-
Số nội dung
6007 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
103
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by wildlavender
-
Lương Y Yên Được Tiếp Tục Chữa Bệnh
wildlavender replied to wildlavender's topic in Thông Tin Cập Nhật
Tôi đón lương y Võ Hoàng Yên đi chữa bệnh Trong quá trình day các đốt cột sống bệnh nhân, ông Võ Hoàng Yên đã cho phép tôi được thực nghiệm day cùng ông, được sờ thấy những vật cứng mà ông bảo đấy là gai đốt cột sống. Ông bảo "tôi sẽ day để làm tan những chiếc gai này, bệnh nhân sẽ khỏi…". Ông dạy tôi cách day, nhưng tôi làm sao mà làm nổi… >> Đồng ý cho ông Võ Hoàng Yên chữa bệnh cứu người Lương y Võ Hoàng Yên chữa bệnh câm điếc, tai biến, bại liệt bằng cách bấm huyệt như thế nào đã là câu chuyện được dư luận đặc biệt quan tâm trong thời gian gần đây. Ai cũng biết, lương y Võ Hoàng Yên đã chữa bệnh miễn phí cho hàng ngàn người, dù bất cứ ở đâu, ông cũng không nhận tiền, quà của bất cứ ai. Nhiều bệnh nhân ở khắp cả nước được ông chữa khỏi bệnh đã gọi Võ Hoàng Yên là "thần y" cho dù ông không đồng tình với cách "tấn phong" này… Từ tháng 7/2011, UBND tỉnh Bình Phước đã chỉ đạo Hội Liên hiệp KHKT tỉnh này cho phép ông Võ Hoàng Yên được chữa bệnh thực nghiệm trên một số bệnh nhân bất kỳ. Sau sự kiện thành công này, ông Võ Hoàng Yên được tỉnh Bình Phước tiếp tục cho triển khai nghiên cứu đề tài khoa học chữa bệnh câm điếc và bại liệt để có thể áp dụng trong thực tế... Chữa bệnh não cho con trai vị nguyên Bộ trưởng tại nhà riêng Sau khi Báo CAND đăng một số bài viết về thành công trong cách chữa bệnh của Võ Hoàng Yên, nhiều bạn đọc cả nước đã điện thoại đến "đường dây nóng" xin được gặp hoặc xin địa chỉ của ông. Đáng tiếc là, vì chưa được sự đồng ý của lương y, mặc dù rất muốn được thông tin, nhưng chúng tôi không thể thỏa mãn nguyện vọng và mong muốn của nhiều bạn đọc. Tuy nhiên, chúng tôi đã cố gắng liên lạc với lương y Võ Hoàng Yên để kiếm tìm cơ hội. Một dịp may đến bất ngờ! Đó là cuối tháng 9/2011, một nhà báo ở Bình Phước từng phỏng vấn lương y Võ Hoàng Yên "bật mí" cho tôi lương y Hoàng Yên đang đi công chuyện tại Hà Nội. Tôi gọi điện vào máy di động của ông thì đều không liên lạc được, đành phải gọi cho người thường giúp đỡ, trợ lý cho ông mỗi lần ông ra miền Bắc. Bà cho biết "thầy Yên" đang ở huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh để giúp đỡ cho mấy ca bệnh đặc biệt. Tôi xưng danh và nhờ chị báo với lương y là tôi có mấy người bệnh từng điện thoại cho ông trước, nay muốn được nhờ ông trực tiếp chữa cho. Sau mấy phút chờ đợi, tôi được nối máy nói chuyện với lương y Võ Hoàng Yên. Ông đã biết tôi từ ngày 30/4/2011, lúc tôi cùng bà Phan Hồng Mai (phu nhân nhà văn Sơn Tùng) và con trai ông là Bùi Sơn Định đưa nhà văn Sơn Tùng đi vào chùa Trăm Gian ở huyện Chương Mỹ, Hà Nội để nhờ ông bấm huyệt. Lần này, nghe tôi kể về bệnh của con trai ông cựu Bộ trưởng, con trai một nhà thơ (Trưởng ban Báo CAND) và đôi vợ chồng trẻ câm điếc bẩm sinh mà ông từng bấm huyệt ở Bình Phước, ông đồng ý chẩn bệnh cho các bệnh nhân, khi ở Quảng Ninh về Hà Nội. Thật khó khăn khi lương y bấm huyệt cho con trai vị nguyên Bộ trưởng. Đúng 17h ngày 29/9, lương y Võ Hoàng Yên có mặt tại nhà riêng đồng chí nguyên Bộ trưởng ở Hà Nội. Lúc này, 4 bệnh nhân đã chờ sẵn. Đầu tiên ông thăm khám cho con trai đồng chí nguyên Bộ trưởng, cháu năm nay đã 36 tuổi, bị bại não từ bé, không nói, không đi lại được nhưng cảm nhận về thế giới xung quanh vẫn rất tốt. Lương y Võ Hoàng Yên đã làm những động tác kéo chân, bấm vào những huyệt vùng đầu của cháu. Cháu ra hiệu cho mẹ là đau quá nên không hợp tác được, nên ông ngồi lặng đi, nhìn em đầy ái ngại. Ông bảo: "Thương lắm. Em này chỉ kém tôi có một tuổi mà trông nhỏ quá!. Nhưng loại bệnh bại não bẩm sinh như thế này là tôi bó tay. Trường hợp em này, tôi được nghe nhà báo Hồng Thái điện thoại nhiều lần, nói là chỉ bị liệt, nhờ giúp, nên tôi đã cất công đến đây. Xin nhà báo lần sau, nếu có ai bị bại não từ bé hoặc bị chất da cam thì đừng có gọi tôi. Loại bệnh này là tôi bó tay. Gặp mà không giúp được, người bệnh cũng buồn mà tôi buồn lắm, đêm nay về sẽ không ngủ được…". Có lẽ vì thế mà khi phu nhân Bộ trưởng nhờ bấm huyệt chữa căn bệnh gai đốt cột sống, lương y Võ Hoàng Yên đã rất nhiệt tình. Ông bảo chúng tôi lấy một cái ghế băng như ghế học sinh, bảo bà chủ nhà ngồi kẹp hai chân vào chiếc ghế để ông thao tác. Ông vừa bấm huyệt ở chân, vừa day gai đốt cột sống, vừa dùng lực rất mạnh kéo chân. Một lúc sau chủ nhà thấy khỏi hẳn, có thể cúi gập người về phía trước một cách nhẹ nhàng, điều mà bao nhiêu năm nay, bà tập mãi mà không làm được, phải sống chung với nỗi đau. Nhân thể, anh Bùi Sơn Long (con trai cả của nhà văn Sơn Tùng) cũng xin được trình bày với ông căn bệnh nan y. "Thưa thầy, đã 4 năm nay chân trái của tôi tê dại, nhiều lúc cảm giác bị rát như người bỏng da, đi xe máy có lúc phải dừng lại xoa chân mới đi được. Tôi từng đi chữa chạy nhiều, có lúc được bác sỹ “cấy chỉ”, nhưng vẫn không khỏi dứt điểm. Thứ hai là ở cổ có u to như quả ổi, chỉ cần sờ tay đã thấy đau, khó quay bình thường… Tuy đã uống thuốc đông tây y kết hợp gần 4 năm nay, nhưng bệnh không thuyên giảm…". Nghe xong, lương y Võ Hoàng Yên bảo anh Long ngồi ở thế hai chân kẹp ghế, cúi đầu xuống, rồi ông dùng đuôi một lọ dầu loại nhỏ ấn, day vào vùng cổ nhiều lần, bôi dầu và tiếp tục ấn vào cột sống cổ khiến anh Long cảm giác như có đinh đóng vào, đau không thể chịu nổi. Ông tiếp tục vừa bấm vào tai, vừa kéo và vỗ nhẹ. Đợi cho bệnh nhân đang nói chuyện bình thường, ông bất ngờ dùng tay này giữ cằm, tay kia giữ đầu, rồi bẻ cổ bệnh nhân nhiều lần sang trái, sang phải, ra trước, ra sau… Di” gai đốt cột sống cho anh Bùi Sơn Long. Đợi anh Long "hoàn hồn" nén đau, ông bắt đầu điều trị bệnh tê chân bằng cách dùng tay day các đốt cột sống số 4, 5, 6. Có cảm giác như ông đang tách các đốt sống để chúng không dính vào nhau. Ông tiếp tục day bàn chân, bắp chân khiến bệnh nhân kêu đau. Võ Hoàng Yên mồ hôi nhễ nhại, biết ông đã dồn lực cho những động tác mạnh thế nào. Chỉ 20 phút chữa trị, anh Bùi Sơn Long đã thấy người nhẹ bỗng, dường như mọi triệu chứng của hai căn bệnh đã biến mất, cổ quay được bình thường, chân đã hết tê, hết rát bỏng. Lương y Võ Hoàng Yên chữa căn bệnh khó phát âm cho cháu Hà Việt. Lương y Võ Hoàng Yên nhìn chăm chắm vào cháu Việt, ngồi lặng đi đầy thương cảm. Rồi ông tiến tới ôm lấy đầu Việt ấn mạnh, day nhiều lần vào vùng tai. Đau quá, cháu Việt kêu rú lên, sợ sệt lùi lại bám vào bố. Ông Yên đeo găng tay bằng nilon, bảo cháu thè lưỡi ra. Đến ba bốn lần, cháu thè ra một tý, thấy ông Yên đưa tay nắm thì Việt rụt lưỡi vào, không tài nào mà nắm được. Có lẽ cháu thấy ấn tai đau quá nên sợ! Ông Yên trầm ngâm nói với người bố: "Cháu không hợp tác thì chịu thôi anh ạ…". Vậy là ngồi được một lúc, cháu Việt nói thầm vào tai bố: "Bố ơi! Về nhà thôi!", anh bạn nhà thơ của tôi cười lên sung sướng. Con anh đã nói được vài câu rõ ràng. Mấy ngày sau, bố cháu liên tục thông báo cho tôi niềm vui "Cháu Việt đã biết nghe lệnh bố đi quét nhà; chứng tật ôm tai bây giờ không còn nữa… Vui quá ông ơi!". Tôi điện thoại cho "thầy Yên" thông báo tin này, ông Yên nói lại: "Chưa khỏi hẳn đâu, phải chữa dăm ba lần nữa mới tốt, nhà báo ạ…". Đó là những gì tôi được chứng kiến và xin thông tin tới bạn đọc. Ngẫm cho cùng, không biết ông Yên học ở nhà chùa như thế nào, cũng không biết ông có phải là "thần y" như người ta đồn thổi không, nhưng cứu chữa cho ai thuyên giảm tật bệnh, chữa chạy cho hàng ngàn con bệnh mà khỏi được dăm ba trăm người, thế là đã quý lắm! Lương y Võ Hoàng Yên: "Chứng kiến quá trình trị bệnh của tôi, mọi người cứ nghĩ tôi có phép mầu nhưng thực sự chẳng có gì huyền bí cả. Phương pháp chữa bệnh của tôi là cả một quá trình khổ luyện, tích lũy kiến thức qua bí quyết gia truyền. Tôi muốn bổ sung, dạy và phổ biến cho nhiều người cùng làm theo. Bởi đây là huyệt đạo thật chứ có gì mà giấu giếm. Những năm qua tôi đã tận tình chia sẻ kinh nghiệm với nhiều người để họ cùng nắm bắt, vận dụng cứu người. Với sự hướng dẫn của tôi, nhiều người cũng đã vận dụng thành công". congannhandan.com.vn -
Thực hư hòn đá chém đầu 200 năm vẫn "than khóc" Cứ đêm đêm hòn đá lại lăn lông lốc từ cửa kinh thành đến đập vào cửa nhà từngviên quan có chức sắc, từ hòn đá phát ra lời đòi mạng thống thiết. Để trở thành một địa điểm được nhiều người dân coi là linh thiêng, “hòn đá oán hờn” trong ngôi chùa Thập Tháp Di Đà (Thường gọi là chùa Thập Tháp) ở Bình Định có lẽ đã “góp công lớn” vì những truyền thuyết nửa thực nửa hư về nó được người trong vùng truyền tụng đời này qua đời khác. 200 năm đã trôi qua, hòn đá trắng lạkỳ vẫn trơ trơ giữa sân chùa, vừa như một điểm nhấn cho cảnh quan, vừa như một chứng tích lịch sử. Chứng tích lịch sử Ngôi chùa nằm ở phía Bắc thành Đồ Bàn, nay thuộc địa phận thôn Vạn Thuận (xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, cách TP.Quy Nhơn gần 30km và cách quốc lộ 1A khoảng100m). Du khách đến vãn cảnh chùa nếu hỏi chuyện sẽ được các nhà sư ở chùa Thập Tháp kể cho nghe những câu chuyện ly kỳ, huyền bí liên quan đến những dấu tích lịch sửcòn sót lại trong ngôi chùa cổ tự này. Chuyện kể rằng, hơn 200 năm trước đây, khi chúa Nguyễn Ánh chiếm được thành Hoàng Đế, liền sau đó ông ta đã mở cuộc trả thù tàn khốc, nơi đổ máu đầu rơi nhiều nhất chính là chốn kinh đô xưa. Lúc ấy, Nguyễn Ánh chiêu dụ những người trong hoàng tộc nhà Tây Sơn ra đầu thú với lời hứa hẹn sẽ không trả thù; ai bị trọng tội thì hình phạt cao nhất là đày vào miền Nam khai khẩn đất mới; ai có tài sẽ được trọng dụng. Để tránh phải sống chui lủi “ngoài vòng pháp luật”, rất đông người có quan hệ dòng tộc với nhà Tây Sơn ra trình diện. Nhưng ngay sau đó, Nguyễn Ánh trở mặt nuốt lời, mang ra chém đầu bất kể già trẻ lớn bé “những kẻ thù xưa” rồi chôn tập thể. Hòn đá kỳ lạ chất chứa căm hờn của hàng trăm người đối với bạo chúa Nguyễn Ánh Đao phủ của Nguyễn Ánh kỳ công đi khắp các vùng, rồi tìm được một hòn đá lớn màu trắng tinh khôi mang về dùng để kê đầu các nạn nhân. Tảng đá ấy được đặt ngay cổng thành Hoàng Đế, quân lính và đao phủ đưa nạn nhân lên đó mà chém. Hàng trăm kiếp người đã từ giã cõi đời trên hòn đá này, nỗi oán hờn của người dân với bạo chúa chất cao như núi. Nỗi oan khất, đau đớn của hàng trăm người như lặn vào tảng đá kia khiến sau đó, khi đã xong nhiệm vụ hành hình, dù bao nhiêu quân lính cũng không thể nhích hòn đá ấy rời khỏi chỗ đã giết những người vô tội. Truyền thuyết kể lại rằng,hàng đêm người ta nghe trong tảng đá vẳng ra tiếng than khóc ai oán, người dân và cả quan quân nhà Nguyễn Ánh không ai dám đi ngang nơi cổng thành. Dân gian thêu dệt nên câu chuyện, cứ đêm đêm hòn đá lại lăn lông lốc từ cửa kinh thành đến đập vào cửa nhà từng viên quan có chức sắc, từ hòn đá phát ra lời đòi mạng thống thiết. Cả vùng bất ổn, không chỉ những quan lại trong triều mà người dân sống quanh thành (nay thuộc xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn) cũng sống không yên. Quan lại sợ hãi, lập đàn cầu siêu giải oan nhưng đâu lại vào đấy. Một ngày nọ, vị cao tăng trụ trì chùa Thập Tháp đến thành xin được lập đàn cầu siêu để giải nỗi oan khuất tày trời, lấy lại sự yên bình cho người dân trong vùng. Mừng như bắt được vàng, quan quân trong triều đón tiếp vị sư rất long trọng. Sau 3 ngày đêm kinh kệ, vị sư xin được mang hòn đá kia về chùa Thập Tháp.Kỳ lạ thay, lúc này chỉ cần 4 người khiêng nhưng hòn đá được chuyển đi nhẹ tênh, khác với việc trước đó cả trăm quân lính hè nhau di chuyển đi mà đá không nhúc nhích. Hòn đá oán hờn Các vị sư trong chùa kể lại, hòn đá được mang về đặt cạnh cây thị cổ thụ 300năm tuổi nằm phía Nam tường thành của nhà chùa và được đặt tên là Hòn Đá Chém.Thế nhưng đã về đến cửa Phật mà nỗi oan khiên trong Hòn Đá Chém vẫn còn vất vưởng. Nhà sư Mật Hạnh, người đã nhiều thập kỷ gắn bó với ngôi chùa kể lại, ngày xưa khi ông mới đôi mươi, vào những đêm mùa đông, trong thời tiết âm u, có lúc ông loáng thoáng nhìn thấy một phụ nữ mặc áo cụt trắng, quần đen bước ra từ hòn đá kia rồi đi đến chỗ đặt tấm bia di tích của nhà chùa. Khi chó trong chùa sủa ran là bóng người phụ nữ kia biến mất. Nhà sư Mật Hạnh cười: “Thực sự thì cũng không dám khẳng định đó là ma hay chỉ là ảo ảnh. Cũng có khi do nghe nhiều truyền thuyết về hòn đá quá nên tưởng tượng ra ma quái mà thôi”. Thời gian sau, vị cao tăng trong chùa có tên Phước Huệ một lần nữa chuyển Hòn Đá Chém vào để ngay bậc tam cấp bước vào khu Phương Trượng của chùa. Đêm đầu tiên chuyển hòn đá vào chùa, nhà sư Phước Huệ đang ngon giấc thì thấy có một vị mặc trang phục võ tướng hiện hình nói rằng: “Ông ỷ là đệ tử nhà Phật nên phá nhà tôi hả?”. Nhà sư Phước Huệ hét to một tiếng khiến tất cả sư đệ trong chùa đều nghe thấy lao đến, mới biết sư phụ mình nằm mơ. Cũng có thể đó chỉ là nội dung những truyền thuyết được nghe trong ngày, đêm đến ám ảnh cả vào trong giấc mơ. Người trong chùa còn lưu truyền lại những câu chuyện ngày xưa, những đêm nhà chùa tổ chức cúng hành binh, hành khiến hàng năm vào lúc nửa đêm 30 tháng Chạp,rạng sáng ngày mùng 1 Tết Nguyên Đán. Bàn thờ cúng được đặt ngay chánh điện, nơi đặt Hòn Đá Chém bên dưới. Trong mỗi lần cúng, đến khi đổ 3 hồi trống chiến là tự nhiên có một dải lụa trắng, tỏa ra ánh hào quang sáng rực xuất hiện bay lượn ngang chánh điện một lần rồi biến mất. 200 năm đã trôi qua, Hòn Đá Chém vẫn còn yên vị ngay cửa khu Phương Trượng của chùa Thập Tháp, cao khoảng 40cm, dài 1,5m, rộng 1,3m, 4 góc được đẽo 4 nét hoa văn đơn giản nhưng trải qua bao nhiêu vết bụi của thời gian, nhưng hòn đá vẫn giữ được màu trắng sáng tuyệt đẹp của loại đá trắng không tì vết. Nếu không được kể chuyện về nó, thoạt trông không ai có thể ngờ trong hòn đá hiền hậu kia đã chứa biết bao nỗi oan khuất của hàng trăm mạng người là nạn nhân của bạo chúa Nguyễn Ánh ngày xưa. Hòn đá chứng nhân lịch sử, lại gắn liền với nhiều truyền thuyết như thế nhưng không được thờ cúng, nay giản dị làm một bậc tam cấp cho người ta bước chân qua.Những nhà sư trong triều cho biết, oan khuất rồi cũng đã đi qua. Ngày xưa khi dời hòn đá từ cổng kinh thành về chùa, người ta cũng chỉ có mục đích mong mỏi lớn nhất là làm dịu đi những oán hờn của người oan trái chứ không có mục đích dời hòn đá về đây làm vật thờ cúng. Đá lại trở về với công dụng của đá, ngày ngày du khách bước chân qua để nhớ lại bài học ngày xưa bạo chúa NguyễnÁnh vì nuốt lời tàn độc nên cuối cùng đã phải trả giá đắt khi vương triều lụn bại, phải nhận một cái chết tức tưởi và bị lịch sử muôn đời coi như đối tượng “rước voi về giày mả tổ”. Hòn đá oán hờn ngày xưa nay thành hòn đá hiền hòa, thành hòn đá xinh đẹp,thành hòn đá nâng niu bước chân du khách. Trong tất cả những ngôi chùa ở miền Trung được xây cất từ thời các chúa Nguyễn, thì chùa Thập Tháp là chùa cổ nhất thuộc phái Lâm Tế. Chùa Thập Tháp là một trong 5 ngôi chùa của tỉnh Bình Định được chép vào sách Đại Nam Nhất ThốngChí với lời đánh giá: “Chùa này cùng chùa Linh Phong đều nổi tiếng là danh thắng”. Chùa được xây dựng trên một gò tương đối rộng hình mai rùa có chu vi gần 1km gọi là Gò Thập Tháp. Tên gọi này bắt nguồn từ chỗ nơi đây xưa kia có 10 ngọn tháp do người Chàm xây để “yểm hậu” cho thành Vijaya. Vào năm Quý Hợi niên hiệu Chính Hòa thứ 4 nhà Lê (1683), một ngôi chùa khang trang được hưng công xây dựngmà vật liệu chính là gạch đá lấy từ mười ngôi tháp Chàm đã bị đổ. Cho đến ngày nay, trải qua nhiều lần trùng tu, tái tạo, cái cũ và cái mới đanxen nhưng chùa vẫn giữ được tổng thể hài hòa, tôn nghiêm cổ kính. Năm 1990, Chùa Thập Tháp được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch) công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia. Theo Pháp luật và Thời đại
-
Có lẽ bạn căng thẳng hoặc nghe trong trạng thái bất ổn, hãy bắt đầu nghe từ giai điệu ở đây: bạn sẽ tiếp nhận từ từ để nghe chất liệu của Thần chú cao cấp này. Tôi chưa bao giờ hoặc sẽ không bao giờ tin Thần chú OM Ma Ni đem lại cơn đau đầu cho bất cứ ai ngoại trừ bị tà kiến nhập thân.
-
Nếu nhớ không nhầm thì Chú Đại Bi đã có trên Diễn đàn này,và tìm hộ bạn đây: http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/18439-chu-dai-bi-in-thieu-trong-cac-kinh-tung/
-
NHỮNG LỢI ÍCH CỦA VIỆC TRÌ TỤNG THẦN CHÚ OM MANI PADME HUM Những lợi ích của việc trì tụng thần chú của Đức Phật Bi Mẫn thì thật vô biên, giống như bầu trời bao la vô hạn.Cho dù bạn không hiểu biết nhiều về Pháp, cho dù điều duy nhất bạn biết là Om Mani Padme Hum thì cuộc đời hạnh phúc nhất vẫn là cuộc đời được sống với một thái độ giải thoát khỏi tám mối bận tâm thế tục. Nếu bạn sống cuộc đời mình với thái độ trong sạch thoát khỏi sự tham luyến với cuộc đời này và chỉ đơn thuần trải đời mình trong việc trì tụng Om Mani Padme Hum – thần chú sáu-âm này là tinh tuý của toàn bộ Giáo Pháp – thì đó là Pháp thanh tịnh nhất. Việc trì tụng có vẻ rất đơn giản, rất dễ dàng. Nhưng nếu bạn nghĩ tưởng về những lợi lạc của nó, thì điều đó không hoàn toàn đơn giản. Ở đây tôi sẽ chỉ đề cập tới cốt lõi của những lợi lạc vô biên của nó. Trì tụng thần chú của Đức Phật Bi Mẫn chỉ một lần sẽ hoàn toàn tịnh hoá sự gãy bể bốn giới nguyện gốc của Biệt Giải thoát và năm nghiệp tiêu cực không bị đứt đoạn. Trong các tantra cũng đề cập rằng nhờ trì tụng thần chú này bạn sẽ thành tựu bốn phẩm tính để được sinh vào cõi Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà và những cõi Tịnh độ khác; vào lúc chết được thấy Đức Phật và ánh sáng xuất hiện trên bầu trời; chư thiên cúng dường bạn; và không bao giờ bị tái sinh trong các cõi địa ngục, ngạ quỷ hay súc sinh. Bạn sẽ được tái sinh trong cõi Tịnh độ của Đức Phật hay như một hiện thể tái sanh tốt lành. Khi một người trì tụng mười chuỗi thần chú một ngày bơi lội, dù trong sông, biển hay một vài sinh loài sống trong nước nào khác, nước chạm vào thân người đó cũng sẽ được ban phước. Ta cũng được biết rằng bảy đời tổ tiên (cửu huyền thất tổ) của người đó cũng không bị tái sinh trong các cõi thấp. Đó là nhờ năng lực của thần chú, thân được ban phước bởi những người trì tụng thần chú và quán tưởng thân họ trong sắc tướng của thân linh thánh như Đức Chenrezig (Quán Thế Âm). Vì thế, thân thể trở nên rất mạnh mẽ, tràn đầy ân phước đến nỗi nó tác động tới tâm thức cho tới bảy đời và kết quả là nếu người ấy chết với một niệm tưởng bất thiện, người ấy sẽ không bị tái sinh trong một cõi thấp.Vì thế, khi một người mà mỗi ngày từng trì tụng mười chuỗi Om Mani Padme Hum đi xuống sông hay biển, nước chạm vào thân người ấy được ban phước, và sau đó chất nước được ban phước đó sẽ tịnh hoá hàng tỉ tỉ chúng sinh trong nước. Người này cứu giúp những sinh vật trong nước đó thoát khỏi nỗi khổ không thể tưởng tượng nổi nơi các cõi thấp. Việc ấy thật lợi lạc đến mức khó tin. Khi một người như thế đi xuống một con đường, gió chạm vào thân người ấy và sau đó tiếp tục chạm vào những côn trùng, nghiệp tiêu cực của chúng được tịnh hoá và nhờ đó chúng có một tái sinh tốt đẹp. Tương tự như vậy, khi một người như thế xúc chạm vào thân người khác, nghiệp tiêu cực của những người đó cũng được tịnh hoá. Việc một người như thế nhìn ngắm thì thật đầy ý nghĩa; việc được nhìn và xúc chạm trở thành một phương tiện để giải thoát chúng sinh. Điều này có nghĩa là thậm chí hơi thở của người đó chạm vào thân của chúng sinh khác cũng tịnh hoá nghiệp tiêu cực của họ. Bất kỳ sinh loài nào uống nước trong đó một người như thế từng bơi lội cũng được tịnh hoá. Chúng ta có may mắn lạ lùng là đã gặp được Pháp và có cơ hội để trì tụng và thiền định về Đức Phật Bi Mẫn. Đó là một phương pháp dễ dàng để tịnh hoá bất kỳ nghiệp tiêu cực nào mà ta từng tích tập, không chỉ trong đời này mà còn trong nhiều đời trước nữa. Bởi chúng ta từng gặp được Phật Pháp và đặc biệt là phương pháp này – sự thực hành Đức Phật Bi Mẫn và trì tụng thần chú của Ngài – nó thật dễ dàng để tịnh hoá nghiệp tiêu cực và tích tập công đức rộng lớn và do đó thành tựu sự Giác ngộ. Chúng ta thật may mắn không ngờ. Như thế, chẳng còn gì ngu dại hơn việc không chịu sử dụng sự thuận lợi của cơ hội vĩ đại này. Nói chung, chúng ta liên tục xao lãng và phí phạm cuộc đời mình. Không chỉ có thế, mọi hành vi được làm với bản ngã và tâm thức nhiễm ô ba độc tham, sân và si tạo nên nghiệp tiêu cực, là nguyên nhân của đau khổ. Trong cả cuộc đời, không còn gì ngu xuẩn hơn việc sử dụng thân người toàn hảo này chỉ để tạo nên đau khổ. Ở những nơi như Tây Tạng, Nepal, Ấn Độ, và Ladakh đã có một truyền thống tốt đẹp lâu đời là thực hiện khoá nhập thất Đức Phật Bi Mẫn và trì tụng 100 triệu thần chú Om Mani Padme Hum. Khoá nhập thất được tổ chức ở Viện Chenrezig là kỳ nhập thất như thế lần đầu tiên được tiến hành ở Tây phương và khoá nhập thất đầu tiên trong tổ chức FPMT (Hội Bảo vệ Truyền thống Đại thừa). Việc này xảy ra ở đó mỗi năm một lần – mỗi năm chỉ một lần! Nếu bạn bị dày vò bởi tội lỗi trong đời mình, bạn có thể khắc phục cảm xúc đó bằng sự tịnh hoá khi tham dự khoá nhập thất này. Khoá nhập thất không chỉ trì tụng các thần chú với các sadhana, mà cũng bao gồm cả việc trì giữ Tám Giới luật Đại Thừa, nếu không mỗi ngày thì ít nhất cũng thường xuyên. Bất kỳ công đức nào mà bạn tích tập trong ngày đó sẽ tăng trưởng gấp 100.000 lần. Việc này trở nên một phương pháp dễ dàng và nhanh chóng để tịnh hoá, tích tập công đức bao la, thành tựu sự Giác ngộ và giải thoát chúng sinh khỏi nỗi khổ không thể tưởng tượng nổi và mau chóng đưa họ tới sự Giác ngộ. Được tham dự một kỳ nhập thất mani (Thần chú Sáu-Âm) là một điều may mắn khó tin. Cho dù bạn không thể hiện diện trong toàn bộ khoá nhập thất, bạn cũng có thể tham dự hai tháng, một tháng hay ít nhất một vài tuần. Thậm chí bạn có thể chỉ nhập thất một tuần. Tôi đặc biệt hy vọng rằng khoá nhập thất này sẽ được tổ chức tại Mông Cổ, bởi thực phẩm chính của họ là thịt và quá nhiều thú vật bị giết mỗi ngày ở đó. Thực hành này trợ giúp để tịnh hoá điều đó. Sau khi các ngôi chùa của chúng tôi ở Mông Cổ được xây dựng xong, tôi hy vọng rằng hàng ngàn người sẽ tham dự các kỳ nhập thất mani tại đó. Dần dần, tôi mong muốn khoá nhập thất này cũng được tổ chức ở nhiều nơi khác tại phương Tây. Khoá nhập thất này cũng ban phước cho quốc gia ở đó nó được tổ chức và đem lại rất nhiều sự an lạc, hạnh phúc và thịnh vượng. Cho dù bạn hiểu biết giáo lý về cách thiền định về Bồ Đề Tâm, bạn vẫn cần thọ nhận những ân phước đặc biệt của vị Bổn Tôn, Đức Phật Bi mẫn. Bạn nhận những ban phước này bằng cách thực hiện việc thiền định và trì tụng mà chúng tôi thực hành trong khoá nhập thất mani. Như thế, việc trì tụng Om Mani Padme Hum là một phương pháp thể nhập Bồ Đề Tâm – để chuyển hoá tâm bạn thành Bồ Đề Tâm và làm cho việc bạn thiền định về Bồ Đề Tâm được hiệu quả. Nói chung, theo kinh nghiệm của tôi, ở trụ xứ của tôi tại Solu Khumbu trong rặng Hymalayas tại Nepal, có những người sống cuộc đời họ trong việc trì tụng Om Mani Padme Hum nhưng không có chút ý niệm nào về tánh Không – ngay cả trên chữ nghĩa. Mặc dù họ không thể đọc và thậm chí không biết vần abc, họ có một lòng sùng mộ vĩ đại đối với lòng bi mẫn và Bồ Đề Tâm và sống cuộc đời họ trong việc trì tụng Om Mani Padme Hum. Những người như thế có một trái tim nồng nhiệt, hết sức thiện tâm, vô cùng bi mẫn. Đây là một bằng chúng từ kinh nghiệm của tôi rằng nó hữu hiệu trong việc chuyển hoá tâm thức thành một trái tim tốt lành và bi mẫn. Không có Bồ Đề Tâm, bạn không thể đem lại hạnh phúc cho tất cả chúng sinh. Bạn không thể thực hiện những công việc toàn hảo cho tất cả chúng sinh; và bạn không thể thành tựu những phẩm tính toàn thiện về những sự chứng ngộ và ngừng dứt, thậm chí cho chính bạn. Như thế, mọi người sẽ rất được hoan nghênh khi tham dự khoá nhập thất 100 triệu thần chú Om Mani Padme Hum(*) Đây là những nghiệp nặng tới nỗi chúng lập tức chín mùi thành một tái sinh trong cõi địa ngục khi nghiệp đời này cạn kiệt. Năm nghiệp là: giết mẹ, giết cha, làm thân Phật chảy máu, giết A La Hán và gây chia rẽ trong Tăng Đoàn. Lạt ma Zopa Rinpoche Người dịch: Liên Hoa Nguyên tác: The Benefits of Chanting Om Mani Padme Hum http://www.lamayeshe...ipadmehum.shtml
-
Hoa qua tranh vẽ.
-
Ấp nở được rắn sữa 2 đầu bị bạch tạng cực hiếm Một con rắn sữa Honduras có 2 cái đầu đều bị bạch tạng vừa được sinh ra trong điều kiện nuôi nhốt ở Florida, Mỹ.Trong tự nhiên, tỉ lệ các con rắn đột biến có hai đầu chỉ chiếm khoảng 1/10.000, nhưng rắn sữa hai đầu đều bạch tạng thì đây là lần đầu tiên được phát hiện trên thế giới. Con rắn hai đầu này có khả năng sống đến 20 năm Theo Daily Mail, các nhân viên tại trung tâm bảo tồn rắn Sunshine Serpents ở Florida ban đầu cho ấp 7 quả trứng rắn sữa. Tới ngày trứng nở họ hoảng hồn khi thấy có tới 9 cái đầu rắn nhô lên. Thì ra, trong số đó có một quả trứng sinh đôi và một quả nở ra con rắn có 2 cái đầu. “Tôi không tin nổi vào những gì mắt mình nhìn thấy”- nhà sinh vật học Daniel Parker, người đứng đầu Trung tâm Sunshine Serpents nói. Con rắn sữa có 2 bộ não cùng ra lệnh cho một cơ thể, nọc nó không độc và sẽ gặp khó khăn nếu sống trong tự nhiên. Rắn sữa thường ăn côn trùng, thằn lằn, chim và động vất có vú nhỏ chứ không phải trực tiếp đi hút sữa bò như đồn đại, ông Daniel Parker giải thích. Ngoài ra, nhà sinh vật học Parker còn cho biết con rắn 2 đầu có khả năng sống đến 20 năm trong điều kiện nuôi nhốt. Con rùa 2đầu, 5 chân được sinh ra tại Slovakia Trong năm 2011 thế giới còn chứng kiến một con rùa châu Phi được sinh ra tại Slovakia cũng có 2 cái đầu, 5 bàn chân. Đăng Minh (Theo Daily Mail)
-
Có nhận của Yeuphunu 200,000 đ (hai trăm ngàn đồng) ủng hộ Quỹ Từ Thiện. Quỹ hiện có: 6,450,000 đ + 200,000 đ = 6,650,000 đ (sáu triệu sáu trăm năm mươi ngàn đồng)
-
8 loại vỏ tốt hơn thần dược -Khi ăn một số loại hoa quả, bạn thường do dự có nên gọt vỏ không? Thực tế có một số vỏ quả nếu bỏ đi sẽ rất lãng phí.Vỏ táo chống oxy hóa Vỏ táo có hàm lượng chất xơ phong phú, hỗ trợ tiêu hóa. Gần một nửa Vitamin C trong quả táo là nằm ở vỏ táo. Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy, chất chống oxy hóa trong vỏ táo nhiều hơn thịt táo, thậm chí còn nhiều hơn so với một số loại trái cây khác. Đã có nhiều nhà sản xuất lấy vỏ táo để làm nguyên liệu sản xuất thực phẩm chức năng. Vỏ lê giúp sạch tim và phổi Vỏ lê là một trong những loại thuốc giúp sạch tim, phổi, giảm nóng được dùng trong Đông y. Vỏ lê rửa sạch thái nhỏ, cho thêm chút đường tinh có thể trị được viêm họng. Khi làm món sa-lát dưa chuột, cho thêm ít vỏ lê sẽ khiến món dưa giòn hơn và thơm ngon hơn. Vỏ nho giảm mỡ trong máu Vỏ nho có chứa nhiều chất resveratrol hơn thịt và hạt nho, có thể giảm mỡ trong máu, chống huyết khối, chống bệnh về động mạch, tăng cường hệ miễn dịch. Đặc biệt là chất flavonoids trong vỏ nho tím, có công hiệu giảm huyết áp. Vỏ nho còn chứa nhiều vitamin, sắt… Hiện đã có những nghiên cứu ứng dụng vỏ nho trong chế biến thực phẩm, dùng để điều trị lượng cholesterol quá cao, tiểu đường… Vỏ quýt trị đầy bụng, ho đờm Vỏ quýt chứa nhiều chất dinh dưỡng như vitamin C, carotene, protein…, có thể tạo ra nhiều hương vị thơm ngon. Vỏ quýt có vị thơm, còn có thể điều trị chứng đầy bụng, ho, đờm. Khi nấu nước dùng có thể cho vài lát vỏ quýt để tăng thêm mùi vị và bớt béo. Vỏ dưa hấu xanh giảm nhiệt cơ thể Vỏ dưa hấu có chứa lượng đường, chất khoáng, vitamin phong phú, có tác dụng giải nhiệt, hạ nóng bài trừ mệt mỏi, giảm huyết áp rất tốt. Có thể làm món nộm, nấu canh. Vỏ dưa gang lợi tiểu giảm sưng phù Vỏ dưa gang rất giàu vitamin và khoáng chất. Nó có tác dụng lợi tiểu, giảm sưng phù, tốt cho cả người bị tiểu đường. Vì vậy khi làm món dưa gang nên để cả vỏ. Dưa vàng bài độc Vỏ dưa vàng khá đắng nhưng chính chất đắng này giúp hấp thụ vitamin C dễ dàng hơn và giúp bài độc cơ thể. Ngoài ra, vỏ dưa vàng còn có tác dụng kháng khuẩn tiêu viêm. Vỏ dưa hấu, vỏ dưa vàng, vỏ dưa gang sau khi luộc lên làm món nộm dưa kết hợp 3 trong 1 có tác dụng giảm béo rất tốt. Vỏ cà chua chống ung thư Chất lycopene trong vỏ cà chua có tác dụng chống oxy hóa mạnh, có thể phòng ngăn ngừa bệnh tim mạch, nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể, phòng chống ung thư. Ngoài ra, vỏ cà chua còn trợ giúp bảo vệ sức khỏe rất tốt. Do vậy, nên ăn nhiều vỏ cà chua hơn bạn nhé!
-
- 1
-
-
MỘT CHÚ TRÂU ĐÃ THAY ĐỔI CUỘC SỐNG CỦA NHỮNG NGƯỜI XẺ THỊT Theo tin được phổ biến bởi “Tin Tức Nhân Dân” (People’s News) của Trung Quốc thời có một chuyện bất ngờ xảy ra ở Hong Kong, nghe có vẻ khó tin nhưng lại có thật. Tờ “Tin Tức Thế Giới Hàng Tuần” (Weekly World News) tường thuật rằng có một nhóm nhân công dắt một con trâu vào trong một lò sát sinh để sửa soạn giết thịt làm bíp-tết và hầm ra-gu. Khi họ đi tới trước cửa lò thời con vật thình lình đứng khựng lại, không chịu tiến bước thêm nữa. Chú trâu qùy xuống bằng hai chân trước và tuôn rơi nước mắt. Tại sao trước khi vào lò sát sinh mà một con trâu lại có thể hay biết rằng nó sắp bị xẻ thịt. Điều này tỏ ra nó có vẻ nhậy cảm hơn nhiều con người. Tay đồ tể SHIU TAT-NIN kể lại chuyện đó một cách hoàn toàn súc động: “Khi tôi trông thấy một con vật dường như ngu đần mà lại biết khóc, cặp mắt của nó còn lộ vẻ đầy hãi sợ và buồn khổ, tôi bỗng rùng mình!” Anh chàng kể tiếp: “Tôi vội vàng gọi mọi người tới coi và tất cả đều ngạc nhiên như tôi. Chúng tôi cùng xúm vào để người thì đẩy và người thì lôi kéo chú trâu đi nhưng nó không chịu nhúc nhích, nó chỉ ngồi đó và tiếp tục khóc!” Chủ lò sát sinh BILLY FONG nói: “Con người luôn nghĩ rằng những con vật này không giống người, đâu biết khóc, nhưng chú trâu này quả thật đã khóc như một đứa trẻ nít!” Vào lúc đó có ít nhất là cả chục con người khoẻ khoắn và vạm vỡ hiện diện nhưng tất cả đều mủi lòng khi thấy chú trâu khóc. Riêng những đồ tể thường có nhiệm vụ hàng ngày phải giết trâu bò trong lò sát sinh thời súc cảm hơn nữa, họ cũng nhỏ lệ. Buffalo weeping nonstop. Khi các tay đồ tể từ các lò sát sinh khác nghe thấy tin này họ cũng kéo nhau chạy tới xem. Tất cả đám đông đều rất ngạc nhiên vì những chuyện xảy ra trước mắt họ. Ba người đồ tể trong nhóm đó quá súc động đến nỗi họ tuyên bố rằng kể từ lúc này mỗi khi họ phải làm thịt các sinh vật khác họ cũng sẽ không thể quên hình ảnh nước mắt của chú trâu này. Kết thúc sẽ giải quyết như thế nào? Thấy cả trâu lẫn người đều nhỏ lệ chúng ta biết rằng chú trâu sẽ không bị xẻ thịt nữa. Quả thật vậy, một số người bỏ tiền mặt ra mua chú trâu đó rồi gửi chú vào trong một ngôi chùa Phật giáo để nơi đó quý Tăng sẽ chăm sóc nó chu đáo hơn và chú trâu có thể an lành sống đến tận cuối đời! . THIS BUFFALO HAS CHANGED THE LIFE OF THESE BUTCHERS According to the news release from China’s People’s News, whether people believe it or not, this incident actually happened in Hong Kong. The Weekly World News reported that a group of workers were bringing a water buffalo into a packaging factory, ready to slaughter it to make steak and beef stew. When they approached the front door of the slaughterhouse, the sorrowful buffalo suddenly stood still, refusing to move forward, kneeling on its two front knees, and with tears streaming from its eyes. How could the buffalo have already been aware that it was going to be slaughtered, before entering the slaughterhouse? This shows that it was even more alert than many a person. "When I saw what is believed to be a stupid animal actually crying, and when I noticed that its eyes were full of fear and sadness, I could not help but shiver." Extremely shocked by this, butcher Shiu Tat-Nin recalled:"I quickly called other people to come see, and they were as surprised as I was! We pushed and pulled the water buffalo, but it would not move; it just sat there crying constantly." Billy Fong, the boss of the Hong Kong packaging plant said, "Mankind has always thought that animals are not like people who can cry, but this buffalo is really sobbing like a baby!" At that time there were at least a dozen strong, burly men present, but their hearts were softened by the buffalo's crying, and those who were responsible for killing water buffaloes were even more touched by this, tears welling out of their eyes. Buffalo weeping nonstop When workers from other slaughterhouses heard the news, they also ran to the crying and kneeling buffalo, and the site was soon crowded with people who were astonished at what they saw. Three of them were so shocked that they said that from now on, even when they slaughter other kinds of animals, they will never forget that buffalo’s tears.At the point when a buffalo is crying and people are crying as well, we can all be sure that none of them will kill the buffalo now. Then the question was how to take care of this matter. Finally, they decided to buy the water buffalo with cash, and then they sent it to a Buddhist temple, for the monastic to take good care of it, so that it could be assured of living out its life peacefully. When this decision was made, an amazing thing happened again: "When there was an assurance that the buffalo would not be killed, it finally agreed to move, got up, and it’s here with us." How could a water buffalo understand human words? Shiu said: "Whether you believe it or not, this is really true, although it sounds really incredible." Undoubtedly, this buffalo has changed the lives of these butchers. Một chuyện kỳ lạ khác lại xảy ra. Sau khi có quyết định trên chú trâu linh cảm rằng sinh mạng chú được bảo đảm, chú tự đứng dậy và đi theo họ. SHIU TATNIN ngạc nhiên nói: “Tại sao một con trâu lại hiểu được những lời nói của con người? Dù bạn có tin hay không nhưng chuyện lạ lùng này quả có thật.” Hiển nhiên chú trâu này đã làm lay chuyển cuộc sống của những nhân công làm việc trong lò sát sinh! Tâm Minh lược dịch
-
- 3
-
-
Người đàn ông này đã đi bằng đôi chân gập lại chỉ thấp bằng đứa trẻ (có lẽ là con ông ta) Họ mãi miết hát mà chẳng biết có vọng đến người nghe không trong ngày Tết của đất nước họ. Sự sống hay tồn tại thế nào vẫn tùy thuộc vào nghiệp báo của họ. Dục tri tiền thế nhân Kim sanh thọ giả thiệt yếu tri lai thế quả kim sanh tác giả thị Lời Đức Phật quả là lời răn cho hiện thân của kiếp người!
-
Và dưới đây là những hình ảnh Wild ghi nhận được vào ngày 26/10/2011 tại Boudha (1 trong những Thánh Địa) của kathmandu. Từng nhóm nhỏ toàn những người khiếm thị họ cùng cất lên bài hát " Om Ma Ni Pad Me Hum" trong nền nhạc và sương sớm. Và đây đứa trẻ đơn độc hành nghề chờ những đồng Rupee nepali lẽ của khách bộ hành. 1 nhóm khác với băng rôn giới thiệu về tổ chức của mình. Vương Quốc Nepal có thể là nơi chất chứa nhiều người ăn xin trong ngày lễ Tết bởi ở đây lòng từ tâm được phát huy tối đa do người hành hương đến thánh địa họ đều mang tâm trạng cần thể hiện lòng vị tha của mình với tất cả chúng sinh đến đồng tiền cuối cùng, trong đó có tôi.
-
Hey ! Happy Birthday Thiên Anh.Hạnh Phúc Thăng Hoa, Sự Nghiệp Thăng Tiến
-
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Tôi sẽ gởi đến bạn vào ngày mai theo đường chuyển Phát Nhanh mong bạn sớm nhận được sự chuyển biến nếu có lòng thành kính ! -
Vô gia cư GNO - Đó là tên của bức ảnh, do một nhiếp ảnh gia người Hong Kong - anh Chan Kwok Hung chụp cảnh hai đứa bé đang an ủi nhau trong bãi phế liệu ở Kathmandu,Nepal. Bức ảnh gây xúc động mạnh cho nhiều người và xuất sắc đoạt được giải nhất chung cuộc trong cuộc thi ảnh về môi trường năm 2011 do Viện Chartered, London tổchức dành cho dân chuyên nghiệp hoặc chưa chuyên nghiệp.Chính vì tính thời sự và nhân văn của bức ảnh nên nó đã đánh bại nhiều bức ảnh nặng ký khác và vượt qua trên 10.000 tác phẩm dự thi để dành ngôi “quán quân”. Bức ảnh "Vô gia cư" đoạt giải nhất chung cuộc trong cuộc thi ảnh môi trường năm 2011 Bỏ qua tính nghệ thuật của bức ảnh, chỉ nói về nội dung bức ảnh: hai em bé đầu tóc bù xù, áo quần dơ dấy ngồi bên đống rác, nước mắt lưng tròng, bạn suy nghĩ đếnđiều gì? Riêng tôi, nghĩ đến một nỗi sợ đang phủ trùm lên hai tâm hồn bé dại, giữa cái mênh mông của rác cũng là cái mênh mông của đời, của đói nghèo, bệnh tật, mù chữ. Và vòng lẩn quẩn ấy sẽ còn đè nặng không biết bao nhiêu kiếp người, thân phận nhỏbé nơi cõi đời này. Họ khổ, mà mình không thương sao được, lương tâm mách bảođiều đó và trái tim co thắt lại, nước mắt chực trào theo giọt nước mắt sắp rơi ra của hai em bé. Rồi tôi liên tưởng đến tuổi thơ của mình, đã từng chạy đi tìm mẹ và ngoại giữa mênh mông mưa gió trong một ngày mưa tháng 10, tầm tả, vì nỗi sợ giông gió, khi mẹvà ngoại để tôi ở nhà một mình và đi bắt công dặm lúa. Nỗi sợ của đứa trẻ giữa mênh mông gió bão, ký ức về sự cô đơn, thiếu thốn, về sự nghèo khó, đơn độc giữa cuộc đời là ký ức in hằn sâu sắc mà mỗi khi có dịp nó lại trỗi dậy và đồng cảm. Đôi khi mình khổ, mình trải nghiệm nỗi khổ đau nơi cuộc đời này cũng là điều tốt,điều đó dễ giúp mình bắt mạch cuộc sống, đồng điệu và sẻ chia trước những sốphận con người thăm thẳm, mù tăm như mình đã từng… Để mình không vô cảm! Nhưhai câu thi kệ mà tôi tâm đắc: “Không khổ đau lấy chi làm chất liệu/ Không buồn thương sao biết chuyện con người…”. Rồi tôi lại nhớ đến hình ảnh một vị sư trẻ đã từng kể tôi nghe về hành trình xuất gia ba chìm bảy nổi của mình. Rằng sư từng ở “lộn chỗ”, nơi một ngôi chùa mà thời đó người ta xây dựng là để quy tập những trẻ em nghèo, côi cút hầu biến thành “trung tâm từ thiện”. Sư bảo: “Nói ra thì thật đau lòng nhưng không phải không có điều đó”. Nhận ra nên sư đã rời chốn đó trong một đêm lạnh, cũng là nỗi cô đơn và vô định như ánh mắt hai đứa trẻ giữa bãi rác này. Tôi hình dung thế và thấy thương đến lạ lùng trước mơ ước của sư trong đêm đó, lúc mà sư còn là đứa trẻ, mới học lớp 7, rằng: “Mình đi ngoài đường, lội trong đêm tối mà ước ao ai đó hỏi mình một tiếng, chìa bàn tay ra giúp mình thì hạnh phúc biết nhường nào”. Vịsư trẻ ngày ấy không được sự giúp đỡ của người khác có lẽ vì đêm khuya, nhưng sư đã không thối thất tâm Bồ đề, không từ bỏ đường tu, cũng không mất niềm tin nơi đời nên đến bây giờ sư vẫn mang hình tướng tu sĩ, đầu tròn áo vuông, hành thiện và hiến tặng cho đạo, cho đời những ý tưởng đẹp, dấn thân, chia sẻ… Nhưng, không phải ai cũng làm được điều đó, nhất là với những đứa trẻ vô gia cư, lớn lên từ những bãi rác, tiếp xúc với rác thật và “rác đời” (với những cái nhìn rẻkhinh, những sự lạm dụng của những con người có tâm hồn bẩn…). Cuộc sống và sựkhắc nghiệt ấy sẽ đẩy những thân phận vô gia cư đi xa nẻo thiện và biết đâu trong muôn trùng sóng gió cuộc đời ấy các em sẽ bị đồng hóa thành những con người mang trái tim đớn hèn trước vật chất, trước những vết nhơ cuộc đời? Thế giới 7 tỉ người (vào hôm qua, 31-10), thế giới chật chội, đông đúc và lắm nỗi âu lo như là đói nghèo, bệnh tật, môi trường bị tàn phá, ô nhiễm… Tất cả những nỗi ưu tư ấy ta biết gửi về đâu cho tâm hồn bằng an? Câu hỏi sẽ được trả lời ngay, rằng hãy quay về tự thân, “nương tự tánh làm lành”, tự tánh - Phật tánhấy chính là chiếc phao cứu con người và chúng sanh vượt thoát sanh tử, trở vềngôi nhà tịnh độ, ngôi nhà vô sinh bất diệt… Và như vậy, sự vô gia cư hình tướng nơi cõi Ta bà này sẽ chỉ là biểu hiện tạm bợ bởi nó không phải thật tướng, bởi ai cũng có đường đi, có nẻo về, đường bát chánh, nẻo về của tâm giải thoát rồi! Lưu Đình Long ======================================================================= Kathmandu 1 thành phố của Nepal, nơi tôi vừa thở chung bầu không khí trong những ngày vừa qua, đúng là con người ta ở đây nghèo nàn và củ kỹ nhưng tính tôn kính lễ lạy ở đây lại thắm đẵm màu sắc Phật giáo vì thế trong tôi đọng lại nhiều cảm xúc với đất nước này.
-
'Vua sám hối'- bức dị tượng độc nhất thế giới Bức tượng được sơn son thiếp vàng, tạc hình ảnh một nhà vua mặc triều phục đang quỳ gập người, hai bàn tay cung kính mở rộng để trên mặt đất, còn bên trên lưng là một pho tượng Phật cao lớn ngồi trên tòa sen nằm đè lên. Tượng “Phật cưỡi vua” độc nhất vô nhị Một chiều thu lang thang trên những con phố ở Hà Nội, đi ngang qua con phố Hàng Than, thấy chùa Hòe Nhai ngày nào giờ sửa sang lại khang trang quá, cửa chùa để ngỏ, tôi chợt dừng bước ghé chân vào thăm để tìm một chút tĩnh lặng giữa những mớ bộn bề của cuộc sống. Từng ngọn gió thu mát rười rượi thổi dọc theo dãy hàng lang đi quanh chùa, lại thêm cảnh vật yên tĩnh, trong lành khiến tâm hồn thư thái đến lạ thường. Đi dạo một vòng quanh chùa, bất ngờ tôi phát hiện ở gian phòng thờ bên trái thượng điện có một bức tượng hết sức kỳ dị thật mà không một ngôi chùa nào khác có được. Đó là một bức tượng to, được sơn son thếp vàng, tượng tạc hình ảnh một nhà vua mặc triều phục đang quỳ gập người, hai bàn tay cung kính mở rộng để trên mặt đất, còn bên trên lưng là một pho tượng Phật cao lớn ngồi trên tòa sen đè lên lưng nhà vua. Đem sự tò mò đến hỏi trụ trì của chùa là hòa thượng Thích Tâm Hoan, tôi mới được hay biết đằng sau bức tượng này là cả một truyền kì dài gắn với tên tuổi của một vị vua trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Trụ trì Thích Tâm Hoan cho biết: “Bức tượng này là độc nhất vô nhị, không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả trên thế giới, có bao nhiêu người được chiêm ngưỡng là bấy nhiêu sự ngỡ ngàng và ngạc nhiên khi được nghe về huyền tích sự ra đời của tượng “vua sám hối”. Bức tượng kỳ lạ bí ẩn ở chùa Hòe Nhai, Hà Nội Nhiều người khi nhìn bức tượng này cho rằng đây là một sự trừng phạt nhưng trái lại, "Dáng quỳ gối phủ phục sát mặt đất của tượng vua thể hiện một sự quy phục tuyệt đối. Đó là sự hối lỗi chân thành, một sự thay đổi xuất phát từ sâu sắc trong tim chứ không gượngép và do đó đây là một sự nhận lỗi, sửa sai chứ không phải là một sự trừng phạt”, nhà sư Thích Tâm Hoan nói. “Pho tượng không chỉ là một sự hoài cổ, mà nó là một bài học lưu truyền cho muôn đời sau học tập. Làm người ai cũng phải sửa bỏ thói hư tật xấu thì mới đạt được kết quả tốt. Ai sống trên đời cũng đều mắc sai lầm, nhưng điều quan trọng là phải biết nhìn nhận và sửa sai, để được tha thứ. Khi biết nhận lỗi, những người khác sẽ không đánh giá và quy tội nữa," thầy Tâm Hoan giải thích thêm. Sự ra đời của pho tượng sám hối kỳ lạ Theo lời của trụ trì Thích Tâm Hoan, thì vào khoảng năm 1670, lúc này Phật giáo đang trong thời kỳ suy sụp, các nhà sư đều điêu đứng vì bị cho rằng sự tồn tại của họ là không có lợi cho xã hội, các tăng ni và phật tử trong chùa đều là những người lười nhác và sống ỉ lại vào sự hảo tâm của mọi người, lãng phí của cải. Khi vua Lê Hy Tông lên nắm quyền năm 1675 đã ra sắc lệnh đuổi hết sư sãi ở các chùa lên rừng, ai ngoan cố không đi sẽ bị khép vào trọng tội đem ra xử trảm, khiến Phật giáo thời kỳ này rơi vào thảm cảnh hơn bao giờ hết trong lịch sử. Chùa triền bỏ hoang, kẻ cắp vào tàn phá, các nhà sư phải bỏ lên rừng, nhiều người không chịu được đói rét lại cởi áo cà sa quay về kiếp phàm trần. Cùng thời gian này có một vị thiền sư đắc đạo tên Tông Diễn, ông thuộc thế hệ thứ hai của phái Tào Động. Ông được mọi người thời bấy giờ gọi là “tổ cua” vì tương truyền có một lần Tông Diễn mua được một mớ cua mẹ sau đó liền thả hết chúng trở về mương vì khi nhìn thấy chúng sùi bọt ông cho rằng chúng đang than khóc cho số phận của mình. Nhìn thấy sự đi xuống của Phật giáo và sự khốn khổ của các vị sư, Tông Diễn đã quyết tâm tìm cách trở về kinh thành Thăng Long nơi có vua Lê Hy Tông ngự để ngộ giác tư tưởng nhà Vua, cứu lại niềm tin Phật pháp vô biên. Tượng "vua sám hối" độc nhất vô nhị đã được ghi vào sách kỷ lục Guinness Vì khi đó vua Lê Hy Tông đang rất kì thị và căm ghét nhà sư nên Tông Diễn phải cải trang sau đó giả vờ dâng tặng nhà vua một viên ngọc quý, nhưng thực chất bên trong là một tờ sớ được viết bằng tâm huyết của Tông Diễn, giúp vua Hy Tông ngộ ra được chân lý của Phật giáo. Điều mà bức sớ của Tông Diễn muốn nói với vua Hy Tông là ở đời Trần, đời Lý, các vua hết sức coi trọng đạo Phật và rồi quốc gia thịnh trị, đạo Phật khiến người ta biết ăn uống đúng mực, không sân si, không giết người cướp của, nó như một viên ngọc quý của quốc gia, vậy tại sao cho đến giờ đạo Phật lại bị cho rằng không mang lại lợi ích gì cho xã hội... Khi truyền đến tay, vua Hy Tông sau khi đọc hết bức sớ chứa đầy những suy nghĩ đúng đắn của vị thiền sư trong giây lát như bừng tỉnh, thoát khỏi cơn mộng mị. Nhà vua liền lập tức cho triệu ngay Tông Diễn vào triều, cúi mình tạ lỗi trước nhà sư, sau đó thu hồi sắc lệnh cấm Phật giáo và hứa sẽ sửa mình với Tông Diễn. Để thể hiện lòng thành, vua cho người tạc bức tượng lớn mà trong đó có hình nhà vua lấy theo mẫu vua Hy Tông đang phủ phục dưới đất cõng trên lưng tượng đức phật Thích Ca Mâu Ni đang ngồi thiền trên đài sen và đặt tên đó là bức tượng “vua sám hối”. Bức tượng do vua Hy Tông sai tạc ngoài việc để sám hối với đức Phật vì hành động “phá đạo” của mình, ông còn muốn tất cả mọi người hãy tự biết tu thân sửa mình để sống tốt hơn, nhất là những quan lại nắm chức, cầm quyền trong tay cũng phải xem lại chính mình. Sự ngự trị trong cõi này còn có một cõi ngự trị siêu hùng ưu việt hơn, đó là lực lượng của trí tuệ, một sự tự thân, của bản thể duy nhất. Như vua Lê Hy Tông, người mang quyền lực tối cao trong một nhà nước đã biết nhận lỗi, sửa lỗi. Sự sám hối này không chỉ cho mình ông, mà còn để răn dạy bao thế hệ về sau nữa", nhà sư Thích Tâm Hoan chỉ dạy. Năm 2006, nhân dịp UNESCO công nhận lễ Phật đản là lễ hội tôn giáo thế giới, nhiều công trình văn hóa Phật giáo đặc sắc khắp châu Á được nhắc đến, trong đó có pho tượng Vua sám hối độc nhất ở Việt Nam, với tạo hình độc đáo. Hiện tượng “vua sám hối” cũng được ghi vào sách kỷ lục Guinness. Bưu Điện VN
-
- 1
-
-
Tiếng đóng cửa Tôi mới chuyển đến nơi ở mới, cứ gần nửa đêm đang lúc ngủ ngon, tôi bị thức giấc vì tiếng đóng cửa rất mạnh ở lầu trên và tiếng chân lộp cộp rất khó chịu.Nhiều ngày kế tiếp nhau, vẫn tiếng đóng cửa và tiếng dép vào đúng giờ ấy khiến tôi không sao chịu nổi. Mẹ tôi khuyên : '' Thôi con à, chúng ta mới đến, con đừng vội, kẻo làm mất lòng hàng xóm ''.Tôi đem chuyện ra than thở với mấy người trong xóm. Có người khuyên : '' Bà và chị cố gắng chịu đựng tiếng đóng cửa đó một thời gian. Chắc sẽ không lâu đâu . . . Rồi người ấy nói tiếp : '' . . . Nửa năm trước, người cha bị tai nạn xe qua đời; người mẹ bị ung thư, liệt giường, không đi lại được. Tiếng đóng cửa đó là của người con. Hoàn cảnh khá đáng thương, xin bà và chị thông cảm ! ''Cậu thanh niên này mới chỉ độ 16 tuổi. Tôi tự nhủ : '' Trẻ người non dạ, cố chịu đựng thôi ''. Thế nhưng, tiếng đóng cửa vẫn tiếp tục xảy ra. Tôi quyết định lên lầu nhắc nhở. Cậu bé mở cửa, hốt hoảng xin lỗi : '' Dì thứ lỗi, cháu sẽ cố gắng cẩn thận hơn . . . '' Thế nhưng, cứ khi tôi vừa thiu thiu giấc ngủ, tiếng đóng cửa quen thuộc lại vang lên đập vào tai tôi như thách thức. Mẹ tôi an ủi : '' Ráng đi con, có lẽ nó quen rồi ! Từ từ mới sửa được. . . '' Rồi khoảng một tháng sau, đúng như lời mẹ nói, tiếng đóng cửa đột nhiên biến mất. Tôi nằm trên giường nín thở lắng tai nghe, tiếng khép cửa thật nhỏ, và bước chân nhẹ nhàng cẩn thận. Tôi nói với mẹ : '' Mẹ nói đúng thật ! '' .Nhưng tôi bỗng bất ngờ … khi thấy hai mắt mẹ tôi ngấn lệ. Mẹ tôi nghẹn ngào nói : '' Mẹ thằng bé trên lầu đã ra đi rồi, tội nghiệp thằng bé, ban ngày đi học, đêm đến quán chạy bàn, nó cố gắng đi làm thêm để kiếm tiền chạy chữa cho mẹ, nhưng rồi bà ấy vẫn không qua khỏi ''. Trong tình hàng xóm, tôi sắp xếp thời gian viếng xác người phụ nữ ấy. Cậu bé cúi thấp đầu, tiến đến gần tôi và nói : “'' Dì ! Nhiều lần cháu làm Dì mất ngủ, cháu xin Dì tha lỗi ''. Rồi cậu nói trong tiếng nấc : '' Mẹ cháu mỗi ngày một yếu, nói không được, nghe không rõ, cháu đóng cửa mạnh để mẹ biết cháu đã về, có thế bà mới an tâm ngủ, Nay mẹ cháu không còn nữa, Dì ạ . . . '' Nghe câu chuyện, tôi bỗng cảm thấy như bị ù tai, lệ từ hai khóe mắt tôi bỗng tuôn trào ra ... Tôi thấy mình quả là vô tâm, thiếu cảm thông với hoàn cảnh của người khác. Cảm thông là tối cần trong các mối quan hệ và lòng khoan dung là quà tặng đáng giá nhất trên đời, Xin Bạn đừng bao giờ khép lại lòng mình. Cầu mong cho con người chúng ta luôn hướng đến một nhịp đập trái tim quảng đại, tấm lòng vị tha, nhân ái, vượt qua những suy nghĩ tầm thường, để mặc lấy tâm tình yêu thương Tạo Hóa ban tặng riêng chỉ có ở '' Con Người '' . . .
-
GS. Ngô Bảo Châu nói chuyện về Phật giáo và cuộc sống Là nhà toán học tổi tiếng thế giới với công trình chứng minh Bổ đề cơ bản Langlands, GS. Ngô Bảo Châu là người Việt Nam đầu tiên giành được Huy chương Fields, giải thưởng toán học cao quý nhất ghế giới, đưa Việt Nam trở thành quốc gia châu Á thứ hai sau Nhật có nhà toán học đoạt giải Fields. Với công trình đặc biệt vốn được Tạp chí Times liệt vào vị trí thứ 7 trong số 10 sự kiện khoa học nổi bật trên thế giới năm 2009, GS. Ngô Bảo Châu đã làm rạng danh người Việt trên khắp thế giới. Nhân chuyến về thăm Việt Nam vào tháng 7-2011, GS đã dành cho ĐPNN những chia sẽ sau đây: ĐPNN: Sau khi được bổ nhiệm là giám đốc khoa học của Viện nghiên cứu cao cấp về Toán từ ngày 9-3-2011, được biết đây là mùa hè đầu tiên, GS làm việc tại Việt Nam. Với cương vị này, trách nhiệm và chiến lược của GS trong việc phát triển toán học tại nước nhà ra sao? Những khó khăn nếu có? NBC: Chào thầy Thích Nhật Từ. Vâng thưa thầy, hè năm nay Viện nghiên cứu cao cấp về Toán (VIASM) đã có những hoạt động khoa học đầu tiên. Bên cạnh việc cùng nhau tìm hiểu một số vấn đề toán học ít được nghiên cứu ở Việt Nam, chúng tôi cố gắng tạo ra một nếp làm việc cho những hoạt động khoa học khác của VIASM sau này. Tất nhiên là vạn sự khởi đầu nan, nhưng tôi rất hy vọng VIASM sẽ là một nguồn sức sống mới cho toán học Việt Nam. ĐPNN: GS có phải là Phật tử? Việc tìm hiểu về đạo Phật của GS thế nào? NBC: Gia đình tôi theo Phật nhưng tôi không phải là phật tử theo nghĩa toàn vẹn nhất, mặc dù có lẽ văn hóa Phật giáo có thấm sâu vào con người tôi như nhiều người Việt nam khác. ĐPNN: Đạo Phật đã ảnh hưởng thế nào đối với cuộc sống của GS? NBC: Có lẽ đó là sự nhận thức sâu sắc về giá trị của cuộc sống của con người cũng như của mọi sinh linh từ đó dẫn đến sự trân trọng cuộc sống của người khác và của chính mình. Có lẽ đó còn là một thái độ tương đối bình thản trước mọi biến cố của cuộc sống. Thường thì người ta đạt được sự bình thản này sau khi một phần lớn của đời mình đã trôi qua, văn hóa Phật giáo có thể giúp ta bình thản ngay cả khi một phần lớn của cuộc đời có lẽ còn ở phía trước. Có lẽ sự nhận thức về tính vô thường của thế giới và của cả con người đã giúp tôi rất nhiều để có một sự cân bằng trong cuộc sống. Một bên ta không thể buông xuôi trách nhiệm với xã hội, với những người thân thiết, với bản thân mình, một bên ta vẫn hiểu rằng cái quan trọng ngày hôm nay, ngày mai có thể sẽ không còn quan trọng nữa. ĐPNN: Giáo sư đã từng đọc kinh Phật? Nếu có thì đó là kinh gì? Ảnh hưởng của bài kinh đó đối với cuộc sống của giáo sư thế nào? NBC: Tôi được đọc kinh phật mỗi lần đến thăm bà ngoại tôi. Ngoại tôi tụng kinh hàng ngày. Khi còn là sinh viên tôi có đọc một số sách về lịch sử Phật giáo. Trải nghiệm quan trọng nhất của tôi với Phật giáo là lần đi thăm di tích Ajanta bên Ấn độ. Đó là những hang đá nơi những người tu hành đã sống từ thế kỷ thứ sáu. Những bức bích họa rất lớn trên vách hang miêu tả cuộc đời của Thích Ca Mầu Ni đã làm tôi xúc động đến ứa nước mắt. ĐPNN: Là một nhà khoa học toán, giáo sư đánh giá thế nào về các điều minh triết Phật dạy về con người và vũ trụ? NBC: Triết lý Phật giáo cho con người một nhân sinh quan rộng rãi, giải phóng nhiều định kiến. Đấy là một tố chất cơ bản của nhà khoa học. Có những nhà khoa học có uy tín đi tìm những điểm chung giữa triết lý tôn giáo trong đó có Phật giáo và Cơ đốc giáo và khoa học hiện đại. Cá nhân tôi thấy những cố gắng này có phần khiên cưỡng. ĐPNN: Khi tự đặt cho mình biệt hiệu “Hòa thượng Thích Học Toán” hẳn giáo sư đã thể hiện phần nào thiện cảm với Phật giáo, cụ thể hơn là tu sĩ Phật giáo? Ý tưởng của việc chơi chữ này là gì? NBC: Công việc nghiên cứu khoa học có nhiều điểm chung với cuộc sống của những nhà tu hành. Nghiên cứu khoa học cơ bản cũng có tính thoát ly khỏi cuộc sống trần tục. Tôi chọn biệt danh “Hòa thượng Thích Học Toán” để cho trò chuyện toán học trên blog được thân thiện hơn, để câu chuyện toán học thoát ra khỏi hình thức phổ biến khoa học. Sau khi một số Phật tử có nhắn với tôi không nên đùa với chức danh Hòa thượng, tôi cũng không dùng nó nữa. Tôi cũng không có ý tạo thêm những sự bực bội không cần thiết. ĐPNN: Gần đây, Giáo sư đặt trang blog cá nhân (thichhoctoan.wordpress.com) ở chế độ riêng tư, một hình thức của đóng cửa đối với độc giả quý mến giáo sư? Đâu là lý do cho việc này? NBC: Sau sự kiện giải thưởng Fields, blog của tôi có khá nhiều người đọc. Tôi nhận ra rằng cách viết hài hước mà tôi chọn cho blog cũ nay không còn phù hợp nữa. Tôi vẫn giữ ý định mở lại một trang blog mới và viết lại nhiều bài theo một phong cách nghiêm túc và có hệ thống hơn. ĐPNN: Là người sống và làm việc tại Pháp, trung tâm của văn minh châu Âu và hiện nay giảng dạy tại đại học Chicago, Hoa Kỳ, giáo sư có suy nghĩ gì về mô hình giáo dục đại học Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa? NBC: Có một khoảng cách khá lớn về chất lượng giữa giáo dục đại học ở Việt Nam và ở các nước phát triển. Vì dư luận xã hội đã quá tiêu cực với chất lượng giáo dục cho nên tôi thấy không cần phân tích thêm. Cái cần và khó hơn nhiều là tìm ra giải pháp. Có lẽ giải pháp tốt nhất là để cho mỗi ngôi trường, mỗi người thầy tìm ra giải pháp riêng cho mình. Nói cách khác là trường đại học và các giáo sư đại học cần được chủ động hơn trong chương trình và qui chế tuyển sinh. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần làm thêm nhiều điều tra để so sách chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học giữa các trường để dựa vào đó mà có chính sách đầu tư hỗ trợ. Những thông tin này cũng cần được công bố rộng rãi để học sinh sinh viên cũng như phụ huynh có thông tin chính xác hơn cho việc chọn trường học. Việc nới quản lý từ trung ương để tăng tính chủ động cho những người trực tiếp làm công việc đào tạo và nghien cứu có thể dẫn đến bất cập ở chỗ này chỗ khác, nhưng tôi tin vào khả năng tự điều chỉnh của cuộc sống. Sự tự điều chỉnh sẽ nhanh hơn nếu thông tin được rộng đường. ĐPNN: Toán học có thể giúp gì cho việc quy hoạch đô thị Việt Nam? Kinh nghiệm của Pháp và Mỹ trong lãnh vực này thế nào? NBC: Ở nước ta, việc quy hoạch giao thông trong các đô thị vẫn dựa nhiều vào cảm tính, nên hay thay đổi. Những hệ thống có độ phức tạp cao như giao thông đô thị thực ra rất cần được thử nghiệm và thiết kế dựa trên những mô hình toán học. ĐPNN: Là người lập gia đình và có con ở tuổi đôi mươi, đâu là bí quyết duy trì “hạnh phúc gia đình” của giáo sư sau gần 20 năm chung sống? NBC: Thưa thầy, cuộc sống gia đình nào cũng có lúc sóng gió. Để sống với nhau, mỗi người cần hiểu những người mình yêu để mà sống vui với chính con người họ. Mỗi gia đình còn có một động lực rất lớn để tồn tại đó là con cái và việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái. ĐPNN: Tháng bảy trong Phật giáo là mùa báo hiếu công ân sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ như hai vị Phật trong nhà, Gs có thể chia sẻ vài kỷ niệm đẹp mà hai đấng sinh thành đã giành cho Gs thời trẻ? NBC: Cha mẹ tôi luôn dành hết cho tôi mọi sự yêu thương, ưu tiên việc nuôi dưỡng giáo tục tôi hơn tất cả. Vợ chồng tôi cũng cố gắng làm như vậy với các con, nhưng chắc chắn là không thể được như ông bà. Khi còn nhỏ, mẹ tôi dậy tôi rằng xấu nhất là nói dối. Bây giờ tôi vẫn tin và cũng dậy các con tôi như thế. ĐPNN: Với vai trò làm cha của ba đứa con hiếu thảo và thành công, xin GS chia sẻ kinh nghiệm làm cha của mình? NBC: Tôi không nghĩ các con tôi đặc biệt thành công hoặc là mình là một người bố kiểu mẫu để có thể tự tin chia sẻ kinh nghiệm với người khác. Công việc bận rộn không cho tôi có nhiều thời gian để gần gũi với con cái như tôi mong muốn mà thời gian là cái mà trẻ nhỏ cần nhất ở cha mẹ. Có lẽ người lớn nên bớt thời gian xem TV, lướt web, tụ tập bạn bè để có thêm thời gian chơi với con, học với con, cùng đọc sách với con. Những cái đó có ích cho trẻ hơn là việc bỏ tiền ra cho con đi học thêm hay những khóa rèn luyện “kỹ năng sống”. ĐPNN: Theo GS, hạnh phúc là gì? Và đâu là cách thức giáo sư giữ gìn và phát triển hạnh phúc có được? NBC: Đối với tôi, cái hạnh phúc lớn nhất là cảm giác mình đang sống. Cảm giác đó bao gồm cả vị ngọt và vị đắng. Nó xuất phát quan hệ với những người thân thiết, bạn bè, công việc và xã hội, từ miếng cơm ta ăn, từ miếng nước ta uống, từ không khí ta đang thở. Để có hạnh phúc, có lẽ không có cách nào khác là yêu cuộc sống như chính nó. Để bất hạnh, có lẽ không có cách nào tốt hơn là đi đuổi theo những ảo ảnh. ĐPNN: Theo GS, “để sống một cuộc sống có ý nghĩa,” người ta phải làm gì? NBC: Tôi e mình không đủ thông tuệ để trả lời câu hỏi này của thầy một cách đầy đủ. Phần nhỏ của câu trả lời mà tôi biết là để sống một cuộc sống có ý nghĩa, ta nên tránh làm những việc vô nghĩa. Thích Nhật Từ Đạo Phật Ngày Nay Bình luận (5 đã gửi) Nguyễn Hoàng Mộng 22/09/2011 22:47:46 Tìm hiểu Phật giáo qua ông Ngô Bảo Châu, nhà toán học được Huy chương Fields, tôi cho rằng là một điều 'khiên cưỡng' như từ dùng của bài viết. Cá nhân tôi đồng thời cũng cho rằng, ông Ngô Bảo Châu không phải là tất cả, mà còn nhiều lĩnh vực khác cũng bình thường. Do vậy, nếu cá nhân ông Ngô đưa ra ý kiến rằng: "Có những nhà khoa học có uy tín đi tìm những điểm chung giữa triết lý tôn giáo trong đó có Phật giáo và Cơ đốc giáo và khoa học hiện đại. Cá nhân tôi thấy những cố gắng này có phần khiên cưỡng" thì tôi nghĩ đó đơn thuần chỉ là một ý kiến cá nhân của ông. Ông Ngô không phải là nhà vật lí học- một điều chắc chắn như thế, trong lúc tôn giáo, mà nổi bật nhất là triết lí Phật giáo có liên quan đến khoa học vật lí. Nguyễn Hoàng Mộng 2 Trọng Việt 25/09/2011 16:35:53 Bài báo này là phỏng vấn GS Ngô Bảo Châu, một người nỗi tiếng. Còn muốn tìm hiểu Phật giáo thì nên “phỏng vấn” người thực hiện là TT Thích Nhật Từ hoặc chư vị tôn đức khác.. Các câu trả lời là ý kiến của NBC, chưa chắc được sự đồng tình của ngay cả người đặt câu hỏi. NBC nỗi tiếng nhưng ngoài tri thức chuyên môn vẫn là một người bình thường. Đọc bài phỏng vấn để biết thêm về NBC , chỉ thế thôi. Reply 4 Ngông Sỹ Đồ01/10/2011 00:15:24 Tôi là người ngưỡng mộ tài năng và nhân cách của Gs Ngô Bảo Châu. Gs tuy không tìm hiểu nhiều về nền giáo dục viên mãn của Phật đà (mà nay đã biến thành tôn giáo - đó là một điều bất hạnh!) nhưng cảm nhận rất sâu sắc về giá trị của cuộc sống và nhân sinh quan của Đạo Phật. Nhưng nhận xét “ Có những nhà khoa học có uy tín đi tìm những điểm chung giữa triết lý tôn giáo trong đó có Phật giáo và Cơ đốc giáo và khoa học hiện đại. Cá nhân tôi thấy những cố gắng này có phần khiên cưỡng” lại chứng tỏ một điều là Gs cũng nhận xét theo cảm tính mà không dựa trên sự hiểu biết thấu đáo nào! Ôi Gs Ngô Bảo Châu còn vậy huống chi là người không biết đến Phật đà, không biết Kinh Phật đã nói những gì. Thế giới động loạn, thế sự đảo điên cũng là dễ hiểu!. Các nhà lí thuyết vật lí vĩ đại nếu hiểu được Kinh Hoa Nghiêm và Bát Nhã Ba La Mật thì chẳng dám nghe từ vĩ đại mà ai đó tôn vinh mình. Nếu hiểu được Thích Ca Mâu Ni Phật đã nói về chư pháp thực tướng (nói rõ về chân tướng của vũ trụ, nhân sinh) thì thánh nhân Trung Hoa không chỉ giới hạn Thiên-Địa-Nhân hợp nhất, từ Democritus cho đến John Dalton chẳng dám nói nguyên tử là hạt nhỏ nhất, Einstein chẳng nói tốc độ của ánh sáng là không thể vượt qua…và triết học nào đó không thể nói bản chất tôn giáo là hiện tượng XH phản ánh sự bế tắc bất lực của con người trước tự nhiên và XH… Gs.Vs. Đào Vọng Đức (trong Lời Giới Thiệu cuốn sách “CUỘC TÌM KIẾM HÀI CỐT CỐ TỔNG BÍ THƯ HÀ HUY TẬP”) có viết: “… Theo dự đoán của nhiều học giả nổi tiếng thì thế kỷ 21 này sẽ được đánh dấu một bước tiến vĩ đại, đó là nhận thức được rằng Khoa học và Tâm linh không đối nghịch nhau, mà là hai mặt đối ngẫu bổ sung cho nhau để nghiên cứu thực tại. Einstein (…) khẳng định “Khoa học, Tôn giáo, Nghệ thuật là những cành nhánh cùng một cây… Khoa học không có Tôn giáo thì khập khiễng, Tôn giáo không có Khoa học thì mờ ảo”. … Rõ ràng rằng nghiên cứu các lĩnh vực với mức độ tinh tế khác nhau thì cách tiếp cận phải khác nhau, đặc biệt với các hiện tượng siêu tinh tế thì đòi hỏi phải vận dụng các khái niệm và các hệ tiên đề hoàn toàn mới, có thể rất xa lạ với những điều đã quen thuộc trước đó. Đây là cuộc viễn chinh khoa học gian nan nhưng đầy hứa hẹn, đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa Khoa học và Tâm linh, sự đóng góp lâu dài công sức và trí tuệ của các nhà khoa học và các nhà ngoại cảm.” Thì ra cách nhìn nhận của nhà vật lí và nhà toán học khác xa nhau! Reply 4 Duy Hưng 01/10/2011 14:52:33 Ngông Sỹ Đố đưa ra những ý kiến rất sâu sắc, tôi rất muốn được nghe ý kiến phản đối thay vì phải nhìn thấy 2 điểm trừ mà không rõ tại sao. Reply 1 công đăng đao 21/10/2011 09:40:52 ý kiến của thầy tạm được thôi.
-
Cho Cô địa chỉ theo như các bạn khác thỉnh nhận cô sẽ gởi nhanh đến và bạn cũng nên post bài bên Chủ đề "Thần Chú giải Thoát " cho đúng với nội dung mình đang cần.
-
Mục đích đời người Cho dù bạn chỉ có một giờ để sống, một phút để sống, mục đích của cuộc đời vẫn là sống vì sự lợi lạc của người khác, với một trái tim tốt lành, với lòng bi mẫn đối với người khác.Như tôi đã nói trong một Pháp thoại trước đây, bạn nên hiểu rõ ý nghĩa của đời bạn, lý do bạn sống, mục đích của việc đã nhận được thân người quý báu vào lúc này, đặc biệt là sự tái sinh làm người cao quý này với tám sự tự do và mười điều thuận lợi - bạn nên hiểu rõ điều này, không chỉ một cách trí thức mà còn hiểu thật sâu xa khiến bạn chuyển hóa thái độ của bạn một cách thích đáng và sống cuộc đời bạn trong sự hòa hợp với mục đích đó. Mục đích đó là gì? Đó là sống cuộc đời bạn để làm lợi lạc cho những người khác. Như thế, lòng bi mẫn là thiền định hay thực hành quan trọng nhất mà bạn có thể làm. Mặc dù những giáo lý của đức Phật nói về hàng tỷ cách thiền định hay thực hành khác nhau mà bạn có thể trải cả cuộc đời mình để thực hành, nhưng đây chính là điều quan trọng nhất - làm lợi lạc người khác, sống cuộc đời bạn với một thái độ bi mẫn đối với người khác. Đây là mục đích thực sự của cuộc đời, là ý nghĩa của cuộc đời Cho dù bạn chỉ có một giờ để sống, một phút để sống, mục đích của cuộc đời vẫn là sống vì sự lợi lạc của người khác, với một trái tim tốt lành, với lòng bi mẫn đối với người khác. Cho dù bạn chỉ có một phút để sống, chỉ còn lại một phút của thân người quý báu này, điều quan trọng nhất mà bạn có thể thực hành là lòng bi mẫn; ngoài ra không có gì khác. Cũng hoàn toàn giống như thế nếu bạn có một trăm năm để sống, một ngàn năm, thậm chí một kiếp để sống. Để hoàn thành mục đích của cuộc đời bạn, bạn vẫn phải sống với lòng bi mẫn đối với những người khác, vì sự lợi lạc của những người khác. Nếu bạn đang vui hưởng một cuộc đời hạnh phúc, đang kinh nghiệm lạc thú, thì để cuộc đời bạn không trống rỗng, trở nên lợi lạc, hữu ích cho những người khác, bạn nên thực hành lòng bi mẫn, sống cuộc đời bạn để làm lợi ích cho người khác. Nếu đời bạn không hạnh phúc, nếu bạn đang kinh nghiệm những vấn đề trong mối quan hệ, nếu bạn bị ung thư hay bệnh AIDS, nếu bạn tuyệt vọng, nếu đời bạn không thoải mái, cho dù bạn đang gặp đến hàng trăm hay hàng ngàn vấn đề – sức khỏe, mối quan hệ, những vấn đề liên quan tới việc làm – như thể bạn đang chết đuối trong vũng lầy của những vấn đề, bạn cũng nên thực hành lòng bi mẫn đối với những người khác. Nếu bạn có thể thực hành lòng bi mẫn vào những thời điểm như thế thì bạn vẫn làm cho cuộc đời bạn có ý nghĩa, lợi lạc cho người khác, hữu ích cho người khác, và nhờ đó – bằng cách làm lợi lạc cho người khác – bạn sẽ thường xuyên làm cuộc đời bạn mang lại lợi lạc cho bản thân bạn. Yêu thương người khác là cách thức tốt đẹp nhất để yêu thương bản thân bạn. Yêu thương người khác có nghĩa là bạn đừng làm hại người khác, và không làm hại người khác là không làm hại bản thân bạn. Ngay cả trong phạm vi của sự bảo vệ, đây là cách tốt đẹp nhất để bảo vệ cuộc đời bạn. Cũng giống như thế, khi bạn làm cho người khác hạnh phúc, bạn mang lại hạnh phúc cho chính bạn. Nghiệp được tạo nên nhờ làm cho người khác hạnh phúc cũng làm cho bạn kinh nghiệm sự hạnh phúc; đó là loại nghiệp dẫn tới hạnh phúc. Cho dù bạn không mong muốn hạnh phúc nhưng một khi bạn đã tạo nên nguyên nhân của hạnh phúc thì hạnh phúc chính là kết quả. Nếu bạn trồng một hạt giống trên mặt đất và hội đủ mọi điều kiện (duyên), chẳng hạn như đất, nước và nhiệt độ toàn hảo – mọi sự đều hội tụ và không có những trở ngại nào – thì cho dù bạn có cầu nguyện nhiều tới đâu để cây đừng mọc lên, nhưng nó vẫn sẽ phát triển. Chắc chắn là nó sẽ mọc lên bởi hạt giống được gieo trồng trên mặt đất đã gặp được mọi điều kiện cần thiết để phát triển; nhân và duyên đã gặp gỡ. Bởi nó là một sự duyên sinh nên việc bông hoa hay trái cây đó sẽ mọc lên là điều không thể tránh khỏi, cho dù bạn có cầu nguyện nhiều tới đâu để nó không mọc. Tương tự như thế, nếu bạn sống cuộc đời hàng ngày của bạn với lòng bi mẫn, mang lại thật nhiều hạnh phúc cho người khác trong khả năng của bạn, thì kết quả tự nhiên là bản thân bạn sẽ kinh nghiệm hạnh phúc, bây giờ và trong tương lai – đó là kết quả tức thì, là sự an bình trong tâm trong đời này và kết quả lâu dài là hạnh phúc trong tất cả những đời sau của bạn. Tất cả những điều này là kết quả chắc chắn của việc mang lại hạnh phúc và lợi lạc cho người khác. Như vậy, bạn sẽ thâu hoạch được rất nhiều khi thương yêu người khác, quan tâm tới những chúng sinh khác như bạn làm cho bản thân bạn. Dù họ là những côn trùng hay con người thì họ cũng là những sinh loài giống như bạn – ước mong hạnh phúc và không mong muốn đau khổ. Giống như bạn cần tới sự giúp đỡ của người khác để giải trừ những vấn đề thì họ cũng cần điều đó. Giống như hạnh phúc của bạn tùy thuộc vào những người khác, hạnh phúc của họ cũng thế. Không chỉ có con người, mà cả đến những côn trùng cũng cần tới sự giúp đỡ của bạn. Việc họ giải thoát khỏi những vấn đề thì tùy thuộc vào bạn; hạnh phúc của họ tùy thuộc vào bạn. Tại sao việc thương yêu người khác, quan tâm tới người khác như bạn làm cho bản thân bạn, không làm hại mà làm lợi lạc cho họ, lại là phương cách tốt đẹp nhất để chăm sóc bản thân bạn, quan tâm tới bản thân bạn? Đó là nhờ có một trái tim tốt lành, sự thương yêu người khác, làm lợi lạc người khác mà mọi ước muốn của riêng bạn đều được hoàn tất. Nói chung, trong thế giới, khi những người khác nhìn thấy một người thiện tâm, có bản tánh bi mẫn, từ ái, họ nhận được những sự rung động tốt lành, một cảm xúc tích cực từ người đó. Ngay cả những người không quen biết gặp người đó trên đường, trong máy bay, trong các văn phòng hay cửa hàng, thì chỉ cái nhìn của người đó cũng đủ làm cho họ sung sướng, mỉm cười và muốn được trò chuyện. Do bởi trái tim tốt lành, những rung động tốt lành, cảm xúc tích cực của bạn, bạn làm cho người khác hạnh phúc. Ngay cả những biểu lộ trên khuôn mặt họ cũng thay đổi và phản ánh tâm thức hạnh phúc của họ. Cho dù bạn không phải trải nghiệm bất kỳ vấn đề gì thì những người khác cũng vẫn giúp đỡ bạn. Khi bạn có một trái tim tốt lành đối với những người khác, tất cả những ước muốn hạnh phúc của riêng bạn đều được đáp ứng một cách ngẫu nhiên. Giống như một Bồ tát, mặc dù động lực của bạn chỉ là hạnh phúc của người khác và bạn không trông chờ gì hạnh phúc của bản thân bạn, cho dù mọi sự bạn làm trong hai mươi bốn giờ đồng hồ một ngày được đặc biệt hồi hướng cho hạnh phúc của những người khác mà không có một niệm tưởng nào về hạnh phúc của riêng bạn, thì bản thân bạn cũng sẽ kinh nghiệm mọi điều hạnh phúc. Nhờ chứng ngộ Bồ đề tâm, những thánh nhân - những vị Bồ tát – sẽ hoàn toàn từ bỏ bản thân mình vì người khác. Các ngài không nghĩ tưởng gì về hạnh phúc của riêng mình mà thay vào đó dùng mỗi giây phút để tìm kiếm hạnh phúc cho những người khác. Như thế điều gì sẽ xảy ra? Với Bồ đề tâm, các ngài có thể phát triển trí tuệ tối thượng nhận ra bản tánh đích thực của cái tôi – bản ngã và những uẩn, sự kết hợp của thân và tâm là căn bản của cái được quy gán là cái tôi – và mọi hiện tượng khác. Nhờ phát triển Bồ đề tâm và trí tuệ tối thượng, các ngài có thể tiệt trừ mọi lỗi lầm của tâm thức, nguyên nhân của mọi đau khổ – những ô nhiễm thô sơ, những lầm lạc của tham, sân và si, và những ô nhiễm vi tế, là những gì có tính chất của các dấu vết để lại trong dòng tương tục của tâm thức do những mê lầm. Như vậy, đây là điểm đặc biệt của Bồ đề tâm, bởi với sự hỗ trợ của nó, bạn có thể phát triển không chỉ trí tuệ chứng ngộ tánh Không mà còn có thể ngăn cản những ô nhiễm vi tế và nhờ đó trở nên hoàn toàn giác ngộ, đạt được trạng thái toàn trí, tâm toàn giác, thấu suốt trực tiếp và không chút lỗi lầm, không chỉ nghiệp thô nặng mà cả mỗi nghiệp vi tế duy nhất của từng người trong vô số chúng sinh. Bạn sẽ nhận ra mọi đặc tính dị biệt, những ước muốn và mức độ thông tuệ của họ; thấu hiểu từng phương pháp độc nhất thích hợp với tâm thức của tất cả những chúng sinh khác biệt này vào những lúc khác nhau; và khám phá phương pháp thích ứng phù hợp với tâm của mỗi cá nhân chúng sinh vào những thời điểm khác nhau để dẫn dắt chúng sinh đó từ hạnh phúc này sang hạnh phúc khác, bằng đủ mọi cách để đạt được giác ngộ. Như thế, Bồ đề tâm khiến cho trí tuệ của bạn hoạt động khiến nó có thể chiến thắng ngay cả những ô nhiễm vi tế, làm cho tâm bạn hoàn toàn giác ngộ. Theo cách này, Bồ đề tâm khiến bạn trở thành một người dẫn đường hoàn toàn có phẩm tính, một bậc giác ngộ toàn hảo, và nhờ đó giải thoát vô số chúng sinh khỏi luân hồi sinh tử, đại dương của đau khổ, và mang họ tới hạnh phúc vô song của sự Toàn Giác. Như thế sự thành tựu mọi phẩm tính giác ngộ vô biên này xuất phát từ đâu? Ngay cả những Bồ tát Thập địa cũng có những phẩm tính khó tin, không thể nghĩ bàn. Ngay một Bồ tát Sơ địa cũng có thể thiền định trong hàng trăm cách tập trung khác nhau, đi tới hàng trăm cõi Tịnh độ khác nhau, khám phá cho chúng sinh hàng trăm giáo lý khác. Tôi không nhớ chính xác, nhưng có khoảng mười một điều khác nhau trong đó các ngài có thể làm hàng trăm việc. Một Bồ tát Nhị địa có thể thực hiện một ngàn thiền định tập trung khác nhau, đi tới một ngàn cõi Tịnh độ, khám phá một ngàn giáo lý khác nhau cho chúng sinh và v.v.. Cũng giống như thế, bởi các ngài tiến bộ càng lúc càng cao hơn qua các cấp độ (địa), các ngài thành tựu càng lúc càng nhiều hơn những phẩm tính không thể nghĩ bàn mà với chúng các ngài có thể làm lợi ích chúng sinh. Tôi không nhớ những thuật ngữ để chỉ địa thứ chín và thứ mười nhưng chư vị Bồ tát sở hữu vô số phẩm tính không thể nghĩ bàn như thế. Tất cả những phẩm tính không thể nghĩ bàn này của con đường Bồ tát, tất cả những phẩm tính vô biên của thân linh thánh, ngữ linh thánh và tâm linh thánh của đức Phật xuất phát từ cội gốc là sự từ bỏ bản ngã và tư tưởng tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình, và sự phát triển trái tim tốt lành, tư tưởng chỉ tìm kiếm hạnh phúc cho chúng sinh. Tất cả mọi phẩm tính đó xuất phát từ cội gốc này. Mọi phẩm tính tốt lành vô biên của đức Phật, của Pháp, con đường của Bồ tát, và của Tăng, những bậc thánh và thậm chí những Bồ tát bình thường, đều xuất phát từ tư tưởng quý báu phi thường, Bồ đề tâm như ý – sự từ bỏ bản ngã và tâm quy-ngã, và sự phát triển lòng yêu thương chỉ dành cho người khác. Tất cả những phẩm tính đó đều xuất phát từ tư tưởng này. Những bậc có thể làm được điều này chứng ngộ sự thành tựu tuyệt hảo nhất. Các ngài từ bỏ bản ngã, từ bỏ cái tôi, nhưng các ngài đạt được sự thành tựu tuyệt hảo, thành công vĩ đại nhất. Các ngài không chỉ tìm ra sự giải thoát vĩnh cửu khỏi chu kỳ của sự chết và tái sinh và mọi vấn đề mà nó mang lại, chẳng hạn như sự tái sinh, sự già, bệnh, những vấn đề thuộc cảm xúc và mọi khó khăn khác của cuộc sống mà chúng ta kinh nghiệm, mà các ngài cũng đạt được sự giải thoát vĩnh cửu, tự do vĩnh cửu, hạnh phúc vĩnh cửu cho bản thân mình, và có thể mang lại hạnh phúc bao la như bầu trời cho vô số chúng sinh. Tất cả những điều này xuất phát từ cội gốc là Bồ đề tâm, tâm linh thánh cao quý nhất, sự từ bỏ cái tôi, thương yêu người khác. Chúng ta có thể hiểu được điều này chân thật ra sao bằng cách đọc những bản văn thuật lại những câu chuyện tiền thân của đức Phật và cuộc đời của những Bồ tát khác, nhưng ta cũng có thể thấu hiểu một trái tim tốt lành thì như ý ra sao đối với hạnh phúc của bạn, từ các gương mẫu của những cuộc đời bình thường của những con người bình thường trong thế giới – những người mà tâm họ bi mẫn hơn trong bản chất ra sao, những người có thiện tâm, có những đời sống thoải mái hơn. Chẳng hạn như, nếu bạn đang kinh nghiệm những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, chẳng hạn như ung thư và v.v.., nhưng bạn có một trái tim tốt lành, tâm bạn sẽ hạnh phúc và an bình bởi mối quan tâm chính không phải là cho bản thân bạn mà là cho người khác; mối quan tâm của bạn được dành cho chúng sinh. Nhờ đó tâm bạn được an bình. Cho dù bạn đang hấp hối nhưng tâm bạn không bị xáo trộn vì mối quan tâm của bạn là dành cho người khác chứ không phải cho bạn. Ngay cả vào lúc cuối đời bạn, giây phút chấm dứt đời người của bạn, kinh nghiệm của bạn về cái chết là một kinh nghiệm hạnh phúc bởi thái độ của bạn là thái độ quan tâm tới người khác, chứ không phải cho cái ta, không phải là tâm thức tự yêu thương mình, tâm quy-ngã. Mặc dù các sự việc không tiến triển với bạn, bạn gặp nhiều trở ngại, cuộc đời bạn gặp rắc rối, nhưng tất cả những điều này không làm bạn lo lắng, tâm bạn không bị quấy nhiễu, luôn luôn vui vẻ và an bình, bởi ưu tiên hàng đầu trong đời bạn là hạnh phúc của những người khác. Điều bạn quan tâm nhất là người khác, chứ không phải bản thân bạn. Đó là mục đích của bạn. Thái độ này mang lại rất nhiều an bình và hạnh phúc cho đời sống hàng ngày của bạn, đem lại cho bạn rất nhiều sự hài lòng. Mặc dù những người khác gây nên cho bạn những vấn đề, làm phiền bạn, nhưng nó không gây rắc rối cho bạn; tâm bạn vẫn an bình và hạnh phúc. Đặc biệt là với một trái tim tốt lành, lòng bi mẫn đối với người khác, bất kỳ khi nào một vấn đề xuất hiện bạn cũng kinh nghiệm nó vì người khác, nhân danh chúng sinh khác. Nếu bạn kinh nghiệm hạnh phúc, bạn kinh nghiệm nó cho người khác. Nếu bạn vui hưởng một đời sống xa hoa, bạn hồi hướng nó cho người khác. Và nếu bạn trải nghiệm một vấn đề, bạn trải nghiệm nó cho người khác – để người khác thoát khỏi những vấn đề và có mọi hạnh phúc cho tới sự Giác ngộ, sự an bình và hỷ lạc hoàn toàn viên mãn. Khi ước muốn những người khác có mọi hạnh phúc, bạn kinh nghiệm những vấn đề nhân danh họ. Điều đó đem lại cho bạn sự hài lòng và hoàn thành thật phi thường, nhưng không chỉ có thế. Nếu bạn có thái độ đó, cho dù bạn trải nghiệm bao nhiêu vấn đề chăng nữa, khi bạn gặp mỗi vấn đề bạn có cảm tưởng như bạn đã khám phá một kho tàng quý báu. Bạn coi nó như một cơ hội phi thường để hồi hướng bản thân bạn cho người khác; một dịp may to lớn để trải nghiệm những đau khổ của người khác, giống như chư vị Bồ tát thực hiện, giống như đức Phật đã làm, giống như đức Jesus Christ đã làm để nhận vào mình những đau khổ của người khác. Mặc dù những người khác có thể thấy vấn đề đó không thể chịu đựng nổi, nhưng đối với bạn, là người có thái độ này, thì nó không là một điều thật phiền nhiễu, bạn không thấy nó đặc biệt khó khăn, hầu như bạn rất thoải mái về điều đó – do bởi trái tim tốt lành và thái độ thuần tịnh của bạn đối với cuộc đời. Điều này làm cho toàn bộ cuộc đời của bạn trở nên thật thoải mái, thật hạnh phúc. Trái tim bạn không trống rỗng, không rỗng tuếch, nhưng tràn ngập sự hài lòng, đầy ắp niềm vui. Theo cách này, cho dù bạn gặp nhiều khó khăn nhưng bạn sống cuộc đời bạn với niềm vui. Bạn vui hưởng những vấn đề; thậm chí bạn vui hưởng cái chết của bạn. Cho dù điều gì xảy ra thì bạn cũng vui hưởng nó với Bồ đề tâm, tư tưởng thương yêu người khác. Những gì mà người bình thường có thể thấy là không đáng ao ước thì người có trái tim tốt lành, có thái độ yêu thương người khác lại thấy là thật đáng ao ước bởi người ấy có thể làm cho những vấn đề trở nên lợi lạc cho người khác. Người có trái tim tốt lành, có tâm bi mẫn, tư tưởng thương yêu người khác, thái độ Bồ đề tâm, sẽ làm cho vấn đề trở nên hữu ích, lợi lạc cho người khác. Theo cách này, kinh nghiệm về những vấn đề của người này trở thành một nguyên nhân của hạnh phúc của tất cả chúng sinh – không chỉ hạnh phúc nhất thời mà là hạnh phúc của sự Giác ngộ viên mãn, tối thượng. Bồ đề tâm làm cho kinh nghiệm về những vấn đề của người ấy trở thành một nguyên nhân cho hạnh phúc của mọi sinh loài. Làm cách nào? Bằng cách chuyển hóa những vấn đề thành con đường dẫn tới Giác ngộ. Trích dịch từ: “Teachings from the Vajrasattva Retreat” của Lama Zopa Rinpoche.
-
ĐOẠN TRỪ PHIỀN NÃO I. Sắc uẩn (uẩn vật chất) Rūpakkhanda: Một thuở nọ Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ Viên, ngôi chùa do ông Cấp cô Độc dâng cúng. Một vị sư tên là Rādha đến yết kiến Đức Thế Tôn và bạch rằng: “Bạch Ngài chữ Satta có nghĩa là gì? Xin Ngài giảng giải cho con rõ.” Đức Phật trả lời: “Này Rādha, satta có nghĩa là chúng sanh, là kẻ còn có sự tham ái, dính mắc vào các tập hợp vật chất (Rūpakkhanda: sắc uẩn). Và sư tham ái dính mắc vào các hiện tượng vật chất cũng được gọi là satta”. Nghĩa thứ nhất, Satta, là chúng sanh còn tham ái, dính mắc. Tham ái, dính mắc bao gồm các mức độ của tham ái, dính mắc, luyến ái, bám víu. Tất cả đều có cùng nghĩa chung là tham ái. Nghĩa thứ hai, dưới hình thức một động từ, Satta có nghĩa là “dính mắc vào”. “Dầu dính mắc vào vật chất một cách thích thú hay dính mắc vào vật chất một cách tự nhiên cũng đều là dính mắc”. Và sự dính mắc có nguyên nhân là si mê. Nếu phân tích một cách sáng suốt thì chúng ta sẽ thấy vật chất của cơ thể này là gì? Cơ thể con người là sự tập hợp của nhiều thành phần vật chất. Ta có thể chia cơ thể con người thành ba mươi hai thành phần. Hai mươi phần đầu tiên thuộc về nhóm Paṭhavīdhātu (địa đại). Nhóm địa đại có đặc tính cứng mềm và chắc chắn. Tại sao gọi hai mươi thành phần đầu tiên thuộc về nhóm đất bởi vì yếu tố đất chiếm ưu thế. Ba yếu tố khác là Āpodhātu (thủy đại), Tejodhātu (hỏa đại,) và Vāyodhātu (phong đại). Hai mươi thành phần thuộc về đất gồm: Tóc, lông, móng răng, da Thịt, gân, xương, tủy, thận Tim, gan, ruột, lá lách, phổi Phèo, bao tử, thực phẩm chưa tiêu, phẩn, óc Sợi tóc, khi quán sát một cách kỹ càng, chúng ta cũng thấy bốn yếu tố, nhưng yếu tố cứng nỗi bật hơn cả cho nên, tóc được xếp vào nhóm thứ nhất, nhóm địa đại. Cũng vậy, mười chín thành phần còn lại do yếu tố cứng mềm nỗi bật nên cũng được xếp vào nhóm địa đại. Lúc quán sát vật chất mà thiền sinh cảm nhận được yếu tố cứng là đã có kinh nghiệm về địa đại. Tương tự như vậy, yếu tố lửa được kinh nghiệm khi cảm nhận được nhiệt độ. Yếu tố gió được kinh nghiệm khi cảm nhận sự căng kéo, rung động, giãn nở, và yếu tố nước được kinh nghiệm khi cảm nhận được sự dính hút, thấm ướt. Khi chú tâm quán sát vật chất xuyên qua tứ đại, chúng ta hãy chú tâm vào đặc tính của chúng là sự cứng mềm, dính hút, nóng lạnh, chuyển động chứ không chú ý đến ý niệm, hình dáng, hay tư thế của chúng. Tại sao vậy? Nếu không chú ý vào đặc tính của tứ đại mà chú ý đến ý niệm, hình dáng, tư thế thì tâm thiền sinh sẽ lang thang với ý niệm: đây là đàn ông, đàn bà, tóc, lông, móng, chân, tay v.v… Trong lúc hành Thiền Minh Sát, chúng ta phải đặt trọng tâm vào việc quán sát tứ đại mà bỏ qua ý niệm chế định như chân, tay, mặt, mũi, đàn ông, đàn bà… Điểm cốt yếu để thiền sinh chú tâm vào là những hiện tượng tự nhiên của tứ đại. Mười hai thành phần tiếp theo là: Mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, Nước mắt, nước mỡ, nước miếng, nước mũi, nước khớp xương, nước tiểu Những yếu tố hay thành phần này có đặc tính lỏng, dính hút nên được ghép vào thủy đại. Chúng ta có thể nhận ra được hỏa đại trong cơ thể chúng ta. Có bốn loại lửa. - Thân nhiệt và - Sức nóng làm cho cơ thể tưởng thành, già nua - Nhiệt độ quá cao khiến chúng ta khó chịu và than phiền là quá nóng. - Nhiệt độ cần thiết để tiêu hóa thức ăn. Bốn loại nhiệt độ này có đặc tính chính là nóng và lạnh. Bởi vậy, khi chú ý đến hỏa đại, chúng ta chỉ chú ý đặc tính nhiệt độ chứ đừng quá chú ý đến đặc tính này. Có sáu loại gió: - gió hướng lên khiến ta nôn - gió hướng xuống giúp nước tiểu và phẩn ra ngoài - gió trong ruột - gió ngoài ruột nhưng nằm trong bụng - mọi tác động của cơ thể như đi, đứng, ngồi, co, duỗi v.v… - hơi thở vào ra Tất cả sáu loại gió này đều có đặc tính bành trướng, rung chuyển, chẳng có cái gì có thể gọi là tôi, ta, linh hồn, vật thể vĩnh cữu, đàn ông, đàn bà, anh, chị v.v… Chúng ta đã nói sơ lược đến tứ đại và biết rằng cơ thể này chỉ là sự tập hợp của tứ đại. Khi các “đại” tập hợp lại thì chúng ta có hình dáng. Và nếu không nhìn bằng cặp mắt trí tuệ thì chúng ta sẽ thêm vào đó tôi, ta, đàn ông, đàn bà v.v… Do ý niệm sai lầm này nên sự dính mắc phát sinh trong tâm ta. Thật ra, cơ thể chúng ta được so sánh như “mảng bọt trên mặt nước” bao gồm những bong bóng nước mà sự hiện hữu của nó là không khí bên trong. Thọat nhìn những mảng bọt lớn chúng ta có thể thấy chúng là một khối bền vững, nhưng nếu nhìn kỹ ta sẽ thấy chúng chỉ là những mảng bọt vật chất tạm bợ. Cũng vậy, khi nhìn cơ thể vật chất bằng mắt thường chúng ta thấy nó bền vững, tồn tại lâu dài, hấp dẫn, đẹp đẽ với những bộ phận riêng biệt chẳng hạn như đầu, tay chân v.v… như là một chúng sanh. Dưới con mắt của người không hành thiền thì cơ thể này là một thực thể trường tồn, đáng yêu, có thể kiểm soát, điều khiển được với cái tôi, cái ta được thêm vào trong đó. Và vì thế họ sẽ dính mắc vào chúng một cách đầy tham ái. Tuy nhiên, dưới nhãn quang của người hành thiền thì cơ thể này chỉ là mảng bọt nước trống rỗng, không có cốt lõi, không có gì bên trong, chúng chỉ là sự tập hợp của ba mươi yếu tố đáng ghê tởm, chẳng có gì trường tồn, đẹp đẽ. Đó là cách quán sát cơ thể vật chất xuyên qua trí tuệ của người hành Thiền Minh Sát. Đức Phật dạy rằng: “Dính mắc mạnh mẽ vào các hiện tượng vật chất, Như Lai gọi đó là satta", có nghĩa là chúng sanh, là kẻ còn tham ái vào những hiện tượng vật chất”. __._,_.___ Sayadaw U. Paññādipa Giảng - Hòa Thượng Kim Triệu Sư Khánh Hỷ soạn dịch http://www.thuvienhoasen.org
-
Đến lúc này đây thì Wild cần phải công bố đáp án để những ai đọc qua sẽ thấy vì sao cô Chị phì cười khi đọc xong mãnh giấy với vẻ hoan hỷ hài lòng, và cũng cần xác nhận đáp án của bác Thiên Sứ gần đúng bởi đúng ý mà chưa chính xác từ, đó là 2 từ "CÂM MỒM" vì trong ý nghĩ Cô Chị đinh ninh rằng Wild thông cung riêng tư thiên vị nên rất giận dữ mà hành động mất kiểm soát.
-
Theo cách hiểu của Wild trong từ "Cái" mà Rin86 đặt ra hàm ý là Cha Mẹ, ai cũng mặc nhiên thừa nhận vì đã là 1 thành ngữ quen thuộc, nhưng ở đây có ý tương ứng như "sòng bạc" thì "Cái" là chủ xị là người chốt của cuộc chơi, Chẳng biết có đúng không? Do đó được xem như người có trách nhiệm trực tiếp.Người ta thường gọi là "nhà cái" .
-
Xin tặng các bà Mẹ và các bà Vợ một câu chuyện rất đáng yêu... Tuyệt chiêu !!!!!! Chiếc giày chân phải 18 giờ, chị gọi điện thoại đến Công ty của chồng, chú bảo vệ nói rằng: "sếp vừa đi ăn tối ở nhà hàng". Linh tính cho chị biết đó là... nhà nàng chứ không phải nhà hàng. 20 giờ, sau khi cho các con ăn xong, chị phi xe máy đến nhà nàng. Ô tô của sếp đang đỗ ở trong sân. Linh tính đã không đánh lừa chị. Có cái gì đó rất nóng, trào lên nơi cuống họng nhưng chị đã kịp nuốt khan nó vào. Không ấn chuông, không đập cửa, cũng không gào thét, chị cởi chiếc giày bên chân phải của mình, treo vào phía trong cánh cửa sắt rồi phóng xe về nhà, giúp các con ôn bài. Gần 23 giờ đêm, sếp mới chỉnh trang lại y phục, chải lại mái tóc bị vò rối bù và ra về. Nàng ra mở cửa cho sếp trong bộ váy áo ngủ mỏng tanh đầy quyến rũ và giật mình khi nhìn thấy một chiếc giày treo trong khung cửa sắt. “Sao lại có một chiếc giày ở đây? Một chiếc giày chân phải rất đẹp”. “Thôi, em vào ngủ đi. Cho dù đẹp nhưng một chiếc giày thì cũng chẳng làm được việc gì”. Trên đường về nhà, sếp cứ nghĩ vẩn vơ về chiếc giày đó, nó là của ai? Và vì sao nó được treo ở đó? Sếp đánh ô tô vào gara, mở cổng rất khẽ. Có một chiếc giày chân trái của phụ nữ đặt ngay ngắn trên bậc cửa. Sếp đứng như trời trồng trước chiếc giày đó chừng 2 phút. Sau đó sếp vào phòng ngủ riêng, vì sếp không muốn nghe vợ cằn nhằn, khóc lóc. Nhưng sếp trằn trọc mãi không sao ngủ được. Sẽ có giông bão trong căn nhà này. Sẽ là nước mắt, tiếng la hét và một lá đơn ly hôn. Rồi hai đứa nhỏ sẽ chán đời, đi bụi và hư hỏng... Đó là tấn bi kịch đáng sợ nhất. Nhưng sáng hôm sau mọi việc vẫn diễn ra bình thường. Bát phở gầu bò thơm ngào ngạt vẫn được để ngay ngắn trên bàn cùng với mấy dòng chữ của vợ: “Em đưa các con đến trường. Anh ăn sáng rồi đi làm. Hôm nay trời u ám nên anh phải mặc bộ vét màu sáng, thắt cà vạt màu sáng. Em đã là kỹ, treo trong tủ”. Sếp gọi điện thoại cho nàng: “Chiếc giày chân phải kia là của vợ anh. Đừng vứt đi nhé”. Giọng nàng đầu dây bên kia nghe hơi hoảng hốt: “Trời ạ! Anh muốn làm sao thì làm chứ nếu chị ấy đến nhà em làm ầm lên thì em không sống nổi đâu. Chiều anh tạt qua lấy chiếc giày về”. Nhiều ngày trôi qua mà giông bão không nổi lên, thái độ của vợ sếp vẫn bình thản, song một chiếc giày trên bậc cửa cứ nhắc sếp về sự lẻ loi và tội lỗi của một người. Rồi một buổi chiều, sếp lấy hết can đảm, lôi chiếc giày bên phải trong cốp xe ra, đặt ngay ngắn bên chiếc giày chân trái của vợ. Chị đi làm về, đứng sững trước bậc cửa mấy giây rồi chạy vào, ôm ghì lấy chồng mà thì thầm: “Ôi! Chiếc giày chân phải của em!” Sếp cũng thì thầm bên tai vợ: “Anh xin lỗi em - nghìn lần xin lỗi!”. Đàn ông nếu biết kỹ quá khứ của vợ thì đau đầu lắm. Còn đàn bà, nếu biết hơi nhiều về hiện tại của chồng thì đau tim lắm. Nhưng đã trót biết rồi mà ứng xử được như bà vợ của ông sếp kia thì thật là cao thủ.
-
Có nhận của Cháu Bảo Hằng 500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) ủng hộ suất ăn cho bệnh nhân Ung bướu . Quỹ hiện có : 5,950,000 đ + 500,000 đ = 6,450,000 đ (sáu triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng)