hoangnt
Hội viên-
Số nội dung
1909 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
6
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by hoangnt
-
Bác Votruoc viết: Hoangnt vẫn tách vật chất (hay "Khí" ) khỏi không gian, chưa nhận thức thấy tính nhất thể của chúng. Hơn nữa, Hoangnt còn cho rằng tư duy, nhận thức của chúng ta quyết định thuộc tính của tự nhiên (Trích: “chúng không có tính tuyệt đối là do quy ước của tư duy nhận thức tự nhiên của chúng ta”) mà không thấy rằng, ngược lại, tư duy nhận thức của chúng ta chỉ là một phản ánh của tương tác âm dương hay chỉ là một phản ánh của tự nhiên mà thôi. Theo tôi, đó là một sai lầm. Đối với tôi, Vật chất là một thể thống nhất không thể tách rời của trường khí âm dương (Khí) và không thời gian: Khí (trường khí âm dương) + Không gian + Thời gian = Vật chất Ý thức chỉ là một trong muôn vàn phản ánh của hoạt động vật chất mà thôi. Vật chất cũng không tự thân tồn tại, mà nó được sinh ra. Do chúng ta quy ước "Khí" là một trạng thái "Vật chất" để quán xét, do vậy quy ước Vật chất như trên cũng tùy vào người quán xét. Dĩ nhiên, không thời gian không thể tách rời vật chất nhưng để xem xét chúng ta vẫn có thể tách rời. Đặc biệt, do sự bất định (mặc dù tự nhiên là tất định) trong các hoạt động của con người, cho nên chúng ta vẫn tách không thời gian để nhận định. Ý thức cũng là Vật chất - thống nhất, nhưng nó còn một thuộc tính khác chính là tính Tuyệt đối, cái này khoa học không thể nắm bắt được, mà chỉ dùng phân tích logic về tư duy con người và tự vô hạn về không gian và cực bé của vật chất, kết hợp với sự tự thân tồn tại và vật động của Vũ trụ như một tiên đề" chỉ có những tiên đề như vậy mới giải thích được khởi nguyên và kết thúc của vũ trụ mà thôi. Trước khi vật chất được sinh ra, Vũ trụ là Thái cực. Khi mới sinh ra (do kết quả của một đột biến lượng tử từ Thái cực), Vũ trụ cực kỳ nhỏ bé về cả khối lượng cũng như không gian, thời gian. Sau đó, Vũ trụ lớn lên rất nhanh, không thời gian trương nở rất mạnh, nhưng khối lượng còn trương nở mạnh hơn nhiều làm cho mật độ Khí tăng lên nhanh chóng, hay cực kỳ đậm đặc (chứ không phải “loãng ra”). Đó là thời kỳ Tiên Thiên, âm dương đồng tương sinh. Rất giống Bigbang, thống nhất đoạn làm dấu nhưng nều giải thích như vậy thì Thái Cực phải chăng là "Mật độ khí ban đầu" - và nó như thế nào?. Khoa học và tôn giáo (ngoại trừ Phật giáo, Lão giáo) có các giới hạn không thể vượt qua: - Vũ trụ nguyên do nào mà có. - Không thể hiểu được khởi nguyên vũ trụ. - Không thể nắm bắt được hạt vật chất nhỏ nhất. - Không thể biết được tính vô hạn của vũ trụ. - Không nhận thức được tính tuyệt đối trong vạn vật. - Không hiểu được tư duy con người từ đâu mà có, từ đó không thể giải thích được "linh hồn tồn tại hay không" - sự thật phản ánh là có. - ... Khi Vũ trụ đạt giá trị đậm đặc tới hạn, thời kỳ Hậu Thiên bắt đầu. Cái khối Vũ trụ Tiên thiên đó, đang từ thời kỳ âm dương đồng tương sinh, dần dần trở thành âm thịnh dương suy hoặc dương thịnh âm suy và bắt đầu tan vỡ, mật độ Khí mới “loãng ra”. Những hạt vật chất, những Thiên hà, hạt cơ bản, …chính là những mảnh Tiên thiên chưa tan vỡ hết đó. Chính những mảnh vỡ Tiên thiên đủ lớn làm cho các nhà khoa học tưởng là “Vật chất tối” đầy bí ẩn, nhưng thật ra nó chẳng khác gi cái lõi của một hạt vật chất thông thường. Sự tan vỡ của Vũ trụ Tiên thiên là do khí âm động sinh ra. Khí dương “tịnh” cản trở quá trình ta vỡ (rời ra xa nhau) đó, làm cho những phần Khí chưa tan vỡ, co cụm lại thành những trung tâm có mật độ vật chất lớn hơn bằng nhiều cách mà một trong những cách dễ dàng nhận thấy nhất chính là lực hấp dẫn. Như vậy, rõ ràng “các trung tâm đậm đặc phải là sự hội tụ của "khí" Âm.” như Hoangnt nhận định là sai lầm, mà nó phải là nơi khí dương mạnh nhất. Đó cũng là lý do vì sao mùa Đông (thuộc Thủy – dương, Trái đất lại gần mặt trời nhất, và ngược lại, mùa Hạ, thuộc Hỏa – âm, Trái đất xa mặt trời nhất) Có vẻ nhận định 4 mùa không chính xác, trên đây là đồ hình. Hoangnt sẽ xem lại Sự đậm đặc là hội tụ khí Dương. Sự đậm đặc của vật chất cũng giống như sự bé nhỏ của không gian. Như vậy, không thời gian nơi nào lớn hơn chỉ có nghĩa là mật độ vật chất (khí) nhỏ hơn mà thôi. Khoảng cách giữa các hạt vật chất thể hiện mức độ loãng ra của Khí trong không gian giữa chúng. Chú ý, chúng ta cũng thấy sẽ có bất kỳ một không gian bao phủ vùng "đậm đặc Khí" tại bất kỳ thời gian nào. Kính.
-
Bác Votruoc viết: Tính liên tục về không gian của Vũ trụ là chắc chắn. Không có không gian hư vô: Thống nhất. Cái gọi là khoảng cách giữa hạt nhân nguyên tử và các điện tử chính là một cấu trúc của trường khí âm dương khi mật độ khí dương đủ loãng mà thôi. Thống nhất. Cái lực hấp dẫn mà các nhà khoa học không hiểu tại sao lại có đó chính là sự thể hiện tính "tịnh" của khí dương trong trường khí âm dương tràn ngập Vũ trụ. Sự trương nở và tan vỡ của Vũ trụ chỉ là sự lớn lên về không gian và sự loãng ra về mật độ khí dương của trường khí âm dương trong Vũ trụ. Không có sự trương nở vũ trụ và lớn lên về không gian, nhưng có sự loãng ra về mật độ "khí" sau khởi nguyên. "Cái lực hấp dẫn mà các nhà khoa học không hiểu tại sao lại có đó chính là sự thể hiện tính "tịnh" của khí dương trong trường khí âm dương tràn ngập Vũ trụ": Bác có thể giải thích rõ hơn về vần đề này chăng. Vũ trụ chỉ là một cấu trúc trường khí âm dương với những trung tâm có mật độ khí dương khác nhau mà thôi. Sở dĩ có những trung tâm đậm đặc đó là do tính "tịnh" của khí dương. Sở dĩ có những nơi có mật độ khí dương loãng (tạo thành những khoảng cách) là do tính "động" của khí âm. Có lẽ, do tính "tịnh" của "khí" cho nên hình thành những trung tâm đậm đặc, và vì hiện vũ trụ đang trong trạng thái Hậu thiên nên nó ở trạng thái "động". Mặt khác, do tính quy ước Âm Dương "khí" do vậy, các trung tâm đậm đặc phải là sự hội tụ của "khí" Âm. Không thời gian và trường khí âm dương không thể tách rời mà là điều kiện của nhau. Không gian lớn hay nhỏ chỉ biểu hiện mật độ khí dương của trường khí âm dương loãng hay đậm đặc mà thôi. Vì thế không thời gian không có tính tuyệt đối. Sự tồn tại của không thời gian chỉ là sự thể hiện tính "động" của khí âm. Nếu trường khí âm dương không tồn tại ở đâu thì không thời gian ở đó cũng không có lý do tồn tại. Vì thế không thể có sự gián đoạn của không thời gian trong Vũ trụ vì đơn giản là khi không thời gian không tồn tại (bị gián đoạn) thì cũng không có vật chất (trường khí âm dương) hay không phải là thành phần của Vũ trụ. Tôi đã tìm ra công thức liên hệ giữa kích thước không thời gian và mật độ khí dương phân bố trong Vũ trụ. "Không thể có sự gián đoạn của không thời gian trong Vũ trụ": thống nhất, chúng không có tính tuyệt đối là do quy ước của tư duy nhận thức tự nhiên của chúng ta nhưng chúng tồn tại là tự nhiên, chỉ có không gian tự nhiên tồn tại nhưng thời gian là phản ánh của vật chất vào tư duy. Hạt vật chất từ thiên hà cho tới các hạt cơ bản chỉ là những "trung tâm" có không thời gian có mật độ khí dương đủ lớn. Khoảng các giữa chúng chỉ là không thời gian có mật độ khí dương đủ nhỏ. Cái gọi là hữu hình cũng chỉ là không thời gian có mật độ khí dương lớn, và ngược lại, cái gọi là vô hình cũng chỉ là không thời gian có mật độ khí dương nhỏ mà thôi. Điều này chỉ ra khoảng không gian giữa nguyên tử và hạt nhân còn tồn tại những dạng vật chất vi mô hơn nữa mà khoa học chưa nhận biết được. Đừng nghĩ rằng không gian truyền lực hấp dẫn mà thực chất không gian thể hiện lực hấp dẫn, một biểu hiện của tính "tịnh" của khí dương. Hai cái này khác nhau. Không có cái khí dương ấy thì đương nhiên không có cái thể hiện của cái tính "tịnh" của nó, và dĩ nhiên cũng không có cái "không thể tách rời" của nó là không gian. Cách suy nghĩ của Hoangnt cũng là cách suy nghĩ của các nhà khoa học khi cứ tách rời vật chất và không gian nên mới thấy những "mâu thuẫn" đó. Thực chất không thời gian, vật chất, Vũ trụ là một chỉnh thể không thể tách rời, không thể có cái này mà không có cái kia được. Vấn đề này liên quan đến triết học, do tự thân tồn tại vật chất gọi là :khí" cho nên phải có kích thước (không thể xác định nhưng tiệm cận "0") và vì vậy hình thảnh khoảng không giữa chúng, điều này không mâu thuẫn với tính liên tục của vật chất "khí" từ khởi nguyên cho tới nay và khi chúng tan rã. Kính.
-
VIỆT LÀ GÌ? Nguyễn Xuân Quang (phần 2 và hết) HỌ VIỆT MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG Như đã biết Việt, Vớt, Vọt, Nọc là phần nóng, đỏ, dương của trứng vũ trụ, sau biến thành mặt trời vì thế Vớt, Vọt, Việt là cả một ngành Nọc đối ứng với ngành Nòng là phần trong, âm của trứng vũ trụ của họ mặt trời. Họ thờ mặt trời trong vũ trụ giáo chia ra làm hai ngành: ngành Việt Mặt Trời Nọc, Mặt trời tỏa rạng, Mặt trời thái dương và ngành Bộc Mặt trời bọc, Mặt trời đĩa tròn không có tia sáng tỏa ra. Họ Việt mặt trời có nhiều đại tộc, nhiều chi tộc. Điều này giải thích tại sao có lúc họ Việt được gọi là Bách Việt. Ta biết họ tiếng Hán gọi là tính. Trong thiên hạ có nhiều họ gọi chung là trăm họ bá tính. Vì Việt là một họ nên cũng có thể gọi chung là Bách Việt. Điều này cũng giải thích tại sao có nhiều từ Việt chỉ tên dân tộc, tên nước viết với những bộ khác nhau (bộ tẩu, bộ mễ, bộ kim…). Chúng ta thuộc họ Việt Mặt trời rạng ngời, Mặt trời thái dương dòng thần mặt trời Viêm Đế ngành nọc (vật nhọn, mặt trời) nên các vị vua cổ của chúng ta đều là những Lang (chàng, đục, đực, mặt trời) đều có vương hiệu có nghĩa là Vớt, Vọt, Việt, Nọc, Đực, Hùng, Mặt trời rạng ngời, hừng rạng. Như đã biết các vua tổ của chúng ta đều có họ Việt, các tên Man (Minh), Kẻ (Kì), Lạc, Lang đều có nghĩa là nọc, đực, mặt trời… nghĩa là Việt. Đế Minh, Đế Man là Đế Việt ánh sáng mặt trời thái dương, là Dương Việt, Man Việt. Tương tự Kinh Dương vương hay Kì Dương Vương là Kì Việt vương, vua Mặt trời Núi Đất Trụ thế gian; Lạc Long quân là Rồng Việt, vua Mặt trời Nước Lạc Việt và Hùng Lang là Lang Việt, mặt trời Gió. Hùng Vương với Hùng có một nghĩa là đực (thư hùng) là Hùng Việt, vua Mặt trời hừng rạng. Người Mường gọi Hùng vương là Dịt Dàng tức Việt vương… VIỆT VƯỢT THUỘC TỘC NÀO? Từ Việt trong hai chữ Việt Nam hiện nay là từ Việt viết với bộ tẩu có nghĩa hiện kim là Chậy, Vượt, Vọt. Như đã nói chúng ta Việt tộc Vượt, Vọt hiểu theo nghĩa là tộc Việt “bỏ chạy”, là tộc Việt “bành trướng”, Việt “vượt” vòng lễ giáo của nhà Chu, là Việt siêu việt không chỉnh. Ta thấy rõ những nghĩa này không phải là ý nghĩa cốt lõi của từ Việt chỉ một dân tộc, một nước ngày xưa. Từ Việt ngoài phần việt với nghĩa là vật nhọn, Nọc chỉ họ Việt Mặt trời thái dương ra, phần còn lại gọi là ‘bộ’ chỉ tên một bộ tộc, một tộc, thường mang ý nghĩa vật biểu, vật tổ. Ví dụ như Việt viết với bộ mễ (lúa) ngoài chữ Việt ra, bộ mễ chỉ tộc Việt trồng lúa. Như thế Việt viết với bộ tẩu thì tẩu cũng phải mang ý nghĩa vật tổ. Việt tẩu liên hệ với con vật tổ nào? Con vật Việt vượt nào có nghĩa là con vật có “vật nhọn chạy vụt qua”? Con vật nào tên có nghĩa là vọt, Việt, nọc vì có một phần thân thể có đặc tính như một cái vọt, cái nọc nhọn và có đặc tính “chạy”? Ta thấy ngay là con hươu nọc. Hươu, hiêu là con hèo có nghĩa là roi vọt, tên được gọi theo cái sừng nọc nhọn (Mường ngữ hèo là húc) và có chân chạy. Con Hươu nọc, hươu cọc, hươu sừng còn gọi là con Cọc (xem Bầu Cua Cá Cọc). Ta cũng thấy Hán ngữ lộc (hươu) chính là Việt ngữ lộc (cành, cây như thấy trong câu “bồng bồng cái lộc ra hoa”…), biến âm với Việt ngữ nọc, Anh ngữ nog (then cài), log (thân cây)… Ta cũng biết hươu tiếng cổ Việt là Kẻ (cái kèo nhỏ) (theo h=k như hủi = cùi, hèo = kèo, kẻ) liên hệ với gốc cổ ngữ Đông Á keh, con hươu, người đầu tiên trên thế gian (James Churchward), với Hy Lạp Ker- (sừng) như keratin (chất sừng), Pháp ngữ cerf (hươu)… Hơn nữa con hươu, con cọc cũng liên hệ với rìu (vật nhọn). Việt ngữ có câu ví “nói chuyện con tiều con vượn”. Con tiều là con gì? Tiều có nghĩa là dìu, rìu như ông tiều phu là người thợ rừng có cây rìu chặt cây. Con tiều là con rìu con hươu do đó cũng nói là “nói hươu nói vượn”. Như thế con hươu là con cọc, con rìu, con Việt. Mặt khác con hươu, con cọc, con kẻ là loài thú bốn chân sống trên mặt đất biểu tượng cho Cõi Giữa, Cõi Đất thế gian. Ta thấy rõ kẻ, kì là cây, cột, trụ biểu tượng cho núi trụ thế gian (xem chương Kinh Dương vương). Ta cũng thấy hươu liên hệ tới đất dương, núi qua Hán ngữ trần (bụi đất). Từ trần do chữ lộc (hươu) ghép với chữ thổ (đất) Trần là bụi, là đất khô, đất dương tung bay lên được nên đi với lộc hươu. Lộc cũng thường đi đội với tiên (người ở trên núi) như thấy qua từ ghép Hán ngữ tiên lộc. Như thế hươu là con hèo, con kèo, con kì (kì kèo), con kẻ, con cọc, con Việt biểu tượng cho núi đất, trần gian. Điều này cũng giải thích tại sao có bộ tẩu trong chữ Việt vượt. Giải tự từ tẩu phần trên có chữ thổ (đất) dưới có chữ chỉ là chân. Về mặt sinh học, hươu là loài thú hiền ăn cây cỏ chỉ có một cách chạy để thoát thân, để sống còn. Tẩu là một nét đặc thù của hươu. Chúng ta có câu ví “Chỉ đường cho hươu nó chậy”. Như thế rõ như “con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt rõ ràng con cua” là Việt viết với bộ tẩu có hai phần: phần Việt là rìu liên hệ với hươu và phần tẩu cũng liên hệ với hươu. Tóm lại Việt Vượt viết bằng chữ Việt búa là vật nhọn ghép với chữ tẩu diễn tả một con vật tên có nghĩa là có sừng nhọn như rìu, vọt, nọc nhọn có chân chạy “vọt như tên bắn”, “chạy vụt qua” trên mặt đất chính là con hèo, con hươu biểu tượng cho núi đất dương. Ta đã biết vua tổ đầu tiên trên mặt đất của chúng ta là Lộc Tục Hươu Nọc Kì Dương vương có mạng núi nổng, mang hình ảnh của con người đầu tiên trên trái đất. Điều này như đã thấy rõ qua cổ ngữ Đông Á Keh là con hươu biểu tượng cho con người đầu tiên trên mặt đất (xem hình ở bài đọc thêm con Bọ Hung). Keh chính là Việt ngữ Kẻ, Hán ngữ Kì trong tên Kì Dương vương, Kinh Dương vương. Rõ như hai năm là mười Việt Vượt là Việt Hươu Nọc Lộc Tục Kinh Dương vương, nước Xích Quỉ [biến âm theo kiểu quỉ quái, ta có Quỉ = Quái. Quái là quẻ (bát quái = tám quẻ), que (cây, nọc, cọc) biến âm với Kẻ], như thế Quỉ là Kẻ có nghĩa là người, chỗ ở như Kẻ Sặt. Quỉ liên hệ với Pháp ngữ qui (người), Latin quo (Quo vadis)… Xích Quỉ là Kẻ Đỏ, Người Đỏ, Người Mặt Trời (The People of the Red Sun) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Việt vượt viết với bộ tẩu là Việt Mặt Trời thái dương tộc hươu Việt Xích Quỉ. Có tộc gọi chúng ta là người Kinh có thể là họ gọi theo tộc Kì, tộc Kẻ, tộc Hươu thuộc Đại tộc Kì Dương Vương hay Kinh Dương vương. Tóm lại chúng ta là Việt Nam với từ Việt Vượt viết với bộ “tẩu” chỉ loài có “chân” chạy trên “đất” là con hươu Việt. Việt Nam là Việt Mặt trời thái dương dòng dõi Hươu Việt Kinh Dương vương, là Người Mặt trời rực lửa Xích Quỉ (The people of the Sun). NHỮNG CHỨNG TÍCH VIỆT LÀ MẶT TRỜI RẠNG NGỜI. Chúng ta thuộc họ Vọt, Vớt, Việt nên thờ vật nhọn, nọc, cột, khí giới sắc nhọn, chim, sinh thực khí phái nam, mặt trời hừng rạng, thái dương… NỌC VIỆT Họ Việt thờ Nọc, Vọt, Vớt, Việt dưới dạng nọc thờ, nêu, gậy thờ, trụ, cột thờ, thạch trụ, trụ đồng, cột thờ totem (như của các thổ dân vùng Tây Bắc Hoa Kỳ), trụ chống nóc trời (núi nổng), Cây Vũ Trụ (Cosmic Tree), Cây Nhân Sinh (Tree of Life)… ví dụ một trong những nọc thờ cổ sơ nhất là cây nêu nọc gồm cây que, cây nọc vót một đầu còn để dăm bào dài, xoắn, dính lại mà một số tác giaœ Việt Nam hiện nay gọi là ‘que bông’. Đây là nọc Việt được coi là linh thiêng nhất vì nó chính là cái NỌC, cái nêu Đực, nêu Mặt Trời, cái nêu Việt. Nọc này cũng mang hình ảnh bộ giống phái nam có chùm lông. Hãy lấy một ví dụ: ”… Cũng từ lâu làng Dóng được gọi là Kẻ Đổng có tục trồng riêng một sào cà để dành cho ông Đổng về hái. Ở các ruộng khác, người ta thường cắm cạnh mỗi cây cà một “que bông”, tức là những que tre dài ở một đầu có vót thành xơ xoắn xít dính vào thân que như hoa cà, ngụ ý để dành cho ông Đổng kẻo ông trẩy cà, gây thiệt hại tới mùa cà”… (Cao Huy Đĩnh, Đất Nước Trung châu Kể Chuyện Ông Dóng, Hùng Vương Dựng Nước, NXB KHXH, HN, 1972 t.I, tr.110). Không. Đây không phải là “que bông” để cho Phù Đổng thiên vương không trẩy cà. Một số tác giả ở Việt Nam hiện nay đã hiểu sai cây “que bông” này. Cây nêu Nọc “que bông” này còn thấy được dùng ở nhiều sắc tộc ở miền Bắc ngày nay. “Chúng ta thấy đồng bào Thái (đen) một số nơi cũng vẫn còn giữ tục lệ đẽo hình giống của đàn ông bằng gỗ treo kèm với con rùa trên chiếc cột cái ở trong nhà. Trong nhóm các dân tộc vẫn được mệnh danh là Xá (mà nhiều đặc điểm gần gũi với người Việt cổ đã được phát hiện) đồng bào Khmu, Kháng cũng giữ tục lệ ấy. Mỗi khi làm nhà, ngay lúc dựng lên cây cột cái, một chiếc Khé (hay Klé) bằng tre, thuôn, dài, một đầu vót tròn, một đầu tước xơ ra cũng được treo lên cùng với thớt dao và con quay…” (Lê văn Lan, Về khả năng…Hùng Vương Dựng Nước, NXB KHXH, HN, 1972 t. I, tr.198). Khé hay klé chính là Việt ngữ que, kẻ (kh, kl = qu). Rõ ràng ‘que bông’ cắm ở ruộng cà và khé chính là cái nêu nọc, nêu Việt, Nọc Việt. Nêu nọc ‘que bông’ của chúng ta chính là cái nêu ‘inau kike’ của người Hà Di Ainu, thổ dân ở Nhật (xem thêm bài đọc thêm Nêu, Cái Nêu Nhân Chủng Học). Một tài liệu còn thấy ghi trong sử sách là cây trụ đồng thời Mã Viện. Sử chép Mã Viện cho trồng một cây trụ đồng và nói “Trụ đồng chiết Giao chỉ diệt” (Trụ đồng gẫy, Giao chỉ bị diệt vong). Dân Giao chỉ mỗi người đi qua đắp vào một hòn đá cho trụ đồng không bị gẫy đổ. Tại sao Mã Viện lại trồng trụ đồng mà không trồng một thứ gì khác? Trụ đồng bắt buộc phải liên quan đế văn hóa Việt, đến sự tồn vong của người Việt. Trụ đồng phải là một biểu tượng Việt thiêng liêng. Xin thưa, trụ đồng là Trụ Việt, Nọc Việt vì thế mà người Việt muốn giữ cho nó bị gẫy đổ. Núi Ngũ Lĩnh ở đền thờ Hùng Vương, Vĩnh Phú là Núi Nọc, Núi Dương, Núi Hùng, Núi Trụ, Núi Trục Thế gian (Lĩnh biến âm với với Lang theo kiểu biến âm linh lang hay ninh nang: ông Lảng ông Lang ông ra đầu làng lại gập ông Linh…). Núi Trục thế gian Nghĩa Lĩnh nối ba ngôi đền Thượng, Trung, Hạ biểu tượng cho Tam Thế. Đền Tổ Hùng mang hình ảnh Cây Vũ Trụ, Cây, Tam Thế trong Vũ Trụ giáo (xem Cấu Trúc Đền Hùng Vương). RÌU VIỆT Cây rìu, cây búa còn gọi là cây Việt. Theo Bình Nguyên Lộc các dân tộc người Thượng Việt Nam và Mường ngày nay vẫn còn gọi rìu là cây việt. Do đó búa, rìu Việt là tế vật, vật thờ, vật thiêng liêng. Khảo cổ học đào thấy rất nhiều rìu thờ. Cây rìu mỏ chim hay búa chim trở thành vật biểu của Việt Mặt trời thái dương. Chứng tích thờ rìu còn thấy qua những chiếc rìu thờ bằng đá hay bằng đồng Đông Sơn. Các loại rìu thờ Đông Sơn (ảnh chụp tại Viện Bảo Tàng Lịch Sử Hà Nội). Ta thấy rìu thờ có những hình dạng và trang trí khác nhau tùy theo rìu đó là rìu thờ của tộc Việt nào như chiếc rìu thờ tìm thấy ở Núi Voi mà các nhà khảo cổ học Việt Nam hiện nay gọi là “Rìu Chiến Núi Voi”. Đây là cái rìu thờ cán chẻ ra hình chữ V giống như cái gạc của Hươu sủa Muntjac, biểu tương của Kì Dương Vương, nhánh Lửa. Trên rìu có khắc hình giao long biểu tượng cho của Lạc Long Quân, nhánh Nước. Đây là rìu của Hùng Vương hai nhánh gồm cả hai nhánh. Đặc biệt có một chiếc rìu khắc hình giao long, hươu sủa gạc hai mấu và sói lang. Nếu nhìn chung, đây là Rìu Tam Thế (Cõi Trên, Gió-Lang Trời, Cõi Giữa, Đất-Hươu Cọc và Cõi Dưới, Nước-Giao Long), nếu nhìn dưới diện họ Mặt Trời thái dương thì đây là Rìu Hồng Bàng thế gian: Kì Dương Vương-Hươu Cọc, Lạc Long Quân-Giao Long và Hùng Vương thế gian- Lang Trời (xem Rìu Hồng Bàng). Rìu Hồng Bàng (YHTT số 37, tháng 3-4, 2000). Gần đây người Việt còn thờ các loại khí giới là con những con dao lớn, cán dài gọi là cây vớt và các loại dao lớn cán ngắn gọi là mã tấu. Qua câu chế riễu người Việt ở vùng quê còn mang hình bóng cổ Việt là “bọn răng đen mã tấu” cho thấy mã tấu, cây vớt là khí biểu đặc thù của người Việt (còn răng đen là nét đặc thù của tộc Việt ngành âm nước Lạc Việt, mầu đen là mầu nước thái âm). …… TRỐNG VIỆT Trống có một nghĩa là đực (như gà trống). Trống đồng nòng nọc, âm dương là vật biểu tượng cho đực, cho các vua Hùng (hùng có một nghĩa là đực như thư hùng). Trống là trống, là đực, là đục (chisel) là chàng (chisel), là rìu, là Việt. Trống đồng là trống biểu của Đại Tộc Việt. Trống là đực, Nọc, Việt. Đực là dương. Dương có một nghĩa là mặt trời. Vì vậy trống đồng luôn luôn có mặt trời ở tâm trống, là trống mặt trời. Trống đồng nòng nọc, âm dương nào không có mặt trời không phải là trống của đại tộc Đông Sơn, của Đại Tộc Việt. Trống đồng nòng nọc, âm dương là trống biểu của Đại Tộc Việt, của các Lang, Chàng Hùng, của Hùng Vương mặt trời thái dương, của liên bang Văn Lang ngành nọc Việt. Người Choang (Zhuang), một tộc có nhiều nét giống người cổ Việt, một số lớn ở Quế Lâm, Nam Trung Hoa hiện nay có rất nhiều trống đồng, họ thờ trống đồng nòng nọc, âm dương. Hình thiếu nữ người Choang đang quảng bá trống đồng cho du khách (ảnh của tác giả chụp một poster du lịch ở Quế Lâm, Trung Hoa) Gần đây các nhà nghiên cứu dân tộc Choang đã tranh luận rất hào hứng là tổ tiên người Choang là Việt hay Bộc, là Tây Âu hay Lạc Việt? Tôi xin góp thêm ý của tôi. Cách đây 4, 5 thế kỷ người Choang vẫn còn được gọi là người Lang, tên Choang hiện nay gọi theo Hán Việt là Chàng tộc. Rõ như ban ngày Choang là Lang là Chàng, hiển nhiên là liên hệ ruột thịt với Lang, Chàng Hùng vương, là một bang trong liên bang Văn Lang. Ta cũng thấy Chàng là đục (chisel), vật nhọn như thế người Choang, người Chàng, người Lang là Việt, Lang Việt. Cũng nên biết người Choang họ tự nhận là con cháu của Rồng giống như ngành cha, nước của Hùng Vương nhận là dòng dõi Rồng Nước Lạc Long Quân (theo cha xuống biển). Người Choang thờ trống đồng là một chi tộc Lang Việt của Văn Lang thuộc họ Việt. Người Trung Hoa nhận trống đồng nòng nọc, âm dương là của họ thì họ thuộc… Bách Việt ! VẬT TỔ CHIM VIỆT. Xin xem bài viết Chim Việt, ở đây chỉ nhắc qua vài điểm chính. Chim Việt là vật tổ của họ Việt. Con chim này phải có tên và có các đặc tính của từ Vớt, Vọt, Việt nghĩa là nọc nhọn, rìu, búa, chàng, đục… biểu tượng cho nọc, đực, dương, bộ giống phái nam, mặt trời rạng ngời. Chim Việt tổ tối cao của đại tộc Việt là con chim Cắt, có cái mỏ rất to, nhọn như cây búa chim, chiếc rìu. Dân gian Việt Nam gọi là chim cắt là chim mỏ rìu. Người Papua, New Guinea, thờ chim cắt, mỏ coi như là biểu tượng cho mặt trời, dương vật, người là mặt trăng biểu tượng choc ho bộ phận sinh dục nữ. Chim cắt nòng nọc, âm dương, trăng trời này thờ trong các miều âm hồng mang ý nghĩa sinh tạo, tái sinh, hằng cửu. Hiển nhiên chim cắt mang biểu tượng cho nọc, đực, dương, mặt trời là chim rìu, chim Việt của họ Nọc Việt Mặt trời thái dương. Vì thế rìu chim mỏ cắt cũng được các tộc liên hệ với Đại Tộc Việt hay văn hóa Đại Tộc Việt thờ phượng (xem dưới). Chim Việt mỏ cắt có thể có những tên khác tùy theo chi, theo tộc, tùy theo thời, ví dụ Việt Văn Lang của Hùng vương chim Việt mỏ cắt gọi là chim lang, chim chàng (chàng vừa có nghĩa là đục chisel, vừa có nghĩa là con trai, đực), chim mling, mlang, chim bling blang (mling đẻ ra từ Mê Linh), người Ê Đê gọi là chim mơ ling, mơ lang, có tộc ở Mã Lai Á gọi là chim lang, người Xá Khmu gọi là chim th’ràng; Việt Xích Quỉ của Kinh Dương vương có thể gọi là chim khướng (người Mường có chi gọi chim mỏ cắt là chim khướng) có nghĩa là chim sừng (khướng biến âm với Hán Việt khương là sừng) ăn khớp với Anh ngữ hornbill. Viêm Đế có họ Khương nên có chim biểu là chim Khương, chim Sừng, chim mỏ cắt, chim rìu, chim Việt… Chim Việt mỏ cắt nói chung là chim biểu của toàn họ Việt Mặt trời thái dương bằng chứng là hình bóng chim cắt dùng làm chim biểu, vật tổ thấy khắp nơi từ vùng đất tổ cũ nhất của họ Việt, ở nam Trung Hoa cho tới Đa Đảo, Đại Dương châu, châu Phi… Chứng Tích Vật Tổ Chim Việt Mỏ Cắt Qua Sử Miệng Ca Dao Chim mỏ cắt đã được ghi lại trong sử miệng ca dao qua bài hát về vật tổ chim của chúng ta sau đây: Bổ nông là ông bồ cắt, Bồ cắt là bác chim di, Chim di là dì sáo sậu Sáo sậu là cậu sáo đen Sáo đen là em tu hú Tu hú là chú bồ nông. Qua Khảo Cổ Vật Trên mặt trống đồng Duy Tiên, mặt tuy bị vỡ nhưng còn thấy rõ hình ba con mỏ cắt, mỏ lớn, đầu có mũ sừng. Đây là loài Great hornbill, loài mỏ cắt lớn nhất. Trên nhiều trống đồng khác như trên trống đồng sông Đà, một đầu thuyền khắc đầu chim hình cái rìu. Những hình thuyền trên trống đồng Hoàng Hạ có chiếc có mũi là một đầu chim với cái mỏ rất lớn. Đây là chim mỏ cắt. Đầu kia của thuyền là Rồng-nước. Đây là thể lưỡng hợp Mỏ cắt-Rồng nước. Chim Hồng Chúng ta thường nói tới hai từ Lạc Hồng, chúng ta là con Hồng cháu Lạc. Chim Hồng chim Lạc. Chim bổ cắt có tên “chữ” là chim Hồng Hoàng. Chim Hồng nhìn theo họ Viêm Việt Viêm Đế là chim mỏ cắt hồng hoàng. Vật Biểu Chim Mỏ Cắt Của Các Chi Tộc Khác Của “Đàn Chim Việt”. Mường Vật tổ chim Tráng, chim Cháng của người Mường Việt cổ cũng có vật tổ chim là chim tráng, chim chàng (đục) mỏ cắt. Theo truyền thuyết Mường hai con chim Kláng, Klao (tương ứng với truyền thuyết khác là chim Ây, cái Ứa) đẻ ra trứng trăm trứng nghìn, nở ra muôn vật muôn loài, đẻ ra người Đáo (tức người Kinh, người Việt) đẻ ra người Mường… Từ Kláng chuyển sang Việt ngữ là Tráng, Chàng (đục) tức chim mỏ cắt (xem chương Nhận Diện Danh Tính Hùng Vương). Người Ao (Âu) Naga ở Assam Đây là người Âu liên hệ mật thiết với Lạc Việt, đã từng kết hợp thành nước Âu Lạc. Chứng tích chim bồ cắt là một vật tổ còn thấy ở nhiều tộc ở đây ví dụ tộc Ozukumtzur (bird-became-woman) do vật tổ chim cắt sinh ra có taboo kiêng kỵ không ăn thịt chim cắt (William Carson Smith, The Ao Naga Tribes of Assam, tr.111). Chứng tích thờ chim cắt thấy đi kèm với ròng-rắn nước, rồng đất cắc kè, kì nhông, kỳ đà, thằn lằn còn thấy nhiều ở người Ao Naga ở Assam. Trong nghệ thuật khắc gỗ, hiển nhiên là khắc tạc hình tượng thờ, hình vật tổ cũng thấy có hình rìu mỏ cắt. Người Ngaju, Dayak Nam Borneo Đây là một chi Bộc Việt. Hai vật tổ tối cao tối thượng của người Ngaju thuộc tộc Dayak, ở miền Nam Borneo là Rắn Nước (Watersnake) và Mỏ Cắt (Hornbill). Chim Mỏ Cắt (Hornbill) gọi là Tingang, trong ngôn ngữ của thầy tế pháp sư gọi là bungai. Vật tổ này thường thấy vẽ, khắc trên hình thuyền Chim Cắt, Thuyền Rắn Nước, những con thuyền mà các thần tổ dùng đi từ thượng giới xuống trần gian. Người Hắc Đảo ở Đại Dương châu. Các Thổ dân Hắc Đảo ở Đại Dương châu như đã thấy coi chim cắt là biểu tượng cho đực, dương, lửa, mặt trời. Mỏ bồ cắt là biểu tượng cho cơ quan sinh dục nam. Thổ dân đảo Cook ở Nam Hải gần đây còn thờ rìu chim bổ cắt. Đây chính là rìu chim Việt, một thứ Rìu Việt. VẬT TỔ THÚ VIỆT Ở Cõi Giữa Đất thế gian, thú biểu bốn chân của họ Việt là con thú có tên có nghĩa là vớt, vọt, việt, nọc, cọc, vật nhọn, đực, bộ giống phái nam, mặt trời rạng ngời. Đây chính là con hươu. Hươu, hiêu biến âm với hèo có nghĩa là roi vọt (nọc ra đánh cho năm mươi hèo). Con hươu là con hèo vì có sừng như nọc nhọn. Vì thế con hươu còn gọi là con Cọc (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Con hươu con hèo là con vọt, con Việt. Còn rất nhiều di tích vật tổ hươu ghi khắc lại trên trống đồng Đông Sơn… Và còn nhiều vật tổ khác nữa, tất cả đều có tên có hàm mghĩa Vọt, Việt, nọc, đực, mặt trời rạng ngời… VẬT TỔ CÁ VIỆT Ở Cõi Dưới, Cõi Nước cá biểu của Đại Tộc Việt là con cá có tên có nghĩa là vớt, vọt, việt, nọc, cọc, vật nhọn, đực, bộ giống phái nam, mặt trời rạng ngời. Ở vùng đất có nước, đầm lầy là con cá sấu dao (gavial), Hán Việt cá sấu gọi là con ngạc biến âm với lạc, gạc (bắn lạc = bắn lạc). Gạc là sừng. Anh ngữ cá sấu là crocodile, gọi tắt là croc biến âm với Việt ngữ cọc. Cá sấu là cá ngạc, cá lạc, cá ngạc, cá sừng, cá cọc, cá Việt. Cá sấu mõm dao thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương Hòa Bình (xem Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Ở dưới nước là loài cá có mõm nhọn hay có râu mang dương tính như cá chép, thấy trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I . THỜ SINH THỰC KHÍ Họ Việt thờ sinh thực khí như tục thờ nõ nường. Điển hình là tượng bộ giống phái nam bằng đá đào được ở Văn Điển; những đôi hiện vật đá tạc bộ giống nam nữ tìm thấy ở châu Sông Mã, trên thạp đồng Đào Thịnh có các hình tượng trai gái đang làm tình… (xem chương Tín Ngưỡng). THỜ MẶT TRỜI Như đã biết họ Việt thờ Mặt trời rạng ngời, thái dương (xem chương Ý Nghĩa Hình Mặt Trời Trên Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương). Hình ngữ mặt trời của người thái cổ, họ Nọc Việt Mặt trời rạng ngời được biểu thị bằng hình mặt trời có nọc nhọn như mũi tên, mũi lao mũi mác… bắn ra như thấy trên hầu hết các trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Đây là những trống Việt mặt trời thái dương… KẾT LUẬN Việt là Vớt, Vọt, Nọc, Vật nhọn, Đực, Chim, Mặt trời rạng ngời… Đặt tên nước, dân tộc là một chuyện thiêng liêng phải chiếu theo vũ trụ trời đất, trăng sao, thế núi sông, phải mang ý nghĩa của vũ trụ quan, nhân sinh quan, tôn giáo. Tôn giáo của tổ tiên ta thời thái cổ là Vũ Trụ giáo dựa vào hai yếu tố chính Nòng Nọc Âm Dương, tới thời phụ quyền cực đoan như thời Hùng vương chuyển qua đạo Mặt Trời. Từ Việt phải mang những ý nghĩa biểu tượng chính liên quan tới tín ngưỡng Vũ Trụ giáo, đạo thờ Mặt Trời của người cổ Việt. Việt phải hiểu là MẶT TRỜI TỎA RẠNG, MẶT TRỜI RẠNG NGỜI, HỪNG RẠNG hay muốn dùng theo Hán Việt thì là VIỆT LÀ MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG. Chúng ta thuộc họ Nọc Việt Mặt trời rạng ngời gồm có hai ngành: ngành Việt nọc thái dương, lửa-đất là Man Việt-Kì Việt ( phía Âu Cơ) có tộc Kì Việt, chi Hươu Việt Lộc Tục Kì Dương vương với Việt viết với bộ tẩu và ngành nọc Việt thái âm, nước-gió là Lạc Việt-Lang Việt có tộc Lạc Việt, chi Cá Sấu Dao Lạc Long Quân với Việt viết với bộ mễ. Hiển nhiên ta cũng còn có nhiều chi tộc khác nữa mỗi tộc viết chữ Việt với một bộ thích ứng khác… Giữa những nghĩa của từ Việt là Vớt (dao di, rìu), Vượt qua, Siêu, ta thấy Siêu là một tính từ với nghĩa phụ trừu tượng muộn nhất; với nghĩa Vượt là chạy cũng là nghĩa phụ có sau nghĩa roi vọt (dao vớt, rìu búa). Roi vọt, vớt (rìu búa), có trước dùng đánh con vật cho nó vọt nhanh, vượt qua. Ngoài ra ta cũng đã thấy Việt viết với bộ tẩu có nghĩa liên hệ với Vượt, chậy liên quan tới tộc Việt Hươu. Như thế từ Việt bắt buộc phải hiểu, phải lấy theo nghĩa gốc là vật nhọn (dao Vớt, Rìu). Điểm chính yếu là ta phải hiểu Việt, Vớt, Rìu là vật biểu, tế biểu của Đại Tộc Việt và phải hiểu theo nghĩa biểu tượng của vật nhọn. Vật nhọn biểu tượng cho đực, nọc, dương, mặt trời. Tên của một dân tộc, một nước bắt buộc phải chọn nghĩa biểu tượng thích hợp nhất là mặt trời. Việt phải hiểu theo ý nghĩa biểu tượng chính yếu và đúng nhất là mặt trời thái dương. Có rất nhiều bằng chứng cho thấy Việt là nọc, đực, dương, mặt trời: 1. Việt là Viêm Việt thuộc ngành thần mặt trời Viêm Đế, có họ Khương, Sừng(vật nhọn). Sừng là vật nhọn là Việt. 2. Đế Minh, tổ thế gian của Đại Tộc Việt là cháu ba đời của thần mặt trời Viêm Đế. Mặt trời là dương, nọc, Việt. 3. Vua Tổ của Đại Tộc Việt là Tổ Đực, Tổ Hùng. Đực là nọc là Việt. 4. Bọc Trứng mang dương tính sinh ra các vua Hùng thế gian toàn là con trai Lang. Dương là mặt trời. Lang là chàng. Chàng có một nghĩa là chiếc đục (chisel), một vật nhọn là Việt. 5. Vua Việt thuộc dòng Con Trai, Tráng Niên, mặt trời mới mọc, là những Lang Hùng. Lang là chàng là Việt. 6. Liên bang của Hùng Vương là Văn Lang. 7. Núi tổ là núi nọc, núi dương gọi là lĩnh, núi Nghĩa Lĩnh nơi có đền Tổ Hùng. Như đã biết là Lĩnh là biến âm với lịnh (cây lệnh), lính (ngày xưa phái nam phải đi lính), linga hàm nghĩa nọc, dương, Việt. 8. Họ Việt thế gian là Hồng Bàng, có một nghĩa là Họ Đỏ, Họ Tỏ, Họ Mặt Trời. Mặt trời là Việt. 9. Nước Việt đầu tiên là Xích Quỉ là Người Đỏ, Người Mặt Trời. 10. Vua Việt thế gian đầu tiên là vua Nọc, Cọc, Vua Cây, Vua Kẻ, Vua Kì, Vua Sừng, Vua Hươu nọc, Hươu Cọc Lộc Tục Kì Dương Vương, Kì Việt Vương. 11. Chim tổ của Đại Tộc Việt là chim Rìu, chim Cắt, chim Việt. 12. Thú tổ của Đại Tộc Việt là con thú cọc, con hươu nọc, hươu sừng, hươu Việt. 13. Vật biểu của ngành Việt là trống đồng Đông Sơn. Trống có một nghĩa là đực, nọc (gà trống). Trống là Việt. Trống đồng Đông Sơn nào cũng có mặt trời có nọc tia sáng mũi mác ở tâm mặt trống. Trống đồng Đông Sơn là trống biểu, vật biểu của Đại Tộc Việt mặt trời thái dương. 14. Khí biểu (ceremonial weapon) là cái vớt, mã tấu, rìu Việt. … Tất cả ngành, họ, đại tộc, tổ, vua tổ, vua thế gian đầu tiên, vua lịch sử, người, nước, núi tổ, chim tổ, thú tổ, vật biểu, khí biểu… đều có nghĩa là nọc, đực, dương, mặt trời tức là đều có nghĩa là VIỆT.
-
VIỆT LÀ GÌ? Nguyễn Xuân Quang Phần 1 Từ xưa tới giờ đã có nhiều người cố gắng cắt nghĩa từ Việt. Các nhà sử học từ thời cổ đại Trung Quốc cho tới các nhà sử học phương Tây và các học giả Việt Nam gần đây đã đưa ra nhiều già thuyết về nguồn gốc người Việt. Sử gia người Pháp Orusso dựa vào Sử ký của Tư Mã Thiên đưa ra giả thuyết cho là tổ tiên người Việt Nam hiện là con cháu của người Việt nước Việt của Câu Tiễn thời Xuân Thu bị đẩy dần xuống phía nam. Có người cho rằng Việt cùng họ với Sở. Có người theo Lưu Hy thời Hán cho rằng Việt chỉ chung nhóm người không nằm trong vòng “lễ nghĩa” của nhà Chu. Có người cho Việt là phiên âm của một tiếng địa phương thời ấy, nguyên là Ư Việt. Các nhà nghiên cứu dân tộc Choang ngày nay cũng tranh luận là tổ tiên người Choang là Việt hay Bộc, là Tây Âu hay Lạc Việt. Từ Việt lần đầu tiên xuất hiện chỉ tên một nước vừa nổi lên vào thời Sở-Ngô-Việt thời Xuân Thu (thế kỷ thứ 5 TTL). Đây là một danh từ riêng chỉ tên một nước. Tư Mã Thiên là người đầu tiên thâu thập các tài liệu từ Xuân Thu đến Chiến Quốc và một ít tài liệu thời sơ kỳ Tây Hán để viết về người Việt. Trong số 130 thiên của Sử ký, ông dành nói về người Việt 5 thiên, chưa kể đến nhiều thiên khác cũng đề cập tới người Việt. Đại để có thể chia ra làm bốn nhóm tài liệu: Nhóm thứ nhất nói về những sự việc có quan hệ rõ ràng với nước Việt của Câu Tiễn thời Xuân Thu và các nước Đông Âu, Mân Việt trước thời Tần-Hán; nhóm thứ hai nói về nước Nam Việt thành hình vào thời Tần-Hán; nhóm thứ ba nói đến Điền Việt và người Việt ở khu vực sông Phần; nhóm thứ tư nói chung về nhiều nước ở Lĩnh Nam: Đông Việt chỉ người Việt ở phía Đông, bao gồm cả Mân Việt lẫn Đông Âu và cả khu vực Cối Kê, Dương Việt chỉ người Việt ở Dương châu. Tư Mã Thiên đã bỏ ra ngoài Sở, Ngô và Lạc Việt. Điều này dễ hiểu. Sở, Ngô đã bị đồng hóa vào cuối thời Chiến Quốc. Còn Lạc Việt thì ông chưa có tài liệu đủ. Ông viết Sử ký vào lúc quân Hán Vũ đế vừa chiếm được Giao Chỉ vì thế trong tác phẩm của ông viết rất ít về Giao Chỉ. Phải đến hơn 150 năm sau, Ban Cố mới có những ghi chép về Lạc Việt và Giao Chỉ rõ nét hơn (Nguyễn Duy Hinh, Một Vài Suy Nghĩ Bước Đầu Về Người Việt, Hùng Vương Dựng Nước, NXB KHXH, HN, 1972 t.II, tr.173). Qua các thư tịch cũ ta thấy từ Việt khi thì chỉ tên nước khi thì chỉ chung cả nhiều tộc. Việt Là Gì? Hầu hết các học giả từ trước tới nay dựa vào Hán ngữ mà cắt nghĩa từ Việt. Theo Đào Duy Anh, Hán ngữ Việt có nghĩa là “vượt qua, quá chừng, phát dương lên, rớt xuống, tên nước, cái búa lớn…” (Hán Việt từ điển) và theo Tạ Quang Phát, Việt là “cái búa, chạy vượt qua, rơi rớt xuống, tán ra, quá chừng” (Hán Văn Giải Tự, nxb Xuân Thu tr.126). Các học giả trước đây giải thích từ Việt chỉ tên tộc, tên nước có thể qui vào ba nhóm: Việt Là Vượt Việt là Vượt có thể bắt nguồn từ cách giải thích cho rằng Việt là phiên âm của một tiếng địa phương thời xưa, nguyên là Ư Việt. Ư có một nghĩa là Vu, “đi qua” (Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển). Phần nhiều học giả hiện nay chấp nhận ý nghĩa của từ Việt là Vượt. Xin đề cử một thí dụ “Việt có nghĩa là vượt, vượt qua như vượt sông vượt núi, vượt đèo vượt suối, vượt tất cả chướng ngại vật, không có gì ngăn cản nổi ý chí Vượt của dân tộc Việt. Vì dân Việt ưa thích lan tràn khắp nơi mà từ ngàn xưa đã phát sinh ra những sắc dân gọi là Bách Việt như Đông Việt, Tây Việt, Mân Việt, Chương Việt, Nam Việt, Lạc Việt, Việt Thường… (Hương Giang Thái Văn Kiểm, Đàn Chim Việt, Y Học Thường Thức, số 32, tháng 3, 1999 tr.29). Việt Là Vượt Bực là Siêu (Việt) Nhiều người diễn nghĩa thêm ra Việt là vượt bực, là “siêu” (Siêu Việt) dựa vào nghĩa “quá chừng”, “dương lên quá chừng”. Việt Là Búa Một số người khác dựa vào nghĩa Việt là Búa là Rìu. Bình Nguyên Lộc cho chữ Việt nguyên thủy là chữ Việt đời nhà Thương viết giống cây rìu Quốc Oai (xem chương Thần Nông). Việt là búa, vật nhọn cũng thấy qua tên vua Việt Câu Tiễn thời Xuân Thu. Câu là cái móc cong như lưỡi câu, cái liềm (câu liêm), Tiễn là Cắt như tiễn mía, là Tiện (cắt) như thợ tiện. Tiễn là vật nhọn như mũi tên như hỏa tiễn (tên lửa). Câu Tiễn là vật sắt bén để cắt chặt hình móc câu. Ta cũng thấy rõ tại sao “Việt cùng họ với Sở”. Sở biến âm với Sỏ (sọ) với Sừng (sừng sỏ). Sừng là vật cứng nhọn, một nghĩa của Việt búa. Sở là Việt. Nhưng giải thích Việt là Vượt, là Siêu không thuyết phục được tôi. Tại sao một chủng tộc lại chọn tên Việt là Vượt núi, vượt đèo, vượt tất cả chướng ngại vật? Chủng tộc Việt khi đặt tên cho mình đã biết là sẽ phải vượt nhiều cản trở, đã phải vượt sông Dương Tử, Hoàng Hà bỏ chạy? hay họ đã theo chủ thuyết bành trướng “lan tràn khắp nơi” để chiếm đất dành dân? Mặt khác ta còn thấy Việt vượt ăn khớp với nghĩa của Lưu Hy thời Hán giải thích Việt là ở ngoài vòng “lễ giáo” của nhà Chu nghĩa là “vượt ra” ngoài lễ giáo của nhà Chu, là bọn “trong bộc trên dâu”, bọn man di. Như thế Việt vượt mang ý nghĩa xấu về người Việt. Còn Việt là Siêu Việt nghe cũng khá êm tai vì thỏa mãn được chút ít lòng ái quốc nhưng với cái nghĩa trừu tượng, “bóng bẩy” này chắc chắn chỉ là nghĩa duy lý có rất muộn, nghĩa của người Việt sau này không phải là ý nghĩa nguyên khởi thời thái cổ đầu óc còn cụ thể và thiên nhiều về tín ngưỡng duy nguyên. Nhóm thứ ba cho Việt là Rìu, là Búa có lẽ có khả năng thuyết phục được nhất vì như trên đã thấy qua các tên vua Việt Câu Tiễn và tên nước Sở, tuy nhiên Việt búa vẫn là nghĩa mang nhiều ý nghĩa về vật biểu, vật thờ, vật tổ của một dân tộc, một họ. Vì thế Việt nghĩa là Vượt, là Siêu không thể là nghĩa chính của một đại dân tộc, cùng lắm chỉ là những nghĩa phụ và ngay cả Việt là Búa Rìu cũng phải hiểu theo ý nghĩa biểu tượng. Như thế ta phải tìm ra chính danh, ‘chính nghĩa’ của từ Việt.Ta đã biết tổ tiên ta đặt tên người đã phải chiếu theo các qui luật, lễ tục và đặt tên nước là một chuyện thiêng liêng phải chiếu theo vũ trụ, trời đất, trăng sao, thế núi sông… tên nước phải mang ý nghĩa biểu tượng liên quan tới vũ trụ quan, nhân sinh quan, tín ngưỡng, tôn giáo. Tôn giáo của tổ tiên ta thời thái cổ là Vũ Trụ giáo dựa vào hai yếu tố chính Nòng Nọc Âm Dương, tới thời phụ quyền cực độ như thời Hùng vương nghiêng qua đạo Mặt trời. Như thế đặt tên cho tộc họ cũng không phải là chuyện tầm thường. Từ Việt phải mang những ý nghĩa biểu tượng chính liên quan tới tín ngưỡng Vũ Trụ giáo, đạo thờ Mặt trời. Bây giờ chúng ta hãy truy tìm ý nghĩa đích thực của từ Việt. Từ Việt là một từ Hán Việt. Tên của tộc họ chúng ta không thể là một từ Hán Việt. Hiển nhiên từ Việt phải là một từ phiên âm dịch nghĩa của một từ nôm trăm phần trăm nào đó. Từ đó là từ gì? Để đào tìm từ nôm có nghĩa Việt này trước hết ta hãy tìm hiểu thấu đáo Hán ngữ Việt. Hán ngữ Việt được viết dưới nhiều dạng khác nhau. .Việt là cây búa Giải tự từ Việt búa này ta thấy có hai phần: thứ nhất là chữ qua Chữ qua. Qua là binh khí, một loại kích để đánh giặc, nét xổ dài ngụ ý đây là loại binh khí có cán dài (can qua nói rộng ra là chiến tranh). Mổ xẻ thêm nữa thì chữ qua có chữ dực. Chữ dực. Dực có nghĩa là cung tên có buộc dây mà bắn. Phần thứ nhì còn lại Hình cây búa. vẽ hình cây búa, cây rìu. Như thế nhìn chung chung Việt (búa) có nghĩa là vật sắc nhọn: có cán ngắn thì là cái búa, cái bổ, cái rìu, cái dùi, cái đục, cái chàng; cán dài thì là cái kích, cái lao, cái qua; bắn đi được thì là mũi tên, cung tên (dực). . Việt là vượt, chạy vượt qua, rơi rớt xuống, tán ra, quá chừng Chữ Việt viết với bộ tẩu trong tên Việt Nam. Giải tự ta thấy gồm có chữ Việt búa (vật nhọn) viết với bộ tẩu (chạy). Như thế nếu hiểu theo nghĩa “ngang” dựa trên giải tự ta thấy Việt vượt là “vật nhọn chạy vượt qua…” Ở đây cho thấy nghĩa Việt vượt của Hán Việt hiện nay không chính thống không phải là nghĩa cốt lõi, mà chỉ là nghĩa phiến diện, từng phần một và phụ. Ta cũng thấy Việt vượt chỉ là một từ phiên âm hay dịch nghĩa của ngoại ngữ vì thế không lột được hết trọn vẹn nghĩa của từ gốc mà người Trung Hoa cổ đã phiên âm dịch nghĩa. Những nghĩa của từ Việt hiện nay đã là nghĩa suy diễn, hay bị bóp méo đi như kiểu Lưu Hy thời Hán giải thích Việt là “vượt ra” ngoài vòng lễ giáo của nhà Chu. Cũng xin lưu tâm là những từ Việt hiện nay có thể đã khác với các từ cổ. Các Từ Việt Trong Cổ Sử Từ Việt trong Hán ngữ dùng chỉ tên tộc người, tên nước được viết dưới nhiều dạng: -Từ Việt viết bằng Hán tự cổ nhất, Bình Nguyên Lộc cho là chữ Việt đời nhà Thương. Cụ so sánh chữ Việt nguyên thủy đời nhà Thương có hình bán nguyệt với cái rìu đào được ở Quốc Oai với sự tái tạo lại cái cán bằng cành cây của viện Viễn Đông Bác Cổ (xem hình). Cả hai có hình giống hệt nhau (Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam tr.156). Chữ Việt đời nhà Thương của Bình Nguyên Lộc ở đây có lẽ là dạng biến thể của chữ yuè (Việt) viết trên giáp cốt văn (xem dưới). Ở đây cho thấy Việt búa, Việt rìu có thể là dạng phản ánh ý nghĩa gốc củaa từ Việt chỉ tên tộc và tên nước. -Việt viết với bộ thích, bộ kim, những vật nhọn, sắc thấy từ đời nhà Chu… -Việt viết với bộ mễ thấy trong Kinh Thư do Khổng Tử san định. -Việt viết với bộ tẩu, đây là từ Việt trong tên Việt Nam. ……. Trong Hán ngữ từ Việt chỉ tên người, tên nước viết với nhiều bộ khác nhau cho thấy rõ Việt là một đại tộc, là một họ trong đó có nhiều chi, nhiều tộc và mỗi chi tộc được phân biệt bằng một bộ. Có rất nhiều đến độ có lúc mang tên chung là Bách Việt, nào là Việt Câu Tiễn, Ngô Việt, U Việt, Nam Việt, Lạc Việt, Âu Việt, Đông Việt, Tây Việt, Mân Việt, Chương Việt, Việt Thường,Việt Nam… Từ Việt Phiên Âm Dịch Nghĩa Từ Một Từ Nôm Nào? Ta đã thấy rõ chúng ta là tộc khác biệt với người Trung Hoa nên từ Việt phải là một từ phiên âm hay dịch nghĩa của một từ nôm nào đó. Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc. Việt biến âm với các từ nôm sau đây: Việt phiên âm hay biến âm với từ nôm -Vọt (theo qui luật biến âm ie=o như hiệp = hợp, ta có Việt = vọt). Nghĩa đen vọt là cây roi, câyi que, cây nọc. Roi vọt. -Vớt là “large knife” (used as weapon) (Đặng Chấn Liêu, Từ điển Việt Anh, nxb KHXH, 1993): dao lớn dùng làm khí giới. -Vụt: đánh bằng roi, nhanh như chớp (vùn vụt). -Vút: nhanh như chớp (vun vút). -Vót là chuốt thành que nhọn. Ta có từ chót vót tức là trên tận chỗ nhọn chót cùng. Vọt còn biến âm với vạt, vát (đẽo, cắt xéo làm cho nhọn như cái nọc), với phát (chặt, chém như phát cây, phát cành), với vạc (đẽo, hết nạc vạc đến xương), với vạch (khắc, chạm, viết bằng mũi nhọn). Vọt, việt biến âm với viết (nguyên thủ viết là vạch bằng vật nhọn, mũi nhọn), với diết, diệt, giết (làm cho chết bằng vật nhọn sắc như đâm con thú bằng mũi lao, giáo, mũi tên, rìu búa…). Ở đây ta thấy vọt giải thích rõ Việt búa có nghĩa là vật nhọn sắc như cây búa, cây bổ, cây rìu, dùi, đục, kích, lao, cây qua; mũi tên… Vọt là que, nọc nhọn nên còn có nghĩa là đực (heo nọc là heo đực), giống phái nam (nọc là cọc là c…, vọt liên hệ với Latin verpa, virga, Pháp ngữ verge, bộ giống phái nam, có nghĩa gốc là ‘rod’ hay ‘stalk’). Vọt, vót biết âm với bót, bút (v=B) liên hệ với Anh ngữ penis (có nghĩa gốc là ‘pointed object’) có pen- là bút. Ta cũng thấy việt liên hệ với viết giống như vọt, vót với bút. Vọt là cọc là chóc là chim (chim chóc). Chim là biểu tượng cho trời, mặt trời và cũng là biểu tượng cho bộ giống phái nam. Vọt cũng có nghĩa là vượt. Vọt qua là vượt qua như xe vọt qua, vượt qua. Tại sao vọt có nghĩa là vượt? Ngày xưa muốn cho con thú (cưỡi hay kéo xe) vượt qua, vọt qua thì dùng vọt đánh vì thế roi vọt cũng có nghĩa là vượt. Ngày nay muốn cho xe vọt nhanh thì bóp tay ga hay đạp chân ga. Như thế ta thấy rõ Việt với nghĩa vượt là biến âm với từ Vọt ( vượt qua). Kiểm chứng theo qui luật biến âm ie=uo như biếu = bướu, ta cũng có Việt = vượt. Ta cũng thấy nghĩa Vượt của từ vọt có sau nghĩa roi vọt và nghĩa vượt chỉ là nghĩa phụ. Phải có vọt trước mới dùng vọt để vượt. Rõ ràng từ Việt có nghĩa là vật nhọn cổ hơn và mang nghĩa chính gốc hơn từ Việt vượt. Việt vượt có sau Việt búa. Việt vượt mang nghĩa phụ trong khi Việt búa chính gốc hơn. Giải thích tên tộc Việt theo nghĩa Vượt là đã theo nghĩa phụ. Từ Việt chỉ tên tộc Việt phải liên hệ chính yếu với Việt mang ý nghĩa vật nhọn. Trong Việt ngữ vọt còn có các nghĩa sau: - Vọt là bắn ra thành tia thành luồng như nước vọt ra, phọt ra ứng với Việt có chữ ‘dực’ có nghĩa là tên bắn (cung tên). -Tia sáng bắn ra như tên bắn cũng hàm nghĩa và mang hình ảnh của cây vọt, cây lao nhọn, mũi tên nhọn nghĩa là cây nọc nhọn. Tia sáng thường được biểu tượng bằng hình mũi tên. Trên trống đồng nòng nọc, âm dương các tia sáng mặt trời đều có hình nọc mũi tên, mũi mác (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Việt ngữ tia ruột thịt với Pháp ngữ tirer (bắn) phát âm là ‘tia-rê’. Tia sáng là ánh sáng bắn ra, vọt ra như mũi tên, nọc nhọn. Tóm lại Việt phiên âm hay biến âm với từ vọt, vớt, vót, vạt, vát, vạt, vạc, vạch, viết có nghĩa chính là vật nhọn sắc, nọc nhọn (đực, bộ giống phái nam, chim, mặt trời toœa sáng…) (ứng với Việt búa); với vọt là vượt, vút, vụt (ứng với Việt vượt) và với vọt, vặc có nghĩa là bắn ra, tỏa sáng. Như thế Vọt, Vớt, Việt nghĩa là gì? Gom góp lại các nghĩa ta có Vớt là con dao lớn dùng làm khí giới, Vọt nghĩa là roi, nọc nhọn, vật nhọn, vớt, đực, mặt trời, tia nhọn như mũi tên bắn ra từ mặt sáng. Việt, Vớt, Vọt có nghĩa là mặt trời tỏa sáng, vọt ra tia sáng. Kiểm điểm lại ta cũng thấy vớt, vật nhọn; vọt là roi, que, nọc (đực), cọc, chóc (chim), chim là biểu tượng của trời, mặt trời; vọt là nọc là đực hàm nghĩa mặt trời giống hệt như Hán Việt dương là đực mà cũng có nghĩa là mặt trời. Như thế Vớt, Vọt mang nghĩa mặt trời có tia vọt bắn ra vun vút, mặt trời có nọc nhọn, tia sáng như tên nhọn bắn vọt ra, là mặt trời tỏa rạng, mặt trời rực sáng, ngời sáng. Như vậy Việt phải hiểu theo nghĩa nguyên thủy của nó là vật nhọn (nọc, đực, bộ phận sinh dục nam, mặt trời…) Ta phải lấy nghĩa gốc vật nhọn này từ thời thái cổ. Ta phải hiểu chữ Việt theo nghĩa của người thái cổ, những nghĩa của chữ Việt hiện nay như vượt, vượt thoát, bỏ chạy, siêu việt… chỉ là những nghĩa phụ, đã biến nghĩa theo thời gian. Ta hãy đi tìm ý nghĩa cổ nhất của các vật nhọn của từ Việt. Chữ Việt yuè cổ nhất thấy trong giáp cốt văn vẽ hình chiếc rìu cong tròn đầu. Chữ yuè khắc trên giáp cốt và kim văn có hình rìu lưỡi cong (Wang Hongyuan). Ta thấy rõ như từ Việt cổ sơ này với hình cây rìu, nhọn và cong còn để lại dấu tích trong tên Việt Câu Tiễn (vật nhọn cong). Bây giờ ta tiến xa hơn đi về thủa con người chưa có chữ viết và mới biết vạch, biết vẽ trên đá tức dùng những biểu tượng, còn ghi lại qua các hình khắc trên đá (petroglyph) để truy tìm ý nghĩa những vật nhọn. Như trên ta đã biết chữ Việt búa gồm có ba thành tố: 1. khí giới nhọn hình que là qua, 2. cung tên dực và 3. búa rìu. Hãy đối chiếu các thành tố giải tự của chữ Việt hiện nay này với các hình khắc trên đá (petroglyph). 1. Ta thấy rất rõ người tiền sử diễn tả cây qua liên hệ với bộ phận sinh dục nam và mặt trời qua hình khắc trên đá ở thung lũng Val Veronia, Bắc Ý. Người mặt trời hay Thần mặt trời tại thung lũng Val Camonica, Italian Alps (Madanjeet Singh, f.81). Hình người giữa hai chân có một vòng tròn trong có một chữ thập được cho là người mặt trời hay Thần Mặt Trời. W.T. Olcott trong Myths of the Sun trích dẫn lại rằng giáo sư Worsaal xác nhận vòng tròn có chữ thập bên trong là biểu tượng mặt trời thuộc thời đồ đá muộn (later stone age) của vùng Scandinavia và đây cũng là biểu tượng mặt trời Chaldean. Ta thấy rất rõ là vòng tròn biểu tượng cho mặt trời. Chữ thập bên trong là do hai que nọc (II) để chồng lên nhau. Hai que nọc là hai que dùng làm dùi để tạo ra lửa. Hai que nọc là hai dương, thái dương. Vòng tròn lửa, thái dương là mặt trời. Ngày nay chúng ta dùng hình chữ thập làm dấu cộng cũng có một nghĩa là dương như phản ứng cộng là phản ứng dương (phản ứng trừ là phản ứng âm). Dương có một nghĩa là mặt trời. Mặt trời dính vào bộ phận sinh dục nam (bộ phận sinh dục nam đi với hay được biểu tượng bằng vật nhọn là cây lao, cây qua cầm ở tay). Ở đây cho thấy rất rõ vật nhọn như cây qua biểu tượng cho đực, cho dương, cho mặt trời. Rõ như dưới ánh sáng mặt trời, từ Việt có thành tố que nhọn qua mang nghĩa nọc, đực, hùng (liên hệ với Hùng Vương), dương, mặt trời. 2. Ta cũng thấy rất rõ người tiền sử diễn tả cung tên dực liên hệ với bộ phận sinh dục nam qua hình khắc trên đá. Người bắn cung khắc trên đá (Wang Hongyuan). Ở đây cho thấy rất rõ bộ phận sinh dục nam là nọc, là cọc nhọn, một vật nhọn (Quân tử có thương thì đóng cọc…, Hồ Xuân Hương) được biểu tượng bằng mũi tên. Từ Việt có thành tố cung tên dực mang nghĩa nọc, đực, hùng, dương, mặt trời. Ở đây cho thấy hiển nhiên Việt ruột thịt với Lang Hùng, Hùng Vương mặt trời thái dương. 3. Và ta cũng thấy rất rõ người tiền sử diễn tả rìu búa liên hệ với bộ phận sinh dục nam và mặt trời qua hình khắc trên đá ở Vitlycke, Bohuslan, Thụy Điển. Người mặt trời cầm rìu khắc trên đá ở Vitlycke, Bohuslan, Thụy Điển (H.R. Ellis Davidson, p.62-63). Ở đây cho thấy rất rõ bộ phận sinh dục nam liên hệ với rìu búa và mặt trời. Hai vòng tròn đồng tâm biểu tượng mặt trời. Lưu ý người trên cao bên trái thân có hình mặt trời vòng tròn có chữ thập giống như người mặt trời ở thung lũng Val Comonica ở trên. Cây rìu cầm ở tay biểu tượng cho đực, cho dương, cho mặt trời. Chữ Việt có thành tố rìu búa mang nghĩa nọc, đực, hùng, dương, mặt trời. Việt rìu búa ruột thịt với Lang Hùng, Hùng Vương, Việt mặt trời thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, như đã biết người Việt cổ theo vũ trụ tạo sinh và đạo mặt trời. Thoạt khởi đầu vũ trụ là một cái bọc, cái trứng vô cực sau phân chia thành hai cực Nòng Nọc, Cái Đực, Âm Dương. Phần trong của trứng vũ trụ là phần âm tức nòng (được ký hiệu trong chữ viết nòng nọc là vòng tròn như số không). Phần nóng, phần đỏ tiền thân của mặt trời là dương tức nọc (ở dạng lưỡng cực được ký hiệu bằng cây nọc, cây que, cây vọt). Vì thế nọc, vọt, dương là biểu tượng cho mặt trời. Ta cũng thấy rõ qua sự kiện là mặt trời được coi là số một. Việt ngữ mặt (mặt trời) biến âm với một; Ấn Âu ngữ sol, soleil, sonne, sun… liên hệ ới Việt ngữ ‘son’ là một mình, “ở một mềnh” (Alexandre de Rhodes, Từ Điển Việt-Bồ-La); và với Ấn Âu ngữ sol, solo, solamente, seul… Số một trong nhiều chữ viết cổ cũng như hiện kim thường được ký hiệu bằng hình que, nọc, vọt ví dụ như số một (1) thường dùng ở Tây phương ngày nay mang hình ảnh cây nọc, cọc, cây vọt, cây việt. Tóm lại vớt, vọt, việt, nọc, cọc là biểu tượng cho mặt trời, mang nghĩa mặt trời có tia sáng tỏa rạng ra như mũi tên, như nọc nhọn vọt ra, bắn ra. Việt là MẶT TRỜI TỎA RẠNG, MẶT TRỜI RẠNG NGỜI, HỪNG RẠNG hay muốn dùng theo Hán Việt thì là VIỆT LÀ MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG (Việt có một nghĩa là ‘quá chừng” tức Thái, quá). Chúng ta thuộc họ Việt mặt trời rạng ngời, Việt mặt trời thái dương. Truyền thuyết cũng xác nhận là Đế Minh đẻ ra vua tổ Việt là Kì Dương Vương là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế có họ Khương, sừng (một thứ nọc nhọn). (còn tiếp).
-
Bác Vô Trước viết: Tính liên tục và lượng tử, tính tất định và bất định, tính qui luật và ngẫu nhiên, ... của Vũ trụ cũng như tính sóng hạt của vật chất mà thôi, chẳng có gì ghê gớm cả. Nếu hiểu rõ bản chất tính sóng hạt của vật chất thì nhận thức những "tính" kia cũng đơn giản thôi. Nếu "Hạt của Chúa - với khái niệm là một trường duy nhất tạo ra các hạt cơ bản." thì toàn bộ Vũ trụ này chính là một "Hạt của chúa " duy nhất đó. Thật ra, Vũ trụ này chỉ là một "trường khí âm dương" mà thôi. Những vận động, biểu hiện, ... của nó chỉ là kết quả của những tương tác âm dương. Các nhà khoa học mặc định cho rằng, Vũ trụ Vĩ đại này được cấu tạo từ những hạt vi mô, cơ bản và ra sức săn lùng hạt cơ bản nhất. Nhưng thực ra, Vũ trụ này là sự trương nở và tan vỡ của một hạt duy nhất vô cùng Vĩ đại, là chính Vũ trụ (đó mới chính là "Hạt của Chúa"), những hạt vi mô cũng như vĩ mô mà chúng ta quan sát được chỉ là những mảnh vỡ mà thôi. Liệu ta có thể biết cái mảnh vỡ nhỏ nhất bằng bao nhiêu không? Nếu những máy đo đủ mạnh, họ còn có thể phát hiện ra nhiều hạt còn nhỏ hơn hạt Hig vừa phát hiện nhiều lần!... Khi cái "Hạt của chúa" là chính Vũ trụ này ta vỡ hết, nghĩa là "Dương" tiêu tán hết thì trường khí âm dương cũng chẳng còn, Thực tại trở thành Thái cực và một chu kỳ mới lại bắt đầu bằng một đột biến lượng tử mới rất ngẫu nhiên và do đó chu kỳ Vũ trụ mới đó rất rất rất ... khó giống chu kỳ trước, nhưng tương tác âm dương thì phải như nhau. Thân mến! Nếu nói vũ trụ trương nở và tan vỡ và tạo thành các mảnh vỡ thì "tính liên tục của vũ trụ là không chắc chắn". Giả dụ trong hệ mặt trời thì giữa các hành tinh là lực hấp dẫn, cho tới nay các nhà khoa học vẫn không hiểu tại sao có lực hấp dẫn này, nếu nhìn vào sự vận động của nguyên tử quanh hạt nhân thì rõ ràng, giữa hạt nhân và nguyên tử có "khoảng cách" tức khoảng không gian nhưng giữa chúng có lực hấp dẫn và các lực khác... do vẫn sự liên tục của Vũ trụ là như thế nào??? Như vậy, sự tương tác giữa hai vật thể, chẳng hạn là lực hấp dẫn có cần một môi trường nào đó. có lẽ cũng phải là vật chất để truyền qua hay chính môi trường không gian này mang tính tuyệt đối??? Điều này dẫn đến, trong vất chất, nếu có tính tuyệt đối và giả sử rằng môi trường của chúng cũng có tính tuyệt đối sẽ tạo nên mâu thuẫn rằng: vật chất và phi vật chất (không gian) cũng đều có tính tuyệt đối??? Kính.
-
Thư Hương Di Sản Văn Hóa Việt Nam Ðối Với Ðời Sống Hiện Ðại Bài diễn văn phát biểu của Triết Gia Kim Ðịnh tại Hội Nghị Toàn Cầu về Triết Học lần thứ XVIII được tổ chức tại Brighton (Anh Quốc) từ ngày 21-27/08/1988 by Rev. Kim Ðịnh, Vietnamese Philosopher Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia ….. I. Di Sản Văn Hóa Việt Nam 1. Di sản văn hóa Việt Nam nằm gọn trong chữ VIỆT với ý nghĩa siêu việt, là nhảy từ hai thái cực vào một: từ Trời cao Ðất thấp nhảy vào Người. Các nhà nghiên cứu về Ðông Nam Á thấy nét đặc trưng của miền này là lưỡng hợp tính (dual-unit) thì chính là nó: nét đó là kết quả của cái nhìn riêng biệt không xem hai đối cực như hai thực thể chống đối nhau, tiêu diệt nhau mà như là hai chiều bổ túc hỗ tương của một thực thể. Và đó cũng chính là Minh Triết, vì Minh Triết là gì nếu không là khả năng hội nhập hai thái cực. Nói theo thực hành thì Minh Triết là nghệ thuật tối cao xếp đặt việc nhà việc nước thế nào để đem lại hạnh phúc cho mọi người. Vậy văn hóa Việt Nam đã làm được như thế xuyên qua gần năm ngàn năm lịch sử. Trong quãng dài lâu vô địch đó nó đã không hề mắc một mâu thuẫn nào: không đẳng cấp, không giai cấp; không có chủ nô, vì toàn dân đều được tham dự vào tài sản quốc gia, cũng như mọi người được tự do tư tưởng, tự do tôn giáo. Cả đến hơn 50 sắc dân thiểu số với những tin tưởng rất khác nhau mà không hề xảy ra xích mích về đàng tôn giáo. Ðó là di sản văn hóa Việt Nam, có thể gọi di sản đó là nền triết lý Thái Hòa. 2. Di sản nọ đã được thăng hoa vào trang huyền sử diễm lệ của Âu Cơ tổ mẫu. Mẹ Âu Cơ lấy Bố Lạc Long đẻ ra cái bọc trăm trứng, nở ra trăm con. Ðến lúc chia tay thì 50 con theo mẹ lên núi, 50 con theo cha xuống biển. Bọc trứng trăm con chia ra 2 đoàn con đã được thăng hoa thành hình tròn O chia đôi bằng nét cong chữ S như ở sau. Ðây là cái vòng tuyệt diệu trên đời không thể vẽ đẹp hơn, sâu xa hơn, bao trùm hơn được nữa. Chữ S cong lượn hai đầu để chỉ trong âm có chút dương, trong dương có chút âm: tránh mọi tuyệt đối: tuyệt âm hay tuyệt dương. Người ta quen nói có hai loại văn hóa: một nghiêng về khoa học của Tây Âu, một nghiêng về huyền niệm của Ấn Ðộ, vậy là quên mất loại thứ ba nghiêng về thẩm mỹ của Ðông Á thuộc Việt tộc mà Việt Nam có thể gọi là miêu duệ thừa tự. Nếu ta biểu thị óc khoa học bằng hình vuông màu trắng chỉ sự phân chia rõ rệt phân minh: có hay không dứt khoát. Còn óc huyền niệm bằng vòng tròn màu đen chỉ cái không, cái vô thể âm u, thì người ta sẽ biểu thị óc thẩm mỹ bằng vòng tròn gồm cả đen lẫn trắng, cả có lẫn không, yes and no… vì tính chất của thẩm mỹ là Hòa hợp là mềm giẻo. Bởi vậy cái lằn chia đôi vòng tròn ra bên đen bên trắng không chạy thẳng chữ I mà cong lượn theo hình chữ S. Chữ S này đã xuất hiện lu bù trong trống Ðông Sơn như sau: ~= ~ được các các học giả gọi là dấu Ðông Sơn, nó chỉ trỏ tính cách hòa hợp mềm dịu của thẩm mỹ và cũng là đức tính nổi vượt của văn hóa Việt tộc. 3. Nếu Ấn Ðộ nghiêng về Thiên Viên, Âu Tây thiên về địa phương thì Việt theo cả hai: thiên 3 địa 2 (tam thiên lưỡng địa nhi ỷ số) và cả hai vuông tròn hợp lại làm nên nét cong. Vì nét cong là dấu định tính văn hóa nên tiền nhân đã hiện thực vào các vật dụng nhất là nhà ở và thuyền, cả hai đều mang nét cong lớn để nhắc nhở con cháu phải lấy sự hòa dịu làm lối sống ở đời. Ðời sống không được điều động bằng pháp luật cứng đơ như sự vật mà phải bằng lễ bằng nhạc mềm giẻo nho nhã. Nhờ sự mềm dịu nho nhã đó mà nó hòa được cả hai bên đen trắng, bên tròn bên vuông. Về sau nho giáo gọi vòng tròn chia đôi nọ là vòng tròn thái cực viên đồ. Ðó chính là vòng tròn chu tri hay vòng tròn Thái Hòa. Chữ Hòa đây phải gọi là Thái Hòa vì nó là nguồn gốc mọi cái hòa lẻ tẻ khác: - Trong con người là hòa tình với lý, hòa tâm với vật… - Trong gia đình là hòa vợ với chồng hoặc cha với mẹ, hoặc chị anh với các em… - Trong xã hội là hòa nhân dân với chính quyền, nên không có hai nền văn hóa: một cho chính quyền một cho dân như ở các nơi. - Trong nhân loại là hòa giữa các nước để làm nên cuộc Thái Bình đưa đến mối tình huynh đệ phổ biến. - Trên cấp siêu hình là hòa có với không, Vô với Hữu, chứ không duy hữu kiểu Hữu thể học ontology của Tây Âu, hay duy vô kiểu Vô Nhị advaita của Ấn Ðộ. Những biểu hiệu đợt uyên nguyên này đã kết tinh vào quyển Kinh Dịch thành bởi hai nét âm dương, khôn càn, Mẹ cha. 4. Những biểu hiệu trên luôn luôn hòa hợp với nhau để sinh ra rất nhiều biểu hiệu kép để chỉ việc làm theo sau lời nói, hay là Hành đối với đợt trước là Học để hai chữ Học Hành đi đôi. Hai biểu hiệu âm dương cũng được diễn bằng số chẵn số lẻ. Chẵn chỉ âm, lẻ chỉ dương, rồi các số lại được đặt vào khung chữ tỉnh # để làm ra cơ cấu Ngũ Hành, và các đồ án kép khác như Hồng Phạm, Cửu Trù, Hà Ðồ, Lạc Thư sẽ được quảng diễn trong tập sách nhỏ kèm theo. Mới coi tưởng rất phiền toái nhưng tựu trung cũng chỉ là diễn tả sự hội nhập hai mảnh đen trắng lại một cách rất tài tình, nên đó chẳng qua là những phát triển từ cái bọc Âu Cơ tổ mẫu. Tất cả đều chứng minh rằng văn hóa Việt đã đạt Ðạo, hay đạt Minh Triết tức là nó đã thực sự hội nhập được hai đầu thái cực để tạo ra nếp sống hạnh phúc cho dân Việt như được ghi lại trong sử ký suốt nhiều ngàn năm qua: cả của Tàu hay Việt Nam hoặc các chi khác của Việt tộc từ Hàn, Nhật, Ðài Loan xuống đến Phi, Mã, Ấn Nê, Miến, Lào, v.v… II. Ðời Sống Hiện Tại 5. Ðời sống hiện tại là cuộc sống vô hướng vô hồn, ví được như con tàu giữa biển khơi mà thiếu bàn la kinh để hướng dẫn, thiếu bến bờ để tới lui. Nói khác là thiếu Minh Triết. Sự thiếu đó được biểu lộ bằng sự thiếu vắng các đồ án chỉ tỏ nền thống nhất cách bao trùm như nét lưỡng hợp mà chỉ có những triết lý duy lý bất lực nên cuộc sống phải nhờ đến sự hướng dẫn của tôn giáo, của pháp hình và luân lý. Trên cấp siêu hình thì vẫn không sao hàn gắn được nhát chẻ đôi luôn luôn dỉ máu (bleeding dichotomy). Trong thực tế không sao xóa bỏ nổi giai cấp đấu tranh. Như vậy thì đời sống nay cần một số điểm như sau: 6. a. Trước hết một nền triết lý Thái Hòa để làm nền tảng cho cuộc thống nhất hòa âm giữa đông tây, giữa kim cổ, thống nhất cả về đạo lý lẫn chính trị và kinh tế… b. Cần một nền chu tri toàn diện gồm cả Hữu cả Vô thay cho cái học nay một chiều hoặc duy Hữu hoặc duy Vô không đủ rộng để hội nhập được cả hai bên thành một. Thành thử giáo dục toàn sản ra những con người tản mát fragmentary, split personality. Nước chỉ có đến Hiến Pháp trên không có Ðạo nào hết. c. Một nền triết lý thiết thực cụ thể, dẫn tới tác hành thay cho những triết lý trừu tượng: nói nhiều làm ít. Một hướng sống hay một Chủ Ðạo để đem lại ý nghĩa cho đời đặng có được một cuộc sống tươi vui thay cho triết học khắc nghị buồn thảm từ trước tới nay. e. Một tình huynh đệ phổ biến để con người xử với nhau như anh em cùng một nhà: yêu thương tương trợ thay vì tranh đấu căm hờn. Tất cả mấy điều vừa kể trên đây đều tìm được sự đóng góp trong di sản văn hóa Việt Nam. Tây phương quá khoa học nên mất nội tâm. Ðông phương duy huyền niệm nên quá nghèo. Ðã đến lúc phải cộng vuông khoa học với tròn huyền niệm lại một. Và con đường hội nhập phải chăng là nét cong thẩm mỹ trong nghệ thuật sống? Kim Định
-
Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 66 Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống Kinh … hảy sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác…
-
Trong bộ Kinh Trường A Hàm, có hai Kinh Đức Phật Thích Ca nói về bảy vị Phật quá khứ. Đó là Kinh Thất Phật (Đại I, No. 2) và Kinh Thất Phật phụ mẫu tánh tự (Đại I, No. 4). Danh hiệu của 7 vị Phật đó lần lượt như sau: 1) Tỳ Bà Thi Phật: Nhập Niết Bàn cách đây chín mươi mốt kiếp, thọ tám vạn tuổi. Ngài còn có tên gọi khác là Duy Vệ, trị vì đất nước tên Sát-mạt-đề. Thị giả của Tỳ-bà-thi Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác tên A-thâu-ca. Hội thuyết pháp thứ nhất của Tỳ-bà-thi Như Lai có sáu vạn hai ngàn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ hai có mười vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ ba có bảy vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán. 2) Thi Khí Phật: Nhập Niết Bàn cách đây ba mươi mốt kiếp, thọ bảy vạn tuổi. Ngài còn có tên gọi khác là Phật Thức, trị vì đất nước tên A Lâu Na Hòa Đề. Thị giả của Thi-khí Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác tên Sát-ma-ca-rô. Hội thuyết pháp thứ nhất của Thi-khí Như Lai có mười vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ hai có tám mươi ức Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ ba có bảy vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán. 3) Tỳ Xá Phù Phật: Nhập Niết Bàn cách đây ba mươi mốt kiếp, thọ sáu vạn tuổi. Ngài còn có tên gọi khác là Tùy Diệp, trị vì đất nước tên A-nâu-ưu-ma. Thị giả của Phật Tỳ-xá-phù, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Ô-ba-phiến-đổ. Hội thuyết pháp thứ nhất của Tỳ-xá-phù Như Lai có tám vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ hai có bảy vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán; hội thuyết pháp thứ ba có sáu vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán. 4) Câu Lưu Tôn Phật: Xuất hiện vào kiếp thứ sáu trong hiền kiếp, thọ bốn vạn tuổi. Ngài còn có tên gọi khác là Câu Lâu Tần, trị vì đất nước tên Luân-ha-lợi-đề-na. Thị giả của Phật Câu-lưu-tôn, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Một-đề-du. Câu-lưu-tôn Như Lai thuyết pháp một hội có bốn vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán. 5) Câu Na Hàm Mâu Ni Phật: Xuất hiện vào kiếp thứ bảy, thọ ba vạn tuổi. Ngài trị vì đất nước tên Sai-ma-việt-đề. Thị giả của Phật Câu-na-hàm Mâu-ni, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên To-rô-đế-lý-dã. Phật Câu-na-hàm Mâu-ni thuyết pháp một hội có ba vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán. 6) Ca Diếp Phật: Xuất hiện vào kiếp thứ tám, thọ hai vạn tuổi. Ngài trị vì đất nước tên Ba-la-tư. Thị giả của Ca-diếp Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên Tát-lý-phược mật-đát-la. Phật Ca-diếp thuyết pháp một hội có hai vạn Bí-sô đắc quả A-la-hán. 7) Thích Ca Mâu Ni Phật: Xuất hiện vào kiếp thứ chin, thọ trên dưới 100 tuổi (Khi giảng kinh, Ngài nói Ngài thọ trên dưới 100 tuổi, thật tế Ngài nhập Niết Bàn lúc 80 tuổi). Ngài trị vì đất nước tên Ca-duy-la-vệ. Thị giả của Thích Ca Như Lai, bậc Ứng cúng, Chánh đẳng giác, tên A-nan-đà. Phật Thích Ca thuyết pháp một hội có một ngàn hai trăm năm mươi Bí-sô đắc quả A-la-hán. (Nếu kể thêm vị Phật tương lai là Phật Di Lặc thì chúng ta có tất cả 8 vị Phật thị hiện ở cõi Ta bà này) Tôi sẽ bố cục lại lịch sử các vị Cổ Phật này là ai trong lịch sử nước Văn Lang.
-
THIỀN – NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC “THỨC NGỘ” ĐẶC THÙ PHẬT GIÁO Á ĐÔNG Published April 17, 2013 | Posted in VĂN HÓA Trịnh Văn Định Thiền là sản phẩm trí tuệ của khu vực Đông Á, kết tinh của hai nền văn hoá lớn nhất của khu vực là Trung Hoa và Ấn Độ cổ đại, hơn nữa, là phương thức nhận thức con người có chiều sâu và được thử thách qua nhiều thời đại và trong khu vực cũng có những phương thức tư duy khác nhưng không tiêu biểu và đặc thù như Thiền. Tất cả những gì hiện diện được hình dung là văn hoá đều nhằm phục vụ cho con người. Từ cổ chí kim, những khát vọng, những tìm tòi ở mọi nơi mọi chỗ trên hoàn cầu này đều nhằm từ tìm hiểu bản ngã đến thúc đẩy tha nhân văn hoá hơn. Thiền với tư cách là đặc phẩm Á Đông là một sáng tạo như vậy. Cái được gọi là Thiền Á Đông, được hình dung là một nội hàm đa diện. Từ góc nhìn giáo dục, Thiền là một Phương tiện đặc thù của Á Đông. Bài viết quan niệm Thiền như một sáng tạo của Á Đông trong nhận thức con người và thế giới và từ đó Thiền trở lại với tư cách là một phương thức đặc phẩm của Á Đông trong thức ngộ tha nhân. 1. Từ nhận thức bản ngã và thế giới đến thức ngộ tha nhân 1.1. Từ nhận thức bản ngã và thế giới… Có thể nói Thiền là tinh hoa của hai cột trụ văn hoá Châu Á và thế giới là Ấn Độ và Trung Hoa. Phật giáo vào Trung Hoa thời nhà Hán, kết hợp với triết học Lão Trang Trung Hoa tạo thành một thức đặc phẩm Thiền. Từ đó Thiên Nam Tông Trung Hoa truyền vào Việt Nam. Thiền trước khi là một phương thức thức ngộ bản ngã và tha nhân là kết quả của sự nỗ lực truy vấn sâu sắc bậc nhất trên thế giới về tâm linh con người. [1] Để có được cái gọi là Thiền, ít nhất đã trải qua một quá trình vật lộn thức nhận và một quá trình hoà hợp. Cội nguồn đầu tiên của Thiền chính là quá trình người Ấn Độ, ông tổ của Phật giáo Ấn Độ ngồi dưới gốc Cây Bồ để để truy vấn về cội nguồn của cái Khổ. Trong quá trình quy tâm truy vấn đó, Thích ca đã đọc ra được cội nguồn của cái khổ. Tuy nhiên, đọc ra cội nguồn của cái khổ không phải là cội gốc của Thiền, mà phương thức để có thể đọc ra nó mới là cội gốc của Thiền. Để đọc ra được cội nguồn của cái khổ, Thích Ca đã từ bỏ tất cả vinh hoá phú quý, xa lánh cuộc sống thế tục, tĩnh tâm tu luyện. Trạng thái tâm trong, không bị chi phối bởi những tác nhân của dục vọng đã giúp cho Thích ca nhìn ra Bản lai diện mục, chân tướng của vấn đề nỗi khổ con người. Đó là dục vọng. Thiền chính là trạng thái đạt được tâm trong này. Như vậy, có thể nói, cội nguồn đầu tiên của Thiền này phát xuất từ Ấn Độ. Nhưng Phật giáo ở Ấn Độ chưa được gọi là Thiền. Nó chỉ được gọi là Thiền và phát huy ảnh hưởng toàn khu vực khi mà nó được tái cấu trúc trên cơ sở sự tương tác với Lão Trang Trung Hoa. Đây chính là chặng thứ hai. Khát vọng tối hậu của Phật giáo Ấn Độ là giúp con người thoát khổ, thông qua từ bỏ dục vọng. Lão Trang khát vọng vươn tới một con người trở thành Thần tiên ngay trong thế giới này. Lão Trang và Đạo gia có nhiều cách thức để tu luyện để có thể Trường sinh bất tử. Luyện linh đơn, thần dược, dưỡng khí, dưỡng hơi thở là sản phẩm của học phái này. Gặp nhau của Phật giáo và Lão Trang là ở chỗ, Phật giáo cần tiếp tục phát triển, bởi Phật giáo khó phát triển ở quê hương của mình[2]. Để tìm chỗ đứng Phật giáo đã phải diễn đạt nhiều khái niệm của mình bằng ngôn ngữ và khái niệm của Lão Trang.. Điểm quan trọng nhất của sự gặp gỡ này là Phật giáo đã đưa phương thức tư duy của Lão Trang vào trong mình tái cấu trúc lại trở thành cái được gọi là Thiền. Linh hồn của Phương thức Tư duy Lão Trang là phá bỏ những tư duy cụ thể, đập vỡ nó, mở ra những chiều kích tư duy rộng lớn hơn. Theo quan niệm của Lão Trang, thế giới đa diện đa chiều, rộng lớn, nó vượt xa những gì tai ra nghe thấy, mắt ta nhìn thấy, ta cần phải vượt qua nó để hoà nhập vào cái mà Lão Trang gọi là thế giới “đại mỹ” của vũ trụ. Trong Nam hoa kinh, [3] chúng ta sẽ bắt gặp những tên Làng, những tên như Chim Bằng, cá Côn, những cây cao to bất thường….Nó là những thứ không có trong thế giới chúng ta nhìn thấy. Những cái bất thường này sẽ phá vỡ tư duy thông thường của chúng ta. Thiền học đã triệt để sử dụng phương thức tư duy này của Lão Trang trong tiến trình tu tập, giác ngộ của mình. Trong các công án Thiền, những hành động như gõ nhẹ vào đầu, hay trả lời không theo đúng câu hỏi…là một cách thức làm thức tỉnh những lối mòn của tư duy thường ngày của chúng ta. Định hình một dòng phái Phật giáo Trung Hoa, Thiền ảnh hưởng mạnh mẻ đến toàn khu vực đặc biệt là Việt Nam và Nhật Bản. Tiến trình hình thành Thiền học là tiến trình quy tâm trên cơ sở kết hợp đặc phẩm của hai nền văn hoá Ấn Độ và Trung Hoa. Thiền nhìn từ tiến trình này là kêt quả của tiến trình nhận thức dài lâu. Trở thành một đặc phẩm của văn hoá Á Đông, từ đó Thiền trở thành một phương thức thức ngộ đặc thù của khu vực. 1.2. Đến thức ngộ tha nhân….. Kết tinh tinh hoa của hai nền văn hoá Ấn Độ và Trung Hoa, Thiền không chỉ tồn tại và lan toả với tư cách là một học Phái của Phật giáo mà còn là một phương thức thức ngộ tha nhân. Ban đầu, Thiền với tư cách là một phương thức thức ngộ chủ yếu thực thi trong dòng phái Thiền học ở các nước trong khu vực Đông Á như: Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản…Những công án Thiền và những tác phẩm thơ Thiền thời Đường Tống Trung Quốc và Thơ văn Lý Trần ở Việt Nam cho thấy sự thẩm thấu sâu Thiền với tư cách là phương thức thức ngộ Phật tử. Khác với sự tan rã của những học phái tư tưởng khác, Thiền không mất đi cùng với sự thay đổi thể chế chính trị. Ở Việt Nam, khi nhà nước Chuyên chế mất đi, Nho giáo không tồn tại với tư cách là hệ tư tưởng nhà nước mà cấu trúc vào trong thực tiễn đời sống, thông qua những ứng xử, những tư duy…Ở Việt Nam, Phật giáo kết tinh ở thời đại Lý Trần với tư cách hệ tư tưởng của chính thể. Sang thời Lê cho đến trước khi Pháp xâm chiếm, Phật giáo đi sâu vào trong dân gian và trong những trí thức cao cấp. Từ đó đến nay, Phật giáo vẫn luôn nằm sâu trong tâm thức dân gian. Thiền với tư cách là một phương thức thức ngộ đã có những thay đổi mang tính bước ngoặt. Vượt ra khỏi là một phương thức thức ngộ đặc thù trong Phật giáo, Thiền trở thành một phương thức mang tính nhân loại, không chỉ là đặc phẩm của Á Đông mà trở thành đặc phẩm của thế giới. Quan sát chỉ riêng ở Việt Nam, không chỉ những người tu hành mới hành thiền, mà nhiều cá nhân không theo Phật giáo hành thiền. Hành thiền của những người không thuộc phật tử khác với hành thiện của phật tử phật giáo. Hành thiền của những người ngoài Phật giáo hướng đến tìm kiếm một sự tĩnh tại, quy tâm, tìm kiếm sự thanh thản trong những khoảng khắc trạng thái Thiền. Hơn nữa, những cách diễn giải về Thiền đã có những thay đổi căn bản khả dĩ có thể đi sâu hơn và dễ tiếp nhận hơn với đông đảo mọi người. Đọc những tác phẩm của Thích Nhất Hạnh hẳn sẽ dễ tiếp nhận hơn so với những kinh điển ghi chép về Thiền. Như vậy, từ một phương thức thức ngộ trong Phật giáo Thìền từng bước trở thành phương thức tu tập mở rộng ra ngoài Phật giáo, trở thành một phương thức hết sức đặc hiệu trị tâm bệnh cho người hiện đại. Sự hiện diện và tham gia vào giải quyết nhiều vấn đề của con người hiện đại là một bước đi sâu hơn của Thiền với vai trò là phương thức thức ngộ tha nhân. Thiền với tư cách là một phương thức thức ngộ tha nhân, không chỉ dừng lại ở Việt Nam hoặc Khu vực Đông Á, ngày nay Thiền thâm nhập sâu hơn vào một thế giới mà tư duy nhận thức về con người và thế giới hoàn toàn khác biệt với Á Châu. Thiền ngày càng thâm nhập sâu hơn vào thế giới Tây Phương. Có nhiều biểu hiện có thể chứng minh rằng, Thiền đang từng bước chinh phục thế giới Tây phương với tư cách là phương thức thức ngộ. Ở Việt Nam, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã thành lập một làng thực tập tu Thiền tại Pháp, có tên là làng Mai. Không chỉ bà con Việt Kiều mà nhiều công dân Pháp đã đến đây tập Thiền. Chính Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người giảng Thiền cho Tổng thống Mỹ Obama. Đặc phầm Thiền không chỉ đến với thế giới Tây Phương thông qua những người Tu hành Đông Á, đặc biệt hơn Thiền đến với Tây Phương bởi chính sự thức ngộ của người Tây phương, họ đã chủ động đến với Á Châu sau khi đã được chính Thiền Thức ngộ. Ngày này trong nhiều công trình nghiên cứu và giới thiệu về Thiền, nhiều những nhà nghiên cứu, tu thiền nước ngoài đã nghiên cứu và giới thiệu sự kỳ diệu của phương thức thức Ngộ Thiền học. Tiêu biểu như cuốn:Hành trình về Phương Đông của PacDing, NXb Thế giới, 2009, Ẩn Tu nơi Núi Tuyết Vicki Mackenzie, hay Bàn về hạnh phúc của Mathieu Ricard…. Như vậy, Thiền từ khởi nguyên của nó là sản phẩm của trí tuệ Ấn Độ và Trung Hoa cổ đại, trở thành một tài sản nhân loại, từ Trung Hoa lan toả sang Nhật Bản, Việt Nam và từ các quốc gia này tiếp tục đi sâu vào đời sống nhân dân qua nhiều thế kỷ. Đến thời cận hiện đại, tiếp tục đi sang thế giới trời tây và từng bước thức ngộ nhiều người là những nhà khoa học, chính khách lớn của Tây Phương đến với Thiền. 2. Thiền và “khái niệm” Phương Tây Ngày nay, những trí tuệ lớn bậc nhất thế giới đều khẳng định, đặc thù tư duy nhận thức của người Phương Tây là tư duy bằng khái niệm. Đặc thù tư duy của người Á Châu là tư duy bằng trực giác. [4]. Hệ quả là Tây Phương của khái niệm là những đầu óc duy lý, Đông Phương của trực giác là tạo ra những chân tu tiên phong đạo cốt. Thiền là sản phẩm trí tuệ của khu vực Đông Á, kết tinh của hai nền văn hoá lớn nhất của khu vực là Trung Hoa và Ấn Độ cổ đại, hơn nữa, là phương thức nhận thức con người có chiều sâu và được thử thách qua nhiều thời đại và trong khu vực cũng có những phương thức tu duy khác nhưng không tiêu biểu và đặc thù như Thiền. Vì vậy, có thể dùng Thiền với tư cách là phương thức thực ngộ hay phương thức đặc thù của tư duy Phương Đông trong so sánh với phương thức nhận thức của Tây Phương. Dùng khái niệm để nhận thức và dùng khái niệm để giáo dục là một đặc thù của Phương Tây. Đặc thù của tư duy trực giác, tư duy Thiền trong nhận thức con người và thế giới là phá bỏ tất cả khái niệm, đập vỡ khái niệm, thâm nhập bằng trực giác vào đối tượng. Với Phương thức của Thiền, chỉ tồn tại hai trạng thái, một là trước khi thức ngộ, hai là sau khi thức ngộ. Khi đã thức ngộ có nghĩa đã hòa nhập vào thế giới toàn thể, thực sự trở thành chân tu rồi. Khái niệm của Tây Phương trải qua từng bước từ hiểu bộ phận đến hiểu tổng thể. Do vậy, những sĩ tử tu tập Thiền không quan tâm quá nhiều đến khái niệm, mà quan tâm hơn đến đốn ngộ trong từng trạng thái nhỏ, từng hành động trong cuộc sống, có thể qua hành động quét sân, pha trà….Lôgíc của Thiền nằm ở chính trạng thái Ngộ trong giây lát chứ không phải là hệ quả của những khái niệm kết thành một khái niệm nhận thức. Và ở trạng thái đó, Ngộ là hoàn tất, hiểu mình, tha nhân và thế giới. Với Thiền Tông Nam Tông, Thiền không quan tâm đến việc người tu tập có biết chữ hay không, mà chỉ quan tâm đến người đó có đốn ngộ hay không. Huệ Năng, ông tổ của Nam Tông được truyền Y Bát là người không biết chữ . Có thể nói, trên đây là những khác biệt lớn của hai truyền thống tư duy và phương thức giáo dục của Đông Phương và Tây Phương. 3. Sự thâm nhập của hai phương thức tư duy Như trên chúng tôi đã đề cập, phương thức thức ngộ Thiền đã từng bước thâm nhập vào thế giới của những người tư duy bằng khái niệm. Xu hướng này đang từng bước lan rộng trong thế giới Tây Phương. Và ngược lại, từ trong thời cận hiện đại, nhiều người Phương Tây đã mang phương thức tư duy bằng khái niệm đến với thế giới Đông Á. Đến ngày nay, phương thức Tư duy này từng bước đi sâu vào trong thế giới Phương Đông. Trong định hướng của bài viết, chúng tôi chỉ đi giải thích những nét cơ bản nhất của hiện tượng mang tầm quốc tế này của hai trường phái tư duy mang tính nhân loại này. Sự thâm nhập vào nhau của phương Đông và phương Tây xuất phát từ chính những điểm yếu trong tư duy của chính mình. Hệ thống khái niệm của Phương Tây với đặc thù của nó là phân mảnh, chia mảng đưa đến những hiểu biết chi tiết có cơ sở khoa học của từng bộ phận mà họ tìm hiểu, từ đó họ kiến tạo lên hệ thống những hiểu biết cơ học về con người và thế giới. Thế mạnh của khái niệm cho phép hiểu được và gọi tên hoá học của nó từng bộ phân trong cơ thế người hoặc thế giới. Nhưng không cho phép họ hiểu tường tận tâm bệnh. Phân tâm học sau này giải quyết ít nhiều vấn đề này. Ngày nay có một thực trạng, người Phương Tây cơ bản đạt đỉnh cao trong thế giới vật chất nhưng lại ngày càng cô đơn, hụt hẫng và khủng hoảng trong thế giới tinh thần và đời sống tâm linh. Tư duy thức ngộ của Thiền chưa mang đến một thế giới đồ sộ về vật chất nhưng giải quyết mỹ mãn những vấn đề về tinh thần và tâm linh đồng thời cung cấp những liệu pháp trị tâm bệnh bằng những phương thức tu tập giải đơn mà ở đó ai cũng có thể thức ngộ trong bất kỳ hoàn cảnh nào và ở nơi đâu. Phương thức tư duy của hai truyền thống lớn mang đến những thành công lớn và cũng để lại những khoảng trống lớn. Thế giới Tây Phương giúp thế giới đầy đủ hơn về vật chất nhưng để lại một khoảng trống lớn về tinh thần. Ngược lại đông phương thế giới mang lại sư giàu có về đời sống tinh thần và tâm linh nhưng bỏ lại một khoảng trống lớn về thế giới vật chất. Sự tìm đến và bổ khuyết cho nhau là một xu thế tất yếu, cả hai đều cần đến nhau trong một thế giới cần đến sự hài hoà. Trịnh Văn Định (Nguồn: vanhoanghean) Chú thích: [1] Thái Bá Vân, Tiếp xúc với Nghệ Thuật, Viện Mỹ Thuật ấn hành, 1995, tr.118. [2]. Phát hiện Ấn Độ, Jawaharlal Nehru, Nxb Văn học, 1990, tr.199. [3] Nam hoa Kinh, Trang Tử, Nhà xuất bản văn học, Trung tâm ngôn ngữ văn hoá Đông Tây, tr. 2001. [4] Bàn về tính khả tri của văn hoá, .François Jullien, Nxb Lao động, 2010. Thiền gốc Việt Nam, nền tảng từ thuyết Âm Dương Ngũ Hành nhưng nội dung giải nghĩa Tính tuyệt đối (Thái Cực) được "cắt" qua Phật giáo (tinh túy nhất, nắm đỉnh cao lý thuyết như kim tự tháp) và phương pháp thực hành lại lưu giữ cụ thể trong Lão Giáo. Ấn Độ và các nước khác như Ai Cập... là nơi nhận được sự truyền bá mà thôi. Lão Tử hóa Hồ kinh mang ý nghĩa phương pháp là lý thuyết của Lão giáo truyền tới Ấn Độ rồi, thời Hùng Vương thứ ba - Hùng Quốc Vương (khoảng năm 2800 tr.CN). Một vài lời thuyết giảng trong Kinh Thánh các loại thật là quá ư nhỏ bé so với học thuyết và phương pháp trên, chưa kể đã tạo thành cái vòng kim cô trói buộc "não trạng" của con người.
-
Một nhận định khác về chữ “Việt” trong quốc hiệu Việt Nam * Khảo luận Quốc hiệu của mỗi quốc gia là biểu tượng cho kỳ vọng của công dân nước đó. Chẳng hạn Trung Hoa có nghĩa là bông hoa của trung tâm thế giới, Nhật Bản là xứ mặt trời mọc. Quốc hiệu Việt Nam 越南, theo nghĩa của âm thanh, là dân Việt ở phương Nam. Tuy nhiên xét theo nghĩa chữ là vượt đường về phương Nam. Tôi còn nhớ hồi tôi còn học lớp đệ lục, thầy dạy sử địa đã chiết tự chữ “việt” để giảng cho chúng tôi. Chữ “việt” gồm bộ “tẩu” 走 nghĩa là chạy và chữ “quá” 戈 nghĩa là cái mác hay cái búa. Rồi thầy cười nói, “Tổ tiên mình bị người Tàu rượt, nên vác búa chạy về phương Nam chứ không chịu bị họ đồng hóa.” Lời giảng của thầy xem ra cũng đúng với lịch sử lập quốc của dân Việt. Từ đó tôi tin Việt Nam có nghĩa là vượt núi rừng đi về phương Nam. Có lẽ nhiều người, cho đến ngày nay, cũng vẫn còn nghĩ như tôi. Tuy nhiên, vài năm gần đây một số vị thức giả căn cứ vào tám chữ khắc trên thanh gươm cổ của vua Việt Câu Tiễn, họ đã đặt lại vấn đề ý nghĩa quốc hiệu Việt Nam. Sơ lược về Việt Câu Tiễn Câu Tiễn là vua nước Việt, trị vì trong khoảng 496-465 trước Công nguyên, ứng với cuối thời Xuân Thu. Nước Việt hồi đó bao gồm Thượng Hải, miền bắc Chiết Giang và miền nam Giang Tô ngày nay. Năm 494 TCN, vua nước Ngô là Ngô Phù Sai mang quân đánh nước Việt. Câu Tiễn bị thua rồi bị đày qua Ngô làm kẻ hầu hạ. Sau ba năm chịu khổ nhục đến phải nếm phân cho Ngô Phù Sai, Câu Tiễn được cho trở về nước. Trở lại đất Việt, Câu Tiễn bề ngoài giả vờ tuân phục nhà Ngô, nhưng bí mật cho luyện tập quân sĩ. Ông tiến dâng vua Ngô mỹ nhân Tây Thi và hối lộ các quan chức để lũng đoạn triều đình Ngô. Khi quân lực đủ mạnh, ông mang quân đánh nước Ngô để phục thù. Ngô Phù Sai xin đầu hàng, nhưng Câu Tiễn không chấp thuận. Phù Sai phải cắt cổ tự vận. Bàn về ý chí phục quốc, Việt Câu Tiễn là vị vua can trường. Ông đã có công gìn giữ và phát triển giang sơn từ một nước bại trận điêu tàn thành một quốc gia hùng cường hưng thịnh. Vào năm 1965, một nhóm khảo cổ Trung Quốc đào được ở Hồ Bắc một thanh gươm cổ. Gươm có tuổi khoảng 2.000 năm nhưng vẫn còn sắc bén. Căn cứ trên 8 chữ khắc trên kiếm, người ta khẳng định đó là cây gươm của Việt Câu Tiễn. Thanh kiếm này hiện được lưu giữ ở viện bảo tàng Hồ Bắc, Trung Quốc. Cây gươm của Câu Tiễn không rỉ sét, còn nguyên vẹn hoa văn và chữ viết. Lưỡi gươm hai mặt vẫn còn sắc bén. (nguồn hình: internet) Diễn tiến về sự biến đổi văn tự cổ Người ta nhận thấy ngay các chữ khắc trên thanh gươm không phải là chữ Hán. Chúng là những chữ có từ thời sơ khai mà nhiều học giả cho là tiền thân của chữ Hán. Người bình dân thường gọi chúng là chữ “con trùng” vì nét chữ vặn vẹo như con trùng. Các học giả đã ra công tổng hợp được khoảng 4.500 chữ “con trùng”. Những chữ này theo thời gian đã được giản dị hóa cho dễ viết. Người ta phân chia sự biến đổi đó qua 3 thời kỳ. Cổ nhất là loại chữ được khắc trên mu rùa hay trên xương trâu, vì vậy chúng được gọi là giáp cốt văn (giáp = mu rùa, cốt = xương). Kế đó là thời chữ cổ được viết trên đồ gốm. Sau chót là chữ được khắc trên đồ đồng. Chữ cổ tiếp tục biến đổi theo thời gian cho đến thời Tam Quốc (220-280 TCN) thì một biến cố lớn xảy ra. Sau khi Lưu Bang thống nhất tam quốc rồi lập ra nhà Hán. Nhà Hán gọi văn tự riêng của họ là chữ Hán và bắt các thuộc địa phải dùng. Nhà Hán là thời kỳ cực thịnh của Trung Hoa nên người Tàu ai cũng nhận mình là chủng tộc Hán. Từ đó văn tự chính của Trung Quốc là chữ Hán. Những nước nhỏ thần phục tuy đều có văn tự riêng, nhưng đều phải dùng chữ Hán. Quốc hiệu Việt Nam 越南 cũng do triều đình Trung Hoa viết theo chữ Hán của họ, rồi mặc nhiên được mọi người công nhận cho đến ngày nay. Đối chiếu những chữ trên thanh gươm với chữ Hán Trên thân cây gươm của Câu Tiễn có khắc hai hàng chữ “con trùng”, mỗi hàng 4 chữ. Các học giả Trung Hoa đã giải mã chúng qua chữ Hán như sau: - Hàng chữ bên phải: Việt Vương Câu Tiễn 越王勾践. (Vua Việt Câu Tiễn) - Hàng chữ trên trái: Tự tác dụng kiếm 自作用劍. (Tự làm gươm để dùng) Muốn biết bản giải mã chữ Hán có đúng với nguyên bản hay không, chúng ta phải làm cuộc đối chiếu với bản văn chính gốc khắc trên kiếm. Chúng tôi dựa vào từ điển cổ ngữ của ông Richard Sears để nhận dạng tám chữ khắc trên thanh gươm Câu Tiễn. Ông Sears đã bỏ ra 22 năm nghiên cứu cổ ngữ của những nước có trước đời Hán. Mỗi chữ được ông ghi dấu bằng một mã số. Hàng chữ bên phải: đọc từ trên xuống Chữ thứ nhất: là chữ “Việt”. Chữ này không tìm thấy chữ tương đương trong từ điển cổ tự. Chúng tôi sẽ bàn về chữ này ở cuối bài. Khảo sát về hai chữ “Việt” không có trong từ điển Tiếp sau đây chúng tôi xin nói về chữ “Việt”. Nó là chữ quan trọng nhất vì đã khai thông một vấn nạn mù mờ hằng ngàn năm nay. Như đã nói trên, chữ “Việt” không tìm thấy những chữ tương đương trong bất cứ bộ từ điển nào. Chúng ta phải phân tích nó từ chính dạng nguyên thủy khắc trên thanh gươm. Chữ khắc trên gươm được nhận diện qua chữ có mã số B01749 thời đồ đồng. Cả hai chữ Việt này đều không có bộ tẩu (走) như trong chữ Việt (越) của Hán ngữ. Còn chữ tẩu 走 này chúng tôi dễ dàng tìm thấy có 2 chữ tương đồng. Một chữ có mã số L35442 thuộc thời đại đồ gốm và một chữ có mã số B01732 vào thời đồ đồng . Như chúng ta đã thấy, chữ tẩu này không dính líu gì đến chữ khắc trên thanh gươm. Tốt hơn cả chúng ta hãy tự phân tích chữ Việt khắc trên thanh gươm. Chữ Việt này gồm 3 tự, chúng tôi xin tách riêng ra từng phần và đánh dấu thứ tự như sau: Tự thứ nhất ứng với chữ mã số J15884, thời giáp cốt văn. Từ điển giải thích là chữ “nhật” (mặt trời). Tự thứ hai ứng với chữ mã số J25326, thời giáp cốt văn. Từ điển giải thích là chữ “long” (rồng). Tự thứ ba ứng với chữ mã số B01747, thời đồ đồng. Từ điển giải thích là chữ “Việt”. Nhìn kỹ chúng ta thấy chữ này tượng hình người gắn lông chim tay cầm cung hay cây côn. Hình này được khắc rõ ràng trên mặt trống đồng. Chúng tôi mượn hình minh họa theo hình khắc trên trống đồng Khai Hóa của website “An Việt Toàn Cầu” để cho rõ hơn. Như vậy chữ Việt là một biểu tượng của lưỡng tổ rồng tiên (theo huyền sử Lạc Long Quân và Âu Cơ). Đồng thời chữ Việt còn cho biết Lạc tộc theo tín ngưỡng phồn thực trong đó mặt trời là nguồn năng lực chính của nông nghiệp. Đây là một bằng chứng về tầm quan trọng của huyền sử rồng tiên và trống đồng trong dòng chính sử Việt Nam. Chúng ta có thể đặt vấn đề: nếu chữ Việt đẹp tuyệt vời cả về nét minh họa lẫn ý nghĩa, vậy tại sao Hán văn lại viết khác, nếu không muốn nói là làm giảm giá trị của chữ gốc. Tiến sĩ Nguyễn Đại Việt đã nhận định rằng, người Hán có chủ trương coi rẻ những quốc gia nhỏ thần phục nhà Hán. Họ cố tình viết chữ Việt như thế với dụng ý châm biếm. Tiến sĩ Nguyễn đưa ra dẫn chứng người Hán đã đặt tên cho một tiểu quốc ở biển Đông là Oa (倭) có nghĩa là xứ những tên lùn. Mãi đến thứ kỷ thứ 8, các học giả nước này mới nhận ra thâm ý đó và họ đã vội vàng sửa lại cho đúng quốc hiệu của họ là Nhật Bản (日本). (*) Xét cho cùng, chữ “Việt” không đơn giản là một cổ tự. Nó là một biểu tượng mang đầy dụng ý của tiền nhân. Nó là kết tinh văn hóa Việt và mang danh dự của quốc gia. Với niềm hãnh diện này, chúng ta hy vọng vấn đề quốc hiệu Việt Nam sẽ được các bậc thức giả làm cho sáng tỏ hơn. Từ đó chúng ta mới có một ý thức mới về chính con người Việt Nam của mình. ĐỖ NGỌC TRANG (Elk Grove, California 30-3-2012) Chữ Việt cổ trên thanh gươm Việt Vương Câu Tiễn là đúng do có hình con rồng với đầu là biểu tượng vòng tròn chấm - tức mặt trời, con rồng là biểu tượng của vua Kinh Dương Vương, có lẽ chữ Việt sau này có thay đổi. Hình tượng con rồng cũng là hình ảnh chòm sao Thiên Cực Bắc Draco Thiên Long - biểu tượng cho vua Lạc Long Quân. Nếu hiểu biểu tượng chữ Việt là người cầm con rồng mặt trời thì hàm ý hiểu về cấu trúc vũ trụ qua hệ mặt trời và trục thiên cầu. Còn cái rìu là hình ảnh trong truyền thuyết Ông Bàn Cổ lấy rìu bổ quả trứng thái cực, do vậy chữ" Việt" trên có nghĩa người hiểu biết quy luật của vũ trụ, các ý nghĩa thâu tóm trong chữ "Việt cổ": - Thái cực - Trục thiên cầu - Hệ Mặt trời - Vạn vật - Tương tác: Rìu bổ vào Trứng Thái cực. Cái rìu trong Lỗ bộ nơi đình, đền thuộc cung Càn trong Bát quái. - Trục xương sống vận khí: qua hình ảnh con rồng đầu mặt trời - luân xa số 7. Như vậy: Việt nghĩa là Người Vũ trụ nhưng thiên về Hệ mặt trời cụ thể và gần gũi với vạn vật hơn, và là biểu tượng của vua Kinh Dương Vương cho nên: Việt dịch sát biểu tượng là Người Mặt Trời. Trong mỹ thuật, chỉ có những vị Phật mới có sự tỏa sáng này ở phía sau đầu. Lâu quá không thấy bác Vô Trước "quậy" diễn đàn, khiến anh em thấy thiếu vắng. CHÚC MỪNG XUÂN MỚI NHÂM THÌN 2012 Đăng ngày: 08/02/2012 20:01 CHÚC mừng hạnh phúc khắp muôn phương XUÂN đến non sông đẹp phú cường NĂM cũ trải qua đầy sóng gió MỚI về mở rộng đón tình thương CHÀO bạn đồng tâm, hướng giống dòng ĐÓN xuân hy vọng, ước cầu mong…. RỒNG vàng rực sáng, Tinh hoa Việt BAY bổng không gian, thoã tấm lòng NAM Ly thuộc Hoả, Thổ Trung ương BẮC Thuỷ “Thủ đô”, Bác chỉ đường ĐÔNG Mộc tâm linh, qui hội tụ TÂY Kim “minh triết” hợp âm dương DUNG thông hoá giải, nắm tay nhau HOÀ hiếu anh em, nối nhịp cầu “HỮU xạ tự nhiên hương” toả khắp NGHỊ bàn phương cách, bớt đau thương TÌM xem đáp số “Hội Diên Hồng” RA Bắc vào Nam, nguyện Tổ tông CHÂN thiện muôn đời, luôn bất diệt LÝ mầu bất chiến, rạng phương Đông CỨU nguy thế giới, sắp thiên tai QUẢ đất “nóng dần”, bởi tại ai ? ĐỊA chấn, sóng thần, băng tuyết chảy CẦU cho nhân loại, sống ngày mai QUI - Lân – Long - Phụng, tứ linh chầu HIỆP đất Vua Hùng cứu Á, Âu. NĂM, tháng, ngày, giờ, Trời dĩ định “CHÂU nhi phục thuỷ”, chẳng còn lâu SANG trang lịch sử, bốn ngàn năm THỜI vận Việt Nam, rạng tiếng tăm THÁNH triết Bác Hồ, soi sáng mãi ĐỨC tài thu phục, đắc nhân tâm ĐỒNG thuận dưới, trên, giữ sắc son BÀO thai “Một Bọc”, nở “Trăm con” THỐNG quyền Dân chủ, luôn bình đẳng NHẤT quán Trung dung, lý sống còn TÌNH nghĩa “Con Rồng” hiệp “Cháu Tiên” YÊU mùa Xuân mới, trải ba miền NƯỚC non, rừng biển, còn in dấu NHÀ Lạc Long Quân nắm chủ quyền XOÁ tan mây tuyết, Thái Dương soi BỎ chấp nhị nguyên, mới phục hồi CÁI việc lợi tha, nên cố gắng TA cần học hỏi, tấm gương noi HƯỞNG cảnh xuân về sống đẹp tươi XUÂN đi, xuân đến, ấm tình người MINH đăng vũ trụ, vô tư chiếu TRIẾT lý hiện sinh, nở nụ cười CẢM nhận bên trong, thật đủ đầy THÔNG cùng Trời Đất, hội Rồng Mây HIỂU về nguồn gốc, tâm trong sáng BIẾT luật tự nhiên, phải trở xoay THẬT- giả, Thánh- Phàm, lẫn lộn nhau SỰ đời lộ diện, thấy vàng thau. TÌNH người thế thái, xưa nay vậy THƯƠNG mến nhắc nhau, đổi mới đầu CHUNG tay góp sức đẹp mùa Xuân MỘT tấm lòng son, gội thấm nhuần LẬP lại con đường, đầy sáng lạn TRƯỜNG đời thử thách, lắm gian truân DÂNG lên áo vải đất Quang Trung HOA nở Đống Đa, chí khí hùng HỐNG, Cúc, Mai, Đào ….. mừng Vạn Thọ (Phật Di Lạc) LẠC an Xuân mới nghĩa vô cùng Mùng 5 tháng giêng Nhâm Thìn ( 27/01/2012) Viết tại Nhà Bảo Tàng Quang Trung (Tây Sơn Bình Định) Tác giả: Võ Thái Sơn
-
Văn hóa Huy Việt Trần Văn Hợi chữ việt Chữ Việt bộ Mễ là chữ được đặt ra từ khi lập quốc của dân tộc ta. Trước khi vào đề , tôi xin kể hầu quý vị một câu chuyện để thêm rộng ý về chữ Việt này. Trong một buổi họp bạn có nhiều nhà trí thức người Hoa, tôi đã đặt ra những câu hỏi sau đây: - Phần đông quí vị có mặt ở đây là người Việt gốc Hoa phải không ? - Vâng. - Có bao giờ quý vị có ý nghĩ ngược lại rằng quý vị là người Hoa gốc Việt chăng ? Nghe câu hỏi này có nhiều vị nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên và không có ai đáp lại. Tôi bèn nói với họ: - Xin một vị nào viết cho tôi một chữ Việt. Một vị viết và đưa cho tôi chữ Việt bộ Tẩu.Tôi không nhận chữ Việt này và xin vị ấy viết cho tôi chữ Việt bộ Mễ, mà trong tự điển Khang Hi có ghi để chỉ Việt Đông Việt Tây. Cầm chữ Việt bộ Mễ , tôi hỏi tiếp: - Mỗi khi muốn đặt ra một chữ thì người ta phải theo những nguyên tắc nào? Phải chăng cái gì có hình thì tượng hỉnh, cái gì không có hình thì tượng ý hay tượng thanh ? - Đúng như vậy. - Vậy xin quý vị hãy ngắm chữ Việt bộ Mễ này xem nó tượng hình gì ? Lại không có vị nào trả lời. Tôi bèn giải thích: - Đây là hình đại cương bản đồ đất đai của nước Việt ờ từ thời mới lập quốc. Xin các vị chú ý : - Nét trên tượng hình sông Dương Tử, nét bên tượng hình giải núi Thục, nét cong cuốn tượng cho bờ bể.. Ở giữa và là chủ đất này là chữ Mễ và họ Mễ là của vua Thần Nông và của các vị vua Hùng, tổ tiên của giống Việt. Nét ngang dài tượng cho đất Vân Nam chạy dài tới Hải Nam, dưới cùng là nét móc câu tượng cho đất Việt Nam hiện nay. - Quý vị có đồng ý với tôi rằng chữ Việt bộ Mễ này rõ ràng là một bản đồ không ? - Đồng ý. - Vậy quý vị và tổ tiên quý vị đã được sinh ra trên bản đồ nước Việt mà quý vị lại nhận mình là người Hoa có đúng không ? Rất có thể quý vị nghĩ rằng tổ tiên quý vị là người Hoa từ phương Bắc di cư xuống nước Việt ở phương Nam chăng ? Đến đây tôi xin cắt đứt sự vấn đáp và giải thích thêm. Tôi xin thưa rõ: Theo nhân chủng học thì người Hoa to lớn, thô kệt như người Sơn Đông, Bắc Kinh, Triều Tiên…..Còn người Việt thì bé nhỏ thanh thoát hơn. Ai đã có dịp lên miền Bắc nước Tầu sẽ nhận thấy giống Hoa và giống Việt khác nhau rõ rệt như vậy. Đến đây tôi xin vào đề: Theo cổ truyện lưu truyền trong dân gian thì vua Đế Minh đã có con là Đế Nghi lại lấy thêm một người vợ Tiên đẻ ra Lộc Tục. Về già vua Đế Minh truyền ngôi nước Sở cho Đế Nghi và cắt đất Kinh Châu và Dương Việt phong cho Lộc Tục. Lộc Tục lên làm vua lấy hiệu là Kinh Dương Vương tức là vua Hùng thứ nhất. Và chữ Việt bộ Mễ ra đời từ đấy, nghĩa là chữ Việt này xuất xứ từ đời vua Kinh Dương và là nguyên thủy. Vua Kinh Dương theo tượng hình của đất nước mà đặt ra chữ Việt bộ Mễ để ghi lại truyền cho con cháu đừng quên đất đai của Tổ Quốc mình dù rằng sau này đất đai ấy có bị xâm chiếm mất. Còn chữ Việt bộ Tẩu thì sao ? Xin thưa: Khi nhà Tần sai Đồ Thư sang xâm chiếm nước ta , thì họ đã dùng đủ mọi cách để cướp đoạt , thu mua tất cả những sách vở của ta để mang về Tầu. Người nào dâng sách quí thì được làm quan, sách thường thì được hưởng tiền bạc. Nhưng nhà Tần cai trị không lâu. Đến khi nhà Hán đô hộ nước ta , thì vua Hán mang tất cả những sách vở thu vét được, giao cho Viện Hàn Lâm nghiên cứu, sửa đổi lại để xuyên tạc, đổi tên người, tên đất đánh lạc hướng để dễ bề đồng hóa và nhận vơ, cốt ý không cho dân ta tìm lại được gốc rễ và tổ tiên mình. Đó là chiến dịch man kinh rất thâm độc của nhà Hán và chữ Việt bộ Tẩu xuất hiện từ đó. Với chữ Việt bộ Tẩu họ còn gói ghém ý mỉa mai ta nữa: Nếu ta tách chữ Việt bộ Tầu ra thì ta có một bên là chữ Tẩu là chạy, và bên kia chữ Tuất là chó.Đó là họ muốn ghi chiến thắng của họ là đánh đuổi dân ta chạy về phương Nam như đuổi chó vậy. Tẩu cẩu nam phương. Để chứng minh sự kiện này, chính tác giả đã nghe người Hoa mỗi khi có sự xích mích với ta, họ thường dùng câu: đồ tẩu cẩu, vừa kín đáo và ít người biết là họ chửi. Như vậy ta có nên dùng chữ Việt bộ Tẩu để chỉ nước ta nữa chăng ? HUY VIỆT Trần Văn Hợi
-
ẤN TƯỢNG CHÙA VÀNG SHWEDAGON Nếu Myanmar đã từng nổi tiếng là một quốc gia giàu truyền thống văn hóa và lịch sử, thì nơi đây còn được biết đến với nhiều công trình kiến trúc mang tính tâm linh đặc sắc. Nổi bật trong số đó phải kể đến chùa Shwedagon hay còn gọi chùa Vàng, một quần thể gồm nhiều đơn thể chùa bao quanh ngôi chùa trung tâm, nổi bật với tòa tháp dát vàng uy nghi trên đỉnh đồi Singuttara thuộc thành phố Yangon, thủ đô nước Myanmar ngày nay. Niềm kiêu hãnh Myanmar – Ảnh: nguồn zenflower.vn Gọi là chùa “Vàng” vì ngôi chùa đã được “ốp” và trang trí bởi khoảng 60 tấn vàng cùng cả trăm ngàn viên kim cương và đá quý. Trong ngôn ngữ Myanmar, “vàng” cũng đồng nghĩa với sự “mĩ miều”, điều này hàm ý chùa Shwedagon là biểu trưng cho vẻ tráng lệ kỳ vĩ, niềm kiêu hãnh của người dân Myanmar. TRUYỀN THUYẾT VÀ LỊCH SỬ Không ai biết đích xác chùa Vàng đã hình thành từ lúc nào nhưng theo truyền thuyết, ngôi chùa đã được xây dựng từ hơn 2.500 năm trước vào giai đoạn đương thời của Đức Thích Ca Mâu Ni. Chuyện kể vào thời điểm đó, có hai anh em thương gia người Miến Điện là Taphussa và Bhallika muốn thử thời vận kinh doanh tại Ấn Độ. Tại đất nước này họ đã có cơ duyên giác ngộ đạo Phật và lúc hồi hương đã mang về món bảo vật độc đáo là tám sợi tóc của Đức Phật. Chính quốc vương Miến Điện lúc bấy giờ là Okkalapa đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho họ xây dựng ngôi chùa Shwedagon trên đồi Singuttara để lưu giữ bảo vật thiêng liêng. Rực rỡ trong nắng chiều – Ảnh: Ngọc Trần (VnExpress – 30.3.2010) Một truyền thuyết khác đã đưa lịch sử đi xa hơn, theo đó trước khi ngôi chùa Shwedagon được xây dựng, đồi Singuttara đã được xem là thánh địa vì lưu giữ thánh tích của ba vị Phật. Trải qua gần 5.000 năm kể từ khi Đức Phật hạ giới, đồi Singuttara đã mất dần tính linh thiêng và có nguy cơ bị giải thiêng nếu không bổ sung được di vật của một vị Phật mới. Với khát khao tìm kiếm di vật mới, vua Okkalapa đã dành nhiều thời gian thiền tịnh và cầu nguyện. Cuối cùng thì niềm mong ước cũng đã thành hiện thực với sự xuất hiện tám sợi tóc của Đức Phật. Theo ước tính của các nhà khảo cổ, chùa Shwedagon đã được xây dựng lần đầu tiên vào khoảng từ thế kỷ 6 đến thế kỷ 10 với chiều cao ban đầu hơn 8 mét. Về sau đã được vua Binnya U của Hanthawaddy sửa lại, nâng chiều cao lên hơn 20 mét. Vào thế kỷ 15, hoàng hậu Shinsawbu đã cho nâng tháp lên 40 mét. Cũng trong thời gian này, nhiều công trình tại chùa đã được dát bằng vàng thật do các tăng lữ và người dân trên khắp đất nước thường xuyên cúng tiến để tu bổ chùa. Truyền thống tốt đẹp này vẫn còn tiếp tục đến tận ngày nay. Shwedagon rực rỡ khi đêm về – Ảnh: nguồn vietnamnet.vn Trong thế kỷ 17, nhiều trận động đất đã khiến chùa bị hư hại nghiêm trọng, dữ dội nhất là trận động đất xảy ra vào năm 1768 đã làm cho phần đỉnh tháp bị sập xuống. Vua Hsinbyushin nhà Konbaung đã cho sửa sang lại tòa tháp và nâng nó lên độ cao như hiện nay. Năm 1871, vua Mindon Min đã cho dựng thêm phần hình vương miện (còn gọi là lọng – “hti”) nhưng trận động đất không lớn lắm vào năm 1970 đã làm cán lọng rời ra và sau đó chính phủ đã cho tiến hành sửa chữa. DẤU ẤN CHÙA VÀNG Chùa Shwedagon là một trong những công trình kiến trúc tôn giáo độc đáo trên thế giới, một quần thể chùa gồm 64 chùa nhỏ và 4 chùa lớn hơn phân bố đều hai bên ngôi chùa trung tâm. Đây là ngôi chùa linh thiêng và hoành tráng nhất, nơi tương truyền lưu giữ bốn báu vật của bốn vị Phật: cây quyền trượng của Kakusandha, bộ lọc nước của Konagamana, miếng áo choàng của Kassap và tám sợi tóc thiêng của Phật tổ. Chùa Vàng Shwedagon – Ảnh: nguồn thanglong.chinhphu.vn Chùa chính nằm tại vị trí trung tâm với tâm điểm là tòa tháp dát vàng cao 99 mét, kiêu hãnh vươn cao giữa trời. Tháp gồm 3 phần: đáy tháp, thân tháp (phần hình chuông) và đỉnh tháp, toàn bộ được dát bên ngoài một lớp vàng ròng tạo nên ánh vàng rực rỡ. Theo thống kê, phần đáy tháp được dát 8.688 lá vàng và phần thân tháp được dát 13.153 lá vàng (mỗi lá vàng có kích thước chừng 20 x 20cm được gắn vào tháp bằng đinh tán), cả hai phần này còn được nạm gần 90.000 viên hồng ngọc và lam ngọc. Riêng đỉnh tháp được phân làm nhiều tầng, dưới cùng là mũ tháp, bên trên có tầng giả như các cánh sen, trên nữa là tầng có hình dáng bắp chuối. Tiếp đến là tầng có hình dáng vương miện được gọi là lọng, tại đây được nạm 5.448 viên kim cương và 2.317 viên hồng ngọc. Trên cùng là lá cờ đuôi nheo bằng vàng và ở vị trí cao nhất có gắn một viên kim cương 76 carat (15 gam). Tại phần đỉnh tháp còn treo 1.065 chiếc chuông bằng vàng và 421 chiếc chuông bằng bạc luôn được gió tác động tạo nên những thanh âm thần thánh… TRẢI NGHIỆM SHWEDAGON Để lên chùa, du khách có thể dùng thang máy hoặc đi bộ theo bốn cầu thang (gọi là Zaungdans) phía mỗi bên chùa, theo bốn hướng Đông, Bắc, Tây, Nam. Khách nước ngoài thường thích lên chùa bằng cầu thang hướng Tây vì từ trung tâm thành phố có thể đến thẳng chùa rất thuận tiện. Mỗi chiều, hàng ngàn Phật tử đến cầu nguyện – Ảnh: nguồn phatgiaovnn.com Qua khỏi cầu thang hướng Tây, hai bên có sảnh U Thin và Daw Thet Pyin xây dựng năm 1891, được chạm trổ rất công phu. Tại đây dưới những chiếc dù màu trắng tượng trưng cho hoàng gia có điện thờ hai nhân vật Melamu và Sakka, tương truyền là thân phụ của vua Okkalapa, người đã có công khai lập ra chùa Vàng. Tại hướng Bắc có sảnh thờ Victory Ground được xem là nơi linh thiêng, tương truyền vương triều Hansawadd Mon cổ xưa từng sống tại đây và thường đến cầu nguyện trước khi xuất binh. Nơi đây có một khu tập hợp bảy điện thờ, phía sau có sảnh thờ Chan Mah Phee được xây dựng năm 1989. Gần cầu thang hướng Bắc có sảnh thờ vị Phật thứ tư trên thế giới, với tượng Phật ẩn trong tường. Tại khu vực hướng Đông có sảnh thờ Eastern Devotion, là công trình do vợ nhà vua Tharyarwaddy xây dựng và được trùng tu năm 1869. Phía sau sảnh có nhiều tượng Phật Tawagy có gắn viên hồng ngọc trên đầu. Đôi mắt của các tượng Phật trông giống như mắt thật, vì thế tượng Phật Tawagy còn được gọi là “Phật có mắt thật bằng hồng ngọc”. Đêm về với những tia sáng vàng lấp lánh – Ảnh: nguồn thanglong.chinhphu.vn Cầu thang hướng Nam dẫn đến sảnh chính thờ vị Phật thứ hai trên thế giới Konagamana. Để đi vòng quanh chùa Vàng, du khách đi bộ theo hướng bên trái theo chiều kim đồng hồ. Đi về hướng Tây của sảnh thờ phía Nam sẽ gặp khu Chinese Merited Association Tazaung, nơi có 28 tượng Phật thể hiện các giai đoạn thành đạo của Đức Phật… Tham quan chùa Shwedagon, dù giữa ban ngày chói chang ánh nắng hay khi đêm về dưới ánh đèn sáng rực, du khách vẫn thấy bật lên một thứ ánh sáng rực rỡ uy nghi. Quả không quá lời khi ai đó đã từng nói: “Đến Myanmar mà chưa biết đến chùa Shwedagon thì xem như chưa biết Myanmar”. Shwedagon không chỉ biểu trưng cho tinh thần mộ đạo Phật của người Myanmar, mà còn là chứng nhân trước bao biến đổi, thăng trầm của một đất nước, sẽ mãi là niềm tự hào của người dân Myanmar… Chùa Shwedagon (Shwedagon Zedi Daw ([ʃwèdəɡòun zèdìdɔ̀]), hay Chùa Vàng, ở Yangon được coi là ngôi chùa linh thiêng nhất Miến Điện (nay là Myanma). Tại đây có lưu giữ 4 báu vật thiêng liêng đối với các tín đồ Phật giáo, gồm cây gậy của Phật Câu Lưu Tôn, cái lọc nước của Phật Câu Na Hàm, một mảnh áo của Phật Ca Diếp, và 8 sợi tóc của Phật Thích Ca. Stupa dát vàng của chùa cao tới 98 mét. Chùa lại nằm trên đồi Singuttara, từ đây có thể quan sát được cả thành phố Yangon. heo truyền thuyết và theo ghi chép của các nhà sư, ngôi chùa có từ trước khi Phật qua đời, nghĩa là có cách đây 2500 năm. Tuy nhiên các nhà khảo cổ học cho rằng nó được xây lần đầu vào khoảng thời gian từ thế kỷ 6 đến thế kỷ 10. Stupa (phù đồ) từng bị hư hại suốt một thời gian dài và được Vua Binnya U của Hanthawaddy sửa lại. Ban đầu, nó cao khoảng hơn 8 mét. Đến khi vua Binnya U sửa lại, nó được nâng lên hơn 20 mét. Hoàng hậu Shinsawbu (1453–1472) cho nâng tháp cao thành 40 mét. Hoàng hậu còn cho lát gạch quả đồi và trên đỉnh đồi sân chùa lát đá. Năm 1608, một toán quân Bồ Đào Nha do Philip de Brito e Nicote đã cướp phá chùa. Chúng cướp đi quả chuông lớn Dhammazedi mà Vua Dhammazedi đã dâng cho chùa. Philip de Brito e Nicote định nấu chảy quả chuông đó để đúc đại bác. Nhưng khi chở qua sông Bago, chuông bị chìm và đến nay vẫn chưa được tìm ra. Chúng ta biết rằng Phật Ca Diếp truyền Pháp luân cho Phật Thích Ca, và Phật Thích Ca sẽ truyền Pháp luân cho Phật Di Lạc, cho nên Phật Ca Diếp là vị Cổ Phật hay chính là Nhiên Đăng Cổ Phật tức Đại Nhật Phật - vua Kinh Dương Vương, vì thế truyền thuyết nơi đây đã lưu mảnh áo Phật Ca Diếp là chính xác bởi vì Myamar là một trong 15 bộ của Văn Lang, tiếp giáp nước Ấn Độ - Hồ Tôn Tinh. Một lần nữa, chúng ta thấy truyền thuyết hoàn toàn là lịch sử nếu chúng ta có đủ cơ sở dữ liệu phân tích, cho nên ngôi chùa Shwedagon là một chứng tích của truyền thuyết chưa được giải mã. Còn các vị Phật khác như Phật Câu Lưu Tôn và Câu Na Hàm thời hiền kiếp tức hiện tại ứng trong giai đoạn lịch sử 5000 năm của loài người là ai??? trong khi chỉ còn hai vị là Phật A Di Đà và Phật Bà Quan Âm!.
-
Phạm Công Thiện Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Bước tới: menu, tìm kiếm Triết học phương Tây Triết học phương Đông Triết học Thế kỷ 20 Tên: Phạm Công Thiện Sinh: 01 tháng 6, 1941 Mỹ Tho, Việt Nam Mất: 08 tháng 3, 2011 (69 tuổi) Houston, Texas Hoa Kỳ Trường phái: Phật giáo Quan tâm chính: Thiền tông Phạm Công Thiện (1/6/1941 - 8/3/2011), là một nhà văn, triết gia, học giả, thi sĩ và cư sĩ Phật Giáo người Việt Nam với pháp danh Thích Nguyên Tánh[1][2]. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 60 [3] và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ.[4] Mục lục 1 Tiểu sử & sự nghiệp 2 Quan điểm 3 Thơ 4 Tác phẩm 4.1 Thơ, văn, tiểu luận 4.2 Dịch 5 Chú thích 6 Liên kết ngoài Tiểu sử & sự nghiệp Phạm Công Thiện sinh năm 1941 tại Mỹ Tho Anh là một người anh hùng. Từ năm 13 tới 16 tuổi, ông là chủ tịch của tạp chí Bách Khoa. Năm 15 tuổi, ông đã đọc thông viết thạo năm ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật, Hoa, Tây Ban Nha, ngoài ra còn biết tếng Sancrit và tiếng La Tinh.[4] Năm 1957, 16 tuổi, ông xuất bản cuốn tự điển Anh Ngữ Tinh Âm, nhưng từ vài năm trước đó cho đến khi rời Việt Nam vào năm 1970, ông đã cộng tác với các báo Bông Lúa, Phổ Thông, Bách Khoa, Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ. Từ những năm cuối thập niên 1950 ông đi dạy Anh ngữ tại một số trường tại Sài Gòn.[5] Năm 1960, ông khởi sự viết cuốn "Ý thức mới trong văn nghệ và triết học" khi chưa được 19 tuổi.[1] Thời kỳ này ông viết nhiều sách về Phật Giáo, dù ông theo đạo cơ đốc[1]. Năm 18 tuổi,(Năm 1964 mới thành lập Viện Đại Học Vạn Hạnh , vậy lúc đó PCT 23 tuổi chứ không phải 18t :http://vi.wikipedia....1n_H%E1%BA%A1nh ) giữ chức giảng viên môn Triết học của Viện Đại học Vạn Hạnh. Về sau ông còn là giáo sư của nhiều trường đại học khác nữa dù chưa bao giờ đi thi tú tài, cũng chưa học một trường đại học nào.[4] Năm 23 tuổi, ông cho ra đời cuốn sách Tiểu luận về Bồ Đề Đạt Ma, tổ sư Thiền Tông, mà sau đó đã trở nên nổi tiếng. Đến năm 26 tuổi, ông đã có hàng chục cuốn sách triết học, tiểu luận và thơ. Ông cũng khởi xướng và tham gia tranh luận nhiều về đề tài Phật giáo trên các báo Sài Gòn. Đầu năm 1964, ông chuyển ra Nha Trang sống để an dưỡng sau một cuộc "khủng hoảng tinh thần". Tại đây ông quy y ở chùa Hải Đức, lấy pháp danh Nguyên Tánh. Một thời gian sau ông lại về Sài Gòn.[1] Từ năm 1966 - 1968, ông là Giám đốc soạn thảo tất cả chương trình giảng dạy cho tất cả phân khoa viện Đại học Vạn Hạnh. Từ năm 1968 - 1970, giữ chức trưởng khoa Văn học và Khoa học Nhân văn của viện. Tại đây ông cũng là sáng lập viên và chủ trương biên tập của tạp chí Tư Tưởng. Ông rời Việt Nam từ năm 1970, chuyển sang sống ở Israel, Đức, rồi sống lâu dài tại Pháp. Năm 1983, ông sang Hoa Kỳ, định cư ở Los Angeles, giữ chức giáo sư Phật Giáo viện College of Buddhist Studies. Từ đó về sau, ông ở Mỹ và tiếp tục viết sách - phần lớn là nghiên cứu về đạo Phật. Ngày 8/3/2011 (mùng 04 tháng Hai năm Tân Mão), ông qua đời tại thành phố Houston, Texas, Hoa Kỳ, hưởng thọ 69 tuổi. Quan điểm Phạm Công Thiện không coi mình là một triết gia, dù mọi người vẫn gọi ông với chức danh đó. Trên ngòi bút của mình, ông đã phủ nhận tất cả các triết gia: "Ngay đến Heraclite, Parmenide và Empédocle, bây giờ tao còn xem thường, tao coi ba tên ấy như là ba tên thủ phạm của nền văn minh hiện đại, chưa nói đến Socrate, đó là một tên ngu dại nhất mà ta đã gặp trong đời sống tâm linh của ta". Ông coi những nghệ sĩ như Goethe, Dante như những thằng hề ngu xuẩn. Và đối với Sartre, Beauvoir: "Nếu họ muốn xin gặp tao, tao sẽ không cho gặp mà còn chửi vào mặt họ". Về thiền tông: "Tao đã gửi thiền tông vào một phong bì tối khẩn đề địa chỉ của bất cứ ngôi chùa nào trên thế giới". Về dạy học và các văn sĩ cùng thời: thời gian tao học ở Hoa Kỳ, tao đã bỏ học vì tao thấy những trường đại học mà tao học như Yale, Columbia chỉ toàn là nơi sản xuất những thằng ngu xuẩn, ngay đến giáo sư của tao chỉ là những thằng ngu xuẩn nhất đời, tao có thể dạy họ hơn là họ dạy tao...Bây giờ nếu có Phật Thích Ca hay Chúa Giê Su hiện ra đứng giảng trước mặt tao, tao cũng không nghe theo nữa. Tao là học trò của tao và chỉ có tao làm thầy cho tao. Tao không muốn làm thầy ai hết và cũng không để ai làm thầy tao. Còn các văn sĩ ở Sài Gòn, đọc các bài thơ của các anh, tôi thấy ngay sự nghèo nàn của tâm hồn anh, sự quờ quạng lúng túng, sự lặp đi lặp lại vô ý thức hay có ý hức: trí thức "mười lăm xu", ái quốc nhân đạo "ba mươi lăm xu", triết lý tôn giáo "bốn mươi lăm xu".[6] Ngoài ra cũng có thể nhắc đến những quan niệm của ông về tiếng Việt: "Không cần phải đọc Platon, Aristote, Kant, Hegel hay Karl Marx, không cần phải đọc Khổng Tử và Lão Tử, không cần phải đọc Upanishads và Bhagavad Gita, chúng ta chỉ cần đọc lại ngôn ngữ Việt Nam và nói lại tiếng Việt Nam và bỗng nhiên nhìn thấy rằng tất cả đạo lý triết lý cao siêu nhất của nhân loại đã nằm sẵn trong vài ba tiếng Việt đơn sơ như CON và CÁI, như CHAY, CHÁY, CHÀY, CHẢY, CHẠY và còn biết bao nhiêu điều đáng suy nghĩ khác mà chúng ta đã bỏ quên một cách ngu xuẩn.” [7] “ Việt là gì? Tính là gì? Hai câu hỏi này không phải là câu hỏi; tất cả mọi câu hỏi đều có sẵn mọi câu trả lời. Tính và Việt làm cho những câu hỏi trở thành những câu hỏi; Tính và Việt là chân trời mở rộng hé mở cho con người nhìn thấy tất cả những câu hỏi và đồng thời tất cả những câu trả lời, tất cả những gì có thể hỏi được và đồng thời tất cả những gì có thể trả lời được trên cuộc đời này, từ thượng cổ đến hiện tại, từ số không đến vô số và vô hạn. Nước Việt Nam đang bị tàn phá đến cùng độ, dân Việt Nam bỗng nhiên và tự nhiên được tính phú cho chịu đựng và thể nhận tất cả nỗi điêu đứng đau đớn cùng cực của thế kỷ XX; năm chục năm cuối cùng của 2.000 năm sau Thiên chúa giáng sinh là thuộc về Mệnh của Việt Nam: tất cả những xáo trộn hỗn mang kinh hoàng nhất của nhân loại đang đập vào người Việt Nam; hố thẳm mở rộng và sâu; máu lửa từ trời đất đổ xuống và vọt lên; tất cả những khám phá vĩ đại nhất của văn hóa loài người từ mấy ngàn năm nay bỗng nhiên và tự nhiên được thể nhận tựu hình tại Việt Nam (Cộng sản và Tư bản; Phật giáo và Thiên chúa giáo, tôn giáo và chính trị, quốc tế và dân tộc, cơ khí và con người, lý thuyết và hành động, truyền thống và cách mạng, thiên mạng và nhân mạng, tự do và nô lệ, bạo động và bất bạo động, chiến tranh và hòa bình, thực tại và ảo tưởng, sự thật và giả tạo, nhập thế và xuất thế, xã hội và tu viện; cá nhân và quần chúng, lý tưởng và tuyệt vọng, mộng và thức, sống và chết). ” —Im lặng hố thẳm Quan điểm về triết học và khoa học: “ Triết lý là hỏi; triết học là hỏi về hỏi; trong chữ triết khi chiết tự, ta thấy có chữ khẩu; khẩu là miệng, miệng dùng để nói; nói là hỏi (và trả lời). Không bao giờ trả lời nếu không ai hỏi. Chỉ trả lời là khi có hỏi đi trước. Triết lý là hỏi; khoa học là trả lời. Khoa học là gì? Đây là câu hỏi: khoa học không thể trả lời câu hỏi này, bởi vì đây là câu hỏi về khoa học; mà bản chất của khoa học là chỉ trả lời; mà trả lời thì chỉ trả lời khi người khác hỏi; khoa học không thể hỏi khoa học, vì hỏi khoa học là phản bội khoa học, là không phải khoa học. Phận sự triết lý là hỏi; phận sự khoa học là trả lời. Người ta thường nói: Hỏi tức là trả lời. Câu ấy có nghĩa là triết lý bao trùm cả khoa học. Triết lý là bóng tối; khoa học là một ngọn đèn cầy yếu ớt; bóng tối vây phủ ngọn đèn, nhưng bóng đèn leo lét bắt đầu chiếu rọi ánh sáng yếu ớt lên không gian. Ánh sáng trả lời bóng tối. Bóng tối kêu gọi ánh sáng; bóng tối hỏi, ánh sáng liền trả lời. Ánh sáng chỉ là ánh sáng là nhờ vào bóng tối; ngược lại, bóng tối không thể nhờ vào ánh sáng; vì nếu bóng tối là nhờ vào ánh sáng thì ánh sáng sẽ phá hủy bóng tối và bóng tối sẽ không còn gọi là bóng tối nữa. Bóng tối là bóng tối, nhưng ánh sáng chỉ là ánh sáng là nhờ bóng tối; mặt trời chỉ là mặt trời là nhờ nằm trong không gian đen tối vô tận. Triết lý là hỏi. Triết học là hỏi về hỏi. Khoa học là trả lời câu hỏi của triết lý, nhưng không thể trả lời về câu hỏi về câu hỏi; vì nếu trả lời về câu hỏi về câu hỏi, thì sẽ bị triết lý hỏi về câu trả lời của khoa học về câu hỏi về câu hỏi; lúc bấy giờ khoa học lại trả lời nữa; nhưng câu trả lời này lại bị hỏi nữa. Cứ như thế mà đi mãi, từ hỏi đến trả lời, từ trả lời đến hỏi, cho đến vô tận, vô cùng không bao giờ dứt được, áp dụng infinitum. Như thế cả triết lý và khoa học đều rơi vào ngõ cụt, ngõ bí, không lối thoát. ” —Hố thẳm của tư tưởng Thơ Tuy làm thơ ít nhưng Phạm Công Thiện thường coi mình là nhà thơ hơn những nghề khác[8]. Ngôn ngữ trong thơ của ông không có vẻ ngông cuồng như trong tuỳ bút và văn xuôi. Một số bài của ông đựơc yêu thích, như Ngày sinh của rắn, là một bài thơ dài với nhiều đoản khúc. Trích đoạn sau đây: mười năm qua gió thổi đồi tâytôi long đong theo bóng chim gầymột sớm em về ru giấc ngủbông trời bay trắng cả rừng câygió thổi đồi tây hay đồi đônghiu hắt quê hương bến cỏ hồngtrong mơ em vẫn còn bên cửatôi đứng trên đồi mây trổ bônggió thổi đồi thu qua đồi thôngmưa hạ ly hương nước ngược dòngtôi đau trong tiếng gà xơ xácmột sớm bông hồng nở cửa đông rất nổi tiếng và đã được Lê Uyên Phương phổ nhạc thành bài hát "Tôi đứng trên đồi mây trổ bông". Sau khi nghiên cứu về "Tam giáo đồng nguyên" thì phải "Phá chấp" - tất cả, mọi thứ kể cả Kinh Thánh... viết lằng nhằng, toàn là những thứ nhai đi nhai lại lại một số thành quả nhỏ nhoi của lịch sử mà người khác đã viết và thân xác của họ đã chết cách đó mấy thiên niên kỷ rồi (3.000 năm), sau đó lại "Chấp trong điều độ" nhưng phải sử dụng "bí pháp siêu nhiệm" - nền tảng của nó là học thuyết Âm dương Ngũ hành, để rèn luyện và xây dựng nên "thuộc tính toàn thể" ->>> giải thoát, hết... và cho đến khi Vũ trụ tan rã thì đồng nguyên, nhất thể... và cuộc chơi của Vũ trụ lại bắt đầu 1 chu kỳ mới không còn TA. Cái siêu việt của học thuyết Âm Dương Ngũ Hành là giải quyết được cái vô tận, không giới hạn trong cái hữu hạn do "tính tuyệt đối": hiểu được cái này các loại Kinh thánh vứt hết.
-
NHÀ MINH CƯỚP SÁCH CỦA TA ĐEM VỀ TÀU This entry was posted on Tháng Mười 1, 2012, in Lịch sử Việt Nam and tagged nhà minh, Đại Việt. Bookmark the permalink. Để lại phản hồi Phạm Cao Dương Trong Khởi Hành số 90, tháng 4 năm 2004, dưới nhan đề “Từ Lĩnh Nam Chích Quái Đến Các Tài Liệu Bị Quân Minh Tịch Thu Đem Về Tàu”, tôi đã viết một bài về việc người Tàu tịch thu sách của ta. Vì bài viết quá ngắn và vì tôi không chỉ rõ các nguồn tài liệu nên sau đó nhiều người thắc mắc. Trong số những vị này, có người là độc giả thuần túy, có người là sinh viên cũ của tôi và cũng có người là học giả có uy tín và rất khả kính. Bác Sĩ Trần Văn Tích là một trong các học giả uy tín và rất khả kính này. Trần Bác Sĩ đã bỏ công viết hẳn một bài đăng với nhan đề “Chuyện Người Tàu Lấy Sách Của Ta” trên Khởi Hành số 92, tháng 6 năm 2004 sau đó và gián tiếp đặt câu hỏi với tôi. Vốn ngưỡng mộ Bác Sĩ từ lâu nhờ đọc các công trình khảo cứu của ông, đồng thời lại có dịp gặp ông dù chỉ thoáng qua khi ông tới thăm Quận Cam và Viện Việt học sau đó nên tôi thấy cần phải viết bài này để được làm quen với ông, đồng thời giải đáp đôi chút những thắc mắc của các độc giả mà tôi đã nhận được. Gốc gác của bài viết này là như vậy. Nhưng năm 2004 khác với năm 2012. Năm 2004 hiểm họa xâm lăng nước ta của người Tàu chưa lộ rõ và chưa thật sự nguy hiểm như trong năm 2011 và bây giờ là năm 2012. Cập nhật hóa và phổ biến những gì tôi thấy được cho bạn bè nói riêng và cho tuổi trẻ Việt Nam nói chung là một điều tôi thấy nên làm mặc dầu tôi vẫn muốn kiếm thêm tài liệu để viết thêm nhiều nữa. Phải nói là chuyện tôi viết bài đăng trên Khởi Hành số 90 kể trên cũng là do tôi đọc Khởi Hành số 89 y hệt Bác Sĩ Trần Văn Tích viết bài đăng trên Khởi Hành số 92 vì ông đọc Khởi Hành số 90. Có điều sự thắc mắc của tôi về chuyện người Tàu tịch thu hết các sách vở của ta đem đốt hết hay đem về Tàu là có từ lâu. Thắc mắc nhưng đồng thời cũng là một nỗi ấm ức, bực bội, đau đớn, xót xa, tủi nhục, đặc biệt là mỗi khi tôi có việc phải tìm hiểu về hai thời Lý Trần, hai triều đại đã đóng góp rất nhiều cho vinh quang của xứ sở và của dân tộc mình. Tôi biết nỗi ấm ức, bực bội, đau đớn, xót xa, tủi nhục của tôi cũng là của chung của cả dân tộc tôi, dù cho là tôi đang làm công chuyện tìm hiểu và nghiên cứu. Tôi cũng biết tìm hiểu và nghiên cứu là phải có cái đầu lạnh chừng nào hay chừng ấy, càng lạnh càng tốt, nhất là nghiên cứu về quá khứ, nhưng dù muốn hay không tôi vẫn là người Việt Nam. Có lẽ tôi không theo kịp Trần Quân ở điểm này. Có điều những gì tôi viết ra chỉ là một gợi ý và gợi ý về những sách vở và tài liệu liên hệ tới nước Đại Việt đương thời do chính người Đại Việt viết, trong đó có học thuật, tư tưởng, phong tục, tập quán, sử ký, địa lý và tất nhiên gồm cả văn chương, thi ca…, những gì có thể giúp cho người thời đó và người sau này tìm hiểu về nước Đại Việt và dân tộc Đại Việt. Những sách vở, tài liệu này tôi tin là nhiều lắm, nhiều hơn là những gì ta hiện có, cộng thêm với những gì được liệt kê trong danh sách những sách đã mất mà các cụ ta sau này còn nhớ được và viết lại trong sử sách do các cụ viết. Tôi dám tin là như vậy vì đây là cả một kho tàng tổ tiên ta đã tạo dựng được trong suốt bốn trăm năm thịnh trị nhất của lịch sử dân tộc mình. Tôi cũng dám tin như vậy vì trong bài tựa củaViệt Âm Thi Tập, sưu tập thơ của thời Lý-Trần và thời Lê Sơ do Phan Phu Tiên khởi đầu và Chu Xa thực hiện, Lý Tử Tấn đề tựa. Cả ba đều là người đương thời. Những sụ hiểu biết của các ông còn rất nóng. Phan Phu Tiên đậu Thái Học Sinh năm 1396 đời Vua Trần Thuận Tông, Lý Tử Tấn đậu đồng khoa Thái Học Sinh với Nguyễn Trãi, khoa Canh Thìn (1400) triều Nhà Hồ, còn Chu Xa thì trẻ hơn một chút vì sách được soạn xong năm 1459 dưới triều Vua Lê Nhân Tông, tiếp nối công trình của Phan Phu Tiên hoàn thành năm 1433, niên hiệu Thuận Thiên triều Vua Lê Thái Tổ nên những gì các ông biết về sách vở, thi ca của hai Triều Lý và Trần phong phú đến mực nào cũng như hành động tịch thu sách của người Việt của Nhà Minh là như thế nào. Lý Tử Tấn trong bài tựa củaViệt Âm Thi Tập cho biết là sau cơn binh lửa, số thơ còn lại chỉ được một hai phần nghìn. Nguyên văn như sau: “… Như các vua Triều Trần là Thánh Tông, Nhân Tông, Minh Tông, Nghệ Tông, cùng là Chu Tiều Ẩn tiên sinh (Chu An), các ông họ Phạm ở Hiệp Thạch (Phạm Sư Mạnh), họ Lê ở Lương Giang (Lê Quát), Nguyễn Giới Hiên (Nguyễn Trung Ngạn) và anh em ông Phạm Kính Khê (Phạm Tông Mại, Phạm Ngộ) đdều có tập thơ riêng lưu truyền ở đời. Về sau, vì binh lửa, số thơ còn lại chỉ được một hai phần nghìn.” Điều cần phải để ý là đây mới chỉ là thơ mà thôi. Sự thịnh trị này đã được chính Minh Thái Tổ ghi nhận khi ông ban cho sứ thần của ta bốn chữ Văn Hiến Chi Bang vào năm 1368 và Trần Nguyên Đán (1325 – 1390), cha vợ của Nguyễn Phi Khanh hay ông ngoại của Nguyễn Trãi đã miêu tả qua câu thơ bất hủ “Triệu tính âu ca lạc thịnh thì” (trăm họ vui ca mừng thời thịnh trị). Cái gì đã làm cho Đại Việt là một nước văn hiến? cái gì đã làm cho trăm họ Đại Việt âu ca lạc thịnh thì? Cái gì đã làm cho một nước nhỏ bằng bàn tay thắng được quân nhà Tống và luôn cả quân Mông Cổ, điều thượng quốc của người Việt trong nhiều thế kỷ và luôn cả hiện tại, tôi muốn nói là chính nước khổng lồ Trung Quốc, không làm được? Đó phải là những câu hỏi mọi người nghiên cứu về thời này phải tìm hiểu để trả lời. Những sách vở do người Đại Việt đương thời biên soạn hay sáng tác chắc chắn là những nguồn hiểu biết vô cùng quan trọng về đất nước và con người Đại Việt mà những ai, kể cả người Tàu đương thời, có nhu cầu tìm hiểu hay chỉ vì vì tò mò, cũng muốn đọc và lưu giữ. Nếu quả như vậy thì phần nào những sách vở, tài liệu này vẫn chưa bị mất và vẫn còn nằm đâu đó bên Tàu, dưới hình thức này hay hình thức khác, nếu kiên trì tìm kiếm và có phương pháp tìm kiếm, người ta vẫn có thể thấy lại được. Tất nhiên là với tất cả sự dè dặt tối thiểu mà một nhà sưu tầm, khảo cứu cần phải có. Ý được gợi ra nhưng câu trả lời đầu tiên được ghi nhận gần như là không tưởng vì nếu cứ nhất định căn cứ vào tài liệu của thời đó để lại thì làm gì có chuyện người Tàu lấy sách của ta đem về Tàu. Minh Thành Tổ trong hai đạo sắc dụ của ông có hạ lệnh cho tướng lãnh, quân binh của ông đem về Tàu đâu. Câu trả lời của tôi là căn cứ vào các sách sử của ta. Tôi có thể chưa có dịp đọc hết các sách vở, tài liệu có thể chứa những chi tiết về chuyện này, nhưng trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, chính sử của nhà Nguyễn và trước đó, Lê Quý Đôn (1726 – 1784) trong Lê Triều Thông Sử đã viết rất rõ điều này. Trước hết, trong Lê Triều Thông Sử, phần “Nghệ Văn Chí,” Lê Quý Đôn có viết: ”Đến đời Nhuận Hồ mất nước, tướng nhà Minh là Trương Phụ lấy hết sách vở cổ kim của ta gửi theo đường sông về Kim Lăng.” Còn trongKĐVSTGCM, phần Chính Biên, quyển XXXIII, sau phần nói về việc vua nhà Minh cho in các sách Tứ Thư, Ngũ Kinh và Tính Lý Đại Toàn và sai Giám Sinh Đường Nghỉa sang nước ta ban phát cho những người Nho học có chép thêm”Còn các sự tích và sử sách của nước ta từ đời Trần trở về trước đều tịch thu đưa về Kim Lăng.” Gần ta hơn, Trần Quốc Vượng, giáo sư sử học thuộc Viện Đại Học Quốc Gia Hà Nội, trong tuyển tập nhan đề Văn Hóa Việt Nam, Tìm Tòi và Suy Gẫm cũng viết ”Cướp được nước ta, trong 20 năm trời bên nền đô hộ hà khắc về chính trị, vơ vét tham tàn về kinh tế, giặc Minh đã thi hành một chính sách hủy diệt độc ác về văn hóa, giặc Minh đã quyết tâm đập cho tan nát những cơ cấu văn hóa dân tộc xây dựng suốt hơn 400 năm, chủ yếu dưới thời Lý – Trần. Vua Minh đã trực tiếp ra mật lệnh cho bọn tướng xâm lăng khi tiến quân vào nước ta, thấy bất cứ cuốn sách vở nào, gặp bất cứ tấm bia đá nào đều phải thiêu hủy, đập phá hết. Tên tướng Trương Phụ lượm lặt hết các sách vở cổ kim của ta, đóng thùng chở về Kim Lăng. Tháng 7 năm Mậu Tuất (1418 ), nhà Minh còn sai tiến sĩ Hạ Thì và hành nhân Hạ Thanh sang tìm tòi và thu lượm tất cả những sách chép về lịch sử và sự tích xưa nay do người Việt viết. Năm 1419, nhà Minh lại cho người đem sách Khổng giáo, Đạo và Phật giáo của Trung Quốc sang thay thế cho những sách trước kia chúng lấy đi. Chính sách hủy diệt văn hóa thâm độc đó đã phá hoại gia tài văn hóa, tinh thần của dân tộc ta không phải là ít. Nếu không, cái gia tài văn hóa, văn học tư tưởng thời Lý Trần để lại sẽ phong phú biết chừng nào!” Tất nhiên các nhà nghiên cứu thận trọng vẫn có thể nói rằng những ghi chú kể trên đều là bởi những người của nhiều thế kỷ sau này viết nên vẫn chưa đủ thuyết phục, và ta vẫn cần phải có thêm bằng chứng. Thực sự thì ta không biết Lê Quý Đôn rồi sau này các nhà san định bộKĐVSTGCM đã căn cứ vào đâu để ghi chép như trên. Có thể các vị này đã căn cứ vào Lê Quý Đôn còn Lê Quý Đôn thì căn cứ vào những gì ông đọc được và nghe được từ những người của thời trước ông. Chúng ta cần ghi nhớ là Lê Quý Đôn là người chịu khó tìm tòi, học hỏi. Ông đã đọc rất nhiều và rất rộng và ghi chép rất cẩn thận. Còn Trần Quốc Vượng thì đã không nêu rõ các nguồn sử liệu ông đã dùng. Nhưng sử gia này cũng là người làm việc rất tỉ mỉ và có phương pháp nên chắc chắn đã không đưa ra những ghi nhận về sự kiện kể trên một cách hồ đồ vô căn cứ. Dù sao, một khi nghi vấn đã được đưa ra, ta vẫn cần phải truy tầm vừa bằng tài liệu nếu có và vừa bằng suy luận cặn kẽ chừng nào hay chừng nấy. Trước hết ta hãy đọc lại những phần chính liên hệ tới vấn đề sách vở của người Việt trong ba sắc chỉ của Minh Thành Tổ được ghi trong Việt Kiệu Thư, được dịch và in lại trong Thơ Văn Lý Trần,công trình được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu có uy tín và đáng tin cậy của Việt Nam trong thế kỷ trước, để thấy lại phần nào chi tiết liên hệ, nhất là sắc chỉ thứ hai, ban hành vào ngày 16 tháng 6 năm 1407, theo đó thì vị hoàng đế này đã nhiều lần bảo các tướng sĩ của ông ta là phải hủy diệt lập tức những sách vở của người Việt này, nhưng các tướng lãnh của ông đã không ra lệnh đốt ngay, lại để xem xét rồi mới đốt. Còn quân lính thì phần đông không biết chữ…thì khi “đài tải” sẽ bị mất mát nhiều. Tại sao lại “đài tải”? Tại sao lại lo mất mát nhiều? Đến sắc chỉ thứ ba ban hành ngày 24 tháng 6 năm 1407, Minh Thành Tổ lại ra lệnh cho các tướng lãnh của ông phải cấp tốc thu hồi những văn kiện ông ban hành từ trước: “Nay An-nam đã bình định xong [...] trừ các loại chế dụ ra, còn thì tất cả các đạo sắc viết tay và các ký sự thư thiếp, đã từng phát đi từ trước, cùng với sổ ghi chép mà Thành Quốc Công đã lĩnh hoặc các thứ [sổ sách] trù nghị mọi chuyện, đều phải đem toàn số kiểm kê, đối chiếu, niêm phong cẩn mật, gửi trả lại, không cho lưu lại một chữ. Nếu có một chữ bỏ lại rơi vào tay bọn kia thì rất bất tiện.” thì người ta thấy sự kiện đã quá rõ rệt là lệnh của vua Nhà Minh đã không được triệt để thi hành và các sách vở quân Minh thu được đã không bị đốt bỏ hết. Một số khác trên đường đài tải đã bị mất mát rất nhiều. Ngoài ra, ngoài ba dụ chỉ hiện được người ta biết tới, chắc chắn còn nhiều văn kiện mật khác hoặc đã được niêm phong gửi lại triều đình Kim Lăng, hoặc đã bị hủy bỏ trong thời điểm này. Chúng chứa đựng những gì hiện tại chúng ta chưa biết được. Do đó nếu chúng ta chỉ căn cứ vào sắc chỉ thứ nhất (được nói tới trong Thơ Văn Lý-Trần), ban hành ngày 21 tháng 8 năm 1406, cho Chu Năng kể trên, mà bảo rằng không hề có chuyện người Minh đem sách vở của ta về Tàu, tôi e rằng quá vội vã. Chúng ta chỉ có thể biết rõ hơn chừng nào kiếm ra được những tài liệu mật này. Đây gần như là một việc mò kim đáy biển. Tuy nhiên còn có những lý do khác khiến ta có thể viện dẫn được. Thứ nhất là tính tò mò của các tướng sĩ nhà Minh, một tính tự nhiên và phổ quát của con người mà họ không tránh được, đặc biệt ở những người có học khi họ kiếm được những sách nói về những điều họ đã học, ở đây tôi muốn nói tới các sách về Tam Giáo đặc biệt là sách của Hồ Quý Ly và của Chu Văn An, chưa kể tới hoàn cảnh họ phải sống xa nhà. Thứ hai là các nhu cầu quân sự, hành chánh và bình định. Các tướng sĩ trong ban tham mưu của Chu Năng và sau này của Trương Phụ và các nhà hành chánh sau này nữa chắc chắn phải thu thập bất cứ tài liệu gì họ thu thập được, phân tích nghiên cứu chúng một cách tỉ mỉ để hiểu rõ kẻ địch của họ và của dân bản địa mà họ phải bình định và cai trị. Nghiên cứu rồi sau đó đem theo mình và giữ lại làm của riêng là một việc làm tự nhiên của họ; còn triều đình nhà Minh thì ở xa, làm sao có thể theo dõi chặt chẽ được. Câu hỏi kế tiếp người ta có thể nêu lên là cho đến những ngày hiện tại đã có tác phẩm nào của người Việt sau nhiều thế kỷ luân lạc đã được người ta khám phá ra dưới hình thức này hay hình thức khác chưa? Câu trả lời là có. Đó là Việt Sử Lược và Thiền Uyển Tập Anh. Hai cuốn sách này xuất hiện từ thời nhà Trần và đã được người sau chép hay viết lại.Việt Sử Lược đã bị thất truyền rất lâu, mãi đến thời Càn Long nhà Thanh (1736 – 1795) mới được đem in, nói là theo bản của tuần phủ Sơn Đông thu nhặt được đem dâng lên vua với người hiệu đính là Tiền Hi Tộ, người Giang Tô, người đã san định bộ Thủ Sơn Các Tùng Thư. Việt Sử Lượcđược lưu trữ ở Thủ Sơn Các Tùng Thư và ở Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư của nhà Thanh và đã được nhiều nhà xuất bản Trung Quốc ấn hành. Giáo Sư Trần Quốc Vượng đã phiên dịch sang Việt ngữ, giới thiệu và chú giải. Trong bản dịch này Trần Quốc Vượng có nói tới Thiền Uyển Tập Anh khi ông bàn về việc các người họ Lý bị đổi thành họ Trần, nhưng đến Lê Mạnh Thát thì sau khi đối chiếu nội dung của Thiền Uyển Tập Anh với An Nam Chí Nguyên, nhà học giả Phật giáo uyên thâm này đã khẳng định là: “Khi quân Minh đánh chiếm được nước ta vào năm 1407, Thiền Uyển Tập Anh đã bị chúng thu gom và sau này được dùng một phần để viết An nam chí nguyên.” Trên đây là những gì tôi ghi tạm để cấp thời chia sẻ với mọi người, đặc biệt là giới trẻ khi hiển họa mất nước của dân tộc ta trước những mưu toan vừa công khai vừa tiệm tiến và vô cùng thâm độc của người Tàu đang diễn ra ở cả ngoài biển đảo lẫn trên đất liền, ở dọc biên giới với những khu rừng đầu nguồn, trên cao nguyên cũng như dưới đồng bằng dọc theo bờ biển từ Móng Cái đến Cà Mau, đối với đất đai cũng như đối với con nguời. Tất cả đã trở thành một một mối ưu tư và một đề tài vô cùng nóng hổi cho những ai còn lưu tâm tới tiền đồ của tổ quốc và tương lai của con cháu mình cũng như trách nhiệm của mình đối với tổ tiên, đồng bào và hàng triệu chiến sĩ ở cả hai bên đã hy sinh trong cuộc chiến kéo dài ba mươi năm vừa qua nhân danh bảo vệ đất nước . Bài viết, do đó, chắc chắn còn nhiều thiếu sót và sơ hở. Tôi sẽ xin bổ túc khi có dịp. Riêng về giá trị văn chương của thi phú của ta thì tôi không dám lạm bàn vì sự hiểu biết và khả năng của tôi về khía cạnh này không đủ. Nếu tôi có đọc các tác phẩm thuộc loại này thì chỉ là để tìm hiểu về các thời kỳ hay các nhân vật liên hệ tới lịch sử. Tuy nhiên nếu người Tàu có làm chuyện hủy diệt hay chép lại hay viết lại sách hay đạo văn của ta khi họ xâm lăng nước ta vào đầu thế kỷ XV thì họ chỉ nhằm triệt tiêu khả năng tinh thần, lòng tin tưởng và hãnh diện của dân tộc ta để phòng ngừa hậu họa, không phải chỉ ở thời điểm xâm lăng hay đô hộ mà vĩnh viễn sau này nữa. Đây là một chính sách vô cùng tàn độc nếu ta dùng tữ ngữ chung của nhiều người khi nói tới hay viết về giai đoạn lich sử này của dân tộc và của đất nước ta. Một chính sách không phải chỉ phát xuất từ tham vọng Đại Hán mà còn có thể được coi như phản ảnh của một mặc cảm, một sự sợ hãi lo âu trước sự thành công không thể ngờ được của Đại Việt trước sự thất bại của Thiên Triều Trung Quốc, một chính sách và một hành vi nếu được thực hiện vào thời điểm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI hiện tại, quốc gia chủ trương sẽ phải chính thức và long trọng xin lỗi. Có điều người ta cần phải ghi nhớ là người Tàu luôn luôn kiêu căng, tự coi nước mình là một nước lớn là duy nhất văn minh, chung quanh họ đều là man di mọi rợ, Việt Nam hay Đại Việt đi chăng nữa cũng chỉ là man, Nam Man, nằm ngoài rìa của Hoa Hạ, của Trung Hoa thời Dân Quốc, của Trung Quốc thời Cộng Sản hiện tại…Những chiến thắng của người Việt trong các thời Lý Trần, đặc biệt là chiến thắng chống quân Mông Cổ trong khi người Tàu thực hiện không nổi là những gì họ không chấp nhận được. Còn nếu vị Hoàng Đế sáng lập nên Triều Đại Nhà Minh là Minh Thái Tổ ban cho sứ Đại Việt bốn chữ Văn Hiến Chi Bang, vô tình ông đã khai tử cả một nền văn hóa riêng của Đại Việt mà đao phủ là hậu duệ của ông, Minh Thành Tổ. Là người sáng lập nên một triều đại mới, Minh Thái Tổ có thể có một cái nhìn rộng rãi bao dung nhưng những người kế vị ông coi đó là một sự xúc phạm đến thiên triều khi chính tình của nhà Minh đã ổn định. Cuối cùng ta cũng không nên quên là kiêu căng nhưng người Tàu vẫn luôn mở cửa để thu góp chất xám từ các xứ chung quanh bằng cách đòi hỏi các xứ này phải cống những người tài giỏi khi các nước này còn độc lập hoặc ruồng bắt những người này khi các nước họ bị xâm lăng hay đô hộ đem về Trung Quốc. Điều này đã xảy ra trong thời quân Minh xâm lăng nước ta khi vua Minh hạ lệnh cho Trương Phụ và các tướng tá của ông này “tìm tòi dò hỏi những người ẩn dật ở núi rừng, có tài, có đức, thông suốt năm kinh, văn hay, học rộng, thạo việc, am hiểu thư toán, nói năng hoạt bát, hiếu đễ, chăm làm ruộng, tướng mạo khôi ngô, gân sức cứng rắn, cùng những người hiểu biết nghề cầu cúng, làm thuốc, xem bói, dều đưa sang Kim Lăng, sẽ trao cho quan chức, rồi cho về trấn trị các phủ, châu huyện”. Lệnh này phải được hiểu là nhằm thâu góp nhân tài của Đại Việt để phục vụ cho thiên triều ở Trung Quốc hơn là để sau này cho về phục vụ trong ngành hành chánh ở Đại Việt vì nếu cho họ phục vụ ngay tại Đại Việt, cần gì phải đưa họ về Kim Lăng, đường xá vừa xa xôi, vừa tốn kém, vừa nguy hiểm. Đưa về phục vụ ở Đại Việt chỉ là miếng mồi không hơn, không kém, giữ họ lại Trung Quốc để khai thác mới là chính. Một trường hợp điển hình cho chính sách tom góp và thu dụng nhân tài của nhà Minh đương thời là trường hợp của Hồ Nguyên Trừng, con trưởng của Hồ Quý Ly. Bị bắt đưa về Tàu nhưng Nguyên Trừng đã không bị ghép tội và bị xử cực hình vì ông đã bằng lòng đem tài riêng của mình, tài chế súng thần cơ, và sự hiểu biết của mình về tình hình Đại Việt ra giúp cho nhà Minh hay cung cấp cho nhà Minh những chỉ dẫn cần thiết để diệt nhà Hậu Trần, trái lại, ông đã được trọng dụng, làm quan đến chức á khanh, công bộ tả thị lang và đã được pháo binh Trung Quốc thời đó kính trọng và sau này tế như là thánh tổ của họ. Nói cách khác, người Tàu luôn luôn có chính sách thu góp mọi thứ ở chung quanh về làm giàu cho xứ họ. Đối với họ, nước họ phải là nhất, các nước chung quanh không được phép hơn họ. Do đó cái gì có giá trị họ thu góp hết, trong đó có sự hiểu biết, có sách vở, có các sản phẩm nghệ thuật, có văn chương, thơ phú… Thu góp và để nguyên như vậy hay sửa đổi đi nhưng tất cả đều phải trở thành di sản văn hóa riêng của họ, điều sau này họ tiếp tục làm, người Nhật cũng làm và người Mỹ, người Anh, người Pháp cũng làm; nhưng ở không thời nào, không người nào có mưu toan thâm độc và tàn bạo như người Tàu dưới thời nhà Minh xâm lăng Đại Việt. Hậu quả là từ sau thời Minh thuộc, người Việt không bao giờ có được những vinh quang đáng nể đối với người ngoài, đáng hãnh diện cho chính mình như thời trước đó nữa./. Kỷ niệm Ngày Giỗ Trận Đống Đa năm Nhâm Thìn 2012
-
Dẹp Đàn Xã Tắc như bỏ bàn thờ tổ tiên Thứ Ba, 23/04/2013, 03:45 PM (GMT+7)Sự kiện: Hà Nội xây cầu vượt qua Đàn Xã Tắc "Nếu nói tâm linh là ở trong tâm thức của con người, thì trong nhà bỏ bàn thờ đi" - Nhà sử học Dương Trung Quốc nói. Ông Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký Hội Sử học Việt Nam, Đại biểu Quốc hội trao đổi về đề xuất bỏ Đàn Xã Tắc để xây cầu vượt tại ngã năm Ô Chợ Dừa (Hà Nội). Hiệp hội Vận tải Hà Nội đề xuất xây cầu vượt qua Đàn Xã Tắc. Người đại diện của Hiệp hội này cho rằng, xóa đi Đàn Xã Tắc cuối thời Lê là xóa đi hình ảnh chế độ phong kiến mục nát trong tâm thức người dân. Là một người nghiên cứu lịch sử, ông nghĩ gì? Đáng tiếc rằng, ý kiến đó của người đang có trách nhiệm, vị trí, tác động đến đời sống xã hội. Điều đó cũng phản ánh phần nào đời sống văn hóa người Việt chúng ta, thực dụng đến mức có thể quên tất cả làm lợi cho mình. Thưa ông, Hiệp hội này cũng cho rằng, Đàn Xã Tắc có thể là phế tích của một triều đại phong kiến đã bị phá hủy, biến mất mà không ai đoái hoài, ghi nhớ. Đây cũng không phải là khu tâm linh trời và đất của đất nước ta. Tâm linh là ở trong tâm thức của con người? Đàn Xã Tắc là nơi tế thần đất và thần nông, hằng năm vua đứng lên thay mặt nhân dân tế. Đó là nghi thức truyền thống hàng nghìn năm. Nếu nói tâm linh là ở trong tâm thức của con người, thì trong nhà bỏ bàn thờ đi. Nhà ai cũng vậy, bao giờ nơi rộng nhất cũng là để bàn thờ tổ tiên. Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Nếu nói tâm linh là ở trong tâm thức của con người, thì trong nhà bỏ bàn thờ đi" (Ảnh: Vietnamnet) Thưa ông ở khu vực khai quật trước đây và hiện nay được bảo vệ bởi các đảo giao thông đã đủ xác định phạm vi của di tích chưa hay còn rộng hơn nữa? Chúng ta biết rằng, tên gọi Đàn Xã Tắc là một không gian thu nhỏ để thực hành nghi lễ. Nhưng chúng ta phát hiện năm 2006 khi triển khai thực hiện đường vành đai 1 đi qua khu vực Kim Liên. Nên giải pháp được chọn lúc ấy là giải quyết tình huống, chưa khai quật hết. Phương án lúc đó cũng chấp nhận chỉ để lại một không gian nhất định, vừa bảo đảm giao thông, vừa giữ được một phần di tích. Sau này, không loại trừ một ngày nào đó khai quật lại. Chúng tôi cho rằng, quá trình phát hiện, khai quật, xử lý Đàn Xã Tắc đã quan tâm đến nhu cầu phát triển xã hội không phải rằng “hậu cổ hoàng kim”. Giải pháp lúc đó rõ ràng, mọi người đều có thể chấp nhận được. Theo ông, nếu xây cầu vượt qua Đàn xã tắc có xâm phạm di tích và vi phạm luật di sản không? Tôi không thể khẳng định được bởi tôi chưa biết thông tin, quy mô, vị trí xây cầu. Tôi cũng là thành viên của Hội đồng di sản quốc gia nhưng chưa được biết, UBND Thành phố Hà Nội chưa xin ý kiến. Đàn Xã Tắc là di tích lịch sử quốc gia, được Luật Di sản bảo hộ. Khi xây bất cứ công trình nào ở đây, phải theo pháp luật. Nếu có khó khăn tìm giải pháp, có thể tham khảo ý kiến các nhà chuyên môn, trong đó, có cả những nhà chuyên môn về khoa học xã hội và nhân văn. Gần đây, vì sao công chúng phản ứng? Vì công chúng chỉ biết, nơi linh thiêng lại xây cầu vượt, nên phản ứng là đương nhiên. Muốn được sự ủng hộ của nhân dân, cần công khai xem cầu vượt đi như thế nào? Rõ ràng, Hà Nội chưa mấy quan tâm đến ý kiến quần chúng. Nếu không vì công trình giao thông, hòn đá "ghi dấu mốc" Đàn Xã Tắc này có thể được thay bằng một công trình thờ tự Nhưng hiện nay, vấn đề ùn tắc giao thông trở nên cấp bách. Bên cạnh bảo tồn di tích, cũng cần phải giải tỏa nỗi khổ ùn tắc cho người dân? Giao thông có liên quan đến không gian địa lý, đời sống người dân, quy hoạch thành phố... Ai cũng biết, ở khu vực ấy đang có ùn tắc, ngay cả tên gọi Ô Chợ Dừa là cửa ngõ Thủ đô xưa, chứng tỏ đây là đầu mối giao thông quan trọng. Người dân cần chia sẻ với nhà nước giải quyết vấn đề giao thông nhưng có phải chỉ có cách duy nhất xây cầu vượt không? Cầu vượt có tác dụng của nó, nhưng cần phải tính đến quy hoạch thành phố lâu dài, không nhất thiết cứ ngã tư nào cũng xây cầu vượt. Ở nhiều quốc gia, họ cũng xây cầu vượt nhưng đó chỉ được coi là giải pháp tình huống, quy hoạch thành phố mới là quan trọng nhất. Từ khi một vài cầu vượt phát huy vai trò, chúng ta đâu dâu cũng muốn xây cầu vượt. Sau này, không hiểu Hà Nội như nào nếu cứ ngã tư là cầu vượt. Chúng ta không nên quên bài học lãng phí cầu qua đường trên cao chưa được bao lâu đã vứt đi. Là lãnh đạo của Hội Sử học, ông có ý kiến gì để vừa giải quyết được vấn đề giao thông, vừa bảo vệ di tích Đàn Xã Tắc? Tôi muốn nhấn mạnh, những công trình nhạy cảm, vừa có nhu cầu giao thông, vừa cần bảo vệ di tích thì không chỉ có ý kiến của lãnh đạo, cần có ý kiến nhân dân. Không có cái gì không thể giải quyết được, vấn đề chúng ta chưa bàn bạc kỹ, chưa dân chủ. Trước đây, khi khai quật Đàn Xã Tắc, lúc đầu có ý kiến phải bảo tồn toàn bộ giá trị của nó, sau đó tìm được tiếng nói chung, vừa bảo đảm giao thông, vừa giữ được một phần di tích. Tôi không có chuyên môn về giao thông, nhưng tôi nghĩ có nhiều phương án, không phải duy nhất chỉ có cầu vượt. Không vì một vài hiệu quả của cầu vượt phát huy tốt, rồi chỗ nào cũng làm. Cần phải biết khai tác trí tuệ của dân để tìm ra giải pháp. Ngày 22/4, Hiệp hội Vận tải Hà Nội cho biết vừa có công văn gửi UBND TP. Hà Nội đề nghị sớm khởi công cầu vượt qua Đàn Xã Tắc. Theo Hiệp hội này, dừng công trình cầu vượt qua Đàn Xã Tắc sẽ khiến “tắc Xã Đàn”. Lúc đó, không rõ trời đất có linh thiêng không, hay chỉ thấy hàng chục vạn người dân phải khổ sở vì ách tắc giao thông, vì ô nhiễm khói bụi.. Hiệp hội Vận tải cũng nêu quan điểm: “Đàn Xã Tắc có thể là phế tích của một triều đại phong kiến đã bị phá hủy. Cho rằng đây là khu tâm linh trời và đất của đất nước ta là ngộ nhận. Tâm linh là ở trong tâm thức của con người. Khu vực Đàn Xã Tắc không thể coi là văn hóa tâm linh của người Việt. Bởi lẽ khu vực này đã biến mất mà không ai đoái hoài, ghi nhớ”. Hiệp hội này cũng cho rằng: Xóa bỏ Đàn Xã Tắc cuối thời Lê là “xóa đi hình ảnh chế độ phong kiến mục nát trong tâm thức người dân”. Khôi phục, tôn thờ Đàn Xã Tắc quá mức là “phản cảm với khu di tích gò Đống Đa cách đó chưa đầy 1 km”, nơi gắn với chiến công hiển hách của vua Quang Trung. Dương Tùng Ông Dương Trung Quốc phát biểu đúng - Đàn Xã Tắc và Điện Kính Thiên giống như bàn thờ tổ tiên của mỗi gia đình: mỗi thời đại đều phải tôn thờ như triều Lý, Trần, Lê... Đây là văn hóa Việt thời Hùng Vương, dựa trên học thuyết Âm Dương Ngũ Hành. Biết rằng tâm linh chính là ý thức trong mối liên quan Cõi Dương - Cõi Âm và luân lý, đạo đức... tuy nhiên ý thức biến đổi từng giây phút như con khỉ luôn vận động vậy - phải có cái gì để duy trì, lưu giữ, bảo tồn... định hướng...: Bàn thờ tổ tiên - cũn g là nơi thờ toàn thể vũ trụ.
-
VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á MỘT NỀN VĂN HÓA THỐNG NHẤT TRONG SỰ ĐA DẠNG * Quá trình nhận biết về khu vực văn hóa Đông Nam Á Khu vực Đông Nam Á từ xưa, trong các sách cổ của Ấn Độ đã được nói đến với những cái tên như Suvarnabhumi (đất vàng) hay Suvarnadvipa (Đảo vàng), người Trung Hoa thì gọi là Nam Dương, tương tự người Nhật Bản củng dùng từ Nan Yo để chỉ Đông Nam Á, tức Nam Dương như Trung Hoa, người Ả Rập gọi là Zabag, còn người Hy Lạp, La mã từ giữa thế kỷ II TCN cũng gọi là Chryse (đất vàng). Như vậy là từ xa xưa, thế giới đã biết đến khu vực văn hóa Đông Nam Á. Sở dĩ như vậy là vì tầm quan trọng về mặt vị trí địa lý của khu vực Đông Nam Á, vốn đã được chú ý đến từ rất lâu. Đông Nam Á thường được gọi là “ngã tư đường”, “hành lang” hay “cầu nối” giữa thế giới Đông Á với Tây Á và Địa Trung Hải. Tuy vậy, từ trước thế kỷ XIX Đông Nam Á vẫn chưa được nhìn nhận rõ rệt và đầy đủ như một khu vực địa lí - lịch sử - văn hóa - chính trị riêng biệt. Bởi nó đã bị lu mờ giữa hai nền văn minh phát triển rất rực rở là văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn Độ. Nhưng kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II đến nay, khu vực văn hóa Đông Nam Á ngày càng được công nhận rộng rải trong khoa học. Nhưng không chỉ dừng lại ở việc dựng lại các vương triều, các nền văn minh cổ ở đây, mà Đông Nam Á đang từng bước được xem xét như một khu vực lịch sử - văn hóa – kinh tế - chính trị thật sự. Người ta đã khẳng định được rằng: trước khi tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ thì cư đân Đông Nam Á đã có một nền văn hóa bản địa khá phát triển. Đó là nền văn minh nông nghiệp lúa nước, một nền văn hóa Đông Sơn phát huy hết sức rực rở mà biểu tượng là những chiếc trống đồng rất nổi tiếng được tìm thấy ở khắp Đông Nam Á. Đông Nam Á cũng là nơi thuần dưởng các loài thú sớm nhất thế giới (trâu, bò, chó). * Văn hóa Đông Nam Á, một nền văn hóa thống nhất trong sự đa dạng - Tính thống nhất, tính khu vực của Đông Nam Á trước hết được thể hiện ở chủ thể của văn hóa Đông Nam Á. Ngay từ buổi bình minh của lịch sử _ Đông Nam Á đã là một trong những cái nôi hình thành loài người, đây là địa bàn hình thành của đại chủng phương Nam (Australoid). Vào khoảng 10.000 năm trước (thời đại đồ đá giữa), có một dòng người thuộc đại chủng Mongoloid từ phía dảy Himalaya thiên di về hướng Đông Nam, tới vùng Đông Nam Á thì dừng lại và hợp chủng với cư dân Melanesien bản địa (thuộc đại chủng Australoid), dẫn đến sự hình thành chủng Indonesien (cổ Mã Lai _ Đông Nam Á tiền sử). Với nước da ngăm đen, tóc quăn dợn sóng, nhỏ, thấp. Từ đây chủng này lan tỏa, họ có mặt trên toàn bộ Đông Nam Á cổ đại. Đông Nam Á cổ đại được xác định trên một khu vực địa lý rộng lớn. Ngoài 11 nước Đông Nam Á hiện nay thì Đông Nam Á cổ đại được xác định phía Bắc gồm toàn vùng Hoa Nam Trung Quốc (phía Nam sông Dương Tử), đảo Đài Loan, một số lảnh thổ ở Đông Bắc Ấn Độ, quần đảo Andaman và Nicoba trong vịnh Bengal, châu Đại Dương và cả đảo Madagasca ở Đông Nam châu Phi (tổ tiên chính là người Mã Lai di cư sang). Chính mối liên hệ này đã tạo nên sự thống nhất cao độ của khu vực văn hóa Đông Nam Á. Sự thống nhất do cùng một cội nguồn là một loại hình Indonesien, chính điều đó đã tạo ra bản sắc chung cho văn hóa Đông Nam Á. - Tính thống nhất về mặt văn hóa của khu vực và tính đa dạng của các tộc người lại làm nên những đặc trưng bản sắc riêng của từng vùng văn hóa được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, bao hàm trong nó rất nhiều thành tố cả về vật chất lẩn tinh thần của văn hóa Đông Nam Á. Đơn nhiên, trong quá trình phát triển, văn hóa Đông Nam Á đã tiếp thu nhều yếu tố mới từ bên ngoài mà tiêu biểu nhất là từ Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập và phương Tây. Nhờ sự giao lưu này, văn hóa Đông Nam Á đã đạt được những thành tựu mới mẻ trong quá trình phát triển của mình. Sau đây là một số điểm tiêu biểu được thể hiện: Về ngôn ngữ - chử viết: Sự đa dạng của ngôn ngữ được thể hiện ở chổ các quốc gia Đông Nam Á hiện có tới hàng chục, thậm chí hàng trăm ngôn ngữ khác nhau. Như ở Indonesia có đến 200 ngôn ngữ dân tộc khác nhau cùng tồn tại; ở Philippin củng có tới 80 ngôn ngữ dân tộc khác nhau (1998). Tương tự, các quốc gia Đông Nam Á khác củng là các quốc gia đa ngôn ngữ. Tuy nhiên, các ngôn ngữ Đông Nam Á đều chỉ thuộc về một trong số 4 ngữ hệ sau đây: Nam Á, Nam Đảo, Thái, Hán – Tạng. Và xa hơn nữa, chúng đều bắt nguồn từ một nguồn gốc chung là ngôn ngữ Đông Nam Á tiền sử. Đó là một sự thống nhất cao độ. Về chữ viết, từ đầu công nguyên, khi cần ghi chép các dân tộc Đông Nam Á đã vay mượn chữ Hán (như ở Việt Nam) và chữ Pali – Sanskrit (ở các nước khác) của Trung Hoa, Ấn Độ để xây dựng chử viết riêng cho dân tộc mình. Tuy nhiên, từ thế kỷ XIII , chử viết Ả Rập đã ảnh hưởng mạnh mẻ đến các quốc gia hải đảo như Malaysia, Indonesia. Từ thế kỷ XVI, với sự can thiệp của các quốc gia phương tây, chử viết của các quốc gia Đông Nam Á được chuyển đổi theo hướng Latinh hóa (chữ viết Brunay, Malaysia, Indonesia, Philippin và Việt Nam) được sử dụng ngày nay. Về phong tục tập quán: Ở Đông Nam Á có đến hằng trăm dân tộc khác nhau, vì thế phong tục, tập quán rất đa dạng, tạo nên một bức tranh đa sắc. Mặc dù rất đa dạng, song những tập tục ấy vẫn có nét gần gủi, tương đồng nhau, là mẩu số chung quy tụ, giao thoa trên nền tảng của cơ sở văn hóa bản địa Đông Nam Á _ Một nền tảng văn minh nông nghiệp trồng lúa nước. Đó là cách ăn mặc với một bộ trang phục chung là Sàrông (váy), khố, vòng đeo tai, vòng đeo cổ,… Đó là tục ăn uống với các thức ăn chính là cơm, rau, cá và hoa quả (hiện nay, thịt ngày càng quan trọng trong cuộc sống hiện đại). Đó là tục ăn hỏi trước khi tổ chức đám cưới linh đình. Tục chôn theo người chết những thứ cần thiết cho cuộc sống mà khi còn sống họ thường ưa thích. Đó là tục nhai trầu, cưa và nhuộm răng đen, xăm mình; rồi đến cả các trò vui chơi giải trí như thả diều, thi chọi gà, bơi thuyền,… Trong cách ăn ở, ngôi nhà chung của các dân tộc Đông Nam Á là nhà sàn “cao cẳng” thích hợp với mọi địa hình của khu vực và phù hợp với khí hậu nóng ẩm của khu vực Đông Nam Á. Về lể hội: Củng giống như sự đa dạng của phong tục, tập quán. Có thể nói, ở mổi dân tộc mùa nào, tháng nào trong năm củng có lể hội. Nếu thống kê con số lể hội thì chắc chắn sẽ có đến con số hàng trăm. Tất nhiên, trong sự đa dạng ấy, các lể hội ở Đông Nam Á chủ yếu tập trung vào ba hình thức chính: Lễ hội nông nghiệp (Như lễ xuống đồng của người Việt, lễ mở đường cày đầu tiên của người Thái, lễ dựng chòi cày của người Chăm,…), lễ hội tôn giáo (như lễ hội chùa Keo, chùa Hương ở Việt Nam,…), lễ tết (như tết nguyên đán, tết phật,…). Về tín ngưỡng bản địa: Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, cùng sinh ra và lớn lên trong một khu vực địa lí, văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước. Tín ngưỡng bản địa Đông Nam Á dù hết sức đa dạng, nhiều vẽ nhưng vẫn thuộc về ba loại chính: Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên (Các cư dân Đông Nam Á như ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanma, Indonesia,… thờ cả hạc, rùa, rắn, voi, cá sấu,…), tín ngưỡng phồn thực (thờ sinh thực khí tượng trưng cho cơ quan sinh dục nam, nữ; các tục tóe nước, tục cầu mưa, tục đánh đu,…), tín ngưỡng thờ cúng người đã mất (tục thờ cúng tổ tiên, ông bà). Cái chung đó xuất phát từ thuyết vạn vật hữu linh, tức thuyết mọi vật đều có hồn. Tóm lại, ở mọi thành tố của văn hóa Đông Nam Á, chúng ta đều có thể thấy một sự thống nhất trong muôn hình muôn vẽ sự tồn tại đa dạng của chúng ở các dân tộc Đông Nam Á. Văn hóa Đông Nam Á ngày nay vừa là sự kế thừa và phát huy vốn văn hóa bản địa truyền thống vừa là sự tiếp thu có chọn lọc những yếu tố mới từ bên ngoài, cả phương Đông lẩn phương Tây. Trong kho tàng văn hóa đồ sộ của Đông Nam Á có rất nhiều yếu tố chung, làm nên cái “khung” Đông Nam Á, song củng có không ít những yếu tố đặc sắc, riêng biệt tiêu biểu cho mổi quốc gia, mổi dân tộc. Nói cách khác văn hóa Đông Nam Á là nền văn hóa thống nhất trong sự đa dạng. Có thể khẳng định Đông Nam Á có có một bản sắc văn hóa riêng và ngày càng tiến bộ. Đông Nam Á hiện nay đang phát triển kinh tế, đất nước hết sức nhanh chóng và mạnh mẽ. Mà văn hóa là động lực quan trọng nhất của của sự phát triển một nước, một khu vực. Với bề dày văn hóa mang bản sắc chung, đặc sắc, các quốc gia Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ tiến xa hơn nửa, đạt được nhiều thành tựu mới trong tương lai, Đông Nam Á sẽ trở thành một khu vực hòa bình, ổn định, một khu vực phát triển, thịnh vượng của thế giới. TÀI LIỆU KHẢO CỨU 1. Văn hóa Đông Nam Á – Mai Ngọc Chừ (1999). 2. Lược sử Đông Nam Á – Phan Ngọc Liên (2002). 3. Văn hóa Đông Nam Á – (khoa sư phạm – bộ môn lịch sử trường Đại học An Giang – 2010). 4. Cơ sơ văn hóa Việt Nam – Trần Ngọc Thêm (1999). 5. Dân tộc học đại cương – Ts. Nguyễn Thành Phương – trường Đại học An Giang.
-
Kiến Thức - Thời: Bài lịch sử đức Phật Thích Ca tóm tắt nhất Kiến Thức - Thời: Bài lịch sử đức Phật Thích Ca tóm tắt nhất Chân dung Đức Phật Thích Ca Mâu Ni năm ngài 41 tuổi I/ NIÊN ĐẠI VÀ THÂN THẾ: Đức Phật giáng sinh vào ngày 15 tháng 4 năm 623 BC (trước TL - BBT)[*] tại vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni), cách thành Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ) khoảng 15 cây số, nay là xứ Ruminidhehi thuộc quận hạt Aiuth, phía nam xứ Nepal và phía đông Rapti. Song thân ngài là Quốc vương Suddhodana (Tịnh Phạn) và Hoàng hậu Maya (Ma Da). Thuộc dòng dõi Sakya (Thích ca). Vua Suddhodana trị vì một vương quốc nằm ở ven sườn dãy núi cao ngất trời Himalaya (Hy mã Lạp Sơn) nằm phía đông-bắc Ấn Độ, thủ phủ là Kapilavastu, nay là Népal. Địa điểm thủ phủ này nay được nhận ra là Bhulya trong quận Basti, cách Bengal 3 cây số nằm vào hướng tây-bắc nhà ga xe lửa Babuan. Bên tán cây asoka (vô ưu) che rợp mát, sắc mầu tươi sáng, hương thoáng nhẹ bay, Hoàng hậu Maya đã hạ sinh Thái tử. Tin lành Thái tử chào đời đã nhanh chóng lan truyền trong dân chúng. Tất cả các thần dân trong vương quốc đều vui mừng khôn xiết. Ngày đản sinh Thái tử, khắp Kapilavastu cảnh vật đều vui vẻ lạ thường, khí hậu mát mẻ, cây cối xanh tươi, sông ngòi, mương, giếng nước đều trong đầy; chim hót reo vang, hào quang tỏa sáng khắp nơi nơi. Đó là ngày hội của toàn Vương quốc. Đạo sĩ già tên Asita (A Tư Đà) ẩn tu trên dãy núi Hymalaya người được kính nể nhất về đạo hạnh đã đến chào Thái tử với thái độ hết mực cung kính, rồi cười và lại khóc. Được hỏi, đạo sĩ trả lời, ông cười mừng vì Thái tử có 32 tướng tốt, nhất định tương lai sẽ tu chứng Phật quả và với lòng từ bi thương xót chúng sinh mà truyền bá chánh pháp trên thế gian này. Lời tiên đoán làm cho đức vua Suddhodana lặng lẽ không vui. Trong lễ đặt tên, Vua đặt tên con là Siddhattha (Sĩ Đạt Đa – Tất Đạt Đa), họ là Gotama (Cồ Đàm) với hàm ý là kẻ phải giữ chức vụ mà mình phải giữ, còn có ý nghĩa là người được toại nguyện; mọi điều đều đạt thành tựu. Ý nhà Vua là muốn gửi gắm tất cả vương quyền của mình vào đứa con yêu quý này. Hoàng hậu Maya qua đời sau 7 ngày hạ sinh Thái tử, vì thế sự nuôi dưỡng đều được chăm sóc trực tiếp bởi dì ruột (em ruột Hoàng hậu) tên là Maha Pajapati (Ma Ha Ba Xà Ba Đề). II. ĐỜI SỐNG CỦA THÁI TỬ TRƯỚC KHI XUẤT GIA: 1/ Đời sống và giáo dục của Thái tử: Thái tử Siddhattha được nuôi nấng và dạy dỗ một cách toàn diện cả hai lĩnh vực văn chương và võ thuật. Những thầy giáo giỏi nhất trong nước được mời đến hoàng cung để dạy cho Thái tử các môn học đương đại với những phương pháp đặc biệt. Thái tử đã làm cho hai danh sư nổi tiếng về võ thuật là Ksantidiva (Sàn Đề Đề Bà) và về văn học là Visvamistra (Tỳ Sa Mật Đa La) phải cúi đầu thán phục. Ngoài sự thông minh đĩnh ngộ, Thái tử được mọi người quý kính về đức hạnh bao la của Ngài. Càng yêu thương quý nến con, vua Suddhodana lại càng lo sợ Thái tử sẽ không nối nghiệp ngai vàng mà sẽ xuất gia tìm đạo như lời tiên đoán của đạo sĩ Asita. Càng lớn lên, Thái tử càng lộ vẻ trầm tư về cuộc sống. Bởi thế, Vua cùng triều thần sắp đặt nhiều kế hoạch để giữ Thái tử ở lại ngai vàng. Nhưng những hạnh phúc trần gian không làm khuây khỏa ưu tư của người có ý chí xuất trần. Thái tử vẫn thấy lòng mình nặng trĩu bao nỗi băn khoăn, thắc mắc. Ngài cho cảnh đời ngài đang sống đây không phải là hạnh phúc, chân thật, mà là lừa dối, mê muội, chỉ làm cho cuộc sống thêm nặng nề đau khổ. Ngài thấy cần phải tìm một lối thoát, một cuộc sống chân thật, có ý nghĩa và cao đẹp hơn. Muốn ngăn chặn tất cả những hình ảnh của cuộc sống trầm thống khổ đau mà kiếp người phải đeo mang không lọt vào mắt, vào tai Thái tử. Để đứa con yêu không có thời gian mà nghĩ đến ngày xích lại với quyết định xuất gia, khi Thái tử tròn 16 tuổi, Vua Suddhadana vội tiến hành lễ thành hôn cho Thái tử với Công chúa của một nước láng giềng là Yosodhara (Da Du Đà La) con của vua Suppabuddha (Thiện Giác), một trang quốc sắc thiên hương với hy vọng hương ấm tình yêu thương đôi lứa sẽ buộc chặt đôi chân của Thái tử ở lại với ngai vàng. 2/ Tiếp xúc khổ đau nhân thế: Nhận ra bốn tướng khổ ở đời: Một hôm nhân ngày lễ Hạ điền, Thái tử theo vua cha ra đồng xem dân chúng cấy cầy. Cảnh xuân mới nhìn qua thấy thật là đẹp mắt, nào hoa lá tốt tươi, muôn chim đua hót, nào bầu trời quang đãng, gió xuân phơi phới... cảnh tượng có vẻ thái bình, an lạc lắm. Thế nhưng, tâm hồn Thái tử đã nhìn sâu thẳm vào trong cảnh tượng với sự xét đoán sâu sắc, không hời hợt và đã đau đớn nhận thấy rằng cõi đời không đẹp đẽ và an vui như khi mới nhìn qua. Ngài thấy người nông phu với con bò làm việc cực kỳ vất vả dưới ánh nắng thiêu đốt để đổi lấy bát cơm, nắm cỏ. Ngài nhận thức rõ ràng sự sinh sống là rất khổ. Một hôm khác, ngài đến cửa Đông, ngài gặp một ông già tóc bạc, răng rụng, mắt đờ, tai điếc, lưng còng nương gậy từng bước ngập ngừng như sắp ngã. Đến cửa Nam, Thái tử thấy một người bệnh đau khổ nằm trên cỏ, đang khóc than rên xiết, đau đớn vô cùng. Đến cửa Tây, ngài nhìn thấy cái thây nằm chết trương lên giữa đường, ruồi nhặng bu đầy, trông rất ghê tởm. Ba cảnh khổ, già, đau chết này cộng với cảnh tương tàn trong cuộc sống mà Thái tử đã nhận thấy khi đi xem cày ruộng làm cho ngài đau buồn,thương xót chúng sinh vô cùng. Một hôm khác nữa, ngài ra cửa Bắc gặp một vị tu sĩ tướng mạo nghiêm trang, điềm tĩnh thản nhiên như người vô sự đi ngang qua đường. Tiếp chuyện cùng Đạo sĩ ung dung, tự tại mà thoáng hiện đằng sau con người này một con đường giải thoát. Thái tử Siddhattha quyết định thoát khỏi ngục vàng tìm ra một lối thoát, một cuộc sống chân thật có ý nghĩa và cao đẹp hơn, một con đường dẫn tới giác ngộ, vĩnh viễn khắc phục mọi nỗi đau và bất hạnh của cuộc đời người và hướng tới an lạc. Giữa lúc ấy, một tin đưa đến khiến ngài không vui: Công chúa Yosodhara vừa hạ sinh một Hoàng nam. Thái tử đã thốt lên rằng: “Một trở ngại (ràhu) đã được sanh, một ràng buộc đã được sanh ra”. Nhân câu nói này mà Quốc vương Suddhodana đã đặt tên cháu là Rafhula (La Hầu La). III. SỰ TỪ BỎ VĨ ĐẠI: Với cõi lòng nặng trĩu vì thương chúng sinh chìm đắm trong bể khổ, một đêm, sau khi đến trước phòng nhìn lại lần cuối người vợ và hài nhi yêu dấu đang say nồng trong giấc ngủ, ngài cùng nô bộc Channa (Xa Nặc) dắt con tuấn mã Kantaka (Kiền Trắc) vượt thành ra đi. Ra ngoài, ngài từ bỏ tất cả những người thân yêu, ngôi báu, vương quyền, cuộc sống nhung lụa tràn đầy hạnh phúc. Đây không phải là sự hy sinh từ bỏ của một người già, người đau ốm, người nghèo, người bệnh tật, người bất đắc chí, người ngán ngẩm cuộc đời, người đang căm hờn oán giận… mà là sự hy sinh từ bỏ của một Hoàng tử đang tuổi thanh xuân, đang sống trong quyền quý giàu sang, chứa chan hạnh phúc. Quả đó là sự từ bỏ, hy sinh cao cả và vĩ đại có một không hai trong lịch sử loài người. Một sự ra đi không tiền khoáng hậu! Năm ấy Thái tử vừa tròn 19 tuổi (Theo Nam truyền Phật Giáo, Thái tử xuất gia năm 29 tuổi). IV. QUÃNG ĐƯỜNG TU HÀNH - TẦM ĐẠO: Thái tử ra đi với bộ quần áo màu vàng giản dị của người Tu sĩ, sống cuộc sống không nhà cửa người xuất gia, ly tục ly trần, không nơi cố định. Đi trong nắng cháy, đi trong mưa rơi, trong sương gió lạnh lùng. Xiêm y từ tốn, chỉ có vài mảnh vải vụn rập lại. Tài sản duy nhất chỉ là một bình bát để khất thực độ nhật, Thái tử dành hết thời gian cho sự tầm cầu thiền định quyết tìm ra sự thật tối hậu. Ngài đến thành Vương Xá học với các vị tu tiên nơi rừng Bạc Già, tu theo khổ hạnh sau sẽ được lên cõi trời thành Tiên, Thánh. Ngài nghĩ đây chưa phải là đạo chân chính giải thoát. Thái tử Siddhanha đã tới Bắc thành Tỳ Xá Ly thụ giáo Ông A La Ra - Ka La Ma Tu về số luận ngộ, chuyển nhiếp tâm vào định sơ thiền sau này hình vào cõi trên vô tướng giải thoát (Vô sở hữu xứ định). Ngài thấy đây cũng chưa phải là đạo giải thoát nên lại tạ từ ra đi. Ngài gặp Ông Uất Đầu Lam Phất, chuyên dạy các sự chấp có hình tướng và không có hình tướng chỉ lĩnh hội cái nhiệm mầu (Phi phi tường xứ). Biết rằng đây cũng vẫn còn trong vòng sinh tử, ngài lại ra đivà thế là không còn ai để ngài học đạo nữa. V. SÁU NĂM KHỔ HẠNH: Thời ấy, Ấn Độ còn có truyền thống và niềm tin rằng người nào cầu đạo giải thoát đều phải nỗ lực và kiên trì tu khổ hạnh. Thái tử liền đi đến Uruvela, một thị trấn của Senani và cùng với năm anh em Ông Kodanna (Kiều Trần Như), Bhadhya (Bạt Đề), Vappa (Đề Bà), Mahanama (Ma Ha Nam) và Asaji (Ác Bệ) bắt đầu cuộc tu khổ hạnh kéo dài đến sáu năm và dẫn đến kết quả là thân thể ngài gầy đi như một bộ xương khô, đôi mắt sâu hoắm không còn đi đứng được nữa… Ở đây, qua thực nghiệm ngài thấy rằng chân lý tối hậu giải thoát an lạc, diệt trừ khổ đau không thể cầu được ở bên ngoài, ở bất kỳ một bậc Đạo sư nào, cũng không phải qua pháp môn hành xác, mà sự chứng ngộ ấy cần phải được thể hiện ở chính trong nội tâm của mỗi con người và không thể dựa vào một tha lực nào khác. Ngài lấy lại sức nhờ uống bát sữa do một thôn nữ tên là Sujata (Su Dà Ta) dâng cúng, sau đó xuống tắm ở dòng sông Neranjara (Ni Liên Thuyền). Năm người bạn đồng tu cho rằng ngài đã thối chí, quay về cuộc sống dục lạc tiện nghi, họ bèn rời bỏ ngài và đi đến Isipatana gần thành phố Benares (Ba La Nại). VI. THÀNH ĐẠO: Còn lại một mình, ngài đến ngồi dưới gốc cây Pippala (Tất bát La, sau này gọi là cây Bodhi - Bồ đề), ngài đã ngồi nhập định 49 ngày đêm dưới gốc cây Bồ Đề và với tâm định tĩnh, chánh niệm, tỉnh giác, ly dục, đi vào Sơ thiền (thời niên thiếu trong buổi lễ Hạ điển Ngài cũng đã một lần vào cõi thiền này), Nhị thiền, Tam thiền và lần lượt nhập lên Tứ thiền sau đó hướng tâm đến Tam Minh. Với trực giác, ngài thấy rõ nguyên nhân của khổ đau. Chính sự tập khởi của 12 nhân duyên là tập khởi của toàn bộ khổ uẩn. Ở canh một Ngài chứng Túc Mệnh Minh, thấy rõ vô lượng kiếp quá khứ của mình. Sang canh hai, Ngài chứng Thiên Nhãn Minh, thấy rõ vô lượng kiếp quá khứ của chúng sinh với các nghiệp nhân và nghiệp quả, thấy rõ con đường thọ nghiệp của chúng sinh. Qua canh ba, ngài quán chiếu thấy khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, sự đoạn tận của khổ đau và con đường đưa đến đoạn tận của khổ đau (Lậu Tận Minh). Sau cùng, ngài chứng đắc quả vị Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, trở thành vị Phật đầu tiên trong hiện kiếp. Lúc ấy sao Mai vừa mọc và danh hiệu Đức Phật Gotama, Đức Phật Thích Ca Nâu Ni được thế gian tôn xưng từ đấy! VII. ĐỨC PHẬT ĐI TRUYỀN ĐẠO: Lúc đầu ngài ngần ngại vì sợ đạo của ngài sâu xa khó hiểu, sau ngài mới ứng dụng đem đạo Phật ra giáo hóa chúng sinh, ngài đến vườn Lộc Uyển, thuyết bài pháp đầu tiên về 4 Đế. Về sau ngài giáo hóa cho nhiều môn đệ: - Cảm hóa 3 anh em Ông Kassapa (Ca Diếp) - Giáo chủ thần lửa. - Moggallana (Mục Kiều Liên) - Đệ nhất thần thông. - Sariputta (Xá Lợi Phất) - Đệ nhất trí tuệ. - Vua Tần Bà Ta La xứ Ma kiệt Đà. - Nan Đà. - Annada (A Nan). - A Na Luật Đà. - Ưu Bà Ly. - Di mẫu Maha Mujapati (Ma Ha Ba Xà Ba Đề) Gotami xuất gia (người phụ nữ đầu tiên được vào Giáo Hội). - ... - Subhadda (Tu Bạt Đà La) là người đệ tử chót của đời ngài. Đức Phật thuyết pháp và đi giáo hóa được 49 năm, độ cho hàng vạn ức đệ tử, không phân biệt. VIII. ĐỨC PHẬT NHẬP NIẾT BÀN: Vào ngày rằm trăng tròn tháng hai (15/2), ngài biết mình sắp nhập Niết Bàn liền đến xứ Câu Ly, vào rừng Xa Nại, ngài họp các đệ tử lại giảng dạy, khuyên bảo lần cuối để ngài từ giã mọi người. Ngài nhập Niết Bàn và hưởng thọ 80 tuổi. Trước lúc viên tịch, ngài phú chúc ông Ca Diếp thụ lãnh y bát của ngài để truyền đạo. Nguồn: Viện R.I.A.F.R Nguyễn Ngọc Sơn - Viện Trưởng. Ngày Hạ Điền: Thần Nông - Nguyên Thủy Thiên Tôn xuất phát từ Văn Lang
-
Mạc Mi Cô. Theo nữ sĩ Mộng Tuyết, thì mọi chuyện bắt đầu như sau: Chuyện sinh nở của Hiếu Túc Nguyễn phu nhân, vợ chánh của Đô đốc Mạc Thiên Tứ, có một điều gì bí ẩn lạ lùng lắm. Hình như trong Mạc phủ cấm tiết lộ việc này. Ít lâu sau, nhân lời nói hở của một thị nữ trong phủ khi về thăm nhà, và nhân một tờ giấy tình cờ bắt được trong mình người thợ đá chết vì bạo bịnh, thì câu chuyện được kể đại khái như thế này: Nguyễn Phu nhân chuyển bụng, đến đúng ngọ hôm thứ ba thì sinh được một gái. Nhưng khi tắm rửa xong, thì đứa trẻ sơ sinh tự nhiên lớn lên bằng đứa trẻ lên chín, lên mười tuổi. Tiểu thư này đẹp đẽ khác thường: da trắng, tóc dài, mày thanh, mắt sáng...y như dung nhan của tiên nữ trong tranh. Và thật bất ngờ, khi tiểu thư phát ra tiếng nói, mà giọng hòa hoãn như tiếng gió trong đêm thanh. Mọi người chưa hết kinh ngạc, thì tiểu thư đã từ từ nhắm mắt, nằm yên, tắt thở và thân hình cũng từ từ thu nhỏ lại như lúc mới sinh, không có chút chi khác lạ. Tức tốc, Nguyễn phu nhân cho táng tiểu thư trọng thể ở mé tây núi Bình San và còn đứng ra đôn đốc làm gấp ngôi mộ kiên cố, tráng lệ, y như mộ phần của bậc vương phi. Ngay khi mọi việc vừa xong, thì Mạc Đô đốc cũng vừa đi duyệt binh về, và ông chỉ kịp truyền khắc trên mộ chí mấy chữ giản dị: Tiểu thư Mạc Mi cô chi mộ.[1] Nguyên văn bài sấm Cũng theo nữ sĩ Mộng Tuyết, Mạc Mi cô "bất ngờ phát ra tiếng nói”, để đọc một bài sấm [2]: Khả thủy sơn nhân Nước xanh dờn dờn Núi xanh dờn dờn Nhị thập viết đại Ấp trồng cây trái Quả ngọt hoa thơm Tay vin tay hái. Hoa nhỏ tí tí Quả nhỏ tí tí Tám chín xuân thu Hoa nào phong nhụy. Phi vương phi bá Xưng cô xưng quả Trời có con trai Một cội bảy lá. Bờ tre xanh xanh Hái lá nấu canh Canh ăn hết canh Vị cay thanh thanh Trời Tây bóng ngả chênh chênh Soi vào hang đá long lanh ngọc vàng. Vàng trong lòng đá Vàng chói sáng lòa Vọng lên lầu các nguy nga Ao sen nở trắng trước tòa khói hương.[3] Giải thích bài sấm Sau khi giới thiệu bài sấm trên trong sách Văn học Hà Tiên, Thi sĩ Đông Hồ viết: Đọc xong bài sấm ai mà không nghĩ đây là một bài thần chú chỉ dẫn để tìm đến một kho tàng bí mật: Soi vào hang đá long lanh ngọc vàng. Vàng trong lòng đá Vàng chói sáng lòa... Thử đem các đầu mối đứt khúc của câu chuyện chắp nối lại, chúng ta đoán như thế này: Bà phu nhân họ Nguyễn (chánh thất của Mạc Thiên Tứ) có giấu một kho tàng ở đâu đó. Người thợ đá lãnh việc chạm bài chỉ dẫn này trên đá phải tuyệt đối giữ bí mật công tác của mình. Nhưng người thợ đá bỗng chết vì bạo bệnh. Cho nên những dòng chữ ghi trên mãnh giấy kia, phút chốc biến thành bài sấm thiêng liêng do chính miệng Mạc Mi cô đọc lên, để đánh lạc hướng sự theo dõi của những người muốn tìm dấu kho vàng. Nhưng gạt bỏ hết những gì huyền bí, tôi (Đông Hồ) thấy bài đó quả là một bài tiên đoán sự nghiệp của họ Mạc ở Hà Tiên, từ khi khai sáng cho đến lúc tàn mạt. Mỗi câu, mỗi chữ đều đúng như y, phân minh từng chi tiết... Lược theo lời giải thích của thi sĩ Đông Hồ: Câu 1: Khả thủy: chiết tự là chữ Hà (bộ Thủy kèm chữ khả). Sơn nhơn: chiết tự là chữ Tiên (bộ nhơn kèm chữ sơn). Câu 2 và 3 chỉ là câu đưa đẩy cho đẹp lời. Câu 4: Nhị thập viết đại là chiết tự chữ Mạc (bộ “hai mươi” đầu, chữ “viết” ở giữa và chữ “đại” ở dưới chân). Câu 5: Ấp trồng cây trái, là chữ Mạc có bộ ấp, tức họ Mạc đặc biệt do chúa Nguyễn ban tứ để khác với họ Mạc Đăng Dung đã tiếm vị vua Lê. Câu 6 và 7: Quả ngọt hoa thơm - Tay vin tay hái. Để tả cảnh vật phồn thịnh, mùa màng phong túc của trấn Hà tiên mà họ Mạc được thụ hưởng kết quả. Câu 8 đến câu 11: Hoa nhỏ tí tí - Quả nhỏ tí tí - Tám chín xuân thu - Hoa nào phong nhụy. Tý trên ứng năm Mậu Tý (1708) là năm Mạc Cửu sai sứ triều kiến chúa Nguyễn Phúc Chu và dâng đất Hà Tiên. Tý dưới là ứng vào năm Canh Tý (1780), là năm Mạc Thiên Tứ tuẫn tiết ở nước Xiêm La. Tám chín xuân thu, là từ năm 1708 cho đến 1780 vừa đúng 72 năm. Tám lần chín là 72, ứng vận số của họ Mạc ở Hà Tiên. Câu 12 đến câu 13: Là nói họ Mạc ở Hà Tiên tuy không phải là tước vương, tước bá, nhưng địa vị giống như một tiểu vương của một nước tự chủ ở biên thùy. Câu 14 đến câu 15: Trời có con trai - Một cội bảy lá. Nguyên họ Mạc ở Hà Tiên có một thể thức đặt danh hiệu: dùng bảy chữ là “thiên, tử, công, hầu, bá, tử, nam” để làm tên đệm, sử cũ gọi đó là thất diệp phiên hàn. Chữ “trời” ứng chữ Thiên (Mạc Thiên Tứ), chữ con trai ứng chữ Tử (Mạc Tử Khâm), có nghĩa đến dòng họ Mạc đến chữ tử này thì hết (Mạc Tử Khâm không có con trai, họ Mạc tuyệt tự)[4]. Câu 16 đến câu 19: Bờ tre xanh xanh, chỉ dãy Trúc Bàn thành. Hái lá nấu canh, ý nói đến thời kỳ trấn Hà Tiên bị tàn tạ, bị phá hủy. Canh ăn hết canh, là vừa hết năm Canh Tuất (1910). Vị cay thanh thanh, là ứng với việc mộ vợ chánh của Mạc Thiên Tứ bị khai quật trong tiết Thanh minh năm Tân Hợi (1911). Câu 20, 21: ứng việc khi mở được cửa mộ của Hiếu Túc thái phu nhân, thì trời đã về chiều. Hai chữ “trời tây” còn ngầm chỉ “người Tây. Câu 22, 23: Chú ý chữ vàng ở câu 21 là “vàng trong hang đá”, ở câu dưới là “ vàng trong lòng đá”. Chữ vàng ở câu sau ứng việc Mạc Thiên Tứ tuẫn tiết ở nước Xiêm, bằng cách nuốt vàng cho bí cuống phổi, ngạt thở mà chết. Câu 22, 23 (hai câu cuối): mô tả đúng cảnh trí nơi Đền thờ họ Mạc hiện nay. Ngoài ra, chữ vọng, còn nhắc người đọc liên tưởng đến Vọng Các, nơi mà hơn 50 người họ Mạc và tùy tùng đã chết vì một lời tấu xàm. Cuối cùng, thi sĩ kết luận: Hiểu như thế, thì bài sấm này không có gì huyền bí cả. Lại thấy rằng vần điệu của nó lưu loát, đọc lên có một khí vị hay hay. Huống nữa, nó còn chứa đựng một ý nghĩa như là một bài thơ sử ký sự, đáng truyền.[5].Chú thích 1. ^ Chép theo sách Nàng ái cơ trong chậu úp (tr. 82-84). Sách Sổ tay hành hương kể rằng Mạc Mi Cô lúc mới sinh, đã có mái tóc dài một thước. Mới 3 tuổi răng đã mọc đủ, ăn nói rành rẽ, nhưng xương sống yếu phải nằm một chỗ. Cận thần cho là điềm xấu, nên người đứng đầu họ Mạc đã sai người đem chôn sống cô. Sau, Mạc Mi Cô được phối tự ở bên tả đền thờ họ Mạc, trông ra cổng tam quan. Tục truyền, khi được thờ ở vị trí ấy, những việc quái lạ cứ xảy ra luôn, nên người ta đã cho xây kín cổng bên trái lại cho đến nay. (tr. 367-368) 2. ^ Từ điển tiếng Việt thông dụng giải thích “sấm là lời dự đoán về sự kiện lớn trong tương lai mang tính chất thần bí” (Nxb Giáo dục, 1996, tr. 954) 3. ^ Nàng ái cơ trong chậu úp, sách đã dẫn ở mục tham khảo, tr. 85-86. 4. ^ Tuy nhiên, căn cứ dòng chữ ghi kèm theo những đồ dâng cúng ở Đền thờ họ Mạc, thì con cháu của dòng họ này hiện nay vẫn còn, nhưng ở tận Cà Mau. 5. ^ Văn học Hà Tiên, sách đã dẫn ở mục tham khảo, tr. 144-149. 6. ^ Sách Sổ tay hành hương đất phương Nam nói phu nhân có tên là Nguyễn Thị Thủ (sách dẫn ở mục tham khảo, tr. 367).Sách nghiên cứu Hà Tiên nói rõ: Năm 1739, quốc vương Chân Lạp Nặc Bồn (hay Nặc Bôn) mang tới đánh Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ điều động binh sĩ chiến đấu suốt ngày đêm. Vợ Mạc Thiên Tứ là Nguyễn Thị Hiếu Túc đốc sức vợ binh lính chuyển khí cụ và lương thực cho binh sĩ...Quân xâm lấn tan, họ Mạc được chúa Nguyễn khen ngợi, đặc cách cử ông làm Đô đốc tướng quân và ban cho áo bào đỏ cùng mũ, đai. Bà vợ ông (Nguyễn Hiếu Túc) cũng được phong làm phu nhân. (Trương Minh Đạt biên soạn, Nxb Trẻ, 2008, tr. 177) 7. ^ Năm 1736, Mạc Thiên Tứ được phong làm Đô đốc trấn Hà Tiên. Đương thời, Hà Tiên dưới quyền cai quản của ông, có lãnh thổ rộng 60.000 km2, phía nam tới Rạch Giá, Bạc Liêu, các quận Bảy Xàu và Cà Mau; phía Tây đến Châu Đốc, Sóc Trăng, Cần Thơ. Và Hà Tiên trở thành hải cảng phồn thịnh, thường xuyên có tàu nước ngoài cập cảng (Sổ tay hành hương đất phương Nam, tr. 363). 8. ^ Văn học Hà Tiên, sách đã dẫn ở mục tham khảo, tr. 137-141. Tài liệu tham khảo chính Đông Hồ, Lịch sử Hà Tiên và một bài sấm truyền. Đăng lần đầu trong Văn Hóa Nguyệt San số tháng 6 năm 1963 tại Sài Gòn, sau in lại trong Văn học Hà Tiên, Nxb Văn Nghệ TP. HCM, 1999, trang 135-149. Mộng Tuyết, Nàng ái cơ trong chậu úp, Nxb Văn Hóa, 1966, tr. 82-87. Sổ tay hành hương đất phương Nam, Nhiều người soạn, Huỳnh Ngọc Trảng chủ biên. Nxb Tp. HCM, 2002, tr. 367-388. Xin được mượn một câu thơ của Tố Hữu làm tiêu đề cho giai thoại này - giai thoại gắn liền với tên tuổi của một nhân vật đặc biệt: Mỵ Châu! Mỵ Châu là con gái của An Dương Vương. Khi cô lớn lên cũng là khi Triệu Đà (vua của nước Nam Việt, một vương quốc nằm sát biên giới phía Bắc nước ta) đang ráo riết thực hiện mưu đồ bành trướng xuống phương Nam. Quân của Triệu Đà đã bao phen tiến đánh đến tận Tiên Du (nay thuộc Bắc Ninh, tỉnh Hà Bắc), uy hiếp mạnh mẽ đối với cả kinh thành Cổ Loa, nhưng tất cả những cuộc tấn công ấy đều bị đẩy lùi. Sách Đại Việt sử kí toàn thư (ngoại kỉ, quyển 1, từ tờ 9a đến tờ 10b) chép rằng:“(Triệu) Đà biết nhà vua có nỏ thần, không thể nào địch nổi, bèn cho quân lui giữ Vũ Ninh (vùng Bắc Ninh, tỉnh Hà Bắc ngày nay) rồi sai sứ đến xin giảng hòa. Nhà vua mừng lắm, bèn chia đất từ Bình Giang, tức là vùng sông Thiên Đức, huyện Đông Ngàn (nay thuộc Bắc Ninh, tỉnh Hà Bắc) trở lên phía Bắc thì giao cho (Triệu) Đà cai quản, từ đó trở về Nam thì do Nhà vua cai quản.
-
Truyện Mộc Tinh Đất Phong Châu thời thượng cổ có một cây lớn gọi là cây chiên đàn cao hơn ngàn trượng cành lá xum xuê, không biết che rợp tới mấy ngàn rậm. Có chim hạc bay đến đậu nên đất chỗ đó gọi là đất Bạch Hạc. Cây trải qua hàng mấy ngàn năm khô héo mà biến thành yêu tinh, thường thay đổi hình dạng, rất dũng mãnh, có thể giết người hại vật. Kinh Dương Vương dùng nhạc mà đánh thắng yêu, yêu hơi chịu nhún nhưng vẫn nay đây mai đó, biến hóa khôn lường, thường ăn thịt người. Dân phải lập đền thờ, hàng năm tới ngày 30 tháng chạp, theo lệ phải mang người sống tới nộp, dân mới được yên ổn. Dân thường gọi yêu là thần Xương Cuồng. Biên giới tây nam giáp liền với nước Mi Hầu, vua Hùng Vương sai dân man Bà Lô (nay là phủ Diễn Châu) hàng năm bắt giống người lão tử sống ở khe núi tới tiến, không thể thay đổi được lệ ấy. Kíp tới khi Tần Thủy Hoàng bổ Nhâm Hiêu làm quan lệnh ở Long Xuyên, muốn bỏ tệ ấy đi. Thần Xương Cuồng tức giận vật chết Hiêu, vì thế về sau lại phải phụng thờ cẩn thận. Đến đời vua Đinh Tiên Hoàng có pháp sư Văn Du Tường vốn người phương bắc, đức hạnh thanh cao, đã từng đi qua nhiều nước, biết được tiếng các dân man, học được thuật làm nanh vàng và răng đồng, năm hơn 80 tuổi sang nước Nam ta. Tiên Hoàng lấy lễ thầy trò mà tiếp, pháp sư bèn dạy cho nghề tạp kỹ để làm trò vui cho thần Xương Cuồng xem mà giết y. Đoàn tạp kỹ này có Thượng Kỵ, Thượng Can, Thượng Hiểm, Thượng Đát, Thượng Toái, Thượng Câu. Hàng năm tới tháng 11 lại dựng lầu Phi Vân cao 20 thước, dựng một cây đứng ở trong, tết vỏ gai làm dây chão dài 136 thước, đường kính rộng 2 tấc, lấy mây mà quấn ngoài rồi chôn hai đầu dây xuống đất, giữa gác lên cây. Thượng Kỵ đứng lên trên dây mà chạy nhanh 3,4 lần, đi đi lại lại mà không ngã. Kỵ đầu đội khăn đen, mình mặc quần đen. Dây của Thượng Can dài 150 thước, có một chỗ mắc chạc ba. Can hai tay cầm hai cán cờ. Hai người đi trên dây, gặp nhau ở chỗ chạc ba thì lại tránh, lên xuống mà không ngã. Khi thì Thượng Đát lấy một tấm gỗ lớn rộng 1 thước 3 tấc, dày 7 tấc đặt lên trên cây cao 17 thước 3 tấc, Đát đứng ở trên nhảy 2, 3 cái, tiến tiến lùi lùi điên đảo. Khi thì Thượng Toái lấy tre đan thành lồng hình như cái lờ bắt cá, dài 5 thước, tròn 4 thước rồi chui vào đứng thẳng mình mà lăn. Khi thì Thượng Câu vỗ tay nhảy nhót, la hét kêu gào, chuyển động chân tay, vỗ đùi vỗ bụng, tiến lùi lên xuống, hoặc cưỡi ngựa bôn tẩu, cúi mình xuống lấy vật ở dưới đất mà không ngã. Khi thì Thượng Hiểm ngả mình nằm ngửa lấy thân đỡ một cái gậy dài rồi cho đứa trẻ trèo lên mà không rớt xuống. Khi thì cho bọn ca hát gõ trống khua chiêng, ca múa rầm rĩ. Lại giết súc vật mà tế. Thần Xương Cuồng tới, thấy thế bèn đến xem, pháp sư đọc mật chú rồi lấy kiếm mà chém. Thần Xương Cuồng cùng bộ hạ đều chết hết, không thể trở lại thành yêu nữa. Lệ tiến lễ hàng năm bèn bỏ, dân lại sống yên lành như xưa. Cây chiên đàn chỉ có ở Ấn Độ và biên giới Tây Nam là nước Mi Hầu: cũng chính là Ấn Độ. Nhâm Ngao: bị thương tại Việt Nam, chứ không phải bị bệnh.
-
Tiền cổ và những hiện vật La Mã trong mối liên hệ giữa văn hóa Óc Eo với vùng Địa Trung Hải Văn hóa Óc Eo tồn tại từ thế kỷ I đến thế kỷ VII-VIII sau Công nguyên, được nhìn nhận là có một nền thương nghiệp phát triển rực rỡ và có mối giao lưu rộng rãi với thế giới bên ngoài. Bằng chứng là số lượng lớn những sản phẩm ngoại nhập, những đồng tiền kim loại và những hiện vật La Mã thuộc văn hóa Óc Eo phát hiện được ở đồng bằng sông Cửu Long và ngược lại, những sản phẩm kiểu Óc Eo được tìm thấy ở nhiều nơi, xa đến tận Ba Tư và thế giới Địa Trung Hải. Các đồng tiền kim loại đã được thu thập tuy số lượng không nhiều, nhưng có giá trị lớn bởi vì nó không những gắn với xã hội có nền kinh tế thương nghiệp phát triển mà còn có vai trò quan trọng trong các mối giao lưu kinh tế - thương nghiệp của xã hội đó. Ngoài 2 đồng tiền vàng La Mã thời Antonius Pius (năm 152 sau Công nguyên) và thời Marcus Aurelius (161-180 S.CN) được L. Malleret thu thập, còn có 12 đồng tiền và mảnh cắt của đồng tiền đã được phát hiện ở di tích Nền Chùa (2 đồng nguyên và 1 mảnh cắt ¼), Kè Một (2 đồng nguyên), Đá Nổi (3 mảnh cắt ¼) và Gò Hàng (4 đồng nguyên). Đồng tiền vàng La Mã khắc hình vua Marcus -Aurelius. Năm 161-180 sau Công nguyên Tất cả 12 đồng tiền và mảnh cắt của đồng tiền kim loại thu thập tại đồng bằng sông Cửu Long đều khác với loại tiền Phù Nam, cũng được tìm thấy ở Miến Điện, có in hình mặt trăng, Srivatsa, Swastika... Trong số 12 đồng tiền đó, 4 đồng tiền được thu thập từ tầng văn hóa của di chỉ Gò Hàng, 1 di chỉ cư trú - xưởng thủ công thuộc văn hóa Óc Eo, nó được sử dụng bởi cư dân Óc Eo lúc đương thời. Về hình dáng, 4 đồng tiền này có dạng gần tròn, đường kính rộng trung bình từ 2,30cm đến 2,50cm; dày 0,15cm đến 0,20cm, được đúc bằng chì - thiếc, với hình nổi trên mặt phải và mặt trái. Đồng tiền thứ nhất: Nặng 2,1414 gram, phần phía trên bị vỡ. Trên mặt phải có hình voi đứng nhìn nghiêng, ngà voi dài, bảy chấm nổi tạo nên hình bông sen 6 cánh ở phần giữa 2 chân trước và 2 chân sau; phía trên cùng có hình mũi tên và cái cung cách điệu. Viền quanh bằng những chấm nổi. Mặt trái bị mòn không rõ hình dạng. Đồng tiền thứ hai: Nặng 2,1801 gram, một phần rìa bị vỡ. Trên mặt phải có hình voi đứng nhìn nghiêng, ngà dài; khác với 3 đồng còn lại, đồng tiền này không có viền chấm nổi bao quanh. Trên mặt trái có hình cây với 2, 3 cành có lá xếp thành hàng hoặc hình cây trong bình. Đồng tiền thứ 3: Nặng 3,2704 gram, một phần bị vỡ. Trên cả hai mặt đều có chấm nổi tạo thành đường viền xung quanh. Trên mặt phải có hình voi đứng, ngà voi dài chạm chân trái. Phía trên có hình mặt trăng lưỡi liềm và hình một mũi tên. Mặt bên trái có hình Vajras đúp hoặc hình Siva cách điệu. Đồng tiền thứ 4: Nặng 2,7475 gram, một phần bị vỡ, không rõ hình; mặt trái có những dấu chấm nổi viền quanh. Ở giữa có hình Vajras đúp hoặc hình Siva cách điệu. Đồng tiền kim loại phát hiện tại di tích Gò Hàng,huyện Tân Hưng, Long An. Trọng lượng và kích thước của 4 đồng tiền này khác nhau. Việc đúc tiền đòi hỏi một kỹ thuật cao, tinh tế và từ nguồn nguyên liệu sống. Những hình nổi trên các đồng tiền này đều có một ý nghĩa nhất định. Những hình voi phản ánh niềm tin tôn giáo của cộng đồng cư dân cổ; hình nổi những cành cây, cái cung, mũi tên, mặt trăng cũng thường gặp ở những đồng tiền cổ trong thế giới Ấn Độ cổ đại. Trong số 2 đồng tiền ở Nền Chùa thì một đồng, trên mặt phải có đúc hình mặt người nhìn nghiêng có mũi cao và thẳng. Đó là hình đầu hoặc bán thân của vua. Trên mặt trái thường là tên hoặc tên hiệu của vua. Đồng tiền thứ hai, trên mặt trái đúc nổi hình người như trong tư thế quỳ, đầu đội mũ, 2 tay dang rộng, đưa cao ngang mặt. Từ những dấu hiệu trên hai đồng tiền ở Nền Chùa có thể thấy chúng thuộc loại tiền Ấn - La Mã, được phát hành vào giai đoạn mà mối giao lưu kinh tế - văn hóa giữa Ấn Độ và thế giới Địa Trung Hải phát triển mạnh mẽ. Đồng vàng La Mã từ năm 308 Công Nguyên và đồng vàng La Mã phát hiện tại di chỉ Óc Eo Ngoài các đồng tiền trên, hiện nay trong nhiều địa điểm ở Đông Nam Á cũng đã tìm thấy các hiện vật La Mã. Tượng thần Pan (Vĩnh Hưng, Long An), chiếc đèn đồng kiểu Alexandre có cán chạm hình lá cọ và 2 con cá heo tìm được ở PongTuk, Thái Lan… là những bằng chứng vật chất cụ thể trong mối quan hệ giữa cộng đồng cư dân Óc Eo với vùng Địa Trung Hải mà Ấn Độ là nơi trung chuyển, là cầu nối giữa văn minh Địa Trung Hải và văn minh châu Á thời cổ đại. Tượng thần Pan (Vĩnh Hưng, Long An) Văn hóa Óc Eo có quá trình phát triển khá lâu dài. Cộng đồng cư dân cổ ở đây đã tạo dựng được một nền thương nghiệp phát triển và có mối giao lưu rộng rãi với thế giới bên ngoài, đặc biệt với Ấn Độ và vùng Địa Trung Hải. Vào lúc Đông Nam Á bắt đầu quá trình "Ấn Độ hóa" thì mối quan hệ giữa Ba Tư, Hy Lạp, La Mã và Ấn Độ tuy có nhiều biến động nhưng rất mật thiết. Các hiện vật ngoại nhập thuộc văn hóa Óc Eo, bên cạnh khối lượng lớn hiện vật mang đậm dấu ấn Ấn Độ còn có nhiều hiện vật Ba Tư, Hy Lạp, La Mã: những đồng tiền và các hiện vật khác; và ngược lại những sản phẩm kiểu Óc Eo cũng được tìm thấy ở Ba Tư, Địa Trung Hải. Lê Khiêm tổng hợp Nguồn: Bùi Phát Diệm, Tiền kim loại và những hiện vật La Mã thuộc văn hóa Óc Eo trong mối quan hệ kinh tế - văn hóa giữa cư dân Óc Eo với vùng Địa Trung Hải. Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam, tập II. H.: KHXH, 2005; tr. 791-795. Đồng vàng La Mã và thương cảng quốc tế Óc Eo 07/12/2011 00:23 Đồng vàng La Mã được giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (TP.HCM) là minh chứng cho những ngày rực rỡ của thương cảng Óc Eo. Theo TS Nguyễn Thị Hậu, sưu tập hiện vật vàng thuộc văn hóa Óc Eo tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, TP.HCM, có một số loại hình đặc biệt như các loại hạt chuỗi hình cầu, các loại vòng cổ vòng tay, hoa tai phong phú về kiểu dáng, nhẫn với hoa văn tinh xảo như chữ Sanscript, hình bò Nadin và các loại đồng tiền trong đó có 2 đồng tiền vàng La Mã. Hai đồng tiền bằng vàng, có chạm hình của các hoàng đế La Mã Antoninus Pius và Marcus Aurelius. Đồng tiền có đường kính chỉ chừng 2 cm, do đó khi trưng bày, bảo tàng đã chụp cận cảnh đồng tiền rồi phóng lớn lên để người xem dễ dàng thấy các hình chạm, hoa văn trên đó. Hai đồng tiền còn nguyên vẹn được bày trong hộp nhung đặt vào tủ kính. Đồng vàng La Mã từ năm 308 Công Nguyên và đồng vàng La Mã phát hiện tại di chỉ Óc Eo - Ảnh: Diệp Đức Minh Ngoài sự quý hiếm của chính những đồng tiền này, chúng còn trở nên quý giá hơn nhiều với giá trị chứng cứ lịch sử mà mình đem lại. Chúng chứng minh sự giàu có, tấp nập của thương cảng Óc Eo, sự rực rỡ của nền văn minh Óc Eo. PGS Nguyễn Văn Kim (ĐH Quốc gia Hà Nội) đánh giá rằng chính sự giàu có, rực rỡ đó là nền tảng, đồng thời là sự phát triển sớm nhất, tiêu biểu nhất của văn hóa Phù Nam và Vương quốc Phù Nam. Thương cảng quốc tế TS Võ Sĩ Khải, Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ cho rằng thủ công nghiệp đặc biệt phát triển ở thời đại Óc Eo. Thặng dư nông phẩm và sản phẩm thủ công nghiệp phong phú đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của thương nghiệp nội địa cũng như với bên ngoài. Từ đó, tư tưởng lợi nhuận và tính hữu hiệu của thương mại đã hình thành ở họ, làm cơ sở cho nền thương mại đặc biệt phát triển vào thời đại Óc Eo. “Các loại tiền tệ, con dấu và hàng hóa của các nước như tượng đồng và một số đồ gốm Ấn Độ, gương đồng thời Hậu Hán, tượng Phật bằng đồng thời Bắc Ngụy, hình của các hoàng đế La Mã Antoninus Pius và Marcus Aurelius chạm trên vàng tìm thấy trong những di tích Óc Eo cho thấy địa bàn giao lưu của các cư dân cổ ở đây rất rộng lớn”, TS Khải đánh giá. Về phần mình, PGS-TS Kim đánh giá Óc Eo chính là cảng thị lớn nhất Đông Nam Á, đồng thời là thương cảng quốc tế. Óc Eo còn có một hệ thống bao gồm những điểm quần cư và đô thị, những trung tâm chính trị - tôn giáo và văn hóa, hải cảng cùng với những điểm sản xuất thủ công - buôn bán và những vùng công nghiệp. Chuyên gia Ấn Độ học hàng đầu thế giới, Giáo sư Nhật Bản Karashima cho rằng: “Di tích Óc Eo nằm ở châu thổ sông Mê Kông (Việt Nam) là một cảng quốc tế nổi tiếng thời cổ đại; có nguồn gốc từ đầu công nguyên”. “Một số đồng tiền La Mã và gương đồng thời Hán cùng với một số chuỗi hạt và các đồ trang sức, các hiện vật tôn giáo khác đã được tìm thấy ở Óc Eo và các khu vực phụ cận vùng châu thổ này. Các hiện vật đó cũng được tìm thấy ở rất nhiều di tích tại Đông Nam Á, đặc biệt là vùng bán đảo Mã Lai và đồng thời cả ở Ấn Độ, nhất là ở miền nam Ấn”. Không chỉ ở Việt Nam, tại nhiều điểm tại Đông Nam Á, người ta cũng tìm thấy các hiện vật có nguồn gốc từ thời La Mã. Điển hình trong số đó là, chiếc đèn lồng kiểu Alexandrie có cán chạm hình lá cọ và hình cá heo được tìm thấy ở Thái Lan. Các nhà nghiên cứu phỏng đoán rằng trong những ngày cực thịnh của Đế chế La Mã, có khả năng những con đường giao thương trực tiếp với phương Đông đã được thiết lập. Đương nhiên, với sự xuất hiện của đồng tiền vàng La Mã tại Việt Nam, hoàn toàn có thể suy luận rằng chúng ta chính là một điểm của con đường giao thương trực tiếp với La Mã hùng mạnh ấy. Về điều này, Giáo sư Nguyễn Quang Ngọc cho biết: “Óc Eo là một cảng thị. Nên mới có chuyện các nhà nghiên cứu, chẳng hạn Giáo sư Sakurai của Nhật Bản, gọi Óc Eo là liên thế giới. Tại sao Óc Eo phát triển được? Bởi nó nằm trên đường hàng hải quốc tế từ Đông sang Tây, Tây sang Đông. Trước nó, có eo Kra ở Thái Lan. Nó phát triển được là nhờ biển chứ. Điều đó cho thấy văn hóa biển rõ nét của dân tộc ta”. Địa điểm trung chuyển thuận lợi Óc Eo là tên gọi do nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret đề nghị đặt cho một địa điểm nằm ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Nơi này có thể đã từng tồn tại một hải cảng sầm uất của Vương quốc Phù Nam từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 7. Óc Eo đã từng được nối bằng một kênh đào dài 90 km về phía bắc với Angkor Borei, nơi có lẽ từng là thủ đô của Vương quốc Phù Nam. Lý do quan trọng nhất cho sự thịnh vượng của Óc Eo là do vị trí của nó trên trục đường thương mại trên biển giữa một bên là bán đảo Mã Lai và Ấn Độ và bên kia là sông Mê Kông cùng với Trung Quốc. Vào thời kỳ phồn thịnh của Óc Eo và Phù Nam, tàu thuyền trong khu vực có thể thực hiện những hải trình rất dài mà không phải đi dọc theo bờ biển. Do vậy, về mặt chiến lược, Óc Eo là một địa điểm trung chuyển rất thuận lợi. (Theo wikipedia) Ngô An
-
Hành trình kỳ lạ của một người Việt đến Tây Tạng - Kỳ 3: Cuốn nhật ký để đời Lạt ma Thubten Osall Nguyễn Tấn Tạo là một trong những cao tăng Việt Nam đầu tiên đã đem xá lợi Phật về nước và cập bến Sài Gòn lúc 7 giờ sáng ngày 30.6.1937 sau cuộc hành hương dài hơn hai năm. Ông mang theo cuốn Nhật ký tham bái Ấn Độ - Tây Tạng ghi chép hằng ngày trên đường đi Đây là cuốn nhật ký chứa đựng nhiều tư liệu giá trị về đời sống xã hội trên xứ tuyết, với các bài thơ, bài kệ do ông làm bộc lộ tấm lòng từ bi, kể cả các đoạn văn ghi lại cảnh sinh hoạt chợ búa bình thường vẫn chan chứa tình thương như khi ông đứng trước những cửa tiệm “bán đồ y phục kỵ hàn (chống rét) nhứt là áo may da trừu, da dê để y lông, cùng da các thú khác (ở Lhasa)... Da thú thuộc rồi treo lểnh nghểnh, chồng cả đống này lên đống kia, thiên hạ bu theo cái quán ấy mua… Bần đạo thấy da chúng thú thương tâm nên chi thà chịu lạnh chớ không đành mua đó làm ấm thân”. Chợ bán toàn thịt trâu, rượu xăng chế từ cơm nếp hồng, trà để pha sữa uống. Ông viết “người xứ tuyết” không đặt lư hương trước bàn Phật mà “có chỗ riêng trống trải ngoài trời để đốt trầm, lá mộc bá, lá thơm tùy hỷ” như ở chùa Dzêss-bung. Chùa này “có tới 7.700 tăng chúng, hằng ngày có 100 tăng sư lo cúng dường, chùa có nóc vàng chói rực”. Ông cũng viếng chùa Sera, chùa Chôkhăng, đại già lam Galden, chạm tên (Thubten Osall, Nhẫn Tế - Minh Tịnh) di lưu tại tháp ngài Nămkha Giamsanh, thỉnh những cục đá nhỏ đem về kỷ niệm. Nhật ký cũng mô tả cảnh tuyết ngập “có chỗ cao đến hơn một mét”, cảnh vắng vẻ thấy “vật chết quăng ném cùng đường” nào là xương cốt, móng da nằm phơi giữa trời. Ông ghi nhận phần lớn người ông gặp trên dãy Himalaya rất tốt bụng, vật chi ai bỏ rơi ngoài sân trước ngõ cứ để nguyên chẳng ai lượm lấy, vì với họ “thân thể không cần, có tiền thì nửa phần ăn, nửa phần cúng dường, ngộ thiệt. Ăn lấy no chứ không lấy ngon. Mặc cho ấm chứ không cần tốt, mình mẩy không lo cho sạch, chỉ lo sạch cái tâm...”. Họ ăn trầu với cao tầm dung (?), hút thuốc để nguyên lá quấn lại. Nóc chùa Thiên Chơn với mô hình tháp ở Bồ đề đạo tràng Ấn Độ - Ảnh: Giao Hưởng Đến xóm Đôdark đi theo mé hồ lớn “muỗi mòng bay theo đen mịch, vừa đi vừa quạt” mới khỏi bị chích. Đến những dãy núi cao “không cây cỏ nào mọc nổi vì bị tuyết đóng dày hằng ngày nên dân (ở đó) phải dùng phân súc vật (như phân bò phân dê) làm củi đun nấu”. Lạ nhất là cảnh hầm đá cho nóng: “Hai người ôm rơm rải trong chòi rồi đem đồ vào, rồi lo đi hầm đá hòn, đến khi đá đã nóng đỏ thì gắp đá bằng kềm sắt spécial pour bỏ vào máng sôi ục ục, nước nóng lối 360, huynh Samdhen giầm trước nửa giờ, vào trùm (uống một chén nước cơm rượu) một hơi mồ hôi ra lai láng như xông. Huynh ấy nói, như vậy nước độc sẽ xuất ra hết, hết đau, mời bần đạo trùm một chặp, mồ hôi ra lau mình, nghe nhẹ nhàng xác tục”. Về nông gia, nhật ký ghi xứ tuyết “có cấy thứ lúa bông như bông cỏ”, với hai loại: một loại lông đuôi cụt (gọi là nễ), thường dùng làm hèm rượu xăng, một loại lông đuôi dài (gọi là trô) thường dùng làm bột sadou, rang xay để đem theo ăn trên đường, khỏi nấu nướng. Ông cũng ghi lại cảnh thiêu xác người chết trên sông Hằng, cảnh người theo phái hành xác nằm trần truồng trên đường phố Madras, cảnh diễu binh lớn ở Lhasa, cảnh múa hát, biểu diễn văn nghệ ở Tây Tạng, cảnh trời nắng song vẫn lạnh tái da, không ở trong nhà được, mà phải đem đồ ăn ra ngoài nắng ăn cho ấm bớt. Đến một hang đá có khói đóng đen, nơi đó người ta tử hình những kẻ phạm tội giết người: “Cách xử tử của xứ Bhutan lạ quá: đem người tội sát nhơn đến mé suối và cái thây bị sát tử cũng khiêng đem đến đó, rồi nấu cơm, đồ ăn cho tội nhơn ăn no nê, đoạn cột bó người tội nhơn với các tử thi của nó đã sát hại, cột bó hẳn hòi rồi quăng xuống suối”. Còn ở Tây Tạng xử khác hơn, bỏ tù, rồi mỗi ngày đánh đòn từ 10 đến 50 roi tùy án nặng nhẹ. Tháp thờ nhục thân của Lạt ma Thubten Osall Nguyễn Tấn Tạo (ở chùa Thiên Chơn) - Ảnh: Giao Hưởng Dự một lễ cúng có 4 vị mang mặt nạ rồng, cầm đuốc bước tới trước pháp đàn múa trong nửa giờ, rồi phà lửa khắp nơi quanh pháp đàn với ý nghĩa đốt các tật xấu xa trong tâm người, đoạn “cả thảy lẳng lặng nghe hòa thượng tụng kinh cúng dường, dưng hương, có đủ thứ hương như: thiên hương, đồ hương, trầm thủy hương, tô lạc”... Đến dốc Nhaip-xốc-la (nhaip là đất, xốc là lưng) ông viết: “Lên đèo này ước vài giờ mới tới đảnh, xuống ngựa, vì xuống cái dốc ải này, ngựa dắt đi còn trợt lên, trợt xuống, hà huống là cỡi. Đi bộ suốt 3 giờ đồng hồ mới tới triền bình địa, mệt ngất lên ngựa đi tới 10 giờ rưỡi mới đến làng Dum-bô-chê”. Tương tự như thế, nhật ký ghi lại những chi tiết trên đường hành hương đến Tây Tạng huyền bí. Nhật ký trên hiện lưu giữ tại chùa Tây Tạng (Bình Dương) với bảng in ronéo (chưa ấn hành) trên khổ giấy A4 dày 316 trang, mà chúng tôi may mắn được đọc. Tục ăn trầu cau của Văn Lang đã tới tận tây Tạng.
-
Một hiện tượng huyền bí. Đó chính là hình Kim Tự Tháp trên tờ một Dollar của Hoa Kỳ. Câu chuyên thần thoại về định chóp Kim tự tháp huyền vĩ bắt đầu từ Ai Cập. Đây chính là hình tượng mô tả khoảng khắc vô cùng bí ẩn của sự khởi nguyên của vũ trụ: "Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng" và "Tứ tương biến hóa vô cùng" theo Lý học Việt (Còn Tàu là "Tứ tượng sinh Bát Quái". Híc!). Hinh Kim Tự Tháp cũng chính là mô hình toán học Vonfram. Mô hình này miêu tả rằng: Nếu chúng ta chỉ bắt đầu bằng những ký hiệu đơn giản - chấm đen và trắng ban đầu - thì khi chúng kết hợp với nhau sẽ dẫn đến một chuỗi gắn bó phức tạp đến mức người ta không thể tưởng tượng rằng : Ban đầu nó vốn rất đơn giản. Và đó chính là nội dung mô hình toán học Vonfram - do Thế Trung trình bày trên diễn đàn lyhocdongphuong. Mô hình này nên đề nghị Thế Trung diễn giải lại một cách cụ thể hơn, bởi có lẽ hai ký hiệu đen trắng được "lấy" từ 1 và 0 trong điện toán? Có lẽ, trạng thái ban đầu của vũ trụ "bất khả tư nghì" hay tưởng chừng đơn giản nhưng không phải vậy, và sự tự hiện hữu và tự thân vận động mà không do ai cả - con "Mắt của thần Ra" phải nhìn xuyên thấu được bóng đêm tức phải hiểu được "chết hay không chết" của mỗi con người. Tất cả sự liên kết từ những nền văn minh cổ xưa, cho đến kiến thức của nền văn minh hiện đại với mô hình Vonfram và nghịch lý Cantor đã liên hệ đến một sự khởi nguyên vũ trụ từ giây "O". Giây "O" đó chính là Thái cực trong Lý học Đông phương, là con mắt ở đỉnh chóp Kim Tự Tháp trên tờ 1 Dollar của Hoa Kỳ, là "tập hợp bao trùm mọi tập hợp " trong nghịch lý toàn học Cantor, là chấm trắng đâu tiên của mô hình kim tự tháp Vonfram. Chính Thái cực - tập hợp của tất cả mọi tập hợp - cái chấm trắng đầu tiên - Tính thấy trong Phật giáo - ....tạo nên tất cả trong đó có khối lượng của tất cả các loại Hạt. "Tính thấy" trong Phật giáo, có lẽ hàm ý chỉ là một thuộc tính của vật chất chứ không hàm nghĩa "sự khởi nguyên" của vũ trụ. "Không thể có Hạt của Chúa" - theo nghĩa là một yếu tố duy nhất tạo nên khối lượng của các hạt cơ bản - chỉ có thể coi dạng vật chất tìm thấy trong cỗ máy LHC vào tháng 7. 2012 là một đang hạt mới. Không có Hạt của Chúa! Lý Học Việt hoàn toàn chính xác khi xác định điều này trước khi cỗ máy LHC hoạt động từ tháng 7. 2008. Vấn đề còn lại vẫn chưa được giải đáp với thí nghiệm nổi tiếng trên LHC: Cái gì tạo nên khối lượng của các loại hạt cơ bản? Cái tạo nên Big bang hay cái "khác" với sự khởi nguyên đã tạo ra thuộc tính/ tương tác chính là sinh ra" khối lượng" - đặc thù. Tiếp tục đi tìm Hạt của Chúa với sự giao lưu giữa hai nền văn minh. Đây là một sự định danh rất phức tạp cho các vấn đề lý thuyết mũi nhọn của nền khoa học hiện đại cần được giải quyết: - Big bang có phải là một lý thuyết đúng trong việc giải thích sự khởi nguyên của vũ trụ không? Dĩ nhiên là không đúng, nhưng phù hợp hiện tượng là sự nổ ban đầu Bigbang mà thôi. - Tốc độ ánh sáng có phải là tốc độ giới hạn của vũ trụ hay không? Hay nó chỉ đúng trong hệ quy chiếu của thuyết Tương đối? Dĩ nhiên là không, nếu vũ trụ vô cùng thì toàn thể vận động như thế nào - không thể ăn khớp. Tôi nghĩ rằng Ly Học Việt giải quyết được những vấn đề này. Tất nhiên chỉ trên phương diện lý thuyết. Và phải vượt qua được những vấn đề này, mới có thể làm sáng tỏ được bí ẩn của thời gian trần trong vũ trụ (Từ giấy "O" đến 10 lũy thừa - 47 sau khổi nguyên vũ trụ). Từ đó sẽ xác định nguyên nhân làm các hạt cơ bản có khối lượng. Bởi vì: Từ giây "O" cho đến hình thành các hạt cơ bản có khối lương là cả một chu trình tương tác rất phức tạp. Nhưng nó lại xảy ra chỉ trong 10 lũy thừa - 47 giây! Đây là nhận định về lý thuyết của nền Lý học Việt cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở miến nam sông Dương tử. Từ giây "0" đến "10 lũy thừa -47" là do khoa học tính: là sai, do chỉ đúng qua hiện tượng Bigbang, cho nên khi chúng ta nhận định mang tính "khoảng thời gian" hay "có thuộc tính như thế này"... đều không hợp lý. Kính.
-
TRUYỆN DẠ XOA VƯƠNG Thời thượng cổ, biên giới nứơc ta có nước Sa Nghiêm, vương nứơc ấy là Dạ xoa ,lại có tên là Trường Ô Vương. Phía bắc nước ấy giáp nước Hồ Tôn Tinh. thái tử nước Hồ Tôn Tinh tên là Trưng tư ,có người vợ đẹp ,tên là Bạch Tịnh nương. Nàng khéo biết trang điểm ,lại có nhan sắc ,nên hoa nhìn phải thẹn , bướm lượn theo người , thực là xinh đẹp đáng yêu. Dạ Xoa vương nghe tin ,muốn cướp nàng làm vợ ,liền bí mật đem quân đánh lén nước Hồ Tôn Tinh ,cướp Bạch Tịnh nương đem về. Trưng Tư cả giận , liền đem quân nước Di hầu rời núi lấp biển cho thành cả đất bằng ,rồi dùng quân đánh phá nước Sa Nghiêm ,giết Dạ Xoa vương và đem Bạch Tịnh nương về nước. Hồ Tôn Tinh là tinh khỉ vượn (di hầu), vương nứơc ấy là Thập Xa Sinh ,nay là nước chiêm Thành. .............. Theo GS.TSKH phan Đăng nhật ,sách Lĩnh nam chích quái là tác phẩm ghi chép sử thi cổ nhất ở Việt nam ,trong đó có truyện Dạ Thoa Vương (bản do GS. Đinh Gia Khánh chủ biên Nxb"Văn học'in lần thứ 2 ,Hà nội 1990) Truyện Dạ Thoa Vương ( Nguyễn Hãng chép là Dạ Xoa Vương) chính là sự tóm tắt hết sức sơ lược sử thi Ấn Độ Raymayana vốn dài 10500 khổ thơ ,viết trên lá cọ ,in thành sách dày 6000 trang. Dạ Thoa Vương là vua quỉ ,người Ấn Độ gọi là Dạ Xoa. Hồ Tôn Tinh: là Ấn Độ. Trường Xa Nghiêm: Srilanca Biên giới phía Nam của Văn Lang trên đất liền: chính là Ấn Độ, còn Srilanca dùng để định vị Ấn Độ trong truyện Dạ Xoa Vương (Ấn Độ lằm phương Bắc so với đảo Srilanca, do vật loại di hầu mới phá núi lấp biển để tấn công).
-
TƯƠNG ĐỒNG VIỆT-ĐẢO BALI QUA CẤU TRÚC MỘT NGÔI ĐỀN BALI, NAM DƯƠNG. Nguyễn Xuân Quang Về văn hóa, Bali là một hòn đảo đặc biệt của Nam Dương. Bali cũng như nhiều đảo khác của Nam Dương liên hệ ruột thịt với cổ Việt nói riêng và với Bách Việt nói chung. Sự liên hệ này đã được chứng minh qua nhiều địa hạt, qua khảo cứu đa ngành. Xin kể ra một vài điểm chính yếu: .Cổ học: Ba Li nằm trong vùng Đất Sunda Nhỏ (Lesser Sunda Land) ngày xưa nối liền với lục địa Đông Nam Á . James Churchwards đã chứng minh có một lục địa Đất Mẹ (MotherLand) tên là Lục Địa Mu Continent of Mu (Mu chính là Việt ngữ Mụ là Mẹ) bao gồm vùng đất Nam Hải nối với Đông Nam Á. Nơi đây có một nền văn minh huy hoàng mà ông cho là cái nôi của văn minh nhân loại ngày nay. Gần đây Stenven Oppenheimer cũng chứng minh vùng Sundaland (gồm Lớn và Nhỏ) ở Nam Dương và lân cận cũng nối liền với Đông Nam Á và có một nền văn hóa huy hoàng được coi là nguồn cội của văn minh nhân loại (Địa Đàng ở Phương Đông). Cổ học cũng tìm đào được nhiều sọ người Nam Đảo, Hắc Đảo (Melanesia) ở Bắc Việt Nam và chứng minh rằng Lạc Việt hợp chủng tộc liên bang Văn Lang Hùng Vương bao gồm cả các tộc và văn hóa Nam Đảo, Hắc Đảo. .Ngôn ngữ học: Nam Dương ngữ liên hệ ruột thịt với Việt ngữ. Tiếng Việt hiện nay là tiếng Lạc Việt hợp chủng tộc có gốc Môn Khme thuộc nhánh Nam Á tức Lạc Việt nguyên thủy ở Lĩnh Nam. Tiếng này coi như là gốc, thân cây của tiếng Việt hiện tại. Cây ngôn ngữ Việt này có hai cành: một cành là tiếng Tầy Thái (Tai Kadai) tôi gọi là tiếng Lạc Việt Núi và cành tiếng Nam Đảo tôi gọi tiếng Lạc Việt Biển. .Di truyền học: dân Nam Dương có DNA giống dân Đông Nam Á trong đó có cổ Việt (cùng có Mitochondrial DNA Haloptype B cũng như sự thất thoát của các cặp cơ bản số 9 giữa hai thể di truyền CO II tRNA LYS). .Khảo cổ học tìm thấy nhiều cổ vật liên hệ giữa Nam Dương và Việt Nam ví dụ đồ đồng có văn hóa Đông Sơn tìm thấy tại Nam Dương như những loại rìu Roti, các trống đồng Đông Sơn. Tại Bali có trống của Đông Sơn xuất xứ từ Việt Nam mang xuống hay làm tại chỗ mang sắc thái Nam Dương, tại Bali có thêm một loại trống đặc biệt thuộc đại tộc Đông Sơn mà không một quốc gia nào khác có là trống Trăng Bali, Pegeng (xem Trống của Đại Tộc Đông Sơn Mang Sắc Thái Nam Dương và Trống Pejeng). .Động-Thực Vật Học cho thấy ở Nam Dương nói chung và ở Bali nói riêng có nhiều giống cùng loại thấy ở Đông Nam Á ví dụ như cọp Bali giống cọp Đông Nam Á tuy nhỏ con hơn (ngày nay đã tuyệt chủng, hình ảnh của loài cọp này còn thấy khắc trên trống đồng Nam Dương). Vân vân… Như thế văn hóa cổ Bali nói riêng có cùng chung những nét với văn hóa cổ Việt là chuyện tất nhiên. Sau này Ấn giáo tràn xuống Bali qua các thương nhân. Hơn chín mươi phần trăm dân Bali ngày nay theo Ấn giáo. Vì vậy cốt lõi của văn hóa Bali hiện nay là Ấn giáo pha trộn với văn hóa nguyên thủy bản địa Bách Việt vùng biển. Cốt lõi văn hóa Bali là Ấn giáo trộn với thần giáo, bái giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, Vũ Trụ giáo của Bách Việt cổ. Cũng vì vậy mà Ấn giáo Bali có những sắc thái riêng khác hẳn với Ấn giáo ở Ấn-Độ. Vũ Trụ giáo trong Ấn giáo pha mầu với Vũ Trụ giáo của Bách Việt tạo thành những cung bậc, sắc giai mầu sắc tuyệt vời. Với sự pha trộn hài hòa này, con người Bali hàng ngày sống với các thần linh cõi trên, với con người thế phàm cõi giữa và với quỉ thần cõi dưới, cõi âm. Người Bali sống ở ba cõi thiên đường, trần thế và âm ty Ấn-Việt cùng một lúc. Văn hóa Bali tuyệt vời này đã thu hút hàng năm 8 triệu du khách trong và ngoài nước. Một trong những nét tiêu biểu của văn hóa Bali là những đền đài Bali với cấu trúc đặc thù hết sức thần kỳ. Hiểu được kiến trúc các đền đài Bali là ta nắm vững được một phần chính yếu của cốt lõi văn hóa Bali và ta thấy rõ được sự tương đồng giữa văn hóa Việt và Bali. Bali là đảo ngàn đền. Mỗi làng có vài ngôi đền. Mỗi nhà ít nhất có một đền nhỏ. Tất cả các ngôi đền hoặc hướng lên núi kala (theo k = v như kẻ = vẽ, ka = về, hướng về và -la là lả, là lửa, núi) hoặc hướng xuống biển kelod (, ke- = về, về phía và -lod là lạc, nác, nước, biển). Đây là chứng tích của văn hóa lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng, lên non xuống biển của Việt Nam nói riêng và của Bách Việt nói chung. Hướng lên núi kala là hướng quan trọng nhất. Đây là hướng Lửa ngành nọc mặt trời Lửa ứng với Viêm Đế-Kì Dương Vương có khuôn mặt nữ là Âu Cơ. Hướng xuống biển thường cho là phụ. Mặc dù hướng xuống biển nhưng đền vẫn phải quay về phía mặt trời mọc. Đây là hướng nước ngành nọc mặt trời nước Thần Nông-Lạc Long Quân thái dương. Trong mỗi làng có ba loại đền chính. Đền Tổ (Pura Puseh ; Puseh có Pu- là bố, phụ) quan trọng nhất do các vị thuộc ngành sáng lập làng đảm trách ở phía đầu làng hướng về núi tức kala của làng. Ở cuối làng hướng về biển tức kelod là đền của người chết (Pura Dalem), nơi đây cũng có nghĩa trang. Đền này liên hệ với Durga, khuôn mặt tàn ác của vợ thần Shiva là Parvati. Thần Shiva và Parvati có hai khuôn mặt sáng tạo và hủy diệt vì thế được thờ ở Đền Dalem này. Ở giữa làng có Đền Thánh Thần (Pura Desa) phù hộ cho dân làng trong cuộc sống hàng ngày. Tổng quát ta thấy rất rõ nguyên lý lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng, Núi Biển của các ngôi đền trong một làng Bali. Lệ làng còn giữ văn hóa Bách Việt. Đền hướng núi thuộc chim Âu Cơ. Đền hướng biển thuộc rắn Lạc Long Quân. Ngoài ra ba ngôi đền trong một làng cũng cho thấy liên hệ ruột thịt với Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Đền đầu làng hướng núi kala ứng với thờ thượng thế, đền giữa làng thờ thánh thần trung thế cõi giữa nhân gian và đền cuối làng hướng biển kelod thờ vong nhân và các khuôn mặt âm của Shiva và Parvati ứng với cõi âm hạ thế. Ta cũng thấy rõ đền cuối làng hướng biển thờ người chết cõi âm cũng ăn khớp với khuôn mặt cõi âm của Thần Biển Lạc Long Quân. Giống như ở Bách Việt, Bali còn giữ các tín ngưỡng thờ phượng từ thượng cổ như thờ bái vật, thần vật, phồn thực… nên ở Bali còn có các điện nho nhỏ thờ các loại này. Hãy khảo sát kiến trúc một ngôi đền tiêu biểu. Xin lấy ngôi đền Kehen ở Bangli, Ubud làm ví dụ. Đền Kehen ở Bangli, Ubud, Bali (ảnh của tác giả). Đền Kehen được xây vào thế kỷ 11 là ngôi đền lớn nhất và tinh xảo nhất ở phía đông Bali. Đền ở phía bắc Bangli và là đền quốc gia, quốc tổ (state temple) của vương quốc Bangli. Bangli có gốc là Bang giri với Bang là Đỏ. Bang ruột thịt với Việt ngữ bàng có nghĩa là đỏ như cây bàng là cây có lá đỏ (cây bàng lá đỏ, Trịnh Công Sơn). Giri là con gái, nàng, nường. Giri ruột thịt với Việt ngữ gái. Bangli có nghĩa là Nàng Đỏ. Dân Bangli hiện nay hiểu theo nghĩa Bangli chỉ Núi. Tên của một vương quốc thì Nàng Đỏ phải mang một nghĩa cao đẹp liên hệ với vũ trụ quan, nhân sinh quan, tín ngưỡng của Bangli. Nàng Đỏ phải liên hệ với mặt trời nữ. Việt Nam cũng có Nàng Đỏ. Âu Cơ Việt Nam là Nàng Lửa (Vụ Tiên là Nàng Nước, Thần Long là Nàng Gió và vợ Hùng Vương thứ nhất là Nàng Đất). Nàng Lửa là Nàng Đỏ (Âu biến âm với au là đỏ, hai má đỏ au), là Nàng Tỏ, là Nàng Mặt Trời, Thái dương thần nữ Việt Nam (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Âu Cơ Nàng Lửa có khuôn mặt lửa núi thế gian Li âm. Khuôn mặt núi này thấy rõ qua sự kiện là Mẹ Tổ Âu Cơ dẫn 50 con lên núi. Khuôn mặt núi Cấn này hôn phối với khuôn mặt Chấn biển Lạc Long Quân. Như thế Bangli Nàng Đỏ Núi liên hệ với Âu Việt phía Nàng Đỏ Núi Âu Cơ. Bangli là một thứ Âu Việt ở biển, ở hải đảo. Đền được coi là đền thu nhỏ của đền Besakih. Tên Kehen phát gốc từ Keren có nghĩa là ngọn lửa (Keren làm liên tưởng tới dầu kerosen đốt lửa) vì thế ngày xưa gọi là đền Thần Lửa Hyang Api (God of Fire). Từ Ke- ruột thịt với Việt ngữ Kẻ, Kì có một nghĩa là cọc, lửa, Núi Trụ Thế Gian. Kì Dương Vương là vua Núi Trụ Thế Gian, lửa đất thế gian Li có một khuôn mặt tương đương với núi Meru của Ấn giáo và Phật giáo. Con dân của Kì Dương Vương là Xích Quỉ tức Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời. Kì Dương Vương đội lốt Viêm Đế. Viêm Đế tương đương với Brahma của Ấn giáo. Viêm Đế cũng lưỡng tính phái có khuôn mặt âm là Thần Nông. Vì thế mà Viêm Đế có hiệu là Thần Nông (ở ngành âm thì ngược lại, Thần Nông có hiệu là Viêm Đế). Đền Kehen thờ ba vị thần tối cao của truyền thuyết sáng thế Ấn giáo là Brahma, Shiva và Vishnu. Đền mang ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ba vị thần sáng thế của Việt Mường là Đá Cần, Đá Cài và nàng Kịt. Đá Cần là thần Cọc đứng (như cần câu) biểu tượng cho nọc Lửa vũ trụ tức Càn ứng với khuôn mặt Càn của Brahma. Đá Cài là nọc ngang như cọc cài cửa biểu tượng cho nọc Lửa đất bằng thế gian Li ứng với khuôn mặt nọc lửa của Shiva và Nàng Kịt là khuôn mặt thần nữ, âm, nước ứng với khuôn mặt âm, nước của Vishnu. Theo tên đền như vậy nên đền có khuôn mặt thờ thần lửa vũ trụ Càn của đấng tạo hóa Brahma mang tính chủ. Đấng tạo hóa Brahma trong Ấn giáo lưỡng tính phái nòng nọc, âm dương. Ở đền này thờ thần lửa là khuôn mặt dương, lửa vũ trụ Càn của thần Brahma mang tính chủ. Đền xây trên một ngọn đồi mang hình ảnh của núi Meru. Như đã biết núi Meru có một khuôn mặt là Núi Trụ Thế Gian, Núi Thế Gian Đất Lửa hình kim tự tháp diễn tả bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) (cũng ở dưới dạng hình tám giác và trong không gian ba chiều là hình kim tự tháp) mang dương tính, lửa, mặt trời, Càn. Ta cũng thấy rõ Anh ngữ pyramid có gốc pyro- là lửa. Đền có hình đồi mang hình ảnh núi Meru kim tự tháp ăn khớp trăm phần trăm với sự thờ phượng vị Thần Lửa Brahman. Bố cục đền làm theo Tam Thế. Bố cục đền làm theo Tam Thế gồm có ba tầng sân có vòng thành có khắc chạm các tượng, hình và nối với nhau bằng các bậc tam cấp đi qua các cổng nhỏ khắc chạm tinh vi. Từ chân đồi phải leo lên các bậc thang vào đền bằng ba cửa. Chiếc cửa chính chỉ mở vào dịp lễ lạc và dành cho các quan chức dùng. Bình thường dùng hai cổng phụ hai bên. Một cổng phụ (ảnh của tác giả). Cổng phụ cũng được chạm khắc trang trí rất tinh vi theo những motifs tín ngưỡng tùy theo đặc tính riêng của mỗi đền. Cổng phụ mang cấu trúc của các cổng chẻ đôi (split gates). Những cổng chẻ đôi này có hình dạng một ngọn núi nhọn đầu có lẽ mang hình ảnh của núi Meru. Tôi gọi là cổng núi chẻ đôi. Cổng núi chẻ đôi mở vào trung thế. Mặt trong của hai bên trụ cổng rất bằng phẳng và láng bóng không có trang trí khiến ta có cảm giác như trái núi bị một nhát chém của lưỡi gươm thần chẻ núi ra làm đôi tạo ra cổng. Khoảng hở của cổng là lối vào. Như đã biết núi Meru có Trục Thế Giới là đường thông thương ba cõi Tam Thế. Khoảng hở của cổng giữa hai nửa núi chính là hình ảnh của Trục Thế Giới. Đứng trước cổng ta có cảm tưởng Núi Trụ Thế Gian tách mở ra làm hai để hiện ra Trục Thế Giới. Bước qua cổng Trục Thế Giới này là bước vào thế giới linh thiêng của Tam Thế. Người Bali phải ăn mặc và hành sử đúng theo qui luật tín ngưỡng. Du khách phái nữ không được mặc áo ngắn tay, hở ngực và phải quấn sarong. Phái nam phải quấn dây lưng. Đường lên cổng chính là một cầu thang có 38 bậc cấp . Hai bên cầu thang là các hình tượng tạc theo phong cách các vị thần trong tuồng bóng (Việt Nam hiện nay gọi là Rối Bóng) wayang dựa theo truyện truyền kỳ Ramayana. Trong các tượng này có một pho tượng ông cả, ông tiên chỉ làng dùng để đón chào khách thăm viếng. Tượng ông cả làng đón chào khách thăm viếng (ảnh của tác giả). Cổng là một tác phẩm điêu khắc tuyệt trần. Ở giữa trên cao có hình mặt lạ kala makara (makara có mak- là mặt), con của Shiva biểu tượng cho quỉ thần để canh gác đền. Hạ Thế Bước qua ba cổng này coi như bước vào thế giới thiêng liêng của thần linh. Tầng sân ngay sau cổng chính và hai cổng phụ là hạ thế. Nơi đây thờ phượng các thần linh cõi nhân gian và là nơi có các sinh hoạt nhân sinh như hội hè, đình đám, ca vũ nhạc kịch. Đập ngay vào mắt là một cây đa cổ thụ già hơn 700 năm được coi là một cây thiêng liêng trong văn hóa Bali. Ở trên cao của cây có “lầu trống” để hai cái trống lớn Lầu trống có hai chiếc trống mõ quấn sarong vàng (ảnh của tác giả). gọi là kul-kul. Ngày nay trống được hiểu theo nghĩa duy tục là dùng để triệu tập dân làng, báo động khi có tai ách, dùng để báo tử khi có nhân vật quan trọng nào chết… Thật ra trống mang một ý nghĩa biểu tượng tín ngưỡng trong Vũ Trụ giáo (xem dưới). Tường thành bao quanh có dát các đồ sứ Trung Hoa. Các đồ gồm sứ cổ đã bị cậy lấy mất. Các vật hiện nay đều là vật tái tạo. Tường có gắn gồm sứ Trung Hoa (ảnh của tác giả). Ở đây cũng có những người bán dạo dụ bán cho du khách những đồng tiền kim loại Trung Hoa nói là tiền cổ từ thời đền được xây vào thế kỷ 11. Sự hiện diện của gốm sứ và các tiền kim loại Trung Hoa ở đây cho thấy Bali vào thời này đã có giao thương với Trung Hoa và cũng cho thấy vương triều Bangli này rất giầu có. Sân trong Trung Thế là jeroan, nơi có chính điện thiêng liêng nhất của đền gọi là meru có 11 mái ngự trị khu này. Điện thờ vị thần chính của đền là Thần Lửa. Ngôi đền Meru chính (ảnh của tác giả). Ngôi đền Meru chính nhìn bên hông. Lưu ý vào một ngôi đền Bali, phái nam phải thắt lưng và phải nữ phải quấn sarong. Ngoài ra còn có những meru lỡ và nhỏ thờ các vị thần khác. Ở phía bắc có một chiếc ngai đá thờ ba vị thần chính của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Visnu. Chiếc ngai đá thờ ba vị thần chính của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Visnu (bali-travel-life.com). Trong các hình chạm khắc có hình Shiva cùng con là Ganesha và Durga. Đế chiếc ngai đá có con rùa biểu tượng cho thượng thế và hai con rắn quấn quanh biểu tượng cho âm thế. Như thế chiếc ngai đá có một khuôn mặt biểu tượng cho Trung Thế. Chiếc ngai biểu tượng cho đất, núi, Trung Thế thấy rõ qua hình nữ thần Ai Cập Isis tương ứng với Âu Cơ-Núi có biểu tượng là chiếc ngai (Tương Đồng Giữa Ai Cập Cổ với Cổ Sử Việt). Thượng Thế Từ trung thế dùng các bậc cấp đi lên thượng thế là một khu sân nhỏ trên cao phía trong cùng. Ở bên phải của sân thượng thế có ba điện ngai (throne shrines) biểu tượng cho tam thần Brahma, Shiva và Vishnu, những vị thần sáng thế của Ấn giáo. Cấu trúc đền theo Tam Thế với ngọn núi là trục thế giới, đền mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Ý Nghĩa Cấu Trúc Của Đền Kehen. Như đã nói ở trên cốt lõi văn hóa Bali là sự hôn phối giữa Vũ Trụ giáo Ấn giáo với Vũ Trụ giáo Bách Việt vì thế ta hãy nhìn cấu trúc ngôi đền này Bali dưới lăng kinh chung của Vũ Trụ giáo của hai nền văn minh Ấn-Việt . Vũ Trụ giáo đã thấy rõ qua .chủ đích của đền là thờ ba vị thần tối cao trong truyền thuyết sáng thế của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Vishnu. Đền mang ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo. .hình dạng đền trên núi mang ý nghĩa biểu tượng cho núi Meru của đền. .hình ảnh núi Meru của cổng chính. .qua bố cục Tam Thế của đền. .cây đa cổ thụ như đã nói ở trên. Sự thờ phượng cây đa của Bali giống như trong văn hóa Việt Nam và Bách Việt. Cây đa là cây thần thường được trồng ở đình miếu, chùa chiền. Cây đa có một khuôn mặt là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) trong Vũ Trụ giáo (xem Cây Đa Rụng Lá Sân Đình, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt). Như đã nói, ở trên cao của cây đa có treo trống kul-kul. Như đã biết trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn mang trọn vẹn triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo. Ở đây chỉ thờ trống mõ mà không thờ cồng, chiêng cho thấy rõ trống là biểu tượng cho Vũ Trụ Tạo Sinh của đền. Ở đây trống thờ trên cao ở cây đa mang hình bóng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) bắt buộc trống phải mang nghĩa tín ngưỡng của Vũ Trụ giáo. Tóm lại thờ trống mõ ở đây cho thấy đền có một khuôn mặt Vũ Trụ giáo. Hư Không, Vô Cực Đỉnh núi Meru là cõi hư vô. Đền có Tam Thế tất nhiên ở cõi thượng thế có hư không. Trở lại hai chiếc trống mõ kul-kul ở lầu trống trên cao ở cây đa. Phần chòm cây đa mang hình ảnh Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế là thượng thế. Dĩ nhiên thượng thề có hư không. Ngày nay trống này được hiểu theo nghĩa duy tục là dùng để báo động khi có tai ách, dùng để báo tử khi có nhân vật quan trọng nào chết… Nhưng phải hiểu theo một nghĩa cao hơn trong tín ngưỡng. Trong Vũ Trụ giáo trống có một khuôn mặt biểu tượng cho hư không, vô cực. Trống là không. Trống có một khuôn mặt hư không (tiếng trống thu không) (Ý Nghĩa và Chức Vụ Trống Đồng trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Trống ở đây làm bằng một khúc thân cây khoét rỗng tức một loại trống mõ (split drum). Mõ biến âm với mo, cái bao, bọc. Mõ biểu tượng cho hư không, không gian có hình bao, bọc, túi. Ở đây trống mõ có hình trụ mang nghĩa nọc, lửa. Trống mõ nọc biểu tượng cho hư không phía nọc lửa ứng với khuôn mặt của thần lửa Brahman, của đấng tạo hóa Brahma. Ở đây có khuôn mặt lửa vũ trụ Càn mang tính chủ. Ta cũng thấy hai trống trụ nọc là hai nọc là hai dương, thái dương. Hai que nọc cũng dùng để dùi làm lửa. Con rùa dưới chân ngai đá có mai hình vòm biểu tượng cho vòm hư vũ trụ, vòm hư không có một khuôn mặt hư vô. Hiển nhiên đền có một khuôn mặt biểu tượng cho hư vô, vô cực. Trứng Vũ Trụ, Thái Cực. Đền xây trên một ngọn đồi mang hình ảnh của núi Meru. Như đã biết, đền hình kim tự tháp có là hình nọc thái dương sing động. Nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói), hình tam giác, hình kim tự tháp mang dương tính, lửa, mặt trời, Càn. Đền có 8 tầng bậc. Số 8 là số Khôn tầng 1. Ta thấy rõ có sự hôn phối Càn Khôn giữa đền hình kim tự tháp Càn với 8 tầng bậc, Khôn. Nhìn dưới dạng nhất thể đền mang tính lưỡng hợp đại vũ trụ Càn Khôn. Cổng chính cũng mang hình ảnh núi Meru có tầng cấp bậc là mái. Nhìn từ mặt sau cổng chính thấy rõ trên chỏm nóc có hình bầu nậm, nhìn, dưới diện nhất thể là thái cực. Thấy rất rõ là trên chỏm nóc của cổng chính có hình bầu nậm, nhìn dưới diện nhất thể bầu nậm là trứng vũ trụ, thái cực. Chiếc ngai đá có phần trên hình trụ dương, lửa dưới chân có hai con rắn âm, nước, nhìn dưới dạng nòng nọc, âm dương nhất thể cũng mang hình ảnh thái cực. Như đã nói ở trên ở đền thờ Thần Lửa Brahman này có khuôn mặt thần tạo hóa Brahma lưỡng tính phái mang tính chủ. Khuôn mặt lưỡng tính phái ứng với trứng vũ trụ, thái cực. Nói rộng ra trong một ngôi đền Bali vị thần sinh tạo thường mang khuôn mặt lưỡng tính phái, nòng nọc, âm dương nhất thể. Vị này thường lớn hơn hết và đứng ở giữa tại chính điện. Ví dụ ở một ngôi đền thờ ba vị thần sáng thế chính là Brahma, Shiva và Vishnu thì vị thần tạo hóa lưỡng tính phái là vị thần chính. Chi tiết giúp ta nhận diện ra vị này. Ví dụ thần được quấn sarong có các ô vuông (ca-rô) đen (âm) và trắng (dương) giống như mầu đen trắng của đĩa thái cực. Lưỡng Nghi Nhìn dưới diện lưỡng cực riêng rẽ đền có một khuôn mặt lưỡng nghi. Ở bên cạnh điện tháp meru chính 11 mái có một khuôn mặt nòng nọc, âm dương lưỡng hợp nhất thể có hai đền tháp meru cỡ trung chỉ có 3 mái ứng với lưỡng nghi. Hai đền tháp Meru cỡ trung bên đền tháp chính ứng với lưỡng nghi. Tại chiếc ngai đá chạm hoa sen thờ ba vị thần chính của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Visnu thì thần Shiva có một khuôn mặt Trụ Lửa và Thần Vishnu có một khuôn mặt sông nước (sông Hằng, có biểu tượng là con cá sấu) ứng với lưỡng nghi. Nói rộng ra trong một ngôi đền Bali thờ ba vị thần sáng thế thì hai vị thần hai bên ứng với lưỡng nghi. Chi tiết giúp ta nhận diện ra hai vị này. Ví dụ thần được quấn sarong đen ứng với cực âm và vị quấn sarong trắng ứng với cực dương. Tứ Tượng Núi Meru có đế vuông diễn tả tứ tượng. Đền cũng vậy. Cũng nên biết thêm là nếu trong một ngôi đền Bali có thờ 5 vị thần thì một vị thần chính là đấng sinh tạo, tạo hóa và bốn vị thần kia ứng với tứ phương, tứ tượng. Các chi tiết giúp ta nhận diện được các vị thần này. Tam Thế Đền có bố cục Tam Thế. Các điện thờ nhỏ cũng có ba mái Tam Thế. Điện thờ nhỏ ba mái Tam Thế (ảnh của tác giả). Chiếc ngai đá thờ ba vị thần chính của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Visnu cũng có một khuôn mặt Tam Thế. Con rùa có mai vòm biểu tượng cho thượng thế. Hai con rắn biểu tượng cho hạ thế và trụ ngai biểu tượng cho núi trụ thế gian biểu tượng cho trung thế. Đền có cổng chính và hai cổng phụ là ba ngõ vào Tam Thế. Ba cổng này là một dạng cổng tam quan của các đền chùa, đình miếu Việt Nam. Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Như đã nói ở trên, cấu trúc đền theo Tam Thế với ngọn núi là trục thế giới, đền mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Ở đây ta thấy rất rõ cấu trúc đền giống hệt cấu trúc đền Hùng Vương ở Vĩnh Phú Việt Nam. Đền Hùng Vương cũng có Tam Thế là đền Thượng, Hạ và Trung và núi Nghĩa Lĩnh là Trục Thế Giới mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) (xem dưới và Cấu Trúc Đền Hùng Vương). Đền có cây đa thần mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Trục Thế Giới Đền nằm trên đồi mô phỏng theo núi Meru có một khuôn mặt Trục Thế Giới. Như đã nói ở trên , đền Tam Thế có biểu tượng là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Thân cây là trục thế giới. Cổng chính với các cấp bậc đi lên có hình tháp có tầng có hình chỏm hình bầu nậm mang hình ảnh núi Meru. Như đã nói ở trên, Meru có một khuôn mặt là Trục Thế Giới. Chiếc ngai đá thờ ba vị thần sáng thế ứng với Tam Thế có một khuôn mặt Trục Thế Giới. Trục Thế Giới là khoảng hở của các cổng núi chẻ đôi mở vào tam thế. Sự Tương Đồng Giữa Đền Kelen với Đền Tổ Hùng, Vĩnh Phú, Việt Nam. Thật vắn tắt ta thấy rất rõ: -Đền Kelen thờ ba vị thần tổ tạo hóa Brahma, Shiva và Vishnu giống như đền Tổ Hùng (xin nhắc lại tôi dùng nhóm từ đền Tổ Hùng thay vì đền Hùng Vương. Tổ Hùng kể từ Viêm Đế-Thần Nông trở xuống). Ở cõi tạo hóa, thần Brahma lưỡng tính phái nhất thể ứng với Viêm Đế-Thần Nông nhất thể. Thần Shiva ứng với Viêm Đế tạo hóa và thần Vishnu ứng với Thần Nông tạo hóa. Ở cõi sinh tạo thế gian, Brahman với khuôn mặt sinh tạo thế gian ứng Đế Minh, Shiva với khuôn mặt thế gian ứng với Kì Dương Vương thế gian và Vishnu với khuôn mặt sinh tạo thế gian ứng với Lạc Long Quân thế gian. Như đã nói ở trên, theo truyền thuyết Mường thì Đá Cần ứng với Brahma, Đá Cài ứng với Shiva và Nàng Kịt ứng với Vishnu với khuôn mặt thái âm, nước. .Đền Kelen nằm trên sườn dốc của một ngọn đồi cao mang hình ảnh Núi Trụ Thế Gian Meru trong có Trục Thế Giới giống như Đền Tổ Hùng nằm trên sườn núi Nghĩa Lĩnh. Núi Lĩnh cũng mang hình ảnh Trục Thế Giới. Nghĩa Lĩnh với Nghĩa là nghĩa ơn, biết ơn, tạ ơn và Lĩnh là núi nhọn đỉnh núi dương. Nghĩa Lĩnh có một khuôn mặt là Trục Thế Giới thông thương ba cõi, là trục lộ có thể dùng để dâng cúng lời tạ ơn, cầu nguyện và tế vật tạ ơn tới vũ trụ, mặt trời, thần linh, tổ tiên Việt (Cấu Trúc Đền Hùng Vương). -Đền Kelen có 8 tầng sân ứng với Khôn và hình núi tháp trụ Meru có một khuôn mặt lửa Càn, thờ vị thần lửa Brahman ứng với Càn. Nhìn tổng quát mang tính Càn Khôn nòng nọc, âm dương giống như Tổ Hùng ứng với trứng vũ trụ phân chia ra hai ngành Lửa, Nước nòng nọc, âm dương ứng với Càn Khôn. -Đền Kelen có phân bố (lay-out) theo Tam Thế giống hệt đền Tổ Hùng cũng gồm có ba đền Thượng, Trung, Hạ ứng với Tam Thế. -Đền Kelen Tam Thế nằm trên đồi Trục Thế Giới diễn tả Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) giống hệt đền Tổ Hùng. -Đền Kelen có thờ trống giống như đền Tổ Hùng cũng thờ trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Trống thuộc loại trống vũ trụ Nguyễn Xuân Quang I (Cơ Thể Trống Đồng). -Đền Kelen tại trung thế, có điện chính thờ Thần Lửa cũng giống như ở Đền Trung tại đền Tổ Hùng có thờ Lửa. -Đền Kelen, tại trung thế có chiếc ngai đá hình thạch trụ khắc hoa sen (loài hoa mọc dưới nước) đứng trên đế lưng rùa (biểu tượng vòm trời thiếu âm khí gió tức nòng Khôn dương) và hai con rắn quấn quanh (biểu tượng cho thái âm nước tức nòng Khôn âm) mang hình ảnh thạch trụ của ngành Khôn âm, có một khuôn mặt là mặt trời nước, êm dịu. Tại đền Tổ Hùng có một thạch trụ được gọi là tảng đá thề của An Dương Vương. An Dương Vương có một nghĩa là Vua Mặt Trời Êm Dịu ngành mặt trời nòng nước Lạc Long Quân. An Dương Vương cũng liên hệ với con Rùa Vàng Kim Qui giống ngai đá đứng trên con rùa ở đây. Dù cho có là chuyện trùng hợp thì đây cũng là điều thú vị. -Đền Kelen có cây đa cổ thụ giống đền Tổ Hùng có cây thông cổ thụ. Cây được thờ phượng có một khuôn mặt mang hình bóng của Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) -Đền Kelen là đền quốc gia, là đền quốc tổ của vương triều Bangli, Nàng Đỏ, Nàng Lửa, Nàng Núi ứng với Âu Cơ là Nàng Lửa dòng Viêm Đế-Kì Dương Vương. Đền Tổ Hùng cũng thờ Âu Cơ. Đền Tổ Hùng là đền quốc tổ Việt Nam có một khuôn mặt Âu Lạc (tại đền Tổ Hùng thờ cả Lạc Long Quân và Âu Cơ). -Đền Kelen có biểu tượng nổi bật là cổng chính hình núi Meru trên nóc cổng có hình bầu nậm biểu tượng cho nòng nọc, âm dương. Đền Tổ Hùng có biểu tượng nổi bật là Lăng Hùng Vương thứ 6, trên nóc có hình bầu nậm biểu tượng cho nòng nọc, âm dương. -Điện meru chính có 11 mái thờ thần Lửa Brahman có số 11 là số Đoài vũ trụ tầng 2 (11 = 8 + 3) khí gió. Hùng Vương có một khuôn mặt thần bầu trời khí gió Đoài vũ trụ. …… Kết Luận Qua ý nghĩa và cấu trúc đền thờ Bali ta thấy rõ có sự tương đồng, hòa hợp giữ văn hóa Ấn giáo và văn hóa Việt Nam, Bách Việt. Vũ Trụ giáo của Ấn giáo đã hòa đồng với Vũ Trụ giáo của Việt Nam một cách tuyệt vời. Điều này không có gì là nghịch lý cả vì Bali nói riêng và Nam Dương nói chung nguyên thủy cùng một đại tộc Bách Việt. Điểm thấy rõ và thuyết phục nhất là sự tương đồng đến độ kinh ngạc giữa đền Kelen và đền Tổ Hùng. Một lần nữa cho thấy ở Nam Dương, Đa Đảo có những tộc Bách Việt Biển hay Hải Đảo. Ngược lại cũng phản chiếu cho thấy có sự hiện diện của văn hóa Đa Đảo, Hắc Đảo trong văn hóa Lạc Việt hợp chủng tộc tức văn hóa Việt Nam ngày nay.
-
Còn theo Cổ Việt Hùng thị Thập bát Diệp Thánh Tông Ngọc Phả cổ truyền do Hàn Lâm viện Trực học sĩ soạn năm Nhâm Thìn 1472, niên hiệu Hồng Ðức thứ 3 thì vua Lê Thánh Tôn giao cho Bảng Nhãn Nguyễn Như Ðỗ nghiên cứu về cương giới nước Việt xưa. Bản Hùng Vương thập bát cảnh do Nguyễn Như Ðỗ sưu tập thì lãnh thổ nước Văn Lang bao gồm: - Miền Gò Ngựa (Mã Kỳ) rộng khoảng 2.000 dặm, xưa tên là Châu Ðiền nay thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. - Miền Cỏ Trâu (Ngưu Lang) rộng khoảng 1.500 dặm tức Việt Tây nay là tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. - Miền Ao Cá (Ngư Trì) rộng 1700 dặm xưa có tên là Việt Ðông nay là tỉnh Quảng Ðông, Trung Quốc. - Miền Rừng Quạ (Ô Lâm) xưa là châu Kiềm nay thuộc tỉnh Phúc Kiến, Quý châu giáp hồ Ðộng Ðình, Trung Quốc. - Miền Động Hoa tức tức nước Phù Nam cổ rộng khoảng 1.000 dặm thời Lê Thánh Tôn là nước Chân Lạp. Vương quốc Phù Nam cổ ở Hạ Lưu sông Mekong, vương quốc này tồn tại mãi đến thế kỷ thứ VI. Cương giới Phù Nam trải rộng hầu như khắp lục địa Ðông Nam Á cổ bao gồm cả miền Nam Trung Việt, Nam Việt Nam sang phía Tây gồm cả thung lũng sông Mê Nam Thái Lan. Phía Bắc tới vùng trung lưu sông Mêkong tức lãnh thổ Lào ngày nay, trải dài xuống phương Nam tới bán đảo Mã Lai, tức nước Malaysia bây giờ. - Miền Núi Quả (Quả Sơn) rộng khoảng 1.000 dặm tức nước Hồ Tôn (Lâm Ấp cổ còn gọi là Chămpa) sau là Chiêm Thành. - Miền Bầy Voi (Tượng Tào) rộng khoảng 1.000 dặm tức nước Ai Lao hay Lào. - Miền Lũ Hươu (Lộc Hữu) rộng khoảng 1.000 dặm ở phía Nam Ai Lao tức Cao Miên (Cambodia) bây giờ. - Còn về trước nữa thì biên giới nước ta lên tới Hồ Bắc và Nam Hà Nam lấy phân dã 2 sao Ngưu Nữ làm giới cận. Qua đấy, vấn đề cương vực nước Văn Lang theo Hùng Vương thập bát cảnh còn mở rộng về phía Nam hơn nữa. Sử cũ đều chép nước Văn Lang giáp nước Hồ Tôn, tác giả các sách Lĩnh Nam chích quái, Đại Việt sử ký toàn thư, Dư địa chí đều cho Hồ Tôn là Chiêm Thành, riêng Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí thì viết “gọi Hồ Tôn là nước Chiêm Thành thì không có bằng chứng gì cả”. Nước Chiêm Thành là nước Hoàn Vương đời Đường, nước Lâm Ấp thời Tần đều được sử cũ ghi lại là ở phía Nam nước ta. Trong quá trình lịch sử, biên giới phía Bắc của nước Chiêm Thành lùi dần vào Nam. Cho đến đầu thời Lý, Hoành Sơn vẫn là ranh giới nước ta và nước Chiêm Thành, dải đất từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế còn là châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính của Chiêm Thành. Vậy biên giới phía Nam nước ta thời Hùng Vương ít có khả năng vượt quá dãy Hoành Sơn. Tuy nhiên, chúng cũng cần phải được nghiên cứu kỹ càng và cẩn thận thêm nữa. Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện chim trĩ trắng Posted on Tháng Tư 16, 2010 by Nguyễn Hữu Vinh Vào đời Chu Thành Vương (1), Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là người Việt Thường đem dâng nhà Chu chim trĩ trắng (2). Vì ngôn ngữ bất đồng, Chu Công phải qua nhiều lần dịch mới hiểu được. Chu Công hỏi: “Tại sao dân Giao Chỉ cắt tóc ngắn, để đầu trần, xăm mình, đi chân đất như vậy là cớ sao?”. Sứ thần đáp rằng đáp: “Cắt tóc ngắn để tiện đi trong rừng. Xăm mình để giống hình Long Quân bơi lội dưới sông loài giao long không phạm tới. Đi chân đất để tiện leo cây. Cày bằng dao, trồng bằng lửa. Ău trầu cau để trừ ô uế cho nên răng đen”. Chu Công hỏi: “Tại sao tới đây?, người Việt Thường đáp: “Đời nay không có mưa dầm gió dữ, ngoài bể không nổi sóng lớn đã ba năm nay, ý chừng là Trung Quốc có thánh nhân xuất thế, nên tới đây vậy”. Chu Công than rằng: “Chính lệnh không thi hành thì quân tử không bắt kẻ khác thuần phục mình, đức trạch không có cho người thì quân tử không hưởng lễ của người. Còn nhớ Hoàng Đế có nói rằng: “Giao Chỉ xa xôi ở cõi ngoài, không được xâm phạm đến”. Bèn ban thưởng cho phẩm vật, răn dạy rồi cho về. Người Việt Thường quên đường về, Chu Công bèn ban cho 5 cỗ xe, đều chế tạo cho hướng về phương Nam. Người Việt Thường nhận lấy mà đi theo hướng biển nước Phù Nam, Lâm Ấp (3), đi một năm thì về tới nước. Cho nên, xe chỉ nam thường dùng để đi trước đưa đường. Về sau, Khổng Tử viết sách Xuân Thu, cho nước Văn Lang là một nơi hoang vu, chưa có văn hiến, nên bỏ trống không chép (4). Sao lại từ Bắc Trung Hoa lại trở về từ Nam tức Phù Nam Lâm Ấp?: Kim chỉ Nam: Thời Chu Công, nước Việt Thường cũng đã bao gồm Phù Nam, Lâm Ấp rồi. Chú thích: 1) Chu Thành Vương, vua nhà Tây Chu, Trung Quốc, lên ngôi từ năm 1055 đến năm 1021 trước Công Nguyên. 2) Sách Việt Sử Lược chép rằng: “Đến đời Thành Vương nhà Chu, bộ lạc Việt Thường Thị (người Việt Thường) mới đem dâng chim trĩ trắng. Sách Xuân Thu gọi đất này là Khuyết Địa, sách Đái Ký gọi là Điêu Đề…”. 3) Phù Nam: Phù Nam là tên phiên âm Hán-Việt của một quốc gia cổ trong lịch sử Đông Nam Á, xuất hiện khoảng đầu Công Nguyên, ở khu vực hạ lưu và châu thổ sông Mê Kông. Theo nhiều thư tịch cổ Trung Quốc, thì trong thời kỳ hưng thịnh, vương quốc này về phía Đông, đã kiểm soát cả vùng đất phía Nam Trung Bộ (Việt Nam), về phía Tây đến thung lũng sông Mê Nam (Thái Lan), về phía Nam đến phần phía Bắc bán đảo Malaixia. Quốc gia này tồn tại cho đến khoảng nửa thế kỷ 7 (sau năm 627) thì bị sáp nhập vào lãnh thổ của Chân Lạp. Mãi đến thế kỷ 17 – thế kỷ 18, phần lãnh thổ xưa kia được coi là trung tâm của Phù Nam, tách khỏi Chân Lạp để trở thành một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, tức Nam Bộ ngày nay. Cư dân của Phù Nam chủ yếu là người Mã Lai – Đa Đảo [Wikipedia]. 4) Bản A 2914 chép rằng: “Về sau, Khổng Tử viết sách Xuân Thu, cho nước Văn Lang là một nơi chưa khai hóa, không có việc triều chính, không có chính cương, nên không chép vậy. (Nguyễn Hữu Vinh dịch) . Bình: • Đây là sự gặp gỡ của hai nền văn hóa hoàn toàn khác nhau–Chu Thành Vương và sứ giả Việt Thường của Văn Lang ngôn ngữ bất đồng đến mức phải qua nhiều lần dịch mới hiểu được. Và Chu thành Vương phải hỏi sứ giả Việt Thường về phong tục hàng ngày của người Việt (cắt tóc ngắn, để đầu trần, xâm mình, đi chân đất), tức là vua Chu chẳng biết tí gì về Việt. Lại hỏi sứ giả “Tại sao tới đây?”, tức là giữa hai nước từ xưa đến nay chẳng có liên hệ giao hảo gì cả. Chu Thành Vương còn nói: “Đức trạch không có cho người thì quân tử không hưởng lễ của người”, tức là từ xưa nay nhà Chu chẳng có một tí ân đức nào với Văn Lang cả, nhấn mạnh thêm sự cách biệt giữa hai nước. • Chim trĩ trắng là biểu tượng của nền văn hóa Việt Thường (Văn Lang). Xem trống đồng Ngọc Lữ thì nhận ra ngay chim là vật tổ của dân Việt cổ. Từ ngàn dặm xa mang chim đi tặng, tức là mang văn hóa của mình để giới thiệu với người phương Bắc. Đây cũng là một điểm chính để nói đến sự khác biệt của hai nền văn hóa. • Và mang chim đi tặng là vì muốn đi tìm thánh nhân ở Trung Quốc, đó là đi tìm đạo để học, chứ không phải là thần dân đi triều cống. Đây là trao đổi văn hóa–mang văn hóa của mình đi tặng, để tìm học văn hóa của người. • Vì hai nước cách biệt nên Chu Công nói: “Chính lệnh không thi hành thì quân tử không bắt kẻ khác thuần phục mình… Còn nhớ Hoàng Đế nói rằng: ‘Giao Chỉ xa xôi ở cõi NGOÀI, không được xâm phạm đến.’” • Tất cả những điều trên đây đều nhấn mạnh một điểm: Người Việt không thuộc Trung quốc. Người Việt là một quốc gia độc lập, ngoài Trung quốc, có văn hóa riêng ngang hàng với Trung quốc để có thể trao đổi văn hóa, Trung quốc không được xâm phạm nước của người Việt. • Người Việt Thường quên đường về: Quên đây không có nghĩa là không biết đường về, vì đã đến được là về được. Quên đây có lẽ là biểu tượng của sự bám rễ của nền văn mình bạch trĩ của Việt Thường trên đất Bắc, và vua phương Bắc không thích thế, cho nên mới tìm cách mời về cho nhanh, bằng cách cho 5 chiếc xe với kim chỉ nam chạy thẳng về Nam. (Thời Chu Thành Vương người Trung quốc chưa khám phá ra kim chỉ nam, có lẽ là cũng phải 600 năm đến 1000 năm sau đó kim chỉ nam mới được biết đến ở Trung quốc. Nhưng các sai lầm như thế này là chuyện rất thường xuyên trong các truyện cổ). (Trần Đình Hoành bình)