Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Hà Uyên

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    1069
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    8

Everything posted by Hà Uyên

  1. Thái bạch nhập Nguyệt, địch khả thôi.
  2. Mỗi ngày, cây (mộc) không hút được "chất sống" từ dưới đất lên thì cây sẽ héo. Âm lấy Dương làm gốc. Quẻ Địa Phong Thăng lấy quẻ Thiên Lôi Vô vọng làm gốc. "Bỏ một dùng ba", chúng ta hiểu về mối liên hệ giữa "bỏ một" (quẻ gốc) với quẻ Địa Phong Thăng này như thế nào ? Theo mạch Lịch Sử Việt Nam, cứ khi nào nước Nam (Hỏa) mà gần Thủy quá thì bắt đầu có dấu hiệu suy yếu, ví dụ : cuối Triều trần, cuối Triều Lê, cuối Triều Nguyễn. Cho nên thế quẻ Dịch phải giữ một khoảng cách để Ký Tế. Ký Tế chỉ có lợi nhỏ, không có lợi lớn (với điều kiện giữ được khoảng cách, nếu không sẽ có hại). Do vậy Dịch cho biết tuy "Trung hành" nhưng lại nên "Thiên Quốc". Lời bình trên đã là một minh chứng sâu sắc, khi chúng ta luận giải về mối quan hệ "gốc - ngọn" quẻ Vô vọng và Thăng.
  3. Phongvan có thể cho Hà Uyên biết, năm - tháng - ngày - giờ sinh của Phongvan và Bố cháu bé được không ?
  4. Moonriver đã copy bài để tiện theo dõi. Không ai chết vì pháp luật, mà chỉ chết về đường ăn lẽ ở. Bạn là người thật thông minh và tế nhị, biết Hà Uyên tay phải còn rất yếu mà không ngồi lâu được. Cảm ơn.
  5. Dịch gọi là "Trung", được hiểu theo nghĩa: hành vi không thiên lệch. Trong quẻ Dịch, hào Nhị ở ngôi vị giữa của hạ quái, hào Ngũ ở ngôi vị giữa của thượng quái, Hai hào này tượng trưng cho sự vật giữ được "đạo trung". Như vậy, ta có thể hiểu: "Địa trung" với nghĩa: "Ở giữa Đất, giữ trung, không thiên lệch" có được không ? Hệ từ hạ truyện: "Dịch là Tượng vậy". Tượng ở trong Dịch bao hàm nghĩa "hình tượng, tương trưng". Phàm quái từ đều gọi là Tượng, phàm nét quẻ đều gọi là Tượng. Tổng tượng của một quẻ thì gọi là Đại tượng. Quẻ Địa Phong Thăng, Đại tượng viết: "Địa trung sinh mộc". Mộc là Quan tượng của Địa, Hỏa là Ấn tượng của Địa, Kim là Phúc tượng của Địa, Thủy là Tài tượng của Địa. Như vậy, ta có thể hiểu theo nghĩa: "Ở giữa Địa sinh Quan tượng" có được không ?
  6. Địa trung sinh mộc "Địa trung" được hiểu theo nghĩa như thế nào ?
  7. Chinh hung - Chinh cát Là những lời thường dùng trong Hào từ của quẻ Dịch. "Chinh" với nghĩa là" Hành động, Tiến hành". Khi viết là "chinh hung" hoặc "chinh cát", thì được hiểu với nghĩa là: Tiến tới ắt là gặp "hung", Tiến tới ắt là gặp "cát". Quẻ Phong Thiên Tiểu súc hào Sáu dương viết: "Quân tử chinh hung", thì được hiểu với nghĩa: "Tuy hành động là của người quân tử, nhưng vẫn có hung vậy", hoặc được hiểu với nghĩa: "Người quân tử hành động sẽ gặp hung dữ". Quẻ Lôi Trạch Quy muội, lời Thoán truyện viết: "Chinh hung vị bất đáng dã", được hiểu với nghĩa: "Tiến tới sẽ có hung hiểm, vì mình ở ngôi vị không thỏa đáng". Thông qua quẻ Lôi Trạch Quy Muội, lấy các hào Nhị, Tam, Tứ, Ngũ, (quẻ hỗ) có các ngôi vị đều không thỏa đáng, để giải thích nghĩa "chinh hung". Quẻ Địa Phong Thăng, lời từ của quẻ viết: "Nam chinh cát", thì được hiểu với nghĩa: "Tiến về phía Nam tất được tốt lành". Hoặc cũng được hiểu: "Chinh chiến về phía Nam ắt được cát" vậy.
  8. Bé trai Nguyễn Văn Nhân - Tuổi âm nam - Tổng số Dương 32 - Tổng số Âm: 30 - Hóa công: Chấn - Thiên khí: Đoài - Địa khí: Càn - Quẻ không hợp mùa sinh. - Mệnh nạp âm: Thổ - Ốc thượng thổ (Đất nóc nhà) - Chính mệnh Ngũ hành: Âm Thủy - Quý - Tiết khí: Thanh minh - Quẻ Nguyệt lệnh: Trạch Thiên Quải. 1- Quẻ chủ Tiên thiên: LÔI TRẠCH QUY MUỘI, nguyên đường ngồi hào 6 - Quẻ hỗ Thiên thiên: THỦY HỎA KÝ TẾ 2- Quẻ chủ Hậu thiên: TRẠCH HỎA CÁCH, nguyên đường ngồi hào 3. - Quẻ hỗ Hậu thiên: THIÊN PHONG CẤU
  9. Hà Uyên chưa nghiên cứu sâu về Tử bình, có gì thì chúng ta cùng nhau tham khảo thêm.
  10. Kính bác, Mong bác chỉ giáo: - 12 cung, nhưng tháng có 30 ngày. Vậy lý giải thế nào cho việc ứng đầu kỳ (1 - 12), giữa kỳ (13 - 24) hay cuối kỳ (25 - 30)? Bằng ngũ hành lục thập hoa giáp can chi ngày chăng ạ? - Tinh bàn tử vi có 12 cung cho 12 phuơng hướng, và đời người thì di chuyển rất nhiều. Nhưng, xác định được đưong số di chuyển theo phương vị nào cũng không hề đơn giản *Dù có thể tính hạn đi, về* Huyencodieuly Chào anh chị em Điều mà Huyencodieuly đặt vấn đề, là một bài toán chuyên sâu của Tử vi. Hà Uyên cần có thêm thời gian để suy nghĩ về v/đ này. Mong anh chi em trên diễn đàn, cùng Haithienha, Liễu Ngân Đình, Hhoangtt, Trang Lợn giúp Hà Uyên bình giải câu hỏi mà Huyencodieuly đã đưa ra. Cảm ơn.
  11. TIỂU VẬN TRONG ĐẠI VẬN 19 - 27 TUỔI (2001 - 2009). HÀO 2 QUẺ ĐỊA PHONG THĂNG. - Năm 2001 - 19 tuổi, ngồi hào 2 quẻ Địa Sơn Khiêm - Năm 2002 - 20 tuổi, ngồi hào 5 quẻ Thủy Sơn Kiển. - Năm 2003 - 21 tuổi, ngồi hào 2 quẻ Thủy Phong Tỉnh. - Năm 2004 - 22 tuổi, ngồi hào 3 quẻ Thủy Thiên Nhu. - Năm 2005 - 23 tuổi, ngồi hào 4 quẻ Trạch Thiên Quải. - Năm 2006 - 24 tuổi, ngồi hào 5 quẻ Lôi Thiên Đại tráng - Năm 2007 - 25 tuổi, ngồi hào 6 quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu - Năm 2008 - 26 tuổi, ngồi hào 1 quẻ Hỏa Phong Đỉnh - Năm 2009 - 27 tuổi, ngồi hào 2 quẻ Hỏa Sơn Lữ.
  12. Cùng nhau chào đón bé Lê Ánh Linh - Tuổi âm nữ. - Tổng số dương: 28 - Tổng số âm : 50 - Hoá công: Đoài - Thiên khí: Khôn - Địa khí: Đoài - Mệnh nạp âm: Thủy - Tuyền trung Thủy (Mệnh Lạc Viêt - Hỏa) - Chính mệnh Ngũ hành: dương Mộc - Giáp - Quẻ không hợp mùa sinh. - Tiết khí: Hà lộ - Quẻ Nguyệt lệnh: Sơn Địa Bác 1- Quẻ chủ Tiên thiên: LÔI ĐỊA DỰ, nguyên đường ngồi hào 3 - Quẻ hỗ Tiên thiên: THỦY SƠN KIỂN 2- Quẻ chủ Hậu thiên: SƠN LÔI DI, nguyên đường ngồi hào 6 - Quẻ hỗ Hậu thiên: THUẦN KHÔN
  13. Theo xu thế thời đại, khi đến dự "tân gia" một ngôi nhà để ở, Khách thường hỏi Chủ: "Có thiết kế Phong thủy không ?" Chủ trả lời Khách với một tâm trạng thỏa mãn: "Có chứ, nhờ Thầy này nổi tiếng đã , ..., hết ... tiền". Hà Uyên mở chủ đề này, gắng không dùng ngôn ngữ chuyên ngành Phong thủy, mục đích hình thành một "không gian đệm", nói tới mối quan hệ của những người sẽ ở chính ngôi nhà của mình, khi đã có lòng tin rằng: Phong thủy có phải là khoa học hay không ? Hai trường ĐH Kiến trúc của hai miền phía Nam và phía Bắc, cũng đã có những dự thảo đề xuất lên Bộ Đại học hình thành Bộ môn Phong thuỷ học, nhưng chưa được chấp nhận. (Thông tin từ anh Trịnh Hồng Đoàn, nguyên Hiệu trưởng trường ĐH Kiến trúc HN). Trước khi "an cư", gia chủ được trang bị thêm một số kiến thức, có thêm một cách nhìn về Văn hoá nước nhà, những trang bị thêm kiến thức này, được coi là :"không gian đệm".
  14. Để thống nhất với nhau một vài thuận ngữ, trước khi bàn về "Trục Thần", thì ta nên hiểu "Phương" như thế nào ? “phương, có nghĩa là cái mà sự việc hướng tới, nghĩa là “quan niệm ý thức”, thuộc về phạm trù trừu tượng."
  15. Anh Thiên Sứ Tên Hội thảo là như vậy, nhưng thành phần mời thì toàn bộ là Kiến trúc sư. Hà Uyên biết có một vài vị được mời có nghiên cứu về Phong thuỷ. Nhưng theo yêu cầu nào đó trước khi vào hội thảo (?), ngồi im không hề có ý kiến gì. Cũng như Trung tâm Ng/c Tiềm năng con người hội thảo tại Đông mô, lại mời KTS Lê Hiệp tới dự và cũng phát biểu ký kiến. Tại thời điểm anh Trịnh Hông Đoàn còn làm Hiệu trưởng trường ĐH Kiến trúc HN, và anh Tấn làm hiệu trưởng trường ĐH Kiến trúc TP HCM cũng có hỏi Hà Uyên về v/đ này. Anh tham khảo thêm. Hà Uyên.
  16. Chào Kevin. Hà Uyên không phải là nhà sư phạm, do vậy, khi thanh đàm cùng nhau, chọn cách diễn ngữ đôi khi không hiểu hết ý tứ của nhau, chúng ta thường dẫn tới đối xung mà khẩu chiến. Mong là không phải như vậy. - Lập ngôn: "Trục Thần Đạo" được hình thành từ bao giờ ? Lịch sử đã cho chúng ta biết rằng, đã có hai vị Vua đi tu, kể từ thời nhà Lý tới nay. Sự chuyển giao quyền lực của ba giòng họ Lý - Trần -Lê đã nói rõ về điều này. Nhà Trần, một vị Vua đã hình thành nên trường phái Mật tông đầu tiên cho dân tộc ta. Khi một điều kiện sống của một Ngai vàng như vậy, thì tại sao lại đi Tu ? Tại Chùa Đồng - Yên tử, khi vào ngày đẹp trời không có Mây và sương, đứng tại đây, nhìn theo trục Bắc - Nam, chúng ta thấy 12 đỉnh nóc Chùa theo một trục thẳng hàng. (Khi không có máy Trắc đạc như ngày nay). Theo thời gian, Trục Thần Đạo được hình thành tên gọi, khi Vua đã xác định rõ như vậy. - Những khái niệm: Trục là gì ? Thần là gì ? Đạo là gì ? Đây là đề tài mà viết mãi không hết, nếu là chuyên ngành Khảo cổ, có thể bảo vệ luận án cao học, thực tiễn đã như vậy. Một vài khái niệm sơ bộ: + Trục: Đứng bên phải của dòng chảy của Thủy, nhìn theo hướng dòng chảy, thì tay tay phải của người đứng, được quy đinh là "sinh". Tại Hoa Vân - Yên Tử, nơi Vua định thiền, một dòng suối nhỏ chảy ra, gọi là suối "vàng", đã quy định, lấy trục của dòng chảy làm căn cứ cho mối quan hệ tổng hoà của toàn bộ vị thế địa lý khu vực Yên Tử, để hình thành 11 đỉnh nóc Chùa còn lại, từ trên xuống đưới theo một đường thẳng. + Thần được Vua quy định như thế nào thì được gọi là Thần ? Đạo mà khi Vua dụng "thần" quy định như thế nào là Đạo ? Tại Yên Tử, một vị Hoà thượng chủ trì, giảng về Thần - Đạo, cũng phải mất một tuần, mỗi ngày hai buổi sáng chiều Hà Uyên cùng Anh chị em tiếp tục bình giải thêm.
  17. Chào NASA. Hà Uyên không được đào tạo chuyên ngành về Kiến trúc sư, khi tham gia diễn đàn, thì Hà Uyên nhận thấy mối quan hệ giữa Nhà là để ở với Phong thuỷ học vẫn phải có một "không gian đệm", và ai là những người ở trong ngôi nhà đó. Theo Hà Uyên, thì ngôn ngữ Kiến trúc với Phong thuỷ học cũng chỉ có 12 nguyên lý (tính tới thời điểm này), đối với người phương Đông. Ví như nguyên lý "đặc - rỗng", khi thiết kế cho nhà để ở, không thể dùng tỷ lệ "rỗng" quá lớn tại Mặt đứng của công trình. Khi tỷ lệ "rỗng" lớn, chúng ta thấy nó giống văn phòng làm việc hơn, đó là giải pháp của KTS hay dùng Kính cho mặt đứng, một người bình thường cũng cảm nhận được đây là công trình văn phòng, vẫn giải pháp này, nếu là nhà để ở, thì nó giống như người bị bệnh "Cam tẩu mã", không có tính kín đáo của người Phương Đông. Còn đối với nhà để ở, thì nguyên lý "đặc - rỗng" sẽ ảnh hưởng tới tính "chắc chắn, ổn định, kín đáo" cho con người ở trong ngôi nhà đó. Cùng anh chị em bình giải thêm.
  18. Phongvan thân mến Phongvan chủ động gửi thư cho VinhL đề nghị quan tâm là được. Hà Uyên nói điện thoại cho VinhL cũng với dụng ý để VinhL quan tâm thêm tới chuyên mục này. Phongvan mở chủ đề mới cho cháu về bình giải số Tử bình cũng được.
  19. Chào Tamlinh Anh và người bạn gái đang tìm hiểu lại ở quá xa nhau, Tamlinh nên dành thời gian hai người gặp gỡ nhau, để người bạn đời tương lai có đầy đủ nội hàm cảm nhận chính bản thân mình.
  20. Tham khảo thêm một số thông tin. Thời Hán là thời đại phát triển mạnh của tượng số Dịch học, ở thời điểm này tượng số rất được coi trọng, và được liệt vào Dịch học chính thức. Tiêu biểu cho giới tượng số Dịch học là Mạnh Hỷ, Tiêu Cán, Kinh Phòng. Thuyết quái khí của Mạnh Hỷ, là sự kết hợp Bát quái, Lục thập tứ quái với khí tiết, để tạo nên “Tứ chính quái thuyết”, “Lục thập quái ứng thất thập nhi hậu thuyết”, và nổi tiếng là “Thập nhị nguyệt quái thuyết” (12 thuyết quái tiêu sinh) Mối quan hệ Âm – Dương với khí tiết, tương ứng với quy luật chuyển hoá âm dương và quá trình luân chuyển của mặt Trăng, mặt Trời, làm tăng khả năng nhận thức Lịch pháp thiên văn, trở thành mối tương quan mật thiết với sự chuyển vận của mặt Trời. Bát quái đã phản ánh tiêu chí biến hoá của Đạo Trời. Thuyết quái khí của Mạnh Hỷ có ý nghĩa xuyên thời đại. Trên cơ sở thuyết Quái khí, Kinh Phòng đã xây dựng học thuyết Bát cung, làm tăng giá trị của Bát quái, giao phó cho Bát quái những hàm nghĩa về không gian và thời gian. Kinh Phòng đưa ra thuyết “Bát quái nạp giáp”, kết hợp giữa Bát quái với Thiên can - Địa chi và “Thập nhị Luật lịch”, tạo nên sự kết hợp chặt chẽ giữa Bát quái và Luật lịch. Do vậy, đã mở rộng phạm vi ứng dụng của Bát quái. Đây cũng chính là khởi dòng cho mạch chảy của học thuyết nổi tiếng “Nguyệt thể nạp giáp” của Nguỵ Bá Dương. Học thuyết “Nguyệt thể nạp giáp” của Nguỵ Bá Dương, kết hợp Bát quái với chu kỳ vận chuyển của mặt Trăng, giao cho Bát quái thêm một chức năng giải thích mới, trở thành lý luận chủ đạo của “Nội đan” Đạo gia và khí công nuôi dưỡng sức khoẻ. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TƯỢNG SỐ THỜI HÁN “Pháp biến quái” bắt nguồn từ Pháp phệ cỏ thi của “Đại diễn chi số”. Dịch truyện viết: “Tham ngũ dĩ biến, thác tổng kỳ số, thông kỳ biến, toại thành Thiên Địa chi giao; Cực kỳ số, toại định thiên hạ chi tượng, phi thiên hạ chi chí biến ,...) (Làm ba và năm thao tác thì có được một biến. Phân bổ ra và kết hợp lại. Thông suốt biến hoá thì tạo lên sự giao nhau giữa Trời và Đất. Khi số biến hoá tăng tới cực, thì sẽ định được tất cả các tượng trong Thiên hạ. Nếu không phải là vật biến hoá nhất trong thiên hạ, thì làm sao được như thế). Đặc biệt đáng chú ý là phái tượng số thời Đông Hán, là “quái biến” và “hào biến”. Tuân Sảng thời Đông Hán, đã phát minh ra thuyết về sự thăng giáng “ngôi” của hào âm – dương, xây dựng một quy luật biến hoá của quẻ, Tuân Sảng lấy hai quẻ Càn – Khôn làm gốc, thông qua sự thăng giáng “ngôi vị” của hào Năm và hào Hai của hai quả Càn – Khôn, mà diễn thành Bát quái 64 quẻ. Cốt lõi mà Tuân Sảng xây dựng nên học thuyết cho mình là: “Dĩ dương tại thượng giả dương thăng ngũ vị quân âm tại ngũ giả, dương giáng cư an nhị vị thần”. (Dương ở trên, đưa Khôn hào Năm lên thành quân vương, âm tại ngôi Năm rồi hạ Càn hào Hai xuống làm thần dân). Điều này, có ảnh hưởng rất lớn tới học thuyết biến quái của Ngu Phiên. Ngu Phiên đã đưa thuyết quái biến của Tuân Sảng lên tới đỉnh điểm. Thuyết quái biến lấy hai quẻ Càn – Khôn làm quẻ Phụ - Mẫu, biến thành quẻ sáu con, rồi biến thành quái tạp. Từ đây, Ngu Phiên đã phát minh ra học thuyết “Bàng thông” (Sự biến đổi đối lập), thuyết “Hỗ thể”, tức là thuyết Hỗ tượng, từ hào 2, 3, 4 tạo thành quái “nội hỗ”, từ hào 3, 4, 5 tạo thành quái “ngoại hỗ”, sự chệnh lệch này tạo thành một quái khác, trong đó hào 3 – 4 là hào giao thoa bộc lộ thông tin vô cùng quan trọng. Thuyết “Bán tượng”, chỉ tượng bán thể, tức là chỉ lấy hai hào ở trên hoặc hai hào ở dưới của quẻ làm “Bán tượng”, sau đó tìm sự tương ứng với “Bán tượng” của quẻ khác để giải thích ý nghĩa. Thực tiễn, Ngu Phiên đã làm phong phú thêm nội dung của phép Chiêm phệ, và còn ảnh sâu sắc tượng số Dịch học đời Tống, trong đó Mai hoa của Thiệu Ung cũng bắt nguồn từ đây. Tượng số Dịch học nhà Hán đã xây dựng, đặt nền móng cấu tạo nên mối quan hệ giữa Bát quái với Nhật Nguyệt (mặt Trời, mặt Trăng). Chủ yếu là Trịnh Huyền đã đưa Đại diễn chi số trong Dịch truyện vào thuyết Ngũ hành: “Thiên địa chi số ngũ thập hữu ngũ, dĩ ngũ hành khí thông, phàm ngũ hành giảm ngũ, đại diễn hưu giảm nhất, cố tứ thạp hữu cửu”. (Số của Trời - Đất là năm mươi năm lấy ngũ hành thông khí, ngũ hành giảm đi năm, số Đại diễn lại giảm một thì còn bốn mươi chín). Đưa Đại diễn chi số kết hợp với số Ngũ hành, khiến cho việc khí hoá Ngũ hành có thêm sức sống và phát triển.
  21. Hà Uyên chuyển bài viết: Chào bác HU, Tankhach có tứ trụ của anh trai mình, đang thực tập để chọn dụng thần, nhưng với kinh nghiệm hiện tại của Tankhach e rằng Tankhach chưa làm được,mong bác HU tư vấn giúp. Mậu Ngọ - Kỷ Mùi - Đinh Dậu - Ất Tỵ Theo Tankhach: - Đinh hỏa sinh tháng Mùi là đất Quan đới vượng địa, trong tứ trụ các Can không hợp, duy có 3 địa chi Tỵ, Ngọ, Mùi tam hội phương Nam hỏa cục - Ất mộc trụ giờ là Kiêu thần sinh trợ Thân, các địa chi tàng độn trong trụ Ngọ<Đinh,Kỷ>; Mùi<Kỷ,Ất,Đinh>; Dậu<Tân>......đều là Kiêu thần sinh thân và Tỉ KIếp trợ giúp Thân, - Xét tổng quát thì tứ trụ này là Thân vượng. - Cần có Quan, Sát thủy làm dụng thần, nhưng rất tiếc trong Tứ trụ không có Quan, Sát: ngũ hành Thủy, thân vượng mà lại kô có; Quan,Sát khắc chế, đành chọn Thực thần Thổ để xì hơi, Thân vượng.. tứ trụ này thiếu; Thủy làm cho Mộc khô,Thổ táo..trên đây là sự nhận xét của Tankhach. Vì trình độ còn hạn chế nên mong được bác H_U chỉ bảo giúp, mong nhận được hồi âm của Bác. tankhach. Chào Tankhach Bạn có thể cho biết Năm-Tháng-Ngày-Giờ dương lịch người Anh của Tankhach được không ?
  22. Trân thành cảm ơn Liễu Ngân Đinh Hà Uyên.
  23. Hà Uyên đã hiểu. Cảm ơn Huyencodieuly.
  24. Không Kiếp được khởi tính từ cung Hợi, có hình tượng như một gọng kìm nghiền nát mọi sự, tới Tý - Tuất gọng kìm bắt đầu mở ra, tới Dần - Thân là giới hạn cao nhất. Tới cung Tị thì gọng kìm lại khép lại. Theo hình tượng này, Tị - Hợi - Dần - Thân là 4 cung, mà sự ảnh hưởng của gọng kìm ít phát huy tác dụng. Từ một cách nhìn mối quan hệ của Tháng với Nguyệt tướng (Lục Nhâm), chúng ta có thể hiểu thêm về Không Kiếp. Hà Uyên cũng đang suy nghĩ về vấn đề này, về lý thuyết còn chưa được thỏa mãn với chính bản thân, có thể chúng ta sang mục TRAO ĐỔI HỌC THUẬT bình giải thêm.
×
×
  • Create New...