụng-Ngự An Tiêm Lộ Chuyển-Vận-Sứ. Bản A.1919 ghi: Thủ Đại-Tạng Thư-Văn Chính-Chưởng Trung-Phẩm Phụng-Ngự An -Tiêm Lộ Chuyển-Vận-Sứ. Bản A.47 ghi: Thủ Đại-Tạng Thư-Văn Chính-Chưởng Trung-Phẩm Phụng-Ngự An-Tiêm Lộ Chuyển-Vận-Sứ. Trong cuốn Lý Thường Kiệt, khi nói về chức vụ của Lý Tế Xuyên giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã viết là “giữ kinh Đại Tạng, thư hỏa chính chưởng, trung phẩm phụng ngự, chuyển vận sứ An Tiêm lộ”, như thế giáo sư đã nói đến chức vụ của Lý Tế Xuyên ghi trong bản chép tay A.751; bản A.751 là một trong bốn bản đã ghi chữ hỏa thay vào chữ văn trong hai bản A.47 và bản A.1919, lại là một bản mới chép gần đây (19), do đấy, Durand kết luận rằng người phụng sao sau này đã lầm chữ hỏa với chữ văn và như vậy, giáo sư Durand xác nhận chức Thư Văn Chính Chưởng đúng hơn nếu đề là Thư Hỏa Chính Chưởng và công nhận bản A.47 là hợp lý nhất. Nhưng nếu đã kết luận như vậy thì chúng tôi thiết tưởng những nỗ lực của giáo sư Durand để xác định chức Thư Hỏa Chính Chưởng vào đời Trần không còn lý do tồn tại nữa, do đấy, ta có thể nói rằng viết như bản A.751 là phù hợp với sự thực lịch sử đời Trần; chức Thư Hỏa Chính Chưởng rõ rệt là một chức phụng vụ vừa giữ sách vừa giữ lửa ở nơi đã để kinh Đại Tạng; nếu đề là Thư Văn thì chức vụ tỏ ra tầm thường, không có gì đặc biệt đối với một người đã viết một cuốn sách về thần thánh như Việt Điện U Linh Tập. Có thể nói rằng chính cái ngọn lửa leo lét ở nơi để kinh Đại Tạng kia, dù ở nghĩa đen hay nghĩa bóng, đã gây cảm hứng cho nhà văn Lý Tế Xuyên, cho nên không trong một chuyện nào là tác giả không nhắc đến từ ngữ “hương hỏa bất tuyệt”. Cái ánh sáng trong tác phẩm là ánh sáng mà bình minh của nho học đang bành trướng không làm cho phai mờ. Giá trị của tác phẩm là ở trong sự thực hiện được cái mâu thuẫn biểu kiến ấy. Những lý luận trên nhằm vào mục đích tìm hiểu chức vụ của Lý Tế Xuyên, để từ đấy tìm hiểu thân thế của nhà văn. Qua chức vụ ấy, Lý Tế Xuyên xuất hiện như một nhà tu hành, âm thầm sống ở một nơi bảo tồn kinh Phật, mà nhiệm vụ là giữ sách như một người quản thủ thư viện ngày nay. Trong thời gian ấy, xa sự náo nhiệt của đô thành, trong một nơi có cây già bóng cả, giữa một không khí yên lặng trang nghiêm, Lý Tế Xuyên có đầy đủ thì giờ để đọc sách, viết văn, sưu tầm tài liệu, nhất là suy nghĩ về người xưa. Ông luôn luôn đi về cái thế giới cổ sơ ấy; ông sống với những nhân vật của ông, thấm nhuần cái không khí bao quanh họ, thấu triệt tinh thần họ. Khoa cử của triều đình đã không cám dỗ được nhà văn. Tên tuổi của ông không được ghi trên bằng cấp nhưng những ngày âm thầm tự học cũng như những sáng tác kia đã làm cho tên tuổi của ông lừng lẫy. Ngoài ra, xét theo nội dung tư tưởng của tác phẩm, Lý Tế Xuyên còn tỏ ra là một nhà văn chẳng những thấu hiểu sâu xa Phật giáo mà còn là một nhà nho say mê. Ngay trong bài Tựa, ông đã trình bày phương pháp của ông khi viết sách, cái phương châm mà ông đã theo. Thận trọng, khiêm tốn, biết phân biệt kỹ càng, có óc thẩm mỹ, vừa thích cái tinh thần tích cực của nhà nho vừa ưa cái vẻ huyền bí thiêng liêng của quá khứ, Lý Tế Xuyên bất cứ ở chỗ nào đã biểu lộ được sự chừng mực, sự giản dị, sự sáng sủa và cân đối. Một con người như vậy phải được sự hâm mộ của đương thời và của hậu lai. III. Nội dung tác phẩm Năm 1777, Lê Quý Đôn đã đếm được hơn hai mươi chuyện trong Việt Điện U Linh Tâp. Ông viết: “Đầu niên hiệu Khai Hựu nhà Trần, Lý Tế Xuyên phụng ngự chỉ soạn quyển Việt Điện U Linh Tập, chép các việc thần dị, đền miếu, lịch đại đế vương 8 truyện, nhân thần 12 truyện, hạo khí, linh tích” (20). Như vậy, ngoài 20 truyện về đế vương và nhân thần còn có những truyện về hạo khí anh linh mà Lê Quý Đôn không nói rõ là bao nhiêu. Phan Huy Chú (21) cho là tác phẩm có 28 truyện. Vào đời Lê, tác phẩm được Nguyễn Văn Chất (22) bổ tục thêm 3 hay 4 chuyện thần thoại tuỳ theo các bản chép tay. Đó là những truyện: 1. Sóc Thiên Vương 2. Tam Đảo Thần 3. Nam Tống Công Chúa ở đền Kiền Hải 4. Trịnh Gia và các em. Ngoài ra theo Gaspardone, còn có nhiều bản phụ lục có tiểu sử của Tứ Vị Thánh Lang đền Kiền Hải do Lê Tự Chi viết và đề Hồng Đức năm thứ 5 (1513); bản Trùng Bổ và 1 bản Dẫn đề ngày 7-7 năm Kỷ Vị và ký là Tam Thanh Quán đạo nhân… Những bản khác (A.2879, A.1919 có chỉ một vị An Lục tên là Kim Miễn Muội và gồm có những lời chú bình, tiếm bình của Cao Huy Diệu khi còn làm Giám Tu (23); một bài tựa của Lê Độn Phủ, tức là Lê Hữu Hỉ (24). Bản A.335 chép lại năm 1774 gọi là bản Tân Đính, Hiệu Bình có bổ sung đến 41 truyện, đồng thời, vẫn theo Gaspardone, những truyện chính như Sĩ Vương, Hai Bà Trưng vì đã chuyển sang Lĩnh Nam Chích Quái nên đã bị bỏ đi, do đấy, ở trạng thái cuối cùng này, hai tác phẩm có nhiều điểm giống nhau (25). Các tước hiệu sau khi chết được kể đến năm 1821, năm Minh Mạng thứ 2 (xem chuyện Triệu Xương và phu nhân ở cuối sách). Như vậy, theo bản A.751 mà chúng tôi đã dịch đây, phần Tục Bổ của Nguyễn Văn Hiền (tức Nguyễn Văn Chất theo Gaspardone (26)), phần Trùng Bổ và Phụ Lục của đạo nhân quán Tam Thanh đều không được kể vào phần nội dung Việt Điện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên. Phầm tiếm bình của Cao Huy Diệu, phần phụ lục sự tích đền thờ thần xã An Sở cũng thế; nội dung của Việt Điện U Linh chỉ gồm 27 chuyện chia ra 3 phần như sau: A. Lịch Đại Đế Vương (6 chuyện) 1. Sĩ Nhiếp 2. Phùng Hưng 3. Triệu Việt Vương, Lý Nam Đế 4. Thần xã tắc 5. Hai Bà Trưng 6. Mỵ Ê B. Lịch Đại Phụ Thần (11 chuyện) Lý Hoảng Lý Ông Trọng Lý Thường Kiệt Tô Lịch Phạm Cự Lượng Lê Phụng Hiểu Mục Thận Trương Hống và Trương Hát Lý Phục Man Lý Đô Uý Cao Lỗ C. Hạo Khí Anh Linh (10 chuyện) Hậu Thổ Phu nhân Thần Đồng Cổ Thần Long Độ Thần Khai Nguyên Thần Phù Đổng Sơn Tinh Và Thuỷ Tinh Thần Đằng Châu Thần Bạch Hạc Thần Hải Thanh Nam Hải Long Vương Quân Theo bố cục trên, nội dung của tác phẩm rất rõ rệt. Trước hết, tác giả biểu dương vĩ tích của những bậc đế vương đã thấu triệt nhiệm vụ của mình và đã hy sinh thân thế để mang lại hạnh phúc cho dân Việt. Danh từ dân Việt ở đây được hiểu theo nghĩa rộng rãi bởi vì chữ … bao hàm tất cả những dân tộc phía Nam Ngũ Lĩnh; Sĩ Vương cũng là một người Việt theo nghĩa này và chính vì thế tác giả đã kể lại chuyện của Sĩ Nhiếp đầu tiên như là một ông vua tinh thần của người Việt Nam. Việc đặt Sĩ Nhiếp lên đầu chuyện chứng tỏ mục đích của Lý Tế Xuyên khi sáng tác không có tính cách chính trị mà chỉ muốn soi văn hóa như một món ăn tinh thần bổ ích. Trong viễn tượng ấy, Sĩ Nhiếp là một bậc đế vương trên cả Bố Cái Đại Vương, trên cả Triệu Việt Vương và Lý Nam Đế. Nhưng Phùng Hưng cũng đã là một bậc đế vương có một giá trị cao. Nếu Sĩ Nhiếp tượng trưng cho lực lượng văn hóa phương Nam thì Phùng Hưng cũng đã từng là một bậc cha mẹ dân tượng trưng cho tinh thần bất khuất của người Việt. Triệu Việt Vương và Lý Nam Đế cũng thế, mặc dầu chính trị đối lập nhau, vẫn tỏ ra xứng đáng là những vị lãnh đạo thời ly loạn. Người đến thứ tư là thần xã tắc, người mang lại sự no ấm cho nhân dân, người đảm bảo cho đời sống của nhân dân về phương diện vật chất. Sự hiện diện của thần xã tắc chứng tỏ rằng cùng với văn hóa, cùng với chính trị và quân sự, một đời sống ấm no là một điều kiện tất yếu mà các bậc đế vương phải chú ý. Với tinh thần ấy, dù là một nhi nữ như Nhị Trưng cũng có thể liên kết được hào kiệt bốn phương, đánh đuổi quân xâm lăng ra khỏi bờ cõi, mang lại độc lập và hòa bình cho nước nhà. Nhị Trưng đã thất bại về quân sự nhưng Nhị Trưng đã thắng lợi về phương diện nâng cao tinh thần quốc gia; việc Nhị Trưng được Thượng đế sai xuống trần làm mưa chứng tỏ Nhị Trưng vẫn tiếp tục sứ mệnh thiêng liêng của mình đối với dân với nước. Cái chết của Mỵ Ê là một cái chết vẻ vang của một liệt nữ. Giữa lúc mất nước nhà tan, giữa lúc phải làm tù binh nhà Lý, Mỵ Ê đã cho đoàn người chiến thắng một bài học sâu xa. Nàng chết đi mà bảo vệ được sự trinh liệt, còn hơn vua tôi nhà Lý sống mà bị hối hận giày vò. Cách kể lại câu chuyện của tác giả chứng tỏ rằng lòng trung quân ái quốc của ông không làm sai lạc óc phê phán. Đối với tác giả, chỉ có đạo đức là có một giá trị trên hết mọi giá trị. Sau 6 chuyện nói về đề vương là 11 chuyện kể lại hoạt động của những lịch đại phụ thần. Tất cả là những bậc anh hùng tuấn kiệt của Việt Nam. Các vị ấy đã có đại công bảo vệ triều đình, bảo vệ quyền lợi của vua chúa như Lê Phụng Hiểu, nhưng đa số các vị là những người đã hết lòng vì nứơc vì dân, hoặc lo cho dân chúng được có ruộng cày như Lý Hoàng, hết lòng bảo vệ quyền lợi cho dân như Tô Lịch khi chết đã hiện về nói với quan Đô Hộ Lý Nguyên Hỷ: “Nếu sứ quân có giáo hóa cư dân trong thành cho hết lòng hết sức thì mới song được nhiệm vụ của một quan thú mục, mới xứng với trách nhiệm của bậc tùân lương”; Lý Thường Kiệt đã từng làm rung động triều đình nhà Tống; Lý Ông Trọng đã trở thành một vị anh hùng bảo vệ cho nhà Tống chống Hung Nô. Lý Ông Trọng khi còn thanh niên đã nói một câu bất hủ: “Tráng chí của đời người nên như chim Loan chim Phụng, nhất cử vạn lý, đâu lại để cho người thóa mạ, làm nô lệ cho người?” Trương Hống Trương Hát là bộ tướng của Triệu Việt Vương, đã vì Triệu Việt Vương mà thà chết không thà cộng tác với Lý Nam Đế; Lý Phục Man là thuộc tướng của Lý Nam Đế, chết đi vẫn tiếp tục ủng hộ Lý Thái Tổ, phù trợ cho dân gian. Việc sắp đặt các vị anh hùng này bên cạnh nhau biểu lộ lập trường của Lý Tế Xuyên. Ông muốn ở trên mọi đảng phái, ở ngoài mọi triều đại; ông chỉ muốn nhắm đến một điểm là sự phú cường của quốc gia, tinh thần mạnh mẽ của dân tộc. Dù tướng của Triệu Việt Vương có đối lập với tướng của Lý Nam Đế về chính trị chăng nữa, sau khi chết đi là họ chỉ nghĩ đến làm thế nào ích lợi cho nhân dân. Mục Thận sau khi thành thần, mỗi lần sóc vọng có kỳ tế lễ là hiện thành một con rắn nằm tròn ở cột đền, người nào uế tạp thì lập tức bị cắn chết. Chuyện Cao Lỗ cũng rất cảm động. Lòng trung trinh của Cao Lỗ đối với An Dương Vương rất hiếm có. Sau cùng là những bậc hạo khí anh linh. Đây là 10 chuyện thần có nguồn gốc thần thoại như Hậu Thổ phu nhân, thần Đồng Cổ, thần Long Độ, thần Khai Nguyên, thần Phù Đổng, Sơn Tinh và Thuỷ Tinh, v.v… Các thần đều một lòng sốt sắng cứu khổ phò nguy, thường sẵn sàng hiển linh báo mộng cho vua chúa biết đường lành phải theo, điềm dữ phải tránh; các thần lúc nào cũng tìm cơ hội để tham dự vào việc của triều đình, giúp cho nhà vua tránh được những bước khó khăn, cho dân chúng được ấm no sung sướng. Nói tóm lại, nội dung của tác phẩm rất rõ ràng; nội dung ấy đã được tóm lược ngay trong bài Tựa của tác giả. Nội dung ấy có một giá trị mà ta phải cân nhắc và bình luận. IV. Giá trị của tác phẩm Việt Điện U Linh Tập có một giá trị rõ rệt về nội dung và hình thức. A. Giá trị nội dung. 1. Giá trị tôn giáo Trước hết, tác phẩm có một giá trị tôn giáo không thể phủ nhận được. Tin tưởng vào sự bất diệt của linh hồn, tin tưởng vào sự tương quan giữa đời sống bên này và đời sống bên kia, tác giả phô diễn một nếp sống hoàn toàn kiểu mẫu. Theo tác giả thì thần thánh có ai là xa lạ đâu? Đó là những người trần mắt thịt như chúng ta, chỉ khác một điều là các người ấy đã sống một đời sống siêu phàm, trong sự cần lao kham khổ, trong sự phục vụ tích cực, trong nỗ lực chống lại sự quyến dũ của vật chất; thần thánh là những người đã sống hết tất cả kích thước của người, tận cùng biên giới nhân loại. Đến trình độ ấy, giá trị của con người tự nhiên được gia tăng; con người có thể tham dự vào đời sống linh thiêng để tiếp tục quảng bá ơn cương thường như trước; đến giai đoạn này, các vị anh hùng xứng đáng được lòng ngưỡng mộ sùng kính của nhân dân. Việc có đền miếu phụng tự trở thành như một điều kiện phải có. Ta không lạ gì khi thấy có nhiều vị thần hiển linh như muốn được hưởng tế tự lâu dài. Tính cách tôn giáo còn được thể hiện trong tinh thần sùng bái anh hùng liệt nữ. Từ vua chúa đến nhân dân, mọi người đều kính cẩn sự thần, suy tôn các vị thần, công nhận sự tối linh của thần như một nguyên lý. Thần thánh là kiểu mẫu lý tưởng của nhân dân; họ cần được sự phụ trợ của thần, nhưng hơn hết cả, họ mong muốn được nên giống như thần thánh, có can đảm chống lại dục vọng của họ để đi lên cao hơn. Ta có thể nói dân tộc Việt Nam trong căn bản là một dân tộc tôn giáo. Quan niệm người hùng rực rõ trong sử sách chứng tỏ sự thiết tha của người Việt Nam được sống như một siêu nhân, tuấn kiệt và uy dũng. Phản hồi được bầu không khí tôn giáo này, tác phẩm của Lý Tế Xuyên có một giá trị rất đặc sắc. 2. Giá trị luân lý Từ một lòng tin vào một quan niệm luân lý phổ biến, Lý Tế Xuyên trình bày nhiều mẫu người với quan niệm sống rất mãnh liệt. Mỗi người có một cách sống riêng tuỳ theo hoàn cảnh của họ nhưng lúc nào cũng đặt giá trị của tinh thần lên trên hết. Đầu tiên, Sỹ Nhiếp mở đầu cho quyển truyện là một người khoan hậu, khiêm hư đãi kẻ sĩ, hiếu khách và ưu bác về học vấn. Nền chính trị của ông ở Giao Châu rất khôn khéo mềm dẻo; chú trọng về văn hóa và giáo dục, đặt vấn đề trách nhiệm cá nhân lên rất cao, Sĩ Nhiếp không bao giờ xử sự như một người tự bạo tự khí. Nhân cách của ông nổi bật bên cạnh những con người tầm thường đồng thời với ông như Lưu Biểu. Giữ vững được nhân cách của mình, mặc dầu qua những cơn thử thách nghiêng ngửa, đó là biểu hiện của một tâm hồn vững vàng, ý chí mạnh mẽ, ưa tự do một cách say mê. Nhị Trưng phẫn nộ trước những hành động sắp bị xâm phạm. Chưa bao giờ giá trị cá nhân được đề cao như bao giờ. Con người cảm thấy được tôn trọng, được kính nể, đựơc công nhận như một giá trị bất khả xâm. Nhưng được tôn trọng không phải chỉ biết có mình là được tôn trọng; giá trị ấy là một giá trị phổ quát và cá nhân tranh đấu cho giá trị phổ quát ấy tức là tranh đấu cho mình và cho nhân loại. Đến đây, ta thấy sự tương quan chặt chẽ giữa cá nhân và gia đình, giữa cá nhân và xã hội, quốc gia. Từ ngàn xưa, Lý Tế Xuyên đã quan niệm sống là sống với người khác, sống cho người khác, sống vì người khác. Không bao giờ ta thấy nhân vật của ông cô độc; họ luôn luôn hy sinh tận tuỵ vì hạnh phúc của tha nhân; họ lo cái lo của mọi người, đau khổ cái đau khổ của mọi người, lúc nào cũng vượt khỏi cái phạm vi nhỏ bé của bản thân để sống cho người khác. Đối với Lý Tế Xuyên, không bao giờ người khác là hỏa ngục, ngược lại, người khác là một dịp quý báu để cho con người gần người hơn, người khác là một giá trị làm cho giá trị nhân loại được tăng cường. Đẹp biết bao cái vẻ hào hùng của Lý Thường Kiệt, mà cuộc đời là đấu tranh để đề cao lòng tự hào của dân tộc. Cao quý thay cái tinh thần bất khuất của Trương Hống và Trương Hát mà danh vọng cũng không làm cho ngả nghiêng, mà phú quý cũng không làm cho thay đổi, mà uy vũ cũng không làm cho sợ hãi. Luôn luôn trong Việt Điện U Linh Tập, ta bắt gặp những tâm hồn cao quý ấy, ngay thẳng, vững vàng, trong sạch, mạnh mẽ, nghĩa là tất cả những sắc thái của một nền luân lý cao siêu bắt nguồn từ một nhận định cụ thể về giá trị con người. 3. Giá trị lịch sử Mặc dầu Maspéro không công nhận cho Việt Điện U Linh Tập có một giá trị lịch sử (27) nhưng chính Maspéro đã sử dụng tác phẩm của Lý Tế Xuyên để bổ sung những khuyết điểm của lịch sử Trung Hoa về Việt Nam, có lẽ phải nói như Lê Quý Đôn đã nói trong Kiến Văn Tiểu Lục: Lương sử tài dã, tức là khen Lý Tế Xuyên là một sử gia có thực tài. Ta thử xem phương pháp sáng tác của Lý Tế Xuyên, cách sử dụng tài liệu lịch sử của tác giả, sự góp phần của cuốn sách vào sự hiểu biết xã hội đời Lý Trần. Phuơng pháp của tác giả đã được tuyên bộ trong bài Tựa. Tác giả bắt đầu bằng một đinh nghĩa về thần, sau đấy phân biệt ba loại thần và liệt kê những thuộc tính của các vị thần ấy, sau cùng tác giả tuyên bố chép lại sự thực để “phân biệt màu đỏ với màu tía”. Trong các tác phẩm Việt Nam, ít khi ta thấy tác giả trình bày quan điểm của mình một cách minh bạch như Lý Tế Xuyên; ta cũng ít gặp những tác phẩm biết dung hòa tinh thần tôn trọng cổ nhân với tinh thần sáng tác một cách chừng mực vừa phải như Lý Tế Xuyên đã làm. Trong 27 chuyện được coi là của ông, 8 chuyện đã không ghi xuất xứ, và ta có thể chắc rằng 8 chuyện ấy là do sự tìm kiếm riêng của tác giả; 19 chuyện còn lại đã được ghi xuất xứ rõ ràng như sau: a) Theo tục truyền: chuyện 20 và 27 B) Theo Tam Quốc Chí: chuyện 1 c) Theo Giao Châu Ký của Triệu Xương: chuyện 2, 10, 25. d) Giao Châu Ký của Tăng Cổn: chuyện 23 đ) Sử Ký: chuyện 5, 10, 11, 13 e) Sử Ký của Đỗ Thiện: chuyện 14, 15, 17, 24 g) Báo Cực Truyện: chuyện 1, 10, 18, 19, 22 h) Giao Chỉ Ký:chuyên 17 (dẫn trong Sử Ký của Đỗ Thiện) Để có một ý niệm rõ ràng về cách dùng tài liệu của Lý Tế Xuyên ta thử duyệt qua những tác phẩm lịch sử mà tác giả đã dẫn chứng. Cuốn Tam Quốc Chí đã được dùng để viết chuyện Sĩ Nhiếp; cuốn này được viết vào khoảng thế kỷ thứ III sau Thiên chúa giáng sinh và được ấn hành năm 1002; Lý Tế Xuyên đã gần như trích hẳn đoạn nói về Sĩ Nhiếp (28); đoạn nói về sự hiển linh của Sĩ Nhiếp lại được lấy trong Báo Cực Truyện; như vậy, Lý Tế Xuyên cho ta biết rõ ràng rằng chuyện Sĩ Nhiếp của ông là do hai nguồn tài liệu tạo nên; sự thẳng thắn ấy làm cho chúng ta không hoài nghi sự trung thực của ông, bởi vậy, gán cho tác giả là “đạo văn” thì thực là hơi quá đáng (29). Chính giáo sư Durand rất khe khắt với Lý Tế Xuyên cũng đã công nhận bản văn của tác giả là bản Ngô Chí được sao lại và biến chế thay đổi đi (30); như thế, ta có thể thẳng thắn công nhận rằng Lý Tế Xuyên đã sáng tác trong khuôn khổ của bản Ngô Chí, đã triệt để tôn trọng tài liệu và chỉ thêm bớt khi nào cảm thấy cần thiết; cách sử dụng tài liệu theo lối này nằm trong tập quán chung của các nhà văn xưa; năm 1333, Lê Trắc viết về Sĩ Nhiếp trong An Nam Chí Lược (q.VII tờ 4) năm 1377, một tác giả vô danh cũng viết về Sĩ Nhiếp trong Việt Sử Lược (q.I, 4b-5a) ngay cả đến những tác giả của Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục khi viết về Sĩ Nhiếp (Tiền Biên, II, 29, 30, 31, III, 1, 2, 3) cũng không có những sáng kiến gì khác Lý Tế Xuyên; sự chỉ định xuất xứ ở đầu chuyện (phần này không có trong bản A.47) và những phần sáng tác của Lý Tế Xuyên chứng tỏ sự dè dặt của ông khi viết văn, sự tôn trọng những tài liệu của cổ nhân vốn là một đặc tính cổ điển, cái thiện chí của ông sử dụng lịch sử để ghi lại cho hậu thế một bài học kinh nghiệm. Sau Tam Quốc Chí, Lý Tế Xuyên còn dùng tài liệu của Báo Cực Truyện. Theo Gaspardone, sách này còn được gọi là Báo Đức Truyện; ngay năm 1777, Lê Quý Đôn cho biết Báo Cực Truyện đã thất truyền. Trong Cương Mục sự hiển linh của Sĩ Nhiếp sau khi chết là do tục truyền kể lại chứ không phải Báo Cực Truyện (31). Trong Việt Điện U Linh Tập, xuất xứ của truyện Tô Lịch và Lý Nguyên Hỉ, truyện Phù Đổng là ở trong Báo Cực Truyện; trong Cương Mục xuất xứ của truyện Tô Lịch lấy ở An Nam Kỷ Yếu (32), như vậy, Báo Cực Truyện đã dẫn trong Việt Điện U Linh Tập cũng như trong Lĩnh Nam Chích Quái, Đạo Giáo Nguyên Lưu, Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hành Ngữ là một tác phẩm ghi chép những truyền thuyết trong dân gian, những thành tích của các làng, những dã sử mà dân chúng truyền tụng. Việc trích dẫn tên sách trong những chuyện Sĩ Nhiếp, thần Tô Lịch, chuyện Hậu Thổ phu nhân, chuyện thần Đồng Cổ tiết lộ căn bản của Báo Cực Truyện là một cuốn sao lục thần tích. So sánh cách bố cục của những chuyện này trong Việt Điện U Linh Tập và trong Cương Mục, ta nhận thấy cách viết của Lý Tế Xuyên vẫn là triệt để căn cứ trên tài liệu để sắp đặt câu chuyện theo kỹ thuật riêng của ông. Loại tài liệu thứ ba là cuốn Giao Châu Ký của Triệu Xương và Tăng Cổn. Theo An Nam Kỷ Yếu, dẫn trong Cương Mục (33), tháng 7 mùa thu năm Tân Mùi (791) Triệu Xương sang Giao Châu làm đô hộ, dụ Phùng An mang quân ra hàng, rồi đi du lịch, xem xét các đền đài miếu vũ chép làm sách Phủ Chí, sau 10 năm hoạt động, vì đau chân nên được đổi về Bắc làm tế tửu; Bùi Thái sang thay Triệu Xương nhưng vì chính trị thấp kém nên bị bộ tướng Giao Châu đánh đuổi; Triệu Xương lại sang Giao Châu lần thứ 2, khoảng tháng 12 năm Quý Mùi (803); quân làm phản liền yên ngay. Như thế, Triệu Xương là một ông quan tốt lại thành thạo về chính trị; có thể nói ông là một chuyên viên về các vấn đề Giao Châu; nhưng cuốn Phủ Chí còn gọi là Giao Châu Ký thường truyền là của ông không thấy được nói tới trong Cựu Đường Thư (34), như vậy Giao Châu Ký (hay Giao Châu Chí) chưa chắc là một tác phẩm đã được ấn hành, có lẽ đấy chỉ là một vài nhận xét rời rạc mà Triệu Xương đã ghi chú một cách vội vàng khi còn ở Giao Châu. Lý Tế Xuyên đã dẫn chứng Triệu Xương để nói về Phùng Hưng và Phùng An bởi vì không có một người nào hiểu hết chuyện này hơn Triệu Xương; Lý Tế Xuyên đã tỏ ra rất hợp lý khi sử dụng những kinh nghiệm bản thân của một chuyên viên duy nhất về vấn đề chính trị Giao Châu năm 791. Sự dẫn chứng Triệu Xương làm cho sự xác thực của câu truyện được hoàn toàn bảo đảm. Sau cùng, ta nhắc đến tài liệu lịch sử cuối cùng của Việt Điện U Linh Tập, đó là cuốn Sử Ký và nhất là Sử Ký của Đỗ Thiện. Hiểu được phương pháp của Lý Tế Xuyên đã sắp đặt tài liệu của Đỗ Thiện như thế nào tức là định đoạt được giá trị lịch sử của tác phẩm. Trước hết, theo Maspéro (35) khi Lý Tế Xuyên dẫn Sử Ký, hay Sử Ký của Đỗ Thiện tức là ta phải hiểu đó là một cuốn Sử: cuốn sử ký của Đỗ Thiện. Như thế, Đỗ Thiện đã được nhắc đến tất cả 8 lần trong những chuyện Hai Bà Trưng, thần Tô Lịch, Phạm Cự Lượng, Mục Thận, Trương Hống và Trương Hát, Lý Phục Man, Cao Lỗ, thần Đằng Châu. Riêng chuyện Lý Phục Man đã làm cho Maspéro chú ý. Đầu tiên, chuyện căn cứ vào Sử Ký của Đỗ Thiện kể lại việc tuần phương của Lý Thái Tổ, sự hiển linh của Lý Phục Man trước kia là thuộc tướng của Lý Nam Đế, sau đấy là việc lập đền theo lời đề nghị của Ngự sử Đại Phu Lương Văn Nhậm. Đến đây câu chuyện được chuyển từ đời Lý đến đời Nguyên Phong nhà Trần (1251-1258) nhắc đến việc thần hiển linh phù trợ cho vua tôi nhà Trần chống Thát Đát. Theo sử, Maspéro chỉ có biết một Đỗ Thiện, Đỗ Thiện mà vào khoảng tháng 2-1127 trước ngày Lý Nhân Tông băng hà đã đến nhà Sùng Hiền Hầu để báo cho Hầu biết con của Hầu lên ngôi vua. Maspéro nhận thấy năm 1127 cách năm 1257 quá xa, do đó giả định có một Đỗ Thiện khác sống vào đầu thế kỉ XIV. Giả định của Maspéro đã bị Gaspardone bắt bẻ năm 1934, trong Bibliographie Annamite. Gaspardone viết: “Phải nhận rằng giai thoại về việc Thát Đát nhập khấu dẫn ra ở đó cũng như ở truyện tiếp theo sau là ở ngoài truyện Lý Phục Man”. Như thế nghĩa là một đàng không thể có một Đỗ Thiện khác ngoài Đỗ Thiện đời Lý, một đàng phải nhận rằng khi Lý Tế Xuyên dẫn chứng một tác giả ở đầu chuyện là không bắt buộc phải hiểu rằng cả chuyện ấy thuộc về tác giả hay tác phẩm đã dẫn. Mỗi khi Lý Tế Xuyên nhắc đến tên một tác phẩm, bao giờ ông cũng dùng chữ An nghĩa là xét, và như vậy, án không nghĩa là trích, là lấy cả đoạn văn của tác phẩm dẫn chứng làm của mình. Phương pháp của Lý Tế Xuyên là một phương pháp cổ truyền, dẫn một tác giả để tăng thêm uy lực của bằng chứng mà thôi, chẳng khác gì như La Bruyère khi viết cuốn Les Caractère đã phải nhân đề tác phẩm là: “Les Caractères de Théopraste trraduits du grec v.v…” (36). Nếu không hiểu như thế, làm thế nào ta có thể giải thích được ý định của Lý Tế Xuyên khi ông dẫn 2 hay 3 tác phẩm cùng một lúc ở đầu chuyện, tỉ dụ trong chuyện Tô Lịch, tác giả đã xét Sử, Giao Châu Ký và Báo Cực Truyện. Có lẽ lại phải tạo ra một Đỗ Thiện nữa cũng không biết chừng! Như vậy, phương pháp sử dụng tài liệu lịch sử của Lý Tế Xuyên rất đúng quy tắc, nhờ đấy giá trị lịch sử của tác phẩm rất cao. Giá trị lịch sử của Việt Điện U Linh Tập không phải chỉ cốt yếu trong tính cách ấy mà thôi. Đọc Lý Tế Xuyên, ta đã hiểu cái tôn giáo của người Việt xưa như thế nào, cái luân lý nào đã điều động tinh thần của người Việt Nam; ta còn thấy trong tác phẩm ấy phong tục của người xưa, những nét tâm lý của một hạng người, những màu sắc của một chế độ. Ta thấy trong truyện Bố Cái Đại Vương và trong truyện Lê Phụng Hiểu sự kính phục của nhân dân đối với những bậc nam tử có sức mạnh hơn người, sự cạnh tranh về ảnh hưởng rõ rệt trong truyện Triệu Việt Vương, Lý Nam Đế, sự bạc tình tàn nhẫn của Nhã Lang trở thành độc địa trước sự ngây thơ tin chồng của Cảo Nương rồi tục gửi rể cũng trong truyện này, nỗi lo âu của một người cha khi chỉ có một con gái mà có những hai chàng trai tài như nhau đến xin cưới (chuyện Sơn Tinh và Thuỷ Tinh), rồi tục ăn hỏi, sự đau đớn khi người yêu của mình bị rơi vào tay người khác, đó là những sắc thái của một thời đại lịch sử đã rất xa nhưng vẫn còn nhiều điểm tương đồng với xã hội ta bây giờ. IV. Kỹ thuật của tác giả 1. Kỹ thuật hành văn Tác giả đã viết văn phẩm của mình bằng chữ Hán, đó là một khuyết điểm, nhưng ta cũng không trách được ông, bởi vì đến năm 1329, chữ nôm mới được hình thành từ năm 1282 có lẽ chưa đủ từ ngữ để diễn đạt những tình tiết của một câu chuyện. Lại nữa, cách viết của Lý Tế Xuyên rất đơn giản, không có những câu dài với những vế đối nhau, không có những điển tích xa xôi phải giải thích; tác giả toàn dùng những từ ngữ hiện nay đã trở thành phổ thông; có nhiều câu chỉ cần phiên âm ra quốc ngữ là đã trở thành một câu văn Việt. Bản dịch của chúng tôi theo sát nguyên văn có thể gợi cho độc giả một ý niệm đúng về cách hành văn của Lý Tế Xuyên. 2. Kỹ thuật mô tả và tự sự Đáng chú ý hơn hết là kỹ thuật mô tả và tự sự của tác giả. Một phong cảnh đẹp, một ngôi đền ẩn trong đám lá xanh, một dòng sông quanh co hay bóng dáng e ấp của một thiếu nữ, vẻ bệ vệ của một tiên ông, cách đi đứng hùng hổ của một võ tướng, lý Tế Xuyên đều ghi chú trong một vài nét tinh tế. a) Tả cảnh Cảnh thường có công dụng làm khung cho câu chuyện được xảy ra một cách tự nhiên. Lý Tế Xuyên có một kỹ thuật tả cảnh rất nhịp nhàng. Đây là cảnh Dâm Đàm (Hồ Tây), nơi đã xảy ra câu chuyện Lê Văn Thịnh hóa cọp định hãm hại Lý Nhân Tông: “Một hôm vua Nhân Tông ngự ra Tây Hồ xem cá; thuyền bồng thung dung, mái chèo khoan nhặt lượn chơi trên hồ rất vui vẻ; hốt nhiên thấy mây mù kéo đến trên mặt hồ mù mịt, đối diện không trông thấy nhau, vẳng nghe tiếng cọc chèo vùn vụt lướt mù tiến đến, thấp thoáng có một con hổ lớn đang hé mồm nhe răng như muốn cắn” (Chuyện Mục Thận). Đây là ngôi dã thự của Lý Thường Minh, tọa lạc giữa cảnh trời cao sông rộng: “Lý Thường Minh qua làm Đô Đốc Giao Châu thấy đất đai bằng phẳng nghìn dặm, núi sông bao bọc đến ngã ba sông Bạch Đằng, liên tiếp đến ngã ba sông Bạch Hạc, mới dựng quán Thông Linh, đặt tượng Tam Thanh, mở riêng ở trước một ngôi nhà gọi là tiền mạc” (Chuyện thần Bạch Hạc). Cảnh hoang phế đã được Lý Tế Xuyên mô tả với một niềm ngậm ngùi làm cho người đọc phải bâng khuâng. Đây là ngôi nhà đổ nát của Lý Ông Trọng: “Nhân đó Triệu Xương mới hỏi thăm nhà cũ của Vương hồi xưa, chỉ thấy mù khói ngang trời; sông nước mênh mông, rêu phong đường đá, xanh rơi cụm hoang, một mảnh nhàn vân phất phơ trên đám cỏ thôn hoa rụng” (Chuyện Lý Ông Trọng). Cảnh gió bão nổi lên làm cho Cao Biền cũng phải kinh hoảng. “Hốt nhiên gió mưa ào đến làm cho bay cát đổ cây, sập nhà lở đất, lôi cả đồng sắt lên mà nghiền tan như tro bụi” (Chuyện thần Long Độ). Những cảnh tráng lệ của đền đài miếu vũ cũng đã được mô tả một cách sắc bén; đây là thành Đại La do Lý Nguyên Hỷ xây: “Cửa kép tường đòi, bốn hướng vây tròn, nhà cửa san sát” (Chuyện Tô Lịch). B) Tả người Giữa những khung cảnh ấy, ta thấy nhiều bóng người linh động với những bộ điệu, những ngôn ngữ riêng. Đây là vẻ tiên cốt của thần Tô Lịch: “Đêm ấy, Nguyên Hỉ đang yên lặng nằm bên cửa sổ, hốt nhiên một trận thanh phong ào ào thổi đến, bụi cuốn cát bay, rèm lay án động, có một người cỡi một con hươu trắng từ trên không chạy xuống, mày râu bạc phơ, áo xiêm sặc sỡ…” (Chuyện Tô Lịch) Y phục của thần bao giờ cũng giàu màu sắc: “Một người tác chừng 60, đội mão giải trại, bận áo tử hà, thắt lưng, tay cầm đao Thăng Long Yển Nguyệt đến trước mặt vài chào” (Chuyện Lý Hoằng). Những thần kỳ dị được phô diễn một cách hết sức tả chân; đây là thần Cao Lỗ: “Một dị nhân thân dài chín thước, y quan chỉnh túc, ngôn mạo lăng tằng, lấy dùi búi tóc, gài dao làm trâm, lưng giắt gậy đỏ, bạch vua…” (Chuyện Cao Lỗ). Đây là Đồng Cổ, dáng dấp cổ lỗ không kém gì Cao Lỗ: “Một người kì dị, thân dài tám thước, tu mi như kích, y quan nghiêm nhã, mình mặc nhung phục, tay cầm binh khí, cúi đầu…” (Chuyện thần Đồng Cổ). Những lúc nói đến thanh niên, ngòi bút của Lý Tế Xuyên sắc sảo vô cùng. Đây là hình ảnh oai hùng của Phùng Hưng và Phùng Hãi: “Vương gia tư hào hữu, sức lực dũng mãnh, đánh được hổ, vật được trâu; người em tên là Hãi cũng có sức mạnh kỳ dị, vác được tảng đá nặng mười nghìn cân hay một chiếc thuyền con chở nhìn hộc mà đi hơn mười dặm” (Chuyện Bố Cái Đại Vương). Đây là Lê Phụng Hiểu: “Vương thân hình cao đại kỳ dị, mày râu dài và rậm, sức mạnh hơn người… Vương lấy tay nhổ cả khóm trúc mà đánh, không một người nào dám chống cự” (Chuyện Lê Phụng Hiểu). Bên cạnh những chàng trai uy dũng kia, nổi bật xiêm áo của những thiếu nữ sắc đẹp mê hồn. Đây là Hậu Thổ Phu nhân: “Giữa lúc đang bàng hoàng, vua thấy một người con gái ước độ hai mươi tuổi, mặt tựa hoa đào, mày đậm màu dương liễu, mắt sáng như sao, miệng cười như hoa nở; nàng mặc áo trắng, quần lục, lưng mang đai, dịu dàng bước đến” (Chuyện Hậu Thổ Phu nhân). Cách ăn mặc của hai chị em bà Trưng lại khác hẳn mặc dầu vẻ mặt cũng gần tương tự. “Vua mừng liền qua xem, hốt nhiên ngủ mộng thấy hai thiếu nữ mặt hoa mày liễu, áo lục quần hồng, mão đỏ, thắt lưng cỡi ngựa sắt mà đi qua” (Nhị Trưng Phu nhân). Nhiều khi tác giả không cần mô tả nữa; ông chỉ gợi lên cho ta một hình ảnh bằng cách mô tả phản ừng của những người chung quanh, tỉ dụ trong chuyện Sơn Tinh và Thuỷ Tinh, Mỵ Nương không cần xuất hiện mà qua sự tha thiết của hai chàng thanh niên, ta có thể biết được rằng nàng đẹp lắm. c) Tả tình Nghệ thuật tả tình của Lý Tế Xuyên có nhiều điểm đặc sắc. tác giả chú trọng đến sự tương quan giữa thể chất và tâm hồn, sự thuần nhất của tình cảm trong thời gian, sự biểu hiệu của tình cảm qua cử chỉ và ngôn ngữ. Cảnh tả tình của ông liên hệ chặt chẽ với cách tả người. ta còn thấy Lý Tế Xuyên chú trọng đến việc sắp đặt tình tiết của câu chuyện cho phù hợp với sự phát lộ của tình cảm; tỉ dụ trong chuyện Triệu Việt Vương và Lý Nam Đế, sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa hai vương hữu giữa lúc đang kịch liệt tự nhiên đi đến một sự thỉnh hòa. Cảo Nương đang bơi lội trong hạnh phúc không thấy sự giả tạo của mối tình hờ, thêm vào đấy vẻ đẹp trai của Nhã Lang, ngôn ngữ dịu dàng của chàng làm cho Cảo Nương càng sung sướng hơn nữa trong duyên mới. Thế rồi cái phải xảy ra đã xảy ra. Cảo Nương ngay khi chết vẫn không nghi ngờ dã tâm của chồng. Sự yên lặng của nàng trước sau khi chết mang rất nhiều ý nghĩa. Lý Tế Xuyên đã chuẩn bị mọi chi tiết để cho tình cảm được phát biểu một cách tuần tự, hồn nhiên, sâu sắc và cảm động. Nghệ thuật tả tình còn già giặn hơn nữa trong chuyện Sơn Tinh và Thuỷ Tinh. Tác giả cho biết hai chàng là một đôi bạn thân; đó là một điểm quan trọng để cho ta thấy tất cả những ngang trái, những đau khổ trong sự thù hằn mà nhan sắc của một thiếu nữ đã mang đến để chia rẽ hai người bạn. Thêm vào đấy sự nhu nhược của nhà vua, sự khéo léo của Lạc hầu, bằng ấy tình tiết để làm cho câu chuyện rắc rối hơn, cho sự căm thù giữa hai người bạn thêm kịch liệt tàn nhẫn. Mỗi lần mùa thu đến, cùng với gió lạnh trở về khơi nhớ nhung, Thuỷ Tinh lại dâng nước lên như muốn làm cho Sơn Tinh chết đuối trong cơn phẫn nộ của chàng. 3. Kỹ thuật đối thoại Phần đối thoại là một trong những phần quan trọng trong kỹ thuật sáng tác. Lý Tế Xuyên đã biết sử dụng đối thoại để làm cho nhân vật linh động, suy nghĩ và nói năng hoạt bát. Ta thử theo dõi cuộc nói chuyện giữa Nhã Lang và Cảo Nương mà xem; lời nói của Nhã Lang dịu dàng, êm ái, đầy yêu đương; chàng cố ý hạ thấp giọng xuống để cho lời nói trầm trầm; chàng dùng những câu dài, những từ ngữ rất kêu như “thiên duyên tác hợp, tao ngộ kỳ duyên… chẳng lẽ cứu lưu luyến tình chiếu chăn riêng tư mà bỏ khuyết việc thần hôn phụng dưỡng… Nhưng mà đường sá xa xôi, đi về cách trở, không dễ một hồm một mai mà trở lại được, sum họp ít mà chia phôi nhiều, anh thật ân hận quá v.v…” Cảo Nương im lặng ngồi nghe; có lẽ nàng cảm động lắm khi nghe lời nói như ru của Nhã Lang; nàng có biết đâu chính những lời ngon ngọt ấy sẽ làm cho nàng phải chết. Cuộc đàm thoại giữa Lê Ngọa Triều khi còn là Khai Minh Vương với thôn dân Đằng Châu cũng rất tự nhiên và phù hợp với tính tình của nhân vật. Tính độc ác, hung hãn và tự phụ, Lê Ngọa Triều có một giọng nói gắt gỏng, xẵng, ngược lại, người trong thôn hiền lành thì giọng nói dài hơn, lễ phép hơn. “Thấy trên bờ cao có đền thờ mới hỏi người trong thôn rằng: - Đền ấy thờ thần gì? Thôn dân thưa: - Ấy là đền cổ thờ thần Thổ địa của Đằng Châu. Vua hỏi: - Có linh không? Thôn dân thưa: - Dân trong châu này nương nhờ vị thần ấy, cầu mưa đảo tạnh lập tức thấy linh ứng. Vua mới lớn tiếng gọi rằng…” (Chuyện thần Đằng Châu) Nhưng linh động và hồn nhiên nhất là cuộc đàm thoại giữa Hùng Vương và Lạc Hầu trong chuyện Sơn Tinh và Thuỷ Tinh. Hùng Vương trong chuyện này là một ông vua nhu nhược, ba phải, không có phán đoán; Lạc Hầu ngược lại là một ông vua thông minh, có mưu kế, nói lời nào là nhà vua “cho là phải” ngay; bởi vậy, tác giả không để cho nhà vua nói nhiều; những câu vắn tắt “vua muốn gả, vua sợ, vua bảo, Hùng Vương cả mừng, Hùng Vương cho là phải, Hùng Vương mừng lắm v.v…” giữa những lời nói khôn ngoan của Lạc Hầu làm nổi bật hai cá tính khác hẳn nhau. Tài viết chuyện của Lý Tế Xuyên là ở đấy. Ông làm cho độc giả say mê theo dõi câu chuyện trong từng chi tiết nhỏ nhặt. Độc giả sung sướng đọc từ chuyện này sang chuyện kia, mỗi chuyện có một kỹ thuật riêng, càng đọc càng thấy thích thú. V. Kết luận Nói tóm lại, Lý Tế Xuyên là một bản chất phong phú, đặc sắc. Đó là một con người hiếu kỳ lúc nào cũng hoạt động, cái gì cũng mới đối với ông. Lý Tế Xuyên đã nhìn tất cả, ngạc nhiên với tất cả và đã nói được hết cả. Hình như quá khứ chỉ được gây dựng cho một mình ông, hình như đó là cái nhìn đầu tiên của người Việt trên thế giới hình thức đầy sắc màu và vận động. Lý Tế Xuyên có một năng khiếu tưởng tượng rất mãnh liệt và những giác quan luôn luôn tỉnh táo. Những gì ông đã đọc được khi làm Thủ Đại Tạng Kinh Thư Hỏa Chính Chưởng, ông trông thấy và làm cho người khác trông thấy. Ông là người có mắt, tất cả những gì đã qua mắt ông đều để lại một hình ảnh xác định không bao giờ phai. Chính nhờ ở sự tưởng tượng tự nhiên mãnh liệt mà Lý Tế Xuyên có một lối kể chuyện duyên dáng với một kỹ thuật sắc sảo không bao giờ tầm thường. Lý Tế Xuyên còn có sự thiện cảm làm cho ông cảm thấy như khi ông trông thấy, những hình ảnh chồng chất trong kỷ niệm sống dậy cùng với những âm thanh làm rộn rã tâm hồn ông. Bao nhiêu thế kỷ đã qua, từ Sĩ Nhiếp đến Trần Thái Tông, từ Trưng Vương đến Mỵ Ê, ông vẫn tìm thấy những tình cảm phức tạp của một ngày loạn ly, sự hoan hỉ khi có tin đại tiệp, sự lo âu khi ngoại địch nhập khấu, rồi sự tiếc thương, lòng hối hận tất cả những gì người ta biết mà người ta phải bỏ, người ta không biết mà phải đi tới, tất cả có thể thấy lại và pha trộn với những sự xao động tinh thần cùng những ấn tượng sinh lý của tai và của mắt. Suốt trong tác phẩm của Lý Tế Xuyên, không đâu có những tình cảm suy nhược, mơ hồ, buồn bã bâng khuâng; một niềm bao quát tất cả là sự hãnh diện quốc gia, một sự lạc quan, một tinh thần lành mạnh, một tâm hồn trong sạch mà một văn tài như Lý Tế Xuyên dễ dàng cảm thấy và mô tả được. Đọc xong Việt Điện U Linh Tập, ta xôn xao vì bóng dáng hùng vĩ của những vị anh hùng liệt nữ ngày hôm qua, ngày hôm nay còn đủ uy lực để làm phấn khởi cả một đoàn người hăm hở vì lý tưởng quốc gia đang rực rỡ trong đầu óc. Ta nhận thấy phải làm một cái gì như người xưa; dòng máu anh hùng bừng bừng sôi trong huyết quản. Ta không thể không thấy lòng mình dũng liệt hơn, hăng hái hơn trên đường phụng sự quốc gia dân tộc, thông dự vào một đời sống cụ thể để thực hiện cái bản chất đầy tiềm lực của con người. Huế, ngày 24-11-1959 LÊ HỮU MỤC ------------------------- Chú thích: (1) Xem Bibliographie Annamite của E.Gaspardone (2) Xem M.Durand trong Dân Việt Nam, số 3 trang 11 (3) Xem Kiến Văn Tiểu Lục, quyển 4. Thiên chương, tờ 42 (đã dịch và sắp xuất bản) (4) Xem Durand, Sđd, trang 6: Respecteux des Anciens et d’une modestie conforme aux règles morales du sage, il aime une information sincère, je n’oserais dire scientifique. (5) Q.12 “Thế gia họ Lý” (6) Xem Việt Sử Lược, II, 1a (7) Xem dưới (8) Xem M.Durand trong Dân Việt Nam, số 3 trang 39-44 (9) Xem Cương Mục, chính biên, I,43a (10) Xem M.Durand trong Dân Việt Nam, số 3 trang 6 (11) Xem Toàn Thư, V, 35b (12) Xem Toàn Thư, VI, 43b (13) Xem Exposé de Géographie historique du pays d’Annam traduit du Cương Mục (B.E.F.E.O XXII, 1922) (14) II (ouvrage Đỗ Thiện) remonte certainement aux première années du 14e siècle (Maspéro, trong Etudes d’Histoire d’Annam, B.E.F.E.O, XVI, 1916) (15) B.E.F.E.O, XXXIV,1934 (16) IV, 4a (17) Xem Durand, Sđd, trang 6. Chúng tôi đã kiểm điểm lại nhận xét của Durand, căn cứ trên những bản đã chụp lại những bản chép tay của trường Viễn Đông Bác Cổ. (18) Theo Duran, Sđd, trang 6 (19) Kiến Văn Tiểu Lục, q.IV, thiên Chương, tờ 4a. (20) Trong Hiến Chương, q.45 (21) Nguyễn Văn Chất người làng Vũ Di, huyện Bạch Hạc (Vĩnh Yên), tiến sĩ năm 1448, hồi 27 tuổi, Tư Nghiệp Quốc Tử Giám năm 1466, Đô Sát Viện, đi sứ Tàu năm 1480 (Toàn Thư XIII, tờ 29), tác giả Tục Việt Điện U Linh Tập (Đăng Khoa Lục I, 7) (Nhận xét của Gaspardone, trong Bibliographie Annamite). (22) Theo Gaspardone dẫn trong Bibliographie Annamite, Cao Huy Diệu trước là Cao Dương Diệu làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Bắc Ninh, Tiến Sĩ năm 1715, hồi 35 tuổi, Thượng thư bộ Lại năm 1739 (xem Đăng Khoa Lục, III, 44; Bị Khảo, phần Kinh Bắc, Gia Lâm). (23) Lê Hữu Hỉ, tên hiệu là Độn Phủ, tiến sĩ năm 1700 (xem Đăng Khoa Lục, III, 38b) (24) xem Bibliographie Annamite. (25) Chữ Hiền dễ bị lầm với chữ Chất. (26) Xem bài “Le protectorat général d’Annam vers la T’ang “ (BEFEO X, tr.539) (27) Tam Quốc Chí, Q.III (28) Xem Durand, Dân Việt Nam, số 3, trang 12 (29) … La biographie dite de Che Sie était tout simplement une copie, modifiée et altérée du texte de l’Histoire de Wou (Sđd, tr.11). (30) Tiền Biên, III, 2 (lời bàn của Ngô Sĩ Liên) (31) Tiền Biên, IV, 31 (32) Tiền Biên, IV, 27, 28 (33) Tiểu sử 161, tờ 5-6 (34) Xem Maspéro, Etudes d’Histoire d’Annam 1) La dynastie des Lý Antérieurs (543-601) trong BEFEO, XVI, 1916. (35) Théophraste là một triết gia Hy Lạp thế kỷ thứ IV trước công nguyên. Phần dịch của La Bruyère là phần phụ thuộc như để cầu sự che chở của nhà văn xưa.
  14. Minh họa con lắc Foucault Chúng ta quan sát vận động con lắc, theo hình hoa thị (số 8) và 9 phương, tương hợp Huyền không phi tinh nhưng chưa thể xác định được cung phi thuận nghịch. Ngũ Phúc lâm môn.
  15. Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động (6) Thiền sư Lê Mạnh Thát Ảnh: Ngọc Hải "Giả như người nước ta không ghi lại những sự việc của Lê Hoàn (hoàng đế Đại Hành) và chúng ta phải nghiên cứu qua tư liệu của người Trung Quốc, thì một đoán án đương nhiên phải xảy ra, đó là Lê Hoàn không xưng đế xưng vương hay đặt quốc hiệu lập xã tắc gì hết, ngược lại chỉ là một tiết độ sứ, một quan chức của nhà Tống" (thiền sư Lê Mạnh Thát). Sỹ Nhiếp là ai? Có thể có ai đó trong giới sử học "ý kiến ra ý kiến vào" về những phát hiện của giáo sư Lê Mạnh Thát mà chúng tôi đang giới thiệu một phần hết sức tóm lược. Mong rằng những người quan tâm có thể tìm đọc các công trình của ông để trao đổi học thuật. Chúng tôi xin lưu ý, những gì mà chúng tôi giới thiệu ở đây, giáo sư Lê Mạnh Thát đã công bố từ cách đây trên dưới 40 năm, nay được in lại trong hai bộ Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam (tập 1) và Lịch sử Phật giáo Việt Nam (tập 1), đều do NXB Tổng hợp TP.HCM phát hành năm 2006, ngoài sách Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta mà chúng tôi đã dẫn. Trong những công trình này, mỗi một vấn đề đưa ra ông đều dẫn kèm theo tất cả các tài liệu có liên quan bằng những ngôn ngữ gốc. Những tài liệu đó được ông giới thiệu cụ thể, chỉ rõ số trang, số tờ, nơi ấn hành hoặc lưu trữ, nếu ai nghi ngờ thì có thể tra tận gốc, bằng tiếng Việt, chữ Hán cổ và chữ Trung Quốc hiện nay, cùng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật, chữ Phạn cổ... Ông dẫn việc nhà Tống với Lê Hoàn như trên để nói rằng những sử liệu từ Trung Quốc là "không hoàn toàn đáng tin cậy", ví dụ như chính sử Trung Quốc ghi nhiều thứ sử Giao Châu (nước ta) nhưng thực tế những người đó chỉ được "phong khống" chứ chưa bao giờ bước chân qua nước ta. Việc nghiên cứu lịch sử nước nhà phải sử dụng tất cả những tài liệu của tổ tiên ta để lại, rồi đối chiếu với chính sử Trung Quốc để thẩm định, xác minh tìm ra sự thật. Cho nên, mỗi một cuộc truy tìm, mỗi một phát hiện được tài liệu của tổ tiên đều khiến cho lịch sử nước nhà trở nên sáng rõ. Ông bảo nói "một ngàn năm đô hộ giặc Tàu" như lời bài hát của Trịnh Công Sơn là cách nói đau buồn mà không chính xác. Cuộc đấu tranh của dân tộc ta từ sau khi cuộc kháng chiến của Hai Bà Trưng thất bại chưa bao giờ ngưng nghỉ. Bởi chưa đầy 60 năm sau, cuộc khởi nghĩa Tượng Lâm lần thứ nhất đã nổ ra vào năm 100, dẫn tới việc người anh hùng Khu Liên lập khu tự do vào năm 138, làm hậu phương cho các cuộc khởi nghĩa về sau, cho đến thời Chu Phù, Sỹ Nhiếp. Thực chất trong hơn 150 năm bị các thái thú Trung Quốc đến đô hộ, chúng ta "mất nước chứ không mất hạnh", nghĩa là dân tộc vẫn còn, nền văn hóa dân tộc được xây dựng từ thời Hùng Vương vẫn được bảo tồn và phát triển. Sự quật cường của dân tộc chính người Trung Quốc cũng phải thừa nhận: "Trưởng lại đặt ra, tuy có cũng như không". Có một nhân vật lạ lùng trong lịch sử nước ta, đó là Sỹ Nhiếp. Cả sử Trung Quốc và sử ta đều nói ông là thái thú Giao Chỉ (sau đổi thành Giao Châu). Tuy là một "thái thú" đến cai trị, nhưng các sử gia Việt Nam đều dành những lời lẽ mến mộ khi nói về Sỹ Nhiếp. Lê Văn Hưu viết: "Sỹ Vương biết lấy khoan hậu khiêm tốn để kính trọng kẻ sĩ, được người thân yêu mà đạt đến thịnh một thời". Ngô Sỹ Liên cũng vậy. Trần Trọng Kim thì viết: "Sỹ Nhiếp trị dân có phép tắc, và lại chăm sự dạy bảo dân cho nên lòng người cảm mộ công đức, mới gọi tên là Sỹ Vương". Khi nhân dân gọi Sỹ Nhiếp là "Sỹ Vương", tức là vua của mình, còn có lý do nào nữa không? Phần trước chúng tôi có nêu sự "nổi giận" của giáo sư Lê Mạnh Thát khi trích lời Ngô Sỹ Liên "Nước ta hiểu thi thơ, tập Lễ Nhạc thành ra nước văn hiến, bắt đầu từ Sỹ Vương", cần nói rõ là ông bất bình với việc cho rằng nước ta hiểu thi thơ, tập Lễ Nhạc mới thành ra nước văn hiến, chứ hoàn toàn không xem thường Sỹ Nhiếp. Cũng như Trần Trọng Kim viết: "Nhà làm sử thường cho nước ta có văn học là khởi đầu từ Sỹ Nhiếp. Cái ý kiến ấy có lẽ không phải" (Việt Nam sử lược). Đưa ra nhiều tài liệu dẫn chứng, giáo sư Lê Mạnh Thát cho rằng, trong thực tế chính quyền Sỹ Nhiếp (từ 187), cũng như trước đó là Chu Phù (khoảng 180), là "chính quyền Việt Nam độc lập". Sử Trung Quốc chép rõ Chu Phù "vứt điển huấn tiền thánh, bỏ pháp luật Hán gia". Còn đối với Sỹ Nhiếp, sử Trung Quốc (Ngô chí) viết rằng: "(Sỹ Nhiếp) tổ tiên vốn người Mấn Dương nước Lỗ, đến loạn Vương Mãng tỵ nạn Giao Châu, tới Nhiếp là sáu đời". Ông cho rằng một người có tổ tiên 6 đời ở Việt Nam thì đã "Việt Nam hóa", trở thành người Việt Nam rồi. Cũng theo Ngô chí: "Sỹ phủ quân (Sỹ Nhiếp) của Giao Chỉ học vấn đã ưu bác, lại thành công về chính trị, ở trong đại loạn, bảo toàn một quận hơn 20 năm, cương trường vô sự, dân không thất nghiệp, những bọn lệ thuộc đều được nhờ ân"; "Anh em Nhiếp đều là người hùng các quận, làm tướng một châu, riêng ở vạn lý, uy tôn vô thượng. Ra vào đánh chuông khánh, đầy đủ uy nghi, kèn sáo cổ xuy, xe ngựa đầy đường. Người Hồ theo sát đốt hương, thường có mấy mươi. Thê thiếp đi xe màn, tử đệ theo lính kỵ. Đương thời quý trọng, chấn phục trăm mọi. Úy Đà cũng không đủ hơn". Từ tài liệu trên, theo giáo sư Lê Mạnh Thát: "Sỹ Nhiếp dẫu được đào tạo trong khuôn mẫu Trung Quốc, đã có những hành vi xa lạ với phong tục tập quán Trung Quốc. Nói rõ ra, ông đã được Việt hóa. Việc Ngô chí so sánh Sỹ Nhiếp với Triệu Đà cho thấy nền cai trị nước ta thời bấy giờ độc lập tới mức nào. Thực tế có thể nói chính quyền độc lập đầu tiên sau chính quyền Hai Bà Trưng là chính quyền Chu Phù - Sỹ Nhiếp". Theo ông, dưới thời Sỹ Nhiếp, nước ta đã có một nền nông nghiệp rất phát triển. "Lúa Giao Chỉ mùa hè chín, nông dân một năm trồng hai lần" (theo Kinh Dương dĩ nam dị vật chí). "Một năm tám lứa kén tằm đến từ Nhật Nam" (Văn tuyển 5 tờ 9b4). "Nhiếp mỗi khi sai sứ đến Quyền đều dâng tạp hương, vải mỏng thường tới số ngàn. Món quý minh châu, sò lớn, lưu ly, lông thú, đồi mồi, sừng tê, ngà voi, các thứ vật lạ quả kỳ như chuối, dừa, long nhãn, không năm nào không đưa đến" (Ngô chí 4 tờ 8b1-3 nói về những cống vật mà Sỹ Nhiếp gửi đến Tôn Quyền). Giáo sư Lê Mạnh Thát dẫn giải tiếp: Sau khi Sỹ Nhiếp chết (226), lúc ấy Tôn Quyền đã chiếm cứ phía Nam Trung Quốc để tranh hùng với Tào Tháo và Lưu Bị, nên nhân cái chết của Sỹ Nhiếp tiến hành thôn tính nước ta, lúc đó "là một nước độc lập dựa trên điển huấn và pháp luật của người Việt". Con Sỹ Nhiếp là Sỹ Huy nối nghiệp cha, chống lại Tôn Quyền, tuy nhiên do mất cảnh giác, nên đã thất bại, Sỹ Huy bị bắt và bị giết, Tôn Quyền chiếm nước ta. Nhưng do bị chống đối quyết liệt, nền cai trị của Tôn Quyền không bền vững và không lâu dài, vì chỉ 18 năm sau, Triệu Thị Trinh (Bà Triệu) cùng anh là Triệu Quốc Đạt nổi lên khởi nghĩa giành lại chính quyền. Về sự kiện Bà Triệu khởi nghĩa, giáo sư Lê Mạnh Thát cho rằng đây là cuộc "khởi nghĩa thành công". Ông viết: "Tôn Quyền sai Lục Dận làm An nam hiệu úy và thương thảo với quân khởi nghĩa bằng ấn tín và tiền của. Đây là lối đánh dẹp khá lạ kỳ, hiếm thấy trong lịch sử Trung Quốc đối với nước ta. Và cuối cùng Lục Dận cũng có thể báo cáo là đã "dẹp yên được giặc Giao Chỉ" và được phong làm thứ sử Giao Châu. Nhưng châu trị của Giao Châu lần này không phải ở nước ta, mà phải ở Quảng Châu, vì nó ngó ra biển (lâm hải), như bài biểu của Hoa Thạch trong Ngô chí tờ 10b3 đã ghi nhận. Nói cách khác, nước ta từ năm 248 tiếp tục là một nước độc lập và Bà Triệu tiếp tục đứng đầu đất nước, cho đến khi Tôn Hựu sai Đặng Tuân (Ngụy chí 4 tờ 27a3 viết là Đặng Cú) đến Giao Chỉ vào năm 257, ra lịnh cho thái thú Giao Chỉ bắt dân đưa lên Kiến Nghiệp làm lính. Và như Thiên Nam ngữ lục đã ghi nhận là Bà Triệu đã bị tử trận trong một cuộc chiến đấu với chính Đặng Tuân sau khi đã tiêu diệt Lục Dận (...). Những mô tả này (trong Thiên Nam ngữ lục) hoàn toàn phù hợp với tư liệu của Ngụy chí 4 tờ 27a2-27b5, đặc biệt là tờ chiếu năm Hàm Hi thứ nhất (264) của Tào Hoán..." (Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1, trang 385-386)... Đại Việt sử ký toàn thư rõ ràng có nguồn gốc từ thời Lý Trần, trong thời kỳ này có nhiều sử gia hết sức siêu tuyệt mà chúng ta chưa rõ đó thôi. Sử gia Ngô Sĩ Liên khi bình luận trong Đại Việt sử ký toàn thư hoàn toàn hạ thấp uy thế Đại Việt mà nâng uy thế Trung Hoa, do vậy khiển trách cực nặng của vua Lê đối với Ngô Sĩ Liên, Nghiêm Nhân Thọ là hoàn toàn chính xác (tôi chỉ phát hiện ra trong Đại Việt sử ký khi đọc được đoạn nội dung này của vua Lê). Lê Thánh Tông làm vua lúc 19 tuổi. Một năm sau, khi trách lỗi cựu thần Ngô Sĩ Liên, Nghiêm Nhân Thọ, vị hoàng đế 20 tuổi bảo họ: "Ta mới coi chính sự, sửa mới đức tính, ngươi bảo nước ta là hàng phiên bang của Trung Quốc thời xưa, thế là ngươi theo đường chết, mang lòng không vua". Đó là tiếng nói của một ý chí tự cường dân tộc, động lực mãnh liệt đưa Lê Thánh Tông đạt tới vinh quang trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước hồi thế kỷ 15. Sửa sử nâng cao uy thế Sĩ Nhiếp, có ý tôn vinh Sĩ Nhiếp, Cao Biền... qua cả truyền thuyết Cao Biền gặp tướng quân Cao Lỗ... Chiếu dời đô của vua Lý Công Uẩn như tôi đã phân tích, chắc chắn đã bị thêm vào nội dung, hạ uy thế vua Đinh, Lê mà nâng uy thế Cao Biền... thế mà các nhà nghiên cứu Việt không hề nghi ngờ về nội dung. Không ghi rõ những mốc son trong lịch sử như chiến tranh nhà Lý phạt Tống, bình thời Trần quá kém, không ghi rõ cuộc triệt hạ văn hóa của quân Minh là khủng khiếp nhất và gần nhất thời Ngô Sĩ Liên... ... và còn nhiều vấn đề khác. Biết trước tương lai, Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã viết: Chính sử điên đảo già chân.
  16. Cái gì đó đã khiến chúng bắt đầu rời xa nhau thì ta chưa biết, nhưng khi ở rất gần nhau thì tốc độ rời xa nhau là cực chậm, chậm như là đứng yên luôn vậy. Nhưng chúng đã không nhập lại thành một khối với nhau, không hút nhau theo luật Vạn vật hấp dẫn, mà vẫn khởi động tiến trình rời xa nhau dần dần. Càng xa nhau thì chúng càng tăng tốc nhanh lên dần, nhanh cho đến hôm nay có 3 nhà khoa học nhìn thấy và chiếm giải Nobel. Hình như cuốn Du hành vào vũ trụ của 2 tác giả trẻ người Việt Nam, đã dùng kết quả thiên văn, lượng tử, di truyền... đập luận điểm trên tan tành. Giả sử chúng ngày càng xa nhau nhưng toàn bộ chúng đang cùng trong hệ vận động như Đại thiên hà chẳng hạn (bao gồm toàn bộ vũ trụ 15 tỷ năm ánh sáng), do vậy chúng đang xa nhau trong chu kỳ vận động theo hình elip... thì sao? đây là ý kiến của tôi. Ngoài bán kính trên thì vũ trụ tối om, thực ra dễ hiểu thôi - vũ trụ chúng ta đang trong một Siêu đại thiên hà, nó nhỏ như một hạt cát vậy và ánh sáng từ siêu đại thiên hà khác đang còn bay tới chúng ta nhưng còn cách quá xa, vì vậy kính thiên văn chưa phát hiện ra. LUẬT QUÂN BÌNH VÀ TRIẾT LÝ ÐẠI HOÀ (Thái Đông A) ... Người Tây phương không biết tới luật quân bình nhưng lại tin ở sự đối xứng. Họ nhận xét thấy hiện tượng đối xứng luôn luôn xảy ra. Trong thế giới hạ nguyên tử người ta thấy sự xuất hiện từng cặp như hạt “up quark” đi đôi với hạt “down quark” và tin rằng phải có một loại đối xứng không phụ thuộc không gian hình học mà là loại đối xứng mọi chiều kích. Paul Davies gọi nó là đối xứng trừu tượng (abstract symmetry), còn Howard Haber và Gordon Kane thì gọi đó là siêu đối xứng (super symmetry). Vì tin ở sự đối xứng ấy nên họ đã tạo ra một mẫu hình căn bản của cơ cấu nhỏ nhất của vũ trụ và đã lần lượt chứng minh là mẫu hình đó là đúng, mẫu hình đó là mẫu hình cơ cấu nhỏ nhất của vũ trụ. Hạt ảo cuối cùng là “top quark” đã được phát hiện vào tháng Ba năm 1995, hoàn tất được mục đích của công tác vật lý đã bắt đầu từ 25 thế kỷ trước đây. Cần phải nói rõ hơn là thế giới hạt ảo trong hạ nguyên tử là một thế giới âm dương; những hạt ảo có điện tích dương (+) luôn luôn cặp với một hạt ảo có điện tích âm (-). Có ba cặp hạt âm dương như vậy được phát hiện, hạt cuối cùng được phát hiện như trên đã nói là hạt “top quark” (có điện tích +) thuộc cặp “top quark” và “down quark”. Ba cặp hạt có các điện tích âm dương đối nhau được so sánh với các hào âm dương đối nhau thuộc quẻ Thái trong kinh Dịch như sau: Mẫu Hình Âm Dương Mẫu Hình Âm Dương của 3 cặp Quark của quẻ Thái bottom quark (-) ___ ___ strange quark (-) ___ ___ down quark (-) ___ ___ top quark (+) _______ charm quark (+) _______ up quark (+) _______ (Các điện tích của các “quark” được biểu thị bằng + và -, + là điện tích dương, - là điện tích âm, so sánh với các hào âm dương, __ __ là hào âm, ____ là hào dương).
  17. “Giải ảo” vương triều Lý www.thanhnien.com.vn 21/11/2009 23:06 Tượng đài Lý Công Uẩn dù đã được dựng tại Hà Nội nhưng vẫn còn rất nhiều tranh cãi về trang phục, tư thế, nét mặt của nhân vật - ảnh: Ngọc Thắng Phải chăng Đình Bảng là nơi “chôn rau cắt rốn” của vị vua khai sáng một trong những vương triều thịnh trị nhất của chế độ phong kiến Việt Nam? Những tranh luận khoa học và cả sự tôn vinh vương triều Lý đã được hơn 60 nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập ở hội thảo khoa học 1.000 năm vương triều Lý và kinh đô Thăng Long hôm qua 21.11 tại Hà Nội. Trong lịch sử Việt Nam, có không ít vương triều và nhân vật lịch sử gây nhiều tranh cãi. Song, với vương triều Lý, những nhận định, đánh giá tổng quát về công lao của vương triều này gần như đạt tới sự đồng thuận cao. Tất cả các sử gia đều cho rằng nhà Lý đã xây dựng được một chính quyền thống nhất, củng cố và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia và độc lập dân tộc; chấn chỉnh quân đội, luật pháp; phát triển nông nghiệp và kinh tế hàng hóa với những chính sách cấp tiến..., trong đó hai điểm nhấn nổi bật là định đô ở Thăng Long và khai mở kỷ nguyên văn minh Đại Việt, mà cốt lõi là nền văn hóa Thăng Long. Tuy nhiên, tranh cãi chủ yếu nằm ở việc nhận diện nguồn gốc, thân thế nhân vật Lý Công Uẩn. Vị vua khai sáng này rõ ràng có một sự nghiệp vĩ đại và hiển hiện, nhưng lại có một lai lịch không hề rõ ràng. Ngay cái tên Lý Công Uẩn, theo GS Nguyễn Quang Ngọc, Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển kiêm Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội, dường như cũng mang tính biểu trưng của một làng quê đầy huyền bí (hương Diên Uẩn, sau đổi thành hương Cổ Pháp), chứ khó ai có thể biết rõ tên thật của ông. Mặt khác, các bộ sử cũ của Việt Nam, hoặc không chép đến, hoặc không xác định được ai là cha của Lý Công Uẩn. Sách Đại Việt sử ký toàn thư, dựa theo truyền thuyết dân gian, chỉ kể chuyện mẹ ông “đi chơi chùa Tiêu Sơn, cùng với người thần giao hợp rồi có chửa, sinh vua ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình năm thứ 5 (974) thời Đinh”. Nhưng cũng có tài liệu nói rằng Lý Thái Tổ là con của Thần Khỉ, con của Lão Sa Môn, Thánh tổ Hiển Tông hay thậm chí là con của thiền sư Vạn Hạnh. Lại có giả thuyết Lý Công Uẩn sở dĩ mang họ Lý là vì Vạn Hạnh đã “bố trí” cho em ruột Lý Khánh Văn nhận vua Lý làm con nuôi để hợp thức hóa tên họ Lý cho người con trai đích thực của mình. Lý Công Uẩn không phải người gốc Mân GS Nguyễn Quang Ngọc đã bước đầu đưa ra kết luận mới có phần đảo ngược những hiểu biết trước đây về nhân vật Lý Công Uẩn. Bằng những cứ liệu khoa học, trong đó quan trọng nhất là văn bia Lý gia linh thạch lập năm 1793 tại chùa Tiêu Sơn có ghi: “Đắc Đông Ngàn Hoa Lâm nhan Phạm Mẫu tiêu dao kỳ tự”, ông Ngọc cho rằng Dương Lôi (Từ Sơn, Bắc Ninh) là quê nội và Hoa Lâm (xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội) là quê ngoại của vua nhà Lý. Cũng về vấn đề nguồn gốc nhà Lý, trong khi nhiều sử sách “huyền thoại hóa” và “thần thánh hóa” nhân vật Lý Công Uẩn, thì GS Nguyễn Quang Ngọc xác định thân phụ Lý Thái Tổ không phải là “thần nhân” mà là người thật, gia đình Lý Công Uẩn tuy gặp hoàn cảnh éo le nhưng Lý Công Uẩn vẫn có đầy đủ cả cha lẫn mẹ. Ông Ngọc đã “giải ảo” bằng cách xác định chính xác vị trí của ngôi mộ Hiển Khánh Vương, thân phụ Lý Thái Tổ, trong khu Rừng Miễu làng Dương Lôi, tức khu cánh đồng giáp giới giữa Đình Bảng, Đình Sấm, Đại Đình. Câu chuyện Đình Bảng hay Dương Lôi mới đích thị là quê nội Lý Thái Tổ cũng là câu hỏi làm đau đầu không ít nhà sử học. Tất cả các bộ sử cũ đều chép Lý Công Uẩn là người châu Cổ Pháp. Song, trên thực tế, Cổ Pháp thời Lý quy mô ra sao và làng nào là làng quê gốc của nhà Lý, thì lại không dễ trả lời. Theo GS Nguyễn Quang Ngọc, đã có một thời, hễ nói đến quê hương nhà Lý là người ta nghĩ ngay đến làng Đình Bảng (nay là phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh), mặc dù ai cũng biết hương Cổ Pháp (hay châu Cổ Pháp) thời Lý không phải chỉ có một làng Đình Bảng. Thế nhưng, nhiều người đã đơn giản đồng nhất châu (hay hương) Cổ Pháp thời Lý với làng Cổ Pháp - được cho là làng Đình Bảng, và quy tất cả những vấn đề về quê hương nhà Lý hay có liên quan đến quê hương nhà Lý vào riêng làng Đình Bảng. Trên thực tế, GS Nguyễn Quang Ngọc cho rằng làng Đình Bảng, dù đã được nghiên cứu nhiều, khảo sát nhiều, nhưng hầu như không có dấu tích đáng kể nào về gia đình (cha, mẹ), dòng họ hay sự sinh trưởng của Lý Công Uẩn. Đình Bảng cũng chưa bao giờ thờ các vị vua nhà Lý làm thành hoàng làng. Đền Đô thờ 8 vị vua nhà Lý, nhưng nguyên thủy thì không phải là đền hay miếu của làng Đình Bảng. Cũng theo GS Ngọc, khu rừng Báng đúng là dấu tích còn lại của Thọ Lăng nhà Lý, nhưng Thọ Lăng không phải là đất của riêng làng Đình Bảng. Hơn nữa, nhiều nguồn tư liệu cho thấy bà Phạm Thị - thân mẫu Lý Công Uẩn, chỉ gắn bó với Dương Lôi và khi chết được chôn cất tại Dương Lôi, đúng như phong tục phổ biến của người Việt về cuộc đời người phụ nữ: sinh quê cha, thác làm ma quê chồng. Như vậy, theo GS Ngọc, Dương Lôi, chứ không phải Đình Bảng, mới đúng là gốc gác của Lý Thái Tổ. Bà Phạm Thị đã sinh Lý Công Uẩn tại đây. Lý Công Uẩn lớn lên ở đây, và khi làm nên công danh sự nghiệp cũng gắn chặt với nơi đây. PGS-TSKH Nguyễn Hải Kế, Chủ nhiệm khoa Lịch sử, ĐH KHXH-NV, ĐH Quốc gia Hà Nội, và Ths Nguyễn Ngọc Phúc cũng bóc tách vấn đề “gốc người Mân” của Lý Công Uẩn và chứng minh những cứ liệu mà các sử gia Trung Quốc dựa vào để khẳng định “nguồn gốc Mân” (Phúc Kiến, Trung Quốc) của Lý Công Uẩn, như Mộng Khê bút đàm, Tốc thủy ký văn hay bức thư của Từ Bá Tường viết cho Đại Việt vào năm 1076 và cả Lý trang Chử Nội Lý thị phòng phả là không đáng tin cậy vì có rất nhiều nhầm lẫn, sai sót về số liệu, sự kiện, nhân vật. Còn nhiều “nghi án”... Tuy đồng thuận trong việc đề cao công lao kiến thiết đất nước của vương triều Lý, song nhiều sử gia vẫn còn tranh cãi về mô hình, thể chế chính trị của nhà nước này. Trong khi nhiều nhà sử học trong nước, như: PGS-TS Vũ Văn Quân, PGS-TS Nguyễn Thừa Hỷ (ĐH KHXH-NV, ĐH Quốc gia Hà Nội) cho rằng bộ máy nhà nước trung ương của vương triều Lý được xây dựng và kiện toàn theo hướng tập quyền nên Thăng Long ngay từ đầu đã trở thành trung tâm quyền lực với sự tập trung cao, thì GS Momoki Shiro (ĐH Quốc gia Osaka, Nhật Bản) lại khẳng định các triều đại cho đến nhà Trần chưa cai trị theo mô hình quan liêu trung ương tập quyền. Mặt khác, dù chế độ phụ hệ được coi trọng, nhưng vai trò của các bà hoàng hậu và hoàng thái hậu thời Lý trong việc củng cố vương triều cũng không nhỏ. GS Momoki Shiro dẫn chứng bằng việc Lý Thái Tổ sau khi lên ngôi không những truy phong thân phụ làm Hiển Khánh vương mà còn truy phong thân mẫu làm Minh Đức thái hậu. GS Sakurai Yumio (ĐH Quốc gia Tokyo, Nhật Bản) cũng cho rằng chỉ có khu vực Thăng Long và vùng đất phía tây nam của nó là do nhà Lý trực tiếp quản lý. Theo ông Sakurai, toàn bộ khu vực phía ngoài châu thổ đều nằm dưới quyền kiểm soát của dòng họ địa phương có thế lực mạnh, còn các khu vực miền núi hẻo lánh, dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh các nhóm tộc người thiểu số vẫn duy trì mối quan hệ có tính chất nửa độc lập với chính quyền trung ương. Nhiều phát hiện khảo cổ học về dấu tích vương triều Lý nhưng vẫn còn nhiều ẩn số chưa thể giải đáp - ảnh do Viện Khảo cổ học Việt Nam cung cấp Thật ra, không phải đến bây giờ, mà hơn 20 năm nay, những hội thảo lớn nhỏ, những chương trình nghiên cứu về vương triều Lý và vai trò của vương triều này trong tiến trình lịch sử Việt Nam cũng đã được bàn thảo. Song, đến nay, khi Đại lễ 1.000 năm Thăng Long sắp cận kề, “hiểu biết về nguồn gốc Lý Thái Tổ, về quê hương nhà Lý và kinh thành Thăng Long xem ra vẫn còn mơ hồ và quá nhiều mâu thuẫn”, GS Nguyễn Quang Ngọc nói. Y Nguyên Tôi sẽ cố gắng giải bí ẩn này - vì mục đích vương triều Lý là bảo vệ bí mật tích vua Lý Công Uẩn qua bài thơ sau: Việt sử lược, bộ sử cổ nhất Việt Nam, chép nội dung bài thơ chỉ có 8 câu[5]: 樹根杳杳木表青青禾刀木落十八子成震宮見日兑宮隠星六七年間天下太平 Phiên âm: Thụ căn diểu diểuMộc biểu thanh thanhHòa đao mộc lạcThập bát tử thànhChấn cung kiến nhậtĐoài cung ẩn tinhLục thất niên gianThiên hạ thái bình Các sách sử đời sau như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án, Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép thêm 2 câu nữa: 東阿入地 (Đông a nhập địa)木異再生 (Mộc dị tái sinh) vào trước câu “Chấn cung kiến nhật”, thành bài thơ gồm 10 câu. Dịch nghĩa bài thơ như sau: Gốc rễ thăm thẳm Ngọn cây xanh xanh Dao chặt cây rụng Mười tám hạt thành Cành đâm xuống đất Cây khác lại sinh Đông mặt trời mọc Tây sao náu mình Khoảng sáu, bảy năm Thiên hạ thái bình Bài thơ có 2 ý chính, ý chính thứ nhất trong toàn bài nói họ Lý là tiếp nối của 18 vua Hùng vương sau chu kỳ vận động âm dương ngũ hành mà suy thoái từ thời Nam Việt. Kết nối phân tích về Lý Ông Trọng là Lý Thân hay chính là Trọng Thủy mà sau này, con trai Trọng Thủy và Mỵ Châu là vua thứ hai kế tục vua Triệu Đà ở Quảng Đông chứ không phải là Trọng Thủy. Thời kỳ này tướng Lữ Gia nước ta làm tể tướng. Đấy là lý do phong phanh về gốc Quảng Đông. Cho nên, tính toán của An Dương Vương là tuyệt thế, đồng thời Triệu Đà và Trọng Thủy cũng hiểu rất rõ lịch sử nước Văn Lang cũng như Bắc Dương Tử do thời đó tư liệu sử chắc chắn còn nhiều nên đã cùng đồng lòng xây dựng một Nam Việt thống nhất. Cho nên, công chúa Mỵ Châu chính là viên Ngọc trai quý của nước Âu Lạc qua câu chuyện Nỏ thần An Dương Vương. Triệu Đà được toàn bộ Văn Lang tôn sùng và được suy tôn là Thần hộ pháp.
  18. Cấu hỏi: Cái gì sẽ xuất hiện tại chỗ này (Vị trí nào đó chẳng hạn) sau 500 năm nữa? Tất các quẻ bói đều có thể sai. Vì có thể đó là sự xuất hiện của một dạng tồn tại của 500 năm sau, mà chưa có ở hiện tại. Cũng như 100 năm trước chưa có điện thoại di động chẳng hạn. Quẻ độn toán chắc chắn không thể trả lời được vì Đích của nó vô định. Hiện tượng nhà ngoại cảm xác định được các trạng thái khu vực có gì ở dưới mặt đất mặc dù họ ở cách xa hàng ngàn km cũng phải qua trung gian thứ ba - ít nhất là một người đã biết khu vực đó. Kính.
  19. Bác VuLong viết: 1 - Làm gì có hạt nhỏ nhất mà Phật giáo nói tới, nếu có thì bằng chứng thực nghiệm đâu, đã tìm ra lúc nào, vào thời điểm nào và ở đâu cũng như những ai đã tìm ra nó? Chúng ta dùng triết lý Không - Có của vật chất thì sẽ có nhận định sự tồn tại là tự nhiên. Theo quan sát tính quy luật, thì vật chất phân chia nhỏ dần. Từ triết lý Không - Có và quy luật phân chia thì nhận định có hạt nhỏ nhất. 2 - Nó là hạt nhỏ nhất thì nó nặng bao nhiêu và các nhà sư làm cách nào mà nhìn thấy nó mà dám khẳng định nó vô sắc? Từ quan sát vũ trụ tự nhiên và con người, đặc biệt là nội tâm con người, Phật giáo đã hiểu hoàn toàn bản chất của Nhận thức hay Ta biết là ta đang nhận thức chính Ta, từ đó xác định có tồn tại một trạng thái mang tính Tuyệt đối. Kết hợp với câu 1 - chúng ta biết thuộc tính biểu hiện của nó là vô sắc. Ví dụ, hòn bi ve bằng thủy tinh để trong nước thì sẽ không thấy nó. 3 - Vũ Trụ có khởi nguyên thì trước lúc khởi nguyên đó là những cái gì và chúng tồn tại ở đâu? Sự tồn tại là tự nhiên (xem là tiên đề), dùng triết học Động - Tĩnh thì nhận định vũ trụ ban đầu là ở trạng thái tĩnh, đồng chất, đẳng hướng, dạng vật chất ban đầu lan tràn khắp vũ trụ, chính là Hạt cơ bản. 4 - Các nhà sư làm cách nào biết được cái hạt nhỏ nhất vô sắc này tương tác với các hạt khác? Nhận định quy luật vận động đang diễn ra của vạn vật và sự tồn tại là tự nhiên. Thậm chí còn biết Hạt cơ bản gồm 7 hạt: 1 hạt trung tâm (mang tính tuyệt đối) và 6 hạt ở xung quanh. Kính.
  20. Trong biểu tường vòng tròn Âm Dương tương giao, thì điểm xuất phát chân của sóng Âm luôn bắt đầu tại cung Tý, bắt đầu của quẻ Phục, và sóng Dương thì ngược lại. Đồ hình cũng là biểu tượng cho Dịch.
  21. Theo Phật giáo là có Hạt nhỏ nhất và theo phân tích thì nó có các thuộc tính siêu việt và vô sắc, có thể hiểu là nó đạt được tất cả các giới hạn vật lý và ở trạng thái khởi nguyên, xung quanh nó là các hạt sơ cấp liên kết cùng tạo thành chung một Hạt cơ bản. Chúng liên kết nhau ở trang thái ban đầu. Thuộc tính Hạt cơ bản là hoàn toàn tuyệt đối nếu so với bất kỳ trạng thái vật lý nào, đấy là lý do mà Lạc Việt độn toán, Chu Dịch... cho câu trả lời ngay tức khắc bởi tính tuyệt đối của vận tốc thông tin trong vạn vật phản ánh lại ngay trong Hạt cơ bản. Như vậy, Hạt cơ bản mang ý nghĩa là một tấm gương hai chiều vừa hội tụ và phản chiếu. Vũ trụ có khởi nguyên và khả năng mãi mãi vận động do tính tuyệt đối của vạn vật hữu tình, chỉ một suy nghĩ là kích hoạt được sự vận động trong vũ trụ, tuy nhiên còn phải chứng minh Linh hồn là bất tử hay vạn vật hữu tình là bất tử. Dĩ nhiên, vũ trụ không do bất kỳ một vị thần thánh nào tạo ra cả.
  22. Trong thí nghiệm tìm Hạt của Chúa qua máy CERN và đã tìm ra hạt Giggs, tuy nhiên kết quả thì nghiệm chưa được công bố chi tiết cụ thể, ví dụ chỉ có một loại hạt Giggs hay có thêm các hạt khác nữa, cho nên nhận định hiện tại vẫn vần thêm dữ liệu. Quá trình thí nghiệm, chúng ta dựa vào: - Học thuyết khoa học dựa trên tính quy luật khách quan đã được xác định trong giới hạn quy ước. - Điều kiện thí nghiệm. - Thiết bị đo lường và quan sát. - Nhận thức của người thí nghiệm. Dù bất kỳ hoạt động khoa học nào, khi đi tới tận cùng của vấn đề thì đều phải vấp tới vấn đế triết học, trong trường hợp này chúng ta đối diện với các câu hỏi: - Làm sao biết giới hạn nhỏ nhất của vật chất, điều kiện phản ánh thực tại nào chứng minh được nó. - Từ đó nhận định năng lực thiết bị CERN và đo lường đủ khả năng hay không?. Nếu châp nhận Big bang thì phải chăng khởi nguyên vũ trụ là dạng vật chất có những hạt nhỏ nhất thì rõ ràng chúng ta không thể xây dựng được những thiết bị thí nghiệm nào đủ năng lực để tìm chúng. GIả sử rằng có Hạt nhỏ nhất khác hoàn toàn vạn vật trong môi trường trái đất, có khả năng nó tương tác với điều kiện môi trường thí nghiệm để tạo ra một dạng vật chất nào đấy hay trong thuyết Âm dương ngũ hành là nó phải ở trong một hệ thống âm dương ngũ hành mà không tồn tại độc lập và khác biệt hoàn toàn. Theo Phật giáo là có Hạt nhỏ nhất và theo phân tích thì nó có các thuộc tính siêu việt và vô sắc, có thể hiểu là nó đạt được tất cả các giới hạn vật lý và ở trạng thái khởi nguyên, xung quanh nó là các hạt sơ cấp liên kết cùng tạo thành chung một Hạt cơ bản. Chúng liên kết nhau ở trang thái ban đầu. Trạng thái ban đầu bị phá hủy do một động lực vô cùng lớn nhằm đảm bảo toàn vũ trụ tan rã và vận động theo quy luật. Như vậy, chúng ta không thể nhận biết chúng: - Không thể có đủ năng lượng như khởi nguyên. - Vô sắc và có thuộc tính siệu việt nên không thể nhận biết bằng công cụ đo, nếu giả sử là tiếp cận được. - Khi tới những hạt thứ cấp khác biệt so với môi trường, phản ứng có khả năng xảy ra và không còn là chính nó. Giới hạn này là tự nhiên, nó là như vậy vì là thuộc tính của vũ trụ tức khi tới tận cùng của sự vật hiện tượng thì chúng ta vấp phải những cái mà không thể xác định được nữa, Tiên đề vũ trụ. Chúng ta chỉ nhận thức là có nó chứ không tiếp cận được nó. Ví dụ, làm sao biết ta nhận thức chính ta - hay là hiện thực phản ảnh vào thuộc tính của Siêu vật chất - chính là Hạt cơ bản nhỏ nhất của vũ trụ.
  23. [ Con lắc Foucault, đặt tên theo nhà vật lý người Pháp Léon Foucault, là một thí nghiệm để chứng tỏ rằng Trái Đất đang tự quay quanh trục của nó; và là một hệ quả của hiệu ứng Coriolis cho chuyển động trong hệ quy chiếu quay. Lịch sử Con lắc Foucault, đặt tên theo nhà vật lý người Pháp Léon Foucault, là một thí nghiệm để chứng tỏ rằng Trái Đất đang tự quay quanh trục của nó; và là một hệ quả của hiệu ứng Coriolis cho chuyển động trong hệ quy chiếu quay. Vào năm 1851, nhà khoa học người Pháp Léon Foucault đã sử dụng một dây thép dài 68 m để treo một quả cầu sắt nặng 31 kg từ mái vòm của nhà thờ Panthéon và tác dụng một lực ban đầu, cho nó lắc đi lắc lại. Để đánh dấu quá trình chuyển động của quả cầu, ông đã cho gắn một kim nhọn vào quả cầu và cho vẽ một vòng tròn trên cát ẩm ở mặt đất phía dưới chuyển động của quả cầu. Quả cầu đã để lại những vệt của đường đi khác nhau sau mỗi chu kỳ chuyển động chậm chạp và quỹ đạo này đã chỉ ra rằng Trái Đất quay tròn xung quanh trục của nó. Tại đường vĩ độ đi qua thành phố Paris, đường chuyển động của con lắc đã thực hiện một vòng quay thuận chiều kim đồng hồ cứ sau 30 giờ. Tại Nam Bán Cầu, đường đi đó ngược chiều kim đồng hồ, và tại xích đạo, nó không quay tròn chút nào. Tại Nam Cực, những nhà khoa học ngày nay đã xác nhận chu kỳ của đường đi của con lắc là 24 giờ. Chắc chắn phải là 24 giờ hiện đại hay 12 giờ cổ Việt: Tý - Hợi. Minh họa con lắc Foucault Ngũ Phúc lâm môn.
  24. Cuộc chiến tâm linh? CUỘC TRANH LUẬN NGHI LỄ TRUNG HOA VÀ HỆ QUẢ ĐỐI VỚI VIỆT NAM 1.2.4.Cuộc tranh luận nghi lễ Trung Hoa và hệ quả đối với Việt Nam 1.2.4.1. Cuộc tranh luận nghi lễ Trung Hoa Xin được tóm lược các ý chính: Trong khi truyền giáo tại Trung Hoa, các linh mục Dòng Tên (SJ) cho phép các giáo hữu tại đây được kính lễ Đức Khổng và người qua đời như nghi thức người Hoa quen thi hành đối với tổ tiên và các triết gia của họ. Năm 1633, khi linh mục Juan Bautista Moralez Dòng Đa Minh (OP) và linh mục Antonio de Santa Maria Caballero Dòng Phanxicô (OFM) vào tỉnh Phước Kiến thời Đại Minh, chứng kiến các nghi lễ đó thì cho là mê tín dị đoan. Hai linh mục đó phản đối mạnh mẽ, làm nhà cầm quyền tức giận vì hai người đó chống lại phong tục văn hóa trong nước, gây nguy hại cho an ninh trật tự xã hội. Vua Minh trục xuất hai linh mục đó ra khỏi nước. Moralez và Caballero về Roma trình bày với Toà thánh. Năm 1645 Đức Giáo hoàng Innocentê X ra sắc lệnh cấm người tín hữu thi hành các nghi lễ cúng bái tổ tiên và Đức Khổng Tử. Năm 1656, (ngày 20-03), Đức Giáo hoàng Alexander VII lại cho phép, dựa theo trình bày của linh mục Martino Martini Dòng Tên. Năm 1707 (ngày 25-01), Đức Giáo hoàng Clêmentê XI cử Giám mục Carlo Tommaso Maillard de Tournon làm Sứ thần Toà thánh đến Nam Kinh công bố sắc lệnh cấm nhiều điều trong đó cấm làm chủ tế hoặc tham dự lễ tế Đức Khổng, hoặc người quá cố, cấm đặt bài vị trong nhà. Ai không tuân theo lệnh, sẽ tức khắc bị vạ tuyệt thông. Năm 1715 (ngày 19-03), Đức Giáo hoàng Clêmentê XI công bố Hiến chế Ex illa die buộc mọi thừa sai ở Trung Hoa và ở các nước lân cận phải thề theo mẫu ở cuối sắc lệnh. Năm 1721 Đức Giáo hoàng Clêmentê XI phái Giám mục Carolo Ambrosio Mezzabarba, Sứ thần Toà thánh, công bố tại Áo môn ngày 4-11 “Tám điều được phép làm (Octo permissiones)”. Năm 1742 (ngày 11-07), Đức Giáo hoàng Bênêđitô XIV công bố Hiến chế Ex quo singulari providentia cấm tuyệt đối mọi hình thức tôn kính người đã mất, đồng thời đưa ra bản mẫu lời tuyên thệ mới (nguyên văn bản mẫu Lời thề, xin xem Đỗ Quang Chính, Hòa mình vào xã hội Việt Nam, tr. 222). Từ đây trở đi, không ai được viện cớ gì để tranh luận nữa. (Chi tiết xin xem Phụ lục 3) Năm 1935 (ngày 5-3) Giám đốc Nha Tôn giáo thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục của Mãn Châu quốc, trả lời cho Giám mục Gaspais, Đại diện tông toà Thẩm Dương (Shenyang), về các câu hỏi của Giám mục liên quan tới nghi lễ tôn kính Đức Khổng Tử: “Đó chỉ là cách bày tỏ ra bên ngoài lòng tôn kính Đức Khổng, không có tính cách gì là tôn giáo”. Ngày 28-5-1935, Bộ Truyền giáo cho phép thực hành các nghi lễ kính Đức Khổng ở Mãn Châu quốc. Năm 1932 ( ngày 22-9) Thứ trưởng Bộ Giáo dục Nhật Bản khẳng định việc viếng đền Jinja có “mục đích bày tỏ lòng yêu nước và trung thành. ở đây hoàn toàn chỉ mang ý nghĩa dân sự như Bộ Giáo dục đã công bố ngày 3-8-1932”. Ngày 26-5-1936 Bộ Truyền giáo gửi văn thư cho Khâm sứ Toà thánh tại Nhật, chủ yếu nhắc đến nghĩa vụ người Công giáo yêu Tổ quốc, thì phải tôn trọng các nghi lễ đối với Hoàng gia, người qua đời, miễn là những nghi lễ ấy có tích cách dân sự. Năm 1939 (ngày 8-12) Bộ Truyền giáo công bố Huấn thị Plane compertum est cho phép người Công giáo Trung Hoa được tham dự các nghi lễ kính Đức Khổng, các nghi lễ công cộng, mặc dù bên ngoài có thể coi là nhuốm màu dị đoan, miễn là thi hành một cách thụ động với ý tưởng duy nhất là để tôn kính theo nghi lễ hoàn toàn dân sự [6, tr.213-242]. Như thế, vấn đề “nghi lễ Trung Hoa” đã được tháo gỡ cách muộn màng nhưng có kết quả tốt đẹp. Điều này nhất định ảnh hưởng đến Giáo hội Việt Nam mà tôi xin trình bày ở phần tiếp theo. 1.2.4.2. Hệ quả đối với Việt Nam Khi Toà thánh Roma cấm các nghi lễ tôn kính tổ tiên, Khổng Tử và nhiều nghi lễ tương tự ở Trung Hoa, các văn kiện đó cũng cấm luôn các nước chung quanh, vốn chịu ảnh hưởng ít nhiều văn hóa Trung Hoa, như Mãn Châu, Nhật Bản, và cả Việt Nam, mà thời xưa Giáo hội Việt ta quen gọi là cuộc tranh tụng “lễ phép nước Ngô”. Roma không chỉ cấm thờ cúng tổ tiên đã khuất mà cũng giới hạn hình thức hiếu thảo cả khi cha mẹ đang còn sống, vì chỉ tôn thờ duy nhất mỗi Thiên Chúa, còn lại là tôn kính. a) Huấn dụ năm 1659 Khi ba Giám mục tông toà đầu tiên ở Đàng Ngoài, Đàng Trong và Nam Kinh (Trung Quốc) chuẩn bị lên đường nhận nhiệm sở, Thánh bộ Truyền giáo đã ban bố Huấn dụ năm 1659 (triều Giáo hoàng Alexander VII). Tư liệu gồm ba phần: trước khi rời châu Âu, trong khi đi đường, tại chính nơi truyền giáo. Có nhiều đoạn không liên quan đến vấn đề chúng ta đang quan tâm, nên chỉ xin trích dẫn những đoạn cần thiết. Huấn dụ căn dặn: “Chư huynh đừng bao giờ muốn sửa đổi, đừng tìm lý lẽ nào để buộc dân chúng sửa đổi những phép xã giao, tập tục, phong hoá của họ, trừ khi nó hiển nhiên mâu thuẫn với đạo thánh và luân lý. Có gì vô lý bỉ ổi hơn mang theo cả nước Pháp, Tây Ban Nha, nước Ý, hay bất cứ nước nào khác bên trời Âu sang cho dân Á đông chăng? Không phải mang thứ ấy đến cho họ, mà là mang chân lý đức Tin, một chân lý không loại trừ nghi lễ và tập tục của bất cứ một dân tộc nào, cũng không xúc phạm đến những nghi lễ tập tục ấy, miễn là chúng không xấu; ngược lại, chân lý ấy muốn cho người ta gìn giữ và bảo vệ chúng là đàng khác. Có thể nói, [tính] tự nhiên ai ai cũng cho những cái của mình và nhất là của quê hương xứ sở mình là hơn tất cả, và yêu mến những báu vật đó hơn những cái của ngoại lai: nguyên việc sửa chữa những quốc lệ của [một dân tộc] cũng đủ gây lòng oán hận sâu đậm rồi, nhất là những [phong tục] đã có lâu đời nhất, mà các tiền nhân vẫn có thể nhớ tông tích; càng tệ hại hơn nữa nếu chư huynh huỷ bỏ những [phong tục] đó để đem phong tục của quý quốc mà thay thế vào! Vậy đừng bao giờ đem những tục lệ Âu châu đến đối lập với tục lệ của các dân tộc ấy, trái lại hãy mau mắn làm quen với những thói tục địa phương. Điều gì đáng khen, hãy khâm phục và ca tụng. Điều gì không đáng, hãy khôn khéo đừng phê phán, cũng đừng kết án một cách thiếu suy nghĩ và quá đáng. Với những thói tục thực sự xấu, thì nên chống đối bằng thái độ dè dặt và thinh lặng hơn là bằng lời nói; nhưng dĩ nhiên khi tinh thần người ta đã sẵn sàng chấp nhận chân lý, chư huynh sẽ lợi dụng những cơ hội thuận tiện để từ từ và âm thầm nhổ nó đi” [7, tr.118-134]. “Hội nhập văn hóa” là cụm từ chưa có trong nhân loại thời đó, nhưng Huấn dụ đã đưa ra những ý đúng như ngày nay vẫn gọi là thích nghi, hội nhập. Tiếc thay về sau Roma lại cấm nghi lễ tôn kính tổ tiên và nhiều nghi lễ khác, đi ngược lại với chính Huấn dụ 1659 vô cùng sáng suốt như trên! B) Các nhà truyền giáo trước và sau Hiến chế Ex illa die (19-3-1715) Khi các Giáo sĩ Dòng Tên vào truyền giáo ở Việt Nam, các ngài cho phép giáo dân thờ kính Khổng Tử và các tổ tiên đã qua đời, theo phong tục Việt Nam. Năm 1625, các thừa sai ở Hội An nhắn nhủ bổn đạo Kitô hữu Việt: “ Đạo Đức Chúa Blời buộc mọi người phải tỏ lòng hiếu thảo với ông bà cha mẹ, nên phải thi hành nghi lễ cúng vái, trừ ít điều mê tín dị đoan, như đốt vàng mã, hay khi cúng lại tin là tổ tiên về ăn của cúng” [9, tr.116]. Thời kỳ đầu tiên truyền giáo ở Việt Nam, các thừa sai đã chú trọng rất nhiều nếp sống văn hóa gia đình Việt Nam, cụ thể là lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ. Khi giải thích về điều răn thứ bốn cho các dự tòng, linh mục Đắc Lộ đã viết trong quyển Phép giảng tám ngày, xuất bản tại Roma năm 1651: “ấy vậy mà mlời răn thứ bốn trong kinh đức Chúa blời [...] thì dạy ta thảo kính cha mẹ cho nên [...]. Lại sự thảo kính thì hằng có bốn phần, là yêu mến, kính dái, chịu lụy, giúp cho [cha mẹ] mọi sự” [9, tr.115]. Tác giả còn nhấn mạnh tới sự hy sinh cụ thể của cha mẹ đối với con cái trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời đó, nên con cái phải thảo kính cha mẹ: “Ta chịu ơn cha mẹ vì có chịu thai, mà ta ở trong lòng mẹ chín tháng mười ngày, chịu khốn khó mà đẻ ta, đoạn ba năm bú mớm; có khi thì mẹ cắt [phần ăn] của miệng mình mà cho con ăn; cũng có khi mẹ ăn miếng đắng, mà miếng ngon để dành cho con ăn; lại có khi mẹ nằm chốn ướt, mà chốn ráo để cho con nằm. Cha đẻ con đoạn thì lo việc nuôi nấng [...]. Thật con thảo kính cha mẹ thì thậm phải, ví bằng có ai chẳng thảo kính, chẳng khứng vâng phép cha mẹ, thật thì có tội trọng” [6, tr.213-242]. Khi cha mẹ còn sống, ngoài việc tỏ lòng hiếu thảo như thăm viếng, săn sóc, quà bánh... thì ngày mồng Một Tết, người dân, và cả những quan lớn sau khi theo vua chúa đi tế Nam giao về, “ai nếy (nấy) về nhà mà lạy cha mẹ oũ bà oũ vải (ông bà ông vải) bởi vì có mlẽ (lý lẽ) ở tlaõ làõ (trong lòng) mình dẽại (dạy) kính phụ (cha) thứ ba là chức dưới bệy (vậy)”[9, tr.116]. Thầy giảng Bentô Thiện cũng viết bằng chữ quốc ngữ trong tập Lịch sử nước An-nam năm 1659 tại Thăng Long về vấn đề này như sau: “Thói nước Annam, đầu năm, mùng một tháng giêng gọi là ngày Tết, Thiên hạ đi lậy vua đoạn lậy chúa mới lậy ông bà ông vải cha mẹ, cùng Kẻ cả bề trên, quan quyền thì lậy vua chúa, thứ dân thì lậy bụt trước” (ghi theo chính tả ngày nay) [9, tr.116]. Sau Hiến chế Ex illa die năm 1715, tại Đàng Trong, Linh mục G.B. Sanna SJ, giải thích Hiến chế trên một cách rộng rãi, gần như là ngược lại. Ngày 21-2-1717, linh mục công bố tại Huế cho phép giáo hữu được mang cờ gia triệu trong các lễ an táng, chỉ cần viết câu “xin Đức Chúa Trời cứu giúp linh hồn này là X. và dẫn đưa vào thiên đàng”; được lạy cha mẹ sát đất khi các ngài còn sống hay đã qua đời; được giỗ, tức là được dâng cúng, bái lạy cùng các nghi lễ khác quen thi hành trong nước này, vào ngày đầu năm hay những ngày khác [8, tr.197-198]. Còn Giám mục Perez cũng chần chừ công bố Hiến chế. Ngày 10-7-1717, Giám mục Perez ra thư luân lưu buộc giáo hữu tuân theo lệnh Toà Thánh, nhưng ngài không dám đóng mộc vào thư vì sợ chính quyền Đàng Trong cho là đi ngược với phong tục Việt Nam. Thư cũng không đề cập đến việc xử phạt nếu vi phạm. Theo đơn tố cáo của linh mục thừa sai de la Court với Toà thánh thì Giám mục Alexandris (làm Giám mục Đàng Trong từ 1727-1738) đã cho phép cúng Thành hoàng, xem tuồng hát ngoại đạo trong các lễ hội, cúng tiên sư...[8, tr.230]. Roma phải cử Giám mục La Baume làm Kinh lý tông toà đến Đàng Trong để yêu cầu mọi người tuân theo Hiến chế Ex illa die. Giám mục ngã bệnh mất ở Huế (1741). Linh mục Favre, phó Kinh lý tông toà, công bố chín điều ngày 27-5-1741, trong đó có “cấm cúng bái tổ tiên dưới mọi hình thức” [6, tr.495]. Thế nhưng linh mục Martiali, Giám quản Đàng Trong thay thế Giám mục Alexandris, về Roma phản đối. Roma lại phải cử Giám mục Hilario Costa giải quyết. Lúc này đã công bố Hiến chế Ex quo singulari (11-7-1742), cho nên mọi người không còn được phép bàn cãi gì nữa [9, tr.233]. Từ đó trở đi, các thừa sai và linh mục Việt Nam đều tuyên thệ theo bản mẫu Hiến chế. (nguyên văn bản Lời thề ngày 16-8-1750, xin xem Đỗ Quang Chính, Hòa mình vào xã hội Việt Nam, tr. 229). c) Các nhà truyền giáo sau Hiến chế Ex quo singulari (11-7-1742) Nói chung, việc tỏ lòng hiếu thảo “bên ngoài” đối với người quá cố, như cúng vái, nhang hương... đã không thực hiện được kể từ ngày công bố Hiến chế Ex quo singulari. Và cũng từ đó, người Công giáo có sự cách xa với các anh chị em lương dân suốt thời gian dài trong các hình thức tỏ lòng hiếu thảo với người đã khuất, có thể phác hoạ bằng những nét trong thư của cha Lui Huy, Bề trên cả đại diện tông toà coi địa phận Đông gửi cho giáo sĩ và giáo dân địa phận nói về “36 sự rối nước An Nam, Đức Thánh Pha pha đã đoán phi”, trong đó có nhiều “sự rối” về thờ cúng tổ tiên. Điều 6: cấm lạy xác kẻ chết, dù để tượng chịu nạn đấy. Khóc thói vô đạo cũng cấm. Điều 8: các đồ lễ vô đạo lấy mà thờ kẻ chết thì cấm cả như áo trẩm, mũ, gậy ete và cấm đồ lễ trong sách Gia Lễ dạy nữa. Điều 9: cấm đọc văn lễ cùng cắt tóc tang. Điều 32: học trò, đầy tớ, những ngày Tết, mồng năm đến cúng thầy hay Chúa nhà thì lạy ở nơi khác bàn thờ tiên sư, ông bà, ông vải mới nên. Như thế, các nhà truyền giáo dòng Đa Minh nhìn nhận thờ cúng tổ tiên là dối trá, do vậy đã loại tất cả những lễ thức tang ma của người Việt cổ truyền [13, tr.205-207]. Truyền thống khắt khe đó vẫn tiếp tục cho đến trước Huấn thị Plane compertum est (8-12-1939) thể hiện qua Thư chung “ Về các việc dối trá” của Giám mục Phêrô Đông (Pierre Jean Marie Gendreau), đại diện Tông toà coi sóc địa phận Tây Đàng Ngoài (trong thời gian 1892-1935), trong đó cấm nhiều việc mà ngày nay xem là bình thường đối với mọi người dân Việt : cúng Thành hoàng, ăn giỗ với người không có đạo, đi phúng điếu...(xin xem Phụ lục 7). Tuy Toà thánh đã cấm tuyệt đối mọi bàn cãi, giải thích, thực hành trái với Hiến chế, bằng hình thức chế tài là huyền chức, vạ tuyệt thông, nhưng một vài thừa sai, nhờ nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, nên đã mạnh dạn trình bày ý kiến mình. Linh mục Louvet từ năm 1873 ở giáo phận Sài Gòn đã cho việc tôn kính tổ tiên chỉ đơn thuần là cử chỉ lịch sự, tuyệt đối chẳng có tính cách tà thần. Linh mục Boisserand ngày 17-8-1789 viết thư gửi linh mục Boiret kể về việc Chúa Nguyễn Ánh phàn nàn với Giám mục Bá Đa Lộc vì hoàng tử Cảnh từ chối bái lạy trước bàn thờ tổ tiên. Giám mục thành thực nói rằng chính ngài cũng bỡ ngỡ không ít, vì Công giáo luôn coi việc bất hiếu với cha mẹ là tội nặng bậc nhất; nhưng đạo dạy việc tôn kính tổ tiên phải được đặt trên nền tảng chân lý, trong khi người không có đạo tin rằng hồn người chết ăn những gì tinh tuý nhất trong các món thịt dâng cúng, để rồi phù hộ cho họ sống lâu, giàu có. Chúa Nguyễn Ánh ngạc nhiên vì nhà chúa coi nghi lễ tôn kính tổ tiên chỉ là chứng cớ tỏ lòng nhớ đến cha mẹ: “Khi ta cử hành những nghi lễ đó, ta tự bảo: nếu tổ tiên còn sống thì ta muốn làm tất cả những gì ích lợi cho các ngài; để tỏ lòng thành của ta, lúc này ta làm như thể tổ tiên ta còn sống; dù biết rõ các ngài chẳng còn sống, và những gì ta làm đây chẳng còn mang lợi ích gì cho các ngài cũng như cho ta, nhưng vì muốn chứng tỏ cho mọi người thấy, ta đã không thể quên tổ tiên được và ta muốn nêu gương cho toàn dân ta về lòng hiếu thảo” [8, tr.203]. Giám mục Bá Đa Lộc cho biết vị tiền nhiệm của ngài là Giám mục Guillaume Piguel (1764-1771) đã phục tùng Hiến chế Ex quo singulari với lòng e ngại và không ngừng kêu trách. Giám mục Piguel và cha đại diện của ngài, cũng như Giám mục Bá Đa Lộc không hề muốn kết án việc bái lạy cha mẹ, tổ tiên đã qua đời, vì theo người Đàng Trong, không làm điều đó là bất hiếu. Sau đó Giám mục Labartette (cai quản Đàng Trong 1799-1823) cũng gửi thư cho Ban Giám đốc Hội thừa sai Paris để bênh vực nghi lễ lạy xác. Giám mục Labartette còn kể linh mục Halbout đã lên tiếng phản đối những ai là nguyên nhân của việc cấm đoán lạy xác, thì có tội trước mặt Thiên Chúa [8, tr.206-211]. Như thế đã có hai ý kiến đối với việc tôn kính tổ tiên cha mẹ: một cực đoan, một ôn hoà. Bên nào cũng có đủ lý do để bảo vệ ý kiến mình. Điều đáng ngạc nhiên là mặc dầu Hiến chế Ex quo singulari đã cấm tuyệt đối mọi bàn cãi, nhưng vì lương tâm, một số linh mục và Giám mục đã ra sức khẩn khoản xin Toà thánh xét lại. Chỉ đến 1939, việc tôn kính tổ tiên và các nghi lễ khác mới được chấp nhận. d) Sau Huấn thị Plane compertum est (8-12-1939) Sau khi Roma tháo gỡ nghi lễ Trung Hoa bằng Huấn thị Plane compertum est (1939), đất nước Việt Nam đang ở trong tình trạng thuộc địa và chiến tranh nên chưa áp dụng được những cởi mở nghi lễ mà Huấn thị cho phép. Phải đợi Công đồng Vatican II thổi luồng gió mới vào Giáo hội, lúc này Hội đồng Giám mục Việt Nam (miền Nam Việt Nam) mới đề nghị xin áp dụng Huấn thị Plane compertum est. Toà thánh đã chấp thuận ngày 20-10-1964. Ngày 14-6-1965, Hội đồng Giám mục Việt Nam (miền Nam Việt Nam) đã ra thông cáo về việc tôn kính tổ tiên (nguyên văn thông cáo xin xem Văn phòng Tổng Thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam, niên giám 2004, tr.487-489). Trong phần II đề cập đến Thể thức áp dụng Huấn thị “Plane compertum est”, đã phân biệt tôn giáo tín ngưỡng với phong tục dân tộc tỏ lòng hiếu thảo với tổ tiên, anh hùng dân tộc (xin xem Phụ lục 4). Ngày 14-11-1974, trong Hội nghị ở Nha Trang, bảy Giám mục Việt Nam (Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền, Giám mục Giacôbê Nguyễn Văn Mầu, Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Giám mục Phaolô Huỳnh Đông Các, Giám mục Giuse Trần Văn Thiện, Giám mục Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang, Giám mục Phêrô Maria Nguyễn Huy Mai) đã xác định cụ thể hơn vấn đề thờ cúng tổ tiên bằng sáu điểm: - Bàn thờ gia tiên để kính nhớ ông bà tổ tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình, miễn là trên bàn thờ không bày biện gì mê tín dị đoan như hồn bạch... - Việc đốt hương, nhang, đèn, nến trên bàn thờ gia tiên và vái lạy trước bàn thờ gia tiên và trước giường thờ tổ tiên là những cử chỉ thái độ hiếu thảo tôn kính, được phép làm. - Ngày giỗ cũng là ngày “kỵ nhật” được “cúng giỗ” trong gia đình theo phong tục địa phương, miễn là loại bỏ những gì mê tín dị đoan như đốt vàng mã... và giảm thiểu, canh cải những lễ vật để biểu dương ý nghĩa thành kính biết ơn ông bà như dâng hoa trái, hương đèn... - Trong hôn lễ, dâu rể được làm “lễ tổ, lễ gia tiên trước bàn thờ, giường thờ tổ tiên” vì đó là nghi lễ tỏ lòng biết ơn, hiếu kính trình diện với ông bà. - Trong tang lễ, được vái lạy trước thi hài người qua cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương để tỏ lòng tôn kính đối với người đã khuất, cũng như Giáo hội cho đốt nến, xông hương, nghiêng mình trước thi hài người quá cố. - Được tham dự nghi lễ tôn kính vị Thành hoàng quen gọi là “ Phúc thần” tại đình làng để tỏ lòng tôn kính biết ơn những vị mà theo lịch sử, đã có công với dân tộc hoặc là ân nhân của dân làng, chứ không phải vì mê tín như đối với các “yêu thần, tà thần”. Trong trường hợp thi hành các điểm trên đây, sợ có điều gì hiểu lầm nên khéo léo giải thích qua những lời phân ưu, khích lệ, thông cảm... Đối với giáo dân, cần giải thích cho hiểu việc tôn kính tổ tiên và các vị anh hùng liệt sĩ theo phong tục địa phương là một nghĩa vụ hiếu thảo của đạo làm con cháu, chứ không phải là những việc liên quan đến tín ngưỡng, và chính Chúa cũng truyền “phải thảo kính cha mẹ”, đó là giới răn sau việc thờ phượng Thiên Chúa. [14, tr.490]. Không phải toàn thể Giáo hội Việt Nam áp dụng thông cáo ngay, bởi vì một số người đã quá quen thuộc với cách trước đây, hiểu biết giáo lý chưa đủ, không thông suốt Giáo hội và xã hội, văn hóa Việt Nam v.v...nên một số người, một số nơi chưa quan tâm đúng mức thông cáo này [9, tr.208]. Tuy nhiên, từ nay người Công giáo Việt Nam lại có thể bày tỏ lòng hiếu thảo theo nếp sống văn hóa chung của đồng bào như cách đây mấy trăm năm. Tác giả: Cao Kỳ Hương
  25. Phi tinh niên vận (1 năm): Phi tinh hàng năm với trường khí vượng chính là quy ước Cung mệnh (mệnh quái) cho mỗi cá nhân, theo quy luật vận động Cửu tinh cho Nam và Nữ mạng do họ có quy luật tiếp nhận trường khí khác nhau. Hoàn toàn chính xác khi nhận định Bát trạch chính là hệ quả của phương pháp Huyền không phi tinh. Trường khí chính (vượng khí) hàng năm tương tác tới trái đất từ Hệ tương tác bên ngoài Hệ mặt trời (được xem là Vũ trụ) hàng năm. Tây trạch và Đông trạch do các tương hợp, xung khắc, hòa thuận... tùy cường độ (định lượng như sinh vượng mộ, như Lục khí...) giữa các trường khí và cung mệnh tạo nên. Tôi đang kiểm tra tính quy luật vận động tương tác của Trường khí vượng thay đổi mỗi 9 năm lên một Hệ 9 hướng cơ bản của Bát trạch. Tri kiến về quy luật số 9 này hết sức siêu đẳng, ai biết góp ý giúp, tôi vẫn đang lờ mờ. Quy tắc nửa số 8, tương tác hai chiều giữa Trái đất - trường khí ngoài hệ Mặt trời, lý của sinh - khắc của chu kỳ Âm - Dương giữa Tiên thiên và Hậu thiên???. Cũng có thể tư duy rằng, do mối quan hệ Thiên khí - Địa khí hình chữ S nào đấy tạo ra quy luật t trên đề hình thành Cung mệnh (Nhân khí). Chú ý: đổi chỗ Tốn Khôn Ngũ Phúc lâm môn.
×
×
  • Create New...