-
Số nội dung
6278 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
75
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Thiên Đồng
-
Nguyễn Ánh 9 ‘Mổ Xẻ’ Thanh Lam, Đàm Vĩnh Hưng, Hà Hồ
Thiên Đồng replied to Thiên Sứ's topic in Thơ Ca Văn Chương Nghệ Thuật
Lan Ngọc: Ngày xưa như Đàm Vĩnh Hưng chỉ hát đám cưới 27/08/2013 09:25 | Giải trí (VTC News) – Theo danh ca Lan Ngọc, ngày xưa với giọng như Đàm Vĩnh Hưng và cả những ca sỹ nổi tiếng khác hiện nay thì chỉ hát đám cưới hay hát mấy chỗ nhỏ nhỏ. Theo dõi bài phỏng vấn dậy sóng làng nhạc của nhạc sỹ Nguyễn Ánh và phản pháo của Đàm Vĩnh Hưng trên Báo Điện tử VTC News, danh ca Lan Ngọc quyết định lên tiếng để góp một tiếng nói khách quan, trung thực về giới nghệ sỹ và đời sống âm nhạc hiện nay. Chia sẻ trực tiếp với phóng viên VTC News vào tối 26/8, danh ca Lan Ngọc không muốn gọi là danh ca mà bà muốn gọi là ca sỹ một cách bình thường dù bà là ca sỹ rất nổi tiếng Sài Gòn trước 1975, được đánh giá là 'thanh sắc vẹn toàn'. Ở tuổi ngoài 65 với hơn 46 năm tuổi nghề, bà vẫn đi hát và theo dõi đời sống âm nhạc Việt hiện nay. Danh ca Lan Ngọc (ảnh: Phượng Hoàng) Phóng viên VTC News ghi lại những chia sẻ của danh ca Lan Ngọc: Theo tôi thấy, những lời nói của nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 là chính xác chứ không có gì là sai hết! Một người nhạc sỹ chân chính, biết sáng tác, có bề dày về trình độ hiểu biết âm nhạc như ông đã dám nói thẳng không ngại đụng chạm. Nhiều người cũng biết vậy nhưng họ ngại nói vì sợ đụng chạm. Dĩ nhiên sự thật mất lòng, ai cũng thích người ta khen mình chứ không thích bị chê. Cái chê của nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 cũng không có gì là ghê gớm, đó là sự thật. Nói thẳng ra, ông Nguyễn Ánh 9 chỉ nói về một số cái tên lớn, chứ nhiều người khác tôi cũng thấy họ hát không chấp nhận được. Nghe nhạc phẩm "Bên tượng đài Bác Hồ" do danh ca Lan Ngọc Với tôi, nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 là người anh, người thầy từng tập bài hát cho tôi, Khánh Ly, Hồng Vân…ngày xưa. Ông có tính tình hiền lành. Giờ ông ấy già rồi mà bị Đàm Vĩnh Hưng nói vậy, thành ra chắc ông ấy cũng đang rất đau buồn lúc này dù nói sự thật. Nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 có tính tình hiền lành. Tôi không có ác cảm gì, cũng quý Đàm Vĩnh Hưng nhưng Đàm Vĩnh Hưng tính bốc đồng, thích nói gì thì nói mà không nghĩ đến hậu quả của lời nói. Ai góp ý thì mình nên nghe, giá mà Đàm Vĩnh Hưng biết nghe thôi, đừng nói gì nữa! Một người bé là Đàm Vĩnh Hưng phản ứng với một nhạc sỹ lão làng như ông Nguyễn Ánh 9, bảo ông ấy là ngụy quân tử, kịch sỹ, đeo mặt nạ… như thế là không được. Với người lớn, bậc cha chú như thế thì dù đúng hay sai mà nói như vậy đều là hỗn. Đàm Vĩnh Hưng là nghệ sỹ nổi tiếng rồi, được tổ đãi đi hát kiếm ra tiền. Nếu xét về nghệ thuật thì cách hát của Đàm Vĩnh Hưng, những người làm nghệ thuật họ không chấp nhận nhưng mà hát như vậy vẫn có khán giả xem, hâm mộ nhiều như vậy là trời cho, đâu cần phản ứng vậy? Đàm Vĩnh Hưng đang ở tuốt trên cao, mà ông ấy cho xuống dưới thành ra tự ái nổi lên. Nếu có trình độ thì im lặng, không nên nói gì hết mà phải nghĩ ‘Bố Ánh có nhận xét vậy cũng kệ, con vẫn đi hát, con vẫn kiếm tiền được nhiều, con vẫn có nhiều người hâm mộ…’ thì nó đẹp hơn những lời nói nặng nề như vậy. Tôi thấy là mỗi người có một tính,một phản ứng khác nhau. Tôi chưa biết những ca sỹ sau này có phản ứng như Đàm Vĩnh Hưng hay hơn nữa không, tùy theo trình độ văn hóa của họ nhưng tôi nghĩ không nên. Nếu tôi là Đàm Vĩnh Hưng tôi không nói gì hết, có tức quá thì tới nhà mời ‘Bố Chín’ đi uống café, tâm sự ‘Bố ơi, con rất thương bố và bố cũng rất thương con mà sao bố nói con nặng thế, rớt xuống hạng C luôn’, thì ông ấy chắc cũng ‘thôi thì bố nhận xét lỡ lời…’. Là người ngoài cuộc nhưng tôi thấy rất buồn. Giờ Đàm Vĩnh Hưng muốn nói gì thì nói khi nóng lên, nhưng có thể một tuần, một tháng sau, Đàm Vĩnh Hưng nghĩ lại mới nhận ra. Có thể bây giờ Đàm Vĩnh Hưng chưa hối hận nhưng 10 năm sau, khi qua tuổi bồng bột, lớn rồi mới học hỏi được nhiều. Bây giờ, coi vậy chứ Đàm Vĩnh Hưng hãy còn trẻ, còn non, hiếu thắng lắm! Bây giờ, coi vậy chứ Đàm Vĩnh Hưng hãy còn trẻ, còn non, hiếu thắng lắm!' - Danh ca Lan Ngọc Tôi nói thật, với những ca sỹ trẻ bây giờ, nếu như họ ở ngày xưa thì không thể nào hot được. Nhiều ca sỹ giờ hot lắm nhưng tôi nghe không được, chất giọng không có, chỉ được cái nhảy, đẹp, trẻ. Ngày xưa, nói thẳng không phải chỉ Đàm Vĩnh Hưng mà những giọng nổi tiếng khác nữa chỉ hát đám cưới hay hát mấy chỗ nhỏ nhỏ. Đàm Vĩnh Hưng không xấu trai, ăn mặc cũng được nhưng đôi khi quá lố. Về giọng, Đàm Vĩnh Hưng chưa phải là gì ghê gớm, nhưng cũng có giọng lạ. Ca sỹ mỗi người mỗi giọng, dở nhưng cũng có người thích ăn đồ dở, đó là chuyện bình thường. Trước đây thế hệ chúng tôi, những nghệ sỹ không bao giờ phản ứng như vậy vì rất có tôn ti trật tự. Một người ca sỹ đàn chị đi trước dù không có tên tuổi nhưng những ca sỹ đi sau nổi tiếng hơn vẫn phải chào đàng hoàng khi gặp. Bây giờ, nhiều ca sỹ trẻ đôi khi không có văn hóa dù họ được cắp sách đến trường. Thành ra, gặp tôi họ cũng giương cặp mắt lên dòm. Ví dụ họ quá nhỏ không biết tôi là ai thì cũng phải biết chào, không lẽ tôi lớn tuổi thế này mà phải chào trước à? Ca sỹ trẻ nhiều người được cha mẹ, thầy cô dạy dỗ nhưng không tiếp thu. Ngày xưa, nghệ sỹ có trật tự đâu ra đó. Ca sỹ gặp nhạc sỹ, nhạc công khi chưa lên sân khấu hát cũng phải chào thưa chú, thưa anh và lên hát xong, giới thiệu người khác thì cũng phải chào chú, chào anh rồi đi, chứ không phải hát xong là xách chiếc bóp nghênh mặt lên đi luôn không biết thiên hạ xung quanh là ai như một số ca sỹ trẻ giờ. Nhận xét thẳng thắn của nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 đáng để những người làm âm nhạc suy nghĩ lại. Làm nghệ sỹ, ca sỹ, nhạc sỹ bây giờ hát dễ dãi quá. Hãy so sánh những nhạc sỹ sáng tác ngày xưa và nhạc sỹ bây giờ. Ngày xưa, người nhạc sỹ tâm huyết sáng tác bằng cảm xúc thật, thành ra âm nhạc của họ đi vào lòng người. Những ca khúc của các nhạc sỹ nổi tiếng từ trước 1975 như Đoàn Chuẩn, Từ Linh, Văn Cao, Doãn Mẫn, Đỗ Nhuận, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng… người ta vẫn hát tới giờ. Sau 1975, những ca khúc của nhiều nhạc sỹ cũng đi vào lòng người ta, để đời đến giờ và trăm năm sau vẫn tồn tại. Giờ, có nhiều bài hát nổi lên vài năm rồi sau đó im ắng, nhiều bài không có gì hay mà đứng đầu bảng này bảng kia. Các nhạc sỹ trẻ hiện nay phải nhìn lại mình khi sáng tác những bài tầm bậy tầm bạ. Họ sáng tác lời ngô nghê, ngốc nghếch mà cũng lăng xê lên. Bây giờ, đa số họ sáng tác theo đơn đặt hàng kiếm tiền chứ không phải bằng xúc cảm trong người như những nhạc sỹ ngày xưa nên dĩ nhiên là những bài tồi. Từ khâu sáng tác, nhiều bài giờ nghe rất rẻ tiền, sân khấu thì bày lên như ngoài vỉa hè với đủ trà đá, sữa chanh, hút thuốc lá…đâu cần phải vậy? Nhiều bài hát giờ nhí nhố, tựa đề gây sốc, đó không phải là nghệ thuật. Đúng ra, nhà nước phải không cho phát hành những bài như vậy để đám con nít nghe bị nhiễm tầm bậy tầm bạ. Cách đây vài năm, ca sỹ toàn hát lipsync (hát nhép - PV) và chỉ đứng nhảy nhảy. Còn giới nghệ sỹ như lớp chúng tôi, hát không bao giờ lipsync, hát thật và bằng giọng trời cho, nội tâm theo bài hát của nhạc sỹ. Người nhạc sỹ đưa xúc cảm thật vào bài hát và người ca sỹ truyền tải lại lần 2 và mới đến khán giả. Người nhạc sỹ đưa xúc cảm thật vào bài hát và người ca sỹ truyền tải lại lần 2 và mới đến khán giả' - Danh ca Lan Ngọc (Ảnh: Bá Ngọc) Ca sỹ bây giờ nhờ nhiều công nghệ thu âm, hát chưa được một câu lại phải dừng để sửa chứ không như ngày trước. Trước chúng tôi hát, chỉ cần nhạc công đánh non một nốt hay ca sỹ hát sai một nốt là phải hát từ đầu đến cuối để thu lại. Vì vậy, ca sỹ phải hát tốt. Bây giờ như vậy, các ca sỹ không hát được đâu! Nói thẳng ra, Thanh Lam giọng tốt và nhiều ca sỹ ngoài Bắc giọng hát tốt vì họ phát âm không sai, không bị đớt nhưng nhiều khi không hiểu sao họ lên hát lại làm quá lố. Chẳng hạn như bài hát Phôi pha của Trịnh Công Sơn thì ca sỹ hát bình thường thôi cũng rất hay, đâu cần phải ngồi bệt xuống sân khấu mà hát như người lên đồng, không cần phải ấn tượng bằng cách này cách kia mà hãy bằng giọng hát của mình. Thành ra, nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 nói vậy cũng đúng thôi, lo về kỹ thuật quá làm bài hát không còn xúc cảm. Nhưng vì báo chí cứ đăng lên họ là diva nên mới vậy. Diva của nước ngoài họ giỏi kinh khủng lắm nhưng đếm trên đầu ngón tay, họ cũng chỉ có vài diva. Còn Việt Nam thì diva, danh ca, ông hoàng, nữ hoàng, bà chúa… nhiều, tự các nhà báo lăng xê nói trên trời quá! Nếu một ca sỹ chân chính, dù xứng được như vậy cũng phải sợ những từ “đao to búa lớn” thế lắm. Mình cứ hát thực bằng trái tim, bằng giọng hát thật khiến khán giả nghe phải rung động. Đó mới là một người ca sỹ đích thực. Bây giờ mặc hở hang, đưa cái này cái kia lên rồi được báo chí lăng xê là nổi tiếng. Tôi nói xin lỗi, bây giờ có tiền cũng nổi tiếng, mời nhà báo này nhà báo nọ tới nhà hàng ăn uống rồi đưa phong bì là được lên báo. Báo chí thổi phồng, đưa lên quá cộng thêm fan hâm mộ cuồng làm người nghệ sỹ ngộ nhận tưởng là mình hát hay quá. Trong âm nhạc và nghệ thuật nói chung bây giờ, rất thiếu những nhà phê bình. Có thể họ chán nản, buồn bã không muốn nói tới nữa. Nhiều khi, những ông nhạc sỹ có phê bình nhưng chỉ ngồi nói với nhau vì họ không muốn mích lòng, động chạm người khác như ông nhạc sỹ Nguyễn Ánh 9 giờ vậy. -
Cách Giải Nghĩa Lá Bài Tarot Ngược Truy cập vào những website hướng dẫn đọc Tarot miễn phí, bạn thường nhận thấy các lá bài ngược thường được mô tả dồn dập theo những từ ngữ kịch tính như “lừa dối”, “phản bội”, “ly hôn” và “lừa đảo”. Với những giải nghĩa dạng này, không mấy ngạc nhiên khi người ta lại sợ những lá bài ngược và thường chọn cách hoàn toàn không sử dụng chúng. May thay, những lá bài ngược này còn mang nhiều ý nghĩa tích cực hơn so với những gì các website này áp đặt. Để tránh tâm trạng lo lắng khi đọc bài Tarot với những giải nghĩa tiêu cực và kịch tính của các lá bài ngược, bạn cần tìm hiểu sâu hơn về những cách thức giải nghĩa các lá bài này. Từ đó, bạn có thể sử dụng các lá bài ngược một cách hiệu quả để cung cấp cho chính bạn và/hay người bạn xem bài (khách hàng) những nhận định thấu suốt sâu sắc, những góp ý và tư vấn mang tính xây dựng, và niềm hy vọng được đổi mới. Có nhiều phương pháp để giải nghĩa một lá bài Tarot bị đảo ngược. Tôi đã liệt kê tám phương pháp mà tôi tin là phổ biến và hữu ích nhất. Những phương pháp này có thể được áp dụng cho mọi lá trong một bộ bài Tarot. Ý nghĩa truyền thống. Khi bạn lần đầu sở hữu một bộ bài Tarot, nó sẽ thường đi kèm với một cuốn sách nhỏ (LWB). Cuốn sách này liệt kê những ý nghĩa truyền thống của lá bài Tarot, và nếu may mắn, nó cũng sẽ bao gồm nghĩa của những lá ngược. Các ý nghĩa truyền thống được dựa trên nguyên bản và đã được chỉnh sửa lại bởi những tác giả sử dụng những bộ bài theo phong cách Rider Waite Smith, Etteilla hay Marseilles sau này. Những ý nghĩa này khá giống với những gì bạn đọc được trên những website đọc bài miễn phí được đề cập ở trên. Ví dụ, lá Three of Wands ngược được giải nghĩa như sau – “Động cơ kín đáo. Ngờ vực, phản bội, lừa dối. Kẻ phá bĩnh bằng cách gây bất hạnh. Phần thưởng cho lao động.” Lời khuyên ở đây là sử dụng những ý nghĩa truyền thống như một điểm khởi đầu. Tuy nhiên, để tạo ra được cái nhìn thấu đáo sâu sắc có ý nghĩa cho người được xem (khách hàng) của bạn, bạn sẽ cần vận dụng những phương pháp khác được liệt kê trong bài viết này. Đối lập với lá bài xuôi. Đây có lẽ là một trong những cách phổ biến (đơn giản) nhất cho việc giải nghĩa các lá bài Tarot ngược, bằng việc đơn giản là lấy nghĩa đối lập với ý nghĩa của lá bài xuôi tương ứng. Ví dụ, lá xuôi Ten of Pentacle thể hiện đảm bảo tài chính, gia đình nhà cửa ổn định và một sự nghiệp thành công. Đối lập với điều này sẽ là không đảm bảo tài chính, gia đình đổ vỡ và công việc bị đe dọa do phải sắp xếp lại. Điều bạn thật sự cần ở đây là cẩn thận với phương pháp này do nó có thể hướng bạn đến nhiều giải nghĩa tiêu cực và có thể tạo ra nhiều nỗi sợ và nghi ngờ một cách không cần thiết, thay vì tạo ra hy vọng và niềm tin. Hãy xem xét thêm những lá bài khác trong lượt rải bài để giúp người được xem (khách hàng) tìm ra cách thoát khỏi tình thế khó khăn. Năng lượng lá bài được tăng hoặc bị giảm. Theo phương pháp này, năng lượng của lá bài xuôi sẽ mạnh lên hay bị yếu đi. Ví dụ, lá xuôi Ten of Sword thể hiện một kết thúc đau thương, sự phản bội và bị đâm sau lưng. Nếu năng lượng bị yếu đi, lá Ten of Swords ngược có thể ám chỉ một giai đoạn khó khăn sắp kết thúc và người được xem (khách hàng) đang bắt đầu hàn gắn những vết thương trong quá khứ. Nếu năng lượng được nâng lên, người được xem (khách hàng) có thể đang phải đấu tranh để thoát ra khỏi một giai đoạn khó khăn và vẫn còn cảm thấy bị phản bội và tổn thương. Việc nhận biết năng lượng đang tăng lên hay bị giảm xuống phụ thuộc vào những lá bài xung quanh, thông tin phản hồi của người được xem (khách hàng) và khả năng tâm linh của bạn. Quay trở lại hàm ý của lá bài trước đó. Phương pháp này bắt nguồn từ Paul Fenton-Smith trong cuốn sách của ông, Mastering The Tarot: A Guide To Advanced Tarot Reading And Practice (Hướng Dẫn Đọc Tarot Nâng Cao Và Thực Hành) và đây cũng là một trong những phương pháp tôi hay dùng nhất. Nó tạo ra hy vọng và hướng đến người được xem, và đây là một cách giải nghĩa các lá bài ngược dễ dàng cho những người mới bắt đầu với Tarot. Nguyên lý cơ bản là người được xem không biết được nghĩa xuôi của lá bài trước đó và do đó phải quay trở lại lá này trước khi có thể đọc tiếp.Ví dụ, lá Two of Pentacles ngược hàm ý rằng để người được xem quản lý hiệu quả các cam kết tài chính của họ, họ cần quay trở lại lá Ace of Pentacles để các định các mục tiêu tài chính và lập các kế hoạch phù hợp để đạt được những mục tiêu đó. Lưu ý rằng, khi lá Ace xuất hiện ngược, bạn cần quay trở lại lá Ten, và khi lá the Fool xuất hiện ngược, bạn cần quay lại lá the World. Đối với các lá Court Cards, King quay trở lại Knight và Queen quay trở lại Page, tuy nhiên ở mức độ thường xuyên hơn, các lá court card ngược phản ánh các tính cách tiêu cực của một cá nhân. Năng lượng bị khóa. Năng lượng của lá bài xuôi bị khóa hay kiềm chế theo một cách nào đó. Ví dụ, lá Six of Wands ngược có thể cho biết rằng một sự thiếu tự trọng và tự quảng cáo đang ảnh hưởng đến khả năng của bạn để dẫn đến thành công. Và lá Five of Cups ngược đề xuất rằng bạn không nên nuông chiều bản thân để tránh khỏi một tình huống đáng thất vọng. Sự trì hoãn. Các lá bài ngược có thể hàm ý sự chậm trễ liên quan đến chính lá bài đó. Ví dụ, lá Eight of Wands ngược đề xuất rằng các kế hoạch từng tiến rất nhanh đang dần bế tắc và bạn đang bắt đầu cảm thấy thất vọng. Lá Wheel of Fortune ngược cho thấy rằng một dự án hay một sự thay đổi lớn có thể sắp xảy đến nhưng bạn đang gặp khó khăn khi bắt đầu. Nhận thức vô thức. Trong các lượt giải bài khi tôi hỏi Tarot về những ý nghĩa mà mình đã lĩnh hội được, tôi thường giải nghĩa một lá bài ngược với tư cách của người được xem chưa nhận thức được về một hàm ý cụ thể nào đó. Theo đó, năng lượng của lá bài vẫn nằm trong tiềm thức và chưa được bộc bộ cho người được giải. “Không”. Trong một lượt giải bài có/không (yes/no reading), một lá bài ngược có thể hàm ý đơn giản là “không”. Giờ đây, với ít nhất tám phương pháp về cách giải nghĩa một lá bài Tarot ngược, có lẽ bạn đang thắc mắc “Làm cách nào tôi biết khi nào sẽ áp dụng phương pháp nào?!” Vâng, đó là lý bạn phải nỗ lực nhiều năm trời để trở thành một Tarot reader giỏi! Tuy nhiên, sau đây là một vài mẹo nhỏ có thể giúp bạn biết được nên sử dụng phương pháp nào: Thỏa thuận trên tinh thần rằng chỉ sử dụng một phương pháp duy nhất. Hãy truyền đi thông điệp đến nguồn siêu nhiên trước một lượt giải bài về việc bạn chọn cách đọc các lá bài ngược, ví dụ. “Tôi sẽ giải nghĩa tất cả lá bài ngược trong trải bài này theo cách khóa năng lượng”. Theo cách này, nguồn siêu nhiên sẽ thực hiện thông điệp của bạn thông qua các lá bài liên quan, rằng bạn đang giải nghĩa chúng theo một cách nhất quán. Đi theo bản năng. Đôi khi bạn tự “biết” những gì lá bài hàm ý đến. Trực giác của bạn có thể đang hướng bạn đến một hàm ý đặc biệt. Xem xét những lá bài khác trong trải bài. Hãy tìm kiếm chủ đề xuyên suốt những lá bài khác nhau trong loạt trải bài của bạn. Ví dụ, lá Four of Cups ngược kết hợp với lá Hermit có thể đề xuất rằng người được xem (khách hàng) của bạn đang cô đơn quá lâu và sống khép kín với thế giới xung quanh. Ngược lại, lá Four of Cups ngược kết hợp với Nine of Cups ngược có thể hàm ý rằng người được xem đã mất sự kết nối với nội tâm của họ và những cơ hội bên ngoài cũng không được đáp ứng đầy đủ. Kinh nghiệm. Đôi lúc, bạn thực sự cần đến kinh nghiệm. Ví dụ, đến giờ tôi biết được rằng bất cứ khi nào tôi thấy lá Three of Cups ngược trong một trải bài về mối quan hệ, thì 90% nó hàm ý rằng nó liên quan đến một người thứ ba và thường thì người được xem chính là người thứ ba đó. Để giúp bạn xây dựng được kinh nghiệm cho bản thân, hãy tìm kiếm ý kiến phản hồi từ người được xem/khách hàng của bạn để hiểu được cách thức những lá bài biểu hiện trong cuộc sống của họ. Hãy thực hiện việc này không chỉ liên tục và trực tiếp sau mỗi lần đọc bài, mà vài tuần hay vài tháng sau đó nữa. Tìm hiểu xem cách thức một lá bài cụ thể đến với cuộc sống của người được xem và ghi nhớ lại cách nó đã được xem và cảm nhận như thế nào. Nếu bạn vẫn trong quá trình học hỏi và chưa đọc bài cho người khác, hãy đọc một quyền sách hướng dẫn Tarot về đề tài này để học hỏi các kiến thức về các lá bài ngược từ chính kinh nghiệm của mình. Bằng cách thực hiện hai việc này, bạn sẽ có thể xây dựng một bộ “các câu chuyện” xoay quanh mỗi lá bài mà sau đó bạn có thể sử dụng chúng trong những lần đọc trong tương lai. Thực Hành Đọc Các Lá Bài Ngược Bước 1: Chọn lựa ngẫu nhiên một lá bài từ bộ bài Tarot của bạn. Áp dụng mỗi phương phápnhư đã nêu bên trên để tạo ra những ý nghĩa ngược khác nhau cho lá bài đó (bạn có thể ghi chép lại hoạt động này). Bước 2: Nghĩ đến ba tình huống khác nhau liên quan đến lá bài ngược. Ví dụ: bạn lựa chọn lá ngược là Four of Swords. Một tình huống có thể có thể là bạn đã tự mình làm việc và không cho phép bản thân ngơi nghỉ hay thư giãn, kết quả là bạn ngã bệnh và phải nghỉ việc một tuần. Hãy thêm những tình huống này vào giải nghĩa của bạn. Bước 3: Trong tuần tiếp theo, suy ngẫm về năng lượng của lá bài ngược mà bạn chọn và xác định tình huống ngoài đời thực xảy ra trong suốt tuần này để minh họa cho lá bài. Cũng vậy, ghi chép những tình huống này vào sổ tay của bạn. Tác giả Brigit Esselmont là một Tarot reader chuyên nghiệp được công nhận bởi Hiệp Hội Tarot Úc. Brigit có 15 kinh nghiệm về Tarot hiện là người sáng lập Biddy Tarot, hiện là tác giả của 02 cuốn sách bán chạy nhất về Tarot: The Ultimate Guide to Tarot Card Meanings và Tarot Foundations: 31 Days to Read the Tarot with Confidence. http://mystichouse.vn/cach-giai-nghia-cac-la-bai-tarot-nguoc/
-
Xác Định Thời Gian Trong Tarot “Khi nào điều đó xảy ra?” – Câu hỏi đơn giản và vô cùng quen thuộc với những ai sử dụng tarot. Chúng ta thường dành nhiều thời gian cho việc chờ đợi. Bạn vừa nộp hồ sơ và không biết bao giờ người phỏng vấn sẽ trả lời, bạn đang tìm kiếm người yêu và bao lâu họ sẽ xuất hiện … Với tâm lý của khách đi xem tarot, họ luôn mong muốn có thời gian cụ thể để hi vọng, để trông chờ vào. Khi chúng ta biết được chút ít về tương lai, trong vô thức, chúng ta đang hấp dẫn cái kết quả mà chúng ta mong đợi/lo sợ nhất xảy đến. Tuy vậy, câu hỏi về “Khi nào?” luôn là vấn đề đau đầu cho các Reader khi phải đối diện với khách của mình. Rất ít khái niệm về thời gian được đề cập hoặc hiển thị trên các lá bài và trong sách hướng dẫn. Có rất nhiều phương pháp, mình xin tổng hợp lại dưới đây để mọi người có thể tham khảo và chọn cho mình một phương pháp thích hợp nhất. Phương pháp 1: Số học Cách này thích hợp cho những bộ không có hoạt cảnh (theo chuẩn Tarot de Marseilles hoặc Tarocchi hoặc bài Tây). Ưu điểm của những bộ này là bạn sẽ không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố hoạt cảnh thường diễn tả theo tình tiết câu chuyện của lá bài chứ không có ngụ ý ám chỉ thời gian cụ thể. Khuyết điểm của chúng là quá tốn kém và dường như bộ bài này chỉ dùng vào mục đích duy nhất là “dự đoán thời gian”. Cách thức tiến hành: + Bước 1: thu thập dữ kiện từ các bộ ẩn phụ Bộ Tiền (Pentacles): nguyên tố đất, tính chất/di chuyển chậm chạp nhất => Tượng trưng cho Năm Bộ Ly (Cups): nước, nhanh hơn đất => Tượng trưng cho Tháng Bộ Kiếm (Swords): khí, tốc độ khá nhanh => Tượng trưng cho Tuần Bộ Gậy (Wands): lửa, nhanh nhất => Tượng trưng cho Ngày + Bước 2: thu thập dữ kiện từ số thứ tự của quân bài - Ace – 10: từ 1 đến 10. - Page: 11. - Knight: 12. - Queen: 13. - King: 14. + Bước 3: Kết hợp các thành phần trên lại ta sẽ có câu trả lời về thời gian. Ví dụ: - Ace of Pentacles: 1 năm - 4 of Cups: 4 tháng - 8 of Swords: 8 tuần - 6 of Wands: 6 ngày - Page of Wands: 11 ngày - Knight of Cups: 12 tháng - Queen of Swords: 13 tuần - King of Wands: 14 ngày + Trường hợp đặc biệt: - Bộ ẩn chính thường không chỉ rõ thời điểm. Chúng cho ta biết cách thức kích hoạt sự kiện xảy ra. Nếu sự kiện được kích hoạt đúng và đủ ở một mức độ nào đó thì kết quả sẽ diễn ra. Nếu bạn muốn rút ngắn tiến trình, hãy cố gắng thực hiện những lời khuyên đó hơn nữa. - Một số gợi ý liên quan đến thời gian của ẩn chính: The Fool – bốc đồng, những điều xảy ra rất nhanh chóng, không có kế hoạch trước. Magician - xảy ra một cách nhanh chóng nhưng chỉ sau khi đã sắp xếp, lên kế hoạch và cần cố gắng, nỗ lực nhiều. High Priestess – chậm, sự việc chỉ xảy ra sau một cái gì đó được tiết lộ hoặc phát hiện, mất thời gian và công sức. The Empress – dần dần, ổn định, mọi thứ cần thời gian để phát triển. The Emperor – mất một thời gian dài để định hình nhưng sau đó sẽ tiến triển nhanh chóng. The Hierophant – chỉ xảy ra sau khi thực hiện các liên kết, cam kết, giao ước (tâm linh, quan hệ), sau đó sự việc sẽ phát triển tuần tự đều đặn. The Lovers – chỉ xảy ra sau khi một quyết định hoặc một sự thay đổi trong suy nghĩ, sau đó sự việc sẽ phát triển nhanh chóng. The Chariot – cần sự hỗ trợ của bên trong và bên ngoài. Cần được sự quan tâm của nhiều người. Strength – chỉ xảy ra sau khi tập trung cao độ. Tốt nhất để tiến hành một cách cẩn thận, vừa phải. The Hermit – xảy ra khá chậm hoặc sau một thời gian suy nghĩ cẩn thận, lập kế hoạch. Wheel of Fortune – sự việc xảy ra lập đi lập lại theo chu kỳ, chú ý xem nó đã diễn đến giai đoạn nào. Justice – sự việc xảy ra chỉ khi có sự cân bằng hoặc khi có quyết định, sau đó có thể tiến hành nhanh chóng. The Hanged Man – dần dần, phát triển ổn định, rất chậm, để mọi thứ tự nhiên, không có gì ràng buộc. Lời khuyên của lá này là nên dừng lại và chờ đợi. The Death – sự thay đổi lớn, bắt đầu chu kỳ mới. Temperence – phát triển vừa phải, dần dần. The Devil – sự việc dường như chững lại hoặc bị thụt lùi, sự việc xảy ra chỉ khi chúng ta đã được rút ra được bài học và bước ra khỏi quá khứ. Cần phải thay đổi nhận thức. The Tower – nhanh chóng, sự thay đổi lớn, không có kế hoạch, bất ngờ. The Star – cần phải làm mới, thay đổi nhiều thứ, sau đó sự việc mới xảy ra một cách dễ dàng đến bất ngờ. The Moon – dần dần, thay đổi tự nhiên theo chu kỳ mặt trăng. The Sun – thay đổi hàng ngày, lên xuống liên tục theo những thăng trầm trong cuộc sống. Judgement – mọi thứ chỉ xảy ra sau khi nhận thức được nâng cao và tất cả những yếu tố cần thiết đã xảy ra. The World – thời gian dài vô định; quá khứ, hiện tại và tương lai đều có ý nghĩa, hãy chiêm nghiệm nó, rất có ích cho việc bạn đang mong chờ. - Ngoài ra, một số lá ẩn chính đặc biệt cho phép bạn biết được “Thứ” xảy ra sự kiện bạn đang mong chờ: Chủ nhật: The Sun Thứ 2: The High Priestess Thứ 3: The Tower Thứ 4: Magician Thứ 5: Wheel of Fortune Thứ 6: Empress Thứ 7: The World Do tính chất của việc giải đoán thời gian, để có được những lá đặc biệt như vậy cần phải tách riêng ra hoặc tốt hơn là có 1 bộ riêng dành cho việc này. Việc này khá công phu và yêu cầu có một bộ bài riêng nên mình xin đề xuất một phương pháp khác kinh tế hơn. Phương pháp 2: Free Style Cách này giúp chúng ta có thể linh hoạt hơn, không phải ghi nhớ các quy tắc về ngày tháng, cũng không có yêu cầu về bộ bài hay chi tiết lá bài. Cách thức tiến hành: Đơn giản chỉ cần chúng ta tạo ra 1 trải bài riêng mình. Bản thân mình sử dụng trải bài như sau: Xào bài như bình thường. Bốc 4 lá ngẫu nhiên tương ứng với 4 giai đoạn trong khoảng thời gian do bạn quy định (1 năm, 1 tháng, nửa năm…) hoặc chỉ đơn giản là tương lai gần – tương lai xa – tương lai xa hơn. Giải đoán dựa vào độ tích cực hay thuận lợi của lá bài. Nếu có nhiều sự lựa chọn tốt, có thể bốc thêm 1 lá ở từng vị trí để có thêm thông tin. Ta có thể sử dụng theo trải bài mẫu sau đây: Lời kết: Thời gian là một khái niệm biến đổi liên tục. Bất kỳ sự tác động nào trong quá trình bạn thực hiện có thể làm thay đổi kết quả. Trong khi đó, tarot rõ ràng không phải là một khoa học chính xác. Chúng ta có thể thu hẹp lại phạm vi xảy ra nó hoặc có một lời khuyên mở bằng cách cung cấp cho người hỏi một số thông tin nhận diện để họ có sự chuẩn bị cho những câu hỏi về thời gian. Hi vọng qua bài viết này, mỗi chúng ta sẽ tìm ra cho mình một phương pháp phù hợp nhất để trả lời những câu hỏi về thời gian. Biên soạn bởi Kail Trailer - Tarot Council http://mystichouse.vn/xac-dinh-thoi-gian-trong-tarot/
-
Tarot of Trees - Cảm Nhận Tarot of Trees là một bộ bài đầy màu sắc, ánh sáng và có chiều sâu, diễn giải 78 lá bài xuyên suốt chủ đề về thiên nhiên và cây cối. Bộ bài chủ yếu lấy cảm hứng từ cuộc sống thực, sự pha trộn hình ảnh đôi khi có xu hướng kỳ quái. Hiện bộ bài đang được phát hành bởi chính tác giả. Tác giả: Dana Driscoll Phát hành: Tarot of Trees Deck: 78 lá Reviewer: Pandora MoonRaven Dịch: Magic Knight (Saigon Mystic House) Đây là bộ bài khiến tôi hoàn toàn ngạc nhiên. Tôi đã chờ mãi một bộ bài về chủ đề cây, nhưng không phải một bộ Oracle, mà là một bộ bài Tarot thực sự về cây đã xuất hiện. Tôi đã rất ngạc nhiên về những gì tác giả bộ bài tạo nên khi truyền tải các ý nghĩa truyền thống vào các lá bài chỉ thông qua hình ảnh của cây cối, mà không có hình bóng của một con người nào. Nhìn chung, các lá bài khá nhỏ, kích thước đo được là 2 ½ x 3 ½ inches (~ 6.4 x 8.9 cm). Nhỏ hơn một xíu so với sở thích của tôi, nhưng với những bàn tay nhỏ nhắn thì những lá bài này thật tuyệt! Mặt sau lá bài là thiết kế một cây có tán lá ở phía trên cùng và dưới cùng, cho phép lá bài có thể đảo ngược được. Bạn có thể muốn có một cuốn sách hướng dẫn in màu từ tác giả, tuy nhiên tôi đã quyết định dùng bộ bài này dựa hoàn toàn vào trực giác của mình. Bộ bài phản ánh theo hệ thống tiêu chuẩn Rider Waite Smith (RWS). Các lá Major Arcana vẫn giữ tên truyền thống với ngoại lệ là lá Hanged Man được thay đổi thành Inverted Tree. Lá Strength được đánh số 8 và Justice số 11. Tôi thực sự thích cách các lá Major Arcana có những chủ đề về mùa khác nhau liên kết với chủ đề mùa trong các lá Minor Arcana, ví dụ, lá the Chariot với chủ đề mùa thu liên kết với năng lượng của các lá Swords. Đây cũng là một cách tốt và dễ dàng để biết được suit nào mà mỗi lá trong bộ Ẩn chính Major có liên kết đến. Bốn suit Minor Arcana bao gồm Wands (Mùa Hè), Swords (Mùa Thu), Pentacles (Mùa Đông), và Cups (Mùa Xuân). Việc xem xét cảnh vật này có thể hỗ trợ tốt trong những trải bài về thời gian. Bốn lá Court Cards là Page, Knight, Queen và King. Như đã được đề cập trước đó, điều kỳ diệu của bộ bài này là khả năng từ một hình ảnh cây trong lá bài ta có thể cảm nhận được rất nhiều ý nghĩa. Sau đây là một số lá yêu thích của tôi, những lá bài thực sự cho tôi nhiều ý nghĩa nhất: Strength – Trong lá bài này chúng ta sẽ thấy hình ảnh một cây nhỏ đang treo leo trên vách đá, nó dùng bộ rễ khỏe mạnh của mình để ăn sâu vào đá giúp nó thoát được sự đe dọa. Lá bài này thể hiện khả năng thích ứng với nghịch cảnh. Sức mạnh tiềm ẩn có thể đến trong một điều nhỏ nhoi. Judgement – Chúng ta thấy trong lá bài này là hình ảnh một quả sồi nằm yên trong đất và nó đã nảy mầm để bắt đầu trở thành một cây sồi cao lớn. Hiện giờ nó dường như bé nhỏ, nhưng thoát ra khỏi hạt, cuộc sống sẽ được hình thành. The Emperor – Chúng ta thấy ở đây là một cây cổ thụ trang nghiêm và rõ ràng là già cỗi. Bên dưới nó, rất nhiều cây con đang lớn lên. Lá bài này để lại ấn tượng cho tôi, vì khi tất cả những mầm cây bé nhỏ này bắt đầu cao lớn lên dưới bóng cây của nó, chúng sẽ trở thành những cây to lớn như cây đó. Nó gợi cho tôi về sự học hỏi và dạy dỗ, về sự phát triển dưới sự bảo vệ và dẫn dắt của người thân. 2 of Swords – Chúng ta thấy ở đây là một cây bé nhỏ với một vài chiếc lá thu còn lại trên các nhành cây của nó. Nó đang phải oằn mình với trọng lượng của hai thanh kiếm lớn gác chéo lên đỉnh ngọn. Tuy nhiên, chúng ta đều biết rằng cây có khả năng phá vỡ và mọc xuyên qua các tảng đá. Cây này đang hạn chế tăng trưởng, nhưng nó vẫn có tiềm lực vượt qua vào lúc này. Queen of Pentacles – Thường tôi nghĩ lá Queen of Pentacles là hình ảnh một người mẹ, một người thầy, người giám hộ che chở và rộng lượng. Cô ấy tốt bụng, đáng yêu và thoải mái với bản thân mình. Theo hình ảnh này, chúng ta thấy một khung cảnh mùa đông và chúng ta đang trong một cơn bão tuyết. Có một đồng tiền (pentacle) đang phát sáng, và để giữ cho đồng tiền này tiếp tục ấm, sáng và an toàn khỏi tuyết là một cái cây đang oằn mình bảo vệ nó. Cô đỡ tuyết trên lưng để giữ cho đồng tiền an toàn và tiếp tục phát triển. Đây có thể hàm ý một ai đó đang nuôi dưỡng người khác về mặt tinh thần và cũng bảo vệ những khoản đầu tư mình. 5 of Wands – Nơi đây có 5 thân cây nghiêng về phía nhau, đan các nhánh cây lại với nhau. Chơi đùa hoặc xung đột. Đấu tranh, chúng đang trong không gian chật trội và chèn ép nhau. Đây có lẽ chỉ là một số ít ví dụ về lý do tôi yêu thích bộ bài Tarot này. Tôi tin rằng bộ bài được thực hiện với màu nước. Khung cảnh mùa hè của suit Wands rất nhiều màu xanh lục và lam, chúng ta sẽ thấy những cây thường xanh và tuyết trắng trong suit mùa đông Pentacles. Suit Cup sử dụng nhiều màu xanh lục và vàng để miêu tả khung cảnh mùa xuân và suit Swords với sắc đỏ và cam của mùa thu. Màu sắc được thể hiện rất tốt không chỉ cho mùa mà còn phù hợp với hoàn cảnh được mô tả trong những lá bài Tarot này. Tôi đã sử dụng những lá bài này trong các trải bài chuyên nghiệp cũng như giải bài cho bạn bè và cho chính tôi. Bộ bài Tarot of Trees này phù hợp cho mọi lứa tuổi. Các lá bài không chỉ đẹp mắt mà chúng còn hàm chứa ý nghĩa sâu sắc trong mỗi lá bài. Bộ bài rất hợp với những ai yêu thích Tarot và có tình yêu đối với nhiên nhiên và cây cối. Tôi khuyến khích dùng bộ bài này cho cả người mới bắt đầu Tarot và những reader chuyên nghiệp. http://mystichouse.vn/tarot-of-trees-cam-nhan/
-
Chuyện chưa kể về giang hồ Sài Gòn trước 1975 Trong giới giang hồ Sài Gòn thập niên 60 - 70 xuất hiện một “bóng hồng sát thủ”, đó là Lệ Hải - “người tình một năm” của ông trùm Đại “Cathay”. Bảy Viễn đã tung một cú đá xỉa bằng năm đầu ngón chân (Kim Tiêu cước) nhanh và hiểm trúng vào nhân trung (yếu huyệt) Khăm Chay khiến hắn bể sóng mũi, giập môi, gãy răng, máu tuôn xối xả... Khăm Chay lảo đảo vài bước rồi đổ gục xuống nền buồng giam. Từ đó, cọp rằn Khăm Chay lặn mất tăm. Phục ở chỗ, gã không hề dựa hơi chúa đảo người Pháp phái lính mã tà tra tấn địch nhân hay kéo bọn tù đàn em dùng số đông trả thù Bảy Viễn. Kể ra đó cũng là nghĩa khí của đấng trượng phu! Diện mạo giang hồ thời Pháp thuộc Thời Pháp thuộc, giang hồ miền Nam phần lớn là những tá điền “dốt đặc cán mai”, một chữ bẻ đôi không biết, chịu không nổi ách áp bức, bóc lột của bọn cường hào, ác bá bèn bỏ xứ đi làm trộm cướp, y như nhân vật thầy giáo Hai Thành trong vở cải lương Đời cô Lựu. Giang hồ người Hoa vùng Chợ Lớn đội lốt đoàn lân. Những nông dân tay lấm, chân bùn này trôi dạt lên Sài Gòn - Chợ Lớn sống lang thang ven kênh rạch, bến xe thổ mộ, nhà ga… Ban ngày, họ nai lưng làm cu-li. Tối đến, họ cởi áo bôi mặt nhọ nồi, lận mã tấu trong cạp quần hành nghề “đạo tặc”. Lãnh địa giới giang hồ hùng cứ vào những năm 20 - 30 thế kỷ trước là Chợ Lớn, Lăng Ông - Bà Chiểu, Xóm Thuốc (Gò Vấp), bến phà Thủ Thiêm, cầu Sắt (Đa Kao) và bến xe Lục tỉnh. Nét đặc biệt của giang hồ đầu thế kỷ 20 so với du đãng bây giờ chính là bản lĩnh. Tay anh chị nào cũng võ nghệ đầy mình, không giỏi quyền cước thì đừng hòng trụ vững ở cái thế giới “lắm người, nhiều ma” này. Khi có chuyện phải "đối thoại" với nhau bằng dao búa, họ không bao giờ ỷ lại vào lực lượng hùng hậu để “đánh hội đồng” theo kiểu “ruồi bu cùi bắp” như đám choai choai bây giờ mà sẵn sàng chơi "bặc-co" tay đôi “một chọi một”. Có thể kể đến cuộc đụng độ của Bảy Viễn với Mười Trí, quyền sư Mai Thái Hòa so tài với gã giang hồ Tư Ngang tại “hãng phân” Khánh Hội (Q.4), “thầy ngải” Nguyễn Nhiều bẻ lọi tay trùm du đãng khu lò heo Gia Định - Phillip - ở cầu Sơn (Thị Nghè)… Giang hồ xưa tuy nghèo chữ nghĩa nhưng giàu chữ “tín”, cư xử với nhau rất “nghĩa khí”, bởi thế mới sinh ra từ “điệu nghệ” do từ “đạo nghĩa” đọc trại ra. Thời kỳ này, giang hồ Sài Gòn ít nhiều chịu ảnh hưởng từ nhân vật trong các pho truyện “Tàu” được bán khắp các bến xe do nhà in Tín Đức Thư Xã ấn hành. Giang hồ khu Cầu Muối (Sài Gòn) thập niên 1950. Thực tế cho thấy, không ít tay du đãng sừng sỏ từng lấy biệt danh là Võ Tòng, La Thành, Đơn Hùng Tín, Tiểu Lý Quảng, Triệu Tử Long, Đông Phương Sóc… như là một thứ “danh thiếp”nhằm khẳng định tên tuổi trong chốn giang hồ. Những cuộc “long tranh, hổ đấu” Gần một thế kỷ đã trôi qua nhưng trong võ lâm giang hồ vẫn tồn tại 2 câu chuyện thuộc vào hàng “điển tích”. Câu chuyện thứ nhất xảy ra vào năm 1936, trùm du đãng Bảy Viễn bị đày ra đảo Côn Lôn vì can tội cướp tiệm vàng. Tại đây, hắn bị biệt giam tại phòng 5 và đã đụng độ tên cọp rằn ác ôn người Miên tên Khăm Chay - một tướng cướp trên núi Tà Lơn. Tên này võ nghệ cao cường, có luyện “gồng Trà Kha”, được chúa đảo Bouvier đỡ đầu với chính sách dùng tù Miên trị tù Việt. Trong cuộc so tài, Bảy Viễn đã tung một cú đá xỉa bằng năm đầu ngón chân (Kim Tiêu cước) nhanh và hiểm trúng vào nhân trung (yếu huyệt) Khăm Chay khiến hắn bể sóng mũi, giập môi, gãy răng, máu tuôn xối xả, tràn cả vào mồm. Khăm Chay lảo đảo vài bước rồi đổ gục xuống nền buồng giam. Từ đó, cọp rằn Khăm Chay lặn mất tăm. Phục ở chỗ, gã không hề dựa hơi chúa đảo người Pháp phái lính mã tà tra tấn địch nhân hay kéo bọn tù đàn em dùng số đông trả thù Bảy Viễn. Kể ra đó cũng là nghĩa khí của đấng trượng phu! Hình tượng giang hồ Bình Xuyên - Bảy Viễn - trong phim Dưới cờ đại nghĩa. Câu chuyện thứ 2 là khi thủ lĩnh Bình Xuyên - Ba Dương - đề nghị Sáu Cường ủy lạo gạo, tiền nuôi binh đánh Tây. Gã anh chị có chân to như “chân voi” (hai bàn chân Sáu Cường chiều dài hơn 3 tấc) đã dõng dạc tuyên bố: “Nếu Ba Dương chịu nổi một cước của Sáu Cường này thì muốn bao nhiêu gạo cũng được”. Ba Dương chấp nhận. Trận thư hùng diễn ra tại bến xe An Đông. Khi Ba Dương đến, đám thuộc hạ của Sáu Cường đồng loạt cười ồ bởi ngoại hình tay thủ lĩnh lực lượng quân đội Bình Xuyên quá “mỏng cơm”. Nhưng sau khi Sáu Cường xuất chiêu mới biết là mình đã lầm. Để khắc chế cú đá nặng ngàn cân của đối phương, thân hình Ba Dương luồn lách uyển chuyển như con rắn, dùng “xà tấn” lòn thấp người tránh né đồng thời dùng “hạc quyền” khẽ chạm vào hạ bộ của “thần cước” Sáu Cường. Liên tục 3 cú đá mạnh và nhanh như điện mà Sáu Cường tung ra, đối thủ đều né tránh tài tình. Cùng lúc, Ba Dương 3 lần dùng tuyệt kỹ võ hạc “mổ” nhẹ vào “của quý” Sáu Cường, dụng ý chỉ nhằm cảnh cáo. Biết mình đã lỡ đụng nhằm cao thủ, trùm giang hồ bến xe An Đông lập tức dừng đòn, nghiêng người cúi đầu đưa hai tay cung kính bái phục Ba Dương như một hiệp khách bại trận và tất nhiên giao kèo trước đó được hai tay anh chị thực thi chóng vánh. Không hề có chuyện Sáu Cường giở trò chơi dơ “lật kèo” ỷ nhiều đánh ít, mặc dù Ba Dương đến bến xe An Đông “phó hội” đơn thân độc mã, tay không tấc sắt. "Cao bồi" xuất hiện Sau khi chế độ Diệm - Nhu bị đảo chính và triệt hạ, giang hồ theo kiểu “108 anh hùng Lương Sơn Bạc” coi như xóa sổ. Cho đến những năm đầu 60, khi trào lưu “Làn Sóng Mới” (Le Nouvel Vague) từ phương Tây đổ bộ lên “Hòn ngọc Viễn Đông”, một số tay anh chị bắt đầu xuất hiện trở lại và chia nhau hùng cứ những khu vực manh mún ở Sài Gòn. Cụm từ “hippy choai choai” do báo chí Sài Gòn đặt, ám chỉ lớp người trẻ ăn mặc theo kiểu cao bồi miền viễn Tây Texas (Hoa Kỳ) cưỡi ngựa chăn bò với quần jean, áo sơmi ca rô sọc to xanh đỏ, giày ống cao gót, tóc dài phủ gáy, phóng xe máy Sachs như điên trên đường phố, miệng phì phèo thuốc lá Salem. Ban ngày, các "cao bồi" này “ngồi đồng” ở các quán cà phê nhạc ngoại quốc trên đại lộ Lê Lợi, Nguyễn Huệ. Trần Đại (Trần Quang đóng) đánh Bốn "lơ xe" (Tâm Phan đóng) trong phim Điệu ru nước mắt của đạo diễn Lê Hoàng Hoa. Tối đến, họ “đóng đô” ở các phòng trà, vũ trường giá “bèo” như Anh Vũ, Bồng Lai, Melody, Lai Yun (Lệ Uyển), Arc En Ciel (khu Tổng Đốc Phương), ngã tư Bảy Hiền, hồ bơi Chi Lăng, Victoria (Phú Nhuận)…, sẵn sàng gây sự và đánh lộn, đập phá, đâm chém chỉ để nhằm khẳng định mình là “cao bồi” chính hiệu! Sau cuộc chính biến lật đổ "Ngô triều" vào đầu thập niên 60, trật tự đô thị Sài Gòn trở nên hỗn độn, khó kiểm soát. Nhân cơ hội này, nhiều thành phần “cao bồi” manh nha xuất hiện, “vỗ ngực xưng tên”. Nổi trội trong giới giang hồ là những “đại ca” tên tuổi như Cà Na ở khu Tân Định (sau theo võ sư Huỳnh Tiền, đấu võ đài 8 trận toàn thắng với biệt danh Huỳnh Sơn), Bích “Pasteur”, Búp “Moderne”, Bình “thẹo”, Lộc “đen” (vua nhảy bebop), Hân “Faucauld”, Sáu “già”, Nhã “xóm chùa”… Quận 1 - vùng đất màu mỡ trù phú - do “tứ đại thiên vương” Lê Đại, Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái, Nguyễn Kế Thế chia nhau cai quản. Đám lâu la đông hàng trăm tên gồm A “chó”, Hải “sún”, Lâm “khùng” (tức Lâm “chín ngón” sau này), Lương “chột”, Hùng “đầu bò”, Việt “Parker”, Đực “đen”. Khu vực quận 3 có Minh “nhảy dù”, Cẩm “Mambo”, Lâm “thợ điện” (nhà ở đường Nguyễn Thiện Thuật bán đồ điện gia dụng), Hùng “mặt mụn” (thủ phạm đâm chết Lâm “thợ điện” ở bệnh viện Từ Dũ bằng con dao cắt bánh mì sau một vụ cãi nhau vớ vẩn vì chiếc xe đạp Martin). Xuôi về quận 5 hướng chợ Nancy rồi Đại Thế Giới (chợ Soái Kình Lâm - “đèn năm ngọn”) là lãnh địa của những trùm giang hồ người Hoa như Tín Mã Nàm (Nàm Chẩy), Sú Hùng, Hổi Phoòng Kiên, Trần Cửu Can, Ngô Tài… Bóng hồng sát thủ Trong giới giang hồ Sài Gòn thập niên 60 - 70 xuất hiện một “bóng hồng sát thủ”, đó là Lệ Hải - “người tình một năm” của ông trùm Đại “Cathay”. Lệ Hải xuất thân con nhà giàu có, gia giáo, trâm anh thế phiệt, cựu nữ sinh trường Marie Curie, thi đỗ tú tài I. Năm 17 tuổi, Lệ Hải đã thi lấy bằng lái ô tô, hằng đêm lướt đến các vũ trường trên chiếc Toyota Corolla màu đỏ cánh sen bóng lộn. Là một giai nhân giàu có lại “biết chữ”, Lệ Hải không thèm cặp bồ với những tay giang hồ thô kệch võ biền mà chấp nhận làm người tình của bác sĩ Nghiệp - một thầy thuốc có ngoại hình trí thức kèm máu du đãng nổi tiếng Sài Gòn bởi luôn có mặt bên cạnh Đại “Cathay” ở các phòng trà, động hút. Sau khi đã “hoa chán, nguyệt chê” Lệ Hải, gã bác sĩ bèn “sang tay” người tình cho Đại “Cathay” trong một đêm sinh nhật thác loạn tổ chức ở phòng trà Lido trên đại lộ Trần Hưng Đạo, Q.5. “Gái giang hồ” hội ngộ “trai tứ chiếng”, vóc dáng “du đãng mang nét mặt thư sinh” của Đại “Cathay” nhanh chóng thu hút “nữ quái” đa tình. Từ sau đêm đó, Lệ Hải bỏ nhà đi “sống bụi đời” cùng Đại “Cathay” như vợ chồng. Thế nhưng, cuộc tình “sét đánh” cũng nhanh chóng vỡ tan sau một năm chăn gối mặn nồng. Lệ Hải bỏ người tình, cặp bồ với nhiều nhân vật giàu có thế lực, vừa thỏa mãn tình lại dễ moi tiền. Với gương mặt ưa nhìn, nét đẹp thanh tú, cao ráo, trắng trẻo, lại có học thức, Lệ Hải dễ dàng dùng “mỹ nhân kế” mồi chài những ông chủ salon lắm tiền nhiều của, các dân biểu “tai to mặt lớn” hay sĩ quan tướng lĩnh Sài Gòn “vui vẻ qua đêm”. Chẳng bao lâu, Lệ Hải đã lột xác thành một nữ chúa trong giới giang hồ sau khi nhờ Đạt “ba thau” xăm trổ hình bông hồng đỏ dưới rốn và con rắn phùng mang nơi ngực trái. Qua sự giới thiệu của “nhà văn chém mướn” Nguyễn Đình Thiều, nhà văn Nhã Ca đã hội ngộ Lệ Hải tại vũ trường Ritz và được “yêu nữ” đồng ý cho chắp bút về cuộc đời du đãng của mình. Tiểu thuyết Cô hippy lạc loài ấn hành đã gây xôn xao dư luận. Những gia đình khá giả có con gái đang độ tuổi trưởng thành đọc xong tiểu thuyết của Nhã Ca đều lo ngay ngáy, ăn ngủ không yên. Ăn theo cuốn tiểu thuyết này, năm 1973, Lidac Film giao cho đạo diễn Lê Dân thực hiện bộ phim màu 35mm màn ảnh rộng với tựa Hoa mới nở qua sự diễn xuất của Bạch Liên, Vũ Thái Bình, Mỹ Hòa, Cát Phượng, La Thoại Tân, bà Bảy Ngọc, bà Năm Sa Đéc, Đinh Xuân Hòa… Bộ phim đã dự Liên hoan thanh niên thế giới lần 8 tổ chức tại Canada năm 1974. Nhà thơ trẻ Văn Mạc Thảo sau một đêm “tâm sự” cùng Lệ Hải đã cảm hứng sáng tác một bài thơ, trong đó có hai câu “Ta gọi tên em là yêu nữ/ Là loài yêu mị, gái hồ ly”. Bài thơ sau đó được Ngọc Chánh (trưởng ban nhạc Shotguns) phổ nhạc với tiếng hát nam danh ca Elvis Phương: “Loài yêu nữ mang tên em…” được giới “hippy choai choai” Sài Gòn thuộc nằm lòng. Nữ văn sĩ Lệ Hằng cũng gặp Lệ Hải tìm cảm hứng sáng tác Kinh tình yêu và Bản tango cuối cùng - 2 quyển tiểu thuyết “hit” nhất trên văn đàn miền Nam năm 1973. Tháng 4/1975, khi quân giải phóng đánh chiếm sân bay Biên Hòa, Lệ Hải vội vã cùng chồng hờ - một ông chủ salon ô tô người Hoa giàu sụ - mua tàu vượt biển di tản qua Úc rồi sau đó định cư tại Anh. Khi gã chồng Hoa kiều bất ngờ đột tử sau một đêm ân ái, Lệ Hải sống lặng lẽ, cô độc trong tòa biệt thự xa hoa, lộng lẫy, không con cái cũng chẳng có người thân, từng ngày buồn bã gặm nhấm về những tháng ngày dữ dội của thế giới du đãng Sài Gòn trong sương mù London rét buốt. Theo Dòng Đời http://kienthuc.net....975-255425.html
-
TƯ LIỆU THAM KHẢO ======================== THÔNG ĐIỆP GỞI TỪ NGÀN XƯA Huyền Cơ Hình 1 Bài viết gồm : I – Lão Oa giảng độc – Thầy đồ cóc. II – Thầy đồ cóc và chữ nòng nọc. III – Con cóc là cậu ông Trời. IV – Con cóc là cậu thầy Nho I : Tìm hiểu bức tranh dân gian Đông Hồ LÃO OA GIẢNG ĐỘC - THẦY ĐỒ CÓC Tranh khắc gổ dân gian Đông Hồ, xuất phát từ làng Đông Hồ, một vùng đất thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, một cái nôi văn hóa của nước Việt. Tuy nói là tranh dân gian, nhưng kỳ thật là do những bộ óc bác học thực hiện. Bởi vì họ nhận thức được rằng chỉ có quảng đại quần chúng mới có khả năng giữ gìn văn hóa của dân tộc được lâu dài, nên thông qua những bức tranh với những hình ảnh hết sức gần gủi với giới bình dân, người xưa đã chuyển tải những suy nghĩ của mình hay của thời đại mình, nhằm phản ảnh những buồn vui của đời sống người dân Việt lúc bấy giờ, sâu xa hơn nữa có những bức tranh mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng còn mang trong đó những thông điệp xa xưa của cư dân Việt, mà cho đến nay người ta vẫn còn tìm hiểu và khai thác. Bên cạnh hình ảnh con người, các nghệ nhân còn sử dụng những hình ảnh những con vật quen thuộc trong đời sống cư dân nông nghiệp như cóc, nhái, gà, vịt, trâu, lợn v.v nhân hóa thành những nhân vật để kể những câu chuyện của xã hội mình. Mỗi bức tranh là mỗi thông điệp, có tốt xấu, vui buồn, nhưng tất cả đều được khắc vẽ dưới một bố cục hài hòa, nỗi bậc lên nhờ những màu sắc rực rỡ. Một đất nước với một dòng lịch sử quá nhiều tang thương, đau khổ như thế mà tranh nào cũng dùng toàn những màu tươi vui thì mới biết rằng khát vọng một cuộc sống an vui, hạnh phúc bao giờ cũng là cái ưu tiên của con người, nhất là vào các ngày tết. Chính vì vậy ngày xưa tranh Đông Hồ chủ yếu phục vụ vào những ngày tết. Sau một năm vất vã, Tết là thời gian người ta tổng kết lại mình, đề ra những gì cần làm sắp tới, tùy theo mong ước của mình mà người ta chọn mua bức tranh phù hợp với nguyện vọng treo trong nhà để gởi gắm niềm mơ ước nhân dịp đầu xuân. Ai muốn con đàn cháu đống thì mua tranh “Bầy lợn âm dương”, muốn thi đổ đạt làm quan thì mua tranh “Vượt vũ môn”, muốn con cái theo đường học vấn thì treo tranh “Thầy đồ cóc” v.v. Nói chung, mục đích của tranh Đông Hồ là nói hộ cho những khát vọng, mong ước của con người, chính vì vậy những nghệ nhân sáng tác tranh chắc chắn đã phải thai nghén qua nhiều ngày tháng mới cho ra một tác phẩm hoàn chỉnh, chứ không thể là ngẩu hứng nhất thời được. Nói như thế có nghĩa là trong bức tranh không phải chỉ có hình vẽ thôi là đủ, mà còn các yếu tố khác như chất liệu giấy, màu sắc, chữ viết. Tất cả những yếu tố đó làm nên một bức tranh hoàn chỉnh và có giá trị. Tuy nhiên, như đã nói trên, tranh Đồng Hồ được sáng tác bởi những con người bác học nhưng đối tượng là dân gian, mà dân gian xưa kia đa số không biết chữ, họ được truyền miệng rằng bức tranh này thì nghĩa thế này, bức tranh kia thì dành cho nguyện vọng kia, thế là người bình dân chỉ cần ghi lại trong đầu họ những hình ảnh và ý nghĩa của bức tranh đó mà thôi, đối với họ chỉ cần bấy nhiêu là đủ. Chính vì vậy mà trải qua nhiều năm tháng, các bản khắc về sau các chữ viết trên đó không còn được người khắc tranh quan tâm nữa, nên chi ban đầu thì khắc thiếu nét, nhưng có thể đọc được, lâu dần chỉ còn lại vài nét tượng trưng, thậm chí bỏ luôn, cốt làm sao cho bức tranh gọn lại để dể in, dễ bán, vì người khắc cũng không biết chữ và người mua cũng chẳng quan tâm. Tất nhiên đối với người khắc và mua tranh thì chẳng hề gì, nhưng đối với những người nghiên cứu về sau, việc mất đi những con chữ trên bức tranh trở thành một trở ngại lớn; sâu xa hơn nữa là mất đi giá trị đích thật của bức tranh và đặc biệt là làm ảnh hưởng đến cái thông điệp mà người xưa đã gởi gắm trong đó. Cho nên cái gì mà người xưa để lại, nếu chưa giải mã được thì cố mà giữ gìn nguyên vẹn, để dành cho hậu thế có đủ cơ duyên thì tìm hiểu, chứ vì cho rằng ngày nay chẳng ai cần hiểu làm gì nên không cần thiết, từ đó hủy bỏ. Làm như thế khác gì làm cho các tiền nhân chết thêm lần nữa. Để minh chứng cho những gì tôi nêu trên, ở đây tôi xin lấy bức tranh “ Lão Oa giảng độc” hay ta thường gọi là “ Thầy đồ cóc” làm đối tượng để tìm hiểu. Nhìn vào hình 1 căn cứ vào các chữ viết trên bức tranh, ta biết rằng đây là phiên bản F3, F4 thậm chí xa hơn nữa. Vì với những con chữ ấy, đối với người rành chữ Hán thì còn đoán đọc được chữ “ lão老, giảng講, độc,讀” đồng thời căn cứ vào ngữ cảnh đó mà biết chữ “oa 蜗” chứ nếu tách riêng ra thì đố ai mà biết chữ gì? chữ “ trường 長 ” tương đối rõ, còn lại hai chữ bên dưới thì chẳng biết chữ gì. Như đã đề cập trên, chuyện chữ nghĩa trong các bức tranh dân gian Đông Hồ chẳng còn mấy ai quan tâm nữa, người khắc cũng như người mua, nên dần hồi các nét chữ biến đổi khiến cho ngày nay nhiều người quan tâm muốn tìm hiểu chẳng biết chữ ấy là chữ gì. Hình 2 Thông thường đối với chữ mà ta chưa biết, nếu rỏ ràng thì tra tự điển, đằng này với con chữ lem nhem ấy thì chỉ có đoán, người thì cho là chữ “cầm 擒” chữ “chinh 征” người khác thì cho rằng chữ “cán 幹”chữ “giám 监”, có lẽ những vị cho rằng những chữ mất nét ấy là chữ cán và giám đã căn cứ vào bức tranh đã được sửa rồi, cụ thể là hình 2, ta không biết ai sửa, nhưng rỏ ràng người cho rằng hai chữ không rỏ ở hình 1 là chữ cán và giám nhất định giỏi chữ Hán và có uy tín, nên chi nghệ nhân khắc tranh mới tin tưởng và dám khắc vào tranh. Điều này minh chứng rằng có nhu cầu làm rỏ các chữ trong bức tranh, nên có việc làm mới như vậy. Đây là một nổ lực đáng trân trọng, tuy nhiên vấn đề đặc ra là căn cứ vào cơ sở nào mà cho rằng đó là chữ “ cầm , chinh”, hay “cán, giám”. Việc suy đoán thì tùy, nhưng việc cho khắc vào tranh thì cần phải cân nhắc kỷ lưởng. Bởi vì nếu sai sẽ gây tai hại cho người nghiên cứu sau này. Người khắc không quan tâm tới chữ nữa Như đã đặt vấn đề trên, đó là : Căn cứ vào cơ sở nào mà người ta cho rằng các chữ bị mất nét trong bức tranh là các chữ “cầm”, chữ “chinh”, người bảo chữ “cán” chữ “giám”. Đọc bình giải của những người viết có các chữ nói trên, ta biết rằng người viết căn cứ vào nội dung bố cục của bức tranh mà đoán định các chữ ấy là như thế, từ đó đưa ra những nhận định chủ quan như: có trưởng lớp, có người thay thầy bắt học trò có tội đánh đòn, hay trong bức 2 thì có trưởng lớp, phó lớp, giám thị. Liệu ngày xưa trong lớp học của các thầy đồ có các chức danh ấy không, hay ta lấy nay nói xưa chứ chẳng có cơ sở nào khác. Tôi cũng muốn tìm hiểu xem đó là những chữ gì?. Thực ra, nguyên thủy bức tranh “ Lão Oa giảng độc”, theo các nghệ nhân, còn có bài thơ Nôm kèm theo, về sau đã bị đục bỏ. Bài thơ ấy như sau : Tìm thầy hỏi bạn NHÁI chi mà Thấy học xem bằng ẾCH thấy hoa Mở mắt CHÃO CHÀNG soi vũ trụ Đem gan CÓC TÍA đối sơn hà . 尋 偨 噲 伴 蚧 之 麻 体 學 䀡 朋 螠 体 花 馬 眜 紹 䗅 擂 宇 柱 酖 肝 谷 紫 對 山 河 (1) Như vậy ta thấy bức tranh này rỏ ràng đã được sáng tác bởi các bậc thâm Nho, yêu nước, yêu dân tộc. Bởi vì nếu không thâm Nho thì làm sao rành chữ Nôm như vậy? Mà với vốn liếng chữ Hán như thế thì họ thừa sức làm ra một bài thơ chữ Hán, cớ gì phải dùng chữ Nôm? . Điều này ta cần suy nghĩ. Trước tới giờ, người ta thường nghĩ rằng các chữ trong bức tranh này là chữ Hán, nên từ đó cứ đi tìm chữ Hán mà đoán để gán vào những chữ chưa rỏ ràng, lẽ dĩ nhiên kết quả sẽ không như mong đợi. Căn cứ vào tên bức tranh và bài thơ, tôi cho rằng các chữ trong bức tranh là chữ Nôm. Về bài thơ thì đã quá rỏ rồi, còn tên bức tranh có phải chữ Nôm không?. Tên bức tranh là “Lão Oa giảng độc”. Rỏ ràng câu này viết theo trật tự tiếng Việt. Bởi vì nếu theo văn phạm tiếng Hán ta phải viết là “Oa lão độc giảng” chứ không thể viết “Lão Oa giảng độc” được, chữ “độc” này ngày nay ta đọc là “đọc”, như vậy đây là các chữ Nôm. Vậy ta có tên bức tranh là chữ Nôm, ta có một bài thơ đề trong bức tranh cũng chữ Nôm, thì chắc là ba chữ còn lại cũng là chữ Nôm. Như đã nói trên, bức tranh “ Lão Oa giảng độc 1” vốn là bức đã sao chép lại nhiều lần nên các chữ đã mất nét biến dạng, nhưng ta còn đọc được chữ “TRƯỜNG長” có âm khác là “TRÀNG” và Nôm là “ CHÀNG ”, tức là con CHÃO CHÀNG 紹䗅 và chữ bên dưới là chữ “ NHÁI 蚧” tự dạng chữ này vẫn còn rỏ trong bức tranh, chữ còn lại là chữ “ ẾCH 螠” ngay trong bức tranh vẫn còn tự dạng của chữ “ ÍCH 益” (chữ Hán). Tất nhiên có người sẽ hỏi rằng tại sao chữ “CHÀNG” và “ ẾCH” không có bộ “trùng 虫 ” . Rỏ ràng đây chỉ là việc do người khắc làm rơi rụng mà thôi. Bởi vì cả ba chữ Nôm này đều là chữ hình thanh cả, vậy mà chữ “ NHÁI – bộ 虫+ giái 介= 蚧”vẫn còn nguyên bộ trùng đó thì cớ gì người xưa không viết bộ trùng vào các chữ CHÀNG và ẾCH. Đến đây ta thấy các chữ trên bức tranh đã rỏ, điều này cho ta thấy lớp học của thầy Cóc thật sinh động, phản ảnh được cái học ngày xưa, cái đạo làm thầy, làm trò. Lớp học của thầy Cóc dĩ nhiên là lớp học truyền thống như bao lớp học của các thầy đồ khác thời bấy giờ, có nghĩa là nhà của thầy là trường học, nên ta thấy dưới chổ thầy ngồi, con của thầy vô tư vui chơi, trên bàn có điếu hút thuốc, chung uống nước, ngày ấy trò đến học với thầy không những chỉ học chữ mà còn học lễ, xem thầy như cha, nên ngoài chuyện học chữ còn phải hầu thầy trà nước, học sinh của thầy thuộc nhiều thành phần trong xã hội, ếch, nhái, chảo chàng, tất nhiên cha mẹ nào cũng muốn cho con mình đi học để kiếm cái chữ mở mang đầu óc, nhưng đâu phải đứa trẻ nào cũng muốn đi học, vì vậy cha mẹ phải dùng đến roi vọt để buộc trẻ đến lớp. Bức tranh có tính khái quát rất cao, thầy Cóc là nhân vật chính, là trung tâm của lớp học nên thầy là hình ảnh to lớn nhất, nhưng thầy chưa phải là tất cả, mà chính thầy còn phải nương tựa dưới cây tùng để dạy cho học trò. Cây tùng tượng trưng cho đạo quân tử hay đạo làm người. Học trò đến với thầy để học lễ nghi, chữ nghĩa, thông qua chữ nghĩa để học đạo của người quân tử, thầy chỉ là người đại diện để truyền đạt kiến thức cho học trò, và cái kiến thức mà thầy dạy bảo chỉ là cái phương tiện đưa người học tới cái cứu cánh, tức đạo quân tử mà thôi. Như thế ta thấy tất cả các nhân vật trong bức tranh, cả thầy lẫn trò đều nương tựa vào đạo. Bởi vì chung quy mọi sự học cũng để làm cho người học hoàn thiện nhân cách của mình, từ đó hướng tới CHÂN – THIỆN – MĨ, đỉnh cao văn hóa của con người. Được biết tranh Đông Hồ được nhà nước cho phép tiến hành nghiên cứu, lập hồ sơ khoa học cho Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ để đệ trình Unesco đề nghị công nhận Di sản văn hóa phi vật thể. Nên chăng các chuyên gia đề nghị các nghệ nhân làng tranh phục hồi lại nguyên trạng các bức tranh, sao cho tất cả các yếu tố tạo nên giá trị bức tranh đạt được các tiêu chí có thể chấp nhận được, nhất là phần chữ, nếu không như thế thì hóa ra ta lại dối ta, mà đã là như thế thì quả là thiếu sót. còn tiếp phần II : THẦY ĐỒ CÓC và CHỮ NÒNG NỌC http://viennhu.vnweb...st/11641/427161
-
Đồ Hình Âm Dương Lạc Việt ở Hội An
Thiên Đồng replied to Thiên Luân's topic in Các Bài Viết Quan Trọng
Đây là một hình đồ gốm trong bộ cổ vật Việt Nam thời kỳ cổ trung đại được trưng bày tại bảo tàng Nhật Bản. Trên cổ vật này thể hiện xoáy Âm Dương Việt rất xinh động. Thiên Đồng nguồn: http://www.hoiquandisan.com/showthread.php?3724-Th%E1%BA%A5y-Vi%E1%BB%87t-Nam-%E1%BB%9F-c%C3%A1c-b%E1%BA%A3o-t%C3%A0ng-Nh%E1%BA%ADt-B%E1%BA%A3n -
Vài hình ảnh về văn minh Maya Hình và chữ Maya trên đá. Chữ trên vách đá Maya Snake queen Lady Ikoom as represented on Stela 43. Credit: Francico Castaneda; courtesy of Proyecto Arqueológico el Perú-Waka´y Pacunam. Read more at: http://phys.org/news/2013-07-discovery-stone-monument-el-per-waka.html#jCp
-
Nine of Cups Xuôi: Mong ước được thực hiện, thoải mái, hạnh phúc, hài lòng Ngược: tham lam, bất mãn, vật chất Ten of Cups Xuôi: hoà thuận, hôn nhân, hạnh phúc, liên kết Ngược: sự mất phương hướng của các giá trị cá nhân , gia đình tan vỡ hoặc hôn nhân chia lìa Page of Cups Xuôi: Một thông điệp, sự khởi đầu sáng tạo, sự đồng bộ Ngược: non nớt trong tình cảm, nguồn sáng tạo bị tắc nghẽn Knight of Cups Xuôi: Tình cảm, quyến rũ, ‘Bạch mã hoàng tử’, trí tưởng tượng Ngược: không thực tế, ganh tị, ủ rũ Queen of Cups Xuôi: cảm giác an toàn về tình cảm, bình tĩnh, trực giác, từ bi Ngược: bất an về tình cảm, cùng phụ thuộc King of Cups Xuôi: cân bằng cảm xúc và kiểm soát cảm xúc, sự hào phóng Ngược: cảm xúc thao túng, buồn rầu ủ rũ, nhẹ dạ, cả tin và không kiên định
-
Ý Nghĩa Bài Tarot Trong Bộ Cups Bộ Cups đại diện cho nguyên tố nước. Ý nghĩa các lá bài trong bộ Cups liên quan đến cung bậc cảm xúc của nhận thức, tình yêu, các cảm giác, mối quan hệ và kết nối. Cups là hiện thân của cảm xúc, biểu lộ cảm giác và vai trò của cảm xúc trong mối liên hệ với những người khác. Các lá bài Tarot thuộc bộ Cups hàm ý rằng bạn đang suy nghĩ bằng con tim hơn là lý trí, và do vậy, thể hiện những phản ứng tự nhiên và theo thói quen của bạn với hoàn cảnh. Các lá bài Cups cũng liên quan đến sự sáng tạo, lãng mạn, huyền ảo và tưởng tượng. Các khía cạnh tiêu cực của Bộ Cups (như khi các lá bài Cups trong vị trí đảo ngược) bao gồm quá xúc động hoặc hoàn toàn thảnh thơi và vô tư, có những mong ước phi thực tế và ảo tưởng về những điều có thể. Đây có thể là những cảm xúc bị dồn nén, bất lực hoặc thiếu khả năng thể hiện bản thân và sáng tạo. Bộ Cups thường đại diện cho hướng Tây và mùa thu. Nếu sử dụng một bộ bài để chơi (playing card) thông thường, Cups được chuyển thành Heart (Cơ). Nhân Cách trong Lá Bài Tarot Cups Con người được đại diện bởi Bộ Cups (đặc trưng bởi Court Cards) thì cảm tính, yêu nghệ thuật, nhân đạo và sáng tạo. Họ được kết nối với chính cảm xúc trong bản thân họ và sẽ lấy được năng lượng từ những gì họ cảm thấy bên trong. Họ được cho là tương ứng với các cung hoàng đạo về nước (như Song Ngư, Cự Giải, Thiên Yết). Nước cũng tượng trưng cho tiềm thức và lý trí. Các Lá Bài Cups trong Giải Bài Tarot Nếu một trải bài Tarot có các lá bài Cups chiếm ưu thế, thì bạn có thể chắc chắn rằng người được xem đang kiếm tìm điều gì đó liên quan chủ yếu đến những xung đột cảm xúc, vấn đề tình yêu và những cảm xúc. Ý Nghĩa 14 Lá Bài Tarot Trong Bộ Cups Ace of Cups Xuôi: tình yêu, khao khát, sáng tạo, cảm xúc mãnh liệt Ngược: Cảm xúc bị kiềm nén, ngăn chặn Two of Cups Xuôi: Tình yêu hợp nhất, sự hợp tác, sự thu hút, các mối quan hệ Ngược: Tan vỡ, sự mất cân bằng trong mối quan hệ, thiếu hòa hợp Three of Cups Xuôi: Ăn mừng, tình bạn, sự sáng tạo, cộng đồng Ngược: Chuyện tình ái , “tình tay ba khổ lắm ai ơi” Four of Cups Xuôi: Thiền định, chiêm nghiệm, thờ ơ, tái đánh giá Ngược: chán nản, bỏ lỡ cơ hội, sống khép kín Five of Cups Xuôi: mất mát, tiếc nuối, thất vọng, mất người thân Ngược: vượt qua, chấp nhận, tha thứ Six of Cups Xuôi: sum họp, nỗi nhớ, ký ức tuổi thơ, vô tội Ngược: Mắc kẹt trong quá khứ, ngây thơ, không thực tế Seven of Cups Xuôi: huyền ảo, ảo tưởng, mơ tưởng, lựa chọn, trí tưởng tượng Ngược: cám dỗ, ảo tưởng, chiến thuật nghi binh Eight of Cups Xuôi: bỏ đi, thất vọng, bị bỏ rơi, thu hồi Ngược: tuyệt vọng, vô bổ, từ bỏ
-
Trai làng mặc váy múa hội ở Triều Khúc Điệu múa "Con đĩ đánh bồng" hay còn có tên gọi múa bồng, là điệu múa truyền thống độc đáo không thể thiếu trong mỗi dịp hội làng Triều Khúc, Hà Nội (vào ngày 11 tháng giêng). Những bước nhảy vừa linh hoạt, vừa thướt tha của các chàng trai đóng giả gái hòa cùng nhịp trống dồn dập làm say lòng tất cả những người đến xem hội. Tương truyền, vào thế kỷ thứ tám, đức vua Phùng Hưng Bố Cái Đại Vương, trước khi vây hãm và hạ thành Tống Bình (tức Hà Nội ngày nay) đã đóng đại quân ở làng Triều Khúc. Để khích động tướng sĩ và cũng là giải trí cho nghĩa quân, ngài đã cho binh lính đóng giả trang làm gái, ăn mặc sặc sỡ và đeo trống múa bồng. Điệu múa này chỉ được diễn tấu trong những ngày làng mở hội, vào đám - đó là ngày Phùng Hưng lên ngôi vua từ mùng 9-12 tháng giêng âm lịch, ngày vua mất (vào tháng 8 âm lịch). Điệu múa được biểu diễn ngay ở phương đình, nơi thờ Thành hoàng là đức vua Phùng Hưng vào giữa các tuần tế và trong lễ rước sắc quanh làng. Trước màn múa những chàng trai mặc váy đụp đen, yếm tua màu, đầu vấn khăn mỏ quạ, má phấn, môi son hóa trang thành thôn nữ xưa. Các chàng trai giả gái mỗi người đeo một trống bồng trước ngực múa theo từng cặp. Múa "Con đĩ đánh bồng" mặt lúc nào cũng phải tươi, miệng cười, mắt đong đưa. Từng đôi múa dập dìu tình tứ theo tiếng trống, thanh la, chiêng rộn rã, lúc xoay tròn, có lúc dựa lưng hay úp mặt và ngực vào nhau rất hóm hỉnh. Người múa thể hiện phong thái vừa phóng khoáng vừa dứt khoát, mạnh mẽ lại mềm mại. Khi múa, cánh tay giật xuống, hai ngón tay trỏ và giữa chỉ thẳng lên trời, tượng trưng cho triết lý "thiên - địa - nhân" trong quan niệm của người xưa. Những bước chân của người múa di chuyển liên tục, uyển chuyển linh hoạt. Điệu múa "Con đĩ đánh bồng" xứng đáng là một trong những điệu múa cổ vô giá của Thủ đô, luôn cần được bảo tồn và phát triển. Tất Định Theo Infonet, http://news.zing.vn/...post303449.html
-
Ngoài tranh dân gian của Henri Oger vốn từng công bố rộng rãi, từ tranh dân gian của Maurice Durand đến tranh Lục Vân Tiên đều được xem là lần đầu công bố tại Việt Nam. Ông Maurice Durand, nguyên Giám đốc Viện Viễn Đông Bác Cổ tại Hà Nội trước đây, một người có thú vui sưu tầm tranh dân gian của Việt Nam. Năm 1956 khi rời nhiệm sở, ông mang theo cả bộ sưu tập của mình về Pháp, rồi khi ông mất, vợ ông hiến tặng bộ sưu tập cho Viện Viễn Đông Bác Cổ. Năm 1960, bộ sưu tập này của ông Maurice Durand lần đầu xuất bản thành sách tại Pháp. Sau đó, GS. Phillippe Papin đã chỉnh lý lại cho hợp lý hơn bằng các ngôn ngữ Việt - Pháp - Hán - Nôm. Bộ sưu tập “Tranh dân gian” của Maurice Durand trưng bày tại Triển lãm lần này gồm những nội dung như: Cuộc sống hằng ngày và thiên nhiên, Tôn giáo và tín ngưỡng, Văn học Việt Nam (Kiều, Thạch Sanh, Phạm Công - Cúc Hoa...), Văn học Trung Quốc (Tây du ký, Tam quốc chí...). Bức tranh tả cảnh cuộc sống thường nhật của người Việt xưa. Bức tranh tả cảnh "vinh quy bái tổ". Bức tranh thợ cày. Bức tranh tả cảnh trò chơi bịt mắt bắt dê. Bức tranh vẽ vua Đinh Tiên Hoàng. Bức tranh tả cảnh Trần Hưng Đạo đại phá quân Nguyên. Bức tranh tả cảnh cày cấy, giần sàng... Bức tranh mô tả nghệ sỹ đường phố và các loại nhạc cụ xưa. Bức tranh mô tả kỹ thuật làm nhà của người Việt xưa. Một góc không gian Triển lãm “Tranh dân gian Việt Nam - Tranh bộ ba”. Riêng bộ bản thảo tranh màu Lục Vân Tiên được thực hiện vào những năm cuối thế kỷ XIX. Bộ bản thảo này được phỏng theo tác phẩm Lục Vân Tiên - truyện thơ Nôm nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu, từng được Trương Vĩnh Ký cho xuất bản lần đầu tiên vào năm 1889. Đây là một trong những tác phẩm văn học nổi tiếng của Việt Nam. Do yêu thích tác phẩm này của Nguyễn Đình Chiểu, một người Pháp tên là Eugene Gilbert đã đặt hàng một họa sĩ người Huế tên Lê Duy Tranh vẽ lại. Năm 1899, ông đã tặng bộ bản thảo Lục Vân Tiên cho Viện Viễn Đông Bác Cổ. Có thể nói, các tác phẩm trưng bày tại Triển lãm “Tranh dân gian Việt Nam - Tranh bộ ba” đã thể hiện sự cống hiến lớn lao của các học giả người Pháp trong việc gìn giữ và bảo tồn các di sản văn hóa dân gian Việt Nam. Triển lãm sẽ mở cửa đón khách tham quan từ nay đến hết ngày 6/4./. Bài: Nguyễn Vũ Thành Đạt - Ảnh: Lê Minh nguồn: http://vietnam.vnanet.vn/vnp/fr-fr/13/35/35/47003/default.aspx
-
Bộ tranh dân gian quý của Việt Nam Ngày 26/2/2013 vừa qua, tại Tp. Hồ Chí Minh, Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) phối hợp với Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO) và Viện Trao đổi Văn hóa Pháp (IDECAF) đã tổ chức triển lãm với chủ đề “Tranh dân gian Việt Nam - Tranh bộ ba”. Triển lãm nằm trong chương trình văn hóa của Năm hợp tác Pháp - Việt. Triển lãm “Tranh dân gian Việt Nam - Tranh bộ ba” nhằm mục đích góp phần phát huy giá trị văn hóa dân gian Việt Nam và bảo tồn di sản tư liệu thành văn. Triển lãm trưng bày 15 khung ảnh về đề tài tranh dân gian, gồm những hình ảnh được chọn lọc từ hai tác phẩm “Bách khoa toàn thư về kỹ thuật” của Henri Oger, “Tranh dân gian” của Maurice Durand và những bản khắc gỗ chưa từng được công bố của bản thảo tranh màu. Những tư liệu quý hiếm này đều đang được lưu trữ tại Viện Viễn Đông Bác Cổ Paris (Pháp). Riêng bộ tranh Lục Vân Tiên thì hoàn toàn là một phát hiện mới, chưa từng có một nghiên cứu nào. Bức tranh cô gái thổi sáo. Bức tranh cô gái chơi đàn nguyệt. Bức tranh hoa sen và cua đồng. Bức tranh chú bé và quả phật thủ. Bức tranh cụ già và quả lựu. Bức tranh thần canh cửa ngồi trên lưng hổ. Bức tranh thần bảo hộ cưỡi kỳ lân. Bức tranh cậu quận tứ phủ. Bức tranh tả cảnh Thúc Sinh gặp Kiều. Bức tranh tả cảnh Kiều và Kim Trọng tự tình. Theo GS. Phillippe Papin của Trường Cao học Thực hành Paris, nguyên là chuyên viên của Viện Viễn Đông Bác Cổ, sở dĩ các loại tranh trên đều được gọi là dòng tranh dân gian bởi vì tranh được sáng tác bằng kỹ thuật in bản gỗ thủ công dân gian, sau đó họa sĩ mới tiếp tục tô điểm thêm màu sắc dựa trên bản in gỗ đó.
-
Tower Xuôi: Tai họa, biến động, thay đổi đột ngột, tiết lộ Ngược: Tránh tai họa, sợ thay đổi Star Xuôi: Niềm hy vọng, tâm linh, sự đổi mới, nguồn cảm hứng, sự thanh bình Ngược: Thiếu niềm tin, nỗi tuyệt vọng, sự chán nảnt Moon Xuôi: Ảo tưởng, sợ hãi, lo lắng, bất an, tiềm thức Ngược: Thoát khỏi nỗi sợ hãi, bất hạnh, bối rối. Sun Xuôi: Niềm vui, sự ấm áp, thành công, mặt tích cực, sinh khí Ngược: Cảm giác chán nản tạm thời, thiếu thành công Judgement Xuôi: Xét xử, tái sinh, tiếng gọi thầm kín, xá tội Ngược: thiếu tự tin, thiếu cân nhắc World Xuôi: hoàn thành, hợp nhất, thành tựu, du hành Ngược: chưa hoàn tất, chưa kết thúc
-
Strength Xuôi: Sức mạnh, can đảm, kiên nhẫn, kiểm soát, đồng cảm Ngược: Yếu đuối, thiếu tự tin, thiếu khả năng tự kiềm chế Hermit Xuôi: tìm kiếm linh hồn, xem xét nội tâm, một mình, lời hướng dẫn trong tiềm thức Ngược: sự cô lập, sự cô đơn, sự rút lui Wheel of Fortune Xuôi: May mắn, số phận, chu kỳ cuộc sống, định mệnh, bước ngoặt Ngược: Mém may mắn,các lực lượng xấu bên ngoài, mất kiểm soát Justice Xuôi: Công bằng, thẳng thắn, thật thà, nhân quả, có quy luật Ngược: Không công bằng, thiếu tính toán, không trung thực Hanged Man Xuôi: Trì hoãn, hạn chế, buông lỏng, hy sinh Ngược: Khốn khổ, do dự, trì hoãn Death Xuôi: Kết thúc, khởi đầu, thay đổi, biến đổi, chuyển tiếp Ngược: kháng lại thay đổi, không thể tiến lên Temperance Xuôi: Cân bằng, điều độ, kiên nhẫn, mục đích, có ý nghĩa Ngược: Thiếu cân bằng, quá độ, thiếu tầm nhìn lâu dài Devil Xuôi: Lệ thuộc, thói nghiện, tình dục, chủ nghĩa duy vật Ngược: Tách rời, phá vỡ tự do, phục hồi sức mạnh
-
Ý Nghĩa Bài Tarot Trong Bộ Ẩn Chính Các lá bài Tarot Major Arcana (cũng thường được gọi là trump card) tạo nên nền tảng cho bộ bài Tarot và gồm 21 lá bài được đánh số và một lá bài không có số (the Fool). Các lá bài này đại diện cho sự giác ngộ tinh thần và mô tả những trạng thái khác nhau mà chúng ta gặp phải khi tìm kiếm những ý nghĩa và sự hiểu biết lớn hơn trong cuộc sống. Theo cách này, các lá bài giữ vai trò là những bài học có ý nghĩa sâu sắc. Ý nghĩa các lá bài Tarot trong bộ Ẩn Chính Major Arcana phác họa cấu trúc của nhận thức con người và, cũng vì thế, giữ chìa khóa dẫn đến những bài học cuộc sống tích lũy theo thời gian. Hình ảnh trong những lá bài Major Arcana chứa đựng sự khôn ngoan của nhiều nền văn hóa và các tín ngưỡng huyền bí, như Ai Cập, Phật Giáo, Hindu Giáo, Do Thái Giáo và Ki-tô Giáo. Trong cuốn sách Pocket Guide to Tarot (Hướng Dẫn Nhập Môn Tarot), Alan Oken cho rằng 22 lá bài Ẩn Chính cũng giống như Mandala của Tarot. Mandala là những hình ảnh chi tiết giống hình tròn biểu tượng cho Vũ Trụ hoặc Cái Tôi (Bản Ngã) được vẽ trên tấm vải và được sử dụng để nghiên cứu và thiền định tâm linh bởi người Tây Tạng. Do đó, việc nghiên cứu những hình ảnh trong những lá bài Major Arcana và suy ngẫm về những thông điệp của chúng là rất quan trọng. Hãy xem xét ẩn sau những từ khóa đơn giản và những ý nghĩa truyền thống của lá bài Tarot, và kiếm tìm những ý nghĩa thuộc về chính con người bạn. Khi kiến thức về các biểu tượng càng phong phú, sự hiểu biết của bạn về những gì lá bài thể hiện sẽ ngày càng sâu sắc hơn. Các lá bài Major Arcana cũng thể hiện nguyên mẫu của Carl Jung – những mô hình định hướng, đồng nhất về sự ảnh hưởng như một phần vốn có trong bản chất của con người. Chúng là chủ đề đặc trưng, mô tả và biểu tượng hóa các trạng thái tâm lý chúng ta mà nhờ đó chúng ta muốn trở thành một con người toàn diện và cân bằng. Cùng với hành trình này, chúng ta sẽ gặp phải nhiều thách thức, phải đối mặt với nghịch cảnh, phải làm việc, ra quyết định và chiến đấu chống lại các thế lực đối lập. Mỗi bước đi trên con đường này sẽ mang chúng ta gần hơn tới giác ngộ. Đây thường được xem là hành trình của the Fool. Các Lá Bài Major Arcana trong Giải Bài Tarot Khi một trải bài Tarot thể hiện đa số lá bài trong bộ Ẩn Chính, người được xem đang trải qua những sự kiện thay đổi cuộc sống họ, những sự kiện có ảnh hưởng về lâu dài. Có những bài học quan trọng mà người được giải bài phải chú ý để tiến xa hơn trong việc tìm kiếm tinh thần và con người họ. Tuy nhiên, nếu có nhiều lá bài Major Arcana ngược, điều này sẽ hàm ý rằng người được xem giải bài không chú ý quan tâm đến những bài học quan trọng trong cuộc sống này và phải quay lại bài học của lá bài trước đó trước khi tiếp tục giải bài. Những trải bài Tarot của Major Arcana Vẫn khả thi khi thực hiện giải bài chỉ sử dụng 22 lá bài trong bộ Ẩn Chính Major Arcana. Phương pháp này thường được sử dụng cho những giải bài liên quan đến sự tự nhận thức về tinh thần hoặc khi bạn cần một cái nhìn sâu sắc hơn từ vô thức tập hợp (Collective Unconscious). Ý Nghĩa 22 Lá Bài Major Arcana Fool Xuôi: Khởi đầu, ngây thơ, tự phát, tinh thần tự do Ngược: Ngây thơ, khờ dại, liều lĩnh, mạo hiểm Magician Xuôi: Quyền lực, kỹ năng, tập trung, hành động, tháo vát Ngược: Thao túng, lập kế hoạch kém, tài năng tiềm ẩn High Priestess Xuôi: Trực giác, những khả năng cao hơn, bí ẩn, tiềm thức Ngược: chuyện bị giấu kín, cần lắng nghe tiếng nói từ bên trong Empress Xuôi: Sự sinh nở, nữ tính, vẻ đẹp, tự nhiên, sung túc Ngược: cản trở sáng tạo, phụ thuộc vào người khác Emperor Xuôi: Quyền lực, lãnh đạo, có kết cấu, nền tảng vững chắc Ngược: Thống trị, kiểm soát quá mức, cứng nhắc, không nhân nhượng Hierophant Xuôi: Tôn giáo, sự gia nhập nhóm, niềm tin tôn giáo, truyền thống, đức tin Ngược: Sự giới hạn, thử thách hiện trạng Lovers Xuôi: Tình yêu, sự hòa hợp, các mối quan hệ, liên kết về giá trị, sự lựa chọn Ngược: Sự không hòa thuận, mất cân bằng, sai lệch giá trị Chariot Xuôi: Có kiểm soát, sức mạnh ý chí, chiến thắng, quyết đoán, kiên định Ngược: Thiếu kiểm soát và định hướng, hay gân hấn
-
Bí Ẩn Bộ Tộc Nhận Là Anh Cả Của Loài Người
Thiên Đồng replied to Thiên Luân's topic in Giải Trí - Chuyện Lạ
Trẻ em trong bộ tộc không đến trường vì đơn giản, chúng không biết chữ viết và cũng không có sách vở. Những điều chúng được học chỉ thông qua truyền miệng từ đời này sang đời khác. Trong tín ngưỡng của người Kogi, họ không thờ cúng hay các hoạt động liên quan đến tâm linh như các bộ tộc thiểu số khác. Người Kogi không ăn thịt, cá nên họ không săn bắn, thức ăn chủ yếu là những thứ họ trồng được như khoai, sắn, ngô, rau, chuối... Tuy lạc hậu vậy, nhưng người Kogi được biết đến là những con người hết sức hiền lành, điềm đạm, ít nói. Họ tôn trọng tất cả các loài động vật và sống rất thân thiện với chúng vì cho rằng, mọi con vật đều biết đau đớn. Điều kỳ lạ là họ không thích người da trắng. Người Kogi rất thông hiểu về các loài thảo dược và nhờ thế họ sống khỏe mạnh, không bệnh tật gì, nhiều người Kogi có tuổi thọ trên trăm tuổi. Trong tổ chức xã hội ở Kogi không có người lãnh đạo mà mọi người đều được tham gia vào việc quyết định công việc của bộ tộc. Họ được tự do phát biểu ý kiến và tất cả mọi công việc đều được thực hiện một cách tự giác. Trưởng lão là những người có tiếng nói nhất vì có hiểu biết cũng như sự từng trải sâu nhất về mọi mặt của đời sống tinh thần, tâm linh. Mặc dù sống khép kín nhưng không hiểu vì lý do gì mà người Kogi đã cho phép một ký giả đến quay phim về cuộc sống của mình với điều kiện phải truyền tải thông điệp đến những người “em nhỏ” trên toàn thế giới. Một cư dân Kogi (ảnh trái) và Alan Ereira (đằng sau hình phải) - tác giả bộ phim tài liệu dài 86 phút của BBC năm 1990 "The Heart of The World: Elder Brother's Warning"(tạm dịch: Từ trái tim của thế giới, lời cảnh báo của những người anh).Trong thông điệp của người Kogi, họ nhấn mạnh rằng, số đông nhân loại đang tàn phá thiên nhiên một cách mù quáng, đang từng bước đi vào vết xe đổ của người Maya trước đây: tranh chấp tài nguyên và hứng chịu thiên tai. Trái đất sẽ chết nếu chúng ta không biết cách săn sóc Người. Mặc dù đã có những dấu hiệu tích cực từ sau khi bộ phim tài liệu được phát sóng và thông điệp được truyền đi như việc chính phủ Colombia quan tâm hơn đến vấn đề môi trường, cuộc sống của các bộ tộc ít người, việc bảo vệ cổ vật… Nhưng đến năm 2010, người Kogi lại tiếp tục gửi thông điệp tới những “người em” trên toàn thế giới. Họ nhấn mạnh rằng, có một vấn đề nghiêm trọng đang xảy ra đối với nơi họ sống - ngọn núi duyên hải cao nhất thế giới Sierra Nevada de Santa Marta: phần tuyết phủ trên các đỉnh núi ngày một ít đi. Lượng nước dự trữ không còn, các sông suối ngày càng mau cạn. Một lần nữa, người Kogi đứng trước hiểm họa diệt vong, mà không biết lánh đi đâu. Thông điệp gửi tới thế giới năm 2010 không chỉ là lời thúc giục loài người hãy bảo vệ Trái đất mà còn như một lời trăn trối của những người “anh trai”. Không ai biết vì sao người Kogi luôn sống tách biệt với cuộc sống con người lại có thể hiểu tường tận về những hiểm họa đang diễn ra, nhưng những lời cảnh báo của họ không phải là không có lý do. * Bài viết có sử dụng tư liệu tham khảo từ các nguồn: Smithsonian magazine, Prophecy last message, Gloria stendal, Wikipedia... -
Bí Ẩn Bộ Tộc Nhận Là Anh Cả Của Loài Người
Thiên Đồng replied to Thiên Luân's topic in Giải Trí - Chuyện Lạ
(tiếp theo) Bộ tộc bí ẩn luôn tự xưng là "anh cả của loài người" Dù bộ tộc người Kogi luôn sống tách biệt với cuộc sống nhưng lại có thể hiểu tường tận về những hiểm họa đang diễn ra... Trên vùng cao của dãy núi Sierra Nevada ở Colombia, có một bộ tộc người da đỏ thiểu số gọi là Kogi sinh sống biệt lập, không giao tiếp với ai, cách biệt khỏi các nền văn minh ngày nay đã nhiều thế kỷ. Trong ngôn ngữ của người Kogi, cái tên Kogi, hay Cogui hoặc Kágaba có nghĩa là “báo đốm”. Họ có nguồn gốc từ nền văn minh Tairona ở vùng Sierra Nevada de Santa Marta, ngày nay thuộc về Magdalena và La Guajira của Colombia. Người Kogi sống tách biệt với thế giới con người và ẩn mình trên núi cao, mãi cho đến năm 1974, một phi công bay lạc trên khu rừng rậm Bắc Sierra đã phát hiện phía dưới thấp thoáng dấu tích của một kim tự tháp cổ nhưng lại không giống kim tự tháp Ai Cập hay bất cứ kim tự tháp nào thường gặp ở Nam Mỹ. Nhiều nhà khoa học đến đây nghiên cứu và khẳng định rằng, công trình đồ sộ với cách xây khác lạ, đạt đến trình độ cao này là một trong những nền văn minh cổ nhất ở Nam Mỹ, có niên đại khoảng 7 - 8.000 năm. Người ta dự đoán rằng, bộ lạc Kogi có thể là hậu duệ còn sót lại của chủ nhân di tích văn hóa cổ xưa này. Rất ít người Colombia biết được họ là ai và sống như thế nào bởi người Kogi sống hoàn toàn khép kín, không muốn người ngoại tộc biết được cuộc sống của mình. Họ luôn tự xưng mình là “anh cả” và gọi tất cả chúng ta là “em nhỏ”. Người Kogi, kể cả nam lẫn nữ đều để tóc dài, có nước da ngăm đen, dáng người nhỏ nhắn, ăn mặc giống nhau. Quần áo họ đều là vải tự dệt bằng sợi thô màu trắng, ống tay rộng, ngang lưng đeo một con dao dài. Nhà của người Kogi là những túp lều nhỏ hình tròn, làm bằng thân cây gỗ xếp quanh, mái lợp bằng lá, có một cửa ra vào. Mỗi gia đình thường có hai lều, một lều cho đàn ông, một lều cho phụ nữ. Khách lạ đến thăm là đàn ông thì không được ghé vào lều của phụ nữa và ngược lại. Ngôi làng của người Kogi. Nơi hội họp của cả cộng đồng là một ngôi nhà chung, được dựng lên ở nơi thuận tiện cho mọi người đi lại với hình dáng tròn, rộng rãi, sạch sẽ. Trong nhà không bày các vật thể hiện tôn giáo, tín ngưỡng của bộ tộc giống các bộ tộc khác. Ngôi nhà chung đơn giản chỉ là nơi tụ họp, nói chuyện, giảng đạo lý của người Kogi. Những đứa trẻ được cha mẹ nuôi dưỡng nhưng đến năm 7 tuổi, chúng phải rời cha mẹ và đến ở với ông bà để học hỏi cách sống tự lập. Đến 21 tuổi, chúng đi theo các bậc trưởng lão để học hỏi thêm. Họ sẽ đến hang tối, hay túp lều đơn sơ dựng nơi thanh vắng trong rừng sâu, ngồi im lặng và quay mặt vào vách đá để nghe các bậc trưởng lão ngồi phía sau giảng dạy. Hàng ngày, ngoài lương thực, họ chỉ nhai một ít lá cây, uống nước và tĩnh tâm suy nghĩ. Khi đã là một người đàn ông 30 tuổi, trưởng thành về mọi mặt mới được lập gia đình. -
Đồ Hình Âm Dương Lạc Việt ở Hội An
Thiên Đồng replied to Thiên Luân's topic in Các Bài Viết Quan Trọng
Thiên Đồng chợt thấy vài hình ảnh liên quan đến âm dương Việt trên một trang "Việt Nam Heritage", đưa lên đây cho mọi người tham khảo. =============================== More than meets the eye (No.1, Vol.3, Jan-Feb 2013 Vietnam Heritage Magazine) Decoration on Greek boats 450 B.C.; Decoration on Roman boats 100 B.C.; Decoration on Egyptian boats 2,700 B.C.; Yin-yang symbol decorated on boats. Photos taken by Thai A from the Blue Book of Coastal Vessels, South Vietnam, prepared by the Remote Area Conflict Information Center, Battelle Memorial Institute,Columbus Laboratories, Ohio, published by Advanced Research Projecs Agency, US Department of Defense, 1967 Besides their functions as a means of travel, transportation, fishing, and communication, boats are also a unique cultural product that is associated with the traditions, customs, and rituals relating to rivers and waterways. Among the more common customs is painting eyes on boats. There are many folk beliefs about eyes on boats. Through my journeys to the countryside along the coastal regions of Vietnam, I’ve noticed that fishermen see their boats as fish, which, therefore, must have eyes to avoid danger. The book Blue Book of Coastal Vessels South Vietnam (Ohio: 1967) reveals that a legend in Nha Trang holds that painting the eyes of a sea serpent on the prow of a boat will allow it to avoid being harmed by sea monsters. According to the book, a Vietnamese king painted eyes on his boat, because some of his subjects were eaten by whales (which people now surmise to have been sharks). The king ordered his subjects to tattoo themselves and decorate the hulls of the boats so that they would appear vicious in order to drive away the monsters. Tran Trong Tri in his article “The Custom of Painting Eyes on Boats to Subdue Sea Monsters” in Tạp chí Xưa và Nay (Past and Present Magazine, March 2002, no.113) informs us that one theory says that the eyes on boats are the eyes of osprey, a kind of large raptor that specializes in eating sea fish and that often appears when there are blustery winds and large waves. The osprey is a fierce animal based on the saying that “First raptors, second fish, third snakes, and fourth elephants” are used for striking fear into the hearts of water demons. In Laos, people give symbolically give eyes to boats by pretending to attach them to the boats’ prows, according to Pier Giovanni d’Ayala in “Salvific Boats” (Tạp chí Người đưa tin Unesco [unesco Herald], Aug.-Sep. 1991; the source does not indicate the time period). Typical boat eyes for Vung Tau, Saigon and Phu Quoc. Photo taken by Thai A from Blue Book of Coastal Vessels, South Vietnam, prepared by the Remote Area Conflict Information Center, Battelle Memorial Institute, Columbus Laboratories, Ohio, published by Advanced Research Projects Agency, US Department of Defense, 1967Also according to the above article, the prows of canoes in Bali (Indonesia) have the head of Makara painted on them. Makara is a sea monster in Hindu painting and sculpture which originated from the dolphin, a mythical creature that was half elephant and half fish and which was a symbol of rivers and waterways. The boats on the islands of Hainan and Pakhoi (Guangdong, China) have large, round or oval, white eyes with carved black pupils, J.B. Pietri’s Voiliers D.Indochine (S.I.L.I., Saigon: 1949) reveals. On the images of the decorated boats that are seen on Dao Thinh terracotta jars (terracotta jars are one of the storage vessels of the Dong Son people; they were additionally used in burial ceremonies), it is notable that large round bird eyes with black pupils were painted on the prows of the boats. This is perhaps the earliest trace in Vietnam of the custom of painting eyes on boats that is recorded on a cultural object. This is consistent with the story regarding the longstanding custom of painting eyes on boats about the first Vietnamese king mentioned above. This demonstrates that the custom was already firmly engraved as a Vietnamese cultural hallmark since the 1st century B.C.E. I believe that the custom of painting eyes on boats is related to the Dong Son people’s custom of tattooing the body to confront sea monsters beneath the sea. Many Chinese histories record, “The Viets tattoo themselves and cut their hair in order to avoid the danger of water dragons” (Hanshu [History of Han Dynasty, Dilizhi Xia [gazetteer, later section). According to the Linh Nam chich quai (Strange Tales Taken from Linh Nam), “People who lived as fishermen, having often been harmed by water dragons, called on the Hung King, who instructed the people to take ink and tattoo their bodies in the form of water monsters. From that time on, there was no more danger of being harmed by water dragons. The custom of tattooing the body started then.” A boat on Long Son Island, Baria-Vung Tau Province Photo: Thai A A boat in Long Xuyen, An Giang Province, Mekong Delta Photo: Vu Khanh Truong Here, water dragons may refer to sea serpents, crocodiles, or water snakes, which are also underwater creatures that frequently harm the inhabitants of riverine areas. Thus, the custom of painting eyes on boats along with the custom of tattooing the body have both long since been practiced by the inhabitants of littoral and riverside areas in Vietnam. Today, however, only traces of the custom of painting eyes on boats remain. According to folk belief, the inhabitants of riverine regions treat their boats as “spiritual creatures,” animals with souls. Owing to this, they believe that boats, just like people, need to have eyes. A boat on Long Son Island, Baria-Vung Tau Province. Photo: Thai A A boat in An Giang Province, Mekong Delta. Photo: Thai A In regions of India, people “open the eyes” of sacred statues with the aim of endowing the statues with the vitality of life. In other places, people “open the eyes” of masks. In Vietnam, people “open up to the light” a new boat by carving or painting two large eyes on its prow. Jean Chevalier and Alain Gherrbriat reveal in their book A Dictionary of Symbols that fishermen always seek skilled boat crafters to attend to the eyes of their own boats so that they will be truly beautifully or, if spiteful, fishermen might imprecate the eyes of another person’s boats. The “opening to the light and dotting the eyes” ceremony or the “eye opening” ceremony continues to be seen in some Buddhist rituals, in the lion dance, and in the customs for worshiping the God of the Earth and the God of Wealth. According to J.B. Pietri’s project Indochinese Sailboats, Vietnam acquired this custom from the boats of Arab countries. These boats traversed from Levant (the countries along the Mediterranean Sea) to China and stopped at ports in the East China Sea. According to the gazetteer in the Xin Tangshu (A New History of the Tang Dynasty) from the seventh to tenth centuries, Chinese, Iranian, Arab, and Indonesian boats on the sea route from Guangzhou (China) to Baghdad (Iraq) always docked at the islands of Champa, Quang Nam, Qui Nhon, Nha Trang, and Phan Rang. Pietri’s comments regarding the origin of the custom of painting eyes on boats in Vietnam may not be accurate, since from at least the 1st century B.C.E., boat eyes can already be seen on Vietnamese cultural artifacts (such as the drums of Ngoc Lu, Quang Xuong, and Co Loa, etc.). However, this does not preclude the possibility that the custom was influenced by other countries. In Vietnam, boat eyes are painted on both sides of the prow in various diverse styles, but they share a common trait in that they all look quite benign. Based on the appearance and coloration of the boat eyes, we can tell the origin of a boat from any region as well as the range of its activities. By corroborating the work of Pietri with my journeys to a number of waterways, I see the regional distribution of boat eyes as follows: The boat eyes from Ba Ria-Vung Tau to the north share in common small eyes that are elongated towards the back and have black painted pupils against white eyeballs. The junks in Ca Mau have narrow shuttle-like eyes and pupils and eyes that are pointy towards the front. They are painted more often than they are carved. Some of the eyes have triangular pupils with rounded corners, especially the narrow composite plastic motorboats. The eyes of junks in the area of An Giang are elliptical with small pupils that lie towards the front of the eyes. The junks’ gills are painted in green. In addition, certain taboos are associated with the custom of painting eyes on boats. When building a boat, the shipbuilding camps must perform a votive eye opening ceremony. The eye opening offering takes place after the hull is completed. The owner of the boat makes offerings to the boat in order to paint eyes on the boat with the wish that the boat will be safe on the water and that the owner’s business will go smoothly. The offerings include flowers, shrimp, pork, and duck eggs. Fishermen in Vung Tau customarily invite a shaman to select an auspicious day on which to paint the eyes on a boat. If they are unable to, they choose an even day. Boat owners never allow strangers to touch the two eyes of their boats for fear of it that the boat will be unable to catch shrimp and fish. *Nguyen Thanh Loi teaches culture at The National College of Education Ho Chi Minh City By Nguyen Thanh Loi* http://www.vietnamhe...ts-the-eye.html Bản dịch tiếng Việt Hơn đáp ứng mắt(Số 1, Vol.3, Jan-tháng 2 năm 2013 Tạp chí Di sản Việt Nam) trang trí trên những chiếc thuyền Hy Lạp 450 trước Công nguyên, trang trí cho Roman thuyền 100 trước công nguyên, trang trí trên tàu Ai Cập 2.700 trước Công nguyên, biểu tượng Yin-yang trang trí trên tàu.Hình ảnh được chụp bởi Thái Một từ Blue Book của tàu ven biển, miền Nam Việt Nam, chuẩn bị khu vực từ xa xung đột Trung tâm Thông tin, Viện Battelle, Columbus phòng thí nghiệm, Ohio, được xuất bản bởi Nghiên cứu nâng cao Projecs Cơ quan, Bộ Quốc phòng Mỹ, 1967 Bên cạnh chức năng của mình như một phương tiện du lịch, giao thông vận tải, đánh bắt cá, và thông tin liên lạc, tàu thuyền cũng là một sản phẩm văn hóa độc đáo được kết hợp với truyền thống, phong tục và nghi lễ liên quan đến các con sông và đường thủy. Trong số các quan phổ biến hơn là vẽ mắt trên thuyền. Có nhiều tín ngưỡng dân gian về mắt trên thuyền. Thông qua chuyến đi của tôi đến vùng nông thôn dọc theo vùng ven biển của Việt Nam, tôi đã nhận thấy rằng ngư dân thấy thuyền của họ như cá, trong đó, do đó, phải có mắt để tránh nguy hiểm. Cuốn sách Blue Book của tàu ven biển miền Nam Việt Nam (Ohio: 1967) cho thấy một huyền thoại tại Nha Trang cho rằng vẽ đôi mắt của một con rắn biển trên mũi của một chiếc thuyền sẽ cho phép nó để tránh bị thiệt hại bởi những con quái vật biển. Theo cuốn sách, một vị vua Việt vẽ mắt trên thuyền của ông, bởi vì một số đối tượng của mình đã được ăn bởi những con cá voi (mà bây giờ người phỏng đoán đã được cá mập). Nhà vua ra lệnh cho đối tượng của mình để xăm mình và trang trí vỏ của các tàu thuyền để họ sẽ xuất hiện luẩn quẩn để xua đuổi những con quái vật. Trần Trọng Trí trong bài viết "Các tùy chỉnh của Tranh mắt trên thuyền để phục quái vật biển" trong Tạp chí Xưa and Nay (quá khứ và hiện Tạp chí, tháng Ba năm 2002, no.113) cho chúng ta biết một lý thuyết nói rằng mắt trên thuyền là những đôi mắt của chim ưng biển, một loại chim lớn chuyên về ăn cá biển và thường xuất hiện khi có gió sự thẹn và sóng lớn. Osprey là một động vật khốc liệt dựa trên nói rằng "chim ăn thịt đầu tiên, cá thứ hai, con rắn thứ ba, thứ tư và con voi" được sử dụng vì sợ nổi bật vào trái tim của quỷ nước. Tại Lào, người ta cho tượng trưng cho đôi mắt cho các tàu thuyền bằng cách giả vờ đính kèm chúng vào con thuyền của các tàu thuyền, theo Pier Giovanni d'Ayala trong "Thuyền cứu rỗi". (Tạp chí You give tin Unesco [unesco Herald], Tháng Tám-tháng 9 năm 1991;. nguồn không nêu rõ thời gian thời gian) tiêu biểu mắt thuyền cho Vũng Tàu, Sài Gòn và Phú Quốc. Ảnh chụp của Thái A từ Blue Book của tàu ven biển, miền Nam Việt Nam, chuẩn bị khu vực trung tâm từ xa xung đột Thông tin, Viện Battelle, Columbus phòng thí nghiệm, Ohio, được xuất bản bởi Advanced Research Projects Agency, Bộ Quốc phòng Mỹ, 1967 Cũng theo trên bài viết, các con thuyền của ca nô tại Bali (Indonesia) có người đứng đầu Makara vẽ trên chúng. Makara là một con quái vật biển trong hội họa và điêu khắc Hindu có nguồn gốc từ cá heo, một sinh vật thần thoại mà là một nửa con voi và một nửa cá và đó là một biểu tượng của sông và đường thủy. Các tàu thuyền trên các đảo Hải Nam và Pakhoi (Quảng Đông, Trung Quốc) đã lớn, tròn hoặc hình bầu dục, đôi mắt trắng với học sinh đen chạm khắc, Voiliers D.Indochine JB Pietri của (Sili, Sài Gòn: 1949) cho thấy. Trên hình ảnh của những chiếc thuyền trang trí được nhìn thấy trên Đào Thịnh nung lọ (lọ đất nung là một trong những các mạch lưu trữ của người dân Đông Sơn, họ đã được sử dụng bổ sung trong các nghi lễ chôn cất), đáng chú ý là đôi mắt chim tròn lớn với học sinh màu đen được vẽ trên các con thuyền của các tàu thuyền. Đây có lẽ là dấu vết đầu tiên tại Việt Nam của các tùy chỉnh của sơn mắt trên những chiếc thuyền được ghi lại trên một đối tượng văn hóa. Điều này phù hợp với những câu chuyện liên quan đến phong tục lâu đời của sơn mắt trên thuyền về vua Việt Nam đầu tiên đề cập ở trên. Điều này cho thấy các tùy chỉnh đã được vững chắc khắc như một dấu ấn văn hóa Việt Nam từ thế kỷ trước Công nguyên 1 tôi tin rằng phong tục vẽ mắt trên thuyền có liên quan đến các tùy chỉnh của người dân Đông Sơn xăm mình của cơ thể để đối đầu với quái vật biển dưới đáy biển. Nhiều kỷ lục lịch sử Trung Quốc, "Hình xăm người Việt mình và cắt tóc để tránh sự nguy hiểm của con rồng nước" (Hanshu [Lịch sử của nhà Hán, Dilizhi Xia [tự điển địa dư, sau phần).Theo Lĩnh Nam chich quai (Tales lạ Trích từ Lĩnh Nam), "Những người sống như ngư dân, đã thường xuyên bị tổn thương bởi con rồng nước, kêu gọi các vua Hùng, hướng dẫn nhân dân tham mực và hình xăm cơ thể của họ trong hình thức của con quái vật nước. Từ đó trở đi, không có nguy hiểm hơn bị tổn hại bởi con rồng nước. Tục xăm cơ thể bắt đầu sau đó ". Một chiếc thuyền trên đảo Long Sơn, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Ảnh: Thái A Một chiếc thuyền tại Long Xuyên, tỉnh An Giang, Đồng bằng sông Cửu Ảnh: Vũ Khánh Trường Ở đây, con rồng nước có thể tham khảo con rắn biển, cá sấu, rắn nước, đó cũng là những sinh vật dưới nước mà thường xuyên gây tổn hại cho các cư dân của khu vực ven sông. Vì vậy, các tùy chỉnh của sơn mắt trên thuyền cùng với các tùy chỉnh về hình xăm cơ thể có cả hai từ lâu được thực hiện bởi các cư dân của khu vực ven biển và ven sông ở Việt Nam. Hôm nay, tuy nhiên, chỉ có dấu vết của tục lệ vẽ mắt trên tàu vẫn còn. Theo tín ngưỡng dân gian, các cư dân của khu vực ven sông đối xử với tàu thuyền của họ như "sinh vật tâm linh," động vật có linh hồn. Do đó, họ tin rằng tàu thuyền, giống như con người, cần phải có đôi mắt. Một chiếc thuyền trên đảo Long Sơn, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.Ảnh: Thái A Một chiếc thuyền trong tỉnh An Giang, Mekong Delta. Ảnh: Thái A Trong khu vực của Ấn Độ, người "mở mắt" của bức tượng thiêng liêng với mục đích endowing tượng với sức sống của cuộc sống. Ở những nơi khác, người "mở mắt" của mặt nạ. Ở Việt Nam, người "mở ra với ánh sáng" một chiếc thuyền mới khắc hoặc vẽ hai con mắt lớn trên mũi của nó. Jean Chevalier và Alain Gherrbriat tiết lộ trong cuốn sách Từ điển của biểu tượng mà ngư dân luôn luôn tìm kiếm người tạo thuyền có kỹ năng để tham dự cho đôi mắt của thuyền riêng của họ để họ sẽ thực sự đẹp hay, nếu đầy thù hận, ngư dân có thể nguyền rủa con mắt của thuyền của người khác . Các "mở cửa với ánh sáng và nằm rải rác trên đôi mắt" lễ hay "mắt mở" lễ tiếp tục được nhìn thấy trong một số nghi lễ Phật giáo, trong múa sư tử, và trong hải quan đối với thờ Thiên Chúa của Trái đất và Thiên Chúa của Wealth . Theo dự án Đông Dương Thuyền buồm JB Pietri, Việt Nam có được tùy chỉnh này từ các tàu thuyền của các nước Ả Rập.Các tàu thuyền đi qua từ Levant (các nước dọc theo biển Địa Trung Hải) đến Trung Quốc và dừng lại tại các cảng ở Biển Đông Trung Quốc. Theo tự điển địa dư trong Xin Tangshu (Một lịch sử mới của triều đại nhà Đường) từ thứ bảy đến thế kỷ thứ mười, tàu Trung Quốc, Iran, Ả Rập, và Indonesia trên các tuyến đường biển từ Quảng Châu (Trung Quốc) tới Baghdad (Iraq) luôn luôn cập cảng tại các đảo Chàm, Quảng Nam, Qui Nhơn, Nha Trang và Phan Rang. ý kiến Pietri của liên quan đến nguồn gốc của phong tục vẽ mắt trên tàu thuyền tại Việt Nam có thể không chính xác, vì ít nhất từ thế kỷ trước Công nguyên 1, mắt thuyền có thể đã được nhìn thấy trên các đồ tạo tác văn hóa Việt Nam (như trống Ngọc Lũ, Quảng Xương, và Cổ Loa, vv.) Tuy nhiên, điều này không loại trừ khả năng rằng các tùy chỉnh bị ảnh hưởng bởi các quốc gia khác. Ở Việt Nam, mắt thuyền được sơn trên cả hai mặt của mũi trong phong cách đa dạng khác nhau, nhưng họ chia sẻ một đặc điểm chung trong đó tất cả họ trông khá lành tính. Dựa trên sự xuất hiện và màu sắc của mắt thuyền, chúng ta có thể nói về nguồn gốc của một chiếc thuyền từ khu vực nào cũng như phạm vi hoạt động của nó. bởi corroborating công việc của Pietri với những chuyến đi của tôi đến một số tuyến đường thủy, tôi thấy các khu vực phân phối của mắt thuyền như sau: Đôi mắt thuyền từ Bà Rịa-Vũng Tàu để chia sẻ bắc trong mắt chung nhỏ được kéo dài về phía sau và có học sinh sơn màu đen chống lại nhãn cầu trắng. Các thuyền ở Cà Mau có đôi mắt thoi như hẹp và học sinh, đôi mắt là nhọn hướng về phía trước. Chúng được sơn thường xuyên hơn họ được chạm khắc. Một số mắt có học sinh hình tam giác với các góc tròn, đặc biệt là máy có gắn máy nhựa tổng hợp hẹp. Đôi mắt của chiếc thuyền trong khu vực của An Giang là hình elip với học sinh nhỏ nằm hướng về phía trước của mắt. Mang những chiếc thuyền "được sơn màu xanh lá cây. Ngoài ra, những điều cấm kỵ nhất định có liên quan đến phong tục vẽ mắt trên thuyền. Khi xây dựng một chiếc thuyền, các trại đóng tàu phải thực hiện một buổi lễ tạ ơn mở mắt. Việc mở cung cấp mắt diễn ra sau khi thân tàu được hoàn tất. Chủ sở hữu của chiếc thuyền cúng dường cho thuyền để vẽ mắt trên thuyền với mong muốn rằng thuyền sẽ được an toàn trên mặt nước và kinh doanh của chủ sở hữu sẽ diễn ra suôn sẻ. Các dịch vụ bao gồm hoa, tôm, thịt lợn và trứng vịt. ngư dân ở Vũng Tàu phong tục mời một pháp sư để chọn một ngày tốt lành mà trên đó để vẽ mắt trên một chiếc thuyền. Nếu họ không thể, họ chọn một thậm chí ngày. Chủ tàu không bao giờ cho phép người lạ chạm vào hai mắt của tàu thuyền của họ vì sợ rằng thuyền sẽ không thể bắt tôm và cá. * Nguyễn Thành Lợi dạy văn hóa tại Trường Cao đẳng Giáo dục Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh -
Nine of Wands Xuôi: Can đảm, kiên trì, kiểm tra đức tin, khả năng phục hồi Ngược: bất an, phòng thủ, do dự, hoang tưởng Ten of Wands Xuôi: gánh nặng, trách nhiệm, công việc khó khăn, căng thẳng, thành tích Ngược: tham công tiếc việc, trốn tránh trách nhiệm Page of Wands Xuôi: nhiệt tình, khám phá, phát hiện, tinh thần tự do Ngược: Không có ý tưởng, bi quan, thiếu định hướng Knight of Wands Xuôi: năng lượng, niềm đam mê, ham muốn, hành động, phiêu lưu, bốc đồng Ngược: hấp tấp, năng lượng phân tán, chậm trễ, thất vọng Queen of Wands Xuôi: tâm trạng phấn khởi, ấm áp, sống động, xác định Ngược: e dè, cộc cằn, yêu cầu khắt khe King of Wands Xuôi: tài lãnh đạo bẩm sinh, tầm nhìn, doanh nhân, danh dự Ngược: bốc đồng, vội vàng, tàn nhẫn, kỳ vọng cao http://mystichouse.vn/y-nghia-la-bai-tarot-trong-bo-wands/
-
Ý Nghĩa Bài Tarot Trong Bộ Wands Bộ Wands đại diện cho nguyên tố Lửa. Ý nghĩa các lá bài trong bộ Wands liên quan đến năng lượng nguyên thủy, tâm linh, nguồn cảm hứng, quyết tâm, sức mạnh, trực giác, sức sáng tạo, tham vọng và mở rộng, suy nghĩ ban đầu và những “hạt giống” mà qua đó cuộc sống sẽ phát sinh. Các lá bài Wands liên quan đến mức độ nhận thức về mặt tâm linh và phản ánh những gì quan trọng đối với bạn ngay tại điểm cốt lõi của bản thân bạn. Chúng giải quyết những gì tạo ra điểm nhấn cho bạn – cá tính, cái tôi, nhiệt tình, quan niệm, và năng lượng bản thân, cả bên trong lẫn bên ngoài. Các lá bài Wands cũng hàm ý đến tất cả những gì bạn làm trong ngày khiến bạn bận rộn, như làm việc ở công sở, việc nhà hoặc những hoạt động bên ngoài. Các lá Wands đi cùng với việc chuyển động, hành động, sáng kiến và đưa ra ý tưởng mới. Chúng có thể là dấu hiệu của một “Danh Sách Ý Tưởng” hoặc “Danh Sách Công Việc” vô tận, theo đó người được xem đang có nhiều dự án giữ cho họ bận rộn. Những khía cạnh tiêu cực của Bộ Wands (như, khi các lá bài Wands ở vị trí đảo ngược) gồm ảo tưởng, hành vi tự cao, bốc đồng, thiếu phương hướng hoặc mục tiêu, hoặc cảm giác vô nghĩa. Khi đề cập đến thời gian trong một trải bài Tarot, Bộ Wands thường đại diện cho Mùa Hè hoặc nhiều tuần. Nếu sử dụng bộ bài để chơi (playing card) thông thường, Wand được chuyển thành Clubs (Chuồn). Nhân Cách Trong Lá Bài Tarot Wands Wands đại diện cho cung hoàng đạo thuộc tính Lửa: Sư Tử, Nhân Mã và Bạch Dương. Người với Wands (đặc trưng bởi các lá bài Hội Đồng) thì năng động, lôi cuốn, ấm áp và tín ngưỡng. Các Lá Bài Wands trong Giải Bài Tarot Nếu trong một trải bài có các lá bài Tarot Wands chiếm ưu thế, thì bạn có thể chắc chắn rằng người được xem đang tìm kiếm những giải pháp cho các vấn đề chủ yếu về tư tưởng , hoặc đang trong những giai đoạn đầu phát triển. Người được xem cũng có thể đang tìm kiếm những mục tiêu cao hơn và có ý nghĩa hơn trong cuộc sống của họ, và họ sẽ muốn tìm hiểu hơn về những động lực và nguồn lực thúc đẩy họ. Ý Nghĩa 14 Lá Bài Tarot Trong Bộ Wands Ace of Wands Xuôi: Cảm hứng, sức mạnh, sáng tạo, khởi đầu, tiềm năng Ngược: Trì trệ, thiếu động lực, đè nặng Two of Wands Xuôi: kế hoạch tương lai, tiến độ, các quyết định, khám phá Ngược: Sợ hãi tiềm ẩn, thiếu kế hoạch Three of Wands Xuôi: Sự chuẩn bị, tầm nhìn xa, doanh nghiệp, mở rộng Ngược: Thiếu tầm nhìn xa, sự chậm trễ, trở ngại cho mục tiêu dài hạn Four of Wands Xuôi: lễ kỉ niệm, hòa hợp, hôn nhân, gia đình, cộng đồng Ngược: khắc khẩu, quá trình chuyển đổi Five of Wands Xuôi: không đồng ý, cạnh tranh, xung đột, căng thẳng Ngược: tránh xung đột, tăng cường tập trung vào các mục tiêu Six of Wands Xuôi: Được nhiều người biết đến, chiến thắng, tiến bộ, tự tin Ngược: Độc đoán, mất uy tín, thiếu tự tin, mất danh tiếng Seven of Wands Xuôi: Thách thức, cạnh tranh, kiên trì Ngược: Từ bỏ, quá tải, bảo vệ quá mức Eight of Wands Xuôi: Tốc độ, hành động, du lịch hàng không, chuyển động, thay đổi nhanh chóng Ngược: Sự chậm trễ, thất vọng, trì hoãn
-
KỸ NĂNG XÁC ĐỊNH PHƯƠNG HƯỚNG HOA PHƯƠNG HƯỚNG Ngoài ra, còn thêm 8 hướng phụ: Đông Đông Bắc, Đông Đông Nam, Tây Tây Bắc, Tây Tây Nam, Bắc Đông Bắc, Bắc Tây Bắc, Nam Đông Nam, Nam Tây Nam. La bàn là công cụ để chỉ phương hướng tốt nhất. Tuy nhiên, nếu trong tay không có la bàn, ta vẫn có thể dùng một số phương pháp khác để xác định phương hướng mà độ chính xác cũng rất cao. 3 CÁCH XÁC ĐỊNH PHƯƠNG HƯỚNG BẰNG MẶT TRỜI 1. Cách 1: Xem trực tiếp. Ngay từ nhỏ khi còn đi học ở tiểu học. Chắc chắn chúng ta đều biết một bài bài học võ lòng về “Xác Định Phương Hướng”. Đó là: - Sáng: Mặt trời mọc ở hướng Đông. - Chiều: Mặt trời lặn ở hướng Tây. - Giữa trưa: Mặt trời đứng bóng. Sau này, khi càng lớn lên. Chúng ta sẽ nhận ra rằng, phương pháp trên chỉ gần đúng mà thôi. thực tế, vị trí mọc và lặn của mặt trời trong năm không cố định mà thay đổi theo chu kỳ: Xuân Phân, Hạ Chí, Thu Phân, Đông Chí. Theo đó, (đối với vị trí Việt Nam) những ngày Xuân Phân và Thu Phân thì mặt trời sẽ mọc ở chính Đông và lặn chính Tây (xem hình). Những ngày Hạ Chí (mùa Hè) thì mặt trời mọc ở Đông Bắc và lặn ở Tây Bắc. Những ngày Đông Chí (mùa Đông) thì Mặt trời mọc ở Đông Nam và lặn ở Tây Nam. Giữa trưa, Mặt trời không đứng bóng mà lại chệch về hướng Nam, lúc đó bóng của vật sẽ đổ về hướng Bắc. Ngoài ra, còn thêm 8 hướng phụ: Đông Đông Bắc, Đông Đông Nam, Tây Tây Bắc, Tây Tây Nam, Bắc Đông Bắc, Bắc Tây Bắc, Nam Đông Nam, Nam Tây Nam. 2. Cách 2: Định hướng bằng GẬY và MẶT TRỜI (Phương pháp Owen Doff) Owen Doff là một nhà phi công người Anh. Trong suốt cuộc đời lái máy bay đi khắp nơi trên thế giới, ông đã nghiên cứu được một phương pháp xác định phương hướng bằng cách phối hợp giữa GẬY và MẶT TRỜI. Phương pháp này đã được ông thử đi thử lại nhiều lần (trên 1.000 lần) ở nhiều vị trí khác nhau trên Trái Đất (Từ cực Bắc cho đến cực Nam) và ở nhiều thời điểm khác nhau trong ngày (những lúc có bóng Mặt Trời). Cuối cùng, ông đã thu được kết qủa chính xác gần như tuyệt đối. Cách làm như sau: - Cắm một cây gậy xuống đất, đỉnh bóng ban đầu của gậy là T (hình 1). - Đợi khoảng 15 phút sau, bóng gậy sẽ khác đi. Đỉnh bóng của gậy lúc này ta sẽ đặt là Đ (hình 2). - Nối T với Đ, ta sẽ có đoạn thẳng TĐ và dễ dàng xác định được bên T là hướng Tây và bên Đ là hướng Đông. - Từ đường thẳng Đông Tây ta kẻ đường vuông góc sẽ có hướng Bắc và Nam. 3. Cách 3: Xác định phương hướng bằng đồng hồ có kim chỉ giờ. Với một chiếc đồng hồ có kim và 12 số chỉ giờ, ta vẫn có thể xác định phương hướng được. Gồm các bước sau: - Đặt đồng hồ nằm ngửa trên lòng bàn tay (theo phương nằm ngang) sao cho kim giờ chỉ về hướng của Mặt Trời hiện tại. - Chia đôi góc do chiếc kim chỉ giờ và đường 6-12 tạo nên. Đường phân giác này sẽ chỉ hướng Bắc – Nam (góc nhỏ nhìn về hướng Nam – góc lớn nhìn về hướng Bắc). Ví dụ trong hình vẽ là 13g00, tức 1g00 chiều. Nguyên lý của phương pháp này dựa trên hiện tượng Mặt Trời mọc và lặn đối với Trái Đất, tạo thành một đường tròn xung quanh Trái Đất, trong 24 tiếng đồng hồ. Kim giờ của đồng hồ thì quay một vòng tròn trong 12 giờ, nghĩa là trong cùng một thời gian, kim đồng hồ vạch cung lớn hơn 2 lần. Hiểu một cách ngược lại, nếu ta lấy hướng Bắc – Nam chia đôi cung do kim giờ vạch ra (với vị trí của mặt đồng hồ như đã làm ở trên), ta sẽ tìm thấy hướng của Mặt Trời đang hiện diện. Tuy nhiên, phương pháp này không chính xác cho lắm, sai số có thể lên đến hàng chục độ. Nguyên nhân chính là vì mặt đồng hồ được đặt song song với mặt phẳng chân trời, còn đường di chuyển hàng ngày của Mặt Trời chỉ ở cực mới nằm trên mặt phẳng nằm ngang. Còn ở các vĩ độ khác, đường đó tạo nên với đường chân trời những góc khác nhau, góc đó có thể lớn hơn 90 độ (ở Xích Đạo). Vì lẽ đó, chỉ có ở vùng gần cực thì mới có thể dùng phương pháp này để xác định phương hướng cho kết qủa chính xác mà thôi. XÁC ĐỊNH PHƯƠNG HƯỚNG BẰNG MẶT TRĂNG Ban đêm nếu có trăng, thì vị trí của Mặt Trăng trên bầu trời có thể giúp chúng ta xác định phương hướng. Do Mặt Trăng cũng nằm trên đường Hoàng Đới, nên dường như nó cũng mọc ở hướng Đông và lặn ở hướng Tây giống như Mặt Trời. Nhưng Mặt Trăng lại khác Mặt Trời ở chỗ: lúc thì tròn lúc thì khuyết, nên việc xác định phương hướng cũng khác đôi chút. Dân gian ta có câu: Đầu trăng trăng khuyết ở Đông. Cuối trăng trăng khuyết ở Tây. Hoặc đơn giản hơn có thể nhớ: Đầu tháng Tây trắng. Cuối tháng Tây đen. (Tây ở đây là Hướng Tây) Tức là ta căn cứ vào khoảng những ngày trước rằm Âm Lịch (từ mùng 1 Âm Lịch đến mùng 14 Âm Lịch) thì phần khuyết của trăng sẽ chỉ về hướng Đông. Ngày Rằm, suốt đêm quan sát thấy ánh trăng tròn sáng vằng vặc trên bầu trời. Ta có thể dùng “Phương pháp Owen Doff” để xác định phương hướng cũng được. Còn vào khoảng những ngày sau rằm Âm Lịch (từ mùng 17 đến mùng 30) thì phần khuyết của trăng sẽ chỉ về hướng Tây. XÁC ĐỊNH PHƯƠNG HƯỚNG BẰNG NHỮNG ĐỊA VẬT ĐẶC BIỆT Nếu như không có la bàn, không có ánh Mặt Trời cũng như không có Mặt Trăng… thì ta đành phải sử dụng một số phương pháp cổ điển của một số người dân đi rừng như. Tuy mức độ chính xác không cao, nhưng cũng phần nào giúp cho người lạc lối yên tâm và bình tĩnh tìm được lối về. Trước hết, nếu có Bản Đồ trong tay, ta có thể sử dụng các dấu hiệu, các địa vật đặc biệt. Thí dụ: một cây cầu, một con đường quốc lộ… mà ta đã biết rõ hướng và vị trí của nó trên Bản Đồ. Có thể xác định vị trí nơi ta đứng, trên cơ sở đó phân biệt các hướng khác nhau. * Hoa Hướng Dương luôn quay mặt về hướng Đông, do đó nó mới có tên là Hướng Dương (hướng về Mặt Trời mọc). * Các hình dáng đặc thù của thân cây cao trong khu rừng rậm luôn có chiều hướng về phía Mặt Trời mọc để đón lấy ánh nắng Mặt Trời. * Ở những vùng nhiệt đới – Xích Đạo, rêu (hoặc địa y phát triển cộng sinh) mọc trên thân cây ở phía Tây rất nhiều. Ở vùng ôn đới thì rêu sẽ mọc hướng Bắc. * Bụi cây, chòm cây độc lập, trong những tháng có gió Đông Bắc (gió lạnh), khi có động chim từ hướng nào bay ra nhiều, dưới gốc cây có nhiều cứt chim là hướng Tây Nam. * Lõi của thân cây lớn (thân cây nếu bị cắt ngang) sẽ chỉ về hướng Bắc. * Dựa vào hướng bay của chim: Mùa Đông thì bay về hướng Nam di trú, mùa Hè thì bay về hướng Bắc (chỉ chú ý những con chim bay cao). * Măng tre, chuối con thường mọc hướng Đông trước to hơn, các hướng khác mọc sau bé hơn. * Tổ kiến: che đắp nhiều lá hướng Bắc (kể cả tổ kiến trên cây lẫn dưới đất. Trừ những nơi thấp, không có mưa, ít gió). * Lỗ của tổ ong, chim đục trên cây làm tổ thường là hướng Đông Nam. ĐỊNH HƯỚNG BẰNG SAO HÔM – SAO MAI Bởi vì nó rất gần Mặt Trời cho nên từ Trái Đất nhìn tới, ta thấy nó rất sáng và thường xuất hiện “gần gũi” với Mặt Trời vào những lúc hửng sáng và chập tối. Lúc Kim Tinh mọc vào khoảng chập tối (sau khi Mặt Trời vừa lặn xong), nó được gọi là Sao Hôm, vị trí của nó ở hướng Tây. Và khi Kim Tinh mọc vào lúc hửng sáng (trước khi Mặt Trời mọc), nó được mọi người gọi là Sao Mai, vị trí của nó là ở hướng Đông. CÁCH SỬ DỤNG LA BÀN Khi sử dụng la bàn, ta cần nhớ rằng hướng Bắc của la bàn (còn gọi là Bắc Từ) không trùng với hướng Bắc của cực (trục) Trái Đất. Chúng các nhau tới gần 2.000km (tức khoảng 13,8 độ Vĩ Tuyến – dài xấp xỉ chiều dài nước Việt Nam). Độ lệch đó gọi là Độ Từ Thiên. Độ Từ Thiên thay đổi tùy theo vị trí nơi ta đứng trên Trái Đất. Ở một số nơi, Độ Từ Thiên còn thay đổi theo thời gian. Điểm tập trung Bắc Từ trường của Trái Đất nằm ở trên đảo Bathustle thuộc miền Bắc nước Canada, đó là một hòn đảo từ trường cách chính diện Cực Bắc 13,8 độ. Tọa độ địa lý của Bathustle là 101 độ Kinh Tây và 76,2 độ Vĩ Bắc (điểm có mũi tên chỉ trên bản đồ dưới đây). Nơi đây là trung tâm điểm từ trường của cực Bắc. Do đó, tất cả những loại nam châm (hoặc những kim loại có từ tính) trên qủa địa cầu này đều có một cực chỉ về hướng Bắc. Còn điểm Nam từ trường thì nằm ở ngoài khơi biển Nam Băng Dương, có tọa độ địa lý là 139 độ Kinh Đông và 65 độ Vĩ Nam (theo số liệu của Cục Đo Đạc bản đồ - năm 1970). Lợi dụng đặc điểm này, người ta đã tạo ra la bàn để định hướng. Theo các nhà khảo cổ thì những người Trung Hoa đã tìm ra nguyên tắc từ trường và sáng chế ra la bàn từ khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên. Ở nước ta, Bắc la bàn xem như gần trùng với hướng bắc của qủa đất, Độ Từ Thiên không qúa 1 độ. Khi sử dụng la bàn ta phải lưu ý các điểm sau: - Không gần vật kim loại: kim nam châm sẽ chỉ lệch. - Không để gần lửa: Nam châm sẽ mất từ tính. - Phải để trên một mặt phẳng nằm ngang: kim nam châm sẽ chỉ hướng một cách chính xác. từ: http://tntt-dongha.blogspot.com
-
Thủy quái Makara Từ thần thoại Ấn Ðộ đến các tín niệm Phật giáo Hình tượng của linh vật thần thoại Makara trong điêu khắc cổ xưa ở các đền điện Hindu và Phật giáo trải rộng khắp Nam Á và Đông Nam Á. Makara được mô tả sinh động như là vật trấn giữ ở lối vào các điện thờ Hindu và chùa chiền, chính điện Phật giáo. Việc motif nghệ thuật này được thấy ở hầu hết di tích, di vật kiến trúc và mỹ thuật châu Á đã chỉ ra vai trò quan trọng của nó đối với lịch sử văn hóa - tín ngưỡng lẫn lịch sử mỹ thuật các nước châu Á, bao gồm cả Việt Nam. Makara trong thần thoại Ấn Độ Truy tìm từ điểm khởi phát, Makara là một con quái vật biển trong các tranh tượng Hindu giáo, phát sinh từ loại cá heo sông Hằng, nhưng hình tướng phổ biến có nhiều đặc điểm giống con cá sấu. Trước hết, Makara là một biểu tượng của các vùng sông nước. Nó thường được miêu tả có hình dáng nửa động vật trên cạn với phần trước là đầu voi, cá sấu, bò đực hoặc hươu/nai và phần thân mềm dẻo của động vật dưới nước với đuôi cá, hải cẩu và trong một vài trường hợp nó có chiếc đuôi cách điệu hoa mỹ giống đuôi công. Nó là sinh vật đa hợp nhân cách hóa từ bản chất hung ác, dữ tợn của cá sấu. Do sự tiến hóa của phong cách nghệ thuật mà hình dạng Makara hiện thời có chân trước có móng vuốt của sư tử, bờm ngựa, mang cá, uốn cong như cá với hàm, vòi và gạc nai hay rồng. Đặc biệt, Makara luôn có mõm uốn cong như vòi voi. Một trong những thần tích kỳ thú liên quan đến Makara là thần thoại kể về nữ thần sông Hằng (Ganga). Ở đây, Makara là vật cưỡi của nữ thần sông Hằng và chính từ các hình tướng này nó được liên hệ với loài cá heo nước ngọt sống ở sông Hằng. Nữ thần Ganga với hóa thân là con sông Hằng (Ấn Độ) có nguồn gốc gắn liền với câu chuyện huyền ảo: Thuở nọ, vua Sagara đã đạt được phúc báo kỳ diệu: có được 60.000 người con. Một ngày, nhà vua Sagara cử hành lễ nghi cầu phúc cho vương quốc. Ở nghi lễ này, phần không thể thiếu là một con ngựa, nhưng nó đã bị trộm mất bởi sự đố kỵ của Indra. Sagara cho các con mình đi khắp trái đất để tìm kiếm con ngựa. Rồi họ tìm thấy nó ở dưới âm ty bên cạnh nhà hiền triết Kapila đang ngồi trầm ngâm. Tin rằng nhà hiền triết đã đánh cắp con ngựa, họ thốt ra những lời lăng mạ, sỉ nhục ông và khiến lễ sám hối của ông bị xáo động. Nhà hiền triết đã mở mắt lần đầu tiên sau nhiều năm nhập thiền và nhìn những người con vua Sagara. Với cái nhìn đó, tất cả 60.000 người con của đức vua đều bị thiêu đốt chết sạch. Linh hồn những người con lang thang như ma kể từ khi nghi lễ cuối cùng không được cử hành đó. Khi Bhagiratha, một trong những đứa cháu vua Sagara, con của Dilip, biết được số phận đó của tổ tiên đã nguyện mang nước của Ganga (sông Hằng) xuống trái đất để tẩy rửa và giải thoát cho những linh hồn lên thiên đường. Bhagiratha cầu xin Brahma cho Ganga ở trên trời (tức dải ngân hà) đổ xuống đất. Vì sự chí nguyện kiên trì của Bhagiratha, Brahma động lòng và đã ra lệnh cho Ganga chảy xuống trái đất và tận âm ty để linh hồn tổ tiên của Bhagiratha có thể lên được thiên đường. Ganga cảm thấy đó là điều sỉ nhục và quyết định quét sạch, hủy diệt toàn bộ trái đất khi nữ thần đổ từ trên trời xuống. Lo sợ, Bhagiratha cầu xin thần Shiva giúp đỡ: thần lấy đầu mình để đỡ dòng nước đổ từ trên trời dội xuống để cứu lấy thế gian. Ganga kiêu ngạo trút xuống trên đầu thần Shiva. Nhưng Shiva điềm tĩnh ngăn nữ thần lại trong tóc của mình và để nữ thần chảy ra thành những dòng sông nhỏ. Và nước chảy trên trái đất giúp gột sạch những linh hồn bất hạnh nơi đây. Ganga giờ đây là một con sông chảy qua ba thế giới - Swarga (thiên đường/trời), Prithvi (đất) và Patala (âm ty hay địa ngục). Nó được gọi là Tripathaga (người du hành qua ba thế giới) trong Phạn ngữ(1). Makara là vật cưỡi của vị nữ thần sông Hằng thiêng liêng này. Ngoài ra trong thần thoại Ấn Độ, Makara còn là vật cưỡi của thần đại dương Varuna. Varuna và Mitra - trong thần phả Vê-đa, Varuna là vị thần chúa tể của thiên giới, luôn luôn đi cùng thần Mitra. Varuna cùng Mitra đôn đốc sự vận hành và cai quản trật tự của vũ trụ, trời đất. Mitra theo dõi các mối liên hệ giữa con người với con người, là vị thần linh Ánh sáng, trụ trì ban ngày. Còn Varuna theo dõi việc thi hành luật vận động vũ trụ, trông nom mối quan hệ giữa thần và người, bảo vệ công lý, thưởng người tốt, trừng phạt kẻ xấu và những người nào không tuân theo luật vận động đó. Varuna là thần trụ trì về ban đêm, là thần của không trung. Ngàn vạn ngôi sao được coi là những con mắt cảnh giác của Varuna đối với trần thế. Người ta hình dung Varuna như một vị thần thân hình màu xanh sẫm, mặc áo trắng, đứng/cưỡi trên con Makara, tay cầm sợi dây thắt nút/tấm lưới đánh cá. Về sau này, trong thời kỳ đạo Hindu, Varuna đã giữ một vai trò ít quan trọng hơn. Lúc đó, Varuna trở thành thần biển, trấn giữ phương Tây(2). Theo sách Bhagavad Gita, Makara là con vật dũng mãnh, chiếm vị trí nổi trội trong thế giới sông nước: vị trí của Makara giữa đàn cá cũng như sông Hằng so với các con sông khác, hoặc như vị thế của dũng sĩ Rama so với các chiến binh trong trường ca Ramayama cổ đại Ấn Độ. Trong vòng hoàng đạo của Ấn Độ, Makara là cung Capri-conus, tức cung Nam Dương trong hoàng đạo phương Tây và như vậy nó tương ứng với đông chí, bản thân điểm chí này lại ứng với yếu tố nước. Người ta gọi đông chí là cái cửa của các thần, cửa của mặt trời, vì đó là điểm gốc của giai đoạn đi lên trong chu kỳ hàng năm. Ý nghĩa biểu tượng của cái mõm con quái vật, coi như cái cửa là đã rõ và có hai mặt: hoặc là cứu sống, hoặc là ngấu nghiến; ở đây mõm cá heo hoặc cá sấu, là cái cửa giải thoát hay cửa tử vong: bị hút vào cái miệng ấy là bị tiêu diệt hay là vượt qua được những điều kiện của cuộc sống phù sinh(3). Ngoài sự gắn kết với Ganga, Varuna, còn thấy thần bảo tồn Vishnu đeo khuyên tai Makarakundalas hình Makara(4) - một hình tượng của nhận thức lý tính và nhận thức trực giác.Thần mặt trời Surya và nữ thần Mẹ Chandi thỉnh thoảng cũng được trang trí cùng chiếc khuyên tai Makarakundalas. Trên lá cờ cầm tay của thần tình yêu Kamadeva – cờ Ma-yết (Makaradhvaja) - cũng có vẽ hình Makara, với đầu giống như đầu linh dương, thân và đuôi thì có hình dạng của loài cá (5). Makara ở đây là biểu tượng cho năng lực tính dục. Vị thần tình yêu này được xem như tương ứng với Aphrodite hay Venus (nữ thần tình yêu của Hy Lạp, La Mã), họ được sinh ra từ biển và vỏ sò, cá heo là vật tượng trưng chủ yếu. Trong ý nghĩa này, Makara cũng là biểu tượng trang sức được sử dụng phổ biến như là quà cưới cho cô dâu. Ở vòng xuyến bạc rỗng dát đá quý ở mắt và tai Makara là món nữ trang dùng làm quà cưới dành cho cô dâu. Hàm Makara làm bằng ngọc trai thể hiện đặc tính tính dục(6). Các đồ án Makara Trong nghệ thuật Ấn Độ, Makara được thể hiện bằng nhiều motif đăc biệt phong phú, mô tả sinh động với các phong cách khác biệt. Mẫu trang trí Makara được đặt trên lối/cổng đi vào của các công trình Phật giáo, gồm cả tháp Sanchi, một di sản thế giới. Nó cũng được tìm thấy là linh vật có chức năng trấn giữ lối/cổng vào cung điện hoàng gia. Vào thời Trung cổ, ở Nam Ấn Độ, Makara đã biến đổi ở giai đoạn thứ 5 của sự phát triển, là các biểu tượng trong hình dáng của cái đầu voi và thân có vảy, các vảy xếp nếp và được trau chuốt tỉ mỉ ở chiếc đuôi cá. Về sau, Makara được thể hiện theo các đồ án kết hợp với các linh thú khác. - Đồ án Makara-Kirtimukha: Ở điện thờ Hindu, Makara thường thấy trên cấu trúc mái vòm của cổng, cửa và torana đằng sau tượng Phật. Vòm/khung tò vò lộ ra từ hàm của một con Makara, đi lên đến chóp là Kirtimukha (khuôn mặt vinh quang, biểu tượng cát tường) và quay trở xuống chui vào mồm đang há hốc của một con Makara khác. Là một quái vật biển, song nó cũng được thể hiện với cái đầu và chân của loài linh dương, song thân và đuôi là cá. Makara Tây Tạng Kiểu thức này cũng thấy trong điêu khắc tháp Chàm. Ở đây, Makara, một thủy quái, biểu tượng của nước. Trong trang trí kiến trúc Makara thường nằm hai đầu mi cửa hoặc vòm cuốn, còn Kala (Kirtimukha) thì nằm chính giữa(7). - Đồ án Makara-Naga: Ở Bắc Thái Lan, Makara được mô tả như một loại sinh vật giống cá sấu được nhận biết bởi cái hàm mở rộng lởm chởm những răng nhọn. Từ cái hàm đó, phát ra con rắn thần Naga hay những cành sinh dưỡng, hay thậm chí cả những con vật khác - có vai trò liên quan đến yếu tố nước, biểu thị cho sự màu mỡ. Đôi khi, Makara có cái mũi cuộn giống cái vòi voi thu nhỏ. Vào thời đại Mon Hariphunchai, như đồ án trang trí ở Wat Kukut, Lamphun: Makara chỉ có cái đầu phun ra những vòng hoa, tương tự như bản sao của Mon Dvaravati. Phần lớn Makara thời kỳ Lan Na giống Mom, hình thái biến thể của Makara Miến Điện/ La Na. Mom được mô tả với thân có vảy, giống con thằn lằn và có một cái đầu ngắn giống chó mà không có tai. Về sau, cặp Mom được đặt trên lan can/hàng chấn song bao lơn nơi chúng canh giữ cổng chính điện. Tuy nhiên, công năng canh giữ của nó không có được năng lượng của rắn thần Naga trợ giúp. Vào thời kỳ Lan Na, Makara được kết hợp với Naga. Cái thân dài và giống rắn, với chân cá sấu nhỏ mọc ra ở trước và sau, trong khi cái đuôi xoắn cuộn giống rắn hay dạng đao mác đầu ngọn lửa(8).Motif Makara-Naga cũng được thấy phổ biến trong kiến trúc chùa tháp Khmer và Lào... - Đồ án Makara trong mandala: Trong nghệ thuật Newar của Nepal, đồ án Makara được sử dụng rộng rãi. Trong kiến trúc Newar, nó được miêu tả như người canh gác/bảo vệ cổng ra vào. Hình ảnh Makara thể hiện trên những nhánh cung cong của kim cương chử (vajra) rộng lớn đi ngang qua nó, bao quanh 4 cổng của một loại mandala. Trong dạng mandala khác, kim cương chử băng ngang qua đỡ lấy toàn bộ cấu trúc của tòa nhà tráng lệ mandala, biểu trưng cho sự kiên định bất di bất dịch của vùng đất kim cương mà nó tọa lạc trên đó(9). Trên các cửa chính của biểu tượng mandala, có hình con Makara đang tôn vinh bánh xe Pháp luân: há miệng phun ra những luồng ánh sáng vinh quang(10). - Đồ án Makara ở đầu hồi, gờ mái: Trong định dạng Phật giáo Tây Tạng, hình dáng Makara được lấy từ Ấn Độ. Tuy nhiên, có một vài sự khác biệt được thể hiện như chân trước có móng vuốt như sư tử, bờm ngựa, mang cá và xoắn như cá, gạc của hươu/nai hay rồng và đặc biệt là chiếc đuôi cá xoắn ốc phức hợp được trang trí lồng trong đồ án đuôi Makara (Phạn: Makaraketu). Ở đây Makara phần nào tương đồng với con ly trong mỹ thuật Trung Quốc và hình tượng khá giống với cá chép hóa rồng. Tại đầu hồi kiến trúc đền chùa, chi tiết gờ mái Trung Quốc và Tây Tạng, Makara được trang trí như con vật bảo vệ nguồn nước, mưa, mưa đá, mưa bão, sấm sét. Biểu tượng đầu Makara ở góc mái/nóc các điện thờ biểu trưng cho yếu tố nước, có chức năng như vòi nước hay miệng máng xối. Nó được xem như là vòi nước của suối nguồn mùa xuân(11). Ở Thái Lan, một di vật Makara hiếm hoi thời Lan Na được thấy ở gờ mái dãy sala wat Ton Kwen, Hang Dong, gần Chiang Mai(12). Ở Cam Bốt, Makara là motif đặc trưng của kiến trúc tôn giáo Khmer ở vùng đất Angkor, thủ đô vương quốc Khmer. Makara thường được trang trí chạm khắc trên rầm đỡ/lanh-tô, tympanum hay những bức tường. Makara thường được thể hiện với biểu trưng động vật khác như sư tử, naga/rắn lòi ra từ cái mồm há hốc. Makara là đồ án chủ yếu trong những rầm đỡ/lanh-tô tuyệt đẹp của nhóm đền điện Roluos: Preah Ko, Bakong và Lolei. Tại Banteay Srei, chạm khắc Makara phun ra những con quái vật khác được đặt ở góc nhiều tòa nhà(13). Ngoài ra còn một số đồ án Makara khác: Makara sinh ra thần linh, Asura, (Chàm) và những linh vật khác; hay Makara được dùng làm vật trang trí đầu vòi nước (Nepal)... Nói chung, Makara là linh thú kết hợp hai con vật: một loài dưới nước và một loài trên cạn. Nếu chỉ chú trọng vào hai đặc điểm chính của Makara là linh vật kết hợp cá sấu và vòi voi thì cá sấu và voi là biểu tượng vật đỡ thế giới, là thành viên lớn của vũ trụ. Ngoài ra cá sấu, voi là biểu tượng của mưa và yếu tố nước(14). Như vậy, có phần tương đồng chung giữa hai con vật này trong một phức thể Makara. Là một linh vật kết hợp con vật thượng thủ ở dưới nước với con vật được coi là thượng thủ ở trên cạn, tùy thuận theo nếp nghĩ của từng tọa độ địa lý-văn hóa khác nhau, song Makara vẫn đảm bảo bản chất thậm phồn (hyber one) biểu thị sức mạnh trấn giữ vô địch, chống lại/ngăn cản hiệu quả các thế lực xấu ác, tà mỵ. Makara trong pháp khí Mật tông Kinh Chuẩn-đề-Đà-la-ni hội thích cho biết Makara (Ma-yết) là loài cá kình to lớn (dài hơn 10 mét, hoặc vài trăm mét) có thể nuốt các loại ghe thuyền lớn. Do đó, những người đi trong sông sâu biển lớn nếu tụng chân ngôn “Chuẩn-đề Đà-la-ni” thì không bị trôi chìm và không bị các loài ác long, ma yết, cá sấu, cá mập làm tổn hại(15). Như vậy, Makara được coi là con vật thượng thủ ở cõi thủy phủ. Trong chừng mực nào đó, Makara giống như loài Khú của người Mường, như thuồng luồng, giao long trong thần thoại Việt thời Hùng Vương. Cờ Ma-yết (Makaradhvaja: cờ chiến thắng Makara) sớm nhất là cờ chiến thắng Yasha (Dạ xoa) hoặc Thấp Bà (Siva) với Dục Thần/Ma Vương (Mara). Hình dạng của nó do một lá cờ hình ô/dù khép lại, đầu Makara treo trên đỉnh cao, cán là bảo kiếm hoặc cán gỗ đơn giản. Trong chiến sự của Ấn Độ cổ thường dùng đầu cá sấu hoặc da đầu cá sấu để làm mũ đội, hoặc làm lá cờ cắm trên cán cờ, có tác dụng đe dọa và uy hiếp kẻ địch. Trong những trận chiến cổ xưa, cờ nghi thức thường sử dụng da cá sấu, cọp, sói, bò đực. Có khi cờ Makara cũng được vẽ có thắng lợi tràng với những dải màn tơ treo trên đầu Makara. Tương truyền, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi ngồi dưới gốc Bồ-đề bị Ma vương công kích đã dùng cờ Makara để làm cờ hiệu của mình. Trong giai đoạn đầu của Phật giáo, bốn cờ Makara được cắm ở bốn hướng lớn của nền tháp, tượng trưng cho Phật Đà báo phục Tứ ma (ma âm, ma phiền não, ma tử và ma dục), hoặc chiến thắng bốn lính của ma. Cờ Makara cũng là pháp khí cầm ở tay phải “phương tiện” của thần tinh tú Rahula/La-hầu (khởi nguồn là cờ chiến của Rudra/Shiva), tượng trưng về việc ngài đã giáng phục Tứ ma - đại diện cho sự mê hoặc, và đoạn trừ ma chướng của “Ngũ độc”. Makaradhvaja hay cờ đầu sấu là trì vật của Rahula(16). Trong Quán Tự Tại Bồ-tát A-ma-lai pháp thì cá Ma-kiệt (Makara) là vật cầm tay của A-ma-lai Quán Âm. (17) Trong mỹ thuật Tây Tạng, những vết tích đầu súc vật được mô tả trên áo giáp của các chiến binh, cũng như bốn vị hộ pháp, đặc biệt là Virudhaka, vị hộ pháp xanh của phương Nam, đội mũ giáp sắt là cá sấu hay Makara(18). Makara còn được thể hiện với hình ảnh con cá sấu bám chặt trên các pháp khí kim cang thừa Tây Tạng . Đầu Makara được điêu khắc trên cán tay cầm của búa kim cương (phủ việt) với công năng như một loại thần thú trong truyền thuyết Ấn Độ, mang nhiều đặc trưng dũng mãnh của các loài động vật như voi, sư tử, có thể mang lại nguồn sức mạnh lớn cho pháp khí. Búa kim cương là một pháp khí thường xuất hiện trong Phật giáo Tạng truyền, được cầm bên tay phải và tượng trưng cho phương pháp, đại diện việc trừ bỏ sáu phiền não căn bản đó là tham, sân, si, mạn, nghi, ác. Hình dạng của nó tựa như chiếc rìu binh khí thời cổ, đầu cán hình chày kim cương, thân đao và lưỡi búa ở phía dưới có hình giống chiếc rìu, trên cán tay cầm và pháp khí có điêu khắc trang trí hình đầu Makara; ngọn lửa, chuỗi ngọc, vòng... Đặc tính của nó đại diện cho sự kiên cố, vững chắc, sắc bén, vô địch, không gì có thể thắng được, đồng thời còn tượng trương cho sự bất khả bại của chư thánh thần Phật giáo... Thêm vào đó, chỗ là cán dao và thân dao kim cương nối với nhau là Ma-yết (Makara), tượng trưng cho sức mạnh to lớn của dao kim cương... Dao kim cương hay còn gọi là chày Phổ-ba (Phurba), giống với chày kim cương, vốn cũng là một loại binh khí, sau này trở thành một pháp khí trong Phật giáo Tạng truyền. Trong tiếng Phạn, nó chỉ một cái cọc hay cọc nhọn hoặc những loại vật dụng nào nhọn có thể đâm xuyên qua vật khác. Pháp khí này đã được dùng trong các nghi thức Phật giáo. Khi các Lạt-ma tu pháp, có thể cắm nó ở bốn góc đàn thành, khiến cho các góc của đạo tràng kiên cố và vững chắc như kim cương, bất kỳ ma chướng nào cũng không thể xâm hại được, vì thế nó có tác dụng trừ tà...(19). Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới lý giải hình ảnh Makara được khắc trên dao nhọn phurba là con dao găm ma thuật có lưỡi ba cạnh được coi là cái lưỡi nuốt chửng các loài yêu quái nào mà nó đâm xuyên(20). Nói chung, Makara trong pháp khí Mật tông vẫn bảo lưu đặc tính dũng mãnh và công năng trấn giữ thù thắng của truyền thống Ấn Độ. Điều này có phần khác với Phật giáo Đại thừa. Makara trong văn hóa Phật giáo Theo Từ điển Phật học Huệ Quang, Makara là từ Phạn ngữ, phiên âm là Ma-kiệt để chỉ Ma-kiệt ngư (còn gọi Ma-già-la ngư, Ma-ca-la ngư); Hán dịch: Đại thể ngư, Kình ngư, Cự ngao. Đây loại cá lớn được đề cập trong nhiều kinh luận và xem là đồng loại với Ngạc, Sa ngư, Hải đồn (lợn biển) trong thực tế và mặt khác nó là loại cá trong giả tưởng, có tính chất biểu tượng(21). Điều đó, cũng được tác giả sách The handbook of Tibetan Buddhist symbols xác định Makara ám chỉ một loài thủy quái. Con rắn biển hay thủy quái thần thoại này tìm thấy trong tập hợp biểu trưng các tiềm thức văn hóa cổ xưa(22). Cùng với sự truyền bá Phật giáo, linh vật Makara đã truyền nhập khắp Đông Nam Á và Đông Á. Makara vào Trung Hoa khoảng đời nhà Hán. Sách Nhất thiết kinh âm nghĩa (quyển 40, Đại tạng kinh) ghi: “Ma-kiệt là tiếng Phạn, trỏ một loài cá lớn ngoài biển, có thể nuốt được mọi thứ”. Sách Pháp uyển châu lâm ghi: “Cá lớn Ma-kiệt thân dài 300 đến 799 do tuần”. Kinh A-hàm miêu tả cá có “mắt như mặt trời, mặt trăng, mũi như núi to, mồm như hang đỏ”. Sách Thái Bình ngự lãm thuật lại sự tích như sau: “Vào đời Hán, sau khi điện Bách Lương bị hỏa hoạn, có người thầy mo đất Việt nói rằng: Ngoài biển có con ngư cù (rồng cá), đuôi giống đuôi chim xi, thúc sóng mà làm mưa, bèn tạc tượng con thú ấy để yểm hỏa tai”. Từ đời Tống Minh trở về sau, hình thức được Hán hóa dịch là xi vẫn có hình dạng “thân cá, đuôi xi” đã biến mất thay vào đó là hình ảnh con rồng - được tạc cùng một thanh kiếm hay kích (biểu tượng của sấm sét và mưa gió như là một điệp thức biểu tượng về trừ hỏa-làm mưa, hay cao hơn nữa là biểu tượng uy quyền-trừ tà, trừ ma). Xi vẫn/makara đã được Việt hóa bằng hình ảnh con rồng hoặc con thú có bốn chân, và được gọi là con xô/sô (cách đọc trại âm của từ thú - âm Bắc Kinh là shou). Đặc điểm của con xô là đuôi thường được uốn cong, có khi trở thành chùm mây xoắn cách điệu. Có người giải thích rằng, đó là biểu hiện của tín ngưỡng thờ thần mưa trong cư dân nông nghiệp. Tuy nhiên, đây vẫn là biểu tượng của thần nước từ văn hóa Ấn Độ và thần trừ hỏa tai có nguồn gốc Trung Hoa. Makara được nhận biết theo truyền thống luôn gắn với nước, nguồn gốc của mọi sự tồn tại và màu mỡ. Trong tranh tượng thờ, hình cung Makara là biểu tượng của cơn mưa lành, của nước trên trời đổ xuống tạo màu mỡ cho đất, được đồng nhất với cầu vồng(23). Trong bài viết Biểu tượng xi vẫn ở chùa Diên Hựu của Trần Trọng Dương(24) thì từ tiếng Phạn là Makara (Ma-kiệt ngư, Ma-ca-la, Ma-già-ga) do người Trung Hoa dịch ra nhiều tên gọi chỉ những biến thể khác nhau: 1/Xi vẫn: miệng rồng đuôi chim xi; còn có tên là li vẫn: miệng rồng, li đầu: đầu rồng; 2/Xi vĩ: đuôi chim xi (vĩ: đuôi chim trên mái đền); 3/Long vẫn: miệng rồng; 4/Long vĩ: đầu rồng đuôi xi; 5/Li hổ: rồng hổ; 6/Li long: rồng; 7/Cù vĩ: đuôi rồng; 8/Xi manh: mái có chim xi; 9/Thôn tích thú: thú ngậm nóc; 10/Vẫn thú: thú há miệng. Hình của nó thường được dùng để đắp trên bờ nóc, bờ mái của các công trình kiến trúc thời cổ, miệng xi vẫn thường há rộng hoặc ngậm vào đầu kìm. Đặc điểm này có phần tương đồng với Ly - một trong chín con rồng theo Phương Đình tùy bút lục của Nguyễn Văn Siêu (Ly: mõm như mõm thú, ưa nhìn ngó, đó là rồng trên nóc nhà). Dấu tích Makara thể hiện rõ trong loại đầu rồng làm bằng đất nung trong tập hợp cổ vật Hoàng thành Thăng Long phát hiện vào năm 2003. Đó là loại Rồng-Makara chịu ảnh hưởng từ nghệ thuật tạo hình Champa thời bấy giờ. Đặc trưng hiển lộ là cái môi trên vểnh cao, phía trong có vài ngoằn ngoèo vút lên cao(25). Ở Nhật Bản gọi là hổ, kim hổ (shibi: xi vĩ hay hổ mâu), trong đó hổ trỏ loài cá kình, còn mâu trỏ hai vây như hai lưỡi kiếm sắc nhọn của loài cá này. Theo sách Quảng từ uyển thì hổ mâu là một loại cá ngoài bể có đầu rồng mình cá(26). Nói chung, linh thú Makara là loài thủy quái, biểu tượng cho nước/mưa và được coi là sự cát tường nên trở thành motif nghệ thuật trang trí ở đền chùa với nhiều biến tấu cực kỳ đa dạng và trong kinh văn, Makara xuất hiện như các loài chúng sinh khác, tức có ác và có thiện. Makara trong Trung A-hàm, ở phẩm 11, kinh Thương nhân cầu tài là vua cá Ma-kiệt (Makara) to lớn đã phá vỡ chiếc thuyền của các thương nhân, khiến họ phải trôi dạt vào xứ sở bọn La sát nữ xấu xa hung ác. Nói chung, trong kinh văn này, Makara được liệt cùng hạng với những loài nguy hiểm đối với người đi biển hay sông hồ: độc xà, giao long, dạ xoa, la sát, cá, rùa, trạch. Để tránh những loài nguy hiểm đó, kể cả Makara, kinh văn khuyên người đi biển/sông hồ cần đọc chú để chúng tự trốn đi(27). Một Phật thoại kể về tiền kiếp vua Tỳ Lưu Ly (người đã xua quân tàn sát dòng họ Thích ở thành Ca-tỳ-la-vệ vào thuở Đức Phật còn tại thế) là một Makara: Vào thời quá khứ, dân chúng thành Ca-tỳ-la-vệ sinh sống trong một ngôi làng lớn. Gặp khi đại hạn kéo dài, lương thực không còn gì để ăn. Trong làng có một đầm lớn có một con cá Makara (Ma-kiệt) khổng lồ. Vì hạn, cá cũng chịu chung số phận, sống với chút ít nước con lại dưới đáy bụng. Dân đói giết Makara để ăn: họ cắt từng mảnh thịt để ăn dần. Makara đau buốt xương van nài dân làng hãy giết nó đi, nhưng họ chẳng chịu nghe lời van xin đó. Với lòng căm thù, Makara phát lời thề sẽ giết tất cả dân làng này ở đời sau để rửa hận. Makara đầu thai làm hoàng tử Tỳ Lưu Ly. Khi đã giết anh lên ngôi vua, vì mối hận bị người họ Thích sỉ nhục hồi còn bé đã xua quân đánh phá thành Ca-tỳ-la-vệ và giết sạch những người thuộc dòng họ Thích. Rồi vì tâm độc ác, Tỳ Lưu Ly bị chết cháy trên thuyền khi trốn ra biển khơi(28). Ngoài các truyện kể về Makara ác, trong kinh văn Phật giáo có rất nhiều Phật thoại kể về Makara biết hồi đầu hướng thiện, cứu giúp thế nhân. Trong Đại bi kinh (quyển 3, phẩm 8), kể rằng Makara nuốt nguyên một chiếc thuyền lớn và đoàn thương buôn vào bụng. Song khi nghe thương chủ và các thương nhân niệm Phật, Makara liền sinh tâm kính ái, há miệng nhả thuyền ra. Thế là đoàn thương buôn được thoát nạn, an ổn trở về cõi Diêm phù đề. Nhờ nghe âm thanh niệm Phật, Makara sanh tâm hoan hỷ và nguyện không ăn thịt các chúng sanh nữa. Về sau, khi lâm chung, Makara được tái sanh làm người; lại có chuyện nghe pháp của Phật liền xuất gia... chứng được quả A-la-hán và nhập vào Vô dư Niết-bàn. Trong kinh Hiền Ngu (phẩm 29) có truyện kể về Phú-na-kỳ hiền đức, cùng các thương buôn dong thuyền ra biển gặp phải cảnh ba mặt trời xuất hiện. Hỏi ra mới biết đó là mặt trời và hai mắt của con cá Makara lớn dài bảy trăm do tuần. Mỗi giấc ngủ của Makara này là 100 năm và khi thức giấc nó há rộng miệng cho nước biển và các loài tôm cá chảy vào miệng làm món ăn. Rủi cho thuyền bè nào gặp đúng lúc nó há miệng cũng trôi tuột vào bụng nó. Phú-na-kỳ và 500 thương nhân cùng đi coi như cầm chắc cái chết. Giống như truyện trên, Phú-na-kỳ và các thương nhân đồng thanh niệm Phật. Makara nghe được danh hiệu Phật, phát từ tâm, ngậm mồm lại, rồi lặn xuống đáy biển. Mọi người nhờ thế mà thoát nạn. Một Phật thoại khác kể về việc vua Đàm-ma-la-bí-đề tái sanh làm Makara. Số là nhà vua hiền đức này, trong một chốc mải mê cờ bạc đã ban lệnh cho quan xử án kết tội tử hình cho một thường dân vô tội. Khi mãn cuộc vui, nhà vua xem xét lại sự việc mới hay mình đã quá hồ đồ mà phạm phải tội giết một mạng người. Vô cùng ân hận, vua bỏ vào rừng tu, cầu được giải tội. Sau một thời gian dài tiến tu, khi mạng chung, vua bị đọa làm cá Ma-kiệt (Makara) ở trong biển lớn, dài 700 do tuần. Cá Ma-kiệt này giống hệt con cá Ma-kiệt trong kinh Hiền ngu dẫn trên: Khi nghe đoàn thương nhân trên thuyền buôn niệm Phật, liền ngậm miệng lại, lặn xuống nước nhịn đói rồi chết. Cá được tái sinh thành Trưởng giả Thi-bí-lợi-đề vào thời Đức Phật tại thế. Ông xuất gia năm đã 100 tuổi, được Đức Phật giao cho Mục Kiền Liên làm lễ thế phát và dạy dỗ. Ông đã đắc quả A-la-hán(29). Với một số dữ liệu tiêu biểu trích từ kinh văn dẫn trên, chúng ta nhận thấy rằng, Makara từ một vật cỡi của các thần linh cổ đại Ấn Độ và là loài thủy quái dũng mãnh và to lớn làm hại người nơi biển cả, khi hội nhập vào ngữ cảnh văn hóa Phật giáo đã có những biến đổi hết sức cơ bản. Chính vì sự tăng trưởng của thiện tâm, Makara đã trở thành linh vật từ bỏ hẳn tính ác của mình để trở thành thiện lương, từ hiền. Tín niệm về Makara hiền đức - một loài thủy quái hình tướng lai tạp, luôn có cái mõm vòi voi - đã khiến chúng ta nhận ra sự tương đồng giữa Makara và cá Ông Voi - một loài cá to lớn được ngư dân Việt xác tín là “Đức ngư” và tôn làm thần Nam Hải/Ông Nam Hải. Việc quan hệ giữa tín niệm về Makara và tín lý thờ cá Ông Voi ở xứ ta là một vấn đề chúng ta sẽ bàn trong một dịp khác. Chú thích (1) Theo Son of Sagara Vishnu Purana, Horace Hayman Wilson dịch, 1840, cuốn 4, chương 4. (2) Theo Tìm hiểu văn hóa Ấn Độ, Nguyễn Thừa Hỷ, Nxb.Văn Hóa, 1986. (3)(10)(14)(20) Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, J. Chevalier và A. Gheerbrant, Nxb.Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du, 1997. (4) Theo The Mythical Creatures Bible: The Definitive Guide to Legendary Beings, Brenda Rosen, Sterling xb, 2009, tái bản 2011. (5)(17)(21) Theo Từ điển Phật học Huệ Quang, Thích Minh Cảnh chủ biên. (6) Theo Archaeology, Archaeological Institute of America xb, 1970, tái bản 2011. (7) Theo Điêu khắc Chàm, Cao Xuân Phổ, Ủy ban KHXH Việt Nam - Viện Đông Nam Á, nxb. KHXH, 1988. (8)(12) Theo Buddhist sculpture of northern Thailand, Carol Stratton, Buppha xb, 2004. (9)(18) Theo The handbook of Tibetan Buddhist symbols, Robert Beer, Serindia xb, 2003, tái bản 2011. (11)(23)(24)(26) Theo Biểu tượng xi vẫn ở chùa Diên Hựu, Trần Trọng Dương. (13) Theo Images of the gods: Khmer mythology in Cambodia, Thailand and Laos, Vittorio Roveda, River Books xb, 2005. (15) Theo Kinh Chuẩn-đề Đà-la-ni (Hội Thích), Thích Viên Đức dịch, chùa Dược Sư, Ban Mê Thuột ấn tống,1973. (16) Theo 1000 vấn đề về Mật tông, Sen Thu dịch, Nxb.Thời Đại, 2011. (19) Theo Pháp khí Mật tông, Nặc Bố Vượng Điển, Nxb.Hồng Đức, 20.11. (22) Theo A Sanskrit-English dictionary: etymologically and philologically arranged, Sir Monier Monier-Williams, Motilal Banarsidass xb, 2005. Từ nguyên “Makara” là từ tiếng Phạn có nghĩa là rồng biển/thủy quái và trong ngôn ngữ Tây Tạng nó được gọi là Chusrin (The handbook of Tibetan Buddhist symbols, Robert Beer, sđd) và được biểu thị như là một sinh vật lai tạp. Từ Hindi để chỉ cá sấu là “makar, makara” (Theo Raftar English - Hindi dictionary, tái bản 2011) Tên gọi của cá sấu Mugger, một loại cá sấu Ấn Độ, rất phổ biến, nó thường tấn công để tìm kiếm thức ăn. Từ Mugger trong tiếng Anh có nghĩa là một sinh vật lặng lẽ tiến lại gần và tấn công người khác (Theo Raftar English - Hindi dictionary, sđd). Một vài nhận dạng truyền thống cho thấy nó giống với cá sấu, đặc biệt là cá sấu Ấn Độ Gharial do chiếc mõm lớn và dài. Nó được miêu tả là con vật kết hợp: phần trước của voi, và phần sau là đuôi cá. Ngoài ra, một nhận dạng khác đồng nhất nó với cá heo Gangetic mà ngày nay còn được tìm thấy ở điện thờ cá heo Vikramshila Gangetic. Một số hoài nghi cho rằng truyền thuyết Makara có thể dựa trên sự thật và liên hệ nó với Trunko thấy ở bờ biển Ấn Độ của Nam Phi. Một vài phác thảo cổ xưa cho thấy Makara khá tương đồng với minh họa động vật tiền sử Ambulocetus (Theo “Trunko”, AmericanMonsters, tái bản 2008). (25) Xem: - Hoàng thành Thăng Long - Phát hiện khảo cổ học, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. - Huỳnh Ngọc Trảng: Con uyên ương lẻ bạn và một số di vật của Hoàng thành Thăng Long, Tạp chí Tia Sáng, số 5, tháng 5, 2004. (27) Theo Kinh Thương nhân cầu tài, Kinh Trung A-hàm, phẩm thứ 11. (28) Theo Thần thông và nghiệp lực của Tôn giả Mục Kiền Liên, Tập san Pháp Luân 13. (29) Theo Minh Chiếu: Tuyển tập truyện cổ Phật giáo, tập III - 8, Công đức xuất gia. Huỳnh Thanh Bình Theo Giác Ngộ.
-
Sư tử đá kiểu Trung Quốc "án ngữ" nhiều đền, chùa Việt Nam VOV.VN - Không chỉ ở Chùa Một Cột, nhiều đền, chùa ở khắp cả nước đều có sự có mặt của những con sư tử đá này. Trích Sư tử đá ở Trung Quốc được dùng để canh mộ Mỹ Trà-Ngọc Ngà/VOV
-
"Bứng" hết sư tử đá kiểu Trung Quốc ra khỏi đình chùa VOV.VN - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm cho biết về phía Phật giáo sẽ có ý kiến với các bộ, ban, ngành chức năng và Ban Phật giáo các tỉnh về hiện tượng này Trích