-
Số nội dung
1161 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
3
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Rubi
-
Các độc giả kính mến! Theo Từ Điển Dịch Học thì lịch sử đã tồn tại cả hai danh phái dịch học, đó là Dịch Học Phục Hy và Dịch Học Trần Đoàn. Thực thế, dấu vết của Dịch Học Phục Hy thì dễ tìm thấy trong các sách đã được phiên dịch, so với dấu vết hơi khó tìm, khó gặp đối với người Việt, đó là Dịch Học Trần Đoàn. Vì sao lại như vậy, chỗ này thì được Việt dịch, chỗ kia lại không được Việt dịch ? Bởi vì Dịch Học Phục Hy được xem là Dịch Học Chính Tông còn Dịch Học Trần Đoàn thì khác hẳn Dịch Học Phục Hy. Tuy có sự khác nhưng sao Dịch Học Trần Đoàn vẫn được tồn tại trong những đại từ điển như Vĩnh Lạc Đại Điển ? Ấy là bởi vì tính...thay vì Rubi nhận xét thì tạm thời sẽ bắt đầu sưu tầm từ điển và hơn nữa sẽ so sánh hai loại Dịch Học này với hai hướng đã manh nha mở ra được sự chú ý của các độc giả, tức là hai hướng mà Rubi đã chỉnh lý trực tuyến. Tạm thời, chủ đề này, Rubi đặt bút viết. Nhưng cũng có thể nó chủ động được dừng lại bất kỳ lúc nào. Mời các độc giả xem tạm.
-
@ độc giả: Nói riêng sự phản biện (và nói chung sự nghiên cứu), thứ nhất phải tiếp cận được, nhìn thấy thoáng thoáng được hệ thống vĩ mô, thứ hải phải cụ thể được "đơn vị" từ ngữ chuyên ngành. Muốn hiểu được một câu nói thì phải hiểu được tất cả các từ trong câu nói đó, phải định nghĩa hay là mổ xẻ các từ là điểm nhấn. Thêm một yếu tố này vào thì nó lại là phương tiện tốt để đồng đẳng, đối lập với tất cả nội dung định hướng đánh giá lý luận mà chủ topic đã đưa ra. Hãy thử, có không những từ (từ ngữ) cần mổ xẻ và định nghĩa để xây dựng nội dung phản biện vấn đề hay mạn đàm vấn đề ? Nếu có thì người phản biện có mổ xẻ nó hay chưa, hay là đã "qua mặt" nó. Chính vì qua mặt từ đơn điểm nhấn cho nên sự phản biện/phản đối bị phản tác dụng. Ví dụ từ đơn như là huyệt đạo Ví dụ giải thích từ đơn như là công lực Vậy, người phản biện có chịu luyện công để đánh trúng được huyệt đạo ? Vấn đề này thì lại phải đầu tư thời gian và nhiệt huyết tương đối ngang bằng với người khơi mào đặt vấn đề, nhìn chung rồi đánh giá thì dễ thấy là không tưởng.
-
@ độc giả: Phật học là Phật học, Phật giáo là Phật giáo. Tức là: Phật học không phải Tôn giáo Phật học không phải Triết học Phật học không phải Khoa học Mà chỉ là những ngoại đạo này đồng hóa những kiến giải lĩnh vực với Phật học. Phật học, Phật giáo là giác ngộ sự thật. Không có Tôn giáo nào tốt nhất mà chỉ có Sự thật. Ví Tôn Triết Khoa là Ba ngọn núi, lại nói trên núi không có Phật, nhưng trong trường hợp này thì trên núi có Phật.
-
Chẳng phải Phật học thì người ta có thể học lên cao ngất.Học lên cao ngất thì người ta mới đồng ý Phật giáo là Tôn giáo của Thế giới. Cho nên, mỗi người tùy theo kiến giải lĩnh vực, tham gia. Học lên cao ngất, mà không có trình độ trải nghiệm Phật học để hóa giải thì"..."độc giả tự ngộ 3 chấm. Từ Không tính và Nhân quả thì có thể ẩn đi để nói rằng Bất định và Nhân quả, thế chẳng phải Rubi cũng có tầm nhìn đó sao. Có nhiều người hay không thích nói đến Phật giáo, song người xưa vẫn nói có tài phải có đức, cái đức đó không gì hơn chính là Phật giáo thực hành.
-
Người cao siêu thì ta đây cũng cao siêu, nên như thế thì hay. Nhưng được chỗ cao siêu thì cũng phải một phen hạ tâm tầm Thầy cầu Đạo chứ không phải từ trên trời đùng một cái thành cao siêu đâu. Ngôn từ cao siêu, nó là cái nét bình thường và tự nhiên của trí tuệ căn bản, mà cái hạt giống này thì ai cũng sẵn có, chỉ là một phen gặp bạn tốt thầy lành là có thể.Nếu có một quá trình căn bản thì đó chính là nền tảng của cao siêu, khi đã có nền tảng thì những ngôn từ khúc triết ngắn gọn nhuận văn chính là những khẩu quyết khai mở trí tuệ cho người đã có căn bản nội lực, có căn ngộ tính. Nhưng khi chưa có căn bản thì nói rằng như thế đó là cao siêu thì cũng là lẽ đương nhiên, vậy cũng nên giải thích. Trước khi giải thích thì thử nhìn lại xem Rubi có đi lung tung lạc đề ở đối thoại trước hay không. Trong đối thoại đó, cái điểm nhấn là từ cái ngữ "bất định và nhân quả". Nói đến bất định và nhân quả thì thà nói tời Không tính và Nhân quả thì sẽ là chuyên môn hơn. Và Rubi đã dẫn giải về Không tính và Nhân quả. Chỉ có thế, vậy có đi lung tung lạc đề hay là không. Nếu bảo rằng thế là lạc đề thì cái nhân của nó là ngữ "bất định và nhân quả". Nếu ngữ "bất định và nhân quả" nằm trong vấn đề của chủ đề thì Rubi không có lạc đề chút nào. Y tha khởi tính: -Y: nương tựa -Tha: cái bên ngoài, người ngoài, vật ở ngoài. Ví dụ, kiến tha mồi từ ngoài vào bên trong tổ. -Khởi: khởi -Tính: cái thật, cái bản chất -Y tha: nương tựa vào các thứ bên ngoài -Khởi tính: tính cách được xây dựng nên -Y tha khởi tính: nói dễ hiểu là bản chất được tạo nên, được xây dựng nên bởi các thứ bên ngoài. Ví dụ: Tinh cha huyết mẹ, chung hợp nên hình, năm tạng trăm hài, cùng nhau kết hợp. Đó chính là Y tha khởi tính, nhưng con người sinh ra, không học thì không biết được như thế, và do huân tập cho nên lại: chấp cho là thật, quên mất pháp thân, sinh dâm sát trộm, bèn thành ba nghiệp. Tạm nói ít thế, không ai đó lại bẩu là dài dòng.
-
Bất định và Nhân quả.Chính tông Phật giáo nói các pháp Tứ đại duyên sinh, y tha khởi tính. Y tha khởi tính tức là Không tính. Nương vào sự duyên sinh-y tha, từ đó mỗi pháp có thể gọi tên, cái bàn, cái ghế, cái máy tính, mặt trời, mặt trăng...vv. Ngay nơi con người, ngũ ấm y tha khởi tính, tức là ngũ ấm duyên sinh. Điểm này người ta hay gọi là chữ KHÔNG của trí tuệ Phật giáo, song nhiều người thích phân tích (ví dụ luôn, như một sự phân tích trước đây của Tử Bình Gia Gia: 'tính chất âm hay dương của quái dựa vào tính chất âm hay dương của hào thượng') và rơi vào ngờ nghệch rồi cho rằng KHÔNG cả nhân quả. Sự thật Tính không ví như Tay phải thì Nhân quả ví như Tay trái, Tính không ví như Mắt phải thì Nhân quả ví như Mắt trái. Vì dụ nói theo tính hài hước để đánh giá về các kiến giải tà lệch; nhiều người dựa vào Tính không để 'Không nhân quả' luôn thì đó chẳng phải tự móc một mắt hay sao. Rubi nêu ra thông tin như vậy, độc giả có thể so sánh với các yếu tố trong các ý kiến khác để tự có nhận định. Ví dụ có thể nhận định : "Ý kiến này- 'Đến đây thì ta lại thấy cần thận trọng để không bị nhầm lẫn giữa Không tính và Nhân quả'-thế tức là Không tính và Nhân quả là 2 "thế giới" khác nhau. Như vậy, đó là một sự lầm lẫn."
-
Cái này Rubi xem, có ý kiến.-Vấn đề về "lý thuyết thống nhất", chắc nick Vuivui cũng đã có ý kiến đối với các ý kiến về vấn đề này, theo hướng phản biển/phản đối thì tương thích với ý kiến của nick Vuivui lắm. Và để xem Dare ý kiến y theo ai, nếu có. -Vấn đề về Ứng dụng Phật giáo, ứng dụng đầu tiên là Tâm ngay thẳng, là tương đồng với yếu chỉ của logic, phải vận dụng triệt để không ngừng thì mới có thể chuyển vật chuyển chữ mà không bị các pháp chuyển, cảm tình, cảm tính chuyển, thiên lệch chuyển. Phật giáo nói các pháp ngoại đạo là mê tín, không oan tí nào, dù cho có chứng minh các pháp ngoại đạo là khoa học nhưng thử quan sát xem, yếu tố con người, vận dụng được một chút thì đã bị các pháp chuyển, tâm tham sân si nổi lên, rồi con người với trí thức ngoại giáo sẽ không biết là cái gì. Phật giáo là Giác ngộ, là giải thoát, cho nên càng vận dụng tinh thần giải thoát thì càng không dính mắc, đã không dính mắc thì mới đạt tới chí công vô tư khi tham gian vấn đề và nghiên cứu vấn đề. Nhân tâm quả thực cong queo nến sợ bàn đến Phật giáo trong không gian lý học, thực tế vì không ứng dụng được cái tinh thần sáng suốt nhất, chính là tinh thần giải thoát của Phật giáo, vào trong mọi lúc vấn đề cho nên thành ra có thành kiến, muốn né tránh, qua mặt Phật Nhãn để trói buộc vấn đề vào mình (bị vấn đề chuyển hay không thì phải xem ngấm trí tuệ Phật giáo đến đâu).
-
Đức Phật có rất nhiều danh hiệu, một trong những danh hiệu là Thiên Nhân Sư, tức là Thầy của Trời và Người, vị Thầy chỉ đường Giác ngộ Giải thoát. Trong ba cõi lành, Trởi cao nhất, tiếp theo là A tu là, sau là Người. Bộ đội thuộc cõi Thiện A Tu La; nên dùng tư công lao to lớn thì thích hợp hơn là công đức vô hạn.Cái chính là đã phân biệt rõ các Pháp giới, Pháp giới nào thì có Thánh chúng hoặc chúng sinh của Pháp giới đó. Các pháp giới thuộc thiện hay ác thì vẫn là Phàm, Lục Phàm, còn pháp giới Thánh thì có bốn, gọi là Tứ Thánh. Phàm và Thánh được phân biệt rõ, ở đây là Pháp giới Phật và Pháp giới A Tu La. Ý kiến còn lại giành cho độc giả, Rubi chỉ ý kiến thêm thông tin.
-
Nick Vuivui nói đến sự phản biện trực tiếp. Bình thường thì câu nói này không vấn đề gì, nhưng thực tế nó lại có vấn đề khi nhìn từ bên trong, sự kiện này và sự kiện trước. Nick Vuivui, nếu thật sự có chỗ trụ vững ở tuvilyso thì vấn đề này rất có triển vọng là vấn đề. Cùng một tác giả có những bài viết và những chủ đề khác nhau, nhưng ở diễn đàn mà có nick Vuivui là thành viên thì bài viết của tác giả đó đã bị làm cho ẩn đi, không Trực Tiếp Hiển Thị, với tinh thần như vậy và áp dụng sự bình đẳng thì mọi bài viết của tác giả đó đều phải đối thoại phản biện bảo vể trong sự, một là Trực Tiếp Hiển Thị ở tất cả các diễn đàn, hoặc một là chỉ Gián Tiếp Hiển Thị ở tất cả các diễn đàn. Cho nên, có lẽ cái quyền dùng từ "trực tiếp" của nick Vuivui đối với sự phản biện tác giả của những chủ đề nghiên cứu, sẽ không còn là tự do hoàn toàn. Tất nhiên nói như vậy, kết luận như vậy trong trường hợp nick Vuivui có tham gia ý kiến trong các sự kiện. Còn không thì không thành vấn đề. Vấn đề thứ hai là "Phí công và mất thời giờ". Mất thì giờ cho sự đối thoại với cái mông lung của một người khác. Nhưng mà trong trường hợp này, người khác đó bị Vuivui có thành kiến, mà thành kiến cho những phát kiến chỉnh lý, chỉnh lý cái lý thuyết đã tồn tài mấy ngàn năm. Mất thì giờ cho cái vấn đề mấy ngàn năm tồn tại bị phát hiện có vấn đề thì có nên mất hay là không. Nói như vậy trên cơ sở vấn đề con người. cùng một người, chỗ này thì nói thế này, chỗ kia thì nói thế kia, so sánh tinh vi và thấy cái sự mâu thuẫn trong những tình huống. Đó cũng là những thực tế vấn đề con người và chân lý cho mỗi vấn đề, chứ không đơn thuần chân lý mỗi vần đề đều có thể tồn tại độc lập mà không bị ảnh hưởng bởi những người, ở đây là người tham gia đối thoại, xa hơn một chút là người liên quan (cùng lĩnh vực).
-
Chẳng biết cái nhân xét của Vuivui "Đừng bận tâm những ý kiến không đâu, kiến thức thì mông lung" dành cho ai. Giả sử mà nói đến Rubi thì Vuivui thật là không ngay thẳng. Chưa cần biết mông lung nó ra làm sao nhưng trong cái mông lung này nó có cái rất đúng và quan trọng, đồng thời có sự phản biện của Vuivui rồi, nhưng sự phản biện đó đã đi chệch hướng và gây ra nhiều thành kiến.Thử hỏi, bất cứ một nhà nghiên cứu ở bất cứ một lĩnh vực nào, họ có sự mông lung hay là không ? Rubi nghĩ rằng, mông lung càng nhiều thì chân lý càng tuyệt. Có mông lung thì mới có chân lý, có quặng thì mới có vàng, có nháp thì mới có công trình, công trình càng lớn thì nháp càng nhiều, nháp càng nhiều thì tức là mông lung càng khủng. Mùn cưa và bào gỗ là cái không thể không có của một tay thợ mộc rắn rỏi.
-
Công trình và Đánh giá Công trình là hai lĩnh vực khác nhau. Dare có vẻ đang là người Đánh giá Công trình thì phải. Quân từ thì nhiều người có Công trình, tiểu nhân thì nhiều khi cũng hay Đánh giá Công trình, chẳng phải rời vào trường hợp "Nhà Phê bình triết học cao hơn là Triết học gia". Tuy là Rubi đã từng nói tới sự khác nhau giữa Phê Bình Triết Học Gia và Triết Học Gia, trước đây; và bây giờ có thể bổ xung, người ta hay có tinh thần "Nhất ngôn cửu đỉnh" vậy hãy chia phần, một phần là Một Nhà Bình Luận Phê Bình Triết Học Nghệ Thuật, chín phần là Một Nhà Sáng Tác Triết Học Nghệ Thuật. Khi làm một nhà sáng tác, có tác phẩm thì sẽ hiểu được quân tử và tiểu nhân có liên quan gì đến chân lý khoa học.
-
Nếu mà nick Vuivui áp dụng đúng các tiêu chuẩn của Dare nêu ra thì rất hay, nhưng thật tế thì không như vậy. Vậy Dare xếp nick Vuivui mức số mấy ? Ví dụ nick Vuivui chửi thẳng vào một phát kiến đúng của Rubi. Trong tình huống này, áp dụng được các lý luận mà Dare đã đưa ra hay không. Cho nên, nick Vuivui đã lên tiếng ủng hộ Dare thì Rubi cũng nói thêm để ba mặt một lời. Phản biện thì không phản biện, phản đối chưa xong thì Vuivui chửi. Rubi không vu cáo cho Vuivui đâu; nick Vuivui chửi thẳng vào phát kiến Thái Cực Thổ của Rubi. "Cách tư duy tiến đến chân lý", một câu nói định hướng hay, tốt, nhiều người khen. Nhưng lý và sự phải tương ưng, Rubi nghiên cứu, đó là sự, có sự thì Rubi đủ tư cách dùng lý để bảo vệ, ấy thế mà Dare lại nhận định như vậy là cảm tính. E rằng đó là một nhận định cảm tính của Dare, đó lại là giỏi môn LLSL rồi. Nếu không có một Rubi thì một giang hồ học thuật sẽ đang như thế nào ?
-
Chủ đề mạn đàm "định mệnh có thật hay không", lạ một cái là tuy có tham gia đối thoại nhưng Rubi lại không tham gia gì cả. Chỉ là xem tới, thấy một số điểm cần nói thêm vào thì nói. Điểm thứ nhất, để phản biện một vấn đề thì người phản biện phải có dư tâm trí và đạo lực, như vậy thì, ít nhất có thể sử lý tình huống như không "kết luận đánh giá vấn đề vội vàng" (vừa là cách phản biện cẩu thả vừa là một sai lầm tình huống (không biết thì không sai, nhưng nếu cố tình kết luận vượt quá sức mình thì lỗi))", như phá đi cái cũ trong mục đích chính là phát triển cái mới chứ không phải chỉ phá đi rồi ra sao thì ra, và như phá đi cái bên trong mà vấn đề không bị nội công ngoại kích. Điểm thứ hai, nói là lý thuyết lý luận được xây dựng từ thực tế và đang thực tiễn ứng dụng, nhưng có một điều là khi ứng dụng thực tiễn thì chỉ nhìn thấy đằng trước mà không nhìn thấy đằng sau, chỉ thấy được cái trong ánh sáng mà không thấy được cái trong bóng tối. Cũng tức là, khi chưa tự có được chân lý vấn đề mà lại phản biện vấn đề công khai thì e là trong "giang hồ" học thuật quân tử thì bị hại mà tiểu nhân lại đắc ý.
-
Chủ đề đang diễn biến ở phương pháp đối thoại.Rubi bổ xung thực tế về môi trường học thuật, tình hình đạo tâm tốt xấu điển hình; và không cố tình nói đến ai trong chủ đề này, mà là sự cân bằng cho phương pháp đối thoại mà Dare đã sưu tầm và đưa ra, như vậy thì cũng là tham gia vào vị trí mà làm cho sự đối thoại không diễn biến tiêu cực theo cái nhìn và kinh nghiệm của Rubi. Các lỗi LLSL thì Dare nêu ra đó, sưu tầm đó, nó ứng với lý thuyết, còn thực thế áp dụng thì cần một cái nhìn tổng quan môi trường học thuật để rồi cân nhắc lời nói khi phản biện thực tế trong topic này.
-
-Phụ: phụ giúp cho sự biến dịch, ứng với "Vô Cực Nhi Thái Cực"-Hào Dương, ứng với Mặt Trời-Thiên -Mẫu: khuôn mẫu cho sự biến dịch, ứng với Hữu Cực Nhi Lưỡng Nghi-Hào Âm, ứng với Mặt Trăng/Địa Cầu-Địa -Cũng có thể gọi là Phụ Tượng, Mẫu Tượng của Hệ Thống Tượng-Dịch Học Quần Kinh -Nội Ngoại: Nội ứng với Phụ, với Vô Cực Thái Cực, thực tế thì ứng với Mặt Trời. Ngoại ứng với Mẫu, với Hữu Cực Lưỡng Nghi, thực tế ứng với Mặt Trăng/Địa Cầu. Địa Cầu xoay quanh Mặt Trời mà tạo thành hệ một cặp Nội Ngoại, Nội Dương, Ngoại Âm.
-
Học giả nghiên cứu thì căn bản là dụng tâm, giả học đạo văn thì cũng không ngoài dụng tâm. Nhưng có điểm khác nhau là một dụng tâm mà sinh tâm, một dụng tâm mà bỏ rơi tâm, cũng tức là một thì dụng sinh thể, một là dụng khắc thể. (Rubi giơ tay tham gia vài lời, cái này song song với cái đối thoại liền trước).
-
Linh cảm có thể đồng hành với sự thông minh và khôn ngoan, không giống như khôn lỏi thường đồng hành với sự lanh lợi. Khôn lỏi thì đôi khi có thể con người ta đạo lý đạo văn rồi lại đi tranh hùng đấu đảm, kể cả trong giới học thuật hay là võ lâm. Ví như Quốc sư Thổ phiên Cưu Ma Chí, học trộm được 72 tuyệt kỹ Thiếu Lâm rồi lại huyênh hoang đến Thiếu Lâm Tự để thi công đấu lực, đấu thua thì lại dùng ám khí sát hại đối phương. Nếu thực tế, một là đã đảm bảo được môi trường học thuật đã được thanh lọc, hoặc hai là nhìn ra được ai là học giả ai là giả học thì khi này ngay thẳng phản biện mới có thể có một kết thúc viên mãn. Học giả nghiên cứu thì có sai có đúng, còn giả học thì chỉ có đúng mà không có sai, cái nào là dịch cái nào chẳng phải dịch ?
-
Chu kỳ biến dịch gồm có quá trình Dương Khí Tăng và Âm Khí Tăng, đó là cơ sở để thấy quá trình Bán Chu kỳ Dương khí Tăng nên (nên xác định; ko phải cho nên ) được xác định là Dương Cực, quá trình Bán Chu kỳ Âm Khí Tăng là Âm Cực. Và như vậy, các đối tượng phần tử trong mỗi cực đã có được cái Thể rõ ràng.Theo sự thuận lý, cái Dụng sinh cái Thể thì sẽ là tốt đẹp hoàn hảo, vì vậy cũng nên xem Quái Càn là Quái Thể của Dương Cực, Quái Khôn là Quái Thể của Âm Cực. Quái Càn ứng với Dương Khí Vũ Trụ (không thời gian) cực thịnh, tăng đến đỉnh điểm. Quái Khôn ứng với Âm Khí Vũ Trụ cực thịnh, tăng đến đỉnh điểm. Có Tăng thì phải có Giảm, có Giảm thì tức là Phản Biến. Phản tức là đối lập, biến thức là điểm quá độ của thời kỳ quá độ. Thời điểm Phản biến là thời điểm từ Cực Âm chuyển sang Cực Dương, từ Cực Dương chuyển sang Cực Âm. Thời gian, Dương Tăng đến tột đỉnh thì đó gọi là Thái Dương (Dương Lớn Mạnh), phản biến, Dương Giảm thì gọi đó là Thiếu Dương. Thời gian, Âm Tăng đến tột đỉnh thì đó gọi là Thái Âm (Âm Lớn Mạnh), phản biến, Âm Giảm thì gọi là Thiếu Âm. Tóm lại: -Dương Cực: nguyên lý là Bán Chu Kỳ Dương Khí Tăng (Dương Khí Tăng là một Bán Chu Kỳ) -Âm Cực: nguyên lý Bán Chu Kỳ Âm Khí Tăng (Âm Khí Tăng là một Bán Chu Kỳ) -Hai phần của Dương Cực là Mộc và Hỏa, Mộc sinh Hỏa -Hai phần của Âm Cực là Kim và Thủy, Kim sinh Thủy -Biến: có Tăng thì phải có Giảm -Phản phục: biến là phản phục, Vũ Trụ quá độ Âm sang Dương, Dương sang Âm. -Tăng Giảm: Dương Tăng, Dương Giảm. Âm Tăng, Âm Giảm. Tăng này là tăng đến tột đỉnh, đến tột đỉnh thì phải Giảm. Bắt đầu Giảm là bước sang đối cực., cực đối lập. (phụ ý ở đây là nên phân biệt sự đồng thời và không đồng thời. Tăng Giảm đồng thời là trong Âm Tăng thì có Dương Giảm, trong Dương Tăng thì có Âm Giảm. Tăng Giảm không đồng thời là trước có Dương Tăng thì sau Dương Giảm, trước có Âm Tăng thì sau có Âm Giảm) -Âm Giảm: là hiện tượng Âm khí còn mạnh mà Dương khí mới sinh ở đầu quá trình của Dương Cực. -Dương Tăng: là hiện tượng Dương khí đang mạnh mà Âm khí đang tuyệt ở cuối quá trình của Dương Cực. -Dương Giảm: là hiện tượng Dương khí còn mạnh mà Âm khí mới sinh ở đầu quái trình của Âm Cực. -Âm Tăng: là hiện tượng Âm khí đang mạnh mà Dương khí đang tuyệt ở cuối quá trình của Âm Cực. -Thiếu Âm Mộc: Âm khí bắt đầu giảm, Dương khí bắt đầu sinh, thuộc Dương Cực -Thái Dương Hỏa: Dương khi thịnh, Âm khí tuyệt, thuộc Dương Cực. -Thiếu Dương Kim: Dương khí bắt đầu giảm, Âm khí bắt đầu sinh, thuộc Âm Cực -Thái Âm Thủy: Âm khí thịnh, Dương khí tuyệt, thuộc Âm Cực
-
Thống kê cục bộ các cặp số "đồng thời, đối lập":-Đồng thời: Trong một mùa. -Đối lập: " 'Đầu mùa so với cuối mùa' và 'Bán cầu bắc so với Bán cầu nam' ". Xuân Bắc và Thu Nam: Lập Xuân Bắc và Thu Phân Nam ứng với 8 và 7, tổng bằng 15 Xuân Phân Bắc và Lập Thu Nam ứng với 3 và 2, tổng bằng 5 Hạ Bắc và Đông Nam: Lập Hạ Bắc và Đông Chí Nam ứng với 4 và 1, tổng bằng 5 Hạ Chí Bắc và Lập Đông Nam ứng với 9 và 6, tổng bằng 15 Thu Bắc và Xuân Nam: Lập Thu Bắc và Xuân Phân Nam ứng với 2 và 3, tổng bằng 5 Thu Phân Bắc và Lập Xuân Nam ứng với 7 và 8, tổng bằng 15 Đông Bắc và Hạ Nam: Lập Đông Bắc và Hạ Chí Nam ứng với 6 và 9, tổng bằng 15 Đông Chí Bắc và Lập Hạ Nam ứng với 1 và 4, tổng bằng 5 Cách thống kê này được nêu ra để so sánh và/hoặc loại bỏ 2,3...các trường hợp sau: -Trường hợp loại bỏ: loải bỏ đi cách thống kê 2 trong hướng 2. Tức là 1234, 9876. +1 Đông Chí Nam +2 Lập Thu Bắc +3 Xuân Phân Nam +4 Lập Đông Bắc +9 Hạ Chí Bắc +8 Lập Xuân Nam +7 Thu Phân Bắc +6 Lập Hạ Nam Nhận xét: cách thống kê 4 đối tượng liên tiếp kiểu này động tới không thời gian 3 mùa, và các số tuy liên tiếp nhưng không có sự cân xứng về đường đi hình học. Kết luận, "lâm sàng" có vấn đề nếu lấy đây làm yếu tố thông tin tham khảo phát triển. -Trường hợp loại bỏ: loại bỏ với cách thống kê số theo cực, cực theo quái. Quái Cực là Càn Đoài Ly Chấn, Tốn Khảm Cấn Khôn, theo đó Số tương ứng là 9438, 2761. Cách thống kê này không thể cân bằng đối cực, nếu theo sự truy tìm cân bằng tổng độ số mỗi cực. Thực chất nó có giá trị khi truy tìm sự ở cấp độ tổng quát cả hai cực địa cầu, và nếu xét trên một cực địa cầu thì thấy có sự đối cực lớn nhỏ về độ số (98 > 76, 43 > 21) -Trường hợp so sánh: so sánh với cách thống kê trong hướng 1. Tức là 1234, 6789 (510). +1 và 2 là Nhỏ, đối với Lớn, 3 và 4 là Lớn. 1 + 4 = 5, 2 + 3 = 5 (Thủy Hỏa Mộc Kim đủ cả) +6 và 7 là Nhỏ, đối với Lớn, 8 và 9 là Lớn. 6 + 9 = 15, 7 + 8 = 15 (Thủy Hỏa Mộc Kim đủ cả, vế còn lại) (+5 và 10 là Lớn Nhất).
-
Kakalotta, haha.Cậu này có năng khiếu toán lý thành ra giao tiếp rộng và tâm lý cũng được chỗ tung hoành. Nhưng cũng có cái nhược điểm, sự giao tiếp rộng thì đôi khi cũng không lường được giang hồ mưa lạnh máu tanh; tâm lý tung hoành cũng là Ngũ tặc tự phá đến tạng tim. Nếu mà dụng ý có nhiều cái ác nữa thì có thể thêm bệnh về tiêu hóa, dạ dày (câu này chỉ là phòng thôi). Vậy nên, người này cần một đẳng cấp trí tuệ Đại Thừa, đó là thấy biết Bình Đẳng Giác. Kiến giải của người khác sai thì cũng là không mà kiến giải của ta đúng thì cũng là không. Nhưng mà để mau chóng thể nhập, thấm thía được chữ "không" này thì lại phải bước đến đẳng cấp Tối Thượng Thừa. Cậu này thì xem và sưu tầm rất nhiều sách, nhưng không biết có sách nào có giá trị với những vấn đề này hay không ? Cái từ "ngụy biện" thì có thể so sánh với một cuộc họp gần một hai năm nay (truyền hình, thời sự). Có vị đứng lên phát biểu, nhưng nói không khéo, và đã dùng ngữ: "làm Quan là Quàng dân". Và khi cuộc họp được đánh giá, tổng kết thì đã có lời phê bình chung chung về một số trường hợp phát biểu chưa được tốt, tức là nói đến cách dùng từ ngữ của vị đó....Trong không gian ấy, phát biểu như thế thì cũng giống "hàng chợ lắm", rất chỉ là non nớn.
-
Theo quan điểm Ngũ Tặc, câu này nhắc đi nhắc lại nhiều lần thì có thể khám thấy bệnh về Tim. Rubi thấy không nên nói như thế.
-
Rubi giơ tay ý kiến ý này.-MỘT lý thuyết thống nhất, chắc phải nói đến cái tính đặc biệt của Trái Đất, đặc biệt là ở chỗ so sánh Trái Đất với thiên văn hiện đại thì chưa tìm thấy một Thái Dương Hệ mà trong đó có một hành tình như Trái Đất để con người và động vật có thể tồn tại. Ý nghĩa ở đây là, lý thuyết thống nhất chắc phải liên quan rất sâu với tính đặc biệt của Trái Đất. -Lý thuyết Âm dương Ngũ hành lại có tính khái quát Thiên Địa Nhân, nói riêng trong Thái Dương Hệ, và có thể nói rộng, cộng thêm thiên văn vũ trụ. -Âm dương Ngũ hành Thiên Địa (nghiêng về Thiên) thì có Mặt trời và Xuân Hạ Thu Đông. -Âm dương Ngũ hành Nhân Thể thì có: Ý-Dục-Tín Hồn-Hỉ-Nhân Thần-Lạc-Lễ Phách-Nộ-Nghĩa Tinh-Ái-Trí "Nếu quả thực có một lý thuyết thống nhất thì chính nó quyết định chúng ta tìm ra nó hay không ?" Con người quyết định tìm ra một lý thuyết thống nhất hay không, và quyết định thì phải theo đúng cách thức Ngũ Vật-Ngũ Tặc-Ngũ Sắc. Vậy có thể thấy, câu nói trên của một nhà khoa học hàng đầu có tâm trí rất bình đẳng, vừa triết lý, vừa khoa học, vừa rõ nghĩa.... Tóm lại một ý, Lý Thuyết Thông Nhất cần có trong đó, vấn đề về Thái Dương Hệ và vấn đề về Ngũ Vật-Ngũ Tặc-Ngũ Sắc (Con người).
-
2011-04-25-3:24AMRubi quan sát hình trên và liên tưởng tới hình dưới đây: Kết hợp hai hình này và so sánh thì thấy hai cách gọi khác nhau cho Tứ Tượng. -Cách thứ nhất: +Kim gọi là Thiếu Âm Kim +Thủy gọi là Thái Âm Thủy +Mộc gọi là Thiếu Dương Mộc +Hỏa gọi là Thái Dương Hỏa Cách gọi thứ nhất này, đứng trên cơ sở: "Dương Cực là quá trình Nhiệt Độ tăng, tăng từ lạnh nhất đến nóng nhất. Âm Cực là quá trình Nhiệt Độ giảm, giảm từ nóng nhất đến lạnh nhất." Như thế, Mộc và Hỏa thuộc Dương Cực nên được gọi là Thiếu Dương và Thái Dương; Kim và Thủy thuộc Âm Cực nên được gọi là Thiếu Âm và Thái Âm. -Cách thứ hai: +Kim gọi là Thiếu Dương Kim +Thủy gọi là Thái Âm Thủy +Mộc gọi là Thiếu Âm Mộc +Hỏa gọi là Thái Dương Hỏa -Cách gọi này có hai yếu tố làm cơ sở, cũng có sự thuyết phục: +Yếu tố thứ nhất: "Thái Dương Hỏa và Thiếu Dương Kim ứng với không thời gian ban ngày, từ sáng đến chiều. Thái Âm Thủy và Thiếu Âm Mộc ứng với không thời gian ban đêm, từ chiều đến sáng." +Yếu tố thứ hai: "Độ số lẻ (dương) "7 và 9" (thành) lớn hơn độ số "1 và 3" (sinh), đồng thời độ số chẵn (âm) "8 và 6"(thành) lớn hơn "2 và 4"(sinh). Số Thành là độ số đánh giá mức độ tương giao đã diễn ra trong sự tương tác giữa Âm và Dương (ứng với sự tương tác giữa sức nóng của ánh sáng mặt trời với sức lạnh của 2 vùng Cực Địa Cầu), số Sinh là độ số đánh giá mức độ tương giao chưa diễn ra tại những thời điểm tương ứng trong quá trình chu kỳ tương tác đó. Yếu tố thứ hai này (của cách gọi thứ 2) cho thấy, số Thành là Dương (lẻ) thì đối tượng Âm Dương Ngũ Hành ứng với nó sẽ được gọi là Dương (Thái Dương, Thiếu Dương); số Thành là Âm (chẵn) thì đối tượng Âm Dương Ngũ Hành ứng với nó sẽ được gọi là Âm (Thái Âm, Thiếu Âm)" Kết hợp hai cách gọi này và không nghiêng về bên nào, tức là tổng hợp thống nhất thì: -Dương Cực có, gồm: Âm Dương Thiếu Âm Mộc và Âm Dương Thái Dương Hỏa. -Âm Cực có, gồm: Âm Dương Thiếu Dương Kim và Âm Dương Thái Âm Thủy. Ngoài ra, cần xét đến cách xác định trong các sách vẫn gián tiếp hoặc trực tiếp nói: 4 số Sinh 1234 là Âm, 4 số Thành 6789 là Dương (từ đó dẫn đến các quái tương ứng với mối số cũng được quy định gọi tên, đặt tính Âm, Dương như vậy) (Vấn đề này cần tiếp tục tổng hợp và để kết luận).
-
Xin phép xen ngang đối thoại này một chút nhé.Vấn đề có thể đại cương có ba yếu tố Tâm, Học, và Thuật. Học Tâm Học Học phi Học Thuật Tâm Thuật Thuật phi Thuật Tức là: -Học, nghiên cứu mà có Tâm, có Thiện lành thì đó mới là Học. Cũng gọi là Học, nhưng nếu không có Tâm thì sẽ 'không phải là Thật học' (học phi học). -Trong trường hợp cái học, cái nghiên cứu không được kết quả đúng tuyệt đối thì người học vẫn có thể dùng Tâm để sử lý tình huống, sự sử lý này gọi là Thuật. Trong khi đã dùng đến Thuật thì căn bản là cần có Tâm. Ngoài ra, khi phản biện kiến giải của người khác thì người phản biện phải có Tâm (thiện chí) hoặc Tâm phải có Trí (năm bắt tình hình thời sự của lĩnh vực). Nếu không Tâm thì dù cho có học vẫn có thể rơi vào sự vô học hồ đồ, nếu có Tâm, dù cho vô học thì vẫn có thể vượt lên cả hữu học. Đó là Rubi thấy có thể nêu ra như vậy để cảm nhận được hành vi của người có kiến giải hay người có sự phản biện. Điều này nhất thời, và thực tế thì cũng cẫn thiết. Xin hết ý kiến ạ.
-
Tiểu đề: Ngũ hành của Bán Cầu và Từ Trường Địa Cầu -Vòng Cực Bắc (Vòng Cực Nam) thuộc hành Kim -Cận Vòng Cực Bắc (Cận Vòng Cực Nam) thuộc hành Thủy -Cận Hạ Chí Tuyến (Cận Đông Chí Tuyến) thuộc hành Mộc -Hạ Chí Tuyến (Đông Chí Tuyến) thuộc hành Hỏa -Xích Đạo thuộc hành Thổ -Như vậy, sẽ thấy 2 Vòng Cực Bắc và Vòng Cực Nam thuộc hành Kim, song song với Trục Địa Cầu, hợp với cấu trúc Từ Trường Trái Đất. (Rubi tạm đặt ra để định hướng tìm hiểu)