-
Số nội dung
1107 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
2
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by phoenix
-
Tranh đến tem kể về Ðám cưới chuột Đám cưới chuột - tranh dân gian Đông Hồ. ND - 36 năm trước, tranh dân gian Đám cưới chuột đã xuất hiện trên tem bưu chính trong nước. Cùng với thời gian, hình ảnh thể hiện sức sống lâu bền của nghệ thuật dân gian Việt Nam. Truyện ngụ ngôn "Ðám cưới chuột" Ở Trung Quốc, không một cuốn sách nào khi nói về lễ hội ở nước này lại không đề cập ít nhiều về "Ðám cưới chuột". Truyện "Ðám cưới chuột" ở nước này có thể tóm tắt như sau: Vợ chồng chuột sinh một con gái đến tuổi lấy chồng nhưng chưa ai hỏi, bèn đi tìm nơi quyền thế để gả. Sau khi đến Mặt trời, Mây, Tường đều không đắt, đành quay lại. Song sợ mèo nên vợ chồng chuột nhận lời gả cho Mèo. Ðám cưới linh đình, nhưng khi đưa dâu đến nhà trai thì bị chú rể Mèo đớp cả họ chuột. Than ôi! Truyện "Ðám cưới chuột" ở Nhật Bản: Chuột muốn lấy bằng được ai là kẻ mạnh nhất trần gian. Chuột thấy Mặt trời mạnh nhất. Chuột tìm đến Mặt trời. Mặt trời cho Mây mạnh nhất, bởi Mây che Mặt trời. Chuột tìm đến Mây. Mây bảo Gió mạnh nhất. Chuột tìm đến Gió. Gió chỉ ra Bức Tường mạnh nhất. Nhưng quanh năm Chuột vẫn gặm nhấm đục Tường đấy thôi. Cuối cùng Chuột tìm đến Chuột và thế là có "Ðám cưới chuột". Chuyện "Ðám cưới chuột" ở Việt Nam: Theo sách văn hóa truyền thống Liễu Ðôi của Bùi Văn Cường và Nguyễn Tế Nhị có thể tóm tắt như sau: Vợ chồng Chuột làm lễ cưới cho con phải lo cống hỉ cho Mèo, lo yến tiệc hai họ, thế mà đưa dâu đến nửa đường bị Mèo chặn đường. Họ nhà chuột phải chạy vạy tốn kém mới trót lọt. Ðến ngày chuột vợ trở dạ, chuột chồng phải lặn lội lo chạy lễ cho Mèo suýt chết để vợ đẻ con. Nhưng bị Mèo đớp cả mẹ lẫn con. Họ nhà Chuột ngậm ngùi cay đắng và bó tay thúc thủ. Tranh dân gian và tem "Ðám cưới chuột" Ở Việt Nam truyện ngụ ngôn "Ðám cưới chuột" không nhiều nhưng từ khi điêu khắc về chuột còn ít người biết thì tranh về chuột được nhiều nhà mua trang trí nhà cửa ngày Tết Nguyên đán. Có điều, lúc đầu tác giả không đặt tên hoặc đặt tên không rõ ràng để người xem tranh cảm nhận mà gọi. Trước năm 1945, tranh Tết dân gian về con giáp nói chung, tranh chuột nói riêng, xuất hiện đầu tiên ở làng Ðông Hồ khá phổ biến. Viện Viễn Ðông Bác Cổ đã tổ chức sưu tập, giới thiệu ở Việt Nam và Pháp. Năm 1960, M.Dand cho xuất bản thành tập tranh dân gian Việt Nam và lẻ tẻ vài tờ báo, tạp chí cũ có minh họa tranh dân gian trên báo Tết Nguyên đán. Chỉ riêng dòng tranh Ðông Hồ, tranh dân gian dưới dạng châm biếm mèo - chuột đã có vài ba bức cùng chủ đề, cùng bố cục, chỉ khác một hai chi tiết và nhất là chữ thơ đề trên tranh, qua đó để người xem gọi tên. Trên tranh đề hàng chữ "Lão thử thủ thân" (Chuột giữ thân) hoặc "Lão thử vinh quy" (Chuột vinh quy) hoặc "Lão thử thú thân" (Chuột cưới vợ hay Ðám cưới chuột). Khi tranh không đề chữ, có người gọi tên tranh "Chuột vinh quy" là tranh "Ðám cưới chuột" hoặc ngược lại. Nội dung tranh ngụ ngôn "Ðám cưới chuột" cũng khác truyện ngụ ngôn "Ðám cưới chuột" trong sách Văn hóa vùng Liễu Ðôi. Do điều kiện chiến tranh, ván in thất lạc, nghề tranh gián đoạn, sưu tập tranh công bố sau này không còn đầy đủ, chủ đề tranh chủ yếu dựa vào trí nhớ. Tranh chuột được khôi phục qua thành ngữ, ca dao, câu chuyện truyền miệng trong dân gian. Những tờ tranh Ðông Hồ xuất xưởng đều là tranh điệp truyền thống, nền tranh xốp, vàng chanh hay đỏ cam, lấp lánh ánh bạc, nền ấy không lỳ mà nổi vân song hành mịn màng. Trong khung tranh hình chữ nhật chật hẹp, tỷ lệ hài hòa, đầy những chi tiết, những nhân vật khác nhau về tính cách. Chưa tính mèo, ngựa, kiệu,... chỉ đám rước kéo dài của lũ chuột được tác giả cắt đôi, xếp chồng lên nhau: "Phía trên đút cá cho mèo/ Bên dưới lọng tán chuột ngồi vinh quy". Cặp chuột đi đầu tuy có dịp dâng cá, chim, hai món khoái khẩu cho bề trên, nhưng không giấu nổi lo sợ, khúm núm co quắp đuôi. Cặp chuột theo đánh trống thổi kèn toàn là bọn thiên lôi của quan trạng sai đâu đánh đấy, tuy phải khom lưng quỳ gối nịnh nọt, cống hỷ cấp trên nhưng vẫn đề phòng sự trở mặt, mất không của cống, nên cố phồng mang láo mắt thổi kèn cho thật om sòm. Chuột vác biển "tiến sĩ" được tiến sĩ chuột tin dùng thì quên cả việc vác biển cho thật chỉnh tề ngay ngắn, vừa bước thấp bước cao vừa ngoái đầu lại sau và đưa mắt nhìn tình nàng dâu chuột ngây thơ ngồi trong kiệu hoa. Cặp chuột đi sau quên cả việc khiêng kiệu thụng xanh. Chân mang hia, đầu đội mũ quan văn, cưỡi ngựa hồng, có vẻ như chàng rể cũng ngoái đầu lại, vừa nhìn nàng dâu chuột trong kiệu hoa, vừa giục đám rước đi nhanh lên cho thoát mèo. Tác giả vẽ mèo chặn đường lầm lì oai vệ, mắt chăm chú nhìn vào những món khoái khẩu, chân vươn ra như sẵn sàng nhận hối lộ chứ không để ý đến đám rước đang diễn ra bên cạnh. Người xem tranh có liên tưởng mèo sẽ nhận của biếu, rồi tha để bọn chúng tiếp tục triều cống mình. Bức tranh "Ðám cưới chuột" khác với các bức tranh nổi tiếng khác trong dòng tranh Ðông Hồ như "Hứng dừa", "Thầy đồ cóc". Tranh "Hứng dừa" có nhiều đường cong của chàng trèo dừa và nàng nâng váy lên hứng dừa. Tranh "Thầy đồ cóc" nhiều nét xù xì da cóc, đây là hai bức tranh trữ tình lạc quan. Còn tranh "Ðám cưới chuột" là tranh châm biếm dưới dạng mèo chuột. Tết Nhâm Tý 1972, hai họa sĩ của Công ty tem là Ðỗ Việt Tuấn và Ðặng Quang Lục thể hiện trên tem thư Việt Nam mẫu tem "Ðám cưới chuột". Mẫu tem này trong 36 năm qua, đi khắp bốn biển năm châu trên thế giới. Vào dịp Tết Nguyên đán truyền thống của Việt Nam, đồng bào ta ở nước ngoài nhớ quê hương xứ sở đã phóng to mẫu tem "Ðám cưới chuột" treo trong nhà, cũng là dịp thưởng thức mẫu tem nổi tiếng bên cạnh nhiều mẫu tem chuột đã phát hành trên thế giới. Chuột là động vật gây hại, là con vật của đời thường. Hình ảnh của nó trong nghệ thuật vừa huyền diệu, lại vừa rất thực, trần tục mà nhiều nét sâu sắc. DƯƠNG THỤY ANH Nguồn: http://www.nhandan.com.vn
-
Đám cưới chuột đỏ xanh Lê Đại Thanh 1. Tôi nhớ ngày xưa mẹ già đón Tết Phiên chợ cuối năm mua tờ tranh đám cưới chuột Chuột lớn Chuột con Chuột đỏ Chuột xanh Đánh trống, thổi kèn, râu ngửa vênh vênh 2. Chuột chú rể ngồi trên lưng ngựa trắng Cầm roi liễu Mắt nhìn cao lơ lẳng Chuột cô dâu che quạt theo sau Khênh kiệu son có bốn chuột khênh hầu Âm nhạc: sáo, tiêu, nhị, hồ, trống bỏi Đàn chuột đi vui như ngày trẩy hội. Tâm hồn tôi Mảnh kính ánh muôn màu Sáng từng giây lộng lẫy giữa đêm sâu Giấc mơ nhỏ có bướm vàng hoa lá 3. Tôi ước mơ làm chàng phò mã Gặp em là cô gái đi hài thêu Tuổi ấu thơ chưa rõ ý thương yêu Chuyện thần thoại sáng vì sao tưởng tượng. Yêu đất nước người nông dân đồng ruộng Mỗi xuân về bôi phẩm vẽ tranh Tranh lợn Tranh gà Đám cưới chuột đỏ xanh Cô Tố nữ thoa son môi hồng cánh kiếm 4. Mặt vách nhà tôi mỗi ngày Tết đến Chú cóc cầm roi dạy học nghiêm trang Chị ỉn lưng xanh Anh ỉn khoanh vàng Đủng đỉnh khoe màu giữa lòng đêm tối 5. Em đến đời tôi mùa xuân mở hội Cô gái rơi hài mặc áo cô dâu Nhà nghèo đám cưới vải nâu Chiếc nón tỉnh Thanh lá gồi bẹ trắng Em đến đời tôi bốn mùa mưa nắng Đêm sáng trăng đập lúa sân rêu 6. Tôi vẫn mơ em mặc yếm phẩm điều Tôi cưỡi ngựa đi giữa đường võng lọng Rồi khói lửa thắt khăn tang cuộc sống Không giết nổi người nông dân lao động Yêu tranh gà lợn như yêu vợ yêu con Mỗi xuân về cô Tố nữ thoa son Lại gẩy đàn tranh gõ xênh đón Tết. 7. Đất nước Việt Nam ngàn năm bất diệt Màu phấn son, bản khắc mộc đơn sơ Còn người tôn trọng đời thơ Còn người xây dựng giấc mơ tâm tình Đám cưới chuột đỏ xanh Âm thầm kéo quân đi trên vách Chiếc roi tre điểm sách Họ cóc học đánh vần Vợ chồng nhà ỉn kiễng chân Xoắn tít cái đuôi đinh ốc. 1956 Nguồn: http://tapchihuongnghiep.com.vn
-
Ván khắc bản in Đám cưới chuột làng Đông Hồ Nguồn: http://share.ovi.com
-
Triết lý Á Đông trong tranh đám cưới chuột 22/01/2008 Ngày trước cứ mỗi năm Tết đến, các gia đình ở vùng nông thôn Bắc Bộ đêuc sắm một vài tờ tranh Đông Hồ về treo. Năm Dậu có tranh Gà, năm Hợi có "Đàn lợn âm dương", và năm Tý lại có "Chuột vinh quy bái tổ" và "Đám cưới chuột". Câu chuyện không dừng lại ở việc treo tranh ngày tết mà xa hơn, mỗi bức tranh là gom góp, chất chứa những ước mơ, khát vọng và những triết lý trong cuộc sống. Xuân Mậu Tý này, chúng tôi xin lạm bàn về "Đám cưới chuột" như một món quà ngày Xuân. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế (làng tranh Đông Hồ) biết: Đề tài trong tranh Đông Hồ gắn lên với đời sống, văn hóa tâm linh của người Việt Nam. Khi làng tranh Đông Hồ xuất hiện thì tranh về con chuột cũng đã có. Tuy nhiên, tranh chuột Đông Hồ hay chính ờ lý do vì sao lại vẽ về mèo và chuột, hai con vốn rất xung khác hay có thể gọi là đối kháng một mất một còn? Mèo tượng trưng cho tầng lớp trên, tầng lớp thống trị trong xã hội phong kiến, còn chuột chính là biểu trưng của những người bị thống tri, thuộc tầng lớp dưới. Đám cưới chuột không đơn thuần bàn về chuyện chuột- mèo mà mang táng nghĩa sâu xa chỉ thực trạng xã hội cũ với mối quan hệ giữa kè mạnh và kẻ yếu. Cái tài của các có thời xưa chính là vẽ tranh đả kích mà giới thống trị không thể làm gì. Đi sâu phân tích bố cục bức tranh chúng ta sẽ thấy dốc ẩn ý của người xưa. Mười hai con chuột hội tụ trong một bức tranh được phân chia thành hai lớp. Lớp trên gồm 4 chú chuột đang dâng là cho mèo, được nghệ nhân “thuyết minh” bằng hai chữ “thủ lễ”. Gánh nặng được đặt lên vai của chú chuột đi đầu mang gà. Gà có đủ lông, đủ cánh, đủ cả đầu đuôi nhưng chuột lại chẳng thấy đuôi. Nghệ nhân Nguyên Đăng Chế lý giải: Chú chuột duy nhất trong 12 con không thấy đuôi, chính là bởi vì đi đấu mang gà đến cống mèo, mèo giơ tay ra đón, chuột sợ quá nên cặp đuôi lại. Một chi tiết dí dỏm nhưng thật hay. ẩn chứa trong đó cái lẽ thường chuột sợ mèo. Sợ vậy mà sao chuột vẫn phải trực diện trước mèo? Theo sau chú chuột mang gà, một chú mang cá dâng bằng cả hai tay cùng hai chú thổi kèn. Có kèn mà chằng có trống, chiếc kèn lại chúc xuôi theo chiều thuận mà không phải là “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” Tất cả các chi tiết đều cộng hưởng gãy thắc mắc, tò mò đối với người xem. Trung tâm của lớp trên này cũng như của cả bức tranh là hình ảnh con mèo đang yên vị đón nhận lễ vật từ chuột như một nhu cầu bình sinh. Đầu mèo, đuôi mèo và chân mèo đều quy về một hường đối diện với chuột thể hiện rõ sự tiếp nhận cống vật. Nghệ nhân dân gian xưa đã thật khéo khi phân chia bức tranh thành 2 lớp trên, dưới. Và tất nhiên, mèo ờ lớp trên, bành trướng như chính sự bành trướng của thế lực thống trị trong xã hội cũ. Theo nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, tranh Đông Hồ nói chung hay bức tranh Đám cười chuột nói riêng không có viễn cận, xa gần như trong tranh hiện đại. Tuy nhiên, người nghệ nhân dân gian vẫn thể hiện được sự xa gần, trên dưới bằng một đường ngoằn nghoèo tách bức tranh làm hai. Chính cái nét thể hiện đơn giản ấy lại tạo một hiệu quả thật bất ngờ làm bật lên ý đồ trong tranh. Chuột và mèo, hai giống vật vốn không đội trời chung. Vậy mà chuột phải mang lễ vật tới cống nộp mèo, đó là bởi chuột làm lễ cưới. Chú rể muốn đón được cô dâu về trong bình yên thì tất phải mang gà, mang cá đến cống cho mèo. Mối thâm thù giữa chuột và mèo độc hóa giải bằng chính sự thông minh của chuột, của kẻ yếu. Theo nhà giáo nhân dân Trấn Văn Chút, cái hay ờ đây chính là sự hóa giải: Tránh voi chẳng xấu mặt nào, mà một đời chuột không thể tránh mèo suốt, vậy nên phải đối đấu. Cũng không thể chỉ “cúi dấu lạy trước trung quan’’ mà phải cống nạp. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn- gà, cà phải đi trước, kèn sáo đi sau như là sự mỹ lệ hóa cho thói đút lót... Lớp dưới, lớp thứ hai của bức tranh là cảnh đám rước cô dâu chuột về nhà chồng. Hai chữ “nghênh hôn” in trên tấm biển lớn do một chú chuột khiêng là trung tâm của lớp tranh. Chú rể đi đầu cưỡi ngựa hồng không quên ngoái đấu lại trông chừng kiệu cô dâu đi gần cuối. “Chú gò cương có phấn như an tâm, có phấn như lo ngại vì tuy rằng công việc cống nạp đã có chiều thuận, đấu đã xuôi, nhưng liệu đuôi có lọt?” (theo NGND Trấn Vãn Chút). Hai chú chuột đi cuối đoàn cũng ngoái đấu lại đầy dè chừng. Toàn bộ các nhân vật của đám rước dâu, chỉ duy có hai khuôn mặt cô dâu, chú rể được tô màu đỏ như men say ửng hồng. Một cuộc sống bình yên, vui vấy hạnh phúc là ước mơ của những người dân, nhưng để có được họ phải đánh đổi bằng những cống phẩm cho quan trên. Tầng ý nghĩa sâu xa của bức tranh "Đám cưới chuột" chính là ở chỗ đó. Câu chuyện hài hước, dí dỏm về đám cưới của chuột lại mang tính đả kích sâu cay. Ý nghĩa của bức tranh không chỉ có giá trị trong thời đại phong kiến mà còn tới tận bây giờ, nhất là trong công cuộc chống tham nhũng hiện tại. Cách bố trí về màu sắc theo kiểu đan xen với điểm nhấn là hai màu đỏ- đen, màu của âm dương đối kháng nhưng rất hài hòa càng làm tăng hiệu quả ý nghĩa cho bức tranh. Năm chấm đen ở ngay đường ngăn cách viễn- cận chỉ đơn thuần là sự bù lấp vào khoảng trống duy nhất của bức tranh, là cách để "không bi tràn màu khi in thủ công hay còn có ý nghĩa sâu xa hơn triết lý ngũ hành? Có lẽ phải có một lý do để nghệ nhân chọn số lượng 5 chấm chứ không , phải 4 hay 3, và càng đặc biệt khi cách sắp xếp một chấm ờ giữa, bốn chấm vây xung quanh 1 trùng khớp với cách vận hành của ngũ hành (hành Thổ ờ giữa, các hành Kim, Mộc, Thủy, thỏa bao quanh).Luận theo ngũ hành luôn thấy hai mặt: tương sinh và tương khắc. Trong ngũ hành tương sinh đồng thời cũng có ngũ hành tương khắc, trong tương khắc cũng ngự có tương sinh. Đó là quy luật chung về sự vận động, biến hóa của tự nhiên. Nếu chỉ có tương sinh mà không có tương khắc thì không thể giữ gìn được thăng bằng, có tương khắc mà không có tương , anh thì vạn vật không thể có sự sinh hóa. Bởi vậy tương sinh, tương khắc là hai điều kiện không thể thiếu được để duy trì thăng bằng tương đối của hết thảy mọi vật”. Tương sinh, tương khắc, đó chẳng phải mối quan hệ mèo- chuột, quan lại và dân đen được nói đến trong bức tranh "Đám cười chuột “? Chuột vốn là kẻ phá hoại với nhà nông nhưng lại được lấy làm hình ảnh tượng trưng cho người nông dân. Mèo vốn là vật nuôi trong nhà hữu ích lại đại diện cho tầng lớp thống trị. Sự kết hợp đặc biệt giữa mèo và chuột với “nhận dạng” khác thường này phải chăng còn hàm chứa ẩn ý về triết lý Thiện- ác của nhà Phật (trong cái : thiện đã có mầm mống của cái ác và ngược lại, trong cái ác cũng luôn tồn tại điều Thiện). Thiện tay ác đều phải biết điều hòa, cũng như cái sống, cái chết có khi là chuyện gang tấc nhưng biết cách hóa giải thì cái khó, cái chết sẽ bị đẩy lùi. Cách hóa giải cái ác của chuột chính bằng việc cống nạp, nhưng đó cũng đâu phải là chuyện nhỏ của riêng chuột, của làng mà còn là chuyện quốc gia đại sự khi có quyền biến. Nhà thơ Hoàng Cầm đã đúc kết về tranh Đông Hồ trong hai câu thơ: Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sàng bừng trên giấy điệp" Cái nét kiêu hãnh trong câu thơ chính là những sắc màu được chế biến thủ công từ những nguyên liệu có sẵn trong thiên nhiên: giấy làm từ cây dó, màu đỏ từ gạch non, màu làng từ hoa điệp vàng, màu đen từ lá tre đốt, màu trắng nghiền từ vỏ sò, vỏ ốc...’'Mău dân tộc" là đó. Nhưng đâu chỉ có vậy, tranh Đông Hồ còn đậm “chất dân tộc”, chính là chất triết lý theo quan niệm Á Đông với quy luật âm dương ngũ hành và cái triết lý của Phật pháp kia... Tranh Đông Hồ thường xuất hiện vào dip Tết nên còn gọi là tranh Tết. "Đám cưới chuột", bức tranh về con vật đầu tiên trong 12 con giáp vì vậy càng thêm ý nghĩa trong những ngày đầu năm Tý- năm chuột. Bức tranh treo lên vừa làm cho không gian ngày Tết thêm ấm cúng, vừa thể hiện ước mơ khát vọng về năm mới. Tuy rằng ngày nay tranh Đông Hồ không còn chỗ đứng như xưa, nhưng ẩn ý trong tranh vẫn mãi được người đời nhắc đến, đó là những bài học triết lý sâu sắc đúng với muôn đời. KHÁNH NGUYÊN Nguồn: http://www.bhxhgl.org.vn/
-
Đầu năm Tý nói chuyện Chuột 2008-02-15 Nói về hội họa chắc tôi dốt bậc nhất thiên hạ. Thế nhưng Tết nào tôi cũng thích mua một tập tranh Đông Hồ (thể loại tranh sinh hoạt) về dán khắp nơi trong nhà. Đơn giản vì đây là dòng tranh dân gian, nhìn cái đã thấy ngay vẻ chân quê, đích thực của cuộc sống thường ngày. Màu sắc trong tranh cũng rất tươi sáng, có đường ranh rõ ràng, mạch lạc. Cả tập tranh chỉ toàn người và các con vật gần gũi, thân quen như trâu, gà, lợn, mèo, ếch, cá và chuột... Dễ chơi, dễ hiểu nhưng không kém phần súc tích, hàm ý sâu xa. Năm nay, năm Mậu Tý, tức năm con chuột. Xem lại bức tranh chuột bỗng thấy... giật mình bởi sức sống xuyên tầm trong nội dung thể hiện. Nhìn lũ chuột xếp hàng khúm núm dâng lễ vật lên mèo trong bức tranh "đám cưới chuột" cảm giác đây là bức tranh duy nhất hợp với mọi thời đại. Tính tham lam, đục khoét của con người tưởng đã giống chuột lắm rồi, ai dè cả cách đi hối lộ của loài chuột cũng chẳng khác con người là mấy. Hóa ra con người và con chuột cũng có nhiều điểm tương đồng ra phết! Tranh Đông Hồ là một dòng tranh nổi tiếng của xứ Bắc. Người làng Mái xưa kia (tức làng Đông Hồ) dùng những bản khắc gỗ có mẫu vẽ sẵn, sau đó phết màu lên ván rồi in. Vì vậy tranh không áp dụng chặt chẽ về cơ thể học, các nguyên tác về ánh sáng hay luật xa gần của tranh hiện đại. Nghệ sỹ sáng tác tranh mang nhiều tính ước lệ trong bố cục, trong cách miêu tả về màu sắc. Giấy in tranh là loại giấy gió mịn màng. Trước khi in giấy được bồi điệp làm nền, chất điệp óng ánh lấy từ vỏ con sò, con hến tạo nên tính riêng biệt của tranh Đông Hồ. Các khối, mảng màu trong tranh thường được lấy từ chất liệu thiên nhiên. Muốn có màu đen lấy lá tre đốt thành than, màu xanh thì lấy từ vỏ lá Chàm, màu vàng lấy từ hoa Hòe, màu đỏ thắm lấy từ thân, dễ cây Vang, màu sơn lấy từ sỏi núi v.v... Sự độc đáo của tranh còn thể hiện ở nét gần gũi, gắn với làng quê, ngõ xóm, với cuộc sống lao động của người nông dân bình dị, chất phác. Với những bức vẽ không dễ hiểu cho lắm thường có phần chữ Hán đi kèm, giải nghĩa tương đối rõ ràng. Bức tranh "Chuột vinh quy" và "Đám cưới chuột" cũng có bổ sung giải nghĩa này. Khi còn sống, ông ngoại tôi, một nghệ nhân gốc làng Mái dù đã sơ tán về đất Kinh kỳ nhiều năm nhưng mỗi khi được hỏi về tranh Đông Hồ ông thường phấn khích nói cả giờ không biết chán. Theo ông, hai bản vẽ "Chuột vinh quy" và "Đám cưới chuột" là đáng giá nhất, thể hiện đúng nhất những tiêu cực tồn tại trong xã hội. Ở bức "Đám cưới chuột" có 6 họa chữ, họa chữ thứ nhất (nằm phía dưới con chim, do lão chuột dẫn đầu cầm) được dịch là Tống lễ, có nghĩa là bắt buộc làm một việc mà bản thân không muốn làm. Tôi rất tâm đắc với từ này bởi nhìn tranh thấy lão chuột dâng chim bồ câu đang tỏ ra sợ hãi vô cùng, đến nỗi quắp chặt đuôi vào trong bụng, cứng đơ đơ (và chắc là đang run như cầy sấy). Bây giờ phải nghe lệnh tống giam, tống đạt cáo trạng, tống đạt bản án... hoặc buộc phải hối lộ quan trên nhằm thoát tội... con người có lẽ cũng cùng tâm trạng như chuột này mà thôi. Lão đi sau cũng với dáng điệu như thế, có phần ít sợ hơn một chút bởi đuôi lão ngoe ra một tí. Lưng vẫn "còng", lão khúm núm, vẻ như cảnh giác, đề phòng trong khi dâng một con cá chép ngon hết sẩy cho cái lão có thể... ăn thịt cả họ nhà chuột bất cứ lúc nào. Chữ Hán viết sau, ngay sát đầu gáy lão chuột này dịch nghĩa là Tấu nhạc. Hai chữ ở chỗ lão chuột đầu tiên (hàng đầu, từ trái sang) dịch nghĩa là Thủ thân. Theo các cụ ở làng Đông Hồ thì ý tứ hay được người xưa gửi gắm ở đây chính là cách ví von: cá lớn nuốt cá bé. Trong xã hội còn tiêu cực, muốn được việc cá nhân thì việc tư lợi đương nhiên sẽ xảy ra. Đám cưới chuột, nghĩa là chuột tác duyên sinh con đẻ cái, duy trì giống nòi là việc làm rất hiển nhiên, hợp với quy luật tạo hóa mà vẫn phải lệ thuộc, phải biếu xén. Chuột muốn được việc, nghĩa là muốn đám cưới của mình được tiến hành suông sẻ thì phải lụy mèo. Việc đưa và cống lễ cho mèo (vẻ rất đanh ác) khi chuột muốn đạt được lợi ích cá nhân của mình gọi là Tống lễ (bắt buộc phải làm). Tương tự, trong cuộc sống ngày nay cũng vậy, nhiều việc tưởng chừng là đơn giản, phù hợp với pháp luật, với quyền và lợi ích công dân nhưng muốn cho suông sẻ vẫn phải "lót tay" quan. Cả việc đưa và nhận hối lộ đều phải làm sao cho... kheo khéo. Chữ Thủ thân trong "Đám cưới chuột" ý nói lão chuột đưa quà biếu xén cho "đại vương mèo" cũng phải hết sức cẩn thận, giữ mình. Mèo ta ngồi cuộn đuôi, nhưng mềm mại chứ không cứng đơ hay co quắp. Lão có dáng vẻ ung dung, tự tại của kẻ "bề trên" chuyên quyền và đầy uy lực. Một chân lão giơ lên, dứ dứ như thể đang đang kiểm định, ngẫm nghĩ xem chim, cá ngon hơn hay... thịt chuột ngon hơn. Và nữa, nếu đưa hối lộ mà không khéo, mèo ta không những không nhận cho mà việc bại lộ thì "Trạng chết chúa cũng băng hà" theo luôn. Nguy hiểm. Đưa và nhận hối lộ đều nguy hiểm như nhau nên khi làm việc này phải hết sức cẩn thận, kín đáo mới không hại mình, hại người. Cầu thân nhưng vẫn phải "Thủ thân" là thế. Nhưng ở đời muốn ăn gì thì phải... nuôi thứ ấy. Sách "Gương báu soi lòng" (Minh tâm bảo giám) đã dạy: "Muốn ăn dưa phải trồng dưa, muốn ăn đậu phải trồng đậu" (thực qua đắc qua - thực đậu đắc đậu). Một cửa hàng băng đĩa lậu hay kinh doanh trái phép hay một đơn vị thi công muốn "rút ruột" công trình v.v... thì phải "nuôi" những người được trao quyền giám sát. Mà người này muốn hưởng lợi bất chính cũng phải chăm nuôi, bao bọc cho những giả trá, xấu xa này có "đất" để sống. Cách này đã được gọi tên rất rõ ràng là "dựa vào nhau mà sống" hoặc "nuôi lẫn nhau". Mèo tuy ít học nhưng xem ra cũng hiểu cái lý này lắm. Muốn có nhiều thịt chuột thì trước mắt phải tạm bằng lòng với chim, với cá, để nhà chuột dựng vợ gả chồng cho con cháu, rồi sinh con đẻ cái thật nhiều cái đã, rồi tha hồ mà "bắt" chuột. Con người cũng thế. Cứ cho những sai trái tồn tại, cho "sống" để hai bên (bên giám sát và bên vi phạm) cùng có lợi. Lúc cần thiết (để lập thành tích) thì sẵn đấy mà "tóm" làm ví dụ. Đương nhiên, lệnh tóm thường được báo trước - nếu vẫn còn "thiện ý" cho nhau "sống". Khi "miếng ăn" không còn thấy ưng ý nữa, khi xét thấy đã đến lúc "phế bỏ" người này để đặt người kia lên là cũng có thể giở mặt, bắt bài như... mèo bắt chuột. Cũng vì cái lý "thực qua đắc qua - thực đậu đắc đậu" này mà loài mèo vốn được sinh ra giữ vai trò tiêu diệt họ nhà chuột, nhưng bao lâu nay chuột vẫn mặc sức hoành hành, nhởn nhơ sống, nhởn nhơ gặm nhấm, đục khoét và trộm cắp khắp nơi. Đặc điểm này con người và con chuột giống nhau tới mức khó phân định. Cùng đi hối lộ mèo trong tranh "Đám cưới chuột" còn có hai kẻ theo đuôi tấu nhạc góp vui, hầu hạ quan trên (chắc chắn đám cưới này thuộc con nhà "danh gia thế phiệt" nên mới có kiệu, có lọng che, có mũ cánh chuồn và chuột ngựa hồng, yên gấm, áo thụng). Chỉ là thằng lính đi theo nên hai tên này thả sức vẫy đuôi, chẳng việc gì phải co quắp hay cứng đờ run sợ. Tấu nhạc vừa là để cho buổi lễ thêm phần long trọng, vừa là để góp vui cho mèo trong lúc nhìn chim, ngắm cá mà quên đi món khoái khẩu bậc nhất là thịt chuột. Chắc cũng vì mải vui nên mèo ta mất cảnh giác, quên khuấy đến hai cái kèn... đám ma lũ chuột đang dùng để tấu vui cho mình. Cái vẻ ngoài cung kính vậy thôi, chứ cả con người và con chuột một khi đã đi hối lộ thì chả đời nào tôn kính nổi cái kẻ nhận "lễ" kiểu này nữa. Bức tranh "đám cưới chuột" được chia làm hai nửa. Phần trên diễn tả cảnh lo lót, kiếm "đường đi lại" của nhà chuột, trái hẳn với không khí vui mừng, phấn khởi phía dưới. Nhà chuột đây thuộc hàng quan lại có khác. Đi đón dâu mà vẫn mặc quan phục, đội mũ cánh chuồn, lại có kẻ theo sau che lọng như có ý... "làm khó" cho mèo. Cả đàn chuột có thể vui mừng tíu tít, nối đuôi nhau... đi trước miệng mèo đâu phải chuyên dễ. Ở đời cũng vậy. Có những việc tưởng như không sao làm nổi, nhưng một khi có quyền, có tiền là "qua mặt" được hết các lực lượng canh giữ, giám sát. Càng ngẫm càng thấy sự "luồn lọt" của con chuột và con người sao giống nhau đến thế! Ở bức tranh "chuột vinh quy" cũng vẫn là chuyện cống nạp, nhưng được thể hiện ở mức độ khác. Xưa kia người chăm chỉ, chịu khó dùi mài kinh sử, thi cử đỗ đạt sẽ được ban võng, lọng để vinh quy bái tổ, đồng nghĩa với việc thăng quan, tiến chức, có một vị trí trong xã hội. Thế nhưng với một xã hội cón tiêu cực thì ngoài nỗ lực cá nhân, lễ lạc vẫn là thứ không thể bỏ qua, nếu muốn tiến thân. Ngày nay cũng vậy, nhiều người tài giỏi nhưng không biết "sống", nói thẳng ra là không biết cách "tạo dựng mối quan hệ" và không chịu khom lưng, khụy lụy hay lễ lạc bề trên thì cứ việc... ngồi yên một chỗ, cấm có hy vọng "ngoi lên" làm ông này bà nọ. Chuột là loài ngặm nhấm, loài đục khoét. Trong xã hội bọn tham quan, nhũng loại thường được ví với loài chuột. Nguyễn Bỉnh Khiêm có bài "Ghét chuột" ám chỉ bọn ấy. Kinh thi có bài "Chuột xù" nói về chuyện ấy. Bọn chuột gậm khoét không thiếu thứ gì, rồi khi nhà "có việc" lại dùng phần của đục khoét được dâng lên bề trên lấy sự che chở, sự bảo vệ mà yên tâm "đục khoét" tiếp. Với ý nghĩ ấy, bức tranh "đám cưới chuột" chính là bản cáo trạng, áp dụng cho mọi thời đại có cảnh nhiễu nhương, ức hiếp dân lành. Xem tranh xưa lại ngẫm đến ngày nay. Một bức tranh họa được ra đời cách đây khoảng 400 năm vẫn có tính thời sự đủ để cho người ta nghĩ về những thâm thúy của người xưa gắn với bao chuyện đời nay. Và, Tết năm Tý này, có bao nhiêu con "chuột lớn", sau khi gặm nhấm, đục khoét của công, của dân, đã mang chim vàng, cá ngọc đến lễ những "đại vương" đang ngự ở ghế trên, để rồi lại tiếp tục chui rúc, lẩn từ chỗ nọ sang chỗ kia, la liếm hết thứ này thứ khác mà không biết ngừng, biết nghỉ? Hà Thương Nguồn: http://www.danviet.com.au
-
Ý nghĩa bức tranh Đám cưới chuột 29/01/2008 Đám cưới chuột Bức tranh Đám cưới chuột có lẽ nhiều người đã từng xem qua, nhưng ý nghĩa trong bức tranh ấy thì không phải ai cũng biết… Bức tranh Đám cưới chuột là tranh dân gian Đông Hồ vẽ về một chú rể chuột thi đỗ, vinh quy bái tổ với cảnh “võng anh đi trước, võng nàng theo sau”. Chú chuột bảnh chọe ngồi trên lưng ngựa, đầu đội mũ cánh chuồn, trông ra dáng chú rể quan vừa đi vừa ngoái lại nhìn cô chuột. Cô dâu chuột ngồi trên kiệu hoa, vẻ mãn nguyện. Cả bầu đoàn thê tử nhà chuột cùng đi với đám rước lọng vàng tán tía khá rộn ràng. Trong khi ấy ở phía trên tranh, đại diện cho gia tộc chuột là mấy anh em nhà chuột đang khúm núm; kẻ bê chim, người xách cá đến lo lót cho mèo để mong được yên ổn trong ngày cưới. Mèo thì đang phồng má, trợn mắt, vênh râu, múa vuốt nhằm ra uy, dọa dẫm họ nhà chuột. Trên bức tranh có đề đôi câu đối: “Thử bối đệ ngư: chí, chí, chí/ Miêu nhi thủ lễ: mưu, mưu, mưu” (nghĩa là: Đám chuột dâng cá kêu: chí, chí, chí/ Chú mèo giữ lễ kêu: meo, meo, meo). Bức tranh này có sự gợi tứ từ câu chuyện ngụ ngôn dân gian Đám cưới chuột. Nội dung câu chuyện là gia đình nhà chuột lo việc tác thành cho hai con. Ngoài trăm công ngàn việc chuẩn bị như xem tuổi cho cô dâu, chú rể, xem ngày lành tháng tốt để làm lễ ăn hỏi, xin cưới, lại còn phải lo một việc quan trọng nữa là lo lót cho bác quan mèo già, mong mèo vị tình mà làm ngơ để cho đám cưới được chu toàn, yên ổn. Ngày cưới, họ hàng nhà chuột hoan hỉ, tưng bừng trong nghi thức dân tộc cổ truyền. Hôn lễ được cử hành trong không khí đầm ấm, khiêm nhường, không ầm ĩ, phô trương… Nhưng bi kịch không xảy ra trong ngày cưới của đôi trẻ chuột mà lại xảy ra vào lúc vợ chuột sinh con. Vợ chuột vừa qua cơn “vượt cạn”, những tưởng “mẹ tròn con vuông”, ngờ đâu lúc ấy mèo già xuất hiện, bắt đi tất cả đám con của chuột… Nguồn: Trung tâm thông tin (Theo Bao Giao duc online)
-
Năm Chuột nói chuyện Tí - Trong tiềm thức của người Trung Hoa và người Việt, con chuột là biểu tượng của sức sinh sản dồi dào, vô độ và vì vậy nó mang nghĩa sung túc, thịnh vượng. Đám cưới chuột - Tranh dân gian Đông Hồ Luôn lục lọi, đào bới, tìm kiếm, cắn nát, gặm nhấm không mệt mỏi...con chuột được coi là biểu hiện của tính tham lam vô độ và tính năng động nghiêng về chiều phá phách, thủ lợi. Cái hang chuột ẩm và ấm dưới lòng đất biểu trưng cho kho báu cất giữ cẩn mật chờ được khám phá, lục lọi. Mối quan hệ con Chuột và cái Hang không cần giải thích cũng tự hiện rõ ý nghĩa dục tính và sức sinh sản dồi dào ở bất cứ nền văn hóa nào trên thế giới. Cách tính khởi điểm thời gian trong kinh Dịch cũng lấy con chuột là sự khởi đầu: Tí, Sửu, Dần, Mão...Nhà sử học Trần Quốc Vượng luôn nhắc: Khởi từ tí...như một lí giải về sự khởi đầu của vũ trụ. Vì lẽ gì mà con chuột, một con vật không lấy gì làm sạch sẽ lắm lại được chuyển từ bình diện vật chất sang bình diện tinh thần không chỉ ở Á Đông? Từ điển Biểu tượng văn hóa thế giới đã có một nhận xét rất hay về con chuột: "Háu đói, đẻ nhiều và hoạt động về đêm y như thỏ, con chuột cũng có thể là đối tượng của một ẩn dụ phong tình giống như con vật gặm nhấm kia nếu như đồng thời nó không xuất hiện như một con vật đáng sợ thậm chí quái ác". Về thói phong tình của chuột thì chỉ cần xem bức tranh Đám cưới chuột của làng tranh Đông Hồ là đủ. Chàng rể chuột phong lưu cưỡi ngựa hồng đi trước kiệu hoa của cô dâu chuột trong một đám cưới rình rang sang trọng nhưng xem kỹ thì thấy đám cưới này nhuốm đầy vẻ lén lút, bất an. Phía trên bức tranh là đoàn cống nạp vật phẩm cho mèo có đủ chim, cá và nhạc nhẽo. Một sự đảo ngược khá thú vị khi đáng lý âm nhạc phải tưng bừng trong đám rước dâu thì lại tưng bừng trong đoàn chuột hối lộ mèo còn không khí im lặng đầy sợ sệt lại ngự trị ở đoàn rước dâu. Dĩ nhiên, chuột sợ mèo một phép nhưng nỗi sợ mất tính mạng ấy cũng không thể ngăn chàng chuột rước một hoặc một vài cô nàng lên kiệu hoa về nhà. Ông mèo ở bức tranh này quả là oai nghi phong độ, cử chỉ của ông cho thấy ông đã hạ cố chấp nhận lễ mọn của lũ chuột và ban cho lũ chuột được hưởng chút hạnh phúc. Các nghệ nhân dân gian Đông Hồ đã vẽ ông mèo với oai hổ còn đám đông chuột thì lại có võng lọng nghi trượng đàng hoàng và khôn đến mức gặp khó thì biết hối lộ. Thời xưa ấy, các bậc minh quân cũng đã rất ghét tệ tham nhũng, hối lộ; thời Lê đã từng có những vị quan đại thần như Lê Sát, Lê Ngân bị rời đầu, bị tịch thu toàn bộ gia sản vì tội này nhưng xem ra hối lộ và tham nhũng là một phần không nhỏ của đời sống. Sinh khí của đời sống cùng tiếng cười trào tiếu dân gian đã phả vào từng mảng màu, nét mực trên tranh. Nếu có thể coi đấy là hạnh phúc kiểu chuột thì hạnh phúc ấy chắc chắn lớn hơn cả cái chết và chúng ta đâu có thể coi thường? Chuột rước đèn- Tranh dân gian Đông Hồ Ở Đông Hồ còn có một bức tranh chuột rất hay nhưng ít người biết đến: Chuột rước đèn. Bố cục đăng đối hoàn hảo thể hiện niềm vui và khát vọng no đủ hơi tầm thường nhưng rất cảm động. Lễ rước đèn rất lớn và rơi vào rằm tháng 8, Trung Thu, nên chúng ta thấy có lá cờ đại dẫn đầu đám rước rồng, có đèn cá chép, đèn lồng, kèn, trống tạo nên không khí om sòm và rực rỡ. Hãy ngắm chú chuột vạm vỡ uốn mình song song với cán cờ đại đang múa gậy trước đầu rồng ở phía trên góc phải và chú chuột nhỏ thó cầm bộ xương cá ở phía dưới góc trái. Kẻ một đường thằng qua 2 chú chuột này sẽ có một đường chéo đi qua miệng rồng thì thấy rõ sự đăng đối kỳ lạ thể hiện lời cầu ước được no đủ, sung túc của họ hàng nhà chuột. Một điểm kỳ thú nữa ở bức tranh này cũng không nên bỏ qua kẻo phí của: các nghệ nhân Đông Hồ đã vẽ mặt rồng hao hao như mặt mèo (nếu tạm bỏ bộ râu rồng). Dù là con rồng-mèo bằng giấy do chuột sáng tạo ra để thể hiện lòng biết ơn thì ít mà thể hiện nỗi sợ tuyệt đối thì nhiều nhưng nỗi sợ ấy, về bản chất là nỗi sợ cơm áo gạo tiền (bộ xương cá của chú chuột nhỏ phía dưới cùng góc phải). Hóa ra muốn kiếm sống yên ổn thì hiển nhiên chuột phải tôn kính và sợ mèo. Bức Đám cưới chuột và Chuột rước đèn bổ sung cho nhau làm sáng rõ nhận thức dân gian về quyền lực thống trị và miếng cơm mang áo ở đời. Tiếng cười trào tiếu cất lên từ chính hiện thực đời sống con người mới thâm thúy và mạch lạc làm sao! Khác với văn minh Hoa-Việt, ngay từ thời tiền sử ở văn minh Hy Lạp, con chuột hay được nối kết với con rắn tạo nên biểu tượng âm ti, sức mạnh tăm tối và đáng sợ. Trong sử thi Iliade, vị thần Apllon được nhắc đến dưới cái tên Sminthée, phối sinh từ một từ có nghĩa là chuột. Apollon thời tiền sử là một biểu tượng nước đôi: con chuột cắn phá mùa màng, gieo rắc dịch hạch nhưng Apollon với tư cách là vị thần của mùa màng lại che chở con người, chống lại các loài chuột. Tính phân cực này còn thể hiện rất rõ khi Freud đã chỉ ra trong cuốn Năm phân giải tâm thần Chuột (Từ điển Biểu tượng Văn hóa thế giới): "con vật nhơ bẩn và đào bới lòng đất mang hàm nghĩa dương vật và hậu môn, nối liền nó với khái niệm của cải và tiền tài. Điều đó khiến nó được xem là hình ảnh của tính hà tiện, tham lam và lén lút." Truyền thuyết về Apollon ở văn minh Hy Lạp (Apollon- thần chuột- phát dịch bệnh - thần chữa lành mọi bệnh tật) xem ra rất gần gũi với truyền thuyết thần Chuột, con trai của vị thần Rudra. Người Trung Quốc, Nhật Bản và cả ở Xibia xem chuột là biểu tượng của sinh sản dồi dào. Một biến thái khác theo đó: chuột là hóa thân của trẻ em - với ý nghĩa sung túc, thịnh vượng. Nhưng vì tính lục lọi không biết chán nó còn được dùng để biểu trưng cho thói trộm cắp, chiếm hữu, gian lận của cải. Nhưng kẻ cắp này, theo tryền thuyết Ấn Độ là Atmâ, ở trong tim ta. Sau tấm màn của những ảo ảnh một mình nó hưởng thụ những thú vui hiển nhiên của cuộc đời và cả ích lợi của sự tu luyện khổ hạnh. Ngân Hà Nguồn: http://www.vnchannel.nel
-
Mậu Tí tản mạn về bức tranh “đám cưới chuột” QUÁCH ĐẠI HẢI Họ hàng nhà chuột chung sống với con người từ thời thượng cổ. Chúng có mặt khắp nơi từ vùng cực giá băng, xứ Phi nóng nực đến núi rừng, hải đảo, thảo nguyên... Tùy theo đặc điểm sống và vóc dáng chuột tự chia ra nhiều loài từ “con nhắt” có thể ép mình chui qua kẽ tủ đến những thằng cống lúc nhúc hàng đàn, đến loài chuột trũi chuyên đào hang, loài chuột tuyết... Nhưng cái loài đáng kinh ghét này kể ra cũng hay hay khi chúng góp mặt mua vui cho con người trong nghệ thuật tạo hình. Sự ranh mãnh tinh quái ngoài đời của chúng đáng sợ bao nhiêu thì trong bộ phim hoạt hình nhiều tập của hãng Oanđinây nổi tiếng lại trở nên đáng yêu bấy nhiêu. Sự thông minh linh hoạt có phần láu cá của chú chuột Jery và nét ngờ nghệch của mèo Tôm đã chinh phục được các khán giả nhí . Ngoài tự nhiên tạo hóa cho chuột một vóc hình cân đối hài hòa còn trong tranh tượng cổ chúng được cách điệu đẹp hơn về hình thức, được nhân cách hóa giàu tính triết học, xã hội. Chuột có mặt nhiều và sinh động trong điêu khắc ở đền thờ Ấn Độ giáo, trong tranh trung cổ châu Âu đặc biệt độc nhất vô nhị là ở tranh dân gian khắc ván Việt Nam. Bức tranh “Đám cưới chuột” (cũng có tên là Trạng chuột vinh quy) mãi mãi còn nguyên giá trị nghệ thuật, giá trị triết học nhân văn. Chẳng phải ngẫu nhiên mà các nghệ sĩ dân gian tài hoa đưa ông mèo vào tranh Đám cưới chuột làm nhân vật minh họa cho một chủ đề lớn. Mèo là khắc tinh của chuột nên trong tranh được cách điệu ngoại hình và nội tâm hung dữ thành nhân vật cường hào, lý dịch (một chức quan cơ sở thời phong kiến, còn thân phận người dân thấp hầu bé họng được biểu tả bằng đám chuột luôn phải chịu sự nhũng nhiễu của ông xã mèo. Tranh được bố cục phá thể tài tình với hai cảnh chiều ngang rõ rệt khiến ta liên tưởng đến một vở diễn có hai màn đầy đủ lớp lang. Vở kịch Đám cưới chuột bắt đầu bằng màn làm thủ tục xin phép ông xã mèo với đầy đủ lệ bộ phải có ở một chàng chuột vừa đỗ Trạng nguyên: Chim, cá béo, kèn, sáo... Lễ vật thật là sang nhưng xem ra xã mèo vẫn ra oai một chút cho xứng danh bậc tiên chỉ (bằng chứng là dáng ngồi nhà quan của “ông” rất bệ vệ và chắc chắn lắm mặt ông bạch to, râu chĩa ra như những thanh kiếm, tay phải giơ cao đầy sức nặng răn đe) nên làm cho đám trai đinh nhà chuột vừa dâng lễ vừa khiếp đảm. Cảnh họ nhà chuột dâng lễ cho ông xã mèo làm ta có cảm tưởng như có tiếng gầm gào, chít chít nơi đây thật là một buổi đi đăng ký kết hôn lạnh toát sống lưng. Kịch được chuyển màn hai rất lôgich, thay cho không khí nặng nề của màn một là lễ rước dâu thật tưng bừng nghe đâu đây như có cả tiếng pháo và nhạc hỷ, Trạng chuột đội mũ cánh chuồn cưỡi ngựa hồng vẻ mặt vô cùng sung mãn ngoái đầu ngầm nhìn cô dâu chuột thẹn thùng trong kiệu hoa. Đám rước có cờ biển, có lọng. Màn này chỉ có tám nhân vật tượng trưng thôi nhưng rất có không khí vu quy - những đôi mắt đa nghi rất ranh của đám cưới chuột được tả rất sinh động, kẻ nhìn phải, kẻ liếc trái luôn mở to đề phòng sự bất trắc có khi xã mèo đã nhận lễ rồi nhưng vẫn xơi tái cả đám “Ngựa anh đi trước, kiệu nàng theo sau”. Thật đáng là một vở bi hài kịch các cụ nhà ta tài thật khi nâng lên và thổi vào đám chuột một nét tiếu lâm sắc nét, dùng ngôn ngữ đồ họa câm lặng để nói lên mọt thực tế hiện hữu chua chát “Thiếu thức vua không thể thua lệ làng” hoặc “Quan sang cũng ở làng mà ra” cái đắt của tranh là ở chỗ đó, tính tương phản trong sắc màu, đường nét, tính đối chát tâm lý là đặc điểm nổi bật của nghệ thuật dân gian, trong trường hợp này (đám cưới chuột) đề tài đồ họa và giá trị chuyện tiếu lâm đã dung hòa vào một thể thống nhất. Xuân này là của “chuột vàng” sáu mươi năm mới đến có một lần (1948 - 2008) vả lại chuột lại đứng hàng thứ nhất trong mười hai con giáp, trộm nghĩ ta cũng nên giảm án cho “Họ nhà Thử” chí ít cũng qua mấy ngày Tết để họ nhà chuột nhận bàn giao năm mới từ họ nhà Chư, tiết trời dần chuyển sang ngày mới dông dài một tý những chuyện biết về loài chuột cùng quý độc giả mua vui nhân dịp đón xuân về. Tết Mậu Tý 2008 Q.Đ.H[/color] Nguồn: http://www.phapluan.net/
-
Xem tranh “Đám cưới chuột” TQĐT - Thực ra bức tranh dân gian này có mấy di bản và không có tên. Căn cứ vào các chữ nôm ghi trên tranh, ngày trước các cụ gọi là “Tiến sĩ chuột vinh quy”. Ngày nay ta quen gọi là tranh “Đám cưới chuột”. Thoạt nhìn ta biết bức tranh kể một câu chuyện trên một tuyến dài. Có lẽ nếu để thế tranh mất cân đối, lại khó hình dung toàn cảnh câu chuyện nên người nghệ sỹ xưa đã cắt đôi bức tranh, thông minh xếp nửa trước lên trên, nửa sau xuống dưới cho người xem thuận mắt, dễ hình dung. Tuyến dưới đi đầu cưỡi con ngựa khỏe thắng đủ yên cương là chú rể chuột đầu đội mũ quan văn ra vẻ nghênh ngang, ngoái nhìn đám rước dâu và cô vợ xinh đẹp của mình. Tiếp theo chú chuột cẩn tắc cầm lọng che mưa nắng. Rồi chú chuột vác biển đề hai chữ “Nghinh hồn” nghiêng ngả, liếc nhòm cô dâu ngồi trong kiệu cáng. Rồi đến bốn chuột khệ nệ khiêng kiệu, ngồi chễm chệ là cô vợ quan khăn áo chỉnh tề chăm chăm đôi mắt mãn nguyện nhìn theo chú rể. Hai chú chuột cuối vừa tung tẩy đi vừa quay nhìn phía sau ngụ ý đám rước còn kéo dài. Tất cả tám chuột đều tung tẩy ra vẻ tự đắc đầu đuôi ngoáy tít. Ngắm nửa phần bức tranh ta hình dung ra hình ảnh của ông nghè, của quan trạng đỗ đạt cao chiếm bảng vàng, được các quan đại thần ban thưởng, gả con gái cho vinh quy bái tổ với cờ lọng, mũ mão. Thực tế trong một xã hội phân chia đẳng cấp, luật lệ thi cử khắt khe thì người bình thường không thể có một đám cưới rùm beng, khoe mẽ như thế. Để có được chức sắc, có được lễ rước dâu hoành tráng, chú rể chuột đã phải làm gì? Phần trên bức tranh sẽ nói rõ: Chặn đầu đám rước dâu là bác mèo đại, ngồi chồm chỗm như quan phụ mẫu, dáng vẻ thư thái kẻ cả, giơ một chân trước lên sẵn sàng nhận quà biếu, không cần phải giấu mặt. Thì ra để đám cưới mình suôn sẻ, không bị làm khó dễ, chú rể chuột đã khôn khéo lo tính toán cử đoàn thương thuyết đi trước ngoại giao. Từ xưa đến nay chuột vốn sợ mèo. Và bổn phận của mèo là tiêu diệt loài gặm nhấm, ăn cắp, phá hoại. Thế mà giờ đây mèo chịu ngồi yên, giơ tay nhận của biếu xén, hối lộ của chuột. Chắc chắn họ hàng nhà chuột đã tìm hiểu kỹ yêu cầu, sở thích của bác mèo mà tìm kiếm lễ vật. Ta thấy ngoài vật chất chim cá, còn có cả ngón đòn tinh thần là kèn trống, ca hát, tâng bốc nịnh hót mèo. Kẻ có quyền sinh quyền sát của họ hàng nhà chuột. Phải chăng trong cái yếu thế, chú rể chuột đã biết hạ mình chút đỉnh để mong được việc lớn, thì âu cũng là lối ứng xử khôn khéo, linh hoạt để mong được chung sống hòa thuận, yên vui. Khác hẳn tuyến dưới; các chú chuột trước quan lớn đều khúm núm sợ sệt, không còn cảnh quay ngược, quay xuôi tung tẩy. “Đám cưới chuột” là bức tranh dân gian khỏe về đường nét, đẹp về mầu sắc, mới lạ về bố cục; mang đầy ý tưởng của người nghệ sỹ xưa gửi gắm muôn đời sau. Bức tranh không đơn thuần mô tả một đám cưới mà sâu sắc hơn mang theo cả một lẽ sống. Cũng chính vì lẽ ấy, trong dân gian còn có lời bình cho bức tranh như sau: Khôn khổn khồn khôn đã có đuôi Đỗ cao cưới vợ tiếng vang trời Bác mèo mới vểnh nhô đầu ngó Chú chuột sai quân lễ tận nơi. Thái Thành Vân Nguồn: http://www.baotuyenquang.com.vn
-
Đám cưới chuột 05/02/2008 09:58 (HNM) - Trong bộ tranh dân gian Đông Hồ, bức tranh gây được ấn tượng dai dẳng và được nhiều người ưa thích là bức tranh “Đám cưới chuột” còn được gọi là “Trạng chuột vinh quy”. Bức tranh vẽ chuột mà lại giàu tính xã hội, nói lên chuyện con người. Cái thời mà các nghệ sỹ nông dân tài hoa rất mực của làng Mái Đông Hồ vẽ nên bức tranh ấy là cái thời mà ai cũng mong mỏi hai sự việc lớn trong đời. Đó là đại vinh quy tức là thi đỗ làm quan và tiểu vinh quy là lấy được vợ như ý. Đám cưới rất trang trọng, mang đậm hình ảnh ngựa anh đi trước, kiệu nàng theo sau. Chàng xênh xang trong bộ áo gấm xanh. Nàng mặc áo màu. Họ được rước đi, rạng rỡ trên con đường làng màu son nhạt với những vạt cỏ màu mạ. Chuột Trạng hoặc chuột chú rể được che lọng tía tượng trưng cho vinh quang, danh vọng lớn. Chuột cô dâu dịu dàng trong chiếc kiệu Bát cống có nhiều hoa văn trang trí kiểu cổ. Bốn chú chuột hầu hạ, ghé vai khiêng. Đám rước còn có biển đỏ, dàn nhạc. Hai chú chuột thổi kèn có “cung bậc” khác nhau: Kèn vua và kèn đại. Trang phục của các chú chuột “điếu đóm” lòe loẹt, tinh nghịch gợi người xem liên tưởng tới kiểu trang phục của các anh hề ở gánh xiếc. Bức trang tưng bừng về màu sắc, hài hòa về nhân vật, sinh động, rộn lên vẻ đùa bỡn, diễu cợt trào lộng. Người ta thấy cái quần bó là rất thích hợp với hình dáng của các chú chuột nhanh nhẹn và năng động, phảng phất kiểu dáng của chiếc quần bò ngày nay. Nhưng, cái hay, cái thú vị lại là ở chỗ có ông Mèo già ngồi đón đường đám rước khiến người ta nghĩ ngay tới câu chuyện về mèo và chuột vốn là hai loài xung khắc, đối lập nhau. Chuột thuộc âm mà mèo thuộc dương. Cả hai đều phải tuân theo quy luật hài hòa của tạo hóa nên cuộc đấu tranh nào cũng phải có sự nhượng bộ lẫn nhau. Trong việc cư xử cũng vậy. Lúc này đây, nhà chuột đã có lễ biếu ông Mèo. Chuột đi đầu dâng lễ lại là con chuột đặc biệt, vào loại anh chị, đáo để, đã “thân qua bách chiến” đến nỗi cụt cả đuôi. Do đó, ông Mèo già cũng hơi ngán. Tuy vậy, chú rể, cô dâu và cả họ hàng nhà chuột vẫn chưa thật vững tâm. Họ vẫn còn mắt trước mắt sau, e ngại có chuyện gì đó sẽ xảy ra... Chú chuột mang con cá biếu ông Mèo, có dáng điệu khúm núm, sợ sệt khi nhìn thấy kẻ mạnh hơn mình. Lại nữa, chuột tuy làm nhiều điều xấu, tội lỗi và đáng ghét. Song chuột lại tượng trưng cho sự phồn thực. Đẻ như chuột mà. ở đâu có chuột là nơi ấy có gạo, có cánh đồng, vựa thóc. Năm nào mèo ăn chuột quá tích cực thì mùa màng hỏng vì có sự hoạt động của chuột thì đất trồng mới trở nên xốp. Chuột kêu rúc rích là trong nhà có nhiều thóc. Bức tranh còn nói lên rằng nhà chuột cũng rất chịu khó học hành để được đỗ đạt. Bức tranh “Trạng chuột vinh quy” hay “Đám cưới chuột” còn sống mãi với Tết cổ truyền của chúng ta: Tết về nhớ bánh chưng xanh Nhớ đám cưới chuột, nhớ tranh lợn gà... Lý Khắc Cung Nguồn: http://www.hanoimoi.com.vn/vn/43/158403/
-
10/02/2008 ĐÁM CƯỚI CHUỘT Nguyễn Sĩ Dũng "Trạng chuột ơn vua cưới vợ làng, Kiệu son lộng lẫy lọng hoa vàng! Nàng dâu xứ chuột chân đi đất, Ngón nhỏ bùn non vẫn dính chân!” (Ngô Văn Phú) Trên đây là một phần của sự diễn giải bằng thơ bức tranh Đông Hồ “Đám cưới chuột”. Đây là bức tranh mô tả một đám rước dâu chuột hết sức long trọng. Trạng chuột cưỡi ngựa đi trước. Cô dâu chuột ngồi kiệu theo sau với một đoàn tùy tùng dài không ngớt. Chỉ có điều, để cho tiệc cưới được diễn ra suôn sẻ, họ hàng nhà chuột đã phải hối lộ quan mèo rất nhiều của ngon, vật lạ. Bức tranh chỉ nói chuyện ngày xưa và chỉ nói chuyện mèo chuột nhì nhằng, nhưng có biết bao nhiêu vui buồn trong đó! Mà vui buồn thì lẫn lộn vào nhau, tan biến trong nhau - vui cũng có thể chính là buồn. Trước hết, bức tranh là niềm an ủi lớn cho những người đương thời chúng ta. Thì ra, chuyện tham nhũng, hối lộ có từ ngày xửa, ngày xưa, chứ tuyệt nhiên không phải là sản phẩm độc quyền của đời sống hiện đại. Và nếu “lệ làng” có tự ngày xửa ngày xưa, thì chúng ta chỉ có lỗi một phần trong đó - ở cái phần tiếp tục duy trì và mở rộng cái “lệ làng” đó ra. Thực ra, nếu quyền lực có tự ngày xửa ngày xưa, và sự lạm dụng quyền lực cũng có tự ngày xửa ngày xưa, thì tham nhũng có tự ngày xửa ngày xưa cũng là điều dễ hiểu. Tham nhũng chỉ là một căn bệnh của quyền lực. Kê toa trên giấy cho căn bệnh này thì dễ, nhưng chữa trị nó trong cuộc sống thì khó vô cùng. Thực tế cho thấy, phần lớn các sáng kiến chống tham nhũng đều rất giống với sáng kiến treo chuông vào cổ mèo. Treo chuông vào cổ mèo, thì mèo đi đến đâu chuông kêu đến đó. Họ hàng nhà chuột nhờ đó có thể chạy thoát dễ dàng. Vấn đề chỉ là trong họ hàng nhà chuột ai đủ to gan, và ai có khả năng treo được chuông vào cổ mèo? Hai là, bức tranh cho thấy đã là mèo thì bao giờ cũng có thể gây khó cho chuột. Chuyện cưới xin là chuyện riêng tư trong đời sống dân sự. Chuột tổ chức cưới mấy mâm, chuột rước dâu như thế nào là chuyện của chuột. Quí hồ chuyện cưới xin này không gây thiệt hại cho người ngoài, thì quan mèo không thể có thẩm quyền can thiệp. Thế nhưng, bức tranh dân gian khuyên chúng ta là chớ có nên tin vào những nguyên tắc của luật dân sự. Quan mèo có thể phá nát đám cưới, nếu như trạng chuột chỉ biết luật trên giấy, mà không biết luật ở đời. Quan mèo là cái bóng quá lớn của công quyền đè nặng lên không gian tồn tại của họ hàng nhà chuột. Mà như vậy thì các quyền sẽ bị hạn chế, các chi phí sẽ phát sinh. Ba là, bức tranh còn nói lên sự bi hài của địa vị và chức quyền trong cuộc sống. Trạng chuột phi ngựa đưa dâu trông uy phong biết bao nhiêu! Cô dâu chuột ngồi kiệu trông quyền quý biết bao nhiêu! So với họ hàng nhà chuột, thì cô dâu chú rể quả là những đấng cao sang. Tuy nhiên, so với mèo thì cô dâu, chú rể vẫn chỉ là chuột. Sự khúm núm, sự lo lắng vẫn thấp thoáng đâu đó đằng sau sự cao sang. Phải chăng đó cũng là lý do tại sao châm ngôn “Trông lên thì chẳng bằng ai, nhưng trông xuống cũng chẳng có ai bằng mình” lại có sức an ủi to lớn như vậy? Bức tranh “Đám cưới chuột” còn được ban nhạc “Gạt tàn đầy” chuyển thành bài hát. Được lặp đi, lặp lại liên tục là những lời hát sau đây: “Ai mang cá đến cho con mèo hoang tàn ác? Ai mang cá đến cho con mèo hoang say mềm?” Ai mang nếu không phải là những chú chuột ở quanh ta và ở trong ta?! Nguồn: tuoitre.com.vn
-
Bức tranh đám cưới chuột Trong một số tranh treo vào những ngày Tết Nguyên đán của chúng ta, bức tranh gây được ấn tượng dai dẳng và được nhiều người ưa thích là bức tranh Đám cưới chuột còn gọi là Trạng chuột vinh quy. Điều này cũng có lý. Bởi tranh về chuột mà lại giàu tính xã hội, nói lên chuyện con người. Cái thời mà các nghệ sĩ nông dân tài hoa rất mực của làng Mái Đông Hồ vẽ nên bức tranh ấy là cái thời mà ai cũng mong mỏi hai sự việc lớn trong đời. Đó là đại vinh quy tức là thi đỗ làm quan về, tiểu vinh quy là lấy được vợ như ý. Đám cưới rất trang trọng, mang đậm cái hình ảnh ngựa anh đi trước, kiệu nàng theo sau. Chàng xênh xang trong bộ áo gấm xanh. Nàng mặc áo màu gụ. Họ được rước đi, rạng rỡ trên con đường làng màu son nhạt với những vạt cỏ màu mạ. Chuột Trạng hoặc chuột chú rể được che lọng tía tượng trưng cho vinh quang, danh vọng lớn. Chuột cô dâu dịu dàng trong chiếc kiệu bát cổng có nhiều hoa văn trang trí kiểu cổ. Bốn chú chuột hầu hạ, ghé vai khiêng. Đám rước còn có biển đỏ, dàn nhạc. Hai chú chuột thổi hai chiếc kèn có cung bậc khác nhau: kèn pha và kèn đại. Trang phục các chú chuột “điểu đóm” là một loại gần như lòe loẹt, tinh nghịch gợi người xem liên tưởng tới kiểu trang phục của các anh hề ở gánh xiếc. Bức tranh tưng bừng về màu sắc, hài hòa về nhân vật, sinh động, rộn lên vẻ đùa giỡn, giễu cợt, trào lộng. Người ta thấy cái quần bó là rất thích hợp với hình dáng của các chú chuột nhanh nhẹn và năng động, phảng phất kiểu dáng của chiếc quần bò ngày nay. Nhưng, cái hay, cái thú vị lại là ở chỗ có ông Mèo già ngồi đón đường đám rước khiến người ta nghĩ ngay tới câu chuyện về mèo và chuột vốn là hai loài xung khắc, đối lập nhau. Chuột thuộc âm mà mèo thuộc dương. Cả hai đều phải tuân theo quy luật hài hòa của tạo hóa nên cuộc đấu tranh nào cũng phải có sự nhượng bộ lẫn nhau. Trong việc cư xử cũng vậy. Lúc này đây, nhà chuột đã có lễ biếu ông Mèo. Chuột đi đầu dâng lễ lại là con chuột đặc biệt, vào loại anh chị, đáo để, đã “thân qua bách chiến” đến nỗi cụt cả đuôi. Do đó, ông Mèo già cũng hơi ngán. Tuy vậy, chú rể, cô dâu và cả họ hàng nhà chuột vẫn chưa thật vững tâm. Họ vẫn còn mắt trước mắt sau, e ngại có chuyện gì đó sẽ xảy ra... Chú chuột mang con cá biếu ông Mèo, có dáng điệu khúm núm, sợ sệt khi nhìn thấy kẻ mạnh hơn mình. Lại nữa, chuột tuy có nhiều điều xấu, tội lỗi và đáng ghét song chuột lại tượng trưng cho sự phồn thực. Đẻ như chuột mà. Ở đâu có chuột là nơi ấy có gạo, có cánh đồng, vựa thóc. Năm nào mèo ăn chuột quá tích cực thì mùa màng hỏng vì có sự hoạt động của nhà có nhiều thóc. Bức tranh còn nói lên rằng nhà chuột cũng rất chịu khó học hành để được đỗ đạt. Chuột cũng chung tình như ai chứ không phải loại (mèo mả gà đồng)... Bức tranh Trạng Chuột vinh quy hay Đám cưới chuột còn sống mãi với Tết cổ truyền của chúng ta: Tết về nhớ bánh chưng xanh Nhớ đám cưới chuột, nhớ tranh lợn gà... Theo Thế giới Phụ nữ
-
Bức tranh “Đám cưới chuột” và dòng tranh Đông Hồ hôm nay 09:35:00 12/02/2008 Tranh Đông Hồ phản ánh cuộc sống hồn nhiên và ước mơ giản dị của người dân quê với hàng trăm mẫu tranh ở 5 loại chính: Tranh thờ, tranh lịch sử, tranh chúc tụng, tranh sinh hoạt và truyện tranh. Đi từ cuộc sống lao động, lại được những bàn tay nghệ nhân tinh tế phản ánh, tranh Đông Hồ sống động và rất có hồn. Cái rét ngọt cuối năm không làm vơi đi niềm nao nức, cho chúng tôi tìm về làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) - vùng đất đã nổi tiếng suốt 5 thế kỷ qua với một dòng tranh dân gian được coi như di sản văn hóa không thể thiếu của người Việt. Qua chợ Hồ, triền đê đầy gió đưa chúng tôi đến làng tranh nằm nép mình thơ mộng bên dòng sông Đuống - cái miền quê nhỏ bé đã trở thành cảm hứng của bao nhà thơ tên tuổi: Tú Xương, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Ngô Văn Phú, Chế Lan Viên... "Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp" Giáp Tết nên không khí khắp làng nhộn nhịp lắm. Giấy màu phơi trên các bờ tường, góc sân rực rỡ cả làng. Nhưng không phải cả làng làm tranh như trước. Giờ đây, Đông Hồ chỉ còn 3 người sống chết với nghề tranh là các ông Nguyễn Đăng Chế, Nguyễn Hữu Sam và Trần Văn Sở - những người đã được công nhận danh hiệu "Bàn tay vàng", trong đó, duy nhất ông Nguyễn Hữu Sam được Hiệp hội Làng nghề Việt Nam phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân làng nghề Việt Nam". Các nghệ nhân sưu tầm, phục chế các bản khắc, tranh quý và cả phóng tác những bức nổi tiếng. Nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam đã ngoài 80 tuổi, nhưng hàng ngày, ông vẫn thảo những nét vẽ tinh sắc cho cô con dâu vờn thủy mặc. Bây giờ, đang mùa tranh Tết, trong nhà các nghệ nhân đầy ắp tranh. Tranh trên tường, trên giá, trên tủ, bàn, ghế… từng chồng, từng xấp. Khách đến mua tranh cũng rộn ràng. Nhiều người ở tận trong Nam ra mua tranh về làm quà tết tặng bạn bè, người thân. Hầu như ai cũng chọn bức "Đám cưới chuột" vốn nổi danh từ hàng trăm năm: "Mà bao năm tháng trong tranh Tết/Tiếng trống vinh quy vẫn rộn ràng" ("Đám cưới chuột" -Ngô Văn Phú). Nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam bảo, năm tới là Mậu Tý, nên khách đặt vẽ tranh "Đám cưới chuột" hay làm lịch rất nhiều. Không ai biết đích xác thời điểm ra đời của bức tranh ấy, chỉ biết rằng, nó đã được truyền từ đời này qua đời khác đến tận bây giờ. Tùy theo chú thích mà bức tranh có thể hiểu là "Đám cưới chuột" hay "Trạng chuột vinh quy". Nhưng cả 2 nội dung đều có không khí vui nhộn với kèn trống, cờ quạt, phù hợp với tâm thế mọi nhà trong dịp đầu năm nên luôn được ưa chuộng. Trên bức tranh còn có 2 hàng chữ đối nhau: "Thử bối đệ ngư: chí, chí, chí" (đàn chuột dâng cá kêu chí, chí, chí). "Miêu nhi thủ lễ: mưu, mưu, mưu" (chú mèo giữ lễ: meo, meo, meo). Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Hữu Sam, ngoài không khí tưng bừng, vui vẻ, bức tranh được truyền tụng qua nhiều đời chính bởi ý nghĩa sâu sắc của nó: nhìn vào đã thấy ngay cảnh cá lớn nuốt cá bé. Đám rước tưng bừng với đầy đủ nghi thức, lễ vật, có chàng chuột cưỡi ngựa đi trước, theo sau là kiệu rước nàng chuột, nhưng giữa đường lại có một lão mèo già to béo trấn giữ, đe dọa. Vì thế, một nhóm chuột phải mang cá, chim đến để cống nạp, lại kèm cả nhạc lễ để bày tỏ vui mừng, nhằm dọn đường cho đám rước đầu xuôi đuôi lọt. Nét độc đáo của tranh là tiếng cười hóm hỉnh, mỉa mai sâu cay của nhân dân lao động đối với bọn thống trị, cũng là thái độ phản ứng của nhân dân trước nạn tham ô, tham nhũng. Bức tranh như tái hiện cảnh người dân lành xưa thường phải chịu đựng sự áp bức của bọn quan tham. Đó chính là ý nghĩa xuyên thời đại của bức tranh mà vì thế, qua bao thế kỷ, "Đám cưới chuột" vẫn được người chơi tranh yêu thích. Hơn nữa, bức tranh được tạo nên không chỉ bởi màu sắc, hình khối, mà còn là những rung cảm tinh tế cùng trí tuệ, tài hoa, những triết lý nhân sinh mà các nghệ nhân xưa gửi trong từng đường nét. Ông Sam giải thích thêm: Nhiều người cho rằng, bức tranh còn chứa đựng tinh thần phản kháng của người dân Việt Nam xưa với kẻ thù truyền thống phương Bắc. Nơi níu giữ hồn dân tộc Tồn tại qua nhiều thế kỷ, tranh Đông Hồ được thừa nhận như dòng tranh dân gian được biết đến nhiều nhất ở Việt Nam, in vào tâm khảm hàng trăm thế hệ. Theo ông Nguyễn Đăng Chế thì nghề làm tranh khắc gỗ dân gian ở Đông Hồ - còn có tên gọi làng Mái - xuất hiện từ thế kỷ XVI. Trước đây, cả làng gồm 17 dòng họ đều làm tranh nên có câu ca truyền khẩu: "Cô kia mà thắt lưng xanh/Có về làng Mái với anh thì về/Làng Mái có lịch có lề/Có sông tắm mát có nghề làm tranh". Tranh Đông Hồ độc đáo ở chỗ được làm hoàn toàn thủ công, từ màu sắc pha chế, in tranh đến vờn thủy mặc. Tranh in trên giấy dó quét điệp bằng chổi lá thông. Mỗi màu là một bản khắc, một lần in. Màu sắc của tranh được chắt lọc từ thiên nhiên: sỏi son cho màu đỏ, hoa hòe, gỗ vang làm nên sắc vàng, ánh đen từ than tre và màu xanh lấy từ lá chàm... Tranh Đông Hồ phản ánh cuộc sống hồn nhiên và ước mơ giản dị của người dân quê với hàng trăm mẫu tranh ở 5 loại chính: Tranh thờ, tranh lịch sử, tranh chúc tụng, tranh sinh hoạt và truyện tranh. Đi từ cuộc sống lao động, lại được những bàn tay nghệ nhân tinh tế phản ánh, tranh Đông Hồ sống động và rất có hồn. Nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam cho biết: Bố cục tranh Đông Hồ chặt chẽ đến mức, ông từng thử bỏ một vài chi tiết nhằm tạo sự mới mẻ cho tranh nhưng người xem vẫn yêu thích các bức nguyên bản hơn. Hình như các nghệ nhân Đông Hồ đã rút ruột tằm, để trong mỗi bức tranh dân gian đều chứa đựng bao điều sâu thẳm về văn hóa, tình cảm và triết lý cuộc đời. Nét vẽ nhuần nhụy, mang theo rung cảm chân thành của các nghệ nhân Việt từng đưa tranh Đông Hồ lên vị trí đáng kể trong nhiều triển lãm nghệ thuật lớn trên thế giới. Ấy nhưng, mọi điều giờ đây đã thay đổi. Ông Hoàng Bá Nhất - Phó trưởng thôn Đông Khê cho biết: Cả làng Đông Hồ gần 400 hộ giờ chỉ còn 3 nghệ nhân giữ nghề. Những nhà khác đều đã chuyển qua làm hàng mã. Bởi việc tiêu thụ tranh cũng khó, nhất là trong sự cạnh tranh khốc liệt của cơ chế thị trường với vô vàn tranh ảnh phong phú về mẫu mã, in ấn công nghệ cao. Ông Nguyễn Như Điều - Phó Chủ tịch UBND xã Song Hồ tự hào: Người dân Đông Hồ năng động lắm. Làng tranh bị thu hẹp thì làng mã lại phát triển. Những người nhất quyết sinh tử với nghề tranh nay đã có thu nhập ổn định từ tranh. Các gia đình khác không tồn tại bằng tranh cũng nhanh chóng chuyển sang nghề gõ phỗng, làm mã vốn tồn tại song trùng với nghề tranh từ trước. Nghề làm hàng mã không chỉ lúc nông nhàn mà có việc làm quanh năm, lại tận dụng được cả lao động trẻ con và người sức yếu. Tiếng là nghề phụ, nhưng lại cho thu nhập chính: 400-500.000đ/tháng/người. Mỗi gia đình ở đây sản xuất chuyên một mặt hàng chứ không phải làm từ A đến Z: có nhà chuyên làm mũ, có nhà chỉ làm mặt nạ, có nhà chuyên quần áo… Từ tháng 7 âm lịch, cả làng đã sản xuất hàng mã phục vụ Tết Nguyên đán, Rằm tháng Giêng. Đến tháng 3, lại lao vào làm hàng mã phục vụ Rằm tháng Bảy. Quanh năm, chả lúc nào ngơi tay. Cứ nhìn vào làng là biết sự sung túc của người dân Đông Hồ: 100% gia đình có nhà xây, điện lưới, xe máy, TV; đường làng 100% bê tông. Giữa làng, có những ngôi nhà cao to, đẹp đẽ như ở đô thị lớn. Có việc làm quanh năm nên Đông Hồ ít tệ nạn, là cơ sở để an ninh ở Đông Hồ duy trì ổn định. Đại úy Lê Nho Phấn - cán bộ Công an tỉnh Bắc Ninh, phụ trách huyện Thuận Thành cho biết: Xã Song Hồ đã được phong Anh hùng LLVTND và 18 năm liên tục được nhận Cờ thi đua của Bộ Công an và UBND tỉnh về phong trào bảo vệ an ninh, dĩ nhiên trong đó, có sự góp phần không nhỏ của Đông Hồ. Ông Nguyễn Như Điều băn khoăn: Xã cũng muốn khôi phục làng tranh, nhưng việc tìm đầu ra lại ngoài tầm tay của chính quyền. Hiện tranh Đông Hồ chủ yếu bán cho khách du lịch nước ngoài, chứ tiêu thụ trong nước còn hạn chế. Nếu không phát triển được, mai một của tranh Đông Hồ thật khó tránh khỏi. Những nghệ nhân gắn bó với nghề bằng cả tình yêu máu thịt, bằng niềm tự hào của một dòng họ làm tranh, như ông Sam, ông Chế, giờ đều đã tuổi cao sức yếu. Hơn nữa, không ít bức tranh Đông Hồ đã không còn nguyên chất truyền thống, khi nhiều màu sắc đã được sử dụng bằng màu công nghiệp thay cho nguyên liệu xưa cũ mà cha ông vẫn dùng. Một số bản khắc mới không còn nét tinh tế, có hồn như bản cổ. Sự sáng tạo lai căng làm mất đi nét văn hóa vốn có của giá trị truyền thống. Vọng về từ ký ức Đình Đông Hồ - di tích được xếp hạng cấp Quốc gia, nằm ở cuối làng. Nhìn ngôi đình cửa đóng then cài, lá rơi phủ kín sân, bước chân chợt ngập ngừng trong niềm tiếc nuối trào dâng. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế bùi ngùi: Trước năm 1945, cứ tháng Chạp hàng năm, dân làng Đông Hồ thường ra đây bán tranh cho người tứ xứ treo Tết. Nhà nhà mua về dán trên tường và năm sau lại vứt bỏ, mua tranh mới, nên nghề làm tranh mới sống được. Mỗi năm chỉ một tháng Chạp, như câu ca: "Dù ai buôn bán trăm nghề/Nhớ đến tháng chạp thì về buôn tranh..." mà trong tháng Chạp cũng chỉ có 5 phiên chợ tranh vào các ngày 6, 11, 16, 21 và 26. Người đến chợ tranh, không chỉ bán mua, mà còn để thưởng thức loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo chỉ có ở vùng Kinh Bắc nên thơ. Bên sân đình, các cô gái Đông Hồ ngồi bán tranh, cho khách mang về chẳng riêng "Tranh Đông Hồ, gà lợn nét tươi trong/Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp" (Hoàng Cầm), mà còn cả nụ cười, ánh mắt, sự lịch lãm của những thôn nữ sinh ra ở mảnh đất hào hoa, nghệ thuật. Nhưng rồi, năm đói 1945, rồi kháng chiến, thế là chợ mất, làng tranh cũng tan theo. Suốt từ đó, không còn phiên chợ tranh nào được mở nữa. Ngôi đình còn đó. Hồ bán nguyệt rực hồng hoa súng còn đây. Tất cả vẫn vẹn nguyên, mà sao chợ tranh Đông Hồ chỉ còn vọng về từ ký ức? Nét văn hóa độc đáo rất riêng có bao giờ trở lại, để sân đình thôi vắng vẻ giữa bâng khuâng? Dạ Miên Nguồn: http://www.cand.com.vn/vi-VN/vanhoa/2008/2/84878.cand
-
ĐÁM CƯỚI CHUỘT BỨC TRANH DÂN GIAN DƯỚI GÓC NHÌN CHỐNG THAM NHŨNG Chân dung tác giả Hồ xuân Tuyến. Tết Nguyên đán, cùng với “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ – Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”, mỗi gia đình người Việt xưa còn treo tranh Tết. Tranh Tết thường là tranh dân gian Đông Hồ, tranh Hàng Trống. Từ trong cung vua đến hàng phố, làng quê; từ nhà giàu cho chí nhà nghèo đều có tranh dân gian treo Tết. Trong nhà có tranh thờ, tranh trang trí ngày xuân; trên cánh cửa thường là đôi bức tranh Gà hay Hai tướng canh cửa để cầu phúc, cầu may, trừ tà… Tranh dân gian ngày Tết mang đầy ý nghĩa nhân văn. Tranh Gà nói về tình mẫu tử, tình yêu thương, đùm bọc nhau giữa các thành viên trong gia đình, về trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái. Tranh Lợn biểu tượng của sự sung túc, no đủ. Tranh Lí ngư vọng nguyệt (Cá chép trông trăng) ngụ ý về tinh thần vượt khó, ý chí vươn lên, phấn đấu trong học tập, sự thành đạt của gia chủ. Tranh Phú quý và Vinh hoa là hai bức tranh thường treo cặp đôi biểu tượng cho những điều mong ước tốt đẹp như tên tranh. v.v. Những bức tranh dân gian Đông Hồ như tranh Gà, tranh Lợn, tranh Hứng dừa, tranh Đánh ghen, tranh Thầy đồ cóc, tranh Đám cưới chuột… thể hiện đậm đà tâm hồn, tính cách thuần hậu, chất phác, hồn nhiên của người bình dân và cũng giàu chất triết lí dân gian, triết lí cuộc sống sâu sắc và ý nhị. Đám cưới chuột là bức tranh quen thuộc với mọi người dân Việt. Bức tranh cũng có ý nghĩa triết lí sâu xa. Đặc biệt, nó mang nhiều ý nghĩa nhân văn trong một thời điểm mà Luật chống tham nhũng của Nhà nước ta vừa được Quốc hội thảo luận và thông qua, trong thời điểm mà tinh thần đấu tranh chống tham nhũng trong nhân dân đang dâng cao. Bức tranh được bố cục chặt chẽ. Có thể thấy rất rõ hai mảng tiểu nội dung: phần trên là cảnh ăn hối lộ và đưa hối lộ, cảnh dưới là cảnh đám cưới nhà Chuột, cảnh ngựa anh đi trước, kiệu nàng đi sau. Lễ cưới là việc “đại hỉ”, nhưng để trót lọt, Chuột phải “lễ” quan Mèo nào gà, nào cá. Ý nghĩa chung toát lên từ bố cục này là: muốn đám cưới diễn ra một cách trót lọt, xuôi chèo mát mái thì phải lo lót cho kẻ có quyền thế.Trước hết là cảnh hối lộ và nhận hối lộ. “Quan” Mèo được miêu tả mang tính chất tượng trưng, đầy ẩn ý – rất mập mạp, béo tốt, là kẻ được ăn uống đủ đầy. Việc hối lộ cũng đẩy lên một cách trang trọng (đi thành đoàn, kèn trống nghiêm chỉnh). Rõ ràng, đây là một việc làm không thể xem thường. Người hối lộ thì kúm núm, nịnh bợ; kẻ nhận hối lộ thì “tay” giơ lên ra vẻ không cần, nhưng cũng có vẻ giống như đang đưa “tay” đón nhận. Phần trên của bức tranh đã thể hiện được bản chất của sự việc: đưa và nhận hối lộ.Phần dưới của bức tranh là cảnh đám cưới. Đây không phải là đám cưới của người bình dân, mà là một đám cưới của một kẻ có địa vị. Bằng chứng là có biển có lọng, chú rể đội mão quan, cô dâu ngồi trong kiệu. Vậy là, quan nhỏ muốn công việc của mình thuận lợi thì phải lễ lạt quan lớn hơn mình, “biết điều” với kẻ có quyền thế hơn mình. Đó là chuyện đưa và nhận hối lộ trong hàng quan lại phong kiến xưa. Quan nhỏ tham nhũng để có tiền, có bạc, có lễ vật biếu xén, nịnh bợ quan trên. Mục đích lễ lạt, biếu xén ấy là để thăng quan tiến chức, để tiếp tục có vị trí tốt hơn mà đục khoét dân tình, nhũng nhiễu dân đen.Một tầng ý nghĩa khác, sâu sắc hơn của bức tranh này mà người xem có thể thấy: Mèo và chuột vốn là hai đối tượng xung khắc nhau, mâu thuẫn gay gắt, một sống một còn với nhau. Thế mà ở đây, chúng lại cùng nhau tồn tại. Tồn tại một cách “hoà bình”, tồn tại trong thế: kẻ yếu hơn muốn yên ổn, hạnh phúc thì phải cống nạp, chịu quy phục kẻ khác. Tham nhũng đã đưa những kẻ vốn đối đầu nhau xích lại gần nhau, thậm chí sống chung với nhau. Mới hay tham nhũng nguy hiểm biết nhường nào!Bức tranh “chống tham nhũng” này ra đời đã mấy trăm năm mà đến nay vẫn còn nhiều ý nghĩa. Nguồn: http://hoxuantuyen.vnweblogs.com/post/4300/42408
-
"Đám cưới chuột": Tưng bừng mà ý nhị 08/02/2008 08:04 (GMT + 7) "Đám cưới chuột" không chỉ thể hiện mong muốn tạo dựng cuộc sống gia đình và khát vọng hạnh phúc lứa đôi, còn phê phán mạnh mẽ tệ nạn đút lót, hối lộ mà còn thể hiện sự thâm thuý, tài tình của người dân nước Việt. Tranh dân gian Đông Hồ "Đám cưới chuột" Tranh Đông Hồ là một dòng tranh dân gian nổi tiếng ở nước ta, đề tài của tranh rất phong phú, đa dạng phản ánh những tâm tư, tình cảm, quan niệm cũng như các hoạt động trong đời sống xã hội. Bằng sự sáng tạo tài tình cùng bàn tay khéo của mình, các nghệ nhân dân gian đã tạo nên những tác phẩm mộc mạc, giản dị nhưng lại hàm chứa biết bao ý nghĩa sâu sắc, đó chính là một biểu tượng cho nét đẹp của văn hóa Việt. Trong số những bức tranh dân gian Đông Hồ, có lẽ “Đám cưới chuột” là một bức tranh khá quen thuộc và phổ biến với chúng ta. Nhân dịp xuân Mậu Tý, xin cung cấp cho bạn đọc một số điều thú vị quanh bức tranh này. Tưng bừng "Đám cưới chuột" Trước hết, về bố cục của tranh, nội dung phản ánh một đám cưới, mà đã là đám cưới thì khung cảnh phải đông vui nhộn nhịp, thế nhưng do giới hạn khuôn khổ nên nghệ sĩ dân gian chỉ thể hiện những nét chính. Cái hay ở đây là tuy lược bỏ nhiều chi tiết nhưng người xem vẫn thấy được không khí của đám rước dâu rất trang trọng nhưng tưng bừng với tấm biển đề chữ “Nghinh hôn”, lọng che, kèn thổi, chú rể mũ cao, cô dâu áo dài đội khăn, ngồi kiệu hoa. Phía trên bức tranh có viết hai câu tiếng Hán: “Thử bối đệ ngư, chí, chí, chí” (Nghĩa là: đám chuột dâng cá kêu chí chí chí); “Miêu nhi thủ lễ, mưu, mưu, mưu” (Nghĩa là: Con mèo giữ lễ kêu meo meo meo). Hai chú chuột khiêng kiệu phía sau vừa đi vừa ngoái đầu lại nhìn cho thấy đám rước còn kéo dài. Để thể hiện điều này, bức tranh được cắt làm hai đoạn chuyển động từ trái qua phải, cảnh chính là đám rước đặt ở đoạn dưới, còn đoạn trên diễn tả nhóm chuột đi lễ mèo. Thủ pháp nhấn mạnh và lược bỏ được sử dụng làm nổi bật nhân vật trọng tâm bằng cách phóng to, thu nhỏ kích thước. Mèo được vẽ to, đại diện cho tầng lớp thống trị, tuy ít nhưng có quyền lực lớn, trong khi cái kiệu, con ngựa là phương tiện di chuyển của chuột được thu nhỏ lại. Ý nghĩa "Đám cưới chuột" Bức tranh “Đám cưới chuột” mang khá nhiều ý nghĩa. Cảnh đám cưới thể hiện mong muốn tạo dựng cuộc sống gia đình và khát vọng hạnh phúc lứa đôi. Góc trên bên phải của tranh có bốn chữ “Lão thử thủ thân” (Chuột giữ mình) với hàm ý trong môi trường xã hội, người ta cần tỉnh táo và có ý thức giữ gìn để tránh những điều xấu xảy ra với mình. Việc chuột phải lễ mèo, ngoài việc thể hiện bằng hình ảnh còn có hai chữ “Tống lễ” (biếu lễ vật) chính là sự phê phán mạnh mẽ những tệ nạn nhức nhối, đó là đút lót và hối lộ. Phía sau chiếc kiệu của cô dâu chuột, nghệ nhân dân gian còn điểm 5 chấm nhỏ tượng trưng cho Ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ). Phía trên của bức tranh có hai chú chuột mang lễ vật thì chú chuột đi đầu được vẽ màu nâu đỏ (= dương) ôm con chim (chim bay trên trời, dương), chuột đi sau thân mình đen (= âm) xách cá (cá bơi dưới nước, âm). Những chi tiết này thể hiện nguyên lý âm dương hòa hợp. Giai thoại "Đám cưới chuột" Bên cạnh những ý nghĩa nói trên, xung quanh bức tranh “Đám cưới chuột” còn có một giai thoại khá thú vị. Chuyện kể rằng thời Lê Trung Hưng, vào những ngày cuối cùng của một năm Tý, đoàn sứ thần nhà Thanh trên đường về nước có ghé qua thăm làng Đông Hồ để chiêm ngưỡng những bức tranh do dân làng làm ra. Trong lúc nhìn ngắm, viên Chánh sứ thấy bức tranh “Đám cưới chuột” bèn nảy ra vế đối khá hóc hiểm: "Tý tận, thử tống mão" (Cuối năm Tý, chuột lễ mèo) Qua vế đối, Chánh sứ nhà Thanh có ý vòi vĩnh, tự coi mình là mèo, còn dân làng như đàn chuột phải mang lễ vật đến biếu. Thâm ý còn răn đe rằng nước Việt muốn sống yên ổn thì phải cống nạp Bắc triều. Trong khi các quan sở tại và người làng còn đang lúng túng chưa biết phải đối lại như thế nào thì có cụ nghệ nhân làng Đông Hồ đã lấy ra một bức tranh giơ lên. Tranh vẽ một chú trâu to khỏe đang vểnh tai bước đi trên con đường quanh co, uốn lượn như rồng. Chánh sứ nhà Thanh nhìn bức tranh mà tái mặt, và hiểu ngay ý của cụ già đối lại rằng: "Sửu đầu, ngưu thốn thìn" (Đầu năm Sửu, trâu nuốt rồng) Con rồng được vua chúa Trung Quốc coi là hình ảnh của ngôi Thiên tử, thế mà nay lại bị con trâu tượng trưng cho xứ sở nông nghiệp phương Nam nuốt. Vế đối còn có ý rằng trâu nuốt rồng tức là người Việt sẽ đánh thắng quân đất Bắc. Theo thứ tự của 12 con giáp trong hệ chi thì sau Tý là Sửu, sau Mão là Thìn. Chỉ một vế đối mà thể hiện được sự thâm thúy, sâu cay và tài tình của người Việt trước Chánh xứ phương Bắc. Bạn đọc Lê Thái Dũng (Hà Nội) Nguồn: http://tuanvietnam.net
-
Đám cưới chuột Thứ Năm, 7/2/2008, 14:39 (GMT+7) LTS: Trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn xuân Mậu Tý, TS. Nguyễn Sĩ Dũng đã có bài viết tản mạn quanh bức tranh dân gian Việt Nam - Đám cưới chuột, với những cảm nhận, suy ngẫm về chuyện xưa, chuyện nay qua hình ảnh trong tranh. >> Vào đây để xem chi Video rõ nét các chi tiết trên tranh (Nguồn: VTV) Trạng chuột ơn vua cưới vợ làng, Kiệu son lộng lẫy lọng hoa vàng! Nàng dâu xứ chuột chân đi đất, Ngón nhỏ bùn non vẫn dính chân!” (Ngô Văn Phú) Trên đây là một phần của sự diễn giải bằng thơ bức tranh Đông Hồ “Đám cưới chuột”. Đây là bức tranh mô tả một đám rước dâu chuột hết sức long trọng. Trạng chuột cưỡi ngựa đi trước. Cô dâu chuột ngồi kiệu theo sau với một đoàn tùy tùng dài không ngớt. Chỉ có điều, để cho tiệc cưới được diễn ra suôn sẻ, họ hàng nhà chuột đã phải hối lộ quan mèo rất nhiều của ngon, vật lạ. Bức tranh chỉ nói chuyện ngày xưa và chỉ nói chuyện mèo chuột nhì nhằng, nhưng có biết bao nhiêu vui buồn trong đó! Mà vui buồn thì lẫn lộn vào nhau, tan biến trong nhau - vui cũng có thể chính là buồn. Trước hết, bức tranh là niềm an ủi lớn cho những người đương thời chúng ta. Thì ra, chuyện tham nhũng, hối lộ có từ ngày xửa, ngày xưa, chứ tuyệt nhiên không phải là sản phẩm độc quyền của đời sống hiện đại. Và nếu “lệ làng” có tự ngày xửa ngày xưa, thì chúng ta chỉ có lỗi một phần trong đó - ở cái phần tiếp tục duy trì và mở rộng cái “lệ làng” đó ra. Thực ra, nếu quyền lực có tự ngày xửa ngày xưa, và sự lạm dụng quyền lực cũng có tự ngày xửa ngày xưa, thì tham nhũng có tự ngày xửa ngày xưa cũng là điều dễ hiểu. Tham nhũng chỉ là một căn bệnh của quyền lực. Kê toa trên giấy cho căn bệnh này thì dễ, nhưng chữa trị nó trong cuộc sống thì khó vô cùng. Thực tế cho thấy, phần lớn các sáng kiến chống tham nhũng đều rất giống với sáng kiến treo chuông vào cổ mèo. Treo chuông vào cổ mèo, thì mèo đi đến đâu chuông kêu đến đó. Họ hàng nhà chuột nhờ đó có thể chạy thoát dễ dàng. Vấn đề chỉ là trong họ hàng nhà chuột ai đủ to gan, và ai có khả năng treo được chuông vào cổ mèo? Hai là, bức tranh cho thấy đã là mèo thì bao giờ cũng có thể gây khó cho chuột. Chuyện cưới xin là chuyện riêng tư trong đời sống dân sự. Chuột tổ chức cưới mấy mâm, chuột rước dâu như thế nào là chuyện của chuột. Quí hồ chuyện cưới xin này không gây thiệt hại cho người ngoài, thì quan mèo không thể có thẩm quyền can thiệp. Thế nhưng, bức tranh dân gian khuyên chúng ta là chớ có nên tin vào những nguyên tắc của luật dân sự. Quan mèo có thể phá nát đám cưới, nếu như trạng chuột chỉ biết luật trên giấy, mà không biết luật ở đời. Quan mèo là cái bóng quá lớn của công quyền đè nặng lên không gian tồn tại của họ hàng nhà chuột. Mà như vậy thì các quyền sẽ bị hạn chế, các chi phí sẽ phát sinh. Ba là, bức tranh còn nói lên sự bi hài của địa vị và chức quyền trong cuộc sống. Trạng chuột phi ngựa đưa dâu trông uy phong biết bao nhiêu! Cô dâu chuột ngồi kiệu trông quyền quý biết bao nhiêu! So với họ hàng nhà chuột, thì cô dâu chú rể quả là những đấng cao sang. Tuy nhiên, so với mèo thì cô dâu, chú rể vẫn chỉ là chuột. Sự khúm núm, sự lo lắng vẫn thấp thoáng đâu đó đằng sau sự cao sang. Phải chăng đó cũng là lý do tại sao châm ngôn “Trông lên thì chẳng bằng ai, nhưng trông xuống cũng chẳng có ai bằng mình” lại có sức an ủi to lớn như vậy? Bức tranh “Đám cưới chuột” còn được ban nhạc “Gạt tàn đầy” chuyển thành bài hát. Được lặp đi, lặp lại liên tục là những lời hát sau đây: “Ai mang cá đến cho con mèo hoang tàn ác? Ai mang cá đến cho con mèo hoang say mềm?” Ai mang nếu không phải là những chú chuột ở quanh ta và ở trong ta?! TS. NGUYỄN SĨ DŨNG - Phó chủ nhiệm VP Quốc Hội Nguồn: http://www.thesaigontimes.vn/Home/vanhoadulich/vanhoa/2787/
-
Xin giới thiệu một bài viết viết liên quan đến bức tranh "Đám cưới chuột" của làng Đông Hồ. Xem lại bức tranh dân gian "Đám cưới chuột" Thứ ba, 05/02/2008 10 giờ 03 GMT+7 Lớp tuổi chúng tôi không mấy ai không biết về tranh Đông Hồ. Nhưng khi đọc “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm thì vẫn tha thiết yêu, khao khát muốn kiếm tìm và thêm lần chiêm ngưỡng. Con gái tôi đang dạy môn Họa ở trường THCS, nó gửi đứa em đang học ở Hà Nội tìm mua được mấy bức tranh Đông Hồ như: Tranh gà, lợn, hứng dừa và cả “Đám cưới chuột” để treo trong nhà dịp Tết. Nhân năm Mậu Tý đến, xin có đôi điều tản mạn về bức tranh “Đám cưới chuột”. “Đám cưới chuột” không đơn giản là bức tranh sinh hoạt ngộ nghĩnh mà chủ yếu là lời chế giễu và phê phán, tố cáo sâu sắc một lớp người của một thời trong quá vãng... Trên nền tranh xám vàng sậm gợi sự bức bối (khác với màu vàng mơ trong tranh gà; màu hoa lý gợi sắc xuân trong tranh hứng dừa...) tác giả dồn nén hai hoạt cảnh trước và trong ngày rước dâu, lối tả đầy đủ mọi hành vi, sự kiện. Bức tranh chia hai diện trên, dưới. Hẳn là chuyện trước sau? Đây là cảnh rước dâu. Chú rể cưỡi ngựa. Cách trang phục rõ là một quan chức nào đó. Nếu không cũng là một “cậu ấm”. Hắn quay đầu lại, nét mặt vênh váo, lố bịch hơn hân hoan, hạnh phúc... Liền sau chân ngựa, anh hầu cứng nhắc tuân lệnh, nhưng lọng chỉ che cho mình; anh vác biển “nghinh hôn” còn mãi ngó sang hai nàng khênh kiệu cô dâu, cái biển ngả ngớn trên vai muốn buông lời chòng ghẹo (ta biết chắc hai phu kiệu phía trước là nữ bởi tác giả dân gian đã thú vị vẽ họ không râu). Ngồi trong kiệu cô dâu chít khăn lượt, mặc áo gấm, nhưng lại ... lẹm cằm. Có phải tác giả ý muốn hài hước : cô ả sứt môi lấy cậu lưng gù như trong truyện vui dân gian? Đó cũng chỉ là một nét tô thêm cho nụ cười mỉm của người xem thôi. Cái chính là cô ta có cái dáng của bà quan ngồi kiệu hơn là một cô dâu e ấp, ngượng ngùng. Cuộc hôn nhân này thực là “đôi lứa xứng đôi (!)”. Hai anh phu kiệu phía sau sao lại ngoảnh mặt đi? Anh ta khó chịu hay bất bình vì phải khiêng một người không xứng đáng? Đám rước dâu còn đâu là “hỉ sự” ! Mảng thứ hai chồng lên mảnh thứ nhất là cảnh tiến cống. Ngay trên đầu chú rể là một ông mèo sụ, da trắng, mắt xanh lè, trợn trừng giơ một tay nhận lễ. Trước mắt “ngài” kẻ “tống lễ” run rẩy hai tay tiến dâng một con chim; phía sau, một kẻ hai tay xách con cá, sợ ngay râu, rúm cả người, mắt hết cả tinh lạc, trắng dã. Đám “tác lạc” theo sau là “lão thử” (chuột già) và một con chuột chúc kèn xuống đất thổi. Hẳn là điệu kèn ấy cũng ủ ê sầu thảm? Còn đâu là lễ nhạc tưng bừng mua vui như chú rể mong muốn khi sai đi “tống lễ” bề trên? Nhìn ông mèo bệ vệ, to như một ông ba mươi, đầu nổi bướu tham ấy thì con chim, con cá kia đáng gì cho một bữa lót dạ? Sau đó thân phận kẻ lót lễ tự đến miệng hùm này sẽ ra sao? Vì thế mà chúng sợ, chúng run, chúng sầu, chúng thảm?! Ai cũng biết mèo là kẻ thù không đội trời chung của cả loài chuột. Vậy mà không hiểu sao trong cái ngày hạnh phúc nhất của đời mình, vì lẽ gì mà chú rể chuột lại mang đồ tiến cống? Hẳn là chuột muốn làm trọn phận tôi con? Bức tranh có nét tố cáo sự cấu kết hèn hạ đến vô liêm sỉ với kẻ thù ngoại bang của tầng lớp phong kiến. Bức tranh ghi đủ 10 chuột quân hầu, 4 chuột đen, 6 chuột khoang. Tất cả đều ở trần, phải đâu là ngẫu nhiên vô tình? Mỗi chuột một dáng vẻ biểu hiện một tâm lý khác nhau, một phản ứng khác nhau trong đám rước. Người nghệ sĩ dân gian rất chú ý miêu tả những cái đuôi: đuôi sợ hãi quắp chặt hoặc cứng đơ, đuôi nghịch ngợm ngo ngoe, đuôi mệt mỏi kéo lê, đuôi nặng nề chống chống như một cái chân thứ ba. Nét bút của người vẽ thật tài hoa biểu thị sự quan sát tinh tế, một kỹ năng điêu luyện. “Đám cưới chuột” có những nét hài nhưng nhìn chung tính chiến đấu rất cao do sức tố cáo phê phán mạnh mẽ. Thái độ của tác giả thật rạch ròi qua từng nét vẽ, mảng màu. Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thế kỷ 16 cũng đã có bài thơ “Ghét chuột”. Đứng về phía người dân, quan trạng đã lớn tiếng mắng gay gắt bọn tham quan hại dân tàn nước, khoét rỗng kho đụn, phá nát mùa màng. Bức tranh dân gian này khai thác từ một khía cạnh khác. Nhưng chỉ với con chim, con cá, tức sơn hào hải vị làm đồ cống quan thầy, thì ta cũng hiểu bọn này đã lấy từ đâu! Năm Tý, đôi điều tản mạn xung quanh việc xem lại bức tranh “Đám cưới chuột”, để góp thêm tiếng nói trong dòng chảy của những tiếng nói chống lại nạn quan tham nhũng nhiễu, những kẻ luôn tìm cách đục khoét của công, đục khoét sức dân vì lợi ích của riêng mình. Như Ý Nguồn: http://www.baocantho.com.vn __________________
-
Chú Thiên Sứ kính mến, Phoenix xin đính chính: Bài viết trên của tác giả Hà Vũ Trọng, nguồn bài viết từ trang của phamthihoai.org. Rất mong sớm được đọc bài phân tích của chú
-
Trích đoạn từ bài viết: Chữ Hán truyền vào Việt Nam từ bao giờ và bằng cách nào? Vũ Thế Khôi ................. Nêu ý kiến chữ Hán chỉ bắt đầu được truyền bá (được dạy và học có chủ định) từ vương triều của Triệu Đà, chúng tôi căn cứ 2 sự kiện có trong sử sách Trung Hoa và Việt Nam, đó là: a) sử gia Việt Nam dẫn sách Thuỷ kinh chú của Trung Hoa, khẳng định rằng dưới triều đại Nam Việt quốc các Lạc tướng của Hùng Vương vẫn cai trị dân như cũ, tức Triệu Đà chủ trương sử dụng các hào trưởng người Việt có uy tín và lực lượng, lại thông hiểu ngôn ngữ và phong tục tập quán địa phương, để quản lý dân Lạc Việt; vậy thì để thông đạt các chiếu chỉ, mệnh lệnh, tất nhiên nhà Triệu phải tổ chức dạy cho họ chí ít biết đọc và viết được chữ Hán, tức là đến thời điểm ấy mới nảy sinh nhu cầu khách quan về một văn tự làm công cụ cho hệ thống hành chính thống nhất bao gồm người Hoa (ở triều đình trung ương) và người Việt (ở phủ, huyện, làng xã). B) Triệu Đà, để tranh thủ hậu thuẫn của người Việt nhằm xưng đế, cát cứ một phương, độc lập với đế quốc Hán, đã chủ trương dung hợp văn hoá Hoa - Việt, tạo ra những dòng họ hỗn huyết Hoa-Việt và dung hợp tự nhiên hai văn hoá Hoa và Việt. Sự kiện thứ hai này là nhân tố thuận lợi thúc đẩy việc bắt đầu truyền bá chữ Hán vào đến tận làng xã, chúng tôi đã cố gắng chứng minh chi tiết hơn như sau: Triệu Đà vốn người Hán ở đất Chân Định, nay thuộc tỉnh Hà Bắc-Trung Quốc, cho Trọng Thuỷ cầu hôn Mỵ Châu đương nhiên nhằm mục đích thôn tính Âu Lạc. Nhưng sau khi đã tiêu diệt triều đình An Dương Vương, theo Sử ký Tư Mã Thiên, Triệu Đà tiếp tục chủ trương đó: dùng Lữ Gia mà chính Sử ký Tư Mã Thiên gọi là "Việt nhân" (đúng hơn phải nói là người Hán đã Việt hoá do sống giữa cộng đồng người Việt, cũng như Lý (Bôn) Nam Đế - V.T.K.) và ghi nhận Gia "làm Thừa tướng 3 đời vua... Con giai lấy con gái vua, con gái lấy con giai, anh em tôn thất của vua...; ở trong nước rất được tôn trọng, người Việt tin ông, nhiều người làm tai mắt cho ông, ông được lòng dân hơn vương". Chẳng những thế, bản thân Đà đã chủ động thích ứng với phong tục, tập quán của người Việt: trong thư dâng Hán Văn Đế (179-156 trước CN) ông viết: "Lão phu ở đất Việt đã 49 năm, hiện đương bồng cháu". Thâm ý của câu đó, họ Triệu khi tiếp sứ thần nhà Hán là Lục Giả, đã giải thích khá cụ thể bằng hành động "xoã tóc, ngồi chò hõ (tức ngổi xổm, chồm hỗm theo phong tục người Việt, chứ không búi tóc, ngồi quỳ gối theo nghi lễ Trung Hoa - V.T.K.) mà tiếp" và cũng khá thẳng thừng đáp lại lời Giả trách Đà "phản thiên tính" (tức quên phong tục mẹ đẻ là người Hán!): "Tôi ở trong xứ mọi rợ lâu ngày, quên hết lễ nghĩa rồi" (tức không theo lễ nghi của người Hán nữa!). Có thể nói rằng họ Triệu và họ Lữ (Lã) là những đại biểu sớm nhất của các dòng họ cổ đại hoà trộn hai huyết thống Việt và Hoa được sử sách ghi lại, tức cũng xác nhận vào thời điểm đó mới bắt đầu hình thành nhân tố thuận lợi thúc đẩy sự truyền bá chữ Hán và giao lưu văn hoá Trung-Việt. Việc Triệu Đà chủ trương dung hợp hai nền văn hoá Hoa và Việt, gần đây được chính một số học giả Trung Quốc khẳng định. Sau khi tham dự Hội thảo Thâm Quyến, trên đường về qua Quảng Châu, nhân ghé thăm khu mộ của cháu Triệu Đà là Văn Vương Triệu Muội, chúng tôi mua được sách Lĩnh Nam chi quang, miêu tả việc khai quật khu mộ đá này năm 1983. Các tác giả sách viết: Triệu Đà ... "thúc đẩy chính sách dân tộc "hoà tập Bách Việt", xúc tiến quá trình dung hợp dân tộc Hán - Việt và phát triển kinh tế - văn hoá" . Khách quan mà nói, quan điểm về sự dung hợp hai nền văn hoá Việt và Hoa dưới triều đại Triệu Đà trong toàn cõi Nam Việt quốc đã từng được một số nhà sử học Sài Gòn nêu lên khá sớm, nhưng đúng như nhà sử học Đào Hùng, Phó tổng biên tập báo Xưa & Nay, nhận định trong Lời giới thiệu công trình cực kỳ lý thú của nghiên cứu sinh tiến sĩ năm thứ nhất Đại học Văn khoa Sài Gòn Tạ Chí Đại Trường, xuất bản năm 1989 tại Hoa Kỳ, đến đầu năm 2006 này mới được in lại ở Việt Nam, nhan đề Thần, người và đất Việt: "Trải qua một thời gian dài giới nghiên cứu chúng ta thường bị những động cơ chính trị chi phối nên việc nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiên kiến". Có thể nói một trong những thiên kiến như vậy là quan điểm chính thống trong giới sử học miền Bắc coi nhà Triệu là kẻ xâm lược, mà đã là kẻ xâm lược thì phải xấu, không thể có đóng góp gì đáng bàn nữa! Trong công trình nói trên, với một phương pháp nghiên cứu khách quan, không bị lập trường chính trị o ép, nhà sử học Tạ Chí Đại Trường xuất phát từ luận điểm về sự liên tục văn hoá và căn cứ thực tế lịch sử về giao lưu văn hoá của cộng đồng người Việt với Hán, Chămpa và các tộc người khác, đã phát biểu những ý kiến xác đáng, nêu một nhận xét táo bạo, nhưng theo chúng tôi, không phải không có lý, rằng: "Ranh giới Giao [tức Giao Chỉ] - Quảng [tức Quảng Đông, Quảng Tây] còn nhập nhoà trong trận chiến Lý-Tống (1075-1077) khi Lý đem quân qua châu Khâm, châu Liêm có người giúp đỡ, nội ứng...", tức theo ông, trải qua hơn nghìn năm vẫn tồn tại những truyền thống bắt nguồn từ sự dung hợp văn hoá Hoa và Việt từ thời Triệu Đà khiến ít ra một bộ phận dân chúng vùng Lưỡng Quảng không hề mặc cảm đạo quân viễn chinh của Đại Việt là những kẻ dị chủng xâm lược. Bốn chục năm trước đây, khoảng năm 1962/63, chúng tôi từng được nghe một vị sư già ở chùa Thầy nói xương cốt dưới hang chùa là của binh lính Lữ Gia không chịu ra đầu hàng, bị quân Hán vây đến chết đói ở dưới đó. Ngay ở Hà Nội cho đến năm 1979 vẫn còn phố Lữ Gia (nay là phố Lê Ngọc Hân). Tại một số địa phương trên đất Việt Nam ngày nay dân chúng vẫn thờ Triệu Đà và Lữ Gia. Chẳng hạn, ở làng Đồng Xâm xã Hồng Thái huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình vẫn còn di tích một đền lớn uy nghi, được xếp hạng như di tích thờ vị Tổ nghề chạm bạc truyền thống. Thực ra, Tổ nghề Nguyễn Kim Lâu chỉ được thờ trong một cái am nhỏ ở địa điểm khác. Đây cũng lại là một bằng chứng về cái sự "bị động cơ chính trị chi phối", khiến người ta phải làm sai lệch sự thật về ngôi đền này, bất chấp thư tịch lịch sử và địa chí. Danh sĩ cuối đời Lê là Hoàng giáp Ngô Thì Sĩ (1726-1780) viết rành rành trong công trình nổi tiếng Việt sử tiêu án: "... làng Đường Xâm quận Giao Chỉ (nay là Đường Xâm huyện Chân Định) có miếu thờ Triệu Đà..." Huyện Chân Định sang triều Nguyễn thuộc phủ Kiến Xương tỉnh Nam Định, đến năm 1894, phủ Kiến Xương cắt về tỉnh Thái Bình mới lập, sau bỏ phủ, đổi gọi là huyện Kiến Xương. Năm 1924 nhà địa dư học Ngô Vi Liễn còn ghi ở chương "Tỉnh Thái Bình" trong sách Địa dư các tỉnh Bắc kỳ : "Đền Triệu Vũ Đế ở làng Thượng Gia, phủ Kiến Xương, hội về ngày mồng 1 tháng tư"). Cũng sách của Ngô Vi Liễn cho biết: làng Thượng Gia thuộc tổng Đồng Xâm (sách đời Nguyễn Gia Long còn gọi là tổng Đường Xâm). Tâm thức dân Việt không phải ngẫu nhiên vẫn tôn thờ Triệu Đà. Ngoài công "hoà tập Bách Việt", phát triển kinh tế và văn hoá, biến cả miền Lĩnh Nam thành ánh hào quang (=Lĩnh nam chi quang), họ Triệu đã Việt hoá từng cùng dân Việt chống ngoại xâm. Sử ký Tư Mã Thiên viết rằng thời Triệu Minh Vương (chắt của Triệu Đà) con là thái tử Anh Tề phải vào làm con tin tại triều đình nhà Hán, lấy gái Hán ở Hàm Đan họ Cù, đẻ ra con trai là Hưng, sau được nối ngôi, nên Cù thị trở thành thái hậu Nam Việt quốc; hồi còn trên đất Trung Quốc, đã là vợ Anh Tề, Cù thị vẫn dan díu với người huyện Bá Lăng là An Quốc Thiếu Quý, nay thấy Thiếu Quý sang làm sứ giả, lại cùng gian dâm, rồi khuyên vua quan Nam Việt xin "nội thuộc" nhà Hán... "bọn Lữ Gia bèn làm phản, ra lệnh trong nước: "Vương tuổi còn trẻ, thái hậu là người Trung Quốc, lại dan díu với sứ giả, chỉ muốn nội thuộc...". Lữ Gia bèn cùng em đem quân đánh giết vương, thái hậu cùng các sứ giả của nhà Hán...; lập Vệ Dương hầu Kiến Đức, người con trai đầu của Minh Vương, vợ (Đại Việt sử ký toàn thư ghi "mẹ" - V.T.K.) là người Việt, làm vua..., đem quân đánh bọn Thiên Thu (tướng nhà Hán), diệt được họ cách Phiên Ngung (nay là Quảng Châu) 40 dặm. Gia sai người phong gói cờ tiết của sứ giả để ở cửa ải, khéo nói dối để tạ tội, rồi đem quân đóng giữ những nơi hiểm yếu" (chúng tôi nhấn mạnh - V.T.K.) . Rõ ràng vương triều họ Triệu cùng vị Thừa tướng "Việt nhân", "được lòng dân hơn vương", là những người đầu tiên , trước Hai Bà Trưng cả 144 năm, đã chống quân xâm lược nhà Hán. Cuộc kháng chiến của họ dẫu được dân Việt ủng hộ, vẫn thất bại do tương quan lực lượng quá chênh lệch ở thời buổi nhà Hán vừa mới diệt Tần lên làm chủ Trung Hoa, đang trở thành một đế chế hùng mạnh. Nhưng cũng như một người xưa, Tiến sĩ Vũ Tông Phan, đã viết về Hai Bà Trưng trên tấm bia lập năm 1840, hiện vẫn dựng giữa sân đền thờ Hai Bà ở Đồng Nhân-Hà Nội: "Việc làm của kẻ trượng phu không thể lấy thành hay bại mà bàn luận" . Sử sách nước ta qua các thời đại khác nhau có quan điểm khác nhau về vương triều Nam Việt. Đại Việt sử lược, bộ sử thời Lý-Trần (TK XII-XIII) chép "Nhà Triệu" ngang hàng với các "Nhà" Ngô, Đinh, Lê (Đại Hành), Lý. An Nam chí lược (đầu TK XIV), do Lê Tắc viết trên đất Trung Quốc nên không dám dùng chữ "kỷ" mà Tư Mã Thiên chỉ dành riêng cho các triều đại hoàng đế Trung Hoa, gọi Triệu là "thế gia" ("Triệu thị thế gia") ngang hàng các "thế gia" Đinh, Lê, Lý, tức vẫn coi là một triều đại thuộc sử Đại Việt. Nguyễn Trãi coi quốc thống Đại Việt trước nhà Lê gồm cả Triệu, Đinh, Lý, Trần. Trong Bình Ngô đại cáo năm 1427 ông tuyên bố: Xét như nước Đại Việt ta, Thực là một nước văn hiến. Cõi bờ sông núi đã riêng, Phong tục Bắc Nam cũng khác. Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương. Theo tinh thần đó Đại Việt sử ký toàn thư chép nhà Triệu như một triều đại chính thống của Đại Việt. Đến cuối thế kỷ XVIII, Việt sử tiêu án và Đại Việt sử ký tiền biên của Ngô Thì Sĩ phê phán chép sử Việt như thế là sai và đưa nhà Triệu ra ngoài, gọi riêng là "ngoại thuộc", để phân biệt với giai đoạn "Bắc thuộc" sau này, khi nước ta "nội thuộc" Trung Quốc. Quốc sử quán triều Nguyễn theo như thế, có lẽ còn vì lý do năm 1804 vua Gia Long xin đặt quốc hiệu là "Nam Việt", nhưng hoàng đế nhà Thanh không chuẩn cho, hẳn e ngại sự tái diễn việc cầu hôn một công chúa Trung Hoa và xin lại đất Lưỡng Quảng mà Quang Trung đã đặt ra. Để rạch ròi, triều Thanh đề nghị quốc hiệu "Việt Nam", nhưng vua Gia Long không chấp thuận, tự đặt quốc hiệu là Đại Nam. Đến đầu thế kỷ XX, khi nước ta đã thành thuộc địa của Pháp, quyền uy Trung Hoa không còn tác dụng nữa, sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược (viết 1919, in 1921) mới lại đưa "nhà Triệu" vào quốc thống Đại Việt. Nguồn: http://www.phamthihoai.org
-
Hà Vũ Trọng Đám cưới tiến sĩ chuột Ta hay chuột Tàu? Chuột, con vật nhỏ con nhưng vì lanh lợi nên đứng đầu 12 chi, và vì vậy được người Tàu tôn lên hàng “lão”. Tết Mậu Tí năm nay nhiều người nhắc đến bức tranh mộc bản nổi tiếng Đám cưới chuột, để rồi lại nhắc đến làng Đông Hồ. Nhưng thời vàng son của tranh dân gian Đông Hồ đã qua từ lâu, nay làng lại tiếp tục sang thời hoàng kim của hàng mã. Thời “hàng mã lên ngôi”, làng Đông Hồ đã giàu lên trông thấy. Riêng việc nghiên cứu “công nghiệp” hàng mã hay vấn đề tiền âm phủ được đô la hoá chỉ xảy ra trong thời mở cửa, có thể trở thành đề tài nghiên cứu thú vị và nghiêm túc về nền kinh tế Việt Nam. “Cõi dương làm sao cõi âm làm vậy”, dưới đó cũng có “ngân hàng âm phủ” (như ta thấy hàng chữ “The Bank of Hell” in trên tờ đôla “ma” mệnh giá lớn với chân dung Ngọc hoàng Thượng đế cùng với chữ kí của Diêm vương bay lăn lóc trên các vỉa hè Sài Gòn). Hình ảnh thể hiện trong bức Đám cưới chuột ngày xưa vốn ưu ái dành cho trẻ em, sau này một số nhà theo chủ nghĩa hiện thực cắt nghĩa là nó “tố cáo giai cấp thống trị”, vì chuột thuộc thành phần “dân oan”, thấp cổ bé họng khi có chuyện cưới hỏi, đỗ đạt, cũng phải hối lộ bằng cách dâng con gà, con cá cho lão mèo tham quan! Nếu vậy, lại không tránh khỏi cái vụ “mua quà cho xếp” trong dịp Tết. Việc họ nhà chuột “dâng cá” (tất nhiên không chỉ dịp Tết) mà một ngài Thanh tra Chính phủ tiết lộ có khi trị giá cả trăm ngàn đô. “Con cá” trong cổ tích là con chuột nhỏ đúc vàng mà ông quan thanh liêm “dân chi phụ mẫu” tuổi Tí khi về hưu gặp cảnh nghèo xơ, đã tiếc rẻ trách vợ: Sao lúc đó bà không bảo với họ là tôi tuổi Sửu! Dẫu sao, giải thích Đám cưới chuột như “bức tranh hiện thực phê phán” theo lối trên là hợp với thời đại hơn bao giờ hết, lại vừa đầy ắp “bản sắc dân tộc”. Đề tài họ nhà chuột tiếp tục được chíu chít chiếu cố, nhưng rôm rả nhất vẫn là về các món thịt chuột đậm đà bản sắc khắp ba miền. Ở các làng chuột miền Bắc, các đám cưới không thể thiếu thịt chuột. Thiếu chuột, lễ cưới không thành. Thật tuyệt, Thịt chuột lang thang kí, với đề xuất ăn thịt chuột cũng là để “cứu” nhân loại: “Theo thống kê của một tổ chức quốc tế, số lương thực mà họ hàng nhà chuột xơi trong một năm đủ để nuôi 20 triệu người trên thế giới. Nghĩ theo kiểu khác thì ăn thịt chuột, mà ăn cho nhiều vào, cũng là cách ‘cứu’ nhân loại”. Nói thêm, con người ăn thịt chuột thay mèo và nên thay cho thịt mèo để cứu loài “hổ đồng bằng” ở một số làng quê gần như tuyệt chủng. Tới đây, bài viết này xin đi vào vấn đề: đưa ra vài nghi nhận trong việc tìm nguồn gốc và đề tài bức mộc bản Đám cưới chuột, còn gọi là Chuột vinh quy, lâu nay nó thường được gán cho là thuộc dòng tranh Tết Đông Hồ. Có thực sự như vậy không? Nguồn gốc tranh Tết dân gian Việt Nam, về phong cách và đề tài sáng tạo của nó cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào rõ ràng. Và trong việc phân loại, cũng chưa có sự gạn lọc về xuất xứ để tránh sự “cầm nhầm” đáng tiếc. Về tổng quát, tranh mộc bản dân gian Việt Nam - chủ yếu loại tranh dân gian Tết - nguyên thuỷ bắt nguồn từ tranh Niên hoạ (hay tranh Tết) của Trung Quốc. Hai dòng tranh dân gian tiêu biểu là Đông Hồ và Hàng Trống, về phong cách và đặc điểm chịu ảnh hưởng, tạm thời xác định: Đông Hồ gần với dòng tranh Duy Phường hoặc Dương Gia Bộ (ở Sơn Đông). Hàng Trống gần nhất với dòng tranh nổi tiếng Dương Liễu Thanh (ở Thiên Tân), do sắc thái nghệ thuật và kĩ thuật mộc bản (khắc nét rồi tô màu bằng tay và cũng thường đi về các đề tài truyện, tích). Thời điểm các dòng tranh Niên hoạ Trung Quốc [1] này du nhập vào Việt Nam khoảng vài trăm năm trong thời nhà Thanh. Nhưng thời kì cực thịnh chỉ vào cuối thế kỉ 19 cho đến mấy thập niên đầu thế kỉ 20, nhất là thể loại truyện Nôm dân gian lúc đó nở rộ và luôn cần có tranh mộc bản minh hoạ. Về lĩnh vực này, học giả Maurice Durand và vợ ông đã dày công nghiên cứu rồi. Trên thực tế, loại tranh mộc bản dân gian thực sự đã cáo chung vào điểm mốc năm 1944, hiểu như một nhu cầu tiêu thụ về văn hoá và tín ngưỡng dân gian cho ngày Tết. Sau đó nó chỉ tồn tại như những phiên bản được một số nghệ nhân ráng duy trì nghề tổ, và khách hàng là những người chơi tranh. Cũng nói thêm, từ 1945, nhất là những năm 1950, loại tranh mộc bản này được chính quyền miền Bắc vực dậy với những đề tài cho những vận động chính trị, chính sách ruộng đất, hợp tác xã, lớp học bình dân... Thời kì sớm nhất khi tranh Niên hoạ du nhập vào Việt Nam, có lẽ chỉ thịnh hành chủ yếu loại tranh với đề tài “cát tường” (may mắn, tốt lành) của Trung Quốc và tín ngưỡng như Đạo giáo, Phật giáo. Sau đó, các phường tranh này có nhu cầu khai triển, sáng tác thêm các đề tài bản địa, pha chế chất liệu riêng, nhưng về mặt kĩ thuật vẫn giữ nguyên sự thuần phác chứ không phát triển cho phong phú và tinh tế hơn. Riêng Hàng Trống, ngoài sự đóng góp quan trọng vào các loạt tranh tín ngưỡng như Đạo giáo, nhất là đạo Mẫu (với cả một hệ thống đồ tượng chư thần thánh bản địa như Bà Chúa Thượng ngàn, Tứ Phủ, Mẫu Liễu Hạnh, Ông Hoàng, Ngũ hổ), các loạt tranh đề tài văn học (như Truyện Kiều, Thạch Sanh), hay đề tài lịch sử, v.v... nó còn phản ánh trực tiếp sinh hoạt xã hội đương thời, nhất là đề tài “văn minh tiến bộ” hay “khai hoá” trong xã hội thành thị Bắc kì thời Pháp thuộc. Bức Đám cưới chuột hay Chuột vinh quy của làng Đông Hồ là một trong những bức được tán tụng nhiều và được trẻ em yêu thích nhất. Hai bức tranh Tết cùng đề tài Đám cưới chuột, được lần lượt trình ra dưới đây với một số nhận xét và cũng để người xem tự so sánh, đánh giá: Bức thứ nhất từ Việt Nam, do Maurice Durand sưu tập, in lại trắng đen cùng với hai dị bản khác trong cuốn Imagerie Populaire Vietnamienne. Và bức thứ hai, Lão thử thành thân, tranh Niên hoạ từ Trung Quốc, in khắc do một phường tranh ở tỉnh Hồ Nam thời nhà Thanh. Đặc biệt, bức này nằm trong số tranh mộc bản do Lỗ Tấn sưu tập. H.1. Đám cưới chuột, in trong cuốn Imagerie Populaire Vietnamienne của Maurice Durand Bức trên đây được cho là sản phẩm của làng Đông Hồ, mô tả cảnh đám cưới chuột, có thể là bức xưa nhất vì còn giữ lại nhiều chi tiết và chữ khắc, đặc biệt tên của phường tranh. Đọc các chữ (tính từ góc trên bên phải): “Bằng Liệt tân khắc lão thử thủ thân” (Bản khắc mới của Bằng Liệt bức Chuột cưới vợ). “Miêu nhi” (mèo); “tống lễ” (tặng quà); “tác nhạc”: chơi nhạc; “đả đăng” (vác đèn); “tân lang” (chú rể); “kiệu phu” (khiêng kiệu); “đả thái” (vác cờ phướn). Những dị bản khác cùng một chủ đề luôn có cảnh dâng lễ vật cho mèo hay “quan viên”. Durand nói có một số giải thích bức tranh này như là sự châm biếm người Tàu vào thời đó (xin tham khảo thêm bức Chuột Tàu rước rồng vàng ở phần Phụ lục). Gần như M. Durand bỏ quên câu truyện dân gian có liên hệ ít nhiều đến đề tài cho bức tranh này là truyện Nôm ngụ ngôn Đám cưới chuột của làng Liễu Đôi [2] ít được thịnh hành, và truyện cổ tích thịnh hành của Trung Quốc Lão thử giá nữ (Lão chuột gả con gái hay Cô dâu chuột) [3] . So sánh truyện thơ Đám cưới chuột của làng Liễu Đôi với tình huống trong tranh, thấy chi tiết câu chuyện không ăn khớp, như: cảnh trạng nguyên vinh quy, mèo già có mặt ung dung như quan viên nhận lễ vật trong ngày cưới. Các “dị bản” khác: Các hàng chữ Nho: “miêu”, “tống lễ”, “tác nhạc”, lão thử thủ thân” (lưu ý: “thủ thân” 守身 ở đây là “giữ thân”(?) chứ không phải “thú thân” 娶亲hay “thành thân” 成亲là cưới vợ hay kết hôn). Còn chữ hàng dưới là “nghênh hôn”, “giai tế” (chú rể) Chuột đi sau chú rể khiêng bảng đề “Tiến sĩ” . Con đi trước vác cờ đề “Tân hôn”. Tiếp theo, hãy so sánh với bức Niên hoạ Trung Quốc được khắc in ở Hồ Nam để thấy sự trùng hợp gần như toàn diện, ngoại trừ vài chi tiết phụ. Lão thử thành thân, Niên hoạ Trung Quốc đời Thanh, khắc in tại Thiệu Dương, Hồ Nam Lão thử thành thân, Niên hoạ Trung Quốc đời Thanh, khắc in tại Thiệu Dương, Hồ Nam Bức Niên hoạ Lão thử thú thân này, do nhà văn Lỗ Tấn từng trân giữ và gọi nó là thể tài đích thực truyền thống của Trung Quốc. Ông có nói đến trong tập tản văn Triêu hoa tịch thập (1926), chương “Miêu-cẩu-thử”: “Trước giường tôi có dán hai bức Niên hoạ, một là Bát giới chiêu thân (Bát Giới ở rể)... mà tôi không thấy đẹp mắt cho lắm; còn bức kia là Lão thử thú thân vô cùng đáng yêu, từ chú rể, cô dâu, chủ hôn, tân khách, giúp việc, nhân vật nào mõm cũng nhọn, đùi nhỏ, đuôi dài, râu tua, trông rất giống kẻ sĩ, nhưng ăn mặc thì áo hồng, khố lục...” Đàn chuột trong tranh này về hình thể, đường nét, bố cục (cũng phân thành hai phần trên và dưới) và các hàng chữ có thể nói là giữ nguyên văn như trong bức mà M. Durand đưa ra. Cũng có tống lễ cho mèo, ban nhạc, đánh chiêng thổi kèn, rước đèn, phu kiệu... Chú rể cưỡi ngựa quay đầu nhìn về hướng cô dâu. Chỉ có vài chi tiết khác là đầu chú rể đội mũ quan triều Thanh (trong bức Đông Hồ là loại mũ cánh chuồn của trạng nguyên) và tay có cầm quạt. Còn hai bên khung cửa kiệu hoa (theo phối cảnh đối xứng) dán 2 câu đối: “Càn khôn định hĩ” (Trời đất định rồi), “Chung cổ lạc chi” (Chuông trống vui vầy). Còn hàng chữ trên cùng bức tranh, có 12 chữ khải: “Sở nam Than trấn tân khắc Lão thử thủ thân toàn bản” và “Bảo duyệt lai” phỏng như tự hiệu, cho biết bức tranh này làm tại Hồ Nam, Thiệu Dương, Sở Nam Than khắc ấn. Toàn Trung Quốc có hơn 80 loại tranh Lão thử thú thân được in khắc, nhưng đa số đều hoạ hình tượng mèo là kẻ thù tự nhiên của chuột, tức vẽ ra thảm kịch chuột là “món ăn” của mèo. Thế nhưng bức Lão thử thú thân của phường tranh Than Đầu này không thường tình ở chỗ là nó không khắc hoạ cái thảm cảnh đó. Cũng như bức đám cưới chuột của Đông Hồ cũng không gây ấn tượng nào về con mèo xuất hiện như một tai hoạ. Như vậy, cách giải thích về bức tranh đám cưới chuột này phải khác và đứng độc lập theo ý nghĩa “cát tường” (là sự tốt lành, thuận lợi, may mắn) của ngày Tết. Rõ ràng ý hướng của của bức tranh này không phải mô tả tình huống rủi ro, bất hạnh. Vì đây là bức tranh gây sự thích thú với trẻ em, nó được “nhi đồng hoá” không còn nhìn sự việc mèo chuột như kẻ thù của nhau trên thực tế. Đồng thời thế giới cổ tích này phản ánh sự cho phép của chúng ta nhìn về một thế giới đại đồng (như trong Dế mèn phiêu lưu kí), thể hiện một sự hoà thuận, cộng tồn, hướng tới nhân tình. Trong ý nghĩa này thì thái độ của người đối với chuột cũng thế, theo tập tục dân gian Trung Quốc xưa, cứ vào mùng 7 tháng Giêng người ta làm lễ cúng cho sinh hoạt của loài chuột, cũng gọi là Lão thử giá nữ (Lão chuột gả con gái) hayLão thử thú thân (Lão chuột cưới vợ). Đây có lẽ là “lí do tồn tại” hoạt cảnh bức tranh đám cưới chuột. (Và có lẽ người Tàu gián tiếp cũng muốn cầu phồn thực, sinh con đẻ cái như... chuột vậy!) Cũng lưu ý và không thể bỏ qua cách chơi chữ nghĩa trong dân gian của người Trung Quốc trong các biểu tượng mang nghĩa cát tường. Hàng chuột trên cùng trước đội nhạc có hai con khiêng lễ vật: ôm gà, nâng cá. “Kê” 鸡 (ji) đồng âm với “cát” (jí) 吉; “ngư” (yú) 鱼đồng âm với “dư” (yú) 余. Mọi mùa tốt lành, quanh năm dư đủ là lời chúc đẹp cho đám cưới chuột. Dân gian thường dùng hình tượng “kê dương” (ji yáng) 鸡羊(gà, dê) biểu tượng “cát tường” (ji xíang), lấy “liên hoa lí ngư” 莲花 鲤鱼(hoa sen và cá chép) biểu hiện “liên niên hữu dư” 连年有余 (hàng năm dư đủ),... đã sớm trở thành nhận thức chung. Như vậy, “kê” cũng là nguyên hình của “phượng”, “lí ngư khiêu long môn” tức cá chép vượt vũ môn thành rồng (cũng chỉ việc đỗ đạt). Ở đây “kê” và “ngư” cũng tượng trưng cho “phượng và long”. Long phượng tức âm dương, càn khôn, nam nữ, vợ chồng. Vì thế “long phượng trình tường” là nghi thức không thể thiếu trong ngôn ngữ chúc tụng hôn nhân. Phụ lục Tranh hài hước dân gian Đông Hồ Chuột Tàu rước rồng vàng Cảnh rước và múa rồng của cộng đồng người Hoa ở Hà Nội tổ chức vui chơi trong những ngày lễ hội. Họ được nhân cách hoá thành đàn chuột. Đây là cảnh múa rồng vào ngày tết. Đám rước bao gồm cờ, phướn, đèn cá chép (biểu tượng cát tường), trái cây, đội nhạc (kèn, trống, thanh la), pháo. Hai con chuột múa rồng ở đằng đầu và đuôi rồng. Điểm hài hước chính nằm ở những cái đuôi rất dài của đàn chuột ám chỉ đuôi sam dài mà người Tàu thời nhà Thanh phải mang. (Theo Maurice Durand) Một số Niên hoạ của Trung Quốc đề tài đám cưới chuột Niên hoạ Miên Trúc (Tứ Xuyên) Niên hoạ Chương Châu (Phúc Kiến) Tranh cắt giấy Thượng Hải Lão thử giá nữ, niên hoạ Dương Liễu Thanh (Thiên Tân) Trong Tây Du Kí , thầy trò Đường Tăng với nghi trượng đứng một bên xem cảnh đám cưới chuột tưng bừng tiến vào “Hang không đáy”. Niên hoạ Thượng Hải. Cô dâu chú rể chuột trên tem do bưu điện Canada phát hành năm Mậu Tí 2008 Tham khảo Maurice Durand, Imagerie Populaire Vietnamienne, École Français d’Extrême-Orient, Paris 1960 Tranh dân gian Việt Nam, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội 1995 Mạt Thanh niên hoạ (Thượng Hải đồ thư quán quán tàng tinh tuyển), Nhân dân Mĩ thuât Xbx 2000 Vương Thụ Thôn, Trung Quốc nhân dân niên hoạ bách đồ, 1988 Tô Châu Đào Hoa Ổ mộc bản niên hoạ, Giang Tô cổ tịch Xbx 1991 Websites: - http://news.xinhuanet.com/ziliao/2004-01/1...ent_1279748.htm - http://yichan.folkw.com/www/guanzhu/115445419.html - http://www.xueyou8.com/html/1/1-167470.html © 2008 talawas [1]Tranh mộc bản Niên Hoạ có sớm nhất ở Trung Quốc chính thức vào thời Tống, ghi chép trong cuốn Đông kinh mộng hoa lục (1072) rằng cứ cận dịp Tết nguyên đán, chợ búa nhộn nhịp bán tranh niên hoạ các vị Môn thần, Chung Quỳ trừ quỷ, đào bản và đào phù (tức bùa trừ tà bằng cách cắm cành đào trước cửa) cầu may mắn, sự bình an. Có hơn 10 khu vực làm tranh Niên hoạ có tiếng. Nhưng bốn dòng mộc bản Niên hoạ sản địa trứ danh và lớn nhất, gọi là “Niên hoạ tứ đại gia”: Tô Châu Đào Hoa Ổ, Thiên Tân Dương Liễu Thanh, Sơn Đông Duy phường Dương Gia Bộ, và Tứ Xuyên Miên Trúc. Về danh xưng tranh Niên hoạ mỗi thời mỗi nơi gọi cách khác. Cho đến năm 1850 danh xưng “Niên hoạ” mới xuất hiện lần đầu và được chấp nhận dùng làm danh từ chung. Kho tranh Niên hoạ được xem là lớn nhất do các nhà truyền giáo Pháp sưu tập được vào cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, tổng cộng hơn 3000 tấm, hiện tàng trữ ở Thư viện Thượng Hải. [2] Câu chuyện thơ Nôm miêu tả gia đình chuột tất tả lo chạy lễ cưới cho con với đủ mọi lễ nghi tập tục. Và cũng phải lo lễ vật cho lão mèo để lễ cưới diễn ra êm xuôi. Nhưng thảm cảnh chỉ xảy ra sau khi vợ chuột sinh đẻ, lão mèo đã đến bắt sạch đám chuột con mới sinh. [3] Câu chuyện cổ tích Trung Quốc về một lão chuột muốn gả con gái cho kẻ giàu có và quyền thế, tính đi tính lại chỉ thấy có lão mèo là chọn lựa vừa ý. Nhưng khi rước dâu về đến dinh thự của mèo, lập tức cô dâu trở thành bữa đánh chén ngon lành cho chú rể trước khi làm lễ cưới. Một dị bản khác của Trung Quốc (có lẽ nguồn gốc từ ngụ ngôn Ấn Độ): Bố mẹ chuột muốn gả con gái cho một chàng rể có sức mạnh nhất. Bắt đầu đi hỏi mặt trời, rồi tới mây, gió, và núi. Cuối cùng nhận ra là chỉ có họ chuột “nhà ta” mới là khoẻ hơn hết thảy Nguồn: http://www.phamthihoai.org
-
Xưng Hô Trong Gia Đình Nguyễn Phước Đáng Dẫn nhập: Tết Âm lịch lại trở về với khắp mọi nhà. Gia đình gồm ông bà, vợ chồng, con cháu có dịp quần tụ bên nhau. Nhân cơ hội nầy, tác giả xin viết một bài có vẻ biên khảo, “XƯNG HÔ TRONG GIA ĐÌNH”, để cống hiến cho quí độc giả đọc mua vui trong 3 ngày Tết. Khi có giao tiếp, có trò chuyện với nhau, thì có chuyện xưng hô. Xưng hô là gọi nhau để biết câu nói, câu chuyện đó liên hệ tới người nào. Trong mọi cuộc giao tiếp, trò chuyện, đều có 3 đối tượng để xưng hô: tự gọi mình là xưng, được quy ước là ngôi thứ nhứt; gọi hai đối tượng khác là hô. Người trực tiếp đối thoại qua lại với ngôi thứ nhứt, được quy ước là ngôi thứ nhì. Hai đối tượng, ngôi thứ nhứt và ngôi thứ nhì, đang trực diện giao tiếp mà nhắc đến, nói đến người khác, thì người khác đó được quy ước là ngôi thứ ba. Ngôi thứ nhứt là “tôi”; ngôi thứ nhì là “ông”; ngôi thứ ba là “nó”. Nói thông thường theo kiểu người Việt lưu vong trên đất Hoa Kỳ, thì tiếng xưng hô dùng cho 3 ngôi đó là: tao, mầy, nó. Số nhiều thì có chúng tôi, chúng bây, chúng nó. Đó là nói tổng quát về xưng hô trong xã hội. Trong tiếng Việt, lời xưng hô thật phong phú, có lẽ phong phú nhứt thế giới: Ngôi thứ nhứt có: tôi, ta, tao, tớ, tui, mỗ, anh, em,... chúng tôi, bọn tôi, bọn tao, chúng ông, bọn nầy,... Ngôi thứ nhì có: mầy, mi, bây, em, cô, nàng, anh, chàng, ông,...chúng mầy, chúng bây, bọn mi, các em, các anh, quân bây,... Ngôi thứ ba có: nó, hắn, hắn ta, chàng, chàng ta, chàng ấy, nàng, nàng ấy,... chúng nó, bọn hắn, đám kia, đám đó, quân ấy,... Xưng hô trong gia quyến Việt Nam lại còn phong phú hơn nữa và rất tinh vi, rất phức tạp, đối với người nước ngoài mới học tiếng Việt (vì chưa thấu hiểu cái tinh tuý, lễ nghĩa, tình cảm... của dân tộc Việt). Ngoài những tiếng nêu trên còn có các tiếng vốn là danh từ, mà biến thành đại danh từ xưng hô: anh, chị, em, chàng, thiếp (xưa), con, cháu,... biến đổi khi thì ở ngôi thứ nhứt, khi thì ở ngôi thứ nhì, tuỳ theo từng câu đối thoại. Đặc biệt còn có tiếng mình, ông xã, bà xã... ở ngôi thứ nhì, và đặc biệt tiếng nhà (nhà tôi, nhà em, nhà anh, nhà cháu...) ở ngôi thứ ba. Xưng hô trong gia quyến người Việt thu gọn trong 3 thế hệ: ông bà nội ngoại, cha mẹ, con cháu. Do tuổi thọ càng lúc càng cao, nhiều gia đình còn sống đủ 4 thế hệ: ông bà cố, ông bà nội ngoại, cha mẹ, con, cháu, cháu chắt. Nhưng thông thường phần đông chỉ còn có 3 thế hệ hiện còn sống chung đụng, gần gụi nhau, nên có những giao tiếp chuyện trò cùng nhau. Xưng hô trong các cuộc trò chuyện nầy có thể phân chia ra như sau: 1/- Xưng hô giữa vợ chồng: a) Vợ chồng trẻ, trong những năm đầu, chuyện trò với nhau phần lớn dùng cặp chữ anh em để xưng hô. Chồng xưng anh, gọi vợ là em. Ngược lại, vợ xưng em gọi chồng là anh. Tuổi tác không can dự được vào lời xưng hô nầy. Dù tuổi có nhỏ hơn, chồng cũng xưng ở vai trên, anh. Dù lớn tuổi hơn, vợ vẫn xưng ở vai dưới, em. Bây giờ có biết bao nhiêu chuyện đổi thay so với thuở xưa, về quyền hạn trong gia đình, nhưng về ngôi thứ ngôn ngữ xưng hô giữa vợ chồng vẫn bất di bất dịch: anh em. B) Vợ chồng trẻ trong chỗ riêng tư, những lúc thắm đượm tình âu yếm, có khi xưng là anh, là em, nhưng vợ gọi chồng hay chồng gọi vợ bằng 1 tiếng chung là “mình”. Tiếng mình nầy ở ngôi thứ nhì. - Mình ơi! Em chết mất mình ơi! - Mình, anh yêu mình! Vợ chồng trẻ ít khi (hay không có) gọi nhau bằng mình trước mặt người thứ ba, nhứt là giữa đám đông. Họ còn nhát. c) Đến lúc hết thời kỳ vợ chồng son, khi hai người có tí nhau để nựng nịu, đôi vợ chồng có cuộc sống đầm ấm, hạnh phúc, họ có thể xưng hô ngọt lịm, hơn cả thời kỳ dùng cặp chữ anh em. Họ vẫn xưng anh, em, nhưng gọi nhau bằng mình rất tự nhiên, rất bình thường, trước cả bàng quan thiên hạ: - Mình ơi, lấy giùm em bình sữa cho con mình nhé! - Anh đang lỡ tay, mình chờ một tí nghe mình? d) Nhưng trong những lúc cơm chẳng lành canh không ngọt, vợ chồng đổi giọng, không còn xưng anh em nữa, mà lạnh nhạt xưng “tôi”. Chồng xa cách gọi vợ là “cô” (tiếng cô nầy nhẹ thể hơn tiếng cô lần đầu gặp gỡ rất nhiều). Còn vợ xa lạ gọi chồng là “ông” - Cô nín đi, đừng lắm lời nhiều chuyện như vậy. Tôi chịu đựng hết nổi rồi đấy!... - Tôi biết hết rồi! Không có lửa sao có khói? Ông không gì, sao có lời ong tiếng ve xì xầm? Tệ hại hơn nữa, trong những khi no mất ngon giận mất khôn, nhứt là ở trong xứ, vợ chồng Việt Nam cũng có khi đánh mất những tiếng xưng hô ngọt ngào anh, em, mình ơi, mình à,... mà dùng những lời của phường đá cá lăn dưa để xưng hô với nhau. Họ dùng cặp chữ tao mầy. Cả vợ cũng xưng tao và gọi chồng là mầy. Thậm tệ hơn nữa, chồng xưng là “ông”, vợ xưng là “bà”, họ cùng gọi nhau bằng tiếng “mầy”. Tiếng ông và bà nầy ở ngôi thứ nhứt, với ý trịch thượng! - Mầy im cái mồm ngay! Không, ông vả cho méo mặt bây giờ! - Bà không im. Ngon vô đây mà vả. Bà thách mầy đấy! (Thời trẻ thơ và thiếu niên, cách nay chừng 50-60 năm, trong vùng quê Miền Nam, tôi nghe thấy rất nhiều cặp vợ chồng xưng hô mà người ngoài nghe có vẻ thô lổ, vợ xưng tôi, gọi chồng là anh; còn chồng xưng tao, gọi vợ là mầy. Hai tiếng tao mầy nầy nội dung không mang ý nghĩa thô lổ, mà tiếng mầy nghe miết rồi quen tai, làm người vợ cảm giác như là tiếng mình ngọt ngào vậy. Có không ít chàng trai có đi học, trong vùng quê ấy, tâm sự với bè bạn như vầy “Gọi vợ bằng ‘mầy’ nghe kỳ kỳ, nhưng biết làm sao bây giờ, cả làng đều gọi như vậy, mình xưng hô anh em với nhau thiên hạ cười mắc cở chết, vợ mình cũng mắc cỡ nữa!..” Tôi nghĩ, thuở xưa, xã hội Việt Nam khắc khe, khi đã thành vợ chồng vẫn sống chung trong đại gia đình, bà mẹ chồng không muốn con trai tỏ ra vẻ chiều chuộng, quỵ luỵ vợ để vợ lừng sau nầy khó trị, nên tình yêu không được biểu lộ ra ngoài bằng thái độ vuốt ve, nũng nịu... Rồi ngay cả lời xưng hô ngọt ngào cũng không được dùng tới. Ở quê, người ta truyền giữ cái nếp đó khá lâu, chẳng biết tới nay còn hay không.) e) Vợ chồng khi bước vào tuổi đời gọi là sồn sồn lại thay đổi cách xưng hô. Đúng ra họ vẫn giữ tiếng xưng là anh (chồng), em (vợ) hoặc tôi (cho cả 2 người). Tiếng hô thì có nhiều cách đổi: Chồng gọi vợ là bà, vợ gọi chồng là ông. Hai tiếng ông bà ngôi thứ nhì nầy mang vẻ đầm thắm, đứng tuổi hơn là lạnh nhạt, xa cách như trường hợp nêu trên. Có người gọi vợ là “má nó”, “má mầy”, “mẹ nó”, “bu nó”, “má con Phượng”, “mẹ thằng Tèo”... Vợ gọi chồng là “ba nó”, “ba mầy”, “tía nó”, “ba thằng Tân”, “cha con Xuân”... - Má nó đi chợ, nhớ mua cho anh xâu bia heineken nghe. - Cha con Xuân đi đâu thì đi, trưa nhớ về ăn cơm, em chờ. “Má con Phượng”, “ba thằng Tân”,... “Phượng”, “Tân” thường là tên đứa con đầu lòng của vợ chồng. Trong gia đình đông con, có khi tên đứa con út được dùng chỗ nầy. Cũng có khi, đông con, lúc nói người ta nhớ tên đứa nào thì dùng tên đứa đó. Đôi vợ chồng có đông con, còn dùng “ba sắp nhỏ” để gọi người chồng; “má bầy trẻ” để gọi người vợ. - Tiếc quá! Mấy khi chú đến chơi, mà “ba sắp nhỏ” lại đi vắng... - Mời chị vô nhà chờ một lát. “Má bầy trẻ” đi chợ về gần tới rồi. Người Việt có khuynh hướng kéo dài lời nói cho có vẻ dịu dàng. Nhưng cũng có vài trường hợp người ta lại cắt ngắn lời nói cho gọn. Lần đầu nghe đôi vợ chồng vốn là anh chị họ của chúng tôi nói chuyện với nhau, họ xưng hô làm tôi bối rối: - Hôm nay “ba” có đỡ không? “Ba” ăn biết ngon chưa? - Đỡ nhiều lắm rồi. Món canh chua “mẹ” nấu bữa nay thật tuyệt vời! Tôi ngơ ngác hết nhìn vợ rồi nhìn chồng, mất ba mươi giây mới sực nghĩ ra, họ đã rút ngắn “Ba thằng Davis” và “Mẹ nó” thành “Ba” và “Mẹ” để gọi nhau. Nhưng quý độc giả sẽ còn ngạc nhiên nhiều hơn nữa, khi nghe đôi vợ chồng nầy xưng hô rất thân tình với nhau như vầy: - “Ba” dùng bữa với cu John đi, “mẹ” hôm nay không thấy thèm ăn! Vợ chồng dùng hai tiếng ba mẹ để xưng hô với nhau trong gia đình như vậy, không phải do cắt ngắn đại danh tự ngôi thứ nhì “ba nó”, “mẹ nó” (như nêu ở trên) mà đó là lối xưng hô “thay lời gọi của con” mà phe Bắc Kỳ rất hay dùng. Bây giờ tôi cũng từng nghe thấy một ít vợ chồng dân Nam Kỳ thành thị và hải ngoại cũng học làm sang, bắt chước dùng cặp chữ ba mẹ để xưng hô như vậy. Cũng có khi vợ chồng chưa đến tuổi sồn sồn, tí nhau đầu lòng còn bồng trên tay, mà họ đã cam tâm dùng cặp chữ ba mẹ để xưng hô với nhau rồi! Tiếc ơi là tiếc! Có một lần vợ chồng tôi lần đầu tiếp xúc với một đôi vợ chồng sồn sồn chưa quen biết nhiều (chưa biết mặt nhau trước). Chúng tôi ngẩn ngơ không phải chỉ ba mươi giây, mà cả đôi ba phút. Khi vừa được mời vào phòng khách, chúng tôi nghe chủ nhà nói với người đàn bà có vẻ cứng tuổi hơn: - “Mẹ” vào trong pha giùm ấm trà... Chúng tôi trù trừ cứ nói trổng với chủ nhà, vì không biết tiếng “mẹ” là thực ngữ hay hư ngữ trong xưng hô. Mãi đến khi nước được bưng ra, có dịp nghe bà kia gọi ông nọ bằng ba và xưng mẹ, chừng đó chúng tôi mới hoàn hồn, nghĩ nhớ ra, họ là người xứ ngàn năm văn vật Bắc Kỳ và thuộc nhóm tôn cổ, thích dùng hư ngữ để xưng hô. Nhưng xưng hô bằng hư ngữ như vậy, theo tôi, nên xứng đôi vừa lứa về tuổi tác và về ngoại hình, để người nghe thoạt đầu khỏi lầm hư với thực. [Tôi là dân Nam Kỳ chánh cống, gốc gác đồng ruộng miền quê, nhờ có đi học đến bậc trung học, nên có dịp bước ra thị thành, rồi làm quen được nàng, giọng nói Nam rặt, dáng vẻ bề ngoài là gái miền Nam, nhưng sưu tra kỹ thì em có tới 50% máu Bắc Kỳ. Tôi rước em về để nâng khăn sửa túi cho oai. Sau ngày cưới, tôi đưa nàng về xứ quê khoe khoang với dòng họ. Đến đâu, phần lớn các chú thím, cô dượng... gọi cô vợ thành thị của tôi là “vợ thằng Đáng”, một vài người bà con nể cái vẻ thành thị lắm thì gọi là “vợ thằng Sáu” hoặc “con Sáu” (tôi thứ sáu trong gia đình). Sau chuyến thăm xứ quê trở về, cô vợ trẻ thành thị đài các của tôi thỏ thẻ đôi lời bình phẩm bên chồng: “Bên anh, người nào cũng chân chất thật thà, ăn nói bộc trực... Nhưng ai cũng gọi em là ‘vợ thằng Đáng’. Chắc bà con đều gọi anh bằng tiếng ‘thằng’. Ngộ ghê! Mấy thím gọi em là ‘Con Sáu’. Em nghĩ, thế cũng hay, em trở thành ‘con sáo’ trong gia đình anh. Con sáo làm cảnh trong lồng. Anh đem con sáo sang sông. Anh mang con sáo về đồng. Nay anh cho con sáo sổ lồng bay về chợ... quê!...” Tình yêu đang lên ngôi! Trong tôi có dòng máu chân chất thật thà, bộc trực (chắc cũng có luôn chất quê mùa, mà “con sáo” có 50% máu Bắc Kỳ, nể tình, không tiện nói ra), nên tôi chẳng nghe thấy tiếng nào là tiếng chê trách trong lời nói của người bạn đời về gốc gác nhà quê của mình. Tôi còn rất thích thú với lời ví von trêu chọc giọng nói Miền Nam . Cái ví von thân phận “con Sáu” thành “con sáo”. Rồi “con sáo sổ lồng” đưa tôi lên thành đô Sài Gòn khoe (anh chồng quê) khắp cùng họ hàng bên nội, luôn thể tập tành tôi thưởng thức món ăn Bắc Kỳ, món phở bò, vì xứ tôi là thánh địa Phật Giáo Hoà Hảo không ăn thịt bò, cấm bán thịt bò (khoảng thời gian từ 1956 trở về trước). Không phải chánh quyền cấm, không có giấy cấm, nhưng chẳng ai dám làm thịt bò, thịt trâu, thịt chó... và cho ăn kẹo cũng không ai dám bán các thứ thịt đó. Bây giờ thì hầu hết tín đồ PGHH thành thị đã không còn kiêng cử thịt bò nữa. Tôi choá mắt với thành đô Sài Gòn, bấy giờ được xưng tụng là Hòn Ngọc Viễn Đông, tôi choá mắt với đám họ hàng bên nội của “con sáo sổ lồng”. Bà Cô ông Chú (Chú chứ không phải Dượng) gọi chúng tôi là “anh Đáng”, “chị Đáng”, chứ không gọi tôi là “chồng con Phụng”. Người văn minh theo Tây học bỏ tên con gái mà lấy tên chồng, kêu như vậy để biết đứa con gái bây giờ “ván đã đóng thuyền”, đã hoá thành đàn bà. Tôi bỡ ngỡ và tiếc nuối cái tên Phi Phụng của con sáo sang sông, nghe hay làm sao trong trái tim tôi, mà giờ đây bị vùi lấp đi thì tiếc quá! Tôi ngỡ ngàng vì bị những người tuổi tác cỡ cha mẹ tôi mà lại gọi tôi bằng anh. Con sáo của tôi có chỉ vẽ trước những điều tôi sẽ đụng phải khi hội kiến với những bà con Bắc Kỳ nầy. Nghe thì nghe vậy, mà tôi chưa hội nhập được trơn tru. Cái chân chất thật thà, bộc trực của tôi bị uốn nắn khác đi, nó bị thụt vòi lần lần. Con sáo dặn đi dặn lại tôi bao nhiêu lần: “Chú thím, Cô Chú có mời ăn uống, anh đừng mau mắn nhận lời, phải biết làm bộ nhũn nhặn từ chối, rồi sau đó hẳn nhận. Thật thà quá, mau mắn quá thành ra thô kệch, quê mùa... Đừng thật thà, nhanh nhẩu như trong quê anh. Trước khi bưng tách trà, trước khi bưng chén cơm, phải mời tất cả mọi người trong mâm xơi nước xơi cơm. Mời hết từng người có mặt trong mâm. Mọi người sẽ mời lại anh. Anh đáp ‘vâng ạ!’ Sau đó mới uống mới ăn. Những cái đó là thủ tục lễ nghĩa, văn minh...” Tôi gãi đầu gãi tai xổ ra nỗi thắc mắc của mình: “Dạy vậy có chắc trúng không? Cơm của người ta, nước của người ta, người ta mời mình thì hợp lý đi. Còn mình có cái gì mang đến mà mở miệng mời người nầy người kia xơi nước xơi cơm. Mà, ví dầu mình có nước, có cơm để mời đi nữa thì cũng một đứa đại diện mời chung một lời, có đâu mỗi đứa lần lượt mở miệng mời, lại mời giáp vòng. Tiếng mời vô hồn như tiếng con vẹt. Cơm lạnh canh ngụi còn gì ngon? Xứ anh không có lối mời a dua đó? Anh mắc cỡ miệng vụ nầy quá!...” Tôi tập tành lối sống văn minh trong thời kỳ ngụp lặn giữa vũng tình yêu lứa đôi đầu đời như vậy đó. Bây giờ tôi đã thông thuộc chuyện ăn phở, biết đòi thêm chanh, ớt, ngò gai, rau quế ăn kèm cho hương vị đậm đà... Có lúc ăn sạch cả tô phở “tàu bay”, tô phở “xe lửa” nữa. Nhưng tôi vẫn chưa hội nhập trơn tru chuyện “mời qua mời lại” trên bàn ăn. Lúc nào tiếng mời của tôi cũng lí nhí ngượng ngập, lúc nào cũng thiếu sót, không mời đủ hết mọi người trong bàn...] Chuyện vợ chồng xưng hô tôi viết ra nãy giờ chỉ mới chung chung và phần lớn thuộc trong Nam . Ngoài Bắc còn nhiều cách xưng hô khác nữa. Xin dành chờ những bạn Bắc Kỳ rành sáu câu chuyện ngoài nớ sẽ viết bổ sung. f) Khi có thêm người thứ ba tham dự vào chuyện tiếp xúc với đôi vợ chồng, thì có thêm từ xưng hô ngôi thứ ba dành cho chồng và vợ: - Bà xã tôi vừa nhắc đến anh chị đây. Sao không thấy ông anh cùng đến? - Xin lỗi ông bà, ông xã tôi đang có hẹn với người bạn ở xa mới đến... Từ ông xã chỉ người chồng, bà xã chỉ người vợ trở thành danh tự kép trong kho tàng tiếng Việt. Tôi nghĩ từ bà xã (có nghĩa là vợ) xuất hiện khoảng thập niên 1950. Trước đó, bà xã chỉ có nghĩa là vợ của ông xã (xã trưởng). Thời đó người ta nhắc nhiều đến chuyện tiếu lâm Lý Toét & Xã Xệ. Và có người nghĩ đến chuyện có ông Xã Xệ thì phải có “bà Xã Xệ”, tức bà vợ của một ông tầm thường trong làng xã. Rồi người ta rút 3 tiếng “bà Xã Xệ” gọn lại thành 2 tiếng “bà xã” để chỉ người vợ. Trong vai trò lời xưng hô, tiếng ông xã, bà xã nếu có chỉ định tĩnh tự đi kèm, thì nó ở ngôi thứ ba: - Ông xã tôi không có nhà. Anh cần nhắn lại điều gì không? Khi không có chỉ định tĩnh tự đi kèm, thì nó ở ngôi thứ nhì: - Bà xã, làm ơn bớt cái miệng lại một tí, anh đang nghe radio! Trước kia, người ta dùng 3-4 tiếng để chỉ chồng mình, vợ mình, như anh nhà tôi, ông nhà tôi, ông chồng nhà tôi, ông xã nhà tôi; bà nhà tôi, nội tướng nhà tôi, bà xã nhà tôi... Rồi sau đó, chừng vài mươi năm nay, người ta lại giản lược lại còn 2 tiếng để chỉ chồng mình, vợ mình. Hai tiếng đó là “nhà tôi”: - Chúng tôi không bao giờ quên anh chị, nhứt là nhà tôi, bà ấy nhắc tới chị luôn. Hai tiếng nhà tôi thật là lững lơ, huyền hoặc. Có người cho rằng nó là từ kép, vì nếu nó không ghép lại với nhau, mà chỉ là hai tiếng đơn đứng gần nhau, thì nó có nghĩa là cái nhà của tôi. Cố Giáo Sư Nguyễn Đình-Hoà đề nghị phải viết có gạch nối ở giữa, nhà-tôi. Tôi không đồng ý coi nó là từ kép, vì nhà tôi có nghĩa là vợ của tôi hay chồng của tôi, nghĩa là nó được chỉ định thuộc về ai. Vậy tiếng tôi còn giữ vai trò chỉ định tĩnh tự. Không ai nói chồng tôi là nhà-tôi tôi (nhà-tôi của tôi); vợ anh là nhà-tôi anh (nhà-tôi của anh); vợ nó là nhà-tôi nó (nhà-tôi của nó). Nó huyền hoặc vì tách rời tiếng nhà ra, để tiếng tôi đóng trọn vẹn vai trò chỉ định tĩnh tự, thì riêng tiếng nhà không thể nào có nghĩa là vợ hay chồng được! Người ta có dùng nhà em, nhà anh, nhà cháu, nhà con... để xưng gọi chồng mình, vợ mình (ngôi thứ ba) đối với người trực tiếp nói chuyện (ngôi thứ nhì) Người ta nói “nhà cháu” có nghĩa là vợ cháu = vợ của cháu. Vậy rõ ràng tiếng nhà có nghĩa là vợ (hoặc chồng). Thực ra những tiếng xưng gọi nhà anh, nhà em, nhà cháu... thoát thai từ tiếng nhà tôi. Người ta thay tiếng tôi bằng tiếng em, anh, cháu để xưng gọi thân mật với những người thân vai nhỏ hơn hay vai lớn hơn. Những tiếng xưng gọi nầy luôn luôn ở ngôi thứ ba. Nếu riêng 1 tiếng nhà mà có được cái nghĩa là vợ hay chồng thì nó sẽ ráp được với 3 tiếng tao, mầy, nó để tạo thành cái nghĩa vợ tao, vợ mầy, vợ nó. Nhưng chưa ai viết nhà nó với cái nghĩa vợ nó, nhà mầy với cái nghĩa vợ mầy. Theo tôi, tiếng nhà không thể có nghĩa là vợ hoặc chồng được. Kho tàng tiếng Việt sắp sửa có thêm từ mới có nghĩa chung là chồng hoặc vợ. Đó là tiếng “mình ơi”: - Ồ! Cảm ơn chú. Mình ơi của cháu lúc nầy ngoan lắm, ảnh bỏ hút thuốc rồi! - Thế nào, mình ơi của mi lúc rày còn thường đi sóp-binh không? “Mình ơi” xuất hiện với nghĩa mới là do bài hát Mình Ơi được ca sĩ Ý Lan và ca sĩ Ngọc Hạ trình diễn thành công rất nhiều lần, tại nhiều nơi, khiến 2 tiếng mình ơi ngọt lịm thâm nhập vào lòng người và biến nghĩa thành vợ hoặc chồng thật ngọt ngào! Tuy nhiên, tiếng “mình ơi” còn đang ở thời kỳ chuyển mình thành danh tự kép. Bây giờ nó còn cần có 2 tiếng đi kèm “của...” (của ai) thì mới là danh tự kép được. 2/- Xưng hô giữa cha mẹ và con cái: a) Xưng hô với con trong năm đầu: Tí nhau của đôi vợ chồng trẻ từ lúc mới sanh đến khi biết nói, không có dịp sử dụng ngôi thứ nhứt để xưng với cha mẹ. Thời kỳ nầy nó chỉ được gọi ở ngôi thứ nhì và ngôi thứ ba. Cha mẹ là 2 tiếng chỉ định vị trí của đấng sinh thành ra con. Nhưng lại rất ít người bắt con dùng 2 tiếng nầy để gọi mình, mà tập con gọi mình bằng ba (cha) và bằng má (mẹ). Tiếng Việt cũng rất phong phú về những tiếng xưng hô nầy. Tương đương với cặp tiếng xưng hô ba má còn có ba mẹ, ba vú, tía má, thầy me, thầy đẻ, cậu mợ, thầy bu... (Một số người có Tây học -nhiều hay ít- còn tập tành xưng hô pa-pa/ma-măng hay pa-pa/măng cho ra vẻ ta đây Tây. Bây giờ có mùi Mỹ trong người, lắm vợ chồng gọi nhau là ho-ni, xưng và tập con gọi mình là đế-đi/má-mì hoặc đết/mom cho ra vẻ ta đây Việt kiều Mỹ): Hầu hết những đứa con được đặt tên thật đẹp, nhưng trong thời kỳ còn bé, phần đông những đứa trẻ bị cha mẹ gọi bằng những tên tục xấu xí, chung chung cho mọi đứa là thằng cu, nhóc tì, cu tí... (trai), con lủng, nhóc bẹp, cái đĩ... (gái). Có nhiều cặp vợ chồng theo nhân dáng khuôn mặt đứa con và ghép thứ của nó vào mà đặt tên tục để gọi, như Cả Vồ (do trán vồ), Hai Xệp (do mũi xệp), Ba Mếu (do miệng hay mếu), Tư Nhăn (do mặt mày thường nhăn nhó quạu quọ)... Không ít chồng vợ gọi con bằng tiếng cưng, cục cưng, cục vàng, hột xoàn... Với những tiếng xưng hô phong phú đó, cha mẹ nựng nịu, trò chuyện một chiều với đứa bé khi nó chưa biết nói: - Cả Vồ của mẹ, thôi dậy đi, tới giờ bú rồi. Ngoan đi, măng cưng. - Ho-ni, ho-ni ra xem mụ bà dạy cu tí cười kìa. [Một vài trường hợp đặc biệt con gọi cha không bằng những tiếng nêu trên. Ba tôi và các cô chú của tôi không gọi ông nội tôi bằng các tiếng ba, tía, cha... mà gọi bằng tiếng “anh” không giống ai. Truy nguyên thì biết rằng khi xưa gia đình Việt Nam dựng vợ gã chồng sớm, phần lớn chưa tới hai mươi. Ông tôi cũng vậy, nên lúc có con đầu lòng (là ba tôi), ông còn mắc cỡ lắm, né tiếng xưng ba, mà xưng anh, mỗi khi nựng nịu, trò chuyện với con. Do đó, khi biết nói, ba tôi cũng gọi lại bằng tiếng “anh”, rồi thành quen luôn, cho đến già đến chết không sửa lại được. Ông nhạc tôi cũng vậy, mắc cỡ khi có con, nên né tiếng ba. Muốn bồng bế con, ông nói “sang đây bê bế” thay vì nói “ba bế” (ông nhạc tôi người Bắc nên dùng tiếng bế, thay vì dùng tiếng bồng, ẳm như trong Nam ) Từ đó các anh chị em gia đình vợ tôi đều gọi cha bằng tiếng “bê”. Những tiếng xưng gọi như vậy không có nghĩa gì hết. Tâm trí của những người con chỉ cần hiểu đó là tiếng dùng để gọi cha mình mà thôi] B) Xưng hô với con khi chúng đã lớn: Thông thường cha mẹ và con cái dùng các cập xưng hô: ba/má-con, tía/má-con, thầy/đẻ-con... - Con cứ an tâm ra đi, ba má còn các em để khuây khoả. - Tía má giữ gìn sức khoẻ, rồi con sẽ quay về. Những tên tục xấu xí thường bị loại dần, không còn được xưng gọi nữa khi đứa trẻ lớn lên, vì những tiếng gọi thằng cu, con lủng, cái đĩ,... làm chúng đỏ mặt tía tai. Nhưng những tiếng xưng gọi bé hai, bé ba..., bé sáu, bé bảy... vẫn còn được gọi cho đến lúc đã lớn, thậm chí lúc đã lập gia thất. Những tiếng đôi “bé+thứ” được coi như tên tục của đứa con. Nhưng cũng có nhiều gia đình, cha mẹ trò chuyện với con cái, trong chỗ không có người ngoài, thường dùng cặp xưng hô tao mầy chất phác, thân mật, nhứt là dân quê miền Nam : - Chuyện đó tao đã dặn trước rồi mà mầy cứ không để ý tới. (Cặp xưng hô mầy tao trong ngôn ngữ Việt Nam có 2 ý nghĩa đối nghịch nhau. Bình thường, về hình thức nó có nghĩa xấu, thô tục, quê mùa, cộc cằn... chỉ sử dụng trong những trường hợp xấu, giận hờn, ghét bỏ, miệt thị... Nhưng mặt khác, giữa 2 đối tượng thân thiết xưng hô với nhau thì cặp nầy biểu hiệu sự thân thiết rất mực. Bạn bè chí thân mới xưng hô mầy tao với nhau. Những lúc thật gần gũi, cha mẹ mới dùng mầy tao với con. Tuy nhiên con cái dùng ngược lại với cha mẹ thì không được. Pháp thì được.) Ở thôn quê miền Nam , con cái thường xưng tôi, tui và gọi cha mẹ bằng tiếng ông bà (ngôi thứ nhì) và ổng bả (ngôi thứ ba): - Má à, tui nói rồi, tui không ưng chỗ đó mà bà cứ ép tui hoài! - Ba dẫn tôi đi chợ, ổng còn dẫn tôi vô tiệm cho uống cà-phê nữa. Ổng dặn tôi đừng nói cho bà biết. Những tiếng tôi, tui, ông, bà, ổng, bả nghe không có vẻ vô lễ, mà chỉ có vẻ chân chất, thật thà, quê mùa mà thôi. Con cái còn gọi cha mẹ bằng tiếng đôi ở ngôi thứ ba, như: ông tía, ông bố, ông già, bà má, bà vú, bà già... Có khi chúng dùng 3 tiếng để nhấn mạnh nữa, như: ông già tía, bà già má... Những tiếng nầy nghe không ngọt dịu, nhưng cũng không phải là vô lễ, thường được nói với ý nghĩa thân mật, trong khi chuyện trò với những người thân thích của gia đình. - Ông tía dặn kỹ, khi nào có bà má ở nhà, tôi mới được ra ngoài chơi. - Ông già tía khó gần chết, bà già má cũng đâu có dễ gì! Tôi ớn ổng bả lắm! Khi con cái đã thành nhân, đỗ đạt, có chức vụ, xưng hô giữa con với cha mẹ vẫn không thay đổi, con-ba/má... Nhưng xưng hô giữa cha mẹ với con có thay đổi. Trong Nam , nơi thôn quê, cha mẹ thường gọi con bằng thứ hoặc bằng thằng+thứ, con+thứ: - Hai, để đó mẹ. Về nhanh đi. Thằng Hai đang chờ con bên bển đó! - Thằng Tư tiếp Ba dọn dẹp phòng khách. Con Năm vô bếp giúp Má một tay. Thời đại điền chủ tư hữu ruộng đất cò bay thẳng cánh ở miền Nam, gia đình giàu có thường xưng gọi con cái mình bằng tiếng cậu (trai), cô (gái) với ý nghĩa là những đứa trẻ quý giá, với mong muốn những tá điền, những khách khứa cũng gọi con mình bằng tiếng “cậu”, “cô” đó. - Chú chờ đó một chút, cậu Hai cần sai bảo chú một việc, cô Ba cũng vậy. Dân thành thị, trong những nhà trung lưu, nhứt là những nhà quyền quí, còn dùng những chức vụ, ngạch trật... của con ghép theo sau tiếng anh, chị để xưng gọi con cái nhà mình, khi nói chuyện với người ngoài: - Anh Phán còn kẹt ngoài Sở. Xin ông chờ chút cháu sẽ về tới! - Anh Đốc-tờ giờ nầy còn ngoài phòng mạch! Gớm! Bà chị thấy đấy, cháu thật là vất vả? (Anh Phán, Anh Đốc-tờ... dùng để chỉ đứa con. Còn nếu chồng là Phán, là Đốc-tờ..., thì bà vợ thường dùng tiếng ông phía trước, Ông Phán, Ông Đốc-tờ...) Còn nhiều cách xưng gọi xun xoe về chồng mình, con mình trong những gia đình thượng lưu, nhứt là tại miền Bắc xưa. 3.- Xưng hô giữa ông bà v à cháu: Xưng hô giữa Ông Bà và cháu không có nhiều từ phong phú như trên. Chỉ có ông/bà-cháu và ngược lại cháu-ông/bà. Ông bà thì có ông bà nội, ông bà ngoại, cho nên ông bà và cháu thường thêm tiếng nội ngoại để xác định rõ: - Thưa, ông gọi cháu vào có việc chi dạy bảo ạ? - Ông gọi cháu vào là để nhờ cháu ngoái trầu cho bà... - Năm mới, cháu xin mừng tuổi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. Ông bà nội ngoại thường bỏ tiếng ông bà, rút gọn lại còn tiếng nội, ngoại (chung cho ông lẫn bà) để nói chuyện với cháu: - Năm mới ngoại lì xì cho cháu lấy hên đầu năm. - Nội lì xì cháu cái nầy và thêm lời căn dặn cháu cố gắng học hành. Rất nhiều ông bà dùng tiếng con để gọi cháu. Làm vậy để tình ông cháu, bà cháu được thắm thiết đậm đà hơn. Ngược lại cũng rất nhiều cháu dùng tiếng con để xưng với ông bà (ngay cả với chú, bác, cô, dì, cậu... nữa) cũng nhằm biểu hiện tình cảm thân thiết: - Nghe con học hành giỏi giang, ông bà nội ngoại rất vui. Ông bà mong sao con luôn luôn giữ được mãi như vậy... - Thưa ông bà nội ngoại, con xin ghi tâm khắc cốt những điều ông bà chỉ dạy. (Có người khắc khe, hẹp hòi, bị cái nghĩa đen trói buộc, nên cho rằng “cháu xưng con với ông bà là hỗn láo, vì có ý muốn vượt cấp, ngang hàng với cha mẹ mình” Tiếng con dùng xưng hô giữa ông cháu, bà cháu, không còn ở cái nghĩa đen đó nữa, mà nó có ý nghĩa biểu hiện sự thương yêu và kính trọng người trưởng thượng đang đối thoại với mình. Tiếng con còn được một số người Bắc, nhứt là thuở xa xưa, dùng vượt khỏi cái nghĩa đen, để xưng hô với những người quyền uy, lớn tuổi hay trẻ tuổi hơn người tự xưng con, như tá điền với chủ điền, dân đen với hương chức hội tề xã, với quan trên... Tiếng con nầy lại mang một ý nghĩa khác: quỵ luỵ, hèn hạ...) Tiếng để xưng hô trong gia đình Việt Nam thật phong phú. Dù cố gắng nhớ lại nhiều cách xưng hô mà tôi từng nghe thấy, nghe đó đây trong cuộc sống và thấy viết trên sách báo, nhưng tôi biết mình không đủ khả năng sưu tập đủ. Mỗi nơi, miền Trung, miền Bắc, còn có những cách xưng hô khác nữa. Mong rằng bài nầy giúp ích được phần nào những con em chúng ta sống và lớn lên ở nước ngoài hiểu được nền văn hoá Việt Nam thật đáng vinh danh. Cách xưng hô trong gia đình Việt Nam thể hiện được nhiều sắc thái văn hoá vững chắc của dân tộc./- Nguyễn Phước Đáng Nguồn: http://www.nuocviet.org
-
Hình Chim Trên Trống Đồng LẠC VIỆT Trần Gia Phụng 1.- XUẤT XỨ CỦA CHỮ “LẠC” Tài liệu bằng văn bản quan trọng đầu tiên về chữ “lạc” trong danh từ “Lạc Việt” (Lo Yueh), cho đến ngày nay tìm thấy được, nằm trong đoạn văn của Giao Châu ngoại vực ký (sách của Trung Hoa) xuất hiện khoảng giữa đời Tấn (265-420), được nhiều sử sách trích dẫn, từ Thủy kinh chú (thế kỷ thứ 6) của Lịch Đạo Nguyên (Trung Hoa), đến An Nam chí lược (thế kỷ 13) của Lê Tắc (người Việt sống ở Trung Hoa), rồi các sách khác về sau nữa. Lịch Đạo Nguyên, trong sách Thủy kinh chú, đã lặp lại theo Giao Châu ngoại vực ký như sau: “Giao Chỉ tích hữu quận huyện chi thời, thổ địa hữu lạc điền. Kỳ điền tòng thủy triều thượng hạ. Dân khẩn thực kỳ điền, nhân các vị Lạc dân, thiết Lạc vương, Lạc hầu chủ chư quận huyện. Đa vi Lạc tướng, đồng ấn thanh thụ.” (Xưa, khi Giao Chỉ chưa thành quận huyện, đất đai có ruộng gọi là ruộng lạc, ruộng đó tùy thủy triều lên xuống mà làm. Dân khẩn ruộng đó mà ăn, vì thế tất cả gọi là dân Lạc. Họ lập Lạc vương, Lạc hầu để coi quận huyện. Có nhiều Lạc tướng, có ấn đồng lụa xanh.)(1) Trong An Nam chí lược, Lê Tắc trích như sau: “Tại Giao Châu ngoại vực ký, tích vị hữu quận huyện thời, lạc điền tùy triều thủy thượng hạ, khẩn kỳ điền giả vi lạc dân, thống kỳ dân giả vi lạc vương, phó vương giả vi lạc tướng, giai đồng ấn thanh thọ...” (Giao Châu ngoại vực ký chép: hồi xưa, chưa có quận huyện, thì lạc điền tùy theo thủy triều lên xuống mà cày cấy. Người cày ruộng ấy gọi là lạc dân, người cai quản dân gọi là lạc vương, người phó là lạc tướng, đều có ấn bằng đồng và dải sắc xanh làm huy hiệu...)(2) Tuy hai cách hành văn khác nhau, nhưng ý chung của cả hai phần trích dẫn trên đây, trong hai sách khác nhau đều bắt đầu rằng ở cổ Việt có một loại ruộng gọi là “lạc điền”, người cày cấy “lạc điền” đề sinh sống là “Lạc dân”, rồi mới có “Lạc vương”, “Lạc hầu”, “Lạc tướng”. Di chỉ rõ ràng nhất về nền văn minh Lạc Việt là trống đồng. Khi Mã Viện (Ma Yuan, 14 TCN - 49) đem quân sang cổ Việt đánh Hai Bà Trưng vào năm 41 (tân sửu), ông lấy được nhiều trống đồng ở cổ Việt, nhiều đến nỗi ông đã dùng các trống đồng đó để nấu chảy và đúc thành con ngựa, dâng lên vua của ông là Hán Quang Võ (Han Kuang-wu, trị vì 25 - 57). Sử sách Trung Hoa gọi trống đồng ở cổ Việt là “Lạc Việt đồng cổ” (trống đồng Lạc Việt). Như vậy là sau “Lạc điền, Lạc dân, Lạc vương, Lạc hầu, Lạc tướng” thì có thêm chữ “Lạc Việt đồng cổ”. Từ các tài liệu Trung Hoa trên đây, danh xưng Lạc Việt được dùng để chỉ chủng người sống trên đất cổ Việt, và là tổ tiên của người Việt chúng ta ngày nay.(3) Trên những trống đồng Lạc Việt, trên mặt trống cũng như trên thân trống, có rất nhiều hình ảnh, trong đó có hình chim, mà không có một tài liệu nào của người xưa giải thích về các hình vẽ, hoặc những ẩn dụ trong các hình vẽ, khắc trên trống đồng. Các sử sách cổ cũng không giải thích hình chim trên trống đồng Lạc Việt là chim gì? Nói cách khác, những hình vẽ trên trống đồng Lạc Việt là hình “câm”, và các giải thích của những học giả đời sau chẳng qua là những lời phỏng đoán, những giả thuyết mà thôi, và khó có ai giải mã được đầy đủ ý nghĩa của những hình vẽ nầy. Ngoài ra, hình vẽ trên các trống đồng Lạc Việt hoàn toàn không có màu sắc. Màu sắc các loại chim rất quan trọng vì có nhiều thứ chim có ngoại hình giống nhau, nếu không có màu sắc thì không làm sao phân biệt được. Ví dụ ở Ontario, Canada, có một loại chim gọi là chim sẻ Azores, ngoại hình và bộ lông hoàn toàn giống chim sẻ bình thường (có rất nhiều ở khắp nơi), chỉ trừ cái ức màu đỏ (khác với chim sẻ bình thường), và tiếng hót rất hay trong khi chim sẻ bình thường không biết hót. Nếu du khách ghé thăm thác Niagara giữa Hoa Kỳ và Canada, ở phía bờ Canada, khi nghe tiếng chim hót rất hay, chú ý theo dõi trên các cành cây, sẽ thấy ngay loại chim nầy. Ở Việt Nam không có chim Azores. Nếu đem một tấm hình đen trắng chụp chim Azores về Việt Nam, rồi kể rằng chim nầy hót rất hay, thì người trong nước sẽ không tin điều đó, vì họ nghĩ chim sẻ làm sao hót được? Vậy những con chim trên trống đồng Lạc Việt chẳng có màu sắc, làm cho việc phỏng đoán thêm khó khăn. 2.- CHIM “LẠC” LÀ CHIM GÌ? Để đi tìm ý nghĩa của chữ “Lạc Việt”, các nhà nghiên cứu Việt Nam vào giữa thế kỷ 20 tra cứu chữ “lạc” trong các từ điển Trung Hoa, và được biết rằng một trong những ý nghĩa của chữ “lạc” trong từ điển Trung Hoa là một loài chim. Các ông liền liên tưởng đến hình chim trên các trống đồng Lạc Việt, và đưa ra giả thuyết rằng chữ “Lạc” trong “Lạc Việt” là một loài chim, và có thể là vật tổ của người Lạc Việt. Đầu tiên, học giả Đào Duy Anh, trong sách Lịch sử Việt Nam, xuất bản lần đầu năm 1955, chương 3 (Nguồn gốc dân tộc Việt Nam, người Lạc Việt), đã viết: “Những điểm ấy khiến chúng ta thấy rằng những người đúc trống đồng ấy - người Lạc Việt - tất đã từng vượt biển. Những chim hậu điểu ấy người ta thấy khắc trên trống đồng chính là chim tô-tem của những người chủ nhân của những trống đồng ấy, tức là người Lạc Việt. Tìm ý nghĩa chữ Lạc hay là họ [Lạc], tức là tên thị tộc của người Lạc Việt, chúng ta thấy chữ ấy chỉ là một loại hậu điểu ở Giang Nam. Xã hội học cho chúng ta biết rằng các thị tộc ở xã hội nguyên thủy thường lấy tên vật tổ mà tự đặt tên. Như thế thì chữ Lạc chính là tên vật tổ, tức loài chim hậu điểu mà chúng ta thấy hình dung trên trống đồng Ngọc Lũ.”(4) Đi theo cách thức nghiên cứu của học giả Đào Duy Anh, là các ông Văn Tân, Hà Văn Tấn và linh mục Nguyễn Phương. Hai nhà nghiên cứu Văn Tân và Hà Văn Tấn tham khảo các từ điển Trung Hoa như Khang Hy, Từ hải, Từ nguyên, để mô tả hình dạng và tranh luận về con chim “lạc”. Còn sử gia Nguyễn Phương cũng dựa vào các từ điển Trung Hoa, và thêm rằng: “Đối với chúng tôi, thiết tưởng không có gì ngăn trở chúng ta nghĩ rằng thứ chim được vẽ trên các trống đồng rất có thể là chim Lạc. Những thứ chim đó là giống chân cao mỏ dài nhưng cổ vắn, thật giống như lời tả gặp được trong các tự điển về chim Lạc nói rằng nó “giống như chim Nghịch nhưng cổ vắn”...(5) Nếu các tác giả trên đây phỏng đoán rằng hình chim trên các trống đồng là chim “lạc”, vậy chim “lạc” phải là loại chim sống với người cổ Việt, trên đất cổ Việt. Trong trường hợp đó, câu hỏi đầu tiên cần đặt ra là nước Việt Nam chúng ta có chim lạc hay không? Trong đời sống thực tế, hiện nay người Việt ở khắp các miền đất nước Việt Nam, không ai biết chim lạc là chim gì, không ai thấy chim lạc như thế nào, và thậm chí cũng chưa hề nghe nói đến một loại chim là chim “lạc”. Chính các tác giả Đào Duy Anh, Văn Tân, Hà Văn Tấn, Nguyễn Phương cũng không biết chim “lạc” là chim gì, vì nếu biết, các ông đã không cãi nhau về hình dạng con chim “lạc”. Bên cạnh thực tế thiên nhiên, có lẽ cũng nên đi vào các từ điển Việt Nam, chứ không phải từ điển Trung Hoa, để truy tìm chim lạc là chim gì ở Việt Nam? Từ điển Annamiticum-Lusitanum, et Latinum của linh mục Alexandre de Rhodes, xuất bản lần đầu tại Rome năm 1651, được Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính dịch, Nxb. Khoa học Xã hội in lại năm 1991, trang 131, không có riêng chữ “lạc” đứng một mình, mà chỉ có chữ kép: “LẠC ĐÀNG: Lạc mất đường. Chém lạc: Chém trật. Đi lạc: đi lạc. Chim lạc: chim lạc, và cũng nói về các thú vật khác...” (sic.) Chú ý là từ điển nầy không giải thích riêng chữ “lạc”, mà bắt đầu bằng chữ “Lạc đàng”. Trong Đại Nam quấc âm tự vị của Huình Tịnh Paulus Của, xuất bản ở Sài Gòn năm 1895 có chữ “lạc”, nhưng không có chữ “lạc” nào nói đến ý nghĩa là con chim hay con thú. Từ điển tiếng Việt do Ban Văn học Hội Khai Trí Tiến Đức Hà Nội khởi thảo, Imprimerie Trung Bắc Tân Văn ấn hành năm 1931, đưa ra năm ý nghĩa của chữ “lạc” (trang 290), nhưng không có ý nghĩa là chim hay thú. Tự điển Việt Nam phổ thông của Đào Văn Tập, Nhà sách Vĩnh Bảo, Sài Gòn 1951, có chữ “lạc”, nhưng cũng không có chữ “lạc” nào chỉ con chim hay con thú. Trong Việt ngữ chính tả tự vị của Lê Ngọc Trụ, Sài Gòn, Nxb. Thanh Tân năm 1959, trang 260, mục chữ “lạc”, nghĩa thứ 5, có ghi: “tên loại thú”. Sau đó trong Việt Nam từ điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn, 1970, cũng không đề cập ý nghĩa “lạc” là chim hay thú. Tại Hà Nội, Từ điển tiếng Việt, in lần thứ ba, năm 1991, do Văn Tân chủ biên cùng 12 tác giả hợp soạn (trong đó, ngoài Văn Tân, có những tác giả nổi tiếng như Trần Văn Giáp, Hoa Bằng...), cũng không có chữ “lạc” nào có nghĩa là thú hay chim. Trong các sách trên đây, chỉ có từ điển của Alexandre de Rhodes viết “Chim lạc: chim lạc, và cũng nói về các thú khác”, và từ điển của Lê Ngọc Trụ ghi “lạc” là “tên loại thú”. Còn các từ điển khác thì không đề cập đến chim lạc hay “lạc” là “tên loài thú”. Từ điển của A. de Rhodes và của Lê Ngọc Trụ đều không xác định được chim lạc là chim gì, mà còn dẫn người ta đến chỗ “lạc” là một loại thú. Ngay cả ông Văn Tân, trước đây rất hùng biện về hình dạng chim “lạc”, nhưng nay trong bộ Từ điển tiếng Việt do chính ông chủ biên và xuất bản nhiều lần tại Hà Nội, lại không có chữ nào nói về con chim “lạc”. Cuối cùng, đi tìm trong truyện cổ tích Việt Nam, trong truyện thần thoại Việt Nam (Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái), trong truyện dân gian đồng quê Việt Nam, trong ca dao, trong tục ngữ Việt Nam, hoàn toàn không có dấu vết con chim lạc. Như thế con chim “lạc” theo sự phỏng đoán của những nhà nghiên cứu trên đây, cũng không khác gì con rồng trong truyền thuyết, vì chẳng có ai thấy con rồng, và trong thực tế không có con rồng. Đã không biết chim lạc là chim gì, thì làm sao có thể đoán được hình chim trên trống đồng là chim lạc? Ngoài ra, nếu chim lạc là vật tổ, là loại chim quan trọng, thì hình chim lạc phải nằm ở vị trí trang trọng nhất trên mặt trống đồng, đó là vị trí trung tâm. Đàng nầy, hình chim trên các trống đồng Lạc Việt không nằm ở vị trí trung tâm, mà nằm ở vòng ngoài cùng; cũng không phải chỉ có một hình chim trên mỗi trồng đồng, mà có rất nhiều hình chim (vừa bay vừa đậu) chạy vòng tròn quanh mặt trống, có thể xem là những hoa văn trang trí chung quanh mặt trống mà thôi. Nền văn minh nông nghiệp ở Việt Nam từ thuở ban đầu cho đến thế kỷ 19, rất ít thay đổi nếu không muốn nói là không thay đổi. Kỹ thuật cày cấy theo đúng câu phương châm “xưa bày nay làm”, vẫn là con người kéo cày, hoặc “con trâu đi trước cái cày theo sau”. Do đó, nếu con chim lạc là một loại hậu điểu và là vật tổ của nông dân cổ Việt, tại sao vật tổ nầy hoàn toàn không có vết tích gì được ghi lại trong tín ngưỡng vật linh, trong truyền thuyết dân gian, trong chuyện cổ tích, trong sách vở, trong ngôn ngữ và ngay cả trong phong tục hay đời sống hằng ngày của nhà nông Việt Nam? Người Việt gọi cá ông (cá voi), ông ba mươi (con cọp), nhưng tuyệt nhiên không có ai nói gì đến chim lạc hay hậu điểu. 3.- “LẠC” LÀ MỘT TỪ NGỮ PHIÊN ÂM Vào thế kỷ thứ 18, học giả Lê Quí Đôn (1726-1784) trong sách Vân đài loại ngữ, khi nghiên cứu về cổ sử, đã đưa ra nhận xét: "...Tôi xét đời Hùng Vương, trên nối đời Hồng Bàng, không có chữ nghĩa gì truyền lại; về 15 bộ đặt ra thời đó, cùng với các quận huyện do nhà Hán, nhà Ngô [Trung Hoa] mới đặt ra, tên gọi lẫn lộn; tôi ngờ rằng những tên đó do các hậu nho góp nhặt vay mượn chép ra, khó mà tin được..."(7) Những “hậu nho” nầy chẳng những là “hậu nho” Việt, mà cả những “hậu nho” Trung Hoa nữa. Việc “các hậu nho góp nhặt vay mượn chép ra, khó mà tin được” bắt nguồn từ hai lý do: Thứ nhất, trước khi Triệu Đà áp đặt nền đô hộ ở cổ Việt năm 198 TCN (quý mão), những danh từ riêng như tên đất, tên người đều là tiếng bản địa cổ Việt. Khi đến đô hộ cổ Việt, người Trung Hoa phiên âm các danh từ nầy, rồi viết lại, nghĩa là người Trung Hoa dùng những chữ Hán có âm giống tiếng cổ Việt, ghi lại địa danh và nhân danh. Chắc chắn chữ “Lạc Việt” cũng nằm trong trường hợp đó. Thứ hai, tuy Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán (mậu tuất), giành độc lập vĩnh viễn cho người Việt năm 938 (mậu tuất), nhưng mãi đến thế kỷ thứ 13, nước Việt mới có bộ chính sử đầu tiên là Đại Việt sử ký do Lê Văn Hưu (1230-1322) soạn xong năm 1272 dưới đời vua Trần Thánh Tông (trị vì 1258-1278). Ghi nhận điểm nầy để lưu ý rằng trước đó nước Việt chưa có sách sử. Các sử gia từ Lê Văn Hưu trở về sau, muốn viết lại lịch sử nước nhà từ thời cổ đại, đều phải dựa vào sử liệu Trung Hoa, đồng thời dựa thêm những truyền thuyết, chuyện cổ tích, chuyện truyền kỳ, mới có thể viết được. Vì vậy, Lê Quý Đôn mới viết “tên gọi lẫn lộn; tôi ngờ rằng những tên đó do các hậu nho góp nhặt vay mượn chép ra, khó mà tin được..." Trong sách Việt Nam thời khai sinh, sử gia Nguyễn Phương trích dịch một bài báo của Claude Madrolle nhan đề “Le Tonkin ancien” đăng trên Tập san Viễn Đông Bác Cổ (Bulletin de l'École Française d'Extrême-Orient), theo đó Claude Madrolle cho rằng chữ “Lạc” trong “Lạc Việt” là một chữ phiên âm. Claude Madrolle viết: “Tiếng đã quá quen biết với chúng ta đó, các sách Trung Hoa dùng để chỉ vị vua và các tướng cùng dân ở Bắc Kỳ, nghĩa là dân Annamites, và chúng ta cũng dùng hùa theo như vậy. Tuy nhiên trong cảnh xưng hô chung đó, có một chỗ chúng tôi cho là không được ổn đó là vì tiếng phiên âm “lo” cũng gặp được tiếng “Hok-lo, tổ tiên của dân Hải Hậu... Sự trùng hợp đó làm sáng tỏ công trình nghiên cứu của chúng tôi. Thực ra người Lạc ở châu thổ không phải là dân Annamites, nhưng là dân Hok-lo của nước Việt, gọi là Hải Hậu...”(8) Sau Claude Madrolle, tác giả Hoàng Văn Chí, trong sách Duy văn sử quan, cũng chủ trương rằng chữ “lạc” là một chữ phiên âm. Ông cho biết người Trung Hoa đã phiên âm chữ “lạc” với nhiều cách khác nhau, tức với nhiều “bộ” khác nhau, nhưng theo ông “bất cứ chữ Lạc nào [trong chữ Hoa], viết với bất cứ “bộ” nào, với nghĩa là con lạc đà, con chim biển, hay một con thú bốn chân nào đó, cũng đều vô nghĩa. Và đã không có nghĩa, mà viết lung tung, “bộ nọ, bộ kia”, thì chúng ta phải ngờ đây là những chữ người Tàu đã dùng để phiên âm một tiếng nào đó của người địa phương, của tổ tiên chúng ta.”(9) Thông thường, một chữ phiên âm thì phải đọc cho đúng âm của chữ đó. Sau khi đọc cho đúng âm, lại cần phải tìm hiểu ý nghĩa của chữ đó trong tiếng gốc trước khi được phiên âm, và trong trường hợp nầy là tiếng cổ Việt, thì mới hiểu được chữ đó. Chữ Lạc viết bằng chữ Trung Hoa. Người Trung Hoa chỉ dùng âm của chữ nầy để chỉ chủng người ở cổ Việt. Vậy phải đọc theo âm Trung Hoa mới đúng, chứ không phải đọc theo âm Hoa (Hán) Việt. Chữ “Lạc” đọc theo âm Hán Việt của người Việt là “lạc”, còn đọc theo âm của người Trung Hoa là “lo, ló, lô”. Ví dụ Lạc Dương, kinh đô Trung Hoa thời nhà Châu được phiên âm theo chữ Latin là Loyang. Rõ ràng âm “Lo” là Lạc. Về việc phát âm chữ nầy, ông Hoàng Văn Chí viết rõ hơn: “Ngay cả cái lò để nung, người Tàu gọi là lò, chúng ta cũng bắt chước gọi là lò, mà chữ Lò của Tàu, bây giờ tiếng Hán Việt cũng là Lạc. Tóm lại, những chữ mà người Tàu đọc là ló, hay lò, bây giờ chúng ta đọc là lạc hết thảy. Vì người Tàu chỉ dùng chữ Lạc để phiên âm tiếng Ló của người Giao Chỉ, nên về sau, họ viết bất cứ chữ Lạc nào, Lạc là con lạc đà, Lạc là chim biển cũng được, vì bất cứ chữ Lạc nào, viết với bất cứ “bộ” nào, họ cũng đọc là Ló tất.”(9) Tiếp đó, nếu đọc là “lo, ló, lô”, thì phải tìm hiểu ý nghĩa những chữ nầy trong tiếng Việt cổ. Còn nếu chúng ta nhất định đọc theo âm Hán Việt là “lạc”, rồi tìm hiểu nghĩa theo chữ Trung Hoa, thì chúng ta sẽ bị lạc hướng. Ví dụ tên nước Canada được người Trung Hoa đọc theo tiếng “Phổ thông” là “Cá nả tà(i)”, rồi phiên âm qua chữ Trung Hoa. Người Việt đọc chữ Trung Hoa đó theo âm Hoa (Hán) Việt là Gia Nã Đại. Tên của thủ đô nước Hoa Kỳ là Washington. Người Trung Hoa đọc là “Hỏa shỉn tơn”, rồi phiên âm qua chữ Trung Hoa. Người Việt đọc chữ Trung Hoa đó theo âm Hoa Việt là Hoa Thạnh Đốn. Không lẽ một lúc nào đó, người Việt giải thích rằng “Gia” là..., hoặc “Hoa” là... Giải thích “Hoa” là cái bông hoa hay là cái gì đi nữa, dù là có nghiên cứu thiên kinh vạn quyển về chữ “hoa”, về các loại hoa, cũng đều hoàn toàn vô nghĩa, vì đã sai từ căn bản, do chữ “hoa” thật sự chỉ là một tiếng phiên âm. Trường hợp chữ “Lạc Việt” cũng thế. Chữ “lạc” là tiếng phiên âm một từ ngữ của người bản địa cổ Việt. Dầu có nghiên cứu thiên kinh vạn quyển về chữ “lạc” trong sách Trung Hoa, trong các bộ từ điển như Khang Hy, Từ hải, Từ nguyên, và dầu các bộ từ điển nầy đã căn cứ trên những cổ thư danh tiếng của Trung Hoa,(10) thì đó là ý nghĩa chữ “lạc” trong tiếng Trung Hoa phát âm theo lối Hán Việt, chứ không phải là chữ phiên âm từ tiếng của người bản địa cổ Việt.(11) 4.- “LẠC” LÀ LÚA GẠO Chữ “lạc” đọc theo âm Hán Việt là “lạc”, nhưng đọc theo âm tiếng Hoa là “lo, ló, hay lô...” Như vậy, cách tốt nhất nên tìm nghĩa của chữ có âm “lo, ló, lô” trong tiếng cổ Việt là gì? Xin hãy bắt đầu bằng tục ngữ, là những lời nói bình dân phổ thông có vần điệu của mọi người. Tại miền Quảng Bình, phía bắc Trung phần, có câu tục ngữ: “Cơm mô [đâu] cho vừa bụng chó, ló mô cho vừa bụng gà”. Chữ “ló” trong câu nầy có nghĩa là “lúa”, vì từ Thừa Thiên ra đến Nghệ An, dân chúng nông thôn đều hiểu và nói thường ngày chữ “ló”, nghĩa là lúa. Ngoài ra, ai cũng biết người miền núi và cao nguyên Việt Nam đều trồng một loại lúa gạo gọi là lúa lốc. Chữ “lốc” cũng là một lối đọc từ chữ “ló” mà ra. Gần đây, xuất hiện hai bộ từ điển tiếng Việt là Từ điển đồng nguyên (viết trên CD) của ông Nguyễn Hy Vọng, và Từ điển tiếng Huế của ông Bùi Minh Đức (California: Nxb. Tâm An, 2001, tr. 271), đều viết rằng “ló” có nghĩa là “lúa gạo”. Theo tác giả bộ Từ điển đồng nguyên, từ ngữ nầy hiện vẫn được dùng ở một số sắc tộc miền núi nước ta như người Mường, người Bờ-ru (Brou), người Mon..., và nhiều sắc dân Đông nam Á. Có hai chi tiết đáng chú ý trong câu viết của sách Thủy kinh chú, khi trích dẫn Giao Châu ngoại vực ký: “Giao Chỉ tích hữu quận huyện chi thời, thổ địa hữu lạc điền. Kỳ điền tòng thủy triều thượng hạ. Dân khẩn thực kỳ điền, nhân các vị Lạc dân, thiết Lạc vương, Lạc hầu. Đa vi Lạc tướng...” (Xưa, khi Giao Chỉ chưa thành quận huyện, đất đai có ruộng gọi là ruộng Lạc, ruộng đó tùy thủy triều lên xuống mà làm. Dân khẩn ruộng đó mà ăn, vì thế tất cả gọi là dân Lạc. Họ lập Lạc vương, Lạc hầu. Có nhiều Lạc tướng...) Chi tiết thứ nhất là “Giao Chỉ tích hữu quận huyện chi thời, thổ địa hữu lạc điền. Kỳ điền tòng thủy triều thượng hạ.” (Xưa, khi Giao Chỉ chưa thành quận huyện, đất đai có ruộng gọi là ruộng Lạc, ruộng đó tùy thủy triều lên xuống mà làm.). Tùy thủy triều lên xuống mà cày cầy, thì rõ ràng ruộng Lạc là loại ruộng lúa nước, nghĩa là lúa gạo chứ không phải lúa mì hay lúa mạch ở ruộng khô. Theo Phan Khoang, “từ đời Tây Châu [1186-771 TCN] trở về trước, người Hoa chỉ chiếm lưu vực sông Hoàng Hà...”(12) Điều nầy rất dễ nhận thấy nếu chịu khó mở bất cứ một bản đồ nào về nhân chủng và dân số Trung Hoa qua các thời đại trong các sách Anh ngữ viết về Trung Hoa cổ đại trong các thư viện Bắc Mỹ. Người Trung Hoa cổ đại sống ở thung lủng sông Hoàng (Hoàng Hà), trồng (lúa) mì, (lúa) mạch và kê ở ruộng khô, chưa biết lúa gạo ở ruộng nước. Một nhà nghiên cứu Hoa Kỳ cho biết: “Thuật trồng lúa gạo và thuần hóa gia súc chắc chắn [Trung Hoa] đã tiếp thu từ các sắc dân tầm thường ở miền nam xa xôi hẻo lánh [nam Man].” (nguyên văn: “The arts of cultivating rice and domesticating cattle were doubtless adopted from the despised races of the remote south.” Cũng nhà nghiên cứu nầy cho rằng Đức Khổng Tử (13) “sống chủ yếu bằng loại bánh làm bằng kê” (nguyên văn: “...Confucius have subsisted chiefly on millet cakes...”), và “Khổng Tử chưa bao giờ thưởng thức trà, và chắc chắn rằng Vương Xung, sáu thế kỷ sau, cũng thế.” (nguyên văn: “...Cofucius never tasted tea, and it is doubtful that Wang Ch'ung, six centuries later, did either....”(14) Trà là loại giải khát cũng phát xuất từ miền nam. Càng ngày càng có nhiều kết quả khảo cứu của các học giả Hoa Kỳ, Nga, Trung Hoa và cả Việt Nam, cho thấy rằng trung tâm đầu tiên trên thế giới của nền văn minh lúa nước là Đông nam Á, rồi từ đó lan truyền đi khắp nơi trên thế giới. Cũng theo các tác giả trên, tâm điểm của trung tâm văn minh lúa nước ở Đông nam Á chính là khu vực Hòa Bình ở Bắc Việt. (15) Hòa Bình nằm trong khu vực uốn khúc sông Đà để đổ lên sông Hồng, gần huyện Mê Linh (tức Phú Thọ, Vĩnh Phúc), quận Giao Chỉ thời cổ Việt, nơi phát tích của Hai Bà Trưng. “Theo một tư liệu được coi như tiếng nói chính thức của giới nghiên cứu sử học Trung Quốc, quyển An Outline History Of China, do nhà xuất bản Ngoại văn ở Bắc Kinh ấn hành, trong khoảng giữa năm 1973 đến 1978, các nhà khảo cổ đã khai quật được một số lượng rất lớn các di chỉ lúa gạo, xương và các lưỡi mai bằng gỗ đã hóa thạch dùng trong việc trồng lúa ở làng Hemudu, thuộc huyện Yuyao, tỉnh Zhejiang; niên đại các di chỉ này cách nay 7.000 năm.”(16) Tỉnh Zhejiang (phiên âm theo Pinyin), còn được viết là Chekiang (phiên âm theo Wade-Giles) tức là tỉnh Triết Giang hay Chiết Giang (phiên âm Hoa Việt) bên Trung Hoa, nằm ở phía đông nam sông Dương Tử, phía trên tỉnh Phúc Kiến. Cách nay 7,000 năm có nghĩa là 5,000 TCN, lãnh thổ tỉnh Zhejiang tức Triết Giang hay Chiết Giang chưa thuộc về Trung Hoa. Tài liệu nầy càng cho thấy rõ việc trồng lúa ở Trung Hoa phát xuất từ phía nam mà đi lên. Người Trung Hoa gọi những người ở phía nam sông Dương Tử là Bách Việt, trong đó Zhejiang tức Triết Giang hay Chiết Giang là nơi cư ngụ của nhóm người Đông Việt. Đông Việt thuộc chủng Việt, chứ không phải là người Hoa (Hán), và ai cũng biết các chủng người Việt ở phía nam sông Dương Tử trong nhóm Bách Việt, có nhiều liên hệ với nhau vào thời cổ đại. Bằng chứng của mối liên hệ nầy là ngày nay, nhiều người địa phương từ tỉnh Triết Giang xuống phía nam, sử dụng một số từ ngữ rất giống tiếng Việt và không có trong tiếng Trung Hoa, vì chính họ cũng gốc từ nhóm Bách Việt, trong đó có Lạc Việt.(17) Hiện nay, vấn đề chủng tộc “Việt” (Yueh) là một vấn đề chính trị rất nhạy cảm ở các tỉnh đông nam Trung Hoa và cả Đài Loan nữa. Chi tiết thứ hai trong câu văn của Thủy kinh chú lập lại ý của Giao Châu ngoại vực ký là: “Giao Chỉ tích hữu quận huyện chi thời, thổ địa hữu lạc điền... Dân khẩn thực kỳ điền, nhân các vị Lạc dân, thiết Lạc vương, Lạc hầu. Đa vi Lạc tướng...” (Xưa, khi Giao Chỉ chưa thành quận huyện, đất đai có ruộng gọi là ruộng Lạc... Dân khẩn ruộng đó mà ăn, vì thế tất cả gọi là dân Lạc. Họ lập Lạc vương, Lạc hầu. Có nhiều Lạc tướng...) Trong câu nầy, chữ “lạc” bắt đầu từ “lạc điền”, sau đó được lặp lại nhiều lần, “lạc dân, lạc vương, lạc hầu, lạc tướng”; tất cả đều bắt đầu bằng chữ “lạc”. Nếu hiểu chữ “lạc” là lúa nước tức lúa gạo, thì chữ “Lạc điền” nghĩa là “ruộng lạc”, tức là ruộng lúa nước, hữu lý hơn là chữ “lạc” là chim, vì nếu “Lạc điền” là “ruộng chim lạc”, thì ý nghĩa không được chính xác. Có thể có người cho rằng “Lạc điền” là ruộng “người Lạc” thì cũng không đúng, vì trong trình tự câu văn nầy, rõ ràng bắt đầu từ “lạc điền” (ruộng ló tức ruộng lúa gạo). Sau đó tác giả Giao Châu ngoại vực ký mới định danh rằng “Dân khẩn thực kỳ điền, nhân các vị Lạc dân, thiết Lạc vương, Lạc hầu chủ chư quận huyện. Đa vi Lạc tướng...” (Dân khẩn ruộng đó mà ăn, vì thế tất cả gọi là dân Lạc. Họ lập Lạc vương, Lạc hầu để coi quận huyện. Có nhiều Lạc tướng...) Hơn nữa, theo ông Hoàng Văn Chí, không ai nói “Hán điền” (ruộng Trung Hoa) hay “Pháp điền” (ruộng Pháp) nên không thể nói “Lạc điền” là ruộng của “người Lạc”.(18) Cuối cùng tất cả những “Lạc dân”, “Lạc vương”, “Lạc hầu”, “Lạc tướng” sống bằng “lạc điền” được gọi chung là Lạc Việt, tức là sắc dân Việt cày cấy ruộng lúa gạo để sinh sống, nhắm phân biệt với các sắc dân Việt khác trong nhóm Bách Việt ở phía nam sông Dương Tử như Mân Việt ở Phúc Kiến, Dương Việt ở Giang Tây, Nam Việt ở Quảng Đông, Đông Việt ở Chiết Giang... Sắc dân Lạc Việt được nhắc nhiều đến trong sách Hậu Hán thư của Phạm Việp (Fan Yeh, 398-446), nhất là từ giai đoạn Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống Tô Định (Su Ting) năm 40 (canh tý) và Mã Viện cầm quân tấn công Hai Bà Trưng năm 41 (tân sửu), xâm lăng Lạc Việt. 5.- CHIM GÌ TRÊN TRỐNG ĐỒNG? Nếu nói rằng chữ “lạc” không phải là chim lạc, và chữ “lạc” là “lo, ló, lô”, tức lúa gạo, “lạc điền” là ruộng lúa gạo, “Lạc Việt” là người Việt sống bằng ruộng lúa gạo, thì một câu hỏi mới cần được đặt ra là hình chim trên trống đồng là loại chim gì? Để trả lời câu hỏi nầy, trước hết chúng ta nên đặt thêm một câu hỏi phụ là ở Việt Nam, từ xưa tới nay, loại chim nào là loại chim sống gần với ruộng lúa nước, với nhà nông và với nghề nông nhất? Trả lời câu hỏi phụ nầy là có thể trả lời luôn câu hỏi về hình chim trên trống đồng Lạc Việt, tức trống đồng của những người Việt sống nhờ “lạc điền”, trồng lúa nước tức lúa gạo. Trên các cánh đồng lúa Việt Nam, có các loại chim thông thường sau đây: chim sẻ, chim mía, chim sâu, chim ột rột hay rột rột (một loại chim có tổ rất đẹp), chim sáo, chim cu đất, chim cu cườm, chim cò, chim hạc... Trong số các loại chim nầy, chim cò và chim hạc, hai loại chim hơi giống nhau, với mỏ dài, cổ dài, cánh dài xem ra có vẻ giống với các hình chim được vẽ trên trống đồng hơn các loại chim khác. Trên trống đồng, ngoài hình chim, còn có nhiều hình khác nữa trong đó có hình người, có thể là những vũ công, hoặc có thể là những chiến sĩ đang nhảy múa. Những người nầy trang điểm bằng những lông chim dài trên đầu. Trong số các loài chim trên đồng ruộng Việt Nam, chim cò có lông dài, có thể dùng để trang điểm, đeo lên đầu, như hình người trên các trống đồng Lạc Việt. Sau đây là hình chim bay khắc trên trống đồng Ngọc Lũ được vẽ lại, khá giống với hình ảnh trong câu tục ngữ “Cò bay thẳng cánh” mà thỉnh thoảng chúng ta nhìn thấy trên đồng ruộng Việt Nam. (19) Ngoài hình vẽ chim bay trên đây, trên các trống đồng Lạc Việt còn có hình vẽ chim đậu trên cành cây. Xin hãy tiếp tục quan sát: (19) Qua hình nầy, có thể có hai câu hỏi được đặt ra: Thứ nhất hình dạng cổ của con chim. Có thể có ba cách suy đoán hình dạng nầy: 1) Đây có thể là cái bìu dài nơi cổ. Nếu là cái bìu dài ở cổ, thì đây phải chăng là chim bồ nông, một loại chim săn cá? Chim bồ nông cũng là một loại chim có mặt trên đồng ruộng Việt Nam. Tuy nhiên, ở Việt Nam chim bồ nông không phổ thông như chim cò, có nhiều nơi hoàn toàn không có bồ nông, trong khi chim cò tràn đầy khắp nơi, từ bắc chí nam, từ bình nguyên lên cao nguyên, nơi nào có hồ ao, ruộng lúa là có chim cò. 2) Đây cũng có thể là chim cò đang ngậm miếng mồi, vì sau khi bắt được mồi, chim đậu lên cành để nghỉ. 3) Đây có thể là chim cò, và bộ lông chim ở cổ chim bị gió thổi hất tung ra ra. Thứ hai, tại sao có những chiếc lông bờm dài trên đầu hình chim? Có người trả lời rằng đây không phải là những lông bờm trên đầu cò, nhưng nếu thường sống ở nông thôn Việt Nam, thì có thể thấy được hình ảnh nầy: trong những ngày lộng gió, gió thổi làm cho lông đầu của cò xửng lên khá giống tấm hình nầy. Có thể người xưa chú trọng đến việc trang điểm bằng lông chim nên vẽ lông chim cò theo mô thức mà họ thích. Phải chăng bộ lông dài trên đầu xửng lên là nét độc đáo của cò, nên sở Bưu Điện Hoa Kỳ ghi lại hình ảnh nầy trên tem thư (stamp) phát hành năm 2003? Đây là hình loại “snowy egret”, một trong những loại cò sống từ miền nam Hoa Kỳ xuống tới Chile và Argentina. Lông chim dài, trắng như tuyết, rất đẹp; dân chúng thích săn bắt loại cò nầy để lấy lông làm đồ trang điểm, nên hiện nay chính phủ Hoa Kỳ ra lệnh cấm săn bắt loại chim nầy để bảo vệ chim khỏi bị tuyệt chủng. Chim cò hiện diện trên khắp lãnh thổ Việt Nam, ở miền bình nguyên cũng như trên các cao nguyên. Cò chuyên bắt cá, tôm, tép, cua, ếch, nhái trên các ao hồ, sông ngòi và nhất là trên các cánh đồng lúa nước. Cò gắn liền với đời sống nông nghiệp, bàng bạc trong ca dao tục ngữ Việt Nam. Cò có chân dài, bước trên ruộng nước lúp xúp để kiếm mồi, mỏ dài để thò xuống nước bắt mồi, và cò dễ kiếm mồi ở những ruộng nước đục (đục nước béo cò). Đôi khi cò giẫm hư lúa của nhà nông. Vì vậy ca dao có câu: “Cái cò cái vạc cái nông, Sao mày giẫm lúa nhà ông hởi cò? Không không tôi đứng trên bờ Mẹ con cái vạc đổ ngờ cho tôi...” Bất cứ khi nào ra đồng cày cấy, nhà nông cũng gặp ngay con cò, dù sáng sớm hay xế chiều, kể cả phải kiếm ăn ban đêm: “Con cò mà đi ăn đêm, Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao...” Vào những ngày đẹp trời, cò bay lượn thong thả rất đẹp, được ghi lại trong một bài ca: “Con cò bay lã bay la, Bay qua ruộng lúa, bay về đồng xanh...” Thân cò mảnh khảnh, lại rất siêng năng, kiếm sống suốt ngày, không khác gì người phụ nữ Việt Nam, cần cù làm việc trên các cánh đồng để nuôi nấng gia đình, thay cho chồng lên đường theo phận sự nam nhi: “Thân cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non. Nàng về nuôi cái cùng con, Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng...” Câu ca dao nầy đưa chúng ta liên tưởng đến hình ảnh bà Trần Tế Xương, một phụ nữ Việt Nam tiêu biểu, do chính chồng bà ghi lại: “Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông. Một duyên hai nợ, âu đành phận, Năm nắng mười mưa, dám quản công. Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, Có chồng hờ hững cũng như không.(20) Tất cả những câu ca dao, tục ngữ, bản nhạc, bài thơ trên đây cho thấy tâm tình của người dân Việt Nam nói chung, và đặc biệt nông dân Việt Nam nói riêng, rất gần gũi với chim cò. Như thế chắc chắn vào thuở bình minh của lịch sử dân tộc, người Lạc Việt cũng tiếp cận thân thiết với con cò trong khi cày cấy đồng ruộng mà theo Giao Châu ngoại vực ký là loại ruộng nước. Loại ruộng nước rất thích hợp với đời sống con cò. Ngày ngày, người nông dân thuở sơ khai gặp gỡ thường xuyên con cò đi kiếm ăn trên những cánh đồng lúa nước, nên hình ảnh của con cò gắn liền với đời sống của họ, thấm đậm trong tâm tư tình cảm của họ. Vì vậy, có thể người Lạc Việt đã ghi lại hình ảnh con cò trên các trống đồng của mình. Nói cách khác, hình chim trên trống đồng Lạc Việt có thể là những con cò trên đồng lúa cổ Việt, và chủng loại cò đó tồn tại mãi cho đến ngày nay ở Việt Nam. Khi giải thích chữ “Lạc Việt” và hình chim trên trống đồng Lạc Việt, những nhà nghiên cứu từ Đào Duy Anh đến Nguyễn Phương chỉ chú trọng đến những bộ từ điển có tính cách hàn lâm Nho học của Trung Hoa, mà không nhìn lại những bộ từ điển Việt Nam như Annamiticum-Lusitanum, et Latinum (năm 1651) của linh mục Alexandre de Rhodes, Đại Nam quấc âm tự vị (năm 1895) của Huình Tịnh Paulus Của, hay Từ điển tiếng Việt (năm 1931) của Hội Khai Trí Tiến Đức Hà Nội, là những bộ từ điển đã được ấn hành trước thời các ông. Ngoài ra, còn có một bộ từ điển khổng lồ mà ai cũng có thể tra cứu. Đó là đời sống của nông dân Việt Nam trong cảnh quan thiên nhiên, với những sinh thực vật thân thiết chung quanh. Đó là những ruộng lúa trên khắp các nẻo đường đất nước, cùng với những động vật sống theo đồng ruộng, sống nhờ đồng ruộng. Trong thực tế, những đồng ruộng đó đã nuôi sống dân tộc chúng ta từ thuở khai sinh, và cũng nuôi sống luôn một số động vật khác, trong đó con cò rất gần gũi thân thiết với nhà nông, nhưng vì quá bình dân và quá quen thuộc, nên không được các học giả chú ý. Con cò là đề tài của ca dao tục ngữ, của thơ văn, âm nhạc, thế thì tại sao con cò không thể là đề tài của điêu khắc và hội họa? Nền điêu khắc và hội họa nầy rất xưa, thật là xưa. Đó là những hình vẽ trên trống đồng Lạc Việt, xuất hiện cách đây trên 2,000 năm. Để kết luận, xin lưu ý trở lại rằng tất cả những hình ảnh trên trống đồng Lạc Việt đều là hình “câm”. Những ý kiến đưa ra chung quanh các hình ảnh trên trống đồng, kể cả bài viết nầy, chỉ là những phỏng đoán, những giả thuyết, chứ không phải là những kết luận. Giả thuyết có thể đúng, có thể sai. Giả thuyết nào hợp lý sẽ đứng vững. Hy vọng sẽ có thêm những thảo luận về vấn đề nầy để càng ngày càng làm sáng tỏ hơn nữa lịch sử thuở khai sinh của dân tộc Việt. TRẦN GIA PHỤNG (Toronto, 21-12-2005) CHÚ THÍCH 1. Nguyễn Phương trích dịch, Việt Nam thời khai sinh, Huế: Phòng Nghiên cứu Sử, Viện Đại học Huế, 1965, tt. 137-138. 2. Lê Tắc, An Nam chí lược [chữ Nho],Huế: Uỷ ban Phiên dịch Sử liệu Việt Nam,Viện Đại học Huế, phiên âm và dịch nghĩa, 1961, tr. 39. 3. Trong sách Việt Nam thời khai sinh, sử gia Nguyễn Phương cho rằng tổ tiên của người Việt thuộc chủng Mông-cổ (Mongoloiid), nhưng ông không giải thích vì sao người Việt nói tiếng Việt chứ không nói tiếng Trung Hoa. Trong khi đó, càng ngày càng có nhiều tài liệu cho thấy người Việt là hợp chủng của người bản địa cổ Việt (Malayo-Polinesian hay Indonesian) với người Mông-cổ đến sau, mà trong đó yếu tố bản địa có tính cách chủ yếu. 4. Đào Duy Anh, Lịch sử Việt Nam [xuất bản lần đầu năm 1955], Hà Nội: Nxb. Văn Hóa Thông Tin [tái bản], 2002, tr. 38. Theo lời nói đầu trong sách, Đào Duy Anh cho biết ông soạn sách nầy từ năm 1949 ở Thanh Hóa, nơi tìm ra được nhiều trống đồng. 5. Nguyễn Phương, sđd. tr. 136. 6. Trống đồng Ngọc Lũ: phát hiện năm 1893, nguyên vẹn trong lòng đất ở xã Như Trác, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Đường kính 79 cm, cao 63 cm. Bề mặt: Mặt trời 14 tia, 3 vành hoa văn: 1 vành cảnh sinh hoạt, 1 vành 20 hươu đi và 14 chim bay, 1 vành 18 chim bay xen kẽ 18 chim đứng. Tang: Hoa văn hình thuyền, lưng hoa văn người múa. (Hình vẽ lại, trích từ Phạm Huy Thông (Chairman of Editorial Board), Dong Son Drums in Viet Nam, Hà Nội: The Vietnam Social Science Publishing House, 1990, tr. 5.) [Theo ghi chú của Nxb., sách in ở Nhật Bản.] 7. Lê Quí Đôn, Vân đài loại ngữ, Hoa Kỳ: bd. của Phạm Vũ và Lê Hiền, Tự Lực [tái bản], không đề năm ấn hành, tr. 167. 8. Nguyễn Phương trích dịch, sđd. tt. 132-133. (Về số báo, Nguyễn Phương ghi là BEFEO XL) 9. Hoàng Văn Chí, Duy văn sử quan, Nxb. Cành Nam, Hoa Kỳ, 1990, tt. 78 và 79. 10. Các từ điển Khang Hy, Từ hải, Từ nguyên được soạn từ thế kỷ 17, 18 trở đi ở Bắc Kinh (Trung Hoa), và căn cứ trên những bộ cổ thư Trung Hoa, nên có tính Trung Hoa hơn là cổ Việt hoặc Đại Việt. Những bộ cổ thư đó đại để như Tứ thư, Ngũ kinh, Đạo đức kinh, Nam hoa kinh, Mặc tử, Liệt tử, Sử ký (Tư Mã Thiên), Chiến quốc sách, Ngô Việt xuân thu, Hán thư (Ban Cố), Hậu Hán thư (Phạm Việp), Hoài Nam tử, Quốc ngữ, Thuyết văn, Nhĩ nhã, Quảng nhĩ nhã... 11. Từ vấn đề nầy, có lẽ nên mở rộng việc nghiên cứu thêm một số tên của những nhân vật nổi tiếng như Trưng Trắc, Triệu Thị Trinh... 12. Phan Khoang, Trung Quốc sử lược, Đại Nam tái bản không đề năm, tr. 1. 13. Khổng Tử (551-478 TCN): người tỉnh Sơn Đông (Shandong hay Shantung) vùng hạ lưu Hoàng Hà và ở phía bắc sông Dương Tử. 14. Edward H. Schafer, Ancient China, New York: Time-Life Books, 1967, tt. 16, 37, 38. Wang Ch'ung tức Vương Xung (27-97), triết gia thời Đông Hán (25-220) là tác giả nhiều sách lý luận về triết học, trong đó quan trọng nhất là bộ Luận hoành (Lun Heng, 30 quyển). Hoành là cái cân, nghĩa rộng là cân nhắc, so sánh. 15. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. TpHCM, 1997, tt. 75-86. 16. Nguyễn Đức Cung, “Chung quanh vấn đề Lạc Việt”, tạp chí Đất Mẹ, Houston, số 119, tháng 10-2005, tr. 50, trích dẫn sách của Yang Zhao, Fang Linggui, Gong Shuduo, Zhu Zhongyu, An outline history of China, Edited by Bai Shouyi, Foreign languages press, Beijing, 1982, tr. 39. 17. Theo lời kể của một số người Việt du lịch Trung Hoa, đã đến thăm các tỉnh từ Triết Giang xuống phía nam. 18. Hoàng Văn Chí, sđd. tr. 78. 19. Hình trích từ Nguyễn Khắc Ngữ: Mỹ thuật cổ truyền Việt Nam, Montréal: Tủ Sách Nghiên Cứu Sử Địa, 1981, tr. 49. 20. Dương Quảng Hàm, Việt Nam thi văn hợp tuyển, Bộ Quốc Gia giáo Dục, Sài Gòn, in lần thứ 8, 1962, tr. 179. Nguồn: http://www.nuocviet.org
-
Bình Nguyên Lộc Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam (Với hơn hai trăm biểu đối chiếu sơ về ngôn ngữ Việt-Mã và nhiều khám phá mới lạ về thượng cổ 5000 năm của dân tộc Việt Nam) 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 Không có nền văn hóa nào tự thẹn, cũng không có nền văn hóa nào được phép khinh bỉ các nền văn hóa khác. Cũng như các sinh vật, các nhóm dân tộc đã trải qua nhiều giai đoạn tiến triển y hệt như nhau. Đôi khi chỉ nhờ những nguyên nhơn địa phương và ngẫu nhiên nó giúp vài dân tộc trội hẳn các dân tộc khác. Nhưng luôn luôn, ở tỷ độ lịch sử, những thành tích ấy, lớn hay nhỏ, dài hay ngắn hạn, không bao giờ ổn cố, và những nền văn minh tàn lụi, không còn làm sao mà đếm cho xiết nữa. Vậy, người ta đi đến cái quan niệm là có một sự đồng đẳng căn bản nào ban đầu, chung cho cả nhân loại, đó là cái thực thể hạ tầng của những chênh lệch phụ thuộc khác. Ở đây, cũng như ở các vấn đề khác, tự ty hoặc tự tôn mặc cảm đều không chính đáng. Bác sĩ P. HUARD Giáo sư Y khoa Hà Nội (Tiền chiến) (Les chemins du ralsonnement et de la logique en E.O.) Nguyên văn: Aucune culture ne doit avoir honte d’elle-méme, pas plus qu’elle ne saurait mépriser les autres. Comme les êtres vivants, les groupes ethniques ont passé par les mémes phases de développement. Souveni, ce sont des causes locales et fortuites qui ont permis à certains de dépasser franchement les autres. Presque toujours, à l’échelle historique, cette performance, plus ou moins réussie, ou plus on moins longue, ne s’est jamais definitivement stabilisée et on ne compte plus les civilisations mortes. On arive donc à la notion d’une certaine égalité de base, commune à tous les hommes, substrat sous-jacent à une foule d’inégalites. Le complexe d’infériorité, ici comme ailleurs, n’est done pas plus justifié que le complexe de supériorité. * Ngữ vựng riêng của sách này Về vài danh từ, mỗi sách mỗi dùng khác nhau, nên chúng tôi xin trình ra những danh từ của chúng tôi và đối chiếu với danh từ Pháp, Anh, Mỹ, Đức nếu cần, để khỏi gây ngộ nhận. Ấn học: Hindianisme Trung Hoa học: Sinologie Chủng tộc học: Anthropologie physique và Raciologie (thay cho danh từ Nhân chủng học dùng hồi tiền chiến). Dân tộc: Ethnologie, Ethnographie, Social anthropology, Cultural anthropology – Volkskunde (thay cho danh từ Nhân chủng học tiền chiến). Nhơn thể tính: Caractères anthropologiques Thị tộc: Clan Bộ lạc: Tribu Chỉ số sọ: Indice crânien Dung lượng sọ: Capacité crânienne Giả thiết: Conjecture Giả thuyết: Hypothèse T.K.: Trước Kitô kỷ nguyên S.K.: Sau Kitô kỷ nguyên. * Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam Chương I Ba cuộc sa lầy tinh thần khoa học và ba chứng tích chủ lực Công trình khảo cứu về địa chất và tiền sử ở Việt Nam đã được các nhà khoa học Âu Mỹ làm xong. Về địa chất, những công trình ấy được ba nhà trí thức Việt Nam là quý vị Trần Kim Thạch, Lê Quang Sáng và Lê Thị Đính rút tỉa đại cương để soạn thành một quyển sách mà chắc không có quyển nào khác nữa thay cho, tuy quá sơ lược, và có nhiều điểm không đúng lắm, nhưng vẫn giúp người đọc có ý niệm tổng quát và đại khái về đất đai của nước Việt Nam từ thời Hồng hoang đến ngày nay. Đó là quyển Lịch sử thành lập đất Việt, phát hành đầu năm 1971. Đọc quyển sách ấy, ta thấy đất nước cổ hàng tỷ năm. Đất thì đã được biết đích xác, còn người? Lòng đất của ta xưa đã được biết rõ. Người xưa cũng được biết rõ không kém, nhưng nguồn gốc của tổ tiên ta thì lại chưa thể biết được, vì tổ tiên ta ở nơi khác mà đến (mà tổ tiên của dân tộc nào hiện nay cũng thế cả). Hơn thế, chưa từng có nhà bác học nào ráp nối được những cái sọ cổ và đồ vật cổ với sọ của ta và đồ vật của ta, để chỉ người cổ nào là tổ tiên của ta vì trong lòng đất có hàng chục thứ người cổ khác nhau. Muốn biết tổ tiên ta là ai thì chỉ có một phương pháp độc nhứt mà khoa học nhìn nhận, đó là đối chiếu các thứ sọ người cổ và sọ của ta hiện nay. Đó là công việc của sử gia chớ không phải của nhà khảo tiền sử, nên công việc khảo tiền sử đã xong, nhưng cũng chưa ai biết gì hết, vì không có sử gia nào làm cái công việc đối chiếu đó, bởi phải biết rằng đó là phương pháp độc nhứt rồi còn phải đo sọ của ta ngày nay nữa, hai yếu tố căn bản ấy, không được các sử gia kể đến. Sách này có tham vọng là sách chuyên môn, nhưng chúng tôi lại làm một công việc trái lẽ là phổ thông vài điểm về khoa chủng tộc học (Raciologie – Anthropologie physique). A. Chỉ có cái sọ mới giúp ta phân biệt chủng này với chủng khác. B. Cái sọ của các chủng, qua 7, 8 ngàn năm không hề thay đổi. C. Nếu có lai với chủng khác, mà lai một lần hay cứ lai đi lai lại mãi, khoa chủng tộc học cũng biết được vì hai yếu tố chủng tộc cứ tồn tại mãi trong những cái sọ ấy. Trong khi đó thì dưới lòng đất ta có 7, 8 loại sọ cổ khác chủng với nhau, mà sử gia lại không đo sọ để đối chiếu thì làm thế nào để biết tổ tiên ta là ai vào thời thượng cổ? Cả các nhà bác học Âu Mỹ làm việc cho ta hồi tiền chiến, cũng đã quên mất phương pháp đó, trừ một người độc nhứt là ông Madrolle, nhưng ông ấy chỉ mới đo bề cao, rồi kết luận ngay, mà chưa kịp đo sọ, hay tưởng rằng không cần đo sọ thì ta không rõ được. Ta đã tiếp tục công trình của Âu Mỹ đang làm dở dang, cả Bắc lẫn Nam đều có tiếp tục, nhưng ta vẫn bất kể cái căn bản khoa học đó, tức là ta đã đi tìm giờ Ngọ hồi 14 giờ (nói theo Pháp). Viết thượng cổ sử khác xa với viết sử. Viết sử chỉ cần sử liệu, còn viết thượng cổ sử thì lại cần rất nhiều khoa học khác mà không cần sử liệu, bởi làm gì mà có sử liệu vào thời cổ tổ tiên ta còn ăn lông ở lổ. Thế mà các sử gia Pháp Việt lại dùng sử liệu của một nước văn minh trước ta là sử Tàu. Kể ra thì cũng tạm được. Nhưng sử Tàu lại mù mờ, và chỉ có thể dùng được để kiểm soát lại coi nó có ăn khớp với các khoa học căn bản hay không mà thôi. Phương chi ta chỉ đọc tới Sử ký của Tư Mã Thiên đến ba ngàn năm, thì làm thế nào mà biết được sự thật. Chúng tôi làm việc lại, khác hơn tất cả mọi người, là dùng khoa khảo tiền sử và khoa chủng tộc học, mà là khoa khảo tiền sử đúng, chớ không phải là khảo tiền sử dở dang của Colani, Mansy, Golubew, Jansé, những vị ấy đã đưa các sử gia Pháp và ta đến những sai lầm không lối ra từ nửa thế kỷ nay. Ngày nay, trên thế giới không còn chủng tộc nào là thuần chủng nữa hết. Trên Cao nguyên của ta có những người Thượng mà ta cứ ngỡ là thuần chủng được, vì họ sống biệt lập bộ lạc này với bộ lạc khác, vậy mà họ vẫn bị lai giống đến ba bốn lần rồi. Xin lấy thí dụ người Bà Nàng Hơ Roy. Họ là người Bà Nàng, nhưng họ lại lai giống người Giarai. Những người lai giống ấy, lại lai giống một lần nữa với người Chàm. Thế là đã ba lần lai giống. Nhưng chưa chắc cái gốc Bà Na đã là gốc thuần của Bà Nàng, vì họ lại nói tiếng Cao Miên, chớ ít dùng ngôn ngữ riêng của họ là Mã Lai ngữ. Còn các thành kiến cho rằng chủng này tài giỏi hơn chủng khác cũng đã bị xô ngã từ lâu rồi. Như vậy trong thời đại ta, chỉ có vấn đề dân tộc mới là đáng kể, còn vấn đề chủng tộc, chỉ là chuyện phù phiếm. Tuy nhiên, sử học cứ tiếp tục tìm tòi về các chủng tộc, vì không sao phân biệt được dân tộc này với dân tộc khác bằng các bằng chứng thật khoa học, thì đành phải ngược nguồn về tới chủng tộc vậy, vì chủng tộc thì phân biệt được, bằng một khoa học chính xác, mà ở đây, chúng tôi gọi là Chủng tộc học (Anthropologie physique), thay cho danh từ nhân chủng học mà nhiều vị giáo sư đại học cho là không đúng và muốn thay đổi như thế đó. Dân Việt Nam hơi giống dân Tàu chẳng hạn, mà họ có phải là người Tàu hay chăng, thì chỉ có chủng tộc học mới trả lời đích xác được. Ông H. Maspéro, một nhà bác học mà chúng tôi rất khâm phục, đã phất cờ đi trước hơn hết để về cái nguồn ấy, vào năm 1918. Nhưng vào năm đó, khoa khảo tiền sử và khoa chủng tộc học lại làm việc chưa xong ở Á châu, thành thử ông và bao nhiêu ông Tây, ông Tàu, ông Việt khác đều sa lầy, cho tới năm nay là năm 1970. Ông L. Anrousseau làm lại cái công việc đó năm 1923, nhưng vẫn cứ thất bại. Có thể hai nhà bác học ấy, thuở đó, chưa biết cái căn bản này cũng nên, là muốn phân biệt các chủng tộc thì chỉ có việc đo sọ mới cho biết rõ cái gì, nên quý vị ấy mới làm việc với chỉ độc một nguồn tài liệu là cổ sử Tàu. Năm 1923 thì ông Aurousseau đã bốn năm mươi tuổi rồi, bởi một người Pháp mà leo lên tới địa vị Giáo sư Hán văn cũng phải mất vài mươi năm học hỏi sau cái bằng Tú tài hoặc Cử nhân. Như vậy, quý vị đó thuộc vào trường phái thế kỷ XIX mà việc đo sọ là căn bản phân biệt chủng tộc, chưa được khoa học xác nhận một cách quả quyết vào thế kỷ XIX đó. Người Tàu, mãi cho đến nay, viết về nguồn gốc của chính họ, họ còn chưa biết sử dụng chủng tộc học, thì dùng sử Tàu cách đây hai ngàn năm, hẳn là không thể đi tới đâu hết. Những sai lầm của quý vị đó, mặc dầu là sai lầm, cũng cần được nhắc lại, để so sánh với sự thật trình bày trong sách này, có thế mới rõ trắng đen. Năm 1923, ông L. Aurousseau, giáo sư Hán văn, đã viết: “Lịch sử của nguồn gốc dân tộc Việt Nam, còn phải viết. Nếu những gì xảy ra sau cuộc chinh phục của Lộ Bác Đức vào năm 111 T.K. có thể dễ dàng sắp xếp, thì trái lại cho tới nay (1923) chưa có công trình nghiên cứu nào về những việc xảy ra trước đó, được thực hiện với tinh thần có tính cách phê phán (Aucun travail critique n’a été effectué). Và ông L. Aurousseau bắt đầu, ngay sau câu đó. Than ôi, chỉ là hoài công, bởi mặc dầu ông làm công việc ấy với tài liệu lạ của Trung Hoa mà các sử gia ta chưa đọc vào năm đó, nhưng có đủ đâu nào. Ông chỉ hơn các sử gia ta ở cái chỗ có nghĩ đến, và có làm việc cho thượng cổ sử Việt Nam, nhưng sự thành công rất ít vì mặc dầu chúng tôi khen các ông Tây đọc sử Tàu nhiều hơn ta nhưng quả thật họ vẫn đọc chưa đủ. Hơn thế, sử Tàu lại mơ hồ và xuôi ngược, rất khó dùng nó để tìm ra một sự thật chắc chắn. Nói về một nước kia, Sử ký của Tư Mã Thiên gọi là Âu Lạc, Hàn thư của Ban Cố gọi là Tây Âu, rồi ông H. Maspéro lại hiểu lầm chữ nho, tân tạo ra một danh xưng mới nữa là Tây Âu Lạc thì tưởng cũng khó biết đích xác cái nước đó tên thật là gì lắm thay, và nhứt là khó biết vị trí của nó lắm thay! Ông L. Aurousseau, chắc có ý ám chỉ ông H. Maspéro hơn là ám chỉ các sử gia ta là những người chưa khảo cứu gì cho thượng cổ sử Việt Nam cả vào năm đó, mà chỉ chép lại truyền thuyết dân gian mà thôi. Ông H. Maspéro đã bắt đầu từ năm 1918 nhưng xem ra thì cái tinh thần có tánh cách phê phán của ông L. Aurousseau lại kém hơn của ông H. Maspéro. Và chính ông L. Aurousseau lại đã làm cho rối nùi thêm những gì xảy ra sau năm 114 T.K. mà ông cho là dễ dàng sắp xếp. Sự thật thì đoạn sử sau Lô Bắc Đức vốn đã rối bòng bong rồi lại bị ông làm rối thêm cái nữa thì chẳng còn ai biết đường đâu mà mò nữa. Nhưng dầu sao ta cũng phải nhìn nhận rằng những ông H. Maspéro và L. Aurousseau đọc cổ sử Trung Hoa nhiều hơn và kỹ hơn các sử gia từ xưa đến thời của các ông và phải nhìn nhận rằng các ông có sáng kiến nghĩ đến công việc tìm nguồn quan trọng đó. Sử Tàu thiếu sót, mơ hồ và bí hiểm, lắm câu các ông Nghè của ta cũng không hiểu thì các ông Tây làm thế nào mà hiểu được. Thế nên cả hai ông Tây có công lớn là ông L. Aurousseau và ông H. Maspéro đều sa lầy trong cái đầm cổ sử Trung Hoa, không thoát được mà cũng không giúp chúng ta thoáng thấy được sự thật nào đáng kể. Cuộc sa lầy thứ nhì, xảy ra từ năm 1920, kể từ biến cố Đông Sơn, biến cố ấy lại là một vũng lầy thứ nhì nó làm cho các nhà bác học Âu Á mất đến 50 năm mà cũng chẳng biết được gì hết. Năm 1920, những cuộc phát kiến ngẫu nhiên của dân chúng ở Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa bỗng làm cho các nhà bác học Pháp chú ý đến. Ở đó có nhiều cổ vật lạ lùng bằng đồng thau, không giống của ta hay của Tàu gì hết. Mấy năm sau, vùng Đông Sơn được xem xét kỹ và từ năm 1925 đến năm 1970, nhiều cuộc khai quật kế tiếp nhau, ở các lưu vực những con sông Nhật Lệ, sông Gianh, sông Cả, sông Mã, sông Đà, sông Nhị, sông Đáy, đã cho giới khảo cứu thu lượm được vô số cổ vật bằng đồng pha. Nghiên cứu sơ khởi cổ mộ Đông Sơn, người ta thấy người chết có đồ tùy táng nhứt là trống bằng đồng thau khá rực rỡ. Đó là người thời xưa được chôn trước hai bà Trưng năm 32 năm, và cái thời xưa ấy, được định tuổi thật đích xác là 1915 tuổi, tính đến năm 1924. Tuy nhiên, vẫn chưa chắc lắm là người dưới mồ lại là người bổn xứ, theo khoa học thì phải dè dặt như vậy, bởi họ có thể là chiến sĩ của nước ngoài, thua trận chạy sang xứ ta rồi bỏ mình vì chết bịnh hay tử thương trễ muộn. Trong lần khai quật thứ nhì tìm được một sườn nhà bằng gỗ và tre đã hóa thạch. Nhà ấy có lối kiến trúc giống như hình nhà khắc nơi trống đồng. Bấy giờ thì đã chắc một trăm phần trăm là người có trống chôn theo, là đồng bào với người có nhà, nghĩa là tất cả đều là người bổn xứ. Y là người bổn xứ, vâng, nhưng cổ vật mà y có, y mua của nước nào, hay do chính y chế tạo? Người ta phân chất một mảnh đồng thau của cổ vật và thấy đó là một hợp kim đặc biệt, chắc chắn của bổn xứ, bởi nó khác hẳn hợp kim của Tàu hay của Ấn Độ, của Tây phương thời đó. Hợp kim đồng thau (bronze) của Tàu, đã được tả rõ trong cổ thư Chu Lễ, còn hợp kim của Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ cũng được tả rõ trong cổ thư của các dân tộc ấy, nhờ thế mà so sánh, đối chiếu được. Thế là đã rõ. Người ta vừa phát kiến được một trung tâm của một nền văn minh mới lạ. Trước đó một trăm năm, người ta đã tìm được trống ở nhiều nơi tại Đông Nam Á, kể cả ở Việt Nam nữa, nhưng người ta chưa hề biết chắc một trung tâm nào cả của nền văn minh đó, nó nằm trong một khu vực rộng lớn từ sông Dương Tử cho đến quần đảo Nam Dương, vì trống tìm thấy, nằm trên mặt đất, có thể ở nơi khác lưu lạc tới, lại không có những món khác như cổ tiền chẳng hạn để chứng minh tuổi và nguồn gốc của trống, nhứt là không có ngôi nhà cổ hóa thạch nói trên. Đông Sơn là trung tâm chắc chắn được phát kiến lần đầu, vì không phải chỉ có trống, mà có bao nhiêu vật khác nữa, đồng tánh cách, và vì đó là cổ vật không bị di chuyển bởi đó là đồ đào được trong cổ mộ, người ta biết chắc rằng nó vẫn nằm tại đó từ xưa đến nay, chớ không phải lượm được trên mặt đất, hay đào thấy nằm riêng rẽ một mình như bao nhiêu trống đã tìm thấy, mà nghĩ rằng nó lưu lạc, không thể biết chắc từ đâu trôi dạt đến nơi lượm được. Nhưng nguồn gốc của dân tộc Việt Nam làm thế nào mà nằm ở gần giai đoạn Đông Sơn được kia chớ, nếu quả người Đông Sơn là tổ tiên của ta (nhưng các nhà bác học Âu Mỹ chưa nhìn nhận, chỉ trừ có ông O. Jansé là nhìn nhận mà không chứng minh được). Đó là thời mà dân ấy đã có vua chúa, có Lạc Tướng, Lạc Hầu, đã biết kỹ thuật đồng pha, và giỏi nghệ thuật chế tạo đồ đồng pha, tức đã văn minh rồi. Nguồn gốc của dân tộc phải cổ hơn giai đoạn ấy hai ba ngàn năm, vào thời mà ta còn sống dưới kỹ thuật cựu thạch và tân thạch kia. Sự thật sơ đẳng ấy, không hiểu vì lý do nào mà cho đến cả các nhà bác học Âu Mỹ cũng không biết mà tất cả đều sa lầy tại đó, cứ cố tìm nguồn gốc dân tộc ta ở đó mà thôi, nó làm cho ta mất thì giờ đến nửa thế kỷ (1920-1970). Giáo sư Kim Định đã mắng bọn nghiên cứu Đông Sơn bằng một giọng tự thị: “Thế là giới tân học đã ùa theo mấy nhà khảo cổ, nghĩa là căn cứ trên mấy nắm xương của người Mã Lai Á, Anh Đô Nê-diêng đi nhận họ hàng dọc chủng tộc, lẫn hàng ngang văn hóa với mấy thổ dân này. Văn minh Mã Lai Á là cái chi, nó nói lên được những gì với tâm hồn người Việt? Nó giải nghĩa thế nào cả một khối văn chương bình dân…” Thấy rõ là giáo sư đại học Kim Định chưa học khoa khảo tiền sử về Á Đông mà chỉ học vụ Đông Sơn là một cuộc sa lầy, nên ông mới quả quyết rằng ta không phải là Mã Lai mà đích thị là Tàu. Theo giáo sư thì ta lập ra nền văn minh Tàu ở bên Tàu rồi bị người Tàu cướp đi nói là của họ. Ta văn minh lắm, chớ không kém như mấy thổ dân đó mà ông gọi là Mã Lai Á = Malaiaie (!) (Với danh xưng Mã Lai Á, thật không biết giáo sư muốn chỉ ai, vì Mã Lai là một chủng tộc rất lớn, còn Mã Lai Á là một quốc gia nhỏ xíu, hơn thế các nhà bác học nghiên cứu Đông Sơn cũng chẳng bao giờ thốt ra ba tiếng Mã Lai Á cả.) Còn chủng Mã Lai thì chính những nhà bác học đó phủ nhận rằng dân Việt Nam là hậu duệ của chủng Mã Lai Đông Sơn, không hiểu do đâu mà bao nhiêu trí thức ta đều cho rằng họ bảo rằng dân ta là Mã Lai. Đó là một bí mật mà chúng tôi tìm mãi mà không vỡ lẽ. Vậy xin mời giáo sư khoa khảo tiền sử đúng, chớ không phải sai như bọn học về Đông Sơn và ông sẽ thấy cái gì khác hơn ông tưởng tượng nhiều lắm. Ông sẽ thấy văn bình dân ta đầy dẫy tiếng Mã Lai mà ông không hiểu. Thí dụ: Tua Rua đã xế ngang đầu Em còn đứng đó làm giàu cho cha. Tua Rua là tiếng Mã Lai đó ông ạ. Ông không biết rằng thành ngữ “Tay chơn bộ hạ” của ta là thành ngữ Mã Lai, họ nói Tay cẳng bộ hạ đấy. Ông không biết: Bắc thang lên hỏi ông Trời Thang = Tangga (Mã Lai), và Trời cũng là tiếng Mã Lai mà cả Mã Lai và Phù Tang Nhựt Bổn cũng còn dùng hiện nay. Dưới đây là một câu 8 từ, gồm toàn từ Mã Lai: Hắn lấy ná (nỏ) bắn chim làm rụng lá Không có lấy một danh từ, động từ nào mà là danh từ, động từ của chủng Viêm, hay chủng Hoa trong đó hết. Toàn là tiếng Mã Lai. Và điều chắc chắn hơn hết là ông không biết Mã Lai chủng phát tích tại đâu, nên tưởng rằng nó phát tích tại Mã Lai Á (Malaisie) nên khuyên ta đứng tìm nguồn gốc dân tộc ở phương Nam. Nó đã tự xưng là Mã Lai cách đây ngàn năm tại Hoa Bắc và Ấn Độ, được Tàu phiên âm là Ló (Lạc) nhưng với bộ Mã, tức Mạ Ló, còn Aryen thì phiên âm là Mlechia. Ông bảo bọn cựu học quá tin vào truyền thuyết, còn tân học không tin gì cả. Ông sẽ thấy rằng bọn tân học tin toán học và về thượng cổ sử Việt Nam, họ sẽ viết đúng 2 + 2 = 4, y như toán học, chớ không ghép đủ thứ tài liệu hỗn loạn để mà đoán mò. Nhưng bọn nghiên cứu nền văn minh Đông Sơn bị ông mắng thật là đáng đời, đã bảo nguồn gốc của một dân tộc không làm sao mà nằm tại giai đoạn đồng pha được, mà phải nằm trước giai đoạn tân thạch lận kia. Hơn thế, đồ vật không cho ta biết đích xác được cái gì, mà chỉ có sự đối chiếu sọ của dân ta ngày nay với sọ của đủ thứ người cổ đào được ở Bắc Việt mới giúp ta biết được ta là hậu duệ của chủng nào mà các nhà bác học Âu Mỹ ở Đông Sơn lại không có ông nào nghĩ đến sự thật căn bản đó hết. Nói ông L. Aurousseau thuộc trường phái thế kỷ XIX, các nhà bác học Đông Sơn trẻ hơn, nhưng vẫn không hơn L. Aurousseau một gờ ram. * Biến cố Đông Sơn lại xô thiên hạ vào một cuộc sa lầy phụ thuộc mà chúng tôi tạm đặt tên là cuộc sa lầy II bis. Trước hết vì một danh từ bác học mà cả một số nhà bác học Âu Mỹ cũng không hiểu. Đó là danh xưng Indonésien. Nghiên cứu hình khắc ở các cổ vật đó, và kiến trúc của ngôi nhà đào được, biết rõ danh tánh của nó, người ta kết luận rằng người chết chôn dưới mồ thuộc một chủng tộc mà danh xưng khá bí hiểm đối với người Việt, danh xưng đó là danh xưng Indonésien. * Các nhà bác học vẫn tiếp tục gọi họ là người Anh Đô Nê-diêng, nền văn minh của họ là nền văn minh Đông Sơn, mặc dầu nhiều dân tộc khác cũng có cổ vật cùng tách cách, trong một địa bàn rất lớn ở Đông Nam Á, từ Hoa Nam, cho tới Nam Dương quần đảo. Nếu đó là duy vật Việt Nam đi chăng nữa thì nền văn minh đó không riêng gì là của Việt Nam. Vì đó là công việc khoa học, mà khoa học thì phải chính xác, mà một yếu tố chính xác là sự chính danh, thành thử các nhà bác học đó bắt buộc phải dùng một thuật ngữ qua chuyên môn là danh xưng Anh Đô Nê-diêng. Anh Đô Nê-diêng, một thuật ngữ của khoa chủng tộc học (raciologie) chỉ có nghĩa là Cổ Mã Lai, chớ không có gì lạ. Là nhà chuyên môn, các nhà bác học ấy phải dùng danh từ chuyên môn, mặc dầu đã có danh từ thường. Danh từ thường là Proto-Malais. (Quyển sách nhỏ này có tham vọng là sách chuyên môn.) Hình nhà khắc ở trống đồng Đông Sơn, nóc oằn, mái túm. Hình thuyền khắc ở binh đồng Đào Thịnh. Thuyền của người Mã Lai Nam Dương hiện kim. Hai đầu nóc nhà và hai đầu của hai thứ thuyền giống nhau. Nếp nhà hóa thạch đào được ở Đông Sơn, cổ gần hai ngàn năm, được ông V. Goloubew hồi phục lại theo tưởng tượng với vật liệu chưa mục nát. Mái nhà xuống tới sàn tre nên phải trổ cửa vách hồi. Ngói khác. Một nếp nhà của người Mã Lai sơn cước hiện kim ở Nam Dương, mái cũng xuống tới sàn và cửa cũng trổ vách hồi, cả ba nếp đều nóc oằn và mái túm. Nhưng chúng tôi dùng danh từ thường là Cổ Mã Lai, chứ không nói Anh Đô Nê-diêng là một danh từ mà đại đa số dân ta chưa quen). Danh xưng Anh Đô Nê-diêng được chúng tôi dịch ra là Cổ Mã Lai, chớ nhiều học giả khác còn dịch khác nữa, chẳng hạn ông Phạm Việt Châu dịch là Cựu Mã Lai, có ông khác lại dịch là Tiền Mã Lai. (Sau sẽ có thống nhứt, và Cổ hay Cựu, hay Tiền gì, còn tùy ở đa số nhà chuyên môn). Nhà của người Mã Lai hiện kim, tiến bộ hơn và mái không xuống tới sàn, nên trổ cửa dưới mái được. Nhà của người Mã Lai hiện kim, y như nhà số 7, cả hai đều còn nóc oằn, nhưng ở đây có thêm điểm mái cong quớt lên, chớ không túm lại. Một kiểu nhà tranh của Nhựt Bổn (gốc Mã Lai) nhưng nóc nhà mô chớ không thẳng. Mô là biến dạng của oằn, hễ không oằn thì mô, chớ không ưa thẳng. Kiểu cổng nhà điển hình của Nhựt Bổn (gốc Mã Lai) nhại theo nóc nhà oằn của chủng tộc. Tóm lại tánh cách Mã Lai thật rõ rệt nơi các cổ vật Đông Sơn. Danh xưng quá chuyên môn Indonésien, chẳng những làm rối trí người thường mà còn làm cho cả đến học giả lầm lẫn nữa. Nhưng chẳng những ta lầm lẫn về cái danh xưng ngây ngô nhận là danh xưng Indonésien, ta lại còn lầm lẫn về một danh xưng khác, không có gây ngộ nhận, đó là danh xưng Mélanésien. Thế nên những sách khảo cứu của ta rất xuôi ngược về mặt chủng tộc học. Ở cái điểm ấy, ta hiểu lầm người Âu châu, rồi ta lại hiểu lầm ta. Một vài học giả của ta lầm lẫn chủng Mã Lai với chủng Mê-la-nê-diêng (Mélanésien) chẳng hạn như sử gia Nguyễn Phương và học giả Lê Văn Siêu, có lẽ vì từ Mã Lai hơi giống từ Mê La về giọng đọc. Trong Việt Nam thời khai sinh, trang 46, sử gia họ Nguyễn viết: “Như thế chủ trương rằng giống Mê-la-nê đã từ miền biển du nhập vào vùng cổ Việt, không phải là không có lịch sử. Chẳng những họ đã từ đại dương tràn vào cổ Việt, mà còn tràn vào cả lục địa Trung Hoa nữa. Ngày nay sử sách Trung Quốc vẫn nói rằng “Mã Lai chủng” đã chiếm nước đó trước khi nòi giống Trung Hoa bắt đầu xuất hiện”. Câu trên đây cho thấy rõ rằng sử gia Nguyễn Phương hiểu rằng Mê-la-nê = Mã Lai chủng. Nhà học giả Lê Văn Siêu, trong Việt Nam văn minh sử cương, trang 17 viết: “Căn cứ vào những đồ đá trau để dấu vết ở Hòa Bình và Bắc Trung Việt, Lào, Thái Lan, Mã Lai, và những xương sọ người đào thấy ở hang động Hòa Bình và Bắc Sơn có nhiều triệu chứng đó là giống Úc châu và Mã Lai (Papou-Mélanésien), thì nhiều nhà bác học lại cho rằng giống dân ở hải đảo Mã Lai đã di cư lên đất liền”. Sự sai lầm, trong câu trên đây, không phải ở lời phỏng đoán của các nhà bác học được ám chỉ đến trong câu văn đó, mà là ở lối dịch: Papou Mélanésien = Úc Mã Lai Danh xưng Mê-la-nê-diêng gốc Hy Lạp, chỉ có thể dịch là hắc-nhân-đảo (Homme noir de iles), nhưng vì không đúng nên không ai dịch làm gì. Đó là dân thuộc chủng da đen hoàn toàn và tóc quăn quíu, còn chủng Indonésien tức Mã Lai không thuộc chủng da đen còn tóc thì dợn sóng chớ không quăn quíu. Về mặt chủng tộc học, Mélanésien chỉ có một nghĩa: đó là Mê-la-nê-diêng, không dịch ra tiếng Việt được, ngoài ra, không có nghĩa nào khác hơn, nhứt là không có nghĩa là Mã Lai bao giờ. Cũng cứ về mặt chủng tộc học thì Indonésien (Anh Đô Nê-diêng) cũng có một nghĩa duy nhứt: đó là Proto Malais, nên dịch là Cổ Mã Lai hơn là Tiền hay Cựu Mã Lai như đã có người dịch. Cổ, ở đây là có vóc dáng văn hóa thời kỳ đầu của một chủng tộc, chớ không phải là sống vào thời cổ, Tiền Mã không ổn, bởi chưa có Hậu thì không thể nói đến Tiền. Cựu có thể, không có Tân thì không nên nói đến Cựu. Một nhà chủng tộc học Mỹ cho biết rằng hiện nay những người mà ta gọi là Kim Mã Lai đều là người đã bị lai giống với các chủng khác hết cả rồi, mà có đến 70 nhóm bị lai giống khác nhau, lai Tàu, lai Ấn, lai da trắng, nhưng lai Tàu là phần đông. Người Kim Mã Lai thuần chủng chỉ có thể thấy được lần cuối cùng vào thế kỷ thứ 10 S.K. mà thôi. Nhưng những Mã Lai thuần chủng hiện còn sống sót, đang sống vào thời kỳ cổ, tức họ là Cổ Mã Lai (Indonésien) đấy. Tuy nhiên, theo riêng chúng tôi thì còn người Kim Mã Lai thật sự. Theo chúng tôi thì người Giarai ở Cao nguyên ta là Kim Mã Lai. Ngôn ngữ của họ rất thuần Mã Lai, họ có kết hôn với các dân tộc khác, nhưng cũng là Mã Lai với nhau cả, như Chàm chẳng hạn, chớ không phải là khác chủng. Và họ không sống theo Cổ Mã Lai vì họ đi lính cho Tây rất đông trước năm 1945, họ biết mặc Âu phục, biết địa lý, biết đó biết đây, chớ không phải chỉ biết có cái địa bàn nhỏ hẹp của họ, và tuy cứ giữ phong tục của họ, họ vẫn biết có nhiều dân khác có phong tục khác, tôn giáo khác, tóm lại họ không sống vào thời kỳ cổ sơ, mà vóc dáng của họ cũng không cổ sơ. Ta nhìn vào một anh địa phương quân ở Phú Bổn, ta cứ ngỡ anh ấy là người Việt Nam. Nhưng họ quá ít, nên không ai biết họ, trừ các nhà chủng tộc học có làm việc ở “Đông Pháp”, nên thế giới kể như không còn Kim Mã Lai. Nhưng Cổ Mã Lai thì lại còn nguyên vẹn ở khắp Đông Nam Á, trong núi rừng. Thật ra thì danh xưng Indonésien rắc rối này có hai nghĩa, một nghĩa thông thường, có ghi trong các từ điển ngôn ngữ: đó là dân của xứ Indonésien (Nam Dương quần đảo). Nhưng trong khoa chủng tộc học, nó lại mang nghĩa khác là Nê-Diêng là người “Mọi” trên Cao nguyên. Họ nói đúng, nhưng không rành mạch khiến ta ngộ nhận và giẫy nẩy lên, chối bây bẩy rằng tổ tiên ta là “Mọi”. Nhưng thử hỏi có tổ tiên của dân tộc nào lại không Trãi qua thời kỳ dã man, rồi thời kỳ kém cỏi hay không chớ? Các ông Tây đó là các ông Tây dốt khoa chủng tộc học, chẳng biết Indonésien là gì hết, nghe các ông Tây không dốt, nói người Thượng là Indonésiens, các ông bèn hiểu rằng Indonésiens = Mọi. Nhưng người Thượng, y hệt như người Jarai, là Kim Mã Lai đấy, vì họ đã tiến đến thời đại sắt, còn Cổ Mã Lai khi di cư đến Đông Nam Á chỉ mới tiến tới thời đại tân thạch thượng. Vậy các ông Tây không dốt vẫn ăn nói hàm hồ. Không phải hễ biết mặc Âu phục mới được gọi là Kim Mã Lai mà hễ bước sang thời đại sắt rồi thì phải được xem là Kim Mã Lai. Dụng cụ sắt của người Thượng, không phải là được chế tạo bằng sắt mà họ mua được của Ai Lao, Cao Miên hay Việt Nam đâu. Người Sơ Đăng tự lực đi tìm quặng sắt trong các núi của tỉnh Kontum rồi nấu thành sắt, rồi luyện sắt đó thành thép, một công việc mà chính người Việt Nam đã quên mất rồi vì ta đã quen mua sắt và thép trên thị trường thế giới từ một trăm năm nay. Nếu vì một lý do nào mà ta bị cô lập, không hiểu ta còn nhớ kỹ thuật nấu quặng nữa hay chăng? Nhưng người Sơ Đăng thì lại rất thạo kỹ thuật đó. Nhưng vì nông nghiệp của người Thượng còn ở giai đoạn hỏa canh và luân canh nên tạm gọi họ là Cổ Mã Lai cũng chẳng sao, nhưng xin đừng tưởng rằng Anh Đô Nê = Mọi. Cổ Mã Lai đã là tên của một chủng tộc rồi thì còn đặt tên nào khác cho họ nữa làm gì? Và Mọi là gì? Danh xưng Mọi hoàn toàn vô nghĩa về khoa chủng tộc học mà tưởng sách khoa học không được phép dùng. Trong ngôn ngữ Việt Nam, mi tương đương với Man di của Tàu, với Yuavana của Phạn ngữ, chỉ bất kỳ chủng nào mà còn kém mở mang đến mức chưa biết cất nhà. Như thế thì Papou, Négrito gì cũng là Mọi được hết, chớ không riêng chủng nào, còn riêng chủng Mã Lai thì bọn Cổ vẫn biết cất nhà. Người thường muốn dùng danh từ bậy bạ thế nào cũng được, chớ khoa học thì không. Khoa học phải gọi đúng tên chủng tộc, gọi đúng tên dân tộc. Như đã nói, các ông Tây không dốt khoa học, gọi người Thượng là Cổ Mã Lai, chớ không bao giờ gọi họ là Mọi. Nhưng khi họ gọi người Đông Sơn là Cổ Mã Lai thì không được ổn lắm. Theo Hậu Hán thư thì người Lạc Việt ở vùng Giao Chỉ làm ruộng đã giỏi có dư thóc bán cho Hợp Phố và Cửu Chơn. Thế nghĩa là họ đã biết cày, không còn làm hỏa canh và luân canh nữa thì họ là Kim Mã Lai đứt đi rồi. Người Thượng kia mà chúng tôi còn cho là Kim Mã Lai, huống hồ gì là người Lạc Việt Đông Sơn. Tuy nói thế chứ biên giới giữa Cổ và Kim cũng không có gì rõ rệt cho lắm. Hiện nay ở Phi Luật Tân có ba nhóm người mà khoa học rất bối rối, không biết sắp họ vào hạng Cổ hay Kim. Chính vì tình trạng hỏa canh và luân canh của họ. Đó là ba nhóm Igorotes, Ifugaos và Bontok mà ông O. Jansé cho là đồng bào của hai bà Trưng di cư sang, sau cuộc tàn sát của Mã Viện (nhưng ông O. Jansé dù có chuyên môn nhưng nói vô bằng chứng). Nhưng như đã nói, không có biên giới rõ rệt thì ta cứ tạm xem người Đông Sơn là Anh Đô Nê-diêng vậy, cho dứt khoát vấn đề, trong giai đoạn này cái đã, rồi sẽ hay. Cả hai nghĩa của danh xưng Indonésien đều sai về mặt khoa học. Thế mới chết! Trong danh xưng Anh Đô Nê-diêng nghĩa thứ nhứt, tức nghĩa thông thường, có ngữ căn Ấn Độ. Mà ngữ căn ấy sai. Ở xứ đó, không có người dân Ấn Độ nào hết, hay chỉ có leo heo như Sài Gòn vậy thôi, họ là Ấn kiều chớ không phải dân. Số là khi người Âu châu tới đó, thấy dân xứ ấy theo văn hóa Ấn Độ, họ bèn gọi gộp xứ ấy và nước Ấn Độ là “Những xứ Ấn Độ” (Les Indes). Về sau, biết rõ hơn, họ phân biệt xứ đó (Nam Dương) với Ấn Độ, nhưng vẫn cứ còn giữ ngữ căn Ấn Độ và gọi Nam Dương là Indonésien tức cứ còn vô lý hoài. Nhưng nếu chỉ có một nghĩa ấy mà thôi, thì có sai cũng chẳng sao. Phiền lắm là còn một nghĩa thứ nhì nó khiến cho cả một số học giả Âu châu cũng lầm vì cái ngữ căn Ấn Độ sai đó. Nghĩa thứ nhì, như đã nói, là Cổ Mã Lai. Người đặt danh xưng với cái nghĩa đầu, đã đặt sai như đã giải thích trên đây. Rồi nhà bác học nào đó, đã cho nó cái nghĩa thứ nhì mà giới bác học đã trót nhìn nhận, lại không mát tay chút nào hết. Đa số dân ở xứ Nam Dương thuộc chủng Mã Lai, trong đó có cả Cổ Mã Lai và Kim Mã Lai. Khi muốn tìm một danh xưng chỉ các nhóm Cổ Mã Lai thì nhà bác học khuyết danh ấy nghĩ ngay đến cái xứ mà họ gọi sai là Indonésie, và cho danh xưng Indonésien cái nghĩa là Cổ Mã Lai. Ông ấy đã từ một danh xưng sai, tạo ra một thuật ngữ chuyên môn sai. Đành rằng khó lòng mà khi đặt ra danh từ mới, một nhà khoa học không nghĩ đến cái gì, trường hợp đặt tên đâu thì họ nghĩ đến tên xứ đó. Ở đây hẳn ông đó đã nghĩ đến xứ Indonésie, ở đó có rất đông dân Cổ Mã Lai. Nhưng đó là một ý nghĩ phất phơ, không có tánh cách đồng hóa xứ và dân, và nếu ông ấy giàu tưởng tượng, ông ấy đã thấy rằng người ta sẽ ngộ nhận bởi ở Việt Nam cũng có Cổ Mã Lai, ở Cao Miên, ở Thái Lan, Miến Điện, Trung Hoa cũng thế thì ông ấy nên tránh cho người ta sự ngộ nhận có thể xảy ra, không nên dùng danh xưng sai có sẵn đó với một nghĩa thứ nhì nữa, nghĩa thứ nhứt vốn đã sai rồi. Nhưng cái nghĩa khoa học của danh xưng Indonésien đã trót có từ lâu, đã được trước bạ khắp thế giới khoa học thì ta cũng đành phải hiểu đúng như giới khoa học đã hiểu, không mong sửa lại được, phương chi những người lầm, không phải vì muốn sửa đổi, mà chỉ lầm bởi ngộ nhận thôi. Giáo sư Lê Văn Hảo lại có một định nghĩa khác, không biết vì ngộ nhận hay vì muốn dịch khác đi. Nhưng ta nên xem như là giáo sư không có ngộ nhận, chỉ dịch khác mà thôi. Trong quyển Hành trình vào dân tộc học giáo sư Lê Văn Hảo viết: “Chủng Anh Đô Nê-diêng là chủng tộc Ấn Độ Nam Dương”, ý giáo sư muốn nói đó là dân bổn xứ của quần đảo Nam Dương, hay Ấn Độ nào ở đó? Sự thật thì chẳng hề có dân Ấn Độ ở đó bao giờ, còn dân bổn xứ ở đó mà thuộc hạng cổ, thì ở đâu cũng có cả, không riêng gì ở đó. Lại còn một sự lầm lẫn rối bòng bong nữa, do Anh ngữ tạo ra. Trong Anh ngữ có hai danh xưng Indonésia và Indonésian. Indonésia là tên nước, cái nước Nam Dương ngày nay. Còn Indonésian mới là tên chủng tộc tương đương với danh xưng Indonésien của Pháp. Sử gia Phạm Văn Sơn đã lầm lẫn hai danh xưng đó, nó chỉ khác nhau có một chữ n sau cùng. Trong Việt sử tân biên, ở trang 54, sử gia Phạm Văn Sơn có viết: “Một số trí thức Việt Nam cũng thắc mắc rằng người Việt ta nay chưa chắc đã là một nhóm trong gia đình Bách Việt. Nếu chúng tôi không lầm, các vị đó đã chịu ảnh hưởng của ý kiến do cô M. Colani, H. Mansuy, Patte, Par mentier, cùng một số học giả Thụy Điển, Hòa Lan, chủ trương rằng thánh tổ cơ bản của dân tộc Việt Nam chính là thánh tổ “Indonésia”. Ý sử gia muốn nói: “Thánh tổ Indonésian” đấy vì sử gia đang nói đến chủng tộc chớ không hề nói đến xứ nào hết, mà các ông Tây bà đầm mà sử gia ám chỉ đến cũng chỉ nói đến chủng Indonésian mà không hề nói đến xứ Indonésia, vì đã bảo người Cổ Mã Lai có mặt khắp nơi chớ không riêng gì ở nước Indonésia. Đó là nói về sự lầm lẫn danh xưng chớ “bên trong còn lắm điều hay”, vì: - Indonésian – Bách Việt đó, chớ không phải là hai thứ khác nhau đâu. Đó là nội dung của quyển sách này với hàng trăm chứng tích cụ thể và khoa học. Kể cả một số nhà học giả Âu châu cũng chẳng biết Indonésian là gì, nên họ mới lập ra cái thuyết dân Hoa Nam tràn xuống lưu vực Hồng Hà và đồng hóa dân Indonésian ở đó, rồi biến thành dân Việt Nam. Thuyết này được ông Hoàng Trọng Miên (V.N.V.H.T.T.) lặp lại. Người Hoa Nam thuở xưa đích thị là Cổ Mã Lai, như chúng tôi sẽ chứng minh ở những chương sau, và khi dân ở lưu vực Hồng Hà cũng là Cổ Mã Lai thì không thể có sự kiện nhóm Mã Lai này “đồng hóa” nhóm Mã Lai khác. Hơn thế, khoa khảo tiền sử đã cho thấy rằng người Indonésien ở lưu vực Hồng Hà chỉ mới tới đó từ sau, chớ không phải là dân thổ trước nằm sẵn đó để đợi dân Hoa Nam tới để mà bị “đồng hóa”. Nhà bác học G. Cocdès nguyên Viện trưởng Viện Viễn Đông bác cổ cũng thấy nhiều nhà học gia Âu Mỹ dốt, nên ông đã nhiều lần nói khéo cho họ biết rằng Indonésien là Cổ Mã Lai, đừng có hiểu bậy bạ mà làm rối ren vấn đề. Nhưng ông G. Cocdès rất khiêm tốn, ăn nói rất kín đáo, chớ không hò hét vô lễ như chúng tôi. Sở dĩ chúng tôi có thái độ vô lễ là vì phải hò hét như vậy thiên hạ mới hết ngộ nhận chớ nói thầm như ông G. Cocdès thì các nhà bác học Âu Mỹ cứ tiếp tục ăn nói hồ đồ hỗn độn rối trí người đọc, chẳng ai hiểu gì cả. Chúng tôi sẽ bị mắng, bị ghét, nhưng chúng tôi tự hy sinh, cốt làm ổn định một tình trạng loạn xà ngầu. Nhưng ông G. Cocdès đã biết Indonésien rồi, đã chỉnh thiên hạ rồi, vẫn không biết sự thật lịch sử vì rồi ông viết: “Dân Việt Nam tràn đến, đuổi dân Anh Đô Nê-diêng lên Cao nguyên”. Ấy, họ là ai, ở đâu tràn đến hở ông G. Cocdès? Nói như sử gia Nguyễn Phương mà còn nghe được: Người Tàu tràn đến, đuổi người Indonésien đi mất, chớ nói như ông thì bí mật quá. Dân Việt Nam thuộc chủng nào mà đuổi Cổ Mã Lai đi? Ngữ căn Anh-đô này còn gây ngộ nhận ở nhiều nơi khác, rất là buồn cười. Thuở xưa ông Kít Tốp Cô Long đi tìm Ấn Độ về ngã hướng Tây. Ông gặp Châu Mỹ với dân thổ trước ở đó và ông ngỡ đã gặp dân Ấn Độ, nên ông đặt tên họ là Indien. Báo hại mấy trăm năm sau, khi Âu Châu biết Ấn Độ thật sự rồi thì phải bày ra danh xưng thứ nhì là Hindou để chỉ người Ấn Độ. Họ đã lầm, nhưng rồi đã xoay xở để không gây ngộ nhận. Indien = Thổ dân Mỹ Châu Hindou = Ấn Độ Thế mà cho đến năm nay, các sách dịch của ta về Mỹ Châu cứ tiếp tục dịch Indien là Ấn Độ, khiến học trò phải điên đầu, tự hỏi tại sao mà ở Châu Mỹ lại có dân Ấn Độ? Chưa bao giờ mà một ngữ căn lại gây ngộ nhận nhiều đến thế, sâu rộng đến thế, và sự ngộ nhận lao vào cả giới văn nghệ và bác học nữa, tức lan vào toàn khối trí thức ta. Các nhà bác học Âu Mỹ, tuy nói thế chứ không phải ông nào cũng dốt. Và họ dùng danh xưng bí hiểm không cố ý. Nó chỉ bí hiểm với người không chuyên môn, chớ các nhà bác học thế giới thì hiểu rất đúng. Tại ta không thông ngoại ngữ đó thôi. Nguồn: Bách Bộc xuất bản. Giấy phép xuất bản số 3650/BTT/PHNT ngày 2/8/1971. Nguồn: http://www.phamthihoai.org
-
Lăng Văn Vương Triệu Mạt Quốc Vinh, BBCVietnamese.com Đây là lăng của Triệu Mạt, cháu nội của Triệu Đà. Lăng tình cờ được phát hiện năm 1983 khi xe xúc đất va vào một bức tường đá trong khi đào đất để cất một trung tâm thương mãi tại khu vực nầy ở Quảng Châu. Nhân vật Triệu Đà và nước Nam Việt là những sự kiện quen thuộc trong lịch sử Việt Nam. Nguồn:http://www.bbc.co.uk/vietnamese/inpictures/story/2006/12/061227_nanyuetomb.shtml
-
Trích: Những ý kiến xung quanh bài viết của tác giả Nam Phan Re: Đi tìm căn cước thật của Việt Nam (phần 2) 2008-02-12 01:10:02 Tâm Việt For Reference only. Liên hệ người Nùng với chủng tộc Đông Nam Á Người Choang [www.gio-o.com] Triều đại nhà Tần (năm 221-206 trước Dương Lịch) đã tiến vào vùng này, đặt tên vùng là Lĩnh Nam (Ling-nan) và đã giao tranh trong một loạt các cuộc chiến với các người dân địa phương. Những chiến dịch không mấy thành công này đã là bước khởi đầu của sự bành trướng kéo dài của Trung Hoa vào trong khu vực. Nhà Tần đã cho đào kinh Li [Lí?] tại Xing-an, nối liền các hệ thống sông ngòi miền nam với miền trung.(13) Mặc dù sự kiểm soát của Trung Hoa xem ra chỉ vươn không xa hơn trung tâm có tường thành bao quanh nhằm phục vụ cho việc xây dựng con kinh Li tại Xing-an (14), vùng Lĩnh Nam kể từ đó có thể được tiếp cận từ phía bắc và phía nam, và được ràng buộc với chính Trung Hoa. Nguồn: http://www.dcvonline.net (Còn tiếp) Trong thời kỳ suy sụp của nhà Tần, khu vực trở thành nước độc lập dưới quyền của một người Hoa gốc Hán, Zhao Tuo [có kèm chữ Hán, để chỉ Triệu Đà, chú của người dịch], tự xưng là “Võ Vương của nước Nam Viêt.”(15) Zhao Tuo kiểm soát vùng Lĩnh Nam, và mở rộng nó bằng việc sáp nhập các lãnh địa của Trung Hoa nơi phía Bắc và đất đai của Việt Nam về phía Nam.(16) Vương quốc của ông ta bị tái chinh phục bởi Nhà Hán (206 Trước Dương Lịch – 220 sau Dương Lịch) trong năm 111 trước Dương Lịch. ............... Re: Đi tìm căn cước thật của Việt Nam (phần 2) 2008-02-12 10:44:52 Nhất Đăng Cám ơn tác gỉa. Tôi rất thú vị được đọc những đề tài này. Không có ý kiến vì tất cả chưa có gì là khẳng định, ngay các học gỉa cũng chỉ thấy một vài dấu vết rồi suy đoán. Tôi mong có ngày tổ tiên của mình sẽ được nói một cách khẳng định như các tổ tiên của Châu Âu hay chí ít, giống của Tàu. Tuy là chính Tàu bây giờ cũng được tìm thấy là văn hoá Tàu do nhiều chủng tộc tạo nên (trong đó có chủng Việt, vì vậy mà thầy Kim Định nhắc nhở Nho (không phải Tống Nho mà là nho nguyên thuỷ) bắt nguồn từ văn hoá Việt). Biết đâu chừng. Gỉa thuyết nào cũng có thể thành sự thật cả. Về Chủng Tộc, người thượng là VN chính gốc. Về chính trị, lại khác! 2008-02-12 11:22:12 Đào Công Khai Xét về chủng tộc, người "Việt Nam" đúng nghĩa nhất chính là đồng bào THƯỢNG hiện nay. Còn chúng ta, đa số là lai Tàu, lai từ chủng tộc đến văn hóa và chính trị! Bách Việt xuất phát từ bên Tàu, vùng lưu vực sông Dương Tử, và là những bộ lạc kém văn minh hơn Trung Quốc nên bị Trung Quốc đánh đuổi về phương Nam và đồng hóa dần. Dân Lưỡng Quảng bên Tàu đa số là nguồn gốc Bách Việt. Vài thế kỷ trước công nguyên, còn nhóm Âu Việt và Lạc Việt sống ở Bắc Việt cũng bị Triệu Đà sang chiếm rồi đồng hóa nốt và lập thành quốc gia Nam Việt. Tuy nhiên, vẫn còn một số bộ lạc của Bách Việt không sống như người kinh, họ chạy lên rừng sống du mục và thoát khỏi sự đồng hóa của Trung Quốc cho đến ngày nay. Người "VN" chúng ta gọi họ là người Thượng. Dưới thời Triệu Đà thì người VN cũng còn nhiều sắc thái riêng, nhưng đến thời Bắc Thuộc, do chính sách đồng hóa của người Hán nên người kinh đã dần dần sống theo phong tục Tàu, họ quên dần những tập quán cũ thời bộ lạc của họ. Họ sống tập trung ở đồng bằng dưới sự kiểm soát của nhà Hán. Có nhiều người lấy chồng Tàu, sau nhiều đời như thế dân VN bị đồng hóa. Trong giai đoạn Bắc Thuộc, quan lại Tàu vẫn thường lấy gái VN, di dân bên Tàu sang VN làm ăn rồi định cư luôn ở VN tạo thành một khối chính trị hỗ trợ cho sự cai trị của Tàu. Cũng nhiều di dân là những kẻ tội phạm, tù vượt ngục, ... giang hồ; họ sang VN rồi cùng với quan lại Tàu được cử sang cai trị bên VN nổi dậy chống lại triều đình Trung Quốc để tự trị ở nước Âu Lạc. Cho nên việt sử mới có những anh hùng như Lý Bôn, Triệu Quang Phục... toàn là người Tàu cả. Nhưng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là của người VN chính cống, vì người VN truyền thống theo mẫu hệ. Đến khi bị Tàu đồng hóa thì dân VN mới theo phụ hệ như người Tàu. Dưới thời Bắc Thuộc, vì có những người kinh bon chen lấy Tàu, làm việc cho Tàu, nịnh bợ quan Tàu, buôn bán làm ăn với người Tàu, theo phong tục, tập quán và nghề nghiệp của Tàu càng ngày càng nhiều; dần dân đa số người kinh là theo phong tục đó, họ học tiếng Hán để tiến thân trong xã hội, biết dùng trâu để cày ruộng, rồi họ thấy mình văn minh và giầu có hơn người thượng, chính họ lại là những người viết sử nữa, cho nên họ khinh rẻ xa lánh người thượng. Họ coi người thượng như không phải là người VN, nhưng chính họ mới là kẻ bị Tàu đồng hóa và người thượng mới chính là người VN chính gốc của giòng Bách Việt! Chính những người Tàu ở VN nhiều đời, họ cũng tưởng họ không phải gốc Tàu nữa; tập hợp những điều trên lại (cộng thêm sự độc lập về chính trị, tôi sẽ nói sau) thành người VN ngày nay! Re: Về Chủng Tộc, người thượng là VN chính gốc. Về chính trị, lại khác! 2008-02-12 11:33:15 Nhất Đăng Nói chính xác là người Mường. Trên vùng cao có nhiều dân tộc lắm. Chỉ người Mường là một chi của Việt tách ra thời Hai Bà Trưng. Vì vậy, người ta đã tìm thấy loại chữ nòng nọc ở đây. Và người ta nghĩ đó là chữ cổ Việt. Những ông thầy có tên bằng chữ Hán Việt như phần (1) thì nên nghi ngờ là đã bị Hán hoá vì trước khi Tàu đô hộ dân ta không thể có tên bằng Hán Việt như vậy. Cũng giống như tên 18 đời Hùng Vương là tên Hán Việt. Có nên nghi nghờ chút nào không ? Việt Sử ngày nay được viết bởi thế hệ sau, dưới thời nhà Lê, nhà Nguyễn 2008-02-12 12:00:42 Đào Công Khai Toàn bộ việt sử chúng ta học được viết dưới thời nhà Lê và nhà Nguyễn. Sử xưa của VN đã bị quân Minh sang chiếm và mang về Kim Lăng đốt hết rồi. Nhiều pho sử rất quý của VN như Vạn Kiếp Bí Truyền và Binh Thư Yếu Lược của Đức Trần Hưng Đạo đã bị đốt thời đó! Các sử gia nhà Hậu Lê và Nguyễn cũng phải đọc sử Tàu để viết sử ta, còn nhiều phần xưa hơn thì họ phải dựa vào dã sử, thần thoại, truyền thuyết. Cho nên mới có chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh, cái Nỏ Thần, Phù Đổng Thiên Vương... Tất cả đó là chuyện sạo, nhưng nó dựa vào phong tục tập quán nước ta. Cũng như chuyện bà Âu Cơ đẻ ra 100 trứng thì làm sao tin được; nhưng nó cũng lý giải cho ta thấy Bách Việt (100 bộ lạc VN) chính là nguồn gốc của dân tộc VN! Re: Việt Sử ngày nay được viết bởi thế hệ sau, dưới thời nhà Lê, nhà Nguyễn 2008-02-13 05:27:02 Lại Mạnh Cường Thưa qúi bạn, *** Theo nhận xét cá nhân tôi thấy bạn Đào Công Khai trình bày lại những gì chúng ta đã được học từ ngày xưa, cách nay đã nhiều thập niên qua (có thể trên dưới thế kỷ theo sự võ đoán của tôi tính là từ lúc các nhà khoa học gia phương Tây theo chân thực dân Pháp vào VN). Chính những nhà học giả phương Tây đã đặt nền móng cho những nghiên cứu khoa học về các sắc tộc ở VN. Trong thế kỷ 20 ta thấy có nhà bác học Yersin, hoc trò cưng của Louis Pasteur và R. Koch - người tìm ra vi trùng Lao, đã có những nghiên cứu vê người Thượng ở Tây Nguyên; giáo sự cợ thể học Pierre Huard đóng góp nhiều về ngành nhân chủng học (giào sư thạc sĩ YK Trần Anh vốn là đô đệ ông Huard sau này là giáo sư môn nhân chủng học ở đại học Văn Khoa Sài Gòn cho đến khi bị VC ám sát chết vào sau tết 1970). Trước đó các nhà khoa học khác, thưòng là các giáo sĩ (dòng Tên Jessuit) đóng góp rất nhiều cho các công trình khảo cứu các sắc dân như Chàm ở miền Trung hay các sắc tộc thiểu số khác ở miền Bắc. *** Trong những thập niên gần đây có nhiều tiến bộ vượt bực trong ngành khảo cổ học, dân tộc học, cũng như về di truyền học qua sự nghiên cứu rất thâm sâu về cấu trúc DNA (kể từ thời hai ông bác học người Anh Watson và Creek hồi thập niên 50 nghĩ ra mô hình hai dải xoắn ốc helice nối kết vói nhau bằng cầu nối dưa trên căn bản của hình như bốn chất thì phải). Đã có những khám phá mới về nguồn gốc con người và các sắc tộc trên thế giới. Bể học mênh mông, xem qua rồi chỉ nhớ loàng thoáng, vì không thuộc chuyên môn của mình, nên không dám làm bàn. Dù sao con người thời đại mới đã được giải phóng rất nhiều về nhũng ràng buộc bởi những cơ cấu xã hội vô lý ngày xưa, như giáo hội hay các cấm kỵ trong kinh sách v.v.... Con người tự do bay bổng, nên dám đặt các dầu hỏi trong mọi lãnh vực, mà ko sợ coi là phạm thượng hay báng bổ thần thánh ! Chính những phim khoa học giả tưởng về thời cổ đại hay thời băng tuyết (ice tide) ... ngày một nhiều thêm và thật hấp dẫn, như về thế giới các loài khủng long (Jurassic Park năm 1993 của đạo diễn Steven Spielberg chẵng hạn) làm hấp dận người xem, kích thích trí tò mò của mọi người muốn truy nguyên về thời cổ xưa khi con người chưa xuất hiện hay đang còn ăn lông ở lỗ ! *** Dân tộc nào cũng có xây dựng ít nhiều huyền thoại về mình. Chẵng đâu xa dân Nhật tự cho mình là con cháu của Thái dương thần nữ chẵng hạn. Đọc Việt sử thời thượng cổ ta thấy ngay sự vô lý về đời các vua Hùng tính ra ông vua nào cũng sống trên trăm năm !??? Còn ông Bàn Cổ là thuỷ tố của Tàu cũng sống dai hơn điả , hahahaaaa :-) ! Những huyền sự thực là những truyện truyến khẩu, dựa vào đời sống dân gian lúc đó pha trộn thêm phong tuc tập quán, nói khác đi cái văn minh văn hoá dân mình vào cho đậm đà hương vị thần bí linh thiêng ! Người VN khác với người Tàu về Chính Trị, không nặng về chủng tộc 2008-02-12 11:48:11 Đào Công Khai Không phải chỉ có mình Bách Việt bị đồng hóa bởi người Tàu, vô số các chủng tộc thiểu số khác ở Trung Quốc và chung quanh đã bị Tàu đồng hóa đứt bóng luôn. Họ bị đồng hóa không còn tông tích gì nữa; trái lại VN chỉ bị Tàu đồng hóa về chủng tộc thôi, còn về chính trị thì VN vẫn còn giữ được độc lập cho đến ngày ngay. Nói về chính trị của VN thì nó hoàn toàn khác biệt với vấn đề chủng tộc của VN. Chủng tộc VN có thể bị lai Tàu, nhưng chính trị có lúc bị lai Tàu, rồi có lúc VN hoàn toàn độc lập và điều đó còn tiếp diễn cho đến ngày nay. Cho nên khi nói tới người VN trên phương diện một nước độc lập thì phải hiểu nghĩa nó nó bao gồm đủ mọi sắc tộc thiểu số trong đó. Nói chung là Bách Việt, gồm nhiều bộ tộc khác nhau họp lại. Gồm người Thượng, người Tàu và tất cả mọi nhóm di dân từ Mã Lai, Ấn Độ sang. Người Mỹ họ cũng đâu phải chủng tộc là Mỹ. Chủng tộc Mỹ đã bị chính người Mỹ giết hết, chỉ còn vài bộ lạc mọi da đỏ ngày nay. Người Mỹ cũng toàn là người Anh, Pháp, Tây Ban Nha, ... di cư sang đây đánh nhau rồi lập thành nước Mỹ. Họ khác là vì họ mới đánh giết người mọi da đỏ xong, cách đây nửa thế kỷ. Còn VN thì người Tàu họ đã giết người VN dài dài từ hơn 20 thế kỷ qua. Cho đến bây giờ thì người Mỹ cũng như người VN, đều lấy dân mọi da đỏ và dân Bách Việt làm nền tảng cho dân tộc mỗi nơi. Nhưng đa số nguồn gốc dân tộc thì là người Âu Châu (ở Mỹ) và người Tàu (ở VN). Bởi thế nên tất cả mọi thứ chúng ta đều giống Tàu, chỉ có ngôn ngữ mơi được thằng Tây nó xây dựng cho bộ chữ La Tinh để viết, nếu không thì VN cũng vẫn xài chữ hán trong chính quyền mà thôi. Nhưng khác biệt giữa người VN và Tàu đó là ý thức độc lập. Ý thức độc lập về chính trị, nên dân Bách Việt và những người Tàu ở vùng Lưỡng Quảng và Bắc Việt đã hợp tác với nhau thành lập nước Nam Việt để chống lại sự bành trướng và đồng hóa của Trung Quốc. Vì thế Triệu Đà dù là người Tàu, nhưng VN đã đưa ông ta vào Việt Sử, coi ông ta là anh hùng lớn của dân tộc VN. Cái ý nghĩa dân tộc VN đó là ở nơi chí quật cường, ý thức độc lập không chịu thần phục và đồng hóa bởi Trung Quốc! Ý thức độc lập và ý thức dân tộc của người VN (chưa hẳn là khác biệt về chủng tộc với người Tàu) là ở chỗ họ muốn lập quốc, họ muốn có một quốc gia độc lập chống lại sự bành trướng và đồng hóa của Trung Quốc. Sự khác biệt về chủng tộc được Việt Sử chú trọng để nhằm nói lên những khác biệt về chí quật cường và khát vọng độc lập của "người VN". Singapore và Đài Loan cũng tương tự như vậy, Đài Loan thì đa số họ là người Tàu; nhưng Singapore thì không hẳn như vậy, họ gồm người Mã Lai, Thái Lan và số lớn hơn là người Tàu nhưng họ (đa số gốc là tị nạn CS Tàu) muốn họ là một quốc gia độc lập, không bị ảnh hưởng chính trị bởi Trung Quốc. Re: Người VN khác với người Tàu về Chính Trị, không nặng về chủng tộc 2008-02-12 21:30:58 Võ Bình Thưa bạn Đào Công Khai, Tôi nghĩ khác biệt chính giữa người VN và Tàu (Hán) là ngôn ngữ, phong tục và tập quán. Ý thức độc lập không hẳn chỉ ngưới VN mới có. Không cần biết chúng ta là Việt chính gốc hay không chính gốc (lai Tàu, Tây, Miên, Chàm, etc.), còn người nói tiếng Việt và gìn giử phong tục và tập quán là nước Việt Nam còn cơ hội để tồn tại. Hơn 2000 năm lịch sử cùa chúng ta đã chứng minh điều đó. Những người cùng chung một tiêng nói, phong tục và tập quán có khuynh hướng sống gần nhau và lập thành một nhóm riêng biệt, hãy nhìn xem những cộng đồng người Việt ở Little Saigon (Mỹ), Cabramatta (Úc), biển hồ Tonlesap (Miên), ... Re: Người VN khác với người Tàu về Chính Trị, không nặng về chủng tộc 2008-02-23 04:29:55 NGỌC NỮ "Không cần biết chúng ta là Việt chính gốc hay không chính gốc (lai Tàu, Tây, Miên, Chàm, etc.), còn người nói tiếng Việt và gìn giử phong tục và tập quán là nước Việt Nam còn cơ hội để tồn tại" Võ Bình . Tui rất đồng ý với bạn Võ Bình, "Còn người nói tiếng Việt và giữ dìn phong tục và tập quán là Nước Việt Nam còn cơ hội Để Tồn Tại." Tui nghĩ là đưa ra vụ (Nhân Chủng Học) chỉ để đồng hóa chúng ta với Tàu, NO ! Tui không chịu ! Là người Việt Nam, từ Tổ Tiên chúng ta hàng ngàn năm xây dựng nên, bây giờ gần như cả thế giới lai giống pha trộn Âu Á, nhưng nguồn gốc chánh của chúng ta, thì chúng ta giữ. Không chịu nghe những lời nói nào đồng hoá người VN với một chủng tộc nào khác cả! Nếu những người đảng viên cộng sản họ muốn như vậy, họ chỉ có thể đồng hóa tự thân họ và những người liên hệ họ hàng của họ. Nhưng không được phép ép buộc đồng hóa những người khác ! Re: Đi tìm căn cước thật của Việt Nam (phần 2) 2008-02-12 14:15:59 DSaiGon Nói về Căn Cước VN mà không nói đến dòng VN gốc Chiêm Thành (Miền Trung) và Khmer (Miền Nam) thì qủa là thiếu sót và không đấy đủ. Re: Đi tìm căn cước thật của Việt Nam (phần 2) 2008-02-12 20:35:21 Nhất Đăng Nếu có quyển "Nhìn lại sử Việt" của Lê Mạnh Hùng thì sẽ thấy ông viết : Lạc Việt và Chiêm Thành cùng chủng Lạc. Thú thật đây là điều mới lạ đối với tôi. Đến nay tất cả các luận cứ đều chưa có gì chắc chắn vậy thì cứ thâu nhận, coi như cho thêm mình một ít kiến thức vậy. Nguồn: http://www.dcvonline.net (Còn tiếp)