Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

hoangnt

Hội viên
  • Số nội dung

    1909
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    6

Everything posted by hoangnt

  1. Trước đây, Hoangnt cũng thống nhất với bác Minh Xuân: Huyền Thiên chính là Lão Tử, thời Đường được phong làm Huyền Nguyên Hoàng Đế, Thái Thượng Lão Quân. Lão Tử cũng là Huyền Thiên, người đã giúp An Dương Vương diệt trừ yêu quái xây thành Cổ Loa. Theo ghi chép về Huyền Thiên thì vị này giúp nhà Chu chữa bệnh dịch hạch. Thần tích Thổ Hà (nơi thờ Lão Tử làm thành hoàng) cũng ghi Lão Tử đã giúp An Dương Vương chữa bệnh dịch trong vùng. Tuy nhiên, sau khi phân tích toàn bộ dữ liệu văn hoá Việt, bao hàm phong thuỷ toàn khu vực Miền Bắc nước ta, thì có kết luận khác: Huyền Thiên Trấn Vũ với biểu tượng Rùa Vàng. Rùa vàng biểu tượng cho Lạc Long Quân. Thái Thượng Lão Quân cũng thường gọi là Lão Tử nhưng trong Tam Thanh lại ngồi bên phải của Nguyên Thuỷ Thiên Tôn - do vậy, không phải là Lão Tử mà là Nguyên Minh Nhân, em vua Đế Minh trong gia phả Hùng Vương. Đặc biệt, con Rùa cũng là biểu tượng Lão Tử, cùng với Hạc biểu tượng Tiên Dung trong Đạo giáo. Hai người biểu tượng cho tình yêu - Ngày hội tình yêu. Lão Tử là Chử Đồng Tử. Sự chồng lấn biểu tượng rất khó xử lý, vÌ con Rùa là biểu tượng chữ viết hay biểu tượng luân chuyển tri thức, Đạo giáo... vì vậy, mới có câu trong Kinh Dịch: "MỆT NHỌC Ở CUNG KHẢM"
  2. Long Hoa Hội và truyền thuyết Hội bàn đào Theo truyền thuyết dân gian, trong vườn của Tây Vương Mẫu (Diêu Trì Kim Mẫu) ở cung Diêu Trì, núi Côn Lôn, trồng nhiều đào tiên, 3.000 năm nữa mới kết quả, nếu ai ăn được một quả thì trường sinh bất tử. Khi mùa đào chín rộ, Vương Mẫu sẽ mời quần Tiên đến cung của bà để dự Hội bàn đào hay còn gọi là Hội Yến Diêu Trì, vì đào làm tăng tuổi thọ như vậy nên người ta gọi quả đào là “Thọ đào”. Đạo giáo, lấy ngày 3 tháng Ba âm lịch hàng năm là ngày sinh nhật của Tây Vương Mẫu, và cũng cho rằng đó là ngày bà mở Hội Bàn Đào, cũng theo Đạo giáo bất cứ ai muốn đăng thiên đắc đạo, khi lên trời đều phải vào bái kiến Mộc Công (Đông Vương Công) tức Ngọc Hoàng Thương Đế và Tây Vương Mẫu rồi mới có thể thăng lên Cửu Thiên, vào Tam Thanh, tham lễ Thái Thượng Lão Quân mà gặp Nguyên Thủy Thiên Tôn. Hội quần Tiên do Tây Vương Mẫu tổ chức Trong truyện Tây Du Ký đã mô tả Hội bàn đào rất là hoành tráng, lệ thường thì mời Phật Tổ bên Tây Phương, Quan Âm bên Nam Hải, Sùng Ân bên Đông hoa, Huỳnh Linh bên Bắc địa, Huỳnh Giác ở Trung ương và Tam Thanh, Tứ Đế, Thái Ất, Bát Tiên, Địa Tạng Bồ Tát, Thập Điện Diêm Vương, Tứ Hải Long Vương, và các vị thần tiên tinh tú, đồng hội tề rước Ngọc Hoàng Thượng Đế qua phó Bàn Đào... đã bị con khỉ Tôn Ngộ Không phá đám, và một trận quyết chiến kinh thiên động địa giữa quân binh nhà trời đã xảy ra. Quyển Thất Chân Nhân Qủa của đạo Cao Đài cũng ghi rằng Hội Yến Bàn Đào có tên gọi Quần Tiên Đại Hội, được tổ chức vào Tết Trung Thu vào lúc giờ Tý đêm 14 rạng rằm tháng Tám hàng năm với sự chủ trì của Diêu Trì Kim Mẫu. Trong dòng tranh dân gian Hàng Trống có bức tranh Thất Đồng hái đào, thể hiện bảy đứa trẻ nhưng có khuôn mặt rất già đang cùng nhau hái đào tiên: Thất Đồng hái đào Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam Chúng ta biết rằng số 7 là độ số phương Nam, tương ứng với 7 đứa trẻ đang hái đào tiên tuy nhiên, số 7 cũng chính là 7 luân xa trên cột sống được mô tả trong các bí pháp tu luyện và nó là phương pháp thực hành “đời đạo song tu” không thể thiếu của Đạo giáo, Phật giáo, Bà La Môn giáo. Gốc cây đào mang hình ảnh con nai - biểu tượng của Ngọc Hoàng Thượng Đế - Trương Quả (Lão), là một trong Bát Tiên hoàn toàn phù hợp nội dung câu truyện Hội Bàn Đào, chính thất của Ngài là Diêu Trì Kim Mẫu làm chủ trì. Bức tranh khẳng định nước Nam - Văn Lang mới là cội nguồn “đào tiên”. Theo cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ trang 142, tập I Quả Đào là một ngôi mộ song táng Đào Kỳ và Phương Dung bên cạnh khu đất hình dáng tiên dâng đào thuộc đất Nhân Mỹ (người đẹp). Gò quả đào ất gọi là trái đào tiên, còn cái bãi táng những người đẹp cung đình đời xưa gọi là Tiên Đào. Vùng đất hình quả đào này to bằng hai sào ruộng, người ta thường nói, ai ăn đào ấy sẽ trường sinh bất diệt. Các địa danh trong đó đều vẽ lên bức tranh này. Thực tế vùng đất này xưa gọi là Nhật Lệ, Nhật Lãm, cả một vùng trồng cây đào bích sau chuyển ra Nhật Tân, do đất này là đất địa tiên và trồng hoa đào sớm nhất trong lịch sử cho nên gọi là Đào Nguyên. Địa danh này đã bị mất theo thời gian, do bảo toàn bí mật quốc gia. Cũng theo truyền thuyết ghi trong sách U minh lục vào thời Hán Minh Đế năm Vĩnh Bình thứ 5, Lưu Thần và Nguyễn Triệu cùng vào núi hái thuốc gặp một con suối lớn, hai bên bờ suối có hai người con gái tư chất tươi đẹp - hai nàng tiên - đã lưu hai người lại trong nửa năm. Cả hai đều nhớ quê hương bèn từ biệt các tiên nữ ra về, đến nơi, nhà cửa không còn thấy đâu mà anh em, bà con cũng không còn. Hỏi thì không ai nhận ra được nữa vì họ đã có con cháu đến 7 đời: Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng, Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên... (trích bài hát Thiên thai, sáng tác nhạc sĩ Văn cao). Sự hiện diện để ban đào tiên của Đức Diêu Trì Kim Mẫu và ban ngự tửu của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế trong Hội Bàn Đào không chỉ nói lên lý Đạo nhiệm mầu trên căn bản nguyên lý Âm Dương, mà còn thể hiện rõ nét truyền thống văn hóa dân tộc hơn 5.000 năm lịch sử với tín ngưỡng tôn thờ Mẫu - thể hiện rõ rệt nhất trên các trống đồng Đông Sơn (VII-II tr.CN). Ngày Tết Trung Thu là một trong những ngày tết tiêu biểu cho nét văn hóa truyền thống độc đáo của gia đình Việt với vai trò không thể thiếu của người mẹ, có mẹ là có gia đình, có tất cả, đó là đạo lý của dân tộc. Cùng với bức tranh Thất Đồng hái đào, búc tranh Vạn đại tử tôn đã tạo thành bộ tranh nhị bình tuyệt đẹp: Vạn đại tử tôn Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam Trong giá trị lớn lao của văn hóa gia đình Việt, Tết Trung Thu còn phát huy lên đến tầm vóc nhân loại vì Đức Mẹ là mẹ của tất cả vạn linh với tấm lòng Từ Mẫu với tình thương vô cùng, trưởng dưỡng muôn loài không phút giây nào ngừng nghỉ được thể hiện trên nội dung của bức tranh Vạn đại tử tôn, qua hình ảnh bốn bé gái với giàn bầu mang những ý nghĩa cao cả như vậy: Lòng Từ Mẫu vô cùng vô tận, Đức Từ Tôn khó nhận khôn lường. Không lĩnh vực không biên cương, Bao trùm vũ trụ tình thương vạn loài. Và Hội Yến Bàn Đào - theo Đạo Cao Đài là mở rộng cho tất cả con cái của ngài trên thế gian này, không phân biệt, chủng tộc, màu da, sắc tộc, cùng hướng đến sứ mạng chung hòa, xây dựng một thế giới đại đồng trong tình huynh đệ. Đức Mẫu Âu Cơ - Quan Âm Bồ Tát có thơ rằng: Nam phương mở trường thi Đại Đạo, Thánh ân đề hảo hảo Nam Bang. Việt dân tỉnh giấc mộng trường, Nữ hùng sánh bước trên đường quang vinh. ... Mẫu từ trước ban ân độ thế, Mở khoa trường cốt để đỡ nâng. Thánh Lâm trổ mặt hồng quần, Đường trần cứu kiếp Thiên ân gội nhuần. Mỗi năm, đến ngày rằm tháng Tám, cùng chung vui với Tết Trung Thu ở mọi nơi thì toàn thể tín đồ Cao Đài tụ họp về dưới mái nhà chung Đại Đạo, nhất là nữ phái, thành phần được giao phó trọng trách tổ chức lễ vía Đức Mẹ thật trang trọng và thành kính, Ai cũng muốn dâng lên Đức Mẹ và Cửu vị Tiên Nương những đóa hoa đẹp nhất những quả tươi ngon nhất. Nhưng Đức Mẹ đã dạy: "Mẹ nhận món lễ phẩm trang trọng nhất mà các con đang hiến dâng, đó là tâm đạo chí thành chí kính phụng Thiên sự dân của các con...." Và ai cũng mong ước nhận được từ Đức Mẹ giòng thiên điển nhiệm màu có khả năng hóa giải mọi khổ đau của kiếp người nơi miền trần thế, mà trong niềm tin thiêng liêng tuyệt đối của mỗi người, ân điển ấy đã được ban rải trong từng trái cây, chiếc bánh, cả rượu, trà, nước cúng trong đêm Hội Yến... Hoa chúc mừng và Hình nhân mô phỏng lễ rước Đức Phật Mẫu Nguồn gốc và ý nghĩa đại hội Lễ Yến Diêu Trì Cung, Đạo Cao Đài, Tây Ninh Trong nền văn hóa Việt, có ngày lễ vía Đức Chí Tôn - Ngọc Hoàng Thượng Đế vào ngày mùng 9 tháng Giêng, cũng là ngày lễ vía ông Trời vào mùa xuân, kết hợp với ngày rằm tháng Tám là ngày vía Đức Mẹ tạo nên những ngày lễ truyền thống không phải là ngẫu nhiên, theo Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, ngày 15 tháng Tám âm lịch chính là ngày sinh nhật của vua Đế Minh - Phật A Di Đà. Chúng ta hãy xem lại Bài thuyết đạo của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc về “Hội Yến Diêu Trì”. Cửu Long Đài, chiều ngày 15 tháng Tám Nhâm Thìn (3/10/1952). Hôm nay là ngày chúng ta hội hiệp cùng Đức Diêu Trì Kim Mẫu. Bần đạo nhớ lại lúc ban sơ, Đức Chí Tôn mới đến mở Đạo, Ngài làm một Bí pháp từ thử đến giờ chưa ai tưởng đến. Ngài ra lệnh lập một cái tiệc rất trọng hậu, chay chớ không phải mặn như ngoài đời, lấy trong số 13 người chúng ta, kể: Cửu vị Nữ Phật và Đức Phật Mẫu, với ba người sống, tức nhiên 3 người hữu hình và 10 người vô hình, dự tiệc ấy. Ba người hữu hình là Đức Cao Thượng Phẩm, Đức Cao Thượng Sanh và Bần đạo. Tưởng không có cái ngộ nghĩnh nào hơn là ngồi ăn uống với những vị khuất mặt. Buổi nọ, Bần đạo chưa có đức tin, thấy một cái đó là việc nghịch nhất, nhưng khi vào ngồi tiệc rồi, không biết cái tinh thần nó thay đổi thế nào, chẳng khác gì như chúng ta dự một tiệc trọng hậu, có mặt đủ các bạn ngồi chung quanh chúng ta đó vậy. Đức Chí Tôn thi hành Bí pháp ấy, buổi nọ chúng tôi không hiểu gì hết, Bần đạo cũng tìm tòi kiếm nghĩa lý. Có lẽ những người đoạt được cơ siêu thoát, tức nhiên tầm được cái huyền bí giải thoát cho mình, thì có đặc ân thiêng liêng ban cho Bàn Đào Hội Yến, tức nhiên là Hội Yến Diêu Trì. Cái nghĩa lý sâu xa ấy, chúng ta thử để dấu hỏi, tại sao Đức Chí Tôn đã đến bảo chúng ta Hội Yến Diêu Trì. Ngài muốn gì đó? Muốn cho toàn cả con cái của Ngài, chứ không phải với ba người đó mà thôi. Đoạt cơ siêu thoát, tức nhiên ta nói thường ngữ của chúng ta là muốn cho toàn thể con cái của Ngài đoạt đặng cơ siêu thoát đó vậy. Vì cớ cho nên, hôm rồi Bần đạo có nói một câu rất chính đáng: "Xưa kia, con người đi tìm Đạo, còn hôm nay trái lại, Đạo đến tìm người." Ôi! Nếu ta tưởng cái ân hậu vô biên của Đức Chí Tôn đã thi thố, thì chúng ta hạnh phúc không thế gì có ngôn ngữ nào mà tả cho đặng. Thật ra hôm nay chúng ta hội hiệp cùng nhau đây, nó sẽ trở thành một tương lai, cũng như bên Thánh giáo GiaTô, tất nhiên là Công giáo, họ có phương thông công cùng Đức Chí Tôn đó vậy. Hạnh phúc thay cho những người đặng Hội Yến Diêu Trì hôm nay, tức nhiên đặng hồng phúc hội hiệp cùng Bà MẸ thiêng liêng của chúng ta, lẽ dĩ nhiên được mang sứ mạng thiêng liêng nơi mình, cả toàn con cái của Đức Chí Tôn cũng thế, Nam cũng thế, Nữ cũng thế, kẻ Đông người Tây, kẻ Nam người Bắc, đem cả cơ bí mật thiêng liêng của Đức Chí Tôn là lòng yêu ái của Ngài mà rải khắp cho toàn thể con cái của Ngài đều hưởng. Mỗi một năm, chúng ta được hưởng cái hạnh phúc hội hiệp cùng nhau, chính mình Bần đạo mỗi khi Hội Yến Diêu Trì được sum hiệp cùng mấy em Nam Nữ đông đảo chừng nào thì Bần đạo càng thêm vui mừng hân hạnh chừng ấy. Bần đạo có nhớ một tích xưa: Một bà mẹ có nhiều con, rồi họ xúm lại với nhau thay phiên đặng nuôi mẹ. Hễ khi anh cả nuôi rồi thì cân được bao nhiêu, tới phiên em thứ nuôi, rồi cân phải hơn hay là như số đó mới đặng. Nhưng trong đám con ấy, rủi thay có một đứa nghèo mà đứa nghèo ấy lại được bà mẹ yêu ái binh vực hơn, phần nghèo khó có phương chi nuôi mẹ cho đầy đủ được, nên hễ tới phiên người con nghèo ấy thì bà mẹ ốm o gầy mòn, vì ăn không đủ thì thế nào cũng ốm. Bây giờ đến ngày cân, thì bà mẹ phải làm sao? Bà lận lưng thêm mấy cục chì cho nặng thêm, không thì tội nghiệp cho đứa con nghèo ấy. Cho nên lời tục họ gọi là: "Bà mẹ thương con phải bù chì." là lẽ ấy. Bà MẸ thiêng liêng của chúng ta cũng vậy. Bần đạo tưởng nơi cõi Thiêng liêng Hằng sống kia, không ai bảo vệ binh vực cả linh hồn chúng ta hơn Bà MẸ thiêng liêng ấy. Mỗi phen chúng ta hội hiệp cùng Người mỗi năm một lần, thử thí nghiệm coi, cả con cái của Ngài khi về thì sẽ đặng an ủi và có cái vui hứng làm sao đâu! Không biết mấy em Nam Nữ có cái cảnh tượng đó hay chăng? Chớ Bần đạo mỗi phen được Hội Yến Diêu Trì, làm như Bần đạo uống một chén thuốc bổ. Tinh thần Bần đạo vui hứng, mạnh mẽ tráng kiện làm sao đâu! Có phải là cái huyền diệu ấy duy để cho cả con cái, Chức sắc Thiên phong, những người lãnh sứ mạng cao trọng trong Đạo hay cả toàn thể con cái Đức Chí Tôn đều hưởng được? Bần đạo dám quả quyết nơi Đền Thờ của Đại Từ Mẫu của chúng ta, Bà không kể con cái sang trọng của Bà đâu, trái ngược lại, Bà lại thương yêu bênh vực những đứa con nào nó thật thà hèn yếu hơn hết. Ấy vậy, Qua nói rằng: Trong cả mấy em đây, nếu có đứa em nào thiếu thốn cả tinh thần và vật chất, thiệt thòi nghèo khổ, tật nguyền, Qua dám chắc Bà MẸ thiêng liêng của chúng ta sẽ vui ở với những kẻ ấy lắm vậy. Qua chỉ cho mấy em một cái Bí pháp là khi nào mấy em quá thống khổ, quá đau đớn tâm hồn, mấy em đừng vội sầu thảm, các em quì xuống giữa không trung, các em nguyện với Bà MẸ thiêng liêng ấy một lời cầu nguyện. Bần đạo quả quyết rằng: Bà chẳng hề khi nào từ chối cùng mấy em. Bần đạo đã thử nghiệm rồi. Cả toàn con cái của Đức Phật Mẫu thí nghiệm như Bần đạo thử coi. Trong cảnh đồ lưu nơi hải ngoại, cái chết dựa bên lưng. Qua thấy cả hiện tượng Bà ở bên ta đó vậy. Cái hiển hách anh linh của Bà, Qua đã quả quyết rằng, từ thử đến giờ chưa có trong cửa Đạo nào hưởng được. Mấy em thí nghiệm coi rồi để tâm cả thảy. Nếu muốn cho Bà thương yêu, mình có cái Bí pháp hay ho hơn hết là mấy em thương yêu những kẻ tật nguyền, đau khổ, ngu hèn, khốn mạt. Mấy em thử nghiệm lấy cái huyền linh của Bà. Bần đạo cầu chúc ân huệ thiêng liêng của Bà chan rưới bủa khắp toàn thể con cái của Đức Chí Tôn, Nam cũng vậy, Nữ cũng vậy, nhứt là mấy đứa thơ sinh, mấy đứa trẻ nhỏ côi cút. Tóm lại, Bí pháp của Hội Yến Diêu Trì Cung là Đức Chí Tôn đem cơ quan giải thoát xuống thế đặt trong cửa Đạo Cao Đài để toàn thể các tín đồ được hưởng. Theo cổ luật thì, người tu một khi đắc đạo, chân hồn được lên Diêu Trì Cung dự Hội Yến Bàn Đào, được Đức Phật Mẫu ban cho ăn trái đào Tiên và uống Tiên tửu. Ngày nay, thời TKPĐ, Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương vâng lịnh Đức Chí Tôn giáng trần, mở tiệc Hội Yến Diêu Trì Cung tại Đền thờ Phật Mẫu để toàn cả con cái của Đức Chí Tôn và Phật Mẫu về hội hiệp cùng Đức Mẹ thiêng liêng, dâng hoa quả, rượu, trà lên Đức Mẹ, và Đức Mẹ sẽ ban tặng trở lại cho con cái của Ngài để con cái gội hưởng hồng ân của Phật Mẫu, làm cho tâm Đạo phấn chấn thêm lên, làm động cơ thúc đẩy con cái mau tiến hóa trên bước đường tu niệm, sớm trở về hội hiệp cùng Phật Mẫu. Mà một khi được hội hiệp cùng Đức Phật Mẫu thì tức nhiên là đắc đạo, giải thoát khỏi luân hồi. Hội Yến Diêu Trì Cung tượng trưng Bí pháp đắc đạo là vậy. Trong dòng tranh dân gian Đông Hồ còn có bộ tranh nhị bình nhẹ nhàng, thoát tục Trời xanh trong tiếng sáo và Nhất tượng Phúc Lộc Điền cũng mang những ý nghĩa bổ sung thêm cho nội dung bức tranh Thất Đồng hái đào, được trình bày hết sức mỹ thuật: Trời xanh trong tiếng sáo và Nhất tượng Phúc Lộc Điền Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Bức tranh miêu tả hình ảnh một chú bé ngồi đè lên những bông sen trên lưng trâu, đang say sưa thả hồn theo tiếng sáo. Con trâu (không hề có sự ràng buộc của dây vàm) ngóc đầu lên như muốn đồng cảm với con người. Trên đầu chú bé là một chiếc lá sen được cường điệu lớn hơn bình thường (so với tương quan tỷ lệ thực) nhưng vẫn rất hài hòa cân đối. Trong bức tranh này, chúng ta cũng có thể tìm thấy những ý tưởng trí tuệ và nhân bản. Sự an bình của cuộc sống toát ra từ hình tượng của bức tranh, chính là tính nhân bản của bức tranh này. Bạn đọc có thể tìm thấy trong bức tranh này một nội dung mang tính minh triết của Phật giáo: tính phá chấp (ngồi đè lên bông sen), sự chế ngự bản ngã (cưỡi trâu) và sự hoà nhập chân tính của con người với thiên nhiên. Hình tượng chiếc lá sen che trên đầu chú bé giống hình tượng của cây nêu: biểu tượng của Thái cực. Đó là sự vươn lên dẫn tới hòa nhập hoàn toàn với thiên nhiên; tức là đạt tới bản thể của Tạo hóa. Lời chú thích lưu truyền trong dân gian của bức tranh minh hoạ cho ý tưởng này: Thiên thanh lộng suy địch tức là Trời xanh trong tiếng sáo. Khi tâm hồn con người thanh thản, vô tư như trẻ nhỏ buông trong tiếng sáo thì bao trùm cả trời xanh, hòa nhập trong vũ trụ. Hình tượng thoát tục của bức tranh này gần gũi với nhân sinh quan Đạo giáo. Nhưng tính minh triết Phật học cũng chính là tính minh triết trong xã hội Lạc Việt cổ. Chiếc nón vốn đội trên đầu chú bé mục đồng lại bay bổng lên cao như sự vươn lên của trí tuệ. Hàng chữ trên tranh Nhất tượng phúc lộc điền, không thể hiểu theo nghĩa là “Một con trâu làm nên sự phú túc nơi đồng ruộng”. Bởi vì chữ “tượng” khó có thể dịch là con trâu. Hiểu theo một cách khác thì bức tranh này là “Một hình tượng cho niềm hạnh phúc ở trần gian”. Chính hình tượng chiếc nón bay bổng trên không gian là sự thể hiện nội dung mà bức tranh này muốn nói tới: Một trong những hạnh phúc của trần gian chính là sự chế ngự được bản ngã và vươn tới đỉnh cao của trí tuệ. (Trích từ Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh). Bức tranh Nhất tượng Phúc Lộc Điền mang mật ngữ về hình ảnh cái nón che đầu, chính là luân xa số 7, khi đả thông được luân xa này thì việc chế ngự bản ngã dễ dàng, nhanh chóng đi vào trạng thái hợp nhất được vũ trụ khi thiền định, đồng thời theo vũ trụ quan Phật giáo thì cuộc sống của cá nhân sẽ thay đổi từ cõi dục giới sang cõi sắc giới, cho nên chỉ có sự vươn lên về mặt trí tuệ và từ bi mới có thể giải thoát những vướng mắc được hình thành từ những cội nguồn khổ đau khi còn trong cõi dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Bức tranh Trời xanh trong tiếng sáo chính mật ngữ nói về việc điều khí trong các bí pháp qua hình ảnh đứa bé đang thổi sáo - sáo là một dụng cụ âm nhạc đặc trưng Đạo giáo. Cả hai bức tranh mang nội dung về việc điều trị tâm khí - mới chính là phương pháp chữa trị căn bệnh tham, sân, si… của con người. Chúng ta cũng biết Tam Đa là ba ông Phúc, Lộc, Thọ và bức tranh Nhất tượng Phúc Lộc Điền thì Điền ứng với ông Thọ trong hình tượng Bố Đại Hòa Thượng - Lạc Long Quân - Phật Vương Di Lạc - Mặt Trăng và đứa bé thổi sáo trên lưng trâu trong bức tranh Trời xanh trong tiếng sáo là ông Lộc - Kinh Dương Vương - Ngọc Hoàng Thượng Đế - Mặt Trời. Hình tượng đứa bé thổi sáo này được ẩn dụ từ hóa vị thần thứ 7 của thần mặt trời Vishnu là thần Krishna, với ống sáo thổi lên những thanh âm diệu kỳ của vũ trụ - người đã chỉ dạy cho chiến sĩ Arjuna phương pháp đại toàn thiện của Yoga được trình bày trong cuốn Chí Tôn Ca (Bhagavad Gita) của đạo Bà La Môn, Ấn Độ. Bố Đại Hòa Thượng Tranh cổ các nước Đông Á Lưng trần chân đất chợ người, Cát lầm bụi vấn ta cười say sưa. Thần tiên bí quyết cũng thừa, Cây khô thoắt đã đong đưa nhụy vàng. Hòa thượng Quách Am đề Tụng bức tranh thứ 10 trong Thập mục ngưu đồ. Chúng ta cũng chú ý, vùng Vân Nam thời vua An Dương Vương lấy tên là Điền Việt, cũng mang hàm ý chính là một bộ thuộc nước Văn Lang và là nơi mà vua An Dương Vương làm bộ chủ, chúng tôi đã chứng minh ở các chương trước. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tiên tri chính xác về việc “phá Điền” trở thành chữ Vạn thuận - biểu tượng Phật giáo hay chúng ta hiểu rằng Thiên Tử Lạc Long Quân chính là Phật Vương Di Lạc phục sinh và các anh hùng, dũng sĩ, quân sư trong vị thế của các vị thần thánh trong “cõi vô hình” hộ giá đông như lá rừng, với sức mạnh bất khả chiến bại, ủng độ tuyệt đối Chính pháp Long Hoa Hội: Phá Điền Thiên Tử giáng trần, Dũng sĩ nhược hải mưu thần như lâm. Và: Thái cực hoàn nguyên chính pháp khai, Bình an thiên hạ đẹp trong ngoài. Phá tan mây tuyết, muôn phương sáng, Điền xuất hồng quang trổ Thánh tài. (Trích Thái bình phá điền - nguyên tác sứ giả Thái Bình). Chúng ta tiếp tục xem xét nội dung đôi câu đối trong bức tranh dân gian Đông Hồ Hương Chủ, đôi câu đôi này cũng được trang trí cách điệu một bên là con rồng, một bên là con phượng trên nền giấy điểm xuyết hoa, lá, chim muông được các thầy đồ múa bút, bày bán trong những ngày tết “Tứ thời xuân tại thủ - Ngũ phúc thọ vi tiên”: Hương Chủ Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam “Tứ thời xuân tại thủ” mang ý nghĩa năm mới mở đầu bằng mùa vuân, trong vòng quay vĩnh cửu của đất trời xuân - hạ - thu - đông. Ngày đầu xuân, dân gian thường có tục “hái Lộc” vào buổi sáng sớm khi sương chưa tan, thời điểm xuất hành và hướng xuất hành được chọn trước theo “mệnh” của mỗi người nhằm mong ước một năm mới có nhiều điều may, việc tốt tới với gia đình, đồng thời không thể thiếu việc đi lễ Phật đầu xuân, mong đất nước thanh bình. “Ngũ Phúc Thọ vi tiên” thì thọ hay sức khỏe là cái quý nhất, như vậy trong đôi câu đối đã bao hàm Tam Đa Phúc Lộc Thọ. Trong tết xưa, mỗi gia đình người Việt không chỉ có mai đào, mà cũng không bao giờ thiếu những chậu hoa vạn thọ và với câu chúc nhau muôn thuở “Vạn Thọ vô cương”, hoa vạn thọ chính là biểu tượng của ông Thọ - Phật Vương Di Lạc. Hoa vạn thọ đẹp, có hương thơm rất lạ, hình dáng no tròn nhiều cánh với búp hoa vươn cao thể hiện cấu trúc hợp lý nhất của các thể vật chất trong vũ trụ ẩn ý về thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Mặc dù hoa sen đã là biểu tượng của tôn giáo cổ đại Văn Lang, sau phổ biến thành nhiều chi cành tôn giáo khác nhau trên toàn thế giới và hoa sen cũng trở thành biểu tượng của nhiều quốc gia, do vậy “Hoa Vạn Thọ” cũng có thể được xét như là một biểu tượng quốc hoa chăng? Vì rõ ràng, tên hoa không phải là ngẫu nhiên: Vạn là biểu tượng Phật giáo, Thọ là vĩnh cửu, trường tồn. Cùng với hoa vạn thọ, thì hoa cúc cũng là một loài hoa không thể thiếu trong những ngày tết cổ truyền, dân gian còn lưu lại một số truyền thuyết về loài hoa này: Chuyện kể rằng, hồi đó có một gia đình nghèo có hai mẹ con sống rất yên bình trong một ngôi nhà nhỏ. Người mẹ tần tảo làm lụng nuôi con. Người con còn nhỏ nhưng rất hiếu thảo, biết vâng lời và chăm chỉ. Nhưng rồi một ngày kia, người mẹ bỗng lâm bệnh nặng. Người con thương mẹ lắm, nên dù nhà nghèo em vẫn cố gắng chạy chữa những thầy lang giỏi nhất vùng. Nhưng sức khỏe người mẹ càng ngày càng yếu đi. Người con lo lắm, quyết tâm đi tìm thầy chữa bệnh cho mẹ. Em đi mãi, đi mãi, qua bao nhiêu làng mạc, núi sông, ăn đói mặc rách vẫn không nản lòng. Một hôm đi qua một ngôi chùa, em xin phép nhà sư trụ trì được cầu phúc cho mẹ, tấm lòng hiếu thảo của em động đến cả trời xanh. Trời nghe phải nhỏ lệ, đất nghe phải cúi mình. Đức Phật từ bi cảm thương tấm lòng hiếu thảo của người con, động lòng trắc ẩn Người đã hóa thân thành một nhà sư, đi ngang qua chùa và tặng em một bông hoa vàng rực. Đức Phật nói:"ta cho con bông hoa này,nó là biểu tượng của sự sống, là bông hoa chứa đựng niềm hi vọng,là ước mơ của loài người, là thần dược để chữa bệnh cho mẹ con. Nhưng con phải nhớ,cứ một năm thì hoa sẽ rụng đi một cánh hoa, bông hoa này có bao nhiêu cánh thì mẹ con chỉ sống được bấy nhiêu năm". Người con cảm tạ Đức Phật và đếm cánh hoa. Rất đau buồn khi biết bông hoa chỉ có năm cánh, nghĩa là người mẹ chỉ sống với em được năm năm nữa. Thương mẹ quá em đã liều xé nhỏ từng cánh hoa cho đến khi không còn đếm được bông hoa có bao nhiêu cánh nữa. Bà mẹ nhờ có bông hoa thần dược đó mà sống rất lâu bên người con hiếu thảo của mình. Bông hoa vàng rực vô số cánh là biểu tượng của sự sống, là ước mơ trường tồn, là khát vọng chữa lành mọi bệnh tật của con người. Sau này người đời gọi là hoa Cúc. 1. 2.HoaCuc‑1.JPG Biểu tượng mùa Thu, phương Tây và cũng được dùng làm biểu trưng cho khí tiết thanh cao của bậc cao sĩ lấy ẩn dật làm vui thú, xa lánh danh lợi. Tên ca ngợi hoa cúc là ẩn sĩ trong các loài hoa và có hơn 3.000 loại hoa cúc được trồng cách đây 3.000 năm, trong khi đó hoa sen tên ca ngợi là quân tử và hoa mai là tuyết trung cao sĩ (theo Cội nguồn văn hóa Trung Hoa - Chủ biên Đường Đắc Dương, Phó chủ biên Tạ Duy Hòa, dịch thuật Nguyễn Thị Thu Hiền - Nxb Hội Nhà văn, 2003). Hoa cúc chính là quốc hoa của Nhật Bản, biểu tượng của Thái Dương Thần Nữ, mà chúng ta cũng biết bà chính là Thánh Mẫu Thượng Ngàn, Tây Vương Mẫu, Đức Phật Mẫu và như vậy… ngày Tết Trùng Dương chính là biểu trưng cho sự thanh dao, thoát tục của các vị tiên, đã được lấy làm ngày của Tết người già. Ngày nay, dân gian lưu truyền các truyền thuyết liên quan đến Tết Trùng Dương như sau: Đời Hậu Hán (25-250) có người tên là Hoàng Cảnh, quê ở Nhữ Nam, học đạo tiên với đạo sĩ Phí Trường Phòng - một người tinh thông kim cổ, có thể đoán được tương lai. Một hôm, Trường Phòng bảo Cảnh: "Ngày mồng 9 tháng Chín tới đây, gia đình của nhà ngươi gặp phải tai nạn. Vậy đến ngày đó, ngươi nên đem cả nhà lên núi cao, tay đeo túi đỏ, đựng hột thù du (một loại tiêu), uống rượu hoa cúc, tối sẽ trở về may ra tránh khỏi tai nạn". Hoàng Cảnh vâng theo lời thầy. Quả nhiên, đến tối ông trở về nhà trở về thì thấy gà, vịt, heo, chó trong nhà bị chết hết. Theo sách Phong Thổ Ký thì vào cuối đời nhà Hạ (1818-1767 tr.CN), vua Kiệt dâm bạo tàn ác, gây nên bao cảnh tang thương. Thượng Đế muốn răn nhà vua nên đã giáng một trận hồng thủy làm nhà cửa khắp nơi bị chìm xuống biển nước, động vật, người bị chết đuối nhiều không kể xiết. Nạn hồng thủy đó nhằm ngày mồng 9 tháng Chín âm lịch. Vì vậy mỗi năm đến ngày này, nhân dân lo sợ, già trẻ gái trai đều đua nhau quảy thực phẩm lên núi cao để lánh nạn, lâu dần trở thành tục lệ. Chính từ những điển tích như trên, dân gian xưa có câu “gặp ngày Trùng Cửu đăng cao” nghĩa là gặp ngày Trùng Cửu thì lên cao. Vào ngày này, người dân Trung Quốc thường rủ nhau lên núi ngắm hoa, uống rựu hoa cúc, làm thơ, đánh cờ. Qua các điển tích, chúng ta thấy có một điểm chung là mọi người lên núi tránh nạn đại hồng thủy, chúng ta biết rằng sau nạn đại hồng thủy có một số người sống sót, như truyền thuyết trên toàn thế giới - do vậy kết hợp lại chúng ta nhận định ngày mồng 9 tháng Chín âm lịch là ngày kỷ niệm tổ nhân loại - những người đã mất trong trận đại hồng thủy. Đến đây thì chúng ta thật sự khâm phục nền văn hiến Việt thật quá sức kỳ tuyệt, bởi Tết Trùng Dương - Tết Người già cho tới nay có nhiều huyền thoại nhưng thực sự hoàn toàn không rõ nguồn gốc và ý nghĩa của nó. Nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã sáng tác bài hát Tiếng sông Cửu Long nổi tiếng, trong đó có đoạn về Hội Trùng Dương: Trùng Dương… Ba chị em là ba miền, đem những tình thương nối liền, Gặp nhau bên trời biển Đông thắm duyên, Hẹn nhau tha hồ sống lại bốn phương trời, Đem tự do tranh đấu bao người, cho quê hương ấm no muôn đời, Giờ đây bao tâm tư, rộn ràng như câu thơ. Hội Trùng Dương tay xiết chặt nguồn thương, Dựng đời vinh quang hoa đời tự do. Như vậy, Hội Long Hoa là đại hội Phật, Tiên, Thánh, Thần mà lịch sử của các ngài đã được sáng tỏ, với sự chủ trì của Ngọc Hoàng Thượng Đế và Diêu Trì Kim Mẫu, Hội Long Hoa sẽ thực hiện một “sự tấn phong vĩ đại” với sự xuất hiện của Thánh nhân mà nhân loại đang mong đợi, ngài chính là “vua của các vị vua”, phần thưởng của đại hội là thần dược “đào trường sinh bất tử” của Diêu Trì Kim Mẫu và ngự tửu của Ngọc Hoàng Thượng Đế sẽ ban cho những ai đạt được quả vị và sẽ được vào “Phong Thần Bảng” (Phong Thần cũng là tên cuốn tiểu thuyết về thần tiên ma quỷ, tác giả Bồ Tát Nguyễn Minh Không). Theo Thánh giáo của Đạo Cao Đài, kỳ đại hội này chính chính thức sắc phong Tam Trấn đại diện Tam giáo trong thời kỳ mới của nhân loại: Thầy vì thương lũ quần sinh, Hoằng khai Đại Đạo ba nhành qui nguyên. Cho Tam Trấn thay quyền Tam Giáo, Phật Quan Âm Thích Đạo thế quyền. Thái Bạch thay mặt Đạo Tiên, Tam kỳ phổ độ lãnh quyền Giáo Tông. Đạo Nho giao Quan Công Đại Đế, Ra oai linh phổ tế nhân sinh. Thánh truyền Thầy đã chỉ rành, Vì sao Tam Trấn quyền hành Tam Tông. Ngọc phả về ba vị Đại Vương Thượng Đẳng Thần Tản Viên Sơn Thánh ở Đền Và, thị xã Sơn Tây, có Đạo chúc thư để nghìn đời sau khói hương thờ phụng nơi đền miếu, người đời sau có thơ rằng: Nhất trường gia quốc thôi tính động, Tứ hải anh hùng lão nhãn ngung. Bất thức Việt thành Xuân tỏa thược, Vị thủy khải thủ vị thùy phong. Khắp đất nước vang dậy thúc dục lòng người, Anh hùng bốn biển đều ở trước mặt. Không biết cái Khóa Xuân của Việt thành kia, Ai là người mở được, ai là người không mở được. Như vậy, cái “Khóa Xuân” đã mở được, chúng ta đã có thể hệ thống và xác định mối quan hệ trong lịch sử của các vị Phật, Tiên, Thánh, Thần của các tôn giáo trên thế giới cùng với các nhân vật lịch sử trong nền văn minh Văn Lang. Từ đó chúng ta có các bảng tổng hợp dữ liệu như sau: Danh sách liệt vị tổ tiên của nước Văn Lang ghi nhận trong các gia phả dòng họ: Stt LIỆT VỊ TỔ TIÊN NIÊN HIỆU/ THỜI ĐẠI GHI CHÚ GIỐNG DÂN ATLANTIC TRƯỚC ĐẠI HỒNG THỦY THÁI CỰC / KHAI THIÊN - LẬP ĐỊA Đế Hòa (Hòa Hy, Hy Hòa, Hy Thúc) là bố đẻ của Phục Hy. Cụ Hy Thúc là nhà thiên văn thuyết âm dương, làm ra lịch Âm Việt Nam. Vợ của Hoà Hy là Nữ Hoàng Anh, hiệu Diệu Quang Minh. Đế Thiên. Lịch Đại Đế Vương. Truyền thuyết bà Hoa Tư mang thai 12 năm đẻ ra ông Phục Hy. ÂM DƯƠNG - PHỤC HY/ NỮ OA và NGŨ HÀNH - NGŨ ĐẾ Phục Hy (Vua Cả) lập tên nước 'Cực Lạc', lập Đạo Sa Môn Phật Giáo tên hiệu Vô Thượng Hư Không Giáo Chủ. Cụ Bà là Trinh Nương, hiệu Diệu Thái Tử. Cụ phát triển thuyết Âm Dương Ngũ Hành từ cha Hòa Hy và lập Bát quái, Kinh Dịch. Phương Đông - Thanh Thiên (Đế Thần) - Phục Hy - Thái Cao Lập tên nước là Cực Lạc. Bàn Cổ - Nữ Oa. Ngũ Đế. Thần Nông còn tên là Đế khôi, được dân suy tôn là Đế Thần; được Cụ bà Trinh Nương nuôi dưỡng, vợ cả húy là Tiên Lữ. Cụ có hai con trai Đế Tiết và Đế thừa. Phương Nam - Viêm Đế - Viêm Thiên - Thái Viêm Ngũ Đế. Đế Tiết Vương là con cả Vua Thần Nông (Đức Thánh Cả) lấy Nữ Hoàng Vân. Hai Cụ không có con. Cụ Đế Tiết truyền ngôi lại cho người em Đế Thừa. Hoàng cực - Hoàng Đế - Quân Thiên - Đế Tiết Ngũ Đế. Đế Thừa con thứ, Sở Minh Công (Đế Quý Công), Cụ có hai vợ. Vợ Cả là Hoàng Thị Phú, tên tự là Đại Nương (hiệu Diệu Diên), sinh 2 con trai song sinh là Nguyễn Minh Khiết, Nguyễn Minh Nhân. Bà Hai tên là Trần Thị Lãm sinh một trai là Nguyễn Long Cảnh, gọi nôm na Ba Công (ba người gọi là Tam Tòa Đức Chúa Ông). Phương Tây - Bạch Đế - Hạo Thiên - Đế Thừa - Thái Khang Ngũ Đế. Truyền thuyết Bà La Môn thì thần Shiva có hai người vợ. Thương Hiệt - Văn quan thời Phục Hy Được cho là tác giả chữ viết Hữu Sào - Văn quan thời Viêm Đế Thần Nông Toại Nhân - Lão Long Cát - Võ tướng thời Viêm Đế Thần Nông Được cho là phát minh ra lửa. Chử Đồng Tử - Lão Tử là hậu duệ Nguyễn Minh Khiết, Minh Công, Khương Thái Công, lấy Bà Đỗ Quý Thị, húy Ngoan (Cụ tu theo đạo Sa Môn Phật Giáo hiệu Hương Vân Cái Bồ Tát), sinh 1 con trai Kinh Dương Vương (Lộc Tục). Bà Hai Vũ Thị Huề sinh 5 trai. Cụ Đỗ Quý thị có 8 người em trai hiệu là Bát Bộ Kim Cương, cũng được tôn vinh thêm hai chữ Bồ Tát). Mộ 8 vị này ở gò Thiềm Thừ (nghĩa là gò Con Cóc) vùng Ba La. Phương Bắc - Hắc Đế hay Huyền Đế - Huyền Thiên - Đế Minh - Thái Tiết; Tự Phúc Đình. Ngũ Đế. Hoàng Đế theo truyền thuyết Trung Quốc. Hiên Viên chỉ là tên một chòm sao phụ trên Tử Vi Viên. Đế Nhất Thánh Mẫu Thượng Thiên. 6 người con trai của vua Đế Minh - Kinh Dương Vương - Nguyễn Di Khương Hạ - Nguyễn Nam Khương Thượng - Nguyễn Bắc Khương Hạ - Nguyễn Di Khương Trưởng - Nguyễn Xâm Khương Trung Bát Bộ Kim Cương - Đỗ Xương, hiệu là Thanh Trừ Tai Kim Cương - Đỗ Tiêu, hiệu là Tịch Độc Thần Kim Cương, lo việc hình sự. - Đỗ Kỹ, hiệu là Hoàng Tùy Cầu Kim Cương, trông coi luật pháp. - Đỗ Cương, hiệu là Bạch Tịnh Thủy Kim Cương, phụ trách thủy quân trong dân. - Đỗ Chương, hiệu là Xích Thanh Hoả Kim Cương, lo việc sản xuất vũ khí. - Đỗ Dũng, hiệu là Định Trừ Tai Kim Cương, lo việc an ninh. - Đỗ Bích, hiệu là Từ Hiền Thần Kim Cương, Tể tướng. - Đỗ Trọng, hiệu là Đại Lực Thần Kim Cương, phụ trách văn hóa giáo dục. Nguyễn Minh Nhân hay Nguyễn Nghi Nhân (Đế Nghi), quản đất Ô Châu đặt tên nước Sở (sau nước Sở thuộc Trung Quốc), các con có Đế Lai sau sinh ra Âu Cơ (một số con cháu là Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Chí, Đế Nghiêu, Đế Thuấn). Vua Trung Quốc (phía Bắc sông Dương Tử). Không ghi nhận chính thất của ngài. Nguyễn Long Cảnh em sau Đế Nghi, được giao đất Chân Lạp, Hồ Tôn nhưng không làm mà chỉ giúp Đế Minh đánh giặc Ma Mạc. Không ghi nhận chính thất của ngài. TAM TÀI - TAM HOÀNG Kinh Dương Vương, Nguyễn Quảng lấy con gái Động Đình Hồ tên Thanh Minh, Động Đình Tiên Nữ. Sinh 5 trai và 1 gái. Vua Hùng Vương thứ I hay còn gọi là Ốc tổ Kinh Dương Vương; Tự Phúc Lộc, trời sinh cao quý không lường được. Ngọc Hoàng Thượng Đế. Tam Hoàng. Đệ Nhị Thánh Mẫu hay Thượng Ngàn Thánh Mẫu. Lấy tên nước Văn Lang. Hồng Bàng là tên chung nhiều dòng tộc. 5 con của Kinh Dương Vương được tôn Ngũ vị tôn ông (Ngũ Phượng Long Thần Thổ Địa) và Tứ Vị chầu bà - Nguyễn Hùng Nghiêm, tự Phúc Nghiêm, hiệu Pháp Phong tức Thần Gió. - Hùng Quyền, tự Phúc Quyền, hiệu Pháp Vân tức Thần Mây. - Hùng Hiền, húy Sùng Lãm tự Phúc Thọ; Thần Sấm. - Hùng Quyền, tự Phúc Quang, hiệu Pháp Điện tức Thần Chớp. - Hùng Tiến, tự Vũ Thiên hiệu Pháp Vũ chết trẻ, Thần Mưa. 1. Chi Càn:Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, sinh năm Nhâm Ngọ (2919 tr.TL) lên ngôi năm 41 tuổi, không rõ truyền mấy đời vua ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Nhâm Tuất (2879 tr.CN) đến Đinh Hợi (2794 tr.CN). So ngang với Trung Quốc vào thời đại Tam Hoàng. (?) Lạc Long Quân lấy Âu Cơ húy là Mỹ là con gái chị họ mình, cháu của Nguyễn Nghi Nhân ở Ô Châu, con của Nguyễn Như Lai. 2. Chi Khảm:Lạc Long Quân, húy Sùng Lãm, tức Hùng Hiền Vương, sinh năm Bính Thìn (2825 tr.CN) lên ngôi 33 tuổi, không rõ truyền mấy đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 269 năm, đều xưng là Hùng Hiền Vương, từ năm Mậu Tí (2793 tr.CN) đến năm Bính Thìn (2525 tr.CN) ngang với Trung Quốc thời Hoàng Đế (Ngũ Đế). Vua Hùng Vương thứ II; Hùng Hiền Vương; Tự Phúc Thọ, Phật sống lâu không lường được. Vua “Cõi Nước”. Tam Hoàng. Đệ Tam Thánh Mẫu hay Chúa Mẫu Thoải; Truyền 10 đời. Hùng Quốc Vương là con trưởng của Lạc Long Quân, lấy Nguyễn Thị Nghĩa con gái Lạc tướng Chu Diên. 3. Chi Cấn:Hùng Quốc Vương, húy Hùng Lân, sinh năm Canh Ngọ (2570 tr.TL) lên ngôi khi 18 tuổi. Không rõ truyền mấy đời vua đều xưng là Hùng Quốc Vương. Từ năm Đinh Tỵ (2524 tr.CN) đến năm Bính Tuất (2253 tr.CN) ngang với Trung Quốc vào thời Đế Thuấn, Hữu Ngu. Vua Hùng Vương thứ III; Các Vua Hùng Vương đều lấy hiệu Khang Ninh. Tam Hoàng. Đệ Tứ Thánh Mẫu hay Đệ Tứ Khâm Sai. Truyền 10 đời. Chử Đồng Tử và Kim Dung Công chúa - thời Vua Hùng Vương Thứ 3 Thái Thượng Lão Quân Giáo Chủ Đạo Giáo NỐI TIẾP TAM HOÀNG (VẠN VẬT) - VƯƠNG 4. Chi Chấn: Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, không rõ năm sinh, lên ngôi năm Đinh Hợi (2254 tr.CN) không rõ truyền mấy đời vua đều xưng là Hùng Hoa Vương, ở ngôi tất cả 342 năm, từ năm Đinh Hợi (2254 tr.CN) đến Mậu Thìn (1918 tr.CN) ngang với Trung Quốc vào thời Đế Quýnh nhà Hạ. Vua Hùng Vương thứ IV, hiệu Khang Ninh Truyền 10 đời. Sơn Tinh trong truyền thuyết “Sơn Tinh Thủy Tinh” 5. Chi Khôn: Hùng Hy Vương, húy Bảo Lang, sinh năm Tân Mùi (2030 tr.CN) lên ngôi khi năm 59 tuổi. Không rõ truyền mấy đời vua, đều xưng là Hùng Hy Vương, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Kỷ Tỵ (1912 tr.CN) đến Mậu Tí (1713 tr.CN) ngang với Trung Quốc vào thời Lý Quý (Kiệt) nhà Hạ. Vua Hùng Vương thứ V, hiệu Khang Ninh Truyền 9 đời. 6. Chi Ly: Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 tr.CN), lên ngôi khi 29 tuổi, truyền hai đời vua, ở ngôi tất cả 81 năm, đều xưng là Hùng Hồn Vương, từ năm Kỷ Sửu (1712 tr.CN) đến năm Kỷ Dậu (1632 tr.CN) ngang với Trung Quốc vào thời Ốc Đinh nhà Thương. Vua Hùng Vương thứ VI, hiệu Khang Ninh Truyền 2 đời. Chiến tranh với Ân Thương Phù Đổng Thiên Vương, tên Nguyễn Văn Cương - tướng soái thời Vua Hùng Vương Thứ VI Thánh Ánh Sáng; Tự Phúc Quang Xung Thiên Đại Vương 7. Chi Khôn: Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang, sinh năm Quý Tỵ (1668 tr. CN), lên ngôi khi 18 tuổi, truyền 5 đời vua đều xưng là Hùng Chiêu Vương, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Canh Tuất (1631 tr. CN) đến năm Kỷ Tỵ (1432 tr. CN). Ngang với Trung Quốc vào thời Tổ Ất nhà Thương. Truyền 5 đời. … 8. Các Vua Hùng VIII - XVIII. Hiệu Khang Ninh An Dương Vương - Vua Hùng cuối cùng chi Hùng Vương XVIII. Tên nước Âu Lạc TỔNG CỘNG: 108 đời kể từ vua Kinh Dương Vương tới vua An Dương Vương. Tản Viên Sơn Thánh, tên Nguyễn Tuấn và Ngọc Hoa Công Chúa – tể tướng thời Vua Hùng Duệ Vương Thứ XVIII Tự Phúc Nguyên Cao Nỗ - Tướng soái thời vua An Dương Vương Sáng tác nỏ liên châu Triệu Đà - truyền 4 đời (Tổng cộng 5 đời) Tên nước Nam Việt Trọng Thủy con Triệu Đà lấy công chúa Mỵ Châu con vua An Dương Vương: Không nhận ngôi vua. Lý Ông Trọng. Lữ Gia - Tể tướng thời Triệu Muội (cháu Triệu Đà) cho đến khi nhà Triệu kết thúc. * Biểu tượng luôn thể hiện chung hai người Nam và Nữ (Dương và Âm) Lịch sử Văng Lang đối chiếu với lịch sử các tôn giáo trên thế giới: Stt PHẬT, TIÊN, THÁNH, THẦN BIỂU TƯỢNG TÔN GIÁO GHI CHÚ Đế Hòa (Hòa Hy, Hy Hòa, Hy Thúc) Dương Bàn Cổ Nữ Hoàng Anh Vợ Cụ Hoà Hy Âm Nữ Oa Phục Hy (Vua Cả) Hư Không Giáo Chủ - Thanh Đế Ngũ Đế Cụ Bà Trinh Nương, hiệu Diệu Thái Tử. Chòm sao Thất Nữ Thần Nông Viêm Đế - Chòm sao Sư Tử Nguyên Thủy Thiên Tôn trong Đạo giáo; Ngũ Đế Cụ Bà Cả Tiên Lữ Cụ Bà thứ Đế Tiết Vương Hoàng Đế, Chòm sao Cự Giải Linh Bảo Thiên Tôn trong Đạo giáo; Ngũ Đế Nữ Hoàng Vân Đế Thừa Bạch Đế, Chòm sao Song Tử Đạo Đức Thiên Tôn trong Đạo giáo; Cụ Bà Cả Hoàng Thị Phú Cụ Bà Bà Hai tên là Trần Thị Lãm Hữu Sào Tướng soái thời Viêm Đế Thần Nông; Thiên Tướng bảo vệ Chính môn đền; chùa Toại Nhân - Lão Long Cát Tướng soái thời Viêm Đế Thần Nông; Thiên Tướng bảo vệ Chính môn đền; chùa Cha của bà Đỗ Quý Thị Long Vương; vua cha Bát Hải Động Đình Long Vương trong Đạo giáo; Mẫu của bà Đỗ Quý Thị Nguyễn Minh Khiết (Đế Minh) Hắc Đế hay Huyền Đế; Thần Quả Đất hay Thổ Địa; Chòm sao Kim Ngưu; Sao Đại Hùng Tinh; Phật A Di Đà trong Phật giáo; Thái Ất Cửu Khổ Thiên Tôn trong Đạo giáo; Thần Shiva trong Bà La Môn giáo, Thần Amon trong tôn giáo Ai Cập cổ; Thần quang minh Ahura Mazda của Bái Hỏa giáo, Ông Táo trong dân gian; Hoàng Kỳ Thổ Địa trong dân gian; Thần Trái Đất trong các tôn giáo khác nhau trên thế giới. Ngũ Đế; Hoàng Đế theo văn hóa Trung Quốc Bà Đỗ Quý Thị, húy Ngoan Phật Bà Quan Âm trong Phật giáo với hình tướng Quan Âm 11 mặt; Cửu Thiên Huyền Nữ trong Đạo giáo; nữ thần Hathor trong tôn giáo Ai Cập cổ; chính thất thần Shiva; Thánh Mẫu Thượng Thiên trong đạo Mẫu; Địa Mẫu trong dân gian; Tám em trai bà Đỗ Quý Thị Bát Bộ Kim Cương trong Phật giáo; Bát Hải Long Vương trong Đạo giáo; Năm người con trai của vua Đế Minh và Bà Thứ Vũ Thụ Huề Sao Đại Hùng Tinh Các vị Bồ Tát trong Phật giáo; Ngũ Phương Ngũ Hổ Long Thần trong Đạo giáo Nguyễn Nghi Nhân (Đế Nghi) Em trai Đế Minh Cứu U Phả Độ Thiên Tôn trong Đạo giáo; Phật Bất Không Như Lai trong Phật giáo Chính thất của Nguyễn Nghi Nhân Văn Thù Bồ Tát trong Phật giáo; Nguyễn Long Cảnh Chu Lăng Độ Mạng Thiên Tôn trong Đạo giáo; Phật Bảo Sinh Như Lai trong Phật giáo Chính thất của Nguyễn Long Cảnh Phổ Hiền Bồ Tát trong Phật giáo; Kinh Dương Vương, Nguyễn Quảng Hùng Vương I; Thần Mặt Trời; Sao Đại Hùng Tinh; Chòm sao Dương Cưu Đại Nhật Phật trong Phật giáo; Ngọc Hoàng Thượng Đế trong Đạo giáo; thần Vishnu trong Bà La Môn giáo; Thần Ra trong tôn giáo Ai Cập cổ; Thiên Chúa trong Cơ Đốc giáo; Thánh Alla trong Hồi giáo; thần Surya của Ấn Độ; Thần Mặt Trời trong các tôn giáo khác nhau trên thế giới Tam Hoàng; Thượng Nguyên Thiên Quan Cụ Bà Thanh Minh, Động Đình Tiên Nữ Mặt Trời Phật Mẫu hay Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát; Thánh Mẫu Thượng Ngàn trogn đạo Mẫu; Thái Dương Thần Nữ trong Thần đạo Nhật Bản; Tây Vương Mẫu trong Đạo giáo; Nữ thần mặt trời trong các tôn giáo khác nhau trên thế giới. Phật Mẫu Man Nương - Nguyễn Nghiêm, tự Phúc Nghiêm, hiệu Pháp Phong tức Thần Gió cùng một hiệu với chính thất của ngài. Gió Thần Gió - Phong - Quảng Mục Thiên Vương trong Phật giáo Tứ Pháp - Nguyễn Quyền, tự Phúc Quyền, hiệu Pháp Vân tức Thần Mây cùng một hiệu với chính thất của ngài cùng mộ hiệu với chính thất của ngài. Mây Thần Mây - Điều - Trì Quốc THiên Vương trong Phật giáo Tứ Pháp - Nguyễn Khoản, Hùng Hiền, húy Sùng Lãm tự Phúc Thọ; Thần Sấm (Lạc Long Quân) Sấm Thần Sấm. Thạch Quang Phật - Nguyễn Huề, Hùng Quyền, tự Phúc Quang, hiệu Pháp Điện tức Thần Chớp cùng một hiệu với chính thất của ngài. Chớp Thần Chớp - Thuận - Tăng Trưởng Thiên Vương Tứ Pháp - Nguyễn Bé, Hùng Tiến, tự Vũ Thiên hiệu Pháp Vũ chết trẻ, Thần Mưa cùng một hiệu với chính thất của ngài. Mưa Thần Mưa - Vũ - Bắc Thiên Vương trong Phật giáo Tứ Pháp Đế Lai - Cha của bà Âu Cơ Nhật Thực Tỳ Bà Thi Phật trong Phật giáo; Mẫu thân của bà Âu Cơ Nguyệt Thực Bất Không Quyến Sách Quan Âm trong Đạo Phật; Lạc Long Quân Hùng Vương II; Thần Mặt Trăng; Chòm sao Song Ngư; Chòm sao Nam Cực Bồ Tát Di Lạc và Phật Vương Di Lạc trong Phật giáo; Phong Đô Đại Đế trong Đạo giáo; Vua Cõi Nước trong đạo Mẫu; thần Brahma trong Bà La Môn giáo; thần Osiris trong tôn giáo Ai Cập cổ; Thần __ trong Hồi giáo; thần Chết hay thần Mặt trăng trong các tôn giáo khác nhau trên thế giới. Tam Hoàng; Hạ Nguyên Thủy Quan Âu Cơ tên Thụy Mặt Trăng Quan Âm Bồ Tát trong Phật giáo; Chúa Mẫu Thoải trong đạo Mẫu; Thạch Quang Phật trong Tứ Pháp Việt Nam; Thần Isis trong tôn giáo Ai Cập cổ; Nữ thần Mặt Trăng trong các tôn giáo khác nhau trên thế giới; Mười vị vua truyền ngôi kế tiếp vua Lạc Long Quân Thập Cực Chân Nhân trong Đạo giáo; Hùng Quốc Vương Hùng Vương III; Sao Mộc; Sao Tiểu Hùng Tinh; Chòm sao Bảo Bình; Địa Tạng Bồ Tát trong Phật giáo; thần Cả Horus trong tôn giáo Ai Cập cổ đại; Mộc Đức Tinh Quân Tam Hoàng; Trung Nguyên Địa Quan Nguyễn Thị Nghĩa Thánh Quan Âm trong Phật giáo; Tứ phủ khâm sai trong đạo Mẫu. Mười vị vua truyền ngôi kế tiếp vua Hùng Quốc Vương Thập Điện Diêm Vương trong Phật giáo và Đạo giáo; Chử Đồng Tử và Kim Dung Công chúa Sao Ngưu Lang và Chức Nữ Lão Tử, Thái Thượng Lão Quân trong Đạo giáo; Tự Tại Chủ Đồng Tử trong Phật giáo (Kinh Hoa Nghiêm); Hạc - Rùa trong điện Đại Hùng đền, chùa Thời Vua Hùng Vương III Tản Viên Sơn Thánh, tên Nguyễn Tuấn và Ngọc Hoa Công Chúa - thời Vua Hùng Vương Thứ 3 4. Chi Chấn: Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, không rõ năm sinh Sao Hỏa Hỏa Đức Tinh Quân Mười vị vua truyền ngôi kế tiếp vua Hùng Vương IV Thập Chân Chân Nhân trong Đạo giáo; 5. Chi Khôn: Hùng Hy Vương, húy Bảo Lang, sinh năm Tân Mùi (2030 tr.TL) Sao Thổ Thổ Đức Tinh Quân Chín vị vua truyền ngôi kế tiếp vua Hùng Vương V Cửu Lão Tiên Đô trong Đạo giáo; 6. Chi Ly: Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 tr.TL), lên ngôi khi 29 tuổi Sao Kim Thái Bạch Kim Tinh Phù Đổng Thiên Vương, tên Nguyễn Văn Cương - tướng soái thời Vua Hùng Vương Thứ VI Chòm sao 7. Chi Khôn: Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang, sinh năm Quý Tỵ (1668 tr. CN), lên ngôi khi 18 tuổi, truyền 5 đời vua đều xưng là Hùng Chiêu Vương Sao Thủy Thủy Diệu Tinh Quân … 8. Các Vua Hùng VIII - XVIII. An Dương Vương - Vua Hùng cuối cùng chi Hùng Vương XVIII. TỔNG CỘNG: 108 đời kể từ vua Kinh Dương Vương tới vua An Dương Vương. Tản Viên Sơn Thánh, tên Nguyễn Tuấn và Ngọc Hoa Công Chúa - Tể tướng thời Vua Hùng Duệ Vương Thứ XVIII Chòm sao Văn Xương Cao Nỗ - Tướng soái thời vua An Dương Vương Thiên Tướng hộ cổng Tam quan đền, chùa Triệu Đà - truyền 4 đời (Tổng cộng 5 đời) Vi Đà Hộ Pháp trong Phật giáo; Vương Linh Quan trong Đạo giáo. Trọng Thủy con Triệu Đà lấy công chúa Mỵ Châu con vua An Dương Vương: Không nhận ngôi vua. Thiên Tướng hộ cổng Tam quan đền, chùa Lữ Gia - Tể tướng thời Triệu Muội (cháu Triệu Đà) cho đến khi nhà Triệu kết thúc. Sao Thiên Lang Thiên Nghê bảo vệ Chính môn đền, chùa Người Việt nói chung Chòm sao Orion Chiến binh với cung tên bắn con trâu vàng - mang ý nghĩa tấn công vào vô minh hay mang ý nghĩa “ánh sáng trí tuệ”. Trong môn Tử Vi Đông phương, có bài khẩu quyết thuộc lòng gồm ba đoạn thơ cho những người mới vào học về nạp âm 60 hoa giáp: Ngân đăng giá bích câu, Yên mãn tự chung lâu. Hán địa siêu sài thấp,, Viêm Thủy lạc kim âu Ngọn đèn bạc làm lạnh bức tường vàng, Lửa đã cháy ngập trong tòa lâu đài. Đất nhà Hán đã nghiêng tràn đến chỗ thấp nhất, Hành Thủy và Hỏa đã sai lạc với nguồn gốc của nó. * Câu thơ thứ tư được bổ sung bởi tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Nội dung của toàn bộ bài thơ được giải mã có thể hiểu rằng: những giá trị giả đã thay cho những giá trị thật, khi mà nước Văn Lang đã suy sụp từ bên trong và bị nhà Hán chinh phục. Nhưng giá trị tri thức vĩ đại của đất nước này - mà một trong những nền tảng căn bản của nó là bảng nạp âm 60 hoa giáp đã phải thay đổi ở hai hành Thủy Hỏa (Trích từ cuốn Hà đồ trong văn minh Lạc Việt, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh). Ẩn nghĩa của bài thơ tứ tuyệt còn hàm ý: vùng đất phía Bắc và vùng đất phía Nam Dương Tử đã quên mất cội nguồn tổ tiên của mình. Sau này, danh nhân nguyễn Trãi có bài thơ Qua Cửa Khẩu Thần Phù đã tiên tri về lịch sử cùng chung nguồn cội “Hồ, Việt chung nhà may được thấy”: Thần Phù hải khẩu lái buồm qua, Gió mát trăng thanh, đêm mặn mà. Nghìn chóp non bờ nhô ngọc biếc, Một dòng nước rắn lượn xanh mơ. Giang sơn đấy, anh hùng biệt dạng, Dâu bể ơi! Trời đất hững hờ! Hồ, Việt chung nhà may được thấy, Từ nay bốn bể lặng kình ba. Như vậy, nước Việt là cội nguồn của các tôn giáo trên thế giới, mà tiên tri sau này các nước sẽ đến với Việt Nam, xưa kia Nho, Lão, Phật đồng nguyên (Tam hữu), nay các tôn giáo (Phật giáo, Nho giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi giáo, Bà La Môn giáo, đạo Jain...) đều sống an vui hòa bình (Đào viên kết nghĩa): Thú vui hoa nở biên đình, Tai nghe các nước giống hình tới đây. Dập dìu quan khách Tàu Tây, Đức Cha nhà phước vui thay lạ lùng. Nhớ xưa Tam hữu xưng hùng, Đào viên kết nghĩa nay cùng đường đi.<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Kiến trúc Tòa Thánh Cao Đài, Tây Ninh cũng đã thể hiện sự kết hợp các tôn giáo này: Tam vị Brahma, Shiva, Vishnu và các giáo chủ tôn giáo khác Kiến trúc và mỹ thuật Tòa Thánh Tây Ninh, Việt Nam Từ việc xác định lịch sử tôn giáo và ý nghĩa các ngày lễ hội cổ truyền của dân tộc, chúng ta có thể tổng hợp lại như sau: Tổng hợp một số ngày lễ hội cổ truyền quan trọng: Stt LỄ HỘI NGÀY TRUYỀN THỐNG Ý NGHĨA GHI CHÚ Tết Nguyên Đán - Sinh nhật Vũ trụ 1/Giêng Bánh chưng, bánh dầy, dựng nêu, đốt pháo, mừng tuổi… hạ nêu 7/Giêng Vía Đức Phật Vương Di Lạc, lễ rước chư Thần, Thánh, Tiên Phật an vị Mồng 1 nhà cha, mồng 2 nhà vợ, mồng 3 nhà thầy Ngày đưa Gia Tiên về trời 3/ Giêng Mâm cỗ… Lễ Tịch Điền 7/ Giêng Xuống đồng Ngày vía Ngọc Hoàng Thượng Đế 9/Giêng Cờ Thần, phướn Tết thầy cô giáo và Tổ nghề chung 9/ Giêng Hoa quả, bánh trái… Ngày mất Đế Thừa Sở Minh Công? Tết Thượng Nguyên 15/ Giêng Hội đèn Quang chiếu; cờ Thần, phướn… Thiên Quan ban phúc 16/Giêng Ngày mất vua Phục Hy Tháng Giêng ứng quẻ Phục 26/Giêng Ngày mất Thánh Cô tức vợ vua Hùng Quốc Vương 2/2 Ngày mất vua Đế Minh Xuân Tế 4/2 Vua làm lễ tế trời đất vào mùa xuân hàng năm… Được điều chỉnh 12/2 Ngày mất Ba Công Đại Vương tức Nguyễn Long Cảnh, em vua Đế Minh 18/2 Ngày mất vua Lạc Long Quân Tết Thanh Minh - Tết Phụ nữ 3/3 Tảo mộ, rựu nếp, bánh tro… Ngày mất Thánh Mẫu Thượng Ngàn, Tây Vương Mẫu Tế Nam Giao 9/3? Vua tế Ngày giỗ Tổ Vua Hùng 10/3 Bánh chưng, bánh dầy và dâng lễ cúng Sinh nhật vua Lạc Long Quân 18/3 Bánh thánh làng Bình Đà? Bổ sung Ngày tưởng niệm anh hùng, liệt sĩ 4/4 Hội thề Trống Đồng… Giỗ các Ôn hầu, Lạc hầu, Bộ tướng, Đạo tướng, Lộ tướng, Triều quan Lễ Phật đản 8/4 Lễ tắm Phật, cờ Thần, phướn… Đản sinh Hương Vân Cái Bồ Tát - Phật bà Quan Âm Tết Đoan Ngọ - Tết người Mẹ 5/5 Hoa quả, bánh trôi, bánh chay… Ngày mất bà Âu Cơ, Quan Âm Bồ Tát, Chúa Mẫu Thoải 12/5 Ngày sinh Ba Công Đại Vương 28/5 Ngày mất Hùng Quốc Vương Lễ Thượng điền 1/6 Cất nông cụ Ngày mất vua Thần Nông Ngày Tết Tình yêu (Lễ hội Sao) 7/7 Hoa hồng… Kỷ niệm Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa Giáo chủ của Đạo giáo Thu Tế 14/7 Vua đại diện… Được điều chỉnh Lễ Vu Lan 15/7 Cờ Thần, phướn… Ngày hóa Hương Vân Cái Bồ Tát Tết Trung Nguyên 15/7 Cờ Thần, phướn, hội lồng đèn trôi sông… Địa Quan xá tội vong nhân Tết Trung Thu - Tết Thiếu nhi 15/8 Múa rồng, lân, bánh trung thu… Ngày sinh nhật vua Kinh Dương Vương Tết Trùng Cửu - Tết Người già 9/9 Hoa cúc, rựu hoa cúc, ngâm thơ, đánh cờ… Kỷ niệm nhân loại chết trong trong trận Đại hồng thủy Trùng cửu đăng cao Tết Trùng Thập - Tết Thầy thuốc 10/10 Chọi trâu, hái thuốc… Ngày hóa vua Kinh Dương Vương? Ngày mất Đế Thừa Sở Minh Công? Têt Hạ nguyên 15/10 Cờ Thần, phướn… Thủy Quan giải ách Ngày đưa Ông Táo về trời 23/Chạp Mâm cỗ, cá chép, mũ ông Công ông Táo… Lễ rước chư Thần, thánh, Tiên Phật về chầu Trời Hội Thiên đình gọi là ngày Chạp Tổ, bách thần về chầu 25/Chạp Ngày mất vua Kinh Dương Vương Giao thừa, Trừ tịch 30/Chạp Tiễn năm cũ đón năm mới… * Sau khi Long Hoa Hội lần I (các tôn giáo và các sử gia sẽ cùng thống nhất trên những đặc trưng chung và riêng, thì sẽ tổng hợp lại các ngày lễ hội quan trọng nhất, ví dụ như ngày Phật Vương Di Lạc phục sinh là mồng 1 tháng Giêng năm Quý Tỵ (2013), nền tảng là những lễ hội dân gian và của Tam giáo (biểu tượng là Pháo, hoa Vạn Thọ…). * Tham khảo Bách Việt tộc phả cổ lục khởi tổ Sở Minh Công; Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền; Bách Việt tộc phả lục… Đến đây thì ý nghĩa của Hội Long Hoa đã được minh xác, và Hội Long Hoa sẽ diễn ra ở đâu? Rõ ràng là ở Việt Nam - mảnh đất linh thiêng của của đời sống tâm linh thế giới khi mà Thượng Đế đã xây dựng lại mới tòa Bạch Ngọc Kinh tại thế - Tòa Thánh Cao Đài, Tây Ninh, Việt Nam cùng với hệ thống kinh sách, bí pháp. Đồng thời, không thể không chiêm bái lại những thắng tích quan trọng là nơi phát tích của các tôn giáo, cũng như nơi hóa của các vị Thánh Thần nói trên - vậy đó là những nơi nào: Triều đình cung điện nguy nga, Phố phường phẩm vật phồn hoa chen bày. Phong vân gặp Hội hôm nay, Ngàn năm truyền mãi đất này Đế vương. Thánh cung vạn tuế Dù ai đi ngược về xuôi, Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng Ba. Khắp miền truyền mãi câu ca, Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm. Câu ca dao ấy đã vang vọng từ bao đời nay, đã in sâu vào lòng mỗi người dân Việt, khơi dậy tình cảm thiêng liêng hướng về Đất Tổ Hùng Vương, cội nguồn văn hóa và tâm linh của dân tộc, với một tấm lòng đầy tự hào là “con Rồng cháu Tiên”. Lăng vua Hùng thứ VI và Lễ hội Đền Hùng năm 1960 Ảnh Tư liệu tham khảo Đền Hùng là tên gọi của một quần thể đền chùa thờ phụng các vị vua Hùng, thờ Phật và tôn thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh, gắn với lễ hội Đền Hùng được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, cùng với các lễ hội dân gian. Quần thể di tích đền Hùng nằm từ chân núi đến đỉnh núi Nghĩa Lĩnh (Núi Cả, núi Hùng, Nghĩa Cương, Bảo Thiếu Lĩnh) là ngọn núi cao nhất so với các ngọn núi xung quanh khác, nay thuộc địa phận thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ngay tại chân núi, sơn môn dẫn hướng có các chữ đại tự “Cao sơn cảnh hạnh” nghĩa là ngưỡng vọng “Đức cao như núi”. Phong Châu theo truyền thuyết chính là đế đô của nước Văn Lang từ hơn 4.000 năm trước. Xưa có các tên gọi cổ như Phong Châu, Vân Lôi, Hát Môn, Hạ Lôi, Văn Nội, Phong Khê, Lai Cường, Lai Hạ, Lai Vĩ, Lai Thành, Trạch Lôi - nơi lại thay đổi và một số làng đã ra đi đến nơi khác nay không còn tên trong bản đồ nhưng vẫn có tên trong văn tự (Trích một phần từ Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh Việt cổ, Tập 1- Tập san sưu tập - khảo cứu của dòng họ Đỗ Việt Nam). Khu di tích Đền Hùng gồm có các công trình kiến trúc thờ tự như Đền Giếng, Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng - lăng vua Hùng Vương thứ VI - cột đá thề của vua An Dương Vương, cùng với chùa Thiên Quang, cùng các công trình khác. Chữ Nghĩa theo giáp cốt văn Trích Ý nghĩa cấu trúc đền Quốc Tổ Hùng, tác giả Nguyên Xuân Quang Giải tự từ Nghĩa ta thấy có phần đầu chữ dương (đầu con dê) ở trên, ở dưới có chữ thủ (tay) và chữ qua (là thứ khí giới cán dài, một thứ rìu, một thứ việt). Như thế, theo mặt chữ, từ Nghĩa có nghĩa là “cầm rìu giết con dê” “cầm rìu chặt đầu con dê” là để hiến tế, giết các vật hy sinh để tế lễ, dâng hiến cúng vật cho Tạo Hóa, vũ trụ, trời đất, Thần Linh, Tổ Tiên và cả quỉ thần. Điểm này cũng thấy rõ trên giáp cốt, kim văn, cổ văn, từ Nghĩa (yì) diễn tả bằng hình con dê núi đực, con “dương” (ram) bị giết bởi một chiếc rìu có lưỡi răng cưa để hiến tế. Nghĩa Lĩnh có nghĩa là trụ hiến tế, là núi trụ thế gian, trong có trục thế giới dùng làm phương tiện để cúng dâng vật hiến tế lên ba cõi và có nghĩa rộng ra là núi ơn nghĩa, núi tạ ơn Tạo Hóa, Tổ Hùng. Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh Tỉnh Vĩnh Phú, Phú Thọ, Việt Nam Trong cuốn Hồng Vũ Cấm Thư (chưa hiệu chỉnh độ số Tốn Khôn), san định bởi Dương Quân Tùng, có đề cập đến cuộc đất “Kỳ cổ vạn lý binh” núi Nghĩa Lĩnh, khẳng định chính là thế Tam Tài: Doanh trại trùng trùng vạn dặm mây, Tướng hùm chủ soái định mưu hay. Nước vờn châu ngọc lung linh sáng, Núi dựng trăng sao rạng rỡ bày. Chánh án đã thành hình chữ Phẩm, Bản sơn còn hỏi thế Tam Tài. An bài tuy đó lòng Thiên Địa, Nhãn lực cao thâm cậy sức Thầy. Ta thấy ngay ba ngôi đền ứng với Tam Tài, Đền Thượng ứng với Thượng thế - Cõi Trời. Đền Trung ứng với Trung thế - Cõi Đất nhân gian. Đền Hạ ứng với Hạ thế - Cõi Nước. Ngoài ra, ta cũng thấy ba ngôi đền trên núi mang hình ảnh chữ “Tam”, nối ba ngôi đền là nét thẳng đứng trên cùng một ngọn núi, gộp lại ta có chữ “Vương”, như thế, núi Hùng với ba ngôi đền mang nghĩa Vương ta có Hùng Vương. Để khẳng định, chúng ta cần xem lại bộ tranh thờ Hành Say của dân tộc miền Bắc Việt Nam. Hành Say Dân tộc miền Bắc Việt Nam Như vậy, Đền Thượng sẽ ứng với Tam Thanh, Đền Trung ứng với các vua Hùng và đền Hạ ứng với Mẫu Âu Cơ và nhị vị công chúa, đây chính là một trong những ý nghĩa quan trọng trong quá trình xem xét bố cục Đền Hùng. Đền Hạ: Bố cục nhữ Nhị, đền có 4 cỗ long ngai, trong đó 3 cỗ long ngai chính diện có bài vị thờ ghi: Ất Sơn Thánh vương vị - Đột ngột Cao sơn Cổ Việt Hùng Thị thập bát thế Thánh vương vị - Viễn Sơn Thánh Vương Vị, còn cỗ long ngai thứ 4 không có bài vị. Chúng tôi nhận định ban thờ chính giữa là thờ Chúa Mẫu Thoải - Mẫu Âu Cơ, ban thờ bên trái thanh long là ban thờ công chúa Tiên Dung - chính thất của Chử Đồng Tử và ban thờ bên phải bạch hổ là ban thờ công chúa Ngọc Hoa - chính thất của Tản Viên Sơn Thánh. Cõi Dưới này là địa bàn chính của Lạc Long Quân vì vậy mà tại nơi đây cho là chỗ mẫu Tổ Âu Cơ sinh ra một cái bọc trứng nở ra trăm con (bọc trứng Cóc nở ra 100 con nòng nọc). Biểu tượng thủy phủ ở vịnh Hạ Long trong biển Thái Bình dương, của Lạc Long Quân trong toàn cục phong thủy địa cầu. Lạc Long Quân chính là Bạch Long tức con Rồng Trắng, có đuôi vươn dài thành đảo Bạch Long Vĩ. Nếu căn cứ vào bố cục mặt bằng của các ngôi chùa như đã trình bày, thì có lẽ trước đây, tại Đền Hạ đã từng có một tòa tháp cao 12 tầng - Thập Nhị Trùng Lâu nằm bên tay phải đền, đối ngược với Đền Giếng qua trục nối ba ngôi đền. Đền Trung: Được xây dựng theo kiểu chữ Nhất, đền có 4 cỗ long ngai, trong đó 3 cỗ long ngai chính diện có bài vị thờ ghi: Ất Sơn Thánh vương vị - Đột ngột Cao sơn Cổ Việt Hùng Thị thập bát thế Thánh vương vị - Viễn Sơn Thánh Vương Vị, còn cỗ long ngai thứ 4 không có bài vị. Chúng tôi nhận định ban thờ chính thờ các vua Hùng, ban thờ bên trái thanh long thờ vua Lạc Long Quân, ban thờ bên phải thờ vua Hùng Quốc Vương. Bố cục ban thờ này xem xét phối hợp với bố cục phong thủy miền Bắc như đã phân tích về Thăng Long Tứ Trấn ở các chương trước. Đền Trung - tục truyền đây là nơi các vua Hùng thường họp bàn việc nước cùng với các Lạc hầu, Lạc tướng; đây cũng là nơi hoàng tử Lang Liêu (Hùng Vương thứ VII) đã dâng bánh chưng, bánh dầy để tỏ lòng hiếu thảo với vua cha và tổ tiên đất nước. Gian giữa Đền Trung có bức đại tự: Hùng Vương Tổ Miếu tức Miếu Thờ các vua Hùng. Gian bên phải: Triệu Tổ Nam Bang tức Tổ muôn đời của nước Nam. Gian bên trái: Hùng Vương Linh Tích tức Vết tích linh thiêng của vua Hùng. Đền Thượng: Bố cục chữ Tam, Đền Thượng còn gọi là Điện Kính Thiên, trên chánh môn có bốn chữ đại tự: Nam Việt Triệu Tổ tức Tổ muôn đời của nước Nam. Tương truyền chính tại nơi đây, vua Hùng Vương thứ VI đã lập đàn tế trời cầu thiên tướng xuống giúp đánh giặc Ân. Phù Đổng Thiên Vương đã ra đời giúp vua dẹp tan quân thù, sau đó ngài lên núi Sóc Sơn bay về trời, vua Hùng Vương thứ VI nhớ ơn đã lập đền thờ. Dân gian còn lưu truyền lời ngài: “Đừng quên an táng ta trên núi Cả, để muôn đời đứng trên núi cao ta giữ gìn toàn bờ cõi cho con cháu”. Đền có 4 cỗ long ngai, trong đó 3 cỗ long ngai chính diện có bài vị thờ ghi: Ất Sơn Thánh vương vị - Đột ngột Cao sơn hiển hùng ngao thống thủy điện an hoằng tế chiêu liệt ứng quảng huệ y diễm vệ hàm công Thánh Vương Vị - Viễn sơn Thánh vương vị, còn cỗ long ngai thứ 4 không có bài vị. Căn cứ nội dung các bộ tranh thờ Đạo giáo dân gian miền Bắc, Việt Nam thì nơi đây chính là ban thờ Tam Thanh gồm Nguyên Thủy Thiên Tôn - Thần Nông, Linh Bảo Thiên Tôn - Đế Tiết và Đạo Đức Thiên Tôn - Đế Thừa và các vị thánh thần của cõi Thượng Thiên. Theo truyền thuyết, Đền Thượng trước đây còn có một “hạt lúa thần” chạm khắc bằng gỗ to như chiếc thuyền câu, điều này lại một lần nữa chứng minh nhận định nơi đây thờ Tam Thanh là hợp lý, vua Thần Nông chính là Nguyên Thủy Thiên Tôn trong Đạo giáo. Trong vòng Hoàng Đạo, con sư tử là biểu tượng của vua Thần Nông, còn con chim ưng là vua Lạc Long Quân - Thánh nhân của thế giới, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng tiên tri rằng: Đến khi ưng về sư tử dậy, Thái bình mới tỏa khắp non sông. Tại đền Vân Luông (Vân Long), xã Vân Phú, Lâm Thao, Việt Trì được xây dựng khoảng cuối thế kỷ XVII và đã qua hai lần trùng tu, sửa chữa. Trên cửa võng đền có bức đại tự “Thánh cung vạn tuế”, trên thượng cung đặt 3 cỗ long ngai sơn son thếp vàng, chạm kênh long thờ các vua Hùng, có bài vị ghi: Đột ngột cao sơn đại vương, Ất Sơn đại vương và Viễn Sơn đại vương. Phía trái hậu cung đặt hai cỗ long ngai cũng sơn son thếp vàng, thờ bản địa đại vương (Tham khảo cuốn Việt Trì - Kinh đô Văn Lang, di tích và lễ hội, tác giả Lương Nghị, Nxb Văn hóa Thông tin, 2011). Qua dữ liệu lịch sử khám phá trong các chương trước, cùng với cấu trúc thờ đền Vân Luông, chúng ta đi đến nhận định rằng: cỗ long ngai thứ 4 trong Đền Thượng thờ Hoàng Kỳ Thổ Địa, tương ứng với vua Đế Minh và bà Đỗ Quý Thị - Hương Vân Cái Bồ Tát; cỗ long ngai thứ 4 tại Đền Trung thờ vua Đế Nghi và chính thất của ngài; cỗ long ngai thứ 4 tại Đền Hạ thờ Ba Công Đại Vương tức Nguyễn Minh Nhân và chính thất của ngài. Các vị là Tam Từ trong Đạo giáo tức Tam Tòa Đức Chúa Ông: Đế Minh, Đế Nghi và Nguyễn Minh Nhân cùng tam vị phu nhân. Hình ảnh của các vị cũng chính là chòm sao Tam Thai trên bầu trời thiên văn thuộc Tử vi viên theo từng cặp đôi. Tại Đền Hạ như đã phân tích ở các chương trước, thời cổ còn có một cái tháp trùng lâu cao 12 tầng, 8 mặt bố trí các tượng Phật, cửa vào chân tháp có Bát Bộ Kim Cương trấn giữ, nằm phía bên phải của ngôi đền, có vai trò như tháp Văn Xương, đồng thời cũng còn mang ý nghĩa “tháp xây cao là để các vị Phật giáng lâm”. Chúng ta cũng có nhận định rằng: nội dung các bài vị là ngưỡng vọng về công đức của các vị vua Hùng đã xây dựng nên giang sơn, gấm vóc này, tuy vậy chúng tôi nhận định các bài vị gốc thực sự là hoàn toàn để trống, không ghi bất cứ một nội dung nào. Điều này hàm ý biểu tượng cho “Tính Không” hay “Tuyệt đối”. Bên phải Đền Thượng là “Cột đá thề” của An Dương Vương, để xác định nguồn gốc di tích lịch sử này, chúng ta có thể nghiên cứu bài viết Giải mã lời thề trên phiến đá cổ nghìn năm tuổi, tác giả Tuệ Minh, lược trích: Cuốn ngọc phả lưu ở Đền Hùng, đoạn nói về sự kiện Vua Hùng thứ XVIII (Duệ Vương) nhường ngôi cho Thục Phán và Thục Phán lên núi Nghĩa Lĩnh dựng đền thờ Vua Hùng, lập hai trụ đá thề, tạm dịch như sau: Hôm sau Tản Viên can vua rằng: nhà Hùng hưởng nước trải đã lâu, ý hẳn lòng trời có hạn mới khiến Thục Vương thừa lúc hở cơ đánh lại ta. Vả lại, nước Thục vốn là chủ bộ Ai Lao cũng là tông phái Hoàng Đế trước đây vậy. Thế nước chẳng được yên đều bởi tiền định. Vua tiếc gì một cõi phương Nam mà trái ý trời để hại đến sinh linh... Vua nghe theo, đưa thư cho Thục Vương bèn nhường cả nước. Thục Vương sai sứ lại ta. Vua nhân đó trao cho Thục Vương nỏ thần… Thục An Dương Vương được nước cảm kích việc nhường ngôi của Duệ Vương công đức bằng trời đất. Bèn dóng xe về núi Nghĩa Lĩnh dựng giao đài để cho nước nhà thờ phụng. Dựng hai trụ đá ở giữa núi chỉ lên trời mà khấn rằng: “Nguyện có trời cao lồng lộng soi xét chẳng sai, nước Nam trường tồn lưu ở miếu vũ Hùng Vương. Ví bằng vua sau nối nghiệp trái ước nhạt thề thì sẽ bị trăng búa gió rìu vùi dập làm cho cô độc”. Lưỡng thạch trụ Ảnh tham khảo Sự kiện vua Hùng Duệ Vương và Thục Phán - An Dương Vương chém vào vào đá lập lời thề tại Đền Hạ, cũng được Bồ Tát Nguyễn Minh Không ngụ ý nhắc lại trong cuốn Tam Quốc Chí, tại Hồi 54: “Ngô Quốc Thái đến chùa xem rể hiền - Lưu Hoàng Thúc động phòng cưới vợ mới”. … Bèn cũng cầm một thanh gươm bảo Huyền Đức rằng: - Tôi cũng xin trời một quẻ, nếu phá được giặc Tào cũng chặt hòn đá này vỡ làm đôi. Rồi Quyền khấn lầm rầm: - Nếu lấy lại được Kinh Châu, hưng vượng Đông Ngô, thì xin chém hòn đá này làm hai mảnh! Quyền liền vung kiếm, chém một nhát, hòn đá lại toác làm hai mảnh nữa. Đến bây giờ vẫn còn di tích hai hòn đá có vết chữ Thập, gọi là “Hòn đá căm hờn”. Người sau thăm nơi thắng cảnh đó vịnh thơ rằng: Tảng đá trơ trơ trước Phật đài, Gươm đưa một nhát, toác làm đôi, Quả nhiên hai nước cùng hưng vượng, Thiên hạ chia ba bởi mệnh trời! Hai người cùng bỏ gươm xuống, dắt nhau vào tiệc, lại uống thêm vài tuần rượu nữa. Tôn Quyền đưa mắt cho Huyền Đức, Huyền Đức mới từ tạ rằng: - Tôi không uống được nhiều rượu, xin cáo thoái. Tôn Quyền tiễn ra trước cửa chùa Cam Lộ, hai người đứng ngắm phong cảnh sông núi. Huyền Đức khen rằng: - Đây mới thực là giang sơn bậc nhất trong thiên hạ! Đến nay trong chùa Cam Lộ có bức hoành để mấy chữ: “Thiên hạ đệ nhất giang sơn”. Người sau có đề một bài thơ rằng: Núi non chen chúc, Ốc Xanh trồng, Phong cảnh nhìn xem cũng lạ lùng. Nào chỗ anh hùng chơi thuở trước, Hẳn nơi sườn núi tựa dòng sông. Trong khi hai người đang đứng ngắm nghía, bỗng nhiên trời nổi gió to, dưới sông sóng dâng cuồn cuộn, chợt thấy một chiếc thuyền nhỏ, đi trên mặt nước, vững vàng như đi trên cạn, Huyền Đức than rằng: - Đất Bắc cưỡi ngựa, miền Nam bơi thuyền, quả nhiên có thế thật! Tôn Quyền nghe nói, nghĩ rằng: - Huyền Đức có ý khinh ta không biết cưỡi ngựa chăng? Lập tức sai người dắt ngựa đến, nhảy phắt lên tế xuống chân núi, rồi lại phi lên tận đỉnh núi, cười bảo Huyền Đức rằng: - Người miền Nam không biết cưỡi ngựa sao? Huyền Đức nghe nói làm vậy, cũng vén áo nhảy lên ngựa, phi xuống núi rồi lại phi lên, hai người kìm ngựa đứng trên đỉnh núi, giơ roi cười khúc khích với nhau, vì thế chỗ ấy gọi là gò Trụ Mã. Người sau có thơ rằng: Rặng đá quanh co ngựa ruổi rong, Dừng cương đỉnh núi ngắm non sông. Đông Ngô, Tây Thục nên vương bá, Trụ Mã nghìn thu vững tựa đồng. Khi ấy hai người lại sóng đôi ngựa trở về. Nhân dân Nam Từ, ai nấy đều nức nở khen ngợi. Ở phía bên phải là lăng vua Hùng Vương thứ VI, theo truyền thuyết thì vua Hùng Vương thứ VI đánh đuổi được giặc Ân với sự trợ giúp của Phù Đổng Thiên Vương, về sau truyền lại ngôi cho thái tử thứ XVIII là Lang Liêu, người làm ra bánh chưng bánh dầy. Lăng có các chữ đại tự: Hùng Vương Lăng. Cửa chính của có đôi câu đối: Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản sông Đà, non nước vẫn quay về đất tổ. Văn minh đương buổi mới, con Hồng cháu Lạc, giống nòi còn biết đến mồ ông. Lăng vua Hùng Vương VI là một chứng tích ghi nhận lại thời kỳ chiến tranh với giặc Ân, sự kiện này cũng được ghi nhận trong Kinh Dịch. Có lẽ, dự báo trước sự phát triển tự nhiên của xã hội, tất những cuộc chiến tranh tới lúc cũng sẽ phải xảy ra, vua Hùng Vương VI đã tổ chức tổng kiết tập lại toàn bộ học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và các phương pháp ứng dụng, điển hình là cuộc thi tài mà hoàng tử Lang Liêu chiến thắng với cặp bánh chưng bánh dầy biểu tượng cho Trời Đất. Đặc biệt, trong các chương trước cũng đã chỉ ra vị trí sao Kim và sao Thủy trong Hệ Mặt Trời cần phải đảo lại vị trí - đây chính là điểm ghi nhớ hình ảnh lăng vua Hùng Vương VI (Thái Bạch Kim Tinh trong Đạo giáo) nằm phía bên trái Đền Thượng. “Bác Hồ tâm linh” cũng có giáng một số các bài thơ với nội dung hết sức thâm thúy và ý nghĩa về cấu trúc mật mã của bàn thờ liên quan đến Thánh địa: … Mới có bàn thờ này, Đã trải bao đắng cay, Cho đến ngày bừng sáng. Nay đến ngày đến tháng, Sáng đất Mẹ Rồng Tiên, Để đón chào Trạng Nguyên, Sang thế kỷ hai mốt. Bác trở về làm nốt, Cuộc “Thế giới đại đồng”, Lo thống nhất non sông, Cờ hồng bay muôn thuở. Con gái Bác vì đời vất vả, Nhận sóng tâm linh gia phả Vua Hùng, Núi Hùng, Nghĩa Lĩnh đầu tiên, Đó là Đền Tổ ở miền Phong Châu. Sơ khai từ thuở ban đầu, Vua Hùng dựng nước nhiệm màu hào quang, Đó là gọi nước Văn Lang, Cờ Tiên bảy ngọn vô bờ hiển linh. Long Hoa khai sáng khai minh, Hư Không Địa Mẫu hóa sinh muôn loài. Đạo Phật có một không hai. * Cờ hồng: quốc kỳ - cờ đỏ sao vàng. * Cờ Tiên: Cờ Thần hay còn gọi là cờ Tua, có thêu chòm sao Bắc Đẩu ở chính giữa. * Hư Không Địa Mẫu: Hương Vân Cái Bồ Tát, Phật Bà Quan Âm, Cửu Thiên Huyền Nữ. Trong bức tranh Hành Say, dân tộc Dao Lô Gang, xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn có các chữ mang ý nghĩa của mỗi bức tranh: bức tranh giữa Tổng Đàn có các chữ: Phước Lộc Thọ. Bức tranh bên trái Hải Bá có các chữ: Hựu Khang An tức giúp cho an khang - thái bình. Bức tranh bên phải Thái Vĩ có các chữ: Bảo Bình An tức bảo vệ cho sự bình yên. Dữ liệu này cho phép chúng ta nghi ngờ đây là nội fung hoành phi trên các ban thờ Đền Thượng với Hải Bá và Thái Vĩ là tướng soái Lão Long Cát và Toại Nhân thời vua Thần Nông - Nguyên Thủy Thiên Tôn. Bộ tranh Hương chủ của dòng tranh Đông Hồ với ván in tranh chính có đề ba chữ Đức Lưu Quang trên ban thờ, hai bên là hai ván in chữ Thọ và Phúc khổ to. Hai bên nữa là mười ván in hai câu đối: Tứ thời xuân tại thủ và Ngũ phúc thọ vi tiên được cách điệu thành hình hoa lá. Chúng ta cũng biết “Con gái nhờ phúc cha, con trai nhờ đức mẹ” và chúng ta cũng nghi ngờ đây là nội dung hoàng phi và câu đối tại Đền Hạ. Còn các bức hoàng phi và câu đối gốc tại Đền Trung cũng sẽ được nghiên cứu thêm. Đền Giếng: Kiểu chữ Công, chính giữa thờ Nam Tào, Bắc Đẩu. Giữa tiền sảnh có bức đại tự: Ẩm thủy tư nguyên tức Uống nước nhớ nguồn. Giếng nước ở đình, đền, chùa thường được dân gian gọi là giếng trời hoặc mắt rồng. Giếng là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người Việt xưa, cùng với hình ảnh cây đa, cây đề, cây si, cây sung, đền chùa, miếu mạo, cổng tam quan làm thành các thôn xóm, làng mạc, đô thành của đất nước. Nước giếng thiêng của Đền Hùng thường dùng để ban cho những người cầu tự, cầu mong sức khỏe. Chùa Thiên Quang: Được xây dựng vào thời Trần, có tên gọi là “Viễn Sơn Cổ Tự”, chùa xây dựng theo kiểu “nội Công ngoại Quốc”. Đến thế kỷ XV, chùa được xây dựng lại và đổi tên thành “Thiên Quang Thiền Tự”. Thế đất Đền Hùng theo quy mô phong thủy ở tầm cỡ địa cầu là đẹp nhất, hoàn toàn thỏa mãn những điều kiện viết trong cuốn sách Hồng Vũ Cấm Thư: Đất báu trời sinh cảnh lạ lùng, Vương hầu phát tích khó xem thông. Long môn ấn kiếm cùng khuê hốt, Hổ trướng thùy châu với giáp nhung. Huyền vũ núi gươm trăng dọi nước, Nam phương trống trận giáo như rừng. Đại Hồ một cõi riêng trời ấy, Đừng tưởng vương hầu giấc mộng ngông. Dễ dàng nhận thấy nội dung bài thơ này chỉ ra phía thanh long sẽ có ấn tín, kiếm lệnh và khuê hốt, còn phía bạch hổ sẽ có bộ giáp nhung và mũ trụ của đại tướng soái. Các biểu tượng và võ phục tương ứng với ban thờ của hai vị Hộ quốc đại vương Tản Viên Sơn Thánh và Xung thiên đại vương Thánh Gióng ở hai bên ban thờ chính nằm giữa. Quốc gia tín bảo Cổ vật nhà Nguyễn, Việt Nam Mô tả một kỳ địa gồm đủ các chi tiết chính phụ, nằm trong “La Thành Viên Cục”, khi thế sum nghiêm châu mật có đủ quân thần tá sứ. Đại cục như thế đó, nhưng các sách địa lý phong thủy cổ ít khi dám bàn đến: Ngũ tinh cách tú triều nguyên, Kim mộc thủy hỏa bốn bên loan toàn. Thổ tinh kết huyệt trung ương, Ất đất sinh thánh sinh vương đời đời. Thiên sơn vạn thủy triều lai, Can chi Bát quái trong ngoài tôn nghênh. Nhị thập bát tú thiên tinh, Tại Thiên chiếu Địa rành rành chẳng sai. Tổng quát đền Quốc Tổ Hùng về cấu trúc và trang trí mang trọn vẹn ý nghĩa học thuyết Âm Dương Ngũ Hành - học thuyết thống nhất vũ trụ, cốt lõi của văn hóa Việt. Đồng thời, cũng là nơi hội tụ tâm linh thế giới, bởi nơi đây là mảnh đất tổ linh thiêng của các dân tộc thuở 5.000 năm trước. Đền Hùng với các cỗ long ngai có bài vị đã được xác định các thần thánh nước Việt, tuy nhiên thần vị đã được an, không được di chuyển, cho dù ở bất cứ ngôi đền, đình, chùa, miếu mạo, nhà cửa nào. Bồ Tát Nguyễn Minh Không cũng đã nhắc nhở vấn đề này trong Tam Quốc Chí tại Hồi 69: “Bói Chu Dịch, Quản Lộ biết cơ trời - Đánh giặc Hán, năm người đều tử tiết”: Tháo mừng lắm, lập tức sai người đến Bình Nguyên mời Quản Lộ. Lộ đến, Tháo sai bói việc Tả Từ. Lộ nói: Việc ấy chẳng qua là một phép ảo thuật, có việc gì mà phải lo!. Tháo yên tâm, từ đó dần dần khỏi bệnh. Lại sai Quản Lộ bói việc thiên hạ. Lộ gieo quẻ xong, nói: Ba Tám tung hoành, lợn vàng gặp hổ, mé Nam núi Định Quân, tất gãy một cánh tay. Tháo lại sai bói xem mình truyền ngôi được dài hay ngắn. Lộ bói xong, nói: Trong cung sư tử, để yên thần vị, Đạo vương đổi mới, con cháu rất quý. Tháo hỏi lại cho rõ. Lộ thưa rằng: Số trời mờ mịt, khó biết trước được, để nghiệm về sau thì khắc biết. Cùng với Đền Hùng, còn có một địa điểm hết sức quan trọng đó là nơi hóa thánh của các bậc tiên liệt đã được mật mã trên bãi đá cổ Sapa, vùng Tây Bắc Việt Nam. Đây là một trong ba hoặc bốn bãi đá cổ lớn có những ký tự bí ẩn còn lại trên thế giới, bãi đá cổ này được phát hiện vào khoảng từ năm 1924-1926 do các nhà khoa học Pháp. Các nhà khảo cổ cho rằng chúng được tạo nên từ khoảng hơn 2.000 năm nay và thuộc về di sản của người Việt cổ. Bản đồ Phong Châu khắc trên đá cổ Sapa (khi quân thù bị đánh bại) Golonbev và Levy: Tài liệu của thư viện Quốc gia Trung Ương Chú thích bản đồ Phong Châu: 1. Đường nét màu xanh là sông Hát (Hát Giang và các chi nhánh chảy theo nhiều hướng). 2. Các ô màu vàng úa là các khu ruộng lúa nước. 3. Vòng tròn nhỏ là tiền đồn bảo vệ Kinh đô Phong Châu (màu đỏ). 4. Vòng tròn nhỏ có chữ T1 là đồn binh trạm truyền tin (màu đỏ). 5. Khu có các ô tứ giác là các khu dân cư (màu đỏ). 6. Vòng tròn to có nhiều hình hướng tâm (màu đỏ) là trung tâm Kinh đô Phong Châu (gồm: Vân Lôi, Trạch Lôi, Huyền Kỳ, Khả Lãm, Thuần Lãm). 7. Vòng tròn ô giữa khu ruộng lúa là đồn binh, nay ở Thanh Cao, Cao Viên (màu đỏ). 8. Hình người 2 thân, đầu có tia mặt trời (màu đỏ) là khu mộ Đế Xứ (khu mộ Vua Hùng đời thứ nhất). 9. Nghĩa địa (nay ở Bích Hoà) vùng có nhiều hình người nhỏ gồm ký hiệu E. 10. Hình đầu người có tia mặt trời, giữa 2 chân là vòng tròn kép là mộ Quốc tổ Lạc Long Quân (ở Cao Thượng, vùng Bình Đà). 11. Có ký hiệu E1 bên cạnh là nơi sản xuất chế tạo vũ khí. 12, 13. Có hình người là các điểm dân cư ở rải rác làm các nghề khác nhau. 14. Đường đen có viền răng cưa là chiến luỹ. 15. Các hình bi tròn bé trên bờ sông Hát (64 hòn) là trận địa (về sau gọi là Đỉnh Nhĩ). Theo truyền lại thì bản đồ này có từ thời các Vua Hùng đã khắc ở bãi đá cổ SaPa, được các vị tiền bối sao lại để ở đồn Thượng (khu Kinh đô cổ ở Thanh Oai). Sau này, bọn Tây lấy in ra và lưu tại Thư viện Quốc gia Trung ương. Nhóm sưu tập qua nhiều tài liệu, nghe truyền lại và dùng phương pháp ngoại cảm xác định theo chú thích trên. Sơ đồ 11& 12 trên đây là bản đồ Phong Châu (Phong Châu đồ bản) do Goloubev (1878-1945) là nhà nghiên cứu học phương Đông người gốc Nga. Ông làm việc nhiều năm ở Viện Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội đầu thế kỷ 20. Ông cùng đồng nghiệp Levy chụp lại bức ảnh trên từ bãi đá cổ Sapa và lưu giữ được ở Thư viện Quốc gia Trung ương. Những chữ Hán trong bản đồ là từ bản cũ, còn từ Việt là do giải thích ghi kèm theo (về sau). Phong Châu có nghĩa là kinh đô của Gió (cung Tốn trong Bát quái), hay kinh đô của phương Tây, điều này mang ý nghĩa chính là kinh đô của Thần Chết, tương tự nền văn hóa Ai Cập cổ đại, các Pharaoh được được mai táng trong các kim tự tháp nằm bên bờ Tây sông Nile. Như vậy, tấm bản đồ khắc trên những hòn đá cổ Sapa ở trên thể hiện chính xác nơi chôn cất các vua Hùng trong lịch sử. Phong Châu là tên bộ trung tâm của 15 bộ nước Văn Lang cổ đại, rõ ràng tên kinh đô hành chính không phải ở Hà Tây mà là một nơi thích hợp phong thủy địa lý, đặc biệt thường gắn kết với những nền văn minh nằm cạnh những dòng sông lớn, ứng phần Bắc Bán Cầu thuộc hữu ngạn sông Hồng chính là Long Thành, Hà Nội ngày nay, như đã chứng minh trong các chương sách. Những địa điểm này đã được ghi chép chính xác trong gia phả các dòng họ, chúng ta hãy cùng tham khảo một phần dữ liệu địa chí tối quan trọng: Chùa Tây Phương và Chùa Cực Lạc là hai ngôi chùa cổ ở Xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất. Theo phả cũ Đế Thiên Phục Hy định đô ở vùng này, Đế Thiên Phục Hy được thờ ở Thiên Cổ Miếu trên núi chùa Tây Phương, còn chùa Cực Lạc là nơi thờ Địa Mẫu. Cụm di tích động Hoàng xá, chùa Vàng ở Hoa Vôi, Quốc Oai, Hà Nội là nơi thờ và có mộ vọng Viêm Đế - Thần Nông. Lịch Đại Đế Vương (cụ Hòa Hy) Đình Vân Lôi, xãnh Bình Yên, Thạch Thất, Hà Tây Gò Sở - Mộ vua Thần Nông ở cánh đồng trước núi chùa Trầm, Chương Mỹ, Hà Nội. Trên gò có cây hoàng anh (cây duối) cổ thụ. Gần đó có mộ Lão Long Cát thầy dạy của ngài (ảnh lư liệu). Chùa Trầm còn gọi là chùa Long Châu, tọa lạc ở xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ. Địa thế chùa rất đẹp với các núi nhỏ chung quanh như núi Ninh Sơn, Đồng Lư, Tiên Lữ. Thật ra, đây là một cụm danh lam thắng cảnh với núi Trầm và ba ngôi chùa cổ: Chùa Trầm Vô Vi, chùa Trầm Hang và chùa Long Tiên. Chùa được xây dựng thời Lý ở chân núi Tử Trầm. Chính điện Đình thờ Đức Thánh Cả (Đế Tiết) và Đức Thánh Hai (Đế Thừa Sở Minh Công) Mộ Đế Thừa Sở Minh Công ở Gò Sở, Quang Lãm, Thanh Oai. Mộ của vua Đế Minh ở xã Thắng Hiền, Hương Lang, Khương Thượng. Chùa Vân La tên chữ là Đăng Vân ở thôn Vân La, xã Văn Khê, thành phố Hà Đông thờ cụ Đỗ Quý Thị, Hương Vân Cái Bồ Tát, Phật Bà Quan Âm. Mộ táng ở Ba Lôi trong chùa Bồ Tát Đa Tát, Ba La. Trước kia còn miếu thờ tám vị trên ở gò Thiềm Thừ (Con Cóc) vùng Ba La và có hai bia đá hình trụ (cao trên 1.0m, trụ 4 mặt, mỗi bề rộng 40cm, đỉnh trụ có một con cóc ôm quả địa cầu). Mộ Kinh Dương Vương ở Văn Nội, Phú Lương, quận Hà Đông. Trong vùng được coi là kinh đô cổ còn bảo tồn hàng chục khu miếu mộ thờ các dòng vua Hùng ở các làng Thượng, gọi là khu mả Đế. Các cây cổ thụ trồng ở khu di tích thường có cây hoàng anh mộc (cây ruối). Mộ Thánh Mẫu Thượng Ngàn, Tây Vương Mẫu, Phật Mẫu, chính thất vua Kinh Dương Vương ở thôn Vân La, còn gọi là khu Xích Hậu. Mộ Mẫu Thượng Ngàn Ông Nguyễn Văn Tằng chỉ vị trí đã bị san lấp (trích Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, Nhóm nghiên cứu thời tiền sử, chủ nhiệm cố giáo sư Đỗ Tòng). Đình Nội Làng Bình Đà, xa Bình Minh, huyện Thanh Oai, Hà Nội thờ Lạc Long Quân và đình Ngoại thờ Lý Lang Công (theo phả cũ Lý Lang Công hay Ba công đại vương là chú của Lạc Long Quân). Bà Âu Cơ, Chúa Mẫu Thoải, Quan Âm Bồ Tát có mộ an táng tại đồng Láng, Khả Lãm (Bác Lãm), đến thời Khải Định mộ mới chuyển về chùa Thượng Mạo với tên gọi là mộ bà Căn Kỷ. Mộ Chúa Mẫu Thoải ở trước chùa Tường Quang ở Thượng Mạo, Động Lãm Trích Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, Nhóm nghiên cứu thời tiền sử, chủ nhiệm cố giáo sư Đỗ Tòng Trong đình Nội làng Bình Đà thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân còn giữ được bức giá Thánh rất cổ chạm hình Quốc Tổ và 9 người con trai, 10 đời truyền ngôi. Làng Thầy nay gọi là Huyền Kỳ, xưa gọi là Huyền Nhạc, vốn là một cái thành thời Hùng Vương, nằm trong Long Biên thành, Bác Lãm trại. Tương truyền lại rằng: Nguyễn Như Lai, tức Đế Lai con Đế Nghi sang thăm con gái là Âu Cơ thấy cuộc sống Phong Châu tươi đẹp, no đủ, vui quên trở về, lại bắt dân cung phụng sơn hào, hải vị, nhiều người bỏ mạng trong rừng sâu hoặc biển cả, dân Văn Lang rất lấy làm bất bình bèn tâu với Lạc Long Quân. Lạc Long Quân biết mới bày cách đêm đêm cho người thay nhau giả làm quỷ đầu trâu, mặt ngựa gào thét đòi mạng xung quanh nhà, làm cho Đế Lai mất ăn, mất ngủ. Do quá mệt Đế Lai mới hỏi Lạc Long Quân làm sao giải được cái nạn ma quỷ này, Lạc Long Quân trả lời rằng: “Nhà vua đã từng sát hại loài vật rất nhiều để làm thức ăn cho cung tần, mỹ nữ, người chết vì săn bắn cũng nhiều, hồn oan còn vương vấn, muốn báo thù, khó mà giải được. Nhà vua chỉ còn cách đi tu mới giải được, mà tu hành thì phải ăn chay (Tam quy ngũ giới)”. Chùa Thầy Tranh sơn mài, tác giả Nguyễn Trọng Hợp Nguyễn Như Lai đến chùa Huyền Nhạc làm thầy chùa, bắt đầu ăn chay, Âu Cơ thấy nhà vua ăn uống đạm bạc, gầy hẳn đi, mới xin Lạc Long Quân cho ăn thêm thịt cá. Lạc Long Quân mới chuyển Đế Lai lên Sài Sơn, thuộc Quốc Oai, Hà Tây tu hành, để Âu Cơ không còn thấy cảnh bố đẻ ăn uống kham khổ nữa, và đoạn tuyệt với cung phi. Sau này đắc đạo được tôn làm Như Lai Phật Tổ. Huyền Nhạc gọi là làng Thầy, chùa Sài Sơn gọi là chùa Thầy, hai nơi này có quan hệ với nhau (xem Ngọc Phả Hùng Vương tái thế). Thật là: Đức độ dự sẵn mạch đọng che rủ phương Bắc, Tiếng tăm lưu lại gìn giữ vinh hiển trời Nam. Chính khí mạnh mẽ tích đầy bờ cõi, Chân linh lẫm liệt suốt từ xưa tới nay. (Bài vị miếu thờ bà Tiên Lữ chính thất cua vua Thần Nông). Tại Trung Quốc, các đền miếu hay lăng mộ của các vị đế vương từ Đế Minh trở lên chỉ là “thờ vọng” mà thôi, còn gốc tích vẫn ở tại Việt Nam. Trong gia phả, ghi chép Đế Lai sau khi thăm Văn Lang và tu luyện, rồi trở về lại Trung Quốc, cũng như không ghi chép mộ Đế Lai tại Việt Nam. Như vậy, chứng tỏ Đế Lai được an táng tại Trung Quốc, cùng với các hậu duệ sau này như Đế Chuyên Húc, Đế Cốc và Đế Chí. Ngày nay, lăng mộ Thái Hạo ở phía Bắc huyện thành Hoài Dương tỉnh Hà Nam, Thái Hạo họ Phục Hy, theo truyền thuyết ông xem điềm trời, chế khí cụ, dạy dân săn bắn, đánh cá. Lăng Thái Hạo ở bên bờ Sái Hà, bách xanh rậm rạp, u nhã đẹp đẽ, lăng cao hơn 20m trên đỉnh hình vuông, dưới chân hình tròn với ý “trời tròn đất vuông”, vườn lăng có thành nội và thành ngoại, có cổng Ngọ triều, cổng Đạo nghị, cổng Tiên thiên, cổng Thái cực, cổng Thái thủy, lại còn điện Thống thiên, Hiển nhân. Lăng Viêm Đế ở Tây Nam huyện thành Linh Huyện ở Hồ Nam, Viêm Đế họ Thần Nông, truyền thuyết ông là người dạy dân trồng trọt, phát minh ra cây thuốc. Lăng Viêm Đế ở bờ ông Mễ Thủy, cây cổ thụ ngất trời, trang nghiêm đẹp đẽ. Lăng Hoàng Đế ở phía Bắc huyện thành Hoàng Lăng tỉnh Thiểm Tây, Hoàng Đế họ Hữu Hùng, theo truyền thuyết có công lao cực kỳ vĩ đại, phát minh nhiều mặt, lăng Hoàng Đế ở đỉnh núi Kiều Sơn, Kiều (cầu) sơn hình như cái cầu, do đó mà thành tên. Sông Tử Thủy chạy xuyên qua lòng Kiều Sơn mà ra, uốn quanh núi rồi chảy về Đông, lăng Cao 3.6m, chu vi 48m, dưới chân Kiều Sơn có miếu thờ Hoàng Đế, tùng bách vây quanh, cây tùng cao nhất tới 19m, thân cây 7 người dang tay ôm mới hết. Lăng Thiếu Hạo ở phía Đông huyện thành Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông, Thiếu Hạo họ Kim Thiên. Lăng mộ “vọng” Hoàng đế Hiên Viên (tức vua Đế Minh - Phật A Di Đà) Kiều Sơn, Thiểm Tây, Trung Quốc Nghiêu Lăng ở phía Đông thành Lâm Phần tỉnh Sơn Đông, vua Nghiêu hiệu Đào Đường thị, cạnh lăng có sông Lao Hà chảy qua. Lăng cao 50m, có vách đất bao quanh. Lăng vua Thuấn ở Đông Nam huyện Ninh Viễn tỉnh Hồ Nam, vua Thuấn hiệu Hữu Ngu thị. Lăng vua Thuấn phong cảnh rất đẹp ở Ngọc Quản Nham núi Cửu Nghị, theo truyền thuyết, vua Thuấn chôn ở đây xong thì thoát xác bay lên trời. Lăng Đại Vũ ở Đông Nam thành phố Thiệu Hưng, tỉnh Tỉnh Triết Giang, trên sườn phía Nam núi Cối Kê, từ núi Cối Kê có thể nhìn xa xa thấy biển Đông, dưới chân núi là sông Phố Dương và sông Tào Nga. Sách Ngô Thành Xuân Thu chép vua Vũ khi về già tự tìm đất chôn và bảo quần thần: “Sau khi ta trăm tuổi, chon ta ở núi Cối Kê, quan tài đồng, quách lau sậy, đào sâu bảy thước, hôm sau xuống tận suối, nấm cao ba thước, bậc đất ba tầng”. Ngoài ra lăng Chuyên Húc và lăng Đế Cốc ở thành phố Bộc Dương, lăng Thành Thang ở Bắc sông Oa Hà phía Bắc thành Hào Huyện tỉnh An Huy. Lăng Chu Văn Vương và Chu Vũ Vương ở thành Hàm Dương tỉnh Thiểm Tây… cơ hồ các bậc tiên hiền đều có lăng xây mộ, phần lớn do đời sau xây dựng, có bậc thánh hiền có lăng ở nhiều nơi như ở Hà Nam, Hà Bắc, Cam Túc đều có lăng của Hoàng Đế (Tham khảo cuốn Hướng gió, mạch nước, thế đất trong nghệ thuật kiến trúc, xây dựng nhà ở, Nxb Văn Hóa Thông tin, tác giả Vương Ngọc Đức, 1996). Tây Tạng - xứ sở của tuyết tôn thờ Đại Nhật Phật làm trung tâm, tôn thờ Quan Âm Bồ Tát và Phật Di Lạc là tổ tiên của dân tộc cùng với Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh và cụm phong thủy Tứ Linh, chính là mật mã đã được giải ghi nhận trong Thuyết quái truyệ, của Kinh Dịch: “Nói xong ở cửa Cấn” tức nói xong về những bậc thần thánh vĩ đại được tôn thờ những ngọn núi linh thiêng. Đồng thời, “Tứ Linh” chính là cụm di tích thần thánh mà “Bác Hồ tâm linh” cũng đã nói tới tại di chỉ Đá Trông. Như vậy, chúng ta có thể lập được bảng tổng hợp gia phả cổ đại của Việt Nam và Trung Quốc như sau: Trung Quốc CỘI NGUỒN Văn Lang Truyền thuyết Đại Hồng thủy Thủy Tổ Hồng Bàng Thị Truyền thuyết Đại Hồng thủy Truyền thuyết Bà Hoa Tư - mẹ vua Phục Hy. Hòa Hy - Lịch Đại Đế Vương Gia phả vua Hùng Phục Hy - Thanh Đế: đặt tên nước Cực Lạc, đóng đô ở Phong Châu, Việt Nam Phục Hy - Thần Nông - Đế Tiết - Đế Thừa - Đế Minh chính là Ngũ Đế chung của hai quốc gia. Đế Minh phân chia lãnh thổ Bắc - Nam Dương Tử, lập lời thề. Thần Nông - Viêm Đế Đế Tiết - Hoàng Đế Đế Thừa - Bạch Đế Đế Minh - Huyền Đế Đế Nghi tức Đế Trực (em song sinh với vua Đế Minh) lên ngôi vua Bắc sông Dương Tử. Truyền thuyết Hồng Bàng Thị và vua Đế Minh cùng với Đế Nghi và Kinh Dương Vương lập lời thề tại núi Thiên Đài, Hồ Nam, Trung Quốc (tới nay, di tích vẫn còn). Đế Lai tức Đế Ly (con vua Đế Nghi) kế thừa ngôi vua của Đế Nghi Vua Kinh Dương Vương (con vua Đế Minh) lên ngôi năm 2879 tr.CN - Hùng Vương I - Thiên Hoàng - nước Xích Quỷ phía Nam sông Dương Tử Đế Chuyên Húc tức Đế Ai (được nhận định là anh em với bà Âu Cơ) Con gái Đế Lai là bà Âu Cơ lấy vua Lạc Long Quân. Vua Lạc Long Quân - Hùng Vương II - Địa Hoàng. Đế Cốc tức Đế Khắc Đế Cốc mang hình ảnh con “chim Cốc”. Vua Hùng Quốc Vương - Hùng Vương III - Nhân Hoàng - nước Văn Lang Đế Chí tức Đế Du Vua Nghiêu: 2347-2246 tr.CN (Đường Nghiêu) Bang giao với việc Văn Lang tặng rùa thần có chữ Khoa đẩu, ghi lịch pháp và chuyện trời đất mở mang Đời vua cuối cùng của chi Cấn - Hùng Vương III Vua Thuấn: 2246-2204 tr.CN (Ngu Thuấn) Vua Kinh Dương Vương - Vua Lạc Long Quân - Vua Hùng Quốc Vương là Tam Hoàng của nước Văn Lang Vua Vũ: 2204-1766 tr.CN (Đại Vũ) Hạ Vũ hội chư hầu tại Đồ Sơn, Hải Phòng, nước Văn Lang học kinh nghiệm trị thủy, ghi nhận trong Kinh Thư. Truyện cổ dân gian Tấm Cám Nhà Thương: 1766-1123 tr.CN Thời vua Ốc Đinh gây cuộc chiến với Văn Lang được ghi nhận trong Kinh Dịch. Hùng Hồn Vương - Hùng Vương VI, truyền thuyết Thánh Gióng đánh giặc Ân Nhà Chu: 1123-249 tr.CN Bang giao với việc Văn Lang hiến chim trĩ trắng - sứ thần Văn Lang trở về bằng xe gắn kim chỉ nam (la bàn) Hùng Định Vương - Hùng Vương IX (1100 tr.CN) Thời Xuân Thu Không được ghi nhận rõ ràng Thời Chiến Quốc Việt Sử Lược: Việt Vương Câu Tiễn sai người sang dụ, Hùng Vương cự lại Nhà Tần (221-206 tr.CN) Nhà Tần tấn công Văn Lang và thất bại, tướng Đồ Thư bị giết chết Âu Lạc - vua An Dương Vương - đời cuối của chi Hùng Vương XVIII Nhà Hán Nhà Hán tấn công và chiếm nước Nam Việt Nam Việt - Triệu Vũ Đế * Hùng Vương Thứ III-VII cùng với Đế Lai - Đế Chuyên Húc - Đế Cốc - Đế Chí là 9 hành tinh trong Hệ Mặt Trời, tạo thành biểu tượng Cửu Tinh trong phong thủy “Huyền Không phi tinh”. Hình ảnh của các vị liệt tổ, liệt tông cũng được lưu giữ cẩn thận trong dòng tranh thờ Đạo giáo và tranh dân gian Hàng Trống của các dân tộc miền Bắc Việt Nam, sau đây là một số hình ảnh tham khảo được tôn thờ. Thánh Chúa (Lạc Long Quân), Đạo Đức Thiên Tôn, Nguyên thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Thiên Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế Tranh thờ Đạo giáo của các dân tộc miền Bắc, Việt Nam Gia phả ghi nhận thủy tổ của các dòng họ là Hồng Bàng, nếu chiết tự thì chữ Hồng là Nhiều và Nước, vậy Hồng Bàng tức là thủy tổ sau trận đại hồng thủy, chi tiết này hoàn toàn phù hợp với các câu chuyện về Đại Hồng Thủy của các dân tộc trên thế giới. Đấy là lý do tại sao, người Việt còn lưu giữ được thuyết Âm Dương Ngũ Hành và các phương pháp ứng dụng - mà kết quả phải trải qua hàng ngàn năm quan trắc, đo đạc thiên văn cũng như tổng hợp, nghiên cứu của loài người. Bảng tổng hợp 35 câu chuyện Đại hồng thủy Những câu chuyện Đại Hồng Thủy của người tiền sử, Minh trí tổng hợp <br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Tác giả Stephen Oppenheimer của cuốn sách Địa đàng ở phương Đông, Nxb Lao Động, 2005, trang 64-65 đã sử dụng đồ thị mực nước biển để mô tả các chu kỳ nạn hồng thủy được dựa trên công trình nghiên cứu của nhà hải dương học người Canada Paul Blanchon và các đồng nghiệp của ông. Mặc dù nó chủ yếu chỉ đề cập đến những nghiên cứu tại Barbados thuộc vùng Caribe nhưng đây là công cụ tốt nhất hiện có để mô tả ba trận đại hồng thủy. Đồ thị xác định rõ các mốc diễn ra nạn hồng thủy nhưng chưa phải là một phát hiện hoàn toàn chính xác, mà đúng hơn là một bản tổng hợp từ kết quả của một số nghiên cứu khác. Đồ thị Địa đàng ở phương Đông, Stephen Oppenheimer, Nxb Lao Động, 2005 Sự dâng cao đột ngột khoảng từ 5-10m của mực nước biển cách đây 8.000 năm đủ để những người theo “thuyết tai biến” tin rằng đây là một ứng cứ viên cho cơn đại hồng hồng thủy. Tuy nhiên, những báo cáo trên các tạp chí địa chất dường như cho rằng sự kiện này thậm chí còn thảm khốc và phức tạp hơn nhiều, mực nước biển có thể dâng đến 25m, ngoài ra như các huyền thoại đã nói, đợt dâng cao này nối tiếp bằng một đợt rút xuống. Trong cuộc hội thảo của Hiệp hội phát triển Khoa học Mỹ năm 1995 về những thay đổi mực nước biển trong quá khứ địa chất gần đây, một số người tham gia từng nghiên cứu những khu vực cách xa nhau như Greenland, phía Bắc Đại Tây Dương và Đan Mạch đã báo cáo về một sự kiện lớn xảy ra cách đây 8.000 năm, công trình nghiên cứu ở Đan Mạch cho biết: “Mực nước biển dâng cao 25m và sau đó rút xuống tại thời điểm cách đây 8.000 năm với mức 8-15cm/năm”. Theo tiên tri trên vòng Hoàng Đạo tại đền Denderah Ai Cập thờ nữ thần bò cái Hathor, dấu ấn “hai dòng nước” mang ý nghĩa là “biển cả” mang ẩn nghĩa về đại hồng thủy là sự dâng nước của biển qua câu chuyện sư tử cái Sekhmet do thần Ra phái tiêu diệt loài người vì tội bất kính chống lại, quy chiếu giác độ trên vòng Hoàng Đạo tại điểm bắt đầu cuối cung Song Ngư cùng với hình ảnh thần chết cầm lưỡi hái tại cung Thất Nữ, ta thấy dự tính sự kiện này xảy ra khoảng năm 10.000 tr.CN, phù hợp với phân tích của Stephen Oppenheimer về trận đại hồng thủy thứ hai. Biểu tượng “2 dòng sông” tại vị trí dưới chân sư tử cái Sekhmet nói về đại dương: Hình ảnh thần Ra trước cung Thiên bình hình cái cân công lý có vẻ mang ý nghĩa của ngày phán xét giống như trận đại hồng thủy theo truyền thuyết phổ biến của các dân tộc trên thế giới, ngay phía dưới là hình ảnh con sư tử cái là biểu tượng của nữ thần Sekhmet với hai chân trước chặn lên hình vuông bao bọc hai làn sóng tức nước biển dâng lên trừng phạt loài người, chúng ta chú ý một làn sóng nước là nước mưa và ba làn sóng nước là biển nước Nun. Chúng ta cũng đã biết thần cá sấu Sebek cũng là hình bóng của thần Horus như đã trình bày, do vậy biểu tượng trên chính là ẩn dụ nạn hồng thủy. Hình ảnh con sư tử này được phân biệt rõ ràng với hình con sư tử đực là chòm sao Leo. Trên cân công lý là hình ảnh con chó nhỏ nhìn về hướng Đông Bắc khi xây đền Dendarah, cho ta nghĩ đến thần Tẩm Liệm Anubis trong thời kỳ trừng phạt này. Như đã trình bày hình bóng của thần Tẩm Liệm Anubis là con chó trên vòng tròn và vì vậy đứa bé với ngón tay trái chỉ vào miệng, tay phải để thõng trong vòng tròn trên điểm giữa cân công lý chính là phán quan khỉ đầu chó, biểu tượng cái tâm của con người. Vậy thì, sự trừng phạt loài người của sư tử cái Sekhmet sẽ đưa các linh hồn trở về cõi âm cung trước sự phán xét của thần Osiris bằng chính cái tâm của mỗi người qua cán cân công lý như bức tranh trong Sách của người chết. Sau đấy, những người còn sống sót trên thuyền đã lập lại cuộc sống mới với hình ảnh người mẹ bồng đứa bé. Qua Tài liệu số 48 ngày 13/3/2012: Nghiên cứu những điều Cha Trời dự đoán nay trở thành thành hiện thực (trong vòng 10 năm), tác giả Lâm Thanh Điền - Tam Thiên Đại Đạo Phổ Hiền Bồ Tát - kênh thông tin của “Ngọc Hoàng Thượng Đế tâm linh” tại Trần đời, ghi nhận nhiều sự kiện trong đó có sự kiện cô Nguyễn Thị Vân Anh - được Ngọc Hoàng Thượng Đế tâm linh (vua Kinh Dương Vương) và thầy “Lương Minh Đáng tâm linh” - người sáng lập pháp môn Nhân Điện đã chấp thuận là người thay mặt cao nhất của pháp môn Nhân Điện tại Việt Nam và trên thế giới, đã có cuộc giao tiếp với các linh hồn của châu Atlantic: họ là một nhóm người rất đạo mạo, đẹp , tri thức, tự tin mà rất hối lỗi, buồn vô hạn đến nói với cô rằng: họ là PAMEAG (hay H gì đó), nhóm xiếc Goaltu từ châu Atlantic (536 người) bị nhấn chìm, lạnh, đau khổ… Hỏi tại sao các vị bị như vậy? Trả lời vì ích kỷ và kiêu ngạo. Hỏi tạo sao không có ai giúp các vị? Trong nhiều năm qua các vị vẫn ở đó? Trả lời rằng bây giờ mới tới hạn định, cảm ơn ân nhân đã giúp họ. Cô Vân Anh nói rằng: tôi không phải là ân nhân đâu, là học trò thầy Đáng, chắc Cha cho tôi làm việc với các vị, tôi sẵn sàng, các vị hãy cảm ơn Cha. Trả lời: Đưa chúng tôi về Cõi Sáng (cuộc giao tiếp kết thúc lúc 6h39’ ngày 10/03/2012). Như vậy, truyền thuyết về châu Atlantic quả là có thật. Qua cuốn Bức thông điệp bi thảm của cổ nhân, tác giả Erơnơ Mundasep, Nxb Thế giới, 2008, trích dẫn từ cuốn Học thuyết bí ẩn, tập II của bà Blavatxcaia (người sáng lập hội Thông Thiên Học) tại trang 56 viết: “… còn lại không nhiều (sau trận đại hồng thủy): vài người vàng, vài người nâu và đen và vài người đỏ. Còn lại Chủng tộc thứ Năm thoát thai từ thị tộc linh thiêng, họ điều khiển Các Thần Vua đầu tiên…”. Các Thần Vua, họ là ai? Trong sách của bà Blavatxcaia không nói tới. Trong cuốn truyện này, tác giả Erơnơ Mundasep đi tìm “Thành Thiên Đế” thời cổ xưa, kinh thành của các Đức Chúa Trời trên những vùng cao nguyên Tây Tạng, nhưng cũng chưa thể khẳng định di chỉ này ở nơi đâu. Với học thuyết Âm Dương Ngũ Hành - học thuyết thống nhất vũ trụ có thể giải thích khởi nguyên của vũ trụ và nguồn gốc loài người - tất cả đều có môi quan hệ nhân quả với nhau và là một thể thống nhất trong các quy luật vận động và tương tác, chúng ta cùng tham khảo nội dung một cuốn sách của tác giả Trịnh Xuân Thuận: Mỗi người trong chúng ta đều có hai bố mẹ, bốn ông bà, tám cụ cố và cứ như vậy tăng lên. Số tổ tiên của chúng ta tăng lên gấp đôi khi chúng ta ngược trở về một thế hệ torng cây phả hệ của chúng ta. Theo cách suy luận đó, nếu chúng ta ngược về 36 thế hệ, thì số tổ tiên của chúng ta sẽ là 236, tức là 70 tỷ người: bởi vì trung bình mỗi thế ệ cách nhau 25 năm, nên ngược trở lại ba mươi sáu thế hệ đồng nghĩa với việc quay ngược trở lại thời gian khoảng chín trăm năm, tức là ngược về tới năm 1100. Nếu chúng ta ngược về năm 0, vào thời điểm Chúa Jesus giáng sinh, thì số tổ tiên của chúng ta về lý thuyết sẽ là 1 triệu tỷ tỷ. Nếu các bạn nghĩ rằng những con số này là lớn không thể tin nổi, thì bạn có lý, vì chúng lớn hơn nhiều so với tổng số người (50 tỷ) đã từng số trên trái đất từ buổi bình minh nhân loại. Rõ ràng, những con số này nói với chúng ta rằng một người trong số chúng ta không thể có một cây phả hệ hoàn toàn tách biệt với cây phả hệ của những người khác. Nếu không, chúng ta sẽ có nguy cơ làm siêu tăng dân số của hành tinh này bằng những người chưa tồn tại. Vào một thời điểm nhất định trong quá khứ, nhất định những dòng phả phả hệ của chúng ta phải gặp nhau và hợp nhất với nhau. Như vậy, khi lần ngược trở lại khá xa trong quá khứ, mới thấy rằng tất cả chúng ta hóa ra đều là anh em xa gần của nhau. Tất cả chúng ta đều có thể khoe mình là họ hàng xa của Thomas Jefferson (tác giả bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776), của hoàng đế Charlemagne thế kỷ IX, của Joseph và Marie vào năm “0” hay của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni năm 500 TCN. Trên thực tế, nếu chúng ta ngược lại đủ x, và vì bởi dân số nhân loại giảm dần khi ngược về cội nguồn, nên kết luật tất yếu rút ra là tất cả những người có mặt trên trái đất hôm nay đều xuất thân từ một tổ tiên chung. Kết luận khác thường này đã được các nhà nhân chủng học khẳng định, họ nói với chúng ta rằng trên thực tế tất cả chúng ta đều xuất thân từ một tổ tiên xa xôi sống trong một trảng cỏ châu Phi cách đây vài triệu năm và họ đặt tên là Lucy, theo bài hát của ban nhạc Beatles Lucy in the sky with diamonds. Còn đáng ngạc nhiên hơn nữa: sự giải mã bộ gien người và các loài sinh vật khác cho chúng ta biết rằng sự hội tụ các cây phả hệ về một cây duy nhất không chỉ lie6b quan đến con người, mà còn liên quan đến tất cả các sinh vật khác. Chẳng hạn, chúng ta chia sẻ 99.5% số gen của chúng ta với loài tinh tinh. Điều này có nghĩa là chúng ta xuất thân từ một tổ tiên chung và rằng, nếu chúng ta có thể vẽ cây phả hệ của các con tinh tinh đủ xa, thì chúng ta sẽ thấy nó tất sẽ trùng với cây phả hệ của chúng ta vào một thời kỳ xa hơn nữa trong quá khứ. Điều đúng với tinh tinh cũng đúng với tất cả các sinh vật khác, từ cá heo đùa giỡn trong các đại dương đến những chú họa mi với tiếng hót làm chúng ta mê mẩn, những chú ve sầu rut a ngủ trong những đêm hè, đến những cây sồi lớn dọc theo các đường phố, đến những cây nấm phủ trên mặt đất rừng, đến những đóa hoa hồng làm chúng ta ngây ngất bởi hương thơm tinh tế của chúng… Dùng các sinh vật là người, động vật hay cây cối, những cành tách biệt của các cây phả hệ của chúng sớm hay muôn gì rồi đều sẽ gặp và nối kết với nhau để tạo thành một và chỉ một cây duy nhất - cây đời. (Nguồn gốc - Nỗi hoài niệm về những thuở ban đầu, Nxb Trẻ, 2012, tác giả Trịnh Xuân Thuận) Biểu tượng cho sự cùng chung nguồn gốc của nhân loại này chính là “cây đời” chính là “cây Đa” hay “Tam Đa”, mà các dân tộc cổ đại trên thế giới tôn thờ, mang ý nghĩa triết lý đại đồng chứ không phải là tình trạng thời thượng cổ tôn sùng vật tổ hay bái vật: Cây đời sống Tranh cổ dân tộc Aztec, Ai Cập và Mesopotamia Từ triết lý về vũ trụ và nhân sinh, các học giả của các dân tộc trên thế giới đã sáng tác nên những tác phẩm văn học bất hủ với thời gian, ghi đậm dấu ấn của quy luật nhân quả, chiến tranh và hòa bình, thiện và ác như nhắc nhở tới nhân loại về một thế giới thống nhất và nơi có sự sống duy nhất - chính là trái đất hay hành tinh xanh này, và câu truyện cổ tích Thạch Sanh trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, chính là một trong những câu chuyện ấy. Xưa ở quận Cao Bình có gia đình bác tiều phu Thạch Nghĩa, vợ chồng tuổi cao mà vẫn không con. Ông bà lo buồn và ra sức làm việc nghĩa. Ông thì sửa cầu, sửa cống, khơi rãnh, đắp đường. Bà thì nấu nước cho người qua đường uống. Việc làm của gia đình họ Thạch thấu đến trời, Ngọc Hoàng cho Thái Tử đầu thai xuống trần làm con nhà họ Thạch. Thạch bà thụ thai ba năm, chưa sinh con thì Thạch ông mất. Sau đó, Thạch bà sinh một con trai khôi ngô tuấn tú đặt tên là Thạch Sanh. Cách ít năm sau, Thạch bà cũng mất, Thạch Sanh sống côi cút một mình trong túp lều tranh dưới gốc đa với một mảnh khố che thân và một cái rìu đốn củi. Năm Thạch Sanh mười ba tuổi, Ngọc Hoàng sai tiên ông xuống dạy cho chàng các môn võ nghệ và mọi phép thần thông. Một hôm có anh hàng rượu tên là Lý Thông, đi bán rượu ghé vào gốc đa nghỉ chân, thấy Thạch Sanh khỏe mạnh, lanh lợi, ở một mình, bèn kết làm anh em và đưa Thạch Sanh về nhà. Bấy giờ ở trong vùng có một con Trăn Tinh thường bắt người ăn thịt, quan quân nhiều lần vây đánh không được. Vì nó có phép thần thông biến hóa; nhà vua phải cho lập miếu thờ và mỗi năm nộp mạng một người cho nó. Năm ấy đến lượt Lý Thông phải nộp mình. Mẹ con Lý Thông nghe tin hoảng hốt, bàn mưu tính kế đưa Thạch Sanh đi thế mạng. Khi Thạch Sanh đi lấy củi về, Lý Thông đon đả mời chàng uống rượu và nói: "Ðêm nay anh phải đi canh miếu thờ trong rừng, nhưng trót cất mẻ rượu, anh đi sợ hỏng, nhờ em thay anh canh miếu một đêm". Thạch Sanh vui vẻ nhận lời và đi ngay. Nửa đêm Chằn Tinh hiện về, giơ vuốt, nhe răng hà hơi, nhả lửa, định xông vào miếu ăn thịt Thạch Sanh. Thạch Sanh bình tĩnh trổ tài đánh nhau với Chằn Tinh, cuối cùng chàng chém được đầu nó, đốt xác nó thành than, và thấy hiện lên trong miếu một bộ cung tên bằng vàng ngời sáng. Thạch Sanh mừng rỡ giắt búa, đeo cung và xách đầu Trăn Tinh chạy thẳng một mạch về nhà. Nghe tiếng Thạch Sanh gọi, mẹ con Lý Thông hoảng sợ, cho là oan hồn của Thạch Sanh sau khi bị Chằn Tinh ăn thịt, trở về nhà oán trách, bèn cất lời cầu khấn, van xin: "Sống khôn, thác thiêng em hãy tạm đi, ngày mai mẹ cùng anh sẽ mua sắm vàng hương, cơm canh, cỗ bàn cúng em chu tất!". Bấy giờ, Thạch Sanh mới biết rõ tâm địa và mưu kế của mẹ con Lý Thông nhưng chàng không giận, vẫn vui vẻ kể chuyện giết Chằn Tinh cho mẹ con họ Lý nghe. Lý Thông liền nảy ra một mưu thâm độc mới. Nó nói Chằn Tinh là báu vật nhà vua nuôi, ai giết sẽ bị tội lớn. Thạch Sanh lo sợ, Lý Thông bảo Thạch Sanh trốn đi cho an toàn, một mình y sẽ tự lo liệu thu xếp giúp cho. Sau khi Thạch Sanh từ giã mẹ con Lý Thông trở về gốc đa xưa, Lý Thông đi ngay về Kinh, tâu vua là đã trừ được Chằn Tinh. Nhà vua vui mừng trọng thưởng và phong cho Lý Thông làm Ðô đốc quận công. Tiếp đó, nhà vua mở hội kén chồng cho con gái là công chúa Quỳnh Nga. Hội kén chồng kéo dài hàng tháng nhưng công chúa không chọn được ai vừa ý đẹp lòng. Một hôm công chúa đang dạo chơi vườn đào thì một con chim đại bàng khổng lồ khác sà xuống cắp đi. Thấy chim cắp người bay qua, Thạch Sanh giương cung bắn, đại bàng bị trúng tên vào cánh trái, nó dùng mỏ ngậm tên rút ra rồi bay tiếp về hang ổ. Thạch Sanh lần theo vết máu tìm đến cửa hang đại bàng, chàng đánh dấu cửa hang ác điểu rồi trở lại gốc đa. Nhà vua sai Lý Thông đi tìm công chúa, tìm được thì sẽ được lấy công chúa, làm phò mã, nối ngôi vua, không tìm được phải chịu tội. Lý Thông vừa mừng, vừa lo, y lập kế mở hội hát xướng mười ngày để nghe ngóng dò la tin tức. Ðến ngày thứ mười, biết tin Lý Thông mở hội, Thạch Sanh đến thăm và kể cho Lý Thông nghe việc bắn chim đại bàng, Lý Thông mừng vui khôn xiết, hậu đãi Thạch Sanh và nhờ chàng dẫn đường đến hang Ðại bàng cứu công chúa. Thạch Sanh dùng thang dây xuống hang gặp công chúa và đưa thuốc mê cho đại bàng uống. Công chúa hẹn ước kết duyên cùng Thạch Sanh rồi Thạch Sanh buộc dây đưa nàng lên mặt đất. Lý Thông sai quân lính đưa công chúa lên kiệu rước về cung, còn y nói dối là ở lại đánh nhau với quái vật. Sau đó, Lý Thông dùng đá lấp kín cửa hang và trở về triều đình mạo nhận công trạng. Không thấy Thạch Sanh trở về, công chúa buồn thương rầu rĩ và bặt câm, không hé môi nói nửa lời. Nhà vua buồn bã, Lý Thông cầu đảo thuốc thang khắp nơi đều vô hiệu, việc tổ chức cưới xin phải đình hoãn. Hết liều thuốc mê, đại bàng tỉnh dậy hóa phép thần thông hãm hại Thạch Sanh, chàng dũng sĩ "mặt đỏ mày xanh", đã dám cả gan "phá nhà, cướp vợ" của nó. Thạch Sanh dùng tài võ nghệ và phép thần thông của mình tiêu diệt được đại bàng. Nhìn lên cửa hang kín bưng không còn một khe hở, Thạch Sanh dạo khắp hang động của đại bàng và gặp Thái tử con vua Thủy Tề đang bị yêu quái nhốt trong cũi sắt. Thạch Sanh phá tan cũi sắt giải thoát cho Thái tử. Thái tử mời Thạch Sanh về Thủy Tề gặp vua cha. Vua Thủy Tề cảm ơn và hậu đãi chàng. Trong thời gian lưu lại thủy cung, một hôm Thạch Sanh đang cùng Thái tử dạo chơi thì một con Hồ Tinh xuất hiện, biến thành một cô gái xinh đẹp để cám dỗ, mê hoặc hại chàng. Thạch Sanh bắt nó phải hiện nguyên hình là một con cáo chín đuôi và hóa phép giam nó lại. Vua Thủy Tề mời Thạch Sanh ở lại thủy cung và sẽ phong chức tước cho chàng, nhưng Thạch Sanh từ chối. Vua Thủy Tề tặng Thạch Sanh một cây đàn thần và sai sứ giả rẽ nước đưa chàng trở lại trần gian. Thạch Sanh lại về với gốc đa xưa. Vắng bóng Thạch Sanh cây đa buồn ủ ê, khi Thạch Sanh trở về cây đa lại xanh tươi như cũ. Hồn hai con quái vật bị Thạch Sanh giết (Chằn Tinh và Ðại Bàng) gặp nhau tìm cách hãm hại Thạch Sanh. Chúng vào kho châu báu của nhà vua lấy cắp vàng bạc ném vào gốc đa nơi Thạch Sanh ở. Quân lính nhà vua bắt Thạch Sanh tống ngục, nhà vua giao cho Lý Thông xử tội. Lý Thông khép Thạch Sanh vào tội tử hình để bịt đầu mối. Trong lúc bị giam trong ngục, chờ hành hình, Thạch Sanh đem đàn ra gảy. Cây đàn thần vang lên tiếng tơ, tiếng trúc, cung thảm, cung sầu; cung thì kể tội Lý Thông vong ân, bạc nghĩa, cướp công Thạch Sanh: Đàn kêu tích tịch tình tang, Ai đem công chúa dưới hang trở về? Đàn kêu ăn ở bất nhân, Biết ăn quả lại quên ơn người trồng. Nghe tiếng đàn, công chúa bừng tỉnh dậy, cười cười, nói nói. Nhà vua vui mừng nghe công chúa nói rõ ngọn ngành. Lập tức nhà vua hạ lệnh tha cho Thạch Sanh và bắt Lý Thông tống ngục. Tiếp đó, vua làm lễ thành hôn cho Thạch Sanh cùng công chúa và truyền ngôi cho Thạch Sanh. Vua giao toàn quyền cho Thạch Sanh xử tội Lý Thông. Thạch Sanh tha tội cho Lý Thông, cho mẹ con họ Lý về quê quán làm ăn. Nhưng về giữa đường, trời nổi giông gió, mẹ con Lý Thông bạc ác bị sét đánh chết, Lý Thông hóa thành con bọ hung suốt đời chui rúc nơi bẩn thỉu. Biết tin Thạch Sanh kết duyên với công chúa Quỳnh Nga và lên ngôi trị vì thiên hạ, các hoàng tử, công hầu của 18 nước chư hầu, những người đã từng kéo đến cầu hôn công chúa không được, vô cùng ghen tức, họ kéo quân đến gây sự với Thạch Sanh và công chúa. Thạch Sanh cùng công chúa ra tiếp đãi họ một cách tử tế. Tiếng đàn thần của Thạch Sanh phân rõ lẽ thiệt hơn, phải trái, làm cho quân sĩ các nước chư hầu mềm lòng, nản chí. Kẻ nhớ mẹ nhớ cha, người thương con nhớ vợ, ai cũng muốn về và lo ngại việc binh đao, cuối cùng các nước chư hầu đều thuận lui binh. Thạch Sanh mời họ ăn cơm. Chàng có niêu cơm thần nhỏ bé nhưng xới bao nhiêu bát, cơm vẫn đầy lên như cũ, khiến cho các nước chư hầu càng thêm kính phục. Người lên ngựa, kẻ chia bào, Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san. Dặm hồng bụi cuốn chinh an, Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh. Người về chiếc bóng năm canh, Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi. Vầng trăng ai sẻ làm đôi, Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường. (Trích từ tác phẩm Truyện Kiều, Nguyễn Du). Nếu cái rìu và cái khố là những nét đặc trưng của y phục và công cụ trong lúc làm việc của người Lạc Việt buổi đầu lập quốc như những người bạn thân của chàng Thạch Sanh, thì niêu cơm nhỏ bé và cây đàn thần là biểu tượng sinh động nhất của một cuộc sống vật chất khiêm tốn và tâm hồn phong phú của người Lạc Việt, trong giai đoạn phát triển toàn diện của xã hội Văn Lang. Một thông điệp đầy đạo lý của ông cha cho đời sau qua hình tượng của niêu cơm bé nhỏ - đã khuyến cáo một sự tiết độ cần có, mặc dù khả năng của nó là không giới hạn. Đây là một hình tượng mang tính minh triết của nền văn minh Lạc Việt: Tính tiết độ làm nên sự phú túc cho cuộc đời, nhưng chính hình tượng cây đàn thần với thanh âm huyền diệu của Thạch Sanh, mới thực sự thể hiện chất lãng mạn độc đáo giàu chất nhân bản và sự kỳ diệu đạt đến tuyệt đỉnh của câu chuyện này. Thạch Sanh Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Trong tất cả những truyền thuyết, huyền thoại của các dân tộc trên thế giới hầu như không thiếu những hình ảnh những thanh âm huyền diệu, từ tiếng sáo của Lộng Ngọc - Tiêu Sử trong Đông Chu liệt quốc, hay như tiếng đàn tài tử của Tư Mã Tương Như với khúc Phượng Cầu Hoàng làm xiêu lòng Trác Văn Quân. Có những thanh âm huyền thoại đã đi vào lịch sử như: tiếng địch u hoài của Trương Lương trên dòng Ô Giang, khiến lòng quân Sở phải tan nát, người đẹp Ngu Cơ tự sát và anh hùng Hạng Võ phải rơi đầu trong Hán Sở tranh hùng; hay cung đàn đầy khí phách của Khổng Minh, khiến Tư Mã Ý phải quay đầu chạy trốn ở trận Nhai Đình trong Tam Quốc Chí; hoặc tiếng sáo bi phẫn của Cao Tiệm Ly bên dòng Dịch Thủy làm cho những anh hùng Yên quốc phải rơi lệ, uất khí vương trắng trời xanh... Tiếc thay, tất cả những thanh âm huyền thoại đó, đều là những giai điệu hòa chất lãng mạn, nhưng đầy bi tráng trong cuộc đấu tranh sắt máu của con người với chính con người trong lịch sử. Nhưng trong tiếng đàn của Thạch Sanh là tiếng đàn duy nhất trong những huyền thoại về âm nhạc, thể hiện tình yêu bao la của con người với chính con người. Những thanh âm huyền diệu của cây đàn thần qua tâm hồn thánh thiện của Thạch Sanh, chan hòa niềm ước mơ về một cuộc sống mà trong đó con người đồng cảm với nhau trong tình nhân ái. Cung bậc của những thanh âm vi diệu này đã bày tỏ được nỗi oan khiên, chứng minh cho công lý. Chất lãng mạn trác tuyệt đạt đến tuyệt đỉnh ở câu truyện chính là hình tượng thanh âm chứa đầy tình nhân ái đã hóa giải được chiến tranh với 18 nước chư hầu. Thanh âm thiên thần ấy là của niềm mơ ước vươn tới sự tuyệt mỹ của những giá trị nghệ thuật, sự tột cùng của vẻ đẹp cuộc sống sẽ đạt tới những rung cảm vi diệu trong cõi tâm linh sâu lắng nhất của con người. Tiếng đàn đã khơi dậy từ nguồn cội tâm linh tình yêu cuộc sống và con người - hành trang mà tạo hóa đã ban cho mỗi con người từ thuở hồng hoang của nhân loại. Những chiến binh kiêu hùng, đã buông vũ khí để trở về với giá trị đích thực của cuộc sống, đó là sự sống trong thanh bình và lòng nhân ái. Một giá trị độc đáo nữa của câu chuyện thần thoại là đã đặt trong tâm hồn con người - một cách tự nhiên như hơi thở, chất lãng mạn của thiên thần khi mơ ước: những giá trị nghệ thuật đỉnh cao của văn hóa nhân loại sẽ hóa giải được nỗi đau khổ lớn nhất mà con người tự gây ra cho mình, đó là chiến tranh. Đây cũng là bức thông điệp của tiếng đàn Thạch Sanh chuyển tải cho mai sau và đó cũng là giá trị của nền văn hiến Văn Lang (Trích từ cuốn Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh). Trên Trời có bóng cây đa, Chú Cuội thổi sáo mới ra chuyện tình. Thạch Sanh tài đức thông minh, Vũ trụ chuyển mình lại lộ thân ra. Kinh thơ cô Tấm lại bồng, Ánh Trăng dịu mát còn lồng mây xanh. (Trích Những ước mơ của Bác 2, nhà ngoại cảm Vương Linh ghi lại, ngày 19/5/2005). Trong câu truyện, tác giả đã gửi gắm tâm tư của mình qua tên gọi của các nhân vật chính ngay từ ban đầu: “Thạch Sanh” mang ý nghĩa là từ đất sinh ra, và “Lý Thông” mang ý nghĩa là đã thông tỏ học thuyết Âm Dương Ngũ Hành cùng “Tam giáo đồng nguyên, Ngũ chi phục Thiên Đạo”, vạn vật cùng chung nguồn cội, nhằm lý giải về sự khởi nguyên của một vũ trụ vô cùng, thượng đế cùng quỷ dữ, thể xác và linh hồn, hữu hạn và vĩnh cửu, vật chất với tinh thần, hạnh phúc và khổ đau, niết bàn hay địa ngục… và những bí pháp rèn luyện nào để có thể đạt được mục tiêu an lạc và trường sinh bất tử ngay trong cuộc đời này, cũng như mãi mãi theo thời gian vô tận. Hoành sơn một giải ra vào, Cuốc kêu vọng Đế, cáo gào giả Vương. Cung Trăng đã sẵn Trời dương, Giang sơn lại mở một trường Xuân Thu. Thơ cơ bút đền Sòng, Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, cũng đã kết thúc “sấm” bằng hai câu thơ: Hiệu xưng “Thiên hạ thái bình”, Đông Tây vô sự Nam thành quốc gia. Ý nghĩa của đoạn thơ cũng đã được dự báo trong cuốn tiểu thuyết anh hùng, võ hiệp nổi tiếng Thủy Hử, tác giả Bồ Tát Nguyễn Minh Không, tại Hồi 70: “Nhà Trung Nghĩa bia đá nổi hàng văn - Vũng Lương Sơn bạn vàng kinh giấc mộng”: Lư Tuấn Nghĩa thấy vậy kinh sợ rụng rời, mở mắt ra nom thì thấy trên công đường có một cái bảng đề bốn chữ xanh "Thiên hạ thái bình". Lời bàn của Thánh Thán: Một bộ sách 70 hồi, đáng gọi là phô bày to lớn, đáng gọi là kết thúc lớn lao, đọc đấy như đàn rồng ngàn dặm cùng đều vào tới bể, không còn chút nào cảm thấy chưa xong, chỉ nực cười cho La Hán Trung khéo nối điêu thêm, thấy còn xấu thêm ra nữa. Hoặc có kẻ hỏi rằng: Thiên Văn Thạch Kệ, việc đó thực chăng? Hay là Tống Giang đặt ra giả dối? Đó là trí khôn của kẻ ngây nói chuyện mơ màng, tác giả tự viết ra, đến đây là hết, khéo đem họ tên một 108 người, nhất nhất bày trình ra, điểm nhãn kết huyệt trong 70 hồi của bộ sách vậy? Xét bắt đầu từ Thạch Kệ, kết cuối lại lấy Thạch Kệ. Đóng mở cho một bộ sách lớn, kể việc thì 70 hồi thì người 108 vị, làm quan tiết lớn sách này còn việc đó người kia. Dù có hay không đối với nhà viết ra chuyện không cần kể tới, thì đọc giả can chi phải thắc mắc hỏi đến? Họp 108 người sau cùng nơi Thủy Bạc, với ý rằng không dạy được họ, Chợt đâu khéo diễn một giấc mơ của Lư Tuấn Nghĩa, với ý dẫn ra một án Trương Thúc Dạ thu đánh sau này cho trọn một sách mà không cần tả tới chuyện đó nữa coi như đánh lúc nào xong lúc bấy giờ. Chao ôi, quân tử xưa kia chưa rừng Tiểu Lâm cung thận như người xem xét sau này! Ta xem Thủy Hử đầy rẫy hàng vạn lời nói, rồi cũng phải lấy bốn chữ "Thái bình Thiên hạ" kết chung, thì thấy ý lắm vậy! Đời sau lại bỏ mất chỗ cuối, thêm vào một đoạn chiêu an, làm cho rõ tội của triều đình, quy công về giặc cướp, thậm chí nghĩ đem hai chữ "Trung Nghĩa" nêu cho họ, sao mà khéo phạm thượng tác loạn đến điều, mà chẳng biết viết gì như thế nhỉ?. Những tên sao Thiên Cương, Địa Sát xét ra không hợp Đạo làm người, sao lại có áng văn viết ra lạ lùng dễ mê hoặc lòng người đến thế? Ta muốn làm sao dựng Thi Nại Am dậy mà hỏi cho ra. Tam dương khai thái - Thiên hạ thái bình Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Tác giả đã lấy hình ảnh 108 vua Hùng để hình thành nên các nhân vật của câu truyện, đồng thời có lẽ khẳng định niêu hiệu “Thái Bình” của 108 vua Hùng chỉ duy nhất, không thay đổi trong suốt các triều đại. Trên cơ sở địa chí trái đất với bốn đại dương có tên Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Bắc Băng Dương và Ấn Độ Dương, trong đó Thái Bình Dương phía Đông mặt trời mọc, mà mặt trời chính là biểu tượng của vua Kinh Dương Vương (Hùng Vương thứ I) - Ngọc Hoàng Thượng Đế - Đại Nhật Phật - Thần Ra - Thần Vishnu - Thiên Chúa Jehovah - Đức Chúa Trời - Thánh Alla - Thần Surya… hay ông Trời trong tín ngưỡng dân gian. Như vậy, chúng ta đã có thể khẳng định rằng: niên hiệu của các vua Hùng chắc chắn chính là “Thái Bình”. Cuối cùng, lời tiên tri của bác học nổi tiếng nhất trong thế kỷ XX là Albert Einstein trên thực tế đã hoàn toàn ứng nghiệm: Ông đã nghiên cứu đạo Phật qua các sách báo của các học giả Phật học người Âu Mỹ, đáng kể là triết gia người Đức Schopenhauer Arthur (1788-1860), tiến sĩ người Đức Paul Carus (1852-1919), viện sĩ hàn lâm người Nga Vasily Vasaliyey (1818-1900)… là những nhà Phật học nổi danh ở phương Tây. Nhờ nghiên cứu như vậy mà A. Einstein đã nhìn thấy đạo Phật như là một triết lý phương Đông cực kỳ sống động và triết lý ấy đã đi vào cuộc đời bằng chân lý thực chứng của mình, ngỏ hầu cắt ngang sự chậm tiến, lạc hậu, mê tín, cuồng tín và kém văn minh của thời đại. Chính vì thấy rõ cái độc đáo đó mà Einstein đã phát biểu như sau: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó”. Albert Einstein Trích Einstein Dấu ấn trăm năm, Nxb trẻ, 2006 Dù những lý thuyết khoa học của ông rất phức tạp và khó hiểu, nhưng tấm lòng nhân đạo và mến chuộng hòa bình của ông đã khiến cho mọi người cảm thấy gần gũi với ông. A. Einstein đã cống hiến tất cả trí tuệ và sức lực của mình đối với sự phát triển khoa học của nhân loại cho đến khi qua đời (trích một phần bài viết Nhà khoa học Albet Einstein và đạo Phật, tác giả Thích Nguyên Tạng, 2001). Tới đây, chúng ta không biết nói gì hơn về một nơi “Thánh địa của các Thánh địa” bỗng rực sáng trên địa cầu và toàn bộ vũ trụ, chỉ có thể cảm thán và đồng thanh hô vang: THÁNH CUNG VẠN TUẾ CUNG NGHÊNH THÁNH CHÚA Cơ màu nhiệm hùng binh đều giải giáp, Đời Thượng nguyên rực rỡ áng mây hồng. Khắp bầu trời tỏ rạng bóng Lạc Long, Cùng Chúa Thánh điểm tô sông núi Việt. Ngày 21 tháng 12 năm 2012 (Nhâm Thìn) theo các dự ngôn chính là “Cuộc chuyển thế vĩ đại” của toàn nhân loại trên quả địa cầu. ***
  3. Chương X CHUYỂN LUÂN THÁNH VƯƠNG "Ta chẳng phải là vị Phật đầu tiên hay cuối cùng ... đến thời điểm sẽ có một vị Phật khác xuất hiện cứu đời: Một Đấng Chí Thánh, một Đấng Đại giác cực kỳ cao thượng, một Đấng dẫn Đạo vô song, một Đấng là Chúa tể của các Thánh, Thần và loài người. Đấng ấy sẽ truyền dạy cho các con một Đạo: vinh diệu buổi sơ khai, vinh diệu buổi thịnh hành và vinh diệu buổi kết cục” Phật Thích Ca Mâu Ni. Các chương trước, chúng ta đã nhận biết được các dữ liệu lịch sử của Phật giáo, Bà La Môn giáo, Đạo giáo, Nho giáo và các tôn giáo khác đều xuất phát cùng một nguồn gốc, Đức Phật A Di Đà là vua Đế Minh hay cũng chính là thần Shiva của đạo Bà La Môn, là thần Amon-Ra của tôn giáo Ai Cập cổ đại… cũng như Phật Bà Quan Âm là chính thất của Phật A Di Đà, Cửu Thiên Huyền Nữ trong Đạo giáo, là nữ thần vĩ đại Hathor của tôn giáo Ai Cập. Ngọc Hoàng Thượng Đế là vua Kinh Dương Vương, cũng là thần Vishnu của Bà La Môn, hay thần Ra của tôn giáo Ai Cập cổ đại, Thánh Alla của Hồi giáo, Chúa Trời của Cơ Đốc giáo… và những thần thánh lịch sử khác. Tuy nhiên, Thánh nhân của các lời tiên tri cổ kim khắp các châu lục sẽ là ai trong các thần thánh nêu trên? Hay ngài sẽ là một người khác chưa xuất hiện? Và sẽ hiện ra một cách ngoạn mục trong giai đoạn chuyển thế?. Theo các nhà chiêm tinh, trái đất của chúng ta đang bỏ lại quy luật của cung Song Ngư và đi vào quy luật của cung Bảo Bình, một sự di chuyển sẽ đưa loài người đến một kỷ nguyên thống nhất tôn giáo và khoa học, được đánh dấu bằng các lý tưởng cao hơn và bởi những nỗ lực chung. Thánh Maitreya là Đức Phật Thứ Năm và thời gian đã chín muồi cho sự phục hồi quy luật thánh thần trên trái đất. Mỗi tôn giáo phải quay lại với những chân lý vĩnh cửu, những chân lý truyền cảm hứng cho họ. Sự quay về nguồn cội là điều cần thiết cho các tôn giáo ngày nay. Thế giới đang vận động để kết thúc một thời đại và bắt đầu một thời đại mới. Bởi vì thời gian đã chín muồi cho sự xuất hiện của sự nghiệp giáo dục mới quan trọng, cuối cùng Thánh Maitreya sẽ xuất đầu lộ diện trước toàn bộ dân chúng thế giới như là một bậc thầy cho tất cả. Phật Vương Di Lạc Tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc Lạc Sơn Đại Phật còn gọi là Lăng Vân Đại Phật hay Gia Định Đại Phật, là tượng Phật bằng đá cao nhất thế giới, khởi đầu công việc tạc tượng vào năm 713 và hoàn thành sau 90 năm xây dựng. Bức tượng Phật Di Lạc này được tạc vào vách đá Thê Loan của núi Lăng Vân, nằm ở chỗ hợp lưu của ba con sông là Mân Giang, Đại Độ và Thanh Y ở miền nam tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc, cách địa cấp thị Lạc Sơn khoảng 3 km về phía đông. Bức tượng đá đối mặt với Nga Mi sơn, và dòng sông chảy dưới chân của Phật. Với chiều cao 71m, bức tượng mô tả Phật Di Lạc đang ngồi với hai tay đặt trên đầu gối. Thân của tượng Phật cao 59,98 m, đầu cao 14,7m, rộng 10m, mắt rộng 3,3m, mũi dài 5,6m, miệng rộng 3,3m, tai dài 7m, cổ cao 3m, vai rộng 28m, thân thể rộng 28,5m, chân dài 10,3m, rộng 9m. Đỉnh đầu có 1.021 búi tóc và móng tay nhỏ nhất cũng đủ lớn để có thể đủ cho một người ngồi vào. Maitreya là Đức Phật thứ năm được các tín đồ chờ đợi, Đấng Cứu Thế Messian được biết đến bởi người Do Thái, hiện thân thứ mười của thần Vishnu là Kalki, được miêu tả trong kinh thánh Hindu. Tất cả những tên gọi này, được coi là một và tồn tại như nhau (Tham khảo một phần cuốn Tiếng gọi của mặt trời, tác giả Surya Green, Nxb Từ điển Bách khoa, 2009). Vậy, chúng ta hãy cùng tiếp tục xem xét lại các dữ kiện của lịch sử. Trong quá khứ, một số Thánh kinh của các tôn giáo trên thế giới do Thượng Đế và các vị Thánh thần mặt khải, con người đã cảm nhận được mối liên hệ với các vị Thánh thần vô hình. Và từ 3.000 năm tr.CN đến nay, các nhà hiền triết, các vị giáo chủ của những tôn giáo lớn đã xuất hiện, giảng đạo với giáo lý có khác biệt nhau theo từng thời kỳ, tùy theo trình độ nhân loại tại mỗi khu vực nhưng các ngài đều chung lý tưởng xây dựng nên một thế giới hạnh phúc. Ngày nay, bằng quyền năng ban ân huệ và cứu rỗi, Thượng Đế đã sáng lập ra đạo Cao Đài tại Việt Nam (1926), mà Tòa Thánh Tây Ninh là hình ảnh của Bạch Ngọc Kinh - nơi Thượng Đế ngự tại thế. Cao Đài là danh hiệu của một tôn giáo mới do đức Ngọc Hoàng Thượng Đế sáng lập ra để cứu rỗi nhân loại lần thứ ba, tôn giáo này có gốc rễ từ những triết lý và bí pháp cổ xưa. Tính cách đặc biệt nhất của đạo Cao Đài là tinh thần tổng hợp và đại đồng, coi tất cả nhân loại là anh em, có cùng một nguồn gốc thiêng liêng nên buộc phải thương yêu và hiểu biết lẫn nhau, không phân biệt màu da và tôn giáo. Hơn thế nữa, với tôn chỉ: “Thiên, địa, vạn vật đồng nhất thể và bảo sinh, nhân nghĩa, đại đồng” sẽ giúp đạo Cao Đài có vai trò hòa giải, đem lại những đóng góp lớn lao cho hòa bình của nhân loại. Toàn bộ giáo lý và bí pháp Cao Đài, cũng như bản thiết thiết kế Tòa Thánh Tây Ninh được xây dựng từ một quá trình câu thông lâu dài, được hướng dẫn trực tiếp từ chính Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đức Lão Tử,… được minh họa trên nền mỹ thuật, kiến trúc của Tòa Thánh Tây Ninh. Thiên nhãn và vòm trời Cung Đạo Hình vẽ trên trần Tòa Thánh Cao Đài, Tây Ninh, Việt Nam Chung quanh Thiên Nhãn của vòm trời Cung Đạo gồm: cây đại ngọc cơ, ống xăm và hai miếng âm dương, cây tiểu ngọc cơ với vòng cung mẫu tự ABC..., một cái đĩa nhỏ để gieo tiền quẻ, một cái bàn ba chân dùng xây bàn, một lỗ tai, một bộ sách buộc băng vàng đề chữ Tứ Kinh hình một ông già có râu đen đứng trên quả địa cầu, một cái bảng đá mở ra có 3 dòng chữ Nôm. Ngoài các hình trên, còn có quyển sách, một bảng màu đen cho thấy bài thơ chữ Nôm có liên hệ Ngọc Hoàng Thượng Đế: Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền, Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên. Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế, Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên. Một bàn tay cầm bút lông từ trong mây đưa ra viết bài thơ liên hệ với Đức Phật Mẫu: Ký thành một cuốn gọi Thiên Thư, Khai Đạo muôn năm trước định giờ. May bước phải gìn cho mạnh trí, Nắm đuôi phướn Phụng đến dương bờ. Ngoài ra còn có tập giấy viết bài thơ chữ Nômliên hệ với Đức Lý Giáo Tông (nhà thơ Lý Bạch) về sứ mệnh dân tộc Việt Nam: Viết thử Thiên Thư với nét trần, Hầu sau bền giữ nghiệp Hồng Quân. Chuyển luân thế sự đưa Kinh Thánh, Trừ diệt tà ma múa bút thần. Kìa trông non Kỳ reo tiếng Phụng, Này xem nước Lỗ biến hình Lân. Công danh nước Việt tay đành nắm, Mưa móc dân sinh gắng gội nhuần. Ba bài thơ được trích chọn trong hàng trăm bài thi trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển được đưa lên vòm trời thiêng liêng kỳ diệu của Cung Đạo, diễn đạt tất cả yếu lý then chốt của nền Đại Đạo và sự tương quan đặc biệt giữa nền Đại Đạo và sứ mệnh dân tộc Việt Nam. Việt Nam là một nước nhỏ nghèo khó như nước Lỗ trước đây, mà được Thượng Đế chọn khai mở nền Đại Đạo và chính ngài làm giáo chủ là một sự may mắn ngàn năm một thuở, có đôi câu đối trước Tòa Thánh viết rằng: Nhân bố tứ phương, Đại Đạo dĩ nhân hưng xã tắc, Nghĩa ban vạn đại, Tam Kỳ trọng nghĩa chấn sơn hà. Nghĩa là: Tình thương đem rải khắp bốn phương, Cao Đài lấy đó làm hưng thịnh xã tắc, Điều nghĩa khí ban cho muôn đời, Tam Kỳ lấy đó làm rạng rỡ núi sông. Trời - Thiên nhãn và Người - ông râu đen trên quả địa cầu có thể thông công với nhau, nhờ đó nhân loại tiếp nhận được các bài Thánh giáo của Đức Chí Tôn và các Đấng để lưu truyền và dạy dỗ nhân sinh về mặt vũ trụ quan, đạo lý nhân sinh, bí pháp tu luyện như Thượng đế giảng chân lý, Thánh ngôn hiệp tuyển... Hình tượng con mắt, lỗ tai và bàn tay cầm bút mang ý nghĩa Trời thấy, nghe và ghi chép tất cả, không có gì trong Càn Khôn vũ trụ này mà giấu giếm được. Từ lịch sử hình thành nên kinh sách của các tôn giáo như trình bày ở trên, chúng ta thấy có sự liên hệ thực tế giữa con người và các Đấng tâm linh vô hình, mặt khác, chúng ta cũng đã được chứng minh trong các chương sách trước linh hồn của vạn vật hữu tình là bất tử, sẽ trường tồn mãi mãi theo năm tháng (tham khảo thêm về thế giới của các linh hồn trong bộ sách Huyền Môn lược ký I, II và III, tác giả nhà ngoại cảm Nguyễn thị Thanh Lan), do vậy các nguồn tài liệu liên quan đến tâm linh cũng là những chứng cứ khách quan cần nghiên cứu và phải được kiểm chứng. Ngay chính trong lịch sử Phật giáo, cũng có những truyền thuyết về những mối liên hệ vô hình này, đặc biệt liên quan đến Bồ Tát Di Lạc: Trong Đại Tạng Kinh bản Hán dịch ghi Bồ Tát Di Lạc là tác giả của những bộ luận Du Già Sư Địa, Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận Tụng, Biện Trung Biên Luận Tụng, Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Luận. Trong Đại Tạng Kinh Tây Tạng ngoài các luận nói trên còn có ghi thêm Hiện Quán Trang Nghiêm Luận, Pháp Tánh Phân Biệt Luận và Đại Thừa Cứu Cánh Yếu Nghĩa Luận. Tương truyền Bồ Tát Di Lạc là thầy của ngài Vô Trước, sáng tạo ra lý Du già duy thức và sau truyền trao cho Vô Trước. Theo Vasubandhu Pháp Sư Truyện, Vô Trước từng lên cung trời Đâu Suất thỉnh vấn Bồ Tát Di Lạc về lý “Không quán” của Đại Thừa, do đó mà xem Bồ Tát Di Lạc cũng là thầy của Vô Trước, còn người đời sau thì cho rằng ngài chính là Đức Phật Vương Di Lạc trong tương lai của nhân loại. Phật Di Lạc Núi Cấm, An Giang, Việt Nam Để làm rõ vị Thánh nhân của nhân loại theo những lời tiên tri của các dân tộc trên thế giới, chúng ta hãy xem qua nội dung Kinh Di Lạc độ thế, mục Bài tựa Kinh Đức Phật Di Lạc hạ sinh xuống đời, có thể nhận thấy rằng để Phật Vương Di Lạc hạ sinh thì trước đó, sẽ có sự giáng sinh một vị Phật với tôn hiệu là Phật Ngọc mà tiền thân là Đức Tôn giả Bồ Tát Đầu Nhất trong thời quá khứ, đế cứu độ chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp. Vậy thì, vị Phật Ngọc là ai và đã xuất hiện trên thế gian chưa?. Đối chiếu thực tế tại Việt Nam, đặc biệt trong những năm gần đây, hiện tượng tâm linh này xuất hiện ngày càng dồn dập, đó là những bài thơ giáng bút qua khả năng câu thông của các nhà ngoại cảm, với nhiều bút danh khác nhau của các thánh nhân, danh nhân, các anh hùng hào kiệt trong lịch sử nước nhà, trong đó có nói đến Chủ tịch Hồ Chí Minh - là vị “Phật Ngọc Hồ Chí Minh”, hoàn toàn trùng khớp với danh hiệu “Phật Ngọc” trong Kinh Di Lạc độ thế. Như vậy, chúng ta cũng cần phải tham khảo thông tin để nhận biết và so sánh, đối chiếu với các dữ kiện của lịch sử nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ hữu cơ này. Hồ Chủ tịch nói chuyện tại Đền Hùng Ảnh tư liệu tham khảo Kể năm hơn bốn nghìn năm, Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa. Hồng Bàng là Tổ nước ta. Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang. Trích Việt Nam Quốc Sử Diễn Ca - Hồ Chí Minh Có rất nhiều tài liệu tâm linh như Toàn tập Hồ Chí Minh khai cơ giáng bút, Phật Di Lạc ban truyền…, trong đó bài thơ tâm linh Lời dạy của Ngọc Phật ngày 13/08/2011 mang hoàn toàn “hơi thơ” của Người: Muốn đạo, đời được chu toàn - Muôn người đoàn kết, mới an cửa nhà - Năm châu bốn biển đồng hòa - Muôn dân mới được nhà nhà hiển vinh - Đức Ngọc Phật, Hồ Chí Minh - Từ Thiên, Bác giáng Chân Kinh dạy đời - Các cháu ở khắp muôn nơi - Nhớ lời Bác dạy, sinh thời trước đây Mùa xuân là tết trồng cây, Làm cho đất nước càng ngày càng xuân, Vì đất nước tươi xanh, phải trồng cây, Vì hạnh phúc trăm năm, phải trồng người, Phải trồng cây Đức mới tồn đời sau, Sao cháu nay lại phá núi non? Phá rừng, phá biển, đâu còn môi sinh. Bao lời Bác dạy tận tình, Thương dân, từ cõi vô hình vấn vương. Nhớ câu hò xứ Nghệ, càng thương, Vì thương, Bác lại chỉ đường cháu nay. Ở đời phải sống thẳng ngay, Không phòng xăng lửa, có ngày hỏa thiêu. Hỏng đức, đời ắt phải tiêu, Bác xưa đã dạy tám điều, không dư. Lời vàng, ngắn gọn Kinh Thư, Cần - Kiệm - Liêm - Chính Chí - Công - Vô – Tư, Đó là quốc sách, không từ một ai. Đời người ngắn lắm, đâu dài! Vì dân, vì nước, đừng sai tấc lòng. Rời Trần, lòng Bác ước mong, Bốn phương con cháu như trong một nhà. Muốn giữ nghiệp nước, phải giữ đức nhà, Kính già, yêu trẻ, cả nhà từ bi. Đời người khi thịnh, lúc suy, Đạo Trời, phép nước phải thì kỷ cương. Tu tâm, cháu chớ coi thường, Trước sau phải tỏ, phải tường tổ tiên. Nước Việt Nam ta Có hơn bốn ngàn năm lịch sử, Lấy Đức làm đầu, Vua Hùng dựng nước Cảm hóa lòng người mới được như nay. Bạc tình đâu có thể lay Mà sao có cháu hàng ngày đỏ đen, Khách sạn, nhà hàng chứa nòi giăng hoa Bày ra là hỏng đức nhà. Phá văn hiến, phép nước và Đạo Trời. Bác giăng đàn, dạy cháu thời phải nhớ, Long Hoa Hội Thiên nay đã mở. Bác đợi chờ cháu ngoan hiền đức, Cháu thảo hiền, Bác nay tiếp dẫn. Độ cho cháu sang thế kỷ Hậu Tiên, Đây là lệnh của Trời, của Phật, Long Hoa Hội độ người tâm Phật. Hỡi cháu con đang tất bật muôn nơi, Có duyên phúc, cháu thời tìm đến. Long Hoa độ cháu đến bến, đến bờ, Hãy mau chân, đừng có thẩn thơ. Long Hoa Hội đã giương cờ rồi đó, Bảy trăm năm, Cửa Trời sáng tỏ. Dạy cho đời điều rõ Phật Tiên, Chùa Đồng - Yên Tử, kinh đô Phật hiền. Con nào tâm Phật, tâm Tiên, Con thảo hiền được nhận Kinh về giáo hóa. Kinh này giáng tự đâu ra, Giáng vào tâm con, tu thiện đó mà. Người dịch Kinh, mệnh là Thái Tử, Con thảo hiền của Mẹ, của Cha. Người đời trần thế, cũng như là con thôi, Đã qua bao kiếp tu rồi. Nhận truyền Kinh mới cho đời hồi xuân, Con cháu hư, Bác sẽ phạt liền. Đường tới Hậu Tiên đã gần. Con thuyền cập bến muôn phần hiển vinh. Nhớ lời Bác dạy đinh ninh, Tu mau, mới có tên mình Long Hoa. Vừa ích nước vừa lợi nhà, Năm châu bốn biển, nhà nhà bình an. Mai này tôn giáo hòa đồng, Còn mười tám nước, không còn chiến tranh. Các sắc tộc, tôn giáo một cội muôn cành, Con Trời, cháu Phật, Tiên hiền anh linh. Chỉ có một Tâm duy nhất, Tâm hòa đồng, Tâm Phật, Tâm Tiên. Để trái đất này ngàn hoa đua nở, Hoa Thiên Tiên, hoa của bầu trời. Hoa ấy chính là con người thế kỷ, Cùng hoa thiên nhiên, Bao cảnh đẹp huy hoàng, Đợi đến ngày Long Hoa Hội vẻ vang, Bác cháu ta cùng nhau đoàn tụ. Thoắt đà đã ba ngàn thu, Thỉnh Đức Di Lạc trụ trì thế gian. Sự đời khi kết khi tan, Long Hoa mới thực huy hoàng ngày mai. Cũng thông qua pháp đàm vô vi, Tam Thiên Đại Toàn Phổ Giáo Bồ Tát Lâm Thanh Điền (Thiên Phong lần thứ 3) - kênh thông tin đại diện Ngọc Hoàng Thượng Đế tại “Trần Đời” đã trực tiếp “gặp lại” Hồ Chủ Tịch - “Bác Hồ Tâm Linh” với những lời chỉ dạy gần gũi và sâu sắc của Người, trước đó, hãy cũng xem lại những lời chỉ dạy của Người tại khu di tích Đá Trông qua thông linh của nhà ngoại cảm (hiện tượng này giống phương pháp đoạt xá Phowa của Phật giáo Tây Tạng). Bác Hồ Tâm Linh khẳng định lại, chúng ta là dòng dõi của con Rồng cháu Lạc, đất nước ta là một nơi linh thiêng, là cổ tích bao đời để lại không chỉ cho riêng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, mà cho cả toàn thế giới. Vị trí phong thủy Tứ Linh của nước Việt, thứ nhất là Hồ Gươm, thứ hai là Hồ Tây, thứ ba là chùa Hương Tích và thứ tư là “chỗ cao Tứ Linh” là nơi mà Tổ tiên vua Hùng đã có công dựng nước, còn Đá Trông cũng là một nơi phong thủy tuyệt diệu của nước Việt. Tất cả các khu vực phong thủy linh thiêng phải được bảo vệ cẩn thận, nó là bảo bối của tổ quốc, nếu không biết giữ gìn thì sẽ là tai họa cho đất nước. Trong các chương trước chúng ta đã biết: Hồ Gươm là chốn linh thiêng của Phong Đô Đại Đế Lạc Long Quân và Quan Âm Bồ Tát Âu Cơ; Hồ Tây là chốn linh thiêng Phật A Di Đà Đế Minh và Phật Bà Quan Âm Vũ Tiên; chùa Hương là chốn linh thiêng của Phật Bà Quan Âm Vũ Tiên và hai em dâu của bà là Phổ Hiền Bồ Tát và Văn Thù Bồ Tát; còn “chỗ cao Tứ Linh” là “Tổ tiên của vua Hùng nằm một nơi và nơi ở vua Hùng nằm ở một nơi” được Bác Hồ Tâm Linh nhấn mạnh hai lần trong buổi nói chuyện, ý nghĩa của câu nói trên và vị trí chỗ cao Tứ Linh chính là nơi chôn cất các vua Hùng cũng sẽ được xác định trong chương này. Như vậy, thông tin tâm linh của Bác Hồ Tâm Linh là hoàn toàn chính xác và Bác Hồ Tâm Linh cũng khẳng định rằng: “cái Tâm linh của Việt Nam là đứng nhất thế giới, mọi người cần phải nghiên cứu và quan tâm, giữ gìn cái bảo bối… Nếu phần Âm có yên thì phần Trần mới được hường hồng phúc, sống là phải có Đức, từ Đức mới có Hạnh, có Hạnh mới có Phúc, trên trần gian mà được Trời độ cho thì phải sống… phải biết ơn Trời, ơn Đất”. Chúng ta tiếp tục tham khảo phần trích của bài thơ tâm linh Về 18 chi Hùng Vương, người nhận thông tin linh cảm Ông Ma Văn Cát (1931-2008), quê quán tại thôn Thanh Lây, xã Thanh Minh, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, ghi xong lúc 22h00’ ngày 7/1/1999. Trong bài thơ này nói số lượng các đời vua trong mỗi triều đại, trích đoạn: Lạc Long - Sùng Lãm, Thiên nhân, Di Lạc - Phật Tổ, hiện thân chính Người. Cõi Trần mù mịt khắp nơi, Đường Trần tăm tối, ai người sáng soi? Thời gian, năm tháng qua trôi, Trần gian ví tựa biển khơi đêm dài. Lạc Long, Di Lạc chẳng sai, Ra tay tế độ mở khai cõi đời. Đã đem đạo lý làm người, Truyền dạy cho cả giống nòi từ đây. Đức nhân, lễ, nghĩa dựng xây, Làm cho xã hội đổi thay khác thường. Người như vầng Nhật Thái Dương, Hào quang tỏa sáng muôn phương đất trời. Người dạy sống ở trên đời, Thật thà, lương thiện là nơi an lành. Thiện tâm - bản tính Trời sinh, Đó là chí cốt tâm linh con người. Bính Thìn, năm đó ra đời, Di Lạc, Phật Tổ giáng nơi cõi Trần. Chính là Đức Lạc Long Quân, Tháng Ba mười tám ngày xuân thanh bình. Là ngày Phật Tổ giáng sinh, Đưa bầy “hoang vượn” trở thành người nay. Tính đến năm Hai Ngàn này: Bốn ngàn tám trăm bảy chín vòng quay đất trời, Văn Lang - Bách Việt đón Người, Ba mươi ba tuổi lên ngôi trị vì, Thủ lĩnh bộ lạc tôn suy. Chính nhờ bài thơ này, chúng tôi đã có thể đối chiếu với các dữ liệu lịch sử ghi nhận trong hệ thống tranh thờ miền Bắc Việt Nam, tranh dân gian Hàng Trống và Đông Hồ mà tìm ra được số lượng đời vua trong mỗi chi của các thời đại Hùng Vương. Đồng thời cũng ghi nhận thông tin mới khẳng định vua Lạc Long Quân chính là Di Lạc Phật Vương và ngày sinh 18 tháng Ba âm lịch. Nếu theo gia phả vua Kinh Dương Vương lên ngôi năm Nhâm Tuất 2879 tr.CN lúc 41 tuổi, theo ẩn ý của bài thơ tâm linh trên thì vua Lạc Long Quân sinh vào năm Bính Thìn (theo bảng Lục Thập hoa giáp), nhận ngôi sau khi vua Kinh Dương Vương làm vua được 27 năm. Cũng tính toán như trên thì Lạc Long Quân được mẫu thân sinh ra lúc vua Kinh Dương Vương 35 tuổi. Theo gia phả ghi chép thì ngày sinh của vua Lạc Long Quân khả năng vào trong ngày 18 tháng Hai hoặc ngày 28 tháng Hai âm lịch, tuy nhiên ngày 18 tháng Ba âm lịch này cũng được nhắc lại trong những bài thơ tâm linh của Phật Ngọc Hồ Chí Minh, do vậy chúng ta khẳng định ngày 18 tháng Ba âm lịch (tháng Thìn) là ngày chọn lựa. Trong những lời tiên tri của Phật Sống Lưu Công Danh có nói “Độ 4.800 năm nữa, ngày Chúa giáng sinh không có Trăng”, câu nói này mang ẩn ý cách đây hơn 4.800 năm vua Kinh Dương Vương - Ngọc Hoàng Thượng Đế đản sinh, chứ không phải nói vua Lạc Long Quân - Phật Vương Di Lạc phục sinh với biều tượng là “ông Trăng”. Như vậy, trước khi xác định Phật Di Lạc là ai thì chúng ta phải chứng minh Hồ Chủ Tịch chính là Phật Ngọc bằng các chứng cứ hiện thực khách quan thay vì bằng các dữ liệu tâm linh, chúng ta hãy cùng tìm hiểu cuộc đời của một vị Phật người Việt rất nổi tiếng trên thế giới, nhưng lại ít được biết tại Việt Nam, đó là “Phật Sống” Lưu Công Danh, ông là người sinh ra cùng thời đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã từng gặp và làm việc trực tiếp với Người. “Phật Sống” Lưu Công Danh Câu chuyện kể về cuộc đời Phật Sống Lưu Công Danh giống như một huyền thoại. Ông sinh ngày 29/12/1900 tại tỉnh Kiên Giang và hóa vào ngày 31/5/2003 (năm vào rừng 1934, năm ra khỏi rừng 1939, cũng năm này ông về Ấn Độ và năm 1941 sang Campuchia trụ trì ở chùa Prệp Pra). Cuộc đời ông trải qua bao thăng trầm, từ việc ra đi tìm kế sinh nhai, có cơ duyên lập gia đình với người vợ Ấn Độ, sau đó đi tu thành Phật, du hành qua nhiều quốc gia và quay trở về tổ quốc tham gia kháng chiến, được gặp nói chuyện thân mật và nhận nhiệm vụ từ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông đã đóng góp một phần công sức không nhỏ trong việc làm chuyển đổi nội dung đàm phán có lợi cho nước nhà khi hội đàm với đoàn Ấn Độ, cũng như làm tăng thêm uy tín quốc gia trong tiến trình ngoại giao với các nước bạn khác (Tham khảo cuốn Di ngôn Phật Sống Lưu Công Danh, tác giả Hà Văn Thùy, Nxb Văn học, 2008). Phật Sống Ảnh trích từ cuốn Phật Sống Lưu Công Danh, Nxb Văn học, 2003 Trong cuộc gặp gỡ với bà vợ tổng thống Ấn Độ Praxa, bà là một phật tử, cùng với hai quan chức tháp tùng, ông đã nói bằng chính thứ tiếng Hindu giọng New Delhi trầm ấm: “Mừng các con tới đất nước Việt Nam. Thầy ban phước cho các con. Bữa nay thầy cho các con biết một phần của đời thầy. Chắc các con vẫn nhớ, quy định của người tu Phật, sau khi thành Phật, có thời gian hai năm để tế độ chúng sinh thì trở về trời trong giàn lửa. Nhưng năm ấy, thầy đã không về trời theo cách đó vì thầy còn có việc phải làm. Trong đêm thầy được chánh quả, Phật Tổ có dạy rằng, sau thời gian ở Ấn Độ, thầy phải về nước Phật giáo sát bên nước của thầy để khi nước nhà được độc lập thì vế tế độ đồng bào mình. Vậy theo lời Phật Tổ, thầy đã về nước anh em là Miên quốc. Thầy tế độ chúng sinh ở đó. Khi nước Việt Nam được độc lập thì theo lời Phật Tổ, thầy về nước. Nhưng lúc đó giặc Pháp trở lại xâm lược. Không còn cách nào khác, thầy phải cùng chính phủ đánh Pháp cứu chúng sinh, giữ vững nền độc lập cho Việt Nam. Cũng trong đêm thành chánh quả đó, Phật Tổ có đem giáo lý đạo Phật truyền cho thầy. Trong những điều thầy được nghe chính Phật Tổ nói: “Đạo Phật ưa sống hòa bình, nhưng nếu có bọn ác tới tàn hại chúng sinh thì phải đánh đuổi chúng đi”. Khi thầy về thì đánh nhau rất ác liệt, chính phủ Việt Nam lo cho an nguy của thầy nên khuyên thầy trở lại Cao Miên vì chúng sinh nơi đâu cũng là con của Phật Tổ, giúp cho nhân dân Miên cũng chính là giúp nhân dân Việt. Nhưng thầy xin ở lại cùng đánh giặc với đồng bào, Đức Phật Tổ dạy rằng, không được sát sinh nhưng nếu có kẻ ác muốn giết mình thì phải cùng mọi người đánh lại chúng. Hơn nữa, thầy biết rằng, dẫn dắt dân tộc Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh, một vị Thánh nhân. Được chiến đấu dù có hy sinh đưới ngọn cờ của Bác Hồ cũng là làm tròn Phật sự”. Ông nói tiếp: “… giúp cho người Việt Nam cũng chính là giúp cho nhân dân Ấn Độ, rồi sau này, hai nước sẽ được sống hòa bình trong tình anh em”. Theo truyền thuyết, sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni đắc đạo, ngài dẫn 30.000 tín đồ đến núi Kê Túc phía Bắc Ấn Độ. Tại đây có một hang động lớn, phong cảnh đẹp lại âm u tĩnh mịch để hành đạo. Ngài tổ chức thành các nhóm thiết kế, hậu cần, thi công, bảo đảm sức khỏe… làm trong 30 năm mới hoàn hành ngôi chùa mang tên Tây Phương. Trong ngôi chùa còn giữ ấn Phật Tổ và những bảo pháp của Phật Thích Ca để dóng dấu những ai đắc quả thành Phật Sống được lưu truyền và giữ tại chùa này, không chùa nào khác trên toàn thế giới có được. Ngôi chùa nằm trong một dãy núi cao hùng vĩ, xung quanh bao bọc bởi những khu rừng già nghìn năm tuổi, có suối vây quanh, phong cảnh xung quanh thật là thủy tú sơn kỳ. Ngôi chùa nằm trong hang núi được thiết kế tráng lệ, nguy nga, giống như một cung điện, sân vườn toàn là kỳ hoa dị thảo. Tượng Phật được làm bằng đá hoa cực kỳ đẹp và tinh xảo. Bước vào trong thấy tượng Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi chính giữa, xung quanh hương hoa tỏa mùi thơm ngào ngạt, không khí trang nghiêm cực độ. Dưới tượng Thích Ca có một vị hòa thượng ngồi xếp bằng, tay trái đưa lên ngang tim, tay phải để trên đầu gối. Thân người chỉ còn da bọc xương, hai mắt nhắm nghiền. Trước mặt có một tô nước và một đĩa hoa quả tươi. Vị này ngồi yên không thấy cử động. Ngoài cửa chùa có một vị ngồi trên một tảng đá, dựa lưng vào vách núi, hai tay chắp lại, tư thế ngồi bằng. Rễ cây bồ đề mọc phủ hai bên má. Trước mặt vị này cũng có một tô nước và một đĩa hoa quả tươi. Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp dưới cội bồ đề Động Đôn Hoàng, Cam Túc, Trung Quốc Sau khi xây xong chùa Tây Phương, Phật Thích Ca có quy định ranh giới vùng đất Phật. Chùa Tây Phương nằm trong vùng đất này. Ranh giới chia đất Phật và đất trần gian có chứng tích của Phật Thích Ca khắc vào vách đá. Trên đá có khắc một mũi tên chỉ hướng chùa Tây Phương, dưới mũi tên ghi ba chữ “Đổi Tâm Linh”, tạm hiểu có nghĩa là ai đi qua khỏi mũi tên là đất Phật thì tâm linh người đó được biến đổi thì mới đến chùa Tây Phương được. Ai đến chùa Tây Phương được sẽ đắc quả. Trước khi tới được chùa Tây Phương, ông đã gặp được phiến đá khắc chữ ngay trên đường đi, khi một cơn gió xoáy cuốn bay lá rừng làm lộ nó ra, mặt dù chỉ là một phiến đá nằm giữa rừng xanh đại ngàn mà để thấy được nó quả là chuyện không tưởng. Sau khi đắc đạo, trên đường về, biết sẽ không còn cơ hội gặp lại chùa Tây Phương một lần nữa, ông mong ước gặp lại phiến đá này và đã đạt được như ý nguyện, dường như có người dẫn đường, thật là kỳ diệu. Để tới chùa Tây Phương, phải đi qua ngôi ngôi chùa nữa, tại nơi đây các nhà sư dạy ông các bài thuốc chữa bênh bằng các loại lá, rễ, củ cây rừng; tập các phương pháp Yoga, luyện cách điều hòa nhịp tim; tập sống chung với rắn độc và cách thức xử trí khi gặp các loài ác thú; cùng với việc học thuộc các bài kinh Phật. Trong suốt quãng đường ròng rã gần 10 năm đơn thương độc mã trong rừng già hoang vắng, gặp không biết bao nhiêu hiểm nguy như đối mặt với chúa tể sơn lâm, phải vượt qua thác dữ, sông sâu. Nguy hiểm nhất là trên đường về sau khi đắc đạo, ông lạc vào một hẻm núi đá cheo leo, nhìn xuống đáy là đủ chóng mặt, chỉ cần trượt chân là mất mạng, ngủ nghỉ ngay trên vách đá, may mắn lắm thì có hốc đá chui vào nghỉ, đói ăn rêu xanh, khát uống nước rỉ ra từ vách núi, phải mất vài tháng trời mới thoát nạn. Sự tích cuộc đời Phật Thích Ca Mâu Ni Trích Thiền tông Phật giáo, Nxb Tôn giáo Một lần, trên đường đi về, bất ngờ ông gặp một nhóm người dân tộc, họ bắt trói ông đưa lên giàn hỏa thiêu sống, lúc này ông chỉ còn biết đọc kinh mà thôi, nhưng khi lửa vừa xém tới lưng bỗng tắt ngấm, chứng tỏ ông được sự gia trì của Phật theo như lời của nhà sư trụ trì chùa Tây Phương, bằng chính bảo bối luôn đem theo bên mình là hai viên ngọc quý được trao tặng ở chùa Tây Phương. Một viên ngọc có thể uống được sữa của người mẹ đẻ con so và viên kia biết bò. Sau này, hai viên ngọc thất lạc theo dòng nước. Sau khi đắc đạo, ông ở lại chùa Tây Phương 3 tháng nữa để học thêm kinh và những lời dạy của Phật. Khi ngồi thiền định 3 ngày đêm không ăn không uống, hai tay chắp lại, hai mắt nhắm, với lòng thành kính cao độ. Mãi đến đêm thứ ba, tâm linh nhận được điều răn dạy thuyết pháp. Trước đó, tôi cảm thấy một luồng ánh sáng chói lòa sau đó có màu xanh hòa vào màu sáng, cảm giác như là gió hiu hiu, ông cố mở mắt nhưng không tài nào mở được. Toàn thân cũng không cử động được nữa, nhưng trong con người cảm thấy nhẹ nhàng, hân hoan kỳ lạ! Bỗng tai tôi nghe tiếng nói, giọng nói trầm phát ra từ đâu đó vọng tới: - Này đệ tử, nay ngươi đã đắc đạo và được công nhận là Phật sống, ngươi phải trở lại nơi xuất phát để truyền giảng đạo cho phật tử và người ngoài đời rõ nguyên lý đạo Phật chân chính. Tin ngươi đắc đạo đã được truyền đến ngôi chùa nơi ngươi xuất phát, ở đó đang mong chờ ngươi về. Ta đã gắn cho ngươi hai bảo pháp là điện cơ nhân và tâm linh đồ bằng hình thức đóng ấn lên đầu nhà ngươi 12 nốt. Từ nay cuộc sống của nhà ngươi phải hết lòng vì đạo và do ta điều khiển. Ta là thần Tam Tông chuyên lo về tôn giáo. Muốn đạo Phật tồn tại bền lâu và phát triển thì phải có lòng tin cao sâu tuyệt đối ở tâm linh, biểu hiện ra hành động từ vị chân tu đến hàng phật tử để cảm hoá mọi tầng lớp xung quanh. Lòng tin tuyệt đối, bền vững là một sức mạnh cực kỳ to lớn sẽ giúp cho Ðạo, cho quốc gia được an cư lạc nghiệp, nền đạo đức của đạo và quốc gia được toàn thiện. Muốn được thế thì phải làm được một cách hoàn chỉnh và triệt để như: Loại ra khỏi đạo Phật mọi truyền thuyết hoang đường và mê tín dị đoan trong đạo và ngoài đời càng nhanh càng tốt, để tiến tới 3 tôn giáo lớn là Phật giáo, Cơ đốc giáo và Hồi giáo sẽ thống nhất lại để cho toàn thế giới sống trong cảnh đời đạo hoà đồng vui sống trong đoàn kết. Vì giáo chủ Jesus, giáo chủ Môhamet và giáo chủ Thích Ca đều do ta tạo lập nên. Tuy ba đạo có nhiều điều khác nhau nhưng cùng chung một việc lớn: làm thiện tránh ác, vì mọi người và đưa mọi người đến tâm linh thánh thiện. Ta đang tìm người và phương cách hoà hợp thống nhất 3 đạo lớn do ta tạo lập. Phật chỉ có một lòng thành mong muốn đem lại cho mọi người được hưởng công bằng, bác ái, giúp đỡ nhau mọi trường hợp khó khăn gặp phải: người giúp đỡ người chứ Phật không có phép màu nào để trị các bệnh tật mà con người mắc phải. Người mắc bệnh thì có người tìm mọi cách chữa trị, đó là việc làm thực tế giữa người với người. Phật không bao giờ can thiệp mà cũng không can thiệp được. Phật dạy cho mọi người phải có lòng từ bi hỷ xả với mọi người. Làm được việc này thì tâm linh sẽ được thanh thản. - Từ bi hỉ xả có nghĩa là: Không cố chấp không gây hận thù, không đố kỵ không vu oan điều ác. Không oán không hờn, không giận, có lòng thành cảm hoá người khác. Nghiêm khắc với mình, phải rộng rãi tha thứ, có lòng bao dung quảng đại. - Từ bi bác ái có nghĩa là: phải có lòng yêu thương mọi người vô hạn, cưu mang người bất hạnh. Cứu độ chúng sinh thoát khỏi cảnh trầm luân bể khổ, có nghĩa là dạy người làm thiện tránh điều ác, tà tâm. Cứu giúp người khi gặp nạn do mưu sinh cuộc sống chính đáng. Giáo hóa mọi người làm điều thiện tránh điều ác để khỏi bị lao tù, bị tra khảo, bị tàn tật do hiềm khích gây nên. Làm điều ác thất đức là mình tự tạo cho mình sa vào cảnh trầm luân bể khổ vậy. Người làm được nhiều việc thiện thì cuộc sống được vui tươi, tâm linh trong sáng và vui vì mình có ích cho mọi người. Người hành đạo không được vụ lợi, không tham danh lợi, phải làm chủ được mình trong mọi trường hợp hỉ, nộ, ái, ố, nhất là với tửu, sắc. Nghiêm cấm không được dùng mỹ nữ ca múa trước bàn thờ Phật. Ta có giảng cho Thích Ca việc : "Tu nhất kiếp, ngộ nhất thời" câu này có nghĩa là: một số người nào đó vốn hiền lành, vì thiếu suy nghĩ, lỡ làm điều ác, thất đức, sau đó ăn năn, hối hận, tỉnh ngộ từ bỏ cái ác, làm việc thiện thì được hưởng ân huệ câu nói trên. Còn những hạng người từ vua, quý tộc đến thứ dân luôn nghĩ đến điều ác, làm nhiều việc ác, thất đức, không hề làm điều thiện, khi gặp tai họa thì đến cầu xin với lòng giả dối, cầu mong Phật cứu tai qua nạn khỏi để sau đó lại làm ác. Hạng người nầy không được hưởng ân huệ câu trên. Phật đâu có phép mầu nào để cứu! Phải để cho hạng người đó bị luật đời nghiêm trị nhằm răn đe kẻ khác. Còn vô số người đến cầu lộc, cầu tài, cầu duyên. Nếu hạng người nầy làm việc có nhân đức, không làm việc phi pháp thì không cần phải cầu khẩn gì cả. Còn nếu khi cầu khẩn mà lòng không thành, dạ không ngay, có tính lợi dụng thì Phật nào ban cho. Mà thực tế Phật cũng không cho được! Thích Ca từ bỏ mọi quyền quý cao sang tột đỉnh để lo cứu độ thì đâu có nghĩ tới những việc đó nữa. Khi ta đưa Thái tử đi hành đạo ta có dạy cho Thái tử 5 điều cấm như sau: 1. Nhất bất sát sinh. 2. Nhị bất vu đạo. 3. Tam bất tà dâm. 4. Tứ bất vọng ngữ. 5. Ngũ bất ẩm tửu. Riêng điều cấm thứ nhất phải hiểu như sau: không được giết người cướp của và vì tư thù vô cớ. Ðược quyền bảo vệ mình khi có kẻ muốn giết mình. Bài cầu nguyện cho các phật tử: Nay với lòng thành cầu nguyện: trên có Trời, dưới có Ðất, được chia bốn phương tám hướng cầu mong Phật tổ cải tạo cho được huệ tâm, huệ tánh, huệ nhãn, huệ nhĩ, huệ tưởng tâm linh siêu phàm hướng về Tây Phương, nay nguyện cải tà quy chánh theo Phật, lo tu tâm dưỡng tánh, luôn luôn làm đúng theo lời răn dạy của Phật. Làm không đúng xin chịu mọi hình phạt của Phật! Trong dân gian có nói: Các vị ở cõi trên được giáng thế đầu thai làm con của người trần, những người này được nổi danh, tài ba lỗi lạc, sức khoẻ phi thường, uyên thâm nhiều lĩnh vực. Hoặc có người ngớ ngẩn bỗng nổi lên thông minh. Việc nầy trong đạo Phật phải được loại ra vì mang tính hoang đường mê tín dị đoan. Ai tự xưng như vậy là kẻ mị dân, lừa bịp. Không có đấng trên trời đầu thai hay giáng thế, không thể có và không bao giờ có việc đó. Việc tồn tại của con người là do quy luật tự nhiên ban cho, tuyệt nhiên không có đấng nào can thiệp vào việc sinh tồn của con người và cũng không thể can thiệp được! Mỗi con người sinh ra có hai bảo vật: 1. Ðiện cơ nhân: sự sống. 2. Tâm linh đồ: trí tuệ. Nhưng điện cơ nhân và tâm linh đồ của mỗi người đều ở trạng thái khác nhau. Người cực mạnh, người mạnh vừa, người trung bình, người thì yếu. Vì thế cho nên sự phát triển thể chất và trí tuệ khác nhau như : có người mới sinh ra đã có thể lực cường tráng, có người bình thường bỗng phát triển toàn diện, có người thông minh kiệt xuất trên nhiều lĩnh vực, có người phát triển kém. Tất cả các việc đó không phải do ăn uống mà giúp cho sự phát triển nên hay có một vị thần nào ban cho. Ðó là do bao lớp người cường tráng, thông minh đã qua đời ở mọi lứa tuổi, khi chết thì điện cơ nhân và tâm linh đồ xuất khỏi thể xác và tập hợp lại từng cặp bay lơ lửng trong không gian ở trạng thái vĩnh hằng bất diệt. Lớp lớp người sau sinh ra mà có sự trùng hợp với điện cơ nhân và tâm linh đồ của những người trước thì người sau được cộng hưởng thừa kế: cực mạnh, mạnh, trung bình, yếu mà biểu hiện ra. … Tôn giáo đẳng cấp xem thường và khinh rẻ thứ dân bần hàn mặc dù hàng thứ dân này làm ra mọi thứ nuôi sống họ và hoa quả cúng tế hàng ngày cho thần linh mà họ thờ. Cũng là tôn giáo lại đố kỵ, chia rẽ kẻ chính, kẻ tà cấm kỵ nhau. Mọi hình thức này đều do người đứng đầu tôn giáo chủ quản tạo ra cả. Vì thế ta quyết định thành lập một tôn giáo chân chính để đem lại niềm tin cho đại đa số người bần hàn đang bơ vơ và bị khinh rẻ. Số người này thật đáng thương. Muốn thu phục lòng tin và nhân tâm mọi tầng lớp trong quốc gia, ta suy nghĩ kỹ, chọn người giáo chủ hiện tại phải có quyền thế tột đỉnh, giầu sang nhất mà dám từ bỏ mọi thứ danh lợi đó để hành đạo. Người đó tiêu biểu là người xả thân vì từ bi bác ái vì người bần hàn; góp công xây dựng nền đạo đức cho xã hội mới. Cho nên ta chọn Thái tử sắp được truyền ngôi để hành đạo thực hiện Chân - Thiện - Mỹ sẽ được mọi người kính nể, lớp quyền quý kính phục. Trong người Thái tử cũng có hai bảo bối: - Ðiện cơ nhân: bảo toàn sự sống. - Tâm linh đồ: nguồn tư duy trí tuệ. Nhưng bảo bối của ta cũng vậy, mà có nội dung siêu đẳng hơn ở chỗ: - Có sự sống để làm gì? - Có tư duy trí tuệ siêu đẳng để làm gì? Tâm linh đồ sinh ra trí tuệ siêu đẳng để góp phần với mọi người tạo nên nền đạo đức mới: thương yêu nhau, xoá bỏ mọi hận thù, không tư thù cá nhân vì tư thù cá nhân dễ biến thành ra thù cả họ hàng làng nước. Từ bi hỷ xả - từ bi cứu độ - xả thân vì mọi người - không vụ lợi. Ðiện cơ nhân: Bảo toàn sự sống. Sự sống phải có ích cho mọi người, sống để làm việc thiện, sống không tà tâm. Về cứu nhân độ thế: Phật không có phép màu nào để cứu người hay giúp người đến cầu khẩn mọi điều mong ước: giàu có, tai qua nạn khỏi, công danh vững bền, con cháu thành đạt, hiển vinh. Người trần thế bị các bệnh tật thì cũng do người trần thế tìm phương cứu chữa. Phật không cứu chữa các loại bệnh tật được. Người trần thế muốn làm giàu thì nên làm giàu chân chính bằng tài sức của mình còn muốn tai qua nạn khỏi thì đừng làm điều ác, lừa gạt, gian dối, tham lam, ích kỷ thì tránh được tai họa vậy. Nguyên lý của đạo Phật: - Dạy mọi người làm điều thiện tránh điều ác. - Cải tà quy chính, tu nhất kiếp ngộ nhất thời. - Loại bỏ các thuyết hoang đường, mê tín dị đoan. - Không có việc luân hồi nhiều kiếp. - Không có Diêm Vương xử đối với người trần thế làm ác. Người làm ác nhất là các hung thần gây chiến tranh xâm lược. Tôn giáo đối với quốc gia: Tôn giáo không đứng ngoài quốc gia. Tôn giáo cũng là con dân của quốc gia, vì quốc gia bảo vệ tôn giáo nên tôn giáo phải trung thành với quốc gia, phải làm tròn nhiệm vụ công dân với quốc gia. Tôn giáo không làm chính trị, mà tôn giáo cùng quốc gia xây nền đạo đức hướng thiện, bác ái, công bằng. Ðức tin: Chân - Thiện - Mỹ góp phần cho cuộc sống thanh bình. Mỗi tín đồ tôn giáo có hai trách nhiệm: - Tôn trọng và chấp hành nghiêm minh luật pháp quốc gia ban ra vì lợi ích quốc gia. - Tôn trọng các điều nguyện, điều răn của Đạo ban hành một cách tự nguyện thành tâm và nghiêm minh. - Ðời có trước, đạo có sau nên đời đạo phải yêu thương nhau như tình cốt nhục. Ðạo phải làm gương và phải tôn trọng mọi thuần phong mỹ tục của tổ tiên truyền lại. Phần ta thuyết pháp về đạo cho ngươi nghe, ngươi nhớ mà ứng dụng khi hành đạo, không làm sai. - Thiện cũng có tiếng thơm lưu truyền cho mai sau, được đời kính trọng. - Ác cũng có tiếng xấu lưu truyền là lời nguyền rủa, bị đời oán trách. - Khi chết con người chỉ mang theo Thiện và Ác. Năm 1958 Phật Sống sang Anh cùng phái đoàn Chính phủ Việt Nam đi thăm một số nước trên thế giới. Tại Anh, ông tiếp kiến với nữ hoàng Elisabeth Đệ Nhị theo lời mời và được bà trao tặng huy hiệu hoàng gia trên có khắc chữ “Bất khả xâm phạm”. Ông còn cùng phái đoàn ngoại giao thăm hoàng gia và tiếp kiến vua Lào, nhằm xây dựng tình quốc gia anh em. Riêng sau khi đắc đạo, ông đã đi thăm các cảnh chùa nổi tiếng Trung Quốc, viếng nơi Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo tại Nepal và thăm đất nước Thái Lan. Tại Thái Lan ông cũng được nhà vua tiếp đón trọng thị với tất cả nghi lễ của một nước lấy đạo Phật làm quốc giáo. Sau này, ông xin về hoằng pháp ở một ngôi chùa ở Campuchia và tại đây, ông cũng đã tiếp kiến với hoàng gia và nhà vua Campuchia. Lúc ở hoàng cung, vua Nôrôdôm chọn người kế vị, có hỏi ông thấy hoàng tử Sihanuc thế nào? Ông nói: “Được đó, nhưng phải cái hơi bị lùn, nếu cao hơn thì ngon”. Sau đó hoàng gia Campuchia tạc tượng ông bằng bạc và thờ ở trong Chùa Bạc. Đền Angkor Wat Tỉnh Siem Reap, Campuchia Như vậy, qua niềm tin sắt đá của Phật Sống Lưu Công Danh bằng câu nói: “Hơn nữa, thầy biết rằng, dẫn dắt dân tộc Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh, một vị Thánh nhân. Được chiến đấu dù có hy sinh đưới ngọn cờ của Bác Hồ cũng là làm tròn Phật sự”, chúng ta hiểu rằng đây chính là sự thông hiểu và đồng cảm giữa một vị Phật và một Thánh nhân trong việc cùng chung gánh vác sứ mệnh của dân tộc. Đặc biệt, trong câu truyện Phật Thích Ca Mâu Ni đã lấy tên chùa là Tây Phương - hàm ý đất Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Dà - vua Đế Minh. Chùa Tây Phương và Chùa Cực Lạc là hai ngôi chùa cổ ở Xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất. Theo phả cũ Đế Thiên Phục Hy định đô ở vùng này, Đế Thiên Phục Hy được thờ ở Thiên Cổ Miếu trên núi chùa Tây Phương, còn chùa Cực Lạc là nơi thờ Địa Mẫu. Chùa Tây Phương Thạch Thất, Hà Tây, Việt Nam Mặt khác, cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ viết rằng: “Thái tử người Ấn Độ Tất Đạt Đa mới đến Lại Giã đất Việt tu hành đắc đạo, về nước sáng lập, theo Sa Môn Phật giáo thờ phụng thiên địa sơn thủy bách thần; thỉnh Lôi âm chân kinh ở bảo sái Tây Phương Cực Lạc nước Văn Lang thờ phụng từ Bách Việt Thiệu Tổ về trước, đến đời vua Hùng Duệ Vương gọi là Bách danh chân kinh” “Theo phả cũ còn nói rõ: Đây là trung tâm giáo chủ của 37 vương quốc theo đạo Sa Bà. Về sau, Thái tử Tất Đạt Đa đã sang đây ở chùa Sùng Nghiêm, xã Phú Lương ngày nay và đã tu thành chính quả, trở về truyền bá Phật Pháp”. “Phật Ngọc” Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh, sinh ngày 19 tháng 5 nǎm 1890 tại quê ngoại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nhà nho yêu nước. Thân phụ Người là ông Nguyễn Sinh Sắc, sinh nǎm 1862 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An.Thân mẫu của Người là bà Hoàng Thị Loan sinh năm 1868, là một phụ nữ thông minh, cần cù chịu khó, thương yêu chồng con và giàu lòng nhân ái. Ngôi nhà quê nội Chủ tịch Hồ Chí Minh Làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Thuở nhỏ tên là Nguyễn Sinh Côn hay còn gọi là Cung (Côn là tên môt con cá khổng lồ huyền thoại được nói đến trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử 365-290 tr.CN). Nguyễn Sinh Côn từ nhỏ đã lộ rõ tư chất thông minh, và có những suy nghĩ khác thường, có lần trong lớp học, học trò Côn đã sáng tác một đôi câu đối hết sức tuyệt vời, được thầy giáo và bạn bè nể phục (Trích cuốn Búp sen xanh, tác giả Sơn Tùng, Nxb Nhi đồng, 2002): Chung Sơn vượng khí thành kiên cố, Trắc Lĩnh đa vân thị lão niên. Núi Chung khí vương nên kiên cố, Non Lĩnh nhiều mây hóa lâu năm. Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng cha mẹ và anh trai vào Huế lần đầu tiên. Sau khi mẹ mất (1901), ông về Nghệ An ở với bà ngoại một thời gian ngắn rồi theo cha về quê nội, từ đây ông bắt đầu dùng tên Nguyễn Tất Thành. Từ năm 1901 đến 1905, Nguyễn Tất Thành đã được học chữ Hán với các thầy đồ nổi tiếng hay chữ và giàu lòng yêu nước ở vùng Nghệ Tịnh như Trần Thân, Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý. Tháng 9 năm 1905, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt theo học lớp dự bị trường tiểu học Pháp - bản xử ở thành phố Vinh. Ở đây, lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành tiếp xúc với khẩu hiệu: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Tháng 5 năm 1906, Nguyễn Tất Thành vào học lớp trung đẳng tại Quốc học Huế. Học xong lớp nhất 1907 - 1908, Nguyễn Tất Thành đạ điểm xuất sắc đã vượt qua năm thứ nhất vào thẳng năm thứ hai trường Quốc học. Năm 1908 vì tham gia phong đòi giảm sưu thuế ở Trung Kỳ. Cha ông bị triều đình khiển trách vì hành vi của hai con trai. Hai anh em Tất Đạt và Tất Thành bị giám sát chặt chẽ. Ông quyết định vào miền Nam để tránh sự kiểm soát của triều đình. Đầu năm 1910, Nguyễn Tất Thành vào đến Phan Thiết. Ông dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ cho học sinh lớp ba và tư tại trường Dục Thanh của Hội Liên Thành. Trong thời gian này, Nguyễn Tất Thành thường gặp gỡ một số nhà Nho yêu nước đương thời, khâm phục và ngưỡng mộ các bậc tiền bối như Đề Thám, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu nhưng tự hỏi tại sao tất cả những con đường cứu nước của các cụ đều dẫn đến thất bại? Khoảng trước tháng 2 năm 1911, ông nghỉ dạy đi thẳng vào Sài Gòn cũng với sự giúp đỡ của Hội Liên Thành. Tại đây, ông theo học trường Bá Nghệ là trường đào tạo công nhân hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son, vừa đi bán báo ở khu vực thương cảng để kiếm sống và tìm hiểu đời sống công nhân. Sau đó ông quyết định sẽ tìm một công việc trên một con tàu viễn dương để được ra nước ngoài học hỏi tinh hoa của phương Tây và tìm chính sách để cứu nước. Ngày 5 tháng 6 nǎm 1911, Người rời Sài Gòn đi Mác-xây (Marseille) Pháp bằng cách phụ bếp cho tàu Amiran Latúsơ Têrêvin (Amiral Latouche Tréville), bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước. Nguyễn Tất Thành nói với người bạn thân về chuyến ra đi nước ngoài của mình: “Tôi muốn đi ra ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”. Từ nǎm 1911 đến nǎm 1920, Người đã đến nhiều nước ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ, nghiên cứu và học hỏi để quyết định con đường cứu nước. Tàu Đô đốc Latútsơ Têrêvin Ảnh tư liệu tham khảo Nguyễn Tất Thành với tên Văn Ba làm phụ bếp, rời Sài Gòn ngày 5/6/1911 và bắt đầu cuộc sống vừa lao động vừa tự học trên hành trình tìm đường cứu nước. Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp tiếp tục hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vesailles bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa. Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lê Nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và Người bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III, Quốc tế Cộng sản và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước trở thành người cộng sản, Người khẳng định con đường cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới là con đường của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại. Theo nhà sử học Mỹ, bà Stenson thì Nguyễn Tất Thành đã đến thăm tượng thần Tự Do và đã ghi cảm tưởng: “Ánh sáng trên đầu tượng thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân tượng thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người đấu tranh da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”. Năm 1920, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tua. Năm 1921, tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp, xuất bản tờ báo Người cùng khổ ở Pháp (1922). Năm 1923, Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân. Năm 1924, Người tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản, được chỉ định là Uỷ viên thường trực Bộ Phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục Phương Nam. Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp ở Tua Ảnh tư liệu Năm 1925, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Châu Á, Xuất bản hai cuốn sách nổi tiếng: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và Đường cách mệnh (1927). Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp là sản phẩm tổng hòa tất của tất cả các tri thức - chính trị, triết học, xã hội lịch sử, văn học và kinh nghiệm thực tiễn được tiếp thu, bồi bổ, phát triển trong quá trình đấu tranh đầy sóng gió của Người. Nó không để chỉ tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở Việt Nam, mà đây còn là bản cáo trạng luận tội chủ nghĩa thực dân nói chung, chẳng những kẻ thù của đối với các dân tộc thuộc địa của chúng mà cũng là kẻ thù đối với nhân dân lao động. Nguyễn Ái Quốc với đoàn đại biểu dự hội nghị Đệ Tam quốc tế lần thứ V, Moscow, năm 1924 Ảnh tư liệu Năm 1925, Người thành lập Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ở Quảng Châu (Trung Quốc) và tổ chức "Cộng sản đoàn" làm nòng cốt cho Hội đó, đào tạo cán bộ Cộng sản để lãnh đạo Hội. Ngày 3-2-1930, Người chủ tọa Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long (gần Hương Cảng). Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ Đảng do chính Người soạn thảo. Người ra lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đổi là Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi Đảng Lao động Việt Nam và nay là Đảng Cộng sản Việt Nam). Uy tín và vai trò của Nguyễn Ái Quốc làm cho đế quốc Pháp phải hoảng sợ và tìm mọi cách để ám hại. Câu kết với đế quốc Pháp, ngày 6/6/1931, mật thám Anh đã bắt giữ một cách trái phép Nguyễn Ái Quốc (khi đó Người mang bí danh Tống Văn Sơ) tại ngôi nhà số 186 phố Tam Lung, Cửu Long (Hồng Công) và bí mật giam giữ với ý định sẽ giao cho nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương. Nhờ sự giúp đỡ của các chiến sĩ yêu nước Việt Nam đang hoạt động ở Hồng Công và đặc biệt nhờ vào sự nhiệt tình của ông Lôdơbai (Loseby), một luật sư tiến bộ người Anh có thế lực ở Hồng Công, vụ án liên quan đến việc mật thám Anh bắt giữ Nguyễn Ái Quốc đã phải đưa ra tòa án tối cao Hồng Công. Vì không đủ chứng cớ buộc tội, nhà cầm quyền Hồng Công phải tuyên bố Nguyễn Ái Quốc trắng án nhưng buộc phải trở về Đông Dương, có nghĩa là đẩy vào tay đế quốc Pháp. Nguyễn Ái Quốc đã khán án lên Tòa án tối cao Hòang gia Anh ở Lôn Đôn. Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc bị ốm và nương náu tại gia đình Luật sư Lôdơbai. Tháng 2-1933, Tòa án tối cao Anh tuyên bố trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc. Trên đường tới nước Anh, Nguyễn Ái Quốc lại bị bắt giữ tại Xingapo rồi trả lại Hồng Công. Một lần nữa, nhờ sự giúp đỡ của ông Lôdơbai, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời Trung Quốc để tiếp tục hoạt động bí mật. Từ năm 1933 đến 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục hoạt động cho sự nghiệp giải phóng của dân tộc Việt Nam của các dân tộc bị áp bức khác trong những điều kiện vô cùng gian khổ và khó khăn. Ngày 28 tháng 1 nǎm 1941, Người về nước, chọn Cao Bằng làm cǎn cứ địa xây dựng tổ chức, phát động phong trào cách mạng. Vùng Khuổi Nậm Pác Bó là nơi họp Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương (tháng 5 nǎm 1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, nơi ra báo Việt Nam độc lập, mở các lớp huấn luyện xây dựng lực lượng cách mạng. Pác Bó có hang Cốc Bó, nơi Bác Hồ chọn làm chỗ ở và làm việc của mình. Ngày 6 tháng 6 nǎm 1941, Người gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đoàn kết lại đánh đuổi đế quốc, Việt gian cứu nước. Tháng 8 nǎm 1942, Người sang Trung Quốc, bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam, giải qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian này, Người đã viết tác phẩm thơ nổi tiếng Nhật ký trong tù, cho đến nay đã được dịch ra hơn 10 thứ tiếng. Trong đó, bài thơ Ngắm trăng đơn giản mà sâu sắc: Trong tù không rựu cũng không hoa, Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ. Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. Tháng 9 nǎm 1943 Người được trả tự do. Tháng 3 nǎm 1944 tham dự Hội nghị các lực lượng cách mạng Việt Nam ở Liễu Châu, Trung Quốc. Tháng 9 nǎm 1944, Người trở lại Cao Bằng, gửi thư cho đồng bào toàn quốc kêu gọi chuẩn bị triệu tập Quốc dân đại hội. Tháng 12 nǎm 1944, Người quyết định thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của quân đội nhân dânViệt Nam. Đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân làm lễ xuất quân 16/8/1945 Thái Nguyên, Tuyên Quang, Việt Nam Ngày 9/3/1945, phát xít Nhật đảo chính hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương. Ngày 12/8/1945, Hồ Chí Minh cùng Ban thường vụ Trung ương Đảng quyết định Tổng khởi nghĩa vũ trang trong cả nước. Ngày 19/8/1945, khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội, ngày 23/8/1945 thắng lợi ở Huế, ngày 25/8/1945 thắng lợi ở Sài Gòn. Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Người tuyên bố: "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy". Có thể coi đây là một tác phẩm “thiên cổ hùng văn” tiếp sau bài Bình Ngô đại cáo của đại thi hào Nguyễn Trãi và Nam Quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập” Ảnh tư liệu, Hà Nội, Việt Nam Sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân xây dựng, củng cố và giữ vững chính quyền non trẻ. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời 3 tháng 9 năm 1945, Người đề ra những nhiệm vụ cấp bách lúc đó là động viên toàn dân chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ảnh chụp năm 1946, Hà Nội, Việt Nam “Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng. Vậy tôi mong giới Công Thương nỗ lực khuyên các nhà công nghiệp và thương nghiệp mau mau gia nhập “Công Thương Cứu quốc Đoàn” cùng đem vốn vào làm những công cuộc ích quốc lợi dân”, đó là nội dung lá thư đề ngày 13/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các giới công thương Việt Nam sau khi nghe tin thành lập Công Thương Cứu quốc Đoàn và tổ chức này gia nhập Việt Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà công thương Phủ Chủ tịch ngày 18/9/1945, Hà Nội, Việt Nam Trước dã tâm của thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng chính phủ quyết định phát động cuộc kháng chiến trên phạm vi cả nước. Sáng ngày 20 tháng 12nǎm 1946, trên làn sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam, lời kêu gọi cứu nước của Người đã truyền đi khắp nước: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ...”. Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh Ảnh tư liệu Ngày 18/12/1946, tại hang chùa Trầm, Hà Tây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc và phát lệnh Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp. Sau đó, vị sư cụ trụ trì đến chúc phúc, Người dặn sư cụ "cầu Phật phù hộ cho kháng chiến…" và tặng nhà chùa câu đối: Cao sơn hữu ý, thiên niên bút, Lưu thủy vô thanh, vạn cổ cầm. Non cao có ý, bút (lưu) ngàn năm, Nước chảy không kêu, đàn (ca) muôn thuở. Tròn 10 năm sau, ngày 13/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa lặng lẽ đến hang chùa Trầm. Hồi ký của ông Vũ Kỳ cho biết: "Hôm đó Bác đi một mình không cho ai đi theo, Bác đến chùa Trầm…". Người sỹ quan đóng quân tại chùa Trầm kể lại: "Hôm ấy Bác ở lại và làm việc suốt một ngày ở trong chùa Trầm, Bác bảo chúng tôi, các chú cứ làm việc của các chú, Bác làm việc của Bác…”. Sau này, chúng tôi mới biết là hôm đó Bác muốn chọn một nơi thật yên tĩnh để hoàn thành văn kiện lịch sử "Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước”. Chiều tối về, Bác dặn thêm: "Phải tôn trọng tín ngưỡng của nhân dân… giữ gìn, bảo quản để mai sau đất nước hòa bình làm nơi tham quan rất tốt…”. Thăm chùa Trầm Năm 1966, Hà Tây, Việt Nam Hai văn bản tuyệt bút, ghi nhận một giai đoạn lịch sử hào hùng, mãi mãi ghi nhận trong dòng triết học, tư tưởng và văn hoá của nhân dân Việt Nam. Cụ Huỳnh Thúc Kháng được làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, hết lời ca ngợi một trí tuệ siêu việt: Tầm con mắt trông cao tột bậc, Nhận rõ đại cuộc xét thấu thiên cơ. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành được thắng lợi to lớn, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Bộ chỉ huy và cắm cờ chiến thắng trên hầm tướng De Castries ngày 7/5/1954 Ảnh tư liệu tham khảo Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại biểu đồng bào theo đạo Thiên Chúa ngày 10/3/1955 và Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu Hội Phật giáo Việt Nam, ngày 3/1/1957. Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1955) Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn Nghị sĩ Quốc hội Anh sang thăm Việt Nam (4/5/1957) Ảnh tư liệu Nhân dân thủ đô Sofia nhiệt liệt chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm hữu nghị nước Cộng hòa Bulgaria (8/1957) Ảnh tư liệu Trong dịp sang thăm Cộng hòa dân chủ Đức (7/1957), Hồ Chủ tịch và các đồng chí lãnh đạo Cộng hòa dân chủ Đức đến thăm và chụp ảnh lưu niệm với các cháu thiếu nhi Việt Nam lưu học tại Đức. Ảnh tư liệu Ngày 3/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm đền Borobudur, nhân dịp Người thăm Cộng hòa Indonesia Ảnh tư liệu Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam (5/1/1959) và Văn Miếu - Quốc tử giám (29/1/1960) Ảnh tư liệu Dân ta phải biết sử ta, Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Hồ Chí Minh. Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đã nhất trí bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Quốc hội khóa II, khóa III đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bác Hồ bắt nhịp bài ca kết đoàn Ảnh 3/9/1960 tại công viên Bách Thảo, Hà Nội Nǎm 1962, khi tiếp Đoàn đại biểu nhân dân miền Nam ra thǎm miền Bắc, Chủ tịch Hổ Chí Minh nói: "Hình ảnh miền Nam yêu quý luôn luôn ở trong trái tim tôi". Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Đoàn đại biểu phụ nữ các dân tộc tỉnh Hà Giang về Hà Nội ngày 25/11/1965 Ảnh tư liệu Tháng 8 nǎm 1964 đế quốc Mỹ gây ra sự kiện "Vịnh Bắc Bộ", và từ tháng 2 nǎm 1965 đã mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc và ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi toàn thể nhân dân Việt Nam đứng lên chống Mỹ cứu nước. Tháng 7 nǎm 1966 Mỹ đã dùng máy bay ném bom Thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 nǎm, 10 nǎm, 20 nǎm, hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!". Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp nhân sĩ trí thức Mỹ phản đối chiến tranh ở Việt Nam 17/1/1967 - Ảnh tư liệu tham khảo Bác Hồ nói chuyện với các cháu thiếu nhi trong dịp Người về thăm và chúc Tết đồng bào tỉnh Hà Bắc (9/2/1967) Ảnh tư liệu Do tuổi già sức yếu, mặc dù được các bác sĩ hết lòng cứu chữa nhưng vào hồi 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 nǎm 1969, trái tim của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngừng đập, để lại nỗi tiếc thương vô hạn cho toàn thể nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Nhà văn Thu Bồn cảm tác: Đã ngừng đập một trái tim, Đã ngừng đập một cánh chim đại bàng. Nỗi đau vô tận thời gian, Nhớ thương nhưng chớ lệ tràn đẫm mi. Những nhà tu hành đạo Phật ở Nhật Bản đã xem Chủ tịch Hồ Chí Minh của Việt Nam như một vị chân nhân bởi sự hy sinh vĩ đại của Người trong việc đấu tranh giải phóng dân tộc và chăm lo cho hạnh phúc của nhân dân. Chính vì vậy mà sau khi Người qua đời vào ngày 2/9/1969, hòa thượng cao niên người Nhật Onishi Ryokei, trụ trì chùa Phật Bà Quan Âm Kyomydo ở cố đô Kyodo, đã sáng tác một bài thi thất ngôn tứ tuyệt để bày tỏ lòng ngưỡng mộ: Chân nhân cứu nước về trời, Lạc đường dân chúng muôn lời khóc than. Xưa nay hiếm bậc tài anh, Gió thu chiếc lá lìa cành trong mưa. Chủ tịch nhà nước Trung Quốc đã trân trọng gửi đôi câu đối viếng Người: Chí khí tráng sơn hà, kim cổ anh hùng duy hữu nhất, Minh tinh quang vũ trụ, Á Âu hào kiệt thị vô song. Chí khí cường tráng núi sông, anh hùng xưa nay chỉ có một, Sao sáng chiếu soi vũ trụ, hào kiệt Á Âu không thể có hai. Điếu văn tiễn biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh về cõi người hiền, có đoạn viết nhấn mạnh: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch… và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta… mỗi người Việt Nam ta mãi mãi ghi lòng tạc dạ công ơn trời biển của Người.”. Lễ truy điệu và Bản di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh Ngày 9/9/1969, Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại quảng trường Ba Đình Sau khi Người qua đời, sự nghiệp giải phóng dân tộc vẫn tiếp diễn và cuộc chiến tranh ngày càng leo thang và khốc liệt, tội ác của quân xâm lược Mỹ ngày càng chồng chất nhưng quyết tâm thống nhất tổ quốc là không gì lay chuyển nổi. Hiện thực đẫm máu ở Mỹ Lai Ảnh chụp ngày 16/3/1968 Em bé napalm Ảnh tác giả Nick Út, năm 1972 Mùa xuân năm Mậu Thân 1968, quân và dân Miền Nam đã mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, hòa cùng thắng lợi của Miền Bắc đánh bại chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, làm đảo lộn chiến lược và làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán. Hội nghị Paris tại Pháp diễn ra là kết quả của quá trình đấu tranh nhiều mặt để có được, đó còn là cơ sở có tính hợp pháp khi nó là hội nghị của bốn bên. Bà Nguyễn Thị Bình, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ CMLTCHMNVN kí Hiệp định Hội nghị bắt đầu từ ngày 18 tháng 1 năm 1969 tại Paris, thủ đô nước Pháp. Hội nghị đã kéo dài trong 4 năm 9 tháng, qua 202 phiên họp công khai, 24 cuộc họp bí mật với sự ngoan cố đến phút cuối cùng của đế quốc Mỹ, chúng muốn “thương lượng” trên thế mạnh nhưng tình hình thực tế đã không cho phép bởi những thắng lợi to lớn của quân và dân ta trong 12 ngày đêm “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”, đập tan cuộc không kích chiến lược với pháo đài máy bay B52 đánh vào Hà Nội. Chiến dịch ném bom rải thảm cực kỳ tàn bạo này theo các nhà nghiên cứu thì sức tàn phá của nó tương đương với 5 quả bom nguyên tử đã ném xuống Nhật Bản năm 1945, thêm vào đó với sức ép của nhân dân Mỹ và dư luận trên toàn thế giới... nên ngày 27/1/1973, đế quốc Mỹ đã phải bắt buộc ký vào “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Pháo đài bay 52 rải bom Ảnh tư liệu Ngày 30 tháng 4 năm 1975 chính thức đánh dấu sự kiện hai miền Nam Bắc thống nhất sau hơn 20 năm chiến tranh gian khổ, hy sinh và mất mát. Hình bóng của Người là một biểu tượng vĩ đại của một dân tộc anh hùng, Người chính là linh hồn và là vị cứu tinh của một dân tộc thoát khỏi vòng nô lệ gần trọn một thế kỷ và Người là biểu tượng dẫn dắt cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc đi đến sự thống nhất vẹn toàn. Mẹ con ngày gặp lại Ảnh tác giả Lâm Hồng Long, 1975 Quả thật, Hồ Chí Minh đã trở nên bất tử trong trái tim của nhân loại. Cuộc đời và sự nghiệp của Người trải qua bao gian khổ, hy sinh vô cùng sôi nổi và phong phú, vô cùng cao thượng và đẹp đẽ cho ta cảm nhận một hiện thực sống động và cảm động về “Con Người”, con người Việt Nam đẹp nhất của thế kỷ XX với sự hài hòa Chân, Thiện, Mỹ. Hàng ngàn bài thơ, bài ca đã được sáng tác để ca ngợi một con người vĩ đại, trong đó Bài ca Hồ Chí Minh (Ballad of Ho Chi Minh) của Ewan MacColl (1915-1989), một ca sỹ, nhạc sỹ, nhà thơ, nhà soạn kịch người Anh gốc Scotland, sáng tác năm 1954, được trình diễn trên mọi miền trái đất, gây xúc động hàng triệu trái tim. Cảm hứng khi sáng tác bài ca này, như chính tác giả có lần tâm sự, chính là chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Ewan MacColl và ca sỹ Peggy Seeger - người bạn đời của ông, đã bao lần song ca bài hát này trong niềm mến phục của thính giả, dù là ở Anh, Pháp, hay ở Cuba, Mỹ Latin…: “Hồ Chí Minh, Người đi khắp năm châu. Lòng tin mặt trời chân lý sáng soi, rọi chiếu sáng dân mình. Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh...” Ewan McColl và Peggy Seeger Ảnh chụp bởi tác giả Alamy Giáo sư Trần Văn Giàu đã nêu một nhận xét xác đáng để bình luận về sự vĩ đại của Hồ Chí Minh: “Tầm cỡ của một hiền triết chưa chắc ở chỗ giải đáp mối tương quan giữa tồn tại và tư tưởng, ở chỗ xác định thế giới là thực tại hay ảo ảnh, khả tri hay bất khả tri, ở chỗ lựa chọn giáo điều quen thuộc hay sáng tạo mới lạ, mà chung quy là ở mức quan tâm đến con người, con người thật đang sống trên quả đất này và chắc còn sống lâu dài đến vô tận thời gian, lấy đó làm trung tâm của mọi suy tư và chủ đích của mọi hành động. Cụ Hồ Chí Minh thuộc loại hiền triết đó, vì đó mà Cụ “lớn” (Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, tác giả Trần Văn Giàu, Nxb Khoa học Xã hội, 1995). Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh Thành phố Moscow, Liên bang Nga Hồ Chí Minh là kiểu mẫu của sự hài hòa giữa dân tộc và nhân loại, danh nhân với con người bình thường, sống giữa trần thế, gần gũi với nhân dân với những tình cảm tha thiết nhất, có sức cảm hóa, thuyết phục, có sức hấp dẫn và lôi cuốn mạnh mẽ và tự nhiên nhất đối với con người - những cảnh đời, những số phận của con người lao khổ. Hồ Chí Minh vĩ đại trong sự giản dị, giản dị trọng sự vĩ đại: Đại Nhân - Đại Trí - Đại Dũng. (Trích từ cuốn Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới, nhóm biên soạn Trần Đình Huỳnh, Nxb Văn nghệ Tp HCM, 2002). Câu cá Ảnh tư liệu Tập võ dân tộc Ảnh tư liệu Trong lĩnh vực tâm linh, chưa đầy ba tháng sau khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SL ấn định nhiệm vụ cho Đông Phương Bác Cổ Học viện nhiệm vụ bảo tồn tất cả các cổ tích trong toàn cõi Việt Nam. Người bảo vệ, cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Dương Đại Lâm kể lại: "Thời gian ở Khuổi Nậm, Pắc Bó… đầu năm 1942, Người đã dời lán cũ lên lán trên ở sâu trong rừng, ở một gốc cây to gần lán có đặt một phiến đá dán giấy đỏ viết chữ Nho, lại có bát hương lên khói y hệt một cái miếu thờ Thổ thần. Bên trong lán, có tranh Phật Bà Quan Âm và câu đối đỏ dán ở vách.”. Năm 1958, sau ngày hòa bình lập lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh thành kính đến thắp hương Phật Bà Quan Âm tại Chùa Hương Tích, Hà Tây. Hà Tây có nhiều di tích lịch sử, trong đó có di tích chùa Thầy và chùa Trầm, nơi ba đức Thánh Tổ tu hành đạt chính quả linh diệu, các ngài thiền sư Từ Đạo Hạnh, Minh Không, Giác Hải cầu mưa giải hạn, chữa bệnh cứu dân… nhiều ngôi chùa Việt có bàn thờ ba vị "Tam Thánh Phật", là danh phong linh ứng lạ kỳ trong dòng lịch sử Phật giáo Việt Nam. Những năm kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng sống và làm việc tại hai ngôi chùa linh thiêng này, và Hà Tây cũng chính là nơi mà “Bác Hồ Tâm Linh” thông qua nhà ngoại cảm nói về chốn địa linh mang tên “Tứ Linh” của đất nước, là nơi chôn cất các vua Hùng và còn hơn thế nữa, nơi đây là cội nguồn cổ tích và tâm linh của các dân tộc trên toàn thế giới. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh Thủ đô Hà Nội, Việt Nam Khu di tích Đá Chông Núi Tản Viên, Ba Vì, Hà Tây, Việt Nam Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, hiểu sâu sắc ý nguyện của Người, phát tỏa linh khí hồn thiêng hàng nghìn năm trường tồn của dân tộc, nhà nước đã xây dựng khu tưởng niệm K9 - Đá Chông ở chân núi Tản Viên trở thành khuôn viên đẹp đẽ, trang nghiêm. Đặc biệt, trên đỉnh cao nhất trong ba ngọn núi Tản Viên, xây đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhân dân thành kính, thắp hương tưởng niệm, biết ơn Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, từ đáy lòng chân thành, đồng loạt hàng vạn ngôi chùa, đền, đình, miếu, nhà dân… ở khắp các bản làng lập bàn thờ, treo ảnh, tượng Người, ghi nhận tấm lòng biết ơn một vị Phật, ông Tiên, Thánh nhân đã dẫn dắt dân tộc ta thoát khỏi gần một thế kỷ rên xiết dưới ách đô hộ thực dân bạo tàn. Người cũng là ngọn đuốc sáng, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, là biểu tượng cho khối đại đoàn kết của các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới vùng lên giành lại độc lập, tự do (trích một phần từ bài viết Yếu tố tâm linh trong tư tưởng Hồ Chí Minh của tác giả Võ Giáp). Cuộc chiến tranh thống nhất đất nước Việt Nam cũng giống hình bóng của những cuộc chiến đã xảy ra trong lịch sử của các dân tộc khác, và có lẽ tương tự như cuộc chiến giữa những anh em hai dòng họ trong việc tranh giành lãnh thổ được mô tả trong cuốn sử thi nổi tiếng Chí Tôn Ca (Bagavad Gita) của Ấn Độ. Một bên là 5 anh em Pandava và một bên là 100 anh em Kaurava, quân đội đồng minh của đôi bên đông tới hành triệu người. Chiến sĩ Arjuna là người em thứ ba trong năm anh em Pandava, muốn từ bỏ cuộc chiến vô nghĩa này nhưng thần Krishna đã thuyết giảng về sứ mệnh của một người đối với dân tộc, Arjuna đã chiến đấu và đã chiến thắng nhưng những người anh em khác chiến tuyến đã chết hết. Cuộc chiến thực sự đã không có kẻ chiến thắng và sau đấy, Arjuna học hỏi quả đại toàn thiện Yoga từ thần Krishna - người đánh xe ngựa của mình, chính là hóa thân thứ 7 của thần mặt trời Vishnu, nhằm đạt tới sự giác ngộ toàn diện. Phải chăng nội dung sử thi Chí Tôn Ca muốn nhắn gửi những cuộc chiến đã xảy ra - đấy chính là định mệnh của một dân tộc và những người còn lại sau trận chiến, phải nhận thức được điều đó để cùng nhau hòa giải và yêu thương? (tham khảo cuốn Nhập môn triết học Ấn Độ, tác giả Lê Xuân Khoa, Trung tâm Học liệu Bộ giáo dục và cuốn Quả toàn thiện của Yoga, tác giả Đức Thánh ân A. C. Bhaktivedanta Swami Prabhupada, Nxb Tôn giáo, 2011). Krishna và Arjuna Tranh tham khảo Trong bài thơ tâm linh Lời Thiên báo Trần, bà Phạm Thị Xuyến ghi theo lời “Hồn Thiên” đọc tại đền Hòa Bình, Thái Nguyên ngày 27/10/2010, tức ngày 20 tháng 9 năm Canh Dần, có đoạn nêu yêu cầu của Thượng Thiên: Danh nhân thế giới tiếng vang toàn cầu. Thác được Nhà Trời tặng câu, Một ngày Sinh Hóa đứng đầu, không hai. Mồng hai tháng Chín (1945), không sai, Tuyên ngôn độc lập, văn bài còn ghi. Mồng hai tháng Chín (1969) Bác đi, Vào ngày lịch sử trường kỳ cho Dân. Một ngày phúc lớn, hồng ân, Một ngày Trời tặng phúc phần thành Tiên. Một ngày hai việc hồng chuyên, Một ngày Sinh Hóa thiêng liêng cho Đời. Nước Nam có một Hồn Trời, Có một Hồn đời Trời gửi cho Dân. Hồn của Ngọc Hoàng giáng Trần, Hồn của Tổ nước, hồng ân, phúc dầy. Hồn của Lạc Long Quân nay, Tái thế nước này sinh Nguyễn Sinh Cung. Sinh cho Trời, cho Nước cùng, Một hành tinh lớn ung dung ra đời. Cho nên một cửa thờ Trời, Có hai câu đối viết lời bằng thơ. Viết làm câu đối treo thờ, Theo Lệnh Trời giáng bấy giờ đến nay: Câu 1: Ngọc Hoàng Thượng Đế, Ngọc Phật Bác Hồ. Câu 2: Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng về nước Nam Ngọc Phật Ái Quốc giáng Trần cứu Nước, Đó là nguyện ước của Trời, Trời sinh, tạo hóa ra người Trần gian. Trời có phép xưa sinh sang, Trời sẽ có phép dạy ban cho Đời. Hồ Chí Minh là một hiện tượng văn hóa độc đáo trong thế kỷ XX, Người được coi là một huyền thoại khi còn sống, và khi Người từ giã cõi đời này đi vào cõi vĩnh hằng, ai ai cũng cảm nhận từ chiều sâu thẳm tâm linh của mình rằng, Ngưỡi vẫn luôn luôn có mặt trong cuộc sống hôm nay, ở giữa cuộc đời, sống giữa mọi người hồn hậu, thiết tha, chu đáo, tận tình. Trí tuệ và tâm hồn Người vẫn lộng gió bốn phương của thời đại, trái tim Người vẫn mãi mãi là biểu tượng cao quý của lòng nhân ái, bao dung hướng tới nhân loại cần lao, trong đó có dân tộc mình, đồng bào mình trong hành trình không mệt mỏi phấn đấu cho độc lập, tự do và hạnh phúc. Chủ tịch Hồ Chí Minh bế con gái đỡ đầu Elizabeth, bên cạnh là bà Lucie Aubrac Ảnh tư liệu ngày 27/7/1946 Toàn tập thơ văn linh cảm có tên gọi Hồ Chí Minh khai cơ, giáng bút được bắt đầu ghi lại từ ngày 25 tháng 6 năm 1999, liên quan đến Hội Long Hoa mà kinh sách của các tôn giáo đề cập đến từ xưa đến nay, trong đó nói rằng Bác Hồ Tâm Linh vâng lệnh Thượng Đế cho trần gian rõ, hay nói đúng hơn cho dân tộc Việt Nam và các dân tộc trên thế giới bằng: Tuyên giáo chính pháp Long Hoa Hội. Từ sự kiện này, chúng ta hiểu rằng Bác Hồ Tâm linh - Phật Ngọc Hồ Chí Minh là đại diện cho Cõi Thượng Thiên ra tuyên bố chính thức về Long Hoa Hội: TUYÊN GIÁO CHÍNH PHÁP LONG HOA HỘI Kể từ xưa, đời cổ lai hy tại nước Hy Lạp đã xuất hiện con người tinh xảo nhất. Con người đã biết tạo dựng cho mình một cái mốc thời gian, rồi chuyển hóa dần sang thời đại năng lượng của trời đất và biết tạo dựng trong thiên nhiên. Sự chuyển hóa của loài người từ thế hệ này đến thế hệ khác, cùng tồn tại với bầu không trung hư vô của các tâm linh mà đời thường chúng ta không ai biết được. Từ cõi hư vô ấy các tâm linh được xuất thần nhập thân khai nên bút tích của lịch sử, từ nền khoa học phát triển cho đến chuyển hóa sang thần thánh, cả hai mặt đều chuyển hóa dần trong cuộc sống hiện tại từ thế kỷ này sang thế kỷ khác. Tôi cũng đã xuất thân từ một con người, của một thời đại hiện đại. Tôi đã sống trên trái đất và dấu ấn lịch sử đã ghi bước chân của Tôi từ Á, Âu, Phi, Mỹ, Úc châu rồi lại trở về Á châu. Nơi chôn nhau cắt rốn của Tôi là Việt Nam thân yêu! Tôi sống một cuộc sống cho đời! Làm người Tôi luôn luôn nghiên cứu sử sách của các bậc tiền bối từ đời cổ lai hy của các niên đại như: Cổ đại, Trung đại và Hiện đại; từ triết học, học thuyết tâm linh, Kinh Dịch, Mã Ấn, rồi học thuyết của chủ nghĩa Mác mà các bậc tiền bối đã để lại cho thế hệ hôm nay của thời hậu thế. Từ đó, Tôi cô đúc trong thế giới bao la của trời đất, không phải không có thánh thần, không phải không có tâm linh, mà chính cõi hư vô ấy đã chỉ đạo cho con người chúng ta xuất phát trong tâm tưởng và bộ nhớ của chính mình. Mốc thời gian do trời đất tạo hóa ra loài người của chúng ta đều do Vô Vi mà có. Nay Tôi về tuyên giáo CHÍNH PHÁP LONG HOA HỘI! Bằng Hồn Thiêng Tâm Linh, Tôi mang sắc lệnh của Cha Trời với danh hiệu là “ĐỨC NGỌC PHẬT HỒ CHÍ MINH” tuyên giáo Chính Pháp Long Hoa Hội để toàn thể sinh linh phải thức tỉnh lòng mình, giữ cho mình một tấm lòng nhân hậu thật trong sạch, làm điều thiện vun trồng cội đức cho toàn dân, cả cõi kiếp người, cả Đại Đức các Chư Phật, Bồ Tát từ bao kiếp xưa nay đã về hưu giao lại cho Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế là Cha Trời phán xử, truyền chỉ sắc lệnh cho con trai Trời, con gái Trời xuống Hạ giới đầu thai mở cõi Nam Thiên Cực Lạc, mở đường sinh linh diệu hóa, xóa bỏ cõi sinh linh mà bao ngàn năm chứa chất tội lỗi. Con trai Trời, con gái Trời xuống mở Nam Thiên Cực Lạc, trên quả địa cầu chỉ còn 18 nước - có nước Việt Nam thành Liên Bang Chủng Quốc. Từ đó trở đi, Đại Đức Cha Trời chiếu sắc lệnh ban về Hạ giới cho con trai Trời, con gái Trời lãnh đạo nhân loại trong cõi Dương thế, đời người chúng ta không còn lầm than, khổ ải nữa, sự sinh tồn của con người được trường thọ. Nay Tôi mệnh danh ĐỨC NGỌC PHẬT HỒ CHÍ MINH, xin tuyên giáo CHÍNH PHÁP LONG HOA HỘI cho toàn thể nhân loại rõ để tu thành chánh qủa! Ngọc Hoàng Thượng Đế chỉnh sửa bài viết xong vào lúc 23h30’; tại 107 phố Phương Mai, quận Đống Đa, thủ đô Hà Nội, Việt Nam; ngày 13 tháng Hai năm 2009; người thông linh trực tiếp ông Lâm Thanh Điền - Tam Thiên Đại Toàn Phổ Giáo Bồ Tát. Trích từ Tư liệu số 25: Thông điệp và các bài chỉ dạy của Trời năm 2009 cho Nhân Điện và nhân loại toàn cầu của tác giả Lâm Thanh Điền. Cuối cùng, chúng ta có thể đặt ra câu hỏi: Có người nào đã đúc kết được tinh hoa của một dân tộc hay hay không? Nếu có thì Chủ Tịch Hồ Chí Minh là một trong những con người như vậy. Nhà thơ Osip Mandelxtamm có ấn tượng rất là sâu sắc sau lần gặp thân mật với Nguyễn Ái Quốc, ông đã viết: “Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ đó là nền văn hóa của tương lai… Qua dáng điệu trang nhã và giọng nói chậm rãi của Nguyễn Ái Quốc, người ta nghe thấy vọng lại âm thanh của ngày mai, âm thanh trầm hùng của của đại dương bao la tình hữu ái”. Thực tế, chúng ta cũng đã thấy sự sáng suốt và thấu hiểu tinh hoa của các giá trị văn hóa Đông Tây của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phật Ngọc Hồ Chí Minh đã từng nói với một nhà báo: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức. Tôn giáo Jesus có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó là chính sách thích hợp với điều kiện thực tế nước ta. Khổng Tử, Jesus, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy” (trích Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, tác giả Nguyễn Ngọc Thêm, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1997). Không phải ngẫu nhiên mà Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã trở thành biểu tượng của phong trào giải phóng dân tộc, cũng không phải ngẫu nhiên Người được Đại Hội đồng UNESCO - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (The United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization), đã vinh danh Người trên toàn thế giới: “Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất”. Nghị quyết có viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội... sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của nhân dân Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau.". Những hiện vật của thời các vua Hùng dựng nước tự nói lên sự tồn tại của nó từ nhiều thiên niên kỷ trước Công nguyên. Người dân nước Văn Lang đã xây dựng một nền văn hiến vô cùng rực rỡ, ngày nay đọc lại những trang sử của cha ông để lại, chúng ta bồi hồi nghĩ về con đường thiên lý chiều sâu lịch sử: Nghìn năm cũ đang hồi xuân thắm lại, Ta đứng vậy, ngẩn ngơ mà ngắm mãi. Và càng ghi sâu công ơn của Chủ tịch Hồ Chủ Tịch: Cảm ơn Người, Hồ Chí Minh vĩ đại, Sau bốn nghìn năm ta lại là ta. Thơ Tố hữu. Chuyển Luân Thánh Vương Bao giờ đến Hội Long Hoa? Đó là câu hỏi đã có từ hàng ngàn năm trước, câu hỏi ấy càng trở thành cấp bách ở những năm cuối cùng của thế kỷ XX, người ta bàn tán với nhau rằng đến năm 2000 tận thế xảy ra thì lúc ấy Hội Long Hoa xuất hiện, Đức Phật Vương Di Lạc ra đời cứu vớt những người tu phước hành thiện, còn những kẻ ác thì phải đọa địa ngục. Thế rồi dân gian đã tưởng tượng ra Long Hoa chính là cây xương rồng, rồi thì nhà nhà đều trồng cây xương rồng để trừ ma yếm quỷ, và tạo duyên để Đức Phật Vương Di Lạc hạ sinh, và cho tới nay thì "Ông bụng bự vui tính" vẫn còn ở tận đâu đâu nhưng niềm tin của con người vẫn còn vô cùng mãnh liệt. Trong quyển Phật Tông Nguyên Lý, khi Đức Phật Thích Ca sắp viên tịch, đệ tử của Ngài là Ananda rơi lụy hỏi rằng: "Khi Tôn Sư nhập Niết Bàn rồi, còn ai dạy bảo chúng con?" Đức Phật đáp: "Ta chẳng phải vị Phật đầu tiên hay cuối cùng, ngày giờ đến, sẽ có một Đấng khác xuất hiện cứu đời, một Đấng chí thánh, một Đấng đại giác, cực kỳ cao thượng, một Đấng dẫn Đạo vô song, một Đấng Chúa Tể Thánh, Thần và loài người, Đấng ấy sẽ truyền dạy các con một mối Đạo vi diệu buổi sơ khai, vi diệu buổi thịnh hành và vi diệu buổi kết cuộc, Đấng ấy sẽ xướng xuất một đời sống đạo đức hoàn toàn thuần khiết", một lần nữa khẳng định Đức Phật Vương Di Lạc sẽ ra đời và chuyển luân pháp vương tại nhân gian. Theo Kinh Di Lạc Thượng Sinh và Kinh Di Lạc Hạ Sinh, vị Bồ Tát này xuất thân từ một gia đình Bà La Môn, về sau làm đệ tử Phật, nhập diệt trước Phật, dùng thân Bồ Tát trụ ở cõi trời Đâu Suất thuyết pháp cho các vị trời ở cõi này. Di Lạc Vương Phật là vị Phật tương lai, giáng sinh xuống cõi trần vào thời Tam Kỳ Phổ Độ, làm Giáo chủ Đại Hội Long Hoa, thay mặt Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế mà làm vua quản lý Càn Khôn thế giới và vạn linh. Tượng Đức Phật Di Lạc mạ vàng Chùa Đại Kim Phật, Quý Châu, Trung Quốc Trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, kinh điển chính thức nói về Di Lạc có đến sáu bộ. Sáu bộ kinh này thuật về việc sinh lên cõi trời Đâu Suất, từ cõi trời Đâu Suất giáng sinh xuống cõi Diêm-phù-đề, thành Phật, quốc độ, thời tiết nhân duyên, chủng tộc, xuất gia, hành đạo và chuyển pháp luân của Bồ Tát Di Lạc. Sáu bộ kinh bao gồm: - Kinh Quán Di Lạc thượng sinh; - Kinh Di Lạc hạ sinh; - Kinh Di Lạc lai thời; - Kinh Quán Di Lạc Bồ Tát hạ sinh; - Kinh Di Lạc hạ sinh thành Phật; - Kinh Di Lạc Đại Thành Phật. Tựu trung, 6 bộ kinh trên được chia làm hai loại, đó là Thượng sinh và Hạ sinh. Tín ngưỡng Thượng sinh cho rằng hiện nay Bồ Tát Di Lạc đang nói pháp trên cung trời Đâu Suất, các kinh điển Thượng sinh diễn tả tỷ mỷ về cõi trời này, đây là tầng trời thứ tư trong sáu tầng trời cõi Dục. Tuy là cõi Dục, nhưng cõi trời này có những cái đặc thù mà các tầng trời khác không có. Thiên cung Đâu Suất có hai phần là Nội viện và Ngoại viện, thiên chúng ở Ngoại viện vẫn hưởng thú vui ngũ dục nên dễ bị đọa lạc, chỉ có tại Nội viện, nơi Bồ Tát Di Lạc đang thuyết pháp thì không khác cảnh giới Cực Lạc của Phật A Di Đà. Nếu người phát nguyện vãng sinh về nội viện thiên cung Đâu Suất, nhất tâm giữ giới tu thiện thì sau khi mạng chung sẽ được vãng sinh. Tín ngưỡng Thượng sinh có từ rất sớm ở Ấn Độ. Ở Trung Quốc đầu tiên có ngài Đạo An (314-385), Đạo Kiểu, Tăng Nghiệp, Huệ Nghiêm, Đạo Uông, Đạo Pháp, Pháp Thịnh, Đàm Phó, Đàm Võ… đó là những danh tăng có ảnh hưởng rất lớn giới Phật giáo đương thời. Đến đời Đường, ngài Huyền Trang, Khuy Cơ cũng hoằng dương tín ngưỡng Thượng sinh Đâu Suất và trở thành truyền thống của tông Pháp Tướng. So với tín ngưỡng Thượng sinh, tín ngưỡng Hạ sinh lại rất phổ biến, tín ngưỡng này cho rằng tương lai Bồ Tát Di Lạc sẽ giáng sanh xuống cõi Diêm-phù-đề, thành Phật dưới cội Long Hoa và thuyết pháp ba hội để cứu độ chúng sinh, vì thế có thuyết Long Hoa Tam Hội. Nếu chúng sinh tu tạo nhân duyên, phước báo, trụ sinh ở Diêm-phù-đề khi Phật Di Lạc giáng sinh thì sẽ được Phật giáo hóa. Đời Lưu Tống, vua Minh Đế (tại vị 465-471) soạn Long Hoa Thệ Nguyện Văn, Châu Ngung soạn Kinh Sư Chư Ấp Tạo Di Lạc Tam Hội Ký, Văn Tuyên Vương Tề Cánh Lăng soạn Long Hoa Hội Ký, ngài Nam Nhạc Huệ Tư soạn Lập Thệ Nguyện Văn, tất cả đều nói về thuyết Di Lạc hạ sinh. Do tín ngưỡng Hạ sinh được các vua chúa tôn sùng, nên việc khắc tạo tượng Phật Di Lạc ở Trung Quốc phát triển cực thịnh. Tượng Di Lạc được khắc tạc vào núi Thạch Thành cao đến hơn 300m vào đời Nam Tề, Hiến Văn Đế đời Bắc Ngụy cũng tạo rất nhiều tượng Di Lạc ở Vân Cương Đại Đồng, Long Môn… việc tạo tượng Di Lạc ở Trung Quốc cũng ảnh hưởng nhiều đến các nước Triều Tiên, Nhật Bản. Phật Di Lạc Tạc vào vách núi Lạc Sơn, Trung Quốc Phật Di Lạc được thờ cúng rất phổ biến trong dân gian các nước Á Đông. Ở Trung Hoa, tín ngưỡng Di Lạc đã được thịnh hành từ lâu đời, thời Tây Tần xuất hiện tượng Di Lạc ở động đá chùa Bính Linh, Cam Túc. Tượng Di Lạc trước đời Ngũ Đại, Tống, chủ yếu có hình Bồ Tát và Như Lai, đều được làm theo các kinh Di Lạc thượng sinh kinh và Di Lạc hạ sinh kinh. Tượng ngài chủ yếu thể hiện hình dáng Bồ Tát thuyết pháp với chư thần ở Đâu Suất Thiên Cung. Tượng ngài lúc này mặc trang phục Bồ Tát, hai chân ngồi đan chéo nhau, hoặc ngồi bán già tư duy, vế phải hạ xuống, tay phải chống vào má thể hiện ngài ở cung Đâu Suất đang chọn ngày hạ sinh. Tượng Phật Di Lạc hình Như Lai biểu hiện hình tượng sau khi Di Lạc trở thành Phật và hầu như không có gì khác lớn so với Phật Thích Ca. Ở Trung Hoa, vào khoảng thời Bắc Ngụy dần dần tính ngưỡng đối với Di Lạc, đồng thời cũng bắt đầu xuất hiện tượng Phật Di Lạc mặc áo Phật. Sau thời Ngũ Đại, trong dân gian còn có tượng Di Lạc cười (tham khảo bài viết Tìm hiểu về tín ngưỡng Di Lạc, tác giả Thích Nguyên Hiền, 2000). Trong nội dung cuốn Tùy Đường diễn nghĩa, Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã viết về kinh Di Lạc và nước Âu Việt tức Âu Lạc hay nước Văn Lang, phân dã thuộc hai sao Dực, Chẩn như cổ thư đã nói: Liền sai tả hữu đem văn phòng tứ bảo đến từng người, ai nấy đều ngầm hiểu là việc này đã sắp sẵn cho Ngô Tử Chương, cho nên đều lấy lời lẽ khác nhau để từ tạ. Đến lượt Bột, Bột cũng muốn tỏ rõ tài năng của mình, liền không từ chối mà nhận lấy, diêm Bá Tự trong lòng thầm nghĩ: "Nực cười thay cho kẻ thiếu niên chẳng thấu lẽ đời. Hãy xem hắn ta làm ăn ra sao!". Liền đứng dậy thay áo, lệnh cho một viên lại đứng ngay cạnh Bột: - Xem y làm được câu nào, báo cho ta biết câu ấy. Ta sẽ có cách phán xử. Bột trải giấy ra mặt án, cất bút lên viết ngay: Quận cũ Nam Xương, phủ mới Hồng Đô. Viên lại đọc kỹ thưa lên, Diêm Bá Tự cười: Ai mà chẳng viết thế! Câu tiếp: Giữa khoảng hai sao Dực, Chẩn - Tiếp giáp hai sông Hành, Lư. Diêm Bá Tự cất tiếng: Đó là chuyện cũ. Lại báo tiếp: Do Tam giang mà nối với Ngũ Hồ - Mở Di Kinh dẫn về Âu Việt. Diêm Bá Tự không nói gì. Các vỉên lại báo liên tiếp câu này sang câu khác, Diêm Bá Tự chống cằm ngồi ngẩn ra nghe. Đến câu: Chiếc cò bay với ráng xa, Sông thu cùng với trời xa một màu. Diêm Bá Tự kinh ngạc: - Thằng bé này kỳ lạ! Thật đúng là thiên tài! Mau đem chén lớn ra đây để rót thêm hứng cho văn từ nào! Lát sau bài văn xong, tả hữu đọc hết, bỗng Ngô Tử Chương đứng lên nói: - Bài văn này đâu phải xuất từ đại tài của Vương huynh, mà là một sự giả mạo. Nếu không tin, Tử Chương này xin đọc, một chữ cũng không sai. Mọi người kinh ngạc, thấy Ngô Tử Chương đọc thuộc làu từ "Quận cũ Nam Xương..." cho đến tận câu "Còn mong các ngài xét cho". Ai nấy đều sợ hãi. Bột liền cất tiếng: - Ngô huynh thật có công nhớ kỹ, không kém gì Lục Tích thuở xưa. Nhưng sau bài văn, tiểu đệ còn có một bài thơ nhỏ nữa, không rõ Ngô huynh có đọc được chăng? Ngô Tử Chương không biết trả lời sao, đành ôm nỗi xấu hổ mà ngồi xuống, lại thấy Vương Bột viết một mạch xong ngay bài thơ sau: Gác Đằng cao ngất bãi sông thu, Ngọc múa vàng reo nay thấy đâu. Nam Phố mây mai quanh nóc vẽ, Tây Sơn mưa tối cuốn rèm châu. Đầm nước mây vờn ngày tháng trôi, Mây phen vật đổi với sao dời. Đằng Vương thuở trước giờ đâu tá, Sông lớn ngoài hiên luống chảy hoài. Diêm Bá Tự cùng Vũ Văn Quân xem xong, đều hết lời ngợi ca từng câu từng chữ, tặng ngay năm trăm tấm lụa, tài danh từ đó càng ngày càng nổi. Hai người xuống đài, trông thấy từ góc Tây Bắc, một luồng khí đỏ như vẩy rồng thành một đám đài lớn, bốc lên ngùn ngụt. Tử Yên vội giương mắt nhìn theo, không giấu nổi vẻ kinh hoàng, vội vàng thưa: - Đó chính là khí Thiên tử vậy, làm sao lại ở chỗ ấy cho được? Dượng Đế vội quay lại nhìn quả nhiên sắc đỏ bừng bừng, hiện đủ năm màu, che khắp nửa bầu trời, thật mười phần kỳ lạ. Dượng Đế bất giác cũng sợ hãi, mới hỏi: - Tại sao khanh lại biết đó là khí Thiên tử? Tử Yên thưa: - Hiện đủ năm màu, có hình dáng như rồng như phượng, làm sao mà không phải cho được. Ở nơi khí bốc lên như thế, nhất định là có bậc khác thường. Dượng Đế lại hỏi: - Đám khí này ứng với địa phận nào? Tử Yên lại giơ tay chỉ: - Đây chính là phận Sâm Tỉnh, cũng chẳng đâu xa, có lẽ ở vùng Thái Nguyên chăng? Dượng Đế phán: - Thái Nguyên ở Tây Kinh không xa. Ngày mai trẫm sai người đến lặng lẽ tìm khắp nơi, nếu thấy kẻ nào ra vẻ dị tướng, dị nhân, giết quách đi, thì họa này cũng hết hẳn, chẳng còn sợ gì nữa phải không? Tử Yên thưa: - Đây chính là ý trời, chỉ sợ sức người không trừ diệt nổi. Chỉ xin bệ hạ giữ gìn cẩn thận, nêu cao đức sáng, thì may ra điềm họa có thể tự tiêu. Nhớ lúc trước, ni cô già có truyền cho thiếp ba câu kệ ngăn sau đây: Đuôi Trâu, đầu Cọp, Binh đao loạn lạc, Ai sẽ làm vua, con người thợ Mộc. Nếu lấy chữ "Mộc" với chữ "Tử" là con mà đặt chữ "Mộc" trên, "Tử" dưới thì là chữ "Lý". Nhưng ý trời huyền diệu, thật khó mà suy đoán cho cùng. Dượng Đế phán: - Ý trời đã định, có lo âu sầu não cũng chẳng xong. Đêm nay đẹp thế này, hãy cùng khanh kịp thời hành lạc đã. Rồi xuống đài, cùng với Tiêu Hậu và chúng phu nhân uống thêm mấy chén rượu. Tiêu Hậu dẫn chúng phu nhân ra về, Dượng Đế ở lại Hiển Nhân cung với Tử Yên đêm ấy. Dượng Đế, Tiêu Hậu cùng chúng phu nhân trên thuyền rồng cuốn tất cả các rèm gấm lên, nhìn cho rõ ràng cảnh đẹp thần tiên bốn phía, chưa gì đã ra khỏi Bắc Hải, tới gần một trong ba đảo thần tiên, cả bọn kéo nhau lên bờ. Đang lúc trèo lên, nghe một tiếng quẫy mạnh, trên mặt biển thấy một con cá lớn, những cánh vây dương rộng, vẩy sáng lấp lánh trên mặt sóng bạc, bơi đi bơi lại gần bờ đảo, trông thấy Dượng Đế như nhận ra người quen. Dượng Đế định thần nhìn kỹ, thì ra là một con cá chép lớn, dài tới một trượng ba bốn thước gì đấy. Toàn thân là những vẩy vàng đỏ sáng ngời dưới ánh nắng mặt trời, như những đốm sáng lân tinh vậy. Ở trán như có thấp thoáng nét chữ son, lúc tỏ, lúc mờ, trông như chữ "Giác", Dượng Đế mới sực nhớ ra buột miệng. - Thì ra là con cá này? Tiêu Hậu vội hỏi: Con cá nào thế? Thưa bệ hạ! Dượng Đế đáp: - Hoàng hậu không biết được đâu. Dạo trước trẫm cùng Dương Tố câu cá ở Thái Dịch hồ, có một người đánh cá ở sông Lạc Thủy, bắt được một con cá chép vàng đem tới dâng, trẫm thấy cá có tướng lạ, mới lấy bút son, viết hai chữ "Giải Sinh" ở trán cá, rồi thả xuống hồ. Về sau, Ngu Thế Cơ đào hồ lớn làm nước lưu thông cả với Thái Dịch hồ. Nên chẳng biết từ bao giờ con cá này ra được đây, mà giờ đã lớn đến thế. Nay nhìn kỹ, thì chữ "Sinh" đã bị nước rửa sạch, chỉ còn lại nửa chữ giải là chữ "Giác" mà thôi. Không phải con cá ấy thì còn con cá nào nữa? Tiêu Hậu thưa: - Cá chép có sừng, thì không phải vật tầm thường! Tử Yên cũng thưa: - Hãy nhân lúc nó chưa hóa được thành rồng, xin bệ hạ trừ đi, may ra có thể trừ được họa gió mưa sau này chăng? Dượng Đế đáp: - Khanh nói có lý lắm. Rồi gọi cận thần mang ngay cung tên đến. Dượng Đế cầm cung tên, vén tay áo bào, đặt tên vào mũi dây cung, nhằm thẳng vào bụng cá phóng mũi tên ra. Bỗng trên mặt nước, một trận gió lớn nổi lên, làn sóng nổi cao cuồn cuộn, ngập tràn bốn phía, chẳng khác gì có hàng vạn con cá hóa rồng đang nhào lộn giữa sóng; nước tràn sâu vào bờ đảo, đến nỗi Dượng Đế, Tiêu Hậu cùng chúng phu nhân đều bị ướt cả xiêm y. Cả bọn hoảng kinh, hồn bay phách lạc. Tiêu Hậu cùng chúng phu nhân vội tìm chỗ tránh. Dượng Đế cũng sợ hãi, chân đứng không vững, Viên Tử Yên vội chạy lại bên Dượng Đế trấn an: - Bệ hạ đứng cho vững. Đã có thiếp đây? Dượng Đế hoảng sợ định níu lấy Tử Yên, thì thấy Tử Yên lấy trong tay áo ra một vật trông tròn như quả trứng bằng gỗ, tay trái lôi ra một cuộn dây ngũ sắc bằng lụa, xâu sợi dây vào quả trứng gỗ xong. Tử Yên giang tay phải ném mạnh ra phía biển, gần chỗ con cá. Cá trông thấy, quay đầu lặn biến mất. Tử Yên thu lại sợi dây, gỡ quả trứng gỗ ra, lúc này Dượng Đế cũng đã trở lại bình tĩnh, lại gần Tử Yên, cầm quả trứng gỗ xem xét. Thì ra đó là một viên ngọc lấp lánh đủ năm màu. Dượng Đế hỏi: - Viên ngọc này dùng làm gì, làm sao mà thủy quái cũng phải sợ được? Tử Yên thưa: - Vật này cũng chính do ni cô già ngày xưa cho thiếp. Dặn thiếp đây là quả cầu "Thái Dịch hỗn thiên", mà lúc còn ít tuổi ni cô đã luyện được, có thể kỵ tà khí, trừ được các loài thủy quái, lúc nào thiếp cũng đem bên mình, để phòng sự bất trắc. Tiêu Hậu đáp: - Kinh Dịch hay kinh Mỹ nhân thì đều chủ ở chỗ bồi đắp nhân tài cả thôi. Dượng Đế cũng cười: - Hoàng hậu từ lâu đã thuộc bài thơ Quan thư của Kinh Thi, vốn rất am hiểu lời dạy của kinh sách. Tiêu Hậu cười đáp: - Không bằng được bệ hạ chuyên chỉ có Kinh Xuân Thu. Cả bọn từ phu nhân đến mỹ nhân đều cười rũ rượi một loạt. Tần phu nhân lấy ở trong tay cung nữ một tập thơ, từ, dâng lên Dượng Đế. Dượng Đế giở tờ đầu tiên ra xem thấy ghi: "Thần thiếp Khương Quế ở viện Nhân Trí kính trình ngự lãm". Phía dưới là con dấu vuông nhỏ in ba chữ "Nguyệt Tiên Thị". Dượng Đế thấy thế nhìn Khương phu nhân cười: Từ rằng: Ngẫm thương người trần, Bị quỉ thần chòng ghẹo, Điên điên đảo đảo, Dắt dẫn theo danh giáo. Lại đem mồi chài, Dây thuyền dài, Roi ngựa ngắn, Mấy ai được thảnh thơi. Nhìn kỹ ra: Sớm sớm gió quất tơi bời, Ngày ngày bụi vùi cay rát, Dù ai giảo hoạt anh hùng, Vực sâu ngập xuống, dây thòng lọng treo. Hám phú quý mà liều thể xác, Mộ thần tiên thuốc độc uống vô, Xương khô mà máu chẳng khô, Bừng con mắt, ủa! Rặt trò xuẩn ngu, Khuyên ai tỉnh trước mà ngừa. Theo điệu "Ý nan vong". Như vậy, cũng giống như các nhà tiên tri khác trước thời nhà Trần, Phật Hoàng Trần Nhân Tông cũng dự đoán rằng sẽ xuất hiện một thánh nhân mang họ “Lý”, con của người thợ “Mộc” hay cũng có thể hiểu con của “Mặt trời” tức “Thiên tử”. Quay trở lại cấu trúc các thần khí của bàn thờ Đạo Mẫu, Gia Tiên, Phật giáo, Đạo giáo… chúng ta thấy phương Bắc với biểu tượng là cái “lư hương”, còn theo cấu trúc Nhị thập bát tú là hướng của “rùa vàng” và tháp rùa hồ gươm - nơi có đền thờ vị tiên Lữ Đồng Tân - một trong Bát tiên, hướng Bắc cũng là hướng mà thần Huyền Thiên Trấn Vũ bảo vệ kinh đô Thăng Long, Hà Nội hay kinh thành Hoa Lư, Ninh Bình. Mà chúng ta cũng đã biết Lữ Đồng Tân chính là vua Lạc Long Quân, cho nên ngài cũng chính là Huyền Thiên Trấn Vũ, phương Bắc tượng trưng “Cõi Chết” và vua cõi chết là Phong Đô Đại Đế trong Đạo giáo là ngài, hoàn toàn chính xác khi so sánh tới Sự tích Hồ Hoàn Kiếm, Lê Lợi trả gươm lại cho thần Kim Quy chính là trả gươm lại cho vua Lạc Long Quân - Lữ Đồng Tân một tay cầm thanh kiếm và một tay cầm phất trần. Ở Cõi Âm phủ, ngài là Phong Đô Đại Đế hay thường gọi là thần Bắc Đẩu, tương ứng Ngài là Nam Cực Lão Nhân với biểu tượng chòm sao Nam cực trên bầu trời. Dân gian còn lưu truyền câu truyện về Sự tích Huyền Thiên Trấn Vũ nhưng không ghi nhận trong kinh sách: Đức Huyền Thiên Trấn Vũ tu tiên đắc đạo. Khi thành chính quả, ngài bỏ lại thân xác của mình ở trần gian. Lâu ngày thân xác của Ngài thành Tinh và gây rối ở nhân gian. Ngài xuống trần gian trừng phạt. Nhưng vì yêu quái chính là thân xác của Ngài, nên pháp thuật của nó rất tinh thông. Vì gần như Ngài học được cái gì thì nó cũng học được như thế đó. Hai bên đấu bất phân thắng bại. Cuối cùng Đức Huyền Thiên Trấn Vũ cùng yêu quái thi tài viết chữ trong vòng một canh giờ xem ai viết được nhiều thì coi như thắng. Trong một canh giờ Đức Huyền Thiên Trấn Vũ viết được 100 chữ, yêu quái viết được 99 chữ. Yêu quái thua cuộc và bị Ngài bắt giải đi trị tội. Chúng ta quay trở lại dòng tranh dân gian Việt Nam, một số hình ảnh minh họa từ hai bức tranh dân gian Đông Hồ Cá chép bên sen mang tính tương phản nhau, một bức thể hiện 5 cá con tung tăng, vui vẻ bên cá chép mẹ giữa các cọng hoa sen, thì bức tranh tương phản lại chỉ vẽ các bộ xương cá, thật là kỳ lạ, nếu không ở vai trò của người nghệ sỹ tài hoa, mong muốn gửi gắm một bí ẩn gì đó thì chúng ta hoàn toàn bế tắc trong việc hiểu ý nghĩa của hai bức tranh tương phản này. Cá chép bên sen Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Thần Osiris hình cá chép sông Nile Tomb of Khabeknet, 19th dynasty, Ai Cập Qua bức tranh tường Ai Cập cổ đại mô tả thần Anubis đang trang điểm xác ướp của thần chết Osiris dưới dạng một loài cá chép sông Nile, Osiris là vị thần đầu tiên được chôn cất nhưng lại tái sinh từ cõi chết. Chúng ta cũng đã biết, Orisis cũng chính là Phong Đô Đại Đế Lạc Long Quân và như vậy, bộ xương hóa thạch thể hiện “cái chết” và ngược lại chính là “tái sinh”. Bộ tranh nhị bình này vẽ các con cá chép cùng một hướng phải qua trái, dòng chảy Âm dương Ngũ hành, và sáu con cá chép chính là thể hiện độ số 6 của phương Bắc trên Hậu Thiên Bác quái. Bộ tranh nhị bình đã thể hiện sự tái sinh trong vòng quay một cung của Hoàng Đạo, điểm xuân phân kết thúc cung Song Ngư và bắt đầu đi vào cung Bảo Bình sau 2.160 năm. Cung Song Ngư (Hợi) trên vòng Hoàng Đạo cũng chính là biểu tượng của vua Lạc Long Quân. Huyền Thiên Trấn Vũ Tả Dinh, Cao Hùng, Đài Loan Huyền Thiên Trấn Vũ Đền Trấn Vũ, Hà Nội, Việt Nam Tùy Đường diễn nghĩa khẳng định lại một lần nữa qua nội dung đối đáp: “Hoàng hậu không biết được đâu. Dạo trước trẫm cùng Dương Tố câu cá ở Thái Dịch hồ, có một người đánh cá ở sông Lạc Thủy, bắt được một con cá chép vàng đem tới dâng, trẫm thấy cá có tướng lạ, mới lấy bút son, viết hai chữ "Giải Sinh" ở trán cá, rồi thả xuống hồ. Về sau, Ngu Thế Cơ đào hồ lớn làm nước lưu thông cả với Thái Dịch hồ. Nên chẳng biết từ bao giờ con cá này ra được đây, mà giờ đã lớn đến thế. Nay nhìn kỹ, thì chữ "Sinh" đã bị nước rửa sạch, chỉ còn lại nửa chữ giải là chữ "Giác" mà thôi. Không phải con cá ấy thì còn con cá nào nữa?“. Cá chép chính là thể hiện chữ “Giác” là cái “Thấy đến tận cùng nguồn gốc vạn vật” hay “Tính Thấy” được trình bày trong Kinh Lăng Nghiêm của Phật giáo, chúng ta hãy xem lại bức tranh dân gian Đông Hồ nổi tiếng Lý ngư vọng nguyệt, có thể nói dây là một bức tranh đẹp trong số những bức tranh đẹp nhất của nghệ thuật tranh dân gian Việt Nam. Vẻ đẹp toát lên ngay từ hình tượng độc đáo với một bố cục rất ấn tượng, nhưng hài hòa và cân đối. Nhưng chính biểu tượng của bức tranh đã làm nên sự vi diệu, sâu lắng và là sự minh triết trong bức tranh này. Lý ngư vọng Nguyệt Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Cá chép theo truyền thuyết nó được lựa chọn làm biểu tượng cho ý thức vươn lên trong cuộc sống: loài cá ứng cử cho đẳng cấp cao nhất trong vũ trụ là Rồng. Hình tượng cá chép trong tranh kết hợp với một hình tượng qui ước làm nên tính minh triết của bức tranh. Đó chính là mặt trăng và bóng trăng soi đáy nước. Trên thực tế, không có bóng trăng soi đáy nước, mà chỉ có bóng trăng soi mặt nước. Hình tượng bóng trăng đáy nước là biểu tượng cho ảo ảnh của một giá trị đích thực được biểu tượng bằng mặt trăng trên không gian. Hình tròn của mặt trăng là biểu tượng của sự hoàn thiện, viên mãn đích thực, nhưng con cá chép trong tranh lại không tìm về giá trị đích thực, mà lại tìm những ảo ảnh của cuộc đời. Phải chăng hàm nghĩa của bức tranh muốn nhắn gửi thế nhân: hãy tìm về sự hoàn thiện, viên mãn của con người (trích Minh triết trong tranh dân gian Việt Nam, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh). Ngẩng lên trăng vời vợi, Ngụp xuống nguyệt hư không. Suốt một đời chép miệng, Ngẩn ngơ quên hóa Rồng. Trong dân gian còn có câu chuyện về Cá chép hóa rồng hay Cá chép vượt Vũ Môn, cá chép vượt Vũ Môn biểu tượng cho sự kiên trì và bền chí. Truyện kể rằng: Một năm, trời hạn hán rất lâu, vì số Rồng quá ít, không đủ làm mưa điều hòa cho khắp mọi nơi, Trời mới đặt ra một kỳ thi kén chọn các con vật lên làm Rồng, gọi là “Thi Rồng”. Khi chiếu Trời ban xuống, vua Thuỷ Tề loan báo cho tất cả các cư dân dưới nước tham gia vào cuộc thi. Cuộc thi có ba kỳ, mỗi kỳ vượt qua một đợt sóng bạc đầu. Con vật nào đủ sức, đủ tài, vượt được cả ba đợt thi thì mới được Trời cho hóa thành Rồng. Trong một tháng trời, đại diện của bao nhiêu loài thuỷ tộc đến thi đều bị loại cả, vì không con nào vượt được cả ba đợt sóng. Sau có cá Rô nhảy qua được một đợt nhưng cũng bị rơi ngay. Rồi đến Tôm nhảy qua được hai đợt, ruột, gan, vây, vẩy, râu, đuôi, đã gần hoá Rồng, nhưng đến lượt thứ ba đuối sức ngã bổ xuống quá nặng, lưng còng lại, cứt lộn lên đầu. Đến lượt cá Chép vào thi thì gió thổi ào ào, sấm chớp nổi lên, mây đen kéo đến đầy trời. Cá Chép ta vượt luôn một hồi qua ba đợt sóng bạc đầu, và lọt vào cửa Vũ Môn, cá Chép đỗ. Vẩy, đuôi, râu, sừng mọc đủ, vóc dáng thật oai linh, thật đúng là Rồng. Cá chép hoá Rồng phun nước làm mưa, muôn loài sung sướng, sự sống đã hồi sinh. Dân gian có thơ làm chứng rằng: Mồng Bốn cá đi hội thề, Mồng Tám cá về, cá vượt Vũ Môn. Vũ Môn là một chỗ có nhiều ghềnh thác trên sông Trường Giang tức sông Dương Tử thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày nay. Vũ Môn cũng chính là hình ảnh chiếc cổng Tam quan của các ngôi chùa, đền, đình hay thôn ấp, làng quê và cũng là ba cửa huyệt quan trọng trên xương sống mà dòng khí phải vượt qua trong các phương pháp tu luyện khí công của Đạo gia, Phật giáo, Bà La Môn giáo... Đồng thời, Vũ Môn là cũng nói đến ba kỳ thi trong các triều đình thời xưa đó là thi Hương, thi Hội và thi Đình. Sĩ tử nào giật một lúc ba giải một lúc gọi là Tam khôi. Sĩ tử giật giải Trạng nguyên sẽ mang lại danh dự cho làng xóm, họ hàng, lúc đó tại quê nhà người ta sẽ dựng một cái cổng chào đón quan Trạng “Vinh quy bái tổ”. Trong dòng tranh dân gian Đông Hồ, có một bức tranh độc bình mang ý nghĩa này: Vinh quy bái tổ Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Lọng xanh che rợp đất, Nhành liễu bẻ làm roi. Nhạc vàng nghe xoang xoảng, Trạng Nguyên reo vang trời. Trích sách Ấu học ngũ ngôn thi. Ngày nay, không còn nhiều những chiếc cổng làng cổ xưa, trên mỗi cổng làng đều có các chữ đại tự và đôi câu đối. Cổng làng Chính Kinh, phường Nhân Chính, Quận Thanh Xuân, Hà Nội, trước kia làng thuộc xã Nhân Mục Môn, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng. Tên đầu tiên của làng là Hoa Kinh, đến năm 1841 đồi là Minh Kinh, sau cùng đổi thành Chính Kinh, có đôi câu đối: Thiên niên văn hiến Hoa Kinh địa, Tứ ứng giang sơn thọ lão môn. Ngàn năm văn hiến kinh đô Phật, Tứ khí non sông mãi cửa này. Trong câu đối trên, chữ “Hoa” liên quan đến Hội Long Hoa, và cũng chính là biểu tượng của người phụ nữ, của nàng tiên và của Quan Âm Bồ Tát (Tham khảo cuốn Cổng làng Hà Nội xưa và nay, tác giả Vũ Kiêm Ninh, Nxb Văn hóa Thông tin 2007). Cổng Tam quan Chùa Báo Ân, Hà Nội, Việt Nam Ngày nay, rằm Trung Thu mang ý nghĩa là ngày hội tụ của cá Chép, là ngày đẹp trong một khung cảnh trăng thanh, gió mát của cha mẹ trong niềm vui với con cái và trẻ nhỏ, đây là ngày tết của trẻ em, còn được gọi là Tết trông Trăng hay Tết Trung Thu. Trẻ em rất mong đợi được đón tết này vì thường được người lớn tặng đồ chơi, thường là đèn lồng hình ông sao, con cóc, con cá chép, gà trống, quả cầu, trống ếch, trống quân, pháo tép, mặt nạ... rồi bánh nướng hình vuông, bánh dẻo hình tròn. Thời điểm trăng lên cao, trẻ em sẽ vừa múa hát vừa ngắm trăng phá cỗ và người lớn tổ chức múa rồng, múa lân để các em vui chơi thỏa thích: Chiếc đèn ông sao sao năm cánh tươi màu, Cán đây rất dài cán cao quá đầu. Em cầm đèn sao em hát vang vang, Đèn sao tươi màu của đêm rằm liên hoan. Tùng rinh rinh, tùng tùng tùng rinh rinh! Đây ánh sao vui chiếu xa sáng ngời. Tùng rinh rinh, rinh rinh tùng rinh rinh! Ánh sao Bác Hồ tỏa sáng nơi nơi. (Trích từ bài hát Chiếc đèn ông sao, nhạc sĩ Phạm Tuyên). Trong các chương trước trước, chúng ta cũng đã biết vua Lạc Long Quân chính là vị Thần Tài, Ngài được tôn thờ trong mỗi gia đình với hình tướng là “Cóc ba chân” mà người Việt thường gọi là “ông Khiết”, trên lưng ông Khiết với hình tượng của chòm sao Đại Hùng Tinh: Chòm sao Đại Hùng tinh Ông Khiết, ảnh tham khảo Internet Khi bỏ đồng tiền trong miệng ông Khiết ra, thì xung lực xuất hiện là mạnh nhất tại vị trí này: hình tượng mang ý nghĩa khi con người còn vướng bận với tham, sân, si thì không thể đạt được quả vị giải thoát ngay cả khi đang tu luyện. Trải qua hàng ngàn năm kể từ khi biểu tượng ra đời đã tồn tại rất nhiều chủng loại biểu tượng với các hình mẫu khác nhau trong dân gian, do vậy việc tìm ra được nguyên bản không phải là chuyện dễ dàng. Tuy nhiên thật là may mắn, với sự dự báo vượt thời gian và một kế hoạch bảo tồn di sản văn hóa thật siêu việt của tổ tiên, một phần của nội dung nguyên bản gốc vẫn còn giữ lại cho tới ngày như ông Khiết có ba chân, miệng ngậm đồng tiền âm dương cổ, dưới chân là các lớp đồng tiền chồng lên nhau, mỗi chân đều có bốn móng cùng với một sợi dây ngù xâu hai chuỗi đồng tiền nằm dọc sống lưng… Theo truyền thuyết Đạo giáo, “Cóc” là do tinh hoa của áng trăng hóa thành, là thần linh của Thái âm nên cóc là thần vật, chỉ hít thở linh khí để sống và vì mang cốt cách tiên nên “Cóc” biểu hiện cho tinh thần, cho sự bất tử và được nhân cách hóa thành tiên nữ Hằng Nga, trong khi đó mặt trời là nguồn sáng và cũng là nguồn sống được coi như biểu tượng của Đấng tối cao, được nhân cách hóa thành Ông Trời. Như vậy, “Cóc” mang ý nghĩa lưỡng hợp, vừa là biểu tượng của dương và cũng là biểu tượng của âm, cả hai cùng thống nhất trong một tức là hình ảnh Thái cực trong vũ trụ quan Đông Phương. Bài thơ dân gian Con Cóc nhắc tới việc tôn thờ Cóc ở một thời rất xa xưa “Miếu đường có thuở còn vang tiếng lừng”. Như vậy, qua nghệ thuật tạo hình ông Khiết, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng ông Khiết chính là biểu tượng hoàn hảo của nền văn minh Khoa Đẩu (con ông Khiết chính là nòng nọc - chữ Khoa Đẩu - văn tự chính thống của nền văn minh Lạc Việt), miêu tả một cách cô đọng nhất những nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành và một thực tại mà học thuyết này phản ánh: đó chính là những quy luật vũ trụ tương tác với Địa cầu, mà các chòm sao Thiên Cực Bắc chính là chòm sao định vị căn bản cho mọi sự vận động, tương tác đó. Con Cóc ngồi góc bờ ao, Lăm le nó muốn đớp sao trên trời. Ca dao Ông Trời chính là biểu tượng của sức mạnh vũ trụ, Cóc là cậu ông Trời và là độc quyền giảng dạy, truyền đạt văn hóa! Phải chăng con cóc là hình tượng muốn gợi mở một suy nghiệm liên quan đến những bí ẩn vũ trụ được ẩn chưa trong nền văn minh Khoa Đẩu - đó là loại chữ hình con nòng nọc - con của cóc và tạo sao dân gian gọi “Con Cóc là cậu ông Trời”?. Theo Ngọc Phả truyền Thư của từ đường họ Nguyễn, Văn Nội, Thanh Oai, Hà Tây “Cóc” thời cổ đại là biểu tượng của Bát Bộ Kim Cương trong Phật giáo, là tám em trai của cụ bà Đỗ Quý Thị, Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Hương Vân Cái Bồ Tát, Phật Bà Quan Âm, chính thất của vua Đế Minh - Phật A Di Đà, là mẫu của vua Kinh Dương Vương và là bà nội vua Lạc Long Quân. Như vậy, dữ liệu lịch sử thật là chính xác, Bát Bộ Kim Cương chính là cậu của vua Kinh Dương Vương - Ông Trời. Gò Cóc tía Vùng Ba La, Hà Tây, Hà Nội, Việt Nam Ngày nay, bia con cóc mộ của Bát Bộ Kim Cương ở gò Thiềm Thừ (con Cóc tía) ở vùng Ba La, Hà Tây, cách mộ cụ bà Đỗ Quý Thị cách mấy trăm mét đường chim bay. Trước đây gò này còn hai bia đá hình trụ vuông, trên đỉnh trụ bia có con “Cóc ôm quả địa cầu”, bốn mặt bia đề: Phương phần bảo vật, Vạn cổ nghiễm nhiên. Chi hạng lưu hương, Thiên thu thường tại. Lối cũ dấu thơm, Nghìn xưa vẫn đó. Cây to báu vật, Muôn thuở còn đây. (Lời dịch của La Sơn Phù Tử Nguyễn Thiếp năm 1789). Qua nội dung trính dẫn Ngọc Phả truyền Thư, chúng ta thấy hình ảnh của con cóc ôm trái địa cầu mang ý nghĩa là biểu tượng Cóc là “Báu vật vạn cổ” đã được lấy làm biểu tượng cho thuyết Âm Dương Ngũ Hành, học thuyết về sự vận động có quy luật của tự nhiên, xã hội và con người đã có từ thời Bát Bộ Kim Cương. Theo thời gian, từ biểu tượng “Cóc ôm quả địa cầu” chuyển hóa thành biểu tượng “Cóc ba chân” với các cấu trúc điêu khắc cụ thể và gần gũi với chúng ta hơn nhưng biểu trưng cho Thần Tài - Lạc Long Quân, với ý nghĩa tái sinh, phục sinh. Bia con Cóc còn lại chính là chứng tích của một thời xa xưa để lại cho con cháu tìm về cội nguồn lịch sử. Cùng với việc tôn thờ Cóc, trong dân gian vẫn còn lưu truyền câu truyện ngộ nghĩnh Cóc kiện Trời, một câu chuyện hy hữu nhất, kỳ lạ nhất trong các dòng truyện cổ tích của các dân tộc trên thế giới, nói về sự chiến thắng của các con vật đối với Thượng đế và sự nhượng bộ của ngài: Ngày xửa ngày xưa, không nhớ rõ năm nào, đời nào, trời hạn hán rất lâu, ruộng đồng nứt nẻ, cỏ cây chết đứng, trụi cả lá và thú vật không tìm đâu ra nước uống, muôn loài đều kêu than ai oán. Cóc thấy nguy quá, quyết lên Thiên đình kiện Trời. Đi được một quãng, gặp Cua, Cua hỏi đi đâu? Cóc kể rõ sự tình, Cua liền xin theo. Đến một khu rừng, Cóc lại gặp Gấu và Hổ cũng khát khô cuống họng, đang nằm chờ chết, thấy Cóc và Cua dắt nhau đi, Gấu và Hổ hỏi nguyên do, Cóc đáp: Chúng ta sắp chết khát cả, phen này phải lên Trời hỏi xem sao. Các anh có đi cùng không? Gấu và Hổ đồng thanh nói: Thế thì cho chúng tôi đi với! Anh em chúng ta sống chết có nhau. Một lúc lại gặp Ong và Cáo. Ong và Cáo cũng năn nỉ xin theo. Thế là cả bọn kéo nhau lên Thiên đình. Đến cửa Thiên đình, thấy một cái trống to đặt ở cạnh, Cóc nói: Anh Cua! Anh vào trong chum nước này! Anh Ong, anh núp sau cánh cửa! Còn anh Gấu và anh Cọp ra phía sau chờ đấy. Sắp đặt xong, Cóc một mình bước tới, lấy dùi đánh ba hồi trống. Ngọc Hoàng rất đỗi ngạc nhiên, sai Thiên Lôi ra xem. Nhìn quanh quất, không thấy ai cả, chỉ thấy một con Cóc xù xì, thân hình bé nhỏ. Thiên Lôi trở vào tâu với Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng tức giận, truyền lệnh thả Gà ra mổ con Cóc hỗn xược. Gà vừa bay đến, Cóc ra hiệu cho Cáo ở đằng sau nhảy tới cắn vào cổ cắp đi. Ngọc Hoàng càng tức giận, sai Chó ra cắn Cáo. Chó vừa xông ra khỏi cửa, Cóc làm hiệu cho Gấu ra chộp lấy tha đi. Tin đến Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng phải sai Thiên Lôi ra trị Gấu. Thiên Lôi cầm lưỡi tầm sét hùng hổ xông ra, chưa kịp trở tay thì bị Ong bay ra đốt. Thiên Lôi vội nhảy vào chum nước tránh cho Ong khỏi đốt, thì bị Cua ở trong chum kẹp, la tru tréo lại nhảy ra. Thiên Lôi đang luống cuống, chưa biết tính sao, thì đã bị Hổ nhảy ra xé xác. Ngọc Hoàng túng thế, bèn giảng hòa, mời Cóc vào, Cóc tâu: Muôn tâu Thượng Đế, đã ba bốn năm nay, trần gina không hề được một giọt mưa. Vạn vật khô héo cả. Nếu kéo dài mãi, e không còn một sinh vật nào sống sót. Ngọc Hoàng sợ trần gian nổi loạn, dịu giọng nói: Thôi cậu về đi, Ta sẽ ra lệnh cho mưa xuống. Ngọc Hoàng dặn thêm: Hễ khi nào dưới trần gian nắng hạn lâu ngày, thì cậu cứ nghiến răng báo hiệu nhắc Ta. Ta sẽ sai thần làm mưa ngay, Cóc không phải lên kiện Trời nữa. Dứt lời, Ngọc Hoàng sai Rồng phun mưa xuống. Cóc về đến trần gian, thì nước đã ngập cả ruộng đồng. Từ đó, hễ Cóc nghiến răng, một lúc sau y như rằng là trời liền đổ mưa. Nên trong dân gian mới có câu hát: Con Cóc là cậu ông Trời, Ai mà đánh nó thì Trời đánh cho. Con cóc là cậu thầy Nho, Ai mà nuôi nó ta cho đồng tiền. Ý chí của đội quân dương gian đã chiến thắng quân nhà Trời, tác giả đã cấu trúc các nhân vật theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành qua Địa chi và La kinh phong thủy, cuộc đấu trí diễn ra gay cấn đến phút cuối là Thượng Đế đã sai Rồng cho mưa xuống trần gian, giải đi cơn khát đến tận cùng của vạn vật. Vậy thì, “nước mưa” ở đây là gì? Phải chăng là thuốc trường sinh cho nhân loại? Chúng ta cũng thấy “Cóc” cũng có nghĩa là “Không” hay “Cuội” - tức có nghĩa phải hiểu được “Tính Không” như trong kinh sách Phật giáo. Ai người thánh thiện rõ đàng, Lý huyền tiến hóa Thánh hiền ngày xưa. Cầu Kiều mở lối rước đưa, Đưa người trí dũng quê xưa trở về. Giúp cho kẻ sĩ tâm mê, Ngộ Không Lý pháp lời thề năm xưa. Chúng ta hãy cùng tham khảo thêm các hình tượng thể hiện trên một số cổ vật đồ đồng đã được khai quật thời Tần Hán, Trung Quốc: Gương đồng Cổ vật đời Tần Hán, Trung Quốc Hình khắc trong gương đồng thứ nhất là Tây Vương Mẫu ngồi trên ngai là con giao long, phía trước là một con Cóc cùng con Thỏ ngọc giã thuốc tiên cùng các nhân vật trên Thiên đình. Chiếc gương thứ hai thể hiện hình tượng con Cóc đang nhả ra “cái cây thuốc cải tử hoàn sinh”, bên cạnh là nàng tiên Hằng Nga và con Thỏ ngọc giã thuốc tiên. Như vậy, con Cóc chính là “Người cho thuốc trường sinh bất tử” hay chính là vua Lạc Long Quân, Phong Đô Đại Đế, thần chết Osiris mới có quyền cho phép sống lại sau khi đã trải qua “Ngày phán xét” như đã mô tả ở các chương sách trước. Điều này mang ý nghĩa Ngài có phương thuốc giúp cho các “linh hồn” sẽ đạt được niềm an lạc trong “Cõi vô hình”. Tuy nhiên, tại sao hình ảnh con Cóc lại ở trung tâm của chiếc gương đồng trong khi bốn phương thể hiện Tứ Linh, mà một trong đó là con Rùa - phương Bắc cũng là biểu tượng của Ngài? Vì con Cóc thể hiện sự tái sinh, phục sinh sau một chu kỳ vận động một cung của mặt trời quanh chòm sao Thiên Cực Bắc, kế thúc cung Song Ngư (Hợi) để trở thành “Thánh nhân” có khả năng cải tử hoàn sinh, Cóc ba chân đứng ở vị trí trung tâm trong bộ tranh dân gian ngũ bình Đông Hồ Ngũ Đức và Ngũ Phúc, chúng ta hãy xem lại hai câu thơ: Mồng bốn cá đi hội thề, Mồng tám cá về, cá vượt Vũ Môn. Hội thề ở đây chính là “Hội thề Trống Đồng” được biết thời nhà Lý tổ chức vào ngày mồng 4 tháng Bốn âm lịch hằng năm, với lời thề nguyện: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, Thần minh chu diệt”. Qua Chương II: TIẾNG TRỐNG HOÀNG KIM, chúng ta cũng biết rằng trống đồng là một trong các thần khí nước Việt như chuông, vạc, đỉnh, lư… nơi thờ tự và cũng là biểu tượng của Hùng Quốc Vương (Hùng Vương thứ III) hay gọi tắt là biểu tượng của các vua Hùng, hoa văn trống đồng thể hiện toàn bộ vũ trụ quan và nhân sinh quan của nước Văn Lang cổ, trên cơ sở học thuyết Âm Dương Ngũ Hành phối hợp toàn bộ ý nghĩa của kinh sách của Tam giáo đồng nguyên, và cũng thể hiện lịch sử của Đạo Mẫu nước Văn Lang cổ đại. Như vậy, một cách hợp lý thì ngày mồng 4 tháng Bốn âm lịch chính là ngày tôn vinh các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh vì tổ quốc, có bài thơ tâm linh rằng: Chín tiếng ba hồi chuông ngân vang, Từ Đền Hùng... Chấn động không gian. Tiếng chuông thức tỉnh linh hồn chết, Cảnh tỉnh linh hồn đang ngủ mơ.<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Chuông ơi! Có tự bao giờ? Mà sao im lặng như tờ bấy nay. Phải chăng Yên Tử Rồng bay? Non sông kết mạch... đến ngày chuông ngân. Bài thơ Chuông ngân - tác giả Nhật Nguyệt Quang Tử. “Mồng tám cá về cá vượt Vũ Môn” hay là cá hóa Rồng, chính là ngày mồng 8 tháng Tư âm lịch, là ngày đản sinh của Hương Vân Cái Bồ Tát - Phật bà Quan Âm, và cũng là ngày đản sinh Phật Đức Phật Thích Ca. Cá chép Lạc Long Quân đã vượt Vũ Môn để chính thức trở thành một vị Phật - Phật Vương Di Lạc - Thánh nhân mà cả thế giới đang chờ mong trong khắc khoải. Chúng ta hãy cùng chiêm ngưỡng bức giá Thánh cổ sau: Quốc Tổ Lạc Long Quân Làng Bình Đà, Hà tây, Việt Nam Trong bức giá Thánh, vua Lạc Long Quân được một nhân vật đội lên từ mặt biển, người khổng lồ rất có thể là Ngu Cường mà sách Sơn Hải Kinh có nhắc đến, một vị Phong Thần thống trị Bắc Hải. Do nhân thần và xà thần sinh ra, mình người đuôi rắn, đuôi dài lạnh buốt, bên cạnh có vô số tiểu xà yêu. Ngu Cường vẫy đuôi có thể khiến Bắc Hải nổi cuồng phong, nếu là gió Tây Bắc là nhân gian sẽ gặp một trận ôn dịch khủng khiếp, thương vong vô số. May là Ngu Cường ở sâu dưới đáy biển, 500 năm không lên khỏi biển một lần, chỉ thỉnh thoảng buồn bực mới ngoi lên quấy phá. Hình tượng này thể hiện sự “tái sinh” trở lại của Phong Đô Đại Đế hay Thần Chết mà hầu hết các truyền thuyết trên thế giới nói tới, đặc biệt là dân tộc Maya còn ghi chép về sự xuất hiện của Ngài trong một “Sự tấn phong vĩ đại”. Trong bức tranh, lớp ngai trên cùng thể hiện chính thất của 9 người con trai của vua Lạc Long Quân (Cửu Tử) và 10 đời truyền ngôi của Ngài (Thập Cực Chân Nhân), đây là chi tiết khẳng định chính xác về bức giá Thánh này vẽ chân dung vua Lạc Long Quân chứ không phải vua Kinh Dương Vương như một số nhận định, Có bài thơ tâm linh rằng: Cuồng phong vũ trụ rồng mây, Thiêng liêng vô tận bớ này sinh sinh. Mừng mừng Thiên Chúa phục sinh, Mừng mừng Chúa Thánh cung đình bỏ ngôi. Mừng mừng Di Lạc cung trời, Bỏ ngôi Thái Cực làm người thế gian. Bí cơ Thiên cấm hóa vàng, Bí mật Thiên cấm hóa vàng hiện ra. Bí mật người nói Long Hoa, Bí mật người viết thơ ca đất trời. Đã hiện thực chốn trần đời, Khổ thay thiên hạ trần đời mấy ai. Mấy người hiểu huyền Như lai, Để cho kẻ ấy được khai mây rồng. Nhằm khẳng định lại vua Lạc Long Quân chính là Phật Vương Di Lạc, chúng ta cùng xem lại bố cục mặt bằng kiến trúc các ngôi chùa, phía trước điện Đại Hùng là Điện Thiên Vương, trong điện tôn thờ Bồ Tát Di Lạc, xung quanh là Tứ Đại Thiên Vương, hộ trì phía sau Ngài là Vi Đà Hộ Pháp, mà chúng ta cũng đã biết Tứ Đại Thiên Vương biểu tượng cho Phong, Điều, Vũ, Thuận là bốn anh em của vua Lạc Long Quân, trong đó Ngài là Thần Sấm. Năm anh em vua Lạc Long Quân chính là con của Phật Mẫu Man Nương, Tây Vương Mẫu, và như vậy, một lần nữa khẳng định hoàn toàn chính xác - Ngài chính là Phật Vương Di Lạc. Cá chép vượt Vũ Môn hóa rồng và đối với Tứ Linh, mùa xuân ứng với Rồng. Rồng là con vật đông miên, lúc mưa xuân sẽ tỉnh dậy và dùng sừng húc tung đất ra để sống lại một cuộc sống vẫy vùng, ngang dọc như xưa. Cá chép sông Illinois - Mississippi và Rồng Ảnh John Downer và trích từ cuốn Taoist and the art of China Một lời chúc thường được nghe nơi các sân chùa Việt Nam "Năm mới chúc quý bà con đạo hữu trọn hưởng mùa xuân Di Lạc”, xuân Di Lạc là xuân hoan hỷ, niềm hoan hỷ tràn đầy vô biên, không vướng mắc, không bận lòng, không lo âu, không phải là xuân vui theo thời gian mùa tiết đến đi, mà là xuân thường nhiên bất diệt, xuân phát triển khả năng thánh thiện. Ngày Mồng 1 tháng Giêng là ngày vía Đức Phật Vương Di Lạc, là ngày phục sinh của vua Lạc Long Quân, ngày đầu của năm mới, ngày của một mùa xuân trường cửu và cũng là “Ngày đại đồng thế giới hay Ngày sinh nhật của vũ trụ” trong nền văn hiến Việt. Sách Xuân Thu Tả Truyện viết: “Nguyên đán là ngày lên ngôi của các vua chúa đời xưa, mỗi đời vua đều bắt đầu bằng ngày đó”. Sáng sớm ngày Nguyên đán, trong triều ca, đình thần chúc vua vạn tuế. Ngoài dân gian, mọi người cũng chúc nhau sang giàu, hạnh phúc, buôn may bán đắt, sinh con đẻ cái, thăng quan tiến chức, công thành danh toại... (Tham khảo bài viết Thiên văn với Tết với Xuân, tác giả Nguyễn Văn Thọ). Ngày Tết không thể thiếu tiếng pháo, âm thanh khai mở một năm mới tràn đầy mong ước và cũng là biểu tượng “tiếng nổ khai thiên lập địa” giống như Bigbang trong khoa học hiện đại, tiếng pháo là không thể thiếu trong nền văn hóa Việt, thiếu pháo chính là thiếu đi một không khí lạc quan, yêu đời của một dân tộc diệu kỳ. Và chúng ta cũng đã biết, “quân Pháo” trong bàn cờ tướng chính là một phát kiến “đặc dị” của Phật Hoàng Trần Nhân Tông trong khi ngài tư duy sáng tác trò chơi trí tuệ này. Đối chiếu lại những lời tiên tri của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thật hoàn toàn chính xác: Ngưu Giang hợp với Bảo Giang, Đại Nhân chính vị bốn phương một nhà. Ngưu Giang ngầm hiểu là Lão Tử - Chử Đồng Tử và Bảo Giang chính là Lạc Long Quân - Phật Vương Di Lạc. Đối với triết lý âm dương Việt, mỗi khi con Rồng xuất hiện, nó không chỉ bay có một mình mà luôn luôn có đôi, vì thế dân gian có những câu thơ rằng: Thế gian được vợ mất chồng, Chẳng ai như Rồng mà được cả đôi. Long Hoa là cách nói ẩn dụ của các bậc Thánh nhân, Long là Rồng, Hoa là biểu tượng người nữ, biểu tượng của nàng Tiên, là nói đến người phụ nữ đáng bậc làm thầy cho tất cả các Thánh tăng. Như vậy, Hội Long Hoa là Hội Rồng Tiên, khai mở “Thời Hoàng Kim” cho nhân loại. Theo thơ văn tâm linh từ các tôn giáo mới ở Việt Nam cho rằng Hội Long Hoa là ngày có “Phật Bà xuất thế, Di Lạc Thánh Chúa giáng lâm”: Phật sinh thiên hạ trong Trời, Có nam có nữ nối đời quốc vương. Và: Chính pháp hoằng khai ngôi Di Lạc, Quần tu phổ độ sắc Quan Âm. Mà chúng ta cũng đã biết mẫu Âu Cơ chính là Quan Âm Bồ Tát, vậy Phật Vương Di Lạc và Quan Âm Bồ Tát chính là Long Hoa, Rồng Tiên hay một đôi Rồng. Bộ tranh dân gian Đông Hồ Ngựa hồng và Bạch tượng được điều khiển bởi những vị tướng quân oai nghiêm tới đón hai vị, thật là một kỷ nguyên hạnh phúc của nhân loại “Song Hỷ Lâm Môn”, Phật Tiên xe duyên: Ngựa Hồng - Bạch Tượng Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Sự tái lâm của các vị Phật, tiên, Thánh, Thần là cơ hội giúp cho chúng ta học được phương pháp lu luyện, tránh bỏ qua cơ hội muôn năm này, như những lời nhắc nhở từ xưa tới nay. Trong dòng tranh dân gian Đông Hồ còn lưu giữ một bộ tranh nhị bình rất đáng yêu, được trẻ em thích nhất Chuột vinh quy và Đám cưới chuột: Chuột vinh quy Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Đám cưới Chuột Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Tranh chuột vinh quy với chú chuột đi sau chú rể khiêng bảng đề “Tiến sĩ”. Con đi trước vác cờ đề “Tân hôn”. Tranh có bài thơ: Khôn khổn khồn khôn đã có đuôi, Đỗ cao cưới vợ tiếng rầm trời. Chú mèo vừa mới vênh đầu ngõ, Lễ cả sai quân đệ tới nơi. Tranh Đám cưới chuột với các hàng chữ Nho: “miêu”, “tống lễ”, “tác nhạc”, lão thử thủ thân” (“thủ thân” 守身 ở đây là “giữ thân” chứ không phải “thú thân” 娶亲hay “thành thân” 成亲là cưới vợ hay kết hôn). Còn chữ hàng dưới là “nghênh hôn”, “giai tế” (chú rể). Tranh Đám cưới chuột có tới 12 con chuột, mỗi con một tư thế, một tâm trạng khác nhau. Chuột tiến sĩ đội cái mũ cánh chuồn mặc áo thụng xanh, cưỡi ngựa hồng, lại có chuột hầu che lọng, mặt vênh vênh tự mãn đã đỗ cao lại cưới được vợ trẻ đẹp, quay đầu nhìn vợ ngồi kiệu đằng sau. Bọn chuột lính tráng, có con làm việc nghiêm chỉnh, có con nghịch ngợm. Con chuột vác biển trịnh trọng vừa đi theo Trạng, vừa ngoái liếc mắt với cô dâu. Hai chuột khiêng kiệu vừa khiêng vừa quay lại với lũ bạn ở đằng sau. Khác với tám con chuột ở hàng dưới vui nhốn nháo, bốn con chuột ở hàng trên đang tiến tới trước mặt mèo, tuy thổi kèn mang lễ vật nhưng vẫn sợ sệt. Con chuột đi đầu sợ rụt cả cổ, quặp cả đuôi co rúm người lại, hai “tay” đưa chim ra dâng lễ. Còn con mèo chồm hỗm một góc tranh, phóng to lên vượt cả con ngựa, các nét điển hình được khuếch đại làm nổi bật tính tương phản giữa các nhân vật. Một số niên họa Đám cưới chuột khác Lão thử thành thân, Niên họa Trung Quốc đời Thanh, Thiệu Dương, Hồ Nam Niên họa Trung Quốc Chương Châu, Phúc Kiến Niên họa Miên Trúc, Tứ Xuyên Lão thử giá nữ, niên hoạ Dương Liễu Thanh, Thiên Tân Trong Tây Du Ký, thầy trò Đường Tăng với nghi trượng xem cảnh đám cưới chuột tưng bừng tiến vào “hang không đáy”, niên họa Thượng Hải. Tranh “Lão thử giá nữ” (chuột già gả con) của Trung Quốc Trong tranh Chuột vinh quy gồm 11 con chuột và tranh Đám cưới chuột có 12 con chuột, bộ tranh nhị bình này thể hiện chúng ta chuẩn bị kết thúc cung Song Ngư (Hợi) để đi vào cung Bảo Bình (Tý), và sẽ chịu một quy luật tương tác mới, cho nên trong bức tranh ghi chữ Nho “thủ thân” tức hãy cẩn thận. Đây là lời nhắc nhở khi mà mọi người hân hoan trong niềm vui về sự tái sinh của Phật Vương Di Lạc - Thần Chết và Quan Âm Bồ Tát, cũng như các vị Phật, Tiên, Thánh, Thần thì toàn bộ các linh hồn khác nhau, bao gồm cả những linh hồn có sức mạnh nhưng với ý đồ xấu, thường gọi là ma, quỷ… cũng sống dậy và lúc này là cơ hội để tu thành chính quả. Trong văn hóa Đông Phương, mèo biểu tượng cho cung Cấn của Bát Quái, mang ý nghĩa là “núi”, dân gian có câu “Núi là Phật, Phật cũng là núi” và hình tượng mèo chính là thể hiện sự tôn thờ các vị Thánh nhân. Trong tôn giáo cổ Ai Cập, mèo là vị nữ thần Bastel là nữ thần địa phương của Bubastis hay “nhà Bastel”, thành phố trung tâm của một tỉnh Hạ Ai Cập. Nữ thần này thường được xem là con gái của thần Ra. Thông thường, bà là một nữ thần nhân ái, Bastel che chở cho loài người khỏi các bệnh tật và ác thần. Quan trọng hơn hết, bà là một nữ thần của sự sinh sản, tình dục, yêu thương và yêu thích âm nhạc, khiêu vũ. Trong thế kỷ thứ III tr.CN, các lễ hội sinh sản được tổ chức để tưởng niệm bà trong đền thờ của bà tại Bubastis. Loài mèo được sùng kính như là vật thiêng của Bastet và xác ướp của chúng được mai táng trong các đền thờ của bà. Nữ thần mèo Bastel Cổ vật Ai Cập Mà chúng ta cũng biết, cung Cấn hay “núi” là biểu tượng của bà Âu Cơ, Quan Âm Bồ Tát hay Nguyệt Lão Bà - nữ thần nhân duyên, con dâu của vua Kinh Dương Vương - thần Ra của tôn giáo Ai Cập cổ. Như vậy, lịch sử tôn giáo Ai Cập và Văn Lang cổ đại hoàn toàn trùng khớp với nhau qua những biểu tượng. Trong bài thơ trên tranh Chuột vinh quy có đoạn thơ “Khôn khổn khôn khôn đã có đuôi” rất khó hiểu? Tại sao lại có đuôi? Đây chính là nội dung liên kết đến một bài đồng dao dân gian của trẻ nhỏ Con voi, và dĩ nhiê nó cũng thể tách rời câu chuyện cười dân gian Việt Nam Thầy bói sờ voi: Nhân buổi ế hàng, năm ông thầy bói nói chuyện với nhau. Thầy nào cũng phàn nàn không biết hình thù con voi nó như thế nào. Chợt nghe người ta nói có voi đi qua, năm thầy chung nhau tiền biếu người quản tượng, xin cho voi dừng lại để cùng xem. Thầy thì sờ vòi, thầy thì sờ ngà, thầy thì sờ tai, thầy thì sờ chân, thầy thì sờ đuôi. Đoạn, năm thầy ngồi bàn tán với nhau: Thầy sờ vòi bảo: - Tưởng con voi nó thế nào, hoá ra nó sun sun như con đỉa. Thầy sờ ngà bảo: - Không phải! Nó dài dài như cái đòn càn. Thầy sờ tai bảo: - Đâu có! Nó bè bè như cái quạt thóc. Thầy sờ chân cãi: - Ai bảo? Nó sừng sững như cái cột đình. Thầy sờ đuôi lại nói: - Các thầy nói sai cả, nó tua tủa như cái chổi xể cùn. Năm thầy, thầy nào cũng cho mình nói đúng, không ai chịu ai, thành ra xô xát, đánh nhau toạc đầu chảy máu. Con vỏi con voi Cái vòi đi trước Hai chân trước đi trước Hai chân sau đi sau Còn cái đuôi thì đi sau rốt Tôi xin kể nốt Cái chuyện con voi. Trong Kinh Niết Bàn và Kinh Trường A Hàm của Phật giáo kể về câu chuyện nhà vua nghe những người mù tranh cãi nhau về hình dáng con voi, nhà vua cảm khái nói: Người mù đều rất đông, Tranh nhau nói sự thật. Voi vốn chỉ một thân, Thị phi lại bất đồng. (Trích theo Hồng Phi Mạc "Cầm hoa mỉm cười", BK.1999 tr.30, tiếng Trung). Qua câu truyện Thầy bói sờ voi và bài thơ Con voi, mang ẩn ý tất cả chúng ta có lẽ đang suy nghĩ về nguồn gốc của vũ trụ hay có thể hiểu là khởi nguyên của vũ trụ, nhưng mỗi người hay mỗi tổ chức xác định hay gán ghép trạng thái này đều như những “người mù sờ voi” mà thôi. Phải dùng trí tưởng tượng và sự hợp lý, từ thực tiễn nghiên cứu các quy luật vận động rồi mới xây dựng được học thuyết, và đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ Hành. “Cái vòi đi trước” tức Thái Cực, “hai chân trước” là Âm Dương và “hai chân sau” tạo thành Tứ Tượng, cuối cùng là “cái đuôi” tạo thành 6 quẻ Dịch lý. “con voi” cũng hàm nghĩa tư duy về sự thống nhất của vũ trụ tức cả “con voi” hay con thú to nhất trong các loài thú rừng, “cái đuôi” cũng còn nói về “lân vi trần” tức loại vật chất nhỏ nhất của vũ trụ trong kinh sách Phật giáo, và con voi cũng là con “tịnh” tức thấu hiểu khởi nguyên vũ trụ ở trạng thái “chí tịnh”, đó cũng chính là nội dung mật ngữ trong trong trò chơi trẻ em Việt Nam Lò cò xủn. Tiên tri trong trò chơi “Lò cò xủn” Một trò chơi của trẻ em rất phổ biến trong dân gian Việt đang ẩn giấu phía sau nó những mật mã có thể làm sáng tỏ hơn cho một lý thuyết học thuật cổ Đông phương đầy tính minh triết thuộc nền văn hiến Lạc Việt, đó là trò chơi Lò cò xủn. Trò chơi Lò cò xủn Ảnh tham khảo Khi chơi, trẻ em thường vẽ đồ hình trên dưới đất bằng que vạch, hoặc phấn trắng trên nền gạch. Đồ hình gồm 10 ô từ 1 đến 10, gọi là 10 mức. Một ô với hình bán nguyệt trên cùng gọi là ô Trời hay mức Trời. Ba đường thẳng có chia đuôi gọi là đuôi chuột, nhằm phân ranh giới trái phải của vị trí khởi hành và kết thúc. Điều kiện chơi: Ô 1, 2, 3, 4 và 7, 8, 9, 10 buộc phải lò cò. Ô 5 và 6 thì được phép bẹp 2 chân. Đối tượng chơi không phân biệt nam nữ, ấu lão, có thể lực có thể tham gia. Hình thức thi đấu tay đôi hay nhóm đối kháng.Vật dụng gọi là “chàm” thường là một viên đá có bề mặt tròn dẹt, phải dùng chân đứng để di chuyển trong lúc chơi. Cách chơi: Người chơi đến lượt mình vào vị trí khởi hành, thảy chàm bắt đầu từ ô số 1 và nhảy vào ô số 1 với một chân co một chân duỗi, dùng một chân di chuyển viên chàm từ ô số 1 lần lượt sang ô số 2, cứ thế thuận tự cho đến hết 10 ô. Đi đến ô nào bị phạm lỗi theo quy định thì phải ngừng chơi đến lượt người khác. Khi đến lượt mình thì bắt đầu từ ô đã đi được trong lần trước. Khi đi hết các ô từ 1 đến 10 thì người chơi thảy chàm sao cho vào ô Trời rồi di chuyển bằng cách nhảy chàng hảng hai chân từ ô 1-10, 2-9, 3-8, 4-7, 5-6, rồi quay ngược lại dừng lại ở ô 5-6, vẫn ở vị trí chàng hảng, nhưng ngồi xổm xuống thấp, lòn tay qua dưới 2 chân mò tìm chàm cho được mới thôi. Xong, người chơi di chuyển bằng cách như lúc đầu về vị trí khởi hành. Ở vị trí khởi hành, người chơi lại tiếp tục đi những thử thách tiếp theo, gọi là mụt ghẻ ở tay, ở chân, ở đầu và gánh nước bằng cách để viên chàm ở mu bàn tay, mu bàn chân, vai, đầu rồi di chuyển qua từng ô từ 1 đến 10, mà không lò cò sao cho chàm không rơi. Hết một vòng khi trở về vị trí khởi hành, người chơi tung viên chàm lên không rồi đưa tay bắt lấy, nếu rớt chàm thì dừng chơi, chờ lượt đi lại. Hết những thử thách, người chơi được quyền “cất nhà”, bằng cách đứng dạng hai chân ở vị trí khởi hành và vị trí dừng, quay lưng lại với vị trí đồ hình rồi tung chàm ngược ra sau. Chàm được phép rơi vào một trong 10 ô, không cán mức, không văng ra ngoài thì coi như thành công. Chàm ở ô nào thì ô đó gọi là “nhà” và người chơi đi đến đó thì có quyền đứng 2 chân, không được co chân. Nếu lỡ co chân là “cháy nhà”, ô đó trở lại ô bình thường như ban đầu. Những người chơi khác, hoặc không cùng phe, không được quyền đứng hai chân ở nhà người khác. Cất nhà xong, người chơi trở lại mức khởi điểm là mức 1 và tiếp tục một chu trình mới. Cuộc chơi ngừng khi các ô trở thành nhà của mình hoặc của đối thủ. Những ô đã trở thành nhà thì không phải thảy chàm vào ô đó. Ai hoặc phe nào nhiều nhà nhất được coi là thắng cuộc. Điều kiện ngừng chơi: Trong khi di chuyển chàm, nếu chàm phạm vạch thì phải ngừng chơi và đến lượt người khác. Chân đạp ranh giới giữa các ô hay chàm dừng ở ranh giới giữa các ô hay văng ra khỏi đồ hình. Tuy nhiên chàm văng vào giữa hai đôi chuột thì không bị phạm điều kiên này. Lò cò vào ô 5 hay 6 thì người đi bị dừng chơi. Bẹp hai chân vào mức 1, 2, 3, 4, 7, 8, 9, 10. Cuộc chơi ngừng khi cả hai bên đồng ý ngừng. Sự khác nhau giữa hình trò chơi ở miền Bắc với miền Nam là chỗ nơi “ô Trời” có hình tam giác, vẽ lớn hay nhỏ tùy theo người chơi. Do vậy nội dung quy định và cách thức chơi đại để giống như ở miền Nam, nhưng có cái khác cách một chút. Cụ thể, khi đi đến mức 5 thì người chơi xủn cho viên chàm vào “ô Trời” đồng thời cũng nhảy lò cò vào ô đấy. Nếu chàm ở ngoài phạm vi ô tam giác thì người chơi chỉ được xủn một lần sao cho sang ô 6 mà không di dịch chàm nhiều lần trong “ô Trời”. Nếu chàm rơi đúng hình tam giác thì ngưới chơi phải xủn chàm ra khỏi khu vực tam giác rồi được phép xủn tiếp sang ô 6. Nhưng nếu chàm sau khi xủn ra mà vẫn còn vướng lại trong tam giác hay vướng ở biên của tam giác đó thì phạm quy, gọi là “xê xích Thủ”, buộc người chơi phải đi lại từ ô 1 đầu tiên. Lạ lùng thay thuyết Âm dương Ngũ hành được tái hiện lại một cách thông minh tuyệt vời bằng đồ hình của trò Lò cò xủn, truyền lại cho hậu thế bằng một loại hình trò chơi dân dã, chứa đựng tài tình nội dung một nguyên lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Trong trí nhớ của những trẻ nhỏ, ô hình cung bán nguyệt được gọi là “ô Trời” hay “mức Trời” và 3 đường tua rua gọi là “đuôi chuột”, chính sự quy định này như là một chìa khóa để khám phá ẩn ý đằng sau trò chơi. Ô vòng cung được gọi là Trời đối lập với cái khác nó là hình vuông hay hình chữ nhật, tùy theo cách vẽ của người chơi, lẽ dĩ nhiên sẽ gọi là Đất theo sự giải mã. Chi tiết còn lại là 3 tua rua “đuôi chuột”, Tý tức là chuột, con giáp đứng đầu trong 12 con giáp, gọi là Địa Chi thì ngay trong trò chời Lò cò xủn được nhắc đến, được dùng làm ranh giới cho mốc khởi đầu và kết thúc lượt chơi. Như vậy cặp phạm trù Trời - Đất được mã hóa bằng trò chơi, cũng chính là một cách vẽ giản lược hình ảnh bánh Dầy trên bánh Chưng, rõ ràng đây là hình tượng ám chỉ ý “Dương trước Âm sau”. Phối hợp Thiên Can Trò chơi dân gian Lò cò xủn, Việt Nam Thuận tự của các số được đánh số từ dưới đi lên, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, hết một vòng theo đúng chiều thuận kim đồng hồ…. cho thấy rằng 10 con số trùng hợp với Thiên Can. Chiều tương sinh Ngũ hành hiển thị chiều tương tác của của Thiên Hà trong vũ trụ được diễn giải cô đọng trên nguyên lý căn để là Hà Đồ. Quy định của trò chơi, mọi hoạt động di chuyển và diễn biến của trò chơi, chỉ diễn ra trong phạm vi hình vuông 10 ô số, và chiều di chuyển thuận kim đồng hồ cũng chính là chiều tương sinh của Âm dương Ngũ hành. Một cách trực kiến, ô hình vuông được diễn tả ý nghĩa “động” qua những hoạt động của người chơi, theo chiều biểu kiến của người “đi” nước lò cò, là chiều biểu kiến sự vận động tương tác thuận của ngũ hành được thể hiện trên Hà Đồ. Ý nghĩa Dương tịnh, tức Thái Cực chí tịnh là bản nguyên của vũ trụ được giản đơn bằng một ô bán nguyệt cung tròn viên mãn, gọi là “mức Trời”, mà nơi đó người chơi không được phép “đi”. Trong cách thức chơi, có một quy định về một “nước đi” như sau: Khi đi hết các mức từ 1 đến 10 thì người chơi thảy chàm sao cho vào ô Trời rồi di chuyển bằng cách nhảy hai chân từ ô 1-10, 2-9, 3-8, 4-7, 5-6, rồi quay ngược lại dừng lại ở ô 5-6, vẫn ở vị trí chàng hảng nhưng ngồi xổm xuống thấp, luồn tay qua dưới 2 chân mò tìm chàm cho đến khi được mới thôi. Xong, người chơi di chuyển bằng cách như lúc đầu về vị trí khởi hành. Hoạt động của trò chơi chủ yếu diễn ra trên ô vuông lớn chứa 10 ô theo quy định, riêng ô Trời không được đi vào đó, nhưng khi đi hết 10 ô thường thì được phép thảy chàm vào “ô Trời”, muốn lấy chàm thì phải nhảy cóc bằng 2 chân trong 2 ô, rồi dùng sự phán đoán mà nhặt chàm. Chi tiết người chơi không nhìn trực tiếp để nhặt chàm, quay lưng luồn tay qua hai chân, do vậy phải cần đến sự phán đoán của tư duy trừu tượng về sự khởi nguyên của vũ trụ hay chính là đi tìm “Thượng đế”, và muốn nhận thức được thực tại ấy thì không gì khác hơn rằng phải dùng tư duy trừu tượng để nhận thức căn để thực tại ấy, dựa trên các quy luật vận động tự nhiên đã được nhận biết, đó gọi là tính tuyệt đối hay còn gọi “tính Thấy” (tham khảo Kinh Lăng Nghiêm). Trong bộ Thánh kinh Veda cổ nhất của dân tộc Ấn Độ ước chừng thế kỷ XV tr.CN, một trong những bài thơ hay nhất là bài Thánh ca về sự sáng tạo vũ trụ, thật lạ lùng, chúng ta còn thấy một giọng hoài nghi rất tôn kính: Buổi đó, hoàn toàn chẳng có gì cả, mặt trời rực rỡ kia không có, mà vòm trời là cái khăn phủ mênh mang kia, cũng không có. Vậy thì cái gì trùm lên, che phủ, chứa chất vạn vật? phải chăng là vực nước sâu thẳm?. Thời đó không có chết - vậy không có gì là bất tử, không phân biệt ngày và đêm, Cái Nhất, cái Ðộc Nhất, không có hơi mà tự thở lấy được, ngoài cái đó ra không có cái gì khác nữa. Tối tăm, và hồi đầu cái gì cũng chìm trong cảnh tối tăm mù mịt - như biển cả không ánh sáng - Cái mầm khuất trong cái vỏ, bỗng nảy ra, duy nhất, dưới sức nóng nung nấu. Thế là lần đầu tiên, lòng thương yêu xuất hiện, nó là dòng suối mới. của tinh thần, các thi sĩ suy tư và thấy được trong lòng mình, Mối liên lạc giữa cái không được tạo ra với những vật được tạo ra. Tia sáng đó chiếu ra, xâm chiếm hết, nó phát xuất từ trời hay từ đất? Giống đã gieo và người ta thấy các năng lực cao cả xuất hiện. Ở dưới thấp là thiên nhiên, ở trên cao là quyền năng và ý lực, ai là người vén được màn bí mật? Ai là người cho ta biết: Sự sáng tạo muôn vật đó từ đâu mà có? chính các thần linh cũng chỉ xuất hiện sau này, Vậy thì ai là người biết được sự sáng tạo mầu nhiệm đó từ đâu mà có? Ðấng nào đã gây ra sự sáng tạo đẹp đẽ đó? là do vô tình hay hữu ý? Ðấng tối cao trên tầng trời cao nhất kia, biết được - nhưng biết đâu chừng, có thể chính ngài cũng không biết nốt. Hành động người chơi phải nhảy cóc hai chân trên hai ô, tượng trưng Âm Dương hòa hợp là một ẩn ngữ cho biết rằng: muốn nhận thức bản nguyên vũ trụ, phải vượt qua tâm lý nhị nguyên, phải hiểu được trạng thái cân bằng Âm Dương thì mới “Thấy” được trạng thái tuyệt đối ban đầu. Mò chàm Hình ảnh minh họa trò chơi Trò chơi Lò cò xủn ở vùng Bắc bộ Việt Nam thì có chút khác biệt, người chơi được phép lò cò vào ô Trời, nhưng không được phép dịch chuyển chàm nhiều lần trong ô này, khác với ô 1 đến 10 được phép dịch chuyển nhiều lần có thể. Trong cuốn Đạo Đức Kinh, Lão tử bàn về nguồn gốc của vũ trụ, ông cho rằng vũ trụ có khởi thủy và cơ hồ không có chung, và quy tắc chỉ được dịch chuyển chàm một lần trong ô Trời thể hiện ý nghĩa vũ trụ sau khi vận động sẽ không còn trở lại trạng thái “chí tịnh” ban đầu đầu được nữa. Lão Tử - Đạo Đức Kinh, dịch giả Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn hóa Thông tin, 2006. Trong đồ hình trò chơi vùng Bắc bộ, phần ô Trời được vẽ thêm hình tam giác và khi người chơi không dịch chuyển được chàm ra khỏi tam giác này bằng một lần đẩy duy nhất thì bị phạm quy, gọi là “xê xích Thủ”. Yếu tố bí ẩn được tăng thêm khi xuất hiện chi tiết này. Thiên Đàn Bắc Kinh, Trung Quốc Ngôi đền linh thiêng này được viếng thăm bởi các hoàng đế của triều đại nhà Minh và nhà Thanh cho việc thực hiện các nghi lễ hàng năm để gửi lời thỉnh cầu lên Ngọc Hoàng ban cho một vụ mùa bội thu. Đây là một tổ hợp kiến trúc được xây dựng theo phong cách đạo Lão nằm ở phía Đông Nam thủ đô Bắc Kinh. Hình tượng tam giác trong hiện tượng văn hóa dân gian của người Việt thể hiện cho sinh thực khí nữ, hay nói đúng hơn là bộ phận khởi sinh cho những “tiểu vũ trụ” con người. Hình bán nguyệt “ô Trời” như một cái bụng bầu của người phụ nữ, điểm xuyết thêm một tam giác và như vậy hình ảnh khi phụ nữ lâm bồn được cách điệu một cách tinh tế. Từ sự quán xét trên, chúng ta có thể hiểu rằng đây là một hình tượng cô đọng diễn tả sự khởi nguyên của vũ trụ, cái bản nguyên duy nhất và trước nhất mà dân gian Việt thường gọi “Mẹ tròn”, điểm xuyết của hình tượng tam giác nâng lên hay khẳng định “tính Mẹ” của khái niệm, nghĩa là vũ trụ được khởi sinh từ một thể bản nguyên viên mãn, như một đứa con sinh ra từ bụng người mẹ. Mặt khác, cấu trúc “chàm” hình tam giác cũng còn mang một ẩn ý rất quan trọng đó là từ nhận thức về hiện thực khác quan của ba vấn đề: ý thức, hình tướng và các động lực của sự vận động thì chúng đã tồn tại và phát triển như thế nào trong giai đoạn trước và ngay thời điểm khởi nguyên của vũ trụ?. Trên cơ sở vấn đề được đặt ra, nếu so sánh với tư tưởng của Lão Tử qua cuốn Đạo Đức Kinh có thể đi đến một nhận xét về sự tương đồng, Lão Tử bàn đến khởi nguyên của vũ trụ: “Không là cái bản thủy của trời đất - Có là mẹ sinh ra vạn vật”, so sánh với quan điểm vũ trụ quan của Văn Lang qua câu tục ngữ “Mẹ tròn con vuông” và hình tượng bánh Chưng bánh Dầy thì hai quan điểm này gần như hoàn toàn trùng khớp. Thái Cực - Dương tương ứng với cái “Không” của Lão tử. Âm - lý của Ngũ hành nằm trong bánh Chưng là nguồn gốc của vạn vật, tương ứng với cái “Có” là mẹ sinh ra vạn vật. Núi Võ Đang - Thánh địa Đạo giáo Tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc Phạm vi giải mã của trò chơi chứa đựng những ẩn ngữ của lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành, mật mã cuối cùng của trò chơi được giải nghĩa rằng: “Phải nhận thức bản nguyên của vũ trụ là cái toàn thể, cái duy nhất, cái mang tính Mẹ với sự viên mãn, chí tịnh khởi sinh vạn hữu và “cái đó” được gọi tên “Tính Thấy” diễn giải trong nguyên lý học thuật cổ đông phương từ bao đời nay.” Sự giải mã nhằm khám phá những bí ẩn đằng sau những dấu ấn văn hóa vật thể hay phi vật thể còn phổ biến hay âm thầm tồn tại trong xã hội người Việt hằng ngàn năm. Những thăng trầm của lịch sử đã làm lý thuyết ấy bị thất truyền thì những giá trị ẩn hiện sau những văn hóa vật thể hay phi vật thể như tục ngữ ca dao, hò vè, dân ca, hình tượng, trò chơi dân gian… sẽ định hướng cho việc hoàn chỉnh hay nhận thức đúng đắn về thuyết Âm dương Ngũ hành, mà tiền nhân gọi là lý thuyết về cái “Một”, cái “Duy nhất” hay nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh xác quyết đấy là “Lý thuyết thống nhất vũ trụ” mà các nhà khoa học hiện đại đang mơ ước: “Tạo ra một lý thuyết thống nhất các định luật vũ trụ! Một siêu công thức bao trùm mọi định luật của thiên nhiên, hoàn toàn có thể giải thích được mọi sự kiện bao quanh con người, từ những hạt vật chất cực nhỏ đến những thiên hà khổng lồ”. (Trích từ cuốn Định mệnh có thật hay không, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, trang 56). Nhưng thật thú vị, những quy luật vận động của tự nhiên thuộc một lý thuyết về thực tại vũ trụ được diễn tả cô đọng và sinh động chỉ trên một trò chơi trẻ nhỏ của người Việt. Chỉ có thể có ở một trí tuệ siêu việt của chủ nhân học thuật cổ Đông phương thuộc nền văn minh Lạc Việt, mới có thể mã hóa một cách xúc tích những ẩn ý của lý thuyết cao cấp ấy. (Tham khảo và trích dẫn một phần nội dung bài viết Giải mã trò chơi Lò cò xủn, tác giả Bùi Anh Tuấn, Trung tâm Nghiên cứu Lý học Đông Phương). Như vậy, nền tảng lý thuyết của các tôn giáo cổ đại từ Đông sang Tây, cũng như các lễ hội đều phát tích từ văn minh Văn Lang, mà học thuyết Âm Dương Ngũ Hành làm chủ đạo, học thuyết thống nhất vũ trụ. Đồng thời, lịch sử của các vị Phật, Chúa, Tiên, Thánh, Thần đã được làm rõ và vị Thánh nhân mà cả thế giới đang mong chờ chính là Phật Vương Di Lạc, hay là hóa thân thứ 10 của thần Vishnu là thần Kalki, cũng là thần chết Osiris trong tôn giáo Ai Cập cổ đại… phục sinh trở lại, đúng như các nhà tiên tri kim cổ đã dự ngôn: Một vườn hoa đẹp diệu kỳ, mùa xuân đã có chủ, Gió mưa suốt đêm, không cần phải lo sầu. (Dự ngôn Mai Hoa Thi, tác giả Thiệu Khang Tiết). Tiên tri về nguồn gốc học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và các nền tảng học thuật khác của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Bà La Môn giáo… cũng thể hiện trong tích truyện Nôm Trê Cóc, vốn là một trong những truyện Nôm khuyết danh hay nhất còn sót lại đến nay trong nền văn học dân gian. Trê Cóc và Thầy đồ Cóc (Lão Oa độc giảng) Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Vợ chồng Cóc vốn ở gần bờ ao. Đến khi đẻ, vợ Cóc xuống ao sinh ra một đàn nòng nọc. Trê ở dưới ao thấy nòng nọc giống mình, bèn bắt cả đàn về nuôi. Khi Cóc trở lại, thấy Trê chiếm đoạt con mình, mới đem việc đến kiện ở cửa quan. Quan truyền giam Trê lại. Vợ Trê ở nhà đến nhờ Triều Đẩu gỡ tội cho chồng. Triều Đẩu giới thiệu vợ Trê đến tìm Lý Ngạnh, một thủ hạ am tường việc quan. Lý Ngạnh lo lót lễ vật vào cáo quan để khiếu nại cho Trê. Quan cho sai nha đến tận nơi tra án. Trê nói rằng Nòng Nọc sống dưới nước và giống Trê hơn giống Cóc. Cóc không còn sống dưới nước, mà lại chẳng giống Nòng Nọc. Quan xử Trê thắng kiện. Cóc đau khổ vì mất con, chỉ còn nghiến răng uất hận kêu trời. Biết chăng có một ông Trời, Nghiến răng có thấu xin soi đến cùng. Ai làm oan thác sự lòng, Thì xin tiếng Sấm Cửu Trùng nổi lên. Quan liền ra lệnh thả Trê và bắt giam Cóc lại. Đến lược vợ Cóc phải chạy lo cho chồng. Ếch giới thiệu cho vợ Cóc một thầy kiện trứ danh là Nhái Bén. Nhái Bén khuyên vợ Cóc cứ đợi đàn nòng nọc đứt đuôi tự nhiên sẽ về với mình, không cần phải kiện cáo gì cả. Quả nhiên ít lâu sau, khi ra bờ ao thì đàn cóc con theo mẹ về. Vợ Cóc cùng đàn con đến kêu oan. Trước chứng cứ rõ ràng, Trê phải thú tội và bị kết án "lưu tam thiên lý" (đày xa ba ngàn dặm). Hai vợ chồng Cóc được kiện trở về, một nhà vui sướng xum vầy. Nhà ta cũng có cơ đồ đỉnh đang, Ra vào gác tía nhà vàng, Cõi bờ mặc sức nghênh ngang chơi bời, Nghiến răng chuyển bốn phương trời, Ai ai là chẳng rụng rời sợ kinh. Có thể nói Câu chuyện là một biểu tượng tuyệt vời, ẩn chứa mật ngữ, có tính tiên tri, cho biết nền văn minh Khoa đẩu (nòng nọc) đã bị khuất lấp dưới một hình thức khác (con của Trê). Cóc không ở dưới nước (tức là đã mất nước), nên không thể chứng minh được nòng nọc là con của mình. Nhưng bản chất của sự vô lý (nòng nọc không phải con của Trê), cuối cùng cũng sẽ được sáng tỏ trong qui luật tiến hóa, phát triển của tự nhiên: Đừng thầy kiện chớ hội đồng, Đứt đuôi nòng nọc thì công viên thành. Đây là hình tượng độc đáo của câu chuyện có tính tiên tri, cho biết: sự tiến hóa, phát triển toàn diện về mọi mặt trong các mối quan hệ xã hội mà nền tảng là sự tiến bộ của khoa học hiện đại - trong đó mũi nhọn của khoa học hiện đại chính là khoa học lý thuyết - mới là điều kiện cần và đủ để minh chứng cho sự kỳ vĩ của nền văn minh Khoa đẩu của nhà nước Văn Lang (trích Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam, tác giả nguyễn Vũ Tuấn Anh). Được kiện Cóc trở ra về, Họ hàng náo nức nói cười mừng vui, Chè sen, rựu cúc thảnh thơi, Cóc ngồi chịu chuyện, Bén ngồi ngâm thơ. Dòng tranh mộc bản dân gian, nhiều tranh có ghi những dòng thơ bằng chữ Hán Nôm để vịnh tranh, bức tranh Thầy đồ cóc (Lão Oa độc giảng) thì không thấy thơ, nhưng theo các nghệ nhân làng tranh dân gian Đông Hồ, trên tranh ván in xưa có bài thơ rằng: Tìm thầy hỏi bạn Nhái chi mà, Thấy học xem bằng Ếch thấy hoa, Mở mắt Chão chàng soi vũ trụ, Đem gan Cóc tía đối sơn hà. Không những nội dung bài thơ chỉ ra tên các loài nhái, ếch, chão chàng, cóc, một loạt nhân vật trong bức tranh mà ẩn nghĩa sâu xa về việc - khi “đôi mắt” nhìn nhận được “Cóc - Tính Không” và “Tính Thấy” khởi nguyên vũ trụ thì lý thuyết Âm Dương Ngũ Hành - thể hiện quy luật vận động của thế giới tự nhiên, xã hội và con người sẽ được khôi phục, như bà Vangan đã tiên tri “Một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở về với nhân loại”. Chính vì thế mà Cóc có một vị trí đặc biệt, được hết sức tôn trọng trong nền văn hóa nhân bản Việt: Con Cóc là cậu ông Trời. Ai mà đánh nó thì Trời đánh cho. Con Cóc là cậu thầy Nho, Ai mà nuôi nó Trời cho đồng tiền. Ông Trời - Thượng Đế - cai quản cả vũ trụ mà nhân loại phải kính trọng, nhưng cóc lại còn là "Cậu ông Trời" thì đủ hiểu cóc có địa vị như thế nào, không những thế, Cóc còn là thầy dạy, là sự truyền đạt văn hóa và chỉ mình Cóc làm được chuyện này. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tiên tri thời gian Ngài tái xuất, mọi việc tự nhiên thành: Bắc hữu kim thành tráng, Nam tạc ngọc bích thành. Phân phân Tùng Bách khởi, Nhiễu nhiễu xuất Đông chinh. Bảo giang Thiên Tử xuất, Bất chiến tự nhiên thành. <br style="mso-special-character:line-break" clear="all"> Thiên Tử là con Trời, Lạc Long Quân con của Ngọc Hoàng Thượng Đế - Kinh Dương Vương, Ngài sẽ làm thay đổi cục diện đi tìm chân lý trên toàn thế giới, nhà tiên tri nổi tiếng thế giới Nostradamus cũng đã nhận định rằng: Ngài sẽ lấy ngày của nữ thần Diana (Mặt Trăng), Làm ngày cho sự nghỉ ngơi bình yên của Ngài. Ngài sẽ đi xa và rộng với sự thôi thúc để làm nổi giận, Giải cứu một dân tộc vĩ đại khỏi sự khuất phục. Như vậy, vua Lạc Long Quân với ngôi Phật Vương Di Lạc đã được hoàn toàn xác quyết từ những dự ngôn tiên tri, cho đến tất cả các dữ liệu lịch sử được ghi nhận ở các quốc gia trên khắp các châu lục. Tuy nhiên, sự kiện tiếp theo là Long Hoa Hội sẽ được minh xác như thế nào và ai sẽ là chủ trì? Lá Phướn phất ngang trời, bốn bể đều trông Nêu Phật, Tiếng Chuông kêu dậy đất, mười phương cùng tưởng Pháo sư. Trong Thánh kinh Rig Veda của Bà La Môn giáo thời cổ đại, với nhiều huyền thoại diễn tả Rồng Vrtra, vào thuở ban sơ, nó sống dưới biển sâu, giam giữ vô số loài thủy tộc trong bụng của nó. Mọi loài bị mắc trong bẫy “Không” cho đến khi có một anh hùng Indra trong tín ngưỡng Veda đến diệt trừ nó, mổ bụng nó và thả hết mọi loài chúng sinh và thủy tộc, làm cho sự sống trôi chảy (Du già hành tông, Yogacara, Thích Nhuận Châu soạn dịch, Nxb Tôn giáo, 2005, trang, 142). Ta thấy thần sấm Indra cũng là thần Brahma trong Bà La Môn giáo, thần Osiris trong tôn giáo cổ Ai Cập hay vua Lạc Long Quân tức Phật Vương Di Lạc.
  4. Chương IX TRƯỜNG SINH BẤT TỬ Cái gì kỳ diệu nhất trên thế gian? Kẻ nào thấy mọi người xung quanh đều chết mà vẫn đi tìm sự bất tử. Trường ca Mahabharata, tác giả Vyasa, Ấn Độ. Đối với hầu hết các dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng trên thế giới và mỗi cá nhân trong cộng đồng, ai cũng đã ít nhất một lần tự hỏi: Tại sao con người sinh ra rồi phải chết? Chết là gì? Sau cái chết con người đi về đâu? Linh hồn có hay không? Và nếu có thì sau khi chết nó sẽ đi về đâu? đã trở thành mối quan tâm hàng đầu và đều có cách lý giải, cách ứng xử riêng đối với nó. Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều những công trình kiến trúc khổng lồ của nhân loại như kim tự tháp Ai Cập, lăng tẩm các vua chúa ở Trung Quốc… đã được tạo ra để phục vụ cho những người đã chết. Bản đồ khu kim tự tháp Giza Ảnh tham khảo, Thebes, Ai Cập file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Theo quan niệm của các nhà khoa học, nhất là các nhà y học và sinh lý học thì chết là kết thúc đời người, chấm dứt về sự sống, là một trong những quy trình của vật chất sống, là tự tiến hóa của tự nhiên. Con người được xem như đã chết khi tim ngừng đập, lúc đó máu không còn lưu thông trong các huyết quản, hơi thở chấm dứt và phổi không còn đem oxy tới các tế bào, các tế bào dần dần suy thoái và ngừng hoạt động. Theo quan niệm dân gian của hầu hết các dân tộc trên thế giới, chết có nghĩa là không còn thở, tim ngừng đập, không còn ăn uống, giao tiếp được với mọi người nữa… mọi hoạt động sống đều chấm dứt nhưng linh hồn người ấy vẫn còn, vì vậy ngoài việc tôn thờ ông bà tổ tiên theo tinh thần đạo “Hiếu”, còn có niềm tin linh hồn của những người mất vẫn quanh ta và luôn độ trì, phù hộ cho con cháu trong những lúc khó khăn. Chiêu hồn nhập quan Tranh dân gian Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Đạo Thiên Chúa nói rằng, con người gồm có thể xác và linh hồn, cái chết chỉ là sự chấm dứt của thân xác nhưng linh hồn là bất diệt. Ngay sau khi chết, linh hồn của mỗi người sẽ nhận được một cuộc phán xét riêng của Thiên Chúa, nhưng vẫn còn một cuộc phán xét chung thẩm cho cả nhân loại trong “Ngày tận thế”, khi mà Chúa Kitô quay lại trần gian làm thẩm phán. Theo đó, cuộc chung thẩm này sẽ chấm dứt tình trạng hiện tại của nhân loại và bắt đầu một Thiên Quốc (Nước Trời) mới và tốt đẹp hơn do Thiên Chúa cai trị. Theo giáo lý đạo Thiên Chúa, vào ngày tận thế, linh hồn sẽ nhập lại thể xác (được tái sinh) và sau đó mỗi người sẽ phải chịu bản án thưởng hay phạt tùy theo những việc họ đã làm khi còn sống ở trần gian. Địa ngục Thiên Chúa giáo Tranh của Bolticellti, 1945 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Nho giáo không nhấn mạnh về sự chết của con người, mặt dù Khổng Tử đã có lần cho rằng: “Sự sống còn chưa biết rõ thì làm sao biết được sự chết”. Tuy nhiên, ý của Khổng Tử chỉ muốn nói lên sự thâm sâu, huyền diệu của lý lẽ tử sinh. Kỳ thực, chính Khổng Tử cũng lưu tâm đến vấn đề này và tin rằng: Con người sinh ra có khí, hồn và phách. Khí, hồn và phách hội tụ lại gọi là sinh (trích một phần từ cuốn Những bí ẩn sau cõi chết, tác giả Đoàn Văn Thông, Nguồn sống xuất bản, 1994). Hệ từ thượng truyện, Chương V - Tiết 2, do Khổng Tử (551-479 tr.CN) san định viết: “Ngưỡng lên xem thiên văn, cúi xuống xét địa lý, cho nên biết cái cớ của sáng tối. Quay về nguyên thủy của vạn vật, theo dõi đến cuối cùng, nên biết được bài học về sống chết. Tinh khí hợp lại sinh ra vạn vật, hồn thoát ra tạo nên biến hóa, nên biết được tình trạng của quỷ thần” (trích Kinh dịch và đời sống, tác giả Hải Ân, Nxb Văn hóa Dân tộc, 1996). Con người là một sự kết hợp giữa hồn phách, khí và thể xác, thể xác được xem như là cái giàn chống đỡ cho các thể khác. Khi chết, thể xác tan rã còn các thể khác vẫn tồn tại trong vũ trụ, nhưng Nho giáo không nói rõ sẽ tồn tại như thế nào. Quân lính đất nung và cỗ xe tứ mã Lăng mộ Tần Thủy Hoàng, Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Tần Thủy Hoàng đã tổ chức bốn lần đi tìm tiên, được cho là ở đảo Bồng Lai, biển Đông Hải. Năm 210 tr.CN, Tần Thủy Hoàng vẫn tiếp tục đến núi Lang Nha tìm tiên lần cuối nhưng vẫn không có kết quả, trên đường về, mắc bệnh mà chết ở Sa Khâu, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Trong Đạo giáo, Trang Tử (365-290 tr.CN) là người người dành nhiều quan tâm nhất đến sự sống chết, quan điểm chủ yếu của Trang Tử về sự sống chết chỉ là sự biến hóa của khí, sống hay chết chỉ là sự tụ hay tán của khí, sống và chết nối tiếp nhau giống như sự chuyển biến giữa ngày và đêm. Đó chính là sự tuần hòa vô hạn và bất biến trong tự nhiên. Vì vậy, xét đến cùng, sự sống chết chẳng qua cũng chỉ là những hiện tượng thường gặp trong tự nhiên mà thôi. Quan niệm của Phật giáo thì con người là sự kết hợp của hai yếu tố là thân xác và linh hồn, thể xác là phần vật chất giả tạm và là nơi linh hồn trú ngụ, linh hồn hay tâm linh thuộc về tinh thần. Thể xác chỉ là giai đoạn tạm bợ còn tinh thần là trường tồn bất diệt. khi chết là lúc linh hồn rời khỏi thể xác, theo danh từ Phật giáo là lúc thần thức lìa bỏ xác thân, lúc đó là lúc đoạn tuyệt mệnh căn. Theo Phật giáo, Phật tính là cái mà ai cũng có, chính là bản tâm của mỗi con người, nếu thấu triệt tức là hiểu rõ Phật tính của mình, tiến lên vượt khỏi cảnh giới sinh tử để thành Phật, quan điểm này là một quan điểm toàn diện về sự vĩnh hằng của sinh mệnh. Mật Tông Tây Tạng có bộ kinh điển truyền thế Trung ấm văn giáo cứu độ đại pháp (Tây Tạng sinh tử kỳ thư) có liên quan đến sống chết và sự giải thoát. Bằng việc miêu tả tường tận về hàng loạt những cảnh tượng trong thế giới thân trung ấm, đồng thời đưa những đối sách để xử lý các tình huống nảy sinh. Cuốn sách với mục đích chỉ ra phương pháp đối mặt với cái chết, nhắc nhở mọi gười hãy tu luyện đang khi còn sống nhằm đạt được sự giác ngộ, thoát vòng tử sinh. Thần thức thoát ra từ Phạn huyệt trên đỉnh đầu Tây Tạng sinh tử kỳ thư, đại sư Liên Hoa Sinh, dịch giả đại đức Thích Minh Nghiêm, Nxb Thời đại, 2010 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Hầu như phần lớn con người ở cứ bất nước nào cũng tin ngoài thân xác còn có một linh hồn, từ thời cổ đại, cũng đã cho rằng mọi sinh vật đều có linh hồn, ngay cả những tảng đá tưởng như vô tri, vô giác. Tuy nhiên, tùy theo phong tục tập quán khác nhau mà sự tin tưởng của mỗi dân tộc có vài dị biệt. Người Việt Nam và Trung Quốc, phần lớn đều tin rằng con người có 3 hồn 7 vía, đàn ông được cho là có 7 vía và đàn bà có 9 vía “nam thất nữ cửu”. “Hồn phi phách tán” là câu nói thường dùng để nói lên nỗi lo sợ mỗi khi gặp chuyện khủng khiếp. Cụ Nguyễn Du cũng đã từng mượn Kiều mà giãi bày: "Thác là thể phách, còn là tinh anh", tinh anh chỉ linh hồn là phần vi diệu, còn lưu lại sau khi chết chứ không tan rã như thể xác. Cuộc sống sau khi chết của các linh hồn được cho là cũng giống như khi còn sống, cho nên trong dân gian có tập tục đốt vàng mã trong những ngày lễ vía, “Trần sao Âm vậy” là quan niệm chung của mọi người khi đề cập đến vấn đề này. Từ nhận thức về cái chết đến với mọi người thật dễ dàng và đời người quá ngắn ngủi, mong manh “thời gian trôi nhanh như bóng câu ngoài cửa sổ”, cái chết luôn luôn như chực chờ đâu đây, vì vậy trường sinh bất lão là ước mơ mãi mãi của người đời: Trăm năm một giải tựa bóng mây, Đời người bọt nước khác gì đâu. Sáng còn thắm đỏ đôi gò má, Chiều đã bạc phơ nửa mái đầu. Giấc mộng tàn rồi, đời ảo cả, Mong cầu da diết hãy quay đầu. Xưa nay làm phúc đều tăng thọ, Ở thiện Phật thương, lọ phải cầu. (Trích Tây Du Ký, tác giả Phật Hoàng Trần Nhân Tông). và: Vũ trụ chiều lâng lâng, Sông Ngân trôi lang thang. Giữa trời treo đĩa ngọc, Khắp đất sáng mâm vàng. Thấp thoáng người tiên cảnh, Vi vu sáo phượng hoàng. Trăm năm nào mấy dạo, Đùa vui đừng ngỡ ngàng. (Trích Tùy Đường diễn nghĩa, tác giả Phật Hoàng Trần Nhân Tông). Theo Dị Văn Lục, Thuần Vu Phần đời Đường, ở đất Quảng Lăng, nhà có cây hòe to, sống lâu năm, cành lá sum suê rậm rạp. Nhân khi vui sinh nhật của mình, Thuần Vu Phần uống rượu say, nằm ngủ quên dưới cây hòe, mộng thấy mình bay lên không trung, vào một nơi có đề bảng “Đại Hòe An Quốc”, được quốc vương nước ấy thương, gả công chúa cho, rồi được bổ đến làm thái thú đất Nam Kha, công danh thật hiển hách. Sau, Thuần Vu Phần cầm quân đánh giặc, chẳng may bị thua, còn công chúa ở nhà bị bệnh chết. Vua nước Đại Hòe An nghi ngờ, rồi cách chức đuổi đi. Thuần Vu Phần buồn chán, liền giật mình thức dậy, thấy mình đang nằm dưới cội cây hòe, nơi cành cây chỉ về phương Nam, nhìn lên thấy một con kiến chúa đang nằm trong một tổ kiến lớn. Thuần Vu Phần nằm suy nghĩ về giấc mộng vừa qua của mình, chợt tỉnh ngộ, hiểu rằng nước Đại Hòa An là cây hòe lớn, cành cây phía Nam là đất Nam Kha, vua nước Đại Hòe An là con kiến chúa, dân chúng là toàn ổ kiến. Thuần Vu Phần cảm nhận trong mộng, tỉnh ngộ biết cảnh đời là ngắn ngủi, không định liệu được việc gì cả, bèn dốc lòng tìm đạo tu hành (Kiến có nghĩa là thấy, nhận thức được). Để thoát khỏi quy luật nghiệt ngã “sinh, lão, bệnh, tử” của tạo hóa, con người luôn khát khao tìm ra những phương thuốc diệu kỳ, giúp kéo dài tuổi thọ, gìn giữ nét thanh xuân, và có lẽ nổi bật nhất là các đạo nhân trong Đạo Giáo và các hành giả Yoga của đạo Bà La môn, Kỳ Na giáo, Phật giáo, Lão giáo… họ tu tập theo các phương pháp dưỡng sinh và chế biến ra các loại thuốc từ đan sa, khoáng chất… bổ trợ cho sức khỏe. Trong đạo Phật, các nhà sư thì thường xuyên hành thiền theo thời lịch nhằm đạt được chứng ngộ viên mãn, thoát khỏi luân hồi. Trong lịch sử của vùng Lưỡng Hà cổ đại, có một câu chuyện kể về người anh hùng Gilgamesh đi tìm thuốc trường sinh và có đề cập đến trận đại hồng thủy, đây là một trong những bản sử thi mang đậm tính chất anh hùng ca cổ nhất của nhân loại. Sử thi Gilgamesh được sáng tác vào thời kỳ các quốc gia cổ Sumer và Akkad, có rất nhiều dị bản bằng nhiều ngôn ngữ cổ. Hiện nay, những bản dịch sang ngôn ngữ hiện đại đều dựa trên văn bản tìm được ở Nineved, trong thư viện của vua Assurbanipal, vị vua cuối cùng của người Assyria vào khoảng thế kỷ thứ VII tr.CN, văn bản muộn nhất này tương đối hoàn chỉnh và được viết trên 12 phiến đất sét. Sau nhà bác học Babylone, ông Sinlegeounninni tu chỉnh lại và lưu trong thư viện khoảng năm 1100 tr.CN. Các nhà khảo cổ học tìm được nhiều mảnh vỡ của bản sử thi rải rác trong lòng đất với nhiều câu chữ không khôi phục lại được, nhưng những gì còn lại hơn 3.000 câu cũng đủ thấy rõ nội dung bản sử thi mang đậm tính chất anh hùng này. Ngày nay, các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau rằng sử thi Gilgamesh ra đời từ khoảng năm 2750-2500 tr.CN, không những chỉ có giá trị văn học, nó còn như một lăng kính phản chiếu những đường nét của tư tưởng, lối sống ở một thời kỳ xa xưa mà giờ đây không còn lại mấy dấu vết. Thiên sử thi kể về chiến công của một vị vua, một người anh hùng mang tên Gilgamesh, mà theo truyền thuyết của vùng đất Lưỡng Hà, đã từng có một vị vua cũng tên là Gilgamesh, cai trị xứ sở Uruk vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III tr.CN, và có tiếng là một vị vua anh hùng. Mở đầu tác phẩm là hình ảnh của Gilgamesh, vị chúa tể Uruk, với sức khoẻ hơn người và có trí tuệ phi phàm, Gilgamesh là hình mẫu lý tưởng vượt lên trên vóc dáng của những con người bình thường. Ai tuyên bố ta là chúa tể, Ai sánh được chàng trên cõi đời? Tên của chàng là Gilgamesh, Hai phần thần linh, một phần người. Vẻ đẹp chàng do nữ thần ban tặng, Hoàn hảo như ánh sáng mặt trời. Chính vì vậy chàng đâm ra kiêu ngạo và tự cho mình được quyền giết hại các chàng trai, chiếm đoạt các cô gái đẹp. Dân chúng thành Uruk quá bất bình bèn kiện lên các vị thần, các thần bèn sáng tạo ra chàng Enkidu, nửa hình người nửa hình thú, cũng có sức mạnh phi thường. Enkidu sống chung với các loài thú rừng, bảo vệ chúng khỏi bị thợ săn giết hại, vì vậy một người thợ săn đến nhờ Gilgamesh giết Enkidu. Gilgamesh đã sai Shamhat, một kỹ nữ ở đền thờ đến thu phục Enkidu, dùng tình yêu để cảm hoá và giúp chàng từ bỏ bản năng hoang dại: Quẩn quanh mãi, cuối cùng Enkidu ngồi lại, Nuốt từng lời Shambat thốt ra. Lời của nàng: Chàng tuyệt đẹp giống như thần linh vậy, Sao sống đời muông thú cỏ hoa? Enkidu theo Shambat về Uruk, tại đây chàng gặp Gilgamesh và họ cùng đọ sức với nhau nhưng bất phân thắng bại, sau cùng hai người trở thành đôi bạn thân. Lúc bấy giờ ở rừng Bách Hương có yêu quái Humbaba, nó không cho Uruk đến đây lấy gỗ, hơn nữa, nó còn bắt giữ nữ thần tình yêu và chiến tranh Ishtar nhốt trong khu rừng, vì vậy Gilgamesh và Enkidu đã đến khu rừng diệt trừ quái vật, giải thoát cho nữ thần Ishtar. Hai người anh hùng trở về Uruk trong tột đỉnh vinh quang và đuợc nhân dân tung hô đón rước long trọng. Xúc động trước lòng dũng cảm, tài năng và vẻ đẹp của Gilgamesh, nữ thần Ishtar đã bày tỏ tình yêu với chàng. Mở đôi mắt đẹp, Istar đắm đuối: Đi theo em chàng hỡi, làm chồng. Cho em nếm ngọt ngào hạnh phúc, Hai ta cùng kết mối tơ hồng. Giáp trụ, xa mã là vàng ngọc, Giàu sang, quyển thế hưởng chung. Nhưng Gilgamesh lại không muốn gắn bó cuộc đời mình với một kẻ lẳng lơ như nữ thần. Tức tối, Ishtar đã xin cha mình là thần Anu, chúa tể chư thần, trả giúp mối hận. Một con bò tót khổng lồ từ trên trời cao lao xuống nhưng nó bị Gilgamesh xé xác. Các chư thần tức giận và quyết định ra tay. Ngay đêm đó, Enkidu mơ thấy một giấc mơ kinh hoàng và khi tỉnh dậy, chàng cứ héo dần và chết trên tay người bạn thân thiết Gilgamesh. Lần đầu tiên Gilgamesh chạm mặt với cái chết và từ đó lòng chàng dấy lên khát khao đi tìm kiếm sự bất tử cho bản thân mình, Gilgamesh lại lên đường. Tấm phù điêu Gibamesh Cổ vật vùng Lưỡng Hà file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpg Anh hùng Gibamesh với hai tay nhấc hai con sư tử khổng lồ. Gibamesh đang nấp dưới một biểu tượng bí hiểm gồm một mặt trời có cánh, được chống đỡ bởi hai vị thần đầu người mình bò. Gilgamesh lục lọi trong sách vở tìm ra được câu chuyện Uta-Napishtim, một vị tổ tiên theo tục truyền đã tìm ra được bí quyết trường sinh hay người anh hùng chiến thắng nạn hồng thủy (có thuyết nói là ông già sống ở cửa sông), thế là chàng lên đường đi tìm Uta-Napishtim đang sống ở một nơi tận cùng thế giới. Chuyến đi của chàng rất gian nan, vượt qua rất nhiều trở ngại, thậm chí còn phải chui qua cánh cửa âm cung mà mỗi ngày mặt trời lặn đều phải đi qua đó, chàng phải đối đầu với nhiều dị nhân, nếu không phải chàng ta là một con người có “hai phần thần linh, một phần phàm tục” thì chắc chắn không thể nào gặp được Outa-Napishtim. Outa-Napishtim đã chờ đợi Gilgamesh đến để nói cho chàng biết rằng: “Từ khi các thần làm ra loài người bằng xương, bằng thịt, thì cái chết là điều không thể nào tránh khỏi, dù đó là Gilgamesh!”. Ông ta tiếp: “để ta nói cho người một bí mật lớn”, rồi ông ta kể lại câu chuyện “đại hồng thủy”, rằng thần Bel vì tức giận con người trần thế mà quyết định gây nên nạn hồng thủy để hủy diệt loài người. Thần Enki đã lén dạy cho ta thoát hiểm và còn dấu được các loài mỗi thứ một đôi trên tàu, để một con đường sống cho loài người và các sinh vật khác, Uta-Napishtim nói vậy. Sau đó Thần Ea dẫn ông đi lập giao ước với chúng thần, cuối cùng để các thần thừa nhận ông cũng là thành viên của tộc thần, cho nên cũng được hưởng trường thọ. Mặc dù lúc đầu các thần nổi giận, nhưng Enki là người thuyết phục giỏi, ông ta phát biểu trong đại hội các thần: “Những kẻ phạm tội thì phải bị trừng phạt, đúng thế! nhưng xóa bỏ hoàn toàn loài người là điều quá đáng!”... và cuối cùng thì họ đã nhìn nhận sự thoát hiểm của Uta-Napishtim là can đảm và đáng thưởng, do đó họ đã ban cho ta sự trường sinh chứ chẳng có phương cách nào khác. Uta-Napishtim không có cách gì giúp được Gilgamesh vì sự bất tử của ông ta là định mệnh an bài và do các vị thần xếp đặt. Không ai thấy dung nhan thần Chết, Không ai nghe được tiếng tử thần. Không ngôi nhà nào xây vĩnh cửu, Dấu khắc ghi mờ với thời gian. Để chứng minh cho Gilgamesh biết ý định của chàng chỉ là hão huyền, Utanapishtim đã thách đố Gilgamesh không ngủ sáu ngày sáu đêm liên tiếp vì giấc ngủ là hình ảnh của thần chết, Gilgamesh nhận lời thách đố nhưng không thức được quá một ngày đêm, chàng đành quay về. Thương hại chàng, Utanapishtim tiết lộ một bí mật: có một loại cây sống dưới đáy biển có khả năng cải lão hoàn đồng. Gilgamesh đã tìm được loài cây vô giá đó nhưng lại sơ ý bị con rắn lấy trộm và nuốt mất, thất vọng tràn trề, Gilgamesh đành chấp nhận số phận và quay trở về kinh thành Uruk tráng lệ, lại vẫn làm một ông vua ở nhân gian, nơi có những niềm vui trần thế ngắn ngủi mà con người được hưởng. Gilgamesh cho đến nay vẫn được xem là một trong những bản sử thi đầu tiên của nhân loại, ngoài việc thể hiện được những băn khoăn thuở ban đầu của con người trong quá trình tự tìm hiểu và tự nhận thức bản thân. Băn khoăn của Gilgamesh là những băn khoăn vĩnh cửu của con người về sự sống và cái chết, về vĩnh hằng và phù du, về được và mất, về tình yêu và lòng hận thù. Ta thương tiếc: Hãy nghe ta, hỡi dân chúng trong thành. Ta thương tiếc bạn ta dũng sĩ, Giận con người không thể sống trường sinh. Gilgamesh đích thực là một sử thi anh hùng đậm tính chất trần thế. Gilgamesh dù có những chiến công hiển hách, dù có đến hai phần thần linh nhưng chỉ một phần người trong cũng đủ để đưa chàng đến một kết thúc tất yếu theo quy luật cuộc đời. Câu chuyện kể về người anh hùng với nhiều tình tiết, diễn biến cảm xúc cao độ qua các vần thơ làm cho người đọc say mê. Đằng sau những lời ca tụng thần linh là lời ca tụng con người dám đương đầu với thử thách, con người sống hết mình cho tình bạn, tình yêu, dẫu những niềm vui trần thế ấy quá ngắn ngủi so với cái mênh mông của vũ trụ vô cùng. Cuộc sống vốn ngắn ngủi, Khoảnh khắc đã vụt trôi. Thần linh đã sáng tạo, Con người phải chết thôi. Không cưỡng được số mệnh, Thì cứ vui yêu đời. Rượu nồng ta nhấp cạn, Đến khi nào mềm môi. Áo đẹp ta cứ mặc, Vợ hiền con ngoan cười. Đó chính là những việc, Duy nhất trong cuộc đời. Tầm ảnh hưởng rộng lớn của sử thi Gilgamesh là điều không thể phủ nhận, câu chuyện kể về một người anh hùng khao khát sự bất tử có một sức sống mãnh liệt, Gilgamesh cuối cùng phải từ giã cõi đời nhưng câu chuyện về người anh hùng đi tìm thuốc trường sinh mãi mãi không bao giờ lìa bỏ ký ức của nhân loại (trích bài viết Gilgamesh - thiên sử thi đầu tiên của nhân loại, tác giả Hà Thanh Vân). Thần Horus giới thiệu Ani với Osiris, sau đó mới nói về tình hình cuộc phán xét vừa diễn ra. Horus nói ra tâm nguyện của Ani, thế rồi Ani tiến về phía trước quỳ một chân cuống dâng đồ cúng cho ông. Sau khi dâng đồ cúng xong, Ani thể hiện tấm lòng trong sạch của mình và cầu xin được bất tử. Qua bản thảo không nói câu trả lời của thần Osiris nhưng qua hình minh họa trong bản thảo, chúng ta có thể thấy linh hồn của Ani đã thay đổi sau khi yết kiến Osiris. Trên đầu của ông xuất hiện cái u màu đỏ pha trắng, tóc cũng biến thành màu trắng, và trên tay ông cầm các quyền trượng, những thứ này tượng trưng ông đã bất tử. Nơi linh hồn bất tử chính là “Cánh đồng lau sậy” do Osiris cai quản, mỗi linh hồn bất tử đều được ban cho một mảnh đất màu mỡ ở đó, họ và người thân của họ sẽ cày cấy và trồng trọt, cùng sống một cuộc đời thanh bình mà không phải lo lắng bất cứ điều gì. Cuộc sống trên thiên đường Trích bản thảo bằng giấy cói papyrus, Ai Cập file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Sự bất tử, vĩnh cửu thể hiện bằng biểu tượng Shen thường được chạm khắc trên trán các bia ký, chúng ta hãy cùng quan sát: Thần Horus Bảo tàng Louvre, Pháp Mộ vua Tuthmosis III (KV 34) Thung lũng các vị vua, Thebes, Ai Cập file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Biểu tượng Shen nằm giữa hai con mắt chính là con mắt thứ ba, con mắt của trí huệ, được cho là cánh cửa của huyền môn. Trong Tử thư Ai Cập, không thấy xuất hiện nhiều hình tượng linh hồn Ka mà chỉ có ý thức Ba của Ani là chịu trách nhiệm trước các vị thần trong ngày phán xét. Trích Chương XIV: Những ngày ở Karnak, Ai Cập huyền bí, tác giả Paul Brunton, dịch giả Chi Lan và Lê Tuyên, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2004 Hình nổi đầu tiên là hình vua Ramsès II, đang đứng trước mặt nữ thần Amen và dâng cho nữ thần một pho tượng nhỏ. Kế đó là một hình nổi trên tường chạm hai nhân vật. Phía trước là hình một thiếu nhi, không ai khác hơn là Horus, con của Osiris. Trên đầu Horus có hình biểu tượng mặt trời và con rắn, tay trái để lên hai đầu gối, còn tay mặt đưa lên, ngón tay trỏ lên chỉ môi, ngụ ý giữ im lặng. Còn nhân vật kia, phía sau Horus, là thần tượng Sphinx. Nữ thần Amen đưa bàn tay mặt về phía Ramsès, tay cầm một thập tự giá có quai hình vòng tròn ở một đầu, còn đầu kia thì điểm vào giữa hai mắt của vua Ramsès. Bức hình đó có ý nghĩa gì? Một nhà Ai Cập học chắc sẽ đưa ra một sự giải thích hoàn toàn hợp lý và khá đúng theo quan điểm của ông ta, đó là nhà vua đang hiến dâng lễ vật cho nữ thần, thế thôi! Ông ta sẽ không còn nói gì hơn nữa. Những cảnh tượng chạm trổ trên vách như thế thường chỉ diễn tả những mẩu chuyện vặt hoặc nhắc lại điển tích những chiến công rực rỡ của một triều vua nào đó. Nhưng ở đây thì lại là một chuyện khác. Trước hết người ta nhận ra đó là việc thực hành một nghi lễ tối thiêng liêng, nhất là bức hình nổi được chạm gần bên chánh điện trung ương là chỗ thâm nghiêm nhất của ngôi đền này. Cũng như loại ám tự Ai Cập được dùng để diễn tả một ý nghĩa bí truyền mà chỉ có những vị tăng lữ đã điểm đạo được biết mà thôi, thì ở đây cũng vậy, gương mặt các vị thần đối với những vị đạo đồ thời cổ có hàm súc một ý nghĩa thâm sâu hơn là đối với quần chúng. Như vậy, ý nghĩa huyền diệu của các bức hình này chỉ có thể hiểu được bởi những người nào đã từng thấu triệt giáo lý huyền môn. Điểm cốt yếu trên bức hình nổi là cử chỉ hành động của nữ thần Amen. Cái Thập tự giá có quai hình vòng tròn mà nữ thần điểm vào khoảng giữa hai mắt của vua Ramsès, các vị tăng lữ điểm đạo gọi là cái chìa khóa của huyền môn, nó tượng trưng cho việc điểm đạo để thu nhận vào tổ chức huyền môn thật sự. Thần Horus được thừa hường con mắt trái của thần mặt trời Ra, mắt phải của thần mặt trăng Osiris và con mắt thứ ba của nữ thần Hathor. Con mắt trái tượng trưng cho sức mạnh của quy luật hay quyền lực tượng cây quyền trượng Was-scepter của thần Ra; con mắt phải biểu tượng sức mạnh của trí tuệ tượng trưng là trụ xương sống Djed của thần Osiris và con mắt thứ ba biểu tượng của lòng nhân từ tượng trưng là chìa khóa sự sống Ankh của nữ thần Hathor; sau khi chết linh hồn trở về với nữ thần Hathor, nữ thần Hathor trong hình hài một con bò cái đeo dụng cụ âm nhạc Sistrum trông giống như biểu tượng sự sống Ankh. Tại cõi chết, thần Osiris là chúa tể cõi âm với biểu tượng gậy móc cong biểu tượng phán quyết cho cái chết và phất trần biểu tượng phán quyết cho sống sẽ được trao cho con trai là Thần Cả Horus tiếp quản. Nữ thần bò cái Hathor cùng với dụng cụ âm nhạc sistrum Tranh tường và cổ vật Ai Cập file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Ba là linh hồn và Ka là ý thức, khi chết chúng sẽ rời thân xác. Tôn giáo cổ đại Ai Cập tin rằng nam thần dê Khnum sáng tạo ra đứa trẻ trên bàn xoay đồ gốm và tạo cho chúng cơ thể. Nhiều vùng, người ta tin rằng nữ thần sinh sản đầu ếch Heket tạo ra linh hồn Ba, ngay lập tức thổi linh hồn Ba vào đứa trẻ khi được sinh ra. Thần Khnum và nữ thần Heket Tranh khắc trên tường đền Khnum in Esna, Ai Cập file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image022.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image024.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image026.jpg Nữ thần sinh sản đầu ếch Heket là vợ của nam thần Khnum, giúp chồng mình sáng tạo ra những hình hài đứa trẻ trong khi chúng đang ở trong dạ con của người mẹ. Nữ thần tạo sức mạnh cho sự sống của đứa bé khi ra đời. Những ngưởi phụ nữ khi đang mang thai thường đeo bùa hộ mệnh hình con ếch để nhờ cậy thần bảo vệ an toàn trong quá trình mang thai và lúc sinh đẻ. Chúng ta hãy cùng tiếp tục xem xét nội dung bức tranh phán xét trong Tử thư Ai Cập với hình ảnh vị thần khỉ đầu chó đội mặt trăng lưỡi liềm ngồi trên trục cân trái tim: Biển nước nguyên thủy Nun Tranh vẽ cổ Ai Cập file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Hình ảnh thần khỉ đầu chó, biểu tượng cho mặt trăng rõ ràng mang ý nghĩa là cái Tâm của con người nằm ở chính giữa cái cân công lý khi phán xét linh hồn chính là phán xét cái Tâm, tương tự “Tâm viên, Ý mã” của Lão giáo và Phật giáo. Tâm ý luôn luôn biến động như một cái lò lửa đang rực cháy, điều này cũng được đề cập trong bức tranh cổ Ai Cập với hình ảnh bốn con khỉ đầu chó đứng tại bốn góc của biển lửa với các dòng lửa như mặt trời cuộn ra bốn phía, biển nước với các sọc đứng, bốn góc là tám con rắn hổ mang bành chính là các trạng thái biển đổi của Tâm con người. Hồ lửa được nói đến trong Sách của người chết là nơi khởi nguồn của thần mặt trời và vạn vật sau đó, nhưng cũng là một nơi hóa giải mọi lời nguyền. Bức tranh với các con khỉ quay mặt vào nhau hàm ý trạng thái khởi nguyên của vũ trụ, chí tịnh, ba sọc nước nằm ngang thể hiện biển vũ trụ khởi nguyên Nun. Qua các dữ liệu lịch sử, chúng ta thấy người Ai Cập cho rằng con người từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, trong mọi việc làm đều chịu tác động của những đấng thần linh cao cả. Khi con người chết đi, những đấng thần linh sẽ phán xét sự tốt xấu mà con người đã làm như thế nào ở dưới địa ngục, chịu sự phán quyết thần chết Osiris. Thần Osiris là một vị vua anh minh cai trị cõi âm và chuyên xét xử các linh hồn một cách quanh minh, chính đại và công bằng. Người Ai Cập tin rằng linh hồn sẽ sống mãi, chết là bước vào một thế giới khác cũng giống như thế gian vậy, nhưng giàu có trù phú, sung túc và vui vẻ thảnh thơi hơn. Bà La Môn giáo Là một trong những tôn giáo tối cổ ở Ấn Độ cho rằng: thực thể của mọi vật thể sống là Atman, chính là linh hồn. Linh hồn này phát sinh từ Brahman hay đấng toàn năng, bất diệt. Mọi sinh vật từ con kiến nhỏ bé cho đến con voi to lớn, hay con người có ý thức đều tồn tại một linh hồn và số kiếp. Đạo Hindu nói rằng: linh hồn bất sinh bất diệt, linh hồn chuyển hóa từ thân xác này qua thân xác khác cho đến khi đạt điều kiện hợp nhất hay liên kết với Brahman mới thôi. Với Ấn giáo thuộc triết kệ Samkhya thì có nhiều nét đặc việt mà theo nhận xét của các sữ gia Ấn, đó là triết hệ cổ xưa độc đáo xuất hiện khoảng thế kỷ thứ IV tr.CN. Theo đó thì có 25 thực thể tạo nên vũ trụ trong đó có Prakiti là cái đã sinh ra các khác, đây là vật chất đồng bộ và không nhận ra được. Còn phần tinh thần gọi là Purusha (thần ngã hay linh hồn), phần này truyền cái sinh hoạt lực cho các Prakiti. Cái Purusha linh hồn hay tinh thần đã ở bên cái Prakiti giúp cái này sinh sản ra. Purusha chính là nguyên động lực của sự sáng tạo. Phái Samkhya khởi đầu tuyên bố rằng vũ trụ là kết quả của hai yếu tố đối chọi nhau là tinh thần và vật chất hay đúng hơn là linh hồn và vật chất. Linh hồn là Purusa, con người, và mỗi linh hồn là một cá thể. Purusa là một đơn vị tâm thức. Chúng cùng chung một bản chất nhưng lại mãi mãi khác nhau. Các Purusa ấy nhiều vô số trong cõi con người, nhưng chúng đồng một bản chất. Mỗi Purusa có ba đặc tính và ba đặc tính này luôn luôn giống hệt nhau. Ðặc tính thứ nhất là ý thức, nó sẽ trở thành quyền năng hiểu biết, đặc tính thứ hai là sự sống hay Prahna, nó sẽ trở thành hoạt động, đặc tính thứ ba là sự bất biến, tinh hoa của vĩnh cửu, nó sẽ trở thành ý chí. Purusa có tính cách bất biến nên nó vĩnh cửu bởi vì sự bất biến là đặc tính của vĩnh cửu. Ðó là ba đặc tính của Purusa trong học thuyết của Samkhya. Chúng không mang tên Sat, Chit, Ananda được dùng trong trường phái Vệ đà nhưng đồng nghĩa với các chữ này: ý thức hay quyền năng hiểu biết là Chit, sự sống là Sat và sự bất biến là Ananda. Địa ngục, tiếng Phạn là Naraka/ Niraya được Hán dịch là Địa ngục, Bất lạc, Khả Yểm, Khổ Cụ, Khổ Khí... đều có nghĩa là nơi thọ khổ sau khi chết của những ai khi sinh tiền đã tạo nên nghiệp ác. Địa ngục là nơi khổ nhất, thuộc cõi âm theo quan niệm thế gian có cõi trời, cõi đất và cõi âm. Địa ngục, còn gọi là cõi Diêm La, do Diêm La vương thống quản. Diêm La vương nguyên là thần Chết Yama của thời Vệ đà (Ấn Độ cổ đại). Yama là con của thần Mặt Trời Vivaswat và Saranyu (có tài chạy nhanh) và Yama là anh song sinh của em gái mình là Yamuna/ Yami nên được gọi là Song Vương. Hai vị thần này được coi là cặp đôi đầu tiên và là tổ của loài người; có một đoạn tụng ca Vệ đà, dưới dạng đối thoại, ở đó, người nữ đã biện luận về việc sống chung cốt để đảm bảo sự truyền lưu vĩnh cửu muôn loài. Một tụng khác kể rằng: “Yama là con người đầu tiên bị chết và cũng là người chết đầu tiên lên thiên giới”. Do đó, Yama là thần của các vong hồn và xét xử người chết. Một vong hồn khi rời thi thể của mình thì xuống cõi dưới, ở đó có Chitra - đọc tất thảy công tội từ cuốn sổ lớn gọi là Agrs-sandhani và theo đó mà xử tội: vong hồn người chết hoặc được thăng lên cõi Pitris (Manes) hoặc bị đọa xuống một trong 21 địa ngục, tùy theo tội lỗi, được tái sinh lên mặt đất trong hình dạng khác. Yama thống quản phần hướng Nam và do đó, được gọi là Dakshinasa-pati. Về hình tướng, Yama có màu xanh lục, y phục màu đỏ, cỡi trên lưng trâu, tay cầm quyền trượng to lớn và dây thòng lọng. Yama có rất nhiều vợ, thần cư trú ở cõi âm trong kinh thành Yama-pura. Ở đó có cung điện Kalichi. Hàng ngày, Yama ngồi trên ngai Vichara-bhu để xử án. Bên cạnh có Phán quan Chitra-Gupta và có hai chủ tướng chầu hầu: một là Tổng quản binh Chanda (hay Maha Chanda) và một là Tổng giám sát Kala-pursusha. Sứ giả của thần là Yama-duta có trách nhiệm bắt linh hồn người chết và dinh thự của thần được Vaidhyata - người gác cửa mẫn cán, canh chừng suốt ngày đêm... (tham khảo Internet). Thần chết Yama trong hình dáng con trâu Tranh tượng cổ tham khảo file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Nói chung, bên cạnh khái niệm Atman - Brahman làm nền tảng cho vũ trụ quan của đạo Hindu, thì luận thuyết karma - samsara (nghiệp báo - luân hồi) là nền tảng của nhân sinh quan của đạo Hindu. Luận thuyết Karma - Samsara đã áp dụng tư tưởng về sự chuyển hóa vật chất trong vũ trụ cũng như tính tuần hoàn của các hiện tượng tự nhiên sang lĩnh vực đời sống xã hội. Chính từ cơ sở đó đã sản sinh ra các biện sự về sự thăng đọa của tín lý tái sinh, về sự việc xét công định tội ở địa ngục. Luân hồi và niết bàn trong Phật giáo Phật giáo nêu thuyết luân hồi chuyển hóa của kiếp người theo luật nhân quả, luật này tạo cho con người phải đầu thai. Thân người rồi đến một lúc nào đó sẽ mất đi, nhưng thần thức mãi tồn tại, và không ngừng bị chìm đắm trong vực thẳm luân hồi của 6 nẻo, không ngừng lưu chuyển nhiều kiếp trong tử sinh. Ý niệm lục đạo luân hồi cũng thấy trong tiểu sử đức Phật. Đức Phật đã trải qua nhiều cuộc sống khác nhau, trong đó ngài tỏ ra là một người toàn thiện. Kinh Bản sinh (Jataka, truyện tiền thân đức Phật) kể đức Phật đã tích tụ những đức hạnh ra sao và một vài truyện kể ngài cũng đã sinh ra dưới dạng một con khỉ hay con hưu. Mật Tông Tây Tạng cho rằng, năm nguyên tố cơ bản là đất, nước, gió, lửa, không sẽ kết hợp với nhau nhờ những nghiệp quả tương tự, từ đó hình thành nên thế giới. Trong thế giới đó, loài hữu tình sống tại ba cõi thế giới tức vô sắc giới, sắc giới và dục giới. Núi Tu Di và loài hữu tình Trích Mật Tông Tây Tạng, biên dịch Cổ Đồ Thư, hiệu đính Lama Konchog Tinley, Nxb Tôn giáo, 2009 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Phật giáo phủ nhận một đấng thần linh tối cao sáng tạo nên vũ trụ, tất cả sự vật, hiện tượng đều vận động và do nhân duyên mà hình thành. Phật không phải là thần mà là người đã được được sự tịnh hóa và giải thoát trong sự rối rắm của tình cảm và nội tâm, và đạt được trí tuệ vô thượng. Đạt được sự giải thoát gọi là Niết bàn, hàm nghĩa vượt khỏi sự luân hồi, đạt được cảnh giới vui tươi sau khi dập tắt và diệt trừ được tất cả nỗi sầu não và thống khổ. Trong quyển 4 Trung Luận của Long Thụ nói rằng: “Niết bàn và Thế gian không mấy khác biệt. Thế gian và Niết bàn không có khác biệt”. Trung Quán phái cho rằng, cái gọi là Niết bàn là nhận biết được thực tính của thế giới. Phật giáo khẳng định rằng mọi chúng sinh trong thế giới hiện thực này đều có Phật tính, đều có thể thành Phật. Như luận chứng trọng điểm “Như lai tạng” trong quyển kinh Thắng Bàn đã nêu, cái gọi Như lai tạng chính là tính khả năng trở thành Phật, và chúng sinh đều có Như lai tạng bởi vì bản tính chúng sinh vốn tịch nhiên, chỉ do tác động của khách trần mới bị nhiễm ô, thanh lọc được nó thì có thể đạt được sự giải thoát. Con thuyết Bát Nhã Trích file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Tư tưởng của Phật giáo là mọi người sinh ra đều bình đẳng, dựa trên nền tảng lý luận Duyên khởi của Phật giáo, định minh tất cả chúng sinh trong vũ trụ đều hình thành bởi nhân duyên, tức giữa các sự vật, hiện tượng đều hình thành bởi các mối liên hệ nhân quả với nhau, đều sinh diệt dưới những điều kiện nhất định, như vậy tất cả chúng sinh đều bình đẳng. Trong mỗi cuộc đời của con người đều có những niềm vui, hạnh phúc và những nỗi buồn chán, khổ đau, không bao giờ tránh được, do vậy muốn con người hết khổ, đạt được sự giải thoát cho chính mình phải thực hành con đường “Trung đạo”, không mang tính cực đoan, đồng thời tuân theo những phương pháp rèn luyện thích hợp. Như đã trình bày trong Chương VIII: KIM CƯƠNG BẤT HOẠI, nói tới tính tuyệt đối tồn tại trong vạn vật, tồn tại từ vô thủy tới vô chung, cụ thể nhất là tính tuyệt đối có ngay trong đầu não của con người, đồng thời cũng nhận thức được cấu trúc của một hạt vi trần nhỏ nhất là không thể phân chia được nữa, nó là một thực tại nhưng không phải hư không, được dẫn giải trong Kinh Lăng Nghiêm của Phật giáo. Chúng ta hãy cùng tham khảo một phần nội Chương 3: Tính Không, Thuyết Tương đối và Vật lý Lượng tử,trích Vũ trụ trong một nguyên tử đơn, tác giả Đức Dalai Lama, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2007, nhằm nhận định về sự tồn tại của tính tuyệt đối này ra sao và có liên quan đến linh hồn hay không: Những nguồn giáo pháp cổ xưa nhất được biết đến về lý thuyết "nguyên tử" của phái Tì-bà-sa có thể từ tác phẩm A-tỳ-đàm Tâm Luận của ngài Dharmaśrī và tác phẩm được tôn vinh Đại-tì-bà-sa luận. Tác phẩm đầu được các nhà nghiên cứu hiện nay cho là có mặt vào khoảng thế kỷ thứ II trước Tây lịch và thế kỷ thứ I. Mặc dù nó chưa bao giờ được dịch sang Tạng ngữ, tôi đã được cho biết rằng bản Hán ngữ đã được tạo ra vào thế kỷ thứ III. Bài luận của ngài Pháp Thắng thể hiện một nổ lực tinh tế nhằm hệ thống hoá các quan điểm tinh yếu của triết lý Phật giáo trước đó, khá nhiều ý tưởng cơ sở của nó chắc chắn đã có mặt một thời gian trước khi bài luận đó được soạn thảo. Ngược lại, tập Đại-tì-bà-sa luận là một bài thuyết giảng được soạn thảo vào khoảng giữa thế kỷ thứ I và thứ III sau Tây lịch thiết lập các giáo lý của một trường phái Phật giáo đặc biệt như là giáo pháp chính thống và trả lời cho nhiều phản bác khác nhau chống lại các giáo lý này bằng cách đưa ra một nền tảng lập luận triết lý. Mặc dù các luận điểm của Đại-tì-bà-sa luận rất quen thuộc với Phật giáo Tây Tạng, thì tác phẩm này tự nó cũng chưa hề thực sự được chuyển dịch đầy đủ sang Tạng ngữ. Trên cơ sở của hai luận văn này, đặc biệt là bản Đại-tì-bà-sa, thì Thế Thân, một đại sư triết học nhiều uy tín người Ấn, đã soạn tác phẩm A-tì-đàm-câu-xá Luận trong thế kỷ thứ IV. Tác phẩm này tổng kết các điểm tinh yếu của Đại-tì-bà-sa luận đưa chúng ra để phân tích xa hơn. Nó đã trở thành việc làm chuẩn mực cho ngành tâm lý học và triết học. Như là sự hợp thành của các "nguyên tử" và mối quan hệ tương hỗ giữa các "nguyên tử" với những đặc tính cấu trúc của chúng, Phật giáo cổ sơ đã sản sinh ra tất cả các loại lý thuyết suy diễn. Điểm lý thú là A-tì-đàm-câu-xá thậm chí còn bàn thảo về kích thước vật lý của các "nguyên tử" khác nhau. Hạt tử tuyệt đối nhỏ nhất được tả là khoảng 1 phần 2.400 lần cỡ của một "nguyên tử" của con thỏ, theo một ý nghĩa nào đó. Tôi không biết bằng cách nào ngài Thế Thân tính ra được như vậy! Trong khi chấp nhận thuyết nguyên tử, các trường phái Phật giáo khác đã đặt nghi vấn về quan điểm các nguyên tử không chia được. Mốt số còn truy cứu đến điều cho rằng bốn yếu tố sắc, hương, vị, và xúc như là một cơ sở cấu thành vật chất. Chẳng hạn, Thế Thân đã nổi tiếng vì việc ngài tự mình chỉ trích quan điểm về những nguyên tử thực tại khách quan không chia được. Ngài phản bác rằng, nếu các nguyên tử độc lập bất khả phân tồn tại, thì không thể nào có được sự hình thành của các vật thể trong thế giới thường ngày. Để các vật thể như thế được hình thành, phải có một cách giải thích phương thức mà các nguyên tử đơn giản liên kết nhau trong các hệ thống phức hợp. Nếu một sự kết hợp như thế xảy ra, như là nó phải có, thì hãy mường tượng một nguyên tử đơn lẽ được vây quanh bởi 6 nguyên tử khác, mỗi nguyên tử phân bố theo các hướng chính và một phía trên, một phía dưới. Sau đó, ta có thể đặt nghi vấn là: Phải chăng cùng một bộ phận của nguyên tử ở trung tâm giao tiếp với nguyên tử ở phía Đông và đồng thời giao tiếp với nguyên tử ở phía Bắc? Nếu không thì nguyên tử ở trung tâm phải có nhiều hơn 1 bộ phận và do đó ít nhất trên nguyên tắc phải chia cắt được. Nguyên tử ở giữa phải có một bộ phận giao tiếp nguyên tử ở phía Đông nhưng không giao tiếp với nguyên tử ở phía Bắc. Nếu ngược lại, phần phía Đông này không giao tiếp với nguyên tử ở phía Bắc, thì cũng không có gì ngăn cản phần đó giao tiếp với các nguyên tử trong tất cả các hướng khác. Trong trường hợp như vậy, Thế Thân tranh luận rằng, các vị trí không gian của tất cả bảy nguyên tử - một ở giữa và 6 xung quanh - sẽ là một, và do đó tất cả sẽ sụp đổ vào trong một nguyên tử đơn nhất. Như là kết quả của thí nghiệm suy tưởng này, ngài Thế Thân phản bác rằng không thể nào có các vật thể của thế giới vi mô trong ý nghĩa của sự kết hợp vật chất đơn thuần như là các nguyên tử không phân chia được. Một cách cá nhân thì tôi không thể nào hiểu ý nghĩ cho rằng các phẩm chất như hương, vị, và xúc là cơ sở cấu thành của các vật thể vật chất. Tôi có thể thấy được cách thức mà người ta phát triển một lý thuyết nguyên tử liên kết của vật chất trên cơ sở của bốn thành tố như là các cấu trúc. Trong mọi trường hợp thì tôi cảm thấy rằng phương diện tư tưởng Phật giáo này, chủ yếu là một dạng của vật lý sơ đẳng, suy diễn, giờ đây phải được điều chỉnh dưới ánh sáng của vật lý hiện đại mà đã được chi tiết hóa và được kiểm tra việc hiểu biết về cơ sở các cấu trúc của vật chất một cách có thử nghiệm trong khuôn khổ của các hạt vật lý như là các hạt điện tử quay quanh một hạt nhân với dương điện tử và trung hoà tử. Khi người ta nghe nói về các mô tả về các hạt hạ nguyên tử, như là quark và lepton trong vật lý hiện đại, thì đó là bằng chứng rằng các lý truyết nguyên tử Phật giáo cổ xưa và nhận thức của chúng về các hạt vật chất nhỏ nhất bất khả phân quá lắm chỉ là những mô hình thô thiển. Mặc dù vậy, điểm nhấn mạnh cơ bản của các luận sư Phật giáo cho là ngay cả với những cấu trúc tinh vi nhất của vật chất đều phải được hiểu dưới dạng của các thành phần kết hợp có vẻ đã đi đúng đường. Một trong những động lực cơ bản đứng sau việc truy cứu về triết lý và khoa học lên các cấu trúc cơ sở của vật chất là để tìm ra viên gạch xây dựng không thể rút nhỏ hơn được. Điều này không chỉ đúng trong triết học cổ Ấn độ và vật lý hiện đại mà cả với các nhà khoa học cổ Hy Lạp, chẳng hạn như các lý thuyết gia chủ trương "nguyên tử". Một cách chính xác, thì đây là cuộc truy lùng vào bản chất tối hậu của thực tại, dù rằng còn tùy theo cách định nghĩa. Tư tưởng Phật giáo luận đàm trên các nền tảng lô-gíc rằng cuộc truy tìm này là bị lạc lối. Đã có một thời, khoa học tin vào việc tìm ra nguyên tử là đã tìm thấy được cấu trúc tối hậu của vật chất; nhưng các thí nghiệm vật lý thế kỷ thứ XX đã phân chia được nguyên tử thành các hạt vi tế hơn. Mặc dù ít ra có một quan điểm trong cơ học lượng tử cho rằng ta sẽ không bao giờ tìm được hạt không thể rút nhỏ hơn thực sự một cách khách quan, thì nhiều nhà khoa học vẫn sống trong niềm hy vọng về sự phát hiện của bộ môn này. Chúng ta nhận thấy khả năng cấu trúc lập phương gồm 7 lân vi trần, trong đó một lân vi trần ở giữa làm hạt nhân và 6 lân vi trần còn lại hợp thành 6 phương xung quanh, như vậy chúng tạo thành một đơn vị không gian hình lập phương, và một sự thật rằng giữa các lân vi trần vẫn tồn tại những khoảng không gian trống rỗng. Một cách logic thì các lân vi trần khởi nguyên hiện hữu lan tràn khắp vũ trụ bao la, giữa chúng liên kết với nhau thông qua một mãnh lực tự thân. Hình dạng của một lân vi trần là hình cầu nhẵn bóng, có độ tròn đều tuyệt đối và hoàn toàn vô hình, có thuộc tính tuyệt đối hay còn gọi là Tính thấy. Liên kết phân tử băng và nước nguyên chất Tham khảo Internet file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Như vật khởi nguyên vũ trụ hoàn toàn tuyệt đối, chí “Tịnh” và tự thân hiện hữu, là một thực tại và chúng ta mãi mãi không thể biết được vũ trụ bắt đầu khi nào và đã tồn tại bao lâu, nhưng chính sự hiện hữu của chúng ta và tất cả vũ trụ hiện nay chứng tỏ cái “Động” đã xuất hiện, làm mất tính tuyệt đối của toàn thể vũ trụ hay không còn cân bằng nguyên thủy. Nói một cách khác, nếu có một lân vi trần chuyển động ở trong vũ trụ thì giá trị của vận tốc là tức thì, sẽ lan truyền ngay đến mọi biên giới vô cùng của vũ trụ. Động, Tĩnh phân biệt chính là “Thái cực sinh Lưỡng nghi” hay tạo nên trạng thái phân cực Âm Dương. Thái Cực là một thực tại có thể tính, chính là Tính thấy có thể liên hệ với khái niệm Đạo trong Đạo Đức kinh. Trong Đạo đức kinh, chính vì tính tuyệt đối khó diễn đạt đó nên mở đầu Lão Tử đã viết: “Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải Đạo vĩnh cửu bất biến." (Tính tuyệt đối). Tên (Danh từ) mà có thể đặt ra được để gọi nó (Đạo) thì không phải là tên vĩnh cửu bất biến” Nhưng vì là một thực tại nên có thể diễn đạt như một Tính từ trong một điều kiện liên hệ với thực tế nào đó, như Tính thấy. Tính tuyệt đối thực tại này cũng được diễn tả trong Đạo Đức Kinh như sau: “Đạo là cái gì chỉ mập mờ thấp thoáng. Thấp thoáng mập mờ nhưng bên trong có hình tượng. Mập mờ thấp thoàng mà bên trong có vạn vật. Nó thâm viễn tối tăm”. Khái niệm “tối tăm” vì tính khó nhận thức, chứ không phải vì bản thể Đạo là tối, điều này Lão Tử đã xác định ở phần sau: “ở trên không sáng, ở dưới không tối mà bên trong có cái tinh túy. Tinh tuý đó rất xác thực và đáng tin!”. Trong văn minh Lạc Việt thể bản nguyên của vũ trụ còn được hình tượng bằng chiếc bánh Dầy. Chiếc bánh Dầy bằng nếp giã mầu trắng tinh khiết, không mùi vị thể hiện sự thuần khiết, hình tròn tượng cho sự viên mãn và tính tuyệt đối. Tính dẻo thể hiện sự thông biến, chính là Mẹ tròn là cái có trước, là sự khởi nguyên của vũ trụ. Là Thái Cực, là Đạo, Đạo Đức kinh viết: “Vạn vật có nguồn gốc, nguồn gốc đó là Mẹ của vạn vật”, là Dương khi có cái Động, Âm tức con vuông là cái bánh Chưng ra đời. Như vậy, với thuyết Âm Dương Ngũ hành thì Thái cực, sự khởi nguyên của vũ trụ là một trạng thái tuyệt đối, tự nó và do nó, là một thực tại. Đây cũng là điều mà nền minh triết cổ Đông phương dù xuất hiện ở không, thời gian khác nhau đã thống nhất xác định định tính của nó Phật giáo, Đạo giáo với văn minh Lạc Việt. Đây là sự khác biệt hoàn toàn với luận điểm của Bigbang khi cho rằng: khởi nguyên của vũ trụ là trạng thái cô đặc tuyệt đối của vật chất, nhưng nó đã hình thành như thế nào từ trạng thái đó? (trích Đức Phật khai ngộ Tính Thấy, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh). Từ một sự vận động đột khởi nào đó của một hoặc vài lân vi trần trong trạng thái tuyệt đối của vũ trụ, tương tác giữa các lân vi trần ngay lập tức xuất hiện, chúng diễn ra dây chuyền và lan tỏa khắp vũ trụ với vận tốc tuyệt đối. Ngay khi toàn vũ trụ không còn cân bằng được nữa, cho tới một lúc nào đó cũng không thể xác định, vũ trụ hình thành nên trạng thái “Lưỡng nghi” tức trạng thái phân cực Âm Dương của “toàn bộ vũ trụ” và tương tác âm dương bắt buộc xảy ra với một tiếng nổ kinh hoàng không thể mô tả được, có thể gọi là “Tiếng nổ khai thiên lập địa” tương tự Bigbang, đó cũng là tiếng “Pháo” đầu năm mới của văn hóa Việt. Hiện tượng này làm bùng nổ một trạng thái năng lượng vô cùng lớn, cũng chính là trạng thái của vật chất khởi nguyên tức là các hạt lân vi trần nhưng ở trong các trạng thái vận động. Đây cũng chính là trạng thái hỗn độn mà trong các cổ thư Đông phương nói đến về sự khởi nguyên của vũ trụ, mang tính đều khắp và tràn ngập. Trạng thái hỗn độn ban đầu dần tự ổn định, dẫn đến sự vận động theo một chiều quay định hướng tức là chiều quay của các thiên hà trong vũ trụ hiện nay. Khối năng lượng động tích tụ dần hình thành dạng vật chất đầu tiên của vũ trụ, cùng một lúc với các trạng thái tương tác của Âm Dương Ngũ hành tức là tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ. Về sự tương tác có ngay từ giai đoạn khởi nguyên của vũ trụ trong thuyết Âm Dương Ngũ hành, khoa học hiện đại cũng chứng tỏ rằng: Tương tác là nguyên nhân đầu tiên và cũng là nguyên nhân cuối cùng của vạn vật. Nguồn gốc và bản thể của thế giới được nghiên cứu nhận thức theo nguyên lý tương tác. Hình thức tương tác như thế nào thì bản chất của sự việc như thế đó. Như vậy, với cách giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành, chúng ta có thể so sánh với những hiện tượng vật lý vũ trụ mà khoa học hiện đại đã phát hiện để chứng tỏ tính hợp lý của nó. Hình ảnh sự vận động của vũ trụ hiện nay trong hình dưới đây với ba đỉnh của tam giác biểu tượng cho vị trí quan sát trong vũ trụ: file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Như vậy, với cách giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết âm Dương Ngũ hành, chúng ta có thể so sánh với những hiện tượng vật lý vũ trụ mà khoa học hiện đại đã phát hiện để chứng tỏ tính hợp lý của nó: Với hình trên dù quan sát ở bất kỳ vị trí nào trong vũ trụ chúng ta cũng thấy các thiên hà đang chạy xa nhau. Nhưng nguyên nhân của nó được giải thích theo một cách khác, sự bùng nổ từ một trạng thái tuyệt đối Thái Cực, khác với sự bùng nổ từ trạng thái hữu hạn Bigbang - vốn không lý giải được trạng thái khởi nguyên và những hạn chế từ khái niệm ý thức, dẫn đến sự ngự trị của Thượng Đế. Thuyết Âm Dương Ngũ hành với quan niệm của nó còn được giải thích được nhiều hiện tượng khác mà thuyết Bigbang không thể giải thích được: - Sự chuyển động cong của tất cả mọi thể tính trong vũ trụ từ các hạt vật chất nhỏ nhất đến các Thiên Hà khổng lồ (không thể có chuyển động thẳng trong trạng thái tuyệt đối, không có bắt đầu và kết thúc). - Tất cả vũ trụ đang vận động có qui luật, sau khi sự bùng nổ trở lại trạng thái ổn định. Chính tính qui luật được nhận thức này thể hiện trong thuyết Âm Dương Ngũ hành đã làm nên khả năng tiên tri của nó. Tính tiên tri là hệ quả của một lý thuyết và phải có sau lý thuyết và thực tế hiện hữu của những lý thuyết khoa học hiện nay chứng minh điều này. Do đó, những phương pháp luận lý giải khả năng tiên tri của học thuyết này chỉ xuất hiện sau khi lý thuyết đã hoàn chỉnh. Chính vì thế nên Kinh Dịch mới viết về sự quán xét Tượng khi đoán quẻ, tức là quán xét sự tương tác. Và chính các nhà lý số khi đoán quẻ cân nhắc Ngũ hành sinh khắc, thực chất là quán xét sự tương tác giữa các thể tính trên thực tế, quán xét diễn biến hiện tượng mà quẻ tìm được. - Vạn vật trong vũ trụ vận động ngày nay hoàn toàn vẫn mang thuộc tính tuyệt đối, hay Tính thấy và đây chính là thuộc tính quan trọng nhất để liên kết vạn vật trong vũ trụ thành một thể thống nhất, nếu không vũ trụ sẽ hoàn toàn hỗn loạn. Như vậy, với sự lý giải sự khởi nguyên của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành là một bằng chứng nữa chứng tỏ Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất và hoàn chỉnh trên thực tế trong quá khứ tồn tại của nó. Ngũ hành là những khái niệm diễn tả thực tại vận động có thuộc tính vật chất ngay từ giai đoạn đầu hình thành vũ trụ mang tính biểu kiến. Bởi vậy, ngũ hành gồm Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ không phải là những khái niệm cụ thể - khi con người nhận thức thực tế môi trường trái đất: Thuỷ là nước, Mộc là cây... vốn chỉ là hình tượng của Ngũ hành. Chúng ta đều thấy rằng: từ khi con người nhận biết được trái đất quay cho đến khi làm ra một phương tiện mà cách đây hơn 100 năm có thể coi là thần thánh, là chiếc điện thoại cầm tay, thì đã là gần 500 năm với sự phát triển đều khắp của các mặt trong quan hệ xã hội. Vậy từ sự khởi nguyên vũ trụ theo cách giải thích của một học thuyết cho đến khi có một tri kiến tiên tri đến chi tiết như Kinh Dịch, Tử Vi… đòi hỏi hàng ngàn năm lịch sử. Nhưng, nếu quả thực thuyết Âm Dương Ngũ hành là một lý thuyết thống nhất mà nhân loại đang mơ ước, tức là nó vượt xa tri thức của nhân loại hiện đại thì vấn đề sẽ được đặt ra: nó thuộc về nền văn minh nào trong quá khứ của nhân loại? (Tham khảo và trích dẫn một phần từ cuốn Đức Phật khai ngộ Tính Thấy, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nxb Tôn giáo, 2005). Bảng tuần hoàn Mendeleep Tham khảo Internet file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học cho biết những thông tin về các tính chất cơ bản của một nguyên tố. Chúng hãy cùng tham khảo thêm một phần nội dung Chương 18: Sự dung thông, Đạo của vật lý, tác giả Fritjof Capra, dịch giả Nguyễn Tường Bách, Nxb Trẻ, 2004. Thuyết nguyên tử vật chất không hề được phát triển trong tư tưởng Trung quốc, và mặc dù nó xuất hiện nơi vài trường phái triết học Ấn Độ, nó chỉ nằm bên lề của huyền thoại Ấn Độ. Trong Ấn Độ giáo, khái niệm nguyên tử chỉ xuất hiện trong hệ Jaina (hệ này được xem là phi kinh viện vì không chấp nhận thẩm quyền của Kinh Vệ đà). Trong triết học Phật giáo, thuyết nguyên tử xuất hiện trong hai trường phái của Tiểu thừa, nhưng chúng được phái Đại thừa quan trọng hơn xem là sản phẩm của vô minh. Thế nên Mã Minh nói: Khi chia chẻ vật chất, ta biến chúng thành vi trần. Nhưng vi trần lại bị chia chẻ tiếp tục, nên tất cả dạng hiện hữu, dù thô sơ hay vi tế, không gì khác hơn là bóng dáng của sự phân biệt và chúng không có bất cứ mức độ nào của thật tính. Như thế, những trường phái chính của đạo học phương Đông đều cùng quan điểm với triết lý Dung thông rằng, vũ trụ là một thể chung liên hệ lẫn nhau, trong đó không có phần nào là cơ bản hơn phần nào, rằng tính chất của một phần này được xác định bởi tất cả các phần kia. Trong nghĩa này, người ta cũng có thể nói mỗi phần chứa đựng tất cả các phần kia; và thực tế là một hình ảnh về sự hóa thân để sinh ra lẫn nhau hình như đánh dấu sự chứng nghiệm huyền bí về thiên nhiên. Sau đây là những dòng của Sri Aurobindo: Đối với cảm quan siêu thế, không có gì là thực sự hữu hạn; nó dựa trên một cảm giác là tất cả ở trong mỗi một và mỗi một ở trong tất cả. Nội dung tất cả ở trong mỗi một và mỗi một ở trong tất cả tìm thấy sự phát triển lớn nhất trong Hoa Nghiêm Tông của Phật giáo Đại thừa, thường được xem là đỉnh cao cuối cùng của tư tưởng Phật giáo. Nó đặt nền tảng trên kinh Hoa Nghiêm, theo truyền thuyết là do Đức Phật thuyết giảng trong khi Ngài nhập định sau khi giác ngộ. Bộ Kinh này tới nay chưa được dịch ra thứ tiếng phương Tây nào, mô tả một cách chi tiết thế giới được nhận thức thế nào trong ý thức giác ngộ, khi “vỏ cứng của cá thể bị tan biến và cảm giác của hữu hạn không còn đè nặng chúng ta”. Trong phần cuối, được gọi là Phẩm Hoa Nghiêm, Kinh kể lại câu truyện của một người tầm đạo trẻ tuổi, Thiện Tài trình bày một cách sinh động những chứng thực siêu hình của anh về vũ trụ, vũ trụ đã hiện ra như một mạng lưới toàn hảo của những mối tương quan, trong đó tất cả sự vật và biến cố tương tác với nhau trong cách thế là mỗi một chứa đựng tất cả cái khác. Đoạn sau này của Kinh, được D.T.Suzuki phỏng dịch, dùng hình ảnh của một khung trời trang hoàng tuyệt đẹp, để truyền đạt chứng nghiệm của Thiện Tài: Cung điện rộng lớn và bao la như bầu trời. Nền cung điện được lót bằng vô số hạt minh châu đủ loại, và khắp nơi trong cung trời, còn vô số tháp, của lớn, cửa sổ, lan can, lối đi, tất cả đều được gắn bảy loại hạt minh châu quí báu… Trong cung, khắp nơi đều trang hoàng tráng lệ lại có hàng trăm ngàn tháp, mỗi tháp lại được trang hoàng tráng lệ như cung và cũng rộng lớn như bầu trời. Và tất cả những tháp này, vô số không đếm được, không hề là chướng ngại lẫn nhau, mỗi một đều giữ tính chất riêng của mình trong sụ hòa hợp tuyệt đối với những cái kia; không có gì ngăn cản một tháp này thâm nhập vào tháp kia, vừa cá thể vừa toàn thể; đó là một tình trạng toàn hảo của sự trộn lẫn và trật tự. Thiện Tài, người tầm đạo trẻ tuổi, tự thấy mình trong tất cả các tháp cũng như mỗi tháp riêng lẻ, trong đó tất cả đều chứa trong mỗi một và mỗi một đều chứa đựng tất cả 15. Tất nhiên, trong đoạn này, cung điện là hình ảnh của vũ trụ và sự thâm nhập lẫn nhau toàn hảo của các thành phần được Đại thừa Phật giáo gọi là viên dung vô ngại. Kinh Hoa Nghiêm chỉ rõ sự viên dung này là mối lên hệ động cốt tủy, nó không những xảy ra trong không gian mà cả trong thời gian. Như đã nói không gian và thời gian cũng được xem là thâm nhập (viên dung) với nhau. Kinh nghiệm thực chứng của sự viên dung trong trạng thái giác ngộ có thể được xem là linh ảnh huyền diệu của một tình trạng Dung thông hoàn hảo, nơi đó tất cả hiện tượng thế gian đều xen kẽ vào nhau một cách hòa hợp. Trong tình trạng đó của ý thức, óc suy luận được chuyển hóa và các lý giải nhân - quả không còn cần thiết, chúng được thay thế bằng một chứng thực trực tiếp về sự liên hệ lẫn nhau của sự vật và biến cố. Thế nên, khái niệm viên dung của đạo Phật đi xa hơn hẳn bất cứ khoa học nào về Dung thông. Cần nói thêm rằng, có nhiều mô hình về các hạt hạ nguyên tử trong vật lý hiện đại, dựa trên giả thuyết Dung thông, chúng cho thấy một sự tương đồng lớn lao với Đại thừa Phật giáo. … Trong Dung thông hadron, tất cả các hạt đều do các hạt khác tạo thành một cách động, và trong nghĩa này ta có thể nói chúng chứa lẫn nhau. Trong Đại thừa Phật giáo, một quan niệm rất giống như vậy cũng được dùng để nói về toàn bộ vũ trụ. Tấm lưới vũ trụ bao gồm các viên dung vô ngại được minh hoạ trong kinh Hoa Nghiêm bằng tấm lưới Đế Thích Indra (Nhân-đà-la), một tấm lưới rộng lớn treo toàn các hạt minh châu trên cung trời Đế Thích. Sau đây là những dòng của Sir Charles Eliot: Trên cung trời Đế Thích, người ta nói có một tấm lưới chứa toàn ngọc, được sắp đặt sao mà bạn chỉ cần nhìn một viên, bạn thấy tất cả các viên khác phản chiếu vào đó. Trong cách đó, mỗi sự vật trong thế gian không phải chỉ là nó thôi, mà mang theo mỗi vật khác và thực tế là của tất cả phần còn lại. “Trong mỗi hạt bụi là vô lượng chư Phật". Sự tương đồng của hình ảnh này với hình ảnh của Hadron thật là đáng kinh ngạc. Hình ảnh cung trời Đế Thích có thể gọi ngay là mô hình đầu tiên của Dung thông, được các nhà minh triết Phương Đông sáng tạo khoảng 2500 năm trước khi vật lý hạt bắt đầu. Người Phật tử quả quyết rằng khái niệm của viên dung vô ngại không thể nắm bắt được bằng tư duy trừu tượng, mà bằng sự chứng thực của ý thức giác ngộ trong trạng thái thiền định. Thế nên D.T. Suzuki viết: "Đức Phật ( trong phẩm Hoa Nghiêm) không còn là người sống trong thế giới của không gian và thời gian. Ý thức của ngài không phải là ý thức thông thường được quy định bởi cảm quan và suy luận… Đức Phật của Hoa Nghiêm sống trong thế giới tâm thức với quy luật riêng". Trong vật lý hiện đại, tình huống cũng giống như thế. Ý niệm rằng mỗi hạt chứa tất cả các hạt khác là không thể tưởng tượng được trong không gian và thời gian. Nó mô tả một thực tại, giống như thực tại của Phật, có qui luật riêng. Trong trường hợp của Dung thông hadron, đó là qui luật của thuyết lượng tử và thuyết tương đối, khái niệm then chốt là các lực duy trì hạt với nhau chính là bản thân các hạt đó được trao đổi trong kênh ngang. Khái niệm này có thể biểu diễn bởi một ý nghĩa toán học chính xác, nhưng hầu như không thấy được bằng hình ảnh. Đó là một tính chất mang tính tương đối của Dung thông và vì ta không thể có kinh nghiệm về không gian - thời gian bốn chiều, thật khó mà tưởng tượng được tại sao một hạt riêng lẻ có thể chứa tất cả những hạt khác. Tuy nhiên, đó chính là quan điểm của Đại thừa: Khi một cái được đặt dối diện với Mọi cái khác, cái Một sẽ được thấy tràn ngập khắp tất cả, đồng thời dung chứa tất cả vào mình. Ý niệm về một hạt chứa tất cả hạt khác không phải chỉ sinh ra trong đạo học phương Đông, mà còn có trong tư tưởng đạo học phương Tây. Thí dụ sau đây cho thấy rõ rệt trong những dòng nổi tiếng của William Blake: Nhìn thế giới trong một hạt cát, Và bầu trời trong cánh hoa rơi. Giữ vô cùng trong lòng bàn tay, Và vĩnh cửu trong một giờ ngắn ngủi. Một lần nữa, ở đây, một tầm nhìn huyền bí lại đưa đến hình ảnh của Dung thông; khi nhà thơ thấy thế giới trong một hạt cát thì nhà vật lý hiện đại thấy thế giới trong một hadron. Một hình ảnh tương tự xuất hiện trong triết học của Leibniz, người xem thế giới được cấu tạo bằng những phần tử cơ bản mà ông gọi là “monads”, mỗi một phần tử đó phản ánh toàn bộ vũ trụ. Điều này đưa ông đến một quan điểm về vật chất, với những tương đồng Đại thừa Phật giáo và với Dung thông hadron. Trong tác phẩm Monadology (1714), Leibniz viết: Mỗi một phần tử của vật chất có thể được nhìn như một mảnh vườn đầy hoa lá hay một hồ đầy cá. Thế nhưng mỗi cành hoa lá, mỗi tứ chi con vật, mỗi giọt nước cốt của chúng cũng là một mảnh vườn hay hồ nước như vậy. Thật thú vị thấy rằng những dòng trong Kinh Hoa Nghiêm viết trên đây có thể ghi dấu ấn của ảnh hưởng Phật giáo lên Leibniz. Joseph Needham đã chứng minh rằng Leibniz đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng và văn hóa Trung quốc nhờ những bản dịch mà ông nhận được từ các tu sĩ Jesuit, và triết học của ông rất có thể được cảm hứng bởi trường phái Tân Khổng giáo của Chu Hi, mà ông biết rõ. Trường phái này có một gốc rễ trong Đại thừa Phật giáo, đặc biệt trong tông Đại thừa Hoa Nghiêm. Thực tế là Needham nhắc lại ẩn dụ tấm lưới ngọc của Đế Thích, khi nói rõ mối liên hệ với các “phần tử cơ bản” của Leibniz. Thế nhưng, khi so sánh chi tiết quan niệm của Leibniz trong “tương quan phản chiếu” giữa các phần tử cơ bản với ý niệm viên dung trong Đại thừa, có lẽ ta thấy hai bên khác nhau nhiều và phương thức của Phật giáo nhìn vật chất tới gần hơn với tinh thần của vật lý hiện đại so với Leibniz. Sự khác biệt chính giữa chủ trương “phần tư cơ bản” với quan niệm của Phật giáo có lẽ “các phần tử cơ bản” của Leibniz là những thể cơ bản, chúng được xem là thể tính cuối cùng của vật chất. Leibniz bắt đầu Monadology với những chữ: “Monad mà ta bàn đến ở đây chỉ là một thể tính giản đơn, nó là thành phần của thứ khác; giản đơn được hiểu là không có đơn vị nào nhỏ hơn nữa". Ông viết tiếp: “và những Monad này là những nguyên tử đích thực của thiên nhiên, và nói gọn lại, chúng là yếu tố của mọi vật”. Quan điểm cơ bản này hoàn toàn ngược với triết học Dung thông và vì vậy hoàn toàn khác với Đại thừa Phật giáo, là người từ chối một đơn vị cơ bản hay một thể tính cơ bản. Cách nhìn cơ bản của Leibniz cũng được phản ảnh trong quan niệm về lực, mà ông xem là định luật của mệnh lệnh thiêng liêng (divine decree) và khác hẳn vật chất. Ông viết “lực và hoạt động không thể chỉ là dạng của vật chất thụ động được”. Một lần nữa, điều này ngược hẳn với quan niệm về vật lý hiện đại của đạo học phương Đông. Đoạn văn "Đức Phật ( trong phẩm Hoa Nghiêm) không còn là người sống trong thế giới của không gian và thời gian. Ý thức của ngài không phải là ý thức thông thường được quy định bởi cảm quan và suy luận… Đức Phật của Hoa Nghiêm sống trong thế giới tâm thức với quy luật riêng" có thể hiểu là sự chứng thực ý thức giác ngộ trong trạng thái thiền định, nghĩa hành giả hòa nhập vào vũ trụ qua thuộc tính tuyệt đối, vạn vật được phản chiếu vào trong tâm thức tuyệt đối như “mặt trăng thứ hai” của chính mình, hành giả đạt được “Tính Không”. Chúng ta cùng tiếp tục xem xét nội dung của Bát thức quy nguyên đồ, trích từ Tính mệnh khuê chỉ toàn thư, dịch giả Nguyễn Văn Thọ: Bát thức qui nguyên đồ TríchTính mệnh khuê chỉ toàn thư, dịch giả Nguyễn Văn Thọ file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Đệ huynh bát cá nhất nhân si, Độc hữu nhất cá tối linh li. Ngũ cá môn tiền tố mãi mại, Nhất cá gia trung y chủ y. Dịch nghĩa: Anh em tám kẻ một người si (Mạt na thức - Ngã si - Thức), Duy có một chàng rất linh li (Đệ Lục thức - Ý). Năm người buôn bán ngoài cửa ngõ (Ngũ quan: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân), Một vị trong nhà đứng chỉ huy (A lại da thức - Tâm). Tối linh li là Đệ Lục thức tức Ý thức. Ý làm chủ Ngũ quan, là chủng tử luân hồi. Tam giới ai cũng bị thức này làm đắm chìm, nên Kinh Viên Giác nói: “Tiên đoạn vô thuỷ luân hồi căn bản” tức là chặt bỏ thức này. Si là đệ Thất Thức tức Mạt na thức, nương tựa vào A lại da thức. Đệ bát Thức tức A lại da thức hay còn gọi là Tâm. Khi đầu thai thì nó đến trước tiên, khi xả thân thì nó đi đoạn hậu, cho nên nói: Khứ hậu, lai tiên tác Chủ công. Bát thức đều thuộc Vô Minh, Sắc Thân là do Kỷ Thổ dấy lên. Còn đệ Cửu Thức thì được gọi là Bạch Tịnh Thức, Thức này vượt ngoài Vô Minh, không ở trong vòng Nhân Quả, không cần tu chứng, không nhiễm trần ai, cho nên Thiền Môn gọi là “Thực Tế Lý Địa” (Thế giới Bản Thể), Ly nhất thiết thực tướng, ở trong Hư Hoá, Pháp nào cũng có, đầy đủ tất cả Bát cá thức thuộc Tiệm, còn đệ Cửu Thức thì thuộc Đốn. Tại sao vậy? Sắc thân là ảo hoá cần tu chứng, còn Pháp Thân thì vô tướng y như Hư Không, cho nên không cần tập luyện tu chứng. Đệ Cửu Thức thì được gọi là Bạch Tịnh Thức, tính lắng trong chính là tính Tuyệt đối, cùng với các thức khác tạo thành nền tảng nhân quả của một con người trong từ sự động của vũ trụ. Tính tuyệt đối đã được thể hiện trong quy trình thiền định mô tả trong bộ tranh thiền nổi tiếng từ xưa tới nay Thập mục ngưu đồ, khuyết danh. Thập mục ngưu đồ (Tranh chăn trâu) Tranh tham khảo từ cuốn Thiền luận của Daisetz Teitaro Suzuki, bản dịch của Trúc Thiên và Thích Tuệ Sỹ file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg *Thập mục ngưu đồ - Phái Đại Thừa, tranh tham khảo từ cuốn Thập mục ngưu đồ, tác giả Quảng Trí thiền sư, Trần Đình Sơn dịch và chú giải. Theo Osho, triết gia lẫy lừng của đạo Kỳ Na giáo, bộ tranh được cho là từ Trung Quốc và đến Nhật Bản ở những thế kỷ trước, vì rắc rối nào đấy bức tranh thứ mười để lại Trung Quốc. Osho hết sức lúng túng khi lần đầu tiên nhìn thấy bộ tranh Nhật Bản vì chúng có vẻ hoàn hảo quá, khi bạn đạt tới Niết bàn, còn gì hơn nữa? Sau đó, Osho tìm thấy trong bộ sách cổ Trung Quốc và vui mừng khôn xiết khi có người đã thấu đạt từ hàng ngàn năm trước rằng một vị Phật vẫn chưa phải là Phật nếu người ấy không thể quay lại với nhân gian thế tục, nếu người ấy không thể lại một lần nữa trở nên đơn sơ, chất phác, mang theo Niết bàn của mình, hạnh phúc của mình trong cái bình rựu say khướt với thần thánh nhưng vẫn đi về hướng chợ đời. Dừng lại ở bức thứ chín chỉ là sự hợp lý còn cao hơn bức thứ chín, bức thứ mười mới đạt sự giác ngộ hoàn toàn. Bộ Tranh chăn trâu này được cho là có ý nghĩa quan trọng trong việc giải thích từng bước con đường đạt đạo. Bức thứ mười là nguyên nhân tranh cãi lớn trong suốt lịch sử của bộ tranh, người đàn ông đang đi với một bình rựu ra chợ, ta có thể thấy ông ta thậm chí không đi nổi nữa. Một phe, chiếm đa số phái Đại Thừa, tin rằng bức tranh thứ chín là bức tranh cuối cùng. Nó tượng trưng cho tâm hư vô, đạt đạo. Con trâu là bản ngã tận cùng mà bạn bị lạc mất, và loạt tranh là hành trình đi tìm kiếm bản ngã của mình. Bạn sẽ tìm thấy bản ngã trong bức tranh thứ chín, đó là sự bình an và thanh thản tuyệt đối, đó là niết bàn, là tâm hư vô. Về bức tranh thứ chín… nhiều người cho rằng đây là chặng cuối của cuộc hành trình tin rằng đã có người thêm vào bức thứ mười, có vẻ chẳng liên quan gì cả. Nhưng ngững người thuộc nhóm ít hơn của phái Thiền cũng tin vào bức thứ mười. Họ nói khi đạt giác ngộ vẫn chưa phải là kết thúc, đây là đỉnh cao nhất của ý thức, thành quả tuyệt vời nhất nhưng vẫn phải quay về với nhân gian, thế tục. Người đạt đạo phải trở lại thành một phần tử của nhân loại cao cả hơn. Chỉ khi đó người ấy mới có chia sẻ, khuyến khích người khác tìm kiếm chân lý. Và chắc chắn khi người ấy đến từ một đỉnh cao như thế, người ấy phải vô cùng say sưa với niềm hạnh phúc. Bình rựu chẳng phải bình rựu thường, nó tượng trưng cho sự ngất ngay hạnh phúc (trích Thiền - Lịch sử về giai thoại ảnh hưởng của thiền đối với nhân sinh, tác giả Osho, Nxb Đồng Nai, 2011). Trong lịch sử Phật giáo, hình ảnh con trâu trong pháp môn Thiền, pháp môn tu luyện quan trọng nhất qua bộ tranh Tranh chăn trâu, đã trở nên hết sức phổ biến với đại chúng và đã trở thành một trong những bức tranh tiêu biểu không lời trong nền mỹ thuật và hội họa Thiền. Tuy nhiên, bộ tranh cũng là nguyên nhân tranh cãi lớn trong suốt chiều dài lịch sử xuất hiện bởi bố cục thứ tự của các bức tranh. Một bên, chiếm đa số phái Đại Thừa, tin rằng bức tranh thứ chín là bức tranh cuối cùng, nó tượng trưng cho tâm hư vô, đạt đạo và bức tranh này thì ở vị trí thứ tám trong bộ tranh của phái Thiền Tông. Như vậy, cho tới nay, việc nhận định bộ tranh nào là bộ tranh gốc và quy tắc thiền nào để đạt chứng ngộ theo Tranh chăn trâu vẫn chưa được ngã ngũ. Nhằm làm rõ những ẩn nghĩa uyên áo trong bộ tranh Tranh chăn trâu, chúng ta bắt buộc phải xem xét lại nguồn gốc nguyên thủy của bộ tranh, tỳ kheo Quảng Trí, hiệu Pháp Thông ở tại kinh đô nước Việt, thời nhà Lê, luận giải các bài tụng trên tranh chăn trâu có đoạn: “ Này quý vị! Hãy ngay đây trấn định tinh thần, chỉ một niệm hồi quang là bỗng nhiên tự sáng. Khác chi mặt trời ở giữa không trung bao la tự chiếu, nào phải dụng tâm; tợ hạt minh châu tròn sáng trong mâm không cần ai đẩy, mà tự nó chuyển. Ngay lúc này đây mà không nghiên cứu tận nguồn, lại chờ mai sau hỏi han Phật Di Lạc há chẳng muộn sao?” (Trích từ cuốn Thập mục ngưu đồ, tác giả Quảng trí thiền sư, trần Đình Sơn dịch và chú thích, Nxb Phương Đông, 2008). Tranh chăn trâu là một bộ các bức tranh chăn trâu, ra đời từ triều đại nào, dưới ngọn bút nào khó mà tra cứu cho đích xác được, điều chắc chắn là tranh đã có từ rất xa xưa. Ban đầu chỉ có sáu bức, sau thất lạc, mãi đến thời nhà Tống, Trung Quốc (960-1279), nhiều bộ tranh mới bắt đầu xuất hiện từ các tòng lâm và thiền viện. Như vậy là không chỉ có một bộ mà có nhiều bộ Tranh chăn trâu khác nhau. Các bức tranh chăn trâu ngay từ đầu đã được xem như những bức tranh tiêu biểu trình bày tinh hoa của pháp môn Thiền. Tranh chăn trâu tương ứng với quá trình hành đạo, để rèn luyện tâm tính của một người quyết tâm đạt đến sự giác ngộ. Tác giả đã dùng công việc chăn trâu để diễn tả về quá trình nhận biết bản ngã, nó được ví như là “con trâu” và một khi đã chế phục được nó, tức là đã thấy con đường để trở thành người giác ngộ ngay trong cõi đời. Lịch sử có nhiều bộ tranh khác nhau, có bộ 4, 5, 6, 8, 10, 12 bức nhưng có lẽ nổi tiếng nhất và cũng bao hàm ý nghĩa nhiều nhất là bộ 10 bức tranh của thiền sư Khuếch Am Sư Viễn (zh. kuòān shīyuǎn 廓庵師遠, ja. kakuan shion, ~1150), được lưu lại trong bản sao của hoạ sĩ người Nhật tên Châu Văn (周文, ja. shūbun, ?-1460). Ngoài ra còn có bản Tranh chăn trâu khác của thiền sư Phổ Minh đệ tử của Viên Thông Pháp Tú (1027 - 1090) thuộc Vân Môn Tông cũng rất nổi tiếng, được lưu nhập vào Nhật thời cận đại. Một bộ khác với 6 bức tranh cũng thường được nhắc đến. Ban đầu, thiền sư Thanh Cư (zh. qīngjū 清居, ja. seikyo) chỉ vẽ có 5 bức nhưng sau, thiền sư Tự Đắc (zh. zìdé 自得, ja. jitoku, tk. 12) vẽ thêm bức tranh thứ sáu. Trong bộ này, con trâu từ màu đen dần dần đổi trắng và cuối cùng thì trắng hoàn toàn, biểu tượng cho chân tâm thanh tịnh. Mục Ngưu đồ của Phổ Minh và Thập Ngưu đồ bản Gozan của Nhật Bản Trích Tình hiểu nội dung và xuất xứ Thập mục ngưu đồ, Yanagida Seizan, dịch giả Đào Hữu Dũng file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Nguồn gốc của Tranh chăn trâu hầu như không rõ ràng. Thập mục ngưu đồ kết hợp trong Thiền Tông Tứ Bộ Lục là của Khuếch Am, hàng đồ tôn đời thứ ba của Ngũ Tổ Pháp Diễn. Trước Khuếch Am đã có Thanh Cư Hạo Thăng, trước Thanh Cư đã có Phật Ấn Liễu Nguyên, người nào cũng để lại kệ tụng đem chuyện chăn trâu để so sánh với những giai đoạn trong đời tu hành. Thanh Cư thuộc tông Tào Động, Phật Ấn thuộc tông Vân Môn. Trong tông Vân Môn có thêm Phật Quốc Duy Bạch. Còn Phổ Minh là một người tông phái không được biết rõ, cũng để lại tác phẩm. Nếu ta xem Phổ Minh là pháp hiệu của Tưởng Chi Kỳ (1031-1104) thì họ Tưởng là người đồng môn của Phật Quốc Duy Bạch. Tác phẩm của các phái và dưới các dạng khác nhau đã được Khuếch Am tổng hợp lại. Về hoàn cảnh đã đưa đẩy nó ra đời thì ta đã biết qua bài tựa đặt ở đầu quyển Trú Đỉnh Châu Lương Sơn Khuếch Am Hòa Thượng Thập mục ngưu đồ. Thế thì dưới thời Tống vì cớ gì người trong làng thiền lại chọn 4 tập sách này để kết hợp chúng lại với nhau. Thiền Uyển Thanh Quy đã được biên soạn vào năm Sùng Ninh thứ 2 (1103). Hình như lúc đó trong Thiền Uyển Thanh Quy chưa chứa đựng phần Tọa Thiền Nghi như ta thấy ngày nay. Chỉ một thời gian sau đó ước độ 50 năm, vào niên hiệu Thiệu Hưng 27 (1157) khi bộ Đại Tạng Nhất Lãm được biên tập thì mới thấy trong đó một bộ phận của Tọa Thiền Nghi mà thiền sư Nhật Bản Eisai (Vinh Tây) đã sao lục vào trong Hưng Thiền Hộ Quốc Luận của ông. Thế rồi đến năm Gia Thái thứ 2 (1202) khi Thiền Uyển Thanh Quy được tái biên, người ta khám phá ra Tọa Thiền Nghi đã nằm trọn vẹn trong đó. Thập mục ngưu đồ cũng ra đời vừa vặn vào dịp này. Tuy có nhiều bộ tranh, nhưng đều có mười bức, có thể xếp thành hai loại là tranh theo phái Ðại Thừa và tranh theo phái Thiền Tông, các bài tụng và bài chú giải bằng văn xuôi cho mỗi bức tranh của hai bộ tranh đều giống nhau, chúng được bổ sung vào các bức tranh nhằm thuyết minh ý nghĩa của mỗi bức tranh. Trong số ấy hiện nay được truyền tụng nhiều nhất là tranh của hai họa sĩ áo nâu Thanh Cư và Quách Am. (sách Thiền luận của Daisetz Teitaro Suzuki, bài tụng của Thiền sư Khuếch Am được hòa thượng Thích Thanh Từ chuyển ý, bản dịch của Trúc Thiên và Thích Tuệ Sỹ). Tầm ngưu (1) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Hình bóng con trâu chưa xuất hiện trong bức tranh mở đầu này, chỉ có chú mục đồng đầu hai bím tóc với tay dây tay roi, đang đứng dưới cành liễu rũ bên dòng thác đổ. Chú quay ngược đầu tìm cái gì vậy? Đấy chính là nguồn cội của mình, những câu hỏi tự dưng tuôn trào: Ta là ai? Từ đâu tới? Và sẽ đi về đâu? Hòa thượng Quách Am có đề tụng rằng: Nao nao vạch cỏ kiếm tìm trâu, Núi thẳm đường xa nước lại sâu. Kiệt sức mệt nhoài tìm chẳng thấy, Chỉ nghe réo rắt giọng ve sầu. Duy Thức tông mô tả Tâm như một hệ thống của 7 thức linh động, tất cả đều xuất phát từ thức thứ tám A-lại-da Thức hay Tàng thức. A lại da thức thì thụ động và chứa đụng tiềm năng, hay còn gọi là “chủng tử” cho sự phát huy và hoạt động của 7 thức đầu. Thức thứ bảy mang ý thức về chính mình hay của bản ngã cá nhân Mạt na thức (Ý), qua đó làm ô nhiễm sáu thức trước. Thức thứ sáu là trung tâm của tiến trình nhận thức và cảm giác (Thức) trong khi năm thức đầu tiên là sự nhận biết của các giác quan mắt, mũi, tai, lưỡi và thân. Mặc dù các thức này đều xác thực lưu xuất từ Thức thứ tám (Tâm) theo sự sắp xếp trong hệ thống, nhưng sự sắp đặt ấy hoàn toàn được căn cứ trên sự phân biệt của tâm thức. Tám thức vốn hoàn toàn chỉ là “Một”. Tâm của mỗi người biến đổi từng phút giây như một dòng thác lũ, không thể ngăn chặn được, và hoàn toàn đang phụ thuộc vào những mong cầu bình thường nhưng chưa chắc đã thành công, trong đó nỗi tham, sân, si luôn đeo bám tạo nên nhưng nỗi khổ không thể nói ra, chưa kể những mất được trong cuộc sống. Mặt khác, sự tương tác có quy luật từ vũ trụ trái đất, cũng như tới mỗi con người cũng không thể nhận ra, đây mới chính là nguồn gốc nguyên thủy cái được gọi là nghiệp hay nguyên lý nhân quả. Chúng ta hãy cùng xem tiếp sự quan hệ về mặt ý nghĩa với bức tranh thứ hai như thế nào. Thấy dấu (2) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Lúc này, bất ngờ chú mục đồng vừa phát hiện ra dấu chân trâu, năm dấu với hai vệt móng và chú đang lần theo vết của nó. Hướng dấu chân trâu theo chiều kim đồng hồ, dẫn thẳng lên bầu trời, một cuộn mây trắng đang lơ lửng bay. Hòa thượng Quách Am đề tụng: Ven rừng, bến nước dấu liên hồi, Vạch cỏ ruồng cây thấy được thôi. Ví phải non sâu lại sâu thẳm, Ngất trời lỗ mũi hiện ra rồi. Bức tranh này thể hiện năm vệt chân trâu, theo chiều kim đồng hồ và hướng lên trời tới đám mây trắng trên cao, hình ảnh này thể hiện thuyết Âm dương Ngũ hành, cái Ta hay Tâm mà chúng ta đang kiếm tìm có mối liên hệ mất thiết với cả vũ trụ này, sự sinh của mỗi con người không tách rời mỗi hơi thở, hay đang tiếp “khí” tự nhiên. Tương tác có quy luật từ vũ trụ tới quan trọng nhất chính là “khí” mà con người hấp thụ, và phương pháp hấp thụ nó cũng rất quan trọng trong việc điều chỉnh các Tâm của mỗi hành giả, đấy chính là cội nguồn của phương pháp thiền quán, Yoga hay khí công đạo gia. Thấy trâu (3) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Chú mục đồng đã trông thấy cái đuôi và mông trâu lấp ló sau một thân cây ven đồi. Hòa thượng Quách Am đề tụng: Vàng anh trên ngọn líu lo, Nắng ấm gió hòa bờ liễu xanh. Chỉ thế không nơi xoay trở lại, Đầu sừng rành rõ vẽ khôn thành. Qua bức tranh thứ 1 và 2, chúng ta đã khác phá ra Tâm hay “con trâu” của mỗi người, nhưng đấy chỉ mới là lý thuyết, chưa thực hành điều này tương tự như mới thấy mái mông đuôi của con trâu mà thôi. Được trâu (4) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Chú mục đồng đã túm được trâu, nhưng hết sức khó khăn khi muốn nó đi theo mình trở về nhà, con trâu ghìm lại, đuôi cong vưỡn lên. Hòa thượng Quách Am đề tụng: Dùng hết thần công bắt được y, Tâm hùng sức mạnh khó khăn ghi. Có khi vừa hướng cao nguyên tiến, Lại xuống khói mây mãi nằm ỳ. Đã phát hiện ra Tâm, hành giả đang nỗ lực điều phục và làm chủ thân tâm ý mình, nhưng kết sức khó khăn bởi những suy nghĩ hay tương tác liên tục tới, kết quả là không đáng kể. Việc này cần thời gian và phương pháp tu tập phù hợp được hướng dẫn từ các bậc chân sư. Chăn trâu (5) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Chú mục đồng đã điều khiển được trâu, dùng dây thừng xỏ mũi và dắt nó đi theo mình. Hòa thượng Quách Am đề tụng: Nắm chặt dây roi chẳng lìa thân, Ngại y chạy sống vào bụi trần. Chăm chăm chăn dữ thuần hòa nhã, Dây mũi buông rồi vẫn theo gần. Chăn trâu mang hàm ý cần phải luôn quan tâm bồi dưỡng công sức tu luyện thiền qua năm tháng. Sinh khí dần dần thành thục, sự thành thục lại tạo ra sinh khí dần dần mới có thể loại bỏ hết các thói quen cũ. Hành giả lúc này đã hoàn toàn có được chánh niệm trong lúc thiền tập. Hành giả quán chiếu và thấy rõ một cách thường xuyên dòng tâm ý đang trôi chảy của mình; hay nói cách khác, đây là giai đoạn “dùng tâm quán sát tâm”. Trong những khi đi đứng nằm ngồi, không lúc nào hành giả đánh mất chính niệm. Cưỡi trâu về nhà (6) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Chú mục đồng ngồi trên lưng trâu khoan thai thổi sáo, thong thả trở về nhà. Hòa thượng Quách Am đề tụng: Lưng trâu bước chậm ta về, Sáo lên vi vút ngoài đê rang chiều. Vừa ca vừa nhịp hiu hiu, Tri âm rồi khỏi ra chiều nọ kia. Lúc này hành giả đã hoàn toàn làm chủ được tâm ý mình, không lay động, không chướng ngại. Phương pháp thiền quán đã thuần thục, hành giả đã điều động được khí lực trong cơ thể của mình theo những vòng vận chuyển thích hợp trong hệ thống kinh mạch của cơ thể. Giai đoạn này, mọi mong cầu đã dứt bỏ trong quá trình hành thiền, cảm xúc an bình tự nó dâng trào trong khi tư duy của hành giả vẫn nhận thức được mọi sự vẫn đang diễn tiến trong Tâm của mình. Quên trâu còn người (7) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Trâu đã nhốt vào chuồng, chỉ còn một mình ngồi dưới ánh trăng tỏa ra dịu hiền. Hòa thượng Quách Am đề tụng: Lưng trâu thoắt đã quê mình, Buông trâu mất hút mặc tình thong dong. Nắng cao còn đượm giấc nồng, Quăng roi nhà cỏ hết dùng lại thôi. Sau khi đã trở về với “bản lai diện mục”, hành giả thường trực an trú trong tuệ giác về “Tính Không”, lúc này Tâm của mình giống như một mặt trăng soi chiếu mọi diễn tiến tư duy và cảm xúc xuất hiện và chế ngự một cách dễ dàng. Thậm chí hành giả vẫn có thể “giải quyết công việc” một cách sáng suốt mà không dấy lên bất cứ một biến đổi Tâm nào liên quan đến tham, sân, si nữa. Người trâu đều quên (8) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpg Tất cả mọi thứ đều không còn hình bóng. Hòa thượng Quách Am đề tụng: Người, trâu roi vọt thảy đều không, Trời xanh vời vợi mù trông chốc mòng. Tuyết khoe trắng giữa than hồng, Cội nguồn quê quán tao phùng một phen. Nội thiền đã đắc uyên thâm, hành giả thường trực an trú trong tuệ giác về “Tính Không” của vạn hữu, và tiến đến nấc thang cao tột của tuệ giác giác ngộ: những kiến chấp vô thức về sự tồn tại của một cái “Ngã” cá nhân hoàn toàn bị tiêu diệt, do hành giả đã tự mình điều chỉnh nó một cách dễ dàng, tuy nhiên nó vẫn có thể xuất hiện trở lại bất kỳ lúc nào bởi sự tự hiện hữu. Nhà thơ Basho Nhật Bản (1644-1694) có viết: Hồ nước xưa, Con ếch nhảy vào… Tiếng nước reo. Hồ nước xưa biểu tượng cho bản Tâm tịch tĩnh hay “Tính Không”, Con ếch nhảy vào biểu tượng cho sự động niệm, Tiếng nước reo biểu tượng cho đối tượng của nhận thức, bây giờ hãy tự chiêm nghiệm: đâu là sự nhận thức, ai đang nhận thức, Con ếch hay là chúng ta?... Im lặng… (Du già hành tông, Yogacara, Thích Nhuận Châu soạn dịch, Nxb Tôn giáo, 2005, trang 134). Trở về nguồn cội (9) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image022.jpg Bất chợt, thoảng nghe tiếng chim hót đâu đây, lại thấy những cánh bướm bay lượn xung quanh những cành hoa đang tỏa hương, dòng suối đã như hiền hòa hơn, chảy quanh uốn lượn như cùng nhịp theo khúc ca của muôn loài. Hòa thượng Quách Am đề tụng: Mất công tìm lại cội nguồn, Trắng trong một giải ra tuồng điếc đui. Trong am không thây cõi nào, Ngoài kia hoa thắm nước trào mênh mông. Khi đạt tới cảnh giới vô ngã thì “con trâu” chẳng còn thấy đâu nữa. Kể từ đó hành giả có thể đạt tới tự do tự tại, vô biên an lạc mà không hề sầu muộn, và cảm thấy cái “Ta” có trong vạn vật cũng như có trong toàn bộ vũ trụ này và ngược lại, tất cả chỉ là “Một” và sẽ nhận thấy được sự bất diệt của vạn vật, không còn sợ “chết” nữa. Lúc này, hành giả sẽ khởi tâm từ bi một cách mãnh liệt và có những mong ước cứu giúp chúng sinh và nhận thức được lòng nhân từ, tình yêu vào cuộc sống một cách rõ ràng, ước muốn cứu độ cho của cuộc đời, đây chính là “Phật Tính”. Đạt tới cảnh giới này nếu rèn luyện thêm các phương pháp đặc biệt khác, thì hành giả có thể chứng đắc những phép thần thông diệu kỳ, có khả năng “điều chỉnh và vận động” các trạng thái vật chất ở các trạng thái khác nhau thông quan công năng của Tâm, bởi nó thể hiện thuộc tính tuyệt đối. Thõng tay vào chợ (10) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image024.jpg Sớm mai thức dậy, chú mục đồng lại đi vào chợ đổi trao con “cá chép” đã bắt được chiều qua, và đã gặp… Bồ Tát Di Lạc trong hình dáng Bố Đại hòa thượng. Hòa thượng Quách Am có đề tụng rằng: Lưng trần chân đất chợ người, Cát lầm bụi vấn ta cười say sưa. Thần tiên bí quyết cũng thừa, Cây khô thoắt đã đong đưa nhụy vàng. Hành giả đã thay đổi và điều khiển được tâm tính của mình, chứng ngộ được sự nhiệm màu của tạo hóa ở trong ta và trong vạn vật nhưng việc áp dụng vào cuộc đời mới thực sự là một bước không đơn giản, tuy nhiên hành giả vẫn có thể dễ dàng vượt qua. Nếu vượt qua được và phát nguyện “Tâm Bồ Đề” với hành trang “bi, trí, dũng” để hóa độ chúng sinh thì thật sự đã tham dự vào hành Bồ Tát. Kết quả, sự rèn luyện và chứng ngộ của hành giả là không hoàn toàn tách rời khỏi cuộc sống này, khi hành giả đạt “Tính Không” thường trực nhưng vẫn nhận thấy hòa nhập vào cuộc đời, vẫn cảm xúc an lạc hay vẫn tồn tại “Tính Có”, nhưng trong Tâm có lẽ vẫn nhận thức một chân lý: Ta và vạn vật vẫn bất diệt đối với cả cái “chết”, đó chính là điều tuyệt diệu nhất. Thiền chính là quyển vô tự chân kinh, là quyển sách không có chữ, quyển kinh không lời. Đây là pháp môn tu luyện tắt, ngắn gọn và đơn giản nhất nhưng sẽ đạt đến tầm cao tuyệt đỉnh. Để truy tìm lại nguồn gốc của bộ tranh thiền Thập mục ngưu đồ, chúng ta hãy tham khảo về cuộc đời của thiền sư Định Không, ngài thuộc thế hệ thứ 8 thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi, ngài tu hành ở chùa Thiện Chúng, hương Dịch Bảng, phủ Thiên Đức, Bắc Ninh, Việt Nam. Thiền Sư Định Không (730-808), ông họ Nguyễn quê ở làng Cổ Pháp. Lúc tuổi đã lớn, ông đến pháp hội Long Tuyền Nam Dương nghe pháp, liền lãnh hội ý chỉ. Nhân đấy ông phát tâm xuất gia theo Phật. Đời Đường khoảng niên hiệu Trinh Nguyên (785-804), ông lập ngôi chùa Quỳnh Lâm tại quê nhà. Truyền thuyết kể rằng, khi đào đất đắp nền chùa bắt gặp một cái lư hương và mười cái chuông đồng, sư sai đem đi rửa, một cái chuông rơi xuống sông trôi liệng mãi đến khi chạm đất mới nằm im. Sư luận giải rằng: Thập khẩu là chữ Cổ, Thủy khứ là chữ Pháp. Còn Thổ là chỉ vào hương ta. Nhân đó đổi tên hương Diên Uẩn thành hương Cổ Pháp. Sư có làm bài tụng: Địa trình pháp khí, Nhất phẩm tinh đồng. Trị Phật pháp chi hưng long, Lập hương danh chi Cổ Pháp. Đất dâng pháp khí, Một món thuần đồng. Ấy điềm Phật Pháp hưng long, Đặt tên làng là Cổ Pháp. Sư lại nói: Pháp khí xuất hiện thập khẩu đồng chung, Lý hưng vương tam phẩm thành công. Pháp khí hiện ra mười cái chuông đồng, Họ “Lý” làm vua ba phẩm thành công. Sư nói tiếp: Thập, khẩu, thủy, thổ, khứ, Danh hiệu làng Cổ Pháp. Gà ở sau loan nguyệt, Chính là Tam bảo thạnh. Thập, khẩu, thủy, thổ, khứ, Cổ Pháp danh hương hiệu. Kê cư loan nguyệt hậu, Chánh thị hưng Tam bảo. Sau, Sư trụ trì tại chùa Thiền Chúng ở làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức, nay là làng Đình Bảng, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh. Sắp tịch, Sư gọi đệ tử Thông Thiện đến bảo: “Ta muốn mở rộng làng xã nhưng giữa chừng e gặp họa nạn, ắt có người khác đến phá hoại đất đai của chúng ta. Sau khi ta tịch, ngươi khéo gìn giữ pháp của ta. Khi nào gặp người họ Đinh sẽ truyền thì nguyện của ta được mãn vậy”. Nói xong, Sư cáo biệt mà tịch, thọ 79 tuổi, nhằm đời Đường niên hiệu Nguyên Hòa thứ ba (808) năm Bính Tý. Thông Thiện xây tháp thờ Sư ở phía Tây chùa Lục Tổ và ghi lời phó chúc rành rõ và quả nhiên, sau có viên tướng Cao Biền đời Đường đến trấn yểm phong thủy tại đây. Chúng ta có thể nhận định bức tranh thứ mười thể hiện hình ảnh Bố Đại hòa thượng tương ứng là cái lư hương và 9 cái chuông chính là 9 bức tranh của Thập mục ngưu đồ. Thiền chính là cổ pháp mà thiền sư Định Không muốn nói, tuy nhiên trong các bài kệ của ngài còn có liên quan đến thuyết Âm dương Ngũ hành và tính tiên tri. Ngôi chùa mà ngài tổ chức xây dựng mang tên Quỳnh Lâm, sau này Bồ Tát Nguyễn Minh Không (1065-1141) cũng đã cho đúc một pho tượng Phật Di Lạc khổng lồ bằng đồng, đệ nhất của Thiên Nam Tứ đại pháp khí cho một ngôi chùa cũng mang tên Quỳnh Lâm, nhưng lại ở Đông Triều, Quảng Ninh: Chùa Quỳnh Lâm, Ðông Triều, Quảng Ninh là một trong các ngôi chùa nổi tiếng của Việt Nam, một thời được mệnh danh là Thiên Nam đệ nhất danh lam cổ tích. Xưa kia, chùa là một trung tâm Phật giáo quan trọng của dòng thiền Trúc Lâm, bởi nơi đây từng có pho tượng Phật Di Lạc khổng lồ, đứng đầu trong Thiên Nam Tứ đại pháp khí hay An Nam Tứ đại pháp khí, tức bốn thần khí bằng đồng khổng lồ, là tài sản quý giá của nước Ðại Việt thời Lý, Trần. Thiên Nam Tứ đại pháp khí gồm tượng Phật Di Lạc như đã nói, tháp Báo Thiên chùa Sùng Khánh, Hà Nội; chuông Quy Ðiền chùa Diên Hựu tức chùa Một Cột, Hà Nội và vạc Phổ Minh chùa Phổ Minh, Nam Ðịnh. Chùa Quỳnh Lâm được xây dựng từ thời nhà Lý, năm Long Thụy Thái bình thứ tư (1057) đời vua Lý Thánh Tông. Chùa Quỳnh Lâm có hai pho tượng lớn nổi tiếng được đúc vào hai thời kỳ khác nhau. Một pho thời Lý do sư Nguyễn Minh Không cho đúc, và pho thứ hai thời Trần do thiền sư Pháp Loa tạo dựng. Pho tượng được liệt trong Thiên Nam Tứ đại pháp khí là pho được đúc vào thời Lý. Theo lịch sử thì nhà sư có công xây dựng chùa Quỳnh Lâm đầu tiên là nhà sư Minh Không. Truyền thuyết kể rằng, khi đúc pho tượng Phật Di Lạc khổng lồ ở chùa Quỳnh Lâm, sư Minh Không đã dùng một cái túi để thu gom toàn bộ đồng ở Trung Quốc đem về nước. Theo các tài liệu còn lại thì pho tượng Phật Di Lạc ở chùa Quỳnh Lâm thời Lý cao 6 trượng (một trượng xấp xỉ 3.3m, ước pho tượng cao khoảng 20m). Pho tượng lớn đến nỗi người ta phải xây dựng một tòa điện cao 7 trượng (khoảng 23.5m) để đặt tượng. Tục truyền rằng, đứng phía Nam huyện Ðông Triều, cách chùa Quỳnh Lâm chừng 10 dặm, vẫn còn thấy nóc điện che sát đầu pho tượng. Dân gian còn lưu truyền câu ca: Nức tiếng Quỳnh Lâm cõi xứ Đông, Ai qua đứng lại ngước mà trông. Tháp cao chín đợt tầng mây ấm, Chùa rộng trăm gian gác ngựa hồng. Trước điện thông reo cùng trúc lá, Trong am khánh đá với chuông đồng. Vua tu Phật hóa vui vui nhỉ… Sau đó không rõ tượng mất khi nào, có ý kiến cho rằng, tượng bị mất khi quân Nguyên Mông sang xâm chiếm nước ta, bởi vì sau đó sư Pháp Loa cho đúc lại một pho tượng lớn tương tự. Pho tượng Phật lớn thứ hai của Quỳnh Lâm cũng là tượng Di Lạc được đúc xong từ năm 1327. Năm 1328, nhân dịp vua Trần Minh Tông đến thăm chùa, sư Pháp Loa đã tâu xin cho kéo tượng từ điện lên bảo tọa để dát vàng. Văn Huệ Vương Trần Quang Triều, chủ soái của Bích Ðộng thi xã và người chị ruột, công chúa Thượng Trân, vợ vua Trần Anh Tông đã cúng vào chùa 900 lượng vàng để đúc tượng. Tượng cũng bị mất vào thế kỷ XV khi quân Minh sang xâm chiếm nước ta, chúng đã phá tượng để đúc súng đạn. Truyền thuyết lại nói rằng, giặc mang tới 24 bễ đến định thổi đồng đúc đạn nhưng thổi không được, còn bia chùa thì ghi “tượng chìm dần xuống đất”. Ngày nay, mỗi khi đứng dưới gác chuông chùa Quỳnh Lâm, du khách không khỏi bồi hồi về một quá khứ huy hoàng của ngôi chùa gần nghìn năm tuổi. Mặt khác, sự tích của Bố Đại hòa thượng được ghi nhận trong khoảng thế kỷ thứ X, như vậy khả năng mâu thuẫn về mặt thời gian sáng tác bộ tranh Thập mục ngưu đồ của thiền sư Định Không, bởi vì ngài mất vào năm 808. Bố Đại Hòa Thượng (thiền sư Trung Quốc, khoảng thế kỷ X), theo sự tích được chép lại trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục: Quê ở Minh Châu, huyện Phụng Hóa, trong vùng Chiết Giang ngày nay. Không ai rõ tên họ ngài là gì, chỉ biết ngài tự gọi là Bố Đại Hòa Thượng, nghĩa là Hòa Thượng Túi Vải. Tướng người mập mạp, trán hẹp, bụng lớn, như trong các tranh vẽ thường thấy ngày nay. Nói năng vô định, ngủ thì tùy chỗ; thường dùng một cây gậy, quảy một cái túi vải, hễ ai cúng cho món gì, ngài bỏ cả vào trong túi. Vào chợ, vào xóm, thấy cái gì là xin cái đó, bất kể cá ươn hay rau thối. Xin được, bỏ vào miệng; còn lại thì bỏ vào túi. Người thời bấy giờ gọi là "Trường Đinh Tử Bố Đại Sư", tức là "Ông sư túi vải cây đinh dài". Qua chuỗi các sự kiện nhằm lý giải các mối liên quan để xác định ai là tác giả bộ tranh thiền Thập mục ngưu đồ tuyệt thế, chúng tôi xác quyết đó chính là tác phẩm của thiền sư Định Không mặc dù có mâu thuẫn về mặt thời gian bởi câu truyện về Bố Đại hòa thượng cũng là truyền thuyết, mặc dù hình ảnh của ông nằm trong bức tranh số mười. Từ những nội dung truyền thuyết và sấm thi, đặc biệt mắt xích ở đây chính là bức tranh thứ mười tương ứng chiếc lư hương vẽ hình “Lưỡng Long triều nguyệt” - pháp khí biểu tượng của vua Lạc Long Quân, và mật ngữ này sẽ được phân tích trong Chương X: CHUYỂN PHÁP LUÂN VƯƠNG. Từ vũ trụ quan của Phật giáo, được xây dựng từ các khái niệm về Tính Thấy hay tính tuyệt đối cùng với việc xác định dạng vật chất nhỏ nhất khởi nguyên vũ trụ thường được gọi là những hạt ngọc hay “minh châu” có trong đầu não của con người, về tính Không, Tâm - Ý - Thức trong Duy Thức học, bản ngã… đã có thể khẳng định rằng: Linh hồn là tồn tại bất biến, chúng sinh bị luân hồi hay có thể hiều là luân chuyển trong ý thức về cuộc đời của chính mình ngay trong cõi dục giới và sau này là trong cõi sắc giới, tức thế giới vô hình như ngày nay thường gọi. Nền chùa Địa Ngục và mộ tháp cổ Núi Tam Đảo, Vĩnh Phúc, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Truyện Nhất Dạ Trạch của Lĩnh Nam Trích Quái ghi lại việc Chử Đồng Tử đã được nhà sư Phật Quang tại núi Quỳnh Viên (Tam Đảo, Vĩnh Phúc) truyền dạy giáo lý Phật giáo. Sự giao tiếp giữa thế giới hữu hình là chúng ta đang sống và thế giới vô hình của các linh hồn vẫn diễn ra nhưng ít phổ biến vì các giới hạn vật lý của thân xác đang sống, chỉ khi nào được rèn luyện hợp lý thì con người sẽ có những công năng để giao tiếp một cách bình thường. Nhưng rõ ràng, Phật giáo, Đạo giáo, Bà La môn giáo đã có những phương pháp tu luyện cụ thể, tuy nhiên Phật giáo đã xây dựng được một học thuyết về vũ trụ, xã hội và con người, chính là học thuyết Âm dương Ngũ hành, chúng ta cũng sẽ được biết cụ thể hơn trong các nội dung sau. Linh hồn trong Đạo giáo Ở nước ta có hàng trăm bộ tranh Thập điện Diêm vương do hàng trăm tác giả sáng tác, do đó có nhiều chi tiết trên tranh khác nhau. Có loại tranh chỉ vẽ cảnh trừng trị tội ác, có loại tranh vẽ lồng thêm chi tiết để ca ngợi, khuyến khích những người có công làm việc thiện. Song nếu xem xét kỹ thấy rằng nội dung của các bộ tranh vẫn có sự thống nhất. Có thể có một vài chi tiết chuyển dịch từ tranh này sang tranh khác, nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ nội dung của những cảnh lớn về các địa ngục, dựa theo tác phẩm Phật giáo như Thập vương kinh (của một nhà sư ở Thành Đô - Tứ Xuyên), hoặc tác phẩm Đạo giáo như Ngục Lý truyện. Dù tác giả có đạt đến mức độ nghệ thuật cao, thì vẫn bị hạn chế trong hạn chế chung của tranh Đạo giáo, đó là sự minh họa cho kinh sách Phật giáo hay Đạo giáo, nên không tránh khỏi sự trùng lặp trong khắc họa chân dung, tính cách của nhân vật. Đồng thời phải viện dẫn đến nhiều chữ để làm rõ nội dung các sự kiện trong tranh. Bộ tranh được giới thiệu là của tác giả người Việt vẽ tranh Đạo giáo, ở Cao Bằng là Thày Tào Nguyễn Ngọc Tồn, ông am tường chữ Hán, từng dịch kinh sách Phật, Đạo ra tiếng Tày để sử dụng trong các cuộc hành lễ ở địa phương. Thập điện Diêm vương Tranh thờ dân tộc Tày miền Bắc, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image022.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image024.jpg Đệ nhất điện Tần Quảng Vương: Chủ yếu xét xử có công hay tội, rồi chuyển tội nhân qua 8 địa ngục sau để thi hành án. Sự công bằng của phép “Minh chân chi phù (phép làm rõ sự chân thật) mà tranh Tử Cung (bộ tranh Thánh Đạo Hưng Long) hoặc Hải Bá (bộ tranh Hành Say) đã nêu, đến tranh này được khắc họa rõ nét hơn: Sau khi lìa khỏi thân xác, vong hồn lập tức bị quỷ Vô thường, đầu trâu, mặt ngựa bắt giải về địa ngục, tất cả vong hồn đều phải trút bỏ lốt y phục của trần gian, không kể phẩm trật, vua quan, sang hèn, giàu nghèo để thân phận đều được bình đẳng trước tòa án Âm phủ. Phán quan tra xét sổ sinh tử, nếu chưa đến thời hạn chết, vong hồn sẽ được trả về dương gian, cho sống lại. Nếu đã hết số, sẽ định công xét tội. Nếu có công lớn, đặc biệt, sẽ được chuyển thẳng sang ngục thứ 10 của Chuyển Luân Vương để được đầu thai kiếp khác theo 6 nẻo đường (lục đạo). Những kẻ có tội sẽ được đưa tới soi mình trước Nghiệt Kinh Đài - đài soi gương chiếu các nghiệp chướng mà vong hồn gây ra khi còn sống. Dù hành động kín nhẹm, ám muội đến đâu, thì tội lỗi vẫn phơi bày trên đài gương này, không thể chối cãi. Phân loại tội lỗi, giao tội nhân tới 8 địa ngục chuyên trách thi hành án. Tăng ni, đạo tử mà gian dối trong khi hành lễ ở nhân gian sẽ bị giam trong Bối kinh sở, sẽ chịu hình phạt: bổ sung các loại tấu sớ viết thiếu, viết sai, tụng kinh bổ sung, làm lễ bổ sung, sám hối tội lỗi. Nếu tội nặng sẽ bị trừng phạt trong Phong lôi địa ngục hoặc thần Sấm sét đánh chết ngay trong ngục đó. Những kẻ tự sát bị giam vĩnh viễn tại Uổng Tử Thành, những người bất đắc kỳ tử cũng bị giam tại Uổng Tử Thành cho tới bao giờ có người khác thay thế (chết đuối hoặc… sau kẻ chết trước) mới được định công xét tội. Ở bộ tranh này, Nghiệt Kính đài được vẽ ở tranh thứ năm, Hoàn Bố Sở (tức Bố Kinh sở) được vẽ ở tranh thứ mười. Tranh có đề chữ Hán: Thưởng thiện phạt ác. Tam thập bản (ba mươi bản án). Nhất tâm cung thỉnh cai nhân thiên tôn (một lòng cung thỉnh nhở đến các Đấng cai ngục tối cao). Đệ nhị điện Sở Giang Vương: Tranh có chữ Hán: Thiện hữu thiện báo (làm việc thiện sẽ được báo ứng), hàn băng ngục (ngục băng giá). Nếu làm người mà không cho ai tấm áo manh quần nào, chỉ bo bo bó vào than mình cho thực đầy đủ thì con cháu mình và mình sẽ bị tội quẳng vào ngục băng giá cho thấu cãi lạnh lẽo mà mình và cha ông mình đã gây cho kẻ khác. Làm người thầy thuốc mà thấy con bệnh mắc bệnh hiểm nghèo mà mình không cắt, không cho các loại thuốc quý để cứu mạng người ta, thì con cháu mình cũng không thể giàu sang phú quý được. Gông cùm và ngục kia sẽ kia sẽ trừng phạt cho việc làm độc ác đó. Đệ tam điện Tống Đế Vương: Chữ đề trên tranh Công, quả, tự dựng (công, tội do mình). Người làm quan sung sướng, áo mão sênh sang là nhờ tổ tiên mình hay làm chuyện phúc đức, ví như bắc cầu qua chỗ lầy lội cho ngàn người qua lại được thuận tiện. Đàn bà tội ác: mưu giết chồng, hại người khác, bất hiếu với ông bà cha mẽ sẽ bị chịu tội rắn độc cắn, hoặc bỏ vạc dầu sôi. Được người khác nhờ cậy mang tin tức, mà mình không báo cho gia đình người ta, sẽ bị tội trừng phạt: đồi ngòi pháo vào rốn, rồi đốt cho than mình nổ tung như xác pháo. Phóng hỏa đốt nhà, gây nê hỏa hoạn rất đánh thương tâm, có tội, bị trừng phạt: trói vào quả pháo, đốt cho quả pháo nổ xé tan than mình thành muôn mảnh. Đệ tứ điện Ngũ Quan Vương: Chữ đề trên tranh: uổng Tử Thành. Dùng cân để gian dối kiếm lời: xuất ít, nhập nhiều làm hại cho người khác trong việc mua bán, có tội, bị trừng phạt: móc treo than hình người vào móc sắt (như móc của cái cân). Lường thưng tráo đấu, hoặc tuy dung cùng đấu ấy nhưng khi mua gạo khô, khi bán lại là gạo ướt để gạo nở ra, dôi thể tích kiếm lời bất chính, có hại cho người mua. Có tội, bị trừng phạt: bỏ than hình vào cối xay mà nghiền cho tan nát. Làm quan xử án, làm chứng nhân mà vì điều lợi nhỏ, bẻ cong sự thật, xử lý thiên vị hoặc biển thủ ám muội, có tội bị trừng phạt: gông, trói, chém, đầu. Đệ ngũ điện Diêm La Vương: Chữ đề trên tranh Tự tác tự thú (mình làm mình chịu). Thức ăn thức uống, gạo thơm cơm dẻo mà mình không biết quý, thấy rơi không nhặt lại dẫm đạp lên. HOặc đem đổ xuống cống, rãnh bẩn thỉu - có tội bị trừng phạt: ném vào “biển sinh sở” là nơi hóa kiếp người thành chó, lợn, gà, trâu là những con vật phải ăn dơ ăn bẩn, không được hưởng gạo quý cơm ngon. Ngỗ nghịch, bất hiếu đánh người bề trên, bầy đủ mưu gian hại người tử tế… có tội, bị chém đầu. Đâm trâu, giết lợn, bắt chim, bẫy thú - có tội bị cắt than hình thành ngàn mảnh dưới dao, trên thớt. Đệ lục điện Biện Thành Vương: Chủ đề trên tranh: Mệnh hảo tâm hảo truyền thế cảnh hảo (Có tâm địa tốt. chỉ đạo hành vi đúng sẽ làm cho thế gian ngày càng tốt đẹp). Nhân ác nhân khạ, thiên bất khạ (người làm việc ác thì sợ chứ trời không sợ), nhân thiện nhân khi thiên bất khi (người làm việc thiện thì coi là thường, nhưng trời không coi là thường). Những kẻ oán trời, trách đất, bất kính thần linh, a dua điều ác, làm loạn điều thiện. Có tội, chịu hình phạt: cắt lưỡi, căng thây, xé xác, cưa thân thành từng mảnh ở địa ngục chuyên mổ xẻ tội nhân. Đệ thất điện Thái Sơn Vương: Những kẻ gian dâm, phá tan cơ nghiệp của cha ông, bị tội ném xuống hầm chông, bỏ vào vạc dầu sôi hay quẳng vào ngục lửa (hỏa sa địa ngục). Đồng thời khuyến cáo những điều quả báo như người chồng gian dâm sẽ khó giũ gìn được người vợ và con gái giữ được tiết hạnh trong sạch, hiền lương. Hoặc người khắc nghiệt, bạc ác trong việc gây dựng sản nghiệp thì chính con cái của họ lại phá tán gia tài. Cần kiệm lương thiện sẽ cảm động tới trởi đất. Đệ bát điện Bình Đẳng Vương: Chữ đề trên tranh Thưởng thiện phạt ác. Hai bên quả cân (bên phúc bên tội) đề: nhất vạn cửu bách tội (10.900 tội) đã làm mất đi: NHất vạn bát thiên công (18.000 công), ý nói làm một tội ác đã xóa đi nhiều công đức đã có. Trên phướn có chữ đề: tốc, trì chung hữu lục (nhanh hay chậm, cuối cùng sự báo ứng sẽ xảy ra). Trên cửa địa ngục đề: Thuyết ô trì (ao máu hôi thối). Trên hai câu đối như sau: quỷ như thùy vị vô tri, thiên như địa chi thần khởi (nếu như có điều gì có vị thần nào chưa biết thì có Trời biết, Đất biết, Thần biết những điều thiện, ác của con người). Và âm tòng dương số đại báo, nhất tâm công thử thỉnh vô lượng phụ nhân (cuộc đời đã được ghi sẵn, một lòng xin đấng tối cao tiếp nhận). Những kẻ làm việc ám muội, che đậy kín đáo, dù sớm hay muộn thì cũng lộ ra, người không biết, quỷ không biết, thì Trời biết, Đất biết, như gian phu dâm phụ, giết chồng, cướp vợ, phỉ bang thần linh, bất hiếu với cha mẹ, không tôn kính các bậc bề trên… hoặc phạm điều trai giới, cấm kỵ như giao hợp trong những ngày giỗ kỵ tổ tiên… có tội bị trừng phạt: ném vào vạc dầu đang sôi, mổ bụng moi gan, giam mình trong ao máu dơ bẩn đối với cả đôi gian phu dâm phụ hoặc đối với cả vợ chồng mắc điều dâm nghiệt, hoặc bị phanh thây xé xác, hoặc trói vào giường sắt nung trên ngọn lửa. Đệ cửu điện Đô Thị Vương: Tranh này bị mất phần trên, nhưng phần tranh cơ bản dưới vẽ các hình tội ác vẫn rõ: Nọc ra đánh trượng, hoặc tống vào cối đá, chày sắt mà giã nát than hình, hoặc đóng gong ngâm vào cửa ngục phân hôi thối để trừng trị những ẻ gian ngoan, quay quắt, điêu toa. Đó là những kẻ: Gian ngoan lừa gạt, dẫn dụ con gái tiết triinh hiền lương vào con đường bán dâm. Những mũ đàn bà luôn miệng nguyền rủa chồng con, nói năng lăng lòan. Những kẻ sống bừa bãi, không tôn trọng lễ nghĩa, ưa chuyện kiện tụng, dựng chuyện vu cáo hại người, ưa dung sức mạnh để ăn hiếp người khác. Đệ thập điện Chuyển Luân Vương: Chữ đề trên tranh: Phân thân song nữ sinh (đó là lệnh của Diêm Vương cho đầu thai ở hình thức nào). Hoàn bổ sở (---), nhất phẩm đương triều, công hầu, cô độc (số phận được định cho kiếp tái sinh tùy công tội của kiếp trước). Cửa địa ngục là nơi phân phối các linh hồn đi đầu thai ở kiếp sống mới: kiếp tái sinh. Tùy theo công tội đã được xét xử ở mức nặng nhẹ mà đầu thai theo 6 nẻo đường (lục đạo) có 3 nẻo thiện và 3 nẻo ác: Những người hiền đức, nhân nghĩa, hiếu để, trung thần được đầu thai vào bậc công hầu, khanh tướng, hoặc bậc nhất phẩm triều đình. Loại người chân chính lương thiện thức hai được đầu thai làm người giàu sang phú quý. Loại còn vướng vào nghiệp chướng cha ông để lại hoặc con cái gây ra thì đầu thai vào kiếp người cô quả, góa bụa, khổ sở. Loại có nghiệp chướng nhẹ đầu thai vào loài chim lông vũ có đời sống ngắn nên chóng trở về kiếp người. Loại có nghiệp chướng nặng nề sẽ đầu thai vào loại thú bốn chân kéo cày trả nợ kiếp trước. Phải được hóa kiếp mới trở lại làm người. Hoặc đầu thai vào kiếp côn trùng, cua cá… phải chuyển nhiều kiếp mới trở về kiếp người. Còn những kẻ quá nặng tội như giết người, dẫn dụ con gái, đàn bà vào đường bán dâm… phải giam trong ngục tối vĩnh viễn, thành quỷ âm ngục. Khi đi đầu thai, linh hồn sẽ đi qua sông Mê bến Lú uống nước sông này để quên hết thân phận của mình ở kiếp trước và các cảnh ở địa ngục, để có thể thanh thản sống trong kiếp tái sinh. Ở Trung Quốc còn có tranh vẽ Mạnh Bà thần dựa theo truyền thuyết dân gian, có chức năng tương tự như sông Mê bến Lú. Bà sẽ cho các linh hồn đi đầu thai ăn cháo lú để quên chuyện kiếp trước và các cảnh ở địa ngục. Trong dân gian Việt Nam có nhắc tới cháo lú nhưng không có tranh Mạnh Bà thần. Trong một bộ tranh Thập Điệm Diêm Vương, xã Pò tới, huyện Lục Bình, tỉnh Lạng Sơn. Bức tranh thứ 10 Đệ Thập điện chuyển luân vương, không vẽ cảnh bánh xe luân hồi chuyển kiếp, mà vẽ: hình tượng Mạnh Bà thần đang cho các linh hồn (trẻ con) uống thuốc “quên” (Mạnh Bà thang) tại Mạnh Bà đình, là nơi ranh giới giữa hai cõi Âm phủ - Dương gian. Đây là một hình ảnh rất hiếm, ít thể hiện trong các bộ tranh Thập điện Diêm Vương. Mạnh Bà thần đưa thuốc “quên” cho các linh hồn được chuyển kiếp tại Mạnh Bà đình. Ở các sáng tác, hình ảnh địa ngục với các công việc hoạt động dưới đó không ít thì nhiều chịu ảnh hưởng từ kinh Phật mà trước hết là kinh Vu Lan Bồn và kinh Địa Tạng. Nói cách khác, các quan niệm Đạo giáo về cõi chết, được tích hợp với quan niệm địa ngục có tính hệ thống của đạo Phật. Kinh Địa Tạng Bồ Tát Phát Tâm Nhân Duyên Thập Vương đề xuất Bản Địa của Diêm La Vương là Địa Tạng Bồ Tát.Vì chịu ảnh hưởng sâu xa của tư tưởng này cùng với tư tưởng địa ngục trong Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện nên dân gian cho rằng địa Tạng Bồ Tát là vị chủ tể tối cao của Địa ngục: Địa ngục chưa trống rỗng, Thề nguyện chẳng thành Phật. Khi độ hết chúng sinh, Mới chứng đắc Bồ Đề. Như các chương trước trước đã phân tích về các nhân vật lịch sử Văn Lang, Địa Tạng Bồ Tát là vua Hùng Quốc Vương - Hùng Vương III, với biểu tượng chòm sao Thiên cực Bắc là Tiểu Hùng Tinh, còn biểu tượng chòm sao Nam Tào là vua Lạc Long Quân - Hùng Vương II. Mười vị Diêm Vương chính là 10 đời vua truyền ngôi trong chi Hùng Vương III, còn 10 vị vua truyền ngôi trong chi Hùng Vương II gọi là Thập cực chân nhân, được mật mã trong hệ thống tranh thờ Đạo giáo. Địa Tạng Bồ Tát và 10 vị Diêm Vương Động Thiên Phật ở Đôn Hoàng, Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Trong động Thiên Phật ở Đôn Hoàng có hình vẽ Địa Tạng Thập Vương tức hội các tượng của Địa Tạng Bồ Tát với mười vị vua Diêm La kèm theo lời văn minh họa. Hình vẽ này được tạo lập trong đời Tống, niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc, năm thứ tám (983) nhằm nhấn mạnh rằng Ngài là “Đấng giải thoát khỏi cực hình Địa Ngục”. Đạo Giáo quan niệm linh hồn là tồn tại, và chúng ta hãy cũng xem bộ tranh thờ dân gian của dân tộc Tày Độ Linh mô tả cuộc hành trình của linh hồn sau khi rời khỏi thể xác: Tranh Độ linh Tranh của dân tộc Tày, xã Đức Long, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Qua cách giả thích của thầy Tào, chúng ta biết quan niệm lên thiên giới của người Tày: Sau khi qua khỏi Nại Hà Kiệu, linh hồn sẽ được kỳ lân chờ đón và bắt đầu chặng đường được thầy Tào dẫn độ (ảnh 1-2). Ngoài thầy Tào và các thầy phụ lễ, hồn còn được Man Lôi Sứ giả (hình tượng về Đặng Nguyên Sư) dẫn độ. Các thầy dẫn độ và hồn cùng cưỡi ngựa, bắn súng dọn đường. Đây là đoạn đường bộ trước khi vượt biển (ảnh 3). Tất cả đoàn thầy cúng và hồn vượt biển bằng thuyền. Đoạn vượt biển này rất nguy hiểm và khí thế vượt biển rất hùng tráng (ảnh 4). Hết đường nước (vượt biển), hồn lại cưỡi ngựa cùng đoàn người lên núi Hoa. Đế cung Nhật Quang để tẩy luyện. Có 10 vị gồm tiên ông và tiên bà đón tiếp. Sau khi đã vượt biển đến núi Hoa, hồn sẽ không ăn cơm nữa. Như vậy đoàn người dẫn hồn đi qua biển rộng, núi cao, gian lao hiểm trở (ảnh 7). Tại cung Nhật Quang, hồn và đoàn người gặp được Trương Thiên Sư đón tiếp và chuẩn bị một chặng đường quan trọng nữa: đó là cưỡi trên mình phượng để lên thượng giới (đến đây ta có thể hiểu ý tứ của chữ “Kim môn vũ khách”: khách nhẹ như mình chim có thể vượt cửa nhà vàng) (ảnh 5-6). Hồn cưỡi chim lên tầng lầu I của Thiên giới (ảnh 8). Hồn lên tầng lầu II của Thiên giới (ảnh 9). Hồn lên tầng lầu III của Thiên giới. Sở dĩ có 3 tầng lầu vì có sự phân biệt: Tầng lầu I dành cho người bình thường và hồn của Tào, Pựt, Pựt non - ý nói là cấp bực thấp. Tầng lầu II dành cho hồn Tào, Pựt có cấp bậc cao hơn. Tầng lầu III dành cho hồn Tào, Pựt cao cấp. Ở lầu III này có lính gác, trên đỉnh lầu có hình âm - dương, nhật - nguyệt thiềm thừ. Tại đây, thầy Tào đưa người nhập Dinh Tiên (người theo Đạo giáo: Tào) hoặc cõi Phật (người theo Phật giáo: Pựt hay Bụt). Thầy Tào sẽ thu hồn của mình và binh lính của mình kể cả hồn của người phụ lễ trở về phía trần gian, không còn ở cõi ma quỷ, thần tiên nữa (ảnh 10). Chúng ta cùng tiếp tục với bộ tranh Độ Linh cũng của dân tộc Tày khác, và chính bộ tranh này đang lưu trữ những mật ngữ rất quan trọng: Tranh Độ linh Tranh của dân tộc Tày, Hòa An, tỉnh Cao Bằng file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Các chữ Hán trên tranh, theo số, thứ tự sau: A. Tổ sư Lưu Đạo Phương Minh, Lưu Trí Cương, thu lục đệ tử. B. Vạn tinh tạo: do vạn thứ bệnh tạo nên cái chết. 1. Hổ Vĩ: Hổ ở cuối bức tranh, tượng trưng cho chòm sao Bạch Hổ, ở phương Tây, cõi chết, cũng là đất Tây Phương tịnh độ cho các linh hồn cư ngụ sau khi chết. 2. Thập sư: mười ông thầy pháp sư, làm nhiệm vụ đưa các linh hồn tới cõi Thanh Hư vô cùng vô tận. 3. Nam kiệu: kiệu dùng cho hồn nam. 4. Nữ kiệu: kiệu dùng cho hồn nữ. 5. Hồn: hồn của người phụ nữ ngồi trong nữ kiệu. 6. Nam quan thuyền: thuyền dùng chở hồn nam. 7. Tiếp tận phù sinh: điểm cuối cùng của kiếp sống phù du (thuật ngữ Phật giáo). 8. Như trên. 9. Vọng Hương Đài: đài nhìn về phía quê hương. Sau khi chết vong hồn được đưa lên đài này, nhìn lại quê hương gia đình để từ đó họ thấy những nổi khổ sở của mình gây ra cho người thân và đồng loại trong kiếp sống của mình. 10. Nại Hà Kiều: cầu đau khổ. Phía dưới là chó ngao, rắn rết bơi lội trong sông máu đỏ như son. Nếu vong hồn nào không có phúc phận tái sinh, siêu thoát lên Dinh Tiên, Cõi Phật sẽ bị sa xuống dòng sông, vĩnh viễn ở lại địa ngục. 11. Nữ quan thuyền: thuyền chở vong hồn nữ. 12. Thánh tán: lọng thánh. 13. Ngọc mã: ngựa ngọc. 14. Ngọc kiệu: kiệu ngọc. 15. Tiếp dẫn: chặng đón tiếp, dẫn độ vong hồn lên thiên giới. 16. Kim ngân thuyền: thuyền vàng, thuyền bạc để chở linh hồn qua sông, qua biển (Khảm hải – tiếng Tày, Thái). Trong tranh số 3, cả 3 con thuyền đều có vẽ con vịt trong thuyền. Đó là theo tín ngưỡng Tày, Nùng, Thái cho rằng vịt là con vật có thể bay, có thể bơi được, giúp choc ho việc chuyên chở linh hồn qua sông, qua biển được thuận lợi. Chi tiết này tuy nhỏ nhưng giúp ta giả định về xuất xứ của tranh do người tày, Nùng vẽ. Nam kiệu, Nữ kiệu, Nam quan (hay Nam Cung) thuyền. Nữ quan (hay Nữ Cung) thuyền. Kim ngân thuyền, Ngọc kiệu, Ngọc mã đều là các phương tiện chuyên chở linh hồn đi từ địa ngục, âm ty vượt sông mê, bến lú để lên cõi Tiên, được các vị thần linh độ dẫn. Trong một chiếc kiệu có vẽ hình người, được ghi chữ là Hồn - cho thấy: tất cả các phương tiện vận chuyển vong hồn đều là đồ hàng mã dùng trong tang ma. Và ta nên hiểu như vậy. Đoạn vượt biển khơi này, được các dân tộc tày, Nùng, Thái rất coi trọng trong tang lễ để dẫn độ linh hồn, gọi là “Khảm Hải” (vượt biển). Đoạn này huy động âm nhạc, vũ đạo và lời thơ có chất lượng nghệ thuật cao rất hùng tráng, cảm động, có vị trí trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân tộc ấy. Sau khi vượt biển là ra khỏi cõi Hạ Nguyên. 17. Bát Tiên: tám vị nhân tiên. Người ta mong được sống trong quần thể người thành tiên như tám vị tiên này. Những vị này sẽ dẫn độ vong hồn tới mục tiêu cuối cùng của hành trình. 18. Chấp sự: chức của các người giúp việc. 19. Toàn đường tạo lệ: Tất cả phu phen phục vụ cho linh hồn. 20. Như trên. 21. Đông Nam Đẩu: tức Nam Tào. 22. Vương Thái Tử tức Bắc Đẩu - coi sổ tử. Đời Minh Yên Vương Chu Lệ tự xưng là Bắc Đẩu Tinh Quân, dân lập đền thờ gọi là đền thờ Vương Thái Tử, hay còn gọi Thái Tử Gia. 23. Cứu Khổ Cửu Lao Tiên Đô: Nơi ở của vị tiên Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn cứu độ chúng sinh. 24. Thái Thượng Lão Quân: tổ sư Đạo giáo, thầy của các pháp sư Đạo giáo, cưỡi trâu xanh. 25. Trương Thiên Sư tức Trương Đạo Lăng. 26. Na Tra: thái tử có sáu loại binh khí hàng yêu ma, trị quỷ để bảo vệ vong hồn. 27. Trấn Vũ: tức Huyền Thiên Trấn Vũ, trấn trị tà ma bảo vệ vong hồn. 28. Bạch Tượng: tức Phổ Hiền Bồ Tát ở núi Nga Mi. 29. Thanh Sư: tức Văn Thù Bồ Tát ở núi Ngũ Đài. 30. Đại Kỳ quốc: tượng trưng cương vực của Thượng Nguyên. 31. Ngũ Lôi đô ty: nơi ở của 5 vị Lôi công sứ giả (thần Sấm). 32. Cửu đầu sư tử tọa liên đài: nơi ngự trị của Cửu U Bạt Tội Thiên Tôn tức U Minh Giáo Chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát. 33. Cứu khổ chân nhân: tức Thái ất Cứu khổ Thiên tôn. 34. Như trên. 35. Thập cực chân nhân: các vị chân nhân ở thập cực trông coi 10 cõi ở 10 phương trong trời đất. 36. Thập vương chân nhân: các vị chân nhân ở thập điện Diêm Vương trông coi cõi âm ty địa ngục. 37. Thập chân chân nhân: các vị chân nhân trông coi 10 phương trời đất. 38. Bảo tháp: tháp quý báu, tượng trưng cho đất đai, cương vực của các thần linh Phật và Đạo. 39. Thái Thanh: Đạo Đức Thiên Tôn. 40. Ngọc Thanh: Nguyên Thủy Thiên Tôn. 41. Thượng Thanh: Linh Bảo Thiên Tôn. 42. Hữu Thánh: thánh bên hữu phò trợ Ngọc Hoàng. 43. Nguyệt phủ. 44. Nguyệt: mặt trăng. 45. Ngọc Hoàng Thượng Đế. 46. Nhật: mặt trời. 47. Nhật cung. 48. Tả sư: pháp sư bên tả của Ngọc Hoàng. 49. Long đầu: rồng ở đầu tranh, tượng trưng cho chon sao Thanh Long ở phương Đông, cũng là vị trí của Bồng Lai tiên cảnh ở ngoài biển Đông. Ở tranh này ngôi vị Thái Nhất - có ý nghĩa triết học đầy tính huyền bí và khó hiểu của Đạo giáo nguyên thủy, đã được thay thế bằng ngôi vị Ngọc Hoàng Thượng Đế, vị Đại Thiên Tôn cai quản thiên giới về mặt quản lý hành chính thần linh trong vũ trụ, quen thuộc và phổ biến trong dân gian hơn ngôi vị Thái Nhất (tức Thánh Chúa). Trong tranh này đã cuất hiện nhiều thân linh có suất xứ từ Phật giáo. Đoạn tranh diễn tả: vong hồn được dẫn để vượt Sông Mê bến Lú, vượt biển tương ứng với điểm phân lộ trên tranh Dẫn Hương Lộ, đồng thời cho thấy yếu tố nguồn gốc xuất xứ từ Phật giáo: con thuyền Bát Nhã. Hành trình của con người - hiểu theo ý nghĩa triết học, hay của linh hồn - hiểu theo ý nghĩa tôn giáo, được thể hiện trong tranh này, rất gần gũi với hành trình của đàn quân Then trong lễ Then, lễ Pựt (Pụt) của người Tày, Nùng. Lẽ dĩ nhiên có sự khác biệt giữa hai loại hình, nhưng trong tranh này sẽ giúp cho việc nghiên cứu về Then và Pựt trong tín ngưỡng Tày, Nùng và mối quan hệ giữa Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian bản địa. Nội dung những bộ tranh không chỉ nói về vũ trụ quan và nhân sinh quan của Đạo giáo và Phật giáo, mô tả chặng đường mà linh hồn đi qua và sẽ tới, cũng như lưu giữ những thông tin lịch sử nước Văn Lang, mà còn là mật ngữ của Đạo giáo về cách thức tu luyện khí công để đắc đạo thành tiên, xương sống và 7 luân xa như tranh Hành Say và hệ thống kinh mạch Nhâm - tranh Tử Cung - Bắc Đẩu, mạch Đốc - Sinh Cung - Nam Tào. Trong các bộ bức tranh thờ, Thái Thượng Lão Quân tức Lão Tử, giáo chủ của Đạo giáo, là một nhân vật lịch sử nhưng còn “cấp” dưới rất nhiều vị thần tiên khác như Ngọc Hoàng Thượng Đế, Tam Thanh… do vậy, cần phải xác định thêm các thư tịch liên quan khác mới làm rõ được vũ trụ quan và nhân sinh quan Đạo giáo, cũng như lịch sử của Lão Tử. Cấu trúc bộ tranh cũng tương ứng bố cục mặt bằng của một ngôi đình, đền, chùa, đạo quán theo một số các tên gọi tương ứng trên các bức tranh. Trong Đạo giáo, theo kinh sách có lưu truyền một phương pháp giúp cho con người trường sinh bất tử, chúng ta hãy tìm hiểu lỹ hơn về Đạo giáo đặc biệt là lịch sử của vị giáo chủ tôn giáo này, cùng với phương pháp tu luyện đặc thù, trong mối tương quan với các phương pháp khác như Yoga của Bà La Môn giáo, Thiền trong Phật giáo. Thái Thượng Lão Quân Truyện Lão Tử trong Sử ký Tư Mã Thiên (146-86 tr.CN), Lão Tử người làng Khúc Nhàn, Hưng Lệ, huyện Khổ, nước Sở, họ Lý, tên Nhĩ, tên tự là Bá Dương, tên thụy là Đam. Lão Tử sống cùng thời với Khổng Tử (551-479 tr.CN). Ông làm quan sử giữ nhà chứa sách của nhà Chu. Truyền thuyết kể rằng: Khổng Tử đến Chu, muốn hỏi Lão Tử về Lễ, Lão Tử nói: “Những người ông nói đều tan xương nát thịt cả rồi, chỉ còn lời nói của họ thôi. Vả lại, người quân tử gặp thời thì xe ngựa nghênh ngang; không gặp thời thì như cỏ bồng xoay chuyển”. Tôi nghe nói: “Người buôn giỏi thì biết giấu của báu, khiến người ta thấy dường như không có hàng, người quân tử có đức tốt thì diện mạo dường như ngu si”. Ông nên bỏ cái khí kiêu ngạo cùng cái lòng ham muốn nhiều, cái vẻ hăm hở cùng cái chí tham lam đi, những cái ấy đều không có ích gì cho ông. Tôi chỉ bảo ông có thế thôi”. Khổng tử ra đi, bảo học trò: Con chim, ta biết nó biết bay, con cá ta biết nó biết lội, con thú, ta biết nó biết chạy. Đối với loài chạy, thì ta có thể dùng lưới để săn, đối với loài lội thì ta có thể dùng câu để bắt, đối với loài bay thì ta có thể dùng tên bắn, đến như con rồng cưỡi mây cưỡi gió lên trời, ta không sao biết được! Hôm nay gặp Lão Tử, ông ta có lẽ là con Rồng chăng? Tượng đá Lão Tử Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Lão Tử trau dồi đạo đức, học thuyết của ông cốt ở chỗ giấu mình, kín tiếng. Ông ở nhà Chu đã lâu, thấy nhà Chu suy bèn bỏ đi. Lúc đi qua cửa ải Hàm Cốc, Lão Tử gặp quan giữ thành là Doãn Hỷ, Doãn Hỷ nói: “Ông sắp đi ẩn rồi, hãy gắng vì ta mà làm sách”. Rồi Lão Tử bèn làm sách, gồm hai thiên thượng và hạ, nói về ý nghĩa của “Đạo” và “Đức” hơn 5.000 chữ. Đoạn cưỡi trâu ra đi, không ai biết sống chết như thế nào. Doãn Hỷ nghênh tiếp Lão Tử Trích Đạo giáo và mỹ thuật Trung Quốc (Taoist and the Art of China) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Có người nói: Lão Lai Tử cũng là người nước Sở, làm mười lăm thiên sách nói về công dụng của Đạo gia. Ông ta cũng sống một thời với Khổng Tử. Đại khái Lão Tử sống hơn một trăm sáu mươi tuổi, có người nói ông hơn hai trăm tuổi, vì ông tu đạo để kéo dài tuổi thọ. Có người bảo Đam tức là Lão Tử, có người bảo là không phải. Đời không biết là ai nói phải, ai nói không phải (Tư Mã Thiên đưa ra cả ba thuyết về Lão Tử: Lý Nhĩ, Lão Lai Tử, Đam, không khẳng định thuyết nào. Ông thường thận trọng như vậy khi gặp những việc nghi ngờ, tỏ rõ có óc nghiêm túc của sử gia). Lão Tử là người quân tử đi ở ẩn. Con của Lão Tử tên là Tông làm tướng nước Nguỵ được phong ở đất Đoạn Can. Con của Tông là Chú, con của Chú là Cung, chút của Cung là Hà, Hà làm quan thời Hán Văn Đế, con của Hà là Giải làm thái phó của Giao Tây Vương tên là Ngang, nhân đấy cư trú ở Tề. Người đời theo thuyết của Lão Tử thì bài bác Nho học, theo Nho học lại bài bác thuyết của Lão Tử. Phải chăng câu: “Đạo khác nhau không giúp cho nhau” là nghĩa như vậy? Lý Nhĩ chủ trương “vô vi” mà dân tự cảm hoá, “thanh tĩnh” mà dân tự quay về đường phải. Tại sao trong một chuyện Lão Tử lại có những thuyết khác nhau như vậy? có thể hiểu được là do Tư Mã Thiên sống sau Lão Tử mấy trăm năm chỉ thận trọng ghi lại những thuyết chứ ông không khẳng định hoặc giả đấy chỉ là những đoạn văn do người đời sau, kể cả con ông viết thêm vào Truyện Lão Tử của ông? Đến ngay như việc Khổng Tử thỉnh giáo Lão Tử cũng có người cho là câu chuyện của một đạo gia nào đó nhằm tôn vinh tổ sư của mình trong đối đầu quan điểm hữu vi và vô vi thời bấy giờ. Nếu trước thời Chiến Quốc, Lão Tử đã nổi danh và được Khổng Tử kính trọng như vậy thì sao trong Luận Ngữ và các sách đầu đời Chiến Quốc đều không nhắc gì tới Lão Tử? Khổng Tử rất đề cao Lễ mà Lão Tử lại cực lực phản đối thì lẽ nào Khổng Tử lại đi hỏi Lão Tử về Lễ rồi hết ngợi ca ngợi Lão Tử là một con Rồng? Hội ngộ Khổng Tử và Lão Tử Tranh cổ Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Sau này khi Đạo giáo phát triển, Lý Thế Dân đời nhà Đường thấy Lão Tử cùng họ Lý nên coi ông là tổ tiên của hoàng gia, trao cho ông thụy hiệu là “Huyền Nguyên Hoàng Đế” có nghĩa là “Hoàng Đế thâm thúy” và miếu hiệu là Thánh tổ có nghĩa là “Ông tổ thánh thiện uyên bác”, nên hình ảnh Lão Tử ngày càng được huyền thoại hóa, trở nên thần bí mông lung trong các truyền thuyết dân gian và văn học hư cấu. Chẳng hạn, có truyền thuyết kể rằng Lão Tử vốn là một đám khí từ thời chưa khai thiên lập địa, trải qua ức vạn năm biến hóa, đến đời Chu biến thành một cuộn khí huyền thoại ngũ sắc to bằng viên đạn, chui vào miệng Huyền Diệu Ngọc Nữ, mãi đến 81 năm sau mới sinh ra ở làng Lệ, huyện Khổ, nước Sở, thuộc Bách Việt (nay là Lộc Ấp, phía Đông tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), râu tóc trắng như cước, tai ba vành, chỉ tay lên cây mận, nó: “Ta họ Lý”. Do vậy mà có tên Lý Nhĩ nghĩa là Tai Mận hoặc Lão Tử tức là bậc thầy giả cả hoặc đứa trẻ sinh ra đã già như ông lão. Lịch sử ra đời của đạo giáo được ghi lại trong sử sách Trung Quốc cổ khá phức tạp và nhiều khi mâu thuẫn nhau về nhân vật, quan hệ truyền thừa và thời điểm. Việc xác định chính xác thời điểm Đạo giáo ra đời thật sự hết sức khó khăn, chỉ thấy được là tôn giáo này hình thành qua một quá trình lâu dài, với nhiều tư tưởng đã phổ biến từ trước như là vũ trụ luận về thiên địa, thuyết Âm Dương Ngũ Hành, lý luận về khí. Nhưng, ngoài chúng ra, những truyền thống tu luyện thân tâm như điều hoà hơi thở, thái cực quyền, khí công, thiền định, thuật luyện kim đan và những huyền thuật cũng được hấp thụ với mục đích và khát vọng đạt được sự trường sinh bất tử. Việc tu luyện đạt trường sinh có bắt nguồn có lẽ từ những khái niệm rất cổ xưa, bởi vì trong Trang Tử Nam Hoa chân kinh, một tác phẩm trứ danh của Đạo giáo thế kỉ thứ IV tr.CN thì các vị tiên trường sinh bất tử đã được nhắc đến, và đại diện tiêu biểu cho họ chính là Hoàng Đế và Tây Vương Mẫu, và những hình tượng đã có trong thời nhà Thương, thiên niên kỷ II tr.CN. Nếu hậu thế hiểu biết về Ðạo đức kinh nhiều bao nhiêu thì những gì họ có được về người được qui cho là tác giả của cuốn sách ấy ít bấy nhiêu. Cho tới nay, ngoài sự đồng thuận rằng danh xưng Lão Tử chỉ có nghĩa “Ông thầy già”, không một học giả nào dám trả lời dứt khoát về thân thế của Lão Tử, cũng như tác giả chân chính và thời điểm xuất hiện của cuốn kinh ấy. Mãi đến ngày nay người ta cũng chưa tìm ra bằng chứng xác thực nào về lịch sử của Lão Tử. Biên Thiều tác giả Lão tử minh (bia Lão tử), thời Hán Văn đế đã ghi rằng: Đối với dân chúng, Lão tử đã có từ muôn kiếp. Biến hóa kinh, viết vào khoảng 621, thời Tùy Dương đế, cho rằng Lão tử chẳng những có từ muôn thuở mà còn giáng trần nhiều lần để cứu độ muôn dân. Hóa hồ kinh do Vương Phù viết vào khoảng đầu thế kỷ IV, đời vua Tấn Huệ đế (tức Tư Mã Trung, tại vị 290-306), cho rằng Lão Tử đã đi về các nước Hồ vùng Tacim, rồi sang Ấn Độ, để dạy đạo. Sách chủ trương rằng Phật Thích Ca là hậu thân của Lão Tử, hay là đồ đệ của Lão Tử. Quyển sách này đã gây nên bao cuộc khẩu chiến giữa các Phật tử và các đạo sĩ suốt các thời Lương đời Lương Vũ đế (năm 520), thời Đường trong các đời vua Cao tông (668) và Vũ hậu (696), thời Nguyên đời vua Hiến tông (Mông Ca 1258) và Nguyên Thế tổ (Hốt Tất Liệt, 1280-1294). Trong hệ thống kinh sách Đạo giáo như Đạo đức kinh của Lão Tử, Nam Hoa kinh của Trang Tử, Thái bình Động cực chi kinh 144 quyển tương truyền do Trương Lăng được vào năm 141 khi học đạo ở núi Hạc Minh, Thái bình Thanh Lĩnh Kinh 170 quyển có tư liệu cho rằng Vu Cát được thời Hán Thuận Đế 162-144, Huỳnh Đình Kinh hiện chưa rõ ai là tác giả… và còn có cả tranh thờ Đạo giáo ờ miền Bắc Việt Nam và Trung Quốc, với hệ thống thần tiên rất phức tạp. Cội nguồn chủ yếu của Đạo giáo thời kỳ đầu, theo Trung Quốc Đạo giáo sử, có thể được trình bày như sau (trích Người Việt Nam với Đạo giáo, tác giả Nguyễn Duy Hinh, Nxb Khoa học Xã hội, 2003): Thứ nhất, bắt nguồn từ tôn giáo cổ đại và vu thuật dân gian. Trung Quốc cổ đại thịnh hành sung bái tự nhiên, quỷ thần, chúng là cái nôi ấm áp sản sinh ra Đạo giáo. Thượng Thư. Nghiêu Điển viết “Dâng lễ tế trời, cùng tế 6 vị thần, (hoặc giải thích là thủy, hỏa, lôi, phong, sơn, trạch; hoặc là thiên, địa, Đông, Tây, Nam, Bắc) bái vọng núi sông khắp các vị thần”. Lễ Ký, Tế Pháp viết “Núi rừng, sông suối, gò đống đều thường có mây bay làm nên mưa gió, hiện ra quái vật đều là thần. Bậc vua chúa tế bách thần”, lại còn viết “Điều đó không thay đổi suốt 5 dời Hoàng Đế, Đường, Ngu, Hạ, Ân”. Các vị thần như thần mặt trời, mặt trăng, tinh tú, núi, sông, gió, sấm… đều có cội nguồn rất cổ, kéo dài mãi mãi không dứt hình thành nên tín ngưỡng dân gian phổ biết. Bách thần được Đạo giáo hấp thụ trở thành các vị thần Đạo giáo, như Thiên đế biến thành Ngọc Hoàng Đại Đế, ba vị thần thiên, địa, thủy biến thành Tam Quan: Bắc phương Thất tinh tú thần thành Huyền Vũ (Chân Vũ), các vị thần khác như Đông Nhạc Đại Đế, Tứ Hải Long Vương, Thành Hoàng, Thổ Địa, Môn Thần, Táo Thần... đều đều được Đạo giáo lẫn dân gian thế tục tôn thờ. Thứ hai, Đạo giáo thời kỳ đầu bắt nguồn từ truyền thuyết thần tiên và phương thuật của phương sĩ từ thời Chiến Quốc đến Tần Hán. Thần tiên của Đạo giáo không giống với quỷ thần thông thường, không phải là tinh linh sống trong chốn u minh, mà là sinh mệnh của cá nhân sống hiện thực được kéo dài vô hạn vả thăng hoa. Đặc điểm của thần tiên là hình dáng giống người thường nhưng có thể trường sinh bất tử, tiêu diêu tự tại, thần thông quảng đại. Sùng bái thần tiên là hạt nhân tín ngưỡng của đạo giáo, là đặc điểm nổi bật nhất của Đạo giáo khác với các giáo lý của các tôn giáo khác. Sử Ký. Phong Thiên Thư ghi truyền thuyết ba núi thần Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu ở trong Bột Hải, có thể thấy nhưng khó đến, có người đã đến và được nói rằng trên đó có tiên nhân và thuốc bất tử. Tề Uy Vương, Tề Tuyên Vương, Yên Chiêu Vương đều đã phái người ra biển tìm ba núi đó. Sau khi thu tóm cả thiên hạ, Tần Thủy Hoàng nhiều lần tuần du phương đông vùng duyên hải, muốn có thuốc trường sinh bất tử bèn phái Từ Thị dẫn mấy ngàn đồng nam đồng nữ ra biển tìm tiên nhân tiên dược, lại sai Hàn Chung, Hầu Công, Thạch Sinh đi tìm thuốc tiên: kết quả tốn kém rất lớn mà không được gì. Thứ ba, Đạo giáo thời kỳ này bắt nguồn từ triết học Lão Trang, thời tiên Tần và học thuyết đạo gia thời Tần Hán. Lão Tử, Trang Tử, đạo gia thời Tần Hán đều là những phái học thuật, không phải là tôn giáo. Nhưng về mặt lý luận thì Đạo giáo dựa sát vào đạo gia, giương cao ngọn cờ đạo gia, kết thành mối lương duyên không thể nào tách rời nhau được. Điều đó tạo thành mối quan hệ phi lý (không phải cái này tức cái nọ mà cũng không phải hai cái tách rời nhau). Bất luận Lão Tử hay Trang Tử không không nói đến luyện đan và bùa chú, vừa phản đối mê tín quỷ thần, vừa không truy cầu trường sinh bất tử mọc cánh thành tiên. Lão Tử vốn là người sáng tạo ra đạo gia, Đạo giáo đưa ông lên thành giáo chủ và tôn thần của Đạo giáo, thần hóa Lão Tử, tôn thờ sách Lão Tử trở thành tiêu chí đánh dấu sự ra đời của Đạo giáo. Sau thời Hán thì thần hóa Trang Tử. Đời Đường thì tôn Lão Tử làm Đạo Đức chân kinh, Trang Tử làm Nam Hoa chân kinh, Liệt Tử làm Xung Hư chân kinh, Vân Tử làm Thông Huyền chân kinh. Bộ Đạo Tạng biên soạn sau thời Tống hầu như đem toàn bộ trước tác của đạo gia thời Tiên Tần về sau thành kinh điển của Đạo giáo và Lão Tử vẫn đứng đầu. Thứ tư, Đạo giáo thời kỳ đầu bắt nguồn từ tư tưởng Âm Dương Ngũ Hành. Trong Đạo giáo thời kỳ đầu ngoài Trương Giác, Lý Hoằng… là nông dân khởi nghĩa lợi dụng tổ chức Đạo giáo dân gian ra, thì các phần tử lớp trên khác của Đạo giáo đều không phải là kẻ đối lập với Nho học mà xuất hiện ở đời với tư cách cánh phụ của Nho học. Thần học Đạo giáo thời kỳ đầu đều lấy việc bảo vệ lễ giáo làm giới luật hàng đầu. Ví dụ như Thái Bình Kinh nhấn mạnh đạo phải trung quân, hiếu thảo, kính trọng người lớn. Lão Tử Tưởng Nhĩ Chú cũng khẳng định nhân hiếu trung nghĩa. Cát Hồng nêu lên cầu tiên phải lấy trung hiếu hòa thuận nhân tín làm gốc. Về phương diện này Đạo giáo và kinh học Nho gia không khác gì nhau. Tư tưởng âm dương ngũ hành trong Đạo giáo rất nhiều, vì dụ Thái Bình Kinh dùng quan điểm âm dương khảo sát tự nhiên, nói “Tính của trời đất nửa âm nửa dương”. Chu Dịch Tham Đồng Khế dùng quẻ hào phối hợp với âm dương ngũ hành mượn đó để thuyết minh vị thuốc và hỏa hầu luyện đan. Hoàng Đình Kinh lấy ngũ tạng phối hợp với ngũ hành, dùng khí âm dương bồi bổ thân thể, rèn luyện thân hình. Thuyết âm dương ngũ hành là căn cứ lý luận trọng yếu của nội ngoại đan học. Thứ năm, Đạo giáo thời kỳ đầu bắt nguồn từ y học và tri thức vệ sinh thể dục cổ đại. Đạo giáo tu luyện trường sinh lấy thể phách khỏa mạnh làm công phu sơ bộ, cho nên coi trọng đạo dưỡng sinh thân thể tráng kiện, chú ý hấp thụ tư tưởng y dược và dưỡng sinh học cổ đại, về phương diện này từ xưa đã tích lũy phong phú. Trang Tử. Khắc Ý có ghi về “Người chuyên về đạo dẫn, chuyên về bồi dưỡng thân thể: thở ra hít vào, nhả cái cũ nạp cái mới, như con gấu vươn cổ dẫn khí, con chim duỗi chân khi thở, chỉ vì trường thọ mà thôi”. Tam Quốc Chí. Hoa Đà truyện nói “Thời xưa tiên thực hiện đạo dẫn, con gấu vươn cổ con cú mèo ngoái đầu, uốn mình khởi động các khớp để cầu khó già”… Trên đây là những ngọn nguồn chủ yếu của Đạo giáo, có thể thấy ngọn nguồn chủ yếu của Đạo giáo tiếp cận gần gũi hơn cà với văn hóa Kinh Sở và văn hóa Yên Tề, hai dòng suối lớn đạo giao và thần tiên đạo gia chủ yếu tồn tại trong hai dòng văn hóa lớn đó. Ngoài ra còn phải kể thêm văn hóa Ba Thục. Hán Trung, Ba Thục sớm yêu chuộng Lão Tử và tiên đạo, coi trọng yêu quỷ, vu thuật cực kỳ thịnh. Cuối đời Hán, Trương Lỗ ở Hán Trung dùng quỷ đạo dạy bá tính. Khách kính trọng đồng cốt, thường đến cúng bái. Thái Thượng Lão Quân Tranh Đạo giáo, Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Ngoài học giả đạo gia Tiên Tần là Lão Tử và Trang Tử, còn có nhiều học giả thời Chiến Quốc như Điền Biền, Thận Đáo… họ lấy đạo pháp tự nhiên của Lão Tử làm gốc, mượn tên “Hoàng Đế” viết ra nhiều tác phẩm khiến cho mọi người tín phụng đạo gia Lão Tử, tôn sùng Hoàng Đế, đem tư tưởng của Lão Tử và Hoàng Đế hợp lại, hình thành một học pháp mới gọi là Hoàng Lão. Hoàng Lão học ra đời và phát triển ở nước Tề, khu vực Sơn Đông ngày nay, gồm có Hoàng học và Lão học. Về Lão học thì nội dung luận bàn về Đạo vô vi vô bất vi của Lão Tử, Trang Tử… còn nội dung của Hoàng học là học thuyết của Hoàng Đế. Hoàng Đế là một vị vua huyền thoại, Tư Mã Thiên đã ghi trong Sử Ký. Ngũ Đế Bản Kỷ. Hoàng Đế là con của Thiếu Điển họ Công Tôn vì ở gò Hiên Viên nên gọi là Hiên Viên Thị, sau chiếm được Cơ Thủy nên đổi ra họ Cơ, làm vua nước Hữu Hùng. Sau đánh bại Viêm Đế, Xuy Vưu bèn lên ngôi thay Thần Nông Thị tự xưng Hoàng Đế. Dùng Phong Hậu là tướng (văn ban), dùng Lực Mục làm tướng (võ ban), sai Đại Nạo làm Giáp Tý (tính năm), Dung Thành làm lịch, Hy Hòa chiêm nhật (coi ngày), Thường Nghi chiêm nguyệt (coi tháng), Tẩu Khu chiêm tinh khí (xem sao), Linh Luân làm luật lữ (âm nhạc). Lệ thu làm toán số. Truyền thuyết cho Hoàng Đế là người phát minh ra nghề trồng dâu, nuôi tằm, y dược, thuyền bè, xe cộ, nhà cửa, chữ viết. Như vậy Hoàng Đế đã được Đạo giáo thần thần thoại hóa, bộ kinh đầu tiên được nêu ra là Hoàng Đế Âm phù kinh, khoảng 400 chữ với niên đại khoảng Tần Hán về trước là đánh tin cậy. Bố cục Đạo quán Trích cuốn Taoist and the Art of China file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Thông qua tín ngưỡng, đặc biệt trong công thức Tam giáo đồng nguyên Nho Phật Ðạo, Ðạo giáo đã có ảnh hưởng sâu rộng trong sinh hoạt tôn giáo lễ bái của người Việt với các thể hiện như lễ tế, sấm ngữ, thiên thư, đạo kinh, đạo sĩ và cơ sở thờ tự. Ðọc trong tiểu sử của Cát Hồng, ta thấy có nhắc tới mỏ đan sa của Giao Châu tại Câu Lậu, mà theo Ðại Nam nhất thống chí, nơi đó nằm trong huyện Thạch Thất, cách phủ Quốc Oai 20 dặm về phía Tây. Chắc chắn thời đó, có không ít đạo sĩ Trung Quốc thường xuyên lui tới nước ta để thu thập đan sa. Hình thức đầu tiên của Ðạo giáo nước ta là đạo thần tiên với các phương sĩ ở cuối thời nhà Hán, chủ yếu là luyện đan. Các tiên ông như Ðổng Phụng cứu mạng Sĩ Nhiếp, và Yên Kỳ Sinh với di tích thăng thiên ở núi Yên Tử, hoặc thứ sử Trương Tân (năm 201), người theo đạo Hoàng Lão. Thời ấy, việc tu tiên cũng đã phát triển khá mạnh. Mâu Tử đề cập nhiều tới Ðạo giáo khi ông viết cuốn Lý hoặc luận để chứng minh với những trí thức đông đảo đang vây quanh Sĩ Nhiếp rằng Phật giáo tốt hơn Nho giáo và Ðạo giáo. Sau đó, là các hình thức khác của Ðạo giáo. Các nhân vật truyền thuyết thời vua Hùng trong Lĩnh Nam chích quái và Việt điện u linh tập đều trở thành tiên. Ta có Tứ bất tử (hoặc Tứ phủ) gồm Tản Viên, Chử Ðồng Tử, Thánh Gióng và Sơn Tinh. Riêng Chử Ðồng Tử, một nhân vật được kể là người Phật giáo nhưng động thái nhuốm màu sắc đạo thần tiên. Thời Bắc thuộc, có tới 92 đạo quán làm cơ sở thờ tự của Ðạo giáo như Thông thánh quán và Khai nguyên quán, v.v... Câu chuyện chung quanh việc lên ngôi vua của Lý Công Uẩn cho thấy việc sử dụng sấm ký và tác động của nó. Ảnh hưởng của bài thiên thư Nam quốc sơn hà bên bờ sông Như Nguyệt chứng tỏ lòng tin có tính Ðạo giáo rất cao của quân sĩ dưới quyền Lý Thường Kiệt. Từ thời Lý Trần, các khoa thi Tam giáo cho thấy xã hội rất coi trọng Ðạo giáo, xem tương đối ngang hàng với Phật giáo và Nho giáo. Ðời Trần, Vua Trần Nhân Tông là một vị vua anh minh, thông hiểu tam giáo, Trần Quang Chỉ khi đề từ cho bức tranh Trúc Lâm Đại Sĩ xuất sơn đồ, đã cho ta biết khá rõ những gì mà vua Trần Nhân Tông đã được nuôi dạy, lúc còn trẻ: “Khi lớn, ngài học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển. Ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ gì là không mau chóng nắm được sâu sắc”. Như thế, vua Trần Nhân Tông đã thừa hưởng một nền giáo dục hết sức rộng rãi, với một tinh thần cởi mở, kết hợp kiến thức khoa học với văn chương, quân sự và âm nhạc. Đây là truyền thống giáo dục Việt Nam và Phật giáo Việt Nam, mà ta đã thấy xuất hiện từ thời Mâu Tử và Khương Tăng Hội (Toàn tập Trần Nhân Tông, tác giả Lê Mạnh Thát, Nhà xuất bản Phương Đông, 2010). Từ chân núi đền Hùng với đền Ngọc Hoa cho tới khắp nước, Ðạo giáo được biến thể và Việt hoá, vẫn sinh động suốt mấy ngàn năm nay trong sự thờ phụng của dân gian, đáp ứng khuynh hướng cầu viện tha lực của dân dã. Ðạo giáo Việt Nam từng có một hệ thống đạo quán, tịnh xá, phủ đền với các đạo sĩ thuộc giới trí thức. Trong 14 năm đô hộ (1414-1427), với dụng ý tiêu diệt trí thức của Ðại Việt, tháng Chín năm 1415, tên tướng Hoàng Phúc nhà Minh đã cho bắt giải nhiều nhà nho, nhà sư và đạo sĩ... về Yên Kinh. Đàn cầu đảo Trích cuốn Taoist and the Art of China file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Các cơ sở vật chất dùng làm nơi thờ tự hoặc tu tập của của Ðạo giáo thường kèm các chữ như động, quán, viện, cốc, thất... Hầu như các chùa tên có chữ “Thiên” đều vốn là nơi thờ tự của Ðạo giáo nên trong chùa, có nhiều tranh tượng mang yếu tố Ðạo giáo. Nhiều nghi lễ của Phật giáo Bắc Tông như giải oan, cầu siêu, trừ tà, bùa chú, gọi hồn, v.v... có gốc tích phần nào từ nghi lễ thờ phụng của Ðạo giáo. Có chùa còn dựng Ðiện trong khuôn viên của mình, hoặc lập bàn xin xăm ở một mé trong chánh điện. Toàn Chân Đạo (Toàn Chân Phái) là một phái lớn hình thành từ thời Nam Tống, hưng thịnh thời Nguyên, bắt đầu suy tàn vào thời Minh, hiện nay vẫn là phái mạnh nhất. Vương Trùng Dương (1112-1170) là người lập Toàn Chân Phái năm 1167 khi ông truyền giáo ở Sơn Đông dựng Toàn Chân Am nên lấy đó làn tên giáo phái. Vương Trùng Dương tên là Vương Trung Phu, sau khi xuất gia lấy tên Vương Triết hiệu Trùng Dương. Năm 1159 ông tuyên bố gặp tiên hóa thân của Lã Đồng Tân truyền bí quyết. Ông lấy Đạo Đức Kinh, Bát Nhã Tâm Kinh, Hiếu Kinh làm kinh cơ bản. Toàn Chân Đạo xu hướng tam giáo hóa, đưa ra tông chỉ “Thái Thượng vi Tổ, Thích Ca vi Tông, Phu Tử vi Khoa Bài”. Toàn Chân Đạo đã chính thức đánh giá Tam giáo. Đạo giáo là Tổ nghĩa là Gốc, lý luận Đạo giáo lấy Lão Tử làm cơ sở là cội nguồn của Tam giáo. Phật giáo là Tông tức tiếp tục phát huy tư tưởng Đạo giáo đó là cách nhìn của Lão Tử Hóa Hồ Kinh. Nho giáo là Khoa Bài tức hình thức thể hiện của Đạo giáo, đó là lập luận cho Khổng Tử học Lão Tử. Nội dung này đã từng dẫn đến tranh luận thời Nam Bắc triều, tuy rằng lúc đó chưa hình thành tông chỉ như Toàn Chân Đạo đưa ra. Cho nên Vương Trùng Dương dùng ba kinh chủ yếu: Đạo Đức Kinh của Đạo giáo, Bát Nhã Tâm Kinh của Phật giáo, Hiếu kinh của Nho giáo. Dùng ba kinh như thế, nhưng nội dung chủ yếu của Toàn Chân Đạo là Đạo giáo. Toàn chân có nghĩa là “Toàn kỳ bản chân” tức bảo toàn tinh, khí, thần. Toàn Chân Đạo đã hoàn thành quá trình Đạo giáo hấp thụ Phật giáo và Nho giáo. Tóm tắt khác quát như sau: Đạo giáo Trung Quốc ra đời trên cơ sở Hoàng Lão học tức học thuyết về đường lối trị quốc của Hoàng Đế (thiên đạo) và triết học Lão Tử về Đạo bản thể. Đó là phần lý luận: Học. Sở dĩ chuyển sang Đạo (tôn giáo) là vì kế thừa tín ngưỡng nguyên thủy như thần đạo, vu thuật (bùa chú). Thành tố thứ ba cực kỳ quan trọng là phương tiện đạo (dưỡng sinh). Đạo giáo ngay từ thời Hoàng Lão đã chia thành Đạo sĩ tộc (Đạo giáo cung quán sau này) và Đạo giáo dân gian. Hai con đường cơ bản là phù chú và luyện đan chi phối lịch sử phát triển của Đạo giáo. Theo cuốn Thái Ất Thần Kinh, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb Văn hóa Dân tộc, 2009 thì Lão Tử thuộc dòng họ Lão Long Cát, mà chúng ta đã biết Lão Long Cát chính là “võ tướng” trong thời kỳ Viêm Đế Thần Nông. Đây chính là một thông tin lịch sử hết sức quan trọng cho phép chúng ta nhận định khả năng Lão Tử là người Lạc Việt rất cao, do vậy cần phải xem xét các dữ kiện lịch sử khác liên quan. Tại nước ta, Lão Tử được thờ ở làng Giáp Nhị, tổng Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội (trích cuốn Bách thần Hà Nội, tác giả Nguyễn Minh Ngọc, Nxb Mũi Cà Mau, 2001). Ngoài ra, Lão Tử được thờ làm thành hoàng tại đình Thổ Hà, Việt Yên, Bắc Giang. Bên bờ sông Cầu, quê hương của những làn điệu dân ca quan họ, di sản văn hóa thế giới, có một ngôi đình làng cổ nổi tiếng. Đình Thổ Hà đã có trong danh sách xếp hạng di tích của Viện Viễn Đông Bác Cổ từ thời Pháp. Ngôi đình này nổi bật bởi nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc rất tinh xảo của xứ Kinh Bắc. Trích thần tích chép từ văn bia Cung sao sự tích thánh tại đình: Đình Thổ Hà và cửa võng Xã Vân Hà, Việt Yên, Bắc Giang, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Đời vua Thục An Dương Vương phả lục chép rằng có một vị đại vương cấp bậc Thượng đẳng thần thuộc bộ Càn Hào. Sau khi Hùng Vương thứ 18 mất ngôi, vua An Dương Vương nối ngôi. Có một người từ Bắc quốc đến đạo Kinh Bắc, phủ Bắc Hà, huyện An Việt và ở nhờ chùa Đoan Minh Tự của trang Thổ Hà. Ngày đêm giảng kinh đọc sách, có sức màu nhiệm như thần, trong trang có nhiều con em theo học. Một hôm Người bảo học trò rằng: ta sinh ra từ thủa Hồng Mông, trời đất mới mở mang, cho nên ta thông minh khác thường. Năm xưa mẹ ta kể chuyện rằng: mẹ vốn là người từ bi, huyền diệu mà sinh ra, tên là Mỹ Thổ Hoàng. Có một đêm mẹ ta nằm mơ thấy nuốt một vì sao Ngưu tinh, thế là mẹ có thai đủ 81 năm. Đến ngày 7 tháng Giêng năm Canh Thìn nách tay phải của mẹ rung động rồi sinh ra ta. Khi ta mới ra đời đầu đã bạc, chân có chữ, ta không có bố, khi đẻ mẹ vịn vào cây mận cho nên lấy họ ta là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng. Quanh vùng nơi ở của người không ai xảy ra tật bệnh, nên người trong trang thường bảo nhau rằng: đó là khí sinh thánh tổ, chẳng phải người thường, các nơi cũng đến xin làm thần tử. Từ đó danh vang thiên hạ, người đến theo học càng đông. Lúc bấy giờ trong nước có giặc Quỷ mũi đỏ, một vị quan thị hầu vua bị bệnh ngã nhào xuống đất và sau đó bệnh tật lan khắp mọi nơi, trong nước nhiều nơi mắc bệnh, người ốm người chết thiệt hại rất nhiều. Nhà vua vội truyền hịch đi các nơi: nếu ai trừ được giặc Quỷ vua sẽ gia phong tước lộc. Lão Tử liền vâng mệnh đến nơi có giặc Quỷ, người liền niệm chú rằng: "Đạo pháp bản vô đa, nam thần quán Bắc Hà, đô lai tam thất tự, tận diệt thế gian ma". Đọc chú xong, Người lại thư phù vào gậy trúc và phóng đi bốn phương, các nơi đều yên ổn. Quan địa phương tâu với triều đình, vua liền mời Lão Tử đến ban thưởng, mở tiệc khoản đãi và phong người là Đệ nhất nhân (người tài nhất). Lại cho ngài được hưởng thực ấp ở vùng An Việt huyện. Người bái tạ đức vua và trở về Thổ Hà trang. Về tới nơi Người liền cho xây dựng cung doanh trị sở. Khi xây xong Người cho mời các bô lão trong trang và tất cả học trò đến mở tiệc ăn mừng. Lúc sắp sửa ăn bỗng thấy đám mây năm sắc từ từ sa xuống đất, trong mây thấp thoáng có bóng người mặc áo đỏ, Lão Tử liền theo đám mây cưỡi rồng đỏ mà biến mất. Bấy giờ là năm Giáp Tý ngày 22 tháng Hai (đời vua An Dương Vương), Người đã hóa… Mặc dù thần tích không hề nói Thái Thượng Lão Quân của làng Thổ Hà là Lão Tử, nhưng tên của vị thành hoàng này hoàn toàn trùng với tên Lý Lão Đam - Lý Bá Dương. Lão Tử lập công nghiệp rồi hóa thần ở Việt Nam. Câu đối cổ trong đình Thổ Hà: Đẳng Thích Ca nhân tế quần sinh, Phật pháp thiên cổ / thần tiên thiên cổ Dữ Khổng thánh công thùy vạn thế, Xuân Thu nhất kinh / Đạo Đức nhất kinh. Dịch nghĩa:<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Sánh Thích Ca nhân nghĩa giúp chúng sinh, Phật pháp nghìn đời kiếp / thần tiên nghìn đời kiếp, Cùng Thánh Khổng công đức trùm vạn thế, Xuân Thu một bộ kinh / Đạo Đức một bộ kinh. Hình thức và nội dung câu đối này nêu bật quan niệm Tam giáo đồng nguyên, sánh cùng nhau trong dân gian: Huyền tham Thích điển công tỉ Vô Sơn, Đạo Đức nhất kinh truyền chí bảo, Quyết bản Khương công thuật khai Hoàng Thạch, thần tiên chung cổ hiển linh tung. Dịch nghĩa: Huyền diệu vào tích Thích Ca, công đức như núi Vô Sơn, Đạo Đức kinh một bộ truyền báu vật, Phù quyết gốc từ Khương Công, pháp thuật mở tảng Đá Vàng, thần tiên tự cổ xưa sáng dấu linh. Một câu đối khác: Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai đạo Giáo, Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền huyễn hóa tác thần tiên. Dịch nghĩa: Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng tay nắm chốn thanh hư, khai mở đạo Giáo, Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một mình truyền phép nhiệm màu, tạo tác thần tiên. Câu đối ở đình Thổ Hà: Do Chu ngật kim, nhất kinh truyền đạo đức Tại hà chi tứ, vạn cổ chấn anh linh. Dịch nghĩa: Từ thời Chu tới nay, một bộ kinh truyền đạo đức, Cạnh sông Cầu bên bến, chục ngàn đời chấn linh thiêng. Câu đối ở cửa võng đình Thổ Hà: Qui giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỉ Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên. Dịch nghĩa: Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỉ, Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên. (Trích bài viết Lão Tử hóa … Việt kinh, tác giả Minh Xuân; http://bachviet18.com). Câu đối trên cho biết Lão Tử, người mở đạo Giáo sống vào thời “Đông Chu” của Trung Quốc sử và nói rõ “Nam Việt” là vùng đất duy nhất mà Lão Tử đã hóa thần tiên. Câu đối trên còn nêu một điển tích khác, nói tới pháp thuật xuất xứ từ Khương Thái Công Lã Vọng, người giúp Chu Vũ Vương nên nghiệp thiên tử ngàn năm trong cuốn tiểu thuyết thần tiên Phong Thần, tác giả Bồ Tát Nguyễn Minh Không. Khương Thái Công sau lại hóa hình là Hoàng Thạch Công, truyền sách binh pháp cho Trương Lương phò trợ Lưu Bang lập nhà Hán, được diễn biến thành bộ tiểu thuyết Hán Sở tranh hùng, tác giả Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Mà chúng ta cũng đã biết, Khương Thái Công chính là vua Đế Minh trong Việt sử, hay Hoàng Đế trong truyền thuyết và huyền thoại Trung Quốc. Như vậy, các câu đối đình Thổ Hà khả năng tác giả là Bồ Tát Nguyễn Minh Không và Phật Hoàng Trần Nhân Tông, nhằm gửi gắm thông tin cho hậu thế. Ngoài ra, nội dung câu đối cũng nói đến truyền thuyết thần Kim Quy giúp cho Thục Phán An Dương Vương xây thành Cổ Loa và rẽ nước đưa ngài xuống biển. Trong câu đối còn nói đến con Rồng và di tích trang Ngũ Vân - tức năm hiện tượng mây, mưa, sấm, chớp và gió. Móng thần Kim Quy làm cho chúng ta liên tưởng câu chuyện Lý Nam Đế được thần nhân trao vuốt Rồng và đánh thắng giặc Lương. Vuốt Rồng và móng Rùa vàng, tương ứng với đôi câu đối trong đình Thổ Hà, như vậy sau thời Triệu Quang Phục đã có người sáng tác nên câu truyện Sự tích Đầm Nhất Dạ trong Lĩnh Nam chích quái, với sự liên kết tới Chử Đồng Tử - Tiên Dung vào thời Hùng Vương thứ III - Hùng Quốc Vương. Hùng Vương truyền tới đời thứ III (Truyền thuyết Hùng Vương - thần thoại Vĩnh Phú, sách đã dẫn và truyền thuyết còn lưu truyền trong dân gian nói: Vào đời Hùng Vương thứ XVIII) thì hạ sinh được con gái tên là Tiên Dung - Mỵ Nương đến tuổi 18 dung mạo đẹp đẽ, không muốn lấy chồng, chỉ mải vui chơi chu du khắp thiên hạ. Vua cũng không cấm. Mỗi năm vào khoảng tháng hai, tháng ba lại sắm sửa thuyền bè chèo chơi ở ngoài bể vui quên trở về. Hồi đó, ở làng Chử Xá cạnh sông lớn có người dân tên là Chử Vi Vân sinh hạ được Chử Đồng Tử (có nghĩa là người con trai ở bến sông), cha từ con hiếu. Nhà gặp hỏa hoạn, của cải sạch không, còn một khố vải cha con ra vào thay nhau mà mặc. Kịp tới lúc cha già ốm, bảo con rằng: “Cha chết cứ để trần mà chôn, giữ khố lại cho con”. Con không nỡ làm theo, dùng khố mà liệm bố. Đồng Tử thân thể trần truồng đói rét khổ sở, đứng ở bên sông, hễ nhìn thấy thuyền buôn qua lại thì đứng dưới nước mà ăn xin, rồi lại câu cá độ thân. Không ngờ thuyền Tiên Dung tới, chiêng trống đàn sáo, kẻ hầu người hạ rất đông. Đồng Tử rất kinh sợ. Trên bãi cát có khóm lau sậy, lưa thưa dăm ba cây. Đồng Tử bèn nấp trong đó, bới cát thành lỗ nằm xuống mà phủ cát lên mình. Thoắt sau, Tiên Dung cắm thuyền dạo chơi trên bãi cát, ra lệnh vây màn trướng ở khóm lau mà tắm. Tiên Dung vào màn cởi áo dội nước, cát trôi mất, trông thấy Đồng Tử. Tiên Dung kinh sợ hồi lâu, thấy con trai bèn nói: “Ta vốn không muốn lấy chồng, nay lại gặp người này, cùng ở trần với nhau trong một hố, đó chính là trời xui nên vậy. Người hãy đứng dậy tắm rửa, ta ban cho quần áo mặc rồi cùng ta xuống thuyền mở tiệc ăn mừng”. Người trong thuyền đều cho đó là cuộc giai ngộ xưa nay chưa từng có. Đồng Tử nói là tại sao mà lại nấp ở đấy. Tiên Dung ta thán rồi ép làm vợ chồng. Đồng Tử cố từ, Tiên Dung nói: “Đây là do trời chắp nối, sao cứ chối từ?”. Người theo hầu vội về tâu lại với vua. Hùng Vương nói: “Tiên Dung không thiết danh tiết, không màng của cải của ta, ngao du bên ngoài, hạ mình lấy kẻ bần nhân, còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa”. Tiên Dung nghe thấy, sợ không dám về, bèn cùng Đồng Tử mở bến chợ, lập phố xá, cùng dân buôn bán, dần dần trở thành cái chợ lớn (nay là chợ Thám, còn gọi là chợ Hà Lương). Phú thương ngoại quốc tới buôn bán, thờ Tiên Dung, Đồng Tử làm chúa. Có người lái buôn giàu nói rằng: “Quí nhân bỏ một dật vàng ra ngoài biển mua vật quí, sang năm có thể thành mười dật”. Tiên Dung cả mừng bảo Đồng Tử: “Vợ chồng chúng ta do trời tác thành, đồ ăn thức mặc do trời phú cho, hãy đem vàng cùng phú thương ra hải ngoại buôn bán”. Có núi Quỳnh Viên, trên núi có am nhỏ, bọn lái buôn thường ghé thuyền ở đó lấy nước ngọt. Đồng Tử lên am chơi, có tiểu tăng tên gọi là Ngưỡng Quang truyền phép cho Đồng Tử. Đồng Tử lưu học ở đó, giao hàng cho lái buôn mua hàng. Sau lái buôn quay lại am chở Đồng Tử về. Sư tặng Đồng Tử một cây gậy và một chiếc nón mà nói rằng: “Linh thiêng ở những vật này đây”. Đồng Tử trở về, giảng lại đạo Phật, Tiên Dung giác ngộ, bỏ phố phường, cơ nghiệp, rồi cả hai tìm thầy học đạo. Trên đường viễn hành, trời tối mà chưa thấy thôn xá, hai người tạm nghỉ ở giữa đường, cắm trượng, che nón mà trú thân. Đến canh ba thấy hiện ra thành quách, lầu ngọc, điện vàng, đền đài dinh thự, phủ kho miếu xã, vàng bạc châu báu, giường chiếu chăn màn, tiên đồng ngọc nữ, tướng sĩ thị vệ la liệt trước mắt. Sáng hôm sau ai trông cũng kinh lạ, đem hương hoa, thức ăn quý tới mà xin làm bầy tôi. Có văn võ bá quan chia túc quân vệ, lập thành nước riêng. Hùng Vương nghe tin cho rằng con gái làm loạn, bèn sai quân tới đánh. Quần thần xin đem quân ra phân nhau chống giữ. Tiên Dung cười mà bảo: “Điều đó ta không muốn làm, do trời định đó thôi, sinh tử tại trời, há đâu dám chống lại cha, chỉ xin nhận theo lẽ chính, mặc cho đao kiếm chém giết”. Lúc đó dân mới đến đều kinh sợ tản đi, chỉ có dân cũ ở lại. Quan quân tới, đóng trại ở châu Tự Nhiên, còn cách sông lớn thì trời tối không kịp tiến quân. Nửa đêm gió thổi bay cát nhổ cây, quan quân hỗn loạn. Tiên Dung cùng thủ hạ, thành quách phút chốc bay tản lên trời, chỗ đất đó tuột xuống thành cái chằm lớn. Dân bèn lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, gọi là chằm Nhất Dạ Trạch (nghĩa là chằm một đêm), gọi bãi là bãi Mạn Trù (bãi Màn Trướng), gọi chợ là chợ Thám, còn gọi là chợ Hà Lương. Sau vua Hậu Lương là Diễn sai Trần Bá Tiên đem quân sang xâm lược phương Nam. Lý Nam Đế sai Triệu Quang Phục làm tướng cự địch. Quang Phục sai quân nấp ở chằm. Chằm sâu mà rộng, lầy lội, tiến binh rất khó, Quang Phục dùng thuyền độc mộc đột xuất ra đánh cướp lương thực, cầm cự lâu ngày làm cho quân giặc mệt mỏi, trong ba bốn năm không hề đối diện chiến đấu. Bá Tiên than rằng: “Ngày xưa đây là chằm một đêm bay về trời, nay lại là chằm một đêm cướp một người”. Nhân gặp loạn Hầu Cảnh vua nhà Lương bèn gọi Bá Tiên về, ủy cho tùy tướng là Dương Sằn thống lĩnh sĩ tốt. Quang Phục ăn chay lập đàn ở giữa đầm, đốt hương mà cầu đảo, bỗng thấy thần nhân cưỡi rồng bay vào trong đàn mà bảo Quang Phục rằng: “Hiển linh còn đó, người có thể cầu tới cứu trợ để dẹp bằng họa loạn”. Dứt lời, tháo vuốt rồng cho Quang Phục, bảo: “Đem vật này đeo lên mũ đâu mâu có thể khiến giặc bị diệt”. Đoạn bay lên trời mà đi. Quang Phục được vật đó, reo mừng vang động, xông ra đột chiến, quân Lương thua to. Chém Dương Sằn trước trận, giặc Lương phải lùi. Quang Phục nghe tin Nam Đế mất, bèn tự lập làm Việt Vương, xây thành ở Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh. (Có chỗ viết là Châu Quỳnh Viên Sơn tức Kim Mộc Sơn ở cửa Nam Giới, huyện Thạch Hà). Đền Hóa thờ Triệu Quang Phục Xã Dạ Trạch, Khoái Châu, Hưng Yên file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Quan câu chuyện Sự tích Đầm Nhất Dạ, chúng ta chú ý tên gọi những địa danh gắn liền với câu chuyện như: chằm Nhất Dạ Trạch (nghĩa là chằm một đêm), gọi bãi là bãi Mạn Trù (bãi Màn Trướng), gọi chợ là chợ Thám còn gọi là chợ Hà Lương hay Hà Thị, châu Tự Nhiên, các tên gọi tương tự như một phần nội dung trong Đạo Đức Kinh: “Người noi theo phép tắc của Đất, Đất theo phép tắc của Trời, Trời theo phép tắc của Đạo, còn Đạo thì theo phép tắc Tự Nhiên”. Mạn Trù có nghĩa là màn trời hay lưới trời Đế Thích, mỗi mắt lưới chính là một hạt lân vi trần. Nhất dạ trạch nghĩa chằm một đêm chính là mô tả trạng thái Thái Cực. Tự Nhiên mang ý nghĩa sự hiện hữu ban đầu của Thái Cực hay Đạo là tự nhiên, như nhiên như vậy, không do bất kỳ ai sinh ra cả. Đạo Đức Kinh viết: “có trước cả Thượng Đế”. Chằm hay Đầm ứng với cung Tốn độ số 4 của Hà Đồ, và ngày sinh Chử Đồng Tử mồng 4 tháng Giêng âm lịch và ngày lên trời thành tiên của Chử Đồng Tử và Tiên Dung là ngày 14 tháng Tám âm lịch. Trong lịch sử tôn giáo, Chử Đồng Tử được nhân dân tôn xưng là Chử Đạo Tổ, ngài là một trong Tứ Bất Tử của nước Việt. Sơ đồ phân bố địa điểm thờ Chử Đồng Tử vùng châu thổ hạ lưu sông Hồng Sách Tục thờ Chử Đồng Tử, tác giả Đỗ Lan Phương, Nxb Tôn giáo, 2010 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Dưới thời Hùng Vương, tín ngưỡng của Ngài Chử Đồng tử có thể được đông đảo người tin theo mà dấu ấn còn để lại đến tận bây giờ, đó là tục thờ các vị thần với tư cách là một tín ngưỡng, bên cạnh những vị thần có công trạng với đất nước. Hình ảnh còn lại của tín ngưỡng đầu tiên của dân tộc Việt ngày nay, chính là cây Nêu trong những ngày Tết ở Việt Nam. Mặc dù truyền thuyết về cây Nêu hoàn toàn thể hiện dấu ấn của Phật giáo: Đức Phật hiện thân đuổi quỉ cứu người và để lại cây Nêu. Nhưng tục trồng cây Nêu với tư cách là một tín ngưỡng đặc thù, chỉ ở Việt Nam, và ở những vùng ảnh hưởng của văn minh Văn Lang cũ mới có cây Nêu; còn những vùng ảnh hưởng Phật giáo khác trên thế giới không có tục này. Do tục trồng Nêu trải qua hàng ngàn năm thăng trầm của lịch sử nên đã mất đi nội dung đích thực của nó, tương tự như trường hợp bánh Chưng, bánh Dầy và chỉ còn mang tính chất thể hiện như một phong tục truyền thống. Hơn nữa, hình ảnh cây Nêu thể hiện một ý thức vươn lên để đạt tới sự hòa nhập với vũ trụ (vòng tròn phía trên cây tre) phù hợp với hình ảnh cuối cùng của hai thần vật của ngài Chử Đồng tử: cái nón đặt trên đầu cây gậy cắm xuống đất, biến thành cung điện lâu đài để ngài trú qua đêm, tại nơi mà sau này gọi là Đầm Nhất Dạ. Vòng tròn cũng là biểu tượng của Dương, của giá trị tâm linh và cũng là của Thái Cực; sự khởi nguyên của vũ trụ và cũng là mục đích đạt tới của Đạo giáo. Chử Đồng Tử là một trong bốn vị thần hộ quốc thuộc hàng bất tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, đương nhiên không phải vì lấy công chúa Tiên Dung và làm phò mã của vua. Ông xuất thân từ địa vị một người nghèo và đạt đến đỉnh cao của sự phú quý, nhưng vẫn sẵn sàng bỏ hết để tầm sư học đạo. Chỉ cần như vậy, cũng đủ để ông có sự tín nhiệm của người đương thời với những giá trị tinh thần mà ông hướng tới. Ngai thờ Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân Đền chính Đa Hòa, Dạ Trạch file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Qua cuộc đời của ông cho thấy ít nhất căn bản quan niệm nhân sinh quan của Chử Đồng Tử là: của cải thế nhân và sự thăng trầm của cuộc đời chỉ là phù du. Trong truyền thuyết Đầm Nhất Dạ nói tới sự kiện Chử Đồng Tử, Tiên Dung đắc đạo và tạo dựng một vương quốc hư ảo cho mình bằng quyền năng của thần thánh. Đây là hình ảnh của một thế giới tâm linh tạo nên tín ngưỡng của người dân Lạc Việt thời Hùng. Hình ảnh cuối cùng của truyền thuyết này là lâu đài, cung điện nguy nga biến mất chỉ trong một đêm, để lại cho thế nhân một đầm nước long lanh, phản chiếu những hình ảnh hư ảo của cuộc đời qua hàng thiên niên kỷ. Như những chương trên đã trình bày thuyết Âm Dương Ngũ Hành là hệ tư tưởng vũ trụ quan chính thống của thời Hùng Vương, giải thích từ bản nguyên vũ trụ là Thái Cực đến sự vận động của nó là Âm Dương Ngũ hành. Tính bao trùm về mọi mặt và sự ứng dụng rộng rãi trên thực tế đã chứng tỏ sự thuyết phục của học thuyết này. Do đó, không thể có cơ sở từ ngay trong tâm lý để phát sinh và tồn tại một hệ tư tưởng tôn giáo vượt ra ngoài giá trị của nó. Nhưng về nhân sinh quan, xuất phát từ những giá trị đạo lý đề cao tình người và tính nhân bản, cộng với tri thức sâu sắc trong thiên văn qua sự vận động của những tinh tú ảnh hưởng đến chu kỳ sinh học của con người - tức là sự chi phối của sức mạnh thiên nhiên. Đồng thời nền văn minh đó cũng thừa nhận khả năng của con người trong sự tương tác giữa con người với thiên nhiên qua Sự tích Dưa Hấu. Do đó, tín ngưỡng mà ngài Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung tạo dựng, chỉ có thể hướng con người vươn tới sự hòa nhập với thiên nhiên hoặc đạt tới những quyền năng của thiên nhiên trong sự vận động của Âm Dương Ngũ Hành. Trên thực tế, truyền thuyết về các thánh thần ở Việt Nam cho thấy: mỗi thần đều có chức năng riêng trong việc chi phối vận động của tự nhiên: Thiên Lôi làm sấm sét, Long vương làm mưa…các thần trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian Việt Nam không có quyền, hoặc quyền năng rất hạn chế trong việc quyết định thay đổi định mệnh con người. Từ đó, trên cơ sở của những giá trị tư tưởng chính thống chi phối toàn bộ xã hội Văn Lang là thuyết Âm dương Ngũ hành và cuộc đời của ngài Chử Đồng Tử, thì hoàn toàn có cơ sở để đặt giả thuyết về khả năng hình thành một tín ngưỡng đa thần vào thời Hùng Vương mà vị khởi xướng là ngài Chử Đồng Tử. Hình ảnh cuối cùng trước khi vào cõi bất tử của ngài Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung là chiếc nón và cây gậy đã tạo nên một vương quốc tâm linh hư ảo, đây chính là hình tượng của sự vươn lên đạt tới Thái Cực, tức là sự hòa nhập hoàn toàn với vũ trụ. Lễ hội Chử Đồng Tử và Tiên Dung Chử Xá, Đa Hòa, Yên Vĩnh file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Trên cơ sở vấn đề được đặt ra, nếu so sánh với tư tưởng của Lão Tử qua cuốn Đạo Đức Kinh có thể đi đến một nhận xét về sự tương đồng. Nếu như tư tưởng Đạo Đức Kinh hướng con người trở về với bản thể thì cuộc đời và sự nghiệp của ngài Chử Đồng Tử, trong một bối cảnh xã hội đã coi thuyết Âm Dương Ngũ Hành có nguồn gốc Thái Cực (Đạo) là ý thức hệ chính thống thì hoàn toàn có khả năng dẫn đến một lý thuyết tương tự. Trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử bàn đến khởi nguyên của vũ trụ: “Không - là cái bản thủy của trời đất; Có - là mẹ sinh ra vạn vật”, so sánh với quan điểm vũ trụ quan của Văn Lang qua câu tục ngữ “Mẹ tròn con vuông” và hình tượng bánh Chưng bánh Dầy thì hai quan điểm này gần như hoàn toàn trùng khớp.Thái Cực - Dương tương ứng với cái “Không” của Lão Tử. Âm - lý của Ngũ hành nằm trong bánh Chưng là nguồn gốc của vạn vật, tương ứng với cái “Có” là mẹ sinh ra vạn vật. Có thể nói rằng: quan điểm vũ trụ quan của Lão Tử chính là sự diễn đạt dưới một hình thức khác quan điểm vũ trụ quan của Văn Lang. Nếu như thuyết Âm Dương Ngũ hành lý giải hiện tượng khởi thủy của vũ trụ thì Lão tử nói về năng lực chi phối sự vận động, hình thành và phát triển của vũ trụ. Ngài cho rằng năng lực đó là Đạo và đây là nền tảng cơ bản để hình thành Đạo giáo sau này: “Đạo là cái gì chỉ mập mờ thấp thoáng, thấp thoáng mập mờ mà bên trong có hình tượng; mập mờ thấp thoáng mà bên trong có vạn vật; nó thâm viễn, tối tăm mà bên trong có cái tinh túy; tinh túy đó rất xác thực và rất đáng tin” và “Ở trên không sáng, ở dưới không tối, thâm viễn bất tuyệt; không thể gọi tên nó lại trở về với cõi vô vật; cho nên bảo là cái trạng không có hình trạng, cái tượng không có vật thể. Nó thấp thoáng, mập mờ. Đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi”. Sự lý giải về Đạo của Lão tử có thể khẳng định rằng đó là sự lý giải bằng một hình thức khác ý niệm của Thái Cực từ văn minh Lạc Việt. Văn minh Lạc Việt - qua nội dung ”Mẹ tròn, con vuông” - quan niệm Thái Cực là thể bản nguyên của vũ trụ trong đó không có cái “Có” để nói đến cái “Không”, tràn đầy viên mãn, tức là không có sự phân biệt. So với ý niệm của Lão tử “Ở trên không sáng, ở dưới không tối, thâm viễn bất tuyệt” hoàn toàn tương ứng với tính không phân biệt, tràn đầy viên mãn; cũng có thể gọi là “trạng không có hình trạng, tượng không có vật thể”, khó diễn đạt cho nên nói “thấp thoáng mập mờ”; viên mãn tràn đầy cho nên nói “đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi”. Thái Cực là thể bản nguyên của vũ trụ, gốc của vạn vật, cho nên nói “bên trong có hình tượng” “có vạn vật”. Sự trùng hợp về ý niệm trong hệ tư tưởng vũ trụ quan trong Đạo Đức Kinh với văn minh Lạc Việt, đã chứng tỏ những vấn đề sau: Lão Tử đã kế thừa vũ trụ quan Văn Lang để hướng tới một nhân sinh quan theo quan điểm của ông và là tiền đề của Đạo giáo. Như vậy đã chứng tỏ rằng: Lão tử khả năng là người có nguồn gốc từ Văn Lang hoặc là Đạo Đức Kinh được phát hiện sau khi Văn Lang mất nước. Do đó, hoàn toàn có cơ sở để đặt vấn đề về tác giả của Đạo Đức Kinh - nếu do Lão Tử viết - thì Lão Tử và Chử Đồng Tử chỉ là một người duy nhất, đây cũng là một vấn đề đã được nhiều học giả nghi vấn. Những luận điểm này giải thích vì sao Chử Đồng Tử được coi là một trong bốn vị thần hộ quốc của người Lạc Việt. Câu chuyện này về mặt nghệ thuật còn có những hình tượng và kết cấu rất huyền ảo, độc đáo. Hình ảnh người nghèo đến nỗi không có cái khố để mặc, lấy một cô công chúa kiều diễm trong một hoàn cảnh đặc biệt. Đây là một sự tuyệt đỉnh của tính hư cấu hợp lý, hầu như không có khảo dị cho những trường hợp tương tự ở bất cứ một truyện cổ tích nào trên thế giới. Hoàn cảnh của Chử Đồng Tử và Tiên Dung có sự hài hòa của bản tính tự nhiên của con người với những giá trị đạo lý giàu chất nhân bản, mặc dù trước đó, Chử Đồng Tử nghèo đến mức khó có thể lấy vợ; công chúa Tiên Dung thì lại không muốn lấy chồng. Đó cũng là một cách giải quyết tài tình, có hậu cho một người con chí hiếu: nhường cái khố cuối cùng cho cha để chấp nhận “Nghèo đến không có khố mà mang”. Như vậy, qua đoạn mở đầu với những hình ảnh đối lập đầy ấn tượng giữa sự phú quý tột đỉnh của công chúa Tiên Dung và cái nghèo nàn đói khó đến cùng cực của Chử Đồng Tử; diễn biến sự kiện đầy kịch tính và sự hư cấu cao độ, nhưng hoàn toàn hợp lý và giầu chất nhân bản; đã cho thấy trí tưởng tượng rất phong phú, giàu chất lãng mạn của những tác gia thời Hùng Vương. Có thể nói, những tác gia đời Hùng đã đạt đến trình độ bậc thầy về tuyệt kỹ trong văn học (trích Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh). Do có phép thuật thần thông, Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã tạo dựng nên một quốc gia riêng. Vua Hùng đem quân tới. Toàn bộ nhà cửa thành quách biến mất chỉ trong một đêm. Hai vợ chồng bay lên trời. Nội dung câu chuyện mang mật ngữ toàn bộ cấu trúc triều đình thời Hùng Vương được đưa lên trời hay mã hóa bằng các chòm sao thiên văn, đó chính là những dữ liệu trong các bộ tranh thờ Đạo giáo miền Bắc, Việt Nam như Hành Say, Thánh Đạo Hưng Long… và chúng là những bản đồ thiên văn phương Đông cổ đại Tử Vi Viên. Tử Vi Viên tức là nội cung với thê tử, Thái Vi Viên là triều đình luận sự, Thiên Thị Viên tức là lãnh thổ quốc gia. Thiên Thị Viên còn mang ý nghĩa là cái chợ trời, các chòm sao được gắn tên các quốc gia có thực lực lớn trước thời Xuân Thu Chiến Quốc của Trung Quốc, thuộc phía Bắc sông Dương Tử. Vậy thì, Chử Đồng Tử và Tiên Dung là những chòm sao nào? Chúng ta hãy tham khảo nội dung trong Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, tập I - Nhóm nghiên cứu thời tiền sử 2009. Phong Châu xưa được gọi là chốn Bồng Lai Cung Quyết. Dòng sông Bạch Hạc chạy qua dưới chân núi Thất Diệu, uốn lượn từ Phú Thọ, Sơn Tây đổ về. Mỗi lần mùa nước thì tôm cá nhiều vô kể, chim cò kéo nhau về đậu kín mặt sông nên gọi là sông Bạch Hạc. Cũng từ điển tích ấy mà người dân gọi sông này là sông Bạc, tức kiếm được nhiều tiền bạc ở đây, nhưng người đời gọi theo thần thoại là dòng Ngân Giang, và quả là có cầu Ô Thước bằng tre do dân chúng bắc ngang qua một khúc sông hẹp. Vào ngày 7 tháng Bảy âm lịch hàng năm, nhân dân tổ chức rước kiệu Chử Đồng Tử và Tiên Dung tế lễ một ngày một đêm tại đạo quán Khê Tang rồi lại rước về mộ. Công chúa Tiên Dung táng tại ngã ba được phân chỉ ranh giới giữa Văn Nội, Văn La và Văn Phú, còn Chử Đồng Tử chôn tại gò Thần Đồng cạnh Đống Đánh thuộc Khúc Thủy - Việt Trì. Qua nội dung trên, chúng ta nhận thấy rằng: Chử Đồng Tử và Tiên Dung bay lên trời trở thành sao Ngưu Lang và sao Chức Nữ ở hai bên dòng sông Ngân Hà, ngày hội của hai người là ngày 7 tháng Bảy âm lịch hàng năm. Theo cuốn Việt tỉnh thư, tác giả Nguyễn Ngọc Chương, Nxb Thế giới, 2010 cũng ghi nhận: “về chữ viết về sau là chử Sinh gồm có nét ngang là mặt đất, ở đấy chui lên con trâu là chữ Ngưu tức là loài trâu, gọi là Ngưu chủ, vật tổ của họ thánh Chử Đồng Tử, con rể khác họ với vua Hùng”. Ngày xưa, trong khu rừng sâu có một giếng nước trong mát quanh năm không bao giờ cạn, gọi là giếng tiên. Vì giếng ở cách xa dân cư, người trần không mấy ai qua lại nên các nàng tiên trên trời thường dùng chỗ ấy làm nơi tụ hội. Ở đấy họ thỉnh thoảng đến lấy nước, hoặc có khi trút bộ cánh trên bờ, xuống bơi lội đùa giỡn cho thỏa thích. Cũng ngày ấy, ở cõi trần có một chàng trai làm ăn chăm chỉ nhưng sống một thân một mình. Một hôm anh lên rừng đốn củi, không ngờ quá chân lạc bước đi mãi vào khu rừng sâu. Trong khi tìm lối ra, anh bỗng đi qua cái giếng tiên, lúc ấy có ba nàng tiên đang bơi lội cười đùa trong làn nước. Anh lặng lẽ đứng nhìn mê mẩn quên cả về. Thấy có ba bộ cánh trắng để lại trên bờ cỏ xanh, anh tính chuyện rình bắt một cô theo mình. Nghĩ vậy anh rón rén bò lại lấy trộm một bộ, rồi nấp vào một gốc cây. Sau khi tắm xong, ba nàng tiên thong thả lội lên bờ. Hai nàng được cánh của mình bay vụt lên trời, còn một nàng mất cánh ngơ ngác tìm tòi khắp nơi. Thấy vậy, anh chàng từ chỗ nấp bước ra. Nàng tiên cầu khẩn: Hỡi chàng trai lạ! Chàng hãy vui lòng trả cánh cho ta để ta về! - Không được! - Chàng trẻ tuổi tươi cười trả lời - Bộ cánh này đã lọt vào tay ta thì đừng có hòng lấy lại. Nàng hãy theo ta về nhà làm vợ. Ta sẽ làm cho nàng sung sướng! Mặc dầu nàng tiên van khóc hết lời, chàng trai quyết định không chịu trả. Trời đã xế chiều, anh chàng làm bộ cương quyết ra về. Túng thế nàng tiên đành phải lẽo đẽo đi theo. Về tới nhà, trước tiên anh bí mật giấu kỹ bộ cánh rồi ra sửa soạn cơm nước, áo quần, chăn chiếu cho nàng tiên dùng. Từ đó nàng tiên trở thành vợ anh. Lấy nhau không được bao lâu, vợ chàng sinh một đứa con trai. Thấm thoắt đứa con đã lên ba tuổi. Chồng sung sướng nhìn con bập bẹ tập nói, còn vợ thì đã thưa nhắc đến chuyện đòi lại bộ cánh để trở về trời. Một hôm, anh chàng có việc phải đi xa và đi lâu. Trước khi lên đường, anh dặn vợ: Mẹ con nàng ở nhà có ăn thì ăn đụn vang rồi ăn sang đụn ré chớ ăn đụn lúa rẹ có tổ ong vò vẽ đốt cả mẹ liền con. Nhưng vợ ở nhà không làm theo đúng lời dặn của chồng. Sau khi ăn hết đụng lúa vang, nàng liền chuyển sang ăn đụn lúa rẹ. Không thấy có tổ ong vò vẽ nào đốt cả, nàng tiên bèn sinh mối ngờ vực. Lời dặn của chồng, nếu trước đấy là một lời dọa, thì lúc này đã trở thành một câu mách ngầm. Quả nhiên, sau một hồi tìm tòi, nàng tiên đã tìm thấy bộ cánh cũ của mình giấu kín dưới cót thóc mà chồng dặn phải kiêng không đụng đến. Ðược cánh, nàng tiên nóng lòng về thăm bố mẹ, chị em đã từ lâu xa cách. Nhưng khi lắp cánh vào thì thấy ngường ngượng. Ðã lâu lắm không bay, nàng cảm thấy nặng nề khi cất cánh. Từ đó, hàng ngày nàng phải giở cánh ra tập luyện. Mỗi lần mẹ bay la bay bổng, đứa con trai ngây thơ cười như nắc nẻ. Thấy con cười, mẹ mắng: Cười sằng sặc có khi rặc cổ, Cười ha hả có khi rã xương. Chẳng bao lâu thói quen đã trở lại. Nhưng vì thương con, nàng tiên vẫn nấn ná chưa chịu về trời. Lật bật đã sắp đến ngày về của chồng. Nàng quyết định phải ra đi. Một buổi chiều, nàng tiên làm một mẻ rất nhiều bánh. Sáng hôm sau, mẹ đưa con vào buồng, dặn: Con ở nhà hễ khi nào đói thì vào buồng lấy bánh mà ăn đừng có đòi mẹ nhé! Rồi mẹ gài lên áo con một chiếc lược và dặn: Con nhớ giữ lấy lược cho cha nghe! Dặn đoạn, nàng tiên vỗ cánh bay bổng lên không trung. Người chồng trở về thấy mất vợ, lại thấy lược vợ cài vào áo con thì đoán ra nông nỗi: con chim trời đã về tổ cũ. Từ đấy cha con côi cút, lòng anh buồn rười rượi; thằng bé vắng mẹ kêu khóc đêm ngày. Một hôm, chàng lại bế con tìm lên giếng tiên. Chàng vẫn nhớ con đường đi ngày nọ xuyên qua mấy khu rừng sâu. Nhưng lần này cây cỏ rậm rì che kín hết lối. Chàng tìm mãi hết ngày này sang ngày khác. Cuối cùng chàng cũng lần tìm ra chốn cũ. Lập tức chàng đưa con đến nấp bên bờ giếng tiên, hy vọng sẽ được gặp lại vợ ở đây. Chờ mãi đến trưa hôm sau, cha con mới thấy một bà già từ trên trời xách thùng xuống múc nước. Từ chỗ nấp bước ra, chàng trai nắm lấy thùng cầu khẩn: Hỡi bà tiên! Bà hãy thương tôi giúp cho tôi một việc. - Việc gì? - Bà tiên hỏi. - Tôi là chồng nàng tiên ba năm trước đây xuống tắm chốn này. Nàng đã là vợ tôi và là mẹ của thằng bé này. Thế mà nàng đột ngột bỏ về trời không một lời để lại. Vậy bà làm ơn giúp cha con chúng tôi, nhắn tin cho vợ tôi xuống đây gặp chồng gặp con một tý. Ðây là chiếc lược của vợ tôi để lại làm dấu tích, bà cứ cầm về, vợ tôi khắc biết ngay. - Ta biết rồi. Nàng tiên đó là ả Chức. Ả Chức hằng ngày dệt vải nhưng vẫn nhớ chồng nhớ con. Ðược, ta hứa sẽ đưa giúp. Hai cha con lại cất công ngồi chờ cho đến tận chiều hôm sau mới thấy có hai người từ trên trời xuống. Họ có đem theo mọi thứ dây túi để đưa cha con lên trời. Họ dặn cha con phải nhắm mắt và phải giữ hết sức im lặng. Vào khoảng canh khuya, hai cha con đã bước vào cõi trời, và khi có lệnh "mở mắt", họ đã yên vị trong nhà ả Chức. Vợ chồng, mẹ con gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Nhưng chỉ được hai ngày sau, hai cha con lại phải rời "thượng giới". Lệnh cấm của Ngọc Hoàng rất nghiêm. Bất cứ người trần nào dám cư trú ở cõi trời đều bị coi là phạm nghịch. Người nào chứa chấp cũng bị tội nặng cả. Ả Chức tuy thương chồng con vô hạn, nhưng không thể xuống sống ở cõi trần. Ðành phải chia tay. Ngày hôm đó, vợ gạt nước mắt trao cho hai cha con một cái trống, một mo cơm, và dặn: Hễ chân chạm đất thì cứ đánh ba tiếng trống để trên này biết mà cắt dây. Hai cha con xuống được nửa đường thì trời đã trưa. Thấy thằng bé khóc đói, anh chàng bèn dừng lại giở mo cơm đặt lên mặt trống cho con ăn. Thằng bé bốc cơm ăn làm vương vãi trên mặt trống. Một đàn quạ thấy vậy bèn sà xuống mổ lấy mổ để. Ở trên kia ả Chức nghe có tiếng trống tưởng là cha con đã xuống đến đất, bèn cứ việc cắt dây. Dây đứt, cha con rơi xuống biển cả. Thấy việc không ngờ lại xảy ra như thế, đàn quạ biết là lỗi tự mình, bèn bay lên trời kêu váng cả lên. Thế là việc phạm lệnh cấm của nhà ả Chức lọt đến tai Ngọc Hoàng. Sau khi biết rõ tình cảnh của họ, Ngọc Hoàng lấy làm thương hại, bèn hạ lệnh cho cha con lên trời, giao cho chàng công việc chăn trâu. Sau này người ta gọi anh là chàng Ngưu, hay chàng Ngâu. Hàng ngày chàng Ngưu thả trâu của nhà trời ăn cỏ nhưng chỉ được phép thả trâu và cư trú bên kia bờ sông Ngân. Bên này bờ, ả Chức vẫn ngày ngày dệt vải. Mỗi năm Ngọc Hoàng chỉ cho hai vợ chồng gặp nhau một lần vào ngày mùng bảy tháng Bảy. Ðàn quạ có lỗi thì ngày hôm ấy phải đội đá bắc cầu cho hai vợ chồng qua lại. Từ đấy, cứ đến ngày mùng bảy tháng Bảy, trời thường rỉ rả mưa phùn, người ta gọi là mưa Ngâu, cho rằng đó là những giọt nước mắt của vợ chồng được gặp gỡ trong một ngày, rồi lại ly biệt cho đến năm sau. Giống nòi quạ cho đến nay vào ngày ấy thường bị sói đầu, người ta cho là vì phải làm phận sự đội đá bắc cầu nên mới như thế. Truyền thuyết về chuyện tình Ngưu Lang Chức Nữ với mối tình chân thật. Chức Nữ là công chúa nhà Trời rất siêng năng, cần mẫn, quanh năm ngồi dệt cửi, lại phải lòng anh chàng chăn trâu Ngưu Lang. Những đêm đẹp trời hai người thường hẹn họ, tình tự dưới ánh trăng, Trời biết được nổi trận lôi đình đày hai người đi xa, cách nhau qua dải Ngân Hà mịt mù sương khói. Rồi cứ mỗi năm đến đêm Thất Tịch, họ lại tìm đến nhau nhờ bầy chim Ô Thước bắc cầu, để rồi những giọt lệ lâm ly rơi xuống cõi nhân gian trở thành những hạt mưa ngâu vào đêm mùng 7 tháng Bảy âm lịch. Ngưu Lang là chòm sao Capricorne - Chòm Ma Kết và Chức Nữ là chòm sao Verseau - Chòm Bảo Bình, hai trong trong 12 chòm sao trên đường Hoàng Đạo theo thiên văn học cổ Hy Lạp (trích Phong thủy và phong thủy Việt Nam dưới góc độ khoa học, tác giả Ngô Nguyên Phi, Nxb Văn hóa Thông tin, 2001). Qua Sự tích Đầm Nhất Dạ, có thể nhận Chử Đồng Tử đi học đạo Phật ở núi Quỳnh Viên. Được sư thầy tặng bảo bối là cây gậy và chiếc nón. Sau đó về giảng lại đạo Phật cho Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ đạo Phật. Trong Tứ Bất Tử viết Chử Đồng Tử ra biển lên động Quỳnh Viên phảng phất như động Tiên ở. Chử Đồng Tử gặp một cụ già tóc bạc tay chống gậy tay xách túi. Cụ già cho biết là Phật Quang tên chữ là Minh Chương hiệu Đằng Hải tiên sinh, chủ động Quỳnh Viên, một trong 36 cung tiên nhà trời. Như vậy, vị Phật nào đã dạy Chử Đồng Tử? Theo truyền thuyết, Chức Nữ là cháu gái Ngọc Hoàng Thượng Đế - Đại Nhật Phật - vua Kinh Dương Vương nên tương ứng với thời vua Hùng Vương thứ III - Địa Tạng Bồ Tát - Hùng Quốc Vương, đời thứ nhất. Theo Đạo giáo Việt Nam, tác giả Nguyễn Duy Hinh, Nxb Khoa học Xã hội, 2003: “tên gọi Chử Đồng Tử cũng là dấu hỏi. Đó không phải là một người có tên họ Chử tên Đồng Tử. Chử có nghĩa là bến nước, Đồng tử có nghĩa là cậu bé. Chử Đồng Tử là một cậu bé vô danh câu cá bên bờ sông. Chính vì vậy mà trong đền Dạ Trạch thờ một tượng cá chép”. Mà biểu tượng cá chép chính là Lạc Long Quân - Hùng Vương thứ II hay ông Thọ, tay cầm gậy đầu rồng. Vậy thì, Chử Đồng Tử khả năng được truyền đạo Phật bởi vua Lạc Long Quân - Phong Đô Đại Đế. Tuy nhiên, truyền thuyết lại nói Chử Đồng Tử học đạo từ nhà sư Phật Quang, chủ động Quỳnh Viên, một trong 36 cung tiên nhà trời, từ dữ liệu này chúng ta có thể khẳng định đó chính là vua Kinh Dương Vương, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đại Nhật Phật. Truyền thuyết Chức Nữ là cháu gái Ngọc Hoàng, như vậy có thể dự đoán Chức Nữ chính là con gái vua Hùng Quốc Vương - Hùng Vương III. Mặt khác, như đã giải mã truyền thuyết vua Kinh Dương Vương có một người con trai là Lạc Long Quân, Lạc Long Quân có chín người con trai và con trai cả là Hùng Quốc Vương, riêng Hùng Quốc Vương lại không xác định rõ ông có bao nhiêu người con trai và con gái nhưng chỉ biết truyền được 10 đời vua - Thập Vương Chân Nhân hay Thập Điện Diêm Vương. Dòng sông Ngân ngăn đôi hai bờ, Ngư Lang (sao Altair) ở bờ Tây còn nàng Chức Nữ phía bờ Đông xa hơn về phương bắc. Sao Ngưu Lang rất dễ nhận biết vì cạnh nó nằm giữa và gần như thẳng hàng với hai sao nhỏ. Chức Nữ (Vega) là ngôi sao sáng thứ 5 trên bầu trời nếu không kể Sao Mộc (một hành tinh là vật thể sáng thứ 4) thì nó là sao sáng nhất lúc này với ánh trắng xanh. Đêm 7 tháng Bảy 26/8/2009 Ngóng đợi mưa ngâu, Phan Bạch Châu file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Trong Lão Tử Minh chép: “Lão tử vi Chu tử tàng thất sử. Đương U vương thời, tam xuyên thật chấn dĩ Hạ Ân chi quí, âm dương chi sự, giám dụ thời vương.” dịch nghĩa “Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U vương, vùng ba sông bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.”. Nhà Chu có vùng Tam Xuyên (ba sông), Tam Xuyên là đất Đông Chu, nơi Tần Thủy Hoàng sau khi diệt Chu đã lập quận Tam Xuyên. Nhưng Tam Xuyên cũng có thể hiểu là Tam Giang, chính là đoạn dải Thiên hà chia làm hai nhánh trên bầu trời. Ngưu Lang Chức Nữ Từ điển bách khoa thiên văn học, Nxb KHKT, 1999 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Trong Tùy Đường diễn nghĩa, Hồi 71: “Vũ Tài Nhân nuôi tóc lại về cung – Tần Quân quân dựng phường được ân sủng”, Phật Hoàng Trần Nhân Tông cũng đã viết: “Do Tam giang mà nối với Ngũ Hồ - Mở Di Kinh mà dẫn về Âu Việt”. Hàm ý nói rằng: từ các chòm thiên văn vùng Ngân hà, sẽ xác định được lịch sử có mối liên kết với các nước phía Bắc sông Dương Tử, và mở Kinh Di Lạc đưa tất cả về lại nước Âu Lạc - sẽ được lý giải trong chương X: CHUYỂN LUÂN THÁNH VƯƠNG. Như vật, qua lịch sử và truyền thuyết, chúng ta cùng cần xem lại ý nghĩa nội dung lễ hội Thất Tịch còn lưu lại trong nền văn hóa Nhật Bản cho tới nay rất rõ nét: Lễ hội Tanabata (Thất Tịch) ở Nhật Bản cũng gắn liền với sự tích Ngưu Lang Chức Nữ. Lễ hội có tục viết điều ước vào giấy treo trên cành trúc ở cổng mỗi nhà. Trong lễ hội phụ nữ xin cho mình có được sự khéo léo trong nghề dệt cửi hoặc may vá, còn nam giới mong được văn hay chữ tốt. Vốn còn có tên là lễ hội Sao, được tổ chức vào ngày 7 tháng Bảy âm lịch. Lễ Tanabata mang truyền thuyết về người con gái đã dệt nên dải Ngân Hà, về một mối tình bị chia cắt, vì chỉ duy nhất trong ngày 7 tháng Bảy này, hai ngôi sao Altair và Vega ở hai đầu dải Ngân Hà mới được trùng phùng. Với những cặp tình nhân Nhật Bản, ngày lễ này giống như lễ tình yêu Valentine Châu Âu, nhưng nó đậm màu sắc Á Đông, lãng mạn và thi vị hơn nhiều. Lễ hội Sao Ảnh tham khảo Internet, Nhật Bản file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Truyền thuyết kể rằng, Ngọc Hoàng Thượng Đế có người con gái rất được yêu chiều tên là Orihime (Chức Nữ - “Chức” là con thoi trên khung cửi). Nàng dệt lụa rất đẹp, và làm chăm chỉ suốt ngày đêm đến nỗi không gặp được chàng trai nào để tính chuyện se tơ kết tóc. Lo lắng cho con, Ngọc Hoàng bèn đưa một chàng trai tên gọi Hikoboshi (Khiên Ngưu) đến gặp nàng. Hikoboshi là một chàng trai chăn bò sống ở bờ bên kia của dải Ngân Hà. Hai người vừa gặp mặt đã phải lòng nhau, và họ đã cưới nhau ngay sau đó. Nhưng rồi, vì quá say mê nhau, hai vợ chồng suốt ngày quấn quít, chẳng chịu làm việc gì cả. Orihime bỏ khung cửi lạnh tanh, còn Hikoboshi cũng để mặc đàn bò không ai chăn dắt. Ngọc Hoàng thấy vậy bèn nổi trận lôi đình, ra lệnh cho hai người phải rời nhau đến sống ở hai bờ cách biệt của sông Ngân Hà, suốt đời không được gặp lại. Thế nhưng, mềm lòng trước nước mắt con gái, ngài lại cho phép họ gặp nhau mỗi năm một lần vào ngày 7 tháng Bảy. Thương người con gái đau khổ khóc than, đàn chim ô thước sống bên bờ sông đã lấy thân mình làm cầu cho nàng vượt sông đến gặp chồng. Người Nhật Bản lại cho rằng ‘nếu trời mưa thì nước sông Ngân sẽ dâng cao, đàn chim không thể bắc cầu nên Ngưu Lang và Chức Nữ sẽ không được gặp gỡ’. Chính vì vậy, mọi người đều thành tâm cầu nguyện cho trời đừng mưa, để chàng trai và cô gái được trùng phùng. Người Việt Nam thì bảo ‘mưa Ngâu tháng Bảy là nước mắt của hai người trong niềm vui được gặp lại’. Ngày nay, vào ngày này hàng năm, người dân Nhật Bản lại trồng trước cổng những trúc hoặc tre tươi, được trang trí bằng những dải giấy tanzaku (giấy ngũ sắc hình chữ nhật). Người ta viết ước nguyện của mình trên những dải giấy đó, thành tâm cầu nguyện, mong nó sẽ trở thành sự thật. Nếu trời không mưa, các cặp tình nhân sẽ đưa nhau đến những ngôi đền thờ đạo Shinto gọi là Jinza, để cầu nguyện. Còn những người độc thân cũng đến chắp tay, mong tìm thấy trung nhân cho mình. Qua câu truyện cổ tích Nhật Bản, chúng ta thấy lễ hội Tanabata là lễ hội Sao hay có thể hiểu là lễ hội thiên văn, hoàn toàn tương thích với nội dung đã phân tích trong chuyện Chàng Ngưu ả Chức của Việt Nam, không chỉ vậy truyền thuyết này cũng phổ biến ở cả Hàn Quốc. Đồng thời, lễ hội này cũng là lễ hội của tình yêu nam nữ. Trong dòng tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam có một bức tranh mô tả câu chuyện tình Chàng Ngưu ả Chức: Ngưu Lang Chức Nữ Tranh dân gian Trung Quốc Chàng Ngưu ả Chức Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Hình ảnh Chức Nữ dệt lụa, đưa thoi trên bức tranh, mùa xuân lúc khí trời ấm áp, thảo mộc nảy mầm, người có thể đi ra để khởi đầu quá trình gieo gặt và chim én bay liệng, reo ca trên bầu trời trong xanh đến vô cùng. Đó là một cảnh thái bình được diễn cách cụ thể trong mùa xuân mà ta không cảm thấy chút nào ngăn cách giữa hai người nam nữ như câu chuyện tình Ngưu Lang Chức Nữ. Ý nghĩa bức tranh nói lên “ngày xuân con én đưa thoi” là vậy, là không còn ngăn cách, chia ly nữa. Qua câu truyện Ngưu Lang Chức Nữ và dấu vết văn hóa Văn Lang vẫn còn lưu giữ lại trong các quốc gia Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… chứng tỏ đã có một nền văn hóa bao trùm, chúng ta hãy cùng xem lại câu chuyện Sự tích dưa hấu. Trước khi tìm hiểu hàm nghĩa câu truyện, xin được tóm tắt truyền thuyết Quả Dưa Hấu như sau: Bắt đầu từ một nhận định của Mai An Tiêm thể hiện nhân sinh quan của chàng, khiến vua Hùng nổi giận đày An Tiêm ra đảo. Ở hoang đảo, An Tiêm đã chứng tỏ trên thực tế nhận định của mình. Vua Hùng gián tiếp thừa nhận quan điểm của Mai An Tiêm, nên đã tha tội cho chàng. Vì vậy, vấn đề bắt đầu từ một nhận định của Mai An Tiêm thể hiện nhân sinh quan của chàng và đây là điểm cốt lõi của sự việc. Nhưng so sánh Sự tích Dưa Hấu chép trong cuốn sách xưa nhất là Lĩnh Nam Chích Quái với cuốn sách mới nhất chép lại sự tích này là Hợp tuyển truyện cổ tích Việt Nam (Sách dùng trong nhà trường - Nxb Giáo Dục 1996 ) thì câu nói của Mai An Tiêm là nguyên nhân diễn biến toàn bộ câu chuyện lại hoàn toàn khác nhau. Theo Lĩnh Nam Chích Quái thì câu nói của Mai An Tiêm là: Đó là do tiền thân của ta, đâu phải ân chúa!, còn theo Hợp tuyển truyện cổ tích Việt Nam thì câu nói của Mai An Tiêm là: Của được là của lo, của cho là của nợ. Thái độ của vua Hùng với cả hai câu nói có nội dung khác nhau này đều là: Ngài cho Mai An Tiêm là kẻ vô ơn và trừng phạt chàng. Như vậy, tội của Mai An Tiêm thuộc về phạm trù đạo đức. Từ đó dẫn đến một kết cấu vô lý là: không lẽ việc tìm ra quả dưa hấu và sự phú túc của chàng trên hoang đảo, lại chứng tỏ được chàng không vô ơn hay sao? Đây là những ý tưởng rất xa lạ với những giá trị nhân bản được đề cao dưới thời Hùng Vương. Kết cấu câu chuyện với câu nói của cả hai cuốn sách nói trên, thật là khó lý giải, nếu không muốn nói là phi lý. Do đó, hoàn toàn có cơ sở cho rằng: cả hai cuốn sách nói trên, chưa phản ánh đúng thực tế câu nói nguyên thủy của Mai An Tiêm trong truyền thuyết. Với từ “tiền thân”, tức là kiếp trước, nghiệp báo ở câu nói của Mai An Tiêm trong Lĩnh Nam Chích Quái, mang nội dung tư tưởng Phật giáo. So sánh câu trước của Mai An Tiêm và câu sau khi chàng nói với vợ trên hoang đảo “Trời đã sinh ra ta tất nuôi nổi ta, sống chết bởi trời ta đâu lo lắng!” thì không có sự đồng nhất về ý tưởng: câu trước nói đến tiền thân (kiếp trước), câu sau nói đến ý trời. Như vậy, câu nói của Mai An Tiêm trong Lĩnh Nam Chích Quái là do đời sau thêm vào. Nhưng với Hợp tuyển truyện cổ tích Việt Nam thì câu: “Của được là của lo, của cho là của nợ!” là nguyên văn của câu tục ngữ đã lưu truyền từ lâu trong dân gian. Câu tục ngữ này gồm hai vế. Vế thứ nhất: “Của được là của lo”, hàm ý: muốn được của cải để có sự phú túc thì phải biết lo lắng; hoặc là: của tự dưng mà có thì phải lo sợ vì nguồn gốc của nó. Vế thứ hai: “Của cho là của nợ”, hàm ý phải biết ơn người đã cho mình của cải (trả ơn, nợ); hoặc là: của tự dưng mà người ta cho mình, không rõ nguyên nhân thì tức là phải nợ người ta một cái gì đó. Nhưng toàn bộ câu thì lại mang hàm ý khuyên không nên mang cái lo và cái nợ vào mình. Với ý nghĩa trên thì dù Mai An Tiêm là tác giả của câu tục ngữ Việt Nam đó, đáng nhẽ chàng phải từ chối những của cải mà vua Hùng ban cho chàng. Nhưng ngay cả khi từ chối của cải của vua ban, chàng cũng không thể nói câu đó. Bởi vì quan hệ của chàng với vua Hùng - ngoài quan hệ cá nhân còn là trách nhiệm của người dân đối với đất nước mà vua Hùng là đại diện. Nếu cho rằng Mai An Tiêm là người ngoại quốc, nên không có trách nhiệm với một quốc gia không phải quê hương ông. Nhưng ít nhất cũng phải tồn tại một giá trị đạo lý về tình người và cái nghĩa đối với một quốc gia đã dung nạp mình, khi vua Hùng đã dành nhiều ân sủng cho Mai An Tiêm. Như vậy, chứng tỏ câu nói này của Mai An Tiêm trong Hợp tuyển truyện cổ tích Việt Nam cũng là sự nhầm lẫn, do cách hiểu về nội dung và truyền thuyết nói trên. Sự sửa chữa của đời sau theo cách hiểu của thời đại đó được chứng minh ở trên, là một yếu tố chứng tỏ rằng: truyền thuyết Sự tích Dưa Hấu cũng như toàn bộ truyền thuyết về thời Hùng Vương, đều đã tồn tại và phổ biến từ rất lâu trong văn hoá dân gian như một hiện tượng xã hội, nên đã được các học giả Việt Nam ở thế kỷ XIV sưu tầm. Nhưng, câu nói thực sự của Mai An Tiêm trong truyền thuyết nguyên thủy về Quả Dưa Hấu là gì? Như phần chứng minh ở trên thì cả hai câu trong cuốn sách cổ nhất và mới nhất, đều không phải đích thực câu nói nguyên thủy của Mai An Tiêm trong truyền thuyết. Nhưng cả hai câu đều mang hàm ý triết lý về nhân sinh quan. Như vậy, nó phải là sự thay thế sai lầm cho một câu triết lý phản ánh nhân sinh quan của Mai An Tiêm. Quan điểm của Mai An Tiêm đã được chứng thực ở đoạn sau, nên đã được vua Hùng gián tiếp thừa nhận bằng cách tha tội cho chàng. Do đó, có thể căn cứ vào diễn biến nội dung của đoạn sau để suy đoán câu nói của Mai An Tiêm ở đoạn trước. Đoạn này có những tình tiết như sau: - Mai An Tiêm và gia đình bị đày ra một đảo hoang, nhưng chàng vẫn chấp nhận và sẵn sàng cho cuộc sống của mình. Điều này chứng tỏ chàng vẫn tự khẳng định mình. - Mai An Tiêm gặp may vì có con chim trắng từ phía Tây mang đến cho gia đình chàng những hạt giống dưa. Sự gặp may của Mai An Tiêm - theo cách nói của người xưa - tức là trời cho. Nhưng nếu Mai An Tiêm không tự khẳng định mình bằng sự cố gắng của con người thì không có sự may mắn đó. Như vậy trong trường hợp của Mai An Tiêm chứng tỏ rằng: con người và hoàn cảnh là hai yếu tố cấu thành nên số phận. Phải chăng, qua Sự tích Dưa Hấu, tổ tiên ta đã nhắc nhở con cháu đời sau về khả năng của con người trong việc khắc phục hoàn cảnh. Trong nội dung câu chuyện, sự tức giận của vua Hùng rất có khả năng ngài thiên về phía thiên mệnh (số phận - đây có thể chỉ là một tình tiết hư cấu để tạo nội dung cho câu chuyện, trên thực tế chưa hẳn vua Hùng đã ủng hộ thuyết thiên mệnh. Bởi vì, nếu có sự ủng hộ đó thì đã không có câu chuyện này). Với sự chứng minh ở phần trên - nền văn minh Văn Lang đã phát hiện quy luật vận động của các thiên thể và những hiệu ứng vũ trụ tác động tới tự nhiên, cuộc sống và tâm sinh lý của con người - nên ông cha ta thường có những dự đoán tương lai trên cơ sở quy luật đã nắm bắt được (Trù thứ bảy - Kê Nghi trong Hồng phạm cửu trù thể hiện điều này), nhưng cũng không cho sự dự đoán là tuyệt đối (nếu ba người cùng bói thì theo hai người - Hồng phạm). Do đó, câu nói của Mai An Tiêm và diễn biến hợp lý nhất phải mang một nội dung như trên. Thí dụ có thể là: “Tất cả do trời định và sự cố gắng của bản thân nên mới được như vậy!”. Vua Hùng buộc chàng phải chứng minh điều này. Chàng đã chấp nhận, cùng vợ con ra đảo để chứng tỏ quan điểm của mình. Do đó câu nói của Mai An Tiêm trên hoang đảo phải điều chỉnh lại như sau: “Trời đã bắt ta như vậy thì chỉ còn cách cố gắng, lo lắng cũng vô ích!”. (So với câu này trong Lĩnh Nam chích quái là: “Trời sinh ra ta, sống chết bởi trời ta đâu lo lắng!”). Với sự hiệu chỉnh trên thì kết cấu câu chuyện sẽ hợp lý, ít nhất cũng là với nội dung của câu chuyện đã được sửa đổi. Để độc giả tiện minh xác, xin chép lại câu chuyện từ Lĩnh Nam chích quái với hai câu nói của Mai An Tiêm đã sửa đổi (những chỗ nào sửa, được in bằng chữ đậm và kèm nguyên văn bản cũ trong ngoặc, bên cạnh). Về đời Hùng Vương có viên quan tên là Mai Tiêm, vốn người ngoại quốc. Khi lên 7, 8 tuổi, vua mua từ thương thuyền về làm nô bộc. Kịp tới khi lớn lên diện mạo đoan chính, nhớ thuộc sự vật, vua ban tên cho là Mai Yển, hiệu An Tiêm, lại ban cho một người thiếp. Tiêm sinh hạ được một trai, một gái. Vua rất tin yêu, giao cho công việc, dần dần trở nên yêu quí, bổng lộc rất nhiều. An Tiêm là người tự tin thường nói rằng: “Tất cả do trời định và sự cố gắng của bản thân nên mới được như vậy” (Sau, Tiêm đâm ra kiêu căng ngạo mạn, thường nói rằng: “Đó đều do tiền thân của ta, đâu phải do ơn chúa”). Vua nghe nói cả giận phán: “Nay ta đưa ngươi ra một nơi không có người giữa bể, xem người chứng tỏ những ý nghĩ của ngươi như thế nào?” (Vua nghe nói cả giận, phán: “Làm thần tử của người mà kiêu căng ngạo mạn, không biết ơn chúa, lại nói đều là vật tiền thân! Nay đưa nhà ngươi ra một nơi không có người giữa bể, xem có còn vật tiền thân không?”). Bèn đưa (đày) ra cửa biển Nga Sơn (còn gọi là Giáp Sơn) bốn bể toàn cát và nước, không có vết chân người qua lại, ban cho một số lương thực đủ bốn năm tháng để cho ăn (hết thì chết). Vợ Tiêm than khóc, Tiêm cười mà bảo: “Trời đã bắt ta như vậy, chỉ còn cách cố gắng, lo lắng cũng vô ích!” (“Trời đã sinh ta tất nuôi nổi ta, sống chết bởi trời, ta đâu lo lắng”). Bỗng thấy một con bạch trĩ từ phương Tây bay lại đậu ở đầu núi, kêu ba bốn tiếng. Sáu bảy hạt dưa theo tiếng kêu mà rơi xuống cát, mọc lên xanh rì rồi kết thành quả. An Tiêm mừng rỡ mà nói: “Đây không phải là quái vật mà là trời cho để nuôi ta đó”. Bèn bổ ra mà ăn, thấy vị mát ngọt, tinh thần sảng khoái, mới giữ lấy hạt, năm sau đem trồng. Ăn hết, lại đem đổi lấy gạo nuôi vợ con. Tiêm không biết gọi là quả gì, nhân vì chim trĩ ngậm hạt từ phương Tây bay tới nên gọi là quả Tây Qua. Phường chài phường buôn đều cho là ngon. Những người ở thôn xóm xa gần đều mua để lấy giống. Sau vua nghĩ tới Tiêm, cho người đến xem An Tiêm sống ra làm sao (còn sống hay đã chết). Người đó về tâu lại với vua, vua thở dài mà than rằng: “Điều hắn nói quả thật không ngoa” (“Hắn nói là vật tiền thân, điều đó thật không ngoa”). Bèn xuống chiếu gọi về cho phục chức cũ, lại cấp cho nô tì; gọi bãi cát Tiêm ở là bãi An Tiêm, làng đó gọi là làng Mai Thôn. Có người lại suy tôn cha mẹ ông bà An Tiêm mà cho rằng nơi họ ở là châu An Tiêm thuộc tỉnh Thanh Hóa. Trong Sự tích Dưa Hấu có những tình tiết rất đáng chú ý: Mai An Tiêm là người ngoại quốc, vậy phải chăng truyền thuyết Quả Dưa Hấu đã chứng tỏ sự tiếp thu của vua Hùng đối với những tinh hoa văn hóa bên ngoài. Do đó, vua Hùng đòi hỏi phải có sự chứng minh trên thực tế. Ý tưởng của câu chuyện không phải chỉ dừng lại ở đấy, mà còn chứng tỏ một quan hệ ngoại giao rộng rãi của Văn Lang với các quốc gia lân bang. Hình ảnh con chim trắng từ phía Tây bay lại, điều này có thể suy diễn như sau: màu trắng của con chim thuộc hành Kim, chủ phương Tây. Hướng của con chim bay từ phía Tây lại chứng tỏ rằng những ý tưởng của văn minh bên ngoài du nhập vào Văn Lang từ những quốc gia phía Tây. So sánh những quốc gia cổ đại có nền văn minh phát triển vào khoảng giữa thời Hùng Vương có khả năng truyền bá văn minh của mình ở phía Tây Văn Lang, rất có khả năng là Ấn Độ hoặc những nước có ảnh hưởng nền văn minh này ở phía Tây Văn Lang (Trích Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh). Tranh Tết Tranh dân gian Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Sự tích dưa hấu được ông cha ta lựa chọn để nói về một vùng đất mặt trời mọc là Nhật Bản như lòng đỏ của quả dưa hấu, ngày nay chính là biểu tượng mặt trời trên lá quốc kỳ, chúng ta thấy các dấu tích văn hóa còn lại đều tương tự nhau: lễ hội Thất Tịch, tục nhuộm răng đen, chữ viết hình con nòng nọc…. đặc biệt, Nhật Bản xem Thái Dương Thần Nữ là thủy tổ của dân tộc mình. Chúng ta cũng đã biết Thái Dương Thần Nữ chính là “Tổ Tôm”, Tây Vương Mẫu, Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát, bà là chính thất của vua Kinh Dương Vương. Do đó, không còn nghi ngờ gì nữa, Nhật Bản chính là một thành viên trong đại gia đình nước Cực Lạc cổ (tên quốc gia thời vua Phục Hy - Hư Không giáo chủ, tới thời vua Đế Minh chia đôi nước). Thái Dương Thần Nữ nâng vành trăng khuyết có con thỏ ngọc Trích Minh triết Đông Phương, tác giả Michael Jordan, Nxb Mỹ Thuật, 2004 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Đặc biệt, hình tượng quả dưa hấu có thể coi là là hình tượng của vũ trụ, màu sắc vỏ ngoài quả dưa hấu tương tự các kinh tuyến của thiên cầu. Hình tượng con chim bay từ hướng Tây đem hạt dưa lên đảo chính là từ đất liền bay ra từ Triều Tiên hay Trung Quốc, cũng là những quốc gia có chung một nền văn hóa. Đặc biệt, hình tượng quả dưa hấu cũng nói lên ý nghĩa mặt trời là trung tâm của Thái dương hệ. Quốc kỳ Nhật Bản và Hàn Quốc Trích từ cuốn sách CIA World Fact Book file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Quốc kỳ Nhật Bản nền trắng với hình ảnh mặt trời ở giữa, quốc kỳ Hàn Quốc nền trắng vòng “Càn Khôn” ở giữa, xung quanh là bốn quái Càn, Khôn, Khảm, Ly, biểu tượng Bát quái trong thuyết Âm Dương Ngũ Hành, thật là một sự ngạc nhiên thú vị. Đối với lịch sử Hàn Quốc, theo Tam Quốc di sử do nhà sư Hyon viết vào thế kỷ XIII, Choson do một nhân vật cổ huyền thoại là Tangun tạo lập vào năm 2333 tr.CN. Thời Choson cổ được chia làm ba giai đoạn: Tangun, Kija và Wiman. Theo Tam quốc di sử, khoảng năm 1120 tr.CN, Kija cháu của vua I Trung Quốc đã cùng hơn 2000 thuộc hạ thân tín kéo sang bán đảo Hàn, xưng vương, khởi đầu thời kỳ Kija Choson. Cũng theo tài liệu này, khoảng năm 194 tr.CN, Wiman, một tướng quân Trung Quốc, đã cướp ngôi hoàng đế Choson cổ sau khi theo phò vị vua này một thời gian, lập ra Wiman Choson. Bấy giờ vua của Choson cổ là Chun buộc phải lui xuống miền Nam, nơi tương truyền đã ra đời vương quốc Chin (trích Tìm hiểu về Văn Hóa Hàn Quốc, tác giả Nguyễn Long Châu, Nxb Giáo dục, 2000). Ngoài lễ hội Tanabata, trong nền văn hóa Nhật Bản còn những lễ hội quan trọng khác có từ thời Văn Lang. Ngày Tết Thanh Minh ngày mồng 3 tháng Ba âm lịch là ngày lễ hội búp bê dành cho các bé gái trong gia đình. Lễ hội này bắt nguồn từ trò chơi búp bê Hina Asobi của các bé gái thời Heian (794), lễ hội cũng là một sự kiện liên quan đến mùa xuân, khi mà các gia đình cùng nhau thưởng thức khung cảnh trong xanh của miền đồng quê cũng như ngắm những bông hoa đào nở rộ, vì vậy còn được gọi là momono sekku (Nhật Bản - Một góc nhìm từ văn hóa lễ hội, tác giả Lê Thị Kim Oanh, Nxb Đại học Quốc gia Tp HCM, 2011). Ngày Tết Thanh Minh, theo truyền thống Việt Nam chính là ngày Tết Phụ nữ như đã phân tích. Lễ hội cờ phướn cá chép và lễ hội búp bê Nguồn ảnh, internet. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Nếu các bé gái có ngày lễ hội búp bê cho riêng mình, thì các bé trai cũng có lễ hội mang tên Tango no sekku là một lễ hội mong cầu sức khỏe, cường tráng và sự thành công trong cuộc sống, được tổ chức vào ngày Tết Đoan Ngọ mồng 5 tháng Năm âm lịch. Hình tượng lễ hội là biểu tượng cá chép Koinobori phấp phới bay trong gió và các Gogatsu Ningyo được bày trên các bàn thờ Tokonoma của gia đình, có ý nghĩa mong cầu các bé trai có sức mạnh như cá chép bơi ngược dòng nước xiết, không đầu hàng trước những thử thách của cuộc sống. Ngoài ra, các em bé sẽ được ăn bánh Kashiwamochi, một loại bánh nhân đậu đỏ bọc ngoài bằng lá Kashiwa. Từ năm 1949 tới nay, lễ hội được chọn làm ngày Tết Thiếu nhi của toàn thể trẻ em Nhật Bản. Ngày nay, nước Nhật Bản trở nên hùng cường bởi đã xây dựng trên một nền văn hóa tôn vinh tinh thần dân tộc, với tinh thần võ sĩ đạo nổi tiếng trên toàn thế giới. Ngày Tết Đoan Ngọ, theo truyền thống Việt Nam là ngày Tết của Mẹ như đã phân tích. Quay trở lại câu chuyện Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã tạo dựng nên Đạo giáo thời quốc gia Văn Lang, các ngài cũng được nhân dân đưa vào phối thờ trong điện Đại Hùng. Chúng ta cũng đã biết, các bộ tranh thờ Đạo giáo đều mô tả cấu trúc mặt bằng của một ngôi chùa, đình, đền, đạo quán cùng các thần khí như vạc, lư, cuông, trống, đỉnh... và biểu tượng của Chử Đồng Tử và Tiên Dung cũng được bài trí trong đó - đấy chính là đôi “Rùa cõng Hạc ngậm hoa hồng” - biểu tượng của tình yêu. Luôn luôn được bài trí phía trước ban thờ chính điện. Hạc và Rùa Đền Độc Lôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Chúng ta thấy, dưới chân Hạc là bánh xe pháp luân thay cho con Rùa, đối tượng chuyên chở chữ viết thời Hùng Vương, chứng tỏ rằng: Đạo giáo cũng đã truyền bá học thuyết của mình và các phương pháp tu luyện đi khắp bốn phương. Chuyện tình Ngưu Lang Chức Nữ trở thành ngày hội của tình yêu, bởi không chỉ là biểu tượng của một tình yêu tuyệt đẹp ở cõi trần, mà cả ở cõi tiên, không chỉ vậy Chử Đồng Tử đã trao tặng cho nhân gian bí kíp luyện đan dược để trở thành trường sinh bất lão. Cánh đẹp hóa bên sông, bãi cát thành châu ngọc, một đêm thành đầm nước, Duyên kỳ ngộ ngàn năm trước, cõi trần gian là vợ chồng, trên trời cao là thần tiên. Theo Chu Dịch Tham đồng khế, san định bởi Ngụy Bá Dương, Nxb Thời đại, 2010: Thiên Hà trên trời chính là dòng sông Ngân Hà, ngăn cách Ngưu Lang và Chức Nữ. Hai người tương hợp với nhau thông qua cây cầu Ô Thước, cũng chính là hai phần trên dưới trong cơ thể con người, cho nên các đan gia từ xưa tới nay đều cho rằng Ngân Hà chính là hai mạch Nhâm và Đốc. Thiên địa mỗi năm giao cấu một lần, nhật nguyệt mỗi tháng hợp sóc một lần, Ngưu Lang Chức Nữ thì mỗi năm tương hội một lần nhờ đàn chim Ô Thước làm thành cây cầu Ô Thước, đều mang ý nghĩa thần khí tương hợp trong công phu luyện đan đạo. Ngưu Lang cũng chính là chòm sao Ngưu thuộc 7 chòm sao phương Bắc Huyền Vũ, nó xuất hiện ở phương Sửu, chính là điểm khởi đầu của một năm. Vào ngày mồng 7 tháng Bảy âm lịch hàng năm, sao Ngưu Lang (hay còn gọi là sao Hà cổ, hai bên trái, phải có một sao nhỏ, là hai con của sao Ngưu) đi tới hai con của mình xuất hiện ở phương Sửu, trên bầu trời tương hợp với sao Nữ ở bên kia sông Ngân Hà, bách tính dưới trần gian cũng thấy kinh ngạc, bởi vì, lúc này nếu thiên can đo nhật ảnh và tiết khí không phù hợp sẽ có thể dẫn đến nạn hồng thủy. Ngưu Lang Chức Nữ tương hội lúc nhật nguyệt đan đạo vào đầu tháng, nếu bất cẩn để tiết đan là hung, đại kỵ. Thuốc trường sinh Đạo Đức Kinh, Chương 6 viết: “Cốc Thần bất tử, gọi là Huyền Tẫn (Mẹ nhiệm màu); cửa Huyền Tẫn là gốc rễ của trời đất. Dằng dặc mà như bất tuyệt, tạo thành mọi vật mà không kiệt”. Đạo hay Cốc thần trường sinh bất tử đó là cánh cửa Càn (Huyền) Khôn (Tẫn) đó là gốc gác, căn cơ của đất trời. Đó là một nguồn sinh tung tỏa vô cùng vô tận, dùng mãi chẳng hề vơi. Chương này được các Đạo gia đặc biệt khai thác để áp dụng vào phương pháp tu thân, luyện đan, cầu đạo, đi tìm trường sinh bất tử. Lưu Nhất Minh trong quyển Chu dịch xiển chân minh định rằng: Cốc thần chính là Thái cực theo Nho giáo; Viên giác theo Phật giáo; Kim đan theo Lão giáo. Bạch Tổ cho rằng: “Đầu con người có chín cung, cung chính giữa là Cốc thần. Thần thường ở trong hang động của mình ban ngày tiếp xúc với vật, đêm tối tiếp xúc với mộng, vì thế không yên ở nơi chốn được”. Như vậy Cốc thần chính là ở nơi Nê hoàn cung, vì Nê hoàn chính là “Bản cung của Thần” ở trong con người. Vì thế các nhà luyện đan mới cho rằng: Yếu đắc Cốc thần trường bất tử, Tu bằng Huyền tẫn lập căn cơ. Nói nôm na rằng: Muốn đắc đạo, muốn trường sinh bất tử, phải biết phối hợp Huyền tẫn, nghĩa là phối hợp âm dương, phối hợp nhân tâm với Đạo tâm, phối hợp Thần, Hồn. Mà nơi phối hợp chính là ở Nê hoàn cung ở chính giữa đầu não con người. Sách Kim đan đại thành tập viết: “Giữ được chân nhất ở Thiên cốc (Nê hoàn) khí vào được Huyền quan, tức là đạt tới Bản lai thiên chân”. Sách Thông thiên bí thư viết: “Ở trong con người có một khiếu gọi là Huyền tẫn... Huyệt này là gốc gác căn cơ cho khoa luyện đan, hoàn phản; là nơi thần tiên ngưng kết thánh thai.”. Biết được lò cừ Tạo hóa rồi, biết được Chân thể của Đạo rồi thì thấy mọi sự đều vĩnh cửu. Từ biến chuyển nhìn ra trời đất, Thì đất trời chớp mắt đã qua. Từ trong vĩnh cửu nhìn ra, Muôn loài muôn vật như ta, vô cùng. Vì Đạo hay Cốc thần trường sinh bất tử, nên tìm Đạo, tìm Cốc thần tức là đi tìm thuốc trường sinh bất tử. Mặt khác, như phân tích trong các chương chúng ta cũng đã biết tự thân linh hồn là bất tử sau khi thân xác vật lý tan rã, vậy thì tại sao lại phải tìm Đạo, luyện thuốc trường sinh?. Người đời không hiểu rõ thân này là hư ảo, một kiếp người qua mau như bọt nước, như lửa xẹt trong đá, bừng lên rồi tắt ngay. Trong khi đó tuy vinh hoa cực phẩm, lộc hưởng nghìn chung, nhà cửa khang trang mỹ lệ, đầy châu báu, ngọc ngà, cũng đều phải bỏ lại, chỉ đem theo được là tội nghiệp của ta. Lữ Thuần Dương (Lữ Đông Tân) viết: Muôn kiếp, ngàn đời được cá nhân, Mới hay kiếp trước đã gieo nhân. Hãy thoát mê tân, mau giác ngộ, Tránh khỏi luân hồi, khỏi khổ tân. Ngộ Chân Thiên có câu: Bạc vàng ví chất cao như núi, Nhưng quỉ Vô Thường mua nổi không? Trương Tử Dương nói: Đuốc kia sao gió đừng thổi tắt, Sáu nẻo Luân Hồi chớ trách Trời! Nói đi, nói lại một điều làm cho mọi người hãi kinh, thất sắc. Người muốn thoát luân hồi, không gì bằng tu luyện kim đan, đó là thang lên Trời, là đường tắt để thoát phàm. Đạo ấy rất là giản dị, dẫu tiểu nhân ngu muội, biết được mà tu, cũng có thể thành chính quả. Nhiều bậc chân tu, tuy để tâm tu đạo nhưng chẳng chuyên tinh, hay chuyên tinh mà không bền vững, cho nên người tu nhiều, mà thành thì ít. Trần Nê Hoàn viết: Ta xưa tu hành được chân quyết, Đêm ngày công phu, không đoạn tuyệt. Một hôm hành mãn, không ai biết. Chỉ thấy hào quang sáng tứ vi. Trời có khi cũng bị nghiêng đổ, núi có khi cũng bị sụt tan, biển có khi cũng bị cạn. Chỉ có tu thành đạo, mới có thể cưỡi gió mây, cưỡi rồng, ngao du ngoài trời, tiêu diêu nơi hư không. Vận số không hạn chế được ta, vận mệnh không câu thúc được ta. Ta thấy mục đích đạo Lão biến con người phàm phu thành con người siêu việt, biến người thành Trời. Đạo Lão đưa ra nhiều cách: Hợp nhất các yếu tố về nhất thể, khiến âm dương hợp nhất thành Thái Cực và gọi đó là phép luyện đan, mà luyện đan là vận chân khí qua xương sống, qua hai mạch Nhâm Đốc, và đem chân khí đó về tích tụ tại Nê Hoàn Cung hay Thượng Đan Điền. Chẳng những hợp âm dương, mà còn hòa hợp tinh khí thần qui tụ về nơi đầu mà họ gọi là Tam hoa tụ đỉnh. Cũng có thể hòa hợp ngũ hành mà gọi là ngũ khí triều nguyên. Luyện tinh hoá khí, luyện khí hoá thần, luyện thần hoàn hư, phục qui vi cực, đó cũng là biến người thành Trời (tham khảo và trích dẫn từ Đạo dức kinh khảo luận, tác giả Nguyễn Văn Thọ). Đạo Đức Kinh, Chương 42 viết: “Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh vạn vật. Vạn vật đều cõng âm mà bồng dương, điều hòa bằng khí trùng hư”. Đạo là Thái Cực, hai thì ai cũng hiểu là âm và dương, còn ba thì là “khí” do âm, dương tương tác mà sinh ra. Chúng ta cũng nên để ý trong cuốn Đạo Đức Kinh chỉ có chương này là nói về âm dương cụ thể mà thôi. Khí là một trong bộ ba thứ chính yếu của con người tinh, khí, thần theo kinh sách của Đạo giáo. Đan đạo manh nha từ thời Chiến Quốc, hình hiện vào thời Hán, thời Tấn, nhờ Ngụy Bá Dương thời Đông Hán, người Cối Kê, san định bộ Tham Đồng Khế (xuất bản khoảng năm 141), và Cát Hồng Bão Phác Tử, đời Tấn (284-344), tác giả bộ Bão Phác Tử nội thiên. Luyện đan đại khái là sống một cuộc đời định tĩnh, suy tư để đạt tới chân thiện mỹ. Nó muốn dùng Dịch kinh để phối hợp âm dương, phối hợp Khảm Ly và để tẩy rửa tâm hồn và hòa mình với Đạo. Nếu tâm không thanh tịnh, thần không tinh khiết, thì tu luyện mấy cũng uổng công. Cho nên đạt Đạo chính là Chân Nhân, chính là Phối Thiên. Ngụy Công sinh thời Đông Hán, tên Bá Dương, hiệu Tử Nha Tử, người Cối Kê Thượng Ngu nhân. Nay nói Cối quốc, là muốn nói che dấu đi. Ông tu chân tiềm mặc, dưỡng chí hư vô, rất giỏi văn từ, thông các sách vở. Không biết ông đã học đạo với ai mà biết được Đại Đơn chi quyết. Sau lại tóm Kinh Dịch mà soạn sách Tham Đồng Khế ba thiên, lại sợ không nói hết lời nên lại viết Đỉnh Khí Ca, để bổ khuyết cho sách, và nhuận sắc lại sách; lại truyền cho Thanh Châu Từ Cảnh Hưu Tòng Sự. Từ ẩn danh và chú thích quyển đó đến đời Hoàn Đế (155-175) lại truyền thụ cho người đồng quận là Thuần Vu Thúc Thông. Thế là sách truyền ra thiên hạ. Ngụy Bá Dương Tranh tham khảo Bách hoa toàn thư văn hóa cổ điển Trung Quốc, tác giả Nghiêm Tôn Nhan, Nxb Văn hóa Thông tin, 2000 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Tham đồng khế trong Đạo giáo được tôn làm “vạn cổ đan kinh vương”, liên quan đến tác giả còn tồn tại nhiều quan điểm tranh luận khác nhau, nhưng chủ yếu đồng ý cho tác giả là Ngụy Bá Dương, phần cuối của cuốn sách có lời tựa của Ngụy Bá Dương trong đó ẩn tự mình đặt ra tên gọi. Tham Đồng Khế được chia thành 3 thiên: Ngự Chính: theo Trời hành sự; Dưỡng Tính: hàm dưỡng tính Trời; Phục thực: hàm dưỡng khí hạo nhiên. Tham là tham dự cùng Thái Cực, Đồng là hòa đồng cùng Thái Cực, Khế là khế hợp với Thái Cực. Như vậy thì Tham Đồng Khế nghĩa cũng tương đương như phối Thiên trong Đạo Đức Kinh chương 68, nghĩa là sống hợp nhất với Trời. Lưu Nhất Minh (1734-1821) là một học giả tài ba, là nhà đan học lớn thời Thanh, Trung Quốc. Ông là chưởng môn Toàn Chân, Long Môn Phái, đời thứ 11, ghi rõ ràng Tham Đồng Khế bàn về kinh Dịch, đạo Hoàng Lão và phép luyện đan (tham khảo và trích Nhận định về Tham Đồng Khế, tác giả Nhân Tử Nguyễn văn Thọ) Theo truyện cổ tích Việt Nam Ăn khế trả vàng thì ẩn ý cho Tham Đồng Khế không phải sáng tác của Ngụy Bá Dương, con chim phượng hoàng trong câu truyện chính là biểu tượng của vua Đế Minh - Khương Tử Nha. Tính tham của người anh, hình ảnh chim phượng hoàng ăn khế và kho chứa châu báu (đồng) kết hợp lại thành Tham Đồng Khế. Mặt khác, hiệu của Ngụy Bá Dương là Tử Nha Tử có thể dịch nghĩa là con trai của Khương Tử Nha, mà chúng ta biết Khương Tử Nha chính là Hoàng Đế, Phật A Di Đà. Con trai Khương Tử Nha chính là vua Kinh Dương Vương, Đại Nhật Phật, do vậy cuốn sách này nói là kết hợp Chu Dịch và đạo Hoàng Lão cũng hợp lý. Một nhà kia có hai anh em, cha mẹ đều chết cả. Hai anh em chăm lo làm lụng, nên trong nhà cũng đủ ăn. Muốn cho vui cửa vui nhà, hai ngư­ời cùng lấy vợ. Như­ng từ khi có vợ ngư­ời anh sinh ra lư­ời biếng, bao nhiêu công việc khó nhọc, đều trút cả cho hai vợ chồng ngư­ời em. Hai vợ chồng ngư­ời em thức khuya dậy sớm, lại cố gắng cày cấy, làm cỏ, bỏ phân, lúa tốt hơn tr­ước, nên đến mùa đư­ợc bội thu. Thấy thế, ng­ười anh sợ em kể công chiếm lấy phần hơn, vội bàn với vợ cho hai vợ chồng ngư­ời em ra ở riêng. Ra ở riêng với vợ, ngư­ời em đư­ợc ngư­ời anh chia cho có một căn nhà tranh lụp xụp, trư­ớc nhà có một cây khế ngọt. Hai vợ chồng ngư­ời em không phàn nàn một lời, hết vào rừng đốn củi đem ra chợ bán, lại đi gánh m­ướn, làm thuê. Còn ng­ười anh có bao nhiêu ruộng nư­ơng đều cho làm rẽ, để ngồi không hư­ởng sung sư­ớng với vợ. Thấy em không ca thán, người anh cho em là ngu si, lại càng lên mặt, không lui tới nhà em và cũng không để ý gì đến em nữa. Những ngày sung s­ướng nhất của hai vợ chồng ngư­ời em là những ngày khế chín. Quanh năm, hai vợ chồng đã chăm bón và bắt sâu, đuổi kiến cho cây khế, nên cây khế xanh mơn mởn, bóng rợp khắp mảnh vư­ờn nhỏ bé, quả lúc lỉu cả ở những cành là sát mặt đất, trẻ lên ba cũng với tay đ­ược. Một buổi sáng, hai vợ chồng mang quang gánh và thúng bị ra gốc khế, định trèo lên hái quả đem ra chợ bán thì thấy trên ngọn cây rung động rất mạnh, như­ có ngư­ời đang trèo. Hai vợ chồng nhìn lên thì thấy một con chim phượng hoàng rất lớn đang ăn những quả khế chín vàng. Hai vợ chồng đứng d­ưới gốc cây xem chim ăn, đợi chim bay đi rồi mới trèo lên cây hái quả. Từ đấy, cứ mỗi buổi sáng tinh mơ, hai vợ chồng ra hái khế, thì đã lại thấy chim ở trên cây rồi. Thấy có ng­ười, chim vẫn cứ ăn, ung dung một lúc lâu, rồi mới vỗ cánh bay đi. Chim ăn ròng rã như thế ngót một tháng trời, cây khế vợi hẳn quả. Một hôm, đứng đợi cho chim ăn xong, ngư­ời vợ nói nửa bỡn nửa thật với chim: "Chim ơi, chim ăn như­ thế thì còn gì là khế của nhà tôi nữa! Cây khế nhà tôi cũng sắp hết quả rồi đấy, chim ạ!". Chim bỗng nghển cổ, nheo mắt như­ c­ười, đáp lại: "Ăn một quả, trả cục vàng! May túi ba gang, đem đi mà đựng". Chim nhắc đi nhắc lại câu ấy ba lần, rồi mới vỗ cánh bay đi. Hai vợ chồng thấy chim biết nói đã lấy làm lạ, lại thấy chim bảo mình như­ thế, nhắc lại cho mình đến ba lần, nghe rõ mồn một, nên càng suy nghĩ, phân vân. Như­ng rồi hai vợ chồng cũng làm theo lời chim. Ngư­ời vợ lấy vài vuông vải nâu may cho chồng một cái túi, ngang dọc đúng ba gang. Sáng hôm sau, hai vợ chồng vừa ăn xong thì thấy một luồng gió mạnh cuốn cả cát bụi tr­ước sân nhà, rồi trong chớp mắt một con chim cực kỳ lớn hạ xuống giữa sân, quay đầu vào nhà kêu lên mấy tiếng như­ chào hỏi. Ngư­ời chồng xách cái túi ba gang ra sân, chim nằm rạp xuống, quay cổ ra hiệu cho anh ngồi lên l­ưng mình. Anh ngồi lên l­ưng chim, bám vào cổ chim thật chặt. Chim đứng dậy vươn cổ, vỗ cánh bay bổng lên trời xanh. Chim lúc bay cao, lẩn vào mây bạc; lúc bay thấp, là là trên rừng xanh, đồi núi trập trùng. Rồi chim bay ra biển cả mênh mông, sóng biếc cao ngất vật vào s­ườn những hòn đảo nhỏ, làm tung lên những bọt trắng xóa. Anh ngồi trên lư­ng chim thấy biển tuyệt mù, không biết đâu là bờ... Thốt nhiên chim bay vào một hòn đảo toàn đá trắng, đá xanh, đá đỏ, đá ngũ sắc, phản chiếu ánh sáng rực rỡ, anh chư­a từng thấy bao giờ. Chim bay một vòng thật rộng xung quanh đảo như­ muốn tìm một nơi hạ cánh, rồi bay những vòng hẹp hơn, là là trên các ngọn đá, lắm lúc anh tư­ởng nh­ư mình sắp bị va vào những tảng đá khổng lồ. Bay đến trư­ớc mặt cái hang rộng và sâu, chim từ từ hạ xuống. Đặt chân xuống đảo, anh nhìn ngó khắp nơi, tuyệt nhiên không thấy một sinh vật nào, không có đến một ngọn cỏ hay một mống chim sâu. Chim ra hiệu bảo anh vào hang, muốn lấy gì thì lấy. Ở ngay cửa hang, anh đã thấy toàn những thứ đá trong nh­ư thủy tinh và hổ phách đủ các mầu; có thứ xanh như­ mắt mèo, có thứ đỏ ối như­ mặt trời, còn vàng bạc thì nhiều nh­ư sỏi đá. Thấy hang sâu và rộng, anh không dám vào sợ lạc. Anh nhặt một ít vàng và kim cương bỏ vào túi ba gang, rồi trèo lên l­ưng chim, ra hiệu cho chim bay về. Chim tỏ vẻ vui mừng, gật gật cái đầu, vư­ơn cổ kêu vài tiếng, rồi vỗ cánh bay lên trời xanh, bay qua biển, qua rừng, qua núi. Mặt trời mới vừa đứng bóng, chim đã hạ cánh xuống cái v­ườn nhỏ có cây khế ngọt. Ng­ười vợ thấy chồng về bình yên, mừng rỡ vô cùng, chạy ra vuốt lông chim, tỏ ý cảm ơn, ra hiệu mời chim bay lên cây khế giải khát. Chim bay lên cây khế ăn một lúc, rồi kêu ba tiếng nh­ư chào vợ chồng ng­ười nông dân, rồi bay đi. Từ đấy, lâu lâu chim mới lại đến ăn khế. Tiếng đồn hai vợ chồng ngư­ời em thốt nhiên giàu có bay đến tai hai vợ chồng ng­ười anh. Hai vợ chồng ng­ười anh vội vã đến chơi nhà em để dò xét. Nghe em thật thà kể chuyện, ng­ười anh gạ đổi hết tài sản của mình để lấy túp lều tranh và cây khế. Hai vợ chồng chỉ lo ngư­ời em không chịu đổi, không ngờ ngư­ời em vui vẻ ư­ng thuận ngay. Hai vợ chồng ngư­ời anh mừng rỡ nh­ư mở cờ trong bụng, lập tức giao hết tài sản của mình cho em, và sáng hôm sau dọn ngay đến ở túp lều tranh trên mảnh v­ườn nhỏ có cây khế ngọt. Đến ở mảnh vườn chật hẹp, hai vợ chồng ngư­ời anh không làm việc gì cả. Còn đ­ược ít tiền hai vợ chồng đem tiêu dần, cả ngày chỉ nằm khểnh ngoài hè, hí hửng nhìn lên cây khế, chờ chim bay đến. Một buổi sáng, có một luồng gió mạnh tạt vào nhà, rồi hai vợ chồng thấy ngọn cây khế rung chuyển. Hai ng­ười hớt hải chạy ra sân, vội nhìn lên cây thì quả nhiên thấy một con chim lớn đang ăn khế. Chim mới ăn vài quả, hai vợ chồng đã tru tréo lên: "Cả nhà chúng tôi trông vào có cây khế, bây giờ chim ăn tào ăn huyệt như­ thế thì chúng tôi còn trông cậy vào đâu!". Chim liền đáp: "ăn một quả, trả cục vàng. May túi ba gang, đem đi mà đựng"; rồi chim bay vụt đi. Hai vợ chồng ng­ười anh mừng quá, cuống quýt vái theo chim, rồi bàn nhau may túi, cãi cọ om sòm. Mới đầu, hai ngư­ời định may thật nhiều túi, sau lại sợ chim không đ­ưa đi, nên rút cục cũng chỉ may một cái túi như­ ngư­ời em, như­ng may to gấp ba, mỗi chiều chín gang, thành một cái tay nải lớn. Sáng hôm sau, chim hạ cánh xuống sân trư­ớc túp lều tranh. Người anh đang ăn, thấy chim bay đến, bỏ cả ăn hấp tấp chạy ra, tay xách cái túi trèo tót lên l­ưng chim, còn ngư­ời vợ vái lấy vái để chim thần. Chim cất cánh bay bổng lên mây xanh, qua núi qua biển cả, rồi cũng hạ cánh xuống cái đảo khi trư­ớc. Trên lư­ng chim b­ước xuống, ngư­ời anh hoa cả mắt về những ánh ngũ sắc của kim c­ương và ngọc quý chiếu ra. Đến khi vào hang, ngư­ời anh lại càng mê mẩn tâm thần, quên cả đói cả khát, cố nhặt vàng và kim cương cho thật đầy tay nải, lại buộc đầu ống quần và tay áo cho thật chặt rồi nhồi đầy cả hai tay áo và hai ống quần, đến nỗi nặng quá, chàng ta cố kéo lê từng bư­ớc mà vẫn ch­ưa ra được khỏi hang. Chim đợi lâu quá, chốc chốc lại kêu lên vài tiếng vang cả đảo, thúc giục anh chàng ra về. Mãi gần chiều, anh ta mới kéo đư­ợc cái tay nải đầy vàng và kim c­ương đến chỗ chim đang đợi. Muốn cho khỏi rơi, anh ta đặt tay nải dư­ới cánh chim, rồi lấy dây thừng buộc chặt tay nải vào lư­ng chim và vào cổ mình. Chim vỗ cánh bay lên, như­ng vì nặng quá, mới bay lên khỏi mặt đất một ít lại sa xuống. Sau chim cố gắng đạp hai chân thật mạnh xuống đất, v­ươn cổ bay bổng lên. Anh chàng ngồi trên l­ưng chim khấp khởi mừng thầm, cho là chỉ trong giây phút mình sẽ về đến nhà, sẽ có nhà cao cửa rộng, vư­ờn ruộng khắp nơi, tiêu pha hết đời thật hoang toàng cũng không hết của. Lúc ấy, chim đã bay trên biển cả. Trời trở gió, những con sóng xám cất cao lên bằng mấy nóc nhà. Chim bay ngư­ợc gió rất là nhọc mệt, cổ gập hẳn xuống, hai cánh mỗi lúc một yếu dần. Túi vàng lớn thốt nhiên bị gió hất mạnh vào cánh chim. Chim buông xuôi hai cánh, đâm bổ từ l­ưng trời xuống biển. Chỉ trong chớp mắt, cái túi lớn và những ống quần, tay áo chứa đầy châu báu dìm người anh xuống đáy biển. Còn chim chỉ bị ư­ớt lông cánh một lúc, rồi lại vùng lên khỏi mặt n­ước, bay trở lại núi rừng. Giải thích chữ “Đan” như cái chuông và cái lò lửa. Luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hoàn hư. Chữ “Đan” Chu Dịch Tam đồng khế, san định Ngụy Bá Dương, Nxb Thời đại, 2010 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg “Tính” tức là bản tính vốn có của con người, nó là trạng thái tinh thần luôn biến động một cách phức tạp, là nguyên thần cho nên là dương, còn mệnh là trạng thái cơ thể phức tạp là nguyên “tinh”, còn nguyên “khí” chính là dòng chảy năng lượng sống trong cơ thể hữu hình lẫn vô hình, cho nên là âm so với nguyên thần. Trừ hai mạch Nhâm Đốc ra, mạch Hoàng trong đan đạo cũng vô cùng quan trọng, là đại mạch của con người, chỉ có khí Tiên thiên vận hành bên trong nó, như vậy tại mỗi luân xa 2-6 kết nối tới Nhâm Đốc, khí Tiên thiên biến chuyển thành khí Hậu thiên tương hợp với hệ mạch toàn bộ cơ thể. Mạch Hoàng tương đương mạch Trung trong Mật giáo (trích Chu Dịch Tam đồng khế, san định Ngụy Bá Dương, Nxb Thời đại, 2010) Công trình tu luyện thường được tóm tắt lại như sau: - Gạn đục khơi trong tâm hồn. - Thu thần, phát huệ. - Sống phối hợp với Thượng đế với Tuyệt đối. - Vì Đạo hay Cốc thần trường sinh bất tử, nên tìm Đạo, tìm Cốc thần tức là đi tìm thuốc trường sinh bất tử. - Mà dược liệu để luyện thuốc trường sinh chẳng ở đâu xa, nó đã ở ngay trong lòng con người. Lò bát quái luyện đan cũng chẳng phải tốn tiền xây cất, vì đó chính là xác thân con người. - Dược liệu là Tâm Thần, là Lòng Đạo với lòng người. - Lửa để luyện đan tức chí khí, là sự hăng say để thực hiện mục tiêu. - Đan thành là khi lòng con người và lòng Đạo kết thành một khối. Đó chính là khi lòng con người đã trở nên khiết tịnh, cao minh linh diệu, viên mãn, khinh phiêu. Nhan Thành Tử Du nói với Đông Quách Tử Kỳ: “Từ khi tôi theo học ngài, năm thứ nhất tôi trở nên giản dị, tự nhiên; năm thứ hai, tôi trở nên dễ dạy; năm thứ ba tôi trở nên thông sáng; năm thứ tư, tôi coi tôi là ngoại thân chi vật; năm thứ năm, tôi tiến bộ thêm; năm thứ sáu, thần nhập vào tôi; năm thứ bảy, tôi thành thần; năm thứ tám, tôi không biết tôi còn sống hay đã chết; năm thứ chín tôi đạt được điều Huyền nhiệm cao diệu.”. Một đoạn khác còn mô tả rõ ràng hơn: “Sau ba ngày (Bốc Lương Ỷ) có thể tách rời khỏi thiên hạ. Tôi tiếp tục quan sát: Sau bảy ngày, ông có thể tách rời khỏi cảnh vật. Tôi tiếp tục quan sát, sau chín ngày ông có thể tách khỏi cuộc phù sinh của ông. Khi đã thoát cảnh phù sinh rồi, ông thấy sáng láng như ánh bình minh. Khi đã thấy sáng láng như ánh bình minh rồi, ông liền nhìn thấy Đạo. Thấy Đạo rồi, ông vượt trên thời gian, không còn thấy cổ kim, ông vào cảnh giới bất sinh bất tử.” (tham khảo và trích một phần từ cuốn Đạo Đức Kinh - Khảo luận và bình dịch, tác giả Nguyễn Văn Thọ). Tiểu thiên địa Tư liệu của đạo Cao Đài, Việt Nam Tu chân nội lý đồ Trích Đạo gia khí công file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Giải thích Tiều thiên địa: Ngũ hành sơn: núi Ngũ Hành tượng trưng cho ngũ tạng. Bạch ngưu: tượng trưng cho trọc tinh, lòng ham dục. Cầu Nại Hà: chỗ tiếp giáp đầu dưới của mạch Nhâm và mạch Đốc. 1- Thiên môn: luân xa đỉnh đầu, Hà đào thành, Huyền quang khiếu,... 2- Bát bửu trì: bát công đức thủy, hay Bát quái, tám lỗ khiếu. 3- Khảm Ly Ký Tế: nước của thận hay nguyên tinh đã hóa khí và lửa của tâm hay nguyên thần giao hòa tại đây, là địa điểm tinh - khí - thần tụ hội. Nguyên tinh trong cơ thể thuộc âm, nguyên thần thuộc dương, âm dương tương hợp sinh ra hồn phách, sau đó hợp nhất sinh thể, đầy đủ sinh mệnh. Hồn là dương, Ly, là Nhật, chủ động, cương cường, mãnh liệt như sức mạnh của hổ trắng. Phách là âm, là Khảm, là Nguyệt, chủ tĩnh, mềm dẻo, bền bỉ như sức mạnh tiềm ẩn của Rồng xanh. Hổ ở dưới có dương khí bay lên vượt qua các ải quan biến thành Kỳ Lân thổi ra lửa, Long ở trên nổi gió vượt mây (Long ngâm Hổ tiếu) như trong lò kim đơn, khí âm lên, khí dương xuống thì trong Đỉnh hồn trời phách đất lưu luyến, lúc này Thanh long cùng Kỳ Lân hòa quyện lẫn nhau, hay còn ví như Ngọc thố và Kim ô giữ nhau. Hỏa theo dưới rốn phát ra ở Đỉnh, Thủy từ Lư bay ra cùng hòa quyện, Thủy Hỏa đều chẳng rời nhau biến hóa ở giây phút gọi là Thủy Hỏa Ký Tế mà đạo Tiên gọi là đại Đỉnh Lư. Kết cục, tinh khí thần hợp nhất thành hình trái cầu, được Kỳ Lân tung hứng bay xuyên qua cổng Thiên môn hòa nhập vào Đại vũ trụ, công phu tu luyện đã thành, tạo ra kim đan bất hoại, cứng như kim cương hay gọi là Ngọc viên giác - Mani châu. 4- Thất tinh đài: nơi ngọc Mani châu xuất hiện hay đỉnh đầu, nơi xuất hiện hoa sen 1000 cánh khi đả thông luân xa số 7. 5- Thiên cốc cung: nơi Hồn cư ngụ, sau khi khai mở được Thiên môn. 6- Bạch hổ (hổ trắng) và Thanh long (rồng xanh): tượng trưng cho Khí và Thần. Thanh long là khí âm trong Đỉnh, là căn tính, là thần, là hỏa gọi là Diên hống. Còn Bạch hổ là khí dương trong Lư, là tinh, thuộc thủy gọi là Chân hống. 7- Ngọc chẩm quan: luân xa, một trong Tam quan. Là cửa ải ở trên, nếu đi từ đó lên trên sẽ đến Nê hoàn cung, hoàn thành việc thông suốt hai mạch Nhâm và Đốc, tạo thành sự tuần hoàn liên tục cho hai mạch Nhâm và Đốc. Ở cơ thể là chỗ xương chẩm nổi gồ lên. 8- Hư vô huyệt lý: chỉ Đệ tam nhãn (tuệ nhãn). 9- Chuông Linh sơn hơi tỏa tâm viên: tượng trưng hơi thở nhẹ nhàng, sâu, dài ngân như tiếng chuông, để cầm chân cột chặt con vượn Tâm (tâm viên), ý nói định được Tâm. Tâm thần trong đan đạo được ví như sao Bắc Cực (tức Bắc Thần thuộc chòm sao Tiểu Hùng Tinh) như là thiên đế, còn cái cán của sao Bắc Đẩu thất tinh (tức chòm sao Đại Hùng Tinh) giống như tinh thận (ý mã) là vị thần tướng vậy. 10- Long tùng Hỏa ký xuất: Rồng dựa lửa đi lên, ý nói Hỏa của tạng Tâm. 11- Trống Ðại Hùng gom thâu Ý mã: chỉ 2 lỗ tai, khi bịt kín, thì kêu lùng bùng như tiếng trống, để thâu nhiếp con ngựa Ý, có nghĩa tâm thần khống chế được nguyên tinh (Ý mã) vận hành theo chu kỳ, được điều chỉnh và phân bố hợp lý không bị gián đoạn. 12- Tháp Linh sơn: tháp cao 12 tầng, tượng trưng 12 tầng Trời (Thập nhị Trùng lâu, Thập nhị trùng Thiên). 13- Hồng chung sơ khấu bảo kệ cao âm: có nghĩa là hơi thở nơi lỗ mũi càng nhẹ, càng thông, bộ đầu càng thấy lâng lâng tựa tiếng chuông ngân dài cao vút, âm vang vào hư không. Hồng chung được treo trên tầng thứ 12 trên đỉnh Linh sơn tháp. 14- Cầu Thiên Hà: chỗ phân giải mọi luồng điển nơi bản thể. 15- Tâm Bào lạc: Tâm thường gọi là tim, quả tim là nội tạng trong ngũ tạng của Đông y, tâm bào lạc là màng bọc ngoài của tim, ta thường gọi là màng tim. Tâm là chức vụ quân chủ, chủ về thần minh, tâm là chủ tể hoạt động sinh mệnh của cơ thể con người, nó đứng hàng đầu của các tạng phủ. Tinh thần, ý thức, tư duy đều quy vào công năng của tâm cho nên tâm mới được gọi là chức vụ quân chủ, để nói lên tính chất quan trọng của nó “Tâm là đại chủ của lục phủ ngũ tạng, là nơi cư trú của thần minh”. Tâm tàng thần, là nguồn gốc của sinh mệnh nhưng cũng là nơi biến hóa của thần. Tâm thông qua tác dụng của thần để chỉ đạo mọi hoạt động của ngũ tạng lục phủ. 16- Giáp tích quan: luân xa, một trong Tam quan. (Giáp tích quan): là cửa ải con lăn (Lộc lô) là cửa ải thứ hai trong luyện công hòa hợp âm dương. “Lộc lô” nghĩa là con lăn, ở đây ngụ ý nâng đưa lên trên. 17- Trung điền bát quái lư: luân xa, lò Bát quái, còn được gọi là thánh đài. 18- Mệnh môn quan: luân xa, một trong Tam quan. 19- Nam phái...: “Địch trúc hoán qui thôn ngọc chi” (Gõ ống tre gọi con rùa về), có nghĩa là hoàn tinh bổ não và tuyệt dục (sát Bạch hổ, Quy túc). 20- Vỹ Lư: luân xa hỏa hầu, hay hỏa xà Kundalini. là cửa ải thông sang nhau giữa hai mạch Nhâm và Đốc. Ở thân thể là chổ đốt xương cụt hay vị trí huyệt Trường cường, cũng là nơi giao hội phần âm của mạch Nhâm với phần dương của mạch Đốc. 21- Hạc Quy đồng hội thượng: Hạc tượng trưng cho điển lửa Tâm, Quy là điển nước của Thận cùng tương hội. 22- Nam Hải: bọng đái. 23- Chỗ 2 mạch Xung và mạch Ðới gặp nhau, nằm phía trên biển Nam Hải. 24- Linh cốc: luân xa, nơi cư ngụ của Vía. 25- Bạch hạc đồng tử: giữ Bạch ngưu canh điền,tượng trưng cho 2 khí âm dương và chạm nhau bốc cháy tại rốn, phần thanh nhẹ biến thành hơi bay bổng lên, tạo thành thánh thai xá lợi, phần nặng trược cặn bã đọng lại thành tinh, kích thích dục tính tạo ra phàm thai. 26- Song lâm sơn: là 2 khu rừng cây, tượng trưng cho 2 lớp màng mỡ bao bọc Ngũ tạng. 27- Ứng cốc giáng cung: Luân xa, nơi cư ngụ của Hồn. 28- Nữ phái…: “Cổ cầm chiêu phụng ấp đan khuê” (gảy đàn kìm gọi chim phượng hoàng bay về), có nghĩa là hoàn tinh bổ não và chấm dứt kinh nguyệt (Trảm Xích long). 29- Bạch hổ: tượng trưng thanh tinh, sau khi được tôi luyện, hóa thành khí xung lên bộ đầu. Quy Xà đồng thể: nối kết hai mạch tại huyệt Hội âm. * Mạch Nhâm và mạch Đốc tương ứng là hai con rồng vàng, hai con rồng vàng này chầu vào viên ngọc mani châu gọi là “Lương Long minh châu” - đây là hình tượng điêu khắc trên mái chính điện của các ngôi chùa, đạo quán. Trong Tu chân nội lý đồ một số bộ phận được lý giải như sau (trích từ cuốn Hoàng đế nội kinh tố vấn, tác giả Đào Tuấn Hiệp, Nxb Hà Nội, 2008): Thượng đan điền: trong đồ hình là Nê hoàn cung, Thăng dương phủ, Hỗn luân đỉnh, Linh đài… trên cơ thể còn nằm ở huyệt Bách hội, hay ở khoảng giữa hai lông mày và trán, nó được coi là nơi: gốc thiêng của trời đất, tổ của các khiếu, gốc của khí, là cửa cực quý để nhập đạo. Trung đan điền: là “ruộng Tâm” ở dưới Ngưu Lang. Ở cơ thể là vị trí huyệt Đản trung, từ Thừa tương xuống dưới 12 tầng lầu (chỉ khí quản) đến Hoàng đình (chỉ các khoang trống trong cơ thể, hoặc ở dưới Tâm…), lấy Ngưu Lang đại biểu cho tâm dương; trong đó Can, Đởm, Tỳ đều có chức năng riêng, tất cả cùng cày tên thửa ruộng Tâm (Tâm điền). Hạ đan điền: còn gọi là chính đan điền, vị trí trong hình vẽ là ở chỗ Tiên thiên bát quái; trong hình vẽ có thể hiện bốn hình thái cực âm dương, đại biểu cho chân nguyên của tiên thiên hòa lẫn với bốn cái âm dương mà thành, phát ra ánh hào quang. Ở thân thể là chỗ vị trí ở dưới rốn, nó còn được gọi là khí hải hay nơi tàng mệnh. Bánh xe âm dương huyền diệu (Âm dương huyền đạp xa): Người xưa thường nói “Bắc thủy Nam điều” hay còn gọi là “dẫn Khảm thủy chảy ngược”, chỉ có sự vận hành không ngừng nghỉ của bánh xe âm dương thì Khảm thủy mới liên tục chảy trong đường cốt tủy (tủy cột sống), mà đi qua được 3 cửa ải là Vĩ lư, Giáp cốt, Ngọc chẩm và Cốc hải. tới lúc đó chỉ còn giữ tinh luyện khí, thanh trừ phàm cốc, lắng nước đầm sâu, khiến chất lắng đọng hết xuống dưới, cuối cùng suối Cam tuyền mới xuất hiện ở đỉnh Nam sơn (đỉnh núi Linh Sơn, linh tính ẩn chứa ở đó). Hoàn thành con đường dẫn Khảm thủy đi ngược trong cột sống ở thân thể. Trâu sắt cày đất gieo tiền vàng (Thiết ngưu canh địa chủng kim tiền): ẩn dụ sự tu luyện ở Hạ đan điền. Tác dụng của Hạ đan điền chính là tam hợp “tinh, khí, thần”, dưới chân người nông dân đang cầm roi có một lò lửa bằng sắt, bốc hơi ngùn ngụt. Ý nói tam hợp cần tu giữ trong hỏa hầu ờ lò Đan điền, nếu không rất khó thành công phu. Biểu tượng này mang ý nghĩa phải luyện tập gian nan, vất vả mới thu hoạch được kết quả tốt đẹp. Chức nữ quay tơ (Chức nữ vận chuyển): Hình vẽ có một mảnh vườn cây ăn quả, có người con gái Chức Nữ đang ngồi bên cột gỗ với bánh xe quay, hình vẽ thể hiện cho trạng thái luyện tập và chuyển hóa và cất giữ tinh khí ở Trung đan điền. Cái huyền diệu ở trung cung Thổ, có đặc tính của Khôn, đức của Khôn dày dặn, có công phu thuận nuôi dưỡng, cho nên lấy người con gái làm đại biểu (nam Càn nữ Khôn). Cái công tĩnh dưỡng thu tàng, trước hết ở thiên tâm ý tưởng phối hợp, lại lấy Ngưu Lang làm cầu, dưới chỉ trung cung, Chức Nữ vận chuyển, chuyển hóa bồi dưỡng, đại biểu cho sự phối hợp lẫn nhau giữa tâm và ý. Nhi đồng khắc đá giữ xâu chuỗi (Khắc thạch nhi đồng bá quán xuyên): “Điều tâm là con đường tu luyện bên trong, Tâm là chủ của thân thể, thống lãnh tinh, khí, thần “Tâm chi sở hướng, tinh khí thần tức thủy chi” nghĩa là” Nếu hướng được tâm, thì tinh khí thần cũng thuận theo. Như trong suy tưởng các sự vật, tinh trong thân thể cũng cảm thụ theo sự vật mà sinh ra “tinh kết”, nếu biết giữ hình bóng của nó, giống như chụp ảnh quang học, do ánh sáng mà tạo thành các hình ảnh, các hình ảnh lại được lưu trữ trong bức ảnh. “Tinh có cảm thì thần ứng theo, tinh cảm và thần ứng đều được cảm thụ ở tâm”. Trong Nội kinh đồ hình ảnh Nhi đồng đển ẩn dụ cho tâm tính người ta. Ngoài ra, người xưa ghi chép chú trọng ở sự tình, đa phần dung các bản khắc đá để ghi, cho nên các di tích văn hóa còn lại thường ở các bản khắc đá. Bởi vậy, Nội kinh đồ dung hình ảnh bản khắc đá để ẩn dụ cho sự ghi nhớ, ký ức của con người. Trong hình vẽ vị trí của bản khắc đá, đứa trẻ đứng là “Giáng cung” còn gọi là tâm cung, khoảng giữa hai đầu vú, là then chốt của khí cơ, tức là Trung đan điền), Các hòn đá xâu chuỗi lại thành chòm sao Bắc Đẩu, đó cũng ẩn dụ là “nhân tâm”xâu chuỗi với “thiên tâm”. Hồ tăng mắt biếc tay đẩy trời (Bích nhãn Hồ tăng thủ thác thiên): Tu tính cần phối hợp với luyện thần, thần là linh tính trong vận chuyển, cho nên nói “hồn vận chuyển là thần” mà luyện thần quan trọng ở sự ngưng, hay còn nói “Tâm định phản thần, thần ngưng kiến tính”. Trong hình vẽ một vị tăng nhân tuổi nhỏ quay lưng ra đằng trước, ngũ quan đều hướng lên trời, hai tay giơ lên, trong như muốn kéo trời về phía mình, như người tiên đang luyện thần. Tu chân lấy linh tính là căn bản của người, sở dĩ luyện thần ngược lại với tính giống như vị hồ tăng tu Phật: đã biết cái gốc của nhân tính ở thiên, cho nên lấy cái “không vô” của thiên để làm đạo luyện tính. Bởi vậy trong hình vẽ ông lão đại diện cho tính, cho nên vị Hồ tăng mới có tư thế giơ hai tay lên trời, chính là ý kéo giữ thiên tính. Lại do hai mắt hướng lên nhìn trời, nên trong mắt phản chiếu màu da trời xanh biếc, bởi thế mới gọi là vị “Hồ tăng mắt biếc tay kéo trời”. Hình vẽ này nhằm thể hiện cho quá trình luyện thần phản tính. Áp dụng những khẩu quyết tập luyện thở theo Đại Thừa Cửu Chuyển của các tiên gia theo đồ hình Tu Chân Nội Lý Đồ. Cuốn lưỡi ngậm miệng, nhắm mắt, hít thở bằng mũi, dùng ý theo dõi hơi thở tự nhiên hòa hoãn. Ngoài những khẩu quyết tập thở để luyện mạng phải cùng lúc tu tính, kiên trì theo thời gian. Đại Thừa Cửu Chuyển phải cần tìm nơi thanh khí mà hòa hiệp âm dương, điều hòa đủ 8 lượng chân dương, 8 lượng chân âm làm thành 1 cân đại dược tại cung Ly (Đan Điền Thần, Huỳnh Đình Cung), rồi điều dưỡng đủ thập ngoạt (10 tháng) hoài thai, tam niên nhũ bộ (3 năm bú mớn, nuôi lớn) thì cái chân thần mới giao tiếp Tiên thiên mà nhập xuất Thiên Môn được. Tất nhiên, người học phải tuân thủ các quy định mà bậc chân sư đưa ra trong quá trình tập luyện. 1. Sơ nhất chuyển lo tròn luyện kỹ Xây đắp nền thần khí giao thông Diệt trừ phiền não lòng không Thất tình lục dục tận vong đan thành Tâm đạo phát thanh thanh tịnh tịnh Dưỡng thánh thai chân bỉnh đạo huyền Ngày đêm cướp khí hạo nhiên Hiệp hòa tính mạng, hống diên giao đầu 2. Sang nhị chuyển diệu mầu ứng lộ Bế ngũ quan tứ tổ quy gia Âm dương thăng giáng điều hòa Huân chưng đầm ấm tam hoa kết hoàn Khai cửu khiếu kim đan phanh luyện Vận ngũ hành lưu chuyển Càn Khôn An nhiên dưỡng dục chân hồn Làm cho cứng cáp lớn khôn diệu huyền 3. Đến tam chuyển Hậu thiên ngưng giáng Nhất bộ thành, ngọc bảng đề danh Công phu khử trược lưu thanh Linh đan một phẩm trường sinh muôn đời. 4. Qua tứ chuyển cơ trời phát lộ Thoát ngoài vòng tứ khổ trần ai Gom vào tư tưởng trong ngoài Luyện phanh trong sạch, thánh thai nhẹ nhàng 5. Ngũ chuyển đạo thông toàn cơ nhiệm Ngồi định thần tìm kiếm căn nguyên Xuất thần lên cảnh thần tiên Học thêm tâm pháp bí truyền cao siêu 6. Lần lục chuyển tam diêu bất động Tâm vô vi trống lỗng căn cơ Bụi trần không thể đóng dơ Linh đan hai phẩm giật cờ thánh tiên 7. Thất chuyển pháp hạo nhiên chi khí Luyện chân thần quy vị hưởng an Linh sơn nở búp sen vàng Cởi rồi bẩy thể nhẹ nhàng biết bao 8. Bát chuyển đức thanh cao thấm nhuận Đến bậc này thì chứng kim tiên Không không không hậu không tiền Không lo không nghĩ không phiền não ai Lửa cung Ly nấu vàng cung Khảm Lọc âm dương hai tám thành cân Hồn còn nương náu xác thân Nhưng không dính líu bụi trần vào thân 9. Cửu chuyển đắc Lôi Âm an hưởng Mặc vui chơi bốn hướng ba nhà Rượu cờ vui thú sen tòa Đào tiên chung cuộc điều hòa cảnh không Pháp Tiên, Phật thần thông vô lượng Ứng hóa linh cao thượng toàn năng Qúy thay cảnh báu chi bằng ? Nghêu ngao khiển hứng gió trăng khó lường Pháp Cửu chuyển là nền thanh khiết Thoát luân hồi đoạn diệt oan khiên Còn chi nghiệp qủa nối chuyền Tâm Không, đắc Phật thành tiên tại trần. * (7 thể: 1. thân xác, 2. phách, 3. vía, 4. hạ trí, 5. thượng trí, 6. kim thân, 7. tiên thể). *Tu chân nội lý đồ và Đại thừa cửu chuyển dùng tham khảo, muốn tu luyện cần phải có các bậc chân sư. Trong Nhị Thập Bát Tú có chòm sao Hư, Nguy nằm ở phương Bắc “Hàm nguyên Hư Ngụy, bá tính vu Tý” (Hư Ngụy ngậm giữ, giờ Tý lan truyền) là chỉ kim Đẩu chỉ về phương Bắc, ý chỉ tiết Đông Chí. Cho nên nói, địa đạo tùy theo sự xoay chuyển của của thiên đạo mà bốn mùa thay thế nhau, nguyên tinh ra vào giờ Tý Đông Chí. Tương ứng trong công phu luyện đan đạo, trong cơ thể con người cũng có huyệt Hư nguy, chính là huyệt Hội âm, là bí mật xưa nay các đan gia không truyền ra ngoài. Vào giờ Tý (Thìn) mỗi ngày thì huyệt này sẽ có cảm giác, là lúc thời cơ tốt để điều chế đan dược. Càn Khôn tương giao là khởi đầu thai nghén sinh mệnh giống như “Quy Xà đồng thể”, Quy là người nữ, âm còn Xà là dương, người nam, vạn vật cũng vì thế mà sinh sôi, phát triển không ngừng. Hạt giống sinh mệnh được thai nghén trong quẻ Khôn. Cùng với sự sinh trưởng của bào thai, dần dần sinh ra tứ chi, ngũ tạng và xương cốt, qua gần mười tháng thai nghén mới có thể hạ sinh. Khi tu luyện nên dùng hiệu pháp này, khiến cho bản thân rơi vào trạng thái không lo lắng, muộn phiền, tâm hồn trong sáng như trẻ thơ, giao toàn bộ họat động của cơ thể cho nguyên thần, giống như đứa trẻ lúc mới sinh thân hình màu đỏ nhạt, cho nên cũng được gọi là Xích Tử, xương yếu thịt mềm nhưng sức sống tràn đầy. Trong luyện đan, khi Càn Khôn tương hợp, tinh đủ thì hóa khí, khí đủ hóa thần, thần đủ hóa hư là cuối cùng luyện thành tiên đan. “Cửu hoàn thất phản, bát quy lục cư” được các đan gia lý giải là cửu Kim, thất Hỏa, bát Mộc cuối cùng đều quy về lục Thủy. Để đạt được thông hai mạch Nhâm Đốc vận chuyển Hà xa như bánh xe quay nước được liên tục (Tiên gia gọi là “Thối âm phủ”, “Tấn dương hỏa”), ta gọi là vận Tiểu Chu Thiên, để thông khí qua Nhâm Đốc phải vượt qua các trở ngại ở hai mạch trên nếu không sẽ bị “Tẩu hỏa nhập ma”, bao gồm 3 cung ở mạch Nhâm: Nê Hoàn Cung, Giáng Cung hay Huỳnh đình cung và Khí huyệt cung và 3 ải quan (cổng Tam quan cổ truyền cũng mang ý nghĩa lịch sử này): Vĩ lư quan, Giáp tích quan và Phong phủ quan ở mạch Đốc. Ngoài ra trên đường khí phía trước mạch Nhâm còn có huyệt Hội Yết châm cứu gọi là Thiên Đột, Đạo gọi là Trùng lâu. Muốn thông Trùng lâu phải nối Thượng kiều (cầu trên, là cuốn lưỡi ngậm miệng nối Nhâm Đốc cho nước miếng trào ra rồi nuốt). Ải đầu luyện tinh hóa khí, ải giữa luyện khí hóa thần và ải cuối luyện thần hoàn hư. Khí muốn qua được ải Vĩ Lư thì phải nối Hạ Kiều (cầu dưới) khi khí đi qua. Ý dẫn khí quen đường biết nối cầu đúng lúc không nhanh, không chậm, tập thành thói quen, đến khi Thần, Khí tụ ở Đan Điền Thần đến mức độ cực đại tự nhiên phát động thì xuống chân khí huyệt, hay khí huyệt cung thì nó sang ngay ải Vĩ Lư mà không bị thoát ra ngoài thận (bộ phận sinh dục), Khí qua ải Vĩ Lư mà đến ải Giáp Tích còn khó hơn, vì không biết thông đường đèo mệnh môn. Huyệt Mệnh Môn nơi ngang thắt lưng bị cong, hẹp khí khó đi qua. Khi tập luyện ta cũng phải đi qua mà thông nó chứ không cho Ý và Khí đi nhảy mà bỏ quên nó. Khi Khí vào quan Phong Phủ lên não bộ vào Nê Hoàn cung mà tích tụ thành khí ở đó nhiều, không có lối thoát làm tác hại bộ não và cũng không xuất thần qua Thiên Môn được nên cũng rèn luyện cho thông Thiên Môn. Ở phương Đông, các tín đồ đạo Phật và đạo Hindu tin rằng cơ thể người có bảy trung tâm năng lượng, được gọi là luân xa(Chakra - tiếng Phạn), nghĩa là bánh xe hay vòng tròn xoay quanh trục của nó, là những trung tâm thu và phát năng lượng. Các luân xa chi phối tinh thần và thể chất của con người. Chúng được kết nối thành một đường thẳng từ xương cụt lên đến đỉnh đầu, mỗi một luân xa chịu trách nhiệm một lĩnh vực đời sống và được liên hệ với các màu sắc khác nhau. Luân xa chính của các cơ thể có ba chức năng chủ yếu sau đây: tiếp sinh khí cho từng cơ thể, kể cả thân vật lý; tạo ra sự phát triển các diện mạo khác nhau của ý thức về bản thân; trao đổi năng lượng giữa các cơ thể. Năng lượng được truyền từ cơ thể này sang cơ thể khác liền kề qua những khe hành lang ở đỉnh luân xa. Các hành lang này ở số đông người bị đóng, chúng thường được khai mở do bẩm sinh hoặc kết quả của việc thanh khiết hóa tâm linh (trích Những bàn tay ánh sáng, tác giả Barbara Ann Brennan, Nxb Văn hóa Thông tin, 2006). Trong Yoga của Ấn Ðộ giáo nói chung có bốn loại Karma Yoga, Bhakti Yoga, Jnana Yoga và Raja Yoga. Yoga có nghĩa là trở về hợp nhất với một “đối tượng”. Trong Ấn Giáo, hành giả Yogi tìm sự hợp nhất với Brahma (Phạm thiên) hay Thượng đế. Về phương diện sinh lý học, Yoga đã hết sức chú trọng đến: - Xương sống, đến tủy xương sống, nhất là đến đường kinh chạy qua tủy xương sống (Sudhuma Nadi). - Đường kinh chạy qua tuỷ xương sống được gọi là Brahma nadi - Con đường dẫn tới Tuyệt Đối Thể. - Cuối xương sống (huyệt Vĩ Lư) được gọi là Cánh cửa của Brahma. - Chung quanh tủy sống có hai đường thần kinh Âm Dương, Ida (Dương) và Pindala (Âm) quấn quanh. - Đường thần kinh giữa tủy sống lên cho tới luân xa Sahasrara (Não thất ba - Third Ventricle). Sahasrara, hay bông hoa sen nghìn cánh, chính là nơi mà đạo sĩ Yogi sống kết hợp với Thượng Đế. - Thóp đỉnh đầu được gọi là Thượng Đế huyệt (Trou de Brahman, Brahma’s cave - Brahmarandhra). Từ xương cùng cuối xương sống, lên tới Não thất ba, có tất cả bảy luân xa chính. Luân xa là những điểm của chân khí qui tụ về để vào tủy xương sống, chuyển vận khí tới các mạng lưới bộ phận trên cơ thể. Hành giả Yogi, phải biết cách vận chân khí qua tủy xương sống, để đưa lên đỉnh não, gọi là đánh thức con hỏa xà Kundalini. Đạo giáo gọi là đả thông hai mạch Nhâm Đốc. Có bảy luân xa chính nằm dọc đường kinh trung ương Sushumna từ dưới xương cùng lên tới đỉnh đầu. Luân xa dọc xương sống Trích Tinh hoa các Đạo giáo, tác giả Nguyễn Văn Thọ file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg 1. Muladhara có hình hoa sen 4 cánh, ở cuối xương sống, ứng với huyệt Vĩ Lư. Luồng hỏa hầu Kundalini nằm phục ở đây. 2. Svadhistana Hình bông sen 6 cánh, giữa đốt xương cùng và thắt lưng, ứng với huyệt Khí Hải. 3. Manipura hình bông sen 10 cánh, ứng với huyệt Trung Uyển. 4. Anahata Hình sen 12 cánh, ứng với Huyệt Chiên Trung. 5. Visuddha Hình bông sen 16 cánh, ứng với huyệt Thiên Đột. 6. Ajna. Hình bông sen hai cánh, ứng với huyệt Ấn Đường (con mắt thứ ba). Thành tựu phép quán luân xa này, người hành giả Yogi tận trừ nghiệp quá khứ, trở thành người hoàn toàn giải thoát ngay trong đời hiện tại, nếu luyện thêm các pháp đặc biệt, sẽ đạt được tám phép thần thông. 7. Sahasrara Hình bông sen nghìn cánh, đó chính là Nê hoàn cung của Lão giáo, tương ứng huyệt Bách hội. Đó chính là nơi Trời và người kết hợp. Khi luồng hỏa hầu Kundalini chạy lên tới đây, hành giả Yogi nhập một với Thượng Ðế, trở thành một bậc giác ngộ giải thoát hoàn toàn, đây là mục đích tối hậu của mọi hành giả yogi. Vị trí của bảy luân xa trước và sau Những bàn tay ánh sáng, tác giả Barbara Ann Brennan, Nxb Văn hóa Thông tin, 2006 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Chúng ta phối hợp bảy luân xa và dữ liệu lịch sử, liên kết với bảng tổng hợp luân xa trong cuốn Những bàn tay ánh sáng: Các luân xa chính và vùng thân thể được chúng dinh dưỡng Luân xa Ngày / Hành tinh Huyệt vị Biểu tượng Số cuộn xoáy Tuyến nội tiết Vùng được nuôi dưỡng 7. Đỉnh đầu Chủ Nhật/ Mặt Trời Nê Hoàn Cung Hùng Vương I* 972 Tím-Trắng Tuyến tùng Não trên, mắt phải 6. Trán Thứ Hai/ Mặt Trăng Ấn Đường Hùng Vương II 96 Chàm Tuyến yên Não dưới, mắt trái, tai, mũi, hệ thần kinh 5. Họng Thứ Ba/ Sao Mộc Thiên Đột Hùng Vương III 16 Xanh Tuyến giáp Phế quản và cơ quan phát âm, phổi, ống tiêu hóa 4. Tim Thứ Tư/ Sao Hỏa Chiên Trung Hùng Vương IV 12 Lục Tuyến ức Tim, máu, dây X, hệ tuần hoàn 3. Đám rối thái dương Thứ Năm/ Sao Thổ Trung Uyển Hùng Vương V 10 Vàng Tuyến tụy Dạ dày, gan, túi mật thái dương, hệ thần kinh 2. Xương cùng Thứ Sáu/ Sao Kim Khí Hải Hùng Vương VI 6 Da cam Tuyến sinh dục Hệ sinh sản 1. Nền Thứ Bảy/ Sao Thủy Vĩ Lư Hùng Vương VII 4 Đỏ Thượng thận Cột sống, thận * Luân xa chính dọc trục xương sống tương ứng với các thế hệ vua Hùng thể hiện trong bộ tranh thờ Hành Say và Thánh Đạo Hưng Long của các dân tộc thiểu số miền Bắc, Việt Nam. Trong Anuttara-Yoga-Tantra của Mật Giáo Tây Tạng cũng nói nhiều về ba đường kinh chính (Sushumna, Ida, Pingala) và các luân xa, nhưng chỉ đề cập tới bốn thay vì bảy luân xa. Yoga cũng có quan hệ với Thiền Tông Phật giáo, các tư thế ngồi Thiền, cách điều tức, định thần của Yoga và Thiền Tông đều tương tự. Chữ Dhyana (tịnh lự) sau này được Phật Học Tự Điển dịch là Thiền Na, Thiền Định, Quán Tưởng, Toạ Thiền. Trên đây chỉ là sơ lược về bảy luân xa chính, trong cơ thể con người còn nhiều luân xa phụ khác ở các khớp tay và chân. Ngoài luân xa, con người còn có hào quang (aura) và bảy thể xác vi tế bao quanh thân tứ đại. Thực tế thí nghiệm về vầng hào quang của thảo mộc, nếu cơ thể sống là một ngọn lá tươi bị cắt bớt một phần ba phía trước, thì cái gì xảy ra dưới điện trường cao tầng? Người ta vẫn thấy nguyên cả ngọn lá cây! Dường như có hai ngọn lá đã chồng lên nhau, ngọn lá này bị cắt đứt đi thì vẫn còn thấy được ngọn lá kia nguyên vẹn (Phát triển phương pháp luận Đông y và châm cứu, tác giả Trương Thìn, Nxb Hội và Câu lạc bộ Y học dân tộc, Sở Y tế Tp HCM, 1985, trang 142). Cá vầng hào quang cơ thể: Tên gọi Mô tả bảy vầng cơ thể hào quang Cơ thể siêu thực Êtheric - Vầng cảm giác thể chất (1) Từ “Ête” được dùng để chỉ dạng năng lượng kề cận vật chất hữu hình. Cơ thể này gồm các vạch năng lượng rất bé, giống như một mạng các tia sáng lấp lánh như vạch màn hình vô tuyến. Nó có cấu trúc gắn liền với thân vật lý, bao gồm tất cả các bộ phận giải phẫu học và toàn thể các cơ quan. Cảm giác của người quan sát là cơ thể ête đóng vai trò cái khuôn năng lượng mà trên đó thể chất các mô của thân vật lý được hình thành và bám vào. Thực nghiệm đã chứng tỏ, cơ thể Ête được sinh ra trước thân vật lý. Qua cơ thể ête, người ta có thể thấy được tất cả các bộ phận của thân vật lý, nhưng chúng được tạo nên bằng ánh sáng xanh nhạt lấp lánh. Nếu chỉ tập trung nhìn vào cơ thể này thì có thể nhận ra nó tựa như một người nam hay nữ bằng những vạch ánh sáng xanh nhạt liên tục nhấp nháy. Các phần tử của cơ thể ête chuyển động không ngừng. Những tia sáng xanh nhạt chuyển dịch dọc theo các vạch năng lượng khắp thân vật lý. Cơ thể ête có màu sắc thay đổi từ xanh nhạt sang xám, nó vượt ra khỏi mặt da khoảng 0,64-5,08 cm và rung động 15-20 lần/phút. Trong thuyết tâm linh, cơ thể ête được gọi là Thể phách. Nó có hai nhiệm vụ chủ yếu là thường xuyên phân phát Sinh lực (prana) khắp thân vật lý và làm cầu nối giữa thân vật lý với cơ thể năng lượng thứ hai. Thể phách sẽ bị phân huỷ sau cái chết của thân vật lý. Cơ thể Emotion - Vầng cảm xúc (2) Đây là cơ thể có quan hệ chặt chẽ với cảm xúc tự nhiên của con người. Cơ thể này bám sát đường nét của thân vật lý, nhưng không sao chép rõ ràng như với cơ thể Ête. Nó hiện ra như một đám mây ở trạng thái lỏng liên tục chuyển động. Cơ thể này có màu thay đổi từ sáng chói đến xám xịt tùy theo trạng thái cảm xúc. Nó vượt ra quá mặt da 2,54-7,62cm. Trong thuyết tâm linh, cơ thể cảm xúc được gọi là Thể vía. Người ta gán cho nó 3 chức năng chủ yếu: nơi sinh ra cảm xúc, cầu nối giữa thể chất và tinh thần, công cụ độc lập về tư duy và hành động. Các cảm xúc phát sinh từ thể vía ở dạng năng lượng, chúng có thể là sợ hãi, căm ghét, giận dữ và bạo hành. Nếu một người bị đình trệ tại cơ thể cảm xúc thì ít có điều kiện để biến đổi năng lượng tiêu cực thành dạng tích cực tương ứng. Một phần thể vía và các cơ thể năng lượng sẽ được mô tả tiếp theo vẫn tiếp tục tồn tại sau cái chết của thân vật lý. Cơ thể Mental - Vầng tâm thần (3) Cơ thể này có quan hệ với các quá trình trí tuệ. Nó thường hiện ra như một khối sáng màu vàng chói lọi, bức xạ quanh đầu, vai và bao bọc toàn bộ thân vật lý. Nó lan rộng và rực rỡ hơn khi ai đó tập trung vào các quá trình tâm thần. Như trên đã nói, cơ thể tâm thần là một cơ thể năng lượng có cấu trúc. Nó chứa đựng cấu trúc các ý niệm của con người. Bằng thị giác đặc biệt có thể nhìn thấy các hình thái tư tưởng trong cơ thể này ở dạng những đốm sáng với hình thù thay đổi. Cơ thể tâm thần vượt qua cơ thể cảm xúc và ra quá mặt da khoảng 7,62-20,32 cm. Trong thuyết tâm linh, cơ thể tâm thần được gọi là Thể trí. Mối quan hệ giữa thể trí và bộ não con người được trung chuyển qua thể vía. Về cơ bản, những gì liên quan đến suy nghĩ và hoài nghi đều diễn ra ở thể này. Nếu được biến đổi thì suy nghĩ sẽ trở thành sáng tỏ trực tiếp (thấu suốt), còn hoài nghi sẽ trở thành tin cậy. Cơ thể Astral - Vầng tinh tú giao tiếp (4) Cơ thể tinh tú không có hình dạng nhất định, gồm các đám mây màu sặc sỡ hơn so với cơ thể cảm xúc. Đây là cơ thể có vai trò trung gian giữa ba cơ thể năng lượng đầu (liên quan đến thế giới thể chất) và ba cơ thể năng lượng sau nó (liên quan đến thế giới tâm linh). Cơ thể tinh tú kết hợp với luân xa 4 (luân xa tim) là nơi cải biến năng lượng từ thể chất qua tâm linh và ngược lại. Nó vượt ra quá mặt da 15,24-30,48cm. Trong thuyết tâm linh, cơ thể tinh tú được gọi là Thể tâm lý. Đây là thể có tiềm năng lớn và chứa nhiều bí ẩn về tâm lý. Các chất có chứa cồn như rượu và bia rất dễ tác động tiêu cực lên thể này. Phẩm chất tự nhiên của thể tâm lý là mơ mộng và tưởng tượng. Thể tâm lý ở động vật ít phát triển nên chúng hầu như không có ý niệm về quá khứ và tương lai. Nếu thể này được phát triển một cách phù hợp thì sẽ làm cho mơ mộng trở thành linh ảnh (thấy sự vật của thế giới năng lượng), còn tưởng tượng - trực cảm. Cơ thể Ête mẫu siêu thực - Vầng ước vọng thiêng liêng (5) Cơ thể này là hình thái mẫu âm bản cho cơ thể Ê gbte vốn là khuôn dạng của thân vật lý. Nói cách khác, cơ thể ête có nguồn gốc cấu trúc từ cơ thể ête mẫu. Bằng thị giác đặc biệt có thể nhìn thấy cơ thể này gồm những hình thái trên nền xanh thẫm như một sơ đồ kiến trúc âm bản. Cơ thể ête mẫu vượt ra quá mặt da khoảng 15,24-60,96cm, trông giống như hình trái xoan hơi thuôn. Trong thuyết tâm linh, cơ thể ête mẫu được gọi là Thể tâm linh. Từ thể này có thể thu được câu trả lời cho câu hỏi: Tôi là ai? và chấm dứt mọi vấn đề xung khắc nội tâm thường hiện hữu ở một cá nhân. Nó là thể đầu tiên mà tại đó con người cảm thấy niềm vui vô song. Một người khi làm chủ thể tâm linh sẽ loại bỏ được hoàn toàn vô thức, tức là sự nhận biết của cá nhân không bị đình trệ ngay cả trong giấc ngủ. Người đó chính là vị Phật, người Tỉnh Thức trong mọi thời khắc của đời sống. Cơ thể Cadestral - Vầng cảm xúc thiêng liêng hay Vầng thượng giới (6) Mọi cảm xúc tâm linh diễn ra tại cơ thể thượng giới. Nếu ai đó có luân xa 6 (luân xa thượng giới) và luân xa 5 (luân xa tim) được khai mở và liên kết với nhau thì tình yêu thương vô điều kiện sẽ tuôn chảy, sẽ cảm thấy bản thân và vũ trụ hoà nhập làm một. Dưới thị giác đặc biệt, cơ thể thượng giới hiện ra trong ánh sáng lung linh rất đẹp, có các tia màu vàng bạc và trắng sữa như mặt xà cừ. Hình thái của nó ít xác định hơn so với cơ thể ête mẫu, dường như nó là ánh sáng được bức xạ từ thân vật lý. Cơ thể thượng giới vượt ra quá mặt da khoảng 60,96-81,28cm. Trong thuyết tâm linh, cơ thể thượng giới được gọi là Thể vũ trụ. Qua thể này con người có thể cảm nhận chân lý vũ trụ - tính toàn bộ của sự tồn tại. Cơ thể Ktheric mẫu - Vầng tâm trí thiêng liêng hay Vầng nhân quả (7) Khi quan sát cơ thể này bằng thị giác đặc biệt sẽ thấy ánh sáng óng vàng lung linh rung động rất nhanh, giống như vô số sợi tơ. Nó có hình dạng quả trứng với một lớp “vỏ” dày khoảng 6,4-12,7mm. Tất cả các luân xa và các dạng thể chất đều hiện ra ở đây như được làm bằng ánh sáng óng vàng. Cơ thể này vượt ra quá mặt da khoảng 91,44-106,68cm tùy thuộc vào từng người. Cơ thể nhân quả cũng chứa dòng năng lượng chủ yếu lên xuống dọc theo cột sống, đó là nguồn dinh dưỡng chủ yếu cho tất cả các cơ thể năng lượng. Các biểu hiện tâm thần thuộc thế giới tâm linh diễn ra ở cơ thể này. Sau khi làm chủ được thể tâm linh và thể vũ trụ, một vị Phật có thể đưa ý thức tiếp xúc với cơ thể này. Lý do để gán tên “nhân quả” cho nó là ở chỗ, phía trong lớp vỏ có tồn tại các dải năng lượng tiền kiếp đã được ghi nhận phù hợp với luật nhân quả. Trong thuyết tâm linh, cơ thể nhân quả được gọi là Thể Niết bàn. Người ta cho rằng, không thể dùng lời để mô tả trực tiếp được thể này. Từ “Niết bàn” ở đây gần với các nghĩa trống rỗng, chân không, phi tồn tại. Nếu con người đưa ý thức vào thể này thì sẽ chuyển từ sự cảm nhận tồn tại sang trạng thái hầu như phi tồn tại, rỗng không. * Mỗi vầng hào quang hiện ra khác nhau và có chức năng đặc thù cho mỗi vầng. Mỗi vầng hào quang kết hợp tương ứng với một luân xa: vầng thứ nhất kết hợp với luân xa 1, vầng thứ hai với luân xa 2, và Hệ thống bảy vầng cơ thể hào quang Những bàn tay ánh sáng, tác giả Barbara Ann Brennan, Nxb Văn hóa Thông tin, 2006 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Theo bà Brennan, ngoài thân vật lý con người còn có ít nhất 7 cơ thể năng lượng không nhìn thấy bởi mắt thường và tất cả chúng thâm nhập lẫn nhau trong một khoảng không gian vào cùng một thời điểm. Các cơ thể năng lượng được đánh số thứ tự theo mật độ vật chất giảm dần, trong đó cơ thể liền kề thân vật lý được đánh số 1. Việc quan sát bằng thị giác đặc biệt cho biết rằng, các cơ thể có số thứ tự lẻ (1, 3, 5, 7) đều có cấu trúc rõ ràng, trong khi các cơ thể có số thứ tự chẵn (2, 4, 6) lại gồm những chất tựa lỏng không có cấu trúc đặc thù. Mỗi cơ thể kế tiếp ít đậm đặc hơn và thâm nhập hoàn toàn vào tất cả các cơ thể trước nó, kể cả thân vật lý. Các cơ thể có số thứ tự lẻ chứa mọi hình thái mà thân vật lý có, kể cả nội tạng, mạch máu... và các hình thái bổ sung mà thân vật lý không có. Mỗi cơ thể hiện ra khác nhau và có chức năng đặc trưng. Mỗi cơ thể được kết hợp với một luân xa chính và một số luân xa khác. Trừ luân xa 1 và luân xa 7, mỗi luân xa chính còn lại là cặp cuộn xoáy năng lượng hình nón quay tròn với chóp đối diện nhau và hướng vào dòng năng lượng chủ yếu“ từ đỉnh đầu tới xương cụt, còn hai đáy nằm ở phía trước và phía sau, tiếp giáp với rìa của cơ thể tương ứng. Số thứ tự của mỗi luân xa chính được gán trùng với số thứ tự của cơ thể tương ứng. Như vậy, luân xa 1 ứng với cơ thể năng lượng thứ nhất, luân xa 2 ứng với cơ thể năng lượng thứ hai..., luân xa 7 ứng với cơ thể năng lượng thứ bảy. Hệ thống bảy vầng cơ thể hào quang file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Rìa ngoài cùng vầng hào quang số 7 giống cái vỏ trứng, nó có bề dày vào khoảng 0.25-0.5 inch. Phần ngoài cùng này rất chắc chắn và co giãn được, để chống thâm nhập và bảo vệ trường hào quang đúng như vỏ trứng bảo vệ gà con. Tất cả các luân xa và dạng thể chất hiện ra được làm bằng ánh sáng óng vàng ở mức này. Đây là mức bền vững nhất, co giãn nhất của trường hào quang. Ngoài 7 cơ thể năng lượng kể trên, bà Brennan còn nhìn thấy các cơ thể năng lượng thứ tám và thứ chín tương ứng ”Mức vũ trụ“. Mỗi cơ thể đó kết hợp tương ứng với luân xa 8 và luân xa 9 ở phía trên đầu. Chúng hiện ra trong suốt như pha lê và gồm những thành phần rung động rất tinh tế. Hai cơ thể đó có vẻ như theo khuôn mẫu chung và xen nhau giữa chất liệu (cơ thể thứ tám) hoặc hình thái (cơ thể thứ chín). Cơ thể thứ tám hiện ra ở dạng tựa chất lỏng, còn cơ thể thứ chín trông như một hình mẫu pha lê của mọi cái chứa trong những cơ thể năng lượng dưới nó. Theo quan sát của những người có thị giác đặc biệt thì ngoại trừ cơ thể Ête, một phần của các cơ thể năng lượng khác vẫn tiếp tục tồn tại và liên kết với nhau thành sinh thể năng lượng sau cái chết của thân vật lý. Điều này cho đến nay vẫn chưa được giới khoa học xác nhận. Đáng chú ý là tất cả các cơ thể của con người đều liên thông với một chiều thực tại nhất định. Mặc dù các nhà huyền môn không nói đến hệ thống các cơ thể năng lượng của con người, nhưng truyền thống của họ trên khắp thế giới qua 5.000 năm vẫn phù hợp với những quan sát mà các nhà khoa học bắt đầu tiến hành gần đây. Một trong những thách thức đặt ra khi mong muốn khảo sát hệ thống các cơ thể năng lượng của sinh vật nói chung và của con người nói riêng là các thiết bị kỹ thuật hiện đại chưa thể phát huy tác dụng. Xét đến cùng, hệ thống các cơ thể con người là một cỗ máy đa chiều thực tại với những giác quan có thể được khai mở để hoạt động tại bất kỳ bình diện vật chất nào. Điều này đã được nhiều người chứng nghiệm. Rõ ràng, tất cả các thiết bị kỹ thuật hiện nay sáng chế ra hầu như chỉ thích hợp cho chiều thực tại vật lý. Có lẽ đó là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự bế tắc trong việc nghiên cứu thực nghiệm về thế giới tâm linh. Chúng ta hãy cùng xem bộ tranh thờ dân tộc Sán Chay Dẫn Hương lộ, miền Bắc Việt Nam. Bức tranh mô tả con đường linh hồn trải qua, với sự trình bày hệ thống thần linh Đạo giáo, nhưng bức tranh cũng chính là lưu giữ phương pháp tu luyện khí công của Đạo giáo. Thần linh trong bức tranh cũng là các vị Phật, Bồ Tát trong Phật giáo và chính là những vị tướng lĩnh và các vua Hùng, cũng như tổ tiên của các ngài. Dẫn Hương lộ Tranh do nghệ nhân Quế Lâm, Quảng Tây, Trung Quốc, vẽ, sưu tầm trong dân tộc Sán Chay (Cao Lan, Sán Chỉ). Huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Những chữ đề trên tranh (theo số thứ tự trên tranh đen trắng): A. Quảng Tây, Quế Lâm Phủ, cấp tổng “Dẫn Hương lộ” Lưu Đạo Kỳ giao giữ. B. Thụ lĩnh Dẫn Hương lộ, đệ tử Ninh Pháp Lệnh lưu hậu tử tôn vạn đại hương môn hưng vượng, đạo môn hiển quý… miên trường. 1. Thầy Tào dâng sớ và cúng trước bàn thờ thần linh. 2. Thần Thổ địa phù trợ tả hữu cho thầy Tào và cũng là vị thần linh gần gũi và nhận lời cầu khẩn của thầy Tào để chuyển lên các thần linh cấp trên. 3. Hạ đan điền: huyệt đạo trên cơ thể của con người. 4. Rùa - Rắn hợp hình: tượng trưng cho Bắc Phương Trấn Vũ còn gọi là Huyền Thiên Trấn Vũ. 5. Nhất vạn lý: một vạn dặm, hay vạn dặm đầu tiên. 6. Tả lục tặc và hữu lục tặc: theo giáo lý của nhà Phật, như sau: a) Sáu nỗi khổ do giác quan của con người tiếp xúc với thế gian bên ngoài gây nên những ham muốn vật chất, là: - Thanh - âm thanh: mà trở thành kẻ thích nghe lời dịu ngọt. - Sắc - hình sắc: mà trở thành kẻ ham mê sắc đẹp. - Hương - mùi thơm: mà trở thành kẻ ham chuộng mùi thơm. - Vị - do lưỡi nếm: mà trở thành kẻ phàm ăn, tục uống. - Xúc - do bàn tay gây ra: mà trở thành kẻ thích làn da mịn màng. - Cảm - do trái tim rung động. B) Sáu trạng thái tâm hồn của con người làm cho con người không được hư tâm, thanh thản: Ái: yêu; ố: ghét; hỷ: vui; nộ: giận; sân: ngu dốt; si: si mê. Vượt được những tình cảm thường tình của tinh thần, thắng được ham muốn vật chất là diệt được dục vọng để vào cõi vô sắc giới. 7. Đại lộ trình: con đường dẫn tới cõi Thanh hư vô cùng vô tận. 8. Tứ trực Công tào. 9. Tam giới phù lại: các viên quan coi việc phù chú ở tam giới: dục sắc giới, túc sắc giới và vô sắc giới. 10. Đệ nhất dục sắc giới: thế giới chúng sinh còn hình sắc và nặng dục tính. 11. Tả chân nhân: đạo hạnh đạt mức trên tiên nhân. 12. Hữu chân nhân: đạo hạnh đạt trên mức tiên nhân. 13. Dương xa: xe dê kéo. 14. Ngưu xa: xe trâu kéo. 15. Hạ nguyên Chu Tướng Quân (Chu Vũ): cai quản Hạ Nguyên, Thủy Quan. 16. Nhị vạn lý: 2 vạn dặm hay vạn dặm thứ hai. 17. Đệ nhị túc sắc giới: thế giới chúng sinh còn hình sắc nhưng không còn dục tính. 18. Thập vương lâu: lầu của Thập Điệm Diêm Vương. 19. Tả Ban và Hữu Ban. 20. Phân lộ: nơi chia đôi Đại lộ trình. 21. Tả liêm: thần Gió bên tả, hay có thể hiểu là thần bên màn tả. 22. Hữu liêm: thần Gió bên hữu, hay có thể hiểu là thần bên màn hữu. 23. Trung đan điền: huyệt đạo trên cơ thể con người. 24. Di La cung: một trong chín tầng trời - Cửu thiên hay Cửu trùng. 25. Thập chân cung: cung của 10 vị chân nhân. 26. Trung Nguyên. 27. Cát tướng Quân (Cát Ủng): cai quản Trung Nguyên, Địa Quan. 28. Mã xa: xe ngựa kéo. 29. Lộc xa: xe hưu kéo. 30. Tam vạn lý: ba vạn dặm hay vạn dặm thứ ba. 31. Tiếp chương từ lâu: lầu đón nhận chương tử, giấy tờ, sớ tấu. 32. Thượng Nguyên. 33. Đường Tướng Quân (Đường Hoàng) cai quản Thượng Nguyên, Thiên Quan. Đường Nghiêu 34. Đệ tam vô sắc giới: chúng sinh không còn hình tướng, không còn dục vọng. 35. Thập cực cung: cung của 10 vị thập cực chân nhân trong coi 10 phương hướng. 36. Tứ đại nguyên soái: từ trái qua phải Quan, Triệu, Đặng, Mã. 37. Lôi đình: Lôi đình đô ty. 38. Phổ hóa. 39. Thượng đan điền: huyệt đạo trên cơ thể con người. 40. Nhật cung (bên tả), Nguyệt cung (bên hữu). 41. Ngọc thố (con thỏ): thuộc mặt trăng - Nguyệt phủ. 42. Ngọc yến (chim én): thuộc mặt trăng - Nguyệt phủ. 43. Kim ngư (cá chép): thuộc mặt trời - Nhật cung. 44. Kim ô (con quạ): thuộc mặt trời - Nhật cung. 45. Bắc đẩu (bên hữu), Nam Tào (bên tả). 46. Tả thừa chương: nơi tiếp nhận giấy tờ ở bên tả thuộc Nam đẩu. Đạo giáo cho rằng Nam Đẩu (Nam Tào) coi sổ sinh, cai quản Dương gian. 47. Hữu thừa từ: nơi tiếp nhận giấy tờ ở bên hữu thuộc Bắc đẩu. Đạo giáo cho rằng Bắc Đẩu coi sổ tử, cai quản Thiên phủ. 48. Thập nhị trùng lâu: khí quản (hầu lung) dẫn khí vào các cung cơ thể của con người còn gọi là “trùng đường” hay “trùng hoàn”. 49. Thiên sư Trương Đạo Lăng. 50. Lý Thiên Sư (Lý Tịnh). 51. Thiên khu viện: nơi trông coi công việc ở cõi trời. 52. Bắc phương bát thiên do Hắc Đế làm chủ (còn gọi là Huyền Đế). 53. Tây phương bát thiên do Bạch Đế làm chủ. 54. Nam phương bát thiên do Xích Đế làm chủ. 55. Đông phương bát thiên do Thanh Đế làm chủ. 56. Hạc Minh Sơn: nơi Thiên sư Trương Đạo Lăng tu luyện. 57. Vũ Đăng Sơn: nơi Đảng Ma Thiên Tôn (Trấn Vũ) tu luyện. 58. Ngọc Thanh Cung của Nguyên Thủy Thiên Tôn (Thái Cực). 59. Thái Thanh Cung của Đạo Đức Thiên Tôn (nguyên lý Dương). 60. Thượng Thanh Cung của Cứu U Phả Độ Thiên Tôn (nguyên lý Âm). 61. Thanh vi thiên (tầng trời thanh hư vi diệu): 1 trong 9 tầng trời. 62. Vũ dư thiên (tầng trời đầy mưa để gột rửa tạo vật cho trong sạch): 1 trong 9 tầng trời. 63. Thái thanh thiên (tầng trời cực trong sạch): 1 trong 9 tầng trời. 64. Thánh chúa. 65. Dương minh tinh: tượng trưng cõi sáng. 66. Huyền minh tinh: tượng trưng cõi tối. 67. Hư vô thanh cảnh: cõi hư vô thanh khiết. 68. Bất dạ bất diệt (bị mất do bảo quản tranh): vô cùng, vô tận, nơi ánh sáng không bao giờ tắt. Như vậy, truyền thuyết Lão Tử - Chử Đồng Tử nằm trong bụng mẹ 81 năm ẩn ý là vòng vận khí Đại Chu Thiên của Đại Thừa Cửu Chuyển. Biểu tượng ngài là Ngưu Tinh hay sao Ngưu Lang.Tên con sông Cầu nơi có đình Thổ Hà với ý nghĩa tên con sông nối liền hai bờ tức là con sông Ngân Hà ngăn cách giữa Chức Nữ và Ngưu Lang. Thổ biểu tượng là con trâu, Hà cũng gọi là Giang nên đình Thổ Hà cũng gọi là đình Ngưu Giang. Trong đồ hình Tiểu Thiên Địa thì Chử Đồng Tử và Kim Dung chính là Rùa - Hạc ngậm hoa hồng “Hạc Quy đồng hội thượng” tức nối sông Thiên Hà bằng Thượng kiều. Ngày nay, đình thờ ngài tại vùng Đa Hòa cùng với nhị vị phu nhân. Ngài chính là “Ngưu giang” trong tiên tri của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: Ngưu giang hợp với Bảo giang, Ðại nhân chính vị, bốn phương một nhà. Kết quả các phương pháp tu luyện trong các đạo giáo giúp cho nguyên thần và nguyên khí hợp lại thành đan dược, có thể dùng mắt quan sát nội thể, trong nội thể xuất hiện nhiều nội cảnh, những nội cảnh này là hiệu nghiệm của tu luyện đan pháp. Ta có thể hiểu là xuất hồn và quan sát ngược vào trong cơ thể, tức dùng Tính thấy, tuyệt đối. Khi đạo thành đức đạt, tinh khí mạch Đốc trong mắt phản chiếu trạng thái vận hành, có thể thấy rõ được hình tượng xương cốt. Khí đạt toàn thân khi tu luyện có thể thấy được mối liên hợp của kinh lạc trong lục phủ ngũ tạng. Lư hương cổ Bảo tàng lịch sử Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Hành giả tu luyện đạt “Ngũ khí triều nguyên” tạo nên sức mạnh hợp nhất như hình ảnh con Kỳ Lân đứng trên đỉnh xông trầm. Hình tượng đình xông trầm là một trong năm pháp khí lư, vạc, chuông, trống, đỉnh của mọt nơi thờ tự của các ngôi đình, đền, chùa thời Hùng Vương. Võ trường Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpg Trong bức tranh trên, khi con Lân xuất hiện ở trung tâm thì “thiên hạ thái bình” nhưng trước đó nó phải “đấu trí” với bốn con voi ở phương. Con Lân ở trung tâm được hai người bảo vệ, một người phất cờ chiến thắng, bốn con voi tượng trưng cho các tôn giáo, chỉ riêng có một phương có hai người, nếu sử dụng la bàn - hướng Nam phía trên, và kết hợp Hậu Thiên Bát quái đã đổi Tốn Khôn, chúng ta sẽ thấy nơi hai người cưỡi voi chính là cung Khôn, đây cũng là một ý nghĩa quan trọng của của bức tranh. Bức tranh thể hiện cuộc Võ trường và vậy thì trong dòng tranh dân gian còn thiếu bức tranh Văn Trường, bởi nếu thuyết Âm Dương Ngũ Hành là thuyết thống nhất vũ trụ thì còn phải đấu tiếp với bốn phương về lý nữa. Đạo sĩ Kim Kang Ta nói: “Hãy sống hòa hợp và đối xử với người Cõi Âm như tình nghĩa láng giềng, rất thân thiện cho linh hồn của họ luôn được ấm áp và dễ dàng cảm thông khi ta cần đến sự cứu giúp… điều đó còn có thể giúp cho luân xa 6 của ta khai mở tốt hơn và đặc biệt nhanh hơn”. Trong tám bậc đến siêu thức, luân xa 6 mang tên “Ty khí”, biểu hiện đức tính kiên nhẫn, bền bỉ, tĩnh lặng, sáng trong và sâu sắc. Luyện tập Ty khí là luyện hơi thở thật nhỏ, thật dài và mềm mại như sợi tơ. Người xưa gọi Ty khí là “kim quang tuyến”, có sắc màu vàng óng ánh sáng chói. Đây cũng là sợi dây liên lạc tâm linh giữa thế giới hữu hình và vô hình. Đạo sĩ Kim Kang Ta viết: Ánh chiều thoi thóp thở, Cội thông già đơn côi. Hồn ngao du tiên cảnh, Chỉ vàng tiếp bước rồi. Xác ngồi đây chờ đợi, Tâm mang về hương hoa. Giúp mọi người an vui... Sợi chỉ vàng còn gọi là kim quang tuyến kết nối giữa thân xác và linh hồn, nên dù linh hồn có đi xa và lâu đến bao nhiêu nữa thì cứ theo dây chỉ vàng mà quay về với xác thân, nếu xác thân chưa bị hư hoại. Các vị đạo sĩ thường hay nhập thất hoặc vào núi rừng tìm nơi thật vắng vẻ luyện công để bảo vệ sợi chỉ vàng không bị đứt do sốc đột ngột bởi người khác gây ra (tham khảo thêm cuốn Tây Tạng Huyền Bí). Giai đoạn linh hồn tách rời thể xác Những bí ẩn sau cõi chết, tác giả Đoàn Văn Thông, Nxb Nguồn Sống, 1994 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image022.jpg Trong Chương I: KIM CỔ TIÊN TRI, có nói về việc “Bí giáo” sẽ được phổ thông cho nhân loại chính là kết hợp phương pháp tu luyện của Tam giáo, nhưng sau này đã được thay đổi cho phù hợp với thời kỳ mới hiện nay như pháp môn Nhân Điện được sáng lập bởi tiến sĩ Lương Minh Đáng, pháp môn Pháp luân công được sáng lập bởi tiến sĩ Lý Hồng Chí. Đặc biệt, đều được sự trợ giúp của các “Đấng vô hình”. Chúng ta muốn khảo sát đạo Lão, Phật giáo, Nho giáo và muốn biết tinh hoa của Đạo mà không biết tu sửa tâm hồn, sống cuộc đời cao khiết giữ cho tâm thần luôn linh minh, sảng khoái, không rũ bỏ được cái mình nhỏ nhoi, không thoát ra khỏi được cái kiếp phù sinh vắn vỏi để vươn lên tới Đạo thể, tới hằng cửu, thì công trình tất cũng chỉ là công sức Dã Tràng mà thôi. Dã Tràng xe cát biển Đông: Có hai vợ chồng một ông già tên là Dã Tràng. Trong vườn họ có một hang rắn. Thường ngày làm cỏ gần đấy, ông già vẫn thấy có một cặp vợ chồng rắn hổ mang ra vào trong hang. Một hôm, con rắn chồng bò ra khỏi hang một mình. Ông nhìn vào, thấy rắn vợ nằm cuộn ở trong. Vì mới lột nên mình mẩy của nó yếu ớt không cựa quậy được. Một lúc lâu rắn chồng bò trở về, miệng tha một con nhái đút cho vợ ăn. Ít lâu sau. Dã Tràng lại thấy rắn vợ bò ra khỏi hang một mình. Lần này rắn chồng đến kỳ lột, nằm im thiêm thiếp, lốt da cũ còn bỏ lại bên hang. Hồi lâu, rắn vợ trở về, theo sau một con rắn đực khác khá lớn. Dã Tràng thấy hai con bò đến cửa hang thì dừng lại rồi quấn lấy nhau như bện dây thừng. Một lát sau, con rắn đực một mình bò vào hang. Dã Tràng biết con rắn đực này toan làm gì rồị Ổng cảm thấy ngứa mắt, muốn trừ bỏ con rắn đó đi để cứu con rắn chồng đang lúc suy nhược. Lúc đó bên mình không có cái gì cả, ông bèn rút một mũi tên nhằm con rắn đực mới đến, bắn ngay một phát. Không ngờ mũi tên lại trúng vào đầu con rắn vợ chết tươi, còn con kia hoảng hồn chạy mất. Dã Tràng nghĩ cũng thương con rắn cái, nhưng trong cái thương có lẫn cả giận, nên ông chán nản bỏ đi về nhà. Từ đó ông không thèm để ý đến hang rắn nữạ Chừng dăm bảy ngày sau, một hôm Dã Tràng nằm võng thuật chuyện vợ chồng con rắn cho vợ nghe và vui miệng, ông kể luôn những việc mình đã thấy và đã làm. Ông kể vừa dứt lời thì bỗng nghe trên máng nhà có tiếng phì phì. Cả hai người hốt hoảng nhìn lên thì thấy có một con rắn hổ mang rất lớn, đuôi quấn lấy xà nhà, đầu vươn gần chỗ ông nằm, miệng nhả một viên ngọc. Ông vừa cầm lấy thì bỗng nghe được tiếng rắn nói: - Ông là ân nhân mà tôi cứ ngỡ là kẻ thù. Mấy hôm nay tôi đợi ông trên máng này chỉ chực mổ chết để báo thù cho vợ tôi. Nhưng hồi nãy nghe ông kể chuyện rõ ràng, tôi mới biết là lầm. Xin biếu ông viên ngọc nghe nàỵ Đeo nó vào mình thì có thể nghe được mọi tiếng muông chim ở thế gian. Từ kinh ngạc đến sung sướng, Dã Tràng nhận viên ngọc quý và từ đó không bao giờ rờị Một hôm, Dã Tràng đang hái rau, tự dưng có một bầy quạ đến đậu ở mấy ngọn cau nói chuyện lao xao. Chúng nó bảo Dã Tràng như thế này: "Ở núi Nam có một con dê bị hổ vồ. Hãy lên đó lấy về mà ăn nhưng nhớ để lòng lại cho chúng tôi với". Dã Tràng làm theo lời quạ, quả thấy xác một con dê trên núi Nam. Ông xẻo lấy một ít thịt xâu lại xách về. Đến nhà, ông vội mách cho xóm giềng biết mà đi lấy, không quên dặn họ để bộ ruột dê lại cho bầy quạ. Nhưng ông không ngờ người trong xóm nghe tin ấy, đua nhau đi đông quá, thành ra họ lấy tất cả, chẳng chừa một tí gì. Lũ quạ không thấy ruột dê, cho là Dã Tràng đánh lừa, bèn đổ xô đến vườn ông réo om sòm. Thấy vậy ông biết là người trong xóm đã làm hại mình, không giữ chữ tín với bầy quạ. Ông phân trần mấy lần nhưng bầy quạ không nghe, cứ đứng đó chửi mãị Tức mình, ông bèn lấy cung tên ra bắn vào chúng. Chủ ý là để đuổi chúng đi chứ không định giết. Chẳng ngờ bầy quạ thấy vậy cho là ông lấy oán trả ân, liền cắp mũi tên có tên Dã Tràng ở đuôi, tìm dịp báo thù. Lúc bay qua sông, thấy một cái xác chết trôi, đàn quạ bèn đem mũi tên ấy cắm vào yết hầu xác chết. Khi quan sở tại đến làm biên bản, thấy mũi tên, liền đoán Dã Tràng là thủ phạm, sai lính bắt ông, hạ ngục. Dã Tràng bị bắt bất ngờ, hết sức kêu oan, nhưng mũi tên là một chứng cớ sờ sờ làm cho ông đuối lý, đành chịu chui đầu vào gông. Tuy nhiên, ông vẫn một mực xin quan xét giải ông về kinh để vua phân xử. Từ đề lao tỉnh, ông bị điệu đi. Dọc đường trời tối, bọn lính dừng lại quán ăn uống và nghỉ ngơi. Dã Tràng cổ bị gông, chân bị xiềng nằm trên đống rơm buồn rầu không ngủ được. Lúc trời gần rạng, ông nghe có một đàn chim sẻ bay ngang đầu nói chuyện với nhau: - Nhanh lên ! Chuyến này sẽ không lo đói nữa mà cũng chả sợ ai đánh đuổi cả. Một con khác hỏi: - Của ai mang đến bỏ vương vãi như thế? Con nọ trả lời: - Của Vua nước bên kia. Họ toan kéo sang đánh úp bên nàỵ Ngày hôm qua, quân đội giáo mác kéo đi liên miên không ngớt. Nhưng xe thóc vừa sắp đến biên giới thì bị sụp hầm đổ hết. Họ đang trở về lấy thứ khác cho nên chúng ta tha hồ chén. Nghe đoạn, chờ lúc bọn lính thúc dục lên đường, Dã Tràng bảo họ: - Xin các ông bẩm lại với quan rằng việc oan uổng và nhỏ mọn, không nên bận tâm, mà giờ đây chỉ nên lo việc quốc gia trọng đại thôi, và còn cấp bách nữa là khác. Bọn lính tra gạn ông mãi nhưng ông không nói gì thêm, chỉ nài rằng hễ có mặt quan, mình mới tỏ bày rõ ràng. Khi gặp mấy vị quan đầu tỉnh, Dã Tràng liền cho họ biết rằng Hiến Đế ở phương bắc đã sai tướng cầm quân sang đánh úp nước mình. Hiện họ đang đóng quân đầy ở biên giới, chỉ vì bị sụp hầm, xe lương đổ hết, chưa tấn công được. Bây giờ họ đang vận thêm lương, chờ đầy đủ sẽ vượt cửa ải sang Nam. Bọn quan tỉnh lấy làm lo lắng nhưng cũng cố hỏi ông có dám chắc như vậy không. Dã Tràng chỉ vào đầu mình mà đoan rằng nếu có sai, ông sẽ xin chịu chết. Nhưng nếu lời của ông đúng thì xin bề trên thả ra cho. Ngay lúc đó, những tên quân do thám được tung đi tới tấp mọi ngõ để lấy tin. Và nội ngày hôm sau, Dã Tràng được thả vì lời mách của ông quả không sai và vừa vặn đúng lúc để chuẩn bị đối phó với địch. Được tha, Dã Tràng đi bộ lần về quê nhà. Bóng chiều vừa ngả, ông mới đến vùng Hồng Hoa. Ông tìm vào nhà người bạn rất thân là Trần Anh nghỉ chân. Gặp lại bạn cũ, vợ chồng Trần Anh vui mừng khôn xiết. Nghe tin ông bị tra tấn giam cùm và suýt mất đầu, hai vợ chồng rất cảm thương bạn. Thấy bữa ăn tối thết bạn không có gì, Trần Anh xuống bếp bảo vợ: - Bạn ta đến, lại gặp lúc trong nhà chả có gì ăn. Sẵn có cặp ngỗng, con nó đã khôn, ta làm thịt một con, ngày mai đãi bạn lên đường. Người vợ bằng lòng nhưng dặn chồng sáng sớm bắt ngỗng và cắt tiết vặt lông giúp mình một tay. Trong khi hai vợ chồng bàn tính thì cặp ngỗng ở ngoài chuồng nghe được câu chuyện. Ngỗng trống bảo ngỗng mái: - Mình ơi ! Mình hãy ở lại nuôi con, tôi sẽ đứng sẵn cho chủ nó bắt. Ngỗng mái không nghe, xin chết thay cho chồng. Nhưng ngỗng trống nhất quyết hy sinh, nên chạy ra sân từ giã đàn con: - Con ơi ! Các con ở lại với mẹ nghe. Cha sẽ không bao giờ gặp lại các con nữạ Song ngỗng mái vẫn lạch bạch chạy theo, đòi chết thay chồng cho bằng được. Lúc bấy giờ Dã Tràng nằm trên bộ ván đặt kề cửa sổ nên nghe được tiếng ngỗng than thở. Ông bỗng thấy thương con vật vô tội chỉ vì mình mà phải lìa đàn con bé bỏng. Ông toan nói trước với bạn, nhưng thấy bất tiện. Ông đành nghe ngóng ở chỗ chuồng ngỗng chờ lúc bạn ra bắt thì sẽ cản lạị Suốt đêm hôm đó tuy mệt mà ông không dám ngủ. Quả nhiên, vào khoảng canh tư, Trần Anh thức dậy bước ra chuồng. Ngỗng trống xua ngỗng mái chạy rồi vươn cổ để cho bắt. Trần Anh sắp cắt cổ ngỗng thì Dã Tràng đã lật đật chạy xuống bếp nắm lấy đao. Ông nói: - Xin bạn thả nó ra. Tính tôi không hay sát sinh. Tình thân của đôi ta lọ phải cỗ bàn mới thân. Nếu bạn giết nó thì tôi lập tức đi khỏi chỗ nàỵ Thấy bạn có vẻ quả quyết, Trần Anh đành thả ngỗng ra, rồi giục vợ chạy đi mua tép về đãi bạn. Cơm nước xong, Dã Tràng từ giã bạn lên đường về nhà. Đến ao, ông đã thấy vợ chồng ngỗng cùng với bầy con đứng chực ở đấỵ Ngỗng đực tặng Dã Tràng một viên ngọc và nói: - Đa tạ ân nhân cứu mạng. Không biết lấy gì báo đền, chúng tôi xin tặng người viên ngọc này, mang nó vào người có thể đi được dưới nước dễ dàng không khác gì trên bộ. Nếu đem ngọc này xuống nước mà khoắng thì sẽ rung động đến tận đáy biển. Ngỗng lại nói tiếp: - Còn như con tép là vật đã thế mạng chúng tôi thì từ nay, dòng dõi chúng tôi sẽ xin chừa tép ra không ăn, để tỏ lòng nhớ ơn ! Dã Tràng không ngờ có sự báo đáp quá hậu như thế, sung sướng nhận lấy ngọc rồi về. Khi đến bờ sông, Dã Tràng muốn thử xem công hiệu của viên ngọc mới, liền cứ để nguyên áo quần đi xuống nước. Thì lạ thay, nước rẽ ra thành một lối cho ông đi thẳng xuống đáy sông. Ông dạo cảnh hồi lâu rồi cầm viên ngọc khoắng vào nước nhiều lần để thử xem thế nàọ Hôm đó, Long Vương và các triều thần đang hội họp ở thủy phủ bỗng thấy nhà cửa lâu đài và mọi kiến trúc khác bỗng nhiên rung động, cơ hồ muốn đổ. Ai nấy đều nháo nhác không hiểu duyên cớ. Vua lập tức truyền cho bộ hạ đi dò la sự tình. Bộ hạ Long Vương theo con đường sóng ngầm lọt vào cửa sông thì thấy Dã Tràng đang cầm ngọc khoắng vào nước. Mỗi lần khoắng như thế, họ cảm thấu xiêu người nhức óc. Tuy biết đích là thủ phạm, họ cũng không dám làm gì, chỉ tiến đến dùng lời nói khéo mời ông xuống chơi thủy phủ. Gặp Long Vương, Dã Tràng cho biết đó là mình chỉ mới làm thử để xem phép có hiệu nghiệm chăng. Long Vương và triều thần nghe nói, ai nấy đều xanh mặt. Nếu hắn làm thật thì thế giới thủy phủ sẽ còn gì nữa ! Vì thế, Long Vương đãi Dã Tràng rất hậụ Ông muốn gì có nấỵ Cho đến lúc ông ra về, Long Vương còn đem vàng bạc tống tiễn rất nhiều để mong nể mặt. Dã Tràng lên khỏi nước có bộ hạ của Long Vương tiễn chân về tới tận nhà mới trở lạị Bà con xóm giềng thấy ông đã không việc gì mà lại trở nên giàu có thì ai cũng lấy làm mừng cho ông. Từ đó Dã Tràng rất quý hai viên ngọc. Ông may một cái túi đựng chúng và luôn luôn đeo ở cổ. Một hôm Dã Tràng đi bộ nửa ngày đường đến nhà một người bà con ăn giỗ. Lúc đến nơi Dã Tràng sờ lên cổ giật mình mới nhớ ra vì vội vàng quá nên ông đã bỏ quên mất túi ngọc ở nhà. Ông thấy không thể nào an tâm ngồi ăn được. Mọi người đều lấy làm ngạc nhiên thấy ông vừa chân ướt chân ráo đến nơi đã vội cáo từ về ngay. Nhưng khi về đến nhà, ông tìm mãi vẫn không thấy túi ngọc đâu cả. Ông rụng rời cả ngườị Đi tìm vợ, vợ cũng không thấy nốt. Nóng ruột, ông lục lọi khắp nơi. Cuối cùng ông bắt được một mảnh giấy do vợ ông viết để lại gài ở chỗ treo áọ Trong đó, vợ ông nói rằng có người của Long Vương lên bảo cho biết hễ ai bắt được túi ngọc đưa xuống dâng Long Vương thì sẽ được phong làm hoàng hậụ Bởi vậy bà ta đã trộm phép ông, đưa túi ngọc xuống thủy phủ rồi, không nên tìm làm gì cho mệt. Đọc xong thư vợ. Dã Tràng ngất đi. Ông không ngờ vợ ông lại có thể như thế được. Ông cũng không ngờ âm mưu của Long Vương thâm độc đến nước ấỵ Nghĩ đến hai thứ bảo vật, ông tức điên ruột. Sau cùng, ông dự tính chở cát lấp biển thành một con đường đi xuống thủy phủ để lấy lại túi ngọc vì ông còn nhớ cả đường lối đến cung điện của Long Vương. Mặc dầu mọi người can ngăn, ông cũng không nghe, bèn dọn nhà ra bờ biển làm công việc đó. Ngày ngày ông xe cát chở đến bờ quyết lấp cho bằng được. Cho tận đến chết, Dã Tràng vẫn không chịu bỏ dở công việc. Chết rồi ông hóa thành con còng còng hay cũng gọi là con Dã Tràng ngày ngày xe cát để lấp biển. Tục ngữ có câu: Dã Tràng xe cát biển Đông. Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì. Người ta nói ngày nay loài ngỗng sở dĩ không bao giờ ăn tép là vì chúng nó nhớ ơn loài tép đã thế mạng cho tổ tiên mình ngày xưa. Họ còn nói loài ngỗng có một cái mào trắng trên đầu là dấu hiệu để tang cho Dã Tràng để nhớ ơn cứu mạng. Câu chuyện Dã Tràng xe cát biển biển Đông, cho ta biết ngay cả động vật cũng có “ngọc châu viên giác” và cũng có thần tính như con người nhưng ở cấp thấp hơn. Việc tu luyện đan đạo cần hết sức bền bỉ, nếu không cũng khó có thể đạt được đạo quả. Hành giả bỏ qua cơ hội, không biết khi nào sẽ thành công, mà muốn trở lại như ban đầu để tu luyện thì có khác gì Dã Tràng đã lấp đầy biển Đông?. Như vậy, chúng ta đã nhận biết được Lão Tử chính là Chử Đồng Tử - giáo chủ của Đạo giáo cổ đại, Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung đã được lấy làm biểu tượng của tình yêu qua hình ảnh gặp gỡ giữa Ngưu Lang và Chức Nữ dưới mưa ngâu vào ngày mồng 7 tháng Bảy âm lịch hàng năm, một cuộc tình hết sức lãng mạn và thi vị trong thời đại Hùng Vương, có lịch sử cách đây hơn 4.500 năm. Chỉ cần một tác phẩm Đạo Đức Kinh, ông đã được xem là triết gia đứng đầu của thế giới, vậy không lẽ gì ngày 7 tháng Bảy âm lịch không được UNESCO công nhận là “Lễ hội của tình yêu”, khi mà ông đã trao tặng cho nhân gian phương thuốc bí truyền - trường sinh bất tử. Chúng ta cũng cần chú ý, văn hóa Việt luôn mang tính Âm Dương, lưỡng hợp cho nên tổ của Đạo giáo luôn phải là hai vị Thánh Chử Đồng Tử và Tiên Dung. Lão Tử với mật ngữ là Ngưu giang trong tiên tri Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, vậy còn Bảo giang hay Thánh nhân trong các dự ngôn trên thế giới chính thức là ai? Chúng ta hãy cùng tiếp tục với Chương X: CHUYỂN LUÂN THÁNH VƯƠNG. ***
      • 1
      • Like
  5. Chương VIII KIM CƯƠNG BẤT HOẠI Khí lành đến từ Tây, quét sạch mây mù che phủ đất trời, Sông lớn chảy về Đông, sóng to rửa hết nỗi sầu kim cổ. Sách 2.000 năm hoành phi, câu đối Nxb Thời Đại. Ở các chương trước, chúng ta đã khảo sát và phân tích chi tiết về lịch sử Hùng Vương và đã nhận biết được có cùng mối quan hệ trong lịch sử với các tôn giáo cổ đại khác trên thế giới như mẫu thân vua Kinh Dương Vương là Thánh Mẫu Thượng Thiên trong đạo Mẫu, Cửu Huyền Thiên Nữ trong Đạo giáo, Hương Vấn Cái Bồ Tát hay Phật Bà Quan Âm của Phật giáo, nữ thần Urma trong đạo Bà La Môn, nữ thần mẹ Hathor trong tôn giáo Ai Cập cổ và trong tôn giáo Hy Lạp cổ thì tương tự như nữ thần đất mẹ Gaia. Biểu tượng của bà và vua Đế Minh là “Trái đất”, do vậy bà còn được tôn xưng là Địa Mẫu. Chúng tôi mong muốn làm rõ lại một phần nguồn gốc lịch sử các tôn giáo này khi nhận biết có liên hệ tới lịch sử nước Việt thời cổ đại, qua hệ thống kinh sách, cổ vật, pháp khí… và các sản phẩm phi vật thể còn tồn tại cho tới ngày nay. Qua một số kinh sách liên quan đến thiên văn của Phật giáo, đặc biệt cơ sở chiêm tinh của Mật giáo là lấy con người phân ra thành 27 nhóm tương ứng 27 ngôi sao, đã loại đi sao Ngưu. Mật giáo chiêm tinh pháp được cho có nguồn gốc từ đời Đường ở Trung Quốc, là một phương pháp chiêm tinh do cao tăng Nhật Bản là Không Hải từ Trung Quốc mang về Nhật, sau đó được lưu truyền đến tận ngày nay. Pháp chiêm tinh này bắt nguồn từ Tú diệu kinh, cuốn kinh này theo truyền thuyết do đức Văn Thù Sư Lợi thuyết pháp, có tên đầy đủ là: Văn Thù Sơ Lợi cập Bồ Tát chư tiên sở thuyết cát hung thời nhật thiên ác tinh tú kinh (Kinh Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi và các thần tiên nói về ngày, giờ cát hung và tinh tú thiện ác). Mà chúng ta đã biết, Văn Thù Bồ Tát là người cô dâu của vua Kinh Dương Vương, nếu căn cứ vào năm lên ngôi của vua Kinh Dương Vương 2879 tr.CN lúc 41 tuổi theo thì có lẽ, Tú diệu kinh đã có trước thời gian này, đúng là một con số có thể gây choáng váng cho bất cứ ai. Đại sư Không Hải đem “Tú diệu kinh” về Nhật Bản Tranh cổ Nhật Bản Bắc đẩu Mandala Thời kỳ Giang Hộ, Nhật Bản Hàng năm, vào ngày rằm tháng Giêng thường gọi là Tết Thượng nguyên, đa số người Việt Nam và các nước Đông Á thường cúng sao tại chùa hay tại nhà để cầu giải trừ tai ương và tật bệnh, trong nghi lễ cúng sao Phật giáo Việt Nam thường gọi là Lễ Dược Sư Nhương Tinh giải hạn. Theo sách Phật Giáo Đại Tạng kinh Trường Tế Mục Lục có ghi một số kinh sách liên quan đến các ngôi sao trên bầu trời như sau: Bắc Đẩu Thất Tinh Tụng Niệm Nghi Quỹ, Bắc Đẩu Thất Tinh Hộ Ma Bí Yếu Nghi, Phật Thuyết Bắc Đẩu Thất Tinh Diên Mệnh Kinh, Thất Diệu Nhương Tai Quyết, Thất Diệu Tinh Thần Biệt Hành Pháp, Bắc Đẩu Thất Tinh Hộ Ma Pháp… Trong lịch thời luân Tây Tạng chọn dùng Nhị thập thất tú (27 sao) từ Ấn Độ truyền vào, nhưng hầu hết tên gọi các chòm sao không giống với Ấn Độ, Nhị thấp thất tú có điểm khác biệt so với Nhị thập bát tú trong thiên văn cổ Việt Nam và Trung Quốc, ngoài hai sao Tất, Bích hợp làm một ra, còn có hai chòm sao Ngưu và Nữ cùng hợp làm một chòm, ngoài ra các sao nhỏ trong Nhị thập thất tú của Ấn Độ cũng không giống với Việt Nam và Trung Quốc, tuy nhiên chúng ta hiểu rằng Nhị thập thất tú có mối quan hệ với Nhị thập bát tú. Theo thiên văn cổ, tinh tú (tú diệu) phân chia ra Nhị thập thất tú, Thập Nhị Cung, Cửu Diệu và Thất Tinh. Các phép dự đoán hiền dữ, tốt xấu theo tinh tú, như trong kinh Tú Diệu Ngài Bồ Tát Văn Thù đã nói rằng: giờ, ngày, tháng, năm sinh của mỗi một con người cùng theo sự biến hóa của sao ở trên trời, lịch pháp theo đường Hoàng Đạo thời tiết cũng thay đổi, vận hành của mặt trời và mặt trăng cũng thay đổi. Cho nên khí lực, thể lực, vận mạng cùng sự tốt xấu, may rủi, tai kiếp, vinh lộc, tài vận, sức khỏe, tình cảm, con cái, cháu chắt, sự nghiệp… đều tương quan chặt chẽ với nhau. Phối hợp 24 khí với 12 cung Hoàng Đới Từ ngoài vào có 7 vòng: 1. Số giới hạn của mỗi khí trên Hoàng Đạo 2. Tên các khí 3. Ngày bắt đầu mỗi khí với tháng và ngày theo dương lịch 4. Số thứ tự, tên và hình minh họa những cung Hoàng Đạo theo phương Đông. 5. Tên và hình minh họa các cung theo phương Tây 6. Ký hiệu các cung theo phương Tây 7. Các mùa với số ngày trong mùa. Trích Nhịp điệu thời gian hay là lịch pháp giản yếu, Nxb Phương Đông, tác giả Trần Thượng Thủ, 2007 Theo Mật giáo Tây Tạng, Kim Cương Bộ viện có vị trí ở ngoài cùng Thai Tạng Giới, được chia làm hai phần: Thái dương có cung Sư Tử, cung Nữ, cung Xứng, cung Yết, cung Cung, và cung Ma Yết. Thái âm có cung Bảo Bình, cung Ngư, cung Bạch Dương, cung Kim Ngưu, cung Nam Nữ, và cung Giải. Theo hướng Đông: cung Nam Nữ, cung Bạch Dương, cung Kim Ngưu. Hướng Tây: cung Xứng, cung Yết, cung Cung. Hướng Nam: cung Bảo Bình, cung Song Ngư, cung Ma Yết. Hướng Bắc: cung Giải, cung Sư Tử, Cung Nữ. 12 cung này so với thiên văn học ngày nay chỉ khác một số tên gọi còn đa số là giống nhau. Cửu Diệu là 7 tinh tú phát ra ánh sáng mạnh ở trên trời, gọi là Thất Chính và hai sao “hư” là La Hầu và Kế Đô, thường gọi Chín sao hay còn gọi là Cửu chấp. Trong Đại Nhật Kinh Sớ viết rằng: 1. Nhật (Mặt trời - Thái dương): Quan Âm hoặc Hư Không Tạng; 2. Nguyệt (Mặt trăng - Thái âm): Đức Đại Thế Chí hoặc Thiên Thủ Quan Âm; 3. Sao Thủy (Thủy diệu): Đức Vi Diệu Trang Nghiêm Thân Phật hoặc Thủy Diệu Quan Âm; 4. Sao Hỏa (Vân Hán): ? 5. Sao Mộc (Mộc đức): Đức Dược Sư Phật hoặc Mã Đầu Quan Âm; 6. Sao Kim (Thái Bạch): Đức A Di Đà hoặc Bất Không Quyến Sách; 7. Sao Thổ (Thổ Tú): Đức Tỳ Lô Giá Na Phật hoặc Thập Nhất Diện Quan Âm; 8. Sao La Hầu: Đức Tỳ Bà Thi Phật; 9. Sao Kế Đô: Bất không Quyến Sách Quán Âm. Tranh các vị Bồ Tát, Phật ứng các “sao” Dân tộc Cao Lan, Sán Chỉ, Việt Nam La Hầu và Kế Đô là hai thiên thể không có thực. Trước kia, khi thấy mặt trời, mặt trăng bị che lấp tối đen, các nhà thiên văn cho rằng do một giống quái vật khổng lồ ăn mất, tạo ra hiện tượng Nhật thực và Nguyệt thực (quái vật gấu ăn mặt trời, quái vật chó sói ăn mặt trăng - có lẽ do hiện tượng chó sói tru đêm trăng tròn, mà Nguyệt thực chỉ xảy ra vào đêm trăng tròn). Thế kỷ I, Phật giáo được cho là từ Ấn Độ vào Trung Quốc, cùng với Phạn lịch, trong đó hai thiên thể che lấp mặt trời, mặt trăng được gọi là Rahu và Ketu. Người Trung Quốc phiên âm là La Hầu và Kế Đô. Hai “Sao” này tối đen, rất lớn và chỉ che lấp mặt trời mặt trăng chứ không che bất cứ thiên thể nào khác. Dù giả thuyết của Trương Hoành (78-139) về trái đất hình tròn và bóng của trái đất che lấp mặt trăng, nhưng đã không được chấp nhận ngay khi đó (Trích Thiên văn học phương Đông, tác giả Bùi Dương Hải). Sách Thai Tạng giới của Mật Tông Tây Tạng có ghi chép rất chi tiết về Nhị thập bát tú, Cửu Diệu, Thất Chính và 12 chòm sao trên vòng Hoàng Đạo, cùng với các biểu tượng tương ứng. Biểu tượng sao Kế Đô - La Hầu Trích Thai tạng giới Mandala, Huyền Thanh dịch, Nxb Phương Đông, 2010 Thất Tinh là 7 vì sao ở hướng Bắc và hình như cái gáo hay gàu sòng, thường gọi là chòm sao Bắc Đẩu tức Đại Hùng Tinh, trong kinh Phật Thuyết Bắc Đẩu Thất Tinh Diên Mệnh Kinh chép rằng: tại cung Trời Tịnh Cư (Tịnh Cư Thiên cung), ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát thỉnh cầu đức Phật giải thích về ảnh hưởng của 7 ngôi sao Bắc Đẩu, Đức Bổn sư trả lời rằng: tên của 7 vì sao đó là Thánh hiệu của 7 vị Cổ Phật: 1 Tham Lang Đông Phương Tối Thắng Thế Giới Vận Ý Thông Chứng Như Lai 2 Cự Môn Đông Phương Diệu Bảo Thế Giới Quang Âm Tự Tại Như Lai 3 Lộc Tồn Đông Phương Viên Châu Thế Giới Kim Sắc Thành Tựu Như Lai 4 Văn Khúc Đông Phương Vô Ưu Thế Giới Tối Thắng Cát Tường Như lai 5 Liêm Trinh Đông Phương Tịnh Trụ Thế Giới Quảng Đạt Trí Tuệ Như lai 6 Vũ Khúc Đông Phương Pháp Ý Thế Giới Pháp Hải Du Hý Như Lai 7 Phá Quân Đông Phương Mãn Nguyệt Thế Giới Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai 8 Ngoại phụ Động Minh Ngoại Phụ Tinh Quân tức Tây Phương Diệu Hỷ Thế Giới Hoa Tạng Trang Nghiêm Bồ Tát 9 Nội Bật Ẩn Quang Nội Bật Tinh Quân tức Tây Phương Diệu Viên Thế giới An Lạc Tự Tại Bồ Tát Bảy vị Phật trên là Thất Phật Dược Sư, như vậy, hình ảnh 7 vị Phật Dược Sư đã hóa thành Hộ Pháp Tinh Quân của Đạo giáo. Chòm sao Bắc Đẩu Lịch pháp Mật tông Tây Tạng, tác giả Thích Minh Thông, Nxb Văn hóa Thông tin, 2012 Chiếc xe trời (Đế Xa) gồm 7 vì sao Bắc Đẩu (Đại Hùng Tinh) bao gồm: (1) Khu Tinh (Tham Lang) - Nhất Bạch; (2) Tuyền Tinh (Cự Môn) - Nhị Hắc; (3) Kỵ Tinh (Lộc Tồn) - Tam Bích - Kinh Dương Vương. (4) Quyền Tinh (Văn Khúc) - Tứ Lục - Đế Minh (Chủ tinh). (5) Hành Tinh (Liêm Trinh) - Ngũ Hoàng; (6) Khai Dương (Vũ Khúc) - Lục Bạch; (7) Giao Quang (Phá Quân) - Thất Xích; (8) Tả Phù - Bát Bạch; (9) Hữu Bật - Cửu Tử. Đức Phật chỉ dẫn: Nếu có thiện nam, tín nữ cứ mỗi năm, ngày mồng 8 tháng Giêng, ngày mồng 7 tháng Bảy, ngày mồng 9 tháng Chín âm lịch sắm sửa hương hoa, nước sạch, cắm đèn theo hình Thất Tinh, y phục sạch sẽ, cúng dường trước tinh tượng 7 vị Cổ Phật trên, tùy tâm sở cầu, sẽ có cảm ứng. Bắc đẩu Thất tinh phù Chòm sao Bắc Đẩu Khắc trên gạch đời Hán, Trung Quốc Như đã trình bày, Thập Nhị cung, Thất Tinh, Cửu Diệu đều là danh hiệu cũng như biểu tượng của Đức Cổ Phật và Bồ Tát, cho nên chúng ta cúng dường lên các ngài sẽ nhận được nhiều công đức. Sau đây tóm tắt về nghi lễ Dược Sư Nhương Tinh giải hạn theo Phật giáo Việt Nam: - Niêm hương bạch Phật - Đảnh lễ Tam Bảo - Tán bài Dương Chi; - Điểm đăng tức thắp đèn (cắm hình Thất Tinh hoặc đèn Dược Sư); - Thỉnh Đế Thích Ngọc Hoàng, Phật giáo gọi là Thích Đề Hoàn Nhân; - Thỉnh Đẩu Tinh giáo chủ tức ngài Tiêu Tai Xí Thạnh Quang Vương Phật; - Tụng chú Đại Bi - Tuyên sớ - Tụng Nhương Tinh kệ; - Đại chúng lạy trùng hiệu trong Sám Dược Sư (24 lạy) - Tụng chú Tiêu Tai; - Hồi Hướng - Phục nguyện; - Tam Tự Quy - Lễ Tất. Nghi lễ Dược Sư Nhương Tinh giải hạn được nhắc lại trong câu truyện Tam Quốc Chí, tác giả Bồ Tát Nguyễn Minh Không, khi Khổng Minh Gia Cát Lượng lập đàn Thất Tinh cầu thọ thêm vài năm để hoàn thành đại nghiệp. Trong cuốn Thai Tạng giới của Mật giáo Tây Tạng ghi nhận Nhị thập bát tú, 12 chòm sao của vòng Hoàng Đạo với các biểu tượng và chòm sao Bắc Đẩu, vậy thì để làm rõ được các vị Cổ Phật là ai, chỉ còn cách chúng ta phải tra cứu tới nền văn hóa Phật giáo Tây Tạng mà thôi. Xứ sở của tuyết Tây Tạng là vùng đất của những dãy núi vô cùng hiểm trở, trong đó có dãy núi nổi tiếng Himalayanằm ở biên giới giữa Trung Quốc với Ấn Độ và NêPan, với hình cánh cung dàikhoảng 2.400km, độ cao trên 6.000mso với mặt biển, là dãy núi hùng vĩ nhất với ngọn Everest cao nhất thế giới 8848.13m. Lịch sử của Tây Tạng đặc biệt ở chỗ là đây là một quốc gia phụng sự Phật giáo, Tây Tạng còn có tên thường gọi "Nóc nhà của thế giới" hay là "Xứ sở của tuyết". Người Tây Tạng xem đất nước mình là một quốc gia Phật giáo với tên gọi “Phật Đà Quốc”. Vị trí địa lý Tây Tạng Nguồn trang web Wikipedia Thủ phủ của Tây Tạng là Lhasa - thánh địa của Phật giáo, nên đâu đâu cũng có những ngôi chùa cổ kính. Người Tây Tạng giải thích rằng Lhasa là “đất bùn của dê”, bởi từ truyền thuyết xa xưa, thành phố được xây dựng trên đất bùn do các chú dê vận chuyển đến. Lhasa là một di sản văn hóa nổi tiếng trên thế giới được xây dựng từ khoảng năm 637 trên một ngọn đồi có tên là Mabuge. Biểu tượng của thành phố Lhasa là cung điện Potala - cung điện của các vị Bồ Tát, đây là nơi ở và làm việc của các vị Đạt Lai Lạt Ma, lãnh tụ tinh thần của Tây Tạng. Cung điện Potala trong mây Tây Tạng, nguồn internet Ảnh Xinhua Cung điện Potala được xây dựng trên núi Mabuge (núi Đỏ), cao hơn thành phố Lahasa khoảng 9m, gồm 13 tầng, tòa nhà lớn có hơn 1.000 gian phòng, hơn 10.000 Phật điện và 20.000 tượng điêu khắc. Cung điện Potala trông rất hùng vĩ và hoành tráng, từ xa trông như một vách đá màu trắng sừng sững uy nghi, đứng tại bất kỳ nơi đâu ở Lhasa, du khách cũng có thể nhìn thấy cung điện Potala nổi bật trên nền trời xanh ngắt. Được biết, cung điện Potala được xây dựng vào thế kỷ thứ VII, đánh dấu cuộc hôn nhân giữa quốc vương Tây Tạng Songtsan Gampo và Văn Thành công chúa, con gái của vua Đường Thái Tông. Cung điện Potala chạy dọc theo một dãy núi thấp nhìn xuống thành phố Lhasa ở hướng Nam. Không rõ sử cổ đại của dân tộc Tây Tạng như thế nào, nay chỉ dựa vào những ghi chép trong cổ sử Trung Quốc để có được những hiểu biết về dân tộc Tây Tạng. Theo sự ghi chép của chính sử, thì phải đợi đến khi nhà Đường mới có sự tiếp xúc, Tân Đường thư - Thổ Phồn truyện phần mở đầu viết: “Thổ Phồn vốn là một chi hệ của Khương tộc, buổi đầu tộc Khương có hơn một trăm năm mươi giống, sống rải rác khắp vùng Hà, Niết, Giang, Dân, trong đó phát triển nhất là giống Khương -Đường - Mao sống ở vùng Tích Chi và Thuỷ Tây. Vị tị tổ có tên là Cốt-Đề-Bột-Tất-Dã đã cùng một số tộc Khương chiếm đất làm địa bàn cư trú”. Người Tây Tạng tự gọi dân tộc mình là “Bố-Đặt”, và nước mình là nước Bod-(Kyi)yul, người Tây phương gọi Tây Tạng là Tibet, còn Trung Quốc dịch chữ Bod-(Kyi)yul là “Đồ-Bố-Đặt” hoặc “Thổ-Bố-Đặt”. Nguyên nhân của các tên gọi trên đều có quan hệ đến việc chuyển âm mà ra, người Tây Tạng đọc chữ Phồn thành chữ Bố-Đặt (Bod), hai chữ Bố Đặt có nghĩa là Phật Đà Quốc. Điều quan trọng là do đâu mà nhà Đường lại thêm chữ Thổ vào trước chữ Phồn? Đây là vấn đề mà đến nay vẫn chưa có thuyết nào giải thích. Đem việc chuyển âm ra khảo sát, thì Tân Đường Thư cho rằng vấn đề là do chữ “Phát” của người Phát Khương chuyển thành chữ “Phồn”. Căn cứ những khảo sát về chuyển âm, thì hai chữ Phật Đà (Buddha) được người Tây Tạng đọc thành Bố Đặt, nhân vì Phạn ngữ cũng gọi Tây Tạng là Bộc Tra (Bhota), chỉ có tên gọi Thổ Phồn là mới được dùng từ thời sơ Đường. Ở vào thời sơ Đường không rõ người Tây Tạng nhằm vào thời gian nào để xưng đất nước Phật Đà Quốc - đây là điều không dễ tra cứu. Ngoài ra, Tây Tạng còn có những tên gọi như Tuyết Hữu quốc (Gans-Can-Yul) Tuyết Cốc quốc (Gans-ljons-Yul) và Xích Diện (Gdon-Dmar)… (Tham khảo Lịch sử Phật giáo Tây Tạng, tác giả pháp sư Thánh Nghiêm, Việt dịch Thích Tâm Trí). Theo truyền thuyết, người Tây Tạng tự nhận tổ tiên của họ là Hầu tử (con vượn), con Hầu tử này là hóa thân của Quan Thế Âm Bồ Tát, nó vượt qua dãy núi Hy Mã Lạp Nhã đến ở bên bờ sông Nhã Lỗ Tạng Bố Giang, một hôm nó lần theo dấu chân của một ma nữ (La sát nữ) và kết hôn cùng nàng. Rồi cả hai vào ở trong hang đá mãi tận thâm sơn cùng cốc, cứ thế trải qua nhiều đời, con cháu của họ ngày nay là dân tộc Tây Tạng, nhân truyền thuyết này mà người dân Tây Tạng lấy tên vị vua nổi tiếng trong thời cổ đại của dân tộc mình, cũng như vị Đạt Lai đời đời chuyển sinh ở hiện tại và cho rằng hai vị trên đều do đức Bồ Tát Quan Thế Âm hóa thân. Cũng nhân đó người Tây Tạng đặt tên cho trung tâm chính trị, tôn giáo của họ là Bố Đạt Lạp tức là Liên đài (hoa sen), ngự trên Liên đài là Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong nền Phật giáo Tây Tạng, Đức Phật Liên Hoa Sinh Padmasambhava là một đại sư Ấn Độ, sống cùng thời vua Tây Tạng Ngật-lật-song Đề-tán (755-797), sư truyền Phật giáo vào Tây Tạng và sáng lập tông Ninh-mã, một trong bốn tông phái lớn của Tây Tạng và được các đệ tử gọi là "Phật Thứ Hai”. Ông đã để lại những câu sấm ký viết rằng: Tùy theo dân trí và các duyên lành xứ sở này tạo được mà có những vị tổ hóa thân trở lại đem những pho kinh mà truyền lại cho đời sau. Từ đó đến nay, đã có một số kinh điển được khai quật và truyền bá bởi các danh sư Tây Tạng, nhưng người ta nói rằng những điều được truyền dạy chỉ là những mảnh vụn không đáng kể vì số kinh cất dấu tại đây còn nhiều mà số người lĩnh hội được còn quá ít. Cũng vì thế, hàng năm vẫn có nhiều tu sĩ đến đây hy vọng sẽ tìm ra những tài liệu bí mật chưa được khám phá. Truyền thuyết còn kể rằng: quanh tu viện Nyima còn có 108 ngôi chùa và 108 dòng suối linh thiêng. Những ngôi chùa này đều có các bậc thiện tri thức trụ trì, giảng dạy những bộ môn khác nhau. Dĩ nhiên, không ai có thể nhìn thấy tu viện hay dòng suối này mà chỉ những bậc tổ, những bậc tu hành đã đắc thần thông, đã mở được thần nhãn mới có thể tìm thấy và tìm đến để học đạo. Liên Hoa Sinh Tranh tượng tham khảo Theo những tài liệu sử sách thì trước khi Phật Giáo Đại Thừa du nhập vào đất Tây Tạng thì nơi đây vốn đã có tôn giáo riêng, mang dấu ấn của Thần giáo. Tôn giáo này chứa đầy những huyền phép bí ảo mà ít người có thể hiểu biết, chuyên thờ cúng và hành trì những công năng như thuật khinh thân, bói toán, tàng hình, đứng đầu là những vị pháp sư. Theo họ thì những mãnh lực huyền bí vẫn tồn tại trong vũ trụ và những nhà tu hành phải chế ngự và điều động cho được những mãnh lực siêu nhiên này, khả năng chế ngự đến mức độ nào là tùy theo trình độ tu luyện của họ. Huyền học bao trùm tôn giáo bản địa. Mật Tông Tây Tạng Mật Tông ra đời sau khi Phật Thích ca nhập diệt khoảng 1.000 năm, lúc này Đạo Phật đã phân chia và suy vong, và cũng tại thời điểm này, triết lý Đại Thừa đang hồi sung mãn nhất. Các Đại sư Phật giáo đã sử dụng và sáng tạo từ triết lý Đại Thừa một cách phong phú, trong đó triết lý “Tính Không” và “Bát Nhã” được đặt làm nền tảng. Tuy thế Mật Tông lại giữ cho sự phát triển bay bổng của nó một định hướng đúng đắn của Đạo Phật, bằng cách giữ nguyên truyền thống Giới - Định - Tuệ và sự tôn trọng các kinh điển Phật giáo nguyên thủy. Kim cương giới Mandala: là Pháp thân, là lĩnh vực của “Trí tuệ bát nhã”, là Tính Không, là Chân Đế. Kim Cương giới gồm bốn vị Phật xung quanh một Pháp tính Phật. Ý nghĩa này ám chỉ khi các “Thức” của người thực hành Thiền đã chuyển thành bốn “Trí” của một vị giác ngộ, thì sự phối hợp của bốn Trí sẽ tạo thành thực thể thứ năm: đó là Trí huệ Bát Nhã tức pháp thân của Phật. Kim Cương giới cũng gọi là Ngũ Trí Như Lai. Theo Từ điển Phật học Huệ Quang, Mandala là một khu vực hình tròn hoặc hình vuông được phân định theo pháp, dùng để thực hiện các pháp tu của Mật giáo hoặc là một đàn tràng bằng đất cát, trên đó vẽ các tôn tượng Phật và Bồ Tát, tu pháp xong thì xóa bỏ các hình tượng hoặc là một tờ giấy hay tấm vải, trên đó có vẽ hình tượng các Tôn vị. Theo Đại Nhật Kinh Sớ, Mandala theo nghĩa “Luân viên cụ túc” là các Tôn vị vây quanh Đức Đại Nhật Như Lai để cùng giúp sức với Đại Nhật Như Lai đưa chúng sinh vào giác ngộ, giải thoát. Theo kinh Kim Cương Đỉnh, có bốn chủng loại Mandala: - Đại Mandala: Bức vẽ các Tôn vị với đầy đủ dung mạo, tướng hảo tương đương với hội Thành Thân trong Kim Cương giới. - Tam Muội Da Mandala: Bức vẽ những hình Tam muội da của chư Tôn, tương đương với hội Tam Muội Da. - Pháp Mandala: Bức vẽ những chủng tử và chân ngôn các Tôn vị, tương đương với hội Vi Tế. - Yết Ma Mandala: Bức vẽ về những oai nghi sự nghiệp của chư Tôn hoặc hình tượng các Tôn vị được tạo theo đúng oai nghi, sự nghiệp của các ngài, tương đương với hội Cúng Dường. Trong mỗi chủng loại Mandala trên đều có ba cách thể hiện: - Đô hội Mandala: các Tôn vị nhóm họp cùng một chỗ, như Mandala lấy Đại Nhật Như Lai làm trung tâm. - Bộ hội Mandala: các Tôn vị chia thành từng bộ, như Mandala Phật đỉnh của Phật bộ, Mandala Thập nhất diện Quán Âm của Liên hoa bộ. - Biệt tôn Mandala: lấy một Tôn vị làm trung tâm, như Mandala Phật Thích Ca Mâu Ni, Mandala Như Ý Luân… Ngoài ra, Mandala được vẽ khi tu tập pháp Tôn thắng gọi là Tôn Thắng Mandala, Mandala để làm đối tượng lễ bái, cúng dường gọi là Cúng Dường Mandala, hình vẽ các Thánh chúng trong hội Pháp hoa gọi là Kinh Pháp Mandala, hình vẽ cảnh giới Tịnh độ của Phật A Di Đà gọi là Tịnh Độ Mandala … Kim Cương giới chia làm năm bộ: Phật bộ (lý trí đầy đủ, viên mãn), Kim Cương bộ (Trí), Bảo bộ (phúc đức), Liên Hoa (Bi) và Yết Ma bộ (tác dụng giáo hóa chúng sinh). Năm đức Phật Đại Nhật, Phật A Súc, Phật Bảo Sinh, Phật A Di Đà, và Bất Không Thành Tựu Phật là bộ chủ của năm bộ trên. Kim cương giới Mật Tông Tây Tạng Thai tạng giới: Là lãnh vực của thế giới sự vật hiện tượng, là cái Lý vận hành thế giới sự vật hiện tượng, là phương tiện của sự tu chứng, là Tục Đế. Mọi vật, sự vật và hiện tượng trong Thai Tạng giới đều vận động để phát triển và chuyển hóa đến mức trưởng thành cuối cùng là Trí huệ. Do đó Mật Tông nhận thức và sử dụng Thai Tạng Giới như phương tiện để đạt đến Trí huệ. Từ bi là trạng thái Tâm thuộc về Thai Tạng giới, cho nên Từ bi cũng đựợc dùng như là phương tiện cứu độ. Ngoài ra cùng nội dung và ý nghĩa tương tự, chữ Thai tạng giới dùng để ám chỉ lãnh vực của trí năng tiềm ẩn của tất cả mọi người, lúc chưa hiển lộ thành Trí huệ. Ví dụ Tâm của người thực hành chưa giác ngộ thuộc về Thai Tạng giới, giống như một thai nhi đang phát triển, nghĩa là còn cần phải nuôi dưỡng để hoàn chỉnh. Mật Tông xem con người và vũ trụ có cùng một cấu trúc và cùng một lý vận hành. Mandala là một sơ đồ có tính biểu tượng của vũ trụ, của các thành phần của vũ trụ, chính của bản tâm con người. Mật Tông nhìn bản thể của vũ trụ như tập hợp các thành phần tâm thức tức Trí huệ sau khi chứng ngộ. Trong Mandala, Trí huệ được biểu tượng bằng các vị Phật, hoạt dụng và hành trạng của các vị Phật được biểu tượng bởi các vật dụng mà các vị Phật cầm nắm hoặc đi kèm. Đền tháp Borobudur kiểu Mandala (thế kỷ VIII - IX) Yogyakarta, đảo Java, Indonesia Trong Thai Tạng Giới, phần Trung Đài Bát Diệp Viện có hình tượng hoa sen tám cánh, thì Đại Nhật Như Lai là nhụy sen biểu tượng cho căn bản của sự tu tập giải thoát cần phải lấy đại bi làm gốc. Thai tạng giới Mật Tông Tây Tạng Trung Đài Bát Diệp Viện là một trong 12 viện của Thai Tạng Giới, là trung tâm của Thai Tạng Giới. Trung Đài Bát Diệp Viện biểu thị chi Tâm gồm 9 tòa Tôn tượng tượng trưng cho 5 Trí và 4 Hạnh biểu tượng cho quan niệm “Phật tính vốn tiền ẩn trong thân của chúng sinh”: - Trung tâm: Đại Nhật Như Lai tức Đức Tỳ Lô Giá Na, biểu hiệu bằng hai bàn tay kiết Chuyển pháp luân ấn trước ngực, biểu tượng cho Trí huệ Pháp giới thể tính, và ngài cũng là vị “Giáo chủ bí mật” của Mật giáo. - Phương Đông: Bất Động Như Lai tức A Súc Bệ Như Lai hay Bảo Tràng Như Lai, biểu hiệu bằng Xúc địa ấn, biểu tượng cho trí huệ Đại viên kính, chủng tự là HUM. - Phương Tây: Vô Lương Thọ Như Lai tức A Di Đà Phật, Biểu hiệu bằng Thiền định ấn, biểu tượng cho Trí huệ Diệu quan sát, chủng tự là HRIH. - Phương Nam: Bảo Sinh Như Lai hay Khai phu Hoa Vương Như Lai, biểu hiệu bằng Tam bảo bố thí ấn, biểu tượng cho trí huệ Bình đẳng tính, chủng tự là TRAH. - Phương Bắc: Bất Không Thành Tựu Như Lai hay Thiên Cổ Lôi Âm Như Lai, biểu hiệu bằng Vô úy ấn, biểu tượng cho trí huệ Thành sở tác, chủng tự là AH. - Đông Nam: Đức Phổ Hiền Bồ Tát. - Tây Bắc: Đức Quan Âm Bồ Tát. - Tây Nam: Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. - Đông Bắc: Đức Di Lạc Bồ Tát. Bất Động Phật (tượng thủy tinh mạ bạc Tây Tạng, thế kỷ III) Huyền thoại phương Đông Rachel Storm Bất không Thành Tựu Phật (tượng đồng cẩn bạc Tây Tạng, thế kỷ XIV) Huyền thoại phương Đông Rachel Storm Phật A Di Đà (tượng đồng đỏ Tây Tạng, thế kỷ X) Huyền thoại phương Đông Rachel Storm Bảo Sinh Phật (tượng đồng đỏ Tây Tạng, thế kỷ XV) Huyền thoại phương Đông, Rachel Storm Đại Nhật Như Lai hay Tỳ Lô Giá Na Phật trong Kim Cương giới và Thai tạng giớicủa Mật giáo ở vị trí trung tâm, ngài là biểu hiện của ánh sáng trí huệ chiếu soi và diệt trừ bóng tối của vô minh. Trên đỉnh mái thiền viện Drepung có biểu tượng “hai con nai chầu bánh xe pháp luân”, với hình tượng con nai phải chăng là biểu tượng của Đại Nhật Phật chuyển bánh xe pháp luân cho Phật Thích Ca Mâu Ni? Trong khi đó, miền đất Tây Tạng không có giống nai, bởi điều kiện khí hậu khắc nghiệt, không phù hợp. Bánh xe pháp luân Thiền viện Drepung, Tây Tạng Tháp Chuyển pháp luân Vườn Lộc Uyển, Ấn Độ Sarnath theo tiếng Pali nghĩa là vua của loài nai, thuộc về xứ Ba La Nại cổ, nguồn gốc của tên gọi này có từ rất xa xưa, truyền thuyết thuở tiền thân Đức Phật Thích Ca vốn là một vị Bồ Tát hóa thân tu tập làm nai sống nơi rừng hoang. Ngài là một con nai chúa đã hy sinh thân mình để cứu nai mẹ sắp đến ngày sinh nhưng đến lượt phải vào thành nộp mạng làm bữa ăn của vua, cảm phục đức hy sinh của nai chúa nên vua tha không giết và lập tức bãi bỏ lệ bắt đàn nai và ra lệnh từ nay cấm không ai được săn bắn loài nai nữa. Từ đó, đàn nai sinh sôi nảy nở, tung tăng hồn nhiên trong khu rừng xinh đẹp, vườn Nai có tên là vì thế. Sau này, vườn Lộc Uyển trở thành một trong Tứ thánh địa của Phật giáo. Chúng ta cũng đã biết, con nai là biểu tượng của vua Kinh Dương Vương, Ngọc Hoàng Thượng Đế, biểu tượng là mặt trời, và như vậy, biểu tượng “hai con nai chầu bánh xe pháp luân” trên đỉnh mái đền Jokhan dẫn tới một nhận định quan trọng đó chính là biểu tượng của Đại Nhật Phật, Ngọc Hoàng Thượng Đế, vua Kinh Dương Vương. Lúc này, chúng ta hiểu tại sao Lhasa được gọi là “đất bùn của dê”, bởi “con dê” cũng là biểu tượng của Đại Nhật Phật, là cung Dương Cưu trong chòm sao trên vòng Hoàng Đạo, biểu tượng của mặt trời, hoàn toàn tương tự như Thần mặt trời Ra của tôn giáo cổ Ai Cập. Truyền thuyết ở Việt Nam và Trung Quốc còn ghi nhận, dãy núi Côn Lôn nổi tiếng trong các câu truyện thần thoại Trung Quốc, mà người ta tin rằng nó là thiên đường của Đạo giáo, truyền thuyết cho rằng người đầu tiên đến thiên đường này là Chu Mục Vương (976-922 tr.CN) của nhà Chu. Ông ngẫu nhiên phát hiện ra cung điện bằng ngọc của Hoàng Đế, vị hoàng đế thần thoại và là người sáng tạo ra nền văn hóa Trung Quốc, và đã gặp Tây Vương Mẫu, mà đỉnh cao sự sùng bái tôn thờ bà vào thời nhà Hán, nơi ở thần thoại của bà cũng nằm trong dãy núi này. Mà chúng ta cũng đã biết, Tây Vương Mẫu là chính thất của Ngọc Hoàng Thượng Đế, vậy thì các truyền thuyết cũng hoàn toàn ăn khớp với kết quả phân tích và nhận định. Đỉnh Côn Lôn chính là đỉnh núi Himalaya của Tây Tạng, nơi tôn sùng là thánh địa của các tôn giáo khác nhau như Phật giáo, Ấn Độ giáo, đạo Kỳ Na giáo… và Đạo giáo. Theo kinh sách, Đức Phật trong Kinh Hoa Nghiêm là Tỳ Lô Giá Na Pháp thân hay Đại Nhật Như Lai bất sinh bất diệt, nắm bắt được toàn bộ tổng thể sự vật. Ý này được kinh diễn tả là ngài đắc đạo, khám phá ra bàn tay tạo hóa hay người thợ xây dựng ngôi nhà và từ đó ngài chủ động hoàn toàn vận mạng của ngài. Lược giải kinh Hoa Nghiêm, Hòa thượng Thích Trí Quảng, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 2000. Kinh Hoa Nghiêm có ba bộ: bộ thứ nhất gọi là Đại Hoa Nghiêm do Pháp thân Tỳ Lô Giá Na chuyển, bộ thứ hai là Trung Hoa Nghiêm do Báo Thân Lô Xá Na chuyển và bộ thứ ba do ứng thân Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết. Cả ba bộ kinh này đều ở cung Rồng Ta Kiệt La, nhưng hai bộ đại kinh và trung kinh quá đồ sộ, không thể mang về, nên ngài Long Thọ Bồ Tát chỉ thỉnh được bộ Tiểu Hoa Nghiêm gồm có 100.000 bài kệ và mang về nhân gian. Ngài lọc lại chỉ còn dưới một nửa là 45.000 bài kệ. Kinh Hoa nghiêm được một nhà sư Trung Quốc mang sang Nhật Bản nhưng không thuyết giảng. Đến đời Thánh Vũ Thiên Hoàng, ngài Thẩm Tường là nhà sư Triều Tiên sang Nhật Bản, kinh Hoa Nghiêm mới được ngài giảng giải và tông Hoa Nghiêm ra đời. Đặc biệt là nhờ công đức thuyết pháp của ngài Thẩm Tường khiến cho Thánh Vũ Thiên Hoàng phát tâm xây dựng ở Nara tượng Tỳ Lô Giá Na bằng đồng lớn nhất thế giới. Có điều kỳ lạ cần nhắc lại, theo truyền thuyết người ta chỉ đúc được pho tượng này tới cổ, vì phần đầu của tượng quá lớn, đường kính mặt tượng rộng 5 thước, nên khi rót đồng chảy xuống đến cổ là bị rã. Sau đó, nhà sư Phật Triết từ Giao Châu, Việt Nam đóng bè tre vượt biển sang Nhật Bản. Ngài Hạnh Cơ Bồ Tát ra đón ngài Phật Triết ở bờ biển về để chỉ dạy phương cách đúc tượng. Pho tượng được hoàn thành một cách hoàn hảo, nên Thánh Vũ Thiên Hoàng thỉnh ngài Phật Triết về làm chủ lễ điểm nhãn tượng, và ngài đã soạn ra nghi thức khai quang, nghi thức này còn truyền tụng đến ngày nay. Đại Phật Tỳ Lô Giá Na Nara, Nhật Bản Ngôi chùa Toudai-ji (Đông Đại Tự) ở Nara, trong điện thờ tượng Đại Phật bằng đồng dát vàng cao 16m, đây là ngôi chùa quan trọng nhất của tông Hoa Nghiêm ở Nara. Chùa được Thiên Hoàng Shoumu phát nguyện xây dựng vào năm 745, điện Phật chính thờ Phật Tỳ Lô Giá Na (Đại Phật Nara). Chùa được trùng tu thời Edo và là công trình gỗ lớn nhất, nổi tiếng với nhiều tượng Phật, là tài sản văn hóa của đất nước Nhật Bản. Thai Tạng Giớilà yếu tố thụ động, mô tả vũ trụ về mặt động, mặt lý tính, biểu hiện cái có sau như thai mẹ chứa đựng con và từ lý tính thai tạng mà sinh công đức, biểu hiện đại bi của Phật. Thai tạng giới phối hợp với tam đức đại định, đại bi, đại trí, lại phân thành tam bộ gồm bộ Phật, bộ Quan Âm và bộ Kim Cương. Bộ Kim Cương tương ứng Trung Đài Bát Diệp Viện. Toàn bộ 12 viện này của Thai Tạng Giới bao gồm 412 bản Tôn, từ vị cao nhất là Đại Nhật Như Lai cho đến các vị sứ giả, hộ pháp đóng tại các ngoại viện ở 4 phương, là sự biểu thị cho Ngũ đại là Địa - Thủy - Hỏa - Phong - Không, cũng tức là năm dạng vật chất của vũ trụ. Riêng Kim Cương Giới là sự biểu thị duy nhất của Thức đại, tượng trưng cho yếu tố tinh thần của vũ trụ, Kim cương giới phối hợp với ngũ Trí phân thành ngũ bộ. Như vậy, nếu so sánh với học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, thì Ngũ đại tương ứng với Ngũ Hành và Thức đại tương ứng với Thái Cực, mang thuộc tính tuyệt tối. Trung Đài Bát Diệp Viện Thai tạng giới, Mật Tông, Tây Tạng Mật Tông diễn tả bản thể nguyên thủy của thế giới Phật tính bằng năm vị Phật, được gọi là Ngũ Trí Như Lai, tức năm “Trí” được chuyển hóa từ năm “Thức” của tâm thế gian khi giác ngộ. - Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân sau khi giác ngộ sẽ biến thành Thành sở tác trí, được biểu tượng bằng Phật Bất Không Thành Tưu (Amoghasiddhi); - Ý thức sau khi giác ngộ sẽ biến thành Diệu quan sát trí, được biểu tượng bằng Phật Vô Lượng Quang (Amitabha); - Mạtna thức khi giác ngộ sẽ biến thành Bình đẳng tính trí, được biểu tượng bằng Phật Bảo Sinh (Ratnasambhava); - Alaya thức khi giác ngộ sẽ biến thành Đại viên kính trí, biểu tượng bằng Phật Bất Động (Akshobyha); - Trí huệ toàn mãn gọi là Pháp giới thể tính trí, được biểu tượng bằng Phật Đại Nhật (Mahavairocana). Trong thiên văn cổ Đông Phương, chòm sao Bắc Đẩu và hai sao Tả Phù và Hữu Bật là biểu tượng cho 9 vị Phật như đã trình bày, tuy nhiên kinh sách ghi nhận có 7 vị Cổ Phật, đã tạo nhiều sự mâu thuẫn về số lượng và danh tính. Để làm rõ, chúng ta hãy cùng xem xét lại cấu trúc Trung Đài Bát Diệp Viện của Kim cương giới và Thai tạng giới, cùng với bố cục ban thờ chính điện Đại Hùng của các ngôi chùa. Trung Đài Bát Diệp Viện chính bố cục ban thờ chính điện của Đại Hùng (tên chòm sao Gấu Lớn - Bắc Đẩu) trong các ngôi chùa, tuy nhiên bố cục ban thờ của các ngôi chùa của mỗi quốc gia và giữa các quốc gia trên thế giới hầu như khác xa nhau, chưa tuân theo quy tắc thống nhất. Để làm rõ vấn đề này dựa trên nền tảng so sánh cách bài trí ban thờ của một số ngôi chùa cổ miền Bắc Việt Nam. Triết lý thời gian có thể thấy rõ trong cách bài trí tượng thờ miền Bắc, đó là vạn vật luôn biến đổi không ngừng từ quá khứ đến hiện tại và tới tương lai, trong Phật giáo gọi là tam thiên thế giới gồm trang nghiêm đại kiếp (quá khứ), hiền đại kiếp (hiện tại) và tinh tú đại kiếp (tương lai), được biểu hiện qua bộ tượng Tam thế Phật. Ngoài ra, chùa Việt Nam còn đưa một số vị thần phối thờ tạo nên các dạng chùa tiền Thánh hậu Phật như chùa Thầy, Hà Tây thờ Đức Từ Đạo Hạnh; chùa Keo, Thái Bình thờ Thánh Nguyễn Minh Không… Cách bài trí tiêu biểu trong ngôi chùa cổ ở Bắc Bộ Việt Nam Tượng Phật - sự tích và cách bài trí tiêu biểu trong ngôi chùa cổ ở Bắc Bộ Việt Nam, chủ biên: Lê Văn Thao. Nxb Thế Giới, Hà Nội, 2008. Bảy vị Phật trên là Thất Phật Dược Sư, với tên gọi bắt đầu bằng hai từ “Đông Phương”, ngoại trừ Động Minh Ngoại Phụ Tinh Quân tức Tây Phương Diệu Hỷ Thế Giới Hoa Tạng Trang Nghiêm Bồ Tát và Ẩn Quang Nội Bật Tinh Quân tức Tây Phương Diệu Viên Thế giới An Lạc Tự Tại Bồ Tát. Vì vậy, chúng tôi nhận định hai vị Phật với tên gọi bắt đầu bằng hai từ “Tây Phương” mang mật ngữ là hai vị Phật thuộc Ngũ Trí Phật cùng với Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Phật (cùng với Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát và Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát tạo thành Đông Phương Tam Thánh), Đại Nhật Phật và một trong vị nữa thuộc Thất Phật Dược Sư. Trong 7 vị Phật Dược Sư, với biểu tượng các ngôi sao Bắc Đẩu thì vị Phật tương ứng ngôi sao Thiên Quyền (tinh chủ) là Dược Vương Phật (Đẩu Tinh giáo chủ tức ngài Tiêu Tai Xí Thạnh Quang Vương Phật) và chúng tôi nhận định chính là Phật A Di Đà, biểu tượng cho phương Tây đối ứng với phương Đông là Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Phật tức Hương Vân Cái Bồ Tát - Phật Bà Quan Âm. Phật A Di Đà chính là vua Đế Minh, biểu tượng của ánh sáng, hoàn tương tương hợp với nghĩa “Vô lượng quang” của Phật A Di Đà. Trong bộ tiểu thuyết thần kỳ Phong Thần, tác giả Bồ Tát Nguyễn Minh Không, thì Đế Minh tức Thái Ất Cứu Khổ Tiên Tôn có biệt hiệu là Phi Hùng tức Gấu Bay - hàm ý thuộc chòm sao Đại Hùng Tinh. Xị Thạnh Quang Vương Phật Bức tranh cũng trình bày 12 cung Hoàng Đạo dưới chân các vị Phật, Bồ Tát. Ngay phía trên Xí Thạnh Quang Vương Phật là cung Song Ngư với hình hai con cá đối nhau trong vòng tròn. Xí Thạnh Quang Vương Phật tay cầm các pháp khí. Mặt khác, theo kinh sách thì Tây Phương Tam Thánh gồm có Phật A Di Đà, Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát, đồng thời 2 vị Phật đã nhận định trên cũng tương ứng Tây phương? Điều này cho phép chúng ta nhận định Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát là chính thất của hai vị Phật ở trên, mà Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát là em dâu của Hương Vân Cái Bồ Tát, Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quan Phật, vậy thì đó chính là vua Đế Nghi - Động Minh Ngoại Phụ Tinh Quân tức Tây Phương Diệu Hỷ Thế Giới Hoa Tạng Trang Nghiêm Bồ Tát và Nguyễn Nghi Nhân - Ẩn Quang Nội Bật Tinh Quân tức Tây Phương Diệu Viên Thế giới An Lạc Tự Tại Bồ Tát. Từ các nhận định, chúng ta đã có thể hoàn thiện được cấu trúc của Trung Đài Bát Diệp Viện, với các vị Cổ Phật lịch sử. Đại Hùng bảo điện và Trung Đài Bát Diệp Viện: Tương lai Phật Hiện tại Phật Quá khứ Phật Phổ Hiền Bồ Tát (Chính thất Nguyễn Nghi Nhân) A Di Đà Phật hay còn gọi Dược Vương Phật (Đế Minh) Văn Thù Bồ Tát (chính thất vua Đế Nghi) Bảo Sinh Như Lai (Nguyễn Nghi Nhân) Đại Nhật Phật (Kinh Dương Vương) Bất Không Như Lai (Đế Nghi) Nguyệt Quang Bồ Tát (Quan Âm Bồ Tát) Đông Độ Dược Sư Phật (chính thất vua Đế Minh) Nhật Quang Bồ Tát (Tây Vương Mẫu) Phạm Thiên (Lạc Long Quân) Tòa tượng Cửu Long (Phật Bà Quan Âm sơ sinh) Đế Thích (Kinh Dương Vương) Đôi Rùa cõng Hạc (Chử Đồng Tử và Tiên Dung) Bát Bộ Kim Cương (8 em trai Phật Bà Quan Âm) Khuyến Thiện - Trừng Ác (Hữu Sào - Toại Nhân) Bát Bộ Kim Cương (8 em trai Phật Bà Quan Âm) Bát Bộ Kim Cương (8 em trai Phật Bà Quan Âm) Bát Bộ Kim Cương (8 em trai Phật Bà Quan Âm) Phương Đông Mặt khác, 6 vị Phật còn lại trong 7 vị Phật Dược Sư sẽ là ai? Chúng tôi, nhận định 6 vị Phật trên chính là 6 người con trai của vua Đế Minh, trong đó vua Kinh Dương Vương - Đại Nhật Phật với biểu tượng là sao Thiên Cơ. Về mặt thiên văn, thì vua Kinh Dương Vương là biểu tượng mặt trời trong Hệ mặt trời và sao Thiên Cơ trong chòm sao Bắc Đẫu nằm ngoài Hệ mặt. Như vậy, cũng như các nhân vật lịch sử khác của nước Văn Lang, những người con của vua Đế Minh đã được đặt tên cho các chòm sao trên bầu trời. Gia phả của họ Nguyễn còn lưu giữ ở Văn Nội, Thanh Oai nói về địa chỉ, địa danh thời tiền sử vả truyện một số nhân vật, có đề cập đến Tây phương Cực lạc, nhiều người đến nay vẫn lầm tưởng địa danh này ở Ấn Độ, cũng do họ không đọc kinh cho nên hiểu sai thành quen, có người không được đọc kinh sách, cho nên nói rằng Phật bắt nguồn từ Ấn Độ. Ta hãy tập làm quen với câu kinh: “Nam vô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi, A Di Đà Phật”. Nguyên văn câu kinh này ta có thể tìm đến nơi đất Phật, có đôi câu đối sau: Phật hiệu Di Đà, pháp giới tàng thân tùy xứ hiện, Quốc danh cực lạc, thục quang chân chảnh cố trung huyền. Nghĩa là: Phật hiệu Di Đà, pháp giới dấu mình tùy nơi thể hiện, Tên nước Cực Lạc, sáng ngời cảnh thật xưa đã dấu điều bí ẩn ở bên trong. Chùa nước Việt có chữ “Thánh Trung Vương”, nghĩa là ông Thánh ấy là vua, vậy là vua nào? Ta cần phải xét phép đặt tên vua sau khi chết là Thánh, là Thần, là nam hay nữ, người xưa muốn dấu tên thật thì nay ta chỉ biết như vậy. Theo cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, Nguyễn Minh Khiết, Minh Công, Khương Thái Công, lấy Bà Đỗ Quý Thị, húy Ngoan (Cụ tu theo đạo Sa Môn Phật Giáo hiệu Hương Vân Cái Bồ Tát), sinh 1 con trai Kinh Dương Vương (Lộc Tục). Bà Hai Vũ Thị Huề sinh 5 con trai: Nguyễn Di Khương Hạ, Nguyễn Nam Khương Thượng, Nguyễn Bắc Khương Hạ, Nguyễn Di Khương Trưởng, Nguyễn Xâm Khương Trung. Cụ Đỗ Quý thị có 8 người em trai hiệu là Bát Bộ Kim Cương, cũng được tôn vinh thêm hai chữ Bồ Tát, mộ 8 vị Kim Cương nằm ở gò Thiềm Thừ (nghĩa là gò Con Cóc Tía) vùng Ba La. Chúng ta cũng đã biết, Phật Bà Quán Âm chính là Hương Vân Cái Bồ Tát, trong truyền thuyết Bà Chúa Ba hay Sự tích Phật Bà chùa Hương, với hai em dâu là Phổ Hiền Bồ Tát cưỡi bạch tượng và Văn Thù Bồ Tát cưỡi thanh sư, ba vị được trình bày trên bộ tranh thờ ba bức Tam Bảo của dân tộc Sán Dìu, Việt Nam với hình ảnh Phật Bà Quan Âm sơ sinh ở giữa làm mật ngữ: Tranh Phật Bảo Dân tộc Sán Dìu, Việt Nam Chúng ta tiếp tục xem xét phối hợp với bộ ba tranh bức tranh Tam Từ phối Tam Bảo, hoàn toàn có cấu trúc tương tự: Tam Từ phối Tam Bảo Tranh dân tộc Sán Dìu, Việt Nam Theo nguyên lý Âm Dương Ngũ Hành thì vua Đế Minh sẽ ở giữa tức Thái Ất cứu khổ thiên Tôn, bên trái là Đế Nghi tức Cứu U phả Độ Thiên Tôn (U Đô cũng là chỉ phương Bắc mà Đế Nghi làm vua phương Bắc như truyện Hồng bang Thị) và bên phải là Nguyễn Nghi Nhân tức Chu Lăng Độ Mạng Thiên Tôn. Trong hệ thống tranh thờ Đạo giáo phối Phật giáo, thì ba vị trên luôn luôn được bố trí dưới Tam Thanh: Nguyên thủy Thiên tôn (Thần Nông), bên trái là Linh bảo Thiên tôn (Đế Tiết), và bên phải là Đạo đức Thiên tôn (Đế Thừa): Tam Thanh Dân tộc Sán Dìu, Việt Nam Hình ảnh Phật A Di Đà trong điện Đại Hùng (Đại Hùng lấy tên chòm sao Đại Hùng Tinh - Bắc đẩu) như cái bánh lái chỉ hướng, mặt khác ngài cũng là Khương Thái Công Lã Vọng mà theo sách Tử vi đẩu số toàn thư, tác giả Cổ đồ thư, Nxb Văn hóa Thông tin 2012, thì ngài là ngôi sao Thiên Quyền trong chòm Đại Hùng Tinh cũng rất tương hợp. Đặc biệt, trong câu truyện truyền thuyết Bá Nha - Tử Kỳ chính là mật ngữ nói về Khương Tử Nha: Bá Nha và Tử Kỳ là đôi bạn tri âm thời Xuân Thu Chiến Quốc. Bá Nha làm quan, Tử Kỳ là tiều phu. Bá Nha họ Du tên Thụy, người ở Sính Ðô nước Sở (nay là phủ Kinh Châu, tỉnh Hồ Quảng). Tuy là người nước Sở, nhưng làm quan cho nước Tấn, chức Thượng Ðại Phu. Tử Kỳ, họ Chung tên Huy, nhà tại Tập Hiền Thôn, gần núi Mã Yên, ở cửa sông Hán Dương, là một danh sĩ ẩn dật, báo hiếu cha mẹ tuổi già nua, làm nghề đốn củi (Tiều). Bá Nha gảy đàn Tranh tham khảo Một hôm, Bá Nha phụng chỉ vua Tấn đi sứ qua Sính Ðô nước Sở, vào triều kiến vua Sở, trình quốc thư và giải bày tình giao hiếu giữa hai nước, được vua Sở và quần thần thiết tiệc khoản đãi. Bá Nha nhân dịp này đi thăm mộ phần tổ tiên, thăm họ hàng, xong vào từ biệt vua Sở trở về nước Tấn. Khi thuyền trở về đến cửa sông Hán Dương, nhằm đêm Trung Thu, trăng sáng vằng vặc, phong cảnh hữu tình, Bá Nha cho lịnh cắm thuyền dưới chân núi Mã Yên để thưởng ngoạn. Cảm thấy hứng thú, muốn dạo chơi một vài khúc đàn, Bá Nha liền sai quân hầu lấy chiếc lư ra, đốt hương trầm xông cây dao cầm đặt trên án. Bá Nha trịnh trọng nâng đàn, so dây vặn trục, đặt hết tâm hồn đàn lên một khúc réo rắt âm thanh, quyện vào khói trầm, chưa dứt, bỗng đàn đứt dây. Bá Nha giật mình tự nghĩ, dây đàn bỗng đứt thế này ắt có người nghe lén tiếng đàn, bèn sai quân hầu lên bờ tìm xem có ai là người nghe đàn mà không lộ mặt. Quân hầu lĩnh lệnh lên bờ thì bỗng có người từ trên bờ lên tiếng: - Xin đại nhân chớ lấy làm lạ, tiểu dân là tiều phu kiếm củi về muộn, trộm nghe được khúc đàn tuyệt diệu của Ngài. Bá Nha cười lớn bảo: - Người tiều phu nào đó dám nói hai tiếng nghe đàn với ta, sao ngông cuồng thế? - Ðại nhân nói sai quá vậy. Há chẳng nghe: Thập thất chi ấp, tất hữu trung tín (Một ấp 10 nhà ắt có nhà trung tín). Nếu đại nhân khinh chỗ quê mùa không người biết nghe đàn, thì cũng không nên có người khảy lên khúc đàn tuyệt diệu. Nghe đáp xong, Bá Nha hơi choáng váng, hối hận những lời vừa thốt ra, vội bước ra mũi thuyền, dịu giọng nói: - Người quân tử ở trên bờ, nếu thực biết nghe đàn, biết vừa rồi ta khảy khúc gì không? - Khúc đàn đại nhân vừa tấu đó là: Ðức Khổng Tử khóc Nhan Hồi, phổ vào tiếng đàn, lời rằng: Khá tiếc Nhan Hồi yểu mạng vong, Dạy người tư tưởng tóc như sương. Ðàn, bầu, ngõ hẹp vui cùng đạo, Ðến cuối câu ba thì dây đàn đứt, còn lại câu bốn là: Lưu mãi danh hiền với kỷ cương. Bá Nha nghe xong, đúng quá, mừng rỡ sai quân hầu bắc cầu lên bờ mời người quân tử xuống thuyền đàm đạo. Người tiều phu ung dung xuống thuyền, chắp tay vái Bá Nha. Bá Nha vội đưa tay đáp lễ, nói: - Xin quí hữu miễn lễ cho. Rồi bắc ghế mời ngồi, phân ngôi chủ khách. - Quí hữu biết nghe đàn, ắt biết ai chế ra đàn? - Mong ơn Ngài hỏi tới, kẻ tiểu dân đâu chẳng dám nói hết cái biết của mình. Khi xưa, vua Phục Hy thấy tinh hoa của năm vì sao rơi xuống cây ngô đồng, chim phượng hoàng liền đến đậu. Vua Phục Hy biết ngô đồng là gỗ quí, hấp thụ tinh hoa Trời Ðất, có thể làm đồ nhã nhạc, liền sai người đốn cây ngô đồng xuống, cắt làm ba đoạn để phân Thiên, Ðịa, Nhân. Ðoạn ngọn thì tiếng quá trong mà nhẹ, đoạn gốc thì tiếng quá đục mà nặng, duy đoạn giữa thì tiếng vừa trong vừa đục, có thể dùng được, liền đem ra giữa dòng sông nước chảy ngâm 72 ngày đêm, rồi lấy lên phơi khô, chọn ngày tốt, thợ khéo Lưu Tử Kỳ chế làm nhạc khí, bắt chước nhạc Cung Dao Trì, đặt tên là Dao cầm. Dao cầm này dài 3 thước 6 tấc, án theo 360 độ Chu Thiên, phía trước rộng 8 tấc án theo Bát tiết, sau rộng 4 tấc án theo Tứ Tượng, dầy 2 tấc án theo Lưỡng Nghi, đầu như Kim đồng, lưng như Ngọc Nữ, trên chạm Long Phụng, gắn phím vàng trục ngọc. Ðàn ấy có 12 phím tượng trưng 12 tháng, lại thêm một phím giữa tượng trưng tháng nhuận, trên mắc 5 dây, ngoài tượng Ngũ Hành, trong tượng Ngũ Âm: Cung,Thương, Giốc, Chủy, Vũ. Vua Thuấn khảy Dao cầm, ca bài Nam phong, thiên hạ đại trị. Vua Văn vương bị Trụ vương giam cầm nơi Dũ Lý, con trưởng Bá Ấp Khảo thương nhớ không nguôi, nên thêm một dây nữa gọi là dây Văn (Văn huyền), đàn nghe thêm ai oán. Võ vương đem quân phạt Trụ, thêm vào Dao cầm một dây phấn khích gọi là dây Võ (Võ huyền). Như thế, Dao cầm lúc đầu có 5 dây, sau thêm 2 dây Văn và Võ nữa thành 7 dây, gọi là Thất huyền cầm. Ðàn ấy có Sáu kỵ, Bảy không, Tám tuyệt, kể ra: * Sáu Kỵ là: Rét lớn, nắng lớn, gió lớn, mưa lớn, sét lớn, tuyết rơi nhiều. * Bảy Không là: Nghe tiếng bi ai và đám tang thì không đàn, lòng nhiễu loạn thì không đàn, việc bận rộn thì không đàn, thân thể không sạch thì không đàn, y quan không tề chỉnh thì không đàn, không đốt lò hương thì không đàn, không gặp tri âm thì không đàn. * Tám Tuyệt là: Thanh cao, kỳ diệu, u uất, nhàn nhã, bi đát, hùng tráng, xa vời, dằng dặc. Ðàn ấy đạt đến tận thiện tận mỹ, hổ nghe không kêu, vượn nghe không hú, một thứ nhã nhạc tuyệt vời vậy. Bá Nha nghe xong, kính phục bội phần, hỏi thêm: - Quí hữu quả thấu triệt nhạc lý. Khi xưa, Ðức Khổng Tử đang khảy đàn, Nhan Hồi từ ngoài bước vào, thoảng nghe tiếng đàn u trầm, nghi là có ý tham sát, lấy làm lạ, liền hỏi Ðức Khổng Tử. Ngài đáp: Ta đang khảy đàn, bỗng thấy mèo bắt được chuột, liền khởi lên ý niệm tham sát mà hiện ra tơ đồng. - Nhan Hồi đã nghe tiếng đàn mà biết lòng người khảy đàn. Nay Hạ quan khảy đàn, lòng tư lự điều gì, quí hữu có thể đoán biết chăng? - Ðại nhân thử dạo một khúc xem. Bá Nha nối lại dây đàn, tập trung tinh thần đến chốn non cao, khảy lên một khúc. Tiều phu khen rằng: Ðẹp thay vòi vọi kìa, chí tại non cao. Bá Nha ngưng thần, ý tại lưu thủy, khảy lên một khúc nữa. Tiều phu lại khen rằng: Ðẹp thay, mông mênh kìa, chí tại lưu thủy. Bá Nha thấy tiều phu đã thấy rõ lòng mình qua tiếng đàn, lấy làm kính phục, liền gác đàn, sai bày tiệc rượu, đối ẩm luận đàm. Hai người hỏi nhau tên họ, nguyên quán, nghề nghiệp. Bá Nha lại sanh lòng cảm mến Tử Kỳ về sự hiếu với phụ mẫu, nên xin kết nghĩa anh em với Tử Kỳ, để không phụ cái nghĩa tri âm mà suốt đời Bá Nha chưa từng gặp. Hai người đến trước bàn hương án lạy Trời Ðất, rồi lạy nhau 8 lạy kết làm anh em. Tử Kỳ nhỏ hơn Bá Nha 10 tuổi nên làm em. Hai anh em đối ẩm cùng nhau tâm sự mãi cho đến sáng mà không hay. Tử Kỳ vội đứng lên từ biệt. Bá Nha bùi ngùi xúc động, hẹn ước Tử Kỳ, đúng ngày Trung Thu năm sau, hai anh em sẽ hội ngộ nhau tại ghềnh đá này. Bá Nha lấy ra hai đỉnh vàng, hai tay nâng lên nói: - Ðây là chút lễ, kính dâng bá phụ và bá mẫu. Tấm tình chí thành, em đừng từ chối. Hai người từ biệt, lòng đầy lưu luyến. Chẳng bao lâu, thuyền về tới bến. Bá Nha vào kinh đô tâu trình Tấn Vương các việc, được Tấn vương khen tặng. Thời gian lặng lẽ trôi qua… Nhớ ngày ước hẹn với Tử Kỳ, Tử Nha tâu xin vua Tấn cho nghỉ phép về thăm quê nhà. Bá Nha thu xếp hành trang đến núi Mã Yên kịp ngày Trung Thu ước hẹn. Kìa là núi Mã Yên mờ mờ sương lạnh, tịch mịch, không một bóng người. Bá Nha nghĩ thầm, năm trước nhờ tiếng đàn mà gặp được tri âm, đêm nay ta phải đàn một khúc để gọi Tử Kỳ. Rồi sai đốt hương trầm, đem Dao cầm ra so dây. Bá Nha đặt hết lòng nhớ nhung của mình vào tiếng đàn réo rắt, bỗng trong tiếng đàn lại có hơi ai oán nổi lên. Bá Nha dừng tay suy nghĩ: Cung Thương có hơi ai oán thảm thê, ắt Tử Kỳ gặp nạn lớn. Sáng mai ta phải lên bờ dọ hỏi tin tức về Tử Kỳ. Ðêm ấy, Bá Nha hồi hộp lo âu, trằn trọc suốt đêm, chờ cho mau sáng, truyền quân hầu mang theo Dao cầm, 10 đỉnh vàng, vội vã lên bờ, tiến vào núi Mã Yên. Khi qua cửa núi, gặp ngã ba đường, chưa biết nên đi đường nào, đành ngồi chờ người trong xóm đi ra hỏi thăm. Không bao lâu, gặp một lão trượng tay chống gậy, tay xách giỏ, từ từ đi lại. Bá Nha thi lễ, hỏi: - Xin lão trượng chỉ giùm đường đi Tập Hiền Thôn? - Thượng quan muốn tìm nhà ai? - Nhà của Chung Tử Kỳ. Vừa nghe 3 tiếng Chung Tử Kỳ, lão trượng nhòa lệ, nói: - Chung Tử Kỳ là con của lão. Ngày Trung Thu năm ngoái, nó đi đốn củi về muộn, gặp quan Ðại Phu là Du Bá Nha kết bạn tri âm. Khi chia tay, Bá Nha tặng hai đỉnh vàng, nó dùng tiền nầy mua sách học thêm, ngày đi đốn củi, tối về học sách, mãi như vậy, sức khỏe hao mòn, sanh bệnh rồi mất. Bá Nha nghe vậy thì khóc nức nở, thương cảm vô cùng. Lão trượng ngạc nhiên hỏi quân hầu thì biết thượng quan đây chính là Du Bá Nha, bạn tri âm của Chung Tử Kỳ. Chung lão biết vậy lại càng bi thảm hơn nữa nói: - Mong ơn thượng quan không chê con lão hàn tiện. Lúc mất, nó dặn rằng: Con lúc sống không vẹn niềm hiếu dưỡng, lúc chết không vẹn nghĩa tri giao, xin cha chôn con nơi cửa núi Mã Yên để thực hiện lời ước hẹn với quan Ðại Phu Bá Nha. Lão phu y lời con trối lại. Con đường mà thượng quan vừa đi qua, bên phải có một nấm mộ mới, đó là mộ của Tử Kỳ. Hôm nay là đúng 100 ngày, lão mang vàng hương ra cúng mộ. - Việc đời biến đổi, may rủi không lường. Xin Lão bá đưa đến mộ Tử Kỳ, bốn lạy cho vẹn tình tri kỷ. Khi đến phần mộ, Bá Nha sửa lại áo mũ, sụp lạy khóc rằng: Hiền đệ ơi, lúc sống thông minh anh tuấn tuyệt vời, nay chết, khí thiêng còn phảng phất, xin chứng giám cho ngu huynh một lạy ngàn thu vĩnh biệt. Lạy xong, Bá Nha phục bên mồ, khóc nức nở. Sau đó, Bá Nha gọi mang Dao cầm tới, đặt lên phiến đá trước mộ, ngồi xếp bằng trên mặt đất một cách nghiêm trang, so dây tấu lên một khúc nhạc thiên thu, tiễn người tri âm tài hoa yểu mạng. Bỗng thấy gió rừng thổi mạnh, mây đen kéo lại, u ám bầu trời, hồi lâu mới tan. Có lẽ đó là anh hồn của Tử Kỳ hiển linh chứng giám. Tấu khúc nhạc xong, Bá Nha phổ lời ai oán, thay lời ai điếu, vĩnh biệt bạn tri âm, rồi đến vái cây Dao cầm một vái, tay nâng đàn lên cao, đập mạnh vào phiến đá trước mộ Tử Kỳ, đàn vỡ tan nát, trục ngọc phím vàng rơi lả tả. Chung lão không kịp ngăn, sợ hãi nói rằng: - Sao đại quan hủy cây đàn quí giá này? Bá Nha liền ngâm 4 câu thơ thay câu trả lời: Dao cầm đập nát đau lòng phượng, Ðàn vắng Tử Kỳ, đàn với ai?. Gió xuân khắp mặt bao bè bạn, Muốn kiếm tri âm, ôi khó thay! - Nguyên do là vậy. Âm nhạc là một bộ môn nghệ thuật cao siêu. Nhân đây, xin mời thượng quan đến nhà lão để lão cảm tạ tấm lòng tốt đẹp của thuợng quan đối với con lão. - Cháu quá bi thương, không dám theo bá phụ về quí phủ e gợi thêm nỗi đau lòng. Nay nghĩa đệ vắng số mất rồi, cháu kính dâng lên bá phụ và bá mẫu 10 đỉnh vàng, một nửa dùng mua mấy mẫu ruộng làm Xuân Thu tế tự cho Tử Kỳ, một nửa xin để phụng dưỡng bá phụ và bá mẫu trong tuổi già. Chừng cháu trở về triều, dâng biểu lên vua xin cáo quan, cháu xin đến rước bá phụ, bá mẫu đến an hưởng tuổi già. Nói xong, Bá Nha lấy vàng dâng lên, rồi khóc lạy mộ Tử Kỳ một lần nữa, mới trở về thuyền. Chung lão cảm động không cùng, nghẹn ngào đứng lặng nhìn theo bóng Bá Nha cho đến khi khuất bóng. Nếu chúng ta đảo ngược tên Bá Nha - Tử Kỳ thì sẽ thành Tử Nha - Kỳ Bá hay Khương Tử Nha - Kỳ Bá, mà chúng ta cũng đã biết Khương Tử Nha là vua Đế Minh, một trong Ngũ Đế, thì tên câu truyện lúc này trở thành Hoàng Đế - Kỳ Bá. Hoàng Đế và Kỳ Bá là hai nhân vật quan trọng nhất trong cuốn sách Đông y nổi tiếng Hoàng Đế nội kinh tố vấn, tương truyền do Hoàng Đế, vua nước Trung Quốc cổ đại làm ra. Thời kỳ này, còn có vị quan ngự sử trong triều là Thương Hiệt sáng tạo ra chữ viết, ngài thường được gọi một cách tôn trọng là thánh Thương Hiệt. Vậy thì Đế Minh - Khương Tử Nha chính là Hoàng Đế của Trung Quốc, đều phù hợp với truyện Hồng Bàng Thị và gia phả họ Nguyễn đã ghi nhận. Khương Tử Nha cũng chính là Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, một trong Tam Từ, dưới Tam Thanh trong Đạo giáo, do vậy cuốn Thái Ất mà người trung Quốc hiện nay không công nhận là của mình mang tên ngài, dĩ nhiên lúc này cuốn Độn giáp nhắc lại trong Tam Quốc Chí, Hán Sở tranh hùng… cũng có tình cảnh như vậy. Tuy nhiên, cuốn sách nổi tiếng nhất do ngài sáng tác chính là cuốn sách viết về lĩnh vực quân sự Binh pháp Khương Thái Công, và bài thơ Càn Khôn Vạn Niên Ca, tiên tri sự biến động lịch sử ở tầm thế giới trong vòng 10.000 năm sau. Chúng ta tiếp tục tham khảo bức tranh thờ Hành Say của dân tộc Dao Lô Gang: Hành Say và hai bức tranh Thái Úy Dân tộc Dao Lô Gang, thôn Khuổi Tặng, xã Mẫu Sơn và Ái Quốc, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam Trên tranh có các chữ từ trái qua phải: Hựu Khang Thái (giúp cho an khang, thịnh vượng); Phúc - Lộc - Thọ (giúp cho nhiều con cái, lắm lộc, sống lâu); Bảo Bình An (bảo vệ cho sự yên bình). Tranh Thái Úy: biểu hiện vị tổng quản binh lực quốc gia hoặc vị tổng quản âm binh, thần tướng. Có ấn và kiếm, trên ấn có chữ Thái Vĩ (vĩ đại nhất). Phía dưới Thái Úy (tranh bổ sung) có vẽ một đứa bé trai. Huyền thoại về vua Đại Vũ (2140 - 2095 tr.CN) nhà Hạ khi tiến hành trị thủy, theo truyền thuyết Trung Quốc, ông đã hóa thành gấu để đào núi khơi sông. Vợ ông Vũ thấy vậy sợ quá hóa thành đá. Lúc ông trở lại thành người trở lại, ông đòi đứa con mà vợ ông đã mang thai. Hòn đá mà vợ ông hóa thành nứt ra một đứa con trai để trả lại cho ông. Ông đem về nuôi, đặt tên là Khải, sau trở thành vua thứ hai của nhà Hạ. Hình tượng đó phù hợp tính chất bảo trợ sự sống của Sinh Cung. Bức tranh được gọi là Thái Vĩ phù hợp với ý nghĩa tên tranh là Thày Vạy. Tranh Hải Bá: Thần chủ vùng biển, ngoài biển Đông có hòn đảo Bồng Lai tiên cảnh, là cõi trường sinh bất tử. Huyền thoại Hoàng Đế Hiên Viên là thủy tổ của dân tộc Trung Quốc, là tổ của đạo Hoàng Lão, ông thuộc dòng giống Rồng, ông là vị vua duy nhất đã cưỡi rồng bay lên cõi tiên giữa ban ngày. Hình tượng đó phù hợp với tính chất bảo trợ cho ước vọng thoát tục lên Tiên về cõi trường sinh bất tử của Cung Tử (còn gọi là Cung Trường Sinh - chủ đề của bức tranh này). Chi tiết cầm chén thuốc (tranh bổ sung): tượng trưng cho thuốc tiên. Chi tiết cầm hoặc thổi tù và (kèn sừng) trên tranh vẽ thể hiện theo huyền thoại ông thống lĩnh binh tướng trừ giặc Xuy Vưu (nhân vật huyền thoại tượng trưng cho lực lượng yêu ma, quỷ quái, có nhiều phép thuật). Trong các chương trước, chúng ta cũng đã biết Hải Bá và Thái Vĩ là các vị quan văn tướng võ thời Viêm Đế Thần Nông, còn các truyền thuyết liên quan trong các bức tranh ghi nhận một thời rất xa xưa của Đạo giáo. Theo truyền thuyết Hoàng Đế Hiên Viên là ông tổ của dân tộc Trung Quốc, điều này còn rất mơ hồ cho tới ngày nay, nếu chiếu theo bản đồ thiên văn cổ thì Hiên Viên chỉ là chòm sao phụ trong Tử Vi Viên, trong khi đó Hoàng Đế chính là vua Đế Minh, biểu tượng chòm sao Bắc Đẩu hùng vĩ, không chỉ là vua của Trung Quốc mà cả nước Xích Quỷ của vua Kinh Dương Vương trong huyền thoại Hồng Bàng Thị. Đấy là lý do mà Thái sư Chu Công nói: Ta còn nhớ lời của Hoàng Đế xưa, thề rằng: “Phương Việt Thường ở Giao Nam không thể xâm phạm được” (Việt Nam và cội nguồn trăm họ, tác giả Bùi Văn Nguyên, Nxb Khoa học Xã hội, 2001, trang 190). Trong câu truyện Hoàng Đế chiến Xuy Vưu, là cuộc chiến với các bộ tộc phía Bắc tại trận Trác Lộc, nay thuộc tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Bản đồ trận Trác Lộc Trích cuốn Khám phá những bí ẩn về nhân loại, tác giả Hình Đào, Kỷ Giang Hồng, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010 Tiếp tục căn cứ vào 5 vị Phật của Trung Đài Bát Diệp Viện cùng với Tỳ Bà Thi Phật, Thích Ca Mâu Ni Phật, Di Lạc Vương Phật tạo thành 8 vị Phật. Do vậy, trong chòm sao Bắc Đẩu, chỉ có 2 vị Phật là Đại Nhật Phật - sao Thiên Cơ và A Di Đà Phật - sao Thiên Quyền, còn lại phải là các vị Bồ Tát. Tám vị Phật Trích Đồ họa cổ Việt Nam, Phan Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Cung Khắc Lược 1. Tỳ Bà Thi Phật 2. Thi Khí Phật 3. Tỳ Xá Phù Phật 4. Câu Lưu Tôn Phật 5. Câu Na Hàm Mâu Ni Phật 6. Ca Diếp Phật 7. Thích Ca Mâu Ni Phật 8. Di Lạc Tôn Phật Từ những kết quả xác định các vị Cổ Phật là ai, thì việc tiếp tục xác định lại các vị Quan Thế Âm Bồ Tát là những nhân vật lịch sử nào cũng cần phải được thực hiện, nhằm mục đích lấp đầy những khoảng trống lịch sử nước Văn Lang, cũng như của lịch sử Phật giáo và các tôn giáo cổ đại khác trên thế giới. Quan Thế Âm Bồ Tát Quan Thế Âm là một vị Đại Bồ Tát, rất có lòng từ bi hay cứu khổ cứu nạn, do vậy ở đâu ai ai cũng thờ và tụng niệm danh hiệu của ngài. Người ta nói đạo Phật từ bi vô cùng, chính vì nhờ có Phật thông qua các vị Bồ Tát, cụ thể là Quan Thế Âm Bồ Tát mở lòng từ bi đem pháp mầu nhiệm cứu độ chúng sinh. Ba tiếng Quan Thế Âm có một sức mạnh và ý nghĩa rất sâu xa, có sức lan truyền rộng lớn, nhanh chóng trong khoảnh không bao la của thế gian, mỗi khi ba tiếng đó khởi lên là sự đau khổ, sự kêu cứu của chúng sinh phần nào như bớt đi và có khi giảm hẳn. Trong thần thoại như tác phẩm Tây Du Ký, văn học dân gian, hay trong kinh sách nhà Phật, thì Quan Thế Âm Bồ Tát được xem là vị Bồ Tát có thần lực nhất, chỉ sau Phật Thích Ca Mâu Ni, điều này càng làm tăng lòng sùng kính của người theo đạo Phật. Trong mọi ngôi chùa, thường thì chính giữa là tượng đức Phật Tổ, hai bên là tượng Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát, tuy nhiên ở ngoài khuôn viên chùa hầu hết đều có tượng đức Phật Tổ hay Quán Thế Âm mà không thấy hoặc ít thấy hơn tượng của các vị Phật hay Bồ Tát khác. Tranh tượng thường trình bày Quan Âm dưới nhiều dạng khác nhau, tựu trung thành 6 hoặc 7 kiểu tượng gọi là Lục Quan Âm hay là Thất Quan Âm, chúng ta hãy cùng xem xét mỗi hình tượng sẽ tương ứng là vị Thánh nào trong lịch sử. Thiên thủ thiên nhãn Quan Thế Âm Bồ Tát: ngài rất thần thông quảng đại cứu độ chúng sinh, không đâu là ngài không thấy, không việc gì là ngài không làm được. Do vậy ngài có sắc tướng là một vị Phật có nghìn mắt nghìn tay. Chúng ta biết rằng “Thiên” là một nghìn cũng đồng âm là “Trời”, đặc biệt con mắt trong lòng bàn tay biểu tượng cho một tia sáng là hình tượng của mặt trời, đấy chính là vua Kinh Dương Vương, Đại Nhật Phật. Như vậy thật là rõ ràng, Phật Bà nghìn mắt nghìn tay chính là hoàng hậu của vua Kinh Dương Vương, bà chính là Tây Vương Mẫu, bà Vũ Tiên, Thiên Hậu nương nương, Thánh Mẫu Thượng Ngàn, Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát, bà Trời… Tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt Chùa Bút Tháp, xã Đình Tổ, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam Mỹ thuật tượng phối hợp giữa hình tượng Phật Bà nghìn mắt nghìn tay và Thập Nhất Diện Quan Âm. Tòa sen được nâng đỡ bởi một con rồng hay quỷ nhô lên từ mặt biển. Chi tiết này có một mối liên quan rất lớn từ truyền thuyết đến hình tượng. Truyền thuyết này đến từ Trung Quốc với hình tượng Long vương Ô Ba Na Đà, biểu tượng nhân vật cai quản dưới nước. Hình tượng này rất hiếm gặp, đoạn thắt tòa sen của các bệ tượng nói trên thường được diễn tả là một hòn ngọc hay tạo hình thành một cái trục tượng trưng cho Trục vũ trụ. Hình tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn ở Việt Nam, tác giả trang Thu Hiền, Nxb Thông tin, 2005. Do bức tượng là sự kết hợp của hai hình tướng Quan Âm, nên chúng ta cần phải xem xét tiếp qua đoạn cuối câu truyện Bà Chúa Ba hay Phật Bà chùa Hương: “cuối cùng Đức Phật cho bà có được nghìn mắt, nghìn tay để cứu độ chúng sinh, sau khi vua cha cầu khấn Phật khi thấy bà mất hai cánh tay và hai mắt và bà đã trở lại nguyên vẹn như xưa”. Từ chi tiết này, chúng ta cũng cần có các nhận định bổ sung thêm giữa Phật Bà nghìn mắt nghìn tay và Quan Âm 11 mặt. Quan Âm Tọa Sơn: có lẽ chính là sự kết hợp của tín ngưỡng thờ Mẫu với Phật giáo. Trong điện Mẫu ở các chùa, cả ba Mẫu Thoải - Mẫu Thượng Thiên - Mẫu Thượng Ngàn thường được tạo hình giống nhau và được đặt ở vị trí ngang hàng nhau, chỉ phân biệt được qua trang phục. Tuy nhiên ở nhiều nơi Mẫu Thượng Ngàn còn được tách ra thờ riêng trong sơn trang, được tạo hình là cả một cảnh rừng núi, hang động còn hoang sơ, thể hiện mẫu của cõi rừng núi và khi tín ngưỡng thờ Mẫu thâm nhập vào Phật điện thì Mẫu hóa thân thành Bồ Tát Quan Âm Tọa Sơn. Như vậy, hệ quả Quan Âm Tọa Sơn chính là Mẫu Thượng Ngàn hay Tây Vương Mẫu, Quan Âm nghìn mắt nghìn tay. Thập Nhất Diện Quan Âm: Đây là hình tượng đức Quan Âm gồm có 11 mặt, còn gọi là Ðại Quang Phổ Chiếu Quan Âm. Hình tượng 11 đầu được chia thành 5 tầng: Tầng 1 hay tầng chính: 3 mặt, mặt trước có sắc trắng biểu thị sự dung hòa từ bi, bên phải màu lam, bên trái màu hồng. Tầng 2: 3 mặt, lộ rõ tướng bi ai, sắc vàng trắng, bên phải vàng sáng, bên trái hồng vàng. Tầng 3: 3 mặt, lộ rõ tướng tươi cười, sắc hồng bạch, bên phải màu xanh, bên trái sắc tía. Tầng 4: 1 mặt đơn là Đại Nộ Minh Vương tượng, đầu tóc có sắc xanh, mặt trông khá dữ tợn. Tầng 5: tượng Phật A Di Đà nhỏ có sắc hồng. Trong động Đôn Hoàng Ngàn Phật ở núi Thiên Long, tỉnh Cam Túc, Trung Quốc đều có tượng Thập Nhất Diện Quan Âm, mặt trước có hai tay, mặt sau có tám tay, có sự quan hệ thị hiện Thập Nhất Diện. Thập Nhất Diện Quan Âm Tranh cổ các nước Đông Á từ thế kỷ XI-XII Trong đạo Mẫu Việt Nam, chúng ta đã khảo sát qua bức tranh dân gian thờ Hàng Trống Tam Công đồng, như vậy nếu cho rằng có liên quan với hình tượng trên thì lớp 2 và lớp 3 có 3 mặt sẽ biểu tượng cho Tam Thanh và chính thất của các ngài, bởi vì tầng 1 (tầng chính) 3 mặt biểu tượng cho Tam Từ (tương ứng vị trí Phật Bà Quan Âm), và do vậy, tầng 4 với 1 mặt chính là Phục Hy và tầng 5 tức tầng cuối cùng chính là “chính thất vua Phục Hy”. Do vậy, Thập Nhất Diện Quan Âm ứng với vị trí Tam Từ hay chính là Phật Bà Quan Âm - Đông Độ Dược Sư Lưu ly Quang Phật (cách bố cục trên theo quy tắc Âm Dương: trên dương, dưới âm). Vua Phục Hy là “Hư Không giáo chủ” hay chính ngài là giáo chủ của đạo Bà La Môn thời tối cổ và sau này mẹ của vua Kinh Dương Vương tu tập đạt chính quả, với pháp danh Hương Vân Cái Bồ Tát, Bà đản sinh vào ngày 8 tháng Tư âm lịch và cũng là ngày đản sinh của Phật Thích Ca Mâu Ni theo truyền thuyết Phật giáo. Nếu so sánh hình tượng Quan Âm 11 mặt với Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, rõ ràng mang ý nghĩa khác nhau, do vậy phải là hai người khác nhau. Nếu bức tượng hợp nhất giữa 11 mặt và nghìn mắt nghìn tay thì chúng ta phải nhận định Phật Bà Quan Âm 11 mặt là thần chủ, còn bức tượng nghìn mắt nghìn tay không có 11 mặt thì gọi là Quan Âm Bồ Tát nghìn mắt nghìn tay. Nam Hải viên thông giáo chủ đại từ đại bi tâm thanh cứu khổ linh cảm Quan Thế Âm Bồ Tát: Đây là đức Quán Thế Âm làm giáo chủ viên thông ở miền Nam Hải. Ngài thường tìm tiếng kêu mà cứu khổ, rất cảm ứng và linh thiêng. Bởi lẽ, ngài chỉ còn một cấp nữa là thành Phật nhưng vì lòng thương xót chúng sinh, muốn ở lại thế gian chúng ta để cứu khổ, cứu nạn. Xuất phát từ truyền thuyết Quan Âm quá hải trong kinh Phật kể về tích khi Quan Âm vượt biển nhìn xuống phía dưới thủy quái đang hoành hành dữ dội. Bà đã ra tay cứu vớt chúng sinh và thuần phục đám thủy quái. Nên hình tượng này thường được gắn với hình tượng con quái vật đội tòa sen rước Quan Âm. Ở các tỉnh phía Nam Việt Nam hình tượng này còn được gắn liền với tục thờ cá ông voi của ngư dân. Cũng có dị bản chép khi đi qua biển Đông, Quan Âm nhìn thấy đàn cá voi bị bão tố đang kêu cứu dữ dội, liền xé ngay tấm áo cà sa của mình ra để cứu vớt những sinh vật tội nghiệp thoát khỏi kiếp nạn. Đây cũng là truyền thuyết giải thích tại sao tấm áo cà sa của Quan Thế Âm lại là nhiều mảnh được chắp lại. Qua truyền thuyết và hình tượng của ngài, chúng ta có thể thấy công lực của ngài hàng phục được đám thủy quái của biển chính là Chúa Mẫu Thoải, hoàng hậu vua Lạc Long Quân, chúa tể Cõi Nước, bà Âu Cơ, Nguyệt Lão bà bà, Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát. Chúng ra rút ra nhận xét, hình ảnh vị Quan Âm nào liên quan đến “nước” và có khả năng hộ trì sinh con cái - mẫu Âu Cơ sinh một bọc 100 con trai: Quan Âm Tống Tử, Quan Âm Cam Lộ, Bạch Y Quan Âm, Quan Âm Ngư Lam, Quan Âm Thủy Nguyệt… thông thường gọi là Quan Âm Bồ Tát. Trong tất cả các hình tượng Quan Âm Bồ Tát thì hình tượng Quan Âm bạch y, tay cầm bình nước cam lộ tế độ chúng sinh là hình tượng chính. Bồ Tát Quan Âm Tara Bảo tàng Lịch sử, Việt Nam Quan Thế Âm Bồ Tát có truyền lại cho chúng sinh một câu thần chú rất linh diệu và ngắn gọn: Úm ma ni bát mê hồng (Om mani padme hum), gọi là “Lục tự Đại minh Chân ngôn” (Tham khảo Đạo Phật và thế gian, tác giả Bùi Biên Hòa, Nhà xuất bản Hà Nội 1994). Quan Âm mật chú đồ Trích Tính Mệnh Khuê Chỉ, tác giả Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ Chú này là tâm ấn rất vi diệu của Đức Quan Âm. Ai mà viết chú này thì cũng như viết Tam Tạng Pháp bửu, ai mà đọc chú này thì cũng như đọc kinh Phật, lại mở mang đầu óc, oan nghiệp được giải trừ, thoát ly sinh tử, đạt tới pháp thân an lạc. Nhưng niệm chú có mật quyết, nên: Tiếng thứ nhất là Úm niệm từ chính rốn (đan điền), đó là niệm Tì Lô Giá Na Phật trong ta. Tiếng thứ hai là Ma ở phía Đông, đó là kêu Bất Động Tôn Phật trong ta. Tiếng thứ ba là Ni ở phía Nam, đó là niệm Phật hộ thân bảo sinh trong ta. Tiếng thứ tư là Bát ở phía Tây, đó là niệm Vô Lượng Phật trong thân ta. Tiếng thứ năm là Mê ở phía Bắc, tức là niệm Bất Không Thành Tựu Phật trong ta. Tiếng thứ sáu là Hồng tại yết hầu, đó là niệm Đại Thế Chí Kim Cương. Niệm lâu ngày ngũ khí sẽ triều nguyên, tức thành tựu được công đức khôn cùng và chứng đắc được viên thông. Chuẩn Đề Quan Âm: Theo đúng như kinh sách thì tượng của ngài tạc có 3 mắt, 18 tám tay và mặc áo trắng có vẽ hoa. Mật giáo cho rằng ngài là mẹ của chư Phật vô lượng quá khứ, cho nên gọi là Cư Thất Đê Phật Mẫu. Có thuyết nói rằng ngài thường tới thế gian, phá bỏ tất cả hoặc nghiệp của chúng sinh, làm cho chúng sinh có thể loại trừ được tai nạn, kéo dài tuổi thọ và có thể diệt trừ được tội chướng. Tụng niệm chân ngôn của ngài còn có thể chiến thắng quân thù, vợ chồng hòa mục, yêu thương lẫn nhau, sinh con trai, làm trẻ con không quấy khóc đêm. Tượng Quan Âm Chuẩn Đề Chùa Thầy và chùa Động Lâm, Việt Nam Quan âm Chuẩn Đề chùa Động Lâm, xã Hợp Thịnh vốn có tên Nôm là Hốp, ở phía Tây Bắc thành phố Vĩnh Yên, thuộc huyện Tam Dương. “Động” có nghĩa là hang núi, “Lâm” có nghĩa là rừng. Tên chùa mang ý nghĩa “Trừng ác, Khuyến thiện”. Đặc biệt nhất là trong hình tượng Quan Âm Chuẩn Đề ở Việt Nam có hai tay phổ lễ sau lưng. Qua các bức tượng trên, chúng ta thấy hình ảnh con quỷ nhô lên khỏi mặt biển đỡ tòa sen rất phổ biến trong dân gian. Chuẩn Đề là một loại hình Quan Âm khá đặc biệt, không nằm trong hệ thống Lục Quan Âm mà tách riêng ra thành một loại hình độc lập. Quan Âm Chuẩn Đề đã có lúc là loại hình bổ trợ thêm, nếu tính thêm vào hệ thống Thất Quan Âm. Mãi sau này trong hệ thống Lục Quan Âm, người ta mới dùng loại hình Quan Âm Chuẩn Đề thay thế cho loại hình Quyến Sách Quan Âm. Chuẩn Đề Quan Âm được biết qua các bộ kinh của Mật Tông Tây Tạng. Phải chăng Chuẩn Đề Quan Âm đại diện cho pháp này? Tại sao người Việt vùng đồng bằng sông Hồng lại thích thờ tượng ngài? Những lý do xã hội nào thức đẩy sự thay đổi thủ tục thờ các loại hình tượng Quan Âm như thế?. Ngày nay, khi vào các chùa, phía gần sau cùng, phần cao giữa chính điện thờ, thường thấy ba bức Di Đà Tam Tôn, ở giữa là tượng Đức A Di Đà, bên tay phải là tượng Quan Thế Âm và bên tay trái là tượng Đức Đại Thế Chí Bồ Tát. Chính vì lẽ đó minh chứng một điều rằng, người ta vẫn tin vào những điều chép trong Kinh Bi Hoa, cho rằng Đức Phật A Di Đà là vua Vô Tránh Niệm, còn hai người hai bên là con trưởng - Ngài Quan Thế Âm Bồ Tát (Bất Tuẫn) và em trai thứ - Đức Đại Thế Chí (Ni Ma), qua các câu truyện cổ tích Phật giáo Sự tích Phật A Di Đà và bảy vị Bồ Tát. Do có nhiều biểu tượng Quan Thế Âm, cho nên chúng ta chưa thể xác định đấy là vị Quan Âm nào. Để xác định Chuẩn Đề Quan Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí là ai, chúng ta phải xem lại các chòm sao thiên văn là Cửu Diệu bao gồm Thất Chính và hai sao “hư” La Hầu và Kế Đô, trong đó sao La Hầu biểu tượng Đức Tỳ Bà Thi Phật và sao Kế Đô biểu tượng Bất Không Quyến Sách Quán Âm. Sao La Hầu là hiện tượng Nhật thực và sao Kế Đô là hiện tượng Nguyệt thực, chúng tôi nhận định Bồ Tát Đại Thế Chí với biểu tượng sao Kế Đô - Nguyệt thực và Chuẩn Đề Quan Âm với biểu tượng La Hầu - Nhật thực tương ứng với sự thay thế đã mô tả ở trên. Cũng theo cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, thì vua Đế Lai con của vua Đế Nghi, cha của bà Âu Cơ, sau này tu thành Phật và gọi là Phật Tổ Như Lai, tuy nhiên với nhận định ở trên và “Tỳ Bà Thi” mang ý nghĩa của “người nữ”, do vậy vua Đế Lai là Bồ Tát Đại Thế Chí. Lúc này, Chuẩn Đề Quan Âm cũng chính là Bất Không Quyến Sách Quán Âm - Tỳ Bà Thi Phật và là thân mẫu của bà Âu Cơ - Quan Âm Bồ Tát. Trong Chương VII: VIẾT LÊN TRỜI XANH chúng ta cũng đã ghi nhận các hành tinh trong hệ mặt trời được lấy làm biểu tượng của các vua Hùng, cùng với nhận định về vua Đế Lai - sao Kế Đô và Chuẩn Đề Quan Âm - sao La Hầu, chúng ta không thể không nhận định là các hành tinh còn lại trong hệ mặt trời nằm ngoài vành đai thiên thạch sẽ biểu tượng cho vị vua nào? Từ các dữ kiện lịch sử cổ đại Trung Quốc như đã phân tích, thì đó chính là các vị vua nối tiếp Đế Lai: Đế Chuyên Húc - Đế Cốc - Đế Chí, được trình bày theo bảng dưới đây: Hệ mặt trời Trích Tìm về cội nguồn Kinh Dịch, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh Bất Không Quyến Sách Quán Âm: quyến sách là cái lưới giăng bắt chim, tượng trưng cho ý nghĩa ngài ném tung cái lưới ra trùm khắp cả đại thiên thế giới để cứu độ tất cả chúng sinh. Do tâm nguyện của ngài chẳng không nên gọi Bất Không. Tượng này đa số là một mặt, ba con mắt và tám tay. Ngoài tên gọi đó còn có 5 tên gọi khác nhà: Bất Không Quyến Sách Quan Thế Âm Bồ Tát, Bất Không Vương Quan Thế Âm Bồ Tát, Bất Không Quảng Đại Minh Vương Quán Thế Âm Bồ Tát, Bất Không Tất Địa vương Quan Thế Âm Bồ Tát, Bất Không Quyến Bồ Tát. Vị Bồ Tát này dùng cái lưới của tâm từ bi mà thương yêu che chở và tiếp dẫn chúng sinh. Tâm nguyện của ngài chẳng sa vào Không, cho nên gọi là Bất Không. Thân hình ngài da thịt màu trắng, ba mặt, bốn tay, mỗi mặt đều có ba mặt. Ta trái của ngài cầm cánh hoa sen nở, tay trái dưới cầm quyến sách. Tay phải trên cầm chuỗi ngọc, tay phải dưới cầm tịnh bình (bình nước trong). Như đã nhận định ở trên, ngài cũng chính là Tỳ Bà Thi Phật và là thân mẫu của bà Âu Cơ. Mã Đầu Quán Âm: Thông thường trên đỉnh đầu của ba mặt đều mang đầu ngựa, là hình tướng phẫn nộ. Hóa thân này của Đức Quan Âm bởi tại tâm từ bi, cho nên không trú niết bàn mà trú trong cảnh giới vô minh để đoạn tâm ác thú. Hình tượng ngài có ba đầu, hai tay, ba mặt, tám tay. Con ngựa là biểu tượng của phương Nam, ”cực dương” trong Địa chi, mà ta cũng biết Hương Vân Cái Bồ Tát thuộc phương Nam, với biểu tượng thần khí là cái vạc đồng và con chim phượng hoàng, do vậy Mã Đầu Quan Âm cũng chính là Phật Bà Quan Âm. Thánh Quan Âm: Hình tượng của ngài biến hóa và rất nhiều loại khác nhau, thường phân biệt bởi cái mũ trên đầu ngài dùng chữ “Thánh” để biểu thị, cho nên gọi là Thánh Quan Âm. Trong hệ thống tranh thờ dân gian Hàng Trống, bức tranh thờ Cô Ba (Thánh Cô), chính thất của vua Hùng Quốc Vương chính là ngài. Trong chầu Cô Chín với hình tượng “con gà” hành Kim độ số 9 tương ứng biểu tượng của ngài. Trong chính điện Đại Hùng, bố cục Cửu cung (ngoài Tam Thế Phật) là tiêu chuẩn ứng với 9 con rồng bảo vệ Phật Bà Quan Âm sơ sinh, nên không bố trí thêm các vị Bồ Tát khác ở khu vực cửu cung này, mà chỉ bố trí thêm hai bên là thần Nam Tào coi sổ sinh và thần Bắc Đẩu coi sổ tử. Tham khảo bức tranh Nam Đường số 1 và số 2, tranh của dân tộc Cao Lan - Sán Dìu, được sưu tầm tại huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc: Nam Đường 1 Dân tộc Cao Lan - Sán Dìu, Việt Nam Nam Đường 2 Dân tộc Cao Lan - Sán Dìu, Việt Nam Có thể nhận thấy: trên hai cột màu đen của điện thờ lớn, chính giữa, có các dòng chữ Hán màu trắng với nội dung: Đông Hoàng Đại Đạo (bên phải), Tây Quốc Phu Nhân (bên trái). Theo Hoa Vương Thần Mục, thần hiệu đầy đủ là Thượng Cung Đông Hoàng Đại Đạo Tây Quốc phu nhân là tôn xưng của Hoa Vương Thánh Mẫu vốn là Bích Hà Nguyên Quân. Bà là người bảo hộ cho phụ nữ và trẻ em, vẽ chính giữa ở trên cao. Giúp việc cho bà, có các Hoa Tào trong Hoa Cung, có hai bà ở hai bên là bà Tinh mắt và bà Cho nhiều con (Tống Tử Nương Nương - bế trên tay đứa trẻ sơ sinh - vẽ ở đầu hành thứ tư tính từ dưới lên bên trái). Trong Hoa Cung còn có sáu thị thần thứ yếu, chăm sóc các giai đoạn nuôi dưỡng trẻ thơ khác nhau. Bà giúp cho phụ nữ bắt đầu mang thai. Ba nuôi thai và làm cho thai cứng cáp. Bà thúc nhanh việc sinh nở (đẻ nhanh, dễ đẻ). Bà đem lại niềm vui và che chở cho sản phụ sinh đẻ. Bà giữ việc yên lành và hạnh phúc cho trẻ thơ. Bà đậu mùa. Ngoài ra còn có thổ thần ở vị trí cuối tranh bên phải. Tiếp tục quán xét bức tranh Nam Hoa và Quan Âm của dân tộc Cao Lan - Sán Chỉ, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, tranh do nghệ nhân Hàng trống thực hiện năm 1921. Quan Âm Dân tộc Cao Lan - Sán Chỉ, Việt Nam Nam Hoa Dân tộc Cao Lan - Sán Chỉ, Việt Nam Trong bức Nam Hoa, phía trên là hình Phật Tam Thế, hình tượng chính là Phật Bà Quan Âm ngồi trên tòa sen, phía dưới là con thuyền bát nhã và hai tầng nhân vật gồm 5 nhân vật ở mỗi tầng (Thập Cực Chân Nhân đưa linh hồn người về cõi Niết bàn). Kết hợp xem xét các bức tranh Nam Đường và Nam Hoa, chúng ta sẽ nhận biết trong bức Nam Hoa 3 thì hình Phật Tam Thế chính thực là Phật Bà Quan Âm, Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát; Phật Bà Quan Âm thực ra là Tây Quốc phu nhân hay Tây Vương Mẫu, chính thất của vua Kinh Dương Vương - Ngọc Hoàng Thượng Đế; tiếp theo là Huyền Thiên Trấn Vũ và Câu Trần. Từ đó, chúng ta có thể nhận biế tranh Nam Hoa 1 và Nam Hoa 2 là giống nhau, Trên cùng là Phật Bà Quan Âm, có 6 người con trai, tiếp theo là Tây Vương Mẫu có 5 người con trai. Trong bức tranh Quan Âm thì đấy chính là tây Vương Mẫu, phía dưới là Huyền Thiên Trấn Vũ. “Nam Hoa” có nghĩa là bơi thuyền về hướng Nam, xuất phát từ sự kiện: khoảng năm 847 - 859 dời Đường, trên đường rước tượng Quan Thế Âm Bồ Tát vượt biển về Nhật Bản, trên đường đi thuyền gặp bão, phải rước tượng lên thờ ở đảo Mai Sầm trong vùng biển Nam Trung Quốc (thuộc tỉnh Triết Giang), rồi mở rộng, trở thành đạo tràng Phổ Đà Sơn do Quan Thế Âm Bồ Tát ngự trị. Phổ Đà Sơn (Potolaka) dịch từ tiếng Ấn Độ là tên một hòn núi trên đảo vùng biển Nam Ấn Độ, theo truyền thuyết là nơi Quan Thế Âm Bồ Tát tu hành. Và sự kiện đó có tên gọi là Quan Thế Âm Quá Hải và Quan Thế Âm Nam Hải, được coi là Thần Bảo hộ ngư dân. Tiếp tục quán xét bức tranh Tam Nãi Phu Nhân sưu tầm trong dân tộc Cao Lan - Sán Chỉ, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tam Nãi Phu Nhân Dân tộc Cao Lan - Sán Chỉ, Việt Nam Từ trên xuống dưới: Lý Bát Đại Nương, Lâm Đại Bát Nương - tức Thiên Phi hay Thiên Hậu tên húy là Lâm Mặc hay Lâm Hiếu, Sài Đại Bát Nương. Bức tranh này hợp tôn thần vị của 3 thầy trò Thiên Phi Lâm Mặc. Một vị có thể nhìn xa ngàn dặm (Thiên lý nhãn) và một vị có thể nghe tiếng kêu cứu ngoài ngàn dặm trong dông tố (Thuận phong nhĩ); Hai người này giúp cho Thiên Phi Lâm Mặc (ở giữa) có thể cứu vớt được người bị nạn trong giông tố ngoài biển khơi. Rõ ràng, Thiên Phi Lâm Mặc rất giống với vai trò của Bích Hà Nguyên Quân. Kết hợp các bức Nam Hoa, thì trên cùng sẽ là Phật Bà Quan Âm, kế tiếp là Tây Vương Mẫu, cuối cùng là Quan Âm Bồ Tát (Tống Tử Nương Nương). Tham khảo thêm bức tranh Nam Cung của dân tộc Tày, tỉnh Cao Bằng. Nam Cung Dân tộc Tày, tỉnh Cao Bằng Bức tranh thể hiện vị thần chính là Bích Hà Nguyên Quân và các bà giúp việc chủ yếu, Thổ Thần, trong Hoa Tào của Hoa Cung. Phía trên cùng, có lẽ là hình ảnh của Đông Nhạc Đại Đế và tả hữu cận thận, Bích Hà Nguyên Quân được coi là con gái của ông. Phối hợp xem xét với các bức tranh Nam Đường và Nam Hoa, thì trên cùng là Thái Ất Cứu Khổn Thiên Tôn (Đế Minh) và dưới là Tây Vương Mẫu. Ở Trung Hoa và Việt Nam, Đức Phật Mẫu được gọi bằng các danh từ: Diêu Trì Kim Mẫu, Kim Bàn Phật Mẫu, Tây Vương Mẫu. Mẹ Hoa là chủ cây hoa (sinh ra người - người vốn là hoa của đất), trên có hoa vàng và hoa bạc. những gia đình hiếm con là lễ cầu xin tới Mẹ Hoa, mong Mẹ Hoa ban pháp cho hoa vàng sinh con trái, hoa bạc sinh con gái. Ngoài việc cầu cúng bằng lễ nghi, gia đình còn phải làm những việc phúc đức, từ thiện đối với cộng đồng như sửu đường, bắc cầu… cho người qua lại để cầu phúc. Họ tin rằng, mỗi người qua đường thuận lợi hơn sẽ có lời khen. Lời khen ngợi về công quả phúc đức, từ thiện của họ sẽ thấu đến Mẹ Hoa và Mẹ sẽ ban thưởng con cái cho họ. Như vậy Mẹ Hoa hoàn toàn giống với Quan Âm Bồ Tát tức Tống Tử Nương Nương. Theo cuốn Đạo giáo và các tôn giáo Trung Quốc của henri Maspero, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội 1998, trang 257 IV.Thủy Thủ: Thiên Hậu thì các Thủy thủ có một nữ thần bảo hộ, mà trong những thế kỷ qua nữ thần này chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thần linh Trung Quốc, nhờ sự ban tặng của Hoàng đế Mãn Châu: Thiên Hậu (Hoàng Hậu của trời), cũng là Thiên Thượng Thánh Mẫu (Mẹ Thánh trên trời), hoặc thân mật hơn Mã Tổ Bà (Bà Tổ). Việc thờ cúng nữ thần này có nguồn gốc từ Phúc Kiến, và từ đó đó lan ra khắp Trung Quốc. Bà cũng chính là Tây Vương Mẫu, trong các bức tranh thờ Đạo giáo miền Bắc Việt Nam ở trên. Từ việc xác định lại bố cục điện Đại Hùng liên quan đến các nhân vật lịch sử nước nhà, được hình tượng hóa qua các vị thần thánh, các chòm sao thiên văn, chúng tôi sắp sếp, bố cục lại mặt bằng của một ngôi chùa thời Hùng Vương. Bố cục mặt bằng chùa thời Hùng Vương Bố cục mặt bằng chung của các ngôi chùa thường bao gồm các công trình kiến trúc sơn môn, tam quan, ao phòng sinh, lầu chuông gác trống, Đại Hùng bảo điện, Thiên vương điện, pháp đường, tàng kinh các, Đông Tây phối điện, chủ cung Phật điện và vạn trượng (Lục Tổ đàn kinh, Lục Tổ Huệ Năng, Thích Minh Nghiêm dịch, Nxb Thời đại, 2010). Bố cục mặt bằng chùa Trung Quốc Tham khảo Tam quan: Tam quan là bộ phận không thể thiếu trong kiến trúc chùa Việt Nam, là cổng vào chùa, là một kiểu kiến trúc cổng với ba cửa vòm. Có nhiều chùa do đất rộng, địa hình thay đổi nên bố trí hai cổng tam quan, cổng ngoài gọi là Sơn môn và cổng trong gọi là Tam quan, mộ số chùa tầng trên của Tam quan dùng làm gác chuông. Tuy nhiên theo bố cục phong thủy thì chùa cổ thời Hùng Vương chỉ có một cổng tam quan mà thôi, trên đỉnh mái tam quan không tôn trí “lưỡng long triều nhật” và tượng đôi “nghê quỳ”, cũng như không phải là nơi bố trí gác chuông, hai bên cổng sẽ tôn trí tượng thần hộ vệ cổng theo bộ tranh dân gian Đông Hồ nhị bình là Vũ Đinh - Thiên Ất, chính là Lý Ông Trọng và Cao Nỗ như đã phân tích, còn trong văn hóa Trung Quốc gọi hai vị môn thần trên là Thần Đồ và Uất Lũy. Phía trên cánh cửa tò vò giữa của cổng Tam quan là nơi bố trí bức hoành phi ghi tên chùa, hai mặt trước sau cột đắp đôi câu đối. Vũ Đinh - Thiên Ất Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Hai góc tường ngay sau khi bước qua cổng Tam quan thì được trồng cây bồ đề, cây đa nhằm nhấn mạnh biểu tượng của Phật giáo. Qua Tam quan là đến sân chùa, tại đây thông thường có hồ sen và một cây cầu bắc qua để di vào trung tâm chùa gọi là cầu Nại Hà, hồ dùng nuôi cá vàng, rùa… với mục đích làm tăng thêm cảnh sắc thiên nhiên cho ngôi chùa, tên thường gọi của hồ sen là “Long trì”. Lầu chuông gác trống: Có chùa có gác chuông ở phía trước, có chùa có gác chuông ở phía sau, có chùa gác chuông ở ngay trên cửa Tam quan, có chùa gác chuông lại ở trên nhà Tổ. Một số chùa có ngôi tháp lớn ở trước mặt, như chùa Dâu ở tỉnh Bắc Ninh, chùa Phổ Minh ở tỉnh Nam Định, nhưng một số chùa khác lại đặt các tháp ở hai bên chùa hay có vườn tháp riêng như chùa Trấn Quốc ở Hà Nội, chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh, Chùa Bổ Đà ở tỉnh Bắc Giang... Theo phân tích bức tranh dân gian Hàng Trống Bà Chúa Ba, thì lầu chuông và gác trống bố trí hai bên trái phải trước Thiên vương điện và nhà Bái đường. Gác trống Văn Miếu Mao Điền Cẩm Điền, Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Giếng cổ đá ong Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội Thiên Vương điện: qua cầu Nại hà sẽ tới Thiên Vương điện, là nơi thờ tự Di Lạc Bồ Tát cùng với Tứ Thiên Vương và Vi Đà Hộ Pháp. Tứ Đại Thiên Vương còn được gọi là Hộ thế Tứ Thiên Vương, là bốn vị thiên tướng bảo hộ Phật pháp, thuộc Thiên bộ trong Thập nhị Thiên của Phật giáo. Tứ Đại Thiên Vương cư trụ trên núi Do Kiền Đà La lưng chừng núi Tu Di, thấp hơn cõi trời Đao Lỵ của Đế Thích, mỗi vị trấn giữ bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc, cai quản hộ trì tứ đại bộ châu Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hạ Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Bắc Cu Lô Châu. Ở Trung Quốc, do ảnh hưởng của truyện Phong thần Diễn Nghĩa và truyền thuyết dân gian còn gọi Tứ Đại Thiên Vương, chức phận của bốn vị còn Phong, Điều, Vũ, Thuận (mưa thuận gió hòa) tương ứng tượng Gió, Mây, Chớp, Mưa, còn Sấm chính là Di Lạc Bồ Tát trong câu chuyện truyền thuyết Phật Mẫu Man Nương. Thiên Vương điện Chùa Tuyết Đậu, Trung Quốc Tứ Thiên Vương được thờ trong Thiên Vương điện cùng với Vi Đà Hộ Pháp, trong đó tượng Di Lạc Bồ Tát ở trung tâm Thiên Vương điện. Đông Phương Trì Quốc Thiên Vương (Điều Thiên Vương): ngài có năng lực hộ trì đất nước, bảo hộ chúng sinh, cư trụ phía Đông núi Tu Di, mặc giáp trụ, nét mặt phẫn nộ, tay cầm đàn tỳ bà, biểu thị lòng từ bi, dùng âm nhạc để cảm hóa chúng sinh quy y Phật pháp. Nam Phương Tăng Trưởng Thiên (Phong Thiên Vương): ngài có năng lực hộ trì chúng sinh tăng trưởng thiện căn, cư trụ ở phía Nam núi Tu Di, nét mặt giận dữ, mặc giáp trụ, tay cầm bảo kiếm không cho tà ác xâm phạm. Tây Phương Quảng Mục Thiên (Thuận Thiên Vương): ngài có thể dùng thiên nhãn thanh tịnh quán sát thế giới hộ trì chúng sinh, cư trụ phía Tây núi Tu Di, hiện tướng giận dữ, mặc giáp trụ, tay quấn con rắn. Bắc Phương Đa Văn Thiên (Vũ Thiên Vương): ngài từng bảo hộ đạo tràng của Như Lai, do đó được nghe Như Lai thuyết pháp nhiều, cư trụ ở phía Bắc núi Tu Di, hiện tướng phẫn nộ, tay cầm bảo tháp, biểu thị phước đức đa văn, hàng phục chúng ma, bảo hộ tài bảo của chúng sinh. Hình Tứ Thiên Vương Chùa Thiên Đồng, Ninh Ba, Triết Giang, Trung Quốc Vi Đà Hộ Pháp: tay cầm giáng ma xử (chùy kim cương) để hàng phục ma quỷ, theo phân tích trong Chương VII: VIẾT LÊN TRỜI XANH, chính là Triệu Vũ Đế, Triệu Đà, trong thờ tự dân gian Việt Nam thường gọi là Vũ Di Hộ Pháp. Truyền thuyết, sau khi Thích Ca Mâu Ni Phật nhập diệt, chư thiên thần và chúng vương bàn về việc hỏa thiêu di thể, nhặt xá lợi thờ trong tháp. Lúc này Đế Thích Thiên cầm bình thất bảo đến chỗ thiêu để lấy xá lợi vì trước kia ngài đã được Đức Phật chấp thuận cho một chiếc răng đem về để dựng tháp thờ. Nhưng khi ấy có quỷ La Sát nấp bên người Đế Thích Thiên, thừa lúc Ngài không chú ý bèn trộm răng Phật. Vi Đà trông thấy bèn đuổi theo như tia chớp, trong nháy mắt đã bắt được quỷ La sát tống vào ngục, trả lại răng Phật cho Đế Thích Thiên, được chư Thiên khen ngợi. Từ đó về sau, Vi Đà được cho là có thể xua đuổi tà ma, bảo hộ Phật pháp, gánh vác trọng trách bảo vệ linh tháp (stupa) của Phật Tổ (chứa xá lợi Phật). Kể từ đó, hình tượng Vi Đà Hộ Pháp song hành cùng linh tháp chứa xá lợi Phật. Xá lợi đầu, xương và não của Phật Thích Ca Trích Xá Lợi của đức Phật Thích Ca Mâu Ni - Thánh vật thần bí, Thanh Như dịch *Xá lợi: phiên âm của từ "sarira" trong tiếng Phạn, nghĩa đen là “hạt cứng”. Theo ghi chép trong lịch sử Phật giáo, khi Phật tổ Thích Ca Mâu Ni viên tịch, thi hài ngài được đưa đi hỏa táng. Sau khi lửa tàn, họ phát hiện trong tro có rất nhiều tinh thể trong suốt, hình dạng và kích thước khác nhau, cứng như thép, lóng lánh và tỏa ra những tia sáng muôn màu, giống như những viên ngọc quý. Họ đếm được cả thảy 84.000 viên, đựng đầy trong 8 hộc và 4 đấu. Những “viên ngọc” được đặt tên là xá lợi, đó là bảo vật của Phật giáo. Theo Tây Du Ký của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, xá lỵ được tạo ra do sự hòa hợp âm dương của người tu luyện. Ngoài ra, nếu diện tích khuôn viên của chùa đủ rộng, thì đôi khi còn bố trí bảo tháp Cửu phẩm liên hoa để bài trí tượng Phật, nằm bên phải nhà Bái dường. Đặc biệt, trong khuôn viên chùa còn bố trí giếng nước phục vụ cuộc sống của các tăng sĩ sống trong các nhà Tăng đường và chúng sinh thỉnh về, gọi là giếng mắt rồng hay “long nhãn”, bố trí bên trái của nhà Bái đường. Cửu Phầm liên hoa Tranh khắc gỗ Việt Nam Tháp Bình Sơn Tỉnh Vĩnh Phúc, Việt Nam Tháp Bình Sơn, còn gọi là Tháp chùa Vĩnh Khánh hay Tháp Then, là một ngôi tháp cổ, tương truyền nguyên thủy có 15 tầng tuy hiện nay chỉ còn lại 11 tầng. Tháp được xây dựng từ thời Trần, nằm ở trong khuôn viên chùa Vĩnh Khánh (chùa Then) thuộc thôn Bình Sơn, thị trấn Tam Sơn huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Bảo tháp thường được xây cao chín tầng, hình bát giác gọi là “Cửu phẩm liên hoa”, biểu tượng chín tầng trời, có vai trò như tháp Văn Xương nhằm tạo bố cục phong thủy hợp lý, bốn cửa vào bảo tháp được bảo vệ bởi Bát Bộ Kim Cương. Qua Thiên vương điện là tới Nhà bái đường hay còn gọi là tiền đường, nhà thiêu hương, thường phải đi lên một số bậc thềm được xây dựng kiểu tam cấp hoặc với tổng số bậc thang thích hợp. Ở phía trước Nhà bái đường, hai mặt tường trước của cửa chính có thể đặt bia đá ghi sự tích, lịch sử của ngôi chùa. Nhà Bái đường: Trước chính môn là một cái vạc đồng lớn để chứa nước, dành cho quý khách rắc hoa cúng Phật, thường gọi “hoa rơi cửa Phật”, chứ không phải để cắm hương như ngày nay. Hai bên đầu tường thu hồi phía trước xây hai cột trụ nhô cao gắn đôi “Nghê quỳ” canh gác điện. Hình ảnh con nghê chính là hình ảnh con chó ngao hùng dũng, luôn trung thành tuyệt đối đã được nhân cách hóa thành linh thú Việt, đó là hình ảnh của ngôi sao Thiên Lang sáng nhất trên mầu trời về đêm, và cũng là biểu tượng của vị tể tướng Lữ Gia, thời nhà Triệu. Hai bên cửa mặt tường thu hồi phía trước được tô đắp hai pho tượng thần uy nghi cưỡi trên lưng sư tử, đấy chính là hình ảnh của hai vị thần trong bộ tranh dân gian Hàng Trống nhị bình Tử vi trấn trạch và Huyền đàn trấn môn. Hiện nay, chúng ta ít thấy hình ảnh này, thay vì là cặp sư tử đá một chân đứng trên quả cầu gọi là “sư tử hý cầu” hoặc đôi rồng hai bên bậc tam cấp. Hai vị thiên thần này chính là Tản Viên Sơn Thánh và Thánh Gióng, hai trong Tứ Bất Tử của nước Văn Lang. Huyền đàn trấn môn - Tử vi trấn trạch Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam Chính điện Đại Hùng: Qua nhà Bái đường là chính điện, phần quan trọng nhất của ngôi chùa vì nơi đây bài trí những pho tượng Phật Bồ Tát và chủ yếu. Bước qua chính môn, hai bên trái và phải sẽ bố trí bộ pháp khí chiêng trống cùng với tượng các vị Thập điện Diêm vương, Khuyến Thiện - Trừng Ác, Bát Bộ Kim Cương (nếu chùa không có tháp Cửu phẩm liên hoa) và Chính điện. Chính điện có nhiều lớp bàn thờ bậc thang từ cao xuống thấp với các tượng được thay đổi linh hoạt theo từng chùa, tuy nhiên, chúng tôi cấu trúc lại theo kết quả phân tích ở các phần trên như Trung Đài Bát Diệp Viện của Kim Cương giới và Thai Tạng giới, kết hợp với các đặc trưng chung khác của một ngôi chùa miền Bắc Việt Nam như sau: Tam Thế Phật: Tầng cao nhất của bàn thờ chính điện, sát vách, thường có 3 pho tượng gọi là Tam Thế Phật, tức là thể hiện hết thảy các vị Phật ở đời quá khứ, hiện tại và vị lai, chỉ chung toàn bộ các cõi Phật theo thời gian. Tượng Tam Thế có kích thước và hình dáng giống nhau, đỉnh đầu có gồ thịt nổi cao như búi tóc, tóc xoắn ốc, tai dài, giữa ngực có chữ Vạn (từ ngoài nhìn vào thấy chữ Vạn quay ngược chiều kim đồng hồ), mình có sắc hoàng kim, mặt nguyệt, ngồi trên tòa sen. Phật Tam Thế Tranh dân gian Hàng trống, Việt Nam Tây Phương Tam Thánh: Dưới hàng Tam thế Phật bố trí ba pho tượng gọi là Di Đà Tam Tôn hay Tây Phương Tam Thánh, gồm tượng Phật A Di Đà ở giữa, tượng Phổ Hiền Bồ Tát ở bên phải và tượng Văn Thù Bồ Tát ở bên trái. Tượng Phật A Di Đà có kích thước lớn hơn tất cả các tượng khác và trong tư thế tọa thiền. Tây Phương Tam Thánh cứu độ và tiếp dẫn chúng sinh về cõi Tây phương Cực Lạc. Trung ương Phật: Dưới lớp tượng Tây Phương Tam Thánh là bộ ba bức tượng: tượng Đại Nhật Phật ở giữa, tượng bên trái là Bất Không Như Lai và bên phải là Bảo Sinh Như Lai. Đông Phương Tam Thánh: Dưới ba pho tượng trên là Đông Phương Tam Thánh, tượng Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Phật ở giữa, bên trái là Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát, bên phải là Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát. Tòa tượng Cửu Long: tòa tượng Cửu Long, diễn tả hình ảnh Hương Vân Cái Bồ Tát sơ sinh, theo truyền thuyết, khi ngài mới giáng sinh, có chín con rồng xuống phun nước cho ngài tắm gọi là “Cửu long phún thủy”. Tắm xong, ngài tự đi được 7 bước về phía trước, mỗi bước đi đều có hoa sen hiện ra đỡ bàn chân, tay phải với ngón trỏ chỉ lên trời, tay trái với ngón trỏ và ngón giữa chỉ xuống đất mà nói “Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn” nghĩa là “Trên trời dưới đất, bản ngã là duy nhất”. Chín con rồng chính là 9 cung của ban thờ chính điện, tương ứng với 9 cung của Hà Đồ - Lạc Thư. Để hộ trì Hương Vân Cái Bồ Tát sơ sinh, hai bên tượng Cửu Long là tượng của hai vị vua Đế Thích chủ tể cõi trời sắc giới, và Phạm Thiên chủ tể cõi trời dục giới, vì là vua nên tượng các vị được tạc theo chân dung hoàng đế đội mũ miện, mặc long bào, ngồi trên ngai vàng. Trong ban thờ nguyên thủy thời Hùng Vương chưa có Phật Thích Ca Mâu Ni, sau khi ngài đắc đạo, được thụ ký bởi Nhiên Đăng Cổ Phật chuyển pháp luân, thì có thể bố trí cùng với các vị cổ phật. Cấu trúc tạo thành Hoa Nghiêm Tam Thánh: ở giữa là Phật Thích Ca Mâu Ni, bên trái là Nhiên Đăng Cổ Phật và bên phải là Di Lạc Vương Phật. Hoa Nghiêm Tam Thánh Tranh cổ Trung Quốc Rùa cõng hạc: phía trước hương án là cặp “rùa cõng hạc” biểu tượng của Chử Đồng Tử - Kim Dung, đại diện cho Đạo giáo, ý nghĩa này sẽ được chứng minh trong Chương IX: TRƯỜNG SINH BẤT TỬ. Cũng ở nhà chính điện, ở hai bên dãy bàn thờ chư Phật có thể gặp lại tượng thờ Thái thượng Lão quân ở bên trái và Khổng Tử ở bên phải, đây là hai vị tổ của Đạo giáo và Nho giáo được thờ trong điện thờ Phật của các chùa để diễn tả tư tưởng tam giáo đồng nguyên của xã hội Việt Nam thời xưa. Khuyến Thiện và Trừng Ác: Hai vị thần trên, vị bên phải gọi là Khuyến Thiện và vị bên trái gọi là Trừng Ác hay dân gian thường gọi là Ông Thiện và Ông Ác, hai vị này được tạc tượng riêng với hình tượng đứng để sẵn sàng công việc và bố trí ngay trong Nhà bái đường. Ông Thiện và Ông Ác chính là hai vị quan tướng thời vua Thần Nông là Hữu Sào và Toại Nhân. Khuyến Thiện - Trừng Ác Trích Hiểu rõ về hai ngài Hộ pháp đạo Phật, tác giả Quần Anh, Hoài Lương Hai bên chính điện ngay sau cửa tam quan chúng sinh sẽ gặp tượng Bát Bộ Kim Cương, là thần tướng trên trời, hộ trì Phật pháp và tượng Thập điện Diêm vương, tức mười vị vua cai quản mười tầng địa ngục đứng hộ vệ hai bên trong nhà bái đường. Khi đi vào, sẽ gặp Thập điện Diêm Vương trước Bát bộ Kim Cương. Bát Bộ Kim Cương là tám con trai của Long Vương, nắm giữ tám hướng biển. Thập điện Diêm Vương Chùa Giác Lâm, Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh, Việt Nam Bát Bộ Kim Cương Chùa Tây Phương, Hà Tây, Hà Nội, Việt Nam Trong nhà Bái đường cũng thường có ban thờ tượng Thổ địa thần, vị thần cai quản cõi đất tức cõi nhân sinh, có một số chùa đưa tượng này ra thờ riêng ở một miếu bên cạnh chùa. Sách Tượng Khí nói rằng: “Thổ địa đường tức là nhà Bái đường, thờ Thổ địa thần và Hộ pháp thần, mà bàn thờ Thổ địa thần thì ở phía Đông Phật điện”, tượng này còn có tên là Đức Chúa. Ban thờ Thổ địa thần nằm phía bên phải nhà Bái đường, chỗ có pho tượng mặt đỏ trông rất uy nghiêm tục gọi là Đức Ông, trông coi tài sản và vật khí trong chùa không cho kẻ gian xâm phạm, tượng Thổ địa thần được phủ vải sắc đỏ thẫm, trùm từ đầu xuống bệ ngồi. Ở Việt Nam có tục những đứa trẻ khó nuôi thường bán cho chùa tức bán cho Đức Chúa, ngài nhận làm cha đỡ đầu và chúng ta cũng đã biết: Thổ Công chính là Hùng Quốc Vương và cũng chính là Địa Tạng Bồ Tát. Thất sự: tiếp theo trên bàn thờ và hương án được bố trí bộ thất sự. Đặc biệt, trong nhà Bái đường không sắp xếp lỗ bộ và bát bửu giống như trong các ngôi đình, đền khác vì chùa không mang tính thể chế mà chỉ bố trí chuông trống trên giá treo để phục vụ các buổi lễ hội. Thiên tỉnh: Phía trên thiên tỉnh của chính điện, treo đèn lồng hình tròn lấy ánh sáng gọi là thiên tỉnh, đặc biệt đỉnh mái chính điện luôn phải tạo hình “lưỡng long minh châu” nghĩa là đôi rồng vàng vờn ngọc báu, và tạo hình này là duy nhất trong mỹ thuật, kiến trúc của một ngôi chùa, ý nghĩa này sẽ được giải thích trong Chương IX: TRƯỜNG SINH BẤT TỬ. Thập Bát La Hán: Hành lang chạy dọc chính điện nối tiếp vào hậu đường. Người ta thường bày tượng 18 vị La Hán, mỗi bên 9 tượng ở đây, có chùa như chùa Keo ở Thái Bình, các tượng La Hán được bày ngay ở tiền đường. Còn ở chùa Tây Phương, Hà Tây lại là các tượng Tổ (28 vị) người Ấn Độ mà Thiền tông Trung Quốc thừa nhận, kích thước tượng như người thật, mỗi vị có một tư thế riêng, có dáng đang suy tư trầm mặc. Sự đông đảo và đa dạng của các pho tượng này đã ra đời một thành ngữ ở Việt Nam "bày la liệt như La Hán". Thời Hùng Vương, không có bố cục các vị La Hán. Phụng sự bảo sái đồ Đồ họa cổ Việt Nam, Bản in khắc gỗ chùa Bà Đá (Linh Quang tự - Hà Nội) Đây là một tấm tranh trục khắc họa toàn cảnh hệ thống Phật, Bồ tát, La Hán… được thờ trên Phật điện của thế kỷ XIX. Liệt kê từ trên xuống gồm: - Tam thân (Báo thân, ứng thân và hóa thân). - Tam thế (quá khứ, hiện tại, vị lai và những cặp thị giả). - Tây phương Tam Thánh (ở giữa: A Di Đà, Quan Âm, Thế Chí); Quan Âm Chuẩn Đề và Quan Âm tọa sơn. - Thích Ca niêm hoa vi tiếu và A Nan, Ca Diếp. Thập bát La Hán hai bên cùng Thập Điện Diêm Vương. - Thích Ca thành đạo, hai bên là Tuyết Sơn và Di Lạc, Nam Tào và Bắc Đẩu. - Cuối cùng là Hộ pháp Khuyến Thiện và Trừng Ác. Nhà hậu đường: qua nhà chính điện, đi dọc hành lang là đến nhà hậu đường, cũng còn gọi là nhà Tổ để thờ các vị sư tổ của chùa. Trong thực tế, chùa có nhiều biến thể khác nhau, ở một số chùa, phía sau điện thờ Phật còn có điện thờ Thần, đó là loại chùa tiền Phật hậu Thần phổ biến ở miền Bắc Việt Nam. Nhà hậu đường vì nằm sau chính điện, thường thấy được xây tách rời với chính điện, theo cấu trúc nội Công ngoại Quốc thì bố cục tách rời là hợp lý. Ở hậu đường của một số chùa còn bày tượng Quan Âm tống tử và Quan Âm tọa sơn, hai bên tượng Quan Âm tống tử thường có tượng Kim đồng và Ngọc nữ. Chùa Việt Nam còn có một điều đặc biệt đó là có các bàn thờ các vị thánh của Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian, đó là bàn thờ các Mẫu như: Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải... Bên cạnh thờ Thổ địa thần còn có ban thờ Long thần nằm bên trái. Theo truyền thuyết, Long thần vốn lúc đầu định hãm hại Phật Tổ, phá hoại sự nghiệp của Phật, không cho thành chính quả nhưng không phá nổi và hiểu được nên đã quy Phật và hộ trì Phật pháp. Mặt bằng của một ngôi chùa có nhiều kiển, đặc biệt nhất là cấu trúc nội Công ngoại Quốc, trong đó chữ Công đồng âm với “chim Công”, đây là biểu tượng của Quan Âm Bồ tát - Mẫu Âu Cơ, như vậy chữ Công được bảo vệ bởi chữ Quốc (Nước) hay quốc gia, cho nên cấu trúc nội Công ngoại Quốc mang mật ngữ: Phật Quốc hay đất nước Phật. Trong Khổng Tước Minh Vương Kinh, nói đến Khổng Tước Bồ Tát mà chúng ta không biết ngài là ai? Như đã phân tích trong các chương, hình ảnh “chim Công” là biểu tượng của mẫu Âu Cơ - Quan Âm Bồ Tát, và cá chép Lạc Long Quân (Nước, Quốc) được thể hiện qua bộ tranh dân gian nhị bình Hàng Trống Cao Quý đồ quan và Lý ngư vọng Nguyệt. Khổng Tước Minh Vương và kiểu mặt bằng “nội Công ngoại Quốc” Trích Lược Ý Hình Tượng Khổng Tước Minh Vương và Đàn Thành trong Đông Mật Phật Giáo Bắc Truyền, tác giả Thích Tâm Mãn Đấy là lý do lại sao hồ Hoàn Kiếm tại trung tâm thành phố Hà Nội có chùa Ngọc Sơn, thờ vị tiên Lữ Đồng Tân - Lạc Long Quân và chùa Một Cột, thờ Quan Âm Bồ Tát, ngoài ra còn có Tháp Rùa - biểu tượng văn hóa Việt với truyền thuyết Rùa Vàng mà vua Lê Lợi trả gươm sau khi chiến thắng quân Minh, Rùa vàng - một trong Tứ Linh cũng chính là biểu tượng vua Lạc Long Quân. Tháp Rùa - Chùa Một Cột Ảnh tham khảo Internet Nhà thờ Tổ: Nhà thờ Tổ được bố trí sau nhà bái đường để thờ các vị Tổ của chùa, còn nhà tăng đường và các công trình phụ trợ khác như thư viện, nhà bếp, khu vệ sinh… cũng sẽ được bố trí ở những vị trí thích hợp theo bố cục phong thủy. Như vậy, toàn bộ kiến trúc của một ngôi chùa là sự hợp nhất của các tôn giáo: Đạo Mẫu, Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo, chúng ta hãy cùng tham khảo bức tranh Thiên Địa, tam giáo, thập bát chư thần, tranh dân gian Trung Quốc: Thiên Địa, tam giáo, thập bát chư thần (Tranh vẽ hệ thần trong trời đất, Tam giáo) Tranh dân gian Trung Quốc, trích Đồ họa cổ Việt Nam, tác giả Phan Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Cung Khắc Lược Tranh thờ dân gian về các vị thần thuộc Tam giáo, nhưng trên thực tế chỉ có hệ thần trong Phật và Đạo giáo, ngoài ra thêm một số vị thần thuộc tính ngưỡng dân gian. Tranh vẽ theo lối chồng tầng, hệ thần cao thấp theo cấp và nhóm chính phụ, lối vẽ này ảnh hưởng tất lớn đối với tranh thờ Hàng Trống. Hàng đầu tiên thuộc chư Phật, gồm Tam Thế Phật, Văn Thù và Phổ Hiền Bồ Tát, thị giả Tế Giám và Bạch Y. Tầng 2: Tam Thanh ở giữa có bọn Đạo lưu dứng hầu, bên rìa có phối Thánh và Hầu quan. Tầng 3: Ngọc Hoàng và Tử Vi ở giữa, Câu Trần - Hậu Thổ cùng Nam Tào Bắc Đẩu quan hai bên. Tầng 4: Tam Quan Đại Đế, Cửu Cung, Thiên Sư, Thiên Bồng, Trực Thành, Thiên Hựu, Văn Xương. Tầng 5: cụm Thiên tiên có Nữ quan theo hầu. Cụm bên cạnh là Ngũ Nhạc Đại Đế… Văn quan, Võ tướng theo hầu hai bên. Tầng 6: giữ là Địa Tạng Vương, trái có Phục Ma Đại Đế với Chu Xương, Quan Bình theo hầu. Bên phải là Tăng Phúc Tài Thần với hai vị hầu quan. Tầng cuối là bách quan văn võ cùng vua chúa đứng hầu. Bức tranh dân gian Trung Quốc Thiên Địa, Tam giáo, Thập bát chư thần mục đích hợp nhất hệ thần trong trời đất, Tam giáo thành một bức tranh, tuy nhiên do chưa xác định rõ từng vị Phật, Tiên, Thánh, Thần cho nên không thể nào đầy đủ và bố trí hợp lý được. Đặc biệt, bộ tranh Phục Ma Đại Đế (Quan Vân Trường) với Chu Xương, Quan Bình theo hầu chắc chắn được hình thành sau khi cuốn tiểu thuyết Tam Quốc Chí, của tác giả Bồ Tát Nguyễn Minh Không ra đời. Tổng thể chính điện của một ngôi chùa đã được hiệu chỉnh, tuy nhiên chúng ta thấy trong Đại Hùng Bảo Điện không thấy bố trí tượng Tỳ Bà thi Phật, Chuẩn Đề Quan Âm và Địa Tạng Bồ Tát, trong khi đó, dân gian vẫn đang tôn thờ trong các ngôi chùa. Từ Thai tạng giới, chúng ta hiểu rằng xung quanh Trung Đài Bát Diệp Viện sẽ được bố trí bản tôn của 10 viện, việc xác định các vị Phật và Bồ Tát đều tương ứng với số lượng viện như trên. Thực tế, trong một số chùa, bố cục Tây phương Tam Thánh bao gồm ở giữa là Phật A Di Đà, bên trái là Bồ Tát Đại Thế Chí và bên phải là Quan Âm Bồ Tát, và với việc nhận định Bồ Tát Đại Thế Chí là Tỳ Bà thi Phật và Quan Âm Bồ Tát là Chuẩn Đề Quan Âm thì chúng ta sẽ nhận ra được bố cục tương ứng với Thai Tạng giới: Bồ Tát Đại Thế Chí và Chuẩn Đề Quan Âm sẽ bố trí hai bên Tây Phương Tam Thánh, ngay dưới Tam Thế Phật. Mặc dù, Tôn tượng Phật Thích Ca Mâu Ni chưa được tôn trí trong điện thờ thời Hùng Vương trước khi ngài đản sinh, nhưng sau khi ngài được thụ ký bởi Nhiên Đăng Cổ Phật và chuyển luân pháp vương thì đã được bố cục trong Thai tạng giới, như vậy bộ tam tượng Nhiên Đăng Cổ Phật (quá khứ), Phật Thích Ca Mâu Ni (hiện tại), Di Lạc Phật (tương lai) sẽ được an vị phía trước Đông Phương Tam Thánh. Tam Thế Phật Tranh Thang kha trên chất liệu lụa - thế kỷ XVIII - Lưu giữ ở bảo tàng cố cung, Bắc Kinh Bức Thang-kha cổ vẽ Phật Nhiên Đăng của thế giới quá khứ, hai tay thuyết ấn Thuyết pháp, ở giữa là Phật Thích Ca của thế hiện tại, tay phải kiết ấn Kỳ khắc, bên phải là Phật Di Lạc của thế giới tương lai, kết ấn Vô úy. Phía trước, ở hai bên Phật Thích Ca là hai đệ tử là A Nan và Ca Diếp, phía trước là Tứ Đại Thiên Vương. Ngoài ra, chúng ta cũng biết Địa Tạng Bồ Tát cũng là bản tôn của một viện trong Thai Tạng giới, đồng thời là vị tôn chủ có vị trí cao hơn Thập Điện Diêm Vương, có lẽ ngài cũng được tôn trí trong chính điện Đại Hùng? Chúng ta chú ý tới Hộ Phát Khuyến Thiện và Trừng Ác, cùng với cách bài trí trong các ngôi chùa miền Bắc Việt Nam với Nam Tào - coi sổ sinh và Bắc Đẩu - coi sổ tử, và đấy chính là biểu tượng ứng với nhị vị trên, Nam Tào như đã biết chính là Địa Tạng Bồ Tát và Bắc Đẩu là Di Lạc Bồ Tát. Địa Tạng Bồ Tát Hình vẽ ở Goryeo, cuối thế kỷ XIV, Hàn Quốc Vị Bồ Tát chuyên cứu độ sinh linh trong Địa ngục và trẻ con yểu tử, có khi Địa Tạng cũng là người được xem là chuyên cứu giúp lữ hành phương xa. Đó là vị Bồ Tát duy nhất được diễn tả với con mắt thứ ba nằm giữa hai lông mày trên trán. Địa Tạng Bồ Tát với tay trái cầm như ý châu và tay phải cầm tích trượng sáu khoen, biểu hiện của sự cứu độ chúng sinh trong Lục đạo luân hồi. Tại Việt Nam và các nước Đông Á, Địa Tạng được xem là một trong Tứ Đại Bồ Tát (ba vị khác là Quan Âm, Văn Thù và Phổ Hiền), trú xứ của ngài là Cửu Hoa sơn, Trung Quốc. Tương truyền rằng, Địa Tạng đã thật sự hiện thân tại đây vào đời Đường dưới dạng một hoàng tử xứ Triều Tiên. Sau khi chết, nhục thân của vị hoàng tử này không tan rữa và người ta đã xây dựng một ngôi tháp để thờ, bảo tháp đến nay vẫn còn. Sau khi nhận biết được tổng thể bố cục mặt bằng của một ngôi chùa, cũng như lịch sử của các vị cổ Phật, Bồ Tát, Thiên Vương… hoàn toàn dựa trên vũ trụ quan của Đạo Mẫu, Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo với học thuyết Âm Dương Ngũ Hành làm then chốt: Bố cục mặt bằng chùa nguyên thủy: Tương lai Phật Hiện tại Phật Quá khứ Phật Tỳ Bà Thi Phật (bên phải Phồ Hiền Bồ Tát) Bồ Tát Đại Thế Chí (bên trái Văn Thù Bồ Tát) Phổ Hiền Bồ Tát (Chính thất Nguyễn Nghi Nhân) A Di Đà Phật hay còn gọi Dược Vương Phật (Đế Minh) Văn Thù Bồ Tát (chính thất vua Đế Nghi) Bảo Sinh Như Lai (Nguyễn Nghi Nhân) Đại Nhật Phật (Kinh Dương Vương) Bất Không Như Lai (Đế Nghi) Nguyệt Quang Bồ Tát (Quan Âm Bồ Tát) Đông Độ Dược Sư Phật (chính thất vua Đế Minh) Nhật Quang Bồ Tát (Tây Vương Mẫu) Bắc đẩu (Lạc Long Quân) Tòa tượng Cửu Long (Phật Bà Quan Âm sơ sinh) Nam Tào (Hùng Quốc Vương) Đôi Rùa cõng Hạc (Chử Đồng Tử - Tiên Dung) Hương án (bộ thất sự, đèn lồng thiên tỉnh, cặp lục bình…) Bát Bộ Kim Cương (8 em trai Phật Bà Quan Âm) Khuyến Thiện - Trừng Ác (Hữu Sào - Toại Nhân ) Bát Bộ Kim Cương (8 em trai Phật Bà Quan Âm) Thập Điện Diêm Vương (10 vua chi Hùng Hương III - Hùng Quốc Vương) Bát bảo - Lỗ bộ - Cờ súy (đối với một ngôi đình, đền) Thập Điện Diêm Vương (10 vua chi Hùng Hương III - Hùng Quốc Vương) Chính môn Huyền Đàn Trấn Môn (Xung Thiên Đại Vương) Điện Đại Hùng Tử Vi Trấn Trạch (Tản Viên Sơn Thánh) Nghê quỳ (Lữ Gia) Nghê quỳ (Lữ Gia) Vạc đồng (chứa nước thả hoa) Tây Phương Quảng Mục Thiên Vương (anh em với Lạc Long Quân) Vi Đà Hộ Pháp (Triệu Đà) Bắc Phương Đa Văn Thiên Vương (anh em với Lạc Long Quân) Di Lạc Bồ Tát (Lạc Long Quân) Nam Phương Tăng Trưởng Thiên Vương (anh em với Lạc Long Quân) Chính môn Đông Phương Trì Quốc Thiên Vương (anh em với Lạc Long Quân) Voi phục Thiên Vương Điện Ngựa chầu Gác Trống Hồ sen nuôi rùa, cá vàng, có cây cầu vồng bắc qua (hồ phóng sinh) Lầu Chuông Cây sung, cây si Cây đa, cây đề Thiên Ất (Cao Nỗ) Tam Quan Vũ Đinh (Lý Ông Trọng) Có người làm thơ khen rằng: Nền móng nghìn năm kiên cố, Điện các vạn tuế nguy nga. Cửa chùa tả hữu, gió hòa mưa thuận Tứ Thiên Vương, Điện Phật trong ngoài, quá khứ vị lai Tam Đại Sĩ. Lụa thắm cửa son, chạm khắc quỳnh lựu khéo tay, Tường mờ rêu biếc, tranh vẽ núi sông đậm nhạt. Quan Âm cao bệ, ngói đồng cổ lớp lớp sen vàng, La Hán điện tôn, bát bạch ngọc long lanh sắc nước. Vượn núi, thú rừng, nghe Kim Cương Kinh đều được siêu thăng, Hươu nội, hoa ngàn, nghe Pháp Ngữ Lục thảy thoát nghiệp chướng. Ánh sáng muôn luồng xông mây bức, Khí lạnh nghìn đạo ngự tầng không. Lại có người làm thơ ca ngợi: Phật điện trông vàng son lấp lánh, Như Lai ai dám sánh công lao. Tháp ngoài nghìn trượng vươn cao, Điện trong đèn nến như sao sáng ngời. Càn Khôn từ thuở chuyển rời, Công đây quả đấy muôn đời còn ghi. (Trích Tùy Đường diễn nghĩa, tác giả Phật Hoàng Trần Nhân Tông). Chúng tôi muốn quý vị cùng tiếp tục truy nguyên lịch sử với những nét đặc sắc khác nữa về thế giới hiện tượng xung quanh ta. Cội nguồn thế giới và các giới hạn vật lý Vào thế kỷ thứ V tr.CN, Empedocle xem bốn nguyên tố nước, không khí, lửa và đất là những thành phần cấu tạo sơ đẳng của thế giới, và Democrite đề xướng giả thuyết về sự hiện hữu của các nguyên tử. Aristote (384-322 tr.CN) cũng đồng ý về thuyết các nguyên tố và đã phân cấp các đặc tính riêng của các nguyên tố. Những trường phái triết học của Ấn Độ cũng có những thuyết tương tự, phái Thắng Luận chẳng hạn, một hệ thống cổ nhất trong 6 trường phái triết học chính thống Ấn Độ khẳng định là các nguyên tử không nhỏ bé tới cùng cực, bởi vì nếu như thế thì núi Tu Di và một hạt cải đều được cấu tạo bằng một số vô kể những nguyên tử, chúng phải cùng cỡ nhau. Máy gia tốc hạt lớn (Large Hadron Collider - LHC) là chiếc máy gia tốc hạt hiện đại lớn nhất và cung cấp gia tốc mạnh nhất trên thế giới, được thiết kế để tạo va chạm trực diện giữa các tia proton với động năng cực lớn. Mục đích chính của nó là phá vỡ những giới hạn và mặc định của “mô hình chuẩn” - những lý thuyết cơ bản hiện thời của vật lý hạt. Trên lý thuyết, chiếc máy này được cho là sẽ chứng minh được sự tồn tại của hạt Higgs, những kết quả nghiên cứu từ chiếc máy này có thể chứng minh những dự đoán từ trước cũng như những liên kết còn thiếu trong mô hình chuẩn, và giải thích được những hạt sơ cấp khác có được những đặc tính như khối lượng như thế nào. LHC được chế tạo bởi Tổ chức nghiên cứu hạt nhân Châu Âu (The European Organization for Nuclear Research - CERN), nằm bên dưới mặt đất tại biên giới Pháp và Thụy Sĩ giữa núi Jura và dãy Alps gần Genève. Dự án được chế tạo với sự tham gia cộng tác của trên tám nghìn nhà vật lý của 15 quốc gia cũng như hàng trăm trường đại học và phòng thí nghiệm. Máy gia tốc hạt lớn Ảnh tham khảo Internet Một trong những mục tiêu chính của dự án này là chứng minh sự tồn tại Higgs hay còn gọi là “hạt của Chúa”, mà giới khoa học tin rằng nó chính là hạt nhân hình thành nên vũ trụ sau vụ nổ Bigbang cách đây 13.7 tỷ năm. Sự phấn khích ngày càng tăng ở các nhà khoa học làm việc trong dự án bởi đây là mục tiêu cực kỳ quan trọng của vật lý hiện đại. Cùng với việc các nhà khoa học ngày nay đi tìm kiếm “hạt của Chúa”, thì cách đây hàng thiên niên kỷ, Phật giáo cũng đã đề xướng những nguyên tố cực nhỏ trong cấu trúc của thế giới. Quan niệm này được dẫn trong Câu Xá luận, phẩm Phân Tích cảnh giới và trong A-tỳ-bà-sa và Đại-tỳ-bà-sa luận (thế kỷ thứ II), định nghĩa phần tử vô cùng nhỏ gọi là “cực vi” hay “lân hư trần”, là không thể phân tách được, không thể hủy hoại, không thể nắm bắt được, không thể phân tích nó được, không thể nhìn thấy, không thể nghe thấy hay sờ mó (vô hình, quang minh vi tế). Các cực vi không ở trạng thái đơn vị mà tụ họp lại, lúc đó nó có hình tướng và chuyển biến. Theo Câu Xá Luận, 7 cực vi hợp thành một vi trần, trong đó có một cực vi ở giữa (hạt nhân) và 6 cực vi kia quy tụ xung quanh theo cấu trúc không gian ba chiều. Cõi ta bà - Thế giới quan Phật giáo - Nguồn gốc và triết lý, Phạm Hữu Dụng, soạn dịch và chú giải, Nxb Văn Hóa Thông tin, 2011. Hình ảnh Cực vi Trích Cõi Ta Bà - Thế giới quan Phật giáo, Phạm Hữu Dung, Nxb Văn hóa Thông tin, 2011 Sự tích tụ 7 lân hư trần thành thành một vi trần, 7 vi trần thành một kim trần (nó có thể lọt qua vàng khối hay sắt hoặc kính dầy), 7 kim trần thành một thuỷ trần, 7 thuỷ trần thành một thố mao đầu trần, 7 thố mao đầu trần thành một dương mao đầu trần, 7 dương mao đầu trần thành một ngưu mao đầu trần, 7 ngưu mao đầu trần thành một khích du trần… cứ tích tụ mãi như vậy hình thành nên những dạng vật chất từ nhỏ tới lớn, cho đến cả thế giới. Núi Tu di - Hoa tạng thế giới đồ - Tứ châu cửu sơn bát hải đồ Đồ họa cổ Việt Nam, tr107 Tu di sơn (sumeru) là trái núi lớn nhất ở trung tâm địa cầu, nơi các vị tiên, thánh cư ngụ, và nơi các vì tinh tú xoay quanh, bốn châu về ở bốn phía của núi, tính từ dưới lên trên bức tranh có đề các dòng chữ (chỉ các tầng vật chất và núi): Không luân, phong luân, thủy luân, kim luân, biển Đại Hàm thủy (nước mặn), và núi Tiểu Thiết Vi. Phía trên có các núi Trì Địa, Chướng Ngại, Mã Nhĩ, Thiện Kiến, Đam Mộc, Trì Trục, Trì Song, trên nữa là Hương Hải thủy. Các tầng trời gồm: Kiên Thủ Thiên, Trì Man Thiên, Phóng Dật Thiên, Tứ Thiên vương, Đế Thích Thiên cung nằm giữa Đông, Tây, Nam, Bắc bát thiên. Như vậy, theo đồ hình này, thế giới được hình thành bởi bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa tạo thành bốn châu, chín núi, tám bể, và nằm trên là các tầng trời. Núi Tu Di Trước tác của phái Môn Đường, 1922-1924, trích Pháp khí Mật Tông, tác giả Thích Minh Thông, Nxb Thời Đại, 2011 Phạm vi của tiểu thế giới được mô tả chính là hệ mặt trời. Một ngàn tiểu thế giới gộp lại gọi là tiểu thiên thế giới, phạm vi của một tiểu thế giới trong tiểu thiên thế giới là từ núi Tu Di cho tới cõi trời Phạm thiên của sắc giới. Một ngàn tiểu thiên thế giới gọi là một trung thiên thế giới, phạm vi của một trung thế giới trong trung thiên thế giới kéo dài tới Vô lượng tịnh thiên của sắc giới. Một ngàn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới, phạm vi của mỗi đại thế giới trong đại thiên thế giới kéo dài tới Quang âm thiên của sắc giới. Như vậy là đại thiên thế giới là một ngàn tiểu thế giới, nhân lên một ngàn lần, thành một trung thiên thế giới, rồi lại từ một trung thiên thế giới nhân lên một ngàn lần nữa mà thành… như vậy qua ba lần lũy tiến con số ngàn, vì vậy mà có tên gọi tam thiên đại thiên thế giới. Nội dung mô tả tam thiên đại thiên thế giới trên đây nói về một vũ trụ vô cùng. Với thế giới cực lớn, Phật giáo mô phỏng qua hình ảnh của ngọn núi Tu Di, trong một tiểu thế giới thì núi Tu Di chính là dãy Himalaya, mái nhà chung của nhân loại, là nơi ngự trị của các thần thánh tối cao đối với các tôn giáo cổ đại. Tiểu thế giới có loài người và sinh vật đang sinh sống, được gọi tên Sa bà thế giới. Quả cầu Càn Khôn Tòa Thánh Cao Đài, Tây Ninh, Việt Nam Tam thiên Thế giới được vẽ tượng trưng bằng 3000 ngôi sao trên Quả Càn Khôn. Thất thập nhị Địa, tức là 72 quả Địa cầu, cũng được nhìn thấy như những vì sao trên bầu Trời, tượng trưng bằng 72 ngôi sao. Tổng cộng tất cả là 3072 ngôi sao trên Quả Càn Khôn, trong đó có chòm sao Bắc Đẩu (Đại Hùng Tinh) và Tiểu Hùng Tinh, mỗi chòm có 7 ngôi sao. Hình vẽ Con Mắt Thượng Đế ngay trên ngôi sao Bắc Đẩu, chính là Trung tâm của Càn khôn Vũ trụ. Các vì sao khác đều chuyển động quanh ngôi sao Bắc Đẩu, giống như Địa cầu của chúng ta, tuy chuyển động quanh Mặt Trời, nhưng trục tự quay luôn luôn hướng về ngôi sao Bắc Đẩu. Người ta cho là tất cả các chất được cấu tạo bởi bốn phần tử thường gọi là tứ đại: đất, nước, gió, lửa. Cực vi được xem là chất lượng và bốn đại là năng lượng. Đất, nước, gió, lửa này không phải theo nghĩa của vật lý thông thường mà chúng ta có thể trông thấy, sờ mó được, chúng là vô hình và có trong không trung. Là năng lượng, chúng tụ tập các cực vi tạo ra đất, nước, gió, lửa và các chất khác. Mỗi thành phần có đặc tính và chức năng riêng: đất thì cứng rắn và chịu đựng được các vật, nước thì lỏng và làm tan các vật, lửa thì nóng và đun sôi các vật, gió thì linh động và đẩy được các vật (gió còn là không khí, hơi thở nên được coi có chức năng duy trì sinh tồn). (Tham khảo Cõi ta bà - Thế giới quan Phật giáo - Nguồn gốc và triết lý, Phạm Hữu Dụng, soạn dịch và chú giải, Nxb Văn Hóa Thông tin, 2011). Hoa Tạng thế giới đồ là tên cõi tịnh độ của Đức Phật Tì Lư Giá Na, là chân thân của Đức thích Ca Như Lai, tầng dưới cùng là Phong Luân, trên có biển Hương thủy, trong biển này mọc ra đóa đại Liên hoa, trong hoa sen này bao gồm các thế giới nhỏ như hạt bụi, cho nên gọi là Liên hoa Tạng thế giới, gọi tắt là Hoa Tạng thế giới, tên gọi chung của Báo độ của chư Phật, cõi Tịnh độ của Báo thân Phật đều đầy đủ 18 viên mãn, y trì vào số viên mãn đó tức là Hoa Tạng thế giới. Thời biểu vũ trụ giãn nở kể từ vụ nổ lớn và kính Hubble Tham khảo Internet Theo thuyết Bigbang thì tất cả các thiên hà, mặt trời, mặt trăng, những ngọn núi, các dòng sông, mọi loài động vật và con người đang tồn tại đều hợp nhất trong một điểm, có mật độ dày đặc vô hạn đến nỗi sự tưởng tượng của người trần mắt thịt chúng ta có lẽ cũng sẽ không bao giờ có thể hiểu được. Hàng triệu tỷ tấn vật chất đã kết hợp với tất cả năng lượng của vũ trụ, bắt đầu vỡ tung ra trong một vụ nổ khổng lồ khoảng 14.7 tỷ năm trước. Và trước đó, vẫn còn có một khả năng rất lớn rằng con người sẽ không bao giờ biết về sự thật tối hậu, mặc dù nhiều nhà khoa học tin rằng vũ trụ mà chúng ta đang sống trong đó không thể chứa đựng bất cứ thứ gì vượt ra ngoài nhận thức của một giải thích khoa học, thì con người lúc này hay lúc khác cũng sẽ tự hỏi là điều gì đã tạo ra “tất cả những gì tồn tại”. Cùng với việc tìm hiểu khởi thủy của vũ trụ thì một câu hỏi nảy sinh của quá trình nhận thức về vũ trụ, đó là cái gì là nhận biết sự vận động của chính vật chất trong vũ trụ này? Sự bùng vỡ của vũ trụ sau “giây 0” của thuyết Bigbang xác định rằng: Vũ trụ từ khời nguyên là một hiện tượng vật chất, nhưng thuyết Bigbang sẽ không thể lý giải vì sao con người nhận thức được sự vận động của vật chất ngay trong não bộ của chính con người? Bởi vậy, nó phải viện dẫn đến Thượng Đế, điều này thể hiện qua tiểu luận Thượng Đế và khoa học do các giáo sư, viện sĩ viện hàn lâm khoa học Pháp thực hiện. Và khi sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật tạo ra được cả những khoa học gia máy, thì vấn đề ý thức và khả năng tư duy của con người sẽ phải đặt lại vấn đề cho nó: Sự phân biệt giữa một bộ não máy siêu việt và những con người bình thường. Con người là gì? Từ đâu tới? là một câu hỏi cũng đã được đặt ra từ thời cổ sử của nhân loại. Bởi vậy, việc giải quyết được vấn đề này sẽ xác minh một cách chắc chắn rằng: Thuyết Bigbang là một sai lầm khi nó không thể giải thích được tính nhận thức của con người từ đâu khi vũ trụ này khởi nguồn từ vật chất? Hay nói một cách khác: nó sẽ giải quyết một cách rốt ráo nhất vấn đề: Con người là gì? Từ đâu tới? mà con người chính là một hiện tượng trong vũ trụ cần được lý giải. Chúng ta hãy tham khảo những đoạn trích dẫn trong Tạng kinh Thần chú Phật đỉnh thủ lăng nghiêm để liên hệ với vấn đề được đặt ra. Đoạn III - Chỉ hai món căn bản chia riêng mê ngộ: Đức Phật bảo Anan: ”Tất cả chúng sinh từ vô thuỷ đến nay, các thứ điên đảo giống nghiệp tự nhiên nhóm lại như chùm ác xoa. Các người tu hành không thành được đạo Vô Thượng Bồ Đề, mà chỉ thành Thanh văn, Duyên giác, ngoại đạo, chư thiên, ma vương và quyến thuộc của ma, đều chẳng biết hai món căn bản, tu tập sai lầm. Cũng như nấu cát mà muốn thành cơm thì dù trải qua nhiều kiếp trọn không thể được. Thế nào là hai thứ căn bản? Anan! Một là căn bản sinh tử từ vô thuỷ. Chính hiện nay ông và chúng sinh đang dùng tâm phan duyên làm tự tính. Hai là Bồ Đề Niết Bàn nguyên thể thanh tịnh từ vô thuỷ tức là cái thức tinh nguyên minh của ông hay sinh các duyên mà bị duyên bỏ rơi. Do chúng sinh bỏ rơi tính bản minh này nên trọn ngày trong động dụng mà chẳng tự biết, uổng trôi vào trong các cõi. Qua đoạn trích dẫn trên, chúng ta thấy Đức Phật đã nói tới khái niệm “Căn bản sinh tử từ vô thuỷ”, chính là nói tới trạng thái ban đầu của vũ trụ mà khoa học hiện đại diễn đạt dưới khái niệm "giây 0" là thời gian ban đầu của vũ trụ, thời điểm trạng thái vật chất cô đặc chưa bùng vỡ. Khái niệm “sinh tử” mà Đức Phật nói tới chính là tương đồng với khái niệm Âm Dương trong Lý học Đông phương. Khái niệm mà Đức Phật khai ngộ: “Bồ Đề Niết Bàn nguyên thể thanh tịnh từ vô thuỷ” thì đây chính là sự xác định rằng: Thể bản nguyên vũ trụ - Bồ đề niết bàn nguyên thể thanh tịnh tức Thái Cực - vẫn tiếp tục hiện hữu trong vũ trụ, trong mọi sinh linh, cũng như trong mọi trạng thái tồn tại của vật chất và tiếp tục tương tác, chi phối với vật chất từ vi mô tới vĩ mô, trong đó có sự nhận thức của con người. Đó chính là "Tính thấy" trong mỗi sinh vật, trong đó có con người. Như vậy, qua những lời khai ngộ của Đức Phật từ những đoạn kinh văn trong Thần Chú Phật đỉnh thủ Lăng nghiêm thì Tính thấy trong mỗi còn người chính là cái "Tâm" đích thực mà chính con người đang tìm cách hướng đến. Tính thấy - Thức tinh nguyên minh thanh tịnh từ vô thủy - Theo cách nói của Đức Phật - có trong muôn vật từ hạt vật chất nhỏ nhất cho đến Thiên hà khổng lồ, trong muôn sinh vật trên thế gian. Khi tính thấy chính là bản thể của sự nhận biết và mọi cấu trúc vật chất chỉ là phương tiện nhận biết, thì với những cấu trúc vật chất có sự biến đổi ở mức tế vi thì sẽ tạo ra những khả năng nhận biết vượt trội so với cấu trúc vật chất phổ biến cùng loài, đây cũng là một trong những nguyên nhân của sự tiến hóa (Tham khảo cuốn Đức Phật khai ngộ Tính Thấy, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh). Với việc nhận định về một dạng hạt nhỏ nhất Lân vi trần là không thể phân chia và chúng liên kết tạo thành các cấu trúc tổ hợp lớn hơn khi tương tác, cùng với việc xác định Tính thấy tồn tại trong vạn vật, chúng ta có thể hình dung được rằng: hạt Lân vi trần (hạt nhân) chính là một dạng “vật chất đặc biệt” mang tính tuyệt đối, vô hình tướng, xung quanh nó là 6 hạt Lân vi trần khác tạo nên một cấu trúc cơ bản ban đầu của vũ trụ, các cấu trúc này liên kết với nhau lan tràn khắp vũ trụ. Hình ảnh ban đầu này còn được lưu giữ trong các câu truyện cổ tích thời thượng cổ của các dân tộc khắp nơi trên thế giới, họ mô tả vũ trụ ban đầu giống như “vùng nước”, hoàn toàn trong trạng thái chí tịnh, tịch mịch, chưa vận động. Bằng cách nào đấy, một trạng thái “động” cực kỳ bé nhỏ đã tạo ra sự mất cân bằng, và ảnh hưởng dây chuyền, tính tuyệt đối tạo nên sự thông tin đến toàn bộ vũ trụ ngay tức khắc nhằm đảm bảo cả vũ trụ là một chỉnh thể thống nhất. Vũ trụ vận động tới một thời điểm nào đấy sẽ tạo thành hai cực đối lập Âm Dương, ngay khi hình thành hai cực thì sự tương tác phát sinh, hệ quả là xảy ra một tiếng nổ kinh thiên động địa, có thể gọi đó là “Tiếng nổ khai thiên lập địa”, hoàn toàn tương tự tiếng nổ Bigbang, ngay sau đấy là sự tái cấu trúc của vũ trụ và theo thời gian, nó vận động cho tới ngày nay. Hình tượng “Tiếng nổ khai thiên lập địa”, đã được cô đọng trong tiếng “Pháo” vang trời vào ngày đầu năm mới, trong nền văn hóa cổ truyền Việt Nam. Quả pháo thờ Đình Đồng Kỵ, Việt Nam Không những Thuyết Âm Dương Ngũ hành lý giải những bế tắc của khoa học hiện đại - “giây 0” trước Bigbang, mà còn chứng tỏ được sự nhất quán với giáo lý Phật giáo về thể tính của Thái Cực và Tính thấy. Những vùng cư trú của con người sơ khai Nguồn gốc loài người, G. N. Machusin, Nxb khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, 1986 Qua vũ trụ quan Phật giáo, chúng ta nhận thấy quan niệm về một vũ trụ vô cùng, vô tận và bởi lẽ, nếu một trạng thái vật chất ban đầu khởi nguyên vũ trụ như thuyết Bigbang thì nó tồn tại ở đâu trong vũ trụ này? Và được liên kết thế nào để không ”trôi nổi” trong một gian bao la như thế? Lịch sử tiến hóa của vũ trụ đã sinh ra loài người, một sinh vật thông minh nhất trên trái đất, được tiến hóa trực tiếp từ loài “vượn người” theo thuyết tiến hóa Đacuyn (1809-1882), cũng đã được nhận biết trước đấy trên 4.000 năm. Dấu tích còn sót lại trong các nền văn hóa như Ai Cập là con khỉ biểu tượng cho thần mặt trăng, trong Bà La Môn giáo Ấn Độ có thần khỉ Hanuman… đặc biệt, theo truyền thuyết, khỉ được coi là thủy tổ của dân tộc Tây Tạng, hóa thân của Quan Âm Bồ Tát. Bàn Cổ - Nữ Oa Tranh tường cổ Trung Quốc Chúng ta cũng đã biết rằng, biểu tượng con khỉ là mặt trăng tức thần chết Osiris của tôn giáo Ai Cập cổ đại, là Lạc Long Quân hay Phong Đô Đại Đế của Văn Lang, mà Quan Âm Bồ Tát chính là mẫu Âu Cơ, chính thất Lạc Long Quân, như vậy Quan Âm Bồ Tát cũng chính là nữ thần Isis của tôn giáo Ai Cập cổ đại. Do vậy, vùng đất Tây Tạng cũng có thể trước đây đã từng được xem là một phần quốc thổ của vua Lạc Long Quân và Âu Cơ, hay nước Văn Lang. Lịch sử của trái đất (tính bằng triệu năm) Tìm hiểu trái đất thời tiền sử, tác giả Nguyễn Hữu Danh, Nxb Giáo dục, 2001 Ngày nay, với sự phát triển khoa học, việc nghiên cứu và đi tìm một nền văn minh ngoài trái đất đã được các nhà khoa học trên thế giới thực hiện hơn 50 năm qua, bằng cách gửi các thông điệp và mật mã, cũng như dõi theo vào không gian bằng những thiệt bị khoa học tinh vi nhưng kết quả hoàn toàn vô vọng. Năm 1976, nhà thiên văn học người Mỹ nổi tiếng là Carl Sagan cùng một nhóm gồm 13 nhà khoa học, dưới sự kiểm soát của Cơ quan không gian và vũ trụ Mỹ (NASA) đã tạo ra một bức thông điệp đặc biệt, được đặt vào các tàu Voyager 1 và Voyager 2 để gửi đến những người ngoài trái đất. Hai con tàu này được Mỹ phóng đi năm 1977 và nay đang ở cách trái đất trên 12 tỷ km. Bức thông điệp được thể hiện bằng 55 thứ ngôn ngữ, từ tiếng Sumer cho đến tiếng của người Zoulou, đấy là những câu ngắn ngọn, có tính chất hòa bình và hữu nghị. Sự sống có lẽ ngoại trừ trái đất thì trong dải Ngân Hà không tồn tại một nơi nào như vậy, điều này chỉ ra rằng: tổng các điều kiện tự nhiên của dải Ngân Hà để xuất hiện trái đất là vô cùng - cũng có nghĩa kết quả bài toán xác xuất hình thành nên sự sống nếu so sánh với vũ trụ vô tận này là bằng “0” nếu tính tới thời điểm này. Con người, một sinh vật đã nhận thức được tính tuyệt đối trong vạn vật và đưa ra được học thuyết và phương pháp tiếp cận nó, điều này chỉ ra con người là sản phẩm siêu việt nhất của vũ trụ trong chu kỳ vận động của nó và vũ trụ không thể tạo ra một chủng loại nào thông minh hơn được - ý nghĩa này thể hiện qua khả năng sáng tạo - nếu chúng ta cô lập con người với vũ trụ thì các sản phẩm do con người làm ra là hoàn toàn khác biệt so với các sản phẩm của vũ trụ. Và một cách rõ ràng, cuối cùng thì con người hoàn toàn bị cô độc trong vũ trụ, chỉ có động thực vật là bạn bè thân thích mà thôi. Tàu thăm dò đáp thành công xuống sao Hỏa Ảnh tham khảo Internet Cũng hơn 1.500 năm tr.CN, kinh Upanishad cũng đã viết về tính Tuyệt đối: Nơi nào mà mọi thần kinh, Như đũa gặp trục trong vành bánh xe. Nơi thần kinh hội tụ về, Là nơi Tuyệt đối chưa hề hóa thân. Cố tìm Tuyệt đối trong thân, Rồi ra sẽ thoát biển trần hôn mê. Ngài là toàn giác, toàn tri, Trần hoàn vinh hiển ai bì, ai đương. Ngài đang ngự giữa thiên đường (xác thân con người), Trời cao (lòng con người) là chính đế hương của Ngài. Chỉ huy thần trí trong ngoài, Chính Ngài chi phối con người thường xuyên. Biết Ngài, những bậc Thánh Hiền, Biết Ngài, nhờ ánh tâm huyền phát huy. (Mundaka Upanishad. 2.2. 6.7) Đạo Giáo gọi trung tâm não bộ là Huỳnh Đình, Côn Lôn đỉnh, vì thế, Huỳnh Nguyên Kiết mới nói: “Đầu người có 9 cung, trong có một nơi gọi là Thiên Cốc, thanh tĩnh không bụi bặm. Nếu có thể an thần ở trong, không cho rong ruổi ra ngoài, sẽ thành Chân, chứng Thánh...”. Huỳnh Đình Kinh viết: “Tử dục bất tử tu Côn Lôn”, đủ biết rằng trì thủ được Thiên Cốc ấy là điều huyền diệu vô cùng. Phật giáo cũng xác định rằng Tuyệt đối đã ở sẵn giữa đầu não con người. Trong quyển: Nền Tảng Huyền học Tây Tạng, của Anagarika Govinda, một quyển sách viết ra để giải thích câu thần chú Um mani padme hum (Ôi! Ngọc châu viên giác nằm tại Liên hoa Tâm), có một hình vẽ các luân xa trong con người, trên cùng có một bông hoa sen ngàn cánh, giữa bông sen có chữ Aum. Sách chú rằng: bông sen ngàn cánh là óc não con người, mà Aum là Tuyệt đối. Như vậy Tuyệt đối, hay Ngọc châu viên giác đã nằm sẵn trong trung tâm đầu não con người. Ở Trung Quốc, Cưu Ma La Thập đã dùng chữ Nê hoàn của đạo Giáo để phiên dịch chữ Nirvana, và Từ điển Phật giáo hiện nay dùng cả hai chữ Niết bàn, và Nê hoàn để phiên âm chữ Nirvana. Phải chăng người xưa muốn nói: Muốn tìm Niết Bàn phải tìm trong Nê hoàn. Trong Phật giáo có Tam Bảo, đó là nhìn nhận ra được bản thể của vũ trụ là Phật bảo, nhận định ra được hiện tướng của vũ trụ là Pháp bảo và biết khai thác cái diệu dụng của vũ trụ là Tăng bảo. Như vậy qui y Tam Bảo là sống thuận theo các định luật của vũ trụ, của thiên nhiên. Cao Đài giáo lý cũng cho thấy thực sự Trời ở nơi đầu trong con người, Thánh giáo Sưu Tập 1968-1969, trang 5 đã cho biết chỗ cất giấu chìa khóa thiêng để mở mọi cửa nhiệm huyền: “Bao nhiêu huyền bí thiêng liêng, nhiệm màu, siêu việt, nhưng chìa khóa mở, Đức Chí Tôn đã đặt trong chỗ cao nhất của mỗi người, hãy tìm và mở lấy, hỡi chư hiền”. Chỗ cao nhất trong con người dĩ nhiên phải là Nê hoàn cung, nơi tâm điểm đầu não con người. Đại Thừa Chân Giáo trang 61 viết: “Huyền quan nhất khiếu là chi? Là Thiên nhãn vậy. Nó ở ngay Nê hoàn cung, gồm trọn Chân Dương, Chính Đạo...”, cũng trang 56 viết: “Chữ Cao Đài là gì? Là Côn Lôn đỉnh hay là Nê hoàn, thuộc về Thượng giới... Thiên môn là cái gì? Là cái khiếu Nê hoàn cung đó. Chừng nào linh hồn phá Thiên môn đặng là nhập vào Thượng Thanh cung...”. Trong Phật giáo, đối với Duy Thức tông thì mọi sự đều trống rỗng vì chúng chỉ xuất phát từ Tâm (A-lại-da thức hay Tàng thức), trong trường phái này thì Tâm và Tính Không là một, đặc biệt trong các phép tu tập của Mật giáo Tây Tạng không chỉ tự giới hạn nơi những quan điểm triết học mà còn đi sâu vào các phép Thiền quán để tiếp cận Tính Không, trong đó phép tu luyện Đại thủ ấn và Đại cứu cánh chỉ rõ cho hành giả cách thể nhập kinh nghiệm về Tính Không và từng bước điều chỉnh Bản ngã của mình. Con người chỉ thực sự được tự do khi giác ngộ nghĩa là thấy Tâm mình, nhưng với điều kiện phải có giao lưu trong cộng đồng và xã hội loài người, muốn thấy phải nhìn tức tiếp nhận, nhìn thấy gọi là Kiến. Phật pháp chỉ con người trở về với bản tính “chân như diệu minh” thoát khỏi luân hồi, chính là trở về với trạng thái tuyệt đối của vũ trụ, đây chính là cơ sở lý thuyết của Phật pháp, của phương pháp luyện tập cổ đại Yoga và thiền định. Đạt được điều này chính là giải thoát, là tự do cuối cùng của con người, đó là khi nhận thức trở về với cội nguồn nguyên thủy của vũ trụ - Thái cực trong thuyết Âm dương Ngũ hành, được hình tượng hóa qua vòng tròn treo trên cây Nêu trong những ngày lễ Tết của Việt tộc. Nếu đạt được Tính Không khi thiền định ở tầm mức rất vi tế, thì sự giao tiếp giữa những bậc chân sư với người ngoài hành tinh đã có thể diễn ra thông qua Tính Thấy, tuy nhiên, sự giao tiếp với “Cõi linh hồn” đã được thực hiện rất nhiều, một số xưng tên các chòm sao trên bầu trời - với các chòm sao này, các ngành khoa học cùng với ngành thiên văn ngày nay đủ khả năng xác định không có sự sống ở những nơi ấy. Bằng phương pháp quy nạp cùng với thời gian hình thành hệ mặt trời, trái đất và xuất hiện sự sống đặc biệt là con người, thì bài toán giới hạn đi tìm sự sống trong vũ trụ sẽ có kết quả tiệm cận “0”. Tuy nhiên, sau khi hình thành sự sống trên trái đất, chúng ta chưa thể khẳng định trong một khoảng thời gian trong tương lai bao xa, sẽ xuất hiện một hành tinh khác có điều kiện tương tự. Cho nên, nếu tính tới thời điểm này, sẽ không tồn tại bất kỳ một hành tinh nào khác đã hình thành nên sự sống trong vũ trụ vô cùng. Đức Phật đã nói: "Tất cả chúng sinh đều có Phật tính", tức khả năng nhận thức. Muôn loài sinh vật đều có cảm giác đau đớn, hạnh phúc và có linh hồn, bởi vậy Phật giáo kiêng sát sinh đến tận con sâu bọ, đã thể hiện tấm lòng từ bi hết sức cao cả. Mùa “An cư kiết hạ”, các tăng ni, sư sãi ở trong chùa, kiêng đi ra ngoài sợ dẫm phải côn trùng sinh sôi, nảy nở trong mùa này. Quay trở lại bức tranh dân gian Đông Hồ Chọi Trâu, bốn vòng xoáy tương ứng độ số của quái Tốn và năm vòng xoáy tương ứng hành Thổ với biểu tượng con trâu với ẩn ý quái Khôn. Sự đối chọi giữa chúng qua hình ảnh hai con trâu đang cài sừng vào nhau nhưng chỉ thấy ba cái sừng tương ứng quái Chấn, biểu tượng của sự hợp nhất Thiên - Địa - Nhân hay tiếng sấm nổ vang báo hiệu “vua ra cửa Chấn” tức Kinh Dương Vương - Đại Nhật Phật. Chọi Trâu Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam <br style="mso-special-character: line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Bức tranh mô tả hai con trâu của “xã Đông” và “xã Tống” chọi nhau, với lá cờ có dòng chữ “Hội chí lầu”, giá trị của hình ảnh hai tấm bảng và lá cờ và hình ảnh 3 cái sừng ngoặc vào nhau chính là tính hướng dẫn để tìm hiểu nội dung đích thực của bức tranh. Chữ “xã” trên bức tranh có bộ “thổ” nghĩa là “đất”; chữ “lầu” là nhà cửa; chữ “chí” trên lá cờ có nghĩa là sự cản trở, sự khó khăn phải vượt qua và chữ “hội” nghĩa là sự tập trung cho một vấn đề, mục đích. Vì vậy, có thể hiểu rằng: hai tấm bảng và lá cờ trên muốn nói tới tính chất đối nghịch của phương Đông và phương Tây qua hình tượng hai con trâu chọi nhau hay chính là sự đối nghịch giữa sinh tử của cuộc đời mỗi con người “sinh tử nhất đại sự” là vấn đề mênh mông ẩn ý, cần phải được suy nghĩ cho tới tột cùng hay có thể hiểu rằng: tư duy cho tới tận khởi nguyên của vũ trụ và giải thích được ngay chính sự vận động của nó một cách hợp lý. Trong Phật giáo, “con trâu” chính là biểu tượng cho “bản ngã” của mỗi cá nhân, sự vận động biến hóa của của cuộc sống hay khi cận kề cái chết chính là cuộc chiến của nội tâm, vì vậy cần phải chế ngự được bản ngã. Số 5 vòng xoáy thể hiện độ số trung tâm Hà Đồ, hành Thổ và số 4 vòng xoáy thể hiện cung Tốn, hành kim trong Hà Đồ thể hiện ý nghĩa “Tâm” là nguồn gốc tạo tác ra mọi thứ và cuộc đối đầu giữa nguồn gốc và cái được sinh ra từ nó cần phải được hóa giải. Thông qua hình ảnh 3 chiếc sừng giao nhau thể độ số phương Đông, hướng của ánh sáng mặt trời, mang mật ngữ phải để cái Tâm được tỏa sáng như ánh mặt trời, không phải là sự đối đầu mà thực sự là sự hợp nhất Thân và Tâm trở về Tính Không, hòa điệu cùng vũ trụ, đấy cũng chính là hình ảnh một con trâu với ngấu đuôi cong lên, dương và con kia với ngấu đuôi xuôi xuống, âm thay vì cũng cong lên như đối thủ trong cuộc chiến đấu. Điều này chỉ thấy được bằng chứng nghiệm của mỗi cá nhân, qua các phương pháp tu tập thiền định cụ thể, bài tứ tuyệt sau đây của Phật Quang (1226-1286) đã làm trong giây phút chứng ngộ: Một chùy đập nát động tinh linh, Mặt sắt Na Tra chợt lộ hình. Miệng khớp như câm, tai như điếc, Dửng dưng chạm đến, xẹt sao băng. (Trích Tưởng niệm Daisetz Teitaro Suzuki, một nhân cách - một sự nghiệp, nhiều tác giả, người dịch Hạnh Viên, Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2008). Tu tập thiền sẽ dẫn hành giả đến một tâm trạng bất nhị, nơi mà những ý nghĩa phân chia sự vật ra làm hai phần biệt lập như tốt xấu, phải trái, lành dữ... được chuyển hóa, hành giả đạt sự thống nhất với cái Một, cái Tuyệt đối, những khái niệm về không gian và thời gian đều được chuyển biến thành cái Hiện tại thường hằng, thiền giả chứng ngộ được sự đồng nhất của thế giới hiện hữu và bản tính. Nếu kinh nghiệm này được trau dồi thâm sâu và áp dụng vào cuộc sống hằng ngày thì đó chính là trạng thái mà tất cả những tông phái đều gọi chung là Giải thoát. Trích từ Nguyên lý cơ bản của thiền định Phật giáo ứng dụng vào đời sống hằng ngày, giáo Sư Minh Chi. Trong cuốn sách đã xuất bản bởi Nxb Tôn giáo - 2006 có tựa là Đức Phật khai ngộ về tính thấy, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh viết: “Chính tính minh triết Phật giáo trong bộ kinh nổi tiếng Thần chú Phật đỉnh thủ lăng nghiêm lại là nội dung rất quan trọng trong việc xác định bản chất của Thái Cực trong minh triết Đông phương và từ đó đã đi đến việc minh chứng: Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ mà nhân loại hiện nay đang tìm kiếm. Và cũng có thể nói rằng: Tổ tiên người Lạc Việt - tức Bách Việt đã di ấn lại cho đời sau hình ảnh của cây nêu phủ bóng áo cà sa của Đức Phật đã chỉ ra rằng: Những giá trị huyền vĩ của minh triết Đông phương mà người Lạc Việt chính là chủ nhân của nó, sẽ chỉ được phục hồi hoàn chỉnh và được bảo vệ dưới sự minh triết của Phật giáo”. Cây Nêu Tham khảo mạng Internet CÂY NẾU VÀ MINH TRIẾT LẠC VIỆT Trải bao năm tháng, từ đời này truyền qua đời khác, cứ mỗi khi đông tàn xuân đến thì toàn thể dân tộc Việt và cả một số dân tộc khác ở phương Đông Châu Á lại rộn rịp chuẩn bị Tết. Một trong những phong tục cổ xưa nhất của người Việt làm trong những ngày Lễ Tết nguyên đán chính là trồng cây Nêu. Có thể khẳng định rằng: Một đặc trưng rất độc đáo của văn hoá Việt trong ngày Tết chính là cây Nêu. Là người Việt, chắc chẳng ai quên câu ca dao: Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ, Nêu cao, tràng pháo, bánh chưng xanh. Trong ca dao tục ngữ truyền khẩu phổ biến của người dân Nam Bộ đến ngày nay vẫn còn nhắc nhở hình ảnh độc đáo của cây Nêu: Cu kêu ba tiếng cu kêu, Cho mau đến tết dựng Nêu ăn chè. Ăn chè rồi lại ăn xôi, Còn ba đòn bánh Tét để dành hạ Nêu. Cây Nêu đã cùng với tổ tiên người Việt theo cha ông trong lịch sử dựng nước, giữ nước và mở nước đầy bi tráng. Tục truyền rằng: Ngày ấy, không biết từ bao giờ và cũng không biết bằng cách gì, Quỷ chiếm đoạt tất cả đất nước. Người chỉ ăn nhờ ở đậu và làm rẽ ruộng đất của Quỷ. Quỷ đối với Người ngày càng quá tay. Chúng nó dần dần tăng số phải nộp lên gấp đôi và mỗi năm mỗi nhích lên một ít. Cuối cùng, chúng nó bắt Người phải nộp theo một thể lệ đặc biệt do chúng nó nghĩ ra là ''ăn ngọn cho gốc". Người không chịu. Chúng nó lấy áp lực, bắt Người phải theo. Vì thế, năm ấy sau vụ gặt, Người chỉ còn trơ ra những rạ là rạ. Cảnh tượng xương bọc da thê thảm diễn ra khắp mọi nơi. Bên cạnh bọn Quỷ reo cười đắc ý, Người cơ hồ muốn chết rũ. Phật từ phương Tây lại, có ý định giúp Người chống lại sự bóc lột tàn nhẫn của Quỷ. Sau mùa đó, Phật bảo Người đừng trồng lúa mà cào đất thành luống trồng khoai lang. Người cứ y lời làm đúng như Phật dặn. Quỷ không ngờ Người đã bắt đầu có mưu kế mới chống lại mình nên cứ nêu đúng thể lệ như mùa trước: ''Ăn ngọn cho gốc". Mùa thu hoạch ấy, Quỷ rất hậm hực nhìn thấy những gánh khoai lúc lỉu chạy về nhà Người đổ thành từng đống lù lù, còn nhà mình chỉ toàn những dây và lá khoai là những thứ không nhá nổi. Nhưng ác nỗi, thể lệ đã quy định, chúng nó đành cứng họng không thể chối cãi vào đâu được. Sang mùa khác, Quỷ thay thể lệ mới là ''ăn gốc cho ngọn''. Phật bảo Người chuyển sang trồng lúa. Kết quả Quỷ lại hỏng ăn. Những hạt lúa vàng theo Người về nhà, còn rạ phó mặc cho Quỷ. Quỷ tức lộn ruột nên mùa sau chúng nó tuyên hố ''ăn cả gốc lẫn ngọn". Lần này Quỷ nghĩ: "Cho chúng mày muốn trồng gì thì trồng đằng nào cũng không lột khỏi tay chúng tao". Nhưng Phật đã bàn và Người thay đổi giống mới. Phật trao cho Người hạt giống cây ngô để gieo khắp mọi chỗ. Năm ấy lại một lần nữa Người sung sướng trông thấy công lao của mình không uổng. Trong nhà Người thóc ăn chưa hết, từng gánh ngô đã gánh về chứa từng cót đầy ắp. Về phần Quỷ lại bị một vố cay chua, tức uất hàng mấy ngày liền. Cuối cùng Quỷ nhất định bắt Người phải trả lại tất cả ruộng đất không cho làm rẽ nữa. Trong bụng chúng nó nghĩ: "Thà không được gì cả còn hơn là để cho chúng nó ăn một mình". Phật bảo Người điều đình với Quỷ cho tậu một miếng đất vừa bằng bóng một chiếc áo cà sa. Nghĩa là Người sẽ trồng một cây tre trên có mắc chiếc áo cà sa, hễ bóng che bao nhiêu diện tích ở mặt đất là đất sở hữu của Người ở dã. Ban đầu Quỷ không thuận, nhưng sau chúng nó suy tính thấy đất tậu thì ít mà giá rất hời bèn nhận lời: "Ồ! Bằng một chiếc áo cà sa có là bao nhiêu''. Hai bên làm tờ giao ước: ngoài bóng che là đất của Quỷ, trong bóng che là của Người. Khi Người trồng xong cây tre, Phật đứng trên ngọn, tung áo cà sa bay tỏa ra thành một miếng vải tròn. Rồi Phật hóa phép làm cho cây tre cao vút mãi lên, đến tận trời. Tự nhiên trời đất trở nên âm u: bóng của áo cà sa dần dần che kín khắp cả mặt đất. Bọn Quỷ không ngờ có sự phi thường như thế; mỗi lần bóng áo lấn dần vào đất chúng, chúng phải dắt nhau lùi mãi, lùi mãi. Cuối cùng Quỷ không có đất ở nữa phải chạy ra biển Đông. Vì thế người ta mới gọi là Quỷ Đông. Tiếc vì đất đai hoa màu đều thuộc về tay Người, Quỷ rất hậm hực, cố chiêu tập binh mã vào cướp lại. Lần này Người phải chiến đấu với Quỷ rất gay go vì quân đội của Quỷ có đủ một bầy ác thú như voi, ngựa, chó ngao, bạch xà, hắc hổ,... rất hung dữ. Phật cầm gậy “tầm xích” đánh giúp Người, làm cho quân của Quỷ không tiến lên được. Sau mấy trận bất lợi, Quỷ bèn cho quân đi dò xem Phật sợ gì. Phật cho chúng biết là sợ hoa quả, oản chuối và cơm nắm, trứng luộc. Đối lại Phật cũng dò hỏi và biết quân của Quỷ chỉ sợ độc có mấy thứ: máu chó, lá dứa, tỏi và vôi bột. Lần giáp chiến sau đó, quân của Quỷ đem không biết cơ man nào là hoa quả đến ném Phật. Phật bảo Người nhặt làm lương ăn rồi đem máu chó vẩy khắp mọi nó. Quân của Quỷ thấy máu chó sợ hoảng hồn bỏ chạy. Lần thứ hai, quân của Quỷ lại đem oản chuối vào ném quân Phật. Phật bảo Người nhặt làm lương ăn rồi giã tỏi phun vào quân dịch. Quân của Quỷ không chịu được mùi tỏi nên cũng cắm đầu chạy biệt tích. Lần thứ ba, quân của Quỷ lại đem cơm nắm, trứng luộc vào ném quân Phật. Người tha hồ ăn và theo lời Phật dùng vôi bột vung vào Quỷ. Người lại lấy lá dứa quất vào chúng. Quỷ chạy không kịp, lại bị Phật bắt đày ra biển Đông. Ngày Quỷ già, Quỷ trẻ, Quỷ đực, Quỷ cái cuốn gói ra đi, bộ dạng của chúng vô cùng thiểu não. Chúng rập đầu sát đất cố xin Phật thương tình cho phép một năm được vài ba ngày vào đất liền thăm phần mộ của tổ tiên cha ông ngày trước. Phật thấy chúng khóc váng cả lên mới thương hại, hứa cho. Vì thế, hàng năm cứ đến ngày Tết nguyên đán là ngày Quỷ vào thăm đất liền, thì người ta theo tục cũ, trồng nêu để cho Quỷ không dám bén mảng vào chỗ người đang ở. Trên nêu có khánh đất, mỗi khi gió rung thì có tiếng động phát ra để luôn luôn nhắc bọn Quỷ nghe mà tránh. Cũng trên đó có buộc một bó lá dứa hoặc cành đa mỏ hái để cho Quỷ sợ. Ngoài ra, người ta còn vẽ hình cung tên hướng mũi nhọn về phía Đông và rắc vôi bột xuống đất vào những ngày Tết để cấm cửa Quỷ. Cành đa lá dứa treo cao, Vôi bột rắc ngõ chớ trêu mọi nhà. Quỷ vào thì quỷ lại ra, Cành đa lá dứa thì ta cứa mồm. Từ đấy, trải hàng ngàn năm qua, mỗi năm khi Tết đến, mỗi gia đình người Việt và một số dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam lại trồng một cây Nêu cho đến tận bây giờ. Hình ảnh cây Nêu cũng như chiếc bánh chưng - bánh dầy đã cùng lịch sử văn hoá trải hàng thiên niên kỷ và đi vào hồn người dân nước Việt. Truyền thuyết về cây Nêu mang dấu ấn của Phật giáo nhưng chúng ta có thể nhận thấy: không hề có một nền văn hóa ảnh hưởng Phật giáo nào của các dân tộc khác trên thế giới có cây Nêu, ngoài Việt Nam. Bởi vậy, có thể khẳng định rằng: Cây Nêu là di sản văn hoá phi vật thể đặc thù của riêng văn hoá Việt và có cội nguồn thuần Việt. Từ đó, có thể nói rằng: Hình ảnh Đức Phật chỉ là sự chuyển hoá của một vị thánh nhân Lạc Việt, sau hàng ngàn năm thăng trầm của lịch sử. Nhưng cũng có thể nói rằng: Chính hình ảnh chiếc áo cà sa của Đức Phật từ bi phủ lên cây Nêu cũng là một hình tượng rất độc đáo thể hiện sự che chở, bảo vệ nền văn hóa Việt của Phật pháp khi lịch sử Việt ở những lúc thăng trầm, bi tráng nhất. Cùng với tục ăn trầu; bánh chưng bánh dầy… sự phổ biến của tục trồng nêu trong văn hoá Việt đã chứng tỏ đây là một biểu tượng được lựa chọn có ý thức cho một giá trị minh triết độc đáo của nó. Về hình tượng cây nêu thì có ba hình tượng còn đến bây giờ, cả ba hình tượng này đều dùng một thân cây tre trồng thẳng trên mặt đất, sự khác nhau của hình tượng là phần phía trên cây nêu: - Một loại cổ xưa nhất, phía trên ngọn tre là một vòng tròn cũng làm bằng tre nhỏ bằng cái nia, với 2, 3 hoăc 4 thanh tre buộc ngang qua tâm tạo thành hình 4, 6 hoặc 8 điểm trên vòng tròn. Ở những điểm này, người ta treo nhiều hình tượng: đôi đũa, giải bùa tua, giỏ tre… - Còn một hình tượng nữa là phía trên ngọn tre treo một hình vuông hoặc chữ nhật. Hình chữ nhật này được làm bằng bốn thanh tre sổ xuống và năm thanh tre ngang. Bốn thanh tre buông thẳng xuống tượng cho Tứ tung, năm thanh ngang tượng cho Ngũ hoành. Đây cũng là một loại bùa trừ tà trong Đạo giáo biến thể về sau này. Trên hình chữ nhật, người ta cũng treo một đôi đũa trời tượng cho Âm Dương, một giỏ tre trong đó có một túi gạo muối được gói trong vài hoặc giấy điều là hai vật thiết yếu cho đời sống con người và cũng tượng cho sự phú túc. Trong giỏ còn 12 lá trầu tượng cho 12 tháng, năm nào nhuận có 13 lá. Khi hạ nêu vào ngày mùng 7 tháng Giêng, những lá trầu được lần lượt lấy ra khỏi giỏ tre. Lá thứ nhất là tháng Giêng, lá thứ hai là tháng 2… cho đến hết 12 lá. Người ta cho rằng: lá nào héo là tháng đó trong năm không tốt. - Ngoài hai dạng cây nêu được trình bày ở trên còn một hình tượng cây nêu nữa chỉ có một thân cây tre duy nhất vút cao lên trời xanh, trên thân cây tre có trang trí giấy màu và từng khúc có gắn những tua trang trí. Như vậy, với những hình tượng cây nêu còn lưu lại có những khác biệt đã cho thấy dấu ấn của những thăng trầm trong lịch sử Việt, nhưng dù là có sự khác biệt về chi tiết thì bản thân sự phổ biến của cây nêu trong văn hoá Việt đã chứng tỏ sự lựa chọn có ý thức của tổ tiên cho một biểu tượng văn hoá, một hình tượng minh triết của cha ông truyền lại cho đời sau. Với hình tượng thân cây tre vút cao, vươn thẳng lên trời xanh, xuyên tâm vòng tròn phía trên cây tre là hình tượng của sự thăng hoa tư tưởng, đạt tới sự viên mãn và trở về với bản thể nguyên thuỷ của vũ trụ tức là “Mẹ tròn”, là sự khởi nguyên của vũ trụ. Hình tượng rất minh triết này gần gũi với quan niệm của Phật Giáo là sự giải thoát và trở về với bản tính chân như. Với cây Nêu nguyên thuỷ này thể hiện một sự nhận thức sâu sắc bản tính và sự giải thoát, có lẽ đã ra đời trong thời cực thịnh của nền văn hiến Lạc Việt, một thời huy hoàng ở miền Nam sông Dương Tử. Cây Nêu với tấm bùa “Tứ tung Ngũ hoành”, biểu tượng của ngài Khương Thái Công nhằm giải trừ bệnh tật, đem lại sự phú túc bình yên cho mọi gia đình trong năm mới. Với hình tượng cây Nêu đã trình bày ở trên, đã cho thấy một hình tượng được lựa chọn có ý thức làm biểu tượng cho sự minh triết Lạc Việt từ một cội nguồn văn hiến của nước Văn Lang dưới thời các vua Hùng dựng nước. Sự vươn lên đạt tới chân tính, hoà nhập với thiên nhiên trong sự an nhiên tự tại và tình yêu con người, đây chính là thông điệp của tổ tiên truyền lại từ hàng ngàn năm trước cho đời sau, hình tượng của một giá trị minh triết Việt. Dịch viết: “Trí thì cao siêu, Lễ thì khiêm hạ. Cao là bắt chước trời, thấp là bắt chước đất”. Chỉ với cây tre đơn sơ và rất phổ biến trong đời sống của người Việt, tổ tiên đã gửi lại đời sau sự nhắn nhủ của cội nguồn lịch sử 5000 năm văn hiến. Trải bao thăng trầm bi tráng trong lịch sử giống nòi, hình ảnh cây Nêu vẫn còn trong tâm tưởng của người Việt như một sự kết nối với cội nguồn một thời oanh liệt vàng son và đầy tính nhân bản. Tục trồng Nêu ngày Tết không chỉ ở dân tộc Kinh mà còn rải rác một số dân tộc khác trên đất Việt hiện nay, điều này đã chứng tỏ tục trồng Nêu đã có từ rất xa xưa trong truyền thống văn hoá Việt qua tính phổ biến của nó trong các dân tộc anh em. Sự giải thích hợp lý cho tục trồng Nêu - một di sản văn hoá phi vật thể của người Việt là: Tục này có từ thời Hùng Vương dựng nước. Hình ảnh cây nêu truyền thống trong lòng mỗi người con đất Việt chính là di sản của tổ tiên để lại nhắc nhở lòng tự hào của của dòng dõi Tiên Rồng. Chữ Vạn không phải là một chữ mà là một biểu tượng xuất hiện từ thời cổ đại, các nhà khảo cổ đã tìm thấy sự có mặt của nó ở khắp mọi vùng trên trái đất, nhưng biểu tượng có hai hướng quay, cùng chiều hoặc ngược chiều kim đồng hồ, ngoài ra hình chữ thập cũng có thể nằm nghiêng ở một góc quay nào đấy. Từ Điển Phật Học Hán Việt của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học, chủ biên Kim Cương Tử, Q2 tr1822: Vạn Tự: Svastika hoặc Srivatsalaksara (thuật ngữ). Đây là tướng biểu thị sự tốt lành lưu truyền ở Ấn Độ, Phật giáo, Bà La Môn giáo, Kỳ Na giáo đều sử dụng, sớm nhất là trên tượng Brahma, Visnu, Krisna. Các tôn sư Cư Ma La Thập, Huyền Trang dịch là Đức, còn Bồ Đề Lưu Chi đời Ngụy trong Thập Địa Kinh Luận, quyển 12 dịch là Vạn, với ý nghĩa công đức viên mãn. Chữ Vạn tiếng Phạn có nghĩa “dấu hiệu tự thực hiện”, các vị Phật được mô tả trong các tác phẩm nghệ thuật thường mang biểu tượng này trên ngực. Chữ Vạn (Swastikas) Tranh lụa khoảng thế kỷ thứ III tr.CN, Trung Quốc Tấm lụa được tìm thấy trong năm 1970 tại Mawangdui, gần Changsa, trong Mộ Cổ số 3. Có 29 hình “sao chổi” trong tấm lụa, và 4 “sao chổi” có hình như trên. Chúng ta có thể thấy, bên trái mang hình chữ Vạn, cũng là cuối cùng trong tấm lụa, theo thứ tự từ phải sang trái. Biểu tượng chữ Vạn (swastikas) được khai quật từ thung lũng Indus, Ấn Độ, cùng với một số con dấu cổ khác, niên đại ước chừng 2500-1500 năm tr.CN. Đối với các nền văn hóa Phương Tây như Hy Lạp, Celtic, Phần Lan và các nền văn hóa bản xứ khác, chữ Vạn cũng từng là một biểu tượng rất quan trọng, nó đã được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực nghệ thuật như dệt vải, kiến trúc, gốm sứ và tạc tượng... nền văn hóa Tây Phương gọi nó là “bánh xe ánh sáng”. Chữ Vạn vẽ trên một cái chậu miệng lớn Trích Mỹ thuật Hy Lạp và khảo cổ, tác giả John Griffiths Pedley, Nxb Mỹ thuật, 2006 Nữ thần Artemis với chữ Vạn Cổ vật Hy Lạp, khoảng 700 năm tr.CN <b><br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> </b> Những điều đáng chú ý và liên quan đến vấn đề trình bày ở đây là tất cả những di vật cổ đại đó, đều là những di sản văn hóa vật thể, mà giá trị nội dung đôi khi phụ thuộc vào khả năng suy luận của tri thức. Những sản phẩm văn hoá phi vật thể thuộc về những nền văn minh cổ có sự trùng khớp kỳ lạ chứng tỏ tính nhất quán về tri thức và sự thống nhất về cội nguồn văn hoá, trước hết chúng ta hãy quán xét và so sánh hình dưới đây: Hình chữ Vạn và sự vận động biểu kiến của các thiên hà trong vũ trụ Qua hình trên, chúng ta có thể ý niệm được ngay một sự liên quan giữa hình chữ Vạn ngược và sự vận động biểu kiến của các thiên hà trong vũ trụ. Chữ Vạn là biểu tượng của Phật pháp thể hiện nội dung chính của Phật học là sự luân hồi nhân quả, đó chính là biểu tượng cô đọng nhất sự vận động của vũ trụ và những quy luật của nó bao trùm lên cả kiếp người. Về nội dung và hình thức của hai biểu tượng này hoàn toàn trùng khớp, hình chữ Vạn ngược chính là biểu tượng cho quỹ đạo vận động của các thiên hà, hình chữ Vạn xuôi chính là biểu tượng cho sự tương tác của vũ trụ tới trái đất và Hậu thiên Bát quái phối Hà đồ chính là công thức tính toán các tương tác trên. Do vậy, chữ Vạn xuôi chính là biểu tượng của Phật giáo, khi đưa vào các hình tượng nghệ thuật như tạc tượng hay đồ họa hình tượng Phật chúng ta sẽ thấy nó quay ngược, bởi các vị Phật là người đã hòa nhập vào toàn thể vũ trụ. Như vậy, chữ Vạn là một biểu tượng có liên quan mật thiết đến thiên văn phương Đông, đó chính là Nhị thập bát tú quay xung quanh chòm sao Bắc Đẩu, chúng tạo nên cấu trúc của số 7 - độ số của phương Nam. Trong chòm sao Bắc đẩu, ngôi sao Thiên Quyền là biểu tượng của vua Đế Minh, Khương Thái Công tức Phật A Di Đà, ánh sáng vô lượng quang của trí tuệ và đấy chính là lý do mà nền văn hóa Tây Phương gọi nó là “bánh xe ánh sáng”. Vua Đế Minh hay Khương Thái Công có lưu truyền lại một bài thơ tiên tri Càn Khôn Vạn Niên Ca, tiên tri lịch sử thế giới trong vòng một vạn năm, trùng âm với chữ Vạn của Phật giáo. Trong Tùy Đường diễn nghĩa, Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã xem Bắc đẩu là cái “ấn vàng”: Mười “Vạn” tinh binh giữ cõi ngoài, Ấn vàng treo Đẩu, ánh trăng soi. Lá cờ sông Dịch mây tung ngất, Mũi giáo đài Yên sương chói ngời. Chúng ta cũng đã biết vua Đế Minh cũng là Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn trong Đạo Giáo, mà trong nền học thuật cổ Đông phương thì cuốn Thái Ất thần kinh là cuốn sách ứng dụng, mang tính dự báo tương lai, tham vọng dự báo của Thái Ất dựa trên sự vận động vũ trụ nhằm xác định các hiệu ứng tương tác tới trái đất, cho cả mọi vấn đề xã hội và con người. Theo Thái Ất, mốc chuẩn thời gian được tính theo Thượng Cổ Giáp Tý 10.153.917 tr.CN, căn cứ để tính theo mốc chuẩn này vì: “Năm gọi là mốc thời gian vì có hiện tượng 7 sao tụ hội, tức là tất cả Nhật Nguyệt hợp bích và Ngũ tinh liên châu đều họp ở cung Tý, cho nên: năm, tháng, ngày, giờ, thiên chính, đông chính đều lấy cung Tý làm mốc hầu hết, gọi là Thượng Cổ Giáp Tý”. (Thái Ất Thần Kinh, Nxb Văn hóa Dân tộc, 2001). Điều này, rõ ràng chỉ ra cuốn sách trên đã lấy hiệu của ngài trong Đạo giáo làm tên gọi. Ngoài ra, chúng ta cũng biết con trâu (Kim ngưu) là biểu tượng của vua Đế Minh, và trong Phật giáo thì được lấy làm biểu tượng cho bản ngã của mỗi con người. Kim ngưu cũng chính là chòm sao Kim ngưu trên vòng Hoàng Đạo và từ điểm mốc này, chúng ta đã hoàn thành việc sắp xếp thứ tự các chòm sao trên vòng Hoàng Đạo theo niên hiệu của các vị vua lịch sử nước Văn Lang: Vòng Hoàng Đạo Trích nguồn http://www.phanes.com/stamap.html Tên gọi 12 cung của vòng Hoàng Đạo giữa Đông phương và Tây phương: Tháng Tên gọi Địa chi Cung Chòm sao Tháng Mười Lạc Long Quân - Hùng Vương II Hợi Song Ngư Thất, Bích Tháng Chín Kinh Dương Vương - Hùng Vương I Tuất Bạch Dương Khuê, Lâu Tháng Tám Đế Minh - Hắc Đế hay Huyền Đế Dậu Kim Ngưu Vị, Mão, Tất Tháng Bảy Đế Thừa - Bạch Đế Thân Song Tử Chủy, Sâm Tháng Sáu Đế Tiết - Hoàng Đế Mùi Cự Giải Tỉnh, Quỉ Tháng Năm Thần Nông - Viêm Đế Ngọ Sư Tử Liễu,Tinh, Trương Tháng Tư Nữ Oa* Tỵ Thất Nữ Dực, Chẩn Tháng Ba Hùng Chiêu Vương- Hùng Vương VII Thìn Thiên Xứng Giác, Cang Tháng Hai Hùng Hồn Vương- Hùng Vương VI Mão Thiên Yết Đê, Phòng, Tâm Tháng Giêng Hùng Hy Vương- Hùng Vương V Dần Nhân Mã Vĩ, Cơ Tháng Chạp Hùng Hoa Vương- Hùng Vương IV Sửu Ma Yết Đẩu, Ngưu Tháng Một Hùng Quốc Vương - Hùng Vương III Tý Bảo Bình Nữ, Hư, Nguy *Nữ Oa: tên gọi chung về sự cao quý của người phụ nữ thời Ngũ Đế và được xem như sự bắt đầu được chọn lựa từ Nữ Oa - Phục Hy (Thanh Đế), Nữ Oa thuộc cung Tỵ (Rắn) nên biểu tượng cổ đại Nữ Oa và Phục Hy mình rắn quấn với nhau. Trong vòng Hoàng Đạo phương Tây vẫn còn lưu giữ một dấu ấn quan trọng, đó là chòm sao Thần Nông tương ứng là chòm sao Bọ Cạp, nhưng căn cứ theo bảng tổng hợp ở trên thì chòm sao Thần Nông là chòm sao Sư Tử, đây chính là dấu ấn nguồn gốc từ phương Đông. Dấu ấn nay cũng như vị trí của sao Kim và sao Thủy khác nhau giữa thiên văn hiện đại và thiên văn cổ Đông Phương. Đặc biệt, thiên văn cổ Đông phương không có ngôi sao thứ 10 Diêm Vương trong Hệ mặt trời. Không chỉ vậy, hình nhân sư phía trước kim tự tháp Kheop quay về hướng Đông cũng cho ta một mối liên quan, như vậy “Nhân sư” biểu tượng chòm sao Sư tử trên vòng Hoàng Đạo, được ghi dấu trên trần đền Dendarah thờ nữ thần bò cái Hathor chính là vua Thần Nông. Trong Đạo giáo, ngài là vị thần linh quan trọng nhất của Tam Thanh, là Nguyên Thủy Thiên Tôn, và ngài có “vị trí cao hơn” cả Đại Nhật Phật và Phật A Di Đà. Sự khác nhau về tên gọi và biểu tượng của các cung Hoàng Đạo phương Tây so với các chòm sao thiên văn trong Thai Tạng giới của Mật giáo Tây Tạng: So sánh tên gọi và biểu tượng: Thiên văn Phương Tây Thiên văn Phật giáo Song Tử Phu Phụ Thất Nữ Thiếu Nữ Thiên Xứng Thiên Xứng Nhân Mã Cung Cung Ma Yết Ma Yết Bảo Bình Hiền Bình Biểu tượng cung Thiếu Nữ - Hiền Bình - Ma Yết - Nhân Mã - Thiên Xứng - Phu Phụ trong thiên văn Phật giáo Trích Thai tạng giới, Thời đại chúng ta đang sống điểm xuân phân nằm trong chòm sao Song Ngư, thời đại này gọi là thời đại của chiến tranh, chết chóc hay thời đại của Thần Chết - Thần chết Osiris của tôn giáo Ai Cập cổ đại - vua Cõi Chết Lạc Long Quân và sẽ chuyển tiếp sang thời đại Bảo Bình là thời đại hòa bình - Thần Cả Horus tôn giáo Ai Cập cổ đại - vua Cõi Đất Hùng Quốc Vương với biểu tượng là cái bình nước có cắm một cành hoa sen đang nở - là một trong tám biểu tượng cát tường của Phật giáo. Trong thời đại Song Ngư, Phật giáo sử dụng cái mõ con cá làm biểu tượng, cho nên qua thời kỳ Bảo Bình thì cái mõ hình con cá sẽ được thay thế bằng cái mõ khắc hình cái bình báu. Bát Bửu Phật giáo Tranh tham khảo Internet Bát bửu hay còn gọi là tám món cát tường (tám vật quý) bao gồm: pháp luân (bánh xe), vỏ ốc (pháp loa), tán (chiếc dù), lọng trắng, hoa sen, bảo bình, cá vàng, nút thắt may mắn. Sự hiện hữu của bát bửu sẽ mang đến cho gia chủ vận may về của cải vật chất cũng như đời sống tinh thần. Cái mõ hình cá chép Chiếc mõ hình con cá chép xưa cũ còn được lưu giữ, treo ở một gian trong gia đình ông bà Nguyễn Văn Lưu - Hà Thị Cấm (trích từ bài viết Về thăm làng cổ Đường Lâm, tác giả An Dung). Chiếc mõ hình con cá biểu tượng cung Song Ngư. Mõ nguyên bản hình con cá tại một ngôi chùa ở Uji, Nhật Bản. Trong nền tôn giáo Ai Cập cổ đại, hình tượng thần Cả Horus, con của nữ thần Isis và nam thần Osiris, thông thường ngài được mô tả ngồi trên một bông hoa súng đang nở, ngón trỏ tay trái chỉ vào miệng như ngụ ý rằng: có một điều bí ẩn lớn lao cần phải giữ kín? Và hình tượng này cũng thể hiện con số Vạn - 10.000, có thể dịch ý là “bí ẩn vạn năm”. Thần Cả Horus Bát cổ và tranh vẽ Ai Cập Từ bảng tổng hợp tên gọi các vị vua lịch sử tương ứng với các cung trên vòng Hoàng Đạo, chúng ta nhận thấy rằng: biểu tượng cung Bạch Dương (con dê hay cùng chủng loại như con lừa) chính là biểu tượng của vua Kinh Dương Vương, và được thể hiện trong bộ tranh dân gian nhị bình Hàng Trống Rồng rắn lên mây - Bịt mắt bắt dê (Phi long tại Thiên - Lục hợp đồng xuân) kết hợp cùng với trò chơi dân gian của trẻ em Việt Nam Rồng rắn lên mây. Rồng rắn lên mây - Bịt mắt bắt dê Tranh dân gian hàng Trống, Việt Nam Một em làm thầy thuốc, 11 em còn lại sắp thành hàng dài, tay người sau nắm vạt áo hoặc đặt trên vai người phía trước, tất cả lượn qua lượn lại. Em dẫn đầu vừa đi vừa hát: "Rồng rắn lên mây, có cây núc nác, có nhà hiển vinh. Thầy thuốc có nhà hay không?" Người đóng vai thầy thuốc trả lời: Thầy thuốc đi chơi! (đi chợ, đi câu cá… tùy ý), thường thầy thuốc không có nhà để con Rồng lượn quanh sân hai ba lượt, cuối cùng thầy thuốc có nhà. Thầy thuốc hỏi: Rồng rắn đi đâu? Em cầm đầu đáp: Rồng rắn đi lấy thuốc cho con. Thầy thuốc hỏi: Con lên mấy? Con Rồng đáp: Con lên một. Thầy thuốc nói: Thuốc chẳng ngon. Cuộc đối đáp tiếp diễn cho đến khi con Rồng trả lời "con lên mười”, khi ấy thầy thuốc kết luận: Thuốc ngon vậy. Rồi thầy thuốc lên tiếng: Xin khúc đầu? Con Rồng cho biết: Những xương cùng xẩu! Thầy thuốc nói: Xin khúc giữa? Con Rồng trả lời: Những máu cùng me. Cuối cùng thầy thuốc hỏi: Xin khúc đuôi? Con Rồng cười: Tha hồ mà đuổi! Lúc đó thầy thuốc phải tìm cách bắt cho được người cuối cùng trong hàng, ngược lại, thì em cầm đầu rồng rắn phải giang thẳng hai tay để chắn không cho thầy thuốc bắt được cái đuôi là người cuối cùng của mình. Đoàn rồng rắn càng dài thì cuộc đuổi bắt càng náo nhiệt, khi bắt được, em đó phải thay thầy thuốc và cuộc chơi lặp lại từ đầu. Điểm cốt yếu của bài đồng dao này nằm ở hình tượng trò chơi là hình tượng con Rồng, chính là sự mô tả dưới một hình thức khác một câu trong Hệ từ của Chu Dịch "Phi long tại Thiên". Như vậy, hình tượng trò chơi và câu đầu tiên của bài đồng dao đã xác định những bí ẩn của Kinh Dịch từ trong trò chơi này. Phải số 10 thì thuốc mới ngon và trò chơi mới bắt đầu - đây chính là con số lớn nhất chỉ có trong Hà Đồ và những bí ẩn của nền văn hóa Đông phương huyền vĩ đang thách đố tri thức của toàn thể văn minh nhân loại. Bởi vậy, ngay cả khi xác định Hà Đồ là nguyên lý căn để của Lý học Đông phương thì cũng mới chỉ bắt đầu trò chơi "Rồng rắn lên mây" này. Bây giờ chúng ta xem xét đến ý nghĩa của ba khúc Rồng: Xin khúc đầu? Những xương cùng xẩu! Xin khúc giữa? Những máu cùng me! Xin khúc đuôi? Tha hồ thầy đuổi! Khúc đuôi của con rồng chính là những phương pháp ứng dụng như Đông y, Tử vi, Phong thủy, Bốc Dịch... của một Lý thuyết thống nhất vũ trụ, và hàng ngàn năm đã trôi qua kể từ khi nền văn hiến Việt huyền vĩ sụp đổ ở miền Nam sông Dương Tử, tất các thầy đều không thể biết được bản chất thật của nó. Xin khúc giữa? Những máu cùng me! chính là những khúc rời rạc của một hệ thống lý thuyết đã thất truyền trở nên mơ hồ. Xin khúc đầu? Những xương cùng xẩu! Khúc đầu chính là những nguyên lý lý thuyết và bản chất của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Làm sao mà mà có thể tìm thấy một chân lý từ con long mã hiện lên trên sông Hoàng Hà và từ con rùa trên sông Lạc Thủy. Cả một hệ thống lý thuyết phản ánh quy luật của toàn thể vũ trụ cao siêu và huyền vĩ như vậy, mà chỉ do một con người nghĩ ra trong vòng hai năm là Chu Văn Vương thì khó mà tưởng tượng ra (tham khảo các bài viết ngắn của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh). Trong bức tranh Rồng rắn lên mây, có hình ảnh hai vợ chồng ngồi xem đàn con vui chơi còn bức tranh Bịt mắt bắt dê chỉ có người mẹ ngồi xem đàn con tự bịt mắt tìm bắt con “dê”, con “dê” ở đây chính là biểu tượng vua Kinh Dương Vương, Ngọc Hoàng Thượng Đế… đàn con mải đi tìm một “Thượng đế toàn năng” sáng tạo ra vũ trụ trong khi đôi mắt đã bị bịt kín, chỉ còn nghe bằng tai thì không thể hiểu được, chứ chưa nói đến biết được ngài là ai. Sự kết hợp của hai bức tranh mang ẩn nghĩa rằng chỉ khi nào sự vận động của vũ trụ đến gian đoạn “lục hợp” ứng 6 đứa bé trong trò chơi Bịt mắt bắt dê trong “địa chi” ứng 12 đứa bé trong trò chơi Rồng rắn lên mây, thời điểm âm dương hòa hợp toàn vũ trụ ứng với quẻ Địa Thiên Thái của Chu Dịch thì mới biết được “Thượng đế” là ai. Vòng tay vàng Cổ vật Ai Cập Biểu tượng con mắt trái của Thần mặt trời Ra trên chiếc vòng tay cổ Ai Cập. Phía dưới là hình bán cầu biểu tượng cho một vũ trụ nguyên thủy mênh mông, tràn ngập một dạng vật chất được xem như nước, gọi là “Biển nước nguyên thủy Nun”. Kinh Dương Vương - Đại Nhật Phật, vị Phật bí ẩn ở trung tâm của Kim cương giới và Thai tạng giới trong Mật giáo Tây Tạng, là Ngọc Hoàng Thượng Đế trong Đạo giáo, Thần mặt trời Ra của tôn giáo Ai Cập cổ đại, là thần Vishnu trong Bà La Môn giáo, thần Surya trong Kỳ Na giáo, là ông Trời trong niềm tin dân gian và của các dân tộc khác trên thế giới … Ngài là vị thánh nhân mà nhân loại tôn sùng. Trong nền văn hóa Việt thì biểu tượng chính thống của ngài là con “Rồng vàng”, được chạm khắc trên đỉnh mái của một ngôi đình, đền, chùa, miếu qua hình tượng “Lưỡng Long minh châu”. Vâng! Ngài là một con người đã tu luyện đạt quả vị Phật và hướng dẫn chúng sinh đi tiếp con đường ánh sáng của ngài, phù hợp với các quy luật vận động của vũ trụ. Cách đây hơn 2.500 năm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có nói: “Đừng than phiền, kêu khóc và cầu nguyện, mà hãy mở mắt ra và thấy. Chân lý đang ở chung quanh các ngươi. Nếu các ngươi quyết chí gỡ bỏ miếng vải bịt mắt rồi nhìn xem thì sẽ thấy rõ Chân lý xiết bao kỳ diệu, mỹ lệ, vượt khỏi những ước mơ hay cầu khẩn của người đời. Chân lý tồn tại mãi mãi, mãi mãi.”. Bởi vậy, chúng ta tiếp tục xem tiếp phần trên tính từ dưới lên đó là độ số 10 chỉ có trong Hà Đồ và đấy chính là nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành, là con số thể hiện hoàn tất của một chu kỳ Âm dương Ngũ hành ứng một cung Hoàng đạo (2.160 năm) chính là thời khắc điểm xuân phân di chuyển từ cung Song Ngư sang cung Bảo Bình, một chu kỳ mới mang thông điệp hòa bình đã bắt đầu. Chính từ đồ hình Bát quái phối Hà Đồ - Pháp Đại Uy Nỗ, cùng với kinh sách Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo của nền văn hiến Việt mới có thể phục hồi toàn bộ hệ thống thuyết Âm Dương Ngũ hành và hiểu rõ bí ẩn của đời người, tất nhiên đấy chính là "ngày hiển vinh" và đưa cuộc sống, con người đến giai đoạn thăng hoa "Phi long tại Thiên", dân gian có bài ca dao rằng: Dù ai nói ngược nói xuôi, Ta đây vẫn giữ Đạo Trời khăng khăng. Ai thương ai ghét mặc tình, Phận mình cứ giữ Tâm mình thật ngay. Câu chuyện, cũng mang ý nghĩa nhân loại sẽ phải đi tới một thế giới “đại đồng” trong tôn giáo và khoa học, nền văn hóa Việt đã hoàn toàn dự báo trước điều đó hàng ngàn năm với biểu tượng ngôi chùa “Đồng” trên non thiêng Yên Tử. Chùa Đồng Yên Tử, Quảng Ninh, Việt Nam (ảnh tham khảo Internet) Ngoài ra, chúng ta cũng chú ý, trong đồ hình Hội Cúng dường ở phương Nam của Kim cương giới Mật giáo Tây Tạng, nếu kết hợp chữ nghĩa ở 8 phương thể hiện 8 vị Bồ Tát cúng dường tạo thành cụm từ: “hỷ, man, ca, vũ, hương, nến, hoa, đăng”, kết hợp với kết quả nhận định các vị Cổ Phật, Bồ Tát lịch sử ở trên thì sẽ hình thành câu: “Người Nam vui múa hát ca cùng với đèn, nến, hương, hoa quanh các vị Phật và Bồ Tát”. Tám vị Bồ Tát cúng dường: Văn Thù Bồ Tát Đại Thế Chí Bồ Tát Phổ Hiền Bồ Tát Di Lạc Bồ Tát Địa Tạng Bồ Tát Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát Thánh Quan Âm Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát * Không xuất hiện Bất Không Quyến Sách Quan Âm bởi ngài là Tỳ Bà Thi Phật. Tên gọi 8 vị Bồ Tát Cúng Dường đã có điều chỉnh khác so với bản gốc, bởi vì đã xác định được danh tính lịch sử của các vị Cổ Phật và Bồ Tát. Cũng theo Thánh giáo của đạo Cao Đài, Đức Quan Âm Bồ Tát có giáng rất nhiều thi văn và giảng đạo qua các cơ bút, tham khảo một phần nội dung trích dẫn từ cơ bút của ngài: “Sứ mạng Tận độ là cái sứ mạng chính của quốc độ Việt Nam. Ðược một sứ mạng hy hữu như vậy dầu rằng một quốc độ tiểu nhược nhưng hậu lai sẽ tràn đầy thắng phước, công đức dân tộc ấy như nước biển chẳng lường! Một diễm phúc tối cao được Bề Trên chọn cuộc khai sáng cơ nghi Ðại đạo ngay trong thời Pháp mạt...”. Dưới đây, cũng một vần thơ do ông Huỳnh Phú Sổ, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương sáng tác và được lưu hành rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân, đúng thật là: Non sông rực rỡ chói ngời, Mảnh gương Phật đạo soi đời cổ kim. Trong trò chơi trẻ em Rồng rắn lên mây, con Rồng đi tìm Thầy thuốc để xin thuốc cho con, vậy thuốc này là thuốc dùng để làm gì? Hãy cùng xem tiếp Chương IX: TRƯỜNG SINH BẤT TỬ. ***
  6. Nam Triệu và Nam Chiếu Tác giả: Minh Xuân Trong Lĩnh Nam chích quái có một câu chuyện rất thật, không có chút huyền thoại hay “chích quái” nào nhưng lại khó hiểu nhất vì chẳng hề ăn khớp tí gì với chính sử. Đó là Truyện Nam Chiếu. Nay xin “đọc lại” câu chuyện này, không cần phải “giải mã” gì, chỉ cần đối chiếu với những gì đã và đang biết về lịch sử bị lãng quên của miền Tây và Nam nước ta. Câu đầu tiên của Truyện Nam Chiếu khẳng định: “Người Nam Chiếu là con cháu vua Vũ Đế Triệu Đà”. Câu khẳng định này đúng là đánh đố người đọc ngày nay. Nam Chiếu được coi là quốc gia của người Di Bạch vùng Vân Nam, sao lại là con cháu Triệu Đà được? Nhưng đích thực, câu mở đầu này đã xác định nước “Nam Chiếu” thực chất là ở đâu. Triệu Vũ Đế dựng nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung – Quảng Đông. Thành phần dân tộc chính vùng này là nhóm người Tày Thái. Nam Chiếu là con cháu Triệu Đà, tức là một quốc gia người Thái. Lịch sử Nam Chiếu cho biết quốc gia người Thái này đã từng trải rộng trên đất Tây Bắc Việt Nam, Lào và Bắc Thái Lan. Nước Nam Chiếu ở trong truyện không phải mới bắt đầu vào thời Đường như nước Nam Chiếu theo chính sử ở Vân Nam, mà có gốc gác từ thời Tây Hán. Khi Lộ Bác Đức tấn công Nam Việt thì “Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bổ đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu”. Đất Hoành Sơn mà ở gần cửa Thần Phù thì là đèo Ngang giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, chứ không phải Hoành Sơn ở Quảng Bình. Con cháu họ Triệu như vậy trở về vùng Ái Châu tụ tập. Đoạn ghi chép trên rất giống với chuyện… Man vương Mạnh Hoạch chống lại các vị quan họ Chu của nhà Đông Hán trong thần tích làng Hương Ngải - Sơn Tây. Mạnh Hoạch hoạt động cả một dải từ Hưng Hóa tới Ái Châu, làm quan cai trị ở Giao Châu lúc đó phải lao đao… Nam Triệu như vậy là tên gọi nước của Mạnh Hoạch từ thời Đông Hán, là vùng đất phía Tây Giao Chỉ. Tiếp theo, “Đến đời Ngô, Tôn Quyền sai Đái Lương, Lữ Đại làm thú mục để đánh dẹp. Quân Nam Chiếu ở cả một vùng từ núi Thiên Cầm tới Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, Ô Tung, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Hải, Vọng Cái, Lỗi Lôi, núi cao bể rộng, sóng gió hiểm trở, không có một vết chân người. Quân Nam Chiếu ở đấy thường lấy việc cướp bóc để sinh sống, đánh giết thú mục, không thể ngăn cản nổi.” Đây cũng là thành tích của Mạnh Hoạch khi phần đất phía Đông Giao Chỉ được Sĩ Nhiếp Ngạn Uy dâng cho Ngô Tôn Quyền. Đoạn trên cho biết một loạt các địa danh “từ núi Thiên Cầm tới Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, Ô Tung, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Hải, Vọng Cái, Lỗi Lôi”. Các địa danh này hẳn nằm ở Tây Bắc và Tây Thanh Nghệ ngày nay, là đất Nam Triệu của Mạnh Hoạch. Mạnh Hoạch hay Mãnh Hoàng, có thể chỉ là cách gọi vị vua của người Mường Mán. Mãnh Hoàng là con cháu họ Triệu, sau khi kinh đô Phiên Ngung của Nam Việt thất thủ đã rời về Tây Giao Chỉ và hùng cứ một vùng, liên tục chống lại các quan lại nhà Hán rồi tới nhà Ngô. Tiếp theo thì như đã biết, Vũ Hầu Gia Cát, thừa tướng của nhà Thục đã vượt Lô Giang, tiến vào Tây Bắc bình định, thu phục Mãnh Hoàng. Mãnh Hoàng tiếp tục cai quản khu vực Nam Triệu này dưới hình thức tự trị, độc lập. Truyện Nam Chiếu kể tiếp: “Cuối đời Tấn thiên hạ rối loạn, có người thổ tù là Triệu Ông Lý cũng là con cháu của Triệu Vũ Đế, anh em đông đúc, thảy đều dũng lược hơn người, ai nấy đều nể phục, cùng hợp lại với quân Nam Chiếu, được hơn hai vạn người, lại đem châu báu ngà ngọc hiến cho nước Tây Bà Dạ, xin chỗ sinh sống ở vùng đất trống ven bờ biển.” Nếu đối chiếu với tộc phả họ Phạm: "Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân - Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu (gọi là xứ Lâm Ấp) - tức là Nam Trung bộ ngày nay. Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trước CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm Ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Việt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm Ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa ( xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay).” Có thể thấy Triệu Ông Lý, con cháu Triệu Đà, là họ Lý, bắt đầu từ Lý Thân (Lý Ông Trọng). Vùng đất Tây Giao Chỉ là vùng Lâm Thao, nơi Lý Ông Trọng trấn giữ người Hồ dưới thời Tần. Đặc biệt truyền phả họ Nguyễn còn chép rằng Triệu Đà chính là Lý Ông Trọng. Chuyện này tuy còn nhiều nghi vấn, nhưng có thể có phần nào là sự thật khi con cháu Triệu Đà cũng là con cháu của Lý Thân, chiếm vùng đất Tây Giao Chỉ dưới thời Hán. Vùng Tây Giao Chỉ là đất của Mãnh Hoàng (Mạnh Hoạch), còn gọi là Nam Triệu, thời Tam quốc đã hàng phục nước Thục nhờ công của Vũ Hầu Gia Cát. Khi nhà Tấn diệt Thục, Tấn chỉ chiếm được vùng Xuyên Thục phía Bắc của nước này. Phần phía Nam vẫn do Mãnh Hoàng tự trị kiểm soát. Theo Truyện Nam Chiếu thì lúc này Triệu Ông Lý, con cháu Triệu Đà – Lý Thân, đã lên nắm quyền cai quản ở đây. Triệu Ông Lý chống lại nhà Tấn, “cùng hợp với quân Nam Chiếu”, tức là hợp với quân của họ Phạm ở phía Nam vùng ven biển Trung Bộ theo như tộc phả họ Phạm chép. Truyên Nam Chiếu chép: “Khi ấy, nước Tây Bà Dạ chia đều đất ra thành hai lộ. Một lộ trên từ Quý Châu, dưới tới Diễn Châu gọi là lộ Già La, trên từ Cầm Châu xuống tới Hoan Châu gọi là lộ Lâm An giao cho Nam Chiếu và Triệu Ông Lý thống lĩnh. Sau đó, ông Lý xây thành ở tổng Cao Xá, đất Diễn Châu, đông giáp với biển, tây tới nước Bà Dạ, nam tới Hoành Sơn, tự xưng làm chúa.” Có thể thấy nước Nam Chiếu trong truyện ở thời kỳ nhà Tấn chính là xứ Lâm Ấp hay Nam Hà trong tộc phả họ Phạm. Xứ này bao gồm 2 phần: - Phần lộ trên từ Quý Châu tới Diễn Châu do Triệu Ông Lý cai quản. Lộ này có tên Như Hoàn, hay Già La, sách khác gọi là Như La, Gia Viễn. Đây là phần đất liền không giáp biển, là Tây Giao Chỉ, gồm cả đất Lào ngày nay. Tên gọi Già La hay Như La cho thấy vùng này chính là nước Lỗ (La) của thời Chiến Quốc. Đây cũng là đất Lâm Thao thời Tần, trước do Lý Ông Trọng cai quản, sau đó giao cho con cháu Lý Thân. - Lộ dưới từ Cầm Châu tới Hoan Châu gọi là Lâm An, do con cháu họ Phạm quản lý. Đây là phần giáp biển, ven biển miền Trung ngày nay. Tên lộ Lâm An cho thấy đây là đất Yên (An) thời Chiến Quốc, đã được nhà Tần giao cho Phạm Duy Hinh, con của tướng Phạm Duy Minh ở Đằng Châu cai quản. Bản đồ trên ước vẽ 2 phần đất Già La và Lâm An từ thời Tấn. Đây là phạm vi nước Lâm Ấp vẫn được mô tả trong sử sách, có phía Đông giáp biển, Tây đến Vân Nam … Truyện Nam Chiếu kể tiếp: “Nhà Đông Tấn sai tướng là Tào Khả đem quân sang đánh, Ông Lý mai phục ở rừng núi hiểm trở nơi đầu nguồn sông mà đánh, rồi lại tới nấp ở núi Liên Vị, địch tới thì mình đi, địch đi thì mình tới, sáng ra tối vào, cầm cự trong 4, 5 năm trời, không hề đối đầu. Quân Tấn không chịu nổi lam chướng, chết hơn quá nửa, bèn rút quân về.” Nhà Tấn sau khi diệt Thục và Ngô, tấn công xuống phương Nam. Nhưng gặp sự kháng cự của Mãnh Hoàng, rồi Triệu Ông Lý ở vùng Nam Triệu này, không tiến nổi. Vùng đất này như vậy vẫn giữ độc lập từ thời Tấn. Lý Ông Nam Triệu tương đương với … Lý Nam Đế (Triệu = Chúa), trong sử Việt được gọi là triều Hậu Lý Nam Đế. Tới thời Tùy Cao Tổ năm 602 tướng Lưu Phương đã dụ hàng con cháu của Nam Triệu, đưa vùng đất La – Lỗ nhập vào đất Tùy. Năm 605 Lưu Phương cũng tấn công xuống phía Nam thắng lợi, đuổi họ Phạm chạy ra ngoài hải đảo, sát nhập nốt đất An – Yên vào nhà Tùy. Nước “Nam Triệu” của Triệu Ông Lý chấm dứt ở đây sau 600 năm tồn tại. Nhưng sau đó, một nước Nam Chiếu mới lại nổi lên… Tộc phả họ Phạm viết: "Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm, khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An , diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế (766)." Còn Truyện Nam Chiếu chép: “Quân Nam Chiếu tới cướp các xứ Nam thành, Đông thành, Trường An, quan lệnh không thể dẹp nổi. Tới khi nhà Đường thịnh lên, vua Ý Tông sai Cao Biền đem quân sang dẹp, không đánh nổi phải bỏ về.” Đoạn này nói tới cuộc khởi nghĩa thời Mai Thúc Loan - Phùng Hưng, tấn công chiếm thành Tống Bình (Trường An?). Phải tới Cao Vương Biền mới đuổi được quân Nam Chiếu của họ Phùng ra khỏi Đông Giao Chỉ, và đặt vùng này làm Tĩnh Hải quân. Nhưng phía Tây Giao Chỉ vẫn do Nam Chiếu chiếm giữ. Thậm chí còn mở rộng ra thành 6-7 “chiếu” theo như truyền thuyết về Khun Borom ở Lào. Đoạn cuối cùng của Truyện Nam Chiếu: “Tới đời Ngũ Đại vua Tấn là Thạch Kính Đường sai tướng tư mã là Lý Tiến đem 30 vạn quân đánh Đồ Sơn, quân Nam Chiếu bèn rút về biên giới Ai Lao, gọi là nước Đầu Mô, nay là đất Bồn Man”. Thời Thạch Kính Đường thì Hoa Nam đã chia năm xẻ bảy, còn hơi sức đâu mà nhà Hậu Tấn đánh dẹp Nam Chiếu. Lúc này trên đất Tĩnh Hải là triều đại của Nam Hán Lưu Cung. Đoạn sử trên có thể nói tới sự kiện Cao Biền đánh Nam Chiếu từ thời Đường Ý Tông, hoặc chuyện Đoàn Tư Bình diệt Nam Chiếu, lập nước Đại Lý. Có điều sử Tàu đã biến chuyện Nam Chiếu bị diệt thành chuyện Nam Hán Lưu Cung cử Lý Tiến đánh Khúc Thừa Mỹ. Có thể Lý Tiến là tướng của Lưu Cung quãng năm 936 – 940 (thời Hậu Tấn) đã tấn công Nam Chiếu ở Tây Giao Chỉ, chứ không phải đánh Khúc Thừa Mỹ. Phải nói Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái là một ghi chép rất đầy đủ và chân xác về lịch sử vùng Tây Giao Chỉ trong suốt một thời kỳ dài từ Đông Hán tới tận thời Ngũ Đại. 1000 năm lịch sử của miền Tây đã bị lãng quên, may mắn còn được lưu lại trong truyện. 600 năm Nam Triệu và 400 năm Nam Chiếu, kiên cường chống lại phương Bắc, huy hoàng mở các quốc gia người Thái khắp Đông Nam Á. Thực ra, chúng ta có thể nghi ngờ: Hồ Tôn phải chăng là Chămpa???
  7. Chương VII TẢ THANH THIÊN (VIẾT LÊN TRỜI XANH) Một tia chớp từ thượng tầng thanh khí, Soi sáng Thiên hà, lời hiệu triệu những vì sao. Vũ trụ rùng mình tỉnh giấc chiêm bao, Nghìn trùng gió, tin truyền đi muôn hướng… Lời hiệu triệu những vì sao, tác giả Nguyễn Thị Thanh Lan. Đền Ngọc Sơn nằm trên hòn đảo trong lòng hồ Hoàn Kiếm (tên cổ là hồ Lục Thủy), cũng có tên là núi Ngọc, dẫn ra đền là các cổng và cây cầu gỗ sơn đỏ. Theo sách Thăng Long cổ tích khả bản khuyết danh (ký hiệu viện Hán Nôm A/820) soạn đầu đời Gia Long khoảng 1805, ở mục Hồ Hoàn Kiếm cũng không nhắc tới một ngôi đền chùa nào trên gò đất này. Sách La Thành cổ tích vịnh của Trần Bá Lãm, được viết trong thời Lê Chiêu Thống (1786-1788) có mục Vịnh hồ Tả Vọng. Trong phần Tiểu dẫn trên 300 chữ có kể sự tích các hồ, các tên gọi của hồ, tuyệt nhiên không nhắc gì đến một ngôi đền nào trong hồ cả, chỉ chép là trên gò phía Bắc hồ (hiểu là đảo Ngọc ngày nay) Lê Thánh Tông cho dựng điều đài (đài câu). Bia năm 1843 do Vũ Tông Phan soạn, có tên là Ngọc Sơn đế quân tử ký, ghi như sau: Hồ Tả Vọng tên cũ gọi là hồ Hoàn Kiếm là danh thắng đất kinh kỳ xưa. Phía Bắc mặt hồ, một gò đất nổi lên khoảng 3-4 sào, tương truyền là chỗ đài câu cá thời Lê. Trước đây ông Tín Trai làng Nhị Khê nhân có đền Quan Thánh Đế Quân tại đây bèn mở rộng sửa thêm gọi là chùa Ngọc Sơn. Phía Nam trước mặt chùa dựng một gác chuông, lâu năm chùa hư nát tưởng như tiêu vong. Ngày gần đây, hội Hướng Thiện vốn do những khoa mục lập ra… vốn thờ Văn Xương Đế Quân mà chưa có đền. Các con ông Tín Trai tình nguyện nhường lại nơi này… Hội sửa lại đền Quan Đế, dỡ bỏ gác chuông cải thành đền Văn Xương. Đền có ba gian, ở giữa thờ tượng thánh mới làm, hai bên chái mỗi bên một gian, các phòng Đông tây đều năm gian. Bắt đầu xây dựng từ mùa đông Tân Sửu (1841) đến mùa thu Nhâm Dần (1842) thì hoàn thành. Đền Ngọc Sơn Tranh vẽ tham khảo, Hà Nội, Việt Nam Như vậy đến năm 1841-1842 trong đền vừa có thờ Phật, Quan Thánh Đế Quân và Văn Xương Đế Quân. Đến tấm bia do Lương Hiên Đặng Huy Tá lúc đó ra làm Án sát Hà Nội soạn có tên là Trùng tu Văn Xương miếu bi ký cho biết thêm: Phía Đông làng Hà Thanh có hồ Hoàn Kiếm, trong hồ có đảo gọi là núi Ngọc, trong núi có miếu Văn Xương, tôi vừa làm Án sát Hưng Yên đổi về, gặp ông Phương Đình, dắt nhau qua chơi, ông nói với tôi: Hồ này đời xưa lớn, từ Lê Trung Hưng chở đất lấp, làm đường xe chạy suốt đến Long Lâu ở Nhị Hà. Nửa hồ bên phải là Hữu Vọng, nửa hồ bên trái là Tả Vọng, núi trong Tả Vọng là đài câu cá. Đầu đời Gia Long mới có miếu Quan Đế. Đến đời Thiệu Trị làm miếu khác thờ Văn Xương. Gần đây có Án sát Nguyễn Như Cát thăm đền, thương cảm vì quy mô quê kệch và không tu sửa thì sẽ đổ nát nên đề nghị quyên tiền làm lại nhưng chưa kịp làm thì bổ sang tỉnh Đông, tôi (tức Phương Đình Nguyễn Văn Siêu) thay ông ấy chủ trương việc này. Nay đền mới hoàn chỉnh, phía trước kè bờ nước làm đình Trấn Ba, ngụ ý là cột trụ đứng vững giữa dòng Văn, bên tả, phía Đông cầu Thê Húc dựng Đài nghiên, lại phía Đông trên núi Độc tôn xây Tháp bút, tượng trưng cho văn vật. Qua ba bốn năm mới làm xong, nhờ tôi làm bài ký. Bia không có niên đại hẳn vào khoảng 1865-1866, qua bia này, thấy: Đài Nghiên, Tháp Bút, đình Trấn Ba và cầu Thê Húc cũng chỉ có bắt đầu từ thời điểm này. Ngay từ hai cột chính, có đôi câu đối chính diện: Lâm thủy đăng sơn nhật lộ tiệm nhập giai cảnh, Tầm nguyên phỏng cổ thử trung vô hạn phong quang. Dịch nghĩa: Đến cõi nước, trèo lên non, một lối dẫn dần vào cảnh đẹp, Tìm nguồn cội, hỏi chuyện xưa, trong chốn này biết mấy phong quang. Trên hai mặt tường ở hai bên có chữ Phúc và Lộc cỡ lớn, tô son như chúc cho mọi sự tất thành, trên hai chữ đại tự nét bút hoa mỹ tươi tắn này còn có hai hàng đề từ, một bên là ba chữ “Ngọc ư tư” nghĩa là “Ngọc ở đây”, một bên là ba chữ “Sơn ngưỡng chỉ” nghĩa là “Ngửa trông núi”. Một câu lấy trong sách Luận Ngữ, “Hữ mỹ ngọc ư tư” nghĩa là “Có ngọc đẹp ở đây”, một câu lấy trong Kinh Thi “Cao sơn ngưỡng chỉ” nghĩa là “Ngửa trông núi cao”. Ngọc là chỉ phẩm chất cao đẹp và núi cao chỉ bậc hiền tài. Long môn - Hổ bảng Đền Ngọc Sơn, Hà Nội, Việt Nam Qua cổng bên trái sừng sững là ngọn Tháp Bút bằng đá được xây trên ngọn núi cũng bằng đá, tháp vuông có năm tầng cao 28m, đáy tầng một là 2.0m và tầng năm là 1.2m. Trên đỉnh tầng thứ năm là ngọn bút lông, cả cán và ngòi cao 0.9m, tổng cộng cao 28.9m. Trên thân ba tầng giữa của tháp, mặt phía Bắc có khắc theo chiều dọc ba chữ “Tả Thanh Thiên” nghĩa là “Viết lên trời xanh”, đã có nhiều người giải thích ý nghĩa của ba chữ này như giải bày tấm lòng với trời xanh, cảm hứng đầy tráng khí, tâm hồn rộng mở bao la hay là đặt câu hỏi với trời xanh… nhưng chưa chắc chắn. Còn ngọn núi đá chân tháp có tên là núi Độc Tôn, ngay chân núi có một cái miếu nhỏ có tên “Sơn Thần miếu” tức “Miếu thần núi”. Hai bên cửa miếu có đôi câu đối: Cố điện hồ sơn lưu vượng khí, Tân từ hương hỏa tiếp dư linh. Điện cũ núi hồ lưu vượng khí, Đền nay hương lửa tiếp dư linh. Có một tấm bia nhỏ khắc chữ “Thái Sơn thạch cảm đương” - là tảng đá trấn yểm tà ma không cho chúng ma bén mảng tới nơi này. Thái Sơn là tên một ngọn núi ở vùng Sơn Đông, Trung Quốc, là ngọn núi quan trọng nhất trong năm ngọn núi nổi tiếng gọi là Ngũ Nhạc, được ghi nhận trong cuốn Kinh Thư, Thiên Thuấn Điển, được san định bởi đức Khổng Tử, các vua chúa phong kiến Trung Quốc xưa thường tới đây cúng tế. Qua Tháp Bút, tới cổng thứ hai, trên hai cột có đôi câu đối: Nhân gia văn tự vô quyền toàn bằng âm đức, Thiên thượng chủ tư hữu nhân đơn khác đan điền. Dịch nghĩa: Ở chốn nhân gia này cái quyền chân chính là sự tu dưỡng đạo đức, Trên trời kia, ông Thánh coi việc khảo thí nhân gian chỉ soi xét lòng dạ con người. Ở hai bên trụ đắp nổi một bên là rồng đang cuộn khúc và đàn cá đang thi nhau vượt sông bên trên có hai chữ Long Môn và một bên là một chú hổ trắng như đang tiến ra, bên trên có hai chữ Hổ Bảng. Hổ bảng nghĩa đen là bảng ghi tên người đỗ tiến sĩ, còn Long Môn là truyền thuyết Cá hóa rồng hay Cá vượt Vũ Môn. Tại Trung Quốc, dòng sông Dương Tử chảy từ Tây qua Đông, ở khúc thượng lưu đoạn chảy qua tỉnh Tứ Xuyên, huyện Quảng Nguyên, dòng sông gặp ngọn núi Long Môn, còn có tên là Vũ Môn, thành ra ghềnh thác, chân núi có vực sâu. Hàng năm vào mùa thu nước lớn, cá chép hội tụ về vực rất nhiều, đua nhau nhảy vượt thác, Tương truyền con cá nào vượt thác sẽ hóa rồng. Do đó Vũ Môn còn có thêm tên nữa là Long Môn. Cũng do đó mà có câu thơ “Vũ môn tam cấp lãng - Bình địa nhất thanh lôi” nghĩa là “Vượt qua ba cấp sóng ở Vũ Môn - Đất bằng vang sấm rền” mang ý nghĩa thí sinh giật giải thủ khoa một lúc ba cuộc thi liên tiếp là thi Hương, thi Hội và thi Đình, tức giật giải Tam Khôi. Hai bên có đôi câu đối: Hổ Bảng, Long Môn thiện nhân duyên tháp, Nghiễn Đài, Bút Tháp đại khối văn chương, Dịch nghĩa : Bảng Hổ, Cửa Rồng là để biểu dương nhân quả người làm điều tốt, Đài Nghiên, Tháp Bút là để mô tả nghiệp văn chương của đất trời. Qua cổng thứ ba có mái, trên mái đặt một cái nghiên đá cho nên cổng cũng có tên là Nghiễn đài Đài nghiên. Đài nghiên tạc từ đá xanh, hình quả đào cắt theo chiều dọc, có ba con cóc đội nghiên như chân kiềng. Trên thân nghiên có bài minh: “Xưa lấy huyệt đất làm nghiên, chú giải Đạo đức kinh, nghiền ngẫm bên nghiên lớn, viết sách Hán Xuân Thu. Từ đá tách ra làm nghiên, chẳng có hình dáng. Không vuông không tròn, dùng vào mọi việc thật là kỳ diệu. Không cao không thấp, ngôi ở chính giữa. Cúi soi hồ Hoàn Kiếm, ngửa trông ngọn Bút Tháp, ứng vào sao Thai mà làm ra mọi biến đổi. Ngậm nguyên khí mà mài vào hư không”. Điều lưu ý là mặt sau của Đài Nghiên, ở hai bên cửa có đôi câu đối mang màu sắc quan niệm cái “vô vi” của Lão giáo: Dạ nguyệt hoặc qua tiên thị hạc, Hào lương tín lạc tử phi ngư. Đêm trăng, ngờ bay qua hạc ấy là tiên, Cầu hào, tin niềm vui người không phải cá. Câu thứ nhất là lấy điển trong bài phú Hậu Xích Bích của Tô Đông Pha. Nguyên là vào một đêm trăng rằm, Tô cùng bạn dong thuyền chơi trên sông Xích Bích lần thứ hai, bỗng thấy một con chim hạc lớn bay qua trời. Lát sau Tô ngủ thiếp, mơ thấy một đạo sĩ mặc áo long bào phấp phới, Tô hỏi: Lúc nãy hạc bay qua thuyền có phải là ông không? Đạo sĩ ngoảnh mặt cười, Tô chợt tỉnh giấc. Câu thứ hai lấy điển từ sách Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Trang Tử và Huệ Tử đang đi chơi trên cầu bắc qua hào, Trang hỏi: Con cá đang bơi kia ý thỏa thích lắm? Huệ hỏi lại: Anh không phải cá sao biết cá vui? Trang đáp: Anh không phải tôi, sao anh biết là tôi không biết được cái vui của cá?. Tháp bút - Đài nghiên - Minh văn Ảnh tham khảo Internet Qua hết 15 nhịp cầu, còn thấy các bức tranh đắp hình Long mã phụ Hà Đồ và Thần quy cõng Lạc Thư theo truyền thuyết cổ xưa. Đối diện đình Trấn Ba là ba nếp đền ẩn hiện dưới bóng cây cổ thụ um tùm, nếp thứ hai gian giữa đặt hương án, đồ thờ và sập thờ. Có ba lớp tượng Quan Vũ và hai tùy tướng là Châu Xương và Quan Bình. Tượng Quan Vũ tư thế ngồi trên bệ, mặt đỏ, râu dài, mũ có vạt phù xuống lưng, trên chỏm có buộc dây lụa, trong mặc áo giáp, ngoài khoác áo choàng xanh, hộ tâm kính có hình rồng, tay phải úp trên đùi tay trái giơ ngang ra phía trước, chân đi hài. Tượng Châu Xương râu quai nón, mũ bó có chóp, đứng hầu bên phải, áo chẽn màu đỏ và xanh, cầm thanh long đao. Tượng Quan Bình nho nhã áo thụng, mũ võ sinh, áo bào đỏ, đứng bên trái, hai tay giơ ra như cầm một vật gì đó, nay không còn, chính là cái hòm đựng ấn của Quan Vũ. Có đôi câu đối ca ngợi Quan Vũ: Đại trung dĩ hành hồ đại dũng, Chính nghĩa nãi bản ư chí nhân. Đại trung để làm việc đại dũng, Chí nghĩa là gốc ở chí nhân. Lớp giữa là tượng Lữ Tổ (tức Lữ Đồng Tân, là một trong Bát Tiên) với hai bên có tượng Thiên Khôi và Thiên Việt. Tượng Lữ Tổ tạc ngồi trên bệ, đội mũ đạo sĩ, mặc áo vàng, dáng đĩnh đạc, tay trái đặt trên đùi, tay trái giơ ngang vai đang bắt quyết, có vẻ là quyết Chuẩn Đề. Thiên Việt có hình dáng một ông lão đạo mạo, mũ nhị cấp áo thụng có hình rồng lân. Thiên Khôi mang hình dáng là một tiểu quỷ, mặt xanh, có sừng, mình trần, quần ngắn, cổ tay cổ chân đeo vòng, thắt lưng đỏ, tay trái cầm sách, tay phải cầm bút giơ ngang đầu, một chân đứng lên con giao long, một chân giơ lên. Có bức hoành phi ca ngợi công đức của Lữ Tổ: “Cẩm huệ linh phương” nghĩa là “Cảm phục ân huệ ban thuốc linh nghiệm”. Ban thờ đền Ngọc Sơn Ảnh tham khảo Lớp trong là tượng thần Văn Xương, ngôi trên long ngai trong khám thờ. Mặt tượng hơi dài, đội mũ cánh chuồn, mình mặc áo bào xanh trang trí hình rồng mây suốt từ ngực xuống, gấu áo hình sóng nước. Tay phải úp trên đùi, tay trái ngửa, có ngón hơi khép lại để giữ một quyển sách, hai bên có tượng thị nữ đứng hầu. Có đôi câu đối ca tụng thần Văn Xương: Vị bỉnh đồ thư khai thái vận, Đức lưu hãn mặc xán thiên chương. Ngôi vị là giữ gìn sách vở mở ra vận đẹp, Đạo đức lưu giữ nơi bút mực rạng rỡ nền trời. Có một đôi câu đối đắp ngay trên mặt tường hồi hai bên cửa của tòa tiền tế: Đạo có chủ trương Đẩu Bắc văn minh chi tượng, Nhập đường chiêm ngưỡng Giao Nam lễ nhạc chi đô. Dịch nghĩa: Đạo có chủ trương, đó là hình tượng sáng đẹp của sao Bắc Đẩu, Người cùng chiêm ngưỡng, đây là kinh đô lễ nhạc của cõi Nam Giao. Bước vào trong cửa, trên hai cột chính là đôi câu đối: Sơn danh bất tại cao, thủy linh bất tại thâm, tự hữu chủ giả, Thiên trụ lại dĩ tôn, địa duy lại dĩ lập, duy thử hạo thiên. Dịch nghĩa: Núi nổi tiếng không vì cao, nước linh thiêng không vì sâu, chính vốn đã có chủ, Cột trời do vậy mà vững, dải đất do vậy mà bền, toàn nhờ khí hạo nhiên. Văn Xương Đế Quân là vị thần văn chương, khoa cử, chuyên cai quản các việc công danh, khoa cử trong thiên hạ. Văn Xương Đế Quân là vị thần có tướng mạo ung dung, tự tại, ngồi trên cỗ xe do lừa trắng kéo. Dân gian lấy ngày 3 tháng Hai âm lịch làm ngày Thánh đản của ngài. Vào ngày này, từ quan phủ cho đến các văn nhân, học sĩ đều đến miếu Văn Xương để tế tự hoặc ngâm thơ, làm văn, cử hành lễ hội Văn Xương. Đại diện là sao Khôi là ngôi sao thứ nhất trong chòm sao Bắc Đẩu. Chữ “Khôi” có nghĩa là người đứng đầu cho nên người đạt thành tích cao nhất trong thi cử được gọi là Khôi nguyên. Văn Xương Đế Quân được Đạo giáo và dân gian tôn sùng là thần chủ quản công danh phúc lộc của sĩ nhân. Văn Xương là tên chòm sao, cũng gọi là sao Văn Khúc (Văn Khúc tinh) hoặc sao Văn (Văn tinh). Người Trung Quốc thời xưa cho rằng đây là tinh tú nắm giữ công danh và văn vận của thế nhân. Văn Xương Đế Quân với thần Chu Y (bên trái) và thần Khôi Tinh (bên phải). Văn Xương Đế Quân Nguồn: Henri Doré, vol.6, tr.56 Chúng ta hãy cùng xem lại nội dung truyện Tam Quốc Chí, tác giả Bồ Tát Nguyễn Minh Không, tại Hồi 77: “Núi Ngọc Toàn, Quan Công hiển thánh - Thành Lạc Dương, Tào Tháo cảm thần”. Liền sai đem hai cha con Quan Công ra hành tội. Bấy giờ là năm Kiến An thứ 24 (219) tháng mười mùa đông. Quan Công bấy giờ năm mươi tám tuổi. Người sau có thơ rằng: Cuối Hán ai là giỏi? Vân Trường mấy kẻ tày! Thần oai, võ đã mạnh, Nho nhã, văn cũng hay. Lòng ngay tỏ như kính, Khí nghĩa cao ngất mây. Nghìn thu danh tiếng để, Không những nhất đời nay! Lại có thơ rằng: Anh hùng còn nhớ Giải Lương xưa, Lẫm liệt Quan Công tiếng đến giờ. Huynh đệ một ngày tình nghĩa nặng, Đế vương muôn kiếp khói hương thờ. Gương trung vằng vặc, soi trời bể, Khí nghĩa ầm ầm, nổi gió mưa. Đình miếu đến nay đâu chả có, Trải bao năm tháng vẫn trơ trơ! Quan Công mất rồi, con ngựa xích thố bị Mã Trung bắt được, đem về dâng Tôn Quyền, Quyền thưởng cho Mã Trung cưỡi. Con ngựa ấy mấy hôm không chịu ăn cỏ rồi cũng chết. Vương Phủ ở Mạch Thành, bỗng nhiên giật mình run sợ, hỏi Châu Thương rằng: - Đêm qua tôi nằm mơ thấy chúa công máu me khắp cả mình đứng ở trước mặt tôi, toan hỏi, thì sực tỉnh dậy ngay, không biết hay dở ra sao? Đang nói chuyện, có người vào báo rằng: - Quân Ngô mang đầu hai cha con Quan Công đến ngoài thành chiêu an. Vương Phủ, Châu Thương cùng giật mình, vội vàng lên mặt thành trông ra, thì quả nhiên thực. Vương Phủ hét to lên một tiếng, rồi đâm nhào xuống dưới thành mà chết. Châu Thương cũng đâm cổ tự vẫn. Mạch Thành thuộc nốt về Đông Ngô. Quan Công từ khi mất rồi, linh hồn không tan, cứ là là bay trên không, đến mãi một trái núi ở huyện Đương Dương, thuộc về châu Kinh Môn gọi là núi Ngọc Toàn. Trên núi có một nhà sư già, tên là Phổ Tĩnh. Sư già ấy trước ở chùa Trấn Quốc, ải Dĩ Thủy. Từ khi cứu Quan Công ra khỏi cửa ải, thường thường vãn cảnh đi khắp mọi nơi. Khi đến ngọn núi này, thấy cảnh gió mát trăng trong, âm u tĩnh mịch, mới làm một túp am cỏ trụ trì ở trên núi ấy, có một tiểu đồng hầu hạ, hàng ngày ngồi trong am tụng kinh. Bữa ấy vào độ cuối canh ba, trăng thanh gió mát, Phổ Tĩnh đang ngồi trong am tụng kinh, bỗng nghe ở trên không có tiếng gọi trong lên rằng: - Đem trả đầu ta đây! Phổ Tĩnh ngẩng mặt lên xem thì thấy trên không có một người cưỡi ngựa xích thố, cầm đao thanh long, bên tả có một tướng mặt trắng, bên hữu có một tướng mặt đen râu rậm, ở trên mây hạ xuống, ngồi trên đỉnh núi. Phổ Tĩnh trông rõ ràng là Quan Công, mới lấy đuôi phất trần đang cầm trong tay, gõ vào cánh cửa mà hỏi rằng: - Vân Trường ở đâu? Linh hồn Vân Trường sực tỉnh ra, lập tức xuống ngựa, cưỡi gió sa xuống trước am, chắp tay hỏi rằng: - Sư cụ ở đây là gì? Xin cho tôi được biết pháp hiệu? Phổ Tĩnh nói: - Lão tăng tên là Phổ Tĩnh, khi ở trong chùa Trấn Quốc, cạnh cửa ải Dĩ Thuỷ, đã được gặp quân hầu, nay quên mất rồi ư? Quan Công nhớ ra, nói rằng: - Trước kia nhờ sức cứu cho, tôi vẫn ghi dạ không dám quên, nay tôi đã gặp nạn chết rồi, xin cầu lời thanh hối, chỉ điểm đường mê muội cho tôi. Phổ Tĩnh nói: - Xưa trái nay phải, nhất thiết không bàn, nhân trước quả sau, bao giờ vẫn thế. Nay tướng quân bị Lã Mông làm hại, kêu lên rằng: “Đem trả đầu cho ta đây!” Thế thì đầu Nhan Lương, Văn Sú, cùng những đầu sáu tướng ở năm cửa ải, và bao nhiêu đầu nữa thì đòi vào đâu? Quan Công tỉnh ngay ra, cúi đầu lạy tạ rồi biến đi mất. Về sau thường thường hiển thánh ở núi Ngọc Toàn, cứu hoạ cho nhân dân phương ấy. Dân ở đây cảm ân đức, lập miếu trên đỉnh núi, bốn mùa tế bái. Người sau có đề một câu đối ở miếu ấy rằng: Xích diện bỉnh xích tâm, kỵ xích thố truy phong, trì khu thời, vô vong Xích Đế, Thanh đăng quan thanh sử, trượng thanh long yển nguyệt, ẩn vi xứ, bất quý Thanh Thiên. Dịch nghĩa: Bộ mặt đỏ, giữ tấm lòng đỏ, mình cưỡi con ngựa xích thố truy phong, lúc ruổi dong không bao giờ quên về Vua Đỏ, Ngọn đèn xanh, xem bộ sử xanh, tay cầm thanh long đao yển nguyệt, nơi kín đáo chẳng chỗ nào thẹn với Trời Xanh. Qua hồi sách trên, tác giả đã dùng hình ảnh ngôi chùa Trấn Quốc, chùa nằm trên một hòn đảo phía Đông Hồ Tây, được coi là ngôi chùa lâu đời nhất ở Thăng Long, Hà Nội; còn mật ngữ núi Ngọc Toàn chính là núi Ngọc có đền Ngọc Sơn thờ Quan Công. Chúng ta biết rằng chỉ sau khi truyện Tam Quốc Chí ra đời, thì tục lệ thờ Quan Thánh Đế Quân với Chu Thương và Quan Bình mới phổ biến một cách rộng rãi và mạnh mẽ trong dân chúng ở Việt Nam và Trung Quốc. Nhà sư Phổ Tĩnh cầm phất trần gặp Quan Công chính là hình ảnh vị tiên Lữ Đồng Tân, một trong Bát Tiên. Ngọn núi đá xếp dưới chân Tháp Bút có tên Độc Tôn, lấy từ câu nói nổi tiếng của Hương Vân Cái Bồ Tát: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. “Vua Đỏ” ở đây là Xích Quỷ tức vua Kinh Dương Vương đối lại với “Trời Xanh” thì ông chính là Ngọc Hoàng Thượng Đế, với biểu tượng mặt trời hay dân gian thường gọi là ông Trời. Như vậy, đền Ngọc Sơn đã có từ thời nhà Lý, được ghi nhận trong tác phẩm Tam Quốc Chí và là một trong những trung tâm tín ngưỡng quan trọng của Thăng Long thành lúc bấy giờ. Quan Thánh Đế Quân Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Qua di tích đền Ngọc Sơn tại hồ Hoàn Kiếm, chúng ta không khỏi thắc mắc: tại sao nơi trung tâm Thăng Long thành, theo truyền thuyết đã từng được xem là huyệt đạo của quốc gia lại tôn thờ Lữ Đồng Tân và Quan Công và phải chăng có những điều bí ẩn nào đó ở bên trong? Qua bức tranh dân gian Hàng Trống Bát Tiên náo hải, chúng ta đã biết Lữ Đồng Tân, một tay phải cầm bảo kiếm, tay trái cầm phất trần chính là vua Lạc Long Quân và chùa Một Cột thờ Quan Âm Bồ Tát chính là Mẫu Âu Cơ hay Chúa Mẫu Thoải cùng một nơi. Đồng thời, nảy sinh mối nghi vấn thần Văn Xương là ai? Khi mà tác giả lại đề cập đến chùa Trấn Quốc trong hồi sách liên quan đến Quan Công? Nhằm giải thích các sự kiện, chúng ta cần phải xem qua môn thiên văn Đông phương bởi Văn Xương với biểu tượng là một chòm sao trên bầu trời (chúng tôi tham khảo và trích dẫn một phần nội dung Thiên văn học cổ Trung Hoa, tác giả Nguyễn Văn Thọ). Thiên văn Đông phương Ngay từ khoảng năm 2000 tr.CN, các đài quan sát thiên tượng đã được dựng ở kinh đô các quốc gia. Lúc Tần Thủy Hoàng lên ngôi 221 tr.CN, đã ra lệnh đốt sách Nho giáo và các tư tưởng. Tuy sách thiên văn thuộc về bói toán, nằm ngoài danh sách phải hủy nhưng cũng rất nhiều quyển đã chịu chung số phận, nên những gì còn lại về thời trước đời Tần chỉ rất rời rạc, sau đó chính Tần Thủy Hoàng cũng trọng dụng lại 300 người làm nghề xem sao. Các ý kiến về quan sát thiên văn sớm nhất ở Trung Quốc không thống nhất, đa số cho rằng nó vào khoảng thế kỷ XXIV tr.CN, với dấu tích là các giáp cốt văn (ghi trên xương thú, mai rùa). Các ghi chép bắt đầu rõ ràng vào khoảng đời nhà Thương cho tới năm 1500 tr.CN. Trong khi nền văn hóa Babylon gần như không còn để lại dấu tích nào về thiên văn, thì người Trung Quốc lại gìn giữ những ghi chép liên tục cho đến tận ngày nay. Trong Kinh thư, chương Nghiêu Điển ghi nhận: “Bèn sai ông Hy bá và ông Hòa bá (hai ông quan coi làm lịch) kính theo định luật của trời, xem xét độ số mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao (Nhị thập bát tú) và truyền bá rất kính cẩn cho dân gian biết những thời hậu cấy gặt sớm, muốn thế nào… Vua Nghiêu nói rằng: này thầy Hy và thầy Hòa, trong vòng một năm 366 ngày, theo tháng nhuận, định bốn mùa thành một năm. Theo lịch mà điều khiển trăm quan, mọi việc đều thịnh vượng”. Trước sự hỗn độn, không thống nhất, không đối xứng của các vì sao, người Trung Quốc gọi bầu trời nói chung là Hỗn Thiên. Trước khi phát hiện về bản đồ sao động Đôn Hoàng, bản đồ sao hoàn chỉnh rất sớm được ghi nhận là bản đồ sao đời Bắc Tống, vẽ vào thời Nguyên Phong (1078-1085), được khắc lên bia đá năm 1247, đặt trong khu đền Khổng Tử, đến nay vẫn còn nguyên vẹn. Trên tấm bia Thiên văn đồ đó chia rõ phương vị, cung độ, gồm 1434 vì sao được chia thành các chòm, có đủ Hoàng đạo, Thiên Xích đạo, Ngân hà. Bên dưới là bài văn bia 209 chữ chép rõ về các kiến thức thiên văn. Bản đồ thiên văn cổ Động Đôn Hoàng, thời nhà Đường, Trung Quốc Bản dập Thiên Văn đồ Thời Bắc Tống, Trung Quốc Hiện tượng Nhật thực lần sớm nhất được ghi lại là vào năm 2136 tr.CN: “Năm thứ 5 đời Trọng Khang nhà Hạ, mùa thu, hạ tuần tháng 9, ngày Canh Tuất, có hiện tượng Nhật thực”. Khi có Nhật thực, người Trung Hoa tin rằng đó là do mặt trời bị ăn mất (thực - ăn), nên làm lễ cầu nguyện, cúng bái, dùng âm thanh để “xua đuổi quái vật ăn mặt trời”. Hiện tượng Nguyệt thực thường xảy ra hơn, nên cũng ít được chú ý hơn, lần ghi chép về nguyệt thực sớm nhất là năm 1065 tr.CN. Một tài liệu đời Tây Hán (thế kỷ II tr.CN) tìm được năm 1973 ghi rõ chu kỳ của Sao Kim là 584.4 ngày, Sao Mộc là 377 ngày, Sao Thổ là 594.4 ngày, chỉ sai lệch so với kết quả ngày nay chưa đến 0.3 ngày. Đời Hán Cao Tổ, hiện tượng 5 hành tinh của hệ mặt trời ở vị trí thẳng hàng được gọi là “chuỗi ngọc 5 sao”. Vào khoảng năm 484 tr.CN, các tính toán cũng xác định độ dài chính xác của một năm là 365.25 ngày, là cơ sở cho việc xây dựng hệ thống âm dương lịch khá hoàn chỉnh. Tuệ tinh (Sao chổi) được quan sát sớm nhất từ năm 613 tr.CN. Trong một lăng mộ cổ từ thế kỷ V tr.CN được khai quật năm 1973 có cuộn lụa vẽ lại 29 ngôi sao chổi, thành quả quan sát hơn 300 năm. Trong đó có ngôi có 2 đuôi, ngôi có đuôi thẳng và dài, có ngôi lại có đuôi móc câu. Họ cũng nhận xét là hầu hết các sao chổi có đuôi bay ngược chiều mặt trời, và cho rằng đó là Thiên khí từ mặt trời thổi ra. Sao chổi Tham khảo Internet Ngôi sao chổi Halley xuất hiện năm 240 tr.CN (năm thứ 7 đời Tần Thủy Hoàng) đã quay lại vào năm 164 tr.CN, rồi lại được nhìn thấy vào những năm sau đó, đã giúp các nhà thiên văn Trung Quốc tìm ra chu kỳ 76 năm của nó. Thực ra quan sát thấy sao chổi đầu tiên năm 613 tr.CN (ghi trong Kinh Xuân Thu) chính là Halley, nhưng bị gián đoạn. Quĩ đạo của hơn 40 sao chổi đã từng xuất hiện cũng được ghi lại cẩn thận trong các bản đồ cổ, đặc biệt năm 600, một sao chổi được ghi lại là “sáng như mặt trăng”. Trong toàn bộ thời phong kiến, từ thời Ân đến 1911, có 360 văn bản ghi lại sự xuất hiện của sao chổi, trong đó sao chổi Halley là 31 lần. Một quan sát đặc biệt quan trọng của người Trung Hoa đó là sao Khách - những vì sao sáng rực lên trong một thời gian ngắn rồi tối đi, giống như người khách qua đường, ngày nay ta gọi đó là các Siêu tân tinh. Quan sát đầu tiên trên thế giới của họ được ghi lại là năm 14 tr.CN. Hiện tượng nổi tiếng nhất là vào đời nhà Tống. Ngày 4 tháng 6 năm 1054, một ngôi sao bống rực sáng trên bầu trời phía Đông, thậm chí thấy rõ trong ánh sáng ban ngày suốt 23 ngày khiến người Trung Quốc kinh hoàng. Các quan khâm thiên quan sát suốt ngày đêm không nghỉ, cho đến khi nó tối hẳn vào cuối tháng 4 năm 1056, sau 643 ngày bùng nổ. Vị trí của nó ở gần Hoàng đạo và sao Tất (Zeta Taurius), ngày nay Siêu tân tinh đó được biết đến dưới cái tên Crab Nebula, và đến năm 1968 vẫn còn tiếp tục phun vật chất vào vũ trụ. Hỗn Thiên Nhất thống Tinh tượng Toàn đồ - 1500 Tư liệu Trung Quốc Cùng với các quan sát tỉ mỉ, các hệ thống công trình cũng được triều đình cho xây dựng. Đầu Công nguyên, nhà Hán đã xây dựng một loạt đài thiên văn dọc theo Trường Thành để đo thời gian và chuyển động của các thiên thể. Thậm chí có tài liệu viết rằng năm 721-725, dưới thời Đường, một hệ thống cột định vị được dựng theo hướng Bắc - Nam, cận Nam từ tận miền Trung Việt Nam, cực bắc lên đến sát Trường Thành. Cột đồng lớn nhất được dựng năm 1276 đời Tống, cao đến 12m. Dùng Thổ Khuê và Biểu Can để đo nhật ảnh, xác định ngày Đông Chí Cây nêu cốt là để đo bóng mặt trời để xác định các ngày Đông Chí, Hạ Chí, Xuân Phân, Thu Phân, v.v. Theo Đổng Tác Tân, tác giả bộ Ân đại chi lịch pháp nông nghiệp dữ khí tượng, từ đời Thương người ta đã biết dùng cây nêu để đo bóng mặt trời. Cây nêu Nhật quĩ: trên nguyên tắc, nhật quĩ là một vòng tròn, chung quanh có ghi giờ hoặc ghi khắc, giữa vòng tròn có một cây trục để lấy bóng mặt trời. Nhật quĩ có thứ để thẳng, có thứ để nghiêng theo độ dốc của đường xích đạo, cũng có thứ nhật quĩ hình chữ nhật. Nhật quỹ Nhật quĩ hình chữ nhật Hình trên nhật quĩ Nhật quĩ đào được ở Lạc Dương Hồn nghi là một dụng cụ để xem xét sự vận hành của mặt trời, mặt trăng, và sự xuất-một (mọc và lặn) của các vì sao. Trung Quốc Sử Lược của Phan Khoang chép: “Đời vua Hoàng Đế, Dung Thành đã phát minh ra cái máy Cái Thiên để quan sát tinh tượng. Đến đời Đông Hán có Trương Hành chế ra hai thứ máy gọi là Hồn thiên nghi, xem biết sự vận hành của mặt trời, mặt trăng, và sự xuất-một của các ngôi sao, và Địa động nghi để xem nơi nào có địa chấn. Hai thứ máy ấy rất có giá trị; đời sau nhiều người bắt chước làm theo”. Hồn nghi tân tiến Hồn nghi tại Nam Kinh Năm 1932, người ta đào được ở Lạc Dương một thứ nhật quĩ để thẳng. Đó là một vòng tròn, có lỗ ở tâm điểm để cắm cọc lấy bóng. Chung quanh vòng tròn chia thành 100 độ tức 100 khắc. Nhưng 32/100 thì để trống; 68/100 còn lại chia thành 68 khắc. Khắc đầu và khắc cuối của nhật quĩ này cho thấy hướng mặt trời mọc và lặn ngày Hạ Chí.Trên nhật quĩ này ta còn thấy những hình tương tự như các mẫu tự T, L, V. Cho đến nay người ta cũng chưa biết được ý nghĩa của những hình ấy.Có cái lạ nữa là những hình T, L, V này còn được thấy khắc trên cái gương đời Hán, cũng như trên nhiều đồ chơi của người xưa. Do nhận ra chu kỳ quay tròn của bầu trời, người Trung Quốc cũng chia vòng tròn thiên cầu thành các độ, tuy nhiên độ này ứng với các ngày trong năm, nên một vòng tròn có 365 và ¼ độ. Vào đầu Công nguyên họ cũng tính ra độ dài của 1 cung kinh độ là khoảng 155km, đến đời Đường (thế kỷ VII) họ tính lại là 123.7km (thực tế khoảng 111km). Thiên văn Đông Phương cho rằng tâm điểm là Bắc Thần tức Tiểu Hùng Tinh ngày nay, là Hạo Thiên Thượng Đế, càng ở trong càng quý, càng ra bên ngoài thì càng hèn, và tổ chức thiên văn cũng như tổ chức triều đình dưới thế. Vua dưới trần có nội cung, có triều đình, có cung quán và lãnh thổ quốc gia, thì Hạo Thiên Thượng Đế cũng có Tử Vi Viên tức là nội cung với thê tử, Thái Vi Viên là triều đình luận sự, Thiên Thị Viên tức là lãnh thổ quốc gia. Mặt trời, mặt trăng, và ngũ tinh chẳng qua là những vì sao nhỏ, xoay vần trên vòng Hoàng Đạo, trên 12 cung Hoàng Đạo, qua 28 quán xá trời mây hay 28 chòm sao mà ta thường gọi là Nhị thập bát tú, để mà tạo nên tứ thời bát tiết, tạo nên thời gian thiên nhiên và thời gian lịch sử cho nhân quần. Sông Ngân Hà <a href="http://nhantu.net/BienKhaoTongQuat/ThienVan/ThienVan8.htm#T%E1%BB%AD%20Vi%20Vi%C3%AAn">Tử Vi Viên: Tử Vi Viên tức là nội cung, gồm 54 chòm sao. Ta thấy Thiên Hoàng Đại Đế ngự ở ngôi Bắc Thần. Có Câu Trần làm cận vệ, có Đế Tọa (Thiên Đế Tinh), có Thiên Sàng, có lọng che (Hoa Cái và Giang), lại có các Hậu Phi, Thái Tử, các Thứ Tử, các công chúa (Ngự Nữ). Điểm qua hàng phụ tá, ta thấy có: Tứ Phụ, Thượng Thư, Trụ Sử (Ngự sử), Đại Lý, Tam Sư, Tam Công (tương ứng với 3 vị quan lớn trong triều vua dưới trần gian: Tư Đồ, Tư Không, Thái Úy), Tướng, Tam Thai, Văn Xương, Thái Tôn, Thiên Ất, Thái Ất, Lục Giá, Thái Dương Thủ, Truyền Xá. Ngoài ra còn có: Thiên Trù, Nội Trù, Thiên La, Tả Khu. Hữu Khu. Và nhất là chiếc xe trời Đế xa gồm 7 vì sao Bắc Đẩu - Đại Hùng Tinh: (1) Khu Tinh (Tham Lang), (2) Tuyền Tinh (Cự Môn), (3) Kỵ Tinh (Lộc Tồn), (4) Quyền Tinh (Văn Khúc), (5) Hành Tinh (Liêm Trinh), (6) Khai Dương (Vũ Khúc), (7) Giao Quang (Phá Quân). Tử Vi Viên Thái Vi Viên:là chỗ Thượng Đế thiết triều. Ở giữa có Ngũ Đế Tòa chỗ ấy là ngai Thượng Đế (Hoàng Đế). Đàng sau ngai Đế Tòa, ta thấy: Thái Tử và các cận vệ như: Hạnh Quan, Tòng Quan, Hổ Bí, Thường Trần, Lang Tướng, Tam Thai, Lang Vị. Hai bên tả hữu phía trước ngai lại giàn ra hai hàng văn võ: Thượng Tướng, Thứ Tướng, Thượng Tướng, Thứ Tướng, Tả Chấp Pháp, Hữu Chấp Pháp. Nơi sân rồng ta thấy bức bình phong (Nội bình) và sự hiện diện của: Cửu Khanh, Tam Công, Chư Hầu, Yết Giả. Xa hơn nữa, ta thấy có cửa Đoan Môn, toà Minh Đường, tòa Linh Đài cùng với bức tường ‘Trường Viên’ của triều đình Thiên Quốc. Thái Vi Viên gồm 29 sao hay chòm sao. Thái Vi Viên Thiên Thị Viên:Còn gọi là Hạ Viên trong Tam Viên, đặc biệt có các chòm sao mang tên các nước thời Chiến Quốc. Do 2 hàng rào vây quanh, mỗi hàng rào gồm 11 ngôi sao chính, ở 2 phía Đông (Tả Viên) và Tây (Hữu Viên) hợp thành, tượng trưng cái “chợ trên trời”. Đế Tòa cư ở bên trong, có 22 vị quan hoặc chư hầu vây quanh. Cửa Thiên Thị nằm giữa hai sao ở phía Nam. Khu Thiên Thị Viên gồm 19 chòm sao: Lưỡng Viên, Thị Lâu, Xa Tứ, Tông Chính, Tông Nhân, Tông, Bạch Đạc, Đồ Tứ, Hầu, Đế Tòa, Hoạn Giả, Liệt Tứ, Đấu, Hộc, Quán Sách, Thất Công, Thiên Kỷ, Thiên Sàng, gồm 87 ngôi sao chính. Thiên Kỳ Đình tên chòm sao gồm 22 ngôi, tức hai hàng rào của Thiên Thị Viên. 11 ngôi ở hàng rào phía đông (Tả Viên) tính từ phía nam là: Tống, Nam Hải, Yên, Đông Hải, Tử, Ngô Việt, Tề, Trung Sơn, Cửu Hà, Triệu, Ngụy. 11 ngôi ở hàng rào phía tây (Hữu Viên) tính từ phía nam là: Hành Sở, Lương, Ba, Thục, Tần, Chu, Trịnh, Tấn, Hà Gián, Hà Trung. Thiên Thị Viên Từ điển văn hóa Trung Quốc, tác giả Nghiêm Tôn Nhan Trung đạo tức Hoàng đạo, còn gọi là Quang đạo, đường vận hành trong một năm của mặt trời giữa các hằng tinh mà ta nhìn thấy. Hán thư - Thiên văn chí: "Mặt trời có Trung đạo". Mặt trăng và ngũ tinh cũng vận hành gần Trung đạo. Thời cổ nói Trung đạo phía bắc đến sao Tỉnh, phía nam đến sao Ngưu phía đông đến sao Giốc, phía tây đến sao Lâu; tiết Hạ Chí đến sao Tỉnh, tiết Đông Chí đến sao Ngưu, tiết Xuân Phân đến sao Lâu, tiết Thu Phân đến sao Giốc. Căn cứ mặt trời, mặt trăng và Ngũ tinh vận hành theo Trung đạo mà xác định bốn mùa, dự đoán khi hậu. Thời cổ cũng có khi gọi Trung đạo là Quỹ đạo. Thiên Hán: tức Ngân Hà, còn gọi là Thiên Hà, Ngân Hán hoặc Hán Tân. Là hệ sao do rất nhiều hằng tinh hợp thành. Thời cổ thấy nó có hình dạng một dải mây sáng, nên gọi là Hà (dòng sông tượng dòng sông trên trời. Thời cổ cho rằng nó khởi nguồn tử phương đông, qua đuôi sao Ki thì tách ra hai nhánh nam bắc; nhánh nam đi qua các sao Phó Thuyết, Ngư, Thiên Thược, Thiên Bôn, Hà Cổ; nhánh bắc đi qua các sao Quy, sao Ki, Nam Đẩu Khôi, Tả Kỳ, đến dưới sao Thiên Tân thì hợp với nhánh nam mà chảy về phía tây nam, vòng sao Qua, qua sao Nhân, sao Chử, Thiên Thuyền, Quyển Thiệt; rồi đi về phía nam, qua Ngũ Xa, Bắc Hà Nam, nhập vào vị trí sao Tỉnh mà chảy ra đông nam, cuối cùng chìm lẫn vào sao Thất Tinh. Thuật chiêm tinh thường căn cứ vị trí của Thiên Hán qua chòm sao nào mà xem tượng, dự đoan nhân sự. Dải Ngân Hà ban đêm Sông Ngân Hà vắt ngang theo chiều Tí Ngọ. Cát Hồng Bão Phác Tử viết: Sông Ngân Hà nơi gần Bắc Cực chia thành hai nhánh, và từ đó vắt sang Nam Cực. Một nhánh qua chòm sao Nam Đẩu, một nhánh qua chòm sao Đông Tỉnh. Gustav Schlegel cho rằng quả thực cách đây 18.500 năm sông Ngân Hà đã có vị trí như trên, và sách chiêm tinh học đều ghi chép như vậy. Tuy nhiên, vì sự chuyển dịch ngày nay chỗ sông Ngân Hà chẻ nhánh đã xa Bắc Cực nhiều. Khoảng gần Bắc Cực, sông Ngân Hà có một chỗ khô “có thể lội qua” gọi là Thiên Tân (bến trời) thuộc các chòm sao Ngưu, Đẩu, vì thế Thiên Tân còn có một tên là Cách Tinh. Cách là đến, Tân là qua. Bắc Cực: Còn gọi là Bắc Thần, chỉ ngôi sao ở sát Bắc cực. Trong lịch sử, từng lấy sao Đế làm sao Bắc Cực (như Thiên quan thư). Sau lấy sao Nữu làm sao Bắc Cực. Chòm sao Bắc Cực gồm 5 ngôi: Thái Tử, Đế, Thứ Tử, Hậu, Nữu hoặc Bắc Cực. Sao thứ 5, sao Nữu, còn gọi là sao Thiên Khu. Tùy thư - Thiên văn chí: "Trời vận động không ngừng, Tam Quang đổi ngôi, riêng sao Cực không xê dịch, nên nói mọi ngôi sao đều hướng về chỗ nó". Tượng trưng cho bậc chí tôn của mọi ngôi sao, chỗ ở của đế vương. Bắc Đẩu gồm 7 sao, đã được Kinh Thư đề cập đến khi nói rằng (vua Thuấn) quan sát tuyền ki và ống ngọc hành để điều chỉnh thất chính. Chòm sao Tiểu Hùng Tinh tức chòm sao Gấu Nhỏ, nó quan trọng vì nó chứa sao Thiên Cực Bắc (Bắc Cực, Bắc Thần) là ngôi sao duy nhất đứng yên trên bầu trời. Đường nối từ Trái Đất tới sao Bắc Cực được gọi là Thiên trục và người xưa quan sát mọi tinh tú quay quanh Thiên trục này. Thiên trục bản thân lại không cố định mà nó có chuyển động theo một hình nón gọi là tiến động (tuế sai). Hình chóp này có đỉnh là trái đất và đáy thì quét thành một vòng tròn nhỏ đi qua các chòm sao Thiên Vương, Thiên Nga, Thiên Cầm, Vũ Tiên, Thiên Long. Hiện giờ, sao Bắc Cực đang nằm ở trong chòm Tiểu Hùng Tinh, 2.000 năm nữa sẽ ở chòm sao Thiên Vương, 8.000 năm nữa sao Bắc Cực sẽ ở chòm sao Thiên Nga, 10.000 năm nữa ở chòm sao Thiên Cầm,... một chu kỳ như vậy thiên văn phương Tây tính được xấp xỉ 26.000 năm, còn thiên văn phương Đông theo môn Thái Ất tính ra là 25.920 năm, sai số giữa hai nền thiên văn khoảng 80 năm. Mặt trời di chuyển trên Hoàng Đạo Nhị thập bát tú: tức là 28 quán xá trời để cho mặt trời, mặt trăng và ngũ tinh chuyển vận lại qua. Nhị thập bát tú theo từ nguyên, vừa có ý nghĩa luân lý, vừa có mục đích mô tả lại công việc một năm của nhà vua. Ví dụ: Giác là vạn vật bắt đầu sinh. Vạn vật sinh ra rồi thì phải định tông miếu lễ nghĩa (Cang), v.v. Giác là đầu mùa xuân, cũng là sừng để tung lòng trời, lòng đất mà nhô lên. Giác có phụ tinh là Thiên Điền, vì đầu xuân vua ra đồng để cấy một luống tượng trưng… Nhị thập bát tú gồm 4 nhóm sao lớn và được xếp theo vòng vận động trời đất là Đông - Bắc - Tây - Nam, ngược chiều kim đồng hồ, tức Thanh Long - Huyền Vũ - Bạch Hổ - Chu Tước, vì vậy thứ tự các Tinh tú là: Giác - Cang - Đê - Phòng - Tâm - Vĩ - Cơ - Đẩu - Ngưu - Nữ - Hư - Nguy - Thất - Bích - Khuê - Lâu - Vị - Mão - Tất - Chủy - Sâm - Tỉnh - Quỷ - Liễu - Tinh - Trương - Dực - Chẩn. Tứ Linh Thiên đồ vùng phụ cận Bắc Cực Người xưa còn chia vòng Hoàng Đạo ra làm 12 cung, so sánh với những tên tương ứng theo cung thiên văn phương Tây: A (Xưa) C D E F Sửu Tinh Kỷ Ma Yết Đẩu, Ngưu le Génital Tí Huyền Hiêu Bảo Bình Nữ, Hư, Nguy le Germinal Hợi Thú Tư Song Ngư Thất, Bích l’Aréal Tuất Giáng Lâu Bạch Dương Khuê, Lâu l’Initial Dậu Đại Lương Kim Ngưu Vị, Mão, Tất l’Agitatoire Thân Thật Trầm Song Tử Chủy, Sâm le Clotural Mùi Thuần Thủ Cự Giải Tỉnh, Quỉ le Collisal Ngọ Thuần Hỏa Sư Tử Liễu,Tinh, Trương le Pructidor Tỵ Thuần Vĩ Thất Nữ Dực, Chẩn le Messidor Thìn Thọ Tinh Thiên Xứng Giác, Cang Vendemiaire Mão Đại Hỏa Thiên Yết Đê, Phòng, Tâm le Sicaire Dần Tích Mộc Nhân Mã Vĩ, Cơ le Réfugiaire Nhị thập bát tú mang nhiều ý nghĩa văn hóa, chẳng hạn chòm sao Khuê tượng trưng cho vẻ đẹp, cao quý của văn học, ở Văn miếu Hà Nội có Khuê Văn Các (gác sao Khuê), trong chòm Khuê có 2 ngôi sáng nữa là Đông và Bích (không phải chòm Bích), nên Đông Bích cũng để chỉ văn học. Mô hình vũ trụ thu nhỏ Trích Thiên văn lịch pháp phương Đông, Trần Văn Tam Trong đồ hình trên bầu trời, Thanh Long phương Đông nằm ở bên trái, Chòm Giác Đông Nam ở góc dưới bên trái, theo đúng Hậu Thiên bát quái là Trời bắt đầu mở ở Đông Nam, vòng dần lên trên vòng dần lên trên tức là theo phương Nam mà xoay vòng (trên bầu trời phương vị ngược với mặt đất). Thất Chính:Thất Chính gồm: Mặt trời (Thái Dương); Mặt trăng (Thái Âm); và Ngũ tinh: Kim Tinh (Thái Bạch); Mộc Tinh (Mộc Đức); Thủy Tinh (Thủy Diệu); Hỏa Tinh (Vân Hán); Thổ Tinh (Thổ Tú). Hỏa, Mộc, Thổ: Dương (chủ ngoại) và Kim, Thủy: Âm (chủ nội) Người xưa quan sát tinh tượng từ trái đất và bằng mắt trần, nên thấy các hành tinh có những đường lối hết sức là phức tạp, lắt léo, lúc tiến lúc lui, lúc đi lúc đứng, lúc hiện lúc ẩn, lúc ấp lúc trì; ánh sáng cũng tùy theo thời tiết, tùy theo các lớp mây lớp mù mà biến sắc, do đó họ cho là các vì sao biết giận biết vui như con người, tiến thì hay, thoái thì dở… Các hành tinh Thổ, Mộc, Kim: Các hành tinh Kim, Thủy: Người xưa muốn xem điềm trời lành dữ ứng vào nước nào, bèn chia Trung Quốc và các nước chư hầu thành những miền ứng với một chòm sao nào đó của Nhị thập bát tú, cách đó gọi là Phân dã. Như vậy trời trở thành một trạm thám sát cho nhà vua để vua trông lên trời mà biết tình hình từng phương, từng xứ dưới trần gian… ví dụ, nước Việt Nam theo Hán Thư Thiên Văn Chí thì ứng vào sao Dực Chẩn, theo Tấn Thư Thiên Văn Chí thì ứng vào chòm sao Ngưu Nữ. Bảng tóm tắt Phân dã theo cuốn Nghiên cứu tính mệnh học - từ thuyết phân dã đến các khoa mệnh lý, tác giả Nguyễn Anh Vũ, Nxb Thời Đại, 2010 Phân dã theo Sử Ký - Thiên quan thư Giác, Khang, Đê Duyện Châu Phòng, Tâm Dự Châu Vĩ, Cơ U Châu Đẩu Hồ Châu Ngưu, Nữ Dương Châu Hư, Nguy Thanh Châu Thất, Bích Tịnh Châu Khuê, Lâu, Vị Từ Châu Mão, Hoa Dực Châu Chủy, Tham Ích Châu Tinh, Quỷ Ung Châu Liễu, Tinh, Trương Tam Hà Dực, Chẩn Kinh Châu Khảo sát về thiên văn học cổ phương Đông, ta thấy các nhà thiên văn chẳng những muốn nghiên cứu sự vận chuyển các vì sao, mà còn muốn đem tâm tư con người mà điểm xuyết cho các vì sao, làm cho bầu trời trăng sao trở thành một thiên đình linh động, thành một triều đình được tổ chức như trần thế. Sau cùng, đem gắn liền hoạt động các vì sao vào công việc, vào số mệnh và sự hưng vong họa phúc của dân nước. Chúng ta cũng nhận thấy tên các nước lớn trong thời Chiến Quốc sau khu nhà Chu tan rã đều có tên trong các ngôi sao này, đặc biệt Ba và Thục là hai cái tên riêng thể hiện là hai nước riêng biệt, theo sách Hoa Dương Quốc Chí của Thường Cứ đời Tấn. Theo Việt Nam và cội nguồn trăm họ của Bùi Văn Nguyên, thì hai nước cùng một gốc, vùng Hoa Dương, thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày nay. Trên bản đồ Thiên Thị Viên, chúng ta không thấy nước nào tên là Hán cả. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Hán là tên nước do Lưu Bang lập ra sau khi chiến thắng Hạng Vũ, vua nước Sở, thu phục toàn bộ lãnh thổ. Hán Cao Tổ là hậu duệ của Nghiêu, Thuấn. Ngoài ra, một số nước như Tần, Sở, Hán cũng được đặt tên trong nội dung bức tranh thờ dân tộc Thập Điện Diêm Vương của Đạo giáo. Đến thời nhà Chu, đất đai được phân phong 72 nước nhỏ, chứng tỏ các nước có tên trong các chòm sao là các bộ tộc lớn, đến khi phát triển, mâu thuẫn xã hội nảy sinh, dẫn đến thời Xuân Thu - Chiến Quốc chỉ tồn tại các nước lớn, đủ thực lực mà thôi. Như vậy, toàn bộ Trung Quốc cổ phía Bắc sông Dương Tử và Lạc Việt đều có chung một nguồn gốc trước thời vua Đế Nghi là Đế Minh tức Khương Thượng, Khương Tử Nha. Đến thời Đế Minh, đất nước được chia làm 2 phần, phía Bắc do Đế Nghi làm vua và phía Nam do Lộc Tục nắm giữ như truyền thuyết Hồng Bàng Thị. Hầu hết các gia phả đều nói nước ta thuộc phân dã của hai sao Ngưu, Nữ làm giới cận, hàm ý việc phân chia lãnh thổ đã bao hàm cả việc phân chia theo địa lý và định ranh giới theo thiên văn rồi. Ngưu, Nữ thuộc chòm sao Huyền Vũ, vậy thì bảng phân dã chỉ cho toàn bộ khu vực phía Bắc Dương Tử, giao Bắc Nam chính là dòng sông Dương Tử thuộc phân dã của chòm sao Ngưu và Nữ. Cha ông ta đã lấy tên hai sao này xây dựng nên một câu chuyện cổ tích tuyệt vời Ngưu Lang Chức Nữ được mô tả qua bức tranh dân gian Đông Hồ Chàng Ngưu ả Chức hai người hai ở bên sông Ngân Hà theo quyết định của Ngọc Hoàng Thượng Đế, hàng năm chỉ được gặp nhau một lần vào ngày mưa Ngâu mùng 7 tháng Bảy âm lịch. Dòng sông Ngân Hà trên trời tương ứng với dòng sông Dương Tử dưới mặt đất, như vậy Thiên Thị Viên thuộc vùng phía Bắc Dương Tử và Thái Vi Viên Thuộc Nam Dương Tử, và Tử Vi Viên chính là trung tâm của Bắc Nam với sao Bắc Thần. Các chòm sao Bắc bán cầu và Nam bán cầu Ảnh tham khảo Văn Xương Đế Quân Trên trời, Thái Cực hay Tuyệt Đối thể trở thành Thiên Hoàng Thượng Đế, ngự ở tòa Bắc Thần, làm khu nữu cho muôn vị tinh tú, còn vòng Dịch có thể tượng trưng bằng vòng Nhị thập bát tú bên ngoài. Chúng ta cũng đã biết chòm sao Bắc Cực (Tiểu Hùng Tinh) là chòm sao biểu tượng của Hùng Quốc Vương và chòm sao Nam Tào (Nam Cực) biểu tượng của Lạc Long Quân, do vậy chòm sao Văn Xương trong Tử Vi Viên không thể là Lạc Long Quân hoặc Hùng Quốc Vương được. Văn xương là tên một chòm sao gồm sáu ngôi, thuộc khu vực Tử Vi Viên. Để xác định chòm sao Văn Xương tương ứng với vị thần cụ thể nào, chúng ta hãy cùng xem xét các công trình kiến trúc tôn giáo định vị kinh thành Thăng Long, đó chính là Thăng Long Tứ Trấn. Thăng Long Tứ trấn bao gồm đền Bạch Mã trấn phía Đông, đền Voi Phục trấn phía Tây, đền Kim Liên trấn phía Nam và đền Quán Thánh trấn phía Bắc. Bốn ngôi đền thờ bốn vị thần bảo vệ đất kinh kỳ đã tồn tại từ bao đời nay trong tâm tưởng người dân Việt. Thăng Long Tứ Trấn Tham khảo Đền Bạch Mã: Đền Bạch Mã xưa thuộc phường Hà Khẩu, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức - là cửa sông Tô Lịch thông với sông Hồng - hai dòng sông huyết mạch của Hà Nội cổ; nay tọa trên phố Hàng Buồm. Đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ, hay còn gọi là Tô Lịch giang thần, thành hoàng Hà Nội gốc. Theo truyền thuyết, khi vua Lý Công Uẩn định đô Thăng Long (năm 1010), xây thành mà cứ bị sụt lở, nhà vua tới đây cầu lễ và lạ thay, một buổi sáng chợt thấy có ngựa trắng từ trong đền đi ra, chạy vòng quanh khu vực đang xây thành, chạy đến đâu để dấu chân đến đấy rồi trở lại đền và vụt biến mất. Vua Lý cứ theo vết chân ngựa mà xây, thành không lở nữa. Thành xây xong, nhà vua xuống chiếu cho chúng dân Thăng Long phong thần Long Đỗ làm thành Hoàng bảo vệ cho Thăng Long. Từ đấy, ngựa trắng là một biểu tượng thiêng liêng của đền. Đến đời Vua Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng Long thứ 22 (1314) bao phong Vương hiệu cho Thần. Hồi đó ở cạnh đền, nhà cửa san sát, có ba lần hỏa hoạn mà đền không bị thiêu hủy, có câu đối là: Thụy khí trác tiên cung, não sát Chúc Dung tam độ hỏa, Thần bang thể trượng, đảo tan Đô hộ vạn cân Kim. Khí lành rực tiên cung, dập tắt Chúc Dung ba đợt lửa, Oai Thần phù vẻ đẹp, nghiền tan Đô hộ vạn cân vàng. Tác giả Nhữ Công Chân. Đền Voi Phục: Đền còn có tên là Thủ Lệ hay Linh Lang do thờ thần Linh Lang Đại Vương. Đền nằm phía Tây kinh thành Thăng Long cũ, tọa lạc bên hồ Thủ Lệ, nay thuộc phường Cầu Giấy. Theo Thần tích đức Linh Lang Đại vương và sách Đại Nam nhất thống chí, Linh Lang là con trai thứ tư của Vua Lý Thánh Tông. Khi đất nước có giặc ngoại xâm, hoàng tử nhỏ vươn mình trở thành một dũng sĩ cưỡi voi xung trận, diệt tan quân xâm lược. Sau chiến thắng, bỗng nhiên hoàng tử lâm bệnh, vua cha đến thăm, chàng cho biết mình không phải là người trần rồi biến thành con giao long trườn xuống hồ Dâm Đàm và biến mất. Vua cho lập đền thờ, phong là Thượng đẳng thần. Đền Kim Liên: thờ Cao Sơn Đại Vương; trước đây thuộc phường Kim Hoa, sau thuộc phường Đông Tác, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, nay là phường Phương Liên, quận Đống Đa. Theo tín ngưỡng dân gian, Cao Sơn Đại Vương là một người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ, sau theo mẹ lên núi. Còn tài liệu lưu giữ tại đền ghi chép, đền được xây dựng dưới thời vua Lý Thái Tổ ngay khi vị hoàng đế này rời đô tới Thăng Long. Tương truyền Thần đã có công giúp Sơn Tinh chiến thắng Thủy Tinh và sau này lại giúp vua Lê Tương Dực dẹp loạn, khôi phục nhà Lê. Do đó vua Lê cho xây đền, dựng bia để hương khói phụng thờ. Gian cuối cùng là nơi thờ Cao Sơn Đại Vương và hai nữ thần phối hưởng (Tôn nữ Động Hồ Trưng Vương (công chúa con gái vua Lê) và Huệ Minh công chúa. Lễ hội đền Kim Liên mở vào ngày 16-3 âm lịch hàng năm. Di vật quan trọng nhất tại đình Kim Liên là tấm bia đá Cao sơn Đại Vương thần từ bi minh do sử thần Lê Tung soạn năm 1510 nói về công lao của thần Cao Sơn trong việc ngầm giúp vua Lê giành lại ngai vàng từ tay ngoại thích và hệ thống 39 đạo sắc phong cho thần Cao Sơn Đại Vương, trong đó có hai sáu đạo thời Lê Trung Hưng, mười ba đạo thời nhà Nguyễn, sớm nhất trong số đó là sắc phong có niên đại Vĩnh Tộ năm thứ hai (1620) Đền Quán Thánh:Đền Quán Thánh thờ Huyền Thiên Trấn Vũ - một vị thần trấn giữ hướng Bắc kinh thành. Đời Lê, đền thuộc phường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận, phía Nam Hồ Tây, nay ở ngã tư đường Thanh Niên và đường Quán Thánh. Theo sử sách, Huyền Thiên Trấn Vũ là thần cai quản phương Bắc giúp dân trừ tà ma, yêu quái phá hoại đời sống yên lành vùng chung quanh thành Thăng Long: trừ cáo chín đuôi ở Tây Hồ; giúp vua An Dương Vương trừ tinh gà trắng xây thành Cổ Loa; diệt hồ ly tinh trên sông Hồng đời vua Lý Thánh Tông... Đền Quán Thánh được xây dựng vào những năm đầu khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Năm 1823, Vua Minh Mạng lên ngôi đổi tên là Trấn Vũ Quán. Đến đời vua Thiệu Trị năm 1842, đổi tên là đền Quán Thánh như hiện nay. Chính hội vào ngày 3/3 âm lịch. Trần Quốc Vượng cho rằng, ngựa trắng là biểu tượng thần thoại của mặt trời, ngựa trắng từ đền ra, đi một vòng từ Đông sang Tây rồi lại quay về, đó là biểu tượng cho sự vận động biểu kiến của mặt trời. Theo đạo Hindu Ấn Độ, Thần mặt trời cưỡi trên chiếc xe được kéo bởi 7 con ngựa trắng. Thần mặt trời Surya, đạo Hindu Tranh tham khảo mạng Internet Căn cứ vào hình ảnh Tứ Linh, biểu tượng cho bốn phương trời ứng với Nhị thập bát tú, phía Đông ứng con Rồng biểu tượng của vua Kinh Dương Vương, phía Nam ứng chim Phượng hoàng biểu tượng của vua Đế Minh, phía Tây ứng Kỳ lân biểu tượng của Hùng Quốc Vương và phía Bắc ứng con Rùa biểu tượng của vua Lạc Long Quân. Mặt khác, theo bài viết Những người họ Đỗ 5.000 năm trước, tác giả Đỗ Tòng: “Cụ Bà Hương Vân Cái Bồ Tát, Đỗ (Quý thị), húy là Ngoan, còn gọi là Công chúa Đoan Trang. Tục truyền Cụ là con gái cụ Long Đỗ Hải Vương trấn trị ở cửa sông Tô Lịch vùng Nghi Tàm (cụ Long Đỗ về sau còn được gọi là Thần Bạch Mã, một trong Tứ trấn Thăng Long thành, thờ ở đền Bạch Mã, phố Hàng Buồm, Hà Nội)”. Như vậy, đã có những sự khác biệt trong dữ liệu lịch sử, cho nên cần phải xem xét thêm. Để làm rõ Thăng Long Tứ Trấn, chúng ta tham khảo Tứ Trấn của kinh đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình thời vua Đinh Tiên Hoàng (924-979). Đinh Tiên Hoàng Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Bức tranh trên miêu tả một đoạn trong truyền thuyết mang tính huyền thoại lúc ngài bị người chú cầm gươm đuổi, do dám giết trâu của chú khao các trẻ mục đồng. Ngài nhảy xuống sông để trốn, tưởng chết đuối, nhưng một con rồng vàng xuất hiện cõng ngài sang bên kia sông. Người chú thấy vậy sợ hãi, cắm thanh gươm xuống đất vái lạy một người có chân mệnh thiên tử (trích Minh triết trong tranh dân gian Việt Nam, Nguyễn Vũ Tuấn Anh) Trấn Đông Thần Thiên Tôn: Thần Thiên Tôn là vị thần trong truyền thuyết trấn phía Đông. Tương truyền, trước khi đem quân đi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh đã mang lễ vật vào tế lễ trong động để mong được thần giúp đỡ đánh tan các sứ quân khác. Sau khi lên ngôi, Đinh Tiên Hoàng đóng đô ở Hoa Lư, ông đã cho xây cất nhà tiền tế và kính thiên đài là nơi tiếp đón các sứ thần nước ngoài trước khi vào kinh đô. Theo các thần tích đình làng Bích Đào, làng Đại Phong, thì thần Thiên Tôn là vị thiên thần, nguyên là hoàng tử, do hoàng hậu nằm mộng thấy nuốt mặt trời, có thai rồi sinh ra ngài vào ngày mồng 3 tháng Ba năm Khai hoàng thứ 25 (năm 625), gọi là Huyền Nguyên. Lớn lên hoàng tử dũng mãnh hơn người, đi khắp thiên hạ, vào núi Dũng Dương, Hoa Lư tu luyện 42 năm, khi đắc đạo có thể bay lượn, biến hóa, trừ tà ma quỷ quái. Ngọc Hoàng Thượng Đế ban cho thanh kiếm Tam Thai Thất tinh và phong làm Bắc Phương Trấn Vũ đại tướng quân. Sau phóng gươm ở dưới núi Cánh Diều, Ninh Bình mà hóa. Năm 938, Cao Đô Đường Thái sư xây đền ở cửa động Thiên Tôn, tạc tượng tay chống bảo kiếm, chân đạp lên rùa rắn và ban sắc phong là Trấn Vũ An Quốc đại vương. Đinh Tiên Hoàng khởi nghĩa ở động Hoa Lư được hai tướng rùa, rắn của thần giúp sức nên được sắc phong là An Quốc hoàng đế. Trấn Tây Thần Cao Sơn:Theo như thần phả các đền thờ Cao Sơn ở vùng phía Tây Ninh Bình như: đền Núi Hầu, Yên Thắng - Yên Mô, đền Quèn Thờ, Đông Sơn - Tam Điệp, đền Sơn Thần Gia Thủy - Nho Quan và đền Cao Sơn khu núi chùa Bái Đính thì Cao Sơn đại vương là Lạc tướng Vũ Lâm, con thứ 17 vua Lạc Long Quân, khi vâng mệnh vua anh Hùng Quốc Vương đi tuần từ vùng Nam Lĩnh đến Thiên Dưỡng, đã tìm ra một loài cây thân có bột dùng làm bánh thay bột gạo, lấy tên mình đặt tên cho cây là Quang Lang (cây búng báng). Thần đã dạy bảo và giúp đỡ người dân sinh sống và bảo vệ khỏi các thế lực phá hoại vì vậy đã được nhân dân lập đền thờ. Trấn Nam Thần Quý Minh:Thần Quý Minh hay thánh Quý Minh đại vương là tên gọi của một vị thần trong truyền thuyết Việt Nam. Theo tín ngưỡng Việt Nam, Sơn Tinh, Thần Cao Sơn và thần Quý Minh là những hậu duệ của Lạc Long Quân và Âu Cơ, tức em của Hùng Quốc Vương. Tuy nhiên, khác với hai vị thần núi kia được thờ ở những vùng núi cao, thần Quý Minh thường được coi là vị thổ thần, thủy thần và thờ phụng ở những vùng trũng hoặc đồng bằng. Theo truyền thuyết dân gian xứ Sơn Nam, Đức Thánh Quý Minh Đại Vương là một vị thủy thần, là người có công trấn giữ vùng chiêm trũng ải Sơn Nam, bảo vệ đất nước thời vua Hùng Duệ Vương (vua Hùng Vương thứ XVIII). Người là một “Thượng đẳng thần”, được các nhà vua qua nhiều triều đại ban sắc phong, được nhân dân khắp xứ này thờ phụng. Đền chính được Vua Đinh Tiên Hoàng cho xây dựng tại thành Nam (Trường An) ở cố đô Hoa Lư, sau vua Trần Thái Tông cho xây dựng lại với quy mô như ngày nay. Trấn Bắc Đức Thánh Nguyễn: Đức Thánh Nguyễn lại là danh nhân sinh ra trên quê hương vua Đinh Tiên Hoàng và có công gây dựng, tu tạo nhiều di tích trong cố đô Hoa Lư nên ông được coi là vị Thánh trấn Bắc Hoa Lư. Tên gọi thông dụng nhất của ông là Lý Quốc Sư, là tên gọi chức danh pháp lý cao nhất của thiền sư, pháp sư Nguyễn Minh Không. Tên gọi này để chỉ ông là một cao tăng có chức vị đứng đầu của triều đại nhà Lý trong lịch sử Việt Nam. Trong dân gian, Nguyễn Minh Không còn được coi là ông tổ nghề đúc đồng. Quốc Sư Nguyễn Minh Không tên thật là Nguyễn Chí Thành sinh tại xã Đàm Xá, phủ Tràng An (xã Gia Thắng, Gia Viễn, Ninh Bình). Khi tu hành đắc đạo, ông trở về quê nhà dựng nhiều chùa như chùa Viên Quang, chùa Địch Lộng, chùa Am Tiên, chùa Bái Đính để tu hành, lấy vị hiệu là Minh Không. Là một nhà sư tài danh lẫy lừng, Ông đã được coi là thần y khi chữa bệnh "hóa hổ" cho vua Lý Thần Tông. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Quốc sư Minh Không rất linh ứng. Phàm khi có tai ương hạn lụt, cầu đảo đều nghiệm cả.” Qua thần tích Thần Thiên Tôn trấn Đông kinh thành Hoa Lư, sự kiện hoàng hậu nuốt mặt trời là một chi tiết đáng chú ý, và ngài mang tên Thiên Tôn cũng chứng tỏ hình ảnh của trời nhưng đoạn sau ghi nhận Thiên Tôn là Huyền Thiên Trấn Vũ - vị thần trấn Bắc là không hợp lý. Như vậy, kết hợp xác sự kiện chúng ta nhận định chắc chắn trấn Đông kinh thành Thăng Long là vua Kinh Dương Vương, Ngọc Hoàng Thượng Đế. Chúng ta sắp xếp lại: Thăng Long Tứ trấn Đền Quán Thánh Huyền Thiên Trấn Vũ - Lạc Long Quân - Rùa Đền Voi phục Linh Lang Đại Vương - Hùng Quốc Vương - Kỳ lân Trung ương ??? Đền Bạch Mã Long Đỗ đại vương - Kinh Dương Vương? - Rồng Đền Kim Liên Cao Sơn đại vương - Đế Minh - Phượng hoàng Như vậy thì tại sao có sự khác biệt trong nhận định? Chúng ta thấy Thăng Long Tứ Trấn bảo vệ kinh thành Thăng Long - trung tâm quốc gia, như vậy phải chăng còn một “Ngũ Trấn” nữa ở giữa kinh thành?. Trong các bộ tranh thờ dân tộc miền Bắc Việt Nam có bộ tranh Ngũ Phương Yết Đế (Ngũ Phương Ngũ Thổ Long Thần) - đây là năm vị Thánh cai quản năm phương hướng Đông, Tây, Nam, Bắc và trung tâm. Mặt khác, chúng ta nhận thấy trong quá trình lịch sử, vua Lý Nam Đế đã cho xây ngôi chùa Trấn Quốc bên cạnh Hồ Tây ghi dấu nước Việt hưng quốc, và sau này nhà Lý xây tháp "Đại Thắng Tư Thiên" Hay còn gọi là tháp Báo Thiên 12 tầng, thuộc ngôi chùa "Sùng Khánh Báo Thiên" - một trong Tứ đại pháp khí của Đại Việt vào năm 1057. Ngọn tháp đúc bằng đồng khắc ba chữ "Đao Ly Thiên," thể hiện ý chí vươn lên tận trời cao cho nên tháp Báo Thiên luôn được coi là "Kình Thiên Trụ" (Cột chống trời) của kinh đô Thăng Long. Nhà thơ - tể tướng đời Trần là Phạm Sư Mạnh đã có bài thơ rất hay, tả lại cây tháp với hình tượng thật hoành tráng: Giữ vững kinh đô, trấn Tây Đông, Sừng sững vươn cao vượt núi sông. Chống trời một cột yên đất nước, Mũi nhọn xưa nay chẳng hề cong! Không chỉ vậy, chúng ta cũng còn phải xét đến việc thờ Ông Trời trong dân gian với một bàn thờ không có bài vị, hình ảnh mà chỉ có một lư hương, còn đối với triều đình đó là điện Kính Thiên. Trong Chương II: TIẾNG TRỐNG HOÀNG KIM, chúng ta cũng nhận thấy trục tâm trống thể hiện ý nghĩa Trục vũ trụ, đồng thời trong Chương VIII: KIM CƯƠNG BẤT HOẠI, chúng ta sẽ thấy Ngọc Hoàng Thượng Đế ở trung tâm của Kim Cương Giới trong Mật Tông Tây Tạng hay ở vị trí trung tâm của điện Đại Hùng của một ngôi chùa. Không chỉ vậy, chúng ta còn thấy Trung Quốc có Ngũ Nhạc, tức năm ngọn núi thiêng, nơi thờ các vị Thánh của quốc gia. Kết hợp tất các dữ liệu trên, chúng tôi khẳng định trấn Nam vẫn chính là Thần Long Đỗ Đại Vương hay còn gọi là Vua Cha Bát Hải Động Đình - Long Vương, cha của bà Hương Vân Cái Bồ Tát theo ghi nhận trong cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, tác giả Nhóm nghiên cứu thời tiền sử là chính xác. Vua Cha Bát Hải Động Đình - Long Vương còn được chính thờ tại đền Đồng Bằng, Quỳnh Phụ, Thái Bình. Thần Long Đỗ Hậu điện đền Bạch Mã, Hà Nội Hệ quả là trung tâm kinh thành Thăng Long được bảo vệ chắc chắn bởi Ngọc Hoàng Thượng Đế - vua Kinh Dương Vương ở tại nơi nào? Chính là điện Kính Thiên. Nơi tôn thờ Trời của triều đình, đại diện là vị vua của một quốc gia, mà thời xưa các vị vua thường xưng là Thiên Tử, tức “con Trời”. Điện Kính Thiên Ảnh và bản đồ tham khảo Mặt khác, kinh thành cũng phải có một nơi thờ Trời cho nhân dân, điều đó không gì khác hơn chính là một ngôi chùa thời Hùng Vương, trong cuốn tiểu thuyết Phong Thần, Bồ Tát Nguyễn Minh Không cũng viết Tam giáo hợp nhất là rất quan trọng nhưng trong “ba” thì có “một” quan trọng nhất, dĩ nhiên đó là Phật giáo. Do vậy, ngôi chùa đại diện nằm trong kinh thành Thăng Long là ngôi chùa nào? Chúng tôi tạm chỉ nhận định là chùa Trấn Quốc thời Lý Nam Đế, mà trong cuốn tiểu thuyết Tam Quốc Chí, Bồ Tát Nguyễn Minh Không có nhấn mạnh ngôi chùa này. Còn nếu chúng ta muốn xem xét trở lại vào thời Hùng Vương, thì hiện thời chưa thể xác định được chính xác, đó là ngôi chùa nào. Trong các ngôi đền cổ của kinh thành Thăng Long, còn một ngôi đến gắn với nhiều truyền thuyết mang màu sắc huyền bí, đó là đền Kim Ngưu tại Hồ Tây, chúng ta hãy cùng xem lại truyền thuyết Trâu vàng hồ Tây ở chương I: KIM CỔ TIÊN TRI. Đây là một truyền thuyết văn hóa của các tộc Bách Việt ở phía Nam sông Hoàng Hà có phong tục đúc hình con trâu bằng kim khí để trấn yểm. Theo sách Từ Nguyên thì do lẽ đó mà nhiều nơi ở Nam Trung Quốc hiện nay có tên Kim Ngưu. Tỉnh Tứ Xuyên có một hẻm núi tên là eo Kim Ngưu, ở thành phố Vũ Xương có gò Kim Ngưu, ở Thường Châu, Giang Tô có đầm Kim Ngưu, ở Triết Giang, thành phố Hàng Châu có Tây Hồ cực kỳ đẹp cũng gọi là Kim Ngưu hồ, có thể thấy rằng ở khu vực từ Trường Giang đổ xuôi xuống Nam thời cổ sơ có tục đúc Trâu đồng để trấn yểm. Tục đó ở mỗi địa phương được giải thích theo tín ngưỡng của từng tộc người cũng như điều kiện lịch sử từng thời điểm. Như ở hồ Tây Việt Nam, Trâu Vàng được coi là Thần trấn áp cáo chín đuôi từ thời Lạc Long Quân, các điển tích khác nói quê quán là núi Tiên Du chạy sang Hà Nội, hoặc có gốc từ bên Trung Quốc nhưng sang tìm mẹ ở đất Việt. Đền Kim Ngưu Hà Nội, Việt Nam Mười đứa con trai thể hiện độ số 10 của hành Thổ, trung tâm của Hậu Thiên Bát quái phối Hà Đồ và cũng là hình ảnh của “con trâu”. Trong đạo Bà La Môn, con bò đực là vật cưỡi của thần huỷ diệt Shiva, trong bách thần Ai Cập thì con bò cái cũng là biểu tượng của nữ thần Hathor, tương đương Hương Vân Cái Bồ Tát. Trong Chương II: TIẾNG TRỐNG HOÀNG KIM cũng đã nhận biết con trâu là biểu tượng của Đế Minh và con bò là biểu tượng Hương Vân Cái Bồ Tát, vậy thì đền Kim Ngưu với truyền thuyết về Trâu vàng hồ Tây chính là đền thờ vua Đế Minh. Bản đồ địa danh Tham khảo bản đồ, tác giả Bùi Dương Hải Các địa danh Lạn Kha, Tiên Du còn gợi lên những huyền thoại người gặp tiên được lưu truyền hàng ngàn năm nay. Lạn Kha có nghĩa là “cái rìu mục”, ghi lại điển tích Vương Chất lên núi đốn củi gặp hai vị tiên đánh cờ, mải mê xem không hay rằng cán búa bị mục nát từ bao giờ, vì thời gian trên trần thế đã trôi qua đến bảy đời. Trên núi Lạn Kha nay còn có tảng đá vuông, mặt phẳng tương truyền là bàn cờ tiên. Trong truyện Tây Du Ký và Tùy Đường Diễn Nghĩa của vua Trần Nhân Tông hay Tam Quốc Chí của Bồ Tát Nguyễn Minh Không, còn mô tả hai vị tiên đánh cờ là Nam Tào coi sổ sinh và Bắc Đẩu coi sổ tử, vị tiên thứ ba ngồi xem chính là Ngọc Hoàng Thượng Đế. Trong các ban thờ ở điện Đại Hùng của một số ngôi chùa miền Bắc Việt Nam, chúng ta thường thấy bố trí cạnh tòa tượng Cửu Long chính là ba ông tiên nói trên. Đồ đồng Điền Tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Trong nền văn hóa Điền Vân Nam, hình con bò cũng được trang trí ở giữa các thạp đồng hình trụ, tượng trưng trục thế giới, chúng ăn khớp với các nhận định. Trâu, bò thường được dùng vào lễ tế Trời hay tế Nam giao của các vùng phương Nam. Xung quanh con bò là con nai và con hổ, mà ta biết nai là biểu tượng vua Kinh Dương Vương, hổ phương Tây là biểu tượng Hùng Quốc Vương. Chùa Phật Tích có tên là Vạn Phúc Tự - nguyên tên ban đầu là Thiên Phúc Tự - nằm trên sườn núi Lạn Kha, xã Phật Tích, huyện Tiên Du; nay là xã Phượng Hoàng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc. Theo văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy (1686), "Vua thứ ba triều Lý (tức Lý Thánh Tông) vào năm Long Thụy Thái Bình thứ tư (1057) cất lên cây tháp qúy ngàn trượng, lại dựng pho tượng mình vàng cao sáu thước, cấp cho hơn trăm thửa ruộng, xây chùa hơn trăm tòa". Tấm bia này còn ca ngợi vẻ đẹp của cảnh chùa: "Đoái trông danh thắng đất Tiên Du, danh sơn Phật Tích, ứng thế ở Càn phương (hướng Nam) có núi Phượng Lĩnh bao bọc, phía tả Thanh Long nước chảy vòng quanh. Phía hữu Bạch Hổ núi ôm, trên đỉnh nhà khai bàn đá?". Năm 1071, vua Lý Thánh Tông đã đến thăm chùa, chính tay nhà vua viết chữ "Phật" dài một trượng sáu thước và khắc vào bia đá để dựng trước chùa. Sang đời Trần, chùa đổi tên là Vạn Phúc. Vua Trần Nghệ Tông cho dựng điện Bảo Hòa và thư viện Lạn Kha ở gần chùa. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, năm 1384 Vua đã mở kỳ thi Thái học sinh ở chùa này. Ngoài đền Kim Ngưu Phủ, còn có phủ Tây Hồ nằm trên bán đảo lớn của làng Nghi Tàm, nhô ra giữa Hồ Tây. Phủ thờ Bà chúa Liễu Hạnh, thần chủ của đạo Mẫu Việt Nam, bà chính là Hương Vân Cái Bồ Tát. Tục truyền rằng: bà là Quỳnh Hoa, con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng Đế, bị đày xuống trần gian vì tội làm vỡ cái ly ngọc quý. Xuống hạ giới, nàng chu du, khám phá khắp mọi miền, qua đảo Tây Hồ dừng lại, phát hiện ra đây là nơi địa linh sơn thủy hữu tình, bèn lưu lại mở quán nước làm cớ vui thú văn chương giữa thiên nhiên huyền diệu. Chúng ta cũng đã biết công chúa Quỳnh Hoa là Thánh Mẫu Thượng Ngàn, bà chúa Tằm hay cũng là Phật Mẫu Man Nương chùa Dâu và công chúa Quế Hoa là Chúa Mẫu Thoải. Như vậy, có ba thánh tích thần kỳ đó là: hồ Hoàn Kiếm đối với vua Lạc Long Quân và bà Âu Cơ; Hồ Tây với vua Đế Minh và Hương Vân Cái Bồ Tát và chùa Hương với Hương Vân Cái Bồ Tát - Phật Bà Quan Âm, Phổ Hiền Bồ Tát và Văn Thù Bồ Tát. Liên quan đến phương Đông, mùa xuân còn có một tục lệ rất quan trọng của một quốc gia nông nghiệp đó là phép “Đả xuân ngưu”, theo Việt sử lược, năm 1048, Vua Lý Thái Tông xuống chiếu định phép "Đả xuân ngưu". Mỗi năm, con trâu đất được nhuộm một màu ứng với năm đó theo Ngũ hành. Đàn tế được lập ở cửa Đông Hà nay là ô Quan Chưởng, và lễ tế được tiến hành đúng giờ Tý, đúng tiết lập xuân. Vua sai vị trưởng họ dùng roi đánh vào con trâu, sau đó các quan vào cùng dự yến tiệc. Đến thời Lê, sách Lịch triều hiến chương loại chí ghi rõ: Quan Phủ Doãn và hai quan huyện Thọ Xương, Quảng Đức làm lễ xong thì cho dân đến rước trâu đất đến đền thờ thần Long Đỗ, vị Thành hoàng của Thăng Long. Hôm sau, quan Phủ Doãn đến lấy cành dâu đánh vào con trâu đất, đem vào sân điện nhà vua làm lễ tiến xuân ngưu, văn võ bá quan đều tới hầu lễ. Như vậy, thành Thăng Long đã được các Phật, Tiên, Thánh, Thần của tâm linh người Việt bảo hộ đã trải hàng bao thiên niên kỷ. Mở rộng ra khỏi Thăng Long, vùng Hà Nội được bảo vệ bởi các vị thần thánh theo suốt dòng chảy lịch sử của dân tộc, chúng ta hãy tham khảo bản đồ địa hình sơ bộ sau: Bản đồ sơ bộ địa chí nơi thờ tự Tham khảo ảnh tác giả Bùi Dương Hải Chúng ta thấy, thủ đô Hà Nội được hộ vệ bởi ngọn núi Ba Vì phía Tây với đền thờ Đức Thánh Tản - Hộ Quốc đại vương; dãy núi Tam Đảo phía Đông với đền Sóc thờ Thánh Gióng - Xung Thiên đại vương; phía hậu là đền Và thờ Sơn Tinh - Hùng Hoa Vương - Hùng Vương thứ IV; phía trước là đền thờ Chử Đạo Tổ - Chử Đồng Tử, ở Đa Hòa. Một chi tiết cực kỳ quan trọng, tại ngã ba Bạch Hạc, tỉnh Phú Thọ là đền thờ các vua Hùng, chưa kể hệ thống đình, đền, chùa, miếu, cung quán… xung quanh bốn hướng tạo thành một bức thành tâm linh kiên cố. Căn cứ bộ tranh Hành Say và Thánh đạo hưng long cùng với bản đồ Tử Vi Viên, chúng tôi nghi ngờ Đức Tản Viên Sơn Thánh, con người lỗi lạc, văn võ song toàn trong đời Hùng Vương XVIII - Hùng Duệ Vương chính là thần Văn Xương. Ngài là người góp ý vua Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Phán, bộ chủ bộ Tây Vu, lập lời thề ở Đền Hạ trên đỉnh Nghĩa Lĩnh. Đối diện với ban văn thờ thần Văn Xương, chính là ban võ và thờ võ thần tức là Đức Thánh Gióng thời Hùng Vương thứ VI - Hùng Hồn Vương, người tổ chức quân đội đánh thắng giặc Ân thời nhà Thương Ân, Trung Quốc. Khôi Tinh Tranh vẽ đời Thanh, Trung Quốc, trích Bách khoa toàn thư văn hóa cổ điển Trung Quốc, tác giả Nguyễn Tôn Nhan, Nxb Văn hóa Thông tin, 2000. Trong thiên văn Đông Phương thì Nhị thập bát tú có tên Long, Lân, Quy, Phượng, trong đó con Lân biểu tượng cho 7 chòm sao phương Tây, hành Kim, chòm sao Văn Xương thuộc chòm sao phương Tây. Chòm sao Văn Xương trong Tử Vi Viên - thể hiện cấu trúc của một triều đình, như vậy chòm sao Văn Xương biểu tượng cho vị quan văn có chức phẩm cao nhất. Thần Văn Xương với hình ảnh là cái tháp cao, thường gọi là tháp Văn Xương trong phong thủy. Theo các thần tích vùng Sơn Tây, Vĩnh Phú thì Tản Viên Sơn Thánh là người ở động Lăng Xương (Thanh Thủy - Phú Thọ ngày nay), tên là Nguyễn Tuấn (Nguyễn Tùng), con ông Nguyễn Cao Hạnh (Hành) và bà Đinh Thị Điêng (Đen). Khi lớn lên nhận bà Ma Thị Cao Sơn ở núi Ngọc Tản làm mẹ nuôi. Mẹ đẻ của Nguyễn Tuấn là bà Đinh Thị Điêng hay Đen, còn gọi là Thái Vĩ. Đen là tên của sông Đà xưa. Đinh Thị Đen có nghĩa chỉ Thái bà (Thái Vĩ hay Thái Thủy) là người ở Tả ngạn sông Đà (dòng sông Đà ở quãng chân núi Ba Vì đổi hướng chảy lên phía Bắc, nên tả ngạn sông nằm ở phía Tây). Bà mẹ nuôi Ma Thị Cao Sơn ở Ba Vì được thờ như Mẫu thượng Ngàn, là người cai quản núi Ba Vì trước khi “di chúc” lại cho Thánh Tản. Đền Lăng Xương nơi sinh ra Thánh Tản Ảnh tham khảo__ Qua thần tích trên, chúng ta thấy hình ảnh thần Thái Vĩ trong bộ tranh thờ Đạo giáo Hành Say và “Lăng Xương” hàm ý liên quan đến “Văn Xương” hoàn toàn khẳng định Tản Viên Sơn Thánh là thần Văn Xương. Trong dòng tranh dân gian Đông Hồ và Hàng Trống, có bộ tranh nhị bình Tử Vi Trấn Trạch - Huyền Đàn Trấn Môn với hình ảnh của hai vị thần cưỡi sư tử, Huyền Đàn Trấn Môn tay phải cầm kiếm còn Tử Vi Trấn Trạch tay phải cầm la bàn, tay trái nâng cao biểu tượng âm dương tương giao và bông ngù nhiều sắc màu. Theo dân gian, bộ tranh này được dán ở cửa chính vào ngày Tết để ma quỉ sợ, không dám đến quấy nhiễu. Tuy nhiên, đây cũng chính là hình ảnh của các vị hộ pháp trong các tôn giáo, nếu so sánh với hình ảnh của Tản Viên Sơn Thánh và Xung Thiên Đại Vương, thì chúng tôi nhận định đây chính là hình ảnh của nhị vị và thông thường được đắp hai bên chính môn của mỗi ngôi đình, đền, chùa. Tử Vi Trấn Trạch - Huyền Đàn Trấn Môn Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam Trong bức tranh thờ Đạo giáo Dẫn Hương Lộ có nêu Tứ đại nguyên soái và Lý Thiên Sư cùng Trương Thiên Sư là những vị khác nhau, trong đó Tứ đại Nguyên soái bao gồm Quan, Triệu, Đặng, Mã trong thần thoại Trung Quốc, là bốn vị thần tướng canh giữ trên thiên đình: - Mã nguyên soái còn gọi là Mã nguyên quân, Hoa Quang thiên vương, Hoa Quang đại đế. - Triệu nguyên soái tức Vũ Tài thần Triệu Công Minh, Triệu Huyền Đàm. - Ôn nguyên soái tức Ôn Quỳnh, Đông nhạc đế bộ tướng. - Quan nguyên soái tức Quan Vũ, Quan Đế sống vào thời Tam Quốc. Cũng các chương trước, chúng ta dễ dàng thấy, Tứ đại Nguyên soái theo văn hóa Trung Quốc đã được cải biên và không còn ý nghĩa ban đầu trong tranh Đạo giáo Việt Nam nữa. Qua việc xác minh Tản Viên Sơn Thánh và Xung Thiên Đại Vương ở trên, chúng tôi nhận định Tứ Đại nguyên soái là bốn vị khác nhau, bao gồm: - Triệu Nguyên Sư: là Tản Viên Sơn Thánh - Đặng Nguyên Sư: là thần sấm sét hay Xung Thiên Đại Vương. - Hữu Lý Thiên Sư cưỡi hổ: tức Lý Tịnh (Lý Võ) là văn quan Hữu Sào thời vua Thần Nông. - Tả Trương Thiên Sư cưỡi lân: thay vì là Trương Đạo Lăng, tổ sư của Đạo giáo là võ tướng Toại Nhân - Lão Long Cát thời vua Thần Nông. Lão Long Cát và Hữu Sào cũng chính là Thái Vĩ và Hải Bá, thuộc bộ tranh thờ Đạo giáo Hành say và Tam Thanh và cũng phù hợp hoàn toàn với nội dung Nguyễn tộc từ đường phả lục chính bản: “Thần Nông tức Đế Khôi lúc nhỏ có Hữu Sào và Toại Nhân tức Lão Long Cát cùng trợ giúp nhiếp chính, đánh đuổi gia nô Hiên Viên do dấy binh làm phản, thừa kế sự nghiệp của tổ tiên, tiếp nối của cha Đế Thiên - Phục Hy, lên ngôi vua sáng, thi hành chính nhân, dân chúng một mực kính yêu. Trước đây, ở nước ta có lưu truyền cuốn sách y dược Thần Nông bản thảo sau bị giặc nước tiêu hủy”. Lễ hội Thánh Gióng Tranh tham khảo Qua bản đồ địa hình, chúng ta thấy hộ vệ biên ngoài của Thăng Long thành là Tản Viên Sơn Thánh, Xung Thiên Đại Vương, Chử Đồng Tử và Thánh Mẫu Liễu Hạnh tạo thành Tứ Bất Tử của nước ta? Tuy nhiên, Thánh Mẫu Liễu Hạnh là Phật Bà Quan Âm, bà là Thánh Mẫu Bất Tử trên toàn thế giới, do vậy vị Thánh thay thế cho vị trí của Thánh Mẫu Liễu Hạnh là ai?. Theo thần tích đền Và thì cung Trung và cung Hạ (Tây Cung) là nơi cầu đảo, tế lễ. Đông Cung là nơi “nghe tâu bày các việc”, Bắc Cung là nơi nghỉ ngơi. Tản Viên Sơn Thánh đã đi khắp nơi, dựng nhiều hành cung trên đất Việt, hiện tại hệ thống các hành cung của Tản Viên còn lại gồm: Thượng cung thần điện là đền Thượng, nằm trên đỉnh Tản của Ba Vì; Tây Cung gồm đền Trung trên núi Chàng Rể và đền Hạ ở bờ hữu sông Đà, đối diện với quê Lăng Xương; Nam Cung là đền Ao Vua; Đông Cung là đền Và ở cạnh thị xã Sơn Tây, cạnh sông Hồng. Hội đền Và khi tổ chức còn có sự tham gia của làng Duy Bình, nơi có đền Dội ở đối diện bên kia bờ sông Hồng, tương truyền là nơi Thánh Tản đã lấy nước tắm bên sông; Bắc Cung là đền Thính (Thính là đọc trại âm của Thánh) ở Tam Hồng, Yên Lạc,Vĩnh Phúc. Bắc Cung Thượng là đền Tranh ở Trung Nguyên, Yên Lạc, Vĩnh Phúc. Tuy gọi là Đông - Tây - Nam - Bắc cung nhưng nếu nhìn trên bản đồ thì các cung này nằm gần như trên cùng một đường thẳng chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, cắt vuông góc với sông Hồng ở gần Sơn Tây. Đây là cũng là hướng “tọa Tốn hướng Cấn”, hướng của đền Thượng. Bản đồ cụm di tích Ảnh tham khảo Đông Cung Tản Viên nay là đền Và, ở làng Vân Già, cạnh thị xã Sơn Tây. Tương truyền khi Tản Viên đi qua đây thấy có đám mây che phủ, cho là điềm lành, nên dựng hành cung ở đây, gọi là Vân Già. Đông Cung là nơi có cung điện chính, được chép là nơi Tản Viên “nghe tâu bày các việc”. Đền tới nay được dựng với hệ thống tượng như một triều đình, như vậy thì rõ ràng Tản Viên đã lên ngôi vua. Nam Cung Tản Viên đóng tại Ao Vua, Thần Tản Viên được người Mường gọi là Thánh Cả Ba Vì, là Vua. Rõ ràng Tản Viên không phải chỉ dừng lại là con rể Hùng Vương mà chính là một vị vua Hùng. Tản Viên đã dựng hành cung khắp nơi, nếu Tản Viên chỉ là con rể vua Hùng thì đã không thể dựng nhiều hành cung như vậy. “Xuất hồ Chấn” Hoành phi ở đền Và, Sơn Tây, Việt Nam Và đôi câu đối ở nghi môn: Đề vu Tây, hỗ trấn nguy nguy thiên bính thọ? Xuất hồ Chấn, cố cung hách hách nhật đồng quang. Những câu này lấy ý trong thuyết quái truyện của Kinh Dịch: “Đế xuất hồ Chấn”, cung Chấn phương Đông, “Xuất hồ Chấn” ý nói đế vương tại Đông Cung tức đền Và, thông tin này một lần nữa khẳng định Tản Viên đã là bậc đế vương. Theo thần tích đền Và, phép thuật của Tản Viên bắt đầu từ việc đi chặt cây trên núi Tản gặp Thái Bạch Thần Tinh, được truyền cho cây gậy thần đầu sinh đầu tử. Từ đó Nguyễn Tuấn xưng là Thần Sư, bắt đầu đi cứu dân độ thế. Bảo bối thứ hai của Thánh Tản bắt đầu từ việc cứu được con rắn thần, là con trai Long Vương ở Động Đình. Sau khi xuống thăm Long cung Tản Viên đã được tặng quyển sách ước. Tản Viên từ đó dùng gậy thần và sách ước đi khắp nơi, lấy được công chúa Ngọc Hoa, chiến thắng Thủy Tinh, đánh quân Thục. Hiện nay ở các cung điện cũ của thần Tản Viên đều có nhắc đến 2 bảo vật gậy thần sách ước trên. Câu đối ở đền Và thôn Vân Già, Sơn Tây: Tiên trượng ước thư truyền dật sử, Đông cung Tây trấn ngật linh từ. Gậy thần sách ước dã sử truyền. Cung Đông trấn Tây đền linh tỏ. Hay câu đối khác cùng một ý tại đền Và:<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Thần vi chi linh, địa vi chi linh, diệc nhân sùng vi chi linh, ngật nhĩ Đông cung Tây trấn, Sơn đắc kỳ thuật, thủy đắc kỳ thuật, túc kim dục đắc kỳ thuật, diêu hô tiên trượng ước thư.<b style="mso-bidi-font-weight:normal"><br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> </b> Dịch nghĩa:<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Thần linh thiêng, đất linh thiêng, vĩ nhân linh thiêng, Cung Đông trấn Tây cao ngất, Núi thành thuật, sông thành thuật, đạo đức thành thuật, gậy thần sách ước diệu kỳ. Bắc Cung Thượng - đền Tranh Ảnh tham khảo Nghi môn đền Và Ảnh tham khảo Trong các câu đối đã nêu tại Đông Cung có nói tới “Tây Trấn” (trấn phương Tây), “đề vu Tây” (ở tại phương Tây). Tại sao lại là Tây? Lý do rất rõ Tản Viên là Tốn Vương, Tốn là quẻ chỉ hướng Tây (tham khảo và trích dẫn một phần nội dung trong bài viết Long mạch Tản Viên, tác giả Minh Xuân - http://bachviet18.com). Theo một số thần tích Tản Viên Sơn Thánh đời Hùng Vương thứ XVIII khác, thì Tản Viên Sơn Thánh là con rể vua Hùng, không truyền ngôi mà gợi ý cho vua Hùng truyền ngôi cho Thục Phán An Dương Vương, điều này rõ ràng mâu thuẫn với dữ liệu lịch sử ở trên. Chúng ta biết, chỉ có truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh thời vua Hùng Vương thứ III là nói về việc truyền ngôi cho Sơn Tinh, như vậy rõ ràng Sơn Tinh và Tản Viên Sơn Thánh là hai người khác nhau. Vậy thì, đền Và chính là thờ Sơn Tinh, vua Hùng Vương thứ IV - Hùng Hoa Vương còn Đền Thượng núi Ba Vì thờ Tản Viên Sơn Thánh, nhưng trước đây chính là thờ Sơn Tinh và đền Và được xây dựng từ thời Hùng Vương thứ XVIII trở về sau. Như vậy, đền Và nơi thờ Sơn Tinh - Hùng Vương thứ IV sẽ trấn mặt hậu của kinh thành Thăng Long, còn trấn mặt tiền chính là ngôi đền thờ Chử Đồng Tử ở Đa Hòa, một trong Tứ Bất Tử. Theo cuốn Thái Ất thần kinh, tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm, dịch giả Thái Quang Việt, Nxb Văn hóa dân tộc, 2009, nói Lão Tử chínhlà hậu duệ của Lão Long Cát và nhận định Chử Đồng Tử chính là Lão Tử, chúng tôi sẽ quay lại vấn đề này trong Chương IX: TRƯỜNG SINH BẤT TỬ. Chử Đồng Tử gặp Tiên Dung trên bãi Tự Nhiên phía Nam thành Thăng Long, dạy dân buôn bán, tu hành rồi hóa thánh lên trời tại đầm Dạ Trạch, Chử Đạo Tổ là biểu tượng của tình yêu, của hôn nhân và cuộc sống hạnh phúc. Phù Đổng Thiên Vương thăng thiên hóa thánh trên đỉnh Sóc Sơn là biểu tượng chống ngoại xâm của người Việt, là hình tượng của vị đại tướng trong quân đội. Thánh Tản Viên là biểu tượng nền văn hóa nhân bản, của trí tuệ siêu việt trong những lúc đất nước khó khăn, ngài cùng vua Hùng Duệ Vương cưỡi rồng lên trời trên đỉnh núi Ba Vì, ngài là biểu tượng cho vị quan văn tài giỏi, trụ cột của triều đình. Sơn Tinh là biểu tượng của một vị thánh vương, có tài an bang trị nước với Hồng phạm cửu trù là bản hiến pháp đầu tiên của nước ta. Ông cũng là Hùng Hoa Vương - Hùng Vương thứ IV, vậy ông có phải là vị Thánh Bất Tử thay cho Thánh Mẫu Liễu Hạnh hay không? Chúng ta cũng đã biết vua An Dương Vương, là vị vua cuối cùng trong chi Hùng Vương thứ XVIII, cũng là vị vua thứ 108 trong Đền Hùng, do vậy vua Hùng Hoa Vương không thể là vị Thánh trấn phương Bắc của Thăng Long, vậy thì là ai? Chúng ta sẽ biết sau. Tiếp tục, xét toàn cục địa lý của miền Bắc Việt Nam, thì tổ long chính là dãy núi Himalaya hùng vĩ, là nơi của 14 đỉnh núi cao nhất thế giới: các đỉnh cao trên 8.000 m, bao gồm cả đỉnh Everest. Để thấy được kích thước khổng lồ của những dãy núi trong dãy Himalaya, hãy so với Aconcagua, trong dãy Andes, với độ cao 6.962 m, là đỉnh cao nhất bên ngoài Himalaya, trong khi hệ thống núi Himalaya còn có trên 100 núi khác nhau vượt quá 7.200 m. Dãy Himalaya trải khắp 7 quốc gia: Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Myanma và Afghanistan. Nó cũng là nơi khởi nguồn của 3 hệ thống sông lớn trên thế giới, đó là lưu vực các sông như sông Ấn, sông Hằng và sông Dương Tử. Mạch núi Hymalaya Tham khảo Internet Sinh khí của dãy Himalaya hình thành nên mảnh đất “Thần kinh” là nước Việt, với Đền Hùng - trung tâm tín ngưỡng và Thăng Long - trung tâm chính trị, văn hóa của quốc gia. Xét về mặt phong thủy, Đền Hùng là một nơi vô cùng đặc biệt, là địa linh nổi tiếng cả nước. Núi Nghĩa Lĩnh như hình đầu rồng bay từ hướng Tây Bắc của tổ long Himalaya về và dừng lại ở Hy Cương. Thân của rồng uốn lượn, lúc ẩn, lúc hiện tạo thành 100 con voi, trong 100 con voi có một con quay đầu về hướng Bắc, truyền thuyết cho nó là con voi bất nghĩa, bị Vua Hùng chém cổ, đuôi con rồng được cho là vùng đạo Bạch Long Vĩ và đầu của nó chính là Thăng Long. Bên trái núi Nghĩa Lĩnh là sông Lô xanh ngắt, còn bên phải là dòng sông Thao ngầu đỏ phù sa. Sông Lô, sông Thao, sông Đà hợp lưu tại ngã ba Hạc Trì rồi thành sông Hồng làm nên một miền châu thổ màu mỡ, trù phú. Ngã ba Hạc Trì là thuỷ khẩu nối với huyệt là Đền Hùng và minh đường là miền châu thổ bao la thoáng đãng trước mặt. Hy Cương là trung tâm của vùng phong thủy đẹp hiếm có của nước ta, mà núi Nghĩa Lĩnh chính là huyệt của cả vùng đất thiêng đó. Nếu Nghĩa Lĩnh như một bệ rồng, thì Đền Hùng là bệ chính với hai tay ngai giang rộng ra, ôm lấy một vùng sông nước và châu thổ sông Hồng, còn xét về toàn cục thế giới thì biển Thái Bình Dương chính là minh đường và Huyền vũ chính là dãy Himalaya. Tay ngai bên trái thanh long, là núi Tam Đảo chạy dài từ Tuyên Quang, qua Vĩnh Phúc rồi dừng lại ở núi Sóc, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Tả Thanh Long này rất linh thiêng, là đất Phật của trường phái Trúc Lâm ở Tây Thiên. Núi Sóc là nơi Phù Đổng Thiên Vương sau khi đánh tan giặc Ân, phi ngựa lên đỉnh rồi hóa về trời. Tay ngai bên phải bạch hổ là núi Tản Viên, nơi lưu thánh tích của Sơn Tinh và Tản Viên Sơn Thánh. Triều án là núi Sài Sơn, các ngọn núi lân cận của huyện Quốc Oai và các quả đồi ở Thanh Tước của Phúc Yên. Truyền thuyết nói rằng Cao Biền là người rất giỏi phong thuỷ, thấy địa thế Đại La cực tốt, nơi hội tụ đủ cả sông núi, long mạch linh huyệt của đất Giao Châu, nên vừa là đắp thành trấn giữ, vừa tìm cách triệt hạ long mạch. Biền lấy nghìn cân sắt để trấn yểm chỗ thần hiện ra. Bỗng nhiên trời nổi cuồng phong sấm, sét đánh nghìn cân sắt vụn ra thành tro bụi, Biền hoảng sợ lập đền thờ thần Long Đỗ và nói rằng "Ta phải về Bắc thôi" và sau này Biền bị vua nhà Đường gọi về và xử tội chết. Sau này, tên tướng Hoàng Phúc, nhận lệnh vua Minh với kế hoạch đi trấn yểm những huyệt đạo còn sót lại, dựa trên những tài liệu của Cao Biền còn lưu trữ trong triều đình. Qua phân tích, chúng ta thấy rằng các vị thần thánh của Việt Nam đã được mã hóa bằng các vì sao trên bầu trời, và được xem là thành tố của các phương pháp học thuật cổ Đông Phương như phong thủy, tử vi… và hình ảnh của các “pháp khí” trong tôn giáo, đồng thời, cũng có liên quan đến mọi sự ứng dụng trên thực tế như âm dương lịch, mà thời xưa gọi là Nông lịch. Tính độc đáo của loại lịch này so với tất cả các loại lịch khác đã được biết đến trong lịch sử văn minh nhân loại là: có sự ứng dụng của một học thuyết vũ trụ quan cổ đại trong nội dung của nó, đó chính là sự nạp âm ngũ hành trong Lục thập hoa giáp. Sẽ là một sự phi lý, nếu thuyết Âm dương Ngũ hành thuộc về văn minh Văn Lang nhưng Âm Dương lịch với dấu ấn của thuyết Âm Dương Ngũ Hành lại không thuộc về nền văn minh này. Nhưng thật chu đáo thay! Ông cha ta đã để lại một câu ca dao nổi tiếng lưu truyền trong dân gian như nhắc nhở cho con cháu tìm lại những dấu ấn của tổ tiên: Ai về nhắn họ Hy Hòa, Nhuận năm sao chẳng nhuận vài trống canh?. Tất nhiên câu ca dao trên đây nhắc đến các chuyên gia làm lịch đời Nghiêu, Thuấn, nhưng hẳn là mới xuất hiện về sau, với ý nghĩa chế diễu một cặp tân hôn vào dịp Hạ chí “đêm tháng năm, chưa nằm đã sáng”. Qua đoạn trích dẫn trên chúng ta sẽ nhận thấy tính khiên cưỡng trong việc lý giải nội dung của câu ca dao, nếu chủ đề của câu ca dao này, chỉ là sự ham muốn kéo dài thời gian đêm của một cặp tân hôn thì không lẽ sự ham muốn đó chỉ nảy sinh vào mùa hạ của năm nhuận? (trích cuốn Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nxb Văn hóa Thông tin, 2002). Canh nông chi đồ Trang dân gian Hàng Trống, Việt Nam Trong câu ca dao, mật nghĩa “vài trống canh” với một canh thời xưa bằng 1/100 ngày = 1/120 giờ cổ = 1/240 giờ hiện nay là một khoảng thời gian rất nhỏ, đó chính là thời gian điều chỉnh bổ sung cho năm âm dương lịch do hiện tượng tuế sai có chu kỳ 25.920 năm, hay có thể hiểu nền tảng thiên văn Đông Phương với việc quan sát các chòm sao Thiên Cực Bắc thời cổ đại. Mô hình vũ trụ của Ptolemy Trích Vũ trụ quanh em, tập I, Nguyễn Thị Vương - Nguyễn Thanh Hương Mãi cho đến thế kỷ XV, nghĩa là ít nhất 4.000 năm sau nhà thiên văn học Copecnic (1473-1543) mới khám phá ra trái đất quay xung quanh mặt trời. Ông từng bị đưa ra xét xử tại tòa án dị giáo thời đấy do đã nói rằng trái đất quanh quanh mặt trời. Tháng 11 là tháng Một xuất phát từ phiên âm hay tháng 12 là Chạp. Nhiều người chỉ dùng Một, Chạp cho các tháng âm lịch. Tháng Chạp là tháng đi chạp mả, thăm sửa mộ phần, làm cỗ cúng tập thể tổ tiên. Cũng theo cách gọi của âm lịch, ngày một và ngày 15 hàng tháng gọi là ngày mồng Một và ngày Rằm. Lịch cổ Việt Nam là âm lịch gọi là lịch Kiến Dần, mang ý nghĩa thể hiện đầu chu kỳ vận động Âm Dương Ngũ Hành trong một năm với quy ước Trái đất là hành Âm Mộc trong Hệ Mặt trời. Như vậy, Tết Nguyên đán của văn minh Lạc Việt thể hiện cái “Một” tức “Vũ trụ thống nhất”, và như vậy chúng ta thấy ngày này cũng chính là ngày sinh nhật của Vũ trụ. Các chòm sao Thiên Cực Bắc Trích Thiên văn lịch pháp phương Đông, tác giả Trần Văn Tam Chúng ta nhận thấy sự liên quan chặt chẽ giữa thứ tự thời gian qua sáu chòm sao Thiên cực Bắc với phả hệ ghi nhận trong các truyền thuyết và huyền thoại thời vua Hùng: - Chòm sao Thiên Nga (chim thiên nga): ứng với bà Hoàng Thị Phú, mẫu của vua Đế Minh. - Chòm Thiên Cầm (cây đàn trời): ứng với Hương Vân Cái Bồ Tát, Phật Bà Quan Âm, Cửu Thiên Huyền Nữ, mẫu vua Kinh Dương Vương. - Chòm sao Vũ Tiên (nàng tiên múa): ứng với bà Tây Vương Mẫu, Phật Mẫu, chính thất vua Kinh Dương Vương, Ngọc Hoàng Thượng Đế. - Chòm sao Thiên Long (con rồng trời): ứng với vua Lạc Long Quân - Hùng Vương II, Câu trần Thượng quan Nam cực Thiên hoàng đại đế. - Chòm sao Tiểu Hùng Tinh (con gấu nhỏ): ứng với vua Hùng Quốc Vương - Hùng Vương III, Trung Thiên Bắc Cực Tử Vi Đại Đế - Chòm sao Thiên Vương (tướng nhà trời): ứng với Hùng Vương IV - Hùng Hoa Vương - Sơn Tinh. - Chòm sao Bắc Đẩu Đại Hùng Tinh (con gấu lớn): sẽ được xác định sau. Cấu trúc dựa trên hướng Bắc - Bắc Cực là hướng Nam của la bàn trên mặt đất theo quy ước cổ, cho nên khi xác định tên các chòm sao trên trời thì theo chiều ngược lại, điều này giống như biểu tượng Long, Lân, Quy, Phượng của Nhị thập bát tú. La kinh phong thủy Trích Hà đồ trong văn minh Lạc Việt, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2007 Như vậy, ngoài chòm sao Tiểu Hùng Tinh định vị phương Bắc thì chòm sao Nam cực định vị phương Nam chính là biểu tượng của Câu trần Thượng quan Nam cực Thiên hoàng đại đế. Trong Đạo giáo tôn xưng Thọ Tinh là Nam Cực Tiên Ông, Nam cực Chân quân, Trường sinh Đại Đế. Hình ảnh Thọ Tinh thường thấy là hình ảnh của một lão nhân tay trái chống gậy, tay phải cầm quả đào, tóc bạc, mày dài, đầu cao, trán nổi, tai dài, mình ngắn. Nam Cực Lão nhân là Ông Thọ, mà Ông Thọ lại chính là vua Lạc Long Quân. Chòm Nam Cực (Nam Thập) Những chòm sao chìa khóa của bầu trời, www.thienvanhoc.org Khác với Bắc cực, Nam cực không có sao để làm mốc.Thật ra là có, đó là sao Sigma (σ) của chòm Octans (Kính bát phân), chòm sao được đặt theo tên của một dụng cụ đo góc trong thiên văn và hàng hải. Thế nhưng, với độ sáng biểu kiến là +5.5 gần như sao Sigma Octantis cực kì khó nhận biết bằng mắt thường. Chòm Nam Thập cũng hữu dụng như chòm Bắc Đẩu để xác định phương hướng. Kéo dài cây thánh giá sẽ cho ta gần như chính xác hướng Nam. Bây giờ quán xét lại thuận tự của Thái Dương hệ tính từ trong ra ngoài: lưu ý về tên gọi của hai hành tinh trong Thái Dương hệ là sao Kim và sao Thủy: Sao Thủy được gọi tên theo thiên văn hiện đại, theo sách cổ thiên văn Đông phương gọi là sao Kim và ngược lại. (Theo Ban Cố, Tiền Hán thư). Thuận tự của Thái Dương hệ dưới đây, với tên hai sao này gọi theo sách cổ: Hệ mặt trời Trích Hà đồ trong văn minh Lạc Việt, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2007 Nếu bây giờ chúng ta lấy Mặt Trời làm hành Thổ (theo nguyên lý trung cung thuộc Thổ) thì ta sẽ thấy một chiều Ngũ hành tương sinh từ trong ra ngoài như hình vẽ. Như vậy, Trái Đất tương ứng với hành Mộc. Căn cứ vào các hiện tượng và nhận thức sau: Những hành tinh nhóm hai (bên ngoài vành đai thiên thạch) có chiều Ngũ Hành tương khắc. Giả thuyết này dựa trên cơ sở Ngũ hành tương khắc do hai sao đầu tiên của nhóm này, tính từ trong ra ngoài là, Sao Mộc (Thái Tuế) khắc Thổ (Sao Thổ). Từ đó, sắp chiều Ngũ Hành tương khắc cho các sao còn lại thì sự kết thúc chu kỳ tương khắc đúng ở sao Diêm Vương. Sao Diêm Vương có cấu trúc hình thể và vật chất gần giống với các hành tinh thuộc nhóm I (Những hành tinh bên trong vành đai thiên thạch). Điều này lại cho thấy sự phù hợp với một nguyên lý của thuyết Âm Dương Ngũ Hành là cực Âm sinh Dương / Cực Dương sinh Âm. Từ hiện tượng này dẫn đến kết luận của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh mang tính tiên tri, cho rằng: Không có hành tinh thứ 10 trong hệ Mặt Trời vì theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành đã có sự cân bằng Âm Dương và Ngũ Hành trong cấu trúc Thái Dương hệ được giải thích bằng phương pháp luận của học thuyết này Trích Hà đồ trong văn minh Lạc Việt, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2007. Thất Chính: Hệ mặt trời Hùng Vương Thứ tự Tên gọi Ngày Ghi chú Mặt trời Kinh Dương Vương Hùng Vương I Thái Dương Chủ Nhật Mặt trăng Lạc Long Quân Hùng Vương II Thái Âm Thứ hai Kim tinh Hùng Quốc Vương Hùng Vương III Mộc Đức Thứ ba Thủy tinh Hùng Hoa Vương Hùng Vương IV Vân Hán Thứ tư Sơn Tinh Mộc tinh Hùng Hy Vương Hùng Vương V Thổ Tú Thứ năm Hỏa tinh Hùng Hồn Vương Hùng Vương VI Thái Bạch Thứ sáu Thổ tinh Hùng Chiêu Vương Hùng Vương VII Thủy Diệu Thứ bảy Lang Liêu Trong chư thần Đạo giáo, ngoài Tam Thanh còn có Tứ Ngự tức bốn vị Thiên Đế phò tá Tam Thanh bao gồm: Hạo Thiên kim khuyết Ngọc hoàng đại đế (Kinh Dương Vương), Trung thiên Bắc cực Thái hoàng đại đế (Hùng Quốc Vương), Câu trần thượng quan Nam cực thiên hoàng đại đế (Lạc Long Quân), Thừa thiên cứu pháp Hậu thổ hoàng địa chi (Đế Minh). Chắc chắn ở thời kỳ Hùng Vương, ông cha ta đã có một kiến thức rất sâu sắc về thiên văn học để xác định được chu kỳ vận động của các thiên thể; không phải chỉ giới hạn ở những hành tinh thuộc Thái dương hệ, mà là sự vận động có thể của phần lớn các ngôi sao trong Thiên hà liên quan đến hệ mặt trời. Để bổ sung cho sự liên hệ giữa khoa thiên văn học hiện đại với văn minh Văn Lang, tham khảo một hiệu ứng vũ trụ từ sự vận động của các thiên thể đối với con người. Hiệu ứng này đã được Gs. Lê Văn Sửu nói đến trong cuốn Nguyên lý thời sinh học cổ Phương Đông, Nxb Văn hóa Thông tin 1996, được bổ sung và hiệu chỉnh lại, đó là vấn đề mà có lẽ các bà mẹ lớn tuổi đều biết về trường hợp trẻ sinh vào giờ Quan Sát: Giờ Quan Sát. Bài ca về giờ sinh phạm giờ Quan Sát như sau: Chính, thất, sơ sinh Tỵ, Hợi thì Nhị, bát Thìn, Tuất bất thậm nghi Tam, Cửu, Mão, Dậu đinh thượng nhiên Tứ, Thập Dần, Thân kỷ định kỳ Ngũ, đồng thập nhất Sửu, Mùi thượng Lục đồng thập nhị Tý, Ngọ chi. Nghĩa là: giờ Quan Sát theo tháng Âm lịch và giờ địa chi: Tháng giêng - giờ Tị Tháng bảy - giờ Hợi Tháng hai - giờ Thìn Tháng tám - giờ Tuất Tháng ba - giờ Mão Tháng chín - giờ Dậu Tháng tư - giờ Dần Tháng mười - giờ Thân Tháng năm - giờ Sửu Tháng mười một - giờ Mùi Tháng sáu - giờ Tý Tháng Chạp - giờ Ngọ Người xưa cho rằng trẻ em sinh phạm giờ Quan Sát khi nhỏ thường ốm yếu khó nuôi, lớn lên thì đầu trộm đuôi cướp. Những bậc làm cha mẹ khi có con sinh giờ Quan Sát thường vô cùng đau khổ. Theo những điều tôi thâu lượm được bấy lâu nay thì những trẻ sinh phạm giờ Quan Sát thường có chức năng gan không ổn định, số lớn dễ bị mắc bệnh viêm gan khi có dịch truyền nhiễm bệnh này. Để tìm hiểu giá trị thật của giờ Quan Sát ta tiến hành mô hình hóa giờ Quan Sát trong một đồ hình dưới đây. Trong đồ trên chúng ta thấy điểm giờ Tý của tháng đều ở trên quả đất có hướng đối chiếu với Mặt trời qua tâm quả đất, từ đó theo các tháng vị trí giờ Quan Sát đều có hướng gần đối chiếu với hướng Bắc của quỹ đạo năm. Như vậy giờ Quan Sát có giá trị là thời điểm nơi sinh đứa trẻ chịu tác động ảnh hưởng vũ trụ từ ngoài mặt trời. Hướng giả định sự vận động của Mặt trời trên quỹ đạo trên thực tế có thể sai với vị trí tương ứng với bốn mùa, trong sự tương quan trái đất và mặt trời, nhưng dù hướng vận động của mặt trời theo hướng nào trong vũ trụ, thì vị trí giờ Quan Sát trên trái đất tương ứng với nhau vẫn không thay đổi so với mặt trời. Tức là đường nối từ tâm trái đất với vị trí giờ Quan Sát vẫn tạo thành những đường thẳng song song như hình vẽ trên. Như vậy, sẽ nhận thấy một hiệu ứng vũ trụ nào đó, tác động lên con người ở các vị trí giờ Quan Sát. Qua đồ hình trình bày, chứng tỏ rằng: nền văn minh cổ Đông phương đã phát hiện hiện tượng trái đất vận động quanh mặt trời mà còn phát hiện ra mặt trời vận động theo quỹ đạo của nó. Để nói lên được điều này, những người tiên phong của nền thiên văn học hiện đại đã phải ra tòa án dị giáo hoặc lên giàn hỏa thiêu, đó là trường hợp của Galile và Bruno ở nước Ý vào thế kỉ XV-XVI. Hiện tượng giờ Quan Sát nêu trên đã chứng tỏ tri thức của nền thiên văn cổ Văn Lang về nhiều mặt đã vượt xa khả năng của tri thức thiên văn học hiện đại, khi xác định một hiệu ứng vũ trụ với đơn vị thời gian nhỏ nhất là giờ ảnh hưởng đến con người. Với nhận định trên, có thể lập luận phản bác theo những khả năng sau: Hiện tượng giờ Quan sát nêu trên chỉ có thể giải thích một cách hợp lý là: đó là kết quả của một tri kiến thiên văn siêu việt được kết hợp với sự ứng dụng phương pháp luận của một lý thuyết vũ trụ quan hoàn chỉnh để lý giải cho những hiện tượng liên quan đến con người. Qua sự phát hiện trên đã chứng tỏ rằng: thời Hùng Vương, ông cha ta đã phát hiện ra không phải chỉ trái đất vận động quanh mặt Trời, mà còn phát hiện ra mặt Trời phải vận động theo một quỹ đạo của nó. Không những thế, mà còn phát hiện được kết quả của sự vận động này, đã tạo ra những hiệu ứng vũ trụ đối với con người thể hiện ở giờ Quan Sát. Trên đây chỉ là một thí dụ để thấy rằng: việc khoa học hiện đại phát hiện ra hiệu ứng vũ trụ từ những vụ nổ của mặt trời gây ảnh hưởng đến cuộc sống ở trái Đất, thật sự là khiêm tốn so với kho tàng khoa thiên văn học của thời Hùng Vương. Khoa học vũ trụ hiện đại có thể ước mơ hàng trăm năm sau sẽ đưa các phi thuyền tới những ngôi sao cách trái đất hàng chục năm ánh sáng, cho dù điều viễn tưởng đó được thực hiện, thì so với việc tìm ra những hiệu ứng vũ trụ ảnh hưởng đến trái đất và con người như nền văn minh Văn Lang đã chứng tỏ vẫn còn là một ước mơ xa xôi khó thực hiện của khoa học vũ trụ hiện đại. Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì khoa thiên văn học hiện đại chỉ thực sự phát triển khoảng vài trăm năm nay, còn khoa thiên văn của thời Hùng Vương đã có gần 3.000 năm khảo nghiệm. Còn có rất nhiều hiện tượng tương tự như vấn đề của giờ Quan Sát nêu trên và những hiện tượng tương tự như vậy, không thể giải thích một cách thô sơ cho đó là do kinh nghiệm dân gian được. Với nền khoa học hiện đại để thống kê và tìm ra một hiệu ứng vũ trụ trên con người trong một đơn vị thời gian như vậy, có sự hỗ trợ của những máy vi tính hiện đại nhất, cũng phải mất hàng trăm năm để theo dõi và phải huy động một khối lượng nhân sự rất lớn, nếu bắt đầu ngay từ bây giờ (trích Hà đồ trong văn minh Lạc Việt, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh). Văn Xương cũng là một sao trong 114 sao của môn khoa học Đông phương Tử Vi. Sao Văn Xương cùng với Văn Khúc, Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt được gọi chung là sáu cát tinh. Trong các phương pháp cổ Đông phương, Tử Vi là một bộ môn dự đoán tương lai của một con người với các quy tắc an sao, đặc biệt phương pháp an sao Khôi Việt rất nhiều sách viết khác nhau, không có cách nào có thể kiểm chứng. Từ nguyên lý căn bản Hậu thiên Bát quái liên hệ Hà đồ đã chuyển đổi Tốn - Khôn, bảng an sao Khôi Việt được tổng hợp như sau: Vị trí Khôi Việt trên Hà đồ và bảng tổng hợp an sao Trích Hà đồ trong văn minh Lạc Việt, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh Như vậy, hoàn toàn có cơ sở để có thể kết luận rằng: trục Hoàng Đạo của Trái Đất chính là nguyên lý an sao Khôi Việt (chúng đối xứng qua trục này). Trục Sửu - Mùi (Bạch Đạo) chính là nguyên lý lạc hãm của sao Khôi Việt. Sự giải thích trên đây cũng cho thấy tính qui luật của hai sao này chỉ có thể giải thích được với nguyên lý căn bản Hậu thiên Bát quái phối Hà đồ. Từ hệ thống tên gọi các chòm sao trên trời được đặt tên dựa trên cấu trúc Âm Dương Ngũ Hành theo Tiên Thiên Bát quái, chiếu xuống bộ Phong Châu thuộc Văn Lang theo Hậu Thiên Bát quái, tương ứng với vị trí các ngôi đình, đền, chùa cổ kính - nơi thờ tự các thánh nhân nước Việt, đã định vị nên một vùng đất linh thiêng của đất nước, nơi phong thủy và tâm linh hội tụ ở tầm toàn thế giới. Bản đồ thiên văn và các phương pháp học thuật cổ Đông phương là thành quả của tổ tiên sau hàng nhiều thiên niên kỷ để lại cho hậu nhân. Chúng ta hãy cùng tiếp tục quay trở lại với việc xác định cương vực của nước Văn Lang thời các vua Hùng. Cương vực nước Văn Lang Văn Lang, được coi là quốc hiệu đầu tiên của Việt Nam, kinh đô đặt ở Phong Châu tỉnh Phú Thọ ngày nay. Theo Lĩnh Nam chích quái thì nước Văn Lang Đông giáp Nam Hải, Tây tới Ba Thục, Bắc tới Động Đình hồ, Nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành). Chia nước làm 15 bộ bao gồm Việt Thường, Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Chân Định, Văn Lang, Quế Lâm, Tượng Quận. Hai sự kiện lớn nhất được truyền thuyết và sử sách ghi nhận đó là việc Hùng Vương sai sứ sang thông hiếu với triều đại phương Bắc, tặng rùa thần và chim bạch trĩ. Trong bộ Thái Bình ngự lãm ở quyển thứ 131 dẫn lại một số sách khác về việc này như sau: Thuật dị kí của Nhậm Phưởng (thời Nam Bắc triều) viết: Thời Đào Đường, nước Việt Thường dâng rùa thần nghìn tuổi, rộng hơn ba thước. Trên lưng có hoa văn, đều là chữ khoa đẩu, ghi lịch rùa từ thủa mới mở mang đến nay. Trong Sách Thông giám cương mục có đoạn chép: “Năm Mậu Thân đời Đường Nghiêu thứ 5 (2353 TCN), có Nam di Việt Thường thị đến chầu, hiến con rùa lớn”; sách Cương mục tiền biên cũng cho biết: “Vào đời Đào Đường thị, năm Mậu Thân đời Đường Nghiêu thứ 5, Việt Thường thị sang chầu dâng rùa thần”. Sách Thông chí thì viết rõ hơn: “Đời Tào Đường, Nam di có Việt Thường thị qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con rùa thần. Rùa được nghìn tuổi, rộng hơn 3 thước, trên lưng có chữ khoa đẩu, chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay, vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là lịch rùa”… Một số thư tịch nước ta cũng viết về điều này, như Khâm định Việt sử thông giám cương mục do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn có viết: “Xứ Việt Thường Thị đem dâng rùa thần sang Trung Quốc, sau hai lần thông dịch mới hiểu được nhau. Rùa thần sống nghìn năm, vuông hơn ba thước, lưng có chữ khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau. Vua Nghiêu sai người chép lại, gọi là lịch rùa”. Không rõ sự kiện này do vua Hùng đời thứ mấy tiến hành, nhưng điều thú vị là duy nhất có cuốn sách cho biết rõ điều đó. Trong Tân đính Lĩnh Nam chích quái cho hay đó là vua Hùng chi đời thứ II (Hùng Hiền Vương, tức Lạc Long Quân): “Thời đó có người hái củi bắt được con rùa sống đã nghìn năm, lưng rộng khoảng 3 thước, trên lưng có chữ Khoa đẩu, đem đến dâng vua. Vua nói rằng: Rùa vốn có hai loại, linh quy (rùa thiêng) và dâm quy (rùa dâm), tuy bề ngoài có vẻ giống nhau, nhưng chất thì khác nhau rõ ràng. Khoảng đó, nghe nói họ Đào Đường ở Trung Quốc là hiền đức, bèn sai đem dâng. Vua Nghiêu truyền sao chép chữ trên lưng rùa mà làm ra lịch rùa”. Sau lần đầu tiên đi sứ Đường Nghiêu, đến thời nhà Chu sứ nước ta lại một lần nữa sang thông hiếu. Thư tịch đầu tiên nói Việt Thường thị ở phía Nam hiến chim trĩ trắng cho Chu Thành Vương được thấy ở sách Thượng thư đại truyện, Trúc thư kỷ niên và Hiếu kinh của Trung Quốc. Chuyện ấy được chép lại ở sách Hậu Hán thư và một số sách đời sau. Sử ký của Tư Mã Thiên viết: “Đất Giao Châu, ở phía Nam có Việt Thường thị, qua nhiều lần thông dịch, đến hiến một con chim trĩ trắng”. Sách Đại Việt sử lược viết: “Đến đời Thành Vương nhà Chu, Việt Thường Thị mới đem dâng chim bạch trĩ…”. Sách Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ chép: “Nước Việt ta khi mới vào cống nhà Chu, tự xưng là họ Việt Thường, dâng con bạch trĩ, 9 lần đổi trạm mới đến được, ông Chu Công ủy lạo cho 5 cỗ xe đặt kim chỉ nam để chỉ lối về”. Tuy nhiên trong cuốn Thần phả thôn Nông Xá (tên cũ là Nguyễn Xá), huyện An Dương, TP Hải Phòng thì thân thế, tên tuổi của sứ Việt Thường thị là hai anh em ông Nguyễn Hưng (tự là Quảng Tế) và Nguyễn Hiền (tự là Khả Liễm) người thôn này đã đi sứ nhà Chu dâng chim trĩ trắng vào năm Tân Mão (1110 TCN) theo lệnh của vua Hùng Định Vương (tức vua Hùng thứ IX): “Hùng Định Vương biết tiếng hai anh em bèn triệu về triều phong cho chức Lạc tướng rồi sai hai ông làm sứ thần đem chim bạch trĩ biếu vua Thành Vương nhà Chu. Hai anh em vâng mệnh, không quản gian nan lên đường. Khi dâng xong chim bạch trĩ, Chu Công sai đóng xe chỉ nam để đưa về nước”... Khi trở về, vua Hùng ghi công và phong chức cho hai anh em ông Nguyễn Hưng, Nguyễn Hiền coi giữ bộ Dương Tuyền (một trong 15 bộ thời Hùng Vương, nay thuộc địa phận Hải Dương, Hải Phòng). Sử ký Tư Mã Thiên ghi về Giao Chỉ, dẫn lại trong Kinh Thư, ở mục Đế Nghiêu viết: (vua Nghiêu) sai Hy Thúc sang ở Nam Giao” và chú giải “Nam Giao tức Giao Chỉ ở phương Nam”, ở mục Đế Chuyên Húc viết: “đời vua Chuyên Húc, phía Nam giáp Giao Chỉ”. Trích Hùng Vương - Thục Phán An Dương Vương, tác giả Phạm Đức Quý, Nxb Văn hóa - Thông tin, 2007. Cuốn Đại Việt sử lược cũng có đoạn chép cho thấy đôi nét về chính sách đối ngoại đó: “Xưa, Hoàng Đế dựng nên muôn nước, thấy Giao Chỉ xa xôi, ngoài cõi Bách Việt, không thể thống thuộc được, bèn phân giới hạn ở góc Tây Nam… Truyền được 18 đời đều xưng là Hùng Vương. Việt Câu Tiễn thường sai sứ sang dụ, Hùng Vương chống cự lại”. Trung tâm thời Thương - Chu Trích Từ điển lịch sử Trung Quốc, Nxb Thanh niên Căn cứ vào bản đồ các trung tâm thời nhà Thương và Tây Chu, chúng ta thấy cương vực của nhà Thương và Tây Chu hoàn toàn nằm phía Bắc của con sông Dương Tử (Trường Giang), cùng với vùng hữu ngạn hạ lưu sông Dương Tử - thuộc nước Việt thời Xuân Thu. Truyền thuyết cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh, nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Kinh Dương Vương cố nhường cho Đế Nghi, nhưng không dám không vâng mệnh. Đế Minh lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho Kinh Dương Vương, làm vua cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ. Dương Tử Giang, đoạn chảy qua tỉnh Vân Nam, Trung Quốc và nơi diễn ra trận Xích Bích giữa Ngụy và liên minh Ngô - Thục Trên cơ sở câu truyện huyền thoại này, nhà nghiên cứu Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ đã tới tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc để kiểm chứng và tìm kiếm các dữ liệu lịch sử, qua bài viết Biên cương nước Việt Cổ: Tương truyền vua Minh lập đàn tế cáo trời đất trên núi Quế Dương, phân chia lãnh thổ Lĩnh Bắc tức Trung Quốc, Lĩnh Nam tức Đại Việt. Đàn tế đó gọi là Thiên Đài. Nhưng dãy núi Quế Dương có mấy chục ngọn núi nhỏ không biết ngọn Thiên Đài là ngọn nào, trên bản đồ không ghi. Sau ông hỏi thăm dân chúng thì họ chỉ cho núi Thiên Đài nằm gần bên bờ Tương Giang. Thiên Đài là ngọn đồi nhỏ, cao 179m, đỉnh tròn có đường thoai thoải đi lên. Trên đỉnh có ngôi chùa nhỏ, nay để hoang. Tuy chùa được cấp huyện bảo tồn nhưng không có người trụ trì. Chùa xây bằng gạch nung, mái lợp ngói. Lâu ngày chùa không được tu bổ, nhiều chỗ ngói bị lở, bị khuyết. Tường mất hết vữa, gạch bị mòn nhiều chỗ gần như lún sâu. Duy nền với cổng bằng đá là còn nguyên, tuy nhiều chỗ đá bị bong ra. Bên trong cột kèo bằng gỗ đã nứt nẻ khá nhiều. Những câu đối, chữ còn, chữ mất. Tại thư viện Hồ Nam ông tìm được một tài liệu rất cũ, giấy hoen ố, nhưng chữ viết như phượng múa rồng bay, gồm 60 trang. Ðầu đề ghi: Thiên Đài di sự lục, Trinh quán tiến sĩ Chu Minh Vãn sọan. Trinh quán là niên hiệu của vua Ðường Thái Tông, từ nãm Ðinh Hợi (627) đến Ðinh Mùi (647) nhưng không biết Chu đỗ tiến sĩ nãm nào? Tuy sách do Chu Minh Vãn soạn, nhưng dường như bản nguyên thủy không còn. Bản này do người sau sao chép lại vào đời Thanh Khang Hy. Nội dung sách có ba phần. Phần của Chu Minh Vãn sọan, phần chép tiếp theo Chu Minh Vãn, của một sư ni tên Ðàm Chi, không rõ chép vào bao giờ. Phần thứ ba chép pháp danh các vị trụ trì từ khi lập chùa tới thời Khang Hy (1662-1772). Chu Minh Văn là tiến sĩ đời Đường, nên văn của ông thuộc loaị văn cổ rất súc tích, đầy những điển cố cùng thành ngữ lấy trong Tứ thư, Ngũ kinh cùng kinh Phật. Tài liệu Chu Minh Văn cũng nhắc lại việc vua Minh đi tuần thú phương Nam, kết hôn với nàng tiên sinh ra Lộc Tục.Vua lập đàn tại núi này để tế cáo trời đất, vì vậy đài cũng mang tên Thiên Đài núi cũng mang tên Thiên Đài sơn, Minh Vãn còn kể thêm: “Cổ thời trên đỉnh núi chỉ có Thiên Đài thờ vua Đế Minh và vua Kinh Đương. Đến thời Đông Hán, một tướng của vua Bà (Trưng Trắc và Trưng Nhị) tên Đào Hiển Hiệu được lệnh rút khỏi Trường Sa. Khi rút tới Quế Dương ông cùng nghìn quân lên Thiên Đài lễ, nghe người giữ đền kể sự tích xưa. Ông cùng quân sĩ nhất định tử chiến, khiến Lưu Long thiệt mấy vạn người mới chiếm được núi. Về đời Ðường để xóa vết tích Việt - Hoa cùng Nam Bắc, các quan được sai sang đô hộ Lĩnh Nam mới cho xây chùa tại đây”. Nơi có dấu vết Thiên Đài, còn đôi câu đối khắc vào đá:<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Thiên Đài đại đại phân Nam Bắc, Lĩnh địa niên niên dữ Việt Thường. Thiên Đài bao thời phân ra Nam Bắc, Ngũ Lĩnh vạn năm giống Việt Thường. Chỗ miếu thờ Đào Hiển Hiệu có đôi câu đối: Nhất kiếm Nam hồ, kinh Vũ Đế, Thiên đao Bắc lĩnh, trấn Lưu Long. Một kiếm đánh trận Nam hồ Động Đình, kinh tâm Quang Vũ, Một nghìn tay đao Bắc núi Ngũ Lĩnh, trấn áp Lưu Long. Như vậy, việc vua Đế Minh tế cáo trời đất là có thực, vì có Thiên Đài, nên thời Lĩnh Nam mới có trận đánh hồ Động Đình. Hai sự kiện đó chứng tỏ lĩnh địa Văn Lang xưa quả tới núi Ngũ Lĩnh, hồ Động Đình. Ngày nay, lãnh thổ vùng Giang Nam đều có đền thờ Hai Bà Trưng tức Vua Bà ở khắp nơi., chẳng hạn tại tỉnh Quảng Tây, phủ Thái Bình có miều thờ với chữ đại tự “Trưng Vương Miếu”. Đền Đồng Nhân - dao cán tượng “Hai Bà” Tranh dân giang Đông Hồ, Việt Nam và cổ vật Đông Sơn Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (?-43) đánh đuổi giặc Hán, chỉ trong một thời gian ngắn đã thu phục trên 65 thành trì và thống nhất toàn bộ vùng Lĩnh Nam, Nam sông Dương Tử, giang sơn lại về một mối. Có lẽ, trong lịch sử chiến tranh thế giới mà người phụ nữ đứng lên, tốc chiến tốc thắng và trở thành vua của một lãnh thổ rộng lớn là chỉ có một, nếu đem so sánh với lịch sử của 10 người phụ nữ được cho là vĩ đại nhất thế giới trong đó ____ (Thập đại tùng thư - Mười người đàn bà làm chấn động thế giới, tác giả Bốc Tùng Lâm, Nxb Văn hóa Thông tin, 2010). Trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Tam Quốc Chí, tác giả Bồ Tát Nguyễn Minh Không đã ngụ ý: Thành Tề, hạ bảy mươi hai, Thế gian há dễ mấy ai nối mình? Hai người công tích rành rành, Đến nay ai bảo không anh hùng nào?.<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Mặc dù cuộc chiến đã thất bại, nhưng người dân Lạc Việt vẫn trân trọng gìn giữ hình ảnh bất khuất của Hai Bà - tiêu biểu cho tinh thần bất khuất của người dân Việt. Cho đến tận bây giờ, vẫn còn vang vọng những bài thơ bi tráng ca ngợi Hai Bà: Ải Bắc, quân thù kinh vó ngựa, Giáp vàng, khăn trở lạnh đầu voi. Chàng ơi! Điện ngọc bơ vơ quá, Trăng chếch, ngôi trời bóng lẻ soi. (trích bài thơ Trưng Nữ Vương, nữ sĩ Ngân Giang). Gần 200 năm sau, một nữ anh hùng khác là Triệu Thị Trinh (225-248) đã cùng anh Triệu Quốc Đạt chiêu tập nghĩa binh, quyết lòng đánh đuổi quân Ngô cứu nước, cứu dân. Người ta kể lại rằng khi người thân hỏi về chí hướng mai sau, tuy còn ít tuổi, bà đã rắn rỏi thưa: "Lớn lên con sẽ đi đánh giặc như bà Trưng Trắc, Trưng Nhị!". Bà Triệu là người giỏi võ nghệ, có chí lớn, năm 19 tuổi, có người hỏi bà về việc chồng con, bà nói: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô xâm lược, cởi ách nô lệ, chứ không chịu cúi đầu, khom lưng làm tì thiếp cho người ta”. Trong nhân dân còn mãi lưu truyền câu ca dao nói lên lòng tôn kính đối với Bà Triệu: Ru con, con ngủ cho lành, Để mẹ gánh nước rửa bành con voi. Muốn coi lên núi mà coi, Có bà Triệu Tướng cưỡi voi đánh cồng. Còn quân Ngô, sau những lần bị Bà Triệu đánh bại, đã khiếp đảm: Múa giáo giết cọp dễ, Đối diện vua Bà khó! Hình ảnh của Bà Triệu được phác họa trong dân gian như một nữ tướng oai nghiêm “mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi trận”. Trong dòng tranh dân gian Đông Hồ có bộ tranh nhị bình lịch sử rất hùng tráng Bà Trưng và Bà Triệu. Bà Triệu Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Quay trở lại cương vực nước Văn Lang, trong bản đồ cổ cương vực thời Thương, Chu có nước Việt thuộc vùng Nam Dương Tử, mặt khác theo Sử Ký Tư Mã Thiên, vùng trường Sa cho tới thời Tần đã thuộc Trung Quốc. Vì vậy, để giải thích hiện tượng này, chúng ta cần phải xem lại sự kiện giặc Ân sang cướp nước ta trong truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương. Cổ sử Trung Hoa cho rằng nhà Ân Thương tồn tại xấp xỉ 400 năm (1766-1122 tr.CN Lịch sử Trung Quốc 5000 năm, Tập I, Lâm Hán Đạt, Tào Dư Chương, Nxb VHTT 1997, dịch giả Trần Ngọc Thuận) nếu tính từ vua Bàn Canh nhà Thương dời đô sang Ân Khư, vì vậy gọi là nhà Ân. Gia phả ghi nhận Chi Ly - Hùng Vương VI - Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 tr.CN), lên ngôi khi 29 tuổi, truyền 2 đời vua, ở ngôi tất cả 81 năm đều xưng là Hùng Hồn Vương, từ năm Kỷ Sửu (1712 tr.CN) đến năm Kỷ Dậu (1632 tr.CN), ngang với Trung Quốc vào thời Ốc Đinh nhà Thương. Như vậy, giữa thời vua Hùng Vương thứ VI và Ân Thương có sự tương đương về niên đại, niên đại trong cổ sử Trung Hoa được coi là tương đối chính xác chỉ từ thời Chu Lệ Vương (khoảng 850 tr.CN. Sự tương đương về niên đại này không thể coi là ngẫu nhiên bởi ông cha ngày xưa viết sử biên niên chỉ dựa vào niên hiệu của các vị vua. Theo Đại Việt sử ký (Nxb Tp Hồ Chí Minh 1993 - dịch giả Nguyễn Gia Tường): “Việt Vương Câu Tiễn (505-465 tr.CN) thường sai sứ sang dụ, Hùng Vương chống cự lại”. Nước Việt cuối thời Xuân Thu là một nước ở vùng Triết Giang Trung Hoa ngày nay tức là vùng đất của Văn Lang cũ theo truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên, vào thời Câu Tiễn là một quốc gia hùng mạnh, bá chủ của các nước chư hầu thuộc vùng Nam Trung Quốc cuối thời Xuân Thu của nhà Chu. Nước Việt có một nền khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là kỹ thuật luyện kim, những thanh kiếm báu nổi tiếng trong truyền thuyết là Can Tương và Mạc Da đều được sản xuất từ nước này. Với một thực lực hùng hậu như vậy, mà chưa hề có một truyền thuyết, di vật hoặc thư tịch nào chứng tỏ có một cuộc chiến giữa Việt Câu Tiễn và Văn Lan và sự kiện này cũng chứng tỏ rằng Văn Lang rất mạnh. Thanh kiếm Việt Vương Câu Tiễn Ảnh tham khảo Trong Chu Dịch về ý nghĩa của quẻ Ký Tế, phần Tượng truyện, hào 3 có nói: “Cửu tam: Cao Tôn phạt Quỉ phương, tam niên khắc chi, tiểu nhân vật dụng - Vua đánh các vùng nước Quỷ, ba năm mới được, chớ dùng tiểu nhân”. Bị chú hào này: trong bản Chu Dịch hiện lưu hành, vua ở đây ghi là Cao Tông tức vua Cao Tông nhà Ân Thương. Thuật ngữ Quỷ Phương chỉ các phương giống người quỷ tức người còn man rợ như phía trên đã nói: Nam Man, Bắc Địch, Đông Di, Tây Nhung. Nước Việt Thường chúng ta cũng bị nhà Chu gọi là nước Xích Quỷ... nhà Ân Thương có điều quân đi đánh bốn phương đều dẹp loạn, có xuống đến tỉnh Quý Châu. Ở đây có bộ tộc Thi La Quỷ, thời Hùng Vương thứ VI, vào đánh nước ta nhân danh nhà Ân Thương (Theo Vũ Quỳnh trong sách Tân đính Lĩnh Nam Chích Quái). Vua Cao Tông nhà Ân Thương tên là Vũ Đinh, con Đế Tiểu Ất và cháu vua Bàn Canh. Vũ Đinh có đánh dẹp quanh hồ Động Đình và đến vùng Quý Châu, có thể cuộc dẹp loạn trải qua ba năm. Quẻ Tùy, hào 6 có nói: “Thượng lục: Câu hệ chi, nãi tùng duy chi, vương dụng hanh vu tây sơn - Lòng mình theo mình cấu kết không rời, không trói buộc cũng theo, như dân ấp Mân theo vua chạy qua Tây Sơn”. (Phần trích dẫn, theo Kinh Dịch Phục Hy, Gs. Bùi Văn Nguyên - Nxb Khoa học Xã hội - Hà Nội 1997). Đất Mân thuộc địa danh khoảng vùng Phúc Kiến ngày nay (Khả năng sau này là nước Mân Việt mà Sử ký của Tư Mã Thiên nhắc đến trong Nam Việt Úy Đà liệt truyện), vào thời Chu, đất Mân không thuộc về Trung Quốc. Nhưng với quan niệm cho rằng: Hào 6 của Kinh Dịch phản ánh cuộc chiến Ân Thương - Văn Lang, thì đây có thể là đoạn miêu tả cuộc rút lui của quân đội vua Hùng về phía Tây núi Lĩnh Nam, thuộc bộ Vũ Ninh (Quí Châu ngày nay). Tại đây, vua Hùng đã kịp triệu tập quân đội các bộ chống giặc và ngài Phù Đổng Thiên Vương đã hiện thân cứu nước. Vua Vũ Đinh nhà Ân Thương khả năng chính là vua Ốc Đinh. Trong những thư tịch cổ của Trung Hoa còn lại đến ngày nay thì không có sử sách nào nói đến, ngoại trừ một cuộc chiến mà truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương đã nhắc tới, điều này chứng tỏ chính nhà Ân Thương đã gây chiến với Văn Lang cho nên không có quan hệ ngoại giao. Sau khi mất các vùng đất, có lẽ Văn Lang đã không chủ động giành lại những vùng đất này, chứng tỏ khả năng các vua Hùng đã có những sách lược không gây chiến tranh, cùng tồn tại với nhà Ân Thương cho tới khi chuyển qua đời Chu. Do đó, khi nhà Chu lật đổ Ân Thương, đương nhiên tiếp quản và làm đất phong cho con cháu, công thần của họ. Điều này giải thích tại sao một số nước chư hầu của nhà Chu đã xuất hiện ở đấy như Ngô, Việt và một phần nước Sở. Bản đồ thời Chiến Quốc Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh Tấm bản đồ Chiến quốc được vẽ lại từ những tấm bản đồ minh họa trong cuốn Lịch sử Trung Quốc 5000 năm, tập I của Lâm Hán Đạt, Tào Dư Chương (Nxb VHTT 1997 - Dịch giả Trần Ngọc Thuận) và phần biên giới của các nước chư hầu nhà Chu trong Bản đồ Trung Quốc vào khoảng 350 năm tr.CN (Sử Trung Quốc, Tập I của Nguyễn Hiến Lê - Nxb Văn Hóa - 1997). Qua tấm bản đồ trên chúng ta sẽ nhận thấy: nếu nước Văn Lang chỉ giới hạn ở một vùng thuộc Bắc Việt Nam ngày nay, mà lại được sự quan tâm của Việt Vương Câu Tiễn để làm đồng minh chống lại Trung Nguyên thì thật là một sự vô lý. Từ giới hạn biên giới phía Nam của các nước chư hầu nhà Chu thời Chiến quốc đến biên giới phía Bắc hiện nay của Việt Nam là một khoảng trống lớn. Trong khoảng trống đó có vùng Quý Châu là điểm mà vua Ân tuần thú xuống phía Nam để đánh các nước Quỷ. Truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương có nói: Ngài giáng hạ ở làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Hà Bắc hiện nay. Như vậy, theo truyền thuyết giặc đã đánh đến ngay quê hương của ngài. Do đó, so với những lời chú thích trong quẻ Ký Tế thì hoàn toàn có cơ sở để đặt một giả thuyết cho rằng: bộ Vũ Ninh chính là vùng Quý Châu cũ. Bản đồ thời Tần Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh Tấm bản đồ thời kỳ nhà Tần trong cuốn Lịch sử Trung Quốc 5000 năm. Theo sử Trung Hoa thì Nam Việt lúc đầu thuộc nhà Tần, nhưng đến cuối thời Tần thì tách ra lập một quốc gia riêng. Từ bản đồ này, có thể thấy trong khoảng 125 năm (350-221 tr.CN) lãnh thổ Văn Lang đã bị thu hẹp đáng kể. Sự hình thành một số quốc gia như Dạ Lang, Điền Việt, Tây Âu, đây vốn là những vùng đất các bộ thuộc Văn Lang, tức là đã có những tổ chức xã hội ổn định và phát triển, nên hoàn toàn có cơ sở để từ đó hình thành những quốc gia độc lập, do những sự biến động lớn của lịch sử (Trích Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh). Trong cuốn Tùy Đường diễn nghĩa, tác giả giải thích “Quỷ phương” liên hệ đến vùng đất Quý Châu, tức bờ Nam sông Dương Tử. Mặt khác, theo truyện Bát Tiên đắc đạo khuyết danh, thời nhà Hạ Trung Quốc thì Nam Dương Tử vẫn còn thuộc nước Việt, vua Hạ Vũ trị thủy nhờ vào kinh nghiệm của người Việt, tác giả khẳng định: “Chuyện Hạ Vũ trị thủy có ghi chép đầy đủ chi tiết trong thiên “Vũ Cống” đối với sách Bát Tiên Đắc Đạo không quan hệ bao nhiêu chỉ là bổ khuyết cho nhau thôi”. Bát Tiên Đắc Đạo là câu truyện thần tiên được sáng tác dựa trên các hình ảnh động vật biển hóa thân mà chỉ có duy nhất trên bức tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam là Bát Tiên náo hải, do vậy tác giả cuốn sách này chắc chắn phải là một người Việt. Trong tiểu thuyết nổi tiếng Tây Du Ký, tác giả Phật Hoàng Trần Nhân Tông, tại Hồi 67: “Cứu xóm Đà La thiền tính vững - Thoát đường ô uế đạo tâm trong” nói về vùng Thủy Nguyên, Hải Phòng nơi đất trồng nhiều cây thị (ngày nay vẫn còn) và nhắc lại sự kiện vua Đại Vũ trong lịch sử Trung Quốc, ông cưới vợ Việt vùng Đồ Sơn được ghi lại trong Thiên Ích Tắc, Kinh Thư, do Khổng Tử san định. Hồi sách này cũng là mật ngữ nói về câu chuyện cổ tích nổi tiếng Tấm Cám mà cô Tấm xinh đẹp đã dấu mình trong quả thị “Thị ơi thị rụng bị bà - Bà về bà ngửi chứ bà không ăn”. Tác giả ý muốn nói Cô Tấm nhân hậu chính là hoàng hậu của vua Đại Vũ nhà Hạ và ông Bụt (Phật) trong câu chuyện cổ tích Tấm Cám đã có trước thời vua Đại Vũ rồi. Đồng thời, tên vùng Thủy Nguyên cũng còn mang ý nghĩa lịch sử: nơi đã từng chôn vùi những đạo quân thiện chiến Nguyên Mông nhất thế giới thời bấy giờ khét tiếng bạo tàn. Rõ ràng, nước Việt cùng thời nhà Hạ Trung Quốc không thể là nước Việt hạ lưu sông Dương Tử được, bởi thời kỳ này vùng Nam sông Dương Tử vẫn thuộc nước Văn Lang của các vua Hùng. Cho nên, vua Hạ Vũ lấy vợ người Việt khẳng định trong sách sử, bà chính là người nước Văn Lang. Do vậy, Bát Tiên đắc đạo và Tây Du Ký đã đề cập tới sự kiện lớn trong lịch sử giữa hai nước Văn Lang và Trung Quốc thời kỳ này. Câu chuyện Tấm Cám và tính minh triết Việt Dịch Với tâm hồn trong sạch của tuổi thơ, chúng ta cảm nhận được ở chuyện Tấm Cám về cái thiện đã thắng cái ác và kẻ ác phải trả giá cho việc làm của họ. Câu chuyện Tấm Cám không chỉ mang một triết lý nhân sinh về tính nhân quả gần gũi với giáo lý Phật giáo, mà còn chưa đựng trong đó cả một giá trị minh triết Đông phương đó chính là sự minh triết Việt Dịch. Có thể khẳng định rằng: Hầu hết những di sản văn hoá phi vật thể Việt để lại cho hậu thế đều mang tính minh triết rất sâu sắc. Mỗi câu ca dao tục ngữ đều là một châm ngôn về con người và cuộc sống, về cách xử thế hàng ngày, hoặc đó là những lời khuyên khôn ngoan về các tri thức thiên nhiên xã hội và con người. Trong những di sản văn hoá độc đáo ấy, chúng ta nếu chịu suy nghĩ và tìm tòi, còn thấy cả những chìa khóa giải mã những bí ẩn của giá trị Đông phương. Câu chuyện Tấm Cám của dân tộc Việt, ngoài những giá trị về tính minh triết và nhân văn, còn là giá trị khám phá sự bí ẩn của Đông phương của Việt Dịch. Chính vì nội dung rất sâu sắc và tính minh triết của câu truyện này, đã khiến cho tác phẩm có một sức sống vượt thời gian và không gian trải hàng ngàn năm thăng trầm của lịch sử Việt. Một thời gian mà tất cả các tác giả của nhân loại hiện đại, không một ai dám mơ ước cho những tác phẩm vĩ đại của họ. Mở đầu câu truyện, chúng ta thấy cảnh ngộ của Tấm thật là bi đát: Cha mẹ mất sớm và ở với dì ghẻ.Đây là những mâu thuẫn đầu tiên của con người, trong mối quan hệ xã hội. Mâu thuẫn này không mang nặng tính ý thức hệ, như sau này khi xã hội loài người phát triển. Đối tượng chính trong câu truyện này là bà mẹ Cám và Tấm, cô Cám chỉ là một cái cớ để câu truyện diễn tiến. Sự tồn tại của ba nhân vật nữ chính và sự bị đát của cô Tấm cho thấy một hoàn cảnh thuần Âm, được biểu tượng bằng ba người đàn bà trong gia đình. Đó chính là tượng của quẻ Thuần Khôn: và địa vị của cô Tấm, trưởng nữ, tượng của quẻ Tốn: Mâu thuẫn xã hội là một thực tại và nó phát triển theo quá trính phát triển của lịch sử nhân loại. Mâu thuẫn đầu tiên và sơ khai nhất chính là mối quan hệ gia đình và hoàn cảnh của cô Tấm trong câu chuyện là một ví dụ. Nếu câu chuyện giải quyết theo hướng người mẹ kế của cô Tấm có ý thức nhân đạo, nuôi cô Tấm như con đẻ của mình. Như vậy, sẽ có Dương (Ý thức thuộc Dương) trong Âm (Ba người đàn bà) thì Âm Dương đã cân bằng và câu chuyện bi thương này diễn biến theo chiều hướng khác. Nhưng bà mẹ của Cám lại sống theo bản năng của người đàn bà trong mối quan hệ giữa con mình và con không do mình đẻ ra. Trong giai đoạn đầu, tính thuần Âm chỉ đạo toàn bộ sự diễn tiến và phát triển của câu truyện. Âm càng phát thì mâu thuẫn ngày càng tăng. Chuyện bắt đầu chỉ là con tép, rồi lên con cá. Sau đó, khi mối quan hệ xã hội ngày càng phát triển trong lịch sử tiến hoá của loài người thì nhu cầu về ăn mặc cũng phát triển. Phần Dương trong một hoàn cảnh thuần Âm này chỉ là mơ ước của Tấm với hình tượng ông Bụt hiện lên mỗi khi hoạn nạn. Với những người nghiên cứu về Kinh Dịch, chúng ta đều biết rằng: Trong một quẻ 6 hào thì quái Thượng phía trên là Dương, quái Hạ, phía dưới là Âm. Qua ba giai đoạn gian truân trong gia đình và phát triển từ thấp đến cao, chính là ba hào Âm của quái Hạ: Ba sự kiện đó là giỏ tép bị tráo, cá bống bị giết và sự đau khổ của Tấm khi phải nhặt thóc một cách vô vọng cho ước mơ của mình. Đây chính là hình tượng ba hào Âm cuối của quẻ thuần Khôn. Trong giai đoạn này, Đến Hào hai - Hào Lục nhị là Hào Âm chính vị theo lý Dịch - hình tượng của con cá bống mỗi khi Tấm cho ăn, có một câu ca kỳ lạ: Bống bống bang bang, Bống ăn cơm vàng, cơm bạc nhà ta, Chớ ăn cơm hẩm, cháo hoa nhà người. Câu ca nổi tiếng này được các bà mẹ Việt truyền từ đời này sang đời khác - qua bao thăng trầm của giống nòi - khi kể lại câu truyện cho đứa con thơ dại. Mỗi khi đọc bài ca này, mắt mẹ lại ánh lên nhìn vào mặt con, như muốn truyền cảm tình yêu mái ấm gia đình mà mẹ là người chở che, bao bọc. Cũng như chuyện thằng Bờm, sự quay cuồng bão tố của không thời gian lịch sử không làm thay đổi một chữ. Ở đây, trong bài ca này của cô Tấm, cũng không hề bị sửa chữa bởi một ý thức hàn lâm ngớ ngẩn. Tại sao thể nhỉ? Ông cha ta dùng ngoa ngữ chăng? Cơm của Tấm cũng là cơm lại là cơm của con nhà nghèo, làm sao gọi là cơm vàng cơm bạc được? Phải chăng đây chính là hình tượng, nhắc nhở hậu thế đừng vội quay lưng với những di sản của ông cha. Mà trong đó, ẩn chứa những giá trị vô giá không thể so sánh với những giá trị vật chất tầm thường. Khi Tấm cưỡi ngựa hồng, mặc áo đẹp, đội nón quai thao, mang hài đi dự lễ hội, thoả mãn ước mơ của mình thì câu chuyện bước sang một cấu trúc khác. Mâu thuẫn của mối quan hệ giữa con người với con người trong gia đình, đã chuyển sang mâu thuẫn trong quan hệ xã hội: Mâu thuẫn về danh vọng và quyền lực. Tấm đang ở trong hào Lục tứ của quẻ thuần Khôn thuộc Âm. Xã hội loài người liên tục phát triển thì mâu thuẫn xã hội tiếp tục phát triển với những hình thái mới của nó. Qua giai đoạn thuần Âm của ba hào của quái Khôn hạ, mâu thuẫn xã hội chuyển sang một hình thái mới là Dương trong Âm của 3 hào trong quái Khôn thượng của quẻ Thuần khôn. Diễn biến của câu truyên từ lúc này về sau không có hình ảnh của ông Bụt (Tính Dương trong quái Hạ thuần Âm). Trong hào lục tứ chính vị, Tấm được tấn phong hoàng hậu chỉ dưới hào Cửu Ngũ là hào của vua. Nếu như lúc Tấm trở về làng, mẹ con nhà Cám phục tùng hoàng hậu, giữ đạo quần thần. Tức là có ý thức trong mối quan hệ xã hội (Thuộc Dương) thì câu truyện có thể chấm dứt ở đây. Và đây cũng là kết thúc của một câu chuyện dị bản tương tự của văn hoá cổ Châu Âu trong câu chuyện Lọ Lem. Nhưng nền văn minh cổ của người Việt đã tiếp tục câu chuyện sâu sắc hơn nhiều, theo đúng tinh thần của Dịch học: Quẻ Thuần Khôn chưa đi hết 6 hào của nó và mâu thuẫn xã hội tiếp tục phát triển. Tấm bị mẹ con nhà Cám lừa giết chết, khi đang trèo lên cây cau và biến thành con chim vàng anh. Đây là lần biến hoá thứ nhất của hào Lục Tứ. Sự tranh chấp quyền lực - mâu thuẫn trong quan hệ xã hội - vẫn tiếp tục xảy ra và Âm vẫn thắng Dương: Con chim vàng anh hoá thân của Tấm bị giết. Đến đây sự kiện chuyển sang hào lục ngũ: Linh hồn của Tấm biến thành cây xoan tiếp tục oán than. Cám tiếp tục truy sát, chặt cây làm khung cửi . Sự kiện tột cùng của hào Thượng lục trong quẻ thuần Khôn và cũng là lúc Âm đạt đến đỉnh cao nhất: Tấm trở thành cái khung cửi và là một công cụ của Cám.Chúng ta cũng nhận thấy rằng: Trong giai đoạn sau được diễn tả thông qua 3 hào thượng của quẻ Thuần Khôn - từ lục tứ đến thượng lục - không có hình ảnh của Bụt trong câu chuyện. Linh hồn của Tấm - thuộc Dương trong Âm (Hồn người chết) - trực tiếp tham gia diễn biến câu truyện, thay thế cho hình tượng ông Bụt. Nhiềư nhà phê bình văn học đã cho rằng: Đây là hình ảnh chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo. Nhưng đây chính là sự minh hoạ đặc sắc cho tính vi diệu của Dịch học, có sự tương đồng với Phật Pháp. Để chứng tỏ điều này, chúng ta có thể xem lại bản văn sau đây trong Kinh Dịch: Hệ Từ thượng truyện. Chương V. Tiết 2 viết: Ngẩng lên xem thiên văn, cúi xuống xét địa lý, cho nên biết cái cớ của sáng tối. Quay về nguyên thuỷ của vạn vật, theo dõi đến cuối cùng, nên biết được bài học về sống chết. Tinh khí hợp lại sinh ra vạn vật. Hồn thoát ra tạo nên biến hóa, nên biết được tình trạng của quỉ thần. Như vậy, qua đoạn trích dẫn trên “Hồn thoát ra ngoài tạo nên biến hoá”, cho thấy tinh thần của Dịch rất gần gũi với giáo pháp của Phật về sự luân hồi. Bởi vậy nên có sự quan hệ giữa chuyện Tấm Cám và ảnh hưởng của Phật giáo, điều này cũng giống như sự tích Chử Đồng Tử hoặc sự tích Cây Nêu, đều có hình ảnh của Đức Phật, nhưng hình tượng cây Nêu là một giá trị văn hoá phi vật thể thuần Việt: Chỉ có ở văn hoá Việt Nam mới có cây Nêu, còn những quốc gia ảnh hưởng Phật pháp khác, không có hình tượng này, điều này cho thấy hình tượng cây nêu là một sản phẩm văn hoá thuần Việt. Nhưng chính tính gần gũi của tư tưởng Dịch học và Phật pháp, nên sự tích cây Nêu đã dùng hình ảnh chiếc áo cà sa của Đức Phật phủ lên cây nên. Đây là một biểu tượng sự che chở của Phật Pháp cho những giá trị văn hoá Việt trong sự bi tráng của lịch sử giống nòi, vì tình gần gũi của những giá trị minh triết trong văn hoá truyền thống Việt với Phật pháp. Quay trở lại với nội dung câu chuyện Tấm cám, chúng ta thấy rằng: Mâu thuẫn đã lên đến tột đỉnh trong quan hệ xã hội của con người. Đó là mâu thuẫn ở đỉnh cao của quyền lực: Tấm và Cám trong sự tranh giành địa vị Hoàng Hậu. Âm tính đã phát triển đến hào Thượng Lục trong quẻ Thuần Khôn. Vì tính thuần Âm nên mâu thuẫn không được giải quyết. Linh hồn của Tấm vẫn khắc khoải với sự đau khổ, oan trái của mình. Nhưng về Lý Dịch thì sự việc phải chuyển hóa. Chiếc khung cửi bị Cám đốt hoá thành tro đã chuyển hoá câu chuyển sang một hoàn cảnh mới: Nhất Dương sinh, theo nguyên lý cực Âm sinh Dương của Dịch. Quả Thị là một biểu tượng tuyệt vời trong trường hợp này. Đây là một loại quả chỉ dùng trong việc thờ cúng của văn hoá truyền thống Việt. Quả thị chỉ có mùi hương (Mùi vị thuộc Dương - hình thể thuộc Âm) và không ăn được. Thị ơi! Thị à! Thị rụng bị bà. Bà để bà ngửi, chứ bà không ăn! Các bà mẹ Việt Nam kể lại câu chuyện này, cũng có bà bảo rằng: Chính vì vậy mà quả thị từ đó về sau không ăn được. Linh hồn của Tấm nấp trong quả thị và phục sinh từ quả thị. Đây là hình tượng của quẻ Phục, nhất Dương sinh: Tấm đã sống lại và ở với bà lão. Như vậy, khi linh hồn cô Tấm nằm trong quả thị và hàng ngày bước ra giúp dọn việc nhà thì câu chuyện đã đang ở trong hào Nhất Dương sơ Cửu của quẻ Phục. Khi bà lão rình phát hiện được Tấm và xé bỏ quả thị đi thì cô Tấm hoàn Dương. Cô Tấm sống với bà lão, chính là hào 2 Cửu nhị của quẻ Lâm và câu chuyện đang diễn biến trong nội hàm của nó. Ngôi Dương của hào cửu nhị không đắc chính. Tấm còn đang chịu cảnh đất khách quê người. Câu chuyện tiếp diễn khi nhà vua tình cờ vi hành qua hàng nước của bà lão. Một tình tiết rất độc đáo ở giai đoạn này và có lẽ cũng là lời giáo huấn của tiền nhân, chính là hình ành của miếng trầu têm cánh phượng. Trầu cau là một giá trị đặc thù của văn hoá Việt. Trầu têm cánh phượng chính là hình tượng của một giá trị cao nhất của nền văn hoá đó. Và chỉ có cô Tấm mới thực hiện được điều này. Toàn bộ đoạn này, cha ông ta đã gửi gắm lại cho đời sau một thông điệp: “Chính những giá trị văn hoá Việt là tiền đề cho sức sống và sự phát triển của dân tộc Việt”. Bởi vậy, những thế hệ tiếp nối nền văn hiến Việt phải có trách nhiệm bảo tồn những giá trị văn hóa Việt. Khi nền văn minh toàn cầu hội nhập thì dân tộc nào có giá trị văn hóa cao cấp, chính là dân tộc được trân trọng trên thế giới. Trở lại với câu truyện Tấm Cám, chúng ta thấy rằng: Nhờ miếng trầu têm cánh phượng, nhà vua đã đưa cô Tấm trở về hoàng cung và là chính cung hoàng hậu. Câu chuyện đang ở hào Cửu Tam. Dương đắc ngôi dương. Nhưng đến đây nếu chúng ta vội cho rằng: 3 hào Âm của quẻ Thuần khôn đã biến thành ba hào Dương là tượng của quẻ Địa Thiên Thái thì thật sai lầm. Đây chưa phải là quẻ Địa Thiên Thái. Về tượng quái thì quẻ Khôn trong Địa thiên thái và trong quẻ Thuần Khôn đều giống nhau. Nhưng là những người đã tìm hiểu về Dịch thì chúng ta sẽ thấy rằng: Ý nghĩa của cùng một quái nhưng ở hai quẻ khác nhau sẽ khác nhau. Quái thượng Khôn trong quẻ Thuần Khôn và quái thượng Khôn trong quẻ Địa Thiên Thái, mặc dù giống về hình tương nhưng không thể cùng một nội dung. Sự tuần hoàn của tạo hoá khiến mỗi quẻ ở vị trí khác nhau trong vòng tuần hoàn vô tận, sẽ không giống nhau dù giống tượng. Điều này giải thích lá số Tử Vi trùng dữ kiện 60 năm trước và 60 năm sau, dù giống hệt nhau nhưng không thể giống nhau. Sao Thiên Mã 100 năm trước là con ngựa, nhưng 100 năm sau là xe hơi. Người sinh cùng ngày giờ tháng năm, nhưng ở hai hoa giáp khác nhau sẽ có độ số khác nhau… Bởi vậy, quái Khôn trong quẻ Thuần Khôn tượng là bà mẹ của Cám, nhưng quái Khôn trong quẻ Địa Thiên Thái thì lại khác hẳn về tính chất. Đó chính là sự chuyển hoá tính chất khi những sự kiện diễn biến liên tục ở đoạn cuối. Cám chết vì tham vọng vô độ. Cô ta không từ một cách nào dể đạt mục đích. Lòng tham đã dẫn đến sự ngu xuẩn, thể hiện bằng hành động tự dội nước sôi vào mình. Bà mẹ Cám ăn thịt con mà không biết. Đây là một hình tượng rất ấn tượng vì tính khủng khiếp của nó. Nhưng về tính minh triết của hình tượng này lại cho thấy: Chính bà mẹ Cám đã giết dần con mình khi xui con lao vào tội ác. Bà mẹ Cám đã ăn thịt chính con bà từ lâu. Đến khi thấy hậu quả của tội ác chính bà thì bà ta cũng chết. Bởi vậy, chính hình ảnh ấn tượng này lại là sự cảnh tỉnh cho lòng tham của con người làm ảnh hưởng đến thế hệ sau. Khi bà mẹ Cám - tượng cho quái Khôn trong quẻ Thuần Khôn chết và Tấm - trưởng nữ, tượng quái Tốn - chính thức thay thế trong vị trí hoàng hậu làm Mẫu nghi thiên hạ - Một nội dung khác của quái Khôn để cuộc đời mở ra với quẻ Địa Thiên Thái. Và cũng chính hình tượng này lại cho thấy vị trí của Tốn (Trưởng Nữ - Tấm) phải thay thế cho quái Khôn - Mẹ Cám trong Việt Dịch với Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ. Hình minh họa Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà đồ & Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư Câu chuyện Tấm Cám với luận điểm trình bày trong bài viết này thì đây chính là nội dung sâu sắc đầy tình minh triết của văn hiến Lạc Việt. Có thể nói, chỉ có truyện Tấm Cám của Việt Nam mới có nhiều tình tiết trong một mạch truyện xuyên suốt, mang tính minh triết thông qua những hình tượng của nó, hơn hẳn những chuyện dị bản của những nền văn hoá khác. Do đó, nếu chỉ với cái nhìn thông thường thì cũng thật là bất công khi những kẻ ác như mẹ con nhà Cám không bị trừng trị. Trong truyện Thạch Sanh, chàng Thạch Sanh cũng tha chết cho mẹ con Lý Thông đấy chứ! Nhưng cũng sẽ không thể gợi lên một ước mơ công lý, nếu những nhân vật này không bị sét đánh chết. Câu truyện Tấm Cám đã sống với nền văn hoá dân tộc Việt trải hàng thiên niên kỷ, còn chưa đựng nhiều nội dung sâu sắc thuộc về nền minh triết Lạc Việt. (Trích bài viết Câu chuyện Tấm Cám và tính minh triết việt dịch, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh). Truyền thuyết cũng đã ghi nhận vua Kinh Dương Vương đặt tên nước là Xích Quỷ, chữ Xích nghĩa là màu đỏ, phương Nam, nơi của ánh sáng tức là nơi của văn minh, còn chữ Quỷ chiết tự bao gồm 3 chữ Vương, như vậy Xích Quỷ có thể đọc là Ba Vua Đỏ, Ba Mặt Trời hay mảnh đất của của Ba Mặt Trời hay đó chính là Vua Đế Minh - Kinh Dương Vương - Lạc Long Quân và cũng là “Tam vị nhất thể” trong các tôn giáo trên thế giới. Trong Dịch lý thì mang ý nghĩa “Tam Dương” như đã trình bày trong các chương trước. Mặt khác, chữ Quỷ hiện cũng mang ý nghĩa là quỷ tức thuộc Cõi Âm, Cõi Chết và đấy là lý do Ải Nam Quan còn gọi là Quỷ Môn Quan, cổng tới Cõi Chết, Cõi Phong Đô, “kinh đô của Gió” hay “kinh đô Tây Phương” tức bộ Phong Châu - một trong 15 bộ thuộc Văn Lang cổ. Ải Nam Quan nhìn từ độ cao ở Đồng Đăng Tranh tham khảo Quỷ Môn Quan, Quỷ Môn Quan! Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn. Nghĩa là: Cổng địa ngục, Cổng địa ngục! Mười người đi, một người về. Quỷ Môn Quan chính là một phần không thể tách rời của Ải Chi Lăng. Đến thời Tây Sơn, vua Quang Trung, sau khi dành độc lập chủ quyền cho đất nước, ông đã gởi biểu cho nhà Thanh đòi lại đất Lưỡng Quảng. Đến năm Nhâm Tý (1792), để thăm dò thái độ nhà Thanh, Quang Trung cử một phái đoàn do tướng Võ Văn Dũng làm Chánh sứ sang Trung Quốc với hai đề nghị: cầu hôn với công chúa Nhà Thanh và đòi lại đất Lưỡng Quảng. Về vấn đề này, cuốn gia phả họ Võ của Võ Đình Thứ (cháu ba đời Võ Văn Dũng) soạn năm Tự Đức thứ 23 (Bính Ngọ - 1870) cho biết: khi bệ kiến Càn Long, Võ Văn Dũng đã tâu xin cầu hôn với công chúa nhà Thanh và xin đất Quảng Đông và Quảng Tây để làm kinh đô, viện cớ nhà vua đang ở nước hẻo lánh, hai đường thủy bộ đều không tiện … Càn Long đem điều tâu xin của Võ Văn Dũng giao cho đình thần nghị xét và sau đó chuẩn y cho Quang Trung tỉnh Quảng Tây. Riêng việc cầu hôn, Càn Long cũng thuận ý và xuống chiếu giao cho bộ Lễ sửa soạn nghi thức và chọn ngày cho công chúa nhà Thanh sang nước Nam kết duyên với Quang Trung. Song “ước mơ vượt biên giới” của Hoàng đế Quang Trung đã không thành, vì khi bộ Lễ nhà Thanh đang xúc tiến mọi việc thì ông băng hà. Đoàn sứ giả của vua Quang Trung đến triều nhà Thanh Tranh vẽ tham khảo Qua đây, chúng ta thấy vua Quang Trung chắc đã dựa trên cổ sử Văn Lang còn ghi chép lại, để có cơ sở địa chí nhằm lấy lại hai mảnh đất Lưỡng Quảng, tức Quảng Tây và Quảng Đông ngày nay. Còn theo Cổ Việt Hùng thị Thập bát Diệp Thánh Tông Ngọc Phả cổ truyền do Hàn Lâm viện Trực học sĩ soạn năm Nhâm Thìn 1472, niên hiệu Hồng Ðức thứ 3 thì vua Lê Thánh Tôn giao cho Bảng Nhãn Nguyễn Như Ðỗ nghiên cứu về cương giới nước Việt xưa. Bản Hùng Vương bát cảnh do Nguyễn Như Ðỗ sưu tập thì lãnh thổ nước Văn Lang bao gồm: - Miền gò ngựa (Mã Kỳ) rộng khoảng 2.000 dặm, xưa tên là châu Ðiền nay thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. - Miền cỏ trâu (Ngưu Lang) rộng khoảng 1.500 dặm tức Việt Tây nay là tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. - Miền ao cá (Ngư Trì) rộng 1700 dặm xưa có tên là Việt Ðông nay là tỉnh Quảng Ðông, Trung Quốc. - Miền rừng quạ (Ô Lâm) xưa là châu Kiềm nay thuộc tỉnh Phúc Kiến, Quí châu giáp hồ Ðộng Ðình, Trung Quốc. - Miền động hoa tức tức nước Phù Nam cổ rộng khoảng 1.000 dặm thời Lê Thánh Tôn là nước Chân Lạp. Vương quốc Phù Nam cổ ở Hạ Lưu sông Mekong, Vương quốc này tồn tại mãi đến thế kỷ thứ VI. Cương giới Phù Nam trải rộng hầu như khắp lục địa Ðông Nam Á cổ bao gồm cả miền Nam Trung Việt, Nam Việt Nam sang phía Tây gồm cả thung lũng sông Mê Nam Thái Lan. Phía Bắc tới vùng trung lưu sông Mê Kông tức lãnh thổ Lào ngày nay, trải dài xuống phương Nam tới bán đảo Mã Lai, tức nước Malaysia bây giờ. - Miền núi quả (Quả Sơn) rộng khoảng 1.000 dặm tức nước Hồ Tôn (Lâm Ấp cổ còn gọi là Chămpa) sau là Chiêm Thành. - Miền bầy voi (Tượng Tào) rộng khoảng 1.000 dặm tức nước Ai Lao hay Lào. - Miền lũ hươu (Lộc Hữu) rộng khoảng 1.000 dặm ở phía Nam Ai Lao tức Cao Miên (Cambodia) bây giờ. - Còn về trước nữa thì biên giới nước ta lên tới Hồ Bắc và Nam Hà Nam lấy phân dã 2 sao Ngưu Nữ làm giới cận. Vấn đề cương vực nước Văn Lang theo Hùng Vương bát cảnh còn mở rộng về phía Nam hơn nữa, tuy nhiên chúng cũng cần phải được nghiên cứu kỹ càng và cẩn thận thêm. Cùng với vấn đề cương vực thì lịch sử nước Âu Lạc thời vua An Dương Vương hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, đặc biệt việc khai quật trống đồng Cổ Loa, là một chứng tích vật thể cực kỳ quan trọng, ghi nhận các thông tin liên quan đến thời kỳ này. Do vậy, chúng ta cần xác định mối quan hệ lịch sử giữa các triều đại Văn Lang và Trung Quốc: Sử cổ đại Trung Quốc Tương ứng với Văn Lang Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê với các thuyết về Ngũ Đế: - Mẹ ông Phục Hy Truyền thuyết Bà Hoa Tư - Thái Hạo, Hoàng Đế, Thần Nông, Thiếu Hạo, Chuyên Húc. Cùng xem vua Phục Hy, Thần Nông là tổ tiên của mình. - Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc Truyền thuyết về vua Phục Hy và Nữ Oa và Hoàng Đế. - Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Đế Khốc (Cốc), Đế Chí (theo Từ Hải) Đế Cốc mang hình ảnh con “chim Cốc”. - Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc (Cốc), Nghiêu, Thuấn (theo Tsui Chi) Truyền thuyết Hồng Bàng thị. Vua Kinh Dương Vương lên ngôi 2879 tr.CN. Sách Kinh Thư do Khổng Tử san định: Đời Đào Đường: 2347-2246 tr.CN Bang giao Trung Quốc với việc hiến tặng rùa thần có chữ Khoa đẩu. Đời Hữu Ngu: 2246-2204 tr.CN Đời Hạ: 2204-1766 tr.CN Vua Hạ Vụ hội chư hầu tại Đồ Sơn, Hải Phòng, nước Văn Lang. Đời Thương: 1766-1123 tr.CN Cuộc chiến với Văn Lang - truyền thuyết Thánh Gióng thời Hùng Vương thứ VI. Đời Chu: 1123-249 tr.CN Bang giao Trung Quốc với việc hiến chim trĩ trắng - trở về bằng xe chỉ nam. Theo tác giả Trần Đại Sỹ qua bài viết Biên giới nước Việt cổ Vua Đế Nghi (2889-2843 tr.CN) Truyền thuyết Hồng Bàng thị. Vua Đế Lai (2843-2794 tr.CN) Gia phả Văn Lang ghi nhận vua Đế Lai là cha bà Âu Cơ, hoàng hậu vua Lạc Long Quân. Vua Ly (2795-2751 tr.CN) Vua Du Võng (2752-2696 tr.CN) Theo Cội nguồn văn hóa Trung Hoa, chủ biên Đường Đắc Dương, phó chủ biên Tạ Duy Hòa, dịch giả Nguyễn Thị Thu Hiền, Nxb Hội Nhà văn, 2003 thì người Trung Quốc coi Viêm Đế và Hoàng Đế là tổ tiên sớm nhất của dân tộc Trung Quốc. Qua các dữ liệu nêu trên, chúng ta thấy lịch sử cổ đại của Trung Quốc cũng rất mù mờ, chúng ta chỉ biết rằng vua Nghiêu truyền ngôi cho Thuấn, Thuấn truyền ngôi cho Đại Vũ 2205-2098 tr.CN và vua Đại Vũ lấy vợ người Việt. Theo truyền thuyết Trung Quốc cổ đại, Chuyên Húc là Thiên Đế ở phương Bắc, tên là Cao Dương, cháu của Hoàng Đế. Theo Sử ký, Hoàng Đế và Luy Tổ có hai con trai là Huyền Hiêu và Xương Ý. Xương Ý được phong ở Nhược Thủy, lấy người con gái của thị tộc Thục Sơn là Xương Phó và sinh ra Chuyên Húc. Sau khi Chuyên Húc kế ngôi, thành tích chính trị thể hiện rõ rệt, xa gần đều phục tùng. Sử ký - Ngũ Đế bản kỷ, mô tả ông là người uyên bác, trầm tĩnh, có mưu lược. Ông thông hiểu mọi việc, sử dụng đất đai và ghi chép thời tiết, chú trọng việc giáo hóa và định ra các chế độ. Dân các tộc phía Bắc tới U Lăng, phía Nam tới Giao Chỉ, phía Tây tới Lưu Sa, phía Đông tới Bàn Mộc đều thuận theo. Chuyên Húc - Đế Khốc - Vua Thuấn - Vua Đại Vũ Tranh tường thời nhà Hán, Trung Quốc Theo Sử ký, Chuyên Húc có người con trai là Cùng Thiền. Cùng Thiền sinh Kính Khang. Kính Khang sinh Câu Vọng. Câu Vọng sinh Kiều Ngưu. Kiều Ngưu sinh Cổ Tẩu. Cổ Tẩu sinh Trọng Hoa. Trọng Hoa tức là vua Thuấn sau này. Theo truyền thuyết, Đế Khốc trị vì từ năm 2412-2343 tr.CN. Sử ký - Ngũ Đế bản kỷ nói, Đế Khốc sinh ra đã là thần linh, tự nói tên mình, ban phát lợi vật ở khắp nơi, không nghĩ gì đến thân mình. Cũng theo Sử ký, ông là người nhân ái khiêm nhường. Ông có khả năng tận dụng tài nguyên và tài lãnh đạo mọi người. Ông còn là người chế ra lịch phù hợp và thành kính thờ tế quỷ thần. Đế Khốc có thái độ nghiêm túc, phẩm chất cao thượng, ứng xử hợp tình hợp lý, không tạo ra sự chênh lệch lớn trong xã hội. Đế Chí là một vị vua huyền thoại của Trung Quốc cổ, trị vì khoảng 2366-2358 tr.CN. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Đế Chí là con của Đế Khốc (hay Cốc). Sau khi vua cha qua đời, ông lên nối ngôi, nhưng không có tài cai trị nên con vợ cả của Khốc (họ Trần Phong) là Phóng Huân thay ngôi - tức Đế Nghiêu. Đế Nghiêu cũng được gọi là Giao Đường Thị. Theo Sử ký - Ngũ đế bản kỷ, ông có tên là Phóng Huân, là con trai của Đế Khốc, mẹ họ Trần Phong. Ông có người em khác mẹ là Đế Chí. Vì Nghiêu thuộc bộ tộc Đào Đường nên ông cũng được gọi là Đường Nghiêu. Cũng theo Sử ký, Đế Khốc mất, Đế Chí lên thay, tuy nhiên do Chí không có tài trị nước nên Phóng Huân thay ngôi, tức là Đế Nghiêu. Đế Thuấn là một vị vua huyền thoại thời Trung Quốc cổ đại, tên khai sinh của ông Diêu Trọng Hóa, ông cũng được gọi là Hữu Ngu Thị. Vua Thuấn, cùng với các vua Nghiêu và Vũ, được Nho giáo coi là những vị vua kiểu mẫu, và Thuấn nổi tiếng là người hiền đức trong thiên hạ. Theo truyền thuyết, mẹ ông, Ốc Đăng là người rất hiền đức mất sớm, cha là Cổ Tẩu lấy vợ khác và sinh ra Tượng. Dù bị mẹ con Tượng và cả Cổ Tẩu đối xử không tốt, Thuấn vẫn một mực hiếu thuận, giữ đúng đạo làm con. Danh tiếng của Thuấn đồn xa, ông được vua Nghiêu mời giúp cai quản việc nước và gả cho hai người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh. Sau một thời gian, Nghiêu già yếu, Thuấn được Nghiêu nhường ngôi khi 53 tuổi và chết khi 100 tuổi. Ông đặt thủ đô của vương quốc tại Bồ Phản, Sơn Tây hiện nay. Việc Nghiêu chọn Thuấn nhường ngôi chứ không nhường ngôi cho con mình là Đan Chu thường được sử sách đời sau coi là tấm gương mẫu mực của việc chọn người tài đức. Hạ Vũ (2205-2098 tr.CN) là vị vua nhà Hạ huyền thoại ở Trung Quốc cổ đại nổi tiếng với về việc chống lũ, tên ông khi sinh là Tỉ Văn Mệnh, thường được gọi là Đại Vũ. Lịch sử đời vua Nghiêu, Thuấn, Vũ, Hạ, Thương, Chu… được ghi chép trong Kinh Thư do Khổng Tử san định, cùng với các Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, riêng Kinh Nhạc bị thất lạc cho tới ngày nay (Tham khảo mạng Wikipedia). Kết hợp với Sử ký - Tam Hoàng bản kỷ gồm 5 đoạn thì 3 đoạn đầu chép Tam Hoàng bao gồm Thái Hạo của Bào Hy Thị (tức Phục Hy) với 111 năm, Nữ Oa của Nữ Oa Thị không rõ số năm và Viêm Đế của Thần Nông Thị với 120 năm. Viêm Đế sinh Đế Đồi, Đế Đồi sinh Đế Thừa, Đế Thừa sinh Đế Minh, Đế Minh sinh Đế Trực, Đế Trực sinh Đế Ly, Đế Ly sinh Đế Ai, Đế Ai sinh Đế Khắc, Đế Khắc sinh Đế Du, với 8 đời này tổng cộng kéo dài 530 năm thì Hiên Viên Thị mới nổi lên. Đoạn thứ tư mới nói rằng có thuyết cho rằng Tam Hoàng là Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhân Hoàng. So sánh với các gia phả cổ đại của Văn Lang, chúng ta sắp xếp được bảng tổng hợp sau: Trung Quốc Ghi nhận quan hệ hai bên Văn Lang Thủy Tổ Thủy Tổ Hòa Hy - Lịch Đại Đế Vương Gia phả cổ đại của Văn Lang Hòa Hy - Lịch Đại Đế Vương Phục Hy - Thanh Đế Truyền thuyết và huyền thoại về vua Phục Hy và Nữ Oa Phục Hy - Thanh Đế Thần Nông - Viêm Đế Truyền thuyết Hồng Bàng thị của Văn Lang. Thần Nông - Viêm Đế Đế Tiết (Đế Đồi) - Hoàng Đế Truyền thuyết Hoàng Đế của Trung Quốc. Đế Tiết - Hoàng Đế Đế Thừa - Bạch Đế Đế Thừa - Bạch Đế Đế Minh - Hắc Đế hay còn gọi Huyền Đế Truyền thuyết Hồng Bàng thị của Văn Lang. Đế Minh - Hắc Đế hay còn gọi Huyền Đế Đế Nghi tức Đế Trực (em song sinh với vua Đế Minh) Truyền thuyết Hồng Bàng thị của Văn Lang: Đế Minh chia đôi lãnh thồ cho Đế Nghi và Kin Dương Vương. Phục Hy - Thần Nông - Đế Tiết - Đế Thừa - Đế Minh chính là Ngũ Đế chung của hai quốc gia Đế Lai tức Đế Ly (con vua Đế Nghi) Gia phả cổ của Văn Lang ghi nhận Đế Lai là con của vua Đế Nghi. Vua Kinh Dương Vương lên ngôi năm 2879 trCN - Hùng Vương I - Thiên Hoàng - nước Xích Quỷ Đế Chuyên Húc tức Đế Ai (nhận định là anh em với bà Âu Cơ) Gia phả Văn Lang ghi nhận con gái Đế Lai là bà Âu Cơ lấy vua Lạc Long Quân. Vua Lạc Long Quân - Hùng Vương II - Địa Hoàng Đế Cốc tức Đế Khắc Đế Cốc mang hình ảnh con “chim Cốc” Vua Hùng Quốc Vương - Hùng Vương III - Nhân Hoàng - nước Văn Lang Đế Chí tức Đế Du Vua Nghiêu: 2347-2246 tr.CN Bang giao với việc Văn Lang hiến rùa thần có chữ Khoa đẩu. Đời vua cuối cùng của chi Cấn - Hùng Vương III Vua Thuấn: 2246-2204 tr.CN Không thấy ghi nhận rõ nét Vua Kinh Dương Vương - Vua Lạc Long Quân - Vua Hùng Quốc Vương là Tam Hoàng. Vua Kinh Dương Vương là Ngọc Hoàng Thượng Đế tức Thiên Hoàng. Vua Vũ: 2204-1766 tr.CN Hội chư hầu Trung Quốc tại Đồ Sơn, Hải Phòng, nước Văn Lang, ghi nhận trong Kinh Thư. Truyện cổ dân gian Tấm Cám. Nhà Thương: 1766-1123 tr.CN Thời vua Ốc Đinh gây cuộc chiến với Văn Lang được ghi nhận trong Kinh Dịch. Hùng Hồn Vương - Hùng Vương VI, truyền thuyết Thánh Gióng. Nhà Chu: 1123-249 tr.CN Bang giao với việc Văn Lang hiến chim trĩ trắng - sứ thần trở về bằng xe chỉ nam Hùng Định Vương - Hùng Vương IX (1100 tr.CN) Xuân Thu Chiến Quốc Không thấy ghi nhận rõ nét: Việt sử lược ghi nhận Việt Vương Câu Tiễn sai sứ sang dụ, Hùng Vương cự lại Nhà Tần: (221-206 tr.CN) Nhà Tần tấn công Âu Lạc Nước Âu Lạc - Vua An Dương Vương - đời cuối chi Hùng Vương XVIII với truyện Thần Kim Quy Nhà Hán Nhà Hán tấn công Nam Việt Nước Nam Việt - Triệu Vũ Đế với truyền thuyết Mỵ Châu Trọng Thủy Như vậy, chúng ta có thể nhận định là khoảng thời gian truyền ngôi trực tiếp từ Đế Chuyên Húc - Đế Cốc - Đế Chí cho tới vua Nghiêu ước khoảng 530 năm, từ Đế Chí cho tới vua Nghiêu mới chuyển chi. Do đó, chính từ sự tổng hợp cổ sử Trung Quốc và cổ sử Văn Lang, thì chúng ta mới làm rõ được cội nguồn dân tộc, có thơ cổ rằng: Bát bách lý Động Đình kim nhập nhãn, Ngũ thiên niên lịch sử tái tòng đầu. Tám trăm dặm Động Đình nay thu vào mắt, Năm ngàn năm lịch sử làm lại từ đầu. Cổ Loa Thành Truyền thuyết của dân tộc Việt nói về một cuộc nhường ngôi của vị vua cuối cùng ở thời Hùng Vương thứ XVIII cho Thục Phán - An Dương Vương, về nguyên nhân kết thúc thời đại Hùng Vương, giáo sư Đào Duy Anh đã dẫn những tài liệu trong sách Đất nước Việt Nam qua các đời như sau: Sách Giao Châu ngoại vực ký dẫn ở Thủy kinh chú có lẽ là sách xưa nhất chép chuyện An Dương Vương là con Thục Vương, làm vua nước Âu Lạc sau khi chiếm nước Văn Lang của Lạc Vương: “Giao Chỉ có ruộng Lạc, trông nước triều lên xuống mà làm. Người ăn ruộng là Lạc Vương và Lạc Hầu. Các huyện gọi là Lạc tướng, có ấn đồng dải xanh, tức là quan lệnh ngày nay. Sau con Thục Vương đem binh đánh Lạc Vương và Lạc hầu, tự xưng là An Dương Vương, đóng trị sở ở Phong Khê. Sau Nam Việt Vương là Úy Đà đánh An Dương Vương, sai hai sứ cai trị hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, tức là nước Âu Lạc”. Việt sử lược thì chỉ nói rằng: “Cuối thời nhà Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay. Phán đắp thành ở Việt Thường, xưng hiệu là An Dương Vương, không thông hiếu với nhà Chu”. Toàn thư thì chép rằng: “An Dương Vương (húy là Phán, người Ba Thục, ở ngôi 50 năm, sử cũ cho là họ Thục là sai) - Giáp Thìn, năm đầu (năm 58 Chu Văn Vương), vua nổi binh đánh diệt nước Văn Lang. Trước vua đã đánh nhiều lần. Hùng Vương binh cường tướng giỏi, vua nhiều lần bị thua. Hùng Vương nói rằng: Ta có sức thần, nước Thục không sợ sao? Bèn bỏ không săn sóc vũ bị, ngày ngày chỉ uống rượu ăn tiệc làm vui. Quân Thục bức đến gần, Hùng Vương còn say mềm chưa tỉnh, hộc máu nhảy xuống giếng chết. Binh chúng trở giáo đầu hàng. Thục Vương gồm chiếm lấy nước, đổi tên là nước Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê.” Tại miền Cao Bằng ngày nay, trong đồng bào Tày được lưu hành một truyền thuyết bằng thơ về nguồn gốc của các bộ lạc, gồm ba phần: phần thứ nhất trình bày tình hình của các bộ lạc Nam Cương, phần thứ hai kể chuyện chín chúa tranh ngôi vua, phần thứ ba trình bày sự thắng lợi của Thục Phán trong cuộc cạnh tranh ấy. Từ thuở xưa, khi người ta vừa mới biết ánh sáng, biết ăn chín, biết che thân, biết phát rừng trồng lúa, biết đào mương lấy nước, biết dựng nhà che mưa nắng thì người ta cũng tụ tập thành bản mường, nhưng mỗi mường ở độc lập một phương. Về sau người ta tụ tập đông hơn, nhiều mường họp lại thành bộ, đứng đầu là vua chủ trương mọi việc, đặt chữ cho dân, vỗ về dân chúng khiến họ làm ăn yên ổn. Vua tốt thì dân được nhờ, vua ác thì dân nổi loạn, vua mạnh thì bờ cõi yên lành, vua không được dân phục thì phải nhường ngôi cho người khác. Ở phía Nam Trung Quốc, đầu sông Tả Giang, về gần nước Văn Lang, có bộ Nam Cương hùng cứ một phương. Bộ này do Thục Chế tức An Trị Vương đứng đầu, đóng đô ở Nam Bình, do chín xứ họp thành. Các xứ cứ ba năm triều cống một lần. Chín xứ ấy là: Thạch Lâm, Hà Quảng, Bảo Lạc, Thạch An, Phúc Hòa, Thượng Lang, Quảng Nguyên, Thái Ninh (tức phủ Thái Bình tỉnh Quảng Tây), Quy Sơn. Từ lúc An Trị Vương lên ngôi, nhân dân yên ổn, chín xứ đều thần phục cho nên dần dần trở nên hùng cường. Nước Trung Quốc mấy lần xâm lăng đều bị đánh lui, rồi từ đấy không dám quấy nhiễu nữa, hai bên kết tình giao hảo. Thục Chế làm vua 60 năm, thọ 95 tuổi. Con là Thục Phán mới lên 10 tuổi, cháu họ là Thục Mô tạm lên cầm quyền. Chín chúa nghe tin ấy tưởng rằng Thục Mô cướp ngôi, bèn kéo quân về bao vây kinh đô. Thục Mô sợ, phải giao quyền lại cho Thục Phán, các chúa mới chịu yên. Thục Phán còn nhỏ, sợ bị các chúa lấn át, nói rằng: Nay trong bộ có mười xứ, chín chúa giữ chín xứ, còn lại một xứ cho vua, như vậy thì có đâu phải là vua. Nay hãy thi tài, ai có tài hơn người mà thắng tất cả mọi cuộc thì ta xin nhường ngôi cho cai trị cả bộ. Các chúa nghe theo. Thục Phán bèn tổ chức mười cuộc thi tài: 1. Đấu võ 2. Làm nghề tốt việc nhanh; 3. Sang Trung Quốc lấy trống rồng (có lẽ là trống đồng); 4. Bắn cung trúng lá đa; 5. Làm một nghìn bài thơ; 6. Nhổ mạ Phiêng Pha (gần Tinh Túc) cấy ruộng Tổng Chúp (Cao Bằng); 7. Đóng thuyền rồng; 8. Đẽo đá làm guốc; 9. Nung vôi gạch xây thành; 10. Mài lưỡi cày thành kim. Trong các cuộc thi ấy Thục Phán đều dùng kế mỹ nhân để phá, không cho chúa nào thắng được, nên cuối cùng Phán được các chúa tôn làm vua. Thục Phán ra sức củng cố cơ đồ nước Nam Cương, làm cho dân giàu nước mạnh. Nước Văn Lang láng giềng bấy giờ đang suy yếu, nhân dân xiêu tán đói rét, quân lính biếng lười, các tướng chỉ thích rượu thơ. Thục Phán nhớ lại đời Tiên Vương đất nước nhiều lần bị nước Văn Lang uy hiếp, cho rằng nay đã đến lúc phục thù, bèn cất quân sang đánh, Hùng Vương nhu nhược bại vong. Thế là nước Văn Lang bị gồm làm một nước với nước Nam Cương. Thục Phán đặt tên nước mới là Âu Lạc, đóng đô ở Loa Thành. Từ đó bốn phương yên ổn. Do truyền thuyết trên ấy, chúng ta có thể nhận thấy rằng bộ Nam Cương do Thục Phán làm vua là tương đương với miền Cao Bằng từ Bảo Lạc lấn sang đến cả một phần phủ Thái Bình tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc. Nếu thế thì có thể nói rằng con cháu của vua nước Thục mà Thục Phán là đại biểu cuối cùng đã từ miền Tứ Xuyên và Vân Nam vào nước Nam Cương của truyền thuyết theo đường sông Lô, sông Gầm, rồi tràn sang miền thượng lưu sông Cầu và sông Hữu Giang. Người nước Nam Cương là người gì? Chúng ta đã biết rằng người nước Văn Lang là người Lạc Việt, lại cũng biết rằng nhóm Việt tộc sinh tụ ở miền Quảng Tây, tức trong lưu vực sông Tây giang với hai nhánh của nó là Tả giang và Hữu giang, là người Tây Âu, vậy nhân dân nước Nam Cương ở đầu sông Tả giang và lưu vực Hữu giang cũng là thuộc nhóm Tây Âu. Trước hết, chúng ta xem một đoạn tư liệu sau đây trong cuốn sách nói trên của giáo sư Đào Duy Anh. “Về nước Thục ở thời Xuân Thu thì sách Hoa Dương Quốc chí đời Tấn là sách đầu tiên chép rõ. Sách ấy chép rằng: “Năm thứ 5 Chu Thận Vương, bọn đại phu Trương Nghi, Tư Mã Thác và đô úy Mặc của nước Tần theo đường Thạch Ngưu đi đánh nước Thục. Vua Thục tự cầm quân cự chiến ở Gia Manh, thua, bỏ chạy đến Vũ Dương thì bị quân Tần giết. Tướng phó cùng với thái tử lui đến Phùng Hương, thái tử chết ở Bạch Lộc Sơn. Thế là họ Khai Minh mất, gồm 12 đời vua nước Thục.” Về việc nhà Tần đánh nước Ba Thục, Sử ký - Truyện Trương Nghi, chép rõ như sau: “Huệ Vương nói: Phải, quả nhân xin nghe theo nhà ngươi. Rồi đem binh đánh Thục. Đến tháng 10 lấy được Thục. Bèn bình định nước Thục, truất Thục Vương, đổi hiệu làm Hầu, rồi khiến Trần Trang làm Thừa tướng nước Thục.”. Qua đoạn Sử ký nói trên có thể thấy rằng: không hề có việc Hoàng triều nước Ba Thục bị giết sạch, mà dòng dõi vua Thục vẫn tồn tại. Thời điểm nhà Tần thống nhất lục quốc được ghi nhận là năm 221 tr.CN, chấm dứt thời Chiến quốc. Để chứng tỏ điều này, có thể lấy thời điểm kết thúc thời Hùng Vương theo quan niệm mới là năm 208 tr.CN. Như chúng ta đã biết: chiến công lớn nhất tạo điều kiện để ngài Thục Phán nắm vương quyền chính là chiến công chống lại nhà Tần. Điều này trong truyền thuyết của người Tày lại không thấy nói tới hoặc giả thuyết nó xảy ra trước khi quân Tần tấn công Âu Lạc. Với giả thuyết dựa trên truyền thuyết của người Việt được lưu truyền ở Vĩnh Phú, thì Vua Hùng Vương đã nghe theo lời của ngài Tản Viên Sơn Thánh, nhường ngôi cho Thục Phán. Sau đó hậu duệ của ngài đã về miền Tây Bắc Việt Nam và một phần Nam Trung Quốc, đây chính là vùng của dân tộc Tày Mường, nơi có truyền thuyết mà giáo sư Đào Duy Anh đã dẫn chứng ở trên, cũng như trong các chương sách dẫn chứng tranh thờ các dân tộc miền Bắc Việt Nam lưu giữ gia phả Hùng Vương thứ VI trở lên. Việc hoàng tộc của vua Hùng cùng với những quan chức trung thành với ngài chuyển lên vùng Tây Bắc mà truyền thuyết người Việt nói tới, hoàn toàn phù hợp với một hiện tượng văn hóa đã được các học giả quan tâm nghiên cứu: đó chính là sự liên hệ giữa những di sản văn hóa truyền thống của vùng Tày - Mường với người Việt cổ. Tại vùng Tây Bắc Việt Nam (cũng là Tây Bắc Vĩnh Phú) tồn tại một di sản văn hóa nổi tiếng thế giới, đó là bãi đá cổ Sa Pa. Như vậy sự tồn tại của một “nước Thục” ở Quảng Tây - theo giáo sư Đào Duy Anh; chỉ có thể giải thích đó là những sự kiện vào cuối thời Hùng Vương hoặc với hậu duệ của vua Hùng sau khi đã nhường ngôi, chỉ còn cai quản và cư trú tại vùng Tây Bắc Việt Nam. Những tình tiết của cuộc chiến trong truyền thuyết dân tộc Tày và của Toàn thư, nếu theo miêu tả của những tư liệu này thì đây không thể là cuộc chiến giữa hai quốc gia, vì quá dễ dàng và đơn giản như diễn biến sân khấu. Hơn nữa, cả Việt sử lược lẫn Toàn Thư đều là những cuốn sách viết sau khi Văn Lang sụp đổ đã hàng ngàn năm. Quan điểm cho rằng: vua Hùng đã nhường ngôi cho An Dương Vương được chứng tỏ bằng những truyền thuyết, ca dao, tục ngữ lưu truyền trong dân gian, nếu triều đại Hùng Vương bị kết thúc một cách đột ngột trong chiến tranh thì không thể có sự chuẩn bị như thế. Bởi vậy, truyền thuyết cho rằng: Vua Hùng đã nghe theo lời Đức Tản Viên Sơn Thánh, nhường ngôi cho Thục Phán nhằm bảo vệ những giá trị văn hoá dân tộc là hoàn toàn có cơ sở và hợp lý với những hiện tượng văn hoá lịch sử liên quan. Chính vì có công lao lớn trong việc bảo tồn văn hoá Việt là nguyên nhân và cũng là sự giải thích: Ngài Tản Viên Sơn Thánh được người Việt tôn vinh là một trong Tứ trụ Thiên Vương Hộ Quốc của người Lạc Việt (trích Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nxb Văn hóa Thông tin, 2002). Cổng vào đền và ban thờ An Dương Vương Ảnh tham khảo Đặc biệt hơn, sau hơn 2.000 năm, chiếc trống đồng Cổ Loa tìm thấy ở xã Cổ Loa I, huyện Đông Anh, Hà Nội, hiện nay trống được giữ tại Sở Văn Hóa Hà Nội có ghi chép những dấu ấn lịch sử liên quan đến thời kỳ này. Trong hàng trăm chiếc trống đồng Đông Sơn đã được khảo sát, thì chiếc trống đầu tiên có minh văn ở nước ta chính là chiếc trống đồng Cổ Loa khai quật được ở Gò Mả Tre, khu vực nằm giữa thành Trung và thành Nội của thành Cổ Loa, vào năm 1982, còn tươi màu vàng óng, có một hàng chữ Hán rất khó đọc ở bên trong vành chân đế, hàng minh văn này đã được một số nhà khoa học nghiên cứu và công bố và nó chính là một chứng cứ vật thể cực kỳ quan trọng về thời kỳ Âu Lạc. Trống đồng Cổ Loa Trống đồng Cổ Loa, chúng loại Heger I Minh văn và chữ “Tây Vu” trên trống đồng Cổ Loa Chữ “Tây Vu” trên ấm đồng niên đại thế kỷ I tr.CN Nếu tạm chấp nhận cách đọc mới của Ba Hyu (Ba Hjo, 2011, Giải nghĩa minh văn trên trống đồng Heger loại I đào được tại Cổ Loa, trong Văn hóa Cổ đại, kỳ 1 quyển 63, Kyoto, tháng 6-2011, tr. 120-124), với sự chỉnh sửa (trích từ bài viết Trống đồng Cổ Loa - minh văn và cách hiểu mới, tác giả tiến sĩ Nguyễn Việt) ở chữ đầu tiên thì dòng minh văn trong chân trống Cổ Loa có thể đọc mới là: “Tây Vu tập (tứ thập) Bát Cổ, Trọng Lưỡng Cá Bách Bát hập Nhất Cân”, dịch nghĩa: “Trống thứ 48 của bộ Tây Vu, nặng hai trăm tám mươi mốt cân”. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu mật ngữ trống đồng Cổ Loa nói gì? Trống đồng Cổ Loa loại H.I, cũng thuộc nhóm trống có mặt trời 14 tia sáng và thật kỳ lạ, chỉ có 16 con chim bay vành ngoài của mặt trống. Mặt trống đồng Cổ Loa Trích Phạm Huy Thông và các cộng tác viên Nhìn tổng quát, vành sinh hoạt nhân sinh cũng có các yếu tố giống như ở trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ (người nhảy múa, nhà …) duy chỉ khác các chi tiết quan trọng đó là hình các ngôi nhà theo các trục định vị đã bị đảo ngược, tức trên mặt trống Cổ Loa thì nhà thuyền, dương nằm theo trục Bắc - Nam và nhà chuông, âm nằm theo trục Tây Bắc - Đông Nam. Hình nhà chuông trên các trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng hạ là hình cái chuông úp, còn trên trống đồng Cổ Loa lại quay ngửa lên. Mặt khác, trên nhà thuyền thì trên mái nhà thuyền chỉ có một con chim, với đuôi rất dài họ nhà trĩ giống như ở trống đồng Ngọc Lũ. Đặc biệt, cả hai nhà thuyền trên nóc đều chỉ có một con chim thay vì một và hai như trên trống Ngọc Lũ. Căn nhà này có bên góc dưới phải hình một con thú bốn chân không có sừng trông giống như con heo, có con mắt dương vòng tròn chấm. Con heo dưới chái nhà hình thuyền Khác ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ, vành cò bay trên trống đồng Cổ Loa chỉ có vành 16 con cò bay không có chim đứng, còn trên trống đồng Ngọc Lũ là 18 đôi tương ứng ngôi sao ở tâm trống 14 tia và trên trống đồng Hoàng Hạ là 14 con chim bay tương ứng với ngôi sao ở tâm trống 16 tia. Qua mô tả tổng quát bề mặt trống, chúng ta thấy vai trò của trống đồng Cổ Loa giống như trống đồng Hoàng Hạ, tuy nhiên có những điểm khác biệt với cả trống đồng Hoàng Hạ và Ngọc Lũ, nhằm mô tả lại một sự kiện lịch sử của dân tộc: - Con heo là biểu tượng của Địa chi, nằm ở vị trí cuối cùng thể hiện sự kết thúc của một chu kỳ thời gian theo thiên văn lịch pháp. Con heo ứng cung Càn trong Hậu Thiên Bát quái, phương Tây Bắc. - Sự đảo ngược các ngôi nhà thuyền và nhà chuông thể hiện sự đảo ngược thuộc tính âm dương, âm thay dương và dương thay âm hoặc ẩn ý đảo ngược vị trí địa lý hoặc thay thế triều đại quốc gia. - Trống khắc tên Tây Vu, tên một vùng hay bộ thời Âu Lạc. Tên Tây Vu là một cái tên hoàn toàn không phổ biến tại Việt Nam như những cái tên địa danh khác. - Con số 1 và 6 ghi nhận ở trên thuộc hành Thủy, cung Càn và Khảm của Hậu thiên Bát quái cũng là hành cuối trong chu kỳ vận động năm hành Mộc, Hỏa, Thổ, Kim và Thủy tương ứng với Thiên can. Hình ảnh vua Anh Dương Vương được thần Kim quy dẫn xuống biển chính là biểu tượng cho hành Thủy. Thời Hùng Vương thứ XVIII truyền ngôi được 6 đời - tức cung Khảm độ số 6. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt thời Âu Lạc, thì trống đồng Cổ Loa mang một số ý nghĩa lịch sử như sau: - Vua An Dương Vương là vị vua cuối cùng trong chi Hùng Vương thứ XVIII của triều đại Hùng Vương. - Vua An Dương Vương là một bộ chủ vùng cao, miền núi, phía Tây Bắc của kinh đô của nước Âu Lạc. Bộ mà vua An Dương Vương nắm có tên là Tây Vu (cũng có thể xem đây là mật ngữ). - Số 1 - Thái Cực cũng mang ý nghĩa chữ “Lý” nhỏ nhất cũng là to nhất, và số 6 mang ý nghĩa hành “Thủy”, nếu ghép lại chính là Lý Thủy, Trọng Thủy, con rể của vua An Dương Vương. Như vậy, khả năng trống này đã được làm sau khi Trọng Thủy đã cưới con gái Mỵ Châu của vua An Dương Vương. Chúng ta cần xem lại bản đồ lãnh thổ Trung Quốc nhằm định hướng phía Tây Bắc của Cổ Loa là vùng nào và xác định được đó chính là tỉnh Vân Nam (Điền Việt), điều này khẳng định chỉ có một vùng rộng lớn tương ứng với Phong Châu mới đủ tiềm lực và địa thế thuận lợi tấn công Phong Châu trước khi nhà Tần, Trung Quốc mở cuộc viễn chinh xuống phương Nam. Bản đồ hành chính Trung Quốc Tham khảo Internet Không còn nghi ngờ gì nữa, trống Cổ Loa là một chứng tích khẳng định ông là bộ chủ vùng Vân Nam, vị trí địa lý hướng Tây Bắc so với Cổ Loa và ngay cả Phong Châu với trung tâm là kinh thành Thăng Long. Các đồ đồng Điền Việt, là những chứng tích vật thể quan trọng được sử dụng để giải mật ngữ lịch sử được ghi nhận trong Chương II: TIẾNG TRỐNG HOÀNG KIM. Thành Cổ Loa thời Âu Lạc [Keith W. Taylor 1983: 2] và tư liệu tham khảo Theo truyền thuyết sử cũ thì An Dương Vương tên thật là Thục Phán, là cháu nước Thục, tục gọi là người Âu Việt. Chuyện xưa kể rằng: Vua Hùng Vương có người con gái nhan sắc tuyệt vời tên gọi là Mỵ Nương. Vua nước Thục nghe tin, sai sứ cầu hôn. Vua Hùng Vương muốn gả nhưng các Lạc tướng can rằng: Thục muốn lấy nước ta, chỉ mượn tiếng cầu hôn đó thôi. Đến đời cháu là Thục Phán mấy lần đem quân sang đánh nước Văn Lang. Nhưng vua Hùng Duệ Vương có nhiều tướng sĩ giỏi, đã đánh bại quân Thục. Khi An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc thì Doanh Chính nước Tần đã kết thúc mọi hỗn chiến đời chiến quốc, thống nhất nước Trung Quốc, lập nên một nhà nước lớn mạnh. Để thỏa tham vọng mở mang lãnh thổ và vơ vét của quý, Doanh Chính huy động lực lượng to lớn phát động cuộc chiến tranh xâm lược Bách Việt (Âu Lạc). Năm 218 tr.CN, Doanh Chính huy động 50 vạn quân đi chinh phục Bách Việt. Để tiến xuống miền Nam, đi sâu vào đất Việt, quân Tần phải đào con kênh nối sông Lương (vùng An Hưng Trung Quốc ngày nay) để chở lương thực. Nhờ vậy, đạo quân chủ lực của quân Tần do viên tướng lừng danh Đồ Thư thống lĩnh vào đất Tây Âu, giết tù trưởng, chiếm đất rồi tiến vào Lạc Việt. Nhân dân Lạc Việt biết không thể đương nổi quân Tần nên bỏ vào rừng để bảo toàn lực lượng. Thục Phán được các Lạc tướng suy tôn làm lãnh tụ chung chỉ huy cuộc kháng chiến này. Bởi vậy khi Đồ Thư đem quân tiến sâu vào đất Lạc Việt, chúng gặp khó khăn chồng chất. Quân địch tiến sâu đến đâu, người Việt làm vườn không nhà trống và trốn rừng đến đó. Chẳng mấy chốc quân Tần lâm vào tình trạng thiếu lương thực trầm trọng. Khi quân Tần đã mệt mỏi, chán nản và khổ sở vì thiếu lương, khí hậu độc địa, thì người Việt, do Thục Phán làm tướng, mới bắt đầu xuất trận. Chính chủ tướng Đồ Thư trong một trận giáp chiến đã bị bắn hạ. Mất chủ tướng, quân địch hoang mang mở đường máu tháo chạy về nước. Như vậy, sau gần 10 năm lãnh đạo nhân dân Âu Lạc kháng chiến chống quân Tần thắng lợi. Thục Phán đã thực sự nắm trọn uy quyền tuyệt đổi về quân sự lẫn chính trị, khiến cho uy tín của Thục Vương ngày càng được cũng cố và nâng cao. Từ vị trí ấy, Thục Vương có điều kiện thi thố tài năng, dựng xây nước Âu Lạc vững mạnh (tham khảo và trích Hùng Vương Thục Phán An Dương Vương, tác giả Phạm Đức Quý, Nxb Văn hóa Thông tin, 2007). Theo câu truyện truyền truyết Thần Kim Quy, Thục An Dương Vương xây thành nhiều lần nhưng đều đổ, sau nhờ có Rùa vàng hiện lên, bò qua bò lại nhiều vòng dưới chân thành, An Dương Vương bèn cho xây theo dấu chân, từ đó thành xây không đổ nữa. Kết hợp truyền truyết Thần Kim Quy cùng với câu truyện Mỵ Châu Trọng Thủy và các dữ liệu lịch sử ghi nhận trong Sử Ký Tư Mã Thiên, các truyền thuyết và gia phả trong dân gian, chúng ta có một số nhận xét như sau: - Thời điểm Thục Phán tấn công nhiều lần vào Phong Châu thời vua Hùng Duệ Vương - Hùng Vương thứ XVIII. Lịch sử không thấy ghi nhận bất kỳ một sự cát cứ nào khác từ các bộ xung quanh như Quảng Châu, Quảng Đông, Quý Châu… - Nhiều truyền thuyết và gia phả ghi nhận vua Hùng Vương truyền ngôi cho Thục Phán và Thục Phán lập lời thề tại Đền Hùng, trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh. - Thành Cổ Loa được xây trước khi quân Tần tấn công vào Âu Lạc, mục đích xây thành bên tả ngạn sông Hồng nhằm tạo thế liên hoàn giữa kinh đô tức Thăng Long sau này, và hộ thành tức thành Cổ Loa, một trong một ngoài. Việc tấn công kinh đô Âu Lạc bắt buộc phải vượt qua được hộ thành Cổ Loa và sông Hồng. - Sau chiến tranh với quân Tần, phần đất bị mất An Dương Vương chưa thể khôi phục bởi tiềm lực quân sự đã bị giảm sút nghiêm trọng. Các bộ của Âu Lạc đã phát triển và cát cứ để trở nên độc lập với Âu Lạc, trong đó Triệu Đà đã nắm giữ vùng Quảng Đông. Dĩ nhiên, vùng Vân Nam tiếp giáo với Phong Châu vẫn thuộc Âu Lạc bởi vì đây là đất của vua An Dương Vương. Đấy cũng là lý do sử sách ghi nhận Triệu Đà thu phục các bộ xung quanh như Quảng Tây, Quý Châu mà không nói đến Vân Nam. Do vậy, Âu Lạc sau trận chiến với nhà Tần chỉ có thể còn lại vùng Vân Nam và Lạc Việt. - Vua An Dương Vương và các cận thần chắc hiểu rõ về Dịch lý nên có thể nắm bắt được sự vận động của thời cuộc, Đồng thời, vua An Dương Vương không có con trai nối dõi mà chỉ có công chúa Mỵ Châu cho nên cần phải cân nhắc kỹ càng. - Chiến tranh giữa hai bên An Dương Vương và Triệu Đà có thể ngăn chặn bằng giao ước, tránh đổ máu không đáng có của một quốc gia Văn Lang thống nhất trước đây. Việc Mỵ Châu cùng Trọng Thủy sánh đôi và con cái họ sẽ nối ngôi tức nắm toàn bộ Nam Việt hay Văn Lang cũ. - Sử Ký Tư Mã Thiên ghi nhận một dữ liệu quan trọng đó là cháu Triệu Đà lên ngôi chứ không phải con Triệu Đà. - Nội dung truyền thuyết Mỵ Châu Trọng Thủy về việc dùng nước “giếng rửa ngọc trai” hàm ý dùng lịch sử Nam Việt để làm sáng tỏ lịch sử Âu Lạc là hợp lý nhất. Ngoài ra, còn có câu truyện Lý Ông Trọng thời vua An Dương Vương cũng cho thấy: việc Tần Thủy Hoàng tạc tương đồng Lý Ông Trọng có vẻ bất khả thi bởi việc Lý Ông Trọng làm quan cho Tần là không thể, vì lúc này Triệu Đà đang cát cứ vùng giữa Âu Lạc và Tần. Sau khi thống nhất quốc gia thì Tần Thủy Hoàng mới tổ chức xây Trường Thành ngăn chặn quân Hung Nô phía Bắc, điều này chỉ ra sự kiện trên sẽ phải xảy ra sau khi quân đội nhà Tần tấn công nước Âu Lạc tức bất hợp lý. Cho nên, truyện Lý Ông Trọng phải mang một ẩn ý nào khác, do vậy chúng ta hãy cùng tiếp tục phân tích những bí mật của câu truyện này nhằm có những nhận định tổng hợp hơn, trong mối tương quan lịch sử của thời kỳ Âu Lạc và Nam Việt. Ngàn thu chính thống ngời gương Việt, Muôn thuở uy linh hiển miếu Tiên. Lý Ông Trọng Đã từ rất lâu, đền Chèm gắn với một nhân vật huyền thoại cuối thời Hùng Vương là Lý Thân, hay còn gọi là Lý Ông Trọng. Thần phả Đền Chèm ghi rằng Lý Ông Trọng sống trong khoảng thời Hùng Duệ Vương và thời An Dương Vương. Cuối đời Hùng Vương thứ XVIII có người tên Lý Thân, huyện Từ Liêm, đất Giao Chỉ. Khi đẻ ra rất to lớn, cao đến 2 trượng 3 thước, tính tình hung hãn, phạm tội giết người, tội ác đáng chết, Hùng Vương tiếc mà không nỡ giết đi. Đến thời vua An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng muốn đem quân sang đánh nước ta, An Dương Vương bèn đem Lý Thân tiến dâng cho nhà Tần. Thủy Hoàng mừng lắm, phong cho làm chức Tư Lệ Hiệu Úy. Khi Thủy Hoàng đã lấy được thiên hạ, sai Lý Thân đem quân giữ đất Lâm Thao, Hung Nô không dám xâm phạm cửa ải, Thủy Hoàng phong Lý làm Phụ Tín Hầu, cho trở về nước. Về sau, Hung Nô lại sang xâm phạm, Thủy Hoàng nhớ tới Lý Thân bèn sai sứ người sang triệu về. Lý Thân không chịu đi, trốn vào rừng núi, vua Tần trách quở, An Dương Vương tìm mãi không được, nói dối là Lý đã chết vì bệnh tả. Tần sai sứ sang khám, An Dương Vương bèn nấu cháo đổ xuống đất để làm chứng cứ. Vua Tần đòi mang xác sang, Lý Thân bất đắc dĩ phải tự vẫn. An Dương Vương sai lấy thủy ngân bôi lên xác rồi đem nộp vua Tần. Thủy Hoàng rất thương tiếc, mới đúc tượng đồng, đặt hiệu là Ông Trọng, đem dựng ở ngoài cửa Tư Mã, đất Hàm Dương. Trong bụng tượng chứa mấy chục người để lay cho tượng cử động, Hung Nô trông thấy tưởng là quan Hiệu Úy còn sống, không dám đến gần cửa ải. Tới đời Đường, Triệu Xương sang làm quan đô hộ đất Giao Châu, đêm mộng thấy cùng Lý Thân giảng sách Xuân Thu, Tả Truyện, vì thế nên hỏi thăm nhà cũ, lập đền thờ. Đến lúc Cao Biền dẹp giặc Nam Chiếu, Lý hiển linh cứu trợ, Biền bèn sửa sang lại đền miếu, tạc tượng, gọi là đền Lý Hiệu úy, nay gần bên sông lớn, thuộc xã Bố Nhi, nay là xã Thụy Hương, huyện Từ Liêm, cách phía Tây thành Thăng Long khoảng 50 dặm. Mỗi năm giữa mùa xuân, đều có tổ chức tế lễ. Trong khung cảnh đó, câu chuyện Lý Thân tham gia quân Tần đánh Hung Nô chỉ có thể xảy ra khi nhà Tần đã thống nhất thiên hạ, điều này có nghĩa xảy ra trước khi chiến tranh với Âu Lạc, đây chính là mâu thuẫn của truyền thuyết. Do vậy, nội dung câu truyện Lý Ông Trọng phải hiểu ở một khía cạnh khác. Câu truyện này cũng được ghi nhận trong truyện Tam Quốc Chí, tác giả là Bồ Tát Nguyễn Minh Không, tại hồi 105: Võ Hầu dự sẵn mẹo cẩm nang - Ngụy Chủ dỡ lấy mâm thừ lộ. Đền thờ Thánh Chèm Xã Thụy Hương, huyện Từ Liêm, Hà nội, Việt Nam Năm Kiến Hưng thứ mười ba nhà Thục Hán, tức là năm Thanh Long thứ ba bên Ngụy chủ Tào Tuấn, và năm Gia Hòa thứ tư bên Ngô chủ Tôn Quyền. Năm ấy, Ngụy chủ phong Tư Mã Ý làm thái úy, sai tổng đốc quân mã, trấn thủ các nơi biên viễn. Ý lại từ về Lạc Dương. Ngụy chủ ở Hứa Xương, sửa sang cung điện, khởi công xây dựng cực to. Ở Lạc Dương làm ra đền Triều Dương, đền Thái Cực, đài Tổng Chương, mỗi tòa cao mười trượng, lại lập ra đền Sùng Hoa, gác Thanh Tiêu, lầu Phượng Hoàng, ao Cửu Long, sai quan bác sĩ Mã Quân coi sóc công việc, bắt phải làm cho cực đẹp, rui chạm, cột vẽ, ngói biếc, gạch vàng, lộng lẫy chói lòa cả mắt. Quân kén hơn ba nghìn thợ khéo và ba chục vạn dân phu, làm suốt đêm ngày không nghỉ, dân gian khổ sở, ta oán không biết ngần nào, lại sai sửa sang vườn Phương Lâm, bắt cả các quan phải đột đất trồng cây. Tư đồ Đổng Tầm dâng biểu can rằng: Từ năm Kiến an đến giờ, đánh nhau tàn hại, dân gian chết chóc rất nhiều, cửa nhà khánh kiệt, còn lại rặt những kẻ già yếu, trẻ mồ côi, nay cung thất có hẹp nhỏ, muốn mở rộng thêm ra cũng nên tùy thời, chớ nên để hại đến việc làm ruộng; huống chi làm những việc vô ích dư?. Bệ hạ đã trọng quần thần, cho đội mũ mặc áo vẻ vang, ngồi xe lịch sự, là để cho khác kẻ thường dân, nay lại bắt khiêng gỗ, đội đất, chân tay nhem nhuốc, mất cả phong thể nước nhà, để cầu lấy sự vô ích, thật không ra làm sao, Đức Khổng Tử có nói: "Vua sai bầy tôi phải có lẽ, bầy tôi thờ vua phải có trung, nếu không trung không lẽ, thì sao ra nước nữa?. Tôi biết rằng nói ra thì tất chết nhưng tôi chẳng qua như một cái lông trên mình trâu mà thôi, sống đã vô ích, bụng từ với đời, tôi có tám con, sau khi chết rồi nhờ bệ hạ còn nhiều. Sợ hãi không sao kể xiết, xin chờ lệnh trên!". Tào Tuấn xem biểu, nổi giận nói: Đổng Tầm không sợ chết ư? Tả hữu xin chém. Tuấn nói: Người này vốn có bụng trung nghĩa, nay hãy cách làm thứ dân. Hễ ai còn can nữa thì chém. Bấy giờ, Trương Mậu cũng dâng sớ can ngăn ráo riết lắm. Tuấn sai chém liền. Ngay hôm ấy, Tuấn vời Mã Quân đến hỏi rằng: Trẫm lập ra đền cao gác thẳm, muốn đi lại chơi với thần tiên, để cầu thuốc trường sinh, thì làm thế nào? Quân tâu rằng: Hai mươi bốn vua triều nhà Hán, duy có vua Võ Đế hưởng nước được lâu dài, mà tuổi thọ, bởi vì có uống khí tinh hoa của mặt trăng. Vua ấy lập đền Bách Lương ở trong cung Trường An. Trong đền xây một cái mâm, gọi là mâm hứng móc, để tiếp lấy giọt nước sao Bắc đẩu lúc canh ba rỏ xuống, gọi là "Thiên tương", lại gọi là "Cam lộ", lấy nước ấy hòa vào bột ngọc thật quý mà uống, thì có thể biến già thành trẻ được. Tuấn mừng, nói: Ngươi nên đem dân phu đến Trường An, dỡ người đồng đem về để ở trong vườn Phương Lâm cho ta. Quân lĩnh mệnh, dẫn một vạn người đến Trường An, sai lấy gỗ bắc gióng chung quanh đền Bách Lương, rồi cho năm nghìn người dòng dây chạc leo lên trên nóc đền, đền ấy cao hơn hai chục trượng, cột đồng to mười ôm, Mã Quân sai dỡ người đồng xuống trước. Người đồng bỗng rơm rớm nước mắt, ai nấy đều kinh hãi, chợt lại có một trận cuồng phong nổi lên, cát đá bay mù mịt, rồi ầm một tiếng như trời long đất lở, đền siêu cột đổ, đè chết hơn nghìn người. Mã Quân sai đem người đồng và mâm vàng về Lạc Dương dâng Ngụy chủ. Ngụy chủ hỏi: Còn cái cột đồng ở đâu? Quân tâu rằng: Cột đồng nặng trăm vạn cân, không mang về được. Ngụy chủ sai đập vụn cột đồng ra đem về Lạc Dương đúc hai người đồng cực to, gọi là "Ông Trọng", dựng ở ngoài cửa Tư Mã. Lại đúc một con rồng và một con phượng bằng đồng, rồng cao bốn trượng, phượng cao ba trượng xây ở trước điện, lại sai trồng các thức hoa quý cây lạ và nuôi các giống chim muông kỳ quái ở trong vườn Phương Lâm. Dương Phu dâng sớ can ngăn. Tào Tuấn không xét cứ thúc Mã Quân sửa sang đền đài cho cao để đặt người đồng và mâm hứng móc. Lại sai kén thật nhiều con gái đẹp trong thiên hạ, cho ở cả trong vườn Phương Lâm. Điều đáng chú ý là hành trạng của Lý Thân không ghi lại công đức giống như các vị thần hay thành hoàng khác ở nước ta như có công đánh giặc giữ nước, khai khẩn lập làng hay dạy nghề… nhưng ông lại được coi như một biểu tượng anh hùng của nước Tần nhưng lại là người Việt theo truyền thuyết trên. Lý Thân có cơ thể khổng lồ phi thường và chữ "Thân" mang tên ông có thể là chữ “Thận” biểu tượng của quả thận, của nước, hành Thủy, “Thiên nhất sinh thủy” chính là hình ảnh sự to lớn của nước, và như vậy khả năng Lý Thân - Lý Thận chính là Lý Thủy, khi kết hợp hai tên Lý Thủy là Lý Ông Trọng thì trở thành tên gọi Trọng Thủy. Chúng ta hãy cũng xem lại nội dung của Nguyễn Tộc từ đường phả lục chính bản (nội dung phả cũ sao lại): Em thứ Hùng Vương là Hùng Dực Công lấy Trần Thị Quý, tại thôn Đại Định, sinh ra Nguyễn Thận tức Nguyễn Lý Thận. Trần Thị Quý mất sớm, Hùng Dực Công tục huyền lấy Nguyễn Thị Sinh làm thứ thất, Nguyễn Thị Sinh là người xấu nết, đuổi mẹ bà Trần Thị Quý và Nguyễn Thận. Vì thế Nguyễn Thận sống ở một khúc sông, mò ốc bắt cá nuôi bà ngoại bị khiếm thị, hằng ngày chỉ chơi với Chử Đồng Tử. Một hôm, Nhâm Ngao là người phương Bắc, làm tướng nước Văn Lang bảo vệ biên cương, đi qua khúc Giang, thấy Nguyễn Thận diện mạo phi phàm, đem tiền bạc cho Chử Đồng Tử nuôi nà ngoại. Nguyễn Thận được Chử Đồng Tử chấp thuận, lúc đó Nguyễn Thận từ biệt Chử Đồng Tử theo Nhâm Ngao đi bảo vệ biên cương; ở đó Nhâm Ngao ủy thác cho chị cả mình nuôi dạy Nguyễn Thận, bà chị cả lấy quan thái giám Triệu Cao không có con nên nhận Nguyễn Thận làm con nuôi, đổi tên họ là Triệu Đà, được Tần Thủy Hoàng phogn làm Đô Úy, sinh ra Nguyễn Công Trọng tức Trọng Thủy, lại có tên là Lý Ông Trọng. Nhâm Ngao lúc mắc trọng bệnh, triệu Nguyễn Thận lại nói: Cậu là hậu duệ vua Hùng, phải có chí phục quốc, không nên làm nô lệ người khác, Nhâm Ngao nhường binh quyền cho Nguyễn Thận. Nguyễn Thận xưng là Triệu Vũ Đế, đóng đô ở Phiên Ngung, chiêu binh mã mã về nước diệt nhà Thục. Văn Vương húy Hồ, tức con Nguyễn Công Trọng, cháu Triệu Vũ Đế. Bản gia phả trên ghi nhận chi tiết Lý Ông Trọng chính là Trọng Thủy nhưng không viết rõ sự kiện quan hệ thông gia với nhà Thục, một số sự kiện ghi chép hoàn toàn khác với sử sách đã viết, tuy nhiên, đây cũng là một chứng cớ rất quan trọng về việc xác định lai lịch của Lý Ông Trọng. Ngoài ra, còn có một điều rất đặc biệt của mặt bằng đền Chèm so với hầu hết các ngôi đền khác, đó là đền Chèm hướng chính Bắc, được lý giải Lý Ông Trọng có vợ là công chúa vua Tần Thủy Hoàng. Khi ông hồi hương thì vợ ngài cũng về theo nhưng vì nhớ nhà xin chồng trở về đất Bắc, rồi không quay lại. Trong đình, Lý Ông trọng quay về phương Bắc với lý do nhớ vợ hay canh chừng phương Bắc? Được lý giải rất khác nhau, nếu kết hợp với phân tích ở trên thì nhận thấy rõ ràng: hướng Bắc chính là biểu tượng cho hành Thủy, ẩn nghĩa Trọng Thủy. Như vậy, đình Chèm thờ Thượng Đẳng Thiên vương Lý Ông Trọng và Hoàng Phi Bạch Tĩnh Cung, qua phân tích, chúng ta hiểu rằng: công chúa Bạch Tĩnh Cung chính là công chúa Mỵ Châu, con gái của vua An Dương Vương và vua Văn Vương chính là con trai của hai người. Tòa đại bái đình Chèm có đôi câu đối: Thiên linh nguyên tinh, Di Hạ lẫm hùng uy, đồng tượng thanh cao Tần Bắc trấn, Địa lưu cố trạch, âm dương đồng hiển tướng, kim chương trù điệp Việt Nam phong. Dịch: Trời linh khí nguyên, Di Hạ sợ hùng oai, tượng đồng thanh cao trấn Tần Bắc, Đất lưu nền cũ, âm dương cùng hiện tướng, sách vàng dày chất cõi Việt Nam. Câu chuyện nhà Tần làm tượng máy Lý Ông Trọng còn mang ý nghĩa về trò chơi "rối nước " - một đặc sản có một không hai của thế giới có lẽ đã có từ ngày ấy. Không có tài liệu lịch sử nào nói đến cuộc xâm nhập của quân Tần vào đất Lạc Việt, song truyền thuyết Lý Ông Trọng nói rằng Tần Thủy Hoàng muốn tiến công An Dương Vương cho nên An Dương Vương phải hiến Lý Ông Trọng để xin hòa. Mà Lý Ông Trọng, qua phân tích chính là Trọng Thủy, con rể của vua An Dương Vương sau khi quân Tần đã thất bại, rút khỏi Bách Việt, như vậy truyền thuyết Lý Ông Trọng với chủ ý của tác giả có lẽ mang ẩn nghĩa này. Tuy nhiên, sự kiện lịch sử chính vẫn là việc An Dương Vương xây thành Cổ Loa phía tả ngạn sông Hồng, nhằm chuẩn bị trước cho cuộc chiến tranh quy mô lớn với quân Tần, địa thế này không phù hợp cho một kinh đô của một nước Văn Lang rộng lớn, với địa thế và cấu trúc của nó, chỉ phù hợp cho chiếc thành chiến hộ vệ cho kinh thành cũ của Văn Lang, khả năng đó chính là Thăng Long thành, nằm hữu ngạn sông Hồng. Địa thế này hoàn toàn tương ứng với lịch sử phát triển của các trung tâm văn hóa, chính trị các quốc gia khác vùng Bắc bán cầu. Trong truyền thuyết Thần Kim quy, An Dương Vương xây được thành Cổ Loa nhở thần Kim quy, sau khi giết được tinh con gà trắng và đào lên thấy nhạc khí cổ mang ý nghĩa phương Tây so với Cổ Loa chính là Thăng Long thành, thành Cổ Loa khi xây thường xuyện bị sụp đổ, do một số người còn chưa phục An Dương Vương, khi tiếp quản Văn Lang. Qua các dữ kiện, thành Cổ Loa chắc chắn được xây dựng trước khi quân Tần tấn công nước Âu Lạc. Xét về lịch sử thời An Dương Vương, chúng ta không thể không nhắc đến câu truyện nổi tiếng về chiếc nỏ thần do tướng quân Cao Nỗ thực hiện. Cao Nỗ Cao Lỗ còn gọi là Cao Nỗ, Cao Thông, Đô Lỗ, Thạch Thần, hay Đại Than Đô Lỗ Thạch Thần, ông là một tướng tài của Thục Phán An Dương Vương, quê quán tại xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Tương truyền, ông là người chế ra nỏ liên châu mà còn được gọi là nỏ thần và là người được An Dương Vương giao nhiệm vụ thiết kế và chỉ huy công trình xây thành Cổ Loa. Tam quan đền thờ và tượng tướng quân Cao Nỗ Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội, Việt Nam Khi Triệu Đà cho quân xâm lược Âu Lạc, quân lính đã bị các tay nỏ liên châu bắn tên ra như mưa, thây chết đầy nội và phải lui binh. Nỏ liên châu trở thành thứ vũ khí thần dũng của nước Âu Lạc. Không chiếm được Âu Lạc, theo truyền thuyết, Triệu Đà bèn lập kế thông gia cho con trai là Trọng Thủy lấy con gái Mỵ Châu của vua An Dương Vương. Cao Nỗ phản đối, khuyên vua không nên nhận, nhưng An Dương Vương không nghe, ông bèn đi ở ẩn. Sau khi Trọng Thủy biết được bí mật phòng thủ của vua An Dương Vương và báo lại cho vua cha, Triệu Đà mang quân sang đánh được nước Âu Lạc. Nỏ đồng Đông Sơn Ảnh tham khảo Internet Ngoài các câu truyện truyền thuyết về Thần Kim quy giúp xây thành Cổ Loa và truyện Mỵ Châu trọng Thủy, thì lịch sử thời Triệu Vũ Đế sau khi thống nhất thành nước Nam Việt, không ghi nhận những cuộc binh nội chiến nào khác trước khi mất vào tay nhà Hán. Sự kiện vua An Dương Vương chém chết Mỵ Châu và Trọng Thủy tự tử là điều khó xảy ra và rõ ràng, chúng mang tính chất hư cấu, ẩn chứa những bí mật của lịch sử. Việc An Dương Vương được Thần kim quy đưa xuống thủy cung, nơi ở của Long Vương, mà chúng ta cũng biết Lạc Long Quân là chúa tể Cõi Nước - Cõi Chết và con rùa vàng, phương Bắc là biểu tượng của Lạc Long Quân, như vậy hình ảnh này chỉ ra vua An Dương Vương hóa một cách bình thường. Hình ảnh của ngài đi xuống biển khép lại một thời vàng son của nền văn hóa nhân bản của Văn Lang. Điều này còn được củng cố qua hình ảnh Lữ Gia, người Lạc Việt, ông làm tể tướng 4 đời nhà Triệu, nếu như nhà Triệu “thống trị” sau cuộc binh biến thì thì không thể sử dụng một con người xuất thân từ nơi ấy, mặc dù trước đó đã xảy ra cuộc chiến với Âu Lạc. Kết hợp nội dung phân tích Lý Ông Trọng, chúng ta hiểu rằng: truyền thuyết ghi nhận vị tướng quân Cao Nỗ và là linh hồn của quân đội Âu Lạc. Trong dòng tranh dân gian Đông Hồ, còn lưu lại hai bức tranh Vũ Đinh - Thiên Ất, cặp tranh hai thần tướng được dán ngoài cổng chính vào những ngày đầu năm mới. Hai vị thần đều mặc võ phục, cầm long đao, mặt đỏ, mắt xếch, trông rất oai phong lẫm liệt, với mong ước năm mới ma quỉ sẽ không dám đến quấy nhiễu. Chúng tôi nhận định đây chính là hình ảnh của Lý Ông Trọng (Vũ Đinh) và Cao Nỗ (Thiên Ất) qua sự kiện truyền thuyết: Lý Ông Trọng được đúc tượng đồng to đặt trước cửa Tư Mã, mà dân gian hay nói “to như ông Hộ pháp”. Hình ảnh hai vị thần tướng trên, chính là hai vị Hộ pháp thường được tô đắp trước cổng tam quan của mỗi đình, đền, chùa. Vũ Đinh - Thiên Ất Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Việc lý giải các sự kiện lịch sử thời vua An Dương Vương là không thể tách rời với lịch sử thời Triệu Vũ Đế và các triều đại liên quan của Trung Quốc, vậy chúng ta cần xác minh những nhận định trên qua thời kỳ này. Triệu Vũ Đế<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Sau khi thống nhất Trung Quốc, vào năm 214 tr.CN, Tần Thủy Hoàng xua quân đánh chiếm Lĩnh Nam và lập ra ba quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận, trong đó quận Nam Hải có trung tâm là thành Phiên Ngung, nay là tỉnh Quảng Châu. Khi triều đại nhà Tần suy tàn, hiệu úy Triệu Đà, vị tướng nhà Tần tại quận Nam Hải được Nhâm Ngao trao quyền, đã tách ra lập nên nước Nam Việt và xưng là Vũ Đế. Hiện tại mới biết hai nơi thờ vị hoàng đế Nam Việt đầu tiên này trên đất nước ta: Long Hưng Điện tại Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên và Đồng Xâm tại Kiến Xương, Thái Bình. Bản đồ thời Tần Tham khảo Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nxb Văn hóa Thông tin, 2002 Điểm cần lưu ý, Sử ký Tư Mã Thiên cho thấy Triệu Vũ Đế truyền ngôi cho cháu là Triệu Mộ (Triệu Hồ) chứ không phải cho con là Trọng Thủy, điểm này cho thấy truyền thuyết Mỵ Châu Trọng Thủy kể rằng Trọng Thủy tự tử theo Mỵ Châu là một gợi lý về việc giải mã các sự kiện của lịch sử như đã phân tích. Vương quốc Nam Việt còn để lại nhiều di chỉ khảo cổ học tại vùng Lĩnh Nam, cung điện của nước Nam Việt ở Quảng Châu, lăng mộ Nam Việt Vương Triệu Hồ được khai quật và thủy môn bằng gỗ, thủy môn này là hệ thống thoát dẫn nước của thành phố Quảng Châu cách đây 2.000 năm để phòng ngừa lụt lội. Ấn vàng và áo ngọc gồm 2.291 thẻ ngọc nối bằng sợi tơ Mộ Nam Việt Vương Triệu Hồ, Quảng Châu, Trung Quốc Chiếc ấn vàng mang tên Triệu Hồ, Văn Đế tìm thấy là một bằng chứng xác thực lăng mộ này là của Nam Việt Vương Triệu Hồ. Trên ấn, hình con rồng mang hình dạng cá sấu mõm to, hai tai to như hai sừng mang âm tính, có vẩy, chân ba móng, đuôi cuộn hình móc nước, đây là con giao long Việt. Theo quan niệm xưa các vua chúa được liệm trong áo ngọc thạch vì tin là ngọc thạch giữ cho xác không bị luỗng thối. Trong mười bộ áo liệm bằng ngọc thạch tìm thấy ở Trung Quốc, bộ áo này là bộ áo lâu đời nhất được kết bằng sợi tơ lụa, điều này cho thấy tơ tằm có rất sớm trong văn hóa Việt. Một số cổ vật khai quật Lăng Nam Việt Vương Triệu Hồ, Quảng Châu, Trung Quốc Ngoài nhiều dụng cụ bằng đồng, đặc biệt nhất là chiếc nồi ba chân bằng sắt kiểu đặc thù Việt. Chiếc nồi sắt là mẫu vật bằng sắt lớn nhất tìm thấy ở vùng Lĩnh Nam với khoảng 190 dụng cụ bằng sắt tìm thấy cho biết Nam Việt đã có một nền kỹ thuật cao trong việc tôi luyện đúc đồ sắt. Trong lăng không tìm thấy trống đồng mà chỉ có thạp đồng Đông Sơn, vì thạp đồng liên hệ tới ý nghĩa mai táng của thế giới bên kia. Địa bàn đầu tiên của nước Nam Việt là quận Nam Hải, gồm vùng núi Hồ Nam (Bắc Ngũ Lĩnh) đến Trường Sa (thư Hán Văn đế gửi Triệu Đà), toàn bộ Quảng Đông và một phần Quảng Tây phía ven biển Đông Nam (mộ Quý huyện La Bạc Loan), đô thành đóng ở quận lỵ Nam Hải có tên là Phiên Ngung nay là Quảng Châu. Để cai trị nước mới, việc đầu tiên, Triệu Đà thay thế tướng lĩnh nhà Tần không trung thành bằng thủ lĩnh người Việt (Sử ký, Hán thư, Toàn thư). Cùng một phản ứng như Triệu Đà, nhiều thủ lĩnh bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc các nhóm Bách Việt khác có lãnh thổ giáp ranh với nhà Hán đều xưng vương như Đông Âu Vương, Mân Việt vương, Dạ Lang vương, Tây Âu vương, Điền vương. Thạp đồng Đông Sơn Mộ Nam Việt Vương Triệu Mộ, Quảng Đông, Trung Quốc Trong giai đoạn đầu, chưa đủ sức chinh phục, nhà Tây Hán thực hiện chính sách phong vương cho các thủ lĩnh bộ lạc hay tiểu quốc cát cứ vùng biên trấn (thư của Hoài Nam Vương Lưu An, Toàn thư, tr.147). Các tiểu quốc biên trấn quan hệ với Tây Hán dưới dạng thiên tử chư hầu. Từ năm 185 tr.CN, sau khi Lã Hậu nhiếp chính đã thực hiện một loạt biện pháp cứng rắn với các tiểu quốc phiên trấn, đặc biệt là chính sách cấm giao thương biên ải với Nam Việt ở vùng Trường Sa (Hồ Nam). Phản ứng trước chính sách của Lã Cao Hậu, năm 182 tr.CN Triệu Đà xưng Đế, tấn công Trường Sa, công khai chống lại nhà Tây Hán. Năm 181 tr.CN, Nam Việt mở rộng gần như toàn bộ phần Đông của Hoa Nam nhờ việc đã thần phục được cả Đông Việt (Triết Giang), Mân Việt (Phúc Kiến), Âu Lạc. Có hai viên quan thời Triệu Đà đã sang quản lý Giao Chỉ và Cửu Chân, sau khi nước Nam Việt mất, nhờ việc đem nộp sổ hộ khẩu hai quận này cho nhà Tây Hán. Điều này cho thấy việc ghi nhận kỷ Nhà Triệu tính từ năm 181 tr.CN của Việt Sử lược là xuất phát từ khi Âu Lạc sáp nhập vào Nam Việt. Đền Đồng Xâm và tượng Triệu Vũ Đế Ảnh tham khảo Internet Nước Nam Việt vẫn duy trì nhiều phong tục và luật lệ khác Hán, riêng văn tự Hán thời Nam Việt rất kém phát triển, có thể nhận thấy thông qua những minh văn chữ Hán được khắc rất xấu và nhiều lỗi chính tả trên cả những đồ ngự dụng của Hoàng Đế và phu nhân trong mộ Nam Việt Văn Đế Triệu Hồ. Bản thân Triệu Đà lấy vợ Việt, đến đời con là Trọng Thuỷ cũng gửi rể Âu Lạc, vị vua thứ năm Thuật Dương Vương cũng lấy vợ người Việt, có lẽ chỉ có Anh Tề - vua thứ ba lấy vợ họ Cù người Hán khi làm Thái tử con tin sống trên đất Hán. Năm 111 tr.CN nước Nam Việt mất vào tay nhà Tây Hán sau 93 năm tồn tại, riêng Triệu Đà ở ngôi 71 năm. Tuy nhiên, nếu chúng ta so sánh kỹ về kỷ nhà Triệu trong Đại Việt sử ký toàn thư và Việt Sử lược ta thấy Việt Sử lược chỉ tính nhà Triệu có 74 năm thôi chứ không phải 93 năm như Toàn thư. Do đâu mà có sự sai khác đó? Đó là tác giả Việt Sử lược chỉ tính thời gian nhà Triệu từ khi sát nhập Âu Lạc vào Nam Việt mà thôi, trong khi Toàn thư tính toàn bộ thời gian tồn tại của Nam Việt (trích một phần nội dung bài viết Triệu Đà, tác giả tiến sĩ Nguyễn Văn Việt). Ngoài các bộ tranh dân gian Đông Hồ như Vũ Đinh - Thiên Ất và Tử Vi trấn trạch - Huyền đàn trấn môn, còn một bức tranh thần tướng hoàn toàn độc lập, đó là bức tranh Hộ Pháp Vũ Di, lai lịch vị thần tướng có vẻ rất bí ẩn. Hộ Pháp Vũ Di Tranh dân gian Hàng Trống, Hà Nội, Việt Nam Vũ Di Tổ Sư Tranh dân gian Vũ Di, Vĩnh Lạc, Vĩnh Phú, thế kỷ XVIII Hộ pháp Tranh dân gian Vũ Di, Vĩnh Lạc, Vĩnh Phú Bức tranh dân gian Đông Hồ Hộ pháp Vũ Di hoàn toàn giống với bức tranh dân gian Hộ pháp, Vĩnh Lạc, Vĩnh Phú, thế kỷ XVIII. Mặt khác, nếu xét lĩnh địa thời Triệu Vũ Đế, thì Vũ Di là tên vùng núi nằm cách thành phố Vũ Di Sơn, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc 15km về phía Nam, là dãy núi đẹp nhất vùng Đông Nam Trung Quốc. Khu thắng cảnh có diện tích khoảng 60km, nổi tiếng bởi các thế núi và sông, gọi là "tam tam, lục lục" tức chín khe suối nước trong xanh và 36 đỉnh núi cao chọc trời. Trong đó, nổi tiếng nhất là đỉnh Đại Vương, Ngọc Nữ và Thiên Du... Vũ Di trong mây Tham khảo Internet Đặc biệt, trong Phật giáo cũng chỉ có một vị thần tên là Hộ Pháp Vi Đà, Vi Đà Hộ pháp, là vị thần kim cương, nơi tay cầm gậy kim cương dùng oai lực để hộ pháp. Căn cứ theo bộ Nam Sơn Cảm Thông Lục: “ở cõi trời Tứ Thiên Vương có vị Thiên Đại tướng quân, tên là Vi Côn, thường qua lại ba châu Đông Thắng thần châu, Nam Thiệm bộ châu và Tây Ngưu hóa châu để ủng hộ Phật pháp. Vốn không có tượng của vị thần ấy, nhưng người đời muốn ỷ niệm, mới tạo ra tượng của ngài Vi Đà Thiên để thay thế”. Còn bên Mật giáo thì căn cứ vào bộ kinh Kim Quang Minh nên thờ tượng của một vị đại tướng tên là Tán Chỉ. Tượng Vi Đà Hộ Pháp Tham khảo Internet Tương truyền sau khi Thích Ca Mâu Ni Phật nhập diệt, chư thiên thần và chúng vương bàn về việc hỏa thiêu di thể, nhặt xá lợi thờ trong tháp. Lúc này Đế Thích Thiên cầm bình thất bảo đến chỗ thiêu để lấy xá lợi vì trước kia Ngài đã được Đức Phật chấp thuận cho một chiếc răng đem về để dựng tháp thờ. Nhưng khi ấy có quỷ La Sát nấp bên người Đế Thích Thiên, thừa lúc Ngài không chú ý bèn trộm răng Phật. Vi Đà trông thấy bèn đuổi theo, nhanh như tia chớp, trong nháy mắt đã bắt được quỷ La Sát tống vào ngục, trả lại răng Phật cho Đế Thích Thiên, được chư Thiên khen ngợi. Từ đó về sau, Vi Đà được cho là bảo hộ Phật pháp, bảo vệ linh tháp (stupa) của Phật Tổ (chứa xá lợi Phật). Kể từ đó hình tượng Vi Đà Hộ Pháp được song hành cùng linh tháp chứa xá lợi, mang ý nghĩa bảo vệ an toàn cho Đức Phật. Tượng Vi Đà Hộ Pháp được bố trí trong Thiên Vương điện, phía sau tượng Phật Di Lạc, Vi Đà Hộ Pháp hướng mặt về phía chính điện Đại Hùng, bốn hướng của điện Thiên Vương được Tứ Đại Thiên Vương hộ vệ. Điện Thiên Vương luôn nằm phía trước chính điện Đại Hùng của một ngôi chùa. Từ các dữ liệu nêu trên, chúng tôi nhận định Triệu Vũ Đế được tôn vinh là Hộ Pháp Vi Đà, như vậy, với vai trò này, Triệu Vũ Đế chính là vị Thánh trấn giữ phương Bắc trong Tứ Bất Tử của nước ta, thay thế cho vị trí của Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Sự hợp lý của nhận định này cũng sẽ được chứng minh ở các chương sách sau, chúng ta cũng tiếp tục với Lữ Gia, vị tể tướng của bốn đời nhà Triệu. Lữ Gia Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, Lữ Gia (?-111 tr.CN) hiệu Bảo Công, là tể tướng của bốn đời vua nhà Triệu từ Văn Vương (136-125 tr.CN), Minh vương (124-113 tr.CN), Ai vương (112 tr.CN) tới Thuật Dương vương (112-111 tr.CN), ông là người nắm chính trường nước Nam Việt những năm tháng cuối cùng. Trước tình thế hết sức khó khăn, Lữ Gia quyết tâm chống giặc Hán đến cùng, với những sử tiết ly kỳ: “Lộ Bác Đức cả sợ bèn dùng mưu cho tướng Chu Năng (người Việt) trá hàng Lữ Gia nhưng rồi đánh tập hậu, chém đầu vị lão tướng” (Tham khảo cuốn Nguồn cội văn hóa thần minh Đại Việt, tác giả Phạm Tường và Việt Hoàng, Nxb Văn nghệ, 2006). Truyền thuyết nói rằng: sau khi bị quân Hán chém đầu nhưng chưa đứt hẳn, ông phóng ngựa chạy về vùng đất Vụ Bản, Nam Định. Khi chạy đến thị trấn Gôi bấy giờ thì gặp một bà hàng nước, ông hỏi là người bị chém mất đầu có sống được không? Bà hàng nước cười nói: người mất đầu thì làm sao sống được, tức thì đầu của ông lìa khỏi thân. Nhân dân vùng Vụ Bản thu xếp, chôn cất và lập đền thờ. Ngày xưa, có hội rước tại các đình, miếu thờ ông trong khắp huyện, to gần bằng hội Phủ Dày. Truyện này được ghi trong Thiên Bản lục kỳ là một trong sáu truyện kỳ lạ của vùng đất Thiên Bản xưa và nay là Vụ Bản. Một truyền thuyết khác kể rằng: khi ông bị bắt và chém đầu, con chó Ngao trung thành của ông đã cắp đầu của ông và bơi qua sông và chôn dấu ở Lam Động. Đền thờ Lữ Gia Vân Côi, Vụ Bản, Nam Định, Việt Nam Hình ảnh của tể tướng Lữ Gia chính là biểu tượng thể hiện sự thống nhất Nam Việt trong thời kỳ này, cùng với hình ảnh Trọng Thủy được tôn vinh là thần tướng bảo vệ nước Việt, thì việc vua An Dương Vương quyết định gả công chúa Mỵ Châu là một việc làm hết sức vĩ đại, một quyết sách sáng suốt, là nguyên nhân nước Nam Việt được yên ổn hơn 90 năm thời kỳ nhà Triệu. Một lần nữa, chúng ta thấy sự tính toán chính xác của Tản Viên Sơn Thánh, người được tôn vinh là Hộ Quốc Đại Vương, một trong Tứ Bất Tử của nước ta khi gợi ý cho vua Hùng Duệ Vương trao binh quyền lại cho Thục Phán. Như vậy, chúng ta đã có thể dùng “nước giếng”, hay dùng học thuyết Âm Dương Ngũ Hành của các vua Hùng truy tìm lịch sử, rửa sạch nỗi oan của công chúa Mỵ Châu và Trọng Thủy suốt hơn 2.000 năm nay. “Công chúa Mỵ Châu tâm linh” đã có thơ rằng: Oan nghiệt lâu đời giữa Mỵ Châu và Trọng Thủy Mỵ Châu xưa ngây thơ và trong trắng Tin yêu chàng Trọng Thủy hết lòng Trao lẫy nỏ khiến Cổ Loa thành thất thủ Ân oán chất chồng muôn kiếp âm u Hại cha chết và muôn dân tang tóc Tội sâu dày nhưng nàng có tội gì đâu. Oan khiên hỡi trời cao không kêu thấu Tội gì đây? Mỵ Châu tội chung tình Phút chiến chinh không muốn thất lạc với chồng mình Áo lông rải chỉ đường, thành phản tặc Bởi quá yêu thương đã biến thành oan trái Ôm mối hận trong lòng, Mỵ Châu chìm đắm mãi Oan khiên kia ai hóa giải cho nàng Không thể ngờ người tin yêu phản bội Tâm trong sạch oán hận thành u tối Mang trong tâm mối oán hận đời đời Không năng lực nào có thể đổi dời Chìm đắm mãi muôn đời không thể giải Càng tin yêu, càng hận thù nhau mãi Đến hôm nay, được hóa giải mới tỉnh bừng Thần, tướng, vua, muôn dân không thể diễn tả nỗi mừng Năng lực ngài năng lực của tái sinh Năng lực của ngoài Càn Khôn vũ trụ Ngài cứu độ cho hồn con thoáng chốc Hiểu ngọn ngành xóa ân oán chất chồng Một sát-na vâng phục, nhẹ tênh lòng Xóa sạch hết muôn vàn lời trách móc Xin nhận lại sự sáng trong của “bản lai diện mục” Lập tức siêu thăng bỏ oán hận chất chồng Vua cha nay cũng được hưởng ân hồng Cùng với muôn dân thời chiến chinh tàn sát Với muôn vạn sinh linh hàng tỷ năm đọa lạc Cùng đoàn viên, ngỡ ngàng vui hoan lạc Cất tiếng ca vang dậy cả địa đàng Năng lực ngài - lệnh ân điển phá buộc ràng Cho giải thoát về cội nguồn nguyên thủy Bởi u mê nên đời đời chìm đắm Nay hiểu rồi, tay lại nắm tay Thù hận oán ân xưa xóa sạch ngay “Bừng tỉnh dậy” trở về nơi cao đẹp “Nguyên thủy tính” từ nay sinh bất diệt Không âm u trong đọa lạc mê lầm Chúng ta sinh ra đâu phải để thù hằn Lợi dụng tình yêu mưu lợi mặc dù! Như thế ta cũng nên cởi niềm oán hận Mỵ Châu xin chàng cũng nên vâng lệnh Theo năng lực ngài ban ân điển thăng hoa Cùng xóa hận thù trở nên thương mến Chúng ta sinh ra đâu phải để hận thù Hãy vui vẻ trở về: Nơi nguyên thủy cội nguồn không tranh chấp Và muôn đời mình không phải thiếu nhau. (Thiền sinh 0TR0Đ liên thông với linh hồn của công chúa Mỵ Châu). Qua truyền thuyết về tể tướng Lữ Gia, cùng với các biểu tượng thần thánh của hệ thiên văn cổ, chúng tôi nhận định tể tướng Lữ Gia mang hình ảnh chòm sao Canis Major (Thiên lang - Linh cẩu trời), cũng chính là linh thú “Nghê” trên hai trụ tường đầu hồi của chính môn, bảo vệ đình, đền, chùa. Từ nhận định này, có thể xảy ra sự mâu thuẫn về biểu tượng “9 con của Rồng”? Chúng ta biết rằng, vua Lạc Long Quân có 9 người con, người con trưởng là Hùng Quốc Vương với biểu tượng là con Hổ dưới mặt đất và con Lân trên bầu trời, cho nên sẽ dư ra một biểu tượng trong “9 con của Rồng”, và đấy chính là con Nghê. Chòm sao con Nghê Tham khảo Những chòm sao chìa khóa của bầu trời, www.thienvanohc.org Trên trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ tạm thời ước tính niên đại thế kỷ VII-II tr.CN, thân trống cũng thể hiện 6 chiếc thuyền với hình ảnh con chó canh giữ địa ngục, tuy nhiên ngoài trống đồng ra, chúng ta không thấy cổ vật nào xưa hơn thể hiện ý nghĩa tương tự, ngoại trừ các nền văn minh Ai Cập với con chó Anubis, Hy Lạp với con chó ba đầu và việc ghi nhận trong văn hóa Ấn Độ, cho nên việc nhận định tể tướng Lữ Gia sau này được gắn vào biểu tượng linh thú “Nghê” cũng không có gì mâu thuẫn. Kinh đô nước Văn Lang Theo truyền thuyết vua Hùng đặt tên nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu, Việt Trì, Phú Thọ. Sách Thông điển đời Đường chép rằng: Phong Châu là nước Văn Lang xưa (chú giải có con sông Văn Lang). Trong dòng truyện cổ dân gian Trung Quốc có câu truyện Nàng công chúa Rồng và chàng Văn Lang, với chàng trai tên là Văn Lang kết hôn với công chúa con vua Rồng dưới biển (Truyện cổ Trung Hoa, Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh, 2002), mà chúng ta biết rằng Lạc Long Quân chính là vua Rồng, chúa tể Cõi Nước, Cõi Chết, vậy thì câu truyện cổ tích này thuộc về vùng Giang Nam. Tên “Văn Lang” với chữ “Văn” mang ý nghĩa là văn vẻ, đẹp đẽ và chữ “Lang” lại có nhiều nghĩa, theo thành ngữ “Ngọc Kinh Lang Hoàn” Bộ Nữ: là chỗ trời để kinh sách hay Lang Hoàn phúc địa: đất được diễm phúc trời dành cho; còn theo Bộ Kim là cái khóa, cái xích. Vậy thì, chúng ta có thể hiểu “Văn Lang” là mảnh đất được diễm phúc trời dành cho, và cũng là nơi giữ chiếc chìa khóa để mở tàng kinh các của nhà trời (tham khảo cuốn Việt Nam văn minh sử, tác giả Lê Văn Siêu, Nxb Văn học, 2006). Chúng ta cũng đã biết rằng: mẹ vua Kinh Dương Vương là Phật Bà Quan Âm và vua Kinh Dương Vương chính là Ngọc Hoàng Thượng Đế, hoàn toàn phù hợp những ý nghĩa nêu trên. Thế thì người Việt với ý nghĩa chữ “Việt” là như thế nào? Khi mà cũng có một nước Việt thời Xuân Thu của Việt Vương Câu Tiễn? Việt Vương Câu Tiễn là một người Việt cổ, làm vua nước Việt từ năm 496-465 tr.CN. Vương quốc lúc bấy giờ bao gồm Thượng Hải, Chiết Giang và Giang Tô ngày nay và kinh đô đặt tại Hội Kế (Cối Kê) trong tỉnh Chiết Giang. Vào năm 1965, người ta khai quật được thanh gươm của ông ở tỉnh Hồ Bắc, Trung quốc và hiện được trưng bày tại viện bảo tàng của tỉnh này. Thanh kiếm Việt vương Câu Tiễn Trích từ bài viết Viết lại tiên Bách Việt, tác giả Nguyễn Đại Việt, 2012 Tám chữ cổ khắc trên thanh gươm của vua Câu Tiễn. Tám chữ này được viết theo lối điểu ngữ (còn gọi là trùng ngữ). Theo thứ tự chúng được dịch là "Việt Vương Câu Tiễn Tự Tác Dụng Gươm" có nghĩa là "Thanh gươm của Vua Câu Tiễn nước Việt tự làm để dùng". Theo nhận xét thiên về mặt phong tục tập quán và huyền sử hơn là phương diện khoa học và ngữ văn thì chữ “Việt” trên thanh gươm gồm 3 thành phần đó là các chữ “Mặt Trời”, “Rồng” và “Người Chim”. Các chữ “Mặt Trời” và “Rồng” trên thanh gươm so sánh với cách viết thời kỳ giáp cốt văn và thời đại đồ đồng. Trong giáp cốt văn, chữ “Rồng” là một hình thù cong như thân rắn với một cái đầu to có hai sừng và đôi khi trên đầu đội vương miện. Chữ Mặt trời qua các thời kỳ Trích từ bài viết Viết lại tiên Bách Việt, tác giả Nguyễn Đại Việt, 2012 Chúng ta tham khảo lại hình ảnh của bách thần Ai Cập cổ đại: thần Cả Horus, thần Chết Orisis, thần Mặt trời Ra; Thần Horus đầu đội vương miện lưỡng hợp Bắc Nam, với biểu tượng sự sống Ankh và quyền trượng Was; Thần Orisis cầm gậy móc câu và phất trần; Thần Ra đầu đội mặt trời tay cầm biểu tượng sự sống ankh và quyền trượng Was. Biểu tượng Ankh và quyền trượng Was Tranh tường cổ Ai Cập Trong chữ “Việt” thì người cầm qua tương ứng các thần Ai Cập cầm quyền trượng was, con rồng và mặt trời tương ứng biểu tượng sự sống ankh, vậy thì, ý nghĩa chữ “Việt” cổ đại trên thanh gươm của Việt Vương Câu Tiễn được nhận định gọi là “thần” hay “người nhà trời” tương đương hình ảnh của các vị thần Ai Cập cổ. Chúng ta hãy quan sát trở lại chòm sao Orion (Thợ săn) trên bầu trời: Chòm sao Orion và họa tiết hình người trên trống đồng Ở Việt Nam trong dân gian còn có tên gọi là Sao Cày cho phần giữa của chòm vì nó giống như hình của chiếc lưỡi cày. Trong trường ca Odyssey của Homer, chòm sao Orion là một trong những chiếc la bàn tự nhiên mà chàng Odysseus đã sử dụng trong chuyến hải trình dài dằng dặc của mình tìm đường về với quê hương. Phía dưới 3 sao thắt lưng thẳng hàng của chòm cũng là 3 đốm sáng nhỏ thẳng hàng tạo thành thanh kiếm của chàng Orion, vùng giữa chính là cụm tinh vân Orion nổi tiếng: M42, M43… Thẳng theo hướng của thanh kiếm là gần như chính xác hướng Nam, quả là một chiếc la bàn tự nhiên tuyệt diệu. Họa tiết hình người trên trụ thân trống đồng Đông Sơn, loại Heger I, đang tuyên đọc sớ điệp công văn trong các lễ hội của dân tộc. Trụ thân trống đồng biểu tượng cho trục vũ trụ. Họa tiết hình người trông như mô phỏng từ một trong những chòm sao sáng nhất và dễ quan sát nhất trên bầu trời. Chúng ta cũng lưu ý rằng: hình ảnh cái qua mà người Việt cổ cầm, có hình chữ Nhân, một trong Ngũ Thường và sớ điệp công văn biểu tượng cho nền văn hóa, kiến thức về vũ trụ quan hay cũng có thể hiểu đó chính là học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, học thuyết thống nhất vũ trụ. Biểu tượng mặt trời là vua Kinh Dương Vương, con rồng là vua Lạc Long Quân và người cầm qua chắn chắn phải là Hùng Quốc Vương đại diện, cả ba tạo nên “Tam Dương” hay thuần Dương. Kết hợp toàn bộ ý nghĩa phân tích, thì cấu trúc chữ Việt cổ tạo nên hình ảnh con người với mong ước vươn lên hợp nhất với toàn thể vũ trụ hay được gọi là Thần. Kết hợp với hình người trên 6 chiếc thuyền trên thân trống đồng Đông Sơn Ngọc Lũ và Hoàng Hạ được mô tả trong Chương II: TIẾNG TRỐNG HOÀNG KIM, cùng với các dữ liệu thiên văn ghi dấu ấn lịch sử các vua Hùng trong các chương trước, chúng tôi nhận định rằng: chòm sao Orion đại diện cho người Việt, khi ở dưới mặt đất tức Hậu thiên là con người cầm kinh sớ tấu lên thiên đình, và trên bầu trời tức Tiên thiên là người chiến binh cầm cung tên bảo vệ và kiểm soát cổng lên Cõi trời. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn thư Quyển I, Kỷ Hồng Bàng có viết: Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang. Đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, gồm 15 bộ với tên gọi các bộ: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức và Văn Lang là bộ nơi vua đóng đô. Đại Việt sử lược cũng chép Văn Lang gồm 15 bộ, trong đó có 10 bộ giống tên như Đại Việt Sử ký toàn thư là Giao Chỉ, Vũ Ninh, Việt Thường, Ninh Hải, Lục Hải, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Cửu Đức, Văn Lang; và 5 bộ lạc với tên khác (Quân Ninh, Gia Ninh, Thang Tuyền, Tân Xương, Nhật Nam). Trong 15 bộ có tên bộ Văn Lang, điều này không hợp lý bởi vì tên nước không thể trùng tên bộ, truyền thuyết nói vua Hùng đóng đô ở Phong Châu có thể hiểu Phong Châu cũng là một bộ, và có thể đó là miền Bắc Việt Nam. Tại vùng Lạng Sơn có cửa ải “Quỷ môn quan” nghĩa là cửa đi tới vùng đất của thần Chết và Phong Châu nghĩa là “vùng đất của gió hay kinh đô của gió”, hay còn gọi là Phong Đô, vùng đất của Thần Chết, mà chúng ta đã biết vua Lạc Long Quân chính là Phong Đô Đại Đế. Qua nhận định cương vực nước Việt cổ thì biên giới với Trung Quốc của vua Đế Nghi và vua Kinh Dương Vương là con sông Dương Tử, cho đến khi xảy ra chiến tranh với nhà Ân Thương thì cương vực bị co hẹp lại. Theo Sử ký (q. 31) thì đời Chu Thái Vương (trước thế kỷ XI tr.CN), Thái Bá chạy xuống hạ lưu sông Dương Tử mà lập nước Ngô, gồm tỉnh Giang Tô và một phần tỉnh Chiết Giang. Đời Thành Vương (thế kỷ VII tr.CN), nhà Chu phong cho con cháu một hầu thần là Hùng Dịch ở miền Kinh Man lập ra nước Sở (Sử ký, q. 40) chiếm miền Hồ Bắc, Hồ Nam và một phần Giang Tây. Ở miền Chiết Giang thì thời nhà Hạ, con thứ vua Thiếu Khang được phong ở Cối Kê, dựng nên nước Việt, cũng thần phục chư hầu nhà Chu. Sở, Ngô, Việt là ba nước chư hầu lớn nhất của nhà Chu ở lưu vực sông Dương Tử, còn một khoảng trống giữa nước Sở và nước Việt, đại khái tương đương một phần tỉnh Giang Tây, tức là miền đất thời nhà Hán đặt quận Dự Chương. Có lẽ đất Việt Chương mà vua Sở Hùng Cừ phong cho con út, sau khi đã đánh lấy đất ở miền Dương Việt. Có lẽ Việt Thường là một nước nhỏ do người Việt tộc dựng lên ở miền ấy vào đầu thời Chu, vì ở xa nên phải là nước chư hầu triều cống nhà Chu (Lịch sử cổ đại Việt Nam, trang 218, tác giả Đào Duy Anh, Nxb Văn hóa Thông tin, 2005). Cho tới thời vua An Dương Vương lên ngôi, đặt tên nước Âu Lạc và xây thành Cổ Loa bên vùng tả ngạn sông Hồng, vùng Đông Anh, Hà Nội ngày nay, thì không thấy thư tịch cổ đại nào ghi nhận kinh đô Văn Lang, ngoại trừ Đại Việt Sử Ký Toàn thư và truyền thuyết vua Hùng đóng đô ở Phong Châu, ngã ba Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Qua phân tích, chúng ta chú ý đến sự kiện vua An Dương Vương là bộ chủ vùng Vân Nam, truyền thuyết đóng đô tại thành Cổ Loa, điều này cho phép chúng ta ghi nhận kinh đô Văn Lang trước đó là ở miền Bắc Việt Nam. Mặt khác, như đã phân tích, trong nội dung Kinh Dịch, vua chạy ra đất Mân tạo nên một giả thuyết kinh đô Văn Lang ở Phúc Kiến, Quảng Đông, Trung Quốc ngày nay. Sau trận chiến với giặc Ân, nếu nhận định kinh đô chuyển về miền Bắc Việt Nam, điều này lại mâu thuẫn với truyền thuyết vua Hùng đóng đô ở Phong Châu. Tuy nhiên, việc vua Hùng Vương VI không tổ chức tấn công lấy lại những vùng đất đã mất sau chiến thắng, mà lại thiên đô thì điều này có vẻ không hợp lý lắm với một quốc gia hùng mạnh. Câu truyện Thánh Gióng, cũng nó về vũ khí của ngài là cây gậy sắt, ngựa sắt, giáp sắt, nón sắt chứng tỏ thời kỳ này Văn Lang có thể đã sản xuất được sắt nhưng vẫn còn non, cho nên trong trận chiến cây gậy đã bị gãy và Thánh Gióng đã thuận tiện dùng tre ngà làm vũ khí cùng với chiến mã sắt phun lửa. Sách Thủy Kinh Chú nói rằng: “Năm Kiến Vũ thứ 23, khi mới lập châu, thấy có giao long cuốn bện ở hai bến Nam và Bắc, cho nên đổi tên Long Uyên thành Long Biên”. Đời Tùy lại đặt quận trị Giao Chỉ, đời Đường đặt làm An Nam đô hộ phủ. Cho đến khi Lý Bí lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, đánh đuổi được quân đô hộ, xưng hiệu là Lý Nam Đế, đặt tên nước Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên. Nay là Hà Nội, là kinh đô nước Vạn Xuân, tồn tại 58 năm (544-602), kéo dài từ triều đại nhà Lý - Lý Nam Đế đến nhà Triệu - Triệu Quang Phục. Chùa Trấn Quốc và chân dung vua Lý Nam Đế và hoàng hậu Quân Tây Hồ, Hà Nội, Việt Nam Chùa được xây dựng lần đầu vào thời vua Lý Nam Đế (544-548) trên bãi sông Hồng, thuộc địa phận làng An Hoa, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên (phường Yên Phụ, quận Tây Hồ ngày nay). Khi đó, ngôi chùa được đặt tên là Khai Quốc, đến triều Lê Thái Tông thế kỷ XV, chùa được đổi tên là An Quốc. Năm 1615, do bờ tả bãi sông Hồng bị lở đến sát nền chùa nên nhân dân và chính quyền đã dời toàn bộ chùa về hòn đảo Kim Ngư nằm gần bờ phía Đông của Hồ Tây. Chùa có tên là Trấn Quốc vào cuối thế kỷ XVII, đời vua Lê Hy Tông. Theo sách Nguyên Hòa Quận Chí (q38) thì năm 767 Trương Bá Nghi bỏ thành cũ mà xây lại thành mới ở phía Bắc sông Tô Lịch chỉ cách 200 thước. Thành cũ sông Tô Lịch chép trong Man Thư chính là thành ấy. Bấy giờ sông Tô Lịch còn là một con sông lớn chảy vào hồ Tây và là một khúc của sông Hồng, chỗ gọi là Hồ Khẩu ngày nay. Thành của Trương Bá Nghi có lẽ là vào khoảng giữa sông Tô Lịch và hồ Tây hiện tại. Theo Mapéro - căn cứ vào Man Thư - Thì năm 863, khi quân Nam Chiếu xâm lược nước ta, ở khoảng Hà Nội ngày nay có đến ba thành: thành thứ nhất là thành đô hộ phủ, do quân nhà Đường cố thủ đến cùng; thành thứ hai là thành cũ bên sông Tô Lịch, do quân Hà Nam chiếm đóng; thành thứ ba là Tử Thành do quân Nam Chiếu chiếm đóng (Man Thư. q4 và Tư Trị Thông Giám, q260). Thành Đô hộ phủ ở về phía Đông thành cũ Tô Lịch, vì khi quân Đường cùng thế quyết định phá vây để chạy thoát thì Man Thư chép rằng họ xông ra bờ sông phía Đông thành, và khi ra đến sông không thấy thuyền thì họ lại vào La Thành ở phía Đông. Về sau Cao Biền xây Đại La Thành là xây đắp thêm ở địa điểm ấy thôi. Bản đồ cổ Hà Nội Tư liệu tham khảo Đời vua Đinh Tiên Hoàng đặt làm đạo, đời Lê Đại Hành làm lộ. Đến đời Vua Lý Thái Tổ, năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) từ thành Hoa Lư dời về đây, có rồng vàng hiện trước thuyền ngự, nhân đó đổi tên là thành Thăng Long, đặt phủ Ứng Thiên, dựng kinh đô, xây cung điện, xây dựng hoàng thành có 4 cửa: phía Đông là cửa Tường Phù, phía Tây là cửa Diệu Đức, phía Nam là cửa Đại Hưng và phía Bắc là cửa Quảng Phúc. Năm Thiên Thành thứ 2 (1029) lại đắp tường đất bao quanh bốn phía, vòng quanh một lớp gọi là Phượng Thành. Đầu đời Trần vẫn giữ nguyên như thế, đến năm Thiệu Bảo (1279-1284) đổi làm Trung Kinh, mới đặt 61 bạn phường ở tả hữu kinh thành, đặt ty Bình bạc (là cơ quan hành chính và tư pháp ở kinh đô Thăng Long), La Thành môn tứ ủy, Phượng Thành tứ sương, quan quân thay nhau canh giữ. Nội thành gọi là thành Long Phượng. Đời Hồ gọi là Đông Đô, Lê Thái Tổ gọi là Đông Kinh, cũng gọi là Đông Đô, vì lấy Thanh Hoá làm Tây Đô nên gọi Thăng Long là Đông Đô. Lê Thánh Tông nhân chế độ thời Lý, Trần mà mở rộng hoàng thành (trích một phần nội dung bài viết Đi tìm Thăng Long thành, tác giả Nguyễn Quốc Hùng). Truyền thuyết Vua Hùng chọn đất đóng đô: truyện xưa kể rằng, Kinh Dương Vương về nước chọn đất đóng đô. Ngài đi ngắm cảnh khắp đất nước, đến đất Thanh Hóa, ngài thấy cả trăm trái núi hình chim phượng nhưng không vừa ý. Ngài quay về đất Phủ Lý thấy bãi biển có hình con cá chép lúc ẩn lúc hiện, cũng không vừa ý. Ngài đến đất Hạ Long thấy có trăm trái núi hình rồng nhưng thấy cũng không phải là đất đế đô. Ngài lại lên đất Phú thọ, thấy có môt trăm trái núi hình 100 con voi, 99 con quay đầu về phương Nam, 1 con quay đầu về phương Bắc bị trời đánh gãy cổ, ngài không lấy đất ấy làm kinh đô. Rồi ngài lại về vùng đất có 100 con rùa, đất rộng, ở đây có những gò đất cao nổi lên, con người có thể ở đấy mà không sợ bị ngập lụt, đất có thể cày cấy được, ngài mới xây dựng cung điện để ở. Con cháu đời đời mở rộng Quốc đô. 100 con rùa đó là các nền đền chùa ngày nay, từ Hoài Đức đến xã Liêm Châu, Thanh Oai, các chùa đình đều được ghi là Ngũ Nhạc chầu quy (5 gò đất chầu hình con rùa) và cũng chỉ đất này mới có địa danh (tên Nôm) còn tên tự là Thanh thủy làng Rùa và làng Xốm gọi là Xốm Rùa. Vua Lạc Long Quân đang ở đất Phong Châu nghe tin ở Phủ Lý có loài Lý Ngư Tinh quấy phá dân chài lưới, ăn thịt người, Long Quân lấy một khối sắt nướng đỏ liệng vào miệng cá, Ngư tinh vùng vẫy nhảy đến đánh thuyền, Long Quân chém được khúc đuôi, lột da treo lên trên núi, nay gọi là Bạch Long Vỹ, khúc đầu trôi ra ngoài biển, hóa ra chó mà chạy mất, Long Quân lấy đá lấp biển thì chém được, nó bèn hóa ra đầu chó, nay gọi là Cẩu Đầu Sơn, khúc mình trôi vào Man Cầu, nay gọi là Cầu Man Cẩu. Được tin ở hồ Dâm Đàm (tức Hồ Tây - vùng đỉnh Cáo xưa, sau là Xuân Đỉnh, Xuân Tảo) có loài Cáo Chín Đuôi thành tinh chuyên phá phách. Ngài lại đến đó trừ diệt xong, rồi lập chùa quán để trấn yểm. Rồi được tin dưới chân núi Ba Vì loài Đại Bàng Tinh (là đất Hạ Lôi, Bằng Trù, Thạch Thất), ngài đến đó trừ diệt loại này xong rồi về Phong Châu. Ở đất Phong Châu (có vùng đất Bạch Hạc) có loài Mộc Tinh tên là Quỷ Xương Cuồng (đất Lôi Phong có nhiều địa danh là Mộc như Hoàng Mộc, Mộc Xá, Mộc Quan Nhân, Mộc Nhân Chính…) ẩn hiện nhiều nơi, Ngài phải nhiều phen truy đuổi mới bắt được. Một bản phả của họ Nguyễn còn lưu giữ ở Văn Nội, Thanh Oai trong cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ ghi nhận: “Thăng Long xưa gọi là Phượng Thành đến thời Hán sang cai trị mới đổi thành Đại La, sau Lý Thái Tổ dời đô mới gọi là Thăng Long (Thăng Long thành) - nghĩa tên đất Rồng - chứ không phải rồng bay lên như truyền thuyết. Vì vua Lý đến Phong Châu là đất Lạc Long Quốc, Sơn Nam Thượng mà Nguyễn Trãi và Phan Huy Chú đã ghi lại. Nay là đất Phượng Châu Đại Thành và Đại La, Yên Nghĩa…”. Đảo Bạch Long Vĩ Ảnh tham khảo Internet Bạch Long Vĩ đảo quê hương, em đứng trên biển Đông, thôn xanh Phù Thủy Châu, mênh mông sóng bạc đầu, gió rì rào năm tháng… Bạch Long Vĩ đảo quê hương, sóng vỗ bao tình thương, gió mang đi ngàn phương, quê hương đuôi Rồng Trắng, quê hương của hải bào, tiếng hát em ngân càng cao… Bạch Long vĩ đảo quê hương, nhạc sĩ Huy Du. Tổng hợp các dữ liệu trên, chúng ta có khẳng định rằng: Phong Châu là tên một bộ chỉ miền Bắc Việt Nam, kinh đô của nước Văn Lang chính là thủ đô Hà Nội hiện nay. Địa danh hòn đảo Bạch Long Vỹ - đuôi con Rồng Trắng, được đặt tên cho trục Càn - Khôn của Hậu Thiên Bát Quái, và như vậy đầu con Rồng Trắng chính là dãy núi Himalaya hùng vĩ. Mặt khác, trong cấu trúc cung điện của vua chúa, trung tâm thiết triều thường tên gọi là điện Kim Loan hay Kim Loan điện, Loan là con trống và Phượng là con mái, do vậy Phượng Thành hàm ý ở trung tâm kinh thành chứ không phải là tên chung cho kinh thành, Long Thành ngoại, Phượng Thành nội thể hiện trung tâm kinh tế chính trị (Âm) so với Đền Hùng trung tâm tín ngưỡng tâm linh (Dương). Kết hợp với truyền thuyết vua Lạc Long Quân diệt trừ Cáo chín đuôi là lập đạo quán vùng Hồ Tây, chúng ta có thể nhận định: kinh thành đã có từ thời vua Lạc Long và được lấy tên là Rồng Trắng hay Bạch Long Thành, gọi tắt là Bạch Thành. Chúng ta nhớ lại trong cuốn Tam Quốc Chí, Bồ Tát Nguyễn Minh Không___ tại Bạch Thành. Qua các nhận định các dữ kiện lịch sử trên, chúng ta không thể không quay trở lại với nội dung Chiếu dời đô của vua Lý Công Uẩn qua sự kiện dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình, cố đô của Đại Cồ Việt về thành Đại La, nay là Hà Nội. Tháng 7 năm Thuận Thiên thứ nhất (1010) thì khởi sự dời đô, khi ra đến La Thành, ông lấy cớ có điềm lành trông thấy rồng vàng bay lên trời nên đổi tên Đại La thành sang Thăng Long thành, và chuyển cố đô Hoa Lư làm Trường An phủ và Cổ Pháp làm Thiên Đức phủ. Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại; ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?. (Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, in trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993) Trong Chiếu dời đô, chúng ta thấy đặc biệt là có ý đề cao việc Cao Biền xây thành Đại La và oán trách hai nhà Đinh, Lê gây tổn hao trăm họ, đây chính là mắt xích gây nên nghi ngờ về việc Chiếu dời đô không còn mang nội dung nguyên thủy của nó. Trước thời nhà Lý, chúng ta cũng đã biết về nhà sư Định Không (?-808) nói về mảnh đất Cổ Pháp và tiên tri sự phá hoại long mạch nước Việt, sau này ứng đúng với việc viên tướng Cao Biền đã trấn yểm khắp nơi, truyền truyết ghi chép việc này rất nhiều và rõ ràng. Đồng thời, nước Việt hưng quốc trở lại bắt đầu từ thời vua Lý Nam Đế, đóng đô ở Long Biên, cùng lúc ngài xây dựng nên ngôi chùa Trấn Quốc nổi tiếng còn lại đến ngày nay, chưa kể tới thời vua Lý Công Uẩn với các quân sư rất am tường phong thủy địa lý, ít nhất là dấu ấn còn ghi lại bố cục tổng thể và tên gọi, vị trí các công trình của kinh đô Thăng Long hoàn toàn theo dịch lý, cho nên việc vua Lý Công Uẩn đưa tên “Cao Vương” vào trong Chiếu dời đô là không thể xảy ra, bởi nó đã tạo ra sự tương phản rõ nét với việc nhận định hai nhà Đinh, Lê đã gây tác hại tới trăm họ. Tượng thờ Thái hậu Dương Vân Nga, vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành Ảnh tham khảo Internet Mặt khác, theo dòng lịch sử, thì Cao Biền cũng không phải là người chọn Đại La là nơi lập kinh đô, mà đây là một sự kế thừa lâu dài trong lịch sử nước Việt và chúng ta có thể chắc chắn một điều, thời kỳ này sử sách còn lưu trữ lại rất nhiều, chỉ khi thời giặc Minh sang xâm chiếm nước ta, kinh sách mới bị hủy diệt hầu như không còn lại thứ gì. Minh Thành Tổ đưa ra ba chỉ dụ liên tiếp đề ngày 21/8/1406, 16/6/1407 và 24/6/1407 căn dặn các tướng lĩnh nhà Minh thi hành chính sách đồng hóa và tiêu diệt tận gốc nền văn hóa Đại Việt. Thi hành chỉ thị của Minh Thành Tổ, quân Minh tịch thu hoặc tiêu hủy toàn bộ tất cả các loại sách vở của nước Nam, kể cả các bia đá ghi lại sự nghiệp của tiền nhân. Sau đây là lệnh của Minh Thành Tổ gởi các tướng Minh ngày 21/8/1406: "... Trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lão thì không tiêu hủy, ngoài ra hết thảy mọi sách vở, văn tự cho đến cả những loại (sách ghi chép) ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ ... một mãnh chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ chớ để còn.". Quân Minh còn chở về Trung Hoa hầu như toàn bộ sách vở đã có từ thời Hồ Quý Ly trở về trước, đó là sách của các tác giả sau đây: Lý Thái Tông (Hình thư), Trần Thái Tông (Hình luật, Quốc triều thông lễ, Kiến Trung thường lễ, Khóa hư tập, Ngự thi), Trần Thánh Tông (Di hậu lục, Cờ cừu lục, Thi tập), Trần Nhân Tông (Trung hưng thực lục, Thi tập), Trần Anh Tông (Thủy vân tùy bút), Trần Minh Tông (Thi tập), Trần Dụ Tông (Trần triều đại điển), Trần Nghệ Tông (Bảo hòa điện dư bút, Thi tập), Trần Hưng Đạo (Binh gia yếu lược, Vạn Kiếp bí truyền), Chu Văn Trinh tức Chu Văn An (Tứ thư thuyết ước, Tiều ẩn thi), Trần Quốc Toại (Sầm lâu tập), Trần Quang Khải (Lạc đạo tập), Trần Nguyên Đán (Băng Hồ ngọc hác tập), Nguyễn Trung Ngạn (Giới Hiên thi tập), Phạm Sư Mạnh (Giáp thạch tập), Trần Nguyên Đào (Cúc Đường di thảo), Hồ Tông Thốc tức Hồ Tông Vụ (Thảo nhàn hiệu tần, Việt nam thế chí, Việt sử cương mục), Lê Văn Hưu (Đại Việt sử ký), Nguyễn Phi Khanh (Nhị Khê thi tập), Hàn Thuyên (Phi sa tập), Lý Tế Xuyên (Việt điện u linh tập)... (Trích một phần nội dung bài viết Đại nạn Trung Hoa, tác giả Trần Gia Phụng). Sau này, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã khôn khéo và kiên trì lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh đi đến thành công, sau hơn mười năm gian khổ, ba lần phải lên núi Chí Linh chịu cảnh bao vây có lúc tưởng như đã bị tiêu diệt, để bảo toàn lực lượng: Lấy chính nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thay cường bạo. (Trích Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi). Trong cuộc chiến, quân ta bắt được viên tướng Hoàng Phúc, là một người rất giỏi địa lý, đã có mang theo tập kế hoạch và bản sao Cao Biền địa lý kiểu tự sang để duyệt và định yểm nốt những đất lớn nào còn sót lại, để Việt nam không thể sản sinh ra được những nhân tài xuất chúng như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo... Nguyễn Trãi Tranh lụa, thế kỷ XVIII, Bảo tàng lịch sử, Việt Nam Vua Lê Thái Tổ Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam Nhong nhong ngựa ông đã về, Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn. Ca dao. Mặt khác, vua Lý Công Uẩn cũng đã được các quan lại triều cũ tôn xưng làm vua và cuộc chuyển giao hoàn toàn yên bình, không gây nên bất kỳ một cuộc chiến nào, do vậy việc tôn trọng tiền triều cũng là một vấn đề của đạo lý, chưa kể vua Lý Công Uẩn là một vị vua thực hiện Tam giáo đồng nguyên nhưng xem Phật giáo là quốc đạo, cho nên nội dung Chiếu dời đô là hoàn toàn không thể có nội dung trên được. Vua Lý Thái Tổ Quận Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam Việc Chiếu dời dô lấy các triều đại tối cổ của Trung Quốc, làm điểm xuất phát nội dung cũng không phải là đề cao mà đây là những vấn đề nổi bật đã từng làm thay đổi toàn cục lịch sử của nước Trung Quốc rộng lớn như đã được ghi nhận trong cổ thư. Như vậy, việc Chiếu dời đô thực sự đã không tồn tại các đoạn văn liên quan đến hai triều Đinh, Lê và Cao Biền thì vẫn giữ nguyên nghĩa, cũng như mục đích của việc dời đô, đều này có nghĩa bản gốc Chiếu dời đô đã bị sửa đổi và ghi nhận vào bộ Đại Việt Sử ký toàn thư, tuy nhiên cũng không chắc chắn nội dung thay vào đó đã được soạn như thế nào. Chúng ta cũng biết rằng, truyền thuyết vua Lý Công Uẩn nhân thấy rồng vàng hiện lên cũng là một mật ngữ của cha ông muốn nói về con “Rồng vàng” Lạc Long Quân, và nội dung cuốn sách cũng không tách rời việc liên quan đến con “Rồng vàng” này và gián tiếp khẳng định truyền thuyết này là chính xác - tức việc chọn lựa tên Thăng Long đã được triều Lý nghiên cứu lịch sử cổ đại Văn Lang hết sức kỹ càng. Sau này, Lý Thường Kiệt (1019-1105) chiến thắng quân Tống trên chiến tuyến sông Như Nguyệt, ông đã làm bài thơ thần Nam Quốc sơn hà trong đêm tại đền thờ Trương Hống, Trương Hát để cỗ vũ và phát huy khí phách của quân đội Đại Việt: Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Sông núi nước Nam, vua Nam ở, Rành rành định phận tại Sách Trời. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm? Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời. “Sách Trời” ở đây chính là lịch sử thời Hùng Vương của nước Việt, được “viết lên trời xanh” bằng tên gọi của những hành tinh trong hệ mặt trời, những chòm sao trong dải Ngân hà... Lý Thường Kiệt Tranh khắc đồng, Việt Nam Cũng trong Đại Việt sử ký toàn thư, tại ___ viết: "Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao? Con không hiền là tội của con thôi. Tục truyền rằng sau khi vương chết đã chôn, đến cuối thời nhà Tấn đã hơn 160 năm, người Lâm Ấp vào cướp, đào mộ của vương, thấy mình mặt vẫn như sống, cả sợ lại đắp lại, người địa phương cho là thần, làm miếu để thờ gọi là Tiên Sĩ Vương. Có lẽ là khí tinh anh không nát, cho nên thành thần vậy". Nội dung này đoạn viết trên đã bị nhà nghiên cứu Lê Mạnh Thái cực lực phản đối trong cuốn Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh 2006, là hoàn toàn hợp lý. Sĩ Nhiếp (137-226) là Thái thú đất Giao Chỉ vào thời Bắc thuộc từ năm 187-226, được phong là Long Độ Đình Hầu, đóng đô tại thành Luy Lâu và cho tới nay, Sĩ Nhiếp được tôn xưng là “Nam giao học tổ” - đây là một sự tôn xưng có lẽ đã được tạo ra trong suốt thời kỳ nước ta bị Bắc thuộc, và không có lý do gì tôn xưng không bị xóa bỏ ngay, bởi đây là một tôn xưng ngớ ngẩn nhất từ trước tới nay trong suốt tiến trình lịch sử văn hóa nước Việt. Rõ ràng, lịch sử về Sĩ Nhiếp cần phải được nghiên cứu, xem xét một cách kỹ càng hơn nữa. Trong cuốn tiểu thuyết nối tiếng thế giới là Tam Quốc Chí, tác giả Phật Hoàng Trần Nhân Tông, tại Hồi 86: “Bát Giới giúp trừ yêu quái - Ngộ Không trổ phép diệt yêu ma”, có đoạn viết: … Lão quái nghe xong, chẳng còn cách nào đành hạ lệnh: Các con hãy dốc sức đồng lòng cầm binh khí tinh nhuệ sông ra đánh trận. Bọn tiểu yêu hò hét vang lừng xông ra ngoài cửa động. Đại Thánh và Bát Giới vội vã lùi lại vài bước, tới chỗ rộng rãi bằng phẳng mới chặn bọn tiểu yêu quát: Tên nào là yêu quái sừng sỏ? Tên nào bắt sư phụ của ta?. Bọn tiểu yêu cắm doanh trại bày trận, phất một lá cờ gấm bay phần phật, lão quái cầm chày sắt bước ra lớn tiếng quát: Đồ hòa thượng khốn kiếp kia, các ngươi không nhận ra ta sao? Ta là “Nam Sơn đại vương” đã lêu lổng ở đây mấy trăm năm nay rồi. Đường Tăng của các ngươi đã bị ta ăn thịt. Ngươi dám làm gì ta nào?. Hành Giả quát mắng: Đồ đê tiện to gan kia! Nhà ngươi bao nhiêu tuổi mà dám dùng hai chữ “Nam Sơn đại vương”. Lão Quân họ Lý (Lão Tử) là ông tổ khai thiên lập địa chỉ được ngồi ở bên phải của cung Thái Thanh. Phật Tổ Như Lai là bậc giúp đời chỉ được ngồi ở dưới cánh Chim đại bàng, đức Thánh Khổng là ông tổ của đạo Nho cũng chỉ được gọi là “Phu Tử” thôi. Nhà ngươi là đồ nghiệt súc mà dám xưng là “Nam Sơn đại vương”, lêu lổng ở đây mấy trăm năm cơ à? Chớ có chạy! Nếm một gậy của ông ngoại nhà ngươi đây! Trong lịch sử nước ta không thấy ghi nhận bất kỳ ai được gọi là Nam Sơn Đại Vương, trong cuộc chiến chống Nguyên Mông thì chỉ có Thái tử Thoát Hoan, con thứ tư của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt, thường được gọi là Tứ Vương Tử, được phong làm Trấn Nam Vương sau phải thoát thân về nước bằng cách chui ống đồng, tuy nhiên nội dung đoạn văn trên lại hàm ý liên quan đến lịch sử văn hóa, có lẽ ngài muốn nhắc nhở hậu thế về sự kiện tôn xưng Sĩ Nhiếp làm “Nam Giao Học Tổ”. Ngay cả Đức Lão Tử, Phật Thích Ca Mâu Ni, Khổng Thánh Tiên Sư còn chưa thể xưng Nam Sơn Đại Vương của nước Việt, huống hồ là Sĩ Nhiếp? Con “Chim đại bàng” trong đoạn văn, tác giả ẩn ý về một vị Thánh nhân nước Việt, và cũng là Thánh nhân mà các tôn giáo trên thế giới đang mong chờ xuất hiện, cũng sẽ được xác định trong các chương sách sau. Như vậy, việc Đại Việt sử ký toàn thư ghi hẳn “Kỷ Sĩ Nhiếp” trong khoảng 40 năm cần phải xem xét lại, và Sĩ Nhiếp là Thái thú đất Giao Chỉ làm sao gọi là “Vương”, cũng giống như Cao Biền - tên tướng pháp sư dùng phong thủy trấn yểm nước Việt cũng được gọi là “Cao Vương”? Nhằm làm sáng tỏ lịch sử hơn nữa, các sự kiện đã được liên kết chặt chẽ không thể tách rời qua Chương VIII: KIM CƯƠNG BẤT HOẠI. ***
  8. Kinh Dương Vương Buổi đầu Nam Việt có Kinh Dương, Thống nhất sơn hà mười tám vương. Hơn trăm hệ truyền từ xưa đó, Muôn năm hương hỏa, muôn năm thơm. Trong Cổ Lôi ngọc phả truyền thư, vua Kinh Dương Vương được nhân dân tôn xưng là Thánh Tổ hay “Ốc Tổ”, hay còn gọi là vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế. Theo định nghĩa của đạo Cao Đài, Ngọc Hoàng Thượng đế là Đấng Chí Tôn, Đấng duy nhất tuyệt đối, tối cao tối đại, chí tôn chí linh, tạo hóa ra càn khôn vũ trụ và vạn vật. Trong Đạo Giáo, Hạo Thiên Kim Ngọc Hoàng Đại Đế, Huyền Khung Cao Thượng Ngọc Hoàng Đại Đế, gọi tắt là Ngọc Hoàng Thượng Đế. Ngày Thánh đản là 9 tháng Giêng âm lịch. Hình ảnh của ngài thường ngồi trên ngai vàng chạm trổ “Lưỡng long triều dương”, đầu đội vương miện, trên che lọng báu. Hai tay nâng hốt theo nghi lễ Hoàng Đế gọi là Khuê. Chùa Ngọc Hoàng Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Để lý giải về việc nhân dân ta suy tôn vua Kinh Dương Vương là Ngọc Hoàng Thượng Đế, chúng ta cùng hãy cùng xem xét các bức tranh dân gian Đông Hồ: Ngọc Hoàng Thượng Đế Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Bức tranh Ngọc Hoàng Thượng đế ngồi ngai “Lưỡng long triều dương” là quẻ Càn trong Hậu Thiên Bát quái và mang ý nghĩa vua Kinh Dương Vương chính là ông mặt trời. Hình tượng hai vị quan cầm khuê đứng chầu hai bên Ngọc Hoàng Thượng Đế, bên phải thường gọi là Nam Tào và bên trái là Bắc Đẩu. Đặc biệt bức tranh dân gian Hàng Trống Ngũ Hổ, với hình tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế là quẻ Càn trên hòm ấn, 5 con hổ thể hiện Ngũ Đế với các đạo binh của 5 phương trời bảo vệ hòm ấn Pháp Đại Uy Nỗ (quy luật bao trùm, nguyên lý thống nhất vũ trụ). Ngũ Hổ với phù hiệu “Pháp đại uy nỗ” Tranh dân gian Hàng Trống, Hà Nội, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Chính thất của Ngọc Hoàng Thượng đế chính là Thánh Mẫu Thượng Ngàn hay Diêu trì Kim Mẫu ngự ở cung Diêu Trì, là người tổ chức hội Bàn Đào, còn Ngọc Hoàng Thượng đế ngự ở điện Linh Tiêu theo truyền thuyết của Đạo Giáo. Dẫn giải từ Cao Đài từ điển: Diêu trì Kim Mẫu còn gọi là Kim Bàn Phật Mẫu, nghĩa là Đức Phật Mẫu chưởng quản Kim Bàn nơi Diêu Trì Cung, Kim Bàn hay Kim Bồn là nơi Đức Phật Mẫu chứa các nguyên chất để tạo ra chân thần cho vạn vật, tức là chúng sanh gồm kim thạch, thảo mộc, thú cầm, nhân loại. Như vậy vũ trụ khởi nguyên sẽ có hai Đấng đầu tiên cầm quyền càn khôn vũ trụ là Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế và Đức Phật Mẫu. Qua nội dung trên, chúng ta hiểu Ngọc Hoàng Thượng Đế biểu tượng Dương và Diêu Trì Kim Mẫu biểu tượng Âm, cho nên bức tranh dân gian Hàng Trống Ngọc Hoàng Thượng Đế và Thánh Mẫu Thượng Ngàn là một bộ nhị bình. Trên trống Đồng Ngọc Lũ, Ngài cai quản Cõi Trời thể hiện trên biểu tượng vành trống số 8 “nai - chim”. Trong hệ thống kinh sách của Đạo giáo, cuốn Ngọc Hoàng Kinh có tên gọi đầy đủ là Cao Thượng Ngọc Hoàng bản hạnh tập kinh, gồm 3 quyển, 5 phẩm, thường được các đạo sĩ thường xuyên tụng niệm làm công đức, bao gồm Thanh vi thiên thần thông, Thái thượng đạo quang minh viên mẫn đại thần chú, Động huyền linh bảo ngọc hoàng công đức phẩm, Thiên chân họ phù trì và Động huyền linh bảo bảo ứng thần nghiệm phẩm. Theo nội dung Thanh vi thiên thần thông phẩm là kể về nguồn gốc và tính cách của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Tương truyền rằng, ở nước Quang Nghiêm Diệu Lạc, quốc vương không có người nối dõi. Một đêm, hoàng hậu mơ thấy Thái Thượng Lão Quân trao cho bà một đứa trẻ. Sau đó hoàng hậu mang thai và sinh được một vương tử. Vương tử kế vị, đem tấm lòng nhân từ mà cai trị đất nước. Xót thương cảnh dân chúng đau khổ, vương tử bỏ ngôi vua vào núi tu đạo. Sau 3200 kiếp tu đã được kim thân, gọi là Thanh Tịnh Giác Vương Như Lai. Chư vị Bồ Tát đến ngộ Đại thừa chính tông, lại trải quan hành vạn kiếp tu mới chính thức trở thành Ngọc Hoàng Thượng Đế. Vị thần này thần thông quảng đại. Ông đã đi khắp các phương để nói về đạo thanh tịnh giải thoát (trích từ Đạo giáo triết lý nhân sinh, tác giả Nguyễn Xuân Huy, Nxb. Thời đại, 2010). Theo truyền thuyết thì ngài chính là “hóa thân” của “Đấng Tối Cao” trong Tam Thanh, là vị được cổ nhân sùng kính hạng nhất. Ngọc Hoàng cư ngụ nơi Ngọc Thanh Cung, chưởng quản hết từ trên là 36 thiên, ba ngàn thế giới, các bộ thần tiên, tới dưới là 72 địa, tứ đại bộ châu. Nói tóm lại , là chưởng quản tất cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, cho đến triệu ức sinh linh… do đó mới tôn xưng ngài là Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn Huyền Linh Cao Thượng Đế. Ngày mùng 9 tháng Giêng âm lịch là ngày “Đản sinh” của Ngọc Đế (Thiên Công Sinh). Tháng Giêng là tháng khởi đầu của năm (tháng Dần), chủ của bốn mùa, cây cối nhờ vào khí thủy mà từ đó sanh sôi nẩy nở thêm ra. Số “9” là con số “lớn nhất” của các số, đại biểu cho ý nghĩa “cực dương”. Cho nên, người ta lấy con số “9” của tháng làm ngày sinh của ngài là do ý đó. Nhà vua được là xem người được mệnh lệnh của “Trời” để quản lý quốc gia. Nếu vua mà thuận theo thiên ý thì sẽ được mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, còn nếu nhà vua làm trái với thiên ý, thì “Trời” nhất định sẽ giáng tai họa để trừng phạt. Cho nên phải có định kỳ “Tế Trời”, đó là chức trách tối quan trọng của nhà vua. Trải qua nhiều triều đại, mỗi năm nhà vua đều phải cử hành “Lễ Giao”, nhưng chỉ có nhà vua mới là người “đủ tư cách đại diện” mà thôi. Trong dân gian, mỗi con người đều mang nặng, khắc sâu hình tượng ông “Trời” hiện diện rất thân cận, gần gũi và mật thiết với họ. Lúc đầu không ai dám đưa hình tượng nào ra về ngài, chỉ dùng hai biểu tượng là “Thiên Công Lô” (lò hương cúng trời) và “Thiên Công Tòa” ( ngai vua trời) để cúng bái mà thôi. Các Miếu thờ đều đặt “Thiên Công Lô” ở trước cửa, khi cúng bái thì ngẫng mặt lên bầu trời mà van vái, từ đó có tục lệ “đốt hương” trong cúng tế. Vào buổi chiều hôm trước mồng 8 tháng Giêng âm lịch, cả nhà già trẻ bé lớn đều ăn chay, tắm gội sạch sẽ, sửa soạn phẩm vật thịnh soạn. Kế đó, dâng hương cúng tế, lạy 3 lạy 9 vái. Ở những nơi cầu cúng tập thể phải có phẩm vật đặc biệt là “con heo nguyên vẹn” để cúng theo nghi thức rất long trọng. Bức tranh Quán tổng thống chư tạo địa, thủy, sơn, nhân cơ hội bản đồ tức Toàn đồ về việc kiến tạo trời đất, sông núi và con người, tranh in khắc gỗ thế kỷ XVIII, bản in lại năm 1996, Ván lưu tại Viện Hán Nôm, Đồ họa cổ Việt Nam, tác giả Pham Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Cung Khắc Lược, Nhà xuất bản Mỹ Thuật, 2000: nội dung nói lên muôn loài trong ba cõi đều chịu sự kiêm quản của các thế lực tối cao trong tôn giáo và tín ngưỡng. Thông qua các dòng chữ trình bày xen kẽ các hình khắc nói rõ trên có tiên cưỡi phụng và hạc, các cặp rồng đều chầu vào giữa là “Tòa báu” - tượng trưng ngôi cao Chí tôn thường ngự. Xung quanh có cờ báu, lọng báu, trống báu, phướn báu, xe rồng, cùng cờ, quạt, bếp sao thuốc, lò luyện đan… biểu thị Cõi Trời, Cõi Đất được tượng trưng là những vị vua các nước dâng đồ cống đứng xếp hàng hai bên thềm báu. Cõi nước bao gồm các linh vật như rùa, cá đối xứng với các hình khắc phía trên quy tụ vào giữa tranh. “Tòa báu” giữa bức tranh được bảo vệ bằng hai thanh đao hai bên và biểu tượng chính là 6 vạch ngang tức tượng của quẻ Bát Thuần Càn trong Kinh Dịch, như vậy ngôi cao Chí tôn chính là Ngọc Hoàng Thượng Đế. Xung quanh có 28 con rồng tượng trưng cho nhị nhập bát tú quy chầu vào giữa. Các động vật biểu trưng cho ba cõi là các động vật cưỡi của các vị thần tiên. Trung tâm bức tranh này hoàn toàn tương ứng với hòm ấn “Pháp đại uy nỗ” của bức tranh dân gian Ngũ Hổ Hàng Trống. Quán tổng thống chư tạo địa, thủy, sơn, nhân cơ hội bản đồ Đồ họa cổ Việt Nam, tác giả Pham Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Cung Khắc Lược, Nhà xuất bản Mỹ Thuật, 2000 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Bức tranh này được xem cùng với bức tranh Thượng Sư Điện là nơi các vị Tiên thường ngự, và chính là nơi ngự của hệ thần tối cao trong Đạo giáo tức Tam Thanh. Cột chữ trong tranh ghi rõ “Quán thâu kiêm cai tổng chư bản đồ. Thiên, Địa, Thủy, Nhân cơi hội đại hình tiến bảo” - Bản đồ thâu nắm tất cả trời, đất, nước, người tạo dịp dâng cúng làm đồ thay thế. Thượng Sư Điện Đồ họa cổ Việt Nam, tác giả Pham Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Cung Khắc Lược, Nhà xuất bản Mỹ Thuật, 2000 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Bên phải đề: “Quán sắc không lập không chí tổ, Văn Đỉnh Vương Sư, chư tạo Phật Pháp Tăng, Đông Độ Tây lai chư giáo Thánh chúng, vạn Thánh Thiên Hiền, dĩ thượng dĩ hạ, tiếp bảo nạp ngọc, cống hiến kiêm cai, đại phục tung hô tái bái” - Nắm mọi lẽ sắc không, thiết lập đấng tối cao, hàng vương, sư, văn, võ, tạo ra Tam bảo từ Đông đến Tây về, các bậc Thánh chúng cùng ngàn Thánh muôn Hiền, từ trên xuống dưới, cống tiến báu ngọc, đều phủ phục tung hô lễ tạ. Bên trái đề: “Quán thâu tự cực, Nguyên thủy chí Thiên vương, Ngọc Hoàng Phạm Thích, chư Thiên tôn Tiên bộ, cửu thiên Công tử, Nho - Đạo - Thích, sơn, hà, thiên, địa, nhật, nguyệt, Bắc thần, chư bang quốc hầu vương, tiến bảo nạp ngọc, cống hiên đại phục tung hô tái bái” - Nắm từ Thái cực nguyên thủy, đến Ngọc hoàng, Thiên vương, Phạm thiên, Đế Thích, các vị thiên tôn, các bộ Tiên, chín ngàn Công tử, cùng Nho - Lão - Phật, trời, đất, sông, núi, nhật, nguyệt, sao sac ho đến các vị vương hầu mọi nước, cống nạp báu ngọc phủ phục tung hô lễ tạ. Như vậy có nghĩa: Những hình quỳ lễ xếp tầng hai bên, và đồ châu báu ngọc dâng cúng ở giữa được đề dẫn rất rõ như trên. Đấng tối cao chịu sự phủ phục tung hô và cung tiến của muôn loài thì tiềm ẩn không xuất hiện trong tranh. Cùng đi với bức tranh Thượng Sư Điện là bức tranh Tiên Cảnh mô tả cảnh tiên trên cõi bồng lai, nơi các vị Tiên thường ngự. Tiên Cảnh Đồ họa cổ Việt Nam, tác giả Pham Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Cung Khắc Lược, Nhà xuất bản Mỹ Thuật, 2000 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Đấng Chí Tôn kiêm quản và tạo nên tất cả muôn loài, nắm tất cả giáo pháp, phúc đức… trình bày trong bức tranh Bảo Ngọc Khố. Phía trên hai bên Bảo ngọc khố có dòng chữ: “Thượng sư thành tạo chư tạo giáo pháp, Phúc đức bất sinh bất diệt. Sa ha” - Thượng Sư tạo nên tất cả giáo pháp, Phúc đức nơi kho chẳng sinh chẳng diệt. Sa ha. Bảo Ngọc Khố Đồ họa cổ Việt Nam, tác giả Pham Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Cung Khắc Lược, Nhà xuất bản Mỹ Thuật, 2000 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Câu bên phải: “Án, Thượng Sư thiên biến vạn hóa, không không, sắc sắc, đãng đãng, bình bình, tỳ tỳ, phản phản, la liệt thương di, quần triệu tổng thống chư khố” - Ấn, Thượng Sư ngàn biến muôn hóa, không không sắc sắc, mờ mờ ảo ảo, la liệt kho lẫm kiêm quản muôn thảy các kho. Câu bên trái: “Án, Thượng Sư kiêm cai vạn Thánh thiên Hiền, thượng, đại, trung, tiểu, hạ. Cửu phẩm thập đẳng chư Đà la ni, các các khố tàng dĩ thượng dĩ hạ” - Án, Thượng Sư kiêm cai quản muôn Thánh ngàn Hiền, trên, dưới, vừa, nhỏ, to, chín phẩm cùng mười loại Đà La Ni cùng tất thảy kho chứa ở trên dưới. Câu dưới: “Án, quán chư Thiên, địa, thủy tạo bản đồ cơ hội sơn thủy, Sa ha” - Án, kiêm thâu trời, đất, nước, lửa tạo ra bản đồ về tuồng tạo hóa núi non. Sa ha. Chính là nói về các cung Càn Khôn Khảm Ly trong Bát quái. Lòng tranh khắc họa những tòa ngang dãy dọc, ghi rõ từng kho chứa các đồ như kho sách, bút, lụa, vải, vàng bạc, gạo, áo… có kho của tiên, người, trời, đất, nước… Theo cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, thì thời vua Đế Minh, đạo Bà La Môn tại kinh đô đã là trung tâm tôn giáo của 37 nước trên thế giới. Tôn giáo bách thần của Ai Cập cổ đại thờ vị thần mặt trời Ra, chính là tôn thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế. Phật giáo Tây Tạng tôn thờ Đại Nhật Phật. Đạo Bà La Môn Ấn Độ tôn thờ thần mặt trời Vishnu. Tôn giáo thờ bách thần của Hy Lạp cổ đại tôn thờ thần mặt trời Helios... Thần Ra Tranh tường cổ Ai Cập Thần Vishnu Tượng cổ Ấn Độ file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Đại Nhật Như Lai ở giữa, bên trái là Quán Thế Âm, bên phải là Kim Cang Thủ Vajrapani Thần Mặt trời Surya Đền Konarak, Orissa, Ấn Độ, thế kỷ XI file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Tấm đá bazan năm 1728 tr.CN file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Kinh Dương húy Lộc Tục, tự là Phúc Lộc (con trai của vua Đế Minh và bà Đỗ Quý Thị) được cha giao cho làm vua phía Nam sông Dương Tử, đặt tên hiệu nước Xích Quỷ. Sau ông được tôn xưng là “Ốc Tổ”, “Vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế”. Cụ sinh ngày 15 tháng Tám âm lịch và mất ngày 25 tháng Chạp âm lịch. Mộ táng tại Đình Phượng Hoàng, Hoa Cái Sơn (nay là thôn Vân Nội). Lạc Long Quân Cũng từ các nội dung phân tích Chương III: NHỊ ĐỘ MAI về các biểu tượng trong trò chơi Bầu cua cá cọc, kết hợp xem xét bức tranh dân gian Hàng Trống Ông Hoàng cưỡi cá chép thì hình ảnh cá Chép Lạc Long Quân mặc áo màu tuyết trắng giống Chúa Mẫu Thoải tức Âu Cơ, đang cưỡi cá chép trên sóng nước. Ông Hoàng cưỡi cá Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Trước khi giải quyết vấn đề này, chúng ta xem xét biểu tượng Thần Tài - Cóc ba chân mang hình bóng của vị thần nào? Từ Oa có nhiều nghĩa, trong đó có nghĩa là nước, cũng là con ếch, con cóc. Con cóc là động vật lưỡng cư. Con ếch biểu tượng cho nước, cho mưa: Ếch kêu uôm uôm, Ao chuôm đầy nước. (ca dao) Ca dao tục ngữ còn có câu “Nghiến răng chuyển bốn phương trời - Ai ai là chẳng rụng rời sợ kinh”, hình ảnh của con cóc liên quan đến tiếng sấm rền vang chuyển động bốn phương trời, sau đó thì trời đổ mưa. Như vậy giữa ếch và cóc có khác biệt, cóc đại diện cho sấm và ếnh đại diện cho mưa. Theo Nguồn gốc dân tộc việt và nền văn minh cổ thì Lạc Long Quân là Pháp Lôi, tức thần Sấm, thuộc cung Chấn, phương Đông, như vậy con Cóc ba chân cũng là biểu tượng của Lạc Long Quân. Trong các tranh dân gian thường thấy ếch đội lá che mưa, cóc đánh trống. Hình tượng con cóc cũng xuất hiện trên trống đồng Đông Sơn, đặc biệt trống đồng muộn, thường thì trên mặt trống đồng có bốn cóc quay ngược chiều kim đồng hồ. Những hình ảnh Cóc trên trống đồng xuất hiện rất thường xuyên trong các di vật khảo cổ và người ta càng khó hiểu khi có những hình tượng Cóc giao hoan, không những giữa hai cá thể mà những ba cá thể. Tượng cóc trên mặt trống H.II file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Qua hình ảnh của cóc trên trống đồng Đông Sơn, ta liên tưởng đến trống đồng còn gọi là trống sấm “đánh trống qua cửa nhà Sấm” là câu nói dân gian thường hay gặp trong cuộc sống hàng ngày. Với nghĩa biểu tượng, cóc có nghĩa là không, là trống. Vậy cóc có mối quan hệ ruột thịt với với trống, là tiếng nói của hư không “Tiếng trống thu không”. Trống là biểu tượng của thần Sấm, thường cầm chiếc trống trong tay là như vậy. Cho nên trống đồng cũng chính là biểu tượng của Lạc Long Quân. Nhìn dưới lăng kính Dịch lý, cóc mang trọn vẹn ý nghĩa là Không, biểu tượng cho không gian hay trạng thái ban đầu vũ trụ tức Thái Cực. Cóc mang nghĩa Thái Cực nghĩa là âm dương còn ở dưới dạng nhất thể thấy qua bản thể lưỡng cư, vừa sống trên cạn mang tính dương vừa sống dưới nước (nòng nọc) mang tính âm. Vì thế mà dân gian có câu ca dao: Ông Trăng mà lấy bà Trời, Mồng năm dẫn cưới, mồng mười rước dâu. Ông trăng ở đây là Cha Tổ Lạc Long Quân và bà trời là Mẹ Tổ Âu Cơ. Tại sao lại chọn ngày năm và ngày mười? Chúng ta không ai là không biết ngày 5 tháng Năm là ngày giỗ mẹ Việt Thường Văn Lang. Số năm theo Dịch là độ số của Dương Thổ, khởi thủy và số 10 là độ số Âm Thổ theo Hậu thiên Bát quái, kết thúc chu kỳ vận động của sự vật, hiện tượng, hoàn toàn phù hợp với ý nghĩa tương giao âm dương. Câu thơ trên nói với chúng ta rằng Mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân là hành Thổ theo Dịch lý, là hành trung tâm, nơi phát xuất và cũng là nơi thu tàng, tức là nguồn cội của đất nước Văn Lang vậy. Ngoài ra, ca dao người Việt chúng ta cũng thường gọi ông trăng là trăng già: Trăng bao nhiêu tuổi trăng già, Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non. Rõ ràng trăng Lạc Long Quân có một khuôn mặt già, là một người già. Ta cũng thấy trăng già Lạc Long Quân đi đôi với núi âm non Âu Cơ. Trăng liên hệ với Cóc như theo truyền thuyết Trung Quốc trên mặt trăng có con Cóc ba chân. con Cóc ba chân là khuôn mặt đối nghịch với con Quạ ba chân thấy trên mặt trời. Quạ 3 chân Tranh Phục Hy Nữ Oa cổ, Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Mặt trăng là tượng trưng tinh hoa, mang đặc tính của thái âm, cũng còn gọi là cung Quảng Hàn, mặt trăng sáng nhất là vào ngày rằm tháng Tám âm lịch, mùa thu hàng năm, kết tụ ánh sáng giữa mặt trăng là con Cóc ba chân, là hình tượng tinh hoa của chữ Khoa đẩu hình con nòng nọc, chứ không phải là hình tượng con ngọc thỏ như về sau đã bị Hán hóa, con thỏ chỉ là thú cưng chuyên giã thuốc tiên cho Hằng Nga. Ngày rằm hai khí âm dương giao hòa, là lúc trẻ em vui chơi, ca hát. Ngày 15 tháng Tám âm lịch theoNguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ chính là ngảy đản sinh vua Đế Minh - vua Ánh sáng. Tuy rằng con thỏ cũng lanh lợi thông minh tượng trưng cho tinh hoa mà còn ma mãnh nữa, nhưng con Cóc chẳng nói gì mà uyên thâm vì còn là “Cậu ông Trời”. trong khi đó, truyền thuyết dân gian trên mặt trăng có chị Hằng hay nàng tiên tên là Hằng Nga. Trong Đạo giáo, Hằng Nga được coi là vị thần mặt trăng (Nguyệt Thần), gọi là Thái Âm tinh quân, tôn xưng là Nguyệt Cung Hoàng Hoa Tố Diệu Nguyên Tinh Thánh Hậu Thái Âm Nguyên Quân, hoặc là Nguyệt Cung Thái Âm Hoàng Quân Hiếu Đạo Minh Vương. Trong văn hóa dân gian Việt, còn có câu truyện trẻ em nổi tiếng liên quan những đêm trăng sáng Sự tích Chú Cuội ngồi gốc cây Đa. Ngày xưa ở một miền nọ có một người tiều phu tên là Cuội. Một hôm, như lệ thường, Cuội vác rìu vào rừng sâu tìm cây mà chặt. Khi đến gần một con suối nhỏ, Cuội bỗng giật mình trông thấy một cái hang cọp. Nhìn trước nhìn sau anh chỉ thấy có bốn con cọp con đang vờn nhau. Cuội liền xông đến vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay trên mặt đất. Nhưng vừa lúc đó, cọp mẹ cũng về tới nơi. Nghe tiếng gầm kinh hồn ở sau lưng, Cuội chỉ kịp quẳng rìu leo thoắt lên ngọn một cây cao. Từ trên nhìn xuống, Cuội thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết. Nhưng chỉ một lát, cọp mẹ lẳng lặng đi đến một gốc cây gần chỗ Cuội ẩn, đớp lấy một ít lá rồi trở về nhai và mớm cho con. Chưa đầy ăn giập miếng trầu, bốn con cọp con đã vẫy đuôi sống lại, khiến cho Cuội vô cùng sửng sốt. Chờ cho cọp mẹ tha con đi nơi khác, Cuội mới lần xuống tìm đến cây lạ kia đào gốc vác về. Dọc đường gặp một ông lão ăn mày nằm chết vật trên bãi cỏ, Cuội liền đặt gánh xuống, không ngần ngại, bứt ngay mấy lá nhai và mớm cho ông già! Màu nhiệm làm sao, mớm vừa xong, ông lão đã mở mắt ngồi dậy. Thấy có cây lạ, ông lão liền hỏi chuyện. Cuội thực tình kể lại đầu đuôi. Nghe xong, ông lão kêu lên: Trời ơi! Cây này chính là cây có phép "cải tử hoàn sinh" đây. Thật là trời cho con để cứu giúp thiên hạ. Con hãy chăm sóc cho cây nhưng nhớ đừng tưới bằng nước bẩn mà cây bay lên trời đó! Nói rồi ông lão chống gậy đi. Còn Cuội thì gánh cây về nhà trồng ở góc vườn phía đông, luôn luôn nhớ lời ông lão dặn, ngày nào cũng tưới bằng nước giếng trong. Từ ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Hễ nghe nói có ai nhắm mắt tắt hơi là Cuội vui lòng mang lá cây đến tận nơi cứu chữa. Tiếng đồn Cuội có phép lạ lan đi khắp nơi. Một hôm, Cuội lội qua sông gặp xác một con chó chết trôi. Cuội vớt lên rồi giở lá trong mình ra cứu chữa cho chó sống lại. Con chó quấn quít theo Cuội, tỏ lòng biết ơn. Từ đấy, Cuội có thêm một con vật tinh khôn làm bạn. Một lần khác, có lão nhà giàu ở làng bên hớt hải chạy đến tìm Cuội, vật nài xin Cuội cứu cho con gái mình vừa sẩy chân chết đuối. Cuội vui lòng theo về nhà, lấy lá chữa cho. Chỉ một lát sau, mặt cô gái đang tái nhợt bỗng hồng hào hẳn lên, rồi sống lại. Thấy Cuội là người cứu sống mình, cô gái xin làm vợ chàng. Lão nhà giàu cũng vui lòng gả con cho Cuội. Vợ chồng Cuội sống với nhau thuận hòa, êm ấm thì một hôm, trong khi Cuội đi vắng, có bọn giặc đi qua nhà Cuội. Biết Cuội có phép cải tử hoàn sinh, chúng quyết tâm chơi ác. Chúng bèn giết vợ Cuội, cố ý moi ruột người đàn bà vứt xuống sông, rồi mới kéo nhau đi. Khi Cuội trở về thì vợ đã chết từ bao giờ, mớm bao nhiêu lá vẫn không công hiệu, vì không có ruột thì làm sao mà sống được. Thấy chủ khóc thảm thiết, con chó lại gần xin hiến ruột mình thay vào ruột vợ chủ. Cuội chưa từng làm thế bao giờ, nhưng cũng liều mượn ruột chó thay ruột người xem sao. Quả nhiên người vợ sống lại và vẫn trẻ đẹp như xưa. Thương con chó có nghĩa, Cuội bèn nặn thử một bộ ruột bằng đất, rồi đặt vào bụng chó cũng sống lại. Vợ với chồng, người với vật lại càng quấn quít với nhau hơn xưa. Nhưng cũng từ đấy, tính nết vợ Cuội tự nhiên thay đổi hẳn. Hễ nói đâu là quên đó, làm cho Cuội lắm lúc bực mình. Ðã không biết mấy lần, chồng dặn vợ: Có đái thì đái bên Đông, Đừng đái bên Tây, cây dông lên trời. Nhưng vợ Cuội hình như lú ruột, lú gan, vừa nghe dặn xong đã quên biến ngay. Một buổi chiều, chồng còn đi rừng kiếm củi chưa về, vợ ra vườn sau, không còn nhớ lời chồng dặn, cứ nhằm vào phía Tây gốc cây quý mà đái. Không ngờ chị ta vừa đái xong thì mặt đất chuyển động, cây đảo mạnh, gió thổi ào ào. Cây đa tự nhiên bật gốc, lững thững bay lên trời. Vừa lúc đó thì Cuội về đến nhà. Thấy thế, Cuội hốt hoảng vứt gánh củi, nhảy bổ đến, toan níu cây lại. Nhưng cây lúc ấy đã rời khỏi mặt đất lên quá đầu người. Cuội chỉ kịp móc rìu vào rễ cây, định lôi cây xuống, nhưng cây vẫn cứ bốc lên, không sức nào cản nổi. Cuội cũng nhất định không chịu buông, thành thử cây kéo cả Cuội bay vút lên đến cung trăng. Từ đấy Cuội ở luôn cung trăng với cả cái cây quý của mình. Mỗi năm cây chỉ rụng xuống biển có một lá. Bọn cá heo đã chực sẵn, khi lá xuống đến mặt nước là chúng tranh nhau đớp lấy, coi như món thuốc quý để cứu chữa cho tộc loại chúng. Những đêm trăng sáng, nhìn lên mặt trăng, người ta thấy một vết đen giống một cây đa có hình người ngồi dưới gốc, người ta gọi cái hình ấy là hình chú Cuội ngồi gốc cây đa. Từ đấy, dân gian có bài thơ rằng: Chú Cuội ngồi gốc cây đa, Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời. Cha còn cắt cỏ trên Trời, Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên. Ông thời cầm bút cầm nghiên, Ông thời cầm tiền đi chuộc lá đa. Nhằm giải mã câu chuyện cổ tích này, chúng ta hãy xem đồ hình dưới đây được một phong thủy gia Đài Loan công bố vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX, trên đồ hình này căn cứ theo Lạc Thư phối Hậu Thiên Văn Vương: Lạc Thư phối Hậu Thiên và Hà Đồ phối Hậu Thiên file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image022.jpg Tuy nhiên, trên cơ sở Hậu thiên Lạc Việt Phối Hà Đồ đã chỉnh lý từ việc chuyển đổi Tốn - Khôn thì cung Chấn, phương Đông với ý nghĩa Sức Khỏe vẫn không thay đổi. Như vậy, trên đồ hình Bát quái Hậu thiên không kể Lạc Việt hay cổ thư, phương Đông thuộc dương Mộc ứng với quái Chấn, hình tượng của cây to và theo Bát cung thì cung Chấn đông phương ứng với cung Sức Khỏe, theo phong thủy bát trạch không kể cổ thư hay Phong thủy Lạc Việt. Sự trùng hợp khi trong cây chuyện kể chi tiết quan trọng được thể hiện chính là cây Đa, cũng là một loại cây to và sống lâu năm, là loại cây thuốc giúp con người "cải tử hoàn sinh". Sự mạnh và yếu, khỏe và bệnh, chết và sống, là trạng thái thể chất tiêu cực và tích cực đều thuộc phạm trù “sức khỏe”. Vì vậy, hình tượng quái Chấn dương mộc thuộc là cung Sức Khỏe trùng khớp với nội dung câu truyện có yếu tố cây Đa thần dược chữa bệnh và “cải tử hoàn sinh”. Trong đó quan trọng ở chi tiết, Cuội trồng cây ở “góc vườn phía Đông”, như vậy phương vị, tượng quái và ý nghĩa của cung đã được định vị rõ ràng và trùng khớp với hình tượng trọn vẹn quái Chấn, Dương mộc, cung Sức Khỏe và Đông phương. Sách Nhập môn Chu Dịch dự đoán học, tác giả Thiệu Vĩ Hoa, trang 46:“Tượng Chấn: Chấn là sấm, là đế vương, là con trai cả, là chủ, là tổ, là tông, là ông, là chư hầu, là bách quan, là kẻ sĩ, là chồng, là hành nhân, là đồ vật chính, là vương thần, là quân tử, là trăm thứ ngũ cốc, là tiền đồ rộng lớn, là đường bằng phẳng, là cỏ dại, là cây thấp, là lăng, là ngựa, là hưu lộc, là cái làn, là gót chân, là ngón cái, là dày, là đâmvào, là trống, là ra, là sống, là ban đầu, là bên trái, là dần dần, là đi, là làm, là khởi đầu, là bôn ba, là sống lại, là phấn chấn, là giơ lên, là kính trọng, là cấm, là đầu, là uy, là nhân nghĩa, là kinh sợ, là nói, là cười, là kêu, là âm thanh,là lời cáo, là vui, là kế giữ, là xuất chinh.”. Một sự rõ ràng ngay trong chú giải ý nghĩa quái Chấn cũng thể hiện một ý nghĩa tương đồng với nội dung câu truyện nói về công dụng hiệu lực của cây thần có khả năng “cải tử hoàn sinh”. Một chi tiết quý báu đẩy cao trào câu truyện: Có đái thì đái bên Đông, Đừng đái bên Tây, cây dông lên trời. Đây là ẩn ngữ, là chìa khóa cho bí ẩn phải chuyển đổi hai quái Tốn và Khôn, cũng cuốn sách trên của tác giả Thiệu Vĩ Hoa, trang 45 có đoạn như sau: Tượng Khôn: Khôn là đất, là sau, là thần, là vợ, là dân. Là bầy đàn, là số đông, là tiểu nhân, là thị dân, là bọn trộm cướp, là mẹ, là phụ nữ, là dì, là thành trì, là ruộng, là một bang, là nhà cửa, là gia trạch,... Tượng Tốn: Tốn là gió, là sương, là trưởng nữ, là trinh nữ, là phụ nữ, là vợ, là người trong cung... Qua hai đoạn trích dẫn giải ý nghĩa của tượng quái thì sự trùng hợp giữa hai Quái đều có nghĩa là người vợ. Như vậy, yếu tố thứ hai xác định chìa khóa giải mã là hình tương vợ của Cuội “Có đái thì đái bên Đông - Đừng đái bên Tây, cây dông lên trời”. Tượng Khôn là đất và là vợ và tượng Tốn là gió, mối tương tác để gây nên bi kịch là người vợ và cây thần “Cải tử hoàn sinh” cho biết mối tương quan về vị trí Tốn Khôn mà trong đó vị trí này phải lấy Đông mộc, quái Chấn làm mốc. Hình tượng người vợ của Cuội là hình tượng của mối tương tác, tương quan của vị trí hai quái Tốn - Khôn và hành động “đái” của người vợ là biểu hiện cho chuyển đổi hai Quái Khí này. Ta xem lại đồ hình Bát quái Hậu Thiên được cho là Văn Vương: Hậu thiên Văn Vương file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image024.jpg Rõ ràng với đồ hình Hậu Thiên Văn Vương thì quái Khôn ở Tây Nam về phía phương Tây, quái Tốn và quái Chấn là hình ảnh ứng với gió ở phía dưới mà cây ở bên trên, trùng khớp với chi tiết của chuyện là: Có đái thì đái bên Đông - Đừng đái bên Tây, cây dông lên trời. Và chi tiết: “Không ngờ chị ta vừa đái xong thì mặt đất chuyển động, cây đảo mạnh, gió thổi ào ào.Cây đa tự nhiên bật gốc, lững thững bay lên trời”. Đồ hình mô phỏng hiện tượng file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image026.jpg Gió dưới cây trên là hình ảnh của “Cây đa tự nhiên bật gốc, lững thững bay lên trời.”. Hình tượng hai quái Chấn - Cây (trên) và Tốn - Gió (dưới) dưới đây, rỏ ràng tương thích với hiện tượng gió thổi "Cây đa tự nhiên bật gốc, lững thững bay lên trời”. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image028.jpg Như vậy hậu quả của việc đái không đúng chổ của người vợ làm cây bay lên trời và câu dặn dò như cảnh báo: “Đừng đái bên Tây, cây dông lên trời”. Bởi Cuội đã biết hậu quả như thế nào khi thực hiện hành động đó. Như vậy, vị trí Tốn nằm phía dưới Chấn là một vị trí hoàn toàn không hợp lý cho một nguyên lý về sự sắp xếp Bát quái. Hình tượng người vợ do vậy phải chính là tượng Khôn và nếu người vợ “đái” đúng vị trí ở hướng Đông thì sao? Ta thử nhìn đồ hình Bát quái Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ: Hậu thiên Lạc việt phối Hà Đồ Trích Hà đồ trong văn minh Lạc Việt, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Hình tượng Chấn - Cây (trên) và Khôn - Đất (dưới) là hình tượng tương thích cho hiện tượng cây đứng trên mặt đất. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Rõ ràng thể hiện quái Chấn tượng mộc, tức là cây đang đứng trên đất là quái Khôn, đất ở phía dưới, hình tượng này là một hình tượng hoàn toàn hợp lý cho quy luật tự nhiên là “Cây ở trên đất” - nghĩa là một kết cục tốt đẹp, trọn vẹn đem lại hạnh phúc cho thế gian khi cây thần “cải tử hoàn sinh” không bay lên trời, nếu người vợ “đái đúng chỗ”. Từ đây hiển thị một mật ngữ nhắn gửi, nếu quái Khôn để đúng vị trí về phương Đông, phía dưới quái Chấn thì sự hoàn chỉnh trọn vẹn của nguyên lý học thuật cổ đông phương sẽ được mở ra. Nghĩa “cải tử hoàn sinh” ở đây khi cây Đa thần còn ở lại thế gian, tức là cây đứng trên đất, làm hiển hiện sự hồi sinh một lý thuyết hoàn chỉnh qua một nguyên lý căn để là Hậu thiên Bát quái phối Hà đồ đã đổi chỗ Tốn Khôn. (Tham khảo và trích dẫn Giả mã câu truyện Sự tích Chú Cuội ngồi gốc cây Đa, tác giả Bùi Anh Tuấn). Mặt khác, chúng ta cũng đã biết “cây Đa” biểu tượng của “Tam Đa” cũng chính là biểu tượng cho “Tam Dương” Đế Minh - Kinh Dương Vương - Lạc Long Quân trong lịch sử Văn Lang, hay Shiva - Vishnu - Brahma trong Bà La Môn giáo, hoặc Amun - Ra - Osiris trong tôn giáo Ai Cập cổ đại, thể hiện sự “thuần Dương” trong các bí pháp tu luyện của đạo Bà La Môn, Phật giáo, Đạo giáo… sau này đạo Cao Đài chính thức được Ngọc Hoàng Thượng Đế thành lập ở Việt Nam trong giai đoạn mạt pháp, dĩ nhiên tương ứng là “Tam Âm” tức là chính thất của cái ngài. Mặt dầu vậy, sự hiểu biết về mặt lý thuyết “Tính Thấy”, “Tính Không” và “Bản Ngã” là cần thiết nhưng cũng cần phải thực hành đúng phương pháp mới đạt được sự “trường sinh bất tử”, như mô tả trong Chương IX: TRƯỜNG SINH BẤT TỬ. Hình ảnh cá chép xuất hiện trong các bức tranh dân gian Hàng trống như bức Lý ngư vọng Nguyệt, bức tranh này kết hợp với tranh Cao quý đồ quan vẽ một con chim công đang múa, chim công mang hình bóng Mẫu Âu Cơ tạo sẽ thành bộ tranh nhị bình đẹp tuyệt vời, thường được treo trong phòng khác của mỗi gia đình người Việt: Cao quý đồ quan & Lý ngư vọng nguyệt Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Hình ảnh của cá chép chính là đại diện cho kim tiền - cá chép thuộc hành Thủy, phương Bắc, “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài” là câu nói dân gian trong phong thủy học, được minh họa trong bộ tranh dân gian Đông Hồ Ngũ Phúc. Hình ảnh con cá chép tương ứng Cóc 3 chân. Tết Trung thu mang ý nghĩa là ngày hội hợp của cá Chép Lạc Long Quân và ánh trăng Âu Cơ, ngày Tết Trung thu là ngày đẹp trong một khung cảnh trăng thanh, gió mát của cha mẹ trong niềm vui với con cái và trẻ nhỏ, đây là ngày tết của trẻ em, còn được gọi là “Tết trông Trăng". Trẻ em rất mong đợi được đón tết này vì thường được người lớn tặng đồ chơi, thường là đèn lồng hình ông sao, con cóc, con cá, gà trống, quả cầu, trống ếch, trống quân, pháo tép, mặt nạ... rồi bánh nướng vuông, bánh dẻo tròn. Thời điểm trăng lên cao, trẻ em sẽ vừa múa hát vừa ngắm trăng phá cỗ. Đồng thời, người lớn còn tổ chức múa rồng, múa lân để các em vui chơi thỏa thích. Chúng ta hãy xem lại hội “Đèn Quảng Chiếu” diễn ra tết Nguyên Tiêu vào thời nhà Trần, mà Phật Hoàng Trần Nhân Tông mô tả trong Tùy Đường diễn nghĩa - Hồi Thứ 17: “Tề Quốc Viễn mãi vui cuộc đá cầu gấm - Sài quận mã cùng bạn xem hội đèn hoa”. … Những lầu các treo đèn phần nhiều là cảnh ảo của một đêm, thường được kết bằng những cây lau, cây trúc, rồi bên ngoài khoác lụa hoa gấm màu vào, giả màu phú quý, ở bên trong thì treo đèn kỳ lân, trên đèn kỳ lân thì có biển đề bốn chữ lớn, dát vàng lấp lánh: "Vạn thú tề triều”, trên cửa lầu cao giăng một câu đối, vế phải viết: Triều Chu gặp điềm lành, Chúa Thánh ra đời, quốc hữu đạo. Vế trái viết: Nhà Tùy hưởng phúc tốt, Vua nhân trị nước, thọ vô cương. Phía dưới đèn kỳ lân, là nhiều các loại đèn hình thú khác vây quanh. Đèn rái cá, miệng há móng giơ, Đèn sư tử, lờ mờ đôi mắt. Đèn con cọp, như nhảy lên cao, Đèn con beo, muốn kêu như sấm. Đèn hươu gấm, miệng ngậm đóa hoa, Đèn khỉ già, trèo cây bứt quả. Đèn ngựa vằn, vó đá như chơi, Đèn con voi, to như ngôi báu. Các đèn hình thú, cái nào cũng đẹp, không thể nào kể hết. Lại còn hình hai vị người xưa, cưỡi hai ngọn đèn hình thú, bên phải là Hạnh Đồng Đế Quân, cưỡi một đèn hình lừa trắng, đang từ từ sa xuống cõi trần, bên trái là Ngọc Thanh Lão Tử, cưỡi một đèn hình trâu xanh, đang đi ra khỏi cửa Dương Quan ở phía Tây. Hãy còn bốn câu thơ làm bằng chứng sau đây: Đèn thú rung rinh kể đã nhiều, Lên lên xuống xuống khẽ quay đều. Kỳ Lân là chúa muôn loài đó, Dẫn hướng sinh linh, mở đại triều. Mọi người xem xong khóm đèn kỳ lân ở dinh Tư mã, lại kéo nhau qua dinh Binh bộ thượng thư, rồi sang dinh Dương Tố. Dọc các phố, dân chúng cũng treo những đèn lồng nhỏ, bày bài vị thiên tử, thắp nến đốt hương, sáng chẳng kém gì ban ngày. Chẳng mấy lúc, đã đến cửa lớn của dinh Dương Tố, lầu cao dựng ngay trước cổng, tất cả đều treo các loại đèn hình chim, trên cửa lầu cũng có biển, khắc bốn chữ lớn: "Thiên triều nghi phượng", hai bên là hai câu đối: Cánh Phượng liệng trời Nam, người đều chịu phúc Râu Rồng nghiêng bể Bắc, dân được nhờ ơn. Dưới đèn hình chim phượng hoàng, là hàng loạt đèn hình chim khác: Đèn con hạc đậu cành tùng, Đèn gà gấm, lượn trên từng mây xanh. Trong rừng liễu, đèn con oanh, Đèn con công, đứng bên cành tường vi. Vẹt, cuốc, mỏ nhát, le le, Mỗi loài mỗi vẻ le te theo đòi. Người ôi! Mở mắt mà coi… Các hình đèn chim này cũng thế, cái nào cũng lung linh sáng ngời, trăm phần hoa mỹ, kể thật không hết. Hai phía phải trái, cũng có hai hình người xưa cưỡi hai đèn hình chim, vì nhân lễ mừng sinh nhật Dương Tố, phía bên phải là hình Tây Trì Vương Mẫu, cưỡi chim thanh loan, từ Dao Trì bay xuống dự yến, phía trái là hình Nam Cực Thọ Tinh, đang cưỡi chim bạch hạc Hải ốc hạ xuống mừng thọ. Hãy còn bốn câu thơ làm chứng sau đây: Đèn chim chen chúc đậu non cao, Hãnh diện hơn thua được dự vào. Xanh thẫm tầng mây, vua Phượng ngự, Muôn loài vỗ cánh động trăng sao. … Đến trước cửa Ngũ Phượng lâu, người đông nghẽn cả lối đi. Trước mặt Ngũ Phượng lâu, dựng thêm Ngự đăng lâu, có hai viên đại thái giám, ngồi trên hai ghế dựa khảm hoa bạc, bên trái là Ty lễ giám Bùi Tịch, bên phải là Nội kiểm điểm Tôn Khánh. Lại có năm trăm quân cấm vệ, mặc áo gấm có thêu hoa tròn, mỗi người đều cầm côn sơn màu đỏ, đứng nghiêm chỉnh trước Ngự đẳng lâu. Tòa lầu này không chỉ làm bằng lụa là, gấm vóc bình thường, mà còn dùng những thứ nguyên liệu, hương liệu của hải ngoại, rồi những thứ châu ngọc, vàng bạc trong cung, cũng được mang ra trang hoàng, thật xứng đáng với tên Ngự đăng lâu vậy. Trên cửa lầu cao, cũng có treo tấm biển, khảm bốn chữ lớn: "Quang chiếu thiên hạ" Hai bên là hai câu đối khảm vàng: Ba nghìn thế giới vang đàn hát, Mười mấy đô thành mượt gấm nhung. Trong cuộc biểu diễn múa rồng, múa lân (múa sư tử) cần những người có võ nghệ giỏi, sức khỏe dẻo dai, phô diễn các động tác nguy hiểm, đẹp mắt dưới sự điểu khiển biểu diễn của một tay trống điêu luyện, nhịp điệu trống rộn ràng, như thúc dục vũ điệu của rồng và lân, một đội sinh tay cầm cây gậy cắm quả cầu cùng biểu diễn chung. Ngoài ra còn có chú hề tên là Tễu, tay cầm quạt, chú Tễu cũng là nhân vật tiêu biểu của sân khấu rối nước. Tễu là hình tượng người nông dân làm ruộng, một chàng trai hoạt bát, hóm hỉnh, ngộ nghĩnh, cùng diễn chung với rồng và lân, làm nhiệm vụ chọc cười khán giả. Múa Lân và múa Rồng Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Rồng là Kinh Dương Vương, Lân là Vua Hùng Vương, chú Tễu tay cầm quạt làm trò mà dân gian thường gọi là ông Địa chính là Lạc Long Quân, quả cầu mang biểu tượng Thái cực tùy trạng thái phối hợp với Rồng, Lân thành các quẻ trong Dịch lý gọi là quả Càn Khôn. Ngày rằm tháng Tám âm lịch là ngày sinh nhật vua Đế Minh. Cũng trong dịp Tết Trung Thu người ta mua bánh, trà, rượu để cúng tổ tiên, biếu ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè, họ hàng, và các ân nhân khác. Tết Trung thu là dịp tốt để con cháu tỏ lòng biết ơn ông bà cha mẹ và để mọi người quan tâm, săn sóc lẫn nhau.<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Thùng thình thùng thình trống rộn ràng ngoài đình, Có con sư tử vui múa quanh vòng quanh. Trung thu liên hoan trăng sáng ngập đường làng, Dưới ánh trăng vàng em cất tiếng hát vang. Trò chơi của trẻ em trong dịp Tết trung thu không thể thiếu những chiếc đèn lồng hình con cá, quả cầu, ông sao… rực sáng, và không thể thiếu một loại lồng đèn rất đặc biệt, đó là chiếc Đèn kéo quân. Đèn kéo quân và lồng đèn Sản phẩm văn hóa Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Khen ai khéo kết (ối a cái) đèn cù. Voi giấy (ối a) ngựa giấy, tít mù (nó lại) vòng quanh. Bao giờ em bén (cái) duyên anh, Voi giấy (ối a) ngựa giấy vòng quanh. (ối a cái) tít mù (mà) Khen ai, khéo kết (ối ai cái) đèn cù… Trích bài Khen ai khéo kết cái đèn cù - nhạc sĩ Đỗ Nhuận. Ngày xưa, gần đến dịp Tết Trung Thu, theo lệnh vua, dân chúng nô nức thi nhau chế ra những chiếc đèn kỳ lạ nhưng không có chiếc đèn nào làm cho Vua vừa ý. Bấy giờ, có một nông dân nghèo khó tên là Lục Đức. Lục Đức mồ côi cha, ăn ở với mẹ rất hiếu thảo. Một hôm nằm mơ, Lục Đức thấy một vị thần râu tóc bạc phơ hiện ra phán rằng: Ta là Thái Thượng Lão Quân, thấy nhà ngươi nghèo khó nhưng ăn ở hiếu thảo với mẹ, vậy ta bày cho ngươi cách làm chiếc đèn dâng vua. Hôm sau theo lời dặn của Thần, Lục Đức cùng mẹ lấy những thân trúc trắng cùng giấy màu để làm chiếc đèn. Thời gian qua mau, khi chiếc đèn làm xong là ngày rằm tháng Tám cũng vừa đến. Chàng vui mừng cùng mẹ đem chiếc đèn vào kinh thành dâng vua. Nhà vua xem, thấy chiếc đèn vừa lạ, vừa nhiều màu sắc lại biết chuyển động nên rất hài lòng. Khi vVua hỏi ý nghĩa của chiếc đèn, Lục Đức theo lời Thần tâu rằng: Thưa bệ hạ, thân trúc ở giữa đèn là biểu hiện trục Càn Khôn, cái chong chóng quay sáu mặt biểu tượng cho sáu cá tính của con người: thương, ghét, giận, buồn, vui, hờn. Cái chong chóng quay luôn luôn, tượng trưng cho con người hay thay đổi cũng có căn do, đó là đạo làm người. Chong chóng quay luôn cũng nhờ ánh đèn soi sáng, thì con người tốt lành cũng nhờ đạo đức. Sáu mặt của chiếc đèn làm bằng giấy tươi sáng biểu hiện những cá tính của con người. Vua truyền đem đèn cho dân chúng cùng xem. Đèn đốt lên làm quay chong chóng. Hiện lên sáu màu sắc rực rỡ là hình ảnh vua, quan, người, ngựa nối đuôi nhau. Tất cả những hình nhân trên đèn được làm bằng giấy nhờ sự khéo léo của mẹ con Lục Đức. Vua ban thưởng cho mẹ con chàng rất hậu và phong cho Lục Đức làm Vạn Hộ Hầu. Từ đó, mối khi đến tết Trung thu, nhớ lại sự tích người con hiếu thảo Lục Đức dân chúng đua nhau bắt chước chàng làm nên những chiếc đèn màu rực rỡ gọi là Đèn kéo quân. Đèn kéo quân với sáu mặt quanh xung quanh trục Càn Khôn, thể hiện 6 quẻ trong Kinh Dịch, chỉ với 6 quẻ này mà thể hiện được sự biến dịch của mọi sự vận động của tự nhiên, xã hội và con người. Tam Âm Tam Dương Trích Tìm về cội nguồn Kinh Dịch, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Có nhiều kiểu múa rồng, múa lân biểu diễn trong ngày hội này thời xưa, chúng được điều khiển bởi một tay trống cái, với những âm thanh của thanh la, não bạt phụ họa, tạo nên một không khí vui chơi cho trẻ em vô cùng phấn khích và nhộn nhịp: - Độc chiếm ngao đầu: Một con lân màu đỏ biểu diễn, màu đỏ làm chủ đạo, thể hiện tài tả xung hữu đột, tiến thoái nhịp nhàng, bộ pháp hùng dũng, nhảy cao, trèo giỏi, tượng trưng cho cái uy dũng của một mãnh tướng, một hảo hán, một vị anh hùng. Độc chiếm ngao đầu còn mang ý nghĩa người đoạt giải Trạng Nguyên trong kỳ thi Hội của các triều đình vua chúa thời xưa. - Song hỷ lâm môn: Hai con lân với hai màu đỏ và vàng cùng biểu diễn, thể hiện niềm hân hoan khoan khoái, tâm đầu ý hợp như loan với phụng, như vợ với chồng, như đất trời, âm dương tương hợp. - Tam Đa: Ba con lân hợp múa với ba màu vàng, đỏ, đen, thể hiện sự mong ước của mọi người đạt được nhiều phúc, nhiều lộc, nhiều thọ. - Tứ Quý Hưng Long: Bốn con lân hợp múa với bốn màu trắng, đỏ, xanh lá, đen, tượng trưng sự vận động của bốn mùa, diễn tả sự trường thọ và hạnh phúc. Múa rồng cũng xuất hiện trong Tết Nguyên Tiêu và các dịp lễ hội sau vụ thu hoạch mùa thu. Hình con rồng ta thường thấy trong các đội múa ngày nay mang dáng dấp con rồng truyền thống, nhưng không có chân, thân dài, mềm mại, có vây, vẩy, dọc lưng đến đuôi có hàng gai, hình rồng được làm bằng vải màu. Thông thường một đội hình múa rồng có 8 người, một người đội đầu, sáu người đội thân và một người đội đuôi, múa theo nhịp trống dân gian, khởi đầu giáo trống luôn luôn với 3 hồi 9 tiếng. - Rồng phun mưa hoặc Rồng vờn ngọc: Một con rồng vảy bạc biểu diễn cùng với một quả cầu. - Lưỡng Long tranh châu: hai con rồng vàng thể hiện tranh nhau một quả cầu. Chúng ta thường thấy hình tượng này rất phổ biến trên đỉnh mái đình, đền, chùa trên khắp nước Việt. - Rồng Lân Tễu: Thể hiện quẻ Tam Dương khai thái, chào mừng vận hội mới. Đặc biệt trong múa lân có một nhân vật rất kỳ lạ, gọi là chú Tễu, mặt to, tai lớn, bụng phệ, luôn tươi cười, tay phe phẩy chiếc quạt giấy, chú Tễu là một nhân vật biểu hiện của niềm lạc quan, yêu đời và thậm chí, nhiều lúc nhìn đời với cái cười rất khó hiểu. Thời xưa, người Việt còn tổ chức hát Trống quân trong dịp Tết Trung Thu. Điệu hát Trống quân theo nhịp ba “thình, thùng, thình”. Ngày xưa trai gái dùng điệu hát Trống quân để hát trong những đêm trăng rằm, nhất là vào rằm tháng Tám. Trai gái hát đối đáp với nhau vừa để vui chơi vừa để kén chọn bạn trăm năm. Người ta dùng những bài thơ làm theo thể thơ lục bát hay lục bát biến thể để hát. Đôi bên nam nữ vừa hát đối đáp với nhau, vừa đánh nhịp vào một sợi dây gai hoặc dây thép căng trên một chiếc thùng rỗng, bật ra những tiếng "thình thùng thình" làm nhịp cho câu hát. Những câu hát vận tức là hát theo vần, theo ý hoặc hát đố có khi có sẵn, có khi lúc hát mới ứng khẩu đặt ra. Cuộc đối đáp trong những buổi hát trống quân rất vui và nhiều khi gay go vì những câu đố hiểm hóc. Người hát sẽ ngồi thành hai hàng đối nhau, một bên là "Hát xướng", một bên là "Hát đáp", khi hát gõ vào tang trống để làm nhịp Khi hát trống quân có trống dẫn nhịp. Người ta còn gọi là trống này là "Trống thùng". Trống thùng được cấu tạo như sau: hai cọc được được cắm ở hai bên, một bên cọc là phe nam, một bên cọc là phe nữ đứng (hoặc ngồi). Một sợi dây thừng được buộc vào hai cọc, chính giữa sợi dây đặt một cái thùng, mặt rỗng úp xuống một hố đất nhỏ, mặt đáy trên sát sợi dây. Người ta gõ vào đầu dây ở phía cọc, dây bật vào đáy thùng mà kêu thành tiếng. Xưa kia, trống thùng làm bằng hai cọc tre cao khoảng 1 mét và một thanh gỗ gác ngang. Giữa thanh gỗ người ta đặt một thanh tre vuông góc, một đầu chống lên một miếng ván mỏng được đặt hờ trên một hố đất nhỏ. Khi đối đáp, bên nào hát dứt câu thì đánh vào trống thùng (là phần dây nơi đầu cọc hoặc đầu thanh gỗ) để làm nhịp "Lưu không", vừa để thúc giục phe bên kia hát đáp lại. Liên quan đến “Ông Trăng”, trong dòng tranh dân gian Đông Hồ còn có bộ tranh nhị bình Ông Tơ - Bà Nguyệt, các cụ kể lại, ngày xưa nhà nào có con lớn mà chưa dựng vợ, gả chồng thì tết đến chơi đôi tranh này. Trên tranh có ông Tơ cưỡi rồng, bà Nguyệt cưỡi phượng đang xe tơ kết tóc cho đôi trai gái. Bên cạnh có đôi câu đối: “Ông tơ xe chỉ thắm - Bà nguyệt kết giải đào”. Ông Tơ - Bà Nguyệt Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Ở Tây Hồ của Hàng Châu, Trung Quốc có Am Bạch Vân, trong có Miếu Thờ Nguyệt Lão. Nơi đây có câu liễn đối: Nguyện thiên hạ hữu tình nhân, đô thành liễu quyến thuộc, Thị tiền sanh chú định sự, mạc thác quá nhân duyên. Dịch nghĩa: Nguyện cho những đôi tình nhân trong thiên hạ, đều thành quyến thuộc của nhau, Nếu đã là chú định từ kiếp trước, thì đừng để lầm bỏ qua nhân duyên. Ông Lý Phục đời Đường đã kể lại trong quyển Tục U Quái Lục - Định Hôn Điếm rằng: Nguyên đời nhà Đường (618-907) có chàng nho sĩ tên Vi Cố, học giỏi, thi phú tài danh. Một hôm du học đến Đông Đô, giữa đêm trời quang mây tạnh, trăng sao vằng vặc, gió hiu nhẹ thổi, chàng thơ thẩn dạo chơi, chàng bỗng ngạc nhiên vì nhìn thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, ngồi dưới ánh sáng trăng, mắt nhìn vào quyển sổ to, tay se tơ đỏ. Trông người tiên phong đạo cốt. Vi Cố lấy làm lạ đến gần, hỏi: - Chẳng hay lão trượng ở đâu đến đây mà ngồi một mình giữa đêm khuya canh vắng? Còn sách này là sách chi và tơ đỏ này, cụ se làm gì? Cụ già đáp: - Ta là Nguyệt Lão, xem sổ định hôn của dân gian. Còn chỉ ta đương se là duyên của vợ chồng do tơ này buộc lại. Vi Cố mừng rỡ, yêu cầu cụ già cho biết duyên của mình. Cụ già mỉm cười nói: - Số duyên của nhà ngươi là con bé 3 tuổi của mụ ăn mày, thường ăn xin ở chợ Đông Đô. Vi Cố nghe nói hỡi ôi, buồn tủi không nói được tiếng. Cụ già biết ý, bảo: - Đó là duyên trời định. Già này không thay đổi được. Mà nhà ngươi muốn tránh cũng chẳng xong. Vi Cố buồn bã, từ giã lủi thủi đi về. Sáng hôm sau, Vi Cố ra chợ Đông Đô, quả thực trông thấy một mụ ăn mày dơ dáy, tay ẵm đứa bé gái 3 tuổi, thơ thẩn xin ăn ở góc chợ. Cố bực tức, mướn một gã lưu manh đâm chết được đứa bé kia, sẽ thưởng nhiều tiền. Tên lưu manh vâng lời, cầm dao xông đến, chém một nhát vào đầu đứa bé. Mụ ăn mày hốt hoảng, ôm con chạy. Nhìn thấy máu tuôn xối xả, tên lưu manh tưởng đứa bé đã chết, sợ bị bắt nên cuống cuồng chạy trốn. Mười lăm năm sau, Vi Cố đi thi đỗ Thám Hoa. Vào triều bái yết nhà vua xong, Cố ra lễ quan Tể Tướng họ Chu vốn làm chủ khảo khoa thi. Thấy quan tân khoa chưa vợ, quan Tể Tướng liền gả con gái cho. Vi Cố mừng rỡ, bái tạ. Đến khi nhập phòng, Cố nhìn thấy vợ mỹ miều, đẹp đẽ lấy làm hớn hở, vừa ý. Chợt nhìn ở sau ót có một vết thẹo, chàng lấy làm lạ hỏi. Nàng thành thật kể rõ thân thế mình vốn là con của mụ ăn mày, 15 năm về trước bị tên lưu manh ác độc, không biết có thâm thù gì lại chém nàng. May mẹ nàng nhanh chân chạy khỏi, nàng chỉ bị thương sau ót. Mẹ chết, nàng chịu cảnh bơ vơ, may Tể Tướng gặp giữa đường, vì không con nên đem về nuôi xem như máu huyết. Nghe vợ thuật, Vi Cố thở dài, lẩm bẩm: - Thật là duyên trời định, tránh đâu cũng không khỏi. Tuy than thở nhưng Vi Cố cũng lấy làm hả dạ, vì dù sao... vợ cũng đẹp và là con yêu của nhà quan to. Trong các nghi thức đám cưới của người Việt xưa đều có nghi lễ “Tơ hồng” còn gọi tế thần Tình duyên. Nguyệt lão là vị thần Tình duyên theo tích Vi Cố đời Đường, Trung Quốc đã kể trên. Theo đúng ý nghĩa tục lệ thì tế thần Tình duyên phải tổ chức tại phòng hoa chúc vào tối tân hôn. Về sau người ta bày ra tục lệ tế thần Tình duyên tại sân nhà. Nhất Thanh trong Đất lề quê thói viết: “Khi xưa tế Tơ Hồng ngay lúc sau khi đưa dâu về đến nhà, trước khi yết lễ tổ họ, lễ yết gia tiên và chào mừng ông bà cha mẹ họ hàng, ý rằng khi cô gái bước chân về đến nhà người ta là nên vợ chồng, lương duyên do ông Tơ chấp mối se lại, điều trước tiên là nghĩ đến công đức của Ông, tế lễ để ông chứng kiến việc hôn phối đã thành đồng thời tạ ơn Ông”. Lễ tế thần Tình duyên cử hành rất đơn giản, vật cúng Ông Tơ Bà Nguyệt là hương hoa, trái cây, xôi gấc đỏ, trà, rượu, gà luộc (không được cúng gà thiến). Gọi là "tế" vì có xướng tế và có đọc chúc văn. Đầu tiên người làm mai vào dâng hương khấn nguyện, tiếp theo là một cụ già đọc bài văn tế, nội dung không ngoài ý tán tụng công đức tác hợp mối duyên lành se chỉ thắm của Ông Tơ và dải lụa đào của Bà Nguyệt, mong được phù hộ độ trì cho cùng nhau ăn đời ở kiếp, sinh năm đẻ bảy vuông tròn, sau đó, đôi trai gái lạy 4 lạy 3 xá trước hai vị, rồi chồng mới lấy rượu mời vợ. Vợ bưng rượu mời chồng, uống xong, cả hai lấy hai cái chén úp lại, gọi là giao bôi hợp cẩn. Đôi trai gái vào lạy 4 lạy 3 xá, thể hiện cung Tốn đối xứng cung Cấn qua trung cung Hà đồ. Cung Tốn (Đầm) là biểu của Lạc Long Quân chính là Ông Tơ, và cung Cấn (núi) là biểu tượng của Âu Cơ chính là Bà Nguyệt, với Tám cung của Hà Đồ ứng với Đế Minh, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Quốc Vương và chính thất của các ngài. Sử sách coi vua Lạc Long Quân là ông Tổ của người Việt. Theo ghi nhận Lạc Long Quân mất ngày 18 tháng Hai (có chỗ ghi ngày 28), Mộ cụ ở Ba Đống, đồng Thượng, Bảo Đà cũ, nay là xã Bình Đà Thanh Oai (Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, Nhóm nghiên cứu thời tiền sử). Nước Nam khởi tổ lưu ơn trạch, Gìn nước, giúp dân, đức sáng ngời. Cha con nối tiếp Vương và Thánh, Bền vững non sông vạn vạn đời. Hùng Quốc Vương Hùng Quốc vương là con cả của vua Lạc Long Quân, người đặt tên nước Văn Lang Sách Việt Nam Phong Tục chép: xét về cái tục thờ Thần hoàng (thần Thành hoàng) này từ trước đời Tam Quốc trở về trước vẫn đã có, nhưng ngày xưa thì nhà vua nhân có việc cầu đảo gì mới thiết đàn cúng tế mà thôi. Đến đời nhà Đường, Lý Đức Dụ làm tướng, mới bắt đầu lập miếu Thần hoàng ở Thành Đô, kế đến nhà Tống, nhà Minh, thiên hạ đâu đâu cũng có lập miếu thờ. Nước ta thuở bấy giờ đang lúc nội thuộc, tục Tàu truyền sang đến bên này, kế đến Đinh, Lê thì việc thờ quỷ thần đã thịnh hành rồi. Nhưng cứ xét cái chủ ý lúc trước, thì mỗi phương có danh sơn (ngọn núi có tiếng), đại xuyên (sông lớn); triều đình lập miếu thờ thần sơn xuyên (núi sông) ấy để làm chủ tể (người đứng đầu). Kế sau, triều đình tinh biểu (làm cho thấy rõ công trạng, tiết tháo) những bậc trung thần nghĩa sĩ và những người có công lao với nước, thì cũng lập đền cho dân xã ở gần đấu thờ đấy. Từ đó, dân gian lần lần bắt chước nhau, chỗ nào cũng phải thờ một vị để làm chủ tể trong làng mình. Dân ta tin rằng: “Đất có Thổ công, sông có Hà bá”; cảnh thổ nào phải có Thần hoàng ấy; vậy phải thờ phụng để thần ủng hộ cho dân, vì thế mỗi ngày việc thờ thần một thịnh. Còn ở trong văn học Việt, theo các nhà nghiên cứu, thì việc thờ Thần hoàng được đề cập lần đầu tiên trong chuyện Thần Tô Lịch trong sách Việt điện U Linh, nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng tác giả của Việt điện U Linh là Lý Tế Xuyên, người đời nhà Trần. Ông soạn sách này vào năm 1329 (Việt điện U Linh, tr. 6. và Từ điển văn học, Nxb Thế giới, 2004, tr. 1994): Theo kinh sách Đạo giáo, Thành Hoàng là vị thần bảo vệ thành quách, thời viễn cổ đã có. Sau này trở thành vị thần bảo vệ các bang và quốc gia, diệt trừ ác bá, đem lại bình an cho mọi người, quản lý các vong hồn, làm cho mưa thuận gió hòa. Miếu Thành Hoàng ngoài việc tế tự Thành Hoàng còn tế tự 8 vị đại tướng quân, phán quan, đầu trâu, mặt ngựa, thần chung cổ cho đến 18 ty và Thập điện Diêm vương la. Đức Thánh Cả Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Sử sách và truyền thuyết không hề ghi lại ngày mất của vị vua Hùng đầu tiên hoặc cuối cùng, theo Nguồn gốc dân tộc Việt và những nền văn minh cổ ngày sinh và mất của một số vị vua và hoàng tộc đã đã lưu giữ hàng thiên niên kỷ qua trong các lễ hội và gia phả của các dòng họ. Tuy nhiên, chúng ta hiểu rằng ngày giỗ Tổ vua Hùng mùng 10 tháng Ba là ngày giỗ chung cho toàn bộ các vua Hùng và là dịp để những người Việt Nam tưởng nhớ đến cội nguồn từ thời huyền sử. Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng Ba. Thời Hùng Vương đã trở thành huyền sử, còn sót lại chăng chỉ còn là những tục ngữ ca dao và truyền thuyết lưu truyền trong dân gian. Nhưng ngày giỗ Tổ Hùng Vương vẫn ăn sâu vào tâm linh người Lạc Việt. Trải qua hơn 1.000 năm Bắc thuộc, dưới ách đô hộ phong kiến Bắc phương, tiếp theo là 1.000 năm hưng quốc với bao thăng trầm của lịch sử, tâm linh của người Lạc Việt vẫn luôn nhớ về cội nguồn. Ngày giỗ Tổ mùng 10 tháng Ba là một trong những ngày lễ hội thiêng liêng nhất của người Lạc Việt. Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên của người Lạc Việt, lần đầu tiên được chép lại trong cuốn sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp với tựa đề là Hồng Bàng Thị. Người viết lời tựa trong cuốn sách này là Vũ Quỳnh (1453-1516), người làng Mộ Trạch, huyện Đường An Hải Dương, ông viết bài tựa vào năm 1492. Người viết lời tựa sau cho cuốn sách này vào năm 1493 là Kiều Phú người làng Lạp Hạ, huyện An Sơn, tỉnh Sơn Tây, sinh năm 1450. Hai ông đã thừa nhận những truyện chép trong Lĩnh Nam Chích Quái đã được lưu truyền trong dân gian từ lâu. Trong bài tựa của mình , ông Vũ Quỳnh đã viết:“Những truyện chép ở đây là sử ở trong truyện chăng?”. Truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên được các nhà sử học Việt Nam ghi lại trong các bộ chính sử và nằm ở phần ngoại kỷ vì sự huyền ảo của câu chuyện. Đã có rất nhiều học giả phân tích tìm hiểu nội dung kỳ bí của truyền thuyết về thuở ban đầu lập quốc của người Lạc Việt. Những số liệu trong truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên có một sự liên hệ và trùng khớp một cách kỳ lạ với hai đồ hình nổi tiếng thiêng liêng trong truyền thuyết của nền văn minh Hán và liên quan đến ngày giỗ Tổ Hùng Vương, đó là Lạc Thư và Hà Đồ. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Độ số của Lạc Thư - Hà Đồ là 100 vòng tròn, trong đó có 50 vòng tròn đen, 50 vòng tròn trắng. Từ hai đồ hình trên, tạo ra hai hình vuông gọi là Cửu Cung Lạc Thư và Cửu Cung Hà Đồ. Hà Đồ Cửu cung file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Lạc Thư Cửu cung file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Qua đồ hình trên thì chúng ta nhận thấy rằng: - 100 quả trứng tương ứng với 100 vòng tròn. 50 người con theo cha tương ứng với 50 vòng tròn trắng, thuộc Dương, tượng là theo Cha (Dương). 50 người con theo mẹ ứng với 50 vòng tròn đen, thuộc Âm, tượng là theo Mẹ (Âm). - 15 bộ mà truyền thuyết nói tới trùng khớp với số của Ma Phương Lạc Thư có tổng ngang dọc chéo đều bằng 15 . - 18 đời vua trùng khớp với tổng số Cửu Cung Lạc Thư và Cửu Cung Hà Đồ. Ngày mùng 10 tháng Ba là một con số trùng với trung cung Hà Đồ đó là 5 - 10 thuộc về ngôi Hoàng Cực. Trong đó: tháng Ba là tháng Thìn (tượng là Rồng), trùng khớp với biểu tượng của Lạc Long Quân (giống Rồng) chính là tháng thứ 5 nếu kể từ tháng Tý tức tháng Một năm trước. Trong cách tính tháng của người Việt như sau: - Tháng Một: Tý; - Tháng Chạp - tháng thứ 2: Sửu; - Tháng Giêng - tháng thứ 3: Dần; - Tháng Hai - tháng thứ 4: Mão; - Tháng Ba - tháng thứ 5: Thìn/ Rồng. Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng Ba chính là một biểu tượng của nền văn hiến vĩ đại của người Lạc Việt. Như vậy, truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên và ngày giỗ Tổ Hùng Vương hoàn toàn trùng khớp một cách kỳ lạ với nội dung của Lạc Thư - Hà Đồ. Vấn đề cũng chưa phải dừng ở đây,trong truyền thuyết về thời Lập quốc của dân tộc Việt còn một chi tiết nữa là: 50 người con theo Mẹ Ấu Cơ suy tôn người con trưởng lên làm vua. 49 người con còn lại đi cai trị khắp nơi. Đây chính là số Đại Diễn trong Kinh Dịch dùng trong Bói cỏ thi - một phương pháp bói tối cổ của Đông phương. Nếu bạn hỏi tại sao lại phải bớt đi một mà không dùng số 50? Chính truyền thuyết Con Rồng - Cháu Tiên đã trả lời rất rõ ràng. Sự trùng khớp hợp lý đến kỳ lạ của các sản phẩm trí tuệ thuộc về văn minh Lạc Việt với một giá trị kỳ vĩ của văn hoá Đông Phương là thuyết Âm Dương Ngũ hành và Bát quái, đã cho thấy cội nguồn đích thức của những di sản văn hoá đó thuộc về văn minh Lạc Việt. Qua những tư liệu ở trên cho chúng ta thấy trong quá trình lịch sử, người Việt đã tồn tại nhiều ngày giỗ Tổ. Vậy cội nguồn đích thực của ngày giỗ tổ đích thực từ đâu trong ba ngày này: Đó chính là ngày 10 tháng Ba âm lịch là độ số của Trung Cung Hà Đồ. Hà Đồ file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image009.jpg<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Vậy tại sao lại có ngày 11 và ngày 12? Điều này rõ ràng trái với truyền thống văn hiến Việt - chỉ có một ngày giỗ. Vậy trong ba ngày trên : Mùng 10, 11 và 12 sẽ chỉ có một ngày duy nhất đúng và hai ngày kia là sự biến tướng của ngày chính thức. Xét trong phong tục cổ Việt và còn lưu truyền ở các vùng Nam Dương tử về ngày giỗ, có một hiện tượng rất đáng chú ý sau đây: Trong việc chọn ngày giỗ, có một tập quán chọn ngày sau ngày chết một ngày. Thí dụ, ngày mất là ngày mùng 8, thì giỗ vào ngày mùng 9. Ngày mất gọi là ngày Sinh (Tức ngày Dương) với ý nghĩa là trong ngày này, người thân vẫn còn sống dù chỉ một giờ. Về ý nghĩa sinh học thì người mất phải chờ sau 24 giờ, mới xác định được đã chết hẳn. Còn ngày hôm sau gọi là ngày Tử, và chọn làm ngày giỗ cho con cháu. Bởi vậy, sự xác định ngày giỗ Tổ Hùng Vương 10 tháng Ba là ngày chính thức, hoàn toàn chính xác. Còn các ngày sau đó là do sự thất truyền qua hàng ngàn năm Hán hóa về giá trị đích thực của ngày tôn vinh giá trị văn hiến Việt, qua sự giải thích trên, nên đã lùi lại một, hai ngày. Các trí giả uyên bác đời Nguyễn đã phục hồi lại những giá trị này: Lấy ngày 10 tháng Ba - độ số của Trung cung Hà Đồ - biểu tượng của nền văn hiến Việt - làm ngày tôn vinh tổ tiên. Thơ trên diện Thái Hòa và tranh gương Kinh thành Huế, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image011.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image013.jpg Bài Ngự chế của Vua Minh Mạng đề ở điện Thái Hòa, kinh thành Huế:<br style="mso-special-character: line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Văn hiến thiên niên quốc, Xa thư* vạn lý đồ. Hồng Bàng khai tịch hậu, Nam phục nhất Đường Ngu. Vạn năm văn hiến quốc, Sử sách vạn dặm xa. Hồng Bàng là tổ nước ta, Nước Nam trở lại như thời Thuấn Nghiêu. Nội dung của một bài thơ khác liên kết với nội dung bài Ngự chế làm sáng tỏ: Xa thư* quy nhất thống, Thịnh trị quản Hồng Bàng. Việt tộ chính đương dương, Cư trung ngưỡng thánh hoàng. Giang sơn nay thống nhất, Thịnh trị sánh Hồng Bàng. Nước Việt “dương” toàn thịnh, Thần dân ngưỡng Thánh Hoàng. * Xa thư: học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và các phương pháp ứng dụng cổ, kinh sách của Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo… Hình ảnh mặt biển mở rộng đón An Dương Vương đứng trên lưng thần Kim Quy đi xuống biển, đã chứng tỏ rằng: khi Âu Lạc mất nước đã khép lại một thời kỳ lịch sử vàng son của nền văn minh Văn Lang mà thần Kim Quy chính là biểu tượng cho nền văn minh đó. Thần Kim Quy là ai? Cũng sẽ được minh xác trong các chương sau. Hiện tại, trong việc tôn thờ, chúng ta thấy có sự hội nhập Thần Tài vào các thần bản gia như Thổ địa, ông Địa, ông Táo. Do đó, người Hoa làm ra một tấm bài vị gộp chung các danh hiệu của các vị Thần bản gia để thờ, mà người ta thường gọi là bài vị Thần Tài. Bài vị Thần Tài được vẽ trên một tấm kính, nền sơn đỏ, tất cả đều là chữ Hán màu nhũ vàng, vẽ một cái cổng mà hai trụ có rồng quấn, trên cổng có tấm bảng đề "Tụ bảo đường" nghĩa là ngôi nhà có tụ lại những thứ quí báu, phía dưới có vẽ một cái “Tụ bảo bồn” là cái chậu huyền diệu chứa của báu. Sau đây là một kiểu bài vị Thần Tài và các Thần bản gia: Một kiểu bài vị Thần Tài và các Thần bản gia Trích Tìm hiểu bàn thờ Thần Tài Ông Địa, tác giả Lưu Quốc Hùng file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image015.jpg 聚寶堂 : Tụ Bảo Đường: nhà chứa của quí báu. 招財 : Chiêu tài: mời gọi tiền của. 進寶 : Tiến bảo: dâng hiến bảo vật. 金枝初潑腳 : Kim chi sơ phát diệp: Cành vàng bắt đầu trổ lá. 銀樹正開花 : Ngân thụ chánh khai hoa: Cây bạc chính thức nở hoa. Hai câu trên là đôi câu đối đặt hai bên bài vị, trong một kiểu bài vị khác, đôi câu đối trên được viết là: Thổ năng sinh bạch ngọc: đất thường sinh ngọc trắng Địa khả xuất hoàng kim: đất khá xuất vàng ròng. 如意吉祥 : Như ý cát tường: tốt lành như ý muốn. 一帆風順 : Nhứt phàm phong thuận: thuận buồm xuôi gió. 四季平安 : Tứ quí bình an: bốn mùa bình an. Hai câu chữ lớn ở chính giữa là danh hiệu của các Thần bản gia để thờ phụng: 五方五土龍神 : Ngũ phương Ngũ thổ Long Thần 前後地主財神 : Tiền Hậu Địa Chủ Tài Thần Ngũ phương Ngũ Thổ Long Thần: năm vị Thần trấn năm hướng và năm vị Thần đất đai long mạch sắp đặt theo Ngũ Hành gồm: Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung ương. Năm vị Thần Ngũ phương: Hoàng đế (Trung ương), Bạch đế (hướng Tây), Hắc đế (hướng Bắc), Thanh đế (hướng Đông), Xích đế (hướng Nam). Năm vị Ngũ Thổ Long Thần: là năm vị Thần long mạch coi về đất đai, bảo hộ cư dân làm ăn sinh sống, gồm: - Thổ Công làm chủ nền nhà. - Thổ Thần làm chủ khu đất. - Thổ Địa cũng gọi là Môn Khấu Thổ Địa Tiếp Dẫn Tài Thần: Thần Thổ Địa trực ở cổng để tiếp dẫn Thần Tài vào nhà. - Thổ Phủ bảo hộ các kho hàng. - Thổ Kỳ cai quản mặt đất nói chung. Tiền Hậu Địa Chủ Tài Thần: gồm Tiền Địa Chủ Tài Thần và Hậu Địa Chủ Tài Thần. Tiền Địa Chủ Tài Thần: là Thần Tài của chủ đất trước. Thờ vị Thần này là có ý báo bổn tư nguyên, tức là báo đáp cái gốc, nhớ đến cái nguồn. Hậu Địa Chủ Tài Thần: là Thần Tài của chủ đất sau, tức là thờ vị Thần Tài của chủ đất hiện nay. (Thần Tài - Tín ngưỡng và Tranh tượng, tác giả Huỳnh Ngọc Trảng - Nguyễn Đại Phúc). Trên bàn thờ, ngoài bài vị Thần Tài còn có đặt phía ngoài tượng ông Địa và tượng Thần Tài. Đến cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, thần Đất và thần Tài ở xứ ta vẫn chưa khu biệt rõ. Trong Đại Nam quốc âm tự vị tác giả Huỳnh Tịnh Của, Sài Gòn, 1895 cắt nghĩa Thổ Thần và Tài Thần đều là “Thần Đất, Thần giữ tiền bạc” và đến tận bây giờ, Thần Tài và Thổ Địa vẫn được thờ chung như một cặp đôi bất khả phân ly. Thực tế, đối với người Hoa, Thổ Địa cũng là một trong các Thần Tài, bởi các loại nông phẩm từ đất sinh ra là thứ của cải, tài sản chủ yếu, mặt khác, cũng theo thuyết Ngũ hành tương sinh: Thổ sinh kim. Chức năng kép của Thần Đất được biểu thị rõ ở câu đối: Hổ sinh nhất kim, ngũ hành chúng trân quý, Địa trưởng vạn vật, tứ quý ca bình vinh. Nghĩa là: Trời sinh âm dương, chúng ngũ hành đều là trân quý, Đất dưỡng vạn vật, khắp bốn biển vui cảnh thái bình. Ngoài thần Đất được thờ tự để cầu tài, người Hoa còn thờ nhiều Thần Tài khác, phổ biến và tôn quý nhất là “Tài Bạch tinh quân”, “Tài Bạch tinh quân” là ngôi sao trên thượng giới. Đây là vị thần thường thờ tự tôn kính ở các đền miếu, đặc biệt phổ biến là các cơ sở thờ tự thuộc nhóm phương tộc Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc. Tài Bạch tinh quân gồm 5 vị thần chủ bộ tài lộc thiên giới, do Kim long Như ý chánh hốt Long hổ Huyền đàn chân quân tức Triệu Nguyên soái (Triệu Công Minh) đứng đầu và 4 phụ tá: Chiêu Bảo thiên tôn, Nạp Trân thiên tôn, Chiêu Tài sứ giả, Lợi Thị tiên quân. Theo truyền thuyết Tài Bạch tinh quân vốn là Thái Bạch Kim Tinh trên thượng giới, chức tước là "Đô Thiên chí phú Tài Bạch Tinh Quân" chuyên quản tiền tài vàng bạc của thiên hạ, nên người ta hay đặt tượng ông nơi tài vị. Trên trời có Tài Bạch tinh quân, dưới đất cũng có Thần Tài âm phủ. Hình tướng vị Thần Tài này giống một phán quan, đen thui, trên đầu đội mũ ống cao, có dòng chữ “Nhất kiến phát tài”. Vị thần Tài này đầu tiên thờ ở Điện Ngọc Hoàng và gần đây mới có mặt ở một số chùa Hoa khác. Phổ biến không kém Lưu Hải là cặp nữ Thần Tài Hòa Hợp Nhị Tiên. Hình tướng thường thấy của cặp thần Tài này là hai cô gái: một hài âm cầm bó hoa sen (sen: hà, hài âm “hòa”) hay bó lúa (lúa: hòa); và một bưng cái hộp (hài âm “hợp”). Cặp nữ Tài Thần này là đề tài của điêu khắc gốm, chạm gỗ phổ biến của ngành công nghệ miếu vũ của người Hoa. Thần tích là một truyền thuyết kể về hai chị em Hòa và Hợp buôn may bán đắt. Ở Trung Quốc, Hòa Hợp nhị tiên là đối tượng sùng bái của những người sản xuất đồ gốm sứ, thợ nung vôi và người bán quạt. Hòa hợp Nhị Tiên Tranh dân gian Giang Tô, Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Một nhân vật lịch sử là Phạm Lãi cũng được coi là Tài Thần. Phạm Lãi là một trung thần của Việt Vương Câu Tiễn. Ông hết lòng giúp vua Việt Vương trong cơn hoạn nạn và phò tá vua Việt để báo thù vua Ngô Phù Sai. Sau khi đã toại chí, Phạm Lãi không màng công danh phú quý nên bỏ đi ở ẩn. Dã sử kể rằng Phạm Lãi với người đẹp Tây Thi bỏ trốn đi dạo chơi ở Ngũ Hồ. Sau khi bỏ đi, Phạm Lãi trở thành một nhà thương buôn thành đạt nổi tiếng ở thôn Đào nên được người đời gọi là Đào Công. Trong dịp khai trương tiệm quán, người Hoa hay tặng nhau tấm đại tự “Đào Công phất nghiệp” để chúc nhau việc kinh doanh, buôn bán thành đạt. Thần Tài - Ông Địa Trích Tìm hiểu bàn thờ Thần Tài Ông Địa, tác giả Lưu Quốc Hùng file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Văn Tài Thần chia làm hai đó là Tài Bạch Tinh Quân và Tam Đa Tinh. Tài Bạch Tinh Quân với ngoại hình như một vị trưởng giả giàu có, mắt trắng râu dài, người mặc áo gấm thắt đai ngọc, tay trái ôm một thỏi kim nguyên bảo, tay phải ôm tờ giấy cuốn lại có in dòng chữ "Chiêu Tài Tiến Bảo". Còn Tam Đa Tinh là Phúc - Lộc - Thọ Tam Tinh. Võ Tài Thần cũng chia làm hai đó là Triệu Công Minh mặt đen, và Quan Thánh Đế Quân (Quan Công) mặt đỏ râu dài. Triệu Công Minh được ghi nhận trong truyện Phong Thần, sau khi tử trận lên bảng Phong Thần, được Khương Tử Nha sắc phong làm "Chính Nhất Long Hổ Huyền Đàn chân quân" thống lĩnh bốn vị Thần: Chiêu Bảo, Nạp Trân, Chiêu Tài và Lợi Thị. Ông vừa giúp tăng tài, tiến lộc vừa có thể hàng ma phục yêu, nên một số người Hoa cũng thích thờ ông, hay đặt tượng ông nơi tài vị. Quan Thánh Đế Quân, có lẽ không cần xem truyện Tam Quốc Chí thì ai cũng từng nghe và biết. Hầu hết người Hoa đều có thờ Quan Thánh Đế Quân trong nhà. Ông không chỉ tượng trưng chính khí sáng lòa, mà còn có thể giúp cho người chiêu tài tiến bảo, trừ tà hộ thân. Những người làm quan võ, theo nghiệp lính, những ông chủ kinh doanh thường thờ Võ Tài Thần hoặc đặt tượng ông nơi tài vị, mặt hướng ra cửa. Đặc biệt lại còn có Thần Tài Lưu Hải, hình tướng vị Thần Tài này thấy ở trên cột trước Tam sơn hội quán và trên bờ nóc Điện Ngọc Hoàng: là một chàng trai trẻ, tay cầm một sợi dây ngũ sắc buộc một con cóc ba chân hay mang trên vai một sợi dây buộc những quả trứng với các đồng tiền vàng. Theo truyền thuyết Trung Quốc, Lưu Hải là tể tướng dưới triều Lương Thái Tổ (?-926). Ông từ quan ở ẩn, được Lữ Đồng Tân (Bát Tiên) truyền bí pháp luyện quặng vàng thành linh đan trường sinh bất tử. Truyền thuyết khác lại kể rằng: Lưu Hải là con trai một lái buôn người Phúc Kiến, ông đã câu được con cóc ba chân ở một cái giếng cạn, biểu thị cho việc phát tài (cóc có âm là “thiềm”, đồng âm với “tiền”). Giới thương nhân thường thờ Lưu Hải, dán tranh vẽ trên hai cánh cửa quán để cầu tài. Trong những năm gần đây, tượng cóc ba chân và miệng ngậm tiền được tạo hình độc lập được bày bán rộng rãi. Người ta mua về chưng ở nơi thờ Thần Tài - Thổ Địa hay những nơi trang trọng trong nhà. Lưu Hải câu cóc Mỹ thuật Trung Quốc Cóc ba chân Đĩa men lam, đời Minh Vạn Lịch, Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Trên đây các vị Thần Tài mà người Hoa thờ cúng, còn Thần Tài mà người Việt tôn thờ là hình tượng ông Khiết (Cóc ba chân). Ông cha ta không muốn bị thất truyền, nên ngoài việc mang tính chiêu tài để lưu giữ, đã ghi dấu chùm sao Tiểu Hùng Tinh trên lưng tượng Ông Khiết. Ông Khiết và kiểm tra bức xạ bằng máy RFI Tham khảo lyhocdongphuong.org.vn file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Tại miệng Ông Khiết, đèn sang toàn phần, đã chứng tỏ có một bức xạ rất mạnh tại đây. Khi Ông Khiết ngậm đồng tiền, không tạo xung khí, trời đất giao thoa, nói lên trái đất vẫn chịu sự tương tác từ vũ trụ. Khi rút đồng tiền ra, miệng Ông Khiết tạo ra một xung khí phát thẳng, có thể coi là chỉ dấu chiều từ trường trái đất. Có lẽ, hầu hết người Việt Nam khi bước vào đời, trước nhưng khó khăn của cuộc sống đầy bon chen, sát phạt, thì thường tự an ủi với câu thành ngữ rất phổ biến: "Ngậm miệng ăn tiền" hoặc trước những bất công khủng khiếp thì ông cha ta cũng thường nói: "Cóc cũng phải mở miệng", hay trong đời thường, trước những khó khăn không thể vượt qua, người ta thường thách đố nhau: "Đợi đến cóc mọc râu" mới làm được việc đó. Điều kỳ lạ nữa là hình tượng con “Cóc” và chòm sao Bắc Đẩu lại xuất hiện trên những bức tranh phổ biến khác trong văn hoá dân gian, đó là tranh thờ đạo Mẫu, tranh Ngũ Hổ Hàng trống và Đông Hồ. Con Cóc Khắc gỗ và tranh Ngũ Hổ Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, ông Cóc trên bàn thờ Thổ Công, có một ý nghĩa to lớn trong tâm linh người Việt, chỉ một chùm sao bắc Đẩu trên lưng ông Cóc, chúng ta đã tìm lại cả một huyền sử kỳ vĩ của dân tộc Việt. Hình tượng Cóc ba chân chính là một mật ngữ liên kết đến tất cả hệ thống tài liệu lịch sử, văn hóa dân tộc khác như tín ngưỡng dân gian, đạo Mẫu, Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo…, các sản phẩm vật thể như trống đồng Đông Sơn, các phương pháp ứng dụng phong thủy, châm cứu cùng với các chuyên môn thiên văn, địa lý, giáo dục… và hình tượng Cóc ba chân này sẽ nói lên một ý nghĩa cực kỳ đặc biệt khác cũng sẽ được phân tích trong các chương sau. Trong việc tôn thờ như đã trình bày ở trên, chúng ta cũng biết Ngũ phương Ngũ thổ Long Thần là năm vị Thần trấn năm hướng và năm vị Thần đất đai long mạch sắp đặt theo Ngũ Hành gồm: Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung ương. Tuy nhiên, căn cứ vào hệ thống cấu trúc thiên văn được sắp đặt theo tên gọi các thánh nhân nước Việt và hệ thống thờ tự trong gia đình của người Việt thì Ngũ phương Ngũ Thổ Long Thần chỉ là 5 vị Thần với việc quản lý 5 hướng trên bầu trời và 5 hướng dưới mặt đất gọi là Ngũ Phương Yết Đế. Ngũ Phương Yết Đế và Thập Cực Chân nhân Dân tộc Tày, Nùng, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Ngũ Phương Yết Đế là 5 ngôi sao thuộc chòm sao Bắc Đẩu, cũng là năm người em của vua Kinh Dương Vương, cùng với vua cha Đế Minh tạo thành chòm sao Bắc Đẩu. Hai sao Tả phù và Hữu bật là biểu tượng của hai anh em ruột với vua Đế Minh là Đế Nghi và Nguyễn Nghi Nhân. Trong Đạo giáo, Ngũ Phương Yết Đế có “chức vị” cao hơn Thập Cực Chân nhân - 10 đời vua kế tục vua Lạc Long Quân - Hùng Vương II (được là rõ ở các chương sau). Ngũ Phương Yết Đế cũng được trình bày trên bộ tranh thờ dân tộc Sán Chay Dẫn Hương lộ, miền Bắc Việt Nam. Ngũ Thương (Ngũ Thổ Long Thần) Dân tộc Sán Dìu, Tuyên Quang, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Có thể nói những giá trị văn hoá Việt còn lại đến nay đều tiềm ẩn một sự minh triết rất sâu sắc. Nền văn minh Việt không để lại những di sản văn hoá đồ sộ như kim tự tháp hay vạn lý trường thành…. nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng: người Việt là một dân tộc đã sử dụng những biểu tượng văn hoá, thể hiện một tri thức rất minh triết qua những di sản văn hoá phi vật thể sớm nhất thế giới. Gia phả chép Hùng Quốc Vương úy là Lâm (Nguyễn Lâm), tên tự là Phúc Tâm. Nối dõi Lạc Long Quân, thống nhất Văn Lang. Ông mất ngày 28 tháng Năm âm lịch. Một ông ở đất Kỳ Long Lân, gò Thánh hóa hoặc còn gọi là khu mộ vua hay khu mả Đế, khu Đông Trù Tư Mệnh hoặc gọi là Táo Phủ Thần Quân. Tuy nhiên, như đã chứng minh ở trên thì vua Hùng Quốc Vương là Thổ Công, còn Táo Phủ Thần Quân là vua Đế Minh, Thần Tài là vua Lạc Long Quân và ông Thiên là vua Kinh Dương Vương. Miếu và mộ vua Hùng Quốc Vương vẫn được các thế hệ kế tiếp giữ gìn, tu tạo đến nay vẫn còn. Các vua Hùng táng tại các gò lớn gọi là Thổ Sơn, sau sợ giặc phá hủy mới đem về chín miếu: Văn Nội, Văn Phú, Văn La, Trinh Lương, Huyền Kỳ, Bắc Lãm, Động Lãm (Hùng Vương thứ XVII), sau khi vua Hùng Vương thứ XVIII về Bác Lãm thì Bác Lãm đã có hai miếu ở Khả Lãm, Phong Khê cho nên táng tại hai bảo tháp trong chùa Bác Lãm. Có bài thơ ca ngợi tiết xuân Tam dương khai thái rằng: Tiết xuân Thiên Tam dương khai thái, Mở vận lành “Vạn đại hưng long”. Linh Tiêu Kim Khuyết Vân Cung, Tâm hương thấu đến cửu trùng thiên thai. Thuở đất trời âm dương hòa hợp, Kiến tạo nên vũ trụ Càn Khôn. Long ngai chín bệ kim môn, Hoàng Thiên Thượng Đế Chí Tôn cầm quyền. Khắp tam thiên đại thiên thế giới, Vua Ngọc Hoàng quyền đại tối linh, Ngôi cao chính ngự thiên đình, Ngai vàng thống chế quần sinh muôn loài. Hằng giá ngự đan đài tử phủ, Khúc nghê thường y vũ xướng ca, Đàn cầm thánh thót thánh tha, Tiếng dâng ngọc tửu hoàng hoa đượm mùi. Vườn thượng uyển thảnh thơi thánh giá, Điện Linh Tiêu thong thả giáng lâm, Đào viên mở Hội Long Vân, Bách tiên văn vũ quần thần âu ca, Cửa Thiềm cung bách hoa tiên tử, Đứng đôi bên ngọc nữ cung phi, Rồng bay phượng múa nghê quỳ, Trăm hoa đua sắc tức thì tỏa hương. Nhân khánh hạ Tam dương cửu nhật, Thiết đàn tràng kính ngưỡng Thiên Công, Thần đăng ngũ quả tiến dâng, Kính xin soi xét lỗi lầm trần gian. Ban phúc lộc nhân khang vật thịnh, Khắp bốn mùa cát khánh tường quang, Phong điều vũ thuận an khang, Mãn thiên hỷ khí xuân quang lại về. Thiên tăng tuế đề huề trường thọ, Chiếu nhân gian trăm họ giai xuân, Ơn trên bảo quốc hộ dân. Trong cuốn sách Sứ mệnh Đức Di Lạc, tác giả GS.TS Nguyễn Hoàng Phương, một cuốn sách đặc biệt được triển khai từ học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và các phương pháp ứng dụng cổ, với các biến số tương tác chi tiết và rộng lớn, đồ hình biểu diễn có số cung lớn hơn trên Hà Đồ và Lạc Thư, được diễn giải bằng các công thức toán học hiện đại và… thực sự rất khó hiểu. Ông đã viết: "Khi đã hiểu được Hồng Bàng Dịch, nghĩa là nắm được công thức bao quát toàn bộ sự vận hành của vũ trụ bao la, khoa học tâm linh sẽ phát triển trong thiên nhiên kỷ thứ III là thời đại của Thánh Đức Di Lạc Phật Vương. Một khoa học như vậy, người bình thường khó có thể hiểu nổi nếu không có một sự chỉ đạo cơ bản của Trời - Đất ( tức là của các Đấng Vô Vi), Một sự truyền năng lượng siêu việt và một tiềm năng trí tuệ hết sức đặc biệt. Đối với những người nghiên cứu khoa học tâm linh, cách này là cách đúng đắn nhất để có thể sử dụng cho sự tiến bộ của nhân loại, làm vinh quang cho đất nước Việt Nam và cho sư nghiệp của chính mình và con cháu mai sau. Xuất xứ từ các thông tin ghi nhận được từ Cõi Phật - chòm sao Bắc Đẩu - quê hương của nhân loại chúng ta - những kiến thức có được này từ các Đấng Vô Vi là sách Trời, là ân huệ của hồn thiêng sông núi, cho nhân loại và con cháu Hồng Bàng chúng ta. Đây thực sự là những kiến thức có tầm xa thời gian vài nghìn năm". Nhằm làm rõ hơn các dữ liệu lịch sử đã được mã hóa, chúng ta hãy cùng tiếp tục với một trò chơi văn hóa đặc biệt của cộng đồng người Việt cách đây gần 1.000 năm, đó là bộ bài Ma tước (Mạt chược) trong Chương V: MA TƯỚC DIỄN NGHĨA. ***
  9. Áo dài khăn dóng là quốc phục chứ gì nữa - nhưng chi tiết còn phải bổ sung thêm như: - Cài theo lối tả nhậm (triết gia Lương Kinh Định, Thiên Sứ đã nói nhiều). - Hoa văn: hình tròn họa chữ "Thọ" trên áo. -... bàn thêm
  10. Qua ban thờ gia tiên của người Việt, chúng ta thấy có một hệ thống triết lý tín ngưỡng hết sức cao siêu, dựa trên nền tảng học thuyết Âm Dương Ngũ Hành về tự nhiên, xã hội và con người. Không chỉ vậy, hệ thống tín ngưỡng tôn giáo của người Việt cũng không ngoại lệ, đối với một gia đình thì có bàn thờ Gia tiên - ông Táo - ông Thiên - ông Khiết - ông Công - Tổ nghề; đối với một dòng họ thì có nhà thờ Tổ; đối với một dân tộc thì đền thờ Tổ nước hay đền Hùng, đối với Phật giáo thì có ngôi chùa thờ Phật, đối với đạo Mẫu thì có phủ Mẫu, đối với Đạo giáo thì có cung quán, đối với Nho giáo thì có văn miếu, còn đối với các anh hùng, liệt sĩ hy sinh vì tổ quốc thì có đền, miếu; đối với các tổ nghề, thầy cô giáo thì cũng như vậy. Chúng tôi cấu trúc lại hệ thống tín ngưỡng của người Việt thời Hùng Vương với nền tảng ban thờ gia tiên ở trung tâm, là một đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống tín ngưỡng nhưng trong nó cũng hàm chứa triết lý của sự to lớn đến vô cùng tức vũ trụ thống nhất: Cấu trúc tín ngưỡng thời vua Hùng Phương Bắc - Nho giáo Tôn thờ các anh hùng liệt sỹ, thầy cô giáo, các tổ nghề… (đền, miếu) Thờ Thành Hoàng làng (đình) Phương Tây - Tiên giáo Thờ các chân nhân đắc đạo, các bậc tu tiên đạt chính qủa… (đạo quán, cung quán) Trung cung Thờ Tổ tiên và thần thánh, tổ nghề truyền thống (Ban thờ gia đình) Thờ Dòng Họ (nhà thờ Họ) Thờ Triều đình (Kính Thiên điện) Thờ Quốc gia (Đền Hùng) Phương Đông - Đạo Phật Thờ các vị Phật, các vị Bồ Tát, các vị Tổ… (ngôi chùa) Phương Nam - Đạo Mẫu Thờ các Thánh Mẫu… (phủ Mẫu) Qua phân tích, chúng ta thấy hệ thống ban thờ trong một ngôi nhà Việt, có thể không theo tôn giáo nào nhưng luôn có đầy đủ ông bà tổ tiên, các vị Phật, Thánh, Thần, Tiên, Tổ nghề và minh triết nhất, ban thờ gia tiên chính là ban thờ nhân loại hay toàn thể vũ trụ. Trong truyện Tam Quốc Chí của Bồ Tát Nguyễn Minh Không, có nói đến sự kiện Gia Cát Lượng lập đàn cầu “gió Đông” nổi lên chính là nói đến đạo Phật như cấu trúc tín ngưỡng thời vua Hùng ở trên, ý nghĩa này cũng sẽ được phân tích trong Chương VIII: KIM CƯƠNG BẤT HOẠI. Hình ảnh của “thần khí” xưa nhất được cho là vào thời nhà Hạ là “cửu đỉnh”, trong khi đó chuông, trống đồng Đông Sơn là biểu tượng của nước Văn Lang, tạm xác định niên đại từ thế kỷ VII-II tr.CN. Các thần khí kháccũng được ghi nhận trong cuốn Kinh Lễ, san định bởi Khổng Tử. Cửu đỉnh Trích Tính mệnh khuê chỉ, dịch giả Nguyễn Văn Thọ file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Từ thời vua Đại Vũ nhà Hạ, Đỉnh là tượng trưng cho sự bền vững của quốc gia. Vì thế vua Đại Vũ đã đúc chín cái đỉnh gọi là “cửu đỉnh”. Đến đời Thành Vương nhà Chu, để cửu đỉnh ở Giáp Nhạc. Nhà Chu làm vua được 30 đời, và kéo dài 700 năm. Đến năm 23 đời Chu Liệt Vương, Cửu đỉnh tự nhiên giao động, đó là điềm nhà Chu bất an vậy. Đến sau, quả nhiên Tần Thủy Hoàng diệt nhà Chu và đoạt cửu đỉnh (Dịch Kinh Đại Toàn, dịch giả Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ & Huyền Linh Yến Lê). Ngày nay, biểu tượng Cửu đỉnh duy nhất chỉ còn lại ở cung đình Huế, Việt Nam. Tên của chín cái đỉnh là: Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh, Chương đỉnh, Anh Đỉnh, Nghị đỉnh, Thuần Đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh và Huyền Đỉnh. Vua Minh Mạng nói :”Đỉnh là để tỏ rõ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tự tại. Thực là đồ quý ở nhà tôn miếu…”, “Đó là để tỏ mong rằng muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau” (Đại Nam thực lục chính biên). Cửu Đỉnh Cổ vật cung đình Huế, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image003.jpg Tại viện bảo tàng cố cung Đài Bắc, đang trưng bày Mao Công Đỉnh là quốc bảo của Trung Quốc, đỉnh bằng đồng cuối đời Tây Chu, có khắc 499 chữ, được xem là văn vật hoàn chỉnh cổ xưa nhất còn lưu lại. Ngoài ra còn có Tái Thị Bàn, cũng đời Tây Chu, khắc 357 chữ, Tông Chu Chung, đời Tây Chu, có khắc 123 chữ. Mao Công Đỉnh - Tán Thi Bàn - Tông Chu Chung Ảnh tham khảo file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image005.jpg<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Đỉnh dùng để đựng đồ ăn, trong những dịp tế lễ, yến ẩm, vì thế đỉnh còn gợi lên ý nghĩa dưỡng hiền, với ý nghĩa và hình ảnh trên, quẻ Đỉnh bàn về mấy vấn đề chính yếu: sau cuộc cách mạng, cần phải kiến thiết quốc gia, xây dựng một đời sống mới cho dân.Muốn xây dựng một đời sống mới cho dân, nhà vua cần phải anh minh, phải biết trọng dụng nhân tài. Lý Hồng Chí, người sáng lập ra Pháp Luân Công tại Trung Quốc, có những bài thơ tâm linh liên quan đến “sức mạnh” của các pháp khí trong Phật giáo: Chung Lầu Lầu Chuông Hồng thanh trấn pháp giới, Tiếng chuông vang dội khắp các nơi, Pháp âm truyền thập phương Âm thanh Đại Pháp truyền mọi hướng. Cổ lầu Gác Trống Trọng chùy chi hạ tri tinh tấn, Dưới sức đập mạnh sẽ biết tinh tấn, Pháp cổ xao tỉnh mê trung nhân. Pháp trống gõ tỉnh người trong cơn mê. Phật Pháp vô biên Phật Pháp vô cùng Hương lô tận thâu loạn Pháp quỷ, Lư hương thu hết ma quỷ đã làm loạn Pháp, Bảo đỉnh dung hóa bất Pháp Thần. Bảo đỉnhhóa lỏng các Thần không đồng hóa Pháp. Trích từ tập thơ Hồng Ngâm II, tác gỉa Lý Hồng Chí, ngày 5 tháng 5 năm 2002. Trong hệ thống gia phả, bia đá ghi nhận về vua Đế Minh rất nhiều như trong văn bia tại điện miếu Tổ soạn từ năm Tân Mùi (971) gọi cụ là Tổ Khương Minh; trong Bách Việt Tộc Phả (mật) đã viết: “… Tiên tổ Nguyễn Tướng Công, tên húy là Minh, tự là Phúc Đình, hiệu là Khương Thái Công”; còn bản do trưởng họ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, tước Quảng Oai hầu vâng lệnh sao chụp tại nhà thờ Tổ Bách Việt năm Nguyên niên Quang Trung (1789) viết: “… Tổ đầu tiên Thái Khương Công - Nguyễn Minh Khiết”, “Thánh Đế Minh Vương”; bản sao chép năm Khải Định thứ 9 (1924) gọi cụ là: “… ông họ Vân, tên gọi Minh Khiết, hiệu là Thái Khương Công… Cao Cao tổ khảo là Thái Khương Công, giỗ ngày mồng hai tháng Hai tại Khương Thượng”; Trong bản Cổ Lôi Bách Việt Tộc phả truyền thư cũng viết tên cụ là Nguyễn Minh Khiết (Thái Khương Công, Đế Minh), bài vị thờ ở chùa Kim Liên (Hồ Tây) ghi rõ cụ là Nguyễn Minh Khiết. Qua phân tích, chúng ta thấy các mối quan hệ giữa các dữ kiện lịch sử, văn hóa với nhau hết sức chặt chẽ và chúng ta hãy cùng tiếp tục tìm hiểu về vua Kinh Dương Vương, một trong “Tam Dương” Lạc Long Quân - Đế Minh - Kinh Dương Vương.
  11. Việc sắp xếp vị trí các vị tiên dựa trên bảo bối và cấu trúc âm dương ngũ hành của các động vật biển tương ứng các cung của Hậu thiên Bát quái sẽ không hợp lý, còn theo Tiên thiên Bát quái thì đảm bảo sự tương hợp. Hùng Vương Biều tượng Tên gọi các vị Tiên Kinh Dương Vương - HV I Ốc Trương Quả Lão áo xanh tay cầm ngư cổ Mẫu Thượng Ngàn - Long Nữ Tôm Lam Thái Hòa ầm giỏ hoa lam Lạc Long Quân - HV II Chép Lữ Đồng Tân tay cầm kiếm và tay cầm phất trần Chúa Mẫu Thoải - Âu Cơ Ngao Hà Tiên Cô cầm hoa sen Hùng Quốc Vương - HV III Cua Lý Thiết Quải mang gậy sắt và quả bầu Hùng Hoa Vương - HC IV lừa Hàn Tương Tử thổi sáo Hùng Hy Vương - HV V Sấu Chung Ly Quyền cầm quạt ba tiêu Hùng Hồn Vương - HV VI Rùa Tào Quốc Cữu tay cầm phách Long Vương Ngai vàng vua Đế Minh, lấy Vụ Tiên và kế thừa vua cha Bát Hải Động Đình Nguyên lý sắp các biểu tượng này, còn phải phối hợp xem xét toàn bộ các dòng tranh dân gian và các quy ước âm dương ngũ hành của động vật, thực vật… phân bố vào Hà đồ. Theo kinh sách của đạo Cao Đài, Việt Nam trong Bát Tiên có bốn vị cỡi thú bay và bốn vị cỡi thú chạy. Nơi Tòa Thánh Tây Ninh, ở cấp thứ tám của Cửu Trùng Đài, hai bên có đặt hai giàn “bát bửu” song song và đối xứng nhau, trên đó có 8 bửu bối của Bát Tiên đặt xen kẽ với 3 cây lọng. Giàn bát bửu với tám bửu bối của Bát Tiên đặt thành hai hàng dài song song trước nơi thờ phượng, để làm tăng thêm vẻ uy nghi trang trọng và trấn giữ ngôi thờ Ðức Chí Tôn, không cho tà quái xâm nhập vào. Tàn vàng - Lọng báu - Bát bửu Tòa Thánh Tây Ninh, đạo Cao Đài, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Bố cục vị trí Lọng báu và Bát bửu file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg (1) Hồ lô và gậy (nai chở): bảo pháp của Lý Thiết Quải. (2) Quạt và Phất trần (chim chở): Hán Chung Ly. (3) Gươm và Phất trần (chim chở): Lữ Ðồng Tân. (4) Hai cây gậy trong cái ống (nai chở): bửu pháp. (5) Giỏ hoa lam (phụng chở): Lam Thái Hòa. (6) Hoa sen (công chở): Hà Tiên Cô. (7) Ống sáo bằng ngọc (cá chở): Hàn Tương Tử. (8) Cặp Ngọc bản (rùa chở): Tào Quốc Cựu. O là cây lọng, có 3 cây lọng cắm xen kẽ trên giàn Bát bửu. Trong cung đình Việt Nam xưa, có bài múa Bát Tiên hiến thọ có nghĩa là tám vị tiên dâng các trái cây và vị thuốc có tác dụng làm cho sống lâu: Năm trăm năm hội vui mừng, bệ ngọc xem như cỏ minh giáp tươi tốt mãi, Ba thu phong cảnh tốt đẹp, cung Thiềm chào đón mùi quế hương ngào ngạt bay. Đất mở cõi Viêm Bang, sông núi thuộc phận sao Dực, Chẩn thêm phần bền vững, Trời đặt ngôi Hoàng đế, cây cỏ tựa như nơi Bồng đảo đầy vẻ sáng tươi. Theo truyền thuyết Đạo giáo: quả bầu xưa kia là bầu rựu và túi thơ, hai món biểu hiện cho sự phong lưu; cây bút biểu hiện văn nhân trí thức; cây quạt, đàn tỳ bà là nhạc khí của người tài tử; giỏ hoa biểu hiện cho tính phong lưu; cây kiếm tượng trưng cho dũng khí; cái khánh và phất trần là những vật của người có đạo đức. Ngoài Bát bửu, thì còn có Lỗ bộ (hay còn gọi Tọa kích hay Chấp kích) gồm 8 binh khí chính dùng để rước hoặc cắm vào giá để trần, cùng với bảng có chữ "tĩnh túc" và "hồi tị" và cờ tiết mao đặt ở cung vua, phủ quan hay các đền, đình, miếu. Lỗ bộ được bày đối xứng với Bát bửu. Bát bửu được đặt bên trái và Lỗ bộ bên phải. Lỗ bộ nơi thờ tự mang ý nghĩa về sức mạnh quyền lực, tượng trưng cho pháp quyền, tạo nên một không gian nghiêm trang, mang tính răn đe đối với những kẻ có ý đồ phá hoại. Phủ Chúa Tranh tham khảo file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Lỗ bộ gồm tám món binh khí khác nhau, có nhiều thay đổi về loại binh khí nhưng chúng tôi chọn ra tám loại tương ứng với cấu trúc Hậu thiên Bát quái: biển hiệu, tiết mao, búa (phủ), đinh ba (xoa), đại đao (long đao), phương thiên kích, (xà mâu), giáo (thương), đại chùy, qua đồng. Cờ tiết mao là hai lá cờ tượng trưng chức sắc của vị Tôn Thần. Tiết là cờ của vua trao cho làm tin, mao là cờ kết bằng lông mao, biểu hiện ân điển của vua. Những xã thờ Thần có sắc phong của các triều đại, trong đồ Lỗ bộ, dùng hai lá cơ tiết mao để nêu lên uy đức của vị Thần ở xã mình. Biển Tĩnh túc và Hồi tị, Tĩnh túc là yên lặng cung kính, Hồi tị là tránh ra xa. Bát bửu và Lỗ bộ Bái đường đình Đồng Kỵ, file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Bát bửu được chọn lựa từ các loại vũ khí chiến đấu sử dụng trong các cuộc chiến tranh. Theo cuốn Ngũ tạp trở của Tạ Triệu thời Minh và cuốn Kiên hồ tập của Chư Nhân Địch thời Thanh: 18 ban binh khí bao gồm cung, nỏ, thương, đao, kiếm, mâu, thuẫn (khiên, mộc che), phủ, việt, kích, hoàng, giản, qua, thù, xoa, ba đầu, cẩm thẳng sách sáo (xích sắt), và bạch đả (tay không). Ở Việt Nam trong nền võ cổ truyền Bình Định, thập bát ban võ nghệ được lý giải gồm 18 môn loại: siêu đao, thương, giáo (một loại binh khí dài hơn thương), mác, kiếm, xà mâu, khiên, phủ hay phủ việt (búa), kích, roi, giản, chùy, đinh ba, cào, côn, dây vải hay dải lụa có buộc vật nặng ở đầu, tô, thủ cước (tay, chân, quyền). Chúng ta thấy rằng Lỗ Bộ và Bát Bửu là những đồ tế khí trình bày trước bàn thờ của mỗi ngôi đình, đền của nước ta, trong dòng tranh dân gian Hàng Trống và Đông Hồ còn có những bức tranh liên quan chặt chẽ, đó là bộ tranh Hương chủ trình bày ban thờ của một ngôi đình làng miền Bắc Việt Nam: Hương chủ Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Ngôi vị ở bàn thờ ở trung tâm của ngôi đình được gọi là Hoàng Cực, và cũng như của một ngôi chùa, đền, miếu, đạo quán, ngôi nhà… xung quanh bốn phương là tứ linh Long - Lân - Quy - Phượng chầu hầu. Cấu trúc không gian thờ tự, thường chia làm ba lớp tính từ ngoài vào: Án thờ (hương án) nằm ngoài cùng, phía trước bàn thờ và sập thờ, nơi đặt đồ dâng cúng. không đặt bát nhang mà chỉ thiết lư trầm, cặp chân đèn, hai bình hoa. Hai bàn bên gọi là tả vu và hữu vu, nơi an vị một số đồ thờ khác như bộ đồ trà, rượu, chén nước cúng. Nhóm đồ bài trí trên hương án: nhóm đồ bài trí trên bàn thờ, thường là một bộ tam sự (một lư hương và hai cây nến), ngũ sự (một lư hương, hai cây nến và hai mâm bồng) hay thất sự hoàn chỉnh (một lư hương, hai cây nến, hai mâm bồng và hai cây đèn dầu lạc đốt bấc), kèm theo một ống hương và một hộp đựng trầm. Ngoài ra còn bộ bát quả cũng được bài trí chung. Lư hương luôn được vẽ hình “Lưỡng long triều nguyệt“, còn bài vị thường được trang trí “Minh phượng triều dương”. Trong bức tranh Hương chủ thì ngai thờ được trang trí hai “Kim kê triều nhật” giống như bức tranh dân gian Tam Dương khai thái. Ngoài ra còn có kỷ tam sơn (cái tam sơn), biểu thị của tam tài: thiên, địa, nhân với phần giữa nhô cao, hai bên thấp. Kỷ tam sơn đặt giữa bàn thờ, phần giữa để đôn cao lư hương có vẻ tôn kính, hai bên hai đài nhỏ đựng chén nước cúng. Loại kỷ tam sơn này hiện được sử dụng khá nhiều trên các bàn thờ người Việt để đặt cau trầu, rượu, nước cúng. Trên bàn thờ có hai độc bình cắm hoa, thường xuyên được cắm hoa tươi của bốn mùa. Hai bên hương án cũng thường đặt đôi lục bình hoặc đôi thống lớn. Đôi lục bình men lam được trang trí các truyện cũ tích xưa, mang những nội dung giáo dục. Chén thờ Cổ vật khai quật Tam Tinh Đôi, Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Lớp bàn thờ bên trong được ngăn với lớp bên ngoài bằng một bức y môn, tức là một chiếc màn thờ màu đỏ bằng the, nhiễu hay vải tùy theo gia cảnh. Chiếc y môn treo cao thõng xuống che kín toàn bộ bàn thờ lớp bên trong. Sập thờ (sập tôn) nơi thiết cơi đựng đồ cúng, khay đài đựng rượu, cặp mâm xà đựng cỗ cúng mặn và ngọt và đặt các vật phẩm khi dâng cúng. Kiểu sập cao hai tầng, 4 chân quỳ thao thiết. Thần vị (bài vị, thần chủ) làm bằng gỗ có hương thơm, được viết chữ rõ ràng thiết trên long ngai đặt trong khám để thờ. Bài vị được tranh hoàng hình ảnh “Minh phượng triều dương”. Khám thờ là nơi thiết thần vị, tức nơi ở của linh hồn người đã khuất. Khám được chế tạo gần giống như ngôi nhà có mái, trong đặt ngai thờ (cỗ ỷ), trên ngai thiết thần vị. Theo phong tục thờ cúng của người Việt xưa, gian thờ tổ tiên thường có cỗ ỷ để trong cùng vì ỷ là cái ghế ngồi là ý tượng trưng cho sự hiển hiện của người đã khuất.Cỗ ỷ trong dân gian được nâng lên thành ngai thờ tức long ngai (ngai rồng) cho phù hợp với ngôi vị của các bậc đế vương đã khuất. Trong không gian thờ tự, còn bộ hoành phi và câu đối sơn son thếp vàng lộng lẫy hoặc cẩn xà cừ tinh tế. Hoành phi treo phía trên, các câu đối sóng đôi treo ở hai hàng cột trước gian thờ. Nội dung hoành phi câu đối liên quan đến ý nghĩa chung của ban thờ. Trên bức diềm trước ban thờ, dưới bức hoành phi, được trang trí mặt rồng nhằm trấn giữ trung tâm ban thờ. Hoành phi và câu đối Cổ vật Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Trước hương án, còn có bài trí cặp rùa hạc ngậm hoa hồng, tại nhụy hoa có chỗ cắm nến, tượng trưng sự thanh cao và trường tồn, đặt phía trước ban thờ. Biểu tượng rùa hạc được cho là biểu tượng của Đạo giáo lại xuất hiện trong các ban thờ, đây cũng là một bí ẩn cần được lý giải. Người ta thường treo trước y môn một chiếc lồng đèn hình tròn, dân gian gọi là tự đăng. Vào dịp giỗ tết, chiếc đèn này được thắp suốt ngày đêm. Bởi người xưa cho rằng trong những ngày này, hương hồn những người đã khuất luôn ngự trị trên bàn thờ và ngọn đèn tượng trưng cho sự hiện diện của họ. Đèn treo ngày xưa thường là một đĩa dầu lạc hay dầu vừng… được đặt trong một chiếc đèn lồng. Trước Bát bửu và Lỗ bộ tượng trưng văn võ, là giá treo chuông và trống. Chính môn gồm cửa chính là hai cửa phụ, cửa chính là loại hai cánh. Các cánh cửa được trang trí các họat cảnh bốn mùa như tranh tứ quý, tứ bình. Phía ngoài chính môn là một cái vạc đồng lớn, thường đổ đầy nước, để thả hoa tươi hoặc trồng thủy sinh. Những nơi phong thủy hữu tình, thường phía trước có đào ao sen thả cá, hai bên trồng bồ đề đối với các ngôi chùa; trồng cây đa đối với các ngôi đình, đền, miếu; cây sung, cây si, cây phượng đối với phủ Mẫu và cây tùng, cây thông, cây bách đối với đạo quán, cung quán. Đối với đình, phía trước chính môn bắt buộc phải trang trí bình phong với hình “Thần Hổ” trấn giữ. Đối với chùa, bên tay phải chính điện còn bố trí thêm tháp Phật chín tầng gọi là “cửu phẩm liên hoa”, cũng như một cái “giếng mắt rồng” bên tay trái để sử dụng. Ngoài cùng là cổng tam quan, nếu ở những nơi đồi, núi thì thường bố trí thêm sơn môn ngay từ đầu con đường để dẫn hướng. Kiến trúc, mỹ thuật, điêu khắc của toàn bộ công trình một ngôi chùa, đình, đền, miếu thường được chạm khắc mỹ thuật, chẳng hạn theo mẫu “Chín con của rồng”, đặc biệt đỉnh mái ngôi chùa bắt buộc trang trí “Lưỡng long tranh châu”, hai đỉnh trụ tường hông của chính môn luôn luôn có tượng con Nghê. Những ngôi đình thờ thần Thành hoàng làng và đền thờ thánh thường có những cỗ kiệu và long đình, ít nhất là có một đôi kiệu một kiệu long và một kiệu phượng. Chúng sẽ được khiêng đi trong các hội lễ rước thần. Đôi khi người ta chế biến các cỗ kiệu thành xe có bánh gọi là long xa và phượng liễn. Long đình là một hộp thờ và mái cong như mái đình, có thể đặt lễ vật vào đó rước đi, nhưng nhiều khi kiệu và đặc biệt là long đình dùng tham gia trò kiệu bay và đình quay. Bên cạnh những cỗ kiệu, trong đình, đền, chùa còn có bài trí voi ngựa thờ, chầu hầu ở hai bên phía trước. Rước Thần Ký họa Việt Nam đầu thế kỷ XX file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpg Trên bàn thờ tổ của một dòng họ bao giờ cúng có riêng một thần chủ, thần chủ này được thờ phụng mãi mãi. Lập thần chủ để thờ thì phải có đủ thần chủ của cụ kỵ, ông cha, tức là cao, tằng, tổ khảo. Thần chủ làm bằng gỗ táu (gỗ của loại cây sống ngàn năm), dài khoảng hai phân rưỡi, ở giữa đề tên họ, chức tước, còn hai bên ghi ngày giờ sinh, tử của tổ tiên. Thần chủ thường được để trong long khám, khi nào cúng giỗ thì mới mở ra. Thần chủ chỉ để thờ tư đời trở xuống, sang đời thứ năm thần chủ của cao tổ được mai đi và nâng bậc tằng này gọi là Ngũ, đại mai thần chủ, nghĩa là thần chủ sang đời thứ năm được chôn đi. Bất cứ nhà thờ nào trước đây đều cất giữ cuốn sổ ghi chép thế thứ trước sau của tổ tiên, và các thế hệ nối tiếp từ đời này qua đời khác. Cuốn sổ đó được gọi là cuốc gia phả. Ý nghĩa của đại tự viết trên hoành phi mang nội dung ca tụng công đức của tổ tiên hoặc tỏ lòng kính trọng của con cháu đối với tổ tiên như: Phúc mãn đường: Có nghĩa là gia đình đầy đủ phúc, bức hoành phi, nội dung công đức của tổ tiên hoặc ca tụng công đức của tổ tiên: Tổ tông công đức thiên nhiên thịnh, Tử hiếu tôn hiền vạn đại xưng. Công đức tổ tông nghìn năm thịnh, Hiếu hiền con cháu vạn đời ngay. Tam sơn tượng trưng cho tam tài, cái lư hương tròn tượng trưng cho Thái cực, các cây hương được thắp lên tượng trưng cho các vì tinh tú, đội đèn tượng trưng nhật nguyệt… Bình hoa thường tượng trưng cho cái “Tâm Không”, tức lục căn thanh tịnh. Theo cổ thư viết về thuật phong thủy thì thành ngữ “Thanh long, Bạch hổ, Chu tước, Huyền vũ” biểu tượng cho khu vực các chòm sao trên bầu trời, ông cha ta dựa trên nguyên lý này sáng tạo ra kiến trúc điện thờ với long ngai, bài vị, câu đối, hoành phi, cùng toàn bộ các bộ đồ thờ lư hương, đỉnh trầm, hạc rùa, đôi mâm bồng, ống hương, hũ đựng trầm, đôi bình hoa, trống chiêng, bát bửu và lỗ bộ, vạc đồng, tam bửu hoa trà rựu,… kết hợp với kiến trúc điêu khắc của đình, đền thờ, bàn thờ, hương án, đèn lồng treo đỉnh… tạo thế đắc phong thủy và huyệt tụ khí chính là nơi tọa vị của bài vị trên chiếc long ngai, đây chính là ý nghĩa thiên địa nhân hợp nhất trong bài trí cấu trúc điện thờ của người Việt xưa. Lôi sơn sau trước vút tầng mây, Nghiên bút dành cho vận hội này. Cờ trống dàn chào văn vũ nhóm, Soái sư định phận thủy long vây. Anh tài đắc dụng nơi kim khuyết, Thục nữ hòa duyên chốn điện tây. Cuộc đất bởi đâu mà tuyệt hảo, Nhập đường con nước mặc vơi đầy. (Trích Hồng Vũ Cấm Thư, san định Dương Quân Tùng). Những lời chúc tụng như Vạn Thọ có trong ngôn ngữ Trung Quốc từ đòi nhà Thương nhà Chu, cả mười thế kỷ trước Công nguyên, mà giới khảo cổ thường thấy khắc trên những đỉnh vạc đời nhà Chu.Ngũ phúc thọ vi tiên mang ý nghĩa Thọ hay sức khỏe là nền tảng bắt đầu tiên, cái cần phải có trước khi phấn đấu đạt được những mong ước của đời người Ngũ Phúc.Câu đối Tết dán nhà cửa ngày xuân thường có: Ngũ phúc lâm môn / Tam dương khai thái. Câu đối này được Nguyễn Công Trứ (1778-1858) nhắc trong bài hát nói với giọng tự trào: Bầu một chiếc lăn chiêng, mặc sức Tam dương khai thái, Nhà hai gian bỏ trống, tha hồ Ngũ phúc lâm môn. Đế Minh Xưa, cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh, nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Kinh Dương Vương cố nhường cho Đế Nghi, nhưng không dám không vâng mệnh. Đế Minh lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho Kinh Dương Vương, làm vua cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ. Trên cơ sở câu truyện huyền thoại này, nhà nghiên cứu Yên Tử cư sĩ Trần Đại Sỹ đã tới tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc để kiểm chứng và tìm kiếm các dữ liệu lịch sử, ông đã có bài viết nổi tiếng Biên cương nước Việt Cổ: “Tương truyền vua Minh lập đàn tế cáo trời đất trên núi Quế Dương, phân chia lãnh thổ Lĩnh Bắc tức Trung Quốc, Lĩnh Nam tức Đại Việt. Đàn tế đó gọi là Thiên Đài. Nhưng dãy núi Quế Dương có mấy chục ngọn núi nhỏ không biết ngọn Thiên Đài là ngọn nào, trên bản đồ không ghi. Sau ông hỏi thăm dân chúng thì họ chỉ cho núi Thiên Đài nằm gần bên bờ Tương Giang. Thiên Đài là ngọn đồi nhỏ, cao 179m, đỉnh tròn có đường thoai thoải đi lên. Trên đỉnh có ngôi chùa nhỏ, nay để hoang. Tuy chùa được cấp huyện bảo tồn nhưng không có người trụ trì. Chùa xây bằng gạch nung, mái lợp ngói. Lâu ngày chùa không được tu bổ, nhiều chỗ ngói bị lở, bị khuyết. Tường mất hết vữa, gạch bị mòn nhiều chỗ gần như lún sâu. Duy nền với cổng bằng đá là còn nguyên, tuy nhiều chỗ đá bị bong ra. Bên trong cột kèo bằng gỗ đã nứt nẻ khá nhiều. Những câu đối, chữ còn, chữ mất. Tại thư viện Hồ Nam ông tìm được một tài liệu rất cũ, giấy hoen ố, nhưng chữ viết như phượng múa rồng bay, gồm 60 trang. Ðầu đề ghi: Thiên Đài di sự lục, Trinh quán tiến sĩ Chu Minh Vãn sọan. Trinh quán là niên hiệu của vua Ðường Thái Tông, từ nãm Ðinh Hợi (627) đến Ðinh Mùi (647) nhưng không biết Chu đỗ tiến sĩ nãm nào? Tuy sách do Chu Minh Vãn soạn, nhưng dường như bản nguyên thủy không còn. Bản này do người sau sao chép lại vào đời Thanh Khang Hy. Nội dung sách có ba phần. Phần của Chu Minh Vãn sọan, phần chép tiếp theo Chu Minh Vãn, của một sư ni tên Ðàm Chi, không rõ chép vào bao giờ. Phần thứ ba chép pháp danh các vị trụ trì từ khi lập chùa tới thời Khang Hy (1662-1772). Chu Minh Văn là tiến sĩ đời Đường, nên văn của ông thuộc loaị văn cổ rất súc tích, đầy những điển cố cùng thành ngữ lấy trong Tứ thư, Ngũ kinh cùng kinh Phật. Nhân viên quản thủ thư viện thấy tôi đọc dễ dàng, chỉ lướt qua là hiểu ngay, ông ta ngạc nhiên khâm phục vô cùng. Nhưng nếu ông ấy biết rằng, tôi chỉ được học lọai văn đó vào hồi 6, 7 tuổi thì ông sẽ hết phục. Tài liệu Chu Minh Văn cũng nhắc lại việc vua Minh đi tuần thú phương Nam, kết hôn với nàng tiên sinh ra Lộc Tục.Vua lập đàn tại núi này để tế cáo trời đất, vì vậy đài cũng mang tên Thiên Đài núi cũng mang tên Thiên Đài sơn, Minh Vãn còn kể thêm: “Cổ thời trên đỉnh núi chỉ có Thiên Đài thờ vua Đế Minh và vua Kinh Đương. Đến thời Đông Hán, một tướng của vua Bà (Trưng Trắc và Trưng Nhị) tên Đào Hiển Hiệu được lệnh rút khỏi Trường Sa. Khi rút tới Quế Dương ông cùng nghìn quân lên Thiên Đài lễ, nghe người giữ đền kể sự tích xưa. Ông cùng quân sĩ nhất định tử chiến, khiến Lưu Long thiệt mấy vạn người mới chiếm được núi. Về đời Ðường để xóa vết tích Việt - Hoa cùng Nam Bắc, các quan được sai sang đô hộ Lĩnh Nam mới cho xây chùa tại đây”. Nơi có dấu vết Thiên Đài, còn đôi câu đối khắc vào đá:<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Thiên Đài đại đại phân Nam Bắc, Lĩnh địa niên niên dữ Việt Thường.<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Nghĩa là: Từ sau vụ tế cáo ở đây, đài thành Thiên Đài, biết bao thời, phân ra Nam, Bắc. Núi Ngũ Lĩnh năm này qua năm khác với dòng giống Việt Thường. Chỗ miếu thờ Đào Hiển Hiệu có đôi câu đối: Nhất kiếm Nam hồ, kinh Vũ Đế, Thiên đao Bắc lĩnh, trấn Lưu Long. Nghĩa là: Một kiếm đánh trận ở phía Nam hồ Động Đình làm kinh tâm vua Quang Vũ nhà Hán, một nghìn tay đao ở Bắc núi Ngũ Lĩnh trấn áp Lưu Long. Như vậy, việc vua Đế Minh tế cáo trời đất là có thực, vì có Thiên Đài, nên thời Lĩnh Nam mới có trận đánh hồ Động Đình. Hai sự kiện đó chứng tỏ lĩnh địa Văn Lang xưa quả tới núi Ngũ Lĩnh, hồ Động Đình. Quay lại hệ thống tranh thờ Đạo giáo các dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam, bộ tranh Tứ Ngự tương ứng với Hương Vân Cái Bồ Tát cưỡi phượng, Kinh Dương Vương cưỡi rồng, Lạc Long Quân cưỡi cá và Hùng Quốc Vương cưỡi lân. Truyền thuyết Tứ Ngự triều Thiên vào ngày cuối năm giống câu truyện Táo Quân của dân tộc Kinh, miền xuôi. Vậy thì, Táo Quân là ai? Chúng ta hãy cùng xem lại bộ tranh Ông Công - Ông Táo và truyền thuyết Táo Quân trong dân gian. Ông Công - Ông Táo Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Tranh Thổ Công có hoành phi “Thổ Công Vị”, câu đối “Thổ phần phù trợ - Trạch thượng bình an” nghĩa là Thần Đất giúp thì nhà ở trên được bình yên. Tranh Ông Táo có hoành phi “Táo Quân Vị”, câu đối “Niên tăng phú quý - Nhật hưởng vinh hoa” nghĩ là mỗi năm tăng thêm phú quý, ngày hưởng thêm vinh hoa. Tranh Táo Quân vẽ ba vị Táo quân gồm hai ông một bà, ngồi chắp tay xếp bằng, dưới ba vị là mâm thờ. Mâm bên phải bày 3 chén nước, rựu, trà, mâm bồng bày một con cá chép to, mâm bên trái bày ngũ quả. Hai bên có ngọc nữ bưng khay trầu, tiên đồng bưng ấm nước. Phía dưới bức tranh vẽ những đồ dùng, gia súc của một gia đình nông dân gồm: trâu, bò, gà, lợn, cối xay thóc, bếp nấu ba chân, nồi và một vật dụng giống cái tù và (tất cả các vật dụng này đều đảo ngược lại khi so sánh với bức tranh Ông Công). Tục ngữ dân tộc Việt có câu: "đất có Thổ Công, sông có Hà Bá" nghĩa là Thổ Công quản đất, ông Táo quản gia. Bởi vậy, trong truyền thuyết dân gian mới có sự tích ông Táo lên trời với sớ Táo Quân báo việc quản gia. Theo phong tục người Việt, hàng năm đến ngày 23 tháng Chạp âm lịch, nhân dân có tục cúng ông Công, ông Táo, họ tin rằng đến ngày đó ông Công, ông Táo sẽ cưỡi cá chép lên chầu trời, báo cáo với Ngọc Hoàng Thượng Đế về những việc tốt và xấu trong năm qua của từng người trong gia đình ông giám sát. Do đó, nhân dân hy vọng sau khi làm lễ cúng tiễn, ông lên trời sẽ báo cáo tốt lành cho gia đình. Sau đó, đến đêm Giao thừa, cũng làm một mâm cúng tương tự như vậy để cúng rước Ông Táo trở về nhà. Sau khi cúng, họ đem đốt tờ tranh cũ đi, thay thế vào đó tờ tranh mới. Chúng ta hãy xem lại truyền thuyết có dấu ấn cổ xưa nhất về ông Táo còn lưu truyền, tóm lược như sau: Ngày xưa có hai vợ chồng nhà kia, chồng tên là Trọng Cao, vợ tên là Thị Nhi. Hai vợ chồng ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sanh ra buồn phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá, đánh vợ, Thị Nhi quá ức lòng, liền bỏ nhà ra đi. Sau đó, Thị Nhi gặp một chàng trai tên là Phạm Lang, khéo dùng lời dịu ngọt dỗ dành, nên Thị Nhi bằng lòng về làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi, mà vợ thì đã bỏ đi mất rồi, thương nhớ vợ, liền khăn gói lên đường đi tìm vợ, tìm khắp nơi mà không gặp, lần lần tiền bạc đem theo đều tiêu xài hết sạch, Trọng Cao đành phải đi ăn xin. Ngày kia, Trọng Cao đến ăn xin một nhà nọ, bà chủ đem cơm ra cho ăn. Trọng Cao nhìn ra chính là Thị Nhi, vợ của chàng trước đây mà chàng đã khổ công đi tìm kiếm lâu nay mới ra nông nỗi ăn xin thế nầy. Thị Nhi cũng nhận ra Trọng Cao, người chồng cũ, nay phải lam lũ đi ăn mày. Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, kể lể từ buổi giận hờn bỏ chồng ra đi, đến lúc gặp Phạm Lang và lấy Phạm Lang làm chồng. Còn Trọng Cao cũng kể lại những ngày tháng ân hận, rồi quyết tâm đi tìm vợ để mong nàng tha lỗi và trở về chung sống như xưa. Thị Nhi cũng tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng. Bỗng Thị Nhi nghe tiếng Phạm Lang trở về nhà. Thị Nhi nghĩ nếu Phạm Lang bắt gặp Trọng Cao nơi đây thì thật khó giải quyết, nên bảo Trọng Cao tạm ẩn trong đống rơm ngoài vườn để nàng thu xếp lo liệu sao cho được vẹn toàn. Phạm Lang trở về nhà là vì nhớ ngày mai tới kỳ bón ruộng mà chưa có tro, nên liền ra đốt đống rơm để lấy tro. Trọng Cao trốn trong đống rơm, không dám chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết, bởi sự sắp đặt của mình, nên bi thảm quá, liền nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo. Phạm Lang gặp tình cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết thảm, cũng không biết tính sao, liền nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ. Thế là ba người đều bị chết cháy nơi đống rơm.Linh hồn của ba vị được đưa lên trước Thượng Đế. Đấng Thượng Đế thấy ba người đều có nghĩa, nên sắc phong cho làm Táo Quân, nhưng mỗi người giữ một việc: Phạm Lang làm Thổ Công, trông coi việc bếp. Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi việc nhà cửa. Thị Nhi làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa. Vậy, Táo Quân gồm ba vị Thần: Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ. Ba Thần Táo này gọi chung là Định Phúc Táo Quân (Ba vị Thần Táo định đoạt phúc đức cho gia đình, phúc đức nầy do việc làm đúng đạo lý). Danh hiệu của 3 vị Táo Quân là: Thổ Công: Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân. Thổ Địa: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần. Thổ Kỳ: Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần. Bài vị thờ Táo Quân, viết bằng chữ Hán: trên hết là hai chữ Bản Gia, kế dưới là danh hiệu của ba vị Táo Quân. 本家 東廚司命 灶府神君 土地龍 脈尊神 五方五土 福德正神 Hai bên bài vị thờ Táo Quân thường có đôi liễn chữ Hán:<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> 有德能司火. 無思可達天 <br style="mso-special-character: line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Hữu đức năng tư hỏa, Vô tư khả đạt Thiên. Có đức trông coi việc lửa, Vô tư có thể lên Trời. Đạo Cao Đài, Việt Nam điều chỉnh tục lệ này bằng cách gọi là “Lễ đưa Chư Thánh triều Thiên”, thiết lễ cúng Tiểu đàn tại thánh thất và điện thờ Phật Mẫu vào lúc 12h00’ đêm 23 rạng 24 tháng Chạp hằng năm. Sau đó đến giờ Giao thừa, tức là lúc 0h00’ ngày mồng 1 đầu năm, thiết lễ cúng Tiểu đàn: rước Chư Thánh. Lễ đưa Chư Thánh triều Thiên là lễ cúng đưa tất cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật có nhiệm vụ điều độ nhân sinh nơi các cõi phàm trần, sau một năm làm việc nơi cõi trần, nay trở về Ngọc Hư Cung cõi thiêng liêng để trình tấu với Đức Chí Tôn tất cả các việc, và định chương trình cho năm sắp tới. Lễ có dâng sớ lên Đức Chí Tôn, với nội dung như sau: Nay vì lễ hết năm ...(Giáp Tý)..., các Đấng Phật Tiên Thánh Thần trở về chầu Đức Chí Tôn tại Ngọc Hư Cung. Các Chức sắc Thiên phong hiệp với các tín đồ, nghiêm trang lập đàn cúng tế gồm: nhang đèn bông trà trái cây, rượu tinh khiết, lập nên nghi thức, lòng thành dâng lễ. Ngưỡng vọng các Đấng thiêng liêng, từ bi tâu rõ lên Đức Chí Tôn ban bố hồng ân, đổi họa làm phước, gom điều tốt, đón điều lành, xoay cuộc chiến tranh thế giới, sớm được hòa bình, cứu giúp tất cả chúng sinh, giải thoát khỏi các tai nạn đau khổ do chiến tranh gây ra, phục hưng nền Quốc Đạo Cao Đài, tiến hóa thịnh hành, phổ độ nhơn sinh, nhập môn vào làm môn đệ, vĩnh viễn sùng bái chánh giáo, muôn loài hoà bình, an cư lạc nghiệp, lập thành đời Minh đức Tân dân, cùng hưởng trời Nghiêu ngày Thuấn. Chư đệ tử đồng thành tâm cúi lạy kính cẩn dâng sớ tâu lên. Kính trình. Theo Thái Thượng Lão Quân Thiết Ngư An Táo Diệu Kinh: Táo Quân là “mẹ sinh ra lửa”, trên thông cõi trời, dưới thạo âm dương ngũ hành, là bậc thánh minh, xem xét mọi điều trong dân gian và 12 thời khắc, coi sóc, an định việc phú quý, nghèo hèn của gia chủ, và thế gian… vì vậy cần thờ cúng Táo Quân. Tranh Táo Quân Dân tộc Dao Đỏ ở Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Bức tranh mô tả một số hình ảnh công việc bếp núc của người Dao. Có lẽ do tranh này, nên có tên bộ tranh là Tàu Khảng (Vua Bếp). Qua truyền thuyết của dân tộc Việt truyền lại, chúng ta thấy rằng hình ảnh hai ông một bà - tức một Âm hai Dương hoàn toàn trùng khớp với quẻ Ly trong Kinh Dịch. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Trong bức tranh dân gian Việt ở trên táo bà ngồi giữa hai ông thì trong quẻ Ly hào Âm cũng đứng giữa. Quẻ Ly thuộc Hỏa nên biểu tượng cho bếp cũng thuộc Hỏa. Biểu tượng trong truyện dân gian "cả ba người cùng chui trong đống lửa" đấy chính là hình tượng của ba ông đầu rau trong bếp mỗi nhà. Tại sao Ông Táo lại về trời lại là ngày 23 tháng Chạp mà không phải là ngày 30? Theo lý học Đông phương đó là ngày Nguyệt kỵ, vậy Táo quân chọn đúng ngày này lên trời có sai không? Sách cổ chữ Hán chỉ ghi nhận mùng 5, 14, 23 là ngày Nguyệt kỵ và không một lời giải thích. Trong truyền thuyết dân gian Việt thì cho rằng "đó là những ngày vua đi, nên kiêng ra đường". Đây chính là phép du niên phiên tinh ngày, tính theo tháng. Ngày của sao Ngũ Hoàng nhập trung cung theo chu kỳ cửu cung. "Vạn vật qui ư Thổ" hay nói theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành thì đây chính là ngày kết thúc chu kỳ của Ngũ Hành vào tháng cuối cùng trong Năm. Kết thúc chu kỳ Ngũ hành vào ngày 23, đồng thời cũng là kết thúc chu kỳ của 64 quẻ Dịch. Hành thổ thuộc trung cung thuộc ngôi Hoàng cực chi phối Ngũ Hành, theo Lý học Đông phương thuộc về hoàng tộc, nên là ngày của Vua Bếp - Táo Quân về trời. Qua sự minh chứng và phân tích ở trên, chúng ta cũng nhận thấy rằng: Đằng sau một phong tục cổ truyền của dân tộc Việt - tục cúng "Ông Táo về trời" là cả một sự minh triết liên quan chặt chẽ đến nền Lý học Đông phương - thuộc về nền văn hiến huyền vĩ Việt, một thời huy hoàng ở miến Nam sông Dương Tử. Có thể nói rằng: Không phải ngẫu nhiên mà có sự trùng khớp hợp lý gần như toàn bộ những nét chính của phong tục cúng ông Công, ông Táo với những quan niệm có tính nguyên lý của Học thuật cổ Đông phương. Sở dĩ có sự trùng khớp hợp lý đến kỳ lạ này, chính vì nó là hệ quả của nền minh Đông Phương thuộc về nền văn hiến Việt được đưa vào cuộc sống văn hóa Việt qua phong tục cúng đưa "Ông Công, Ông Táo về trời". Trong lễ cúng ông Táo, hình ảnh gắn liến với lễ Táo Quân chính là con cá chép, tại sao về trời mà Táo quân lại cưỡi cá chép, tuy nhiên trong bức tranh Ông Công cũng có hình ảnh cá chép, phải chăng chúng có mối liên quan với nhau, chúng ta cùng xem lại bức tranh Tứ trực công tào: Tứ Trực Công Tào Tranh thờ dân tộc miền Bắc Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Tứ trực công tào: Biểu tượng cho bốn phương, bao gồm: Thanh Long (phía Đông); Bạch Hổ (phía Tây); Huyền Vũ (Phía Bắc) và Chu Tước (phía Nam) và Năm, Tháng, Ngày, Giờ Tứ trực Công tào là bốn vị thần trông coi về thời gian năm, tháng, ngày giờ trên thiên đình theo Đạo giáo. Trong các bức tranh diễn tả Tứ Trực công tào lên trời bằng các linh thú khác nhau. Mặt khác theo Mai Hoa dịch số, san định bởi Thiệu Khang Tiết, cá chép thuộc 2 quẻ Khảm và Tốn. Khác nhau giữa 2 quẻ này, khi cá chép bơi trong nước thì gọi là quẻ Khảm, khi cá chép được dùng vào việc (nấu chín, "phương tiện di chuyển") thì nó lại là quẻ Tốn. Như vậy, lúc này sẽ thành quẻ Đỉnh. Quẻ Đỉnh Ly trên Tốn dưới, quẻ Đỉnh lại là cái vạc, cái nồi nấu ăn hay nói cách khác, chính là hình ảnh cái bếp. Quẻ Đỉnh Kinh dịch, đạo của người quân tử, tác giả Nguyễn Hiến Lê file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.gif Tiếp đó, quẻ Tốn cũng chính là "thần khí". Việc dùng hình ảnh cá chép mang nghĩa ẩn dụ, so sánh. Cũng có thể diễn giải ông Táo cưỡi thần khí (gió) lên trời. Theo Mai Hoa dịch số, cái chính, cái gốc của sự vật là quẻ nội. Ở đây, hình ảnh ông Táo là gốc sự việc, phải là quẻ nội, con cá chép phải là quẻ ngoại, như vậy hình ảnh ông Táo cưỡi cá chép phải là quẻ Thủy Hỏa ký tế. Quẻ Ký tế, nước lửa giúp nhau, tương hỗ, đồng thời là đã xong, đã kết thúc, đứng thứ 63 trong thứ tự quẻ Dịch, phù hợp với ngày 23 tháng Chạp. Thủy Hỏa Ký Tế (“Tế là vượt qua sông, là nên; Ký Tế là đã vượt qua, đã nên, đã thành" - Kinh Dịch, Đạo của người quân tử, tác giả Nguyễn Hiến Lê). Quẻ Đỉnh không đơn thuần nói về hình tượng chiếc bếp, mà xét rộng hơn, nó là sự biến chuyển một cách từ từ, còn quẻ Cách là thay đổi đột ngột, là cách mạng. Một sự biến chuyển lấy nhân nghĩa làm gốc để phát quang cho vạn vật bên trên, sự biến chuyển này phảng phất hình ảnh tôn giáo, tư tưởng khi quẻ Tốn tượng là đền chùa. Lại so sánh, nếu quẻ Ly là Lễ trị thì quẻ Đỉnh là Pháp trị lấy nền tảng của lòng nhân và tư tưởng tôn giáo. Từ đây, tục thờ ông Táo còn thể hiện tư tưởng trị nước an dân của người Việt cổ, không dùng Lễ trị làm chủ đạo mà dùng Pháp trị, thượng tôn luật pháp, nhưng được xây dựng trên lòng Nhân và sự khiêm hạ (Tốn - thuận theo) khi nhìn nhận vũ trụ và con người (tham khảo của một cá nhân trên lyhocsongphuong.org.vn). Chúng ta đã biết các chủng loại đồ tế khí trong một không gian thờ tự của người Việt, đặc biệt có năm loại thần khí quan trọng đó là: chuông, trống, vạc, lư và đỉnh. Trong Chương II: TIẾNG TRỐNG HOÀNG KIM, chúng ta biết trống đồng là biểu tượng của Hùng Quốc Vương, phương Tây; chuông đồng biểu tượng Kinh Dương Vương - phương Đông; Vạc đồng biểu tượng của vua Đế Minh - phương Nam và lư đồng biểu tượng của Lạc Long Quân - phương Bắc. Kết hợp nhận định quẻ Đỉnh là các “vạc” hoàn toàn hợp lý, vì chính là biểu tượng của vua Đế Minh - Hương Vân Cái Bồ Tát. “Ông Táo” là hình ảnh “Lửa” hay Ly trong Tiên thiên Bát quái chính là biểu tượng của Hương Vân Cái Bồ Tát, trong bức tranh Ông Táo thì người phụ nữ ở ngôi vị trung tâm. Lúc này bức tranh Ông Công với hình tượng quả bầu treo giữa hai người chính là Hùng Quốc Vương như đã nhận định trong Chương III: NHỊ ĐỘ MAI. Trong một ngôi gia, chúng ta thường thấy bố trí các ban thờ: ban thờ gia tiên, ban thờ ông Thiên, ban thờ ông Công, ban thờ ông Táo, ban thờ Thần Tài thường phối thờ với ông Công (hiện nay được xem là ban thờ Thổ Địa) và ban thờ Tiên sư (ông Tổ nghề). Tiên Sư Vị Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Tranh Tiên sư với bức hoành phi “Tiên sư vị” và đôi câu đối: Tiên sư giáng phúc, Đại Đạo sinh tài. Nghĩa là: Thầy cô tạo phúc đức, Đạo lớn sinh nhân tài. Ngày mồng 9 tháng Giêng âm lịch là ngày lễ cúng các vị tổ của các nghề gọi là lễ cúng Tiên Sư. Tiên sư còn gọi là Thánh sư, Nghệ sư, là ông tổ một nghề nào đó hoặc là người đã khai phá ra nghề và truyền lại cho các thế hệ sau được thờ cúng tại gia, nơi sản xuất, và luôn có một ngôi đền để tôn thờ. Chẳng hạn, người làm nghề mộc và xây dựng có ông tổ nghề là Lỗ Ban Tiên sư, thường gọi là Xảo Thánh Tiên sư. Trước đây những người cùng một nghề hay cùng buôn bán một thứ họp nhau lại thành phường hội “buôn có bạn, bán có phường”. Lễ vật cúng Tiên sư tại nhà thường là hương, hoa, trà, rượu và một con gà trống. Trước đây sau khi cúng Tiên sư xong thì làm lễ khai bút đối với những ngành nghề liên quan đến con chữ hoặc làm mở hàng công việc của mình đối những nghề thủ công. Ngày nay, tục khai bút không còn phổ biến, nhưng những người thợ vẫn duy trì lễ ra mắt Tiên sư. Cúng tiên sư ngành nghề là thể hiện tinh thần "uống nước nhớ nguồn" và "tôn sư trọng đạo" để nhớ ơn các bậc tiền nhân có công truyền dạy nghề và đây cũng là dịp để khuyến khích, hỗ trợ nhau trong công việc làm ăn. Chính vì vậy mà ngày cúng Tiên sư là một nét văn hóa truyền thống cần được giữ gìn và phát huy. Ngôi đền cổ nhất thờ thầy cô giáo thời Hùng Vương còn lại là "Thiên cổ miếu", ngôi đền nằm trên một quả đồi nhỏ ven đường thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, thành phố Việt Trì, Phú Thọ, ẩn mình dưới hai cây táu cổ thụ, gốc to đến năm sáu người ôm không xuể, ước đoán tuổi đời đã đến nghìn năm, điều thú vị là một cây cho hoa màu vàng, một cây cho hoa màu bạc. Thiên cổ miếu và Bàn thờ thầy cô giáo Vũ Thê Lang Xã Trưng Vương, Việt Trì, Phú Thọ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Bản ngọc phả được viết vào năm Hồng Phúc thứ 2 (1573) đời vua Lê Anh Tông, do Đông Các học sĩ Nguyễn Bính biên soạn. Ngọc phả này đã ghi chép lại nguồn gốc của Thiên Cổ Miếu: Vào thời Hùng Duệ Vương (đời Vua Hùng thứ XVIII), ở đất Mộ Trạch có vợ chồng Vũ Công, thuộc gia đình có học. Cha mẹ mất sớm, cảnh nhà sa sút, hai người lần tìm về đô thành Phong Châu, tới thôn Hương Lan mở lớp dạy học. Dân làng đã cấp cho họ ruộng đất để trả công dạy dỗ. Vợ chồng Vũ Công sinh hạ được một người con trai là Vũ Thê Lang. Khi trưởng thành, Vũ Thê Lang được người bạn cũ của bố là Nguyễn Công ở đất Đông Ngàn - Kinh Bắc gả con gái của mình là Nguyễn Thị Thục - một cô gái nết na, thạo nghề tơ tằm canh cửi. Khi cha chết, Vũ Thê Lang tiếp tục thay cha dạy học, Thục Nương giúp dân nghề nông tang, canh cửi. Vợ chồng thầy giáo Vũ Thê Lang và Nguyễn Thị Thục tạ thế cùng một giờ, một ngày - ngày 2/2 năm Quý Dậu (228 tr.CN) và được chôn cùng nhau. Dân làng Hương Lan lập đền thờ ngay trên ngôi mộ chung đó. Đền và phần mộ của vợ chồng thầy giáo Vũ Thê Lang được người dân Hương Lan đã bảo vệ suốt 2.300 năm qua. Trong Thiên cổ miếu, có bức hoành phi nhỏ ghi "Thiên cổ miếu" và hai câu đối bằng bằng gỗ viết chữ Hán: “Hùng Lĩnh Trung chi thắng tích - Nam Thiên chính khí linh từ" dịch là “Đền thiêng thờ người có chí khí mạnh mẽ, lớn lao của nước Nam”. Hai bên cửa võng là hai câu đối: "Đạo học nét son ngời Lạc Việt - Văn minh dấu ấn rạng Hùng Vương". Hoành phi và câu đối trong Đền Thiên Cổ có từ thời Tự Đức năm thứ nhất (1848). Trong dòng tranh dân gian Đông Hồ còn có bộ tranh nhị bình Đấu võ và Học bài, thể hiện ý nghĩa giáo dục trẻ nhỏ luôn bao gồm cả hai mặt kiến thức, văn hóa và sức khỏe, võ thuật, để khi lớn lên sẽ trở thành một con người toàn diện. Đấu võ và Học bài Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Chúng ta cũng biết, Thần Tài mà người Việt thờ chính là “ông Khiết” tức cụ “Cóc ba chân”, đây chính là biểu tượng của vua Lạc Long Quân, phương Bắc, hành thủy biểu tượng cho kim tiền. Liên kết tất cả các dữ kiện trên, thì việc nhận định về ông Công ông Táo là hoàn toàn hợp lý, hệ thống ban thờ gia đình được xác định như sau: - Gia Tiên: Ông bà tổ tiên từ vô thủy tới nay. - Ông (bà) Táo: Hương Vân Cái Bồ Tát - Phật Bà Quan Âm (Đế Minh và Hương Vân Cái Bồ Tát là Thừa thiên Cứu pháp Hậu Thổ Hoàng địa chi). - Ông Thiên: Kinh Dương Vương - Ngọc Hoàng Thượng Đế, Hạo Thiên kim khuyết Ngọc hoàng đại đế. - Thần Tài “Cụ Khiết”: Lạc Long Quân - Phong Đô Đại Đế, Câu Trần thượng quan nam cực Thiên hoàng đại đế. - Ông (bà) Công: Hùng Quốc Vương - Địa Tạng Bồ Tát, Trung Thiên tử vị bắc cực Thái hoàng đại đế. - Tiên sư: Tổ ngành nghề, thầy cô giáo. Chúng ta cũng chú ý, Thổ Công và Thổ Địa là hai vị khác nhau, Thổ Công là ông Công, biểu tượng cho người quản lý nhân gian còn Thổ Địa là vua Đế Minh, biểu tượng cho trái đất, thể hiện rõ ràng nhất trong bức tranh thờ của các dân tộc phía Bắc Việt Nam Hành say. Nội dung của bài vị của ông Công và ông Táo cũng nói rõ sự khác nhau này. Nguồn gốc dân tộc Việt cổ và nền văn minh Việt cổ, tập III, trang 149: Hùng Quốc Vương - vua Hùng Vương thứ III, hiệu Phúc Tâm, là Táo phủ thần quân. Ông mất ngày 28 tháng 5 âm lịch. Mộ Ông ở đất Kỳ Long Lân, gò thánh hóa hoặc gọi khu đất ấy là khu Mộ Vua, khu mả đế, khu Đông Trù tư mệnh. Căn cứ kết luận trên, thì thông tin này chính là nói về ngày mất của vua Hùng Quốc Vương nhưng rõ ràng, ông không phải là Táo Quân, bời vì ngày mất của Hương Vân Cái Bồ Tát là ngày 15 tháng Bảy âm lịch, ngày này được lấy làm ngày xá tội vong nhân, trong đạo Phật hay còn gọi là ngày “Trung nguyên Địa Quan xá tội”. Căn cứ vào bộ tranh thờ Tam Từ và Tam phủ Công đồng, chúng ta hiểu rằng: trên bức tranh Ông Táo, thì bên trái Táo Bà chính là vua Đế Minh và bên phải chính là vua Đế Nghi. Còn trên bức tranh Ông Công là Hùng Quốc Vương và Thánh Cô. Cùng với các ban thờ của ông ông Táo, ông Thiên, ông Khiết, ông Công như trên, thì ban thờ tổ tiên của một gia đình được xem là quan trọng nhất và được đặt ở trung tâm của một ngôi nhà. Người Việt có niềm tin rằng: chết chỉ là sự tiêu tan của thể xác, linh hồn thì vẫn còn và luôn trở về với gia đình "sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn". Chết chẳng qua chỉ là một cuộc trở về gặp ông bà tổ tiên, linh hồn của người đã khuất luôn ngự trị trên bàn thờ để gần gũi con cháu, theo dõi họ và phù hộ họ trong những trường hợp cấn thiết. Người Việt còn tâm niệm: “Trần sao Âm vậy”, người sống cần gì, sống như thế nào thì người đã khuất cũng như thế. Cho nên việc lập bàn thờ để thờ cúng Tổ tiên là điều không thể thiếu trong đời sống con người. Việc cúng bái trước bàn thờ tổ tiên thường được tổ chức trọng thể, con cháu xum họp, ghi nhớ công ơn của các đấng sinh thành, đây chính là một nét văn hóa vô cùng cao quý của dân tộc. Ban thờ Gia Tiên Ảnh trích Bàn thờ trong nhà cổ Nam Bộ, Ngọc Linh file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Bình thường ban thờ gia tiên dùng để thờ cha, mẹ của chủ nhà sau khi mất, nhưng nếu phối thờ thêm ông bà nội, ngoại thì bắt buộc phải thờ thêm "Cửu Huyền Thất Tổ". Điều đặc biệt ở người Việt là biểu tượng của "Cữu Huyền thất Tổ" không phải là một hình ảnh cá nhân cụ thể nào, mà đôi khi chỉ là hình ảnh làng quê sông nước, núi non hay chỉ là bốn chữ "Cửu Huyền Thất Tổ" mà thôi. Thất Tổ cùng với chúng ta, cha mẹ và ông bà trở lên 7 đời tạo trở thành “Cửu Tổ”. Như vậy, Cửu Huyền Thất Tổ trên ban thờ chính là thể hiện con số (9x9) gọi là Trùng Cửu, nó mang ý nghĩa vĩnh cửu, bất diệt. Ban thờ ông bà tổ tiên chính là hướng về nguồn cội cho tới tận vô thủy, hay chúng ta có thể hiểu đây chính là ban thờ toàn bộ nhân loại hay cả cả vũ trụ vô cùng này. Vì lý do trên, mà ban thờ gia tiên luôn được đặt ở vị trí trung tâm ngôi nhà. Cửu Huyền Thất Tổ Trích Tìm hiểu về Cửu Huyền Thất Tổ, theo nghi lễ đạo Cao Đài, chương trình phổ thông giáo lý 2008 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Ban thờ gia tiên của người Việt thông thường, được trang trí những bức hoành phi và câu đối được sơn son thiếp vàng hết sức trang trọng và thành kính, với nội dung ca ngợi công đức của tổ tiên và khuyên răn con cháu noi gương, tiếp bước: Đức Lưu Quang. Đức sáng muôn đời. Tổ tông công đức thiên niên thịnh, Công đức tổ tiên ngàn năm thịnh, Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương. Hiếu hiền con cháu vạn đại vinh.
  12. Chúng tôi đã quên đưa lên Chương IV: xin bổ sung. Chương IV TAM DƯƠNG KHAI THÁI (KHÍ LÀNH MỞ VẬN ĐẸP) Phúc, Lộc, Thọ tam tinh cùng chiếu, Thiên, Địa, Nhân nhất thể đồng xuân. Thơ cổ. Trong Chương III: NHỊ ĐỘ MAI, chúng ta biết rằng vua Phục Hy đại diện cho yếu tố Dương, còn bà nữ Oa đại diện cho yếu tố Âm, Âm Dương hòa hợp thúc đẩy sự phát triển vạn trong vũ trụ. Trong bức tranh Phục Hy - Nữ Oa với thân rắn mình người, Phục Hy cầm “Qui” (thước tròn), Nữ Oa cầm “Củ” (thước vuông). “Qui” để vẽ vòng tròn, “Củ” để vẽ hai đường thẳng góc trong vòng tròn, xác định tâm điểm. Vì thế người xưa gọi tâm điểm là Thập tự nhai (tham khảo Hướng tinh thần, tác giả Nguyễn Văn Thọ). “Củ” cũng dùng để vẽ hình vuông, như vậy bức tranh Phục Hy - Nữ Oa mang ý nghĩa “trời tròn, đất vuông”. Thân mình hình rắn quyện lấy nhau, thể hiện sự vận động và tương tác của khí âm và khí dương, từ đó vạn vật ra đời với đại diện là hình con khỉ hai tay nắm giữ ống tay áo của bà Nữ Oa và vua Phục Hy. Phục Hi và Nữ Oa Tranh trên đá cổ Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Dưới đây là một hình khắc nổi tiếng trên một hang động ở tỉnh Hồ Nam, thuộc Nam Dương Tử, Trung Quốc có niên đại trên 2.000 năm. Phục Hy tay trái nâng mặt trăng có hình con cóc, Nữ Oa tay phải nâng mặt trời có hình con quạ. Đặc biệt, vạt áo cài bên trái của vua Phục Hy và bên phải của bà Nữ Oa giống như trang phục của người Việt cổ trên tranh dân gian Đông Hồ, đây là một đặc điểm của văn hóa phương Nam. Phục Hy và Nữ Oa Tranh cổ Trung Hoa file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Dân tộc Dao và Mông sống trong vùng rừng núi hẻo lánh, ít chịu ảnh hưởng của văn hoá Hán. Do đó, hiện tượng cài vạt áo bên trái của người đàn ông trong y phục của những dân tộc này còn lại đến nay, đó là những chứng cứ có sự tiếp nối văn hóa từ ngàn xưa và cho đến tận bây giờ trong nền văn hiến Việt. Hình ảnh Phục Hy và bà Nữ Oa trong câu chuyện Bà Nữ Oa vá trời và Thần Bàn Cổ, từ trước đến nay vốn được coi là những truyền thuyết xưa nhất của nền văn hóa dân gian Việt Nam và Trung Quốc. Nhưng truyền thuyết này lại ẩn chứa những giá trị có tính hướng dẫn về một tiền đề căn bản nhất của Kinh Dịch và các phương pháp học thuật cổ phương Đông như phong thủy, tử vi, độn giáp… đó là Tiên thiên và Hậu thiên Bát quái. Nội dung của những truyền thuyết này căn cứ theo tư liệu trong sách Thần thoại Trung Quốc của giáo sư Đinh Gia Khánh, Nxb Khoa học xã hội - 1998 và vài dị bản khác được sưu tầm. Chống màn trời, Bàn Cổ làm trụ, Hóa thân thành sông núi, cỏ cây. Xưa kia, vũ trụ vốn là một khối hỗn độn, đen ngòm, hình giống quả trứng. Thần Bàn Cổ sinh ra từ trong quả trứng vũ trụ ấy. Thần Bàn Cổ ngủ 18000 năm thì tỉnh dậy. Ông thấy trời tối đen rất khó chịu. Thần Bàn Cổ rất bực tức. Không biết thần vớ đâu ra một chiếc rìu lớn và thần nhằm thẳng phía trước mặt mà bổ vào cái khoảng mù mờ đen tối ấy. Thần vung rìu lên bổ về phía trước như thế một nhát. Quả trứng ấy vỡ toang ra. Có chất gì trong suốt và nhè nhẹ bốc dần lên cao, trở thành bầu trời, lại có chất gì đó đùng đục và nằng nặng lắng dần xuống thấp, trở thành mặt đất. Thế là nhờ có nhát rìu của thần Bàn Cổ mà vũ trụ phân khai thành trời và đất. Tiếp theo là tóm lược và trích dẫn truyền thuyết Bà Nữ Oa vá trời: Nữ Oa khéo nặn con người khôn, Chọn đá quí vá màn trời rách. Bà Nữ Oa là vợ thần Phục Hy, được sinh ra ngay sau khi thần Bàn Cổ tạo ra thế giới. Bà lấy đất sét vàng nặn ra con người. Loài người lấy nhau và sinh sôi nảy nở trên thế gian ngày càng đông vui. Mọi người tôn bà làm nữ thần hôn nhân (thần Cao Môi). Nhưng, đến một ngày kia tai họa đã xảy ra. Bỗng nhiên, chẳng hiểu vì sao một ngày kia xảy ra một biến cố lớn. Đó là việc thần nước Cộng Công và thần lửa Chúc Dung choảng nhau. Cuộc chiến tranh rất khốc liệt, cuối cùng thần nước Cộng Công bị thần lửa Chúc Dung đánh thua. Phẫn chí, thần Cộng Công bèn lao đầu vào núi Bất Chu ở phương Tây. Lao đầu húc núi như vậy, mà Cộng Công vẫn không bị chết. Nhưng một cái húc đầu ấy đã làm cho trời đất biến đổi hẳn, làm cho nhân gian gặp tai họa lớn. Núi Bất Chu vốn là một trong những cây trụ chống trời. Cây gậy Bất Chu ấy bị Cộng Công húc bèn bị gãy. Thế là một nửa bầu trời ở phía Tây bị sụp xuống, bị rách nát và có nhiều lỗ thủng. Trời đổ xuống lại làm cho mặt đất nhiều chỗ sụt xuống thành hang sâu. Trong khoảng trời long đất lở ấy, lửa bốc lên rần rật, thiêu đốt núi rừng, nước sông sóng sánh dâng lên cao, hầu như đến lưng trời, làm cho mặt đất khắp nơi bị ngập nước. Bà Nữ Oa thấy loài người, đám con cháu do bà tạo dựng nên, gặp cảnh khốn khổ như vậy thì vô cùng đau đớn. Bà đành lại phải đi tu bổ lại trời đất. Công việc này thực là vất vả, nhưng bà Nữ Oa không hề quản ngại. Bà chọn thứ đá ngũ sắc lấy từ các sông lớn, dùng lửa nung nấu thành một thứ keo đặc biệt. Bà đem thứ keo ấy dán vá lại lỗ thủng trên bầu trời. Để chống bầu trời lên, bà chọn một con rùa lớn, chặt bốn chân của nó làm trụ. Bốn cái chân của nó dựng lên ở bốn góc trời, là bốn cái trụ vững chắc để chống đỡ bầu trời. Bà xua đuổi các loài ác thú, mãnh điểu để cho loài người khỏi bị chúng làm hại. Bà lại đốt cỏ lau thành tro, chất tro thành đống lớn để làm vật liệu xây đắp đê đập chống nạn lũ lụt. Cuối cùng tai họa lớn của loài người đã qua khỏi. Đó đều là nhờ công lao của bà Nữ Oa. Trời và đất đã được bà Nữ Oa sửa chữa, vá víu và chống dựng lại. Tuy nhiên, trời và đất không giữ lại được nguyên vẹn hình thể trước kia. Bầu trời vẫn cứ hơi nghiêng về phía Tây. Vì vậy mà mặt trời, mặt trăng và các tinh tú cứ theo chiều hướng nghiêng ấy mà chạy từ đông sang tây. Mặt đất tuy có được tu bổ, nhưng lại vẫn còn vực sâu ở phía đông nam. Vì vậy nước các sông ngòi đều chảy từ tây sang đông và dần dần các sông ngòi ấy đều chảy xuống vực sâu, tích tụ dần thành biển lớn. Cùng với nội dung trên, trong cuốn Kinh Dịch và cấu hình tư tưởng Trung Quốc (sách đã dẫn trang 583) chép như sau: Ngày xa xưa, bốn trụ chống trời bị hư hoại, Cửu Châu (tức là Trung Quốc) bị đổ lở, không đâu mà không bị lật úp, đất không được che kín, lửa cháy hừng hực liên miên không tắt, nước ngập lụt mênh mông không ngưng, thú dữ ăn thịt dân lành, chim ưng hung ác quắp lấy người già cả ốm yếu. Cho nên bà Nữ Oa mới luyện đá năm màu để vá trời xanh, chặt chân rùa lớn làm bốn cột chống đỡ bầu trời, giết rồng đen cứu Ký Châu, chèn tro cỏ lư để ngăn nước lụt. Bầu trời xanh được vá lại, bốn trụ chống đỡ ngay ngắn, nước lụt rút khô đi, Ký Châu yên bình, thuồng luồng chết, dân lành sống, dựa lưng vào đất vuông ôm lấy bầu trời tròn. Như vậy, qua truyền thuyết Thần Bàn Cổ và Bà Nữ Oa vá trời, so sánh với cấu hình của Tiên thiên và Hậu thiên Bát quái sẽ có một sự tương hợp gần như hoàn toàn sau đây: Chuyện Thần Bàn Cổ và phần đầu của truyền thuyết Bà Nữ Oa vá trời hoàn toàn trùng khớp với cấu hình của Tiên thiên Bát quái được minh họa trong đồ hình: Đồ hình minh họa truyền thuyết Thần Bàn Cổ và cấu hình Tiên thiên bát quái file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Qua đồ hình, nửa phần trên của Tiên thiên Bát quái: số hào Dương trội hơn hào Âm, mà cao nhất là quẻ Càn - tượng trời, ứng với câu“Âm dương chia biệt, khí nhẹ và trong bay lên thành trời”. Nửa phần dưới số hào Âm nhiều hơn số hào Dương, ở vị trí thấp nhất là quẻ Khôn - tượng đất, ứng với câu“Khí nặng và đục tụ xuống thành đất”. Trong nội dung của truyền thuyết Bà Nữ Oa vá trời và đoạn sau lời đối thoại của Tần Bật, hoàn toàn trùng khớp với cấu hình của Hậu thiên Bát quái được minh họa: Đồ hình minh họa truyền thuyết Bà Nữ Oa vá trời và cấu hình Hậu thiên bát quái file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Qua đồ hình trên bạn đọc cũng nhận thấy rằng: Về cấu hình phương vị Hậu thiên Bát quái và về nội dung liên hệ Bát quái với thuyết Âm dương - Ngũ hành: - Trục Càn - Khôn ở Tiên Thiên là trục thẳng đứng, hình tượng cây cột chống trời Bất Chu (chống trên đất Khôn, đỡ trời Càn) chính là trục Càn Khôn trong Tiên thiên Bát quái. Nhưng trong Hậu thiên được thay thế bằng trục Khảm (Thủy) - Ly (Hỏa). Thủy - Hỏa xung khắc được hình tượng bằng cuộc chiến giữa thần nước Cộng Công và thần lửa Chúc Dung. - Quẻ Càn (Trời) trong Hậu Thiên lệch về phía Tây Bắc, ứng với câu “Trời nghiêng về phía Tây Bắc”. Quẻ Khảm (Thủy) ở Hậu Thiên, được thay thế cho vị trí quẻ Càn ở Tiên Tthiên ứng với câu “Nước từ trên trời đổ xuống gây ngập lụt ở trần gian”. - Sự khác nhau duy nhất giữa truyền thuyết và cấu hình của Hậu thiên Bát quái là “Đất đổ về phía Đông Nam”, nhưng ở Hậu Thiên Bát quái quẻ Khôn - tượng đất - lại ở về phía Tây Nam. Nếu ta theo truyền thuyết, đưa quẻ Khôn - tượng đất về phía Đông Nam và quẻ Tốn về phía Tây Nam thì hoàn toàn bảo đảm được tính cân đối của đồ hình Bát quái Hậu thiên như trong Bát quái Tiên thiên. - Cột trời có tên Bất Chu - hiểu theo một nghĩa khác thì đây là sự phủ định: Chu Dịch không phải do Chu Văn Vương (Nhà Chu) làm ra. Liên hệ với quả trứng vũ trụ trong truyền thuyết Thần Bàn Cổ cho thấy chữ Chu phải hiểu là một vòng tròn (quả trứng). - Hình ảnh bà Nữ Oa sử dụng đá ngũ sắc làm vật liệu để vá trời cho thấy: Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là nền tảng của Tiên Thiên và Hậu thiên Bát quái. - Hình ảnh bà Nữ Oa đốt cỏ lấy tro ngăn nước còn có một ý nghĩa liên hệ: Hỏa (đốt cỏ) - sinh Thổ (thành tro, còn có nghĩa là Âm Hỏa) - khắc Thủy (ngăn nước). Hiện tượng này còn chứng tỏ sự liên quan giữa Hậu Thiên Bát quái và Hà đồ. Tính cân đối sau khi đổi vị trí quái Tốn - Khôn sẽ hoàn toàn vô nghĩa, nếu chỉ dừng lại ở đây. Sự hướng dẫn mang tính mật ngữ ẩn chứa trong các truyền thuyết dân gian được coi là của Trung Quốc, nhưng không loại trừ khả năng có nguồn gốc Lạc Việt, còn tồn tại ở Nam sông Dương Tử - sẽ không hơn một ý tưởng về tính cân đối của Hậu Thiên Bát quái trong các cuộc tranh luận về vấn đề này. Nhưng tính cân đối rất quan yếu - trong việc đổi chỗ hai quái Tốn Khôn của cấu hình Hậu thiên Bát quái - lại thể hiện sự tương quan hợp lý trong sự liên hệ với thứ tự của 64 quẻ kép thuộc hệ thống Hậu Thiên và một số vấn đề liên quan được trình bày dưới đây. Thuyết quái truyện vốn được không ít các học giả cho rằng mang tính dị đoan. Điều này được thể hiện ở nhiều cuốn Kinh Dịch Việt ngữ đã bỏ không dịch Thuyết quái. Tuy nhiên, Tiết 5 của Thuyết quái lại được coi là sự bảo chứng cho cấu hình Hậu Thiên Bát quái, vì tính trùng khớp với thứ tự thuận chiều của nó: Tiết 5 - Thuyết Quái viết: “Đế xuất hồ Chấn. Tề hồ Tốn. Tương kiến hồ Ly. Chí dịch hồ Khôn. Duyệt ngôn hồ Đoài. Chiến hồ Kiền. Lao hồ Khảm. Thành ngôn hồ Cấn”. Sự trùng khớp theo thứ tự thuận chiều với đồ hình Hậu thiên Bát quái theo cổ thư chữ Hán bắt đầu từ quái Chấn như sau: file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Nhưng với sự diễn đạt ở trên thì nội dung Thuyết quái không trực tiếp thể hiện cấu trúc phương vị Hậu thiên Bát quái. Nghĩa đen của Tiết 5 - Thuyết quái chỉ có thể hiểu là: Đế xuất hồ Chấn = Vua ra cửa Chấn. Đế xuất hồ Chấn Vua ra cửa Chấn Tề hồ Tốn Làm bằng cửa Tốn Tương kiến hồ Ly Gặp gỡ cửa Ly Trí dịch hồ Khôn Suy nghĩ chuyển cửa Khôn Thuyết ngôn hồ Đoài Vui vẻ cửa Đoài Chiến hồ Càn Tranh chấp cửa Càn Lao hồ Khảm Mệt nhọc ở cửa Khảm Thành ngôn hồ Cấn Nói xong ở cửa Cấn Tề (*) hồ Tốn = Làm bằng cửa Tốn * Tề - Động từ; tiếng cổ có nghĩa là: làm bằng, cào bằng, làm cho cùn, tà . Hiện ở đồng bằng Nam Bộ, người ta vẫn còn dùng với nghĩa trên. Hậu thiên Văn Vương đổi chỗ Tốn Khôn file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Như vậy, rõ ràng ý nghĩa trực tiếp của câu 2 và 4 trong tiết 5 là: san bằng cửa Tốn, suy nghĩ để chuyển cửa Khôn (Trích từ Tìm về cội nguồn Kinh dịch, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nxb Văn hóa Thông tin, 2002). Từ việc đổi chỗ Tốn Khôn trong Hậu Thiên Bát quái, hệ quả dẫn đến sự thay đổi hoàng loại các vấn đề có liên quan trong các phương pháp học thuật Đông Phương, như việc đổi chỗ hai hành Thủy, Hỏa trong bảng Lục thập hoa giáp. Qua Chương II: TIẾNG TRỐNG HOÀNG KIM, chúng ta cũng đã thấy việc thay đổi Tốn Khôn cũng là chìa khóa để giải thích các biểu tượng trên trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ. Về mặt lịch sử, chúng ta cũng đã biết rằng Tam Hoàng Ngũ Đế là các vị vua trong lịch sử Việt Nam và Trung Quốc, trong đó Phục Hy là Thanh đế, hành Mộc, phương Đông, đồng thời Phục Hy và Nữ Oa là biểu tượng của Âm Dương nhưng qua câu chuyện Thần Bàn Cổ và Bà Nữ Oa vá trời tương ứng Tiên Thiên và Hậu thiên Bát quái thì xảy ra nghi vấn Bàn Cổ chính là Phục Hy? Mặt khác, theo bức tranh Tứ Công đồng thì có một Thánh mẫu ở vị trí cao hơn cả Phục Hy, vấn đề này cần được làm rõ. Theo cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, thì cha của Phục Hy là Hy Hòa, mẹ là bà Nữ Hoàng Anh, đây là hai vị tiên liệt có lịch sử lâu đời nhất của nước Việt, và được xem là thủy tổ của dòng tộc Việt. Kinh Thư ghi nhận sự kiện vua Nghiêu sai hai đại thần của mình là họ Hy và họ Hòa làm ra, phải chăng chính lá Phục Hy và Hy Hòa, nếu đúng thì vua Nghiêu lại đi sai ông tổ của mình là Phục Hy làm lịch? Tuy nhiên chúng ta hiểu rằng đây là dữ liệu mang dấu ấn của lịch sử. Lời mở đầu Kinh Thư “ Viết nhược kê cổ” rất khó hiểu và vô nghĩa, và nếu dịch “người Việt kể lại tích xưa” là hoàn toàn hợp lý với cuốn sách. Sách Thông Chí của Trịnh Tiều viết: “Đời Đào Đường (vua Nghiêu - năm 2253 tr.CN) phương Nam có bộ Việt Thường cử sứ bộ qua hai lần phiên dịch sang chầu, dâng con rùa thần có lẽ đã sống trên 1000 năm, mình dài hơn 3 thước, trên lưng có khắc văn tự khoa đẩu ghi việc trời đất mở mang. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Qui Lịch. (Bàn về Vạn niên lịch, tác giả Tân Việt Thiều Phong, Nxb Văn hóa Dân tộc 1995)”. Thời vua Nghiêu được ước tính có niên đại 2253 tr.CN, tức là sau thời Hùng Vương lập quốc khoảng 600 năm. Căn cứ vào nội dung của Hậu Thiên Bát quái và Hà đồ và việc tặng lịch của người Việt Thường cho vua Nghiêu; cùng với việc phát hiện ra các chòm sao Thiên Cực Bắc như Vũ Tiên, Thiên Long đã chứng tỏ: Người Việt đã phát minh ra Âm Dương lịch sớm nhất thế giới, bởi vì nội dung của Âm Dương lịch không phải chỉ căn cứ đơn thuần vào sự vận động của mặt Trời và mặt Trăng mà còn có sự tương ứng với vị trí của những chòm sao định vị trên Thiên hà gần Thái Dương Hệ. Trong dân gian Việt Nam còn truyền tụng một câu ca dao độc đáo: Ai về nhắn họ Hy Hòa, Nhuận năm sao chẳng nhuận vài trống canh? “Vài trống canh” chính là sự điều chỉnh lịch năm theo chu kỳ tuế sai 25.920 năm của trục trái đất tiến động xung quanh các chòm sao Thiên Cực Bắc. Theo Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, đình làng Văn Lôi, tên Nôm xưa là Kẻ Mỹ, sau gọi là làng yên Mỹ, nay thuộc xã Bình Yên, Thạch Thất, ở đây thờ liệt vị đầu tiên người Việt cổ định cư. Trong chính giữa nơi thờ có một bức đại tự: “Lịch Đại Đế Vương” duy nhất thờ ở đây, chưa từng thấy nơi nào có đại tự này. Đình bị giặc Pháp phá, sau được xây lại. Đây chính là nơi thờ cụ Hòa Hy, cha của vua Phục Hy, Thanh Đế. Lịch đại đế vương Mỹ Thuật Tùy Đường (581-907) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpg Với các dữ kiện lịch sử, chứng tỏ rằng thuyết Âm Dương Ngũ Hành đã có từ thời Hòa Hy với truyền thuyết ghi nhận qua câu chuyện Thần Bàn Cổ và Bà Nữ Oa vá trời, bởi vì rằng nếu Phục Hy phát minh ra Tiên Thiên Bát quái và Nữ Oa với Hậu Thiên Bát quái thì phải kế thừa lịch sử trước đó. Thuyết Âm Dương Ngũ Hành còn ghi nhiều dấu ấn rất rõ nét trong nền văn hóa Việt tới tận ngày nay. Truyền thuyết bánh Chưng bánh Dầy và thuyết Âm Dương ngũ hành Bánh Chưng bánh Dầy là một biểu tượng văn hóa đặc trưng độc đáo của người Việt Nam. Theo truyền thuyết kể lại, biểu tượng văn hoá này có nguồn gốc từ thời Hùng Vương thứ VI lưu truyền đến tận bây giờ. Hầu hết mọi người quan tâm đến Truyền thuyết bánh Chưng, bánh Dầy đều thống nhất nhận thấy ở trong đó thể hiện vũ trụ quan của dân tộc Việt. Nhưng hầu hết những ý kiến đều cho đó là quan niệm thô sơ của người xưa: “Trời tròn, đất vuông”. Trời như cái vung úp xuống đất, đất bằng phẳng và chung quanh là biển. Hoặc cũng có người cho rằng bánh chưng, bánh dầy là thể hiện những giá trị đạo lý của người xưa đối với cha mẹ: “Trời sinh là cha, đất dưỡng là mẹ”. Bánh Chưng tượng đất, chứa đựng những hình tượng về sự phú túc của đất mẹ nuôi dưỡng con người (trong bài tựa Lĩnh Nam Chích Quái của Vũ Quỳnh, thời Hồng Đức cũng nói đến ý này)... Do đó, nếu chỉ với ý nghĩa và hình tượng đơn giản được gán cho bánh chưng, bánh dầy thì sẽ khó bền vững qua thời gian hơn 2000 năm, chỉ tính với thời gian ít nhất là từ khi Nam Việt của Triệu Đà bị tiêu diệt. Trên thực tế hiện nay, vì chiếc bánh chưng bánh dầy đã mất ý nghĩa nguyên thủy đích thực, nên sự tồn tại của nó chỉ là một phong tục truyền thống và sự cảm nhận thiêng liêng đối với tổ tiên, hơn là một sự tiếp nối những giá trị tư tưởng mà bánh chưng, bánh dầy thể hiện. Vậy ý nghĩa đích thực của bánh chưng, bánh dầy là gì? Trước hết, chúng ta đặt vấn đề bắt đầu từ hình tượng bánh chưng vuông và bánh dầy tròn. Hình tượng vuông tròn này đã được sử dụng một cách phổ biến trong ngôn ngữ dân gian, đó là câu: “Mẹ tròn, con vuông”. Từ trước đến nay, câu “Mẹ tròn, con vuông” thường sử dụng sai lầm như là một thành ngữ để chúc lành cho sản phụ sinh nở. Để tìm hiểu về vấn đề này, phải bắt đầu với những ý niệm của vũ trụ quan cổ Đông phương. Câu nói của người Việt được lưu truyền: “Mẹ tròn, con vuông” thường là để chúc lành cho sản phụ sắp sinh nở sẽ rất khó hiểu về ý nghĩa thực tế, nhưng nếu coi đó là câu tục ngữ mà ông cha lưu truyền cho đời sau sự nhận thức về vũ trụ, thì hoàn toàn có thể hiểu được: tính hiếu sinh của vũ trụ - Thái Cực sinh Lưỡng Nghi và Âm Dương hài hòa là nguồn gốc của mọi sự phát triển tốt đẹp. Theo thuyết Âm Dương thì phạm trù của Âm Dương rất rộng: bao trùm từ sự khởi nguyên cho đến mọi sự vận động, phát sinh, phát triển của vũ trụ. Dương bao gồm: Trời, cha, đàn ông... Âm bao gồm: Đất, mẹ, đàn bà... Như vậy, hình tượng vuông tròn và tính chất của bánh chưng, bánh dầy hoàn toàn đầy đủ điều kiện để biểu tượng cho Âm Dương: Bánh dầy có màu trắng, không vị của nếp giã thể hiện sự thuần khiết; tính dẻo thể hiện sự thông biến; hình tròn của bánh dầy thể hiện sự viên mãn của Dương. Bánh chưng hình vuông là tượng của Âm. Nhưng những vật liệu cấu tạo nên bánh chưng là một vấn đề đáng chú ý khi hình tượng vuông tròn của bánh chưng, bánh dầy thể hiện Âm Dương trong vũ trụ quan cổ Đông phương. Thuyết Âm Dương và Ngũ hành được chính thức chấp nhận từ thời Hán trong lịch sử Trung Quốc về sau có nói đến: sự chuyển hóa Âm Dương sinh ra 5 dạng vật chất căn bản là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ gọi chung là Ngũ hành. Năm dạng vật chất này tương tác lẫn nhau trong sự chi phối của Âm Dương tạo nên vạn vật. Sự tương tác, vận động của Ngũ hành trong thuyết Âm Dương Ngũ hành rất phức tạp, nhưng khởi thủy từ hai dạng vận động chính là tương sinh và tương khắc được thể hiện ở hình vẽ sau. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Nhìn chung Ngũ hành tương sinh là nguồn gốc của mọi sự phát sinh và phát triển trong sự chi phối hài hòa của Âm Dương. Ngũ Hành tương khắc là nguồn gốc của mọi sự ngưng trệ. Tượng của Ngũ Hành khi thể hiện ở màu sắc là: Hỏa màu đỏ; Thổ màu vàng; Kim màu trắng; Thủy màu đen; Mộc màu xanh lá cây. Xét cấu tạo của chiếc bánh chưng gồm bốn vật liệu chính và phải luộc bánh (dụng Thủy) thì có thể khẳng định đó là biểu tượng của Ngũ hành được sắp xếp theo lý tương sinh từ trong ra ngoài: thịt lợn (heo) sắc hồng thuộc Hỏa sinh Thổ - sắc vàng của đậu xanh; Thổ sinh Kim - sắc trắng của gạo nếp; Kim sinh Thủy - dịch chất của gạo nếp và diệp lục tố của lá dong tạo nên màu xanh trên mặt bánh khi luộc; Thủy dưỡng Mộc - lá dong bọc bên ngoài bánh. Cách buộc dây lạc ( lạt) của bánh chưng lễ gồm 4 sợi dây lạc nhuộm đỏ, buộc từng cặp song song và vuông góc với nhau chia bánh chưng thành 9 hình vuông, còn liên quan đến một đồ hình bí ẩn trong văn hoá đông phương cổ đó là cửu cung Hà đồ. Bánh chưng Biểu tượng của Ngũ hành tương sinh file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Bánh Chưng bánh Dầy đã được chấm giải nhất trong cuộc thi, không phải là ngon hơn các món ăn khác mà là tính biểu tượng cao của nó. Vì vậy, chiếc bánh chưng, bánh dầy không chỉ thể hiện quan niệm vũ trụ quan một cách đơn giản theo cách hiểu của đời sau, khi truyền thuyết này phải xuyên qua thời gian, không gian lịch sử được tính bằng thiên niên kỷ. Bởi vì, nếu bánh chưng, bánh dầy chỉ thể hiện những ý niệm đơn giản như người đời sau quan niệm, thì không chỉ có bánh chưng, bánh dầy mới thể hiện được sự đơn giản đó. Chỉ có sự thể hiện cho thuyết Âm Dương Ngũ hành mới chứng tỏ được tính biểu tượng độc đáo của nó. Bánh chưng, bánh dầy được vua Hùng Vương VI chấm giải nhất, vì tính biểu tượng độc đáo, thể hiện thuyết Âm Dương Ngũ hành hệ tư tưởng vũ trụ quan chính thống trong nền văn minh Văn Lang. Trong dòng tranh dân gian Hàng Trống, có bộ tranh nhị bình bức tranh Ngũ hổ, thể hiện tín ngưỡng của người Lạc Việt về một sức mạnh thiên nhiên huyền bí, đồng thời cũng giải thích rõ hơn: Tranh thờ Ngũ Hổ Tranh dân gian Hàng Trống và Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Loài vật được thờ phụng dân gian là Hổ hay Ông Ba mươi, tượng trưng cho các vị thần tướng trấn ngự các phương Đông, Tây, Nam, Bắc và trung ương. Hổ là con vật chúa tể của rừng xanh, dân gian đã thần thánh hóa nó, tượng trưng cho sức mạnh thiêng liêng, có thể diệt trừ được ma quỷ, nên “ngài” được tôn thờ và vì vậy hình tượng con Hổ trở thành một đề tài phổ biến của nghệ thuật dân gian các nước châu Á. Trong nhà Hắc hổ trấn phù, Sinh con sinh cái nuôi cho dễ dàng.(trích truyện thơ Nôm Trinh Thử) Những gia đình có thờ “Ông Ba mươi” thường đặt bức tranh này dưới tranh tượng thờ thần thánh hoặc thờ Phật. Tại các đình, đền, miếu tượng ngài thường được trang trí tại các bình phong trước chính môn. Trong các môn phong thủy hình ảnh ngài được dùng làm bùa trấn trạch. Bùa trấn trạch Tham khảo cuốn Đồ họa cổ Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Thực ra bức tranh thờ Ngũ hổ có xuất xứ từ một nền minh triết có nền tảng là học thuyết vũ trụ quan cổ là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Hổ là một biểu tượng được lựa chọn thể hiện cho sự vận động của Ngũ hành, chứ không phải là nguyên nhân của tục thờ Ngũ hổ. Theo thuyết Âm Dương Ngũ hành thì: Ngũ hành chính là một dạng tồn tại, và là sự vận động vật chất từ bản nguyên của vũ trụ sau Âm Dương. Chính sự tương tác vận động của Ngũ hành trong sự chi phối của Âm Dương tạo nên sự hiện hữu của vũ trụ hiện nay. Mỗi hành có một màu đặc trưng: hành Hỏa màu đỏ; hành Thủy màu đen; hành Thổ màu Vàng; hành Kim màu trắng; hành Mộc màu xanh lá cây. Cũng theo thuyết Âm Dương Ngũ hành thì hành Thổ là sự qui tàng của bốn hành kia trong chu kỳ vận động của Ngũ hành. Đó là nguyên nhân để tạo màu trong tranh thờ Ngũ hổ và là nguyên nhân để Hổ vàng đứng giữa và lớn hơn cả. Nhưng hình tượng trong tranh thờ Ngũ hổ cũng không chỉ dừng tại đây, mà nó chính là sự thể hiện cho nội dung của hai đồ hình bí ẩn nhất trong văn hóa Đông phương cổ. Đó là đồ hình Lạc thư & Hà đồ. Trong những bản văn cổ nhất mà nhân loại biết được viết bằng chữ Hán lưu truyền hàng ngàn năm nay viết về hai đồ hình này như sau: Vào thời vua Phục Hy, có một con Long mã xuất hiện ở sông Hoàng hà, trên lưng nó có những vòng xoáy. Nhà vua bèn chép lại những vòng xoáy đó và tạo ra Hà đồ. Nghĩa chữ Hà đồ theo cách hiểu trong bản văn cổ chữ Hán có nghĩa là đồ hình trên sông Hoàng Hà. Căn cứ trên đồ hình Hà đồ, vua Phục Hy đã sáng tạo ra đồ hình Tiên thiên Bát quái. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Đồ hình Hà đồ file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Hình Hà đồ cửu cung Còn Lạc thư - cũng theo bản văn cổ chữ Hán thì xuất hiện trên lưng con rùa thần ở sông Lạc thủy vào thời vua Đại Vũ (vị vua huyền thoại được coi là của Trung Quốc có niên đại 2205 năm tr.CN). Căn cứ vào những vòng tròn trên mình rùa vua Đại Vũ vẽ lại thành một đồ hình gọi là Lạc thư. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Đồ hình Lạc thư file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Lạc thư cửu cung Trên cơ sở đồ hình Lạc thư, vua Đại Vũ đã làm ra Hồng Phạm cửu trù. Trong Hồng phạm cửu trù thì trù thứ nhất nói về Ngũ hành. Như vậy, theo bản văn cổ chữ Hán thì thuyết Ngũ hành xuất hiện sớm nhất vào thời vua Đại Vũ. Nhưng chính bức tranh Ngũ Hổ dân dã của người Lạc Việt lại mang một nội dung hoàn chỉnh và hướng tới ý nghĩa đích thực của Hà đồ Lạc thư - đồ hình căn bản của nền lý học cổ Đông phương. Nếu chúng ta chồng đồ hình cửu cung lên hai bức tranh Ngũ hổ của làng Đông Hồ và Hàng Trống thì chúng ta sẽ nhận thấy một sự trùng khớp như sau: Tranh Ngũ hổ làng Đông Hồ có chiều Ngũ hành tương khắc như trong đồ hình của Lạc thư. Tranh Ngũ hổ Hàng Trống có chiều Ngũ hành tương sinh như trong đồ hình của Hà đồ. Trong tranh Ngũ hổ Đông Hồ thì Hổ vàng ở giữa, chân trước đặt lên hòm ấn có khắc sáu vạch. Nếu chúng ta lật ngược lại 90o thì đây chính là ký hiệu của quẻ Bát thuần Càn trong Kinh Dịch. Quẻ Bát thuần Càn là biểu tượng của cực Dương. Ý nghĩa ký hiệu này cho thấy những vấn đề sau đây: - Lạc thư thuộc Dương (tổng độ số chấm trắng thuộc Dương trong Lạc thư là 25 trội hơn tổng độ số chấm đen trong Lạc thư là 20). - Vì Lạc thư thuộc Dương qua ký hiệu quẻ Bát thuần Càn, cho nên phải có trước Hà đồ. Điều này phủ nhận những bản văn cổ chữ Hán cho rằng Hà đồ có trước, Lạc thư có sau. Qua ký hiệu quẻ Bát thuần Càn trong Lạc thư cho thấy: * Thuyết Âm Dương Ngũ hành chính là nền tảng căn bản của Kinh Dịch. * Ký hiệu Dịch đặt trên hòm ấn đóng kín được bảo vệ bằng một sức mạnh siêu nhiên qua hình tượng Ngũ hổ cho thấy: những bí ẩn của Kinh Dịch chỉ có thể tìm được trong sự vận động của vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành. Tranh Ngũ Hổ Đông Hồ và Lạc thư cửu cung (Chiều Ngũ hành tương khắc ngược kim đồng hồ) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Trong tranh Ngũ Hổ Hàng Trống có chiều Ngũ hành tương sinh như trong cửu cung Hà đồ. Trong tranh này thì Hổ vàng không chặn lên hòm ấn mà ôm lấy miếng phù ghi dòng chữ: “Pháp đại uy nỗ”. Dịch theo ngôn ngữ hiện đại có thể hiểu là qui luật chủ yếu bao trùm. Điều này cho thấy chính Hà đồ là đồ hình căn bản trong sự vận động tương tác của những hiệu ứng vũ trụ lên Trái đất. Bởi vì, sự vận động của bốn mùa trên Trái đất chính là sự vận động của Ngũ hành tương sinh, phù hợp với nguyên lý Ngũ hành tương sinh của tranh Ngũ hổ Hàng Trống. Với tranh Ngũ hổ Đông Hồ thuộc Dương là cái có trước đương nhiên Hà đồ phải là cái có sau thuộc Âm. Điều này phù hợp với độ số vòng tròn đen thuộc Âm là 30 nhiều hơn độ số vòng tròn trắng thuộc Dương là 25 trên Hà đồ. Hà đồ là cái có sau và Hậu thiên Bát quái cũng là cái có sau Tiên thiên Bát quái. Do đó, Hà đồ phải là nền tảng của Hậu thiên Bát quái. Đặc biệt bảy chấm tròn trên đầu Hổ vàng chính là yếu tố quyết định để tìm về cội nguồn đích thực và bản chất của Hà đồ. Đây chính là chòm sao Tiểu Hùng tinh, là chòm sao Thiên cực Bắc trên bầu trời hiện tại. Hay nói một cách khác đây là chòm sao định vị chuẩn cho việc quan sát sự vận động của vũ trụ nhìn từ Trái đất. Hình Ngũ Hổ hàng trống và cửu cung Hà đồ (Chiều Ngũ hành tương sinh thuận kim đồng hồ) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Cả hai tranh Ngũ Hổ đều có những hình tượng: Mặt trời đỏ, năm lá cờ ngũ sắc và năm thanh kiếm. Những hình tượng này lần lượt thể hiện những ý nghĩa sau đây: - Mặt trời đỏ là biểu tượng của Thái cực và xuất xứ phương Nam của nền văn hóa Đông phương. Hay nói một cách khác, chính nền văn minh Lạc Việt là cội nguồn của thuyết Âm Dương Ngũ hành và những ký hiệu của Dịch học chính là một siêu công thức của học thuyết này. - Hình ảnh của cờ lệnh và kiếm trong hai tranh Ngũ hổ thể hiện sức mạnh của tự nhiên trong qui luật vận động của Âm Dương Ngũ hành, chi phối sự vận động của vũ trụ và sự tương tác với Trái đất. Trong Kinh Dịch - Thuyết quái truyện đã sử dụng từ “lệnh” khi nói đến sự vận động của bốn mùa. Đương nhiên muốn ra lệnh phải có quyền lực thể hiện bằng ấn kiếm và cờ tiết. Cả hai bức tranh Ngũ hổ Hàng Trống và Đông Hồ với hình tượng ngũ hổ bảo vệ hòm ấn gắn phù hiệu “Pháp đại uy nỗ” khẳng định quy luật vận động của vũ trụ, cùng với hình tượng bảo kiếm, cờ lệnh và hình ảnh mặt trời mọc chính là nói đến sự vận động của bốn mùa trên trái đất theo nguyên lý tương sinh của ngũ hành cũng nằm trong quy luật chung của vũ trụ, trong đó mặt trời là nguồn sống của mọi sinh vật trên trái đất này, đồng thời chỉ ra chòm sao Tiểu Hùng tinh là chòm sao định vị chuẩn cho việc quan sát sự vận động thiên tượng của vũ trụ nhìn từ Trái đất trong sự phối hợp với quan sát địa thế đất đai và sinh hoạt của con người. Sự phổ biến của bức tranh dân gian Hàng Trống khi du nhập vào trong nền văn hóa dân gian Trung Quốc, đã thay đổi ý nghĩa nguyên thủy của nó, chỉ còn ý nghĩa cát tường dân gian và trở thành bức tranh Ngũ hổ chiêu tài. Ngũ hổ chiêu tài Tranh dân gian Trung Hoa (tỉnh Phúc Kiến) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Miền Bắc Việt Nam có nhiều đền thờ Thánh Mẫu, mà nơi bàn thờ thứ ba thường thờ Hổ gọi là “Hạ ban” vì thờ dưới đất. Trong một buổi “Lên Đồng” thì xác Ðồng lên vai hổ là một màn khó khăn, căng thẳng. Ðộng tác lên vai hổ:“Trùm khăn đỏ (phủ diện) lên đầu, rồi tập trung, lấy tay che mắt, bỗng nhiên thấy hai vai trĩu nặng; con Đồng lấy tay xoa mặt, xong chống tay xuống đất trong tư thế hổ ngồi, rồi gầm thét. Người tham dự biết rằng Thần Hổ đã giáng. Lập tức họ rót rượu vào bát rồi đốt. Con đồng nhúng tay vào, xoa mặt với rượu nóng. Nhìn lên điện thờ, Đồng lại gầm thét. Người dự mang đến bó hương, đồng đốt hương và cắm vào ngọn lửa đang cháy. Sau đó có người mang đến đĩa dầu lửa và đốt lên. Con Đồng cắn vỡ đĩa sành, mồm miệng đầy dầu lửa, và cứ thế lặp lại nhiều lần. Cho đến khi cử tọa yêu cầu ngưng, để biểu diễn việc trừ tà và cho thuốc. Cuối cùng Thần Hổ thăng.”Tạo không khí cho vai Thần Hổ, có nhạc đệm sênh phách, đờn ca bài hát chầu văn đặc biệt Ngũ Hổ luyện văn, có đoạn: Trên Thượng Thiên có năm tướng hổ, Luyện người về để độ vạn dân. Người thời đại độ khoan nhân, Thanh nhàn tự tại sạch không làu làu. Thấy Phật ngự khấu đầu vọng bái, Phật ban cho phép đại uy linh. Có phen hống động thiên đình, Giương nanh ra vuốt quỷ tinh bạt hồn. Có phen tướng xuống Diêm môn, Tà ma khiếp sợ, Phạm Nhan thu hình. Xuống Thủy Tinh các tòa cũng phục, Năm ông đều lại tót lên non. (...) Khi thời biến ra hổ thần, Hiện ra hổ tướng nhãn tinh sáng lòe. Trích Cọp trong Đạo Mẫu và tín ngưỡng dân gian, tác giả Đặng Tiến. Cùng với hai bức tranh Ngũ hổ Hàng Trống và Đông Hồ, các dòng tranh còn lưu trữ những bức tranh khác thể hiện thuyết Âm Dương Ngũ Hành khẳng định nội dung triết học về sự khởi nguyên của vũ trụ, ghi nhận trong Hệ từ của Kinh Dịch: “Thị cố Dịch hữu Thái Cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái”. Thái cực sinh lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh tứ trượng file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Lưỡng nghi sinh tứ trượng (Tranh dân gian Hàng Trống) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Hình Thái Cực trong tranh dân gian Việt Nam Đây là biểu tượng của Thái cực sinh Lưỡng nghi. Điều này hoàn toàn phù hợp với sự giải mã câu “Mẹ tròn, con vuông” trong tục ngữ Việt Nam. Mẹ tròn - cái có trước - biểu tượng của Thái cực, của sự chí tịnh, sinh con vuông - cái có sau - thuộc Âm động. Khi Âm sinh thì mới có sự phân biệt Âm Dương; còn bản thể khởi nguyên của vũ trụ chỉ là Thái cực. Biểu tượng của “Tứ tượng” trong tranh dân gian Việt Nam, khác hẳn ý niệm này trong các cổ thư chữ Hán là nó được thể hiện tách rời đồ hình Thái cực - Âm Dương và Bát quái. Điều này chứng tỏ trong nhận thức vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành của người Lạc Việt đã coi “Tứ tượng” là một chủ thể tương tác trong quá trình vận động của Âm Dương & Bát quái và không phải Âm Dương & Bát quái. Hai chú bé này có 4 thân hình biểu tượng của “Tứ tượng”.Bốn thân hình của đứa bé kết thành hình vuông là biểu tượng của Âm. Có nghĩa “Tứ tượng” là thuộc tính của Âm, tức là thuộc tính của sự vận động. Dương tịnh, Âm động và tứ tượng chính là 4 trạng thái tương tác có ngay từ sự khởi nguyên của vũ trụ theo quan niệm của thuyết Âm Dương Ngũ hành, gồm tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ. Vì sự vận động và trạng thái tương tác không ngừng nghỉ, nên không thể có trạng thái phân biệt rõ rệt như không thể phân biệt giữa “chiều tím” và “hoàng hôn”. Điều này được thể hiện bằng 4 thân hình gắn kết với nhau trong bức tranh trên. Nhưng Âm Dương về nguyên tắc vẫn là trạng thái phân biệt, như ban ngày với ban đêm. Do đó, hình ảnh hai đứa bé cho thấy Âm Dương chi phối “Tứ tượng”. Bức tranh trên còn một hình tượng quan trọng, đó là con rùa. Con rùa là biểu tượng một nền văn minh có chữ viết của người Lạc Việt. Bản văn cổ chữ Hán ghi nhận “Vào đời Đào Nghiêu, có sứ Việt Thường dâng con rùa lớn, trên mai có văn Khoa Đẩu, ghi việc trời đất mở mang”. Như vậy, con rùa chính là phương tiện ghi nhận nền văn minh có chữ viết của người Lạc Việt từ thời cổ xưa. Chú bé “Tứ Tượng” dẫm trên mai con rùa là hình tượng sắc sảo chứng tỏ nó thuộc về văn minh Lạc Việt và đã được ghi nhận từ thời tối cổ; khi mà tổ tiên người Lạc Việt dùng mai rùa để ghi lại những tri thức của mình. Đây cũng là một biểu tượng có nội dung sâu sắc của bức tranh này. Hình ảnh chiếc mai con rùa với những ô nhỏ, sẽ được viết lên các độ số của Hậu thiên Bát quái từ 1-10, và đồ hình trên tay chú bé “Tứ Tượng” chính là đồ hình Hậu thiên Bát quái phối Hà Đồ đã được đổi chỗ Tốn Khôn, những chi tiết này tạo thành một bức tranh hoàn thiện từ nguyên bản ban đầu. Cùng với các biểu tượng Việt dưới đây, chúng đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau khẳng định nội dung triết học về sự vận động có quy luật của vũ trụ và gửi gắm niềm mong ước của Người xưa về một thế giới hòa bình và an lạc thông qua các quẻ Dịch. Tam Dương khai thái Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Đây là một trong những bức tranh đẹp vì tính cân đối với đường nét sinh động và màu sắc hài hòa. Hình tượng trong tranh này vừa có tính ước lệ, tính hiện thực và tính biểu tượng được cách điệu. Sự cách điệu và biểu tượng rõ nét nhất là hình mặt trời ở phía sau hai con gà. Gà gáy khi mặt trời mọc, lý đương nhiên là như vậy. Nhưng tựa của bức tranh lại là Tam Dương khai thái. Với tựa đề này, tự nó đã thể hiện tính minh triết Đông phương trong chủ đề của bức tranh. Nhưng nếu chỉ dừng ở đây, thì bức tranh này cũng chỉ có thể coi là sự diễn tả đơn giản rằng: với độ số Dương 3 là tượng quẻ Chấn - phương Đông – nơi mặt trời mọc; có ý nghĩa chúc lành cho một ngày mới, hoặc một vận hội mới. Hoặc có thể hiểu rằng: Tam Dương là tượng quái Càn (file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg), đây là quái đứng đầu trong bát quái có ý nghĩa thể hiện cho sự hanh thông, tiến triển. Nhưng nếu như vậy, người vẽ chỉ cần thể hiện một trong hai con gà cũng đủ nghĩa. Vì con gà trong trường hợp này chỉ là sự minh họa cho chủ đề trên. Ở đây lại có 2 con giống nhau. Chứng tỏ người vẽ phải gửi gắm một ý tưởng trong hình tượng này. Trước khi giải mã bức tranh, xin được trình bày một hiện tượng trong Kinh Dịch như sau: Trong 64 quẻ dịch thuộc Hậu thiên Bát quái chỉ có một quẻ có tên là Địa Thiên Thái có ký hiệu như sau: file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Trong quẻ này có 3 vạch liền ( file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image011.jpg), đó là 3 hào thuộc Dương gọi là quái Càn và 3 vạch đứt (file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image013.jpg) là ba hào thuộc Âm gọi là quái Khôn. Tên bức tranh Tam dương khai thái đã nói đến ba hào Dương này, còn 3 hào Âm ở đâu? Chúng ta bắt đầu từ biểu tượng mặt trời. Biểu tượng mặt trời cho thấy toàn bộ bức tranh này thuộc về hành Hỏa. Trong Kinh Dịch cũng nói quẻ Ly thuộc phương Nam, hành Hỏa và là biểu tượng của mặt trời. Thuyết quái viết: “Ly vi Hỏa, vi Nhật…”. Bây giờ chúng ta trở lại với đồ hình Hậu Thiên Bát quái. Hậu thiên Bát Quái liên hệ với Lạc thư theo cổ thư chữ Hán file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image015.jpg Về vấn đề này, tính không hợp lý của đồ hình Hậu thiên Bát quái trong bản văn cổ chữ Hán và phải đổi vị trí của hai quẻ Tốn và Khôn. Đồng thời, sau khi đã đổi chỗ hai quẻ Tốn và Khôn, đồ hình Hà đồ chính là căn nguyên của Hậu thiên bát quái. Đồ hình Hà đồ và Hậu thiên Bát quái nguyên thủy file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image017.jpg<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Qua đồ hình trên, bạn đọc sẽ nhận thấy rằng: Quẻ Ly nằm ở vị trí Dương Hỏa phù hợp với vị trí của nó mà Thuyết quái đề cập đến. Đồng thời quẻ Khôn nằm ở vị trí Âm Hỏa, độ số là 2. Nếu đặt vấn đề là: Trong trường hợp Hậu thiên Bát quái liên hệ với Lạc thư, như cổ thư chữ Hán nói đến, thì quái Khôn vẫn nằm ở vị trí Âm Hỏa độ số 2. Điều này đúng như vậy; và đây cũng chính là sợi tóc cản trở góp phần tạo nên sự bí ẩn trải hàng thiên niên kỷ cho cuốn kỳ thư Đông phương này - khi nó đã thiếu khuyết hẳn một hệ thống lý thuyết cho nó - khiến rất khó phát hiện ra sự sai lệch của nó qua phương pháp ứng dụng. Do độ số (2) và tính chất (Âm Hỏa) không đổi, nó chỉ sai lệch khi ứng dụng trong sự vận động liên quan đến phương vị của quái Khôn. Sự thay đổi phương vị của quái Tốn & Khôn là một trong những sự thay đổi có tính căn để trong thuyết Âm Dương Ngũ hành và Bát quái. Đó cũng là sự thay đổi hợp lý nhất có khả năng lý giải mọi hiện tượng và vấn đề liên quan đến nó. Trong trường hợp này là sự hợp lý với hình tượng được thể hiện trong bức tranh dân gian Lạc Việt nói trên: Mặt trời biểu tượng của quái Ly thuộc Hỏa, lại là một bộ phận của chính con gà được cách điệu thành hình mặt trời. Do đó, nó phải liên quan và cùng hành Hỏa của quái Ly. Trong khi đó, nếu theo cổ thư chữ Hán thì mặc dù số của quái Khôn (file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg) cũng có độ số 2 và thuộc Âm Hỏa; nhưng lại liên quan và đồng hành với quái Đoài thuộc Kim (trong hành Hỏa trên Lạc thư). Như vậy, bức tranh này chính là biểu tượng của quẻ Địa Thiên Thái và cho biết quái Khôn phải cùng hành với quái Ly thuộc Hỏa, được biểu tượng bằng 2 con gà quay mặt vào nhau (đối xứng âm dương) có mặt trời phía sau. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi Hậu thiên Bát quái đổi chỗ hai quái Tốn & Khôn và liên hệ với Hà đồ. Trong trường hợp này, câu “Tam Dương khai thái” có thể giải thích là: bắt đầu từ ba hào dương (file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg) hãy tìm vị trí của quái Khôn (file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg) trở thành quẻ Địa Thiên Thái là một quẻ cho vận hạn tốt của vũ trụ. Tam dương khai thái tùng tư thỉ, Tứ quý hưng long tự thử sơ. Ba hào dương mở hội, hanh thông kể từ nay, Bốn mùa hưng thịnh, từ đây khởi đầu. Trong Chương III: NHỊ ĐỘ MAI, chúng ta biết rằng quái Khôn là biểu tượng của Thánh Mẫu Thượng Thiên, Phật Bà Quan Âm và cũng là biểu tượng của “Trái đất”. Trong bức tranh Tam dương khai thái, giữa chân hai con gà là hình ảnh của một cây hoa mọc lên từ dưới đất, thể hiện câu nói phổ biến trong dân gian: “Mẹ ta hoa Phật” chính là nguồn gốc này. Trong bộ tranh thờ Đạo giáo Hành Say, tiêu đề tranh bức tranh trung tâm mang dòng chữ là Phúc - Lộc - Thọ. Phúc là mong được đông con, nhất là con trai để nối dõi, trông coi tài sản, và khi về già cha mẹ được yên tâm vì có con cái chăm sóc. Lộc là bổng lộc, quan tước của triều đình, hưởng lộc vua ban. Thọ là mong ước có được cuộc sống lâu như loài rùa, như cây tùng, cây bách để vui cùng con cháu. Phúc - Lộc - Thọ trong dân gian gọi là Tam Đa, Tam Đa có nghĩa là ba cái nhiều, nhiều phúc, nhiều lộc, nhiều thọ. Dân gian quan niệm rằng: thờ Phúc Lộc Thọ là thờ Cửu Huyền Thất Tổ chung của mọi người, tức mang ý nghĩa thờ ông bà chung. Trong sách Sử Ký Sách Ẩn chú giải: Thọ Tinh tức là Nam Cực Lão Nhân, xây dựng miếu thờ cầu cho được bình an, hưởng phước và sống lâu. Tam Đa Tranh dân gianHàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Liên quan đến Tam Đa, đạo nhân Đào Hoằng Cảnh thời Tề Lương, trong sách Chân Linh Vị Nghiệp Đồ đã xếp Nam Cực Lão Nhân vào “Thái cực tả vị” - bên trái Thái cực. Ngoài ra thông thường còn có sự xắp xếp: Phúc Tinh là chỉ Thiên Quan, Lộc Tinh chỉ Văn Xương, Thọ Tinh vẫn là Nam Cực Lão Nhân. Trong sách Trung Thiên Tử Vi Tinh Chân Bảo Sám lúc triều lễ các vị Tinh Quân, đã có phần lễ bái ba vị “Phúc Tinh Thiên Đức Tinh Quân, Lộc Tinh Thiên Hựu Tinh Quân, Thọ Tinh Lão Nhân Tinh Quân”. Trong sách Kim Lục Trai Huyền Linh Chuyển Kinh Tảo Triều Hành Đạo Nghi của Thành Nghi đời Minh có đề cập đến việc hoàng gia lúc tụng kinh Thái Thượng Huyền Linh Bắc Đẩu Bổn Mệnh Diên Sinh Chân Kinh, trong nghi thức thỉnh thần, ngoài việc thỉnh Tam Thanh, Ngọc Đế, Bắc Đẩu Cửu Tinh Quân, còn phải thỉnh: “Nam Cực Lão Nhân Thọ Đức Tinh Quân, Thượng Thanh Phúc Đức Tinh Quân, và Thượng Thanh Lộc Đức Tinh Quân”. Từ bức tranh dân gian Hàng Trống Tam Đa chúng ta có thể nhận thấy ông Phúc, trông giống một vị đại quan triều đình, tay phải bế đứa bé trai, ông Lộc trông như một vị quan triều đình, tay cầm ngọc như ý, ông Thọ với hình ảnh là một ông già râu tóc bạc trắng, trán hói và dô cao, tay cầm gậy trúc đầu rồng. Xung quanh là 3 đôi tiên đồng ngọc nữ, phía trước có một con kỳ lân đang đứng. Theo cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, Đế Minh hiệu Phúc Đình, Kinh Dương Vương hiệu Phúc Lộc, Lạc Long Quân hiệu Phúc Thọ tức Phật sống lâu không lường được, các vua Hùng nối tiếp hiệu Khang Ninh. Kinh Dương Vương tự Lộc Tục, hiệu Phúc Lộc. Lộc là tài lộc, con hưu, như vậy hình ảnh của ông Lộc chính là Kinh Dương Vương. Hình ảnh của ông Thọ chính là hình ảnh của Lạc Long Quân và hình ảnh của ông Phúc chính là hình ảnh của vua Đế Minh, con lân biểu tượng vua Hùng Quốc Vương và ba đôi tiên đồng ngọc nữ “tam dương tam âm” thể hiện quẻ Thiên Địa Thái. Tiến Tài - Tiến Lộc Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg “Lộc” mang ý nghĩa lộc con hươu, biểu tượng vua Kinh Dương Vương, và “Tài” biểu tượng cho vua Lạc Long Quân, bộ tranh hàm nghĩa tài lộc là do trời ban. Trong dòng tranh dân gian Hàng Trống, cũng có bộ tranh nhị bình treo ngày Tết tương đương nhưng vẽ hai đứa bé cùng với hoa quả, màu sắc rực rỡ. Tiến tài và Tiến Lộc Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Theo một bản gia phả của họ Nguyễn còn lưu giữ ở Vân Nội, Thanh Oai, Hà tây, có ghi: “… Nguyễn Minh Khiết và Hương Vân Cái Bồ Tát sinh ra Ốc tổ Kinh Dương Vương, húy Nguyễn Quảng, sử ký chép là Lộc tục (Tục hái lộc). Con cháu đặt tên tự là Phúc Lộc, giỗ ngày 25 tháng Chạp: Hai ba là Tết ông Công, Hai tư tắm gội, hai nhăm về chầu. Ngày đó gọi là ngày “hội Thiên đình”, các vị thần khắp nơi về đền Kinh Dương Vương ở Phong Châu chầu tổ phải làm lễ tắm gội từ ngày 24. Kể từ ngày 24, rước mã về thờ thì nhân dân ba làng không được vui hát, không được nói to, không được trống phách, đàn sáo, đêm không ra đường, sợ gặp vía các thần thánh, chờ đến lúc giao thừa mới được trống phách, đàn sáo như thường, đó là lễ động thổ”. Từ hình ảnh của Tam Đa, người Việt xưa đã sáng tác vũ khúc Tam Tinh chúc thọ, dùng trong dịp lễ “Vạn Thọ” múa chúc thọ nhà vua: Phơi phới muôn dặm cưỡi mây lành, Bước bước duổi đi mau chóng nhẹ nhàng. Chập chờn nay trên mây rút đất ngắn lại, Chỗ chơi gió lộng tung qua trời. Từ nay soi mãi trên dải non sông, Xua đuổi yêu ma về núi Thái họa. Lúc đến lặng lẽ, lúc đi phơi phới, Sa bà thế giới cười cợt tiêu dao. Hoa thường đẹp, trăng thường tỏ, Người ở tầng thứ nhất trong trời đất. Kỳ lân là một loài linh thú, tương truyền khi kỳ lân xuất hiện sẽ có điềm lành lớn xảy ra. Theo truyền thuyết, kỳ lân có liên quan đến Khổng Tử, ông là một nhà giáo vĩ đại, nhà đạo đức và là nhà tư tưởng lớn của Trung Quốc, được suy tôn là Thánh tổ của Nho gia. Sách xưa đã chép không ít chuyện li kỳ về ngày tạ thế của Khổng Tử, đại để trước đó hai năm, người của nước Lỗ đi săn được con kì lân bị què mất một chân trước ở bên trái. Mọi người thấy thể đều cho là điểm không lành, bèn đem con kì lân ấy ra thả ngoài đồng. Khổng Tử trông thấy, liền buồn bã hỏi rằng: Kì lân ra làm gì thế? Hỏi xong liền bưng mặt khóc. Về nhà Khổng Tử than: Ngô đạo hùng hĩ (nghĩa là đạo của ta đã đến lúc cùng rồi hay sao)?. Chúng ta cũng đã biết rằng, Nho giáo nguồn gốc thời vua Hùng Vương, ghi nhận qua Hồng phạm cửu trù qua cuộc thi Sơn Tinh Thủy Tinh, và cuối cùng Sơn Tinh chiến thắng, cưới công chúa Mỵ Châu và lên ngôi vua. Ông chính là Hùng Vương thứ IV - Hùng Hoa Vương. Như vậy, hình ảnh linh thú kỳ lân được mật ngữ chính là biểu tượng của vua Hùng Quốc Vương, người đặt ra tên nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu. Trong dòng tranh dân gian Đông Hồ còn có bộ tranh nhị bình Đại Cát - Nghi xuân, trong đó bức tranh Đại cát thể hiện nội dung của một quẻ bói tốt nhất cho công việc hoặc tương lai của con người thay cho lời chúc lành. Đại Cát - Nghinh Xuân Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Có lẽ không ít người trong chúng ta đã biết đến một số phương pháp dự báo tương lai, mà ngôn ngữ dân gian gọi nôm là xem bói. Một trong những phương pháp bói cổ xưa và khá phổ biến là bói bằng mai rùa, bằng chân gà. Nhưng bản văn cổ nhất của nền văn minh Đông phương nói đến bói toán lại liên quan đến hình ảnh con gà. Đó chính là trù thứ 7 trong Hồng phạm cửu trù. Trù này có tên là Kê Nghi, có nghĩa là hỏi gà. Trong các nền văn hóa cổ xưa nhất của nhân loại còn di sản lưu truyền đến ngày hôm nay, như Ai cập, Ấn Độ, Hy Lạp và phương Đông… đều tồn tại những phương pháp bói toán. Nhưng chỉ có nền văn hóa phương Đông có hẳn một phương pháp luận cho các phương pháp bói toán này. Đó là thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nếu nói theo ngôn ngữ khoa học hiện đại thì từ “bói” gọi nôm na dân dã ấy, có thể gọi là “khả năng dự báo”, “dự đoán”. Trong quá trình phát triển của nền khoa học hiện đại, bắt đầu từ nhận thức thực chứng, thực nghiệm ngày nay trở thành khoa học lý thuyết. Một thí dụ cho vấn đề này là lý thuyết tuần hoàn hóa học của Mendeleev. Trong tự nhiên, không thể kiếm đâu ra những nguyên tố hoá học được sắp xếp theo bảng tuần hoàn của nhà bác học vĩ đại này. Lý thuyết này đã giải thích được hầu hết những hiện tượng liên quan đến các nguyên tố hóa học. Đặc biệt là nó có khả năng dự báo những nguyên tố sẽ xuất hiện hoặc có khả năng xuất hiện. Hoặc như thuyết lục địa trôi, thuyết tiến hóa của Dacuyn... Chính những lý thuyết này đã chứng tỏ được sự nhận thức của con người, trong việc khám phá những qui luật của tự nhiên. Nền khoa học hiện đại - bao gồm tất cả mọi ngành khoa học đã thừa nhận một tiêu chí khoa học là: “Một lý thuyết khoa học chỉ được coi là đúng, nếu nó có khả năng lý giải hầu hết những vấn đề liên quan đến nó”. Và tất nhiên lý thuyết đó phải có khả năng dự báo. Như vậy, xuất phát từ cái nhìn của nền khoa học hiện đại, thì khả năng dự báo chỉ có thể có được sau khi hình thành một lý thuyết. Điều này đã chứng tỏ rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành đã hoàn chỉnh và tồn tại từ rất lâu trong nền văn minh cổ Đông phương và tất nhiên, nó không thể thuộc về nền văn minh Hán. Không thể có một sự chứng minh nào hợp lý hơn là: nền văn minh Lạc Việt chính là chủ nhân đích thực của học thuyết này. Trong văn hóa dân gian Việt Nam, hình ảnh con gà có một vị trí quan trọng. Thậm chí trong tín ngưỡng dân gian với tục thờ Thánh Mẫu, ở những nơi này biểu tượng con gà được đứng ở vị trí trang trọng trước điện thờ. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam có một hiện tượng rất đáng chú ý. Đó là giá chầu “Cô Chín”, theo truyền thuyết đây là vị thần chuyên phụ trách bói toán. Như vậy, hình tượng con gà trong tranh dân gian Việt Nam và con gà trong tín ngưỡng thờ Thánh, cùng có chung một cội nguồn văn hóa Lạc Việt và gắn liền với việc “bói toán”. Như đã trình bày ở phần trên, hình tượng con gà dùng vào việc bói toán xưa nhất theo bản văn cổ chữ Hán là Hồng phạm cửu trù. Nhưng sử dụng hình ảnh con gà như là một biểu tượng của sự bói toán lại phổ biến trong tín ngưỡng dân gian và trong di sản văn hóa truyền thống Việt Nam. Điều này là một sự minh chứng rõ nét, bổ sung cho quan niệm rằng: Hồng Phạm cửu trù được nhắc tới trong Kinh Thư, chính là một di sản văn hóa của người Lạc Việt và là bản hiến pháp cổ nhất của nước Văn Lang, cội nguồn của nền văn hiến trải gần 5.000 năm của nước Việt Nam hiện nay. Mỗi bức tranh chia làm hai phần, phần dưới vẽ một con gà trống đang chân co chân ruỗi, giương cách vỗ, nét lông đuôi như múa, toàn thân như reo hát chúc tụng. Dân gian quan niệm gà trống là biểu tượng của ngũ đức: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, đó là những đức tính của một bậc quân tử. Gà trống trong 12 con giáp, hành Kim, như đã phân tích trong Chương III: NHỊ ĐỘ MAI, chính là biểu tượng của vua Lạc Long Quân. Trong tranh dân gian Kim Hoàng Gà trống có hai bức, mỗi bức đề một bài thơ tứ tuyệt nói rõ con gà có năm đức, hình dáng oai nghiêm, hùng dũng, khi gáy lên thì vang động tới rừng núi, khiến cho quỷ khốc thần kinh, tà chạy tán loạn, gìn giữ cho các gia đình khỏa mạnh sống lâu: Thần kê ngũ đức thái phượng hình, Cảnh thượng Côn Lôn đẩu hoán thanh. Quỷ khóc thần kinh tà tẩu tán, Trấn chi môn hộ thọ trường sinh. Và ở vế kia, tiếng gà gáy đồng nghĩa với vừng đông mọc, ánh sáng của mặt trời xóa tan đi bóng đêm tăm tối. Bằng cựa vàng, mào hoa và năm móng sắc, con gà phù hộ cho các gia đình, khiến cho bầy quỷ phải tránh xa, cảnh nhà có nhiều may mắn tốt tươi vui vẻ: Đông phương di hiệu thực tà thần, Kim cự hoa khôi ngũ thái văn. Bộ hộ khả linh quần quỷ tị, Môn môn trùng khánh vạn niên thanh. Gà gáy báo hiệu một ngày mới, một năm mới, một vận hội mới mà nhân gian đang chờ đón đó là thời đại “Hoàng Kim”, đã được đặt tên cho dòng tranh này. Kim kê Tranh dân gian Kim Hoàng, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Kết hợp với bộ tranh dân gian Kim Hoàng, bộ tranh “Đại cát - Nginh xuân” như một lời tiên tri của những mùa xuân nước Việt, mà sau này Trạng Trình Nguyễn Bình Khiêm cũng dự đã ngôn: Hồng lam ngũ bách nghinh thiên hạ, Hưng tổ diên trường ức vạn xuân. Sự mơ ước của con người về trường thọ không chỉ cho cuộc sống hiện tại, mà còn mong ước cuộc sống vĩnh cửu như các vị tiên, những người đã đắc đạo trường sinh. Huyền thoại Lão giáo kể rằng có 8 vị tiên nổi tiếng thường được gọi là Bát Tiên, gồm 6 tiên ông và 2 tiên bà ở 8 động đá trên đảo Bồng Lai, cõi thần tiên. Trong tranh dân gian Hàng Trống gọi là Bát Tiên náo hải, cùng với bức tranh Tam Đa ở trên tạo thành bộ tranh nhị bình. Bát Tiên náo hải Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam Bát tiên náo hải Tranh tường kinh thành Huế, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Câu chuyện Bát Tiên có từ thời Tống Nguyên. Chuyện kể về 8 vị tiên lên thiên đình dự tiệc bàn đào và chúc thọ Tây Vương Mẫu, sau đó vượt biển trở về. Tương truyền, vào ngày Tết Thanh minh mồng 3 tháng Ba âm lịch của một năm, sau khi ăn uống no say, 8 vị tiên trở về nhà, hành trình của họ phải vượt qua biển Đông. Lữ Đồng Tân đề nghị không vượt biển cưỡi mây mà bằng bảo bối của mình. Thế là mỗi vị tiên đều trổ tài vượt biển bằng bảo bối với phép thuật riêng: Lý Thiết Quài thả quả hồ lô, Hán Chung Ly thả quạt, Trương Quả Lão thả trống như cổ, Lữ Đồng Tân thả thanh kiếm, Lam Thái Hòa thả giỏ hoa lam, Hàn Tương Tử thả cây sáo, Tào Quốc Cữu thả ngọc bản và Hà Tiên Cô thả hoa sen. Trên mặt biển họ thi thố phép thuật, làm mưa làm gió, vì thế đã kinh động đến vị thái tử của Đông Hải Long Vương. Thái tử đã nhấn chìm ngọc bản của Tào Quốc Cữu, rồi Hà Tiên Cô lại rơi vào long cung, cuộc chiến diễn ra ác liệt. Bát tiên làm náo loạn biển Đông để giành lại ngọc bản. Long Vương cũng không chịu thua liền mời thiên binh tới giúp, cuối cùng phải nhờ Phật Tổ Như Lai đứng ra giải quyết sự việc mới dừng lại. Về sau, câu chuyện này được soạn lại thành rất nhiều vở kịch và thường được biểu diễn tại các buổi chúc thọ trong dân gian. Trương Quả Lão là vị tiên già nhất trong 8 vị tiên, tên thật là Trương Quả, tại sao gọi là Trương Quả Lão? Nghe nói ông sống tới 8000 năm nên mọi người gọi tên ông như vậy. Trong lịch sử Trung Hoa thì Trương Quả Lão là người có thật, là một thuật sỹ nổi tiếng, trong Đường Thi xưa và nay đều kể rất nhiều chuyện liên quan tới ông. Ông thường ẩn cư trong núi, sau đó lại tới Hằng Sơn tu luyện. Ngày nay, ở núi Hằng Sơn vẫn còn lưu lại dấu tích của ông. (Dân gian sinh tử toàn thư, Nxb. Thời đại, 2011, trang 272 - 273). <a name="battien_truongqualao">Trương Quả Lão tương truyền là Trương Quả: Ông đã ẩn cư lâu dài trong núi Trung Điền, sống đến mấy trăm tuổi. Nữ Hoàng Võ Tắc Thiên nhà Đường (690-705) đã từng tuyên triệu vào triều, nhưng ông giả chết không đến. Ông có bảo bối là một cái ống tre, ở trong ống tre có một con lừa trắng bằng giấy. Khi dùng đến lừa thì đổ ống tre ra, con lừa bé tí tẹo lớn lên trong phút chốc, ngày có thể đi hàng mấy vạn dặm đường. Ông thường cưỡi ngược lừa, mà lừa vẫn đi tới nơi ông định tới. Khi nghỉ thì ông gấp lừa bỏ lại vào trong ống tre đeo bên mình. Người ta nói ông có sự khôn ngoan của tuổi già và khả năng tàng hình. Vị tiên này được xem là một vị thánh, hình ảnh của ông mang lại trí tuệ và sự khôn ngoan cho người cha của gia đình. Biểu tượng của ông là ngư cổ, là một cái trống tre hình ống với hai dùi trống bằng sắt mà ông mang theo bên mình, hoặc mang theo một chiếc lông phượng hoàng hay một quả đào, tượng trưng cho sự bất tử. Lam Thái Hòa: Lam Thái Hòa là Xích Cước Ðại Tiên đầu thai xuống trần, nên thường mặc áo màu đỏ, buộc dây lưng đen, một chân đi đất, một chân mang giày, mùa hè mặc áo bông mà không biết nóng nực, mùa đông chỉ mặc áo chiếc mà không biết lạnh. Bà thường mang theo một rổ hoa và được xem là hình tượng của người mẹ. Lam Thái Hòa là vị tiên thích uống rượu đến mức say sưa và khi đó rời bỏ thế giới này để bay lên trời bằng cách cưỡi thiên nga hay hạc. Một số nguồn minh họa Lam Thái Hòa mặc áo dài cũ màu xanh lam có 6 cúc bằng gỗ. Lữ Ðồng Tân: Tương truyền là Lữ Thuần Dương, người Trung Phủ (nay là huyện Vĩnh Tế huyện Sơn Tây) thời Đường. Nhân đi thi tiến sĩ hai lần không đậu bèn vân du bốn phương. Gặp Chung Ly Quyền cho đan quyết mà đắc đạo thành tiên. Ông là một trong 5 ông tổ của phái Bắc - Toàn - chân đạo (Năm người đó là Chung Ly Quyền thành tiên đời Hán, Lữ Thuần Dương thành tiên đời Đường, Lưu Hải Thiềm thành tiên đời Tống, Vương Trùng Dương và Vương Thiếu Dương thành tiên đời Nguyên). Ông có bảo bối là một cây kiếm tiên: chỉ sông sông cạn, chỉ núi núi mòn. Khi bà mẹ mới sinh ông thì trong phòng mùi hương thơm phức, có hạc trắng bay vào phòng rồi biến mất. Lữ Ðồng Tân lớn lên, mắt phụng mày ngài, tay dài, cổ cao, mũi thẳng, xương gò má cao, chơn mày bên tả có nốt ruồi, dưới bàn chân có chỉ như lưng qui, mình cao 8 thước 2, tánh ưa bịt khăn huê dương (bao đảnh xanh), mặc áo đạo sĩ. Lữ Ðồng Tân được xem là bùa hộ mệnh của người bệnh, trên lưng ông là thanh kiếm dùng diệt trừ ma quỷ và chặt đứt nỗi khổ. Tay phải ông cầm một cây phất trần để chữa bệnh. Hà Tiên Cô: Tương tuyền là một phụ nữ ở Tăng Thành thuộc Quảng Châu thời Đường, năm 14-15 tuổi nhân khi ăn thiên mẫu phấn mà thành tiên, có phép thuật đi như bay. Hàng ngày xách giỏ cánh sen vào núi hái quả nuôi mẹ. Hà Tiên Cô có pháp lực vô biên. Khi còn bé, Hà Tố Nữ có sáu cái xoáy trên đầu, ai cũng cho là kỳ. Biểu tượng của bà là hoa sen. Sự hiện hữu của bà mang lại lợi ích cho người mẹ của gia đình. Lý Thiết Quài tương truyền tên là Lý Huyền: Nhân gặp Thái Thượng Lão Quân mà đắc đạo thành tiên thời Chiến Quốc. Hình dáng xấu xí, tóc tai bờm xờm, mặt bần, bụng phẳng, chân què, tay chống gậy, lưng đeo bầu rựu bảo bối. Từ quả bầu tiên này rót ra những chén rựu tiên tỏa hơi như một đám mây bao phủ một viên thuốc trường sinh bất tử (đó là tiên tửu - mộ thái cực về công năng của rựu). Quả bầu tiên bảo bối chỉ là tượng trưng - một thái cực khác về công năng của rựu). Quả bầu tiên bảo bối chỉ tượng choc ho cái lợi và cái hại của rựu cùng tồn tại trong các thú vui uống rựu của người đời. Lý Thiết Quài Tranh cuộn đời Nguyên (1270-1320), chùa Chion - Kyoto,Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Ông đi lại với sự hỗ trợ của một chiếc thiết trượng và thường đeo một quả bầu trên vai. Người ta cũng nói rằng ông từ bỏ mọi cám dỗ vật chất và sống cuộc đời tự hành xác để ngộ đạo trong 40 năm, thường không cần ăn uống hay nghỉ ngơi. Ngoài ra, còn có thuyết nói rằng ông do Tây Vương Mẫu hóa sinh, phong làm Đông Hoa giáo chủ và trao cho thiết trượng. Hàn Tương Tử: tương truyền là cháu họ của đại văn hào àn Dữ thời Đường. Sauk hi đắc đạo thành tiên thường cầm ống tiêu trên tay, pháp thuật cao cường. Người có thể dung sáo thổi lên những âm thanh kỳ diệu, thu hút sự may mắn. Khả năng đặc biệt của Ông là làm cho cây nở hoa ngay lập tức. Hán Chung Ly hay Chung Ly Quyền: Nhân được Lý Thiết Quài hướng dẫn, lên núi học đạo thành tiên. Ông có cái quạt bảo bối và chuyên dùng giả kim thuật (biến kim loại thành vàng, và nấu kim loại thành thuốc trường sinh) để cứu tế mọi người. Thường được mô tả là mập, bụng phệ, tay cầm quạt có khả năng giúp người bệnh hồi phục nhanh chóng. Ông được cho là biểu tưởng của sức khỏe và khả năng chữa bệnh. Ngài thường cỡi hạc lên Trời. Theo truyền thuyết, căn phòng nơi ông sinh tràn ngập ánh sáng khi ông chào đời. Sau khi sinh ông không ngừng khóc cho tới khi đủ 7 ngày. Những người theo Đạo giáo sau này kỷ niệm sinh nhật của ông vào ngày 15 tháng 4 âm lịch hàng năm. Trong Đạo giáo ông thường được gọi là "Chính Dương tổ sư". Hán Chung Li được Toàn Chân giáo tôn là Bắc Ngũ Tổ, đạo hiệu Chính Dương chân nhân. Nguyên Thế Tổ sắc phong là Chính Dương khai ngộ truyện đạo chân quân, Nguyên Vũ Tông phong thêm là Chính Dương khai ngộ truyền đạo trùng giáo đế quân. Tào Quốc Cựu: tương truyền là Tào Hữu, quốc Cữu thời Tống. Vì có người em ỷ thế (em vợ vua) làm điều ác, ông sợ liên lụy bèn đem gia sản phân phát cho người nghèo, vào núi tu đạo. Gặp Chung Ly Quyền, rồi gặp Lữ Đồng Tân, đắc đạo thành tiên. Ông có bảo bối là đôi phách cầm trên tay, có nhiều pháp lực cao siêu. Biểu tượng của ông là cây song loan được ông giơ cao lên bằng tay trái. Người ta nói Ông mang đến thanh danh và quan lộc cho người cha trong gia đình. Long Vương: Cùng với hình ảnh của Long Vương đang ngồi trên ngai vàng và xung quanh là quân tướng của long cung. Để giải mật ngữ bức tranh này, chúng ta chú ý một vị đang ngồi trên ngai dưới biển, đấy chính là Bát Hải Long Vương, vua Động Đình Hồ, cùng với 7 thần tướng động vật biển của mình. Chúng ta cũng biết con của vua Bát Hải Động Đình chính là Đế Minh theo truyền thuyết. Như vậy suy luận tiếp theo là vua Đế Minh sẽ thừa hưởng vùng đất của Long Vương, hình ảnh trên chính là vua Đế Minh. Nhận định này sẽ được xác nhận một lần nữa qua các bộ tranh thờ Đạo giáo Hành say. Hành say Tranh thờ Đạo giáo dân tộc miền Bắc Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Căn cứ trên những bộ tranh Hành say, vị trí Quan Âm Bồ Tát được minh họa trên hai hàng thần linh, nơi vị trí của Ngọc Hoàng Thượng Đế và Bắc Cực Tử Vi Đại Đế. Hai vị Quan Âm Bồ Tát này đã được phân tích trong các chương trước là Phật Mẫu - Tây Vương Mẫu và Quan Âm Bồ Tát. Hai vị tương ứng hai vị tiên nữ trong Bát Tiên, đồng thời vị trí của 6 tiên ông còn lại không ai có vị trí cao hơn Ngọc Hoàng Thượng Đế, bởi theo truyền thuyết Đạo giáo, tiên ông mới thành thì ra mắt Ðông Vương Công tức Ngọc Hoàng Thượng Đế, còn tiên nữ mới thành thì ra mắt Tây Vương Mẫu.
  13. Chương VI BÍ ẨN CỜ TƯỚNG Lạc nước hai Xe đành bỏ phí, Gặp thời một Tốt cũng thành công. Hồ Chí Minh. Cờ tướng là một thú tiêu khiển lành mạnh được liệt vào trong bốn loại hình nghệ thuật ưa thích của các tao nhân mặc khách thường gọi là tứ thú phong lưu “cầm, kỳ, thi, họa”, chơi cờ là một thú thanh cao tao nhã, đòi hỏi sự suy nghĩ có tính chiến thuật của người chơi. Qua những cuộc đấu trí, truyền thuyết và sách vở còn lưu giữ lại nhiều nước cờ tuyệt diệu của các đại kỳ thủ khắp nơi trên thế giới, cũng như những dấu ấn liên quan trong suốt quá trình lịch sử phát triển của nó. Bàn cờ tướng Ảnh tư liệu trang web Ancient Chess Người Trung Hoa gọi tên trò chơi này là Tượng kỳ (象棋), còn tại Việt Nam thì từ xưa tới nay vẫn gọi là Cờ Tướng, đặc biệt Cờ Tướng còn được chuyển qua dạng bài lá Tam cúc với hình vẽ các quân cờ ở dạng lập thể phổ biến trong dân gian. Cầm, kỳ, thi, họa Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Trải hạ, thu, đông gặp tiết xuân về càng phấn chấn, So cầm, thi, họa thêm bàn cờ nữa mới thanh cao. Ván cờ được tiến hành giữa hai người, mục đích của mỗi người là tìm mọi cách đi quân trên bàn cờ theo đúng quy tắc để chiếu bí hay bắt Tướng của đối phương để giành thắng lợi. Một cách phổ biến, bàn cờ gồm quân đỏ và quân xanh (lá cây) hoặc đen, với 32 quân chia đều cho mỗi bên 16 quân, gồm 7 loại quân cờ khác nhau. Tên mỗi loại quân cờ của mỗi bên có cách viết chữ Hán khác nhau nhưng giá trị và cách đi tương ứng của chúng giống nhau Tướng (Soái), Sĩ, Tượng, Xe, Pháo, Mã, Tốt (Binh). Bàn cờ là một hình chữ nhật do 9 đường dọc và 10 đường ngang cắt nhau vuông góc tại 90 điểm hợp thành. Khoảng trống theo phương ngang gọi là sông (hà) có tên Sở hà - Hán giới, sông chia bàn cờ thành hai phần đối xứng, mỗi bên có một hình vuông nằm trên trục giữa bàn cờ gọi là cửu cung, cửu cung do 4 ô hợp thành với hai đường chéo xuyên tâm, nó là tử cấm thành của vị Tướng. Chúng ta có thể thấy nhận bàn cờ tướng thật sự là một trận địa sinh động, với đầy đủ các binh chủng, các quân chủng được bố trí thành các lớp hài hòa, lại còn có cả sông ranh và cung cấm, tướng ở nhà quân ra trận, cuộc chiến giữa đôi bên có thể diễn ra trên bộ cũng như ở dưới nước. Người ta thường chia ván cờ ra làm ba giai đoạn khai cuộc, trung cuộc và tàn cuộc. Thường khai cuộc được tính trong khoảng 5-12 nước đầu tiên, khai cuộc đóng góp rất quan trọng vào khả năng thắng trong một ván cờ, có rất nhiều dạng khai cuộc khác nhau, thường là đi Pháo. Ở trung cuộc, thế cờ lúc này theo kiểu "trăm hoa đua nở" nên chủ yếu vận dụng các chiến thuật cơ bản. Tàn cuộc là giai đoạn số quân cờ, đặc biệt là quân tấn công như Xe, Pháo, Mã, Tốt của cả hai bên còn rất ít. Soái - Tướng Bàn Cờ Tướng khác bàn cờ Saturanga là không có quân Vua mà chỉ có quân Tướng, Tướng là vị chỉ huy quan trọng nhất. Tướng ở trong cung có 2 Sỹ hộ giá và 2 Tượng canh gác hai bên. Như thế, muốn thắng một ván cờ cũng rất khó khăn, khả năng hòa cờ là rất lớn, từ một thực tế như vậy, luật "lộ mặt Tướng" được hình thành. Đây chỉ là một quy định đơn thuần mang tính kỹ thuật nhằm giải tỏa sự tù túng của Cửu Cung. Tướng chỉ được đi ngang hay đi dọc từng bước trong Cửu Cung và là quân yếu nhất, tuy nhiên, trong nhiều tình huống, đặc biệt khi ở thế cờ tàn, đòn "lộ mặt Tướng" lại tỏ ra là một trong những tuyệt chiêu hiểm hóc. Sĩ bộ Nhân - Sĩ Quân Sỹ đứng ngay sát cạnh Tướng và có vai trò như những vị quân sư trợ giúp cho Tướng về sách lược chiến lược, nó thêm yếu tố “văn” vào tố chất “võ” của ván cờ. Sĩ chỉ đi từng bước một và đi theo đường chéo trong Cửu Cung, mất Sỹ được cho là rất nguy hiểm trong mỗi ván cờ. Tương - Tượng Quân Tượng đứng bên cạnh quân Sỹ, đi theo đường chéo của hình vuông gồm hai ô cờ, chúng có nhiệm vụ ở lại bên này sông để bảo vệ Tướng. Tượng sẽ không di chuyển được nếu đã có một quân đặt tại vị trí giữa của hình vuông hai ô, khi đó Tượng bị cản nước đi và vị trí cản được gọi là "mắt Tượng". Xe bộ Nhân - Xe Quân Xe chính là các chiến xa trên chiến trường, đi và ăn theo đường thẳng đứng hoặc ngang, chúng bắt đầu nước đi từ phía góc của bàn cờ và được coi là quân cờ mạnh nhất trên bàn cờ Tướng. Pháo bộ Hỏa - Pháo bộ Thạch Quân Pháo đi giống quân Xe nhưng ăn quân bằng cách nhảy qua một quân cờ khác. Hãy tưởng tượng Cửu cung với lực lượng bảo vệ ngày đêm, Tướng không ra khỏi cung lại được Sĩ, Tượng hộ vệ, do vậy rất khó đột phá vào trong cung, Xe tuy mạnh nhưng nếu bị chặn đường thì cũng phải dừng lại, nhưng với Pháo thì bất chấp tầm xa hay gần, nó có thể kéo tới tận góc mà nã đạn cầu vồng vào trong cung hoặc có thể về cung của mình lấy Sỹ làm ngòi nổ để công thủ liên hoàn hoặc chiếu Tướng đối phương. Trên thực tế, khi khai cuộc thường dùng Pháo, thô lỗ nhất là nã ngay Pháo tiêu diệt Mã đối phương, người chơi như thế gọi là hiếu sát. Các loại cờ cổ đại không có quân Pháo, đây là quân cờ ra đời muộn nhất trên bàn cờ, vũ khí pháo được sử dụng trong chiến tranh cổ đại với hình thức như là máy bắn đá, cho tới triều Tống, Nguyên Trung Quốc thì loại pháo mang thuốc nổ cũng đã được dùng phổ biến trong chiến tranh. Trong bàn cờ Tướng, quân Pháo trong chữ Hán được viết với bộ "thạch” cho quân xanh và bộ "hỏa" cho quân đỏ. Máy bắn đá Tài liệu lịch sử Trung Quốc Kể từ khi xuất hiện Pháo, bàn Cờ Tướng trở nên cực kỳ sôi động từ đầu tới cuối trận với biết bao nhiêu đòn thế vô cùng hiểm hóc, chính cặp Pháo này đã nâng tư duy chiến lược lên một tầm cao mới, khiến cho Cờ Tướng trở nên cực kỳ độc đáo. Ấn Độ có cờ Saturanga, Ba Tư có cờ Shatranj, Châu Âu có Cờ Vua, Thái Lan có cờ Makruk, Nhật Bản có cờ Shogi, các loại cờ này đều không có quân Pháo, chỉ có bàn cờ Janggi của Hàn quốc là cũng có quân Pháo. Mã bộ Nhân - Mã Mã là quân cờ rất biến hóa do tốc độ đi nhanh và có nhiều đường để tung hoành, sự thái quá của Mã như thế làm cho nó rất khó bị tiêu diệt, công mạnh hơn thủ, và nhất là Tướng sẽ bị uy hiếp nặng nề nếu Mã đối phương sang được trận địa bên này, rõ ràng quân Mã đã tạo ra tình trạng mất cân đối bàn cờ. Do vậy, luật “cản Mã” ra đời, tổng thể ván cờ trở nên cân bằng hơn, các nước đi cần sâu sắc và mưu trí hơn để giành chiến thắng. Quân Mã đại diện cho kỵ binh di chuyển như gió cuốn, khả năng sát thương cao trên chiến trường cho nên để hạn chế thì luật cản Mã như trên thật hợp lý. Tốt - Binh Tốt (hoặc Binh) Sát với sông, có 5 quân Tốt đứng cách đều nhau giữ vị trí tuyến đầu. Cách bố trí 5 quân Tốt xem kẽ này là phương án tối ưu cho không gian của bàn cờ, tránh được chuyện "bịt đường" như ở các loại cờ khác. Chúng đi thẳng và có thể ăn quân từng bước một, còn khi vượt qua được sông, chúng có thể đi và ăn theo chiều ngang. Cờ Tướng không có luật phong chức như trong cờ Vua, khi đi đến cuối bàn cờ, lúc này, chúng được gọi là Tốt lụt. Trước khi tìm hiểu nguồn gốc của cờ Tướng, chúng ta hãy cùng xem qua bàn cờ Saturanga của Ấn Độ. Saturanga là một loại cờ cổ được phát minh ở Ấn Độ trong khoảng từ thế kỷ V tới thế kỷ VI thời kỳ Gupta. Bàn cờ Saturanga hình vuông với mỗi cạnh gồm 8 ô vuông hai màu xen kẽ, các quân cờ hình lập thể di chuyển trong các ô. Bộ cờ Saturanga gồm có quân Vua, Tướng, Tượng, Mã, Thuyền và Tốt mà không có quân Sĩ và Pháo như trong cờ Tướng. Cách đi cờ Saturanga thì Tốt mỗi lần di chuyển chỉ tấn 1 ô về phía trước, đi thẳng nhưng ăn chéo như cờ Vua, không có phong cấp; Vua, Xe và Mã có cách di chuyển hoàn toàn giống như cờ Vua; Tượng đi và ăn theo ô chéo góc liền kề; Tướng đi từng bước và ăn theo sự tổng hợp của Tượng và Xe. Rõ ràng cờ Saturanga có một số điểm giống Cờ Vua và một số điểm giống Cờ Tướng. Bàn cờ Saturanga Tham khảo Internet Tương truyền rằng một nhà thông thái Ấn Độ phát minh ra trò chơi Saturanga, được nhà vua khen ngợi và có ý muốn ban thưởng cho ông, vua để cho nhà thông thái tự chọn loại phần thưởng yêu thích và đảm bảo sẽ đáp ứng nguyện vọng của ông. Nhà thông thái bèn tâu nhà vua xin thưởng cho mình một số thóc được tính như sau: trên 64 ô cờ thì ô thứ nhất sẽ đặt 1 hạt thóc, ô thứ hai sẽ đặt số thóc gấp đôi ô thứ nhất, tức là 2 hạt, ở ô thứ 3 sẽ đặt gấp đôi ô thứ hai tức 4 hạt và cứ ô sau đặt gấp đôi ô trước cho tới khi đủ hết 64 ô. Khanh chỉ cần có thế thôi ư? Nhà vua vui vẻ chuẩn y ngay ý nguyện của nhà thông thái. Vị quan phụ trách kho tàng sau khi tính toán đã trình báo lên nhà vua số thóc thưởng lớn gấp hàng nhiều lần số thóc hiện có trong kho của nhà vua. Nhà vua lo sợ, không biết làm sao để giữ được lời hứa của mình?. Vừa lúc ấy có một nhà thông thái đến, nghe xong chuyện bèn khuyên vua: bệ hạ đã hứa thì phải giữ lời, thưởng cho ông ta số thóc đó. Vua hỏi: Nhưng trẫm lấy đâu ra số thóc đó để thưởng bây giờ. Nhà thông thái nói: điều đó hoàn toàn không quan trọng, cái chính là ông ta có đủ thời giờ để đếm số thóc mà bệ hạ ban thưởng cho ông ta hay không. Theo tính toán của hạ thần thì không những đến hết đời ông ta mà cả đời con, cháu ông ta cũng không thể đếm hết được. Tranh Thần Krishna chơi cờ với vợ Radha Thế kỷ XVIII, Bảo tàng quốc gia, New Delhi Ngoài ra, còn có bộ cờ cổ Shatranj của Ba Tư, những quân cờ sớm nhất được tìm thấy tại Afrasaib, gần Samarkand ở Uzbekistan, gồm 7 quân Vua, Tướng, Xe, Mã, Tượng, và 2 quân Tốt được làm bằng ngà voi, chúng có niên đại khoảng 760, một đồng xu ghi năm 761 được tìm thấy chung với các quân cờ trên. Chơi cờ Shatranj Tranh Ba Tư của Bayasanghori Shahname, 1430 CE, Bảo tàng Mỹ thuật, New York Còn môn Cờ Vua là một chơi rất phổ biến ở châu Âu và ngày nay đã trở thành trò chơi phổ thông nhất trên thế giới, bàn Cờ Vua tương tự như cờ Saturanga nhưng thay cho quân Thuyền là quân Xe. Hiệp sĩ đánh cờ Libro de los juegos, 1283 Vua và Hậu Bảo tàng quốc gia, London, Anh quốc Các nhà nghiên cứu đã xây dựng bản đồ phân bố các lọai trò chơi cờ trên thế giới, mọi người có thể tham khảo. Bản đồ phân bố khu vực các loại cờ Ảnh dùng tham khảo Một trong những hình thức trò chơi truyền thống ở Trung Hoa thời cổ là Tượng hý, cũng được phát triển vào đời Đường Tống. Thực sự có thể gọi ông tổ của Tượng kỳ trung Hoa phải là Bảo Ứng Tượng kỳ (cờ tượng Bảo Ứng) thời Đường. Tướng quốc Ngưu Tăng Nhụ thời Đường có biên soạn Huyền quái lục, trong nói vào năm Bảo Ứng thứ nhất nhà Đường khai quật được mộ cổ, trong mộ có một bộ cờ làm bằng kim loại, gồm các loại hình thức khác nhau như vua, thượng tướng, quân sư, chiến xa có mui, ngựa, lục giáp. Cung nữ chơi cờ Song lục (Nội nhân song lục đồ) Chu Phưởng [周昉] (~730 - 800, đời Đường), mực nho, màu trên lụa, Freer Gallery of Art, Washington * Tham khảo Lịch sử trò chơi, tác giả Thái Phong Minh, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2004. Theo dòng thời gian, có thể nói bài thơ Tượng dịch của Lưu Khắc trang thời Nam Tống là một trong những tài liệu đầu tiên chỉ dẫn cách chơi cờ. Theo Lý Tùng Phúc, một học giả Trung Hoa viết trong Tượng kỳ sở thoại thì Lưu Khắc Trang tự là Tiềm Phu, sinh năm 1187 và mất năm 1269, ông là một nhà thơ nổi tiếng thuộc trường phái giang hồ vào cuối Nam Tống. Ông là rất nhiều thi, từ và tản văn, đồng thời cũng là người cao cờ nhất thời đó. Bài tượng dịch được ông làm ra để tặng cho một người bạn thân, cũng vừa là nhà thơ và danh thủ cờ như ông. Đó là Diệp Tiềm Trọng, cháu nội của thừa tướng Diệp Hoành. Theo các nhà nghiên cứu thì bài thơ này có tựa đề là Tượng dịch nhất thủ trình Diệp Tiềm Trọng, xin tạm dịch ý tứ bài thơ: Mở đầu bài thơ, ông viết: “Cờ là một nghệ thuật nhỏ nhưng rất khó tinh tường, cho dù là người trí cao cũng như có chỗ chưa giải được. Ai đã từng chơi cờ mới thấy được những điều kỳ diệu trong ván cờ. Cuộc chiến diễn ra giữa hai nước khác nhau, ngăn cách bởi một con sông. Tất cả các quan liên kết gắn bó với nhau và đều tuân theo quyền điểu khiển của Tướng, Soái hình thành bốn bên vũng chắc cùng quân binh kiên cố. Với 32 quân, nhưng mỗi nước đi, mỗi quân cờ đều đem lại bao nhiêu sự biến hóa. Trước tiên nhằm khiêu khích địch, các quân phải bố trí có đội ngũ, cố phát huy hết sức mạnh và khai thác hết mũi nhọn của quân ta, phải nắm giữ khâu trọng yếu, thừa cơ đối lương biếng nhác mà tấn công. Khi tấn công có thể chơi chậm rãi theo kiểu bao vây nước Cử hoặc thần tốc kéo vào nước Thái (nhưng cuộc chiến thời Đông Chu liệt quốc), Pháo xa chớ đánh vào chỗ trống, Tốt quèn cũng cần đi thận trọng, thua chẳng phải do ít quân, thắng há phải chỉ liên quan đến số đông!”. Quyển cờ cổ nhất được nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận là Sự lân quảng ký của trần Nguyên Tịnh, ông là một học giả thời Nam Tống, đồng thời với Lưu Khắc trang hoặc sau một ít. Sách của ông biên soạn có tên đầy đủ là Tân biên toàn đồ tăng loại quần thư loại yếu sự lâm quảng ký, nó không phải là một quyển sách cờ thuần túy, vì nó bao gồm 4 tập chia thành 42 quyển nhỏ. Quyển 5 là Nghệ văn loại có đề cập đến cờ Vây và cờ Tướng. Các nhà nghiên cứu cho rằng sách được in vào cuối thời Nam Tống tức là trước năm 1276, nhưng bản in cổ này hiện chưa ai tìm thấy. Năm 1325 sách được tái bản, tức là vào thời Nguyên - Thái Định đệ nhị niên, hiện vẫn còn được nhiều nhà nghiên cứu lưu giữ, phần nói về cờ tướng bao gồm các chương trình bày: Cách đi quân (Tượng kỳ tử pháp), Bàn cờ (Kỳ cửu thập phân), Mười bí quyết chơi cờ (Tượng kỳ thập quyết), Mười ván cờ tàn nổi tiếng (Thập bàn cục diện). Sau khi tái bản, người ta bổ sung vào 2 ván đối cục đều thuộc loại đấu Pháo, không ghi rõ tên của những kỳ thủ nào, cuối cùng có thêm một ván cờ tàn nổi tiếng có tên là “Song long xuất hải”. Sau quyển Sự lâm quảng ký, một số nhà nghiên cứu phát hiện quyển Du hý đại toàn của Sơn Dã cư sĩ biên soạn và bạn là đạo sĩ Nhất Tùng bổ sung, đem in lại khỏang năm 1383. Sách này có 8 quyển chia ra: 1 quyển nói về Xe, có 42 ván cờ; 2 quyển nói về Pháo với 120 ván; 1 quyển nói về Mã có 75 ván; 4 quyển nói về Tốt có 200 thế cờ; cộng chung tất cả có 437 thế. Sách được phát hiện từ bản chép tay do cố danh kỳ Vương Hạo Nhiên lưu giữ. Nếu Du hý đại toàn xuất hiện vào cuối thế kỷ XIV như một số người nêu ra thì đây là quyển sách cờ Tướng đầu tiên đúng nghĩa kỳ phổ của nó và là một tài liệu tổng kết trận Thuận Pháo rất đáng trân trọng. Thế nhưng vấn đề thật, giả cho tới nay vẫn chưa thật rõ ràng. Quyển Mộng nhập thần cơ in trước đời Minh Gia Tĩnh tức là trước năm 1522, có thể đã xuất hiện vào thế kỷ XV nhưng một vài nhà nghiên cứu khác lại cho rằng nó xuất hiện từ giữa hoặc cuối thế kỷ XIV. Đó là họ căn cứ vào Nội các tàng thư mục lục đời Thanh để suy đoán chứ chưa có gì chắc chắn, ngay cả tên tác giả hiện nay cũng chưa tìm ra. Quyển này vốn gồm 12 tập, nay chỉ tìm thấy 4 tập, chủ yếu là cờ tàn và thế cờ nên rất khó thẩm định đầy đủ giá trị của nó. Quất trung bí được in vào năm 1632 gồm 4 quyển, trong đó 2 quyển đầu dạy đánh cờ bàn, chủ yếu là trận đấu Pháo (thuận và nghịch Pháo) với nhiều nước biến rất là thú vị. Kế đó là trận Pháo đầu phá Đơn đề mã, Pháo đầu phá Triền Giác Mã, Bình phong Mã chấp 1 Mã và cách chấp 2 Mã. Hai quyển sau là những ván cờ tàn và cờ thế gồm 140 ván, phân ra từng loại: thắng hoặc hòa, được phân tích khá kỹ. Vì sao Chu Tấn trinh đặt tên sách là Quất Trung bí? Quất trung bí có nghĩa là bí quyết trong quả quýt, dựa theo điển tích được ghi trong quyển Huyền quái lục của thừa tướng Lưu Tăng Nhu đời Đường. Sách có kể câu chuyện kỳ quái như sau: Có người ở đất Ba Cung, không rõ tên gì, nhà có một vườn quýt. Một hôm có một cây quýt sinh ra hai quả rất to, người chủ thấy lạ hái cả hai bổ ra xem, thì thấy trong mỗi quả đều có hai ông già râu dài, gầy nhom, ngồi quay mặt vào nhau đánh cờ. Người ta nói đó là hai ông tiên cao cờ! Do điển tích này mà người ta gọi đánh cờ là Quất trung lạc. Câu chuyện trên trong Huyền quái lục là chuyện thần thoại được lưu truyền trong dân gian và được thêm thắt nhiều đều ly kỳ và Chu Tấn Trinh đặt tên sách như vậy phải chăng hàm ý đây là những bí quyết của cờ tiên!. Bên Xanh con Tướng viết chữ Tướng 將, bên Đỏ con ấy lại viết bằng chữ Soái 帥; bên Xanh con Tượng viết bằng chữ Tượng 象, bên Đỏ con ấy lại viết bằng chữ Tương 相 (là chữ cùng đồng âm “xieng” như Hán gọi, nhưng nơi Hán không có Voi, đương nhiên là đánh trận không có “quân chủng” Voi, nên thay bằng chữ Tương 相 đồng âm với Tượng, chứ không phải là Voi, để làm con tương đương, cũng mang nghĩa Tương 相 là tương đương). Bên Xanh con Sĩ viết bằng chữ Sĩ 士, nhưng bên Đỏ chữ Sĩ 仕có thêm bộ nhân亻 đứng (các chữ Mã傌, Xa 俥 cũng vậy, có thêm nhân đứng). Bên Xanh chữ Pháo 砲là bộ thạch 石, bên Đỏ chữ Pháo 炮 lại là bộ hỏa 火. Bên Xanh là con Tốt 卒, còn bên Đỏ là con Binh 兵. Con Tốt mang ý nghĩa quân thí, bị ép buộc còn Binh là quân đã được rèn luyện qua binh pháp chiến đấu. Con Binh, Tốt là đông nhất nhưng cấp thấp nhất, và là quân giáp chiến trước tiên nên rất biết tự chủ và độc lập sáng tạo. Tượng là thuật ngữ thường gặp trong học thuyết Bát quái, “Tượng” vốn là tên một con thú, mượn mang ý nghĩa tượng trưng hiện tượng, hình tượng, sách Bí ẩn của Bát quái, tác giả Vương Ngọc Đức - Diêu Vĩ Quân - Tăng Lôi Quang, Nxb VHTT - 1996, dịch giả Trần Đình Hiến, trang 61. Từ hiện tượng này, liên hệ đến chữ “Tượng” trong “Tứ tượng” của kinh Dịch, cho chúng ta thấy một yếu tố về ngôn ngữ chứng tỏ rằng: ngay từ nguyên lý khởi nguyên của hệ thống của vũ trụ quan Đông phương đã gắn liền với nền văn minh Lạc Việt khi chữ “Tượng” trong “Tứ tượng” được vay mượn từ “Tượng“ với nghĩa Việt là “con voi”. Trong bàn cờ tướng có tổng cộng là bốn con Tượng nhưng con Tượng đỏ mang tên chữ Hán lại là Tương, chúng ta có thể hiểu theo Lý Dịch là thể hiện trên trên bàn cờ tướng do người chơi tư duy cũng giống như vô vàn sự vật, hiện tượng đang diễn ra, được nhận biết cụ thể nhưng đứng đằng sau nó còn có những động lực thúc đẩy, theo Đạo Đức Kinh của Lão Tử đó là Đạo. Tượng hay Tịnh là tư duy tĩnh tại, hướng nội, là để nhấn từ cái ý chuyển sang hành động quyết đoán của người chỉ huy để giành thắng lợi của cuộc cờ. Người xưa viết bằng hai chữ Tượng Kỳ 象棋 là nhấn mạnh ý nước đi luôn được tư duy trừu tượng, cũng có thể gọi là cái mưu trí để giành chiến thắng trên chiến trường. Truyện Nhạc Phi diễn nghĩa, hồi 1: Xích tu long hạ giới - Kim sí điểu giáng phàm. Thuở ấy tại núi Tây Nhạc Hoạ có ông Trần Đoàn tức Hi Di tiên sinh ở ẩn trong núi, công phu tu luyện trở nên một vị tiên đạo cao, đức dày. Tôi còn nhớ năm ấy có Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn đi Quảng Tây, băng ngang qua đường này, sư phụ ta thấy thế vội hô phong nổi lên một trận gió rước người lên núi đánh cờ, thắng cờ, người được hai trăm lượng bạc rồi ép Thái Tổ làm giấy bán đứt núi Hoạ Sơn này. Trong lúc ấy có Tiểu Thanh Long là Sài Vinh và Ngoạ Hồ Tinh là Trịnh Ân cùng đứng ra làm chứng. Về sau Triệu Khuông Dẫn lên ngôi báu, sư phụ ta mang văn khổ ấy xuống kinh đô chúc mừng và yêu cầu cho dãy núi này từ nay về sau không phải đóng thuế, cho nên bàn cờ tàn này đến nay vẫn còn. Núi Hoa Sơn, Thiểm Tây Ảnh tham khảo, Du lịch Trung Quốc Hoa Sơn là cái nôi của Đạo giáo, nơi đây cũng còn là quê hương của võ hiệp và thi ca, trong gió ngàn mây thấp thoáng trên con dốc cao ngất dẫn lên đỉnh Trung phong, đây đó là bóng dáng của những đạo sĩ Đạo giáo râu tóc như người xưa. Truyền thuyết diễn biến ván cờ theo sách chép lại Triệu Khuông Dẫn nắm cờ đỏ thua do “nước Pháo”, giai thoại này thường được người đời đem ra làm bài học về đức tính kiên nhẫn, trầm tĩnh khi đối địch cũng như trong đối nhân xử thế. Bàn cờ có 32 quân có thể xem là 32 cặp quẻ Dịch phân Âm Dương, mỗi bên 16 quân, 64 ô trên bàn cờ chính là tượng của 64 quẻ Dịch. 8 ô ẩn ngăn cách tạo nên con sông “Sở giang - Hán giới” giữa hai bên chính là tượng của Bát quái Hậu thiên, bàn cờ nhân thế mà Lý Dịch thể hiện cho dòng sinh tử miễn viễn của cuộc cờ Người, trong Tùy Đường diễn nghĩa có bài thơ thể hiện: Mười vạn tinh binh giữ cõi ngoài, Ấn vàng treo Đẩu ánh trăng soi. Lá cờ sông Dịch mây tung ngất, Mũi giáo đài Yên sương chói ngời. Quân cờ động thuộc Âm, nên có hình tượng là Dương tròn, bàn cờ tĩnh thuộc Dương nên có hình tượng Âm chữ nhật (vuông), theo nguyên lý trong Dương có Âm và ngược lại. Mỗi quân cờ tại mắt giao đường ngang và dọc tượng trưng mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa vạn vật trong không thời gian vô tận, còn sự thiên biến vạn hóa trên bàn cờ chính là sự thể hiện tương tác Âm Dương. Bộ cờ Rajasthan, cuối thế kỷ XVIII Tham khảo Internet Điển cố Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn thua cờ Hi Di Trần Đoàn tiên sinh mất núi Hoa Sơn mang mật ngữ: Hoa sơn được xem là cội nguồn của Đạo giáo nhưng Đạo giáo có nguồn gốc không phải từ vùng phía Bắc sông Dương Tử mà từ phương Nam. Trong thời Tống, Nguyên cũng đã sử dụng pháo trong các cuộc chiến tranh, bức tranh cổ của Nhật Bản mô tả một quả pháo đang phát nổ trên không trong một trận giao tranh với quân Nguyên. Súng đồng đời Nguyên và xe lửa hỏa công Trích Lịch sử văn minh & các triều đại Trung Quốc, tác giả Dương Ngọc Hùng và Lê Anh Minh, 2004 Bàn cờ với Tướng xanh và Soái đỏ mang ẩn nghĩa nước Nam luôn là chủ soái trên chiến trường trước các cuộc chiến xâm lăng từ bên ngoài, luôn nêu cao ngọn cờ chính nghĩa lấy nhân nghĩa làm lý tưởng, đỉnh cao là ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông oanh liệt, hãy cùng xem xét đoạn tóm tắt trích từ Tùy Đường diễn nghĩa: Hồi thứ 95: “Lý nhạc công thổi sáo gặp tiên ông - Vương cung phụng nghe cờ học thần nữ”. Tích Tân vô tình lọt vào một thôn vắng gần khe núi, trời đã gần tối, cả thôn chỉ có mỗi một căn nhà ba gian tranh nứa của hai mẹ con nàng dâu, Tích Tân xin ngủ trọ ngoài thềm. Nửa đêm, Tích Tân trằn trọc không nhắm mắt được, qua vách nứa nghe được câu chuyện mẹ chồng và nàng dâu đánh cờ vây bằng miệng cho khuây khỏa. Bà mẹ cất tiếng: Mẹ cho con đi trước! Nàng dâu đáp: Con đi con Đông 5 tới Nam 9. Im lặng một lát, bà già lên tiếng: Mẹ đi con Đông 5 tới Nam 12. Lại yên lặng, rồi nàng dâu nói: Con đi con Tây 8 tới Nam 10. Lại im lặng, rồi bà già tiếp: Mẹ đi con Tây 9 đến Nam 14. Cứ mỗi lần đi lại yên lặng nghĩ ngợi một hồi, đêm đã sang canh tư, mới đi được cả thảy 36 nước. Tích Tân gắng nhớ kỹ từng bước, bỗng nghe tiếng bà già cười vui vẻ: Con dâu lão thua rồi, thế là mẹ thắng 9 ván nhé. Nàng dâu thưa: Con tính nhầm một nước, thua là phải rồi, sau đó thấy im lặng. Cờ tiên cao nhã thần thông, Bổ vây, cứu ứng Có Không nhiệm mầu, Trợ tài công thủ thấp cao, Mới ra tay đã đứng đầu nhân gian. Theo điệu “Nguyệt trung hành”. Sáng ra, Tích Tân chào hỏi hai mẹ con và nài nỉ xin học, bà mẹ có phong thái khuê các dạy cho Tích Tân đủ cách công thủ, sát, đoạt, ứng cứu phòng ngự, ý thì đại lược nhưng đều là những điều xưa nay chưa từng nghe, chưa từng nghĩ tới bao giờ, đúng là: Huyền vi cờ Dịch lẽ âm dương, Bí quyết xem ra chẳng phải thường, Vô địch cõi trần, cười nghĩ lại, Mục rồi cán búa, nợ duyên vương. Tích Tân cứ theo nước cờ của hai mẹ con bà tiên đem bày ra xem xét, tính toán mãi, cạn lòng nát óc mà vẫn không hiểu ra câu: "Thế là mẹ thắng 9 ván nhé là nghĩa ra làm sao? Nhưng cứ ghi nhớ lấy, đợi có lúc gặp người tài giỏi hơn sẽ rõ được cũng nên!. Tích Tân gặp tiên bà dạy cờ nhưng chẳng rõ loại tiên nào, tác giả nói rằng: nếu có Trương Quả, Diệp Pháp Thiện, La Công Viễn, thì chỉ cần một trong ba người mà có ở đây, ắt biết rõ lai lịch các vị tiên ngay. Câu "Thế là mẹ thắng 9 ván nhé” trong đoạn văn trên là mật ngữ nói về lịch sử các cuộc chiến tranh giành thắng lợi của nước Việt cho tới thời của tác giả: Thánh Gióng đánh tan giặc Ân xâm lược, An Dương Vương đánh Tần giết chủ tướng Đồ Thư, Hai Bà Trưng đánh đuổi Tô Định thu lại giang sơn, Lý Nam Đế đánh đuổi quân Lương, Đinh Bộ Lĩnh đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Lê Hoàn thắng Tống và 3 cuộc chiến thắng quân Nguyên Mông vang dội thế giới lúc bấy giờ. Bàn cờ tướng không dùng quân Vua như cờ Vua, bởi vì theo quan niệm dân gian thì chỉ có ông Trời là cao nhất, vua được cho là do ông Trời sắp đặt, cho nên các vị vua phương Đông thường xưng mình là Thiên tử tức con Trời. Ở đây, ông Trời chính là vua Đế Thích, người sắp đặt cuộc cờ Người mà trong văn học dân gian còn lưu truyền những câu truyện hầu hết người Việt Nam đều biết, đó là truyện Tây Du Ký, tác giả Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã viết: Kinh Lạn Kha nói đạo đánh cờ quý ở chỗ nghiêm túc, cẩn thận. Người cao cờ, đánh ở trung tâm. Người thấp cờ, đánh ở bên cạnh. Người trung bình, đánh ở các góc. Đó là phép thường trong đạo đánh cờ vậy. Phép đánh cờ có nói: Thà thua một quân chứ không để mất thế chủ động. Đánh bên trái, phải nhìn bên phải. Đánh phía trước phải nhìn phía sau. Có khi đánh trước mà lại sau, có khi đánh sau mà lại trước, hai bên liên lạc, không được tách rời. Thế rộng nhưng không nên quá thưa, thế dày không nên quá chặt. Cố giữ quân để cầu sống, không bằng thí quân để thắng cờ. Cầu vô sự mà đi nước rời, không bằng bổ sung bền thế trận. Người nhiều ta ít, trước phải bảo tồn. Người ít ta nhiều, cần căng thế trận. Người khéo thắng không tranh, người khéo trận không đánh, người khéo đánh không thua, người khéo thua không loạn. Phàm đánh cờ, trước hết phải đàng hoàng, cuối cùng dùng mẹo lạ mà thắng. Phàm bên địch vô sự mà giữ thế là có ý tấn công, bỏ quân nhỏ mà không cứu, tất có chí lớn. Những kẻ thò tay đi ngay là đồ vô mưu, ứng phó không nghĩ suy là tìm thất bại. Kinh Thi nói: “Nơm nớp sợ hãi, như xuống vực sâu, là như vậy đó”. Bàn cờ là đất, Quân là Trời, Tạo hóa Âm Dương thật tuyệt vời, Đến chỗ huyền vi thông biến ấy, Lạn Kha kinh ấy cũng trò chơi. Đại Nam Nhất thống chí, tỉnh Hải Dương viết: đền Đế Thích ở xã Liêu Hạ, huyện Đường Hào. Tương truyền đời Lý năm Long thụy, Thái Bình thứ 2 (1055), Trương Ba người Liêu Hạ (có thuyết người hương Cổ Liêu), ba đời làm việc thiện rất cao cờ, cùng với một người bạn về Liêu Hương dựng một cái am để ở. Một hôm nói chuyện với nhau rằng: “Nghe nói ở thượng giới có Đế Thích là vua cờ, nếu có duyên được gặp được sẽ đấu trí với nhau mấy ngày!”. Một hôm, chợt thấy một ông già, áo rách, nón nan, chống gậy đến xin vào dự cuộc, rồi cùng Trương Ba đấu cờ, mới đi được năm ba nước đều thắng cả. Trương Ba sợ hãi hỏi tên, ông già nói: “Tôi là Đế Thích ở tầng trời thứ 33 trên thượng giới”. Hai người bèn xuống thềm sụp lạy, rồi dâng mía và chuối. Đế Thích bèn lấy 3 nén trầm hương, đàn hương và giáng hương ở tay áo trao cho, mà rằng: “Sau này, nếu có hoạn nạn thì đốt hương thì ta sẽ đến cứu”. Nói xong liền bay lên không. Hai người đêm hương cất vào một chỗ, lâu ngày quên bẵng đi. Sau khi chết, người nhà quét dọn thấy mấy nén hương còn sót lại bèn đem đốt, thần liền giáng hạ, thì thấy hai người đã chết rồi, thần liền triệu Tam phủ Công đồng đến để hoàn hồn, hai người được sống lại lập miếu thờ Đế Thích. Tượng Đế Thích Chùa Vua, Hà Nội, Việt Nam Về sau đển Đế Thích được đưa ra Thăng Long thành chùa Vua, nay thuộc làng Thịnh Yên, quận Hai Bà Trưng. Hàng năm có ba ngày lễ hội truyền thống vào ngày mồng 6, 7, 8 tháng Giêng và ngày mồng 9 tháng Giêng là ngày vía Đế Thích cũng ngày các kỳ thủ tranh ngôi quán quân. Trong Đạo giáo, mồng 9 tháng Giêng cũng là ngày vía Ngọc Hoàng Thượng Đế, như vậy hai vị này hoàn toàn là một. Ngày này, người ta tới đền, chùa dâng hương lễ bái và cầu mong cuộc sống dài lâu, “Muốn sống lâu cầu vua Đế Thích” là câu nói truyền miệng phổ biến trong dân gian Việt Nam. Thi Cờ Người Thi cờ người ở chùa Vua, Hà Nội, Việt Nam Trong thờ tự dân gian, Ngọc Hoàng Thượng Đế được thờ độc lập trên một bàn thờ ngoài trời thường gọi là bàn Thiên. Bàn Thiên chỉ có lư hương và bình hoa, một số nơi thờ trong nhà thì có thêm bài vị, trên ghi “Thiên Quan Tứ Phúc” nghĩa là Thiên quan ban phúc. Ngọc Hoàng Thượng Đế Tranh dân gian Trung Hoa Dòng tranh thờ Đạo giáo của các dân tộc miền Bắc Việt Nam cũng thể hiện Ngọc Hòang Thượng Đế cũng chính là Đế Thích, vua cõi Trời, còn Phạm Thiên là nhân vật ở vị trí kế tiếp, Phạm Thiên có bốn mặt hai tay cầm nhật, nguyệt. Ngoài ra, trong các ngôi chùa miền Bắc, tại bàn thờ chính điện Đại Hùng thì tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế đặt ở giữa, hai bên là tượng của hai vị thần Nam Tào và Bắc Đẩu, bộ ba tượng này được đặt ngay sau tòa tượng Cửu Long. Trong bức tranh Tử Vi Cung của bộ ba bức tranh Thánh Đạo hưng long, dân tộc Cao Lan - Sán Chỉ, Đế Thích là vị ngay dưới vị trí Tam Thanh. Tử Vi Cung Tranh thờ Đạo giáo dân tộc Sán Dìu, Việt Nam Trong văn học dân gian Việt Nam còn lưu truyền dị bản khác, truyện kể rằng: ngày xưa, có anh Trương Ba rất giỏi đánh cờ tướng, có một lần anh dồn đối phương vào thế bí rồi hãnh diện nói rằng: “Thế cờ này, đến Đế Thích cũng không gỡ nổi”. Không ngờ Đế Thích hiện ra thật, và chỉ vài nước cờ là Trương Ba đang thắng hóa thua, từ đó anh thờ Đế Thích làm thầy dạy cờ. Đế Thích cho anh mấy nén hương để khi cần thắp lên gọi ngài. Trương Ba chết đột ngột, vợ anh thắp hương thờ chồng, trong đó có mấy nén hương của Đế Thích cho. Đế Thích hiện lên, vợ Trương Ba cầu xin Đế Thích làm cho chồng sống lại, nhưng Trương Ba chết đã lâu, xác đã nát nên Đế Thích mượn xác ông hàng thịt mới chết để nhập hồn Trương Ba vào. Như vậy, xác của anh hàng thịt còn hồn của anh Trương Ba. Vợ anh hàng thịt và vợ anh Trương Ba kiện nhau ra cửa quan để giành chồng. Quan bắt một con lợn cho người sống lại làm thử, thì người này tỏ ra lúng túng nhưng khi Quan cho chơi cờ, thì người này tỏ ra cao thủ. Cuối cùng, Quan xử người sống lại chính là Trương Ba. Từ Đạo Hạnh, Trần Nhân Tông, những trái chiều lịch sử, tác giả Nguyễn Mạnh Cường, Đinh Việt Lực, Nguyễn Đức Dũng, nxb Văn Hóa - Thông tin & Viện Văn hóa, 2011). Quân phương Nam cầm vũ khí hình chữ Nhân tức lấy nhân nghĩa làm đầu, áp dụng lý luận chiến tranh “Quân chính nghĩa thì sức chiến đấu rất mạnh, quân phi nghĩa thì sức chiến đấu rệu rã” rút ra từ điển cố trong cuốn Hán Sở tranh hùng, Trương Lương du ngoạn trên Cầu Di, được tiên ông Hoàng Thạch Công trao cho 3 cuốn bí thư có Thái Công Binh pháp. Cổ xưa nhất là cuốn Sử ký của Tư Mã Thiên (145-86 tr.CN), cũng có đề cập đến điển cố này. Khương Thái công binh pháp, biên soạn Ứng Hàm, dịch giả Phạm Kỳ Nam, Phan Quốc Bảo, Đào Trọng Tùng, nxb Lao động, 2004 và Thái Công binh pháp, Hoàng Thạch Công, dịch giả Mã Nguyên Lương và Lê Xuân Mai, 1996, Nxb Thanh Hóa.<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Điển tích nổi tiếng ghi nhận lại trong Hán Sở Tranh Hùng từ Sử Ký của Tư Mã Thiên, một hôm Trương Lương đi chơi trên cầu Hạ Bì gặp tiên ông Hoàng Thạch Công, 3 lần lượm giày rơi dưới nước cho tiên ông và 3 lần không lỗi hẹn gặp mặt vào canh năm đã được tiên ông tặng cho 3 quyển bí thư, trong có đủ kỳ mưu, thần toán, dù Tôn, Ngô phục sinh chưa chắc bì kịp. Trương Lương trở về nhà mở sách ra xem thấy đó là bộ Thái Công binh pháp, ngày đêm cố gắng học tập trước vì nước Hàn báo thù, sau vì thiên hạ giúp Hán vương đem lại thái bình để khỏi phụ tình tri ngộ của tiên ông đã tặng sách. Sau khi triều Hán thống nhất, Trương Lương treo ấn từ quan, ngao du sơn thủy, học theo ông Xích Tùng Tử tu luyện, nghiên cứu các phép tịch cốc làm kế trường sinh, để sống một cuộc đời an nhàn cho thỏa thích. Ba năm sau, Trương Lương qua chơi phía Ðông dưới chân thành Ðại Cốc phía Bắc sông Tế thấy có một cái lăng của một vị đế vương, trong đó có một hòn đá vàng (hoàng thạch) sực nhớ đó là lời dặn nơi ở của tiên ông. Màu quân xanh đỏ được xác nhận trong truyện khuyết danh Hán Sở tranh hùng khi Tần Thủy Hoàng mơ đứa bé mặc áo xanh vật ngã đứa bé áo đỏ 72 lần nhưng bất ngờ bị đứa bé mặc áo đỏ đá chết, bé mặc áo đỏ ôm lấy mặt trời chạy về phương Nam, cho nên tác giả truyện này chính là người sáng tác bàn cờ tướng. Theo Sử ký của Tư Mã Thiên, Tần Thủy Hoàng bản kỷ, Triều Tần lấy “Thủy đức” làm chủ đạo, áo quần, cờ tiết (làm bằng lông chim), cờ mao (làm bằng lông thú) đều dùng màu đen. Sử ký Tư Mã Thiên, dịch giả Phan Ngọc, Nxb thời đại, 2010. Lưu Bang thắng Hạng Võ lập ra nhà Hán, nghĩa là tiếp nối hành Thủy của triều Tần là hành Mộc xem như thuộc Sở, tiếp hành Mộc là hành Hỏa thuộc Hán. Hán Sở tranh hùng, Hồi 1: Thâu sáu nước, Thủy Hoàng dựng nhà Tần - Oán trăm họ, dân gian hờn bạo chúa: “… Thủy Hoàng dạo gót khắp nơi, mãi cho tới lúc ánh nắng bắt đầu gay gắt, Thủy Hoàng thấy mình rồng mỏi mệt, liền lên Hiển Thánh điện để nghỉ. Đang trong giấc điệp mơ màng, Thủy Hoàng chợt nghe bên tai một tiếng nỗ long trời lở đất, rồi một vầng thái dương đỏ ửng từ trên trời rơi xuống. Bỗng thấy một đứa bé áo xanh, mặt đen chạy đến ôm vầng thái dương toan chạy. Liền lúc đó, lại có một đứa bé khác, mặc áo đỏ, đôi mắt sáng quắc từ phương Nam chạy đến hét lớn: Tên áo xanh kia! Hãy để vầng thái dương đấy. Ta vâng lệnh Ngọc hoàng đến lấy vầng thái dương đây. Ðứa bé áo xanh không chịu, cả hai ôm nhau vật lộn. Ðứa bé áo xanh vật ngã đứa bé áo đỏ 72 lần, nhưng bất thình lình đứa bé áo đỏ đá một đá thật mạnh, đứa bé áo xanh ngã lăn xuống đất chết tươi. Thủy Hoàng thấy vậy kêu lên: Hỡi hài đồng kia! Đừng vội đoạt vầng thái dương, hãy bảo cho ta biết chúng bây là ai?. Ðứa bé đáp: Ta là dòng dõi Thuấn Nghiêu, quê ở Phong Bài vì dân dấy nghĩa. Thượng đế đã cho ta hưởng lịch bốn trăm năm. Nói xong, đứa bé áo đỏ ôm vầng thái dương chạy biến về phương Nam. Thủy Hoàng đưa mắt nhìn theo bóng đứa bé mờ dần rồi khuất sau vầng hào quang giống như vầng vân khí nơi núi Kê Ðầu. Thủy Hoàng bừng mắt tỉnh dậy, mới biết đó là chiêm bao, lòng bâng khuâng tự nghĩ: Giấc mộng này lành ít dữ nhiều. Nhà Tần ta có lẽ vận mạng đã hết, thiên hạ ắt về tay kẻ khác.” Theo cuốn sách khuyết danh Hán Sở tranh hùng thì khởi nghiệp nhà Hán là Lưu Bang có cuộc chiến liên miên với Sở Vương là Hạng Vũ. Cuộc chiến giữa hai bên làm trăm họ lầm than, mãi đến khi thấy không còn đủ sức để tiêu diệt lẫn nhau, hai bên mới chịu giao ước chia đôi thiên hạ: lấy Hồng Câu làm giới hạn, từ Hồng Câu về Tây thuộc Hán, còn từ Hồng Câu về Đông thuộc Sở. Chung Vô Diệm đấu cờ trong truyền kỳ phương Đông, một cuộc cờ có thể được xem là giữ kỷ lục thế giới về quy mô giá trị ở Hội kỳ bàn tại Vọng giang lầu, giữa vương hậu nước Tề là Chung Vô Diệm, vốn là tiên con của bà Tây Vương Mẫu, và thừa tướng Hạ Hầu Anh nước Sở, mang lốt một con khỉ nổi tiếng cao cờ trong tiểu thuyết khuyết danh Chung Vô Diệm. Hồi 46: Chung hậu đánh cờ, chém Hầu thừa tướng - Ngũ Anh cướp trận, trúng kế Liêm Pha, phần thưởng được đem ra cá cược của mỗi bên là toàn bộ giang sơn đất nước. Nhờ dùng mẹo bỏ quả đào tiên của bà Tây Vương Mẫu trong tay áo, làm cho thừa tướng nhà khỉ trông thấy thèm rỏ dãi, chểnh mảng nước cờ và do vậy, Chung Hậu đã thắng liên tiếp hai ván bằng nước chiếu của quân Pháo. Nhưng vua quan nước Sở lật lọng cam kết lại còn bày kế mai phục định hãm hại vợ chồng Tề Tuyên Vương. Chung Vô Diệm nổi giận đã chém kỳ thủ nhà khỉ đứt làm đôi, rồi vừa cõng chồng vừa vung gươm mở đường thoát thân. Hai bên tiếp tục giải quyết thắng thua bằng một trận hỗn chiến với hàng vạn binh tướng thây phơi đầy nội, máu chảy thành sông, trong trận chiến có nói đến Chung Hậu đấu với tám nữ tướng nước Sở và hẹn cùng quân tướng chạy tới sông Trường giang để nghỉ ngơi. Kết cục, nước Sở đại bại phải dâng biểu xin làm cống thần và coi nước Tề ở địa vị thượng quốc. Câu chuyện trên mô tả một trận cờ tướng hết sức kỳ lạ, nhưng rõ ràng vào thời Chiến Quốc (III-V tr.CN) chưa hề có môn cờ này, cổ nhất có lẽ là cờ Vây và sau đó là cờ Lục bác (Liubo). Trung bình hội kỳ đồ (tranh đánh cờ vây trước bình phong) Đời Ngũ Đại, Trung Quốc, Châu Văn Cự “Chung Vô Diệm” nghĩa là diệt hết ngọn lửa tham, sân, si trong lòng như lúc nào chúng cũng chực bùng phát, bằng pháp môn Thiền quán nhằm kiềm chế “mã ý tâm viên”, nội dung này tương ứng với một phần nội dung Hỏa diệm sơn của truyện Tây Du Ký cũng của tác giả, phải dùng quạt ba tiêu của công chúa Thiết Phiến mới thổi tắt được. Trong câu truyện, ẩn ngữ Chung Hậu đấu với tám nữ tướng nước Sở và hẹn cùng quân tướng chạy tới sông Trường giang để nghỉ ngơi chỉ ra tám ô ẩn của con sông “Sở hà - Hán giới” chính là con sông Trường giang (Dương Tử) là ranh giới phân chia cương vực Kinh Dương Vương làm vua phương Nam tức nước Văn Lang, và Đế Nghi làm vua phương Bắc, do vua Đế Minh phân chia và trao cho, Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông (Lĩnh Nam chích quái, tác giả Trần Thế Pháp, khoảng thể kỷ XIV). Sông Dương Tử Bức tranh xưa Trung Quốc Qua điển cố Chung Vô Diệm chém Hạ Hầu Anh do Hạ Hầu Anh vì thèm trái đào tiên của bà Tây Vương mẫu mà lơ là để thua ván cờ, nước Sở phải thần phục nước Tề như một cuộc chiến giữa các quốc gia được mô phỏng trên bàn cờ tướng nhưng ý chính vẫn là cuộc chiến sinh tử của mỗi con người trong dòng chảy vô thường của thời gian, cũng được xem như một ván cờ người. Hình ảnh đứa bé mặc áo xanh và đỏ xuất hiện trong mơ của Tần Thủy Hoàng ở Hán Sở tranh hùng thì rõ ràng, màu quân cờ là màu xanh và đỏ. Màu xanh lá cây tượng trưng cho sinh, màu đỏ tượng trưng cho sự hóa chứ không phải tử, xanh đỏ là sự sinh hóa liên tục, miên miễn do tương tác âm dương qua hình hình ảnh hai vị tiên ông Nam Tào và Bắc Đẩu đánh cờ trong các câu chuyện truyền thuyết dân gian Việt Nam. Lúc này, con sông Trường giang trên bàn cờ, chia đôi Bắc Nam, như màu đỏ và đen, tượng trưng cho phân cách Âm Dương. Trong cuốn Tùy Đường diễn nghĩa, trang 425, tập II, tác giả Chử Nhân Hoạch, có đề cập đến cờ Song lục là loại cờ có nguồn gốc từ Ấn Độ, đánh hai người, có bàn gồm 6 cửa, nên gọi là “Song lục”, chia thành nhiều ô, mỗi bên 20 quân, ai vào cửa trước là thắng. Nội dung hồi này tác giả có ẩn ý rằng bàn cờ tướng cũng được tham khảo qua từ bàn cờ Song lục. Tác giả Chử Nhân Hoạch chính là Phật Hoàng Trần Nhân Tông bởi nhiều mắt xích nội dung liên kết với nhau, đặc biệt sự kiện hồn vua Đường Thái Tông Lý Thế Dân xuống cõi Phong Đô, tại tòa thành “U Minh địa phủ quỷ môn quan” gặp Thập điện Diêm vương để giải thích về việc hứa cứu Long Vương sông Kinh Hà nhưng lại bị tào quan Ngụy Trưng được lệnh xuất hồn trong khi ngủ, nhằm lúc đánh cờ với Thái Tông chém chết, toàn bộ sự kiện này hoàn toàn tương ứng nội dung của truyện Tây Du Ký tác giả Trần Nhân Tông. Hồi sách này cũng đề cập sơ qua về việc pháp sư Tam Tạng được rước về kinh, lập Thủy lục đạo tràng siêu độ cho các u hồn theo thỉnh nguyện của Đường Thái Tông. Trong cuốn Nhạc Phi diễn nghĩa, khuyết danh đã mô tả cuộc chiến giữa quân Tống dưới sự điều động của Lương Phu nhân sử dụng pháo binh và thiết hỏa xa ra tấn công quân Phiên, có một số khẩu pháo toác miệng làm đôi sau những tiếng nổ long trời, lở đất, khói bốc lên chín tầng mây, loang ra mấy dặm. Cho nên, thiên hạ truyền câu ca dao “Lôi Chấn tam sơn khẩu - Pháo toác Lưỡng Lang quan”, nghĩa là trời đất đã giúp binh Phiên phá súng thần công mở đường cho Ngột Truật xua quân theo đại lộ chạy vào ải. Nhạc Phi Miếu thờ Nhạc Phi ở Hàng Châu, Trung Hoa Nhạc Phi (1103-1142) là nhà quân sự nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa, danh tướng chống quân Kim thời Nam Tống. Trước sau tổng cộng quân đội của ông đã đánh nhau với quân Kim 126 trận và toàn thắng. Ông là một trong những vị tướng nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc, chức tước của ông là Đại Nguyên soái. Người Trung Hoa luôn lấy Nhạc Phi làm tấm gương noi theo, đời đời kính nhớ người con chí hiếu, cũng là một người anh hùng dân tộc. Bốn chữ đại tự trên bức hoành phi: "Hoàn ngã hà sơn" nghĩa là “Hoàn lại núi sông" kiểu chữ rất cổ. Chữ Nhân cũng là hình vũ khí qua đồng, là loại binh khí đặc biệt dùng độc lập hoặc liên kết nhiều lưỡi để tấn công kỵ binh, dùng chặt, khóa chân ngựa để phá thế trận liên hoàn mã mạnh mẽ của phương Bắc. Vũ khí này được mô tả trong Nhạc Phi diễn nghĩa: Hồi 57: Dùng câu liêm thương phá Liên hoàn mã - Nhờ thư tiễn thoát khỏi Thiết phù đà. Hai bên đánh nhau được vài mươi hiệp, Phiên tướng giả thua quay ngựa chạy thẳng vào dinh, bốn tướng không ngần ngại gì cả cứ việc đuổi theo, bỗng nghe tiểu Phiên rúc còi gióng trống hô lên một lượt. Ba ngàn quân "Liên hoàn giáp mã" tràn ra vây kín, Trương Lập thấy thế truyền quân lấy đăng bài ra che khắp bốn phía, cung tên bắn vào không ăn thua gì cả còn Mạnh Bang Kiệt và Trương Hiến thì đốc thúc quân sĩ lấy câu liêm thương ra móc chân ngựa giật lia lịa. Vì ngựa đối phương cột chùm với nhau nên khi giật ngã được vài ba con thì kéo nhau ngã không cựa quậy được, quân Phiên thất kinh hồn vía, đạp bừa lên nhau chết vô số. Bỗng nghe bên dinh Tống phát lên một tiếng pháo nổ vang, Nhạc Vân, Trương Hiến ở bên phải đánh thốc vào, Nghiêm Thành Phương cùng Hà Nguyên Khánh cũng từ bên trái đánh tới, hai mặt giáp công đánh thôi tối trời mịt đất, Phiên tướng không còn đủ sức ngăn đỡ nữa. Ngoài cuốn Nhạc Phi diễn nghĩa thì trong Tùy Đường diễn nghĩa, tác giả cũng biểu lộ mối cảm hoài của mình đối với sự nghiệp tận trung báo quốc của Nhạc Phi: Trung nghĩa đem bàn thuật dễ thông, Khó chăng khi gặp bước đường cùng, Lê Viên tuẫn tiết bao nhiêu kẻ, Xin chớ coi thường chí Nhạc Công, Nhạc Công tuẫn tiết, Ai cô thần bi thiết hỏi trời xanh, Thơ ngâm gửi gắm chút tình, Hàng Châu, hàng chữ quên mình vì ai. Cuốn Nhạc Phi diễn nghĩa, trang 10 có đoạn: “Chắc ai cũng thừa hiểu bên Tây phương là nơi cực lạc. Hôm ấy, tại Lôi Âm Tự, Phật Tổ Như Lai ngự tại cửu phầm liên đài, hai bên có 4 vị Bồ Tát, 8 vị Đại Kim Cương, 500 vị La Hán, 3.000 vị Yết Đế cùng chư vị Hộ Pháp, thánh thần chầu chực để nghe Phật Tổ giảng dụ diệu pháp chân kinh”. Lôi Âm Tự đây chính là nơi đến cuối cùng để nhận kinh Phật của pháp sư Huyền Trang đi Tây phương, như đã được mô tả trong cuốn Tây Du Ký. Lôi Âm Tự không phải là tự viện Nalanda ở Ấn Độ mà là một ngôi chùa ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam, vua Trần Nhân Tông đã lấy tên đưa vào cốt truyện của mình, nơi ông đã cùng các tôn giả Pháp Loa, Huyền Quang thường đến đó giảng đạo. Trong văn thư ngoại giao của vua Trần Nhân Tông, lá thư tháng Ba năm Chí Nguyên 23 (1286): “Thế tử nước An Nam là thần Trần Nhật Huyên kính gửi: “…; Bàn cờ bằng xương voi cái, có màu gỗ vằn sáng, góc vàng phủ bạc, một chiếc ba lạng; Hộp phủ vàng có phủ xen vàng đỏ liền với múi, một chiếc 25 lạng; Bộ quân cờ bằng ngà voi, một bộ 32 con; ...” (trích Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb Phương Đông, tác giả Lê Mạnh Thát, 2010, trang 393). Như vậy, nội dung lá thư ngoại giao trên đã khẳng định một trong những vật phẩm gửi tặng chính là bàn cờ tướng làm bằng ngà voi. Chơi cờ trên thuyền Đền Preah Khan, Campuchia Đền Preah Khan của Campuchia được xây dựng dưới triều vua King Jayavarman VII (1181-1201). Trong tác phẩm Macopolo du ký, dịch giả Nguyễn Thành Thống, Nxb Văn hóa Thông tin, 2008, tác giả cũng có đề cập đến trò chơi cờ tại Campuchia nhưng không nói là loại cờ gì, trong đó các con cờ được làm bằng gỗ mun đen. Vua Trần Nhân Tông sinh năm 1258, lên ngôi năm 1278 và nhường ngôi cho con vào nǎm 1293 lúc ông mới 35 tuổi, lên làm Thượng hoàng ông đã dành toàn quyền điều hành cho nhà vua trẻ. Ông ít khi trở về kinh, còn dành toàn bộ thời gian vào việc riêng của mình, đi chu du khắp nước và sang thăm viếng nước Chiêm Thành. Như vậy, nếu so với với năm 1286 ở trên thì cờ Tướng đã được ông sáng tác trước 28 tuổi, trong khi năm 1285 là bắt đầu cuộc chiến chống Nguyên Mông lần thứ II. Trong Tùy Đường diễn nghĩa, Hồi 100: “Đưa sang cung Nam Nội, ly gián tình phụ tử - Sai phù thủy Hồng Đô, kết thúc truyện Tùy Đường”: Hồng Đô liền cứ trong mây lành mà bay về phía Đông, gặp một tòa núi cao, tả sao hết cảnh sắc của núi, từ xa đã nhìn thấy từng hàng tùng bách xanh ngắt dưới chân núi, ngay dưới một cây tùng già, có ba vị tiên ông ngồi, hai vị đang đánh cờ vây và một vị ngồi cạnh xem. Hồng Đô tới bên lạy chào, các vị tiên tạm dừng cuộc cờ mà cả cười, Hồng Đô xin được biết họ tên, vị tiên ngồi ở chính giữa cất tiếng: Ta là Trương Quả, hai vị này chính là Diệp Pháp Thiện và La Công Viễn. Chúng ta đều có duyên nợ với thái thượng hoàng, vì vậy thường bày vẽ cho ít nhiều, chỉ vì thượng hoàng duyên trần còn nặng, lòng trí còn tối tăm, quên cả bản tính của chân thân, đành phải bỏ mà đi vậy. Thượng hoàng nay tuổi đã cao, chuyện yêu đương nghiêng ngả đâu còn, cũng nên giác ngộ đi còn gì, thuở trước giá có theo ta mà tu tiên học đạo, thì đâu đến nỗi đắm chìm trong bể họa như thế. Như trong câu chuyện đánh cờ vây giữa hai mẹ chồng nàng dâu đã đề cập ở trên, thì các vị tiên Trương Quả, hai vị này chính là Diệp Pháp Thiện và La Công Viễn trong cuộc chơi cờ vây kỳ thú vẫn chưa rõ là ai, chúng ta hãy cùng xem tóm tắt một câu chuyện trong tiểu thuyết Tam quốc chí, tương truyền là sáng tác của La Quán Trung. Quản Lộ tự Công Minh, người ở đất Bình Nguyên đời Tam Quốc (220-264), diện mạo xấu xí, thích uống rượu, nhưng làu thông kinh Dịch, hiểu hết nghĩa uyên thâm, biết đoán chiều gió, tinh thông khoa lý số và giỏi cả xem tướng. Có lần, Lộ đã cứu sống một thanh niên tên Triệu Nhan 19 tuổi vượt qua ngày chết, bằng cách xui anh đem một vò rượu ngon với thịt nai nướng thơm ngon dâng cho hai vị tiên đang đánh cờ ở núi Nam Sơn. Một ông ngồi quay về Nam mặc áo trắng, dung mạo dữ tợn, còn một ông quay về hướng Bắc mặc áo hồng, dung mạo rất đẹp, ông mặc áo hồng chính là ngôi Nam Đẩu hay gọi là Nam Tào ghi sổ sinh, ông áo trlắng là ngôi Bắc Đẩu ghi sổ tử. Cuộc nói chuyện tiếp theo giữa Quản Lộ và Triệu Nhan cho biết các vấn đề liên quan là thiên văn, Nhan hỏi: Tôi nghe nói Bắc Đẩu có những 9 vị, sao chỉ thấy có một ông? Lộ giải thích: Phân tán thì thành 9, kết hợp lại thành 1. Như vậy, hai vị tiên đang đánh cờ là Nam Tào và Bắc Đẩu và vị chính giữa ngồi xem rõ ràng chính là vua cở Đế Thích hay Ngọc Hoàng Thượng Đế. Trong câu chuyện trên, chỉ xác định được hai vị mà thôi bởi tác giả tiểu thuyết Tam quốc chí là một người khác. Đặc biệt, tác giả của cuốn tiểu thuyết này cũng đã lấy các sự kiện trong sự tích núi Lạn Kha và lễ hội hoa mẫu đơn đưa vào nội dung Tam quốc chí qua việc mô tả sự kiện Tào tháo rất thích hoa mẫu đơn. Đánh cờ, chạm gỗ, 1763 Đền Tam Lang, Ích Hậu, Can Lộc, Hà Tĩnh (trích Bản rập họa tiết mỹ thuật cổ Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, 2000) Dạng quân cờ lập thể cổ xưa nhất cho tới nay mà các nhà khảo cổ học khám phá ra là bàn cờ Senet của Ai cập cổ đại, được vẽ trên tượng hầm mộ nữ hoàng Nefertiti, ước tính niên đại khoảng từ 2700-2185 tr.CN. Nữ hoàng chơi cờ Senet Mộ nữ hoàng Nefertiti, Ai Cập Bàn cờ Senet Mộ Tutakhamon, Bảo tàng Brooklyn, New York * Sách của người chết Ai Cập mô tả việc chơi cờ Senet giống là công việc nhàn rỗi của những linh hồn sống trong Cõi Âm. Trong trò chơi dân gian Việt Nam, môn cờ Tướng đã được chuyển đổi thành một phương pháp chơi mới bằng bài lá, trong bộ bài này, các quân cờ Tướng đã được vẽ hình cụ thể. Chơi bài Tam Cúc Tranh của Henry Orger Giữa cờ Tướng và các loại cờ khác như cờ Vua, cờ Saturanga, có những đặc trưng khác nhau nhưng tính ưu việt và hợp lý về mặt triết lý tổ chức quốc gia và chiến tranh nghiêng về cờ Tướng nhiều hơn. Trên bàn cờ Tướng, sự di chuyển quân trên đường tạo nên tính thuận tiện quan sát mà không cần làm dấu ô xem kẽ như cờ Vua, số vị trí quân cờ cũng tăng lên từ 64 điểm thành 90 điểm tạo điều kiện xây dựng thế trận toàn diện hơn, sông ranh cũng đã tạo nên sự phân biệt giữa đôi bên và lúc này trận chiến có thể diễn ra trên bộ cũng như dưới nước, toàn bộ cấu trúc bàn giống như một triều đình thu nhỏ, trong đó tướng ở nhà quân ra trận. Tướng phải ở vị trí trung tâm bàn cờ, quân Pháo với luật “ngòi nổ” là một sự bổ sung tuyệt diệu nhất, quân Mã không thể tự tung tự tác mà vẫn bị ngăn cản qua luật “cản chân Mã”, bàn cờ cũng không có quá nhiều Tốt trở nên thông thoáng hơn, Tướng giờ đây đã có thể ở ngay trục giữa và rất dễ dàng nhận thấy, Sĩ thêm vào hai bên Tướng rất hợp lý ở vai trò quân sư, có vậy mới đảm bảo sự cân đối ý nghĩa giữa văn võ bá quan của một triều đình. Toàn bộ học thuyết Âm Dương Ngũ Hành nằm trong bàn cờ Tướng, hai người chơi thể hiện Âm Dương là Nam Tào và Bắc Đẩu, một người xem nhưng là điều động toàn bộ cuộc cờ là Thượng Đế, ông Trời, Đế Thích; sự tương tác Âm Dương hình thành nên Tứ Tượng trong bàn cờ, từ đó thiên biến vạn hóa nước đi như vạn vật được hình thành từ 32 quân cờ; Lý Dịch Đông Phương có thể tiên tri ứng với 64 quẻ Dịch… và cũng nói về lịch sử cổ đại của cương vực nước Văn Lang thể hiện qua con sông Dương Tử ngăn cách trên bàn cờ tướng. Mặc dầu vậy, ý tứ sâu xa hơn của tác giả về việc tóm tắt Lý Dịch vào trong bàn cờ đó là chính là cuộc chiến nội tại của mỗi con người trong dòng chảy sinh tử của một kiếp nhân sinh, cần phải quán chiếu thực tại như bài kệ cuối Kinh Kim Cương, lấy làm kết thúc cuốn tiểu thuyết Nhạc Phi diễn nghĩa: Nhất thiết hữu vi pháp, Như mộng huyễn, bào ảnh, Như lỗ diệc như điển, Ưng tác như tị quang. Tất cả pháp hữu vi. Như mộng huyễn, bọt nước. Như sương cũng như điện, Nên quán đúng như thế. Khi một người từ mới biết chơi cờ cho đến đại kỳ thủ đều tưởng rằng mình được tự do lựa chọn nước cờ trong hàng vạn nước có thể và tưởng rằng chính mình đã quyết định cho hành vi của mình… ít nhất là trên bàn cờ người, nhưng nó đã được lập trình để đối phó với tư duy tưởng chừng bất định và hỗn độn ấy và kết thúc một bàn cờ theo chương trình đã lập sẵn với con người. Như vậy, suy luận rộng ra, thì chính tư duy của con người là một phương trình vĩ đại nhất có thể quy nạp, mang tính quy luật trên bàn cờ nhân thế. Đó là lý do mà những phương pháp tiên tri của Lý học Đông phương, về mặt lý thuyết có thể tiên tri được mọi hành vi của con người trong cuộc đời. Bởi vậy, khi nói về phương pháp tiên tri của Lý học Đông phương thì đấy chính là công thức mô tả qui luật vận động của vũ trụ và bàn cờ nhân thế này không nằm ngoài quy luật trên, vì vậy, có thể tiên tri (Tham khảo bài viết Quân tượng trên bàn cờ tướng của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh). Bàn cờ tướng thì quân hai bên giống nhau, chỉ có mỗi tên quân là khác nhau nhưng lại được viết bằng chữ Hán, đây có lẽ là lý do khiến cho cờ tướng không được phổ biến bằng cờ vua. Do vậy, sau khi đã xác định được tác giả và nguồn gốc cờ tướng, chúng ta hoàn toàn có thể chế tạo lại quân cờ dạng lập thể, các chi tiết điêu khắc, mỹ thuật mang dấu ấn của nền văn hóa phương Đông cốt đem lại sự niềm vui trong cuộc sống, cũng như trong việc tìm hiểu thêm nền văn hóa Việt đậm đà bản sắc tới toàn thế giới, như Nguyên sứ Trương Hiển Khanh, sau khi tiếp xúc với vua Trần Nhân Tông trong công tác ngoại giao, Trương Hiển Khanh đã có một cách nhìn, cách nghĩ khác về nước Việt và khẳng định nước Nam có một nền văn hóa riêng cần phải tôn trọng, không ai được xem thường: An Nam tuy tiểu văn chương tại, Vị khả khinh đàm tỉnh để oa. An Nam tuy nhỏ văn chương thịnh, “Ếch giếng” khuyên đừng chế giễu ngoa. Vua Trần Nhân Tông kết thúc sách Tùy Đường diễn nghĩa nhắc nhở ngoài xem chính sử do nhà nước đứng ra tổ chức biên soạn, hoặc được chính thức công nhận thì phải nghiên cứu cả những trang dã sử nữa, đó là những sách do một hay nhiều người biên soạn, mang tính chất cá nhân, do đó mang nhiều dấu ấn riêng biệt như các tiểu thuyết diễn chí, diễn nghĩa, truyện cổ dân gian, truyết thuyết và huyền thoại. Thậm chí, chúng ta có thế thấy dấu ấn của lịch sử và văn hóa được khắc ghi trong các trò chơi dân gian như là cờ Tướng, Tam Cúc, Tổ Tôm, Mạt Chược… Dở xem sử cũ nghĩ cho rành, Tướng gỗ một bầy múa rối tinh. vay trả nợ nần, chính sử đó, Vẫn cần dã sử mới phân minh. Ngoài chính sử phải thêm diễn nghĩa, Chiến Quốc, Xuân Thu, Hán cùng Sở. Vương Mãng, Lưu Tú, Ngụy Thục Ngô, Nam Bắc Lục Triều, vẫn chưa đủ. Ta nay diễn nghĩa thêm Tùy Đường, Sách dài, dài trọn một trăm chương. Dẫu vậy, vẫn chưa được tường tận, Kỹ càng mới chỉ chữ hưng vong. Sau có gắng rõ lẽ vô thường, Luân hồi, nam trung với nữ tiết. Quả báo, đức độ sánh xương cuồng, Rành rành sách đó, xem thì biết. Phật, tiên, ma, quỷ, kể rõ ràng, Có, Không vốn ở Tâm ra cả. Cũng câu phúc họa, điều nhân quả, Sáng soi Dượng Đế đến Minh Hoàng. Theo điệu "Nhất tùng hoa" Trong các chương sách, chúng ta thấy nói về các cuốn sách của vua Trần Nhân Tông và các tác phẩm của Bồ Tát Nguyễn Minh Không, do vậy chúng tôi ghi chú ra đây để quý vị có thêm dữ liệu tham khảo: - Tây Du Ký: dựa trên lịch sử kháng Nguyên Mông và học thuyết Tam giáo cùng với thuyết Âm Dương Ngũ Hành, Tây Du Ký cũng liên kết với các cuốn sách của Bồ Tát Nguyễn Minh Không qua các nhân vật cùng tên nhưng đặc điểm để phân biệt là Tây Du Ký bổ sung thêm người em gái của thái tử Natra. Một vài sự kiện kiên quan lịch sử mang ẩn nghĩa như Hồng Hài Nhi (tên tướng Ô Mã Nhi) bị Phật Bà cho lên ngồi tòa sen và bị khóa chặt bởi các ngọn dao - đây là hình ảnh những chiếc cọc nhọn trong trận thắng Bạch Đằng; ba lần đánh Bạch cốt tinh là ba lần những tên sứ Nguyên hống hách tới Đại Việt; Tôn Ngộ Không đấu phép với ba pháp sư chính là sự kiện thử đầu tên pháp sư Phạm Nhan có mọc được hay không, xử tử tên tướng Ô Mã Nhi và chém đầu Toa Đô tại trận chiến; sự kiện công chúa Hoa Tư có hai người con trai với Thoát Hoan, sau 13 năm mới trở về lại Đại Việt; Tổ sư Bồ Đề dạy Tôn Ngộ Không chính là Phật A Di Đà lấy từ hình tượng Phật Thích Ca Mâu Ni chứng đắc dưới gốc cây Bồ Đề… Tây Du Ký thực sự là một tác phẩm tuyệt thế vô song, cho nên chúng tôi sẽ phân tích riêng và sẽ bổ sung. - Tùy Đường diễn nghĩa: liên kết tới Tây Du ký qua sự kiện vua Đường sống lại và các phân tích ở các chương sách. - Nhạc Phi diễn nghĩa: liên kết tới môn cờ tướng và chức nguyên soái trong quân đội, cùng các truyền thuyết do ngài tự xây dựng. - Chung Vô Diệm, Tiết Nhơn Quý chinh Đông và Tiết Đinh San chinh Tây, Hán Sở tranh hùng, Xuân Thu chiến quốc: tương tự như trên. Các tác phẩm của Bồ Tát Nguyễn Minh Không: - Phong Thần: lấy hình ảnh các vị Phật, Thánh, Thần, Tiên của Phật giáo, Đạo giáo, tôn giáo dân gian trong lịch sử nước Việt, cùng với biểu tượng linh thú mà các ngài cưỡi, kết hợp với lịch sử thời đại Hùng Vương. Đặc biệt, hình ảnh thái tử Natra dùng Càn Khôn cung và Chấn Thiên Tiễn bắn về hướng Tây Nam gây ra tiếng sấm kinh thiên động địa, hào quang chói mắt hàm ý phá tan sai lệch độ số cung Tốn Khôn trong Hậu Thiên Bát Quái. Tương tự như vậy, trong Tây Du Ký, Tôn Ngộ Không lẩn trốn ở cung Tốn trong lò Bát quái của Thái Thượng Lão Quân. Sau này, Bồ Tát Nguyễn Minh Không đã tổ chức xây dựng nên các dòng tranh dân gian Kim Hoàng, Hàng Trống và Đông Hồ để lưu trữ mật ngữ về lịch sử Hùng Vương và học thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Ông cũng bổ sung thêm các nhân vật như Bát Tiên… vào các bộ tranh thờ Đạo giáo các dân tộc miền Bắc Việt Nam. Ông cũng hệ thống hóa lại cấu trúc thờ tự trong các đình, đền, chùa… qua các pháp khí thờ tự như lỗ bộ, bát bửu… sau này, ông được tôn suy là ông tổ nghề đúc đồng là vậy. Ông chính là người đã xác định mối lên kết giữa Phật giáo, Bà La Môn giáo, Đạo giáo, Nho giáo và lịch sử các vua Hùng, cho nên người đời sau tôn xưng ông “Thiên Nhân Sư” tương đương một vị Phật. Phong Thần của Bồ Tát Nguyễn Minh Không cùng Tây Du Ký của Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã tạo nên cặp tiểu thuyết “song kiếm hợp bích”. - Tam Quốc Chí: liên kết đến bộ bài Ma tước, thờ vị tiên Lữ Đồng Tân, Quan Vũ tại đền Ngọc Sơn, tượng thờ ông với cái tên Khổng Minh Không cũng hàm nghĩa câu truyện này, mặt khác hiệu của ông cũng là Quản Lộ trùng tên những nhân vật lịch sử nổi tiếng có tên trong câu truyện; đề cập đến hội hoa mẫu đơn chùa Phật Tích với hình ảnh Tào Tháo thích hoa mẫu đơn; có nói một cách ẩn ý về Hai Bà Trưng đánh hạ 65 thành; ẩn ý về lời thề chém vào đá của Thục vương An Dương Vương và vua Hùng Duệ Vương… - Thủy Hử: tương ứng với 108 vua Hùng, liên kết với Phong Thần qua hình ảnh Thái tử Natra. Chúng ta hãy xem lại nội dung khổ thơ Dự ngôn Tàng đầu thi của Lý Thuần Phong: Thần thiên thuộc ý tại Trung Hoa, Cạnh phóng ngũ thiên tận dị ba. Đại hí nhất đài chung lạc mạc, Cự ngôn chứng nghiệm thế khả tra. Trời đang chăm chú nhìn mảnh đất Trung Hoa, Biết bao sự kiện xảy ra trong 5.000 năm ấy. Sân khấu của vở kịch lớn một khi hạ màn rồi, Lịch sử sẽ chứng nghiệm được lời tiên tri này. Đúng là một phần sân khấu của vở kịch lớn đã sắp hạ màn, lời tiên tri cũng sẽ được xác định chính xác hơn nữa qua việc phân tích nội dung lịch sử, văn hóa trong 5.000 năm ở các chương sau. Các tác phẩm của Bồ Tát Nguyễn Minh Không và Phật Hoàng Trần Nhân Tông ở trên, chúng tôi sẽ phân tích và bổ sung. Bây giờ, hãy cùng tiếp tục với Chương VII: TẢ THANH THIÊN (VIẾT LÊN TRỜI XANH). ***
  14. Kính nhờ Bác Lãn Miên biên dịch giùm 4 câu thơ cổ: Hà nhân thượng cổ giao lưu, Bát nguyệt sơ cửu đấu ngưu nãi hoàn. Kinh doanh thủy bộ bách ban, Y tư nhật nguyệt lại hoàn đấu ngưu. Trân trọng cảm ơn.
  15. Thời nhà Lý, Trần đã chế tạo Tứ đại pháp khí làm bảo vật của quốc gia đó là chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh, tháp Báo Thiên và tượng Phật Di Lạc chùa Quỳnh Lâm. An Nam Tứ đại pháp khí là bốn khí vật bằng đồng cực lớn tương truyền được đúc ở thời Lý, là tháp Báo Thiên và chuông Quy Điền ở kinh đô Thăng Long, vạc chùa Phổ Minh ở Nam Định và tượng Phật Di Lạc chùa Quỳnh Lâm ở Quảng Ninh. Dân gian còn nhớ vạc Phổ Minh còn có thể chạy được trên miệng, còn bia chùa Quỳnh Lâm kể rằng pho tượng Phật Di Lạc ở đây cao những 6 trượng (3.1m) đầu tượng chạm nóc điện cao 7 trượng, đứng ở bến đò Triều Đông xa mười dặm (chừng 5km) còn trông thấy rõ. Tòa tháp do vua Lý Thánh Tông cho xây dựng vào năm 1057 giữa kinh đô Thăng Long, tên tháp là Đại Thắng Tư Thiên, nhưng vì là bộ phận của ngôi chùa Sùng Khánh Báo Thiên cho nên người đời quen gọi là Tháp Báo Thiên. Tháp cao 12 tầng với ngọn tháp đúc bằng đồng, trên ngọn tháp khắc ba chữ Đao Lỵ Thiên thể hiện ý chí vươn lên tận trời cao, cho nên tháp luôn được xem là cây cột chống trời “Kình Thiên Trụ” của kinh đô Thăng Long. Chùa Báo Ân Ảnh tham khảo file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Phạm Sư Mạnh, người Hải Dương, tiến sĩ đời vua Trần Minh Tông (1314-1329), có làm bài thơ Đề Báo Thiên tháp: Trấn áp Đông Tây giữ đế kỳ, Một mình cao ngất tháp uy nghi. Chống trời cột trụ non sông vững, Sừng sững ngàn năm một đỉnh chùy. Chuông khánh gió đưa vang đối đáp, Đèn sao đêm đến rực quang huy. Đến đây những muốn lưu danh tính, Mài mực sông xuân viết ngẫu thi. Ba mươi ba năm sau, sau khi xây tháp Báo Thiên ngoài cửa Nam hoàng thành Thăng Long, đến lượt một trong “Tứ đại pháp khí” được tạo tác, đó là quả chuông đồng khổng lồ mang tên Quy Điền do vua Lý Nhân Tông cho đúc vào mùa xuân năm 1080 để treo ở ngôi chùa Diên Hựu (tức chùa Một Cột), hình hoa sen nở trên mặt nước cuống hoa là cây cột đá kỳ vĩ, bên trong thờ tượng Quan Âm Bồ Tát bằng vàng, biểu thị sự trường tồn của Phật pháp. Chùa do vua Lý Thái Tông xây dựng từ năm 1049. Năm 1958, chùa Một Cột còn được trồng cây bồ đề chiết từ cây mẹ nơi đức Thích Ca thành Đạo, do Tổng thống nước Ấn Độ Prasat tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chùa Một Cột Ảnh dựng lại theo văn bia cổ, họa sĩ Trịnh Quang Vũ phác thảo, Hà Nội, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Chùa được hình thành từ đời Tiền Lý khoảng thế kỷ V-VI và được tu sửa qua các triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê. Chùa được tôn tạo và hoàn chỉnh vào thời Lý, Trần. Thời Lý, nhà sư Không Lộ đã cho đúc một pho tượng Di Lạc bằng đồng cao sáu trượng (khoảng 20m) và một tấm bia đá lớn với hoa văn hình rồng uốn lượn. Chùa Quỳnh Lâm thực sự trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng trong thế kỷ XIV với hoạt động của Pháp Loa Đồng Kiên Cương, vị tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm. Trên cơ sở chùa Quỳnh Lâm cũ, tháng 12 năm 1317, Pháp Loa cho xây dựng và thành lập viện Quỳnh Lâm với các kiến trúc đồ sộ và hoàn chỉnh, trở thành đệ nhất danh lam cổ tích của nước Nam. Đây là trung tâm truyền kinh giảng đạo và đào tạo hàng ngũ sư sãi, nhiều hội lớn nổi tiếng được tổ chức tại đây như “hội Thiên Phật” trong bảy ngày bảy đêm” (1325). Năm 1319, tôn giả Pháp Loa đã kêu gọi tăng nhân, phật tử chích máu in hơn 5.000 quyển kinh Địa Tạng lưu giữ ở Quỳnh Lâm viện. Năm 1328, ông tâu xin nhà vua cho được kéo tượng Phật Di Lạc bị chìm dười nền điện lên bảo tọa để dát vàng. Năm 1329, Pháp Loa đưa một phần tro hài cốt của Phật hoàng Trần Nhân Tông về an trí trong tòa tháp đá ở chùa Quỳnh Lâm. Thời giặc Minh (1407-1427) xâm lược nước ta, chùa bị phá hủy và pho tượng Di Lạc bị cướp mang đi. <br clear="all"> Vạc Phổ Minh được đúc vào tháng 2 năm Nhâm Tuất (1262) đời Trần Thánh Tông, nhân dịp Trần Thái Tông về chơi Tức Mặc, nay thuộc về tỉnh Nam Định. Tại đây, Trần Thái Tông đã ban yến cho dân làng, các hương lão từ 60 tuổi trở lên được ban tước hai tư, lão bà thì được hai tấm lụa. Nhân đấy, đổi Tức Mặc làm phủ Thiên Trường. Dựng cung Trùng Quang để các vua sau khi đã nhường ngôi về ở, lại dựng một cung riêng gọi là cung Trùng Hoa cho Tự quân (vua mới) khi đến chầu Thái Thượng hoàng thì ngự ở đó. Phía Tây cung Trùng Quang, dựng chùa Phổ Minh, tại đây cho đúc một chiếc vạc đồng lớn và cho khắc bài minh vào vạc. Cùng với chuông Quy Điền, tháng 10 năm Bính Ngọ (1426) khi bị vây ở Đông Quan, Vương Thông đã cho phá vạc Phổ Minh để lấy đồng đúc vũ khí. Có bài Thi vịnh về Tứ đại pháp khí: Bách xích sai nga trĩ đế thành, An Nam tứ khí cổ kim danh. Hoàn khu cộng hiệp cam lâm trạch, Phát tượng thiên thu trạc quyết linh. Trong Tam quốc chí, Hồi 65: “Cam Ninh trăm kỵ cướp Ngụy doanh - Tả Từ quăng chén đùa Tào Tháo”: nói về gỏi phải có cá Lư ở sông Tùng Giang mới ngon, ẩn ý nói về pháp khí là cái Lư hương trên vẽ “Song long triều nguyệt”, “Tùng Giang” mang ý nghĩa là cái Trống. Như vậy, có thể nhận định bộ Khung là các bức tranh này vẽ “Tứ đại pháp khí” bao gồm vạc, lư, chuông, trống. Quản Lộ cũng là tên hiệu của Bồ Tát Nguyễn Minh Không, ông sống dưới thời nhà Lý và đây là một trong những mắt xích quan trọng xác định tác giả của bộ bài Mạt chược. Chúng ta có thể thấy, ít nhất là một trong “Tứ đại pháp khí” này luôn xuất hiện tại bất kỳ một không gian thờ tự của các tôn giáo hoặc trong các lễ hội dân gian của các quốc gia trên thế giới. Mặc dù, vạc Phổ Minh được tạo tác thời Trần nhưng hình ảnh cái vạc đồng là thần khí đã có từ thời nhà Hạ, Thương, Chu. Chuông Trống Vạc Lư file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Chuông voi, Đông Sơn, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Trống đồng Ngọc Lũ, Đông Sơn, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Mao công đỉnh, thời Tây Chu, Trung Hoa file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Lư hương gốm Bát Tràng, Việt Nam Vậy thì, những chữ Nho in trên các lá bài của bộ Khung xanh là Tổng, Màn, Thùng, Sọt sẽ tương ứng với bộ tranh Tứ Khí chính là Chuông, Trống, Vạc, Lư. Tổng hợp lại hai bộ Hoa và hai bộ Khung bổ sung, trở thành bộ bài Mạt chược nguyên thủy, chúng ta có thể hiểu kết hợp các bộ tổ hợp tạo thành câu thư pháp: “Đại Nguyên Hợp Hỷ” có nghĩa là một chu kỳ nguyên vận quay trở lại thì “Thiên hạ thái bình”. - Bộ Đầu (tài phao) gọi là Rồng - Nguyên: Trung, Phát, Bạch. - Bộ Khung (khí) gọi là Gió - Hỷ: Long, Lân, Quy Phụng - Gió Đông, Gió Tây, Gió Nam, Gió Bắc - Trống, Chuông, Vạc, Lư. - Bộ Hoa (xương) gọi là Hoa - Đại: Ngư, Tiều, Canh, Mục - Xướng, Sáo, Nhị, Phách - Xuân, Hạ, Thu, Đông - Mai, Lan, Cúc, Trúc. - Bộ Nạc (thịt) - Hợp: Văn, Vạn, Sách. Một trong những trò chơi dân gian đặc biệt nhất đó là múa rối nước, nó đã có từ nghìn năm trước, vô cùng lý thú và độc đáo về mặt kỹ thuật và sáng tạo hơn những loại hình nghệ thuật đã được biết đến và được xếp vào hành thể loại quan trọng nhất của sân khấu múa rối. Chỉ một cái ao làng là đủ trở thành sân diễn, tại chùa Thầy, Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Tây còn lưu giữ lại một cái thủy đình diễn múa rối nước từ thời nhà Lý, bài viết của Nguyễn Công Bật được ghi trên bia đá vào năm Tân Sửu (năm trị vì thứ hai của Thiên Phù Duệ Vũ - 1121) để ca ngợi công đức của vua Lý Nhân Tông. Thủy đình chùa Thầy và tranh múa rối nước Ảnh, Phùng Anh Tuấn file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Tích diễn thường là các điển cố lịch sử hoặc các trò dân gian truyền thống như đốt pháo mở cờ, mời trầu, kéo quân, kéo tứ linh, múa Tễu, chọi trâu, múa lân, đấu vật, múa tiên, ngư-tiều-canh-độc, Trưng Trắc Trưng Nhị, Hưng Đạo bình Nguyên, Lam Sơn khởi nghĩa, đua thuyền, rồng phun mưa, chăn trâu thả diều, quay tơ dệt cửi… cùng với dàn nhạc biểu diễn, trong đó không thể thiếu trống cái báo hiệu buỗi diễn bắt đầu. Với mỗi tiết mục, thường có đoạn giới thiệu bằng thơ hay văn biền ngẫu có nhịp điệu, tiếp theo là phần ngâm và hát, cũng khi có bài xướng, như bài minh họa cho tiết mục múa Tứ Linh: Rồng thiêng xuất hiện, Phượng hoàng múa ca, Lân Rùa hòa quyện, Tứ Linh tụ hội. Hào cửu ngũ quẻ Càn, Rồng bay lên trời, Thời thái bình, Rồng hiện ra trên cánh đồng, Rồng đâu phải là loài vật luôn sống trong chốn ao tù. Trong múa rối nước, một nhân vật quan trọng không thể thiếu là chú Tễu, vai trò như là một chú hề trên các sân khấu khác. Tễu thường là một thanh niên có da thịt, mặc áo cộc để lộ cái bụng phệ, mặt lúc nào cũng tươi cười, ánh mắt thì như giễu cợt, hai tay ve vẩy còn người lúc nào cũng ngọ nguậy. Tễu thường xuất hiện vào đầu buổi diễn để hát mở đầu, vừa dẫn chương trình lại vừa bình phẩm thói tư tật xấu bằng giọng châm biếm. Tễu có nét của một thanh niên đẹp trai, thông minh, sang trọng và dí dỏm. Chú là nhân vật được yêu thích nhất trong những con rối nước, thễ hiện tính hài hước, lạc quan, yêu đời của dân tộc Việt. Từ hình ảnh chú Tễu, chúng ta thấy có sự giống nhau đến lạ lùng với quân bài Joker (chú Hề) bổ sung trong bộ bài Mạt chược. Rồng phun mưa và Chú Tễu Ảnh tác giả Hoài Nguyên file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Khi chú Tễu xuất hiện từ màn trúc, ngay sau màn giáo trống với nhịp trống ngày càng dồn dập, một giọng cất lên: Ớ này anh em ơi! Sao ooo? Tiếng đế đáp… Ai ai cũng gọi là Vông. Đến sau này Thủy Hỏa tương thông, Đoàn mới đặt tên tôi là Tễu. Chú tự giới thiệu, đùa giỡn, chọc ghẹo khán giả, chú hát: Ta tắm ao ta (thời) ta tắm ao ta! Ấy! Ta về ta tắm áo ta, dù trong dù đục, ao nhà vẫn hơn. Rồi chú tiến lại bánh pháo hồng treo trên một cây sào cắm giữa ao và châm lửa, Tiếng pháo nổ ran trong khi tiếng hát báo hiệu cờ xí sắp được kéo lên. Thế rồi, những những lá cờ từ dưới nước vọt lên, được kéo lên đỉnh cột cờ, mà vẫn khô nguyên và bay phần phật, lá cờ to nhất tung bay ngạo nghễ trước gió là lá cờ Thần, có thêu chòm sao Bắc Đẩu ở giữa. Tiếng trống dồn dập hơn, một con Rồng vàng lướt trên mặt nước, hai con Kỳ Lân tranh nhau một quả cầu lụa theo nhịp trống do một con rối đánh, một con chim Phượng hoàng xòe hai cánh, mổ đôm đốp lên mai một con Rùa đang vừa rẽ nước vừa lắc lư cái đầu. Sau điệu múa Tứ Linh, một ông câu xuất hiện, ông giật cần câu lên, ở đầu dây một con cá chép đang giẫy dụa, một người khác lại ụp nhiều con cá đang bơi tứ phía vào trong một cái lờ (Tham khảo Múa rối nước của Việt Nam, tác giả GS. TS Trần Văn Khê, Nxb Thời đại, 2012). Hoa vông vang Ảnh tham khảo trên Internet file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Chú Tễu tên Vông: Cây vông vang dạng thân gỗ cổ thụ, hoa có màu đỏ rực như hoa gạo, lá dùng để nấu canh, vị hơi chát nhưng có tác dụng an thần và tốt cho giấc ngủ, lá vông vang còn dùng gói nem nên còn được gọi là vông nem. Gỗ vông vang được dùng làm guốc mộc vì rất nhẹ và êm, vỏ cây phơi khô làm thuốc chữa đau lưng, lở ngứa. Hoa vông vang chứa rất nhiều mật ngọt nên thường thu hút các loài chim bay về hút mật. Cùng với trò múa rối nước, trong các trò chơi dân gian Việt Nam còn có bộ bài Tổ Tôm, mà phần lớn cách chơi và các thuật ngữ giống với bài Mạt chược như Văn, Vạn, Sách, Ù, Phỗng, Thiên khai…, chúng ta hãy cùng xem qua hình ảnh của bộ bài: Bài Tổ Tôm Trò chơi dân gian Việt file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Tổ Tôm thể hiện nền văn hóa Nhật Bản nhưng người dân Nhật Bản hoàn toàn không biết tới bộ bài này. Tổ tôm chỉ có 120 quân ít quân hơn bộ bài Mạt chược, cách chơi Tổ Tôm phần lớn giống như Mạt chược với các quân Văn, Vạn, Sách và 3 quân danh dự như quân Rồng của Mạt chược, cách gọi tên bài cũng tương tự. Sự kiên kết giữa hai bộ bài Mạt chược và Tổ Tôm trong việc bổ sung cho nhau, bài Tổ Tôm có hình con cá chép là quân Bát Vạn mang ý nghĩa quan trọng cũng sẽ được giải thích ở các chương sau. Thời nhà Lý, triều đình đã chôn 80.000 cây tháp đất nung ở núi Bát Vạn, phía Đông Nam huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh để hộ quốc, ngăn chặn sự trấn yểm phong thủy khốc liệt của các pháp sư người Trung Quốc tại các long mạch núi sông nước Việt, đặc biệt là của tên tướng pháp sư khét tiếng Cao Biền, thời triều Đường như lịch sử nước ta đã từng ghi nhận. Một số ngọn tháp đất nung thấy ghi: “Khai thiên thống vận hoàng đế”, Khai thiên thống vận hoàng đế là tôn hiệu của vua Lý Thái Tông. Sử cũ còn ghi rằng: “Năm Kỷ Dậu 1129, vua Lý Thái Tông mở hội khánh thành 84.000 bảo tháp ở gác Thiên Phù”.Tháp nặn bằng đất nung thành màu gạch đỏ, hình vuông, một tầng đáy và 5 tầng thân, có một cái chóp đỉnh cũng nhiều tầng, toàn bộ tháp cao chừng 50cm, cạnh đáy khoảng 15-17cm. Tìm kiếm dưới âm phủ, tác giả Đỗ Văn Ninh, Nxb Thanh niên, 2004. Nhân sinh quí thích chí, Cuộc ăn chơi chi hơn thú Tổ Tôm. Tài kinh luân xoay dọc chuyển ngang, Cơ điều đạc quân ăn đang đánh. Gọi một tiếng, người đều khởi kính, Dạy ba quân, ai dám chẳng nhường? Cất nếp lên, bốn mặt khôn đương, Hạ bài xuống, Tam Khôi chiếm cả. Nay gặp hội quốc gia nhàn hạ, Nghĩ ăn chơi thú nọ cũng hay, Gồm hai văn võ trong tay. Bài thơ Thú Tổ Tôm, tác giả Nguyễn Công Trứ. Một trong những dấu ấn lạ kỳ trong văn hóa Việt có lẽ là ông Phỗng hay chú Phỗng, trên bài của bạn có hai lá giống nhau cả hàng lẫn số, nếu ai đó đánh ra một lá giống như thế thì được lấy về làm Lưng và được gọi là Phỗng, dù nó ở bất kỳ cửa nào và được đánh ra 1 quân tại bên phải của mình. Dân gian có câu “Phỗng tay trên” là vậy, trường hợp ta quên không Phỗng lần thứ nhất thì lẫn thứ hai không được phép Phỗng lại. Nước bài Phỗng là con dao hai lưỡi, phân biệt người đánh cao, người đánh thấp, lại còn phân biệt cả phép lịch duyệt của người chơi (Tham khảo cuốn Việt Nam đặc sản bài lá, tác giả Trần Gia Anh, Nxb Thanh Hóa, 2010). Tượng Phỗng Tranh vẽ dân gian file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Chân đèn hình người chất liệu đồng, văn hóa Đông Sơn (thế kỷ VII tr.CN - thế kỷ II), phát hiện tại Lạch Trường, Thanh Hóa Phỗng là tượng người bằng đất, đá, gỗ đặt ở miếu mạo, được coi là người đứng hầu nơi thờ tự, Phỗng còn là tượng dân gian bằng đất, bằng sành sứ cỡ nhỏ, dáng to béo, vui vẻ, thường để bày chơi trong các gia đình. Nhà thơ Nguyễn Khuyến có bài thơ Phỗng đá, mà rằng: Ông đứng làm chi đó hỡi ông, Trơ trơ như đá, vững như đồng. Đêm ngày gìn giữ cho ai đó, Non nước đầy vơi có biết không. Trên hai bức tranh dân gian có chữ Nôm, một bức vẽ ông Phỗng bưng nến và bức kia vẽ chú Phỗng đội nến, chữ Phỗng được viết bằng Nôm, được viết bằng bộ Nhân và chữ Phụng, bộ Nhân chỉ người, Phụng nghĩa là hầu hạ, vâng lời, dâng biếu, nghĩa này thích hợp với nhân vật Phỗng nơi thờ tự, giữ việc dâng nến. Thành ngữ “Ngồi im như Phỗng” và “Đứng im như Phỗng đực”, có nghĩa là ngồi và đứng không động đậy giống tượng đồ chơi của trẻ con hoặc giống ông Phỗng nơi thờ tự (Tham khảo bài viết của Thằng bù nhìn, thằng Phỗng của tác giả Nguyễn Dư). Phỗng đứng Đình Đình Bảng, Bắc Ninh, ảnh trong Bulletin des Amis du Vieux Hue Số 1 Janv - Mars 1941 Phỗng ngồi Nội Duệ, Bắc Ninh, ảnh trong Bulletin des Amis du Vieux Hue Số 1 Janv - Mars 1941) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Nhằm tăng tính năng động của bộ bài Mạt chược, các hiệp hội Mạt chược đã thống nhất bổ sung thêm quân Joker (gọi là chú Hề hay chú Tễu của văn hóa dân gian Việt Nam) có thể thay thế bất kỳ quân nào, khi mà vòng quay của trò chơi theo chiều ngược chiều kim đồng hồ giống như hình ảnh của vạn vật trên mặt trống đồng Ngọc Lũ một cách tương ứng. Jokers Tham khảo các loại bài Tarots, Châu Âu file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Khi bổ sung quân chú Hề Joker vào bộ bài 144 quân, một số quy tắc mới được thiếp lập, một số cách thắng đang được áp dụng: file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Quân chú Hề Joker bổ sung (4 quân) được thay thể bằng hình ảnh tương ứng trong trò chơi dân gian Việt Nam là chú Tễu. Qua diễn xướng dân gian múa rối nước, hình ảnh chú Tễu với giáo đầu bằng tiếng trống cũng cần tham khảo trong việc phối hợp tranh vẽ về chú Tễu. Do đó, tổng số quân bài bổ sung cùng với chú Tễu là 20 quân, nâng tổng số quân bài trong bộ bài Mạt chược Việt Nam nguyên thủy là 164 quân. Chú hề ca hát và đánh trống và tượng đồng Điền Đời Đông Hán, Thiên Hồi Sơn, Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Quân bài Joker hay chú Tễu tạo thành một bộ mới, liên kết tất cả các bộ bài còn lại thành một cơ thể người hoàn chỉnh hay một cấu trúc vũ trụ duy nhất, gọi là Bộ Não (Ngọc) và nó đại diện cho chữ Hòa nghĩa là Thủy Hỏa tương hợp mới tạo ra sự phát triển tốt đẹp cho sự sống của muôn loài. Rồng ngậm ngọc (ngọc chạm khắc) Mộ Triệu Văn Đế, Quảng Đông, Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Triệu Văn Đế Triệu Muội là con của Trọng Thủy - Mỵ Châu, là cháu của Triệu Đà, vua nước Nam Việt. Người thắng sẽ là người cắm ngọn cờ trên đỉnh tháp, nội dung giống như một trò chơi rối nước nổi tiếng là múa “Tứ Linh” như đã mô tả ở trên. Thời nhà Lý, phần thưởng cho người thắng cuộc thi không biết phải là “cúp vàng” giống như ngày nay hay không? Chúng ta hãy quan sát trò chơi Tổ Tôm điếm trong một không gian lễ hội, cuộc chơi được được điều khiển chính bằng một cái trống bỏi với các quy tắc thống nhất như: Trống hỏi: tung, cắc; Trống ăn: cắc; Trống Phỗng: tung, tung, Trống dậy Khàn: tung, tung, tung; Trống dậy Thiên khai: tung, tung, tung, tung, Trống dục chơi nhanh: gõ cắc cắc liên hồi, Trống ù: gõ một hồi;… Tổ Tôm điếm Tư liệu trong sách Conaisance du Viet Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Hội Lim ai thấy chả thèm, Tổ Tôm, bài điếm, giò nem thiếu gì. Đồn rằng lại dệt cửi thi, Cao lâu trăm thức, thiếu gì món ngon. Phương ngôn xứ Bắc. Trong cuộc thi Mạt chược toàn quốc gia, kết thúc cuộc chơi chính là lúc gió Đông nổi lên “Muôn việc đủ cả, chỉ cần gió Đông”, Rồng vàng xuất hiện bay lượn trên bầu trời. Mật ngữ chỉ ra Tứ đại pháp khí trong đời Lý có cây tháp Báo Thiên chùa Báo Ân nghĩa là đài chiến thắng báo công lớn với Trời, hay giống như cờ Tướng, ông Trời mới là người điều khiển cuộc cờ người này. Do vậy, chúng ta có thể tạm nhận định: “cúp vàng” cho cuộc chơi Mạt chược với hình dáng có vẻ giống như một cái “Tháp vàng” mang ý nghĩa người thắng đã cắm cờ trên đỉnh ngọn tháp. Chiều cao tháp gồm 5 tầng với đỉnh chóp hình quả bầu, giống như những cây tháp đất nung dùng trấn giữ tú khí non sông mà Bồ Tát Nguyễn Minh Không đã cho chôn 80.000 cái ở núi Bát Vạn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Số 5 chính là độ số của hành Thổ trung hòa 4 hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa còn lại, nó thể hiện chữ “Hòa” trong nền minh triết Đông Phương. Rồng ngậm ngọc Lá đề hình rồng và đầu rồng thời nhà Lý, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Quay trở lại Hồi 80 trong Tây du ký: “Gái đẹp tìm chồng, mong được sánh đôi - Ngộ Không bảo vệ thầy biết ngay yêu quái” có đoạn mô tả cảnh Đường Tăng lững thững ngắm cảnh núi, nghe tiếng chim hót líu lo, bất giác lại chạnh lòng nhớ tới quê hương: Từ thuở Thiên bài truyền chiếu chỉ, Nơi Bình phong gấm nhận quan Văn, Đền treo mười dặm rời Đông thổ, Cùng với vua Đường cách núi sông. Chỉ ước Gió mây Rồng Hổ hội, Nào hay sư đệ giữa non cùng, Vu Sơn mười hai ngọn đi hết, Biết đến bao giờ lại cố hương. Trong bài thơ này, tác giả dùng những thuật ngữ chơi Mạt chược, như: Thiên bài, Cẩm bình phong, Quan đăng thập ngũ, Thiên địa phân, Long hổ phong vân hội, Ao mã quân, Vu Sơn phong thập nhị đối tử…, dịch giả cuốn Tây du ký đã theo ý nhằm dịch nghĩa bài thơ để được dễ hiểu hơn. Như vậy, theo Tây du ký các thuật ngữ trên là những bộ tổ hợp lớn trong ván bài Mạt chược thời cổ. Như vậy, thời vua Trần Nhân Tông thì trò chơi Mạt chược đã thịnh hành trong giới quý tộc, quan lại triều đình rồi. Lại xem Hồi 49 trong Tam Quốc Chí: “Cửa Tam Giang, Chu Du phóng hỏa - Đàn Thất tinh, Gia Cát cầu phong”, tác giả Bồ Tát Nguyễn Minh Không: Khổng Minh nói:Tôi tuy rằng bất tài, nhưng có gặp được một dị nhân truyền cho quyển Kỳ môn độn giáp Thiên thư có thể gọi được gió, bảo được mưa. Đô đốc muốn cần đến gió Đông Nam, thì phải lập đàn tại núi Nam Bình, gọi là đàn Thất Tinh, bề cao 9 thước, chia làm 3 tầng, dùng 120 người cầm cờ đứng xung quanh, tôi xin lên đàn, dùng phép, mượn gió Đông Nam thật to 3 ngày 3 đêm để đô đốc dùng binh, Đô đốc nghĩ thế nào?. Du nói: Chẳng cần đến 3 ngày 3 đêm, chỉ một đêm gió to là xong việc, nhưng xin tiên sinh phải làm ngay cho, chớ để chậm chạp. Khổng Minh nói: Ngày 20 tháng 11 là ngày Giáp Tý, bắt đầu tế gió, đến ngày 22 là ngày Bính Dần thì gió im, có được không? Du nghe nói mừng lắm, đứng choàng dậy, lập tức sai quân đến núi Nam Bình đắp đàn, và điều một 120 tên lính cầm cờ giữ đàn, sẵn sàng nghe lệnh. Khổng Minh từ biệt Chu Du, cùng với Lỗ Túc lên ngựa đến núi Nam Bình, xem xét địa thế. Rồi sai quân sĩ lấy đất đỏ ở phương Đông Nam đắp đàn hình vuông, chu vi rộng 24 trượng mỗi tầng cao 3 thước, cả thảy là 9 thước. Tầng dưới cùng cắm 28 lá cờ sao bao gồm: Phương đông 7 lá cờ xanh có hình chòm sao Thanh Long là: Giốc, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ. Phương bắc 7 lá cờ đen có hình chòm sao Huyền Vũ là: Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư Nguy, Thất, Bích. Phương tây 7 lá cờ trắng có hình chòm sao Bạch Hổ là: Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Thuỷ, Sâm. Phương nam 7 lá cờ đỏ có hình chòm sao Chu Tước là: Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tính, Trương, Dực, Chẩn. Tầng giữa 64 lá cờ cắm xung quanh theo phương vị 64 quẻ Dịch, đứng dàn ra 8 hướng. Tầng trên cùng dùng 4 người; người nào cũng phải đội mũ bịt tóc, mặc áo the thâm, áo dài đai rộng, giày đỏ quần vuông. Mé trước, 1 người đứng bên tả, cầm cái cần dài, trên đầu cầm cắm lông gà, để chiêu gió; 1 người đứng bên hữu cũng cầm cái cần dài, trên đầu cần buộc cờ hiệu Thất tinh, để khiến chiều gió. Mé sau, 1 người bên tả cắp thanh bảo kiếm, 1 người bên hữu bưng cái lư hương; ở dưới chân đàn lại có 24 người vác cờ xí và khí giới đứng quanh 4 phía. Ẩn dụ dùng đất đỏ phía Đông Nam để đắp đàn ý nói cung Khôn phải ở phương vị này trong Hậu Thiên Bát quái, như vậy, tác giả nắm rõ sai lệch độ số phương vị của hai cung Tốn, Khôn rồi sau đó mới cầu gió Đông tức Phật pháp. Mặt khác, qua nội dung đối đáp của Không Minh với Chu Du về “Nhốt hai nàng Kiều bên Đông Nam“, nhận thấy ẩn ý rằng: cung Khôn, Âm Hỏa phải nằm ở phương vị Đông Nam chứ không phải Tây Nam trong độ số Hậu thiên Bát quái, do vậy cần phải đổi chỗ Tốn, Khôn mới đúng theo Hà đồ nguyên thủy. Đàn tràng do Khổng minh đắp lấy từ hình ảnh của đàn Nam Giao kinh thành Thăng Long mà các vị vua thường đến tế lễ Trời cầu mong cho một năm mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu. Toàn cảnh đàn Nam Giao và buổi lễ Ảnh cổ, Phường Trường An, thành phố Huế, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Lễ tế Nam Giao đã xuất hiện ở Trung Quốc từ thời Nghiêu, Thuấn, cách đây hơn 4.000 năm. Theo Lý Dịch, Trời thì tròn, Đất thì vuông, cho nên trong năm, nhà vua làm chủ tế 2 lần khác nhau: một lần vào tiết Đông chí, tế trời ở nơi viên khâu (gò tròn), một lần vào tiết Hạ chí, tế đất ở Phương Khâu (gò vuông). Gò tròn nằm ở phía Nam Quốc đô nên gọi là Nam giao, gò vuông nằm ở phía Bắc Quốc đô nên gọi là Bắc giao. Về sau, 2 lễ tế Trời, Đất gom lại làm một và đàn tế gọi chung là đàn Nam Giao. Ở nước ta, tục Tế Giao có lẽ bắt đầu lại vào thời vua Lý Anh Tông (1138-1175). Nhà vua cho lập đàn Viên Khâu ở thành Thăng Long, cứ ba năm một lễ lớn, hai năm một lễ trung, một năm một lễ nhỏ. Nhà Trần kế tục nhà Lý bỏ hẳn lệ Tế Giao trong gần 200 năm (1225-1400). Khi họ Hồ soán ngôi nhà Trần, Hồ Hán Thương lập đàn tế Trời ở núi Đốn Sơn (Thanh Hóa). Tương truyền, trong một buổi tế, Hán Thương run tay làm đổ chén rượu nên truyền bãi tế. Người đương thời cho đó là điềm gở của nhà Hồ. Năm 1428, Bình Định Vương Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, định lệ Tế Giao vào mùa Xuân, trong 3 ngày Xuân đán, chọn một ngày tốt để làm lễ. Đây là đàn tế trời duy nhất ở Việt Nam còn khá nguyên vẹn, đàn gồm 3 tầng, xây chồng lên nhau, tượng trung cho “Tam tài“ Thiên, Địa, Nhân, đàn quay mặt về phương Nam. Tầng trên cùng hình tròn tên là Viên Đàn, tượng trưng cho Trời, xung quanh có lan can màu xanh; nền Viên Đàn lát những phiến đá được khoét lỗ tròn. Đến kỳ tế lễ, những lỗ này được dùng để cắm cột dựng lều vải màu xanh hình nón, gọi là Thanh Ốc. Tầng tiếp theo hình vuông tên Phương Đàn, tượng trưng cho Đất, lan can màu vàng. Khi tế, người ta dựng lều vải màu vàng, gọi là Hoàng Ốc. Tầng dưới cùng cũng có hình vuông, lan can màu đỏ, tượng trung cho con Người. Ba tầng đều có cửa và bậc cấp ở bốn mặt Đông, Tây, Nam, Bắc. Tại đây, khi tế có 128 văn sinh và vũ sinh đứng múa Xung quanh đàn còn có các công trình như Trai Cung (dành cho vua vào nghỉ ngơi trai giới một ngày trước buổi lễ), Thần Trù (nhà bếp, nơi chuẩn bị các con vật cúng), Thần Khố (kho chứa đồ dùng cho cuộc tế) và một số công trình phụ khác. Những con vật được đem ra cúng trong dịp này gọi là các con sinh với tam sinh là trâu, heo, dê được tập trung vỗ béo từ trước bằng những thức ăn tinh sạch. Trước đấy, vào ngày lành tháng tốt, nhà vua đích thân ban hành những chiếu dụ thông báo cho dân chúng sát hại trâu bò trước tế lễ 3 ngày, tri ân những người có công với nước, không tra khảo tù nhân trước đó và cho phép giảm án cho các tù nhân có chuyển biến tốt. Trời và Đất là hai ý niệm quan trọng chi phối đời sống văn hóa và tư tưởng của người Phương Đông. Các vua chúa ngày xưa thường tự xưng là "con Trời" (Thiên tử), thay Trời để chăm lo đời sống nhân dân. Vì thế, vua chúa thường phải làm lễ tế cáo với Trời, Đất như một bổn phận của con cái đối với cha mẹ, đồng thời cũng để cầu xin sự an lành, hạnh phúc cho dân. Vua và các quan lại phải trai giới ba ngày trước khi tế. Lễ Tế Nam Giao được tổ chức vào mùa xuân hàng năm. Cuộc lễ chính thức bắt đầu vào giờ Dần, với nhiều nghi lễ lần lượt tiến hành ở các tầng đàn, có sự tham gia đầy đủ của các quan lại cũng như sự góp mặt của dàn nhạc (chuông, trống, chiêng, khánh, tù và, nhị, sáo...). 128 văn công và vũ công múa Bát Dật, các ca công hát 9 khúc nhạc tế trong 9 giai đoạn khác nhau của cuộc lễ, sau gần 3 tiếng đồng hồ, buổi tế mới kết thúc. Tham khảo bài viết ____, tác giả Huỳnh Thị Anh Vân. Việc đổi chỗ Tốn Khôn cũng được vua Trần Nhân Tông nhắc lại trong Tùy Đường diễn nghĩa qua hình ảnh ẩn dụ của con xúc xắc có mặt Nhất và mặt Tứ in màu đỏ dùng chơi Mạt chược tại hồi 87: “Chim anh vũ tụng kinh thành Phật - An Lộc Sơn quyên chúa hại dân”. Huyền Tông chơi xúc sắc hòa hai ván đầu với Dương Quý Phi, gieo lần ba được hai mặt Tứ và thắng, Huyền Tông kêu Cao Lực Sĩ thoa son lên hai mặt Tứ vì thế về sau mặt Tứ của xúc sắc đều có màu đỏ. Như vậy, hai mặt Tứ đỏ và hai mặt Nhất đỏ thể hiện cung Khôn độ số 2 và cung Tốn độ số 4 cần hoán chuyển vị trí trong Hậu Thiên Bát quái. Con xúc sắc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Con xúc sắc vua ban chấm đỏ, Nghĩa vuông tròn chẳng bỏ xương khô. Tấm son gửi gắm từ giờ, Ơn vua ghi nhớ nghìn thu không nhòa. Trong phương pháp tiên tri Tây tạng “MO” cho hai xúc sắc, khi xuất hiện hai mặt Tứ được gọi là “Nơi ngọn núi châu báu mọc trên nền vàng thật đáng kinh ngạc”, kết quả mọi mặt đều tốt đẹp (MO phương pháp tiên tri Tây Tạng, Jamgon Mipham, dịch giả Thanh Liên, Nxb Tôn giáo, 2011). Cũng Tùy Đường diễn nghĩa, Hồi 87: “Chim anh vũ tụng kinh thành Phật - An Lộc Sơn quyên chúa hại dân”, nói về con chim anh vũ tụng kinh thành Phật. Dương Quý Phi có con chim Anh Vũ tên là Tuyết Y, do viên nội thị thả con chim cắt xanh ra, nó định bắt chim anh vũ, chim anh vũ vội bay vào trong lầu, có một thị nữ cầm chổi lông tiện tay quật mạnh trúng mắt chim anh vũ, làm cho nó bất tỉnh một hồi sau mới dậy được. Chim Anh Vũ nói với Quý Phi rằng quả việc tụng kinh có phúc thật, rồi nó tiếp tục tụng kinh Phật. Ba ngày sau, mở mắt nói với Quý Phi: Tuyết Y này toàn nhờ vào việc tụng kinh mà may được thoát được kiếp cầm thú và về nước Phật, xin nương nương hãy tự giữ mình. Rồi nó chết, Quý Phi rất thương xót, liệm nó trong một cái hộp bằng bạc và an táng ở vườn sau gọi là “mồ Anh Vũ”. Sau đó, Huyền Tông biết chuyện bèn ra lệnh thả hết 10 con chim anh vũ khác đang nhốt trong cung trở về với núi rừng Quảng Nam. Câu chuyện nói về chim Anh Vũ dựa trên cốt truyện cổ Phật giáo Lòng hiếu thảo của chim Anh Vũ, nhưng không ăn nhập vào mạch chuyện lịch sử, nó mang ẩn ý nói về công chúa Huyền Trân, hoàng hậu vua Chế Mân nước Chiêm Thành, hai người có chung một người con trai. Sau khi Chế Mân chết, theo tục lệ Chiêm Thành là hoàng hậu sẽ được đưa lên giàn hỏa thiêu cùng với thân xác nhà vua, nhà Trần biết được bèn lệnh cho Trần Khắc Chung đem chiến thuyền đi giải cứu, đưa Huyền Trân trở về Đại Việt. Hình ảnh 10 con chim anh vũ được giải thoát chính là độ số 10 của Hà Đồ, có nghĩa kết thúc, kết chung một chu kỳ vận động của Âm Dương Ngũ Hành theo Hậu Thiên Bát Quái với hình ảnh tướng Trần Khắc Chung. Vùng rừng núi Quảng Nam đề cập ở trên chính là vùng đất mở rộng phía Nam của nước Việt với hai châu Ô, Ý thời nhà Trần. Sau khi về Thăng Long, công chúa Huyền Trân quy y cửa Phật và vì vậy, có lẽ pháp danh Tuyết Y chính là do vua trần Nhân Tông đặt cho. Trong bộ bài Tổ Tôm, quân Thang Thang với hình một phụ nữ cho đứa con trai bú chính là hình ảnh của công chúa Huyền Trân. Thang Thang - Chi Chi - Ông Cụ Bài Tổ Tôm, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang, Chẳng gầy chẳng béo chỉ làng nhàng. Cờ đương dở cuộc không còn nước, Bạc chửa thâu canh đã chạy làng. Mở miệng nói ra gàn Bát sách, Mềm môi chén mãi tít cung Thang. Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ, Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng. Bài thơ Tự trào, Nguyễn Khuyến. Phiên là lượt chơi, cũng là tên buổi họp chợ Phiên diễn ra vào những ngày nhất định hàng tháng, không chỉ là nơi buôn bán, chợ phiên cũng giống như một lễ hội văn hóa có thi hát, thi nữ công gia chánh... chợ phiên Hà Nội là một nét duyên thầm của đất kinh kỳ. Lịch triều Hiến cương loại chí, Phan Chú viết: “Thăng Long thế kỷ XVIII có tám chợ lớn đó là chở Cửa Đông, Cửa Nam, Đình Ngang, Chợ Huyện, chợ Bà Đá, chợ Văn Cử, chợ Bác Cử và chợ Ông Nước”. Thực tế, có rất nhiều chợ Phiên khác như chợ Bưởi, chợ Mơ, chợ Đồng Xuân, chợ Hôm, chợ Khâm Thiên…, hãy cùng xem qua một số chợ Phiên. Chợ Bưởi thuộc phía Tây kinh thành, gần Hồ Tây, xưa kia là nơi giao lưu hàng hóa nông sản thực phẩm từ ngoại thành và các vùng phụ cận như huyện Từ Liêm, Hà Tây, Vĩnh Phúc vào nội thành rồi đổi hàng hóa thủ công mỹ nghệ, xa xỉ phẩm từ nội thành, nét nổi bật của chợ Bưởi là nơi cung cấp giống cây, con giống, sản vật làng nghề và họp chợ theo độ số phương Tây của Hà Đồ là 4, 9, 14, 19, 24 ,29: Chợ Bưởi một tháng sáu phiên, Ngày tư, ngày chín cho duyên đèo bòng. Chợ Đồng Xuân đã có từ rất xa xưa, ngay từ thời vua thời vua Lý Thái Tổ mới về kinh đô Thăng Long được năm năm, đã thấy Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngô Sĩ Liên, viết: “Ất Mão, năm thứ 6 (1015) xuống chiếu cho Dực Thánh Vương và Đông KInh Vương đi đánh các châu Đỗ Kim, Vị Long, Trường Tân, Bình Nguyên (vùng Tuyên Quang, Hà Giang ngày nay) bắt được thủ lĩnh là Hà Trắc Tuấn đem về kinh sư, chéo bêu đầu bên chợ Đông”. Sách Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên vào thời Trần cũng viết: “Vua Lý Thái Tông cho mở chợ về phái cửa Đông, hàng quán chen chúc tới sát đền (Bạch Mã) rất là huyên náo”. Chợ Đồng Xuân cũng là chợ Phiên, họp một tháng sáu phiên vào các ngày 3, 8, 13, 18, 23, 28 ưng với phương Đông của Hà Đồ, chợ Đồng Xuân ngôi chợ sầm uất nhất kinh thành Thăng Long. Ô Quan Chưởng Ảnh thành cổ Hà Nội file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Chợ Mơ nằm phía Nam kinh thành Thăng Long, vùng đất Kẻ Mai (tục gọi Kẻ Mơ) được hình thành từ rất lâu đời, chợ Mơ họp một tháng sáu phiên vào các ngày 2, 7, 12, 17, 22, 27 ứng với phương Nam độ số 2, 7 trên Hà Đồ. Người vùng Hoàng Mai kế tiếp nhiều đời làm nghề nấu rựu đã có câu hát: Khéo tài em cất rựu mơ, Kính mời thầy mẹ, dâng thờ tổ tiên, Tỏ lòng con thảo, dâu hiền, Lò em nồi tiếng khắp miền Đoài, Đông. Chợ Mơ vốn là một chợ thuộc vùng Kẻ Mơ xưa. Trải qua quá trình phát triển đô thị, chợ thuộc về địa phận phường Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Chợ họp theo phiên vào các ngày 2, 7, 12, 17, 22, 27 âm lịch hàng tháng. Cùng với chợ Bưởi chuyên bán những cây giống vào ngày phiên, chợ Mơ còn bán chủ yếu là những động vật nuôi trong nhà như chó, mèo, thỏ, chim, cá cảnh. Chợ quê và Canh nông chi đồ Trang dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Ngoài ra, Chợ Cống thuộc làng Cống, làng Đỗ Xã, xã Minh Cường, huyện Thường Tín, Hà Tây họp phiên ngày 5, 10, 15, 20, 25, 30 theo đúng độ số 5, 10 ở trung tâm Hà Đồ. Hầu hết các ngôi chợ khác, bao gồm cả ngoài thành đều hoạt động một tháng sáu phiên ngay cả chợ bán tranh Đông Hồ, qua đó, có thể thấy rằng: các chợ nằm ở phía Đông, Tây, Nam, Bắc của kinh thành Thăng Long xưa có những ngày họp chợ tương ứng với độ số của phương vị trên Hà Đồ. Chỉ có trung tâm kinh thành Thăng Long, là nơi vua ngự, theo Hồng phạm Cửu trù gọi là Hoàng Cực, cho nên không có hoạt động chợ tại khu vực này. Trong cuốn Tùy Đường diễn nghĩa, Hồi 76: “Dựng lầu gấm, cung tần bình thơ - Dạo phố phường, Đế Hậu hành lạc” đã mô tả Tết Thượng nguyên của kinh thành Thăng Long như sau: Phong tục kinh thành mỗi Tết thượng nguyên, khắp 36 phố phường, ba chợ đêm đến đều treo đèn hoa, lầu lớn nhà nhỏ đều kết lụa giăng gấm, người đi lại như mắc cửi, chuông trống rộn ràng, thâu đêm suốt sáng, chẳng hề cấm đoán gì. Có bài “Niệm nô kiều” sau đây làm chứng: Đèn đuốc tựa cây cao sáng rực, Đêm kim ngô thả mặc rong chơi. Băm sáu phố phường, Ấy kiến hay người. Ngựa xe chen chúc, ngược xuôi ồn ào, Kết mấy ả áo đào quần tía. Dáng như tiên hồn vía ngẩn ngơ, Trâm rơi, tóc xổ bơ phờ. Dưới đèn lánh mặt, thân sơ biết gì, Quay đầu nghe tiếng gọi xa xa. Tết Thượng nguyên này mấy thuở mà. Nói nói cười cười khôn cất bước. Một đoàn sau trước rộn sênh ca, Trăng là là, Cán sao Đẩu tà tà. Giục ngựa dong xe, Hát hết khúc thái hòa. Đêm sắp qua, Mệt mỏi trẻ già. Màn thơm đệm gấm, về nhà nghỉ thôi. Đặc biệt, trong môn thiên văn Đông Phương, khu vực chòm sao khu vực Đông Bắc bầu trời có tên là “Thiên Thị viên” cũng có nghĩa là cái Chợ Trời, còn các phiên chợ dưới trần gian chính là những phiên chợ theo những ngày quy định đã ứng dụng theo nguyên lý theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Thiên Thị Viên Tranh hang động Đôn Hoàng, Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Giá trị nghệ thuật sâu sắc trên những bức tranh dân gian đã được nhà thơ Hoàng Cầm cảm nhận, đó chính là hồn của nước, là hình ảnh của quê hương: Bên kia sông Đuống, Quê hương ta lúa nếp thơm nồng. Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong, Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp... (Bài thơ Bên kia sông Đuống, tác giả Hoàng Cầm). Toàn bộ mỹ thuật trang trí, kiến trúc, điêu khắc, pháp khí, cờ phướn, tháp bảo, giếng mắt rồng, tàng kinh các,… của mỗi ngôi chùa đều tổng hợp đủ cả các hình ảnh vạn vật từ Tứ Linh, Tứ Quý, Tứ Dân, Tố Nữ, Tứ Bình, Tứ Khí, Văn,Vạn, Sách và tổ hợp Trung, Phát, Bạch trở thành trung tâm bàn thờ của điện Đại Hùng trong mặt bằng nội Công ngoại Quốc của ngôi chùa, biểu hiện như một đàn tràng Mandala Mật Tông Tây Tạng với tâm kim cương là Đại Nhật Phật, Đế Thích, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đấng Chí Tôn, thần Ra, thần Apollo, thần Vishnu, thần Surya, Chúa Trời, Thánh Alla… hay dân gian Việt Nam thường gọi là ông Trời, đúng là: Phấn son tô điểm sơn hà, Muôn hồng nghìn tía đều là tự tay. Từ đây, chúng ta nhận thấy toàn bộ mật ngữ để xác định xuất xứ của bộ bài Mạt chược nguyên thủy nằm trong nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, nền tảng thiết kế nên bộ bài Mạt chược hoàn toàn dựa trên nền tảng học thuyết Âm Dương Ngũ Hành đối với thiên nhiên, xã hội và con người. Việc thống nhất lại các nguyên tắc, tên gọi của trò chơi Mạt chược là rất cần thiết nhằm xác nhận lại chính thức xuất xứ nguyên thủy và tác giả là Bồ Tát Nguyễn Minh Không, cũng như mong muốn giới thiệu một nền văn hóa cổ truyền Việt Nam minh triết và nhân bản tới toàn thế giới. Cùng với trò chơi Mạt chược, thì bộ môn cờ tướng cho tới nay cũng là một ẩn số thú vị, hầu như không thể xác định được tác giả là ai? Vậy thì xác suất xác định được tác giả chẳng nhẽ là 0%? Mời theo dõi những sự kiện tiếp theo trong Chương VI: BÍ ẨN CỜ TƯỚNG. ***
  16. Trích Ngọc Phả truyền thư của Từ đường họ Nguyễn - Các đời tổ sư, Cửu Liên Hoa (9 hoa sen) với các dữ kiện liên quan đến Phật giáo: “Tổ ta từ núi Tản Viên xuống dựng nghiệp, làm các nghề: Thầy thuốc, làm ruộng, trồng dâu, nung gạch ngói, rèn kim khí ở miền Tây. Giáo hóa chúng sinh ở Tây Phương Cực Lạc, mở nhà truyền kinh, có công mở nước, có đức che chở cho dân, cho nên đời sau tôn làm Tiên Phật để cúng thờ. Cả thế giới chịu ơn lớn, cùng tôn sư trọng đạo, xin làm đệ tử đều nhớ về Tổ ta, chiêm ngưỡng ở các đền (thờ thần), các chùa (thờ Phật). Từ núi Tản Viên đến Tây Phương Cực Lạc, Sài Sơn, Thổ Ngõa, Phụng Châu, Tiên Lữ, đến tướng địa Phong Châu tạo thành thế đất Tứ Linh: Long, Ly, Quy, Phượng; tam đầu (Tam Đảo, Ba Vì); cửu vĩ (9 miếu thờ ở Phong Châu, đó là Cửu Long) truyền đời mãi mãi. Dáng Tứ Linh, Cửu Long tượng trưng cho địa thế. Tổ ta định đô từ Lôi Bằng đến Lôi Phong, Lôi Đỉnh (Lôi Bằng đời sơ khai định đô, Lôi Phong đời Kinh Dương Vương, Lôi Đỉnh đời Triệu Vũ Đế). Buổi sơ khai tên nước Cực Lạc. Phật hiệu là Di Đà, sinh ra ở Hòa Bình, nơi ở là núi Tản Viên, hóa ở Tây Phương Cực Lạc, mộ ở chân núi, kỵ ngày 1 tháng 4 âm lịch. Tổ tiên xưa vẫn ở Vân Lôi, Thạch Thất, núi Cảnh Tiên, đã lâu do ông bà không rõ tên thật của các vị, thường người đời gọi là: Bàn Cổ ở làng Vân Lôi. Nữ Oa ở Tây Phương Cực Lạc. Hòa Hy dựng nước, khuyến thiện, bỏ ác, đời sau tôn là Đức thiên Tôn hoặc là Phật A Di Đà. Nước được gọi là nước Phật (Phật quốc) hay nước Cực Lạc (hiểu là Lạc Bang). Bà Nữ Oa lấy đá đắp vào một cái hang thủng ở núi Cực Lạc, gọi là đội đá vá trời. Sau này suy tôn là Địa Mẫu - Thiên Hậu Nương Nương. Dấu tích nay vẫn còn, mộ ở Hy Sơn, gốc đa, chùa Cực Lạc”. Bức tranh Tam Bảo (5 bức) Tranh vẽ của thầy Tào Nông Văn My, bản Khau Khang, xã Đức Long, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Từ phải qua trái: Lý thiên Sư, Kinh Bảo - thần chủ trông coi cõi đất (Hạ nguyên), Đạo Bảo - thần chủ trông coi cõi trời (Thượng Nguyên), Sư Bảo - thần chủ trông coi cõi nhân gian (Trung Nguyên), Trương Thiên Sư. Tam bảo của Đạo giáo có nguồn gốc xuất xứ từ quan điểm của Phật giáo mà thành, nhưng ý nghĩa lại khác. Theo Phật giáo, để thoát khỏi khổ đau tích dồn lại của một kiếp người thì chỉ còn một con đường là con đường dẫn tới cõi niết bàn (Nirvana). Do đó chỉ có ai tin vào lời của Phật (Bouddha) và thực hành Pháp (Dharma) của ngài, như đã được tăng già (Sangha) truyền thụ, thì mới có thể giải thoát được. Từ đó mà có Tam quy (Triratna) bao gồm quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng và người ta còn gọi là quy y Tam Bảo - bao hàm tu hành theo Phật giáo. Đạo giáo dịch nghĩa ấy, lấy ý, phục vụ giáo lý của mình gọi là Kinh bảo, Sư bảo, Đạo bảo… tranh vẽ mang hình tượng Phật ngự tòa sen, nhưng thần linh lại vẽ theo kiểu Đạo giáo. Đám rước I, II, III Tranh thờ dân tộc miền Bắc Việt Nam (trích cuốn Đồ họa cổ Việt Nam, tác giả Phan Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Cung Khắc Lược, Nxb Mỹ Thuật, 2000) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg * Ghi chú: bức tranh cần phải nối lại chính xác. Bức tranh quyển của đồng bào dân tộc thiểu số vùng phía Bắc Việt Nam là một “tập đại thành” về hệ thần trong Đạo giáo. Trong Sử ký có ghi một Man tộc Lý, Lạo sống ở biên giới lưỡng Quảng thời Bắc thuộc, mà theo chú dẫn của Từ Hải, Man tộc Lý, Lạo đến khoảng đời Thanh thì nhập vào tộc người Choang. Cổ xưa, người Lý, Lạo theo tín ngưỡng dân gian bản địa, khi Đạo giáo thành lập, đã kéo theo sự phát triển các tổ chức Đạo giáo dân gian thuộc đồng bào dân tộc thiểu số, cụ thể là họ thờ phụng Tiên nhân Lý Bát Bạch. Điều này có nghĩa nảy sinh ra một tín ngưỡng dân gian là sản phẩm của văn hóa Vu thuật phương Nam và Đạo giáo, điều này không có nghĩa quá trình thiên di của Man tộc phương Nam trung Quốc sang địa giới miền Bắc Việt Nam bây giờ, các Man tộc này (người Mèo, tày, Nùng…) đoạn tuyệt hẳn với những tín ngưỡng cổ sơ mà tổ tiên họ đã từng có. Tổ sư là Vạn Ứng Tạo là Lưu Đạo Phương Minh - Trí Cương đã thụ lục cho bọn học trò làm ra bức tranh này (?), vì tri thức và sự đối chứng về nguồn tư liệu có hạn, nên không thể tuyệt đối hóa nghiên cứu về niên đại hoặc nội dung lai lịch của tranh. Qua nội dung biểu đạt, khắc họa các hoạt cảnh theo một chiều (xem từ phải qua trái). Bức tranh như trải ra một thế giới Thần linh trong Đạo giào từ cao xuống thấp, chính đến phụ, gần tới xa… được tái tạo lại qua nét khắc mộc mạc cộng hưởng tới một tư duy đậm tính tôm giáo khiến cho hệ Thần Đạo giáo trong tranh được thăng hoa một cách trực tiếp. Hình thể trong tranh được khắc theo cụm, có hô ứng thừa tiếp Long đầu (đầu rồng) ở phần đầu tranh gắn với Hổ vĩ (đuôi hổ) cuối tranh. Đầu tiên là Ngọc Hoàng Thượng Đế, có Nguyệt phủ (phủ trăng) Nhật cung (cung trời) cùng Tả sư (Sư trái) và Hữu Thánh (Thánh phải) theo hầu. Tiếp đến là Tam thanh gồm Ngọc Thanh, Thượng Thanh và Thái Thanh là hệ thần tối cao trong Đạo giáo. Thừa tiếp là Bảo tháp (tháp báu) rồi đến hàng Chân nhân Thập chân chân nhân, Thập vương chân nhân (10 vị vương), Thập cực chân nhân. Nữa là Cữu Lão Tiên Đô (Cửu đầu sư tử - sư tử chin đầu), tuần tự đến Ngũ Bộ Lôi Công (năm vị thần sấm tương ứng với ngũ hành). Sau người cầm cờ lệnh là Thanh sư (sư tử xanh), Bạch tượng (voi trắng). Tiếp đến là bộ tứ gồm Huyền thiên trấn vũ, Vi Đà thần tướng, Trương Thiên Sư, Thái Thượng Lão Quân. Sau Cửu tiên (Thượng tiên, Cao tiên, Đại tiên, Huyền tiên, Thiên tiên, Chân tiên, Thần tiên, Linh tiên, Chí tiên) là Long Vương Thái Tử, Sao Đông Nam đẩu, bọn người hầu nhà vàng và sao Nam Cực. Sau Bát tiên (Hán Chung Ly, Lã Đồng tân, Lý Thiết Quài, Trương Quả Lão, Tào Quốc Cửu, Lam Thái Hòa, Hàn Tương Tử, Hà Tiên Cô) là thuyền vàng, thuyền bạc, bọn chấp sự khênh kiệu che dù. Hai bên kim đồng dẫn đường là thuyền Nam quan, sau kiệu nam kiệu nữ là thập sự. Rồng dưới nước lên không đi đầu, hổ trên cạn nối bước theo đuôi. Thần thánh kiêm thảy ba cõi, tạo thành một cảnh rước hoành tráng có một không hai trong mảnh tranh rước người Việt. Bộ tranh Đám rước này, chính là bộ tranh thể hiện số lượng các vị vua Hùng còn thiếu của các đời Hùng Vương thứ I - Kinh Dương Vương đến Hùng Vương thứ IV - Hùng Hoa Vương. Đồn thời cũng xác định Bát Tiên cũng có thể là các vị vua Hùng, do đó nó cần phải được phối hợp xem xét với toàn bộ các bức tranh dân gian khác, trong quan niệm về sự sống và cái chết của Đạo giáo, cũng như phương pháp tu luyện nhằm đạt đến sự trường sinh bất tử. Nội dung này sẽ được trình bày trong Chương IX: TRƯỜNG SINH BẤT TỬ. Theo bản thuyết minh của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, đặc sứ như đặc khâm sai của vua Quang Trung năm đầu (1788), thì Minh Khiết và Nghi Nhân vốn là anh em sinh đôi, hình dong cũng như giọng nói rất giống nhau, như một người. Có thể so sánh hai anh em giống nhau như truyện Sự tích ông Táo. Nguyên lúc đó ở Tây Hồ (ở Hồ Nam, Trung Quốc hiện nay, không phải Hồ Tây, Hà Nội mới có từ thời Lê Trịnh, có cô con gái của vua Động Đình tên là Nường Vụ Tiên. Cô Vụ Tiên này vốn quen biết Nghi nhân từ trước, vì Nghi Nhân hay đi lại nơi này. Đến khi Minh Khiết gặp cô đó, cô nhầm lẫn tưởng là Nghi Nhân nên hứa hôn với Minh Khiết rước cô về làm vợ. Từ đó hai anh em lánh mặt nhau. Ít lâu sau, Nường Vụ Tiên có mang và sinh ra Lộc Tục. Minh Khiết đâm ra nghi ngờ, sợ vợ nhầm lẫn em với anh. Minh Khiết liền giáng Nường Vụ Tiên xuống là thứ phi. Minh Khiết lấy người con gái Việt ở vùng làng Định Công, nơi ở của Thái Khương Công làm chính thất. Nường Vụ Tiên liền bỏ chồng đưa Lộc Tục lên một ngôi động nay thuộc tỉnh Hòa Bình, về sau động này được gọi là động Bà Tiên bay (Tiên phi động). Bà đi tu đạo Bà La Môn (Trích từ Việt Nam và cội nguồn trăm họ, tác giả Bùi Văn Nguyên, Nxb Khoa học Xã hội, 2001, trang 68). Câu chuyện này sẽ được minh định trong Chương IV: TAM DƯƠNG KHAI THÁI. Như vậy, qua chuỗi các sự kiện lịch sử được hệ thống hóa từ những bức tranh thờ dân gian Hàng Trống, Đông Hồ, tranh thờ Đạo giáo của các dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam, cùng phối hợp các truyền thuyết dân gian, sử dụng các phương pháp cổ Đông phương như phong thủy, thiên văn địa lý, được so sánh, đối chiếu cùng với nội dung của các bản gia phả các dòng họ, chúng ta đã xác định được lịch sử của các vị Phật, Tiên, Thánh, Thần và của các vị Vua Hùng cùng với số lượng đời vua trong mỗi chi, tương ứng lịch sử của các thánh nhân trong những tôn giáo hiện thời như Đạo Mẫu, Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Bà La Môn giáo, thờ tự dân gian và của các triều đại xưa. Tuy nhiên, những dữ liệu đã được xác định trên vẫn chưa thực sự đầy đủ, chúng sẽ được bổ sung và chứng minh cụ thể trong những chương sách tiếp theo. Chúng ta hãy cùng xem lại những vần thơ tâm linh do Phật Bà Quan Âm giáng thơ trong cuốn Kinh Đạo Nam, phù hợp với lịch sử và truyền thuyết dân gian: Chùa Hương tu được chín năm trời, Quả phúc vo nên đã vẹn mười. Ngàn mắt ngàn tay thân Quán Thế, Muôn Thiên muôn đạo pháp Như Lai. Nam mô thường niệm kinh nhân quả, Bồ Tát nào ưa giống họa thai. Nước biếc non xanh ghi dấu cũ, Cành dương tẩy sạch bụi trần ai. Như đã trình bày hệ thống biểu tượng tương ứng các cung trong Hậu Thiên Bát quái, chim phượng hoàng - biểu tượng của phương Nam, là hình ảnh của bà Hương Vân Cái Bồ Tát tức Phật Bà Quan Âm, Thánh Mẫu Thượng Thiên, Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Truyền thuyết dân gian kể lại rằng: khi chim phượng hoàng xuất hiện thì “Thiên hạ thái bình”, không biết chắc chắn có đúng không nhưng trong dòng tranh dân gian Đông Hồ, có bức tranh Thiên hạ thái bình với hình ảnh chim phương hoàng đang múa: Thiên hạ thái bình Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpg Như vậy, trải qua hàng thiên niên kỷ, một phần của lịch sử cổ đại của nước Việt, cũng như của các tôn giáo đã được khám phá thông qua một học thuyết cổ xưa - học thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Không còn nghi ngờ gì nữa, những bí ẩn vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại đã bắt đầu được khai quật, phải chăng nó sẽ phù hợp với những lời tiên tri từ cổ chí kim nổi tiếng thế giới về một Thánh nhân ra đời và học thuyết cổ xưa sẽ quay trở về với nhân loại? Nhưng rõ ràng, một cuộc chuyển thế có lẽ đã bắt đầu đối với nước Việt, một mùa xuân đã tới, con “Rồng Việt” đã thức giấc ngủ đông miên, phá tung đất và bay lên trên bầu trời xanh thẳm. Xuân đất Việt Sơn khắc (1991-1994), tác giả Phi Trọng Tuấn file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image022.jpg Khi hồn thiêng sông núi trỗi dậy trong mỗi tâm thức Việt, chính là khi dân khí đã chấn hưng“Bao giờ đập tan gông cùm xiềng xích vô hình trói buộc dân ta, bao giờ đập tan gông cùm xiềng xích vô hình trói buộc tự do”. Vậy phải đánh thức, phải lay động ý thức kiêu hãnh về truyền thống dân tộc, cho tư duy tự do bừng tỉnh thức. Tư duy đã giác ngộ sẽ chắp cánh cho hành động, tức là tìm về với sức mạnh truyền thống cội nguồn, tiếp nhận nguồn lực “thần thoại”: “Đi nói với anh em, đòi cho quê hương thanh bình, dựng xây tương lai Tiên Rồng, đi cho thấy quê hương” (trích bài viết Trịnh Công Sơn với Quê hương thần thoại, tác giả Nguyễn Hoàn). Ngay sau niềm hạnh phúc to lớn này khi khám phá ra cội nguồn dân tộc Việt, chúng ta hãy cùng tiếp tục phân tích các dữ kiện khác, nhằm làm sáng tỏ lịch sử hơn nữa qua Chương IV: TAM DƯƠNG KHAI THÁI. *** Chương V MA TƯỚC DIỄN NGHĨA Làm trai biết đánh Tổ Tôm, Uống chè Mạn Hảo, xem Nôm Thúy Kiều. Vè dân gian. Lịch sử trò chơi xa xưa nhất được ghi lại trong Sử ký của Tư Mã Thiên: “Lâm tri giàu có, cư dân không ai không thổi kèn, gẩy đàn sắt, gõ phách, chọi gà, đua chó, chơi lục bác, đạp cúc…”. Thuyết văn nói: “trò chơi lục bác gồm sáu thẻ mười hai quân, Ô Tào ngày xưa chế ra lục bác”, Ô Tào là bề tôi của vua Kiệt nhà Hạ, chứng tỏ rằng trò chơi này đã có mặt từ rất sớm, liên quan đến trò chơi Lục bác còn có trò chơi rất lâu đời là cờ vây. Trong Luận ngữ, Dương Hóa viết: “Bão thực chung nhật, vô sở tâm, nan hĩ tai! Bất hữu bác dịch hồ? Vi chi ,tắc hiền hồ dĩ” nghĩa là: “Cơm no suốt ngày, không lo điều gì, khó chịu thay! Không chơi lục bác, cờ vây à? Chơi đi, còn hay hơn”. Hai chữ “bác dịch” trong đoạn này là chỉ lục bác và cờ vây. Luận ngữ viết thời Xuân Thu Chiến Quốc đã gọi chung là bác dịch, chứng tỏ cờ vây cũng đã có nguồn gốc từ rất lâu đời. Bộ cờ Lục bác và xúc sắc 18 mặt Mộ số 3 tại Mawangdui, Tây Hán, Bảo tàng Royal Ontario file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Chơi cờ Lục bác (Liubo), đá khắc vách hầm mộ thởi Đông Hán, Sichuan Zhonggui Gudaishi Cankao Tulu: Qian - Han Shiqi (Shanghai, 1990) trang 233 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Trò chơi cờ vây, cờ tướng, mạt chược… đều thuộc hình thức trò chơi trí óc. Hầu hết, các trò chơi đều cần sự náo nhiệt, một số trò còn cần sự kích động nhưng riêng các trò chơi trí óc, ngược lại cần sự yên tĩnh để phát huy cao độ năng lực tư duy, phân tích của người chơi. Bài Mạt chược là trò chơi thích thú nhất, cách đánh đơn giản, dễ quen nhưng sự biến hóa rất đa dạng và phức tạp do số tượng quân bài nhiều, tổ hợp sắp xếp do từng người chơi quyết định. Vì thế, Mạt chược đã trở thành hình thức trò chơi hấp dẫn nhất, bất kể từ hoàng đế tối cao hay các trọng thần nắm đại quyền trong tay đều thích thú Mạt chược, còn tới như người bình dân áo vải, tục tử nông phu thích chơi lại càng không kể hết. Có bài thơ vô danh về thú chơi Mạt chược do tác giả Hương Thủy ghi lại trong báo Văn Nghệ Tiền Phong, số Tết Nguyên Đán, 1983: Buổi xuân nhàn, trà sau rượu trước, Vui anh em, Ma tước lại bày ra. Ai khéo điểm tô trong trắng ngọc ngà, Cho quân tử hết xoa rồi lại mó. Xuân, Hạ, Thu, Đông còn ấp ủ, Mai, Lan, Cúc, Trúc đã kề vai. Ai nhám hơn ai mà ai nhẵn hơn ai, Kìa Bạch bản với Phát sồi nom cho kỹ. Chỉ mó trúng, tôi cười đắc ý, Bị trên tay, mặt xị đồ trâu. Cuộc chưa tàn ai đã chắc đâu, Đến gió Bắc mới lên râu ăn với Phỗng. Mười ba cô như thơ như mộng, Hoa dựng lên, Hoa cắm cửa mình, Chị em Xuyên khéo thành Phình… Ma Tước còn là tên một cỗ bài người Việt thường gọi là Mạt chược nhưng người Trung Hoa thường gọi là Ma tướng bài hý hay Mã tướng bài hý. Trong cỗ bài, hàng thứ ba là hàng Sách, tượng trưng bằng những thanh tre ghi chữ thời cổ đại, duy có quân Nhất Sách lại vẻ hình con chim sẻ. Ngày xưa, vì đánh bài loại này khi xoa bài nó kêu lách cách như tiếng rúc rích của bầy chim sẻ đồng đang ăn thóc và tiếng thẻ tre va chạm vào nhau khi tháo dây và tra đọc sách cổ, cũng như âm thanh lách cách của các đồng xu, cho nên tên của trò chơi gọi Mã Tước là chính xác nhất. Ngoài ra, tác giả Tam Quốc Chí còn kết hợp lấy theo điển cố thời Tam quốc, Tào Tháo đào sông Chương Hà, bắt được đôi chim sẻ đồng, bèn cho xây ở gần đó một tòa lâu đài, đặt tên là đài Đồng Tước (chim sẻ đồng), và dự định hễ đánh thắng Đông Ngô thì sẽ bắt hai chị em Đại Kiều và Tiểu Kiều là vợ của Tôn sách và Chu Du, đem về đấy để vui thú lúc tuổi già. Nhà thơ Đỗ Mục đời nhà Đường có bài thơ Xích Bích, rằng: Cát vùi kích gẫy, sắt chửa tiêu, Mài giũa tìm ra dấu cựu triều. Gió Đông nếu chẳng vì Công Cẩn, Đồng Tước đêm xuân khóa Nhị Kiều. Ngày nay, người ta vẫn không biết rõ cỗ bài Mạt chược có nguồn gốc từ đâu, xuất hiện khi nào và được cấu trúc ra sao, có giả thiết cho rằng Mạt Chược do một nhà quý tộc ở Thượng Hải sáng tác khoảng những năm 1850, có người nói rằng khoảng từ 1870-1875 và khởi đầu nó là những con bài làm bằng giấy, không hiểu từ khi nào nó đã trở thành những con bài bằng chất liệu cứng như ngày nay. Trước khi thẩm định các giả thiết lịch sử nêu trên, chúng ta cũng cần nên xem lại sự đầy đủ của cấu trúc cỗ bài và về cách chơi Mạt chược. Bàn chơi là một cái bàn đặc dụng, hình vuông, mỗi cạnh dài hơn 90cm có gờ cao khoảng 3cm, được bọc da; mặt bàn cũng được lót bằng một loại chất liệu cứng, trơn láng, màu tối thường là màu xanh lam hoặc xanh lục để quân bài màu trắng hoặc ngà nổi bật; dưới mặt bàn có hộc ngăn kéo phía dưới để người chơi có thể cất giữ tiền bạc và tư trang. Như vậy, từ cấu trúc bàn chơi cố định thì số lượng người chơi tiêu chuẩn là bốn người. Bộ Mạt chược Tham khảo trên Internet file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Bộ bài Mạt chược phổ biến hiện nay 144 quân, nghĩa là chỉ có 2 bộ Hoa, trong khi đó người Việt đã chơi cỗ bài có 4 bộ Hoa và 2 bộ Khung, tổng số quân bài lên tới 160. Ở đây chúng ta xem xét sự đầy đủ của hai bộ bài căn bản 144 quân và 160 quân. Bộ bài 144 quân được chia ra như sau: Tài phao gồm các quân đặc biệt danh dự, gồm 7 loại gồm Trung, Phát, Bạch, Đông, Nam, Tây, Bắc, mỗi loại 4 con, tổng cộng 28 con: Trung, Phát, Bạch gọi là Rồng: Hồng Trung (chữ Trung màu đỏ), Lục Phát (chữ Phát màu xanh lá), Bạch Bản (chỉ là một hình chữ nhật rỗng viền xanh dương), mỗi loại Rồng có 4 con, tổng cộng 12 con. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Đông, Nam, Tây, Bắc gọi là Gió. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Bộ Hoa gồm 4 bộ Hoa đỏ và 4 bộ Hoa xanh, tổng cộng 32 con. Bộ Hoa xanh gồm: Xuân, Hạ, Thu, Đông. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image022.jpg Bộ Hoa đỏ gồm: Mai, Lan, Cúc, Trúc. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image024.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image026.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image028.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image030.jpg Bộ Nạc gồm 3 loại Văn, Vạn, Sách: Văn (còn gọi là Đồng): biểu thị bằng những vòng tròn đồng xu nhỏ cũng từ 1 tới 9; có 4 Văn tổng cộng 36 con. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Vạn: tất cả con bài này đều màu đỏ, viết số từ 1 tới 9 và thêm một chữ Vạn bên dưới; Có 4 Vạn, tổng cộng 36 con. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Sách: biểu thị bằng những thẻ trúc màu xanh lam, từ 1 tới 9, đặc biệt quân nhất sách biểu thị bằng con chim sẻ (Mạc tước); có 4 Sách, tổng cộng 36 con. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Người chơi tinh ý sẽ nhận thấy hai bộ Hoa xanh và Hoa đỏ không giúp gì vào chuyện Ù, hay Tới, ngoài chuyện thêm được một Phán khi gặp cây Hoa đúng cửa, hay hai Phán khi có nguyên bộ Hoa. Do đó nếu bỏ hai bộ Hoa này ra ngoài, chúng ta vẫn đánh Mạt chược được như thường, và đây chính là lối đánh cổ điển chỉ gồm có 136 quân gồm ba hàng Vạn, Văn, Sách và hàng Danh dự với Gió và Rồng. Sách: biểu thị bằng những thẻ trúc màu xanh lam, từ 1 tới 9, đặc biệt quân nhất sách biểu thị bằng con chim sẻ (Mạc tước); có 4 Sách, tổng cộng 36 con. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg [ Người chơi tinh ý sẽ nhận thấy hai bộ Hoa xanh và Hoa đỏ không giúp gì vào chuyện Ù, hay Tới, ngoài chuyện thêm được một Phán khi gặp cây Hoa đúng cửa, hay hai Phán khi có nguyên bộ Hoa. Do đó nếu bỏ hai bộ Hoa này ra ngoài, chúng ta vẫn đánh Mạt chược được như thường, và đây chính là lối đánh cổ điển chỉ gồm có 136 quân gồm ba hàng Vạn, Văn, Sách và hàng Danh dự với Gió và Rồng. Đối với Quân Văn, chữ đọc âm Hán Việt là Đồng, còn đọc phiên âm Quảng Đông là Thùng, quân bài biểu thị bằng những vòng tròn nhỏ tượng trưng cho các tiền đồng cổ. Ngoài ra, bộ Tài phao gồm 7 quân danh dự nếu dịch là nghĩa tiếng Việt thì không hiểu nghĩa gì cả, nếu kết hợp với bộ Nạc (Thịt) và bộ Khung (Xương) thì ta thấy Tài phao sẽ tương ứng là bộ Đầu, trong đó bộ Khung chỉ có trong Mạt chược Việt Nam. Tham khảo sơ đồ từ Internet: file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Chơi Mạt chược tiêu chuẩn bốn người thành một sòng, luân phiên làm Cái. Nhà Cái gieo 3 con xúc sắc để có số đếm xác định người rút bài đầu tiên, sau đó mọi người bắt đầu rút và đánh bài. Quy tắc chủ yếu của Mạt chược là nhanh chóng tổ hợp bài trong tay mình theo kiểu quy định để có thể Ù. Trong đó cách tổ hợp bài cơ bản nhất có hai loại, một loại gọi là Khảm, gồm ba con bài cùng màu cùng số tạo thành, một loại khác gọi là Thành gồm ba con bài cùng màu liền số tạo thành. Chỉ cần tổ hợp bài trong tay mình thành Khảm hoặc Thành thì có thể rải bài ra gọi là Ù như vậy là thắng. Ngoài tổ hợp bài cơ bản nhất ra, trong bài Mạt chược còn có một số tổ hợp kiểu bài lớn, loại bài lớn này sau khi Ù phải tăng gấp đôi, gọi là Phiên. Cấp tổ hợp kiểu bài càng cao thì bài càng lớn, Phiên cũng càng nhiều. Nếu một tay bài toàn là một Môn, gọi là Xanh một màu, một tay bài toàn là Khảm gọi là Đối đới hoa, ba loại Trung, Phát, Bạch trong tay bài toàn bộ thành Khảm gọi là Tam nguyên hội, mỗi tổ hợp bài đều có Yêu (một hoặc chín) thì gọi là Toàn yêu. Các kiểu bài lớn này sau khi thắng đều được tăng mấy lần, cũng tức là lật mấy lần Phiên. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Chiều đánh bài là chiều ngược kim đồng hồ theo thứ tự Đông, Nam, Tây, Bắc ngược với chiều lấy bài hay đổi bài khi dựng Hoa, hay Khung, hay Coong. Chiều ngược kim đồng hồ là chiều trở về nguồn cội nguyên thủy của vạn vật hay còn gọi “sinh ký tử quy” giống như mặt trống đồng Đông Sơn, còn chiều kim đồng hồ là chiều vận động phát triển của vạn vật theo nguyên lý Hà Đồ phối Hậu Thiên Bát quái của học thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Một Hội chơi gồm bốn gió Đông, Nam, Tây, Bắc và hết một vòng là hết một Gió. Chiều lấy bài Chiều chơi bài Mặt trống đồng Ngọc Lũ Đông Sơn, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Nếu người làm Cái ù thì lại tiếp tục làm Cái nữa gọi Thượng trương, nếu không thì người kế tiếp làm Cái. Theo thứ tự, người làm Cái cửa Đông hay cửa 1, rồi đến cửa Nam (cửa 2), rồi đến cửa Tây (cửa 3), rồi đến cửa Bắc (cửa 4), trong một Gió mà không ai Thượng trương thì chỉ có 4 ván. Như vậy, một Hội trong ván bài Mạt chược có ít nhất là 16 bàn, thông thường nhiều hơn và người chơi nào cũng có cơ hội làm Cái trong mỗi Gió. Mọi người xoa quân bài đã úp sấp cho quân được trải đều, rồi mỗi người xếp 160/4=40 quân thành 20 đôi, bày ngang trước mặt. Nhà Cái bao giờ cũng tính là cửa Đông, gieo súc sắc để biết lấy bài từ chỗ nào, rồi lấy theo thứ tự từ nhà Cái tới nhà Con mỗi người 2 đôi, rồi 2 đôi, rồi lại 2 đôi,… rồi 1 quân, tất cả là 13 quân. Nhà Cái phải lấy dư 1 quân để đánh ra trước, nên thay vì lấy 1 quân cuối cùng thì lấy luôn 2 quân liền nên gọi là nhảy cóc. Sau khi lấy bài rồi thì chồng bài còn lại sẽ có hai đầu, đầu bên tay mặt để bốc bài trường hợp bình thường, đầu phía bên kia hay tay trái để bốc bài khi có Hoa hay Khung dựng lên. Lấy bài hay bắt bài mỗi người 13 quân, cửa Cái 14 quân và sẽ đánh ra 1 quân đầu tiên. Khi Tới hay Ù thì sẽ có 14 quân. 14 quân bài khi Tới được chia ra là 4 phu, mỗi Phu 3 quân và 1 cặp Mắt; có 2 loại phu là Phu ngang và Phu dọc, dù ngang hay dọc tất cả các Phu đều phải cùng một loại, một hàng. Thí dụ Sách ăn theo Sách, Đồng theo Đồng, Vạn theo Vạn, Tài phao theo Tài phao. Phu ngang là 3 con giống nhau, nếu có 2 con mà người khác đánh ra bất kỳ từ cửa nào cũng có quyền ăn, khi đó phải xướng lên Phỗng hoặc Đôi, Phu dọc là theo thứ tự, thí dụ 234, 345… và chỉ được ăn khi người trên đánh xuống, khi tới thì bất kỳ cửa nào đánh cũng được. Tất cả Tài phao đều là Phu ngang. Cửa Cái, sau khi bắt bài nếu có Hoa hoặc Khung thì Dựng, trường hợp chỉ có 1 Hoa có quyền đánh hoặc Dựng, nhưng từ 2 Hoa bắt buộc phải Dựng. Hoa đúng cửa thì được tính Phán và không được đánh Khung nữa, còn nếu không có Hoa cửa vẫn được quyền đánh Khung (nhiều nơi không cho). Dựng xuống bao nhiêu Hoa hoặc Khung thì được bắt lại bấy nhiêu quân bài ở chồng ngược lại gọi là Đầu Coong (Chiếu); nếu đủ 14 con bài mà tròn, nhà cái sẽ Ù gọi là Thiên ù. Sau khi cả làng đã lấy Hoa xong thì nhà cái sẽ đánh ra 1 con bài rác, người kế tiếp nếu ăn không được và không bị ai Phỗng (lấy vào hay ăn bài) thì sẽ được bắt 1 con vào bài từ chồng bài thuận, và sau đó sẽ phải đánh đi 1 con. Cứ đánh và bắt bài như vậy cho tới khi bài tròn, nghĩa là khi đủ 4 Phu và 1 Mắt thì được Ù. Nếu bắt lấy mà Ù thì gọi là Ù cái và cả làng phải chung Cái, còn nếu người khác đánh cho Ù thì ai đánh phải chung Cái, 2 người kia sẽ chung Con. Thông thường chung Cái sẽ gấp đôi chung Con (không kể điểm thưởng), vì thế tránh chung Cái cũng là một cách đánh để đỡ phải thua nhiều, và đây là một nghệ thuật cũng như chiến thuật căn bản của người chơi Mạt chược. Mạt chược hấp dẫn người chơi hơn các môn bài khác vì nó có tính toán, sắp đặt. Cũng là một ván bài đó, người chơi giỏi sẽ tạo nên ván bài lớn, nghĩa là tới nhiều điểm, ở đây gọi là Phán. Mốc quan trọng khi chơi là làm sao để “tới Mủn” nghĩa là tới 6 Phán và cứ mỗi bội số của 6 Phán là thêm 1 Mủn. Mỗi ván bài khi tới sẽ có một tên gọi tuỳ theo kết cục của 4 Phu, và cũng từ đó người ta sẽ tính điểm cho ván bài tới và còn nhiều cách tính bài khác nữa. Trong nền văn hóa Việt còn lưu giữ cách chơi bộ bài Mạt chược 160 quân, nhiều hơn bộ bài Mạt chược Trung Quốc 16 quân, làm tăng khả năng sắp xếp các tổ hợp quân bài, cho nên cuộc chơi sẽ Ù nhanh và nhiều Phán hơn bộ bài Trung Quốc 144 quân. Trong bộ bài Việt 160 quân, trước đây người ta đã thêm vào 16 quân nữa bao gồm hai bộ Hoa Vua, Hoa Hậu và 8 quân đặc biệt khác gọi là Khung. Bộ Hoa và Khung bổ sung Mạt chược 160 quân Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Như trong hình trên, 16 quân thêm vào gồm: Bộ Tứ Hoàng (vua) đánh số từ 1 tới 4 và bên dưới là chữ Hoàng, cũng có tác dụng như hai bộ Hoa xanh và Hoa đỏ; Bộ Tứ Hậu (hoàng hậu) đánh số từ 1 tới 4 và bên dưới là chữ Hậu, cũng có tác dụng như hai bộ Hoa xanh và Hoa đỏ. Bộ Khung xanh gồm 4 quân: Quân Tổng, có thể thay thế tất cả các quân thuộc hàng Vạn, Văn, Sách, Gió, Rồng và các loại Hoa; Quân Thùng thay thế bất kỳ quân Văn; Quân Sọt thay thế bất kỳ quân Sách; Quân Màn thay thế bất kỳ quân Vạn. Bộ Khung đỏ gồm 4 quân: Quân Hợp có thể thay thế các quân thuộc các hàng Sách, Vạn, Văn. Quân Hỷ thay thế bất kỳ quân Gió Đông, Nam, Tây, Bắc. Quân Nguyên thay thế bất kỳ quân Rồng Trung, Phát, Bạch; Quân Đại thay thế cho Tài phao. Khi thêm 2 bộ Hoa và 2 bộ Khung kể trên, việc tạo một ván bài lớn rất dễ dàng so với bộ bài 144 quân, do đó, quy tắc tính Phán và điểm thường được sắp xếp lại với sự đồng thuận của người chơi về quy định cho từng cách Ù. Mặc dù vậy, chúng ta có thể thấy việc thêm 16 quân bài gồm 2 bộ Hoa Vua và Hoa Hoàng Hậu và 2 bộ Khung là không hợp lý về mặt tên gọi và cấu trúc của nó. Từ nhận định bí mật các quân bài nằm trong nền mỹ thuật cổ truyền Việt Nam do hình vẽ các quân bài Hoa xanh và Hoa đỏ là các bộ tranh tứ bình trong dòng tranh dân gian Đông Hồ và Hàng Trống. Bộ tranh Tứ bình gồm bốn loại hoa đào, hồng, cúc, vạn thọ được lấy làm biểu tượng bốn mùa, được trưng bày với những kiểu bình sành trang trí mỹ thuật dân gian đặt nơi thư phòng hay chỗ tiếp đón bạn bè. Mùa xuân với màu hoa đào đỏ thắm đầy sức sống; mùa hè với những búp sen thanh cao, trong trắng; mùa thu với màu vàng của hoa cúc nở, đua sắc cùng với bướm ong, “Cúc nguyện hàn sương” nghĩa là người cao sĩ giữ tiết tháo không ngại phong sương hàn thử; mùa đông sẽ cùng với những bông hoa vạn thọ nở tròn viên mãn, tượng trưng cho sự trường tồn, bất diệt, mang cả ý niệm thành kính thiêng liêng dâng cúng tổ tiên. Trời xuân mai nở sắc vàng sắc trắng, diễn tả ý nghĩa của một cuộc sống thanh bạch, trong sáng. Hoa mai tượng trưng cho cái “cũ” nhưng lại trở thành “mới”, biểu tượng sự tái sinh, dân gian thường nói “hoa mai nở hai lần” qua câu chuyện thơ Nôm Nhị độ mai đề cập trong truyện Tùy Đường diễn nghĩa. Hoa mai ngày tết là hình ảnh của những cộng đồng dân tộc miền xuôi, còn hoa đào ngày tết là hình ảnh xuân sang của những cộng đồng dân tộc miền ngược, tương ứng dòng dõi Âu Lạc của nước Văn Lang cổ đại. Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết, Đêm qua sân trước một nhành mai. (Mãn Giác Thiền sư, tức sư Lý Trường (1052-1090), trong bài Xuân bằng cáo bệnh). Đĩa Mai - Hạc Đồ sứ ký kiểu, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Nghêu ngao vui thú yên hà, Mai là bạn cũ, hạc là người quen. Nguyễn Du. Hoa đào là hình ảnh lộng lẫy nhất mùa xuân, cánh đào nay trong gió như những con mưa hồng từ cõi bồng lai tiên cảnh, có lẽ chỉ hai chàng thi sĩ Đào Nguyên ngơ ngác đi lạc vào chốn này. Hình ảnh hoa đào như rực rỡ hơn cùng hình ảnh hoài niệm khó phai của nàng thiếu nữ diễm lệ đứng e ấp bên cánh cổng sơn trang: Khứ niên kim nhật thử môn trung, Nhân diện đào hoa tương ánh hồng. Nhân diện bất tri hà xứ khứ, Đào hoa y cựu tiếu xuân phong. Đề đô thành nam trang Thôi Hộ (618-907, triều Đường, Trung Quốc) Tích Đào Nguyên Tranh màu Tô Thức tại Di Hòa Viên, Bắc Kinh file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Mùa hạ nóng nực, lúc này hoa sen, hoa súng nở rộ, những bông vươn cao lên khõi mặt nước một cách uy nghi, như làm cho không gian thoáng đãng và mát mẻ hơn, hoa sen hồng là biểu tượng của Phật Bà Quan Âm. Về màu sắc, hoa sen có nhiều loại: sen hồng, sen trắng, sen vàng; hồng thì phơn phớt, trắng thì tinh khôi còn vàng rực rỡ, và dù cho là loại hoa sen nào thì hương sen lúc nào tỏa ra thơm ngát. Trong một mùa hè rực lửa, người con trai con gái tỏ bày tình yêu nồng cháy, không thể thiếu hình ảnh hoa sen đang nở dười hồ nước trong xanh, tươi mát: Hôm qua tát nước đầu đình, Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen, Em được thì cho anh xin, Hay là em để làm tin trong nhà. Mùa hạ hoa hồng đua khoe vẻ đẹp kiêu sa, nhưng cũng đầy gai nhọn như những thử thách của tình yêu, hoa hồng phô bày vẻ rực rỡ tượng trưng cho tình yêu nồng thắm của tuổi trẻ: Xuân thiên mai nhụy phô thanh bạch, Hạ nhật hồng hoa đấu hảo kỳ, Cúc ngạo thu tình hương vạn hộc, Tùng lăng đông tuyết ngọc thiên chi. Mùa thu là mùa hoa cúc vàng, hương thơm hoa cúc được ví như một tâm hồn tự do, phóng khoáng của người ẩn sĩ sống ẩn dật, xa lánh danh lợi bon chen. Hoa cúc là hình ảnh của Tết Trùng Dương - Tết người già, lên núi ngắm cảnh thiên nhiên, đánh cờ, uống rượu hoa cúc, thật là tao nhã: Sầu thu ý cúc man man, Hoàng hoa pha sắc cho vàng lá bay. Thơ không túy nguyệt mà say, Giữa đêm Nguyên Lượng* cúc ngầy ngật hương. Hồn xưa tỉnh giấc hoàng lương, Lặng nhìn sương khói phủ vườn tâm giao. Gió đong đưa lá xạc xào, Tiếng thu đồng vọng cúc xao xuyến tình... Cúc Đảm Ngạo Hàn Sương, Hải Đà, *Nguyên Lượng: tên tự của thi sĩ Đào Tiềm. Mùa Đông với những bông hoa mẫu đơn quý phái, hoa mẫu đơn luôn đi cùng với chim công xòe múa, cả hai như cùng nhau bộc lỗ nét đẹp kiêu sa nhất của tự nhiên. Lễ hội xem “hoa mẫu đơn” ở chùa Phật Tích, Bắc Ninh đã trở nên hấp dẫn và lý thú cho tất cả mọi người đến thưởng thức và lễ Phật. Cao quý đồ quan Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam<br clear="all"> file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Núi Phật Tích còn gọi là núi Lạn Kha, “Lạn” có nghĩa là mục, “Kha” có nghĩa là cái rìu, Lạn Kha là cái rìu mục. Sự tích kể rằng: ngày xưa, vào đời Tấn (265-420), một tiều phu tên Vương Chất, lên núi Phật Tích chặt củi. Đến đỉnh núi, Chất thấy có hai vị tiên đang đánh cờ, bèn đứng tựa vào cán rìu để xem. Đến khi xem xong ván cờ, quay đầu nhìn lại, thì ôi thôi, cán rìu đã mục từ khi nào rồi. Vì vậy, núi Phật Tích còn được gọi là núi Lạn Kha. Ngày nay, trên đỉnh núi Phật Tích có một tảng đá phẳng, tương truyền đó là bàn cờ tiên. Linh thú đá chùa Phật tích Huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Đại danh lam chùa Phật Tích còn nổi tiếng trong dân gian với lễ hội “Khán hoa mẫu đơn” tức “Hội xem hoa mẫu đơn” với thiên tình sử Từ Thức gặp tiên. Huyền thoại kể rằng: xưa kia, vùng núi và vườn chùa Phật Tích trồng bạt ngàn hoa mẫu đơn, cứ mỗi năm xuân về hoa mẫu đơn nở rộ đỏ rực cả một góc trời. Chùa Phật Tích mở hội đầu năm vào mồng 4 tháng Giêng để đón năm mới và lễ Phật. Từ khắp mọi nơi, người người đổ về đây trảy hội xuân, ngắm hoa và vãn cảnh chùa. Có một năm, ở trên trời, nàng tiên Giáng Hương nhìn xuống thấy cảnh trần gian tuyệt đẹp, đã xin giáng trần dự hội chùa, nhưng vô tình nàng Giáng Hương đánh gãy một cành hoa mẫu đơn giữa cửa chùa nên bị chú tiểu giữ lại. Chàng Từ Thức bèn cởi áo khoác xin chuộc tội cho nàng, cảm động với nghĩa cử cao đẹp của chàng trai hào hoa phong nhã, Giáng Hương đã ngỏ lời hò hẹn và mời chàng về chốn “bồng lai” xin kết duyên vợ chồng. Từ đó câu chuyện tình thơ mộng Từ Thức gặp tiên đã sống mãi với lễ hội “Khán hoa mẫu đơn”. Theo thư tịch cổ và truyền thuyết, chùa Phật Tích tên chữ là “Vạn Phúc Tự” là nơi Phật giáo từ Ấn Độ đặt bước chân đầu tiên truyền giáo vào nước ta ngay từ buổi đầu Công nguyên. Thư tịch cổ còn cho biết: Vào thời nhà Đường, vua Đường đã cho người mang ba hòm xá lỵ của Phật đến đất Giao Châu để xây bảo tháp, trong đó có một hòm ở chùa Phật Tích. Đến thời vua Lý Thánh Tông, chùa Phật Tích được xây dựng thành đại danh lam, còn cho xây một cây tháp cao 10 trượng, trong chứa tượng Phật mình vàng cao 6 xích, đứng từ kinh thành Thăng Long nhìn thấy được. Dấu tích chân cây tháp cổ còn để lại có kích thước rất lớn 9.20m x 9.20m, với những viên gạch vồ ghi rõ niên đại xây dựng “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo” tức vào đời vua thứ 3 nhà Lý niên hiệu Long Thụy Thái Bình năm thứ 4 (1057). Mùa đông với những bông hoa vạn thọ màu vàng cam rực lên sức sống tràn đầy, viên mãn, mang mùi hương thanh tao đến lạ kỳ, hoa vạn thọ rất lâu tàn, là biểu tượng cho sự hoàn thành một vòng quay bốn mùa của đất trời. Hoa vạn thọ gắn chặt với câu chuyện lòng hiếu thảo của một chú bé với người cha già, khi dùng trí thông minh của mình giúp ông tăng thêm tuổi thọ. Hoa vạn thọ cùng với hoa sen là loại hoa dùng để cúng dường lên chư Phật, Bồ Tát, biểu đạt cho sự trường tồn của Phật pháp. Trong các nền văn hóa phương Đông, khi chúc thọ, người ta thường dùng thành ngữ “Vạn thọ vô cương” cũng mang ý nghĩa trên. Mùa đông còn là hình ảnh của cây tùng, biểu tượng của Đạo giáo và luôn đi cùng với con chim hạc trắng, hình ảnh phiêu bồng của cõi tiên. Mùa đông tuyết phủ khắp nơi, rơi đọng trên cành tùng như những cánh tay ngọc ngà, tùng tượng trưng cho bậc trượng phu, ngạo nghễ coi khinh giá rét. Tuyết đông làm cho dáng tùng càng như vươn cao, kiêu hãnh: Kiếp sau xin chẳng làm người, Làm cây thông đứng giữa trời mà reo. Nguyễn Công Trứ. Tranh Tứ quý có nhiều dị bản khác nhau, mỗi tác giả lại thay đổi về biểu tượng cho bốn mùa, tuy nhiên, tranh dân gian Đông Hồ và hàng Trống phải thống nhất về mặt cấu trúc, thông thường sẽ không có những bài thơ trên tranh bởi hình ảnh đã biểu đạt được ý tưởng, và chúng phải được xem xét trong bối cảnh chung với các biểu tượng khác như hoa vạn thọ, cây trúc, cây tre, hoa hồng… của nền văn hóa phương Nam. Tứ bình Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Bộ tranh Tứ quý nói về các loài chim với bốn loại cây đang nở hoa, ra quả khác nhau. Mùa xuân với những quả đào chín mọng cùng những cánh yến chao lượn. Quả đào được ví như những quả đào tiên, là thần dược của sự trường sinh bất tử. Ngọc Hoàng, vị thần cai quản thiên đình, có vợ tên là Tây Vương Mẫu, bà đã tổ chức thết đãi các vị tiên một bữa tiệc nổi tiếng gọi là “hội bàn đào”. Các vị tiên phải chờ đợi 6.000 năm để có được bữa tiệc sang trọng này, cây đào tiên cần tới 3.000 năm để ra quả chín. Các bức tượng bằng ngà voi họa lại những người tham dự bữa tiệc của Tây Vương Mẫu thường có trên tay ba quả đào. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Mùa hè với những quả mơ dịu ngọt cùng những chú chim trĩ khoe sắc lông. Mơ hay mộng có liên hệ đến một điển tích nổi tiếng trong văn chương Giấc mộng Nam Kha hay “giấc hòe”, để ám chỉ cuộc đời như là mộng ảo, công danh phú quý như giấc chiêm bao. Mùa thu với những quả mận tím rịm lủng lẳng trên cành vui cùng tiếng chim oanh rộn rã, Mùa đông vào lúc những quả bưởi mọng nước bên cạnh chú đại bàng hùng dũng tung cánh. Đại bàng và Tùng Tranh Từ Bi Hồng (1895-1953), Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Trên bức tranh Tứ quý, dưới gốc cây còn có những cụm hoa từng mùa, nhưng bộ tranh Tứ bình đã thể hiện rồi, do vậy, về họa pháp không cần thể hiện thêm mà chỉ cần phối cỏ xanh, đá tảng… nhằm thể hiện sự dơn giản, mộc mạc. Tên của các loại quả tứ thời trong bức tranh Tứ quý đã được lấy tên cho các ngôi chợ Phiên ở bốn cửa Đông, Tây, Nam, Bắc trong kinh thành Thăng Long, chợ Phiên họp một tháng sáu phiên ứng với độ số của Hà Đồ phối Hậu Thiên Bát quái Lạc Việt. Tứ Quý Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Hai bộ Hoa còn thiếu trong bộ bài Mạt chược sẽ phải là bộ tranh Tứ dân biểu tượng của bốn thú vui non xanh, nước biếc của lữ khách giang hồ “kìa Ngư, nọ Mục, ấy Tiều, này Canh”. Tứ Thú Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Ngư tiều canh mục là 4 thú vui của người ẩn sĩ, gọi là “Tứ thú”: Câu cá, đốn củi rừng, cày ruộng, chăn trâu. Ngư: như ông Khương Thượng - Khương Tử Nha ngồi câu cá ở Bàn thạch, thủy phủ, âm phủ. Tiều: như ông Chung Tử Kỳ đi đốn củi rừng hằng ngày. Canh: như ông Ngu Thuấn đi cày ruộng ở Lịch Sơn: nhân gian, địa. Mục: như ông Sào Phủ chăn trâu ở sông Dịch thủy (Trích Từ Điển Cao Đài, Việt Nam). Hãy cùng thưởng thức ngẫu hứng đối đáp thơ phú, văn chương giữa một tiều phu tên Lý Định và một ngư ông tên Trương Tiên sống bên bờ sông Kinh Hà (ẩn nghĩa là sông Nhị Hà hay sông Hồng) thành Trường An, Thiểm Tây, Trung Quốc (ẩn nghĩa tức Thăng Long thành) trong tiểu thuyết nổi tiếng Tây du ký. Lý Định nói: Nước biếc của anh không bằng non xanh của tôi được. Trương Tiên nói: Non xanh của anh không bằng nước biếc của tôi thì có! Có bài từ “Điệp luyến hoa” làm chứng đây: Thuyền con một lá giữa dòng, Giọng Tây Thi vút bổng trầm vang xa. Lợi danh rửa sạch lòng ta, Cỏ thơm tìm hái, quên lo quên phiền. Vui nhìn cò cốc dập dềnh, Càng vui có vợ con mình kề bên. Đánh giấc ngủ khi sóng êm, Chẳng vinh chẳng nhục chẳng phiền chẳng lo. Lý Định nói: Nước biếc của anh làm sao bằng non xanh của tôi được! Cũng có bài từ “Điệp luyến hoa” làm chứng đây: Hoa thông rải khắp đường ngàn, Tiếng oanh ríu rít như đàn như ca. Xuân về hoa thắm, lá tơ, Kìa kè lại đến, ngày giờ trôi mau. Và nay thu lại bắt đầu, Cúc thơm vàng rực một màu lòng ta. Ơ kìa, đông đến rồi à? Bốn mùa vui thú tự do thanh bình. Người đánh cá nói: Non xanh của anh sao bằng nước biếc của tôi. Nơi đây có bao của ngon vật lạ. Có bài từ “Giá cô thiên” làm chứng đây: Vui miền sông nước kiếm ăn, Thung dung gác mái ta nằm thảnh thơi. Ba ba, cua tía ăn hoài, Tôm hùm, cá chép ta ngồi say sưa. Lúc củ niễng, lúc măng lô. Còn thêm củ ấu sớm trưa thỏa lòng. Nào sen ngó, nào rau cần, Còn bao thứ lạ muốn dùng có ngay. Người kiếm củi nói: Nước biếc của anh không bằng non xanh của tôi được. Ở đây cũng có bao của ngon vật lạ. Có bài từ “Giá cô thiên” làm chứng đây: Sườn non đỉnh núi chênh vênh, Túp lều thấp thoáng nhà mình là đây. Ba ba đâu sánh cáo cầy, Cua tôm sao sánh thịt nai thịt gà. Nay măng trúc, mai thanh trà, Mận, đào, mai, hạnh thật là thơm ngon. Nào lê, nào táo ngát hương, Hoa thơm cỏ lạ núi non thiếu gì. Người đánh cá nói: Non xanh của anh thực sự không thể bằng nước biếc của tôi được. Có một bài từ “Thiên tiên tử” đây: Núp trong một lá thuyền con, Giữa miền khói sóng chẳng phiền chẳng lo. Buông câu thả lưới sớm trưa, Đời đạm bạc vẫn đậm đà tình sâu. Vợ chồng khuya sớm bên nhau, Cùng đàn con nhỏ lau nhau mui thuyền. Được cá đem bán Trường An, Mua luôn cút rựu nhắm trần say sưa. Áo tơi đắp ngắm sông thu, Khò khò đánh giấc chẳng lo chẳng phiền. Vinh hoa phú quý nhân gian, Mặc đời giành giật chẳng thèm bận tâm. Người kiếm củi nói: Nước biếc của anh vẫn không thể bằng non xanh của tôi được. Cũng có bài từ “Thiên tiên tử” đây: Chân non một túp lều tranh, Cúc, mai, tùng, trúc bạn gần bạn xa. Trèo non tìm kiếm củi già, Ai người cần đến thì ta bán chừ. Đem tiền uống rựu say sưa, Be vành bát vại sớm trưa khề khà. Say rồi nằm gốc thông già, Vô tâm ngủ tít sá gì nhục vinh. Người đánh cá nói: Anh Lý ơi, trong núi của anh đâu có thú vị như trên mặt nước của tôi được. Có bài từ “Tây giang nguyệt” làm chứng đây: Hoa liêu rọi ánh trăng tà, Lá lau gió thổi đung đưa xạc xào. Trời xanh, sông nước xanh theo, Muôn sao nhấp nháy trời cao chuyển vần. Cá to sa lưới hàng đàn, Cắn câu cá diếc cả đàn tranh nhau. Mang về nấu rán ngậy sao! Giang hồ cười ngạo ai nào bằng ta? Người kiếm củi nói: Anh Trương ơi, trên mặt nước của anh không thể nào khoan khoái, thú vị như trong núi của tôi được. Cũng có một bài từ “Tây giang nguyệt” làm chứng đây: Đường đầy lá rụng cành khô, Núi đây trúc héo xác xơ úa vàng. Dây leo chằng chịt dọc ngang, Cắt về làm chão, làm quang hơn thừng. Củi du, củi liễu đầy rừng, Cành thông, cành trắc khô cong bạt ngàn. Gánh về phòng tiết đông hàn, Đổi rựu, chuốc thịt uống tràn say sưa. Người đánh cá nói: Trong núi của anh tuy cũng khá đấy, nhưng không thể u nhã bằng nước biếc của tôi được. Có bài từ “Lâm giang tiên” làm chứng đây: Thuyền con đủng đỉnh chiều tà, Đêm khuya gác mái vang xa câu hò. Áo tơi đêm nguyệt thanh kỳ, Chim âu lặng lẽ bay đi bay về. Thanh nhàn vắng vẻ hả hê, Mặt trời đứng bóng “giấc hòe” chưa tan. Tự do tùy ý, tùy tâm, Quan trong triều cũng chẳng bằng được ta. Người kiếm củi nói: Nước biếc của anh tuy u nhã, nhưng non xanh của tôi còn u nhã hơn kia. Cũng có một bài từ “Lâm giang tiên” làm chứng đây: Rừng thu xanh ngắt bốn bề, Dắt rìu gánh củi, chiều về thảnh thơi. Hoa rừng cài tóc hương bay, Vén mây tìm lối, cửa sài trăng lên. Vợ con tíu tít quanh bên, Giường tre gối gỗ, giấc yên tuyệt trần. Táo lê thơm ngát đầy mâm, Rựu vừa nấu thú trần gian nào bằng. Người đánh cá nói: Những điều đó đều thú vị, đều là kế sinh nhai của hai chúng ta, nhưng anh không có được những lúc thanh nhàn khoái trá như tôi được, có bài thơ làm chứng đây: Khi nhàn nhắm hạc bay cao, Cắm thuyền ven bãi, gác chèo nghỉ ngơi. Vợ chồng mang lưới ra phơi, Bảo con xe lại cho dài dây câu. Lòng êm sóng cũng êm theo, Thanh nhàn gió cũng vui reo thanh nhàn. Áo tơi nón lá xênh xang, Còn hơn áo tía đai vàng nhà quan. Người kiếm củi nói: Lúc thanh nhàn của anh không thể khoái trá bằng lúc thanh nhàn của tôi được, cũng có bài thơ làm chứng đây: Ngước trông mây trắng lang thang, Một mình khép cửa thanh nhàn nghỉ ngơi. Dạy cho mấy chữ xong rồi, Khách vào ta lại ngồi chơi ván cờ. Khi vui chống gậy ngâm thơ, Hứng lên đàn dạo tiếng tơ bổng trầm. Áo gai dép cỏ nhẹ thân, Thung dung non nước ai bằng được ta. Trương Tiên nói: Anh Lý Định ạ, hai chúng ta thật là: Tâm đầu ý hợp ngâm nga, Lọ cầu chén ngọc khay ngà làm chi. Có điều từ chương mà ai nấy tự làm thì cũng chẳng hiếm. Chi bằng hai chúng ta thử cùng làm mấy câu thơ liên hoàn xen kẽ nhau nêu cái thứ câu cá, kiếm củi xem sao! Lý Định nói: Lời anh nói chí lý lắm! Mời anh ngâm trước đi nào. Thế rồi Trương Tiên ngâm, và hai người nối tiếp nhau ngâm nga: Thuyền cắm giữa bao la khói sóng, Nhà dựng nơi thăm thẳm rừng sâu. Thú sao nước ngập chân câu, Đẹp sao mây sớm trắng màu sườn non. Cửu Long môn cá tôm tùy rán, Củi núi rừng tùy bán tùy mua. Tuổi già quăng lưới độ thân, Củi kia cũng đủ nuôi mình sống vui. Nằm cửa thuyền ngắm đôi nhạn lượn, Tựa cây rừng nghe tiếng gà gô. Tranh giành chẳng phải phận ta, Thị phi danh lợi dành cho mọi người. Bên bãi vắng lưới phơi như gấm, Hòn đá mài rìu trắng như gương. Một mình câu dưới ánh trăng, Một mình kiếm củi giữa rừng vắng tanh. Cá đổi rựu, vợ chồng chuếnh choáng, Củi bán đi, cạn chén cùng con. Nghêu ngao giữa khoảng mênh mông, Tiếng ca bay vút giữa rừng âm u. Quay quần tán bạn bè chài lưới, Xúm xít vui bằng hữu núi non. Ngày vui cua luộc, tôm rang, Tháng vui vịt rán, gà hầm phong lưu. Rót chén nước vợ mời tình tứ, Gọi ăn cơm tiếng vợ ngọt ngào. Sáng ra khua đẩy mái chèo, Chiều về gánh củi bán rao phố phường. Mưa rơi khoác tơi chùng bắt cá, Gió thổi vung rìu phá cây khô. Trốn đời giả tiếng ngu si, Mai danh ẩn tích mũ ni bịt đầu. Trương Tiên nói: Anh Lý ạ, tôi vừa mạn phép ngâm trước rồi. Bây giờ đến lượt anh ngâm trước đi, để tôi ngâm nối theo nào. Thế rối Lý Định ngâm, và hai người nối tiếp nhau ngâm nga: Kẻ sơn dã ngạo cười trăng gió, Lão ngư ông đây đó giang hồ. Thanh nhàn tùy phận tự do, Thị phi mặc tiếng, âu ca thái bình. Đêm trăng sáng nhà tranh ngon giấc, Trời về chiều nhẹ khoác áo tơi. Quên đời bạn với tùng, mai, Vui lòng bạn với mấy loài cò, giang. Danh với lợi chẳng màng trong dạ, Thị với phi mặc bỏ ngoài tai. Sớm chiều một chén rựu say, Qua ngày ba bữa cơm thời rau dưa. Hai bó củi kiếm thừa tiền gạo, Một cần câu rau cháo cũng xong. Mài rìu dặn trẻ lúc nhàn, Lứa kia vá lại khuyên con cần cù. Mùa xuân đến liễu tơ mừng thấy, Lúc việc nhà lau sậy ngắm xem. Hè về tránh nắng dựng đàn, Tháng sáu tránh nắng lên ngàn vui chơi. Tiết sương giáng, gà lôi đem luộc, Ngày trùng dương, cua béo nấu canh. Đông về đánh giấc ngon lành, Mặt trời đứng bóng thỏa tình say sưa. Chốn rừng núi ngao du tùy ý, Miền sông hồ vui thú tùy tâm. Hái củi là thú nhà tiên, Buông câu cao khiết, thế gian ai bằng. Đường vào ngõ hoa rừng thơm ngát, Nẻo mui thuyền dào dạt sóng xanh. Yên thân đừng mộng tam công, Lòng yên vững quá tòa thành quy mô. Thành mười dặm còn lo then khóa, Chức tam công nhớp nhúa lời tâu. Vui non vui nước thanh cao, Thần minh, trời đất lòng nào quên ơn. Hai người ngâm nga thơ phú, rồi lại cùng nhau làm thơ liên cú xong, đi tới đoạn đường rẽ, vái chào từ biệt nhau. Bộ Khung thứ hai đó là bộ tranh Tố nữ thể hiện vẻ đẹp duyên dáng mà kín đáo của người nghệ sĩ xưa, mỗi cô mỗi vẻ, cô nào cũng xinh đẹp với áo dài, quần lĩnh hoa chanh, vấn tóc đuôi gà, đang trình diễn một bản nhạc dân tộc đằm thắm với cảnh người đánh đàn múa quạt, kẻ thổi sáo đánh xên, trông hết sức nhẹ nhàng, thanh thoát. Tố Nữ Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Bức tranh gợi lại dáng các cô gái vùng quê quan họ Bắc Ninh vào hội xuân, duyên dáng với trang phục áo dài năm than, váy lĩnh đen, tóc rẽ ngôi giữa vấn lên, bỏ đuôi gà sang một bên, chân đi dép cong: Xuống cõi trần gian mấy Tố Nga, Chiều thanh vẻ lịch dễ đôi ba, … Xuân xanh còn mãi nghìn năm nữa, Cốt cách như in nghìn nét hoa. Bộ Khung là những con bài đại diện, có quyền năng thay thế cho những con bài khác, một bộ Khung nhận biết được trong tranh tứ bình thuộc dòng tranh Đông Hồ là Tứ Linh gồm Long, Ly, Quy, Phượng đại diện các chòm sao Nhị thập bát tú vận động trên bầu trời trong thiên văn Đông Phương, còn một bộ Khung nữa chưa thấy thể hiện trong các dòng tranh dân gian này. Tứ Linh Tranh dân gian Đông Hồ file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Khung đỏ Long, Lân, Quy, Phượng, thường xuất hiện trong trò chơi múa rối nước “Tứ Linh tụ hội” và Khung xanh là Tổng, Màn, Thùng, Sọt tương ứng với bộ tranh Tứ Khí còn thiếu, chúng ta hãy cùng xem xét lại các mối liên quan với các sự kiện diễn ra trong lịch sử.
  17. Chương III NHỊ ĐỘ MAI (HOA MAI NỞ HAI LẦN) Ba tiếng sấm xuân chào trời đất, Lan truyền Thánh đức muôn năm. Trung Phương Thiên Tôn. Từ xưa đến nay vai trò của người mẹ trong mỗi gia đình, cộng đồng người Việt luôn được ca ngợi và tôn vinh. Người mẹ chính là chỗ dựa vật chất và tinh thần, tình cảm của con cái, gia đình, bởi lẽ đó mà hình tượng người mẹ được gắn liền với các hiện tượng tự nhiên và xã hội như Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Chúa Mẫu Thoải, Mẹ Hoa,… mang lại cho con người nguồn sống để sinh tồn. Tín ngưỡng thờ Mẫu rất phổ biến, dân gian gọi là đạo Mẫu, dân gian thờ Mẫu với một niềm tin mãnh liệt vào quyền lực linh thiêng và khát vọng cầu mong sự sinh sôi và che chở, bình an và hạnh phúc. Thờ mẫu không những phổ biến mà còn phong phú, đa dạng về nội dung và ý nghĩa, thể hiện tính chất thiêng liêng về triết lý nhân sinh. Cùng với tín ngưỡng thờ tổ tiên, thờ thần thánh, thờ Phật thì tín ngưỡng thờ Mẫu có một vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của người Việt Nam (trích cuốn Đạo Mẫu Việt Nam, tác giả Ngô Đức Thịnh, Nxb Tôn giáo, 2009). Trong việc thờ cúng tại các làng quê ở miền Bắc và miền Trung nước ta, có một hiện tượng phổ biến là bên cạnh đình, chùa, bao giờ cũng có một nơi thờ Thánh Mẫu, gọi là Điện Mẫu. Điện Mẫu thường nằm ở mé cạnh chùa, nhà gạch xây thẳng ba gian, nhỏ hơn chùa. Tại gian chính giữa, là nơi đặt tượng Mẫu. Trường hợp đặt một tượng Mẫu thì đó là Thánh Mẫu, được hiểu là Mẫu của tất cả. Trường hợp đặt ba tượng Mẫu thì đó là Mẫu Liễu Hạnh ở chính giữa, Mẫu Thượng Ngàn ở bên trái và mẫu Thoải ở bên phải (hướng từ trong ra). Ba pho tượng này đều tạc hình phụ nữ, đẹp và phúc hậu, ngồi ở tư thế thiền, chân xếp bằng và hai tay chắp. Sự khác nhau chỉ là ở những bộ trang phục. Hình ảnh thờ Mẫu thể hiện trong nền văn hóa dân gian qua các bức tranh thờ dân gian Đông Hồ, Hàng Trống và tranh thờ Đạo giáo của các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, kết hợp với các dữ liệu lịch sử về Đạo Mẫu được thể hiện trên mặt trống đồng Đông Sơn, chúng mang giá trị hiện thực hết sức to lớn về một thời kỳ dựng nước của các vua Hùng đã trở thành truyền thuyết và huyền thoại. Giới nghiên cứu hiện nay vẫn chưa tổng kết được chính xác một bộ tranh thờ đầy đủ là bao nhiêu bức, trong cuốn sách Tranh thờ Đạo giáo Việt tác giả Phan Ngọc Khuê chỉ dẫn ra những bộ tranh có trong thực tế sưu tập. Cho nên bộ ít bộ nhiều, bộ có bức này, bộ có bức kia, mà không bộ tranh nào được gọi là hoàn thiện cả. Theo cuốn Đạo giáo Thiên tôn Địa tiên cát thần đồ thuyết của Hòa Tam Thiên và Ngô Kiều, cây thần hệ Đạo giáo được chia làm bốn bộ thần vị: Bộ thứ nhất Thiên Tôn 32 loại thần vị, bộ thứ hai Hộ pháp thần tướng 9 loại thần vị, bộ thứ ba Địa tiên 54 loại thần vị, bộ thứ tư Dân gian cát thần 54 loại thần vị. Trên cơ sở này, có thể thấy những tranh thờ miền núi có những gì theo học thuyết và hệ thần Đạo giáo, có những gì là của riêng từng sắc tộc đưa vào tranh thờ. Đại khái thì vẫn chung nhau ở những tranh cơ bản và ít nhất là phải có trong một bộ tranh thờ thường gồm: Tam thanh (Ngọc thanh, Thượng thanh và Thái thanh), Ngọc hoàng thượng đế, Thập điện Diêm vương (mười bức) và Hộ pháp Tứ nguyên sư (bốn bức gồm: Mã, Triệu, Ôn, Quan nguyên sư). Còn lại tùy từng tín ngưỡng của các sắc tộc mà số lượng tranh được thêm bớt, vừa chọn lọc trong hệ thần Đạo giáo, vừa sáng tạo ra những tranh nói về đời sống tâm linh riêng của dân tộc mình, những sự tích, những quan hệ với thần tiên của người Tày hay người Dao. Những bức tranh Dẫn hương đạo là tranh cuốn dài nhưng lại được vẽ theo chiều dọc rất đặc biệt, con người và các vị thần tiên sẽ đi từ thế giới này đến thế giới khác và lên cao nhất tới Cõi thanh hư vô cùng vô tận. Tranh Độ linh mở đầu bằng Long đầu kết thúc ở Hổ vỹ, thực ra chiều đi lại là từ Hổ vỹ đến Long đầu, là diễn biến của các hoạt cảnh con người đi lên với cõi chân nhân, các vì tinh tú rồi cuối cùng cũng đến với Tam Thanh. Nhiều tranh dài khác cũng thể hiện những đám rước kéo dài có tính chất kể chuyện, đặc biệt là tranh dài Hội Lồng tồng (Lễ xuống đồng) xuất phát từ đời sống nông nghiệp (trích một phần từ Lời giới thiệu cuốn sách Tranh thờ Việt Nam, nhà sưu tập Phạm Đức Sĩ, 2009). Chúng ta sẽ từng bước cùng xem xét nội dung và ý nghĩa của các hệ thống tranh thờ dân gian nêu trên, nhằm minh định lại nội dung các câu truyện lịch sử và huyền thoại về thời Hùng Vương huyễn vĩ. Thánh Mẫu Thượng Thiên Theo truyền thuyết dân gian, Mẫu Thượng Thiên cai quản Thiên phủ. Những huyền thoại và huyền tích của Mẫu Thượng Thiên đều có liên quan đến Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Mẫu Liễu Hạnh là vị Thánh xuất hiện muộn, theo các nhà nghiên cứu về văn hóa dân gian Việt Nam, Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện sớm nhất cũng chỉ vào khoảng thế kỷ XVI, thời Hậu Lê. Cũng theo quan niệm dân gian, Mẫu Liễu Hạnh còn có thể hóa thân thành Địa Tiên Thánh Mẫu - Mẹ Đất, cai quản mọi vùng đất đai và đời sống sinh vật. Bà trở thành vị Thần Chủ của Đạo Mẫu được thờ cúng nhiều nhất trong đạo Mẫu Việt Nam. Đền thờ Bà có ở nhiều nơi, nổi tiếng nhất có đền Sòng ở Thanh Hóa và Phủ Giầy ở Nam Định. Thánh Mẫu Thượng Thiên Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Để làm rõ các dị biệt giữa các truyền thuyết khác nhau, dựa trên nền tảng học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và các phương pháp học thuật cổ Đông phương, căn cứ vào bức tranh dân gian Hàng Trống Thánh Mẫu Thượng Thiên. Bố cục và hình Thánh Mẫu Thượng Thiên thể hiện trong tranh ở vị trí trung tâm, với tỷ lệ to gấp nhiều lần các nhân vật khác, tạo ra cách thể hiện làm nổi bật giá trị của bức tranh, do vậy nó đã trình bày được ý nghĩa thần thánh. Đặc điểm này ta còn thấy biểu hiện ở nhiều tranh thờ khác như Thánh Mẫu Thượng Ngàn, Chúa Mẫu Thoải, tranh thờ Đạo giáo, tranh thờ Phật… Trong bức tranh này Thánh Mẫu ngồi trên võng treo giữa cội hoa đào và cây tùng già, mặc áo màu thiên thanh, đầu đội mão mẫu nghi thiên hạ, tay phải cầm quạt tay trái buông thõng khoan thai, 10 ngọc nữ đứng hai bên võng đang dâng lễ vật và phía sau có 2 nàng hầu đang quạt mát cho Thánh Mẫu, hình ảnh của 10 ngọc nữ và 2 nàng hầu chính là biểu tượng của Thiên can và Lưỡng nghi trong học thuyết Âm dương Ngũ Hành. Đồng thời cũng nhận thấy hình ảnh cụ Cóc hướng về Thánh Mẫu, đằng sau cụ Cóc ở giữa là năm động vật dưới nước gồm rắn, cua, tôm, cá, rùa; hai bên võng trước cụ cóc có ngựa hồng và bạch tượng chầu hầu, phía trên hai bên võng một con vượn đang chuyền trên cây tùng già và một con chim én đậu trên cội hoa đào. Nội dung bức tranh toát lên ý nghĩa Thánh Mẫu Thượng Thiên là nhân vật cai quản cả ba cõi là Cõi Trời, Cõi Đất (Thế gian) và Cõi Nước (Cõi Chết, Cõi Âm), mỗi Cõi đều mang tính Âm Dương qua hình ảnh các động vật. Các hình tượng con vật trong bức tranh này có mật ngữ gì? Chúng ta tiếp tục xem xét mối tương quan với nội dung của trò chơi dân gian trong các dịp lễ hội là Bầu Cua Tôm Cá qua bài viết Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc của tác giả Nguyễn Xuân Quang với một ít bổ sung và hiệu chỉnh theo ý kiến của cá nhân. Chúng ta thường gọi là Bầu Cua Cá Cọp nhưng trong thứ trò chơi này chỉ có Bầu, Cua, Cá, Hươu, Tôm và Gà, không có con Cọp. Thật sự ra, nguyên thủy, tổ tiên ta gọi là Bầu Cua Cá Cọc, ngày nay nói sai thành Bầu Cua Cá Cọp. Những hình tượng thú vật và quả bầu trên bàn Bầu Cua đều là những khuôn mặt hiền hòa gần gũi với người dân quê ở đồng ruộng trong khi cọp là một loài mãnh thú hại người sống trên rừng núi. Cọp không ăn khớp với các biểu tượng khác trên bàn Bầu Cua. Bàn Bầu Cua chia làm hai phần: phần các con thú Hưu, Gà, Bầu trên cạn và Tôm, Cua, Cá dưới nước. Bàn bầu cua và con xúc xắc Tham khảo file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Con Hưu cọc: Tiếng cổ Việt Cọc có nghĩa chung là nọc, đực, dương, vật nhọn. Những con thú biểu tượng cho nọc, đực, dương, que, vọt, mặt trời gọi chung là con Cọc. Ở đây, ở cõi đất thế gian, con Hươu đực có sừng, loài thú bốn chân đi trên mặt đất là con Hươu Cọc. Sừng là một thứ Cọc nhọn, mang dương tính. Nhìn vào bàn Bầu Cua ta thấy con Cọc chính là con Hươu ở góc trên bên trái. Con Cọc là con hươu đực có sừng biểu tượng cho Núi Cọc, Núi Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế gian, cho phần Đất dương, dương trần của Cõi Giữa Thế Gian và Cọc cũng mang hình ảnh của Cọc Thế Gian tức Trục Thế Giới. Vua Tổ thế gian của chúng ta là Kì Dương Vương tức Vua Hươu Mặt Trời. Vì vậy mà Kì Dương Vương mới có tên mẹ đẻ là Lộc Tục tức Hươu đực có sừng. Con Hươu là thú biểu của vua thế gian đầu tiên của người Việt là Kì Dương Vương. Con Tôm he: Tại sao gọi là con Tôm? Về ngôn ngữ học, theo biến âm t=n như túm = núm, ta có tôm = nôm, nam. Nôm, nam có một nghĩa là nước (cái nơm, người Nam gọi là cái nôm là một dụng cụ đánh cá ruột thịt với nước có gốc nôm là nước). Con tôm là “con nước”, con nang, con nường, con nòng nên Tôm biểu tượng cho Nòng, dòng âm, Khôn, nước, phái nữ, bộ phận sinh dục nữ. Do đó dân gian Việt Nam mới ví con tôm he (tôm đỏ) với bộ phận sinh dục nữ (he là đỏ. He biến âm với hoe là đỏ như tóc hoe, mắt đỏ hoe, he biến âm với hè là mùa đỏ lửa). Con Tôm trên bàn Bầu Cua thuộc dòng mặt trời thái dương tương ứng với Con Hưu là Thánh Mẫu Thượng Ngàn. Hình ảnh con Tôm He còn xuất hiện trong bộ tranh dân gian Đông Hồ Ngũ Phúc và bức tranh dân gian Hàng Trống Bát Tiên quá hải. Trong trò chơi Tổ Tôm, với hình thể hiện văn hóa Nhật Bản, Tổ Tôm chính là Thánh Mẫu Thượng Ngàn, Thái Dương Thần Nữ của Nhật Bản và bà cũng là Bà Chúa Tằm trong nền văn hóa Việt, Trugn Quốc, Hàn Quốc và Nhật. Con Cua: Con Cua có hai càng ứng với Lưỡng Nghi và bốn cẳng bên phải biểu tượng cho Tứ Tượng dương và bốn cẳng bên trái biểu tượng cho Tứ Tượng âm và như thế tám cẳng ứng với Bát Quái. Con Cua diễn tả Dịch lý trọn vẹn. Con Cua là hình ảnh thế gian đồng ruộng của các Hùng Vương tức đại diện các dân tộc, đại diện cho toàn bộ các vua Hùng kể từ vua Hùng Vương Thứ ba trở xuống. Quả Bầu: theo truyền thuyết Mường Việt, con người sinh ra từ quả bầu. Người Kinh từ quả Bầu chui ra trước nên có da trắng và người Mường và các sắc dân vùng cao chui ra sau nên có da đen hơn. Truyền thuyết dân gian Trung Quốc cũng xem quả bầu (Tham khảo Bí ẩn các con số). Đối ứng của quả Bầu là con Cua, như vậy quả Bầu là Cô Ba tức hoàng hậu của vua Hùng Vương thứ ba, người đứng đầu 100 con của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Trong sáu hình biểu tượng trên bàn Bầu Cua Cá Cọc, quả bầu là một thứ thực vật duy nhất khác với năm con vật còn lại là Tôm, Gà, Hươu, Cá và Cua. Quả Bầu là loài thực vật trông “cọc cạch” và cách biệt, không cùng loại với các loài động vật còn lại. Đây là một chủ ý dùng quả Bầu để hàm ý sinh tạo, tạo hóa. Truyền thuyết Mẹ Âu Cơ đẻ ra “cái bọc nở ra một trăm người con trai”, cái bọc mang dương tính đúng với nghĩa của cụm từ đẻ bọc điều. Bức tranh dân gian Hàng trống Vạn đại tử tôn cũng thể hiện điều này, với hình ảnh 4 bé gái cùng với dàn bầu mang ý nghĩa sinh sôi, nảy nở khắp bốn phương trời. Vạn đại tử tôn Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Con gà trống: Gà trống tức con qué, con que, con cọc, dương. Như thế gà mang dương tính biểu tượng cho dương, phái nam, ngành dương cõi thế gian. Theo văn hóa dân gian, Gà trống mang các đức tính nhân, nghĩa, lễ, trí, tín là biểu tượng của Lạc Long Quân, việc chứng minh gà trống là biểu tượng Lạc Long Quân sẽ được phân tích chi tiết hơn ở các chương mục liên quan. Con Cá Chép: Việt ngữ có từ cá cược có nghĩa là đánh cá, đánh cược, đánh cuộc. Ta thấy rất rõ cá (biểu tượng cho nước thế gian) đi đôi với cọc (là con hươu biểu tượng cho lửa thế gian). Đánh cá cọc, cá cược là đánh “nước - lửa”, đen đỏ, xấp ngửa, âm dương để ăn thua. Ở bàn Bầu Cua Cá Cọc, đánh cược, đánh cuộc là đánh con Cọc, con Hươu và đánh cá là đánh con Cá Chép. Con Cá Chép đối ứng với con Gà trống, như vậy Cá Chép là biểu tượng của Âu Cơ, hoàng hậu vua Lạc Long Quân. Chúng ta chú ý Bàn bầu cua cá cọc có hai phần tách rời, vùng nước và trên cạn. Nếu trên cạn biểu tượng con gà trống là vua Lạc Long Quân thì mẫu Âu Cơ cũng sẽ tương ứng là biểu tượng con gà mái, nếu ở dưới nước mẫu Âu Cơ với biểu tượng con cá chép cái thì vua Lạc Long Quân là biểu tượng con cá chép đực, và cũng tương ứng như vậy đối với các biểu tượng khác. Bàn Bầu Cua Cá Cọc bây giờ được chia thành hai nhóm đối ngẫu: Kinh Dương Vương - Lạc Long Quân – Hùng Vương mang tính dương, trên cạn và và Long Nữ Thánh Mẫu Thượng Ngàn - Chúa Mẫu Thoải - Cô Ba mang tính âm, dưới nước. Như thế, nôm na bàn Bầu Cua Cá Cọc diễn tả trọn vẹn thuyết Âm Dương Ngũ Hành và mang mật ngữ lịch sử Việt Nam. Ta cũng thấy rất rõ Hùng Vương là con của mặt trời lặn Lạc Long Quân là mặt trời mọc hừng rạng trong vòng sinh tạo, là chắt của Đế Minh lại sinh ra cụ mặt trời buổi sáng Đế Minh, Đế Minh lại sinh ra ông mặt trời giữa trưa Kỳ Dương Vương, Kỳ Dương Vương sinh mặt trời lặn Lạc Long Quân. Chúng ta có thể biểu diển qua phương hướng như sau: Kinh Dương Vương – phương Đông; Hùng Quốc Vương - phương Tây; Đế Minh - phương Nam và Lạc Long Quân - phương Bắc. Quy luật vòng tròn Hậu Thiên Bát quái và đối ứng Âm Dương này đã ghi lại rõ ràng trong ca dao tục ngữ: Sinh con rồi mới sinh cha, Sinh cháu giữ nhà, rồi mới sinh ông. Ta thấy bàn Bầu Cua Cá Cọc diễn tả các Tổ Mặt Trời của chúng ta đúng theo chu kỳ ngày đêm: đó là mặt trời buổi sáng Đế Minh (có vợ Vụ Tiên là mặt trời buổi tối) rồi đến mặt trời giữa trưa Kỳ Dương Vương (có vợ Thần Long là mặt trời nửa đêm), kế tiếp là mặt trời lặn Lạc Long Quân (có vợ Âu Cơ là mặt trời mọc rạng ngày) và tiếp theo là mặt trời mọc hừng rạng Hùng Vương (có vợ Cô Ba là mặt trời lặn đĩa tròn chạng vạng). Kết hợp hình ảnh con tôm, cá, cua trên bức tranh dân gian Hàng Trống Thánh Mẫu Thượng Thiên và nội dung bàn Bầu Cua Cá Cọc, thì rất hợp lý bởi Tôm, Cá, Cua là con cháu của Thánh Mẫu Thượng Thiên. Bức tranh thể hiện tứ đại đồng đường với con là Thánh Mẫu Thượng Ngàn, cháu là Âu Cơ và chắt là Cô Ba. Như vậy, bức tranh Thánh Mẫu Thượng Thiên đã dư ra hình con rùa, một số bức tranh khác lại không thấy hình con rùa mà chỉ vẽ bộ ba con rắn, cá, cua mà thôi. Trong bức tranh Thánh Mẫu Thượng Thiên, vị trí Mẫu là trung tâm bức tranh, giữa ba cõi, với Cõi Trời đại diện là chim én và con vượn, Cõi Đất là con voi và con ngựa, Cõi Nước có ba con tôm, cua, cá như trên, điều này chỉ ra tính bất hợp lý ở Cõi Nước là chỉ cần hai con đại diện. Vì con Cua mang đầy đủ ý nghĩa Dịch lý, con Tôm he thể hiện tính cực dương còn Cá chép lại mang tính âm hơn, cho nên Cõi Nước rõ ràng chỉ có hình ảnh của con tôm và con cá. Bức tranh mang ý nghĩa hàm súc là trong cả ba Cõi đều mang tính Âm Dương đối ngẫu. Trong mặt trống đồng Ngọc Lũ, chúng ta thấy có bốn cõi: Thượng Thiên, Cõi Trời, Cõi Đất và Cõi Nước, lúc này Thánh Mẫu Thượng Thiên là người cai quản Cõi Thượng Thiên hoàn toàn tương ứng với bức tranh. Theo nội dung bài thơ giáng bút trong Kinh Đạo Nam, tác giả Đào Duy Anh sưu tập và khảo chứng, thì người đứng vai trò chủ chốt lãnh xướng Thiện đàn là một Thánh nữ Đệ Nhất Thánh Mẫu Vân Hương Liễu Hạnh, như vậy chúng ta có thể nhận định Thánh Mẫu Thượng Thiên chính là Mẫu Liễu Hạnh và cũng chính là Đệ Nhất Thánh Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát tức mẫu của vua Kinh Dương Vương. Theo các nhà nghiên cứu, bà là một trong Tứ Bất Tử của nước ta: Mẫu Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử, Tản Viên Sơn Thánh và Thánh Gióng. Thánh Mẫu Liễu Hạnh, vị thần nữ lạ lùng nhất trong các nữ thần Việt Nam vừa hiện thực vừa huyền ảo, cách đây 100 năm, Giá Sơn Kiều Oánh Mậu (1854-1912) đã viết: “Bà là Phật, là Nho, là Tiên, là Thánh. Bà là tất cả!”. Theo cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, tác giả Nhóm nghiên cứu thời tiền sử, thì tượng Hương Vân cái Bồ Tát tại chùa Vân La ở Hà Đông, Hà Tây có thêm đứa bé đứng bên cạnh đấy chính là vua Kinh Dương Vương. Tượng Hương Vân cái Bồ Tát Chùa Vân La ở Hà Đông, Hà Tây, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Theo Cổ lôi ngọc phả truyền thư, ngày đản sinh của Hương Vân Cái Bồ Tát là ngày 8 tháng Tư âm lịch, trùng với ngày Phật Đản. Theo gia phả ghi nhận trong cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, Nguyễn Minh Khiết, Minh Công, Khương Thái Công, lấy Bà Đỗ Quý Thị, húy Ngoan, hiệu Hương Vân Cái Bồ Tát, sinh 1 con trai Kinh Dương Vương (húy Lộc Tục). Bà hai Vũ Thị Huề sinh 5 con trai, tổng cộng có 6 con trai, như vậy khả năng Hương Vân Cái Bồ Tát là hình ảnh của nàng Man Nương trong câu truyện Nàng Man Nương là rất khó xảy ra. Trong Chương II: TIẾNG TRỐNG HOÀNG KIM, Thánh Mẫu Thượng Ngàn chính là Phật Man Nương, đối chiếu với nhận định trên thì hoàn toàn chính xác. Hương Vân Cái Bồ Tát là pháp hiệu của Cụ bà Đỗ Quý Thị, Cụ tu theo đạo Sa Bà (Sa Môn giáo) đắc đạo và Đạo Tiên tôn bà là Đệ Nhất Thiên Tiên Thánh Mẫu. Đạo Tiên còn gọi là Đạo Nội thờ “Tam tòa Thánh Mẫu”. Dân tộc Mường còn gọi tên Cụ thân mật là Bà Chúa Xứ Mường, hay Bà Chúa Sơn Trang, hay Mẫu Đầm Đa. Thủy tổ Đỗ Quý Thị tức bà Vụ Tiên Nương (trích từ Ngọc phả truyền thư của Từ đường họ Nguyễn - quyển 1, trang 83, cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ), sinh ở Ngõ Hồ, hóa ở Phong Châu, mộ ở Nội Vũ, chùa Đại bi, làng Ỷ La. Như vậy nhận định trên trùng khớp hoàn toàn với truyền thuyết dân gian Con Rồng cháu Tiên. Theo kết quả nghiên cứu trong tập sách nêu trên, đền Bạch Mã, nơi thờ thần Long Đỗ, trấn phương Đông của thành Thăng Long, thần Long Đỗ hay Long Đỗ Đại Vương chính là cha ruột của Thánh Mẫu Thượng Thiên tức Hương Vân Cái Bồ Tát cũng là Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Vua cha Bát Hải Động Đình Đền Đồng Bằng, Quỳnh Phụ, Thái Bình file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Liễu Hạnh Công chúa được thờ ở rất nhiều nơi như phủ Giầy, Nam Định, phủ Tây Hồ và đền Sòng Sơn Vọng Từ, phố Tôn Đức Thắng, Hà Nội, đền Dâu Tam Điệp, Ninh Bình, đền Sòng và đền Phố Cát, Thanh Hóa,... trong đó, đền Phủ Giầy ở Vụ Bản, Nam Định là nơi quan trọng nhất. Hàng năm, đến ngày húy của bà, dân chúng đi trẩy hội rất đông, đặc biệt là ở hội Phủ Giầy vào ngày 3 tháng Ba âm lịch. Vua cha Bát Hải Động Đình tức Long Đỗ Đại Vương là cha của bà Chúa Liễu tức Thánh Mẫu Thượng Thiên. Đền Động Đình Hồ Nam, Trung Quốc, ảnh tác giả Nguyễn Xuân Quang file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Tại đảo Quân Sơn trong hồ Động Đình có một ngôi đền gọi Đền Động Đình, thờ vị Thần ở hồ Động Đình. Đền bị phá hủy vào thời chiến tranh Nhật - Trung và được xây cất lại vào năm 1997. Đền thờ một vị thần mặt sắt đen. Truyện thần hồ Động Đình là câu chuyện dân gian của Li Zhaowei viết từ một truyền thuyết của hồ Động Đình và đã được phổ biến rộng dãi trong dân gian, trở thành một trong những câu chuyện dân gian nổi tiếng của Trung Quốc. Thánh Mẫu Liễu Hạnh Tượng đồng (1871) ở Phủ Quảng Cung, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Tương truyền Mẫu Liễu Hạnh có 3 lần giáng sinh xuống cõi trần. Phủ Quảng Cung (Phủ Nấp, Phủ Quảng Nạp), một nơi mà theo thánh tích chính là nơi giáng sinh đầu tiên của Thánh mẫu Liễu Hạnh thì lại ít người biết đến. Mặc dù câu đối ở Phủ Dày có nhắc đến Phủ Quảng Cung, thôn Vỉ Nhuế, huyện Ý Yên, Nam Định, rằng: “Tam thế luân hồi, vu Vỉ Nhuế, vu Vân Cát, vu Nga Sơn, vu Sòng - Lạng - Tây Hồ, ngũ bách dư niên quang thực lục. Lịch triều ba cổn, vi Đế nữ, vi Đại vương, vi chúng mẫu, vi Thánh - Thần - Tiên Phật, ức niên vạn cổ điện danh bang (Ba kiếp giáng trần, ở Vỉ Nhuế, ở Vân Cát, ở Nga Sơn, Sòng (Sơn) - Lạng (Sơn) - Tây Hồ, hơn năm trăm năm ngời sử sách. Các triều phong tặng, là Đế Nữ, là Đại Vương, là Thánh Mẫu, là Thánh - Thần - Tiên - Phật, ngàn năm vạn thuở rạng non song (Những phát hiện mới về Thánh Mẫu Liễu Hạnh, tác giả Nguyễn Xuân Diện). Lễ hội Mẫu Liễu hàng năm được tổ chức vào ngày 3 tháng Ba âm lịch, đó là ngày giỗ của Bà để cầu cho quốc thái, dân an, mọi gia đình an khang thịnh vượng. Lễ hội thường kéo dài vài tuần lễ, riêng lễ hội Phủ Dày, còn gắn liền với Hội chợ Viềng họp vào ngày 7 tháng Giêng, rất đông vui. Ngày hội này mang ý nghĩa hoàn toàn tương tự “Ngày Phụ nữ thế giới” hôm nay. Bà đã được các triều đại phong kiến thời Lê đến thời Nguyễn cấp nhiều bằng sắc, tôn phong là “Mẫu nghi thiên hạ”, “Mẹ của muôn dân”. Hầu hết các làng xã và các đô thị ở nước ta đều có đền thờ Mẫu Liễu rất tôn nghiêm. Theo cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh Việt cổ, tập III, trang 145: khắp đất nước, các chùa chiền đều đặt trước Tam Bảo một tòa tượng Cửu Long. Đó là 9 con rồng tượng trưng cho 9 con suối và 9 ngôi mộ của các vua Hùng đã có công sinh ra 9 họ Hùng Vương thường gọi là Thủy tổ Cửu tộc. Còn tượng bà Hương Vân Cái Bồ Tát đứng trong vòng Càn Khôn của tòa tượng này. Trong vòng càn không không phải là Thích Ca sơ sinh (vì ở Việt Nam thờ tiền Thánh hậu Phật vì từ Tổ xưa Thần, Phật gắn bó với nhau, thường là một người. Ở các làng thường một bên đền, một bên chùa, đền chùa gần với nhau. Tòa tượng Cửu Long Đứng giữa là tượng Hương Vân Cái Bồ Tát Tượng Phật sơ sinh Chùa Duệ Khánh, Nội Duệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tượng Thích Ca sơ sinh gỗ sơn son thếp vàng Thời Nguyễn, thế kỷ XIX file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Pho tượng Đức Phật đản sinh Chùa Duệ Khánh tức Cổ Châu Tự, thôn Duệ Khánh, xã Nội Duệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Cổ Châu Tự cách chùa Tiêu không xa, và cùng nằm bên bờ sông Tiêu Tương thuở xưa, vết tích sông Tương còn sót lại ngày nay là một chiếc ao nhỏ trong chùa. Tượng tạc cởi trần, mặc váy và có giải thắt nút trước bụng. Hai tai rất lớn, mắt mở to, miệng cười tủm tỉm với má lúm đồng tiền rất rõ ở hai bên, trông rất ngộ nghĩnh. Tay phải giơ lên, khuỷu tay gập lại, hai ngón tay trỏ và giữa duỗi thẳng, còn các ngón khác quặp lại. Tay trái duỗi thẳng và chỉ xuống đất, các ngón tay cũng trong tư thế giống bàn tay phải. Chân thẳng song song với hai vai… Pho tượng đứng trên một bông sen. Trên mặt bông sen có 12 hạt sen nhú lên, có 9 cánh hoa ở lớp trên cùng, lớp giữa cũng có 9 cánh, lớp dưới cùng 8 cánh. Pho tượng bên trong là sắt, bên ngoài bọc một lớp đồng, được mạ vàng. Sau lưng có một lỗ yểm hình vuông mỗi chiều 2.3cm. Khi mới tìm được pho tượng thì bông sen được gắn vào một cái cuống khá dài, nhưng vì không thể đặt đứng được, nên sau đó nhà chùa đã gắn pho tượng vào một đế vuông bằng xi măng. Pho tượng mang hình dáng không giống với bất kỳ pho tượng Phật nào trên đất nước Việt Nam này (“Chùa Duệ Khánh và Pho Tượng Phật Thích Ca Sơ Sinh Bằng Đồng”, bài của tác giả Chu Minh Khôi). Tượng tòa Cửu Long với tượng Hương Vân cái Bồ Tát hình một vị sư sơ sinh trọc đầu mặc váy, đứng trong vòng Càn Khôn với tay trái, biểu tượng dương chỉ lên trời và tay phải, biểu tượng âm trỏ xuống đất, kèm câu nói bất hủ theo truyền thuyết tương truyền là của Đức Phật thích Ca: “Thiên thượng, thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Trong đó, Thiên Thượng chỉ trên trời, tức cõi trời. Thiên hạ chỉ cộng đồng nhân sinh hữu tình từ trên cõi trời hạ cánh xuống cõi đất. Duy ngã độc tôn tức chỉ có “bản ngã” là duy nhất, như vậy câu trên được dịch là “Trên trời, dưới đất, chỉ có bản ngã là duy nhất”. Tượng của Người đứng trong tòa tượng Cửu Long đặt ở các chùa còn có ý nói rằng ở trên trời và ở dưới đất, chỉ có bà là của trăm họ. Đạo Nho tôn Người làm Thánh Mẫu Tiên Thiên, thờ ở Tam Bảo. Tam Bảo chỉ thờ các liệt tổ liệt tông nước Nam được tôn làm Phật, Thánh. Ở đây, Ngã không phải là cái Ta tầm thường thấp kém, mà là cái Bản Ngã của mỗi người, là sự Chấp Ngã (cố chấp cái Bản Ngã). Cái Bản Ngã ấy, sự Chấp Ngã ấy nó to lớn lắm, vĩ đại lắm, cho nên hễ có ai khác đụng chạm đến cái Bản Ngã này thì nó vùng lên phản ứng quyết liệt, cho rằng chỉ có nó là quan trọng nhất, đáng tôn kính nhất. Con người vì chấp Ngã nên coi thường mọi người mọi vật, coi thường cả Trời Phật, nên si mê ám muội, không học hỏi được điều gì nên không tiến hóa được bước nào, lại gây ra nhiều ác nghiệt tội tình, nên cứ lẩn quẩn trong vòng lục đạo. Cho nên, câu ấy là để Phá Chấp, Phá Mê, thố lộ Tâm pháp thượng thừa. Vì chấp cái Ta Phàm ngã hữu hình nên không thấy được cái Ta Chân ngã vô hình. Chính cái Chân ngã này mới thật là Ta, vĩnh viễn là Ta, chớ cái Phàm ngã chỉ là cái Ta giả tạm, vì nó là hữu hình nên hữu hoại, nhiều lắm là trăm năm cũng phải tan rã. Cái Ta Chân ngã ấy là gì? Đó là linh hồn, chân linh, là Atma, là thần thức... tùy theo tên gọi của mỗi tôn giáo và mỗi dân tộc. Khi biết được cái Chân Ngã quý báu ấy thì ta mới lo trau giồi cho nó tinh anh, đặng thấy rõ đạo pháp cao siêu mầu nhiệm, để trở về với chân lý thâm uyên huyền diệu. Ta sẽ tìm được ta trong cái bản lai diện mục của ta, trong ánh sáng nhiệm mầu của chân lý hằng hữu bất biến (trích từ cuốn Cao Đài từ điển). Theo lệ truyền thống của Phật giáo từ xưa đến nay, mỗi khi khai kinh kệ, đầu tiên phải thỉnh cầu: “Nam mô Hương Vân Cái Bồ tát Ma Ha Tát, nghĩa là: chúng con xin quy y theo mẹ Hương Vân Đại Thánh Bồ Tát”. Trong một số sách, cụ thể là trong sách kinh về lễ Vu Lan (Lễ nhớ ơn mẹ) do Hội Phật giáo Việt Nam xuất bản, phát hành còn ghi rõ câu này (3 lần) khi tán hương, tiếp theo đó mới thỉnh câu: “Nam Mô thích Ca Mâu Ni Phật”. Ngày hóa của bà là ngày 15 tháng Bảy âm lịch, ngày này được lấy làm ngày xá tội vong nhân hay còn gọi là ngày “Trung Nguyên xá tội”. Miếu thờ cụ Đỗ Quý Thị Ba La, Văn Khê, Hà Đông, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Lễ hội Phật Đản đã được tổ chức rất trọng thể, một nghi thức quan trọng của ngày hội này là tắm Phật. Tới ngày, người ta "Mài trầm hương, hòa hương với nước đem tắm tượng Phật. Dùng bánh tròn tinh khiết để dâng cúng". Ngày nay, người ta thường dùng nước ngũ vị hương nước nấu bằng các hoa cỏ thơm tắm lên tượng Phật. Cái khăn lau tượng bằng vải đỏ cũng được xé ra chia cho mỗi người một mảnh để cầu phúc. Lễ tắm Phật ở Việt Nam còn gắn liền với tín ngưỡng cầu mưa của người nông dân, người ta tin rằng, trong ngày mồng 8 tháng Tư âm lịch, trời thế nào cũng mưa để lấy nước tắm Phật. Và ngược lại, người nông dân Việt Nam tin rằng, ngày 8 tháng Tư mà không mưa thì mùa màng sẽ mất, ca dao có câu: Mồng tám tháng Tư không mưa, Vứt cả cày bừa mà lấp ruộng đi. Gia phả họ Nguyễn ở Vân Nội trong cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, Nhóm nghiên cứu thời tiền sử: Bà Ngoan tu hành ở động Tiên, Hòa Bình, có 8 người em giúp đỡ, được xưng tụng là Sa Bà Giáo chủ, gia thần, đệ tử rất đông. Khi Đế Minh mất, Kinh Dương Vương cho xây Đại Bi Tự ở Ba La, rồi lại xây dựng Bảo Sái Lôi Âm để đón mẹ về ở, thuyết pháp giáo lý kinh Đại Thừa ở đây. Ngày nay vẫn còn hai cột đá khắc đôi câu đối rằng: Tây Vực giáng thần y đạo bát, Nam châu hiển giáo giác mê tân. Từ phía Tây giáng thần đến mở đạo thống truyền, Cõi Nam hiển giáo giác ngộ con người ở bến mê. Sa Bà giáo chủ là mẹ của vua Kinh Dương Vương cho nên còn gọi là Thánh Mẫu Tổ, Phật hiệu Hương Vân Cái Bồ Tát, Đại bi tự Ba La, cho nên gọi nơi bà tu hành là Bà La Môn, ba chữ ấy đến nay vẫn còn. Trích Thiệu Tổ Bách Việt từ đường họ Nguyễn làng Vân Nội, Thanh Oai: Bách Việt từ xưa lập quốc chủ, văn hóa tự phát nhưng có quốc đạo là Sa Môn Phật giáo, phụng sự tổ tiên, tôn hiệu là Trời - Đất - Phật - Thánh - Thần - Tiên - Ngọc Hoàng Thượng Đế - Vương Mẫu. Từ vạn cổ Bách Việt đã có đạo, sau 3000 năm, Thái tử người Ấn Độ Tất Đạt Đa mới đến Lại Giã đất Việt tu hành đắc đạo, về nước sáng lập, theo Sa Môn Phật giáo thờ phụng thiên địa sơn thủy bách thần; thỉnh Lôi âm chân kinh ở bảo sái Tây Phương Cực Lạc nước Văn Lang thờ phụng từ Bách Việt Thiệu Tổ về trước, đến đời vua Hùng Duệ Vương gọi là Bách danh chân kinh. Trang 43 tập I. Trời đất, Phật, Thánh, Thần, Tiên đều do con người sáng tạo ra, từ nhân Thần lấy công đức tuyên dương tạo ra từ trước, đời sau cứ thế tuân theo thờ phụng, không phải Phật, Thánh, Thần, Tiên từ trên trời đã có sẵn vậy. Người trong dân gian gọi cha là trời, mẹ là đất, muôn đời xưa và muôn đời sau cũng thế “Cao cao tổ khảo vi Thiên, Cao cao tỷ vi Địa”. Con người ai ai cũng chết, mà chết là đại từ đại bi. Trời đất, Phật, Thánh, Thần, Tiên thờ ở Tam bảo. Vua thì gọi là Thánh - Thượng đẳng thần. Quan thì gọi là Thần - Trung đẳng thần, tùy theo công đức mà nhà nước hay địa phương thờ. Trạng nguyên, tiến sĩ thờ ở Văn chỉ, tại đình, đền, miếu làng xóm. Ngoại quốc duy nhất chỉ có một người là Thái tử Tất Đạt Đa tức Phật Thích Ca Mâu Ni được thở chung với các vị tổ sư người Việt vì ông theo đạo Sa Môn, đầu tiên tu hành tại Bảo Sái Lôi Âm ở Phong Châu. Theo phả cũ còn nói rõ: “Đây là trung tâm giáo chủ của 37 vương quốc theo đạo Sa Bà. Về sau, Thái tử Tất Đạt Đa đã sang đây ở chùa Sùng Nghiêm, xã Phú Lương ngày nay và đã tu thành chính quả, trở về truyền bá Phật Pháp”. Tại thư viện tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, bác sĩ Trần Đại Sỹ tìm được một tài liệu rất cũ, giấy hoen ố, nhưng chữ viết như phượng múa rồng bay, gồm 60 trang. Ðầu đề ghi: Thiên đài di sự lục Trinh Quán tiến sĩ Chu Minh Văn soạn. Trinh Quán là niên hiệu của vua Ðường Thái Tông, từ năm Ðinh-Hợi (627) đến Ðinh-Mùi (647). Tuy sách do Chu Minh Văn soạn, nhưng dường như bản nguyên thủy không còn. Bản này do người sau sao chép lại vào ðời Thanh Khang-Hy. Nội dung sách có ba phần. Phần của Chu Minh Văn sọan, phần chép tiếp theo Chu Minh Văn, của một sư ni tên Ðàm Chi, không rõ chép vào bao giờ. Phần thứ ba chép pháp danh các vị trụ trì từ khi lập chùa tới thời Khang Hy (1662-1772). Tài liệu Chu Minh Văn cũng nhắc lại việc vua Minh đi tuần thú phương Nam, kết hôn với nàng tiên sinh ra Lộc Tục.Vua lập đàn tại núi này để tế cáo trời đất, vì vậy đài cũng mang tên Thiên đài núi cũng mang tên Thiên đài sơn, Minh Văn còn kể thêm : “Cổ thời trên đỉnh núi chỉ có Thiên đài thờ vua Đế Minh, vua Kinh Dương. Đến thời Đông Hán, một tướng của vua Bà Trưng Trắc tên Đào Hiển Hiệu được lệnh rút khỏi Trường Sa. Khi rút tới Quế Dương ông cùng nghìn quân lên Thiên đài lễ, nghe người giữ đền kể sự tích xưa. Ông cùng quân sĩ nhất định tử chiến, khiến Lưu Long thiệt mấy vạn người mới chiếm được núi. Về đời Ðường để xóa vết tích Việt - Trung cùng Nam Bắc, các quan được sai sang đô hộ Lĩnh Nam mới cho xây chùa tại đây”. Ngoài cổng chùa có hai đôi câu đối: Rời khỏi Nam thành xưng Sư Tổ, Thọ pháp Tây Thiên diễn Phật kinh. Hai câu này ngụ ý ca tụng Thái tử Tất Đạt Đa đang đêm ra khỏi thành đi tìm lẽ giải thoát sau đó đắc pháp ở Tây Thiên, đi giảng kinh. Tuy nhiên chúng ta cũng thấy rằng: trong nội dung câu đối đề cập đến Nam thành và Tây Thiên, vậy thì Nam thành có phải là kinh thành của vua cha Thái tử hay không và Tây Thiên là nơi đâu mà Thái tử đã thọ pháp? Kết hợp với nội dung của các gia phả trình bày ở trên, ta có thể hình dung Nam thành chính là kinh thành nước Văn Lang và Tây Thiên hàm ý Tây Phương Cực Lạc tức mảnh đất của Phật A Di Đà tức thọ pháp đạo của Phật A Di Đà, hoặc cũng là một nơi mà Thái tử đã từng tu hành và đắc đạo, đấy có thể là chùa Tây Phương (tên chữ là Sùng Phúc tự) là một ngôi chùa ở trên ngọn núi Tây Phương ở thôn Yên, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, Hà Nội ngày nay. Gia phả nói rằng Thái tử Đạt Đa đã ở chùa Sùng Nghiêm, dĩ nhiên Thái tử vẫn có thể tu học tại chùa Tây Thiên. Trích dịch: NGỌC PHẢ TRUYỀN THƯ CỦA TỪ ĐƯỜNG HỌ NGUYỄN (quyển thứ 2), CÁC ĐỜI TỔ SƯ, XỨ CỬU LIÊN HOA (2) Tổ ta từ núi Tản Viên xuống dựng nghiệp, làm các nghề: Thầy thuốc, làm ruộng, trồng dâu, nung gạch ngói, rèn kim khí ở miền Tây. Giáo hoá chúng sinh ở Tây Phương Cực Lạc, mở nhà truyền kinh, có công mở nước, có đức che chở cho dân, cho nên đời sau tôn làm Tiên Phật để cúng thờ. Cả thế giới chịu ơn lớn, cùng tôn sư trọng đạo, xin làm đệ tử đều nhớ về Tổ ta, chiêm ngưỡng ở các đền (thờ Thần), các chùa (thờ Phật). Từ núi Tản Viên đến Tây Phương Cực Lạc, Sài Sơn, Thổ Ngoã, Phụng Châu, Tiên Lữ đến tướng địa Phong Châu tạo thành đất tứ linh: Long, Ly, Quy, Phụng; tam đầu (Tam Đảo, Ba Vì); cửu vĩ (9 miếu ở Phong Châu, đó là Cửu Long) truyền đời mãi mãi. Dáng Tứ Linh, Cửu Long tượng trưng cho địa thế. Tổ ta định đô từ Lôi Bằng đến Lôi Phong, Lôi Đỉnh. (Lôi Bằng, đời sơ khai định đô, Lôi Phong đời Kinh Dương Vương; Lôi Đỉnh thời Triệu Vũ Đế). Buổi sơ khai, tên nước là Cực Lạc. Phật hiệu là Di Đà, sinh ra ở Hoà Bình, nơi ở là núi Tản Viên, hóa ở Tây Phương Cực Lạc, mộ ở chân núi. Kỵ ngày mồng 1 tháng Tư. Đế Thiên (Phục Hy) mộ ở Chợ Giời, Sài Sơn (Quốc Oai, Sơn Tây). Kỵ ngày mồng Bốn tháng Tư(3). Địa Mẫu (Mẹ Đất) mộ ở Cực Lạc, bên cạnh chân núi. Kỵ ngày mồng 1 tháng Tư. Mẹ Đất dạy dân chuyên nghề làm ruộng, trồng dâu và chăm lo cứu khổ chúng sinh. Đời sau truy tôn là Địa Mẫu Chân Tiên. Đế Viêm là người mở ra con đường văn minh sớm nhất: đã biết dùng lửa luyện kim, nung gạch ngói, biết se sợi, bện dây may mặc, biết phân định âm dương, ngũ hành, vạch quẻ bát quái. Đế Viêm bị một học trò tên là Hiên Viên làm phản, đuổi Đế Viêm ra ngoài. Vì tuổi già sức yếu, ngài mất ở trên đường sang Phương Bắc. Bà vợ mất ở núi Thổ Ngõa. Đế Khôi, hiệu là Thần Nông mất ở Phụng Châu, sau cải táng đưa về Tỉnh Trung, Đình Sở, huyện Quốc Oai (núi Tiên Lữ, đất Cổ Pháp). Mộ cụ Ông, cụ Bà đều ở khu này. Ngày kỵ mồng 6 tháng Sáu, trong các đền thờ Thần gọi là lễ Hạ điền. (Trên toàn cõi Đông Nam Á, các ngày lễ đầu năm, cuối vụ thượng điền, hạ điền, cơm mới) đều dâng hương làm lễ để nhớ ơn. Hữu Sào, Toại Nhân là bạn thân của Đế Viêm. Khi Hiên Viên mưu phản làm loạn, hai ông cất quân đánh đuổi Hiên Viên ra khỏi bờ cõi. Từ đó, Hiên Viên tự lập bên Bắc Quốc, xưng là Hoàng Đế, đóng đô ở Trường An, khởi nghiệp, giáo hoá dân sinh. Hiên Viên đã học nghề làm ruộng, trồng dâu, học văn tự, luyện kim, nung gạch ngói bên nước Nam của Phục Hy. Hữu Sào, Toại Nhân nhiếp chính giúp Thần Nông giữ nước, yên dân. Khi Thần Nông trưởng thành lên ngôi Thiên Tử, đóng đô ở Phụng Châu, Long Môn, Trầm Sơn (núi Trầm). Hai vị cáo tuổi già về quê ở Sào Vực, chợ Thổ Long, huyện Chương Mỹ, nuôi Quốc Mẫu Diệu Trinh Nương và 3 vương tử văn võ toàn tài cùng giúp Thần Nông giữ yên muôn dân. Hai ông hoá ở nơi này. Thánh Mẫu Liễu Hạnh cũng hay giáng thơ tâm linh ở các đàn cơ của đạo Cao Đài và ở những đền khác, trong tập thơ Tập Khôn - Kinh Đạo Nam, Đào Duy Anh khảo chứng, Nguyễn Thị Thanh Xuân phiên âm và chú thích, Nxb Lao động, 2007, Thánh Mẫu có nhắc nhở bảo tồn và phát triển nền văn hiến ngàn xưa của cha ông: Gieo ngọn đào tiên xuống cõi trần, Âu đành gió bụi tiếc gì xuân. Phá tung giấc mộng năm canh nguyệt, Gọi tỉnh hồn mê một nước dân. Phong hóa nền xưa xây đắp lại. Văn minh vẻ mới điểm tô dần. Thực là cơ hội ngàn năm đó, Trong cõi người ta dễ mấy lần. Mẫu Thượng Thiên được còn được gọi là Cửu Thiên Huyền Nữ, nữ thần nắm giữ vị trí quan trọng nhất trong Đạo giáo, cuốn Thủy Hử, tác giả Bồ Tát Nguyễn Minh Không, tại Hồi 41: “Hoàn Đạo đồ, nhận ba quyển thiên thư - Tống Công minh gặp Cửu Thiên Huyền Nữ” có ghi nhận chuyện này. Theo truyền thuyết dân gian Trung Quốc Hoàng Đế chiến Xuy Vưu thì Cửu Thiên Huyền Nữ đã giúp Hoàng Đế đánh bại Xuy Vưu và trao cho cho các cuốn sách Hoàng Đế Âm phù kinh, Tam cung bí lược, Ngũ âm quyền mưu. Truyền thuyết này sẽ được xem xét và phân tích lại trong các bối cảnh lịch sử. Các nội dung gia phả, những câu truyện cổ tích liên quan đến Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Bà La Môn giáo chính là những dấu vết cao quý đời xưa còn để lại, mang tính nửa hư, nửa thực về nguồn gốc lịch sử của nước nhà. Cửu Thiên Huyền Nữ Trích Thước Lỗ Ban, tác giả Ngọ Vinh, Nxb Hà Nội, 2009 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Trong những bức tranh thờ các dân tộc miền Bắc Việt Nam dưới đây, Thánh Mẫu Thượng Thiên ở phía trên cùng và tiếp theo sau là 7 vị vua Hùng, bắt đầu từ vua Kinh Dương Vương - Hùng Vương I cho tới Thái tử Lang Liêu - Hùng Vương VII. Cung nghênh Thánh Đế (2 bộ) Tranh thờ Đạo giáo miền Bắc, Việt Nam (trích cuốn Tranh thờ Việt Nam, tác giả Đặng Đức Sĩ, 2009) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Thánh Mẫu Thượng Ngàn Thánh Mẫu Thượng Ngàn là thánh mẫu toàn năng trông coi các miền rừng núi, địa bàn chính sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số. Đền thờ Thánh Mẫu Thượng Ngàn có hầu khắp mọi nơi, nhưng có hai nơi thờ chính gắn với hai truyền thuyết ít nhiều có khác biệt đó là Suối Mỡ, Bắc Giang và Bắc Lệ, Lạng Sơn. Theo truyền thuyết liên quan đền Bắc Lệ, Thánh Mẫu Thượng Ngàn là công chúa La Bình, con gái của Sơn Tinh và Mỵ Nương, cháu ngoại Vua Hùng, thường theo cha chu du khắp núi rừng, bảo ban giúp đỡ dân làng, hay tin đó Ngọc Hoàng Thượng Đế khen ngợi và sắc phong cho nàng là Bà chúa Thượng Ngàn . Ở Tây Nguyên, tục thờ Mẫu do người Việt mang vào lại đồng nhất với Âu Cơ - mẹ Tiên, sau khi từ biệt bố Rồng - Lạc Long Quân, đã mang 50 người con trai lên núi sinh sống, phát triển thành các dân tộc thiểu số ngày nay và mẹ Âu Cơ trở thành vị Thánh Mẫu Thượng Ngàn cai quản vùng rừng núi. Bởi thế, các động sơn trang, ở các đền ở Tây Nguyên thường tái hiện sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ. Thánh Mẫu Thượng Ngàn Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Theo cuốn Nguồn gốc dân tộc việt và nền văn minh cổ của Nhóm nghiên cứu thời tiền sử tại Mục III. Ốc tổ Bách Việt Triều Thánh Tổ - Đệ nhất Quảng giáo Kinh Dương Vương (trang 146): “Thánh Mẫu Thượng Ngàn chính là vợ Ốc Tổ Kinh Dương Vương, con gái Động Đình Quân. Bà dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa, có nơi gọi bà là Bà Chúa Tằm. Bà mất vào ngày 3 tháng Ba âm lịch, cho nên từ đó về sau lấy ngày đó là ngày cúng giỗ những bà mẹ, trên dưới lần lượt hết ngày 15 tháng Ba âm lịch. Mộ bà an táng tại cửa làng Văn La, tổng Phú Lãm, đặt tên là Xích Hậu, nghĩa là Hoàng hậu nước Xích Quỷ, hiện mộ vẫn còn. Cả nước xưa lấy ngày này làm quốc lễ, coi nơi ấy là quê hương của vị Quốc Mẫu”. Theo Bách Việt tộc phả Tổ Kinh Dương Vương, húy Quảng, Quốc sử gọi là Lộc Tục, tên chữ là Phúc Lộc, con của Thánh tổ Nguyễn Minh Khiết và Vụ Tiên. Khi nhỏ ở động Tiên Phi tỉnh Hoà Bình, sau ngày đánh thắng Ma Mạc ở Tử Di Sơn, được Phụ Vương phong làm Kinh Dương Vương, cho cai trị đất Kinh Châu, Dương Việt, có chú là Long Cảnh cùng Bát Bộ Kim Cương phù trợ. Khi Đế Minh băng hà, 15 bộ đồng lòng tôn Ốc tổ làm Thiên tử, sau tôn hiệu là Nam Triều Thánh tổ Ngọc hoàng Thượng Đế, hoá ở Phong Châu. Mộ ở núi Hoa Cái. Kỵ ngày 25 tháng Chạp. Ốc tổ lấy con gái Động Đình Quân, tên bà là Đăng Ngàn, về ở núi Nghĩa Lĩnh, hoá ngày 3 tháng Ba âm lịch, an táng ở nơi gọi là Xích Hậu, thôn Văn La, trước cửa đình. Đời sau tôn hiệu là Đệ Nhị Thượng Ngàn Thánh Mẫu. Ốc tổ Kinh Dương Vương và Thánh Mẫu Thượng Ngàn sinh được năm người con, một bị mất sớm, tên gọi năm người con như sau: - Con trưởng là Nguyễn Nghiêm húy là Hùng Nghiêm, đời sau tôn là Phong Thần. Kỵ ngày 16 tháng Mười. Mộ ở sau đình Văn Nội. - Con thứ là Nguyễn Quyền húy là Hùng quyền, tên chữ là Pháp Vân thần mây. Kỵ ngày 7 tháng Chạp. Mộ ở sau đình Văn Nội. - Con thứ ba là Nguyễn Đô, huý là Vũ Thiên Hầu, tên chữ là Pháp Vũ, thần mưa. Kỵ ngày 4 tháng Tư. Mộ ở sau đình Văn Nội. Sau chiêu hồn nhập mộ. - Con thứ tư là Nguyễn Khoản (sử ký là Sùng Lãm) là Lạc Long Quân, tự là Pháp Lôi, thần sấm. Mộ để ở Ba Đống đồng Thượng Bảo Đà. Kỵ ngày 28 tháng Hai. - Con thứ năm là Nguyễn Hoạch, húy là Quang Anh tự là Pháp Điện, thần chớp. Táng tại miếu Công Minh, châu Bảo Hà. Kỵ ngày 15 tháng Năm. Nội dung trích từ Bách Việt tộc phả trên phù hợp với nội dung câu chuyện Nàng Man Nương có vẻ không phải sự trùng hợp ngẫu nhiên khi về Phật Pháp Vân, Pháp Lôi, Pháp Vũ, Pháp Điện và Thạch Quang Phật trong câu chuyện truyền thuyết về Nàng Man Nương chép trong Lĩnh Nam Chích Quái. Ngày đản sinh của Nàng Man Nương là ngày 8 tháng Tư âm lịch cũng trùng vào ngày Phật đản và ngày sinh của Hương Vân Cái Bồ Tát, và các con của bà đều có pháp hiệu giống như Tứ Pháp, bài văn kệ hạnh Cổ Châu Pháp Vân bản hạnh tại Chùa Dâu nói rõ: Hạ thiên mồng 8 tháng Tư, Ngọ thời mãn nguyệt được giờ xuất sinh. Được một nhi nữ tốt lành, Tường vân ngũ sắc bao quanh lấy mình… Chuyện kể rằng ở vùng Thuận Thành, Bắc Ninh, có cô gái 12 tuổi Man Nương đến chùa Phúc Nghiêm học đạo. Trụ trì chùa này là một nhà sư người Ấn Độ tên là Khâu-đà-la. Một hôm, nhà sư tình cờ bước qua người Man Nương lúc nàng nằm ngủ, và nàng thụ thai một cách thần kỳ. Sau 14 tháng, nàng Man Nương sinh hạ một bé gái, đứa bé được nhà sư Khâu-đà-la dùng phép chú đưa vào cây Dung Thụ già. Sau đó, nhà sư trao cho Man Nương một cây gậy thần có thể làm mưa cứu hạn hán cho dân làng. Khi Man Nương 80 tuổi, cây đổ trôi về bến sông Dâu thì không trôi nữa. Thái thú Sĩ Nhiếp nằm mộng phải tạc tượng Phật từ cây Dung Thụ đó nhưng bằng cách nào cũng không kéo được cây lên bờ, chỉ khi có dải yếm của Man Nương kéo vào bờ thì mới kéo cây lên được. Cây Dung Thụ được tạc thành 4 pho tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện mang vào chùa thờ tự. Trong thân cây, con của Man Nương đã hóa thành đá và được gọi là “Thạch Quang Phật”, hiện được thờ tại chùa Dâu. Man Nương mất vào ngày mồng 8 tháng Tư, cũng chính là ngày đản sinh của Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau khi mất, bà được người đời xưng tụng là Phật Mẫu Man Nương. Dân gian có thơ rằng: Dù ai đi đâu về đâu, Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về. Dù ai buôn bán trăm nghề, Tháng Tư, ngày tám nhớ về hội Dâu. Tượng bà Pháp Vân Pháp Vũ Chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg * Tượng Pháp Vân chùa Dâu, chùa Cả phía trước là hộp đặt Thạch Quang Phật Phía trước là một hộp gỗ trong đặt Thạch Quang Phật là một khối đá, tương truyền là em út của Tứ Pháp. Như vậy có thể sơ bộ hình dung rằng Thạch Quang Phật chính là Âu Cơ, hoàng hậu của vua Lạc Long Quân, còn các Phật Pháp Vân, Pháp Lôi, Pháp Vũ, Pháp Điện là Phật hiệu của mỗi đôi vợ chồng con vua Kinh Dương Vương như đã phân tích trong Chương II: TIẾNG TRỐNG HOÀNG KIM. Trong câu chuyện Nàng Man Nương có nói đến Thái Thú Sĩ Nhiếp, nhưng nghi ngờ đây là chi tiết người đời sau thêm vào để nâng cao uy thế. Khả năng các sự kiện trong câu chuyện khó xảy ra. Truyền thuyết nhà sư Khâu Đà La truyền đạo cho nàng Man Nương nói lên đạo Bà La Môn đã tồn tại trong giai đoạn này rồi, và mẹ của vua Kinh Dương Vương cũng đã đi tu và lấy hiệu Hương Vân Cái Bồ Tát, tại thời gian này, Đạo tại nước ta đã truyền tới 37 nước trên thế giới rồi. Theo sử sách thì Đạo Bà La Môn tại Ấn Độ xuất hiện sớm nhất khoảng vào năm 1500 tr.CN và thực sự là quá muộn so với năm mà vua Kinh Dương Vương lên ngôi 2879 tr.CN. Thời gian chênh lệch nhau hơn 1300 năm, thật là một con số quá lớn. Hình tượng cây gậy thần của nàng Man Nương được Kinh Dương Vương trao cho là hình tượng tương đồng với truyền thuyết về cây gậy thần của Chử Đồng Tử và Tản Viên Sơn Thánh, khi dùng gậy thần chống hạn hán, tạo mưa cho nhân gian. Tượng thờ Tứ Pháp rất linh thiêng, đến nỗi vua Minh Đế Đông Tấn (322-325) Trung Quốc cho người sang cướp tượng: Đông Tấn Minh Đế văn chi, Khiến người Đào Khản đương thì Kiến Khang. Sai nghìn quân mạnh trảy sang, Kiệu hòa chẳng nổi, nặng bằng Thái sơn. Ngày sau lại sai ba nghìn, Kiệu Bụt lên ngàn, giữa cõi Long Chi. Quân Tấn ngã xô tứ bề, Đào Khản mất vía đương khi khấu đầu. Một dân tộc Man di lại sinh ra được một vị Phật, vị Phật đó không phải ngẫu tượng mà linh thiêng khôn lường, đem lại mưa thuận gió hòa, hạnh phúc, an lạc cho muôn dân, đến nỗi đấng Thiên tử của Thiên quốc phải cho người sang cướp Phật của Nam Man. Vào thời đại mình, Mâu Tử (165-170) khẳng định: “Đất Hán chưa chắc là trung tâm của trời đất.”. Không có nước nào là trung tâm của trời đất, của vũ trụ cả. Chỉ có đất nước, dân tộc biết lễ nghĩa, biết yêu người thương mình, biết tôn trọng lẽ phải, tôn trọng tự do, công lý mới xứng đáng là trung tâm của trời đất (tham khảo internet). Hằng năm, cứ vào ngày mồng 8 tháng Tư âm lịch, nhân dân địa phương tổ chức lễ hội linh đình được gọi là Lễ hội chùa Dâu. Kèn loa chiêng trống vui thay, Trượng kỳ, ống pháo vang tai đùng đùng. Ngất trời mây phủ hư không, Pháp Vân, Pháp Vũ thần thông uy cường. Pháp Lôi, Pháp Điện tiếng vang, Lễ liền nghiêm sẵn, dọn đường hư kinh. Tinh kỳ chiêng trống rành rành, áo vàng tán tía, tượng hình uy nghi. Mồng tám tháng Tư hội lề, Bà ả, bà dì, bà út làm dâu. Qua những lễ hội như thế, người dân có cơ hội ngồi lại với nhau để ôn lại lịch sử hào hùng của dân tộc, đề ra kế sách bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc qua việc kể Hạnh của các cụ già: “Trong những ngày hội chùa, các bà vãi thường tới chùa kể Hạnh, nghĩa là tụng những bộ kinh nhắc lại sự tích đức Phật và chư vị Bồ tát với đức hạnh của các người. Các bộ kinh được kể bằng thể Hạnh không phải là những bản kinh được dịch từ tiếng Phạn hay tiếng Hán sang tiếng Việt mà là những bản kinh được viết bởi người Việt để gởi gắm tâm tư, tình cảm của dân tộc Việt Nam trong công cuộc bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, đó là Lục Độ Tập Kinh, Cổ Châu Phật Bản Hạnh...”. Theo cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, ngày 3 tháng Ba âm lịch là ngày mất của Cụ Bà Thanh Minh, Động Đình Tiên Nữ, vợ vua Kinh Dương Vương và ngày này được lấy làm quốc lễ, ngày giỗ chung cho các bà mẹ. Ngày giỗ của các bà mẹ được tổ chức trước ngày giỗ các vua Hùng 10 tháng Ba âm lịch đúng trọn một tuần. Thanh minh thượng hà đồ Tranh đời Tống, Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Hàng năm cứ đến ngày mồng 3 tháng Ba âm lịch là ngày Tết Thanh minh, dân gian thường làm bánh trôi bánh chay để cúng mẫu Thượng Ngàn, bà chúa nghề trồng dâu nuôi tằm, được dân gian tôn sùng là Nam phương Thánh mẫu. Nhân dân Văn Lang biết ơn Nam Phương Thánh Mẫu nên khi bà qua đời, suy tôn là Bà Chúa Tằm, bà Chúa Lĩnh Nam. Dân gian làm bánh trôi bánh chay dâng lên Thánh Mẫu với tất cả lòng thành kính. Bánh trôi làm bằng bột nếp nhào nặn với nước bọc nhân đường phèn bên trong. Sau khi nặn xong, bánh được thả vào nồi nước sôi. Bánh chìm xuống rồi nổi lên, năm lần bảy lượt đến chừng nào nổi hẳn lên mặt nước thì được vớt ra bày vào đĩa. Bánh chay cũng làm bằng bột nếp nhào nặn với nước nhưng nhân bằng đậu xanh bỏ vỏ, giã nhuyễn rồi cho vào nồi nấu chín. Bánh chay làm xong cũng thả vào nồi nước sôi như bánh trôi, đợi khi nào bánh nổi lên thì vớt ra cho vào bát nước đường đợi khi thật nguội ăn mới ngon. Thanh minh trong tiết tháng Ba, Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh. (Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du). Tết Thanh Minh là cái tết quan trọng hằng năm của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng…, mỗi năm chỉ có một ngày, dù ai đi đâu, ở đâu đến ngày mùng 3 tháng Ba cũng về với gia đình để được đi tảo mộ, để cùng nhau ngồi bên mâm cơm sum họp gia đình. Những khu nghĩa trang hoặc ở nơi có mộ, hôm nay nghi ngút khói hương, các mâm cỗ đa dạng đồ lễ để cúng tổ tiên. Những ngôi mộ được người nhà dọn dẹp sạch sẽ, vun đắp thêm đất mới, đó là những tâm đức của người đang sống đối với người đã khuất. Ngày này gia đình nào cũng làm một mâm cơm đầy đủ xôi cẩm đỏ, đen các loại, thịt gà, bánh, kẹo, hoa quả để làm lễ cúng. Ngày nay mặc dù mọi người đều bận rộn với công việc, lo toan cuộc sống, nhưng họ đều dành chút thời gian để làm những món bánh truyền thống của ngày mùng 3 tháng Ba. Họ thường làm nhiều loại như: bánh củ chuối, bánh chứng kiến, bánh gai, bánh mật…để treo trên gác bếp của nhà sàn trông thật hấp dẫn. Ngày mùng 3 tháng 3 đã được nhiều người Bắc Kạn coi như ngày Tết thứ hai trong năm, truyền thống đó vẫn được giữ gìn và tổ chức. Trong Đạo giáo, Thánh Mẫu Thượng Thiên là Cửu Thiên Huyền Nữ còn Thánh Mẫu Thượng Ngàn chính là Tây Vương Mẫu, hoàng hậu của vua Kinh Dương Vương tức Ngọc Hoàng Thượng Đế. Tây Vương Mẫu còn gọi là Vương Mẫu nương nương, Diêu Trì Kim Mẫu, là vị nữ thần trong truyền thuyết, có diện mạo là một bà già hiền lành. Tương truyền Vương Mẫu sống ở cung Dao Trì (Diêu Trì) núi Côn Lôn, trong vườn của bà có trồng cây đào tiên, 3.000 năm cây mới ra quả, 3.000 năm sau nữa quả mới chín, tương truyền ăn vào trẻ mãi không già. Tây Vương Mẫu cùng các vị thần rong ruổi trên cõi trời trên chiếc xe do hạc kéo Tranh vẽ động Đôn Hoàng, khoảng 535-556, Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Tây Vương Mẫu chủ quản cung Diêu trì trên thiên đình, là thần Thái âm, cùng với Đông Vương Công tạo thành khí âm dương nuôi dưỡng trời đất, uốn nắn vạn vật. Mỗi con người trong nhân gian khi đắc đạo thành tiên đều đến lạy tạ Đông Vương Công thì cũng lạy tạ Tây Vương Mẫu. Tương truyền này 3 tháng Ba âm lịch, chúng tiên trên thế giới đều tập trung tại cung Diêu trì chúc thọ Tây Vương Mẫu. Bức tranh Nhà trời trong bộ tranh thờ dân tộc Tày, Mẫu Thượng Ngàn là người ở hàng thứ hai từ trên xuống, hình ảnh 5 đức bé bá vai nhau đi chung quanh hồ nước chính là 5 người con trai của bà. Nhà Trời Tranh thờ dân tộc Tày, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Phả còn chép vợ Kinh Dương Vương là bà Xích hậu (hoàng hậu nước Xích Quỉ), có tên húy là Động Đình Tiên Nữ (Hồng Đăng Ngàn). Bà là con gái Động Đình Quân, được dân gian tôn làm Quốc mẫu - Ngọc Tỉnh Thần Nữ - nàng cả Đại Vương, còn gọi là Mẫu Đệ nhị Thượng Ngàn, được thờ ở đền Tiên Cát, Việt Trì Phú Thọ. Như vậy truyền thuyết dân gian về Mẫu Thượng Ngàn dạy dân trồng dâu, nuôi tằm là hoàn toàn chính xác, khi mà ngôi chùa này mang tên là chùa Dâu, nơi phát tích ý nghĩa tôn thờ Tứ Pháp. Có bài thơ rằng: Một dãy giang sơn dệt gấm hoa, Ngàn năm văn hiến tổ tiên ta. Nền xưa vun đắp nhờ con cháu, Cho rạng năm châu rỡ đạo nhà. Chúa Mẫu Thoải Là vị nữ thần trị vì vùng sông nước, xuất thân từ dòng dõi long vương, liên quan trực tiếp với thủy tổ dân tộc Việt buổi đầu dựng nước. Huyền thoại và thần tích có nhiều dị bản, một trong những dị bản bà là vợ của Kinh Dương Vương, con gái của Long Vương ở Động Đình Hồ, dị bản khác Mẫu Thoải là nhiều Bà, vốn là con gái Lạc Long Quân, trong đó ba người được trông coi song biển nước Nam, đó là Thủy Tinh Động Đình Ngọc Nữ Công Chúa, Hoàng Bà Đan Khiết Phu Nhân và Tam Giang Công Chúa. Các Mẫu Thoải trông coi việc song biển, làm mưa, chống lũ lụt, khi có hạn cũng phải cầu đảo các bà, các bà còn giúp các vị tướng lĩnh hay nhà vua đi chinh chiến dẹp giặc. Chúa Mẫu Thoải Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Chồng bà nghe lời Thảo Mai, đưa bà đi đày vào nơi rừng sâu, núi thẳm. Vì là người ngay thẳng, nhân hậu, nên bà được muông thú đem đồ ăn, thức uống dâng nạp. Về sau, có người sĩ tử là Liễu Nghi đi ngao du sơn thủy gặp được bà. Bà nhờ Liễu Nghi gửi thư đến cha là Lạc Long Quân, bày tỏ nỗi oan ức. Nhận được thư, Đức Lạc Long Quân nổi giận, cho bắt Kình Xuyên và trị tội Thảo Mai. Trong dân gian cho tới những năm 60 của thế kỷ trước, người viết vẫn còn nghe thấy những người phụ nữ hay dối trá bị gọi là “Thảo Mai”, cũng giống như nam giới phụ tình bị gọi là “Sở Khanh” vậy. Điều này chứng tỏ câu truyện về bà chúa Mẫu Thoải phổ biến khá sâu rộng trong dân chúng. Như vậy, bức tranh mang tính minh họa cho một truyền thuyết, có quan hệ tới truyền thuyết về thời lập quốc của dân tộc Việt. Hiện tượng Đức Lạc Long Quân có con gái đã khẳng định truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên với nội dung ghi nhận Tổ phụ Lạc Long Quân lấy Tổ mẫu Âu Cơ sinh một bọc trăm trứng, nở ra 100 người con trai chỉ là một biểu tượng mang tính mật ngữ về cội nguồn lịch sử và văn hóa của người Lạc Việt. Truyền thuyết về Đức Mẫu Thoải khẳng định cội nguồn xuất xứ của dân tộc Việt từ hàng ngàn năm, như truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên đã ghi nhận: Nước Văn Lang Bắc giáp Động Đình hồ, Nam giáp Hồ Tôn, Tây giáp Ba Thục, Đông giáp Đông Hải. Bách tử (Trăm con) Tranh dân gian Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Mẫu Thoải là “Bà Mẹ Nước” nguyên ngữ là Mẫu Thủy, dân gian tôn kính nên đã đọc trại âm là Mẫu Thoải. Chúng ta cũng đã biết Lạc Long Quân là vua Cõi Nước, Cõi Âm, Cõi Chết và trong đạo Mẫu, Mẫu Thoải có vị trí thứ ba sau Thánh Mẫu Thượng Thiên và Thánh Mẫu Thượng Ngàn, như vậy không còn nghi ngờ gì nữa, Mẫu Thoải chính là Âu Cơ, là “Bà Mẹ Nước”, Đệ Tam Thánh Mẫu. Trong những bài chầu văn cúng Mẫu Thoải ở đền Đồng Bằng, Thái Bình có đoạn: Trạnh Giang Biên dòng dòng lai láng, Nguyệt lầu lầu soi nắng Nam Ninh. Ngài con vua thủy Động Đình, Cổ tiên thần nữ giáng sinh đền rồng. Tài gồm đủ công, dung, ngôn, hạnh, Nét ôn hòa ưa tính thiên nhiên... Từ các dị bản trên cùng nội dung bài chầu văn, vua thủy Động Đình Hồ chính là vua Kinh Dương Vương được kế thừa vùng đất của ông ngoại Bát Hải Động Đình. Một điều đáng chú ý là trong các giá đồng Thánh Mẫu Thượng Thiên bao giờ cũng mặc trang phục màu đỏ, Chúa Mẫu Thoải mặc trang phục màu trắng, Thánh Mẫu Thượng Ngàn trang phục màu xanh lá cây. Tượng Mẫu Âu Cơ Sùng Quang Tự, Bình Đà, Hà Tây, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên là truyền thuyết lịch sử đầu tiên trong cụm truyền thuyết lịch sử thời Hùng Vương. Ngoài ý nghĩa trực tiếp nhắc đến lịch sử giai đoạn đầu lập quốc của dân tộc Việt, thì trong truyền thuyết này còn hàm chứa những mật ngữ ghi nhận cội nguồn và lý giải sự huyền bí của nền văn hoá Đông phương. Truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên đã ghi nhận: Kinh Dương Vương đi tuần thú ở Động Đình Hồ, gặp và lấy nàng Long Nữ, sinh Lạc Long quân, Tổ phụ Lạc Long Quân thuộc giống Rồng lấy Tổ mẫu Âu Cơ thuộc giống Tiên, sinh được một bọc chứa 100 trứng, nở thành 100 người con trai. Tổ phụ đưa 50 người con xuống biển. Tổ mẫu đưa 50 người con lên núi, lập nước Văn Lang và người con cả lên ngôi vua là Hùng Vương Thứ nhất. Nước Văn Lang chia làm 15 bộ… Đây là hình ảnh biểu tượng được thần thoại hóa, trong đó gửi gắm những ý tưởng của cha ông truyền lại cho đời sau về nguồn gốc Lạc thư - Hà đồ và thuyết Âm Dương Ngũ hành, khẳng định sự kỳ vĩ của nền văn minh Văn Lang, niềm tự hào của người Lạc Việt. Hình ảnh biểu tượng này được lý giải và trình bày như sau: - Cái bọc trứng là sự thể hiện tính bao trùm của vũ trụ với sức mạnh kỳ vĩ trong đó chứa đựng tri thức của một nền văn minh mà sự phát xuất nguyên thủy của nó chính là Thái cực. Tượng của Thái cực là hình tròn, là Dương khi phân biệt Âm Dương. - Một trăm quả trứng (tức là 100 vòng tròn): Đó là tổng độ số của Lạc thư - Hà đồ, gồm: Độ số của Lạc thư là 45; độ số của Hà đồ là 55; tổng độ số của Lạc thư - Hà đồ đúng 100 vòng tròn. Trong đó có 50 vòng tròn đen thuộc Âm, tương ứng với 50 người con trai theo Tổ mẫu Âu Cơ và 50 vòng tròn trắng thuộc Dương, tương ứng với 50 người con theo Tổ phụ Lạc Long Quân. - Lạc thư thuộc Dương (cái có trước) với độ số Dương 25 so với độ số Âm là 20; nhưng thể hiện lý tương khắc thuộc Âm. Hà đồ thuộc Âm (cái có sau) với độ số Âm là 30 so với độ số Dương là 25. Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm là nguyên lý bản căn của lý học Đông phương; tương ứng với 50 người con theo Mẹ (Âm) lên núi (Dương). Và 50 người con theo Cha (Dương) xuống biển (Âm). - Âm thuộc hình thể nên những người con theo Mẹ lên lãnh đạo đất nước Văn Lang. - Trong truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên thì: * Rồng là biểu tượng của sức mạnh vũ trụ. * Tiên là biểu tượng của sự thông thái, sáng suốt thuộc về tri thức của con người. * Sự kết hợp Rồng Tiên là biểu tượng của sự kết hợp giữa tri thức con người và sức mạnh vũ trụ; bắt nguồn từ sự nhận thức của con người với sự vận động của vũ trụ, mà tiền đề của nó là thuyết Âm Dương Ngũ hành và Lạc thư Hà đồ. Sở dĩ 100 trứng không nở ra 50 con trai (Dương) và 50 con gái (Âm), vì Lạc thư Hà đồ thuộc giá trị tinh thần nên được hình tượng bằng con trai (Dương). Con số 15 bộ hành chính của nước Văn Lang, chính là tổng độ số của ma phương Lạc thư khi cộng ngang, dọc, chéo. Đây là sự vận dụng những qui luật vũ trụ trong việc điều hành đất nước. Trong Lạc thư Hà đồ đã bao gồm lý của Âm Dương Ngũ hành như đã trình bày ở trên. Xin xem hình sau đây: Độ số Lạc thư = 45 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Độ số Hà đồ = 55 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Tổng độ số của Lạc thư và Hà đồ đúng bằng 100 Biểu tượng Lạc Thư 45 vòng tròn file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Biểu tượng Hà đồ 55 vòng tròn file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Tổng số vòng tròn trong Lạc thư và Hà đồ bằng 100 Trong đó: 50 vòng tròn đen (Âm) và 50 vòng tròn trắng (Dương) Mẫu Thoải là Mẫu Âu Cơ, có tên húy là Mỹ. Bà là con gái của Đế Lai và là vợ Lạc Long Quân. Bà là người hiền đức, kế nghiệp mẹ chồng dạy dân chăn tằm dệt lụa. Đời chúa Trịnh tặng cho Bà họ Ngô và mỹ tự “Thục đức đoan trang công chúa”, thụy là Căn Kỷ Công chúa. Bà được thờ nhiều nơi. Ở chùa Sùng Quang Tự ở Bình Đà, Hà Tây có tượng thờ Bà và tượng thờ Lạc Long Quân. Kỵ ngày 5 tháng Năm âm lịch mà dân gian hay gọi là ngày Tết Đoan Ngọ. Ngày mùng 5 tháng Năm âm lịch hàng năm là một ngày lễ hội truyền thống không chỉ ở Việt Nam mà còn ở một số nước Đông Á khác là Triều Tiên, Nhật Bản và Trung Quốc. Tết Đoan Ngọ tồn tại từ lâu trong văn hóa dân gian Đông phương và có một ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt văn hóa. Tết Đoan Ngọ còn gọi là Tết Đoan Dương, Tết Hàn thực vì trong ngày này theo tục lệ kiêng ăn món đồ nóng. Ngày này cũng còn gọi là ngày giết sâu bọ. Vì người ta tin rằng: khi ăn món ăn đầu tiên trong ngày này thì sâu bọ, giun sán trong người sẽ bị chết hết. Truyền thuyết về lịch sử ngày mùng 5 tháng năm thì lưu truyền rằng: vào thời Xuân Thu, có ông Giới Tử Thôi theo phò Tấn Văn Công (Công tử Trùng Nhĩ) bôn ba phục quốc trên 30 năm. Lúc gian khổ; ông cắt thịt đùi dâng vua ăn. Khi việc phục quốc thành công, ông vì khinh bỉ đám cận thần của vua, nên không nhận quan tước, mà bỏ về ở ẩn. Tấn Văn Công thân chinh mời ông ra. Ông cõng mẹ bỏ trốn vào rừng. Nhà vua ra lệnh đốt rừng; hy vọng ông sẽ ra. Nhưng ông cùng bà mẹ trọng nghĩa đã chịu chết cháy trong rừng. Theo truyền thuyết ngày đó là ngày mùng 5 tháng Năm. Bởi vậy, nhà vua chọn ngày này làm ngày kỷ niệm Giới Tử Thôi và ra lệnh cấm đốt lửa trong ngày này. Đó là nguyên nhân để ngày này dân chúng chỉ ăn đồ nguội. Một truyền thuyết thứ hai nữa là: Khuất Nguyên là một vị trung thần nước Sở, ông còn là một nhà văn hoá nổi tiếng với bài Ly Tao và Sở Từ, thể hiện tâm trạng buồn về sự suy vong với hoạ mất nước. Can vua không được, ông tự tử trên dòng sông Mịch La. Dân chúng trọng nghĩa ra sông tưởng nhớ anh linh của ông, cúng rất nhiều sản vật. Ngày đó, theo truyền thuyết là ngày mùng 5 tháng Năm. Như vậy, theo hai truyền thuyết trên thì ngày 5 tháng Năm có nguồn gốc từ văn hoá Trung Quốc. Nhưng điều đáng lưu ý Hàn Quốc cũng coi ngày 5 tháng Năm là ngày lễ theo truyền thống văn hóa của họ. Nhưng trong văn hóa Việt thì ngày mùng 5 tháng Năm lại là ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ. Trong dân gian đã lưu truyền câu ca dao: Tháng Năm ngày tết Đoan Dương, Là ngày giỗ Mẹ Việt Thường Văn Lang. Như vậy, đây là một ngày tết có nguồn gốc từ văn hóa Việt. Nhưng tại sao ngày mùng 5 tháng Năm lại là ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ? Trung tâm Hà Đồ là ngôi Hoàng Cực biểu tượng của sự thống trị tối cao, tức quyền uy của nhà vua. Trung tâm Hà Đồ có độ số 5 thuộc Dương và 10 thuộc Âm. Phần trung tâm Hà Đồ được miêu tả như sau: Đồ hình Hà Đồ file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Chúng ta cũng biết rằng: Trong nguyên lý Âm Dương thì Dương có trước và Âm có sau. Dương là giá trị trừu tượng, Âm là giá trị hiện hữu. Như vậy, tháng có trước thuộc Dương và ngày có sau thuộc Âm (ngày là con của tháng). Trung cung Hà Đồ file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Cũng trên nguyên lý độ số Âm của Hà Đồ là sự hiện hữu, nên chọn là ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ. Ngày mùng 5 tháng Năm chính là biểu tượng của hai dãy mỗi dãy 5 vòng tròn đen ở trung tâm Hà Đồ. Ngày cực Âm, tháng cực Âm nên thuận theo tự nhiên, dân chúng ăn đồ nguội (Nguội thuộc Âm, nóng thuộc Dương). Chúng ta cũng lưu ý rằng: Ngày mùng 5 tháng Năm là ngày rất gần tiết Hạ chí, tức là ngày nóng nhất trong năm theo thực tế thời tiết hay nói theo thuyết Âm Dương Ngũ hành là ngày cực Dương thuộc Hoả khí (Trong Hậu Thiên Lạc Việt, Ly Hỏa thay thế vị trí Càn trong Tiên Thiên). Bởi vậy, lấy số ngày và tháng cực Âm về biểu tượng là mùng 5 tháng Năm (cân bằng Âm Dương). Vì là ngày cực Âm nên biểu tượng bằng ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ (Cha thuộc Dương, Mẹ thuộc Âm). Như vậy, nền văn hiến Lạc Việt qua ngày giỗ Quốc Mẫu Âu Cơ, đã giải thích nguyên uỷ ngày này bằng chính nền tảng của nguyên lý học thuật cổ Đông phương, chứ không phải bằng những truyền thuyết mơ hồ nói trên. Đây là một yếu tố sắc sảo nữa chứng minh rằng nguồn gốc của văn minh Đông phương thuộc về nền văn minh Lạc Việt một thời huy hoàng kỳ vĩ từ hàng ngàn năm trước ở miền nam sông Dương Tử. Nền văn minh này đã sụp đổ từ thế kỷ thứ III tr.CN, nhưng dấu ấn của nó vẫn còn lưu giữ trong những giá trị văn hóa truyền thống ở nhiều quốc gia liên quan đến nền văn minh này. Cổ Việt Hùng thị ngọc phả cổ truyền do Hàn lâm viện Trực học sĩ Nguyễn Cố soạn vào năm Nhâm Thìn 1472 niên hiệu Hồng Đức thứ ba, đây là bản thời Hậu Lê ghi chép tỉ mỉ, có đoạn miêu tả khá đầy đủ như đoạn mở bọc trăm trứng. Âu Cơ có mang đến 3 năm 3 tháng mười ngày. Thời đó ở đồi Nghĩa Lĩnh thường có sắc mây sáng chói. Năm Giáp Tý, tháp Chạp, ngày rằm giờ Ngọ thì chuyển dạ sinh cho đến giờ Ngọ ngày 28 tháng Chạp cùng năm. Sinh một bọc trứng, cũng gọi là một bọc trăm hòn ngọc giữa một vùng ánh nắng chói chang, hương hoa sực nức. Ngay giờ ngọ hôm đó, nhà vua truyền nổi hiệu lệnh, triệu tập văn võ bá quan đến điện để chứng kiến sự lạ. Trước đó, các quan đã được lệnh chay tịnh sạch sẽ, chuẩn bị quần áo chỉnh tề, để lễ tế tạ ơn trời đất đã trao cho bọc trăm hòn ngọc vô cùng quý giá. Hôm đó trời đang tạnh ráo bỗng có mưa, nhà vua cho rằng đó là điềm tốt. Chờ các quan đến đông đủ, vua truyền làm lễ tế trời đất. Khoảng xế chiều, bỗng thấy có một đám mây từ phía Tây kéo lại phủ kín cung điện nhà vua. Từ trong đám mây, xuất hiện bốn vị tướng nhà trời, đầu đội mũ hoa, mình mặc áo gấm lưng thắt đai ngọc, chân đi hài thêu, tay cầm long bài của vua Trời vứt xuống, đại ý nói rằng: Nhà trời đã ban cho bọc rồng trăm trứng, nở thành trăm con trai đội mũ vua hiền để cai quản đất nước. Lệnh này từ nhà trời ban xuống, sẽ được nhà Trời bảo vệ. Y theo sắc chỉ thi hành. Tiếp đó, Lạc Long Quân nhắc lại ý nhà Trời trong sắc chỉ cho mọi người cùng nghe. Nhà vua liền chọn một số quan văn, võ trai giới chỉnh tề, hương đèn túc trực nơi để bọc rổng trăm trứng, và tất cả chuẩn bị làm lễ mở bọc. Hôm đó, đúng giờ ngọ (không nói năm), lễ mở bọc bắt đầu. Nhà vua liền nhấc bổng bọc rồng giơ lên, bỗng nhiên bọc kỳ diệu đó tự mở ra, trăm trứng nở thành trăm bé trai lúc nhúc. Đô thành Phong Châu (Vân Lôi) có mây năm sắc phủ ở trên, song núi tỏa hương thơm ngào ngạt. Mọi người hân hoan vái tạ đất trời. Một tháng trôi qua, trăm em bé trai không bú mà tự lớn dần lên và mặt mũi em nào cũng oai hùng, sắc sảo. Nhà vua truyền cung phi may áo cho các em mặc. Trước cung điện các em ở có hồ sen trải rộng, ban ngày thường có bươm bướm lượn trên không. Đã gần ba tháng mười ngày mà các em bé vẫn chưa biết bập bẹ, chưa biết mỉm cười, kể cả em nở đầu tiên, được coi như em trưởng. Lại đến giờ thin ngày hai mươi tháng bảy, tức một trăm ngày nữa, thì bỗng nhiên, cả trăm em trai đều cười to và tất cả nói rằng: Trời trogn xanh sinh thánh, nước lặng phắt sinh vua. Bốn biển đã thanh bình, thiên hạ ắt yên vui. Chẳng bao lâu, trăm cậu bé đã lớn thành trăm hoàng tử. Khi các hoàng tử lên điện rồng chầu vua cha, thì nhà vua bỗng thấy có tám vị tướng nhà trời sai xuống bảo vệ các hoàng tử. Tám vị tướng này có thể ví tám vị kim cương trong đạo Bà La Môn, đó là tám vị thần sấm sét nhà Trời. Chẳng bao lâu trăm chàng hoàng tử đã cao lớn, cha con gặp nhau xiết bao vui vẻ. Nhà vua liền truyền vời trăm quan đến hội đồng tại điện vua, để chứng kiến lẽ ban danh hiệu cao quý cho cả trăm hoàng tử, mà không cần chia thứ bậc trên dưới, để các hoàng tử cùng phấn khởi. Sau đó, nhà vua truyền tổ chức lễ cầu phúc cho các hoàng tử. Bỗng có một cụ già, tự xưng là nhà tu hành ở chùa đạo Bà La Môn Hoa Long, tại Ao Việt (Việt trì). Cụ được quan trấn thủ địa phương Phong đô triệu vào chầu vua – Nhà vua ân cần tiếp cụ già và xin cụ giúp nhà vua xử lý việc định ngôi thứ. Nay trời cho ta trăm con trai trưởng thành, ta xét sức lực và tài cán các con thì như nhau, người này là anh, người kia là em. Vậy xin lão nhân giúp ta. Cụ già kính cẩn thưa rằng: Tâu thánh thượng, kẻ già sinh ra từ thời tiên đế (Kinh Dương Vương), vốn theo đạo Bà La Môn, đã từng đi khắp nơi để hiểu tình hình… Kẻ già này vốn không có tài cán gì, may có được quyển sách Thần tời thời Tổ Phục Hy, dựa vào đó mà bói để biết mọi chuyện trên đời. Nhà vua truyền: Vậy mong lão nhân giúp ta cử đích trưởng nối ngôi và thứ tự anh em đồng bào đồng bọc. Cụ già liền tâu vua: Nếu thánh thượng muốn gieo quẻ thì cũng được. Có điều là dung bói toán kể cả bói dịch sẽ gây ra lệ tiền định không hay. Theo thiển ý của kẻ già này, xin Thánh thượng cho phép triệu tất cả trăm hoàng tử tại điện vua, để các hoàng tử và toàn thể triều đình đọc và suy nghĩ. Hạ thần xin theo dõi ít lâu, xem mọi hoàng tử, mọi người có ý kiến gì không. Khoảng một thời gian sau, xin Thánh thượng triệu tập tất cả hoàng tử đến điện vua, để đồng thanh cử Thái tử nối ngôi. Một khi các hoàng tử đã đồng thanh cử người đứng đầu bảng là chành Lân, còn lại 99 hoàng tử thì đã có thứ tự trong bảng vàng niêm yết, có điều chỉnh, torng ý nghĩa là 99 hoàng tử đều nganh nhau về phúc lộc từ vua ban xuống, tuy rằng thứ tự thì có anh và có em, để dễ bề hòa hợp và sắp đặt. Lạc Long Quân theo đúng kế hoạch của cụ già và mọi sắp đặt đều ổn thỏa. Cụ già liền cáo từ về lại chùa Long Hoa hay về trời vẫn không ai biết được (Việt Nam và cội nguồn trăm họ, tác giả Bùi Văn Nguyên, Nxb Khoa học Xã hội, 2001, trang 92-93). Trong dòng tranh dân gian Đông Hồ còn có bộ tranh nhị bình về công chúa Quế Hoa và Quỳnh Hoa. Quế Hoa và Quỳnh Hoa Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Tục truyền rằng Quỳnh Hoa - con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng Đế, bị đày xuống trần gian vì tội làm vỡ cái ly ngọc quý. Xuống hạ giới, nàng chu du, khám phá khắp mọi miền, qua đảo Tây Hồ dừng lại, phát hiện ra đây là nơi địa linh sơn thủy hữu tình, bèn lưu lại mở quán nước làm cớ vui thú văn chương giữa thiên nhiên huyền diệu. Dựa trên cuốn Cổ vật Việt Nam, Ván in sách gỗ chạm có hình Thánh mẫu và tên sách Đệ nhị thánh mẫu, bên phải khắc chữ Tín Văn Quế Hoa công chúa, như vậy chu1ngta có thể nhận định Quỳnh Hoa chính là Đệ Nhị Thánh Mẫu hay Thánh Mẫu Thượng Ngàn. Bố cục bức tranh Quỳnh Hoa ở bên trái, dương như vậy, bức tranh Quế Hoa bên phải, âm sẽ là Thánh Mẫu có địa vị thấp hơn Quỳnh Hoa, đó chính là Chúa Mẫu Thoải. Chữ “Quế” hàm ý câu chuyện “cây quế” trên cung trăng, cung trăng là biểu tượng của bà với con thú cưng giã thuốc tiên thỏ ngọc. Ván in sách gỗ chạm Cổ vật Việt Nam, Bộ Văn hóa Thông tin, 2003 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Như vậy, cùng với ngày Tết Thanh minh mồng 3 tháng Ba âm lịch được nhận định là ngày Tết Phụ nữ, và ngày Tết Đoan Dương chính là ngày Tết Người mẹ trong nền văn hóa Văn Lang. Thánh Cô hay Cô Ba Bức tranh thờ dân gian Hàng Trống Cô Ba ngồi trên sập, phía sau có chiếc võng đào, tương tự như bức tranh Thánh Mẫu Thượng Thiên, Chúa Mẫu Thoải và với trang phục màu thiên thanh, chỉ riêng bức tranh Mẫu Thượng Ngàn không có hình ảnh chiếc võng mà là chiếc ngai của hoàng hậu. Từ nội dung phân tích ở trên, hệ trống tranh thờ tương ứng với thứ tự của các Thánh Mẫu phù hợp với lịch sử các vua Hùng nước ta, bức tranh Cô Ba ngồi trên sập chính là hoàng hậu vua Hùng Quốc Vương (Hùng Vương thứ III), người đặt tên nước Văn Lang và đóng đô ở Phong Châu. Cô Ba Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Như vậy, Thánh Cô chính là hoàng hậu vua Hùng Vương Thứ ba, cai quản Địa Phủ, cõi nhân gian, tương ứng câu truyện truyền thuyết Trăm trứng nở trăm con, các người con cùng suy tôn người con cả lên làm vua, lấy hiệu Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu, như sự giải thích trên về Hà Đồ và Lạc Thư. Chúng ta ai cũng đã biết truyền thuyết Trầu Cau nói về thời vua Hùng Vương thứ III, đã có tập tục ăn trầu và trầu cau chính một món quà hết sức ý nghĩa trong nghi lễ cưới hỏi và giao tiếp xã hội của người Việt trong lãnh thổ Văn Lang xưa, và nó cũng mang ý nghĩa “tính Không” trong Phật giáo qua tiếng gọi “Trầu Không”. Từ việc sử dụng trầu cau như một nghi lễ trong quan hệ xã hội đến thói quen ăn trầu của cả một dân tộc, thì phải được định hình qua hàng thiên niên kỷ (Việt sử lược ghi nhận việc bỏ thuế trầu cau vào thời Lý, đã chứng tỏ việc sử dụng trầu cau rất phổ biến). Thói quen ăn trầu này còn phổ biến ở miền Nam Trung Quốc, đặc biệt là ở Đài Loan hiện nay mà vị trí vĩ tuyến ở gần Động Đình Hồ. Sách Lĩnh Ngoại Đại Đáp của Chu Khứ Phi người đầu đời Tống soạn vào thế kỷ XII chép rằng:Từ Phúc Kiến, miền dưới Tứ Xuyên, miền Tây tỉnh Quảng Đông, đều có tục ăn trầu... (theo Cau trầu đầu truyện, Phạm Côn Sơn. Nxb Đồng Tháp 1994). “Phúc Kiến” tức là miền dưới Triết Giang của nước Việt cũ, “miền dưới Tứ Xuyên” tức Quý Châu cũ; “Quảng Đông” tức là miền Giao Châu cũ, tất cả đều thuộc lãnh thổ Văn Lang ngày xưa theo sử sách. Hiện tượng này chỉ có sự giải thích hợp lý là: lãnh thổ Văn Lang đã bao trùm phần miền Nam Trung Quốc ngày nay như truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên đã nói tới: “Bắc giáp Động Đình Hồ, Tây giáp Ba Thục, Nam giáp Hồ Tôn, Đông giáp Đông Hải”. Do đó, khi lãnh thổ bị thu hẹp thì những người dân ở vùng đất thuộc Văn Lang cũ vẫn giữ được thói quen ăn trầu trải đã hàng ngàn năm, mặc dù phần nghi lễ dựa trên miếng trầu quả cau đã bị xóa bỏ vì Hán hóa. Như vậy, đây là một trong những nét minh họa sắc sảo nhất cho biên giới Văn Lang theo truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên (trích Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nxb Văn hóa Thông tin, 2002). Truyện Trầu Cau kể rằng: vào thời xa xưa, có hai anh em nhà họ Cao, một người tên Tân, một người tên Lang (tân lang có nghĩa là cây cau) rất mực thương yêu nhau. Khi cha mẹ qua đời, hai anh em đến trọ học nhà ông thầy họ Lưu. Thấy Tân và Lang vừa học giỏi, vừa đẹp người đẹp nết, ông thầy yêu quí như con. Cô con gái của thầy cũng đem lòng quyến luyến, muốn chọn người anh làm chồng. Hai anh em Tân và Lang sát tuổi nhau, dung mạo lại giống nhau như khuôn đúc, cô gái không sao đoán được ai là anh, ai là em. Nhân dịp biếu cháo, cô cố ý chỉ đưa tới một bát cháo với một đôi đũa rồi rình xem, thấy Lang cung kính mời Tân ăn trước cô mới biết Tân là anh, và xin cha được gá nghĩa cùng chàng. Vợ chồng Tân và Xuân Phù (tên cô gái, xuân phù có nghĩa là trầu không mùa xuân) sống rất hạnh phúc. Hai anh em Tân và Lang vẫn ở bên nhau, nhưng Lang nhận thấy từ ngày anh có vợ, tình anh đối với mình không còn quyến luyến như xưa, trong khi ấy người anh vô tình không hề hay biết. Ðã thế lại xẩy ra chuyện hiểu lầm. Một hôm hai anh em đi làm đồng về muộn, Lang về trước, nàng Lưu tưởng chồng, chạy ra vồn vã âu yếm. Lang vội lên tiếng, cả hai đều biết là nhầm nên rất ngượng. Tân về,biết chuyện để dạ nghi ngờ, từ đó tỏ ra lạnh nhạt với em hơn. Lang buồn tủi âm thầm bỏ nhà ra đi. Chàng lang thang trong rừng cho tới khi kiệt sức, chết đi hóa thân thành cây cau bên bờ suối vắng. Thấy em không về, Tân ân hận, xót xa. Chàng lặng lẽ lên đường tìm em. Tân cũng đã tới bờ suối nọ, ngồi bên cây cau than khóc. Khi thân xác rũ liệt, chàng chết hóa thân thành tảng đá vôi, nằm sát bên gốc cau. Nàng Lưu chờ chồng mãi chẳng thấy trở về, quá nhớ thương nên lại đi tìm. Một chiều kia nàng cũng tới được bờ suối định mệnh. Nàng ngồi trên tảng đá khóc miết... đến khi hồn lìa khỏi xác thì hóa thân thành cây trầu không, leo bám trên thân đá. Gia đình họ Lưu đi tìm con, được biết chuyện bèn lập miếu thờ. Người đương thời rất cảm kích trước tình anh em khắng khít, tình vợ chồng thắm thiết, thủy chung của anh em vợ chồng họ Cao nên thường đến đốt nhang, chiêm bái, cầu cúng. Một hôm vua Hùng Thứ ba nhân dịp tuần du qua đấy, thấy có miếu thờ, lại được dân sở tại kể cho nghe câu chuyện thương tâm kia thì vô cùng cảm động. Ngài bảo lấy trầu cau ăn thử mới khám phá ra một mùi vị thơm cay, nồng ấm, và khi nhổ nước cốt trầu xuống tảng đá vôi lại thấy hiện ra sắc đỏ tươi như máu, nhà vua cho là quý bèn truyền lấy giống về trồng, xa gần bắt chước làm theo. Ngài còn xuống lệnh cho thần dân từ nay sẽ nhất thiết dùng trầu cau trong các dịp cưới hỏi, và trong các buổi hội họp lớn, nhỏ. Tục ăn trầu ở nước ta có từ đó. Câu truyện Trầu Cau đề cập tập tục ăn trầu đã có từ thời vua Hùng Vương thứ ba có chính xác hay không? Hiện tượng “khi nhổ nước cốt trầu xuống tảng đá vôi lại thấy hiện ra “sắc đỏ tươi như máu” mang ý nghĩa hành hỏa với biểu tượng phương Nam, nước Văn Lang thì rõ ràng đây là một dẫn chứng sắc sảo chỉ ra nơi xuất xứ tập tục này. Bình vôi Sản phẩm gốm tráng men, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Thông qua việc lý giải tục ăn trầu của người Việt, câu chuyện muốn ca ngợi tình cảm thắm thiết thủy chung gắn bó keo sơn giữa vợ chồng, anh em trong một gia đình và đó cũng là lối sống tình nghĩa của người Việt. Dù có trải qua sự đổi thay mô hình xã hội thì mối quan hệ cốt lõi vợ chồng, anh em vẫn mặn nồng, trong sáng, thủy chung. Từ câu truyện, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu đã sáng tác bài hát cùng tên “Trầu cau” đầu tay rất hay: Ngày xưa có hai anh em nhà kia Cùng yêu thương ở cùng nhau bỗng đâu chia lìa. Vì hai người cùng yêu mến một cô gái làng bên, Nhưng người anh được kết duyên cùng nàng. Vì như thế nên người em lòng buồn rầu bỏ ra đi khỏi làng... … Tình tính tình tính tang tính tình tang tính tình Bên sông sâu, niềm tương tư nàng chốc biến thành ra dây trầu xanh. Lưu luyến tình xưa âu yếm trầu leo quanh thân cau Qua bao năm tình thiêng liêng kia thắm cùng mưa nắng... Đặc biệt, ý nghĩa cốt lõi của câu chuyện chính là triết lý ở đời, người ta chỉ có một vợ một chồng, hay mang ý nghĩa là nền tảng của đạo đức, của hạnh phúc “Nhất âm nhất dương chi vi Đạo” và “Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn”, nội dung “đạo đức” cũng được khắc ghi qua hình ảnh văn hóa dân tộc chiếc “bình phong” cổ kính của mỗi ngôi đình làng được thể hiện trên bộ tranh nhị bình dân gian Đông Hồ Đánh ghen và Hái dừa. Đánh ghen và Hái dừa Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Tranh Hái dừa có thơ Nôm ở góc trên bên trái: Khen ai khéo nặn nên dừa, Đấy trèo đây hứng cho vừa một đôi. Hình tượng tung hứng trái dừa - vốn không có trên thực tế - cho thấy tính mâu thuẫn và khó khăn trong đời, trong mối quan hệ giữa con người với con người. Nhưng nếu chính con người biết điều hòa cuộc sống của mình, của môi trường thì sẽ mang lại hạnh phúc cho chính mình và cho cuộc đời. Phải chăng đây chính là tính minh triết và nhân bản trong nội dung của bức tranh này. Tranh Đánh ghen với lời chú “Thôi thôi nuốt giận làm lành. Chi điều sinh sự nhục mình, nhục ta”, bên cạnh hình tượng các nhân vật và không gian ước lệ bằng các mảng tường hoa, bình phong. Lời chú trên tranh thật là một lối chơi chữ tuyệt vời với nhiều hàm nghĩa sâu xa. Hình tượng trên tranh khiến cho người xem khó có thể hiểu được trong hai người đàn bà ai là kẻ thách đố? Anh chồng đang cản vợ lớn hay đang bênh vợ bé? Nếu bức tranh chỉ dừng lại ở chủ đề này, thì nội dung của nó chỉ giới hạn ở sự phản ảnh một hiện tượng xã hội trải hàng vạn năm luyến ái của con người. Nhưng nội dung của nó không chỉ dừng lại ở đây. Tính nhân bản của bức tranh này chính là hình tượng chú bé chắp tay lạy cha mẹ. Đứa trẻ con ngây thơ vô tội ấy chỉ muốn một cuộc sống bình yên trong sự đùm bọc của một gia đình hạnh phúc. Phải chăng, đây chính là thông điệp của bức tranh: Sự thỏa mãn dục vọng và tranh giành quyền lợi trước mắt của con người sẽ vô tình gây ra cho thế hệ sau sự đau khổ (Trích Tính minh triết trong tranh dân gian Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, 2002, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh). Theo phả cũ ghi lại bà là con gái Lạc Tướng huyện Chu Diên, xã Hồng Dương ngày nay. Bà mất, an táng tại Thiên Trúc, sau gọi là Đồng Trúc, Thanh Oai. Công chúa Mỵ Nương Trong hệ thống tranh dân gian Hàng Trống, có bức tranh Ông Hoàng cưỡi lốt, trong bức tranh vẽ con lốt 3 đầu 9 đuôi, và đây chính là mật ngữ quan trọng. Chúng ta ai cũng biết câu truyện truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh, trong cuộc thi, Sơn Tinh đã dâng cho vua Hùng Vương thứ III lễ vật: “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chính hồng mao” và đã giành được chiến thắng, cưới công chúa Mỵ Nương làm vợ. Thủy Tinh nổi giận, hàng năm dâng nước đánh phá và Sơn Tinh luôn là người chiến thắng trong các trận lũ lụt này. Vùng núi Ba Vì, Hà Tây được cho chính là nơi ở của Sơn Tinh. Ông Hoàng cưỡi lốt Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg “Tam đầu đầu cửu vĩ” phù hợp mật ngữ “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chính hồng mao”, và chúng ta có thể nhận định ông “Hoàng cưỡi lốt” chính là Sơn Tinh, con rể truyền ngôi của Vua Hùng Vương thứ III. Từ nhận định này, chắc chắn sẽ phải có một bức tranh dân gian nói về công chúa Mỵ Nương để kết hợp với bức tranh Ông Hoàng cưỡi lốt thành bộ tranh nhị bình, và đó chính là bức tranh dân gian Hàng Trống Bà Ba cưỡi ngựa. Bà Ba cưỡi ngựa Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Bức tranh dân gian Hàng Trống Bà Ba cưỡi ngựa mang dáng vẽ của một cuộc rước dâu về nhà chồng với ngựa xe, người hầu, lọng che, trông thật là hoành tráng, người hầu đi trước tay cầm một cái trống da nhỏ dùng làm hiệu lệnh dẫn đường. Qua câu truyện, chúng ta có thể nhận định rằng, Sơn Tinh là vị vua bắt đầu một đời vua Hùng mới bởi vị vua kế cận không có con trai, cho nên truyền cho con rể của mình. Nền văn hóa Việt hết sức nhân bản, bởi người phụ nữ được tôn vinh trong xã hội, các câu truyện truyền thuyết và huyền thoại chỉ thấy hình bóng người mẹ chứ ít khi thấy người cha. Theo các nhà nghiên cứu, Thánh Tản Viên được coi là vị thánh được nhắc tới đầu tiên, có lẽ đây là vị thánh liên quan tới truyền thuyết về việc bảo tồn, giữ gìn đất nước trong cuộc đấu tranh đối chọi với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm của dân tộc. Truyện kể về xung đột mang màu sắc “tình ái” giữa hai vị thần tượng trưng cho hai thế lực đối chọi nhau: Thủy Tinh (Thần Nước), là sức mạnh tự nhiên, biểu hiện của thiên tai lũ lụt, bão tố, mà hàng năm nhân dân ta phải gánh chịu, nhất là cư dân lưu vực đồng bằng sông Hồng. Còn Sơn Tinh (Thần Núi), còn gọi là Thánh Tản Viên, đại diện cho sức mạnh vật chất, ý chí, sự thông minh, lòng quả cảm và sự đoàn kết toàn dân, đã chống chọi kiên cường và chống chọi thành công với sức huỷ diệt tàn phá của mọi thiên tai địch hoạ. Trong khi đó các bản thần thích thần phả ở các làng trong vùng Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh (Hà Tây, Hà Nội, Vĩnh Phú) thì Thánh Tản Viên lại là người có thực sống vào thời Hùng Vương thứ XVIII, xuất thân từ tần lớp nghèo khổ trong dân chúng. Chàng tên thực là Nguyễn Tuấn, có tài “hô phong hoán vũ”, dũng cảm, được Hùng Vương kén làm rể, gả con gái Mỵ Nương. Sau đó, Thủy Tinh vì không được chọn, đã nổi giận đem binh đến đánh, xảy ra các cuộc chinh chiến trong nhiều năm trời. Rốt cuộc, Thủy Tinh luôn là kẻ bại trận. Tản Viên Sơn Thánh là người gợi lý cho vua Hùng truyền ngôi cho Thục Phán, lập lời thề trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, Phú Thọ. Tản Viên Sơn Thánh cùng với vua Hùng Vương hóa thành tiên bay về trời. Sự kiện Sơn Tinh cưới công chúa Mỵ Nương và được truyền ngôi vua thời Hùng Vương thứ III và Tản Viên Sơn Thánh là bộ tướng của vua Hùng Vương thứ XVIII hoàn toàn mang hai đặc trưng khác nhau, điều này có nghĩa họ là hai người khác nhau. Gia phả Hùng Vương ghi nhận Hùng Vương thứ IV là Hùng Hoa Vương, chữ lót mang tên Hoa, biểu tượng của người nữ, cho phép chúng ta nhận định mật ngữ “Sơn Tinh” chính là vua Hùng Vương thứ IV, vị vua chủ đầu tiên của đời Hùng Vương này. Trong câu truyện truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh vào thời vua Hùng Vương thứ III, điều kiện vua Hùng Vương đưa ra để có thể cưới được công chúa (tức trao Vương quyền) là sính lễ phải gồm: “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao”. Đây chính là những biểu tượng cô đọng nhất cho những giá trị của nền văn hiến Văn Lang - kết quả của nền văn minh Văn Lang được tạo lập qua hàng thiên niên kỷ mà vua Hùng yêu cầu người kế vị có trách nhiệm gìn giữ. Đó là: Voi chín ngà: là hình tượng của 5 dạng tồn tại ban đầu của Vũ trụ theo quan niệm của thuyết Âm Dương Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ và 4 trạng thái tương tác của nó (Tứ tượng) là: Tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ. tổng cộng 9. Đây là sự cấu thành căn bản của hệ tư tưởng vũ trụ quan thời Hùng, tư tưởng chủ đạo xuyên suốt tất cả mọi giá trị tinh thần trong xã hội Văn Lang. Gà chín cựa: Kê nghi - đã được nhắc tới trong Hồng phạm cửu trù. Đây là những thành tựu của nền văn minh Văn Lang đã tạo dựng với một thời gian bằng nửa lịch sử nhân loại, kể từ khi quốc gia đầu tiên của loài người được thành lập - được thể hiện trong việc quan sát vũ trụ, tìm ra qui luật những hiệu ứng vũ trụ và sự ứng dụng trong cuộc sống, xã hội và con người được bắt đầu bằng Lạc thư - Hà đồ cửu cung. Ngựa chín hồng mao: ngựa là phương tiện chinh chiến, hình tượng của sự thống trị, lãnh đạo. Ngựa chín hồng mao là hình tượng của Hồng phạm Cửu trù: những giá trị của một nền chính trị nhân bản trong thế giới cổ đại mà những con người ở thời ấy phải mơ ước, đã được nhắc tới rất nhiều trong các trước tác của Nho giáo. Trong câu chuyện, vua Hùng đã gả Mỵ Nương cho Sơn Tinh là hình ảnh thể hiện sự chọn giải pháp trao quyền cho người kế vị, để tiếp tục gìn giữ những giá trị tinh thần của tổ tiên mà dòng họ Hồng Bàng đã dày công tạo dựng. Hồng phạm cửu trù Trích Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nxb Văn hóa Thông tin, 2002 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg * Bản Hồng phạm cửu trù cũng sẽ phải được bố trí vào Hà Đồ đã đổi chỗ cung Tốn Khôn. Giải mã truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh đã góp phần chứng tỏ trên thực tế lịch sử, vua Hùng truyền ngôi cho Thục Phán như truyền thuyết đã nói đến. Ông đã có công cùng các tộc Việt chống lại sự xâm lược của quân Tần. Sơn Tinh trong truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh chỉ là một hình tượng không liên quan đến Tản Viên Sơn Thánh Nguyễn Tuấn, cũng là con rể của vua Hùng Vương thứ XVIII, người đã dàn xếp cuộc chiến giữa Thục Phán - Hùng Vương. Việc làm của ngài nhằm bảo vệ những thành tựu văn hóa của người Lạc Việt trải gần 3000 năm văn hiến, điều này sẽ giải thích vì sao ngài là một trong bốn vị thần hộ quốc của người Lạc Việt. Đồng thời, cũng làm rõ thêm về thời Hùng Vương thứ III đã xây dựng nên một bộ hiến pháp chế chặt chẽ, phù hợp với quy luật tự nhân, xã hội và con người. Để chứng minh Hồng phạm Cửu trù là sản phẩm của nước Văn Lang, chúng ta cùng tiếp tục xem xét những bức tranh nổi tiếng của làng tranh dân gian Đông Hồ: hình ảnh trong tranh là những chú bé ôm rùa, ôm cóc, ôm cá… là những hình tượng rất đặc thù trong văn hóa Việt Nam. Nội dung của những bức tranh Lạc Việt này, ngoài việc thể hiện những giá trị đạo lý và mơ ước của con người, còn thể hiện sự hoà nhập giữa con người và thiên nhiên qua hình ảnh những đứa trẻ bụ bẫm, thể hiện sự phú túc và tính thơ ngây thiên thần với những sinh vật gần gũi trong cuộc sống. Đó là những ý niệm gần gũi dễ cảm nhận của bộ tranh, nhưng trong nội dung sâu xa của bộ tranh này, chúng ta còn nhận thấy một tư duy tiếp nối và là hệ quả của một thuyết vũ trụ quan cổ. Để giải quyết ý nghĩa của từng bức tranh này chúng ta phải dựa trên nội dung trò chơi Bầu Cua Cá Cọc, các nhân vật trong bức tranh Bát Tiên quá hải… từ đấy mới điều chỉnh lại ý nghĩa gốc của các bức tranh: Ngũ Thường (trí, nghĩa, tín, nhân, lễ) Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Ngũ phúc (sống lâu, giàu sang, chết êm ái, yêu nhân đức, khỏe mạnh) Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Những bức tranh còn thiếu sẽ bao gồm bức tranh Bé gái ôm ốc mang ý nghĩa Nhân và Bé trai bế cua xanh mang ý nghĩa Lễ. Tổng cộng bộ ngũ bình gồm 5 bức tranh tạo một cấu trúc ngũ hành, mang ý nghĩa Ngũ Thường là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín chính là hình ảnh một con người quân tử và là nền tảng của Nho giáo; Ngũ Phúc là năm mong ước lớn của đời người:. Ngũ thường và Ngũ phúc là bộ phận của Hồng Phạm Cửu trù. Như vậy bộ các bức tranh Đông Hồ Tứ Quý sẽ phải mang các tiêu đề nguyên thủy là bộ tranh năm bức Ngũ Phúc và Ngũ Thường. Ngũ Thường là nền tảng của Nho giáo, mà đó cũng là năm phương tiện tu hành của các tôn giáo về luân lý thông thường, là thành quả mà tổ tiên đã mất hàng ngàn năm đúc kết. Hình tượng con rùa, phương tiện chuyển tải tri thức dưới thời Hùng Vương vào thời kỳ đầu lập quốc, chính là biểu tượng của sách học. Hình tượng con cóc chính là biểu tượng của người thầy của chú bé, vì chỉ có Cóc mới có chữ Khoa đẩu để dạy cho đời. Nhân, nghĩa chính là hai đức tính đầu tiên trong đạo lý cổ Đông phương, những ý niệm về “Tôn sư trọng đạo”, “Tiên học lễ, hậu học văn” của Nho giáo, chính là những quy tắc giáo dục đã có từ lâu trong thời Hùng Vương. Xuyên suốt các bức tranh là hình ảnh Mẫu luôn được sắp xếp ở vị trí cao nhất của bức tranh, điều này thể hiện hình ảnh của người mẹ kể từ khai thiên lập địa có mẹ vũ trụ đến khi hình thành sự sống trên trái đất. Người mẹ là hình ảnh thiêng liêng trong mỗi dân tộc chứ không riêng gì trong nền văn hóa Việt Nam. Qua đó, đã cứng tỏ có một “nguyên lý Mẹ” trong nền văn hiến của dân tộc Việt, ca dao viết rằng: Gió Động Đình mẹ ru con ngủ, Trăng Tiền Đường ấp ủ năm canh. Bống bồng bông, bống bồng bông, Võng đào mẹ bế con Rồng cháu Tiên. Đây là tuyệt phẩm thơ ca ngợi tả cảnh người mẹ nằm võng bế và ru con ngủ trong đêm trăng thanh gió mát, tình mẹ thương con như trời như bể tràn lấp trong khung cảnh thiên nhiên êm ả đầy hương thơm ngọt ngào, cả hai đã kết quyện với nhau tạo thành cái nôi hạnh phúc tuyệt vời cho buổi đầu đời của trẻ thơ Việt. Hình ảnh chiếc võng xuất hiện không phải tình cờ xuất hiện trong các bức tranh dân gian Hàng Trống Thánh Mẫu Thượng Thiên, Chúa Mẫu Thoải và Bà Ba, chỉ riêng bức tranh Thánh Mẫu Thượng Ngàn ngồi trên sập là vị bà là hoàng hậu vua Kinh Dương Vương (Ngọc Hoàng Thượng Đế), Tổ Mẫu nước Việt nên được trình bày khác biệt để nhấn mạnh. Mẹ ở đây Thánh Mẫu Thượng Thiên chính là Tổ Mẫu dòng giống Việt. Cái võng mẹ nằm ru con là cùng hình tượng với chiếc nôi mà ngày nay hay dùng để chỉ quê hương. Trong bài thơ có nói con sông Tiền Đường, là con sông chảy qua ranh giới hai tỉnh An huy và Giang Tây rồi vào tỉnh Triết Giang, Trung Quốc ngày nay, Chiết Giang cũng là tên gọi khác của sông Tiền Đường. Tiền Đường là tên con sông mà Hàng Châu nằm trên bờ Bắc của con sông này, cạnh biển Đông, là một trong bảy cố đô lớn có lịch sử lâu đời của Trung Quốc. Từ thời nhà Hạ đến thời Xuân Thu, Hàng Châu là đất cũ của nước Việt cổ. Đến thời Tần đặt Hàng Châu là huyện Tiền Đường, thời Tùy mới lấy tên là Hàng Châu, đến thời Đường đổi huyện Tiền Đường thành Hàng Châu trị, thời Ngũ Đại Hàng Châu là thủ đô của nước Ngô. Sau khi nhà Nam Tống dời đô về Lâm An, Hàng Châu đã trở thành kinh đô của các vương triều trong 153 năm (Cội nguồn Văn hóa Trung Hoa, Chủ biên Đường Đắc Dương, Phó Chủ biên Tạ Duy Hòa, Người dịch Nguyễn Thị Thu Hiền, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2003). Nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn mà cuốn sách đề cập thuộc vùng đất Văn Lang cũ. Hồ Động Đình nhìn từ Nhạc Dương lâu Ảnh Vĩnh Quyền (bài viết Du xuân Hồ Động Đình) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Trong kho tàng tranh dân gian quý báu của dân tộc còn lưu giữ cho tới tận ngày nay, mang nhiều trang sử Việt, tham khảo bộ các bức tranh 4 bức ở nhà thày Tào Ôn Thái Sơn, dân tộc Sán Dìu thôn Bức Lệnh, xã Đạo Trù, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang bao gồm Thiên Đế - vua Cõi Trời; Địa Đế - vua Cõi Đất; Thủy Đế - vua Cõi Nước và Nhạc đế - vua Cõi Núi rừng. Trên các trang phục của các vị vua đều có thêu ba con rồng, chỉ riêng trang phục của Thủy Đế không có hình ảnh con rồng thứ 3, trong văn hóa dân gian thật hiếm khi thấy biểu tượng 3 con rồng, thông thường chỉ có 2 con như “Lưỡng long chầu Nhật”, do vậy vấn đề này cũng làm cần phải xem xét ý nghĩa mà người vẽ gửi gắm vào đó. Đại công đồng trong tranh thờ đạo Mẫu và Đạo giáo Theo Nguồn gốc dân tộc Việt và nến văn minh cổ của nhóm nghiên cứu do Giáo sư Đỗ Tòng làm chủ nhiệm, thì Thủy tổ Nguyễn Minh Khiết (Thái Khương Công, Khương Thái Công) là con đầu của Đế Quý Công hay là Đế Thừa Sở Minh công là cháu của vua Thần Nông. Cụ đứng đầu 9 bộ lạc (gọi là Cửu Long hay Cửu Chân Chính. Tòa tượng Cửu Long ở chùa Việt Nam là biểu tượng 9 ông tổ của dòng người Việt. Mộ cụ ở Gò Ruối, Quang Lãm. Cùng với Bà cả là Đại Nương, hiệu Diệu Diên, sinh ra Nguyễn Minh Khiết, Nguyễn Nghi Nhân và Nguyễn Long Cảnh. Nguyễn Minh Khiết hay còn gọi là Đế Minh là Đế Phương Nam, hai người em trai còn lại là Nguyễn Nghi Nhân hiệu Đế Nghi làm Đế Phương Bắc và Nguyễn Long Cảnh còn gọi là Lý Lang Công (tên khác là Ba Công, Long Đại Vương). Ba anh em được giới phật tử tôn thờ gọi là Tam Tòa Đức Chúa Ông hay “Tam giới Thiên chúa”, ba bà chính thất của ba ông gọi là Tam phủ Công đồng. Trong đó, Đế Minh và Đế Nghi là 2 anh em sinh đôi, còn người em út là Nguyễn Long Cảnh. Tam phủ Công đồng Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Trong bức tranh Tam Phủ Công Đồng thể hiện Tam tòa đức chúa ông dưới Thánh Mẫu chủ, như vậy chúng ta có thể định hàng phía dưới là các phu nhân, trong hệ thống tranh âm dương đối ngẫu luôn là một yếu tố quan trọng nhất. Trong hệ thống tranh thờ Đạo giáo miền Bắc Việt Nam của dân tộc Tày, Nùng có bộ tranh ba bức Tam Từ, Chân dung các vị thần linh vẽ theo khuynh hướng phi cá tính, chủ yếu là biểu trưng và giống nhau, các thầy Tào đặt tên cho từng tranh theo đặc điểm con vật mà thần linh ngự cho dễ gọi, dễ nhớ: ông cưỡi rồng tức Cứu U phả Độ Thiên Tôn, ông cưỡi sư tử xanh tức Thái Ất cứu khổ thiên Tôn và ông cưỡi phượng tức Chu Lăng Độ Mạng Thiên Tôn. Tranh Tam Từ hay Phả độ chúng sinh (5 bức) Dân tộc Nùng xóm Lũng Vải, xã Thể Dục, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Ở bức tranh này xuất hiện các vị thần linh (vẽ ở nửa tranh phía dưới): ngoài tiên đồng, ngọc nữ còn có Công Tào Đại Súy Quan thống lĩnh các vị Công Tào ở thập phương, bát hướng (thiên tào, nhân tào và âm tào) coi về các địa ngục, âm ty có quỷ vô thường - đầu trâu mặt ngựa có nhiệm vụ tra khảo tội nhân, có cảnh qua cầu Nại Hà và Mục Kiều Liên Bồ Tát (bên trái ngoài cùng của tranh Chu Lăng) xuống địa ngục để giáo hóa, cứu độ chúng sinh. Hổ tiếu (hổ gầm sinh ra gió), Long ngâm (rồng múa sinh mưa) - hình tượng diễn tả cảnh thiên nhiên trước cơn mưa. Ở hai bức tranh này, ý nghĩa tôn giáo thể hiện: Thần chòm sao Bạch Hổ ở hướng Tây và thần chòm sao Thanh Long ở phía Đông, phụ thần cho ba vị Tam Từ. Tam Từ (3 bức) Dân tộc Tày, Nùng, Bắc Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Các bức tranh hoàn toàn giống nhau chỉ khác con vật cưỡi, với quy tắc thần chủ của tranh nằm ở trục giữa của bức tranh, cho nên chúng ta có thể nhận định, vị thần ở giữa là Đế Minh tức Thái Ất cứu khổ thiên Tôn, vị thần bên trái thần chủ là Đế Nghi tức Cứu U phả Độ Thiên Tôn và vị thần bên phải thần chủ là Nguyễn Long Cảnh tức Chu Lăng Độ Mạng Thiên Tôn. Một cách tương ứng trong bức tranh Tam phủ Công đồng, ở hàng phía dưới thì nữ thần chủ là Thánh Mẫu Thượng Thiên, chính thất của Đế Minh và hai bên chính là chính thất của hai vị thần trên. Các sự thống nhất giữa các bức tranh, quan sát bức tranh Đại Công đồng, chúng ta thấy Tứ vị tôn ông ở hàng trên cùng rồi tiếp theo tới Tam vị chầu bà… như vậy, bức tranh Tứ phủ Công đồng sẽ có vị trí thần linh cao hơn so với Tam phủ Công đồng. Tứ Phủ Công đồng Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Căn cứ vào sự thống nhất giữa các bức tranh dân gian Đông Hồ Tam Phủ Công Đồng, Tứ Phủ Công Đồng và Đại Công Đồng, cùng với danh sách tóm tắt chư liệt tổ tiên của dân tộc Việt ghi nhận trong___, thì có thể nhận định rằng: bức tranh Tứ Phủ Công Đồng chỉ ra Tứ Đế chính là Phục Hy, Thần Nông, Đế Tiết và Đế Thừa, cùng với Đế Minh được gọi là Ngũ Đế hay Ngũ Hành, Kinh Dương Vương - Lạc Long Quân - Hùng Quốc Vương được gọi là Tam Hoàng hay Tam Tài, Các vị vua Hùng kế tiếp tương ứng Vạn vật, riêng hình tượng Thánh Mẫu chủ ở vị trí cao nhất của bức tranh Đại Công Đồng - người mẹ sinh ra vị “Đế” cao nhất là vua Phục Hy, cùng với phu quân Hòa Hy được xem là “người khai thiên lập địa” tương đương Âm Dương. Như vậy chúng ta có cấu trúc tổ tiên được mã hóa: Thái Cực (Thủy tổ Hồng Bàng) - Âm Dương - Ngũ Hành - Tam Tài - Vạn vật. Tam Hoàng tương ứng Thượng Nguyên Thiên Quan, Trung Nguyên Địa Quan và Hạ Nguyên Thủy Quan được thể hiện qua bộ tranh Tam nguyên quan: Tam Nguyên Quan Dân tộc Dao thanh Y, Quảng Ninh, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Tam nguyên quan có một bộ ba bức riêng, cũng như một bức vẽ chung, còn có một bức khác vẽ tương ứng ba nhân vật trong bức Tứ trực Công tào, vị còn lại không xuất hiện trong bức Tứ trực Công tào là có vị trí cao nhất, cưỡi chim phượng. Thượng nguyên quan - cầu cúng vào ngày 15 tháng Giêng, ban hạnh phúc. Trung nguyên quan - cầu cúng vào ngày 15 tháng Bảy, xá tội vong nhân. Hạ nguyên quan - cầu cúng vào ngày 15 tháng Mười, gạt bỏ bất hạnh. Đạo giáo cho rằng mỗi độ số của trời có 180 năm, gồm 3 Giáp Tý (năm Giáp Tý đầu tiên của mỗi Lục thập hoa giáp 60 năm). Giáp Tý đầu tiên gọi là Thượng nguyên do Thiên quan cai quản. Giáp Tý thứ hai gọi là Trung nguyên do Địa Quan cai quản. Giáp Tý thứ ba là Hạ nguyên do Thủy quan cai quản. Chúng ta tiếp tục xem xét bộ 4 bức tranh Đạo giáo Tầu Khảng của dân tộc Giao Lô Gang, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với nhận định trên: Tầu Khảng Bộ tranh dân tộc Giao Lô Gang, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Hai bức tranh Cưỡi cá và Thuyền Quan nói về sự tích Bàn Vương, tổ tiên của người Dao đã phù hộ cho con cháu vượt sông Dương Tử và vượt biển phía Đông và Nam Trung Hoa trong nhiều đợt di cư về hướng Nam trong quá trình lịch sử lâu dài của người Dao, hay cũng là chứng tích cuộc di dân của dân tộc Việt, tham khảo nội dung trích dẫn trong cuốn Việt Nam cội nguồn trăm họ, tác giả giáo sư Bùi Văn Nguyên, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội, 2001: “ … Như trên đã nói, không phải ngẫu nhiên mà Tổ tiên chúng ta từ thời trước Đế Phục Hy, đã được sống yên ổn dưới mái nhà thế giới, mà không phải chịu đựng những cơn đại hồng thuỷ như trận nước dâng thời gia đình Nô-ê, theo kinh Cựu ước của đạo Cơ Đốc, đã dẫn ở trên. Quả nhiên gia đình vua Phục Hy cũng phải chạy lũ lụt từ cao nguyên Thanh Hải, cao nguyên Tây Tạng, tiến ra phía Đông, phía mặt trời mọc ở vùng hồ Động Đình, rồi tiến xuống phía Nam, đến dãy núi Ba Vì, tức núi Tản Viên có sông Đà chảy qua.”. Chúng ta tiếp tục xem các bức tranh Ngũ kỳ binh mã hay còn gọi là Thuyền Quan của dân tộc Dao Đỏ: Ngũ kỳ binh mã (Thuyền Quan) Dân tộc Dao Đỏ, miền Bắc Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Trong các bức tranh Ngũ kỳ binh mã và Thuyền Quan, dưới hình tượng Bàn Vương hiện lên chỉ đường cho con cháu vượt sông vượt biển, ta thấy vẽ hình một con chó tức Long khuyển, trong sự tích Bàn Vương của người Dao. Hình chiếc thuyền cách điệu cá chép - Lý ngư theo lệnh của Bàn Vương đã nổi lên cứu vớt con cháu đang bị đắm thuyền trong bão tố ở Biển Đông, vào bến bờ an toàn. Trong bức tranh chúng ta thấy Long Khuyển ngồi chễm chệ trên cây 3 nhánh bên trái vị quan có ý nghĩa gì chăng? Theo trích đoạn sách Việt Nam cội nguồn trăm họ, tác giả giáo sư Bùi Văn Nguyên, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội, 2001: “Cái tên Phục Hy đã nói rõ trình độ tổ tiên chúng ta thời đó: chữ “Phục” bên trái là “Nhân đứng”, bên phải là chữ “khuyển” (con chó), tức “Người” đứng cạnh con “chó” (tức "Phục" là che chở cho mọi người, kể cả con chó nuôi trong nhà. Chữ “Phục” này cũng thông nghĩa với chữ Phục là giúp việc, giúp đỡ. Còn chữ “Hy” trong tự điển gốc là chính tên của ông ấy, ông Phục Hy, bởi có ông Phục Hy mới có chữ Hy (viết hoa), chứ không phải cha mẹ ông đẻ ra ông mới mượn chữ Hán mãi mấy hàng ngàn năm về sau để đặt tên cho ông”. Rõ ràng hình ảnh Long Khuyển bên cạnh vị Quan đang đứng ẩn nghĩa tên của vị quan chính là Phục Hy. Tiếp tục chú ý hình ảnh 3 người phụ nữ đang đứng, trong đó 2 người chắp tay hướng người thứ ba ở giữa, ngoài ra có một người phụ nữ khác đứng ở gốc cây, khả năng 4 người phụ nữ gợi ý chính là hình ảnh liên quan tới bức tranh Tứ Phủ Công Đồng. Trong các bức tranh, người phụ nữ ngồi trên hoa sen nhận định là Nữ Oa và người ngồi trên cây có con chó bên cạnh là Phục Hy. Tứ Phủ công động Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Vua Phục Hy lịch sử đã được nhân dân ta tôn thờ và suy tôn là Đế Thiên. Hình ảnh vua Phục Hy và bà Nữ Oa ngồi trên tòa sen vững vàng, trên một cái cột mang hình ảnh Trục Vũ trụ như trình bày trong Chương II: TIẾNG TRỐNG HOÀNG KIM. Theo cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, vua Phục Hy có một người con tên là Thần Nông, ông còn có tên là Đế Khôi, được dân kính phục và suy tôn là Đế Thần. Lúc thiếu niên, Thần Nông được cha đẻ là Phục Hy gửi Long Cát (thường gọi là Lão Long Cát) dạy dỗ và bà Trinh Nương nuôi dưỡng. Khi Phục Hy mất, Thần Nông vẫn còn ít tuổi, cho nên giúp việc điều hành do hai vị phụ tá của cha là Lão Long Cát tức Toại Nhân và Hữu Sào. Khi Đế Khôi khôn lớn, trở về làng Sở, mời hội đồng các "vua núi" (Sơn Quân) đem quân đánh đuổi gian nô Hiên Viên, thừa kế sự nghiệp của các cụ tổ tiên, "lên ngôi vua sáng, thi hành chính nhân, dân chúng một mực kính yêu". Đất đai từ vùng Tây Phương trở xuống, lấy ngọn Phương Lĩnh, Trầm Đỉnh làm chính, sau đến núi Linh Sơn, Tiên Lữ cùng dãy với ngọn Phong Châu làm thành một dải. Viêm Đế đem đất đó chia cho dân nghèo, cả thảy gồm 70 dặm, 65 ấp. Thần Nông tiếp tục sự nghiệp của cha, phát triển việc trồng lúa nước, chọn cây làm thuốc và dạy dân chăn nuôi, đào giếng lấy nước, ở vùng làng Sở (Tiên Phương) hiện ở đây vẫn còn một số giếng nước cổ, theo truyền lại là có từ thời Thần Nông, trồng dâu nuôi tằm, dệt the lụa, làm chủ vùng đất Sở (gọi là Sở Oai) tức là vùng Tiên Lữ, Tiên Phương mà tên nôm xưa kia gọi là làng Sở (thuộc Quốc Oai và Chương Mỹ hiện nay). Thần Nông - Địa Trạch Tranh thờ Đạo giáo, miền Bắc Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Thân Nông tiếng Cao Lan - Sán Chỉ gọi là Sằn Nông, vị thần cổ đại trong huyền sử của Việt Nam và Trung Quốc, dạy dân cày cấy, mở mang nông nghiệp, có tính Dương. Thần chủ việc chăn nuôi, mở mang nông nghiệp, có tính Âm. Thần Nông còn có công về mặt văn hóa: bổ sung phát triển sách Dịch của tổ Phục Hy, làm rõ quan niệm về âm dương; cải cách chữ viết theo hình thắt gút kiểu con nòng nọc (khoa đẩu) do Thương Hiệt sáng tạo trước đây; phát triển lịch phục vụ nghề nông được sáng lập từ thời Phục Hy; trồng rộng rãi các loại cây làm thuốc. Trước đây, ở nước ta đã lưu truyền cuốn sách Thần Nông bản thảo sau bị giặc nước tiêu hủy (trích đoạn chương I sách Việt Nam và cội nguồn trăm họ, viết khá kỹ về Phục Hy và Thần Nông). Phục Hy - Nữ Oa và Phục Hy-Thần Nông-Hoàng Đế Tranh dân gian Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Bàn Vương, tổ của người Dao lúc này tương ứng với vị trí của vua Phục Hy. Bàn Vương cũng mang nghĩa Bàn Cổ, do vậy Phục Hy và Nữ Oa tương ứng Bàn Cổ và Nữ Oa, họ được xem là thủy tổ của loài người, đại diện cho hai yếu tố Dương và Âm trong thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Như vậy, truyền thuyết và huyền thoại của người Dao, Mường… đều phù hợp với các truyền thuyết và huyền thoại của người Việt Nam và Trung Quốc. Ở Trung Quốc, tín ngưỡng “Ngũ Nhạc” gắn liền với Lão giáo và học thuyết Ngũ Hành trong nền văn hóa cổ của Trung Quốc cổ đại: - Hướng Bắc: Hằng sơn thuộc tỉnh Sơn Tây; - Hướng Nam: Hành sơn thuộc tỉnh Hồ Nam; - Hướng Đông: Thái sơn thuộc tỉnh Sơn Đông; - Hướng Tây: Hoa sơn thuộc tỉnh Thiểm Tây; - Trung tâm: Tung sơn thuộc tỉnh Hà Nam. Các vị đế vương thời cổ đại của Trung Quốc đều đến đây tế trời đất. Theo thần thoại Trung Quốc, Ngũ Nhạc có nguồn gốc từ thân thể và đầu của Bàn Cổ, vị thần đầu tiên sáng tạo ra thế giới. Do vị trí ở phía Đông của mình nên Thái sơn được gắn liền với mặt trời mọc, là biểu tượng cho sự ra đời và sự hồi sinh. Cũng vì cách diễn giải này, nó thông thường được nhắc đến như là ngọn núi linh thiêng nhất trong số Ngũ Nhạc danh sơn. Với vị trí đặc biệt của nó, Thái sơn được cho là được tạo thành từ phần đầu của ông Bàn Cổ. Bản đồ các núi linh thiêng của Trung Quốc Hình tròn màu đỏ: Lão giáo, ngôi sao màu tím hồng: Phật giáo file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg So sánh và kết hợp cùng với các kết quả phân tích ở trên, chúng ta hiểu rằng Ngũ Nhạc chính là biểu tượng của Ngũ Đế: Phục Hy, Thần Nông, Đế Tiết, Đế Thừa và Đế Minh. Từ đây, nội dung bài ca dao nổi tiếng đã tạc vào sử xanh trở nên rõ ràng, ngọn núi Thái Sơn chính là biểu tượng của Thanh Đế Phục Hy và bà Nữ Oa: Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con. Các bức tranh Mẫu Thánh Mẫu Thượng Thiên, Thánh Mẫu Thượng Ngàn, chúa Mẫu Thoải, Cô Ba còn có mối liên quan với bộ tranh Tứ Đế của dân tộc Sán Dìu, làng Bức Lệnh, xã Đạo Trù, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, được gọi là “Tứ phủ thần linh”: Thiên phủ còn gọi là Đệ nhất phủ: Đế Minh và Thánh Mẫu Thượng Thiên; Nhạc phủ - Đệ nhị phủ: Kinh Dương Vương và vợ là Mẫu thượng ngàn; Thủy phủ - Đệ tam phủ: Lạc Long Quân và Âu Cơ và Địa phủ - Đệ tứ phủ: Hùng Quốc Vương và Thánh Cô (gọi là đệ tứ khâm sai). Thủy Đế - Địa Đế - Nhạc Đế - Thiên Đế Dân tộc Sán Dìu, miền Bắc Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Từ phân tích bức tranh Tam Phủ Công Đồng, Tứ Phủ Công Đồng và các bức tranh Tầu Khảng, Cưỡi Cá, Thuyền quan, Tứ Đế của các dân tộc thiểu số Miền Bắc Việt Nam, thì chúng ta có thể xác định chính xác được nội dung của bức tranh thờ Đại Công đồng. Đại Công Đồng Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Hàng trên cùng là Phục Hy, Thần Nông, Đế Tiết, Đế Thừa; hàng dưới là Đế Minh, Đế Nghi và Nguyễn Long Cảnh; hàng kế dưới là 5 anh em của vua Kinh Dương Vương, Vua Đế Minh có 6 người con trai với con cả là Kinh Dương Vương và 5 em cùng cha khác mẹ. Như vậy, ở hàng này vua Kinh Dương Vương ẩn, không xuất hiện trên bức tranh; do đó, hàng kế tiếp chính là 4 anh em của vua Lạc Long Quân và hình ảnh vua Lạc Long Quân ẩn, không xuất hiện trên bức tranh; hàng cuối cùng, một cách hợp lý chính là 8 em dâu của vua Hùng Quốc Vương, ở hàng này vua Hùng Quốc Vương ẩn, không xuất hiện trên bức tranh, như vậy, chúng ta có thể nhận định rằng vua Lạc Long Quân có 9 người con trai, vấn đề này sẽ được khẳng định trong các bức tranh dân gian khác và phù hợp với truyền thuyết Chín con của Rồng, mà người đời gọi đó là “Long sinh cửu tử”, hay “Cửu long”. Trong truyền thuyết dân gian phương Đông, rồng có chín con với hình dáng và sở thích hoàn toàn khác nhau. Các con của rồng được dân gian sử dụng làm linh vật trang trí ở những vị trí, những vật dụng với những ngụ ý đặc biệt khác nhau. Hình ảnh Cửu Tử file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image022.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image024.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image026.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image028.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image030.jpg Bị hí (tên khác là bá hạ, bát phúc, thạch long qui) là con trưởng của rồng: linh vật có hình dáng thân rùa, đầu rồng. Bị hí có sức mạnh vượt bậc, chịu được trọng lượng lớn nên thường được chạm khắc trang trí làm bệ đỡ cho các bệ đá, cột đá, bia đá... Li vẫn (còn gọi là si vẫn) là con thứ hai của rồng: linh vật có đầu rồng, miệng rộng, thân ngắn. Tương truyền li vẫn thích ngắm cảnh và thường giúp dân diệt hỏa hoạn nên được chạm khắc làm vật trang trí trên nóc các cung điện cổ, chùa chiền, đền đài... ngụ ý cầu trấn hỏa, bảo vệ bình yên cho công trình. Bồ lao là con thứ ba của rồng: linh vật thích âm thanh lớn, thường được đúc trên quai chuông với mong muốn chiếc chuông được đúc có âm thanh như ý muốn. Bệ ngạn (còn gọi là bệ lao, hiến chương) là con thứ tư của rồng: có hình dáng giống hổ, răng nanh dài và sắc, có sức thị uy lớn. Theo truyền thuyết, bệ ngạn rất thích lý lẽ và có tài cãi lý đòi sự công bằng khi có bất công, nhờ vậy bệ ngạn thường được đặt ở cửa nhà ngục hay pháp đường, ngụ ý răn đe người phạm tội và nhắc nhở mọi người nên sống lương thiện. Thao thiết là con thứ năm của rồng: linh vật có đôi mắt to, miệng rộng, dáng vẻ kỳ lạ. Thao thiết tham ăn vô độ, được đúc trên các đồ dùng trong ăn uống như ngụ ý nhắc nhở người ăn đừng háo ăn mà trở nên bất lịch sự. Công phúc là con thứ sáu của rồng: linh vật thích nước nên được khắc làm vật trang trí ở các công trình hay phương tiện giao thông đường thủy như cầu, rãnh dẫn nước, đập nước, bến tàu, thuyền bè... với mong muốn công phúc luôn tiếp xúc, cai quản, trông coi lượng nước phục vụ muôn dân. Nhai xế là con thứ bảy của rồng: linh vật có tính khí hung hăng, thường nổi cơn thịnh nộ và ham sát sinh, thường được chạm khắc trên các vũ khí như đao, búa, kiếm, xà... ngụ ý thị uy, làm tăng thêm sức mạnh và lòng can đảm của các chiến binh nơi trận mạc. Toan nghê (còn gọi là kim nghê) là con thứ tám của rồng: linh vật có mình sư tử, đầu rồng, thích sự tĩnh lặng và thường ngồi yên ngắm cảnh khói hương tỏa lên nghi ngút. Toan nghê được đúc làm vật trang trí trên các lò đốt trầm hương, ngụ ý mong muốn hương thơm của trầm hương luôn tỏa ngát. Tiêu đồ (còn gọi là phô thủ) là con thứ chín của rồng: linh vật có tính khí lười biếng, thường cuộn tròn nằm ngủ, không thích có kẻ lạ xâm nhập lãnh địa của mình. Tiêu đồ được khắc trên cánh cửa ra vào, đúng vào vị trí tay cầm khi mở, ngụ ý răn đe kẻ lạ muốn xâm nhập nhằm bảo vệ sự an toàn cho chủ nhà (Tham khảo bài viết Chín con của Rồng, tác giả Nguyễn Ngọc Thơ (Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn). Trong bộ tranh thờ Nam Hoa và Nam Đường, thể hiện hình ảnh 6 con trai vua Đế Minh và 5 con trai vua Kinh Dương Vương. Trong tranh Nam Hoa con rùa vàng chở trên thuyền chính là biểu tượng phương Bắc, vua Lạc Long Quân, ba nữ thần trên cùng chính Phật Bảo - Tăng Bảo - Pháp Bảo, còn hai người phụ nữ kế tiếp phía dưới là Thánh mẫu Thượng Ngàn và Chúa Mẫu Thoải. Nam Đường - Nam Hoa - Nam Cung - Tổ tiên I - Tổ tiên II Tranh thờ Đạo giáo các dân tộc miền Bắc, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Trong hệ thống thanh thờ Đạo giáo miền Bắc Việt Nam còn có các bức tranh như Bức tranh Tam Thanh phối Tam Từ của dân tộc Dao Thanh Y ở tỉnh Quảng Ninh. Chúng ta dễ dàng nhận thấy phía dưới các bậc trong Tam Thanh Cung là toàn bộ bức tranh của các thần trong tranh Tam Từ, từ trái qua phải: Đạo Đức Thiên Tôn phối hợp với Chu Lăng Độ Mạng Thiên Tôn; Nguyên Thủy Thiên Tôn phối hợp với Thái Ất cứu khổ thiên Tôn; Linh Bảo Thiên Tôn phối hợp với Cứu U phả Độ Thiên Tôn. Đó là các bước phối hợp thần linh Đạo Giáo với thần linh Phật giáo, tiến rõ thêm một bước là bức tranh Tam Thanh phối hợp Tam Từ, Tam Bảo. Tam Thanh phối hợp Tam Từ Dân tộc Dao Thanh Y ở tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Trong các bức tranh đề cập đến Công tào đại súy quan coi việc ở địa ngục, âm ty và hình ảnh Mục Kiều Liên Bồ Tát đang hóa độ chúng sinh. Nhận định tiếp theo ở bức tranh Tam Thanh phối Tam Từ và Tam Bảo. Bức tranh Tam Thanh phối hợp Tam Từ và Tam Bảo Dân tộc Cao Lan - Sán Chỉ huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang vẽ năm 1921 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image022.jpg Các vị thần linh Đạo giáo tuy vẫn ở vị trí tối thượng nhưng được dồn lên trên, vị trí trung tâm cho thấy hình tượng của Phật là: Pháp Bảo, Phật Bảo, Tăng Bảo là nổi trội. Từ trái qua phải, ta thấy từng tranh có các thần vị, từ trên xuống dưới như sau: Đạo Đức Thiên Tôn, Chu Lăng Độ Mạng Thiên Tôn, Tăng Bảo, ở bên tay trái của Tăng Bảo là hình vẽ vể Phổ Hiền Bồ Tát cưỡi bạch tượng; Nguyên Thủy Thiên Tôn, Thái Ất cứu khổ thiên Tôn, Phật bảo, Công Tào Đại Súy Quan; Linh Bảo Thiên Tôn, Cứu U phả Độ Thiên Tôn, Pháp Bảo phía bên tay trái của vị này là hình vẽ Văn Thù Bồ Tát cưỡi thanh sư và Mục Kiền Liên cầm cây tích trượng đi thăm địa ngục để giáo hóa chúng sinh. Bắc cầu hoa Tranh thờ Đạo giáo, miền Bắc Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image024.jpg Từ sự phân tích trên, dễ dàng thấy nội dung bức tranh Bắc Cầu Hoa của dân tộc Tày thì Mẹ Hoa là chủ cây hoa (sinh ra người - người vốn là hoa của đất), trên cây có hoa vàng, hoa bạc. Những gia đình hiếm muộn con cái làm lễ cầu xin tới Mẹ Hoa, mong mẹ hoa ban phát cho hoa vàng (sinh con trai), hoa bạc (sinh con gái). Ngoài việc cầu cúng bằng lễ nghi, gia đình hiếm con còn làm những việc phúc đức, từ thiện đối với cộng đồng và xã hội như sửa đường, bắc cầu… cho người qua lại để cầu phúc, Họ tin rằng mỗi người qua đường, qua cầu được thuận lợi sẽ có lời khen. Lời khen về công quả phúc đức, từ hiện của họ sẽ thấu đến Mẹ Hoa và Mẹ sẽ ban thưởng con cái cho họ. So sánh ý nghĩa tương đồng giữa các bức tranh thì Mẹ Hoa chính là Bích Hà Nguyên Quân. Tiếp tục quan sát bức tranh Nam Cung của dân tộc Tày, Cao Bằng Nam Hoa Dân tộc Tày, Cao Bằng, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image026.jpg Bức tranh cũng thể hiện vị thần chính là Bích Hà Nguyên Quân và các bà giúp việc chủ yếu. Phía trên cùng bức tranh vẽ Đông Nhạc Đại Đế và tả hữu chư thần. Bích Hà Nguyên Quân được xem là con gái của Ông. Hàng dưới thể hiện 5 đứa trẻ nhỏ đang nhảy múa hoàn toàn với biểu tượng là một bông hoa lớn phù hợp với nội dung phân tích. Đặc biệt chú ý hình ảnh một con chim phượng nổi bật cuối bức tranh thể hiện hình ảnh của Bích Hà Nguyên Quân. Tiếp tục quan sát bức tranh Tam Nãi Phu Nhân của dân tộc Cao Lan - Sán Chỉ, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tam Nãi Phu Nhân Dân tộc Cao Lan - Sán Chỉ, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image028.jpg Từ trên xuống dưới Lý Bát Đại Nương, Lâm Đại Bát Nương - tức thiên Phi hay Thiên Hậu tên húy là Lâm Mặc hay Lâm Hiếu, Sài Đại Bát Nương đang cưỡi ngựa thần với hào quang tỏa sang trên đầu. Bức tranh này hợp tôn thần vị của ba thầy trò Thiên Phi Lâm Mặc. Một vị có thể nhìn xa ngàn dặm (Thiên lý nhãn) và một vị có thể nghe tiếng kêu cứu ngoài ngàn dặm trong dông tố (Thuận Phong Nhĩ); Hai người này giúp cho Thiên Phi Lâm Mặc ở giữa có thể cứu vớt được người bị nạn trong bão tố ngoài biển khơi. Ý nghĩa trên rất tương đồng với quyền năng của Quan Âm Bồ Tát (Quan Âm Nam Hải). Tam Thanh Tranh thờ Đạo giáo, miền Bắc Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Bức Ngọc Thanh cung trong bức tranh có hình một đức bé ở hàng thứ 2 tay trái chỉ lên, tay phải chỉ xuống hoàn toàn giống với dữ liệu lịch sử đề cập ở Chương II: NHỊ ĐỘ MAI, đấy chính là Hương Vân Cái Bồ Tát với câu nói nổi tiếng: “Thiên thượng địa hạ, duy ngã độc tôn” nghĩa là “Trên trời dưới đất, chân lý là duy nhất”. Như vậy, hình ảnh Phật Bảo chính là Hương Vân Cái Bồ Tát và ngày sinh 8 tháng Tư âm lịch chính là ngày đản sinh của bà. Nhận định này hoàn toàn phù hợp với bức tranh Phật Bảo. Quán xét bức Thái Thanh Cung với hình ảnh Thanh Sư ở hàng thứ hai, chính là biểu tượng của Văn Thù Bồ Tát - Tăng Bảo, đại diện Tăng và ta có nhận định đó chính là chính thất của vua Đế Nghi. Nhận định này hoàn toàn phù hợp với bức tranh Tăng Bảo. Bức Thượng Thanh Cung: với hình ảnh Bạch tượng ở hàng thứ hai, chính là biểu tượng của Phổ Hiền và đó chính là chính thất của Nguyễn Long Cảnh. Hành say Tranh thờ Đạo giáo, miền Bắc Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Theo bức tranh Hành Say, cảnh 1,2 và 9 là các cảnh không thay đổi trong tất cà các bức tranh, và cảnh 8: là hình ảnh của vị Thổ Địa thần. Như vậy ngay sau cảnh 1: Tam Thanh và cảnh 2: Ngọc Hoàng Thượng Đế. Chúng ta cũng đã nhận định các bức tranh phối Tam Thanh - Tam Từ - Tam Bảo thì Tam Từ chính là ba anh em Đế Minh. Đế Nghi và Nguyễn Long Cảnh, trong đó Đế Nghi và Đế Minh là hai anh em sinh đôi. Như vậy trong bức tranh Hành Say mất đi hình ảnh của Tam Từ. Tuy nhiên cũng căn cứ bức tranh này, ta thấy 7 động vật rùa, rắn, ngựa, lân, long, hổ, trâu đang chạy tới ngôi đền mà Thổ Địa Thần đang ngự, nếu nhận định Thổ Địa Thần chính là Tam Từ thì bố cục bức tranh hoàn toàn liên tục giữa Tam Thanh - Tam Từ - Ngọc Hoàng Thượng Đế. Mặt khác, theo Đạo giáo thì Thổ địa thần có nguồn gốc từ xã Thần thời cổ đại, nắm giữ sự sinh trưởng của vạn vật, khiến cho con người sinh tồn. Hình tượng thần Thổ địa là một ông già râu tóc bạc phơ, mặc áo bào, đội mũ. Thông thường, trong miếu thổ địa, ngoài thần Thổ địa ra còn có người phối ngẫu mà dân tục gọi là bà Thổ địa. Bà Thổ địa cùng thần Thổ địa hưởng hương hỏa cung phụng. Thời Nhà Chu thần Thổ địa được phân cấp, vua lập gọi là Đại xã, chư hầu lập là Hầu xã, bậc Đại phu lập gọi là Thư xã. Thời Tần Hán về sau, tổng các xã thần trong thiên hạ được gọi là Hậu Thổ Hoàng Kỳ, do quốc gia chuyên lễ tự, còn ở các địa phương các xã thần được chuyển thành Thổ địa. Như vậy Thổ Địa thần chính là Hậu Thổ Hoàng Kỳ và hình ảnh tượng trưng là bao gồm hai người là bà Thổ địa cùng thần Thổ Địa. Dễ dàng nhận ra Hậu Thổ Hoàng Kỳ chính là hình ảnh của vua Đế Minh và Hương Vân Cái Bồ Tát. Tam Thanh là các vị thần chủ có chức vị cao nhất trong Đạo giáo bao gồm Nguyên Thủy Thiên Tôn ở trung tâm, Linh Bảo Thiên Tôn ở bên tay trái và Đạo Đức kinh Thiên Tôn ở bên tay phải, hai bên là Hữu Lý Thiên Sư cưỡi lân và Tả Trương Thiên Sư cưỡi hổ vùng với bức tranh Tứ trực Công Tào. Tam Thanh cùng Tứ trực công tào Tranh thờ Đạo giáo, miền Bắc Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image022.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image024.jpg Căn cứ nội dung phân tích các lớp nhân vật trong bức tranh Đại Công đồng, thì chúng ta hiểu rằng bức tranh Tứ Trực Công Tào thể hiện Tứ Đế ở trên hay bốn vị thần linh cai quản Cõi Thượng Thiên, Cõi Thượng Ngàn, Cõi Đất và Cõi Nước, bốn cõi này còn được gọi là Công Tào Thiên Phủ, Dương phủ, Địa phủ và Thủy phủ. Bốn con vật cưỡi ứng với bốn phương trời là rồng xanh, cá chép, kỳ lân và phượng hoàng (trên trống đồng Ngọc Lũ cũng thể hiện bốn Cõi này như đã phân tích). Tứ Trực Công Tào Tranh thờ Đạo giáo, miền Bắc Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg * Tứ trực công tào: Biểu tượng cho 4 khu vực của các chòm sao chính trên bầu trời, bao gồm: Thanh Long (phía Đông); Bạch Hổ (phía Tây); Huyền Vũ (Phía Bắc) và Chu Tước (phía Nam) và cũng tượng trưng cho không thời gian Năm, Tháng, Ngày, Giờ. Như vậy, bộ tranh Tam Thanh chỉ thể hiện tới ngôi vị thần linh từ vua Đế Minh trở lên, bao gồm: Đế Khiết, Đế Thừa và Thần Nông. Trong bức tranh không xuất hiện Phục Hy. Trong nền mỹ thuật dân gian, hình ảnh vua Phục Hy đi cùng với Nữ Oa, vị nữ thần tối cao của dân tộc Trung Quốc. Chúng ta cũng biết Phục Hy hay Thanh Đế đại diện phương Đông hành Mộc, Thần Nông hay Xích Đế đại diện phương Nam hành Hỏa, Đế Tiết hay Hoàng Đế đại diện Trung ương hành Thổ, Đế Khiết hay Bạch Đế đại diện phương Tây, hành Kim và tới Đế Minh hay Hắc Đế hoặc Huyền Đế đại diện phương Bắc, hành Thủy, đấy là lý do bức tranh Tam Từ thể hiện màu xanh mực ứng với phương Bắc, đây là lý tương sinh của Hậu thiên Bát quái phối Hà Đồ. Trong bức tranh Tam Thanh thì theo trục thần đạo ở giữa, thì vua Thần Nông ở vị trí trung tâm tương ứng Nguyên Thủy Thiên Tôn, bên tay trái là Đế Tiết tương ứng Linh Bảo Thiên Tôn và bên tay phải là Đế Khiết tương ứng Đạo Đức Thiên Tôn. Tứ Ngự hay còn gọi là Tứ Trực Công Tào là tên thần trong Đạo giáo, đó là 4 vị Thiên Đế phò tá Tam Thanh trong thiên giới của Đạo giáo. Tên đầy đủ của 4 vị đó là: Hạo Thiên Kim Khuyết chí tôn Ngọc Hoàng Đại Đế - Kinh Dương Vương, Trung Thiên tử vi bắc cực Thái Hoàng Đại Đế - Hùng Quốc Vương, Câu Trần thượng cung Nam Cực Thiên Hoàng Đại Đế - Lạc Long Quân và Thừa Thiên hiệu pháp Hậu Thổ Hoàng Kỳ - Đế Minh. Trong bức tranh Tam Thanh còn có Hữu Lý Thiên Sư cưỡi lân theo chú thích là Lý Tịnh (Lý Võ), Tả Trương Thiên Sư cưỡi hổ theo chú thích là Trương Đạo Lăng, tổ sư của Đạo giáo, chúng tôi nhận định là Hữu Sào và Toại nhân tức Lão Long Cát. Hai vị nguyên soái này xuất hiện trong bức tranh dân tộc Nùng Tam Thanh và cũng phù hợp hoàn toàn với nội dung Nguyễn tộc từ đường phả lục chính bản: Thần Nông tức Đế Khôi lúc nhỏ có Hữu Sào và Toại Nhân tức Lão Long Cát cùng trợ giúp nhiếp chính, đánh đuổi gia nô Hiên Viên do dấy binh làm phản, thừa kế lại sự nghiệp của tổ tiên, tiếp nối của cha Đế Thiên - Phục Hy, lên ngôi vua sáng, thi hành chính nhân, dân chúng một mực kính yêu. Trước đây, ở nước ta có lưu truyền cuốn sách y dược Thần Nông bản thảo sau bị giặc nước tiêu hủy. Trong bộ tranh Tam Thanh phối hợp Tam Từ và Tam Bảo, chúng ta thấy phía dưới Tam Từ ở trung tâm là Phật Bảo, hai bên là Phổ Hiền Bồ Tát cưỡi bạch tượng và Văn Thù Bồ Tát cưỡi thanh sư, mà Tam Từ là Đế Minh, Đế Nghi và Nguyễn Long Cảnh, điều này có vẽ chưa hợp lý? Trong bức tranh Thái Ất Thiên Tôn và Phật Bảo, Chu Lăng Độ Mạng Thiên Tôn và Tăng Bảo, Cứu U Phả Độ Thiên Tôn và Pháp Bảo và bộ tranh Thái Thanh Cung - Thượng Thanh cung - Ngọc Thanh Cung: Thái Thanh Cung - Thượng Thanh cung - Ngọc Thanh Cung Dân tộc Tày - Nùng, miền Bắc Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Ngay phía dưới Tam Thanh là Phật Bảo, Tăng Bảo, Pháp Bảo tương đương vị trí của Tam Từ, như vậy chúng ta thấy rằng Tam Từ và Tam Bảo tương ứng âm dương đối ngẫu, lúc này vợ vua Đế Minh tức Thánh Mẫu Thượng Thiên là Phật Bảo, chính thất của vua Đế Nghi là Văn Thù Bồ Tát và chính thất của Nguyễn Long Cảnh là Phổ Hiền Bồ Tát. Phật Bảo là ai? Chúng ta hãy cùng xem lại bức tranh dân gian Hàng Trống: Bà Chúa Ba Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpg Trong dòng tranh dân gian Đông Hồ còn có bộ tranh Rồng dâng hương - Hạc tiến quả với tên chùa Hương Tích trên bức tranh, đồng thời bộ tranh nhị bình dân gian Hàng Trống Bà Chúa Ba - Quan Âm Bồ Tát, liên quan đến câu chuyện Phật Bà Chùa Hương, chính là nơi thờ phụng Mẫu như nhận định trong việc phân tích mật ngữ trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ. Vậy chùa Hương Tích ẩn dấu những điều gì? Chúng ta hãy xem lại nội dung câu truyện Phật Bà Chùa Hương hay Truyện Bà Chúa Ba. Truyện Phật Bà Chùa Hương hay truyện Bà Chúa Ba được cho là ra đời vào thế kỷ XVIII, là truyện Nôm khuyết danh, viết bằng thể thơ lục bát cổ truyền của dân tộc. Về sau, các vở chèo, tuồng, cải lương… đều dựa và cốt truyện này, nội dung như sau: Đời xưa, vua Diệu Trang Vương, nước Hưng Lâm, không có con trai. Vua và hoàng hậu cầu tự ở đền Tây Nhạc. Vua Diệu Trang Vương vốn không phải là vị vua hiền, nhưng do một lòng chí thành cầu tự nên lòng thành thấu đến Phật trời. Vua sinh được ba công chúa là Diệu Thanh, Diệu Am, và Diệu Thiện. Duy chỉ có Diệu Thiện là người mộ đạo Phật, xem nhẹ gác tía lầu hồng, chẳng mong quyền quý, “ăn chay, niệm Phật, nói lời từ bi”. Vua Diệu Trang gả công chúa Diệu Thanh cho Trạng nguyên họ Triệu, gả công chúa Diệu Am cho quan võ họ Hà. Vì hai phò mã chẳng phải người hiền, không thể nối ngôi nên vua Diệu Trang muốn kén rể cho công chúa thứ Ba bằng được. Công chúa Diệu Thiện một mực từ chối, chỉ một lòng xuất gia hướng Phật, chẳng thiết đến chuyện dựng vợ gả chồng. Nhưng nếu phải vì chữ hiếu, phải vâng lệnh cha thì nàng sẽ lấy một thầy thuốc để cứu nhân độ thế. Vua cha tức giận, bắt nhốt ở vườn sau, nhưng Bà Chúa Ba vẫn không nản lòng, đêm ngày hướng Phật. Vua nghe tỳ nữ bày kế đưa Chúa Ba ra chùa Bạch Tước, các sư bày rất nhiều việc cho bà, mong làm bà nản lòng. Nhưng Bà Chúa Ba vẫn vui vẻ chấp nhận, vì cho rằng “hữu thân hữu khổ”. Vua tức giận sai đốt chùa, Bà Chúa Ba khấn nguyện chí thành, cắt tay vẩy máu lên không trung. Lòng thành động đến Thiên Đình, máu biến thành mưa dập tắt lửa. Vua đem công chúa Diệu Thiện ra pháp trường thì Ngọc Hoàng sai thần linh hóa mãnh hổ đưa về rừng. Hồn Bà Chúa Ba được sứ giả của Diêm Vương mời xuống âm ty, thăm 18 cửa ngục. Thấy chúng sinh đau đớn, khổ sở trong các ngục, bà xót xa, cảm thương liền chuyển chú, niệm kinh. Các tội nhân nhờ đó mà được “đại xá siêu sinh từ rày”. Sau khi về cõi dương trần, Bà được Đức Thế Thế Tôn thử thách, cho quả đào tiên rồi chỉ cho về núi Hương Tích, gần bể Nam Việt tu hành. Sau 9 năm tu hành ở Hương Tích, Bà đắc thành Chính quả. Vua Diệu Trang đốt chùa, giết hại Tăng ni, nên bị Ngọc Hoàng giáng bệnh nặng, “thân hình chốc lở, chiếu giường tanh hôi”. Phật Bà dùng huệ nhãn, biết cha lâm bệnh nặng, hiện hình thành Hòa thượng vào cung chữa bệnh. Lão tăng bảo phải có tay, mắt của Tiên nhân tu ở núi Hương Tích làm thuốc thì bệnh mới khỏi. Đức Phật Bà cũng phá tan mưu sâu kế độc của hai phò mã. Vua sai Triệu Chấn, Lưu Khâm dến núi Hương Tích lấy tay, mắt của Tiên nhân về làm thuốc. Hoàng hậu nhận ra đó chính là của công chúa Diệu Thiện nên rất đau lòng. Vua khỏi bệnh, nhường ngôi cho lão tăng nhưng ngài từ chối, khuyên vua “ở lòng nhân đức, cho hay lấy mình”. Vua và hoàng hậu lên núi Hương Tích để cảm tạ Tiên nhân, thì nhận ra đó là công chúa Diệu Thiện. Vua biết chuyện nên rất đau xót và hối hận. Công chúa Diệu Thiện bảo vua cha dốc lòng tu đức, sám hối thì nàng sẽ trở lại như xưa. Vua Diệu Trang thương con, hối hận một lòng sám hối, thì lạ thay, “hai tay, hai mắt vẹn người”. Bà Chúa Ba được trở lại như xưa. Vua, hoàng hậu, hai công chúa Diệu Thanh, Diệu Am dốc dòng quy y Phật. Chẳng bao lâu, vua cha, hoàng hậu, hai chị đều thành chính quả, “cả nhà vinh hiển thơm tho”. Vua Diệu Trang được sắc phong là Thiện Thắng Bồ Tát, hoàng hậu là Khuyến Thiện Bồ Tát, công chúa Diệu Thanh là đại thiện Văn Thù Bồ Tát, cưỡi con sư tử xanh, công chúa Diệu Am là đại thiện Phổ Hiền Bồ Tát, cưỡi con voi trắng, vĩnh viễn làm chủ đạo tràng núi Thanh Lương. Phật Bà chùa Hương là truyện Nôm khuyết danh, viết bằng thể thơ lục bát cổ truyền của dân tộc, ca ngợi công đức của Bà Chúa Ba vượt qua mọi sự ngăn cấm của vua cha, một lòng tu hành và chứng quả Bồ Đề. Có thể thấy, văn phong của tác phẩm rất bình dân, mộc mạc dễ đi vào lòng người, “Nôm na xin diễn tích Ngài, cho người ít chữ nhớ lời kính tin”. Trong chúng ta, ai cũng có Phật tính, nếu biết “quay đầu là bờ”, giải trừ tam độc tham, sân, si, giữ lòng trong sạch, niệm kinh giữ giới, làm điều thiện để có được nhân lành. Ấy là triết lý đầy tính nhân văn của nhà Phật mà người xưa đã đúc kết và truyền lại cho hậu thế qua tích truyện Phật Bà Chùa Hương: … Thưa rằng sắc vẫn là không, Thử suy giấc mộng, ngắm trong đời người. Đua danh, đua lợi tơi bời, Như đem trò rối, làm chơi là thường. Dù ba mươi sáu tàn vàng, Tuổi ngoài ba vạn sáu ngàn ngày thôi… … Nghĩ ra nên cũng buồn rầu, Sao bằng mượn cảnh mà tu lấy mình. May ra siêu thoát tử sinh, Yên thân nước Phật ,vui hình cõi Tiên… (Trích và tham thảo bài Đầu xuân kể chuyện Phật Bà chùa Hương, tác giả Minh Ngọc). Vậy thì, Bà Chúa Ba hay Phật Bà chùa Hương chính là Phật Bảo trong các bức tranh thờ của các dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam, trong dân gian thượng hay gọi là Phật Bà Quan Âm, hai em dâu của bà là Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát là chính thất của vua Đế Nghi và Nguyễn Long Cảnh. Cả ba vị đều tương hợp vị trí trên các bức tranh và tương ứng với Tam Từ. Trong bức tranh có các con thú như chim, hổ, nai phía trước chùa, các con thú trong hình ảnh là biểu tượng của các nhân vật như đã phân tích. Đặc biệt, hình ảnh chuông và trống treo cùng nhau chứ không tách ra hai bên như thường lệ, điều này nói lên sự hợp nhất âm dương hội tụ vào ngôi chùa, hay ngôi chùa chính là trung tâm tôn giáo của quốc gia thời các vua Hùng. Tranh cổ Nhật Bản file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Bức tranh dân Hàng Trống Bà Chúa Ba với hình ảnh Phật Bà Quan Âm ở giữa nổi bật và thị giả là hai Bồ Tát phù hợp với truyền thuyết về công chúa Diệu Thiện, tuy nhiên cũng từ bức tranh thờ thì Phật Bà Quan Âm chính là Hương Vân Cái Bồ Tát với hình ảnh là đứa bé sơ sinh, tay trái chỉ lên trời và tay phải trỏ xuống đất, nói Thiên hạ, địa hạ duy ngã độc tôn. Căn cứ vào sự phân bố vị trí các Phật và Bồ Tát thì truyền thuyết về công chúa Diệu Thiện nói về Hương Vân Cái Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát và Văn Thù Bồ Tát, trong khi đó Phật Bà Quán Âm là Long Nữ, mẹ của vua kinh Dương Vương như đã phân tích. Trở về dòng tranh dân gian Hàng Trống, chúng ta thấy có bức tranh Quan Âm Bồ Tát ngự trên tòa sen với bên phải là cây tùng, bên trái là lư hương, đồng thời phía trước là hình ảnh con “Cóc ba chân” và hai ngọc nữ với trang phục trắng và xanh hầu cận hai bên. Quan Âm Bồ Tát trong trang phục màu đỏ nổi bật, tay trái cầm bình nước cam lồ (tịnh thủy) và tay phải cầm nhành dương liễu đang phổ độ chúng sinh. Quan Âm Bồ Tát Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Qua hình ảnh chiếc lư hương còn sự gợi ý về những sợi khói của hương trầm bay lên trong khung cảnh trang nghiêm. Do vậy lư hương này ẩn nghĩa về tên chùa “Hương Tích” vậy, và vì vậy ý nghĩa tên chùa Hương Tích chính là hương xưa, tích cũ ẩn dấu những điều huyền diệu từ một thời xa vắng. Cây tùng là cây thông xanh, loài cây này dù giá rét đến mấy cũng vẫn xanh tươi, ám chỉ người có bản lĩnh vững vàng. Trong hội họa, cây tùng tượng trưng cho người quân tử. Cây Tùng là biểu tượng của với Đạo giáo, của sự đắc đạo thành Tiên, hình ảnh cây tùng cũng giống như cây Bồ Đề, tượng trưng cho sự thành đạo, đạt quả vị Phật. Cùng với hình ảnh cây tùng bên phải của Quan Âm Bồ Tát, ta thấy hình ảnh đối xứng là chiếc lư hương bên trái, một trong những pháp khí của điện thờ. Trong Chương II: TIẾNG TRỐNG HOÀNG KIM thì trống đồng, chuông đồng là những thần khí quốc gia và Đạo Mẫu, nay trong bức tranh lại xuất hiện lư đồng, vậy thì tương ứng với bốn phương trời các thần khí tương ứng chuông, trống, vạc, lư, đỉnh của một ngôi chùa, đình, đền, đạo quán,… tạo thành một bộ thần khí đầy đủ. Để xác định Quan Âm Bồ Tát là vị nào trong hệ thống tranh thờ Đạo giáo, chúng ta cùng xem xét bộ tranh Hành Say: Hành Say Tranh thờ Đạo giáo, miền Bắc Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg So sánh cùng tranh Tử Vi Cung với tranh Hành Say từ trên xuống dưới không ăn khớp với nhau do trải qua hàng thiên niên kỷ, nội dung đã bị sai lạc nhiều: Tam Thanh - Tam Thanh 3 người (Thái Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh) Ngọc Hoàng Thượng Đế - Quan Âm Bồ Tát (Kinh Dương Vương - Vua Hùng Vương I) Đại Phạm Thiên Vương - Quan Âm Bồ Tát Hổ (…) Tây Vương Mẫu - - Long Phượng Tam Nương Rồng (…) Natra Thái Tử - Hải Bá (…) Lân Án Chủ - Thái Úy (…) Voi Hỏa Lao - Bắc Âm Đại Vương (…) Rùa Ngũ Đẩu Tinh Quân - Natra Thái Tử (…) Rắn Thổ địa thần - Thổ địa thần (Thần Thổ địa - Thần Thổ địa tức Hoàng kỳ Thổ địa) Trong miếu Long thần Hải Bá Cầm kiếm và tù và, cưỡi con dải xanh Sơn thần Thái Vĩ Cầm kiếm và ấn tín, cưỡi ngựa trắng Cùng với các phân tích và nhận định các sự kiện lịch sử liên quan Phật giáo, Đạo giáo, đạo Mẫu, phả hệ Hùng Vương ở trên trong mối tương quan hợp lý, chúng ta có thể sắp xếp lại cấu trúc bộ tranh Hành Say và Tử Vi Cung như sau: Tam Thanh 3 người (Thái Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh) Ngọc Hoàng Thượng Đế - Tây Vương Mẫu, Phật Mẫu Hổ (Kinh Dương Vương - vua Hùng Vương I) Đại Phạm Thiên Vương - Quan Âm Bồ Tát Rồng (Lạc Long Quân - Bắc Đẩu - vua Hùng Vương II) Nam Tào - Tam Nương hay Tam Nãi Phu Nhân, Cô Ba, Thánh Cô Lân (Hùng Quốc Vương - vua Hùng Vương III) Án Chủ (Sơn Tinh - Vua Hùng Vương IV - truyện Sơn Tinh Thủy Tinh) Voi Bắc Âm Đại Vương (Vua Hùng Vương V) Rùa Natra Thái Tử (Vua Hùng Vương VI - truyện Thánh gióng) Rắn Ngũ Đẩu tinh quân (Lang Liêu - Vua Hùng Vương VII - chuyện Bánh chưng bánh dày) Trâu Thổ địa thần (Đế Minh - Phật Bà Quan Âm, tức Hoàng kỳ Thổ địa) Trong miếu Long thần Hải Bá Toại Nhân (Hữu lý đệ sư) Cầm kiếm và tù và, cưỡi con giải xanh Sơn thần Thái Vĩ Hữu Sào (Tả trương thiên sư) Cầm kiếm và ấn tín, cưỡi ngựa trắng * Cấu trúc được xem xét theo Hậu Thiên Bát quái và phù hợp với thất tinh, bảy luân xa cột sống (sẽ được dẫn chứng và minh xác trong các chương sau). * Natra thái tử có 6 loại binh khí hàng yêu (truyện Phong thần, tác giả Bồ Tát Nguyễn Minh Không). * Án chủ: vị thần xem xét hai cung sinh tử. * Hỏa lao: ngục lửa để trị tội nhân. * Cửu trùng đài: thể hiện 9 tầng thần thánh trong 9 cõi trời. Vậy, vị trí Quan Âm Bồ Tát trong tranh Hành Say tương ứng vị trí của Lạc Long Quân, với biểu tượng là mặt trăng, vậy thì Quan Âm Bồ Tát chính là Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát, một trong “Đông Phương Tam Thánh” bao gồm: Đông Phương Dược Sư Lưu Ly Quang Phật, Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát và Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát. Trong đó, Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ Tát chính là Quan Thế Âm Bồ Tát; Nhật Quang Biến Chiếu Bồ Tát chính là Tây Vương Mẫu và Đông Phương Dược Sư Lưu Ly Quang Phật chính là Hương Vân Cái Bồ Tát hay Bà Chúa Ba. Đặc, biệt còn có “Cóc ba chân” đối diện với Quan Âm Bồ Tát, mà “Cóc ba chân” là biểu tượng của mặt trăng, thể hiện sự tái sinh. Để kiểm tra và hiệu chỉnh, chúng ta quán xét các bức tranh Tổ Tông và Đại Đường Kiều trước khi quay trở lại bức tranh Thánh Đại hưng Long số 6. Đại Đường Kiều Tranh thờ Đạo giáo, miền Bắc Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Tổ Tông Dân tộc Dao Đỏ, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Tên các vị thần theo số thứ tự sau: - Âm thiên đại vương: vị vua trời của cõi âm. - Ngọc Đế Đại Vương: - Hoàng Sào Đại Vương: lãnh tụ khởi nghĩa năm 881 chống lại triều đình nhà Đường, ở Trung Quốc, xưng đại vương. - Âm La đại vương: chữ âm la dịch từ chữ Yama là thần chết của Ấn Độ, Iran, còn gọi là Sâm La hay Diêm La: các vua cai quản địa ngục. - Minh chiêu đại vương: vị vua ánh sáng. - Hồng Mẫu đại vương: vị thánh mẫu tôn phong là đại vương. - Phúc Sào đại vương: vị vua biệt hiệu là nhà có phúc. - Thanh y đại vương: vị vua áo xanh, còn có ý nghĩa là gia đình đỗ đạt làm quan. - Xá tội vương: vị vua chuyên việc xá tội, Đạo giáo Trung Quốc cho rằng Trung Nguyên Địa Quan (còn gọi là Trung Nguyên Đại Đế) trông coi địa ngục, chuyên việc xá tội cho các vong linh, nên hay cầu cúng để cầu ngài xá tội vào tiết Trung nguyên, 15 tháng 7 âm lịch, còn gọi đó là ngày xá tội vong nhân. - Bốn vị nữ thần: tượng trưng cho bốm mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Bốn vị được vẽ trong trang phục của ngưởi Dao. - Mười hai cô tiên tương trụng cho 12 năm trong 1 giáp (thập nhị niên giáp), nên mổi chiếc quạt cầm tay của mỗi cô tiên, có ghi 2 chữ, có ý chúc tụng cho mọi việc tốt đẹp. Theo thứ tự từ trái quá phải (trừ những chữ bị mờ) như sau: … khang… (cầu mong mạnh khỏe), chân phúc (hạnh phúc được vững bền), công mãn (công việc, sự nghiệp được mãn nguyện), hậu phi (hậu vận phi thường), sương mãn (của cải đầy kho), ninh tài (yên vui giàu có), đăng phong (phong đăng hòa cốc), hợp ngũ *hòa hợp với ngũ hành), an (trường?) (yên lành lâu dài), dương tử (sinh được con cái)…, … hưu (… tốt đẹp). Có các vị thần không thấy đề tên. Căn cứ hình tượng trong các tranh khác để đối chiếu, có thể có một số thần linh sau đây: - Thái Vĩ - Thượng nguyên quan hay Thượng Nguyên Đại Đế trông coi cõi trời, có thể ban phúc. Hạ nguyên thủy quan hay Hạ nguyên Đại Đế, trông coi miền sông nước, có thể giải trừ tai ách hoạn nạn. Ta thấy trong bức tranh này đã có thêm vào nhiều vị thần sau này như Hoàng Sào Đại Vương, chứng tỏ rằng bức tranh ra đời muộn, tuy nhiên cấu trúc có vẻ giống với bộ tranh Hành Say theo thứ tự trên xuống, chúng tôi tạm nhận định nhưng chưa định vị các thần linh, chỉ sau khi xác định được chính xác thần linh và đã hệ thống hóa lại toàn bộ tranh thờ các dân tộc thiểu số miền Bắc, Việt Nam: - Âm thiên đại vương - vị vua trời của cõi âm, trên cả Ngọc Hoàng Thượng Đế chính là Tam Thanh, tuy nhiên chỉ có một vị, do vậy nhận định chính là Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn (chứ không phải là Nguyên Thủy Thiên Tôn trong Tam Thanh). - Tiếp theo Ngọc Hoàng Thượng Đế - hiệu Phúc Lộc. - Hoàng Sào Đại Vương không tồn tại trong bức tranh này. - Âm La đại vương hay Bắc Đẩu Đại Đế - Lạc Long Quân - hiệu Phúc Thọ. - Hồng Mẫu đại vương: vị thánh mẫu tôn phong là đại vương hay chính là vợ của Hùng Quốc Vương - hiệu Khang Ninh. - Phúc Sào đại vương: vị vua biệt hiệu là nhà có phúc hay chính là Sơn Tinh - Hùng Vương thứ IV - hiệu Phúc Nguyên. - Thanh Y đại vương: vị vua áo xanh, còn có ý nghĩa là gia đình đỗ đạt làm quan hay chính là Hùng Vương V - hiệu thánh Ánh Sáng. - Xá tội vương (Trung Nguyên Đại Đế): Hùng Quốc Vương - Địa Tạng Bồ Tát. - Mười hai cô tiên tương trưng cho 12 năm trong 1 giáp (thập nhị niên giáp). Căn cứ hình tượng trong các tranh khác để đối chiếu, có một số thần linh cưỡi vật linh sau đây: Thái Vĩ; Thượng nguyên quan hay Thượng Nguyên Đại Đế trông coi cõi trời, có thể ban phúc. Hạ nguyên thủy quan hay Hạ nguyên Đại Đế, trông coi miền sông nước, có thể giải trừ tai ách hoạn nạn. Với nhận định này thì vị trí tương ứng vua Lạc Long Quân trên các bức tranh Hành Say tương ứng vị trí Quan Âm Bồ Tát - Mẫu Âu Cơ hoàn toàn ăn khớp. Mặt khác, theo lịch sử Phật giáo, thì hình tượng Quan Âm Bồ Tát có rất nhiều hình tượng, cùng với nhận định về Phật Bà Quan Âm, Phật Mẫu Diêu Trì, Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát… rõ ràng các hình ảnh thể hiện những vị Phật, Bồ Tát khác nhau? Vấn đề này sẽ giải quyết trong Chương III: TAM DƯƠNG KHAI THÁI. Hình ảnh Quan Âm Bồ Tát hay Mẫu Âu Cơ, cũng là Mẹ Tiên hay Mẹ Hoa sẽ là một mối giềng mật ngữ. Từ đó ta thấy sự thờ cúng Phật Bà Quan Âm, Thánh Mẫu Thượng Thiên “Xuất thế vi Tiên, giáng thế vi Phật” phản ảnh đúng ý nghĩa đã được giải mã. Trong bức tranh Thánh đạo hưng long, Tử Cung được cai quản bởi Bắc cực Tử Vi Đại Đế, tuy nhiên theo nhận định chủ quan Bắc đẩu nằm trung tâm hay Thái Âm quản lý. Qua phân tích thì Bắc Đẩu là Lạc Long Quân, còn Nam Tào hay Thái Dương chính là Hùng Quốc Vương đứng hai bên Ngọc Hoàng Thượng Đế, vua Kinh Dương Vương. Như vậy,Phong Đô Đại Đế chính là Bắc cực Tử Vi Đại Đế và cũng là Lạc Long Quân, vua Cõi Nước, Cõi Âm, Cõi Chết. Nam Tào coi sổ sinh tức Địa Tạng Vương Bồ Tát, là người có khả năng cứu vớt các linh hồn dưới Cõi Chết (chúng ta chú ý trên bầu trời là phương Bắc thì dưới đất là phương Nam, định hình thep Tiên Thiên Bát quái và Hậu Thiên Bát quái, khi dùng kim chỉ Nam dưới đất có nghĩa trên bầu trời là phương Bắc). Theo Đạo giáo, Phong Đô Đại Đế là cấp trên của U Minh Giáo Chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát. U Minh Giáo Chủ lại là cấp trên cai quản Thập điện Diêm Vương. Quỷ Môn quan chính là hình tượng của địa ngục.Hai băng chữ trên bức tranh có đại ý: “Phá vỡ địa ngục và cứu vớt vong hồn”. Tranh Phong Đô Đại Đế và Địa Tạng Bồ Tát Dân tộc Tày Nùng, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Chúng ta cũng chú ý, hình ảnh Huyền Thiên Trấn Vũ chống kiếm trên mai rùa, trong khi đó con rắn quấn quanh thanh kiếm thể hiện rùa rắn hợp hình, Huyền Thiên Trấn Vũ trấn phía Bắc chính là vua Cõi Nước, Cõi Chết, Cõi Âm hay Phong Đô Đại Đế Lạc Long Quân. Tranh Tử Vi Cung còn gọi là trung Phủ (phủ ở giữa) cai quản sinh tử, tội lục (các sổ sống và chết). Phong đao (gió sắc như kiếm) chủ đạo trong cung, gọi một cách hình ảnh là “cung điện của gió”. Chúng ta biết rằng kinh đô Phong Châu của nước Văn Lang cũng có nghĩa là “kinh đô của Gió”, ý nghĩa hoàn toàn tương tự. Tranh Thánh Đạo Hưng Long số 1 (3 bức) Dân tộc Sán Dìu, xã Đạo Trù, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Qua bộ tranh sưu tập từ dân tộc Cao Lan - Sán Chỉ và Sán Dìu này cho thấy một đặc điểm về bố cục tranh thờ của Đạo giáo dù là bộ tranh ba bức hay 13 bức thì bao giờ cũng có một bức tranh trung tâm - thường là có ngôi vị thần chủ trung ương, làm trục chính giữa: chân dung các thần chủ chính, trung ương được vẽ chính diện, các thần tả hữu đều được vẽ chân dung và tư thế hướng chầu về trung tâm. Từ đặc điểm đó ta sẽ thấy sự sắp xếp về tranh bên phải và tranh bên trái so với trung tâm. Thần linh của Đạo giáo rất nhiều, vẽ dày đặc trên tranh, nhưng do cách bố cục như vậy cũng giúp ta phân biệt các tính chất, ngôi vị… của các thần. Theo Tam Nguyên Phẩm giới, các bộ tranh Thánh Đạo Hưng Long 1 có thứ tự sắp xếp theo sơ đồ đã nêu ở trên. 1. Bức tranh ở giữa là Tử Vi Cung: có tên chữ Hán đọc là Huyền Đô Nguyên Dương Thất Bảo Tử Vi Cung có Thượng Chân Tự Nhiên Ngọc Lô Cao Hoàng Thượng Đế, cai quản tất cả các hoàng đế, thiên vương, tôn thần, tôn thánh. Cung này còn gọi là Trung Phủ (phủ ở giữa) cai quản sinh tử, tội lục (các sổ sống và chết). Phong đao (gió sắc như kiếm) chủ đạo trong cung, gọi một cách hình ảnh là cung điện của gió. Ở cung này cho phép Diên mệnh (kéo dài tuổi thọ), tức là số mệnh con người tuy được định trong sổ Tử (do Bắc Đẩu - Tử Cung), nhưng nếu có duyên may được Tử Vi Cung xem xét, có thể kéo dài sự sống: có nghĩa là từ đoạn thọ sang trường thọ. Và ta cũng nên hiểu thêm rằng: Vì tội lỗi mà đoản thọ, được trường thọ là hạnh phúc (cho nên các bức tranh chính, ở giữa, gọi là Trung Phủ dù đã được gọi là Tổng Đàn (như trong các bộ tranh Hành Say) thường có mang dòng chữ tiêu đề là Phúc - Lộc - Thọ như bộ tranh số 8 làm ví dụ). Ngoài các thần giúp việc, ta thấy tranh Tử Vi Cung của bộ Thánh Đạo Hưng Long này có các thần tự nhiên tối cao, như sau: Nguyên Thủy Thiên Tôn, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đại Phạm Thiên Vương (tức Brahma) và Tây Vương Mẫu, đến là các bậc sáng tạo thế giới tự nhiên được vẽ ở ngôi thần chủ chính của tranh. Để minh họa thêm cho có ý nghĩa đó người ta còn vẽ Thượng Thiên Vương cầm mặt Trăng và Khai Thiên Vương cầm mặt Trời, (đồng thời nhất mạnh thêm trong hình tượng Đại Phạn Thiên Vương - vốn là đáng sáng tạo tối cao của Bà La Môn giáo - Ấn Độ đã được Việt Nam hóa, trong hình tượng thần 3 mặt hai tay giơ cao hình mặt trời và mặt trăng. Hàng ngày, các vị thần trong Tử Vi Cung trong cõi tự nhiên này (Thượng Chân Tự Nhiên) ở tranh Tử Vi Cung, xem xét sổ sinh do Nam Tào quản lý, và sổ tử do Bắc Đẩu quản lý, mà minh định mệnh của người đời. 2. Bức tranh bên trái tranh Tử Vi Cung Được gọi tên chữ Hán là Thái Huyền Đô Nguyên Hoàng Thái Cực Tả Cung, hay còn gọi là tả Phủ, cai quản mọi công việc thuộc sự sống, nên còn gọi là Sinh Cung, Hỏa quan (quan lửa), thuộc dương khí, có Thái Dương chủ trì. Cung này do Linh Bảo Thiên Tôn là chủ. Dưới quyền của ông, giúp việc cho ông là các vị thần bảo hộ sự sống. Xem chi tiết từng vị thần trên tranh, ta thấy các vị thần ấy bảo hộ cho từng giai đoạn sinh thành cho tới khi trưởng thành của người đời. Từ sự sống của thai nhi trong bụng mẹ (Đạo giáo gọi sự hô hấp của thai nhi là thai tức). Thai nhi nằm trong bụng mẹ co quắp như người nằm trong võng (vì vậy trong lễ cấp sắc trọng thể của người Dao ở yên Bái, Lào Cai có một thể thức là nhảy từ đàn lễ xuống một chiếc võng, thể hiện tượng trưng sự tái sinh của một “kiếp người thần thánh” mới). Cho tới lúc khai hoa mãn nguyệt có hơi thở nhẹ như cánh hoa rung, đứa trẻ thực sự đã có linh hồn trong thân xác. Bởi vậy Đạo giáo cho rằng cung này có phép gọi hồn (Chiêu linh chi phù). Cung giữ sổ sống con người, đó là chức năng do Nam Đẩu tức Nam Tào, Nam Cực cai quản. 3. Bức tranh bên phải của Tử Vi Cung Được gọi tên chữ Hán là Thái Cực Huyền Đô Động Bạch Thái Cực Hữu Cung, hay còn gọi là Hữu Phủ, cai quản mọi công việc thuộc sự chết, nên gọi là Tử Cung, Quan Nước, lãnh đạo nó là Bắc Đẩu, hay Bắc Cực Tinh Quân. Tử Cung coi việc của sự chết, thuộc âm khí, có Thái âm chủ trì. Đạo Đức Thiên Tôn làm chủ. Xem kỹ tranh này ta thấy các vị thần có dính dáng đến cái chết manh nha như là ốm đau, có các thần bảo hộ (trị bệnh công tào, hoặc các pháp sư, đạo sĩ giết quỷ, trừ ma). Cho tới lúc chết cũng có các thần bảo hộ (như phóng cáo bài - phán quan đưa trát đòi hồn vào địa ngục) các cảnh hồn ma ở địa ngục cũng được tóm tắt minh họa. Tùy tội lỗi lúc sống ra sao, “con người đã chết” sẽ chịu hình phạt xứng đánh rồi sẽ được tái sinh. Muốn an tâm chịu hình phạt xứng đáng, nên người ta - Đạo Giáo cho rằng: ở cung này có phép làm sang tỏ sự thật (Minh chân chi phù): công tội do mình, được soi rọi tại Nghiệt kính đài, như các tranh Thập điện Diêm Vương. Do có phép đó, nên cung này còn thực hiện một chức năng lý tưởng của người đời nói chung và Đạo giáo nói riêng: linh hồn được cứu vớt lên cõi Tiên, trở thành Tiên trong cõi Trường sinh bất tử. Bởi vậy cung Tử còn gọi là Cung Trường Sinh, mang lại ý nghĩa lên cõi Tiên. Phù hợp với lý tưởng của Đạo giáo là: đắc Đạo thành Tiên, trường sinh bất tử. Chúng ta rút ra một ý nghĩa khi xem xét các tranh Đạo giáo như Thánh Đạo Hưng Long, Hành Say là: có một tiến trình của kiếp người từ sinh đến tử, dài hay ngắn là do mệnh số ở Tử Vi Cung quản lý. Người Dao có bộ tranh mang ý nghĩa chính như vậy, tuy hình tượng vẽ có khác ở hai tranh bên (cung Sinh và cung Tử). Họ gọi bộ tranh này là Hành Say có tên như sau: Tranh Tử Vi Cung, trung phủ, ở giữa, có tên là Tổng Đàn. Người Dao đọc là Chông Tàn. Tranh Sinh Cung, tả phủ - bên trái, có tên là Thái Vũ còn có tên là Thái Vĩ, người Dao đọc là Thày Vạy. Tranh Tử Cung, hữu phủ, bên phải, có tên là Hải Bá, người Dao đọc là Hỏi Phan. Kết hợp xem xét các bức tranh, chúng ta nhận thấy ăn khớp với nhau về vị trí các vị thần và vai trò, trách nhiệm chung: - Tranh Sinh Cung, tả phủ - bên trái của Tử Vi Cung, do Nam Tào Quản lý, dưới quyền Linh Bảo Thiên Tôn là chủ. - Tranh Tử Cung, hữu phủ - bên phải của Tử Vi Cung, do Bắc Đẩu quản lý, dưới quyền của Đạo Đức Thiên Tôn là chủ. - Tranh Tử Vi Cung, trung phủ - ở giữa, do Ngọc Hoàng Thượng Đế Quản lý, dưới quyền của Nguyên Thủy Thiên Tôn là chủ. Trong tranh Tử Vi Cung, trung phủ - ở giữa, có phân tầng các lớp thần linh trong Đạo Giáo, Bà La Môn giáo, rõ ràng không phải ngẫu nhiên mà tác giả vẽ phối hợp, mà ta cũng đã biết rằng: mẹ vua Kinh Dương Vương theo đạo Bà La Môn và có Phật hiệu là Hương Vân Cái Bồ Tát. Trong tranh Tử Vi Cung, từ trên xuống dưới: Nguyên Thủy Thiên Tôn - Ngọc Hoàng Thượng Đế - Đại Phạm Thiên Vương (tức Brahma), và Tây Vương Mẫu, đến là các bậc sáng tạo thế giới tự nhiên được vẽ ở ngôi thần chủ chính của tranh. Để minh họa thêm cho có ý nghĩa đó người ta còn vẽ Thượng Thiên Vương cầm mặt Trăng và Khai Thiên Vương cầm mặt Trời, (đồng thời nhất mạnh thêm trong hình tượng Đại Phạm Thiên Vương, vốn là đáng sáng tạo tối cao của Bà La Môn giáo, Ấn Độ, trong hình tượng vị thần có 4 mặt, hai tay giơ cao hình mặt trời và mặt trăng). Để làm rõ các vị này là ai, chúng ta cầm phải phối hợp xem cùng với các bức tranh Đại Đường Kiều: Tranh Đại Đường Kiều 1 Dân tộc Dao Lô Gang, thôn Nà Mìu, xã Mẫu Sơn và Ái Quốc, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg * Chi tiết tham khảo thêm trong cuốn Tranh đạo giáo ở Bắc Việt Nam, tác giả Phan Ngọc Khuê, Nxb Mỹ thuật, 2008. Tranh Đại Đường 2 Dân tộc Dao Đỏ, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, vẽ 1891, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Từ trái qua phải có: - Đặng Nguyên Sư. - Dương khố - Thủy Khố (hay Dương Phủ - Thủy Phủ). - Ngọc Hoàng Thượng Đế. - Nguyên Thủy thiên Tôn ở Ngọc Thanh Cung (ngôi trung tâm). - Linh Bảo Thiên Tôn ở Thượng Thanh Cung. - Thánh Chúa (tức Thượng Thanh Chân Nhân, Tổng Tiên Đại Tư Mã, Trường Sinh Pháp Sư Chủ Tam Thiên Quân). - Thiên Khố - Địa Khố (hay Thiên Phủ - Địa Phủ). - Trương Thiên Sư. Bộ tranh lớn nay con có các bức tranh khác bao gồm: - Tổ Tông. - Đại Đường - Hải Phan. - Thuyền Quan. - Táo Quân. - Ngoài ra còn một số tranh như: - Thập Điện Diêm Vương. - Đạo Đức Thiên Tôn ở Thái Thanh Cung. - Lý Thiên Sư. - Triệu Nguyên Sư. Người Dao gọi toàn bộ bộ tranh lớn này là Tồm Toòng hay Đại Đường có ý nghĩa bao gồm toàn bộ bức tranh thần linh để trang hoàng trong Đại lễ đường. Toàn bộ hệ thống tranh thờ của các dân tộc miền Bắc Việt Nam, kết hợp với các dòng tranh dân gian Đông Hồ và Hàng Trống chứa đựng lịch sử cổ đại của nước Việt Nam và cả một phần lịch sử các tôn giáo như Đạo Mẫu, Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và Bà La Môn giáo. Đặc biệt, liên quan đến số lượng các đời vua của các chi vua Hùng còn thiếu trong gia phả của các dòng họ. Mười tám đời Hùng Vương Trong các bức tranh Hành Say, chúng tôi nhận định các vị thần trong 9 tầng sẽ bao gồm vua Hùng Vương V, VI và VII, bởi vì khả năng, hệ thống tranh thờ được tổ chức vào thời Hùng Vương thứ VI cùng với cuộc thi bánh chưng bánh dầy sau chiến thắng giặc Ân, chính là một cuộc tổng kiết tập và mật mã lại toàn bộ học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và lịch sử nước nhà. Điều này dẫn đến phù hợp với việc tìm ra số lượng đời vua trong các “chi” còn thiếu này (từ vua Hùng Vương thứ I là Kinh Dương Vương đến vua Hùng Vương thứ VII là Hùng Chiêu Vương tức Lang Liêu) trong bức thờ Đám rước, trong khi đó số lượng nhân vật trong bức tranh cuộn Đại Đường Kiều đã thay đổi, không còn chính xác. Đặc biệt số lượng đời vua trong các chi còn thiếu trùng khớp với gia phả ghi nhận và một phần của nội dung bài thơ tâm linh Về 18 chi Hùng Vương, của ông Ma Văn Cát (1931-2008), quê quán tại thôn Thanh Lây, xã Thanh Minh, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, ghi xong lúc 22 giờ ngày 7/1/1999. Tiêu đề tranh Tử vi Cung thường có mang dòng chữ là Phúc - Lộc - Thọ như phân tích ở các phần trước là hoàn toàn phù hợp. Phúc - Lộc - Thọ là Đế Minh (hiệu Phúc Đình) - Kinh Dương Vương (hiệu Phúc Lộc) - Lạc Long Quân (hiệu Phúc Thọ), cả ba tương ứng “Tam Dương” đối ngẫu “Tam Âm” là các chính thất của các vị. Trong bức tranh Dẫn Hương Lộ có nêu Tứ đại nguyên soái và Lý Thiên Sư cùng Trương Thiên Sư là những vị khác nhau. Tứ đại Nguyên soái: Quan, Triệu, Đặng, Mã trong thần thoại Trung Quốc là bốn vị thần tướng canh giữ trên thiên đình, bao gồm: - Mã nguyên soái, còn gọi là Mã Nguyên Quân, Hoa Quang thiên vương, Hoa Quang đại đế. - Triệu nguyên soái, tức là Vũ Tài thần Triệu Công Minh, Triệu Huyền Đàn. - Ôn nguyên soái, tức là Ôn Quỳnh, Đông nhạc đế bộ tướng. - Quan nguyên soái, tức là Quan Vũ, Quan thánh Đế quân sống vào thời Tam Quốc. Dễ dàng thấy, Tứ đại Nguyên soái theo văn hóa Hán đã được cải biên, thay đổi theo thời gian, không còn ý nghĩa nguyên bản ban đầu trong tranh Đạo giáo Việt Nam nữa. Thiên Phủ - Địa phủ Tranh thờ dân tộc, miền Bắc Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Trong bức tranh dân gian Tày, Nùng Thiên Phủ có hình ảnh “Ngũ Lôi” ở hàng thứ 3, tức ngay sau Ngọc Hoàng Thượng Đế, như vậy phù hợp với nhận định 5 anh em vua Lạc Long Quân chính là “Ngũ Lôi” trong Chương xxx: TIẾNG TRỐNG HOÀNG KIM. Trong các bức tranh này, chúng ta còn nhận thấy Cửu đầu sư tử tọa liên đài: nơi ngự trị của Cửu U Bạt Tội Thiên Tôn tức U Minh Giáo Chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát, được bố trí phía sau so với Thập Cực Chân Nhân, và trước Thập Chân Chân Nhân. Vị trí U Minh Giáo Chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát tương ứng vào vị trí Thập Vương Chân Nhân (Thập Điện Diêm Vương), chi Cấn, vua Hùng Vương thứ III - Hùng Quốc Vương, theo gia phả chi này không biết truyền mấy đời vua, và ta thấy Thập Vương Chân Nhân chính là mang ẩn ý 10 đời vua Hùng Vương thứ III, còn Hùng Quốc Vương gọi là “Vua Chủ”. Nếu chúng ta chấp nhận nội dung bài thơ tâm linh Về 18 chi Hùng Vương là một dữ liệu, thì vua Hùng Vương thứ XVIII sẽ truyền được 6 đời thay vì 3 đời như gia phả đã ghi nhận. Lúc này, tổng cộng số lượng đời các vua Hùng của 18 chi là 90 đời. Số lượng các “đời” vua còn thiếu của “chi” Hùng Vương I, II, III và IV được thể hiện qua số lượng các vị thần linh trong bức tranh thờ Độ Linh, của dân tộc, miền Bắc Việt Nam: Độ Linh Tranh thờ dân tộc tày, Cao Bằng, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg * Các ghi chú: Chi tiết bức tranh tham khảo thêm cuốn sách Tranh Đạo giáo miền Bắc Việt Nam, tác giả Phan Ngọc Khuê, Nxb Mỹ thuật, 2008. Câu chuyện vua An Dương Vương, vị vua cuối cùng triều đại các Vua Hùng, đi xuống biển đem theo bí ẩn của một thời kỳ lịch sử vàng son của dân tộc, chúng tôi nhận định 108 đời vua Hùng bao gồm cả vua An Dương Vương (?-258 tr.CN) sau này. Hiện tại, sự kiện vua Am Dương Vương là vị vua Hùng thứ 108 này được khắc họa trên trống đồng Đông Sơn Cổ Loa, chúng tôi sẽ chứng minh ở Chương xxx: VIẾT LÊN TRỜI XANH. Như vậy, nước Văn Lang tồn tại 2622 năm từ 2879 tr.CN-258, trải qua 18 đời (chi) với 108 vị vua kế tiếp nhau, vị vua đầu tiên là Kinh Dương Vương và cuối cùng là vua An Dương Vương. Thập Cực Chân Nhân Tranh thờ dân tộc Tày Nùng, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Các vị Thập Cực Chân Nhân này giúp việc cho Ngũ Phương Yết Đế, trông coi mười phương trong vũ trụ. Ngũ Phương Yết Đế là 5 anh em của vua Kinh Dương Phương, cùng vua Kinh Dương Vương và vua cha Đế Minh là biểu tượng ngôi sao thuộc chòm sao Bắc Đẩu (Đại Hùng Tinh). Ngũ Phương Yết Đế Tranh thờ dân tộc Tày Nùng, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Hiện nay Tại hậu cung đền Nội thuộc làng cổ Bình Đà, Quốc Oai, Hà tây thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân còn lưu giữ được một bức giá thánh quý, sơn son, thếp vàng từ xa xưa còn nguyên vẹn nhưng đã bạc màu, miêu tả vua Lạc Long Quân (hình lớn nhất ở trung tâm) và chỉ duy nhất ở đền Bình Đà có bức giá thánh cổ này. Ngoài ra, trong đền còn lưu giữ các bức hoành phi, câu đối ca tụng tài năng, trí đức của Quốc Tổ Lạc Long Quân, được chạm khắc tinh vi theo mẫu điêu khắc của hoa văn truyền thống, như: “Tứ phương hội tụ ngưỡng chi ân Quốc Tổ - Vạn lý hành hương mộ cổ địa Bảo Đà” hay câu đối treo ở cửa hậu cung “Đức hóa uông hàm quang đỗ chửng - Ninh thanh hách chạp tự phong châu” (Mở nước sáng soi từ bến đỗ - Tiếng thiêng hiển hách tự Phong Châu). Cửa đền là bức đại tự “Vi bách Việt tổ” (Tổ của trăm họ Việt). Vua Lạc Long Quân Đình Bình Đà, Thanh Oai, Hà Tây, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Bách Việt Ngọc phả truyền thư: 1. Chi Càn: Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, tức Lục Dục Vương, sinh năm Nhâm Ngọ (2919 tr.CN) lên ngôi năm 41 tuổi, truyền được 1 đời vua, ở ngôi tất cả 86 năm (chúng ta hiểu là ông làm vua 27 năm sau đó truyền ngôi cho vua Lạc Long Quân, còn ở ngôi 86 năm hiểu là ông thọ 86 tuổi), từ năm Nhâm Tuất (2879 tr.CN) đến Đinh Hợi (2794 tr.CN). 2. Chi Khảm: Lạc Long Quân, húy Sùng Lãm, tức Hùng Hiền Vương, sinh năm Bính Thìn 2873 tr.CN, lên ngôi 33 tuổi, truyền 10 đời vua (tương ứng với Thập Cực chân nhân) . Chi này ở ngôi tất cả 269 năm, đều xưng là Hùng Hiền Vương, từ năm Mậu Tý (2793 tr.CN) đến năm Bính Thìn (2525 tr.CN). 3. Chi Cấn: Hùng Quốc Vương, húy Hùng Lân, sinh năm Canh Ngọ (2570 tr.CN) lên ngôi khi 18 tuổi, truyền được 10 đời vua, đều xưng là Hùng Quốc Vương (tương ứng với Thập Vương chân nhân), 272 năm, từ năm Đinh Tỵ 2524 tr.CN đến 2253 tr.CN. Ngang với Trung Quốc vào thời Đế Thuấn, Hữu Ngu. 4. Chi Chấn: Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, không rõ năm sinh, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 tr.CN), truyền được 10 đời vua đều xưng là Hùng Hoa Vương (tương ứng với Thập Chân chân nhân), ở ngôi tất cả 342 năm, từ năm Đinh Hợi (2254 tr.CN) đến năm Mậu Thìn (1913 tr.CN). Ngang với Trung Quốc vào thời Đế Quýnh nhà Hạ. 5. Chi Khôn: Hùng Hy Vương, húy Bảo Lang, sinh năm Tân Mùi(2030 tr.CN), lên ngôi khi năm 59 tuổi, truyền được 9 đời vua (tương ứng với Cửu Lão Tiên đô), đều xưng là Hùng Hy Vương ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Kỷ Tỵ (1912 tr.CN) đến Mậu Tý (1713 tr.CN). Ngang với Trung Quốc vào thời Lý Quý (Kiệt) nhà Hạ. 6. Chi Ly: Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 tr.CN), lên ngôi khi 29 tuổi, truyền 2 đời vua, ở ngôi tất cả 81 năm đều xưng là Hùng Hồn Vương, từ năm Kỷ Sửu (1712 tr.CN) đến năm Kỷ Dậu (1632 tr.CN). Ngang với Trung Quốc vào thời Ốc Đinh nhà Thương. 7. Chi Tốn: Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang, sinh năm Quý Tỵ (1768 tr.CN), lên ngôi khi 18 tuổi, truyền 5 đời vua đều xưng là Hùng Chiêu Vương, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Canh Tuất (1631 tr.CN) đến năm Kỷ Tỵ (1432 tr.CN). Ngang với Trung Quốc vào thời Tổ Ất nhà Thương. 8. Chi Đoài: Hùng Vỹ Vương, húy Vân Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469 tr.CN) lên ngôi khi 39 tuổi, truyền 5 đời vua đều xưng là Hùng Vỹ Vương, ở ngôi tất cả 100 năm, từ năm Canh Ngọ (1431 tr.CN) đến năm Kỷ Dậu(1332 tr.CN). Ngang với Trung Quốc vào thời Nam Canh nhà Thương. 9. Chi Giáp: Hùng Định Vương, húy Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375 tr.CN), lên ngôi khi 45 tuổi truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Định Vương, ở ngôi tất cả 80 năm, từ 1331 đến 1252 tr.CN). Ngang với Trung Quốc vào thời Tổ Giáp nhà Ân. 10. Chi Ất - Hùng Uy Vương, huý Hoàng Long Lang, truyền 3 đời vua, 90 năm, từ 1251 đến 1162 tr.CN) 11. Chi Bính: Hùng Trinh Vương, húy Hưng Đức Lang, sinh năm Canh Tuất (1211 tr.CN), lên ngôi khi 51 tuổi, truyền 4 đời vua, đều xưng là Hùng Trinh Vương, ở ngôi tất cả 107 năm, từ năm Canh Tý (1161 tr.CN) đến năm Bính Tuất (1055 tr.CN). Ngang với Trung Quốc vào thời Thành Vương nhà Tây Chu. 12. Chi Đinh: Hùng Vũ Vương, húy Đức Hiền Lang, sinh năm Bính Thân (1105 tr.CN), lên ngôi khi năm 52 tuổi, truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Vũ Vương, ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Đinh Hợi (1054 tr.CN) đến năm Nhâm Tuất (969 tr.CN). Ngang với Trung Quốc vào thời Lệ Vương nhà Tây Chu. 13. Chi Mậu: Hùng Việt Vương, húy Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982 tr.CN) lên ngôi khi 23 tuổi, truyền 5 đời vua, đều xưng là Hùng Việt Vương, ở ngôi tất cả 115 năm, từ năm Quý Hợi (968 tr.CN) đến Đinh Mùi (854 tr.CN). Ngang với Trung Quốc vào thời Lệ Vương nhà Tây Chu. 14. Chi Kỷ: Hùng Anh Vương, húy Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894 tr.CN) lên ngôi khi 42 tuổI, truyền 4 đời vua đều xưng là Hùng Anh Vương, ở ngôi tất cả 99 năm, từ 853 đến 755 trCN. Ngang với Trung Quốc vào thời Bình Vương nhà Đông Chu. 15. Chi Canh: Hùng Triệu Vương, húy Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Quý Sửu (748 tr.CN), lên ngôi khi 35 tuổi truyền 3 đời vua đều xưng là Hùng Triệu Vương, ở ngôi tất cả 94 năm, từ năm Đinh Hợi (754 tr.CN) đến năm Canh Thân (661 tr.CN). Ngang với Trung Quốc vào thời Huệ Vương nhà Đông Chu 16. Chi Tân: Hùng Tạo Vương (Thần phả xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc, ghi đời thứ 16 là Hùng Tạo Vương, đóng ở Việt Trì, có Thạc tướng quân đánh tan giặc Man, Vua phong là Chuyển Thạch Tướng Đại Vương - Người anh hùng làng Dóng, Cao Xuân Đỉnh (Nxb KHXH 1969 trang 126-130), húy Đức Quân Lang, sinh năm Kỷ Tỵ (712 tr.CN), truyền 3 đời vua, lên ngôi tất cả 92 năm, từ năm Tân Dậu (660 tr.CN) đến năm Nhâm Thìn (569 tr.CN). Ngang với Trung Quốc vào thời Linh Vương nhà Đông Chu 17. Chi Nhâm: Hùng Nghị Vương, húy Bảo Quang Lang, sinh năm Ất Dậu (576 tr.CN) lên ngôi khi 9 tuổi, truyền 4 đời vua đều xưng là Hùng Nghị Vương, ở ngôi tất cả 160 năm, từ năm Quý Tỵ (568 tr.CN) đến năm Nhâm Thân (409 tr.CN). Ngang với Trung Quốc vào thời Uy Liệt Vương nhà Đông Chu 18. Chi Quý: Hùng Duệ Vương, sinh năm Canh Thân (421 tr.CN), lên ngôi khi 14 tuổi, truyền không rõ mấy đời vua (có lẽ 3 đời) vì ở đình Tây Đằng, huyện Ba Vì - Hà Nội có bài vị “Tam Vị Quốc Chúa”, ở ngôi tất cả 150 năm, từ năm Quý Dậu (408 tr.CN) đến năm Quý Mão (258 tr.CN). Ngang với năm thứ 17 đời Uy Liệt Vương, đến năm thứ 56 đời Noãn Vương nhà Đông Chu Trung Quốc. Theo bài thơ tâm linh Về 18 chi vua Hùng có 5 đời và vua An Dương Vương là vị vua cuối cùng, tổng cộng 6 đời. (* Ghi chú: chữ in đậm là nội dung bổ sung thêm sau khi giải mã. Năm sinh Bính Thìn và lên ngôi lúc 33 tuổi của vua Lạc Long Quân được kết hợp tính toán với bài thơ tâm linh Về 18 chi Hùng Vương, người nhận thông tin linh cảm Ông Ma Văn Cát (1931-2008), quê quán tại thôn Thanh Lây, xã Thanh Minh, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, ghi xong lúc 22h00’ ngày 7/1/1999). Trong dòng tranh dân gian Đông hồ có bộ tranh nhị bình Lợn Lộc và Lợn Đàn, ngoài ý nghĩa “Thiên nhất sinh thủy, địa lục thành chi” còn ẩn ý cung Càn độ số 1 ứng vua Kinh Dương Vương, và cung Khảm độ số 6 ứng vua Lạc Long Quân trong gia phả. Hình ảnh cái cây ba lá mọc lên ở phía dưới, nỏi bật trong bức tranh thể hiện sự tái sinh, phục sinh trở lại của vua Lạc Long Quân. Lợn lộc và Lợn đàn Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Ở các ngôi chùa Việt Nam cũng như các chùa trên đất Trung Quốc, đều có tục đánh chuông, hơn nữa quy định về số lượng cũng rất nghiêm ngặt, mỗi lần đánh phải đủ 108 lượt không thừa không thiếu. Đã từ ngàn năm nay, ngôi chùa Hàn Sơn cổ kính trên thành phố Tô Châu, với một lịch sử lâu đời nằm ở hạ lưu sông Dương Tử và trên bờ Thái Hồ thuộc tỉnh Giang Tô, Trung Quốc luôn duy trì tục lệ đánh đủ 108 hồi chuông vào mỗi đêm giao thừa, bắt đầu lúc 11h42’ thỉnh chuông, đến hồi 108 là vừa vặn tới khắc giao thừa, một năm mới đã đến. Chiếc cầu đá thành phố Tô Châu (Suzhou Online) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Phong Kiều dạ bạc Trăng tà tiếng quạ kêu sương, Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ. Thuyền ai đậu bến Cô Tô, Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San. Bài thơ Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều - Trương Kế (Zhang Jì), tác giả sống vào khoảng trước sau năm 756, đời vua Đường Túc Tông, Trung Quốc, dịch giả Nguyễn Hàm Ninh. Các chùa chiền ở Nhật Bản cũng duy trì tục lệ này, đánh 108 tiếng chuông vào đêm giao thừa. Tại sao người ta chỉ đánh đúng 108 hồi chuông mà không phải là một số khác, không lẽ chỉ đơn thuần cho phù hợp với âm luật thôi sao? Rất nhiều học giả băn khoăn và trăn trở về con số bí ẩn này và không ngừng nỗ lực nghiên cứu, đã có những lý giải nhưng cho tới nay vẫn chưa xác nhận được nguyên nhân. Nguồn gốc 108 tiếng chuông chính là biểu tượng của 108 đời vua Hùng, 12 phút cuối của năm tương ứng kết thúc một chu kỳ 12 con giáp. Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào… có chung một số đặc diểm văn hóa, mà ngày nay còn giữ lại nhiều phong tục giống nhau và đấy chính là những dấu hiệu tìm về nguồn cội văn hóa Việt Nam. Chúng ta tiếp tục cùng xem bộ tranh Thánh Đạo Hưng Long hay Đạo Thánh hưng vượng của các dân tộc miền Bắc Việt Nam. Tranh Thánh Đạo Hưng Long số 2 (3 bức) Dân tộc Cao Lan, Sán Chỉ, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Bức tranh bên phải do Thượng Thanh Cung làm chủ gọi là Sinh Cung: 1. Thánh Đạo Hưng Long (Đạo Thánh hưng vượng) 2. Thượng Thanh tức Linh Bảo Thiên Tôn, nguyên lý dương. 3. Thái Thượng Lão Quân - Giáo chủ Đạo giáo, cưỡi voi trắng. 4. Thiên Đế, một trong Tứ Ngự, cai quản Thiên phủ. 5. Thủy Đế, một trong Tứ Ngự, cai quản Thủy phủ. 6. Vương mụ, bà mụ, hay Hoa Vương Thánh Mẫu, vị thần bảo trợ thai nhi, thai phụ, sức khỏa, sắc đẹp, và hạnh phúc cho phụ nữ. Giúp cho vương mụ có 12 cô tiên tượng trưng thập nhi nguyên giáp (12 năm), mỗi vị chủ trì một năm. Có nhiệm vụ trông coi đứa trẻ sinh trong năm của mình. 7. Nữ Đồng tuyển, theo tục lệ Trung Quốc: người ta để các đồ vật nhỏ, tượng trưng cho nghề nghiệp của nam giới và nữ giới trước mặt đứa trẻ mới biết lẫy, biết bò, để xem đứa trẻ chọn cầm thứ đồ nào mà đoán hậu vận của đứa trẻ đó. Nữ Đồng Tuyển: là đứa trẻ gái chọn thứ đồ vật gì. Trong tranh này ngoài ý nghĩa đó, còn ý nghĩa tôn giáo: con người là Hoa của Đất - Bà Mụ (Vương Mụ) là người có cây hoa này. Ai cầu con, Bà Mụ cho hoa vàng sẽ sinh con trai, ai được ban hoa bạc sẽ sinh con gái. 8. Ba hình vẽ thân chó đầu trẻ con - là tượng trưng cho sao Thiên Cẩu (chó trời) là sao xấu: sát tinh. Đầu thai làm người sẽ có hại cho hạnh phúc gia đình. 9. Lý Quảng - người đời gọi Lý Quảng là “Thần tiễn” thần bắn cung. Cầu cho vị thần này bắn những mũi tên thần xua đuổi các sao xấu như sao Thiên Cẩu ở trển trên để bảo vệ thai phụ, thai nhi. Lý quảng là tướng tài đời vua Hán Nguyên Đế 48-33 TCN, nổi tiếng về tài bắn tên trăm phát trăm trúng khiến cho quỷ khóc thần sầu. 10. La Vi La Võng Tướng Quân: hai vị tướng quân cai quản sự xuất nhập, bảo vệ những đứa trẻ trong phạm vi của Hoa Tào, cung cấp cho người đời. Tượng trưng cho sự sinh sản, thụ thai. Trong bụng mẹ, thai nhi nằm cho quắp như người nằm trong võng. 11. Hoa Mẫu - tức Hoa Vương Thánh Mẫu, tức Mẹ Hoa. 12. Hoa công - tức đức ông chồng của Mẹ Hoa (nam tính). Hoa Mẫu và Hoa Công được coi là hai vợ chồng ở Hoa Cung - nơi ở của Hoa Mẫu, được vẽ tượng trưng là một cây hoa (giữa số 11 và 12). 13. Mẹ Hoa (Bà Mụ) cai quản cây hoa này, Ai xin con trai bà cho hoa vàng, xin con gái cho hoa bạc. 14. Hấp vi Hoa Bà. Bà đỡ có chức năng đón đứa trẻ sơ sinh từ lúc mới ra đời, hơi thở nhẹ như cánh hoa rung: cho trẻ sự sống. 15. Triu kỳ đáo phúc - có ý là: lúc sinh đẻ là điều phúc đức đã đến với sản phụ, thai nhi và gia đình. 16. Giám Chủ Thiên Vương - vị vua giám sát công việc của Sinh Cung hay còn gọi là Hoa Cung. 17. Vương Hậu - Mũ thần, vợ Hoàng Đế, bảo trợ cho sự sống. 18. Bảo Sinh Hoàng Đế - vị vua, nam thần, bảo trợ sự sống. 19. Bình Đạo Tiên Cô - hình tượng vẽ vị tiên cô này biểu hiện sự mong ước của người đời: Phúc (có con cái), lộc (có tiền tài), cả hai điều trên phải song song, toàn vẹn. 20. Trương Triệu huynh đệ: anh em hai vị thần Trương và Triệu. 21. Đạo Hồn Trương, Triệu - Trương, Triệu dẫn đường cho linh hồn. 22. Trương, Triệu hành - Trương, Triệu thực hiện việc dẫn đường linh hồn. 23. Tây đầu lục tạo - Sáu vị thần linh trong chòm sao ở phía Tây. 24. Long Thụ - tức Ngarjuna, vị tổ thứ 14 của Phật giáo. 25. Hợp nhân – hòa hợp giữa con người… để phát triển tự nhiên. 26. 25??? Không đọc được. 27. Lý Thiết Quài, một trong tám vị tiên. 28. Đặng Nguyên Soái tức Lôi thần (Thần sấm sét). 29. Lư tướng quân??? 30. Quái Mã Tam - ba ông tướng kỵ binh. 31. Truyền lôi đồng tử - người truyền lệnh của Lôi đỉnh đô ty. 32. Cát thiên tiên - Vị thiên tiên họ Cát, tức Cát Hồng, nổi tiếng về sự nghiệp y học thời cổ đại. 33. Kim Đà phu nhân - Thầy thuốc hoa đà, thời cổ đại. 34. Bí thị - Người đàn bà từ bi, tức Phật Bà Quan Âm. 35. (?) 36. Bức tranh ở giữa do Ngọc Thanh Cung làm chủ, gọi là Tử Vi Cung: 37. (?) 38. Ngọc Thanh tức Nguyên Thủy Thiên Tôn (bao hàm Thái Cực). 39. Thượng Thiên Vương. 40. Khai Thiên Vương - hai vị - Thiên Vương này bao gồm thời kỳ hỗn mang của vũ trụ: khi trời đất còn chưa phân âm dương. 41. Ngọc Đế: Ngọc Hoàng Thượng Đế cai quản thiên giới. 42. Bát Đại Kim Cương: chữ đề là vậy, theo tác giả hình tượng này là Đại Phạn Thiên Vương tức Brahmâ, ở đây phù hợp với ý nghĩa “Sáng thế” của các thần trong tranh Tử Vi Cung. 43. Tây Vương Mẫu. 44. Na Tra Thái Tử. 45. Án chủ: vị thần xem xét việc hai cung sinh tử. 46. Hoa lao: ngục lửa để trị tội nhân. 47. Trương Hách Ngũ Lang: căn cứ hình tượng vị thần này đang sai khiến “Ngũ Lôi man phương sứ giả”. Tác giả cho rằng đó là hình tượng thể hiện: ngũ đẩu tinh quân. 48. Ngũ Lôi Man Phương sứ giả: năm ông thiên lôi ở năm phương. 49. Trương Thiên Sư tức trương Đạo Lăng, tổ sư Đạo giáo. 50. Lý Thiên Sư Lý Tịnh. 51. Tam mục tiên: tức vương linh quan, tức Hỏa Tinh, thần bảo vệ thiên đình. 52. Tứ mục tiên: tức Thương Hiệt, người làm ra chữ Hán. 53. Phổ Long: vị thần ở Long cung. 54. Quán Long: vị thần ở long cung. 55. đều là Hán đế: vua nhà Hán (thời Hán, đạo giáo được tôn là quốc giáo, từ thế kỷ II trước công nguyên): bảo vệ đạo. 56. như trên. 57. Như trên. 58. Thiên đồng: đồng tử ở thiên đình. 59. Đế Sơn Công. 60. Phú Sơn Công. 61. Thông Mộc đồng tử: đồng tử dẫn đường. 62. Nê Mộc Đồng tử: Đồng tử dẫn đường. 63. Bắc Đế: thần coi giữ phương Bắc. 64. Sài Hầu. 65. Thập Cực Cao: các vị thần trông coi mười phương vũ trụ. 66. Bát bảo linh. 67. Tổ sư. 68. Bổn sư. 69. Tróc tướng: tướng đi truy nã. 70. Trói (tróc tướng). 71. Đóng gông, đóng cùm (tróc tướng). 72. Như trên. 73. Sát mãnh tướng. 74. Đại lượng - tha tội cho tội nhân. 75. … Lang Tam Súy? 76. Tứ Lang Súy? Bức tranh bên trái do Thái Thanh Cung làm chủ, gọi là Tử Cung (Cung của sự chết): 77. Thái Thanh tức Đạo Đức Thiên Tôn - nguyên lý âm. 78. Địa Đế - một trong Tứ Ngự, cai quản địa phủ. 79. Ngục Đế: chủ quản việc coi sóc địa ngục. 80. Thái Sơn thất sư: bảy vị nguyên sư ở núi Thái Sơn. 81. Phóng cáo bài: các vị phán quan ở địa ngục đưa trát đi bắt linh hồn người vừa chết về âm ty địa ngục để xét công tội. 104. Bố kinh sở: nơi giam giữ các đạo sĩ, nhà sư ở địa ngục vì tội của họ khi sống đã tụng kinh giả dối. Trong khu vực từ 76-77-104 (3 số) được chia thành các ô hình chữ nhật, hình vuống: đó là các thể hiện cảnh địa ngục của Phật giáo. Phật giáo cho rằng: Địa ngục chia ra làm nhiều phòng, giam giữ các linh hồn riêng biệt ở đó, để họ sám hối, ăn năn các tội lỗi đã gây nên trong kiếp sống ở trấn gian. Sau đó họ sẽ được ra khỏi địa ngục, trút bỏ tội lỗi của họ gây ra, để đầu thai kiếp khác: chuyển kiếp luân hồi. Đến khi Phật giáo được du nhập vào Trung Quốc, thì các Đạo giáo thu nhập thuyết luân hồi của Đạo phật. Vào thời kỳ đầu thế kỷ VI người ta cho rằng có 136 địa ngục bao gồm nhiều tầng lớn nhỏ, cho tới đời Đường thế kỷ VII ở Trung Quốc mới an bài con số 10 vị Diêm La Vương (Yama - thần chết của Ấn độ) cai quản như ngày nay. Chỉ có tám địa ngục là trừng phạt tội nhân, còn địa ngục đầu tiên là đầu vào của địa ngục: xem công, xét tội rồi mới phân phối đi các địa ngục chuyên thi hành án. Địa ngục cuối cùng là đầu ra của địa ngục: phân phối đi đầu thai, chuyển kiếp, không trừng phạt ai. 82. Lý Võ: tức Lý Thiên Sư. 83. Trấn Vũ: vị thần có nhiều pháp lực trừ ma quỷ ổn định sinh mệnh con người, trấn phương Bắc. 84. Bạch Hạc Tiên Cô: một dạng thể hiện Tây Vương Mẫu. 85. Thoát Diệp Tiên Cô? 86. Đại Phạm Thiên Vương tức Brahma - Đấng Sáng tạo tối cao. 87. Không có tên. 88. Trương Ty tướng quân. 89. Mã Nguyên Sư: thần tướng hộ vệ. 90. Tân Nguyên Sư: thần tướng hộ vệ. 91. Thiết Mã Tứ Lang. 92. Thượng Động Vương. 93. Hữu Đà yêu: vị võ tăng bảo vệ bên phải chùa Phật. 94. Địa tiên binh: cai quản địa binh. 95. Chuyển hướng đồng tử: Đồng tử dẫn đường. 96. Lư Sơn Động: Nơi tu luyện của của các pháp sư Đạo giáo rất nổi tiếng ở Trung Quốc. 97. Trảm Quỷ tướng quân: thường được pháp sư sai đi giết quỷ. 98. Hoành Sơn Thất Lang: thường được pháp sư sai đi giết quỷ. 99. Tổ Bản Nhị Sư: thày của các pháp sư. 100. Trị bệnh công tào: vị công tào trông coi việc trị bệnh cứu người. 101. Pháp sư: ông ta đang bắt quyết, làm phép bắt ma, trị quỷ để chữa bệnh cho các bệnh nhân. 102. Bệnh nhân. 103. Phục dược bà: vị thần cho uống thuốc. 104. Phát dược tiên: vị tiên pháp thuốc. 105. Sĩ chủ sơn công: vị thần núi. 106. Ngũ Thương: các vị thần trấn trị 5 phương trời đất. 107. Thổ Địa: vị thần quan trọng gần gũi nhất với con người. Nếu mỗi vị thần, tiên, thánh và con người sau khi đắc đạo thành tiên, đều ở trên một vì sao trên bầu trời, thì bộ tranh này gợi cho ta liên tưởng tới bầu trời đầy sao và đấy chính là bộ bản đồ thiên văn Đông Phương cổ đại là Tử Vi Viên, Thái Vi Viên và Thiên Thị Viên. Quy mô trình bày của thần điện Đạo giáo quá ư phức tạp và hoành tráng, bộ tranh này chỉ thích hợp với khung cảnh trang hoàng đàn lễ trong các Đạo cung, Đạo quán. Tổ tiên Dân tộc Cao Lan - Sán Chỉ, Tuyên Quang, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Hai bức tranh này có cùng một chủ đề thờ cúng tổ tiên. Có khi loại tranh này được đặt tên là Cao Tổ, cũng có nghĩa là tổ tiên. Các dân tộc Tày, Nùng cũng có tranh tương tự. Bộ tranh Tổ tiên (Cao tổ) được phối xem tương ứng với bộ tranh Nam Hoa và Nam Đường, hai vị trên cùng Kinh Dương Vương và Thánh Mẫu Thượng Ngàn quản lý Cõi Trời. Vị kế tiếp là Lạc Long Quân, quản lý Thủy phủ và Hùng Quốc Vương quản lý Địa phủ hay Thổ Phủ. Thổ Phủ và Nam Tào Tranh thờ dân tộc miền Bắc Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Trên cùng là Thổ phủ thuộc Hậu Thổ Hoàng Kỳ cai quản, hình tiếp theo là Hoàng Đế Hiên viên vị thần đội mũ sừng thú, theo truyền thuyết Trung Quốc là tác giả của Hoàng Đế Trạch Kinh, chầu hầu hai bên có thần lục đinh lục giáp, phía dưới có Lôi Phát Đạt - một phong thủy gia nổi tiếng đời Thanh, tay cầm la bàn phong thủy để chọn mộ huyệt: có thanh long, bạch hổ chầu hầu hai bên; gối đầu, dựa lưng vào huyền vũ, mặt hướng về chu tước (được phương hướng bốn phía, tượng trưng bằng bốn con vật dưới cùng). Hoàng đế Hiên Viên là ông tổ của dân tộc Trung Quốc, tuy nhiên để xác định Hoàng Đế là ai? Cũng sẽ được biết trong Chương xxxx: VIẾT LÊN TRỜI XANH. Trong bức tranh Thổ phủ, người cầm la bàn kiểm soát 72 hướng đất chính là Thổ phủ hay Địa phủ, như vậy tính ngược trở lên sẽ là Lạc Long Quân, Kinh Dương Vương, nghĩa là ít nhất vào thời Hùng Quốc Vương la bàn chuẩn mực đã tồn tại rồi. Trong bức tranh Nam Tào có bốn lớp thần linh, trên cùng là chính phi của Tam Từ và tính xuống Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Quốc Vương tức Thổ phủ ở lớp cuối cùng. Nam Tào nghĩa là chòm sao Nam Tào hay Nam Cực đối ngược với chòm sao Bắc Cực hay chòm sao Tiểu Hùng Tinh trên thiên cầu quy ước của bầu trời trong thiên văn Đông Phương. Đàn Chủ Dân tộc Cao Lan - Sán Chỉ, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpg Tranh có ba ngôi vị chính, Ngọc Hoàng Thượng Đế phía trên cùng, Vạn thiên tinh chủ Bắc Cực Tử Vi Đại Đế (ở trong vòng tròn), Huyền Thiên Trấn Vũ ở (hàng thứ ba) vẽ theo chân dung của Yên Vương Chu Lệ (sau này là Minh Thành Tổ 1403-1425). Theo các nhận định trên, vị trí thần Huyền Thiên trấn Vũ phải được thay bằng Thổ phủ tức Nam Tào, ngay dưới Bắc Cực Tử Vi Đại Đế. Đại Tinh Đàn Dân tộc Sán Chay (Cao Lan - Sán Chỉ), thôn Thạch Khẩu, Tổng Gia Cát, xã Phú Nhiêu, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, do nghệ nhân Việt Nam họ Nguyễn, tên tự là Pháp Viễn, người xã Bạch Lựu? vẽ bộ tranh 16 bức, năm 1921 (6-1 Tân Dậu, Khải Định thứ 20). file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image022.jpg Tranh còn có tên là Bản Tinh, hay Tinh Chủ hay Đàn Chủ tùy nơi, tùy người gọi. Ý nghĩa chính là bản mệnh con người được tốt xấu là do vị tinh quân được vẽ trên tranh Bắc Cực Tử Vi Đại Đế năm trong Trung Huy Thiên - điểm giữa bầu trời quyết định. Ở trên cùng có các thần Lục Định Lục Giáp. Các ngôi vị trung tâm có Ngọc Hoàng Thượng Đế phía trên cùng, Vạn thiên tinh chủ Bắc Cực Tử Vi Đại Đế, Nam Tào ở hàng thứ ba vẽ theo chân dung của Yên Vương Chu Lệ (sau này là Minh Thành Tổ 1403 - 1425). Xung quanh Nam Tào có 4 vị nguyên soái Đặng, Triệu, Mã, Quan chầu hầu bốn bên. Phía dưới có Công Tào đại súy quan cùng các quan Tam Tào (Âm Tào, Nhân Tào và Thiên Tào) và dưới cùng là lũ ngưu đầu mã diện.
  18. TIẾNG TRỐNG HOÀNG KIM Sấm rung lòng đất động lòng trần, Vạn vật hòa ca khúc nhạc xuân. Tiên đế “Pháp Thiên” làm nhạc vũ, Tế Trời, tế Tổ lại hòa Nhân. Tượng truyện quẻ Dự - Kinh Dịch. Trống đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại dưới rất nhiều hình thức như trống đất, trống gỗ, trống đồng, trống cầu mưa… kể ra không hết. Huyền thoại có nói tới trống da quỳ (giao long) của Hoàng Đế, trống một chân của nhà Hạ (túc cổ), trống có lỗ thông giữa của nhà Thương (doanh cổ). Sử ký Tư Mã Thiên có nhắc tới sự việc vua nhà Chu tặng Tần Mục Công một chiếc trống đồng vào năm 623 tr.CN. Chiếc trống đồng được cho là cổ nhất, đó là chiếc trống đồng cổ minh văn thao thiết của nhà Thương, lưu giữ tại bảo tàng tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc (Tham khảo và trích dẫn Sử điệp trống đồng, tác giả Lương Kim Định). Trống đồng hoa văn thao thiết Cuối đời Thương, Viện bảo tàng tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc Trống đồng hoa văn thao thiết Đời Thương, thời kỳ An Dương, Trung Quốc. Sen’oku Hakkokan (bộ sưu tập Sumitomo), Kyoto Trống đồng là một loại cổ vật đặc biệt được tìm thấy ở một số nước như Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Malaxia, Indonexia, Triều Tiên, Nhật Bản… nhưng nhiều nhất là vẫn ở Việt Nam và tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Năm 1980, Trung Quốc có 1460 chiếc, trong khi đó Việt Nam chỉ có 360 chiếc, tuy Việt Nam có số lượng trống đồng ít hơn, nhưng trong đó có 140 chiếc thuộc loại H.I (Heger I). Bản đồ phân bố trống đồng Đông Sơn ở Đông Nam Á Tạp chí Khảo cổ học Việt Nam, Tập I, 1974 Sách Hậu Hán thư của Phạm Việp (424-425) quyển 54, mục Mã Viện truyện như sau: "Mã Viện thích cưỡi ngựa, giỏi phân biệt ngựa tốt xấu. Ông ta lấy được trống đồng Lạc Việt ở Giao Chỉ bèn đúc thành ngựa mẫu… ngựa cao 3 thước 5 tấc (khoảng hơn 1.0m), vòng thân ngựa 4 thước 4 tấc (khoảng 1.5m), vua xuống chiếu đặt ngựa mẫu trước cửa điện Tuyên Đức để làm ngựa mẫu (hẳn vùng đó) sẽ yên”. Trước Mã Viện không thấy ai nói đến trống đồng, chỉ khi Mã Viện đàn áp các Lạc tướng, bắt đày sang Linh Lăng hơn 300 cử soái của Giao Chỉ thì mới thấy nói đến cướp trống đồng. Sau này Minh sử có ghi sử việc Lưu Hiển đánh tù trưởng A Đại cướp được 93 cái trống đồng. Tiếp đến sách Quảng Châu ký của Bùi Thị xuất hiện vào khoảng năm 420-487 ghi lại hiện tượng người Lý, Lão sử dụng trống đồng ở thế kỉ thứ III sau Công nguyên, sách đã thất truyền, chỉ còn lại những đoạn dẫn để chú giải cho Hậu Hán thư: "Người Lý, Lão đúc đồng làm trống. Trống lấy cao lớn làm quý, mặt rộng hơn 1 trượng. Lúc mới đúc xong, treo trống ở sân, buổi sáng bày rượu mời đồng loại đến. Người đến đầy cửa. Con trai con gái nhà hào phú lấy vàng bạc làm thoa lớn, cầm thoa gõ trống, gõ xong để thoa lại cho chủ nhân”. Sách Tấn thư có hai chỗ ghi về trống đồng: - Thực hóa chí ghi: “Năm Thái nguyên thứ ba xuống chiếu rằng: Tiền là vật quý của nước, kẻ tiểu nhân tham lợi phá hủy không biết đâu mà kể, Giám ty nên chú ý. Người Di ở Quảng Châu vốn quý trống đồng mà trong châu vốn không có đồng. Nghe nói bọn con buôn công và tư trong châu đều tham lợi bèn mài vành tiền, cân lạng nhẹ đi để nhập vào Quảng Châu bán cho người Di để họ phá ra đúc trống. Phải hết sức cấm, bắt được phải trị tội”. - Hách Tiên bột bộ hải ký chép: “(Bột bộ) bèn lấy lĩnh tướng Sát can a lợi làm đại tượng (xem việc xây dựng thổ mộc), đem mười vạn người cả Di lẫn Hạ ở phái Bắc (Tùng) Lĩnh xây dụng đô thành ở phía Bắc sông Sóc Phương phía Nam Hắc Thủy… chế tạo binh khí rất sắc bén… lại đúc đồng làm trống lớn”. Sách Trần thư chuyện Âm Dương Ngỗi ghi: “Ngỗi thường theo (Lan) Khâm đi đánh dẹp… Khâm xuống phái Nam đánh Di, bắt Trần Văn Triệt thu nhiều chiến lợi phẩm không kể xiết, dâng lên vua, trống đồng lớn các đời chưa từng có… Ngỗi đến, Lĩnh Nam đều khiếp sợ thần phục, ông bèn tiến vào Quảng Châu chiếm tất cả đất Việt. (Vua) bèn lại phong cho ông làm Đô đốc cai quản 19 châu là Quảng, Giao, Việt, Thành, Định, Minh, Tân, Cao, Hợp, La, Ái, Kiến, Đức, Nghi, Hoàng, Lợi, An, Thạch, Song, Trấn Nam tướng quân, Bình Việt trung lang tướng, Quảng Châu thứ sử, trì tiết Thượng thị hầu… Em Ngỗi là Thịnh làm thứ sử Giao Châu, em thứ là Tuy làm thứ sử Hành Châu. Cả nhà hiển quý tiếng dậy đất Nam. (Ngỗi) thường được người ta dâng trống đồng và tù binh”. Trần thư viết xong năm 636, ghi chép sự việc nhà Trần (557-589). Riêng sự việc Âu Dương Ngỗi đánh dẹp ở phương Nam là xảy ra từ năm 551. Sau này Lý Diên Thọ tập hợp sử liệu các triều Lương, Trần viết thành bộ Nam sử, đã chép y lại phần này của chuyện Âu Dương Ngỗi trong Trần thư. Trần Văn Triệt là một Lý soái (Lương thư - Lan Khâm liệt truyện - liệt truyện 26). Sách Thủy kinh chú chú dẫn một đoạn văn trong sách Lâm Ấp ký: “Cửa (sông) ấy thông với Đồng Cổ, bên ngoài qua cửa Hoàng Cương của An Định, vượi qua Đồng Cổ tức là Lạc Việt. Có trống đồng nên gọi là Đồng Cổ, Mã Viện lấy trống đồng đúc ngựa đồng. Đến Tạc Khẩu do Mã Viện đào. Bên trong thông với huyện Phố Dương của Cửu Chân”. Lịch Đạo Nguyên là Thủy kinh chú vào thế kỷ thứ VI, cũng đoạn văn này, Trịnh Sư Hứa chỉ đất Đồng Cổ thuộc Quảng Tây, Hà Kỷ Sinh lại xác định cụ thể hơn là huyện An Định tức huyện Đo An ngày nay của Quảng Tây”. Tạc Khẩu và Phố Dương đều là địa điểm của Giao Chỉ và Cửu Chân. Theo dõi kỹ dòng sông Ôn, Uất, Thọ Linh cũng sẽ thấy kết luận đó là chính xác. Hơn nữa Lâm Ấp ký không thể ghi về các địa điểm thuộc Quảng Châu, lại bỏ qua Giao Châu ở giữa. Lưu Hú viết sách Cựu Đường thư vào khoảng năm 937-946 tức từ 30 đến 40 năm sau khi nhà Đường diệt vong, có hai đoạn ghi chép về trống đồng, trong mục Âm nhạc chí ghi: Tiết cổ là trống đúc bằng đồng. Một mặt trống úp xuống, đánh lên mặt trên. Loại trống đồng của Nam Di, Phù Nam, Thiên Trúc đều như thế. Nhà quyền thế ở Lĩnh Nam ắt có trống đồng, chiếc lớn rộng hơn một trượng”. Chuyện Đông Tạ Man viết: “người Đông Tạ Man ở cách phía tây Kiềm Châu khoảng vài trăm dặm… ai có công thì thưởng trâu ngựa và trống đồng”. Sách Linh biểu lục dị của Lưu Tuân là quan lại tại Quảng Châu vào khoảng năm 889 - 903 ghi rằng: “Nhạc của người Man Di có trống đồng, hình dáng như yêu cổ (trống có thân eo lại) nhưng chỉ một đầu có mặt. Mặt trống tròn hơn hai thước. Mặt liền với thân. Đúc toàn bằng đồng. Thân trống đầy hình côn trùng, cá, hoa, cỏ. Toàn thân đều đặn dày hơn hai phân. Đúc rất giỏi, thật là tinh xảo. Đánh trống tiếng vang trong trẻo không kém tiếng mai rùa. Trong thời Trinh Nguyên (785-804) Phiên Quốc dâng nhạc, có ốc ngọc và trống đồng, mới biết nhà tù trưởng Nam Man đều có trống đồng. Cuối thời Hàm Thông (860-873), Trương Trực người U Châu vừa bị biếm xuống làm thứ sử Cung Châu, sau khi đến nhậm chức, sửa chữa châu thành, nhân đào được một trống đồng. (Ông) mang trống về kinh đến Tương Hán cho là vật vô dụng, bèn bỏ ở chùa Diên Khánh, treo ở nhà trai dùng thay mõ, nay vẫn còn. Thời Hy Tông (874-888). Trịnh Nhân trấn Phiêng Ngung, một hôm có thái thú Cao Châu là Lâm Cát (trình về việc) có trẻ con ở trong làng đi chăn trâu nghe tiếng ếch kêu trong ruộng, trẻ trăn trâu bèn xuống bắt ếch. Ếch nhảy vào một cái hang. Chúng đào hang. Hang sâu và lớn, chính là mộ tù trưởng người Man. Ếch mất tích. Được một trống đồng trong hang. Trống màu xanh biếc. Đất ăn mấy chỗ, đã sứt mẻ. Trên trống gồ lên mờ mờ, đúc nhiều hình ếch và rùa. Ngờ rằng con ếch kêu là tinh của trống. Bèn trình nguyên do, nạp (trống) vào dinh Quảng, treo trong kho vũ khí, nay vẫn còn” (Tham khảo và trích dẫn Tập I Khảo cổ học số 13 - Trống Đồng, 1974) Sử sách Trung Quốc cổ xưa chưa bao giờ thừa nhận trống đồng là một di sản của Trung Quốc. Trong thế giới văn chương, thi phú, ta cũng thấy không thiếu những câu thơ khẳng định trống đồng là của người phương Nam, Đỗ Mục, trong một bài thơ nổi tiếng đã viết: Đằng các trung xuân ý tịch khai, Thác chi Man cổ ân tình lôi Dịch. Mùa xuân trải chiếu gấm giữa gác Đằng, Qua lá cành, tiếng trống Man hòa trong tiếng sấm. Trần Vũ, một nhà thơ đời Đường khác, khi đến quận Kiến Vi, Tứ Xuyên thuộc khu Bộc Việt cũng viết một bài ca dài Thành hạ văn dĩ ca mà hai câu cuối kết như sau: Thử dạï khả liên giang thượng nguyệt, Di ca đồng cổ bất thăng sầu. Đêm nay trăng sáng trên sông, Trống đồng hát Rợ cho lòng buồn thương. Hứa Hồn trong bài thơ Tiễn khách về Nam, đã viết: Ngõa bôi lưu hải khách, Đồng cổ trại giang thần. Chén sành lưu khách biển, Trống đồng tế thần sông. Tôn Quang Hiến thời Ngũ Đại (907-906), có bài từ vịnh trống đồng theo điệu “Bồ Tát Man”: Mộc miên hoa ánh tùng từ tiểu, Việt cầm thanh lý xuân quang hiểu. Đồng cổ dữ Man ca, Nam nhân kỳ trại đa… Hoa gạo ánh đỏ cả khu đền nhỏ, Trong tiếng hót của đàn chim Việt dưới nắng xuân. Tiếng trống đồng hòa cùng tiếng hát của dân Man, Người phương Nam cầu cúng nhiều… Ta thấy thi văn của các danh sĩ trên đều xác nhận, một cách không cố ý, như một chuyện tự nhiên, hơn thế nữa, hiển nhiên, rằng trống đồng là của người phương Nam mà họ gọi là của người Man. Có khi họ còn liên hệ trống đồng với nước Sở như hai câu thơ trong bài Hà độc tái thần của Ôn Đình Quân sau đây: Đồng cổ tái thần lai, Sở sơn như họa yêu khai. Tế thần vẳng tiếng trống đồng, Xa xa nước Sở khói lồng như tranh. Câu thơ trên là một chứng cớ quan trọng bổ túc cho thuyết mà chính Sở Vương Hùng Cừ đã nói: “Ta là man di, không cùng hiệu thụy với Trung Quốc (Tư Mã Thiên, Sử Ký, q. 40, Sở thế gia, tờ 3b)”. Nó chứng tỏ không những dân Sở, sử gọi là dân Bộc Việt thuộc đại tộc Bách Việt, mà còn chứng tỏ nước Sở thời Xuân Thu Chiến Quốc (770 - 221 tr.CN) cũng thuộc nền văn minh trống đồng như dân Lạc Việt của nước Văn Lang dưới thời các vua Hùng. Lễ hội Quý Châu Trung Quốc Trích Hà Nội thời Hùng Vương An Dương Vương, tác giả Trịnh Sinh, Nxb Hà Nội, 2010 Sử Chính Nghĩa viết: Nam Việt và Âu Lạc đều lập họ. Lại dẫn Thế Bản Việt họ Mi cùng tổ với Sở. Sách xưa gọi là đồng tính, đồng tổ tức là cùng một chủng tộc. Vả lại theo sách sử Việt thì cương vực của người Việt ngày xưa, phía Đông giáp Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến hồ Động Đình, Nam tiếp với nước Hồ Tôn (Lâm Ấp) thì bỏ Sở đi sao được”. (Hứa Văn Tiên viết ở bài Dịch Giả Tự trong bản dịch quyển An Nam Thông Sử, nguyên tác của sử gia người Nhật tên Nham Thân Thành Doãn - Tân Hoa ấn loát, Cty Hương Cảng ấn hành 1957, trang 34). Sách Việt điện u linh viết rằng, năm 1020 Thái tử Phật Mã vâng mệnh vua cha đi đánh Chiêm Thành, kéo quân từ Thăng Long vào phía Nam, dừng chân tạm trú tại khu vực đền núi Đồng Cổ thuộc làng Đan Nê, Ái châu, nay thuộc xã Yên Thọ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Đêm ngủ, đến giờ Tý bỗng từ ngoài có tiếng vọng lại vang rền như sấm. Phật Mã thấy bóng một người cao to chừng 8 thước hiện ra khuôn mặt phong sương, râu cứng, mặc áo giáp bào, tay cầm binh khí đứng trước mặt nói: “Ngài đi đánh giặc, tôi giúp một tay”. Phật Mã đem quân vào đến Tân Bình (Quảng Bình) thì đánh tan giặc. Thắng trận trở về, Thái tử đến núi Đồng Cổ làm lễ tạ ơn. Sách Toàn thư thế kỷ XV kể thêm: Tám năm sau (năm 1028), trước hôm Lý Thái Tổ qua đời một ngày (mùng 3 tháng Ba âm lịch), lại được thần Đồng Cổ báo mộng rằng có ba tước vương sẽ nổi loạn, Phật Mã vâng lời cùng tùy tùng cấp tốc về kinh đô, quả như thần đã báo mộng. Khi Lý Thái Tổ vừa băng hà, ba con trai là Đông Chinh Vương, Vũ Đức Vương và Dực Thánh Vương đưa quân vào ẩn trong Cấm Thành, toan đánh úp. Do có phòng bị, lại được các tướng Lê Phụng Hiểu, Lê Nhân Nghĩa giúp nên Thái tử đã dẹp được cuộc nổi loạn này. Mười ngày sau khi lên ngôi, Phật Mã tức vua Lý Thái Tông (1028-1054) cho xây ngôi đền thờ thần Đồng Cổ cạnh hoàng thành và quyết định lấy ngày 25 tháng Ba âm lịch hàng năm làm ngày hội thề. Trước ngày hội thề, một cái đàn cao được đắp lên, xung quanh bày biện cờ xí, hương án, dàn nhạc lễ, đội ngũ chỉnh tề, bá quan văn võ đi từ phía Đông vào đền đến trước đàn, quì trước thần vị và tuyên đọc lời thề: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, Thần minh chu diệt”. Về sau vì ngay hội thề trùng với ngày kỵ của vua, nên hội thề chuyển sang ngày 4 tháng Tư âm lịch hàng năm. Sau này, các đời vua nhà Lý đều giữ lệ thề ấy, và cho đến thời nhà Trần cũng vẫn tiếp tục giữ lệ thề này. Ở Thăng Long có hai nơi thờ thần Đồng Cổ: Đền Đồng Cổ ở ven Hồ Tây và miếu Đồng Cổ ở thôn Nguyên Xá, xã Minh Khai, huyện Từ Liêm. Đền Đồng Cổ được xây dựng từ thời Lý vào năm 1028 ở làng Đông, nay ở đường Thụy Khuê, phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Trống đồng Đền Đống Cổ, Yên Định, Thanh Hóa Ở hai cột hoa biểu của đền Đồng Cổ bên Hồ Tây, gắn liền với hội thề “Trung Hiếu” có đôi câu đối: Tám đời vua Lý, Đồng Cổ lời xưa, các triều phong thần còn lưu sắc ngọc, Ngàn năm trải, Đàn Thề ghi tạc, một lòng trung hiếu ánh vàng son. Hai bên cửa phụ thông với gian trung tế có đôi câu đối: Dựa vào Thanh Hóa, Nê Sơn linh tích nổi, Bất hủ Long Thành, Đồng Cổ hội thề lưu. Sách Đả cổ lục cũng có ghi chép về cách đánh trống đồng thời xưa, minh họa nhịp trống giống như nhịp hành quân, qua bốn câu thơ sau: Chinh tùng chinh, Chinh tùng chinh, Thề không giết giặc, Thề không trở về. Thời nhà Trần, sau ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông một cách oanh liệt, sứ thần nhà Nguyên là Trần Phu sang sứ nước ta vẫn còn mang nỗi ám ảnh kinh hoàng sau thất bại thảm hại tại Đại Việt. Tâm trạng này được ghi lại trong bài thơ Sứ hoàn cảm sự của Trần Cương Trung thi tập, đặc biệt là với bốn câu: Bóng lòe gươm sắt lòng thêm đắng, Tiếng rộn trống đồng tóc đốm hoa, Được sống trở về mừng mạnh khỏe, Còn ghê khí độc, giấc Nam Kha*. Trong lịch sử, trống đồng có minh văn khắc nội dung đủ nhất cho tới nay là chiếc trống đồng được làm thời Tây Sơn là trống Cảnh Thịnh. Trống đồng Cảnh Thịnh nặng 32kg, đường kính mặt 54.3cm, cao 37.40cm, được đúc mô phỏng theo kiểu trống da, hình trụ. Mặt trống cong vồng lên hình chỏm cầu, chính giữa có hai vòng tròn kép tượng trưng cho mặt trời. Thân trống được chia làm ba phần, ngăn cách bằng hai đường gân nổi. Trống có 4 quai hình khuyên gắn cách đều trên thân. Xung quanh trống, từ trên xuống dưới, đúc nổi các băng hoa văn: nhũ đinh, lá đề, hồi văn chữ T và đề tài tứ linh: long, ly, quy, phượng. Minh văn được khắc phần thân trống nói về chuyện người vợ của Tổng thái giám Giao quận công thuộc năm Vĩnh Hựu thứ 2 đời Vua Lê Ý Tông (1736) góp công lập chùa Linh Ứng (nay là chùa Nành nổi tiếng), cùng những lời dẫn đến việc đúc trống để thờ cúng, tu bổ chùa. Ngoài ra minh văn còn cho biết trống được đúc vào ngày lành tháng 4 năm thứ 8 niên hiệu Cảnh Thịnh đời Vua Nguyễn Quang Toản (1800), tại xã Phù Ninh, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn (nay thuộc xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội). Trống đồng Cảnh Thịnh là hiện vật độc bản có giá trị nghệ thuật cổ tiêu biểu của giai đoạn lịch sử thời Tây Sơn. Theo tư liệu lưu trữ, trống Cảnh Thịnh vốn được lưu giữ tại chùa Cả, sau được nhân dân xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội tặng lại cho Bảo tàng. Minh văn khắc trên trống đồng Cảnh Thịnh là nguồn sử liệu có giá trị lịch sử hiếm quý, bản dịch phần minh văn khắc trên trống: "Đại tự xã Phù Ninh, huyện Đông Ngàn. Dẫn thuyết việc đúc mới trống đồng. Trộm nghĩ, việc trống được đúc bằng đồng há chẳng phải là ngẫu nhiên sao? Việc rằng, năm Vĩnh Hựu triều Lê thứ 2 (1736), có người trong ấp là bà Nguyễn Thị Lộc hiệu Diệu Bảo nên nghĩa vợ chồng với Thị nội Tổng thái giám Giao quận công, đã làm phúc thuê thợ xây dựng chùa Linh Ứng tại bản địa, phân khu điện xứ, lại làm gác chuông, đúc chuông lớn cho treo ở trên, tiếng chuông vang trong trẻo, người nghe tiếng chuông sẽ tỉnh ngộ mà xét lại bản thân, không làm chuyện xấu xa. Sau đó chùa này lại bị xuống cấp hỏng nặng, bà lại quyên góp rất nhiều tiền sửa chữa, rồi đem gác chuông cho làm của chung, dâng chuông làm chuông thánh. Người trong ấp ta thấy xót xa về việc công đức của các bậc tiền nhân không được đánh giá coi trọng, bèn hội họp cùng đưa lời bàn, góp công sức, tiền của, rồi nấu đồng đúc tạo một chiếc trống lớn và một chiếc chuông nhỏ, số đồng còn dư lại cho đúc các đồ khí thờ để cúng dâng lên ban Phật. Ôi lớn lao thay Phật pháp vô biên, chẳng thể lấy cái này mà làm khác cái kia, con người ta làm việc thiện, nhân lấy việc người xưa mà làm gương sáng cho người nay, tôn sùng coi trọng công đức của người xưa để lưu truyền mãi mãi cho muôn đời hậu thế vậy. Ngày tốt, tháng 4 nhuận năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800) đúc mới. Các quan viên hương lão, xã khán, thôn trưởng trung nam trên dưới toàn xã Phù Ninh, huyện Đông Ngạn, phủ Từ Sơn cùng ký”. Bác sĩ A. B. Meyer và W. Foy là những người đầu tiên, trong quyển Bronzepauken aus Sdostasien (Dresden 1897) phân loại trống đồng Đông Nam Á dựa theo hình dạng, các ông dựa vào hình dạng 52 trống đồng và chia ra làm 6 loại. Năm 1902, học giả người Áo F. Heger F. Heger là cố vấn cho Hội Nghiên Cứu Viễn Đông Bác Cổ, trong cuốn Trống Kim Loại ở Đông Nam Á (Alte Metalltrommeln aus Sdost Asien) không đồng ý với sự phân loại của hai tác giả trên. Dựa vào hình dạng của 165 trống đồng trên khắp thế giới, F. Heger đã chia trống đồng ra làm bốn loại chính Heger I (H.I), H.II, H.III và H.IV, Sự phân chia này được hầu hết các học giả uy tín trên thế giới công nhận và vẫn còn được tôn trọng cho đến tận ngày nay. Loại Heger I: là loại cơ bản, từ đó mà phát triển sang các loại khác, ngôi sao giữa mặt trống thường có 14 cánh. Nhìn nghiêng dáng trống có ba phần rõ rệt: tang phình đều, thân thẳng hoặc choãi, chân hình nón cụt. Mặt trống thường trang trí bằng nhiều hoa văn đẹp theo những hình tròn đồng tâm. Đây là loại trống lớn nhất, đẹp nhất, gọi là trống Đông Sơn. Trên mặt trống H.I nhóm muộn, bắt đầu thấy xuất hiện các tượng cóc trên mặt trống. Trống đồng Ngọc Lũ - H.I Loại Heger II: Do từ loại H.I diễn biến ra, mặt chồm khỏi tang và có tượng cóc, tang không phình mà thẳng hay thóp đều, thân nở và liền với chân, không tách thành hai phần rõ rệt. Trống đồng Yên Lương III - Loại H.II Loại Heger III: Mặt chồm khỏi tang trống, có hình tượng cóc, tang thon dần, thân và chân là một hình ống thẳng hoặc hơi loe về phía chân. Trống đồng - Loại H.III Loại Heger IV: Nhỏ hơn các loại trên, có dáng thấp lùn, mặt liền sát với mép tang, tang và thân được phân biệt bởi một đường chỉ kép lồi. Trống đồng - Loại H.IV Căn cứ vào bảng phân loại trên của Heger, ta thấy trống xuất hiện sớm nhất là trống loại H.I, trống lớn nhất và đẹp nhất vì có trang trí hoa văn hình người, hình muông thú. Những trống thuộc loại H.I nổi tiếng nhất và đẹp nhất đều tìm thấy ở Việt Nam. Khung niên đại chung sớm nhất được xác định thuộc nhóm trống H.I, đáng tiếc việc nhóm trống này không có chiếc nào có tuổi, do vậy phải viện dẫn đến một hiện vật khác, tương cận với nhóm này. Đó là chiếc trống có niên đại Tây Hán (thế kỷ II-I tr.CN) nằm trong ngôi mộ M14 thuộc khu mộ tang núi Thạch Trại, huyện Tấn Ninh tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. So với nhóm trống H.I thì trống Tấn Ninh là chiếc trống đơn giản, trang trí sơ lược, trên mặt có 4 hình chim bay, tang trống mang 4 chiếc thuyền, đây là loại trống có bố cục xuất hiện muộn. Trống đồng có tuổi sớm nhất được biết đến là trống Việt Khê (thế kỷ V-III tr.CN), nhưng cũng là chiếc trống nhỏ, trang trí đơn giản, trên mặt chỉ có hình 4 chim bay, chắc chắn đây là một tiểu phẩm xuất hiện muộn so với các trống phong phú nói trên. Việc xác định tuổi nhóm trống H.I tạm thời được nhận định trong khoảng từ thế kỷ thứ VII-II tr.CN. (Những trống đồng Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Huyên - Hoàng Vinh, Viện Bảo tàng lịch sử, 1975). Sự phân loại theo hình dạng trống của Heger mà các nhà khảo cổ thế giới hiện nay chỉ có tính cách mô tả, sự phân loại trên chắc chắn khẳng định chúng phải mang một số ý nghĩa nào đấy, bởi vì hiện nay, trên thế giới có hàng ngàn trống đồng tìm thấy, mà chung qui về hình dáng phần lớn đều nằm trong bốn loại trống theo Heger. Làng cổ Đông Sơn Hàm Rồng, Thanh Hóa, Việt Nam Tài liệu được xem là cổ nhất có đề cập tới vai trò của trống đó là kinh Dịch, một trong Ngũ Kinh do Khổng Tử (551-479 tr.CN) san định. Trong 64 quẻ Dịch có quẻ Lôi Địa dự tạo thành bằng quẻ Lôi trên quẻ Địa. Với lời quẻ: sấm nổ trên đất chính là tượng của trống đồng, dùng vào việc phong tước hầu hay là một biểu tượng vua ban khi phong tước cho các công hầu, cùng với ấn tín sắc phong. Dùng để hành quân, trống đồng trở thành một quân khí dùng trong quân sự. Lời tượng: sấm vang trên mặt đất là tượng quẻ Dự, các bậc tiên vương làm ra nhạc đề cao đạo đức, long trọng dâng lên Thượng đế cùng với anh linh tiên tổ. Trống đồng còn gọi là trống sấm là loại trống duy nhất khi đánh để úp xuống đất nên lời tượng bảo “lôi xuất địa phấn”. Chữ “tác nhạc” cho thấy rõ ràng trống đồng là một nhạc cụ dùng trong các buổi lễ tế. Qua lời quẻ và lời tượng của quẻ Lôi Địa dự, việc liên hệ giữa Dịch học và trống đồng là điều không thể phủ nhận (trích bài viết của tác giả Văn Nhân). Các nhà khảo cứu đã nhận thấy trống đồng rất đa dụng, trống được dùng trong nhiều lĩnh vực: từ việc trống đồng là trống thờ, trống cầu mưa, trống dùng đựng tro than hỏa táng, đựng vỏ sò, đựng các vật báu khác, dùng làm vật tùy táng chôn theo người chết, dùng làm nhạc cụ điều động chiến tranh, trống đồng không có chủ đích chính là làm ra sử dụng như một chiếc trống thông thường để chơi âm nhạc. Trống thờ mạ vàng Trống minh khí Trống minh khí Mộ chiếc trống được khai quật tại khu mộ Số 20, Trại Thạch Sơn (206 tr.CN-25), dùng làm vật đựng vỏ ốc sứ, trên nắp diễn tả một cảnh hiến tế người dưới sự chủ tọa của một nữ lưu hoàng tộc được che lọng, trụ cao ở tâm trống là phần nối dài của trục trống tức Trục Vũ Trụ dùng làm đường để đưa tế vật lên trời. Trống đồng Khai quật tại khu mộ Số 20, Trại Thạch Sơn, Trung Quốc Trống được xem như là một vị thần linh, như thần sấm và được tôn thờ. Đặc biệt, còn có tục giết trống, tục này thấy nhiều ở Vân Nam và Bắc Việt Nam. Vì trống là biểu tượng cho thế quyền và linh hồn của một tộc, nên khi một tộc nào chiến thắng, họ giết trống của kẻ thù nhằm tiêu diệt luôn cả linh hồn tộc đó để tránh hậu hoạn. Muốn giết trống đồng chỉ việc chọc thủng hay phá hủy mặt trời ở tâm trống, bởi vì mặt trời là linh hồn của trống, khi đánh lên biểu hiện như một trái tim đang đập, là sự sống của trống. Phá hủy mặt trời ở tâm trống Trống đồng Điền, Vân Nam, Trung Quốc Trong hàng trăm chiếc trống đồng Đông Sơn đã được khảo sát, thì chiếc trống đầu tiên có minh văn ở Việt Nam chính là chiếc trống đồng Đông Sơn do nhân dân khai quật được ở Gò Mả Tre, khu vực nằm giữa thành Trung và thành Nội của thành Cổ Loa, năm 1982, còn tươi màu vàng óng đó có một hàng chữ Hán rất khó đọc ở bên trong vành chân đế, hàng minh văn này đã được một số nhà khoa học nghiên cứu và công bố. Trống đồng Cổ Loa Trống Cổ Loa, khai quật tại gò Mả Tre năm 1982 Minh văn bên trong vành chân đế trống Cổ Loa và chữ “Tây Vu” phóng đại. Chữ “Tây Vu” khắc trên ấm đồng niên đại thế kỷ I tr.CN Nếu tạm chấp nhận cách đọc mới của Ba Hyu (Ba Hjo, 2011, Giải nghĩa minh văn trên trống đồng Heger loại I đào được tại Cổ Loa, trong Văn hóa Cổ đại, kỳ 1 quyển 63, Kyoto, tháng 6-2011, tr. 120-124), với sự chỉnh sửa (trích bài viết của tiến sĩ Nguyễn Việt) ở chữ đầu tiên thì dòng minh văn trong chân trống Cổ Loa có thể đọc mới là: “Tây Vu tập (tứ thập) Bát Cổ, Trọng Lưỡng Cá Bách Bát hập Nhất Cân”, dịch nghĩa: “Trống thứ 48 của bộ Tây Vu, nặng hai trăm tám mươi mốt cân”. Chiếc trống đồng Đông Sơn thứ hai có minh văn đã được phát hiện ở thôn Trạch Bái, xã Hòa Lâm huyện Ứng Hòa, Hà Tây. Chiếc trống được mô tả là trống “Phú”, bởi trên dòng minh văn trên trống, chính chủ nhân xưa đã cho khắc một câu: ”Danh viết Phú” nghĩa là: “Trống có tên là Phú”. Trống “Phú” thuộc loại trống cỡ lớn, có đường kính miệng 65cm, phần tang rộng nhất tới 71cm. Chiều cao toàn thân trống là 43cm, thuộc loại trống lùn mang đậm phong cách miền núi (Tây Âu). Trống “Phú” Dòng minh văn gồm 16 chữ Hán và Giả thiết phục dựng hai chữ Cửu Chân từ bản gốc minh văn (đọc từ phải qua trái) Như vậy “Cửu Chân” còn mang nặng tính giả định, tuy có sự gần gũi và sự hợp lý về tự dạng với tính vùng nơi khai quật được trống Phú. Nếu tạm chấp nhận giả thuyết nêu trên, toàn văn dòng chữ Hán 16 chữ khắc trong vành chân đế trống Phú có thể được đọc như sau: “Cửu Chân, Trọng Lục Quân, Ngũ Cân, Bát Lạng, Danh Viết Phú, Đệ Vị Thập Nhất, tạm dịch: “Trống của bộ Cửu Chân, đứng hàng thứ 11 (đệ vị thập nhất), nặng 185 cân rưỡi, tên đặt là Phú”. “Quân” là đơn vị đo lường cổ được dùng từ đời nhà Chu cho đến hết đời nhà Minh. Hai “bình” làm thành một quân. Một bình nặng 15 cân, như vậy một quân nặng 30 cân. Đời nhà Tần có đúc chuẩn những quả quân có quai để thống nhất đo lường toàn thiên hạ. Theo đó, mỗi quân nặng 7.75kg (một cân đời Tần - Hán là khoảng 258g). Chiếc trống này có niên đại tương đương Tần - Hán, tức khoảng thế kỷ III-II tr.CN, ngang với thời kỳ nhà nước Âu Lạc ở Việt Nam. Nói chung các sách đều ghi nhận trống đồng là vật biểu tượng của quyền uy, được cất giữ trong nhà các tù trưởng, lang đạo hoặc trong các đền, miếu, nó chỉ được đem ra đánh vào các dịp đặc biệt như các lễ tế thần linh, cầu đảo, hội xuống đồng hoặc những lúc có giặc giã. Sách Tỉnh Mường Hòa Bình của Pierre Grossin cho biết: Đầu thế kỷ XX một số nhà quan lang lớn ở người Mường còn thờ trống đồng và đánh trống đồng trong đám tang quan lang, nhưng chỉ các thầy mo mới được thực hiện. Niên đại trống đồng Đông Sơn loại H.I tạm thời được xác định trong khoảng từ thế kỷ VII-II tr.CN, và với việc khám phá hai chiếc trống đồng có những chữ khắc là những chứng cứ vật thể rất quan trọng để phục vụ công tác nghiên cứu về thời đại An Dương Vương và nhà Triệu ở nước ta. Hầu hết các loại trống H.I đều không có tượng cóc hoặc ếch trên mặt trống, đấy là các loại trống xuất hiện muộn hơn cũng như những chiếc trống có khắc hoa văn đơn giản và sơ lược khác. Hình tượng cóc Trống đồng Đông Sơn, Việt Nam . Trong hàng ngàn trống đồng được tìm thấy, thì trống đồng Ngọc Lũ là chiếc trống là tinh tế và mỹ thuật nhất được khai quật cho tới nay và cũng được xem là loại H.I cổ nhất. Trống đồng Ngọc Lũ vốn để ở đình làng Ngọc Lũ, tìm thấy ở xã Như Trác, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Ninh, Việt Nam. Hiện nay trống được trưng bày tại viện bảo tàng Lịch Sử Việt Nam, Hà Nội. Do vậy, để tìm hiểu vai trò của trống đồng so với cổ thư đã ghi nhận, chúng tôi đi sâu vào phân tích ý nghĩa của trống đồng Ngọc Lũ và toàn bộ hoa văn được khắc trên trống. TRỐNG ĐỒNG NGỌC LŨ Mặt trống đồng Ngọc Lũ Phạm Huy Thông và các cộng tác viên Trống đồng Ngọc Lũ có hình dáng cân đối, có đường kính 79cm, chiều cao 63cm, thân trống được chia làm ba phần: Phần trên phình ra gọi là tang trống, nối liền với mặt trống. Phần giữa gọi là thân trống, hình trụ tròn thẳng đứng. Phần đế hơi loe thành hình nón cụt gọi là chân trống. Trống có bốn chiếc quai chia làm hai cặp gắn vào tang và phần thân trống, được trang trí hoa văn bện dây thừng. Chính giữa mặt trống là hình ngôi sao nổi 14 cánh, xen giữa các cánh sao là 14 họa tiết mà các nhà nghiên cứu gọi là họa tiết “lông công”. Từ trong ra ngoài có tất cả 16 vành hoa văn đồng tâm bao bọc lấy nhau, các vành 1, 5, 11 và 16 là những hàng chấm nhỏ. Các vành 2, 4, 7, 9, 13 và 14 là những vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến. Vành 3 là hình chữ S gẫy khúc nối tiếp. Vành 12 và 16 là hoa văn răng cưa. Các vành răng cưa ngoài biên trống chia vòng tròn 360o thành 360 đơn vị, mỗi đơn vị tương ứng với 1.5 răng cưa (tổng cộng 540 răng cưa) nhằm định vị chính xác đến từng vị trí của mỗi họa tiết trên trống đồng. Vành 6 với hình người, động vật vận động ngược chiều kim đồng hồ quanh tâm trống. - Hình người: Nhóm người trang phục cổ, có người tay cầm rìu, có người thổi khèn, có người cầm giáo, cán giáo có trang trí lông chim. Hoặc có thể người đang quay mặt về phía ngôi nhà, xõa tóc, mặc váy hay có đôi trai gái đang cầm chày giã vào một chiếc cối, đầu chày có trang trí lông chim. - Hình nhà: Gồm hai loại nhà, loại nhà thứ nhất (2 cái) có vẻ liên quan đến nghi lễ tôn giáo, mái cong giống như hình cái chuông đồng úp xuống, bên trong có người. Loại nhà thứ hai (2 cái) hình thang, giống hình nhà sàn có nóc cong lên như hình con thuyền hay yên ngựa, Nóc mỗi nhà có hai con chim đậu và nhà kia một con chim đang đậu. Vành 8 gồm hai nhóm, mỗi nhóm có 10 con hươu cách nhau bằng hai tốp chim bay, một tốp 6 con và một tốp 8 con, cứ một con hươu đực thì đến một con hươu cái. Vành 10 gồm 36 con chim, bao gồm 18 con chim đậu và 18 con chim đang bay. Chim bay là loại chim mỏ dài, có mào, đuôi và chân dài, mình gầy thuộc loại cò, sếu hoặc vạc. Chim đậu có nhiều loại, con thì mỏ ngắn vênh lên, con thì mỏ dài chúc xuống, phần đông là chim ngậm mồi, đều có đuôi ngắn. Phần trên cùng của tang trống là đoạn tiếp giáp với mặt trống có 6 vành hoa văn hình học, các vành 1 và 6 là những đường chấm nhỏ thẳng hàng, vành 2 và 5 là văn răng cưa, đỉnh quay về hai phía có những chấm nhỏ xem kẽ, vành 3 và 4 là hoa văn vòng tròn đồng tâm chấm giữa nối với nhau bằng những tiếp tuyến song song. Tiếp theo đoạn này là hình 6 chiếc thuyền, chuyển động từ trái sang phải, xen giữa các thuyền là hình các con chim đứng, chim có từ 1 đến 3 con. Đứng giữa thuyền là người đánh trống điều khiển. Mũi thuyền có từ 1 đến 2 người tay cầm vũ khí như giáo hoặc rìu. Mỗi thuyền đều có một người cầm lái đầu đội mũ lông chim cao, tay lái có trang sức lông chim. Trên sàn thuyền có một người bắn cung đứng trên “đàn”, không đội mũ lông chim mà búi tóc. Số lượng người trên các thuyền có khác nhau. Ngoài ra, trên khoảng giữa hai thuyền có một con thú đứng nghểnh mõm giống như chó săn. Phần dưới của tang trống là ba vành hoa văn hình học, sáu cặp hình người, mỗi cặp hai người. Chân trống không có trang trí. Trống đồng mang trọn vẹn hình ảnh của tự nhiên, xã hội và nhân sinh đang vận động, hướng chuyển động của toàn bộ nhân vật đều quay ngược chiều kim đồng hồ: thể hiện sự vận động của vũ trụ bao gồm cả con người và động thực vật theo thời gian trong không gian vô tận, hướng về một ngôi sao 14 cánh ở tâm trống. Như vậy, triết lý trên mặt trống là một đi một về, quay vòng liên miên bất tận, từ số phận vạn vật hữu tình hữu hạn như con người, động thực vật đến lúc cũng sẽ phải chuyển hóa thành số phận của thần thánh vô hạn, tức hòa nhập vào ngôi sao ở tâm trống, hòa nhập hoàn toàn vào vũ trụ “Vạn thù quy nhất bổn”. Chúng ta phải giải mã hệ thống các biểu tượng trên trống đồng theo học thuyết Âm Dương Ngũ Hành và Dịch học, cùng với việc so sánh các biểu tượng với các nền văn hóa khác trên thế giới. Từ hiện thực khách qua đến tư duy trừu tượng, con người nhận thức các cung bậc của không thời gian và cuộc sống, xây dựng nên các triết lý về đạo đức, hình thành nên các thể chế, định hình nên các nghi lễ từ gia đình cho tới quốc gia, nhằm tạo ra một mối quan hệ xã hội hài hòa, tương ứng với nhịp điệu muôn thuở của đất trời: Trời xoay phải đất xoay trái, Xưa qua nay lại đã bao phen. Quạ đen bay ngọc thỏ chạy, Vừa từ cửa bể hiện ra, Lại biến đằng sau núi biếc. Sông Giang sóng chập chùng, Hoài Tế nước mênh mông, Chảy thẳng vào dòng ngày đêm mịt mùng. Pháp Nhãn Thiên Sư - Trung Quốc. Hình dạng trống gồm 3 phần tang trống, thân trống và chân trống ứng Tam Tài: thiên, địa, nhân. Mặt trống thể hiện sự vận động của vạn vật trong vũ trụ quanh một trục qua tâm trống gọi là Trục vũ trụ hay Trục định vị, Thuyết quái truyện nói: "Trời đất định vị, núi đầm thông khí, sấm gió cùng nhau xô xát, nước lửa không diệt nhau, 8 quẻ giao nhau". Trục định vị Thiên Địa Trích Tìm về cội nguồn Kinh Dịch, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nxb Văn hóa Thông tin, 2002. Mặt trống Tâm trống gồm vòng tròn bao quanh mặt trời, được diễn tả vòng tròn có chấm, có một khuôn mặt là linh tự Ra - Thần Mặt Trời của tôn giáo Ai Cập cổ. Linh tự Ra của tôn giáo Ai Cập cổ Tranh tường và cổ vật Ai Cập Căn cứ vào bức tranh dân gian Hàng Trống Cao quý đồ quan, tạm thời nhận định họa tiết “lông công” là thể hiện tính âm, còn các tia sáng thể hiện tính dương. Cao quý đồ quan Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Trống đồng Ngọc Lũ thuộc nhóm trống có ngôi sao 14 tia sáng, 14 tia sáng hợp 14 “lông công” thể hiện sự hòa hợp âm dương tại trung tâm trống. Con số 14 cùng với “tâm trống” tương ứng với 15 bộ của nước Văn Lang, trong đó bộ Phong Châu, kinh đô của nước Văn Lang chính là “tâm trống”. Đồng thời số 14 cũng là 14 chính tinh trong khoa tử vi Đông Phương, là một môn khoa học dùng để tiên tri các sự kiện diễn ra trong một đời người. Mặt khác, ngày rằm cũng chính là giờ Tý ngày 15 âm lịch hàng tháng, ngày trong tháng có trăng tròn nhất trong một năm, lúc này khí âm dương giao hòa, chính là ngày Tết Trung Thu của trẻ em. Mặt khác, số 14 cũng thể hiện cung Tốn, sau khi đã đổi Tốn Khôn trong Hậu Thiên Bát Quái. Hậu thiên Bát quái phối Hà Đồ Trích Hà đồ trong văn minh Lạc Việt, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2007 Một điều thú vị là tại khu mộ tang Thạch Trại, huyện Tấn Ninh, tỉnh Vân Nam, trung Quốc tìm được hai cổ vật bằng đồng: Trên một trống đồng trên đó có cảnh tế “Cột Đồng” với hình rắn quấn quanh có hy sinh người, còn trống kia diễn tả cảnh “Tế Trời” cũng lấy người làm vật hy sinh, ở giữa dàn tế có đặt 3 chiếc trống đồng chồng lên nhau, tượng trưng cho “ông Trời”. Các vật hiến tế, tế vật thường đứng trên mặt hay chung quanh thân trống, ba chiếc trống chồng lên nhau ở tâm trống dùng như một Trục thế giới. Trống đồng khi được chế tác mang ý nghĩa như một Trục Vũ trụ, nó trở thành hình trụ tròn như một cái thùng, thì nó không còn được gọi là trống đồng nữa. Trục vũ trụ Đồng Điền, Vân Nam, Trung Quốc Bức tranh dân gian cổ của dân tộc Tày, Nùng phía Bắc Việt Nam, thể hiện hình ảnh một cái cây cổ thụ đứng ở trung tâm, xung quanh là nhị thập bát tú, mặt trời và mặt trăng cùng các động vật như long, lân, phượng, trâu, ngựa chầu hầu xung quanh. Cây cổ thụ bị một cái đinh sắt đâm xuyên qua thân, ngụ ý sự nhận biết về thực tại tối hậu của vũ trụ đang bị che lấp. Như vậy, Trục Vũ trụ vẫn còn được gọi tên là Cây Vũ trụ, Cây Đời sống hay Cây Đời. Ngọc thụ Tranh dân gian Tày - Nùng, Việt Nam Trục Thế giới ở nhiều nền văn hóa cũng dùng như Cây Vũ trụ, trong văn hóa vương quốc Điền, Trung Quốc cũng vậy. Ở một trống có cảnh diễn tả tục đâm bò tế trời, trụ cột đâm trâu bò mang hình ảnh Cây Vũ trụ, dùng làm phương tiện để dâng cúng lễ vật tới thánh thần. Cảnh hiến tế bò trên thân một trống đồng Cổ vật đồng Điền, Vân Nam, Trung Quốc Vùng cao, rừng núi mang tính âm nên thủ tục giết bò tế lễ bằng rìu một cánh, dương còn vùng thấp, đồng bằng mang tính dương giết trâu tế lễ bằng rìu hai cánh, phân loại vùng đất theo nguyên tắc “âm nhô cao, dương trũng thấp”. Lưu ý Cây Tam Thế (Cây Vũ trụ, Cây Đời sống) có hai vòng tròn ở hai đỉnh đường chéo ngang hình thoi biểu tượng cho lưỡng nghi, bốn vòng tròn ở hai đỉnh đường chéo đứng hình thoi biểu tượng cho tứ tượng. Lưỡng nghi, Tứ tượng, sinh ra Tam Thế được diễn tả bằng ba tầng phía trên hình thoi. Phần dưới cột trâu là một phần của Trục Thế giới nối liền Tam Thế. Qua bức tranh dân gian Đông Hồ Rước Trống, chúng ta nhận thấy rõ trống được đón rước một cách long trọng qua hình tượng chiếc lọng báu che trên trống. Đặc biệt, hình ảnh 6 người phụ nữ rước trống tay cầm quạt che ngực thật ấn tượng, trong đó chiếc trống nằm ở vị trí giữa bốn người đi trước và hai người đi sau, đây chính là một trong những mật ngữ nói về “Trống” tương ứng Thái cực, hai người đi sau trống tương ứng Lưỡng Nghi và bốn người đi trước là Tứ tượng của Hậu thiên Bát quái. Còn trong bức tranh Kéo co, thì cây gỗ ở giữa chính là Trục Vũ trụ và 5 cặp vận động viên hai bên biểu tượng sự vận động của Âm Dương Ngũ Hành. Rước Trống và Kéo Co Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Như vậy, hình ngôi sao tâm trống thể hiện Trục Vũ trụ, Cây Đời và một phần lịch sử nước Văn Lang, chúng cũng sẽ được chứng minh một cách hợp lý. Từ ngôi sao tâm trống ra có những vành sinh tạo, hai vành là hình vòng tròn chấm nối nhau kẹp ở giữa vành hai chữ S sắc nhọn gẫy ba khúc ôm nhau. Ta cũng thấy chữ S gẫy ba khúc là một dạng của tia chớp khi trời dông bão, ngày nay chữ S gẫy ba khúc dùng làm biểu tượng cho điện cao thế. Chữ S gẫy mang dương tính diễn tả tương tác từ ngôi sao 14 cánh tới các vành nhân sinh bên ngoài và tương tác này là biểu tượng của Khí, thể hiện tính linh động và tế vi qua hình tượng hai chuỗi vòng tròn chấm kẹp chữ S tạo thành tượng quẻ Khảm: “Khí gặp nước thì dừng, gặp gió thì tán”. Khí là khái niệm phổ biến được dùng trong các phương pháp ứng dụng cổ Đông phương như Đông Y, phong thủy… Trên mặt trống đồng, nếu ta xác định trục đối xứng qua tâm đi qua tâm “nhà chuông” và biên “nhà thuyền” thì sẽ tương ứng trục địa cầu nghiêng một góc 23.5o. Như vậy, trống đồng Ngọc Lũ thể hiện cấu trúc của Hậu Thiên Bát quái, vạn vật trên trống đồng được phân bố chính xác vào trong tám cung tương ứng. Hai nhà hình chuông nằm trên trục Nam - Bắc, hai nhà hình thuyền nằm trên trục Tây Bắc - Đông Nam, còn hai biên khu vực chứa 4 trống đồng tạo thành trục Đông - Tây. Mặt phẳng Hoàng Đạo Trích Hà đồ trong văn minh Lạc Việt, tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2007 Lúc này, mái nhà thuyền có 1 con chim trên nóc nằm cung Tây Bắc thể hiện độ số 1 của cung Càn và mái nhà thuyền có 2 con chim đứng ngược nhau trên nóc nằm cung Đông Nam thể hiện độ số 2, hoàn toàn chính xác với cung Khôn độ số 2. Con nhỏ là con cái, con to hơn có đuôi dài là con đực.Từ hệ trục trên, chúng ta hiểu rằng ngôi sao 14 cánh chính là biểu tượng cho mặt trời, trung tâm của Tiểu vũ trụ - Hệ mặt trời. 14 hình ảnh “lông công” lúc này chính là biểu tượng cho mặt trăng, sự hợp nhất mặt trời và mặt trăng chính là âm dương hợp nhất, hay “ánh sáng”, được hội tụ qua hình ảnh của trái đất, nơi vạn vật sinh trưởng. Như vậy, trong tiểu vũ trụ, trống đồng gọi là trống mặt trời, trống thái dương, trống Hùng bởi Kinh Dương Vương là vị vua Hùng đầu tiên trong 18 đời các vua Hùng. Ngôi sao tâm trống tượng trưng cho mặt trời, Thái cực, các phần còn lại của mặt trống nhận Mặt trống và tang trống biểu tượng toàn bộ không gian sống bao quanh trái đất, được chia thành 3 vành rõ rệt: vành chứa người, nhà, chim; vành chứa 10 cặp nai và 14 con chim; vành còn lại chứa 18 cặp chim. Tang trống chứa 6 chiếc thuyền chứa một nhóm người và phần thân trống được xem là trục vũ trụ vẽ 6 cặp người tay cầm rìu và kinh sớ. Nhằm xác định ý nghĩa tượng trưng của các vành trống, chúng ta xem lại đạo Mẫu Việt Nam, toàn bộ cõi nhân gian được chia thành 4 cõi và được quản lý bởi các Thánh mẫu: - Cõi Thượng Thiên: do Mẫu Thượng Thiên cai quản, Mẫu Thượng Thiên cũng là Mẫu Liễu Hạnh và còn có thể hóa thân thành Địa Tiên Thánh Mẫu, Mẹ Đất (Thổ Địa) cai quản mọi vùng đất đai và đời sống vạn vật. Bà là vị Thần Chủ của Đạo Mẫu, được thờ cúng nhiều nhất trong đạo Mẫu Việt Nam. Đền thờ Bà có ở nhiều nơi, nổi tiếng nhất có đền Sòng ở Thanh Hóa và Phủ Giầy ở Nam Định. - Cõi Nhạc phủ: do Mẫu Thượng Ngàn cai quản, trông coi đời sống vạn vật ở các miền rừng núi, vùng cao. Đền thờ Mẫu Thượng Ngàn có ở nhiều nơi, nhưng có hai nơi thờ phụng chính là Suối Mỡ, Bắc Giang, Hà Bắc và Bắc Lệ, Lạng Sơn. - Cõi Thủy phủ: do Mẫu Thoải (Mẫu Thủy) cai quản, đó là vị thần trị vì vùng sông nước, nữ thủy thần gắn với đời sống thủy sinh của dân tộc Việt từ xa xưa. - Cõi Địa phủ: do Mẫu Địa cai quản, trông coi đời sống vạn vật ở vùng đồng bằng. Đối chiếu với bốn phần trên mặt và tang trống, chúng ta thấy chúng hoàn toàn tương hợp với nhau, cho nên hệ thống tranh thờ dân gian Hàng Trống về đạo Mẫu có khả năng giải thích các biểu tượng trên trống đồng, và ngay trên bức tranh Tam phủ Công đồng cũng có hình chiếc trống được chở trên thuyền. Tam phủ Công đồng Tranh dân gian Hàng Trống, Việt Nam Như đã nhận định, 14 cánh ngôi sao thể hiện cung Tốn, đồng thời vành ngoài cùng chứa 18 cặp chim, số 18 này theo phương pháp trấn yểm phong thủy nó thể hiện độ số 8 trên Hậu Thiên Bát quái chính cung Cấn, chúng ta cũng biết cung Cấn đối xứng cung Tốn qua tâm Hậu Thiên Bát quái, với chú ý là cung Tốn và cung Cấn chỉ đối xứng nhau sau khi đổi chỗ Tốn Khôn. Hậu Thiên Bát Quái (đổi Tốn Khôn) Tiên Thiên Bát Quái Như thế, trống Ngọc Lũ có mặt trời 14 tia sáng có khuôn mặt lưỡng hợp âm dương, với Tiểu vũ trụ là Hệ mặt trời. Như vậy, chúng ta đã có cái nhìn nhận toàn thể về ý nghĩa cơ bản của trống đồng. Trên mặt trống, chúng ta dễ dàng nhận thấy khả năng nhóm người đang biểu diễn các nghi lễ tôn giáo hoặc các nghi thức của những ngày lễ hội lớn của một quốc gia, toàn cảnh lễ hội diễn ra tại các ngôi nhà thuyền và nhà chuông. Trục Bắc - Nam là trục cố định trong Hậu Thiên Bát quái cũng như Tiên Thiên Bát quái, còn trục Tây Bắc - Đông Nam là trục Càn - Khôn trong Hậu Thiên Bát quái, do vậy ngôi nhà hình chuông biểu thị cho tôn giáo, giá trị tinh thần vĩnh cửu, thông thường đó là những ngôi chùa, đền, thánh đường qua hình tượng cái chuông, còn ngôi nhà thuyền biểu thị cho nơi tổ chức quốc gia như kinh thành, ngôi đình làng, quan đường… đối với nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, chúng ta nhận định là ngôi đình làng ở miền xuôi hay ngôi nhà rông ở vùng cao qua hình tượng những cái trống dưới sàn nhà. Trống còn có nghĩa là đực, dương cho nên những ngôi đình, nhà rông, nhà lang thì người phụ nữ bị ngăn cấm bước vào. Một cổ vật thùng đồng Điền, Vân Nam, Trung Quốc thể hiện ngôi nhà chứa trống tương tự nhà thuyền trên mặt trống đồng Ngọc Lũ. Thùng đồng Điền Vân Nam, Trung Quốc Nhà Trên Trống Ngọc Lũ Từ việc nhận định bề mặt trống đồng thể hiện các lễ hội của quốc gia và tôn giáo, cần xem xét khu mặt mặt trống qua hai nhóm người: Nhóm 7 người diễn xướng, cùng với dàn trống và cảnh giã cối trong lễ hội, ứng với nhà hình thuyền bởi số 7 cung Ly trong Hậu Thiên Bát quái, nhà hình thuyển thể hiện tính dương. Nhóm 6 người diễn xướng, cùng với dàn trống và cảnh giã cối, ứng với nhà hình chuông thể hiện tính âm, ứng số 6 của cung Khảm trong Hậu Thiên Bát quái. Nhằm xác định lễ hội gì, chúng ta quan sát hai hình người đang giã cối, một người như đang ngửa mặt lên trời cầu nguyện và trên đầu là hình con chim bồ nông. Cảnh giã gạo và Tượng đồng cổ chim bồ nông Tượng đồng Điền, Vân Nam, Trung Quốc Bồ nông loài chim nước, tính âm thể hiện vùng đất thấp hay vùng nông nghiệp lúa nước, tên chim bồ nông trùng hợp hợp với vua Thần Nông, thủy tổ của ngành nông nghiệp và y học. Vậy thì, nhận định đây chính là lễ hội Tết Cơm Mới vào ngày 10 tháng Mười âm lịch hàng năm của các dân tộc vùng cao trồng lúa nương và vùng đồng bằng trồng lúa nước. Như vậy, ứng với Tết Cơm Mới đối diện qua tâm trống chính là Tết Đoan Dương ngày 5 tháng Năm âm lịch. Hai cái tết này được lấy làm đại diện cho lễ hội quốc gia trình bày qua nghệ thuật điêu khắc trên mặt trống đồng, Tết Cơm Mới và Tết Đoan Dương là một trong những ngày lễ hội quan trọng của nước Văn Lang. Cảnh giã chầy cối thể hiện công tác giã gạo để làm cơm mới và bánh thánh dâng cúng lên các vị thánh tổ của quốc gia. Hai người giã cối cũng thể hiện tính âm dương, người đứng giã bên phải tóc búi ngắn phía sau ở trần là người nam, còn ngược lại người bên trái phía âm tóc dài có sọc ngang, trang phục dài là người nữ. Một người nam thứ ba đứng ngửa mặt lên trời, hai tay như đang dâng lễ vật, đây chính là người đại diện cho việc cúng tế bởi vì hình tròn chấm biểu tượng mặt trời được vẽ ngay giữa ngực. Hai nhóm 6 và 7 người, chuông nhạc Đông Sơn Quan sát các nhóm người, nhóm 7 người nhảy múa nằm trong cung Cấn, Chấn ứng với mùa xuân và ngược lại nhóm 6 người nhảy múa nằm trong cung Tốn, Đoài ứng với mùa thu. Như vậy, khả năng đây là một lễ hội nông nghiệp hoặc vào hai mùa xuân thu, là những nghi lễ quan trọng của quốc gia. Trong tranh dân gian Đông Hồ có cặp tranh nhị bình Vụ cấy và Mùa gặt, nội dung quan trọng nhất của lễ hội là đề cao hai tác động then chốt của nông nghiệp là gieo vào mùa xuân và gặt vào mùa thu. Mùa gặt Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Vụ cấy Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Hai bức tranh thể hiện vụ cấy và mùa gặt của người nông dân, cùng phù hợp với nhận định Tết Cơm Mới ở trên, đặc biệt trong hai bức tranh này thể hiện ngôi đình làng với hai bên là tả vu và hữu vu, so sánh với hai mái nhà hình thuyền trên mặt trống đống ở cung Càn và Khôn, thì con Trâu sẽ ứng với cung Càn và con Bò ứng với cung Khôn, chúng được dùng là vật tế trời đất. Như vậy, nhóm 6 người thực hiện nghi lễ của mùa xuống đồng cấy lúa với hình người đi đầu cầm gậy đầu nhọn như đang chọc xuống đất tra hạt vào lỗ, còn nhóm 6 người thực hiện nghi lễ của mùa gặt lúa với người đi đầu cầm gậy bằng đầu trong tay. Bộ tranh nhị bình “Cày - Bừa” Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam So sánh với nghi lễ của người Ê Đê: Trong ngày lễ gieo hạt, người Ê Đê làm một tòa nhà sơ sài gọi là Nhà Trời. Trên bốn đầu cột có cắm mỗi cột một đầu lông gà trắng (tương ứng Hành Kim, Tây Bắc). Người lên sàn bằng một thang tre, chiếc thang này, sau đám, sẽ được cất đi, năm sau đến ngày lễ lại mang ra dùng. Chiếc thang này được gọi là Thang lên trời hay còn gọi là thang Con Cóc. Bên cạnh Nhà Trời có một vựa thóc, trong vựa treo đầy cồng tượng trưng bằng những vòng tròn cắt ở quả bầu khô, trên sàn là một thúng đầy ắp thóc ngô (tượng trưng bằng đất đỏ). Dưới sàn, ở các cột, treo những dụng cụ âm nhạc, những phách tre và những dùi để đánh. Việt Điện U Linh, một cuốn sách đời Trần có chép truyện Thiên tổ địa chủ xã tắc đế quân: “Thần là Hậu Tắc, dạy nghề trồng lúa được các triều vua trước thường làm lễ tế Nam giao hòa cùng với trời đất… thờ Đế Quân tại phái Nam La Thành, bên cửa Quốc Bình. Miếu điện rất tôn nghiêm, tục gọi là Xã đàn tư thần. Khi có hạn hán thì làm lễ cầu mưa rất linh ứng…”. Hiện nay, sau phố Khâm Thiên và Ngã tư Sở còn làng Xã Đàn. Ở đó còn một cột đá nhất trụ, xung quanh chân cột có nhiều kim nhọn. Giao ở đây có thể hiểu là sự giao hòa, sự phối hợp giữa trời và đất. Giữa trời và đất có quan hệ âm dương, vợ chồng. Mưa chính là sự hòa hợp tính giao giữa cặp vợ chồng này. Lễ hội Lồng Tồng Các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, Việt Nam Trong hai nhóm thì người cầm chuông luôn là trưởng nhóm với chuông trong tay và cái đầu hình quả bầu, thể hiện âm dương hòa hợp tức Thái cực, riêng người này trong nhóm 7 người còn cầm thêm nhạc cụ như cái mõ, tiếp theo người thổi khèn bầu và người đi đầu trong nhóm 7 người thể hiện âm và dương tức Lưỡng nghi, 4 người còn lại cầm phách và gậy biểu hiện cho Tứ tượng. Toàn bộ một nhóm người múa hát được bố trí sao cho thể hiện được học thuyết Âm Dương Ngũ Hành trong nhạc lý: cung, thương, giốc, chủy, vũ. Cõi Trên thường biểu tượng bằng hình chim vì thế thường có hình chim đậu trên nóc nhà, nhà biểu tượng Cõi Giữa nhân gian, trong nhà có cảnh sinh hoạt của con người thường liên hệ tới tín ngưỡng, nhà có để trống cho biết nhà là nhà dương, nhà cho phái nam, gầm nhà là Cõi Dưới, Hạ Thế. Hình nhà thuyền cung Khôn Đầu hồi nóc nhà trang trí với hai hình đầu chim, mắt chim là mắt âm biểu tượng bằng hai vòng tròn đồng tâm có chấm. Trên nóc ngôi nhà này có hai con chim đậu quay ngược nhau chính là độ số 2 cung Khôn, hai chim quay ngược nhau thể hiện sự vận động theo chiều đi ra, tán tức vận động theo nguyên lý Hậu Thiên Bát quái sau khi đổi Tốn Khôn. Ngoài cái mào trên đầu, hai bên cổ có chùm lông dài khi dựng lên tạo thành cái vòng cổ, hình chim trên nóc nhà là loài chim trĩ. Đuôi trĩ xòe lên thành hình giải, vì thế có tên là chim giải cùi, chim đuôi dài như cái giải. Chim trĩ là chim biểu tượng cho lửa thần thoại hóa thành chim phượng có nghĩa là chim lửa, nhưng chim trĩ thuộc loài gà sống nhiều trên mặt đất, nhà thuyền có hai con chim trĩ cái và đực trên biểu tượng cho cung Khôn. Dưới chái nhà, bên phải có chiếc trống cho biết căn nhà này là căn nhà trống, dương. Ta cũng thấy mặt trống nằm ngang quay về bên trái, trống để nằm ngang biểu tượng đất bằng thế gian nhưng trống không để sát mặt đất mà để trên cao. Ở dưới chái nhà bên trái có một vật hình chữ U vuông góc, mặt cối vuông quay lên, để chứa nên mang tính âm. Ở đây trống mang dương tính và đối ứng với chiếc cối vuông mặt lõm quay lên ở phía bên kia, nằm sát đất so với trống. Ở giữa nhà, trên sàn nhà có đôi trai gái ngồi đối diện nhau, người con gái xõa tóc, tay chân của hai người đang giao nhau, đây có thề xem là hình ảnh của một tục lệ về hát đối đáp gái trai thời đó. Đại Việt Sử Ký toàn thư đã mô tả cụ thể về những cặp trai gái vừa hát vừa ngoái cổ và ngoắc chân giao tay với nhau, gọi là Cài hoa kết tóc. Có người cho là trò chơi Trồng nụ trồng hoa, trò chơi này còn thấy ở ngày nay, là một trò chơi của trẻ con. Nhưng có điều gần như thành quy luật, là nhiều phong tục cổ khi bị mai một đi thì được các trò chơi của trẻ con còn giữ lại như Ô ăn quan chẳng hạn. Trồng nụ, trồng hoa Tranh tham khảo Internet Ngoài Bắc gọi trò chơi Trồng nụ trồng hoa, còn miền Trung gọi là Đi chợ về chợ, trò chơi phải có bốn em, chia làm hai cặp, một cặp ngồi, lần lượt duỗi chồng từng bàn chân lên nhau rồi chồng bàn tay làm hoa, trong khi cặp kia đi qua đi lại rồi nhảy qua nhảy lại, vừa đọc: Đi chợ - về chợ: Đi canh một - về canh một, Đi canh hai - về canh hai, Đi canh ba - về canh ba, Đi canh tư - về canh tư, Đi sen búp - về sen búp, Đi sen nở - về sen nở, Đi sen tàn - về sen tàn. Trong trò chơi này, hai em ngồi chồng chân và xòe tay phải giữ thăng bằng, nếu bị đổ chân là thua, hai em đi qua đi lại nhảy qua nhảy về nếu bị đụng chân hay tay hai em kia là thua, cặp thua bị loại để hai em khác vào thay. Hình nhà thuyền ở cung Càn Hai đầu nóc căn nhà này trang trí bằng hai đầu chim dương có con mắt dương “vòng tròn có chấm giữa. Trên mái nhà chỉ có một con chim trĩ, số 1 là số lẻ, dương thể hiện cung Càn của Hậu Thiên Bát quái. Ở dưới chái nhà bên phải, có một người đánh trống da bịt hai đầu hình tròn, đối ứng với trống ở nhà hình thuyền cung Khôn. Trống tròn hình trứng thể hiện trống Thái cực. Trống ở góc trái là so với với trống Thái cực và là dương so với cối đá hình vuông ngửa lòng của hình thuyền cung Khôn. Như vậy, nhà hình thuyền so với nhà hình chuông mang tính dương, nhưng hai nhà hình thuyền cũng mang tính âm dương, ngay cả mọi thứ liên quan với nó. Dưới sàn nhà thuyền cung Khôn có một cái trục ở giữa, trục này nối nhà thuyền cung Càn tạo nên trục Càn - Khôn của tiểu vũ trụ, ứng với hệ mặt trời vì mặt trời tâm trống làm chủ đạo. Dưới sàn nhà thuyền cung Càn có một lò lửa. Người thổ dân Ainu ở Nhật thờ Mẹ Mặt Trời Buchi có hình bóng là ngọn núi lửa Buchi mà người Nhật chuyển âm thành Fuji (Phú Sĩ) cũng để lò lửa hồng giữa nhà gọi là Trái Tim Hồng. Người Navajo cũng có lò lửa Trái Tim Hồng ở giữa nhà giống như người Ainu. Nhìn chung lò lửa, hố lửa cũng là một nghi thức tế lễ tôn giáo có liên hệ tới mặt trời. Hơi nóng, lửa dùng để tẩy uế, làm tinh khiết tâm hồn và thể xác con người, chữa trị bệnh tật. Ta rút ra một qui luật rất quan trọng là tất cả các nhà trên trống đồng, nếu có để trống, vật hình trống hay trang trí hình trống đều là những nhà có dương tính tức là nhà dương, nhà trống, nhà lang, nhà phái nam, nhà mặt trời, nhà nội. Đình làng cũng thuộc là loại nhà dương, đình biến âm với đinh có nghĩa là vật nhọn rất dương, đình là nhà con trai, nhà tráng đinh, nhà đình là nhà tổ của người Việt thể hiện tính dương. Đình làng Đình Bảng Tranh tham khảo Internet Người Katu có căn nhà thiêng liêng trên nóc có hình con chim mang dương tính, chim mỏ cắt, hình chim này đầu có mào hay mũ sừng hình nhọn biểu tượng cho dương, lửa, mặt trời. Con chim cho ấn tượng nhiều về con chim cắt. Nhà thiêng của Người Katu trên nóc có hình con chim đực, chim sừng, mỏ cắt Nhà mái hình võng hai đầu cong vểnh lên cũng có thể là biểu tượng của sừng trâu, sừng bò, nhiều khi phải dựa vào các trang trí sừng trâu ở đầu hồi hay trong nhà để xác quyết. Các tộc ở Nam Dương như Menangkerbau (kerbau: trâu), Batak… cũng có những nhà rông mái hình sừng trâu, Sừng trâu cho biết thuộc tộc, chi làm ruộng nước. Loại nhà này mang hình bóng ngôi đình của người Lạc Việt, làm ruộng nước. Batak Indonesia, Tongkonan Ảnh tham khảo Internet Nhà chuông cung Khảm Ta thấy ngay mấu chốt chính là người đứng ở cửa, cầm một vật gì hình tròn, đa số tác giả đều cho đây là một cái trống cầm tay hình tròn, hoặc chiếc cồng. Do nhà chuông mang tính âm so với nhà thuyền có chứa trống đồng, cho nên nhà chuông không thể chứa trống, vậy thì nó phải chứa những chiếc cồng, chiêng thể hiện âm tính so với trống. Cồng âm thanh trầm còn chiêng âm thanh cao, nhận định này hoàn toàn phù hợp các lễ hội nông nghiệp của vùng cao. Hình nhà chuông ở bán viên dương có nhóm 7 người nhảy múa Tấm phên bên trái phía trước nhà, có bảy hình ngữ giống cồng. Bên phải trong khung có 7 hình ngữ và ở phía ngoài có thêm một cái nữa, tổng cộng là 8. Hình tròn chấm bên ngoài hiện tính dương của cồng so với chiêng. Dưới gầm có cái siêu nước thể hiện cung Khảm. Cồng chiêng là nhạc cụ không thể thiếu trong đời sống văn hóa của các dân tộc vùng cao, từ xa xưa trong những áng sử thi Đẻ đất đẻ nước của người Mường còn ghi rõ những không khí lễ hội có sự tham gia của chiêng cồng: Lễ hội cồng chiêng Ảnh tham khảo Internet Con trai đi trước khiêng trống, Con gái đi sau xách cồng, Đến Mường đánh lên hồi trống cái, Cồng bảy cồng mười lên tiếng cho giòn, Cồng cái cồng con kêu cho rộn… Trong hệ thống cồng chiêng cổ nhất của người Jrai thuộc ngành Tơbuăn ở làng Pang lang, xã La Chia, huyện Chứ Păh, Tây Nguyên, Việt Nam còn thấy cồng gồm 3 loại có núm và chiêng 7 loại không có núm, có bài hát phối cồng chiêng qua điệu Ayêl thong thả, chậm rãi, biểu hiện sự tình cảm mến thương, nhớ nhung và tôn trọng: Em như hoa bênh bung đang nở, Em như hoa bênh bang trổ lá trổ hoa, Em như ngôi sao ngân hà nhảy múa, Anh muốn như chim K’bong bay bay cao, Anh muốn như chim K’lang lượn nhào đôi cánh, Anh muốn như ánh nắng mai lấp lánh sớm nhiều, Để được đến bên em, ơi em quý em yêu. Nhà chuông cung Ly Hình nhà chuông ở bán viên âm có đám rước 6 người Chỉ khác nhà chuông cung Khảm là người không đeo cồng, vòng tròn bên ngoài nay đưa vào, dãy nhạc khí này là dãy cồng “lệnh ông không bằng cồng bà”. Dưới gầm sàn nhà, có một hố hay lò lửa thể hiện cung Ly. Như vậy, dàn cồng chiêng sẽ bao gồm 7 cái, tương ứng với nhóm người 7 người thể hiện đầy đủ nhạc lý theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Chúng ta cũng biết nhà thuyền mang tính dương như đình làng, nhà rông… dùng cho các hoạt động cộng đồng, còn nhà chuông mang tính âm thể hiện mặt tôn giáo, nếu nhận định là các công trình tôn giáo thì chưa phù hợp bởi lẽ nơi đây tôn thờ giáo vị giáo chủ hay các thánh cả nam lẫn nữ, như vậy chỉ những công trình mang tính tôn giáo thiên về nữ giới mới tương ứng. Do vậy, trong nền văn hóa Việt Nam đó chính là Đạo Mẫu, nơi tôn thờ các Thánh Mẫu của dân tộc. Đã có nhiều tác giả giải thích về hình các nhà âm này, sau đây là ý kiến của vài tác giả đã dẫn lại trong Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Vinh (tr.25): Đào Duy Anh trong Văn Hóa Đồ Đồng và Trống Đồng Lạc Việt (Hà Nội, 1957) đồng ý với Gouloubev cho đây là cảnh đánh chiêng (tr.34). Nguyễn Văn Huyền, Hoàng Vinh tán thành ý kiến với ông Nguyễn Ngọc Chương cho đây là ngôi nhà để tiến hành nghi lễ có liên quan đến việc cầu mùa (Nguyễn Ngọc Chương, Tìm hiểu một số hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ, Nghiên Cứu Lịch Sử No 141, Hà Nội 1971). Như vậy, chúng ta có thể nhận định ngôi nhà chuông chính là thể hiện những nơi thờ tự của Đạo Mẫu Việt Nam, hay chính là của các nơi thờ tự mẫu của các tôn giáo khác. Nội dung trên hoàn toàn phù hợp với các bức tranh dân gian Đông Hồ là Rồng dâng hương và Hạc tiến quả với tên chùa Hương Tích trên nóc điện thờ. Rồng dâng hương và Hạc tiến quả Tranh dân gian Đông Hồ, Việt Nam Con Nai là biểu tượng cho cõi Thượng Ngàn, đang dâng quả cho cho Thánh Mẫu trong điện thờ, như vậy chúng ta có thể nhận định đây chính là Thánh Mẫu Thượng Thiên. Con Rồng dâng hương trong bức tranh là biểu tượng của Lạc Long Quân, Nai biểu tượng cho Kinh Dương Vương, Mèo và Hạc đối ứng mang tính âm so với Nai và Rồng, đây chính là Chúa Mẫu Thoải (Âu Cơ) và Thánh Mẫu Thượng Ngàn (Long Nữ). Theo Cổ Lôi Ngọc phả truyền thư, có 18 đời vua Hùng (mỗi đời có nhiều vua kế tục, vua đầu tiên trong một đời gọi là vua chủ) bắt đầu từ Vua Kinh Dương Vương (lên ngôi năm 2897 tr.CN) truyền tới vua Hùng Vương thứ 18 là tương hợp với 18 cặp chim cò trên vành số 10. Vành số 10 cũng thể hiện Cõi Thượng Thiên và Thánh Mẫu Thượng Thiên là mẫu của vua Kinh Dương Vương, hay là mẫu của Thánh Mẫu Thượng Ngàn là hoàn toàn hợp lý. Trong nền văn hóa cổ đại của Ai Cập, có nhiều nữ thần nhưng quan trọng nhất là nữ thần mẹ hay còn gọi là nữ thần bò cái Hathor, bà được tôn thờ trong ngôi đền nổi tiếng Dendarah, đây là ngôi đền mỹ lệ nhất của đất nước Ai Cập. Ngôi đền Dendarah còn giữ lại một bàn đồ bầu trời sao và các hình tượng kỳ bí, mang những ý nghĩa ẩn dấu của lịch sử tôn giáo Ai Cập cổ đại, được trang trí ở trên trần và tường của ngôi đền. Theo Tử thư Ai Cập thì những linh hồn của người chết sau khi trải qua các cuộc kiểm tra dưới Cõi Âm một cách nghiêm ngặt, linh hồn của lương thiện tiếp kiến nữ thần bò cái Hathor, và sẽ có được “mảnh đất lau sậy” tươi tốt cho mình và sống một cuộc đời hạnh phúc mãi mãi. Bức tranh dưới đây thể hiện hình ảnh nữ thần bò cái Hathor nhô ra từ bụi hoa súng, hoa súng chính là biểu tượng của bà. Phía trước là nữ thần Tê giác và thần chết Osiris trong hình hài của một xác ướp, đầu chim ưng, đầu đội vương miện hợp nhất Bắc - Nam và hai tay nắm các quyền trượng. Nữ thần bò cái Hathor và Mảnh đất lau sậy Tranh và tượng cổ Ai Cập trước Công Nguyên Công trình kiến trúc Ponagar Po Nagar (Tháp Bà) là ngôi đền thờ Chămpa nằm trên đỉnh một ngọn đồi ở cửa sông Cái, Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam, đây là nơi tôn thờ nữ thần Po Nagar, nữ thần có hình dạng của nữ thần Umar, vợ của thần Shiva. Thần Po Nagar hay còn gọi theo người Việt là Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Đây là ngôi đền cổ tuyệt đẹp với các dáng vẻ và đường cong thể hiện rất âm tính. Đền thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam Đền thờ Thần Đạo, Nhật Bản có viền nóc cửa hình vòm cong, con cháu của Thái Dương Thần Nữ Amareterasu thể hiện âm tính. Thần Đạo Công trình kiến trúc Nhật Bản Hình ảnh các tháp (stupa) của Phật giáo hình chuông có cán úp, phần đáy hình chuông úp là âm và trụ cột nhọn phía trên là dương, tượng Phật ngồi bên trong các tháp, kiến trúc tháp mang thuộc tính cực âm, với ý nghĩa tâm linh, tín ngưỡng. Tháp Burrabodur Nam Dương Đền, tháp cổ ở BaganMyanmar Miến điện Dàn Trống Dàn trống ở bên nhà thuyền của nhóm 7 người nhảy múa Dàn trống có 4 người biểu tượng cho Tứ tượng, bốn phương trời. Người đứng là dương nhất thể hiện cung Ly phương Nam, người cuối cùng là Khảm phương Bắc, người kế người đứng là Chấn phương Đông và người còn lại là Đoài phương Tây. Những người đánh trống, đánh theo chiều thẳng đứng từ trên xuống mặt trời dương của mặt trống. Dàn trống phối hợp với dàn nhạc xướng tạo nên những cung bậc âm dương giao hòa cùng vũ trụ. Điểm đặc biệt là phía trước có một lá phướn rũ, trên lá phướn có vòng tròn có chấm mang tính dương. Đối với bộ trống đối diện thì lá phướn đang bay, hoàn toàn tương ứng với quy ước trong học thuyết Âm Dương Ngũ Hành là “Dương tịnh, Âm động”. Trong nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, loại cờ dùng từ xưa tới nay là lá cờ ngũ sắc hình vuông, hay còn gọi là cờ thần, cờ tua với tâm cờ màu đỏ, các viền cờ theo trang trí màu sắc theo lý tương sinh từ trong ra ngoài: đỏ - vàng - trắng - đen - xanh lá cây - tua răng cưa đỏ, trung tâm lá cờ thêu chòm sao Bắc Đẩu, số lượng răng cưa mỗi cạnh là bảy răng hàm ý tương ứng với Nhị thập bát tú. Như vậy, lá cờ thần hợp với lá phướn trên mặt trống đồng sẽ tạo thành một bộ cờ âm dương. Người trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ Trang phục đầu hình chim, người chim có một khuôn mặt là người mặt trời, thần mặt trời Ra và thần Horus của tôn giáo cổ Ai Cập có khuôn mặt tương đương Kinh Dương Vương và Hùng Quốc Vương với đầu hay trang phục đầu chim ưng. Thần Cả Horus Thần Mặt Trời Ra Trang phục hình chim Người trên mặt trống đồng gồm nhóm dương là nhóm 7 người nhảy múa và nhóm âm là nhóm 6 người nhảy múa, trang phục của 12 người này có hình chim. Nhóm 7 người nhẩy múa và nhóm 6 người nhảy múa ở bán viên âm Một số so sánh khác: Hoa văn trống đồng có 7 người tranh phục chim thì Lễ gieo hạt của người Ê Đê cũng có 7 người, Lễ tế Nam Giao của triều đình nhà Nguyễn cũng có 7 người. Lễ tế Nam Giao cũng có 7 người: 1 vị Cung kiếm - coi sóc, tính toán các lễ vật bày lên hương án; 1 vị Cung hầu - đứng hầu khi tế; 2 vị Hành nghi - xướng lễ trong khi tế; 1 vị Độc chúc - đọc văn tế và 2 vị Chấp sự - mang các lễ vật. Lễ gieo hạt có 7 người: 1 vị Chủ lễ (Khoa căm); 1 vị Tổ chức chung - Pô trưng cai; 1 vị Phụ trách lễ nghi - khấn; 1 vị chịu trách nhiệm sau một đoạn khấn lại thay trời hú lên mộ tiếng dài; 1 vị cầm gậy chọc lỗ xuống đất; 1 vị rắc hạt vào lỗ đất và vị còn lại làm thần mưa tưới nước vào rẫy. Ý nghĩa vành chim thú Như ở trên ta đã thấy vành thứ 6 trên mặt trống đồng Ngọc Lũ diễn tả cảnh sinh hoạt nhân sinh, kế tiếp là vành số 8 chim và thú. Giống như các yếu tố khác như người, nhà, trống thì chim thú trên trống đồng Ngọc Lũ cũng mang khuôn mặt tượng trưng nên phải hiểu theo ý nghĩa biểu tượng trong học thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Ở vành số 8 này, mỗi phần dương và âm đều có một nhóm chim và một nhóm hươu, Phần dương của nhóm 7 người nhảy múa có nhóm chim 6 con và nhóm hươu 10 con trong khi phần âm nhóm 6 người nhảy múa có nhóm chim 8 con và nhóm hươu cũng 10 con. Những con chim bay này có mỏ to, đầu to, đuôi ngắn, chim có cái túi, cái nang dưới mỏ. Chim bồ nông trên trống đồng Ngọc Lũ Chim này là chim bồ nông. Trong thiên nhiên, chim bồ nông cũng mỏ to, đầu to, đuôi ngắn, hình khắc cũng giống như trong thực tế mỏ dài hơn nửa chiều dài cổ. Hình chim có túi dưới cổ trong tư thế bay ở thế liệng chứ không vỗ cánh, đầu rụt về phía sau, mỏ hạ xuống phía cổ. Đây chính là những nét đặt thù của chim nông, chim nông chân ngắn nên khi bay không thấy chân. Một mấu chốt chính nữa là những con chim này có con mắt âm diễn tả bằng chữ viết hình vòng tròn kép đồng tâm có chấm, con chim này phải là loài chim nước giống như chim nông là loài chim nước chân có màng như chân vịt. Hình ảnh chim bồ nông đã xuất hiện ở vành số 6 bay trên đầu người chủ tế nhưng lại được lặp lại ở đây rõ ràng phải mang một ý nghĩ chung nào đó? Chúng ta biết hưu là biểu tượng của Kinh Dương Vương và theo truyền thuyết thì Đế Minh là cháu 3 đời của Thần Nông, do vậy Kinh Dương Vương là cháu 4 đời, số 4 là mấu chốt của vấn đề. Số lượng 2 nhóm, mỗi nhóm 10 con nai trên vành trống luôn chia ra từng đôi, một đực một cái hoàn toàn tương ứng nhận định lễ hội Tết Cơm Mới ngày 10 tháng Mười âm lịch và Tết Đoan Dương ngày 5 tháng Năm âm lịch, cho nên chim bồ nông cũng phải tương ứng, nghĩa là có hai nhóm: nhóm 4 cặp chim nông 8 con và nhòm 3 cặp chim nông 6 con. Vành 8 tượng trưng cho cõi Thượng Ngàn, được cai quản bởi Mẫu Thượng Ngàn, bà chính là hoàng hậu của vua Kinh Dương Vương. Trong lễ hội chọi trâu ngày 5 tháng Năm âm lịch, thì con trâu thắng trận sẽ được giữ lại nuôi và vỗ béo, chờ đến ngày làm lễ hiến sinh mồng 10 tháng Mười âm lịch của Thần Nông. Tục lễ chọi trâu này cũng đã được thể hiện trong bức tranh dân gian Đông Hồ Chọi Trâu, tuy nhiên nội dung bức tranh còn mang những ý nghĩa sâu xa khác. Hãy bưng xôi nếp của ta, Hãy bưng mâm thịt dê ra theo cùng. Khi bốn phương tế chung Thần xã, Đều tốt tươi khắp cả ruộng đồng. Ấy nhờ phúc lớn nhà nông, Trống khua, cầm sắt gảy chung nhịp nhàng. Đón Thần Nông rộn ràng lễ rước, Là để cầu cho được mưa lành. Để cho lúa nếp lớn nhanh, Gái trai dân chúng đủ dành dưỡng nuôi. (Bài 217, chương II, Kinh Thi, san định Khổng Tử, Nxb Văn học, 2004) Như vậy, nhóm 3 cặp chim tương ứng cung Chấn của Hậu Thiên Bát quái ứng vào mùa xuân, và nhóm 4 cặp chim tương ứng cung Tốn sau khi đổi chỗ Tốn Khôn ứng vào mùa Thu. Kết hợp với việc tương quan đến các lễ hội quốc gia và tôn giáo thì đây chính là “Xuân Thu Tế”, hoàn toàn chính xác vì Kinh Dương Vương là vua tổ nước Văn Lang với biểu tượng mặt trời. Nhóm 6 con chim ở ngay dưới nhóm 7 người nhảy múa trên bán viên dương Chim nông ở đuôi thuyền trên trống Ngọc Lũ và các trống họ hàng như trống Hoàng Hạ có hình đầu chim, đầu chim này có con mắt âm “hai vòng tròn đồng tâm có chấm” và cái túi dưới mỏ đã thể điệu hóa thành hình đa giác cho thấy đây là đầu chim nông. Chim bồ nông đi cặp với chim bồ cắt ở dạng lưỡng hợp âm dương, chim bồ nông rõ rệt nhất thể hiện trống đồng Hoàng Hạ. Chim bồ nông hai đầu Đồng bằng Danube, nhiếp ảnh gia Vladimir Kucherenko Hình trên là hai con chim đang đạp mái, chim mỏ có túi, chỉ có thể là hai con chim mỏ nông không thể nào là loài chim gì khác. Người nghệ sĩ tuyệt vời nào đó đã cho ta một cái “chìa khóa” để nhận diện ra loài chim này là động tác đạp mái. Hai con chim này có mắt âm là vòng tròn kép có chấm giữa và trên người có phụ đề hai vòng tròn kép. Vòng tròn kép đồng tâm có một nghĩa là âm. Đuôi thuyền hiện bồ nông cái và đực. Ở phía đuôi thuyền có hình hai đầu chim. Đuôi thuyền hình đầu chim có con mắt âm hai vòng tròn có chấm cho biết con chim này là chim nước, dưới mỏ có túi nang hình thể điệu hóa thành hình thang có mũi nhọn mang dương tính. Sau đuôi thuyền hình đầu chim bổ nông này có hình một đầu chim khác. Đầu chim thứ hai này có con mắt dương chỉ có một vòng tròn có chấm cho biết đây là con chim dương lửa. Mỏ lớn trên có bờm như sừng, đây là đầu chim cắt. <br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Như thế ở đuôi thuyền có dạng lưỡng hợp âm bổ nông với dương bồ cắt, chim bồ nông còn thấy chứng tích qua ca dao: Bổ nông là ông bồ cắt, Bồ cắt là bác chim di, Chim di là dì sáo sậu, Sáo sậu là cậu sáo đen, Sáo đen là em tu hú, Tu hú là chú bồ nông. Bài hát có thể có nhiều dị bản nhưng dù là bản nào đi nữa thì bao giờ con nông cũng được xếp lên trên hết. Điểm này cho thấy hình chim nông đã được ghi vào ngàn năm bia miệng ca dao. Các con chim nông này đang bay biểu tượng cho cõi Thượng Thế. Hòa hợp âm dương là điểm then chốt trên toàn cảnh trống đồng Ngọc Lũ, cũng như cho cả các Cõi Thượng Thiên, Cõi Thượng Ngàn, Cõi Nước và Cõi Đất. Điều này cũng còn được thể hiện rõ nét qua thạp đồng Đào Thịnh, nắp thạp là dương thân thạp là âm, khi đậy nắp lên thân thạp thì xuất hiện hình ảnh nam nữ giao phối trên nắp thạp đồng Đào Thịnh. Thân thạp thể hiện hai con thuyền một trước một sau có đầu gắn hai con giao long đang giao mõm và đuôi nhau, điều này chứng tỏ rằng những biểu tượng ngầm chứa nội dung một lễ hội đám cưới thời Hùng Vương “thuyền anh đi trước thuyền nàng theo sau”. Thạp đồng Đông Sơn chứng tỏ là một món quà quý và sang trọng trong các lễ cưới rất lớn. Bảy con chim bay trên chiếc thuyền đi sau, biểu tượng người nữ, chứng tỏ là độ số 7 của phương Nam theo Hà Đồ hay chúng ta hiểu là một đám cưới quyền quý phương Nam. Trong lăng mộ Triệu Muội cháu Triệu Đà, cũng đã khai quật được một thạp đồng Đông Sơn có khắc minh văn cũng chứng tỏ điều này. Thạp đồng Đào Thịnh Bản tàng lịch sử Hà Nội, Việt Nam Hươu nai ở vành số 8 Con đực gọi là hươu, con cọc, hươu sừng và con cái gọi là nai, con nai cái là con nái, con cái. Mang cũng chỉ hươu nai như mang gạc, kì mang, điểm này thấy rõ mang cũng có một nghĩa là có bầu, có mang, mang thai, cưu mang, từ mang hàm nghĩa sinh tạo, tạo hóa chỉ loài biểu tượng cho khuôn mặt sinh tạo tạo hóa cõi trên, cõi trời. Truyền thuyết và cổ sử Việt Kinh Dương Vương là vua tổ đất thế gian Văn Lang. Truyền thuyết cho rằng hươu mang hình bóng con người đầu tiên trên mặt đất như thấy qua từ Đông Á cổ kek có nghĩa là con hươu và cũng là con người đầu tiên trên mặt đất (James Churchward). Hai nhóm 5 đôi nai tương ứng Lưỡng nghi và Tứ tượng chia thành hai phần âm dương hai hòa của mặt trống. Con đầu đàn sừng phải có 5 mấu nhọn. Hươu đực dẫn đầu nhóm ở bán viên dương có nhóm 7 người nhảy múa Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là tộc Người Mặt Trời Kinh Dương Vương thái dương, như thế chúng ăn khớp với đại tộc Người Mặt Trời ở vành số 6. Con cuối cùng của nhóm là con nai cái có sừng phải ba mấu nhọn và sừng trái hai mấu nhọn. Con cuối cùng ở bán viên dương có nhóm 7 người nhảy múa là nai cái, có sừng phải có 3 mấu nhọn và sừng trái hai mấu. Nai cái cuối đàn ở bán viên âm Theo Nguyễn Văn Huyên, thì con nai cuối đàn này có sừng bên phải có 3 mấu nhọn. Con nai cái cuối đàn 10 con ở bán viên âm nhóm 6 người nhẩy múa Ta thấy theo hình vẽ thì nai cái cuối đàn phải ăn khớp với khuôn mặt của con hươu đực đầu đàn. Hươu đực là thú biểu của dương nam và nai cái là thú biểu của âm, nữ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, phía nam là Kinh Dương Vương và về phía nữ Long Nữ. Mỗi nhóm hươu nai này có con đầu và con cuối mang tính chủ đại diện. Ta có thể suy ra 8 con hươu nai còn lại là 4 cặp biểu tượng cho tứ tượng dương và âm. Mười tám chim bay ở vành số 10 Kế tới là vành số 10 gồm 18 chim bay và 18 chim đứng. Cõi Thượng Thiên mang tính rất dương, cho nên trong số những loài chim cò, vạc, nông, hạc, cốc… mà trong chúng loại chim nào dương nhất sẽ là biểu tượng cho cõi này. Các loài chim trên là loài chim sinh sống của vùng đất có nước, ao đầm, chim biểu thật sự là con Cốc bởi có mỏ mang dương tính nhọn như mũi phi tiêu, có loài dùng mỏ đâm cá, từ Cốc biến âm với Cọc… Con Cốc mang âm tính nhiều hơn Cò vì chân Cốc có màng, bơi lội và lặn hụp dưới nước được, con Cốc thường có mầu đen là mầu của nước rất âm. Loài Vạc thường bay kiếm ăn ban đêm nên nó rất âm tính so các loài khác, còn loài Cò thường kiếm ăn vào lúc rạng Đông. Như vậy, con chim trên vành số 10 là con Cò mà dân gian thường gọi “U Cò” hay “Mẹ Cò”. Con Cốc là chim thể hiện tính cực âm trong dòng họ cò là biểu tượng của Lạc Long Quân, vua Cõi Nước. Nhìn chung cò có bờm rất cường điệu, rất đặc biệt, hình cờ phướn hay con diều gió bay theo chiều gió tạt ngang về sau, trên có tua hay mào, đặc trưng vương miện trên đầu các loài chim bay trước gió, thể hiện không gian, cõi trời. Hình ảnh con Cò đã đi vào lời ru muôn thuở của những người mẹ Việt Nam mang mật ngữ của cha ông: Con cò mà đi ăn đêm, Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao. Ông ơi ông vớt tôi nao, Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng. Có xáo thì xáo Nước trong, Đừng xáo nước đục đau lòng cò con. Cò trên trống đồng Ngọc Lũ bay ở thế liệng nghĩa là đang xoải cánh rộng buông la đà trong gió, không ở thế vỗ cánh hình chữ V và có nét đặc thù là khi bay cổ duỗi thẳng không co rụt cổ lại dựa vào vai, mỏ cũng duỗi thẳng, toàn thân trông như một mũi tên bay trong gió, con mắt dương vòng tròn chấm mang tính dương. Mười tám con cò bay trên trống Ngọc Lũ ở vành số 10, tuy nhiên nhìn tổng quát ta thấy 18 con cò bay này là chim biểu tượng cho đại tộc cò gió ứng với 18 đời Hùng Vương, với thời gian trị vì kể từ vua Kinh Dương Vương khoảng 2622 năm (vua Kinh Dương Vương lên ngôi năm 2879 tr.CN và kết thúc thời An Dương Vương khoảng 256 tr.CN). Như vậy, trống đồng Ngọc lũ được chế tác trong thời kỳ vua Hùng Vương cuối cùng là Hùng Vương thứ XVIII, hoặc sớm hơn là thời vua Hùng Vương thứ XVII qua thuật tiên tri Phương Đông, có thể dự báo sự suy tàn theo chu kỳ của quốc gia. Tương ứng vành số 8 là cõi Thượng Ngàn, cho nên ở vành số 10 là cõi Thượng Thiên cao hơn cõi Thượng Ngàn, được quản lý bới Mẫu Thượng Thiên, do vậy con cò chính là biểu tượng của Mẫu Thượng Thiên, tức bà Vũ Tiên với ý nghĩa của từ ngữ là tiên múa hay chim múa. Một con chim nổi tiếng trong tôn giáo cổ Ai Cập là con cò Bennu, cò Bennu là hóa thân của nữ thần bò cái Hathor ở Cõi Thượng Thiên. Trong các bức tranh cổ, hình ảnh con cò Bennu thường đi cùng với những bông hoa súng, hoa súng cũng là biểu tượng của tôn giáo cổ Ai Cập. Trong bức tranh cổ trong Tử thư Ai Cập dưới đây, một linh hồn đang đứng trước và giơ hai tay lên, bày tỏ sự tán thán tới nữ thần cò Bennu: Cò vàng Bennu ở lăng Anhurtkhawi, vùng Thebes (Triều đại thứ 20) Vùng nước thế gian Vùng Nước thế gian ở tang trống đồng âm dương Ngọc Lũ Nguồn: Trống đồng Đông Sơn, tác giả Hà Thúc Cần, 1989 Hai phần trang trí với các vành chữ viết chính vùng nước ở giữa của tang trống có chủ thể là 6 hình thuyền. Trong lịch sử văn hóa nhân loại, có nhiều loại thuyền biểu tượng như thuyền tang dùng như một phương tiện chuyên chở người chết tương đương với xe tang ngày nay, dưới đây là tuyền tang Ai Cập cổ đang chở một xác người đem đi chôn, thuyền được trang trí đầu dê rừng Ibex biểu tượng của Thần Mặt Trời, phía trên mái che là thần chó rừng Anubis. Thuyền tang Ai Cập Thời Trung Vương Quốc (2040-1640 tr.CN) V. Goloubew gán cảnh các con thuyền trên trống đồng với lễ chiêu hồn Twah của người Đay-ắc ở Indonexia. Lễ Twah diễu hành trong 7 ngày nhằm mục đích giải thoát cho hồn người chết về thế giới bên kia. Goloubew xem ngôi nhà sàn mái cong là “nhà chứa linh hồn” còn hình thuyền đây là “thuyền vàng” dùng để chở linh hồn người chết về vương quốc của họ. Thuyền đưa linh hồn (thuyền đưa vong) được ghi lại ở nhiều dân tộc, chẳng hạn như thuyền đưa linh hồn của người Tempon Telon, mũi và đuôi của chiếc thuyền này đều có hình con chim mỏ cong là hình ảnh của con chim bồ cắt, dương so với chim bồ nông, âm. Nguồn của Kampes dẫn theo Tạ Đức ( ) <br style="mso-special-character: line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Truyền kỳ trong tâm thức dân gian rằng: dân tộc Giao Chỉ có tục, khi cha mẹ chết các con dùng thuyền rồng đưa linh hồn cha mẹ về miền cực lạc với tổ tiên. Thuyền rồng phải đi qua dòng sông Ngao do thầy Pháp dẫn lối, dòng sông này người Thái ở Tây Bắc Việt Nam gọi là sông Ta Khái. Dòng sông của cõi hồn vắng lặng như dải khăn tang, mặt nước bạc trắng cuồn cuộn chảy, giữa dòng những ngọn đá trắng nhô lên lởm chởm, sóng xô nghe xốn xang khắc khoải, hai bên bờ sông những tốp ma ăn mày đói rách gớm ghiếc, chực xin ăn, cấu xé tranh dành lẫn nhau. Thầy Pháp phải gạt chúng ra, để người nhà của linh hồn ném tiền giấy cho chúng. Trên dòng sông Ngao, có chiếc cầu nhỏ mảnh khảnh khó đi, bên kia cầu có con chó Ngao mắt đỏ ngầu dữ tợn đứng canh, trông chừng những linh hồn đi qua. Những hồn khi còn sống ăn ở phúc đức thì chó Ngao mừng rỡ, cúi đầu nhường lối cho linh hồn, còn những linh hồn khi còn sống ăn ở bạc ác thì chó Ngao nhe răng sủa mấy tiếng, rồi chồm lên cắn xé, quẳng linh hồn xuống sông (tham khảo bài viết trên internet). Thuyền Bổ Cắt hay thuyền châu báu dùng cho phái nam Plate XIX, illustration 22 Thuyền liên hệ với nước, nước là mẹ của sự sống, vì thế thuyền biểu tượng mang trọn vẹn ý nghĩa sự sống, chết và tái sinh, hằng cửu. Thuyền tái sinh thấy rất rõ trong truyền thuyết cổ Ai Cập, hình thuyền trên một sợi dây chuyền cổ của vua Tutankhanum, con bọ hung tiêu biểu cho thần mặt trời bình minh biểu tượng cho tái sinh. Đĩa tròn đỏ biểu tượng mặt trời mọc, trong khi hai đĩa tròn vàng trên hai vành trăng bán nguyệt trên đầu hai con vượn biểu tượng mặt trăng (Peter Miller, National Geographic, April 1988, tr. 540-541). Dây chuyền Cổ vật mộ vua Tutankhamun (1333-1323 tr.CN) Hai cây gậy âm dương “was” ở hai bên xác nhận chiếc thuyền này mang ý nghĩa âm dương, nguyên lý căn bản của Vũ Trụ Tạo Sinh. Đầu gậy có hình con cáo biểu tượng cho dương, chân gậy có hình túi vòm, âm. Thần Bầu Trời Nut của Ai Cập cổ thường diễn đạt bằng hình người đàn bà uốn cong hình vòm trời, còn cây quyền trượng chống đỡ như phần chân tay của thần đất Geb. Giống như 6 người múa trên mặt trống, trong 6 thuyền sẽ có hai thuyền biểu hiệu cho Lưỡng Nghi và 4 thuyền cho Tứ Tượng, nói một cách khác có ba thuyền thuộc phía âm và 3 thuyền dương. Hình dạng và kích thước các thuyền trên trống Ngọc Lũ đều giống nhau nhưng về chi tiết không một thuyền nào giống một thuyền nào, như vậy điểm mấu chốt là phải nhận diện ra hai chiếc thuyền đại biểu Âm Dương. Giống như biểu tượng đặc trưng của nhà thuyền và nhà chuông là trống và chiêng, thì các con thuyền cũng tương tự. Thuyền chứa trống là dương và thuyền chứa vật dụng đối ứng âm của nó hoặc lật ngửa trống, cường độ tùy theo sự sắp xếp theo số lượng. Ta xác định ngay được 3 thuyền âm và 3 thuyền dương, thuyền cực âm là thuyền không chứa trống hoặc bất kỳ thứ gì dưới “đài”. Riêng thuyền cực dương thể hiện chỉ có một mái chèo, tức nhát chèo đầu tiên vào”Cõi âm” và những người trên thuyền “âm” hơn để gia tăng tính “dương” so với thuyền kia. Do đó, chúng ta đã xác định được hai thuyền Lưỡng nghi, kết hợp hình tượng “trống” và “không chứa gì” đọc là “Trống không”. Các thuyền còn lại dễ dàng sắp xếp theo thuộc tính âm dương qua cái trống, thuyền chứa siêu nước chính là thuyền Khảm, 6 thuyền sắp xếp theo thứ tự cường độ giảm dần như sau từ dương đến âm: trống với thuyền một mái chèo - trống với thuyền hai mái chèo - trống lật ngửa - trống lật ngửa và cái nậm - siêu nước - không chứa gì. Trên tang trống Ngọc Lũ I có 6 con thuyền, được đánh số theo quy tắc như sau: Thuyền số 1 biểu tượng DƯƠNG - Thuyền số 2 biểu tượng ÂM Thuyền số 3 biểu tượng cung CHẤN - Thuyền số 4 biểu tượng cung ĐOÀI Thuyền số 5 biểu tượng cung LY - Thuyền số 6 biểu tượng cung KHẢM Vì tang trống là biểu tượng cho Cõi Âm, cho nên 6 con thuyền phải liên quan tới Cõi Âm hay cái chết, trước khi tìm hiểu sâu hơn, cần tham một số các loại thuyền biểu tượng liên quan đến Cõi âm trên thế giới. Phía dưới mạn thuyền không có hình tượng của nước, chứng tỏ con thuyền “lướt trên không”, bay trong không gian tức con thuyền chở linh hồn. Linh hồn người chết như một đứa trẻ trần truồng ngồi trên sàn thuyền đang bị canh giữ và phán xét. Đặc biệt, tại cung Chấn có hai linh hồn khác hoàn toàn với các con thuyền khác chỉ có một linh hồn, chỉ ra nó mang một ý nghĩa quan trọng nào đó, bởi vì mỗi con người chỉ có một linh hồn mà thôi. Giả thiết rằng, nếu trước khi đổi Tốn Khôn trong Hậu thiên Bát quái thì nếu dùng nó bố trí là không hợp lý, cho nên con thuyền được xác định ở cung Chấn thì phải “chứng minh” đại diện Bát Quái hay cho cả cung Khôn đúng hay “hai linh hồn” thể hiện lại sự đổi Tốn Khôn nhằm xác định học thuyết đã được hiệu chỉnh qua thể hiện. Cũng tương tự như vậy, chiếc thuyền cung Đoài cũng phải thể hiện được thay đổi điều này, rõ ràng chiếc thuyền này có 4 người (thay vì 5 người) chính là độ số của cung Tốn, đã được đổi Tốn Khôn. Cung Chấn và cung Đoài chính là trục Đông - Tây hay còn gọi là trục Sinh - Tử của vạn vật hữu tình. Trục Tây Bắc - Đông Nam trong Phong thủy gọi là trục Thiên Môn - Địa Hộ, đổi Tốn Khôn được gọi là là mở Địa Hộ, tức trước đây Địa Hộ đã bị khóa lại. Nhóm người này đang thực hiện một cảnh phán xét linh hồn, các thuyền thể hiện một chu trình phán xét linh hồn người chết. Trên hai thuyền Chấn và Đoài có con thú trông giống như con chó nhỏ đứng sau Cầu Thử thách, con chó này gác Cầu Thử Thách hay gác cổng từ Cõi Âm lên Cõi Trên. Chúng phụ giúp người gác cổng Cõi Trên xé xác hay ném những linh hồn ác xuống vực thẳm âm ty. Chúng có một khuôn mặt liên hệ với Thần Anubis đội lốt chó rừng của tôn giáo cổ Ai Cập, đang giữ vai trò giám sát việc cân trái tim của linh hồn, một bên quả cân là cái lông chim, nếu con người là điều thiện thì cân thăng bằng còn làm ác thì ngược lại, lúc này trái tim sẽ bị con linh thú Ammit vồ lấy ăn ngấu nghiến. Thần Anubis Tượng cổ và tranh cói Tử thư Ai Cập Tại các ngôi chàu, đình, đền, miếu… chúng ta thường thấy hình con chó đứng trên đỉnh trụ hoặc tam quan, sơn môn mà dân gian hay gọi là con Nghê, chính là hình ảnh con chó linh canh giữ khi hoàng hôn xuống. Con chó được chọn làm linh thú bởi sự trung thành tuyệt đối của nó đối với người chủ của mình, thể hiện chữ “Tín”. Con Nghê Tượng gốm sứ cổ, Việt Nam Hình ảnh con chó còn liên hệ đến con chó ngao ở địa ngục của nhà Phật, và nó có vẻ gần giống con chó ngao hơn bởi vì chân rất cao. Trong hệ thống tranh thờ Đạo giáo dân gian Việt Nam, có bức tranh Đám Rước, cũng thể hiện con thuyền vượt qua sông mê, bến lú cập vào vùng đất vĩnh cửu, linh hồn phải qua một chiếc cổng lớn, phía dưới cổng thành là hìn ảnh của một con chó canh giữ. Đám Rước Trích từ bức tranh thờ Đạo giáo Đám Rước, miền Bắc Việt Nam Trong văn hóa Ấn Độ, Cõi Chết do Diêm vương Yama làm chủ, hồi ban đầu thế giới của Yama cũng chính là thế thế giới của thần linh, đó là một thiên đường mà người ta phải lội nước và qua cầu để tới. Chiếc cầu, trong huyền thoại thế giới, thường được ghi là cầu hẹp nhất, nhất là đối với kẻ ác, có lẽ để nói lên tính cách nghiêm ngặt của việc xét hỏi, gạn lọc. Hai con chó ngao mà linh hồn phải đi qua để tới Yama chắc cũng tượng trưng cho sự xét hỏi, gạn lọc đó, vì hình như nhiệm vụ của chúng là canh giữ cõi thiên đường, và không phải ai chúng cũng cho vào (tham khảo cuốn Triết sử Ấn Độ I, tác giả Hoàng Sơn và Hoàng Sĩ Quý, Nxb Hưng giáo Văn Đông). Trong thần thoại Hy Lạp, Cerberus hay Kerberos, là con chó săn ba đầu của Hades, với cái đuôi rắn, là con vật canh giữ ở cổng địa ngục. Cerberus giữ cổng cho Hades và đảm bảo chỉ có linh hồn người đã chết mới được vào và ngăn không cho bất kỳ ai ra. Trong cõi địa ngục, nó vẫn có một ao ước là có được một cái đầu người, điều đó chứng tỏ Cerberus có nhân tính chứ không phải là thú vật. Tượng đồng (thế kỷ thứ V tr.CN) Tham khảo Internet Nhóm người thực hiện công việc phán xét linh hồn tùy mỗi loại thuyền 5 và 6, hai con số này tương ứng dương hoặc âm tùy cung nào trong Hậu Thiên Bát quái, nhưng theo quy ước Dương trước Âm sau, cho nên con thuyền số 1, Dương có 6 người, do vậy nhóm 6 người là đầy đủ, nếu con thuyền là một hình thức văn hóa tín ngưỡng dân gian liên quan đến thủ tục tang ma. Người thuyền trưởng ngồi ở mũi thuyền tay đều cầm gậy hay khí biểu đầu chẻ hai hình chạc cây Y, giống cây rìu chiến, vì thế rìu chữ Y trên trống Ngọc Lũ này có đầu rìu thay đổi với tính âm dương. Như thế rìu chữ Y thấy ở tay người thuyền trưởng là thứ rìu lửa sấm sét. Sấm sét là dạng giao hòa âm dương vũ trụ, thái dương thái âm có một khuôn mặt mang nghĩa sinh tạo. Mặt khác, nhìn theo diện tín ngưỡng búa rìu sấm sét là búa rìu thiên lôi, búa rìu nhà trời, phán xét. Những kẻ ác thường bị sét đánh, trời đánh. Trên mỗi thuyền có một người dùng tay trái gõ vào một cái trống hình lục giác đặt trên một cây trụ biểu tượng cho Trục Vũ Trụ. Trống Cây Vũ Trụ trên thuyền trên trống đồng Ngọc Lũ Trống hình lục giác biểu tượng không gian, hợp nhất âm dương thành ánh sáng, “tính Không” là sự hợp nhất giữa trống âm và trống dương. Tay phải của người này nắm đầu một người nhỏ bé, trần truồng ngồi trên sàn thuyền, đây là linh hồn người chết. Tay trái của người này thì gõ trống, đây chính là người phán xét linh hồn, người này gõ trống lục giác để khơi động “Tính Không” để làm cơ sở so sánh với mức độ thiện, ác của linh hồn. Trống lục giác mang hình ảnh của con mắt thần nhìn thấu suốt các cõi hay cái gương thần dùng ánh sáng chiếu rọi muôn phương, dùng trong quá trình phán xét linh hồn. Sau khi được phán xét xong, linh hồn thiện, tốt được cho qua Cầu Thử Thách để về miền hằng cửu ở Cõi Trên, và các hồn ác bị tống xuống Cõi Âm. Hình vẽ trên đá Thời Đông Hán, Trung Quốc Bức họa trên đá thể hiện một cái trống bịt da hai mặt Thái Cực đặt ở trung tâm, được đặt trên trụ gỗ. Trong mỗi trống hình lục giác, phía trên trống bên cạnh hình đầu chim, trên bốn thuyền còn có cắm thêm các gậy hay khí giới biểu tượng, đầu chim cắm trên trống biểu tượng cõi trên. Những hình vật này giúp nhận diện các thuyền, không một trống lục giác nào giống nhau về chi tiết. Trong đồng văn (kim văn) cổ ngữ zhù diễn tả bằng một hình trống thờ gọi là jian, để trên một trụ cao có trang trí bằng hình lông chim, lông chim hay chim có một khuôn mặt mang biểu tượng cho Cõi Trời. Hình cây và chim thấy rõ trên trống jian khắc trên giáp cốt hay kim văn. Trống thờ Jian khắc trên giáp cốt, kim văn, cổ văn và đá, gạch (Wang Hongyuan 2004). Cầu Gian Nguy Ở trống Ngọc Lũ và các trống họ hàng, trên mỗi thuyền, phía sau cảnh phán xét linh hồn đều có một cây cầu thử thách có hình một đài cao. Cầu gian nguy là cây cầu mà người chết phải đi qua để chịu sự thử thách cuối cùng trước khi được về cõi hằng cửu, Cõi Trời. Những linh hồn ác hay tội lỗi không thể nào vượt qua được cây cầu này và bị rơi xuống vực thẳm của Cõi Âm. Cầu Thử thách là nhịp cầu nối, giao thông giữa Tam Thế đúng như M. Eliade đã ghi nhận: “Sự giao thông giữa thiên đường và trần gian có thể mang lại-hoặc có thể là illo tempore- bởi một vài phương tiện thể chất (cầu vòng, cầu, cầu thang, cây thang, dây, rợ, “xâu chuỗi mũi tên”, núi, v.v…). Tất cả những hình ảnh biểu tượng của sự liên kết giữa trời và đất chỉ là dạng biến thể của Cây Thế Giới hay trục vũ trụ. Trong một chương trước, chúng ta đã thấy huyền thoại hay biểu tượng của Cây Vũ Trụ bao hàm ý của “Trung Tâm Thế Giới” ở điểm mà đất, trời và âm thế gặp nhau” (M. Eliade, 1964, p. 492). M. Eliade cũng đã viết: Người Niassans biết rằng Cây Vũ Trụ đã sinh ra mọi vật. Để đi lên trời, người chết đi qua một cây cầu, dưới cầu là vực thẳm của Cõi Âm. Một người gác với lao và khiên đứng ở cổng trời, một con mèo giúp hắn ném hồn người ác xuống nước hỏa ngục. Quan niệm về cây “cầu gian nguy” này rất phổ thông trong tôn giáo ở Đông Nam Á: Có một sự tương đồng giữa phức thể này của người Niassans và ý tưởng của người Naga ở (cận) Ấn Độ (Naga là người Rồng), chúng ta có quan hệ với di tích của cái gọi là nền văn minh Nam Á, chia xẻ với người Tiền-Aryan và Tiền-Nam Ấn của Ấn Độ và đa số của dân bản địa ở Đông Dương và Quần Đảo Ấn Độ. Một điểm rất quan trọng cần phải nhấn mạnh ở đây là cây cầu thử thách trên các thuyền này trong quá trình phán xét linh hồn người chết mà M. Eliade đã xác nhận là thuộc nền văn minh Nam Á và của dân bản địa Đông Dương, trước cả nên văn hóa Tiền Aryan và Tiền Nam Ấn của Ấn Độ. Phong Đô (Feng Du), thành phố của Người Chết, tại đây có những cảnh Cõi Âm, địa ngục và cũng có một tấm bích họa vẽ chiếc cầu thử thách này. Trong Đạo giáo, cây cầu này có tên gọi là cầu Nại Hà. Cầu thử thách có ba tầng: tầng trên hay Cõi Thượng Thiên là khoảng không gian trên mặt cầu biểu hiệu bằng một hay hai cây trụ hay thành cầu có hình đầu chim. Sàn cầu biểu tượng Cõi Trời, Cõi Thượng Ngàn, một người đứng trên sàn cầu cầm cung, là người gác cổng Cõi Trời, người này có nhiệm vụ chỉ cho những linh hồn thiện, tốt đi vào Cõi Trời và ngăn chặn, tống các linh hồn ác ra khỏi Cõi Trời. Phần dưới thuyền gầm cầu là Cõi Dưới, Cõi Nước, có con chó Ngao đứng canh giữ, linh hồn bắt buộc phải đi qua gầm cầu trước để được phán xét. Trống Hoàng Hạ, ở thuyền số một, có một linh hồn đang đi vào cổng để vượt qua thử thách cuối cùng để lên Cõi Trời. Tất cả những người chèo thuyền đều cầm tay chèo có đầu chèo hình đầu chim cho thấy những con thuyền này biểu tượng cho Cõi Trời của dòng nước và đều có thể bay trong không gian được, bằng chứng là dưới thuyền không có một dấu vết sóng nước nào cả. Cõi Nước ở trên cũng là cõi linh hồn, không hàm nghĩa là ở dưới nước, hình tượng “nước” chỉ mang ý nghĩa biểu tượng mà thôi. Đầu tay chèo hình đầu chim Người phụ tá thuyền trưởng, người này ở ngay phía sau người thuyền trưởng Linh hồn người chết như một đứa trẻ trần truồng ngồi trên sàn thuyền đang bị canh giữ và phán xét. Trên thuyền này có “hai linh hồn”. Vũ trụ quan của Việt cổ tin là lúc nào linh hồn con người cũng trẻ thơ như một đứa trẻ, tự nhiên, thiên nhiên, trần truồng không quần áo, không trang sức, với năm tháng thân xác con người già đi nhưng linh hồn người mãi mãi vẫn là trẻ thơ, khi chết những linh hồn trẻ thơ này vẫn thế và được về miền vĩnh cửu hay tái sinh. Người phán xét linh hồn: người này một tay để lên đầu linh hồn, một tay gõ vào trống Cây Vũ Trụ, Cây Đời để khơi động vòng tử sinh trong quá trình phán xét linh hồn. Người này tay trái gõ vào trống Thái cực, Cây Vũ Trụ, Cây Đời để khơi động vòng sinh tử, để phán xét linh hồn. Những người này đang tham dự những cảnh phán xét lLinh hồn. Những thuyền này là những thuyền phán xét linh hồn, ở những trống diễn tả Tam Thế trọn vẹn, chính thống như trống Ngọc Lũ, Cõi Âm thường được diễn tả qua hình ảnh những con thuyền phán xét linh hồn ở trên vùng mặt nước thế gian ở tang trống. Sáu con thuyền hoàn toàn là biểu tượng cho thuyết phán xét linh hồn qua học thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Như đã biết, tổng quát các mũi thuyền đều biểu hiện dương chim bồ cắt và tại đuôi luôn mang tính âm dương hòa hợp tức bồ cắt đực và cái, đuôi thuyền biểu tượng cho âm, chim bồ nông tương ứng, còn thân con thuyền mang hình ảnh con giao long. Như vậy, chúng diễn tả linh hồn cưỡi trên chiếc thuyền rồng chim, vượt khỏi Cõi Âm để tới Cõi Trời, và vượt khỏi Cõi Trời để hợp nhất với Cõi Thái Cực, Nhất Thể. Một chiếc muôi đồng Đông Sơn dùng trong tế lễ, có cán muôi được trang trí giống như đuôi thuyền trên trống đồng Đông Sơn. Muôi đồng Đông Sơn Cổ vật tham khảo Internet Thuyền trên trống Ngọc Lũ là thuyền phán xét linh hồn, chúng mang trọn ý nghĩa vũ trụ luận, trong 6 chiếc thuyền, 2 thuyền biểu tượng Lưỡng Nghi, 4 chiếc còn lại biểu tượng Tứ Tượng. Bây giờ ta so sánh thuyền trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ với các thuyền trên các trống và đồ đồng Đông Sơn khác để xác thực qua thạp đồng Đông Sơn thấy trong mộ Nam Việt Vương Triệu Mộ, Quảng Đông, Trung Quốc. Thạp đồng Đông Sơn Mộ Nam Việt Vương Triệu Mộ, Quảng Đông, Trung Quốc Đầu thuyền diễn tả linh thú giao long đã thể điệu hóa không có con mắt, có hình cây đinh ba biểu tượng Cõi Trời, quẻ Càn, phương Đông. Phía trước thuyền có con chim trông giống họ nhà gà trống, gà biểu tượng cung Tốn hành Kim, Cõi Chết, Cõi Nước, phương Tây. Đuôi thuyền có ba con chim thứ tự đứng lên trên lưng của nhau, con trên cùng là bồ cắt hướng bay vọt lên thẳng đứng, con kế tiếp là con chim bồ nông, con cuối giống con rái cá là loài sống trên cạn, nhưng kiếm ăn dưới nước, mang lưỡng tính; con rái cá đứng trên một thân cây và thân cây dựa lại trên sống lưng một con cá đang quay về phía lái thuyền. Phía mũi thuyền, phía dưới mạn là con chim đứng dưới nước có chân cao, có lẽ là con chim quốc. Dưới cổng là một siêu nước, điều này chỉ ra đây là con thuyền thái âm, đang vượt ra khỏi Cõi Nước hay Cõi Chết, về miền Thái Cực, thể hiện ý nghĩa tái sinh và hằng cửu. Toàn bộ cảnh các con chim đứng trên lưng nhau từ sống lưng cho cá thể hiện một Trục Vũ Trụ, nối liền các cõi. Thạp đồng diễn tả cảnh thuyền phán xét linh hồn liên hệ tới quá trình sống, chết, tái sinh và hằng cửu nên được đặt trong mộ Nam Việt Vương Triệu Mộ. Thuyền mang ý nghĩ biểu tượng từ nguyên thủy diễn tả bằng hình tượng hợp nhất giữa chim và giao long, về sau thần thoại hóa thành các linh thú như thuyền rồng Văn Lang, thuyền tang rắn nước chim cắt Nam Dương, naga Ấn giáo, thuyền trời Ai Cập cổ đầu dê ibex... Trống đồng Đông Sơn giúp ta hiểu rõ đích thực ý nghĩa nguyên thủy của những con thuyền biểu tượng từ nguyên sơ cho tới hiện nay như thuyền tang, thuyền rồng, thuyền chim. Thuyền trên trống đồng cũng ghi lại quá trình tạo ra một linh thú như long, lân, qui, phượng, nghê… Nguyên thủy của linh thú là một con thú chủ rồi về sau trên người con thú này có ghép các phần thân thể của các con thú khác và trở thành một đa thú, một linh thú, một con thú thần thoại, mang biểu tượng cho các hình tượng của tín ngưỡng. Như vậy, con rồng Việt có cốt là linh thú thân giao long, vảy cá chép, đầu sư tử, đuôi giao long. TRỐNG HOÀNG HẠ Trống đồng âm dương Hoàng Hạ tìm thấy ở làng Hoàng Hạ, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông, Hà Sơn Bình, hiện được lưu giữ ở Bảo Tàng Viện Lịch Sử Việt Nam. Trống đồng Hoàng Hạ với vị trí các nhà thuyền và nhà chuông tương ứng với trống đồng Ngọc Lũ, do vậy nó vẫn thể hiện nền tảng cấu trúc hình học theo Hậu Thiên Bát quái phối Hà đồ. Trung tâm trống đồng Hoàng Hạ có mặt trời 16 tia sáng thể hiện độ số 6 của cung Tốn của Tiên Thiên Bát quái, còn 14 tia sáng trên trống đồng Ngọc Lũ thể hiện cung Tốn trong Hậu Thiên Bát quái. Trống Hoàng Hạ là sự kết hợp với trống đồng Ngọc Lũ I về cách diễn đạt vũ trụ quan và nhân sinh qua học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, vì thế chỉ cần nhấn mạnh vào những điểm đặc biệt của trống đồng Hoàng Hạ so với trống đồng Ngọc Lũ. Trống đồng Hoàng Hạ thể hiện Tiên Thiên Bát quái qua biểu tượng mô tả Hậu Thiên Bát cho nên nó mang tính dương so với trống đồng Ngọc Lũ mang tính Âm, cả hai tạo thành cặp trống âm dương phối hợp. Trống thể hiện âm dương kế hợp gọi là là trống âm dương là trống bịt hai đầu như trống da con trâu, trâu là tượng Thổ nên cuộc chọi trâu diễn ra vào ngày mồng 5 tháng Năm âm lịch và tế Thần Nông vào ngày 10 tháng Mười âm lịch, khi chúng kết hợp sẽ tạo thành nhất thể, Thái cực hay ánh sáng, tương ứng trục Càn - Khôn trong Tiên Thiên Bát quái hay Ly - Khảm của Hậu Thiên bát quái. Nếu trống đồng hai mặt sẽ đánh không kêu, điều này nói lên phát khí mất tác dụng do vậy trống đồng hai mặt không được dùng, vậy thì hợp nhất hai trống đồng được giả quyết như thế nào? Chúng ta cũng biết trục Càn - Khôn đi qua ngôi hai nhà chuông, biểu tượng của các ngôi nhà chuông chính là chuông đồng Đông Sơn, với hình ảnh người Việt biểu hiện ngay trên thân chuông, do vậy việc lý giải ý nghĩa của chuông đồng Đông Sơn là không thể tách rời với trống đồng Đông Sơn. Mặt trống đồng Hoàng Hạ Phạm Huy Thông và các cộng tác viên Mặt trống Hoàng Hạ được định vị qua nhà thuyền và nhà chuông, đặc biệt nhà chuông nơi có hai con chim quay vào nhau ứng với độ số 2 cung Khôn trong Hậu Thiên Bát quái, sẽ nằm phía trên ứng với ý nghĩa thể hiện Tiên thiên Bát quái (theo hướng Bắc nằm phía trên theo quy tắc của bản đồ hiện đại), còn ngôi nhà chuông kia nằm ở phía dưới. Hai ngôi nhà thuyền còn lại vẫn nằm trên trục Tây Bắc - Đông Nam. Trống đồng Hoàng Hạ thể hiện biểu tượng qua Hậu Thiên Bát quái nhưng cái lý thì mang ý nghĩ Tiên Thiên Bát quái, ví dụ một biểu tượng nhà thuyền dương so với nhà thuyền âm trên trống đồng Ngọc Lũ nằm trong lý Hậu Thiên Bát quái, thì chính nó cũng được so sánh tới nhà thuyền tương ứng vị trí trên trống đồng Hoàng Hạ nhưng ở vai trò âm, thể hiện cái lý Tiên thiên Bát quái. Một trống đồng Điền, Vân Nam, Trung Quốc thể hiện một cảnh hiến tế người, quang cảnh có hai cái trống cực lớn đối xứng qua trụ hiến tế, đây chính là chiếc trống Thái Dương (thể hiện lý Tiên Thiên Bát quái) và Thái Âm (thể hiện lý Hậu Thiên Bát quái). Tương ứng với trống đồng Ngọc Lũ, trống đồng Hoàng Hạ cũng có vành sinh họat nhân gian, cho biết trống là trống thế gian, vành sinh hoạt nhân sinh cũng có các yếu tố giống như ở trống đồng Ngọc Lũ nhóm người nhảy múa, nhà thuyền, nhà chuông… duy chỉ khác các chi tiết tương ứng với tính âm dương giữa hai loại trống. Mỗi nửa mặt trống theo thứ tự có hai nhóm người 6 người nhảy múa, nhà gian, cảnh giã chày cối và dàn trống, khác với trống đồng Ngọc Lũ có hai nhóm 7 người và 6 người nhảy múa: Trong trống đồng Ngọc Lũ, một nhóm 7 người thể hiện hoàn toàn đầy đủ thuyết Âm Dương Ngũ Hành khởi thủy từ Thái cực - Lưỡng nghi - Tứ tượng mang tính dương là chủ chốt, nhóm đối diện so với nó sẽ là âm, số 6 không còn Thái cực, và nhóm 7 người này so với trống Hoàng Hạ sẽ là âm, cho nên nhóm tương ứng sẽ là dương và là 6 tên trống Hoàng Hạ, như vậy trống đồng Hoàng Hạ sẽ có hai nhóm 6 người nhảy múa. Hình chi tiết nhóm 6 người nhảy múa Điểm âm này được xác thực rất rõ là ở trên đầu của người cuối cùng mỗi nhóm có con chim nông bay còn ở trống đồng Ngọc Lũ không có, chim nông là chim cõi trời, cõi trên thể hiện tính đối ứng với trống đồng Ngọc Lũ. Bốn người đi sau trong nhóm cầm các nhạc cụ, đặc biệt người sau cùng cầm ở tay trái một nhạc cụ như cái chuông. Những người nhảy múa hướng về căn nhà chuông không gian có mái hình vòm không gian, vòm trời. Nhà nòng ở bán viên âm Ta cũng thấy rất rõ trên nóc nhà chuông có hình hai con chim quay vào nhau trong khi ở căn nhà chuông kia không có chim. Con nhỏ con mang nhiều dương tính, trên người có hình vòng tròn chấm có một nghĩa là mặt trời. Con lớn mang ít dương tính hơn, mỏ nhỏ, ngắn mang ít dương tính. Hai con chim cho biết nhà thể hiện tính dương Càn trong Tiên Thái Bát quái nên đặt ở phía trên. Bên trái căn nhà có 5 hình vòng tròn có chấm, hình cái cồng biểu tượng cho phái âm, nữ, bên phải có 6 cái cồng, một cách tương ứng với trống đồng Ngọc Lũ. Dưới gầm nhà là cái chậu âm tính. Nhà âm ở bán viên dương Nhà chuông đối diện qua tâm trên nóc nhà không có hình chim. Bên trái cửa có 6 hình vòng tròn có chấm, bên phải có hình sóng nước có ba hình vòng tròn có chấm mang nghĩa cung Ly của Hậu thiên Bát quái đối ứng nhà chuông trên trống đồng Ngọc Lũ, nay lại trở thành cung Càn với lý của Tiên thiên Bát quái. Dưới gầm nhà có bình nước tương ứng cái chậu với nhà kia và là lửa nhà chuông trên trống đồng Ngọc Lũ. Cảnh giã chày cối có hai con chim bay trong khi đối diện qua tâm trống chỉ có một chim. Hai con chim này ứng đối với trống đồng Ngọc Lũ chỉ có một con chim. Trên nóc mỗi căn nhà thuyền chỉ có một con chim trĩ đuôi rất dài, khác với trống Ngọc Lũ trên nóc có một con, còn trên nóc căn nhà đối diện qua tâm trống có hai con. Nhà dương ở bán viên âm Ở góc phải dưới nhà thuyền có một người ngồi đánh trống hình lục giác bịt da để trên một trụ cây mang hình ảnh trống âm dương, hư không. Lò lửa ở dưới gầm nhà ở đây thấy rõ với ống dẫn hơi lên nhà. Dàn Trống Dàn trống ở bán viên âm Đặc điểm thấy rõ nhất ở đây là trên đầu người ngồi đánh trống không có hình chim bay ở phía đối diện có một hình chim bay, trước dàn trống cũng có cây phướn hình túi mang nghĩa âm. Vành tiếp theo là chứa hình xoắn chữ S kép, vành nay thế thế vành chim nai trên trống đồng Ngọc Lũ. Sau đây là hình 4, trang 100 trong The Kettle Drums of Southeast Asian Bronze Drums của A.J Bernet Kemps cho thấy 6 loại “hình xoắn hai chữ S”. Vành sóng xoắn chữ S kép Hình thái này thể hiện tương tác hợp nhất khí âm và khí dương trên Cõi Thượng Ngàn, hệ quả của sự hợp nhất âm dương được thể hiện trên vành trống tiếp theo, vành trống này chỉ có 14 con chim đang bay ở Cõi Thượng Thiên. Hình cò bay trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ Vành tiếp theo, Cõi Thượng Thiên có 14 con cò bay đối ứng với 18 cặp cò của trống đồng Ngọc Lũ. Số 14 thể hiện cung Chấn trong Tiên thiên Bát quái đối ứng sô 18 thể hiện cung Cấn trong Hậu Thiên Bát quái. Như vậy, trống đồng Ngọc Lũ thể hiện tương hợp hai cung đối xứng qua tâm trống là Tốn - Cấn trong Hậu Thiên Bát quái và và Tốn - Chấn trong Tiên Thiên Bát quái. Cấn là Dương Mộc và Chấn là Âm Mộc, khi chuyển từ Cõi nhân gian về cõi Thượng Thiên tức là từ Cõi Chết Âm Tốn trở về cõi trường sinh bất tử là hành Mộc, hành Mộc chính là tình yêu, tình thương, lòng từ bi, đề cao chữ nhân. Nhưng vì không có loại trống đồng hai mặt âm dương nên chuông đồng Đông Sơn thay thế vị trí này, do đó tiếng chuông mới là âm thanh của tình thương, tiếng trống thể hiện sức mạnh, dũng khí của chiến binh, sự hợp nhất chuông trống là biểu tượng của ánh sáng, trí tuệ siêu việt, do vậy pháp khí chuông và trống là một bộ không thể tách rời. Thời nhà Lý, ngày 4 tháng Bốn âm lịch, là ngày tổ chức “hội thề Trống Đồng” tại đền Đồng Cổ, độ số 4 chính là cung Tốn trong Hậu Thiên Bát quái. Trống đồng thờ đặt tại đây phải đầy đủ cả hai loại, chính là trống thái âm như trống đồng Ngọc Lũ và trống thái dương như trống đồng Hoàng Hạ thể hiện dũng khí, trí tuệ để bảo vệ và xây dựng một quốc gia hùng mạnh. Vùng Nước Tang Trống Cấu trúc và trang trí giống như trống đồng Ngọc Lũ, gồm 6 chiếc thuyền phán xét linh hồn, hai con thuyền 1 và 2 dẫn đầu biểu tượng cho âm dương, bốn thuyền còn lại biểu tượng cho Tứ tượng, giống như ở trống đồng Ngọc Lũ trong 6 thuyền có hai thuyền có cảnh phán xét “2 linh hồn” còn lại 4 thuyền chỉ có một linh hồn. Quy tắc sắp xếp thứ tự như đã trình bày trong trên trống đồng Ngọc Lũ, thuyền chứa trống là dương nhất, cục dương; thuyền cực âm là thuyền mà linh hồn đã đi qua được cầu gian nguy và tới được vị trí của người thuyền trưởng ở đầu mũi thuyền, thể hiện chuẩn bị vào Cõi Trời. Thuyền chứa trống lật ngửa mang tính dương là thuyền Ly và con thuyền mà linh hồn tới người kế cận thuyền trưởng mang tính dương là thuyền Khảm. Con thuyền mà linh hồn ở dưới cầu gian nguy là con thuyền Đoài và con thuyền còn lại là thuyền Chấn. Tòan bộ các con thuyền được sắp xếp thứ tự như sau: Thuyền số 1 biểu tượng DƯƠNG Thuyền số 2 biểu tượng ÂM Thuyền số 3 biểu tượng cho CHẤN Thuyền số 4 biểu tượng cho ĐOÀI Thuyền số 5 biểu tượng cho LY Thuyền số 6 biểu tượng cho KHẢM Thuyền số 1 biểu tượng cho Dương Mũi thuyền tức đầu dương có con chim họ nhà cò đang mổ con cá, cò là loài chim lội nước là chim dương của nước âm, chim có con mắt âm cho biết. Hai con cá dưới thuyền với một con quay về phía âm một con quay về phía dương. Con chim có bờm túi gió. Người gác cổng trời quay mặt về phía lái thuyền âm. Thành cầu phán xét có hình đầu chim cong có bờm gió tạt. Dưới gầm đài có một vật gì hay chiếc trống. Thuyền số 5 biểu tượng cho Khảm Sau đuôi thuyền tức đầu âm có một con chim có mỏ hình túi nang cường điệu nhất trong tất cả các con chim có nghĩa là mang. Chim cũng quay mặt về phía mũi thuyền dương. Người gác cổng quay mặt về phía mũi thuyền dương tay cầm cung và tên. Trên người có vòng tròn chấm dương. Thuyền số 4 biểu tượng cho Đoài Thuyền này cũng có hai cảnh phát xét “2 linh hồn” dưới cầu phán xét, Dân gian thường nói “3 hồn 7 vía” chính là thể hiện Linh hồn và Tâm của nó, hàm ý nói rằng linh hồn vẫn còn đặc trưng của cõi sắc giới. Tâm đi trước và Linh hồn đi sau - tương tự như cảnh phán xử trong phòng phán xét tôn giáo Ai Cập (quả tim đại diện cho Tâm và con chim cú mặt người biểu tượng cho Linh hồn), Linh hồn đã được phán xét xong hầu có thể về được Cõi Trời. Phía đuôi thuyền âm, có hai con chim nông đang đạp mái mang ý nghĩa linh hồn đã chia tay với Cõi Dục giới và một cuộc hành trình mới bắt đầu. Người trên cầu thử thách đang cầm cung tên bắn vào Cõi Dục giới. Thuyền số 5 biểu tượng cho Ly Ở đuôi thuyền tức đầu âm có con chim nông quay mặt về phía âm tức con nông mang âm tính. Chim có con mắt âm cho biết thuộc âm. Người gác cổng trời quay mặt về phía âm đuôi thuyền, tay chỉ cầm cung. Dưới gầm cầu thử thách có chiếc trống lật ngửa. Thuyền số 2 biểu tượng ÂM Đặc biệt không giống với tất cả các thuyền khác, linh hồn đã tới người thuyền trưởng, mang ý nghĩa đã tới Cõi Vô sắc giới hay Cõi Trời, linh hồn đã đoạn tuyệt với Dục giới và Sắc giới, Sắc giới tức cảnh tưởng của Dục giới vẫn còn trong tâm tưởng. Người gác cổng trời quay mặt về phía âm đuôi thuyền, tay chỉ cầm cung. Cây cầu bây giờ có 2 sàn biểu thị linh hồn vượt qua 2 cổng để vào Cõi Trời. Đặc biệt khác với ở trống đồng Ngọc Lũ, gầm đài ở đây, cổng vào Trục Thế Giới có khung rất rõ, xác thực cầu đài là đài Tam thế có cổng về Cõi Trời. Thuyền số 3 biểu tượng cho Chấn Đuôi thuyền có con chim mang dương tính bay lên trời diễn tả dương Cõi trời. Đầu thuyền có con chim nông quay mặt về phía dương. Chim có con mắt âm nhưng phía chân có “tấm biển” có chữ viết vòng tròn có chấm có một nghĩa là mặt trời, dương. Trên đài có hai người gác cổng trời. Một người ngồi âm tính quay mặt về phía mũi thuyền dương, tóc dài mang vóc dáng phái nữ, người này mang hình ảnh của một linh hồn chuẩn bị thoát ra khỏi thể xác qua hình ảnh con chim sau lái thuyền. Người phía sau có một người đứng mang dương tính, quay mặt về phía đuôi thuyền âm, cầm cung. Trục Chấn - Đoài là trục Sinh -Tử cho nên thuyền Đoài người đứng trên cổng trời sẽ lắp tên vào cung và bắn ngược phái sau tức chia tay Cõi Trần, Cõi Nhân gian. Toàn bộ 6 chiếc thuyền thể hiện quá trình linh hồn thoát ra khỏi thể xác - chia tay Cõi trần, Cõi Dục giới và đi trên cung đường mới trong Cõi sắc giới và Cõi Trời. Trong Cõi sắc giới, linh hồn vẫn còn mang “tính dục” qua tâm tưởng, chỉ khi nào vào Cõi Vô Sắc giới mới hoàn toàn bình an tức Niết bàn. Như đã biết thân hay lưng trống là trục thế giới, trục vũ trụ là phần trục kết nối, liên lạc giữa Tam Thế. Bố cục và trang trí giống trống Ngọc Lũ, cũng có 6 ô, trong mỗi ô có 2 người. Mỗi nhóm hai người cùng với rìu cầm tay ở tư thế khác nhau, thể hiện tính âm dương đối ngẫu. Nhóm hai người Sáu người này cũng tạo nên Lưỡng nghi và Tứ tượng, chúng ta không phân tích sâu hơn nhưng chỉ tìm hiểu những người này đang giữ vai trò và thực hiện công việc gì khi đứng trên trục thế giới. Như đã biết, trống đồng thể hiện các lễ hội của quốc gia và tôn giáo, nhưng quan trọng nhất trong một buổi lễ hội đó là trình tấu sớ lên “Thánh thần” ở các cõi trên, đây chính là những người trình tấu sớ, tay trái cầm tấu sớ và tay phải cầm chiếc rìu, trong chữ Hán Việt thì “Rìu” còn có nghĩa là “Việt”. Đây chính là hình ảnh của người Việt, “người ánh sáng” ứng với ngôi sao hợp nhất âm dương từ tâm trống tức Thái cực phát ra, sáng nhất trong vũ trụ, cũng là “người chim” tức người vũ trụ. Qua một cổ vật đồng Điền, Vân Nam, Trung Quốc, chúng ta thấy một người đàn ông đứng trên mặt trống đang giang đôi cánh tay chim, phía trên là một cái trục vũ trụ thẳng đứng. Cái trục vũ trụ này đang được 6 người đứng hai bên dùng một thanh ngang quay cái trục này, hàm ý họ đang kích hoạt toàn bộ vũ trụ vận động quanh trục. Xung quanh trống là những người đang nhảy múa, thấy rõ nhất là hình người đang giơ tay cao lên đánh một cái chiêng. Người chim Cổ vật đồng Điền, Trung Quốc Hình ảnh người cầm rìu Việt và tấu sớ thể hiện chữ “Việt” cổ đã được phát triển theo thời gian , sẽ được phân tích ở các chương sau. Trong dòng tranh dân gian Đông Hồ, bộ tranh nhị bình Đấu Mộc và Đánh Vật thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc ta, các đô vật trong hình dáng giống như độ vật Sumo của Nhật Bản, còn các võ sĩ đang sử dụng đoản đao và khiên trong một cuộc thi đấu hào hứng. Bức tranh Đấu Mộc với hai đôi giao đấu thể hiện được hai mặt Âm Dương, còn bức tranh Đấu Vật với ba đôi võ sĩ thể hiện thêm tương tác giữa Âm và Dương đó chính là Khí trong lý học Đông Phương, cả ba khái niệm trên ứng với nguyên nhân sinh thành nên vạn vật trong một vũ trụ vô biên này. Đấu Vật và Đấu Mộc Tranh sân gian Đông Hồ, Việt Nam Sau khi phân tích ý nghĩa biểu tượng trên trống đồng Hoàng hạ và Ngọc Lũ, chúng ta thấy hai trống này tạo thành một cặp trống âm, dương hay cặp trống Lưỡng Nghi, mặt khác không có trống đồng nào đại diện cho Thái Cực, hợp nhất âm dương mà chỉ có trống tròn bịt da trâu là loại trống này. Mặt khác, trên mối trống đều có hai nhóm trống gồm 4 cái, thể hiện chúng được phân chia dùng trong lễ hội vào Xuân - Hạ hay Thu - Đông, điều này chỉ ra sau trống Lưỡng Nghi gồm 8 trống khác nữa - đại diện cho 8 phương của Hậu Thiên Bát quái. Chỉ vào ngày Tết Nguyên Đán - ngày sinh nhật vũ trụ mới dùng 10 cái trống một lúc. Trống đồng Điền Tỉnh Vân Nam, Trung Quốc Ngoài hai trống cái Âm Dương, còn có dàn trống con gồm 18 cái dưới đặt thành dãy mái nhà, được chia thành hai nhóm: mỗi nhóm 7 cái và 2 cái, đây là độ số của phương Nam trên Hà Đồ, hành Hỏa. Trống đồng có chức năng đa dạng, như ta biết, nhưng công dụng chủ yếu của nó trước hết là một nhạc khí dùng trong các lễ hội, cầu đảo hoặc “tế Trời”, có liên quan đến nông nghiệp, mùa màng. Ngạn ngữ dân gian có câu “Đánh trống qua cửa nhà Sấm”, gợi ý về mối liên hệ giữa tiếng trống và tiếng sấm qua âm thanh trầm hùng mà vang động của chúng. Hơn nữa mối liên hệ giữa trống và sấm còn được thể hiện bằng hình tượng hội họa, và ghi trong sách Luận hành như sau: “Thợ vẽ vẽ hình trạng thần sấm, chồng nhau như hình trống liền. Lại vẽ người như lực sĩ gọi là Lôi Công, tay trái giữ chiếc trống liền, tay phải cầm dùi đánh. Người đời không ai không bảo thế”. Ngũ Lôi Trích tranh thờ Đạo giáo Đám Rước, miền Bắc, Việt Nam Chính do sự liên tưởng này mà bộ “5 trống” được gọi là “Ngũ Lôi”, Kết hợp với bộ 10 trống đồng Đông Sơn ở trên, điều này cho thấy có hai bộ “Ngũ Lôi” âm dương, bộ “Ngũ Lôi Dương” bao gồm kiểu trống Hoàng Hạ và bốn trống đại diện Càn, Khảm, Cấn, Chấn được sử dụng vào lễ hội Xuân - Hạ của quốc gia và tôn giáo và bộ “Ngũ Lôi Âm” bao gồm kiểu trống Ngọc Lũ và 4 trống đồng Khôn, Ly, Tốn, Đoài được sử dụng vào lễ hội Thu - Đông của quốc gia và tôn giáo theo định kỳ. Lôi Công là Thần làm ra sấm sét, mây mưa cũng gọi là Thiên Lôi, Lôi Thần. Chưởng quản Lôi Bộ là 5 vị Thiên Thần gọi là Ngũ Lôi Thần, mà vị cầm đầu có phẩm tước là "Cửu Thiên Cảm Ứng Lôi Thinh Phổ Hóa Thiên Tôn" tức Thần Sấm, bốn vị còn lại là Thần Điện coi việc làm chớp, Thần Mây coi việc kéo mây, Thần Gió coi việc làm gió và và Thần Mưa coi việc làm mưa. Miệng nhọn như mỏ chim phượng, răng bạc, Tranh thờ thường viết thêm bốn chữ Hán “Ngũ Công Vương Phật” ở phía trên, tranh này cũng được gọi là tượng Năm Ông. Lôi Công Tranh thờ Đạo giáo các dân tộc miền Bắc, Việt Nam Theo nghiên cứu, các trống đồng có tượng cóc hoặc ếch là trống muộn và số lượng và cách thức bố trí trên mặt trống có rất nhiều kiểu khác nhau, tuy nhiên căn cứ vào nội dung phân tích ở trên thì trống có 4 tượng là hợp lý nhất. Kết hợp với bộ trống đầy đủ 10 cái gồm Lưỡng Nghi và Tứ Tượng, mỗi 5 cái gọi là “Ngũ Lôi” được dùng tùy theo mùa trong năm thì tượng Cóc này còn biểu tượng cho sự “tái sinh”. Hình ảnh “Ngũ Lôi” là 5 con khỉ, con ở giữa nâng bổng cái trống tròn Thái Cực, mà con khỉ là biểu tượng cho mặt trăng, thái âm là hình tượng của sự tái sinh, là biểu tượng của vua Lạc Long Quân, vua Cõi Nước, Cõi Âm, Cõi Chết. Trong tôn giáo cổ Ai Cập, con khỉ là biểu tượng của mặt trăng - thần chết Osiris, vị thần sẽ tái sinh trở lại cõi nhân gian. Trong Cõi Nhân gian, sự tái sinh biểu hiện qua con cái của một gia đình qua hình ảnh thần chết Osiris linh hợp với nữ thần Isis qua hình dáng con chim để sinh ra nam thần đầu chim ó Horus: Linh hợp Osiris và Isis Tranh tường cổ Ai Cập Khỉ đầu chó Tượng cổ Ai Cập Quan sát bức tranh dưới đây có thể thấy hình ảnh con cóc phía trước chiếc thuyền, thể hiện là vị thần hướng đạo cho việc tái sinh, dẫn đường về miền hằng cửu. Con chim phía trước chính là biểu tượng linh hồn của người chết. Lệ tục khi chết là nghi lễ cuối cùng trong các nghi lễ của đời người, nếu hình dùng đời người là bốn mùa thì cái chết sẽ tương đương thời điểm cuối mùa Đông tức cuối năm, và như vậy nghi lễ khi chết cũng là nghi lễ long trọng nhất của đời người. Cho nên, có thể nói, ngày chết cũng chính là ngày Tết lớn nhất của đời người, trước khi trở về miền hằng cửu (Kiêng kỵ trong văn hóa cổ Phương Đông, tác gỉa Triều Sơn, Nxb Văn hóa Thông tin, 2010). Cóc dẫn linh hồn Trích Kiêng kỵ trong văn hóa cổ Phương Đông, tác gỉa Triều Sơn, Nxb Văn hóa Thông tin, 2010 Một cách hợp lý thì hình tượng con cóc là hình ảnh của vua Lạc Long Quân, giống như thần chết Osiris của tôn giáo cổ Ai Cập. Như vậy tượng cóc hay ếch trên trống đồng biểu thị cho một người hay năm người trong một nhóm trống “Ngũ Lôi”? Căn cứ vào Cổ Lôi Ngọc Phả truyền thư, vua Kinh Dương Vương có 5 người con trai: 1 Nguyễn Nghiêm, tự Phúc Nghiêm, hiệu Pháp Phong tức Thần Gió. Kỵ 16/10 2 Nguyễn Quyền, tự Phúc Quyền, hiệu Pháp Vân tức Thần Mây. Kỵ 7/1 Ngày lễ 5 vị từ 1-5/4 hàng năm 3 Nguyễn Khoản, Hùng Hiền, húy Sùng Lãm tự Phúc Thọ tức Thần Sấm (Lạc Long Quân). Kỵ 18/2 4 Nguyễn Huề, Hùng Quyền, tự Phúc Quang, hiệu Pháp Điện tức Thần Chớp. Kỵ 15/5 5 Nguyễn Bé, Hùng Tiến, tự Vũ Thiên hiệu Pháp Vũ, tức Thần Mưa. Chết trẻ. Kỵ 4/4 Chúng ta có thể nhận định “Ngũ Lôi” chính là biểu tượng của 5 anh em trai vua Lạc Long Quân, chúng ta hãy cùng xem lại truyền thuyết Phật Mẫu Man Nương. Truyền thuyết Phật Mẫu Man Nương là người con gái rất sùng đạo, năm 12 tuổi đến theo học đạo ở chùa Linh Quang, Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh và được thiền sư Khâu Đà La là một vị cao tăng Ấn Độ đầu tiên sang Việt Nam truyền đạo,hình thành ngôi chùa Dâu, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc có 4 ngôi chủa Pháp Vân, Pháp vũ, Pháp điện, Pháp lôi và không thấy đề cập đến Thạch Quang Phật. Vào kỳ đại hạn, cư dân quanh vùng thường đến các chùa này làm lễ cầu đảo, linh ứng rõ rệt. Khâu Đà La nghĩa là Surya tức Thần mặt trời (Từ hoa văn trống đồng nghĩ về văn nghệ dân gian, tác giả Đặng Văn Lung, Nxb Khoa học và Xã hội, 1997). Chúng ta cũng biết, Kinh Dương Vương là mặt trời, kết hợp với sử liệu và truyền thuyết, thì hai bộ trống “Ngũ Lôi“ chính là năm vợ chồng anh em vua Lạc Long Quân, con của hai vợ chồng vua Kinh Dương Vương. Phật Mẫu Man Nương chính là Thánh Mẫu Thượng Ngàn. Thạch Quang Phật ẩn mặt chính là mẫu Âu Cơ, hành Thổ ở vị thế ở trung tâm của bộ trống “Ngũ Lôi” dương, tương ứng là trống đồng Hoàng Hạ, và Âu Cơ ở vị thế ở trung tâm của bộ trống “Ngũ Lôi” âm, tương ứng với trống đồng Ngọc Lũ. Như vậy, hệ thống trống đồng con cái sau này cũng được gọi là trống Hùng Vương, mang hình ảnh tái sinh từ trống cha mẹ qua hình tượng con cóc. Trong dân gian, đánh trống thì có thể làm cho rồng hiện ra phun mưa là hoàn toàn phù hợp với biểu tượng con rồng của người Việt cổ, Cóc và Rồng cùng ở phương Đông, độ số 3 của Hà Đồ, biểu tượng của quẻ Chấn trong Bát Quái Hậu Thiên, Cóc kêu Rồng ứng đem lại mưa thuận, gió hòa cho nhân gian, chính là nhờ đến công đức vua Lạc Long Quân và Âu Cơ vậy. Ta thấy trống đồng nhất với sấm, người đánh trống biểu trưng cho Thần Sấm. Như vậy người xưa cho rằng giữa “Sấm” và “Trống” có cảm ứng qua lại với nhau, mỗi khi “Trống” đánh lên thì “Sấm” sẽ động lòng cảm ứng, liền cho mưa xuống. Chính vì mối tương quan này, “Con Cóc” trong truyện thần thoại được xem là Thần Sấm, mỗi khi Cóc nghiến răng thì sau đó trời sẽ mưa “Nghiến răng chuyển bốn phương - Ai ai là chẳng rụng rời sợ kinh”. Trong các trò chơi trẻ em thời xưa, có trò chơi cóc đánh trống ếch thổi kèn, che mưa bằng những lá sen đều mang ý nghĩa này. Dĩ nhiên, kiểu đánh trống đồng không phải là cách đánh Trống Quân hay các loại trống khác, “Quân” nghĩa là vua, vậy trống Quân mang ý nghĩa Vua Trống, đều phù hợp là biểu tượng của vua Lạc Long Quân. Mưa đến sau sấm cho thấy mưa đối với cóc, là khuôn mặt đứng sau sấm. Trong khi đó ngược lại con ếch có khuôn mặt chính liên hệ với nước, mưa. Ca dao có câu: Sấm chớp đàng Đông, Mưa dông sắp tới. Ếch kêu uôm uôm, Ao chuôm đầy nước. Như thế, cóc có khuôn mặt chính biểu tượng cho sấm và khuôn mặt phụ biểu tượng cho mưa, ngược lại ếch có khuôn mặt chính biểu tượng cho nước, cho mưa. Một cách tương tự, trống đồng đại diện cho vùng cao, miền rừng núi mang tượng ếch, còn trống vùng đồng bằng mang tượng cóc, thể hiện tính âm dương đối ngẫu, tức Âu Việt và Lạc Việt trong quốc gia Văn Lang. Hai khu vực có trống đồng được khai quật nhiều nhất là tỉnh Quảng Châu, Trung Quốc và Bắc Việt Nam, trong đó Việt Nam là chủ chốt với số lượng trống đồng Đông Sơn loại H.I là nhiều nhất. Trên mặt trống đồng, ngoài khung cảnh đánh trống chúng ta còn thấy hình ảnh một người đang đánh một dàn cồng treo, sự phối hợp âm nhạc giữa cồng, chiêng hoặc chuông và trống là không thể tách rời trong bất kỳ một cuộc tế lễ quan trọng nào của quốc gia hay tôn giáo, nó biểu hiện cho sự hòa hợp âm trong nhạc lý. Do vậy, ngoài trống đồng nước Văn Lang còn có những thần khí khác như chuông đồng Đông Sơn, và còn những thần khí nào khác nữa chăng? Qua sự phân tích cặp trống đồng Lưỡng nghi Hậu thiên Bát quái Ngọc Lũ và Tiên thiên Bát quái Hoàng Hạ, sự kết hợp giữa chúng thành một trống duy nhất Thái cực chỉ có thể biểu hiện quan trống tròn bịt da mà thôi, không có loại trống đồng nào bịt hai mặt bởi trống đồng có chủ đích là làm mặt đáy để hở. Trống da được sử dụng làm nhạc khí chính trong các lễ hội, luôn nhà nhạc khí khai mạc lễ hội “3 hồi 9 tiếng”, tuy nhiên không phải là duy nhất, trống và cồng, chiêng hoặc chuông luôn là một cặp nhạc khí đối ngẫu không thể thiếu. Vậy chuông hoặc chiêng được nhìn nhận ở vai trò như thế nào trong mối qua hệ với trống đồng? Trong các nhà chuông, có hình ảnh một bộ chiêng gồm 7 cái, kết hợp với vai trò của trống trong các lệ hội thì chuông như là lời hoàn thành cuối cùng của lệ hội, số 3 cung Chấn hành Mộc thể hiện chuông và số 9 cung Đoài hành Kim thể hiện trong, cả hai đại diện cho trục Đông - Tây hay là trục Sinh - Tử của vạn vật. Đây là lý do nhà Lý lấy ngày 4 tháng Bốn âm lịch làm ngày tế Thần Trống đồng và đây chính là ngày tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh của dân tộc. Trống đồng mang ý nghĩa là Thần Chết đối với những kẻ xâm lược, là Thần Sinh đối với những con người bảo vệ độc lập quốc gia. CHUÔNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN Cùng thời với trống đồng Đông Sơn, chuông Đông Sơn cũng đã được khai quật, hoa văn trên chuông hết sức đơn giản thông thường để trống, khắc hoa văn hình chữ S, các vòng xoáy… và hình người, miệng chuông là hình ô van, âm tính so với trống đồng. Chuông và trống chính là những thần khí quan trọng nhất - tương ứng với hai kiểu nhà hình thuyền và nhà hình chuông trên mặt trống đồng, như vậy, sự hợp nhất chuông trống để hợp nhất thành Thái Cực, Cây Đời. Chuông đồng Đông Sơn Tổng hợp trên mạng Internet Trong Phật giáo, tiếng trống là sự tinh tấn, trí tuệ giác ngộ, tiếng chuông là để trị phiền não, hô trống thì có câu: ... Đại chúng phải siêng tinh tấn, cứu lửa cháy đầu, chỉ nhớ vô thường, chớ có buông lung”; hô chuông thì có câu: “... phiền não nhẹ, trí tuệ lớn, bồ đề sinh, nguyện thành Phật, độ chúng sinh”; cuối cùng thì niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng Vương đang độ chúng sinh ở dưới Cõi địa ngục. Kinh Tăng Kỳ Luận của Phật giáo có đoạn: “Trời Đế Thích có ba cái trống, nếu thuyết pháp tại Thiện Pháp Đường thì đánh cái thứ ba”: đây chính là hình tượng chồng ba cái trống đồng lên để “tế trời” được mô tả trên mặt trống đống trong văn hóa Điền, Vân Nam, Trung Quốc như đã nói ở trên. Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim (Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh), Phẩm 4: Âm thanh trống vàng nói về Bồ Tát Diệu Tràng, sau khi nghe diệu pháp đức Thế Tôn nói, thì hoan hỷ, phấn chấn và trong đêm hôm ấy, Bồ Tát mộng thấy cái trống vàng ròng to lớn, ánh sáng rực rỡ như vầng thái dương. Trong ánh sáng ấy, Bồ Tát thấy được chư vị Thế Tôn khắp mười phương, cùng ngồi trên pháp tòa lưu ly ở dưới cây ngọc, được bao quanh bởi đại chúng gồm có vô số người. Bồ Tát lại thấy một vị Bà La Môn cầm dùi mà đánh trống vàng ấy, xuất ra âm thanh to lớn, âm thanh này nói lên những bài chỉnh cú nhiệm mầu, diễn đạt diệu pháp sám hối sau đây: Đêm hôm vừa rồi trong mộng con thấy cái trống bằng vàng rất lớn và đẹp, khắp cả thân trống có ánh sáng vàng Như vầng thái dương, ánh sáng như vậy chiếu rực khắp cả mười phương thế giới, làm ai cũng thấy chư vị Thế Tôn. Dưới những cây ngọc, các Ngài cùng ngồi pháp tòa lưu ly, có hàng ngàn người rất mực cung kính bao quanh các Ngài. Một Bà La Môn cầm dùi mà đánh trống vàng Hoàng Kim phát âm thanh lớn, và chính âm thanh phát từ trống ấy nói những chỉnh cú nhiệm màu sau đây. Trống vàng sáng rực phát ra tiếng màu vang khắp tất cả đại thiên thế giới, diệt tội cực nặng trong ba đường ác cùng bao khổ ách của trong nhân loại. Uy lực âm thanh của trống vàng này diệt hẳn hết thảy phiền não chướng ngại loại trừ sợ hãi làm cho yên vui, in như chính Đấng Mâu Ni tự tại. Chính trong cái nơi biển cả sống chết, Thế Tôn tu hành thành trí toàn giác, làm cho chúng sinh đủ các giác phần, cứu cánh qui về biển cả công đức. Trống vàng xuất ra âm thanh màu nhiệm người nghe cùng được Phạn âm thâm thúy, và rồi chứng được Vô thượng bồ đề, thường Chuyển Pháp Luân trong sáng nhiệm màu… Như vậy, trống đồng Đông Sơn loại H.I trình bày vũ trụ quan và nhân sinh quan của người Việt cổ, thể hiện toàn diện về học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, liên quan đến các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và con người. Việc nhận định vai trò của trống đồng tương tự như cổ thư đã viết nhưng đặc biệt hơn, nó là biểu trưng của các vua Hùng, khẳng định ý nghĩa dân tộc Việt là “người mặt trời”, “người vũ trụ”. Tuy nhiên, việc nhận định ý nghĩa của trống đồng cũng không thể tách rời với các thần khí liên quan khác như là chuông đồng Đông Sơn, chưa kể các thần khí khác nữa như vạc, lư, đỉnh đồng… được sử dụng trong các lễ hội quốc gia và tôn giáo của nước Văn Lang cổ như Đạo Mẫu ghi nhận trên mặt trống đồng, thậm chí vai trò chuông trống được ghi nhận rất rõ trong kinh sách Phật giáo. Theo cuốn Nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh cổ, tác giả Nhóm nghiên cứu thời tiền sử, thì Phật A Di Đà là vua Phục Hy - vậy dữ liệu lịch sử tôn giáo ghi nhận trong gia phả này có đúng hay không? Chúng ta sẽ hãy cùng tiếp tục phân tích và nhận định thêm trong Chương III: NHỊ ĐỘ MAI (HOA MAI NỠ HAI LẦN). ***
  19. Tiên tri của các tôn giáo trên thế giới Tiên tri của đạo Bà La Môn, Ấn Độ Hindu là một tôn giáo truyền thống của người Ấn còn gọi là Ấn Độ giáo. Tôn giáo này có mặt từ rất xa xưa, tiền thân của tôn giáo này là Bà La Môn giáo với những qui định nghiêm ngặt về giáo điều, phép tu, tầng lớp xã hội... Các vị thần quan trọng nhất trong phả hệ thần Ấn Độ giáo là Trimurti tức "Tam vị nhất linh" hay còn gọi là "Tam vị nhất thể" bao gồm Brahma - Shiva - Visnu. Visnu và Shiva là hai thế lực đối lập, còn Brahma là thế lực cân bằng. Đền Sri Ranganathaswamy Thành phố Tiruchirapalli, Ấn Độ file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Theo truyền thuyết về thần Vishnu, ngài có mười hóa thân, Đức Phật Thích Ca được xem là hóa thân thứ 9 của thần Vishnu, và thần Kalkin là hóa thân thứ 10 và cũng là hóa thân cuối cùng của thần Vishnu. Thần Kalki vẫn chưa xuất hiện, vị thần này sẽ xuất hiện vào cuối thời đại hiện nay - thời đại Kalkin Yuga và sẽ kéo dài 432.000 năm. Mười hóa thân của thần Vishnu Tranh của Jaipur, bảo tàng Victoria & Albert file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg 1- Mastya: con cá từng bảo vệ cho Manu, thủy tổ loài người trong cơn đại hồng thuỷ. 2- Con rùa Kurina (Kurma): chở núi ngọn Mandara trên lưng trong khi khuấy đảo biển sữa. 3- Varaha: con heo rừng đã cứu cả trái đất. 4- Narasimha: hóa thân sư tử vương giết chết quỷ Hiranyakashipu - hiện thân của Ravana. 5- Chàng lùn Vamana: cứu thế giới khỏi tay con qủy Bali. 6- Parasurama: người tạo ra tầng lớp Sát đế lỵ. 7- Hoàng tử Rama: nhân vật chính trong Sử thi Ramayana. 8- Krisna: vị thần tài năng với tiếng sáo mê hồn. 9- Sakya Muni (Đức Phật): cứu giúp những kẻ xấu lầm đường lạc lối trở về đường chính. 10- Kalkin (Kali Yuga): hóa thân này sẽ hiện ra ở hiện tại để lập ra Kỷ nguyên mới. Vào những năm cuối cùng của thời đại này, loài người sẽ phải đối diện với sự sụp đổ của nền văn minh và sự mất mát của các giá trị tinh thần và đạo đức. Hóa thân Kalkin thần thánh sẽ xuất hiện cưỡi trên con ngựa bạch, sẽ có mặt để quét sạch các ác thần thế gian và thiết lập một kỷ nguyên mới. Bà La Môn giáo chú trọng đến vận hội của loài người, chu kỳ gồm bốn thiên kỷ trong 25.920 năm: Krita-yuga, Tetra-yuga, Dvapara-yuga và Kali-yuga. Chúng ta đang sống trong kỷ Kali yuga, kỷ này ghi trong Kinh Veda bắt đầu vào 3.012 tr.CN và kết thúc sau 5.000 năm tức vào năm 2012 (Bí mật về năm 2012 và một thế giới kỷ mới, tác giả Gregg Braden, dịch giả Trần Cung, Nxb Văn hóa Thông tin, 2011). Nữ thần hắc ám Kali Tranh tham khảo Internet file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Chúng ta thấy, thời gian hoàn toàn tương tương với lịch cổ đại Maya, chỉ chênh lệch nhau 12 năm. Kali là tên nữ thần Hắc ám. Kỷ nguyên này tôn sùng vật chất, luân lý đi xuống cho nên con người chịu nhiều đau khổ. Mặc dù vậy, trong đó cũng có một lớp người tỉnh ngộ. Sau đó sẽ là kỷ Krita-yuga hay còn gọi là thời kỳ Hoàng Kim, được tiên tri trong sấm truyền Ấn Độ cổ đại Vishnu Purana, trong đó cũng báo trước thời kỳ Kali-yuga, thời kỳ dâm loạn, hôn nhân gia đình bị phá bỏ. Con người sống dối trá và của cải vật chất là mục đích tối hậu. Sự lạm dụng quyền lực của Thiên Chúa giáo thời trung cổ, phong trào độc tài phát xít ở thế kỷ XX…, đó là bệnh của thời kỳ hắc ám Kali-yuga (Những tiên đoán mới lạ về thế kỷ XXI, tác giả Paul Roland, dịch giả Mặc Uyên, Nxb Văn hóa Thông tin, 2004). Phật giáo Theo truyền thuyết, Đức Phật Di Lạc xuất thân từ một gia đình quý tộc Bà La Môn ở thôn Kiếp Ba Lợi thuộc Nam Thiên Trúc (Ấn Độ cổ đại), có hiệu là A Dật Đa (Adijita) nghĩa là Vô Năng Thắng (không gì có thể thắng nổi). Di Lạc là phiên âm từ Phạn ngữ có nghĩa là “Từ Thị” (lòng từ bi). Tín ngưỡng Phật Di Lạc đã được lưu truyền rất sớm tại Trung Quốc. Ngay từ đời Tây Tần (265-316) đã có những bức tranh vẽ Phật Di Lạc, thường mô tả Phật Di Lạc cũng giống như các vị Phật, Bồ Tát khác. Trong suốt các thời kỳ của Phật giáo Trung Quốc, Phật Di Lạc được mô tả ngồi trên một chiếc ghế hoặc một chiếc ngai với chân bắt chéo hoặc chân trái buông thõng, tay phải chống cằm như đang suy nghĩ về tương lai. Đền Mahabodhi Bodhgaya, Bodh Gaya, Ấn Độ file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Đền Mahabodhi có nghĩa "Đại Giác Ngộ Tự" là một đền thờ Phật Giáo ở Bodh Gaya, nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đạt được chính quả. Bodh Gaya tọa lạc cách Patna thuộc bang Bihar, Ấn Độ 96km. Bên cạnh ngôi đền, phía Tây là cây bồ đề linh thiêng. Theo kinh điển Phật giáo, Di Lạc Bồ Tát sẽ xuất hiện trên trái đất, đạt được giác ngộ hoàn toàn, giảng dạy Phật Pháp, giáo hóa chúng sinh, và chứng ngộ thành Phật. Phật Di Lạc sẽ là vị Phật sẽ nhận chuyển pháp luân và kế thừa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong thời đại mới. Di Lạc Bồ Tát Tượng đá, Northern Wei dynasty (386-535) Di Lạc Bồ Tát Cổ vật gỗ sơn, Hàn Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Cõi giáo hóa của ngài hiện nay là cung trời Đâu suất. Như vậy, theo sau Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là Đức Phật Vương Di Lạc, vị thầy mới sẽ bơm một luồng sinh khí tươi mát và làm thay đổi toàn bộ công cuộc tìm kiếm chân lý trên toàn thế giới. Do Thái giáo Dân tộc Do Thái có một niềm tin không lay chuyển vào đấng Chúa Cứu Thế Messiah rằng: dân tộc Do Thái và toàn thể nhân loại được dẫn đến một thời đại Hoàng kim, trong đó nền công lý toàn hảo và nền hòa bình thế giới được thực hiện bởi đấng Messiah. Ngài là vị vua lý tưởng và là một người toàn hảo. Danh từ "Messiah" có nghĩa là "Người được xức dầu", đây là một phương cách cổ xưa để tôn vinh một người được trao trọng trách đặc biệt. Jerusalem Israel file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Jerusalem còn có tên gọi khác là Thánh địa (The Holy), thành phố cổ kính và linh thiêng ở Trung Đông, nằm trên lưu vực giữa Địa Trung Hải và Biển Chết, trên độ cao từ 650-840m. Theo truyền thuyết của người Do Thái thì Jerusalem được xây dựng bởi Shen và Ever, tổ tiên của Thánh tổ Abraham. Người Do Thái vẫn chờ đợi sự xuất hiện của đấng Messiah. Dân tộc Do Thái rất kiên trì trong niềm tin tôn giáo vì họ tin tưởng rằng đạo Do Thái là đạo duy nhất do Thiên Chúa mặc khải cho cả quốc gia. Thiên Chúa giáo Theo Kinh Tân Ước các Thánh Tông Đồ có ghi lại lời Chúa Jesus, tiên tri “Ngày phán xét” cuối cùng và ngày ấy những người chết sẽ sống lại, trong Kinh Tin Kính có câu: "Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại". Lời tiên tri ấy như sau: "Anh em thân mến! Tôi không muốn để anh em phải hồ đồ về vấn đề những người đã chết, như người không còn hy vọng. Nếu chúng ta tin Chúa Jesus đã chết và đã sống lại, thì những ai đã an giấc trong Chúa Jesus cũng thế, Thiên Chúa sẽ kết hợp với Người..." (Tê-sa-lô-ni-ca 4, 13-18) (Tham khảo cuốn Kinh Thánh Tân ước và Cựu ước, Arms of Hope 2002). Nhà thờ lớn của Thánh Basil Matxcơva, Nga Tòa Thánh Vatican Rome, Italy file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Trong Bức Thư Fatima (được xuất bản tại Việt nam, bàn dịch từ tiếng Bồ Đào Nha) Đức Mẹ hiện ra ở Fatima, Bồ Đào Nha năm 1917, rất ít được phổ biến, Đức Mẹ có tiên tri: "Đại Chiến thứ III, nhân loại mười phần, chết chín còn một. Chúa Xi-ri Ki-tô, Đức Mẹ Maria và Thánh Cả Giu-se sẽ có xác thân người Việt Nam để cứu con ngài trên thế giới... Nhân loại sẽ về Việt Nam rất đông. Chị Lucie viết: "Nước Việt Nam là một thánh địa Gerusalem thứ hai... Nước Việt Nam sẽ đổi lại là Đại Nam Tịnh Quốc ... Nhân loại nên hướng vế Miền Nam Nước Việt để xây dựng cho quốc gia Việt Nam thành một thánh địa, hầu khi đại chiến thứ III sẽ về đó mà nương tựa" (Bức Thư Fatima của chị Lucie tr. 5,9,10). Hồi giáo Truyền thuyết kể lại thì Mecca là quê hương của giáo chủ Mohammad (570-632) thuộc gia tộc Casimu. Tục truyền rằng Thánh Allah đã cử Thiên sứ Gabriel đến truyền đạt Thần dụ và lần đầu tiên "khải thị" cho Mohammad chân lý của Kinh Koran (Qur'an) điều này khiến ông trở thành "Thánh thụ mệnh" tiếp thu sứ mệnh chân chủ trao cho để bắt đầu công cuộc truyền bá đạo Hồi. Ông là người sáng lập ra đạo Hồi và trở thành vị giáo chủ tối cao, Mecca trở thành nơi thánh địa linh thiêng và là nơi hành hương quan trọng nhất của các tín đồ Hồi giáo khắp nơi trên thế giới. Thánh địa Mecca Tham khảo Internet file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Chiếc đồng hồ 4 mặt được đặt trên nóc tòa nhà Mecca Clock Royal Tower có độ cao 640m, đây là một trong những công trình cao nhất thế giới. Chiếc đồng hồ có đường kính 39m, được ghép từ 98 triệu tấm kính. 21.000 bóng đèn trắng và xanh đặt trên đỉnh Royal Clock có thể chiếu sáng một quãng đường xa đến 30km, mỗi mặt của đồng hồ được khắc tên Thánh Allah. Qua hình ảnh mặt trăng lưỡi liềm, chúng ta biết rằng biểu tượng của sự tái sinh, phục sinh là hình ảnh của mặt trăng hết khuyết rồi lại tròn theo một chu kỳ, như vậy hình tượng khả năng tiềm ẩn biểu tượng tiên tri về sự phục sinh của giáo chủ Mohammad. Bái Hỏa giáo, Iran Một nhà tiên tri thời Ba Tư cổ tên là Zoroaster hay còn gọi là Zarathustra (630-550 tr.CN) đã từng dự báo sẽ có một “trận chiến giữa Thiện và Ác”. Ông nói rằng ông đã nhận được một nhiệm vụ thần thánh từ Ahura Mazda, vị Chúa tể Trí tuệ và Thần Quang minh (Ánh sáng), người rao giảng sự thật. Ông đã tiên đoán rằng toàn thế giới sẽ bị đưa vào trận chiến giữa Thiện và Ác bởi vì một nhóm thế lực Hắc ám sẽ chống lại lực lượng Quang minh. Loài người có thể được cấp cho sức mạnh để chọn lựa giữa Thiện và Ác. Thời kỳ kết thúc của thế giới sẽ tới khi lực lượng Quang minh giành thắng lợi và những linh hồn được cứu rỗi sẽ tận hưởng niềm vui chiến thắng, Đài tưởng niệm Zoroaste Thế kỷ V tr.CN, Iran file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Ông phân chia sự phát triển của thế giới ra làm bốn giai đoạn, với 3.000 năm trong mỗi giai đoạn. Trong ba ngàn năm đầu tiên, thế giới vật chất này được tạo ra. Vào thời điểm cuối của ba ngàn năm tiếp theo, Ahriman, kẻ cầm đầu thế lực Hắc ám, sẽ cố gắng hủy diệt thế giới. Vào thời điểm cuối của 3.000 năm sau đó, Ahriman đã thành công, nhưng hắn sẽ mang đến sự hủy diệt cho chính mình. Vào lúc bắt đầu 3.000 năm cuối, Zoroaster sẽ chuyển sinh và mang đến một đức tin mới cho nhân loại. Trong lúc ấy, nhân loại sẽ phải trải qua một thử thách cuối cùng, từ bỏ mọi đặc tính trái luân lý để trở thành những người tiên phong và lãnh đạo thế giới mới. Theo lời tiên tri của Zoroaster, bản tính con người là rực rỡ và đức hạnh, nhưng Ahriman muốn hủy diệt mọi thứ. Do đó, một thế giới với cả Thiện lẫn Ác sẽ đồng thời tồn tại và loài người cần phải lựa chọn một trong hai. Sau khi chết, linh hồn sẽ phải đi qua một chiếc cầu. Linh hồn cao thượng sẽ được lên thiên đàng, linh hồn xấu xa sẽ phải xuống địa ngục. Trong trận chiến đó, một linh hồn trong sạch không tội lỗi sẽ hòa mình vào một thế giới mới. Chúng ta có thể hiểu “Lửa” là đại biểu cho phát minh thời thái cổ và chính nó đã thay làm đổi cuộc sống của loài người, nhưng “Lửa” cũng là biểu tượng cho văn minh, biểu tượng của ánh sáng, do vậy thờ “Lửa” chính là thờ “Thần Quang Minh Ahura Mazda”, và vị thần này là ai? cũng sẽ được làm rõ trong các chương sách sau. (*) Hỏa giáo: Còn được gọi là Bái hỏa giáo hay Đạo thờ Lửa (Zoroastrianism), là một tôn giáo cổ của Ba Tư được sáng lập bởi nhà tiên tri Zoroaster (Zarathustra), với bộ kinh chính thức là Cổ kinh Ba Tư. Hỏa giáo phát triển mạnh ỏ Iran khoảng thế kỉ X-VII tr.CN, sau đó, phát triển sang nhiều nước khác ở Trung Đông, Ấn Độ và Trung Hoa. Ngày nay trên thế giới cũng như tại Ba Tư chỉ còn rất ít người theo tôn giáo này. Đạo Cao Đài, Việt Nam Đạo Cao đài là một trong những đạo mới tại Việt Nam, Thánh giáo cơ bút đạo Cao Đài nói rất nhiều về Hội Long Hoa. Trong Kinh Đại Tường của Cao Đài giáo có nói đến Phật Vương Di Lạc giáng thế, thâu hồi các tôn giáo hữu hình hiện có qui thành một Đạo duy nhất: Hỗn Nguyên Thiên dưới quyền giáo chủ, Di Lạc đương thâu thủ phổ duyên. Tái sinh sửa đổi chân truyền, Khai cơ tận độ cửu tuyền diệt vong. Hội Long Hoa tuyển phong Phật vị, Cõi Tây phương đuổi quỉ trừ ma. Giáng sinh Hộ Pháp Vi Đà, Chuyển cây ma xử đuổi tà trục tinh. Thu các Đạo hữu hình làm một, Trường thi Tiên Phật dược kiếp khiên. Tạo đời cải dữ ra hiền, Bảo sinh nắm giữ diệu huyền Chí Tôn. Trong quyển Đại Thừa Chân Giáo của phái Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi Cao Đài Đại Đạo, sưu tập những bài Thánh giáo của Đức Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát dạy về triết lý, phương pháp thiền định có nói về Hội Long Hoa, ngài tiên tri cho biết thời kỳ mạt pháp sẽ có “Ngôi Hai” giáng thế dạy Đạo: Gần tận thế Ngôi Hai ra mặt, Đặng toan phương dìu dắt chúng sinh, Chỉ đường cội phúc nguồn lành, Giác mê tỉnh ngộ tu hành siêng năng. Theo triết lý của Đạo Cao Đài thì vũ trụ vạn vật cũng như trái đất nói riêng, sẽ tiến hóa theo một chu trình làm ba Nguyên, trong Thánh giáo Đức ngọc Hoàng Thượng Đế dạy như sau: "Các con khá biết: Đạo có ba Nguyên. Ba Nguyên ấy là cái số cuối cùng của Trời Đất. Trước hết, mở đầu là Thượng nguyên. Đấy chính là Nguyên Tạo Hóa, là Nguyên đã gây dựng Càn Khôn Vũ Trụ. Vậy khi mới Tạo Thiên Lập Địa, nhân loại sinh ra thì tánh chất con ngườI rất đổi hồn hồn, ngạc ngạc, còn đang thuần phác thiện lương, nên chỉ cứ thuận tin Thiên lý mà hòa hiệp dưới trên, tương thân tương ái. Thời người đồng hấp thụ khí thiên nhiên, nên hằng cộng hưởng thanh nhàn khoái lạc mà vui say mùi Đạo tháng ngày. Bởi đó, thời Thượng Cổ mới có danh là đời Thượng Đức, mà Thượng nguyên ấy cũng kêu là Nguyên Thánh Đức nữa. Kế đó, bước qua Trung Nguyên thì nhân thân bất nhất, tập quán theo thói đời, thâm nhiễm nhiều nết xấu, mới làm cho mất điểm thiện lương, bèn cậy bởi sức mình mà hiếp bức lẫn nhau, tương sát, tương tàn, mạnh còn yếu mất, nên mới sinh ra biết bao trường huyết chiến, không còn kể đồng loại đồng chủng, phai lạt tình đồng nghĩa, đồng bào, bởi đó, đời Trung Cổ mới có danh là Thượng Lực, mà Trung nguyên ấy cũng kêu là Nguyên Tranh Đấu nữa. Tiếp đến Hạ nguyên, sự tranh đấu ngày càng ráo riết, dữ tợn, ghê gớm thì nhân loại lại chê sức mạnh mà dùng não cân, nên mới bày ra chước quỉ mưu tà, kế sâu bẫy độc, thật là khốc liệt phi thường. Song đó cũng lẽ tự nhiên, càng tranh đấu mới càng tiến hóa. Ngặt nỗi càng tranh đấu lại càng ác liệt lắm, nên tranh đấu phải đến ngay thời kỳ tiêu diệt. Bởi đó là hiện tại là đời Mạt Kiếp. Còn Hạ nguyên này là Nguyên Điêu Tàn. Nhưng hễ loạn là tới trị, vong tất hưng, nên Nguyên Tiêu Diệt tất sẽ bước đến Nguyên Bảo Tồn là Nguyên Đạo Đức phục hưng, để sắp lại như đời Thượng Cổ, thế nên cũng gọi là Nguyên Tái Tạo. Như vậy, Hội Long Hoa là một Hội lập ra trong thời kỳ tận diệt để chọn người hiền. Đây là cơ hội mấy muôn năm mới trở lại một lần. Người Việt nam hữu phước lắm mới được cơ bút tiết lộ để biết trước mà lo tu tập trong trường thi chót này. Ráng tu kịp Hội Long Hoa, Trễ rồi một kiếp đọa sa muôn đời. DiLạc Vương Phật là vị Phật Tương lai, vào thời Tam Kỳ Phổ Độ sẽ xuống trần một lần nữa, làm chính chủ khảo của Đại Hội Long Hoa tuyển phong Thần, Thánh, Tiên, Phật, đồng thời thay mặt Đức Chí Tôn Thượng Đế mà làm vua cai trị Càn Khôn Thế giới và Vạn linh. Đại lễ đường và Đạo kỳ Tòa Thánh Cao Đài, Tây Ninh, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Khi Ngài làm nhiệm vụ cai quản Càn khôn Thế giới thì gọi Ngài là Đức DiLạc Vương Phật; nhưng khi Ngài làm nhiệm vụ cứu độ chúng sinh thì gọi Ngài là DiLạc Vương Bồ Tát. Trong quyển Con đường Thiêng liêng Hằng sống, Đức Phạm Hộ Pháp giảng:“Trong Tam Kỳ Phổ Độ này, Đức Phật ADiĐà giao quyền lại cho Đức DiLạcVương Phật chưởng quản Cực Lạc Thế Giới, nênĐức DiLạc Vương Phật hiện nay ngự tại Kim Tự Tháp, dưới tàn cây dương tối cổ ở Kinh đô Cực Lạc Thế Giới; Đức Phật A Di Đà vào ngự trong Lôi Âm Tự và Đức Phật Thích Ca ngự tại Kim Sa Đại điện”.Kim Tự Tháp tại Kinh đô Cực Lạc Thế Giới có hình giống như Kim Tự Tháp Ai Cập, nhưng mình nó lại tròn, có nhiều từng, nhiều nấc, có rất nhiều chư Phật ngự trên đó, mỗi vị có Liên đài riêng. Trong Kinh Thiên Đạo của Đạo Cao Đài, Đức Phật Thích Ca giáng cơ ban cho hai bài Kinh: Kinh Đại Tường và Di Lạc Chân Kinh, nhờ đó chúng ta biết được nhiệm vụ và quyền hành của Đức Di Lạc Vương Phật: “Đức Phật A Di Đà đã giao cho Đức Di Lạc quyền Chưởng quản Cực Lạc Thế giới, thay mặt Lôi Âm Tự hiệp cùng Bạch Ngọc Kinh lập Tân Pháp cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Đức Di Lạc đang ngự nơi Hỗn Nguyên Thiên, thuộc từng Trời thứ mười một, nắm Pháp điều hành Càn Khôn thế giới. Đức Chí Tôn lập Đạo kỳ này để lập vị cho Đức Di Lạc cầm quyền Chưởng Giáo Đại Hội Long Hoa kỳ ba”. Trong những ngày Đại lễ Khai Đạo Cao Đài tại Thánh Thất tạm đặt tại Chùa Từ Lâm Tự Gò Kén, Tây Ninh, có trưng bày đôi câu đối do Đức Chí Tôn ban cho: Di Lạc thất bá thiên niên quảng khai Đại Đạo, Thích Ca nhị thập ngũ thế chung lập Thiền môn. Dịch nghĩa: Đức Phật Di Lạc 700.000 năm, rộng mở nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Phật Thích Ca 25 thế kỷ, chấm dứt việc lập nền Phật giáo. [ Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Việt Nam Tương tự như đạo Cao Đài, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương cũng là một đạo mới được thành lập tại Việt Nam. Qua quyển Sấm Giảng người đời, Sư Vãi Bán Khoai nói rằng: đời Hạ nguyên sắp mãn và thời gian rất gần sẽ khai diễn Hội Long Hoa. Ông Sư Vãi Bán Khoai cũng cho biết Hội Long Hoa được mở ra để chọn người hiền đức và lập đời Thượng nguyên vô cùng đẹp đẽ, một xã hội của người hiền, không còn kẻ ác, vì ở cuối đời Hạ nguyên đa số con người tội lỗi quá nhiều: Bởi Trần lỗi quá muôn phần, Cho nên lập Hội Long Hoa chọn người. Hiền từ thì đặng thảnh thơi, Nghênh ngang khó trốn lưới Trời bớ dân! Lưới hồng bủa khăp cõi trần, Chuyển luân Bát Quái còn trông nỗi gì? Hạ nguyên sau chót xét suy, Sự vong nào có khác chi sự tồn. “Hạ nguyên sau chót xét suy - Sự vong nào có khác chi sự tồn” câu thơ này Sư Vãi Bán Khoai nhấn mạnh đặc biệt sự hiện hữu của linh hồn sau khi chết, do vậy mỗi con người cần phải tu luyện. Ý nghĩa “Hạ nguyên sau chót xét suy” cũng không khác về “Ngày phán xét” trong tôn giáo cổ Ai Cập. Trong đàn cơ ngày 5 tháng 10, năm Kỷ Mùi (1979) tại Thiên Lý Bửu Tòa, San Jose, USA, đức Lý Thái Bạch Ðại Tiên có luận như sau: Lão: Thái Bạch Kim Tinh kiêm Giáo Tông Đại Đạo. Nay Lão xin sơ lược mấy lời diễn tả qua các nội dung của công cuộc Long Hoa Ðại Hội: Thời nhiệm ấy khởi đầu khai mạc từ Nhất ngoạt, Thập Ngũ nhật, Kỷ Mùi niên (15-1-1979). Cuộc Ðại Hội sẽ còn tiếp diễn đến Thập ngoạt, Thập Ngũ nhật, Giáp Tý niên (15-10-1985), tức là lục niên thời nhiệm hội. Kể từ khi Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Thiên Khai tức là Cao Ðài Ðại Ðạo Nam Phương Việt Nam sơ khai đúng vào Giáp Tý hiệu niên, tây lịch nhằm 1924, đến bây giờ đã ngũ thập lục (56) niên. Ðức Chí Tôn có dạy rằng: Mối Cao Ðài Ðại Ðạo Tam Kỳ khai môn độ thế. Vì đến cận thời kỳ Tam nguyên mạt hậu, đại hội Long Hoa sẽ diễn hành nhằm vào cuối thế kỷ XX tức là chu kỳ của mười ngàn (10.000) năm thế hệ. Mục đích cuộc Ðại Hội Long Hoa, tức là một cuộc phán đoán đại đồng của Ðức Chúa Trời trong tất cả toàn cõi từ vô vi lẫn hữu hình không riêng biệt. Chung qui từ ba ngàn thế giới, thất thập nhị địa tức là 72 cõi hành tinh và 36 cõi trời gọi chung là Bộ Châu Tứ Ðại. Ðặc quyền ngự trị tối đại một Ðấng Tối Cao quản cai toàn thể tức là một Ðấng Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế. ... Nhiệm kỳ khai diễn Ðại Hội Long Hoa trong vòng lục niên. Thời gian ấy chia thành 3 giai đoạn: 1) Giai đoạn thứ nhất: Gồm có nhị niên. Thời gian ấy dành cho Tam Giáo Thượng Tòa sắp xếp các công cuộc đặc trách về qui nguyên, khai đường phổ độ truyền Ðạo khẩn thiết để vớt cứu sinh linh cho kịp kỳ thế diệt. Dụng máy huyền vi hạ điển Tiên Thiên mầu nhiệm tận Cõi giới trung mà sáng soi mọi đường chân lý... ... Vì nay là thời kỳ Ðại Ân Xá, nếu người thế tục đã hiểu rành mà bồi công lập đức thì chẳng có gì hơn. Long Hoa Ðại Hội vốn là một cơ hội thi đức, thi công, một thời kỳ phán xét chung mảy lông không hề lọt. Sau khi phán xét xong có thưởng phạt rồi thì các bộ sổ đều xóa bỏ để lập lại cái mới. 2) Thời nhiệm thứ hai: Là thời nhiệm phán xét đến toàn Cõi giới trung, các bộ sổ vô vi khắp 12 cõi trung thiên và thưởng phạt đến cõi thế giới hữu hình địa cầu thứ 67 này, tức là cõi thế giới hiện tại giữa nhân vật cõi trần xã hội của nhân loại ngày nay. 3) Thời nhiệm thứ ba: Sẽ phán đoán đến 12 cõi Hạ Thiên Vương, Thập Ðiện Minh Vương khâm trình bộ sổ tại Cõi địa ngục từ nhiệm thời mười ngàn (10.000) năm đến nay. Sau khi cuộc phán đoán đã hoàn tất thì 10 cửa ngục môn sẽ bắt đầu bế tắc. Các linh hồn phạm tội sẽ bị đời đời khó mong giải thoát! Thượng Cổ lập đời mười ngàn (10.000) năm tương lai sẽ định kỳ cho thế hệ khác. Bát ngát niềm thương chốn biển trần, Ðoái nhìn cảnh tượng dĩ đồng thân. Tam Giáo chung nhà kỳ dựng thế, Phép mầu chuyển đạt bởi Thiên Ân. Thái Cực Hà Ðồ qui vạn pháp, Bát Môn trận địa triệt yêu thần. Thiên tướng vạn quân đồng trí thủ, Trùng trùng điệp điệp sắc tường vân. Vì quả địa cầu duy vật 68 này đến đây đã hết thời nhiệm. Kể từ ngày thời gian vật nhân sinh hóa sáng tạo đặng sự sống cho đến bây giờ, cộng sổ thời gian thì đã 12 muôn 9 ngàn 6 trăm mấy chục niên lẻ rồi (129.600), nên nhiệm thời tuần hoàn đã mãn cuộc. Thầy cũng đã ấn định từ thuở tiền khai rằng quả địa cầu 68 đến kỳ mạt thế sẽ không còn nơi cư ngụ. Ngày nay các con đã hiểu Ðạo biết Thầy, thì Thầy nỡ nào tai ngơ mắt lấp. Nếu xét tội nhơn loài thì khó nỗi vị tha, nhưng vì lòng bác ái nên Thầy phải chịu nhọc nhằn mà tận độ. Nhưng đạo làm người gồm những gì? Đức Phật Thầy Tây An cũng đồng với Phật mà nhận rằng, đạo làm người có bốn cái ân lớn cần phải làm cho tròn: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam Bảo Phật - Pháp - Tăng và ân đồng bào và nhân loại. Nếu bốn cái ân này mà làm không tròn thì khó mà tu luyện cho tròn Phật đạo. Nói thế không thể hiểu nên trọng phần Nhân đạo mà bỏ qua phần Phật đạo. Trong Đạo còn lưu truyền cho đến nay một bài thơ tiên tri của Đức Phật Thầy Tây An sáng tác, mà nhiều người được biết: Sửu Dần vốn thiệt hẳn hoi, Minh Vương khôi phục Hán Châu Phong thần, Hội mười tám nước tôn vương Đế Hoàng. Chọn người của Phật mến thương, Đặng giao mối nước cho Vương Minh Hoàng. Ngọc Hoàng phán rõ nguồn cơ, Minh Vương vốn thiệt là vua nhân từ. Bửu Ngọc Quân Minh Thiên Việt Nguyên. Sơn Trung Sư Mạng Địa Nam Tiền. Kỳ Niên Trạng Tái Tân Phục Quốc, Hương Xuất Trinh Sinh Tạo Nghiệp Yên. Bốn khổ thơ cuối thuộc loại "tung hoành dọc ngang", nghĩa là đọc bề dọc cũng có nghĩa mà đọc bề ngang cũng có nghĩa. Cứ theo chiều dọc đọc xuống, chúng ta sẽ có một bài thơ bảy câu bốn chữ: Bửu Sơn Kỳ Hương Ngọc Trung Niên Xuất Quân Sư Trạng Trình Minh Mạng Tái Sinh Thiên Địa Tân Tạo Việt Nam Phục Nghiệp, Nguyên Tiền Quốc Yên. Thánh nhân, Minh Quân hay Minh Vương có nghĩa là người lãnh đạo quốc gia rất sáng suốt. Sư Vãi Bán Khoai nói vị vua tương lai là Minh vương. Nội dung bài thơ nói về nước Việt Nam sẽ phục nghiệp của tổ tiên, đồng thời đây cũng là giai đoạn tân tạo của thiên địa nhân. Thánh nhân tức người có “Minh mạng” sẽ tái sinh. Phật giáo Hòa Hảo, Việt Nam Đức Huỳnh Giáo Chủ hay Đức Huỳnh Phú Sổ mở Đạo vào năm Kỷ Mão (1939). Trong vòng mấy mươi năm mà tôn giáo mới đã hấp dẫn một số tín đồ rất lớn ở các tỉnh miền Tây Việt Nam. Khi nói về “Ngày tận thế”, Đức Huỳnh Giáo Chủ mở đầu quyển Sấm Giảng khuyên Đời tu niệm của ngài như sau: Long Hoa Tiên Phật đáo ta bà, Lừa lọc con làng, diệt quỉ ma, Nếu mãi mê man mùi tục lụy, Linh hồn chìm đắm chôn Nê hà. Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng tuyên giảng hoàn toàn giống như những lời tiên tri của các tôn giáo mới tại Việt Nam rằng: Hội Long Hoa sẽ xuất hiện tại Việt Nam. Dự ngôn của các nhà tiên tri Bách Tự Minh Trong lịch sử Trung Quốc có khá nhiều tiên tri như Thôi bối đồ, Mã Tiền Khóa, Mai Hoa Thi, Bộ Hư Đại Sư Thi Văn... nhưng Bách Tự Minh (Bài minh văn một trăm chữ) rất chi tiết và ngắn gọn chính vì vậy Bách Tự Minh sẽ được nhận định trước so với các tiên tri khác, dưới đây là nguyên văn và giải nghĩa. Hình 1 Hình 2 Toàn văn bài giải được đọc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image003.gif file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image005.jpg Phiên âm: Đại Đạo bản vô nhai tế, Thị nhân dũ hảo dũ kỳ, Khả tri kim đan cửu chuyển, Chuyên vi lập tức huyền cơ. Kỷ cá hợp đồng hội thượng, Nhất tự bán điểm bất di, Đa thiểu dẫn chứng bằng xứ, Xứ xứ hữu nhân thị duy. Hệ thời lộng nhập khấu toán, Củng lai Phật tử hoàn Tây, Tứ diện bát phương trước nhãn, Cấn ly khôn đoài truyền tế. Tề khẩu cấp cấp mạc cải, Văn nhân dã bả đao đề, Thị nãi hoàn bích quy Triệu, Tẩu trước dương liễu thuỳ đê. Thổ mộc kim thuỷ hợp hoả, Bát bát cửu cửu quy tề, Hữu kết hồng thệ đại nguyện, Nguyên nhân tiếu tiếu hỷ hỷ. Đại Đạo bản vô nhai tế, thị nhân dũ hảo dũ kỳ - Đạo lớn vốn không có biên giới lằn mé, thị hiện cho con người thì quá tốt quá kỳ diệu: Đây là hai câu tán thán Đạo vốn là rất lớn, không có biên giới, vô cùng vôn tận. Truyền cho con người thấy được, thế là quá kỳ diệu quá tốt, rất là khó có cơ duyên được vậy. Khả tri kim đan cửu chuyển, chuyên vi lập tức huyền cơ - Có thể biết được đan vàng xuay chuyển chín [lần], chuyên vì để cho cơ [chế] huyền [bí]: Hai câu này nói về đặc điểm Cửu Thừa Đại Chuyển trong phương pháp luyện tập khí công Mật Tông, Đạo giáo, cùng có nền tảng như phương pháp Yoga của Bà La Môn giáo... Kỷ cá hội đồng hợp thượng, nhất tự bán tổng bất di - Trải qua mấy lần hội, một chữ nửa điểm cũng không thay đổi: Ý nghĩa của Đạo và nền tảng lý thuyết của các phương pháp tu luyện cũng phải có nguồn gốc của nó. Đa thiểu dẫn chứng bằng cứ, xứ xứ hữu nhân thị duy - Có biết bao nhiêu dẫn chứng bằng cớ, ở đâu cũng có người thị hiện: Câu này giải nghĩa then cho câu trên, lịch sử được ghi dấu ở khắp nơi như ở trong kinh sách, bia đá, truyền miệng... và ở bất cứ đâu cũng có tác giả hoặc những người đã san định các kinh sách, dữ liệu này nếu chúng ta tìm hiểu kỹ lịch sử. Hệ thời lộng nhập khấu toán, củng lai Phật tử hoàn Tây - [Dự] toán thời gian, hai mươi năm Phật tử trở về Tây: Đây là nói về việc xác định nguồn căn cũng đều phải quay trở về nghiên cứu lại kinh sách của Phật giáo, để tìm hiểu Đạo và các lý thuyết, phương pháp tu luyện. Tứ diện bát phương trước nhãn, Cấn Ly Khôn Đoài chuyển tế - Đặt mắt xét cả bốn mặt tám phương, chuyển đến Cấn Ly Khôn Đoài: Việc nghiên cứu phải xem xét tới khắp bốn phương tám hướng của lịch sử thế giới, trong quan hệ với bốn cung “Cấn, Ly, Khôn, Đoài” của học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, đây là nền tảng lý thuyết về quy luật vận động của vũ trụ, con người và xã hội. Tề khẩu cấp cấp mạc cải, văn nhân dã bả đao đề - Các cái miệng đều sốt sắng nhưng không thay đổi, văn nhân cũng rút đao ra: Sau khi xác định Đạo có nguồn cội từ đâu và Đạo là gì? Người sáng suốt nghe Đạo thì gắng sức mà thi hành, người bình thường nghe Đạo thì nửa tin nửa ngờ, người tăm tối nghe Đạo thì cười rộ lên. Nếu không cười thì Đạo đâu còn là Đạo nữa? (Đạo Đức Kinh). Hệ quả là gây nên một trận kịch chiến trên tuyền hình, truyền thanh, báo chí…, đến nỗi các văn sỹ cũng không tránh khỏi bút chiến. Thị nãi hoàn bích quy Triệu, tẩu trước dương liễu thùy đê - Rồi thì cũng trả ngọc bích về Triệu, đi đến bờ đê có hàng dương liễu rủ bóng: Cuối cùng tất cả cũng phải công nhận nguồn gốc của dữ liệu lịch sử và học thuyết Âm Dương Ngũ Hành là chuẩn mực, tình trạng này giống như câu thành ngữ “hoàn bích quy Triệu” nói về điển cố: Thời Xuân Thu Chiến Quốc nước Tề mạnh hơn nước Triệu, đã cưỡng đoạt bảo bối ngọc bích của Triệu nhưng về sau lại bị thua và trả lại. Điều này có nghĩa phải chấp nhận ai là chủ nhân đích thực của lịch sử và học thuyết cổ nói trên. Đồng thời, nói rõ đạo Phật chính là một đạo giúp con người thoát khổ và đạt được hạnh phúc viên mãn, dĩ nhiên tôn giáo cũng có nguồn cội của nó. “Đi đến bờ đê có hàng dương liễu rũ bóng” chính là ẩn dụ về hình tượng của Quan Âm Bồ Tát tay cầm nhành dương liễu và bình nước cam lộ độ cho những chúng sinh đang đau khổ, tình thương mới chính là tài sản quan trọng nhất. Quan Âm Ngư Lam Trích Mỹ thuật Trung Quốc, tác giả Patricia Bjaaland Welch file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image007.jpg Thổ mộc kim thuỷ hợp hỏa, bát bát cửu cửu quy tề - Thổ mộc kim thuỷ hợp hỏa, tám tám chín chín quy về một nơi: Đây là nói về phương pháp tu luyện khí công đạt đến trạng thái “Ngũ khí triều nguyên” của Đạo gia, tất cả đều quy về một mối hay hiểu là vũ trụ là một chỉnh thể duy nhất. Phương pháp tu luyện giúp mọi người đạt được trạng thái an lạc và tự mình mới giúp mình thoát khỏi luân hồi. Hữu kết hồng thệ đại nguyện, nguyên nhân tiếu tiếu hỷ hỷ - Đại thệ nguyện lớn đã kết, con người nguyên lai cười vui: Lịch sử cội nguồn và ý nghĩa của cuộc đời đã biết, lý thuyết, nội dung phương pháp tu luyện cũng đã có, tất cả mọi người đều cùng tư tưởng hòa chung với nhau trong một chân lý mới. Người truyền Pháp, người luyện Pháp, người đắc Pháp, cùng nhau thề nguyện đã xong, mọi người đều vui vẻ, cùng đại khai một “Kỷ nguyên mới” tức Kỷ nguyên Bảo Bình. Bài thơ này tương truyền là do một đạo sỹ tên là Huyền Diệu Đạo viết. Ông lấy một tấm giấy hồng ước khoảng 3 tấc, lấy bút viết theo lối chính Khải chữ nhỏ mà viết ra. Sau đó được chép trong một cuốn sách nhỏ tên là Dị Kinh Thể Chú. Cuốn sách này trải qua nhiều đời lưu lạc nhân gian, ngày nay tái xuất hiện. Tác giả của bài thơ này chỉ dùng 100 chữ mà đã khái quát được một quá trình biến đổi, mà lại dưới hình thức thi thơ như vậy, quả là xuất thần nhập hóa. Trong bài thơ có đề cập đến việc nhân loại sẽ tiến nhập vào chu kỳ mới, tương tự như các dự ngôn khác nhưng lại không đề cập đến vị Thánh nhân tương lai của nhân loại là ai, hay lúc nào sẽ xảy ra những hiện tượng tiên tri nêu trên. Tuy nhiên, tổng thể bài thơ chung kết vẫn đề cập đến giáo lý Phật giáo cùng các phương pháp tu luyện cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, triệt để trong việc tìm hiểu chân lý “ai cũng có Phật tính”. Thôi Bối Đồ Thôi Bối Đồ là cuốn sách sấm do quan Tư Thiên Giám Lý Thuần Phong và ẩn sĩ Viên Thiên Cang đồng biên soạn vào đầu những năm Trinh Quán của triều Đường (627-649), bao gồm 60 hình vẽ (đồ tượng), bản gốc phân thành quyển 1 (đến tượng 40) và quyển 2 (sau tượng 40). Mỗi bức hình ở dưới đều kèm theo “Sấm viết” và “Tụng viết” bằng thơ, dự ngôn tương lai, về các sự kiện trọng đại phát sinh. Trong dự ngôn này, chúng ta cũng chỉ nhận định một phần nội dung mà thôi (Tham khảo cuốn Thôi bối đồ, tác giả Lý Thuần Phong, Viên Thiên Cương, Nxb Hồng Bàng, 2012). Tượng 1 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Sấm viết: Mang mang Thiên Địa, Bất tri sở chỉ. Nhật nguyệt tuần hoàn, Chu nhi phục thủy. Trời Đất mênh mang, Không biết chốn dừng. Nhật nguyệt tuần hoàn, Xoay đi chuyển lại. Tụng viết: Tự tòng Bàn Cổ ngật hi di, Hổ đấu long tranh sự chính kỳ. Ngộ đắc tuần hoàn chân đế tại, Thí vu Đường hậu luận nguyên cơ. Từ thuở Bàn Cổ đến mãi khi, Long tranh hổ đấu sự thật kỳ. Ngộ được tuần hoàn chân lý tại, Thử từ Đường hậu luận nguyên cơ. Nội dung biểu đạt vũ trụ quan của quy luật vận động Âm Dương Ngũ Hành như sự vận động của tự nhiên như mặt trời, mặt trăng, cũng như của xã hội kể từ thuở khai thiên lập địa qua hình tượng ông Bàn Cổ trong câu truyện truyền thuyết Ông Bàn Cổ, dĩ nhiên cũng không thể tách rời câu truyền thuyết liên quan khác Nữ Oa vá trời. Từ đấy “Ngộ được tuần hoàn chân lý tại”, đây là căn cứ lý thuyết trên mà tác giả dùng để dự đoán tương lai bắt đầu từ triều Đường. Tượng 2 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.gif Sấm viết: Lũy lũy thạc quả Mạc minh kỳ số, Nhất quả nhất nhân Tức tân tức cố. Ỉu xìu quả lớn, Không rõ mấy số. Mỗi quả một nhân, Tức mới tức cổ. Tụng viết: Vạn vật thổ trung sinh, Nhị cửu tiên thành thật. Nhất thống định Trung Nguyên, Âm thịnh Dương tiên kiệt. Vạn vật sinh trong đất, Hai chín trước thành thật. Thống nhất định Trung Nguyên, Âm thịnh Dương kiệt trước. Hình tượng đĩa táo thể hiện sự sinh sôi vạn vật kể cả trên trái đất, ngụ ý từ khởi thủy vũ trụ là Thái Cực ứng với quả táo trên cùng và từ cổ cho tới nay đều như vậy. “Mỗi quả một nhân” hay mỗi con người đều có “Nhân Tâm” của mình. Đặc biệt, quả táo số 4 không thấy cuống tức “ẩn của độ số 4 cung Tốn tại trong Hậu Thiên Bát quái” tức cung Tốn Khôn bị đảo ngược (quả số 4 là bên trái bởi trái, trước là dương phải là âm, sau cho nên quả thứ 5 sẽ ở bên phải). “Hai chín” mang ý nghĩa quy luật vận động của 9 loại tương tác trong Huyền không phi tinh trên Cửu cung - tương tác từ vũ trụ tới trái đất. Giai đoạn này đang trong tình trạng Âm thịnh Dương suy tức phương Bắc thịnh phương Nam suy. Tượng thứ 40 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Sấm viết: Nhất nhị tam tứ, Vô thổ hữu chủ. Tiểu tiểu Thiên Cang, Thùy củng nhi trị. Một hai ba bốn, Không đất có chủ. Sao trời nhỏ bé, Rũ tay cũng trị. Tụng viết: Nhất khẩu đông lai khí thái kiêu, Cước hạ vô lữ thủ vô mao. Nhược phùng Mộc Tử băng sương hoán, Sinh ngã giả hầu tử ngã điêu. Nhất khí phương Đông thật quá mạnh, Chân không dày dép đầu không tóc. Nếu gặp Mộc Tử băng sương hết, Sinh ra là khỉ chết là điêu. Sự vận động của xã hội theo dòng lịch sử, các triều đại kế tiếp thay thế nhau. Khí tốt từ phương Đông quay trở về tức Thánh nhân phương Đông trở về, rũ tay trị nước. Mộc Tử có nghĩa là người con của Mặt Trời mang biểu tượng “Chân không có móng đầu không mao”, đó chính là hình tượng con “Rồng” - biểu tượng của một vị vua tái xuất hiện, sẽ làm rõ được chân lý của vũ trụ, giải thích được luân hồi trong sự sinh tử. Trong hình là ba tiểu đồng tử đến từ phương hướng khác nhau, biểu hiện cho “Tam giáo đồng nguyên” hay “Long Hoa Tam hội” của dự ngôn trong nhân gian. Tại đây sẽ hội tụ ba giáo chủ vĩ đại của Tam giáo. “Sinh ra là khỉ chết là điêu” sống là con người với cái tâm luôn thay đổi “mã ý tâm viên” và khi chết thì linh hồn giống như con chim bay. Tượng thứ 41 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Sấm viết: Thiên địa hối manh, Thảo mộc phồn thực. Âm Dương phản bối, Thượng thổ hạ nhật. Trời đất tối tăm, Cỏ cây tươi tốt. Âm Dương đảo chiều, Trời dưới đất trên. Tụng viết: Mạo Nhi tu đới huyết vô đầu, Thủ lộng càn khôn hà nhật hưu, Cửu thập cửu niên thành đại thác, Xưng vương chích hợp tại Tần Châu. Mũ cần phải đội, huyết không đầu, Bỡn cợt Càn Khôn đến khi nào. Chín mươi chín năm thành lỗi lớn, Xưng vương chỉ hợp tại Tần Châu. Trong đồ hình là một người đàn ông đang đạp chân lên một trái cầu thể hiện Âm Dương đảo chiều (ngược trở lại so với tượng thứ nhất của Thôi bối đồ), có nghĩa là tương tác tới trái đất chuyển qua pha khác, dẫn đến trạng thái con người, gia đình, xã hội, quốc gia… cũng phải có thay đổi. Hình ảnh này cũng tương tự hình ảnh con Kỳ Lân đặt chân lên trái cầu, Kỳ Lân là chúa của muôn loài và khi nó xuất hiện là điềm báo “thiên hạ thái bình”. Kỳ Lân Cổ vật bằng đồng, bảo tàng lịch sử Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Cuộc sống của đời người chỉ trong vòng 99 năm mà thôi, trời đất đều có quy tắc của riêng mình “Thiên la Địa võng”, do vậy sống phải tuân theo Đạo tức trên đầu phải biết có Trời đang theo dõi ta. Tần Châu thuộc tỉnh Cam Túc, Trung Quốc nhưng hàm ý nói rằng bất kỳ ai xưng vương bá chỉ hợp ở mỗi nơi mà thôi, còn Thánh nhân là “vua của các vua” mới là người được tôn sung trên toàn thế giới, chúng ta sẽ xét nội dung này trong các đồ hình tiếp theo. Tượng thứ 42 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpg Sấm viết: Mỹ nhân tự Tây lai, Triều trung nhật tiệm an. Trường cung tại địa, Nguy nhi bất nguy. Mỹ nhân đến từ Tây, Trong triều dần dần an. Cung dài dưới đất, Nguy mà không nguy. Tụng viết: Tây phương nữ tử Tỳ Bà tiên, Kiểu kiểu y thường sắc cánh tiên, Thử thời hồn tích cư triều thị, Nháo loạn quân thần bách vạn bàn. Cô gái phương Tây Tỳ Bà Tiên, Trang phục trắng muốt sắc càng duyên. Lúc này khuấy đục nơi triều chính, Náo loạn vua tôi trăm vạn đường. Mỹ nhân này chính là Hằng Nga trên cung trăng, con thỏ ngọc là thú cưng và có nhiệm vụ giã thuốc tiên cho Hằng Nga. Thuốc tiên và nhạc Thiên thay thế cho chiến tranh - biểu tượng cây cung đã bỏ lại dưới đất hay có thể hiểu rằng sự xuất hiện của Hằng Nga làm cho “Thiên hạ thái bình”. Như vậy Hằng Nga là ai? trong tôn giáo cổ Ai Cập đó là cũng nữ thần vĩ đại Isis, vợ của thần chết Osiris được tiên tri sẽ phục sinh, và trong một “sự tấn phong vĩ đại” như tiên tri của dân tộc Maya. Mặt khác, trong lịch sử Phật giáo có tám vị Phật, trong đó có một vị Phật tên là Tỳ Bà Thi Phật, phải chăng là ngài?“Lúc này khuấy đục nơi triều chính” đấy là lý do lịch sử Trung Quốc được xem xét lại, mọi người bàn tán náo loạn về nhân vật này. Tượng thứ 43 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Sấm viết: Quân phi quân, Thần phi thần. Thủy gian nguy, Chung khắc định. Vua không vua, Quan không quan. Khởi gian nguy, Chung cũng định. Tụng viết: Hắc thỏ tẩu nhập thanh long huyệt, Dục tận bất tận bất khả thuyết. Duy hữu ngoại biên căn thụ thượng, Tam thập niên trung tử tôn kết. Thỏ đen chạy vào huyệt Thanh long, Ý nghĩa đến vô cùng khó nói hết. Chỉ có bên ngoài trên cội gốc, Trong ba mươi năm con cháu kết. Trong đồ hình là một già một trẻ đang làm động tác trông giống như luyện khí công, phản ánh một phương pháp tu luyện để đạt đến những mục tiêu an định thân tâm, mọi người đều bình đẳng, không phân biệt. Để giải thích cội nguồn của phương pháp thì rất phức tạp, khó mà giải thích hết được, chỉ cần áp dụng đúng cách và phải có một ý chí sắt đá mà thôi. Trong số các Thiên Can thì Nhâm, Quý chỉ Thủy, Thủy chủ màu đen, Mão chỉ thỏ. “Hắc thỏ” rõ ràng là chỉ năm Quý Mão. “Thỏ đen chạy vào huyệt Thanh Long”, ở đây Đông phương thuộc vào Thanh Long, lại làm chủ mùa xuân. Như vậy, tác giả nói về chu kỳ kết thúc của cung Song Ngư và điểm xuân phân đi vào cung Bảo Bình, thì sẽ xuất hiện Thánh nhân. Nếu theo tượng 42 trên, Thánh nhân cũng có thể là một người nữ. “Trong ba mươi năm con cháu kết”, con cháu của Thánh nhân sẽ có một tương lai tươi sáng. Tượng thứ 44 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpg Sấm viết: Nhật nguyệt lệ thiên, Quần âm nhiếp phục. Bách linh lai triều, Song vũ tứ túc. Nhật Nguyệt tươi đẹp, Quần Âm khuất phục. Sơn ca về triều, Đôi cánh sung túc. Tụng viết: Trung Quốc nhi kim hữu Thánh nhân, Tuy phi hào kiệt dã chu thành. Tứ Di trọng dịch xưng Thiên Tử, Phủ cực thái lai cửu quốc Xuân. Trung Quốc ngày nay có Thánh nhân, Dẫu không hào kiệt cũng chu toàn. Tứ Di nhìn lại xưng Thiên Tử, Khổ tận cam lai nước mãi xuân. Trời Đất hòa hợp, chân lý tối thượng của cuộc sống xuất hiện, bắt buộc con người với những mưu mô cũng sẽ phải thay đổi mà thôi, không còn con đường nào khác. “Sơn ca về triều” mang ý nghĩa như tượng 42 trên. “Trung Quốc ngày nay có Thánh nhân” Thánh nhân xuất hiện Trung Quốc? Tuy nhiên câu sau “Dẫu không hào kiệt cũng chu toàn” chứng tỏ còn có những Thánh nhân khác nữa nhưng các ngài hiện diện ở đâu? Bốn phương khắp nơi đến triều kiến và tôn suy. Đất nước của ngài đã chịu nhiều khổ đau, nhiều lúc đến tận cùng của sự hủy diệt trong suốt chiều dài lịch sử, và sẽ trở lại huy hoàng như ngày xưa, mùa xuân mãi ngự nơi đây. Tượng 57 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Sấm viết: Vật cực tất phản, Dĩ độc công độc. Tam xích đồng tử, Tứ di giai phục. Vật cực tất phản, Lấy độc trị độc. Đồng tử ba thước, Tứ Di đều phục. Tụng viết: Khảm Ly tương khắc kiến thiên nghê, Thiên sứ tư nhân nhị sát cơ. Bất tín kỳ tài sản Ngô Việt, Trùng dương tòng thử tức binh sư. Khảm Ly tương khắc thấy mối trời, Trời phái người này dẹp sát cơ. Không tin tài ấy từ Ngô Việt, Biển cả từ đó ngừng binh cơ. Quy luật vận động và phát triển xã hội hết thăng rồi lại giáng, khi đến cùng cực thì lại thái lai, chỉ khi nhận biết được sự tương khắc và hòa hợp của Âm Dương thì mới hiểu rõ được quy luật của Đất Trời. Thánh nhân sẽ hiện ra từ nước Ngô, Việt, chân lý cuộc đời sáng tỏ và lúc này những cuộc chiến tranh trên thế giới sẽ phải ngừng lại “Cứu khổ cứu nạn duy chỉ có Thánh nhân” bởi tất cả chỉ là hữu hạn trên thế gian, trong khi đó chúng ta lại mong cầu hạnh phúc vô hạn trên những thứ ngắn hạn?. Tượng 58 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpg Sấm viết: Đại loạn bình, Tứ di phục. Xưng huynh đệ, Lục thất quốc. Đại loạn bình, Tứ di phục. Xưng huynh đệ, Sáu Bảy nước. Tụng viết: Phong yên tịnh tận hải vô ba, Thống Đế thống Vương hựu thống hòa. Do hữu sát tinh ẩn Tây Bắc, Vị năng biến xướng thái bình ca. Khói lửa tiêu tan biển không cồn, Thống Đế thống Vương lại thống Hòa. Do có sát tinh ẩn Tây Bắc, Chưa thể hát lớn thái bình ca. Sấm nói đã tương đối minh bạch, sau khi đại loạn được dẹp rồi, thiên hạ thái bình. “Xưng huynh đệ, Lục Thất quốc” nghĩa là phương Bắc và phương Nam đều là anh em, Sáu là độ số phương Bắc và bảy là độ số phương Nam trên Hậu thiên Bát quái. Mở rộng ra câu nói của dân gian “Giang hồ bốn biển đều là anh em” hay tất cả các dân tộc trên thế giới đều có chung nguồn gốc. Bởi vì cuộc chiến có lẽ liên quan đến lịch sử, tín ngưỡng, cho nên còn chưa thể thống nhất chung về “Chân lý” hoặc “vua của các vua”. “Do có Sát Tinh ẩn Tây Bắc, Chưa thể hát lớn thái bình ca” đây quả thực là sự việc vô cùng đáng tiếc, có lẽ cần thêm thời gian nhưng rất ngắn thôi. “Khói lửa sạch trơn biển không òa, Thống Đế thống Vương lại thống Hòa”, hiện nay trên thế gian có ai có được năng lực và trí tuệ lớn như vậy! Chỉ có duy nhất Thánh nhân, kỳ thực điều này sẽ được gợi ý rõ hơn ở Tượng sau. Tượng 59 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image022.jpg Sấm viết: Vô thành vô phủ, Vô nhĩ vô ngã. Thiên hạ nhất gia, Trị trăn đại hóa. Không thành không phủ, Không bạn không tôi. Thiên hạ một nhà, Đến thời đại trị. Tụng viết: Nhất nhân vĩ đại thế giới phúc, Thủ chấp thiêm đồng bạt khứ trúc. Hồng hoàng hắc bạch bất phân minh, Đông Nam Tây Bắc tận hòa mục. Một người vĩ đại thế giới phúc, Tay nắm ống trúc rút thẻ xăm. Đỏ vàng đen trắng không phân biệt, Đông Nam Tây Bắc được hòa đồng. Thiên hạ đều có cùng một nguồn cội, không còn phân biệt nữa, bởi cuộc đua tranh rồi cũng phải chấm dứt, bởi hoàn toàn là hữu hạn trong thân xác như các tượng trước đã nói, vậy thì quyền lực, địa vị hay cái gì là “của” chúng ta mãi mãi? Thánh nhân ra đời sẽ đưa chúng ta đi trên một con đường chân lý, đạt được sự an lạc viên mãn trong cuộc đời, nhân loại bước vào kỷ nguyên mới với Tân Thiên Địa. “Tay nắm ống trúc rút thẻ xăm”, câu này hàm ý sự việc đã được sắp đặt để tiên tri cho hàng ngàn năm sau, điều này cũng có nghĩa là sự vận động của vũ trụ là có quy luật, xã hội con người cũng vậy, cũng phải tiến tới “đại đồng” trong tương lai “Đỏ vàng đen trắng không phân minh, Đông Nam Tây Bắc đều hòa thuận”, là chỉ không phân nhân chủng, không phân khu vực, thiên hạ một nhà. Tượng thứ 60 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image024.jpg Sấm viết: Nhất Âm nhất Dương, Vô chung vô thủy. Chung giả nhật chung, Thủy giả tự thủy. Một Âm một Dương, Không cuối không đầu. Người cuối ngày cuối, Người đầu từ đầu. Tụng viết: Mang mang thiên số thử trung cầu, Thế Đạo hưng suy bất tự do. Vạn vạn thiên thiên thuyết bất tận, Bất như thôi bối khứ quy hưu. Số trời mênh mang khó truy cầu, Thế Đạo thịnh suy chẳng tự do. Muôn vạn lời nói cũng không hết, Chi bằng đẩy lưng về nghỉ ngơi. Đây đã là Tượng cuối cùng của Thôi Bối Đồ, ngôn ngữ mộc mạc sáng tỏ, mà ngụ ý lại thâm sâu. Trời Đất là vĩnh hằng, chưa chắc đã do mỗi sinh mệnh tự mình lựa chọn, mà phải sống phù hợp theo những quy tắc của nhân luân, của đất trời. Các sự tình trên thế gian con người đều là số Trời, không phải tùy theo ý nguyện con người mà cải biến, thế Đạo hưng suy đều đã an bài, đều có nguyên do trong đó, thật sự khó mà nói rõ được. Trong đồ hình là một người đẩy lưng người kia, ấy là tác giả có ngụ ý sâu xa trong đó, mỗi người phải tự chính mình đi tìm hiểu sự thật của Đạo, không ai có thể giúp bạn giải thoát ngoài chính bạn, các vị thầy hay chân sư chỉ là những người hướng đạo và dìu dắt mà thôi. Mã Tiền Khóa Gia Cát Lượng (181-234), tự Khổng Minh, là quân sư của Lưu Bị thời Tam Quốc, sau khi Lưu Bị xưng Đế ông trở thành Thừa tướng nhà Thục Hán. Tương truyền Gia Cát Lượng trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, dụng binh như thần “ngồi trong trướng bày mưu tính kế, quyết thắng ngoài ngàn dặm”. Trên thực tế, Gia Cát Lượng chẳng những tinh thông binh pháp, biết dùng Dịch lý để giải thích và quan sát thiên tượng, tức là có khả năng quan sát những biến hóa của thời gian, không gian trong một phạm vi rộng. Ngoài ra, ông còn có khả năng xem tướng như ngay lần đầu tiên gặp Ngụy Diên, Gia Cát Lượng đã biết trước người này tất sẽ tạo phản, sau này Ngụy Diên quả nhiên phản bội sau khi ông bệnh chết, tuy nhiên ông đã sớm chuẩn bị cẩm nang, dặn dò Đại tướng Mã Đại đem Ngụy Diên đi chém. Gia Cát Lượng 6 lần ra Kỳ Sơn không thành công, ông đã sớm biết nhà Thục Hán rốt cuộc không thể thống nhất đại nghiệp, biết không thể làm mà vẫn làm, biết trước sứ mệnh của mình không thể thay đổi được lịch sử. Dự ngôn Mã Tiền Khóa (Quẻ bói gieo trước ngựa) là do Thừa tướng Gia Cát Lượng nhà Thục Hán thời Tam Quốc sáng tác. Tương truyền Gia Cát Lượng vào lúc nhàn hạ trong quân ngũ đã sáng tác Mã Tiền Khóa, đây là bài tiên tri dự đoán những đại sự trong thiên hạ, tổng cộng có 14 khóa. Lời chú của Thủ Nguyên, lão tăng 86 tuổi ở núi Bạch Hạc:“Mã Tiền Khóa là tác phẩm Khổng Minh soạn ra lúc nhàn hạ ở trong quân, chỉ ra phương hướng cho hậu nhân. 14 khóa trong Mã Tiền Khóa có sách sắp xếp riêng, mỗi khóa chỉ một triều đại. Đạo trời tuần hoàn, người biết tự biết, người mê tự mê, kỳ diệu lắm thay.”. Thủ Nguyên giải đến Khóa 9, cuối cùng là một câu như thế này:“Lão tăng sinh vào những năm Gia Khánh, năm nay đã 86 tuổi, mấy câu sau này không dám nói bừa.”. Khóa 1 Trung Hạ Vô lực hồi thiên, Cúc cung tận tụy. Âm cư Dương phất, Bát thiên nữ quỷ. Không sức đổi Trời, Còng mình gắng sức. Âm ngừng Dương phất, Tám ngàn nữ quỷ. Quy luật trời đất là không thể chuyển đời được, sự kiện Gia Cát Lượng lập đàn Thất Tinh cầu sống thêm vài tuổi nhưng cũng không tránh khỏi số mệnh đã sắp đặt. Khóa 2 Trung Hạ Hỏa thượng hữu hỏa, Quang chúc Trung Thổ. Xưng danh bất chính, Giang Đông hữu hổ. Trên lửa có lửa, Rọi sáng Trung Thổ. Xưng danh bất chính, Giang Đông có Hổ. Ở đâu cũng có anh hùng, người này giỏi còn có người khác giỏi hơn “cao nhân tất hữu cao nhân trị”. Vùng Giang Đông có “Hổ” tức có nhân tài. Khóa 3 Hạ Hạ Nhiễu nhiễu Trung Nguyên, Sơn hà vô chủ. Nhị tam kỳ vị, Dương chung Mã thủy. Rối loạn Trung Nguyên, Non sông không chủ. Hai ba vị ấy, Dê chết Ngựa chạy. Lịch sử Trung Nguyên thay đổi liên tục, non sông không biết được nguồn gốc của mình. Dê cung Tốn, Ngựa cung Khôn đã bị đảo vị trí trên Hậu Thiên Bát quái. Nếu đảo ngược lại để trở về vị trí nguyên thủy, sẽ phát sinh sự kiện. Khóa 4 Trung Thượng Thập bát nam nhi, Khởi vu Thái Nguyên. Động tắc đắc giải, Nhật Nguyệt lệ thiên. Mười tám nam nhi, Khởi tại Thái Nguyên. Động ắt được giải, Nhật Nguyệt tươi đẹp. Thập bát tử” (十八子) hợp thành một chữ “Lý” (李), giống như các bài sấm thì “Lý” ám chỉ vị Thánh nhân sẽ xuất hiện. Thái Nguyên cũng một địa chí của Trung Quốc và Việt Nam. Tuy nhiên, 18 nam nhi cũng có lẽ được gơi ý là 18 vua Hùng Vương của nước Văn Lang, nằm bờ Nam sông Dương Tử. Khi mật mã được giải (động), thì là lúc Thánh nhân ra mặt, mặt trời mặt trăng tỏa ánh sáng rực rỡ. Khóa 11 Trung Hạ Tứ môn sạ tích, Đột như kỳ lai. Thần kê nhất thanh, Kỳ đạo đại suy. Bốn cửa mở toang, Thình lình đột ngột. Tiếng gà gáy sớm, Đạo này đại suy. Tốn Khôn đổi chỗ, thuyết Âm Dương Ngũ Hành như là “Pháp đại uy nỗ” - quy luật bao trùm, như một tiếng gà gáy sớm báo hiệu bình minh, lúc này sẽ có những quan điểm, triết lý lâu đời của các tôn giáo sẽ bị phá hủy do không còn phù hợp. Khóa 12 Thượng Trung Chửng hoạn cứu nan, Thị duy Thánh nhân. Dương phục nhi trị, Hối cực sinh minh. Cứu họa cứu nạn, Duy có Thánh nhân. Dương phục mà trị, Đêm hết ngày rạng. Thánh nhân xuất hiện cứu họa muôn phương, thời mạt pháp đã được chỉnh sửa như đêm tối trở rạng Đông. Chu kỳ chuyển từ cung Song Ngư sang cung Bảo Bình (Tý) tương ứng quẻ “Phục”. Khóa 13 Thượng Trung Hiền bất di dã, Thiên hạ nhất gia. Vô danh vô đức, Quang diệu Trung Hoa. Hiền không rơi mất, Thiên hạ một nhà. Không danh không đức, Chói lọi Trung Hoa. Như người ta thường nói, tiến về thịnh thế, chính là cảnh tượng tân thế kỷ. Sau khi trải qua bài học giáo huấn nghiêm khắc trong lịch sử này, đạo đức nhân loại khắp nơi thăng tiến, con người không còn mưu tính lẫn nhau nữa, mà yêu thương lẫn nhau. Câu tiếp “Vô danh vô đức” là nói con người đều hành thiện xuất phát từ nội tâm, yêu thương, tin tưởng lẫn nhau, không còn vì danh lợi ích kỷ nữa. “Quang diệu Trung Hoa” là nói Thánh nhân chói sáng cả Trung Hoa, thiên hạ cùng một nhà, hiền không rơi mất, vạn vật tân sinh, văn hóa vì thế mà hưng thịnh. Khóa 14 Trung Hạ Chiêm đắc thử khóa, Dịch số nãi chung. Tiền cổ hậu kim, Kỳ Đạo vô cùng. Bói được quẻ này, Dịch số đã hết. Trước cũ sau mới, Đạo ấy vô cùng. Khóa này nói rằng, xem bói bốc được quẻ này, dự ngôn đã đến chỗ kết thúc rồi. Đều cùng một ý, nói rằng hết thảy đều có định số, đều có an bài. “Trước cũ sau mới”, ấy là Đạo bất biến, là phép tắc vĩnh viễn không thay đổi của vũ trụ, vậy mới viết rằng “Trước cũ sau mới, Đạo ấy vô cùng”. Tam giáo đồng nguyên mới thấy rõ Đạo, và hội tụ vào Thiên Đạo từ thượng cổ do Ngọc Hoàng Thượng Đế lập ra, nay lại trở về. Tại Việt Nam, hơn 80 năm trước, Ngọc Hoàng Thượng Đế sáng lập ra một đạo mới có tên Cao Đài, dựa trên nền tảng các học thuyết Tam Giáo, với biểu tượng là con mắt trái - đây cũng là biểu tượng của thần mặt trời Ra trong tôn giáo cổ của Ai Cập. Dự ngôn của Bộ Hư đại sư triều Tùy Bộ Hư Đại sư dự ngôn thi là do một vị cư sĩ Phật gia sống vào những năm Quang Tự triều Thanh vô tình có được tại chùa Sơn Bích ở Tây Sơn, Bắc Kinh. Dự ngôn này kết thúc bằng một đoạn miêu tả thời thái bình thịnh thế. Thơ rằng: Tích nhân Tùy loạn thái Bồ Đề Ngộ nhập Thiên Đài thạch bảo tây Triêu ẩm lưu hà thả chỉ khát Dạ xan ngọc lộ lược sung cơ Diện bích cửu niên thùy Đại Đạo Chỉ đạn thập đại hoán tân nghi Dục ngã tích đồ đồ ngộ ngã Thiên cơ nan tiết tiết thiền cơ. Bởi rằng Tùy loạn chọn Bồ Đề Lỡ đến Thiên Đài thạch bảo tây Sớm uống mây bay thời giải khát Đêm ăn sương ngọc đỡ đói lòng Quay mặt chín năm theo Đạo lớn Chỉ đạn mười đời hoán tân nghi Ta trước lỡ lầm đường dục vọng Cơ Trời khó tỏ rõ cơ thiền. Trong thơ trước tiên thuật lại nhân duyên đắc Đạo của Bộ Hư Đại sư, ông là đại tướng triều Tùy, bởi thương cảm thiên hạ mê loạn, việc nước hoang phế, nên đã lên núi Thiên Đài tu Đạo, bước vào cửa Phật cầu thánh quả Bồ Đề. “Quay mặt chín năm theo Đạo lớn”, là chỉ quá trình tu Đạo khắc khổ ấy, noi theo Đạt Ma Tổ sư quay mặt vào vách chín năm, cuối cùng đắc Đạo, tác giả muốn chỉ rõ con đường Đạo, và rằng ông cũng từng mê lầm. Thiên cơ không thể tiết lộ, do vậy ông mới dùng thơ thiền để điểm lộ những huyền cơ ấy. Bồ Đề Đạt Ma Tranh tham khảo Internet file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Đoạn thứ mười một: Cái quan định Công tội phân Mang mang hải vũ kiến thừa bình Bách niên đại sự hồn như mộng Nam triều kim phấn thái bình xuân Vạn lý sơn hà xứ xứ thanh. Đậy nắp hòm, Công tội phân. Mênh mang hải vũ gặp thái bình, Trăm năm đại sự hồn như mộng. Nam triều kim phấn thái bình xuân, Non sông vạn dặm xứ xứ thanh. “Đậy nắp hòm, công tội phân” ý nghĩa tương tự như trong Tử thư Ai Cập, mỗi con người phải trải qua Ngày phán xét. “Mang mang hải vũ kiến thừa bình”, là nói trong cuộc đại thẩm phán thế kỷ vô tiền khoáng hậu này, thế giới tiến nhập vào thời kỳ thái bình thịnh thế, Đạo xưa quay lại chỉ rõ con đường, khắp nơi ca khúc thanh bình, về điểm này nhiều dự ngôn khác cũng giảng hoàn toàn tương đồng. “Bách niên đại sự hồn như mộng”, trăm năm đời người có khác gì một giấc mộng đâu. “Nam triều kim phấn thái bình xuân, Vạn lý sơn hà xứ xứ thanh”, Nam triều làm trung tâm cho thời thái bình thịnh thế, non sông vạn dặm sau khi trải qua trường kiếp nạn này sẽ lại khôi phục cảnh tượng thanh bình. Nam triều ở đâu là một câu hỏi lớn? Đoạn thứ mười hai Thế vũ tam phân Hữu Thánh nhân xuất Huyền sắc kỳ quan Long trương kỳ phục Thiên Địa phục minh Xử trị vạn vật Tứ hải âu ca Ấm thụ kỳ phúc. Thế giới chia ba, Có Thánh nhân xuất. Đội mũ huyền sắc, Trang phục rồng bay. Thiên Địa phục minh, Sửa trị vạn vật. Bốn biển ngợi ca, Đắm trong hạnh phúc. “Thế giới chia ba” là chỉ Thiên Địa Nhân. “Có Thánh nhân xuất” là nói có Thánh nhân xuất hiện, giáo hóa chúng sinh. “Đội mũ huyền sắc - Trang phục rồng bay”, Thánh với biểu tượng phương Bắc, y phục màu vàng thêu hình Rồng, lời ấy nói rằng Thánh nhân là con Rồng Thiêng. “Thiên Địa phục minh - Sửa trị vạn vật - Bốn biển ngợi ca - Đắm trong hạnh phúc”, là nói đến lúc ấy Trời Đất chuyển từ âm u sang cảnh thanh minh, Thánh nhân làm mới lại vạn vật, sửa trị giáo hóa, làm cho bốn phương hạnh phúc. Mai Hoa Thi Để hiểu được Mai Hoa Thi, thì không thể không tìm hiểu về kỳ nhân Thiệu Ung. Thiệu Ung, tự Nghiêu Phu, hiệu Khang Tiết (1011-1077). Thuở thiếu thời, Thiệu Ung đã ôm ấp chí lớn, không có sách nào là chưa đọc. Sau đó, để tăng cường kiến thức, ông còn du học tứ phương, sau khi trở về, ông nói “Đạo là đây rồi” và sau đó không vân du nữa. Thiệu Ung lưu lại hậu thế một dự ngôn Mai Hoa Thi, tiên tri về những diễn biến lịch sử trọng đại sau khi ông mất. Toàn bộ bài thơ có thể được chia làm 10 tiết nhỏ: Tiết 1 Đãng đãng thiên môn vạn cổ khai, Kỷ nhân quy khứ kỷ nhân lai. Sơn hà tuy hảo phi hoàn bích, Bất tín Hoàng Kim thị họa thai. Dần từ vạn cổ cổng trời khai mở, Hỏi mấy người đến mấy người trở về. Non sông tuy đẹp mà không toàn vẹn, Không tin Hoàng Kim là mầm tai họa. Cánh cổng thông lên bầu trời mênh mang từ vạn cổ nay đã khai mở lần đầu tiên. Biết bao người đã đến nhân gian, biết bao người có thể quay về? Tuy nhiên, hai câu này thực sự là chỉ điều gì? “Hoàng Kim” chính là “Đạo” - được các Thánh nhân truyền ra cho nhân loại, nhưng từ cổ chí kim mấy người đã hiểu Đạo và đắc Đạo? Dù là vua chúa ngự trên ngai vàng chỉ qua như là như bóng chớp trong đêm, tưởng non sông là “của Ta” nhưng đâu phải vậy, huống cho là người bình thường. Tần Thủy Hoàng là mộ ví dụ điển hình, lên ngôi Đế Vương nhưng cũng phải đi tìm tiên nhưng cuối cùng cũng phải chết trên đường trở về mà không thu hoạch được gì cả. Tiết 8 Như kỳ thế sự cục sơ tàn, Cộng tề hòa trung khước đại nạn. Báo tử do lưu bì nhất tập, Tối giai thu sắc tại Trường An. Như ván cờ mới rơi vào thế tàn, Đồng lòng giúp nhau nhưng gặp đại nạn. Con báo chết còn lưu lại bộ da, Sắc thu đẹp nhất ở tại Trường An. “Như ván cờ mới rơi vào thế tàn - Đồng lòng giúp nhau nhưng gặp đại nạn”, đại ý là cuộc đời mỗi con người, mỗi xã hội, mỗi quốc gia, thậm chí cục diện toàn thế giới cũng tựa như một ván cờ vậy: Bàn cờ là đất, quân là Trời, Tạo hóa Âm Dương thật tuyệt vời, Đến chỗ huyền vi thông biến ấy, Lạn Kha kinh ấy cũng trò chơi. Trích từ cuốn Tây Du Ký, tác giả Trần Nhân Tông. “Con báo chết còn lưu lại bộ da” người xưa để lại kinh sách giúp con con người thông tỏ Đạo, lưu truyền vạn đại, tên tuổi muôn năm giống như hình ảnh con báo chết rồi nhưng vẫn còn lưu lại bộ da. “Sắc thu đẹp nhất ở tại Trường An” Trường An là kinh đô thời nhà Đường, Trung Quốc mà Trường An cũng là kinh đô của vua Đinh Tiên Hoàng tại thành Hoa Lư, Ninh Bình, Việt Nam. Trong lịch sử, kinh đô Thăng Long cũng có tên Trường An. “Sắc thu đẹp nhất ở tại Trường An” mùa thu ứng với Tết Trùng Cửu hàm ý mãi mãi, trường tồn. Tiết 9 Hỏa long trập khởi Yên Môn thu, Nguyên bích ưng nạn Triệu thị thu. Nhất viện kỳ hoa xuân hữu chủ, Liên tiêu phong vũ bất tu sầu. Rồng lửa khởi đau buồn từ Yên Môn, Nguyên Bích chịu nạn, nhà Triệu thu về. Một vườn hoa đẹp diệu kỳ, mùa xuân có chủ, Mưa gió suốt đêm không phải lo sầu. “Rồng lửa khởi đau buồn từ Yên Môn”: Rồng đỏ hay có thể hiểu là con Rồng phương Nam, đã chụ quá nhiều đau khổ rồi sẽ tới hồi thái lai. “Trập khởi” cũng mang nghĩa con Rồng đỏ sau cơn ngủ Đông mà tỉnh dậy. “Nguyên bích chịu nạn, nhà Triệu thu về” nói về điển cố ngọc quý của nhà Triệu như đã viết ở trên, mùa xuân đã có chủ tức Thánh nhân xuất hiện như mùa xuân đến cho muôn loài, giúp cho thông hiểu Đạo thì còn sợ gì nữa? “Mưa gió suốt đêm không còn phải lo sầu”. Tiết 10 Số điểm mai hoa thiên địa xuân, Dục tướng Bác Phục vấn tiền nhân. Hoàn trung tự hữu thừa bình nhật, Tứ hải vi gia thục chủ tân. Số điểm hoa mai trời đất là xuân, Muốn biết Bác Phục hỏi nguyên nhân xưa. Trong hoàn vũ tự hưởng ngày thái bình, Bốn biển là nhà hỏi ai chủ khách. “Số điểm hoa mai trời đất là xuân” câu này chính là dụng bút theo kiểu “vẽ rồng điểm mắt”, làm nổi bật nét chính, tên bài thơ chính lấy từ câu này, do vậy mới gọi là “Mai Hoa Thi”. Kinh qua mùa Đông giá rét, vạn vật trỗi dậy đón mùa xuân đến, đây chính là thời khắc Chính Pháp truyền khắp thế gian. Tới đây, hai câu đầu tiên “Dần từ vạn cổ cổng trời khai mở - Hỏi mấy người đến mấy người trở về” vậy là đã rõ. Trên thế giới, vô luận là tu luyện môn nào, Đạo từ phương Đông truyền ra (Dần biểu tượng phương Đông), rao giảng con người đến từ Thiên Thượng, bởi vậy mục đích tu luyện chính là phản bổn quy chân, trở về Thiên quốc. Lịch sử toàn nhân loại đã được an bài cho lần hồng truyền Đại Pháp này. Tuy nhiên, bao nhiêu người đã tới đây để chờ đợi Pháp, bao nhiêu người có thể đắc Pháp để viên mãn? Vở kịch lớn này vẫn còn đang diễn ra sôi nổi trên địa cầu, trong đó mỗi cá nhân chúng ta vừa là khán giả, vừa là diễn viên. “Muốn biết Bác Phục hỏi nguyên nhân xưa” Bác, Phục là tên hai quẻ trong Kinh Dịch. Bác cực tất Phục cũng là chỉ “Vật cực tất phản”. Lịch sử tựa như chuyển luân, có nhân trước tất có quả sau. “Muốn biết Bác Phục hỏi nguyên nhân xưa” cũng là hỏi rằng sự tuần hoàn vãng phục của lịch sử này rốt cuộc là vì điều gì? “Trong hoàn vũ tự hưởng ngày thái bình” có ý là trong cõi hoàn vũ bát ngát bao la này tự nhiên thừa hưởng ngày thái bình là có nguyên nhân cội rễ của nó. “Bốn biển là nhà hỏi ai chủ khách” Thánh nhân bước ra truyền Pháp, bốn biển là nhà không phân biệt màu da, sắc tộc. Nửa câu sau “hỏi ai chủ khách” là muốn hỏi: Trong vũ đài lịch sử của nhân loại này, ai là vai chính, ai là vai phụ? Chẳng phải hết thảy đều theo kịch bản sớm được định trước mà diễn hay sao? Văn minh nhân loại lần này chính là vì sự hồng truyền của Đại Pháp vũ trụ mà được tạo ra, vì Đại Pháp mà khai sáng. Đây cũng chính là chủ đề của toàn bộ dự ngôn Mai Hoa Thi (tham khảo và trích dẫn từ trang website chanhkien.org). Hoàng Bá thiền sư thi Hoàng Bá thiền sư thi là bài thơ 14 đoạn do một vị cao tăng tên là Hoàng Bá sống vào thời nhà Đường sáng tác, tuy nhiên dự ngôn của ông lại bắt đầu từ triều Minh, chứ không phải từ triều Đường. Liệu dự ngôn nguyên gốc của ông có đúng như vậy hay không? Dù sao đi nữa, chúng ta hãy nhận định một phần lời tiên tri của ông. Nhất: Nhật nguyệt lạc thời giang hải bế, Thanh viên tương ngộ phán hưng vong. Bát ngưu vận hướng Điền Kiềm tận, Nhị cửu đan thành kim cốc ang. Nhật nguyệt thời suy sông biển bế, Vượn xanh gặp gỡ phán hưng vong. Tám trâu vận tới Điền Kiềm hết, Hai chín thành đan trữ lúa vàng. “Nhật nguyệt thời suy sông biển bế” hàm ý chúng ta đang sống trong thời kỳ mạt pháp, chỉ khi “Vượn” tức cung Tốn trong Hậu Thiên Bát quái, được nhận biết sai lạc độ số với cung Khôn, thì mới phát sinh sự kiện, tuy nhiên cũng hàm ý phương Tây tức cõi tịnh độ của Phật A Di Đà. “Tám trâu vận tới Điền Kiềm hết” tức chu kỳ vận động tương tác thay đổi, “tám” độ số cung Cấn, phương Đông hay hiểu rằng Đại Đạo xuất hiện – Thánh nhân xuất hiện. “Hai chín thành đan trữ lúa vàng” nói về quy luật tương tác từ vũ trụ tới như Huyền không phi tinh, bổ sung ý nghĩa câu trước. Mặt khác, đây cũng chỉ đến phương pháp tu luyện Đại thừa cửu chuyển của thiền và khí công của Phật giáo, Đạo giáo. Tứ: Càn quái chiêm lai cảnh vận Long, Nhất bàn lục giáp tổ tôn đồng. Ngoại nhướng sơ độ trù biên sách, Nội thiền vô tàm thái cổ phong. Quẻ Càn bói được cảnh vận Long, Giống như lục giáp ông cháu đồng. Bài ngoại ngày sinh trù quyết sách, Trong Thiền không thẹn với cổ phong. Tác giả bói quẻ Càn tốt nhất trong các quẻ, thời kỳ hợp hội Thiên Địa Nhân “Giống như lục giáp ông cháu đồng” và phương pháp Thiền là phương pháp tu luyện tối cổ của Phật giáo, nghĩa này bổ sung cho đoạn thơ trên về Đại thừa cửu chuyển. Phương pháp ty luyện này xuất phát từ một học thuyết siêu việt, các lý thuyết của các tôn giáo khác không thể đầy đủ hơn được “Bài ngoại ngày sinh trù quyết sách”. Lục: Bạch xà đương đạo mạn đằng Quang, Tiêu cán cần lao nhất thế mang. Bất hạnh anh hùng lai hải thượng, Vọng dương tòng thử thán dương dương. Rắn trắng cầm quyền khắp nơi sáng, Thức khuya dậy sớm cả đời mang. Anh hùng bất hạnh theo đường biển, Trông biển từ đây than mênh mang. “Rắn trắng cầm quyền khắp nơi sáng”, chỉ năm Tỵ, năm con rắn, Thánh nhân ra mặt nhưng không rõ chính xác khi nào, nếu căn cứ vào dự ngôn dân tộc Maya thì chính là năm kế tiếp 2012 tức 2013. “Anh hùng bất hạnh theo đường biển” dù là anh hùng đi nữa vẫn cảm thấy còn bất hạnh, bởi chưa “nếm” được Đạo, là cái bao trùm lên tất cả, có thể dưa mỗi người trở về nguồn cội viên mãn. “Trông biển từ đây than mênh mang” nếu ai đã từng nhìn biển hay ngước lên bầu trời, thật là kỳ vĩ - sự mênh mông, vô tận khiến chúng ta phải cảm thán, con người và những ước mơ thật là nhỏ bé, vậy có cách gì hiểu được toàn bộ vũ trụ vĩ đại này chăng? Hay cuộc đời rồi sẽ tới đâu? Bát: Đồng tâm tá Trị vận trung hưng, Nam Bắc phong yên nhất tảo bình. Nhất kỷ cương chu Dương nhất phục, Hàn băng không tự chiến cảng cảng. Đồng lòng giúp Trị vận phục hưng, Nam Bắc khói lửa sớm dẹp xong. Một vòng kỷ cương Dương nhất phục, Băng lạnh không từ rét căm căm. “Đồng lòng giúp Trị vận phục hưng” câu này bổ sung ý nghĩa khổ thơ trên, hiểu sự nhỏ bé và to lớn của ta rồi thì cùng nhau giúp rập Đại pháp của Thánh nhân. “Một vòng kỷ cương Dương nhất phục” chu kỳ “thuần dương” của địa cầu trở lại, tức thế giới chuyển qua cung Bảo Bình, một thời đại của hòa bình, thịnh vượng. “Băng lạnh không từ rét căm căm” hiểu rõ “Ngày phán xét” rồi, thì cùng nhau mà tôn vinh Đại pháp hồng truyền. Cửu: Quang mang thiểm thiểm kiến Tai Tinh, Thống tự bàng diên tín hữu bằng. Tần Tấn nhất gia nhưng đỉnh túc, Hoàng viên vận ngột lực nan thắng. Hào quang rực rỡ thấy Tai Tinh, Nghiệp Thống bên mời có chứng tin. Tần Tấn một nhà thành chân vạc, Vượn vàng vận cao sức khó thắng. “Hào quang rực rỡ thấy Tai Tinh” ánh sáng rực rở từ Thánh nhân phát ra như những vì sao trong đêm. “Nghiệp Thống bên mời có chứng tin” Thánh nhân là ai, Đạo từ đâu mà tới? đều có nguyên do và lịch sử của nó, chứng cứ và dữ liệu đều minh xác, và đầy đủ trình bày trước nhân loại. Mọi sự đã rõ, không nên đối kháng bởi thế sự đã được sắp đặt từ hàng ngàn năm trước. Thập tam: Xích thử thời đồng vận bất đồng, Trung Nguyên hảo cảnh bất vi công. Tây phương tái kiến Nam quân chí, Cương đáo kim xà vận dĩ chung. Chuột đỏ thì giống vận không đồng, Cảnh đẹp Trung Nguyên chẳng tính công. Tây phương lại thấy Nam quân đến, Vừa đến rắn vàng vận đã xong. “Chuột đỏ” có lẽ chỉ phương Bắc cùng phương Nam chỉ là một, nhưng vận hội khác nhau, “Cảnh đẹp Trung Nguyên chẳng tính công” ở đây là chỉ điều gì? Phải chăng Trung nguyên được xây dựng từ những Thánh nhân thời thượng cổ nhưng có ai tính công bao giờ đâu? “Tây phương lại thấy Nam quân đến” hàm ý Đạo xuất phát từ quốc gia phía Nam của phương Đông, truyến về phương Tây. Cho tới thời điểm chuyển cung Song Ngư sang Bảo Bình thì mọi sự đã xong. Tỵ chính là năm 2013 sau năm chuyển thế như nhận định của dân tộc Maya. Thập tứ: Nhật nguyệt thôi thiên tự chuyển luân, Giai dư xuất thế cánh vô nhân. Lão tăng tòng thử hưu nhiêu thiệt, Hậu sự hoàn tu vấn hậu nhân. Nhật nguyệt chuyển dời tựa chuyển luân. Ôi sinh ta càng chẳng nguyên nhân, Lão tăng từ giờ thôi lắm miệng Việc sau cần phải hỏi người sau. Xã hội tuần hoàn, Thiên số mênh mang, chân lý vũ trụ là điều con người khó có thể nhận biết được. Tất cả các dự ngôn trong lịch sử, khi đến một thời kỳ nhất định liền kết thúc. Vì một tương lai vĩnh viễn thì cũng phải tự xem xét lại chính bản thân của mỗi cá nhân. “Lão tăng từ giờ thôi lắm miệng - Việc sau cần phải hỏi người sau”, bởi vì vũ trụ đang canh tân đổi mới tương lai là khác với hiện tại, do đó sự việc sau này cần phải hỏi người đời sau mới biết được. Con người hiện tại không cách nào biết được, chẳng hạn ngày nay chế tác được con tàu vũ trụ mà trước đây không thể có được…, dự ngôn cũng chỉ có thể tới đây là dừng. Dự ngôn Tháp Kim Lăng Tháp Kim Lăng được xây dựng tại vùng ngoại ô thành phố Nam Kinh vào khoảng năm 1400 bởi vị quân sư và học giả nổi tiếng Lưu Cơ tức Lưu Bá Ôn. Ngọn tháp đã bị phá đổ vào đầu thế kỷ XX và những chữ khắc trên bia đá đã được tìm thấy. Chữ trong dấu ngoặc vuông […] là phiên âm Hán Việt của phần văn tự gốc, chữ viết thường là phần giải nghĩa của tác giả bài viết, chữ trong dấu ngoặc đơn (…) là chú thích tiếng Việt, chỉ có tác dụng tham khảo. Vạn vật đồng tao kiếp, trùng nghĩ diệc tao ương - Vạn vật đều gặp tai kiếp, kiến trùng cũng gặp tai ương Vạn vật gặp các tai kiếp như ôn dịch, lũ lụt, lửa và nhiều tai ương khác, đó sẽ là một cảnh tượng vô cùng đau khổ trong lịch sử nhân loại. Hạnh đắc đại mộc lưỡng điều chi đại hạ. Điểu phi dương tẩu phản gia bang - May mắn thay có hai cột trụ gỗ chống đỡ cho lâu đài. Con dê rời đi và chim bay trở lại quê nhà. Nội dung trình bày có hai vị Thánh nhân làm trụ cột trong lịch sử, giúp cho nhân loại tránh một phần tai ương, chúng ta không rõ hai vị này là ai. “Con dê rời đi và chim bay trở lại quê nhà” hàm ý tới lúc âm suy dương thịnh, nhị vị Thánh nhân sẽ được nhận biết. Năng phùng Mộc Thỏ phương vi thọ, trạch cập quần sanh nhạc thả khang - Gặp người Mộc Thỏ có thể giúp người có đời sống đời đời; chúng sinh có may mắn được phúc lành và mạnh khỏe. “Mộc” trong các sự ngôn phương Đông hay gặp, thể hiện biểu tượng cho mặt trời, là thần mặt trời Ra trong tôn giáo cổ Ai Cập, Đại Nhật Phật trong Mật giáo, thần Vishnu trong Bà La Môn giáo. Hữu nhân thức đắc kỳ trung ý, phú quý vinh hoa bách thế xương - Những ai có thể hiểu biết được và tán thành Đại Pháp, sẽ có vinh hoa và phú quý trong nhiều đời Ai hiểu được Đại pháp hay Trung Đạo, sẽ có vinh hoa và phú quý trong nhiều đời. Tầng lâu lũy các tủng vân tiêu, xa thủy mã long cánh tịch hiêu - Lớp lớp nhà, giao thông nhộn nhịp và hoạt động bận rộn đột nhiên biến mất. Nói lên những sự kiện xảy ra bất ngờ, làm ngựng trệ các hoạt động. Chẳng lẽ Đại pháp làm thế giới kinh hoàng? Thiển thủy lý ngư chung hữu nan, bách tái phồn hoa nhất mộng tiêu - Như cá trong ao nước cạn, sự phồn hoa biến đi như giấc mộng. Tất cả chỉ như một ván cờ? có khác gì cá trong ao mà tưởng là biển lớn? Sự phồn hòa chỉ là hữu hạn, cuộc đời có khác gì mộng ảo huống gì phú quý. Một khi “Ngày phán xét” cuối cùng ập tới, tất cả hoang ngôn và giả tượng sẽ bị quét sạch. Càn Khôn Vạn Niên Ca Bài thơ tiên tri thế giới 10.000 năm Càn Khôn Vạn Niên Ca cho rằng được viết bởi Khương Tử Nha (Lã Vọng) người từng là đại tướng quân thống lĩnh quân đội nhà Chu đời vua Chu Văn Vương và vua Chu Vũ Vương trong suốt thời kỳ đầu (khoảng năm 1111 tr.CN). Ông cũng là nhân vật đứng đầu như là người được yêu cầu bởi Nguyên Thủy Thiên Tôn, để phong tước cho các vị Thần trong tác phẩm tiểu thuyết kinh điển Phong Thần, tác giả là Bồ Tát Nguyễn Minh Không. Chúng tôi cũng chỉ nhận định một phần trong bài thơ tiên tri này. Thái Cực vị phán hôn dĩ quá Phong Hậu, Nữ Oa thạch thượng tọa Tam Hoàng, Ngũ Đế kỷ phái tương. Khác với Thôi bối đồ bắt đầu bài thơ với Âm Dương, còn Càn Khôn vạn niên ca mở đầu bài thơ nói về Thái cực là khởi nguyên vũ trụ và lịch sử theo truyền thuyết của Trung Quốc là thời đại của Tam Hoàng Ngũ Đế, cho đến nay các nhà nghiên cứu lịch sử vẫn còn chưa thống nhất về thời kỳ này. Bà Nữ Oa được xem là tổ đầu tiên của nhân loại, trong truyền thuyết dân gian Bà Nữ Oa và vua Phục Hy là thủy tổ của dân tộc Trung Quốc. Phục Hy Nữ Oa Tranh khắc trên đá cổ, Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Trong bức tranh đá, Phục Hy tay cầm thước tròn và Nữ Oa tay cầm thước vuông quay mặt ra ngoài hàm ý âm dương tương tác, vũ trụ vận động, còn ở giữa có hai người tương tự nhỏ hơn quay mặt vào trong, mang ý nghĩa âm dương hợp nhất. Hình sóng nước hai bên biểu tượng của chòm sao Bắc Cực Thất tinh (Tiểu Hùng tinh) và Nam Đẩu lục tinh, định vĩ trục thiên cầu trên bầu trời. Nhị bách niên lai vi chánh chủ - Nhất độ điên nguy hầu thượng thủy Trong vòng 200 năm cuối của chu kỳ chuyển đổi, vị Chủ thật sự của Càn Khôn sẽ xuất hiện, Ông xuất hiện trước công chúng để truyền Pháp, cứu độ thế nhân trong thời khắc nguy khốn của nhân loại. Biệt chi khai hoa quả nhi hồng - Phục thủ giang sơn như cựu hứa. Nhánh “riêng biệt” cho hoa nở rộ sinh trái “Hồng”, và theo như sự an bài từ trước. Chữ “Hồng” trong “Hồng âm”, ứng với chữ “Hoàng” nghĩa là vua, và ứng với màu vàng kim. Chúng ta hiểu rằng vị Thánh nhân hay “Thánh Vương” sẽ khôi phục giang sơn như đã hứa từ trước. Nhị bách niên lai suy khí vận - Nhâm quân bảo trọng thành hà tể. Trong vòng 200 năm cuối cũnd là thời đại khí vận suy, mặc cho những người đứng đầu quốc gia ra sức bảo vệ. Thủy biên điền thượng mễ lang lai - Trực nhập Trường An gia chỉnh đốn. Dòng chảy của chính Pháp trở về kinh đô Trường An nhằm chỉnh đốn lại hoàn toàn. Kinh đô Trường An cũng được giải thích ở các tiên tri trước. Mộc biên nhất Thỏ tẩu tương lai - Tự tại vi quân bất động thủ. Nội dung tương tự như các lời tiên tri khác, Thánh nhân họ “Lý” sẽ là lãnh đạo tinh thần, không tham gia mà ung dung tự tại hướng dẫn. Hựu vi miên mộc định san hà - Tứ hải vô ba nhị bách cửu Thánh nhân định định vị lại sơn hà, thế giới thanh bình không có phong ba bão tố. Hành nhân hành nghĩa lập càn khôn - Tử tử tôn tôn tam thập thế. Dựng xây lại xã hội thuận theo các tiêu chuẩn đạo đức cao, con cháu 30 đời được sống vui khỏe và bình an. Ngã kim chỉ toán vạn niên chung - Bác Phục tuần hoàn lý vô cùng. Cho đến nay khi 10.000 năm tiên tri đã được giải thích, thật là bái phục nguyên lý tuần hoàn vô cùng kỳ diệu Tri âm quân tử tường thử sổ - Kim cổ tồn vong nhất quán thông. Nếu người tri âm quân tử hiểu mệnh trời thì có thể dễ dàng thông tỏ những biến cố thăng trầm của lịch sử xưa và nay. Khương Tử Nha Tranh khắc gỗ đời Minh, Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Nội dung của bài thơ ghi nhận thuyết Âm Dương Ngũ Hành, và sự xuất hiện của Thánh nhân tương tự các lời tiên tri khác. Đồng thời, cũng nói về sự sáng tỏ của lịch sử thời thượng cổ Tam Hoàng Ngũ Đế. Nhà tiên tri Nostradamus, Pháp (Châu Âu) Cuốn sách Các Thế Kỷ (Les-Centuries) của Nostradamus, nhà tiên tri người Pháp sống từ hơn 400 năm trước, đã đoán trước được nhiều sự kiện xảy ra sau này như một số cuốn sách đã nhận định, khó khăn duy nhất để hiểu được các lời tiên tri của Nostradamus nằm ở tính đại diện của thông điệp, bao gồm những mật mã mang tính tượng trưng, khó hiểu và tối nghĩa, người ta thường chỉ có thể xác nhận hàm nghĩa của những lời tiên tri sau khi các sự kiện quan trọng đã xảy ra. Các Thế Kỷ được viết theo thể thơ tứ tuyệt, tổng cộng 10 cuốn, mỗi cuốn gồm 100 bài thơ, duy chỉ có cuốn số 7 là chỉ có 42 bài, tổng cộng có 942 bài thơ tiên tri, tuy nhiên nội dung dự ngôn lại không theo trình tự thời gian, là do Các Thế Kỷ có một số bộ phận bị làm xáo trộn. Quá trình này Nostradamus đã lưu lại cho con trai ông trong bức thư làm lời mở đầu cuốn sách tiên tri Các Thế Kỷ, đã chứng tỏ lời tiên tri của Nostradamus là xuất phát từ Thần khải, trong đó có đoạn viết: “Về những lời tiên tri huyền bí, đó là qua tiếp xúc với những linh thể ma quái của lửa, hoặc là lý giải qua sự quan sát các vì sao xa xôi, hoặc lời biểu thị công khai nào đó; sau đó người ta sẽ thấy giật mình khi viết ra mà không sợ bị nguyền rủa bởi những lời tiên tri tùy tiện này. Lý do là vì tất cả điều này bắt nguồn từ sự ban tặng sức mạnh thần thánh đến từ Thượng Đế Toàn Năng.” Đối với tình huống này, Nostradamus cũng đã kể lại cho con trai ông trong bức thư mở đầu, trong đó có đoạn: “Sở dĩ những người trong tương lai có thể được người hiện tại nhìn thấy, là vì Thượng Đế Toàn Năng thông qua hình tượng hé lộ cho chúng ta, cùng với các bí mật khác nhau của tương lai được trao cho thuật chiêm tinh chính thống, cũng như trong quá khứ, để sức mạnh và lời tiên đoán đi xuyên qua họ, và ngọn lửa thần truyền cảm hứng để họ công bố chúng cho cả người và Thần.” Chúng tôi chỉ nhận định sơ bộ qua một số khổ thơ, bởi số lượng lời tiên tri rất nhiều bao gồm của cả các nhà tiên tri khác trên thế giới. Nền tảng để phân tích và nhận định dựa trên tiên tri của dân tộc Maya và so sánh, đối chiếu với các lời tiên tri khác, dĩ nhiên, không ngoài việc đã nhận biết một số sự kiện sắp xảy ra. Tại (3) Các Thế Kỷ II, Khổ 29: Người phương Đông sẽ rời chỗ của ngài, Vượt qua dãy núi Apennine để trông thấy nước Pháp. Ngài sẽ bay vượt qua bầu trời, nước và tuyết, Đánh thức mọi người bằng cây gậy thần của ngài. Khổ thơ tiên tri về một Thánh nhân sẽ xuất hiện tại phương Đông rồi đi sang phương Tây, có năng lực như thần Hermes “Đánh thức mọi người bằng cây gậy thần của ngài”, tương đồng với tiên tri về Chúa Cứu Thế (Messiah) mà Do Thái giáo nói tới và tiên tri Phật Di Lạc ra đời của Phật giáo. Các Thế Kỷ IV, Khổ 30 Hơn 11 lần Mặt trăng Mặt trời sẽ không muốn, Tất cả thăng lên và hạ xuống bởi cấp bậc. Và đặt thật thấp để người sẽ khâu sợi chỉ nhỏ vàng, Như vậy sau nạn đói dịch bệnh, bí mật được tiết lộ. “Người sẽ khâu sợi chỉ nhỏ vàng” đây là kết quả tu luyện đạt được của một hành giả, linh hồn có thể thoát ra khỏi thân xác nhờ điều động của ý thức nhưng nó luôn được nối bằng một sợi chỉ vàng tới đỉnh đầu thân xác của hành giả. Như vậy, tiên nói về sự tồn tại của linh hồn và việc chứng minh nó cho tới nay, vẫn chưa có kết quả - phải chăng đây cũng là một bí mật được tiết lộ? Các Thế Kỷ IV, Khổ 31 Trăng tròn trong đêm treo trên đỉnh núi cao, Tân Thánh nhân với đầu óc quạnh hiu nhìn nó. Bởi các đệ tử của ngài mời trở thành bất diệt, Mắt nhìn phương Nam, tay đặt trước ngực, thân thể trong lửa. Vị Thánh nhân hiện ra tại một quốc gia phương Nam của phương Đông, ngài sẽ xuất hiện chứng minh chân lý vũ trụ và sẽ trở nên bất diệt. Phải chăng đó là Thần mặt trăng? Mà mặt trăng cũng là biểu tượng của thần chết Osiris như tiên tri Ai Cập. Các Thế Kỷ I, Khổ 48: Khi hai mươi năm sự thống trị của Mặt Trăng qua đi, Một vật thể khác sẽ tiếp nhận sự thống trị trong bảy ngàn năm. Khi Mặt Trời đã mệt mỏi rã rời tiếp tục chu kỳ vận chuyển, Là lúc lời tiên tri và đe dọa này đi đến hồi kết. Đoạn thơ nói rằng đến lúc ấy hết thảy tiên tri trong Các Thế Kỷ và lời cảnh tỉnh đối với nhân loại sẽ kết thúc đúng lúc. Dĩ nhiên, đoạn thơ không thể xác định được mốc thời gian. Trong các bức tranh được cho là do ông sáng tác, bức tranh số 69 hàm ý kết thúc chu kỳ cung Song Ngư và những bí mật sẽ được đọc lên bởi một người phụ nữ đội vương miện. Hình vẽ số 69 Tranh của Naustradamus file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Ông cũng viết Thiên niên kỷ vĩ đại vào thời khắc quan trọng qua khổ thơ sau: Các Thế Kỷ X, Khổ 74: Sự tuần hoàn của con số bảy vĩ đại, Nó sẽ xuất hiện trong năm đại đào thải. Cách không xa thiên niên kỷ vĩ đại, Khi những ai có thể đi vào sẽ rời ngôi mộ. Những người chết chôn trong các ngôi mộ sẽ sống dậy, điều này có nghĩa linh hồn là vĩnh cửu như đã nói, và những người đang sống có khả năng, sẽ giao tiếp được với họ. Con số 7 vĩ đại là gì? Chúng ta hãy xem tiếp. Các Thế Kỷ I, Khổ 69 Ngọn núi vĩ đại, hình tròn, bảy cái đài, Sau hòa bình, chiến tranh, nạn đói, và lũ lụt. Nó sẽ lan xa, nhấn chìm những quốc gia vĩ đại, Ngay cả các di chỉ và nền móng đồ sộ của chúng. “Bảy cái đài” và “Ngọn núi vĩ đại, hình tròn” ở đây chính có lẽ nói về dãy núi hùng vĩ Himalaya, nơi thánh địa tôn sùng của Đạo giáo, Mật giáo, Bà La Môn giáo, Kỳ Na giáo... Lịch sử Phật giáo có ghi nhận về thời quá khứ có sáu vị Phật nguyên thủy hạ thế độ nhân, cùng với Phật Thích Ca Mâu Ni là 7 vị Phật. Ngoài ra trong sách Khải Huyền - Thánh Kinh cũng giảng về bảy phong ấn của Thần... Con số 7 cũng tương ứng với 7 luân xa quan trọng nằm dọc trục xương sống, là các trung tâm phân phối năng lượng mà các hành giả của các tôn giáo phương Đông như Phật giáo, Bà La Môn giáo, Đạo giáo, Kỳ na giáo… tu luyện Yoga và Thiền nhằm chứng đắc giác ngộ. “Nó sẽ lan xa, nhấn chìm những quốc gia vĩ đại” phải chăng nói đến một học thuyết sẽ làm sáng tỏ chân lý của vũ trụ? Nó sẽ làm sụp đổ các hệ thống lý thuyết cũ xưa của các quốc gia? Tiếp tục xem xét: Các Thế Kỷ X, Khổ 75 Được đợi từ lâu, ngài sẽ không bao giờ trở lại, Ở Châu Âu, ngài sẽ xuất hiện ở Châu Á. Người của liên minh với thần Hermes vĩ đại, Ngài sẽ vượt qua tất cả các vị vua của phương Đông. Thánh nhân phương Đông như “được đợi từ lâu” sẽ đến nhân gian vào thời mạt thế để cứu độ chúng sinh sẽ xuất hiện ở Châu Á, ngài cũng đã cư ngụ từng “ở Châu Âu. Thần Hermes (biểu tượng sao Kim trong thiên văn hiện đại), theo thần thoại Hy Lạp, là một trong 12 vị thần trên đỉnh Olympus; Ngài vừa là vị thiên sứ truyền ý chỉ của Thần đến nhân gian, lại cũng chưởng quản ngôn ngữ, văn tự, khẩu thuật… Do đó câu thơ này nói vị Thánh nhân sẽ là người giảng Đạo cho nhân loại. Ngài sẽ là “vua của các vị vua” chân chính. Các Thế Kỷ VIII, Khổ 27 Đi đường phụ, hết mái vòm này đến mái vòm khác, Hoang phế rất nhiều, ngoại trừ người dũng cảm và chú mèo. Những chữ viết của hoàng đế Phượng Hoàng, Ngài nhìn thấy rằng chính không phải ai khác. Điều khiến người ta khó hiểu nhất chính là hai câu sau bài thơ: “Những chữ viết của hoàng đế Phượng Hoàng - Ngài nhìn thấy rằng chính không phải ai khác”, Phượng Hoàng là một loài chim linh thiêng đối với hầu hết các dân tộc trên thế giới, có khả năng tái sinh và bất từ từ đống tro tàn của mình.Phượng hoàng là biểu tượng của đế vương phương Đông của thời cổ đại, biểu tượng của phương Nam trên trái đất và là một trong Tứ Linh Long, Ly, Quy, Phượng - biểu tượng các chòm sao tên bầu trời. Phượng hoàng là loài chim không có thật, nhưng đều tồn tại dưới dạng tranh vẽ tại các quốc gia. Các Thế Kỷ V, Khổ 79 Sự huy hoàng thần thánh sẽ hạ thấp các lối đi, Thông qua sự đi tới của nhà lập pháp vĩ đại: Ngài sẽ nâng đỡ người khiêm tốn, làm phật ý những kẻ nổi loạn, Sẽ không có đối thủ trên Trái đất này. Vị Thánh nhân là người bất khả chiến bại, không có đối thủ trên trái đất và ngài sẽ lập ra chính pháp cho nhân gian, giúp đỡ những người khiêm tốn và là phật ý những kẻ nổi loạn. Các Thế Kỷ VII, Khổ 14 Ngài sẽ tới để phơi bày những hình tượng giả dối, Những cái vạc (nước) cổ xưa bất hủ sẽ được mở ra Môn phái và triết lý thần thánh sẽ phát triển mạnh, Đen thay cho trắng và mới thay cho cũ. Chính pháp và triết lý mà ngài mang tới để phơi bày những hình tượng giả dối, những học thuyết sai lệch đang được rao giảng, những cái “vạc” - pháp khí trong các tôn giáo cổ Đông Phương, được bố trí những nơi thờ tự, có vẻ nó mang những bí mật cần được giả mã. Trong cuốn Kinh Dịch, san định bởi Khổng Tử, “vạc” trong hình tượng quẻ Thủy Hỏa ký tế nói về một vận hội mới tốt đẹp. Các Thế Kỷ III, Khổ 67 Một môn phái mới của những nhà triết học, Xem thường cái chết, vàng, danh dự và của cải. Sẽ không chỉ giới hạn trên những ngọn núi của nước Đức, Để theo họ, họ sẽ có quyền năng và những đám đông. Minh triết mới sẽ chứng minh vàng bạc, quyền năng chỉ là hữu hạn, còn có những minh triết siêu đẳng không thể so sánh, giúp cho mỗi con người vươn tới những tầm cao trí tuệ và hạnh phúc viên mãn. Các Thế Kỷ VII, Khổ 17 Vị Hoàng Tử với lòng trắc ẩn và nhân từ hiếm có, Sau hòa bình, những thùng nước vĩ đại của ngài. Sẽ cải biến qua đại thẩm phán với người chết, Bằng tái tạo vĩ đại, thống trị tinh xảo. Khổ thơ này có vẻ nói khi bước vào thời đại Bảo Bình qua hình tượng một người nữ đang đổ bình nước từ trên trời xuống, Thánh nhân với chính pháp của ngài sẽ giúp nhiều chúng sinh được cứu độ. Tái tạo lại quy tắc đạo đức trên dương thế. Các Thế Kỷ III, Khổ 2 Lời của Thần sẽ ban cho vật chất, Bao gồm thiên đàng, mặt đất, vàng ẩn trong dải Ngân Hà thần bí. Thân thể, linh hồn, tinh thần có mọi sức mạnh, Tít mãi dưới chân như Thiên Thượng thấy. Minh triết của Thánh nhân sẽ ban cho vật chất bao gồm thiên đàng, mặt đất, vàng ẩn trong dải Ngân hà thần bí hàm ý về Đại Pháp vĩ đại; giảng cho các Thần, và chúng sinh trong vũ trụ, có sức mạnh và trí tuệ cho cả cơ thể và linh hồn. Giọng nói êm dịu của người bạn thiêng liêng được nghe nơi mảnh đất thánh, Ngọn lửa nhân loại chiếu sáng giọng nói thần thánh. Nó sẽ làm trái đất bị kéo căng bởi máu của những tu sĩ xuất gia, Và tiêu hủy những ngôi đền linh thiêng (hay giả dối) của những kẻ ô uế. Đoạn thơ bốn câu này tiên đoán rằng tôn giáo có tổ chức sẽ bị tiêu hủy bởi chân lý được giảng ra do “người bạn” thông qua “ngọn lửa nhân loại” của một tôn giáo mới. Các tòa tháp phát nổ và bốc cháy Tranh của Naustradamus file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Ngài sẽ lấy ngày của Nữ thần Diana, Làm ngày cho sự nghỉ ngơi bình yên của Ngài. Ngài sẽ đi xa và rộng với sự thôi thúc để làm nổi giận, Giải cứu một dân tộc vĩ đại khỏi sự khuất phục. Mặt trăng và sự kiện đi sang phương Tây của một vị Thầy phương Đông. Nostradamus ám chỉ rằng ngài chỉ nghỉ ngơi vào ngày của nữ thần Diana, tức là ngày thứ Hai, ngày Mặt Trăng. Không còn nghi ngờ gì nữa, Thánh nhân chính là thần chết Osiris trong tôn giáo cổ Ai Cập và Mặt trăng cũng là biểu tượng của nữ thần Isis - người vợ của ngài. Ngài sẽ giải cứu một dân tộc vĩ đại, chắc chắn đó phải là dân tộc của ngài. Tuy nhiên, thần Osiris và Isis chưa chắc chắn là người Ai Cập bởi vì rằng: còn một vùng “Đất của Thần” mà người dân Ai Cập phải vượt qua vài vùng biển mới tới được, đó là nơi nào được xác định chính xác trong lịch sử tôn giáo cổ đại Ai Cập? Các Thế Kỷ III, Khổ 94 Trong hơn 500 năm, người ta sẽ ngóng tới Ngài Ngài là vinh diệu cho thời đại của Ngài: Rồi đột nhiên, ánh sáng vĩ đại Ngài sẽ ban cho, Ngài sẽ đưa họ về thật viên mãn trong thế kỷ này. Chính pháp của Ngài giúp cho đạt được sự viên mãn. Trong 500 năm cũng đủ giúp những người không rõ cũng trở nên hiểu biết. Nữ tiên tri Vanga, Bungari Bà Vanga (1911-1996) sống ở vùng hẻo lánh Kozhuth thuộc Petrich, Bungary, bà mất thị lực năm 12 tuổi sau khi bị cuốn đi bởi một cơn lốc lớn, người ta tìm thấy cô gái nhỏ vẫn còn thoi thóp hơi thở nằm vùi lấp giữa bụi và đá, và bà làm bạn với bóng tối từ đó. Khả năng tiên tri của Vanga đạt đến độ chín năm 30 tuổi, có nhiều người tìm đến bà để xin những lời tiên tri, trong đó có cả Adolf Hitler. “Một học thuyết thông thái và cổ nhất sẽ quay lại với họ”. Người ta hỏi dì: “khi nào thì thời kỳ đó tới?” không nhanh đâu! Xiry vẫn còn chưa bị sụp đổ (câu chuyện được ghi lại vào tháng 5 năm 1979 và xin thề là tôi không biết ý nghĩa phù thủy gì bao hàm trong bốn từ cuối cùng) trang 246 Bí ẩn của các Nhà tiên tri trên thế giới, tác giả Lê Nguyễn, Nxb Văn hóa Thông tin, 2005 Lời tiên tri của bà đã xác định: “Một lý thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại", khái niệm "nhân loại" cho thấy sự bao trùm của lý thuyết đó. Với khái niệm "Lý thuyết" thì nó phải là một hệ thống những nhận thức vũ trụ, thiên nhiên, xã hội cuộc sống và con người, có tính nhất quán, hoàn chỉnh, vừa thỏa mãn những tiêu chí khoa học cho một lý thuyết khoa học và phải tương thích để lý giải được các quan niệm tôn giáo với mọi vấn đề minh triết về xã hội, cuộc sống và con người. Tương lai nhân loại còn tiếp tục phát triển với sự tồn tại, phát sinh của các tôn giáo, tín ngưỡng và cả những tri thức khoa học được công nhận tính chân lý trong hiện tại cộng với tất cả những tri thức khoa học hay nói rõ hơn: Nền văn minh nhân loại còn tiếp tục phát triển trong tương lai, nhưng vẫn phải thừa nhận tính vượt trội với sự tương thích của lý thuyết này trong văn minh tương lai của nhân loại. Có nghĩa là lý thuyết này phải thỏa mãn và giải thích được cả niềm tin tôn giáo và những tri thức khoa học đã khám phá và cả những bí ẩn của vũ trụ, thiên nhiên, cuộc sống, xã hội và con người trong tương lai theo tiêu chí khoa học. Để thỏa mãn điều kiện này thì Lý thuyết đó phải chính là "Lý thuyết thống nhất vũ trụ", vì chỉ có một lý thuyết thống nhất mới đủ khả năng tương thích mang tính bao trùm khái niệm "nhân loại". Về phương diện lịch sử,vì là một lý thuyết cổ xưa nên nó phải đang tồn tại trên thực tế hiện đại dưới dạng nào đó từ một quá khứ xa xăm mà tri thức nhân loại chưa phát hiện được, nhưng thừa nhận những giá trị của nó đã tồn tại trong quá khứ. Nhưng văn minh phương Đông tồn tại một hệ phương pháp luận rời rạc, mâu thuẫn cục bộ giữa các mảng kiến thức liên quan đến một lý thuyết gọi là Thuyết Âm Dương Ngũ Hành, vốn được coi là có cội nguồn xuất xứ từ văn minh Hán. Ngay cả các tri thức khoa học hiện đại đã cất công tìm hiểu cũng không giải thích được và đành phải coi là một sự huyền bí vĩ đại. Bởi vậy, mặc dù những cố gắng của tri thức khoa học hiện đại cho đến lúc này chưa khám phá được những bí ẩn của nền văn minh Đông phương huyền bí, nhưng họ vẫn phải ngạc nhiên và thừa nhận tính hiệu quả của các phương pháp ứng dụng trên cơ sở phương pháp luận của một hệ thống lý thuyết có vẻ rất mơ hồ liên quan đến nó. Khoa chiêm tinh Tử vi dựa trên cơ sở ngày tháng năm sinh của một con người để dự đoán một cách chính xác có hiệu quả những hành vi của người đó trong tương lai. Phương pháp luận của khoa Tử vi hoàn toàn sử dụng những khái niệm và cơ sở lý luận của thuyết Âm Dương Ngũ Hành, mà trong đó tất cả các đại lượng của môn này - gọi là các sao - đều được phân loại theo thuyết này. Nó hoàn toàn phù hợp với tiêu chí khoa học cho một phương pháp được coi là khoa học. Đông y là phương pháp chẩn trị bệnh chủ yếu bằng các loại y dược được lấy trực tiếp từ thiên nhiên. Sự bào chế thuộc từ các dược liệu này thành các loại thuốc viên rất hạn chế và cũng chỉ là sự chế tác đơn giản. Nhưng để chẩn trị bệnh và khám bệnh bệnh thì rất đáng chú ý vì phương pháp tiếp cận bệnh vô cùng bí ẩn ít nhất với phương pháp phổ biến của y học hiện đại. Nếu y học hiện đại dùng các phương tiện tối tân để chẩn trị bệnh thì trong Đông y, thầy thuốc dùng phương pháp "bắt mạch". Trong phương pháp này thầy thuốc trong dùng ngón tay cái đặt lên động mạch ở cổ tay, dưới ngón trỏ của bệnh nhân. Căn cứ vào mạch đập, cùng với các quan sát và dò hỏi hiện tượng bệnh, thầy thuốc xác định chính xác bệnh tật và căn cứ vào đó để bốc thuốc. Vấn đề được đặt ra là: Cơ chế nào để các thầy thuốc căn cứ vào mạch đập ở cổ tay liên quan đến tình trạng bệnh tật của các bộ phận trong cơ thể? Mặc dù đó là một phương pháp ứng dụng có hiệu quả và lưu truyền từ hàng ngàn năm nay trong xã hội Đông phương còn đầy huyền bí trong tri thức khoa học hiện đại? Vào năm 1967, các nhà khoa học Pháp đã làm thí nghiệm cho các chất đồng vị phóng xạ vào các huyệt theo phương pháp Đông y, sau đó dùng tia phóng xạ chiếu vào cơ thể người thí nghiệm để kiểm tra. Họ đã xác định một hệ thống vận động hoàn toàn trùng khớp với các đường Kinh Lạc miêu tả của Đông Y trong cơ thể người. Tuy nhiên, tri thức khoa học hiện đại chưa tìm hiểu được bản chất của "Khí" là một khái niệm miêu tả sự tồn tại của một dạng vật chất tương tác cả bên trong lẫn bên ngoài cơ thể thông qua các đường Kinh Lạc đã được thừa nhận. Những cây kim dùng để châm cứu đào được trong ngôi mộ thời Tây Hán Mãn Thành, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. cách đây hơn hai thế kỷ trước Công nguyên. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Mô hình người “Kinh lạc huyệt vị bằng thủy tinh” Giáo vụ giảng dạy châm cứu file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Như vậy, những bí ẩn của Đông y đôi khi vì tính phổ biến trong ứng dụng làm người ta thấy bình thường những hiện tượng đó với cái nhìn của người Đông phương và khi nền văn minh Đông Tây giao lưu thì lại cho rằng đó là những sự huyền bí. Một cuốn sách nổi tiếng, đứng đầu trong tất cả những cuốn sách mang tính lý luận của Đông y chính là cuốn Hoàng Đế Nội kinh tố vấn. Nhưng mọi việc chưa dừng ở đây, Đông y nói riêng và tất cả các phương pháp ứng dụng các bộ môn khác bao trùm mọi lĩnh vực trong cuộc sống, sinh hoạt và xã hội đều có một hệ thống phương pháp luận của nó. Qua những sự phân tích ở trên, chúng ta thấy rằng: Với giả thuyết lời tiên tri của bà Vanga đúng thì duy nhất có thuyết Âm Dương Ngũ Hành phù hợp và đó chính là Lý thuyết thống nhất vũ trụ mà những nhà khoa học hàng đầu đang mơ ước (trích bài viết của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh). Vạn Hạnh thiền sư, Việt Nam Trong thế kỷ thứ X, cũng tại Bắc Ninh xuất hiện một thiền sư nổi tiếng, có đóng góp rất lớn trong việc mở ra triều đại nhà Lý, một trong những triều đại nổi bật nhất trong lịch sử Việt Nam, đó là thiền sư Vạn Hạnh (938-1025), ông là cố vấn của vua Lê Đại Hành, cũng là người thầy của Lý Công Uẩn, đã hướng dẫn cho vị này một thời gian dài trước và sau khi triều Lý thành lập. Ông họ Nguyễn, quê châu Cổ Pháp nay thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, từ thuở nhỏ đã thông minh, học thông Nho, Lão, Phật và nghiên cứu hàng trăm bộ luận Phật giáo. Năm 21 tuổi ông xuất gia, tu học với bạn là thiền sư Ðịnh Tuệ dưới sự chỉ dẫn của thiền sư Thiền Ông tại chùa Lục Tổ. Sau khi Thiền Ông mất, ông bắt đầu chuyên thực tập Tổng Trì Tam Ma Ðịa, nên sau này hễ ông nói lời gì đều được thiên hạ cho là phù sấm. Vua Lê Ðại Hành rất tôn kính ông. Năm 980, Hầu Nhân Bảo của nhà Tống mang quân sang đóng ở núi Cương Giáp Lãng định xâm chiếm nước Đại Cồ Việt, vua triệu ông vào hỏi nếu đánh thì thắng hay bại. Ông đáp trong vòng từ ba đến bảy ngày giặc sẽ rút lui. Lời này sau ứng nghiệm. Trong cuộc vận động Lý Công Uẩn lên ngôi, ông đã tác động dư luận quần chúng bằng sấm truyền rất hữu hiệu. Vạn Hạnh chuẩn bị khai thị nhân tâm, vận động lòng dân bằng sấm truyền một cách siêu dị. Sách Đại Việt Sử Ký ghi lại rằng: Trong thời Lê Phong Đỉnh sét đã đánh lên cây gạo ở chùa Minh Châu, làng Cổ Pháp (do Thiền Sư La Quí An trồng năm 936) in thành chữ: Thọ căn diễu diễu - Mộc biểu thanh thanh. Hoa đào mộc lạc - Thập bát tử thành. Đông A nhập địa - Dị mộc tái sanh. Chấn cung kiến nhật - Đoài cung ẩn tinh. Lục thất niên gian - Thiên hạ thái bình. Gốc cây thăm thẳm - Ngọn cây xanh xanh. Cây hoa đào rụng - Mười tám hạt thành. Cành Đông xuống đất - Cành khác lại sinh. Đông mặt trời mọc - Tây sao ẩn hình. Sáu bảy năm nữa - Thiên hạ thái bình. Thiền sư Vạn Hạnh đã đưa ra lời lý giải như sau: trong câu “Thụ căn diểu diểu” chữ Căn là gốc, gốc tức là vua, chữ Diểu đồng âm với chữ Yểu, thế là nhà vua (Lê Long Đĩnh) chết yểu. Trong câu “Mộc biểu thanh thanh” chữ Biểu là ngọn, ngọn là bầy tôi, chữ Thanh đồng âm với chữ Thịnh, thế là một người trong số quần thần (Lý Công Uẩn) sẽ lên nắm chính quyền. Ba chữ Hòa, Đao, Mộc góp lại (theo Hán tự) là chữ Lê, Lạc là rụng, tức là nhà Lê rụng. Ba chữ Thập, Bát, Tử góp lại là chữ Lý. Chữ Lý họp với chữ Thành, là nhà Lý lên. Ngày Rằm tháng Năm năm Thuận Thiên thứ 16 (tức 13 tháng 6 năm 1025), thiền sư không bệnh nhưng đã linh cảm trước được kết cục đang gần, đã gọi các đệ tử đến và đọc cho nghe bài kệ: Thân như điện ảnh hữu hoàn vô, Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô. Nhậm vận thịnh suy vô bố úy, Thịnh suy như lộ thảo đầu phô. Thân như bóng chớp, có rồi không, Cây cối xuân tươi, thu não nùng. Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi, Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông. Sau khi thiền sư qua đời, vua Lý Thái Tổ và triều thần nhà Lý đến làm lễ trà tỳ, thỉnh xá lợi của ông về thờ tại chùa Tiêu Sơn, Bắc Ninh. Vua Lý Nhân Tông (1066-1127) có làm bài kệ truy tán: Vạn Hạnh dung tam thế, Chân phủ cổ sấm kị. Hương quan danh Cổ Pháp, Trụ tích trấn vương kỳ. Vạn Hạnh thông ba cõi, Lời sư nghiệm sấm thi. Từ làng quê Cổ Pháp, Chống gậy trấn kinh kỳ. Trong bài thơ tiên tri của thiền sư Vạn Hạnh luận ra chữ “Lý” và sự lên ngôi của vua Lý Công Uẩn, tuy nhiên chữ Lý cũng đã xuất hiện trong những dự ngôn của các nhà tiên tri của Trung Quốc. Như vậy, “Lý” có thể mang nghĩa kép là biểu tượng của vị Thánh nhân trong tương lai. Tiên tri tương tự cũng đã được Phật Hoàng Trần Nhân Tông nhắc lại trong cuốn Tùy Đường diễn nghĩa, tại Hồi 29: “Tùy Dượng Đế hai viện xem hoa - Chúng phi tần một thuyền chơi biển” với ba câu kệ sau đây: Đuôi trâu, đầu cọp. Binh đao loạn lạc, Ai sẽ làm vua, con người thợ Mộc. Nếu lấy chữ “mộc” với chữ “tử” là con mà đặt chữ “mộc” trên, “tử” dưới thì là chữ “Lý”. Sấm Trạng Trình, Việt Nam Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), quê ở làng Trung Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay là làng Trung Am xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Nhờ hiểu rõ thuyết Âm Dương Ngũ hành và Thái Ất, ông tiên đoán được biến cố xảy ra 500 năm sau. Ông tinh thông về thuật số, được dân gian truyền tụng và suy tôn là "nhà tiên tri số một” của Việt Nam và người Trung Quốc coi là "An Nam lý số hữu Trình Tuyền". Ông đã sáng tác những lời tiên tri cho hậu thế mà người đời gọi là Sấm Trạng Trình. Năm 1991, kỷ niệm 500 năm ngày sinh ông, đã có một lễ kỷ niệm trọng thể của Nhà nước diễn ra tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội. Buổi lễ tổ chức vào ngày mồng 10 tháng Mười âm lịch ở Văn Miếu, là ngày Tết cơm mới, ngày mà dân tộc ta có truyền thống hướng về tổ tiên. Ngày diễn ra lễ kỷ niệm, trời lại mưa, từ 7h sáng trở đi mưa rất to nhưng đến khoảng 8h30 thì trời tạnh, không khí, khung cảnh ở Văn Miếu sạch sẽ, thoáng đãng. Sau đó trời nắng lên rất đẹp. Buổi lễ bắt đầu vào giờ Tỵ, trong buổi lễ điều cảm động nhất là khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào thắp hương thì bát hương bùng cháy lớn, lửa của bát hương hóa rơi vào 4 chén rượu thờ cùng bốc cháy (tham khảo bài viết Sự trở lại của Sấm Trạng Trình, tác giả Lã Xưa). Bản đồ chẳng sót cho ai, Nghìn năm lại lấy hội nơi vẹn toàn. Vững nền vương cha truyền con nối, Dõi muôn đời một mối xa thư. Đoạn thơ nói về hệ thống bản đồ, mật ngữ… được xem là những bức thư của các vua Hùng gửi lại cho hậu thế, làm bằng chứng của một thời kỳ lịch sử huy hoàng. Xem tượng trời biết đường đời trị, Ngẫm về sau họ Lý xưa nên. Dòng nhà để thấy dấu truyền, Ngẫm xem bốn báu còn in đời đời. Thần Quy cơ nổ giữa trời, Để làm thần khí thuở nơi thị trường. Xem thiên văn biết nước Việt sẽ tới đời thịnh trị, nhà Lý thời xưa về sau lại dấy nghiệp lên. Bốn báu đời Lý để lại cho nước Nam ta là tháp Báo Thiên, tượng Phật Di Lạc chùa Quỳnh Lâm, Vạc Phổ Minh, Chuông Quy Điền, còn gọi là An Nam tứ đại pháp khí do quốc sư Nguyễn Minh Không chủ xướng như là dấu ấn của triều đại thịnh trị. Mặt khác, bốn báu cũng có thể hiểu là Tứ Linh: Long, Ly, Quy, Phượng hình tượng của các chòm sao thiên văn trên bầu trời, được diễn họa trên bức tranh dân gian Đông Hồ Tứ Linh. “Thần Quy cơ nổ giữa trời” Quy cũng là một trong Tứ Linh, trogn truyền thuyết dân gian có thần Kim Quy giúp cho vua An Dương Vương xây thành Cổ Loa và đưa ngài xuống biển, cũng như Lê Lợi trả lại thanh gươm “Thuận Thiên” cho Rùa vàng tại hồ Hoàn Kiếm. Phong đăng, hòa cốc chứa chan, Vua ở trên ngàn có ngũ sắc mây. Chính cung phương Khảm vần xoay, Thực thay Thiên tử là tay trị đời... Kết hợp với đoạn thơ trên, “Chính cung phương Khảm vần xoay” sẽ hiểu là chòm sao Bắc Đẩu và chòm sao Tiểu Hùng Tinh, với Tứ Linh và “mây, mưa, sấm, chớp” vần xoay xung quanh. Tuy nhiên, phương Bắc của chòm sao Thiên cực Bắc trên bầu trời ứng phương Nam dưới mặt đất “kim chỉ Nam”, do vậy phương Nam trên bầu trời có thể hiểu là phương Bắc, tức chòm sao Nam Cực - biểu tượng cho Nam Cực tiên ông Thọ Tinh. Nhìn xem phong cảnh cũng xinh, Tả long triều lại có thành đợt vây. Hữu hổ quấn khúc giang này, Minh đường Thất diệu trước bày mặt tai. Ở xa thấy một con voi, Cúi đầu quen bụi trông về hồ sâu. Ấy điềm Thiên tử về chầu, Tượng trưng Đế Thánh tộ lâu trị đời. Đoạn thơ mô tả địa thế phong thủy của khu vực Đền Hùng, ngọn núi Vạn phía bên tay trái Đền Hùng có hình như một con voi to đang quỳ chầu về. Núi Vạn hình con voi quỳ chầu về Đền Hùng Ảnh chụp tại khu vực Đền Hùng file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Cửu cửu Càn Khôn dĩ định, Thanh minh thời tiết hoa tàn. Trực đáo Dương đầu Mã vĩ, Hồ binh Bát Vạn nhập Trường An. Bảo Giang Thiên tử xuất, Bất chiến tự nhiên thành. Lê dân bào bảo noãn, Tứ hải lạc âu ca. Đoạn thơ đề cập đến quy tắc vận động tương tác của vũ trụ tới trái đất, các phương pháp ứng dụng tính toán như Huyền Không phi tinh, Thái Ất thần kinh… hết xuân rồi đến hạ, vòng quay của đất trời. “Đầu con dê đuôi con ngựa” có vẻ hàm ý cung Tốn và cung Khôn chuyển đổi tức được mở khóa, thì quân phương Nam tiến vào Trường An, kinh đô nhà Đường Trung Quốc, thời kỳ khuếch trương Phật giáo. “Bát Vạn” trùng với tên núi Bát Vạn, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, nơi Bồ Tát Nguyễn Minh Không trấn yểm 80.000 cây tháp đất nung 5 tầng nhằm giúp cho quốc gia và Phật giáo hưng thịnh, đồng thời ngăn chặn sự trấn yểm hủy diệt của các thế lực phương Bắc. Như vậy, nội dung đoạn thơ nói về sự xuất hiện của “Thiên tử” cùng với cương vị của Phật? Lúc này nhân dân ca ngợi, bốn biển thanh bình. Chẳng nhẽ đấy lại là Phật Vương Di Lạc như các tiên tri của các tôn giáo mới tại Việt Nam sau này như đạo Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương nhận định?. Trong đoạn thơ có nói đến “Bảo giang”, nếu liên hệ đến đoạn thơ nói về phong thủy Đền Hùng thì Bảo giang khả năng là sông Nhị hà tức sông Hồng. Mặt khác Giang cũng mang hình tượng con Rồng, nên hiểu là Thiên tử mang biểu tượng con Rồng, Bảo giang là con Rồng quý, là Thiên tử tức “con Trời”, vậy ông Trời hay Thượng Đế là vị nào? Trong Sấm còn có đoạn thơ khẳng định con sông Hồng: Nhị hà một giải quanh co, Chính thực chốn ấy đế đô hoàng bào. Khắp hòa thiên hạ nao nao, Cá gặp mưa rào có thích cùng chăng? Đoạn thơ khẳng định đế đô nằm cạnh con sông Nhị hà chính là Thăng Long thành, Hà Nội ngày nay, có lẽ hàm ý nơi đây chính là đế đô của nước Văn Lang thời cổ đại, bởi vì trong những khổ thơ đầu, tác giả đã đề cập đến vua Lạc Long Quân. Một cơn sấm dậy đất bằng, Thánh nhân ra mới cứu hằng sinh linh. Lược thao văn vũ tài tình, Mới hay phú quí hiển vinh lạ lung. Tam Công gập hội vui mừng, Bõ khi cá nước vẫy vùng biển sông. Bõ khi chém rắn vẽ rồng, Bõ khi non Bắc ải Đông mịt mù. Bõ khi kẻ Việt người Hồ, Bõ khi kẻ Sở người Ngô xa đường. Đoạn thơ mang ý nghĩa chính phương Bắc và phương Nam có cùng chung một nguồn gốc, nếu chúng ta xem lại truyền thuyết Hồng Bàng Thị và nội dung một số gia phả khác, thì Vua Đế Minh giao cho người em sinh đôi là Đế Nghi làm vua phương Bắc - Bắc sông Dương tử và con trai cả Kinh Dương Vương làm vua phương Nam - Nam sông Dương Tử. Cả hai người lập lời thề trên núi Thiên Đài, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, dấu vết nay vẫn còn (tham khảo bài viết Biên cương nước Việt cổ, tác giả Trần Đại Sỹ). Hiệu xưng “Thiên hạ Thái Bình”, Đông Tây vô sự, Nam thành quốc gia. Nam thành quốc gia chính là nước Việt Nam, tuy nhiên hiệu xưng “Thiên hạ Thái Bình” có thể nói về hiệu của vị Thiên tử là “Thái Bình”. Ô hô thế sự tự bềnh bồng, Nam Bắc hà thời thiết lộ thông. Hổ ẩn trên non mao thấy trắng, Kinh ngoi ngoài biển huyết loang hồng. Gà kêu cây ngọc nghiêng trời Bắc, Trâu đến lam điền Nhật chính Đông. Đến khi ưng về sư tử dậy, Thái bình mới tỏa khắp non sông. Nam Bắc thông điều này chỉ được mở ra khi hai cung Tốn Khôn chuyển đổi tức trước đây bị khóa “Tịch Địa”, ý này cũng được giải thích trong đoạn thơ về độ số 2 cung Khôn (Rắn) và độ số 4 cung Tốn (Dê). Khi sự thật hai cung này bị sai số, thực sự làm cho nhiều người bất ngờ nhưng vẫn còn bảo thủ, khó chịu về việc này. Rồng nằm bể cạn dễ ai hay, Rắn mới hai đầu khó chịu thay. Ngựa để gác yên không ai cưỡi, Dê không ăn lộc ngoảnh về Tây. Chỉ đến khi Thánh nhân xuất hiện, giống như con chim ưng (chim đại bàng thường được biểu tượng cho phương Bắc, mùa Đông qua những bức tranh thủy mặc phổ biến Đại Bàng - Tùng) và sư tử thuộc cung Càn trong Hậu Thiên Bát quái, hình ảnh của “ông Trời”, thì thái bình tỏa khắp đất nước Việt và theo như nội dung toàn bài Sấm Trạng Trình, thì ảnh hưởng tới toàn thế giới. Vậy thời gian nào Thánh nhân sẽ xuất hiện? Chờ cho động đất chuyển trời, Bấy giờ Thánh mới nên trai anh hùng. Dù cho ai chửa biết tường, Nhất thổ thời sĩ Khảm phương thuở này. Ý ra Lục Thất gian nay, Thời vận đã định tuần này hưng vương. Trí xem nhiệm nhặt cho tường, Bảo giang Thánh xuất trung ương thuở này. Ngày Thiên tử xuất hiện chính là “động đất chuyển trời” nhưng rất khó hiểu. Tuy nhiên, Trạng Trình lại có đoạn thơ: Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ, Hưng tộ diên trường ức vạn xuân. Đất nước Hồng Lam sau ta năm trăm năm, Sẽ là một thời kỳ hưng thịnh vạn mùa xuân Như vậy, thời điểm Thánh nhân xuất hiện có thể được xem là trùng khớp tiên tri của dân tộc Maya tức năm 2012 bởi năm 1991 là năm kỷ niệm 500 năm ngày sinh ông, so với năm 2012 cách đúng một con giáp. Ông còn tiên tri thêm: Sau ta hơn nữa tám đời, Khắp nơi binh lửa, nơi nơi chiến trường. Ngưu giang hợp với Bảo giang, Đại nhân chính vị bốn phương một nhà. Cùng thời gian này, sẽ xuất hiện một Đại nhân cùng với Thánh nhân “Bảo giang” với ngụ ý “Ngưu giang”? Chúng tôi sẽ minh chứng trong các chương sách sau. Cuối cùng, xuất hiện một sự kiện hy hữu, vào dịp cuối năm 2010, cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã "gặp" nhà ngoại cảm tên Phương người Giồng Trôm, Bến Tre và chỉ cho ông tìm ra mộ thật của mình với ước muốn để cháu con và hôm nay biết đúng chỗ và thờ cúng. Theo chỉ dẫn, nhà ngoại cảm mọi người đã tìm được mộ cụ ở làng Triền Am, Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng. Sách lịch sử, văn hóa, khoa học trên thế giới Kinh Dịch Cùng với những dự ngôn khác nhau, thì lời tiên tri của tiền nhân cũng được ghi chép lại trong cuốn Kinh Dịch, do Khổng Tử san định, đây một trong những cuốn sách thời cổ đại còn lưu giữ cho tới nay. Thuyết quái truyện vốn được không ít các học giả cho rằng mang tính dị đoan. Điều này được thể hiện ở nhiều cuốn Kinh Dịch Việt ngữ đã bỏ không dịch Thuyết quái. Tuy nhiên, Tiết 5 của Thuyết quái lại được coi là sự bảo chứng cho cấu hình Hậu thiên Bát quái, vì tính trùng khớp với thứ tự thuận chiều của nó. Tiết 5 - Thuyết Quái viết: “Đế xuất hồ Chấn. Tề hồ Tốn. Tương kiến hồ Ly. Chí dịch hồ Khôn. Duyệt ngôn hồ Đoài. Chiến hồ Kiền. Lao hồ Khảm. Thành ngôn hồ Cấn”. Sự trùng khớp theo thứ tự thuận chiều với đồ hình Hậu thiên Bát quái theo cổ thư chữ Hán bắt đầu từ quái Chấn như sau: Hậu thiên Bát quái Trích Kinh dịch - Đạo của người quân tử, dịch giả Nguyễn Hiến Lê. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Nhưng với sự diễn đạt ở trên thì nội dung Thuyết quái không trực tiếp thể hiện cấu trúc phương vị Hậu thiên Bát quái. Nghĩa đen của Tiết 5 - Thuyết quái chỉ có thể hiểu là: Đế xuất hồ Chấn; Vua ra cửa Chấn; Tề* hồ Tốn; Làm bằng cửa Tốn; Tương kiến hồ Ly; Gặp gỡ cửa Ly; Trí dịch hồ Khôn; Suy nghĩ chuyển cửa Khôn; Thuyết ngôn hồ Đoài; Vui vẻ cửa Đoài; Chiến hồ Càn; Tranh chấp cửa Càn; Lao hồ Khảm; Mệt nhọc ở cửa Khảm; Thành ngôn hồ Cấn. Nói xong ở cửa Cấn. * Chú thích: Tề - Động từ; tiếng cổ có nghĩa là: làm bằng, cào bằng, làm cho cùn, tà. Hiện ở đồng bằng Nam Bộ, người ta vẫn còn dùng với nghĩa trên. Như vậy, rõ ràng ý nghĩa trực tiếp của câu 2 và 4 trong tiết 5 là: san bằng cửa Tốn, suy nghĩ để chuyển cửa Khôn tức nghĩa là chuyển đổi Tốn Khôn như tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã chứng minh tính hợp lý trong cuốn Hà Đồ trong văn minh Lạc Việt và Tìm về cội nguồn Kinh dịch của mình. Khổng Tử miếu Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Bên trong Khổng miếu trưng bày hơn 2.000 bia đá thuộc các triều đại Trung Quốc, là một trong những rừng bia đá cỡ lớn của Trung Quốc. Trong đó, có những hơn 50 tấm Ngự bia tức bia có bút tích của vua, đã thể hiện đầy đủ địa vị cao cả của Khổng Tử trong xã hội phong kiến Trung Quốc. Mặt khác, trong Tiết 5 - Thuyết quái còn nói đến “Vua ra cửa Chấn”, Chấn là phương Đông, hướng của mặt trời mọc, vậy thì “Vua” ở đây mang ý nghĩa là “Mặt Trời”… hay có ẩn nghĩa tiên tri nào khác? Chúng ta cũng sẽ được biết chính xác câu trả lời trong các chương sách sau. Chữ Khoa đẩu Một trang cổ thư của người Việt vùng Giang Nam, là một vuông chữ Khoa đẩu ngoằn ngoèo có 56 chữ. Cạnh đó là một bản chữ Nho, cũng gồm 56 chữ, hẳn là của người đời sau còn giữ hiểu được chữ Khoa đẩu dịch lại, như sau: 一 歲 兩 歲 三 歲 參。 Nhất tuế, lưỡng tuế, tam tuế tham, 一 正 兩 劃 分 頭 辦 Nhất chính, lưỡng hoạch phân đầu biện. 正 寺 上 下 靈 九 天。 Chính tự thượng hạ linh cửu thiên, 半 字 兩 遺 流 八 川。 Bán tự lưỡng di lưu bát xuyên. 潛 字 左 右 留 一 萬, Tiềm tự tả hữu lưu nhất vạn, 遺 字 前 後 留 五 千。 Di tự tiền hậu lưu ngũ thiên. 八 卦 倒 傳 乾 坤 定, Bát quái đảo truyền, Càn Khôn định, 天 圖 地 方 才 算 完。 Thiên đồ địa phóng tài toán hoàn. Ý người xưa muốn nhắn rằng phải bỏ công liên tục nhiều năm để học cho hiểu ký tự một vạch kẻ, hai vạch kẻ của Bát Quái vì nó rất linh nghiệm tới 9 tầng trời. Người xưa đã di lưu lại nền văn minh ở 8 dòng sông. Người xưa đã dấu lại khoảng 15.000 con chữ ẩn náu. Phải đổi ngược lại vị trí của Bát Quái thì mới đúng với qui luật của trời đất, và lúc đó cái bản đồ vũ trụ và trái đất mới coi là xong hoàn toàn. 15.000 con chữ ẩn náu chính là toàn bộ nội dung Kinh Dịch và Đạo Đức Kinh và ý nghĩa của 8 dòng sông chính là cấu trúc của Hậu Thiên Bát quái phối Hà Đồ. Bên cạnh đó còn có một bài chữ Nho, như sau: 三 皇 五 帝 春 秋 史, Tam Hoàng Ngũ Đế Xuân Thu sử, 萬 歲 天 秋 北 鬥 尊。 Vạn tuế thiên thu Bắc Đẩu tôn. 天 外 兩 星 露 中 見, Thiên ngoại lưỡng tinh lộ trung kiến, 人 間 七 子 同 時 生。 Nhân gian Thất Tử đồng thời sinh. Kèm theo có đánh dấu sự thay đổi vị trí các sao trong chòm sao Bắc Đẩu, như sau: + + + + + + + (96.000 năm trước) + + + + + + + (hiện tại) + + + + + + + (96.000 năm sau)<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Trong câu thứ nhất và thứ hai, ý người xưa muốn nhắn rằng cứ theo như cổ sử thời Tam Hoàng Ngũ Đế thì muôn đời tôn thờ sao Bắc Đẩu như là một Đế Vương (sao Bắc Đẩu đang biến đổi hình dạng của nó theo chu kỳ). Câu thứ ba và bốn thì nói về nhận thức sự hòa hợp lưỡng tinh tức mặt trời và mặt trăng hay chính là Âm Dương, sẽ hiểu được sự vận động vạn vật. Lúc này, sẽ tìm ra bí ẩn của sự sống con người và lịch sử “Vua của các vị vua“ ở phương Nam (Thất là 7 là độ số của phương Nam theo Hà Đồ). Ý nghĩa này cũng tượng tự như những tiên tri khác trên thế giới về sự trở lại của một vị Thánh nhân vĩ đại. Sự đánh dấu chu kỳ 96.000 năm ở trên, có lẽ nói đến một chu kỳ lớn hơn gọi là Đại Nguyên 129.600 năm, mà thế giới chúng ta đang ở trong khoảng thời gian đó (trích bài viết Chữ Khoa đẩu, tác giả Lãn Miên). Tây Du Ký Trong cuốn Tây Du Ký, tại Hồi 66: “Các thần gặp độc thủ, Di Lạc trói yêu ma, tác giả đề cập tới hội Long Hoa, còn được gọi là “Đại hội quần Tiên” mà giáo chủ là Đương Lai Tôn Phật Di Lạc - Di Lạc Phật Vương. Ngài sẽ là vị Phật Thứ Năm chuyển luân từ Phật Thích Ca Mâu Ni trong tương lai. Trong hồi này có nói Đại Thánh tới núi Vu Thai, Nam Thiệm Bộ Châu nhờ Quốc Sư Vương Bồ Tát. Dưới tay có Trương Thái Tử và bốn đại tướng. Bài thơ nói về Trương Thái Tử: Quê hương là nước Lưu Sa, Cha ta vốn dĩ chính là quốc vương. Ấu thơ lắm bệnh khôn lường, Mệnh phạm Hoa Cái nhiều phương giữ mình. Theo thầy học phép trường sinh, Ơn duyên nên gặp thuốc linh tuyệt vời. Đan sa nửa hạt bệnh lui, Tu hành từ đấy, lên ngôi chẳng bàn. Thọ ngang trời đất vô vàn, Mà người vẫn trẻ như chàng thiếu niên. Hội Long Hoa đã dự tên… Tác giả cũng hàm ý sẽ dự tham dự Hội Long Hoa như những dự ngôn truyền trong dân gian, cũng như các tôn giáo từ xưa tới nay. 3.000 năm một kiếp luân hồi Chúng ta cùng tham khảo một phần nội dung từ cuốn sách 3.000 năm một kiếp luân hồi, nguyên tác Jonathan Cott, dịch giả Thích Tâm Quang: Có một cuốn sách bằng giấy cói papyrus từ thời Ptolemy (304-30 tr.CN) nói rằng các Thần tức giận Ai Cập bỏ nước ra đi, vì lẽ đó chim hạc, hoa sen và cây cói đều biến mất và Ai Cập bị ngoại bang thống trị cho đến khi các Thần tha thứ mới thôi. Lúc đó, chim hạc, hoa sen, cây cói mới trở lại và người Ai Cập sẽ tự mình cai trị nước mình. Khi Bá Tước Cromer, Đại sứ Anh tại Cairo, người nắm giữ mọi quyền hành đằng sau ngai vàng ở tiền bán thế kỷ, nghe được chuyện về cuốn sách này đã ra lệnh đốt hết… Bấy giờ, tôi còn ngụ tại Giza, trong số láng giềng của tôi có một người Anh và người em gái của ông, cả hai đều chưa lập gia đình. Ông này có một vườn xoài ở phái Bắc các Kim tự tháp nằm trên đường Alexandria. Một hôm ông đến thăm tôi và cho biết: “Cô có biết gì không? Tôi trông thấy một bông hoa sen xanh trên con kênh”. Tôi nói là không khi nào có được, nhưng ông ta quả quyết đó là sự thật. Lần sau đến thăm tôi, ông đã mang đến cho tôi một bông. Sau đó không lâu, tôi cũng nghe nó chim hạc đã xuất hiện ở phía Nam Luxor. Và ngay sau đó, cói cũng đã mọc lên tại đồng bằng sông Nile. Đến năm 1953 cuộc cách mạng bùng nổ, Ai Cập giành lại được độc lập. Theo lời tiên tri của Ptolemaic thì Horus sẽ trị vì Ai Cập, rồi đến Osiris. Tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải thuần phục. Tôi tin đều đó sẽ đến, không phải ngay lúc này, mà phải một thời gian nữa… ngày đó sẽ đến. Omm Sety thường nói với tôi dưới đất Ngôi Đền Sety có một kho tàng đang chờ khám phá và một tài liệu độc nhất vô nhị đang chờ được ráp nối lại. Đó là Nhật ký của Vua Sety được viết trên giấy cói đã hơn 3000 năm qua, giờ đây hẳn đã rời ra từng mảnh hay không chừng thành nhiều mảnh vụn li ti… Omm Sety nhấn mạnh là tài liệu và kho tàng này là có thực, không phải nghi ngờ gì nữa vì lẽ ở ngay trên các bức tường của Ngôi Đền cũng còn khắc những dòng chữ cho biết cả hai thứ đó đều được chôn dấu ở một nơi nào đó trong ngôi đền… Có lần tôi hỏi quan trọng như thế nào? thì Bà trả lời: “Tôi cho rằng việc tìm ra Biên niên sử là khám phá vĩ đại nhất vì trong đó ghi mọi biến cố trong thời gian khủng hoảng nhất của lịch sử Ai Cập. Biên niên sử này được dấu trong triều Đại Vua Ptolemy Đệ Tam (246-221 tr.CN) khi vua này hạ lệnh tất cả các đền trong Ai Cập phải nộp hết sách cho thư viện vĩ đại Alexandria. Không còn chút nghi ngờ, tất cả các sách vở đều phải nộp cho thư viện này, có thể vài bài ca ngợi các vị thần Ptolemaic, vài cuốn Sách về người chết, vài quyển thánh ca là hoàn toàn không cần thiết. Những sách quan trọng thì được dấu biệt.”. Bà Omm Sety khẳng định về sự phục sinh của thần chết Osiris sẽ xảy trong thời gian sắp tới, và các quốc gia trên thế giới đều thuần phục trước ngài. Ai Cập huyền bí Chúng ta hãy cùng xem xét đoạn trích Chương XVIII. Tôi gặp một vị Chân sư của cuốn Ai Cập huyền bí, nguyên giả Paul Brunton, dịch giả Chi Lan và Lê Tuyên, Nxb Tổng hợp T.p Hồ Chí Minh, 2004: Trong chuyến du hành thám hiểm đó, tôi đã gặp một bậc dị nhân và có dịp đàm đạo với ngài. Trước hết, tôi đã do dự không muốn tường thuật lại câu chuyện giữa chúng tôi, bởi vì tôi không thể kiểm chứng bằng những cuộc sưu tầm riêng những điều mà ngài đã tuyên bố, và bởi vì những điều ấy có thể làm cho cái thế hệ hoài nghi của chúng ta ngạc nhiên, hoặc đem bậc dị nhân ấy làm một đề tài diễu cợt, và tất nhiên là có cả tôi vì tôi đã cho rằng những chuyện hoang đường như thế có thể đem tường thuật lại cho quý độc giả. Tuy nhiên, tôi đã cân nhắc đắn đo hơn thiệt, và tôi thấy cần phải thuật lại. Hơn nữa, đó là ý muốn của bậc dị nhân ấy, ngài muốn tôi công bố điều mà hình như ngài cho là quan trọng cho thế hệ hiện đại. … Tôi vừa quay lại, và đi vài bước thì chính lúc đó, tôi nhìn thấy người lạ mặt. Người ngồi xếp bằng hai chân tréo, trên một tảng đá mà người đả cẩn thận trải lên đó một mảnh vải lót. Đầu bịt khăn trắng, hai bên mép tai để lộ mái tóc huyền có điểm bạc. Người ngồi yên bất động, và dường như đắm chìm trong sự chiêm ngưỡng cảnh vật thiên nhiên diễn ra dưới tận chân đồi. Tác người hơi bé, với đôi bàn chân nhỏ, người mặc một chiếc áo xám đen rộng, dưới cằm có một chòm râu ngắn. Người có vẻ trạc độ tứ tuần. Tôi không kịp nhìn thấy mắt người trước khi người day mặt về phía tôi. Khi tầm nhãn quang của người phóng về cặp mắt tôi, tôi cảm thấy một cách khó tả rằng tôi đang đứng trước một người phi thường. Sự gặp gỡ này chắc chắn sẽ in sâu mãi vào ký ức tôi. Trên gương mặt đặc biệt ấy, trước hết đôi mắt đã làm cho tôi bị lôi cuốn một cách lạ lùng. Đó là một đôi mắt lớn, hình bầu dục cân đối hoàn toàn, đẹp và trong sáng. Tròng trắng tinh anh tương phản rõ rệt với tròng đen như huyền làm cho đôi mắt có một nét thâm trầm thoát tục. Chúng tôi im lặng nhìn nhau suốt hai phút đồng hồ. Cái phong độ oai nghi và trang trọng trên nét mặt của người này làm cho tôi cảm thấy rằng tôi nên giữ lễ mà không nên mở lời trước. Tiếc thay, tôi không thể nhớ những gì người đã nói trước tiên, vì trí óc của tôi hình như bị bao phủ trong một lớp sương mờ trước khi người bắt đầu cất tiếng. Một bộ phận nào bí mật thình lình hoạt động trong người tôi, khiến cho tôi nhìn thấy một linh ảnh đặc biệt. Tôi thấy quay tít trước mắt một cái luân xa chiếu ánh sáng rạng ngời, những sự trói buộc của thể xác hình như tách rời khỏi nơi tôi và tôi đã rơi vào một trạng thái tâm thức siêu việt, phi phàm. Khi cái linh ảnh đó chấm dứt, thì người lạ mặt đang nói chuyện với tôi. Tôi định tĩnh tinh thần, thì mới hiểu rằng lúc ấy tôi vẫn đang đứng đó, trên đỉnh ngọn đồi cao nhất vùng Thèbes và một cảnh tượng hoang vắng cô liêu đang diễn ra trước mắt và ở chung quanh. Tôi bèn cất tiếng chào dị nhân bằng một tiếng thổ ngữ Ả Rập. Người đáp lại bằng tiếng Anh với một giọng rất đúng. Nếu lúc ấy tôi nhắm mắt lại, có lẽ tôi đã tưởng đó là của một người Anh tốt nghiệp đại học Oxford hay Cambridge, chớ không phải là một người phương Đông mặc áo rộng. Trước khi tôi định nói câu gì để vào đề, thì như bị thúc đẩy bởi một sức mạnh bên trong, tôi cất tiếng nói: - Thưa ngài, tôi chắc ngài đã biết rằng tôi vừa trải qua một kinh nghiệm khác thường khi tôi vùa đứng đây, ở bên cạnh ngài. Và tôi bèn diễn tả cái linh ảnh lạ lùng khi nảy. Dị nhân nhìn tôi một cách mơ màng, rồi hơi nghiêng đầu rồi nói một cách thản nhiên: - Phải tôi hiểu. Tôi rất thụ cảm đối với những ảnh hưởng huyền linh, tôi nói tiếp, vì điều ấy đến với tôi trong khi tôi được tiếp xúc với ngài, nên nó làm cho tôi tin rằng ngài có những huyền năng lạ lùng. Đôi mắt của dị nhân lại nhìn tôi một cách chăm chú. Sau một lúc ngài nói: - Chính tôi đã có ý gây cho ông cái kinh nghiệm đó. Tôi muốn rằng nó đem cho ông một thông điệp không lời. Thật đúng như vậy. - Ngài muốn nói chi? - Tôi muốn cho ông nhận ra cái pháp vị của tôi trước đã. Thật đúng như tôi nghĩ. Tôi đã nhận thấy nơi dị nhân tất cả những ấn chứng rõ rệt về cái quả vị cao cả của một đạo gia siêu thoát. Dầu cho tôi có cái kinh nghiệm lạ lùng vừa rồi, tôi chỉ nhìn vào đôi mắt của người, cũng đủ cho cái cảm tưởng của tôi được xác nhận bằng trực giác. Đôi mắt huy hoàng cao cả ấy bắt buộc người ta phải chú ý và khâm phục. Đôi mắt lớn, sáng ngời phóng những tia điện lực mạnh mẽ oai hùng, và khi người nhìn tôi, thì đôi mắt ấy đứng yên một chỗ rất lâu. Khi tôi nói chuyện với người, tôi cảm thấy đôi mắt ấy vừa có cái quyền năng soi thấu mọi sự đều có mảnh lực thôi miên. Đôi mắt ấy thấu suốt và ngự trị linh hồn tôi. Đôi mắt ấy vạch trần những điều bí ẩn trong tâm hồn tôi và làm cho tôi trở nên thụ động trước mảnh lực của chúng. Tôi nói: - Thật là một diễm phúc bất ngờ cho tôi, người duy nhất mà tôi được gặp ở nơi thanh vắng này lại là một đấng cao cả ở quả vị của ngài. - Thật vậy sao? Dị nhân đáp. Riêng tôi, tôi không ngạc nhiên. Thời giờ đã điểm cho cuộc gặp gỡ của chúng ta hôm nay, giữa ông và tôi. Không phải là do sự tình cờ mà ông vừa nói chuyện với tôi. Tôi nói cho ông biết, một quyền năng cao cả hơn sự ngẫu nhiên tình cờ, trước hết đã ra lệnh, và sau đó sắp đặt cuộc gặp gỡ của chúng ta. Tôi lắng nghe, mà trong lòng hồi hộp trông chờ những gì sẽ đến. Những tư tưởng xẹt đảo xáo trộn. Tôi đã phải làm một cố gắng để tự trấn tĩnh và nắm vững tình hình. Tâm hồn tôi lúc ấy thấm nhuần một sự tôn kính tự nhiên đối với một người co mộtù trình độ tâm linh cao cả như thế. Dị nhân mới nói cho tôi biết bằng cách nào định mệnh con người khiến cho người nọ gặp gỡ người kia trên bước đường đời dưới sự thúc đẩy của những mãnh lực vô hình, bằng cách nào những sự trùng hợp ngẫu nhiên bề ngoài thật ra là kết quả sự diễn biến của một sợi dây nhân duyên nối liền nhiều khoen đã kết hợp nhau từ trước và có tác dụng gây nên vài hậu quả. Người còn nói với tôi nhiều điều khác nữa, và thản nhiên đề cập đến mình, người tự giới thiệu một cách khách quan và không chút tự hào rằng người là một vị Chân sư. Người nói: - Đó là danh từ mà tôi thích dùng hơn mọi danh từ khác, nó thích hợp với người xưa, kể cả người cổ Ai Cập, nó cũng thích hợp với tôi. Ngày xưa, một Chân sư được mọi người biết và quả vị của người được thế gian nhìn nhận. Ngày nay, người ta không biết đến nữa, và sự hiện diện của người là một đề tài gây nên những sự châm biếm mỉa mai. Nhưng bánh xe tiến hóa vẫn quay luôn, thế kỷ này phải nhìn nhận rằng luật tiến hóa tâm linh vẫn hoạt động không ngừng, và không khỏi tạo nên những người có thể hoạt động tự do trong thể chất tâm linh tuy họ vẫn mang thể xác phàm. Tôi cảm thấy dị nhân nói có lý. Đúng vậy, đó là một trong những bậc siêu nhân mà truyền thống Đông phương vẫn thường nói đến, một trong những vị Chân sư đã từng tham dự trong đại đoàn Chưởng giáo và biết rõ những điều huyền diệu của cõi giới tâm linh mà người trần gian không hề được biết. Thay vì để cho bị phiền nhiễu bởi thế gian ô trược, các ngài âm thầm hoạt động trong vòng im lặng và bí mật. Khi nào thấy cần tiếp xúc với người đời, các ngài thường dùng các đệ tử làm trung gian, những vị này đôi khi cũng phải chịu đựng những sự chỉ trích cùng tiếng thị phi của kẻ phàm phu tục tử. Vị Chân sư này cho biết rằng người ta có thể trao đổi tư tưởng với những vị Chân sư khác tùy theo ý muốn và dầu ở cách xa bao nhiêu trong không gian. Người nói thêm rằng một vị Chân sư có thể tạm thời xử dụng thể xác của một người khác, thường là thể xác của một vị đệ tử, bằng một phương pháp gọi là nhập xác, nghĩa là linh hồn vị Chân sư nhập vào thể xác của đệ tử, vị này sẵn sàng hiến dâng thể xác mình một cách thụ động. Chân sư nói với tôi với một nụ cười nhỏ nhẹ: - Tôi đến đợi ông ở đây. Ông là văn sĩ, mà tôi thì có một thông điệp để nhắn nhủ với người đời. Ông sẽ ghi chép thông điệp ấy do tôi nói cho ông viết, vì đó là việc quan trọng. Cuộc gặp gỡ của chúng ta hôm nay chỉ là phần đầu thôi đấy, ông Paul Brunton. Tôi thụt lùi vì ngạc nhiên. Làm sao ngài biết được tên tôi? Thật đúng là các Chân sư có quyền năng đọc được tư tưởng người khác dầu rằng ở cách rất xa. Tôi mạo muội hỏi ngài: - Tôi có thể được biết quý danh của ngài chăng? Chân sư im lặng một lúc và nhìn phong cảnh ở đằng xa. Tôi nhìn gương mặt cao quý của ngài và đợi câu trả lời. Sau cùng ngài nói: - Được, chỉ để ông biết riêng mà thôi, chứ không phải để ông viết sách. Tôi không muốn tiết lộ tên thật của tôi. Ông hãy gọi tôi là Ra-Mak-Hotep. Đó là một tên Ai Cập thời cổ và tôi ngờ rằng các nhà Ai Cập học hiện đại có thể hiểu ý nghĩa của nó. Theo tôi nó nghĩa là “Bình An”. Xứ sở Ai Cập không phải là quê hương của tôi. Hiện nay, quê hương của tôi là toàn thế giới. Tôi đã từng chu du khắp năm châu bốn biển. Tôi có thân xác người phương Đông, nhưng còn tinh thần thì không thuộc về một miền nào duy nhất và trái tim tôi chỉ thuộc về cảnh “Thanh Bình”. Ngài nói khá mau với một giọng hùng hồn mạnh mẽ, nhưng rõ ràng là ngài hoàn toàn tự chủ lấy những xúc cảm của mình. Trong khoảng trên một tiếng đồng hồ, chúng tôi nói chuyện về các vấn đề tâm linh, ngồi trên đỉnh đồi dưới ánh nắng mặt trời nóng gay gắt, nhưng tôi không thấy khó chịu vì chân sư và câu chuyện của ngài chiếm cả tâm hồn tôi. Ngài nói những vấn đề liên quan đến thế giới bên ngoài và những vấn đề khác chỉ có liên hệ đến một mình tôi. Ngài đưa cho tôi những chỉ thị rõ ràng, và dạy tôi những pháp môn đặc biệt về sự tu luyện cá nhân của tôi để đạt tới một trình độ tâm linh và giác ngộ cao hơn trình độ của tôi hiện giờ. Ngài nói một cách thành thật, và thậm chi cũng nghiêm khắc chỉ trích những sự lầm lạc cá nhân đã gây một vài chướng ngại trên bước đường tu luyện của tôi. Sau cùng, ngài hẹn gặp lại tôi vào ngày hôm sau, gần một nơi thánh điện bên bờ sông Nile, trong đền thờ Louqsor. Kế đó, vẫn không rời khỏi chỗ ngồi trên tảng đá, ngài từ biệt tôi và lấy làm hối tiếc rằng ngài không thể kéo dài cuộc đàm luận với tôi vì ngài đang rất bận rộn và có nhiều việc phải làm trong lúc ấy. Tôi lấy làm tiếc mà phải đứng dậy ra về và tạm biệt Chân sư, vì cuộc đàm đạo với ngài vô cùng thú vị và hấp dẫn, nó có phong vị gây nguồn cảm hứng và nâng cao tâm hồn. Đường đi xuống chân đồi rất dốc và trơn trượt, tôi phải đi bộ xuyên qua những tảng đá lớn, một tay tôi cầm dây cương dắt con lừa. Xuống đồng bằng, tôi liền cỡi lên lưng lừa và quay lại một lần cuối để nhìn lên đỉnh đồi hùng vĩ. Chân sư Ra-Mak-Hotep vẫn chưa đứng dậy ra về mà vẫn ngồi yên trên đỉnh đồi hoang vắng. Ngài có thể làm gì ở đó? tuy "rất bận rộn," nhưng ngài vẫn ngồi yên như pho tượng? Ngài sẽ còn ngồi ở đó chăng? khi màn đêm buông xuống bao phủ trọn dãy đồi Lybie. Chân sư với cái tên Ra-Mak-Hotep chắc chắn không phải là Thần mặt trời Ra vì tên Ra đã đặt trước, trong đoạn văn nói đến cảnh “Thanh Bình”, hay cũng có thể xem cung Bảo Bình trong thiên văn Ai Cập mang ý nghĩa hòa bình. Tuy nhiên, với quý danh của chân sư được lý giải nhẹ nhàng và có lẽ, ngài không phải là người Ai Cập. Điều này nảy sinh sự hoài nghi: các thần thánh Ai Cập đến từ mảnh đất khác, mà truyền thuyết ghi nhận về “đất của Thần” ở phương Nam mà đội thuyền Ai Cập phải vượt vài vùng biển mới tới nơi. Hành trình về phương Đông Theo Hành trình về Phương Đông, tác giả Blair T.Spalding, dịch giả Nguyên Phong, Nxb Hồng Đức, có đoạn: Cuộc gặp gỡ những đạo sư đại diện cho nền minh triết cổ truyền xứ Ấn đã làm cho phái đoàn phấn khởi, nhưng còn các bậc Chân sư thì họ như thế nào? Tại sao một vị Chân sư bí mật gửi thông điệp cho các đạo sư yêu cầu giúp đỡ phái đoàn? Đây là một dấu hỏi lớn mà mọi người hết sức thắc mắc. Liệu chúng tôi có thể gặp các bậc Chân sư không? Những vị này ở đâu? Giáo sư Mortimer đã hỏi giáo sư Kavir, và ông này cho biết có quen một đạo sĩ tu hành tên Akila Bakhtir vốn thường qua lại nhiều trong dãy Tuyết Sơn và có kiến thức rộng về những hiền triết ẩn tu nơi đây. Phái đoàn bèn tìm đến đạo sĩ này, đó là một ông lão gầy như hạc, vẻ mặt lúc nào cũng tươi cười. Giáo sư Mortimer nôn nóng : - Theo lời truyền tụng thì ông đã có dịp tiếp xúc với các đạo sĩ Tuyết Sơn? Đạo sĩ xác nhận : - Đúng thế, tôi đã có dịp gặp gỡ các bậc Thánh nhân đó. - Ông tin rằng họ là những Thánh nhân? - Dĩ nhiên, không những tôi tin mà còn biết rõ họ là những bậc hiền giả. - Dựa vào tiêu chuẩn nào mà ông quả quyết như vậy? Họ có biểu diễn quyền năng hay làm gì khác người không? Liệu có thể có những bậc siêu nhân như vậy không? Đạo sĩ gật đầu: - Sự có mặt trên thế gian của những bậc thánh nhân là điều hợp lý, nếu ta tin các luật Luân hồi, Nhân quả và Tiến hoá. Nếu quan sát, ta sẽ thấy con người đều có các trình độ khác nhau. Có người kém ta rất xa, có người lại hơn ta rõ rệt. Nếu nhân loại tuần tự tiến hoá thì trải qua nhiều kiếp sống, và thời gian, tất phải có những người đã tiến bộ rất xa chứ. Theo tôi biết, đã có những người tiến xa hơn hàng ngũ nhân loại hiện nay, đã khai mở một vài giác quan thượng đẳng, quyền năng siêu việt mà ta gọi là bậc Thánh nhân. Sự thực, các quyền năng này đều tiềm tàng trong mọi người chúng ta, chờ đợi cơ hội khai mở, khi khai mở các quyền năng này, ta sẽ thấy rõ các nấc thang tiến hoá của nhân loại và nhận định rằng ở mỗi nấc thang đều đã có kẻ đạt đến. Lịch sử các quốc gia đều chứa đựng công trình vĩ đại của các bậc vĩ nhân trên mọi lãnh vực hoạt động. Những người này, trong phạm vi riêng biệt của họ đã vượt xa quần chúng và tầm hiểu biết của những người đương thời, thí dụ như các bác học, các nhà tư tưởng lớn. Sự tiến hoá chẳng qua chỉ là biểu lộ của sự sống thiêng liêng, con người càng ngày càng trở nên tốt đẹp, tế nhị vì sự sống vô cùng cần được biểu lộ qua hình thể đó. Một bậc toàn thiện là việc tự nhiên, hợp lý do sự kết tinh đến mức tuyệt đỉnh của một con đường tiến hoá dài và liên tục. Tất cả kinh điển mọi tôn giáo đều chứng minh sự hiện diện của các bậc siêu nhân. Mọi tôn giáo khi thành lập đều có các bậc Thánh nhân xuất hiện. Người Ấn có các thần linh như Brahman, Vishnu, Shiva hoặc các Đấng cao cả như Krishna, Sancharacharya. Tín đồ Phật giáo thì có đức Phật Thích Ca, đức Quan Thế Âm. Tín đồ Thiên chúa giáo thì có đấng Jesus, các nhà tiên tri, các bậc Thánh. Các bộ lạc man dã cũng có các thần linh riêng của họ. - Xin ông giải thích rõ hơn về sự tiến hoá này? - Luật tiến hoá vũ trụ định rằng mọi vật đều thay đổi theo thời gian để tiến trên những con đường định sẵn. Dĩ nhiên, đi nhanh hay chậm còn tùy cá nhân và hoàn cảnh xung quanh. Loài thảo mộc là kết tinh của loài kim thạch, loài cầm thú sau thảo mộc, và loài người tiếp theo loài cầm thú. Cũng như thế, loài người có một cứu cánh nhất định, một giới hạn mà khi họ vượt qua thì họ sẽ bước vào một giai đoạn mới. Nói cách khác, trên loài người là đời sống Siêu nhân loại. Trong mỗi con người có ba phần chính: xác thân, linh hồn và tinh thần. Tinh thần là điểm linh quang tiềm tàng trong mọi con người mà ta gọi bằng nhiều danh từ khác nhau như Phật tính, Chân ngã, Thần tính v.v... - Bằng chứng vào đâu mà ông đưa ra thuyết này? - Đây không phải là một giả thuyết, trong sự tu luyện, tôi ý thức được điều này. Các tôn giáo lớn cũng nói như thế. Đức Phật đã nói: “Mọi chúng sinh đều có Phật tính.”. Thánh Paul định nghĩa con người gồm ba phần: xác, hồn, thần... Sự tiến hoá là trở về với Thượng Đế, trở về với con người thật của mình, phát triển Phật tính của mình trọn vẹn, để giác ngộ. Danh từ tuy khác nhưng nội dung đều giống nhau, tôi cố gắng giải thích theo quan niệm mà người Âu có thể hiểu được, sự hợp nhất với Thượng Đế nghĩa là trở về với Ngài vì chúng ta đều là một phần của Ngài. Theo sự hiểu biết của tôi về luật Tiến hoá thì với con người, Thể xác họ đã phát triển khá hoàn hảo, nhưng đa số vẫn chưa chủ trị được xác thân. Một người tiến cao là người đã chủ trị được xác thân, đặt nó dưới sự kiểm soát của lý trí và linh hồn. Một người kém tiến hoá là người còn nhiều thú tính, chỉ lo nghĩ đến các đòi hỏi của thể xác như ăn uống, ngủ nghê, dục tính. Chính vì thế, họ sẽ gặp nhiều đau khổ để học lấy sự chủ trị xác thân. Thế gian là một trường học mà trong đó có yếu tố đau khổ. Sau khi chủ trị được xác thân là người tuy đã kiểm soát được hành động của xác thân, nhưng vẫn còn để tư tưởng chạy lung tung như ngựa bất kham, không theo một đường hướng nào nhất định. Sự định trí, bắt tư tưởng phải theo một đường hướng suy nghĩ sẽ đưa ta đến sự kiểm soát Thể vía. Sau đó là kiểm soát Thể trí, nghĩa là sử dụng trí tuệ để suy nghĩ, phân biệt, phá tan các tà kiến, các màng che phủ của vô minh. Định trí suy nghĩ là một việc, nhưng suy nghĩ chân chính, đúng đắn lại là một việc khác. Chỉ khi nào cả ba là thể xác, thể vía và thể trí hoàn toàn được kiểm soát thì ta sẽ hòa hợp với Chân ngã. Từ đó, phàm nhân và chân nhân hoà hợp làm một, con người sẽ tiến hoá đến một giai đoạn mới, trở nên một bậc Chân tiên. Khi đó, con người bước vào một đời sống trường cửu của tinh thần, đời sống của đấng Thượng Đế. Đó là một đời sống huy hoàng, tốt đẹp, vượt ngoài tầm hiểu biết của chúng ta và không thể diễn tả bằng ngôn ngữ. - Ông tin rằng tất cả đều tiến tới đời sống đó? - Dĩ nhiên, tiến hoá là một định luật vũ trụ và rồi ai cũng sẽ phải đi trọn con đường đó. Ta có thể làm ác, ích kỷ, đi ngược dòng tiến hóa, nhưng làm thế ta chỉ làm chậm trễ sự tiến bộ của mình, nhưng không thể chặn đứng được dòng tiến hoá của nhân loại. Vấn đề đặt ra là thời gian, con người có thể đi đến mục đích trong thời gian ngắn nhất hoặc dài nhất. Thí dụ như ta có thể bơi xuôi dòng, ngược dòng hay chơi vơi ở một chỗ, nhưng dòng nước vẫn chảy và dù muốn hay không trước sau gì thì ta cũng trôi từ nguồn đến biển cả. Sống thuận Thiên ý là bơi xuôi dòng, nghịch Thiên ý là ngược dòng. Đa số con người thường chơi vơi, không nhất quyết, lúc chìm đắm, khi nổi trôi, có lúc ngược dòng, có khi lại xuôi dòng vì chưa ý thức sáng suốt để nhận định con đường phải theo. - Nhưng làm sao biết đường nào là đường phải theo? - Chính vì con người bơ vơ, lạc lối nên mới có các bậc Thánh nhân chỉ bảo, hướng dẫn. Sự hiện diện của các bậc như Đức Phật, Đức Chúa, Đức Krishna... và các vị giáo chủ khác là để hướng dẫn cho nhân loại. Tiếc thay, con người chỉ thích nghe những ai nói thuận ý mình, đúng với điều mình mong ước, chứ không thích những điều đúng sự thật, không thích bị đánh thức... - Làm sao mình có thể biết được đâu là “đúng sự thật”? - Con người có trí khôn, có óc phân biệt để làm gì? Tại sao không chịu sử dụng chúng để lựa chọn một con đường tốt đẹp? - Ông muốn nói đến con đường Đạo? Làm sao ta có thể bước vào cửa Đạo? Đạo sĩ vuốt bộ râu mỉm cười: - Có bốn nhân duyên đưa ta đến cửa Đạo. Nhân duyên thứ nhất là gần gũi, tiếp xúc, thân cận với những bậc thiện tri thức, những người đang đi trên đường Đạo. Thí dụ như trong một tiền kiếp ta có dịp tiếp xúc với một vị đạo sư, giám mục, một người bề trên có kinh nghiệm tâm linh sâu xa. Ta hết sức khâm phục và thiết tha mong rằng mình sẽ có các kinh nghiệm như vậy. Một hoài bão như thế chắc chắn sẽ giúp ta gặp Đạo trong kiếp sau. Nhân duyên thứ hai là nghiên cứu sách vở, nghe giảng giải về đạo lý. Càng ham nghiên cứu ta càng muốn tìm hiểu và đi sâu vào Đạo nhiều hơn, dĩ nhiên khi hiểu biết, ta sẽ thay đổi đời sống để cho nó có ý nghĩa hơn và đó là bước chân vào đường Đạo. Nhân duyên thứ ba là sự mở mang trí tuệ, vì một lý do nào đó, ta nhận thức những việc xảy ra rồi phân vân, đặt câu hỏi tại sao nó lại xảy ra như vậy? Từ sự hoài nghi ta suy ngẫm, quan sát, học hỏi bằng sức mạnh của tư tưởng và có thể khám phá ra chìa khoá mầu nhiệm, các nguyên tắc đạo lý. Đây là con đường tu Thiền mà các ông đã nghe nói đến. Nhân duyên thứ tư là sự trau dồi hạnh kiểm, tu thân, làm những việc thiện, mở rộng lòng bác ái, quên mình để giúp đỡ mọi người và dần dần ánh sáng tâm linh sẽ soi sáng tâm hồn ta. - Xin ông cho biết thêm về các bậc Siêu nhân mà ông đã từng tiếp xúc. Bakhtir mỉm cười, vuốt nhẹ chùm râu bạc: - Tôi đã gặp nhiều đạo sư có quyền năng siêu việt, có vị đã sống nhiều thế kỷ và đạt quả vị rất cao. Điều đặc biệt là các ngài xét mọi sự vật với quan niệm khác hẳn chúng ta vì trong tư tưởng các ngài không còn một chút ích kỷ như đa số chúng ta. Các ngài đã loại trừ bản ngã thấp hèn, không còn sống cho mình mà cho tất cả. Ngoài đặc tính đó, các ngài còn phát triển hoàn toàn về mọi phương diện. Đa số chúng ta đều bất toàn, không mấy ai đạt đến trình độ cao tột. Ngay cả các nhà thông thái, bác học cũng chỉ đạt đến trình độ cao tột trên một phương diện nào đó thôi, và còn nhiều khía cạnh khác chưa được hoàn hảo. Chúng ta đều có mầm mống của mọi đặc tính, nhưng chỉ một vài phần thức động và phát triển không đồng đều. Các bậc Siêu nhân là người đã phát triển toàn vẹn mọi đặc tính trên phương diện ngoài tầm hiểu biết của chúng ta. Phần lớn các vị Siêu nhân đều có hình dáng bề ngoài tốt đẹp. Xác thân các ngài đều hoàn toàn về mọi phương diện và ít chịu ảnh hưởng của thời gian, có vị đã sống nhiều thế kỷ mà trông vẫn khoẻ mạnh như một người ngũ tuần. Tôi đã gặp một vị đạo sư sống hơn 2.000 năm nay, ngài cai quản một viện cổ tàng trong lòng núi. Viện cổ tàng này chứa đựng rất nhiều tài liệu dồi dào, phong phú dường như để ghi lại dấu tích toàn thể lịch sử tiến hoá của nhân loại. Trong đó có chứa đựng các hình thể của nhiều giống người đã sống trên mặt địa cầu, từ giống dân Lemura đến các loài người khổng lồ từ thời xa xưa. Có các mô hình diễn tả sự biến đổi của lớp vỏ địa cầu sau các thiên tai, cũng như sự di chuyển của các giống dân trên các lục địa. Có các bản thảo bút tự rất cổ của những bậc đạo sư, giáo chủ, như có một bản viết của chính Đức Phật khi Ngài còn là Thái tử Siđharta. Có các ngăn tủ bằng gỗ lim kiên cố chứa các tài liệu giáo lý nhiệm mầu, có thứ viết bằng các văn tự lạ lùng của những nền văn minh đã biến mất từ lâu. Ngoài ra còn có các bản đồ, mô hình các thành phố cổ xưa của quá khứ cũng như các di tích động vật rất cổ xưa... Giáo sư Mortimer lên tiếng: - Ông có nhớ chỗ đó không? Làm sao có thể đến nơi đó được? Đạo sĩ nghiêm nghị: - Dãy Hy Mã Lạp Sơn không phải nơi ai muốn đi, muốn đến dễ dàng vì nó chứa đựng nhiều bí mật huyền bí và có các tinh linh canh giữ, phải có một nhân duyên lớn mới có thể đến các thánh địa đó được. - Nhưng tại sao các bậc Siêu nhân lại cứ ẩn lánh, không ra mặt giúp đỡ nhân loại, không công bố các tài liệu mầu nhiệm đó cho mọi người? Cất dấu như thế có lợi gì đâu? - Các ngài lúc nào cũng giúp đỡ nhân loại bằng cách ban rải các luồng thần lực xuống trần gian để muôn loài có thể hưởng thụ, chả khác nào ánh sáng mặt trời đối với cây cỏ. Sự giúp đỡ của các ngài hết sức rộng lớn, ngoài sự tưởng tượng và tầm hiểu biết của con người. Việc công bố hay cất dấu các tài liệu đều có lý do mà ta không thể nghĩ bàn được... - Theo thuyết tiến hoá ông vừa trình bày, thì trên con người còn có một đời sống siêu nhân, và như thế hẳn còn các bậc cao cấp nữa? Bakhtir bật cười một hồi rồi mới trả lời: - Các ông vẫn còn quan niệm cấp bậc, hơn kém, chức tước... Một khi đã giải thoát khỏi luân hồi, sinh tử, trở nên một bậc Chân tiên thì thánh đạo chia ra làm bảy con đường cho các ngài chọn lựa. Dĩ nhiên, sự hiểu biết của tôi còn nông cạn và thiếu sót nên tôi chỉ có thể cắt nghĩa một cách sơ lược. Các ngài có thể bước vào những cảnh giới vượt xa tầm hiểu biết của chúng ta, các cảnh giới này có tên gọi như: Thượng thiên, Phi tưởng xứ, Phi phi tưởng xứ, Niết bàn... Sau khi bước vào các cõi này, một ngày nào đó các ngài sẽ chuyển kiếp xuống trần gian trong bầu thế giới tương lai như một bậc giáo chủ. Đây là con đường Dharmakaya. Các ngài có thể bước vào trạng thái tâm linh với một ý nghĩa huyền bí mà tôi không biết rõ, đây là con đường Sambhogakya. Các ngài có thể hoà hợp với kho thần lực vũ trụ để làm các công việc hợp với định luật vũ trụ, đây là con đường Nirmanakya. Các ngài có thể ở lại thế gian, giúp đỡ nhân loại, dưới hình thức một vị Bồ Tát, đây là con đường Bồ Tát Đạo (Boshivartakya). Những con đường khác ra sao, tôi không được biết rõ. Theo sự hiểu biết của tôi thì số người giải thoát đã ít, mà số người ở lại để giúp đỡ thế gian còn ít hơn. Hiện nay, tất cả đang chuẩn bị cho một vận hội mới, đó là sự lâm phàm của một Đức Chưởng giáo tương lai mà danh từ chính xác nhất được gọi là Di Lạc Bồ Tát. Bakhtir im lặng một hồi rồi tuyên bố: - Một ngày nào đó các ông sẽ hiểu biết rõ hơn điều tôi muốn nói. Thật ra các điều này đã được tiên đoán từ lâu và lưu trữ trong một viện cổ tàng ngầm dưới lòng núi xứ Tây Tạng. Các tài liệu này được các đức Lạt Ma giữ gìn rất cẩn thận. - Làm sao chúng tôi có thể xem các tài liệu vô giá đó. Xứ Tây Tạng vẫn còn chính sách bế môn toả cảng, không giao tiếp với bên ngoài, nhất là với người da trắng? Bakhtir mỉm cười bí mật: - Này các ông bạn, tôi chỉ có thể nói như thế này thôi. Sự hiện diện của các ông tại xứ Ấn không phải một việc ngẫu nhiên. Các ông tốn suốt mấy năm đi sưu tầm chân lý mà có thấy gì đâu, có đúng không? Đó chẳng qua chỉ là một thử thách mà thôi. Các ông không thấy chỉ một thời gian ngắn mà các ông đã tiếp xúc với các đạo sư minh triết nổi tiếng nhất Ấn Độ và được tiết lộ những điều chưa từng công bố cho một người Âu nào? Nếu không có thông điệp của một vị Chân sư thì làm sao các ông gặp được những người mà ngay cả tín đồ thuần hành nhất xứ Ấn cũng không dễ gì gặp được. Trong một xã hội đầy dị đoan, mê tín, hình bóng chân lý gần như phai mờ, người dân xứ này muốn còn phải mất công, thế mà các ông được chỉ dẫn những điều vô giá một cách dễ dàng. Có bao giờ các ông tự hỏi tại sao không? Một người Âu chả bao giờ chịu ngồi chung chiếu với người Ấn, vì hệ thống dị biệt, nhưng các ông đã gác bỏ thành kiến đó, dẹp bỏ tự hào dân tộc để ngồi cạnh những đạo sư rách rưới, đó là một cố gắng không nhỏ. Các ông đã vạch qua rừng người mê tín, các đạo sĩ giả mạo, bịp bợm, các tu sĩ không chân chính để tìm gặp những người đáng gặp gỡ và chăm chú nghe dạy bảo. Đó không phải là việc dễ dàng, có thể các ông không biết, nhưng các ông đã vượt qua những thử thách phi thường. Tây Tạng không bao giờ đón nhận một du khách bên ngoài, nhưng với các ông sẽ là một ngoại lệ, vì các ông được che chở bởi một vị Chân sư. Các ông sẽ lãnh một sứ mạng lớn là kêu gọi thế giới bên ngoài hãy quay về phương Đông, với quê hương tinh thần của họ. Quay về không phải để tìm kiếm một chân lý mới, một tôn giáo mới hay một kiến thức gì mới lạ. Nhưng để hiểu biết rằng chân lý luôn luôn ẩn tàng khắp nơi, tôn giáo chỉ là những con đường khác nhau đưa đến chân lý. Toàn thể phái đoàn yên lặng nhìn nhau, quả là chỉ một thời gian ngắn họ đã gặp biết bao đạo sư, được chỉ dạy những chân lý quý báu. Đó không phải một may mắn tình cờ mà như có sự sắp đặt trước. - Ông biết rằng có một vị Chân sư muốn giúp đỡ chúng tôi? - Đúng thế! Tôi biết rõ chuyện này nên các ông mới có thể gặp tôi hôm nay. Tôi biết các ông đang khao khát sự hiểu biết, thật ra một số trong các ông đã từng học Đạo từ tiền kiếp, nay trở lại Ấn Độ dưới bộ da người ngoại quốc. Tuy nhiên, các ông không nhớ những điều đã học. Nhưng khi nhân duyên đến, các ông sẽ phục hồi ký ức. Định mệnh đã dẫn dắt các ông trở lại Á Châu để hoàn tất một sứ mạng cao cả... Toàn thể mọi người ngạc nhiên và xúc động vô cùng. Lòng ao ước gặp vị Chân sư bí mật gia tăng. Giáo sư Mortimer cố gắng thốt lên vài câu: - Nhưng đến bao giờ chúng tôi mới có thể gặp Ngài? - Thời gian không còn lâu nữa, đến khi đó các ông sẽ biết. Tôi chỉ có thể nói đến đây thôi. Phái đoàn im lặng hồi lâu, sau cùng giáo sư Wentz lên tiếng: - Chúng tôi nghe nói ông biết thuật khinh công? Đạo sĩ bật cười: - Điều này đâu có gì lạ. Chỉ là một phương tiện di chuyển tầm thường, nhỏ mọn mà thôi. - Nhưng điều này phản khoa học, làm sao có thể chứng minh được? Bakhtir mỉm cười gõ nhẹ lên chiếc gậy trúc, bất ngờ thân hình ông ta nhấc bổng lên không trung như có một sợi dây vô hình kéo lên. Ông ta vẫn ngồi yên trong tư thế liên hoa không cử động. Toàn thể mọi người sửng sốt, tuy họ đã chứng kiến nhiều phép lạ nhưng sự kiện bay bổng lên không trung là một điều lạ lùng, ngoài tưởng tượng. Đạo sĩ bỗng xoay mình, thân thể ông bỗng như một cơn lốc bay vọt ra xa với một tốc độ rất nhanh, chỉ trong chớp mắt ông đã xa cách phái đoàn đến mấy chục thước. Đạo sĩ nói vọng lại: - Này các ông, tại sao con người lại phải bò lết trên mặt đất? Nếu loài người có quyền năng hơn loài thú thì y phải bay cao hơn chim, lội nhanh hơn cá chứ? Tại sao y không làm được như vậy? Phải chăng đó là quan niệm duy vật về bản chất của mình? Tư tưởng của y nghĩ rằng mình chỉ có thể đi được mà thôi. Tùy cảm nghĩ mà con người bị giới hạn hay không giới hạn, tự do hay nô lệ. Nếu biết rõ mình và phát triển khả năng của mình một cách đúng đắn, họ có thể làm hầu như mọi chuyện. Đạo sĩ lao mình vùn vụt trên con đường đất ngoằn ngoèo, chỉ qua mấy phút ông đã mất hút, chỉ để lại phía sau một đám bụi mờ. Tất cả mọi người xúc động, không ai nói nên lời, giáo sư Mortimer cầm máy ảnh nhưng không sao chụp được. … Giáo sư Mortimer run giọng: - Vậy theo ông việc gì sẽ xảy ra cho thế kỷ XX này? Sudeih Babu - Nhà chiêm tinh giỏi nhất Ấn Độ im lặng suy nghĩ một lúc rồi trả lời: Năm 1875 đánh dấu một bước tiến quan trọng, đó là sự phát triển khoa học văn minh cùng thuyết “Tiến hóa” của Darwin, và phong trào Thiên Chúa giáo tự do. Từ đây băt đầu một cuộc tranh chấp giữa tinh thần và vật chất. CÓ hai mãnh lực rất mạnh phát xuất từ hai bầu tinh tú đối cực, gây nên phong trào Duy tâm và Duy vật. Thế kỷ XX bắt đầu với sự phát triển cực thịnh của thuyết Duy vật. Con người bị thúc đẩy vào các sự kiện vật chất, họ sẽ gặp các thử thách mà như cầu bao tử, khoái cảm xác thân tranh đấu với nhu cầu tâm linh một cách mãnh liệt. Đến khoảng 25 năm cuối, từ 1975 trở đi thì phong trào Duy tâm sẽ phát triển mạnh mẽ và được phổ biến sâu rộng để thức đẩy sự tiến hóa tâm linh. Cuối thế kỷ XX, phong trào Duy vật sẽ sụp đổ, hiện tương nghiên cứu các giáo lý bí truyền sẽ bắt đầu. Này các ông bạn, bạn là những người đi tiên phong. Trước khi một sự phổ thông “Bí giáo” được thực hiện phải có những hạt giống gieo sẵn và nảy mầm. Đó là lý do các bạn được thúc đẩy để nghiên cứu những hiện tượng huyền bí phương Đông. Tác giả viết rằng: hiện nay, tất cả đang chuẩn bị cho một vận hội mới, đó là sự lâm phàm của một Đức Chưởng giáo tương lai, mà danh từ chính xác nhất được gọi là Di Lạc Bồ Tát và sự phổ thông của Bí giáo được thực hiện giúp cho nhân loại tiến bộ torng lĩnh vực tâm linh. Hội Thông Thiên Học Người lập ra hội Thông Thiên Học hàng đầu của thế kỷ XIX, bà Blavatsky (1831-1891) đã tiên đoán rằng đức Di Lạc sẽ lộ diện tại Á Châu trong khoảng năm 1950: “chúng ta đang ở trong giai đoạn cuối của chu kỳ 5.000 năm của thời kỳ Mạt pháp (Kali-yuga) hay là thời kỳ hắc ám, sau thời kỳ này là thời kỳ ánh sáng. Một sứ giả tâm linh mới sẽ được gởi đến các quốc gia phương Tây với một thông điệp tinh thần hoàn toàn mới lạ.”. Các tác phẩm quan trọng nhất của bà Blavatsky bao gồm: Những học thuyết bí ẩn, Nữ thần Isis lộ diện… Họ là những người được kính trọng, những người đã truyền cảm hứng cho việc tìm kiếm xã hội Thần bí vào năm 1875 ở New York. Qua người đại diện H.P Blavatsky, họ đã được thực hiện một bước khác trong kế hoạch chủ yếu của mình để nâng cao trình độ cho con người và đánh dấu sự khởi đầu cho một thời đại Hoàng Kim. Ở thời đại của chúng ta, kế hoạch này đòi hỏi sự đi xuống từ dãy Himalaya và sự xuất hiện trong thế giới bởi những bậc thầy vị tha bất tử, đã được dẫn dắt những bậc thầy đó không phải ai khác hơn là Thánh Di Lạc (Maitreya), bậc thầy của những bậc thầy, bậc hiền nhân của nhân loại trong kỷ nguyên mới. (trích cuốn Tiếng gọi của mặt trời, tác giả Surya Green, dịch giả Nguyễn Kim Dân, Nxb Từ điển Bách khoa, 2009). Cờ Phật giáo Tác giả Henry Steel Olcott, Hoa Kỳ file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Người phác họa ra lá cờ Phật Giáo Thế Giới là ông Henry Steel Olcott, sinh ngày 2-8-1832 tại New Jersey - Hoa Kỳ và mất ngày 17-2-1907 tại Adgar, Ấn Ðộ. Khoảng năm 1875, ông chưa hề học hỏi về giáo lý nhà Phật, nhưng khi cơ duyên đã tới, ông là phóng viên của tờ báo The New-York Daily Graphic, đã giao cho ông nhiệm vụ gặp một phụ nữ người Nga tên là Helena Petrovna Blavatsky (1831-1891) để viết bài về những sự kiện huyền bí. Tại nông trại của Eddys ở New York, hai người đã gặp nhau, từ đó bà Blavatsky đã hướng dẫn ông trên con đường đạo. Ngoài ra, trong hội Thông Thiên Học, còn có ngài Ziddu Khrisna Murti (1895-1986) triết gia Ấn Độ, với biệt danh người trầm tưởng vĩ đại. Khrisna Murti được các người thuộc hội Thông Thiên Học tôn sùng như hóa thân của Phật Di Lạc, nhưng sau này ông đã quyết liệt từ chối danh xưng trên và đã rời bỏ hội. Những lời tiên tri đã ứng nghiệm trong thực tế Câu chuyện kể về cuộc đời “Phật Sống” Lưu Công Danh giống như một huyền thoại. Ông sinh ngày 29/12/1900 tại tỉnh Kiên Giang, Việt Nam và hóa vào ngày 31/5/2003. Cuộc đời ông trải qua bao thăng trầm, từ việc ra đi tìm kế sinh nhai, có cơ duyên lập gia đình với người vợ Ấn Độ, sau đó đi tu thành Phật (năm vào rừng 1934, năm ra khỏi rừng 1939, cũng năm này ông về Ấn Độ và năm 1941 sang Campuchia trụ trì ở chùa Prệp Pra), du hành qua nhiều quốc gia và quay trở về tổ quốc. Ông là người thứ ba đắc quả vị Phật Sống tại ngôi chùa Tây Phương, chính tay Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni cùng các đệ tử xây dựng hơn 2.500 năm trước, trong khu rừng già xứ sở Ấn Độ. Ông đã thông linh trực tiếp với Đấng Tam Tông, hỏi về tình hình cá nhân mình, của Việt Nam và thế giới, và nghe những bài thuyết pháp chính từ Đấng Tam Tông (Đấng lo tôn giáo cho loài người) hết sức cụ thể, đến từng chi tiết xảy ra trong tương lai. Sau đây là nội dung tiên tri: Tiên đoán số phận Phật Sống Khi đi gần 6 năm, khi về độ hai năm vì ngươi ghé lại các chùa và nhờ sự giúp đỡ đưa đón của các chùa, chỉ đường cho ngươi đi nhanh, đức tin giúp cho ngươi có sức mạnh. Về đến nước Ấn Độ, hai năm sau đó chính quyền Anh đưa ngươi về Anh quốc vì sợ uy tín của ngươi động viên dân Ấn đòi dộc lập. Sang Anh quốc, ngươi được bảo vệ chu đáo, ăn ở sang trọng nhưng bị biệt lập. Ở Anh quốc hai năm, ngươi nhờ chính phủ Ấn can thiệp cho ngươi về một quốc gia có biên giới liền với nước ngươi được sinh ra. Ở vương quốc này, ngươi được vị vua cất cung điện cho ngươi và được tôn vinh vì sự thành chính quả của ngươi là Đức Phật Sống. Lục vua của nước này cũng được cá chùa ở Ấn báo tin sự đắc quả của ngươi thành Phật Sống. Các chùa này cũng mong nhà ngươi đến thuyết pháp. Các chùa đã báo tin cho các chùa lớn torgn toàn quốc. Ngươi ở lại vương quốc này cho đến khi nước Việt Nam có chính kiến đòi độc lập với Pháp, ngươi phải trở về nước tham gia vào việc chống ngoại xâm. Sau đó ngươi được gặp lại người vợ ở Ấn. Tiếp đó ngươi được cử qua một nước ở Châu Âu để học quân sự hơn một năm. Tại nơi học, tâm linh của ngươi đã được báo trước nước này sẽ có chính biến lớn đổi thay cả màu cờ, cả khối tan rã. Ngươi đem việc này ra nói với với người cùng học. Sau đó ngươi được cho về nước với lý do học kém vì sợ ảnh hưởng đến ngoại giao hai nước. Về nước, đến khi nước nhà toàn thắng, ngươi được vế quê quán trở lại đời thường và và tịch diệt ở nơi hẻo lánh. Tiên đoán về thế sự Độ 4800 năm nữa, ngày Chúa giáng sinh không có trăng. Đấng Tam Tông kết luận: có con người là có tất cả, không có con người là không có gì cả. Thiên nhiên tính ôn hòa nhưng con người đang làm thái quá phá hủy quy luật ôn hòa thì sẽ bị chính thiên nhiên trừng phạt bằng hai hình thức: nóng đến cực điểm và lạnh đến cực điểm. Sự sống trên trái đất sẽ bị diệt vong hoàn toàn. Độ 10 năm nữa có cuộc chiến Á Âu lớn lắm. Sau cuộc chiến này có nhiều nước thoát khỏi cảnh sống nô lệ. Thế giới lập lại nền trật tự mới. Thế lực các nước giằng co nhau. Nước gây chiến tranh bại trận đầu hàng. Sau chiến tranh, Ấn Độ được độc lập nhưng không còn nguyên vẹn: Đông Hồi, Tây Hồi, Nepal không còn là tiểu vương quốc của Ấn Độ nữa. Còn Kashmir cũng bị chia làm ba: Ấn Độ một phần, Trung Quốc một phần và Tây Hồi một phần. Cuộc tranh giàng tại đó giữa Ấn Độ và Trung Quốc khó tránh khỏi nổ ra chiến tranh. Nhưng sau chiến tranh là hòa bình lâu dài. Còn Ấn Độ với Tây Hồi thì có sự cạnh tranh chấp rất lâu dài vì không ai nhường cho ai, người dân chịu nhiều đau khổ. Phải chờ đến khi tổng thống Tây Hồi là người Ấn Độ sinh ra tại Tây Hồi, như tiền định. Vì nhớ cội nguồn nên sự thù hằn, tranh chấp được giải quyết ôn hòa đi đến hòa bình lâu dài. Vì nghĩa cũ tình xưa nơi cất tiếng khóc chào đời, nhớ lại dòng sữa ban đầu rồi cơm ăn nước uống mà việc giải quyết có tình có lý êm đẹp hơn. Sau chiến tranh, Việt Nam độc lập nhưng còn phải trải qua hai cuộc chiến tranh chống xâm lược xong rồi mới hoàn toàn độc lập thống nhất, được thế giới kính nể. Trung Quốc độc lập sau Ấn Độ nhưng không trọn vẹn lãnh thổ. Chế độ quân chủ bị xóa hoàn toàn. Chế độ mới vì người nghèo được thành lập. Còn Cao Miên, Ai Lao nhờ cùng Việt Nam đứng lên chống xâm lược nên cũng được độc lập. Riêng nước Cao Miên phải gặp một đại họa, sau đại họa thì được an cư. Nước Cao Ly độc lập chia hai thành Nam, Bắc là do cường quốc chiến thắng muốn “chia sức mạnh”. Nhật đầu hàng vô điều kiện nhưng vẫn còn vua. Vua lỗi thời, trước sau cũng bị phế truất. Kết quả là những lời tiên tri hầu hết hoàn toàn chính xác, đặc biệt trong đó có nói: “Độ 4.800 năm nữa, ngày Chúa giáng sinh không có trăng” và “Sự sống trên trái đất sẽ bị diệt vong hoàn toàn”. Chúng ta cũng sẽ tìm hiểu trong các chương sau. Sự kiện xảy ra trong cuộc đời Phật Sống Lưu Công Danh là bằng chứng cho biết những lời tiên tri đã ứng nghiệm, và vì vậy những lời tiên tri khác trên thế cũng có khả năng chính xác, bởi sự giống nhau trong những lời tiên tri đều nhận định chung về một vị Thánh nhân sẽ xuất hiện và rao giảng chính pháp cho nhân gian. (Trích một phần nội dung từ cuốn Di ngôn Phật Sống Lưu Công Danh, tác giả Hà Văn Thùy, Nxb Văn học, 2008). Những người có khả năng đặc biệt Người có điển lành cô Trúc Lâm Nương, Việt Nam Cô Trúc Lâm Nương cũng giải thuyết rằng thời kỳ này là thời kỳ mạt pháp, cuộc đời sẽ tiến đến cơ tiêu diệt, mà đó cũng chẳng qua là luật tuần hoàn đã định, vì chúng sinh gây quá nhiều quả báo, cho nên hễ vay nhiều thì phải trả nặng. Và để cứu vớt chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp, các đấng Phật, Thánh, Thần, Tiên lâm phàm: Là tri kỷ, đôi lời ta in nhắn, Phật, Thánh, Tiên xuất hiện nước non nhà. Độ chúng sinh, giữ vững khắp sơn hà, Đời mạt pháp hoằng khai thành chính pháp. Chính nhờ phép màu của Phật, Thánh, Tiên mà các hùng binh đều giải giáp, Thánh Chúa xuất hiện tại Việt Nam, lập lên đời Thượng nguyên vô cùng rực rỡ. Chúa thánh trong bài thơ có khả năng là vua Lạc Long Quân: Cơ màu nhiệm hùng binh đều giải giáp, Đời Thượng nguyên rực rỡ áng mây hồng. Khắp bầu trời tỏ rạng bóng Lạc Long, Cùng Chúa Thánh điểm tô sông núi Việt. Trước khi đi đến Hội Long Hoa, loài người phải điêu linh về tai trời ách nước như chiến tranh, nạn hồng thủy, sóng thần, dịch bệnh…, lúc này Việt Nam có Thánh chúa giáng lâm và sẽ truyền bá chính pháp ra toàn thế giới, làm rạng danh non sông Việt, Cô Trúc Lâm Nương viết: Bão tố đầy trời ngoại xứ Âu, Nước tràn lợp đất đổ nghiêng bầu. Đau lòng bạt gió chim sa bẫy, Não dạ mê mồi cá mắc câu. Rồng lộn sông vàng mây tái mặt, Sấm rền rừng thẳm núi tơi đầu. Việt Nam tỏ rạng màu Anh Thánh, Rưới đức năm châu, chủ bá hầu. Về Hội Long Hoa, cô Trúc lâm Nương có bài thơ sau đây, với câu khoán thủ “ Long Hoa Đại Hội hợp nhất linh căn”, không chỉ Phật Di Lạc ngự tại Việt Nam mà có lẽ, còn có Quan Âm Bồ Tát nữa?: Long môn Di Lạc ngự tòa sen, Hoa quí Quan Âm tọa trước đèn. Đại mở chân thần nhuần thạch thủy, Hội hòa kim tánh đượm hương sen. Hợp hoàn chín cõi trên thềm ngọc, Nhất thống năm châu dưới ánh đèn. Linh diệu phép màu qui một mối, Căn nguyên hòan bổn thắm mùi sen. Một bài thơ đã giải về cõi đời Hạ nguyên, hiện tượng khi “ba tiếng sấm nổ”, báo hiệu Hội Long Hoa bắt đầu: “Tam giáo qui nhất - Ngũ Chi hiệp Thiên đạo” nghĩa là thống nhất Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và các tôn giáo lớn như Bà La Môn giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo… hiệp chung Thiên Đạo nhưng không đồng nghĩa bỏ đạo của minh theo đạo mới, mà biểu hiện công cuộc hồi sinh Chính pháp của Đức Chí Tôn. Chính pháp thể hiện ra ở ở chỗ tổng hợp tinh hoa, đắc nhất của Tam giáo và các tôn giáo khác. Giống dân Hồng Lạc sẽ lập nên dòng Bích Ngọc, vạn quốc tới chiêm bái Thánh địa: Việt Nam xuất hiện Hạ nguyên kỳ, Thánh Tổ lâm phàm hiệp Ngũ Chi. Ba tiếng sấm vang khai địa huyệt, Bảy nguồn Thủy dựng tảo sơn kỳ. Rồng mây Phật Hội Phong Thần mạng, Sen nở, Long Hoa vạn quốc qui. Ớ hỡi! Lạc Hồng nền bích ngọc, Vững lòng Chúa ẩn, hạnh duyên tùy. Cô Trúc Lâm Nương cho rằng giống dân Lạc Hồng sẽ trổ mặt, bình trị bốn phương, các nước đều lai đầu Minh Chúa: Non tòng vị thắm chảy tràn Âu, Bát ngát hương bay khắp trọn bầu. Đương lúc gió đùa cây đổi lá, Giữa mùa sóng bủa cá vương câu. Ra nhân mở khóa năm châu hội, Trổ đức khai cơ tám hướng chầu. Hồng Lạc làu làu lòa ngọc chiếu, Bốn phương bình trị đến minh hầu. Giống dân Lạc Hồng qui phục được năm cõi mà lập nên đời Nghiêu Thuấn, chính pháp sẽ đưa con người về miền an lạc, ngay cả trong cõi đời này: Thuyền Giác muốn chèo đến bến Âu, Đón đưa căn quí hội chung bầu. Bởi xa rừng Thánh, hùm sa lưới, Vì đắm bến Trần, ngạc vướng câu. Rối dạ gió đùa dê tản lạc, Thỏa lòng biển cạn nước quay đầu. Ai hay Hồng Lạc qui năm cõi, Đất Thuấn Trời Nghiêu tụ một bầu. Cô Trúc lâm Nương nhận định rằng đến thời kỳ lập đời Thượng nguyên, đất Thuấn trời Nghiêu, thì Tam giáo qui nhất, Đức Phật Vương Di Lạc ra mặt hoằng khai chính pháp, các thánh thần tụ họp trong hội Bàn đào của Tây Vương Mẫu: Lập đời thượng cổ Đạo cao thâm, Tam giáo qui nguyên định chẳng lầm. Chính pháp hoằng khai ngôi Di Lạc, Quần tu phổ độ sắc Quan Âm. Tam thiên Ngũ hiệp qui lai thế, Thất thập nhị hiền tụ giáng lâm. Bốn hướng tuần du công Thánh Mẫu, Bàn đào mở hội đón linh căn. Chính đó là thời kỳ bình trị, muôn dân lạc nghiệp âu ca, chừng đó mới biết nhà Nam có chốn mang tên “Bảo Hà”: Lạc Hồng rỡ rỡ chốn triều ca, Mới biết nhà Nam có Bảo hà. Xích Tử ra đời an vạn quốc, Hào quang chói rạng khắp gần xa. Xà chuyển ánh hồng rọi sắc Long, Mới hay cháu Phụng với con Rồng. Càn Khôn chuyển máy Âm Dương định, Rực rỡ muôn năm ánh Lạc Hồng. Thượng cổ lai hoàn dấu Lạc Long, Huyền cơ xoay chuyển rực trời hồng. Vân môn trước địa chi thiên lý, Hội chốn Bảo hà mới rõ thông. Nhưng chốn Bảo Hà cũng thường gọi là Bảo Giang ở đâu? chính đó là bí quyết để tìm ra chỗ Thánh vương xuất hiện, mà cô Trúc Lâm Nương thường thử thách: Đố ai biết Bảo giang môn? Là nơi Thánh địa Thiên Tôn định phần. Làu làu ngọc chiếu cảnh trần, Là nơi Tiên, Phật, Thánh, Thần xuất thân. Xuất kim thân hóa kim thân, Ly nơi Đông thổ xoay vần Tây phương. Hay: Tìm cho đến Bảo giang môn, Là nơi Chúa Thánh Chí Tôn tọa thiền. Cầu xin được phép diệu huyền, Hài vân thoăn thoát đến miền Đế Kinh. Đợi thời trăng lặng bể kình, Long Hoa thành tựu phỉ tình ngao du. Về danh từ Bảo Giang hay Bảo Hà, chúng ta thấy cô vẫn nhắc đến luôn nhưng Bảo giang ở nơi nào? Nếu nghiên cứu về Sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, chắc nhận thấy danh từ Bảo Giang cũng được xuất hiện: Lại nói sự Hoàng giang sinh Thánh, Sông Bảo giang Thiên định ai hay? Hoặc là: Trí xem nhiệm nhặt cho tường, Bảo giang Thánh xuất trung ương thuở này. Hay là: Bảo giang Thiên tử xuất, Bất chiến tự nhiên thành. Cô cho biết Bảo giang là nơi xuất Thánh nhưng không chỉ Bảo giang là ở nơi nào. Cô rất tha thiết trông mong Thánh vương xuất hiện: Chí khí công minh chí nguyện thành, Tâm hòa ý đẹp nhất tầm sinh. Mộng người đại đức nơi thềm ngọc, Tưởng kẻ từ bi chốn cửa thanh. Thánh đạo nghiệp duyên còn chọn đón, Vương minh ngôi vị sẵn riêng dành. Xuất năm Rồng giỡn cùng non nước, Hiện giữa trời Nam một giống lành. Giáo huấn tâm linh của tiến sĩ Lương Minh Đáng Giáo sư, Bác sĩ, Tiến sĩ, Huân tước, Đại hiệp sĩ Prof. Dr. Sir Master Lương Minh Đáng (1942-2007), người sáng lập ra pháp môn Nhân Điện trên toàn thế giới với mục đích ”Nhân Loại - Giác ngộ - Tình thương”. Sau khi mất, các môn sinh thông linh trực tiếp với linh hồn ông và nhận được một số giáo huấn tâm linh, dưới đây là trích dẫn nội dung Giáo huấn số 8 của giáo chủ Lương Minh Đáng 21 tháng 8, năm 2008: Hơn thầy, trần gian sẽ có, Sẽ có một người, thầy thường nhắc luôn. Một người thương hết mọi người, Mọi người cũng sẽ yêu thương người này. Người này linh hồn thuở xưa, Thuở xưa trở lại, Thượng Thiên mong chờ. Mong chờ xuất thế lập đời, Lập đời, đổi hết từ trong ra ngoài. Thánh nhân trở lại ở trong tình trạng “linh hồn”, được sự mong chờ của Thượng Thiên đã từ lâu. Vị Thánh nhân này chắc có lẽ, mọi người thực ra cũng đã biết?, ngài sẽ xuất thế lập đời, trùng tổ canh tân. Thông điệp tâm linh của một thiền sinh Thiền sinh nhận được một số thông điệp tâm linh, tuy nhiên chỉ ghi nhận một phần nội dung Thông điệp số 2, giai đoạn 3 ngày 07/06/2010: … Thời nay, may mắn là có hai vị Tự Chủ xuống trần gian, ở cùng một địa cầu và xuống cùng một Thánh địa Âu Lạc nữa. Là điều quan trọng Ngài Tạo Hóa đã ân điển và sắp xếp rồi, ngày nay địa cầu này là may mắn nhất so với các tinh cầu khác, vũ trụ và hằng hà sa số đại vũ trụ Càn Khôn nữa. Sư phụ Tự chủ Đấng sáng tạo nói tiếp, từ lúc bây giờ đây là thời cuối, kết thúc của đại chu kỳ này, là thanh lọc sạch sẽ, sửa sang tất cả lại, thì sự việc này đâu có dễ chút nào đâu. Nên chúng ta hãy cẩn thận mà trân quý từng giây phút này để nhận được năng lực to lớn vô cùng tận. Khi Kim cương thân của Không Sư phụ Tự chủ Đấng Sáng tạo hiện hữu tại thế là vô cùng quý báu, chưa từng có bao giờ, đừng để chậm lại thì uổng lắm đó. Hãy trân quý, trân quý từng sátna, từng giây, từng phút, từng giờ. Trong giây phút khẩn cấp, nóng bỏng này, nhớ ghi lấy lời Ngài dạy và gìn giữ không được gợn động, giữ im lặng. Nhớ nhất là trong khi Ngài giảng kinh tạng sống thì chấn động lực phát ra trực tiếp từ Kim cương thân của Không Sư phụ Tự chủ Đấng Sáng tạo vô cùng mạnh mẽ và xóa đi biết bao nhiêu kiếp sống của con người từ hữu hình đến vô hình, còn tồn tại trong thân của chúng ta, mỗi một kiếp sống lại tạo ra biết bao nhiêu nghiệp chướng. Giờ đây may mắn quá sức rồi, được Ngài gội rửa đi, chứ nói tu gì đâu mà tu, ân điển thời mạt pháp này Ngài xuống để cứu rỗi những linh hồn đang đắm chìm triền miên, khổ ải không biết bao tỷ tỷ năm nữa cả, nên họ ở mãi đó thôi, làm sao thoát cho được. Nên thời nay mạt pháp, đúng lẽ ra không bao giờ có cả, chỉ có thời đại chính pháp các Ngài mới xuất hiện mà thôi. Nhưng ân điển quá lớn, thời mạt pháp lại có hai vị Tự Chủ xuống cùng một lúc, ở cùng một địa cầu, tại cùng Thánh địa Âu Lạc. Vô cùng, vô cùng quý báu, quý báu, mà con người lại còn làm chuyện vô minh nữa, không biết đời nào mới thoát ra được, nên giờ đây Ngài phải cứu tất cả linh hồn đó, còn có những linh hồn còn sống họ khát khao tìm về chân lý thì Ngài sẽ giúp cho liền và trực tiếp dạy dỗ cho họ. Điểm quan trọng là nơi đây, chứ nói chi ba cái chuyện mà các ông bà lãnh đạo chưa làm được, nên phải cứu giúp họ là ở điểm quan trọng này đây, còn lại những chuyện khác chưa tính tới. Chúng ta quá ư nhiều phước báu, lại ở gần Ngài, trực tiếp gặp Ngài trong Kim Cương thân Ngài nữa. Chao ôi! Quá tuyệt vời rồi, nên chúng ta phải cướp lấy từ giây phút này nhé các bạn. … vì vậy, thời đại nào cũng có Minh Sư cao cấp xuống trần gian để cứu lại địa cầu và giữ được địa cầu, đó là điểm quan trọng. Chứ để loài người sống tự do thì không còn gì mà tồn tại cả, phá hủy hết. Khi Đấng Sáng Tạo đã dày công tạo dựng, tốn biết bao công năng của Tạo Hóa mới tạo được, mà con người sống trong đó coi rất bình thường nên mới phá hủy môt cách an nhiên, không thương tiếc. Con người chúng ta cũng vậy, linh hồn do Ngài sáng tạo mà cũng không gìn giữ, con người đem ba thứ thuốc độc hại chết đi linh hồn, điều này đáng sợ cho con người. Không biết bao giờ mới được làm người, mà không biết trân quý và giữ gìn nó mà học hỏi, tu hành để có được quyền Tự Chủ giống như các Ngài vậy. Tại họ còn quá vô minh, không biết con người quý đến mức nào, nên họ mới lầm lạc ở chỗ này, bỏ lỡ cơ hội làm người rồi thì biết bao lâu mới có được và gặp được Minh Sư cao cấp nữa thì khó đến trăm vạn lần, nên ngày nay là ân điển cho nhân loại quá rồi. Hãy trân quý mà nắm lấy cơ hội lần cuối, giữ gìn nó và bảo bọc để có thể gặp được Kim cương thân của Không Sư phụ Tự chủ Đấng Sáng tạo, về được cội nguồn nguyên thủy không có gì khó nữa. Mong tất cả con người, nhân loại, và tất cả vô giới hạn chúng sinh sớm được ân điển này. … Tại Thánh địa Âu Lạc, đất nước nhỏ bé kia, Mong nhân loại, đồng tu trong và ngoài nước, Hãy mau mau tìm về Âu Lạc quê hương, Thánh địa mẹ hiền ChingHai giáng thế. Hai vị Tự Chủ ở cùng một địa cầu, Nếu không có hai vị Tự Chủ ngự từ lâu, Địa cầu ngày nay thành tro bụi mất rồi, Chứ nói chi đến con người nhỏ mọn. Sống trong địa cầu chẳng biết bảo vệ cho Nếu không có hai vị Tự Chủ anh minh, Giữ được địa cầu tươi sáng lại, Nhờ năng lực Ngài nuôi dưỡng cả Càn Khôn, Bao bọc, thương yêu từng giây, từng phút. … Thông điệp nói về hai vị Thánh nhân tại nước Âu Lạc, Âu Lạc là tên gọi quốc gia Văn Lang thời vua An Dương Vương (thời gian tại vị khoảng từ 257-208 tr.CN). Điều này cho phép nhận định hai vị Thánh nhân có lịch sử trước cả thời cua An Dương Vương, nếu chấp nhận ý nghĩa Giáo huấn từ tiến sĩ Lương Minh Đáng, các vị mang dáng vẻ “linh hồn”. Thông điệp của công chúa Nhật Bản Đó là bài phát biểu của công chúa Nhật Bản Kaoru Nakamaru, trong Hội nghị Pythagoras toàn cầu 2012 vào ngày mồng 02/01/2012 vừa qua. Sau đây là nội dung bài diễn thuyết của bà: Tôi là Kaoru Nakamaru, công chúa Nhật Bản.cháu gái của Nhật hoàng Meiji Về cơ bản, loài người chúng ta là ánh sáng và tình thương, bởi vì đó là một phần của Đấng Tạo Hóa ban cho chúng ta, trong tâm hồn, và rằng chúng ta hiện thân ở đây nhờ thân xác thịt trên Trái đất, nhưng còn tinh thần thì đi, đi mãi, vẫn tiếp tục sống. Trên Trái đất này, tôi có thể nhớ được cuộc sống của mình, nhiều ngàn năm trước ở trên hành tinh này. Và ngoài ra tôi còn từng sống ở nhiều vùng đất khác nhau trên hành tinh này. Tất cả những ký ức đó trở lại với tôi, và tôi thậm chí còn có thể nói thứ ngôn ngữ mà tôi chưa từng học bao giờ [trong kiếp này]. Nghĩa là, thực sự, tôi đã trải nghiệm rằng thuyết luân hồi là sự thật. Vâng,… bất cứ ai lắng nghe hội thảo này đi nữa, cứ nghĩ như thể là loài người đang an toàn. Chúng ta đã bị chia rẽ sâu sắc từ sau năm 1913, một bên là những người tin vào quan niệm [luân hồi] loại này, còn một bên thì không. Họ đã chia rẽ vô cùng sâu sắc. Và với bên những người mà không hiểu điều này hoặc không tin điều này, hoặc hoàn toàn ngờ vực sự tồn tại của thế giới tâm linh, thì họ sẽ bị sinh ra ở những cảnh giới khác rất giống như Trái đất này, những nơi đó đầy bạo lực và chiến tranh. Họ sẽ bị sinh ra ở những cảnh giới đó. Vì vậy, giờ đây chúng ta được chuẩn bị sẵn sàng nhờ hội thảo tuyệt diệu này. [Điều đó sẽ đến] rất sớm, rất nhanh. Chúng ta hãy xem tiếp các chương sau để xác minh lại bài pháp biểu này “sự tồn tại của thế giới tâm linh”. Thiên Tượng Kinh văn cổ luôn nói đến khi xuất hiện một vị Phật, Bồ Tát, Chúa, Thánh, Thần, Tiên thì xảy ra những hiện tượng tự nhiên, biểu lộ điềm báo trước sự kiện. Bằng con mắt huyền môn, các bậc chân sư hay những nhà nghiên cứu uyên thâm sẽ phát hiện ra, chúng ta hãy cùng tham khảo một số thiên tượng xảy ra trong thời gian qua, chắc chắn một số người cũng đã từng nhận biết trên các kênh thông tin phổ thông. Hoa Ưu đàm bà la bừng nở Truyền thuyết kể rằng hoa Ưu đàm Bà La (Udumbara) 3000 năm mới nở một lần. Đáng chú ý là trong những năm gần đây, hoa Ưu đàm đã được nhìn thấy khai nở ở nhiều nơi trên thế giới, truyền thuyết trở thành hiện thực, đã khiến hàng ngàn người chứng kiến cảm thấy vô cùng kinh ngạc và thích thú. Hoa Ưu đàm nở đã được trông thấy lần đầu tiên tại Hàn Quốc vào năm 1997, những bông hoa sau đó đã được tìm thấy tại Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Bắc California, New York và Texas. Sự kiện hoa Ưu đàm khai nở có ý nghĩa gì. Theo kinh Phật ghi chép, “Ưu Đàm Bà La” trong tiếng Phạn, có nghĩa là “một loài hoa mang đến điềm lành từ Thiên đường.”, quyển 8 kinh “Huệ Lâm Âm Nghĩa” của Phật giáo viết: “Hoa Ưu Đàm do điềm lành linh dị sinh ra, đây là một loài hoa của Trời, trên thế gian không có. Nếu một đấng Như Lai hoặc Chuyển Luân Thánh Vương hạ xuống thế gian con người, loài hoa này sẽ xuất hiện nhờ đại ân và đại đức của Ngài.”. Tức là theo kinh Phật viết, sự khai nở của hoa Ưu đàm báo hiệu Đức Chuyển Luân Thánh Vương đã tới thế gian, nói cách khác, Phật Thích Ca Mâu Ni đã có dự ngôn từ rất lâu để nói với con người về thiên cơ rằng hoa Ưu Đàm sẽ khai nở khi Đức Chuyển Luân Thánh Vương truyền Pháp độ nhân. Hoa Ưu Đàm Bà La khai nở Tượng Bồ Tát, chùa Sumi Zen, Suncheon, Hàn Quốc (ảnh Minh Huệ) file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Theo kinh Phật ghi chép, Ưu Đàm Bà La trong tiếng Phạn có nghĩa là “một loài hoa mang đến điềm lành từ Thiên đường”. Quyển 8 kinh Huệ Lâm Âm Nghĩa viết: “Hoa Ưu Đàm do điềm lành linh dị sinh ra; đây là một loài hoa của Trời, trên thế gian không có. Nếu một đấng Như Lai hoặc Chuyển Luân Thánh Vương hạ xuống thế gian con người, loài hoa này sẽ xuất hiện nhờ đại ân và đại đức của Ngài.”. Kinh Phật Vô Lượng Thọ cũng ghi lại rằng “con người sẽ phát hiện ra rằng hoa Ưu Đàm là một dấu hiệu tiên tri”. Sự khai nở của hoa Ưu Đàm, một sự kiện hy hữu chỉ xảy ra 3.000 một lần, là một dấu hiệu cho thấy thời kỳ Phật Pháp hồng truyền tại nhân gian để độ nhân đã bắt đầu. Nói cách khác, Phật Thích Ca Mâu Ni đã có dự ngôn từ rất lâu để nói với con người về thiên cơ rằng: khi hoa Ưu Đàm khai nở thì Đức Chuyển Luân Thánh Vương sẽ có mặt tại nhân gian để truyền pháp độ nhân, đó chính là Phật Di Lạc (Maitreya - Từ Thị), vị Phật lấy từ bi làm gốc. Vương Phật là Phật Vua, tức là vị Phật thay mặt Đức Chí Tôn làm vua cai quản Càn Khôn thế giới và vạn linh trong thời Tam kỳ phổ độ. Di Lạc Vương Phật là vị Phật Vương tương lai, giáng sinh xuống cõi trần làm giáo chủ hội Long Hoa. Trong chùa Labrang thuộc huyện Hạ Hà, tỉnh tự trị dân tộc Tạng ở miền Nam Cam Túc, Trung Quốc có một vài bức tượng tiết lộ huyền cơ về Phật Vương Di Lạc hạ thế độ nhân. Chùa Labrang được xây vào những năm Khang Hy của triều Thanh (năm 1709), gọi tắt là chùa Trát Tây Kỳ tức chùa Cát Tường. Bởi vì đời thứ nhất và đời thứ hai chủ xây chùa này đều là các Phật sống thâm hiểu thiên cơ, nên cách tạo tượng lưỡng tôn Di Lạc Đại Phật trong chùa có ý vị rất thâm thúy. Lưỡng Tôn Phật Chùa Labrang ở Cam Túc, Trung Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Chùa Labrang, tỉnh Cam Túc, Trung Quốc thuộc Phật giáo Tây Tạng. Trong chùa Labrang là một tượng đồng mạ vàng tư thế nửa ngồi nửa đứng của Đại Phật Di Lặc, vị Phật tương lai, ám chỉ Phật Di Lặc rời khỏi ngai mang Pháp Luân tới nhân gian cứu độ thế nhân. Tại hậu điện phía Tây, bên cạnh đại sảnh đường trong tự viện thờ cúng một tượng đồng Đại Phật Di Lạc mạ vàng tư thế nửa ngồi nửa đứng, hai tay đặt trước ngực. Theo lời giải thích của vị Lạt Ma hướng dẫn tham quan khi được hỏi về tư thế tay của Phật: “Di Lạc Vương Phật đang hướng về thế gian chuyển Pháp Luân! Ngài nửa đứng nửa ngồi, ám chỉ ngài sắp đem Pháp Luân tới nhân gian cứu độ thế nhân”. Ở chính giữa Đại Kim Ngõa điện thờ cúng Phật Vương Di Lạc là một tượng đồng mạ vàng khổng lồ. Ngay bên dưới, phía trước mặt tượng Phật Vương Di Lạc là một tượng Phật nhỏ bằng đồng thờ Phật Thích Ca Mâu Ni. Cách bài trí tượng hai vị Tôn Phật, một trước một sau, một lớn một nhỏ, một cao một thấp trong cùng chính điện quả thực là hiếm thấy. Điện đường thờ cúng Phật Thích Ca Mâu Ni được gọi là Tiểu Kim Ngõa điện, còn Di Lạc Vương Phật điện được gọi là Đại Kim Ngõa điện. Có bài thơ nói về hoa Ưu đàm bà la như sau: Ưu tuyệt vời Tam tòa Thánh giáng cơ, Đàm Thiên Nhân Địa chính Tôn cơ. Hoa Long chi thấu mùi hương lạ, Nở rộ “ba ngàn” tuyết như tơ. Cám cảnh lòng ngay thời mặt thế, Ơn nhờ chiêu tuyết Ngọc Đế ban. Phật Tổ cuối thời buông Chính Pháp, Trước tác vẫn còn Bi Trí Dũng. Kia đã rồi đây Tổ tiếp cờ. Ưu nhất Tiên thiên Đạo tại người, Đàm linh bất hoại bởi Cha Trời. Hoa đào muôn tuổi xuân Thánh đức, Long giáng Rồng thiêng xuất thế chơi. Tam thế Tam ngôi Tam tòa Thánh, Thiên cơ đã thấu đến muôn nơi. Hội này bảy ức muôn năm thịnh, Sáng dạ tay ta đã đến thời. Ưu thuyết chính kinh giảng khắp rồi, Đàm nhân pháp chính đúng một người. Hoa kia Thượng đế gieo mùa đến, Nở khắp nhân gian hợp nhất nuôi. Chuyển trục tâm linh thay tất cả, Thế giới đại đồng một quy khôi. Thay đổi tên xưa quy ba cõi, Ngôi nhị Trung Thiên giáng khắp nơi. Ưu điểm không còn thiếu Đạo cao, Đàm nguyên vũ trụ Bắc Đẩu trao. Hoa màu tuyết trắng linh hồn xuất, Nở khắp nhân gian hợp cội nào. Thiên Đế cho con xuống thế này, Đường xưa nay đón chúng ta nay. Thế Tôn nhập diệt, Thiên Tôn xuống, Gian ngọc thế gian Ngọc Đế Thầy. Thiên trượng Bảy sao quyền Thượng Đế, Đạo chuyển luân vương chính luật đây. (trích của tác giả Trần Thế Thuận Thiên Hành Đạo) Quan Âm Bồ Tát hiển linh Bán đảo Sơn Trà nằm cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 10km về phía Đông Bắc, với độ cao 693m so với mực nước biển là một đặc ân mà thiên nhiên đã hào phóng ban tặng cho Đà Nẵng. Không biết từ bao giờ, ở Sơn Trà có một địa danh mang cái tên rất huyền nhiệm Bãi Bụt. Tương truyền, người dân nhiều lần thấy Quan Thế Âm Bồ Tát tay bồng hài nhi đi từ phía biển vào, nên gọi nơi đây là Bãi Bụt, và thật đúng với câu “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” của dân gian. Nhìn ra phía trước là vịnh Đà Nẵng, biển lặng yên đẹp như một bức tranh. Bên phải là một phần bán đảo Sơn Trà với bãi biển tuyệt đẹp viền quanh, xa xa là Ngũ Hành Sơn, Cù Lao Chàm nổi lên giữa biển như một con rùa khổng lồ, đèo Hải Vân bềnh bồng trong mây. Trong dáng nhoài người vươn ra biển, Sơn Trà luôn là một bức bình phong khổng lồ che chắn bão giông cho thành phố. Chùa Linh Ứng và bờ biển du lịch Bãi Bụt, bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg <br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Ngày 19 tháng 6 năm 2004 (âm lịch), ngôi chùa Linh Ứng Bãi Bụt được khởi công xây dựng, đây là ngôi chùa đẹp nhất, lớn nhất và… trẻ nhất trong 3 ngôi Linh Ứng Tự ở Đà Nẵng. Linh Ứng Non Nước nằm trên hòn Thủy của núi Ngũ Hành Sơn, Linh Ứng Bà Nà nằm trên đỉnh Bà Nà - “Đà Lạt của miền Trung” và Linh Ứng Bãi Bụt nằm ở sườn bán đảo Sơn Trà, cả ba cùng hộ thế một góc biển trời Đà Nẵng. Bằng mắt thường chúng ta có thể định vị được vị trí tam giác của ba ngôi chùa. Đặc biệt, tại chùa Linh Ứng Bãi Bụt có tượng Quan Thế Âm Bồ Tát cao nhất Việt Nam (cao 67m, đường kính tòa sen 35m). Công trình hoành tráng này do điêu khắc gia Thụy Lam xây dựng. Tượng đứng tựa lưng vào núi, hướng ra biển, Quan Âm Bồ Tát với đôi mắt hiền từ nhìn xuống, một tay bắt ấn Tam muội, tay kia cầm bình nước cam lồ. Trên mão tượng Quan Thế Âm có tượng Phật A Di Đà cao 2m. Trong lòng tượng có 17 tầng, mỗi tầng đều có bệ thờ tổng cộng 21 bức tượng Phật với hình dáng, vẻ mặt, tư thế khác nhau, gọi là “Phật trung hữu Phật”. Tại ngôi chùa Linh Ứng Bãi Bụt đã và đang xảy ra một hiện tượng “màu nhiệm”, đó là hào quang tỏa sáng trên bức tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Vào lúc khoảng 11h00’ trưa ngày 16/8/2008, giữa lúc đang thi công phần mão tượng, các công nhân bất ngờ thấy một vầng hào quang tỏa sáng ngay trên đầu bức tượng. Ai nấy đều sững sờ trước cảnh tượng quá đỗi kỳ vĩ chưa từng thấy này, mọi người cùng đồng loạt cầm tay nhau múa chung quanh chân tượng. Một vị sư trong chùa nhanh tay chụp lại được hình ảnh đó, nhưng câu chuyện được giữ kín như giữ một “bí mật nhiệm mầu". Không ngờ hiện tượng hào quang tỏa sáng lại tiếp tục diễn ra thêm nhiều lần trên bức tượng Quan Thế Âm Bồ Tát và cả ngay trên lễ đài Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhân ngày lễ Phật Đản năm 2009. Hào quang trên tượng Phật Chùa Linh Ứng Bãi Bụt, Đà Nẵng, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Lúc 11h00’ ngày 16/8/2008, lần đầu tiên xuất hiện vầng hào quang khi đang thi công phần mão tượng và vầng hào quang toả sáng rực rỡ trên lễ đài Phật đản lúc 10h10’ ngày 14/4/2009. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Hào quang xuất hiện lúc 10h30’ ngày 19/3 âm lịch, 2009; Lúc 10h30’ ngày 14/5/2009; Ngày 22/5/2009, hào quang tiếp tục xuất hiện; Hòa thượng Thích Thiện Nguyện trước tượng Quan Thế Âm đang xuất hiện vầng hào quang lúc 11h15’ ngày 4/6 âm lịch, 2009; Hào quang chiếu diệu lúc 9h23’ ngày 19/7/2009. Hào quang tỏa sáng là một hiện tượng thiên nhiên khá kỳ thú, thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trên bầu trời Đà Nẵng, nhất là từ khoảng cuối xuân đến đầu thu, tuy nhiên đã có một sự trùng hợp kỳ lạ là rất nhiều lần hào quang tỏa chiếu xuống bức tượng Quan Thế Âm Bồ Tát chùa Linh Ứng Bãi Bụt, Đà Nẵng, thật “huyền diệu” và có lẽ hiện tượng này sẽ nói lên những điều gì với chúng ta chăng? Không chỉ vậy, Đà Nẵng cũng là thành phố đầu tiên của Việt Nam cũng như trên thế giới được triển lãm tượng Phật Ngọc, là pho tượng Phật bằng ngọc bích quý lớn nhất thế giới hiện nay, tượng Phật Ngọc thiêng liêng này cũng được gọi là “Phật Ngọc Hòa Bình Thế Giới”. Về xuất xứ khối ngọc thạch, Phật tử Lan Green cho biết, theo giấc mơ về một khối ngọc thạch tỏa sáng trên vùng Bắc Cực của Lat-ma Zopa Rinpoche và lời khuyên của ngài, ông đến mỏ ngọc thạch ở miền Bắc Canada với hy vọng có thể tìm được khối ngọc thạch như ý để tôn tạo tượng Phật. Ông đã tìm thấy khối ngọc thạch có tên gọi Niềm kiêu hãnh của Bắc Cực (Polar Pride), nặng 18 tấn, không tì vết, được đánh giá là “khám phá của Thiên niên kỷ”, được khai thác trong năm 2000. Ông liền phát tâm bồ đề và đấu giá mua được khối ngọc thạch này, và chuyển đến Thái Lan để tôn tạo tượng Phật. Cuối năm 2008, tượng Phật Ngọc hoàn thành, cao 3.5m, nặng 4.5 tấn và phỏng theo mẫu tượng Phật trong tháp Đại Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ. Chùa Quan Âm tại Đà Nẵng được chọn là nơi đầu tiên trong chương trình triển lãm Phật Ngọc nhiều nước trên thế giới, Phật Ngọc được cung nghênh từ Thái Lan đến Đà Nẵng và tôn trí tại chùa Quan Thế Âm nhân Lễ hội Quan Âm hằng năm. Tượng Phật Ngọc đã gỡ niêm phong Chùa Quan Thế Âm, Đà Nẵng, Việt Nam Phật Ngọc Quan Âm Chùa Quan Thế Âm, Đà Nẵng, Việt Nam file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image022.jpg Sau khi hoàn thành “Phật ngọc Hòa bình thế giới”, được sự đồng thuận của Lạt ma Zopa Rinpoche, cùng đạo tâm và lòng ưu ái, ông Ian Green đã nhường một phần khối ngọc còn lại cho Chùa Quan Thế Âm tại Đà Nẵng để chùa thực hiện tôn tượng Phật Bà Quan Âm, hay “Phật Ngọc Quan Âm cho tình thương nhân loại” với ước nguyện cho hòa bình thế giới được bền vững. Lễ chú tượng tại ngôi chùa cổ Đồi Thông, tỉnh ChiangRai, Thái Lan, tại buổi lễ gia trì, vua Sãi của đất nước Chùa Vàng đã trực tiếp khai nhãn cho pho tượng, ông VaNit giám đốc xưởng điêu khắc ngọc tại ChiangRai cho biết: “Qua nhiều đời làm nghề chế tác tượng, lần đầu tiên tôi mới chứng kiến Vua Sãi trực tiếp ấn chú khai nhãn cho tượng Phật, thường thì ngài ngồi từ xa tụng niệm gia trì, đây quả thật là một cơ duyên lớn”. Ngọn núi Ngũ Hành Sơn - đây chính là ngọn núi được đặt tên trong câu truyện nổi tiếng thế giới Tây Du Ký và truyện cổ Sự tích núi Ngũ Hành của Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Đặc biệt, xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Nội cũng có ngọn núi tên Ngũ Hành Sơn (tên Nôm là núi Trầm), có ngôi chùa Trầm nằm ngay bên sườn núi, đây là ngôi chùa cổ còn lưu giữ những bí ẩn thời các vua Hùng, trong các chương sách sau chúng ta sẽ được biết. Một góc núi Ngũ Hành Sơn (núi Trầm) Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Nội file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image024.jpg Trong thời gian gần đây, cũng xuất hiện nhiều các hiện tượng tự nhiên kỳ lạ và đẹp mắt như hình ảnh của các linh thú rồng, lân… ở một số vùng ở Việt Nam, mà dân gian cho rằng chúng là điềm lành của một thời an bình, thịnh trị sẽ tới. Mây hình Rồng và vảy Rồng ở T.p Hồ Chí Minh và Hà Nội Ảnh Nguyễn Thành Chiến, ngày 20/7/2010, T.p Hồ Chí Minh file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image026.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image028.jpg Hành giả đã thay đổi và điều khiển được tâm tính của mình, chứng ngộ được sự nhiệm màu của tạo hóa ở trong ta và trong vạn vật nhưng việc áp dụng vào cuộc đời mới thực sự là một bước không đơn giản, tuy nhiên hành giả vẫn có thể dễ dàng vượt qua. Nếu vượt qua được và phát nguyện “Tâm Bồ Đề” với hành trang “bi, trí, dũng” để hóa độ chúng sinh thì thật sự đã tham dự vào hành Bồ Tát rồi. Kết quả, sự rèn luyện và chứng ngộ của hành giả là không hoàn toàn tách rời khỏi cuộc sống này, khi hành giả đạt “Tính Không” thường trực nhưng vẫn nhận thấy hòa nhập vào cuộc đời, vẫn cảm xúc an lạc hay vẫn tồn tại “Tính Có”, nhưng trong Tâm có lẽ vẫn nhận thức một chân lý: Ta và vạn vật vẫn bất diệt đối với cả cái “chết”, đó chính là điều tuyệt diệu nhất và do vậy mà dân gian có câu: “ Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Hoàng Long vân giáng Đúng 8 giờ sáng ngày 26/8/1998 (tức ngày mồng 5 tháng Bảy âm lịch) là ngày giỗ vua Lý Anh Tông - vị vua thứ sáu của vương triều nhà Lý. Giữa lúc trống giong, cờ mở và lễ hội rực rỡ sắc màu, khi các bô lão đang tiến hành lễ tế thì trên trời bỗng đâu xuất hiện 11 vầng mây trắng, các vầng mây đậu lại trên đỉnh “Thọ lăng Thiên đức” - nơi đặt 11 lăng của các đức trị nhà Lý. Qua hồ bán nguyệt, 3 đám tự nhiên rã ra và 8 vầng mây tụ lại trên trời xanh thăm thẳm, ứng với 8 đời vua nhà Lý. Sự kỳ diệu của tạo hóa chẳng biết có phải là ngẫu nhiên hay không, song nó đã làm nức lòng bao người có mặt, không khí lễ hội trở nên trang trọng lạ thường. Tám vầng mây nằm song song giữa nền xanh thiên thanh, phủ phục trên đỉnh đền cổ kính 45 phút cho tới khi buổi tế kết thúc. Hoàng Long vân giáng Ảnh tác giả Nguyễn Đức Thìn file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Trước cảnh tượng kỳ thú trên, không ít người liên tưởng tới sự kiện vua Lý Thái Tổ dời đô vào năm 1010. Nhà Lý là triều đại mà lúc thịnh thì rất oai hùng, lúc suy thì không để lại nhiều tai tiếng bằng việc chuyển giao quyền lực ôn hòa cho nhà Trần. Lý Công Uẩn lên ngôi năm 1009, lấy hiệu là Lý Thái Tổ, mở đầu triều đại nhà Lý huy hoàng trong lịch sử. Năm 1010, vua Thái Tổ dời kinh đô từ Hoa Lư về thành Đại La, viết Chiếu đời đô, nhân mộng thấy rồng vàng hiện lên trước mũi thuyền nên đổi tên Đại La thành Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay. Cho tới giai đoạn nhà Lý suy thoái (1009-1225), có sự kiện hoàng tử Lý Long Tường là thứ nam của vua Lý Anh Tông (con của bà phi Lê Mỹ Nga), em của vua Lý Cao Tông (Lý Long Trát) vượt biển sang cư ngụ tại Cao Ly. Trước cuộc binh biến của đất nước, Lý Long Tường đã cùng một số tôn thất nhà Lý vượt biển ẩn tránh ra nước ngoài, điểm đến là huyện Ung Sơn, nước Cao Ly, thuộc Bắc Triều Tiên ngày nay. Nương náu ở Trấn Sơn phía Nam phủ thành, đặt hiệu là Tiểu Vi Tử. Mục đích ra đi của Lý Long Tường là để giữ việc thờ cúng tổ tiên như trường hợp Vi Tử đời Ân đã làm, nên ông đặt hiệu là Tiểu Vi Tử và nơi ở là Vi Tử Động. Tích xưa kể rằng, vua Cao Tông (Kojong) một hôm nằm mộng thấy một con chim rất lớn bay từ phương nam lên đậu ở bờ Tây Hải như điềm báo trước nhà vua sẽ gặp được một vị tướng từ phương xa. Vua Cao Tông đã long trọng tiếp đón vị hoàng tử của nước Đại Việt và đoàn tùy tùng, cấp cho vùng đất ở Ung Tân để làm ăn sinh sống. Ông cùng gia nhân và binh sĩ bắt đầu cuộc sống mới trên xứ người bằng nghề chăn nuôi, trồng trọt và cả đánh cá. Vị hoàng tử còn mở trường học, dạy thi phú lễ nhạc và cả võ thuật nữa, bởi trong lòng còn mang nặng niềm thương nhớ cố quốc và ngày khôi phục lại giang sơn. Năm 1253, đế chế Mông Cổ tiến công xâm lược Cao Ly, đánh vào Quốc Đô và Ủng Tân, nơi tôn thất nhà Lý ở ẩn. Lý Long Tường đã đứng ra tổ chức kháng chiến, cùng với quan quân trong phủ và nhân dân chiến đấu dũng cảm. Hoàng tử Lý Long Tường khi ra tận cỡi ngựa trắng đôn đốc binh sĩ chống trả quân xâm lăng. Bởi vậy sau này người dân trong vùng gọi ông là Bạch Mã Tướng Quân. Ông Lý Hi Uyên kể: Đánh nhau một thời gian không phân thắng bại, quân Mông Cổ trá hàng. Họ bày mưu cống hiến lễ vật đựng trong những cái lu cho hoàng tử nhưng bên trong những cái lu đó giấu binh sĩ Mông Cổ. Biết việc này, hoàng tử sai người đục lu và đổ nước sôi vào, sau đó sai người trả lu lại. Phục trí thông minh của Bạch Mã Tướng Quân, quân Mông Cổ chấp nhận thua và rút lui. Nhà vua rất mừng vui, khen ngợi và cho đổi tên Trấn Sơn thành Hoa Sơn, cấp cho ông 30 dặm vuông đất làm thái ấp để phụng thờ tổ tiên, rồi sai dựng bia ghi công trạng của ông tại nơi quân Mông Nguyên đầu hàng, gọi là Thụ Hàng Môn. Vùng ông ở đổi tên thành Hoa Sơn, nên người dân còn gọi ông là Hoa Sơn Tướng Quân. Thụ hàng môn Hoa Sơn Trung Hiếu Đường Bong-hwa, Đại Hàn file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Để con cháu và các đời sau còn nhớ đến quê cha đất tổ, ông đã xây một ngôi đình kiến trúc kiểu Đại Việt để thờ các vị vua nhà Lý, làm nơi con cháu tụ họp. Tại Hoa Sơn có một quả núi gọi là Quảng Đại Sơn, trên đỉnh có một nền đá bằng phẳng, truyền thuyết kể rằng Lý Long Tường thường lên đó ngóng trông về phương Nam, thương nhớ quê nhà ôm mặt khóc, ngọn núi đó vì thế mang tên “Vọng Quốc Đàn”. Mộ của ông ở phía Tây phủ thành Ung Tân, dưới chân núi Di Ất. Kể từ Lý Long Tường, con cháu dòng họ Lý Hoa Sơn ngày càng phát triển và sống hoà nhập vào cộng đồng dân cư nước sở tại và có rất nhiều người thành đạt. Tượng đài hoàng tử Lý Long Tường Quảng trường trung tâm thành phố Seoul, Hàn Quốc file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Ngày nay, tượng đài hoàng tử Lý Long Tường được đặt ở quảng trường trung tâm thành phố Seoul, phía sau là tượng vua Cao Tông của nước Cao Ly dựa lưng vào dãy núi, phía trước án ngữ là tượng đài của hoàng tử Lý Long Tường tay cầm bảo kiếm, tương truyền đó chính là thanh bảo kiếm của vua Lý Thái Tổ, cũng chính thanh kiếm này đã cùng ông đánh đuổi quân Nguyên Mông. Ở dưới chân là hình ảnh chiến thuyền của Nhà Lý, chiến thuyền khi hoàng tử tới nước Cao Ly tị nạn, hai bên là tượng của hai chiếc trống trận nhà Lý, nhìn các bài trí có thể thấy người dân nước Cao Ly đã ngưỡng mộ ông như thế nào. Năm 1994 sau gần 800 năm, hậu duệ đời thứ 26 của hoàng tử Lý Long Tường là Lý Xương Căn đã mở đầu cuộc trở về Việt Nam của dòng họ Lý Hoa Sơn bằng chuyến thăm Đình Bảng lễ đền Lý Bát Đế. Người con Việt ở xứ sở Cao Ly cúi đầu trước anh linh tiên tổ, nguyện trở về với tổ quốc góp phần xây dựng quê hương. Tóm tắt Sự trùng hợp của tất cả các lời tiên tri về vị “Thánh nhân” xuất hiện tại phương Đông trong thời kỳ mặt pháp, có lẽ thời gian ứng nghiệm tương ứng với nhận định của lịch pháp Maya tức vào năm 2012. Ngoài ra, còn có sự xuất hiện rất nhiều các vị Phật, Tiên, Thánh, Thần trên toàn thế giới đồng nghĩa với sự “trở lại” của “linh hồn” nhân loại bởi tự thân của nó là vĩnh cửu, chẳng hạn những linh hồn của những người sống tại lục địa Atlantic đã bị chìm đắm dưới đại dương theo truyền thuyết. Mặt khác, Thánh Nhân xuất hiện “có vẻ” thiên về khía cạnh tôn giáo hơn, tuy nhiên với nội dung của các dự ngôn thì ngài còn có vai trò làm thay đổi cục diện ý thức hệ của nhân loại, điều này hàm nghĩa có liên quan tới cả nền tảng của khoa học nữa, hay có thể tạm hiểu rằng mối quan hệ giữa tôn giáo và khoa học sẽ được giải thích một cách hợp lý hơn thông qua một học thuyết phù hợp. Đặc biệt, sự xuất hiện của vô số các thánh thần từ cổ chí kim trong một đại hội vô tiền khoáng hậu mang tên Hội Long Hoa, như dự ngôn sẽ diễn ra tại Việt Nam cũng là một ẩn số thú vị. Không chỉ vậy, tiên tri còn nhận định một học thuyết cổ xưa sẽ quay trở lại với nhân loại có lẽ đó chính là học thuyết Âm Dương Ngũ Hành, sản phẩm trí tuệ cổ xưa của nước Văn Lang, nay hậu duệ kế thừa chính là người Việt Nam ngày nay. Thuyết Âm Dương Ngũ Hành chính là học thuyết thống nhất vũ trụ, với sự kết hợp các lý thuyết của Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và các mối quan hệ với các tôn giáo khác trên thế giới, để có thế lý giải về sự hợp nhất của tôn giáo và khoa học. Ngày phán xét chính là ngày mỗi người phải đối diện với cái chết của thân xác và hiện hữu ở trạng thái linh hồn, như vậy sự chuẩn bị cho cuộc sống mới này như thế nào khi mà ý thức trong cuộc sống đã qua vẫn còn nguyên vẹn, thiện ác vẫn được phân biệt rạch ròi? Và như vậy, rõ ràng công cuộc tìm kiếm chân lý của cuộc sống sẽ phải hoàn toàn thay đổi. Vậy thì, “Ngày tận thế” chắc chắn không thể xảy ra, bởi sự mâu thuẫn của nó với toàn bộ nội dung của các lời tiên tri và nếu nó sẽ xảy ra, thì nhân loại phải chấp sự thật mà thôi. Có bài thơ rằng: Bao nhiêu chuyện xoay vần thế sự, Chung cuộc rồi mới rõ huyền cơ. Nước non trong cuộc tranh đua, Ai hay cũng vẫn hơn thua tại Trời. Chúng tôi sẽ làm rõ kết quả các những lời tiên tri trong các chương sách sau, bây giờ hãy cùng tiếp tục với chương II: TIẾNG TRỐNG HOÀNG KIM.
  20. Chương I KIM CỔ TIÊN TRI Cho đến nay khi “Tiên tri thế giới 10.000 năm” đã được giải thích - Thật là bái phục nguyên lý tuần hoàn vô cùng kỳ diệu. Càn Khôn vạn niên ca - Khương Thái Công. Dự ngôn hay tiên tri là những dự đoán về các sự kiện sẽ phát sinh trong tương lai. Các nhà tiên tri diễn tả những sự kiện, từ sự việc xảy ra đối với mỗi con người, mỗi gia đình, những biến động xã hội của một quốc gia, thậm chí cho tới tương lai toàn cầu. Lời tiên tri là một trong những hiện tượng thú vị, được xem là những bí ẩn khó giải đáp và mộ trong những sự kiện được bàn luận nhiều nhất trong suốt lịch sử loài người. Con người sống tại nhiều quốc gia đã lưu truyền các lời tiên tri từ đời này sang đời khác, dưới nhiều hình thức khác nhau đã tạo nên một trang sử đẹp trong nền văn minh nhân loại. Nền văn minh Tây phương với các phương pháp chiêm tinh qua 12 cung Hoàng Đạo. Trong khi đó, nền văn minh Đông Phương đã xây dựng được những phương pháp dự báo có hệ thống như Kinh Dịch, Lạc Việt độn toán, Tử Vi, Mai hoa dịch số… dựa trên số lượng biến số “sao” rất lớn như trong môn Tử Vi, nó có khả năng tiên tri tới tận từng hành vi của mỗi con người. Chưa kể, có những người với những khả năng đặc biệt, có thể dự đoán rất chính xác về những sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai, mà các nhà khoa học cũng không thể giải thích được nguyên do tại sao. Cho tới nay có nhiều hình thức tiên tri, nhưng những phương pháp tiên tri của nền Lý học Đông Phương có đầy đủ những yếu tố của một phương pháp khoa học với dữ kiện đầu vào là yếu tố thời gian ngày, giờ, tháng, năm, nó có nội dung của sự kiện cần dự báo và khả năng kiểm chứng kết quả tiên tri. Những yếu tố thời gian này phản ánh cái gì? Nếu như không phải sự tương quan của những quy luật vận động của vũ trụ tương ứng với nó để có thể tiên tri? Nếu xét về góc độ khoa học thì rõ ràng đây là một hiện tượng khách quan, mọi sự tồn tại khách quan đều phải coi là đối tượng nghiên cứu khoa học. Sự chứng nghiệm những lời tiên tri sẽ xác minh tính chính xác của nó với những sự việc đã xảy ra sau lời tiên tri cho dù được giải thích như thế nào, bởi vậy chính kết quả thực tế này là cơ sở khoa học để phân tích và giải mã lời tiên tri. Thế giới đã từng biết đến rất nhiều nhà tiên tri nổi tiếng như Naustradamus người Pháp, bà Vangan người Bungari, Khổng Minh Gia Cát Lượng người Trung Quốc, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm người Việt Nam…; tiên tri của các tôn giáo như Do Thái giáo, Phật giáo, Bà La Môn giáo, Bái Hỏa giáo, Hồi giáo…; tiên tri của các dân tộc khác nhau như Ai Cập, Mexico… Và lời tiên tri cổ xưa nhất cho tới nay, theo truyền thuyết là bài thơ Càn Khôn Vạn Niên Ca của Khương Thái Công - tể tướng của nhà Chu, Trung Quốc, khoảng năm 1122 tr.CN và những lời tiên tri gần đây nhất, có lẽ là của các tôn giáo mới thành lập ở Việt Nam như đạo Cao Đài, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Đặc biệt nhất, bộ lịch pháp cổ của dân tộc da đỏ Maya ở Mexico cũng đã được các nhà nghiên cứu lịch sử giải mã, bộ lịch chỉ rõ thời gian thay đổi thế giới là vào ngày Đông chí 21/12/2012, tuy nhiên vào ngày này cũng có những lời tiên đoán ngày này cũng là “Ngày tận thế”? Bởi vì rằng: thế giới cũng đã từng chờ đợi Ngày tận thế nhiều lần trong lịch sử nhưng đều sai bét. Vì vậy, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu và nhận định thêm về nội dung của những lời tiên tri với chủ đích về sự kiện đặc biệt nào đó của thế giới có khả năng xảy ra hay không vào ngày Đông chí 21/12/2012. Tiên tri của dân tộc Maya, Mexico (Châu Mỹ) Cho đến nay, không ai có thể đưa ra câu trả lời chính xác cho câu hỏi nền văn minh Maya cổ đại được hình thành thế nào, đã ba thập kỷ nay, rất nhiều cuộc tranh luận và bút chiến nổ ra giữa các nhà khoa học đại diện cho các trường phái khác nhau tranh luận về đề tài này. Trong đó, sự sáng tạo kỳ diệu nhất của người Maya đó là việc làm ra lịch pháp. Mốc chuẩn đã được đặt ra để làm cơ sở cho lịch Maya chính là ngày 13 tháng 8 năm 3113 tr.CN. Kiến trúc cổ đại Maya Một công trình ở Chicanna tại bán đảo Yucatan file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Người Maya từng sống trên vùng lãnh thổ của Mexico ngày nay và đã xây dựng các thành phố ở đây. Có quan điểm cho rằng, người Maya xuất thân từ một dân tộc cổ đại có tên là Olmec, nhưng các giáo sĩ của bộ tộc Maya, những “Người bảo vệ ban ngày” nói rằng sau khi vùng đất huyền thoại Atlantic tách ra, những nhóm người lớn đã di tản ra khắp nơi trên thế giới. Cho nên, ngày nay văn hóa một số nền văn minh vẫn còn thấy nhiều điểm tương đồng như các kim tự tháp, nét chữ viết giống nhau, tên gọi các chòm sao trong thiên văn học, việc tôn thờ thần thánh… và những lời tiên tri có vẻ tương tự nhau. Kim tự tháp Polenke là một viên ngọc kiến trúc giữa rừng rậm, tại đây có đền thờ “Chữ khắc”, nơi mà tuyển tập chữ khắc và các bức bích họa của người Maya đã được tìm thấy. Nhà khoa học Nga Yuri Knorozov đã trở thành người anh hùng khi tìm ra chìa khóa giải mã những ký hiệu đó. Nền văn minh Maya không hề thua kém bất kỳ nền văn minh cổ đại nào từng tồn tại như toán học, thiên văn học và lịch pháp, sự hiểu biết về tâm hồn, sự sáng tạo, y học và kiến trúc. Trong toán học họ còn sử dụng thêm cả phép đếm cơ số 20 và là dân tộc nắm vững khái niệm số “0″. Hệ thống số đếm theo cơ số 20 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Trước đây, người ta không thể trả lời được những câu hỏi bộ lịch nổi tiếng của người Maya xuất hiện thế nào, những “Người bảo vệ ban ngày” khẳng định rằng, những kiến thức này đến từ nền văn hóa Atlantic. Nền văn minh ngoài trái đất từ chòm sao Đại Hùng Tinh, đã dạy cho người dân của nền văn hóa Atlantic những kiến thức này, dường như còn tồn tại bốn “Á thần ức Báo”, đó là những vị thần đến trái đất sau trận đại hồng thủy để vực lại sự sống cho trái đất. Người Maya có hai bộ lịch chính xác nhất là lịch Tzolkin Ritual với một năm 260 ngày và lịch Thái dương rất giống với lịch Gregory một năm có 365 ngày. Hai bộ lịch này đều thể hiện chu kỳ đồng bộ 52 năm. Điều này có nghĩa là cứ 18.980 ngày hay 52 năm thì ngày Thánh lịch và lịch năm sẽ trùng nhau, con số 52 rất có ý nghĩa đối với người Maya, và sau này là đối với người Aztec, cứ sau mỗi chu kỳ 52 năm thì tất cả của một chu kỳ lại kết thúc và bắt đầu. Lịch mặt trời và ngày được ghi trên lịch Dài của người Maya file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.gif Người Maya đã xây dựng các đài thiên văn để theo dõi các vì sao trên bầu trời, họ xây dựng lịch dựa vào vị trí của chòm sao trong vòng Hoàng đạo, người Maya cũng biết về các chòm sao và họ cho rằng có 13 chòm sao, thậm chí, họ còn biết đến cả chòm sao thiên cực Bắc Ophiuchus, và dải Ngân hà người Maya gọi là “zac beh” nghĩa là “Con đường trắng”. Dải Ngân hà người Maya gọi “zac beh” nghĩa là “Con đường trắng”file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image011.jpg Nền văn minh Maya có một kiến thức rất cao về thiên văn, theo một số nhà nghiên cứu, kim tự tháp Maya chính là đài quan trắc thiên văn. Bản chép tay Dresden là một trong số 4 quyển sách chép tay duy nhất còn sót lại, nó mô tả chính xác các dữ liệu quỹ đạo của tất cả các hành tinh trong Thái Dương hệ chúng ta trong mối quan hệ tham chiếu lẫn nhau. Bảng Venus (sao Kim) Tham khảo Bản chép tay Dresden file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image013.jpg<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Một minh chứng khác là tri thức của họ về sự dịch chuyển của trục trái đất lặp lại theo chu kỳ cứ mỗi 25.920 năm một lần, và vì vậy kéo theo sự dịch chuyển hằng năm của các chòm sao khoảng 14/1000 độ. Điều này nghĩa là mỗi năm các ngôi sao mọc sớm hơn 3, 4 giây so với cùng thời điểm đó của năm trước, các câu chuyện cổ của họ kể rằng những kiến thức này được trao truyền cho họ từ nền văn minh khác. Năm 755, một vị đạo sư Maya tiên tri sau năm 1991 nhân loại sẽ trải qua 2 sự kiện trọng đại đó là sự tỉnh giác của nhân loại về vũ trụ và sự tịnh hóa của địa cầu. Người Maya đã gọi 20 năm cuối cùng của B’ak’tun thứ 13 từ năm 1992 đến năm 2012, là thời kỳ tịnh hóa địa cầu. Căn cứ vào lịch pháp Dài của người Maya, từ sự tính toán của Eric S. Thomson, ngày 21 tháng 12 năm 2012 sẽ là ngày kết thúc lịch pháp Maya: 13. 0. 0. 0. 0 = 13 x 144.000 = 1.872.000 ngày, tính ra là 5125.26 năm, đây là ngày Đông chí của năm. Căn cứ vào sự tính toán của Eric S. Thomson, 0. 0. 0. 0. 0. của người Maya tương đương với thứ 584.283 ngày của Julian, tức là ngày 11 tháng 8 năm 3114 tr.CN. 13. 0. 0. 0. 0 sẽ là ngày sau 5.125 năm, tức ngày 21 tháng 12 năm 2012. Người Maya đã nghiên cứu thiên văn và nắm bắt rõ quy luật vận động và tương tác của vũ trụ tới trái đất và con người, có lẽ họ hiểu tại sao đem ngày này đặt là ngày chung kết của sự thay đổi nền văn minh đúng vào ngày Đông chí, đây là ngày mặt trời sẽ hoàn toàn trùng hợp với giao điểm hình thành bởi Hoàng đạo và Xích đạo của Ngân hà. Theo người Maya thì ngày 21/12/2012 sẽ kết thúc chu trình lịch thứ 13 - tức Kỷ nguyên Thái Dương Thứ Tư, đúng vào ngày này Chúa Polonakte sẽ xuống trái đất. Nhưng đồng thời, truyền thuyết của người Maya cũng nói rõ kỷ nguyên thay đổi sẽ bắt đầu, đàn con của Báo sẽ được sinh ra với nhiều màu da khác nhau và sẽ sống trên toàn thế giới, chúng sẽ đưa con người về với tình yêu, trí tuệ và cội nguồn. Người Maya đã không đề cập đến nguyên do nào khiến nền văn minh kỳ này thay đổi, mà là ám chỉ một thứ tỉnh giác và biến chuyển ở tinh thần và phương diện ý thức của nhân loại. Tượng Chúa Maya Cổ vật Mexico Thần Chết Bolon Yokte' K'uh Hình vẽ trên chiếc lọ cổ, Mexico file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Tortuguero nằm ở cực Nam Tabasco, Mexico có từ thế kỷ thứ VII, nơi có nhiều bia khắc chữ chủ yếu là để vinh danh vị vua đương thời là Bahlam Ajaw. Một dòng chữ trên đài tưởng niệm Tortuguero 6 có liên quan đến B'ak'tun thứ 13. Nó đã bị xóa đi một phần, Sven Gronemeyer và Barbara MacLeod đưa ra bản dịch hoàn chỉnh: tzuhtzjo:m uy-u:xlaju:n pik chan ajaw u:x uni:w uhto:m il[?] ye'ni/ye:n bolon yokte' ta chak joyaj Sẽ hoàn tất xong B'ak'tun thứ 13. là 4 Ajaw 3 K'ank'in và một “hiện tượng” sẽ xảy ra [?]. Đó là sự xuất hiện của thần B'olon-Yokte trong một "sự tấn phong vĩ đại”. Rất ít điều được biết về thần Bolon Yokte, theo một bài viết của nhà Maya học Markus Eberl và Christian Prager trong Báo cáo nhân chủng học, tên của ông bao gồm các yếu tố: "số Chín", ‘te-OK' và "Thần". Sự rắc rối của những chữ khắc quá xưa này cho thấy đây là một vị thần rất cổ và những chữ này không giống với những tài liệu sao chép hiện có.B'olon-Yokte cũng xuất hiện trong các bảng khắc khác được tìm thấy tại Palenque, Usumacinta và La Mar, được miêu tả như là một vị thần của chiến tranh và địa ngục. Trong một tấm bia, thần B'olon-Yokte được trang trí với một sợi dây quanh cổ, và trong một tấm bia khác thì với túi hương, cả hai vật này đều là vật cúng tế trong các dịp tất niên. Theo bản dịch trên, thần B'olon-Yokte sẽ xuất hiện trong một “sự tấn phong vĩ đại” ngay khi hoàn tất xong B'ak'tun thứ 13 (Tham khảo trang mạng Wikipedia). Vào thế kỷ XVII, Francsico Ximénez, một mục sư Thiên Chúa giáo đã phát hiện quyển sách tên là Popol Vuh (Sách Hội Đồng), một trường ca thần thoại do bộ tộc Quiche, Maya sống trên cao nguyên Guatemala sáng tác. Nội dung trong sách không phải lịch sử của bộ lạc Maya, mà là lịch sử của nhân loại trên quả địa cầu chúng ta từ khởi thủy được tạo ra trong lịch sử đã thành và hoại ba lần, đây là lần thứ tư được tạo ra, có một phần rất quan trọng trong sách đã tiên đoán rằng: “Rất nhiều chư Thần từ các tinh tú cố hương, họ sẽ đến thế gian này… thiên ngữ của các ngài rất là tuyệt vời, bằng chứng là họ từ các thiên giới đến, chắc chắn là như thế. Khi họ trở lại quả địa cầu này, những gì đã được tạo nên trước đó sẽ được chỉnh sửa lại hết”. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image005.gif Bản chép tay Dresden Bia đá C file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image007.jpg Quang cảnh nhìn tử bản chép tay Dresden, quyển sách bằng chữ tượng hình gần đây, có vẻ thể hiện cảnh lũ lụt tàn phá trái đất. Một con cá sấu trên trời cùng một nữ thần cao tuổi đổ nước xuống thần God L. file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image009.jpg Tảng đá nguyên khối ở thành phố Quirigua gọi là Bia đá C gồm mô tả chi tiết về các biến cố sáng thế của năm 3114 tr.CN. Một mặt bia ghi lại sự hoàn tất của 13 B’ak’tuns. Một số lớn các truyền thuyết Trung Mỹ đều cùng phát ra một thông điệp: Thời đại Thứ Tư của thế giới đã kết thúc một cách rất tệ. Một trận đại hồng thủy khủng khiếp đã nhấn chìm trái đất trong nước, và tiếp đó là một thời kỳ tối đen, không còn thấy mặt trời. Lúc ấy các vị thần nhóm họp tại Teotihuacán (nơi ở của chư thần) và lo ngại hỏi nhau, ai sẽ là mặt trời sắp tới. trong bóng tối, người ta chỉ có lửa thiêng (sự thể hiện của Huehueteotl, vị thần khai sinh sự sống), còn leo lét sau thiên tai khủng khiếp. Các vị thần buồn bã than “Một trong chúng ta phải hy sinh và nhảy vào lửa. Chỉ lúc ấy, Mặt trời mới có thể sinh ra.”. Sau đó, hai vị thần (Nanahuatzin và tecciztecatl) đã phải hy sinh vì lợi ích chung. Một vị nhanh chóng bị thiêu rụi giữa đống lửa, vị thứ hai thì bị nướng dần trên đống than hồng gần đó. “Các thần chờ đợi mãi, cho đến khi mặt trời ứng đỏ như lúc bình minh. Ở phía Đông xuất hiện vầng thái dương, phì nhiêu và rực lửa…”. Chính vào lúc vũ trụ tái sinh này mà Quetzalcoatl đã hiện hiện. Sứ mệnh của ngài là giáo huấn nhân loại của Thời Đại Thứ Năm. Trong vùng núi Andes, kinh đô của Viracocha là Tiahuanaco. Ở Trung Mỹ, kinh đô của Quetzalcoatl là Teotihuacán, thành phố của chư Thần, nơi được cho là đã phát sinh ra Mặt Trời Thứ Năm. Teotihuacán Thung lũng Teotihuacan, cao nguyên miền Trung Mexico file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image011.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image013.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image015.jpg Một di tích khác của văn hóa Aztec còn tồn tại sau cuộc xâm lược của Tây Ban Nha, là “Đá Mặt trời” của Axayacatl, vị vua thứ sáu của triều đại. Khối đá đồ sộ này được cắt đẽo từ đá bazan vào năm 1479, nặng 24.5 tấn, và có một loại những vòng tròn đồng tâm, trên mỗi vòng đều có khắc những hình biểu phức tạp. Các biểu tượng loan báo rằng thế giới đã trải qua bốn thời đại hay còn gọi là bốn Mặt Trời. Thời đại Mặt Trời Thứ Nhất được tượng trưng bằng Ocelotonatiuh, thần Beo: “Trong thời mặt trời này đã tồn tại những người khổng lồ”. Họ được các Thần tạo ra, nhưng sau họ bị những con beo tấn công và ăn thịt. Mặt Trời Thứ Hai được tượng trưng bằng đầu rắn Ehecoatl, thần Không khí: “Trong thời đại này, loài người bị hủy diệt bởi những trận bão và giông tố, và người ta đã biến thành khỉ”. Biểu tượng Mặt Trời Thứ Ba là một cái đầu do mưa và lửa từ trời tạo ra: “Vào thời này, mọi sự đều bị phá hủy bởi cơn mưa và lửa từ trời và trận hồng thủy bằng nham thạch. Mọi nhà cửa bị thiêu rụi”. Người ta được biến thành chim để sống còn qua tai họa. Mặt trời Thứ Tư được biểu tượng bởi cái đầu của nữ thần Nước Chlacchiuhtlicue: “Sự tàn phá ập đến dưới dạng mưa như thác và lũ lụt. Núi biến mất và người ta bị biến thành cá”. Biểu tượng Mặt Trời Thứ Năm là thời đại chúng ta, là khuôn mặt của Tonatiuh, thần Mặt Trời hiện thân. Lưỡi của thần, được miêu tả như một lưỡi dao bằng đá opxidian, thè ra như muốn nuốt tất cả, tượng trưng cho sự khát máu và đói ăn những trái tim loài người của thần. Nhiền nếp nhăn cho thấy thần đã cao niên. Tonatiuh xuất hiện ở bên trên biểu tượng Ollin, nghĩa là “sự chuyển động”. (Trang 130, cuốn 23 tháng 12 năm 2012 - Ngày tận thế, tác giả Graham Hancock, Nxb Thời đại, 2011). Ngày tận thế? Trích từ bộ phim “2012” file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image017.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image019.jpg<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Tiên tri của người Maya nói rằng sau khi chu kỳ này kết thúc và chu kỳ mới bắt đầu, tri thức cổ xưa sẽ trở lại nhân gian và những người có khả năng thiên phú sẽ được sinh ra ngay giữa chúng ta, toàn bộ nhân loại đều gánh vác trách nhiệm nghênh đón thời đại mới. Như vậy, tiên tri của người Maya khẳng định không có “Ngày tận thế” mà là “Ngày chuyển thế”, vậy phải chăng trong các nền văn hóa khác khác trên thế giới cũng có những tiên tri tương tự? Chúng ta hãy cùng tiếp tục. Bí ẩn của thời gian tại đền Denderah, Ai Cập (Châu Phi) Nền văn minh Ai Cập cổ đại đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt như chữ viết, lịch pháp, nghệ thuật, hình học, tri thức khoa học, đại số… đã từng có ảnh hưởng sâu sắc tới Tây bộ châu Âu và đã có cống hiến vô cùng lớn lao không thể phai mờ với lịch sử loài người. Những chứng tích của nền văn minh Ai Cập cổ đại còn để lại cho nhân loại rất tuyệt vời và thuyệt phục qua các tuyệt tác kiến trúc như đền đài, kim tự tháp, các mộ cổ và xác ướp, châu báu, các văn kiện như ghi khắc trên vách kim tự tháp, trên quan tài và trên giấy cói papyrus… Bản đá Palermo bảo tàng Palermo ở Sicily, Ý file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Bản đá Palermo là bản đá diorite lớn nhất làm dài 2.2m, rộng 0.61, được khám phá vào năm1866, hiện lưu giữ tại bảo tàng Palermo ở Sicily. Những mảnh nhỏ khác lưu giữ ở bảo tàng Cairo Ai Cập và bản tang tại trường đại học (Wilkinson, 2000). Nó được chế tác thời vương triều thứ 5th Dynasty (2565-2420 B.C.), được viết bằng chữ cổ chronicle về lịch sử Ai Cập. Thật là may mắn, ngôn ngữ tượng hình của Ai Cập cổ đã được giải mã là một thành công to lớn trong công cuộc tình hiểu và phục dựng một nền văn minh huy hoàng có niên đại hơn 5.000 năm lịch sử. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều bí ẩn cần được làm sáng tỏ, trong đó bí ẩn đặc biệt nhất được trình bày qua hệ thống biểu tượng được lưu giữ trong ngôi đền Denderah - thờ nữ thần bò cái Hathor. Bản đồ các thánh địa Ai Cập và kiến trúc đền Denderah Sách Các thánh địa trên thế giới, Colin Wilson, NXb Mỹ Thuật, 2004 file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Thánh điện trên nóc bằng của ngôi đền Denderad, vòng Hoàng Đạo (Zodiaque) rất đẹp được khắc trên trần, đó chỉ là một phó bản đã được sao lục lại, vì bản chính đã bị tháo gỡ và đem về Ba Lê cách đây trên một thế kỷ. Nhưng phó bản được sao lại một cách hoàn toàn đúng đắn. Cái vòng tròn đó chứa đầy những hình ảnh các loài thú, hình người và các vị thần, được sắp chung trong một bầu tròn và ở chung quanh là mười hai cung Hoàng Đạo. Tô điểm thêm cho cái biểu tượng này, có hình mười hai vị thần và nữ thần khác nhau, kẻ đứng, người quì, sắp chung quanh hình bầu tròn, hai tay đưa lên, lòng bàn tay duỗi thẳng nối tiếp nhau thành một vòng tròn. Như thế, toàn thể vũ trụ lưng chuyển không ngừng được hình dung nơi đây một cách chính xác, tuy rằng dưới hình thức tượng trưng. Đó chính là sự trình bày những bầu thế giới luân chuyển theo một nhịp độ bất di dịch trên một nền trời. Những người biết suy nghĩ, dẫu rằng là người có óc hoài nghi nhất, không khỏi cảm thấy thán phục cái trí óc thông minh tuyệt vời đã làm kiểu mẫu cho cái vũ trụ đó. Hiểu một cách đúng đắn, thì vòng Hoàng Đạo của đền Denderad hình như mô tả hình trời ở vào một thời kỳ nhất định nào đó trong quá khứ. Chỉ biết rằng vị trí các tinh tú ở vào thời đó không trùng hợp với thiên tượng mà người ta quan sát vào thời nay. Xuân Phân Điểm không chiếm cùng một vị trí như hiện nay, theo đó mặt trời đang đi vào một chòm sao khác hẳn. Sự biến chuyển lớn lao đó diễn ra bằng cách nào... do bởi sự xoay vần của trái đất, mà cái trục liên tục nhắm vào những vì sao Bắc Đẩu khác nhau. Điều đó có nghĩa là Mặt Trời của chúng ta luân chuyển chung quanh một ngôi định tinh riêng của nó. Sự luân chuyển tế vi, khó nhận thấy, của Đường Phân Điểm trải qua một thời gian dài và chậm chạp, cũng thay đổi những vị trí mọc và lặn của vài bầu tinh tú đối với chòm sao. Khi đã đo lường sự vận chuyển trung bình của những bầu tinh tú đó, người ta biết có bao nhiêu ngàn năm đã trôi qua kể từ khi chúng nằm ở vị trí đầu tiên. Khoảng cách biệt đó gọi là Tuế Sai. Đó là điểm giao tiếp của đường xích đạo và đường Hoàng Đạo, là chỗ đánh dấu xuân phân điểm, di chuyển một cách chậm chạp trên bầu trời theo cái tuế sai đó. Nói cách khác, đều đó có nghĩa là những tinh tú di chuyển ngược chiều với mười hai cung Hoàng Đạo, và mỗi năm chỉ vượt qua một phần tối thiểu của không gian. Sự luân chuyển vĩ đại đó của các tinh cầu trên nền trời, thứ vũ trụ kế mà nền trời là cái mặt đồng hồ, trên đó người ta có thể đọc cả hai chiều và ghi nhận những cuộc vận hành của các tinh cầu trong nhiều ngàn năm. Khi xem xét một bản đồ thiên văn cũ, một nhà thiên văn học có thể xác định bản đồ đó được thiết lập vào thời kỳ nào. Việc nghiên cứu cái dĩ vãng xa xăm đôi khi có thể giúp cho ta tìm ra những sự kiện vô cùng quan trọng. Khi các nhà tháp tùng theo Napoléon sang Ai Cập phát hiện ra vòng Hoàng Đạo tai đền Denderad, họ lấy làm vô cùng phấn khởi, và tưởng rằng họ đã tìm được cái chìa khóa để truy nguyên ra khoảng thời gian của nền văn minh cổ Ai Cập, vì họ thấy trong vòng Hoàng Đạo đó, xuân phân điểm cách xa vị trí của nó bây giờ. Nhưng mãi về sau, khi người ta nhận thấy rằng ngôi đền này chỉ mới dựng lên vào thời kỳ đế quốc Hy Lạp La Mã và vòng Hoàng Đạo Ai Cập này đã phối hợp một Hoàng Đạo Hy Lạp, vấn đề này mới bị dẹp bỏ và từ đó người ta không theo vấn đề đó nữa. Tổng mặt bằng kiến trúc và vòng Hoàng đạo Chạm nổi trên trần đền Denderah, Ai Cập file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.gif Một ý kiến cho rằng vòng Hoàng Đạo này chỉ là của Hy Lạp, nhưng đó là một ý kiến sai lầm. Phải chăng nói như thế là kết luận người Ai Cập không có vòng Hoàng Đạo của họ... Nếu vậy thì giới tăng lữ Ai Cập đã từng khảo cứu khoa chiêm tinh và khoa thiên văn trong bao nhiêu ngàn năm, trước khi người Hy Lạp đặt chân lên xứ Ai Cập, mà lại không có vòng Hoàng Đạo chăng... Giới tăng lữ Ai Cập đã từng tôn trọng khoa chiêm tinh đến nỗi họ đã sáp nhập khoa này vào tôn giáo của họ, làm cho họ có thể thực hành khoa chiêm tinh mà lại không có một vòng Hoàng Đạo... Ngoài ra những vị tăng lữ Ai Cập cũng rất tinh thông về khoa thiên văn. Thật vậy, người Ai Cập đã sao lục một phần vòng Hoàng Đạo của họ theo bản chính đã có từ trước tại đền Denderad, ngôi đền này đã được xây đi dựng lại nhiều lần. Một tài liệu thiên văn như thế hẳn là phải được sao lục làm nhiều phó bản để bảo đảm cho nó được tồn tại muôn đời. Những tài liệu văn khố cổ xưa cũng được bảo trì bằng cách đó, nhưng lại bị rơi trong quên lãng và rốt cục đã biến mất theo những nhân viên bảo trì văn khố, tức là những vị tăng lữ thời cổ Ai Cập (trích từ cuốn Ai Cập huyền bí, nguyên giả Paul Brunton, dịch giả Chi Lan và Lê Tuyên, Nxb Tổng hợp T.p Hồ Chí Minh, 2004). Chi tiết vòng Hoàng Đạo và trích dẫn Tham khảo__ file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpg Trên chu vi vòng Hoàng đạo, thần Horus tay phải cầm phất trần, tay trái chỉ vào miệng ngồi trên bông hoa súng ứng vào khoảng cuối cung Dương Cưu, và có vị trí trước cung Song Ngư một chút. Hình ảnh tay trái chỉ vào miệng của thần Horus ám chỉ có những bí mật đang được giữ kín, biểu tượng ngón trỏ cũng tương ứng con số 10.000, như vậy chúng ta có thể hình dung những bí mật trong vòng 10.000 năm. Cũng dự vào biểu tượng này, có thể nhận định ngôi đền Denderah đã được trùng tu, và khắc vòng Hoàng Đạo cùng các bí ẩn của lịch sử Ai Cập tại thời gian điểm xuân phân chưa đi vào cung Song Ngư một chút. Horus ngồi trên bông súng Cổ vật Ai Cập file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpg Thần Cả Horus như một đứa bé đội vương miện kép, tay phải cầm quyền trượng móc cong và phất trần, ngón trỏ bàn tay trái như ám chỉ hãy im lặng hay giữ kín. Tiếp theo sau hình ảnh thần Horus là hình ảnh thần Osiris trong biểu tượng xác ướp con Ram không đầu có sừng hình sóng nằm ngang, đường trục lúc này trùng với con mắt phải Wedjat nằm ngay trên biểu tượng Song Ngư; hình ảnh tiếp theo là bốn đầu con Ram chồng lên nhau đội đĩa mặt trời đứng trên ngai; và biểu tượng cuối cùng trong cung Song Ngư là một thanh niên với hình dáng đang đọc chữ trên một tấm vải nâng bằng hai tay cuối cung Song Ngư. Hình ảnh con Ram với thân hình tách rời bốn đầu mang ý nghĩa thần Osiris đang được tôn thờ ở khắp nơi, nhưng không biết ngài là ai, chỉ sau khi kết hợp tư liệu từ bốn phương, bao hàm cả tư liệu tôn giáo (bốn đầu con Ram) để tạo thành nội dung trên tấm vải - Tử thư Ai Cập. Ram bốn đầu (biểu tượng Gió phương Bắc) Tranh khắc đá cổ Ai Cập file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpg Ngày phía trên cuốn sách Tử thư Ai Cập là hình ảnh một người nữ với con thú cưng mongoose trong vòng tròn, hình chữ nhật chứa 3 đường sóng nước và con mắt phải Wedjat (Uchat) - 3 hình ảnh này nằm trên trục nối tâm vòng Hoàng Đạo tới vị trí cuốn sách. Bản vẽ trích dẫn file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image022.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image024.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image026.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image028.gif Hình tròn có vị nữ thần nâng con thú cưng mongoose (cầy mangut) chắc chắn là hình ảnh của mặt trăng, loài cầy mangut biểu tượng của sự nhạy cảm và hay thay đổi của tâm, tính con người. Trong văn hóa Trung Quốc thú cưng trên mặt trăng là con thỏ giã thuốc tiên cho nàng Hằng Nga với câu truyện Hằng Nga cung quế, còn theo văn hóa Việt Nam nữ thần mặt trăng là Nguyệt Thần hay Bà Nguyệt - nữ thần hôn nhân và mặt trăng găn với câu truyện Chú cuộc ngồi gốc cây đa. Hình ảnh hình chữ nhật chứa 3 đường sóng nước biểu tượng cho vũ trụ nguyên thủy, biển vũ trụ, được mô tả như một biển nước mênh mông, vô tận, chứa đựng mọi tiềm năng của sự sống, cũng thường là hồ nước Thánh Nun. Theo một truyền thuyết về sự sáng thế của người Ai Cập, hồ nước không hình dạng và luôn chao đảo này chứa bốn cặp vợ chồng Nun và Nauner, Kuk và Kaukel, Huh và Hauhel, Amon và Amaunet, các cặp này gọi là Ogdoad, tượng trưng cho hồ nước nguyên thủy. Sau cùng bốn bộ đôi này hợp thành một quả trứng trong hồ nước Nun, trứng nở ra thành một con chim huyền thoại, con chim này là một biểu hiện của Thần sáng thế. Thần Atum nhô lên từ biển vũ trụ Nun Tranh tường cổ Ai Cập file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image030.jpg Thần Atum là vị thần tổ đầu tiên thai nghén trong biển vũ trụ, tự sinh ra hay trỗi dậy từ biển vũ trụ Nun dưới dạng một gò đồi hay gò đất nguyên thủy. Atum biểu hiện tối cao của tất cả các vị thần mặt ở vùng Heliopolis, là một thành phần hết sức quan trọng trong hệ thống thần linh của người Ai Cập. Người ta nói rằng ông bắt đầu xuất hiện trên gò đất nguyên thủy nhô lên khỏi biển vũ trụ Nun và đã tiến hành công cuộc sáng thế, tạo ra ra vạn vật trong bầu trời và trái đất sau khi ông đã sống không biết bao nhiêu năm và tự cảm thấy hết sức cô đơn và lạnh lẽo. Tuy nhiên, đôi khi ông được mô tả như một cậu bé từ đóa hoa sen hiện ra. Ông là một vị thần vĩ đại nhất có cơ thể tự nhiên không bao giờ bị kiệt quệ. Vị thần đầu tiên do ông sáng tạo ra trong vũ trụ chính là thần mặt trời Ra, là vị thần vĩ đại nhất, hàng ngày mọi người đều phải chuẩn bị đồ thờ cúng ông, mà trung tâm thờ cúng ông nằm ở vùng Heliopolis thần thánh tức thành phố Cairo ngày nay. Hình tượng con mắt phải Wedjat (Uchat) gọi là mắt phải của thần Horus giúp người chết thấy trở lại. Con mắt Utchat là con mắt thần, con mắt phán xét, con mắt nhìn thấy bốn phương. Tuy nhiên, con mắt phải cũng chính là biểu tượng của thần chết Osiris, thần mặt trăng, tương ứng với nữ thần trong mặt trăng tay cầm con cầy mangut sẽ là nữ thần Isis, người vợ của thần chết Osiris. Chim cú Cổ vật Ai Cập file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg Sự kết hợp của 3 biểu tượng này được giải thích như sau: vào thời điểm kết thúc cung Song Ngư, bằng con mắt của trí tuệ nhìn xuyên suốt qua cái chết - tương tự như mắt con chim cú nhìn xuyên bóng đêm - chim cú biểu tượng của ý thức Ba, sẽ hiểu được thực tại của sự khởi nguyên vũ trụ hay sự hình thành của thế giới, lúc này sẽ hiểu được bí mật của cuốn Sách của Thần Chết - tương truyền do vị thần trí tuệ Thoth làm ra. Đồng thời, lúc này thần chết Osiris sẽ phục sinh như đã được tiên tri qua hình ảnh con Ram sẽ được lắp bốn đầu trở lại. Trong hình khắc trên bia đá Metternich Stele và Leiden Hypocephalus (300 tr.CN) dưới đây, hình con Ram bốn đầu được linh hồn Ka nâng lên phía trên và tám con khỉ đầu chó giơ hai tay tôn vinh thần chết Osiris. Bia đá Metternich Stele và Leiden Hypocephalus Cổ vật Ai Cập file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image006.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image008.jpg Chúng ta cũng thấy trong Bà La Môn giáo, Ấn Độ thần Brahma - một trng Tam vị nhất thể là Brahma, Shiva và Vishnu, cũng có bốn đầu giống như thần chế Osiris. Đản sinh thần Brahma Tranh tham khảo file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image010.jpg Bức tranh mô cảnh thần Vishnu đản sinh thần Brahma từ cuống rốn của mình. Thần Vishnu nằm trên biển vũ trụ, được nâng đỡ bởi rắn thần Shesha 7 đầu, tay trái cầm bông sen trắng, tay phải giữ chặt nhánh sen mọc ra từ cuống rốn. Trên đài sen là hình ảnh thần Brahma có bốn đầu nhìn về bốn hướng đang ngồi, tay cầm pháp khí. Ở phía chân thần Vishnu là hình ảnh một vị đạo sĩ đang chúc phúc cho cuộc đản sinh. Trên bầu trời các loại hoa rơi xuống như mưa, mùi hương thơm tỏa ngát khắp nơi chào đón sự ra đời của thần Brahma. Ngoài con mắt phải của thần chết Osiris, còn có con mắt trái của thần Ra, biểu tượng cho quyền lực và sức mạnh, đối ngẫu với con mắt phải của thần chết Osiris đó là sự thấu triệt bản chất của sự sống thay vì sự chết. Thần chết Osiris - Thần mặt trời Ra - Nữ thần Isis đang bế thần Horus Tranh cổ tham khảo file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image012.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image014.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image016.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image018.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image020.jpg Thần Horus được thừa hưởng con mắt trái của thần mặt trời Ra và mắt phải của thần mặt trăng Orisis và con mắt thứ ba (con mắt nội quán) của nữ thần Hathor. Con mắt trái tượng trưng cho sức mạnh của quy luật hay quyền lực tương ứng là cây quyền trượng wa-scepter của thần Ra, con mắt phải biểu tượng sức mạnh của trí tuệ tượng trưng là trụ djed của thần Osiris và con mắt thứ ba biểu tượng của lòng nhân ái tương ứng là chìa khóa sự sống Ankh của nữ thần Hathor, khi hợp nhất được ba biểu tượng này mới trở thành vĩnh cửu đó là biểu tượng Shen. Shen cũng là hình ảnh của linh hồn bất diệt, sau khi chết lên thiên đường “Vùng đất lau sậy” của nữ thần Hathor trong hình ảnh con bò cái đeo vòng cổ âm nhạc Sistrum giống như Ankh. Tại cõi chết, Osiris là Chúa tể Cõi Âm với biểu tượng quyền trượng móc cong biểu tượng phán quyết buộc phải chết và phất trần biểu tượng phán quyết cho sống được trao cho thần Cả Horus. Hợp nhất Ankh, Dject và Was-scepter Cổ vật Ai Cập tham khảo file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image022.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image024.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image026.jpgfile:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image028.jpg Theo những người Ai Cập cổ đại thì thần trí tuệ Thoth là vị thần đã dạy cho tổ tiên của họ những nguyên lý thiên văn học: “Ngài là đấng tính toán các tầng trời, đấng liệt kê những vì sao, (…) đấng đo Trái đất”. Thường được mô tả dưới những nét của một người đàn ông mang mặt nạ cò lửa, Thoth là một trong những vị thần hàng đầu của “Thời đầu tiên” và nổi trội trong đời sống của tôn giáo Ai Cập cổ đại trong suốt chiều dài lịch sử của nó, được gọi là những Neterou, theo kho tàng thần thoại Ai Cập, những thần vĩ đại đó đã bằng cách nào đấy làm ra chính mình, và họ cũng được người Ai Cập liên kết với một vùng đất xa xăm - một xứ hoang đường, thần thoại mà các cổ thư gọi là Ta-Neterou “Đất của các Thần”. Theo người Ai Cập thì Ta-Neterou nằm ở phía Nam đất nước họ, ở rất xa, bên kia các đại dương, xa hơn cả Pount, vùng đất nổi tiếng của những gia vị (được xác định là vùng biển Xomali tại Đông Phi). Tuy nhiên, Pount đôi khi cũng được gọi là “Đất Thần Thánh” hay “Xứ của Thần”. Trầm và nhựa trám hương, những thứ mà các thần rất ưa chuộng, đã xuất phát từ vùng đất đó (trích từ cuốn 23 tháng 12 năm 2012 - Ngày tận thế? Tác giả Graham Hankook, dịch giả Lê Thành, Nxb Thời đại, 2011). Thần Thoth trong hình tướng khỉ đầu chó đội mặt trăng (Tượng đồng, 1340 tr.CN) Cổ Vật Ai Cập Thần trí tuệ Thoth trong hình tướng con cò quăm Ibis Tranh tường cổ Ai Cập file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image002.jpg file:///C:DOCUME~1MINHPH~1LOCALS~1Tempmsohtmlclip11clip_image004.jpg Như Wallis Budge đã ghi nhận trong nghiên cứu thần chết Osiris và sự tái sinh của người Ai Cập (Osirsis and Egyptian Resurrection) của ông, người Ai Cập cho rằng họ chỉ có thể đến đất đó bằng tàu thuyền, và với sự trợ giúp của các thần muốn cho những người mà họ yêu thương đến đó… Những ai may mắn được du hành đến đó thấy mình ở torng một khu vườn thần tiên gồm những hòn đảo được nối liền với những con kênh đầy nước, khiến chúng luôn xanh tươi và phì nhiêu. Phải chăng những vùng đất được tưới tắm một cách tuyệt vời, và được trồng trọt một cách khoa học mà Osiris, với tước vị “Vua của đất phương Nam”, đã xuất hành và chu du đến tận Ai Cập, vào buổi bình minh của Thời đại đầu tiên? Phải chăng cũng từ đất đó mà thần Thoth đã vượt qua các đại dương để mang đến dân cư ban sơ của châu thổ sông Nile những sự giảng dạy quý báu về thiên văn học và trắc địa học? Dù phần sự thật được chứa dựng trong truyền thuyết đó có là bao thì như ta đã biết, người Ai Cập cổ đại đã tôn kính Thoth vì ngài là đấng phát minh toán học, thiên văn học và kiến trúc đồ sộ. Bởi quyết tâm của ngài, mà những lực của trời đất được cân bằng. Thoth cũng là đấng chỉ dạy người Ai Cập về hình học, y học và thực vật học, và ngài đã phát minh những con số, bảng chữ cái, và những thuật đọc viết. Ngài là chúa tể của phép thuật, đấng có thể dịch chuyển những đồ vật chỉ bằng quyền năng của giọng nói mình, và là tác giả của mọi công trình thuộc mọi ngành của tri thức, con người và thần thánh. Theo lời xác nhận của chính những người Ai Cập cổ đại, thì nhờ vào những lời giảng dạy của Thoth mà họ đã có được sự minh triết và sự hiểu biết của các tầng trời - những điều mà họ cất giữ trong các ngôi đền của họ và đã truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác qua những ghi chép trong 42 tập sách. Trong các công trình đồ sộ của Ai Cập, thì tượng nhân sư như là một cọc tiêu, một điểm mốc thuộc phân điểm, với cái nhìn rất chính xác về nơi mặt trời mọc vào điểm xuân phân. Đối với những người cổ đại, thì chính điểm xuân phân mới đánh dấu thời kỳ thuộc thiên văn. Theo G. Satillana và H. von Dechend thì: “Chòm sao mọc ở phương Đông, ngay trước khi mặt trời mọc, đánh dấu vị trí của mặt trời… Đối với các nhà thiên văn học cổ đại, chòm sao đó “mang” mặt trời, và xuân phân (…) đánh dấu khởi đầu chu kỳ hàng năm của mặt trời…”. Nhưng tại sao cái điểm mốc thuộc phân điểm đó lại mang hình dạng một con sư tử to lớn? Vào thời đại chúng ta ngày nay, nếu ai muốn xây một cột mốc như thế, thì hẳn phải trình bày nó dưới dạng một con cá, trong chừng mực mà mặt trời, từ khoảng hơn hai ngàn năm nay, mọc vào ngày xuân phân với chòm sao Song Ngư đã bắt đầu vào khoảng thời Đức Jesus. Phải chăng chỉ là tình cờ khi những biểu tượng chính của những người Kitô hữu đầu tiên không phải là thập tự mà là con cá? Trong kỷ nguyên trước đó, khoảng từ Thiên niên kỷ thứ hai đến Thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, thì chòm sao Dương Cưu (cừu đực) có vai trò “mang” mặt trời vào Xuân phân. Một lần nữa phải chăng ngẫu nhiên khi hình ảnh con cừu đực thường xuất hiện trong các tranh tượng tôn giáo thời đó? Chẳng hạn, phải chăng là ngẫu nhiên khi Yaweh, Đức Chúa của kinh Cựu Ước, đã bảo Abraham hãy cúng một con cừu đực để làm lễ hiến tế thay cho con trai Isaac của ông? (Theo các nhà nghiên cứu Thánh kinh, Abraham và Isaac đã sống vào đầu thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên). Phải chăng là một sự ngẫu nhiên khi buổi đầu kỷ nguyên Dương Cưu, cuối Thiên niên kỷ thứ ba, Ai Cập đã phục hồi tục thờ cúng thần Amon, mà biểu tượng của thần là con cừu đực? Đến trước kỷ nguyên Dương Cưu là kỷ nguyên Kim Ngưu (4380-2200 tr.CN). Chính trong thời kỳ thuộc chuyển động quay của địa trục đó, khi mặt trời mọc vào xuân phân “trong” chòm sao Kim Ngưu, mà tục thờ cúng bò đực đã phát triển mạnh tại Crete. Và cũng vào thời, nền văn minh của Ai Cập thời Triều Đại đã đột ngột xuất hiện trên sân khấy lịch sử, một nền văn minh đã hoàn toàn được hình thành, và trước đó chưa từng có trường hợp nào như thế. Phải chăng, một lần nữa sự ngẫu nhiên khi những người Ai Cập, và buổi thời lỳ Triều Đại, đã thờ cúng những con bò đực Apis và Mnevis-Apis được xem như là sự thần hiện của Osiris, và Mnevis vật linh thiêng của Heliopolis, sự thần hiện của Ra? Tại sao một điểm thuộc phân điểm phải có hình dạng một con sư tử? Theo các nhà Ai Cập học thì Khephren, Pharaoh của triều Đại Thứ Tư, là người đã ra lệnh tạc “Nhân sư” trong đá, vào năm 2500 tr.CN. Khephren là một quân vương thuộc kỷ nguyên Kim Ngưu. Trong 1.800 năm trước triều đại của ông, và trong ba thể kỷ tiếp đó, mặt trời, vào ngày xuân phân, luôn mọc trong chòm sao Kim Ngưu. Như vậy, vào thời đó, nếu một quân vương muốn dựng một điểm mốc thuộc phân điểm tại Gizeh, thì có mọi lý do để ông cho nó hình dạng một con bò đực chứ không phải là một hình con sư tử. Quả thật, điều đó khiến ta nghĩ rằng, chỉ có một thời kỳ mà hệ biểu tượng sư tử hẳn đã thích hợp cho điều đó là Kỷ nguyên Sư tử, từ 10907 tr.CN đến năm 8810 tr.CN. Vào thế kỷ thứ IV tr.CN, Platon cho biết rằng người Ai Cập đã quan sát các tinh tú “trong mười ngàn năm”. Ba trăm năm sau đó, Diodore người Sicily, đã viết: “Những vị trí của các vì sao và các chòm sao cùng những chuyển động của chúng luôn là mục tiêu quan sát một cách chú tâm của người Ai Cập… Từ thời xa xưa cho đến ngày nay, trong suốt vô số năm, họ đã ghi lại trong những ký hiệu biên niên của họ đủ mọi chỉ dẫn liên quan đến từng vì sao”. Nhiều chuyên gia hàng đầu thú nhận nỗi phân vân trước tính đột ngột của nền văn minh Ai Cập, Walter Emery, giáo sư khoa Ai Cập học tại đại học London đã tóm tắt vấn đề: “Vào khoảng năm 3400 tr.CN, một biến chuyển lớn đã xảy ra tại Ai Cập, một nền văn hóa thời kỳ đồ đá, với những cơ cấu theo bộ tộc phức tạo, đã gần như tức thì biến thành một nền quân chủ có tổ chức… cùng thời kỳ ấy, chữ viết xuất hiện, kỹ thuật và kiến trúc đồ sộ phát triển với tốc độ cao một cách đáng ngạc nhiên, và tất cả chỉ rõ rằng ta đã gặp một nền văn minh rất tinh tế. Tất cả những điều đó đột ngột xuất hiện với một thời gian tương đối ngắn, bởi những tiến hóa cơ bản đó trong chữ viết và kiến trúc hình như không có tiền đề, hoặc chỉ có rất ít”. Một cách đơn giản, có thể giải thích rằng, nền văn minh của Ai Cập hẳn đã có thể cất cánh đột ngột và dứt khoát, là nhờ một nền văn minh khác của Cựu Thế Giới. Giữa người Ai Cập và người Sumer đã thờ các thần thuộc mặt trăng gần y như nhau, những thần được kể là xa xưa nhất trong các chư thần của họ (người Ai Cập thờ thần Thoth, người Sumer thờ thần Sin), theo nhà Ai Cập học E. A. Wallis thì, “những tương đồng giữa hai vị thần này là rất quan trọng nên không thể là một trùng hợp ngẫu nhiên… hẳng ta sẽ sai lầm khi nghĩ rằng người Ai Cập vay mượn các chư thần của người Sumer, hoặc ngược lại. Quả thật, ta có thể cho rằng những người có học thức của hai dân tộc đó đã vay mượn hệ thần học từ một nguồn chung, nhưng cực kỳ xa xưa.”. Do đó, vấn đề là cái “nguồn chung cực kỳ xa xưa” đó là ở đâu? Đâu là “vùng xa lạ”, “nền văn minh thứ ba” tiên tiến mà cả Bdhe Emery đều nói đến? Nếu như nền văn minh ấy để lại một di sản văn hóa cấp cao cho Ai Cập và Mesopotamina, thì tại sao không nghĩ rằng cả Trung Mỹ cũng được thừa hưởng di sản ấy?. Nội dung của cuốn 23 tháng 12 năm 2012 Ngày tận thế? Tác giả Graham Handcock, Nxb Thời Đại, 2011) cũng đã viết: Những con số thuộc chuyển động quay của địa cực mà J. Sellers đã phát hiện trong thần thoại về Osiris là 12, 30, 72 và 360. Phần lớn những con số đó nằm trong một phần thần thoại chứa một số lớn thông tin về tiều sử các nhân vật của nó. Những nhân vật đó được nhà Ai Cập học E. A. Wallis giới thiệu như sau: “Nữ thần bầu trời Nut, vợ của thần mặt trời Ra, lại được thần đất Geb yêu. Khi phát giác chuyện lét lút ấy, thần Ra chúc dữ cho vợ và tuyên bố y thị sẽ không sinh con được. Lúc ấy thần Thoth, lại càng thầm yêu nữ thần bầu trời Nut, chơi xúc xắc với mặt trăng và ăn được 5 ngày chẵn, mà thần đem cộng với 360 ngày, lúc đó tạo thành một năm. Ngày thứ nhất trong 5 ngày đó, Osiris sinh ra đời, và khi thần chào đời, người ta nghe có tiếng loan báo rằng vị thần tạo dựng đã ra đời”. 2160 (72x30) năm là một cung Hoàng Đạo mà mặt trời phải di chuyển được 30 độ dọc theo mặt phẳng hoàng Đạo, từ cung này qua cung kia. Như vậy 25.920 năm là số năm của một chu kỳ tuế sai hay là một “Năm lớn”, đó là số năm phân cách hai “Sự trở lại vĩ đại”. Trong số 9 thần, các thần Ra, Shu, Geb, Osiris đều đã trị vị Ai Cập. Kế vị thần đó là Horus, và cuối cùng là Thoth, thần của Trí Tuệ trị vì trong 3226 năm. Các tư tế Innou, có nhiệm vụ nuôi dưỡng những truyền thuyết, là những người được toàn bộ Ai Cập biết đến sự minh triết và am thông của họ trong lĩnh vực sấm ngôn, chiêm tinh học, toán học, kiến trúc và pháp luật. Cuối cùng người ta cũng biết rằng họ sử hữu một vật thiêng liêng và một sức mạnh đáng gờm gọi là Benben. Người Ai Cập gọi Heliopolia Innou, “cột trụ” là vì các truyền thuyết kể rằng, vào thời xa xưa, trước thời Triều Đại, Benben được gìn giữ ở nơi này và được đặt cân bằng trên một trụ làm bằng những khối đá đẽo hơi vuông. Benben hẳn đã rơi xuống từ trời, chẳng may, từ lâu không ai còn trông thấy nó nữa, và vào thời kỳ Senouseret lên ngôi vua, nó đã mất tích quá lâu không ai còn có thể nhớ hình dạng của nó. Vào thời ký đó (Triều Đại Thứ Mười Hai), tất cả những gì mà người ta có thể nhớ là Benben có dạng một kim tự tháp, và (với cột trụ mà nó được đặt trên đó) nó là bản mẫu đầu tiên của mọi trụ cột tháp sau này. Cũng vậy, cái tên Benben sau đó được dùng để gọi chop tháp hay khối đá nóc, thường được đặt ở đỉnh kim tự tháp. Trên bình diện thuộc hệ thống biểu tượng, Benben được liên kết một cách chặt chẽ và trực tiếp với Ra- Atum, mà các cổ thư gọi là Ra- Atum đã “được dựng lên như khối đá Benben trong nơi cư ngụ của chim Phượng hoàng…”. Nơi cư ngụ của chim Phượng hoàng chính là ngôi đền Heliopolis, nơi Benben đã được gìn giữ trong buổi đầu. Điều đó có nghĩa, nagy từ buổi đầu, Benben đã được dùng làm biểu tượng cho chim Phượng hoàng của các thần thoại, và nó cũng là thần điểu Bennou mà những lần biến mất và tái hiện của nó được gắn liền với những chu kỳ của vũ trụ. Hình ảnh thần Thoth thường được trình bày trên những bức tường các lăng mộ và các ngôi đền, dưới những nét của con cò lửa, hoặc một người có đầu của cò lửa.. Thần Thoth đặc biệt được người Ai Cập tôn kính, bởi họ xem thần là sức mạnh điều hòa và phối hợp những chuyển động cơ học thiên thể, là chúa công của thời gian, đấng phát minh ra bảng chữ cái và là bậc thầy của pháp thuật. Đặc biệt, thần được liên kết với thiên văn học, toán học, trắc địa học và hình học, và được mô tả như là “Đấng tính toán trên trời, đếm các tinh tú và đo trái đất”. Thoth cũng được xem là một thần am hiểu những bí ẩn của “tất cả những điều được che giấu dưới vòm trời”, và có thể truyền sự khôn ngoan cho một số người được chọn. Người ta nói rằng Thoth đã ký thác những kiến thức của ngài trong những cuốn sách bí ẩn, và ngài đã giấu chúng ở những nơi khác nhau trên trái đất, với hy vọng chúng sẽ được tìm kiếm bởi những thế hệ tương lai, và chỉ được phát hiện bởi “những người xứng đáng nhất” - những người đưa phát hiện của mình vào phục vụ nhân loại. Tóm lại, điểm nổi bật nhất ở Thoth (cũng là thần Hermes của người Hy Lạp), đó là ngoài tính chất thông thái, vai trò của thần là khai hóa và mang lại điều tốt lành cho nhân loại. Ở điểm này, Thoth rất giống với vị thần đã xuất hiện trước ngài là Osiris, chúa thượng của các bản văn Kim tự tháp, vị Pharaoh Thần thánh thứ Tư, quân vương của đất Phương Nam, có tên là Sah (Orion). Kỷ Song Ngư được cho là đã bắt đầu từ 2.160 năm trước đây, trước cả Chúa Jesus ra đời. Tính đến năm 2012, chúng ta đang chuyển đổi từ cung Song Ngư sang kỷ Bảo Bình. Sự thay đổi này là một quá trình chứ không phải là một sự kiện. Vấn đề là không có ranh giới rõ ràng giữa các cung Hoàng Đạo nói trên. Mỗi cung Hoàng Đạo đều kèm theo những đặc điểm là duy nhất đối với thời gian trong lịch sử của nó. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà trước kỷ Song Ngư hiện tại, đầu con cừu biểu thị cho chòm sao Bạch Dương đóng vai trò mạnh mẽ trong thế giới cổ đại. Ví dụ, người Ai Cập của thời đại Tân Vương Quốc (thế kỷ XVI-XI tr.CN) đã thể hiện chòm sao Bạch Dương đại diện cho thần Mặt Trời, Amen Ra đầu cừu. Trong hệ thống biểu tượng của Ai Cập, thần trí tuệ Thoth cũng là biểu tượng của mặt trăng, người vợ của ngài - nữ thần công lý Maat cũng đã từng xuất hiện trong Ngày phán xét linh hồn. Mà chúng ta cũng biết thần chết Osiris và nữ thần Isis với biểu tượng mặt trăng. Không còn nghi ngờ gì nữa, thần trí tuệ Thoth chính là thần chết Osiris, vì là thần chết nên mới nắm bắt được bí ẩn của Sách của thần chết do thần Thoth viết ra. Như vậy, thần trí tuệ Thoth mang hình ảnh phục sinh của thần chết Osiris, khi điểm xuân phân đi vào cuối cung Song Ngư và lúc đó, nữ thần Maat cũng chính là nữ thần Isis. Vậy thì, ý nghĩa viết trong vòng Hoàng Đạo khắc trên trần của đền thờ nữ thần Hathor, tiên tri về sự phục sinh của thần chết Osiris và nữ thần nhân duyên Isis, tương tự như tiên tri của các dân tộc da đỏ, châu Mỹ. “Ngày phán xét” trong tôn giáo cổ Ai Cập chính là ngày linh hồn mỗi người phải đối diện với cái chết của thân xác và nó sẽ phải tiếp tục một cuộc sống trong môi trường mới, dĩ nhiên tự thân đối diện với ý thức về thiện ác trong suốt cuộc đời đã qua vẫn còn nguyên vẹn.
  21. LỜI MỞ ĐẦU Từ bao la sâu thẳm trong tâm hồn mỗi con người đã không từng tự hỏi: Vũ trụ bao la này từ đâu mà sinh ra? Và mỗi khi ngước nhìn bầu trời lấp lánh những ánh sao đêm, nhiều lúc cảm thấy mình thật là nhỏ bé trong cõi đời đang vận động không lúc nào ngừng nghỉ này. Lịch sử văn minh nhân loại được ghi nhận bằng sử sách chỉ ước chừng trên 5.000 năm qua, và khoảng thời gian trống trước đấy chỉ còn tồn tại trong truyền thuyết và huyền thoại về một trận đại hồng thủy khủng khiếp, đã nhấn chìm đại lục địa có tên Atlantic, các dấu vết còn lại hầu như không mấy rõ ràng. Sự phát triển như vũ bão khoa học kỹ thuật trong thể kỷ XXI cho tới nay, cũng chưa thể giải thích được nguồn gốc của vũ trụ từ đâu mà có một cách hợp lý, cũng như chưa xác định được vũ trụ này giới hạn hay vô cùng ngoại trừ thuyết Bigbang ghi nhận vũ trụ trong khoảng 14.7 tỷ năm ánh sáng qua quan sát và tính toán, cùng với giả thuyết vũ trụ khởi nguyên trong một trạng thái vật chất vô cùng đặc, có nhiệt độ cực lớn từ đó phát sinh ra một tiếng nổ khủng khiếp ban đầu, sau đó theo thời gian hình thành nên vũ trụ ngày nay. Không chỉ giới hạn trong lý giải nguồn gốc vũ trụ, kích thước của vũ trụ, mà các nhà khoa học còn bị giới hạn ở việc nghiên cứu trạng thái vi mô của vật chất. Cỗ máy gia tốc CERN phân tích hạt cơ bản được xây dựng giúp cho việc nghiên cứu khoa học về thế giới vi mô rõ ràng hơn, nhưng không đồng nghĩa sẽ xác định được giới hạn nhỏ nhất của vật chất. Mặc dù trong lịch sử triết học thế giới, triết gia Hy Lạp Democritos (460 tr.CN) cũng đã nhận định về hạt vật chất nhỏ nhất mà ông gọi là nguyên tử - là nền tảng của vật chất, đồng thời nếu truy nguyên lịch sử Phật giáo, Đạo giáo thì cũng đã tồn tại định nghĩa này và họ cũng đã biết rõ quy luật vận động của chúng trước đó vài thiên niên kỷ. Không chỉ vậy, hầu hết các truyền thuyết và huyền thoại của các dân tộc trên thế giới cũng đã viết rằng: Khởi thủy vũ trụ mênh mông, tràn ngập “nước” và tĩnh lặng, nó hoàn toàn tự thân tồn tại và vận động. Trong lĩnh vực sinh học và tâm lý học nghiên cứu về bộ não của con người cho tới nay cũng chưa thấu hiểu nguyên nhân nào hình thành nên tư duy, khi nó cũng chỉ là một hệ thống các cấu trúc vật chất hữu cơ. Song song với việc nghiên cứu về bộ não con người, thì thực tế diễn ra trên khắp thế giới, tồn tại những hiện tượng giao tiếp giữa những người đang sống và những người trong “thế giới vô hình”, những hiện tượng khách quan lại sừng sững thách đố trí tuệ các nhà khoa học với câu hỏi muôn thuở chẳng lẽ linh hồn là có thật và đang tồn tại xung quanh chúng ta? Nhưng nếu nó tồn tại thì hữu hạn hay vĩnh cửu? Câu hỏi này lại quay trở về với một vũ trụ thực sự có tồn tại vĩnh cửu hay không? Và lúc nào thì bị hủy diệt như trong các kinh sách của các đạo giáo nói về “Ngày tận thế” của loài người và của cả vũ trụ? Nhằm giải đáp cho một câu hỏi muôn đời của loài người trong nỗi khắc khoải: Chết là hết hay sao? Không chỉ vậy, với sự giới hạn về mặt thời gian của cuộc đời, trong khi đó hầu hết mỗi con người đều có những niềm mơ ước riêng, nhưng không biết có đạt được hay thỏa mãn trong một chừng mực nào đó hay không? Khi mà sự được, mất phụ thuộc vào những quy luật của tự nhiên, xã hội và con người. Như vậy, các triết gia lại càng đau đầu với những câu hỏi về hạnh phúc và khổ đau. Và thực sự kết quả hầu hết là khổ đau như nhận định của một số tôn giáo lớn trên thế giới, để từ đó xây dựng nên những nền triết học và khoa học thực nghiệm giúp cho nhân loại thoát khỏi tình trạng này, đồng thời cũng đã tạo ra những công cuộc đi tìm kiếm sự bất tử vô tiền khoáng hậu trong suốt quá trình lịch sử. Đó thực sự là những bí ẩn vĩ đại vẫn chưa thể giải đáp, chúng đã trở thành những điều huyền bí, trở thành cốt truyện trong những bản sử thi hùng tráng, những câu chuyện viễn tưởng hấp dẫn hay các hiện tượng ma thuật kỳ lạ. Từ những giới hạn trong việc lý giải những bí ẩn của thế giới, đã hình thành nên những niềm tin vô bờ bến vào các thần thánh sáng tạo nên thế giới, cảm thấy họ chi phối lên mỗi cuộc đời, có quyền phán quyết về thiên đường hay địa ngục, con người phải tuyệt đối tôn sùng. Nếu chúng ta nghiên cứu lịch sử văn minh nhân loại vào thời thượng cổ, thì qua các câu truyện truyền thuyết và huyền thoại của các dân tộc trên thế giới hầu hết đều có nội dung tương tự khi giải thích về vũ trụ, xã hội, con người bao gồm cả “thế giới vô hình”. Nhưng cơ sở nào để họ có thể lý giải một cách hợp lý? Phải chăng đã có một nền tảng kiến thức đã được tích lũy rất lâu trong lịch sử loài người như thiên văn, y học, tâm linh, khí công… đã từng tồn tại như truyền thuyết đã từng nói về một lục địa Atlantic đã bị nhấn chìm trong trận đại hồng thủy. Vậy, thì những nguồn kiến thức đó còn lưu dấu đến ngày nay hay không? Trong nền Lý học và các tôn giáo Đông phương, chúng ta đã nhận thấy rằng đều có cùng chung một triết lý về vũ trụ, xem nó là cái “Một”, là một thể thống nhất, vạn vật đều có mối quan hệ hay có chung “bản thể”. Đặc biệt, tồn tại hẳn một học thuyết đáp ứng được các tiêu chí về một học thuyết khoa học đó là học thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Học thuyết này được áp dụng mọi lĩnh vực trong cuộc sống, nó có thể lý giải đến tận cùng thế giới vi mô và vĩ mô của vũ trụ, thậm chí cả lĩnh vực “vô hình”, nhưng nó vẫn còn là một bí ẩn đối với phương Tây, mặc dù các nhà khoa học bỏ rất nhiều công sức nhưng thực sự thành quả đạt được rất còn hạn chế. Ngày nay, với công cuộc toàn cầu hóa về mọi mặt, đặc biệt là thông tin viễn thông đã làm cho các quốc gia với khác biệt văn hóa xích lại gần nhau hơn, do vậy việc tìm hiểu các dữ liệu lịch sử, văn hóa và khoa học cũng được thuận lợi. Từ đó sự tìm hiểu sâu học thuyết Âm Dương Ngũ Hành cũng được dễ dàng, làm nảy sinh sự nghi ngờ về một nền văn hóa toàn cầu mối quan hệ lịch sử, văn hóa của các quốc gia vào thời cổ đại. Thực sự, những nhà nghiên cứu không thể ngờ rằng, toàn bộ bí ẩn của vũ trụ lại tồn tại trong một nền văn hóa lâu đời đậm tính nhân bản - đó là Việt Nam và đấy cũng là lý do tại sao Việt Nam là nơi giao lưu và tồn tại rất nhiều nền văn hóa, tôn giáo khác nhau những vẫn không mất đi bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Thực sự, nơi đây đã chôn dấu một kho báu trí tuệ vĩ đại của nhân loại về vũ trụ quan và nhân sinh quan, nơi được xem là “đất của Thần” trong truyền thuyết của Ai Cập cổ đại và của toàn thế giới thời thượng cổ. Vậy bí ẩn đang nói tới này là những vấn đề gì? Chúng ta sẽ biết sau khi đọc hết cuốn sách này. Xin thành tâm gửi lòng biết ơn vô hạn tới các vị tiên liệt nước Việt với sự trợ giúp thần thánh và gửi lời cảm ơn tới tất cả tác giả của các tác phẩm mà tôi đã tham khảo và trích dẫn, nếu không cuốn sách này không thể hoàn thành, đặc biệt: - Nhóm nghiên cứu nguồn gốc dân tộc Việt và nền văn minh Việt cổ, chủ nhiệm chương trình cố giáo sư Đỗ Tòng (cũng xin gửi nội dung cuốn sách tới trang website: hodovietnam.vn). - Bác Lâm Thanh Điền và cô Nguyễn Thị Chí Liêm trong việc giúp đỡ tư liệu liên quan đến minh triết Việt và “tâm linh thần thánh” của nước Việt. - Tác giả Hà Văn Thùy: tác giả của cuốn Di ngôn Phật Sống Lưu Công Danh, Nxb Văn học, 2008 và các tác phẩm khác. - Tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh: hệ thống tư liệu và các tác phẩm liên quan đế Lý học Đông phương và lịch sử, văn hóa của nước Việt (lyhocsongphuong.org.vn). - Tác giả Nguyễn Xuân Quang: hệ thống các bài viết lịch sử, văn hóa trống đồng Đông Sơn và các bài viết liên quan khác (bacsinguyenxuanquang.wordpress.com) - Cố triết gia Lương Kim Định: tuyển tập các trước tác về hệ thống triết học thế giới và lịch sử, văn hóa nước Việt (www.dunglac.org). - Bác sĩ Nguyễn Văn Thọ: các bài viết và sách về văn hóa, thiên văn và các tôn giáo trên thế giới, đặc biệt về Đạo giáo, Dịch lý (nhantu.net). - Tác giả Lê Anh minh với các tác phẩm về triết học, đạo Cao Đài và Dịch lý (www.thienlybuutoa.org). - Tác giả Phan Ngọc Khuê: tác giả của cuốn Tranh Đạo giáo ở Bắc Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, 2008. - Nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền: các bài viết và nội dung nghiên cứu chữ Việt cổ. - Nhà nghiên cứu Minh Xuân: các bài viết điền dã và phân tích về lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ Việt cổ (http://bachviet18.com) - Nhà nghiên cứu Văn Nhân: hệ thống các bài viết về lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ Việt cổ (www.laclong.tk). - Nhà nghiên cứu Bùi Quốc Hùng: hệ thống các bài viết về lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ Việt, phong thủy và các phương pháp ứng dụng cổ (dienbatnblog.blogspot.com). - Nhà nghiên cứu Lãn Miên và Bùi Anh Tuấn: hệ thống các bài viết về lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ Việt cổ (lyhocsongphuong.org.vn). - Cùng với các trang mạng website: chanhkien.org; daitangkinhvietnam.org; anvietttoancau.net; thegioivohinh.com; vutruhuyenbi.com; giaodiemonline.com; hodovietnam.vn; hoalinhthoai.com; caodaism.net; phatgiaohoahao.net; tukhicongdentamlinh.net; khicongydaoviet.wordpress.com; kynguyentamlinh.com và các trang website khác. Ngoài ra còn rất nhiều các tác giả và trang website khác nữa, chúng tôi sẽ ghi nhận chính thức sau khi hoàn thành cuốn sách vào thời điểm thích hợp. Cuối cùng xin gửi lời nhớ ơn mãi mãi tới gia đình và những người bạn đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện công tác nghiên cứu này, nếu không sẽ chẳng bao giờ có thể kết thúc dù ở một mức độ rất giới hạn. Tác giả Nguyễn Tấn Hoàng Email: thaihoanglienson@gmail.com ghi chú: chúng tôi sẽ nhờ Trung tâm Lý học Đông Phương gửi lên mỗi chương một lần hoặc tất cả nội dung cuốn sách một lần.
  22. Hiện tại Hoangnt không tạo được chủ đề tại mục: MINH TRIẾT CỔ. Trân trọng.
  23. Đề nghị quý vị nào chỉ ra sự khác nhau của Dương lịch và Âm lịch rồi hãy bỏ Âm lịch cũng chưa muộn. Âm Dương lịch phục vụ nông nghiệp, đơn giản thủy triều ảnh hưởng bởi mặt trăng. Chưa kể sự tiến động của trục trái đất xung quanh chòm sao Thiên cực Bắc. Lịch Ta phối hợp giữa chu kỳ mặt trăng quanh trái đất, trái đất quanh mặt trời và hệ mặt trời quanh chòm sao Thiện Cực Bắc. Đây chính là tổ hợp tương tác có quy luật tới trái đất và con người. Như vậy, không chỉ dùng cho nông nghiệp mà cho cả mọi mặt của đời sống như đông y, tử vi, phong thủy... Tại một số nước thời thượng cổ, người ta không hiểu vì sao lễ hội mùa hè lại xảy ra trong mùa đông và ngược lại, tại châu Âu có lẽ Galileo mới biết trái đất quanh mặt trời. Lịch Dương: Mặt Trời - Kinh Dương Vương. Lịch Âm: Mặt trăng - Lạc Long Quân. Thiên Cực Bắc - điều chỉnh vi động: Hùng Quốc Vương.
  24. Hiện tại Hoangnt không tạo được chủ đề tại mục: MINH TRIẾT CỔ. Trân trọng.
  25. Ngô Viết Trọng: Nhà Triệu – Một Vấn Đề Lịch Sử Chưa Được Xác Định Ổn Thỏa 10.03.2012 Để lại phản hồi Nước Việt Nam được quốc tổ Hùng Vương sáng lập với quốc hiệu đầu tiên là Văn Lang. Các vị vua kế tiếp nhau đều lấy hiệu là Hùng Vương cả, chỉ phân biệt các đời theo số thứ tự. Đến đời Hùng Vương thứ 18 thì một phiên thuộc là Thục Phán nổi lên đánh bại nhà vua và chiếm mất ngôi (257 trước Tây Lịch). Thục Phán xưng hiệu là An Dương Vương, đổi quốc hiệu là Âu Lạc, đóng đô ở Loa Thành (Phong Khê, Phúc Yên). Dưới sự cai trị của An Dương Vương, đất nước Âu Lạc đã trải qua một thời gian khá dài yên ổn, thịnh vượng. Nhưng đến năm 207 (tr. TL) An Dương Vương lại bị Triệu Đà đánh bại, mất nước vào tay Triệu Đà. Triệu Đà người huyện Chân Định, quận Hằng Sơn nay thuộc tỉnh Hà Bắc nước Tàu. Ông vốn giữ chức huyện lệnh Long Xuyên thuộc quân Nam Hải. Nhân lúc nhà Tần suy yếu, nước Tàu bị đại loạn, Triệu Đà đã thừa cơ chiếm cứ quân Nam Hải (Quảng Đông) và quận Quế Lâm (Quảng Tây) rồi chiếm luôn nước Âu Lạc (VN) để lập nên nước Nam Việt, tự xưng là Triệu Vũ Vương (207 tr.TL). Trong khi đó ở phương Bắc, Lưu Bang đã thành công trong việc tru Tần diệt Sở thống nhất nước Tàu rồi xưng Đế, lập nên cơ nghiệp nhà Hán. Năm 196 (tr. TL), nhà Hán sai Lục Giả sang thuyết phục Triệu Đà thần phục. Xét mình thế lực yếu kém khó chống nổi Lưu Bang, Triệu Đà đành chấp nhận xưng thần, chịu tước Vương của nhà Hán. Đến khi Lưu Bang mất, nội bộ chính quyền nhà Hán sinh ra lục đục. Lã Hậu (vợ Lưu Bang) chuyên quyền nghe lời gièm pha cấm người Hán buôn bán đồ vàng, đồ sắt và những đồ điền khí với người Nam Việt. Triệu Đà thấy vậy vô cùng tức giận, lại nghi Trường Sa Vương xúi Lữ Hậu làm việc ấy, ông bèn tự xưng là Nam Việt Hoàng Đế (183 tr.TL) còn gọi là Triệu Vũ Đế rồi cử binh sang đánh quận Trường Sa (tỉnh Hồ Nam ngày nay). Tới năm 181 (tr.TL), nhà Hán sai Lâm Lư hầu Chu Táo kéo quân sang đánh Nam Việt nhưng vì không hợp thủy thổ, quân Hán đau ốm nhiều, bị thất bại nặng nề. Thắng lợi này đã làm danh tiếng của Triệu Vũ Đế lại càng thêm lừng lẫy. Đến năm 180 (tr.TL) Lã Hậu mất, Hán Văn Đế lên ngôi liền ra lệnh bãi binh. Tiếp đó Hán Văn Đế lại sai Lục Giả sang thuyết phục Triệu Đà bỏ Đế hiệu. Lúc bấy giờ Triệu Đà đã 77 tuổi, nhiệt khí tranh giành đã hạ bớt, lại thấy chiếu dụ của Hán Văn Đế lời lẽ ôn tồn, hòa dịu, bèn chịu bỏ Đế hiệu, trở về với tước Vương. Như vậy là Triệu Đà đã có một thời gian xưng Đế ngót 4 năm (183-180 tr.TL). Có một điểm khác thường là khi lập nước Nam Việt xong, Triệu Đà và các vị vua kế tiếp không hề tỏ ra kỳ thị dân Âu Lạc cũ. Guồng máy cai trị chỉ có thay đổi về dòng họ cầm quyền và quốc hiệu chứ nếp sống hạ tầng toàn dân vẫn không có gì thay đổi. Vì vậy, trong dân chúng Âu Lạc cũ không hề có hiện tượng bất bình nào chống lại nhà Triệu. Không những thế, các vua Triệu còn tỏ ra biết trọng dụng những nhân tài gốc Âu Lạc cũ Những dân Âu Lạc cũ như Nguyễn Danh Lang, Lữ Gia đều được ra làm quan qua nhiều triều. Lữ Gia người gốc huyện Lôi Dương quận Cửu Chân (huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa ngày nay) đã làm quan được thăng đến chức Thái phó Quốc công. Đến năm 111 (tr.TL), Lữ Gia với cương vị Tể tướng nhà Triệu, đã chỉ huy quân đội Nam Việt chống giặc Hán đến hơi thở cuối cùng và tử tiết một cách oanh liệt. Nhà Triệu làm vua được 5 đời cộng 96 năm thì mất (207-111 tr.TL), nước Nam Việt bị sát nhập vào lãnh thổ nhà Hán. Lữ Gia được coi như một tấm gương trung dũng, yêu nước của người Việt. Hiện nay cả Sài Gòn lẫn Hà Nội đều có đường Lữ Gia, ngoài ra ở Sài Gòn còn có cả một cư xá Lữ Gia nữa. Chính vì điểm khác thường này mà các sử gia Việt Nam, khi nhận định về nhà Triệu (207-111 tr. CN), vẫn chia làm hai khuynh hướng khác nhau: -Khuynh hương thứ 1: Coi nhà Triệu như một triều đại chính thống của VN. -Khuynh hướng thứ 2: Không công nhận nhà Triệu và coi nước ta dưới thời kỳ nhà Triệu trị vì là thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất (đề nghị của sử gia Phạm Văn Sơn). Gần đây trên nhiều Website và nhiều tờ báo ở hải ngoại đã liên tiếp đăng mấy bài viết “Những Điều Lý Thú Về Các Vị Vua Việt Nam” (N.Đ.L.T.V.C.V.V.V.N) của tác giả Lê Thái Dũng. Đây là một công trình sưu tầm lịch sử rất công phu. Tác giả đã ghi kỹ từng sự việc, tính kỹ từng năm, từng tuổi của nhiều vị vua có những trường hợp cá biệt lý thú đã xảy ra. Đó là những việc như vua Trần Anh Tôn đã từng bị du đãng ném đá vỡ đầu khi đi chơi đêm, vua Tự Đức thi luận văn bị chấm hạng bét, vua Minh Mạng từng bị người Tây phương mưu ám sát v.v… Chắc hẳn một người không đọc suốt chiều dài lịch sử Việt Nam qua nhiều bộ sử kim cổ thì không thể làm công việc này. Lối viết của tác giả Lê Thái Dũng tuy đơn giản nhưng gợi lên được sự thích thú, gợi tính tò mò của quảng đại độc giả. Lôi kéo, thúc đẩy nhiều độc giả nhập cuộc tìm hiểu lịch sử thêm. Tuy thế, khi gặp phải trường hợp Triệu Đà, tác giả Lê Thái Dũng đã lúng túng đến nỗi không hóa giải được điểm mâu thuẫn có thể làm một số người thích đọc lịch sử đâm ra bối rối, hoang mang… Ai cũng có thể thấy được sự lúng túng của tác giả khi đọc đoạn: “Trường thọ nhất: Bảo Đại 85 tuổi (1913-1997), vua Trần Nghệ Tông 74 tuổi (1321 – 1394). Nếu tính Triệu Đà thì Triệu Đà là vua thọ nhất: 120 tuổi (257-137 TCN) (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư). Ngoài ra, nếu tính cả các chúa thì chúa Nguyễn Hoàng thọ hơn Bảo Đại: 89 tuổi (1525 – 1613).” Lúng túng ở chỗ tác giả không đưa thẳng Triệu Đà vào số những vị vua trường thọ vì ông ta vừa cao tuổi nhất, vừa là bậc tiền bối của cả vua Trần Nghệ Tông lẫn vua Bảo Đại mà lại dè dặt nói “Nếu tính Triệu Đà thì Triệu Đà là vua thọ nhất…” Theo tác giả Lê Thái Dũng: “Hoàng đế đầu tiên: Lý Nam Đế (544 – 548) với niên hiệu đầu tiên là Thiên Đức”; Mâu thuẫn của tác giả chính ở điểm này! Trong bài viết “N.Đ.L.T.V.C.V.V.V.N”, tác giả có nói đến Triệu Đà là vị vua VN ở ngôi lâu nhất (207-137 tr. TL: 70 năm): “Ở ngôi lâu nhất: Triệu Vũ Vương Triệu Đà: 70 năm (207-137 TCN), Lý Nhân Tông Càn Đức: 56 năm (1072 – 1127), Lê Hiển Tông Duy Diêu: 47 năm (1740 – 1786), Lê Thánh Tông Tư Thành: 37 năm (1460 – 1496)”; và cũng là vị vua lên ngôi ở tuổi cao nhất, khi đã 50 tuối. “Lên ngôi già nhất: Trần Nghệ Tông Phủ, khi 50 tuổi (1370); Triệu Đà khi 50 tuổi (207 TCN)”. Như vậy tức tác giả đã nhận định lịch sử theo khuynh hướng thứ nhất: công nhận Triệu Đà là một vị vua của VN. Mà đã công nhận Triệu Đà là vị vua chính thức của Việt Nam thì phải kể đến thời gian Triệu Đà xưng Đế kéo dài ngót 4 năm (183-180 tr.TL) chứ sao lại bảo là Lý Nam Đế! Có phải như vậy không thưa quí độc giả và tác giả Lê Thái Dũng? Vấn đề Triệu Đà và nước Nam Việt trước đây cũng đã từng được vị đệ nhất công thần của nhà Lê là Nguyễn Trãi coi như là một triều đại dựng nước của nước ta, trong Bình Ngô Đại Cáo ông đã viết: “… Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần chi triệu tạo ngả quốc, Dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương…”. (… Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập’ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên hùng cứ một phương…) Sau này cả vua Quang Trung lẫn vua Gia Long vẫn không quên đề cập tới vùng đất cũ Nam Việt này. Nhiều tài liệu sử có chép khi vua Quang Trung thấy mình đã đủ sức đương cự với nhà Thanh, ngài sai Vũ Văn Dũng cầm đầu một đoàn sứ giả sang Thanh xin cưới một công chúa và đồng thời cũng xin nhà Thanh cho hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây tức là nước Nam Việt cũ để làm của hồi môn. Nhưng mới đi nửa chừng thì sứ thần nhận được hung tin vua Quang Trung băng hà nên khi sang đến Thanh triều không nhắc đến việc đó. Sử cũng chép sau khi diệt xong nhà Tây Sơn, vua Gia Long sai sứ sang Thanh xin phong vương và xin đặt quốc hiệu là Nam Việt. Nhà Thanh không thuận vì lý do đã nói Nam Việt thì phải có cả đất Quảng Đông, Quảng Tây, vua Thanh đâu có chịu. Cuối cùng nhà Thanh chỉ chịu cho nước ta lấy quốc hiệu là Việt Nam. Tôi chỉ là một người thích đọc lịch sử. Khi nêu lên sự kiện Triệu Đà, tôi không nhằm chỉ trích tác giả Lê Thái Dũng mà chỉ mượn trường hợp rắc rối trên để thỉnh ý qui sử gia, quí học giả cùng những ai quan tâm đến lịch sử đất nước nên đặt lại vấn đề chưa được xác định ổn thỏa này: Nhà Triệu có phải là một triều đại của Việt Nam hay không? Biết đâu nay mai đây chúng ta sẽ phải đối diện với nó? Ngô Viết Trọng
×
×
  • Create New...