Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Thiên Đồng

Hội viên
  • Số nội dung

    6278
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    75

Everything posted by Thiên Đồng

  1. Tranh làng Sình xưa và nay Làng Sình nằm đối diện bên kia sông là Thanh Hà – một cảng sông nổi tiếng thời các chúa ở Ðàng Trong, còn có tên là Phố Lở, sau này lại có phố Bao Vinh – một trung tâm buôn bán sầm uất nằm cận kề thành phố Huế. Ðây còn là một trung tâm văn hoá: chùa Sùng Hoá trong làng đã từng là một trong những chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa. Không biết từ bao giờ, làng nghề in tranh dân gian phục vụ cho việc thờ cúng của người dân khắp vùng. Vị trí: Làng Sình thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế Đặc điểm: Tranh Làng Sình chủ yếu phục vụ cho việc thờ cúng của người dân trong vùng. Thời Trịnh – Nguyễn, cùng đoàn người vào đất Thuật Hoá định cư, ông Kỳ Hữu Hoà mang theo nghề làm tranh giấy mộc bản, tranh làng Sình ra đời từ đó. Ông Hoà được coi là ông tổ nghề tranh ở làng sình. Làng Sình nằm đối diện bên kia sông là Thanh Hà – một cảng sông nổi tiếng thời các chúa ở Ðàng Trong, còn có tên là Phố Lở, sau này lại có phố Bao Vinh – một trung tâm buôn bán sầm uất nằm cận kề thành phố Huế. Ðây còn là một trung tâm văn hoá: chùa Sùng Hoá trong làng đã từng là một trong những chùa lớn nhất vùng Hóa Châu xưa. Không biết từ bao giờ, làng nghề in tranh dân gian phục vụ cho việc thờ cúng của người dân khắp vùng. Nghệ nhân Kỳ Hữu Phước với những bản mộc 150 năm tuổi Hồn của bức tranh nằm ở cái vuốt tay này! Tranh Sình chủ yếu là tranh phục vụ tín ngưỡng. Có thể phân làm ba loại: 1- Tranh nhân vật chủ yếu là tranh tượng bà, vẽ một người phụ nữ xiêm y rực rỡ với hai nữ tì nhỏ hơn đứng hầu hai bên. Tượng bà còn chia thành ba loại: tượng đế, tượng chùa, và tượng ngang. Loại tranh này dán trên bàn thờ riêng thờ quanh năm. 2- Lại còn các loại tranh khác gọi là con ảnh, gồm hai loại: ảnh xiêm vẽ hình đàn ông đàn bà, và ảnh phền vẽ bé trai bé gái (phải chăng phền do chữ phồn thực của Ðông Hồ). Các loại nhân vật còn lại là tranh ông Ðiệu, ông Ðốc và Tờ bếp (có lẽ tranh vẽ Táo quân). Các loại tranh này sẽ đốt sau khi cúng xong. 3- Tranh đồ vật vẽ các thứ áo, tiền và dụng cụ để đốt cho người cõi âm: áo ông, áo bà, áo binh, tiền, cung tên, dụng cụ gia đình… thường là tranh cỡ nhỏ. Tranh súc vật (gia súc, ngoài ra còn có voi, cọp và tranh 12 con giáp) để đốt cho người chết. Tranh làng Sình có thể sánh với các dòng tranh miền Bắc (như Ðông Hồ, Kim Hoàng, Hàng Trống), một thời đã lưu hành khắp vùng Thuận Quảng. Sình là tên nôm của làng Lại Ân, cách Huế chừng 7km về phía đông bắc. Sách Ô Châu cận lục ra đời hồi thế kỷ 16 đã nói đến Lại Ân như một địa danh trù phú. Xóm Lại Ân canh gà xào xạc Giục khách thương mua một bán mười… Vào khoảng tháng năm, tháng sáu, khi trời nắng to nước cạn, từng nhóm 57 chàng trai dong thuyền dọc theo đầm phá Tam Giang, đến Cầu Hai, Hà Trung, Lăng Cô để cào điệp, một loại trai sò có vỏ mỏng và phẳng. Có loại điệp chết đã lâu ngày vỏ lắng dưới bùn gọi là “điệp bùn”, khi nhặt chỉ còn là những mảnh màu trắng, mỏng, mềm dễ sử dụng hơn. Loại điệp mới chết gọi là “điệp bầy” nổi trên bùn, có vỏ cứng lẫn nhiều màu đen. Ðiệp đem về loại hết tạp chất, chỉ còn lại lớp vỏ trắng bên trong, được đem giã nhỏ. Mỗi cối giã có từ 26 người thay nhau giã, gần như suốt đêm tới sáng. Những câu hò giã điệp cũng vang lên như lúc giã gạo. Bột điệp lấp lánh trộn với bột nếp khuấy thành hồ, phết lên giấy sẽ cho ra một thứ giấy trắng lấp lánh ánh bạc. Bàn chải quét điệp làm bằng lá thông khô bó lại, gọi là cái “thét”. Khi chiếc thét quét qua mặt giấy sẽ để lại những vệt trắng song song lấp lánh. Ðể kiếm các loại cây cỏ pha chế màu có khi họ phải lên tận rừng già phía tây Thừa Thiên – Huế. Hai thứ cây chỉ có ở đây là cây trâm, phải chặt từng đoạn mang về, sau đó mới chẻ nhỏ để nấu màu; còn cây đung thì hái lá và bẻ cành. Lá đung giã với búp hòe non sẽ cho màu vàng nhẹ. Các màu khác cũng được làm từ cây cỏ trong vườn như hạt mồng tơi cho màu xanh dương, hạt hòe cho màu vàng đỏ, muốn có màu đỏ sẫm thì lấy nước lá bàng. Ngoài ra người làng Sình còn dùng đá son để lấy màu đỏ, bột gạch để có màu đơn. Màu đen được dùng nhiều nhất, lại là màu dễ làm nhất. Người ta lấy rơm gạo nếp đốt cháy thành tro, sau đó hòa tan trong nước rồi lọc sạch để lấy một thứ nước đen, đem cô lại thành một thứ mực đen bóng. Những màu chủ yếu trên tranh làng Sình là các màu xanh dương, vàng, đơn, đỏ, đen, lục. Mỗi màu này có thể trộn với hồ điệp hoặc tô riêng, khi tô riêng phải trộn thêm keo nấu bằng da trâu tươi. Tranh Sình có kích thước tùy thuộc vào khổ giấy dó thông dụng. Giấy dó cổ truyền có khổ 25x70cm, được xén thành cỡ pha đôi (25×35), pha ba (25×23) hay pha tư (25×17). In tranh khổ lớn thì đặt bản khắc nằm ngửa dưới đất, dùng một chiếc phết là một mảnh vỏ dừa khô đập dập một đầu, quét màu đen lên trên ván in. Sau đó phủ giấy lên trên, dùng miếng xơ mướp xoa đều cho ăn màu rồi bóc giấy ra. Với tranh nhỏ thì đặt giấy từng tập xuống dưới rồi lấy ván in dập lên. Bản in đen chờ cho khô thì đem tô màu. Tuy màu tô không tỉa tót và vờn đậm nhạt như tranh Hàng Trống, nhưng mỗi màu đều có chỗ cố định trên tranh, tạo nên sự hòa sắc phù hợp với ý nghĩa từng tranh. Công việc “điểm nhãn” ở một số tranh cũng do thợ chính làm nhằm tăng thêm vẻ sinh động của tranh. Những mảng màu lớn thì dùng một thứ bút riêng làm bằng tre gọi là thanh kẻ để tô màu. Những chi tiết nhỏ thì dùng bút lông đầu nhọn. Việc tô màu được làm theo dây chuyền, mỗi người phụ trách một hai màu, tô xong lại chuyển cho người khác. Những bàn tay tô màu như múa thoăn thoắt trên tờ tranh, có người kẹp hai, ba cây bút ở đầu ngón tay để tô cùng một lúc hai, ba mảng màu. Ðiểm nỗi bật ở tranh làng Sình là đường nét và bố cục còn mang tính thô sơ chất phác một cách hồn nhiên. Nhưng nét độc đáo của nó là ở chỗ tô màu. Khi đó nghệ nhân mới được thả mình theo sự tưởng tượng tự nhiên. Cố họa sĩ Phạm Ðăng Trí, người họa sĩ tài hoa của đất thần kinh xưa, đã tìm thấy trong tranh Sình bảng màu “ngũ sắc Huế”, hơi khác với bảng “ngũ sắc phương Đông”. Và nếu ta so sánh những gam màu sử dụng trên tranh thờ sẽ thấy nó gần gũi với tranh pháp lam trang trí trên các kiến trúc của kinh thành xưa. Ðó là sự hòa sắc giữa vàng với chàm, đỏ với bích ngọc, xanh với hỏa hoàng, phí thủy với hổ phách… Cái khác biệt của tranh làng Sình với các dòng tranh dân gian khác chính ở nét vẽ và bố cục còn rất thô sơ, hồn nhiên đậm chất mộc mạc làng quê. Khi sáng tác một bức tranh, bản mộc chỉ giữ vai trò làm khuôn và in màu chính ( thường là màu tím chàm). Những màu sắc còn lại được người nghệ nhân vẽ bằng tay. Chính vì thế không có bức nào giống bức nào. Mỗi bức đều mang trong mình tâm trạng của nghệ nhân lúc đó. Khi nghiên cứu về tranh làng Sình, nhiều nhà nghiêu cứu cho rằng gam màu sử dụng trên tranh làng Sình gần giống với gam màu được sử dụng trên tranh pháp lam tại các kiến trúc kinh thành Huế: hoà sắc giữa vàng với chàm, đỏ với bích ngọc, xanh với hoả hoàng, phí thuỷ với hổ phách. Bức tranh khi hoàn thành sẽ lấp lánh bởi vỏ điệp, nền nã bởi chất màu thô mộc, quyến rũ và quan trọng hơn cả là khi bức tranh đến tay người sử dụng đã ẩn chứa một cái gì đo thiêng liêng của cõi tâm linh. Chấn hưng bằng phương pháp công nghiệp! Nghề làm tranh giấy truyền thống làng Sình mai một dần từ sau 1945. Chiến tranh loạn lạc chẳng mấy ai để ý đến chuyệ thờ cúng cho đúng với truyền thống, lễ nghi. Tranh giấy làng Sình làm ra bán không ai mua, người dân bỏ giấy, bỏ mực chuyển chuyển sang làm những nghề khác để mưu sinh. Sau năm 1975, cả làng chỉ còn vỏn ven 3 hộ dân bám đuổi với nghề làm tranh truyền thống. Những khuôn bản mộc để in tranh lưu truyền hơn mấy năm cũng bị thất lạc dần theo sự mai một của làng nghề này. Thật hiếm để tìm lại những bản mộc xưa. Ông Kỳ Hữu Phước kể rằng: Để giữ được những bản mộc của ông cha để lại, ông đã phải bọc nilon, chôn thật sâu dưới đất hàng chục năm. Bây giừo ông Kỳ Hữu Phước còn giữ lại vỏn vẹn có hai bộ mộc bản có tuổi trên 150 năm. Năm 1999, trước nhu cầu của thị trường, nghề làm tranh giấy truyền thống Làng Sình đứng trước cơ hội được phục hưng. Những khuôn mộc thất truyền, người làm tranh bỏ công đi tìm lại nhưng số lượng không nhiều. Để có khuôn mộc in tranh truyền thống người làm tranh chỉ còn cách tìm lại những bức tranh được cất giữ rồi tự làm lấy bản mộc. Hiện tại, người làm tranh làng Sình phục hồi 25 bản mộc để in tranh truyền thống. Giấy dó để làm tranh truyền thống được thay bằng loại giấy công nghiệp, màu cũng được thay bằng màu công nghiệp bán trên thị trường. Chính vì thế mà giá thành cho mỗi bức tranh cũng giảm đi đáng kể. Từ việc đứng trước nguy cơ biến mất, đến vài ba hộ dân, tăng lên chục hộ rồi dần tăng lên con số vài chục hộ trở lại với nghề. Đến thời điểm này, làng Sình có 32 hộ làm nghề tranh truyền thống. Tranh dân gian làng Sình thời hiện đại không còn giữ nguyên được bản chất truyền thống, bởi lẽ từ nguyên vật liệu đã được thay bằng những nguyên vật liệu công nghiệp, tiện lợi hơn gấp nhiều lần. Có giấy, có màu công nghiệp, giờ đây người làm tranh truyền thống làng Sình mỗi ngày có thể in trên bản mộc 1.000 bức mỗi ngày. Các công đoạn in ấn, phối màu cũng được giảm thiểu, số lượng tranh cung cấp cho thị trường mỗi năm xấp xỉ 200 ngàn tờ. Làm nhanh, số lượng nhiều, nhưng cái thần sắc của bức tranh làng Sình nổi tiếng một thời cứ mất dần đi. Để bắt kịp với cơ chế thị trường, tăng số lượng tranh cung cấp cho thị trường những nghệ nhân chân đất gắn bó cả cuộc với nghiệp làm tranh truyền thống lại có ý tưởng công ngiệp hoá tranh truyền thống làng Sình! Một dự án khuyến công của xã Phú Mậu, h.Phú Vang, TT-Huế đang được triển khai, theo dự án này, người dân làm tranh truyền thống sẽ được đầu tư mua máy xén, mua Rulô quay. Giấy sẽ không còn xén thủ công nữa, bản mộc được khắc hẳn lên bề mặt rulô, cách làm này không mục đích nào hơn là tăng năng suất làm tranh. Lý giải cho cách làm này, nghệ nhân dân gian Kỳ Hữu Phước cho rằng: “ Với 30 triệu đồng đầu tư mua sắm máy xén, ru lô quay, rồi đây chúng tôi sẽ một mặt tăng năng suất, thu hút lao động để giữ vững làng nghề truyền thống cha ông”(?) In bằng rulô thì nhanh thật, năng suất thật! Nhưng theo một nhà nghiên cứu nghệ thuật dân gian thì cái hồn của tranh làng Sình chính nằm ở cái vuốt tay trên mặt giấy khi in bảm mộc! Vậy thì làm kiểu “ công nghiệp” chắc rằng tranh làng Sinh sẽ mất cái hồn ấy! Cách làm công nghiệp hoá tranh dân gian ở làng Sình, liệu rồi đây những bức tranh giấy được sản xuất tại đây có còn nguyên bản chất truyền thống dân gian? Bảm mộc già tuổi nhất làng - 200 năm. Theo Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam và Việt Báo
  2. Tàu cá bị cướp ở Hoàng Sa: Chủ tịch đảo Lý Sơn nói gì? 11/07/2013 16:20 | Xã hội (VTC News) - Chủ tịch huyện đảo Lý Sơn nói, việc 2 tàu cá Quảng Ngãi bị đập phá ở Hoàng Sa đang được điều tra và huyện sẽ kiến nghị gửi công hàm. » Tàu cá hỏng máy, 31 ngư dân thả trôi trên biển » Cứu 18 ngư dân chìm tàu ở Trường Sa Ngày 11/7, Chủ tịch UBND huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) Trần Ngọc Nguyên cho biết, UBND huyện đang phối hợp với Bộ đội Biên phòng điều tra thống kê thiệt hại, trên cơ sở đó sẽ có đề xuất hỗ trợ cho ngư dân. "Sau khi có số liệu đầy đủ, chúng tôi sẽ báo cáo vụ việc lên tỉnh và đề nghị các ngành chức năng có biện pháp bảo vệ ngư dân mình; đồng thời kiến nghị Bộ Ngoại giao gửi công hàm lên tiếng phản đối, yêu cầu cho phía nước ngoài tuân thủ luật pháp quốc tế", ông Nguyên nói. Ông Nguyên cho biết thêm, sáng 9/7, hai tàu cá của ông Võ Minh Vương và Mai Văn Cường (cùng trú thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn) bị tàu nước ngoài đe dọa, phá hoại tài sản khi đang hành nghề hợp pháp trên vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam đã trở về đến Lý Sơn. » Video: Tàu cá Quảng Ngãi bị cướp tài sản ở Hoàng Sa “Theo thông tin ban đầu từ Chỉ huy bộ đội biên phòng và chủ tàu, hai tàu cá của ngư dân Lý Sơn bị tàu nước ngoài đe dọa, truy đuổi, đập phá nhiều tài sản khi đang hành nghề hợp pháp tại vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam. Sự việc khiến ngư dân không thể hành nghề buộc phải trở về lại đất liền”, ông Trần Ngọc Nguyên xác nhận. Theo ngư dân Nguyễn Tỏa trên tàu cá QNg 96787 do ông Võ Minh Vương (trú thôn Tây, xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi) làm chủ tàu, vào khoảng 8-9h sáng 6/7, khi tàu cá QNg 96787 đang hành nghề lặn hải sâm và đánh bắt hải sản tại khu vực vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam mình thì xuất hiện tàu Trung Quốc màu trắng mang số hiệu 306 tiến tới dùng dùi cui khống chế, phá hoại nhiều tài sản trên tàu. “Sau khi khống chế dừng tàu, số người trên tàu Trung Quốc này dùng dùi cui xông qua đập phá tài sản của tàu và dùng dùi cui điện đánh đập ngư dân trên tàu. Họ bỏ đi sau khi chặt phá ngư lưới cụ, đập phá cửa kính cabin và lấy đi nhiều tài sản trên tàu. Hiện tàu bị mất hết ngư cụ nên đành phải nằm bờ”, ngư dân Nguyễn Tỏa cho biết. » Video: Tàu cá Quảng Ngãi bị tịch thu tài sản ở Hoàng Sa » Tàu cá hỏng máy, 31 ngư dân thả trôi trên biển PV
  3. Hình tượng cặp rắn quấn nhau cổ nhất Việt Nam Dao găm cặp rắn quấn nhau và voi. Trong lịch sử nghệ thuật điêu khắc nước ta, hình tượng rắn dường như vắng bóng. Trong lúc có những con vật được tôn vinh thuộc hàng "tứ linh" (Long, Ly, Quy, Phượng) hoặc có những con vật gần gũi nhà nông cũng hay được tạo tượng như cóc trên trống đồng, trâu, bò, gà, lợn, chó… Tại sao lại có chuyện như vậy? Theo nhiều nhà khoa học, có thể rắn đã biến hình thành một con vật không có thật: rồng. Đúng là những con rồng thời Lý, Trần có thân uốn khúc của loài rắn. Có thể con rồng đầu tiên phải thoát thai từ loài rắn. Sau đó, rồng được "chắp" thêm nhiều hình tượng các con vật khác, tùy vào trí tưởng tượng của người đời và mang dấu ấn thời đại. Dĩ nhiên, nếu hình tượng rắn đã biến hóa thành rồng rồi, thì trong điêu khắc không còn thấy con vật này trong vóc dáng thực nữa. Phải đến tận thời Nguyễn, khi đúc 9 chiếc đỉnh đang bày ở sân Đại Nội (Huế), mà chúng ta thường gọi là "Cửu Đỉnh", thì hình bóng của rắn mới lại xuất hiện. Duyên do là Cửu Đỉnh khắc họa cảnh vật điển hình của nước Nam, từ núi sông, biển cả đến các loài động vật, không thể không có mặt loài rắn. Trong số 162 hình khắc họa của 9 cái đỉnh đồng, thì có 36 hình động vật, trong đó có hình một con rắn và một con trăn (cũng là loài rắn lớn). Có lẽ ít người biết được rằng hình tượng rắn đã quen thuộc với người Việt cổ từ thời văn hóa Đông Sơn. Trong cuộc khai quật Làng Vạc, xã Nghĩa Hòa, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An đã phát hiện 2 chiếc dao găm có tượng rắn đang cuốn nhau. Chiếc thứ nhất có độ dài khoảng 12cm, có lẽ là dao găm minh khí chứ không phải là dao găm thường ngày sử dụng. Đáng chú ý là phần lưỡi dao găm giống hoàn toàn các dao găm khác của văn hóa Đông Sơn, nhưng phần cán dao lại là một đôi rắn có thân đang quấn chặt vào nhau. Miệng rắn mở to, có đôi mắt lồi. Một con đỡ đôi chân trước, một con đỡ đôi chân sau của voi. Voi được mô tả có vòi dài. Trên lưng voi có bành và trên đó lại có hình tượng một chiếc trống đồng. Nghệ thuật tạo tượng của người Việt cổ đạt đến đỉnh cao, cái mà ngày nay người ta gọi là mỹ thuật ứng dụng, mỹ thuật công nghiệp. Tức là người xưa nhìn quanh mình, thấy cái gì cũng có hồn, cái gì cũng có thể ghép tượng vào được. Ví dụ, cái ấm có vòi dài được ghép vào hình tượng cổ chim và mỏ chim, có cả mắt, trên cổ chim lại có 3 tượng người ngồi vắt vẻo. Trên một cái muôi đồng cũng được ghép tượng một người đang ngồi thổi khèn. Nghệ thuật còn là ở chỗ: người xưa lược bỏ các luật viễn cận và tỷ lệ tự nhiên khi tạo tượng: miệng rắn há ra lại ngoạm trọn chân con voi… Hình tượng rắn trên Cửu Đỉnh (Huế). Ảnh tư liệu. Cái đẹp của nghệ thuật tạo hình thể hiện tâm thức của người xưa khi thể hiện cặp rắn quấn nhau. Có lẽ là rắn đực và rắn cái, thể hiện sự phồn thực, âm dương giao hòa. Biểu tượng phồn thực mong cho mọi loài sinh sôi nảy nở, mùa màng cũng bắt chước loài vật mà bội thu. Cặp rắn quấn nhau là biểu tượng phồn thực. Vậy thì hình tượng của loài động vật này trong cặp mắt người Việt cổ phải là hình tượng đẹp và rắn cũng là một loại linh vật, cội nguồn của sinh sôi, của sự sống. Chiếc dao găm cán tượng này còn mô tả một con voi, một động vật quen thuộc đã thuần hóa, trên lưng voi lại là trống đồng. Điều này khiến ta liên tưởng đến hình ảnh loài voi đã có công với người Việt cổ biết bao nhiêu, từ thời văn hóa Đông Sơn đến Hai Bà Trưng, Bà Triệu cưỡi voi ra trận và voi còn theo chân người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Nếu như ở nhiều cộng đồng dân tộc khác, ngựa đóng vai trò quan trọng thế nào thì voi đã đóng vai trò quan trọng như thế đối với người Việt xưa. Trống trên lưng voi, chắc là trống trận. Tạo nên cặp tượng rắn quấn nhau - voi - trống đồng quả là sức tưởng tượng và óc sáng tạo của người Việt cổ thật hết sức phong phú mà ít gặp ở các cộng đồng cư dân cùng thời khác. Dao găm cặp rắn quấn nhau và hổ. Chiếc dao găm thứ hai có độ dài khoảng 20 cm, cũng đào được năm 1973 tại khu mộ cổ Làng Vạc. Dao có trang trí hoa văn hình học ở 2 bên lưỡi. Cũng lại mô típ hai con rắn quấn nhau, nhưng miệng rắn lại đỡ chân trước và chân sau của con hổ. Hình tượng cặp rắn quấn nhau trên cán dao găm đồng Làng Vạc là tượng rắn cổ nhất nước ta. Các nhà khảo cổ học đã từng phân tích niên đại bằng phương pháp khoa học tự nhiên của khu mộ này, cho kết quả cách đây hơn 2.000 năm. Vậy, với tư liệu hiện nay thì đây là hình tượng rắn sớm nhất ở ta, bằng chất liệu đồng thau lóng lánh. Đẹp và rất có hồn, phản ánh tâm thức của người Việt một thời. Thể hiện tượng rắn là những người thợ đúc - nghệ sĩ tài hoa. Hình tượng rắn trên cán dao găm Làng Vạc thật quý. Vì sau đó, hình ảnh thật của loài rắn vắng bóng trên nghệ thuật tạo hình Việt. Phải đến hơn 18 thế kỷ sau, rắn (và trăn) mới xuất hiện lại trên Cửu Đỉnh triều Nguyễn PGS.TS Trịnh SinhT.S.
  4. Thanh kiếm ngắn Đông Sơn mang hình tượng Hai Bà Trưng Chiếc kiếm ngắn Đông Sơn mang dư ảnh Hai Bà Trưng 1- Tượng nam và tượng nữ trên cán dao găm Đông Sơn và phân bố của chúng Từ lâu tôi đã chú ý đến những tượng nữ trên cán dao găm Đông Sơn. Việc phân biệt tượng nam hay nữ trên cán dao găm Đông Sơn đã từng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm thảo luận[1], nay nhờ tư liệu phong phú, có thể xác định chúng khá đơn giản và rõ ràng. Trước hết có thể nhận thấy hai loại hình tiêu biểu nhất trong số những tượng phát hiện trong context khảo cổ hoặc của những sưu tập sớm có độ tin cậy cao : những tượng nữ khai quật ở Làng Vạc (Nghệ An), Núi Nưa (Thanh Hoá) và tượng nam ở Núi Đèo (Thuỷ Nguyên), Quả Cảm (Bắc Ninh), Đông Sơn (Thanh Hoá)[2] những tượng trong sưu tập d’Argence hiện trưng bày tại Bảo tàng lịch sử và hai tượng trên cán dao Đông Sơn khai quật được ở nam Trung Quốc[3]. Sự khác biệt của hai nhóm tượng này thể hiện khá rõ và mang tính địa phương. Những tượng Làng Vạc và Núi Nưa thể hiện lối trang phục kín khắp người (áo váy) với thắt lưng dày trên phần eo luôn buông dài tận chân có tua núm và các vòng hạt chuỗi đeo nhiều tầng ở cổ. Các nhà nghiên cứu đều dễ thống nhất đó là đặc trưng tượng nữ, cho dù kiểu đầu tóc ở các tượng có ít nhiều thay đổi. Ở nhóm tượng còn lại, đặc trưng nổi bật nhất là ở trần (hở hai núm vú dẹt) và đóng khố ngắn có tua. Các khố này được trang trí hoa văn và tạo thành hai bản dẹt hình thang phía trước và sau bộ phận sinh dục. Đây là bằng chứng thuyết phục của tượng nam. Từ những tiêu chuẩn này chúng ta có thể nhận ra thêm những đặc điểm trang sức của nam và nữ thời Đông Sơn : ví dụ nữ đeo nhiều vòng chuỗi, khuyên tai, vòng cổ tay lớn và đơn giản trong khi tượng nam đeo khuyên tai gối quạ (Quả Cảm, Hồ Nam…), vòng đeo ở cánh tay… Cũng với những đặc trưng nhận biết này ta có thể nhận ra những tượng „lạ“ được làm không phải theo phong cách Đông Sơn. Hai nhóm tượng trên thực chất là hai khối tư duy tôn vinh nam nữ có chủ đích. Kiểu thể hiện khá ổn định với hai cánh tay cong khuỳnh chống nạnh đối xứng tạo độ cầm đày tay cho một cán dao găm. Đa phần tượng nữ phát hiện được ở vùng sông Mã, sông Cả là nơi chế độ mẫu hệ còn bảo lưu rất lâu về sau này. Chúng ta đều biết, sự lan toả của chế độ phụ hệ trong lịch sử Việt Nam có chiều hướng từ phía bắc xuống phía nam. Khối các dân tộc tàn dư hoặc chịu ảnh hưởng của văn hoá Chăm ở miền Trung nước ta cho đến hiện nay vẫn còn chứa đậm nhiều nét bảo lưu của chế độ mẫu hệ. Việc phổ biến cán dao găm tượng nữ ở vùng Nghệ An, Thanh Hoá chứng tỏ chế độ mẫu hệ trong khoảng trước thế kỷ 3 sau Công nguyên còn rất phổ biến tại đây. Ngược lại, vùng phân bố của các tượng nam tập trung ở phía bắc, tức lưu vực sông Hồng (Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Ninh…) phản ánh hiện tượng chế độ phụ hệ có thể đã xác lập phổ biến. Vùng sông Mã được coi như vùng đan xen với sự tồn tại cả hai loại hình với ưu thế trội thuộc về các tượng nữ. Gần đây có một số thông tin phát hiện tượng nam ở vùng Làng Vạc. Điều này, nếu đúng, cũng không lấn át được tính ngự trị của các tượng nữ ở vùng này. 2- Tượng đôi trên cán dao găm, một số phát hiện ngẫu nhiên Trong khai quật khảo cổ học chính thức chúng ta chưa từng phát hiện được những tượng đôi trên cán dao găm. Tuy nhiên, trong một số trưng bày và công bố gần đây ở trong và ngoài nước, xuất hiện một số tượng đôi thể hiện trên cán dao găm Đông Sơn. Nhóm nhiều tượng đôi nhất thuộc về sưu tập của Nguyễn Đại Dương trưng bày tại nhà hàng Trống Đông Sơn. Tôi đã có may mắn được nghiên cứu trực tiếp ba tượng đôi thuộc sưu tập này. Theo tôi, chỉ có chiếc dao găm có tượng hai người ngồi trên vai nhau là đáng chú ý. Chiếc dao găm này được người sưu tầm đầu tiên (Nguyễn Đại Dương là người mua lại về sau) cho biết có nguồn gốc Nghệ An (Làng Vạc ?) (hình). Cụm tượng này thể hiện hai người công kênh nhau. Người ngồi trên mang rõ nét những đặc trưng quý tộc nữ. Kiểu đầu tóc bồng chải ngược như phần đầu không chỏm của tượng Núi Nưa hay tượng trên dao găm 2505-77 của Bảo tàng Barbier-Muller[4]. Trang trí trên toàn thân (tay và váy) phản ánh chiếc áo váy thêu in hoa văn. Trên cổ người ngồi trên đeo hai lần vòng chuỗi. Hai tai đeo hai vòng khuyên lớn. Thắt lưng quấn cao trên eo với dải thả búi thõng phía đằng sau. Phần đùi và chân đều có hoa văn trang trí kiểu trang trí trên váy. Hai chân để trần lộ rõ ngón thả thõng đến ngang đùi người bên dưới đước giữ bởi hai tay của người công kêng mình. Cánh tay người ngồi trên khuỳnh ra, phần bàn tay ôm lấy phần đỉnh đầu của người dưới. Mặt quý tộc nữ thể hiện theo kiểu mặt người Núi Nưa, tức khuôn mặt bầu hình trám với chiếc cằm nhọn. Khi bị gỉ dễ nhầm với chòm râu nhọn của đàn ông. Mắt khắc bằng hai đường viền như kiểu vòng tròn đồng tâm. Tượng bên dưới đứng nhìn thẳng, phần đầu bị kẹp giữa đùi người ngồi trên nên không rõ kiểu đeo vòng và trang trí đầu. Hai tay giữ chặt chân người ngồi trên. Thắt lưng và váy được thể hiện rất rõ nét theo những đặc trưng phục trang nữ. Chân đi đất để lộ ngón. Một tượng cán dao găm khác có nội dung tương tự được giới thiệu trong cuốn „Art Ancien du Vietnam – Bronzes et Ceramiques“ do Monica Crick biên tập, xuất bản đầu năm nay ở Geneva (Thuỵ Sĩ)[5]. Theo tác giả, hiện vật này thuộc sưu tập của Phạm Lan Hương. Đó cũng là một cặp đôi nữ công kênh nhau trên vai cùng phong cách với tượng thuộc sưu tập nhà hàng Trống Đông Sơn ở Hà Nội. Dao găm có kiểu chuôi và lưỡi lá tre theo phong cách sông Mã. Trên bản lưỡi có khung trang trí thu theo khuôn hình lá lưỡi. Kiểu trang trí trên toàn thân với búi thắt lưng thả dài khiến chúng được xếp vào nhóm tưọng nữ, mặc dầu người phía dưới to lớn hơn dường như được khắc những nét vạch ở cằm thể hiện vành râu cằm ? Theo tôi người bên dưới cũng là nữ giới. Người ngồi trên có đai đầu và phía sau có một chiếc trâm cài hình chữ C nằm úp hai đầu soắn nhiều vòng. Trên lưng người này có những đường vạch chìm như thể hiện mớ tóc xoã của bức tượng. Mảng eo được thể hiện bằng ba vòng quấn thắt lưng. Dải thắt lưng có búi lớn thả ở phía sau thóng xuống ngang thắt lưng của người công kênh bên dưới. Tai trái người ngồi trên đeo một khuyên nhưng tai phải đeo chồng tời hai khuyên và dường như có cả một cụm chuỗi vòng nhỏ phía trên, như kiểu đeo tai ở tượng chiến binh nam mang đầu lâu trên lưng. Chân người này để trần lộ cả ngón đang quặp chặt vào eo người bên dưới và được giữ bởi hai tay người bên dưới. Trên phần chân từ đầu gối trở xuống của người ngồi trên có những đường trang trí hoa văn rất phổ biến của tượng nữ Làng Vạc, Núi Nưa. Đó là những vòng tròn đồng tâm tiếp tuyến song song đối xứng biến thể thành hai hình chữ S đối xứng gương như cách thể hiện trên quai thạp đồng vậy. Khuôn mặt người trên thể hiện nữ tính rất rõ với đôi mắt khắc chìm vành mi dưới cong hất lên tương ứng với cái miệng đang cười. Hai tay ôm lấy đầu người công kênh mình. Tượng phía dưới đứng thẳng, hai tay nắm chặt cổ chân người ngồi trên. Mặt thể hiện nam tính với râu cằm, tai đeo vòng, nhưng phần trang phục lại thể hiện rõ nét nữ tính với thắt lưng thả búi và váy dài tận chân. Đáng nói nhất ở đây cụm tượng người, thú mang đậm phong cách Làng Vạc với sự thể hiện tập trung cặp tượng nữ sinh đôi ngồi song song trên lưng voi được đỡ bởi hai con thú lạ khác (Hình). Cụm tượng này được tạo thành cán cầm của một lưỡi kiếm ngắn thanh mảnh như một quyền trượng hơn là một vũ khí thực thụ. Chủ nhân lưỡi kiếm này cũng là bà Phạm Lan Hương. Báu vật này hiện đang trưng bày tại Galerie HIOCO, Paris[6]. Cán kiếm là một tác phẩm nghệ thuộc phức hợp chứa đựng nhiều tư duy của nghệ sĩ. Tư duy này phác thảo trên nền một phong cách nổi tiếng của nghệ thuật trang trí cán dao đồng Làng Vạc : Đôi hổ đỡ voi mang bành. Cuộc khai quật Làng Vạc của Viện Khảo cổ học trong những năm chiến tranh (1972-73) đã phát hiện in situ con dao găm đầu tiên như vậy[7]. Bảo tàng Barbier-Mueller cũng sở hữu một chiếc tương tự[8] (hình). Trên thanh kiếm ngắn của Hioco Galerie, phần thân cán cũng tạo bởi hai con thú có hình dáng gần giống với một con tôm khổng lồ. Phần miệng thể hiện hàm răng như cá sấu với hàm dưới lại như một cánh tay đỡ chân con voi. Lần này con voi được tạo hình đối xứng với hai đầu rõ rệt. Bốn trụ chân chính của voi được gắn liền với tay (hàm dưới) con thú (tôm hùm) bên dưới, trong khi hàm trên (hoặc mũi nhọn ở đỉnh mũi tôm, có mắt nổi giống mắt tôm hùm) gắn với vòi và cặp ngà voi. Khi nhìn chính diện mặt voi, hai cái tai vuốt nhọn trông rất giống hình tai trên khuyên hai đầu thú Sa Huỳnh. Tôi nghĩ rằng chúng có ảnh hưởng phong cách nghệ thuật khuyên tai hai đầu thú Sa Huỳnh. Khác biệt là ở sự thể hiện bành voi. Ở các cán dao hổ đỡ voi Làng Vạc khác, phần bành voi thể hiện một bành ngồi có chân đỡ trông như một ngôi nhà sàn mái cong của Inđonesia. Trên thanh kiếm tôi đang nói tới, thay vào vị trí bành voi là tượng hai nữ quý tộc ngồi xổm ở tư thế hai tay ôm gối chắp trước ngực. Đầu gối hở ra và đôi chân để trần lộ ngón. Hai tượng giống nhau như hai chị em sinh đôi. Tượng thể hiện theo phong cách Núi Nưa (Thanh Hoá) với kiểu tóc hất bồng cao có thắt eo ở giữa. Mặt hình trám bầu, cằm nhọn. Mắt kiểu vành tròn đồng tâm có lông mày chấm rải, mũi vuốt nhô. Trên phần cổ và ngực có những vòng chuỗi nhiều tầng. Phía sau lưng gáy là một hốc lõm hình thang có hai vòng bán khuyên, vừa như thể hiện búi tóc, vừa dùng làm chỗ có thể đeo nhạc chuông. Hiện vật này đã được nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm của công ty giám định cổ vật Ciram (Paris). Tôi may mắn có được 2 ngày trong cuối tháng Sáu năm nay nghiên cứu trực tiếp hiện vật và hiện có trong tay toàn bộ kết quả nghiên cứu thành phần hoá học, X-ray của báu vật này. 3- Tính biểu trưng và tính mô tả trong nghệ thuật tạo tượng cán dao găm Đông Sơn – hình tượng những nữ anh hùng Việt Nam sống vào cuối văn hoá Đông Sơn : Bà Trưng, Bà Triệu. Từ lâu, tôi đã theo đuổi một ý nghĩ về tính biểu trưng (Symbolism) hay tính tả thực (Realism) của các nhân vật trên cán dao găm. Phân tích 30 cán dao găm hình người, thú Đông Sơn mà tôi hiện có tiêu bản studio có thể nhận thấy các nghệ nhân Đông Sơn đã có những ràng buộc mang tính quy chuẩn kỹ thuật, nghệ thuật khi chế tạo tượng cán dao găm : dáng đứng, kiểu đầu tóc, váy, khố, vòng trang sức, cách thể hiện hoa văn … và ở giai đoạn đầu, cán dao găm Đông Sơn mang tính biểu trưng quyền lực chung của thủ lĩnh nhiều hơn[9]. Tượng người được tạo ra mang tính đại diện chứ không nhằm mô tả một nhân vật cụ thể. Tuy nhiên vào khoảng cuối Đông Sơn (thế kỷ 1 tr.Cn – thế kỷ 3 sau Cn) xuất hiện những pho tượng chứa đựng „cá tính“ – mang rìu chiến, dao găm, đầu lâu người (hình). Phần chắn lưỡi cũng được trang trí thêm bởi những móc câu soắn tròn (hình) và đặc biết xuất hiện tượng quý tộc nữ được công kênh và tượng hai chị em sinh đôi nói trên[10]. Theo tôi, ba hiện vật giới thiệu ở trên có độ tin cậy cao mặc dù nó không nằm trong các cuộc khai quật khảo cổ học chuyên nghiệp. Chúng đều tôn vinh những quý tộc nữ khiến tôi liên tưởng đến sự thực lịch sử gắn liền với những nhân vật nữ anh hùng cụ thể xuất hiện trong khoảng cuối văn hoá Đông Sơn : Hai chị em Trưng Trắc, Trưng Nhị đầu công nguyên (thời kỳ người Việt chưa mang họ như ngày nay) và sau đó là Bà Triệu (thế kỷ 2-3 sau Công nguyên, khi người Việt quý tộc bắt đầu mượn họ phương bắc – họ Triệu – vua Nam Việt). Truyền thuyết đều gắn họ với voi chiến (ngựa chiến vào Việt Nam rất muộn và không thuộc truyền thống quân sự Việt). Và hình ảnh hai chị em quý tộc sinh đôi ngồi trên lưng voi hai đầu của chiếc kiếm nói trên hoàn toàn có thể gắn với tính tả thực về hiện tượng khởi nghĩa Hai Bà Trưng gây chấn động cả khu vực Đông Á đương thời. Những tượng nữ mang phong cách Núi Nưa đứng đơn cũng là sự tôn vinh những nữ thủ lĩnh anh hùng như vậy. Đặc biệt tượng nữ trên kiếm ngắn mang rìu chiến hiện trưng bày ở Galerie HIOCO (Paris) là một minh hoạ rất sinh động cho giả thuyết này (hình). TS Nguyễn Việt – Trung Tâm Nghiên Cứu Tiền Sử Đông Nam Á
  5. Nhóm tượng ba người ngồi trên vòi ấm Đông Sơn Nhóm tượng ba người ngồi trên vòi ấm Đông Sơn ( Thanh Hóa ) cũng coi ấm và vòi là đế tượng. Thân ấm như quả bầu tròn, vòi ấm như cuống bầu kéo dài ra gấp rưỡi thân ấm, gần đầu vòi lại có mắt tròn ở hai bên vừa gợi đầu chim mỏ dài như nhiều người vẫn nghĩ ( nhưng mắt lại ở trên mỏ ?) vừa gợi ấm quả bầu là sinh vật sống có thần lực. Toàn bộ ấm cao 9cm dài 18cm. ở đầu vòi có tuợng một người và ở cuống vòi có hai người ngồi cạnh nhau thành hàng ngang, cả ba ngưòi đều ở thế ngồi xổm, chỉ cao chừng 2cm, hai tay vòng bó gối, tai đeo vòng tròn to tóc vừa như búi phía sau gáy lại vừa như tết đuôi xam thả xuống sau lưng. Khối tượng đông đặc chặt chẽ, đầu to, chú ý cả đến những ngón chân. Phụ họa với khối tượng nhô lên là những dải văn thừng chạy dọc phía dưới vòi và thành khoanh quanh vòi Tượng người làm chuôi dao găm Tượng người làm chuôi dao găm khá phổ biến trong văn hóa Đông Sơn, cho đến năm 1983, theo thống kê của Trịnh Sinh đã phát hiện được 13 pho, rải ra trên địa bàn rộng gồm nhiều tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng , sông Mã và sông Lam. Tượng là toàn bộ chuôi dao, chiếm khoảng 1/3 độ dài của cả dao, có dáng phụ nữ ở thế đứng nghiêm, tay khuỳnh ra chống nạnh, dáng oai phong, tai đeo khuyên vòng to, cổ tay cũng đeo vòng, bộ mặt được nhấn mạnh chiếm từ 1/4 đến 1/3 chiều cao toàn thân tượng. Trong số này được nhắc đến nhiều là tượng người chuôi dao Đông Sơn và Núi Nưa. Chuôi dao Đông Sơn được Pagiô phát hiện từ đợt khai quật 1924 - 1929. Tưọng cao 11cm . Ngoài dáng chung đã nêu trên, còn có một số nét riêng: Tóc chải búi trên đỉnh đầu rồi lại tết đuôi sam rủ xuống lưng, mình trần để lộ rõ đôi vú là vòng tròn đồng tâm như mắt, mặc váy ngắn đến gối, làm rõ các ngón tay và ngón chân, đứng trên đốc kiếm. Dao núi Nưa (Thanh Hóa) dài tới 50cm còn được gọi là kiếm. Chuôi là pho tượng phụ nữ cao 18, 2 cm ngoài các nét chung còn có đặc điểm là tóc chải lên đỉnh đầu rồi đội chiếc mũ cao như vương miện, y phục chỉnh tề, váy dài chùm kín chân và xòe ra làm đốc kiếm luôn, bụng thắt bao có rủ xuống trước váy. Bộ mặt trái xoan dài khiến người chỉ cao 3 đầu, nhấn mạnh cả miệng nhỏ, mắt sáng ẩn dưới hàng mi cong. Dáng không hùng dũng mà lại có vẻ đẹp duyên dáng, kiều diễm. Tượng là cán dao găm, tay tượng lại khuỳnh ra và nhỏ nên rất khó cho việc nắm chắc khi cần sử dụng dao, nếu bóp mạnh sẽ gẫy tay tượng. Do đó giá trị thực dụng sẽ rất ít, cơ bản là vật bảo trợ tinh thần, hoặc mang theo bên mình để cầu sức mạnh (như ở nắp thạp Đào Thịnh ngay khi ân ái vẫn cài dao găm ở cạp khố) hoặc để thờ và khi đó sẽ cắm dựng đứng dao thì lưỡi dao được xem như đế tượng đài để toàn thể vút cao, chững chạc, oai phong... làm cho tượng mang dáng dấp của Nữ thần chiến thắng Tượng con chó trên thỏi đồng Hà Đông Tượng con chó trên thỏi đồng ở Hà Đông do D’argence sưu tầm từ trước Cách mạng tháng Tám chỉ dài 2,8cm cao 1,5cm được tạo hình khá thực trong tư thế đứng choãi chân bám trụ, dướn đầu với cổ dài và há mồm sủa. Chó có chân cao, mình dài, cổ dài, đầu to thuộc loại chó săn nhanh nhẹn. Dáng đứng rất động gợi ra phía trước nó có một đối thủ đáng gờm, không chịu lùi nhưng cũng không thể tiến lên được. Thỏi đồng mà con chó đứng gợi sự liên tưởng đến cán muôi đồng Việt Khê, được xem là chiếc đế để tượng có chỗ đứng vững vàng. Tượng con hổ trên trống đồng minh khí Tượng con hổ ( hay chó bông?) trên trống đồng minh khí tìm được ở Đông Sơn ( Thanh Hóa) cũng là trường hợp đặc biệt. Trống có đường kính miệng 4,2cm , mặt vồng hẳn lên như cái nấm đưa đường cao lên 3,5cm. Trên mặt trống có tượng con vật nhỏ trông như hổ hay chó bông, dài 3cm và cao 2cm. Thân trống được xem là bệ tượng, gắn bó hài hòa với tượng cả về cấu tạo và kích thước. Con vật bụ bẫm, trán nhô tròn , tai cụp, mình có những vệt vằn, đuôi ngắn, được thể hiện ở mắt, mũi, miệng, chân ngắn, đứng thẳng, dáng rất hiền . Có thể là hổ hay chó thì đều được người Đông Sơn quen thuộc và từng là đối tượng của nghệ thuật tạo hình. Trống đồng minh khí là vật quý và thiêng, gắn với những người Việt cổ có quyền lực. Con vật ở trên trống lại như quyền năng tăng thêm sức mạnh cho chủ sở hữu chiếc trống. ở đây nghệ sĩ khai thác các khối đông đặc với hướng ngang, tạo cảm giác về sức đầm nặng, chắc chắn, nhưng các hoa văn trên tang và thân trống với dạng chữ S nằm và sóng nước là gợi một sự chuyển động trong không gian mênh mang, đã kết hợp tài tình hai thể tĩnh và động. Tượng hổ vồ mồi trên nắp thạp Vạn Thắng Tượng hổ vồ mồi trên nắp thạp Vạn Thắng (Phú Thọ) là hiện tượng hiếm trong văn hóa Đông Sơn. Thạp Vạn Thắng có dáng như thạp Đào Thịnh (đã nói ở trên), cũng thuộc loại lớn, nhưng kích thước chỉ bằng một nửa: cao 43cm, miệng rộng 34,5cm. Trên nắp thạp ở bốn phía có bốn khối tượng hổ vồ mồi hoặc tha mồi, cõng mồi trên lưng. Mỗi khối tượng dài 7,5cm cao 3cm, con hổ đã cách điệu nhưng vẫn dễ dàng nhận ra, con mồi thì không rõ (có thể là con lợn?). Đây là cảnh con hổ ở trạng thái hoang dã, rất hiếm gặp trong điêu khắc Đông Sơn và trong nghệ thuật tạo hình của người Việt. Dáng hổ ở đây rất nhanh, tư thế rất động, được tạo bằng khối đông đặc nhưng vẫn có khoảng hổng ở dưới bụng và đuôi Nhóm tượng voi và chim ở làng Vạc Nhóm tượng voi và chim ở làng Vạc (Nghệ An) do chân sau của voi bị gẫy ở gần bàn chân nên tuy ít ảnh hưởng đến khối tượng, nhưng không rõ nó gắn vào vật gì hay gắn vào đế. Cả voi và chim đều được cách điệu, song vẫn gần với hình thực, thuộc xu hướng hiện thực, rất dễ nhận ra. Toàn khối tượng cao và dài đều 5cm, diễn tả hai con chim đậu trên lưng con voi. Hình chim gần giống con gà, hai con châu đầu vào chau, được diễn tả rõ cả mắt và lông cánh. Con voi đứng yên, vòi dài và khá lớn buông thõng xuống bàn chân trước, mắt nổi rõ, chân sau còn có cả nếp nhăn. Quanh mình voi như được buộc một tấm vải làm áo, trên đó có những hoa văn chấm tròn, chứng tỏ đây là voi nhà đã được thuần dưỡng. Cả chim và voi đều được khái quát hóa, lược bỏ đi nhiều chi tiết phụ để tập trung làm nổi hình chính. Trong nhóm tượng này, người xưa không phụ thuộc vào tỷ lệ thực của con vật ngoài đời, để hai con chim đậu kín lưng voi từ đầu đến đuôi, rõ ràng nhằm biểu hiện ý hơn là tả. Phải chăng con voi rất gắn với văn hóa người Việt cổ, là con vật to nặng, chậm chạp ở dưới đất, mang tính âm; còn con chim nhanh nhẹn, linh hoạt, bay nhảy tung tăng, ngự trị bầu trời, là dấu hiệu của dương. Vậy đây là biểu tượng của sự hòa hợp âm dương, đảm bảo cho con người và cộng đồng phát triển? Tượng chim ở Đào Thịnh Tượng chim ở Đào Thịnh (Yên Bái) là một khối tượng đóng kín hoàn toàn, dù nhìn ở góc độ nào cũng thấy đường viền rõ ràng. Tượng dài 9cm, cao 4,5cm và rộng ngang 4cm, được thể hiện ở thế đậu cụp cánh nhưng xòe đuôi, chân ngắn, trên lưng có móc chữ U ngược rõ ràng để treo hơn là để đứng và như thế đã xác định được trọng tâm để tạo thế cân bằng khi treo. Chim được tạo hình rất thực, rõ mắt và miệng, trên lưng, cổ và đuôi được khắc hoa văn theo những nhóm vạch song song tạo thành những mảng đường ngang, dọc và chéo vừa gợi mảng lông vừa làm vui mắt. Con chim chẳng những hình dáng thực mà cả kích thước cũng bằng những loại chim nhỏ vừa phải. Tượng cóc mẹ cõng con ở Đào Thịnh Tượng cóc mẹ cõng cóc con ở Đào Thịnh (Yên Bái) được cấu trúc theo cùng nguyên tắc với tượng chim. Khác với nhiều tượng cóc thường được gắn trên mặt trống đồng Đông Sơn (Heger I) muộn, ở đây là tượng độc lập, có thể để nằm hoặc treo (vì trên giữa lưng có hình chữ U ngược để xỏ dây treo). Con cóc mẹ dài 10,7cm cao 6cm, trên gáy và mông còn cõng hai con cóc con nữa. Cóc mẹ ở thế ngồi chống hai chân trước, cóc con thì chân trước hơi choãi để bám chặt vào lưng cóc mẹ. Cóc mẹ được tạo dáng khá thực, mồm ngậm chặt mồi, hai mắt lồi hẳn lên. Vòng dưới bụng và hai bên mông gắn với chân sau còn được trang trí một số băng họa tiết, làm cho hình sinh động hẳn lên. Hẳn con cóc còn là biểu trưng của việc cầu nước, gắn với nền kinh tế nông nghiệp cấy lúa nước. Bên cạnh dòng tượng hiện thực trên, văn hóa Đông Sơn còn có một dòng tượng được cách điệu khá cao, từ thực tế qua tư duy nghệ sĩ đã tái tạo một cách mạnh bạo. ở đây còn do yêu cầu của hiện vật, tượng là bộ phận của một vật thể khác, hoặc tượng làm theo khối dẹt. Tiêu biểu cho loại tượng thứ nhất là mấy cán dao găm làng Vạc (Nghệ An) mà thân tượng có thể cầm nắm chắc chắn để sử dụng dao vào những mục đích thực dụng. Khoảng ấy phải khá dài và chắc mới tạo được lực tác dụng mạnh, buộc nghệ sĩ phải cách điệu hình dáng con vật và cho nó ở tư thế đặc biệt. Cán dao găm làng Vạc làm thành tượng hổ và voi Cán dao găm làm thành tượng hổ và voi ở làng Vạc, toàn bộ dao dài 27,5cm, trong đó phần cán dao dài 12cm có đốc và cuối chuôi xòe rộng để khi đâm không bị dịch chuyển tay. Nếu phần đốc xòe ra như đế tượng, thì thân cán làm thành hai con hổ đứng thẳng lên bằng hai chân sau, áp bụng và ngực vào nhau thành một khối, vươn dài người rồi ngả đầu ra há miệng, một con ngoạm chân trước và vòi voi, một con ngoạm chân sau và đuôi voi, còn chân trước của hổ đưa lên đỡ bụng voi. ở đây cả hổ và voi đều được cách điệu rất cao, thả trí tưởng tượng để sáng tạo theo yêu cầu của đề tài. Con hổ chủ yếu nhận ra ở những vết vằn trên thân và cổ, phần nào ở chiếc đầu tròn. Con voi được nhấn mạnh phần đầu với vòi, mắt và tai. Hổ và voi đều là những chúa tể rừng xanh, có sức mạnh phi thường và thường đấu sức với nhau, voi lớn hơn hẳn hổ. Vậy mà ở đây, những con vật này lại gắn bó với nhau một cách hữu cơ, voi chỉ nhỏ bằng 1/3 con hổ, nhìn vẫn rất thuận mắt Cán dao găm làng Vạc làm thành tượng trăn và hổ Toàn bộ dao dài 22,2cm, trong đó phần cán dao dài 9,5cm được cấu trúc như cán dao găm trên, tuy thế đề tài đã thay đổi: Thân cán là hai con trăn (hay rắn) vặn xoắn với nhau thành một khối chắc để cầm cho vững, sau đó chúng ngả đầu ra, con ngậm chân trước và con kia ngậm chân sau của hổ. Con trăn còn làm cả vẩy, phù hợp với thân dài. Con hổ khá mập và to, dáng hiền lành, trên mình có nhiều vết vằn cũng tạo bằng các dải chấm. Dù sao cái tỷ lệ trăn và hổ cũng rất xa với thực, tuy cách điệu song vẫn dễ nhận ra. Cán dao găm làng Vạc làm thành tượng trăn và voi Toàn thể dao găm dài 12,6cm trong đó riêng phần cán dài 6,6cm nghĩa là chiếm hơn một nửa, được cấu trúc như cán chiếc dao găm trên, nhưng đề tài có thay đổi một chút: Hai con trăn rất rõ ràng phần đầu, một con có mào ở đỉnh đầu, một con không có mào, hẳn là muốn biểu hiện đôi trăn đực - cái, chúng cuốn xoắn nhau, há miệng ra, một con ngậm chân trước, một con ngậm chân sau của voi. Con voi rất nhỏ, chỉ cao chừng 2,5cm, trên lưng còn chở một chiếc trống đồng nữa. Voi nhỏ nhưng đủ cả đầu và đuôi. Hình dáng trăn và voi còn khá thực, song tỷ lệ hai loại con vật thì lại khác rất xa ngoài đời. Chúng gắn bó hữu cơ với nhau trong tư thế thật bất ngờ, ngộ nghĩnh nhưng vẫn hợp lý - nhất là về mặt tâm linh hòa hợp âm dương: trăn hay rắn thuộc giống lạnh, sống trong hang, ở môi trường ẩm ướt, thường gắn với sông, được xem là biểu tượng của âm. Còn voi (hay hổ ở cán dao găm trên) thuộc máu nóng, ở rừng già, gắn với núi cao, được xem là biểu tượng của dương. ở đây, từ sự hòa hợp âm - dương có thể còn là linh khí của núi - sông, của đất - nước để rồi là cơ sở của chủ quyền quốc gia, Tổ quốc gắn với sự ra đời của các Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc? Tiêu biểu cho loại tượng khối dẹt là những con thú tìm được ở di chỉ Lãng Ngâm (Bắc Ninh) gồm hươu, hổ, trâu; cũng tìm được di chỉ Vinh Quang (Hà Tây), di chỉ Chùa Thông (Hà Nội) và di chỉ Chiềng Vậy (Hòa Bình) đều là tượng gà. Những tượng này đều chỉ dày chừng 0,3cm, một mặt phẳng bẹt và một mặt nổi vồng, vì thế là "tượng" nhưng không thuộc không gian ba chiều mà chỉ có hai chiều ngang - dọc như tranh và cơ bản chỉ phơi bày vẻ đẹp ở một mặt, nó gần giống như cắt từ lá đồng - mặc dù ở đây là kỹ thuật đúc đồng. Có thể nêu một số tác phẩm tiêu biểu: Tượng hươu Lãng Ngâm Tượng hươu Lãng Ngâm cao 3,8cm dài 5cm được thể hiện ở thế nhìn ngang, thấy rõ từ đầu đến đuôi, do vậy chỉ thấy một sừng, một chân trước và một chân sau. Hươu có chân cao, mình dài, tiêu biểu nhất là chiếc sừng có chạc. Đầu hươu nhỏ, cổ dài dướn về phía trước biểu hiện một vẻ nhanh nhẹn nhưng lại có phần ngơ ngác. Nhiều chi tiết bị bỏ đi, nhưng lại chú ý đến con mắt lơ đãng Tượng trâu Lãng Ngâm Tượng trâu Lãng Ngâm có kích thước tương tự con hươu trên, thân mình cũng ở tư thế nhìn ngang nhưng cái đầu lại xoay ra nhìn theo chiều dọc từ phía gáy để thấy rõ cả cặp sừng không có chạc nghênh về hai phía, cổ ngắn, mình thô, dáng chậm chạp. Chân sau có nhẽ bị gãy, chỉ có một đoạn. Bụng trâu nổi bật bộ vú, biểu hiện sự no căng, phồn thực, sung mãn Tượng hổ Lãng Ngâm Tượng hổ Lãng Ngâm có hai con tương tự nhau cả về kích thước và hình dáng, chỉ khác nhau ở một số chi tiết. Con nguyên dài 7,2cm và con kia như bị sứt một mẩu đuôi và một đoạn chân trước, còn dài 6,9cm. Chúng đều được thể hiện trong thế nhìn ngang với dáng chuẩn bị vồ mồi, đuôi duỗi dài chuẩn bị đập xuống đất, chân gấp muốn chồm lên, đầu hơi dướn lên, mồm há. Hình chung khỏe, có sức bật nhanh. Hẳn là trong thời văn hóa Đông Sơn, ngay trên địa vực đồng bằng Bắc Bộ, rừng hoang còn nhiều, mãnh thú lẩn quất không xa xóm làng, con người có điều kiện quan sát hổ và dường như phải tôn thờ nó để đỡ bị làm hại và qua đó mà tranh thủ nó để loại trừ những thế lực tà ma hắc ám. Có nhẽ trên cơ sở những tượng hổ này, về sau người Việt cũng hay tạc và đắp tượng hổ, đặc biệt là vẽ tranh hổ để thờ Tượng gà ở Vinh Quang Tượng gà ở Vinh Quang dài 6,7cm cao 4,7cm cũng theo kỹ thuật đúc như ở Lãng Ngâm, thuộc loại gà trống được nhấn mạnh cái đầu với mào to nhiều thùy và bộ lông đuôi dày, còn thân và chân là những mảng hẹp. Con gà được thể hiện ở góc nhìn nghiêng, chân đứng thẳng, cổ dướn cao như muốn cất tiếng gáy, dáng khá hùng dũng. Hẳn con vật này đã rất gần gũi với người, tiếng gáy của nó là báo hiệu sự chuyển tiếp đêm sang ngày, cũng được xem là cái gạch nối của âm sang dương Tượng đầu trâu Đình Quang Tượng đầu trâu Đình Chàng trở lại chất liệu đá, chỉ có mỗi cái đầu bẹt nhìn từ đằng trước, cặp sừng nhọn cong như vành trăng non. Tượng nhỏ chỉ cao 1,9cm và rộng ngang 2cm. Làm bằng đá nhưng bắt chước các tượng thú bằng đồng ở Lãng Ngâm và Vinh Quang, một mặt mài phẳng, còn mặt chính mài vát tạo đường sống mũi và trán nhô cao, ở trán có lỗ ngang để xỏ dây đeo. Diễn tả con trâu nhưng nghệ sĩ chỉ thông qua cái đầu, nó gợi lại quan niệm của người Hòa Bình khi khắc đầu thú ăn cỏ trong hang Đồng Nội. Nhấn mạnh cặp sừng như vầng trăng non, dễ làm ta liên tưởng đến hội trọi trâu ở vùng bờ biển sau này như biểu hiện việc thờ mặt trăng liên quan đến hiện tượng thủy triều.
  6. Tượng Cổ Việt Nam tg Chung Quang Trứ PHẦN KHAI MỞ Nghệ thuật tạo tượng là cốt lõi của nghệ thuật tạo hình cổ Việt Nam Đến bất cứ một làng quê nào của người Việt nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ, chúng ta đều dễ dàng nhận ra bộ mặt văn hóa vật thể của nó là các kiến trúc chùa và đình, nhiều nơi còn có đền, miếu, lăng mộ. Đó là những di tích có tính tín ngưỡng và tôn giáo, là chỗ dựa tâm linh của dân làng, thậm chí của cả vùng. Xã hội luôn biến động, qua các giai đoạn lịch sử cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại, những thay đổi kinh tế- xã hội ở các điểm nút luôn đạt bước tiến thần kỳ, trong đó tốc độ phát triển ở thời đại chúng ta đạt đến sự chóng mặt, nhưng trên hình thái ý thức tư tưởng lại có sự kết đọng những giá trị tinh thần để trở thành truyền thống, trong đó gắn với di tích văn hóa và giúp cho di tích văn hóa vừa là di sản của hôm qua vừa là tài sản của hôm nay, luôn sống động với thời đại chính là các hoạt động lễ và hội. Lễ có thiêng, hội có vui là nhờ sự cộng cảm của cả cộng đồng với lịch sử. Người ta thắp hương và tâm niệm trước Tổ tiên, Thánh, Thần, Phật, Mẫu và những nhân vật giúp việc chuyển tải siêu lực của các vị. Những lực lượng siêu nhiên ấy có khi được hình dung qua bài vị, đôi khi qua tranh vẽ, nhưng phổ biến là qua tượng thờ. Tượng thờ có rất nhiều ở các chùa. Mỗi ngôi chùa được xem như một bảo tàng điêu khắc cổ truyền thông thường có dăm chục pho, nhiều như chùa Mía (Sùng Nghiêm Tự - Hà Tây) có tới gần 300 pho. Các pho tượng trong một chùa thường thuộc nhiều thời, nhất là từ thời Mạc đến thời Nguyễn, thậm chí ngày nay vẫn được bổ sung. Đó là một kho báu, toàn hiện vật gốc, thực sự chứa đựng tài hoa của cha ông. Có những chùa như chùa Tây Phương (Sùng Phúc Tự- Hà Tây) có cả một hệ thống tượng trên Phật điện đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật tạc tượng chẳng những của Việt Nam mà của cả thế giới, làm kinh ngạc cả những người sành nghệ thuật nhất. Bên cạnh chùa, nhiều đền thờ các anh hùng dân tộc và các nhân vật lịch sử như Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Đại Hành, Trần Hưng Đạo ... và nhiều nhân vật ít tiếng tăm hơn như các con của vua Đinh, vợ con vua Lê và một số đại thần cũng được tạc tượng thờ. Nếu tượng ở chùa thường do dân làng tổ chức làm thì nhiều tượng ở các đền loại trên thường do triều đình đứng ra tổ chức tạc. Nhiều quý tộc cỡ lớn là những ông hoàng, bà chúa - cung tần, công chúa, quận chúa có thể xem là cái gạch nối giữa triều đình với dân làng, giữa Vương quyền và Thần quyền đã xin nhà nước xuất công quỹ cùng với tiền của riêng cúng vào việc xây dựng chùa to cảnh đẹp, sau đó cũng được tạc tượng thờ ở một số chùa, điển hình là các bà hoàng thái hậu Vũ thị Ngọc Toản nhà Mạc và Trịnh thị Ngọc Trúc nhà Lê. Không chỉ quý tộc cấp cao, nhiều quan lại - nhất là các quận công từng giữ các trọng trách về quân sự hay dân sự, đồng thời lại là những thái giám, tổng thái giám, sau khi tích lũy được khá nhiều của cải nhưng không có con cháu trực hệ, đã làm nhiều việc công đức cho quê hương, hoặc được dân làng bầu làm Hậu Thần, Hậu Phật có khi tạc tượng thờ, hoặc xây cất lăng mộ riêng cũng có những hàng tượng người và tượng thú phục vụ. Đặc biệt với tục bầu Hậu với ý nghĩa tạo sự trường tồn, gắn bó lâu dài với mai sau, nhiều người không có con trai nối dõi tông đường, thì bản thân hoặc con gái "có máu mặt" một chút cũng thường mua Hậu, có thể tạc tượng để dân làng thờ. Như vậy ngay cả những người bình dân cũng có thể được đi vào nghệ thụật tượng tròn. Chùa thì thường phải có sư tăng là những người chăm sóc phần hồn cho các phật tử, do đó các vị cao tăng trở thành tổ chùa, khi mất chẳng những được các Phật tử xây tháp mộ, mà phần nhiều còn được tạc tượng thờ trong nhà Tổ. Đây là những tượng người thực việc thực, tạc khi còn sống hay mới mất, do đó có nhiều giá trị của loại tượng chân dung. Thật ra tượng cổ còn nhiều nhóm và ở trong nhiều loại hình di tích nữa. Tất cả đều khẳng định sự phong phú và đa dạng của mảng nghệ thuật này, nó phổ biến trong không gian và quán xuyến trong thời gian, gắn với cá nhân từ bình dân đến quý tộc và gắn với cả nhà nước nữa. Trong kho tàng tượng cổ vô cùng phong phú ấy, rất hiếm tượng có ghi tên tác giả, hầu như đều là tượng khuyết danh, là sản phẩm của các hiệp thợ cũng không rõ tên, có thể tìm ra dấu ấn thời đại để xác định niên đại tương đối chứ không thể tìm ra phong cách tác giả, lại do không có một quy pháp tạo tượng cụ thể, tất cả đều thuộc dòng chảy nghệ thuật dân gian nhưng nhiều tác phẩm đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật tạo tượng. Tượng cổ còn đến nay là đã vượt qua được sự phá hủy của con người và của thiên nhiên. Nếu con người chủ tâm phá thì dù làm bằng chất liệu nào cũng sẽ bị hủy hoại, nhưng nó chỉ xảy ra trong những trường hợp đặc biệt, có tính tiêu cực của lịch sử. Đất nước trải qua nhiều lần chiến tranh, cả ngoại xâm và nội chiến, nặng nề nhất là hơn nghìn năm Bắc thuộc và hai mươi năm nhà Minh đô hộ đã chủ trương phá hủy triệt để văn hóa Việt Nam, gây tổn thất lớn lao cho điêu khắc. Trong thời chúng ta bom đạn của đế quốc Mỹ đã hủy diệt rất nhiều di tích cổ, trong đó làm biến mất hoàn toàn cả khu đền tháp Chăm-pa ở Đồng Dương và một phần khu thánh địa Mỹ Sơn khiến lương tri nhân loại phải lên tiếng. Cũng có cả nhận thức của chính chúng ta một thời không đầy đủ đã thả nổi di tích và có những can thiệp phi văn hóa, hậu quả là làm hư hại không ít đến điêu khắc. Sự phá hủy của thời gian thì thông qua mối mọt và thời tiết, đặc biệt là lụt lội và gió bão. Về mặt này, nếu được bảo quản tốt ở trong nhà thì có thể hạn chế được khá nhiều. Riêng đồng thì độ hư hại bởi thời gian là ít, đá bền là thế nhưng vẫn bị mưa gió bào mòn, gỗ tự hủy lại có đồng minh là mối mọt rất sẵn ở xứ nhiệt đới độ ẩm cao, đất tự bở ra và nếu có thêm sự hỗ trợ của nước thì sẽ rất nhanh hỏng ... Mặc dù với những sự hủy hoại trên, tượng cổ còn lại đến nay khá nhiều, người xưa đã lường trước được "kẻ thù" của nó để tìm cách hạn chế, do đó đã tìm được những vật liệu dễ kiếm, và đôi khi cả vật liệu quý để làm tượng. Tượng ngoài trời thường bằng đá, để mộc, phổ biến ở các lăng mộ. Tượng trong nhà đa số bằng gỗ - và phải là gỗ mít bền và thiêng, sau đó còn được sơn thếp trên cơ sở tượng mộc đã hoàn hảo. Tượng đồng khá hiếm vì là chất liệu quý còn để đúc tiền, song có khi lại làm rất lớn và hun đen để khẳng định chất đồng, song cũng nhiều tượng đồng thường sơn thếp như tượng gỗ. Gỗ, đá, đồng chính là những chất liệu đích thực của điêu khắc người xưa cho là sạch và thiêng. Thời Lê trung hưng, năm 1728 từng có lệnh làm tượng Phật phải bằng gỗ hoặc đá, nếu làm bằng đồng phải xin phép bề trên, cấm làm tượng Phật và các tượng khác bằng đất hay các thứ tạp nham , quy định vậy là để đạo Phật được trong sáng. Nhưng ngày nay trong các chùa cũng gặp nhiều tượng đất, hầu hết thuộc thời Nguyễn, có nghĩa là khi lệnh cấm của nhà Lê không còn hiệu lực, và việc dựng chùa tạc tượng cũng có phần tràn lan. Tượng đất đôi khi được nung còn non , thường thì đắp đất có trấu và sơ để chống nứt nẻ và để khô tự nhiên, bằng cách nào thì cũng được sơn vẽ ra ngoài. Trong điều kiện bảo quản tốt, tượng đất như thế cũng rất bền . Đối với điêu khắc cổ dường như không có chất liệu trung gian. Người xưa cậy từ gỗ, đá những "phần thừa" để cái còn được giữ lại là tượng theo đúng kích thước dự định, hoặc đắp từ đất cứ bồi lớn dần cho đến khi đạt kích thước và tu chỉnh cho hoàn hảo. Điều này khác với ngày nay thường làm nhỏ rồi phóng to, làm bằng chất liệu tạm là thạch cao , khi có điều kiện mới chuyển sang chất liệu chính thức, còn nếu không thì cứ để ở tình trạng thạch cao dễ sứt mẻ. Rõ ràng trong kho nghệ thuật tạo hình cổ truyền , điêu khắc tượng tròn là phổ biến, và đúng nghĩa cả về chất liệu , tạo thành truyền thống trong mỹ thuật, phát triển ở mọi nơi và mọi thời. Đó chính là cốt lõi của mỹ thuật dân tộc, là cơ sở để ngày nay các nhà điêu khắc học tập cha ông, kết hợp với yêu cầu của thời đại để sáng tạo những tác phẩm mới làm đẹp cho xã hội, đưa môi trường văn hóa Việt Nam hòa nhập với môi trường văn hóa thế giới mới. Ngày xưa cha ông ta liên tục làm điêu khắc, tạc tượng không ngừng tay, nhưng dường như không có sự tổng kết. Từ cuối thế kỷ XIX khi tiếp xúc cưỡng bức với văn hóa phương Tây, người Pháp mới có kế hoạch nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam. Nhưng từ khi những chuyên khảo đơn lẻ đến những tổng kết về nghệ thuật Việt Nam có tính lịch sử, người ta nói nhiều đến chùa, đền nhưng lại rất ít đi vào nghệ thuật tạc tượng. Từ những năm thuộc thập niên 60 trở đi , Viện Mỹ thuật Mỹ nghệ ( rồi sau này là Viện Mỹ thuật) trong khi tìm hiểu những di tích đã đặt nhiều kỳ vọng ở điêu khắc nhất là tượng thờ, một số ấn bản phẩm về mỹ thuật các thời Lý - Trần -Lê - Mạc đã giành cho điêu khắc, mà trọng tâm là tượng tròn một tỷ lệ thích đáng. Tiếp theo những công trình khái quát về mỹ thuật cổ Việt Nam hay về một di tích cụ thể, phần nhận định còn khiêm nhường , song phần tư liệu đã cố gắng tập trung cho tượng. Trong đời sống mỹ thuật của xã hội hôm nay, kể cả sáng tác và tiêu thụ tác phẩm, điêu khắc không có nhiều cơ hội để phát triển như hội họa, nhưng những công trình quy mô lớn và bền lâu, thậm chí mang tầm cỡ thời đại là những tượng đài ghi mốc lịch sử, đang được cả Nhà nước và nhân dân quan tâm xây dựng, nó sẽ góp phần làm thay đổi diện mạo các thành phố hiện đại. Với những giá trị của tượng cổ Việt Nam có tính xuyên thời đại, nhưng việc tập hợp tư liệu và nghiên cứu kho báu này mới ở bước đầu, thì đề tài "Tượng cổ Việt Nam với truyền thống điêu khắc dân tộc" hy vọng sẽ góp thêm những hiểu biết mới có tính hệ thống. Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung vào phương pháp khảo sát điền đã, đi thực tế các di tích để lấy tư liệu ngay tại hiện trường bằng các kỹ năng đo đạc, chụp ảnh, hỏi nhân dân địa phương, in rập các bia ký liên quan. Bên cạnh đó là khai thác thư tịch, trước hết là các sách sử, truyện ký và văn bia có liên quan của người xưa để lại. Tận dụng thành tựu của một số công trình nghiên cứu về mỹ thuật đã được xuất bản. Để hiểu được những gì tàng ẩn trong các tư liệu trên, còn phải vận dụng các phương pháp liên ngành văn hóa - nghệ thuật - khảo cổ - lịch sử - dân tộc học... Tất cả sẽ được chỉ đạo bởi phương pháp luận Mác-Lênin thông qua phép biện chứng duy vật và duy vật lịch sử. PHẦN 1 - TƯỢNG CỔ VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ Chương 1 - TƯỢNG CỦA NGƯỜI VIỆT CỔ Người nguyên thủy trên đất nước ta, ngay khi bắt đầu biết mài đá và cũng bắt đầu biết đến một nền nông nghiệp sơ khai thì đồng thời cũng bắt đầu biết làm nghệ thuật. Nhưng khác với nhiều nền nghệ thuật trên thế giới thường được mở đầu bằng một số hình vẽ trong hang động vẽ cảnh săn bắn và bằng những tượng Vệ nữ, nghệ thuật tạo hình Việt Nam lại được mở đầu bằng hình khắc ba mặt người và một mặt thú trong hang Đồng Nội (Hòa Bình) và hình khắc trên mũi dùi xương Lam Gan (Hòa Bình). Tiếp theo, đi sâu vào thời kỳ đồ đá mài và tiến tới một nền nông nghiệp lúa nước, ngày càng hoàn thiện kỹ thuật chế tác đồ gốm, thành tựu nghệ thuật tạo hình vẫn thiên về hình khắc với viên cuội ở động Ky (Thái Nguyên) một mặt khắc các nhóm hình kỷ hà còn mặt kia khắc hình một mặt người, miếng đất sét ở bản Nghinh Tắc (Thái Nguyên) cũng chỉ khắc những nhóm vạch ở dìa và những dãy vạch chữ V ở trong lòng. Tuy nhiên ở Nà Ca (Thái Nguyên) đã tìm thấy một phác tượng được đẽo từ một viên cuội còn dài 6,4cm, rộng 3,4cm và dày 2,5cm, thể hiện một đầu người trán nhẵn, cằm rộng, mũi dài, mắt nheo, miệng cười hình chữ V biểu hiện một tình cảm vui tươi. Phải đến khi người nguyên thủy trên đất nước ta bắt đầu biết đến đồ đồng thì nghệ thuật tạo tượng mới thực sự được bắt đầu. Ngay ở giai đoạn đầu là văn hóa Phùng Nguyên, cách ngày nay chừng 4000 năm, đồng còn rất hiếm (mới chỉ tìm thấy xỉ đồng), cơ bản vẫn là đồ đá, và đồ gốm được đẩy lên đỉnh cao ở cả tạo dáng và trang trí, thì đá và gốm cũng trở thành chất liệu của điêu khắc tượng tròn. Vào nửa sau của thiên niên kỷ II trước CN, người Việt cổ bước vào giai đoạn văn hóa Đồng Đậu thuộc trung kỳ thời đại đồng thau, đồ đá vẫn chiếm ưu thế - nhất là về đồ trang sức, đồ gốm được nung ở nhiệt độ cao hơn, đồ đồng thau đã có nhiều loại, nhưng về tạo tượng mới chỉ tìm được tượng gốm. Phải chăng tượng đá và tượng đồng đều quá ít nên chưa tìm được? Đến cuối thiên niên kỷ II trước CN, người xưa tiến tới hậu kỳ thời đại đồng thau với văn hóa Gò Mun, đồ đá suy thoái và bị lãng quên dần, đồ gốm được nung già với hoa văn trang trí ảnh hưởng đồ đồng có xu hướng hình học hóa, đồ đồng thau đã trở nên phổ biến. Tuy thế, tượng ở giai đoạn này hầu hết vẫn là đồ gốm, tượng đồng mới tìm được một tác phẩm nhỏ song đã ở trình độ hoàn hảo, chứng tỏ chất liệu này đã quen với điêu khắc. Ba giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun chiếm một thời gian lịch sử dài tới 2000 năm, được gọi chung là các văn hóa Tiền Đông Sơn, phát triển liên tục và trực tiếp từ thấp đến cao, tạo thành một chuỗi sơ kỳ - trung kỳ - hậu kỳ đồ đồng, có ý nghĩa là cái cầu nối từ thời đại đồ đá với văn hóa Đông Sơn rực rỡ diễn ra suốt thiên niên kỷ I trước CN và cả vài thế kỷ đầu CN, thuộc giai đoạn đồng muộn và sắt sớm. Ở văn hóa Đông Sơn, đồ đá rất ít và nghèo, đồ gốm nặng tính thực dụng, trái lại đồ đồng phát triển rất rực rỡ cả về kỹ thuật và nghệ thuật. Nhưng xưa nay nói đến văn hóa Đông Sơn, nhiều người thường chỉ nghĩ đến thành tựu nổi bật là các trống đồng thuộc loại I theo cách phân chia của Hêgơ (Heger) ở đầu thế kỷ XX mà ngày nay được gọi chung là "Trống đồng Đông Sơn". Điều đó không sai, nhưng thật ra về nghệ thuật tạo hình lúc này phải đặt trọng tâm vào tượng với số lượng rất lớn, hầu hết đều bằng đồng thau, tuy nhiên cũng có một ít tượng đá và gốm. Từ những thông tin lẻ tẻ về khảo cổ học Việt Nam trước năm 1945 và đặc biệt là những thập niên 60-70 và đầu 80, năm 1983 trên tạp chí Khảo cổ học số 4, trong bài "Điêu khắc Đông Sơn : Truyền thống và tính độc đáo", Trịnh Sinh đã thống kê trong toàn bộ thời đại đồ đồng của Việt Nam đã phát hiện được 207 tượng, trừ 2 tượng gốm chưa được xác định, các giai đoạn Tiền Đông Sơn có 22 tượng (gồm 1 tượng đá, 20 tượng gốm và 1 tượng đồng), Đông Sơn có 183 tác phẩm (gồm 1 tượng gỗ, 1 tượng đá, 1 tượng gốm, 2 tượng sừng và 178 tượng đồng). Như vậy xã hội càng phát triển thì đời sống văn hóa nghệ thuật càng phong phú, chất liệu cũ (đá, đất nung) phổ biến ở các giai đoạn Tiền Đông Sơn thì sang giai đoạn Đông Sơn chỉ chiếm một tỷ lệ hết sức nhỏ bé, để nhường chỗ cho chất liệu đồng có nhiều ưu thế trong chế tác và bảo quản. Theo sự khảo tả của Trịnh Sinh, đối chiếu với quan sát thực tế, chúng ta có thể nhận ra một sự diễn tiến ở những đỉnh cao của nghệ thuật tạo tượng ở thời dựng nước đầu tiên. Tượng người đàn ông ở di chỉ Văn Điển Tượng người đàn ông ở di chỉ Văn Điển (Hà Nội) thuộc văn hóa Phùng Nguyên, là lúc người nguyên thủy từ trung du tràn xuống và từ ven biển tràn lên, cùng tiến vào chinh phục đồng bằng Bắc Bộ. Tượng làm bằng đá, chỉ cao 3,6cm, nhỏ bằng đầu đũa, thể hiện một người đàn ông ở tư thế đứng (hoặc nằm?). Mặt tượng trái xoan, mắt tròn nhỏ, mũi dài, hai má mài vát vào tạo cho cằm hơi nhọn, ngực nở, bụng thon, giới tính nam được nhấn mạnh, phần chân bị gẫy dưới đùi có hướng hơi co lại. Các chi tiết về tai và tay đều lược bỏ. Trên đầu có dấu vết một vòng nhỏ hay ngạnh để buộc dây đeo như kiểu đeo bùa. Tượng nhỏ nhưng mang rõ tính cách hiện thực, mở ra một hướng đi đúng cho các giai đoạn sau. Để làm ra tác phẩm này, con người ở sơ kỳ thời đại đồ đồng đã vận dụng tổng hợp các kỹ thuật chế tác đá như cưa, đẽo, mài, khoan, dũa... một cách rất thành thạo. Một số tượng bò Sang văn hóa Đồng Đậu, tại di chỉ Đồng Đậu (Vĩnh Phúc) đã tìm thấy khá nhiều tượng thú gần gũi với người như bò, gà, chim đều bằng đất nung. Một số tượng bò đã bị vỡ nát, tuy thế vẫn có con bò còn nguyên vẹn. Tượng bò dài 5cm thuộc loại bò u, dáng lao về đằng trước, cặp sừng giương lên nghênh chiến, toàn thể toát ra một vẻ hung dữ, khối hình gọn đến mức đơn sơ song vẫn giữ được vẻ hiện thực. Vẫn thuộc văn hóa Đồng Đậu và đề tài bò, ở di chỉ Tiên Hội còn có tượng cái đầu bò dài 5cm, được thể hiện còn thực hơn với cặp sừng nhọn, mắt tròn, mõm ngắn. Như vậy, nhìn chung tượng ở giai đoạn văn hóa Đồng Đậu vẫn còn mộc mạc, chân chất, mang tính gợi hơn là tả. Tượng người đàn ông ở Gò Mun Sang giai đoạn văn hóa Gò Mun, lớp trên của di chỉ Đồng Đậu vẫn tìm thấy tượng bò bằng gốm, cả tượng đầu người nữa; một số di chỉ khác còn tìm thấy tượng chó, gà, đầu rùa cũng bằng gốm. Đặc biệt tại di chỉ Gò Mun (Phú Thọ) có tượng người đàn ông. Tượng ở thế ngồi xổm bó gối, cao 4,6cm, hai tay xếp khoanh trên đùi, lưng hơi ngả về sau, dáng thoải mái. Tượng nhỏ nhưng chi tiết vẫn rõ ràng: Đầu chít khăn mỏ rìu, mắt, mũi, miệng đặt đúng vị trí. Tỷ lệ cơ thể cân đối, toàn thân toát ra vẻ thuần phác, nghỉ ngơi mà vẫn suy tư. Tượng được làm theo khối đóng kín, có đường viền rõ ràng dù nhìn đằng trước hay sườn bên, có đế nhưng bị gẫy nên không rõ tượng độc lập hay gắn vào vật khác, thể hiện theo xu hướng hiện thực. Tiến lên văn hóa Đông Sơn, số lượng tượng tăng vượt xa các giai đoạn trước, chất liệu đá, gốm, sừng cũng có, nhưng được ưa chuộng hơn cả là đồng với kỹ thuật đúc rất hoàn hảo, và như vậy tượng phải làm qua giai đoạn trung gian từ tạo mẫu đến làm khuôn và đúc đồng, một chu trình khá phức tạp. ở đây có tượng độc lập, có tượng lại gắn với một hiện vật khác để trang trí, song có khi trở thành bộ phận hữu cơ của hiện vật ấy; còn có cả loại tượng bẹt một mặt phẳng. Có thể kể ra một số tượng tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn. Trước hết là mấy tượng độc lập. Tượng hai người cõng nhau Tượng do Pagiô (Pajot) tìm được trong khi tổ chức khai quật di chỉ Đông Sơn (Thanh Hóa) năm 1924-1929, cao 9cm. Cả hai người đều mình trần, đóng khố, búi tóc cuộn tròn, tai đeo khuyên vòng lớn... là đặc điểm của người Việt cổ - chủ nhân văn hóa Đông Sơn. Riêng người bị cõng ở dưới còn đội chiếc mũ nhọn. Tượng đứng vững là nhờ hai chân người dưới lại thêm đuôi khố rủ xuống tận đất, tạo ra ba điểm xác định một mặt phẳng và thế chân kiềng. Người dưới phải cong lưng ra cõng, hai tay vòng ra sau ôm lấy mông người trên, hai chân nhún nhẩy như đang múa. Người được cõng ở trên một tay đưa khèn lên miệng thổi, một tay ôm cổ người dưới, hai chân quặp lấy háng người dưới. Cả hai khuôn mặt đều được diễn tả đầy đủ mắt, mũi, miệng với tình cảm hồ hởi. Như vậy cả hai người chẳng những gắn bó hữu cơ trong cấu trúc mà cả trong tâm tư nữa.Tượng được thể hiện theo khối thủng, có nhiều góc cạnh với những đường nét cong lượn, đòi hỏi trình độ đúc đồng cao với kỹ thuật làm khuôn khá phức tạp, biểu hiện cuộc sống đương thời rất hồn nhiên và lạc quan. Tượng người đàn ông ôm đôi chó Tượng người đàn ông ôm đôi chó ở di chỉ Phú Lương (Hà Tây) được khai quật năm 1984. Người cao 5,5cm dày 1cm, chó cao 2,8cm dài 4cm. Người đàn ông đầu tròn, búi tóc sau gáy, tai đeo khuyên vòng to, miệng nhô, đóng khố, tay hơi dài, chân ngắn đứng doạng. Mỗi tay ôm một con chó đứng sát hông, âu yếm nó như những người bạn. Con chó mình dài, chân cao, đứng yên, tai cao nhọn, mõm dài hơi há, đuôi thành khoáy tròn quặt về một bên mông phía ngoài. Tượng được làm theo khối chóp thủng, vừa bám đất vừa vươn lên, các hướng đường ngang (thân hai con chó) và dọc (người đứng, các chân chó) đều rõ ràng. Tượng vẫn theo xu hướng hiện thực, song đã chú ý cách điệu - nhất là đối với hai con chó. Tượng độc lập của văn hóa Đông Sơn còn ít, song tượng gắn vào hiện vật khác thì khá nhiều. Tượng cặp trai gái ân ái trên nắp thạp Đào Thịnh Bốn cặp tượng trai gái ân ái trên nắp thạp Đào Thịnh (Yên Bái). Thạp Đào Thịnh là một trong rất ít hiện vật bằng đồng thuộc văn hóa Đông Sơn, có kích thước rất lớn. Thạp cả thân và nắp cao tới 96,5cm, đường kính bụng thạp rộng tới 70cm, có thể để đựng hạt giống (hay để làm hòm táng người chết?); và do đó với ý thức phồn thực (để cho hạt nảy mầm hay hồn người chết được đầu thai) đã được cụ thể hóa thành bốn cặp tượng trai gái đang ân ái ở trên nắp thạp. Có thể xem cả cái thạp là một đế tượng vững chắc, một đài hoa để tôn các cặp tượng - nhất là khi nắp thạp được trang trí dày đặc các hoa văn theo bố cục các vòng tròn đồng tâm như nở ra vô hạn và quanh thân thạp là các đoàn thuyền rất động. Bốn cặp tượng giống nhau cả về tạo hình và kích thước. Từng cặp dài 8cm, dày (cao) và rộng (tay khuỳnh) chừng 4cm, được thể hiện thành khối rất thật thà trai đóng khố ở trên, gái mặc váy ngắn trên đùi gấp mở ở trước, cả hai đều mình trần, cô gái để lộ bộ ngực căng nây, chàng trai tóc mượt xõa dưới vai, trên khố còn dắt theo con dao găm, bộ phận sinh dục được cường điệu để nhấn mạnh hành động ân ái. Do các cánh tay của hai người cùng bá vai xoắn quyện nên hai người tách rời ra rõ ràng nhưng lại gắn bó với nhau thành một. Khối thủng giúp cho từng người được miêu tả khá kỹ, đồng thời tạo cho toàn hình có sự di động, các chi tiết trên khuôn mặt được tả khá đầy đủ, váy, khố và tóc được nhấn mạnh như sự đặc tả Tượng người thổi kèn trên cán muôi Việt Khê Tìm được ở di chỉ Việt Khê (Hải Phòng) năm 1961, phần nào cũng có thể xem là tượng độc lập. Toàn bộ chiếc muôi dài 18cm, phía dưới là một đoạn khối trụ rỗng hơi nở miệng, có thể đựng được cả chất lỏng, làm trụ giữ cho toàn thể đặt yên và vươn ra rồi vút cong lên một cái cán càng kéo ra xa càng thu nhỏ lại để rồi tận cùng bằng vòng tròn xoáy ốc 6 vòng kín xít ôm chặt lấy nhau, từ ngoài vào theo chiều ngược với chiều quay kim đồng hồ. Lấy cán muôi làm đế, ở khoảng giữa có tượng người đàn ông ngồi thổi khèn cao 4,5cm. Người chít khăn mỏ rìu , đóng khố , thế ngồi chân co lại để bàn chân đỡ chiếc khèn, hai tay khuỳnh ra giữ thân khèn, miệng đang ngậm cán khèn thổi. ở đây nghệ sĩ đã chú ý sử dụng những hướng đường thành tuyến song song: Thân người với thân khèn là tiếp tuyến của những vòng tròn xoáy ốc cuối cán muôi, tạo sự gắn bó chắc chắn cho khối tượng. Những đường chéo của chân và cán khèn vừa phá đi cái thế bướng bỉnh của những đường ngang và dọc, vừa làm cho khối tượng trở nên chặt chẽ. Tượng nhỏ nhưng khá thực, các thành phần thân thể khá cân đối, bộ mặt không đi vào chi tiết mà vẫn trong trạng thái ngất ngây, tập trung cho nghệ thuật âm thanh.Đặt khối tượng trong toàn thể chiếc muôi, nó là sự đối trọng
  7. ĐỊA KHÍ LỢI VÀ HẠI NHƯ THẾ NÀO Trái đất có những kênh dẫn khí thiên nhiên giống như kinh mạch trong cơ thể người và gọi đó là "địa mạch". Dòng khí trong các địa mạch tỏa bức xạ ra môi trường. Bức xạ này có thể tốt hoặc xấu cho sinh vật, kể cả con người sống trong môi trường đó. Người phương Đông xưa tin rằng trái đất có những kênh dẫn khí thiên nhiên giống như kinh mạch trong cơ thể người và gọi đó là "địa mạch". Dòng khí trong các địa mạch tỏa bức xạ ra môi trường. Bức xạ này có thể tốt hoặc xấu cho sinh vật, kể cả con người sống trong môi trường đó. Lý thuyết từng bị xem là huyền bí này đã được các nhà khoa học chứng minh là đúng qua những công trình nghiên cứu nghiêm túc. Có nhiều cách để xác định nơi nào có địa khí nguy hại. Cách cổ xưa nhất là "tìm mạch" được sử dụng ở châu Âu từ mấy nghìn năm nay. Một cách khác là dùng những dụng cụ khoa học đo lường mức độ rối loạn trong từ trường trái đất tính bằng nano Teslas. Giáo sư Deter Kugler, giảng dạy địa sinh học ở Heilbrunn, Đức, kể lại nhiều trường hợp giúp hóa giải tác dụng tiêu cực của địa khí. Có một bà nhờ ông xem nơi ở và không cho biết gì thêm. Giáo sư Deter khám phá ra giường của cháu trai bà nằm trên vùng tác động cao, đầu giường hướng thẳng về giao điểm của hai mạch nước trùng với một giao điểm địa khí Benker. Dựa vào kiến thức về các kiểu địa mạch, ông bảo nếu bà cứ để đứa cháu ngủ tại điểm này, nó có thể tự tử. Lúc đó, bà mới kêu lên cho biết cha của nó, cũng từng nằm ngủ nơi này, và đã treo cổ tự vẫn. Giường được chuyển qua vị trí tốt, đứa trẻ thấy thư thái hơn và không còn những hành vi bốc đồng. Một lần khác giáo sư Deter được mời đến giúp một phụ nữ, người mà cứ 7 giờ tối là lên cơn đau đầu chữa mãi không khỏi. Nhiều thầy phong thủy đã dùng đến những dụng cụ đo môi trường khác nhau để mong khám phá những "phạm vi thông thường" như lực tác động của địa khí hoặc trường điện từ, nhưng không ai tìm ra nguyên nhân của cơn đau đầu để giải quyết. Sau khi xem xét cẩn thận mọi góc độ của ngôi nhà và được biết bà chủ có thói quen ngồi độc sách báo hoặc xem tivi vào 6h30 tối, giáo sư Deter mở cửa bước vào căn phòng nhỏ phía sau cái ghế bà ngồi hằng ngày và thấy một cái giá cắm nến bằng sứ mà bà mang từ Tây Ban Nha về. Ông lấy dụng cụ ra đo và phát hiện có phóng xạ trong chất sứ của giá đèn. Bà chủ đem giá đèn ra chỗ khác và từ đó hết đau đầu. Năm 1960, chuyên gia nghiên cứu địa mạch Benker tìm ra hệ thống địa khí gồm những kênh rộng 80 đến 100 cm và cách nhau 10 đến 12 mét. Một kênh Benker gồm 3 phần: phần bên này có phóng xạ tiêu cực, phần bên kia có phóng xạ tích cực và phần giữa có thể có phóng xạ tiêu cực hoặc tích cực. Nếu một ngôi nhà xây trên "giao điểm khí" tích cực, người cư ngụ sẽ có cơ may khỏe mạnh. Trái lại, những giao điểm khí tiêu cực làm suy yếu người ở trên đó. Nhà vật lý W.O. Schumann đưa ra lý thuyết từ trường trái đất rung động cùng tần số như sóng alpha của não người (7,83 Hz hoặc chu kỳ mỗi giây), và lý thuyết này được Văn phòng tiêu chuẩn quốc gia Mỹ công nhận là đúng vào năm 1962. Có lẽ trong quá trình tiến hóa, các sóng não của con người rung động theo tần số nền tự nhiên của trái đất. Do đó, nếu tần số từ trường thay đổi, sức khỏe của con người sẽ bị ảnh hưởng. "Sóng Schumann" rất có ý nghĩa ở mức tế bào trong việc điều hành các hệ thống sinh học của chúng ta. Những biến lệch trong từ trường sẽ gây rối loạn cho việc liên lạc giữa các tế bào và làm suy yếu các hệ thống trong cơ thể. Nếu chịu tác động lâu dài của lực địa khí tiêu cực, con người có thể các chứng bệnh như: viêm sưng, tê cứng, loạn nhịp tim, hệ miễn nhiễm suy yếu, bức xúc tâm thần, sút giảm sinh lực, mệt mỏi, hiếu động, bực bội, dễ gây gổ, đau đầu, mất ngủ, ngủ chập chờn, ác mộng... Nữ bác sĩ Ulrike Banis ở Stuttgart (Đức) nghiên cứu thấy lực địa khí tiêu cực làm trẻ con đái dầm và rơi khỏi giường khi ngủ. Bà còn cho rằng có thể lực này dính líu đến hội chứng đột tử ở trẻ. Bác sĩ Bannis chuyên trị ung thư hơn 10 năm nay và nhận thấy 100% bệnh nhân của mình đều bị ảnh hưởng của lực địa khí tiêu cực. Vì vậy, điều đầu tiên bà khuyên bệnh nhân là dời chỗ ngủ qua địa điểm an toàn, sau đó mới chỉ dẫn cách chữa. Trước đây đã có những nghiên cứu về mối liên hệ giữa bệnh ung thư và lực địa khí tiêu cực. Vào thập niên 1920, làng Vilsburgh ở miền nam nước Đức có số người chết vì ung thư tăng cao bất thường. Năm 1929, Giáo sư Freiherr von Pohl lập bản đồ các mạch nước ngầm và các kênh Benker trong ngôi làng nhỏ này và những vùng có các địa mạch chạy ngang qua nhà ở. Sau khi xem hồ sơ của bệnh viện địa phương, ông nhận thấy có tất cả 54 người chết vì ung thư nằm ngủ trên những địa điểm được đánh dấu là vùng nguy hiểm. Ông còn "tìm mạch" cho làng Grafenau có số bệnh nhân ung thư ít hơn (16 người chết) và cũng thấy kết quả tương tự. Năm 1972, giáo sư Jacob Stangle xác nhận kết quả nghiên cứu của giáo sư Pohl là chính xác. Vào thập niên 1970, bà Kathe Bachler tiến hành một chương trình nghiên cứu rộng ở Áo. Bà tìm mạch cho 3.000 căn hộ ở 14 vùng nông thôn và phỏng vấn khoảng 11.000 người. Một biểu mẫu 500 bệnh nhân ung thư cho thấy bệnh nhân nào cũng bị ảnh hưởng bởi lực địa khí tiêu cực. Nhiều nhà y học khác cũng tham gia nghiên cứu mối liên hệ giữa địa khí và ung thư. Tất cả đều kết luận gần 95% trường hợp ung thư có lực địa khí tiêu cực tác động. Đương nhiên cũng có những người nằm trên kênh tiêu cực không bị bệnh ung thư và có những bệnh nhân ung thư không bị ảnh hưởng của lực tiêu cực. Theo y học cổ truyền phương Đông, khí môi trường thiên nhiên là một loại khí hỗn hợp cả tiêu cực lẫn tích cực là có âm lẫn dương. Âm có tính nới giãn, khuyếch tán, làm lạnh; dương có tính thu gom, kết tụ, làm nóng. Tùy lúc tùy nơi, khí này có phần âm trội hơn thì gọi là "khí âm", nếu dương trội hơn thì gọi là "khí dương". Xét chung, hai loại khí âm dương không tốt không xấu đối với sức khỏe chúng ta, nhưng có thể trở thành xấu hoặc tốt do cách ăn ở của con người sống trong môi trường khí đó. Thí dụ ở nước ta, khí miền Nam là dương, nếu ăn nhiều muối (thực phẩm thịnh dương) tất sẽ sinh bệnh, trái lại khí miền Bắc âm hơn, nếu ăn nhiều trái cây (thực phẩm thịnh âm) thì sức khỏe sẽ có vấn đề. Giáo sư Ohsawa, nhà y học dưỡng sinh đề xướng phương pháp thực dưỡng Macrobiotics, đã nghiên cứu thấy những người ăn thực phẩm được nuôi trồng trong thiên nhiên ở nơi mình sống với tỷ lệ âm dương quân bình và sinh hoạt điều độ đều có sức khỏe tốt, và ít bị ảnh hưởng của những biến động trong khí môi trường (chuyển mùa, thời tiết thay đổi thất thường....). Trong khi những người có cơ thể rối loạn "mất quân bình âm dương" rất dễ phát bệnh khi lọt vào môi trường khí không thích hợp. Thí dụ ung thư là bệnh thịnh âm, phát triển âm thầm trong cơ thể một thời gian dài rồi mới lộ ra triệu chứng; nhưng những người mang mầm ung thư nếu thường xuyên tiếp xúc với môi trường khí âm - lực địa khí tiêu cực - thì bệnh sẽ bộc phát sớm và nặng. Vì vậy, theo giáo sư Ohsawa, muốn chữa bệnh ung thư và những bệnh khác, ngoài việc thay đổi môi trường sống, bệnh nhân còn phải điều chỉnh cách ăn uống cho cơ thể được quân bình âm dương.(st)
  8. HUYỀN KHÔNG ĐẠI QUÁI Bất luận Huyền Không Đại Quái có phải hay không do Dương Công (Dương Quân Tùng) truyền lại hay không, song có thể khẳng định đây là một môn phái Phong Thủy đặc biệt sâu sắc. Ở Việt Nam nghe nhắc đến Huyền Không Đại Quái đã ít, biết hiểu và sử dụng được Huyền Không Đại Quái lại càng ít hơn. Kỹ thực áp dụng trong cả hai Trạch Âm Dương đều rất đơn giản thực dụng và hiệu quả. Lý luận của Huyền Không Đại Quái căn bản đều dựa trên Dịch Lý, phát triển Dịch Lý, có độ chuẩn xác cao, phối hợp với Địa Hình thực tế, trăm không sai một. Huyền Không Đại Quái khi trắc nghiệm Dương Trạch đều ở tại Môn Khẩu hạ La Kinh (Lấy Hướng của Trạch làm Chuẩn) sau đó theo khẩu quyết trong Thiên Ngọc Kinh để lập bàn Phi Tinh, án chiếu các Nguyên Vận mà di chuyển Cửu Tinh. Sau khi Tinh Bàn lập thành thì dựa vào đó luận Cát Hung, chú ý đặc biệt đến Cửa, Phòng Ngủ, Bếp (Tương tự Dương Trạch Tam Yếu của Tân Bát Trạch) cùng nước ra nước vào...Điểm đặc sắc của Huyền Không Đại Quái là không cần nhớ chính xác thời điểm Tạo Tác của Trạch mà vẫn có thể lập Bàn Phi Tinh luận đoán, điều này giải quyết được vấn đề khó khăn trong thực tiễn khi trắc nghiệm của Huyền Không Phi Tinh... Ở tại Việt Nam các lý luận căn bản của Huyền Không Đại Quái đã được chuyển dịch ra tiếng Việt, tiêu biểu là bộ Nguyên Không Giám Pháp của La Tương do cụ Tri Tri (tên hiệu trên mạng) dịch có cả Đồ Hình. Tuy nhiên do một số điều kiện thì Huyền Không Đại Quái vẫn chưa có được chỗ đứng vững chắc trên Học Đàn Phong Thủy. Mong rằng sẽ có nhiều người Tâm Huyết để Huyền Không Đại Quái được phát triển tại Việt Nam. Sưu tầm
  9. Tham khảo: PHƯƠNG VỊ ĐÀO GIẾNG SAO CHO TỐT Phương thức khoan,đào giếng... Sau đây là một số kinh nghiệm dân gian về cách đào và khoan giêng sưu tầm về đẻ tham khảo và kiểm chứng . 1/. Ở các phương Bát Quái : Giếng ở các phương : _ Càn : Bị đầu nhọt lỡ, chân tê liệt, thắt cổ tự vận, bị tai nạn gãy nát đùi. _ Khảm : Bị trộm cướp , nhiều bệnh tật. _ Cấn : Vượng tài nhưng không con. _ Tốn : Tài lộc đại phát. _ Ly : Mắt yếu. _ Khôn : Giàu có , thịnh vượng. _ Đoài : Đại dâm, ứng vào thiếu nữ ; không con. 2/. Ở các phương Địa Chi : Giếng ở các phương : _ Tý : Sẽ sinh ra người điên cuồng. _ Sửu : Anh em không hòa thuận, nhà có người bị câm điếc , đui mù. _ Dần : Bị hỏa tai, bệnh hoạn. _ Mẹo : Bị tai bay vạ gió, bệnh tật. _ Thìn : Mọi việc đều bất lợi , gia trưởng bị nạn trước, rồi đến người nhà , có người nhảy sông tự trầm. _ Tị : Đạt công danh nho nhỏ. _ Ngọ : Mọi việc đều bất lợi. _ Mùi : Có công danh , giàu sang. _ Thân : Bị trộm cướp , khó sinh đẻ. _ Dậu : Trước xấu sau tốt. _ Tuất : Con nhỏ chết, con lớn bệnh, mọi việc đều bất lợi. _ Hợi : Con cháu thông minh , thịnh vượng. 3/. Ở các phương Thiên Can : Giếng ở các phương : _ Giáp : Sẽ được nhiều của , nhưng nhiều bệnh tật. _ Ất : Trai , gái đều xinh đẹp. _ Bính : Được làm quan cao. _ Đinh : Vượng về lộc và con trai. _ Canh : Sẽ giàu có. _ Tân : Nam nữ trong nhà đều trong sạch, sống có đạo đức. _ Nhâm : Phát tài , vượng nhân đinh nhưng thường có quái tật. _ Quý : Giàu có, vàng bạc đầy nhà. Các phương Giáp , Bính , Canh , Nhâm có Giếng, nếu gần suối sâu thì nam nữ trong nhà đều dâm loạn. * * * 1. Không nên để nước ô uế tràn vào Giếng. 2. Làm nhà trên Giếng cũ thì bị thưa kiện. 3. Giếng sâu quá thì không tụ tài , cô quả , dâm dật. rộng quá thì không vượng đinh, của cải lại mất dần. dài mà sâu thì thoái tài, hại nhân khẩu. sâu mà làm chỗ đất cao thì đàn bà trong nhà làm loạn. 4. Giếng làm sát bên phòng ngủ mà có thai thì sẽ trụy thai. 5. Trồng hoa bên Giếng thì sẽ cờ bạc, xa hoa. 6. Đắp tường quanh Giếng thì sẽ...yêu con ở. NGOÀI NHỮNG ĐIỀU TRÊN CHÚNG TA CÒN THAM KHẢO NHỮNG ĐIỀU KHÁC TÙY THUỘC VÀO PHƯƠNG VỊ HUYỀN KHÔNG NỬA
  10. Thầy ở khắp mọi nơi Khi Hasan, một nhà hiền triết Hồi giáo sắp qua đời, có người hỏi ông: "Thưa Hasan, ai là thầy của ngài?" Hasan đáp: "Những người thầy của ta nhiều vô kể. Nếu điểm lại tên tuổi của các vị ấy hẳn sẽ mất hàng tháng, hàng năm, và như thế lại quá trễ vì thời gian của ta còn rất ít. Nhưng ta có thể kể về ba người thầy sau của ta. Người đầu tiên là một tên trộm. Có một lần ta đi lạc trong sa mạc, khi ta tìm đến được một khu làng thì trời đã rất khuya, mọi nhà đều đi ngủ cả. Nhưng cuối cùng ta cũng tìm thấy một người, ông ta đang khoét vách một căn nhà trong làng. Ta hỏi ông ta xem có thể tá túc ở đâu, ông ta trả lời: "Khuya khoắt thế này thật khó tìm chỗ nghỉ chân, ông có thể đến ở chỗ tôi nếu ông không ngại ở chung với một tên trộm." Người đàn ông ấy thật tuyệt vời. Ta đã nán lại đấy hẳn một tháng! Cứ mỗi đêm ông ta lại bảo: "Tôi đi làm đây. Ông ở nhà và cầu nguyện cho tôi nhé!" Mỗi khi ông ta trở về ta đều hỏi: "Có trộm được gì không?" và ông ta đều đáp: "Hôm nay thì chưa, nhưng ngày mai tôi sẽ cố, có thể lắm chứ". Ta chưa bao giờ thấy ông ta trong tình trạng tuyệt vọng, ông ta luôn hạnh phúc. Có lần ta đã suy ngẫm và suy ngẫm trong nhiều năm ròng để rồi không ngộ ra được một chân lý nào. Ta đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, tuyệt vọng đến nỗi ta nghĩ mình phải chấm dứt tất cả những điều vô nghĩa này. Ngay sau đấy ta chợt nhớ đến tên trộm, kẻ hằng đêm vẫn quả quyết: "Ngày mai tôi sẽ làm được, có thể lắm chứ!" Người thầy thứ hai là một con chó. Khi ta ra bờ sông uống nước, có một con chó xuất hiện. Nó cũng khát nước. Nhưng khi nhìn xuống dòng sông, nó thấy cái bóng của mình nhưng lại tưởng đó là một con chó khác. Hoảng sợ, nó tru lên và bỏ chạy. Nhưng rồi khát quá nó bèn quay trở lại. Cuối cùng, mặc nỗi sợ hãi trong lòng, nó nhảy xuống sông và cái bóng biến mất. Ta hiểu đây là một thông điệp đã được gửi đến cho ta: con người phải biết chiến thắng nỗi sợ trong lòng bằng hành động. Người thầy cuối cùng là một đứa bé. Ta đến một thành phố nọ và thấy một đứa bé trên tay cầm một cây nến dã thắp sáng để đặt trong đền thờ. Ta hỏi đứa bé: "Con tự thắp cây nến này phải không?" Đứa bé đáp: "Thưa phải." Đoạn ta hỏi: "Lúc nãy nến chưa thắp sáng, nhưng chỉ một thoáng sau đã cháy sáng. Vậy con có biết ánh sáng từ đâu đến không?" Đứa bé cười to, thổi phụt ngọn nến và nói: "Ngài thấy ánh sáng đã biến mất, vậy ngài bảo ánh sáng đã đi đâu?" Cái tôi ngạo nghễ của ta hoàn toàn sụp đổ, pho kiến thức kim cổ của ta cũng sụp đổ theo. Lúc ấy ta nghiệm ra sự dốt nát của bản thân. Và từ đó ta vất đi tất cả những tự hào về kiến thức của mình. Đúng là có thể nói ta không có một ai là thầy, nhưng điều này không có nghĩa ta không phải là một học trò. Ta xem vạn vật là thầy. Tinh thần học hỏi của ta luôn rộng mở hơn tất cả các người. Ta học hỏi từ tất cả mọi vật, từ cành cây ngọn cỏ đến đám mây trên trời kia. Ta không có một người thầy vì ta có hàng triệu triệu người thầy mà ta đã học được mỗi khi có thể. Điều thiết yếu trong cuộc sống là luôn làm một học trò. Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là có khả năng học hỏi, luôn sẵn sàng học để biết chấp nhận ý nghĩa của vạn vật.
      • 2
      • Like
  11. Minh Đường Dương Trạch Trong học thuật Phong Thủy , trước cửa nhà được gọi là Minh Đường , tức là khoảng không gian trống trước nhà . Khoảng trống đó nên rộng , nếu là đường lộ thì nên xem có xung với nhà không ; lại cần xem độ số của nhà với minh đường , nếu tốt thì sẽ ích lợi lâu dài . Ngoài ra còn phải xem minh đường gần xa thế nào , phân ra làm nội , trung , ngoại minh đường . Thông thường đường đi được coi là ngoại minh đường , xung quanh tường bao là trung minh đường , đại sảnh gọi là nội minh đường . Minh đường có thể biểu hiện cho tiền đồ , sự nghiệp , tài vận và hoài bão khí vận , cho nên muốn có một bố cục minh đường tốt nhất định phải là một minh đường chiêu tài khí vận tốt ! 1. Minh Đường Thoáng Rộng Sẽ Dẫn Nhập Tài Khí Lựa chọn điểm buốn bán , nhất định cần chú ý phía trước của địa điểm phải thoáng rộng , nhất định phải bỏ các điểm có sự che lấp , ngáng trở minh đường . Ví Dụ : Tường bao , cột điện , hoặc cây to ….tất cat đều trở ngại cho tài khí đia vào cửa hàng . Trước mặt cửa hàng tốt nhất có minh đường thật lớn , có thể tiếp nhập tám phương sinh khí , đó tức là có được tài nguyên bốn phương khế hợp . Như có các cửa hàng , siêu thị lớn họ giảm bớt không gian bên trong đề mở rộng khoảng trống trước mặt nhàm thu được nhân khí , và cuối cúng đã có được tài khí thịnh vượng , đó chính là triết lý “ Dĩ Thoái Vi Tiến” . Đúng là một hình mẫu của chiêu nạp tài khí . 2. Làm Thế Nào Để Tài Thần Gia Gia Biệt Đãi Mình : Vật kiến trúc nếu đặt lùi về phía sau một chút , không để nó quá gần với đương xe đi , hoặc vỉa hè . Như thế trước cửa lớn sẽ hình thành một minh đường thoáng rộng , sẽ có được nhiều người tụ tập , họ chính là người mang theo Thần Tài đến , tuy nhiên như thế chúng ta cũng cần có cái phải hi sinh , thế gọi là “Buông ra để nắm lấy” . Nếu như cửa trước quá gần với vỉa hè hoặc đường đi , hoặc minh đường trước cửa lồi ra ngoài , các hàng hóa cùng xe cộ để đầy bân ngoài , sẽ hình thành cái Bố Cục Phong Thủy gọi là “Thần Tài Gia Gia qua cửa mà không vào” , hoặc “ Đem Thần Tài bỏ ra ngoài cửa .” . Còn ở những chỗ mở ra cho thuê quầy hàng tất nhiên khó có thể tạo một minh đường thoáng rộng phía trước , càng không thể bỏ bớt diện tích bên trong vì nó đã rất hẹp rồi . Lúc đó minh đường phải phụ thuộc vào minh đường toàn bộ khu vực , tài khí phân tán cho toàn bộ những người làm ăn buôn bán trong đó . Như vậy ai có tài khí và thờ phụng Thần Tài nhiều hơn tất sẽ buôn bán tốt hơn . 3. Cải Tạo Nội Minh Đường Để Chiêu Tài Khí . Trong Phong Thủy Dương Trạch , đường là thủy mà thủy thì quản tài . Trước cửa lớn có đường đi ôm vòng rồi vào nhà , tức đưa giòng khí hòa hoãn đi vào nhà , tránh được các dòng khí trực xung đại sảnh tức nội minh đường , tránh các xung sát , như thế sẽ ổn định tài vận . Nếu như đại sảnh phối hợp bố trí thêm các vật như Đèn phát hương thơm , chậu cảnh , hoa tươi , tạo cảnh đẹp đẽ . Như thế có thể tăng thêm vận khí của nội minh đường , làm tăng các điều tốt về sự nghiệp , tài vận , hạnh phúc gia đình . Thế Anh dịch
  12. PHÉP TÍNH BIẾT TRAI HAY GÁI Thất thất tứ thập cữu Vấn nương hà nguyệt hữu Trừ khử mẫu sanh niên Tái gia nhứt thập cữu Nam đơn, Nữ song số Nhược thị Nam hệ Nữ Đản phùng ngũ, bát nhựt Phùng thử khủng bất xương. CÁCH TÍNH: 1. Lấy hằng số: 49 2. Cộng với tháng người mẹ thọ thai 3. Rồi trừ với tuổi của người mẹ năm thọ thai 4. Đem con số trừ còn lại đó cộng với hằng số: 19 5. Hể ra số lẻ là con Trai, số chẵn là con Gái. THÍ DỤ 1: Mẹ 24 tuổi, thọ thai vào tháng 2. Tính coi sanh trai hay gái. Hằng số: 49 Tháng thọ thai: cộng(+) 2 được: 51 Tuổi mẹ năm thọ thai: trừ (-) 24 còn 27 Hằng số: cộng (+) 19 được: 46 —> 6 Con số 46, số 6 là số chẵn, vậy sanh con gái. THÍ DỤ 2: Mẹ 41 tuổi, thọ thai vào tháng 12. Tính coi sanh trai hay gái. Hằng số: 49 Tháng thọ thai:cộng(+) 12 được: 61 Tuổi mẹ năm thọ thai: trừ (-) 41 còn 20 Hằng số: cộng (+) 19 được: 39 —> 9 Con số 46, số 6 là số chẵn, vậy sanh con trai. Sư tầm
  13. HAI CHỬ " TẨU MÃ" ĐOÁN ÂM DƯƠNG PHONG THỦY Trên bàn ăn có một người bạn hỏi tôi: Phong Thủy tức là “Ngụy Khoa Học” hay là không ? Tôi cũng thẳng thắn đáp lại: Không phải ! Người ấy liền hỏi lại một cách cẩn thận hơn: Phong Thủy có hay không Khoa Học ? Tôi cũng bình tĩnh từ tốn đáp: Hiện nay để đoán định là Khoa Học hay chưa thì còn quá sớm, bởi vì Phong Thủy Học có mặt Thần Bí của nó, thường khó mà dùng phương pháp Khoa Học Hiện Đại để thực chứng. Tôi thường xếp Phong Thủy và Dịch Học vào một mảng kiến thức gọi là Huyền Học.Vì sao gọi là Huyền Học ? Bởi vì như Triết Gia Vĩ Đại Lão Tử của Trung Hoa Cổ Đại nói : Huyền Chi Hựu Huyền …Vì sao mà Huyền Học không thể cùng xếp vào hàng với Khoa Học ? Bởi nó còn cần có cả chữ Nhân và Chữ Trí. Tin chắc rằng chỉ dựa vào lời nói thì không thể giải đáp được hết các vấn đề, chỉ có thể lưu lại cho thế hệ sau thông minh sáng suốt hơn sẽ có lời giải! Tôi thì miệng lưỡi vụng về, câu cú bí bách, khó mà giảng giải thấu triệt được, chỉ mong các bạn có thể: Chớ luận nó có khoa học hay là không ! Hiểu rồi dùng lấy hiệu quả là được vậy ! Trong Dân Gian có một loại tuyệt chiêu Tẩu Mã (Văn Vần) đoán Phong Thủy Âm Dương, Phong Thủy Sư chỉ cần đến con đường trước nhà, đã có thể đoán chắc trong nhà người người cát hung họa phúc, sát sao thần kỳ.Cuối năm ngoái, có người học viên nói với tôi: - Thầy trông tôi đang độ tráng niên, tôi không mắc vào các tệ nạn, mà sao tôi lại hay bị sui xẻo ? rồi một mực mời tôi đến xem Âm Trạch. Người này ở Quảng Châu thôn khu Lương Sơn Điền. Mộ cha xây ở chỗ bãi cỏ rậm rạp lưng chừng núi, đã lâu không có tế bái qua, là một cái “Bị người lãng quên thành thất lạc!” rất là thê lương. Tôi bắt đầu mở La Kinh tìm hướng Bắc, thấy một cái cây đại thụ đường kính khoảng 50m, mùi hương bóng lồng lộng tại phương Nam. Cây đại thụ đó cách mộ trên dưới 9m. Sách viết rằng: “Ly Cung có Đại Thụ, ba Nguyên bị cùng cực” Ly Cung tức là để chỉ phương Nam. Tam Nguyên là để chỉ Nguyên Vận trong Lý Luận Huyền Không Phong Thủy. Một Nguyên là một Hoa Giáp 60 năm, ba Nguyên là 180 năm. Nói một cách khác, chỉ cần Trạch Mộ ở phương Nam có cây lớn che lấp, rất khó để cải biến Cục Diện Kinh Tế Quẫn Bách. Âm Trạch như thế, Dương Trạch cũng đoán vậy. Tháng 3 năm nay tôi lại đến thôn Kim Phụng trấn Lương Điền xem đất, đi qua từ đường nhà họ Phùng. Từ đường họ Phùng Tọa Bắc Hướng Nam, trước cửa có một khoảng đất bằng, tiếp ngoài hướng là ao nước, phong thủy rất tốt. Chỉ là một nhà xí ở bên bờ ao nước, rất là chướng mắt. Vào giờ Ngọ, tôi nói với trưởng họ Phùng: “Trước mặt Từ Đường chuyển cái nhà xí ấy thành lầu hóng mát thì tốt.” người họ Phùng hỏi lại: “Nhà xí không tốt hả ?” tôi nói “Nhà xí ấy phá hoại mất Phong Thủy. Tôi có thể khẳng định, trong thôn này họ nhà mình khó mà có một học sinh đại học, đúng không ?” Đáp: “90 năm trước đến nay không có, một số năm có vài người, không nhiều, thường là học đóng tiền nhiều, chứ thực lực bản thân không có !” Có một số bạn sẽ hỏi: Vì sao lại đoán thế? Đạo lý thực tế rất đơn giản. Bởi vì Từ Đường Phong Thủy trực tiếp ảnh hưởng đến hưng suy của một gia tộc. Đông Nam của từ đường là Văn Xương vị của toàn bộ người trong họ, bị đặt nhà xí vào, đầu tiên ảnh hưởng sẽ là học tập của con cháu. Sưu tầm Bếp Trong Phong Thủy Bát Trạch Lò bếp tại bát trạch phái phong thủy rất được coi trọng , lò bếp là nơi nấu các thư đồ ăn , đối với sức khỏe của các thành viên trong gia đình rất là quan trọng , có thể nói tất cả họa phúc bệnh tật đều từ đó mà ra . Bát Trạch đối với sự bố trí lò bếp có khác với các phái Phong thủy khác có chút khác biệt , không chỉ luận chỗ đặt bếp mà còn luận Táo Hướng ( Chỉ hướng miệng bếp ) . Thời hiện nay các gia đình đại đa số sử dụng bếp khí , Táo Hướng ( Miệng bếp ) là nơi núm vặn. Táo Tòa ( Nơi đặt bếp ) chỉ luận vị trí bất luận phương hướng, Táo Khẩu ( Hướng Bếp ) tất chỉ luận hướng mà không luận vị trí. Lò Bếp bản thân không tốt không xấu. Thời xưa do bếp đun bằng các nguyên liệu thô sơ nên khói bụi rất nhiều nên thường được đặt vào các vị trí xấu của bản mệnh. Táo Khẩu là nơi không khí tiến vào, kết hợp với nguyên liệu đun để nấu thức ăn, cho nên miệng bếp nên quay về nơi tốt của bản mệnh. Bát Trạch phái bài trí bếp theo nguyên tắc “ Tọa Hung Hướng Cát !” . Nói một cách ngắn gọn: Đông Tứ Mệnh nên đặt bếp Tây Tứ Quái , Miệng bếp tất quay về Đông tứ Quái! Đó là chân lý an bếp của Bát Trạch Phái ! Có thế tham khảo vị trí đặt bếp dưới đây : Bếp đặt : Tuyệt Mệnh khỏe mạnh sống lâu , nhân tài lưỡng vượng . Ngũ Quỷ hoạch phát tư tài , không tai họa trộm cướp . Lục sát phát đinh phát tài , không bệnh không kiện cáo . Họa hại vô tai vô bệnh , không thoái tài tổn nhân . Sinh khí đinh tài không vượng , tài sản tổn hao . Diên niên hôn nhân khó thành , vợ chồng bất hòa . Thiên y bệnh suốt nằm giường , trong người rất nhiều bệnh . Phục vị không tiền không thọ , cả đời nghèo khổ . Đến hướng bếp , tất nên theo hướng tốt của mệnh , hướng sinh khí sinh tài phát đinh , hướng thiên y chủ không bệnh tật trừ tai , hướng diên niên tất chủ tiến tài khỏe mạnh . Hướng Phục vị chủ mọi sự thuận lợi ! Thế Anh.
  14. Khám Phá Quái Lý Của Phái Bát Trạch Phong Thủy Trong thuật Kham Dư Địa Lý của Trung Quốc, đối với sự kết hợp tốt xấu của nhà ở, lý luận của phái Bát Trạch có chỗ đứng rất quan trọng, các tác phẩm kinh điển của môn phái này như “Dương Trạch Tam Yếu” , “Bát Trạch Chu Thư” , “Bát Trạch Minh Kính” ( “Bát Trạch Minh Kính” được dịch giả Thái Kim Oanh dịch ở Việt Nam với cái tên là “Bát Trạch Minh Cảnh” ) do các tác giả thời xưa viết vẫn được lưu hành rộng rãi và đều được các nhà nghiên cứu hiện nay lấy nó làm căn cứ. Phái Bát Trạch tương truyền do một vị cao tăng đời nhà Đường có Pháp Hiệu là Đường Nhất Hạnh tổng hợp sáng tạo ra. Ngài là một thiền sư thông hiểu Phật Pháp lại rất giỏi về Kinh Dịch, thuật số. Lý luận căn bản của nó là lấy Dịch Lý Tiên Thiên Hà Đồ làm lý luận căn bản, lấy phương vị Hậu Thiên Bát Quái làm ứng dụng. Ngoài ra nó còn phảng phất một số tri thức của phái Phong Thủy Mũ Đen trong Phật Giáo Tây Tạng Mật tông.Bát Trạch phái được các thuật sĩ hành nghề trong dân gian ứng dụng rất nhiều, nó phân ra làm hai loại trạch ( Nhà hoặc Mồ mả) : Đông tứ trạch và Tây tứ trạch rồi phối theo người mà phán định tốt xấu. Càn Khôn Cấn Đoài là Tây tứ trạch, Khảm Ly Chấn Tốn là Đông tứ trạch. Tọa sơn lập hướng là Tây tứ trạch thì dùng bốn phương vị Tây làm cát để kê đặt bếp, mở cửa, dùng cho người ở, còn bốn phương vị Đông thì là hung, không thể mở cửa, làm bếp, người ở càng không nên. Đông tứ trạch cũng suy như thế. Cần nhắc lại một lần nữa nguyên tắc chủ yếu là lấy phương vị hậu thiên bát quái để đoán định, tuy nhiên thực tế là Lý Luận Bát Trạch lại xuất phát từ Tiên Thiên Bát Quái. Nó dựa trên quy luật của sự âm dương phối hợp, giao cấu, sinh thành. 1. Sự phối hợp của Đông, Tây tứ trạch phù hợp với quy luật tương sinh của Ngũ Hành : Theo Bát Quái Tiên Thiên phối hợp với lạc thư ta sẽ thấy : Tây tứ trạch Càn Khôn Cấn Đoài trong Lạc thư có số là : 9, 1, 6, 4 Đông tứ trạch Khảm Ly Chấn Tốn trong Lạc Thư có số là : 7, 3, 8, 2 Ngũ Hành tiên thiên vốn là : 1 – 6 là thủy ở phương Bắc; 4 – 9 là Kim ở phương Tây. 2 – 7 là hỏa ở phương Nam; 3 – 8 là Mộc ở phương Đông. 1 – 6 – 4 – 9 tổ hợp thành Kim Thủy tương sinh . 2 – 7 – 3 – 8 tổ hợp thành Mộc Hỏa tương sinh. Bởi thế Tây tứ trạch là các cục Kim Thủy tương sinh; Đông tứ trạch là các Cục Mộc hỏa tương sinh. 2. Sự phối hợp bốn trạch Đông hoặc tây phù hợp quy luật hợp ngũ , hợp thập, sinh thành của Hà Lạc: Tây Tứ Trạch ( Càn Khôn Cấn Đoài ) : Càn 9 với Đoài 4 , Khôn 1 với Cấn 6 tức là 1 – 6 , 4 – 9 sinh thành Cục của Hà Đồ. Càn 9 với Khôn 1 , Đoài 4 với Cấn 6 tức là hợp lại thành 10. ( 10 tức là một mang ý nghĩa quay về với Đạo ) Càn 9 với Cấn 6 , Khôn 1 với Đoài 4 là hợp thành 15, hợp thành 5 tức là Lạc Thư âm dương giao cấu Cục. Đông Tứ Trạch ( Ly Khảm Chấn Tốn ) : Khảm 7 với Tốn 2 , Ly 3 với Chấn 8 tức là 2 – 7 , 3 – 8 Hà Đồ sinh thành Cục. Khảm 7 với Ly 3 , Chấn 8 với Tốn 2 , hợp lại thành 10 đối đãi, Thủy Hỏa tương xạ, Lôi Phong tương bạc Cục. Khảm 7 với Chấn 8 , Ly 3 với Tốn 2 , hợp lại thành 15 , 5 tức là Lạc Thư âm dương giao cấu Cục. 3. Đông Tây Trạch phù hợp quy luật Âm Dương tương phối : Theo Tiên Thiên Bát Quái có thể thấy : Càn Đoài là lão Dương; Khôn Cấn là lão Âm. Tốn Khảm là thiếu Dương; Chấn Ly là thiếu Âm. Tây tứ trạch Càn Khôn Cấn Đoài là lão Dương phối lão Âm. Đông tứ trạch Ly Khảm Chấn tốn là thiếu Dương phối thiếu Âm. Phù hợp quy luật “Lão phối lão , thiếu phối thiếu, âm dương tương phối là ý tốt” Tổng hợp lại các diều phân tích ở trên chúng ta có thể thấy Bát Trạch phái lý luận xuất phát từ Tiên Thiên Hà Đồ Bát Quái, nhưng ứng dụng vào phương vị Hậu thiên bát quái. Nó rất có Dịch lý! Có thể nói trong Phong Thủy Học thì ứng dụng ở tầng 1 là dùng Bát Trạch Pháp. Tầng thứ hai là dùng Tam Nguyên long Tam Nguyên Quái để tiến hành. Tầng thứ 3 là dùng thuyết Nguyên Vận, Linh Chính, Giao cấu cùng Long Sơn Hướng Thủy phối hợp để làm. Mỗi bước tiến qua một tầng lại ẩn chứa nhiều điều bí mật. Ở tầng thứ 2 và 3 thường là mật truyền , thế nhân biết được rất ít. Bát Trạch phái là một học phái phong thủy rất cổ lưu truyền rất rộng rãi, là tầng thứ nhất khi tác pháp. Thông thường khi truyền pháp trong Bát Trạch thường truyền kỹ thuật mà không truyền nguyên lý khiến cho người học sinh ra nghi ngờ, vu cho là ngụy pháp. Hiện nay xã hội thật giả lẫn lộn, cỏ lúa cùng mọc , cho nên tôi mạnh dạn chia sẻ bí mật nguyên lý của Bát Trạch Phái cho mọi người được rõ . Trước hết trợ duyên cho các học giả có thêm niềm tin và kiến thức tiếp tục nghiên cứu sâu thêm về Bát Trạch Phái ( Còn rất nhiều bí mật xung quanh các pháp ứng dụng của Bát Trạch ). Thứ nữa chiêu tuyết án oan nghìn năm “Ngụy Pháp” cho Tổ Sư Đường Nhất Hạnh của phái Bát Trạch. Chú Thích : Ngụy Pháp là từ được “Thẩm Thị Huyền Không Học” dùng để chỉ lý luận Bát Trạch của Đường Nhất Hạnh thiền sư. Thế Anh.
  15. LUẬN LOAN ĐẦU Nhìn Long lấy Thế, xem Huyệt lấy Hình. Thế là Thần hiện ra, Hình là Tình lộ ra. Bỏ Thế thì lấy gì nhìn Thần của Long; Bỏ Hình lấy gì xem Tình của Huyệt. Bởi thế Tổ Tông cần có Thế cao vút, Lạc Mạch cần có thế giáng xuống, Xuất Thân cần có thê che chắn, Quá Hạp cần có thế dừng lại, Hành Độ cần có thế nhấp nhô, quanh co, Chuyển Thân có chỗ dựa sau lưng, thế đi về trước. Hoặc hăm hở phi lên, tựa như tuấn mã, hoặc phô bày tầng lớp, như sóng lấn sóng...Có thế như vậy tất là Chân Long. Không được như vậy tất là Giả Long. Tuy có mạch núi đi đến, chẳng qua cũng là cứng rắn hoang dối. Thảng có hình Huyệt tất cũng là giả hoa, đó là điều chắc chắn. Pháp xem xét Thế trước cần lên cao mà quan sát, tiếp theo Thân Long mà bước, lại từ hai bên phải trái mà xem xem, đối diện nhìn kỹ, tất có Chân Thần. Chỗ linh hiển với chỗ chạy lại, chỗ dừng tụ đều có thể tự mình biết rõ. Đến như Pháp xét Hình, có sáu thể là Viễn Biển Khúc Trực Phương Ao. Tỷ mỉ là bốn Cách Oa Kiềm Nhũ Đột, tiếp lấy thừa Kim tương Thủy, Huyệt thổ Ấn mộc làm pháp chứng minh, tất là Huyệt Tình khó trốn. Thừa Kim cũng tức trong Ngũ Hành, lấy Tròn làm Kim, lấy uốn lượn làm Thủy, lấy thẳng cao làm Mộc, phàm là Chân Huyệt, tất chỗ viên động, Oa Kiềm viên tại đỉnh, Nhũ Viên tại hạ, Đột viên tại giữa, nếu trong Oa Kiềm có Nhũ Đột, trên Nhũ Đột lại có Oa Kiềm. Tức gọi là Nhật La Văn Thổ Súc, tức là Thiếu Âm và Thiếu Dương của Huyệt vậy. Thừa lại dựa Thừa ở chỗ vầng tròn, động Khí ở giữa. Nếu là giữa thủy có Viên Động có thể thừa, trái phải tất có Vi Mang, thủy quanh co bao bọc, giao nhau trước Huyệt, Tiểu Minh Đường là cái gần nhất ngay trước mắt. Giả tưởng chỗ hai thủy giao mà hướng đến. Ấn Mộc tức là chỗ bên ngoài Thủy, tức là hai bên Chân Sa chầu tụ, khép Hạp trước Huyệt, cách bức một khoảng, hợp với Thủy Nội Minh Đường. Tức cánh ve sừng trâu, tức nếu có Thủy tất ấn chứng nơi Sa đó, cũng là nơi Khí dừng thủy giao, nếu không có Sa đó tất là thoát Khí tiết tán. Không phải Chân Huyệt. Cái gọi Huyệt tất có các điều trên, lại có Ngũ Thổ Tứ Bị, là đất quý báu, đúng là Chân Huyệt. Còn như ngoại hình và nội Khí không phù hợp, thì chỉ là Giả Hình mà thôi. Huyệt chính như Huyệt của người trong châm cứu, nhất định biết nó không dễ. Nếu Tứ Vi đã đủ, ở giữa tất có khí ấm, tức hỏa Khí. Đó là cái cần khi quan sát Huyệt. Bởi vậy cái cần trong Địa Lý không hề ngoài Hình Thế. Nay đã hiểu thuật này, chẳng hư đàm Tinh Quái Phương Vị. Đó là Tinh Nghĩa, nếu ở chỗ hình thế địa lý thực tiễn trái mắt nói sằng, cải biến địa lý hỗ hào, chân nhân không biện, để nhầm người vào tà lộ. Sưu tầm
  16. Chân Núi Xem Thủy Khẩu , Lên Huyệt Ngắm Minh Đường Thủy Khẩu , tức là cửa nước lưu thông mà mắt nhìn có thể quan sát được . Thủy trong Phong Thủy Học coi là mạch máu của Long , Long không có thủy đưa đi , thì không thể biết chỗ nào Long đến , Huyệt không có thủy dừng lại , tất chẳng biết Long dừng ở đâu . Thủy Khẩu chính là nơi Long Thủy giao hội . Âm Dương là bản thể của vạn vật trên thế giới . Phong Thủy nhận rằng Long thuộc Dương, Thủy thuộc Âm, Âm Dương giao cấu tất có sinh khí lưu hành. Âm dương mạch lộ , tất cô dương bất trưởng , độc âm bất sinh . Cát Hung Họa Phúc của Phong Thủy quy cho cùng thì cũng chỉ ở chỗ Âm Dương Long Thủy có hay không xung hòa. Cũng giống như động vật giao phối sinh nở, Âm Dương giao cấu cũng hoài thai kết huyệt, Âm Dương không tương kiến hỏi lấy gì mà kết huyệt. Khí hợp nơi hình, Âm Dương hai khí con người không dễ dùng ngũ quan để cảm nhận , chỉ có thể theo tình huống, hình thể cụ thể để quán sát nhận biết . Cẩn thận quan sát hình trạng Thủy Khẩu, trạng huống của Tỏa Quan cùng tìm dấu vết Long theo phương nào , tìm đến chính xác hào tuyến Long Thủy Âm Dương giao cấu . Theo đó xem xét kết luận Long có phải Chân Long , Long có dừng laijmaf kết không, có huyệt hay không có huyệt , là Chân Huyệt hay giả Huyệt , là đại địa hay tiểu địa . Như vậy có thể nói Thủy Khẩu quan hệ vô cùng đến sự nhận Long Chân giả , đẳng cấp của huyệt cao thấp thế nào . Kinh nói : “Thủy Thị Sơn Gia Huyết Mạch Tinh”. Thủy là sự hóa sinh của Long Khí , Long từ Tổ Sơn mà đi cũng là nơi đầu nguồn của dòng thủy . Trong quá trình Long đi, thủy trước sau đều bên cạnh làm bạn , hoặc gần hoặc xa , hoặc gặp hoặc chia. Đến lúc Long kết tạo thành huyệt, thì thủy uốn lượn ôm vòng hoặc tụ dừng trước huyệt, đường chảy vương vấn như có tình. Thủy Khẩu đóng kín không đẹp hoặc vị trí không đăng đối , thế nước tất vô tình mà đi, đất đó làm gì có huyệt mà điểm, có đi chăng nữa cũng chỉ là hoa giả lừa mắt thời sư . Cho nên người đến núi xem đất , đầu tiên tất trọng Thủy Khẩu . “Minh Đường” nguyên để chỉ ngày xửa khi các Hoàng Đế ngồi tựa Bắc hướng Nam nghe việc triều chính , trăm quan triều bái cửa cung điện . Thuật Phong Thủy lấy không gian mặt bằng trước Huyệt làm Minh Đường . Phần ngay trước mộ tụ nước là Nội Minh Đường , cũng gọi là “Nội Dương” ; trong khoảng Long Hổ Án sơn là Trung Minh Đường cũng gọi là “Trung Dương” ; Ngoài Án Sơn đến triều sơn là Đại Minh Đường , cũng gọi là “Ngoại Dương” . Long từ ngàn dặm đến kết huyệt, định thế dừng hình, trước mặt chúng sơn triều lễ, chúng thủy hội tụ, giống như quần thần nghe lệnh, trăm quan kính lễ, vạn quốc triều cống, đó chính là biểu trưng của Chân Long kết huyệt . Nguyên vì Minh Đường có hay không , lớn hay nhỏ , hơn hay kém sẽ đoán được Huyệt Chân hay Giả , hơn kém chính là tiêu chí trọng yếu . Bởi thế cho nên leo lên cao xem Huyệt trước cần xem minh đường , để biết được có Huyệt hay không . Chúng sơn vây bọc Chân Long đến ; Chúng thủy tụ xứ là Minh Đường . Phong Thủy Dương Công nhấn mạnh trong thừa sinh khí , ngoài nối Minh Đường , nội khí là sự thừa tiếp tích tụ của ngoại khí , bởi thế một vòng Minh Đường tốt xấu , hơn kém với Phong Thủy của huyệt trường liên quan chặt chẽ . Tóm lại Minh Đường tốt nhất nên Bằng Phẳng , Thong Thả , Khai Mở , Sáng Đẹp , Vuông Tròn Nhuần Nhị ; Kỵ nhất là nghiêng đổ , bế tắc hoặc quá ư rộng rãi . Thủy Khẩu , Minh Đường là yếu tố đầu tiên và cơ bản của điểm huyệt , hai điều nếu hợp pháp độ thì là Huyệt Chân , nếu sai pháp độ thì là Phi Địa . Thế Anh Dịch.
  17. Tư liệu tham khảo: XÁC ĐỊNH TÀI VỊ BẰNG BÁT TRẠCH VÀ HUYỀN KHÔNG Làm Thế Nào Để Tìm Kiếm Tài Vị Và Thôi Tài 怎样寻找财位与催财 Tài Vi Chủ Trạch Và Cá Nhân Tài Vị 住宅财位与个人财位 Tiền là nguồn gốc để nuôi sống con người , con người ham muốn có tiền và tìm kiếm tiền đó là Thiên Kinh Địa Nghĩa ; Tác giả trong cuốn “Mệnh lý ứng dụng tinh giải” đã viết “ Mỗi người có một thời gian phát tài một thời gian phá tài , nên tại phương vị lợi mà cầu tài , tại phương vị bất lợi cầu tài , một đời có nhiều chỗ ủng hộ nhiều hoặc ít về tiền tài , trong tứ trụ của mỗi người tàng chữa các thông tin , nếu chúng ta nắm rõ các thông tin này trong tay thì theo đó mưu sự cầu tài , quyết không sai lầm tạo ra thất bại , ít ra cũng đảm bảo 50% thắng lợi . Tuy nhiên thực tế kiểm nghiệm cho thấy việc dựa vào mệnh lý để tăng tài vận thực chất rất thụ động , chỉ duy có tại phương vị lợi lạc làm các biện pháp thôi tài là có tính chủ động hơn , đây tức là vận dụng Phong Thủy Dương Trạch để cải biến tài vận đưa đến . Nếu được thêm tài tinh của cá nhân đương vượng thì năng lực tăng càng mạnh , tất nhiên phát tài , tiền tài có lúc hơn lúc kém , nếu vào thời gian phá tài , nhưng chúng ta vận dụng tốt các biện pháp thôi tài thì tất nhiên vẫn có những thu nhập nhất định . Nói tóm lại xét trong một góc độ nào đó thì các biện pháp thôi tài của Khoa Phong Thủy vẫn mang tính chủ động và là một biện pháp tốt để hỗ trợ các cơ hội tài chính cho con người . Phương Pháp Xác Định Tài Vị Nơi Ở 确定住宅财位的方法 (1)Xác Định Tài Vị Theo Phái “Phái Bát Trạch”“八宅派”确定住宅财位。 Phương pháp xác định tài vị của phái bát trạch không thể tách rời với tám quái vị . Bởi Bát là chỉ tám phương vị , Trạch là chỉ phòng ốc . Liên quan đến sự tính toán tài vị của Phong Thủy Bát Trạch có rất nhiều sách khác nhau , nhưng đại đa số lấy cửa lớn và mệnh quái để xác định , tôi cho rằng cách tính như vậy chưa thật đầy đủ để xử dụng , nhất là hiện nay cũng ta ở trong thành thị thì các căn hộ chung cư , thực tế chỉ có một cửa lớn để khí nhập vào nên khó khăn cho cách tính này . Bởi thế nó không thể đại biểu cho tọa hướng , sắc thái , nạp khí cho toàn bộ các phòng , vì thế tôi đề nghị lấy tọa sơn của nhà làm căn cứ xác định Bát Trạch . Bát Trạch và cửu cung quan hệ lấy tọa sơn khởi phục vị . Bát trạch , tức là tám quái sơn của phòng ốc , đó chính là lý luận cơ bản của “Bát Trạch Phái” . Ví như nhà ở tọa Tý hướng Ngọ , Tý tại phuong bắc thuộc quẻ Khảm , quer Khảm quản 3 sơn Nhâm Tý Quý , nên nhà ở mà tọa vào 3 sơn đó thì đều tính là thuộc quẻ Khảm gọi là Khảm Trạch . Sau khi đã tính được nhà thuộc quẻ gì rồi thì lấy mệnh quái của chủ trạch theo phép du niên biến quái được tám sao , bốn cát bốn hung như sau : Bốn Cát : Sinh Khí , Diên Niên , Thiên Y , Phục Vị . Bốn Hung : Tuyệt Mệnh , Họa Hại , Ngũ Quỷ , Lục Sát . Bát Trạch phái lấy các cung vị này bài bố vào trong nhà , rồi lấy các cung sinh khí , diên niên đặc biệt là Thiên Y làm phương Tài Vị . 2. Phương Pháp Xác Định Tài Vị Của Phi Tinh Phái : Phong Thủy Học có một câu : Sơn quản nhân đinh , thủy quản tài . Chỉ một câu này đã bộc lộ Thiên Cơ của Phong Thủy . Trong phân kỳ của Phong Thủy học muốn xác định tài vị nhất định phải xem thủy . Thủy động Sơn Tĩnh , trong nhà tất cả các vật như hồ nước , bể cá , máy phun sương , máy giặt , phong thủy luân , máy lạnh , cửa , cửa phụ cửa sổ , chỗ trống trải , chỗ lõm xuống tất cả đều là động thủy , kể cả những chỗ ánh sáng có thể xuyên qua , chỗ đáy lõm đều tính là thủy . Thủy trong Huyền Không học , tại mỗi nhà mỗi nguyên vận đều có sự biến hóa không giống nhau , thủy cũng cũng không cố định vị trí nữa . Muốn xác định tài vị trước hết cần lập tinh bàn của nhà đó rồi căn cứ vào đó mà xác định . Quan trọng nhất là hướng tinh , rồi đến sơn tinh , sau cũng đến vận tinh . Tuy nhiên quan trọng nhất phải theo sự phối hợp giữa Hướng tinh và Sơn Tinh mà luận . Sự phối hợp này chủ yếu căn cứ vào Ngũ Hành . Rồi tiếp đến xem xét đến vượng suy . Ví Dụ : 68 , 78, 62 , 72 nếu có một sao đương vượng thì đoán là : Giàu có gần bằng Đào Chu kiên kim gặp thổ . Thêm một số tổ hợp như sau : 1. 28 có nghĩa là : Cự Nhân Cấn Khôn , Điền Liên Thiên Mạch 2. 216 , 217 có nghĩa : Thổ Chế Thủy Phức Sinh Kim Định Sinh Điền Sản Chi Phú 3. 829 có nghĩa : Thiên Thị Hợp Bính Khôn , Phú Kham Địch Quốc . 4. 68 , 78 , 62 , 72 có nghĩa : Giàu có gần bằng Đào Chu ; kiên kim gặp thổ . Ngoài ra các tổ hợp : 16、17、13、14、29、31、39、41、43、49、66、67、76、86、87、99 nếu là đương vượng thì không vượng nhân đinh cũng thúc đẩy phú quý . 3. Kết Hợp Phi Tinh Huyền Không Và Bát Trạch Để Xác Định Tài Vị . Khi kết hợp hai phái này chủ yếu là lấy sự đồng bộ về tin tức . Khi cả hai bên đều cho kết quả tốt thì tất nhiên hiệu quả sẽ mạnh , nếu có sự sai khác tất nhiên hiệu quả sẽ suy giảm . Thông thường kết quả nhiều năm cho thấy nếu có sự sai biệt thì nên lấy phi tinh làm trọng thì hiệu quả sẽ tốt hơn . Đặc biệt nếu xét về Ngũ hành mà phi tinh được du niên sinh cho hoặc khắc được du niên thì vẫn tốt . Thế Anh dịch
  18. Thông Huyền Linh Kinh Quỷ Linh Kinh là do Lăng La Tử đời Tống làm ra , chuyên luận về thuật Kham Dư , nội dung rất diệu , linh ứng dị thường , không có sách nào được như thế . Thế nhân luận Phong Thủy , thường rối rắm không giống nhau , đều do không nắm được bí quyết , cuối cùng khó thâm nhập Đạo Lý , vì người mở núi điểm huyệt, sao có thể xu cát tỵ hung, sách này áo diệu, không xem lai long khứ mạch, sa thủy la bàn cũng bỏ , chỉ quan trọng thấy cảnh sinh tình, chạm đến ứng biến, một động một tĩnh, một cỏ một cây , dều xem cho rõ ràng , biết chỗ đến chỗ đi , trăm lần không sai . Chưa lên núi mà biết trước gia đạo thịnh suy ,tiếp đến cửa là quyết định đinh tài mạnh hay yếu . Xem mộ mới mà biết mộ cũ , xem nền nhà biết khí sắc , nhỏ như sợi lông cũng không qua , chính là diệu pháp không quá ba bốn câu , nghìn vàng chẳng truyền thế nhân , mai sau có người chân thành , với người hiếu nghĩa thông minh , mà nhà nghèo không có cái ăn cái mặc , thì truyền thụ cho , nếu không biết chữ thì truyền khẩu cho , chẳng bao lâu sẽ sáng rõ , sẽ có tiếng lưu hậu thế , cũng là giàu có ! Âm Trạch Nhập Phần Đoán Vào núi xem mộ , bỗng nghe gió thổi tùng , ám tàng cái tượng sát phạt , lại nghe tiếng vượn hót hổ gầm , cùng là chim kêu bi thương , đều là cái tượng bi thương bất cát , ứng đoán quan tai , thị phi , ly biệt , tật ách tai họa , từ xưa đến giờ chẳng bao giờ không ứng nghiệm . Xem vùng đất bằng phẳng , nên nhìn kỹ hình trạng của mộ , vỏ ngoài của quách , hai bên của áo , hoặc tổn thương nát vụn không ngay ngắn , tô điểm trang hoàng , tất cả đều dùng làm cơ sở phán đoán . Chuyện xưa có một nắm rõ phép này , vào mùa đông năm mão đến xem mộ cho một người bạn , chưa cần đến đất , tại trong thuyền xem tới , thấy trên mộ phần bóng tùng che kín , xanh biếc một màu , tiếp đến khi cập bờ bên chân trái ngẫu nhiên đạp vụn một viên gạch , xem kỹ là một cái nghiên bị vỡ , mộ đó táng sau hai mươi năm ngành trưởng tất phát khoa giáp , định rất phát đinh tài lưỡng vượng , phú quý miên trường , mọi người đều kính phục . Lại xem một mộ , lên đến bờ , chỉ thấy hai con chim thước theo nam phương hót bi thương , rồi theo phía tây bay đi , hoát liền mấy tiếng , tiếp đến nơi , thấy rừng tùng sơ sác , màu sắc úa tàn , đúng là cảnh điêu linh , tức đoán rằng : chỗ này sau khi táng , tất liên tao hồi lộc , tổn đinh hao tài , mọi người khâm phục . Có một người nhà giàu mời tới xem mộ , vừa đến nơi , thầy đưa mắt nhìn , chỉ thấy cây tùng xanh biếc , địa thế bình thản , nước đẹp trong xanh , ánh quang ngùn ngụt , Đỉnh đầu ứng xuất cho phòng thứ, chính trong lúc đàm luận, chỉ thấy một người cưỡi ngựa Thanh Thông mà đến, vụt nói, phát giàu sang, chính ứng trên thân nhân mộ ấy, theo người ấy, đã được nhẹ bước mây xanh liên tiếp, khoa giáp đứng đầu. Có một người học trò mời Thầy xem đất, chưa ra đến mộ, lập tức nói: Mỗ cũ này ứng vào một con, nửa năm mùi thì hoàn tất, họ rất kinh phục, sang năm trong nhà có người vào trường thi đứng đầu bảng, mọi người đều không tin, sau đều như đoán. Trước lại có người mời Thầy xem mộ, nguyên bởi đường xa, dùng thuyền nhỏ mà đến, sau đến nơi mộ, bỗng gãy mái chèo, người chèo không biết phải làm sao, chủ nhân bảo bỏ chèo lấy sào chống, đến bờ lau cỏ trải tận xuống mép nước, đến lúc cập vào bờ , bỗng thấy hai con thỏ trắng từ trong huyệt chạy ra, theo hướng Tây mà chạy, tức đoán rằng, đi thuyền gãy chèo, mọ này táng song trưởng nam gặp nạn, bờ lau xuống nước, phụ nữ đẻ khó không khỏi, trước huyệt thỏ chạy theo hướng tây nam, trong nhà con nhỏ có tai ách, quả nhiên mọi người đều công nhận. Lại xem một mộ cũng đến chỗ đất, xa trông có một cái tháp, khoảng nửa dặm, mà đỉnh tháp bắn thẳng vào mộ, bởi thế đoán rằng : Mộ này táng song, chủ tổn nhân khẩu cùng trẻ nhỏ, lại có sự về đèn lửa. Lại đến một chỗ, gần chỗ trước huyệt, nhìn thấy một cây cổ thụ bóng rợp , phong cảnh tiêu sơ, có một loại khí thanh nhã, tượng siêu phàm, liền đoán rằng : Mộ này táng song xuất nghề nghiệp thanh cao, phong lưu cao sĩ, người thích ẩn mình. Thế Anh Trích Dịch Từ " Thông Huyền Quỷ Linh Kinh"
  19. Luận tuổi Lạc Việt đã từ lâu khẳng định câu mật ngữ Việt " Giàu con út, khó con út" hay "Giàu con út ăn, khó con út chịu" là mã khóa của nguyên lý Luận tuổi Lạc Việt. Điều này hiển nhiên rõ ràng là vậy. Trí phương khi viết bài nên có gắng tách biệt rạch ròi ra giữa những nguyên tắc của Luận tuổi Lạc Việt với những lý thuyết khác, cùng với những suy luận hay ý kiến cá nhân của chính mình, tránh trường hợp nhầm lẫn hay lập lờ. Thiên Đồng
  20. Thiên Đồng Thiên Đồng
  21. Tư liệu tham khảo: PHONG THỦY SƯ TƯỞNG ĐẠI HỒNG Tưởng đại Hồng sinh vào cuối thời Minh và sống qua tới đầu thời nhà Thanh, là một nhà Phong thủy nổi tiếng của thời đại đó, đồng thời cũng là người được chân truyền những bí pháp của Huyền Không. Tuy đương thời ông không viết sách để nói về phương pháp chọn hướng của mình, nhưng qua một số trường hợp mà ông chọn hướng cho người khác, được đệ tử của ông là Khương Diêu kể lại trong tác phẩm “Tòng sư tùy bút”, chúng ta cũng có thể đoán là ông chỉ dùng đơn hướng, chứ ít khi dùng kiêm hướng. Ngoài đoạn văn đã được trích dẫn trong bài “PHƯƠNG PHÁP CHỌN HƯỚNG NHÀ (2)”, thì còn một số đoạn văn khác xin được trích ra dưới đây để bạn đọc tham khảo thêm: 1) Thẩm hiếu Tử người Đông Quan, hạ táng người thân, địa sư điểm huyệt sơn THÌN hướng TUẤT kiêm ẤT-TÂN (tức kiêm 3 độ chứ không nhiều). Phu tử cùng tôi đi ngang qua đó, thấy Hiếu Tử ôm quan tài khóc lóc thật là thảm thiết. Thầy quan sát biết là người hiếu hạnh, mới sửa lại lập sơn CÀN hướng TỐN (chú thích của người viết: tức đơn hướng chứ không kiêm độ nào cả. Một điều bạn đọc cần biết là người xưa khi lấy tọa-hướng, tuy không nói rõ bao nhiêu độ, nhưng nếu tọa-hướng đó bị kiêm, dù là chỉ kiêm1 hoặc 2 độ thì họ sẽ luôn nói kiêm thêm tọa-hướng nào vào). Sau khi táng mười năm, Hiếu Tử nhờ buôn bán mà khá lên, tích lũy được hơn mười vạn, sinh được nhiều con trai tướng mạo đều khôi vĩ, thông minh hơn người. Lúc táng là vận 2 Thượng nguyên, mùa xuân năm GIÁP NGỌ. * Chú thích của người viết: mộ chôn vào vận 2, lấy tọa CÀN hướng TỐN thì đắc vượng khí của Hướng tinh tới hướng, vượng khí của Sơn tinh tới tọa, tức là được “ĐÁO SƠN, ĐÁO HƯỚNG” nên vượng phát cả tài lẫn đinh. Nếu chọn tọa THÌN hướng TUẤT kiêm ẤT-TÂN như những địa sư khác chỉ thì mộ sẽ bị vượng khí của Hướng tới tọa, vượng khí của Sơn tới Hướng, tức là bị cách “THƯỢNG SƠN, HẠ THỦY” chủ phá bại cả về nhân đinh lẫn tài lộc. 2) Mùa xuân năm ẤT DẬU (vận 2), Tiên sinh điểm huyệt cho nhà họ Thương, dùng sơn CẤN hướng KHÔN (tức cũng dùng đơn hướng). Chúng tôi bàn luận thì thấy phạm “THƯỢNG SƠN, HẠ THỦY”, vả lại còn phạm “PHẢN-PHỤC NGÂM”. Không hiểu vì sao lại dùng Sơn-Hướng như vậy, bèn hỏi thầy. Thầy mỉn cười nói:”Các con chờ xem ngày sau huyệt này như thế nào”? Chưa tới 2 năm, nhà họ Thương tài, đinh, phú quý đều có đủ cả 3. Năm ấy vào mùa Đông, thầy cũng lại dùng Sơn-Hướng đó điểm huyệt cho nhà họ Vương, sau gia đạo của họ Vương cũng ngày càng hưng thịnh. Tôi hỏi thầy 3 lần, thầy chỉ cười mà không đáp, (nên) không biết đây là phép gì? * Chú thích của người viết: Vận 2 lập tọa CẤN hướng KHÔN thì toàn bàn (9 cung) sẽ đắc TAM BAN QUÁI (sẽ nói trong 1 bài khác) nên tài, đinh, phú quý đều có đủ. Chỉ vì Khương Diêu chưa được Tưởng đại Hồng dạy cho bí quyết này nên mới còn bỡ ngỡ, chỉ nhìn thấy được những cách “THƯỢNG SƠN, HẠ THỦY” và “PHẢN-PHỤC NGÂM mà thôi. Nhìn vào 2 đoạn văn trên, cộng với đoạn văn đã được trích dẫn trong bài “PHƯƠNG PHÁP CHỌN HƯỚNG NHÀ (2)”, chúng ta có thể thấy là Tưởng đại Hồng khi chọn hướng thường là lấy đơn hướng, chứ không lấy kiêm 3 độ như 1 số phái khác hay làm, bất kể những tọa-hướng đó là thuộc về những Sơn thuộc Địa Chi (như những sơn TÝ, SỬU, DẦN, MÃO...) hoặc Tứ Ngung (là CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN). Điều này cũng phá bỏ những lý thuyết cho rằng những Sơn thuộc Tứ Ngung (CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN) và Thiên Can (GIÁP, ẤT, BÍNH, ĐINH, CANH, TÂN, NHÂM, QUÝ), khí của chúng đều quá mạnh, nên không thể lấy đơn hướng (tức lấy tuyến chính giữa để lập hướng). Nếu lấy thì hung họa sẽ tới, cho nên khi gặp những hướng đó thì đều phải kiêm 2, 3 độ, tức là để tránh những trường khí quá mạnh đưa tới!!! Dưới đây là 1 đoạn văn khác gián tiếp cho thấy sự sai lầm của lý thuyết trên như sau: “Thông gia của tôi (tức Khương Diêu) nhờ địa sư Quảng Diên ngoài 10 năm mới tìm được 1 cuộc đất cực đẹp. Năm GIÁP TÝ, niên hiệu Khang Hy thứ 23, vân 1, sơn NHÂM hướng BÍNH. Sau khi táng 1 năm thì toàn gia bị bệnh dịch chết hết. Con cháu của họ tranh cãi về chuyện này cho tới nay vẫn chưa dứt. Phu tử Đỗ Lăng (tức Tưởng đại Hồng) lên núi quan sát thì cười mà nói:”Cuộc đất này đúng là đẹp, đáng tiếc phạm vào “Phản ngâm, Phục ngân” gặp họa vì táng không đúng thời vậy”. Đọc đoạn văn trên chúng ta thấy đối với Tưởng đại Hồng thì nguyên do dẫn tới tai họa không phải là vì tọa-hướng thuộc Thiên Can (NHÂM-BÍNH) mà lại lấy đơn hướng, mà chỉ vì lập trong vân 1, Sơn-Hướng tinh 1-1 đều đến phía BẮC tức là bị “Phục ngâm”, Sơn tinh số 2 là Sinh khí tới Hướng nên bị “Hạ thủy”, Hướng tinh số 9 tới hướng (phía NAM) là suy khí mà còn bị “Phục ngâm”. Đó mới chính là nguyên do dẫn đến tai họa mà thôi. Còn một số trường phái khác lại cho rằng khí của những Sơn thuộc Địa Chi, nhất là những Sơn của Tứ Chính (tức TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU) thì khí trường của nó cực mạnh, cho nên không được lấy đơn hướng, mà phải kiêm 2, 3 độ để tránh lực của nó thì mới không bị tai họa!!! Rất tiếc là trong sách vở không có thí dụ nào của Tưởng đại Hồng (hay những bậc danh sư khác) về những hướng này. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào bản đồ trung tâm của Thủ đô Washington của Hoa Kỳ, với hầu hết nhà cửa, dinh thự của chính phủ và tư nhân đều cất theo 4 chính hướng TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU mà nói rằng vì thủ đô của nước Mỹ thiết kế phạm phải 4 hướng của Tứ Chính, cho nên những ai làm việc và sinh sống tại đây sẽ nghèo đói và bị nhiều tai họa hơn những thành phố hay thủ đô khác thì thật là không có gì sai lầm hơn vậy. Sưu tầm DƯƠNG QUÂN TÙNG - Dương Cứu Bần, tên Ích, Tự Thúc Mậu, Hiệu Quân Tùng. “Giang Tây Thông Chí” chép rằng : Quân Tùng, người Đậu châu. Làm Quốc Sư đời Đường Hy Tông, làm quan đến Quang Tử Quang Lục Đại Phu, chưởng quản Linh Đài. Vào năm Hoàng Sào phá kinh thành, ông bỏ vào núi Côn Lôn. Tương truyền vào lúc hỗn loạn ông lấy được cuốn sách trong hộp ngọc của Hoàng Gia (Ngọc Hạp Thư). Bởi vốn dĩ học thuật Huyền Không Phong Thủy chỉ được lưu hành trong chốn cung đình thuộc quyền sử dụng của Hoàng Tộc. Bước rồng một bước qua Kiền Châu, Ông mang thuật Địa Lý ra thi hành nơi thế tục, xưng là Cứu Bần Tiên Nhân, mất nơi Kiền Châu, chôn tại Trung Quân Khẩu. “ Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư” phần Tử ( Thầy ) cũng viết “ Quân tùng danh Ích, người Cám Châu” . - Dương Quân Tùng sinh vào năm Đường Thái Hòa thứ 8 ( Tây Lịch 834 ) ngày 8 tháng 3 giờ Tuất, năm thứ 3 Đường Thiên Hữu ( Tây Lịch 906 ), gặp người hại ngầm, trúng độc mà chết, hưởng thọ 72 tuổi. Ông được an táng tại Dương Công thôn, làng Khoan Điền huyện Đô tỉnh Giang Tây bên bờ Mai Giang. Sau này do lũ từ trên núi đổ xuống, bờ sông lở vỡ mộ Dương Công dịch chuyển vào dáy sông, không còn thấy dấu nữa. Có thể nói Dương Quân Tùng là người tập đại thành cho Phong Thủy Học của Trung Hoa. Đối với người đi trước như Xích Tùng tử, Quách Phác…ông không bỏ sót ai. Đối với thế hệ đi sau các Lý Luận của ông đã được phát huy tối đa để trở thành các học phái lớn như Huyền Không Phi Tinh Phái, Tam Hợp Phái, Giang Tây Phái (Diêu Giang Phái), Quảng Đông Phái (Mân Phái), Phúc Kiến…. Các trước tác của ông hoặc được cho là của ông gồm: “Hám Long Kinh”, “Nghi Long Kinh”, “Thanh Nang Áo Ngữ”, “Thiên Ngọc Kinh”, “Ngọc Xích Kinh”… Các thế hệ sau kế tiếp ông có rất nhiều nhân vật xuất sắc như Tằng Văn Địch, Liêu Vũ, Lưu Giang Đông , Lại Bố Y ...thậm chí đã làm một vùng Văn Hóa Phong Thủy đặc sắc tại Cám Nam mà trung tâm là huyện Hưng Quốc – Trung Quốc. HOÀNG THẠCH CÔNG Có một nhân vật mà chắc chắn ít người học Phong Thủy biết đến nhưng lại có vị trí vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của Phong Thủy Học, đó là Hoàng Thạch Công, ông tên thật là gì không ai biết, người ta chỉ biết đến ông thông qua một nhân vật vĩ đại khác, là người khai quốc mở ra lịch sử nhà Hán 400 năm, đến khi công thành đã nhanh chóng thoái ẩn Tu Đạo - Trương Lương. Tương truyền sau khi được thử thách lòng kiên trì nhặt giày cho một Lão Ông, Trương Lương khi đó còn rất trẻ đã được truyền thụ cho cuốn sách "Tam Lược" sau này dùng các học thuật phò giúp Hán Cao Tổ Lưu Bang dựng nghiệp từ tay trắng...Và cũng vì lời hẹn ước "13 năm sau ngươi sẽ gặp ta. Hòn đá màu vàng ở chân núi Cốc thành phía Bắc sông Tế là ta đó!" mà người ta gọi vị Trưởng Bối đó là Hoàng Thạch Công (Ông Đá Vàng) chứ tên thật và hình tích chân thực ra sao thì không ai biết ... Trong Phong Thủy học có lưu truyền một câu "Đệ Nhất Tiên Sinh khán Tinh Đẩu; Đệ Nhị Tiên Sinh tầm Thủy Khẩu; Đệ Tam Tiên Sinh mãn sơn tẩu" ý nói các vị Thầy Phong Thủy ở vào hàng thứ nhất muốn Điểm Huyệt thì xem Tinh Đẩu mà bày Quái Hào; Các vị ở tầng thứ hai thì căn cứ vào Thủy Khẩu để phán đoán chỗ kết Huyệt; Còn như hàng cuối cùng thì vác La Kinh lặn lội khắp nơi để tầm long tróc mạch...đây chính là chỗ người học Phong Thủy có nắm được hay không Hoàng Thạch Công Phiên Quái để từ đó theo Long Mạch phán đoán nơi có thể kết Huyệt Trường...Ôi vẫn là Tham - Cự - Lộc - Văn - Liêm - Vũ - Phá mà diệu dụng khôn lường ...Đó là cái công lớn lao của Hoàng Thạch Công vị Tôn Sư ẩn nhẫn và Trương Tử Phòng người học trò kiên nhẫn vậy ! QUÁCH PHÁC Quách Phác (276 - 324 sau Công Nguyên) là một Văn Học Gia và Huấn Hỗ Gia (Chú giải các Kinh Điển) đời Đông Tấn. Ông tên chữ là Cảnh Thuần, người ở Văn Hỷ Hà Đông (nay thuộc Sơn Tây). Ông được xếp hàng đầu chuyên về Cổ Học Văn Kỳ Tự, Từ Phú, ông cũng có nghiều nghiên cứu về Âm Dương Thuật Toán Ngũ Hành cũng Bốc Phệ Dịch Kinh. Ông từng chú giải rất nhiều dinh điển quan trọng như Chu Dịch, Sơn Hải Kinh... Quách Phác được hậu thế coi trọng là bậc Tổ Sư Khai Sơn của Học Thuật Phong Thủy, luận về Phong Thủy Học không thể không nói đến Quách Phác. Trong sách "Tấn Thư" nói về ông như sau "Phác chuyên học Kinh Thuật, sâu rộng có tài cao", "Giỏi về cổ văn kỳ tự, có hiểu biết sâu sắc về thuật toán âm dương ngũ hành", "Hiểu sâu sắc về bói Dịch và Ngũ Hành, chuyển họa tránh tai, thông biến vô cùng"...Tương truyền ông là người viết Táng Thư là người đầu tiên nói đến hai chữ Phong Thủy “葬者,乘生气也。经曰:气乘风而散,界水则止古人聚之使不散,行之使不散,行之使有止,故谓之风水” (Táng giả, thừa sinh Khí dã. Kinh viết: "Khí thừa Phong nhi Tán, giới Thủy tắc chỉ, cổ nhân tụ chi sử bất tán, hành chi sử bất tán, hành chi sử hữu chỉ, cố vị chi Phong Thủy). Cũng theo truyền thuyết Thành Ôn Châu (Nay vẫn còn) là do Quách Phác lợi dụng địa thế tự nhiên sử dụng các gọn núi xếp thành hình sao Bắc Đẩu mà kiến thiết. Khi đó mọi người định ở tại bờ bắc của sông mà kiến thiết thành mới, cho mời Quách Phác điểm đất, ông đi thuyền qua bờ bắc xem đất, nhận thấy đất nơi ấy quá nhẹ, không để xây thành được, mới đi qua bên này sông, trèo lên dãy núi phía Tây Bắc, xem thấy các ngọn núi hình thành nên một chuỗi tựa hình sao Bắc Đẩu, Hoa Cái Sơn khóa ngay cửa khẩu, liền nói với mọi người: "Nếu kiến thiết Thành mới ở phía ngoài núi, có thể tụ được Phú Quý, song e có nhiều họa chiến tranh, nếu kiến thiết Thành ở trong núi, có thể giữ được sự an định lâu dài" do đó mọi người đồng lòng kiến thiết Thành Ôn Châu dựa vào trong núi. Chỗ núi mà Quách Phác leo lên quan sát từ đó có tên là Quách Công Sơn, để lưu dấu công tích một vị Đại Sư về Học Thuật Phong Thủy. Nói đến Quách Phác tất không thể không nhắc đến bộ sách "Táng Thư" nổi tiếng của Ông. Trong bộ sách này lần đầu tiên các thuật ngữ về Phong Thủy Học đã được sử dụng như Sinh Khí, Tàng Phong, Đắc Thủy, Hình Thế, Tứ Linh, Phương Vị ...Sau này cho dù Phong Thủy Học đã phát triển thành nhiều môn nhiều phái, song các Tri Thức Căn Bản này đều được các Phái khai thác sử dụng rất nhiều. Phong Thủy Học của Quách Cảnh Thuần Tiên Sinh không chỉ là một bộ môn học thuật đơn thuần, cao hơn nữa nó chân chính là một Triết Lý Nhân Sinh về Hiếu Tâm (Lòng Hiếu Nghĩa) của con người. "Cho nên Danh Mộ trong thiên hạ đều ở tại chỗ đó. Đều là Chân Long phát tích, xa xa trăm dặm, hoặc hơn mười dặm mà kết Một Huyệt, tại chỗ Kết Huyệt là Núi bọc vòng vòng bảo vệ nâng đỡ, nước chảy quang co nuôi dưỡng, tầng tầng lớp lớp, sa thủy tụ tập, nương tựa trước sau. Hình thành một Huyệt tất là do tinh anh sông núi, ngưng kết dung hội mới thành được. Muốn lấy được cái Tinh Anh đất trời đó, lấy di cốt cha mẹ mà táng tại nới đó, gửi gắm cả tương lai con cháu chỗ ấy, cho nên cũng là chỗ ký thác Tâm vậy. Ký thác Tâm ấy nên có cảm thông, tạo phúc cho hậu thế. Là Tâm của người có Trí Tuệ thông chỗ Khí, Khí lại thông với Trời, lấy cái Linh của Tâm người thông với cái Linh của Đất Trời Càn Khôn, giáng Thần dục Tú, là hợp lại nguồn sinh tức....Bởi vậy Tung Sơn xuất hai Đại Thừa Tướng, núi Ni Khâu sinh ra Đức Khổng Tử, nào phải ngẫu nhiên đâu ?! chẳng phải chôn xương cốt đâu, là chôn Tâm Người đó vậy."...
×
×
  • Create New...