Hà Uyên
Hội Viên Ưu Tú-
Số nội dung
1069 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
8
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Hà Uyên
-
Sẳn đây VinhL xin đem sự giải thích mà nhiều người cho là hợp ly căn cứ vào Hà Đồ Lạc Thư và Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương. 4 Tốn Thìn Tỵ…….…..9 Ly Ngọ…………2 Khôn Mùi Thân 3 Chấn Mão…..………5………….………7 Đoài Dậu 8 Cấn Sửu Dần……….1 Khãm Tý…….….6 Càn Tuất Hợi Dương Thủy: Sinh tại Thân 2 (Khôn) Mộ tại Thìn 4 (Tốn) = 2+7+6+1+8+3+4=31, 1 là Dương Thủy theo Hà Đồ. Âm Thủy: Sinh tại Thân 2 (Khôn) Tử tại Sửu 8 (Cấn) = 2+9+4+3+8=26, 6 là Âm Thủy theo Hà Đồ. Dương Mộc: Sinh tại Hợi 6 (Càn) Mộ tại Mùi 2 (Khôn) = 6+1+8+3+4+9+2=33, 3 là Dương Mộc theo Hà Đồ Âm Mộc: Sinh tại Hợi 6 (Càn) Tử tại Thìn 4 (Tốn) = 6+7+2+9+4 = 28, 8 là Âm Mộc Dương Hỏa: Sinh tại Dần 8 (Cấn) Mộ tại Tuất 6 (Càn) = 8+3+4+9+2+7+6=39, 9 là Dương Kim theo Hà Đồ mà, chứ đâu phải là Dương Hỏa đâu!!!! Âm Hỏa: Sinh tại Dần 8 (Cấn) Tử tại Mùi 2 (Khôn) = 8+1+6+7+2=24, 4 là Âm Kim theo Hà Đồ mà, chứ đâu phải là Âm Hỏa đâu!!! Dương Kim: Sinh tại Tỵ 4 (Tốn) Mộ tại Sửu 8 (Cấn) = 4+9+2+7+6+1+8=37, 7 là Dương Hỏa theo Hà Đồ mà, đâu phải là Dương Kim đâu!!! Âm Kim: Sinh tại Tỵ 4 (Tốn) Tử tại Tuất 6 (Càn) = 4+9+2+7+6=22, 2 là Âm Hỏa theo Hà Đồ mà, đâu phải là Âm Kim đâu!!! Theo như vậy phương pháp trên Thủy và Mộc thì hợp lý, nhưng chẳng có hợp lý chút nào cho hành Hỏa và Kim. Củng vì vậy lạị có thuyết cho là bởi sự thay đổi giửa Hỏa và Kim giữa Hà Đồ và Lạc Thư. Nếu theo lý luân này Dương Hỏa được tổng là 39, số 9 ở Hà Đồ là Dương Kim ở HTBQVV (Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương) là Ly nên cho 9 là Hỏa, vậy Âm Hỏa được tổng là 24, số 4 ở Hà Đồ là Âm Kim ở HTBQVV là Tốn Âm Mộc đâu phảI là Âm Hỏa đâu. Củng theo lý luận trên Dương Kim được tổng là 37, số 7 ở Hà Đồ là Dương Hỏa ở HTBQVV là Đoài nên là Dương Kim, vậy Âm Kim được tổng là 22, số 2 ở Hà Đồ là Âm Hỏa nhưng ở HTBQVV là Khôn Thổ chú đâu phảI Âm Kim đâu. Cho nên sự giải thích trên hoàn toàn không hợp lý. . Có nhiều chiều hướng khi truy tìm về quá khứ, để có thể nhận thức và đánh giá tính chính xác và mức độ tin cậy của người xưa đã tổng kết từ thực tiễn, được bắt đầu khi tư duy còn sơ khai. . Hà Uyên chưa hình dung hết cách đặt v/đ của kyte, thông qua cách bình giải của VinhL, thì có thêm một cách nhìn để chúng ta cùng tham khảo: 1- Thông qua 12 cung của Hoàng đạo, khi ta giả thiết rằng: Tứ chính Tý-Ngọ-Mão-Dậu đồng vị với 4 cung Thổ là Thìn-Tuất-Sửu-Mùi, được thể hiện như sau: Tị...................Ngọ-Mùi...............Thân Mão-Thìn.............X....................Dậu-Tuất Dần.................Tý-Sửu.................Hợi 2- Tứ tượng và Tứ thời là 2 khái niệm khác nhau, khi ta nói: âm 1 - dương 2, hai khái niệm vật và khí được thể hiện thông qua đồ hình là: trục Đông - Tây nói về vật biến thịnh, trục Bắc - Nam nói về khí biến thịnh. Thông qua vật mà bàn tới vòng Tràng sinh, được thể hiện như sau: .................khí................ vật..............x.............vật .................khí................ Hà Uyên hiểu cách đặt v/đ của kyte như vậy không biết có đúng không ?
-
Thật vậy, cho đến giờ Sao Bắc Đẩu vẫn nằm trên cực Bắc, nên Hà Uyên không cần lo ngại nữa. Cảm ơn Tâm Việt nhiều.
-
Cảm ơn hhoangtt đã gủi thu tới. - Tiên lượng vòng quay của lá số này trước 7 tuổi gặp trở ngại lớn, đặc biệt năm 2 -3 tuổi. - Năm 2004, Thái âm gặp Tuần hạn 10 năm, năm 2006 Thái duơng ngộ Triêt hạn 1 năm. Điều này, kg giống với thông tin của tintuong cung cấp. - Nhu vậy, hhoangtt có thể tham khảo thêm.
-
Hà Uyên chào Anh Chị Em Chào VinhL Những điều lý giải của VinhL thì Hà Uyên đã hiểu. Hà Uyên mong ở kyte cùng anh/chi/em trên diễn đàn, nhìn nhận thêm môt huóng giải quyết, sao cho có thêm môt cách bình giải. Theo cách đăt v/d của kyte, ngoài vòng Truòng sinh, còn thêm 12 quẻ Luc nhâm, mà Hà Uyên cũng nhu nhiều anh/chi/em rất mong đuọc tham khảo. Cảm ơn VinhL.
-
Chào kyte. Hà Uyên tính từ cung Cấn thuận đến cung Càn, thì thấy nó rất lủng củng. Nếu được, mong kyte cùng tham gia diễn đàn, tính lại giúp có được không ? Lời đề nghị này, cũng từ một chuyên đề mà Hà Uyên đã cùng bình giải với anh Thiên Sứ, mà đang trong giai đoạn, anh Thiên Sứ đề nghị Hà Uyên vẽ đồ hình, khi bỏ Trung cung chỉ cộng số của tám phương, thì Hà Uyên bị gián đoạn mất hơn 90 ngày. Kể lại điều này, cũng mong kyte nghĩ, là điều chân thành. Cảm ơn kyte trước nhé.
-
Chào HungNguyen Đề xuất của HungNguyen là phương pháp chính thống, hết sức nghiêm túc. Hà Uyên xin một lời động viên tới bạn Rin86.
-
Cảm ơn VinhL, giờ đây Hà Uyên thấy Kinh Phòng đưa ra thuyết quẻ Nguyệt lệnh, và nhận thức rõ ràng hơn về Khí dịch. Ví như, tháng Tám quẻ Nguyệt lệnh là Phong Địa Quan, thì Hà Uyên nắm rõ được rằng: khí âm được sinh từ hào 4, cũng như tháng Hai quẻ Nguyệt lệnh là Lôi Thiên Đại tráng thì: khí dương được sinh từ hào 4. Như vậy, trong tháng Hai và tháng Tám, thì hào 4 đều làm chủ cho hai quẻ Nguyệt lệnh khí dương sinh trong tháng Hai và khí âm sinh trong tháng Tám. Không biết Hà Uyên bình giải như vậy có đúng không ? Điều này, đối với Hà Uyên nó rất quan trọng khi chúng ta Bốc Dịch hay tính số Bát tư Hà Lạc để có được thông tin mang độ tin cậy cao. Cảm ơn VinhL và phongthuysinh.
-
...Thí dụ như ta cho là trái đất không nghiêng và mặt trời chiếu thẳng vào equator thì mỗi một giờ mặt trời sẽ chiếu thẳng vào một vị trí trên trái đất ở trên equator tạo ra không có bóng.... Hay quá, cảm ơn phongthuysinh. Hà Uyên đã hiểu dần dần về Trời khuyết Tây Bắc và Đất khuyết Đông Nam. Còn về việc ai là người tại ra dịch thì tôi xin đứng ở ngoài vòng, lý do đơn giản là ai sáng lập thì hầu như không quan trọng nữa mà thuyết đó có được lưu truyền hay không mới quan trọng, khoa học tây phương hiện giơ có được như ngày nay cũng là do các nhà bác học từ các nước khác nhau tìm ra nguyên lý và rồi được lưu truyền lại. Quan điểm này hướng cho Hà Uyên không phải suy nghĩ nhiều nữa ! Cảm ơn.
-
Hà Uyên chào Tâm Viêt Cách đặt vấn đề của Tâm Việt cho một hướng đi hết sức nghiêm túc, nhưng về vị trí xuất phát của Cửu tinh đồ có phải là điểm cố định không, thì Hà Uyên thấy lúng túng, chưa biết phương pháp chọn lựa. Khoa học đã cho chúng ta biết: Sự ấm lên của các đại dương có thể khiến trái đất nghiêng thêm và xoay nhanh hơn trong thế kỷ tới. Địa cầu tự xoay quanh một trục nghiêng 23,5° so với phương thẳng đứng. Tuy nhiên góc nghiêng này không cố định. Sự phân bố khối lượng trên trái đất liên tục biến động nên vị trí của trục trái đất cũng thay đổi không ngừng. “Nếu bạn tăng khối lượng ở một phía của địa cầu, trục xoay của nó sẽ thay đổi chút ít”, Felix Landerer, một nhà khoa học của Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA), giải thích. Từ lâu giới khoa học đã biết rằng hiệu ứng nhà kính tác động tới độ nghiêng của trục trái đất. Chẳng hạn, cực bắc của hành tinh đang dịch chuyển về phía 79 độ kinh tây – đường kinh tuyến đi qua thành phố Toronto (Canada) và thành phố Panama. Tốc độ di chuyển vào khoảng 10 cm/năm. Nguyên nhân là tình trạng tan băng ở Bắc Mỹ, châu Âu và châu Á khiến khối lượng cực bắc giảm dần. Sự di chuyển của nước ngọt từ những tảng băng tan cũng tác động tới trục trái đất. Theo tính toán của Landerer, quá trình tan băng ở đảo Greenland khiến trục trái đất tiếp tục nghiêng thêm 26 mm mỗi năm. Tốc độ đó có thể tăng đáng kể trong những năm tới. Trong nghiên cứu mới nhất, nhóm của Landerer phát hiện sự gia tăng của các loại khí thải gây hiệu ứng nhà kính cũng làm tăng độ nghiêng của trái đất. Theo tính toán của họ, nếu lượng khí CO2 tăng gấp đôi trong khoảng thời gian từ năm 2000 tới 2100, các đại dương sẽ ấm lên và mở rộng. Khi đó nước sẽ bị đẩy về phía các thềm lục địa nông hơn, khiến cực bắc của trục trái đất dịch chuyển xấp xỉ 15 mm mỗi năm về phía bang Alaska và quần đảo Hawaii của Mỹ. Cách đây vài năm, nhóm của Landerer từng chứng minh rằng tình trạng ấm lên toàn cầu có thể khiến sự phân bố khối lượng trên trái đất thay đổi. Cụ thể, vật chất sẽ dồn về các vĩ độ cao khiến hành tinh xoay nhanh hơn. Xin gop một vài ý kiến cho một hướng đi
-
KHÍ CHẤT BẨM SINH - Dương nữ - Tiết khí: Hàn lộ - Âm khí sinh tại hào 5 - Năm Giáp Thân; vận: hóa Thổ - Tháng: Giáp Tuất; khí: Thái dương hàn thủy. - Ngày: Kỷ Mão; chất: Thổ - Giờ: Canh Ngọ; được định số là 7 - Mệnh nạp âm theo Lạc việt: Hỏa (Tuyền trung Thủy) - Chính mệnh ngũ hành: Kỷ - âm thổ. + Sinh ngày Kỷ: Tỳ (tuyến tụy, lá lách) dẫn huyết đi ngày Kỷ, nhiều khí - ít huyết, Kỷ làm chủ hợp với Quý. Túc Thái âm Tỳ kinh. Báo bệnh thường ở Thiếu dương tam tiêu phía bên phải, thường xuất hiện các triệu chứng: đầy bụng, tiểu tiện khi bệnh thường không thông, bệnh phù bên phải. Cuống họng và mắt yếu, màng nhĩ tai cần phải quan tâm. Đại vận từ 23 - 32 tuổi phải quan tâm tới khớp - thần kinh, Đông y gọi là bệnh Thấp tim. Mẹ đã bị mổ rồi thì con đỡ bệnh hơn. Tuổi Giáp có Thái dương ngộ Kỵ - Bố. + Sinh giờ Ngọ: công năng tim mạch phải đặc biệt chú ý. Dây thần kinh 3-5-7 hay bị viêm, bộc lộ ra ở mắt. Báo bệnh vào những ngày 6 - 16 - 26 âm lịch. + Thiên can: năm-tháng-ngày-giờ là Giáp - Giáp - Kỷ - Canh, tương ứng ngũ hành với Mộc-Mộc-Thổ-Kim, trong Ngũ hành thấy khuyết hành Hoả và Thuỷ, tương ứng với cơ thể là Tim và Thận không được khí tiên thiên bồi bổ, nên thường không ổn định về công năng. Trong đó công năng của Thận là yếu hơn cả, đã không được khí Tiên thiên bôì bổ, lại phải đi sinh cho hai can Giáp, thuỷ sinh mộc, đã yếu lại còn phải đi sinh, thường dẫn đến những chứng bệnh Đông y gợi là Tam Thân bất giao. + Trong 4 can của năm-tháng-ngày-giờ, thì có 2 can Giáp thuộc Mộc thái quá. Mộc khắc Thổ, nên bệnh về tỳ vị dễ bị tổn thương. Cần phải ăn uống điều độ đúng giờ, để khắc phục những triệu chứng: bụng hay bị đày chướng, phù nước, nằm không yên, tiểu tiện mầu vàng.
-
Ngôi nhà của Cháu Vũ Đức Anh - Tuổi: âm nam - Tổng số dương: 42 - Tổng số âm: 44 - Hoá công: Ly, không có - Thiên khí: Ly, không có - Địa khí: Cấn, quẻ hỗ - Quẻ không hợp mùa sinh - Mệnh nạp âm: Thủy (theo Lạc việt) - (Tích lịch Hoả) - Chính mệnh ngũ hành: Kỷ - âm thổ. - Tiết khí: Lập thu - Sinh âm khí từ hào 3. &- Quẻ chủ Tiên thiên: PHONG TRẠCH TRUNG PHU, nguyên đường ngồi hào 4. &- Quẻ hỗ Tiên thiên: Sơn Lôi Di &- Quẻ chủ Hậu thiên: TRẠCH THIÊN QUẢI, nguyên đường ngồi hào 1. &- Quẻ hỗ Hậu thiên: Thuần Càn.
-
(tiếp theo) 2. Cơ chế tác dụng của bấm & châm & cứu Bấm & châm & cứu là một kích thích gây ra một cung phản xạ mới có tác dụng ức chế và phá vỡ cung phản xạ bệnh lý có thể xuất hiện ngay tức thì sau khi bâm & châm & kim và tác động vào huyệt, điều trị nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nhiều liệu trình mới thu được kết quả. Ngoài vai trò của thần kinh ra còn có vai trò của nội tiết, thể dịch tham gia trong việc phá vỡ cung phản xạ bệnh lý. Vogralic, Kassin (Liên Xô), Chu Liễn (và nhiều tác giả Trung Quốc), Vũ Xuân Lãng, Lê Khánh Đồng (Việt Nam), Mai Văn Nghệm, Jean-Bossy (Pháp), vv… Căn cứ vào vị trí tác dụng của nơi bâm & châm & cứu đề ra 3 loại phản ứng cơ thể, trên cơ sở này để giải thích cơ chế tác dụng và hướng dẫn phương pháp học tập và sử dụng cho dễ dàng a) Phản ứng tại chỗ: <!--[if !vml]--><!--[endif]--> Châm hay bấm vào huyệt là một kích thích gây một cung phản xạ mới có tác dụng ức chế và phá vỡ cung phản xạ bệnh lý: như làm giảm cơn đau, giải phóng sự co cơ, vv… Những phản xạ đột trục của hệ thần kinh thực vật làm ảnh hưởng đến sự vận mạch, nhiệt, sự tập trung bạch cầu, vv… làm thay đổi tính chất của tổn thương, giảm xung huyết, bớt nóng, giảm đau. Phản ứng tại chỗ có ý nghĩa thực tiễn lâm sàng khá lớn là cơ sở của phương pháp điều trị tại chỗ hay xung quanh nơi có thương tổn mà châm cứu dùng các huyệt gọi là A thị huyệt (thống điểm, thiên ứng huyệt). :rolleyes: Phản ứng tiết đoạn Khi nội tạng có tổn thương bệnh lý thì có những thay đổi cảm giác vùng da ở cùng một tiết đoạn với nó, ngược lại những kích thích từ vùng da của một tiết đoạn nào đó sẽ có ảnh hưởng đến nội tạng cùng trên tiết đoạn đó (xem sơ đồ Zakhazin - Head) Việc sử dụng các huyệt ở một vùng da để chữa bệnh của các nội tạng cùng tiết đoạn với vùng này sẽ gây ra một phản ứng tiết đoạn, gây ra các luồng xung động thần kinh hướng tâm. Những luồng này sẽ truyền nhịp vào sừng sau tủy sống rổi chuyển qua sừng trước từ đó bắt đầu cung phản xạ ly tâm, một là theo các sợi vận động trở về bộ phận cơ của tiết đoạn được châm, hai là theo các sợi thực vật đến mạch máu và đến các cơ quan, nội tạng tương ứng, làm điều hoà mọi cơ năng sinh lý như phân tiết dinh dưỡng… Việc sử dụng phản ứng tiết đoạn có nhiều ý nghĩa thực tiễn lớn vì nó có thể giúp cho người thầy thuốc châm cứu chọn những vùng và huyệt ở một tiết đoạn thần kinh tương ứng với một cơ quan, nội tạng bị bệnh. Việc thành lập công thức châm cứu điều trị một số bệnh thuộc từng vùng được tiện lợi và dễ ứng dụng hơn. Mặt khác theo quan niệm của phản ứng tiết đoạn giúp người học và ứng dụng châm cứu hiểu và giải thích được phương pháp dùng các du huyệt (ở lưng), mô huyệt (ở ngực, bụng) và các huyệt ở xa (tay, chân) để châm cứu làm giảm đau một số bệnh thuộc nội tạng có cùng tiết đoạn thần kinh chi phối, đặc biệt là dùng các huyệt sát cột sống (Hoa Đà giáp tích) và các bối du huyệt trong châm gây tê để phẫu thuật. c) Phản ứng toàn thân Qua thực tế lâm sàng chữa bệnh bằng châm cứu người xưa đã đúc kết ra được rất nhiều cách dùng huyệt. Một huyệt có thể dùng để chữa nhiều bệnh, một bệnh cũng có thể dùng nhiều công thức huyệt khác nhau và cũng là một loại bệnh trên cùng một bệnh nhân, nhưng tùy theo thời gian bị bệnh (mùa xuân, hạm thu và đông) và thời gian đến điều trị (sáng, trưa, chiều, tối) mà thầy thuốc dùng các huyệt khác nhau (xem thêm tỳ ngọ lưu chú - thời châm cứu học). Việc sử dụng các huyệt theo các cách dùng huyệt kể trên nhiều khi không nằm tại chỗ cơ quan bị bệnh và cũng có khi không nằm trên các tiết đoạn có liên quan với nơi bị bệnh. Các nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng tác dụng điều trị của bấm & châm & cứu trong các trường hợp kể trên là thông qua tác dụng gây ra phản ứng toàn thân. Thực chất, bất kỳ một kích thích nào đối với cơ thể cũng đều có liên quan tới hoạt động của vỏ não, nghĩa là có tính chất toàn thân. Như vậy, sự phân chia ra phản ứng cục bộ tại chỗ, phản ứng tiết đoạn chỉ có giá trị về sự liên quan cục bộ từng phần cơ thể thông qua hoạt động của tủy. Khi nói tới phản ứng toàn thân, chúng ta cần nhắc lại nguyên lý về hiện tượng chiếm ưu thế vỏ não của Utomski, về cơ năng linh hoạt của hệ thần kinh của Wedensky, về các kích tố (hormon), và các chất trung gian hoá học thần kinh (hisamin, axetylcholin, mocphin-like…) Điểm quan trọng của phản ứng toàn thân là tác dụng đối với hệ thần kinh trung ương và thông qua hệ này và hệ thần kinh thực vật mà ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng và mọi tổ chức của cơ thể. Sau khi bấm & châm, từng luồng xung động thần kinh không ngừng được diễn truyền vào tủy sống (Dẫn truyền xung động thần kinh là do các chất axetylcho line…) từ đó dẫn truyền qua bó tủy lên hành não và lên não. Vogralic, Kassin (và nhiều tác giả) nghiên cứu điện não đồ trong khi châm cứu thì thấy điện thế có những biến đổi lan toả, toàn diện và đối xứng toàn thân thường thấy làn sóng delta và têla chậm hơn, có nhiều ca làn sóng không đều nhịp… Tình trạng tinh thần luôn luôn căng thẳng gây ra các rối loạn tinh thần làm cho quá trình hưng phấn và ức chế của hoạt động thần kinh cao cấp bị rối loạn. Bấm, châm, cứu có tác dụng điều chỉnh các trạng thái rối loạn đó vì sau một đợt điều trị triệu chứng lâm sàng tốt hơn và điện não đồ biến đổi. Một điểm quan trọng nữa của phản ứng toàn thân là các biến đổi về thể dịch và nội tiết. Thường thường trong khi châm và sau một đợt điều trị bằng châm cứu, các thể dịch như sympatine, adrenaline, histamine, axetycholin, mocphine-like (đặc biệt là bEndorphine) cũng có những biến đổi, ảnh hưởng đến các hệ tuần hoàn, hô hấp, tiêu hoá, bài tiết, và sự chuyển hoá các chất. Nhiều tác giả nghiên cứu hoạt động của tuyến yên và thượng thận sau châm thấy rõ tuyến yên tạo ra một kích tố (hormonotrope) làm tăng hoạt động của một số tuyến nội tiết như: tuyến thượng thận, tuyến giáp trạng, tuyến sinh dục… Người ta đã chứng minh được rằng: bấm hay châm làm cho bạch cầu ái toan giảm. 70-80% các trường hợp, châm làm lớp vỏ thượng thận bài tiết ra kích tố corlicosteroid cũng tương tự như tiêm vào cơ thể 20 đơn vị ACTH để kích thích tuyến thượng thận bài tiết chất này. Châm các huyệt Đại chuỳ (XIII 14) và Thuy đột (V 10) và cứu giữa các đốt sống lưng có thể làm cho tuyến giáp trạng tạm thời ngừng hút iốt… 3. Những ưu điểm và nhược điểm khi vận dụng học thuyết thần kinh - thể dịch để giải thích cơ chế tác dụng của bấm & châm & cứu: Cơ chế tác dụng của châm cứu giải thích theo thuyết học thần kinh - thể dịch cho quá trình học tập và sử dụng dễ dàng, có thể vận dụng để giải thích được hầu hết các trường hợp bệnh lý cơ năng được chỉ định điều trị bằng phương pháp bấm, châm, cứu. Về mặt học tập, chia các huyệt theo từng vùng tiết đoạn cơ thể, số lượng huyệt sử dụng trong điều trị chừng 80-100 huyệt thông thường (mà không cần thiết phải nhớ tất cả 365 huyệt) để điều trị các chứng bệnh thường gặp, giúp các thầy thuốc đa khoa có cơ sở cơ bản để kết hợp tốt hai nền y học – y học hiện đại và y học cổ truyền – trong điều trị bệnh. Huyệt ở vùng ngực lưng: chữa các bệnh về tuần hoàn, hô hấp, viêm tuyến vú, tắc tia sữa, đau thần kinh liên sườn … Huyệt vùng hạ vị - thắt lưng cùng: chữa bệnh đường tiết niệu, sinh dục Về toàn thân cần nắm một số huyệt có tác dụng đặc hiệu, có tác dụng toàn thân để phối hợp điều trị với các huyệt từng vùng. Cơ chế bâm, châm, cứu giải thích theo học thuyết thần kinh thể dịch chưa giải thích được những điều đã nêu trong các sách châm cứu cổ điển như hệ kinh lạc, phương pháp bổ tả… không giải thích được các quy luật vận dụng các huyệt toàn thân nhất là bệnh lý các tạng phủ, các quy luật lấy huyệt theo thời gian (châm cứu theo giờ, theo mùa…) III - KẾT LUẬN Vấn đề điều chỉnh cơ năng của cơ thể qua cách tác động lên huyệt – bấm huyệt và châm cứu đã có một lịch sử khá lâu đời, song để tìm ra những vấn đề cụ thể của nó trên cơ sở khoa học, có thể nói mới chỉ được bắt đầu. Nắm vững được hệ thống lí luận của y học cổ truyền kết hợp với các kiến thức của y học hiện đại, cùng với việc nghiên cứu và áp dụng một cách rộng rãi và nghiêm túc của các nhà khoa học trong nước và trên thế giới chắc chắn rằng trong tương lai không xa, cơ chế tác dụng của bấm, châm, cứu sẽ được sáng tỏ hơn.
-
(Tiếp theo) d) Nguyên lý về cơ năng sinh lý linh hoạt của hệ thần kinh của Widekski Theo nguyên lý này, trong trường hợp thần kinh ở trạng thái yên tĩnh, một kích thích nhẹ thường hay gây ra một phản ứng hưng phấn nhẹ, kích thích mạnh thường gây ra một phản ứng hưng phấn mạnh, nhưng nếu thần kinh ở trạng thái bị hưng phấn do bệnh kích thích mạnh chẳng những không gây ra mạnh mà trái lại nó làm cho hoạt động thần kinh chuyển sang quá trình ức chế nên bớt đau. e) Lý thuyết về đau của Melzak và Wall (cửa kiểm soát - 1965) Trong trạng thái bình thường các cảm thụ bản thể đi vào sừng sau tủy sống, ở các lớp thứ ba, thứ tư (gồm các tế bào của các chất keo và các tế bào chuyển tiếp) làm cảm giác đau (hoặc không đau) được dẫn truyền. Tế bào như cánh cửa kiểm soát, quyết định cho cảm giác nào đi qua. Ở trạng thái bình thường luôn có những xung động, những xung động này phát huy ức chế, qua tế bào chuyển tiếp và đi lên với kích thích vừa phải. Xung động được tăng cường đến làm hưng phấn tế bào chất tạo keo làm khử cực dẫn truyền và đi lên (Hình 3). <!--[if !vml]--><!--[endif]--> Trên cơ sở lý thuyết cửa kiểm soát của Melzak và Wall, năm 1971, Shealy chế tạo được một máy luôn kích thích cột sau tủy sống để làm giảm đau trong các bệnh ung thư. h) Vai trò thể dịch, nội tiết và các chất trung gian thần kinh Từ năm 1973, nhiều thực nghiệm đã chứng minh được trong châm cứu và đỉnh cao của nó là châm tê, ngoài vai trò của thần kinh ra còn có vai trò của thể định tham gia trong quá trình làm giảm đau (trong châm cứu chữa bệnh) và nâng cao ngưỡng chịu đau (trong châm tê phẫu thuật). Có nhiều thảo luận về các chất này. Có thể là: Axetycholin, các chất Mono-min (Cathecolamin, 5 Hydroxyplamin, các chất peptit, các chất monoaxit, mocphine-like) (quan trọng là Endorphine) chất gây đau p (Subtice P) Mocphinelike - những năm 1976, Guillemin (người gốc Pháp, quốc tịch Hoa Kỳ) Chor HaoLi (người Hoa, quốc tịch Hoa Kỳ) đã phân tích được tuyến yên của lạc đà, lợn, cừu… chất mocphine-like (gồm, Endorphine và …) trong đó chất Endophine có tác dụng tương đương 200 lần mocphin (trên ống nghiệm). Cùng năm 1976, Mayer và cộng sự đã chứng minh tác dụng châm tê bị huỷ do tiêm vào động vật thực nghiệm chất Naloxone (chất đối lập với số thực nghiệm về châm tê): Bruce Pomeranz (Trường đại học Toronto Canada); năm 1976 đã thành công trong một số thực nghiệm về châm tê: Tiêm Naloxone vào mèo được châm tê thấy sự phóng điện của các tế bào ở lớp V sừng sau tủy sống mèo không bị ức chế nữa. Cắt bỏ tuyến yên mèo rồi châm tê, không thu được kết quả tê. Người ta đã xác định được công thức hôạhc của chất morphine-like là những chất tiết của não chủ yếu do hậu yên tiết ra, ngoài ra còn thấy ở trên ruột và nhiều cơ quan khác. Nó là một polypeptid gồm 91 axit amin từ số 61 đến số 91 có tác dụng morphine nhiều nhất, mạnh gấp 200 lần mocphine.
-
Bấm huyệt & châm cứu Trong những năm gần đây, ở rất nhiều nước, phương pháp chữa bệnh bằng cách tác động lên “huyệt” nằm trên cơ thể con người và động vật đã được một sự quan tâm đặc biệt, và việc tìm hiểu cơ chế tác dụng của nó (bấm huyệt, châm cứu) trên cơ sở khoa học đã và đang gây nên những tranh luận vô cùng sôi nổi. Qua các công trình nghiên cứu trên lâm sàng và thực nghiệm, thật khó mà nói một cách chính xác khoa học về cơ chế tác dụng của phương pháp chữa bệnh bằng châm cứu, bấm huyệt. Có rất nhiều giả thuyết về cơ chế tác dụng của châm cứu và bấm huyệt được bàn đến. Cơ chế thể dịch: Miarbe (Pháp), Tokieda (Nhật)\ Cơ chế thay đổi trình diện sinh vật: Delafuje, Niboyet (Pháp), Patsibiskin (Liên Xô), Okamoto (Nhật). Cơ chế thay đổi các chất trung gian hoá học đặc biệt là Histamine Maritiny (Pháp) Cơ chế thần kinh phản xạ: Chu Liễn (Trung Quốc), Vogralic (Liên Xô), Felix Mann (Anh), Kassin (Liên Xô), J. Bossy (Pháp) Cơ chế thần kinh phản xạ: Chu Liễn (Trung Quốc), Vogralic (Liên Xô), Felix Mann (Anh), Kassin (Liên Xô), J. Bossy (Pháp) Cơ chế “cửa kiểm soát”: Melzach (1965) Cơ chế thần minh thể dịch nội tiết đặc biệt là b. Endorphine (Giải thưởng Nobel về y học năm 1977): Bruce Pomeranz (Canada). I – Y HỌC CỔ TRUYỀN DÂN TỘC 1. Sự mất thăng bằng về âm dương dẫn tới sự phát sinh ra bệnh tật và cơ chế tác dụng của châm cứu cơ bản là điều hoà âm dương. Theo y học cổ truyền, âm dương là thuộc tính của mỗi vật trong vũ trụ. Hai mặt âm dương luôn có quan hệ đối lập (mâu thuẫn) nhưng luôn thống nhất với nhau. Âm dương trong cơ thể bao giờ cũng thăng bằng (bình hành) nương tựa vào nhau (hỗ can) để hoạt động giúp cho cơ thể luôn luôn thích ứng với hoàn cảnh xã hội, thiên nhiên. Bệnh tật phát sinh ra là do sự mất cân bằng của âm dương. Sự mất cân bằng đó gây nên bởi các tác nhân gây bệnh bên ngoài (Tà khí của lục dâm) hoặc do thể trạng suy yếu, sức đề kháng kém (chính khí hư) hoặc do sự biến đổi bất thường về mặt tình cảm, tinh thần (nội nhân), hoặc cũng có khi do những nguyên nhân khác như thể chất của người bệnh quá kém, sự ăn uống, nghỉ ngơi, sinh hoạt không điều độ… Trên lâm sàng, bệnh lý biểu hiện hoặc hàn hoặc nhiệt, hoặc hư hoặc thực (hư hàn thuộc về âm, thực nhiệt thuộc về dương), nhiều khi bệnh tật rất phức tạp, các dấu hiệu thuộc về hàn nhiệt rất khó phân biệt (kiêm chứng)… Nguyên tắc điều trị chung là điều hoà (lập lại) mối cân bằng của âm dương. Cụ thể trong điều trị bằng châm cứu, muốn đánh đuổi tà khí, nâng cao chính khí (sức đề kháng của cơ thể) phải tùy thuộc vào vị trí nông sâu của bệnh, trạng thái hàn nhiệt, hư thực của người bệnh để vận dụng thích đáng dùng châm hay cứu, dùng thủ thuật hay bổ như nhiệt thì châm, hàn thì cứu, hư thì bổ, thực thì tả vv… 2. Bệnh tật phát sinh ra làm rối loạn hoạt động bình thường của hệ kinh lạc và cơ chế tác dụng của châm cứu cơ bản là điều chỉnh cơ năng hoạt động của hệ kinh lạc. Theo y học cổ truyền, hệ kinh lạc bao gồm những đường kinh (thẳng) và những đường lạc (đường ngang) nối liền các tạng phủ ra ngoài da và tứ chi, khớp ngũ quan, và nối liền các tạng phủ, kinh lạc với nhau. Hệ thống kinh lạc chằng chịt khắp cơ thể, Thông suốt ở mọi chỗ (trên, dưới, trong , ngoài), làm cơ thể tạo thành một khối thống nhất, thích nghi được với hoàn cảnh tự nhiên và xã hội. Trong kinh lạc có kinh khí (Thenergy of life) vận hành để điều hoà KHÍ HUYẾT làm cơ thể luôn khoẻ mạnh, chống được các tác nhân gây bệnh. Hệ kinh lạc cũng là nơi biểu hiện các trạng thái bệnh lý của cơ thể, đồng thời cũng là nơi tiếp nhận các hình thức kích thích (dùng châm, cứu, xoa bóp, ấn huyệt giác…) thông qua các “huyệt” để chữa bệnh. Bệnh tật sinh ra do nguyên nhân bên ngoài (ngoại nhân – tà khí) hoặc nguyên nhân bên trong (chính khí hư) đưa đến sự bế tắc vận hành kinh khí trong đường kinh. Nếu có tà khí thực thì phải loại bỏ tà khí ra ngoài (dùng phương pháp tả), nếu do chính khí hư thì phải bồi bổ cho chính khí đầy đủ (dùng phương pháp bổ). Mỗi đường kinh mang tên một tạng hoặc một phủ nhất định. Khi tạng phủ có bệnh thường có những biểu hiện thay đổi quan biểu lí với nó (Chẩn đoán dựa vào phương pháp chẩn đoán chung, kết hợp với phương pháp chẩn đoán trên kinh lạc, dò kinh lạc…). Khi bâm huyệt châm cứu, người ta tác động vào các huyệt trên các kinh mạch đó để điều chỉnh các rối loạn chức năng (bế tắc) của kinh mạch. II – CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA BAM & CHÂM THEO HỌC THUYẾT THẦN KINH - NỘI TIÊT - THỂ DỊCH 1. Một số vấn đề của hoạt động thần kinh có liên quan tới việc giải thích cơ chế tác dụng của bấm & châm . a) Bấm & Châm là một kích thích gây ra một cung phản xạ mới: là một kích thích cơ giới, cứu là một kích thích về nhiệt gây nên kích thích tại da, cơ. Tại nơi bấm, châm, cứu có những biến đổi, tổ chức tại nơi bam & châm bị tổn thương sẽ tiết Histamin, axetylcholin, cathecolamin… nhiệt độ ở da thay đổi, bạch cầu tập trung, phù nề tại chỗ, các phản xạ đột trục làm co giãn mạch máu… Tất cả những kích thích trên tạo thành một kích thích chung của bâm & châm & cứu. Các luồng xung động của các kích thích được truyền vào tủy lên não, từ não xung động chuyển tới các cơ quan đáp ứng hình thành một cung phản xạ mới. :rolleyes: Hiện tượng chiếm ưu thế Utomski Theo nguyên lý của hiện tượng chiếm ưu thế của Utomski thì trong cùng một thời gian, ở một nơi nào đó của hệ thần kinh trung ương (vỏ não), nếu có hai luồng xung động của hai kích thích khác nhau đưa tới, kích thích nào có cường độ mạnh hơn và liên tục hơn sẽ có tác dụng kéo các xung động của kích thích kia tới nó và kìm hãm, tiến tới dập tắt kích thích kia. Như trên đã trình bày, châm hay bâm là một kích thích gây ra một cung phản xạ mới, nếu cường độ kích thích được đầy đủ sẽ ức chế ở hưng phấn do tổn thương bệnh lí gây ra, tiến tới làm mất hoặc phá vỡ cung phản xạ bệnh lí. Trên thực tế lâm sàng, người ta thấy hiệu quả nhanh chóng của bâm & châm (đặc biệt là dùng châm điện trong việc làm giảm cơn đau của một số bệnh cấp tính như cơn đau dạ dày, giun chui ống mật, đau các dây thần kinh ngoại biên gẫy xương, viêm khớp, đau răng …) và tác dụng làm chết cảm giác lạnh, sợ lạnh của phương pháp cứu trong điều trị cấp cứu các trường hợp trụy tim mạch vv… Tác dụng của bâm & châm có thể làm thay đổi hoặc đi tới làm mất phản xạ đau và nhiều bệnh. Khi bấm, châm, cứu để đảm bảo kết quả điều trị, để kích thích tác động lên huyệt phải đạt đến ngưỡng (seuil d’excitation) mà y học cổ truyền gọi là đắc khí và phải tăng (hoặc giảm) cường độ kích thích khi cần thiết để nâng cao thêm hiệu quả chữa bệnh mà y học cổ truyền gọi là thủ thuật bổ tả. c) Sự phân chia tiết đoạn thần kinh và sự liên quan giữa các tạng phủ đối với các vùng cơ thể do tiết đoạn chi phối. Thần kinh tủy sống có 31 đôi dây, mỗi đôi dây chia ra làm hai ngành trước và sau chi phối vận động và cảm giác một vùng cơ thể gọi là một tiết đoạn. Sự cấu tạo thần kinh này gọi là sự cấu tạo tiết đoạn <!--[if !vml]--><!--[endif]--> Ví dụ: vùng da ở các tiết đoạn ngực D5, D6, D9 và tiết đoạn cổ C2, C3, C4 tương ứng với dạ dày (hình 2) Khi nội tạng có bệnh, người ta thấy có sự tăng cường cảm giác vùng da cùng tiết với nó như cảm giác đau, thay đổi điện sinh vật vv… Hiện tượng này xảy ra do những sợi thần kinh giao cảm bị kích thích, xung động dẫn truyền vào tủy, lan toả vào các tế bào cảm giác sừng sau tủy sống gây ra những thay đổi về cảm giác ở vùng da. Mặt khác những kích thích giao cảm làm co mạch, sự cung cấp máu ở vùng da ít đi và làm điện trở ở da giảm xuống gây ra những thay đổi về điện sinh vật. Trên cơ sở này Zakharin (Liên Xô) và Head (Anh) đã thiết lập được một giản đồ về sự liên quan giữa vùng da và nội tạng, và đây cũng là nguyên lý chế tạo các máy đo điện trở vùng da và máy dò kinh lạc … <!--[if !vml]--><!--[endif]--> Bảng đối chiếu sự liên quan giữa các nội tạng và tiết đoạn thần kinh Nội tạng Tiết đoạn Tim D1-D2 (D4-D6) Phổi D2-D3 (D4-D6) Thực quản D7-D8 Dạ dày D5-D9 (C2-C5) Ruột D9-D12 Trực tràng S2-S4 Gan, Mật D7-D9 Thận, niệu quản D10-D12, L1-L2 Bàng quang D11-D12, L1, S1-S4 Tiền liệt tuyến D10-D11, L5-S1-S2-S3 Tử cung D10-L1L2, S1-S4 Tuyến vú D4-D5 (Trong đó C = cổ; L = thắt lưng; S = cùng) Nếu nội tạng tổn thương, dùng châm cứu hay các phương pháp vật lý trị liệu khác tác động vào các vùng dạ dày trên cùng một tiết đoạn với nội tạng sẽ chữa được các bệnh ở nội tạng.
-
Hay quá, cảm ơn VinhL.
-
Hôm nay đến thăm moonriver. Bạn thấy không, một câu nói ngắn như trên có 76 từ, mà Hà Uyên đã phải hai lần nhắc đi nhắc lại câu: "lãnh đạo" rồi. Bạn bật mí thêm một lần nữa khẳng định về khí chất bẩm sinh của bản thân là điều rất đúng. Nhưng điều quan trọng hơn cả là 12 năm sau, Nguyệt đức mới quay trở lại chi Mùi. (theo Lục Nhâm)
-
Không phải vậy đâu, hoangtrieuhai. Nhưng vì đây là chuyên mục TƯ VẤN, nhưng nhiều bạn hay thư tới, hỏi trên tinh thần học tập về môn Bát tự Hà Lạc và giảng giải ý nghĩa từng vấn đề, điều này thì nên chuyển về chuyên mục TRAO ĐỔI HỌC THUẬT thì đúng hơn, do vậy Hà Uyên có một chút thay đổi, lập xong phần cơ bản rồi bình giải sau. Vậy nhé !
-
HOÀNG HẢI LONG - Tuổi âm nam - Tổng số Dương: 45 - Tổng số âm: 26 - Hóa công: Chấn - Thiên khí: Ly - Địa khí: Chấn - Quẻ không hợp mùa sinh. - Mệnh nạp âm: Thổ - Ngũ hành bản mệnh: Canh - kim. - Tiết khí: Lập hạ - Quẻ Nguyệt lệnh: Càn Vi Thiên. &- Quẻ Chủ Tiên thiên: THIÊN ĐỊA BĨ, nguyên đường ngồi hào 1 &- Quẻ hỗ Thiên thiên: PHONG SƠN TIỆM &- Quẻ chủ Hậu thiên: LÔI THIÊN ĐẠI TRÁNG, nguyên đường ngồi hào 4 &- Quẻ hỗ Hậu thiên: TRẠCH THIÊN QUẢI
-
HOÀNG HẢI NAM - Tuổi âm nam. - Tổng số dương: 13 - Tổng số âm: 44 - Hóa công: - Thiên khí: Khôn, quẻ hỗ - Địa khí: Khôn, quẻ hỗ - Quẻ không hợp mùa sinh - Mệnh: Mộc - Dương liễu mộc. - Tiết khí: Đại tuyết. &- Quẻ chủ Tiên thiên: PHONG LÔI ÍCH, nguyên đường ngồi hào 1. &- Quẻ hỗ Tiên thiên: SƠN ĐỊA BÁC. &- Quẻ chủ Hậu thiên: ĐỊA PHONG THĂNG, nguyên đường ngồi hào 4. &- Quẻ hỗ Hậu thiên: LÔI TRẠCH QUY MUỘI.
-
Cháu Vũ Đức Anh là nam hay nữ (giới tính)
-
Chào thieukim Hay qúa, Hà Uyên cũng chưa thấu hết vòng trường sinh tử tuyệt mà 10 can phải đi qua. Cũng chỉ từ cái mà được gọi là định danh thôi, ví dụ như Tử bình có 4 chi là Tuất-Thân- Hợi-Tý, cũng vẫn con người đó, Tử vi mệnh lập tại Dần ngộ Tử Phủ, Hà Uyên đã để mắt tới gần 50 năm mà danh phận cũng chưa đi tới đâu. Lại một trường hợp cùng năm tháng ngày, chỉ khác giờ sinh, đó là sinh vào giờ Hợi mà Tử bình có chi Hợi, thấy cuộc đời khác hẳn. Kể cũng lạ Thắc mắc này có thể không đi đường dài được, Hà Uyên nghe theo bạn, thieukim bàn về vòng trường sinh tử tuyệt mà 10 can phải đi qua vậy.
-
Chủ đề này, Hà Uyên căn cứ vào vị trí Địa lý của đất nước VN, nằm tại khu vực được gọi là Nhiệt đới gió mùa. Quá trình lao đông sản xuất của người Việt cổ là lúa nước, còn bên Đại lục là lúa mỳ. Căn cứ theo chữ Nhiệt, mỗi cá thể đều có giới hạn trừ 2 và cộng 5. Có nghĩa là nhiệt độ cơ thể mỗi người trung bình là 37 độ, khi trừ đi 2 chỉ còn 35 độ thì trụy tim mạch, hoặc khi cộng với 5 thì 37 + 5 = 42 độ, thì dẫn tới hôn mê. Trừ 2 cộng 5 đều có kết quả như nhau. Điều này, cho chúng ta hiểu ý nghĩa về giới hạn. Như vậy, chúng ta cũng có thể đưa ra một câu hỏi: 12 cung trong Tử vi của mỗi một người, nhất thiết bắt buộc phải chia đều hay không ? Mỗi cung 30 độ ? Khi áp dụng vào thực tiễn thấy nảy sinh nhiều điều kỳ lạ. Có thể là một ngõ cụt, cũng có thể là một hướng tư duy, khi truy tìm mối quan hệ của các môn học thuật đối với một cá nhân cụ thể.
-
Xin chào anh chị em trên diễn đàn. Thuật Tử vi được cấu tạo làm 12 cung, mỗi một cung là 30 độ (360/12 = 30), được thể hiện trên hình tròn, mà ngày nay được thiết lập lá số là hình chữ nhật hay hình vuông. Thuật Tử bình được căn cứ theo 4 chi của năm - tháng - ngày - giờ, mỗi một chi trong thuật Tử bình tương đương với 369 / 4 = 90 độ Khi chúng ta giả thiết rằng, 4 chi của Tử bình có mối quan hệ với 12 cung trong Tử vi, thì điều này dẫn tới khả năng, 4 cung trong 12 cung của Tử vi tiến tới giới hạn 30 độ => 45 độ. (90/2 âm dương) Chúng ta lại đặt một giả thiết nữa: một lá số có Mệnh lập tại cung Tuất gặp Tử Tướng, nhưng số Tử bình lại không có chi Tuất, nên cung Mệnh không còn giá trị góc 30 độ nữa, mà có thể giảm tới chỉ còn 15 độ chẳng hạn. Còn khi lá số có cung Mệnh lập tại Tuất gặp Tử Tướng, mà số Tử bình trong 4 chi có chi Tuất, thì cung Mệnh có giá trị góc 30 độ => 45 độ. Hà Uyên qua trải nghiệm thấy thú vị, nhưng còn rất nhiều lúng túng. Mong muốn cùng Anh/chi/em trên diễn đàn bình giải. Hà Uyên.
-
Hà Uyên chào Công Minh Hà Uyên cũng mong muốn như vậy.