Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Thiên Đồng

Hội viên
  • Số nội dung

    6278
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    75

Everything posted by Thiên Đồng

  1. 青囊奧語 唐.楊筠松 Thanh Nang Áo Ngữ Đường – Dương Quân Tùng 坤壬乙,巨門從頭出. 艮丙辛,位位是破軍. 巽辰亥,盡是武曲位. 甲癸申,貪狼一路行. 左為陽,子癸至亥壬. 右為陰,午丁至巳丙. 雌與雄,交會合元空. 雄與雌,元空卦內推. 山與水,須要明此理. 水與山,禍福盡相關. 明玄空,只在五行中. 知此法,不須尋納甲. Khôn Nhâm Ất, Cự Môn tòng đầu xuất (1). Cấn Bính Tân, vị vị thị Phá Quân (2). Tốn Thìn Hợi, tận thị Vũ Khúc vị (3). Giáp Quý Thân, Tham Lang nhất lộ hành (4). Tả vi dương, Tý Quý chí Hợi Nhâm (5). Hữu vi âm, Ngọ Đinh chí Tị Bính (6). Thư dự Hùng, giao hội hợp nguyên không (7). Hùng dự Thư, nguyên không quái nội thôi (8). Sơn dự Thủy, tu yếu minh thử lí (9). Thủy dự Sơn, họa phúc tận tương quan (10). Minh huyền không, chỉ tại Ngũ Hành trung (11). Tri thử pháp, bất tu tầm Nạp Giáp (12). Chú giải: Áo: sâu xa khó hiểu; ngữ: nói, câu nói nhà Đường (618-907) (1-4) Ai tinh ngũ hành: Tham Lang (1), Cự Môn (2), Lộc Tồn (3), Văn Khúc (4), Liêm Trinh (5), Vũ Khúc (6), Phá Quân (7), Tả Phụ (8), Hữu Bật (9). (7) nguyên không tức là huyền không (8) thôi: đẩy lên, tiến cử, chọn lẩy (9) tu: nên, cần phải có; yếu: mong ước, cầu, thiết yếu, xét; thử: vậy (12) Tri: nhận biết; Nạp Giáp ? Đường sử tăng Nhất Hành tác “Quái Lệ”: Kiền nạp Giáp, Khôn nạp Ất, Tốn nạp Tân, Cấn nạp Bính, Đoài nạp Đinh, Chấn nạp Canh, Li nạp Nhâm, Khảm nạp Quý. sưu tầm: vietnambuysell.com 青囊奧語 唐.楊筠松 Thanh Nang Áo Ngữ Đường – Dương Quân Tùng 顛顛倒,二十四山有珠寶. 順逆行,二十四山有火坑. 認金龍,一經一緯義不窮. 動不動,直待高人施妙用. 第一義,要識龍身行與止. 第二言,來脈明堂不可偏. 第三法,傳送功曹不高壓. 第四奇,明堂十字有元微. 第五妙,前後青龍兩相照. 第六秘,八國城門鎖正氣. 第七奧,要向天心尋十道. 第八裁,屈曲流神認來去. 第九神,任他平地與青雲. 第十真,若有一缺非真情. 明倒杖,卦坐陰陽何必想. 識掌模,太極分明必有圖. 知化氣,生剋制化須熟記. 說五星,方圓尖秀要分明. 曉高低,星峰須辨得元微. 鬼與曜,生死來去真要妙. 向放水,生旺有吉休囚否. Điên điên đảo, Nhị thập tứ sơn hữu châu bảo (13). Thuận nghịch hành, Nhị thập tứ sơn hữu hỏa khanh (14). Nhận kim long, Nhất kinh nhất vĩ nghĩa bất cùng (15). Động bất động, Trực đãi cao nhân thi diệu dụng (16). Đệ nhất nghĩa, Yếu thức long thân hành dự chỉ (17). Đệ nhị ngôn, Lai mạch Minh Đường bất khả thiên (18). Đệ tam pháp, Truyền tống công tào bất cao áp (19). Đệ tứ kì, Minh Đường thập tự hữu nguyên vi (20). Đệ ngũ diệu, Tiền hậu Thanh Long lưỡng tương chiếu (21). Đệ lục bí, Bát quốc Thành Môn tỏa chánh khí (22). Đệ thất áo, Yếu hướng Thiên Tâm tầm thập đạo (23). Đệ bát tài, Khuất khúc lưu thần nhận lai khứ (24). Đệ cửu thần, Nhâm tha bình địa dự thanh vân (25). Đệ thập chân, Nhược hữu nhất khuyết phi chân tình (26). Minh đảo trượng, Quái tọa âm dương hà tất tưởng (27). Thức chưởng mô, Thái cực phân minh tất hữu đồ (28). Tri hóa khí, Sanh khắc chế hóa tu thục kí (29). Thuyết ngũ tinh, Phương viên tiêm tú yếu phân minh (30). Hiểu cao đê, Tinh phong tu biện đắc nguyên vi (31). Quỷ dự diệu, Sanh tử lai khứ chân yếu diệu (32). Hướng phóng thủy, Sanh vượng hữu cát hưu tù phủ (33). Chú giải: (13) Điên điên đảo: phi tinh ?; châu bảo: châu báu; Trong 24 Sơn, mỗi Sơn đều có chỗ gặp châu báu tạo cơ may. (14) hỏa khanh: hố lửa; Trong 24 Sơn, mỗi Sơn đều có chỗ gặp phải hố lửa khiến ra xui (15) Nhận kim long: Nhận ra vô hình khí tốt (tức tùy thời); 1 đường dọc và 1 đường ngang (+) nghĩa không cùng. (16) long động là sống và bất động là chết; trực đãi: đợi ngay; thi diệu dụng: thực hiện công dụng hay (17) long thân: mình rồng; dự: đều, cùng; chỉ: dừng, chỉ như thế (18) Lai mạch: mạch đến (về); thiên: lệch, nghiêng (19) tống: đưa đi, tiễn ra; công: lễ tang; tào: bên đối; áp: đè nén (20) Minh Đường: danh từ kép chỉ cái sân giữa; thập tự: chữ thập (+); vi: mầu nhiệm, nhỏ, giấu không cho ai biết; (21) Thanh Long: danh từ kép chỉ giải (vùng) đất bên tay trái khi đứng nhìn ra phía trước. (22) Thành Môn (cổng thành): danh từ kép chỉ về cách dùng "khí khẩu" trong Thủy Pháp (23) Thiên Tâm: điểm chính giữa Các chữ khác nên tra "Tự Điển Hán Việt trực tuyến” ở điểm nối tiếp:
  2. Những bất an từ tàu cánh ngầm Tàu cũ kỹ, nóng nực, ồn ào, nhồi nhét khách, dơ bẩn, thường xuyên bị chết máy, va chạm... là những cảnh tượng mà hành khách cho rằng khiến họ ngao ngán, lo sợ khi đi tàu cánh ngầm TP HCM - Vũng Tàu. Tàu Greenlines 9 đâm phao tiêu hôm 26/7 khiến trăm hành khách hốt hoảng. Ảnh: An Nhơn Đã vài ngày trôi qua nhưng khi nhắc tới giây phút tàu Grennlines 9 chết máy và đâm vào phao tiêu, nhiều hành khách và anh Duy Anh vẫn thấy sợ hãi. "Ngoài sự hoảng loạn chúng tôi còn gặp phải thái độ thờ ơ với tính mạng hành khách của Greenlies. Nhân viên tàu đã không gọi cứu hộ dù chúng tôi đã đề nghị và trong khi không thể cập cảng...", anh Duy bức xúc nói. 13h30 chiều 26/7, tàu cánh ngầm Greenlines 9 (thuộc Công ty cổ phần Dòng Sông Xanh) chở gần trăm khách từ Vũng Tàu về TP HCM. Khi đến khu vực sông Lòng Tàu (TP HCM) thì tàu chết máy. Đang trôi tự do trên sông, tàu va mạnh vào cọc tiêu và bị nghiêng sang một bên khiến hành khách hốt hoảng, nhiều trẻ em đã khóc thét. Thấy khoang cuối của tàu bị nước tràn vào, khói đen từ buồng máy bốc lên nghi ngút, nhiều hành khách yêu cầu nhân viên trên tàu gọi cứu hộ, song họ cho biết "mọi chuyện vẫn đang trong tầm kiểm soát". Tuy nhiên vì thấy bất an, các hành khách đã chủ động gọi cảnh sát cứu hộ. Sau đó tàu cập bến Bạch Đằng (quận 1, TP HCM) an toàn trong thở phào nhẹ nhõm của hành khách. Đây không phải lần đầu tiên hành khách đi tàu Greenlines đối mặt với sự cố. Trước đó, chiều 15/8/2012, trên đường từ TP HCM đi Vũng Tàu, đến khu vực Bãi Trước (TP Vũng Tàu), tàu cánh ngầm Greenlines B3 bất ngờ bị sóng đánh vỡ kính ở khoang trước. Nước biển tràn vào tàu làm 70 hành khách hoảng loạn. Do sóng to trùm lên thân tàu nên mọi người rất hoang mang, lo lắng. Tất cả hành khách ở khoang trước đều ướt sũng quần áo, hành lý... Trong tình thế nguy cấp nhiều người tìm áo phao để mặc nhưng do nhà tàu cột quá kỹ phía dưới gầm ghế nên phải khó khăn lắm họ mới lôi được ra. Hôm đó, phải rất lâu sau đó mới có tàu ra ứng cứu. Kinh hoàng hơn là cú đâm giữa hai tàu cánh ngầm khiến 8 hành khách bị thương phải nhập viện chiều 25/11/2009. Khi đó, tàu Greenlines 10 chở 37 hành khách, trong đó có 3 người nước ngoài, khởi hành từ TP HCM đi Vũng Tàu. Khi vừa qua cầu Phú Mỹ, đến khúc cua ngoặt (quận 7), tàu này bất ngờ đâm vào tàu của hãng Petro Express 2 có 128 chỗ, chạy ngược lại. Cú đâm cực mạnh làm một số cửa kính của hai tàu bung ra, mạn phải của tàu Greenlines 10 bị hư hỏng. Trong khi nhiều hành hách bị thương nằm la liệt thì những người còn lại nhốn nháo tìm cách thoát thân. 8 hành khách bị thương đều đi trên tàu Greenlines. Tàu Petro Express 2 bị móp ở phần mũi. Hay vụ tai nạn xảy ra nửa năm trước đó, ngày 8/4/2009, tàu cánh ngầm Greenlines 11 chở 79 hành khách cùng với 5 thủy thủ đoàn xuất phát từ bến Vũng Tàu lúc 5h chiều. Khi đến đoạn sông Sài Gòn, đối diện Cảng Bến Nghé và cách bến Bạch Đằng khoảng 2 km, tàu đang chạy với tốc độ khoảng 53km/h thì bị va vào phao tàu biển số 23 làm khu vực dưới hầm tàu bị rách. Nước sông tràn vào các khoang một mét khiến hành khách hoảng loạn. Thuyền trưởng Nguyễn Đình Đức đã chủ động tấp tàu vào gần bờ và ra tín hiệu ứng cứu. Cảnh sát giao thông đường thủy, công an, Bộ đội Biên phòng dùng 3 ghe cứu hộ kịp thời áp sát tàu để chuyển vào cảng Bến Nghé. Dù đăng kiểm đầy đủ nhưng tàu cánh ngầm vẫn thường xuyên xảy ra sự cố. Ảnh: An Nhơn Tham gia kinh doanh vận tải tàu cánh ngầm TP HCM - Vũng Tàu và ngược lại hiện có 3 hãng: Vina Express, Greenlines và Petro Express với hơn 20 chiếc tàu hoạt động. Hầu hết tàu được khai thác trên tuyến này đều là tàu cũ, nhập từ Nga và các nước Đông Âu. Trong đó có tàu đã trên 20 năm sử dụng. Tàu già nua, vỏ cũ kỹ, xuống cấp nên không tránh khỏi tình trạng hư hỏng, chết máy trong quá trình vận chuyển hành khách. "Tôi là người thường xuyên đi tuyến TP HCM – Vũng Tàu bằng tàu cánh ngầm 4 năm nay. Cơ sở vật chất không tương xứng với giá 250 nghìn đồng mỗi lượt. Nóng nực, ồn ào, dơ bẩn, đã vậy còn nhồi nhét khách khi cho họ ngồi ghế xếp, có khi ngồi trên sân tàu", anh Trần Dũng (ngụ quận 3, TP HCM) phản ánh. Theo thống kê của Cảng vụ hàng hải Vũng Tàu, từ năm 2007 đến nay năm nào cũng xảy ra sự cố với tàu cánh ngầm. Trong đó, năm 2012 đã có 6 vụ va chạm, chết máy, hỏng giữa hải trình. Hãng tàu gây ra sự cố nhiều nhất là Greenlines. Tàu cánh ngầm của hãng Vina Express cũng đã gây tai nạn làm chết một ngư dân vào tháng 9/2011. Trao đổi với VnExpress.net, ông Lê Văn Chiến, Giám đốc cảng vụ hàng hải Vũng Tàu cũng nhìn nhận thực trạng tàu cánh ngầm mất an toàn rất đáng báo động và đã gây hoang mang, lo sợ cho nhiều hành khách. "Bản thân tôi cũng một lần bị trễ chuyến đi Pháp do khi đi tàu cánh ngầm bị chết máy giữa đường. Chúng tôi thường xuyên kiểm tra về áo phao, số lượng hành khách, thiết bị chữa cháy... Còn chất lượng máy móc của tàu do đơn vị đăng kiểm quản lý", ông Chiến cho biết. Theo ông Chiến, nguy hiểm nhất là hành khách đi tàu vào các chuyến tối. Bởi hơn 20 tàu cánh ngầm đang hoạt động trên tuyến này đều chưa trang bị ra-đa. Lái tàu phải quan sát bằng mắt thường. "Cảng vụ cũng đề nghị các hãng phải trang bị ra-đa cho tàu, song họ bảo phía đơn vị đăng kiểm chưa yêu cầu nên chúng tôi không thể xử phạt", ông Chiến cho hay. Ông Lê Huy Thảo, Tổng giám đốc Greenlines cũng nhìn nhận các tàu cánh ngầm công ty mua đều là hàng đã qua sử dụng nhưng được thay vỏ, máy mới và được kiểm định đầy đủ. Các sự cố chết máy trên sông đều do con người chạy sai quy định đường thủy gây ra. Tuy nhiên, ông Thảo cam kết trong thời gian tới công ty sẽ đầu tư mới hàng loạt tàu cao tốc chở khách thay thế cho 10 chiếc hiện nay. Đại diện Chi cục đăng kiểm 6 (Cục Đăng kiểm Việt Nam) cho rằng những tàu này tuy cũ nhưng đã được các doanh nghiệp thay máy mới, lớp tôn vỏ cũng được hoán cải và đã được đăng kiểm đạt yêu cầu về kỹ thuật trước khi đưa vào sử dụng. Trong thời gian qua, ngành đăng kiểm đã rút ngắn thời gian kiểm định bắt buộc xuống còn 6 tháng, thay vì một năm như trước. An Nhơn ============================ Lưu ý chi tiết trong bài báo trên như sau: Ngày 8/4/2009 dương lịch là ngày 13 tháng Ba năm Kỷ Sửu của Việt lịch, tức rơi vào ngày Tam Nương sát. Thiên Đồng
  3. Hậu duệ của người Atlantis vẫn sống cùng chúng ta? 23/05/2010 06:00 (VTC News) - Huyền thoại về lục địa Atlantis bị nhấn chìm và vị trí phỏng đoán của nó đã được nhiều người nhắc đến. Giả sử lục địa huyền bí này quả thực đã từng tồn tại, thì liệu các thành viên của nền văn minh từng thịnh vượng nhờ nền nghệ thuật huyền diệu và công nghệ tiên tiến này đến nay còn sống không? Một số nhà khoa học khẳng định rằng, người Atlantis vẫn sống cùng chúng ta đến nay. Giả thuyết bản đồ lục địa Atlantis. Tóc vàng mắt xanh Theo truyền thuyết, cư dân của lục địa Atlantis có khả năng thu nhận thông tin từ vũ trụ (?!). Người Atlantis đã đạt được trình độ phát triển rất cao. Theo mức độ tiến bộ về khoa học và công nghệ thì nền văn hóa của họ đã vượt xa tất cả các nền văn hóa khác trên trái đất. Tuy nhiên, cùng với thời gian, cư dân của lục địa này ngày càng xa rời các nguyên tắc mang tính nhân bản chung, họ bắt đầu nghiên cứu ma thuật và sử dụng những khả năng siêu nhiên mà họ được vũ trụ ban tặng vào những mục đích khác nhau. Hậu quả là tại lục địa Atlantis dần sản sinh và tích tụ một lượng năng lượng âm cực rất lớn. Điều này đe dọa hủy diệt toàn cầu và làm mất cân bằng năng lượng Thái Dương hệ. Vì vậy người ta đã quyết định phá hủy nền văn minh Atlantis. Mô hình Kim tự tháp Atlantis. Nhưng một phần nhỏ cư dân của lục địa này vẫn sống sót sau trận đại hồng thủy (thảm họa này diễn ra gần 9.500 năm trước Công nguyên). Vả lại, tất cả những cư dân của bộ tộc này đều cao lớn và có tóc vàng, mắt xanh. Giả thuyết này đã làm nảy sinh huyền thoại của Đức quốc xã về “chủng tộc Aryan” như sau: Sau khi đạt được những kiến thức ma thuật nào đó, các thầy tu của Đế chế thứ ba tin rằng, họ là hậu duệ của các chủ nhân thượng lưu chân chính của thế giới… Lục địa bí ẩn bị nhấn chìm. Nhưng trước đó rất lâu, người ta đã từng nhắc đến những người tóc vàng huyền bí. Vào thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, ở Ai Cập đã xuất hiện một người đàn ông tóc vàng cao lớn tự nhận tên là Hermes Trismegistus (Ba lần Vĩ đại). Các nhà sử học đã chứng minh rằng, chính Trismegistus đã truyền cho người Ai Cập những kiến thức về nhiều ngành khoa học khác nhau, chẳng hạn như địa lý, thiên văn học, thuật giả kim, tạo ra chữ viết và cách tính toán với các con số, thuyết giảng cho con người về các cơ sở luật pháp và tôn giáo. Trong các bài luận khoa học và triết học, Hermes khẳng định rằng, nền văn minh của Trái đất đã xuất hiện là nhờ thử nghiệm của trí tuệ vũ trụ cao cấp. Hiện tượng Aryan Nhân thể xin nói thêm rằng, trong số những người Aryan tóc vàng – cư dân của Bắc và Trung Âu ngày nay - quả thực có không ít người có trí tuệ sáng láng và thậm chí là những người đã từng giao tiếp được với cư dân của các thế giới khác. Chẳng hạn, nhà triết học thần bí nổi tiếng thời Trung Cổ người Đức Jacob Boehme (1575-1624), có họ hàng với Gorlitz (Silesia). Mặc dù chỉ là một thợ đóng giày và trên thực tế là chưa bao giờ đi học, nhưng Boehme lại viết được những tác phẩm sâu sắc về bản chất triết học, đạo đức, nhân chủng học, lý thuyết ngôn ngữ, thuật giả kim và chủ nghĩa huyền bí. Người Atlantis. Hoặc một người khác là học giả người Thụy Sĩ Emmanuel Swedenborg (1688-1772). Ông là nhà khoa học tự nhiên, nhà triết học lý thuyết và thần bí học. Khi 57 tuổi, một linh cảm đến với ông - ông thấy một người lạ khoác một chiếc áo choàng màu đỏ với một vầng hào quang xung quanh xuất hiện trước mặt mình và nói rằng, ông là người được lựa chọn để giải thích cho loài người về ý nghĩa của các bức thông điệp thiêng liêng. Kể từ đó, nhà nghiên cứu này bắt đầu đến các thế giới khác để tiếp xúc với các linh hồn và thu nhận được từ họ những thông tin mà sau đó ông đã viết lại. Dấu vết TP. Atlantis? Đôi khi những thông tin mà Swedenborg thu nhận được từ các cư dân ở các dạng tồn tại khác còn được ông sử dụng vào các mục đích hoàn toàn thực tiễn. Chẳng hạn, có lần ông đã tìm thấy tờ hóa đơn thanh toán cho một bộ đồ ăn bằng bạc đắt tiền mà ông chồng quá cố của người bạn ông tên là Martvil đã cất giấu. Chuyện là, một người thợ kim hoàn khẳng định rằng, hình như trước khi chết người chồng quá cố đó chưa thanh toán hợp đồng cho anh ta. Để làm rõ sự thật, Swedenborg đã buộc phải đến nhà bà quả phụ đó uống trà để gặp người quá cố. Ông được người quá cố này cho biết tờ hóa đơn đang nằm trong một ngăn tủ bí mật ở tầng hai tòa nhà. Sau đó bà Martvil đã vui mừng khi tìm được tờ hóa đơn ở đúng nơi được chỉ dẫn. Thành phố chìm dưới đáy đại dương này là lục địa Atlantis. Vào năm 1762, Swedenborg đã “nhìn thấy” vụ giết chết Hoàng đế Nga Pie đệ Tam ở trang trại Ropsha. Còn vào năm 1770 ông bị hôn mê trong suốt một tuần, sau khi tỉnh dậy ông thông báo rằng, mình sẽ chết vào ngày 29/3/1772. Và sự việc đã diễn ra đúng như vậy. “Chúa” của người da đỏ Còn theo quan điểm của nhà văn, nhà nghiên cứu Vladimir Shcherbakov, người da đỏ ở Mỹ chính là hậu duệ thực sự của người Atlantis. Thành phố Atlantis trong tưởng tượng. Dân cư gốc của Mỹ vẫn còn lưu giữ trong ký ức về vị chúa da trắng đến từ biển mang tên Kon-Tiki-Viracocha. Đến cùng với vị chúa này là những người da trắng có vóc dáng cao lớn khác. Những người da trắng vĩ đại đó đã xây dựng thành phố và các kim tự tháp, đã dạy cho người da đỏ cách săn bắn, làm nông nghiệp, truyền bá cho họ sự thông thái của thần thánh, dạy họ những kiến thức ma thuật. Những người này đã cưới các cô gái địa phương và từ đó sinh ra bộ lạc Inca. Trong đống đổ nát của một ngôi đền ở Chichen Itza vẫn còn lưu giữ được những bức bích họa miêu tả những người da trắng có râu quai nón đội mũ trụ trên đầu. Có thể ngày nay hậu duệ của người Atlantis vẫn còn sống trong số chúng ta mà chính bản thân họ không hề nghi ngờ gì về nguồn gốc của mình. Họ là những người bình thường như chúng ta, chỉ khác là họ cao lớn, tóc vàng, mắt xanh và có tài trí ma thuật. Đào Văn (Theo Sự thật)
  4. Bài trích dẫn sau đây là những những ý kiến trái chiều, khác nhau của các diễn đàn khác, chúng tôi đưa vào đây để mọi người tham khảo và nhận định. ========================== lypm Hội Viên Đặc Biệt huyenkhonglyso.com Tham gia ngày: Aug 2009 Bài gửi: 635 Hội Viên thứ: 149 Đã cảm ơn: 37 Được cảm ơn: 313 lần trong 233 bài viết Phương pháp tính tâm (trọng tâm) theo hình học của hình chử L của PTLV sai bét rồi. Cách chỉ dẩn trong bài chỉ có đi nữa đường thôi. Thật sự namphong nói hong có sai, cách định tâm trong dương trạch nó giống như định tâm trong âm trạch, nhưng lại khó hơn gấp 10 lần vì nó thiên biến vạn hóa, không những phụ thuộc vào cữa chánh mà còn phụ thuộc vào các vật thể bài trí trong nhà . Rất khó rất khó định tâm cho nên dùng cách định tâm theo hinh học chỉ là đại khái . TuHepLuong Hội Viên Đặc Biệt huyenkhonglyso.com Tham gia ngày: Mar 2010 Bài gửi: 801 Hội Viên thứ: 1043 Đã cảm ơn: 589 Được cảm ơn: 515 lần trong 331 bài viết Đúng vậy. Cái nhà tróng trơn, dựa theo bản vẻ mà định tâm = hình học chỉ đúng đươc bước đầu, khi thêm 1 cái tủ, cái giưởng... thì tâm nhà sẻ bi thay đổi theo công thức "center of mass" (trọng tâm). Xin lưu ý rằng công thức center of mass dựa trên giả sử là những hợp chất tạo thành vật thể đó có tỷ trọng giống nhau. digifellow Hội Viên huyenkhonglyso.com Tham gia ngày: Feb 2013 Bài gửi: 6 Hội Viên thứ: 4089 Đã cảm ơn: 8 Được cảm ơn: 1 lần trong 1 bài viết Tiểu đệ mới chỉ là nhập môn, đọc các ý kiến trong thread này, có một số thắc mắc muốn hỏi: Nếu định tâm nhà cho phân cung mà dựa trên nguyên tắc center of mass thì đối với các trường hợp sau cho 1 nhà: (1) nhà trống trơn (chưa có đồ đạc), (2) nhà đã kê đồ đạc và (3) khi mua thêm đồ đạc trong nhà hoặc di chuyển vị trí để đồ đạc trong nhà thì tâm nhà của 3 trường hợp trên sẽ khác nhau. Việc này sẽ ảnh hưởng đến việc phân cung và như vậy, mỗi lần thay đổi hoặc sắp xếp lại đồ đạc trong nhà thì lại phải phân cung và bố trí phong thuỷ lại?. Như vậy có đúng không? kolname Hội Viên Tích Cực huyenkhonglyso.com Tham gia ngày: Oct 2010 Đến từ: Việt Nam Bài gửi: 365 Hội Viên thứ: 1588 Đã cảm ơn: 577 Được cảm ơn: 153 lần trong 106 bài viết Có lẽ chủ đề về định tâm nhà trong phong thủy do bạn hoangtrieuhai đưa ra mọi người cũng đã bàn nhiều và chưa đến hồi ngã ngũ. Kolname xin phép các bậc Tiền bối tóm tắt nội dung của bài trao đổi học thuật đầu tiên của đại diện PTLV. ( Đúng sai ra sao có lẽ các bậc Tiền bối đều đã biết cả rồi) Xin tóm tắt lại để mọi người cùng có một cái nhìn tổng quan hơn nữa về PTLV. TRƯỚC TIÊN, BẠN HOANGTRIEUHAI ĐẠI DIỆN CỦA PTLV VIẾT: Người thầy đầu tiên của hth là một thầy HK theo HK truyền thống, là người khai sáng cho HTH về Huyền Không học. Cụ T đã gần 80 tuổi và tất nhiên, Cụ luôn đề cao HK như một lý thuyết bao trùm bộ môn Địa lý Phong Thủy, bác bỏ lý thuyết của Bát trạch và Dương trạch. Sau thời gian khá dài theo học Cụ, hth bất đầu tư vấn và qua trải nghiệm mới bắt đầu tìm thấy nhiều câu hỏi mà ko thể hỏi Cụ. Cơ duyên với PTLV bắt đầu từ đó…. HTH bắt đầu đưa ra sự hiệu chỉnh của HKLV so với HK truyền thống, toàn kiến thức sơ đẳng của những người mới nghiên cứu. Chúng ta bắt đầu xem xét từ kiến thức ABC vì nếu gốc rễ không đồng thuận thì kiến thức cao xa uyên thâm đem ra mổ xẻ liệu có ích gì ? HTH sẽ sử dụng tài liệu : Thẩm thị Huyền Không học và Trạch vân tân án của Thẩm Trúc nhưng làm cơ sở tham vấn. Có thể nó chưa thực sự được coi là đại diện cho Huyền Không nhưng tôi cho rằng ai nghiên cứu HK đều có cuốn sách này. 1. Điểm lập cực a. của HK truyền thống Trong sách có nói “ Tìm ra trung cung là việc đầu tiên phải làm khi muốn xem phong thủy, bất kể người ta theo học thuyết của phái nào”. (trang 116). Tại các hình số H178 là mảnh đất hình L, : giả quyết bằng cách thì chia thành hai hình chữ nhật để tim trung cung, H179 +180 : thì khuyết góc hình vuông, chữ nhât: cách xử lý là vẽ thêm góc cho đủ rồi tìm trung điểm hai đường chéo. H181 thì nối cạnh của các đỉnh lại với nhau Trong cuốn Trạch vận tân án, trang 24 thì cách định tâm như sau: - Lấy trọng tâm lực học trong vật lý làm trung tâm - Bỏ phần lồi đi, rồi sau tìm trung tâm điểm - Thêm phần lõm cho đầy, rồi sau hãy tìm trung tâm điểm - Cân bằng những vị trí lồi lõm, thừa thiếu, rồi sau hãy tìm trung điểm. - Phức tạp hơn là không có hình dạng nhất định, mỗi vật một thái cực, thì nên chia thành vài hình khối nhỏ rồi đi tìm tâm điểm của mỗi vị trí đó. Cho đỡ mất thời gian, hth ko vẽ lại các hình này từ sách. Khi học HK của Cụ T, cụ có nói rằng với đất có hình thể phức tạp thì vẽ lại cuộc đất đó lên bìa rồi cắt, sau đó dùng kim để tìm tâm điểm sao cho miếng bìa đó cân bằng trên cây kim. Tuy nhiên, sau đó cũng ít gặp trường hợp này vì thông thường đất có hình dạng chữ L, Vuông, Chữ nhật, hình thang, vv và cụ áp dụng theo phương pháp như trong đã đề cập ở trên. b. Điểm lập cực của PTLV Trọng tâm của hình thể mặt bằng diện tích nhà hoặc đất trong HKLV chính là điểm tạo sự cân bằng cho đồ hình đồng dạng của nó trong không gian. PTLV hiệu chỉnh lại cách định tâm hay điểm lập cực bằng các phương pháp toán học hoặc đồ họa. Đây chính là phương pháp tìm điểm lập cực chính thức của HKLV. Ví dụ: nếu so sánh tâm của đất hình chữ L (H178), thì tâm của HKLV như hình vẽ Kết luận: Vậy sự hiệu chình của HKLV trong phần định tâm so với HK truyền thông , ĐÚNG hay SAI ?(phần tiếp theo là định hướng) ----------------------------------------------------------- ANH NAM PHONG ĐƯA RA QUAN ĐIỂM CỦA MÌNH Huyền không xưa khi định điểm lập cực cho một cục không hề đơn giản là chỉ lấy trọng tâm hay tính toán bằng phương pháp toán học để tìm trung tâm điểm hoặc các phép tính toán bù trừ bằng toán học. Thẩm Trúc Nhưng, Hồ Kinh Quốc, Bạch Hạc Minh đều hiểu chưa đúng về lập cực điểm do đó dạy người phép lập cực chưa đúng. Cục dù lớn như đại địa, dù nhỏ như một cái nhà đều có âm dương bên trong nó, có vậy mới hình thành nên sinh khí sự sống, lấy một nhà để minh họa thì nơi dương khí đi vào(tạm xem là cửa chính của nhà) và đối diện với nó là nơi âm khí tàng chứa(tọa sau của nhà). Cái nơi giao hòa âm dương chính là điểm lập cực của nhà. Nói cô âm chính là nói 4 bề vách dựng, không có đường cho dương khí đi vào, đó chỉ có thể là chốn ngục tù mà thôi. Nói độc dương chính là nói cái dù lớn dựng ngoài trời, 4 bề gió lộng, chỉ có thể là chổ trú tránh tạm thời mà thôi. Cô âm độc dương vì thế chẳng phải nơi ở của con người được. Tự ngàn xưa khi khoét vách đá làm hang động để ở, con người đã ý thức che chắn phía sau và mở rộng phía trước, đó chẳng phải là đã hiểu dịch lý âm dương mà đó là sinh tồn theo lý tự nhiên, dịch lý âm dương do đó xuất từ lý của tự nhiên. Huyền không xưa viết: thế nhân chỉ biết định tâm điểm rồi phân cung định trạch mà không biết rằng phân cung định trạch là để định tâm điểm. Sau này Tằng Hoài Ngọc khi viết Nguyên Không Pháp Giám cũng mượn lời này mà nói: người đời chỉ biết định quái rồi dùng ai tinh mà không biết ai tinh là để định quái. Hai câu này ý cao thâm như nhau nhưng để dùng trong 2 việc khác nhau. Huyền không xưa viết như thế để khuyên người học không nên cứng nhắc khi tính tâm điểm một nhà, mà phải biết xét hai khí âm dương để định mới không sai nhầm. Biết được nơi thụ khí vào nhà(dương, thường là cửa chính) và nơi đón lấy khí(âm, thường là đối diện với cửa chính) mới có thể định được điểm lập cực của nhà. Tuy nhiên trong trường hợp nhà hình vuông, chữ nhật ngay ngắn thì việc định tâm nhà theo phép lấy trọng tâm hay cách tính toán học vô hình chung trùng với phép xét âm dương nên thời nhà Thanh các học giả Phong thủy mới dạy người phép lấy điểm lập cực bằng cách tính toán trọng tâm như vậy. Tuy nhiên đối với những nhà có diện tích không cân đối thì việc tìm điểm lập cực theo cách trên có thể đúng và có thể sai lầm. Đơn cử như các hình bên dưới: [Chỉ có Hội Viên mới xem được nội dung này. Huyền không xưa viết phân cung định trạch là để định tâm điểm chính là như trên, hình H1 là hình thể một nhà không vuông vắn; Hình H2 là khi cửa thụ dương khí và bc có nhà khác che kín thì điểm lập cực như vậy(vòng tròn đỏ); Hình H3 là khi cửa thụ dương khí và bc trống thóang và nhà có cửa phụ mở ra ở đó thì điểm lập cực như vậy(vòng tròn đỏ); Hình H4, H5 và H6 là khi nơi thụ dương khí mở về phía khác, các bên trống thóang thì điểm lập cực sẽ như vậy. Trên là tạm xem cửa chính như nơi thụ khí, trong thực tế có những trường hợp thụ khí không phải là cửa chính và hình thể nhà còn phức tạp hơn, Thanh nang quyết viết: “Lập huyệt động tĩnh trung gian cầu” là đầy đủ bí quyết này. Dương trạch nhà cửa là vậy, âm trạch thì xem thành môn(nơi thụ dương khí) để mà định. Hai chữ Thành môn đến nay nhiều người còn hiểu sai thì làm sao định được tâm điểm của âm trạch? đành rằng có thể dùng thập đạo tầm Thiên tâm nhưng có những cục chỉ có thể xác quyết bằng Thành môn. "chỉ biết định tâm điểm rồi phân cung định trạch mà không biết rằng phân cung định trạch là để định tâm điểm" "chỉ biết định quái rồi dùng ai tinh mà không biết ai tinh là để định quái" Viết lại hai câu này lần nửa để người hữu duyên có thể hiểu được ẩn ý bên trong nó. Hai khí âm dương giao hòa. Điểm lập cực là nơi dương tìm đến âm, âm đón nhận dương. Nhìn hình định điểm lập cực mà không đến cục xét khí âm dương thì khiên cưỡng và chỉ đúng khi hình thể nhà vuông vắn, không đúng khi hình thể nhà khác lạ và hoàn toàn sai đối với âm trạch. Xét khí âm dương để lập cực thì cùng một hình thể nhà nhưng vị trí khí xuất nhập khác nhau thì điểm lập cực sẽ khác nhau, âm trạch thì chỉ một quyết thành môn. Ngàn vạn cục thế dương trạch và âm trạch chỉ một lý này mà thôi. P/S: Nam Phong không tham gia thảo luận các vấn đề, viết bài này chỉ vì vài bạn có tham gia trong này: nên lưu tâm âm dương, không nên chú ý toán học nhiều vì toán học giả định âm dương bằng nhau hoặc triệt bỏ khí âm dương khi tính toán, thực tế âm dương không phải bằng nhau trong cục, đó chỉ là trường hợp lý tưởng mới có chuyện âm dương bằng nhau. ___
  5. Quý vị đọc giả và thành viên thân mến, Thiên Đồng tôi xin trích lại đây bài viết tiên tri năm Quý Tỵ 2013 của Sư Phụ Thiên Sứ Nguyễn Vũ Tuấn Anh, để cùng quý vị rộng đường tham khảo. Rõ ràng ai cũng thấy được việc phân tích về Huyền Không Lạc Việt và những dự đoán của năm 2013 được trình bày một cách công khai và minh bạch. Do vậy, nếu trên phương diện học thuật cầu tìm chân lý hay ít ra là sự phản biện về việc suy xét đúng - sai đối với một phương pháp ứng dụng học thuật cổ thì, ít ra, người thật sự có tinh thần khoa học thì phải trích nguyên tác bài viết dưới đây để chỉ ra sự sai - đúng trong phương pháp ứng dụng - cụ thể là Huyện Không Lạc Việt- và trong những lời tiên đoán, tức hệ quả của phương pháp. Tuy nhiên qua các bài trích dẫn, quý vị cũng thấy được rằng không hề có một ít nào phân tích mang tính học thuật, chuyên môn mà hoàn toàn là những ý kiến chủ quan võ đóan và những sự chỉ trích tùy tiện. Hơn nữa, ngay cả vấn đề định tâm trong phong thủy, quý vị sẽ thấy 'đa dạng" đến phức tạp về ý tưởng định tâm mà không có một phương pháp định tâm nhất quán hay thống nhất. Tôi sẽ lần lượt trích những bài viết liên quan để mọi người và quý vị cùng tham khảo. Thiên Đồng ===================================== DỰ BÁO THẾ GIỚI NĂM QUÝ TỴ 2013 Nguyễn Vũ Tuấn Anh Ngày 11 tháng 12 năm 2012 Năm 2013 cho thấy nhiều dấu hiệu sôi động của thế giới.Bởi vậy có lẽ đây là năm đầu tiên chúng tôi có lời dự báo trước cho năm 2013 vào thời điểm này thay vì đầu năm âm lịch Quý Tỵ như thường lệ. Năm Quý Tỵ 2013 nhìn trên bản đồ Huyền Không Lạc Việt, chúng ta thấy Thái Tuế động 2 cung Khôn, Tỵ; đối xung Thái Tuế là Càn, Hợi. Tuế phá năm ở 2 sơn Thân- Canh. Như vậy là Thái Tuế tác động cả hai cung Thiên môn và Địa hộ là Càn Khôn - theo Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ. Theo Huyền Không Lạc Việt thì Thái Tuế chính là sao Bát Bạch - là sao quản vận 8 hiện nay (2004 - 2023), gặp Thái Tuế xung chiếu ở Thiên môn, Địa hộ thì năm nay sẽ có rất nhiều biến động về thiên tai. Sao quản trung cung năm nay theo Huyền Không Lạc Việt là sao Nhất Bạch và Ngũ hoàng. Xét về ngũ hành thì sao Nhất Bạch thuộc hành thủy sinh xuất ra sao Bát Bạch thuộc mộc, nhưng bị Ngũ Hoàng thổ khắc. Đấy là nhận xét tổng quát. Về chi tiết chúng tôi diễn giải như sau: Kinh tế toàn cầu Do sao Nhất Bạch quản trung cung cho nên vào nửa đầu năm nhìn chung kinh tế thế giới có khởi sắc. Từ tháng Giêng đến tháng 3 Việt lịch có những dấu hiệu tốt. Do một số nước tung những gói cứu trợ cho nền kinh tế của mình và sự thương lượng về nợ xấu của các quốc gia được giúp đỡ để vượt qua khó khăn ban đầu Từ cuối tháng 3 đến hết tháng 6 có nhiều quốc gia chủchốt có vẻ như ổn định được về mặt kinh tế và hứa hẹn phát triển. Tuy nhiên đấy chỉ là trạng thái thể hiện bên ngoài. Bởi vì sao Nhất Bạch tuy là ngôi sao tốt nhưng bị sinh xuất và bị Ngũ Hoàng khắc. Đó là lý do mà nửa cuối năm, những hy vọng của nửa đầunăm bắt đầu tan vỡ, những bất ổn xã hội tưởng chừng được khắc phục thì trở nêntrầm trọng hơn do số lượng thất nghiệp tăng cao. Sự lạm phát bắt đầu trở nên trầmtrọng. Có thể nói nửa cuối năm Quý Tỵ là thời kỳ ảm đạm của nền kinh tế thế giới từ trước đến nay. Những doanh nghiệp bậc thấp và bậc trung tiếp tục phá sản. Giá vàng thế giới có xu hướng tăng, nền kinh tế tiếp tục suy thoái nặng, bất động sản cuối năm chết hẳn. Những quốc gia châu Âu như Hy Lạp, Tây Ban Nha, Ý… thoát khỏi được sự khủng hoảng kinh tế năm 2012 thì cuối năm 2013, sự kiện này lại lặp lại ở mức độ nghiêm trọng hơn, có thể có những chính phủ ở vài quốc gia bị sụp đổ. Thiên tai Có thể nói năm 2011, 2012 thiên tai nặng nề thì năm 2013 là đỉnh cao của thiên tai từ trước đến nay. Tất cả các quốc gia thuộc trục Tây Bắc Đông Nam theo hình vẽ trên đều bị thiên tai nặng nề. Càng về cuối năm thì thiên tai càng tăng mạnh vàcó tính cực đoan. Động đất cũng tăng nặng, khả năng xuất hiện trận động đất sẽ sánh ngang với các trận động đất ở Indonesia năm 2004 và Nhật Bản hồi tháng 3 năm 2011. Những siêu bão sẽ xảy ra nhiều hơn, hạn hán cũng nặng hơn ở những quốc gia thường có hạn hán. Dịch bệnh Dịch bệnh không có gì thay đổi so với năm 2012 nhưng đề phòng các bệnh liên quan đến thú 4 chân gây ảnh hưởng đến người như chuột, lợn(heo). Chiến tranh Năm 2012 chúng tôi đã xác định rằng sẽ có chiến tranh cấp quốc gia trên thế giới tuy nhiên cho đến giờ này 11.12.2012 (20.10 Nhâm Thìn -Việt lịch) vẫn chưa xảy ra. Trong lúc viết đến lời dự báo này thì chúng tôi cho rằng sẽ có thể xảy ra vào cuối năm nay hoặc đầu năm tới. Ngoài trận chiến theo như dự báo của chúng tôi thì những cuộc đối đầu vẫn rất căng thẳng. Biển Đông vẫn căng thẳng, nhưng khả năng đối đầu quân sự rất thấp, vì sao Thái Tuế đã chuyển sang hướng khác (xin xem bản đồ bên trên). Bất ổn ở vùng trung tâm địa cầu vẫn xảy ra vào nửa đầu năm nhưng căng thẳng sẽ giảm đi vào nửa cuối năm. Những điểm nóng trên thế giới như Đông Bắc Á, Biển Đông, Trung Đông và Bắc Phi, sẽ ngày một nóng lên. Nhưng chưa xảy ra một cuộc đối đầu quân sự lớn ở đây. Khủng bố Nguy cơ khủng bố ngày càng giảm so với năm trước.Nhưng hoạt động của họ sẽ táo bạo hơn và mang sự liều lĩnh. Các vấn đề tệ nạn xã hội Các vấn đề tệ nạn xã hội gần như không có gì thay đổi so với năm 2012, tức là khủng hoảng xã hội sẽ xuất hiện và bạo động ở một số quốc gia. Những tệ nạn xã hội sẽ ngày một nhiều hơn và rất táo bạo. Nạn đói sẽ xảy ra do thiên tai và những tệ nạn như: ma túy, mại dâm, buôn người không hề giảm. Nhìn chung có thể nói thế giới sẽ mệt mỏi trong năm 2013. Ở những vùng bất ổn định hiện nay như: Ai Cập vẫn tiếp tục kéo dài bất ổn định; Khủng hoảng ở Xyri sẽ kết thúc không hoàn mỹ; Khủng hoảng ở Iran sẽ được giải quyết bởi sự biết điều của hai bên và chiến tranh không xảy ra ở đây. An toàn vệ sinh thực phẩm Mức độ an toàn vệ sinh thực phẩm ngày càng nghiêm trọng khiến cho trở thành một vấn nạn mang tính quốc tế Khoa học kỹ thuật Quân sự Những siêu vũ khí sẽ ngày càng hoàn thiện và xuất hiện những loại vũ khí mới phi truyền thống như vũ khí điện từ trường, lade và xuất hiện các phương tiện chiến tranh điện tử hoặc những loại vũ khí sử dụng sóng…. Sẽ xuất hiện - hoặc ở trang thái thí nghiệm hoàn hảo - một loại vũ khí, mà tôi không biết gọi là gì - tạm đặt tên là: "Vũ khí định hướng năng lượng". Nhưng trong năm 2013 và sau đó nhiều thập niên, các loại vũ khí sử dụng sóng, hoặc tác động đến các dạng sóng được coi là phát minh vượt trội và là loại vũ khí nguy hiểm nhất. Cũng trong năm 2013, những tổ chức quân sự chuyên nghiệp về chiến trang mạng sẽ hình thành và phát triển một cách mạnh mẽ. Sẽ xuất hiện những cuộc tấn công mạng gây hậu quả nghiêm trọng cho một số quốc gia. Dân sự Xu hướng tự động hóa và robot hóa rất phát triển. Nếu như trong năm 2012 chúng tôi đã dự báo rằng: Những robot phỏng sinh học sẽ ngày càng chiếm ưu thế trong các phát minh của tương lai- năm 2013 sẽ là sự hoàn thiện của những phát minh loại này. Có thể nói năm 2013 là năm lên ngôi của công nghệ điện tử, vi tính và mạng toàn cầu với những phát minh có tính ứng dụng của loạinày. Y học Năm 2013 tiếp tục có những phát minh vượt trội mang tính cách mạng trong y học. Có thể nói những phương pháp chữa bệnh của Tây y sẽ có những thay đổi căn bản về phương pháp chữa bệnh với các phát minh mới và ngày càng gần gũi với nền Đông Y Đông phương. HOA KỲ NĂM 2013 Nền kinh tế Hoa Kỳ trong năm 2013 cũng theo xu hướng chung của thế giới là có sự khởi sắc vào 6 tháng đầu năm. Nhưng cả Hoa Kỳ và thế giới, sự khởi sắc này chỉ ở một số ngành nhất định chứ không phải là sự khởi sắc toàn diện và sẽ có một số ngành nghề mới xuất hiện, thu hút nhân lực lao động. Đây là nguyên nhân của sự khởi sắc đầu năm 2013 nói chung của toàn thế giới.Tuy nhiên sự phát triển này có thể ví như một người đang có công việc ổn định nay bị thất nghiệp. Nhưng họ có được một công việc bán thời gian không ổn định.Thì có thể coi công việc bán thời gian không ổn định, như là sự phát triển so với thất nghiệp hoàn toàn. Có thể nói rằng việc phục hồi kinh tế vào nửa đầu năm, chủ yếu là vào từ tháng 2 đến tháng 4 Việt lịch, nhưng về bản chất thì những nguyên nhân gây ra khủng hoảng của toàn cầu vẫn chưa khắc phục được. Do đó nửa cuối năm 2013, bắt đầu từ tháng 7 Việt lịch nền kinh tế thế giới lại xuống dốc trầm trọng, trong đó có nền kinh tế Hoa Kỳ. Tuy nhiên so với thế giới, nước Mỹ vẫn có một nền kinh tế ổn định hơn cả. CÁC DỰ ĐOÁN KHÁC TRONG NĂM 2013 Những dự đoán kinh tế sau đây căn cứ vào bài “Dự đoán kinh tế thế giới năm 2013” của Thùy Linh - VnExpress (cũng đã đăng trong topic này). Chúng tôi sẽ dự báo theo những dự đoán mà bài viết trên đã đề cập đến. 1. Nhiều công ty Ấn Độ vỡ nợ hàng loạt? Theo như chúng tôi thì không phải bi đát như vậy với nền kinh tế Ấn Độ bởi vì không chỉ riêng đồng xu rupee suy yếu mà nhiều đồng tiền lớn trên thế giới cũng suy yếu theo cho nên nó mang lại một sự cân bằng nhất định khiến cho chỉ có một số công ty bị phá sản và Ấn Độ sẽ không bị tụt hạng tín nhiệm, ngược lại nền kinh tế Ấn Độ lại có dấu hiệu phát triển trong năm tới bởi những kế hoạch của chính phủ. 2. Bill Gates quay lại Microsoft? Theo như dự đoán trong bài viết trên thì Ông Bill Gates có thể sẽ quay về làm CEO tạm thời để tái cấu trúc và đưa Microsoft về thời hoàng kim trước kia. Nhưng chuyện này hoàn toàn không xảy ra, mặc dù Giám đốc hiện thời của Microsoft có thể được thay thế bởi một người khác. 3. Thuế cải tổ y tế của Tổng thống Obama bị hoãn? Mặc dù có những khó khăn như bài phân tích ở trên về vấn đề này. Nhưng thuế cải tổ y tế của Obama chỉ bị lùi lại thời gian thực hiện chứ không bị hoãn do những biến động giá trị đồng USD trong mối tương quan tiền tệ quốc tế có thay đổi. 4. Volkswagen và Toyota vượt GM? Thực ra cả hai hãng này cũng không vượt được GM của Hoa Kỳ chính bởi sự ảm đạm kinh tế thế giới đã kéo lùi doanh thu của hai hãng này. 5. Giá dầu tại Mỹ không tăng cao? Đồng ý gía dầu sẽ không tăng cao nhưng nói chính xác là tăng không đáng kể chứ không phải là không tăng. Tuy nhiên, không phải nguyên nhân do nước Mỹ khai thác các mỏ dầu của mình mà là do sự ổn định thị trường dầu thế giới bởi thị trường dầu ở Trung Đông ổn định hơn. 6. Buffett tăng cường hoạt động thâu tóm? Có thể nói nhà tỷ phú thần thoại Hoa Kỳ Warren Buffett lần đầu tiên nếm mùi thất bại bởi những tác động nằm ngoài dự kiến trong kế hoạch thâu tóm của ông ta. 7. CEO JPMorgan nghỉ hưu Chúng tôi không có ý kiến gì về vấn đề này 8. Hewlett-Packard sẽ phải tách công ty Chúng tôi không có ý kiến gì về vấn đề này 9. UnderArmour uy hiếp thị phần của Nike Chúng tôi không có ý kiến gì về vấn đề này Trên đây là những dự báo của chúng tôi trong năm Quý Tỵ 2013 với hy vọng xác định khả năng xảy ra trong tương lai, để giúp con người gần lành tránh dữ và hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.
  6. Bài trích dẫn sau đây là những những ý kiến trái chiều, khác nhau của các diễn đàn khác, chúng tôi đưa vào đây để mọi người tham khảo và nhận định. ========================== kolname Hội Viên Tích Cực Tham gia ngày: Oct 2010 Đến từ: Việt Nam Bài gửi: 365 Hội Viên thứ: 1588 Đã cảm ơn: 577 Được cảm ơn: 153 lần trong 106 bài viết Hỏi tiếp bạn: Có ai gọi là tâm thế giới không hay chỉ gọi là tâm quả đất hoặc tâm địa cầu? Bản đồ hành chính khác với bản đồ địa lý ở chỗ nào? hoangtrieuhai Hội Viên ham gia ngày: Oct 2009 Bài gửi: 72 Hội Viên thứ: 394 Đã cảm ơn: 32 Được cảm ơn: 9 lần trong 8 bài viết Trong HK, định cực không thể đưng trong tâm địa cầu để xác định tương tác của thái dương hệ. Tôi hiểu ý bạn, và hth cũng ko nói bản đồ phân cung của HKLV bạn đưa lên đã là chuẩn. Chính vì thế không tự cho việc định tâm của HKLV trên bản đồ thế giới là đúng. Có khá nhiều mâu thuẫn ở đây: Một quốc gia, định cực sẽ là ở Thủ đô của nước đó hay tâm bản đồ địa lý. Vậy định cực của thế giới này, theo tiêu chí nào ? hoangtrieuhai Hội Viên Tham gia ngày: Oct 2009 Bài gửi: 72 Hội Viên thứ: 394 Đã cảm ơn: 32 Được cảm ơn: 9 lần trong 8 bài viết Cảm ơn bạn, hth đang nghĩ mồm là thiên môn, hậu môn là địa hộ, bộ lòng dẫn khí vậy định cực, định tâm thì là đầu hay là tim nhỉ ? HTH cho là trọng tâm lực cuộc đất không liên quan tới vị trí của Cửu Tinh tương tác lên cuộc đất đó. vài lời vui vẻ, mong bác dienbantn có ghé qua cũng không giận ! kolname Hội Viên Tích Cực Cảm ơn bạn đã hiểu ý của tôi và tôi cũng mong rằng bạn sớm giải quyết ổn thỏa mâu thuẫn đó. hieuminh Hội Viên Tham gia ngày: Jun 2009 Bài gửi: 27 Hội Viên thứ: 58 Đã cảm ơn: 4 Được cảm ơn: 4 lần trong 4 bài viết Theo như sơ đồ này thì: - Anh bạn Mỹ của ta chết chắc (thực tế Nước mỹ đang phục hồi sau gói kích cầu) - Châu Á (tàu, ta, nhật,...)thịnh vượng,.. (thực tế quá bi đát) Thôi không bàn nữa...
  7. Bài trích dẫn sau đây là những những ý kiến trái chiều, khác nhau của các diễn đàn khác, chúng tôi đưa vào đây để mọi người tham khảo và nhận định. ========================== de vuong Hội Viên Tham gia ngày: Aug 2009 Bài gửi: 132 Hội Viên thứ: 157 Đã cảm ơn: 74 Được cảm ơn: 98 lần trong 48 bài viết KÍnh các bác, tôi có vài lời sau: Tôi đồng ý với ý kiến của bác namphong. Do vậy mới có chuyện có thầy phong thủy giỏi và "thầy" dởm. Thầy phong thủy giỏi là người phải nắm được cả lý thuyết với thực tế thực hành, ở họ có sự cảm nhận về cuộc đất tốt. Tại mỗi cuộc đất người ta sẽ đưa ra những phương án được coi là tối ưu phù hợp với gia chủ. Trong trường hợp như bác HTH viết tại những cuộc đất mà người ta chưa xây dựng, thì việc xác định tâm như thế nào? Người thầy phong thủy giỏi là người nhìn cuộc đất mà sẽ tư vấn cho gia chủ sao cho phù hợp, đó chính là thiết kế, và cũng sẽ xác định được tâm nhà. Vài lời thô thiển, các bác cho ý kiến thêm. Thân. longtuan Hội Viên Tham gia ngày: Jul 2009 Bài gửi: 145 Hội Viên thứ: 85 Đã cảm ơn: 61 Được cảm ơn: 157 lần trong 90 bài viết Kinh dịch lấy sự thay đổi dịch chuyển là vấn đề trọng tâm cho nên mọi cái sẽ không cố định , cái đúng ngày hôm nay chưa chắc là cái đúng ngày mai . Tôi không phủ nhận điều bạn nói nhưng nó không phải là tất cả , cũng như khi ta nghiên cứu về triết học đông phương sẽ có nhiều cái làm ta rối bời nhưng nếu ta quy về âm dương thì lúc này ta nhìn sư vật sẽ rõ ràng hơn . Đó là kinh nghiệm của tôi khi nghiên cứu một bệnh lý mà âm , dương , biểu , lý , hư , thực , hàn , nhiệt , đang pha trộn lẫn nhau tạo nên một mớ bùng nhùng và lúc này nhật , nguyệt sẽ soi sáng cho chúng ta . Một người bị nhốt trong căn nhà tối và có một điểm ánh sáng thì theo phản xạ tự nhiên họ sẽ bị hút về điểm ánh sáng đó , lúc này điểm ánh sáng đó sẽ là hướng họ quan sát , và sau lưng họ sẽ là sơn . Có xác đinh được sơn , hướng thì mới có tâm . Lúc này đây trên cùng một trục thẳng đứng sẽ có cách hiệu chỉnh khác nhau trong căn phòng của họ phù hợp với mệnh lý của họ , với lại càng nên cao không khí càng loãng vậy âm dương cũng sẽ khác nhau . Không những thế phong thủy không phải là tất cả , thiên thời ,địa lợi , nhân hòa , trong quả đất này con người đứng giữa trời và đất là một iếu tố quan trọng không ai phủ nhận được điều này . Chính vì thế mà mà ta sẽ thấy sự khác biệt ở từng căn hộ . hoangtrieuhai Hội Viên Tham gia ngày: Oct 2009 Bài gửi: 72 Hội Viên thứ: 394 Đã cảm ơn: 32 Được cảm ơn: 9 lần trong 8 bài viết Cảm ơn bác longtuan chỉ giáo. Thầy HK của HTH day, chỉ khi định được tâm mới có sơn-hướng-tọa. Tâm cố định thì muốn làm gì hãy làm. Vậy khi không định cực ( tâm nhà ) thì làm sao định sơn hướng ? (hướng trong HK mà HTH được học từ thầy HK - cụ T là từ tâm nhà mới xác định sơn và hướng). Nếu theo quan điểm lấy dịch chuyển làm vấn đề trọng tâm thì HTH e là hơi bất ổn. Kinh dịch là mô tả sự vận động, qui luật của thiên nhiên nhưng nó dựa trên nền tảng cố định đấy chứ. Nếu không, làm sao sử dụng Kinh Dịch để tiên tri, bói toán ? hôm nay quẻ Khốn coi là xấu vậy ngày mai, nó có thể thành tốt chăng ? nếu HTH hiểu sai mong bác longtuan bỏ qua và chỉ giáo thêm. Nếu như định tâm phụ thuộc sự dịch chuyển thì trong cùng một ngôi nhà, chúng ta không thể dùng tâm của tầng 1(tầng trệt) cho các tầng còn lại, và mỗi tầng sẽ có một tâm khác nhau bởi sự loãng đặc của âm dương, bởi cửa tiếp khí và nơi thông thoáng cũng sẽ khác nhau ? Đây là thực tế HTH gặp phải, khi tư vấn PT trong chung cư cao cấp, nơi bạn ko thể sửa kiến trúc hay kết cấu, thâm trí màu sắc cửa ra vào. Với các căn hộ cách nhau 2-3 tầng, sự loãng hay đặc của không khí và âm dương của các tầng gần nhau không có quá nhiều sự khác biệt. Nếu chỉ dùng HK thôi, e khó lý giải được sự khác nhau. Hoàn toàn đồng ý với bác, Trích: phong thủy không phải là tất cả , thiên thời ,địa lợi , nhân hòa , trong quả đất này con người đứng giữa trời và đất là một iếu tố quan trọng . Phong thủy có thể thay đổi định lượng nhưng không thể thay đổi được định tính của số mênh. thân ái hth chimcong Hội Viên Tham gia ngày: Jul 2013 Bài gửi: 73 Hội Viên thứ: 4476 Đã cảm ơn: 18 Được cảm ơn: 16 lần trong 12 bài viết Rất hoan nghênh khi hoangtrieuhai hứa sẽ giúp phân cung hai bản vẽ đã nêu theo tiêu chí của PTLV . Trong thời gian chờ đợi ,tôi xin trích dẫn một đoạn quan điểm về xác định tâm của một ngôi nhà hay cuộc đất mà nhà nghiên cứu Bùi Quốc Hùng(dienban.tn) để hoangtrieuhai và anh chị em tham khảo . Mời mọi người cùng xem : " Khi làm Phong thủy cho bất kỳ cuộc đất nào dù là âm hay dương trạch, chúng ta cần phải nắm rõ đâu là Thiên môn, đâu là Địa hộ của cuộc đất. Biết được hai cái cổng đó ( nạp và xả Khí ) , chúng ta mới có thể tính đến mọi chuyện khác. Bạn cứ hình dung : Thiên môn là cái miệng, Địa hộ là cái hậu môn, dường dẫn Khí là bộ đồ lòng. Khi mà ăn không được ( Khí bị bế ) thì giống như không được nạp khí vào cuộc đất - Toi. Khi mà ăn vào mà đau bụng tiêu chẩy, giống như bị thoát Khí cũng toi.Con người phải điều hòa được hai vấn đề : Ăn và thải. Không điều hòa hai cái đó chắc chắn sức khỏa sút kém. Cuộc đất cũng vậy, Khí vào Thiên môn và ra Địa hộ cũng phải cân bằng. Cái sự cân bằng đó trong Địa lý gọi là " Điểm âm - dương giao hòa ". Định tâm nhà chính là xác định được vạch ranh giời giữa hai Khí Âm và Dương của căn nhà. Có nhiều cách xác định tùy theo trình độ của người thực hiện, nhưng dù là cách nào đi chăng nữa, kết quả phải đảm bảo giống nhau từ 80% trở lên. dienbatn thử nêu ra những cách sau để xác định tâm nhà. 1/ HẠ CÁCH : Dùng thuật toán và vẽ kỹ thuật, xác định trọng tâm hình học của một hình bất kỳ. Cái này thì tương đối đơn giản. Tuy nhiên độ chính xác không cao vì trọng tâm hình học chưa chắc đã trùng với trọng tâm lực trên cuộc đất, giống như cùng một khúc gỗ hình trụ, phía đầu bao giờ cũng nhẹ hơn phía gốc. 2/ TRUNG CÁCH : Dùng con lặc cảm xạ xác định - Cái này bạn tham khảo tài liệu của Dư Quang Châu. Cách này độ chính xác cũng không cao vì phụ thuộc nhiều vào khả năng rung động thư giãn, gọi màu, nâng khí của người sử dụng. Tuy nhiên thông thường độ chính xác cũng đạt 80%. 3/ THƯỢNG CÁCH : Những người tu tập Mật tông, Thiền tông, yoga khi đạt được một mức độ nào đó, có thể " Quán Khí' và nhận ra rất rõ đường đi, sắc màu , tốc độ của dòng Khí.Cách này đòi hỏi phải có quá trình tu luyện lâu năm, bền bỉ. Độ chính xác gần như tuyệt đối. 4/ TỐI THƯỢNG CÁCH : Là phương pháp tổng hợp của cả 3 phương pháp trên, kết hợp với kinh nghiệm và kiến thức Phong thủy bao gồm các vấn đề : Hợp hình, hợp mệnh, hợp môn, hợp vị, hợp hướng , hợp thủy, hợp hỏa, hợp vận ( gọi chung bà bát hợp ). Ngoài ra phải tinh thông các thuật của Huyền môn như triệu Thần linh, Thổ địa...Ngày xưa các cụ nói : Thày Địa lý là phải : " Trên thông Thiên văn - Dưới tường Địa lý - Giữa thông muôn loài " là vậy. Khi nắm được cái chìa khóa vạn năng rồi thì cái cửa nào mở chẳng được phải không bạn.Bởi vì : " Nhất bản tán vạn thù - Vạn thù quy ư nhất bản ". Thân ái. dienbatn. Trân trọng giới thiệu !
  8. Bài trích dẫn sau đây là những những ý kiến trái chiều, khác nhau của các diễn đàn khác, chúng tôi đưa vào đây để mọi người tham khảo và nhận định. ========================== xích_quỷ_nhân Hội Viên huyenkhonglyso.com Tham gia ngày: Jun 2013 Bài gửi: 15 Hội Viên thứ: 4444 Đã cảm ơn: 17 Được cảm ơn: 6 lần trong 6 bài viết -cách định tâm của anh Nam Phong ko mang tính kế thừa ,phần lớn dựa vào năng lực cá nhân +những kẻ hậu học sau này nếu đem nó vào ứng dụng chỉ sợ là tam sao thất bản ,loạn xà ngầu ==>phương pháp thất truyền -phép định tâm theo toán học xét cho cùng cũng có nhiều điểm lợi , nó giống như cái vòi nước nóng lạnh được định tâm ở giữa . tùy theo nhu cầu của người sử dụng mà ta tăng ,hoặc giảm âm dương khí cho phù hợp với thể trạng -thấy anh Nam Phong quan tâm đến âm dương giao thái ,sự cân bằng khí trong mỗi cuộc đất ...xích quỷ muốn hỏi +phải chăng âm dương giao hòa sẽ tốt cho mọi cuộc đất ? +phải chăng sự mất cân bằng âm dương sẽ xấu trong mọi trường hợp ? xích quỷ xin lỗi anh Hoàng Triệu Hải vì đã xen ngang , hy vọng ko làm mất mạch viết của anh kolname Hội Viên Tích Cực huyenkhonglysu.com Tham gia ngày: Oct 2010 Đến từ: Việt Nam Bài gửi: 365 Hội Viên thứ: 1588 Đã cảm ơn: 577 Được cảm ơn: 153 lần trong 106 bài viết Chào các bạn, Về việc định tâm nhà trong phong thủy kolname xin có mấy ý kiến để mọi người định hướng cho việc nghiên cứu của mình. - Định tâm nhà nên hiểu theo cách là điều chỉnh chứ không phải là cố định tâm nhà. - Phương pháp toán học mà bạn hoangtrieuhai đưa ra là một trong những phương pháp định tâm hợp lý ở mức độ chấp nhận được (chỉ là chấp nhận được chứ không phải là đúng) và là phương pháp đóng (thụ động) - Phương pháp định tâm của anh Namphong đưa ra là phương pháp mở ( Chủ động) -Những gì mà chúng ta không thể điều chỉnh được thì coi là đóng, những gì mà chúng ta có thể điều chỉnh được thì coi là mở. - Khi định tâm nhà cần phải kết hợp cả phương pháp mở và phương pháp đóng thì mới đưa ra được giải pháp tối ưu nhất.
  9. Bài trích dẫn sau đây là những những ý kiến trái chiều, khác nhau của các diễn đàn khác, chúng tôi đưa vào đây để mọi người tham khảo và nhận định. ========================== Thaison Hội Viên Huyenkhonglyso.com Tham gia ngày: May 2013 Bài gửi: 62 Hội Viên thứ: 4372 Đã cảm ơn: 0 Được cảm ơn: 40 lần trong 17 bài viết "chỉ biết định tâm điểm rồi phân cung định trạch mà không biết rằng phân cung định trạch là để định tâm điểm" "chỉ biết định quái rồi dùng ai tinh mà không biết ai tinh là để định quái" Cảm ơn bài viết sâu sắc của tiền bối Nam Phong - Bài viết như một lời cảnh tỉnh cho hàng hậu học, cũng như lời khuyên của cụ ASVN là thận trọng, cẩn thận và thận trọng. - Phéo định Tâm đâu phải giản đơn - chỉ hai câu nói trên của tiền bối cũng đủ minh chứng điều này. - Hậu bối với hiểu biết nông cạn của mình hiểu rằng: Phép lập cực định tâm muốn chính xác phải cần và đủ cho cả 2 yếu tố (Theo ngôn ngữ hiện đại) là: 1- Định Lượng (Định tâm theo phương pháp toán học, đồ hình, điểm phân, trọng lực...) 1- Định Tính (Xuy xét động tĩnh, âm dương, thành môn, cửa thu khí...) - Nếu thiếu một trong 2 yếu tố trên phép định Tâm chưa chuẩn. Bài viết của Nam Phong tiền bối cũng gợi mở rất nhiều cho người nghiên cứu phong thủy, tuy nhiên đến thời điểm này Hậu bối vẫn chưa dám có nhận xét gì về phép định tâm của PTLV vì còn phải chờ những bài tiếp theo về định Tâm của HTH tiên sinh. longtuan Hội Viên Huyenkhonglyso.com Tham gia ngày: Jul 2009 Bài gửi: 145 Hội Viên thứ: 85 Đã cảm ơn: 61 Được cảm ơn: 157 lần trong 90 bài viết Phép định tâm theo toán học có lẽ dành cho kiến trúc sư . Trong một một khu chung cư mà dùng phép này sẽ gặp nhiều vướng mắc , bởi mỗi phòng mỗi buồng phải theo tâm nào đây . Theo Namphong Dùng âm dương giao thái , hay thủy hỏa ký tế mà định tâm thì có chung mà lại có riêng . Con người sống trên quả đất này chịu tác động của Thái âm ( mặt trăng ) Thái dương ( mặt trời ) nhiều nhất , ngoài ra còn , Sao kim , mộc , thủy , hỏa , thổ ...vv... . Thử hỏi rằng nếu mặt trăng , mặt trời không có thì quả đất sẽ ra sao ??? Một trong nhiều cách đinh tâm hay xác định sơn hướng một buồng phòng lấy sự thông thoáng của ánh nắng mặt trời làm hướng , Sơn mà định tâm , lúc này đây cổng , cửa nhà chung cư chỉ là thủy khẩu , thành môn mà thôi . Có như vậy mới giải thích được sự khác biệt của từng hộ gia đình ở chung cư . hoangtrieuhai Hội Viên Huyenkhonglyso.com Tham gia ngày: Oct 2009 Bài gửi: 72 Hội Viên thứ: 394 Đã cảm ơn: 32 Được cảm ơn: 9 lần trong 8 bài viết HTH chưa viết tiếp, phần vì công việc lu bu, phần thì chuẩn bị đi công tác dài ngày, không thể tập trung viết bài. HTH rất cảm ơn các bài viết phản biện của các bạn, các cao thủ. HTH muốn đặt thêm câu hỏi sau khi đọc bài viết của Anh Nam Phong. Mong Anh ko hiếu sai vấn đề thành câu hỏi để tranh luận bởi Anh đã nói Anh viết bài là không tham gia vào topic này. Hệ thống lý thuyết cần ứng dụng mang tính hệ thống và như vậy thì HK mới có được sự tiên tri mang tính chính xác cao. HTH chỉ muốn hiểu thêm, mong các cao nhân chỉ giáo : 1. Với một mảnh đất chuẩn bị xây, chúng ta không có cơ sở để nhận biết đâu là cửa (tiếp khí), cũng không có âm khí để xác định được điểm âm dương giao hòa - yếu tố định tâm. Vậy cách định tâm là như thế nào ? 2. Định tâm trong HK khó như vậy, tức là đòi hỏi phải là một cao thủ nghiên cứu lâu năm , người có đủ khả năng nhận biết nơi giao hòa khí âm dương. Như thế, mỗi người sẽ "cảm" sự giao hòa ấy một cách khác nhau và định cực sẽ khác nhau, và như thế hoàn toàn phụ thuộc vào sự "cảm " và "trình" của thầy phong thủy. HTH cho như vậy không được xem là một hệ lý thuyết chuẩn bởi ko mang tính hệ thống. 3. Có nhiều cao thủ đã dùng Huyền KHông để dự đoán tình hình thế giới. Vậy cách chúng ta định tâm thế giới như thế nào ? Đây là hình thể một ngôi nhà trong phố cổ, HTH đưa lên để các bạn tham khảo. HTH sẽ đưa hình có định tâm theo PTLV sau hai ngày nữa để tiện phân tích. HTH ko thể đưa ra chi tiết hướng dẫn định tâm của PTLV, chỉ có thể là định nghĩa, mong các bạn thông cảm. Thân ái hth
  10. Bài trích dẫn sau đây là những những ý kiến trái chiều, khác nhau của các diễn đàn khác, chúng tôi đưa vào đây để mọi người tham khảo và nhận định. ========================== kolname Hội Viên Tích Cực của huyenkhonglyso.com Tham gia ngày: Oct 2010 Đến từ: Việt Nam Bài gửi: 360 Hội Viên thứ: 1588 Đã cảm ơn: 577 Được cảm ơn: 153 lần trong 106 bài viết Chào các bạn, Về việc định tâm nhà trong phong thủy kolname xin có mấy ý kiến để mọi người định hướng cho việc nghiên cứu của mình. - Định tâm nhà nên hiểu theo cách là điều chỉnh chứ không phải là cố định tâm nhà. - Phương pháp toán học mà bạn hoangtrieuhai đưa ra là một trong những phương pháp định tâm hợp lý ở mức độ chấp nhận được (chỉ là chấp nhận được chứ không phải là đúng) và là phương pháp đóng (thụ động) - Phương pháp định tâm của anh Namphong đưa ra là phương pháp mở ( Chủ động) -Những gì mà chúng ta không thể điều chỉnh được thì coi là đóng, những gì mà chúng ta có thể điều chỉnh được thì coi là mở. - Khi định tâm nhà cần phải kết hợp cả phương pháp mở và phương pháp đóng thì mới đưa ra được giải pháp tối ưu nhất. longtuan Hội Viên của huyenkhonglyso.com Tham gia ngày: Jul 2009 Bài gửi: 141 Hội Viên thứ: 85 Đã cảm ơn: 60 Được cảm ơn: 155 lần trong 88 bài viết Kinh dịch lấy sự thay đổi dịch chuyển là vấn đề trọng tâm cho nên mọi cái sẽ không cố định , cái đúng ngày hôm nay chưa chắc là cái đúng ngày mai . Tôi không phủ nhận điều bạn nói nhưng nó không phải là tất cả , cũng như khi ta nghiên cứu về triết học đông phương sẽ có nhiều cái làm ta rối bời nhưng nếu ta quy về âm dương thì lúc này ta nhìn sư vật sẽ rõ ràng hơn . Đó là kinh nghiệm của tôi khi nghiên cứu một bệnh lý mà âm , dương , biểu , lý , hư , thực , hàn , nhiệt , đang pha trộn lẫn nhau tạo nên một mớ bùng nhùng và lúc này nhật , nguyệt sẽ soi sáng cho chúng ta . Một người bị nhốt trong căn nhà tối và có một điểm ánh sáng thì theo phản xạ tự nhiên họ sẽ bị hút về điểm ánh sáng đó , lúc này điểm ánh sáng đó sẽ là hướng họ quan sát , và sau lưng họ sẽ là sơn . Có xác đinh được sơn , hướng thì mới có tâm . Lúc này đây trên cùng một trục thẳng đứng sẽ có cách hiệu chỉnh khác nhau trong căn phòng của họ phù hợp với mệnh lý của họ , với lại càng nên cao không khí càng loãng vậy âm dương cũng sẽ khác nhau . Không những thế phong thủy không phải là tất cả , thiên thời ,địa lợi , nhân hòa , trong quả đất này con người đứng giữa trời và đất là một iếu tố quan trọng không ai phủ nhận được điều này . Chính vì thế mà mà ta sẽ thấy sự khác biệt ở từng căn hộ . kolname Hội Viên Tích Cực của huyenkhonglyso.com Tham gia ngày: Oct 2010 Đến từ: Việt Nam Bài gửi: 360 Hội Viên thứ: 1588 Đã cảm ơn: 577 Được cảm ơn: 153 lần trong 106 bài viết Nếu năm nay dự đoán đúng ======> Định tâm thế giới đúng Sang năm dự đoán sai =========> Định tâm thế giới sai Nếu dự đoán đúng 50, sai 50 =======> Tâm thế giới bị lệch đi so với hiện nay
  11. Bài trích dẫn sau đây là những những ý kiến trái chiều, khác nhau của các diễn đàn khác, chúng tôi đưa vào đây để mọi người tham khảo và nhận định. ========================== namphong Hội Viên Đặc Biệt của huyenkhonglyso.com Tham gia ngày: Aug 2009 Bài gửi: 866 Hội Viên thứ: 159 Đã cảm ơn: 87 Được cảm ơn: 3,511 lần trong 708 bài viết Huyền không xưa khi định điểm lập cực cho một cục không hề đơn giản là chỉ lấy trọng tâm hay tính toán bằng phương pháp toán học để tìm trung tâm điểm hoặc các phép tính toán bù trừ bằng toán học. Thẩm Trúc Nhưng, Hồ Kinh Quốc, Bạch Hạc Minh đều hiểu chưa đúng về lập cực điểm do đó dạy người phép lập cực chưa đúng. Cục dù lớn như đại địa, dù nhỏ như một cái nhà đều có âm dương bên trong nó, có vậy mới hình thành nên sinh khí sự sống, lấy một nhà để minh họa thì nơi dương khí đi vào(tạm xem là cửa chính của nhà) và đối diện với nó là nơi âm khí tàng chứa(tọa sau của nhà). Cái nơi giao hòa âm dương chính là điểm lập cực của nhà. Nói cô âm chính là nói 4 bề vách dựng, không có đường cho dương khí đi vào, đó chỉ có thể là chốn ngục tù mà thôi. Nói độc dương chính là nói cái dù lớn dựng ngoài trời, 4 bề gió lộng, chỉ có thể là chổ trú tránh tạm thời mà thôi. Cô âm độc dương vì thế chẳng phải nơi ở của con người được. Tự ngàn xưa khi khoét vách đá làm hang động để ở, con người đã ý thức che chắn phía sau và mở rộng phía trước, đó chẳng phải là đã hiểu dịch lý âm dương mà đó là sinh tồn theo lý tự nhiên, dịch lý âm dương do đó xuất từ lý của tự nhiên. Huyền không xưa viết: thế nhân chỉ biết định tâm điểm rồi phân cung định trạch mà không biết rằng phân cung định trạch là để định tâm điểm. Sau này Tằng Hoài Ngọc khi viết Nguyên Không Pháp Giám cũng mượn lời này mà nói: người đời chỉ biết định quái rồi dùng ai tinh mà không biết ai tinh là để định quái. Hai câu này ý cao thâm như nhau nhưng để dùng trong 2 việc khác nhau. Huyền không xưa viết như thế để khuyên người học không nên cứng nhắc khi tính tâm điểm một nhà, mà phải biết xét hai khí âm dương để định mới không sai nhầm. Biết được nơi thụ khí vào nhà(dương, thường là cửa chính) và nơi đón lấy khí(âm, thường là đối diện với cửa chính) mới có thể định được điểm lập cực của nhà. Tuy nhiên trong trường hợp nhà hình vuông, chữ nhật ngay ngắn thì việc định tâm nhà theo phép lấy trọng tâm hay cách tính toán học vô hình chung trùng với phép xét âm dương nên thời nhà Thanh các học giả Phong thủy mới dạy người phép lấy điểm lập cực bằng cách tính toán trọng tâm như vậy. Tuy nhiên đối với những nhà có diện tích không cân đối thì việc tìm điểm lập cực theo cách trên có thể đúng và có thể sai lầm. Đơn cử như các hình bên dưới: (Không thấy hình minh họa) Huyền không xưa viết phân cung định trạch là để định tâm điểm chính là như trên, hình H1 là hình thể một nhà không vuông vắn; Hình H2 là khi cửa thụ dương khí và bc có nhà khác che kín thì điểm lập cực như vậy(vòng tròn đỏ); Hình H3 là khi cửa thụ dương khí và bc trống thóang và nhà có cửa phụ mở ra ở đó thì điểm lập cực như vậy(vòng tròn đỏ); Hình H4, H5 và H6 là khi nơi thụ dương khí mở về phía khác, các bên trống thóang thì điểm lập cực sẽ như vậy. Trên là tạm xem cửa chính như nơi thụ khí, trong thực tế có những trường hợp thụ khí không phải là cửa chính và hình thể nhà còn phức tạp hơn, Thanh nang quyết viết: “Lập huyệt động tĩnh trung gian cầu” là đầy đủ bí quyết này. Dương trạch nhà cửa là vậy, âm trạch thì xem thành môn(nơi thụ dương khí) để mà định. Hai chữ Thành môn đến nay nhiều người còn hiểu sai thì làm sao định được tâm điểm của âm trạch? đành rằng có thể dùng thập đạo tầm Thiên tâm nhưng có những cục chỉ có thể xác quyết bằng Thành môn. "chỉ biết định tâm điểm rồi phân cung định trạch mà không biết rằng phân cung định trạch là để định tâm điểm" "chỉ biết định quái rồi dùng ai tinh mà không biết ai tinh là để định quái" Viết lại hai câu này lần nửa để người hữu duyên có thể hiểu được ẩn ý bên trong nó. Hai khí âm dương giao hòa. Điểm lập cực là nơi dương tìm đến âm, âm đón nhận dương. Nhìn hình định điểm lập cực mà không đến cục xét khí âm dương thì khiên cưỡng và chỉ đúng khi hình thể nhà vuông vắn, không đúng khi hình thể nhà khác lạ và hoàn toàn sai đối với âm trạch. Xét khí âm dương để lập cực thì cùng một hình thể nhà nhưng vị trí khí xuất nhập khác nhau thì điểm lập cực sẽ khác nhau, âm trạch thì chỉ một quyết thành môn. Ngàn vạn cục thế dương trạch và âm trạch chỉ một lý này mà thôi. P/S: Nam Phong không tham gia thảo luận các vấn đề, viết bài này chỉ vì vài bạn có tham gia trong này: nên lưu tâm âm dương, không nên chú ý toán học nhiều vì toán học giả định âm dương bằng nhau hoặc triệt bỏ khí âm dương khi tính toán, thực tế âm dương không phải bằng nhau trong cục, đó chỉ là trường hợp lý tưởng mới có chuyện âm dương bằng nhau. Thaison Hội Viên của huyenkhonglyso.com Tham gia ngày: May 2013 Bài gửi: 61 Hội Viên thứ: 4372 Đã cảm ơn: 0 Được cảm ơn: 39 lần trong 16 bài viết "chỉ biết định tâm điểm rồi phân cung định trạch mà không biết rằng phân cung định trạch là để định tâm điểm" "chỉ biết định quái rồi dùng ai tinh mà không biết ai tinh là để định quái" Cảm ơn bài viết sâu sắc của tiền bối Nam Phong - Bài viết như một lời cảnh tỉnh cho hàng hậu học, cũng như lời khuyên của cụ ASVN là thận trọng, cẩn thận và thận trọng. - Phéo định Tâm đâu phải giản đơn - chỉ hai câu nói trên của tiền bối cũng đủ minh chứng điều này. - Hậu bối với hiểu biết nông cạn của mình hiểu rằng: Phép lập cực định tâm muốn chính xác phải cần và đủ cho cả 2 yếu tố (Theo ngôn ngữ hiện đại) là: 1- Định Lượng (Định tâm theo phương pháp toán học, đồ hình, điểm phân, trọng lực...) 1- Định Tính (Xuy xét động tĩnh, âm dương, thành môn, cửa thu khí...) - Nếu thiếu một trong 2 yếu tố trên phép định Tâm chưa chuẩn. Bài viết của Nam Phong tiền bối cũng gợi mở rất nhiều cho người nghiên cứu phong thủy, tuy nhiên đến thời điểm này Hậu bối vẫn chưa dám có nhận xét gì về phép định tâm của PTLV vì còn phải chờ những bài tiếp theo về định Tâm của HTH tiên sinh. longtuan Hội Viên của huyenkhonglyso.com Tham gia ngày: Jul 2009 Bài gửi: 141 Hội Viên thứ: 85 Đã cảm ơn: 60 Được cảm ơn: 155 lần trong 88 bài viết Phép định tâm theo toán học có lẽ dành cho kiến trúc sư . Trong một một khu chung cư mà dùng phép này sẽ gặp nhiều vướng mắc , bởi mỗi phòng mỗi buồng phải theo tâm nào đây . Theo Namphong Dùng âm dương giao thái , hay thủy hỏa ký tế mà định tâm thì có chung mà lại có riêng . Con người sống trên quả đất này chịu tác động của Thái âm ( mặt trăng ) Thái dương ( mặt trời ) nhiều nhất , ngoài ra còn , Sao kim , mộc , thủy , hỏa , thổ ...vv... . Thử hỏi rằng nếu mặt trăng , mặt trời không có thì quả đất sẽ ra sao ??? Một trong nhiều cách đinh tâm hay xác định sơn hướng một buồng phòng lấy sự thông thoáng của ánh nắng mặt trời làm hướng , Sơn mà định tâm , lúc này đây cổng , cửa nhà chung cư chỉ là thủy khẩu , thành môn mà thôi . Có như vậy mới giải thích được sự khác biệt của từng hộ gia đình ở chung cư .
  12. Bài trích dẫn sau đây là những những ý kiến trái chiều của các diễn đàn khác, chúng tôi đưa vào đây để mọi người tham khảo và nhận định. ========================== kolname Hội Viên Tích Cực Huyenkhonglysu.com Tham gia ngày: Oct 2010 Đến từ: Việt Nam Bài gửi: 360 Hội Viên thứ: 1588 Đã cảm ơn: 577 Được cảm ơn: 153 lần trong 106 bài viết Hôm nay có thời gian xem kỹ lại phương pháp định tâm này tôi nhận thấy là khá hợp lý cũng là tự mò ra ( Đúng thì nói đúng, sai nói sai) Đó là tính tâm và diện tích hai hình một sau đó cộng tổng diện tích và tâm chung của chúng lại rồi đem xét với hình thứ 3 và cứ thế xét bao nhiêu hình cũng được . Tôi đã thử vài trường hợp và nhận thấy là hợp lý. Tuy nhiên sẽ có trường hợp xảy ra là tâm nhà sẽ nằm vào tường nhà hoặc bên ngoài nhà. Không biết điều này có ảnh hưởng đến việc phân cung điểm hướng như thế nào? kolname Hội Viên Tích Cực Tham gia ngày: Oct 2010 Đến từ: Việt Nam Bài gửi: 360 Hội Viên thứ: 1588 Đã cảm ơn: 577 Được cảm ơn: 153 lần trong 106 bài viết Chào bạn Thaison, Không những bạn không cần phải nói lời xin lỗi mà tôi cần phải cảm ơn bạn mới đúng. Tôi là người có tư duy mở có tính module ( Có lẽ do đặc thù công việc của tôi nó vậy) chính vì thế mà tôi đã từng nhận định rằng PTLV có tính hệ thống tổng quát cao và tôi không bao giờ phủ nhận điều đó. Tuy nhiên, nếu đảm bảo được tính hệ thống đó ở đây thì tôi, bạn và tất cả mọi người hãy chờ đợi điều gì sẽ xảy ra. Cảm ơn bạn. kolname Hội Viên Tích Cực Tham gia ngày: Oct 2010 Đến từ: Việt Nam Bài gửi: 360 Hội Viên thứ: 1588 Đã cảm ơn: 577 Được cảm ơn: 153 lần trong 106 bài viết Thú thực, tôi chưa hề đọc tài liệu này của PTLV chẳng qua là tôi tập trung đọc cẩn thận bài viết của bạn hth (Quả thật bạn hth trình bày hơi khó hiểu) và để ý đến con số 1/4 nên tôi suy ra phương pháp này. Có một điều thú vị là sau khi hiểu được phương pháp này lập tức tôi liên tưởng đến một chuyện hay hơn nữa ( Nếu mà SP của bạn hth biết được chắc chắn sẽ nói: Mình dạy con mình mà để con nhà hàng xóm thuộc bài hi..hi..) Theo tôi, phương pháp định tâm như vậy là hợp lý ở mức chấp nhận được. Mời bạn hth tiếp tục công việc của mình.
  13. Những bài trích dẫn sau đây là những những ý kiến trái chiều của các diễn đàn khác, chúng tôi đưa vào đây để mọi người tham khảo và nhận định. ========================== 07-07-13, 17:03 kolname Hội Viên Tích Cực huyenkhonglyso.com Tham gia ngày: Oct 2010 Đến từ: Việt Nam Bài gửi: 360 Hội Viên thứ: 1588 Đã cảm ơn: 577 Được cảm ơn: 153 lần trong 106 bài viết Chào bạn, Theo những gì bạn viết thì tôi hiểu phương pháp định tâm này là chia một hình lớn ra thành nhiều hình nhỏ có thể tính được diện tích theo các công thức toán học thông thường. Sau khi tìm thấy tâm của các hình nhỏ rồi thì nối các tâm điểm của các hình nhỏ đó với nhau. Tùy theo tỉ lệ diện tích của các hình so với nhau như thế nào sẽ lấy tâm của một hình lớn theo đường nối các tâm với nhau. Cụ thể, như trong trường hợp này thì hình chữ nhật lớn có diện tích bằng 4 lần diện tích hình nhỏ. bạn tính tâm của từng hình sau đó nối 2 tâm đó với nhau được một đường thẳng rồi chia làm 4 phần bằng nhau. Lấy tâm của toàn bộ hai hình chữ nhật đó về phía hình lớn. Riêng trường hợp này thì tôi thấy hợp lý. OK, pass Nhưng có một số trường hợp đặc biệt. Câu hỏi đặt ra là: Nếu như đường nối các tâm với nhau không phải là đường thẳng thì sao? Khi chia thành các hình nhỏ mà diện tích của chúng không tỷ lệ được với nhau thì sẽ tính tâm thế nào? Tôi xin hỏi bạn. và đã đọc cẩn thận, Trong thực tế dạng nhà có hình như dưới đây rất nhiều vậy cách định tâm ra sao Chúng ta cứ bình tĩnh làm rõ từng vấn đề một, chưa nói đến chuyện đúng sai vội.
  14. Những Ý Kiến Trái Chiều Về Định Tâm Trong Phong Thủy Quý thành viên và quý đọc giả thân mến, Hiện nay, khi bàn về vấn đề định tâm trong phong thủy, một yếu tố quan yếu trong học thuật địa lý đông phương, thì, có rất nhiều quan niệm hoặc ý kiến khác nhau và trái chiều đối với vấn đề này. Để có một cái nhìn đúng đắn về vấn đề nêu trên theo tinh thần học thuật nghiêm túc và theo tiêu chí khoa học, chúng sẽ tôi lần lượt đưa vào đây những ý kiến khác nhau từ các nguồn khác nhau để quý thành viên và quý vị đọc giả rộng đường suy xét và tham khảo. Trước nhất chúng tôi xin trích dẫn bài viết tham luận về "Vấn đề điịnh tâm nhà đất trong Phong thủy", được đọc trong cuộc hội thảo về phong thủy tại Hà Nội, ngày 15/9/2009/, với chủ đề hội thảo "Tính khoa học của Phong thủy trong kiến trúc và xây dựng", do thành viên ban nghiên cứu Phong thủy Lạc Việt, Châu Thế Vinh, soạn thảo với sự hướng dẫn của Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh - Thiên Sứ -. Thay mặt ban nghiên cứu Phong thủy Lạc Việt, chân thành cảm ơn sự quan tâm của quý thành viên và quý đọc giả. Thiên Đồng 26/7/2013 ================================ VẤN ĐỀ ĐỊNH TÂM NHÀ ĐẤT TRONG PHONG THỦY Châu Thế Vinh Thành viên Ban nghiên cứu Phong Thủy Lạc Việt Trung Tâm Nghiên Cứu Lý Học Đông Phương I – MỤC ĐÍCH VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH TÂM NHÀ - ĐẤT TRONG PHONG THỦY. I - 1. Tầm quan trọng của việc định tâm đất trong phong thủy. Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương đã xác định yếu tố thực tiễn và khách quan của phương pháp ứng dụng trong phong thủy chính là sự tương tác. Sự nắm bắt qui luật tương tác của vũ trụ, thiên nhiên, môi trường và cụ thể của những cấu trúc vật chất trong ngôi gia đã làm nên tính ứng dụng của phong thủy. Nhận xét này của chúng tôi, bước đầu đã xóa bỏ bức màn huyền bí của môn phong thủy Đông phương và đưa phong thủy vào đối tượng nghiên cứu khoa học một cách có căn cứ khoa học. Lý thuyết khoa học hiện đại đã xác định rằng: Bản chất sự hình thành và phát triển trong vũ trụ chính là sự tương tác. Tính chất tương tác như thế nào thì sự vật, sự việc thể hiện như thế đó. Luận điểm này của chúng tôi được hầu hết những nhà nghiên cứu Lý số về bản chất của Phong Thủy thừa nhận. Trên cơ sở nhất quán của luận điểm này, chúng tôi xét trong mối tương tác của thế giới vật chất nói chung thì việc định tâm nhà đất là yếu tố quan trọng hàng đầu. Vì từ đó chúng ta mới có thể phân cung điểm hướng là những thành tố mang tính dự kiện ban đầu chi phối hấu hết những phương pháp ứng dụng trong phong thủy. Trong ứng dụng phong thủy lưu truyền câu: “Nhất vị, nhị hướng” – vị ở đây quan trọng nhất chính là tâm. Tâm nhà đất là nơi chịu tác động mạnh nhất và là nới tập trung các yếu tố tương tác. Có thể khẳng định rằng: Định tâm nhà đất sai thì các phương pháp ứng dụng Phong Thủy cũng sai lệch. Định tâm sai, nhẹ thì sẽ giảm hiệu quả của các phương pháp Phong Thủy, nặng thì có thể gây nguy hại khôn lường, thậm chí ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến gia chủ. Nhưng chính sự mơ hồ do thất truyền trong nguyên tắc định tâm đất trong phong thủy từ hàng ngàn năm qua lại là một trong những yếu tố quan trong góp phần làm nên sự mơ hồ và huyền bí của Phong Thủy. Do việc định tâm sai, sẽ dẫn đến phương pháp ứng dụng sai ở các phương vị cần phát huy , hoặc hạn chế các quy luật tương tác tốt, hay xấu. Từ mục đích làm sáng tỏ tính khoa học của khoa Phong Thủy, chúng tôi nhận thấy sự cần thiết phải đưa ra một phương pháp định tâm nhà đất chính xác và hợp lý trong Phong thủy - mang tính nguyên lý, từ đó có thể giải thích được hầu hết các hiện tượng liên quan cũng như phát huy được tính ứng dụng hiệu quả và thống nhất của các phương pháp ứng dụng Phong Thủy như Bát Trạch, Huyển Không, Loan đầu hình lý khí… nhân danh Phong Thủy Lạc Việt. II - PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH TÂM NHÀ ĐẤT TRONG PHONG THỦY CỔ. 1. Định tâm đất - Sự thất truyền của lý thuyết căn bản trong phong thủy cổ. Một điểu dể dàng nhận thấy rằng: trong tất cả các sách vở cổ về Phong Thuỷ lưu truyền đến nay, đều không đặt ra vấn đề này. Sách xưa sở dĩ không đề cập đến, một phần vì do thất truyền những nguyên lý thuyết căn bản của Phong thuỷ và một phần nữa có thể hiểu rằng: Các căn nhà xây theo kiến trúc Đông phương cổ phần lớn đều tuân theo những hình kỷ hà mang tính cân đối như hình vuông hay chử nhật. Bởi vậy sự định tâm đã được mặc nhiên xác định. Ngày nay, khi cuộc sống trở nên hiện đại, các đô thị, cao ốc, căn hộ dân cư phát triển rất nhiều so với trước kia và các công trình kiến trúc đó lại mang nhiều hình thế phức tạp. Do thiếu một nguyên lý căn bản làm kim chỉ nam, nên khi có thay đổi trong các cấu trúc hiện đại so với cấu trúc cổ, các phong thuỷ gia trở nên lúng túng về phương pháp ứng dụng Phong Thủy. Những vấn nạn của Phong thuỷ hiện đại thường thấy chính là vấn đề định tâm nhà đất và phân quái trong các tầng nhà (Theo phương pháp “Dương trạch tam yếu”). II - 2. Sai lệch và khiếm khuyết của phương pháp định tâm nhà trong phong thủy từ trước đến nay. Có thể nói cho đến thời điểm hiện tại, hầu hết các phong thuỷ gia mặc dù hiểu được tẩm quan trong của việc định tâm nhà đất nhưng không thể đưa ra được phương pháp định tâm chính xác, hợp lý và lẽ dĩ nhiên là không thể định tâm được những căn nhà hoặc miếng đất mang hình thể phức tạp. Sau đây là những phương pháp địng tâm nhà đất thường thấy trong các sách dạy ứng dụng Phong Thủy đang bày bán tại các nhà sách trong cả nước, cụ thể: a/ Nguồn tham khảo 1: Trích: Thao tác và ứng dụng về Phong Thủy – tác giả Tống Thiệu Quang – NXB Hải Phòng "Lập cực là một danh từ chuyên dùng để chỉ phương pháp xác định tâm của ngôi nhà. Muốn xem Phong Thủy Dương Trạch cần phải tìm ra được điểm trung tâm. Một khi đã tìm ra được điểm trung tâm thỉ có thể đoán được hung cát của nó từ tám hướng. Và có một số phương pháp tìm ra vị trí trung tâm của ngôi nhà là: - Lấy trọng tâm trong lực học vật lý làm trung tâm - Loại bỏ những phần lồi ra và tiếp tục tìm điểm trung tâm - Bổ sung thêm vào phần lõm và tiếp tục tìm điểm trung tâm - Lấy bình quân của 2 phần lồi lõm, sau đó mới tìm được điểm trung tâm Hinh1. Lấy bình quân của 2 phần lồi và lõm, lúc này nó sẽ giống như là diện tích của hình vuông, sau đó ta lấy điểm giao nhau thì đây chính là điểm lập cực Hinh2. Mặt bằng có 2 vị trí đểu lõm vào, ta tiến hành làm đầy hai phẩn này rổi dựa vào điểm giao nhau của 4 góc rổi tÌm ra điểm lập cực. Hinh3. Mặt bằng có 1 vị trí lồi ra, ta tiến hành loại bỏ phẩn này rổi tìm ra điểm lập cực từ điểm giao nhau của 4 góc. Hinh4. Mặt bằng có hình chữ L thì ta lấy một đường thẳng song song ở giữa của 2 đẩu, điểm giao nhau trên đường thẳng chính là điểm lập cực" b/ Nguồn tham khảo 2: Trích: Cách sử dụng La Bàn trong Phong Thủy – Tác giả Tuệ Duyên – NXB Thanh Hóa "Đối với các mặt bằng không theo hình thù nào cả thì có nhiều cách để tìm ra điểm trung tâm: a) Phương pháp hình học: Đối với kiến trúc mà nói, đường mặt bằng cơ bản thường là hình chữ nhất hợp thành, thường do một hình chữ nhật chủ yếu là chính, có chổ nào đó lồi lõm, như vậy phải dùng cách kê bằng để biến chúng thành hình chữ nhật đúng quy cách thì sẻ tìm ra trung tâm mặt bằng (Hỉnh 5) b ) Phương pháp trọng tâm: Đem một mặt bằng phức tạp cắt ra, đặt lên đầu cái Kim đài thì sẽ đo ra trọng tâm của mặt bằng kiến trúc. Trọng tâm của mặt bằng có lúc không hoàn toàn trùng khớp với trung tâm nhưng thông thường rất gần trùng hợp (hình 6) " c/ Nguồn tham khảo 3: Các cách tính tâm thông thường hay gặp ở các tài liệu khác: Dùng đường bao chung quanh hình biểu kiến mặt bằng nhà đất để xác định hình cơ bản, sau đó định tâm nhà bằng cách xác định trọng tâm hình cơ bản đó. Tham khảo các trường hợp sau (Nét màu đen là đồ hình mặt bằng nhà. Nét màu hồng / đỏ là hình biểu kiến bao quanh đồ hình mặt bằng nhà để định tâm): Hình. 7 Hình.8 Hình 9 II - 3. Nhận xét về các phương pháp định tâm nhà đất nêu trên: a/ Nguồn tham khảo 1. - Chưa đưa ra được định nghĩa rõ ràng tâm nhà đất và cho đó là điểm lập cực. - Phương pháp định tâm rất mơ hồ không có nguyên lý, thậm chí mâu thuẫn với cả tiêu chí ban đầu đưa ra là lấy trọng trâm trong lực học vật lý làm trung tâm. - Định tâm theo phương pháp ở Hình 3, Hình 4 dẫn đến sai lệch rất nhiều (sẽ có dẫn chứng cụ thể khi so sánh với phương pháp của Phong Thủy Lạc Việt do Trung Tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương) b/ Nguồn tham khảo 2. - Cả 2 phương pháp đều không nêu được nguyên lý để định tâm trong các trường hợp mặt bằng phức tạp: - Phương pháp hình học: cách định tâm rất cảm tính và mơ hồ, nếu xem tâm trọng tâm vật lý của mặt bằng biểu kiến thì cách định tâm này cũng không chính xác. - Phương pháp trọng tâm: trực tiếp thừa nhận không thể định tâm chính xác. Đồng thời phương pháp này rất mất thời gian, không thực tế và mang sai số nhất định do đo bằng Kim đài. c/ Nguồn tham khảo 3. - Cách định tâm nhà ở trên là sai. Bởi vì khi dùng hình biểu kiến thì đó là tâm hình biểu kiến chứ không phải tâm thực sự của mặt bằng nhà, hoặc tỷ lệ mặt bằng nhà. Sự sai lệch này sẽ là không đáng kể nếu các khối hình thể riêng liên quan đến hình thể nhà có sự chênh lệch không lớn (Như thí dụ ở hình 7), nhưng sẽ rất nguy hiểm vì sự chệnh lệch lớn (Như thí dụ ở hình 8 và hình 9). II - 4. Nhận xét chung: Tính đến thời điểm hiện tại Chính do tính thất truyền và sai lệch của một hệ thống lý thuyết, nên các phương pháp ứng dụng của phong thủy hiện nay chưa có một định nghĩa hợp lý và phương pháp, có nguyên lý cụ thể cho việc định tâm nhà đất một cách chính xác. Các phương pháp định tâm nhà đất của các Phong thủy gia hiện tại tùy tiện, mơ hồ và chứa nhiều sai lệch. Diện tích nhà đất càng lớn, càng phức tạp thì sự sai lệch càng lớn. Điều này cực kỳ nguy hiểm trong Phong thủy, nhất là khi có liên quan đến sự trấn yểm. III. PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH TÂM NHÀ ĐẤT CỦA PHONG THỦY LẠC VIỆT DO TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG (TTNCLHDP) PHỤC HỒI. III - 1. Định nghĩa tâm nhà đất. Phong thuỷ phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt, quan niệm rằng: Vạn vật đều có sự tương tác. Đây là một nguyên lý được xác nhận của khoa học hiện đại. Và Phong thuỷ chính là phương pháp hiệu chỉnh sự tương tác đó lên nơi ở ảnh hướng tới con ngưởi. Xuất phát từ nguyên lý khoa học trên thì vị trí căn bản chịu tương tác mạnh nhất chính là vị trí trọng tâm của hình thể chịu tương tác. Do đó, phương pháp tính đúng trọng tâm của hình thể mặt bằng diện tích nhà hoặc miếng đất là bước đầu tiên quan trọng trong việc phân cung, điểm hướng - là một thành tố quan trọng trong ứng dụng Phong thuỷ. Định nghĩa trọng tâm của đồ hình diện tích căn nhà - hoặc miếng đât theo Phong thủy Lạc Việt của Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông phương là: Trọng tâm của hình thể mặt bằng diện tích nhà hoặc đất trong Phong thủy chính là điểm tạo sự cân bằng cho đồ hình đó trong không gian. Hình minh họa Hay nói một cách khác: Nếu hình thể đồng dạng của diện tích nhà hoặc đất, được thể hiện bằng vật thể đồng chất thì trọng tâm của nó chính là điểm cân bằng khi ta treo nó trong không gian chính vào điểm ấy. Trên cơ sở xác định tính khoa học bản chất của phong thủy là tính tương tác và sự ứng dụng quy luật của sự tương tác, chúng tôi nhận thấy rằng: Sự tương tác cân bằng chính là sự tương tác với trọng tâm biểu kiến của vật thể đó. Đây chính là nguyên lý khoa học của việc định tâm nhà đất theo phong thủy Lạc Việt của Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương. Từ đó xác định mọi phương pháp định tâm trong Phong thủy Lạc Việt, mà chúng tôi tiếp tục trình bày dưới đây. 2. PHƯƠNG PHÁP TÍNH TRỌNG TÂM HÌNH THỂ NHÀ ĐẤT. 2-1. Vẽ sơ đồ nhà theo tỷ lệ qui ước: Khi tiến hành ứng dụng phương pháp phong thuỷ cho một ngôi nhà hoặc một cuộc đất, để biết trọng tâm nhà, chúng ta phải vẽ lại sơ đồ hình thể diện tich ngôi nhà đó theo một tỷ lệ quy ước. Việc làm này tương tự như một kỹ sư kiến trúc vẽ kiểu nhà. 2-2. Phương pháp căn bản trong tính trọng tâm: 2-2-1. Nhà đất có hình thể đơn giản: Nếu ngôi nhà hoặc cuộc đất nằm trong các hình thể kỷ hà mà tự nó đã mang tính cân đối hình học như: Hình vuông, chữ nhật, lục giác, hình bình hành, tròn …vv… thì trong tâm là giao điểm hai đường chéo. Trong trường hợp là hình tam giác thì trọng tâm của hình tam giác chính là giao điểm của ba đường trung tuyến. 2-2-2. Nhà đất có hình thể phức tạp: A - Nếu ngôi nhà hoặc cuộc đất có hình thể phức tạp thì chúng ta phải làm từng bước sau đây: a/ Phân ra thành từng hình kỷ hà độc lập để tính trọng tâm và diện tích từng hình. b/ Sau đó liên kết trọng tâm các khối hình đó, qua đường nối trọng tâm của từng hình. Trọng tâm chung của khối liên kết sẽ nằm trên đường nối tâm này. c / Trọng tâm trên đường nối liên kết từng khối hình này tương ứng với tỷ lệ nghịch của diện tích hai hình liên kết. B - Minh họa phương pháp tính tâm nhà đất: Chúng sẽ tiến hành lấy một hình thể nhà đất phức tạp để làm ví dụ minh họa. Miếng đất hoặc căn nhà hình chữ “L” thuộc hình thể nhà đất phức tạp, nhưng cũng rất thường gặp trong thực tế. Ví dụ sau đây sẽ minh hoạ thao tác định tâm hết sức cơ bản và chính xác để xác định tâm của loại cuộc nhà đất này: Hình đồng dạng tỷ lệ với nền nhà có hình thể và kích thước như hình “L” dưới đây: Tiến hành từng bước theo a/ b/ c ở trên, ta lần lượt có: a/ Phân ra thành từng hình kỷ hà độc lập để có thể tính trọng tâm và diện tích từng hình. Trên cơ sở hai hình đã phân này, chúng ta dễ dàng có trọng tâm từng hình: - Hình lớn có diện tích là: 6 x 20 = 120 - Hình nhỏ có diện tích là 5 x8 = 40. b/ Sau đó liên kết trọng tâm các khối hình đó, qua đường nối tâm của chúng. Trọng tâm chung của khối liên kết sẽ nằm trên đường nối tâm này. c/ Trọng tâm nằm trên đường nối liên kết từng khối hình này tương ứng với tỷ lệ nghịch của diện tích hai hình liên kết. Chúng ta có tỷ lệ diện tích hai hình trên là: 40 / 120 = 1/ 3. Cộng 1 với 3 = 4 . Như vậy, chúng ta có trọng tâm nằm ở vị trí 1/ 4 chiều dài đường nối tâm – theo tỷ lệ nghịch như sau: Dùng thước đo cụ thể chiều dài đường nối tâm trên hình vẽ. Sau đó chia làm 4 phần. Lấy điểm 1/ 4 chiều dài về phía có diện tích lớn. Đây chính là trọng tâm của khối hình này Hình 13. Bước c/ xác định chính xác trọng tâm của hình thể Như vậy trọng tâm của hình thể này chính là tâm của cuộc nhà đất nói trên 2-2-3. So sánh với các phương pháp định tâm ở mục II - a/. H.14 Ta dễ dàng nhận thấy có một sai lệch rất lớn ở phương pháp định tâm của hiện tại của các Phong Thủy gia so với phương pháp định tâm chính xác, mang tính nguyên lý của Trung tâm Nghiên cứu lý học Đông Phương. 2 - 2 - 4. Phương pháp tính trọng tâm có sự hỗ trợ của phần mềm máy tính. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, ngoài phương pháp định tâm nhà đất cơ bản trên, chúng tôi còn đưa ra thêm 3 phương pháp với sự hỗ trợ của các phần mềm máy tính như Auto Cad, Excel, phần mềm Phong Thủy chuyên dụng riêng của Nguyễn Như Kiên, kỹ sư thủy lợi, email: kimkien@gmail.com. thành viên nghiên cứu Phong Thủy Lạc Việt của Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông Phương. Phương pháp này được mô tả như sau: a/ Định tâm nhà đất bằng phần mềm AutoCAD: - Vẽ hình tỉ lệ biểu kiến của nền nhà hay cuộc đất trong AutoCAD - Tạo 1 region từ hình vừa tạo bằng lệnh Boundary. - Xác định tâm của hình (centroid) qua lệnh massprop. trong hình vẽ minh họa dưới tọa đây tâm hình có tọa độ X = 4.444; Y = 7.7778 Hình 16 Định tâm nhà đất bằng phần mềm Excel: Vẽ hình trên 1 trục xOy bất kỳ. - Gán tọa độ cho các điểm (Ví dụ hình trên điểm A có tọa độ (0, 0); điểm B(0, 15); điểm C(10, 10); điểm D(0, 10) - Tính tọa độ trọng tâm hình (trong hình là Xc và Yc) qua công thức: (Công thức này tính bằng excel hoặc MathCAD thì rất nhanh & có thể lập công thức 1 lần dùng nhiều lần) c) Định tâm nhà đất bằng phần mềm Phong thủy chuyên dụng: Tham khảo phần bài viết và trình bày của Nguyễn Kim Sơn – Thành viên Ban Nghiên cứu Phong Thủy – TT Nghiên cứu lý học Đông Phương(*) IV. TÍNH NGUYÊN LÝ VÀ ƯU VIỆT CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH TÂM NHÀ ĐẤT TRONG PHONG THỦY LẠC VIỆT. IV - 1. Định tâm chính xác Phát huy hiệu quả của các phương pháp ứng dụng trong Phong Thủy. Có thể nói, phương pháp định tâm nhà đất trên của Phong thủy Lạc Việt là một phương pháp hoàn chỉnh và có tính nguyên lý. Từ việc định tâm nhà đất chính xác dẫn dến việc định phương vị sơn hướng chính xác, các phương pháp ứng dụng Phong thủy sẽ phát huy tính hiệu quả của nó. Chúng ta dễ dàng nhận thấy điều này qua hình minh họa dưới đây: Hình a. Kết quả định tâm theo Phong thủy Lạc Việt cho việc định vị các hướng như sau trên diện tích nhà. Giả định nhà hướng Càn Tây Bắc và các phần màu vàng thể hiện các phương vị tốt trên mặt bằng nhà. Hình b: Kết quả định tâm trong phong thủy phổ biến hiện nay cho việc định phương vị tốt xấu khác hẳn. Như vậy, nếu chúng ta giả định rằng: Không có sự đổi chỗ Tốn Khôn của Hậu Thiên Lạc Việt trong Phong thủy Lạc Việt thì việc định tâm trên của phương pháp phổ biến hiện nay trong phong thủy, cũng tạo ra sự khác biệt lớn về phương vị tốt xấu trên mặt bằng nhà so với phương pháp định tâm của Phong thủy Lạc Việt. Điều này sẽ quyết định tính hiệu quả của việc ứng dụng các phương pháp phong thủy. IV - 2. Tính hợp lý trong định tâm nhà theo Phong Thủy Lạc Việt và các vấn đề liên quan. Qua hai đồ hình so sánh phương pháp định tâm trình bày ờ phần IV - 1, chúng ta thấy rằng: Sự định tâm phổ biến hiện nay có một sai số rất lớn so với phương pháp định tâm được phục hồi từ Phong thủy Lạc Việt. Sự định tâm đúng sẽ dẫn đến việc phân cung điểm hướng đúng. Trên cơ sở đó, các phương pháp ứng dụng của phong thủy như bố trí phòng ốc, công trình phụ, cầu thang, bếp sẽ hoàn toàn chính xác. Ngược lại, với phương pháp định tâm phổ biến hiện nay trong phong thủy phi Lạc Việt rõ ràng có sai số rất lớn. Từ đó các qui ước trong phương pháp ứng dụng nhưng tiêu chí của phong thủy sẽ bị sai. V. KẾT LUẬN: Như vậy, xuất phát từ một nguyên lý nhất quán và hoàn toàn khoa học là nguyên lý tương tác, đã xác định tính cân bằng tương tác đối với một hình thể đơn vị diện tích, để xác định trọng tâm nhà đất trong phong thủy Lạc Việt. Phương pháp định tâm chính xác này là tiền đề nòng cốt cho việc ứng dụng hiệu quả và chính xác của các hàng loạt phương pháp khác như Bát trạch, Loan đầu, Dương trạch tam yếu, Huyền không phi tinh… Và từ đó Phong Thủy Lạc Việt tiến tới làm sáng tỏ hoàn toàn những bí ẩn trài hàng thiên niên ký trong phong thủy của nền văn hóa Đông phương. Đó là tính nhất quán, tính hệ thống, tính quy luật, khách quan và tăng thêm khả năng dự báo của Phong thủy Lạc Việt phủ hợp với tiêu chí khoa học. Kết quả của phương pháp định tâm trong phong thủy Lạc Việt xuất phát từ một thực tại khách quan và được khoa học thừa nhận. Đó chính là nguyên lý tương tác trong vũ trụ và minh định tính khoa học đích thực của khoa phong thủy vốn thất truyền những nguyên lý lý thuyết của nó thể hiện trong các cổ thư còn lại. Xin cảm ơn sự quan tâm của quí vị. -------------------------------------- * Chú thích: CD phần mềm định tâm nhà theo Phong Thủy Lạc Việt là quà tặng cho các quí vị đại biểu.
  15. Nói như vậy thì buồn cho người khuyết chi. Không có tay thì không học được khí công sao? Không phải vậy. Nếu biết về khí công thì không tay vẫn học được khí công. Thiên Đồng
  16. TÌM HIỂU SƠ BỘ VỀ HỆ THỐNG TƯỢNG TRONG PHẬT ĐIỆN PHÁI ĐẠI THỪA BẮC TÔNG ĐỂ HIỂU HỆ THỐNG TƯỢNG PHẬT TRONG CHÙA KÍNH PHÚC Nguồn: http://linhx.wordpress.com/ Chùa chiền miền bắc hầu hết theo phái Đại thừa (Bắc tông)nên thường có nhiều tượng. Thông thường mỗi chùa có khoảng từ hai đến vài chục tượng, có nơi thờ hàng trăm tượng. Chẳng hạn như chùa Mía ở Sơn Tây có 287 pho tượng, chùa Trăm Gian ở Hà Đông có 153 pho. Các tượng thường đi theo bộ, nơi thêm bộ này nơi bớt bộ kia, phụ thuộc nhiều vào diện tích của Chính điện. Ở Vĩnh Phúc, đại đa số các chùa có từ khoảng gần hai mươi đến bốn mươi pho tượng. Có nhiều lý do giải thích sự khác nhau về số lượng tượng, trong đó lý do điển hình là: Qua các thời đại, các chùa cổ đã được trùng tu, tôn tạo nhiều đợt, mỗi đợt thường bổ sung thêm tượng thờ. Đồng thời, dân ta lại có thói quen tự tiện “cung tiến” tượng Phật và các tượng khác vào chùa, do không thể từ chối lòng hảo tâm của Phật tử và các tấm lòng công đức nên xảy ra trường hợp có những chùa có tới 3 bộ tượng Cửu Long Thích Ca sơ sinh, 2 tượng A Di Đà, 2 hoặc 3 tượng Quan Âm Thiên thủ. Việc công đức “thừa” tượng như vậy cùng với việc bài trí các tượng không hợp lý và sơn lại tượng cổ đã khiến cho hệ thống tượng ở nhiều chùa giảm yếu tố linh thiêng truyền thống, kém ý nghĩa về tôn giáo. Trên cơ sở tổng hợp, biên soạn từ một số bài viết phổ biến kiến thức của tạp chí Di sản Văn hóa và những tài liệu tham khảo chuyên ngành khác, xin trình bày sơ bộ về hệ thống tượng thờ trong chùa. Mục đích là giúp độc giả nhận dạng và nắm bắt được ý nghĩa các tượng, để từ đó giúp cho việc bài trí, sắp xếp một Phật điện được hợp lý, đúng đắn, đảm bảo tính thiêng cho di tích. Sau đây là sơ đồ một Phật điện thông thường: 1- Tam Thế Phật 2- Di Đà Tam Tôn (A Di Đà; A-Quan Thế Âm Bồ Tát; B-Đại Thế Chí Bồ Tát) 3-3.1-Hoa Nghiêm Tam Thánh (Thích Ca Mầu Ni Phật; A-Văn Thù; B-Phổ Hiền) 3.2- Tuyết Sơn Tam Thánh (Tuyết Sơn; A-Ca Diếp; B-A Nan Đà) 4- Di Lặc Phật 5- Ngọc Hoàng (A-Nam Tào; B-Bắc Đẩu) 6- Cửu Long Thích Ca Sơ Sinh (A-Phạm Thiên; B-Đế Thích) 7-Quan Âm Thiên Thủ/Nam Hải 8- Quan Âm Tọa Sơn 9- Địa Tạng Vương Bồ Tát 10- Thổ Địa 11- Thập Điện Diêm Vương 12- Kim Cương/Hộ Pháp Khuyến Thiện 13- Kim Cương/Hộ Pháp Trừng Ác 14- Đức Ông – Già Lam – Chân Tể 15- Thánh Tăng – Diệu Nhiên – Đại Sĩ 16- Tổ Truyền Đăng/Thập Bát La Hán *** 1- Tam Thế Phật: Bộ tượng này gồm có 3 pho, thường được tạc trong tư thế ngồi thiền bán kiết. Ta thường gọi theo thói quen là tượng “Tam Thế”. Thực ra đây chỉ là tên gọi tắt theo thói quen của người Việt, để chỉ các vị Phật ở Quá khứ, Hiện tại và Tương lai. Tên gọi đầy đủ của bộ tượng này có nhiều, song phổ cập là “Tam Thế Tam Thiên Phật” tức 3.000 đức Phật, mỗi thời 1.000 vị, hay “TamThế Thường Trụ Diệu Pháp Thân” là nhằm tôn sùng cái hình tướng chân thật, sáng láng, kỳ diệu, luôn tồn tại khắp không gian và xuyên thời gian của các đức Phật. Trong một ngôi chùa mà Phật điện còn tương đối đầy đủ thì bộ tượng Phật Tam Thế thông thường phải dược đặt ở vị trí cao nhất, xa nhất và do đó mà thâm nghiêm nhất, được các Phật tử tôn kính nhất. 2- Di Đà Tam Tôn: A Di Đà; A – Quan Thế Âm Bồ Tát; B – Đại Thế Chí Bồ Tát Bộ này gồm có: Đức Phật A Di Đà ngồi chính giữa, tượng trưng sự sáng suốt hoàn toàn, tức là TRÍ. Bên trái tượng A Di Đà là tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, tượng trưng tình thương yêu muốn cứu khổ chúng sinh, tức là BI. Bên phải tượng A Di Đà là tượng Đại Thế Chí Bồ Tát, tượng trưng sức mạnh của ý chí, tức là DŨNG. Ba vị này ngự ở cõi Tây Phương Cực Lạc, phóng hào quang để tiếp dẫn chúng sinh. Thờ Di-Đà Tam Tôn còn có ý nghĩa là giúp con người phát triển ba đức tính: Bi, Trí, Dũng trong bản thân mỗi người theo đức Đại Bi, Đại Trí, Đại Dũng của ba vị ấy. Bộ tượng này thường thấy trong các chùa Phật thuộc Tịnh Độ Tông và thường thì tượng A Di Đà là tượng lớn nhất trong chùa. Có hai dạng tượng trong hai tư thế là ngồi thiền bán kiết và đứng. Phổ biến hơn cả vẫn là tượng A Di Đà ngồi xếp bằng trong tư thế toạ thiền, hai tay đặt giữa lòng đùi, khuôn mặt đôn hậu, mắt nhìn xuống suy tư, miệng hơi mỉm cười. Tượng A Di Đà đứng thuyết pháp trên toà sen thì không nhiều, do có ý kiến cho rằng tượng này chỉ được tạo tác trong tư thế đứng khi là muốn nhấn mạnh sự gấp gáp cứu độ, tiếp dẫn chúng sinh ra khỏi xã hội đau khổ, điều này chỉ xuất hiện trong một số hoàn cảnh xã hội nhất định mà thôi. Tượng Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát cũng có 2 dạng: ngồi bán kiết hoặc đứng. Các tượng có niên đại sớm thường được tạo hình khá giống nhau và phân biệt được tên chỉ là dựa vào vị trí đứng ở bên trái hay bên phải của tượng A Di Đà. Các tượng có niên đại muộn (thường thuộc thời Nguyễn) thì hai tượng khác nhau, mỗi vị Bồ tát có một đặc trưng riêng. 3- Một trong hai bộ tượng là Hoa Nghiêm Tam Thánh hoặc Tuyết Sơn Tam Thánh: 3.1. Hoa Nghiêm Tam Thánh; A – Văn Thù; B – Phổ Hiền: Ở giữa là tượng Phật Thích Ca Mầu Ni hay Phật Tổ Như Lai còn gọi là tượng Hoa Nghiêm. Hai bên là cặp Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền– được coi như là hai hiệp sĩ của đức Phật Thích Ca Mầu Ni. Ngài Văn Thù cưỡi sư tử xanh hầu ở bên trái đức Như Lai, ngài Phổ Hiền cưỡi voi trắng hầu ở bên phải. Cặp Bồ Tát này là hai bậc thượng thủ của hết thảy hàng Bồ Tát, thường giúp đỡ, tuyên dương cho việc giáo hóa chúng sinh của đức Phật Như Lai. 3.2. Tuyết Sơn Tam Thánh; A – Ca Diếp; B- A Nan Đà: Tượng Tuyết Sơn diễn tả Thích-ca Mâu-ni trong thời kỳ tu khổ hạnh trên núi Tuyết Sơn với thân hình gầy gò, chỉ có da bọc xương. Hai bên là hai vị tôn giả trợ thủ Ca Diếp và A Nan Đà. Ca Diếp (tượng có nét mặt già hơn) là người đứng đầu trong các đệ tử của Phật Thích Ca, tu theo phép tu khổ hạnh. Ngài hiểu rõ giáo lý của Phật hơn cả nên khi Phật Thích Ca sắp viên tịch có truyền lại cho Ca Diếp y bát (áo cà sa và bát) để biểu thị ý nghĩa trao lại đạo thống. Ca Diếp được coi là tổ thứ nhất của phái Thiền Tôn A Nan Đà, cũng gọi ngắn là A-nan (tượng có nét mặt trẻ hơn) là em họ Phật Thích Ca, ngài xuất gia theo Phật. Theo kinh sách, A-nan-đà là người rất nhẫn nhục, hết lòng phụng sự đức Phật, là Tôn giả nổi tiếng với trí nhớ phi thường về những lời Phật dạy. Ngài được Ca diếp truyền y bát cho làm tổ thứ hai của phái Thiền Tôn. 4- Di Lặc Phật: Di Lặc là tên phiên âm chữ Hán, dịch nghĩa là “Từ Thị” tức là người có lòng từ bi, là một vị Bồ Tát và cũng là vị Phật cuối cùng sẽ xuất hiện trên trái Đất theo truyền thuyết Phật giáo trong khoảng 30.000 năm nữa. Tượng Di Lặc được tạo hình là một người ngồi trên mặt đất trong tư thế sẵn sàng đứng dậy đi giáo hóa chúng sinh, hình tướng mập mạp, mặt tròn, miệng cười, phong thái luôn vui vẻ. Ở trong chùa, nhiều nơi thường không có tượng Di Lặc. Có nơi ở 2 bên tượng Di Lặc có hai tượng trợ thủ là Pháp Hoa Lâm Bồ Tát và Đại Diệu Tường Bồ Tát. Bộ ba tượng này được gọi là Di Lặc Tam Tôn. Còn có một số ít chùa tại hàng thứ tư trên Phật điện bày 2 tượng: Di Lặc Bồ Tát đặt bên phải và tượng Tuyết Sơn đặt ở bên trái. 5- Ngọc Hoàng – A- Nam Tào, B- Bắc Đẩu: Bộ tượng này vốn của Đạo giáo nhập vào Phật Giáo. Bộ tượng này được bổ sung vào chính điện trong khoảng thời gian thế kỷ 19-20, nhằm nói lên uy lực của Trời, tức Ngọc Hoàng Thượng Đế hay còn gọi là Hoàng Quân Giáo chủ, là đấng sáng tạo ra vũ trụ và thế giới nhân sinh. Trong tư cách này, Ngọc Hoàng như biểu hiện cho đấng sáng tạo với quyền năng tối thượng. Bên tay trái Ngọc Hoàng là tượng Nam Tào, vị thần giữ sổ sinh và xác nhận những điều tốt lành của chúng sinh. Bên tay phải Ngọc Hoàng là tượng Bắc Đẩu, vị thần giữ sổ tử và ghi chép những điều sai trái của chúng sinh. 6- Cửu Long Thích Ca Sơ Sinh: Theo quan niệm Phật giáo thì trong không gian có vô số thế giới và có vô số đức Phật, nhưng trong cõi thế của chúng ta cứ một triệu năm mới có một đức Phật ra đời. Đức Thích Ca là đức Phật thứ tư và là đức Phật hiện tại. Tên ngài là Thích Ca Mâu Ni, thái tử nước Ấn Độ. Truyền thuyết kể rằng ngài vừa sinh ra đã có 9 con rồng phun nước tắm, có hai vị thiên đế là Đế Thích và Phạm Thiên đến chào mừng, ngài đi 7 bước trên 7 bông hoa sen, tay trái chỉ trời tay phải chỉ đất nói: “Thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn”. Bám vào sự kiện ra đời đức Phật Thích Ca, nhà điêu khắc xưa đã tạc tượng Thích Ca Sơ Sinh, tức là Phật chưa thành Phật và không ngồi trên tòa sen. Tượng Thích Ca Sơ Sinh rất phổ biến trong các chùa, đầu tiên được thể hiện theo giai thoại lúc ngài mới ra đời: Là hình tượng một em bé mình trần, mặc váy ngắn (thay cho quấn tã), đứng trên đài sen, tay trái chỉ trời còn tay phải chỉ đất. Về sau có thêm các dạng thức của tòa Cửu Long với 9 con rồng cuộn trong mây xoắn xung quanh. Đến thời Nguyễn vòm Cửu Long đã hoàn chỉnh thành hình một cái động, trên khung động còn được gắn rất nhiều tượng nhỏ xếp đăng đối hai bên, thứ tự từ trên xuống và từ trong ra ngoài giống như một Phật điện thu nhỏ. Hai bên Cửu Long Thích Ca Sơ Sinh là tượng Phạm Thiên (bên trái) và Đế Thích (bên phải). Bộ tượng này thường được đặt ở bệ tượng thấp nhất và ở ngoài cùng của hệ tượng được bài trí ở thượng điện. 7- Quan Âm Thiên Thủ/Nam Hải Ngoài việc được thờ cùng Phật A Di Đà và Bồ Tát Đại Thế Chí trong bộ tượng Di Đà Tam Tôn, Quan Thế Âm hay Bồ Tát Quan Âm cũng được đặt ở chính giữa Phật điện hoặc được thờ riêng, bàn thờ ấy thường được đặt phía trong bên trái bàn thờ chính. Quan Thế Âm được người đời quan tâm nhiều bởi đặc tính cứu khổ cứu nạn. Dân gian thường gọi là Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn vì Ngài có thể hóa thành muôn nghìn thân thể để cứu vớt người trong muôn nghìn trường hợp. Quan Âm có nhiều tay nhiều mắt diễn tả khả năng vô biên của Người để nhận thức, cảm thông và cứu vớt chúng sinh. Người ta thường tạc tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn với rất nhiều đôi tay, con mắt tỏa ra như vầng hào quang ở sau lưng. Nhưng cũng có nhiều nơi tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn được tạo hình rất đơn giản, chỉ như một tượng bồ tát ngồi bán kiết thông thường. Như vậy, chữ “thiên” trong “thiên thủ, thiên nhãn” ở đây có thể còn có nghĩa là “trời”. “Thiên nhãn” nghĩa là mắt trời, một trong ngũ nhãn của đạo Phật, là pháp lực huyền diệu của Quan Âm để có thể thấy mọi vật vạn, chúng sinh ở lục đạo luân hồi, thấy cả xa lẫn gần, cả to lẫn nhỏ, thấy cả trước mặt và sau lưng, cả trên và dưới, cả ban ngày và ban đêm, thấu suốt mọi nỗi đắng cay của chúng sinh mà dùng “thiên thủ” – tay trời tới cứu vớt. Khái niệm Thiên Thủ Thiên Nhãn có lẽ nói lên một biểu hiện và sức mạnh “vũ trụ” hơn là về số lượng. Quan Âm Nam Hải cũng chỉ là một dạng Quan Âm nhiều tay hệ tượng Chuẩn Đề. Hình tượng này gắn với một trong những yêu cầu được đặt ra đối với tín ngưỡng Quan Âm trong buổi đầu khởi nguyên là cầu cho thuyền bè đi lại trên biển được bình an. Hình thái thờ Quan Âm Nam Hải ở nước ta(Quan Âm ở biển phương Nam) chỉ mới ra đời ở thế kỷ XVI. Tượng Quan Âm Nam Hải thường được tạo hình ngồi trên tòa sen nổi trên mặt biển. Tòa sen đó do quỷ hoặc rồng đội. 8- Quan Âm Tọa Sơn: Dạng tượng Quan Âm Tọa Sơn có lẽ chính là sự kết hợp của tín ngưỡng thờ Mẫu với Phật giáo. Trong điện Mẫu ở các chùa, ba Mẫu Thiên – Thoải (Thủy) – Thượng Ngàn thường được tạo hình giống nhau và được đặt ở vị trí ngang hàng nhau. Tuy nhiên ở nhiều nơi Mẫu Thượng Ngàn còn được tách ra thờ riêng trong Sơn Trang, được tạo hình là cả một cảnh rừng núi, hang động còn hoang sơ. Như thế Mẫu Thượng Ngàn theo đúng nghĩa là người Mẹ ngồi trên đỉnh núi. Khi tín ngưỡng thờ Mẫu thâm nhập vào ngay chính Phật điện thì Mẫu được Phật hóa thành Bồ Tát, cụ thể Mẫu Thượng Ngàn hóa thân thành Bồ Tát Quan Âm Tọa Sơn. Loại tượng này có bế một đứa bé – tượng trưng cho chúng sinh đau khổ, nên còn được gọi là Quan Âm Tống Tử. Trong quá trình dân gian hóa hình thức này chuyển thành Quan Âm Thị Kính, cũng gọi là Mụ Thiện. Tượng thường được tạc với hình tượng một người phụ nữ phúc hậu ngồi trong một hang động hoặc ngồi trên một mỏm núi, chân phải chống còn chân trái gấp nằm ngang, hai tay để trên đầu gối, chân đi đất, tay trái bế một đứa bé. Bên vai phải có thể có thêm một con vẹt hoặc chim khổng tước ngậm chuỗi hạt, đó chính là những hình ảnh này lấy từ tích chuyện về Quan Âm Thị Kính. Có thể có thêm hai tượng nhỏ Kim Đồng và Ngọc Nữ ở hai bên phía trước với dáng chầu hầu nhưng ngộ nghĩnh. 9- Địa tạng vương Bồ Tát: Là vị Bồ Tát chuyên cứu độ sinh linh trong Địa ngục và trẻ con yểu tử, cũng được xem là người chuyên cứu giúp lữ hành phương xa. Đó là vị Bồ Tát duy nhất được diễn tả với bạch hào (lông trắng xoáy nằm giữa hai mắt) trên trán, một trong ba mươi hai tướng tốt của một vị Phật. Địa Tạng hay cầm ngọc Như ý và Tích trượng có sáu vòng, biểu hiện của sự cứu độ chúng sinh của Bồ Tát trong Lục đạo (sáu đường tái sinh). Trong kinh Địa Tạng, có nói rằng: Hễ ai làm miếu, cất khánh, tô vẽ hình ngài Địa Tạng và cúng dường lễ bái ngài thì được mười điều lợi ích như: – Đất cát, nhà cửa bình yên, người thác được sinh lên cõi trời, người sống thêm tuổi thọ, cầu gì được nấy, tránh được tai nạn nước lửa và các điềm dữ, đi đâu đều có thần ủng hộ, gặp nhiều duyên lành, điều may mắn… 10- Thổ Địa: Thổ Địa hay còn gọi là Kiên Lao Đại Thần. Tượng hình một ông già tóc bạc râu dài, tay cầm cành trúc hay phất trần, mang chức năng bảo hộ Phật pháp. 11- Thập điện Diêm Vương: Bộ này gồm 10 tượng chia thành 2 hàng ở 2 bên nhìn vào chính điện. Gồm có: Tần Quảng Vương, Sở Giang Vương, Tống Đế Vương, Ngũ/Ngọ Quan Vương, Diêm La Vương, Thái Sơn Vương, Biến Thành Vương, Bình Đẳng Vương, Đô Thị Vương, Chuyển Luân Vương. * Có nơi ở vị trí này lại đặt tượng Tứ Bồ Tát, gồm bốn vị: Sách Bồ Tát, Quyền Bồ Tát, Ái Bồ Tát, Ngữ Bồ Tát. 12 – 13- Kim Cương/Hộ Pháp Khuyến Thiện – Trừng Ác: Hộ pháp là sự ủng hộ chính pháp của Phật và Bồ Tát. Phải có sự ủng hộ của các bậc có lực lượng lớn thì đạo mới không bị diệt. Lực lượng ấy, từ Phạm Thiên, Đế Thích, Bát bộ quỷ thần, đến các vua chúa… đều là người bảo hộ Phật Pháp và được gọi là Hộ Pháp. Các thần Hộ Pháp như Tứ Thiên Vương, Kiên Lao, Địa Kỳ… đều thề trước Phật quyết ra sức hộ trì Phật pháp. Phổ biến nhất là hai dạng tượng Hộ Pháp: 1. Bát bộ Kim Cương xuất hiện từ thời Lý – Trần gồm: Thanh Trừ Tai Kim Cương; Tích Độc Thần Kim Cương, Hoàng Tùy Cầu Kim Cương; Bạch Tịnh Thủy Kim Cương; Xích Thanh Hỏa Kim Cương; Định Trừ Tai Kim Cương; Tử Hiền Thần Kim Cương; Đại Thần Lực Kim Cương. Cả tám vị đều được tạo hình là võ tướng, đứng trên mây, kích thước tương đương nhau, với chức năng hộ Pháp, các vị Kim Cương đều mang theo vũ khí, song từ màu da và khuôn mặt, sự phối kết cơ bắp toàn thân đã biểu hiện rõ hai tính chất đến trái ngược nhau là trừng ác và khuyến thiện. Tượng Kim Cương có thể được chia ra từng cặp đứng ở bốn cửa tháp Phật. Hoặc chia ra đứng ở 2 bên tiền đường. 2. Hộ Pháp Khuyến Thiện và Hộ Pháp Trừng Ác: xuất hiện thành bộ đôi tượng Hộ Pháp chính thức từ thời Nguyễn, là hai pho tượng rất lớn, có ở hầu hết các chùa. Hai pho này có thể đứng hoặc ngồi trên lưng sư tử, nhưng đều cao to, đầu gần chạm mái nhà. Hộ Pháp Trừng ác mặt đỏ gay, tay lăm lăm vũ khí, còn Hộ Pháp Khuyến Thiện mặt trắng, tay cầm viên ngọc. Tượng Khuyến Thiện ở bên trái, Trừng Ác ở bên phải với nguyên tắc “Tả trọng hữu khinh” (bên trái trọng hơn bên phải). Tượng Hộ Pháp thời này đều đắp bằng đất luyện, trang trí rườm rà và vụn, sơn quét nhiều màu. Điều này phổ biến trong khắp mọi chùa. 14- Đức Ông: Lấy điển tích về cùng xuất hiện đồng thời chứng minh khi Đức Thích-ca vừa thành đạo. Trưởng giả Cấp-cô-độc, một nhân vật thời Thích-ca tại thế, đã mua một khu vườn cây xây tịnh xá, ngôi chùa rất to lớn đầu tiên trên thế giới, thỉnh Phật Thích-ca về thuyết pháp. Sau này ông được coi là người bảo vệ tài sản của nhà chùa. Vì vậy người ta gọi là Đức Ông Tượng có hình dáng quan văn, đội mũ cánh chuồn, mặt đỏ, râu dài và đen, mắt sắc, vẻ mặt nghiêm nghị, tay phải cầm bút, tay trái cầm sổ ghi chép các công việc xẩy ra ở chùa và các công đức thành tâm của tất cả ai đến lễ Phật tại chùa. Vì vậy khi vào chùa lễ Phật, đầu tiên là phải làm lễ trước ban thờ Đức Ông để kính cáo, sau đó mời ra chính giữa Phật điện để lễ Phật. Đức Ông có thể có hai thị giả là Già Lam và Chân Tể đi kèm. Tượng hai vị này cũng được tạo hình là quan văn đứng hoặc ngồi hai bên Đức Ông. Một vị tay cầm bút, một vị tay cầm sổ sách, cũng có chùa một vị là quan văn tay cầm sổ sách còn vị kia là một võ tướng tay cầm binh khí. 15- Thánh Tăng: Hay còn gọi là Đức Thánh Hiền. Tượng được tạo hình là một vị tăng đầu đội mũ tỳ lư thất phật, vành mũ là 7 cánh sen, mỗi cánh sen có hình một đức Phật, tay cầm chén, tay bắt ấn. Tượng chính là hình ảnh ngài A Nan Đà tôn giả vâng theo lời Phật làm nhiệm vụ truyền bá đạo Phật, phân phát cơm cháo… cho các chúng sinh bị đói khát. Thánh Tăng cũng có hai trợ thủ là Diệu Nhiên và Đại Sĩ, thường được đặt trong tư thế đứng hầu: một pho với khuôn mặt mầu xanh dữ tợn, còn một pho hình dáng nhân từ hiền hậu. 16- Tổ truyền đăng/ Thập Bát La Hán: - Tổ truyền đăng: Theo lịch sử Phật giáo thì sau khi đức Phật Thích Ca Mầu Ni tịch diệt, ngọn đèn Phật giáo ở Tây Thổ (Ấn Độ) được 28 vị Tổ kế tiếp nhau truyền thừa thắp sáng. Đến tổ 28 của Phật giáo Tây thổ là Bồ Đề Đạt Ma đã truyền sang Trung Quốc và trở thành sơ tổ của dòng Đông Độ, phát triển đến Tổ thứ 6 là Huệ Năng đại sư thì chia ra các thiền phái. Như vậy tất cả có 33 vị Tổ chung được gọi là Tổ Kế Đăng (hay Tổ Truyền Đăng). Bộ tượng này thường đặt ở hai dãy hành lang hoặc nhà hậu. Các tượng này được chọn trong 28 vị tổ đầu tiên ghi trong sách Thiền Uyển kế đăng lục. Ý nghĩa của các tượng này là: các vị tổ có nhiều nguồn gốc, thành phần xuất thân khác nhau, nói lên tính hòa đồng không phân biệt đẳng cấp của nhà Phật. Mặt khác những thành tích gắn với các tổ liên quan tới bước phát triển của Phật giáo từ hệ thống Tiểu thừa chuyển dần sang Đại thừa, từ không gian hẹp phát triển ra khắp nơi… Thường là lấy 18 vị trong số 20 vị Tổ đầu của Tây thổ nhưng bỏ Tổ 11 và Tổ 15. Đó là các vị Tôn Giả: Ma Ha Ca Diếp, A Nan Đà, Thương Na Hòa Tu, Ưu Ba Cúc Đa, Đề Đa Ca, Di Giá Ca, Bà Tu Mật, Phật Đà Nan Đề, Phục Đà Mật Đa, Hiệp, Mã Minh, Ca Tỳ Ma La, Long Thụ, La Hầu La Đa, Tăng Già Nan Đề, Già Da Xá Đa, Cưu Ma La Đa, Xà Dạ Đa. Vì con số 18 này mà người ta thường nhầm các vị Tổ Truyền Đăng là 18 vị La Hán như ỏ chùa Tây Phương rất nổi tiếng ở Hà Tây. Song tượng Tổ Truyền Đăng thường là những tác phẩm điêu khắc bám sát cá tính nhân vật, điển hình hóa, tổng hòa những nét cá biệt để nêu bật cái thực và cái thần của mỗi vị tổ, chứ không nhang nhác giống nhau như tượng La Hán. - Thập bát La Hán: Theo sách Pháp trụ ký thì đức Phật chỉ định 16 vị La Hán sống mãi ở cõi đời này để tế độ chúng sinh. Đó là các vị Tôn Giả: Tân Độ La Bạt La Nọa Xà, Ca Nhạ Ca Phạt Ta, Ca Nhạ Ca Bạt Ly Noa Xà, Tô Tần Đà, Nhạ Cư La, Bạt Đà La, Ca Lý Ca, Phạt Xà La Phất Đà La, Thú Bác Ca, Ban Thác Ca, La Hỗ La, Nà Già Tê Na, Nhân Yết Đà, Phạt Na Bà Tư, A Thị Đa, Chú Đồ Bán Thác Ca. Về sau, có người thêm hai vị Tôn Giả nữa để thành 18, hoặc là Khánh Hữu và Tân Đầu Lư, hoặc là Ca Diếp và Quân Đồ Bát Thán. Bộ tượng này cũng thường được đặt ở hai dãy hành lang trong chùa. HỆ THỐNG TƯỢNG PHẬT CHÙA KÍNH PHÚC THỊ TRẤN HƯƠNG CANH. Chùa Kính Phúc ở thị trấn Hương Canh thuộc dòng phái đại thừa Bắc Tông. Xưa kia chùa có hệ thống tượng Phật hết sức phong phú và sinh động. Những năm tạm chiếm (1949-1954) thực dân Pháp đã đóng quân ở đình Hương Canh và chùa Kính Phúc. Hệ thống tượng phật bị phá hủy nhiều, quang cảnh chùa tiêu điều ảm đạm. Sau những ngày ấy, hệ thống tượng phật của chùa lại được sửa sang và bổ sung thêm. Tuy nhiên vẫn không được đầy đủ như xưa. Vào những năm hợp tác xã, chùa Ngọc Sơn do cũ nát đã được dỡ bỏ để xây nhà cải tiến HTX Hương Ngọc, toàn bộ tượng phật được đưa lên chùa Kính Phúc phối thờ, do đó đã có ý kiến loại bỏ và bổ sung sắp xếp lại hệ thống tượng Phật sau khi chùa trùng tu. Khi sở Văn Hóa Vĩnh Phúc tiến hành khảo sát để công nhận di tích lịch sử quốc gia chùa Kính Phúc thì chùa chỉ còn 32 pho, phần nhiều được đắp bằng đất. Những năm sau gần đây ban quản lý chùa tự ý cho quét sơn tây lên lớp sơn then cổ kính do vậy mà dẫn đến hình ảnh xấu của những pho tượng cổ. Các tượng phật đều nghệch ngoạc màu sơn Tây mà mất đi dáng vẻ ban đầu.
  17. Mộc Tứ Xã, Ngõa Ba Làng Những năm đầu thế kỷ XX, vùng phía nam tỉnh Vĩnh Yên người ta thường nói đến “Mộc Tứ Xã – Ngõa Ba Làng”. Câu tục ngữ ấy nhằm đánh giá và khẳng định độ khéo tay của người nơi đây. Tứ Xã nay là các làng của Xã Thanh Lãng nổi tiếng về nghề chạm gỗ. Ba làng chính là Hương Canh- Ngọc Cah- Tiên Canh nổi tiếng về những người thợ xây, thợ đắp tượng . Theo một số nghiên cứu, từ NGÕA chính là âm Hán Việt của NGÓI vì thế nghề ngõa cũng chính là nghề thợ xây hay thợ nề. Cột trụ đình Hương Canh năm 1937 (Ảnh chụp lại) Vào những năm khoảng 1920-1940 ở Hương Canh nổi danh một nhóm các cụ chuyên đắp cột trụ đình chùa, tranh trí bờ nóc, đầu hồi nhà rất tinh xảo. Trong ký ức của người Hương Canh ngày nay còn nhớ có các cụ . Trương Khoa thường gọi là cụ Mục Khoa, cụ Nguyên Văn Đăng thường gọi là cụ Mục Xuân và cụ Vịnh. Ngoài ra, dân làng còn luôn nhớ đến một nghệ nhân đắp tượng đất là cụ Nguyễn Đạm người làng Tiên Hường. Những công trình các cụ để lại cho Hương Canh được đánh giá rất cao về tính thẩm mỹ trong đường nét và bố cục kiến trúc. Có thể kể đến như: trụ biểu đình Hương Canh, Tự Môn Sở, Tam Quan chùa Cả (chùa Kính Phúc), cổng chùa Ngọc Sơn, bờ nóc ba đình làng, bờ nóc và bình phong miếu Thượng…. Lần lại những ký ức về nghề ngõa Hương Canh chúng tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Văn Hợp 82 tuổi, thường gọi là ông Hợp Đợi, ông vốn là thợ cả trong nghề ngõa và là cháu cụ Mục Xuân. Từ khi ít tuổi ông đã được cùng theo các cụ làm nghề sau này khi nhiều tuổi, cũng chính ông được ủy nhiệm tu bổ những đầu đao, bờ nóc đình bị sạt bởi bởi thời gian. Cột trụ chùa Ma Hồng Thượng các tiền tế đình Hương Canh trước khi trùng tu Cột trụ chùa Ma Hồng nguồn: tranngocdong84.wordpress
  18. Lạ lùng Lý Thánh Tông phong thần cho khúc gỗ (Kienthuc.net.vn) - Phong một khúc gỗ làm thần quả là chuyện kỳ lạ ít ai hay trong số nhiều câu chuyện và giai thoại thú vị về hoàng đế Lý Thánh Tông. Lý Thánh Tông tên húy là Lý Nhật Tôn, lên ngôi ngày 01 tháng 10 năm Giáp Ngọ (1054), làm vua đến ngày Canh Dần, tháng Giêng năm Nhâm Tý (1072) thì qua đời tại điện Hội Tiên, ở ngôi 18 năm, thọ 49 tuổi. Sử sách đánh giá ông là một trong những vị vua giỏi của triều Lý đã để lại nhiều dấu ấn trên các lĩnh vực chính trị, văn hóa và nông nghiệp, được sử sách đánh giá là vị vua “khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về người xa, yên ủi người gần, đặt khoa Bác sĩ, hậu lễ dưỡng liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc võ, trong nước yên tĩnh, có thể gọi là bậc vua tốt” (Đại Việt sử ký toàn thư). Xung quanh cuộc đời của Lý Thánh Tông có nhiều câu chuyện lạ. Theo chính sử năm Kỷ Dậu (1069), vua thân chinh cùng Thái uý Lý Thường Kiệt mang quân đi đánh Chiêm Thành, chính trong chuyến đi này đã xảy ra hai câu chuyện huyền ảo trên sông biển mà dã sử truyền tụng lại. Bàn thờ vua Lý Thánh Tông. Tương truyền, khi đoàn binh thuyền của Lý Thánh Tông đến cửa biển Thần Phù (nay thuộc xã Yên Lâm, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình) thì gặp gió to sóng dữ, không đi được. Khi đó vua lên bờ thì thấy một toà miếu cổ bên sông cầu đảo, hỏi chuyện dân chúng thì được biết miếu thờ một đạo sĩ có phép thuật cao cường, thời trước giúp vua Hùng vượt biển nên được khi mất, vua Hùng cho lập đền thờ ở cửa biển, phong hiệu là “Áp Lãng Chân Nhân” (người dẹp yên được sóng dữ). Lý Thánh Tông liền vào đền cầu đảo xin giúp. Đêm đó thần báo mộng cho vua rằng: - Nhà vua có phúc lớn, tôi xin giữ gìn an toàn. Ngày mai hãy cho tiến quân, chớ có lo sợ. Đêm hôm ấy gió bắt đầu lặng, đến sáng vua cho đoàn thuyền nhổ neo, ra đến ngoài khơi xa thì thấy những đợt sóng cao như núi, ai ai cũng kinh sợ nhưng thuyền bè vẫn êm ả như không. Quan quân nhìn thấy một vị đạo sĩ người hạc tóc tiên đang đi trên mặt nước, lúc ở phía trước, lúc ở phía sau, đi đến đâu sóng yên đến đó. Khi thắng trận trở về, nhớ ơn thần phù trợ, vua Lý Thánh Tông ban chiếu phong thêm mỹ tự cho thần 8 chữ là: “Thị uy, Phục viễn, thần công, đại vương”. Tiến sâu hơn nữa, đoàn quân đến được cửa Hàn thì lại gặp mưa lớn, sóng mạnh như muốn nhấn chìm đoàn chiến thuyền. Nhà vua lo lắng suy tính, mệt quá gục xuống bàn thiếp đi. Trong lúc mơ màng, vua thấy một người con gái dung nhan vô cùng xinh đẹp, đoan trang đến trước mặt mình nói: - Thiếp là thần ở nước Nam, thác sinh vào cây ở chốn mây nước này đã lâu. Nay gặp được bệ hạ nên rất lấy làm thỏa nguyện, biết Người đi đánh giặc, vậy xin theo phù giúp tới ngày chiến thắng sẽ lại đến bái yết. Nói xong thì biến mất. Nhà vua giật mình tỉnh dậy, kể lại cho quần thần nghe về giấc mộng của mình, có nhà sư hiệu là Huệ Lâm bước ra nói: - Vị thần đó nói thác sinh vào cây ở nơi mây nước, vậy xin bệ hạ cho người tìm quanh các đám cây, bụi cỏ ven sông này, biết đâu lại tìm được. Quân lính được cử đi tìm khắp trên bờ, dưới bãi sông, sau thấy một khúc gỗ rất giống hình một người con gái bèn mang về tâu trình. Vua nhìn thì thấy hao hao dáng người gặp trong mộng bèn phong hiệu là Hậu Thổ phu nhân rồi cho đặt khúc gỗ lên bàn thờ trong thuyền rồng. Từ ấy sóng yên, biển lặng, đoàn thuyền đi nhẹ vun vút trên mặt nước. Trong trận chiến đánh giặc, như được phù giúp, quân nhà Lý tinh thần hăng hái, phá trận công thành thu được thắng lợi lớn. Trên đường dẫn quân trở về, khi đến bến sông cũ, Lý Thánh Tông sai dừng lại định cho lập đền thờ thần bên bờ sông. Bỗng nhiên lại thấy sóng cuộn, gió nổi ầm ầm. Nhà sư Huệ Lâm liền tâu: - Có lẽ thần không thuận việc này, theo bần tăng thì bệ hạ nên rước khúc gỗ về Thăng Long dựng đền thờ ở trong kinh thành. Vua nghe vậy bèn nói: - Thần có công phù trợ đại quân, nay ta sẽ theo lời của đại sư. Nhà vua vừa dứt lời thì lập tức mây đen tan biến, sóng gió lặng yên. Ai lấy đều cho đó là điềm lạ. Khi về tới kinh đô, vua liền sai người chọn đất dựng đền thờ thần ở làng Yên Lãng và phong làm Hậu Thổ nguyên quân; dân gian thường gọi là bà Cây. Trâu đất tế thần (Tranh minh họa). Ngôi đền rất linh ứng, cầu khấn rất ứng nghiệm. Đến đời Lý Anh Tông, trời làm hạn hán, dân bị mất mùa, vua bèn lập đàn ở Nam Giao để tế trời, cầu thần làm chủ đàn, thần liền báo mộng cho nhà vua biết rằng có thần Câu Mang là quân bản bộ của thần chuyên lo việc làm mưa. Vua Lý Anh Tông rất vui mừng liền sắc phong thần Câu Mang coi về mùa xuân, được xếp hàng ở bậc dưới Hậu Thổ nguyên quân, từ đó về sau phàm lễ mùa xuân rồi, phải đem con trâu bằng đất để ở dưới đền thờ; tục lệ ấy vẫn còn truyền mãi đến sau này. Hiện nay tại Hà Nội, nơi thờ chính Hậu Thổ nguyên quân là đình Ứng Thiên ở phường Láng Hạ, quận Đống Đa; đình còn gọi là đình Hậu Thổ, đình Nhà Bà. Còn trong tín ngưỡng dân gian, ở một số bài văn khấn đều có nhắc đến danh hiệu Hậu Thổ nguyên quân như văn khấn lễ hồi hoàn địa mạch. Như vậy vị thần này chính là thần Đất, sách Báo Cực chép rằng: Nguyên Quân tức là Nam Quốc Chủ Đại Địa Thần, hàng năm vào ngày 18 tháng 10 âm lịch có lễ cúng vì ngày này được coi là ngày hoá của Thánh Mẫu Địa. Trải qua các đời, thần đều được gia phong và được công nhận là vị thần có công với dân. Một đôi câu đối còn lưu ở đình đã nói lên điều này: Sơn mộc thê thần, y phục đạm trang kinh đế mộng Hải môn hiển ứng, phong đào tinh thiếp hộ vương sư. Nghĩa là: Gỗ rừng , tạc tượng thần trang điểm áo quần như trong mộng Cửa biển hiển thánh, dẹp yên sóng gió giúp thuận vua. Phong một khúc gỗ làm thần quả là một chuyện kỳ lạ ít ai hay trong số nhiều câu chuyện và giai thoại về hoàng đế Lý Thánh Tông, người được ca ngợi là “bậc vua hiền nối đức” (Việt giám thông khảo tổng luận). Lê Thái Dũng
  19. Ngã mũ trước "phép thuật" của dị nhân số 1 VN Ông Đạo Lập có nhiều phép thần thông: tàng hình, phi thiên, lướt gió, đi trên mặt nước và đoán chuyện như thần. Với nhiều phép thần thông: tàng hình, phi thiên, lướt gió, đi trên mặt nước và đoán chuyện như thần, ông Đạo Lập có thể coi là "dị nhân" số 1 Việt Nam? Tàng hình, hóa rắn Ông Phạm Thái Chung người ở làng Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Ông cũng là một đạo sĩ thuộc Bửu Sơn Kỳ Hương phái và được người đời tôn gọi là ông Đạo Lập. Ông còn là người lập nên chùa Bồng Lai hay còn gọi là chùa Bà Bài cặp bên bờ kênh Vĩnh Tế, thuộc xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Ngoài tên mà người dân vẫn gọi là Đạo Lập, ông còn có biệt hiệu khác là Đức tiên sinh. Mặc dù nhắc tới ông Đạo Lập thì ai cũng biết nhưng người ta không nhớ rõ ông tham gia vào đạo Bửu Sơn Kỳ Hương vào lúc nào. Và trong số “thập nhị hiền thủ” - 12 đệ tử của Đức Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên thì ông là đệ tử thứ mấy. Có thể nói rằng, ông Đạo Lập là một trong những người có đạo pháp cao siêu trong số các đệ tử Đức Phật Thầy. Noi theo tấm gương của Đức Phật Thầy, ông Phạm Thái Chung quyết chí tu hành đắc đạo và đi khắp nơi vân du hóa độ, giải cứu nguy nan cho dân chúng khắp Nam Kỳ. Cũng như các sư huynh đệ đồng môn khác, từ khi tham gia vào Bửu Sơn Kỳ Hương phái, các tín đồ của môn phái này không chỉ được truyền dạy lòng vị tha, yêu thương, cứu độ con người mà còn phải nhớ ân sâu nghĩa nặng với đất nước. Chính vì thế mà hầu hết tín đồ của Bửu Sơn Kỳ Hương lúc bấy giờ đều có tham gia Cách mạng hay các cuộc khởi nghĩa đánh đuổi giặc ngoại xâm. Còn các cao thủ mình đầy võ nghệ, đạo pháp cao thâm như 12 đệ tử của Đức Phật Thầy thì luôn có đóng góp tích cực cho các cuộc khởi nghĩa. Ông Phạm Thái Chung hay ông Đạo Lập cũng không ngoại lệ. Tương truyền, buổi đầu thời Pháp thuộc, không biết ông Đạo Lập góp tay cho nghĩa quân thế nào mà thực dân Pháp cứ lùng bắt ông khắp nơi. Một lần ông đến Hà Tiên thăm nhà người quen, đúng khi bọn thực dân dò ra tung tích nên xua lính đến tận nhà người này vây bắt cho bằng được ông Đạo Lập. Bàn thờ ông Đạo Lập tại chùa Bồng Lai. Chợt nghe có tiếng động, ông liền đứng lên xô cửa nhà ngoài, nơi làm kho chứa hàng hóa rồi bước vào bên trong. Ông bảo chủ nhà khóa chặt cửa lại. Tình thế cấp bách, không còn cách nào khác, gia chủ đành làm theo lời ông để tránh bọn lính mã tà. Khi cửa vừa đóng xong, chủ nhà vừa trở lên nhà trên đã thấy đám người Pháp đang lục soát, truy tìm và ông Đạo Lập xông vào tới nơi. Sau khi lùng sục khắp nơi trên nhà lớn vẫn không thấy kẻ khả nghi. Bọn người định ra về thì một tên lính báo cáo phía sau nhà còn có một nhà kho. Nghi là ông Đạo Lập đang lẩn trốn trong đó, chúng bắt chủ nhà mở cửa nhà kho để kiểm tra. Lúc ấy tâm trạng chủ nhà như chết đứng, cứ ngỡ mở cửa ra bọn Pháp tóm ông Đạo Lập là cái chắc. Ai dè, cửa mở, chẳng thấy gì trong đó, ông Đạo Lập đã “biến” đi tự bao giờ, mặc dù bốn vách nhà kho vẫn còn nguyên vẹn, cửa vẫn khóa chặt bên ngoài. Về sau người ta mới biết ông Đạo Lập có được phép tàng hình ẩn thân nên đã tránh được họa sát thân. Dân gian truyền khẩu khi đảng Cần Vương còn hoạt động, ở vùng Châu Đốc có một người tên Thái được đảng tín nhiệm. Ông Thái được giao giữ tờ mật chiếu, nếu để bại lộ thì rất nguy. Trọng trách nặng nề nên ông Thái ăn ngủ không yên, cứ lo nghĩ xem nơi nào cất giấu an toàn. Nghĩ mãi, chỉ thấy bèn giấu tại miếu thờ Thần Nông là nơi hoang vắng, ít người lui tới, mà lại là nơi linh thiêng nên chắc không ai dám lục tìm. Nghĩ vậy, ông Thái thận trọng, nhét mật chiếu vào trong tờ giấy đề chữ “Thần” lớn, đặt ngay bàn chánh trong miếu. Cửa biển Hà Tiên – tương truyền là nơi ông Đạo Lập đã cứu thuyền gặp nạn an toàn. Chuyện này ngoài ông ra chỉ có trời đất và “Thần Nông” biết nên ông yên tâm ra về. Ít lâu sau ông đến kiểm tra thì phát hiện tờ mật chiếu đã bị mất. Bàn thờ là chỗ tôn nghiêm nên tờ giấy này xưa nay không ai dám động đến. Mất mật chiếu, ông Thái hết sức lo sợ cơ mưu bị bại lộ. Tình cờ, một hôm trong lúc âu sầu và lo lắng triền miên, ông Thái gặp ông Đạo Lập. Biết ông Thái đang rầu trong bụng vì chuyện mất mật chiếu nên ông Đạo Lập tiết lộ rằng chính ông đã hóa thành rắn theo dõi và đốt tờ mật chiếu để bảo vệ mưu đồ đại nghĩa. Từ đó người đời đồn đại và tin tưởng là ông Đạo Lập biết tàng hình và hóa thân thành rắn. Đến giai thoại dự báo thiên cơ và sang sông bằng nón lá Theo lời của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội ở thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, bà từng nghe kể lại ngày xưa ông cố của bà vốn là nhà hàng hải, thường chở hàng hóa sang Xiêm (Thái Lan) buôn bán. Hồi ấy, ông cố vừa đóng xong chiếc thuyền buôn đặt tên là Minh Thuận và định cho xuất cảng với hàng hóa là hồ tiêu, hải sâm, đồi mồi… thì đúng lúc ông Đạo Lập ghé nhà chơi. Sau lễ cúng kiếng, ông cố của bà hỏi xin ông Đạo Lập một phép bình an, may mắn cho chuyến khai trương đặc biệt này. Ông Đạo Lập đưa cho ông cố bà ba lá bùa và nói chuyến đi rồi cũng may mắn, phát tài, duy chỉ có vướng chút lo sợ nhưng cuối cùng sẽ bình an vô sự. Với ba chiếc bùa, khi ra khỏi cửa Hà Tiên thì đốt đi một lá. Lá thứ nhì chờ lúc có một con cá to định làm hại thì đốt. Còn lá thứ ba để dành đốt khi vào cửa sông Bắc Nam. Theo giai thoạt lưu truyền, khi ấy thuyền dong buồm với 10 người, chiếc bùa thứ nhất được đốt vừa lúc ra khỏi Hà Tiên. Thuyền ra giữa biển, thình lình ở trước mũi thuyền sóng bắn lên cao. Một con cá to nhảy bổng lên khỏi mặt nước, bằng một tầm người đứng. Vị thuyền trưởng nhớ lời dặn của ông Đạo Lập đem đốt lá bùa thứ hai. Thuyền lập tức bình yên, tiếp tục vượt biển. Lênh đênh trên đại dương, một buổi chiều nọ, trước mũi thuyền bỗng vụt hiện lên vật gì to như hòn đảo. Cả thuyền ai nấy đều kinh ngạc, tưởng chừng tàu bị lạc vào đảo hoang. Nhưng nhìn kỹ thì thấy nó cử động và khi đến gần mới nhận ra một con kình ngư khổng lồ, đang đùng đùng lướt sóng chặn đầu thuyền. Biết rõ đó là con vật ăn thịt người, trên tàu ai nấy kinh hoảng. Vị thuyền trưởng bấy giờ mới sực nhớ lá bùa thứ nhì đã đốt, chắc chắn nó phải được đốt vào lúc này mới đúng. Cùng đường, thuyền trưởng đành đem đốt lá bùa thứ ba nhưng hoàn toàn vô hiệu. Kình ngư lướt tới càng nhanh, cái vẫy đuôi nhẹ của nó cũng đủ làm thuyền lật úp. Lúc ấy mọi người đều trông rõ từng khía cạnh của cánh vi cá khổng lồ. Thuyền trưởng ra lệnh cho thuyền đảo chệch một bên để tránh vật dữ. Tuy nhiên, sóng bủa trùng trùng tràn ngập cả sàn thuyền. Cánh vi cá và cánh buồm thuyền đã cao ngang nhau và chỉ cách chưa đầy chục thước. Nháy chớp, lưng cá đã cọ vào sườn thuyền khiến thuyền chao nghiêng dữ dội. Phút nguy ngập ập đến nhưng không hiểu sao con kình ngư bỗng dừng lại. Đợi khi thuyền vừa vượt khỏi, nó mới quẫy đuôi một cái khiến thuyền phải quay tròn mấy vòng… nhưng cuối cùng cũng thoát trong gang tấc. Từ hôm ấy cho đến khi trở về, thuyền được bình yên, không còn gặp trở ngại. Khi về tới Mũi Nai (tỉnh Kiên Giang), vị thuyền trưởng vừa lên bờ đã thấy ông Đạo Lập đứng sẵn ở dưới đám dừa bên mé biển, cười nói: “Đoán biết bữa nay cậu về nên ghé lại đón mừng. Chà! Chiều hôm ở ngoài Thổ Châu, cậu đã sợ xanh mặt, khi đó tôi ngồi trên chóp cột buồm chớ đâu. Nếu tôi không giữ cho thuyền vững lại và đuổi quái ngư đi, nó sẽ cắm đến và đội lật thuyền, các người đều đã vào bụng nó rồi. Các người chẳng thấy từ xa nó hướng thẳng về mũi thuyền đó sao!”. Thuyền trưởng bỗng thất sắc, nhớ lại từng phút lâm nguy ngoài biển. Ông Đạo Lập còn nói: “Chỉ tội nghiệp cho con cá bé, bỗng dưng chết oan ức vì lá bùa thứ hai, đáng lẽ phải để mà diệt con quái ngư ấy”. Nghe ông Đạo Lập nói, ai nấy đều kinh hồn. Tương truyền, ông Đạo Lập còn có nhiều phép thần thông mà rất ít người tu hành, tu luyện dù lâu năm vẫn không đạt được. Ngoài phép tàng hình, đoán biết trước chuyện tương lai sắp xảy ra, ông Đạo Lập còn có thể phi thiên, lướt gió và đi trên mặt nước nhẹ như đang đi bộ. Theo truyền khẩu trong nhân gian thì trong những lúc giao du bốn bể và hành thiện giúp đời, ông Đạo Lập thoát ẩn thoát hiện ở nơi này, nơi khác khiến nhiều người hết sức bất ngờ. Bất cứ nơi nào có người gặp nạn hay cần sự giúp đỡ là có mặt ông. Có khi buổi trưa vừa thấy ông xuất hiện ở Hà Tiên, nhưng một lúc sau thì ông có mặt tại vùng Bảy Núi để giải trừ tai nạn cho người khác. Người ta đồn đại rằng, những lúc cấp bách “cứu người như cứu lửa” ấy thì ông Đạo Lập không đi bộ thông thường mà đi mây về gió. Nghĩa là ông có thể biến hóa, ẩn thân để di chuyển nhanh chóng từ nơi này đến nơi khác. Đặc biệt, chuyện được dân gian truyền khẩu nhiều nhất là ông có thể vượt sông rộng chỉ bằng đạp chân lên nón lá để làm thuyền. Số là ông Đạo Lập đi đâu cũng luôn đội một chiếc nón lá rộng vành trên đầu, tay cầm gậy. Vậy nên trên đường đi gặp sông sâu cách trở là ông cứ lột nón lá đặt xuống nước làm thuyền để đặt chân lên rồi dùng gậy chống hoặc bơi sang bờ sông đối diện. Những truyền thuyết hay sự tích về ông Đạo Lập được người dân từ vùng Bảy Núi (Thất Sơn) đến tận miệt Hà Tiên, Kiên Giang truyền kể cho nhau từ đời này sang đời khác. Nguồn Phunutoday
  20. Thiên Đồng quá vội vã và nông nổi khi đưa bài này lên đây. Trong vòng 24 giờ bài này sẽ được xóa khỏi diễn đàn.
  21. Tài liệu tham khảo: NHỮNG HIỆN TƯỢNG BỊ MA ÁM VÌ MỞ LUÂN XA 6 – 7 Tôi viết bài này với mục đích trình bày một sự thật đau lòng đã và đang xảy đến cho gia đình tôi và mong bạn đọc nếu có thể được thì phổ biến tin tức này cho người thân quen dùm để tránh những đau thương tuơng tự có thể xảy đến cho người khác. Tôi chỉ là một nguời băn khoăn với sự an nguy của hai đứa em gái thân yêu trong gia đình hiện đang phải đối phó với những kẻ thù ma mãnh, có hồn mà chẳng có thân xác, đang chiếm ngự thân xác của 2 em. Tôi cũng rất quan tâm đến sự an nguy của những người có thể là nạn nhân tương lai của việc học nhân điện khoa tự động mà đánh liều viết bài này với tất cả tâm thành. Tôi cố gắng trình bày chuyện đã xảy ra trong gia đình, hy vọng bạn đọc qua kinh nghiệm đau thuơng của gia đình tôi mà không bước vào vết xe đổ này nữa. Những chuyện tôi viết sau đây là chuyện thật sự xảy ra, không một lời thêm bớt, theo trí hiểu biết hạn hẹp của tôi. Vì học “Nhân điện” Khoảng đầu tháng 4 năm 2007, qua lời giới thiệu của một nguời cháu ruột, hai em gái của tôi (tạm gọi là em A và em B) đã đến thọ giáo với thày Mai viết Nhự, ở Phường Tam Hòa, Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Thày Nhự dạy học trò môn Nhân Điện Khoa Tự Động, thày không có tính tiền học phí gì cả. Thày chỉ dạy học trò trong 6 ngày, chứ không như các môn phái nhân điện khác thuờng phải mất nhiều thời gian hơn, có thể đến 6 tháng. Khi đến học, thày sẽ để tay lên đầu, lên trán để mở luân xa số 7 và số 6 bằng nhân điện của chính thày. Thày cũng mở những luân xa 5,4, 3, 2 và 1 bằng cách để tay lên vị trí những luân xa này trên sống lưng. (Quý vị có thể tìm hiêu thêm về những luân xa này qua quyển Journey to the East của giáo sư Spalding,Bản dịch rất hay của Nguyên Phong là Hành Trình Về Phuơng Đông, chapter 8 hay 9 nói về Cõi Giới Vô Hình. Thày CE Hằng Truờng cũng có giảng về những luân xa này trong số các băng giảng của Thày mà tôi không nhớ được tên). Luân xa số 6 và số 7 là cửa ngõ để thể xác của con nguời có thể tiếp xúc được với thế giới tâm linh và cõi giới vô hình mà mình không thấy đuợc. Theo tôi hiểu, đó cũng là cánh cửa bảo vệ những người đang sống trong thế giới này khỏi phải tiếp xúc với những hồn ma bóng quế của thế giới những nguời đã chết. Trong trường hợp em B của tôi, chỉ 5 phút sau khi thày Nhự dùng nhân điện của thày để mở luân xa cho em, B rùng mình một cái rồi 2 tay B tự động chắp lại, không hề theo sự điều khiển của B, vái lạy tứ phương và B có thể quay nguời dẻo dai như nguời lên đồng, múa lên những động tác mà B, môt người thường bị đau lưng kinh niên, không bao giờ có thể làm đuợc. Bệnh đau lưng, mệt mỏi trong B do đi làm vất vả lại thêm cuộc hành trình xuống nhà thày Nhự từ Saigon trên cái xe không êm ái, trên đoạn đuờng kẹt xe như nêm như cối thốt nhiên biến sạch. Còn em A, thì sau 4 ngày tập luyện, sang đến ngày thứ 5 thì em cũng thấy tự nhiên 2 tay em chắp lại, vái lạy tứ phương rồi đi vào những điệu múa mà dù em đang tỉnh táo 100% vẫn không sao chủ động ngừng lại được. Cần nhắc lại là em A của tôi đã bị mổ gai cột sống vài tháng trước và 2 tay đang bị hiện tượng như Carpel Tunnel Syndrome và Tennis Elbow, không cử động được 2 bàn tay, 2 cổ tay, đau nhức dần lan tới 2 vai, bác sĩ Tây Y đã đề nghị phải mổ cả 2 tay rồi. Với nhân điện học được, cả 2 em gái tôi tuy mới đầu cùng cảm thấy lạnh tóc gáy, sởn gai ốc vì việc vái lạy tự động cùng các động tác siêu nhiên mà 2 em không làm chủ được – nhưng vẫn đủ sáng suốt để tự quan sát những động tác quái lạ này, vẫn cảm thấy rất hài lòng với những kết quả y học thần kỳ trên cơ thể của 2 em. Hai em rất vui vẻ, sung sướng nghe lời thày Nhự dạy bảo là khi muốn chữa bệnh cho mình hoặc nguời khác là chỉ cần kêu “6,7 hãy chữa bệnh này đi !” là 6,7 (luân xa 6 và 7) sẽ làm đúng y như vậy. Em A còn hân hoan khoe với tôi qua điện thoại là 6, 7 của em rất giỏi; có 1 hôm em sơ ý bị một hộp thịt đã mở cắt đứt tay rất sâu, máu chảy dầm dề. Em bèn kêu 6, 7 cầm máu lại, là máu ngưng chảy liền; em kể cho tôi nghe rất hăng hái, khuyên tôi nên về Việt Nam để đi học nhân điện ở thày Nhự để chữa bệnh tiểu đuờng vốn đã làm bạn đồng hành với tôi từ lâu năm. Thú thật với các bạn, tôi nghe những thông tin này mà chỉ cuời thầm là sao 2 em tôi, có ăn học tử tế, là những nguời tốt nghiệp đại học hoặc tuơng đương, rất thành công trong công ăn việc làm với chủ nhân là những công ty nuớc ngoài, lại có thể nói những chuyện không tuởng như thế này. Nhưng tôi biết cả 2 em tôi là những nguời rất thẳng thắn, không nói trăng nói cuội, không mê tín dị đoan, do đó tôi không bài bác gì cả, chỉ im lặng lắng nghe, và nghĩ thầm, “Muốn chữa bệnh hoạn thì phải thay đổi lối sống của mình, phải ăn đồ ăn tốt, nhiều rau cỏ, bớt thịt đỏ, mỡ màng, tập thể dục đều đặn, đi bác sĩ khám định kỳ chứ sao lại có cái vụ Nhân Điện Khoa Tự Động cứ như chuyện Liêu Trai Chí Dị thế này !” Bẵng đi đến khoảng cuối tháng 6, năm 2007, em trai tôi ở Saigon bỗng gởi E mail cho cả đại gia đình bên Mỹ rằng em A và em B nay đã phát hiện ra rằng 6,7 của 2 em thực chất ra là 2 hồn ma vất vuởng vốn đã chết từ mấy chục năm nay, qua sự mở luân xa 6,7 của thày Nhự, mà xâm nhập thân thể của 2 em, và đang mở chiến dịch chiếm hữu đầu óc rồi dần dần thân xác của 2 em. Em B hiện đang rất vất vả đối phó với con ma trong B; còn con ma trong A thì êm ả hơn nhưng dùng chiến dịch nói ngọt như mía lùi để chiếm hữu lòng tin của em A. Đọc thơ em trai mà tôi ngỡ như trong mơ. Ông xã và tôi lập tức xin nghỉ phép ở sở, và mua vé về VN để xem tình hình thế nào. Trong lúc chờ đợi visa và vé máy bay, tôi vào internet và đọc tất cả các tài liệu hoặc nghe băng giảng của các thày Hằng Truờng về Thân Trung Hữu, thày Nhật Từ về Quyết Nghi về Ngoại Cảm và Cõi Âm; Cận Tử Nghiệp của thày Tâm Thiện, những bài nói chuyện của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, sách Hành Trình Về Phương Đông của Nguyên Phong dịch từ cuốn Journey To The East như đã nói ở phần trên. Sau này, về tới Saigon tôi đọc thêm sách Hiệu Ứng Sinh Học của Kỹ Sư Đỗ Thanh Hải (tôi xin lỗi không nhớ rõ tên lót của Kỹ Sư Hải), sách “con Người Thoát Thai Từ Đâu của 1 nhà khoa học Nga tôi không nhớ tên, vv… để tìm hiểu về thế giới của những nguời đã khuất, và hồn ma bóng quế là gì. Theo những gì tôi góp nhặt được từ những nguồn tài liệu vừa nêu, thì con người chúng ta đuợc cấu tạo bởi phần xác (physical body – hay khung cộng huởng sinh học theo chữ dùng của Kỹ Sư Hải) và phần hồn (mind – sóng sinh học theo Kỹ Sư Hải). Khi chúng ta chết đi, thì chỉ có phần xác tan rã thôi, nhưng phần sóng sinh học vẫn còn hiện diện duới dạng các sóng năng lượng. Với những nguời khi chết đi với tấm lòng thanh thản, không có gì nuối tiếc lưu luyến với cõi trần vừa tạm sống, các sóng sinh học của nguời mới chết sẽ dễ dàng siêu thoát để đi đầu thai kiếp khác, hay lên cõi thiên Đàng, cõi Trời nào đó. Còn những nguời chết oan ức, chết bất đắc kỳ tử, chết trong đau đớn hay lo sợ, trong tiếc nuối về những công chuyện còn dở dang trên trần thế thì sóng sinh học của họ sẽ không bay cao đuợc mà cứ là là trên mặt đất, thành những hồn ma vất vuởng lang thang, thân xác đã mất mà lòng ham muốn, tham sân si, ngã, mạn vẫn còn đó. Cho đến khi các sóng sinh học hay vong linh này hiểu ra rằng mình đã chết và tất cả các mong muốn trần tục của mình chỉ là không thì họ sẽ bay cao lên các tầng trên để trở lại đầu thai cho kiếp mới. Thế nhưng cũng có những vong linh dù đã chết hàng trăm năm hay vài chục thế kỷ vẫn không giác ngộ đuợc lý vô thường của cuộc đời, lại muốn tìm đuờng tắt mà đi, bèn tìm cách nhập vào thân xác của những người còn sống đã bị mở luân xa 6, 7 như 2 cô em của tôi, hoặc có vong linh có sóng sinh học cộng huởng với sóng sinh học của nguời còn sống thì sẽ nhập vào thân xác của những người này, và tìm cách chiếm hữu trí não của nguời bị xâm nhập trước rồi từ đó sẽ sai khiến các hành động của nguời này theo ý của vong linh. Các vong linh này là ma ác, rất khó giác ngộ và người bị xâm nhập sẽ rất vất vả để đánh đuổi quân xâm luợc này ra khỏi cơ thể của họ. Các vong linh có tính khí hệt như tính khí của họ lúc còn sống, dù đã chết cách đây bao nhiêu năm. Đa số các vong linh thì hiền lành hơn, không hề có ý định xâm nhập cơ thể của bất kỳ ai. Cũng có những vong linh, nếu có xâm nhập một cơ thể nguời sống nào, thì cũng chỉ ở tạm trong 1 thời gian rất ngắn để nhờ nguời này giúp mình hoàn thành tâm nguyện mà vong linh đã không hoàn thành đuợc khi còn sống rồi vui vẻ ra đi khi tâm nguyện đã thành. Khi tôi về Saigon, tôi quan sát cả 2 cô em và hiểu rõ ràng rằng mỗi em đã bị một hồn ma xâm nhập. Trong môi truờng làm việc bên Mỹ của tôi, tôi cũng đã có dịp tiếp xúc với một số bệnh nhân có bệnh tâm thần, do đó, đây là điều tôi để ý truớc khi làm việc với 2 em của tôi để xem coi hai em có bị chứng Disassociative Identity Disorder (formerly Multiple Personality Disorder) duờng như dịch sang tiếng Việt là bệnh tâm thần phân liệt dạng hoang tưởng hay sao đó ? Một trong những criteria của bệnh này theo DSM-IV (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders – Fourth Edition) là bệnh nhân không nhớ được những gì mình đã làm khi nhân cách thứ hai chiếm hữu thần trí và cơ thể họ. Thí dụ chị Jane có 2 nhân cách trong người chị Jane mà thường xuất hiện nhiều lần: một là chị Jane hiền lành, nhút nhát, không thích đi shopping; và nhân cách thứ hai là anh John thì rất ư là kiêu ngạo, thích sắm đồ thể thao. Khi John xuất hiện trong thể xác của chị Jane, thì John đi Big 5 sắm nào là quần áo bơi, kiếng lặn, ống lặn, vân .. vân .. Đến khi chị Jane trở lại làm chủ bản thân của chị thì chị cứ ngẩn ngơ ra, không thể hiểu tại sao tự nhiên trong nhà mình lại có mấy cái đồ mua từ Big 5 như vậy. Cá nhân chị Jane thuờng xuyên bị những lúc quên đi, không nhớ nổi những chuyên mình đã làm khi hành động với nhân cách thứ hai của mình (Inability to recall important personal information that is too extensive to be explained by ordinary forgetfulness) . Truờng hợp của hai em tôi thì khác hẳn, cả hai đều biết rất rõ mình là ai, không hề bị lẫn lộn nhân cách ngay cả khi người âm trong 2 em nói chuyện với hai em bằng tư tưởng. Xin nói rõ hơn là người âm trong hai em tôi không hề lên tiếng nói được trong đầu (no voice), mà họ chỉ gởi tư tuởng chạy trong đầu như kiểu E mail, tôi gọi là E thoughts (electrical thoughts) cho hai em hiểu; con ma trong em B thì rất lắm mồm, nói huyên thuyên suốt ngày toàn chuyện hắn ta và gia đình bị giết như thế nào ở Cambodia trong thời kỳ Khmer Đỏ 1975, và cũng dùng những ngôn ngữ thô tục để sách nhiễu tình dục em B. Em B rất cương quyết chống đối lại những sách nhiễu này và cương quyết không tham dự vào bất cứ cuộc nói chuyện nào của con ma trong em. Do đó hắn ta rất giận dữ và thường phản ứng lại bằng cách gởi những luồng điện mạnh vào khoảng 1.5 volt để châm chích vào những huyệt đạo trong người em B để tạo những cảm giác nhức nhối như bị kiến cắn trong vòng 1/2 tới 1 giây (second) đồng hồ; sau đó hắn ta cũng hết điện phải recharge lại khoảng vài giờ sau mới có thể tấn công tiếp. Qua thông tin của hắn, em B kể lại cho tôi biết rằng con ma này bị bè lũ PonPot bắn chết hoặc cắt cổ chết (hắn không nhớ rõ đuợc hắn chết như thế nào, vì có lẽ quá kinh hoàng khi bị giết) năm 1975 khi mới 24 tuổi cùng với người vợ khi đó đang có thai 4 tháng. Trong 32 năm qua, hắn đã nhập vào 7 người trong đó em B tôi là nạn nhân thứ 7. Chúng tôi đã nhờ nhiều sư tăng, ni sư và cả một cha bên Công giáo nói chuyện với hắn bằng bút đàm để khuyên nhủ và hỏi xem chúng tôi có thể làm gì để giúp hắn siêu thoát. Thọat đầu hắn còn đóng vai trò tử tế nào xin lễ cầu siêu ở chùa, rồi lễ rửa tội ở nhà thờ. Chúng tôi đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu này cho hắn thì cuối cùng hắn tuyên bố là hắn chỉ đòi hỏi thế để câu giờ mà thôi chứ hắn hoàn toàn không có 1 ý định nào để xuất ra khỏi người em B cả. Hiện nay chúng tôi đang nhờ chị K. theo Công giáo ở Houston Texas hàng đêm gọi điện thọai trừ tà qua phone theo lời giới thiệu của 1 vị linh mục khả kính chuyên lo việc trừ tà. Linh mục này tên là T. Cha T sống và làm việc ở 1 nhà thờ VN, nhưng cha hiện đang công tác dài ngày bên Mỹ. Khi chúng tôi liên lạc được với cha để nhờ giúp đỡ thì cha giới thiệu chị K. sẽ giúp em B hàng đêm qua phone. Thực tình khi nghe cha T nói như thế, tôi rất thất vọng và lẩm bẩm làm sao mà có thể trừ tà qua phone đuợc, nghe cứ như chuyện hoang đuờng. Ấy thế mà lại là sự thực đấy các bạn ạ. Chị K. đã giúp em B qua phone bằng cầu nguyện, đọc kinh Tân Uớc, xức dầu thánh, uống nuớc thánh và con ma trong B ngày càng yếu dần đi đến độ không thể gởi E thoughts cũng như năng luợng của hắn cũng như số lần châm chích em B ngày càng giảm dần đi. Chị K. tin tuởng rằng em B sẽ đánh bật kẻ xâm luợc ra khỏi cơ thể em trong 1 thời gian ngắn, hy vọng thơi gian chữa trị không quá 20 ngày. Chị K. cũng cho tôi biết rằng thời gian vừa qua, có một số nữ tu công giáo từ Mỹ về VN, cũng đến học nhân điện với thày Nhự ở Biên Hòa. Khi về tới Mỹ, tất cả các nữ tu này đều có hiện tượng ma nhập, từ chối vào giáo đường, la hét, ói mửa khi đọc kinh hoặc lên cơn động kinh, múa may những động tác supernatural trong nhà thờ. Cha T, Chị K và một nguời nữa có khả năng trừ tà đã và đang giúp số nữ tu này bình phục trở lại. Do đó chị K. có rất nhiều kinh nghiệm đối phó với những hồn ma không hiểu vô tình hay cố ý mà thày Nhự đã tạo cơ hội cho những hồn ma này nhập vào các nạn nhân ngây thơ đến nộp mình cho quỷ mà lúc đầu các nạn nhân này tưởng rằng chỉ đi học nhân điện để mong tự trị bịnh cho mình. Xin Chúa ban phuớc lành cho những người như chị K. Chúng tôi rất cảm kích truớc sự giúp đỡ nhiệt thành của chị K. và cha T. Về phần em A thì chúng tôi có khó khăn hơn nhiều so với em B. Lý do là con ma nhập vào em A tự xưng là 1 vong nữ có tên rất đẹp, tôi không tiện nêu lên ở đây. Con ma này nói rằng cô ta sinh năm 1901, là con một của 1 gia đình gốc Việt giàu có bên Cam Bốt. Cô ta là nữ sinh truờng Marie Curie, nói tiếng Pháp rất giỏi. Thuở sinh tiền, cô thuộc loại con gái nhà giàu hư hỏng, dùng tiền cha mẹ ăn chơi nhảy đầm trác táng, cuối cùng chết vì bịnh hen suyễn (hay ho lao ?) năm 1943 trong sự tiếc thương của cha mẹ cô. Cô ta nói chuyện hết sức ngọt ngào, rất nịnh hót em A của tôi, nào là em A tử tế, tốt bụng, nào là các con của em thông minh, học giỏi, ngoan ngoãn, lại hết sức chăm sóc sức khoẻ cho em A mỗi khi trái nắng trở trời. Khi tôi về Saigon, cô ta cũng dùng bút đàm khen tôi nào là hay là tốt đủ kiểu. Cô ta ngọt ngào dến nỗi em rể của tôi, chồng của A, cũng thấy rằng sự hiện diện của cô trong em A chỉ là điều tốt cho gia đình vì sức khoẻ của A rõ ràng được cải thiện. Rất khó cho tôi để thuyết phục em A là em đang bị con ma nữ này dùng chiến thuật mật ngọt chết ruồi để dần dần chiếm trọn đầu óc A rồi 1 ngày nào đó các con của A sẽ chỉ có cái xác là mẹ A mà hồn và hành động sẽ là của con ma ấy. Mỗi lần nói chuyện này với em A là em lại nổi nóng lên cho rằng em hoàn toàn làm chủ thân xác và ý tưởng của em, còn con ma thì hiền lành giống như “1 bà tiên” vậy. Nhìn em và nghe em nói như thế, tôi chỉ âm thầm khóc và lo sợ mà chả biết làm gì khi cả gia đình riêng của em tôi không hề coi đó là chuyện quan trọng. Em A rất thương và lo lắng cho em B trong việc đánh đuối kẻ xâm luợc trong B, nhưng chưa hề có ý định nào để đánh đuổi cái vong nữ trong người của em A cả. Phước nhà còn dày cho nên vào khoảng đêm thứ 4 sau khi chị K. từ Texas bắt đầu giúp em B đánh đuổi tà ma trong nguời em, chị K. than phiền vơi gia đình tôi là tại sao qua phone, chị đã đánh con ma trong B tơi tả và nó đang yếu đi rõ ràng thì tự nhiên lại có một sức mạnh ngoại nhập ở đâu giúp con ma trong B mạnh trở lại. Chúng tôi bèn dùng phương pháp loại suy xem những nguời nào hiện diện với em B khi em đang nhận điện thoại từ chi K. Chúng tôi phát hiện ra rằng, khi con ma trong B kêu rên khóc lóc (tức là em B kêu khóc 1 chút xíu, rồi em B lại trở lại là em B 100%), tức thì em A lại lo đấm bóp cho B 1 cách không bình thường như kiểu ma nhập, tức là mặt A hơi dại đi, tay chân dẻo quẹo xoa bóp cho B. Lúc đó tôi có bảo sao A lại làm vậy thì em trả lời là 6,7 của em ghét con ma trong B lắm và muốn xoa bóp giúp B đỡ mệt. Chúng tôi có ngờ đâu là con ma nữ này đang truyền nhân điện giúp con ma trong B hồi phục lại. Khi nghe chị K. than phiền, tôi bèn nói A không được phép ở trong phòng B và đụng chạm vào nguời B nữa. Em A bực mình bèn hạch hỏi con ma nữ trong em. Con ma này bèn viết 1 lá thư dài 2 trang giấy xin lỗi cả gia đình tôi là quả thật nó có giúp đỡ con ma trong B vì thấy con ma này bị chị K. đánh tả tơi, nó cầm lòng không đậu nên ra tay tiếp thêm nội lực cho nó. Con ma nữ xin lỗi cả nhà tôi, đặc biệt là với tôi, vì nó nói tôi vẫn đối xử với nó lịch sự lắm, không ngờ nó lại làm tôi thất vọng như vậy. Nó cũng hứa là sẽ xuất khỏi A nêu chúng tôi đưa nó lên tịnh xá Linh Quang ở Quận 4 Saigon để nó xuất gia đầu Phật vào thứ bảy July 28, 2007. Hai ngày sau đó. Em trai tôi cho biết là truớc đó, con ma nữ này cũng đã hứa nhăng hứa cuội nhiều lần là đưa nó lên chùa này chùa nọ để nó xuất ra mà lần nào cùng chỉ toàn dối trá, nhưng vấn đề là em A của tôi vẫn 1 mực tin yêu và cho rằng con ma này có tâm hồn nhân hậu, chỉ 1 phút yếu lòng mà giúp đỡ con ma trong B thôi. Tôi bèn nhân cơ hội này bảo với em A rằng, thôi được rồi, tôi tin lời hứa của con ma, tôi vẫn tiếp tục đối xử tử tế với nó, sẽ tha thứ lỗi lầm của nó nếu như nó giữ đúng lời hứa là sẽ ra đi vào thứ bảy July 28. Riêng bản thân tôi, tôi hứa sẽ trọn đời cầu nguyện cho linh hồn của cô ta hàng đêm sau khi cô ta thực hiện lời hứa của cô. Nhưng nếu đến thứ bảy đó, sau khi mình đã làm đủ theo yên cầu của cô ta mà cô ta cũng không đi thì em A phải quyết tâm đánh đuổi con ma ra và cắt đứt mọi liên lạc với nó. Em A bằng lòng như thế với tôi. Còn con ma cũng ra vẻ rất nhiệt tình và rất cảm động truớc lời hứa này. Hai ngày sau, tôi đưa em A lên chùa Linh Quang. Chúng tôi đến từ lúc 10:30 sáng, dự lễ cầu an cho người sống tới 11 giờ, rồi ăn cơm chay tại chùa. Rất nhiều người ta đến chùa để đuợc chữa bênh, có nguời thì bệnh vật lý như ung thư, nhức mỏi; có người bị bệnh tâm thần nhưng cũng có rất nhiều người bị ma ám như em A (thái độ của nguơi bị ma ám rất khác với nguời bệnh tâm thần, tôi cảm nhận đuợc nhưng không diễn tả đuợc). Đến 12:30 trưa, người có bệnh đã xếp hàng ngồi thành 2 hàng trong đại điện dài dằn dặc, dễ có đến hơn 150 nguời chứ không ít. Tôi quỳ ngay sau lưng em A, đợi khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ thì tới phiên em A được vị sư già mặc áo tăng bào vàng hơi đỏ, vai áo bên phải để trần (chắc là vị sư này thuộc phái Nam Tông), chữa bệnh. Tôi quỳ ngay sau lưng em A, nghe loáng thoáng em vắn tắt thưa với Thầy là có 1 vong nữ trong em, có nhờ em đưa lên chùa này hôm nay vì vong nữ này muốn xuất khỏi nguời em hôm nay, mong thầy giúp đỡ. Vị sư này bèn để 3 ngón tay lên đầu em, miệng lâm râm niệm chú, rồi để 1 cái mõ nhỏ lên đầu em, gõ lóc cóc vài cái. Xong Người quay sang bên cạnh, lấy 1 ly nuớc nhỏ do người đệ tử bên cạnh trao cho, co mấy ngón tay lại trên miệng cốc, lẩm nhẩm chú niệm gì đó trong miệng rồi đưa cốc nuớc cho em tôi uống. Thế là xong, em tôi ra khỏi hàng đến quỳ ngay truớc bàn thờ Phật Bà Quan Âm ngay cạnh đó. Tôi bèn nhảy ra khỏi hàng, hỏi em A là chuyện gì xảy ra vậy, con ma đã xuất ra chưa ? Thốt nhiên tôi thấy em tôi xoè bàn tay phải ra, giơ thẳng bàn tay ra trước mặt rồi dùng hết sức lực đấm thình thịch vào ngực, đỉnh đầu và trán của em liên tiếp mấy chục cái. Sức đấm mạnh đến nỗi nguời em tôi lảo đảo sau từng cú đấm. Tôi kinh hoàng, hỏi em, “Em ơi, chuyện gì vây, sao em lại tự đánh em như thế ?” Em trả lời tôi, “Bà ấy muốn ra, em đang làm thế để giúp bà ấy ra.” Tôi nhìn nét mặt của em tôi, tôi thật tình không biết lúc đó em tôi là em tôi hay là con ma nữa. Tôi chỉ cảm thấy toàn thân tôi đau đớn như đang bị đánh, những cú đánh của em tôi mạnh mẽ vang lên trong tim trong óc tôi. Cả bao nhiêu nguời trong đại điện, cả vị sư già ngồi cách em tôi chừng nửa thước, chả ai thèm để ý đến em cả, duờng như những sự việc ma nhập, tự hành hạ thân xác như thế đã diễn ra quá thường xuyên ở đây. Không biết làm gì, tôi nhảy trở vào hàng người đang xếp hàng, bây giờ đã ngắn đi rất nhiều để hỏi vị sư già trị bịnh đầu đuôi câu chuyện. Chỉ khoảng 5 phút sau, đã đến phiên tôi, tôi bèn quỳ chắp tay hỏi rằng, “Thưa Thầy, em gái của con vừa rồi có thưa với thầy là cái vong nữ trong người nó có nói rằng nhờ đưa lên chùa hôm nay để vong nữ này xuất ra; con em của con đã đuợc gặp thầy và đang ngồi kia – tôi chỉ tay về phía em A; xin Thầy giảng cho con biết chuyện gì đang xảy ra vậy ?” Vị thầy nhìn tôi cười, tôi không thể xác định đó là nụ cười thuơng hại hay mai mỉa, bảo tôi rằng, “Cô không biết là người ta đã nói là nói dối như ma à ?. Nguời ta đã nói dối với cô và đang lừa dối em cô đó. Muốn chữa khỏi bệnh này, em cô phải đi chùa rất nhiều lần, chứ 1 lần làm sao hết.” Nói xong, Thầy quay qua chữa bệnh cho người kế tôi. Tôi quay sang em tôi và hỏi, “Em có nghe thầy nói chưa, mình lại bị lừa dối nữa đó”. Nhìn vẻ mặt đau đớn của em, tôi không cầm đuợc nuớc mắt, tôi biết em tôi vừa cảm nhận đuợc sự thật phũ phàng là “bà tiên” trong nó thực chất chỉ là một ma nữ thâm trầm, nham hiểm, nói dối như cuội, và vừa rồi, con ma nữ đã lợi dụng lòng tin của em tôi để đánh em tôi 1 trận nhừ tử bằng chính bàn tay của em. Cầm tay tôi, em A bảo, “Chị đừng lo, em sẽ quyết đánh cho con ma nữ giảo hoạt, dối trá ra khỏi nguời em. Em sẽ nhất quyết không cho nó nói chuyện hay viết lách gì cho em nữa”. Nhìn vẻ mặt của em, tôi biết em đã cuơng quyết lập chí dành lại độc lập cho thân xác mình. Tôi vừa đau đớn vừa mừng rỡ rằng ít nhất em tôi đã vượt qua được 1 giai đoạn khó khăn trong cuộc chiến tranh với ma quỷ này là lập quyết tâm đánh đuổi quân thù. Hiện nay em tôi hàng ngày lên chùa Linh Quang để con ma có cơ hội nghe kinh kệ và nhờ thần lực, tín tâm của sư tăng trong chùa và trong chính em để kêu gọi con ma xuất khỏi em tôi. Em A cũng hứa rằng nếu sau 3 tuần đi chùa mà con ma vẫn không nhúc nhích di chuyển gì cả thì em sẽ đổi qua biện pháp mạnh hơn để trục ma. Tôi xin tóm lược những ý chính tôi muốn nêu lên trong bài này mà trong lúc xúc động tôi đã không viết được rõ ràng và mạch lạc như sau : 1. Xin hết sức cẩn thận khi đi học nhân điện khoa tự đông ở những người thầy như thầy Mai Viết Nhự. Tôi không đủ dữ kiện để kết luận là thày Nhự có liên quan trực tiếp đến vấn đề tạo cầu nối giúp các hồn ma nhập vào cơ thể các học viên của Thày hay không; tôi chỉ biết là 2 cô em gái của tôi đều bị ma nhập ngay trong lúc đang học nhân điện với thầy, sau khi thầy mở luân xa số 6 và 7 cho 2 em. Chị K. cũng cho tôi biết là 1 số nữ tu Công giáo cùng bị hiện tuợng ma nhập sau chuyến du hành từ Mỹ về VN sau khi cũng học khóa nhân điện với thầy Nhự. Sao lại có sự trùng lập đặc biệt như thế ? 2. Tôi sẽ không bao giờ để ai sờ lên đầu lên cổ của mình, ai biết được là họ có khả năng mở luân xa 6,7 hay không ? 3. Đến thời điểm mình phải lìa cõi trần ra đi, xin hãy ra đi với lòng thanh thản, dù có còn bổn phận trách nhiệm với nguời còn sống cũng hãy xin hiểu rằng phận sự của mình đến thời điểm đó là hết, đừng nuối tiếc gì cả, để phần tâm linh của mình có thể nhẹ nhàng siêu thoát, không trở thành vong linh vất vưởng lang thang. Phần nguời sống, xin đừng khóc than níu kéo người đã ra đi, xin hãy nói cho người hấp hối biết là họ đã làm xong nhiệm vụ của họ trên trần thế, mình là người ở lại cũng sẽ OK, để nguời chết yên tâm mà đi. 4. Xin hãy đối xử với những người bị ma nhập tử tế, đừng xa lánh họ. Con ma chẳng có nhiều quyền lực gì cả trừ trường hợp người bị ma nhập không hiểu được bản chất của ma thì sẽ rất sợ hãi trước những lời hăm dọa của ma chẳng hạn như “Tao sẽ giết mày nếu mày không nghe lời tao”. Những lời hăm dọa đó chỉ là lời hăm dọa suông, con ma vốn chỉ là những sóng sinh học âm, sức lực chỉ bằng cục pin rechargeable 1.5 volt. Con ma sẽ rất mạnh mẽ khi tâm hồn và thể xác của nguời bị nhập yếu đuối, sợ hãi và không có được sự giúp đỡ thuơng yêu của gia đình và bạn bè. Con ma sẽ dùng chiến thuật tâm lý, ngọt bùi cay đắng có cả để thoạt đầu mua chuộc lòng tin của người bị nhập, để dần dần chiếm toàn bộ lý trí của họ và tiến đến khống chế thể xác vì bản thân con ma chỉ là phần tinh thần của người đã chết, nay mong muốn chiếm đoạt thân xác và tâm trí của người còn sống để hành xử theo ý riêng của mình. Con ma cũng sẽ nhăn răng, múa vuốt (qua cử chỉ của nguơi bị nhập) như kiểu trong phim Exorcist nhưng cường độ yếu hơn nhiều chứ không như kỹ xảo Hollywood để hăm dọa người chung quanh, làm cho họ cảm thấy sợ hãi mà xa lánh người bị ma nhập. Những kỹ xảo này của con ma chỉ làm tôi bật cuời, thuơng hại cho kẻ lực bất tòng tâm, và yêu thuơng em tôi hơn. Nha Khanh (sưu tầm và chuyển)
  22. Tứ khố toàn thư kham dư điển tịch nghiên cứu tùng thư Dương quân tùng 《 thanh nang áo ngữ 》 khảo Tại đường đại hậu đích phong thủy sử thượng, trừ tri thức thiển bạc đích minh đại nam xương vạn thụ hoa thác danh tống đại đạo tịnh hòa thượng thuyết đích"Phong thủy"pháp, thị thần quy điểm hóa đích ngoại, nhi kỳ tha sở hữu đích trung quốc phong thủy"Phong thủy" thuật, đô tôn xưng đông tấn quách phác vi phong thủytị tổ, dương quân tùng vi phong thủy tông sư, đô thuyết tự kỷ đích học thuật thị"dương công chân truyện " . Các gia các phái đích điển phạm kinh điển, đô thác danh dương quân tùng hoặc dương cứu bần soạn ( trứ ) . Thục thị thục phi,chân ngụy mạc biện, hắc bạch bất minh, trừ chuyết tác 《 tứ khố toàn thư : kham dư loại kinh điển khảo 》 dĩ khảo chính thập nhất bộ cổ kinh điển ngoại, vi liễu canh tường tẫn đích khảo chính kỷ bộ phong thủy cổ kinh điển, đặc biệt đối quách phác 《 táng thư • nguyên trứ 》 đích thực tiễn cươnglĩnh, tức dương quân tùng bí truyện kỳ cao đồ tằng văn siêm đích 《 thanh nang áo ngữ 》 tiến hành tường tế khảo chứng, dĩ hưởng chư giả. Đệ nhất chương chư chủng bản bản đích 《 thanh nang áo ngữ 》 Ngã thu tập đích 《 thanh nang áo ngữ 》 kế hữu: lý bản phươnglão sư đích tổ truyện bản, 《 địa lý đại toàn tập yếu》 lục bản, từ thí khả (minh • vạn lịch (1573) tiền nhân ) trứ 《 thiên ky hội nguyên 》 thu lục bản, 《 tứ khố toàn thư 》 thu lục bản, dĩ cậpthai loan sùng phúc đường thu lục bản ngũ chủng bản bản. Lý bản phương lãosư tổ truyện bản, tự khai chương" khôn nhâm ất văn khúc tòng đầu xuất" khởi, chí"Động bất động, trực đãi cao nhân thi diệu dụng" chỉ,cộng nhất bách tam thập thất tự. 《 địa lý đại toàn tập yếu》 lục bản dữ tổ truyện bản đích khai chương nhất bách tam thập thất tự hoàn toàn tương đồng, nhi dữ 《 thiên ky hội nguyên 》 lục bản đích khai chương nhất bách tam thập nhị tự tựu sảo hữu soa dị. 《 địa lý đại toàn tập yếu》 lục bản hòa 《 thiên ky hội nguyên 》 lục bản, đô hữu tăng tụcvăn cú, tức tự"Đệ nhất nghĩa, yếu thức long thân hành dữ chỉ" khởi,chí"Hựu kiến quách phác tái xuất hiện" chỉ, tăng tục liễu tam bách nhịthập tứ tự. 《 tứ khố toàn thư 》 lục bản hòa thai loan"Sùng phúc đường" lục bản, cơ bản thượnghoàn toàn tương đồng, đãn dữ thượng thuật tam lục bản đích khai chương tứ cú hữudị, kỳ vân"Khôn nhâm ất cự môn tòng đầu xuất, cấn bính tân vị vị thị pháquân, tốn thần hợi tẫn thị vũ khúc vị, giáp quý thân tham lang nhất lộhành." Nhi thị tam nguyên huyền không"Địa lý" soán cải bản. Đãnkỳ hậu tăng tục đích văn cú tam bách dư tự, trừ 《 tổ truyện 》 bản một hữu ngoại, kỳdư tứ thần bản bản đô đồng dạng cụ hữu đồng dạng đích tục văn, thục thị thụcphi? Tư lục nguyên văn cập chư gia thích vu hậu: Đệ nhất tiết tổtruyện bản ( thanh • lý tam tố chú thích bản ) Thuyết minh: cai bảnbản thị thanh đạo quang (1821-1850) niên gian, 32 khai, mộc khắc tống thể bản bản.Nguyên bản bản vu phúc kiến trường nhạc kim phong trấn di thất, sở lưu phục ấnbản nhân bảo quản khiếm thỏa, thủ hiệt tự tích bất thanh. Thiên ky nhất quánthanh nang áo ngữ đường • dương quân tùng nguyên trứ Lý tam tố chú thích Khôn nhâm ất vănkhúc tòng đầu xuất, cấn bính tân vị vị thị 亷 trinh, Tốn canh quý câu thịvũ khúc vị, kiền giáp đinh tham lang nhất lộ hành. Chú: thích văn tựtích bất minh Tả hành vi dương, tửsửu chí tuất hợi, hữu hành vi âm, ngọ dĩ chí thân vị, Chú: dương sinh vutử, giáp canh bính nhâm dương dã. Thuận hành nhi chí vu hợi. Âm sinh vu ngọ, ấttân đinh quý âm dã, nghịch hành nhi chí vu vị. Tri âm dương chi thuận nghịch.Nhi hậu tri thuận sinh vi dương, vi phu. Nghịch sinh giả vi âm vi phụ, ( hạ vănthư hùng nhị tự thân ngôn chi ) Thư dữ hùng giao hộihợp huyền không, hùng dữ thư, huyền không quái nội thôi. Chú: độc dương bấtsinh, cô âm bất trường, cố dương công chi pháp, tiên khán thư hùng. Huyền khônggiả, sơn thần thủy thần các hữu sở ti, nhi vô hình khả kiến. Huyền không tác dụng,huyền chi hựu huyền. Giao hội giả, dĩ quý hội giáp, dĩ đinh hội canh, dĩ ất hộibính, dĩ tân hội nhâm, thử giáp canh bính nhâm tự khởi kiền quái dã. Nạp âm mộc,chấn dã, thị vi giáp. Nạp âm kim đoái dã, thị vi canh. Nạp âm hỏa ly dã, thị vibính. Nạp âm thủy, khảm dã, thị vi nhâm. 《 thiên ngọc kinh 》 vân: "Bài tinh tửtế khán ngũ hành, khán tự hướng quái sinh, tứ quái chi sở chúc, thôi xuất longthần. Hựu tòng long thần chi sở chúc, thôi xuất thủy thần. Huyền không sở dĩ viđại quái dã. Hựu ngôn chi cộng lộlưỡng thần vi phu phụ, nhận thủ chân thần lộ, chất ngôn chi nhi viết: "Ấtbính giao nhi xu tuất, tân nhâm hội nhi tụ thần, đấu ngưu nạp đinh canh chikhí, kim dương thu quý giáp chi linh. Sơn dữ thủy, câu yếuminh thử lý, thủy dữ sơn, họa phúc tẫn tương quan. Chú: thử lý giả,giao hội hợp huyền không chi lý, phu phụ lộ ngộ quyến chúc nhất gia, giai tòngthử lý trung biện xuất. Đãn đinh quý ất tân tắc dĩ sơn vi chủ. Nhi thủy tòngchi. Cát hung họa phúc tắc hựu dĩ thủy vi chủ. Nhi sơn tòng chi. Cố viết: sơnvô cát hung, dĩ thủy vi cát hung, phá vượng trùng sinh, giai xuất vu thủy. Minh huyền không, chích tại ngũ hành trung, tri thử pháp, bất tu tầm nạpgiáp. Chú: nạp giáp khởivu thái âm, nãi ngũ hành chi nhất đoan, nhi phi ngũ hành bản thể. Nạp âm tức mỗichi chi hạ, các hữu hà đồ, nhân nhi các hữu ngũ kiền, các hữu ngũ âm, nhị khíngũ hành chi lý, vô xử bất hữu, kỳ điều phân lũ thác dũ tường dũ mật. Tích ngôkhắc thành minh tri quái khí, kiến chấn long bôn đằng nhập tốn, viên cục tinh kỳ,khôn thân phá cục hoặc bất tối hạ, vĩnh quyết vu loạn sơn. Nãi tri canh đinhtương phối, khôn vi thôi quan, thử tức nạp âm bất tu tầm nạp giáp chi thuyết dã. Điên điên đảo, nhịthập tứ sơn hữu châu bảo, đảo đảo điên, nhị thập tứ sơn hữu hỏa khanh. Chú: thử chuyên dĩtác dụng ngôn huyền không chi diệu, đông phương hữu kim, tây phương hữu mộc,nam phương hữu thủy, bắc phương hữu hỏa, cố viết điên điên đảo. Hựu viết đảo đảođiên. Cái tiên thiên dĩ chính thể, tắc chúc lão ngũ hành. Hậu thiên dĩ trí dụng,tắc dụng ai tinh ngũ hành. Tri thử đạo giả, sử thủy tòng mộ khố Kim long, nhấtkinh, nhất vĩ nghĩa bất đồng, động bất động trực đãi cao nhân thi diệu dụng Chú: châu bảo hỏakhanh hà tòng biện biệt, duy nhận kim long tắc tri chi. Kim long giả, tứ đại thủykhẩu dã. Lưu ất thần, tắc tri kỳ vi thủy, lưu tân tuất, tắc tri kỳ vi hỏa, lưuquý sửu, tắc tri kỳ vi kim, lưu đinh vị, tắc tri kỳ vi mộc. Nhập sơn quan thủykhẩu, nhi kết địa chi phương, nạp âm giai khả nghịch khởi, cố dương công khánthư hùng chi quyết, tất tiên tự kim long thủy, nhị thập tứ sơn vi kinh, lục thậphoa giáp vi vĩ, dĩ lục thập long phân ngũ hành, nhiên hậu nhị thập tứ sơn khởicửu tinh, nhất kinh nhất vĩ nhi sinh vượng hưu tù hệ hĩ. Diệu dụng chi thi, duyđãi cao nhân nhi dĩ hĩ. Đệ nhị tiết 《 địa lý đại toàn tập yếu 》 lục bản Thanh nang áo ngữđường • dương quân tùng soạn Khôn nhâm ất vănkhúc tòng đầu xuất, cấn bính tân vị vị thị liêm trinh. Tốn canh quý tẫn thịvũ khúc vị, kiền giáp đinh tham lang nhất lộ hành. Ngụy thích: tiênthiên hà đồ thập nhị chi, hậu thiên lạc thư bát kiền tứ duy, phụ văn thượngthiên, chuyên ngôn thiên quái ai tinh ngũ hành, thiên kiền tòng địa chi. Thửthiên chuyên ngôn địa quái, tam hợp ngũ hành địa chi tòng thiên kiền. Khôn thân đồngcung, nhâm tử đồng cung, ất thần đồng cung. Thân tử thần tam hợp thủy cục, nhikhôn nhâm ất phụ chi. Cố diệc vi thủy, thủy vi văn khúc. Cấn dần đồng cung,bính ngọ đồng cung, tân tuất đồng cung, dần ngọ tuất tam hợp hỏa cục, nhi cấnbính tân phụ chi, cố diệc chúc hỏa, hỏa vi liêm trinh. Tốn dĩ đồng cung,canh dậu đồng cung, quý sửu đồng cung, dĩ dậu sửu tam hợp kim cục, nhi tốn canhquý phụ chi, cố diệc chúc kim, kim vi vũ khúc. Kiền hợi đồng cung,giáp mão đồng cung, đinh vị đồng cung, hợi mão vị tam hợp mộc cục, nhi kiềngiáp đinh phụ chi, cố diệc vi mộc, mộc vi tham lang. Nhất thuận nhất nghịch tứthập bát cục dương sinh âm tử, âm sinh dương tử, dĩ tam hợp ngũ hành quyền chi,long sinh lưỡng phiến âm dương thủ, thủy đối tam nghĩa sinh vượng mộ, sinh dĩnghiệm kỳ khí chi thủy, vượng dĩ nghiệm kỳ khí chi thịnh, mộ dĩ nghiệm kỳ khíchi chung. Tiên thiên hậu thiên tương vi thủ hợp, hà đồ lạc thư tương vi biểulý. Nhi ngũ hành chi khí vận vu địa trung giả, giai khả đắc nhi tri hĩ. Bấtngôn thổ giả, thần tuất sửu vị ký vu tứ ngung dã, bất ngôn thân tử thần nhi đanngôn khôn nhâm ất giả, địa chi tam hợp nhân sở dịch hiểu, thiên kiền tam hợpnhân sở vị văn dã. Tác giả án: ai tinhtức thất thập nhị long ngũ hành, thị địa quái, nhất kiền phụ nhị chi. Song sơnngũ hành thị thiên quái, nhất kiền phụ nhất chi. Một hữu thập yêu thiên kiềntam hợp, chích hữu thiên quái đích song sơn tam hợp. Tứ thập bát cục thị quáchdương hồ tân pháp. Quách dương tằng cổ pháp thị lục thập cục. Tả vi dương, tử sửuchí tuất hợi, hữu vi âm, ngọ dĩ chí thân vị. Ngụy thích: tả hànhvi dương, tử sửu dần mão thần dĩ ngọ vị thân bách tuất hợi. Hữu hành vi âm, mãodần sửu tử hợi thú dậu thân vị ngọ dĩ thần, ngũ hành âm dương kỳ sinh kỳ vượngkỳ mộ các chiếu thử thuận nghịch sổ chi. Tác giả án: hữuhành vi âm, ứng cai thị ngọ dĩ thần mão dần, sửu tử hợi thú dậu thân vị. Thư dữ hùng, giao hộihợp huyền không, hùng dữ thư, huyền không quái nội thôi. Ngụy thích: thiên địagiao nhi vạn vật sinh, phu phụ giao nhi vạn vật dục, thử hóa dục chi chân ky. Cốhình pháp lập táng pháp dĩ cầu quỷ họa giả, tất sử thiên địa chi khí lưu thôngvô gian, biện thư hùng chi giao, minh thuận nghịch chi vận, huyệt thừa sinhkhí, hướng đắc trùng hòa nhi hậu khả dĩ cầu phúc. Nhược đồ tưởng tượng vu sa thủychi trung, nhi bất đắc thư hùng giao hội chi hòa, yên năng phát phú quý vượngnhân đinh? Cố dương công vân: thư âm dã, hùng dương dã. Sơn long thủy thần cáchữu âm dương. Dương tòng tả chuyển, âm tòng hữu chuyển, thủy âm long nghịch lainhập thủ, dương thủy thuận lai nhập thủ tắc nghi, âm dương tương kiến, khí tựtrùng hòa. Phu sơn thủy thuận hữu chuyển tả chuyển tự kỳ hình tượng nhi ngôndã. Thuận hành nghịch hành, mặc vận vu trùng mạc chi trung, mục bất khả đắc nhikiến, ngôn bất khả đắc nhi dụ, nhị khí giao cảm vạn vật hóa thuần, kỳ lý huyềnchi hựu huyền, cố viết huyền không Tác giả án: thíchgiả tịnh vị thuyết minh thư hùng giao hội hợp huyền không đích vấn đề, thư hùnggiao hội, tức lai long dữ tùy long thủy giao hội. Long thủy tịnh luận, tắc long chúc dương, thủy chúc âm. Long thủy phân luận, tắc các hữuâm dương. Sơn dữ thủy tu yếuminh thử lý, thủy dữ sơn họa phúc tẫn tương quan. Ngụy thích: luậnsơn dĩ lai long chúc hà tự khởi trường sinh, luận thủy dĩ thủy thần chúc hà tựkhởi trường sinh, nhất thuận nhất nghịch tu yếu minh tam hợp chi lý, nhiên khởisơn thị sơn nhi thủy thị thủy, vu họa phúc vô tương quan tai. Giả như thân tửthần tam cung hành long nhập thủ, thủ thủy long khôn nhâm ất tam hợp lập hướng,tuy khí chúc nhất gia, sử thủy lưu khôn thân, tắc phá trường sinh hĩ. Thủy lưunhâm tử tắc phá vượng phương hĩ. Kỳ họa kỳ phúc dĩ vi bất tương quan khả hồ? Thảsở vị tam hợp giả, tự long hướng thủy khẩu thành tam hợp do đỉnh túc nhi lậpchi vị dã. Hướng tự vị lập tắc họa phúc vị chương, hướng nhất định tắc họa phúctùy kiến, sở vị cát hung hối lận sinh hồ động giả dã. Khả kiến họa phúc do ngã,bất do thiên, kim thiên động đắc, động bất đắc? Tác giả án: thíchgiả ngụy lý hứa, phi đãn bất đổng quách dương tằng cổ pháp dã bất liễu giảiquách dương hồ tân pháp"Thân tử thần hành long thủ khôn nhâm ất tam hợp lậphướng", thị vô pháp lập hướng đích. Minh huyền không,chích tại ngũ hành trung, tri thử pháp, bất tu tạp nạp giáp. Ngụy thích: 《 dịch 》 trung nhất âm nhấtdương chi vi đạo, huyền không ngũ hành dĩ sơn thủy biệt âm dương, dĩ âm dươngvi thư hùng. Thiên đạo tả toàn chúc dương, nhi sinh khí thuận bố. Địa đạo hữutoàn chúc âm, nhi sinh khí nghịch bố, âm đắc dương triêu, địa đắc thiên nhi khígiao. Dương dụng âm ứng, thiên đắc địa nhi khí hợp. Cố nhất thuận nhất nghịchthác tống giao hợp. Như hợi long tả hành, tòng giáp mộc sinh hợi nhi vượng mãothuận bố dã. Hợi long hữu hành, tòng ất mộc sinh ngọ nhi vượng dần nghịch bốdã. Chí kỳ lập hướng chi pháp, hoặc sinh long tác vượng hướng, hoặc vượng longtác sinh hướng, hoặc tòng bản mộ tác hướng, vị chi tam hợp liên châu cục. Sơn hữusơn chi sinh vượng mộ, thủy hữu thủy chi sinh vượng mộ, tức sơn thượng long thầnbất hạ thủy thủy lý long thần bất thượng sơn nhị ngữ chú sơ. Tịnh bất dụng nạpgiáp quái khí chi thuyết, như đoái nạp đinh tốn nạp tân chi loại.<br style="-webkit-box-shadow: none !important;"><br style="-webkit-box-shadow: none !important;"><br style="-webkit-box-shadow: none !important;">Tác giả án: thủy lýlong thần bất thượng sơn, tiền sổ cú hệ lý học văn chương, kỳ hợi long tả hànhhữu hành, sinh long tác vượng hướng, vượng long tác sinh hướng... Đô thị thácngộ đích. Nguyên văn thị"Minh huyền không, chích tại ngũ hành trung","Kỳ ý thị tiếp thượng văn, yếu minh bạch sơn ( long ) dữ thủy ( tùy longthủy ) giao hội hợp huyền không đích chân đế, chích tại thất thập nhị long đíchngũ hành chi trung, bất yếu khứ tầm nạp giáp ngũ hành. Điên điên đảo, nhịthập tứ sơn hữu châu bảo, nghịch thuận hành nhị thập tứ sơn hữu hỏa khanh. Ngụy thích: sơn dữthủy ký hữu tả hành hữu hành chi phân, tắc ngũ hành chi khí phân âm phân dươngnhi thuận nghịch điên đảo hĩ, dương khí thuận nhi sinh vượng chi khí tòng tửchuyển sửu nhi hành. Âm khí nghịch nhi sinh vượng chi khí tòng ngọ chuyển dĩnhi bố. Nhị thập tứ sơn các hữu châu bảo, đãn dĩ nghịch vi thuận, dĩ thuận vinghịch, tắc các hữu hỏa khanh. Tác giả án: ngụy thịchú thích bất phù đề, nguyên văn thị thừa tiếp thượng văn, minh huyền không ngũhành đích đạo lý thuyết minh"Điên, điên đảo" ngũ hành, thị châu bảongũ hành. Nạp giáp ngũ hành, hòa kỳ tha ngũ hành thị"Đảo điên" ngũhành, thị hỏa khanh ngũ hành."Dĩ nghịch vi thuận, dĩ thuận vi nghịch"vị chi điên đảo, thị thác ngộ đích. Nguyên văn"Nghịch thuận hành", tựuthị nghịch hành. Nhược thích vi nghịch hành thuận hành, nhị thập tứ sơn. Tựu bấtkhả xưng"Hữu hỏa khanh" . Nhận kim long nhấtkinh nhất vĩ nghĩa bất đồng, động bất động, trực đãi cao nhân thi diệu dụng. Ngụy thích: diệu dụngbất khả thắng cùng, phi cao nhân tâm khẩu thục năng quyết chi. Tác giả án: nhậnkim long, chích nhu dụng la bàn khứ nhận, thập yêu"Kinh vĩ" thị nhậnbất liễu đích. Kỳ nguyên văn đích ý tư thị, yếu nhận thức kim long, nhất kinhnhất vĩ các hữu hàm nghĩa, khứ nhận tự hồ dĩ nhất kinh nhận thức, khả năng kimlong thị cẩu? Nhất vĩ nhận thức, khả năng thị ngưu? Hiển nhiên nguyên văn thị bấtthông đích. Đệ nhất nghĩa, yếuthức long thân hành dữ chỉ. Đệ nhị huyền, lai mạch minh đường bất khả thiên. Đệtam pháp, truyện tống công tào bất cao áp. Đệ tứ kỳ, minh đường thập tự hữu huyềnvi. Đệ ngũ diệu, tiền hậu thanh long lưỡng tương chiếu. Đệ lục bí, bát quốcthành môn tỏa chính khí. Đệ thất áo, yếu hướng thiên tâm tầm thập đạo. Đệ báttài, khuất khúc lưu thần nhận khứ lai. Đệ cửu thần, nhâm tha bình địa dữ xâmvân. Đệ thập chân, nhược hữu nhất khuyết phi chân tình. Ngụy thích: thửthiên chuyên ngôn tam hợp, dĩ hạ nhân cao nhân diệu dụng nhi thôi ngôn chi longchi hành chỉ. Mạch mạch thiên chính, tả hữu long hổ, minh đường thập tự, tiềntriêu nghênh hậu thác án lưỡng lưỡng tương chiếu. Bát quốc, tức bát phươngthành môn, tức thủy khẩu yếu quan tỏa chu mật. Thiên tâm thập đạo lập huyệt chipháp, yếu lưu thần khuất khúc biện kỳ lai khứ, hoặc bình địa hoặc xâm vân, giaidụng tiền pháp, khuyết nhất phi chân. Tác giả án: tường đệnhị chương chư chú thích. Minh đảo trượng,quái tọa âm dương hà tất tưởng. Thức chưởng mô, thái cực phân minh tất hữu đồ.Tri hóa khí, sinh khắc chế hóa tu thục ký. Thức ngũ tinh, phương viên tiêm tú yếuphân minh. Ngụy thích: đảo trượngchi pháp, tiên luận lạc mạch, âm dương cầu chiêm giới hợp đẳng quyết, kiến nhấtlạp túc, nãi dương công tâm quyết. Bất dụng quái khí, cố viết thế vi thượng,hình thứ chi, phương vị hựu thứ chi. Kết huyệt xử tất hữuthái cực đồ, vựng cầu thị dã. Như chưởng tâm mô mạch. Khí hành thổ trungvô hình nan tri, dĩ sinh khắc nhi tri chi, tức"Quý khảm đằng đằng nhập hợikiền, bính hướng giáp xà thiên" thử chi nghĩa dã, kỳ tha phân kim độ vĩgiai hữu sinh khí, chú khí nhập trì giai thị chế hóa, tu thục ký hung trung vitác dụng chi diệu. Tác giả án: tường đệnhị chương chư gia thích. Hiểu cao đê, tinhphong tu biện đắc huyền vi. Quỷ dữ diệu, sinh tử khứ lai chân yếu diệu. Hướngphóng thủy, sinh vượng hữu cát hưu tù phủ Chú thích: hình thếtinh phong diệc hữu ngũ hành sinh khắc, tu biện đắc minh bạch. Quỷ long diệu tinhkết huyệt, sinh nhi lai giả khả tác. Tử nhi khứ giả phi chân. Dĩ thủy ngôn diệchữu quỷ diệu sinh tử lai khứ. Phóng thủy hợp sinhvượng tắc cát, hưu tù tắc phủ, thử huyệt tiền phóng thủy chi quyết. Tác giả án: phóngthủy hợp sinh vượng thị phá vượng trùng sinh, chủ hung. Nhị thập tứ sơnphân ngũ phương, tri đắc vinh khô tử dữ sinh, phiên thiên đảo địa đối bất đồng,kỳ trung bí mật tại huyền không, nhận long lập huyệt yếu phân minh, tại nhân tửtế biện thiên tâm, thiên tâm ký biện huyệt hà nan, đãn bả hướng trung phóng thủykhán, tòng ngoại sinh nhập danh vi tiến, định tri tài bảo tích như sơn, tòng nộisinh xuất danh vi thối, gia nội tiễn tài giai phế tẫn, sinh nhập khắc nhập danhvi vượng, tử tôn cao quan tẫn phú quý. Chú thích: phiênthiên đảo địa nhị cú, ngôn dụng tam hợp hoặc âm hoặc dương thu sinh vượng dã.Đãn bất hợp pháp, tắc bất đắc dĩ dụng tiểu huyền không sinh khắc luận chi hĩ. Tác giả án: nhị thậptứ sơn chích khả phân tứ phương, trung ương thổ bất thị phương. Dã khả phân nhịthập tứ phương hoặc lưỡng nghi đích lưỡng phương. Mạch tức sinh vượngyếu tri nhân, long hiết mạch hàn tai họa lâm, túng hữu tha sơn lai cứu trợ, huyệtlao lộc mã hoạch long hành. Chú thích: tiền luậnhình thế phương vị bị hĩ, cẩu bất tri nhập thủ mạch tức chi hưng suy, diệc đồnhiên dã. Mạch giả, lai mạch tức giả, khí tức diệc tịnh hình thế phương vịngôn. Như lai mạch hoạt động chi huyền vi sinh, trực ngạnh vi tử. Khí tức sungtúc vi sinh, đê hãm vi tử, mạch tức ký nhược, túng hữu lộc mã quý sa, không laohộ vệ. Khuyến quân tái bảtinh thần biện, cát hung họa phúc như thần kiến. Thức đắc thử thiên chân vi diệu,hựu kiến quách phác tái xuất hiện. Chú thích: tiên luậnhình thế phong loan, thứ luận song sơn tam hợp, tái bả sinh vượng tử tế tườngthẩm, tắc ích tinh nhi như thần hĩ. Sưu tầm
  23. Thanh Nang Áo Ngữ Dương Quân Tùng Mục lục Đệ nhất chương chư chủng bản bản đích 《 thanh nang áo ngữ 》 Đệ nhất tiết tổ truyện bản ( thanh • lý tam tố chú thích bản ) Đệ nhị tiết 《 địa lý đại toàn tập yếu 》 lục bản Đệ tam tiết từ thí khả 《 thiên ky hội nguyên 》 thu lục bản Đệ tứ tiết 《 tứ khố toàn thư 》 thu lục bản Đệ ngũ tiết thai loan sùng phúc đường thu lục bản Đệ nhất tiết thủ đoạn ( tự khôn nhâm ất chí trực đãi cao nhân thi diệu dụng chỉ ) Nhất, nguyên văn dữ chú thích đối chiếu Nhị, khảo bình Đệ nhị tiết trung đoạn ( tự đệ nhất nghĩa chí đệ thập chân chỉ ) Nhất, nguyên văn dữ chú thích đối chiếu Nhị, khảo bình Đệ tam tiết mạt đoạn ( tự minh đảo trượng chí hựu kiến quách phác tái xuất hiện vi chỉ ) Nhất, nguyên văn dữ chú thích đối chiếu Đệ tam chương tổng bình Đệ nhất tiết tòng văn ý phương diện lai thuyết
  24. Phương pháp xem đất tốt xấu Người ta thẩm định đất tốt, có rất nhiều cách, từ đo hướng lập độ, bài bàn Phi Tinh, xem mầu đất, nếm vị nước, quan sát hình thế....Nhưng có một chiêu rất đơn giản, nhưng lại là bí quyết Bất Tuyên (Không được nói) của các Phong Thủy Sư. Đó là Kê Đản Trạch Địa Pháp, tức dùng trứng gà để thẩm định xem đất đó Sinh Khí tốt hay không... Vào ngày Tam Phục Nhật, ở tại đất đó, đào một cái hố nhỏ, đường kính độ 40 cm, sâu độ 60 - 70 cm dưới đáy bằng phẳng, bỏ xuống đó 7 quả trứng gà tươi mới, che đậy lại để sau 10 ngày tới lấy trứng lên kiểm tra, nếu đã hư thối là đất không có sinh khí tốt...Ngược lại nếu tươi mới như trước tức đất có Sinh Khí. Cụ Thể Về Tam Phục Nhật Trong tryền thống lấy ngày Tam Phục Nhật là do Tiết Khí phối hợp với Can Chi của ngày mà quyết định, mà Tam Phục Nhật là sau ngày Hạ Chí lấy ngày Canh Thứ 3, Canh Thứ 4 và sau Lập Thu Ngày Canh Thứ Nhất. Theo các sách cổ thì đó là ba ngày nóng nhất của một năm, cũng tức gọi là Sơ Phục, Trung Phục, Mạt Phục, những ngày này có thể dùng để uống thuốc trị bệnh cũng rất tốt. Sưu tầm
  25. Kỳ Môn Ðộn Giáp là gì ? Kỳ Môn Ðộn Giáp nguyên gọi là Tam Nguyên Kỳ Môn Ðộn Giáp. Tam Nguyên tức là Thượng Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên (có nơi còn gọi là Thiên Nguyên, Nhân Nguyên, Ðịa Nguyên dựa trên cơ sở Tam Tài là Thiên Ðịa Nhân rồi tìm ra Thiên Thời Ðịa Lợi Nhân Hòa). Kỳ là Tam kỳ và Lục Nghi trong 10 Thiên can thì Ất, Bính, Ðinh được gọi là Tam Kỳ, còn Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí được gọi là Lục Nghi. Con giáp được ẩn đọng trong Lục Nghi nên gọi là Ðộn Giáp. Môn là Bát Môn, tức là tám cửa. Gồm có Hưu Môn, Sinh Môn, Thương Môn, Ðỗ Môn, Cảnh Môn, Kinh Môn, và Khai Môn. Tám cửa này là từ tám phương vị của Bát Quái mà ra. Trong quân sự còn có tên khác là Bát Trận Ðồ mà Gia Cát Khổng Minh đã sử dụng để nhốt Lục TỐn. Tên trong Bát Trận Ðồ là Thiên Môn, Ðịa Môn, Phong Môn, Vân Môn, Long Môn, Hổ Môn, Ðiểu Môn, và Xà Môn. Bát Trận Ðồ này xem thì rất đơn giản, dễ dàng nhưng kỳ thực thì thiên biến vạn hóa, cao siêu thần diệu. Cái kỳ diệu đó có lẽ cũng chỉ có một số nhà quân sự vĩ đại như Gia Cát Khổng Minh, Tôn Tử, Thái Công, Trương Lương, Lưu Bá Ôn mới hiểu hết được cái thần diệu vĩ đại của nó. Ở Việt Nam chỉ có cụ Trạng Trình là thấu hiểu được môn khoa học này. Vậy Bát Môn thực tế là tám loại cảm ứng điện từ của hệ Mặt Trời và Trái Ðất đối với con người ta. Kỳ Môn Ðộn Giáp là một khoa học về phương - vị dựa trên cơ sở nguyên lý Cảm Ứng Ðiện Từ. Ta đều biết trái đất là một từ trường lớn, chịu ảnh hưởng của hệ Mặt Trời, tức chịu ảnh hưởng của Mặt Trời, Mặt Trăng và các hệ sao khác. Con người là một vật mang điện (nhân điện). Khi một vật mang điện mà di động trong một từ trường nó sẽ bị từ trường ảnh hưởng, cảm ứng và tác động. Mà từ trường của trái đất lại chịu sự ảnh hưởng của cả Hệ Mặt Trời. Mặt Trời, Mặt Trăng, và các hệ sao khác luôn luôn di chuyển, do đó sự cảm ứng và tác động điện từ vào con người ta cũng luôn luôn thay đổi theo từng ngày, từng giờ, từng phút. Làm cho con người ta lúc khỏe lúc yếu, lúc tốt lúc xấu. Kỳ Môn Ðộn Giáp là môn khoa học cho ta biết được thời điểm nào, phương vị nào sự ảnh hưởng của điện từ trường đó sẽ có lợi cho ta và phương vị nào sẽ bất lợi cho ta, rồi ta có thể dựa vào đó cải thiện vận mệnh của ta cho từng thời điểm. Kỳ Môn Ðộn Giáp là một môn cổ học tinh hoa của người Trung Hoa được phát minh vào khoảng 5 ngàn năm trước đây. Từ thời Hoàng Ðế lập quốc đã được sử dụng trong trận chiến với Si Vưu. Sau này, được các Thánh hiền khác như Thái Công, Lã Vọng, Trương Lương, Gia Cát Lượng Khổng Minh, Lưu Bá Ôn, . phát triển và hoàn chỉnh thêm. Thời xưa, chủ yếu được dùng trong đấu tranh chính trị và quân sự. Hiệnnay, Kỳ Môn Ðộn Giáp đã được áp dụng rất rộng rãi trong mọi lĩnh vực trong đời sống hàng ngày. Kỳ Môn Ðộn Giáp nguyên gọi là Tam Nguyên Kỳ Môn Ðộn Giáp. Tam Nguyên tức là Thượng Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên (có nơi còn gọi là Thiên Nguyên, Nhân Nguyên, Ðịa Nguyên dựa trên cơ sở Tam Tài là Thiên Ðịa Nhân rồi tìm ra Thiên Thời Ðịa Lợi Nhân Hòa). Kỳ là Tam kỳ và Lục Nghi trong 10 Thiên can thì Ất, Bính, Ðinh được gọi là Tam Kỳ, còn Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí được gọi là Lục Nghi. Con giáp được ẩn đọng trong Lục Nghi nên gọi là Ðộn Giáp. Môn là Bát Môn, tức là tám cửa. Gồm có Hưu Môn, Sinh Môn, Thương Môn, Ðỗ Môn, Cảnh Môn, Kinh Môn, và Khai Môn. Tám cửa này là từ tám phương vị của Bát Quái mà ra. Trong quân sự còn có tên khác là Bát Trận Ðồ mà Gia Cát Khổng Minh đã sử dụng để nhốt Lục TỐn. Tên trong Bát Trận Ðồ là Thiên Môn, Ðịa Môn, Phong Môn, Vân Môn, Long Môn, Hổ Môn, Ðiểu Môn, và Xà Môn. Bát Trận Ðồ này xem thì rất đơn giản, dễ dàng nhưng kỳ thực thì thiên biến vạn hóa, cao siêu thần diệu. Cái kỳ diệu đó có lẽ cũng chỉ có một số nhà quân sự vĩ đại như Gia Cát Khổng Minh, Tôn Tử, Thái Công, Trương Lương, Lưu Bá Ôn mới hiểu hết được cái thần diệu vĩ đại của nó. Ở Việt Nam chỉ có cụ Trạng Trình là thấu hiểu được môn khoa học này. Vậy Bát Môn thực tế là tám loại cảm ứng điện từ của hệ Mặt Trời và Trái Ðất đối với con người ta. Ngoài ra còn có Cửu Cung Tinh tức là chín cung màu. Là 1 - Trắng, 2 - Ðen, 3 - Biếc, 4 - Lục, 5 - Vàng, 6 - Trắng, 7 - Ðỏ, 8 - Trắng, và 9 - Tím. Là chín loại bức xạ của tuyến Vũ Trụ, chúng xuyên qua lớp khí quyển tới mặt đất và ảnh hưởng đến sinh lý, hành vi của sinh vật trên trái đất. Cửu Thiên Tinh là 9 ngôi sao gồm có 7 ngôi sao của hệ sao Bắc Ðẩu và 2 ngôi sao phụ. Chúng có tên là Thiên Bồng, Tiên Nhuế, Thiên Xung, Thiên Phụ, Thiên Cầm, Thiên Tâm, Thiên Trụ, Thiên Nhiệm và Thiên Anh. 9 ngôi sao của hệ sao Bắc Ðẩu này có ảnh hưởng tới con người ta trên Trái Ðất đã được biết từ ngàn xưa. Bát Thần là 8 ông thần có tên Trực Phù, Ðằng Xà, Thái Âm, Lục Hợp, Câu Trần, Chu Tước, Cửu Ðịa, và Cửu Thiên. Tất cả những yếu tố trên ảnh hưởng tới trái đất theo năm, tháng, ngày, giờ và thời tiết, gây nên những cảm ứng khác nhau cho vạn vật trên trái đất trong đó có con người chúng ta, hình thành tốt (cát) hay xấu (hung). Sự biến hóa thay đổi đó được thể hiện trên 9 cung của Bàn Ðồ Kỳ Môn Ðộn Giáp như một mạch điện từ, nó thay đổi biến hóa theo sự vận chuyển của trái đất và Thái Dương Hệ theo năm, tháng, ngày, giờ và tiết khí. Vậy Tam Nguyên Kỳ Môn Ðộn Giáp chính là một "Phương vị học" được dùng để tuyển cát, tức dùng để chọn một thời điểm một hướng tốt, thời điểm đó và hướng đó ta có thể có được thiên thời, địa lợi, nhân hòa, để htực hiện mục đích riêng của ta, và biến vận xấu thành vận tốt. Tam Nguyên Kỳ Môn Ðộn Giáp xưa kia được dùng trong đấu tranh chính trị quân sự, sau này mới phát triển và được dùng trong mọi lĩnh vực cả về tướng mệnh học, địa lý bói toán, . Việc ứng dụng Kỳ Môn Ðộn Giáp trong đời sống hàng ngày. Như phần trên đã nó, ngoài quân sự và chính trị, Kỳ Môn Ðộn Giáp còn được ứng dụng rất rộng rãi trong các vấn đề đời sống hàng ngày như sự nghiệp, nghiệp vụ, quan trường, thưng mại, tổ chức xí nghiệp, du lịch, kiện tụng, bệnh tật, thi cử, vay mượn, sinh đẻ, mua bán nhà đất, xây cất hay sửa chữa nhà, mở tiệm, tổ hợp kinh doanh, tình yêu, và hôn nhân, di chuyển chỗ ở, dấu ấn, số mệnh học, và chọn ngày giờ tốt ch mọi vấn đề, . (sau này bút giả sẽ dành thì giờ để soạn tiếp các mục). Riêng về vấn đề chọn ngày giờ tốt và hướng tốt, nếu như ta dựa trên những cuốn lịch để chọn, nhiều lúc không thể phù hợp với vấn đề cụ thể của ta được, vì lịch dựa trên cơ sở bất động để chọn, ví dụ như chọn ngày giờ theo tuổi của ta, nếu xung là xấu nếu hợp là tốt, rồi xem gặp vị thần nào, lành hay dữ thì quyết định là tốt hay xấu. Còn việc chọn ngày giờ theo Kỳ Môn Ðộn Giáp là dựa theo cơ sở động, mà con người ta cũng có thể di chuyển, không phải ngồi yên một chỗ, một khi di chuyển như vậy thì không gian và thời gian cũng thay đổi theo, các vấn đề tốt hay xấu đều thay đổi theo từng giờ từng phút. Do đó, Kỳ Môn Ðộn Giáp có dạy ta là bất kỳ một ngày nào, giờ nào hay hướng nào đều có thể sử dụng được, chủ yếu là phương pháp sử dụng của ta như thế nào để có lợi và tránh được cái bất lợi mà thôi. Kỳ Môn Ðộn Giáp đầu tiên thời Hoàng Ðế lập thành 1080 cục. Ðến Thái Công rút gọn thành 72 cục. Sau đó Trương Lương rút gọn lại nữa thành 18 cục cơ bản, gồm có 9 cục dương và 9 cục âm. Nếu ta sử dụng hết 1080 cục kết hợp với sự biến hóa của Bát Môn, Cửu Thiên Tinh, Bát Thần, Cửu Cung Tinh và tiết khí thì ta có hàng triệu cách biến hóa. Do sự thiên biến vạn hóa như vậy đã đưa tới sự bách chiến bách thắng của Thái Công, Trương Lương, Gia Cát Khổng Minh, Lưu Bá Ôn lưu danh muôn đời. Cái khó của Kỳ Môn Ðộn Giáp là ở chỗ thiếp lập các đồ bàn sao cho chính xác. Một khi đã lập xong các đồ bàn thì việc xét đoán lại rất dễ. Nhằm vào cái khó khăn đó, bút giả dã dày công nghiên cứu và đã lập thành các bảng biểu để tra, và tính sẵn thành lịch Ðộn Giáp để độc giả dễ bề sử dụng được nhanh chóng. Cần nói thêm là lịch Ðộn Giáp ở đây bút giả đã chuyển đổi theo lịch Thiên Nhiên và sử dụng Dương Lịch để độc giả tiên việc tra cứu. Khi lập bàn đồ Ðộn Giáp, độc giả chỉ cần chuẩn bị như sau: 1 tấm bản đồ 1 cái la bàn 1 cuốn lịch Ðộn Giáp Một số kiến thức cơ bản về Can, Chi, Ngũ Hành sinh khắc và tiết khí là đủ. Sưu tầm
×
×
  • Create New...