Hà Uyên
Hội Viên Ưu Tú-
Số nội dung
1069 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
8
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Hà Uyên
-
Bạn quay trang lại Trang chủ, lập lá số Tử vi Lạc việt, rồi dẫn lá số về.
-
Phongthuysinh thân mến. Đọc đi đọc lại, tới ngày hôm nay thì Hà Uyên đã nhớ lại được nhiều. Theo sự phân tích của Phongthuysinh, mối quan hệ giữa quy luật của Tự nhiên với cái mà con người tạo ra là: đồ hình 24 sơn - hướng, sẽ phải xem xét lại một cách nghiêm túc. Thông qua đây, thì Hà Uyên cảm nhận được về Phongthuysinh đã có những bước tiến rất sâu và bền vững về Phong Thuỷ học. Hà Uyên rất quan tâm về vấn đề này, nếu có thể được, Phongthuysinh mở một chuyên mục mới, để anh chị em cùng Hà Uyên được tham khảo và học hỏi. Rất mong được như vậy.
-
Chào Thieukim. Trên diễn đàn này, chúng ta cùng bình đẳng nhau trước học thuật. Trong mỗi cá nhân đều hướng tới cái có ích, cho cuộc sống được tốt đẹp hơn. Từ ngày lập chủ đề này, trường hợp cháu bé con của PhongVan là Hà Uyên quan tập hơn cả. Bởi do sang năm 2010, Canh Dần, vào tháng Ba tháng Tư, những ngày Canh Tân sợ có biến động mà chưa lường hết được. Trong khuôn khổ của kiến thức mà người xưa để lại, nhiều gia đình, rất nhiều mà Hà Uyên được biết và thường xuyên để mắt tới, cũng cho nhận làm con nuôi, cũng bán khoán lên chùa, cũng mời cúng bái cầu siêu, ... , mà kết quả vẫn để lại những điều không mong muốn. Do vậy, mà Hà Uyên hết sức thận trọng khi tư vấn, mặc dù đây chỉ là một diễn đàn Lý học. Khi biết thêm được ngày giờ sinh của Bố Mẹ cháu bé, hướng suy nghĩ của Hà Uyên đang thiên về sinh học của cháu khi về thăm ông bà, trong thời điểm tháng Ba tháng Tư âm lịch năm 2010, bị mất thăng bằng về Thận âm (cấu tạo), Thận dương(mối quan hệ giữa Phổi - Thận - Gan) có thể là một nguyên nhân. Ngày giờ sinh của Bố cháu bé thấy không có vấn đề gì làm ảnh hưởng tới cháu. Còn đối với ngàygiờ sinh của Mẹ cháu bé, cũng là một tác nhân khi chăm sóc con, phải rất cẩn thận. Đây là điều không ai mong muốn, một sự vô ý, một sự vô tình mà ân hận. Đặc biệt vào những ngày Canh Tân của tháng Ba, tháng Tư âm lịch năm 2010 Canh Dần. Thieukim cùng anh chị em cho thêm ý kiến, để làm sao tìm được hướng tối ưu từ những kiến thức học thuật Phương Đông.
-
Vậy, solar_neko có dòng máu Lạc Hồng. Cảm ơn.
-
Vo Truoc thân mến. Hà Uyên đã đọc xong chuyên luận của Vo Trước được lần thứ nhất, cả thêm phần bình giải ở chuyên mục xong hành. Một thói quen của Hà Uyên, khi đọc một đề cương, một báo cáo, một tham luận, ... , thì thường là Hà Uyên gắng gạt bỏ những cái gì mà mình đã đang có trong đầu, sau đó đọc đi đọc lại ít nhất là 3 lần, rồi mới dùng tượng của quẻ Đỉnh để xào nấu, cũng lo rằng xào nấu xong mà làm đổ hết thức ăn của Vương công. Cho Hà Uyên thêm thời gian đọc chuyên luận mà Vo Truoc đã bình giải về Ngũ hành, rồi chúng ta sẽ cụ thể hoá sau. Cảm thông một thói quen của Hà Uyên, không thể đọc lướt qua, cưỡi ngựa xem hoa, mà vội vàng bình giải ngay được. Hà Uyên.
-
Kính Nhờ Các Bác Và Các Cao Thủ Trong Làng Tử Vi Cứu Giúp
Hà Uyên replied to aaparadise's topic in Tử Vi
Đây là chuyên mục TRAO ĐỔI HỌC THUẬT, bạn nên chuyển bài viết của bạn sang chuyên mục TƯ VẤN TỬ VI -
Phạm vi quốc học, theo một nghĩa nào đó, có thể nói là rất rộng. Thư mục học Trung Quốc từng chia thư tịch cổ ra làm 4 loại: Kinh, Sử, Tử, Tập. Đến khoảng Minh Thanh, có người rút gọn thành 3, gồm Nghĩa lý chi học, Khảo chứng chi học và Từ chương chi học. Rồi tiếp đó lại có người tăng lên thành 4, thêm Kinh thế chi học nữa. Thư mục học Việt Nam, bắt đầu từ Lê Quý Đôn, chia cổ tịch của ta ra thành Hiến chương, Thi văn, Truyện ký và Phương kỹ, tất cả 4 loại. Phan Huy Chú sau đó đã kế thừa về cơ bản cách chia của Lê Quý Đôn, chỉ đổi Phương kỹ ra Kinh sử. Sự khác nhau trong phân loại phản ánh mức độ phát triển của học thuật một thời, cùng tình hình cụ thể sách vở thời đó. Xét về tính chất, “Nghĩa lý chi học” tức nghiên cứu về nghĩa lý, tương đương với Triết học ngày nay; “Khảo chứng chi học” tức nghiên cứu về khảo chứng, tương đương với Sử học ngày nay; “Từ chương chi học” tức nghiên cứu về từ chương, rất gần với Văn học; và "Kinh thế chi học" tức nghiên cứu về kinh bang tế thế, rất gần với Chính trị - Kinh tế học. Nếu bổ sung vào danh mục trên “khoa kỹ chi học” tức nghiên cứu về khoa học kỹ thuật nữa, thì ta sẽ có gần đủ nền nghiên cứu hiện đại, gồm khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn. Thế kỷ thứ 6, sự giao thoa văn hoá về Dịch Kinh đã lan toả và thấm sâu vào con người đất nước Mặt trời mọc. Nơi đất nước Mặt trời mọc, thích nghi với môi trường sống của mình, nên người Nhật sử dụng khái niệm "độ bền vật liệu", khác xa với người Ai cập. Có thể "nghĩa lý chi học" đã hợp nhất với "Khảo chứng chi học" chăng ?
-
Bạn nên chuyển bài của bạn sang chuyên mục TƯ VẤN, vì đây là chuyên mục TRAO ĐỔI HỌC THUẬT.
-
VinhL thân mến. Kiến thức mà người xưa đã để lại, đều tôn chỉ một mục đích nhằm phục vụ cho con Người. Nhận thức về thế giới Tự nhiên khi mà tư duy vẫn còn sơ khai, thì từ Phục Hy, đến Văn Vương, đến Khổng Tử, cho tới ngày hôm nay, là chúng ta, những giá trị này đều hướng tới cái có ích trong lẽ Nhân sinh mà thôi. Cho dù Phục Hy hay Văn Vương có đổi vị trí Tiên thiên với Hậu thiên, thì chúng ta phải đặt câu hỏi: với mục đích gì ? mang lại giá trị gì ? Đối với cá nhân Hà Uyên, cái Lý để thích nghi cho sự sống tồn tại thì ở Tiên thiên, còn cái Lý để biết được sự tiến - thoái thì ở Hậu thiên. Còn nói về Hà đồ - Lạc thư cũng chỉ là một, vậy thôi. Tại sao Hà Uyên lại suy nghĩ như vậy ? 1, 2, 3, 4, 5, (1 + 5), (2 + 5), (3 + 5), (4 + 5), (5 + 5). Khi 1 + 5, thì số 5 ứng với Giáp. Khi 2 + 5, thì số 5 ứng với Ất. Khi 3 + 5, thì số 5 ứng với Bính. Khi 4 + 5, thì số 5 ứng với Đinh. Khi 5 + 5, thì số 5 ứng với Mậu. Đều là số "5", mà lại có sự đổi thay là tại sao ? Có phải "thời gian" mang lại sự thay đổi về "chất" không ?. Tổng 1 => 10 là 55, mà số chia hết cho các con số từ 1 => 9 là số 504, chia cho 10 thì còn dư 4, số 4 này có phải là số của 4 mùa chăng ? Tại sao lại nói như vậy ? Trời ở Tý, Đất ở Sửu, Người ở Dần => Trời ở Mão, Đất ở Thìn, Người ở Tị => Trời ở Ngọ, Đất ở Mùi, Người ở Thân => Trời ở Dậu, Đất ở Tuất, Người ở Hợi. Do vậy, mà Dịch viết: "trời 1 đất 2 trời 3 đất 4, ... , Thêm một cách nhìn về kiến thức của người xưa để lại.
-
Chào Liễu Ngân Đinh Hà Uyên hiểu về lẽ mà Liễu Ngân Đinh bàn: "sinh sinh chi vị Dịch". Trong khuôn khổ của quẻ Hà lạc, còn rất nhiều anh chị em khi đang tìm hiểu về Kinh Dịch, mà không đăng ký danh trên Diễn đàn, cũng muốn định hướng thêm một cách nhìn, một cách lý giải, ... , Chúng ta chỉ là người đọc trước một trang sách, nêu lên cách bình giải những trải nghiệm trong một đời con người đã đi qua. Ví như khi tư duy còn sơ khai, đi bộ chuyển sang đi Ngựa, hình thành nên những trạm trung chuyển Ngựa, một ông Thầy trong ô phố sống của mình, được gọi là có Danh, một vài làng xã, huyện lỵ xung quanh, một vài người quan tâm tới số phận. Trải qua kinh nghiệm của cá nhân, ông Thầy này viết sách để lại cho đời sau. Mường tường về quá khứ, người Thầy có danh này, cũng chỉ chiêm vấn được vài vạn lá số, giỏi nữa thì đến 1 triệu lá số, nằm ở một vùng miền nào đó, mà không thể thống kê được độ tin cậy đại diện cho tất cả các vùng miền được. Đấy là chưa nói tới phải biết từ 3000 nghìn từ trở lên mới đọc được sách. (Chữ Hán đã khó, chữ Nôm còn khó hơn). Cũng ví như thời trước, không phải lo nhiều đến chuyên vợ con, nhà cửa, ... , Thời gian còn đủ để chúng ta bình giải về "sinh sinh chi vị Dịch". Khi chỉ có Liễu Ngân Đinh, cùng Phapvan, cùng Công Minh, cùng Hà Uyên, thì việc bình giải chắc là chỉ một vài câu nói, giống như lời của Quẻ dịch, hay như lời Hào của quẻ Dịch vậy. Cũng mong Liễu Ngân Đinh, cùng anh chị em thêm phần bình giải, để trong mỗi chúng ta, nhìn về Kinh Dịch được dễ hiểu hơn.
-
Phongvan chưa có thông tin về năm-tháng-ngày-giờ của Bố cháu bé (!)
-
Xitrum thân mến. Để bình giải về Hà lạc, cũng cần một số thời gian tối thiểu, cũng như chưa một ai nói "đã hiểu rõ Kinh Dịch" vậy. Thời gian tới sẽ có thêm nhiều anh chị em cùng tham gia bình giải quẻ Hà lạc, thì chắc sẽ sịnh động hơn. Xitrum yên tâm nhé.
-
Chào Đào Hoa. Cũng biết là Đào Hoa đang rất bận, mà còn dành thời gian quan tâm hướng về, Hà Uyên thực sự trân trọng. Cách đặt vấn đề "bên nội" và "bên ngoại" thì sáng suốt quá. Nhưng Hà uyên vẫn còn băn khoăn về "vô - hữu", khi cầu phối lần một thì được Chấn - Tốn, cầu phối lần hai thì được Ly - Khảm, cầu phối lần ba mới được Cấn - Đoài. Khôn (1) Càn (9) là đầu cuối, như vậy Khôn 1 phối Cấn 6, có nghĩa là Khôn 1 phối với cuối của Càn là Cấn 6. Điều này, cho chúng ta hiểu về sự "thích nghi" thì bàn về Hà đồ, còn để biết lẽ "tiến thoái" thì bàn ở Lạc thư. Hà Uyên hiểu như vậy có đúng không ? Hà Uyên.
-
21:00 JST, 28 September 2009 21:00 JST, 28 September 2009
-
Tối Nay Bão Cấp 8 đi Vào Biển Đông (26-09-2009)
Hà Uyên replied to Li Feng's topic in Lạc Việt Độn Toán
Bão (typhoon) là tên gọi chung những xoáy thuận nhiệt đới (XTNĐ) trên Tây bắc Thái Bình Dương khi tốc độ gió cực đại (Vmax) ở gần tâm duy trì liên tục (đọc thêm Ghi chú phía dưới) từ 64 hải lý (gió cấp 12 ở ta) trở lên (hải lý: knot - kt, bằng 1,853 km/h). Ở khu vực khác nhau gọi hiện tượng bão bằng thuật ngữ khác nhau, như ở Đại Tây Dương, Đông bắc Thái Bình Dương và Đông nam Thái Bình Dương (phía đông 160oE) gọi bão là "hurricanes", Trung quốc dịch là "cụ phong" là gió bão. Uỷ ban bão Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương chia XTNĐ ra 5 giai đoạn theo Vmax: 1) Vùng áp thấp (low pressure area-L): có vùng áp thấp trên bản đồ khí áp bề mặt, nhưng vị trí trung tâm không thể xác định được; 2) Áp thấp nhiệt đới, viết tắt là ATNĐ (tropical depression -TD): vị trí trung tâm có thể xác định được, nhưng Vmax <34 kt; 3) Bão tố nhiệt đới (Tropical storm - TS): Vmax >= 34-47 kt ("storm" gốc từ tiếng Hà Lan là "dông tố", tiếng Trung là "cuồng phong", ở đây tạm dịch là "bão tố"); 4) Bão tố nhiệt đới mạnh (severe TS-STS): Vmax >= 48-63 kt; 5) Bão (Typhoon -TY): Vmax >= 64 kt. Có cơn bão quá mạnh người ta gọi là "siêu bão" (supertyphoon). Ở ta, "Quy chế báo bão, lũ" dùng cấp gió Bô-pho để dự báo Vmax và kèm theo cấp gío giật, quy định tương tự như trên cho Biển Đông, trừ vùng áp thấp, gồm 1) ATNĐ: XTNĐ có Vmax cấp 6-7 (39-61km/h), có thể (có lúc) có gió giật cấp 8-9; 2) Bão thường: XTNĐ có Vmax cấp 8-9 (62-88km/h), có thể (có lúc) có gió giật trên cấp 10-11; 3) Bão mạnh: XTNĐ có Vmax cấp 10-11 (89-117km/h), có thể (có lúc) có gió giật trên cấp 12 hoặc trên cấp 12; 4) Bão rất mạnh: XTNĐ có Vmax cấp 12 trở lên (>= 118km/h). Bão là hiện tượng đặc biệt nguy hiểm, gây ra gió rất mạnh, có thể đánh đắm tầu thuyền, làm đổ nhà cửa; mưa rất lớn, gây lũ lụt nghiêm trọng, có khi trở thành thảm hoạ. Ở nước ta mùa bão hàng năm vào tháng 6 - 11, nhiều nhất vào tháng 7 - 10. Theo số liệu lịch sử thì chưa thấy bão đổ bộ vào nước ta vào tháng 2. ------------------------------------------------------------------------------------------------------ Ghi chú: (1) Gió cực đại duy trì liên tục (hay ổn định) được quy định khác nhau như: Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) lấy thời gian duy trì liên tục trong 10 phút, Cơ quan thời tiết Hoa kỳ lấy 1 phút (nhưng riêng Trung tâm dự báo đại dương - Ocean Prediction Center lại lấy 10 phút), Khu vực Châu Á Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam, lấy 2 phút, Phòng Khí tượng Úc lấy tốc độ gió giật mạnh nhất chứ không lấy gió cực đại duy trì liên tục. Qua nhiều hội nghi các chuyên gia WMO đã đề xuất xác định các hệ số chuyển đổi vào 2004. Các tác giả Mỹ cho biết rằng do sự khác nhau về thời gian lấy trung bình mà cường độ báo bão của các nước khác thấp hơn của Mỹ 12%. Quy chế báo bão của Việt Nam dùng thuật ngữ "gió mạnh nhất" (tức gió cực đại) và "có thể có gió giật", mà không dùng thuật ngữ "duy trì liên tục" (sustained), nên phải hiểu đó là gió mạnh nhất được quan trắc theo quy phạm quan trắc bề mặt. ------------------------------------------------------------------------------------------------------- PHÁT HIỆN, THEO DÕI BÃO Từ những năm đầu của thế kỷ 20, bão được phát hiện và theo dõi thông qua việc phân tích các bản đồ thời tiết dựa trên các số liệu khí áp, gió, mây, mưa v.v... thu nhận được từ lưới trạm quan trắc khí tượng ven bờ biển, trên các hải đảo và tàu biển trên các khu vực rộng lớn hoặc toàn cầu. Đến nay, nhờ trạm quan trắc khí tượng không ngừng hoàn thiện và các tiền bộ kỹ thuật, đặc biệt là các vệ tinh khí tượng cung cấp thường xuyên các ảnh mây đen trắng hoặc ảnh mầu có độ phân giải cao bao trùm toàn bộ trái đất, các cơn bão có thể được phát hiện ngay từ khi chúng mới hình thành ở giữa đại dương cách xa đất liền hàng ngàn km. Ngoài ra, khi bão cách bờ biển vài trăm km, rađa thời tiết cũng là phương tiện hữu để theo dõi bão. Hiện nay, các cơn bão được các cơ quan khí tượng quốc tế, khu vực (trong đó có Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia) theo dõi sát sao từ khi bắt đầu hình thành, trong suổt quá trình di chuyển, phát triển đến khi hoàn toàn tan rã. Tuy nhiên, cũng có trường hợp bão phát sinh ngay sát bờ biển nước ta, di chuyển về hướng Tây và đổ bộ vào đất liền chỉ trong khoảng từ vài giờ tới nửa ngày kể từ khi hình thành. Trong trường hợp này, thời gian dự báo sớm nhất cũng chỉ được từ vài giờ đến nửa ngày. Phán đoán bão hoặc gió mạnh theo kinh nghiệm dân gian: Bão là một thiên tai nguy hiểm nên qua hàng ngàn năm lao động sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp và giao thông đường biển con người đã tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm nhận biết, phán đoán sự phát sinh của bão. Đến nay, nhiều kinh nghiệm đã được giải thích bằng các kiến thức khoa học, những kinh nghiệm này chủ yếu dựa vào những thay đổi trạng thái của bầu trời, mặt biển và những biểu hiện khác thường trong hoạt động sống của một số sinh vật... a/ Trạng thái bầu trời - Bầu trời quang đãng, không khí oi bức, ngột ngạt, lặng gió kéo dài vài ba ngày, sau đó xuất hiện mây ti tích (một loại mây tầng cao ở độ cao khoảng 7km trở lên, gồm các đám, màn hoặc lớp mây mỏng không có bóng, cấu thành từ những phần tử rất nhỏ có hình dạng trông như những hạt hay nếp nhăn) hội tụ về một hướng chân trời. Sau mây tầng cao xuất hiện mây vũ tích (một loại mây lớn và đặc, phát triển dữ dội theo chiều thẳng đứng trông như những dãy núi đồ sộ, giới hạn trên thường nhẵn lì hay dạng tơ sợi, hình dẹt như cái đe, chân mây đen và có kèm theo mây thấp rách xác xơ), gió tăng dần. Đây là dấu hiệu cho thấy bão có thể đang di chuyển từ hướng đó tới. - Chớp xa xuất hiện liên tục, đều đặn, gây nhiễu âm, cản trở hoạt động của máy thu thanh. Hướng có chớp sáng nhất là hướng đang có bão hoạt động. Đối với vùng ven nước ta, trước khi bão tới thường xuất hiện chớp ở hướng Đông-Nam. Kinh nghiệm này đã được đúc kết thành ca dao: “Đông Nam có chớp chéo nhau Thấp sát mặt biển hôm sau bão về” - Ngư dân vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ có kinh nghiệm: sáng sớm nhìn về phía Đông thấy mây ti tích dạng “vẩy tê tê” di chuyển từ phía Đông về phía Tây là dấu hiệu cho thấy có khả năng một vài ngày tới sẽ có bão, biển sẽ động mạnh. Kinh nghiệm này khá phù hợp với thực tiễn của mây bão, vì mây ti tích ở tầng cao thường tỏa rất xa về phía trước bão. b/ Trạng thái mặt biển: - Sự xuất hiện của sóng lừng, hướng lan truyền của sóng không trùng với hướng gió là dấu hiệu cho thấy có bão hoạt động ở cách xa hàng trăm km. Nhìn chung, hướng lan truyền của sóng gần trùng với hướng di chuyển của bão. Tuy nhiên, sóng lừng có thể không xuất hiện ở những vùng biển quá gần bờ hoặc có nhiều đảo. - Mặt biển từ trạng thái lặng chuyển dần sang trạng thái động, mức độ tăng dần. c/ Dấu hiệu khác thường của gió và sinh vật: Nhiều kinh nghiệm đã được đúc kết thành các câu ca dao, tục ngữ về bão lưu truyền từ bao đời nay, chẳng hạn như: "Tháng bẩy heo may/ Chuồn chuồn bay thì bão" Hoặc: "Kiến đắp thành thì bão/ Kiến ẵm con chạy ráo thì mưa". Tháng bẩy trong câu ca dao trên là tháng bẩy âm lịch, thường là tháng tám dương lịch, là một trong những tháng chính của mùa bão ở miền Bắc nước ta. Trong tháng này, “gió bắc heo may”, tức là gió ở vùng phía trước của bão đang hoạt động ở ngoài biển khơi và có khả năng ảnh hưởng đến đất liền trong vài ba ngày tới. Kinh nghiệm dân gian có rất nhiều, song không phải mọi kinh nghiệm đều đúng và sử dụng được. Khả năng và mức độ chính xác dự báo bão a/ Khả năng dự báo bão Với trình độ khoa học và cơ sở khoa học kỹ thuật hiện nay người ta có thể phát hiện bão từ rất sớm. Song ở Việt Nam chúng ta chỉ dự báo những cơn bão hoạt động trên Biển Đông, bởi vì đây là những cơn bão có nhiều khả năng đổ bộ vào đất liền nước ta. Thời gian dự báo trước hướng và tốc độ di chuyển của một cơn bão phụ thuộc vào khoảng cách từ tâm bão đến bờ biển đất liền và tốc độ di chuyển của nó. Khoảng cách đó càng lớn và tốc độ di chuyển của bão càng chậm thì thời gian báo trước được càng dài. Nguy hiểm nhất là các cơn bão và ATNĐ phát sinh ngay sát bờ. Trong các trường hợp này, thời gian để bão đổ bộ vào đất liền rất ngắn, gây nhiều khó khăn cho công tác phòng tránh. Thời gian dự báo trước thời điểm, khu vực bão đổ bộ hoặc ảnh hưởng trực tiếp hiện nay là 24-36 hoặc 48 giờ. b/ Mức chính xác dự báo bão: Mặc dù trang bị kỹ thuật và công nghệ của ngành khí tượng thủy văn nước ta chưa đồng bộ và hiện đại, nhưng mức chính xác dự báo bão của ta cũng đat trình độ tương đương với các nước trong khu vực. Thời gian dự báo trước càng dài thì mức độ tin cậy càng thấp. Đối với những cơn bão có đường đi tương đối thẳng, kết qủa dự báo thường cao hơn, còn đối với những cơn bão yếu và ATNĐ có đường đi phức tạp thì mức chính xác thấp hơn. Cần lưu ý rằng, dự báo bão là một vấn đề rất khó, chưa có quốc gia nào đạt được mức chính xác tuyệt đối. Tuy nhiên, do hệ thống tổ chức và các phương án phòng tránh, chống đỡ ở các nước tiên tiến khá tốt nên thường chỉ cần được cảnh báo trước khoảng 3-6 giờ là đủ để triển khai các biện pháp sơ tán, chống đỡ có hiệu quả, nhằm tránh các thiệt hại lớn, đặc biệt là thiệt hại về tính mạng con người. Nguồn: http://thoitietnguyhiem.net/ -
Miền Trung: Hơn 4.000 tàu thuyền vẫn lênh đênh trên biển Chưa kịp khắc phục hậu quả của đợt áp thấp nhiệt đới vừa đi qua, các tỉnh miền Trung lại đang phải đối mặt với cơn bão số 9 sẽ đổ bộ vào đất liền trong 2 ngày tới. Hàng nghìn tàu thuyền chưa kịp tìm nơi trú ẩn Tin từ Trung tâm PCLB miền Trung-Tây Nguyên, cho biết: Tính đến chiều ngày 27/9, các địa phương ở miền Trung (từ Quảng Bình đến Khánh Hòa) đã kêu gọi được trên 2.000 tàu thuyền vào trú ẩn an toàn. Tuy nhiên, hiện vẫn còn 4.242 tàu với 30.932 lao động vẫn còn hoạt động trên biển. Trong đó, địa phương có số tàu thuyền đang ở trên biển nhiều nhất là Bình Định: 2.639 tàu với 16.823 lao động; tiếp đến là Quảng Ngãi với 762 tàu/ 7.185 lao động. Điều đáng quan tâm là hiện có 23 tàu với 326 lao động của Quảng Ngãi đang hoạt động trên vùng biển Hoàng Sa khó có khả năng chạy vào bờ kịp. Dự kiến các tàu thuyền này sẽ vào đảo Trụ Cẩu, thuộc quần đảo Hoàng Sa để trú ẩn. Đồng thời hiện vẫn có 23 tàu với 372 lao động của Đà Nẵng cũng hoạt động quanh khu vực quần đảo Hoàng Sa. Trước diễn biến phức tạp của bão số 9, cùng ngày, Bộ tư lệnh Quân khu 5 đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang Quân khu chuẩn bị các trang thiết bị y tế, lương thực, thuốc men…. Chủ động chằng chống hệ thống nhà cửa, kho tàng, bến bãi...ở những nơi trọng yếu bão lũ. Vùng C Hải quân tổ chức bắn pháo hiệu báo bão và huy động có 400 cán bộ chiến sỹ cùng 17 xe ô tô, hàng chục nhà bạt, 200 áo phao và nhiều dụng cụ y tế, thuốc men...sẵn sàng ứng cứu vùng bão, lũ. Cử 5 tàu trực cấp cứu tại vịnh Đà Nẵng; cửa biển Thuận An (Thừa Thiên-Huế); Cửa Đại (Quảng Nam) và Sa Kỳ (Quảng Ngãi). Đoàn Phòng không B75 đã huy động 450 cán bộ chiến sỹ cùng 3 ca nô; 20 xe tải, xe con, 50 nhà bạt, gần 300 áo phao và phao cứu sinh sẵn sàn ứng cứu. Tại tỉnh tỉnh Thừa Thiên Huế, chiều nay gần 2.000 tàu thuyền đã vào bờ tìm nơi tránh trú bão an toàn. Số phương tiện này đang được ngư dân sắp xếp, neo đậu tàu thuyền, chằng chồng tránh va đập. Về tình hình tàu thuyền tại Quảng Trị, hiện tại trên địa bàn tỉnh có 10 tàu với 80 ngư dân đánh bắt trên biển, đã có 2 tàu đã vào trú ẩn tại cửa Hội, Nghệ An, 8 tàu còn lại đang trên đường trở về đất liền, 11 tàu xa bờ các tỉnh khác đang neo đậu tại Quảng Trị cũng đã tìm được nơi trú ẩn an toàn. Cập nhật cách đây 5 giờ 40 phútLũ dữ chưa qua, bão mạnh sắp tớiLũ chưa qua, bão mạnh đã đe dọa. Các tỉnh Trung Trung Bộ đang khẩn trương hoàn tất mọi công tác phòng chống trước khi cơn bão mạnh cấp 12, giật tới cấp 15 đổ bộ vào đất liền. Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế… là các tỉnh dự báo bị tâm bão quét qua. Phạm vi ảnh hưởng của bão rất rộng, nhiều tỉnh miền Trung sẽ phải hứng chịu. 17 người chết, 6 người mất tích do mưa lũ Theo số liệu từ Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương, tính đến hôm qua, mưa lũ tại miền Trung làm 17 người chết và 6 người mất tích; gần 10.000 ngôi nhà bị ngập, tốc mái, hư hỏng, 2.500 ha lúa, gần 6.000 ha hoa màu và 1.750 ha ao nuôi thủy sản bị ngập. Thiệt hại nặng nhất là Thanh Hóa với 5.500 ngôi nhà, 1.700 hoa lúa; Quảng Bình gần 4.000 nhà, 150 ha lúa; 23 tàu bị hỏng và chìm…, ước tính hàng trăm tỷ đồng. Tin nhanh.com
-
NHẬT BẢN LINH DỊ KÝ (NIHONRYOIKI) Nhật Bản linh dị ký, tên thường gọi là Linh dị ký, tên đầy đủ là Nhật Bản quốc hiện báo thiện ác linh dị ký (Nihonkoku gempozenaku ryoiki) là tập truyện cổ Phật giáo đầu tiên, viết bằng chữ Hán của Nhật Bản. Đây là một tác phẩm nổi tiếng trong kho tàng văn học cổ điển Nhật Bản, phản ánh nhiều mặt của nền văn hóa Nhật Bản thời trung đại. Bài tựa sách đề năm Diên Lịch (Enryaku) thứ 6 (787). Tác giả là Keikai, một nhà sư chùa Yakushi, ở phía nam Kinh đô Nara. Không rõ ông sinh ra và mất năm nào. Theo nhiều nhà nghiên cứu Nhật Bản thì có lẽ Keikai sinh vào khoảng những năm đầu thời Nữ hoàng Hiếu Khiêm (Kiken)(1), cho đến đầu thời Thiên hoàng Quang Nhân (Konin)(2). Ông là sư tăng tự độ, có vợ con, những vẫn tu hành Phật đạo. Không rõ ông xuất gia năm nào. Ông sống ở huyện Nakusa tỉnh Ki (nay thuộc tỉnh Wakayama). Do những cố gắng trong việc tu hành và truyền giáo, năm 795 ông được ban danh hiệu Truyền đăng trú vị(3). Ông viết Linh dị ký vào năm 787, hoàn thành năm 822. Hiện ở chùa Yakushi còn lưu giữ hai bản sao Linh dị ký vào năm Diên Bảo (Enho) thứ 7 (1088). Song bản sao được coi là cổ nhất phát hiện vào năm Đại Chính (Taisho) thứ 11 (1922) là bản sao năm Diên Hy (Engi) thứ 4 (904), tức bản sao sau 80 năm kể từ khi Linh dị ký ra đời. Bản sao này được coi là quốc bảo, hiện được lưu giữ ở Thư viên Quốc bảo (Quốc bảo quán ở tàng) chùa Kofuku, tỉnh Nara. Linh dị ký gồm 3 quyển: Thượng, Trung, Hạ. Quyển Thượng có 35 truyện, quyển Trung có 42 truyện và quyển Hạ có 39 truyện, cả thảy là 116 truyện. Đầu mỗi quyển là lời Tựa, sau phần lớn mỗi truyện là lời Tán, xen kẽ trong các truyện là các đoạn thơ, ca dao. Có thể nói Linh dị ký là tác phẩm được viết dưới sự ảnh hưởng to lớn của Phật giáo. Các đề tài như chuyện về các thiền sư, chuyện về người có sức mạnh, chuyện sự trả ơn của súc vật, chuyện báo ứng luân hồi, chuyện ở hiền gặp lành, làm ác phải chịu quả báo… có liên quan đến sự linh nghiệm của đức Phật quan âm, Diệu Kiện bồ tát, Di lặc bồ tát, đến sự linh ứng của kinh điển và tượng Phật. Tất cả truyện kỳ lạ, linh nghiệm đều được dàn dựng gắn với hiện thực trên nền lịch sử có thật, được tác giả sắp xếp theo trục thời gian một chiều từ thời Thiên hoàng Hùng Lược (Yuryaku) (478)(4) cho đến hết thời Thiên hoàng Hằng Vũ (Kanmu) (781-806)(5). Cốt truyện tuy mộc mạc, đơn giản nhưng chủ đề chung bao trùm lên là đề cao cái đẹp nhân bản của con người: từ bi, bác ái, giữ gìn những đạo đức truyền thống như hiếu nghĩa, lòng thủy chung và sự hy sinh cao quý vì cộng đồng. Mặc dù các cốt truyện đều được xây dựng trên những tình tiết hoang đường kỳ ảo, song tác giả không có ý dẫn dắt người đọc thoát ly khỏi thế giới hiện thực. Trái lại, từ những câu chuyện tưởng như kỳ quái, tác giả hướng người đọc trở về với hiện thực bằng ý nghĩa giáo huấn của tác phẩm. Chính vì vậy Linh dị ký được phổ biến sâu rộng trong nhân dân, đi sâu vào niềm tin mang tính tôn giáo của người dân Nhật Bản. Dưới đây, chúng tôi xin trích dịch 9 truyện trong Linh dị ký để bạn đọc tham khảo. 1. CHUYỆN BẮT THẦN SẤM Sugaru thuộc dòng họ Chíiakobe là cận thần có tâm phúc, hộ vệ cho Thiên hoàng Hùng Lược (Yuryaku) hay còn gọi là Thiên hoàng Ohatsu Wakatake trị vì 23 năm ở cung Asakura ở Hatsuse. Thời Thiên hoàng sống ở cung Iware, Sugaru đã vô tình đi vào cung điện trong lúc Thiên hoàng đang cùng Hoàng hậu ân ái ở điện Daian. Thiên hoàng vô cùng xấu hổ không dám cùng Hoàng hậu tiếp tục chăn gối. Khi đó trong không trung bỗng vang lên tiếng sấm. Thiên hoàng nghe thấy lập tức ra lệnh điệu Sugaru tới, hỏi rằng: - Có phải nhà ngươi gọi thần Sấm đến không? Sugaru đáp rằng: - Bẩm thưa Thiên hoàng, thần mời thần Sấm đến đấy ạ. Thiên hoàng nghe thấy thế bèn ra lệnh: - Hãy mời thần Sấm đến cho ta. Sugaru phụng lệnh Thiên hoàng, lui gót trở ra cung điện. Sugaru trên trán thắt dây sắn dây màu đỏ, vác một cây mâu trên có cắm lá cờ đuôi nheo nhỏ cũng màu đỏ, cưỡi con ngựa đi theo con đường trước chùa Toyora từ phía Yamada trước thôn Abe. Khi đến phố Morokoshi, ông lớn tiếng gọi: - Hỡi thần Sấm trên trời, Thiên hoàng có lời mời ngài tới. Nói rồi vừa cho ngựa quay trở lại vừa nói: - Ngươi tuy là thần Sấm, nhưng vì cớ gì mà không nhận lời mời của Thiên hoàng ta. Khi quay trở về đúng đến khoảng giữa chùa Toyora và Iioka đã thấy thần Sấm xuất hiện. Sugaru thấy thế lập tức gọi quan trông coi thần mang kiệu đến đưa thần Sấm về cung điện và tâu với Thiên hoàng rằng: - Thưa Thiên hoàng, thần đã đón thần Sấm về rồi ạ. Lúc đó thần Sấm bỗng loé chớp sáng rực. Thiên hoàng thấy thế vô cùng sợ hãi bèn dâng rất nhiều lễ vật và cho người rước thần Sấm về nơi đã giáng hạ. Bây giờ người ta vẫn gọi chỗ thần Sấm xuống là gò Ikazuchi. (Nay là phía bắc cung Oharida kinh đô cũ - Nguyên chú). Về sau, khi Sugaru mất, Thiên hoàng ra lệnh làm lễ mai táng ông bảy ngày bảy đêm, ca tụng tấm lòng trung tín của ông và dựng mộ ông nơi thần Sấm giáng xuống, rồi lại dựng bia đề rằng: “Mộ của Sugaru, người đã bắt thần Sấm”. Thần Sấm thấy vậy vô cùng tức giận, giáng sấm sét xuống tấm bia, và nhảy xuống dẫm nát trụ bia. Nhưng cuối cùng thần Sấm lại bị kẹp chătụ vào vết nứt của trụ bia và lại bị bắt một lần nữa. Thiên hoàng nghe thấy chuyện đó, sai người gỡ ra, thần Sấm lần nữa lại thoát chết. Sau khi thoát ra ngoài, thần Sấm vẫn run bẩy bẩy, sợ hãi không thể bay về trời ngay được. Sau đó Thiên hoàng lại ra lệnh dựng lại bia và đề rằng: “Mộ Sugaru, người lúc sống bắt được thần Sấm, khi mất cũng bắt được thần Sấm”. Và tên gọi gò Ikazuchi có từ thời cố đô xưa (tức Asuka) chính là bắt nguồn từ câu chuyện kể trên. 2. CHUYỆN LẤY VỢ HỒ SINH CON Ngày xưa, vào thời Thiên hoàng Khâm Minh (Kinmei, năm 539) (Thiên hoàng Kinmei còn gọi là Thiên hoàng Amekuni Oshiharuki hironiwa trị vì ở cung Kânzashi ở Shikishima - Nguyên chú), có người ở huyện ôn tỉnh Mino muốn lấy vợ bèn cưỡi ngựa đi tìm. Tình cờ gặp một cô gái xinh đẹp trên đồng cỏ. Thấy chàng trai cô gái liếc mắt đưa tình, chàng trai cũng ngây ngất nhìn cô. Thế rồi đi tới hỏi: - Nàng đi đâu vậy. Cô gái trả lời: - Thiếp đi tìm người cùng kết duyên. Chàng trai thấy vậy liền nói: - Nàng có muốn làm vợ ta không? Cô gái trả lời: - Thiếp bằng lòng. Chàng trai lập tức đưa cô gái về làm lễ cưới và cùng nhau chung sống. Chẳng bao lâu cô mang thai, sau sinh ra một cậu con trai. Lại nói nhà chàng trai có con chó cái cũng đẻ con vào ngày 15 tháng 12. Con chó con mỗi lần gặp thiếu phụ cứ nhảy chồm lên, gầm gừ rồi bất ngờ xông ra cắn. Người thiếu phụ rất sợ bèn nói với chồng rằng: Chàng hãy giết con chó con đi. Người chồng thấy con chó con đáng thương không nỡ giết. Khoảng tháng 2, tháng 3, vào vụ giã gạo nộp thuế hàng năm, khi người thiếu phụ vào gian để cối giã gạo chuẩn bị bữa ăn trưa cho mấy cô gái, lập tức bị con chó mẹ xông ra đuổi cắn. Trong lúc hoảng hốt sợ hãi, người thiếu phụ liền biến thành con hổ chạy trốn, leo lên ngồi trên cái sọt. Người chồng thấy thế nói: - Chúng ta chẳng phải đã có con với nhau sao? Ta làm sao quên được nàng, nàng hãy thường xuyên đến đây ngủ cùng ta nhé? Nhớ lời chồng dặn, hổ thường xuyên đến và nghỉ lại. Vì vậy được đặt tên là “Kitsune”. Có một lần, người vợ mặc chiếc váy nhuộm hồng (bây giờ gọi là mầu hoa đào - Nguyên chú), thướt tha đi tới, rồi lại thững thờ bỏ đi. Người chồng nhớ tới người vợ đã bỏ đi, buồn rầu mà hát rằng: Tình yêu có ở đời này, lúc nào cũng ở bên ta, làm ta day dứt. Nếu là nàng hãy hiện ra giây lát. Ta đau khổ vì người con gái trẻ nay không biết đã đi đâu… Rồi đặt tên cho con trai của mình là Kitsune và họ Konoatae. Người con trai đó sau quả thành người có sức mạnh, đi như chim bay. Tên họ Konoatae ở tình Mino có liên quan đến câu chuyện kể trên. 3. CHUYỆN CHÚ BÉ CÓ SỨC MẠNH NHỜ SỰ HẢO TÂM CỦA THẦN SẤM Ngày xưa vào thời Thiên hoàng Mẫn Đạt (Bitatsu, năm 572 - 585), (là Thiên hoàng Nunakura Futotamshiki trị vì ở cung Osada ở Iware - Nguyên chú), có một nông dân ở làng Katawa, quận Aichino tỉnh Owari. Một hôm, người nông dân đi dẫn nước vào ruộng thì trời bắt đầu mưa, liền chạy trú mưa dưới gốc cây, chống gậy sắt xuống đất. Lúc đó bỗng vang lên tiếng sấm, người nông dân sợ qúa vội cầm gậy sắt, chăm chăm lên nhìn trời, lập tức thần Sấm biến thành chú bé con xuất hiện trước mặt người nông dân. Người nông dân định dùng gậy sắt giết chết thần Sấm. Thần Sấm thấy thế vội nói rằng: - Xin bác đừng giết tôi, nhất định tôi sẽ trả ơn cho bác. Người nông dân hỏi rằng: - Nhà người lấy gì để trả ơn cho ta. Thần Sấm thưa rằng: - Tôi sẽ cho bác một đứa con. Nhưng bác hãy vì tôi làm một máng nước bằng gỗ cây quế hương, dẫn nước vào và thả một lá tre xuống. Người nông dân làm theo đúng lời thần Sấm dặn. Sau khi làm xong, thần Sấm lại nói: Xin bác đừng tới gần máng nước. Và cho ông lui ra. Bỗng mây đen kéo đến che kín bầu trời, lúc sau trên đầu chú bé mới sinh có hai con rắn cuộn tròn, đầu và đuôi rủ cả xuống phía sau. Chú bé lớn lên được khoảng hơn mười tuổi, nghe tin triều đình có người rất khoẻ liền nảy ra ý định cùng người đó thử sức, bèn trẩy kinh lên sống ở gần cung điện vua. Lúc đó có một Thân vương, là người có sức mạnh không ai địch được, đến sống ở cung điện riêng, phía bắc chính cung. Ở góc phía đông bắc ấy có một hòn đá lớn cao 8 thước. Thân vương khoẻ bê hòn đá ném đi, nhưng hòn đá lại rơi vào cửa, chặn luôn cửa lại làm không ai có thể ra vào được. Chú bé tí hon nhìn thấy nghĩ bụng: có lẽ người này là Thân vương khoẻ nhất đây, nên chờ lúc đêm tối không ai nhìn thấy lẻn đến bê hòn đá, ném cách xa hơn Thân vương khỏe đến một thước. Thân vương khoẻ thấy thế vỗ tay, vặn người lấy hết sức bình sinh ném đá, nhưng cũng không thể ném xa hơn lần trước. Còn chú bé, lần này lại ném xa hơn tới hai thước. Thân vương khoẻ lại ném lần nữa, nhưng cũng chẳng xa hơn lần đầu. Thân vương khoẻ bèn đi ra chỗ chú bé đứng ném đá, thấy vết chân chú bé con hằn sâu trên mặt đất tới ba tấc. Thân vương nhìn thấy vết chân, nghĩ bụng ở đây chắc có chú bé con nào đó ném đá, định đi đến để bắt, nhưng khi Thân vương đến, chú bé đã chạy trốn. Thân vương đuổi thì chú bé chạy. Thân vương lại đuổi, chú bé liền chui qua hàng rào chạy trốn. Được một lúc lại chui qua tường quay trở lại. Thân vương liền nhảy qua tường đuổi theo, chú bé lại chui qua tường trốn đi. Cuối cùng Thân vương khỏe không thể nào bắt được chú bé. Ông ta nghĩ bụng: thằng bé này chắc khoẻ hơn ta, nên không đuổi theo nữa. Về sau chú bé con vào làm tiểu ở chùa Gango. Tối tối lại có người chết ở gác chuông chùa. Chú thấy thế bèn nói với các sư tăng rằng: - Xin cho con giải nạn cho người chết. Các sư tăng đồng ý. Chú tiểu bèn lấy bốn cái đèn để bốn góc gác chuông và nói với bốn người rình ở bốn góc rằng: - Nếu ta bắt được quỷ, tất cả các ngươi hãy cùng lúc mở chụp đèn ra. Nói rồi chú bé nấp vào chỗ cánh cửa gác chuông. Nhưng phải chờ đến nửa đêm quỉ mới tới. Liếc thấy chú bé ở đó, quỷ không dám xuất hiện. Chờ đến canh tư quỷ mới dám đi vào gác chuông. Ngay lập tức, chú bé túm tóc đẩy vào trong. Bốn người đứng chờ sẵn đấy hoảng hốt, đứng ngây người ra, luống cuống không sao mở nổi chụp đèn. Chú bé vừa giữ quỷ vừa lần lượt mở chụp đèn ở bốn góc gác chuông. Gần sáng, quỉ phải chịu lột tóc mới trốn thoát được. Ngày hôm sau, khi lần theo vết máu quỉ đến ngã tư nơi chôn kẻ hầu ác bụng của nhà chùa mới vỡ lẽ, con quỉ ấy chính là linh hồn của người hầu xấu bụng đó. Mái tóc con quỉ được chùa Gango giữ lại sau trở thành vật báu của chùa. Về sau chú bé trở thành Ubasoku (Tiếng Phạn là Upasaka, chỉ người tu tại gia - Người dịch chú) và vẫn tiếp tục sống ở chùa Gango. Một hôm, Ubasoku đi dẫn nước vào ruộng, nhưng các Thân vương lại không cho nước chảy vào ruộng chùa. Đến khi ruộng chùa khô nứt nẻ. Ubasoku nói với các sư tăng rằng: - Hãy để tôi dẫn nước vào ruộng. Các sư đồng ý. Thế rồi làm một cái mai mười người vác mới nổi mang đến cho ông. Ông vác mai và cây gậy sắt đứng đầu cửa ngòi nước. Các Thân vương ra giằng lấy mai của ông quẳng đi và đóng cửa ngòi nước lại. Ubasoku lần này vác hòn đá to trăm người bê không nổi đến chặn cửa ngòi nước lại và chỉ để một dòng nước chảy vào ruộng chùa. Các Thân vương thấy thế sợ hãi không dám chặn lại lần nữa. Vì vậy ruộng chùa không bị hạn, lại thu hoạt được nhiều thóc. Từ đó, các sư đã công nhận việc xuất gia đắc độ của Ubasoku và đặt tên cho ông là Đạo Trường Phát sư. Việc người đời sau truyền rằng: “Pháp sư Đạo Trường ở chùa Gango là người mạnh nhất”, có cơ sở từ câu chuyện kể trên. Pháp sư Đạo Trường sở dĩ có sức khoẻ hơn người là vì đã ra sức rèn luyện từ kiếp trước. Chuyện này là chuyện lạ ở Nhật Bản. 4. CHUỘC RÙA, LÀM VIỆC PHÓNG SINH, ĐƯỢC RÙA TRẢ ƠN Thiền sư Gusai là người Bách Tế. Khi Bách Tế bị Tân La và nhà Đường xâm lược có một người là tổ tiên của Trưởng quan ở huyện Mitani, tỉnh Bingo, trong đoàn phái khiển quân đã xuất chinh sang cứu Bách Tế. Trước khi lên đường, ông cầu nguyện rằng: - Nếu bình yên trở về, con sẽ xây chùa thờ thần phật. Sau quả nhiên ông đã tránh được mọi tai họa và chiến thắng trở về. Khi đó ông mời Thiền sư Gusai cùng trở về xây dựng chùa Mitani. Ngoài ra, thiền sư còn xây dựng nhiều chùa chiền khác. Sư tăng các chùa và thiện nam tín nữ thấy vậy rất kính trọng thiền sư. Thiền sư còn bán gia sản của mình lên kinh đô mua vàng và sơn son thếp vàng để tạo tượng Phật. Trên đường trở về chùa Mitani, khi đến bờ biển Naniwa, ông thấy người ta bán bốn con rùa lớn bèn khuyên người khác bỏ tiền ra mua và thả xuống biển. Sau đó ông thuê thuyền mang theo hai chú tiểu ngày đêm rong ruổi vượt biển trở về. Trên đường về, có một hôm, trời đã về chiều, bóng tối lan dần, những người chèo thuyền nổi lòng tham, nhân lúc thuyền dừng lại ở đảo Kabane tỉnh Bizen, chúng bắt hai chú tiểu ném xuống biển và bức Thiền sư phải nhảy xuống biển. Thiền sư nhẹ nhàng khuyên giải, nhưng chúng cương quyết không nghe. Không có cách nào khác. Thiền sư bèn cầu nguyện rồi từ từ đi xuống biển. Khi nước vừa ngập đến ngang người thì chân Thiền sư chạm vào hòn đá. Đến sáng nhìn xuống thì ra đứng trên lưng con rùa. Thiền sư được rùa đưa đến bờ biển Bitchu, đến đây, rùa cúi đầu chào có lẽ là sự trả ơn của rùa khi được Thiền sư cứu sống. Lại nói bọn cướp thuyền có sáu tên, chúng đến chùa Mitani để bán vàng và thếp vàng. Bậc đàn việt ra trước mặc cả giá, thiền sư từ phía sau đi ra xem. Liếc thấy thiền sư, chúng giật mình không biết tiến thoái thế nào. Thiền sư thấy vậy không nỡ bắt phạt. Thế rồi, Thiền sư tạo Phật tượng, trang trí tháp, cúng giàng tươm tất. Sau đó ông trở về sống ở vùng ven biển, ngày ngày giáo hóa chúng dân. Ông thọ hơn 80 tuổi. Là con vật mà biết nghĩa lý, không quên trả ơn người đã cứu sống, huống hồ chúng ta lại có thể quên được sao. 5. CHUYỆN KỂ VỀ NGƯỜI TU HÀNH THEO PHÉP THẦN CHÚ CỦA KHỔNG TƯỚC MINH VƯƠNG, CÓ SỨC MẠNH KÌ LẠ, BIẾN THÀNH TIÊN BAY LÊN TRỜI En Ubasoku là người họ En của dòng họ Kamo. Đại thần Takakamo Ason cũng là người xuất thân từ dòng họ này. Ông là người làng Chihara, huyện Kazurakinokami, tỉnh Yamato, sinh ra là người có học vấn vào bậc nhất, lại kính tin Tam bảo, coi đó là nghiệp của đời mình. Mỗi lần cầu nguyện, ông cưỡi mây ngũ sắc, bay lên không trung cùng tụ họp với các tiên nhân nơi tiên cung, vui chơi nơi thế giới vĩnh hằng, nằm nghỉ trên khu vườn đầy hoa, hít thở linh khí do mình nuôi dưỡng. Chẳng thế, hơn 40 tuổi ông vẫn còn sống nơi hang động, mặc áo thô bằng sợi cây sắn dây, ăn lá cây tùng, tắm nước suối trong, gột rửa bụi trần nơi trần thế, tu luyện theo kinh Khổng tước, chứng được pháp thuật linh nghiệm. Ông còn có thể sai khiến được quỷ thần, tự do tự tại trong mọi việc. Ông khuyến dụ quỷ thần, lệnh cho các thần rằng: - Các thần hãy bắc cầu qua hai ngọn núi Kimpu (Kim phong) và Kazuraki (Cát Thành). Các thần nghe vậy đều thở dài khó chịu. Vào thời Thiên hoàng Văn Vũ (Mommu) trị vì thiên hạ ở cung Fujiwara, có thần Hitokotonushi ở núi Kazuraki nói xằng qua người khác rằng: - Ubasoku họ En âm mưu lật đổ Thiên hoàng. Thiên hoàng nghe thấy liền sai người định tới bắt Ubasoku. Nhưng do có sức mạnh phi thường nên không thể bắt ông được, họ liền quay ra bắt mẹ ông Ubasoku vì cứu mẹ nên đã chịu ra cho họ bắt. Ông lập tức bị lưu đày ở Izu. Lúc đó thân ông nổi trên mặt biển. Ông ngồi khom khom trên đỉnh núi cao vạn trượng rồi bay như chim phượng hoàng. Ban ngày ông tuân theo sắc lệnh của Hoàng thượng đến tu hành ở đảo. Ban đêm ông đi đến núi Phú Sĩ tỉnh Suruga để tu hành. Thế rồi ông xin được tha chém đầu và muốn trở về Kinh đô nơi Thiên hoàng đang sống, vì thế cho nên khi sắp bị hành hình ông lập tức bay lên đỉnh núi Phú Sĩ. Ông phải sống lưu đày ở Izu hơn ba năm. Thế rồi đội ơn lòng từ bi của Thiên hoàng, tháng giêng năm Tân Sửu niên hiệu Taiho (Đại Bảo) năm đầu, (701) ông được phép trở về gần Kinh đô. Cuối cùng ông trở thành tiên bay lên trời. Có pháp sư Dosho người nước ta, phụng sắc lệnh sang Đường học đạo Phật. Lúc đó pháp sư tới Tân La (Hàn Quốc ngày nay) theo lời mời của Ngũ bách hổ và giảng kinh Pháp hoa ở núi đó. Lúc đó trong đám hổ có một người hỏi pháp sư bằng tiếng Nhật. Pháp sư liền hỏi: - Ngươi là ai? Người đó chính là Ubasoku. Pháp sư nghĩ: “Đây là thánh nhân của nước ta” liền từ trên tòa cao đi xuống tìm nhưng không thấy. Thần Hitokoto bị En Ubasoku niệm thần chú bắt, tới nay vẫn chưa được giải thoát. Những chuyện kì lạ về sức mạnh huyền diệu của Ubasoku có rất nhiều, không kể xiết nên lược bớt đi. Chúng ta có thể thấy rằng pháp thuật Phật đạo rất rộng lớn. Những người quy y đạo Phật tất chứng được pháp thuật ấy. Tạp chí Hán Nôm. 6. CHUYỆN KỂ NGANG NHIÊN CƯỚP ĐỒ VẬT CỦA NGƯỜI KHÁC LÀM ĐIỀU ÁC PHẢI CHỊU QỦA BÁO Kashiwade no Omi Hirokuni là viên Thiếu lãnh ở huyện Miyako tỉnh Buzen. Vào thời Thiên hoàng Văn Vũ (Mommu) (697-707) trị vì thiên hạ ở cung Fujiwara, ngày 15 tháng 9, mùa thu năm Ất Tỵ, niên hiệu Khánh Vân (Kyoun) thứ 2 (705) Hirokuni đột nhiên mất. Nhưng qua ba ngày đến giờ Thân (3 giờ chiều) ngày Mậu (ngày 17) ông bỗng nhiên sống lại và kể lại câu chuyện sau: - Có 2 sứ giả, một người búi tóc trên đầu, một là chú hầu nhỏ. Chúng tôi cùng nhau lên đường, đi qua khoảng 2 trạm nghỉ, gặp một con sông lớn. Trên sông có cây cầu, cầu sơn son thếp vàng. Chúng tôi qua cầu, khi sang tới bờ bên kia là nước hoàn toàn mới lạ. Tôi hỏi sứ giả rằng: - Đây là nước nào? Sứ giả trả lời: Đây là nước Tonan. Khi tới kinh đô của nước ấy có 8 người lính mang vũ khí đuổi theo. Phía trước có cung điện bằng vàng, khi vào cổng đã thấy Diêm Ma Pháp Vương ở đó. Ngài ngồi trên chiếc ghế bằng vàng và nói với tôi rằng: Nay ta triệu ngươi tới đây vì chuyện ngươi bị vợ ngươi tố giác. Rồi lập tức đưa một người phụ nữ ra. Tôi nhận ngay ra đấy là người vợ đã mất trước đây. Cô ấy bị đinh sắt đóng từ đỉnh đầu xuống tận hậu môn, từ trán xuyên qua gáy, chân tay trói bằng thừng sắt và bị 8 người giải đến. Diêm Vương hỏi: - Ngươi có biết người đàn bà này không. Tôi thưa rằng: - Đây quả đúng là vợ tôi. Diêm Vương lại hỏi: - Ngươi có biết tội của ngươi là gì không. Tôi trả lời rằng: - Tôi không biết. Diêm Vương quay sang hỏi người phụ nữ. Người phụ nữ đáp: Dạ thưa biết. Ông ta đuổi tôi ra khỏi nhà, vì vậy tôi căm giận ông ta. Đại vương quay sang nói với ta: Ngươi vô tội. Ngươi có thể trở về nhà nhưng phải thận trọng không được hé cho ai biết chuyện dưới suối vàng này. Nếu muốn gặp cha ngươi, hãy đi về phương Nam. Tôi liền đi tới đó, QUẢ thấy cha tôi. Ông đang bị đứng ôm cột đồng nóng rực, 37 đinh sắt đóng vào thân, lại còn bị đánh bằng roi sắt, sáng 300 roi, trưa 300 roi, tối 300 roi, cộng lại cả ngày bị đánh 900 roi. Ngày nào ông cũng bị đòn. Ta thấy vậy vô cùng thương tâm, than rằng: - Than ôi, con không nghĩ cha lại khổ đến như thế này. Người cha nói: - Ta phải chịu khổ như thế này, con có biết không. Để nuôi dưỡng với vợ con có lúc ta giết súc vật. Cũng có lúc ta cho vạy 8 lạng bông ép lấy lãi thành 10 lạng. Cũng có lúc cho vay cân nhỏ ép lấy lãi cân lớn. Có lúc còn cưỡng đoạt đồ vật của người khác, cưỡng hiếp vợ người khác. Không chăm sóc cha mẹ già, không kính trọng người có tuổi, chửi mắng cả kẻ không phải người hầu của mình. Vì tội như vậy mà tấm thân bé nhỏ của ta bị 37 chiếc đinh đâm, mỗi ngày bị đánh 900 roi thật đau đớn khổ sở lắm. Ngày nào ta mới thoát tội, ngày nào thân ta mới được yên. Con hãy vì ta tạo ngay Phật tượng, viết kinh, chuộc lại tội lỗi cho ta. Dù thế nào cũng không được quên. (Năm ta mới mất) ngày mồng Bẩy tháng Bẩy, vì đói qúa biến thành con rắn lớn bò đến nhà con, định vào phòng thì bị con cầm gậy hất ta đi. Năm sau ngày mồng Năm tháng Năm, ta biến thành con chó nhỏ khi tới nhà con, con gọi con chó khác ra cắn đuổi, chẳng ăn được gì tức giận trở về. Lại vào ngày mồng Một tháng Giêng năm nay, ta biến thành con mèo vào nhà con, đêm đó ta được ăn no thịt và các lễ vật dâng cúng. Ta phải nhịn đói ba năm, mãi đến lúc đó mới được ăn. Ta là kẻ phi đạo lý, coi thường anh em, trên dưới, nên phải biến thành con chó lúc nào cũng sùi bọt mép. Ta lẽ nào không thể trở thành con chó nhỏ màu đỏ được sao? Phàm kẻ bố thí một thăng gạo, sẽ được hưởng đồ ăn trong 30 hôm. Bố thí một bộ quần áo sẽ được quần áo mặc cả năm. Người cầu khẩn nhà sư đọc kinh, sau khi chết được ở cung điện bằng vàng ở phương Đông, kiếp sau được tùy ý sinh ra ở trên trời. Người tạo tượng Phật Bồ tát được sinh ra nơi Tây phương vô lượng tịnh thổ. Người phóng sinh được vãng sinh nơi Bắc phương cực lạc. Kẻ ăn chay một ngày được hưởng lương thực trong mười năm. Khi tới Địa Ngục tôi thấy được sự “ác giả ác báo, thiện giả thiện báo”. Sau đó, ta loanh quanh định ra khỏi Địa Ngục thì thấy có đứa trẻ vội đi tới qùy lạy. Đứa trẻ liền gọi tôi và đưa tôi đến cạnh cửa bên, đẩy cửa mở. Khi tôi định đi ra đứa trẻ nói với tôi rằng: - Hãy đi mau đi. Tôi liền hỏi đứa trẻ: - Ngươi là con vị nào. Cậu bé trả lời: - Ông muốn biết ta là ai ư? Ta là kinh quan Âm Bồ Tát được nhà ngươi viết lúc còn nhỏ. Thế rồi tôi trở về nhà, và bỗng nhiên thấy mình sống lại. Hirokuni xuống suối vàng thấy rõ việc ở hiền gặp lành, làm ác phải chịu quả báo, liền đem chuyện đó kể lại với mọi người. Chuyện gây tội ác phải chịu quả báo cũng được nói nhiều trong kinh Đại thừa, ai dám không tin. Trong kinh có ghi rằng: “Hiện thế cam lộ, vị lại thiết hoàn” là nói về chuyện này chăng. Hirokuni từ đó hết lòng vì cha tạo tượng Phật, chép kinh, cúng giàng Tàm bảo, đền đáp công ơn cha mẹ, chuộc lại lỗi lầm, về sau dốc lòng quy chính. 7. QUỶ SỨ CUNG DIÊM MA VƯƠNG BÁO ĐỀN ƠN ĐƯỢC MỜI CƠM Ở huyện Yamada tỉnh Snuki có một người phụ nữ tên gọi là Nunoshiki no Omi Kinume. Vào thời Thiên hoàng Thánh Vũ (Shomu, 724-749), Kinume bỗng nhiên bị bệnh nặng. Cô bèn chuẩn bị rất nhiều món ăn ngon đặt ở hai bên cửa cúng thết thần dịch bệnh. Thế rồi quỷ sứ ở Diêm Ma Vương được lệnh đi bắt cô. Qua mấy ngày đi tìm, quỷ sứ thấy mệt và đói, nhìn thấyn lễ vật dâng cúng bọn chúng liền ngọt nhạt xin ăn. Thế rồi quỷ sứ nói với Kinume rằng: - Ta đã ăn cơm của nhà ngươi nên sẽ báo lại ơn này. có người nào cùng họ tên với nhà ngươi không ? Kinume trả lưòi: - Ở huyện Utari cùng tỉnh có người cùng họ Kinume. Quỷ sứ liền dắt cô đi đến nhà cô gái ở huyện Utari. Khi gặp cô gái đó, lập tức có cái đục một thước từ trong túi đỏ hiện ra đánh vào trán cô gái, rồi cứ thế quỷ sứ đưa cô gái đó đi. Còn cô Kinume huyện Yamada lén trở về nhà. Lúc đó Diêm Ma Vương đợi Mikinume tới, xem xét, thấy cô Diêm Ma Vương nói: - Đây không phải Kinume ta cho gọi. Nhầm người này rồi. Thôi, cô cứ tạm ở lại đây. Bọn bay hãy triệu ngay Kinume của huyện Yamada tới đây ngay. Bọn quỷ không dấu được buộc phải đi đến huyện Yamada đưa cô gái đó về. Diêm Ma Vương đợi thấy cô liền nói rằng: - Đây đúng là Kinume mà ta cho gọi. Cô Kinume huyện Utari trở về nhà, qua 3 ngày, ở nhà đã thiên thân thể của cô. Cô đành quay trở lại thưa với Diêm Ma Vương rằng: - Thân thể của con đã mất rồi, không còn nơi nào nương tựa cả. Diêm Vương lập tức hỏi: - Thây của Kinume huyện Yamada có còn không ? Cô trả lời: - Dạ thưa còn. Diêm Ma Vương liền ra lệnh: - Ngươi hãy lấy thi thể đó làm thân nhà ngươi. Vì vậy cô Kinume huyện Yamada sống lại trở thành cô Kinume huyện Utari. Tỉnh lại cô nói rằng: - Đây không phải là nhà của ta. Nhà của ta ở huyện Utari kia. Bố mẹ cô thấy vậy nói rằng: - Con là con của chúng ta. Tại sao con nỡ nói như vậy. Kinume không nghe, cô trở về nhà ở huyện Utari. Về đến nhà cô nói: - Đây quả là nhà ta rồi. Khi gặp cha mẹ, cha mẹ cô không nhận, nói rằng: Cô không phải con gái chúng ta. Con gái ta chết, đã làm lễ hỏa táng rồi. Kinnume liền thuật lại lệnh chỉ của Diêm Ma Vương. Thế rồi cha mẹ cô ở cả 2 huyện nghe chuyện đó, bằng lòng nhận cô làm con và chia tài sản cho cô. Vì vậy cô Kinnume này có 4 cha mẹ và tài sản của cả hai gia đình. Công đức làm cơm dâng quỷ thần không phải vô ích. Nguời có tài sản như vậy nên làm cơm cúng giàng. Đây cũng là chuyện lạ. 8. CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI BỊ ÁC QUỈ ĐẦY ĐOẠN VÀ ĂN THỊT Vào thời Thiên hoàng Shomu (Thánh Vũ), người trong nước thường hát bài ca rằng: Ai muốn lấy ngươi, con gái nhà Ai muốn lấy ngươi, con gái nhà Yorozu ở thôn Amuchi ơi ! Nam mô, nam mô. Tiên ông trong núi uống đến một thạch rượu rồi đi thuyết pháp. Sau đó... cô Yorozu trở thành tì thiếp của tiên ông”. Đương thời, ở phía đông làng Amuchi huyện Tochi tỉnh Yamato, có một gia đình rất giàu có. Họ là Kagamitsukuri no Miyatsuko. Gia đình đó có một người con gái tên gọi là Yorozu no ko, chưa lấy chồng, cũng chẳng có quan hệ với chàng trai nào. Cô là trang thiếu người tử tế đến dạm hỏi song cô từ chối chưa muốn lấy ai. Vài năm trôi qua, có một chàng trai đem rất nhiều lễ vật tới hỏi cô làm vợ. Ba cỗ xe chở đầy tấm lụa đẹp. Cô gái thấy thế liền ưng thuận, gần gũi thân mật với chàng và bằng lòng với lời cầu hôn của chàng, thế rồi cùng nhau ân ái. Đêm hôm đó, trong phòng ngủ của đôi vợi chồng trẻ, ba lần có tiếng kêu rên phát ra: - Ôi đau quá, đau quá. Cha mẹ cô gái nghe thấy vậy, nói với nhau rằng: - Có lẽ chưa quen nên thấy đau. và ngủ luôn chẳng cần để ý gì nữa. Sáng ngày hôm sau, không thấy đôi vợ chồng trẻ dậy, bà mẹ liền gõ cửa phòng ngủ, cất tiếng gọi nhưng không thấy ai trả lời. Bà thấy lạ bèn mở cửa thì trong phòng chỉ còn có cái đầu lâu và một ngón tay còn sót lại, tất cả đã bị ăn hết. Ông bà sợ qúa ra xem lại đồ sính lễ thì thấy những tấm lụa đẹp đã biến thành xương xẩu các loài thú vật. Cả ba cỗ xe cũng đã biến thành gỗ cây Gumi. Mọi người khắp nơi nghe chuyện bẻn kéo đến xem, ai cũng sửng sốt ngạc nhiên. Cha mẹ cô đặt chiếc đầu của cô vào chiếc hòm rất đẹp, sáng ngày thứ 7 làm lễ cúng cơm chay trước Phật. Có lẽ điềm báo trước tai họa đó là bài hát đó chăng. Có người nói đó là việc kỳ quái của thần, cũng có người cho rằng bị quỉ sứ ăn thịt. Nghĩ kĩ lại có lẽ là do thù hằn của kiếp trước chăng. Đây cũng là chuyện lạ. 9. CÔ GÁI NGHÈO KIẾT XÁC, CẦU PHÚC TUỢNG PHẬT QUAN ÂM NGHÌN TAY, TRỞ THÀNH NGƯỜI GIÀU CÓ Amanotsukai Minome là người phường 2, khóm 9, ở Tả kinh Nara. Bà sinh hạ được 9 người con nên nghèo tới mức chẳng có gì so sánh được. Không có gì để sống, bà liền đi cầu phúc tượng Quan Âm ngàn tay ở chàu Amaho. Chưa đầy một năm, vào ngày mồng Mười tháng Mười, mùa đông năm Quý Mão, niên hiệu Thiên Bình Bảo Tự (Tempyohoji) thứ 7 (763), đời Thiên hoàng Thuần Nhân (Junnin), không ngờ em gái bà lại lặn lội tới thăm và gửi lại bà chiếc rương bằng da. Chân người em gái bị phân ngựa dây bẩn cả. Cô em gái nói với bà rằng: - Em sẽ quay trở lại ngay, chị cho em để chiếc rương bằng da ở đây. Nhưng bà chờ mãi không thấy em mình trở lại, bèn đi đến chỗ người em hỏi. Người em nói với bà rằng: - Em không biết. Bà lấy làm lạ bèn mở chiếc rương ra xem, thấy có 100 quan tiền ở trong đó. Thế rồi, cũng như mọi bận bà mua hương hoa dầu đèn đi đến dâng trước tượng Quan Âm ngàn tay. Bà thấy chân pho tươợng có phân ngựa dây bẩn vào. Bà tự hỏi: Số tiền này chẳng phải Quan Âm cho tay hay sao. Sau ba năm, số tiền 100 quan dùng để sửa chùa để ở viện ngàn tay của chùa Amaho tự nhiên mất. Chúng ta có thể hiểu rằng số tiền ở trong rương bằng da đó, chính là số tiền của chùa. Qủa thật số tiền đó là tiền Quan Âm đã ban cho bà. Lời tán rằng: Thiên thay! người mẹ, Amanotsukai Minome. Sáng nhìn con đói, Nước mắt trào rơi. Tối dâng hương hoa, Nguyện cầu đức Phật. Tiền tự vào nhà, Sầu nghèo tiêu tán Quan Âm ban phúc, Được giàu có ra. Nuôi con đầy đủ, Áo quần tinh tươm. Chính nhờ Quan Âm, Từ bi cứu giúp. Đó là công đức, Dàng cúng hương hoa. Trong kinh Niết bàn cũng ghi rằng: “Vì yêu thương con hết mực nên được vãng sinh nơi thế giới trần tiên” là nói về chuyện này vậy. Đây cũng là chuyện lạ. CHÚ THÍCH (1). Nữ hoàng Hiêu Khiêm (Koken): Thiên hoàng đời thứ 46, tên là Abe, con gái thứ hai của Thiên hoàng Shomu (Thánh Vũ) và hoàng hậu Komei (Quang Minh). Bà ở ngôi từ năm 749 - 758. Cũng có thuyết cho là từ năm 718 - 770. (2). Thiên hoàng Quang Nhân (Konin): Thiên hoàng đời thứ 49, tên là Shirakabe, con trai thứ 6 của Thân vương Shiki. Ông ở ngôi từ năm 770 - 781. Cũng có thuyết cho là từ năm 709-781. (3). Truyền đăng trú vị: Chức thứ 3 trong sư tăng. Đó là Truyền đăng đại pháp sư vị; Truyền đăng pháp sư vị; Truyền đăng trú vị và Truyền đăng nhập vị. “Truyền đăng” chỉ sự tiếp nối không ngừng của Phật pháp, sự thắp sáng mãi, không lúc nào tắt. (4). Thiên hoàng Hùng Lược (Yuryaku): Thiên hoàng đời thứ 21, tên là Ohatsuse wakatakeru, con trai thứ 5 của Thiên hoàng Doãn Cung (Inkyo). Ông ở ngôi khoảng giữa thế kỷ thứ V. (5). Thiên hoàng Hằng Vũ (Kanmu): Thiên hoàng đời thứ 50, tên là Yamanobe, con trai thứ 2 của Thiên hoàng Quang Nhân (Konin). Ông ở ngôi từ năm 781-806. Cũng có thuyết cho là từ năm 737-806.
-
SUY NGHĨ VỀ "BÁT QUÁI" Trải qua mấy ngàn năm, hệ Bát Quái được sắp đi xếp lại nhiều lần, trong đó lần sắp xếp của Chu Văn Vương phản ánh một sự biến đổi nhất định về chất. Bát Quái sắp xếp theo cách được coi là của Chu Văn Vương này gọi là “Hậu Thiên Bát Quái”. Đây là hình Bát Quái phổ biến nhất cho đến ngày nay. Bài báo này nói riêng về một số điều tìm hiểu thêm về trật tự trong “Hậu Thiên Bát Quái”. Trong sách Kinh Dịch, Nguyễn Hiến Lê cho biết hai tên “Tiên Thiên Bát Quái” và “Hậu Thiên Bát Quái” không thấy dấu hiệu xuất hiện trong Kinh Dịch, chắc là do người đời sau đặt ra, có thể là từ đời Hán. Nhưng, những “người đời sau này” căn cứ vào đâu để đặt ra hai cái tên đối chọi nhau như vậy. Hình như ngay tên gọi đó đã xác nhận một sự phân biệt rạch ròi, một bước biến đổi về chất. Nguyễn Hiến Lê cũng đưa ra một số lời giải thích, nhưng rồi chính ông lại bác bỏ cả, và thú thật là “không hiểu nổi”, và “Kinh Dịch có nhiều điều khó hiểu”... “ta phải chấp nhận vậy thôi”. Trong một công trình hết sức nghiêm túc và rất có triển vọng, mới đây ông Nguyễn Hoàng Phương đã dùng lý thuyết dập mờ để nghiên cứu phân tích một số thuyết dự báo Trung Quốc cổ, trong đó có Bát Quái. Về Bát Quái, ông đã đưa ra một hệ phương trình có hai hệ nghiệm, và ông gán cho một hệ nghiệm là của “Tiên Thiên”, còn hệ nghiệm kia là của “Hậu Thiên” thì chưa có lời giải thích. Nhưng vì sao cái này là "Tiên Thiên", cái kia là "Hậu Thiên" thì chưa có lời giải thích. Và từ những hệ nghiệm đó tìm ngược trở lại các đặc thù của “Tiên Thiên” và “Hậu Thiên” thì chưa thấy nói đến, ngay đến cách làm việc này cũng còn bỏ ngỏ. Cho nên, chưa thể từ các hệ nghiệm đó mà nhận biết sự phân biệt về chất giữa “Tiên Thiên” và “Hậu Thiên”, thậm chí cũng chưa nêu bật được sự khác nhau về hình thức giữa hai cách sắp xếp này. “Tiên Thiên” và “Hậu Thiên” khác nhau trước hết ở cách sắp xếp thứ tự, và đặc biệt ở nội hàm, tượng ở “Hậu Thiên” được mở rộng thêm nhiều. Mỗi cách sắp xếp là theo một tiêu chí riêng nào đó, và chính cái tiêu chí sắp xếp đó sẽ bộc lộ tư tưởng, ý đồ của sự sắp xếp. Như bài báo trước đã trình bày, “Tiên Thiên” được sắp xếp theo hệ thống cấu trúc. Cứ theo ngôn từ mà xét, từ điển Hán ngữ hiện đại cho biết “Tiên Thiên” là để chỉ “người và động vật khi còn là bào thai”. Vậy “Tiên Thiên Bát Quái” là Bát Quái thời kỳ phôi thai, còn là một “cấu trúc tự thân”, thậm chí chưa phải là một sự vật cụ thể, có sức sống. “Kinh dịch” Khi chỉ mới có Bát Quái, chưa có lời văn, thì ý nghĩa “dịch” dù có hàm súc mấy đi nữa cũng chứa đựng một nội hàm rất mờ. Khi Văn Vương viết lời văn đầu tiên cho “Kinh Dịch”, có thể ông còn được học truyền khẩu cái nội hàm mờ đó, và đã chế biến nó theo cách của ông. Văn Vương đã sắp xếp lại Bát Quái theo những tiêu chí nào đó phù hợp với những lời giải thích “dự báo học” mà ông gán cho các quẻ. “Kinh Dịch” hình thành và ra đời dưới dạng hoàn chỉnh, cả về biểu tượng và lời văn. Bát Quái được sắp xếp lại này gọi là “Hậu Thiên Bát Quái”, tức là Bát Quái thời kỳ đã thực sự ra đời và hoạt động như “người và động vật sau khi rời khỏi thân thể mẹ và có một đời sống độc lập” (Từ điển Hán ngữ hiện đại). Vấn đề của chúng ta là dò tìm lại các tiêu chí mà ngày xưa các cụ đã dùng để sắp xếp lại thành “Bát Quái Hậu Thiên”. Gần như không có khả năng tìm được đúng các tiêu chí đã được sử dụng, chẳng qua chỉ là một cách minh họa lời phán đoán về các tiêu chí có thể đã được dùng. Bát Quái thường được đưa ra cùng với các sơ đồ “Hà Đồ” và “Lạc Thư”, hai hình tượng được coi là hình tượng gốc gợi lên ý tưởng và biến dịch cho Bát Quái. Thực ra, mối liên quan giữa: “Hà Đồ” và “Lạc Thư” với Bát Quái tỏ ra khá mỏng manh, có tỉnh hình thức. Có thể nghĩ rằng người xưa có hứng thú đặc biệt với các “ma phương”, vĩ “Hà Đồ” và “Lạc Thư” đều thuộc loại “ma phương” theo nghĩa nào đó. “Lạc Thư” rõ ràng là một “ma phương” cấp 3 theo nghĩa tương tự như ngày nay (tổng theo dòng ngang, cột dọc và đường chéo đều bằng 15). Còn “Hà Đồ” lại là một ma phương loại khác, theo đường xoắn (tham khảo “Chu Dịch Thập Nhật Đàm”, Trung Văn, Nhà xuất bản Thượng Hải, 1946). Trong Hà Đồ và Lạc Thư, số 5 đứng giữa không ứng với quẻ nào, nên thứ tự sắp xếp các quẻ của Văn Vương có thể mã hóa thành. Trật tự Quẻ: Càn Khảm Cấn Chấn Tốn Ly Khôn Đoài Mã xuôi..........1..... 2...... 3.... 4...... 6.. 7... 8...... 9.. Mã ngược...... 9..... 8...... 7.... 6...... 4...3... 2...... 1 Có thể thấy ngay rằng dù mã xuôi hay mã ngược, cách sắp xếp theo thứ tự này của Văn Vương cũng không phù hợp với trật tự các con số trong Lạc Thư hay Hà Đồ. Ngược lại, có thể mã theo trật tự Tiên Thiên rồi theo các con số của Lạc Thư hay Hà Đồ mà đổi thành trật tự Hậu Thiên chăng ? Bảng mã sẽ là: Trật tự Quẻ Càn Đoài Ly Chấn Tốn Khảm Cấn Khôn Mã xuôi........ 1..... 2... 3.... 4.... .6.... 7..... 8...... 9... Mã ngược..... 9..... 8... 7.... 6..... 4.... 3..... 2...... 1... Với Hà Đồ, ta cũng vẫn không thể làm cho cách sắp xếp phù hợp được. Còn với Lạc Thư, mặc dù bằng các phép chuyển vị (đổi dòng thành cột). đổi hàng, đổi cột ta có thể có 8 ma phương khác nhau, nhưng vẫn không thấy được sự phù hợp cần thiết. Vậy là với giả thiết dựa vào sự gợi ý của Lạc Thư hay Hà Đồ, ta đều chưa tìm ra được một hình ảnh có thể minh hoạ cách sắp xếp của Văn Vương. Có thể còn có những khóa mã khác nữa mà người viết bài này không biết đến. Mong rằng nó vẫn còn là một gợi ý có ích. Tiêu chí sắp xếp thứ hai có thể nghĩ đến là tiêu chí “giá trị”. Do bói toán có nhu cầu xác định trình độ “Cát - Hung” nên mỗi quẻ có thể được gán một “giá trị” biểu thị phần cát, phần hung, và có thể có phần phi cát, phi hung. Có thể coi giá trị của một quẻ là tổng hợp (theo một nghĩa nào đó) của các giá trị của các hào tạo nên nó. Ta có thể lấy giá trị ban đầu của các hào là bằng nhau vào bằng 0,5. Và, vì theo lý thuyết Trung Quốc cổ đại, trong âm có dương và trong dương có âm, nên phép hợp ở đây có thể dùng phép cộng xác suất biến cố không độc lập (giá trị được coi như xác suất), tức là phép hợp phi bài trung (hợp (a, :lol: = a + b - ab). Cáo hào âm và dương ban đầu có giá trị 0,5 như nhau, nhưng khi trở thành thành phần một quẻ thì giá trị của nó thay đổi tuỳ theo vị trí và vai trò trong quẻ. Vị trí và vai trò này được thể hiện bằng những hệ số làm thay đổi giá trị của hào. Trong mỗi quẻ có ba hào, mà sự phân chia hệ số thay đổi phải tùy thuộc vào tính chất của hào mà thay đổi. Theo Nguyễn Hiến Lê, giá trị của hào có thể thay đổi theo các điều kiện sau đây: - Đắc trung: hào chiếm vị trí giữa của quẻ. - Đắc chính: hào dương chiếm vị trí lẻ, hào âm chiếm vị trí chẵn. Có thể xét thêm hai điều kiện phụ: - Hợp chủ: hào dương trong quẻ dương, hào âm trong quẻ âm. - Có thế: hào ở trên được coi là thế phát triển cao hơn hào ở dưới. Tôi đã chọn các hệ số sau đây để tính giá trị các quẻ: - Trung: đắc trung = 0,6; không đắc trung: 0,2. - Chính: đắc chính = 0,5; không đắc chính: 0,25. - Chủ: hợp chủ = 0,4; không hợp chủ: 0,3 - Thế: hào trên tăng giá trị 1,5 so với hào dưới. Với các hệ số này, tôi đã tính giá quẻ theo hai cách: - Cách thứ nhất: kết hợp phép hợp xác suất với phép tính thông thường (với các yếu tố không phụ thuộc). - Cách thứ hai: dùng phép hợp xác suất phổ biến và đã thu được kết quả như sau: Quẻ.... Càn........ Đoài........ Ly.... Chấn...... Tổn..... Khảm... Cấn...... Khôn... Giá tích 0.12267 -0.11725 -0.12164 0.12149 -0.12556 0.12457 0.12227 -0.11950 Giá hợp 0.99963 -0.25264 -099219 0.91971 -0.99546 0.95432 0.94987 - 0.25529 Xếp riêng các quẻ âm và dương và theo thứ tự trị tuyệt đối của “giá trị” giảm dần, ta sẽ được: ............Quẻ dương...................................... Quẻ âm............................. Càn (giá tích: 0.12667; giá hợp: 0.99963.. Tốn giá tích: - 0.12556; giá hợp: - 094546 Khảm (GT:0.12457; GH: 0.95432)............. Ly (GT: - 0.12164;GH: - 0.99219) Cấn (Giá Thành 0.12227; GH:0.94987)....... Khôn (GT: - 0.11950; GH: - 0,25529) Chấn (GT:0.12149; GH:0.91971)............... Đoài (GT: - 0.11726; GH: - 0.25264) Trong kết quả tính trên đây, riêng quẻ Đoài đã được điều chỉnh bằng một hệ số bộ phẩn bổ sung). Thứ tự sắp xếp trên đây phù hợp với cách sắp xếp “Hậu Thiên Bát Quái” của Văn Vương. Như vậy, lời phán đoán trong số báo trước nói “thứ tự sắp xếp các quẻ... được làm lại theo nhu cầu bói toán”... đã được minh họa bằng cách tính giá trị các quẻ, có thể coi như “biểu thị hàm lượng cát - hung” chứa đựng trong quẻ đó. Chưa ai tìm được tư liệu đáng tin cậy nào có thể chứng minh được rằng Văn Vương đã sắp xếp lại Bát Quái theo tiêu chí gì và như thế nào. Cách suy nghĩ và tính toán như trên nhiều lắm cũng chỉ đáng coi là một ví dụ minh hoạ một cách tiếp cận vấn đề nan giải này. Việc dùng tập mờ có giá để minh hoạ “Hậu Thiên Bát Quái” trên đây mới chỉ được thực hiện với 8 quẻ đơn, 24 hào. Tôi chưa dám đi vào 64 quẻ trùng, với 368 hào, một việc vượt quá xa khả năng rất hạn chế của mình. Xin nêu cách làm như một lời gợi ý thô thiển./. Đỗ Nguyên Đương - Tạp chí Hán Nôm
-
Chào Thieukim. Cháu bé thật có phúc khi Thieukim đã quan tâm và tới thăm cháu bé. Lời chỉ dạy của Thieukim với Hà Uyên tôi thật sâu sắc, cũng cứ băn khoăn khi cháu bé còn chưa thay răng sữa. Ngay trong phép chữa "Ấu ấu tu nhi", cũng chỉ dùng tới giải pháp vuốt, thanh Thiên hà thuỷ, mà cũng chưa dùng tới bấm huyệt châm cứu. Bởi vậy mà Uyên này, cân nhắc cũng chưa dám bàn tới Địa nguyên và Nhân nguyên, trẻ nhỏ sáng còn nô nghịch mà tới trưa đã sốt cao, Biểu Lý vẫn chưa được hoàn thiện, chưa tới 7 tuổi cũng thật là khó. Mẹ của cháu bé là Phongvan cũng đang rất quan tâm, thật là mừng có thêm lời chỉ dạy từ Thieukim. Thay mặt cho mẹ của em bé, cảm ơn Thieukim.
-
Thiên tai khủng khiếp ở Đài Loan Lũ lụt đã phá huỷ 34 cây cầu và 253 đoạn đường ở Đài Loan. Tại Đài Loan, 20 000 quân lính vẫn đang tiếp tục tham gia cứu hộ. Hơn 14000 người đã được đưa bằng máy bay từ các khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Nhân viên cứu hộ dùng tất cả phương tiện để đưa người sống sót tới nơi an toàn trong đó có cậu bé bốn tuổi này.
-
Nhiều người chết tại Philippine do lũ lớn Ít nhất 72 người được cho thiệt mạng do lũ lớn tại Philippine nơi nhà chức trách đang huy động chiến dịch cứu hộ qui mô. Bão Ketsana gây lũ lụt tồi tệ nhất trong nhiều thập niên tại thủ đô Manila và các tỉnh phụ cận. Bộ trưởng Quốc phòng Gilbert Teodoro nói quân đội, cảnh sát và tình nguyện viên dân sự đã cứu sống hơn 4.000 người. Hơn 250.000 đã bị buộc phải bỏ nhà chạy nạn. Tham mưu trưởng, tướng Victor Ibrado dùng trực thăng thị sát khu vực ngoại ô của Manila vào ngày Chủ nhật và để tận mắt chứng kiến cảnh người phải lên nóc xe buýt và lên mái nhà để tránh lũ. Truyền hình chiếu cả cảnh một số người còn bám cả vào đường dây điện cao thế để không bị nước cuốn đi. Người đứng đầu cơ quan dự báo thời tiết Philippines đổ lỗi thời tiết xấu do thực trạng thay đổi khí hậu vốn gây mưa lớn tới 40cm tại Manila trong chỉ có một ngày. Hàng ngàn hành khách hàng không bị kẹt tại nhà ga quốc tế và quốc nội. Bão Ketsana, với sức gió lên đến 100km/giờ, theo dự kiến sẽ có hướng đi ta biển Nam Trung Hoa vào ngày Chủ nhật và thứ Hai. Nguồn: bbc
-
Tối Nay Bão Cấp 8 đi Vào Biển Đông (26-09-2009)
Hà Uyên replied to Li Feng's topic in Lạc Việt Độn Toán
-
Tối Nay Bão Cấp 8 đi Vào Biển Đông (26-09-2009)
Hà Uyên replied to Li Feng's topic in Lạc Việt Độn Toán
Sau 1h25' -
Tối Nay Bão Cấp 8 đi Vào Biển Đông (26-09-2009)
Hà Uyên replied to Li Feng's topic in Lạc Việt Độn Toán