hoangnt
Hội viên-
Số nội dung
1909 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
6
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by hoangnt
-
[ Như vậy, sau khi phân tích hơn 12 tháng, sự hợp lý về mọi mặt chính là Thục Phán An Dương Vương là bộ chủ Vân Nam (Tây Nam di trong Sử ký Tư Mã Thiên): chỉ khi chúng ta xác định được bộ của vua An Dương Vương thì chúng ta mới biết chắc chắn mối quan hệ chiến lược và vị trí địa lý của các bộ Văn Lang trong cuộc kháng chiến chống quân Tần - đây là điểm then chốt. Nếu chỉ cần không thể xác định An Dương Vương ở đâu hoặc không rõ ràng, thì toàn cục diện cuộc chiến kháng Tần và lịch sử thời Tây Hán sẽ hoàn toàn lẫn lộn. Chẳng hạn, những vấn đề khó khăn: - Đất Tây Âu?. - Tượng Quận: đã rõ nhưng mục đích đặt ra của Tần? chính là vùng đệm hay trái độn. - Tây Nam di theo Sử ký là Vân Nam. - Mối quan hệ Quý Châu trong kháng Tần và thời Hán tấn công Nam Việt. - Vân Nam - nước Điền được cho là tướng Sở Trang Kiểu lập ra, cả Quý Châu vào 277 BC? - Tần cấn công vào Lạc Việt và Vân Nam không? mối quan hệ kháng chiến. - Hán lấy đất Văn Lang chia 9 quận, vậy còn Vân Nam và Quý Châu? - Đạm Nhĩ và Chu Nhai có phải là đảo Hải Nam? - phía Tây là Âu Lạc trong thư của Triệu Đà là Vân Nam, ứng Đông là Mân Việt. - Sử ký viết theo yêu cầu của hán Quang Vũ - nên sẽ có bất lợi cho Văn Lang. - Thành Cổ Loa chính là thành chiến kháng Tần, nó không phải là kinh thành của Âu Lạc, cho nên phải có kinh đô - dĩ nhiên không thể là làng Cả ở Phú Thọ rồi. Vậy kinh đô này ở đâu và đi đầu mất? Hủy hoại sau trận chiến Tần, khi Tần rút quân. Vậy thì, di vật còn lại là cái gì? Khảo cổ có vật chứng không?... - cái này các nhà sử học khoái đòi hỏi lắm. - Sử truyền thuyết ghi nhận Triệu Đà có tấn công Âu Lạc - dĩ nhiên điều này chỉ ra Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải không phải là bộ của An Dương Vương. - Tại sao Trọng Thủy không làm vua mà là con Triệu Mạt. - ... Tất cả mối quan hệ [size="4"][size="4"][size="4"]c[size="4"]ỉ đư[size="4"]ợc gi[size="4"]ải th[size="4"]ích h[size="4"]ợp l[size="4"]ý, [size="4"]khi vua An D[size="4"]ư[size="4"]ơng V[size="4"]ư[size="4"]ơng ch[size="4"]ính l[size="4"]à b[size="4"]ộ ch[size="4"]ủ c[size="4"]ủa v[size="4"]ùng V[size="4"]ân Nam. [size="4"]Đ[size="4"]ây l[size="4"]à l[size="4"]ý do, S[size="4"]ử K[size="4"]ý c[size="4"]ủa T[size="4"]ư M[size="4"]ã Thi[size="4"]ên ph[size="4"]ải l[size="4"]àm sao [size="4"]đ[size="4"]ó vi[size="4"]ết c[size="4"]ó l[size="4"]ợi [size="4"]cho T[size="4"]ây H[size="4"]án t[size="4"]ức t[size="4"]ách r[size="4"]ời "g[size="4"]ốc g[size="4"]án quan h[size="4"]ệ[size="4"] v[size="4"]ới L[size="4"]ạc Vi[size="4"]ệt" th[size="4"]ông qua s[size="4"]ử s[size="4"]ách. [/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"][size="4"]D[size="4"][size="4"]ĩ[/size] nhi[size="4"]ên, c[size="4"]ác b[size="4"]ộ kh[size="4"]ác v[size="4"]ẫn thu[size="4"]ộc V[size="4"]ăn Lang.[/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size][/size] [/size]
-
Thục An Dương Vương Saturday, December 8, 2012 7:53:17 AM Thiên Nam ngữ lục Một đoạn trong Thiên Nam ngữ lục về "Thục Kỷ - An Dương Vương": Thủa ấy có An Dương Vương Người quê Ba Thục ở đàng phương tây Anh hùng trí lực ai tày Mới sai trấn cõi giáp rày Văn Lang. Dòm Hậu Hùng nghiệp trễ tràng Lăm le ý sắm mở mang xa gần Vân Nam bèn mới dấy quân Của mượn tượng mã, lưới ngăn nhân tài. Như vậy ở thế kỷ XVII người ta vẫn xác định An Dương Vương người nước Thục ở phương Tây, dấy binh đánh Hùng Vương từ Vân Nam. Thế mà chẳng hiểu sao thời nay các sử gia lại đoán già đoán non là nước Thục của An Dương Vương gốc ở Cao Bằng, cố tình lờ đi sự đồng nhất về văn hoá và khảo cổ của vùng Vân Nam, Quảng Tây với Bắc Việt (trống đồng) với thời Hùng Vương.Còn có tư liệu cho rằng Thục Phán là người ở Ai Lao. Thực ra Ai Lao Di hay Di Lão là tên của tộc người sinh sống ở vùng Vân Nam Quí Châu. Thục Phán ở Ai Lao cũng đồng nghĩa với Thục Phán xuất phát từ vùng Vân Quí. Thêm một chi tiết trong giải mã câu chuyện An Dương Vương trong Thiên Nam ngữ lục: Câu chuyện kết thúc với việc Trọng Thuỷ nhảy xuống giếng tự tử và tương truyền ngọc trai biển (do Mỵ Châu hoá thành) rửa ở giếng này sẽ rất sáng. Trong TNNL về việc này có câu: Vì chưng duyên cũ vợ chồng Hiệu Tẩy Chu tỉnh ở trong Loa Thành. "Tẩy Chu tỉnh" chính là giếng ngọc (giếng rửa hạt châu).Như vậy Mỵ Châu hoá thân thành hạt châu, và chữ Châu ở đây còn gọi là Chu như trong câu thơ trên. Điều này hoàn toàn phù hợp với giải thích Mỵ Châu là con gái vua Chu trong Sử thuyết họ Hùng. Dùng nước giếng để rửa châu cũng ám chỉ chữ "Thuỷ" là nước trong Trọng Thuỷ. Nước giếng là hình tượng của Trọng Thuỷ, ngọc châu là Mỵ Châu. Thuỷ cũng là chỉ phương Bắc, như trong tên của Tần Thuỷ Hoàng. Câu chuyện An Dương Vương đúng là đã gói một giai đoạn lịch sử rất dài của dân Hoa Việt, từ: - Nhà Thương sang nhà Chu: An Dương Vương kế Hùng Vương. Rồi việc sứ giả Thanh Giang trao cho Thục Vương Qui Tàng Dịch (móng của Kinh Qui). - Xây dựng nhà Chu: qua việc Cao Lỗ xây thành Cổ Loa. - Nhà Chu sang nhà Tần: với chuyện tình Mỵ Châu - Trọng Thủy, hay giữa con gái vua Chu (vua Chủ Cổ Loa) và chàng rể phương Bắc.
-
Đạm nhĩ Chu nhai Bách Việt trùng cửu Sau khi Lộ Bác Đức chiếm Nam Việt, nhà Tây Hán chia đất Nam Việt thành 9 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Uất Lâm, Nhật Nam, Hợp Phố, Nam Hải, Thương Ngô, Đam Nhĩ và Chu Nhai. Hai quận Đam Nhĩ và Chu Nhai được định vị là đều nằm ở đảo Hải Nam ngày nay. Nhưng... đảo Hải Nam cách đây không lâu cũng mới là một huyện đảo của tỉnh Quảng Đông, liệu vào đầu Công nguyên có được bao nhiêu dân mà lập tới 2 quận? (Văn nhân) Mở đầu bài minh Mộ Chí tiến sĩ Thái Đình Lan của Lâm Hào đời nhà Thanh soạn: "Miền Chu Nhai hoang phục xa xôi, đất Quỳnh Sơn tích học, khởi nghiệp. Tường Kha vùng sông hẻo lánh, Doãn Trân giỏi kinh truyện mà danh tiếng xa truyền. Nhờ khôn linh hun đúc mà biết địa mạch rộng dài. Nhân văn tuỳ khí vận mà sinh, ấp ủ lâu tất hào kiệt đột phát, phải đâu thời tục có thể cản ngăn, tự phát tiếng kêu cho người đời kinh hãi! Ta đã thấy điều đó ở Thu Viên tiên sinh." Thu Viên tiên sinh là Thái Đình Lan, tiến sĩ người Bành Hồ - Đài Loan, đã từng bị nạn thuyền lưu lạc sang Việt Nam thời vua Minh Mạng. Trên đuờng từ Việt Nam về ông đã viết tác phẩm Hải Nam tạp trứ, một tài liệu ghi chép về tình hình Việt Nam lúc đó còn lưu tới nay. Trong bài minh trên cho thấy rõ quê của Thái Đình Lan Bành Hồ - Đài Loan được gọi là miền Chu Nhai. Như vậy Chu Nhai là đất Phúc Kiến xưa chứ không phải ở đảo Hải Nam. Bài thơ Cư Đam Nhĩ (Ở Đam Nhĩ) của Tô Đông Pha thời Tống có câu: Cửu từ nam hoang ngô bất hận Tư du kỳ tuyệt quán bình sinh Dịch nghĩa: Chín chết phương nam ta không hận Chuyến này kỳ tuyệt nhất bình sinh Chuyện Tô Đông Pha bị đi lưu trú ở Đam Nhĩ cũng được Nguyễn Trãi nhắc đến trong bài Tặng con cháu ba họ: Khổng, Nhan, Mạnh dạy học ở Thái Bình: Nhân sinh thập lự cửu thường quai Thạnh thế thùy tri hữu khí tài Pha lão tích tằng Đam Nhĩ khứ Trường Canh diệc hướng Dạ Lang lai. Dịch: Nghĩ mười, sai chín người đời Bỏ quên tài lúc thịnh thời biết không Lão Pha, Đam Nhĩ đã từng Trường Canh cũng phải hướng vùng Dạ Lang. Tuy nhiên khi xem đến tiểu sử của Tô Đông Pha thì lại thấy Tô Đông Pha do mâu thuẫn với Vương An Thạch đã bị chuyển đi lưu trú ở Hàng Châu (Triết Giang). Như vậy Đam Nhĩ có thể không phải ở đảo Hải Nam mà chính là tỉnh Triết Giang ngày nay. Nếu Đam Nhĩ và Chu Nhai thời Tây Hán là Phúc Kiến và Triết Giang thì đất của Nam Việt Triệu Đà phải là toàn bộ vùng Nam Dương Tử. Không biết ai đó đã cố ý ép 2 quận lớn ven biển này vào hòn đảo Hải Nam hoang vu, mục đích rõ ràng để dấu đi qui mô của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng trên vùng Hoa Nam. Mã Viện khi đánh Hai Bà Trưng đuợc phong là Phục Ba tướng quân, tức là danh hiệu của Lộ Bác Đức nhà Tây Hán khi tiêu diệt nước Nam Việt của Triệu Đà. Chỉ danh hiệu này cũng cho thấy qui mô của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng không kém gì Triệu Đà xưng đế Nam Việt xưa. 5. Biên giới lĩnh ðịa tộc Việt thế kỷ 2 trước Tây lịch. Sử Hán là bộ Sử-ký của Tý-mã Thiên. Sử Việt như bộ Ðại-Việt sử ký toàn thư, Khâm-ðịnh Việt-sử thông giám cương mục, ðều ghi rằng vào thế kỷ thứ nhì trước Tây-lịch, thời Triệu Ðà cai trị lĩnh ðịa tộc Việt, biên giới vẫn còn ở vùng Truwờng-sa, hồ Ðộng-ðình. Sử Hán, sử Việt đều chép chi tiết giống nhau về vụ Triệu Đà lập quốc ở lãnh thổ Lĩnh-Nam. Tần Thủy- Hoàng sai Đồ Thư mang quân sang đánh Âu-lạc, chiếm được vùng đất phía Bắc, lập làm ba quận : - Nam-hải (Quảng-đông và một phần Phúc-kiến), - Quế-lâm (Quảng-tây, Hồ-nam và một phần Quí châu), - Tuwợng-quận (Vân-nam và một phần Quý-châu). Vua An-Dương sai Trung-tín hầu Vũ Bảo-Trung và Cao-cảnh hầu Cao Nỗ ðem quân chống, giết ðược Ðồ Thuw và tiêu diệt nữa triệu quân Tần. Tuy vậy vua An-Dương cũng không chiếm lại vùng ðất ðã mất. Sau nhân thời thế loạn lạc, một viên quan Tần là Triệu Đà trấn vùng Nam-hải, đem quân chiếm vùng Tượng-quận, Quế-lâm, rồi dùng gián ðiệp trong vụ án Mỵ-Châu, Trọng-Thủy mà chiếm ðược Âu-lạc lập ra nước Nam-Việt. Lãnh thổ nước Nam-Việt bao gồm những vùng nào ? Không một sử gia nào chép rõ ràng. Nhưng cứ những sự kiện lẻ tẻ, ta cũng có thể biết rằng lãnh địa Nam-Việt là lãnh địa thời Văn-lang. 25 Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ Trong khi Triệu Ðà lập nghiệp ở phương Nam, thì cuộc nội chiến ở phương Bắc chấm dứt. Hạng Vũ, Lưu Bang diệt Tần, rồi Lýu Bang thắng Hạng Vũ lập ra nhà Hán. Lýu Bang lên ngôi vua sai Lục Giả sang phong chức tước cho Triệu Ðà. Ðúng ra Triệu Ðà cũng không chịu thần phục nhà Hán, nhýng họ hàng thân thuộc, mồ mả của Triệu Ðà ðều ở vùng Chân-ðịnh. Ðà sợ nhà Hán tru diệt họ hàng, cùng ðào mồ cuốc mả tổ tiên lên mà phải lùi bước. Nãm 183 trước Tây-lịch, Cao-tổ nhà hán là Lưu Bang chết, Lã-hậu chuyên quyền cấm bán hạt giống, thú vật cái, kim khí sang Nam-Việt. Triệu Đà không thần phục nhà Hán, rồi đem quân đánh Trường-sa, Nam-quận. Kết luận : « Trường-sa là quận biên cương của Hán. Vậy ít nhất lãnh thổ Nam-Việt, Bắc tới Trường-sa. Nam quận là quận ở phía Bắc sông Trường-giang. Mà Nam-quận là quận biên cương Hán, thì biên giới Nam-Việt ít nhất tới Nam-ngạn sông Trường-giang ».
-
Tại lễ hội Đền Hùng năm 2013 có bán cuốn sách "Giới thiệu khu di tích lịch sử Đền Hùng" của tác giả Vũ Kim Biên sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn. Sở văn hóa thể thao du lịch Phú Thọ xuất bản năm 2013. Trong sách, trang 49, mục 12: Nước Văn Lang, trong đó viết: "Nước Văn Lang do 15 bộ lạc hợp thành...Cương vực này tương đương Bắc Bộ và Trung Bộ ngày nay (1), dân số nước Văn Lang khoảng một triệu người" và chú thích (1): Các sách sử thời phong kiến nói cương vực nước Văn Lang đến tận hồ Động Đình thuộc tỉnh Hồ Nam Trung Quốc. Vấn đề này theo chúng tôi hiểu là: Cương vực ấy chính là địa bàn Bách Việt, tức là hàng trăm bộ lạc thuộc giống người Việt cư trú ở Việt Nam, Lào, Quảng Đông, Quảng Tây từ rất xa xưa. Khoảng đầu thiên niên kỷ 1 trước công nguyên, trăm bộ lạc này liên kết lại với nhau thành từng nhóm lập các quốc gia, trong đó có nước Văn Lang của Vua Hùng. Các sử gia phong kiến không phân biệt rõ ràng, đã đẩy cương vực nước Văn Lang sang tận hồ Động Đình. Hoặc giả các vị đó cài mật mã để sau này con cháu tìm hiểu về nguồn gốc Bách Việt cũng nên". Thực ra, nếu số lớn các sách sử và các sách liên quan của Trung Hoa được dịch ra tiếng Việt, chẳng hạn, Sử Ký của Tư Mã Thiên được dịch trọn bộ... thì việc xác định biên giới nước Văn Lang không quá khó, ngay cả sử sách bị điều chỉnh theo thời thế đặc biệt thời Tây Hán - ... - Đông Hán. Nếu nghiên cứu kỹ, thì rõ ràng Chămpa không phải là nước Hồ Tôn trong Lĩnh Nam Chích Quái, mà tác giả đã dựa vào sự nghiên cứu và dã ngoại (các nước phương Nam) đã viết nên. Ranh giới cực Nam của Van Lang theo nghiên cứu cá nhân là tới Myamar - Miến Điện ngày nay, gồm cả Thái Lan, Malaxia, Indonexia, Phù Nam, Campuchia và Lào. Đặc biệt, gồm vùng thượng lưu sông Dương Tử. Các nước trên cùng với các vùng Nam Dương Tử mới hình thành nên nước Văn Lang - tạo ra 15 bộ, trong đó Phong Châu là bộ miền Bắc Việt Nam hiện nay (lõi kim cương). 15 bộ này chính là 15 ngôi sao của chòm sao thiên cực Bắc là Thiên Long (Draco) trên bầu trời - biểu tượng của Lạc Long Quân. Có thể liệt kê ra: 1. Chiết Giang. 2. Giang Tây. 3. Trường Sa. 4. Mân Việt. 5. Quảng Tây. 6. Quảng Đông. 7. Quý Châu. 8. Vân Nam. 9. Phong Châu. 10. Lào - Ai Lao. 11. Champa. 12. Phù Nam và Capuchia. 13. Thái Lan. 14. Miến Điện. 15. Indonexia và Malaxia (vùng bán đảo và hải đảo). 16. Tây Tạng. (Các vùng có thể kết hợp mà ta chưa biết đích xác như: Lào và Champa có thể là một Bộ của Văn Lang). Ngay cả Tây Tạng cũng có lễ Xuân Ngưu... như vùng đồng bằng...
-
Trích Nam Việt Úy Đà liệt truyện của SỬ KÝ: Nam Việt giáp giới với quận Trường Sa. Thời Cao Hậu, quan đương sự xin cấm không cho người Nam Việt vào mua đồ sắt. Đà nói:<br style="font-family: Times New Roman; font-size: 19px; line-height: 140%;"> - Cao Đế lập ta làm vương, cho sứ giả cùng hàng hóa được đi lại. Nay Cao Hậu nghe lời bọn bầy tôi gièm pha, cách biệt man di, cấm đứt khí vật,. Đó chắc là mưu kế của Trường Sa Vương. Ông ta muốn tìm cách dựa vào Trung Quốc, tiêu diệt Nam Việt để làm vua cả đất của ta. Đà bèn tự tôn là “Nam Việt Vũ Đế”; đem quân đánh các ấp ở biên giới quận Trường Sa, đánh bại mấy huyện rồi đi. Cao Hậu sai tướng quân Lâm Hi Hầu tên là Táo đến đánh. Gặp lúc trời nắng khí ẩm, quân lính bị bệnh dịch rất nhiều, nên quân Hán không qua được núi Dương Sơn. Được hơn một năm, Cao Hậu mất, liền bãi binh.<br style="font-family: Times New Roman; font-size: 19px; line-height: 140%;"> Đà nhân đó, dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình. Đất đai của Đà chiều ngang có hơn vạn dặm. Đà bèn đi xe mui lụa mầu vàng cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là “chế”(2), chẳng kém gì Trung Quốc.<br style="font-family: Times New Roman; font-size: 19px; line-height: 140%;"> Năm đầu thời Hiệu Văn Đế, thiên hạ mới yên. Nhà vua sai sứ đi bá cáo chư hầu, tứ di biết rằng nhà vua ở đất Đại (3) về lên ngôi, ý muốn nêu cao đạo đức của nhà vua. Nhân Đà có mồ mả cha mẹ ở huyện Chân Định, nhà vua bên đặt người giữ ấp để hàng năm đến ngày giỗ thờ cúng. Đối với anh em họ của Đà, nhà vua ban ơn cho họ làm quan to và thưởng cho nhiều của. Nhà vua xuống chiếu cho bọn thừa tướng là Trần Bình cử người có thể đi sứ sang Nam Việt. Bình nói:<br style="font-family: Times New Roman; font-size: 19px; line-height: 140%;"> - Có Lục Giả người huyện Hảo Chỉ, thời tiên đế đã quen đi sứ Nam Việt.<br style="font-family: Times New Roman; font-size: 19px; line-height: 140%;"> Vua Hán bèn triệu Giả phong làm thái trung đại phu để đi sứ, nhân đấy trách Đà đã tự lập làm “đế” mà không hề phái sứ giả sang báo tin.<br style="font-family: Times New Roman; font-size: 19px; line-height: 140%;"> Lục Giả đến nơi, Nam Việt Vương sợ hãi, làm giấy tạ tội rằng: “Thần tên là Đà, là một kẻ già ở man di. Ngày trước Cao Hậu gạt bỏ Nam Việt, thần trộm ngờ Trường Sa Vương đã gièm pha thần. Lại nghe đồn Cao Hậu giết hết họ hàng Đà, đào mồ mả, đốt hài cốt cha ông Đà. Vì thế nên liều mạng xâm phạm biên cảnh quận Trường Sa. Vả lại phương Nam đất thấp, ẩm, dân man di ở vào giữa. Ở phía Đông đất Mân Việt chỉ vẻn vẹn nghìn người, cũng xưng hiệu là “vương”; ở phía Tây, nước Âu Lạc là nước trần truồng, cũng xưng là “vương”. Lão thần trộm dùng bậy danh hiệu “đế” chỉ để tự vui (4), chứ đâu dám để nói đến tai bệ hạ ?”. Cao Hậu sai tướng quân Lâm Hi Hầu tên là Táo đến đánh. Gặp lúc trời nắng khí ẩm, quân lính bị bệnh dịch rất nhiều, nên quân Hán không qua được núi Dương Sơn. Được hơn một năm, Cao Hậu mất, liền bãi binh: đây là một trận chiến mà Hán đã thua, tuy nhiên Sử ký đã viết theo yêu cầu của thời thế. Ở phía Đông đất Mân Việt chỉ vẻn vẹn nghìn người, cũng xưng hiệu là “vương”; ở phía Tây, nước Âu Lạc là nước trần truồng, cũng xưng là “vương”: Phía Tây chính là Vân Nam, gọi là Âu Lạc - điều này hoàn toàn phù hợp lịch sử Văn Lang. Chúng ta cũng chú ý Vân Nam là bộ của Thục Phán An Dương Vương. Trên đây là minh chứng Sử ký cũng đã viết theo yêu cầu của nhà Hán, cho nên phần Tây Nam di liệt truyện của Sử ký nói về Trang Kiểu đánh lấy Vân Nam, lập Điền Quốc trong lúc Sở đang nguy khốn nhất với Tần thì không hợp lý. Mục đích chính ngăn cản mối liên hệ lịch sử giữa các bộ cũ của Văn Lang mà thôi, do thời gian này Vân Nam đang thuộc bộ An Dương Vương, rất hùng mạnh cùng với Quý Châu (Kiềm Trung).
-
ĐẠO BÙA ĐỀN HÙNG LÀ DO BÍ THƯ TỈNH ỦY PHÚ THỌ CHỈ ĐẠO ĐỂ TRẤN YỂM Giải mã “Hòn đá lạ” ở Đền Hùng TPO - Theo lý giải, viên đá có thể hóa giải bùa yểm xấu, trấn trạch bình an, tạo năng lượng vũ trụ cho Đền Thượng khiến quốc gia được hưng thịnh, tốt đẹp. Sau khi lãnh đạo tỉnh Phú Thọ yêu cầu ông Nguyễn Tiến Khôi, nguyên Giám đốc Ban quản lý Khu di tích lịch sử Đền Hùng, hiện là Chủ tịch Hội sử học tỉnh Phú Thọ, giải trình về sự hiện diện và các vấn đề xung quanh “Hòn đá lạ” ở Đền Thượng mà dư luận những ngày qua rất quan tâm, ông Khôi và cả ông Nguyễn Minh Thông, một đại tá quân đội, hiện là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu ứng dụng Phương Đông (ở Hà Nội), người được xem là tác giả nắm rõ nhất nguồn gốc, ý nghĩa của hòn đá đặt tại đây, đã có văn bản trả lời về vấn đề này. Ông Nguyễn Tiến Khôi khẳng định viên đá ngọc ở Đền Thượng là rất tốt. Trao đổi với Tiền Phong sáng 14/4/2013, ông Khôi nói thời kỳ năm 2008-2009 khi chuẩn bị hoàn thành tu bổ khu di tích Đền Hùng, một số lãnh đạo tỉnh Phú Thọ đã chỉ đạo ông tìm một người giỏi để “làm công tác tâm linh” cho Đền Hùng. Ông Khôi đã đến Bộ VHTTDL nhờ tìm thầy, và đã được một số cán bộ thuộc Bộ này giới thiệu đến gặp ông Thông, người rất được tin cậy, kính trọng trong lĩnh vực tâm linh. Khi đó phía Phú Thọ cũng đã đồng ý, vì ông Thông cũng chính là người có hiểu biết uyên thâm từng cùng ông Nguyễn Hữu Điền (nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ) tìm ra huyệt đạo xây dựng Đền thờ Mẫu Âu Cơ (cạnh Đền Hùng). Với Đền Quốc Tổ Lạc Long Quân, ông Thông cũng là người được Phú Thọ mời đến với trọng trách xử lý những vấn đề tâm linh liên quan. Và lần này, bước vào tu sửa Đền Thượng, ông Thông cũng được ông Nguyễn Hữu Điền mời về. Khi sửa nền Đền Thượng, cán bộ và công nhân phát hiện có một viên gạch lạ, có in chữ Hán, ông Thông nói với ông Khôi và lãnh đạo tỉnh Phú Thọ, có ý kiến là viên gạch này tựa như bùa yểm xấu (còn gọi yểm đảo, không rõ ai đặt dưới nền cát, có từ bao giờ...) nên sau khi hoàn thành tu sửa Đền Thượng thì rất nên có đá đặt ở Đền để trấn yểm “phản” lại viên gạch yểm xấu kia. Văn bản trả lời của ông Nguyễn Minh Thông (đề ngày 20/3/2013) mới đây lên tỉnh Phú Thọ, cho biết viên gạch nọ được Phú Thọ nhờ Trung tâm của ông Thông nghiên cứu, xem xét. Một số nhà khoa học, chuyên gia ngoại cảm đã vào cuộc hội thảo nhiều lần, khẳng định viên gạch này có từ cuối thời Trần, do đạo sỹ của quân Nguyên Mông mang đến đặt. Thời đó phía Nguyên Mông bị thua trận vì bị nhà Trần ta đánh tan ba lần, đã cử đạo sỹ được cải trang sang nước Nam ta, dùng thủ đoạn yểm bùa gạch này tại Đền Thượng, trên viên gạch được ghi “Đánh đổ đức sáng Vua Hùng (hiện còn lưu giữ tại bảo tàng Đền Hùng). Nên Trung tâm của ông Thông đã lên kế hoạch tìm một viên đá ngọc xanh có nhiều năng lượng tốt lành, có khả năng hóa giải các hung khí và tiếp nhận năng lượng tốt của tinh tú trời đất cho Đền Hùng. Điều này đã được ông Khôi và một số lãnh đạo tỉnh Phú Thọ đồng ý. Theo ông Khôi, từ năm 2009 đến nay, hòn đá (như Tiền Phong đã mô tả trong bài viết trước) chắc chắn đã làm tốt nhiệm vụ của nó, với ý hóa giải bùa yểm phương Bắc, trấn trạch bình an, tạo năng lượng vũ trụ cho Đền Thượng khiến quốc gia được hưng thịnh, tốt đẹp. Theo ông Thông, đã may mắn có ông Nguyễn Đình Khảm, Giám đốc một Cty đá quý trong Hội liên hiệp đá quý Việt Nam (ở Hà Nội) công đức viên đá ngọc xanh này. Đá cũng đã được các chuyên gia thẩm định chất lượng, đo năng lượng, rồi được chạm thêm ngọc rubi và nhiều loại ngọc quý khác. Mặt trước đá chạm: “Trận đồ bát quái thiên tinh Phật Tổ Như Lai” dựa trên trận đồ bát quái trong Binh thư yếu lược của nhà Trần và theo mô phỏng của Từ điển thuật ngữ quân sự, gọi là Thiên tinh vì ghép tượng hình chòm sao Bắc Đẩu và trận đồ của Đức Thánh Trần ứng dụng khi đánh quân Nguyên Mông. Trên mặt của Trận đồ còn có câu mật chú thiền phái Mật Tông làm tăng hòa quang của Phật và độ linh, độ uy của Phật để giải hóa bách nạn, bách khổ, bách bệnh cho nhân dân. Ông Thông khẳng định phải có linh khí của Phật thì mới cùng với linh khí của Đức Thánh Trần kết hợp thì mới hóa giải được bùa phép nguy hiểm đã bị yểm đảo của giặc phương Bắc. Văn bản trả lời của ông Thông cho biết tiếp, mặt sau của viên đá ngọc, phía trên là Ấn của Vua Hùng (mà hiện Khu di tích đang dùng), dưới có chạm lá bùa giải bách họa cho nhân dân mà các nhà sư đi tu ai cũng biết. Từ ngày được hóa giải đến nay, ông Thông cho rằng tỉnh Phú Thọ và Khu di tích Đền Hùng được đánh giá là phát triển rất tốt đẹp. Theo năm tháng, viên đá ngọc sẽ ngày càng tích năng lượng thu phát, các địa phương khác cùng với Phú Thọ cùng được hưởng phúc. Ông cũng cam đoan viên đá đang rất linh ứng và hiệu nghiệm. Được biết, nghi lễ nhập trạch Đền Thượng cùng với lễ dâng ngọc hóa giải bùa yểm đã được tổ chức hết sức long trọng và trang nghiêm. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Tiến Khôi và ông Trần Xuân Các (hiện là Giám đốc Ban quản lý Khu di tích Đền Hùng), sau dịp Quốc Giỗ này, Phú Thọ sẽ tổ chức hội thảo khoa học, tập hợp những ý kiến đóng góp của nhiều chuyên gia, nhà khoa học, để có trả lời rõ ràng về “Hòn đá lạ” mà cộng đồng cư dân mạng đang xôn xao. Tùng Duy Nguồn: <a href="http://www.tienphong.vn/xa-hoi/622799/Giai-ma-su-thuc-%E2%80%9CHo%CC%80n-da%CC%81-la%CC%A3%E2%80%9D-o%CC%89-De%CC%80n-Hu%CC%80ng-tpov.html">Báo Tiền phong *Sáng 16.4, thấy ghi tác giả là: Tùng Duy-N.C.Khanh Đền Hùng nằm trên ngọn Nghĩa Lĩnh của Tam sơn cấm địa, hai ngọn kia là núi Nõn và Pheo, lòng các ngọn núi này đã bị đào hầm rỗng ruột bởi Trung Quốc giúp Việt Nam trữ vũ khí đánh Mỹ, và rõ ràng đã bị trấn yểm ở giữa mà chưa biết, nay vẫn còn. Khi lên đền Mẫu Âu Cơ, bên cạnh có đường hầm bê tông đi xuống lòng núi, nay không cho vào. Đây mới là chứng tích hiện thực. Theo tôi, nếu như trên thì đặt cục đá là OK, tuy nhiên thời thế về bản chất đã bắt đầu thay đổi rồi, do tương tác biến đổi ở tầm rất lớn tới trái đất.
-
Một số thời điểm chính của nước Sở: Sở Khoảnh Tương vương (chữ Hán: 楚頃襄王, ?-262 TCN, trị vì 298 TCN-263 TCN[1][2]) Ngay sau khi Khoảnh Tương vương nối ngôi, nước Tần nhân nước Sở chưa ổn định đem quân đánh, quân Sở đại bại, mất 16 thành, năm vạn quân bị Tần giết. Theo nhiều sử sách ghi lại, Sở Khoảnh Tương vương là người hoang dâm vô độ, thích âm nhạc, ít quan tâm chính sự, tin dùng bọn xu nịnh, làm nước Sở ngày một suy yếu. Năm 286 TCN, vì Tống Khang vương lấn đất của ba nước Ngụy, Sở và Tề, Tề Mẫn vương kêu gọi ba nước cùng nhau đánh Tống. Sở Khoảnh Tương vương hưởng ứng. Quân 3 nước đánh bại quân Tống giết chết vua Tống, chia đất Tống làm ba. Tuy nhiên sau đó Tề Mẫn vương muốn chiếm toàn bộ đất Tống, bèn gây hấn với Sở chiếm Hoài Bắc. Bấy giờ Yên Chiêu vương muốn đánh Tề, cử Nhạc Nghị sang nước Sở liên lạc Sở Khoảnh Tương vương cùng nhau xuất quân. Khoảnh Tương vương ghét Tề Mẫn Vương nên hợp tung cùng Yên và Triệu, Tần, Ngụy đánh Tề. Năm 285 TCN, liên quân đánh bại quân Tề ở Tế Tây. Quân Yên tiếp tục đánh còn chư hầu bãi binh rút về. Năm 282 TCN, Tề Mẫn vương bị quân Yên chiếm hết 70 thành, chạy về thành Cử, cầu cứu nước Sở, hứa sẽ dâng cho Hoài Bắc. Sở Khoảnh Tương vương sai Náo Xỉ đem quân giúp Tề, tuy nhiên sau đó Náo Xỉ giết chết Tề Mẫn vương và định chiếm nước Tề, bị người nước Tề giết chết. Năm 279 TCN, Tần Chiêu vương sai Bạch Khởi đem quân đánh Sở, Sở đại bại, mất đất Yên (nay là Yên Lăng, tỉnh Hà Nam) và đất Lăng (nay thuộc vùng Tây Bắc Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc). Sở Khoảnh Tương vương dâng sổ sách cầu hoà, Tần Chiêu Tương vương giả vờ chấp nhận, Khuất Nguyên khuyên Sở Khoảnh Tương vương không nên tin vua Tần nhưng ông không nghe. Kết qua quân Tần tiến vào chiếm Dĩnh Đô, Khuất Nguyên tự tử. Sở Khoảnh Tương vương phải thiên đô sang đất Trần. Khu lăng mộ các tiên vương nước Sở bị Bạch Khởi thiêu trụi. Năm 277 TCN, Bạch Khởi chiếm đất đất Vu Trung và đất Kiềm Trung (nay thuộc miền đất nằm giữa đông Tứ Xuyên, tây Hồ Bắc, tây Hồ Nam và một phần bắc bộ của tỉnh Quý Châu) của nước Sở, sáp nhập vào Tần. Năm 273 TCN, Sở Khoảnh Tương vương đem quân hợp với Hàn, Ngụy, Triệu đánh nước Yên. Theo Sử ký, quyển 116, Tây Nam Di liệt truyện[3] thì Trang Kiểu, có thời từng là tước nước Sở, vào khoảng năm 279 TCN được Sở Khoảnh Tương Vương (298 TCN-263 TCN) giao nhiệm vụ tấn công khu vực ngày nay là Vân Nam. Trong khi ông hoàn thành nhiệm vụ chinh phục các bộ lạc bản xứ thì nước Sở lại thất bại trong cuộc chiến với nước Tần và năm 277 TCN thì quận Kiềm Trung bị Tần chiếm, làm cho đường trở về nước Sở của Trang Kiểu bị cắt đứt. Ông tự xưng làm vua nước Điền với tước hiệu là Trang vương. Tư Mã Thiên viết Sử ký trong thời Hán Vũ Đế, do vậy cũng bị ảnh hưởng ý đồ của nhà Hán trong việc viết sử - điều này là chắc chắn. Tuy nhiên, có thể ông sẽ "mã hóa" những chỗ "sửa sử" bằng các thông tin điều chỉnh khác. Năm 277, 276 TCN, ở phía Nam, Bạch Khởi bình định đất Vu, đất Kiềm (nay thuộc miền đất nằm giữa đông Tứ Xuyên, tây Hồ Bắc, tây Hồ Nam và một phần phía Bắc của tỉnh Quý Châu) của nước Sở, đặt là quận Kiềm Trung. Rõ ràng không tấn công Vân Nam được, diện tích của Sở trên bản đồ thời Chiến Quốc lấn vào Quý Châu 1 phần. Nếu Bạch Khởi lấy Quý Châu được cho là của Sở, thì sẵn sàng đi tới Vân Nam cũng của Trang Kiểu. Như vậy, sự kiện này là có thể nhưng Trang Kiểu không thể lấy được Vân Nam - nó sẽ làm rúng động Văn Lang, rõ ràng phải được ghi nhận một cách đặt biệt, trong khi đó chỉ đọc Sử ký mới thấy. Thời gian Trang Kiểu tấn công, cũng chính là thời vua An Dương Vương chưa nối tiếp Hùng Duệ Vương. Nếu xem lại cuộc chiến tranh của Tần, đã dùng 5 mũi tấn công Văn Lang mà không thấy việc đánh từ Quý Châu xuống (nếu đã vào tay mình), dùng thế vu hồi thì rõ ràng, Quý Châu và Vân Nam vẫn thuộc Văn Lang thời gian này. Như vậy, sự kiện ghi nhận trong Sử Ký có lẽ đã phải viết theo yêu cầu của nhà Hán có mục đích: tách rời mối liên hệ Quý Châu, Vân Nam và các Bộ Văn Lang còn lại, đặc biệt là Lạc Việt Phong Châu vì An Dương Vương - bộ chủ Vân Nam nói Hùng Vương. Sau này, Vân Nam và Quý Châu là 2 khu tự trị thuộc Tây Hán, sau khi Nam Việt của Triệu Vũ Đế thất thủ. Điều này nói lên tính độc lập, địa thế và con người nơi đây. Vân Nam chính là 1 trong 3 trung tâm trống đồng của Văn Lang: Phong Châu Việt Nam và Quảng Tây - nơi chống cự quân Tần kịch liệt nhất. Sau này, do tính độc lập của các Bộ Văn Lang càng cao vào thời Nam Việt (gần 100 năm), cho nên mối quan hệ không còn chặt chẽ, do đó nhà Hán đánh gục dễ dàng.
-
Nam Triệu và Nam Chiếu Nguồn cội Trong Lĩnh Nam chích quái có một câu chuyện rất thật, không có chút huyền thoại hay “chích quái” nào nhưng lại khó hiểu nhất vì chẳng hề ăn khớp tí gì với chính sử. Đó là Truyện Nam Chiếu. Nay xin “đọc lại” câu chuyện này, không cần phải “giải mã” gì, chỉ cần đối chiếu với những gì đã và đang biết về lịch sử bị lãng quên của miền Tây và Nam nước ta. Câu đầu tiên của Truyện Nam Chiếu khẳng định: “Người Nam Chiếu là con cháu vua Vũ Đế Triệu Đà”. Câu khẳng định này đúng là đánh đố người đọc ngày nay. Nam Chiếu được coi là quốc gia của người Di Bạch vùng Vân Nam, sao lại là con cháu Triệu Đà được? Nhưng đích thực, câu mở đầu này đã xác định nước “Nam Chiếu” thực chất là ở đâu. Triệu Vũ Đế dựng nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung – Quảng Đông. Thành phần dân tộc chính vùng này là nhóm người Tày Thái. Nam Chiếu là con cháu Triệu Đà, tức là một quốc gia người Thái. Lịch sử Nam Chiếu cho biết quốc gia người Thái này đã từng trải rộng trên đất Tây Bắc Việt Nam, Lào và Bắc Thái Lan. Đoạn này còn có nghĩa: con cháu của Triệu Đà hay của Trình Thị, cũng của Mỵ Châu - Trọng Thủy và Mỵ Châu con vua An Dương Vương - bộ chủ vùng Vân Nam thì ý nghĩa này mới lộ rõ. Vân Nam là Điền Việt cũng hàm ý Lý Việt, sau này chính là nước Đại Lý. Câu truyện Lý Ông Trọng chính là trọng Thủy như đã phân tích. Do Triệu Vũ Đế đơn thương độc mã, sau này có thể thu gom họ Triệu nhưng không thể khống chế Vân Nam sau khi thất thủ trước nhà Hán. Vân Nam và Quý Châu vẫn thuộc Tây Hán theo dạng tự trị. Do vậy, Lý chính là họ ngoại. Nước Nam Chiếu ở trong truyện không phải mới bắt đầu vào thời Đường như nước Nam Chiếu theo chính sử ở Vân Nam, mà có gốc gác từ thời Tây Hán. Khi Lộ Bác Đức tấn công Nam Việt thì “Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu”. Đất Hoành Sơn mà ở gần cửa Thần Phù thì là đèo Ngang giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, chứ không phải Hoành Sơn ở Quảng Bình. Con cháu họ Triệu như vậy trở về vùng Ái Châu tụ tập. Đoạn ghi chép trên rất giống với chuyện… Man vương Mạnh Hoạch chống lại các vị quan họ Chu của nhà Đông Hán trong thần tích làng Hương Ngải - Sơn Tây. Mạnh Hoạch hoạt động cả một dải từ Hưng Hóa tới Ái Châu, làm quan cai trị ở Giao Châu lúc đó phải lao đao… Nam Triệu như vậy là tên gọi nước của Mạnh Hoạch từ thời Đông Hán, là vùng đất phía Tây Giao Chỉ. Mạnh Hoạch (孟獲) là một nhà quý tộc, người đứng đầu Nam Man nằm ở Nam Trung, phía nam của Thục Hán, thuộc khu vực ngày nay là Vân Nam, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Theo Tam Quốc Diễn nghĩa, Mạnh Hoạch đứng đầu các bộ lạc Nam Man và thường xuyên quấy nhiễu và Gia Cát Lượng đã đích thân dẫn quân đến thu phục Mạnh Hoạch. Theo Tam Quốc Diễn nghĩa thì Gia Cát Lượng đã 7 lần bắt được Mạnh Hoạch và tha với mục đích thu phục nhân tâm các bộ lạc khu vực này. Tiếp theo, “Đến đời Ngô, Tôn Quyền sai Đái Lương, Lữ Đại làm thú mục để đánh dẹp. Quân Nam Chiếu ở cả một vùng từ núi Thiên Cầm tới Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, Ô Tung, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Hải, Vọng Cái, Lỗi Lôi, núi cao bể rộng, sóng gió hiểm trở, không có một vết chân người. Quân Nam Chiếu ở đấy thường lấy việc cướp bóc để sinh sống, đánh giết thú mục, không thể ngăn cản nổi.” Đây cũng là thành tích của Mạnh Hoạch khi phần đất phía Đông Giao Chỉ được Sĩ Nhiếp Ngạn Uy dâng cho Ngô Tôn Quyền. Đoạn trên cho biết một loạt các địa danh “từ núi Thiên Cầm tới Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, Ô Tung, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Hải, Vọng Cái, Lỗi Lôi”. Các địa danh này hẳn nằm ở Tây Bắc và Tây Thanh Nghệ ngày nay, là đất Nam Triệu của Mạnh Hoạch. Mạnh Hoạch hay Mãnh Hoàng, có thể chỉ là cách gọi vị vua của người Mường Mán. Mãnh Hoàng là con cháu họ Triệu, sau khi kinh đô Phiên Ngung của Nam Việt thất thủ đã rời về Tây Giao Chỉ và hùng cứ một vùng, liên tục chống lại các quan lại nhà Hán rồi tới nhà Ngô. Tiếp theo thì như đã biết, Vũ Hầu Gia Cát, thừa tướng của nhà Thục đã vượt Lô Giang, tiến vào Tây Bắc bình định, thu phục Mãnh Hoàng. Mãnh Hoàng tiếp tục cai quản khu vực Nam Triệu này dưới hình thức tự trị, độc lập. Truyện Nam Chiếu kể tiếp: “Cuối đời Tấn thiên hạ rối loạn, có người thổ tù là Triệu Ông Lý cũng là con cháu của Triệu Vũ Đế, anh em đông đúc, thảy đều dũng lược hơn người, ai nấy đều nể phục, cùng hợp lại với quân Nam Chiếu, được hơn hai vạn người, lại đem châu báu ngà ngọc hiến cho nước Tây Bà Dạ, xin chỗ sinh sống ở vùng đất trống ven bờ biển.” Nếu đối chiếu với tộc phả họ Phạm: "Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân - Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu (gọi là xứ Lâm Ấp) - tức là Nam Trung bộ ngày nay. Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trước CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm Ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Việt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm Ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa ( xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay).” Có thể thấy Triệu Ông Lý, con cháu Triệu Đà, là họ Lý, bắt đầu từ Lý Thân (Lý Ông Trọng). Vùng đất Tây Giao Chỉ là vùng Lâm Thao, nơi Lý Ông Trọng trấn giữ người Hồ dưới thời Tần. Đặc biệt truyền phả họ Nguyễn còn chép rằng Triệu Đà chính là Lý Ông Trọng. Chuyện này tuy còn nhiều nghi vấn, nhưng có thể có phần nào là sự thật khi con cháu Triệu Đà cũng là con cháu của Lý Thân, chiếm vùng đất Tây Giao Chỉ dưới thời Hán. Vùng Tây Giao Chỉ là đất của Mãnh Hoàng (Mạnh Hoạch), còn gọi là Nam Triệu, thời Tam quốc đã hàng phục nước Thục nhờ công của Vũ Hầu Gia Cát. Khi nhà Tấn diệt Thục, Tấn chỉ chiếm được vùng Xuyên Thục phía Bắc của nước này. Phần phía Nam vẫn do Mãnh Hoàng tự trị kiểm soát. Theo Truyện Nam Chiếu thì lúc này Triệu Ông Lý, con cháu Triệu Đà – Lý Thân, đã lên nắm quyền cai quản ở đây. Triệu Ông Lý chống lại nhà Tấn, “cùng hợp với quân Nam Chiếu”, tức là hợp với quân của họ Phạm ở phía Nam vùng ven biển Trung Bộ theo như tộc phả họ Phạm chép. Truyên Nam Chiếu chép: “Khi ấy, nước Tây Bà Dạ chia đều đất ra thành hai lộ. Một lộ trên từ Quý Châu, dưới tới Diễn Châu gọi là lộ Già La, trên từ Cầm Châu xuống tới Hoan Châu gọi là lộ Lâm An giao cho Nam Chiếu và Triệu Ông Lý thống lĩnh. Sau đó, ông Lý xây thành ở tổng Cao Xá, đất Diễn Châu, đông giáp với biển, tây tới nước Bà Dạ, nam tới Hoành Sơn, tự xưng làm chúa.” Có thể thấy nước Nam Chiếu trong truyện ở thời kỳ nhà Tấn chính là xứ Lâm Ấp hay Nam Hà trong tộc phả họ Phạm. Xứ này bao gồm 2 phần: - Phần lộ trên từ Quý Châu tới Diễn Châu do Triệu Ông Lý cai quản. Lộ này có tên Như Hoàn, hay Già La, sách khác gọi là Như La, Gia Viễn. Đây là phần đất liền không giáp biển, là Tây Giao Chỉ, gồm cả đất Lào ngày nay. Tên gọi Già La hay Như La cho thấy vùng này chính là nước Lỗ (La) của thời Chiến Quốc. Đây cũng là đất Lâm Thao thời Tần, trước do Lý Ông Trọng cai quản, sau đó giao cho con cháu Lý Thân. - Lộ dưới từ Cầm Châu tới Hoan Châu gọi là Lâm An, do con cháu họ Phạm quản lý. Đây là phần giáp biển, ven biển miền Trung ngày nay. Tên lộ Lâm An cho thấy đây là đất Yên (An) thời Chiến Quốc, đã được nhà Tần giao cho Phạm Duy Hinh, con của tướng Phạm Duy Minh ở Đằng Châu cai quản. Nước Tây Bà Dạ là nước Lào hay? Campuchia? hay Miến, Thái...? Bản đồ trên ước vẽ 2 phần đất Già La và Lâm An từ thời Tấn. Đây là phạm vi nước Lâm Ấp vẫn được mô tả trong sử sách, có phía Đông giáp biển, Tây đến Vân Nam … Truyện Nam Chiếu kể tiếp: “Nhà Đông Tấn sai tướng là Tào Khả đem quân sang đánh, Ông Lý mai phục ở rừng núi hiểm trở nơi đầu nguồn sông mà đánh, rồi lại tới nấp ở núi Liên Vị, địch tới thì mình đi, địch đi thì mình tới, sáng ra tối vào, cầm cự trong 4, 5 năm trời, không hề đối đầu. Quân Tấn không chịu nổi lam chướng, chết hơn quá nửa, bèn rút quân về.” Nhà Tấn sau khi diệt Thục và Ngô, tấn công xuống phương Nam. Nhưng gặp sự kháng cự của Mãnh Hoàng, rồi Triệu Ông Lý ở vùng Nam Triệu này, không tiến nổi. Vùng đất này như vậy vẫn giữ độc lập từ thời Tấn. Vùng Vân Nam? Lý Ông Nam Triệu tương đương với … Lý Nam Đế (Triệu = Chúa), trong sử Việt được gọi là triều Hậu Lý Nam Đế. Tới thời Tùy Cao Tổ năm 602 tướng Lưu Phương đã dụ hàng con cháu của Nam Triệu, đưa vùng đất La – Lỗ nhập vào đất Tùy. Năm 605 Lưu Phương cũng tấn công xuống phía Nam thắng lợi, đuổi họ Phạm chạy ra ngoài hải đảo, sát nhập nốt đất An – Yên vào nhà Tùy. Nước “Nam Triệu” của Triệu Ông Lý chấm dứt ở đây sau 600 năm tồn tại. Nhưng sau đó, một nước Nam Chiếu mới lại nổi lên… Tộc phả họ Phạm viết: "Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm, khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An , diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế (766)." Còn Truyện Nam Chiếu chép: “Quân Nam Chiếu tới cướp các xứ Nam thành, Đông thành, Trường An, quan lệnh không thể dẹp nổi. Tới khi nhà Đường thịnh lên, vua Ý Tông sai Cao Biền đem quân sang dẹp, không đánh nổi phải bỏ về.” Đoạn này nói tới cuộc khởi nghĩa thời Mai Thúc Loan - Phùng Hưng, tấn công chiếm thành Tống Bình (Trường An?). Phải tới Cao Vương Biền mới đuổi được quân Nam Chiếu của họ Phùng ra khỏi Đông Giao Chỉ, và đặt vùng này làm Tĩnh Hải quân. Nhưng phía Tây Giao Chỉ vẫn do Nam Chiếu chiếm giữ. Thậm chí còn mở rộng ra thành 6-7 “chiếu” theo như truyền thuyết về Khun Borom ở Lào. Đoạn cuối cùng của Truyện Nam Chiếu: “Tới đời Ngũ Đại vua Tấn là Thạch Kính Đường sai tướng tư mã là Lý Tiến đem 30 vạn quân đánh Đồ Sơn, quân Nam Chiếu bèn rút về biên giới Ai Lao, gọi là nước Đầu Mô, nay là đất Bồn Man”. Bồn Man??? Thời Thạch Kính Đường thì Hoa Nam đã chia năm xẻ bảy, còn hơi sức đâu mà nhà Hậu Tấn đánh dẹp Nam Chiếu. Lúc này trên đất Tĩnh Hải là triều đại của Nam Hán Lưu Cung. Đoạn sử trên có thể nói tới sự kiện Cao Biền đánh Nam Chiếu từ thời Đường Ý Tông, hoặc chuyện Đoàn Tư Bình diệt Nam Chiếu, lập nước Đại Lý. Có điều sử Tàu đã biến chuyện Nam Chiếu bị diệt thành chuyện Nam Hán Lưu Cung cử Lý Tiến đánh Khúc Thừa Mỹ. Có thể Lý Tiến là tướng của Lưu Cung quãng năm 936 – 940 (thời Hậu Tấn) đã tấn công Nam Chiếu ở Tây Giao Chỉ, chứ không phải đánh Khúc Thừa Mỹ. Phải nói Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái là một ghi chép rất đầy đủ và chân xác về lịch sử vùng Tây Giao Chỉ trong suốt một thời kỳ dài từ Đông Hán tới tận thời Ngũ Đại. 1000 năm lịch sử của miền Tây đã bị lãng quên, may mắn còn được lưu lại trong truyện. 600 năm Nam Triệu và 400 năm Nam Chiếu, kiên cường chống lại phương Bắc, huy hoàng mở các quốc gia người Thái khắp Đông Nam Á. Câu chuyện này sẽ được phân tích kỹ thêm, vì đây là sử chứ không phải huyền thoại.
-
Ngơ Ngẩn Lý Học Tàu. Thần Sầu Minh Triết Việt
hoangnt replied to Thiên Sứ's topic in Chú Ý - Các Bài Viết Quan Trọng
Cái lạ thứ nhất là dù là lịch Tây nhưng các ngày Chủ Nhật Hai Ba Tư Năm Sáu Bảy đều thay bằng Nhật Nguyệt (Âm Dương) Hỏa Thủy Mộc Kim Thổ (Ngũ Hành) nó khác cách đặt ngày của VN lẫn TQ (ngoại trừ Chủ Nhật). Đúng sẽ là: Nhật - Nguyệt - Kim - Thủy - Mộc - Hỏa - Thổ: biểu tượng các hành tinh trong hệ mặt trời, lý tương sinh từ trong ra. -
Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Nam Chiếu Posted on Tháng Năm 26, 2010 by Nguyễn Hữu Vinh Người Nam Chiếu chính là con cháu vua Vũ Đế Triệu Đà. Thời Hán Vũ Đế, Thừa tướng của Triệu Đà là Lữ Gia không thần phục nhà Hán, giết sứ Hán là bọn An Quốc và Thiếu Quý. Hán Vũ Đế sai Lộ Bác Đức và Dương Phác đem quân chinh phạt, bắt được Vệ Dương Vương Kiến Đức và Lữ Gia, thôn tính cả nước (1), phân đất đặt quan cai trị. Triệu Đà Họ Triệu mất nước, con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau hội họp nhau ở Thần Phù, Hoành Sơn là những xứ vắng vẻ không có người. Họ bèn đóng tàu thuyền, đột nhập vào nội địa cướp người ven biển, giết các quan lệnh của nhà Hán, xưng là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu Đến đời Tam Quốc, Tôn Quyền nhà Ngô sai Đái Lương, Lữ Đại (2) làm Thái Thú để đánh dẹp. Quân Nam Chiếu ở cả một vùng từ núi Thiên Cầm tới các vùng Hà Hoa, Cao Hoàng, Hoành Sơn, Ô Đặc, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Đổ, Vọng Án và Lỗi Lôi, núi cao bể rộng, sóng gió hiểm trở, không có một vết chân người. Quân Nam Chiếu ở đấy, khi số người đã nhiều, thường lấy châu bảo, ngọc ngà đút lót cho nước Tây Bà Dạ cầu làm thân thuộc, để cúu giúp lẫn nhau. Cuối đời Tấn thiên hạ rối loạn, có người thổ tù là Triệu Ông Lý cũng là con cháu của Triệu Vũ Đế, anh em đông đúc, thảy đều dũng lược hơn người, ai nấy đều nể phục, cùng hợp lại với quân Nam Chiếu, được hơn hai vạn người, lại đem châu báu ngà ngọc hiến cho nước Tây Bà Dạ, xin chỗ sinh sống ở vùng đất trống ven bờ biển. Khi ấy, nước Tây Bà Dạ chia đều đất ra thành hai lộ. Một lộ trên từ Quý Châu, dưới tới Diễn Châu gọi là lộ Như Hoàn. Trên từ Cầm Châu xuống tới Hoan Châu gọi là lộ Lâm An và giao cho nước Nam Chiếu, cho Triệu Ông Lý thống trị. Sau đó, ông Lý xây thành ở tổng Cao Xá, đất Diễn Châu, đông giáp với biển, tây tới nước Bà Dạ, nam tới Hoành Sơn, tự xưng làm chúa. Nhà Đông Tấn sai tướng là Tào Khả đem quân sang đánh, Ông Lý mai phục ở rừng núi hiểm trở nơi đầu nguồn sông mà đánh, rồi lại tới nấp ở núi Liên Vị, địch tới thì mình đi, địch đi thì mình tới, sáng ra tối vào, cầm cự trong 4, 5 năm trời, không hề đối đầu. Quân Tấn không chịu nổi lam chướng, chết hơn quá nửa, bèn rút quân về. Quân Nam Chiếu tới cướp Trường An và các vùng lân cận, quan lệnh không thể dẹp nổi. Tới khi nhà Đường thịnh lên, vua Ý Tông sai Cao Biền (3) đem quân sang dẹp, không đánh nổi phải bỏ về. Tới đời Ngũ Đại (4), Thạch Kính Đường sai tướng Tư Mã là Lý Tiến (5) đem 30 vạn quân đánh vào Đồ Sơn, quân Nam Chiếu bèn rút về biên giới Ai Lao, gọi là nước Đầu Mô, nay là đất Bồn Mang (6). Chú thích: 1) Bản A 2914 thì “thôn tính cả nước” chép thành “Nước Nam Việt liền mất”. Tượng Triệu Đà ở Chính Định, Thạch Gia Trang, Hà Bắc, Trung Quốc 2) Việt Sử Lược chép rằng: “Tôn Quyền nghe Sĩ Nhiếp mất, chia đất từ Hợp Phố về Bắc thuộc Quảng Châu, cho Lữ Đại làm Thứ sử; từ Hợp Phố về Nam là Giao Châu, sai Đái Lương làm Thứ Sử. Cho Trần Thì làm Thái thú thay Nhiếp. Bọn con của Nhiếp là Huy đem binh chống cự với Lương. Sau, Lữ Đại dùng kế giết chết Huy, lấy đầu đem về Vũ Xương. (Nguyễn Hữu Vinh dịch) 3) Việt Sử Lược chép rằng: Đường Ý Tông cho gọi các đạo binh về, bãi bỏ An Nam Đô Hộ Phủ, đặt Hành Giao Châu ở trấn Hải Môn, sai Tống Nhung làm Thứ sử Giao Châu. Tháng 7, đặt lại Đô Hộ Phủ. Năm thứ 5 niên hiệu Hàm Thông (864), nhà Ðường cho quan Dung Quản Kinh Lược Sứ là Trương Nhân kiêm luôn việc quân ở An Nam. Nhân không chịu đi nhậm chức, Hạ Hầu tiến cử Cao Biền đến thay Nhân. Biền tự Thiên Lý, cháu của Sùng Văn, suốt đời binh nghiệp, thích đọc sách, ưa đàm luận cổ kim. Lúc nhỏ theo giúp Châu Thúc Minh. Một hôm, có hai chim diều hâu đang bay, Cao Biền giương cung mà nói rằng: “Nếu tôi được phú quý thì bắn trúng vậy”. Rồi bắn một phát xuyên cả hai chim. Dân chúng đều sợ, gọi Cao Biền là “Lạc Điêu Thị Ngự”. Sau vì có công, được thăng làm Phòng Ngự Sứ ở Tần Châu. Bấy giờ, Giao Châu đã lọt vào tay Nam Chiếu. Năm thứ 5 niên hiệu Hàm Thông (864), làm Kiêu Vệ Tướng Quân, lãnh chức An Nam Đô Hộ Phủ Kinh Lược Chiêu Thảo Sứ, và được giao phó hết binh quyền của Trương Nhân. Tháng 9, Biền đến nam Phong Châu. Dân man đông đến 5 vạn người đang gặt lúa, Biền đánh úp một trận, phá tan tành, bèn tiến sang đánh quân Nam Chiếu, lại dẹp được quân Nam Chiếu, giết tướng Nam Chiếu là Đoàn Tù Thiên và chém hơn 3 vạn đầu quân thổ man. Nhà Đường bèn bãi bỏ Đô Hộ Phủ, đặt Tĩnh Hải Quân, và cho Biền làm Tiết Độ Sứ. Biền chiếm giữ Giao châu xưng vương. Từ lúc người man nổi lên đến lúc ấy đúng mười năm mới được yên ổn. Biền tu sửa La Thành, chu vi dài 1980 trượng 5 thước, cao 2 trượng 6 thước, chân thành rộng 2 trượng 6 thước. Bốn thành có đắp tường ngăn cao 5 thước 5 tấc, xây 55 gian lầu địch, 5 môn lâu, 6 cửa vòng cung hình tò vò, 3 ngòi nước, đắp 34 con đường đi. Lại đắp đê chu vi dài 2125 trượng 8 thước, cao 1 trượng 5 thước, chân đê rộng 3 trượng, xây cất nhà cửa hơn 5000 căn. Cao Biền thấy đường biển từ Giao Châu ta đến Ung, Quảng có nhiều đá ngầm, thường làm đắm chìm thuyền bè, cản trở việc vận tải lương thực bèn sai quan Trưởng Sử là bọn Lâm Phúng đào thông con đường ấy. Mùa hè, ngày mồng năm tháng tư, bắt đầu công việc. Ðược hơn một tháng, sắp xong, chỉ còn một đoạn ở giữa thì gặp những tảng đá lớn dài mấy trượng, cứng như sắt, chém dao xuống thì cong lưỡi, đập búa vào thì búa gãy cán. Những phu dịch nhìn nhau đành chịu dễ chừng muốn bỏ dở công việc. Ngày 26 tháng 5, mây đen đùn lên, gió lớn dữ dội giữa ban ngày, sấm dậy ầm ầm, sét đánh liên tiếp, chợt trời quang mây tạnh, những tảng đá lớn đã thấy vỡ tan cả, chỉ còn hai chỗ nữa mà thôi. Ðến ngày 21 tháng 6, sấm sét lại nổi lên như trước và các tảng đá lớn trong chốc lát cũng đều bị vỡ tan. Công việc hoàn thành. Do vậy, mới gọi chỗ ấy là kênh Thiên Uy. Năm thứ 9 (868), Ý Tông cho Biền làm Hữu Kim Ngô Đại Tướng Quân, phong thêm chức Kiểm Hiệu Thượng Thư Hữu Bộc Xạ, cho sang làm Tiết độ Sứ ở Thiên Bình, rồi mất. (Nguyễn Hữu Vinh dịch) 4) Ngũ đại: Khoảng thời gian loạn lạc trong lịch sử Trung Quốc từ năm 907 đến 979 sau Công Nguyên, gồm có 5 triều đại và 10 nước. Trong đó có nước Nam Hán đem quân xâm chiếm nước ta, bị Ngô Quyền đánh tan ở sông Bạch Đằng vào năm 938. 5) Việt Sử Lược chép: Năm thứ nhất niên hiệu Trường Hưng (930) đời Minh Tông nhà Hậu Đường, chúa Nam Hán là Lưu Yểm (cũng gọi là Lưu Nghiễm, Lưu Cung) sai tướng Lương Khắc Chân sang đánh Giao Châu ta, bắt Tiết Độ Sứ Khúc Toàn Mỹ, cho tướng là Nguyễn Tiến (Lý Tiến) lên thay. Trong khoảng niên hiệu Trường Hưng (930- 933) đời Ðường Minh Tông, Đình Nghệ đem quân đánh Nguyễn Tiến. Tiến chạy về Hán. (Nguyễn Hữu Vinh dịch) 6) Bản VHV 1473 và Bản A 2914 thì “nay là đất Bồn Mang” viết thành “thường hay làm việc cướp bóc, lúc đánh lúc nghỉ, chưa hề ngừng, cho đến hôm nay cũng vậy”. (Nguyễn Hữu Vinh dịch) Bình: • Theo truyện này, nước “Nam Chiếu” cua con cháu Triệu Đà nằm khoảng ngày nay là Nghệ An đến Đèo Ngang (Hoành Sơn). Vậy thì khác với nước Nam Chiếu (Nan Chao) ở vùng mà ngày nay là Vân Nam, Trung quốc, là tiền thân của nước Đại Lý của nhà họ Đoàn nổi tiếng với nhiều vị vua đi tu (mà tiêu thuyết gia Kim Dung đã tiểu thuyết hóa như là truyền nhân của Nhất Dương Chỉ), và ngày nay là một danh thắng du lịch. Vào khoảng năm 738, đời Đường Huyền Tông ở Trung quốc, 6 “chiếu” của người Bạch và Di ở Vân Nam thống nhất thành nước Nam Chiếu. Vì nhà Đường suy yếu, nước Nam Chiếu phát triển và bành trướng rất nhanh, đầu tiên là vào Miến Điện, sau đó là toàn bộ Vân Nam ngày nay, xuống phía bắc Lào và Thái Lan, và sau đó về phía bắc tới Tứ Xuyên (Trung quốc). Đây là nước Nam Chiếu tấn công Giao Châu (Việt nam) từ 858 đến 866. Theo sách sử Việt, chú thích số 3 bên trên, quân Nam Chiếu hợp với quân thổ man tiến chiếm Giao Châu. Vậy nước “Nam Chiếu” trong truyện này–con cháu của Triệu Đà ở vùng Nghệ An Hoành Sơn–có lẽ là một trong những nhóm “quân thổ man” trong truyện thì có lý hơn. • Nếu truyện này mà có một phần sự thật thì truyện này giải thích việc bành trướng đất Giao Châu (Việt Nam cổ) từ vùng Nghệ An ra đến Đèo Ngang (phía bên kia Đèo Ngang là đất của Chiêm Thành). • Triệu Đà là tướng của Tần Thủy Hoàng, xâm chiếm Âu Lạc và, theo huyền sử, dùng con trai là Trọng Thủy kết hôn với công chúa Mỵ Châu, con của An Dương Vương, để làm gián điệp. Nhờ đó Triệu Đà chiếm được Âu Lạc và xưng đế gọi là Triệu Vũ Đế. Lẽ ra phải xem gia tộc nhà Triệu là của Trung quốc, và thời kỳ Triệu Đà là thời Bắc thuộc, thì sách sử Việt có khuynh hướng xem Triệu Đà là vua của Việt Nam, vì lý do nhà Triệu khá độc lập với nhà Hán ở Trung quốc, và cuối cùng Lữ Gia, tể tướng qua 3 đời vua Triệu, công khai chống lại nhà Hán. Hán Vũ Đế phải sai đại quân sang đánh và thắng Lữ Gia. Có lẽ đây là tâm lý Việt: “Ông chống kẻ thù của tôi thì ông là người nhà tôi.” • Và có lẽ vì thế mà Lĩnh Nam Chích Quái lại có truyện về nước “Nam Chiếu”, vì theo truyện này “Người Nam Chiếu là con cháu của vua Vũ Đế Triệu Đà”. Nghĩa là, lịch sử “Nam Chiếu” là một phần lịch sử của Việt Nam, theo tâm lý nói trên. • Hơn nữa, theo truyện này, nó là phần lịch sử bất khuất không chịu tùng phục Trung quốc bao giờ, từ khoảng năm 208 TCN, lúc Triệu Đà chiếm Âu Lạc cho đến đời ngũ đại (907-979 SCN), tức là khoảng 1200 năm. • Dù sao đi nữa, thì khoảng huyền sử/lịch sử này diễn tả hai điểm rất rõ: 1. Mối quan hệ tình cảm bị trị/cai trị giữa Giao Châu và Trung quốc, từ thời xa xưa đó đến nay. 2. Trong mối quan hệ bị trị/cai trị đó, ông chống Trung quốc thì ông là người nhà của tôi. Xem ra tâm lý này vẫn còn rất sinh động ngày nay! • Câu hỏi: Sách sử chúng ta có nên làm rõ ra là Triệu Đà là người Trung quốc đô hộ Việt Nam, không phải là vua Việt, và thời nhà Triệu là thời Bắc thuộc? (Trần Đình Hoành bình)
-
Đạm Nhĩ Chu Nhai Friday, December 7, 2012 6:38:06 AM Nguồn cội, Địa lý Sau khi Lộ Bác Đức chiếm Nam Việt, nhà Tây Hán chia đất Nam Việt thành 9 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Uất Lâm, Nhật Nam, Hợp Phố, Nam Hải, Thương Ngô, Đam Nhĩ và Chu Nhai. Hai quận Đam Nhĩ và Chu Nhai được định vị là đều nằm ở đảo Hải Nam ngày nay. Nhưng... đảo Hải Nam cách đây không lâu cũng mới là một huyện đảo của tỉnh Quảng Đông, liệu vào đầu Công nguyên có được bao nhiêu dân mà lập tới 2 quận? (Văn nhân) Mở đầu bài minh Mộ Chí tiến sĩ Thái Đình Lan của Lâm Hào đời nhà Thanh soạn: "Miền Chu Nhai hoang phục xa xôi, đất Quỳnh Sơn tích học, khởi nghiệp. Tường Kha vùng sông hẻo lánh, Doãn Trân giỏi kinh truyện mà danh tiếng xa truyền. Nhờ khôn linh hun đúc mà biết địa mạch rộng dài. Nhân văn tuỳ khí vận mà sinh, ấp ủ lâu tất hào kiệt đột phát, phải đâu thời tục có thể cản ngăn, tự phát tiếng kêu cho người đời kinh hãi! Ta đã thấy điều đó ở Thu Viên tiên sinh." Thu Viên tiên sinh là Thái Đình Lan, tiến sĩ người Bành Hồ - Đài Loan, đã từng bị nạn thuyền lưu lạc sang Việt Nam thời vua Minh Mạng. Trên đường từ Việt Nam về ông đã viết tác phẩm Hải Nam tạp trứ, một tài liệu ghi chép về tình hình Việt Nam lúc đó còn lưu tới nay. Trong bài minh trên cho thấy rõ quê của Thái Đình Lan Bành Hồ - Đài Loan được gọi là miền Chu Nhai. Như vậy Chu Nhai là đất Phúc Kiến xưa chứ không phải ở đảo Hải Nam. Bài thơ Cư Đam Nhĩ (Ở Đam Nhĩ) của Tô Đông Pha thời Tống có câu: Cửu từ nam hoang ngô bất hận Tư du kỳ tuyệt quán bình sinh Dịch nghĩa Chín chết phương nam ta không hận Chuyến này kỳ tuyệt nhất bình sinh Chuyện Tô Đông Pha bị đi lưu trú ở Đam Nhĩ cũng được Nguyễn Trãi nhắc đến trong bài Tặng con cháu ba họ: Khổng, Nhan, Mạnh dạy học ở Thái Bình: Nhân sinh thập lự cửu thường quai Thạnh thế thùy tri hữu khí tài Pha lão tích tằng Đam Nhĩ khứ Trường Canh diệc hướng Dạ Lang lai. Dịch Nghĩ mười, sai chín người đời Bỏ quên tài lúc thịnh thời biết không Lão Pha, Đam Nhĩ đã từng Trường Canh cũng phải hướng vùng Dạ Lang. Tuy nhiên khi xem đến tiểu sử của Tô Đông Pha thì lại thấy Tô Đông Pha do mâu thuẫn với Vương An Thạch đã bị chuyển đi lưu trú ở Hàng Châu (Triết Giang). Như vậy Đam Nhĩ có thể không phải ở đảo Hải Nam mà chính là tỉnh Triết Giang ngày nay. Nếu Đam Nhĩ và Chu Nhai thời Tây Hán là Phúc Kiến và Triết Giang thì đất của Nam Việt Triệu Đà phải là toàn bộ vùng Nam Dương Tử. Không biết ai đó đã cố ý ép 2 quận lớn ven biển này vào hòn đảo Hải Nam hoang vu, mục đích rõ ràng để dấu đi qui mô của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng trên vùng Hoa Nam. Mã Viện khi đánh Hai Bà Trưng đuợc phong là Phục Ba tướng quân, tức là danh hiệu của Lộ Bác Đức nhà Tây Hán khi tiêu diệt nước Nam Việt của Triệu Đà. Chỉ danh hiệu này cũng cho thấy qui mô của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng không kém gì Triệu Đà xưng đế Nam Việt xưa. Khun Borom Sunday, December 9, 2012 9:55:40 AM Người Thái ở Việt Nam, người Lào và người Thái Lan đều coi Khun Borom là vị vua đầu tiên của mình. Khun Borom là tên đọc theo tiếng Thái Lan và Lào. Người dân tộc Thái Tây Bắc Việt Nam gọi là Khun Bó Dôm. Dôm cũng là tên của con sông Nậm Rốm (chính xác là Nặm Dôm), chảy qua Điện Biên sang Lào đổ vào sông Mê Kong. Theo truyền tích của người Thái Lào thì Khun Borom đầu tiên đã xây dựng Mường Then thành trung tâm của hoàng gia. Mường Then được ký âm chữ Nho là Mãnh Thiên, thời Nguyễn là trấn Ninh Biên, nay là Điện Biên Phủ. Borom không phải là tên riêng mà là danh xưng. Bằng chứng là danh xưng này còn được hậu duệ của Khun Borom cai trị vương quốc Ayutthaya sau này sử dụng như: Borom Maratcha hay Borom Trailokanat. Không rõ Dôm tiếng Thái nghĩa là gì, nhưng rất có thể con sông Dôm chảy qua kinh đô của vương quốc thì gọi là con sông Cả hay sông Cái. Bó Dôm tiếng Thái có thể tương đương với Bố Cái của tiếng Việt, trong đó một từ là ghi âm, một từ dịch nghĩa. Khun Borom được các sử gia Thái Lào xác định là vua Bì La Các (Piloko), người khởi đầu nước Nam Chiếu vào đầu thế kỷ 8 dưới triều Đường. Bì La (Pilo) thiết Bố. Bì Lô Các cũng là Bố Cái. Như vậy có thể thấy Khun Borom của người Lào Thái chính là Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng của Việt Nam, người đã khởi nghĩa chống nhà Đường vào thế kỷ 8: Thanh chấn Lý Đường, Thuận Đức niên gian uy Bắc khấu Vận thừa Mai Đế, Phong thành phủ lỵ thái Nam Bang. Niên hiệu của Khun Borom – Bố Cái được câu đối trên chép là Thuận Đức, đóng đô tại Phong Thành, lập nước là Nam Bang. Có thể thấy Phong thành đây chính là Mường Then – Điện Biên, nằm ngay cạnh tỉnh Phong Xa Lỳ của Lào. Nam Bang là nước phía Nam hay Nan Chao (theo tiếng Thái nghĩa là nước của người phương Nam). Nan Chao là Nam Chiếu. Sách Lịch sử Thái Lan chép (Wyatt, David K.): Năm Khai Nguyên thứ 26 (738), Bì La Các cầu Đường trợ giúp đánh bại La Quân Chiếu Điên Chi Thác, Lãng Khung Chiếu Chí La Quân, Thi Lãng Chiếu Bàng La Điên, Việt Tích Chiếu Vu Tặng, Mông Hề Chiếu Nguyên La, sách nhập ngũ chiếu. Nhà Đường phong cho Bì La Các làm Vân Nam Vương, ban danh là Mông Quy Nghĩa. Bì La Các lấy vùng tây Nhị Hà (tức Nhĩ Hải) làm cơ sở kiến lập nên Nam Chiếu Quốc. Năm sau, dời đô về thành Thái Hòa (tức thành cổ Đại Lý ngày nay). Đoạn trên cho một thông tin: đất Nam Chiếu của Bì La Các ban đầu nằm ở “tây Nhị Hà”, tức là phía Tây sông Hồng ngày nay. Chú dẫn thành “hồ Nhĩ Hải” ở Vân Nam là sai hoàn toàn. Thành Thái Hòa như vậy có thể chính là Mường Then ở Điện Biên, là Đại Lỵ Phủ (Talifu) như trong câu đối, chứ không phải ở Đại Lý – Vân Nam sau này. Tây Nhị Hà cũng là đất của Bố Cái Phùng Hưng chiếm đóng trước khi tấn công Tống Bình. Theo cuốn Lịch sử Lào của Viravong M.S. (1964) thì vào năm 50 sau CN (thời Hán Quang Vũ?) người Lào ở Nam Trung Hoa dưới áp lực của người Hán đã chia thành 2 nhóm. Nhóm ở lại gọi là Ai Lao. Nhóm di chuyển xuống phương Nam gọi là Ngai Lao. Thời kỳ tiếp theo nhóm Ngai Lào đã hình thành 6 thành phố mới. Nếu đối chiếu với 6 chiếu của Nam Chiếu thì trùng khớp: 1. Mong-Sui là Mông Huề 2. Lang-Kong là Lãng Khung 3. Theng-Tsieng là Đằng Đạm 4. Tse-Lang là Thi Lãng 5. Mong-Tse là Mông Xá. 6. Ia-Tse còn lại có thể Việt Tích. Còn theo sử Lào – Thái (Manich, 1967) thì Khun Borom đã cử 7 hoàng tử đi chiếm 7 khu vực khác nhau thuộc đất Lào, Việt Nam, Thái Lan, Burma và Vân Nam. Ngoại trừ khu vực Kammuon trên đất Burma được chiếm vào thời gian muộn hơn, còn 6 khu vực trước đó có thể so trùng khớp với 6 chiếu trên : 1. Khun Lo chiếm Mường Xoa, nay là Luong Phra Bang. Mường Xoa ứng với chiếu Mông Xá. Khun Lo được coi là tổ tiên của nước Lang Xang (Triệu Voi) sau này. 2. Khun Khamphong chiếm Chiengsen (Chiềng Sen?), vùng đông bắc Thái Lan, quãng Chiềng Mai. Chieng Sen ứng với chiếu Đằng Đạm. 3. Khun Chet Chang chiếm Xieng Khouang (Chiềng Khoảng?), là đất Bồn Man hay Bồn Thác, sau này qui về Việt Nam dưới triều Lê. Bồn Thác là chiếu Việt Thác. 4. Khun In chiếm Lan-Pya sau là vùng Ayutthaya trên đất Thái Lan. Có thể đây là chiếu Lãng Khung (Lang-Kong như ở trên) vì vùng này nằm ở trung lưu sông Mê Kong - Khung giang. 5. Khun Pha Lan chiếm Mường Teh-Hoh, được xác định là Sipsong Panna ở Vân Nam. Có thể đây là chiếu Thi Lãng. 6. Khun Chusang chiếm Mường Chulni, được cho là vùng Hứa Phần và một phần Bắc Việt, có thể tương ứng với chiếu Mông Huề (hay Mong Sui ở trên). Như vậy 6 chiếu khởi đầu của Bì La Các hoàn toàn khớp với vùng đất mà 6 hoàng tử của Khun Borom đã chinh phục. Rõ ràng 6 chiếu này không phải nằm chỉ ở Vân Nam mà là một khu vực rộng lớn từ Tây Bắc Việt, Lào, tới Thái Lan. 6 Chiếu người Thái Tổng hợp các thông tin có thể tóm tắt lịch sử người Thái tới thời Khun Borom như sau: - Người Thái ban đầu nằm trong tộc Mi, là tộc người theo Lạc Long quân tiến lên hướng ”Đông Nam”, là thành phần chính của nhà Hạ ở vùng Quảng Đông Quảng Tây. - Thời Chu một phần tộc Mi di chuyển sang hướng Tây về vùng Vân Nam, thành nước Điền vào cuối thời Chiến Quốc. - Thời Hiếu Vũ Đế khi Lộ Bác Đức đánh nhà Triệu. Con cháu nhà Triệu chạy xuống phía Tây (Vân Nam – Điện Biên) và Nam về tận cửa Thần Phù như ghi trong Lĩnh Nam chích quái, Truyện Nam Chiếu. - Cuối triều Tân của Vương Mãng, tiền nhân họ Phùng là Phàn Sùng cầm đầu quân Xích Mi chống lại quân Lục Lâm của Hán tặc. Xích Mi nghĩa là tộc người Mi ở phương Nam. Tộc Mi là nhóm Tày Thái. Tiếp theo Hán Quang Vũ cử Mã Viện tấn công phương Nam, dẫn đến việc chia tách Ai Lao và Ngai Lao ở trên. - Thời Tam Quốc, Gia Cát Vũ Hầu của Thục thu phục Nam Man Mạnh Hoạch (Mạnh = Mãnh = Mường), có thể một phần người Thái đã di cư tiếp xuống phía Nam lúc này. Mạnh Hoạch có lẽ là thủ lĩnh của cả người Thái lẫn người Môn-Khmer (Mường, Xá) ở vùng Tây Bắc. - Khi nhà Tấn diệt nhà Thục của Lưu Bị, đất phương Nam của Thục thuộc Mạnh Hoạch bị chia tách, một phần theo về cùng con cháu bên ngoại của Lưu Bị - Khu Liên làm nên nước Lâm Ấp. - Khi Lâm Ấp bị nhà Tùy diệt thì tiếp theo Mai Hắc Đế khởi nghĩa chống nhà Đường ở vùng Nghệ An. Mai Hắc Đế là đế của tộc người Mi – Mai, hay người Thái. Khởi nghĩa thất bại, nghĩa quân rút về vùng Bồn Man. Vùng Bồn Man này có lẽ không trùng với vương quốc Bồn Man sau này ở Xiêng Khoảng, mà nằm ở Tây Nghệ An - Thanh Hóa, tức là đất Hứa Phần. - Bố Cái Phùng Hưng – Khun Borom nối vận Mai Hoàng và tiền nhân họ Phùng từ châu Đường Lâm (vùng Hứa Phần) đã làm nên Nam Chiếu, vương quốc của người Thái huy hoàng trong lịch sử. Theo thông tin về Bì La Các thì Phùng Hưng khởi nghĩa ban đầu không phải chống lại triều Đường, trái lại còn được sự ủng hộ của Đường Huyền Tông để thu phục 6 chiếu từ tay người Lawa – Xá, nói chung là người Môn – Khmer hay tộc Cơ của các châu Cơ Mi (Kimi), sống ở vùng này trước đó. Nam Chiếu chống lại triều Đường bắt đầu từ đời con của Bì La Các là Cáp Lỗ Phong hay Khun Lo trong sử Lào. Tên Khun Lo và Cáp Lỗ Phong cho thấy vùng đất Lào xưa có tên là nước Lỗ. Vào thời trước công nguyên thì đây là khu vực của người nhóm Môn-Khmer, tiền thân người Cămpuchia bây giờ. Vì thế mới có chuyện mộ ông Lỗ Ban, tổ sư nghề mộc của nước Lỗ thời Chiến Quốc lại thấy ở Angkor Wat như được mô tả trong Chân Lạp phong thổ ký. Khổng Tử người nước Lỗ dậy học trò bên sông Thù, sông Tứ, có thể chính là sông Mê Kong vì Tứ là chỉ phương Tây, tương đương với Khung giang. Một số từ Thái và họ người Thái có thể hiểu như sau: - Bồn Man là ký âm chữ Nho của từ Bản Mường, nghĩa là đất nước theo tiếng Thái. Ví dụ người Thái nói Mường Lào, Mường Việt nghĩa là nước Lào, nước Việt. - Tạo (trong tiếng dân tộc Thái) = Thao (trong tiếng Thái Lào), nghĩa là Thiêu, chỉ ngọn lửa, là biểu trưng của người lãnh đạo. - Họ Lư (Lư Cầm), hay người Lự, họ Lò có lẽ cũng là từ Lỗ hay La mà ra, là quẻ Ly chỉ phương Tây trong Hậu thiên bát quái. - Họ Cầm có thể từ chuỗi Điểu - Cầm – Chim. - Điểu còn có thể biến thành Điêu, rồi thành họ Đèo, như Đèo Văn Trí ở Lai Châu thời Pháp còn gọi là Điêu Văn Trí, là con của Đèo Văn Sinh hay Cầm Sinh. Điêu = Cầm. Nam Triệu và Nam Chiếu Wednesday, January 23, 2013 11:38:15 PM Nguồn cội Trong Lĩnh Nam chích quái có một câu chuyện rất thật, không có chút huyền thoại hay “chích quái” nào nhưng lại khó hiểu nhất vì chẳng hề ăn khớp tí gì với chính sử. Đó là Truyện Nam Chiếu. Nay xin “đọc lại” câu chuyện này, không cần phải “giải mã” gì, chỉ cần đối chiếu với những gì đã và đang biết về lịch sử bị lãng quên của miền Tây và Nam nước ta. Câu đầu tiên của Truyện Nam Chiếu khẳng định: “Người Nam Chiếu là con cháu vua Vũ Đế Triệu Đà”. Câu khẳng định này đúng là đánh đố người đọc ngày nay. Nam Chiếu được coi là quốc gia của người Di Bạch vùng Vân Nam, sao lại là con cháu Triệu Đà được? Nhưng đích thực, câu mở đầu này đã xác định nước “Nam Chiếu” thực chất là ở đâu. Triệu Vũ Đế dựng nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung – Quảng Đông. Thành phần dân tộc chính vùng này là nhóm người Tày Thái. Nam Chiếu là con cháu Triệu Đà, tức là một quốc gia người Thái. Lịch sử Nam Chiếu cho biết quốc gia người Thái này đã từng trải rộng trên đất Tây Bắc Việt Nam, Lào và Bắc Thái Lan. Nước Nam Chiếu ở trong truyện không phải mới bắt đầu vào thời Đường như nước Nam Chiếu theo chính sử ở Vân Nam, mà có gốc gác từ thời Tây Hán. Khi Lộ Bác Đức tấn công Nam Việt thì “Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu”. Đất Hoành Sơn mà ở gần cửa Thần Phù thì là đèo Ngang giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, chứ không phải Hoành Sơn ở Quảng Bình. Con cháu họ Triệu như vậy trở về vùng Ái Châu tụ tập. Đoạn ghi chép trên rất giống với chuyện… Man vương Mạnh Hoạch chống lại các vị quan họ Chu của nhà Đông Hán trong thần tích làng Hương Ngải - Sơn Tây. Mạnh Hoạch hoạt động cả một dải từ Hưng Hóa tới Ái Châu, làm quan cai trị ở Giao Châu lúc đó phải lao đao… Nam Triệu như vậy là tên gọi nước của Mạnh Hoạch từ thời Đông Hán, là vùng đất phía Tây Giao Chỉ. Tiếp theo, “Đến đời Ngô, Tôn Quyền sai Đái Lương, Lữ Đại làm thú mục để đánh dẹp. Quân Nam Chiếu ở cả một vùng từ núi Thiên Cầm tới Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, Ô Tung, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Hải, Vọng Cái, Lỗi Lôi, núi cao bể rộng, sóng gió hiểm trở, không có một vết chân người. Quân Nam Chiếu ở đấy thường lấy việc cướp bóc để sinh sống, đánh giết thú mục, không thể ngăn cản nổi.” Đây cũng là thành tích của Mạnh Hoạch khi phần đất phía Đông Giao Chỉ được Sĩ Nhiếp Ngạn Uy dâng cho Ngô Tôn Quyền. Đoạn trên cho biết một loạt các địa danh “từ núi Thiên Cầm tới Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, Ô Tung, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường Sa, Quế Hải, Vọng Cái, Lỗi Lôi”. Các địa danh này hẳn nằm ở Tây Bắc và Tây Thanh Nghệ ngày nay, là đất Nam Triệu của Mạnh Hoạch. Mạnh Hoạch hay Mãnh Hoàng, có thể chỉ là cách gọi vị vua của người Mường Mán. Mãnh Hoàng là con cháu họ Triệu, sau khi kinh đô Phiên Ngung của Nam Việt thất thủ đã rời về Tây Giao Chỉ và hùng cứ một vùng, liên tục chống lại các quan lại nhà Hán rồi tới nhà Ngô. Tiếp theo thì như đã biết, Vũ Hầu Gia Cát, thừa tướng của nhà Thục đã vượt Lô Giang, tiến vào Tây Bắc bình định, thu phục Mãnh Hoàng. Mãnh Hoàng tiếp tục cai quản khu vực Nam Triệu này dưới hình thức tự trị, độc lập. Truyện Nam Chiếu kể tiếp: “Cuối đời Tấn thiên hạ rối loạn, có người thổ tù là Triệu Ông Lý cũng là con cháu của Triệu Vũ Đế, anh em đông đúc, thảy đều dũng lược hơn người, ai nấy đều nể phục, cùng hợp lại với quân Nam Chiếu, được hơn hai vạn người, lại đem châu báu ngà ngọc hiến cho nước Tây Bà Dạ, xin chỗ sinh sống ở vùng đất trống ven bờ biển.” Nếu đối chiếu với tộc phả họ Phạm: "Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân - Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu (gọi là xứ Lâm Ấp) - tức là Nam Trung bộ ngày nay. Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trước CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm Ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Việt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm Ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa ( xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay).” Có thể thấy Triệu Ông Lý, con cháu Triệu Đà, là họ Lý, bắt đầu từ Lý Thân (Lý Ông Trọng). Vùng đất Tây Giao Chỉ là vùng Lâm Thao, nơi Lý Ông Trọng trấn giữ người Hồ dưới thời Tần. Đặc biệt truyền phả họ Nguyễn còn chép rằng Triệu Đà chính là Lý Ông Trọng. Chuyện này tuy còn nhiều nghi vấn, nhưng có thể có phần nào là sự thật khi con cháu Triệu Đà cũng là con cháu của Lý Thân, chiếm vùng đất Tây Giao Chỉ dưới thời Hán. Vùng Tây Giao Chỉ là đất của Mãnh Hoàng (Mạnh Hoạch), còn gọi là Nam Triệu, thời Tam quốc đã hàng phục nước Thục nhờ công của Vũ Hầu Gia Cát. Khi nhà Tấn diệt Thục, Tấn chỉ chiếm được vùng Xuyên Thục phía Bắc của nước này. Phần phía Nam vẫn do Mãnh Hoàng tự trị kiểm soát. Theo Truyện Nam Chiếu thì lúc này Triệu Ông Lý, con cháu Triệu Đà – Lý Thân, đã lên nắm quyền cai quản ở đây. Triệu Ông Lý chống lại nhà Tấn, “cùng hợp với quân Nam Chiếu”, tức là hợp với quân của họ Phạm ở phía Nam vùng ven biển Trung Bộ theo như tộc phả họ Phạm chép. Truyên Nam Chiếu chép: “Khi ấy, nước Tây Bà Dạ chia đều đất ra thành hai lộ. Một lộ trên từ Quý Châu, dưới tới Diễn Châu gọi là lộ Già La, trên từ Cầm Châu xuống tới Hoan Châu gọi là lộ Lâm An giao cho Nam Chiếu và Triệu Ông Lý thống lĩnh. Sau đó, ông Lý xây thành ở tổng Cao Xá, đất Diễn Châu, đông giáp với biển, tây tới nước Bà Dạ, nam tới Hoành Sơn, tự xưng làm chúa.” Có thể thấy nước Nam Chiếu trong truyện ở thời kỳ nhà Tấn chính là xứ Lâm Ấp hay Nam Hà trong tộc phả họ Phạm. Xứ này bao gồm 2 phần: - Phần lộ trên từ Quý Châu tới Diễn Châu do Triệu Ông Lý cai quản. Lộ này có tên Như Hoàn, hay Già La, sách khác gọi là Như La, Gia Viễn. Đây là phần đất liền không giáp biển, là Tây Giao Chỉ, gồm cả đất Lào ngày nay. Tên gọi Già La hay Như La cho thấy vùng này chính là nước Lỗ (La) của thời Chiến Quốc. Đây cũng là đất Lâm Thao thời Tần, trước do Lý Ông Trọng cai quản, sau đó giao cho con cháu Lý Thân. - Lộ dưới từ Cầm Châu tới Hoan Châu gọi là Lâm An, do con cháu họ Phạm quản lý. Đây là phần giáp biển, ven biển miền Trung ngày nay. Tên lộ Lâm An cho thấy đây là đất Yên (An) thời Chiến Quốc, đã được nhà Tần giao cho Phạm Duy Hinh, con của tướng Phạm Duy Minh ở Đằng Châu cai quản. <br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> Bản đồ trên ước vẽ 2 phần đất Già La và Lâm An từ thời Tấn. Đây là phạm vi nước Lâm Ấp vẫn được mô tả trong sử sách, có phía Đông giáp biển, Tây đến Vân Nam … Truyện Nam Chiếu kể tiếp: “Nhà Đông Tấn sai tướng là Tào Khả đem quân sang đánh, Ông Lý mai phục ở rừng núi hiểm trở nơi đầu nguồn sông mà đánh, rồi lại tới nấp ở núi Liên Vị, địch tới thì mình đi, địch đi thì mình tới, sáng ra tối vào, cầm cự trong 4, 5 năm trời, không hề đối đầu. Quân Tấn không chịu nổi lam chướng, chết hơn quá nửa, bèn rút quân về.” Nhà Tấn sau khi diệt Thục và Ngô, tấn công xuống phương Nam. Nhưng gặp sự kháng cự của Mãnh Hoàng, rồi Triệu Ông Lý ở vùng Nam Triệu này, không tiến nổi. Vùng đất này như vậy vẫn giữ độc lập từ thời Tấn. Lý Ông Nam Triệu tương đương với … Lý Nam Đế (Triệu = Chúa), trong sử Việt được gọi là triều Hậu Lý Nam Đế. Tới thời Tùy Cao Tổ năm 602 tướng Lưu Phương đã dụ hàng con cháu của Nam Triệu, đưa vùng đất La – Lỗ nhập vào đất Tùy. Năm 605 Lưu Phương cũng tấn công xuống phía Nam thắng lợi, đuổi họ Phạm chạy ra ngoài hải đảo, sát nhập nốt đất An – Yên vào nhà Tùy. Nước “Nam Triệu” của Triệu Ông Lý chấm dứt ở đây sau 600 năm tồn tại. Nhưng sau đó, một nước Nam Chiếu mới lại nổi lên… Tộc phả họ Phạm viết: "Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm, khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An , diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế (766)." Còn Truyện Nam Chiếu chép: “Quân Nam Chiếu tới cướp các xứ Nam thành, Đông thành, Trường An, quan lệnh không thể dẹp nổi. Tới khi nhà Đường thịnh lên, vua Ý Tông sai Cao Biền đem quân sang dẹp, không đánh nổi phải bỏ về.” Đoạn này nói tới cuộc khởi nghĩa thời Mai Thúc Loan - Phùng Hưng, tấn công chiếm thành Tống Bình (Trường An?). Phải tới Cao Vương Biền mới đuổi được quân Nam Chiếu của họ Phùng ra khỏi Đông Giao Chỉ, và đặt vùng này làm Tĩnh Hải quân. Nhưng phía Tây Giao Chỉ vẫn do Nam Chiếu chiếm giữ. Thậm chí còn mở rộng ra thành 6-7 “chiếu” theo như truyền thuyết về Khun Borom ở Lào. Đoạn cuối cùng của Truyện Nam Chiếu: “Tới đời Ngũ Đại vua Tấn là Thạch Kính Đường sai tướng tư mã là Lý Tiến đem 30 vạn quân đánh Đồ Sơn, quân Nam Chiếu bèn rút về biên giới Ai Lao, gọi là nước Đầu Mô, nay là đất Bồn Man”. Thời Thạch Kính Đường thì Hoa Nam đã chia năm xẻ bảy, còn hơi sức đâu mà nhà Hậu Tấn đánh dẹp Nam Chiếu. Lúc này trên đất Tĩnh Hải là triều đại của Nam Hán Lưu Cung. Đoạn sử trên có thể nói tới sự kiện Cao Biền đánh Nam Chiếu từ thời Đường Ý Tông, hoặc chuyện Đoàn Tư Bình diệt Nam Chiếu, lập nước Đại Lý. Có điều sử Tàu đã biến chuyện Nam Chiếu bị diệt thành chuyện Nam Hán Lưu Cung cử Lý Tiến đánh Khúc Thừa Mỹ. Có thể Lý Tiến là tướng của Lưu Cung quãng năm 936 – 940 (thời Hậu Tấn) đã tấn công Nam Chiếu ở Tây Giao Chỉ, chứ không phải đánh Khúc Thừa Mỹ. Phải nói Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái là một ghi chép rất đầy đủ và chân xác về lịch sử vùng Tây Giao Chỉ trong suốt một thời kỳ dài từ Đông Hán tới tận thời Ngũ Đại. 1000 năm lịch sử của miền Tây đã bị lãng quên, may mắn còn được lưu lại trong truyện. 600 năm Nam Triệu và 400 năm Nam Chiếu, kiên cường chống lại phương Bắc, huy hoàng mở các quốc gia người Thái khắp Đông Nam Á. Sử gia Đào Duy Anh viết trong Lịch sử cổ đại Việt Nam: cho rằng Quý Châu và Vân Nam thuộc về nước Sở - có lẽ chính là từ mục Tây Nam Di của Sử Ký. Theo cuộc chiến Tần - Văn Lang thì Tần chia 5 đạo quân tiến vào và việc tấn công vào Quý Châu không thuận lợi nhất, chưa kể tới Vân Nam phải vượt qua Quảng Châu. Điều này có lẽ không hợp lý. Và vì vậy, việc nhận định An Dương Vương theo Đào Duy Anh, không thể ở Vân Nam nên mới cho rằng ở Quảng Châu. Qua bản đồ, chứng tỏ Quý Châu và Vân Nam không thuộc Sở. Khu vực này để trống - thuộc tướng Trang Kiểu? nếu chiến tranh Sở - Tần đến hồi gay cấn nhất, thì rõ ràng quân của Trang Kiểu phải rút về ngay hoặc trước đó không thể tổ chức cuộc chiến to lớn này.
-
Thi Sách là người huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ. Năm 20 tuổi, ông cưới Trưng Trắc (con gái lạc tướng huyện Mê Linh), làm vợ. Bất bình chế độ cai trị của nhà Đông Hán, Thi Sách (lúc bấy giờ đang làm Huyện lệnh huyện Châu Diên[2]) bèn vận động nhân dân cùng nổi lên chống lại. Theo giúp ông có lắm người giỏi việc quân, như Đô Dương, Lê Đình Lượng, Phùng Thị Chính,... Năm Giáp Ngọ (34), Tô Định sang thay Tích Quang làm Thái thú quận Giao Chỉ, làm nhiều điều bạo ngược, Thi Sách gửi thư đến cảnh cáo. Tô Định đem đại quân đến đàn áp, ông bị giết chết năm Kỷ Hợi (39). Tháng Hai năm sau (40), vợ ông là Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị nổi dậy đánh đuổi được Tô Định, trả được nợ nước, thù nhà. Sau, khi chép về cuộc khởi nghĩa này, Hậu Hán thư đã khen Thi Sách là người “rất hùng dũng”[3]. Theo Nại Tử xã Thần miếu sự tích Thi Nại Am Thủy hử nguyên gốc tại xã Hồng Hà, Đan phượng, Hà Nội(Trang 8 - 12) có ghi như sau:Dương Thi Sách là người Chu Diên là con của Lạc tướng Dương Thái Bình, mẹ là Hồ Thị Nhữ, sinh ngày mùng 10 tháng 6. Nhe nói Ả Lã Nàng Đê (Trưng Trắc)là người có nhan sắc kiều diễm mà vẫn chưa lấy chồng bèn nói với Lạc tướng, Lạc tướng nói rằng: Ta và Lạc tướng Phong Châu trước đã có nguyện ước. Nay nghe có nàng Ả đó phải chăng là duyên tiền định vậy. Bèn cho người đến hỏi đón về( tức ngày mùng 10 tháng 11). Ở đất Chu Diên hai họ đều cùng vui mừng. Bấy giờ có người phương Bắc là Tô Định giữ chức Thái thú Giao Chỉ là người cai trị bạo ngược hà khắc, tạp dịch nặng nề khiến người phương Nam không khỏi lầm than oán thán. Tô Định rượu chè vô độ nghe nói có con gái của Lạc tướng đất Mê Linh là Trưng Ả Nương là người có sắc đẹp hơn người. Hắn liền đem quân đến đóng ở bên sông, rồi xông hẳn vào đất Mê Linh hỏi Trưng công. Trưng công cứ thực mà kể lại, nói rằng:Một người con gái há được được gả cho hai người tài giỏi chăng? Tô Định từ tạ rồi ra thu binh mã tiến thẳng đến Chu Diên tới nhà Dương Thi để hỏi. Thi Sách tuy xuất thân học trò song cũng nổi tiếng thao lược, bèn kháng cự lại, đôi bên mắng rồi đánh nhau. Khi đó Tô Định lập mưu trước tiên dùng khí giới mà Dương Sách thì tay không. Thi Sách tuy có chí dũng há, song sao có thể lấy sức bọ để đánh lại với vạn cỗ xe xe vậy. Ông thua chạy đến Tử Khê mà Dương công đường cùng vậy ( tức ngày 11 tháng 12 thì hoá ). Dương Công đã chết. Tô Định tìm giết hết họ hàng nhà Dương công, Trưng nữ vương bèn chạy về đất Mê Linh bàn bạc nói rõ sự tình của Thái thú. Lạc tướng Trưng công liền chiêu mộ binh sỹ tinh nhuệ làm quân tiên phong. Trưng nữ vương vì căm ghét To Định là kẻ tham tàn bạo ngược giết chồng mình nên đã dấy quân đến hỏi tội Tô Định. Sau đó đánh chiếm được 65 thành ở vùng Lĩnh Nam, rồi lên ngôi vua, tôn phong cho chồng là Quốc vương Thiên tử Đông Hán Đại vương, còn mình thì tự xưng là Quốc Thiên tử, coi tên Ả Lã Nàng Đê là tên thụy. Thời Đông Hán lệnh cho Mã Viện đến xâm chiếm, Trưng vương đánh nhau ở đất Lãng Bạc. Đánh nhau với Mã Viện từ đầu đến cuối là hơn 150 trận Vương biết tình thế không thể chống đỡ được, nên rút về đóng giữ ở Tử Khê, lập miếu thờ Dương công.Phường Tử Khê, Nại Tử vốn là nơi Dương Công Thi Sách bại trận chạy đến Châu Vi mà chết ở địa phận Nại Tử. Trưng nữ khôi phục lại đất nước, lên ngôi ban cho phường Nại Tử không phải đóng tô thuế, phu dịch. Phường Tử Khê, Nại Tử vâng mệnh. Cho họp các quan tôn Dương công làm Quốc vương Thiên tử Đại vương, ở thời Đông Hán xưng là Đông Hán Đại vương... Thi Nại Am (Nại Am Tử) là bút danh của Bồ Tát Nguyễn Minh Không, với tác phẩm Thủy Hử chính là hàm ý Nại Tử xã Thần miếu sự tích ở trên.
-
VÂN NAM Lịch sử "Người Nguyên Mưu" (元谋人), hóa thạch của người đứng thẳng (Homo erectus) được những người xây dựng đường sắt khai quật trong thập niên 1960, đã được xác định là hóa thạch người cổ nhất đã biết đến ở Trung Quốc. Vào thời kỳ đồ đá mới, ở đây đã có sự định cư của con người trong khu vực hồ Điền Trì (滇池). Những người nguyên thủy này sử dụng các công cụ bằng đá và đã xây dựng được các công trình đơn giản bằng gỗ. Vào khoảng thế kỷ 3 TCN, khu vực trung tâm của Vân Nam, xung quanh Côn Minh ngày nay đã được biết đến như là Điền. Năm 279 TCN một viên tướng nước Sở là Trang Giao hay Trang Kiệu (庄跤/庄峤) đã từ thượng nguồn sông Dương Tử tiến vào khu vực này, lập ra nước Điền và tự xưng là "vua nước Điền". Ông và những người kế nghiệp ông đã mang tới Vân Nam ảnh hưởng của người Hán, sự khởi đầu của một lịch sử lâu đời các cuộc di cư và sự mở rộng ảnh hưởng văn hóa. Đoạn văn này chỉ ra Văn Lang với bộ Vân Nam đã bị Sở tấn công và lập nước Điền: điều này chính sử Việt không thấy nói, do vậy phải kiểm tra lại : điều này mâu thuẫn nguồn gốc Thục An Dương Vương xuất phát từ Vân Nam. Sở bị Tần diệt vào năm 221 trước CN: nếu thế thì Tần có lẽ đã chiếm Vân Nam: điều này vô lý, do vậy cuộc chiến này Sở không thể chiếm Vân Nam hoặc ngụy thư? Một ghi nhận khác: Theo các tài liệu khảo cổ học vương quốc Điền là một nước theo hình thức bộ tộc thành lập bởi một nhóm sắc dân ở Vân Nam xuất hiện vào khoảng giữa thời Chiến Quốc (461-221 tr.CN) và Tiền Hán. Họ sống quanh hồ Điền gọi là Dianchi (Điền Trì, Ao Điền) tỉnh Vân Nam. Người Điền lần đầu tiên được nhắc tới trong Sử Ký của Tư Mã Thiên (145-90 tr.CN). Theo Sử Ký, quyển 116, Tây Nam Di liệt truyện thì Trang Kiểu tướng nước Sở, vào khoảng năm 279 tr.CN được Sở Khoảnh Tương Vương sai xuống chiếm khu vực Vân Nam ngày nay. Trong khi ông hoàn thành nhiệm vụ thì nước Sở bị Tần đánh bại vào năm 277 tr.CN. Trang Kiểu ở lại tự xưng vương làm vua nước Điền với tước hiệu là Trang vương. Năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc và mở rộng quyền lực của mình xuống phía nam. Các châu và huyện đã được thiết lập tại đông bắc Vân Nam. Đường giao thông đang có tại Tứ Xuyên đã được mở rộng về phía nam tới gần Khúc Tĩnh (曲靖) ngày nay, ở miền đông Vân Nam - được gọi là "Ngũ xích đạo" (đường 5 thước). Năm 109 TCN, Hán Vũ Đế phái Vương Thiên Vũ đến đất Điền tuyên truyền sức mạnh của quân Hán nhưng Điền Vương ỷ có mấy vạn binh sĩ lại có những bộ tộc cùng họ ở phía đông bắc là Lao Thâm, Mạc My ủng hộ nên không chịu quy phục. Năm 109 TCN, Vũ Đế điều động quân Ba Thục tấn công tiêu diệt Lao Thâm, Mạc My xua quân tiến sát đất Điền. Điền Vương xin đầu hàng, nhà Hán giao quyền cho tướng Quách Xương đặt quận Ích Châu với 24 huyện trực thuộc. Nơi đặt trụ sở của quận này là huyện Điền Trì (ngày nay là Tấn Ninh). Về sau lại hàng phục được Côn Minh sáp nhập vùng này vào quận Ích Châu. Một huyện khác được gọi là "Vân Nam", có lẽ là lần sử dụng đầu tiên của tên gọi này. Để mở rộng quan hệ thương mại mới hình thành với Miến Điện và Ấn Độ, Hán Vũ Đế còn giao cho Đường Mông (唐蒙) nhiệm vụ bảo trì và mở rộng Ngũ xích đạo, đổi tên nó thành "Tây Nam Di đạo" (西南夷道). Vào thời gian đó, kỹ thuật canh tác trong nông nghiệp ở Vân Nam đã được cải thiện rõ rệt. Người dân địa phương sử dụng các công cụ và cày bừa bằng đồng thau cũng như chăn thả nhiều loại gia súc, như trâu, bò, ngựa, cừu, dê, lợn và chó. Các nhà nhân loại học đã xác định là những người này có quan hệ họ hàng gần với những người mà ngày nay gọi là người Thái. Họ sinh sống theo bộ tộc, đôi khi được những người Hán bị lưu đày đứng đầu. Trong thời kỳ Tam Quốc, lãnh thổ của Vân Nam ngày nay, Kiềm Tây (黔西) và miền Nam Tứ Xuyên được gọi chung là "Nam Trung" (南中). Sự tan rã của quyền lực trung ương tại Trung Quốc đã làm gia tăng tính tự trị của Vân Nam cũng như tăng thêm quyền lực cho các bộ tộc địa phương. Năm 225, một chính trị gia nổi tiểng là Gia Cát Lượng (诸葛亮) đã dẫn quân đến Vân Nam để dẹp yên các bộ tộc này. Vào thế kỷ 4, miền Bắc Trung Quốc chủ yếu bị những bộ tộc từ Trung Á tràn sang. Vào thập niên 320, thị tộc Thoán (爨) đã di cư tới Vân Nam. Thoán Sâm (爨琛) tự xưng làm vua và duy trì quyền lực tại Điền Trì (khi đó gọi là Côn Xuyên 昆川). Từ đó trở đi, thị tộc này đã cai quản Vân Nam trên 400 năm. Năm 738, Bì La Các (皮罗阁), thủ lĩnh bộ lạc Mông Xá, đã thành lập Vương quốc Nam Chiếu (南诏) tại Vân Nam với kinh đô tại thành Thái Hòa (nay là Đại Lý) lập ra năm 739. Ông được nhà Đường công nhận là "Vân Nam Vương". Từ Đại Lý, mười ba đời vua Nam Chiếu đã cai trị trên 2 thế kỷ và đóng một vai trò quan trọng trong mối quan hệ luôn biến đổi giữa Trung Quốc và Tây Tạng. Năm 902, quyền thần của Nam Chiếu là Trịnh Mãi chiếm đoạt quyền hành, đổi tên nước thành Đại Trường Hòa. Năm 929, Triệu Thiện Chính diệt Đại Trường Hòa, lập ra nước Đại Thiên Hưng. Năm 930, Tiết độ sứ Đông Xuyên là Dương Càn Hưng diệt Đại Thiên Hưng, đổi tên nước thành Đại Nghĩa Ninh. Năm 937, thủ lĩnh tộc Bạch là Đoàn Tư Bình (段思平) đã diệt Đại Nghĩa Ninh và thành lập Vương quốc Đại Lý, đóng đô tại Đại Lý. Vương quốc này khi đó bao gồm lãnh thổ ngày nay thuộc các tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Tây Nam Tứ Xuyên, Bắc Miến Điện, Bắc Lào và một số khu vực tại Tây Bắc Việt Nam. Năm 1253, Vương quốc Đại Lý bị người Mông Cổ và quân đội của Đại hãn Mông Kha tấn công. Năm 1276, Hốt Tất Liệt cho thành lập tỉnh Vân Nam. Vân Nam đã thành tỉnh đầu tiên trong các tỉnh miền Nam Trung Hoa nằm dưới sự kỉểm soát của Mông Cổ, và nó cũng là tỉnh cuối cùng tại Trung Hoa mà người Mông Cổ nắm giữ, ngay cả sau khi họ đã mất Bắc Kinh và bị đuổi ra khỏi các tỉnh miền Bắc. Tổng cộng họ đã chiếm giữ Vân Nam trong 130 năm. Phải chờ mãi 15 năm sau khi kẻ sáng lập triều đại nhà Minh được thừa nhận là nhà lãnh đạo toàn thể Đế quốc Trung Hoa, ông ta mới phái các đội quân của ông đến trục xuất người Mông Cổ ra khỏi bàn đạp sau cùng của họ, tức là Vân Nam. Năm 1381, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương phái các tướng là Phó Hữu Đức và Mộc Anh đem quân chiếm Vân Nam, diệt Lương Vương của triều Nguyên. Dấu ấn nhà Minh trên Vân Nam đã lưu tồn và còn được nhận thấy. Các ngôi chùa và tượng đài thuộc niên đại nhà Minh có rất nhiều; các chiếc câu treo bằng xích sát đặc sắc bắc ngang sông Cửu Long và sông Salween, cũng như nhiều con sông nhỏ hơn ở miền Tây Vân Nam chứng thực cho sinh khí của chế độ mới và sự quan tâm của nó vào việc cải tiến các sự giao thông. Nhiều thành phố của Vân Nam mắc nợ hình thức hiện đại của chúng nơi các nhà xây dựng thời Minh, và nhiều thành phố phản ảnh, nơi các bức tường thành thẳng đứng bao quanh và các đường phố cắt nhau, mẫu họa đồ thiết kế thành phố chung của miền Bắc Trung Hoa, các bản sao chép thu nhỏ của Bắc Kinh. Cuối thời nhà Minh, Hoàng đế Nam Minh (Quế Vương) là Chu Do Lang (niên hiệu Vĩnh Lịch, 1646-1662) đã chạy tới Vân Nam. Năm 1659, nhà Thanh sai Bình Tây Vương Ngô Tam Quế tấn công Vân Nam. Năm 1662, Ngô Tam Quế tấn công sang Miến Điện, bắt được Vĩnh Lịch bắt treo cổ chết. Người Mãn Châu tưởng thưởng họ Ngô bằng việc cử ông làm Tổng đốc cả về mặt dân sự lẫn quân sự hai tỉnh Vân Nam và Quý Châu với tước vương. Ảnh hưởng của ông rất mạnh tại các tỉnh lân cận vừa mới bình định xong là Hồ Nam và Tứ Xuyên, và còn vang xa đến tận vùng đông bắc như các tỉnh Thiểm Tây và Cam Túc. Tại tất cả các khu vực này, Ngô Tam Quế đã bổ nhiệm các quan chức, hay phải được tham khảo trước khi có sự bổ nhiệm bất kỳ người nào. Ông ta gần như một ông hoàng độc lập. Sau mười năm của quan hệ phiền hà này, song hành cùng với hai ông Phiên vương Trung Hoa được gọi là “phong kiến” khác [gồm Ngô Tam Quế là Bình Tây Vương, và hai kẻ khác là Bình Nam Vương và Tĩnh Nam Vương. Sau khi Ngô Tam Quế từ trần, hai phiên vương này đều bị nhà Mãn Thanh loại trừ, chú của người dịch], cũng là các tướng lĩnh nhà Minh như họ Ngô, tại các phần đất khác ở miền Nam Trung Hoa, Triều đình Mãn Châu đã cảm thấy đủ mạnh để thách đố quyền lực của họ và đập tan nó nếu chứng tỏ là ngoan cố. Các danh vọng cao quý được ban cho các ông hoàng Trung Hoa này, nhưng tư thế độc lập của họ bị bãi bỏ. Các ông hoàng khác đã chấp nhận. Ngô Tam Quế bác bỏ lời hứa trung thành này, tuyên bố độc lập và trong năm 1673 tự tuyên xưng là Tổng tư lệnh Vĩ Đại của triều đại nhà Chu. Tuy nhiên nhà Thanh đã đàn áp cuộc nổi loạn này.
-
Hiện nay có thuyết An Dương Vương nguồn gốc từ Quảng Tây và như vậy: Triệu Đà không thể thống nhất được Nam Hải, Tượng Quận, Quế Lâm vì có phần lớn diện tích Quảng Tây, cho nên, bắt buộc An Dương Vương phải lấy lại mảnh đất này. Triệu Đà cũng nói rằng phái Tây là nước Âu Lạc, điều này khẳng định ngoài 3 quận của Nam Việt về phương Tây chắc chắn là Âu Lạc. Một giả định An Dương Vương là thuộc vùng cao Bắc Bộ Việt Nam, tuyệt đối sự kiện này là không thể bởi Giao Chỉ là kinh đô Văn Lang rộng lớn, không có một nhân vật nào thuộc chính Giao Chỉ lại có thể thay tên quốc gia được khi các bộ xung quanh không có động tĩnh gì - tình trạng này giống như nhà Chu Trung Hoa vậy. Mặc khác, để giao chiến với Giao Chỉ thì thực lực của An Dương Vương phải tương ứng ít nhất là một Bộ của Văn Lang và nằm sát biên giới Giao Chỉ mới giao chiến vài lần... Thời An Dương Vương, vùng Vân Nam có nhiều trống đồng loại H.II nhưng rất đặc biệt, cấu trúc lễ hội với các hình tượng được đúc trên bề mặt trống đồng - điều này khẳng định một sự thay đổi về bản chất của trống đồng và không gì khác hơn, gián tiếp khẳng định Vân Nam chính là bộ chủ An Dương Vương. An Dương Vương cũng là niên hiệu cuối của 108 vua Hùng, Kinh Dương Vương là vua Hùng thứ nhất: chỉ ra ý nghĩa kết thúc một chu kỳ Hùng Vương với Kinh Dương Vương là mặt trời thiên đỉnh còn An Dương Vương là mặt trời lặn. Trong lịch sử, sự kiện Triệu Vũ Đế lấy vợ người Việt cũng là một mắt xích quan trọng, và dĩ nhiên nó có lẽ cũng phải được giải thích như thế nào đấy hợp lý trong chuỗi sự kiện chung. Một ghi chú nhỏ: Trong 15 bộ của Văn Lang, thì vùng đất Tây Tạng thuộc về Văn Lang, người dân xem Quan Âm Bồ Tát và con khỉ thần là hóa thân của ngài chính là tổ của họ. Bà Trình Thị là ai? ở đâu? đã ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng dất nước Nam Việt như thế nào? Dưới cái nhìn tổng diện, nước Nam Việt đại diện cho ai? người dân Nam Việt là ai? Những ông vua nước Nam Việt là ai? các quận Giao Chỉ, Cửu Chân được phát triển như thế nào dưới thời nhà Triệu? Có thật nhiều câu hỏi mà chúng ta cần tìm hiểu, không chỉ đơn thuần công nhận hay không công nhận nhà Triệu là triều vua "chính thống" của nước ta. Sở dĩ chúng ta cần tìm hiểu về người phụ nữ Việt Nam có tên là Trình Thị trên dòng lịch sử, cũng như tìm hiểu về nước Nam Việt, bởi vì đó là thời kỳ "lịch sử truyền văn" đầu tiên, liên quan đến nước Việt ta, có thực một trăm phần trăm, được ghi chép lại bằng văn tự, không phải bằng truyền thuyết. Giáo sư sử học Trần gia Phụng trong cuốn "Những câu chuyện Việt sử" (trang 12) đã viết: "Chuyện Văn Lang và Âu Lạc được xếp vào loại khó tin được, nhưng Tượng Quận thì không còn là chuyện hoang đường mà chắc chắn là chuyện lịch sử rõ ràng". Cũng theo giáo sư sử học Trần Gia Phụng, dẫn chứng sách "Đất nước Việt Nam qua các đời", nhà nghiên cứu Đào Duy Anh cho rằng: "quốc hiệu Văn Lang chỉ là một tên theo truyền thuyết". Như vậy, nước Âu Lạc cũng chỉ là "một tên trong truyền thuyết", vì Thục Phán đánh chiếm lấy một nước (Văn Lang) trong truyền thuyết để lập ra một nước Âu Lạc trong truyền thuyết. Học giả Ngô Thời Sỹ cũng đã khẳng định: "Xét nước Việt ta lập quốc, tuy ở sau đời vua Hy và Hiệt nước Tàu, mà văn tự chưa có, ký tái còn thiếu, về phần thế thứ niên kỷ, chính trị phong tục đáng nghi hay đáng tin đều không có gì đủ làm chứng cứ" Tiếp tục theo dẫn chứng của giáo sư Trần Gia Phụng: "nhận xét về lịch sử Hùng Vương và Thục Vương tức là những nhân vật theo truyền thuyết đã làm chủ nước Văn Lang và Âu Lạc, trong dụ ngày 12 tháng 7 năm bính thìn (12-6-1850), vua Tự Đức (trị vì 1847-1883) viết: " Việc Kinh Dương và Lạc Long mà Sử cũ đã chép, hoặc có hoặc không, dầu có nhưng không nên thảo luận đến là hơn cả..." "Cũng như thế, học giả Lê Quí Đôn (1726-1784) trong Vân đài loại ngữ đã nhận xét: "...Tôi xét đời Hùng Vương, trên nối đời Hồng Bàng, không có chữ nghĩa gì truyền lại; về 15 bộ đặt ra thời đó, cùng với các quận huyện do nhà Hán, nhà Ngô (Trung Hoa) mới đặt ra, tên ghi lẫn lộn; tôi ngờ rằng những tên đó do các hậu nho góp nhặt vay mượn chép ra, khó mà tin được..." Qua những dẫn chứng nêu trên, chúng ta, những kẻ hậu bối khi tìm hiểu vế lịch sử ở thời đại "Triệu Đà và nước Nam Việt trước Tây Lịch" đều tỏ ra rất hoang mang, khó hiểu, đôi khi thấy có sự mâu thuẫn trong lý luận trước sau. Lý do, đã có sự lẫn lộn về "lịch sử thành văn" với "lịch sử truyền thuyết", hay nói theo giáo sư Trần Gia Phụng, đã có sự lẫn lộn giữa "chuyện lịch sử rõ ràng" và "chuyện lịch sử khó tin được". Như vậy, chuyện Triệu Đà đánh Tượng Quận thuộc về "chuyện lịch sử rõ ràng", còn chuyện Triệu Đà đánh lấy nước Âu Lạc thuộc về "chuyện lịch sử truyền thuyết". Cũng vì thế, một người phụ nữ Việt Nam có tên là Trình Thị đã kết duyên với ông tướng nhà Tần là Triệu Đà, từng là mẹ, là bà nội, cố tồ nội của những ông vua nhà Triệu, đã bị bỏ quên. Điều đáng buồn hơn nữa, những ông vua nhà Triệu như Triệu Văn Vương (137-125) là cháu nội của bà mẹ Lạc Việt Trình Thị, là con trưởng của Trọng Thủy và Mỵ Châu mang 75% dòng máu Việt Nam (Lạc Việt), hay Triệu Minh vương (125-113 tr. tây Lịch) mang trên 80% dòng máu Lạc Việt, lai bị đánh đồng với những tên thái thú Tàu của thời gian Bắc thuộc (Hán thuôc...)! Để phân biệt, chúng ta tìm hiểu thời đại "Triệu Đà và nước Nam Việt" dưới hai cách nhìn khác nhau: Cách nhìn bao quát trong cảnh giới lịch sử truyền thuyết, và cách nhìn bao quát trong cảnh giới lịch sử thành văn. Dưới cách nhìn "lịch sử truyền thuyết", Triệu Đà đánh lấy nước Âu Lạc của vua Thục, cũng tương tự như Thục Phán đánh lấy nước Văn Lang của vua Hùng. Triệu Đà xuất quân từ quận Nam Hải (tức vùng đất thuộc tỉnh Quảng Đông) tương tự Thục Phán "xuất quân từ tỉnh Vân Nam tiến xuống lưu vực sông Nhị Hà thôn tính Tây Âu và Lạc Việt (nước Văn Lang) rồi lập ra nước Âu Lạc" (theo Phạm Văn Sơn). Cả Thục Phán lẫn Triệu Đà cùng xuất quân từ Quảng Đông, Quảng Tây, tức là vùng đất Nam Lĩnh, theo truyền thuyết là vùng đất Cổ Việt, nơi Kinh Dương Vương được truyền ngôi, dựng nước đầu tiên. Vùng đất Cổ Việt là nơi sinh tụ của những người Việt Nam đầu tiên, được coi là "cái nôi" Văn minh của miền Nam nước Tàu, bao gồm nhiều dân tộc Việt gọi là Bách Việt, trong đó người Lạc Việt là dân tộc hùng mạnh hơn cả. Dưới cách nhìn " lịch sử thành văn", Triệu Đà ban đầu là tướng nhà Tần, trấn nhậm ở vùng đất Nam Hải. Sau Triệu Đà nổi dậy phản Tần, giết hết Trưởng Lại nhà Tần và đánh chiếm lấy đất đai của nhà Tần trong đó có Tượng Quận thuộc về miền Bắc Việt Nam ngày nay, để lập ra nước Nam việt. Dưới con mắt của Sử quan nhà Hán, không hề có nước Âu Lạc, mà chỉ có nước Nam Việt. Chúng ta sẽ tìm hiểu về vấn đề này cặn kẽ hơn vào những phần sau. 1- Bà Trình Thị là ai? Theo sách ngoại sử, Bà Trình Thị, vợ Triệu Đà là người Lạc Việt quê ở huyện Chân Định (không phải Chân Định bên Trung Hoa). Theo Sổ Tay Địa Danh Việt Nam của Đinh Xuân Vịnh, "huyện Chân Định về đời Lê thuộc phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam, nguyên là huyện Chân Lợi, đời Lê vì kị húy vua Lê Thái Tổ nên đổi là Chân Định, lấy tên quê hương Triệu Đà ở nước Triệu bên Trung Quốc. Đà có người vợ người Việt quê ở làng Đồng Xâm, huyện Chân Định. Đời Thành Thái vì kị húy tên vua Dục Đức là Ưng Chân, đổi là Trực Định và chuyển thuộc tỉnh Thái Bình mới thành Lập (1894), từ năm 1945 là huyện Kiến Xương. Quê Nguyễn Quang Bích, Trương Quỳnh Như". 2- Bà Trình Thị đã ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng đất nước Nam Việt như thế nào?Trước khi bàn đến ảnh hưởng của người phụ nữ Việt Nam Trình Thị đối với một di dân ngoại quốc hội nhập vào xã hội nước nhà, chúng ta thử tìm hiểu qua về cuộc đời của Tướng Triệu Đà. Triệu Vũ Vương tức Triệu Đà làm vua 70 năm, mất năm Giáp Thìn (137 trước Tây Lịch), thọ 121 tuổi (Việt Nam Sử Lược - Trần Trọng Kim, trang 32), suy ra ngài sinh năm 258 trước Tây Lịch (tr.TL). Triệu Đà đến nước Nam ta từ bao giờ? Căn cứ vào lời lẽ trong thư gửi Hán Văn Đế vào khoảng năm 179 tr. TL sau khi Lữ Hậu mất (180 tr. TL): "Lão phu ở đất Việt đã bốn mươi chín năm nay, bây giờ đã có cháu rồi", suy ra ngài đến nước Nam ta vào khoảng năm 228 tr. TL, lúc đó 30 tuổi. Lý do Triệu Đà qua nước Nam để làm gì? và bằng cách nào? ban đầu đến ở đâu? chúng ta chưa rõ. Nhưng có lẽ Triệu Đà không qua nước Nam với tư cách là một ông tướng nhà Tần, vì khi Triệu Đà "di cư" qua nước Nam, nhà Tần chưa đem quân đánh Bách Việt (Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây). theo Trần trọng Kim, Nhà Tần đánh Bách Việt vào năm 214 tr. TL.(VNSL - Trần Trọng Kim trang 18), cách 14 năm sau khi Triệu Đà sang sinh sống tại nước ta(Khoảng thời gian 14 năm đủ cho 1 di dân lập gia đình vòi người bản xứ, hội nhập vào xã hội mới: học tiếng nói, thấm nhuần phong tục tập quán của xã hội mới Có thể, thời gian dài 14 năm này, Triệu Đà đã kết duyên với bà Trình Thị, người Phụ Nử Việt thuộc tỉnh Thái Bình là chốn địa linh nhân kiệt, đã sản sinh ra những danh nhân anh hùng như Nguyễn Quang Bích, Trương Đăng Quỹ, Trương Quỳnh Như. Người con trai trưởng là Trọng Thủy của bà mẹ Việt, đã được sinh ra trong khoảng thời gian này (Có thể, Triệu Đà di cư qua nước Nam khoảng năm 228 tr. TL, đến ở Tỉnh Thái Bình, rồi 1 hoặc 2 năm sau tức năm 227 - 226 tr. TL mới quen biết và cưới Trình Thị, và 1 hoặc 2 năm sau 225-224 tr. TL mới sanh ra Trọng Thủy. Như vậy, theo truyền thuyết khi Trọng Thủy cưới Mỵ Châu vào khoảng năm 206 tr. TL đã khoảng 18 tuổi, phù hợp với tuổi lập gia đình của người con trai). Triệu Đà gia nhập quân đội nhà Tần sớm lắm cũng vào năm 214 tr. TL là năm quân nhà Tần xâm lăng Bách Việt. Tại sao Triệu Đà gia nhập vào quân đội nhà Tần? Có thể lúc đó nước Âu Lạc đã "thần phục" nhà Tần bằng đường lối ngoại giao, (nghĩa là vẫn giữ nguyên tình trạng tự trị trong nước), và bị nước Tần đổi tên thành Tượng Quận. Triệu Đà nhân lúc thiên hạ biến loạn đã đầu quân với tướng Nhâm Ngao, được tin dùng để mưu toan chiếm giữ vùng đất Tượng Quận để sát nhập với quận Nam Hải lập thành một nước lớn, đối đầu với nhà Hán sau này), vì Triệu Đà đã sống ở Tượng Quận (Âu Lạc) lâu năm, thấm nhuần văn hóa Lạc Việt, quen thuộc thủy thổ địa phương và rành về đường đi nước bước tại vùng đất cực Nam đối với Bắc phương này. Bà Trình Thị quê làng Đường Sâm (sau này thuộc tỉnh Thái Bình) đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của Triệu Đà, một người nước Triệu (?) (Đinh Xuân Vịnh - Sổ Tay Địa Danh Việt Nam, trang 113) di cư qua Tượng Quận vào khoảng năm 228 tr. T.L. Cũng nên biết thêm, nước Tần là một trong “thất hùng” thời chiến quốc, gồm có: Yên, Tề, Hàn, Ngụy, Triệu, Sở, và Tần. Nước Tần rộng lớn, lại có địa thế hiểm trở, nên hùng mạnh lên, thôn tính 6 nước trong thất hùng để trở thành một nước Tần thống nhất Trung nguyên, do Tần Thủy Hoàng lãnh đạo, lên ngôi Hoàng Đế năm 221 tr. T.L. Vào năm 228 tr. T.L nước Triệu bị diệt (Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc, trang 112). Có lẽ đây là nguyên nhân Triệu Đà phải bỏ nước ra đi, mang tâm trạng của một kẻ vong quốc, nợ nưốc thù nhà, sang vùng đất mới ở vùng cực nam Trung quốc, nương náu tại huyện Chân Lợi và gặp người con gái Việt làng Đường Sâm tên là Trình Thị. Điều này cũng giải thích tại sao Triệu Đà đã mạnh tay giết hết trưởng lại nhà Tần khi lập quốc. Ảnh hưởng đầu tiên và sâu đậm nhất của bà Trình Thị là biến đổi Triệu Đà từ một người gốc phương Bắc (ta gọi chung là người Tàu) thành một người Việt phương Nam: “Triệu Đà mặc dầu gốc miền Bắc, nhưng vì xuống ở miền Nam lâu ngày đã bị đồng hóa bởi người Nam Việt, chấp nhận các phong tục tập quán của người Nam Việt đến độ quên hết quá khứ của mình, đúng như Lê Thành Khôi đã nhận xét.” (Phạm Cao Dương, Lịch sử dân tộc Việt Nam, quyển 1, trang 70 ). Thứ đến, Triệu Đà lên ngôi báu, quyền lực ngang ngửa với vua Hán bên Tàu, nhưng vẫn chiều chuộng người vợ Viêt, đối xử với họ hàng bên ngoại rất hậu: “ ...:(Triệu) Đà chỉ chia Âu Lạc ra thành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Có lẽ quận Giao Chỉ gồm hết địa phận Bắc Việt và một phần đất phía Nam tỉnh Quảng Tây nữa. Ở mỗi quận, Đà đặt một quan Điển Sứ để coi việc chính trị, hành chính, một quanTả tướng (?) coi việc quân sự, còn các quí tộc bản sứ vẫn giữ được thái ấp và trị dân như cũ. Con cháu Thục Phán ở đất Tây Vu, trung tâm điểm Loa thành vẫn được xưng vương (Tây Vu vương) và được biệt đãi hơn cả (Phạm Văn Sơn - Việt Sử Toàn Thư – trang 86, 87). Như vậy, đem so sánh với những cuộc thay đổi triều đại trong lịch sử Việt Nam, như nhà Trần diệt nhà Lý, Nhà Nguyễn (Gia Long) diệt nhà Tây Sơn hay chế độ Cộng Sản miền Bắc diệt chế độ Tự Do miền Nam gần đây, chính sách nhà Triệu đã tỏ ra nhân đạo hơn cả: Không trả thù, không truy bức, tận diệt, không tàn sát, không đối sử phân biệt, tù đầy đối với kẻ bại trận, thử hỏi ai hơn Triệu Vũ Vương? Không những thế, họ Triệu còn anh em, họ hàng ở Chân Định, và có những kẻ thuộc hạ là người đồng hương phương Bắc, nhưng Triệu Vũ Vương chỉ truyền ngôi cho con cháu mang dòng máu Việt, dùng người Nam Việt sung vào các chức vụ quan trọng (Thừa tướng Lữ Gia và nhiều quan Đại thần đều là người Nam Việt). Tại sao vậy? Có phải đó là nhờ ảnh hưởng của bà Trình Thị, một phụ nữ Việt đã khôn khéo biết bàn bạc với chồng, cộng với chính sách ngoại giao mềm dẻo và tài trị nước của Triệu Đà? Nên nhớ rằng, nước Nam Việt là một nước tân lập, bao gồm vùng đất Bách Việt (Quảng Đông, Quảng Tây sau này) là nơi sinh sống của các dân tộc Việt như Lạc Việt, Âu Việt, Mân Việt... (2) và vùng đất của người Âu Lạc (Bắc Việt sau này). Người dân Nam Việt là những người Việt trong nhiều dòng tộc mà người Hán gọi là Bách Việt: “người Việt Nam bây giờ tức là người Lạc Việt thuở xưa sinh tụ ở miền Nam bộ Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây), sau này trôi dạt xuống lưu vực sông Nhị Hà” (Phạm Văn Sơn, Việt Sử Toàn Thư, trang 31). Theo tam đoạn luận, nước Nam Việt là nước của các dân tộc Việt. Người Lạc Việt thuộc về dân tộc Việt. Vậy nước Nam Việt là nước của người Lạc Việt. Nước Nam Việt đại diện cho ai? Một Quốc gia được thành lập, phải bao gồm 4 yếu tố chính: 1- Có một chính quyền (triều đình), 2- Có lãnh thổ riêng với biên giới cần phòng vệ. 3- Dân chúng 4- Được các nước khác nhìn nhận và liên hệ ngoại giao. Nước Nam Việt có đầy đủ những yếu tố kể trên: Có một triều đình do người Việt làm quan và làm vua (lai trên 50% máu Việt tộc, sau khi được Triệu Đà truyền ngôi); có lãnh thổ riêng bao gồm quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng quận ...với biên giới riêng; có dân chúng là người Nam Việt tức là những người Lạc Việt, Âu Việt...và được nước Hán nhìn nhận và liên hệ ngoại giao, mặc dù dưới hình thức "thụ phong" như hầu hết đối với các vị vua Việt Nam sau này. Đối với nhà Hán, chỉ có một nước Nam Việt duy nhất, kinh đô đóng tại Phiên Ngung. Triều đình nước Nam Việt đại diện cho dân chúng Việt trong việc ngoại giao với nhà Hán, cũng như trong việc bảo vệ biên cương, phát triển kinh tế, nông nghiệp, thương nghiệp và giáo dục, học thuật. Người dân Nam Việt là ai? Như chúng ta đã biết, nước Nam việt đại diện cho người Nam việt, trong đó có nhiều sắc dân Việt (Bách Việt)kể cả những sắc dân Âu Việt và Lạc Việt là Tổ Tiên của người Việt Nam ngày nay. Theo Phạm Văn Sơn (Việt Sử Toàn Thư): "Vào thế kỷ thứ 30 trước CL, dân Hán tộc sống ở dọc sông Hoàng Hạ Tại lưu vực sông Dương Tử thì có dân bản thổ: bên bờ sông phía Bắc có dân Miêu và Man, bên bờ phía Nam vùng Động Đình va Phiên dương có dân Việt chúng ta ở rải rác đến núi Ngũ Lĩnh, các dân ở đây đã có trình độ xã hội canh nông" (trang 48). Nhận xét này cho thấy người Việt, Tổ tiên của người Việt Nam chúng ta ngày nay ban đầu ở rải rác trên khắp vùng đất Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam xuống tới miền Bắc Việt và một phần đất Trung Việt ngày nay. Nhận xét này cũng phù hợp với truyền thuyết về Nước Văn Lang là nước của người Lạc Việt (Tổ tiên của người Việt Nam chúng ta). Về cương vực (biên giới) nước Văn Lang, Sử gia Phạm Cao Dương viết:"Nước Văn Lang tương truyền rất rộng, phía đông giáp Nam hải, phía tây giáp Ba Thục, phía bắc giáp hồ Động đình và phía Nam giáp nước Hồ Tôn tức nước Chiêm Thành sau này". Ông Phạm Cao Dương cho biết thêm: " Cương giới này bị các nhà khảo cứu xưa cũng như nay cho là không thể có được. Như vậy, vùng đất có người Việt ở trước khi nhà Tần xâm lăng đất Bách Việt, chính là vùng đất phía Nam vùng núi Ngũ Lĩnh của nước Tàu, mà người Tàu thường gọi là Nam Lĩnh, có ranh giới với phương bắc từ Động Đình Hồ. Người Hán khi đó gọi giống dân thuộc vùng Nam Lĩnh là giống Nam Man hay Nam Di. Thư của Triệu Đà gửi Hán Văn đế có câu: "Đến Cao Hậu phân biệt hoa, di khác nhau, lại ra lệnh rằng không cho nước Việt Nam được có các đồ loài kim, sắt, đồ làm ruộng, đến ngựa, trâu, dê chỉ cho con đực, không cho con cái" (Ngô Thời Sĩ - Việt Sử tiêu án trang 29). Đúng như nhận xét của sử gia Phạm Cao Dương, tổng hợp những ý kiến của các nhà viết sử về nước Văn Lang, chúng ta đều nhận thấy cương vực nước Văn Lang theo truyên thuyết là không đúng. Tại sao vậy? Bởi vì - cũng theo truyền thuyết - nước Văn Lang được thành lập vào khoảng năm 2879 trước Tây Lịch, tương đương với đời Ngũ đế bên Tàu (khoảng 2900 đến 2350 trước Tây Lịch)là thời huyền thoại (Nguyễn Hiến Lê - Sử Trung Quốc, trang 45-47.)Thời gian này chưa có những nước lớn kiểu Đế quốc, phân chia cương vực rõ ràng và được ghi chép lại bẳng văn tự như thời nhà Tần do Tần Thủy Hoàng lãnh đạo. Tương quan giữa những tên gọi: nước Xích Quỷ, nước Văn Lang, nước Âu Lạc, Nước Việt Thường, Giao chỉ, Tượng Quận: - Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim) cho biết cương vực của nước Xích Quỷ: "Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải". Đây là theo truyền thuyết, và Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ. - Việt Sử Toàn Thư (Phạm Văn Sơn, ghi chép tương tự, nhưng chỉ cho biết : "nước của Kinh Dương Vương lấy quốc hiệu là Xích Quỷ gần tỉnh Hồ Nam, Quảng Tây bây giờ". Như vậy theo truyền thuyết, nước của Kinh Dương Vương tên là Xích Quỷ, nằm ở vị trí vùng đất Bách Việt (Nam Hải . Quế Lâm thời Tần, hay Quảng Đông, Quảng Tây sau này), kéo dài qua Bắc Việt tới tỉnh Nghệ An nước Việt Nam bây giờ. Kinh Dương Vương truyền ngôi cho Lạc Long Quân làm vua nước Xích Quỷ. Tới khi Lạc Long Quân truyền ngôi lại cho các đời vua Hùng thì gặp trở ngại: 100 con của Lạc Long Quân và Âu Cơ đã bị chia ra làm đôi: một nửa theo Mẹ lên rừng, một nửa theo cha xuống bể. Truyền thuyết không nói rõ thời gian "chia đôi", cũng như nguyên nhân vì sao chia đôi? Chỉ biết rằng sau khi "chia đôi", tên nước cũ Xích Quỷ biến mất, và tên nước mới Văn Lang xuất hiện. Về cương thổ nước văn Lang như chúng ta đã đề cập đến ở trên, rất rộng lớn bao gồm cả vùng đất Bách Việt (Quảng Đông, Quảng Tây) và Bắc Việt ngày nay. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi chép tương tự (có lẽ cùng tham khảo từ một câu chuyện dã sữ ?) Đến đây, người đọc sử gặp phải điều không ổn, vì một mặt sử viết rằng nước Văn Lang được chia thành 15 Bộ, trong đó không có Bộ nào ở ngoài lãnh thổ của đất Bắc Việt ngày nay (nghĩa là nước Văn Lang chỉ nằm gọn trong vùng đất Bắc Việt ngày nay mà thôi). Mặt khác sử lại viết rằng nước Văn Lang rộng tới Ba Thục và Động Đình Hồ? Phải chăng truyền thuyết kể lại đã bị "tam sao thất bản" (sao chép nhiều lần không còn đúng với bản chính), câu mất câu còn rồi chắp vá lại thành một câu chuyện "tiền hậu bất nhất" (phần đầu và phần cuối không phù hợp, trái ngược nhau). Chính Giáo sư Trần Gia Phụng trong "Những Câu Chuyyện Việt Sử" cũng đã dẫn chứng nhận xét của học giả Lê Quí Đôn như sau: "Tôi xét đời Hùng Vương , trên nối đời Hồng Bàng, không có chữ nghĩa gì truyền lại, về 15 bộ đặt ra thời đó, cùng với các quận huyện do nhà Hán, nhà Ngô (Trung Hoa) mới đặt ra, tên gọi lẫn lộn, tôi ngờ rằng những tên đó do các hậu nho góp nhặt vay mượn chép ra, khó mà tin được..." Như vậy, 15 bộ của nước Văn Lang không chắc có thật, khó tin. Nhưng tại sao các nhà viết sử không bỏ đi, còn chép vào sử sách mà không ghi chú rõ ràng, khiến có nhiều người đã nghĩ rằng nước cổ Việt (Văn Lang) chỉ nằm trong phạm vi đất Bắc Việt ngày nay? Bỏ đi, không còn 15 bộ như đã "gán ghép" cho nước Văn Lang, để cương thổ nước Xích Quỷ và nước Văn Lang là một, nghĩa là bao trùm hết vùng đất Bách Việt và Bặc việt ngày nay như truyền thuyết, có lẽ chúng ta đã khỏi phải tranh luận về tính chính thống của thời đại Triệu Đà? Truy nguyên theo truyền thuyết, nếu chúng ta bỏ đi phần "thêm thắt" 15 bộ vào nước Văn Lang, thì nước Xích Quỷ (của Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân) và nước Văn Lang của các vị vua Hùng xem ra chỉ là môt. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra: nếu nước Văn Lang bao trùm vùng đất Bách Việt (Quảng Đông Quảng Tây)và Băc Việt (ngày nay), thì cớ gì Triệu Đà là Tướng nhà Tần phải đi chinh phục nước Âu Lạc? Như chúng ta đều biết bên Trung Hoa, thời Chiến Quốc (403-256 tr. T.L), có 7 nước hùng mạnh gọi là "thất hùng". Sau, nước Tần do Tần Thủy Hoàng lãnh đạo diệt được 6 nước để gom lại thành một nước lớn thống nhất. Như vậy trước thời Tần Thủy Hoàng, nước Trung Hoa còn ở tình trạng phân chia thành nhiều nước nhỏ, tuy tự trị nhưng tự coi mình là nước chư hầu, tuân phục vua một nước hùng mạnh nhất gọi là Minh chủ hay Thiên Tử. Thiên tử coi Trung Nguyên là một nước lớn bao gồm nhiều nước chư hầu, nhưng trên thực tế chỉ là vua một nước hùng mạnh mà thôi. Vua những nước nhỏ kia, nếu hùng mạnh lên có thể lên thay thế làm Thiên tử như thường. Trở lại nước Xích Quỷ hay Văn Lang trong truyền thuyết, có lẽ cũng tương tự như bên Trung quốc chăng? Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân hay các vị vua Hùng đều là vua nước Lạc Việt hùng mạnh nhất, nên được coi là vua của toàn cõi Nam Lĩnh (bao gỗm cương vực nước Xích Quỷ). Những nước việt nhỏ "chư hầu" khác trên đất Bách Việt như Tây Việt, Âu Việt, Mân Việt, Đông Việt (Đông Âu), kể cả Sở Việt (con cháu nước Sở di dân), Ngô Việt (con cháu nước Ngô di dân)... Khi "Minh Chủ" Hùng Vương thứ 18 không đủ mạnh, nước "chư hầu" Tây Việt do Thục Phán làm thủ lãnh đã đánh đổ nước Văn Lang để lập ra nước Âu Lac. Tóm lại, trên danh vị, nước Xích Quỷ do Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân làm "Minh chủ", cũng như nước Văn Lang do các vị vua Hùng làm "Minh chủ" đều có cương vực rộng lớn, bao trùm toàn vùng đất Lưỡng Quảng và Bắc Việt ngày nay. Nhưng trên thực tế, nước Xích Quỷ, hoặc nưóc Văn Lang, hoặc nước Âu Lạc chỉ chiếm một phần lãnh thổ nhỏ hơn gồm có kinh đô và triều đình cai quản các nước "chư hầu", mà ta hiểu đó là phần đất Bắc Việt ngày nay? Kinh đô nước Xích Quỷ, không thấy truyền thuyết nói tới, nhưng có lẽ ở tại vùng đất Bách Việt, có thể là Phiên Ngung (?), nơi mà Triệu Đà chọn làm Kinh đô của nước Nam Việt sau nầy. Kinh Đô của nước Văn Lang là Phong Châu tức vùng đất thuộc tỉnh Phú Thọ ngày nay. (Việt Sử Tiêu Án - Ngô Thời Sỹ - trang 13, viết: " Phong Châu theo sử cũ, đông đến bể, tây đến Ba Thục, bắc đến Động Đình, nam giáp Hồ Tôn". Có lẽ truyền thuyết muốn nói đến uy quyền của nước Văn Lang (Kinh Đô là Phong Châu) tỏa rộng ra như thế chứ không có ý nói lãnh thổ có cương vực rõ rệt như quan niệm của chúng ta ngày nay). Chúng ta cũng suy ra rằng, cuối đời các vị vua Hùng, nước Văn Lang suy yếu dần, uy quyền của vua Hùng thứ 18 thu nhỏ lại ở phạm vi vùng đất Bắc Việt ngày nay. Một số nước nhỏ "chư hầu" ở vùng đất Bách Việt đã mạnh lên, tự chủ, không còn tuân phục "Minh Chủ" nước Văn Lang nữa. Thục Phán là lãnh tụ nước nhỏ "chư hầu" Tây Âu (Âu Việt) đánh bại Hùng vương thứ 18, xâm chiếm nước Văn Lang và đổi tên thành nước Âu Lạc. Thục An Dương Vương nưóc Âu Lạc đóng đô tại Phong Khê (thuộc tỉnh Hòa Bình ngày nay, ở sâu về phía Nam cách xa Phong Châu là vùng đất Phú Thọ ngày nay. Có lẽ nước Âu Lạc cũng không đủ mạnh, nên uy quyền nhà vua không thể toả rộng đến vùng đất Bách Việt. Các nước nhỏ "chư hầu" xưa của nước Văn Lang tại vùng Lưỡng Quảng ngày nay, có lẽ không còn tuân phục nước mới Âu Lạc nữa, nên tạo ra tình trạng "vô chủ" khi nhà Tần xâm chiếm đất Bách Việt (xin nhấn mạnh ở đây, sử chỉ nói đến đất Bách Việt mà không hề nói đến một vị vua nào đó trên đất Bách Việt). Hơn nữa, các Lạc Tướng, Lạc Hầu của Triều Đại Hùng Vương đã trung thành với nước Văn Lang trên ngàn năm, không dễ gì quên chủ cũ, "một sớm một chiều" có thể quy thuận kẻ "xâm lăng" Thục Phán là người đã đánh chiếm nước Văn Lang (?!). Điều này cũng giải thích tại sao Thục An Dương Vương đã phải xây thành Cổ Loa ngay giũa kinh đô Phong Khê, thuộc tỉnh Phúc An ngày nay, trong khi nước Văn Lang tồn tại cả ngàn năm mà không cần phải xây thành như thế? Hơn nữa, muốn ngăn chặn giậc ngoại xâm từ phía Bắc, hoặc phía Tây, phía Nam, phải xây thành lũy ở biên giới chứ? Xây thành ở kinh đô chỉ có mục đích bảo vệ triều đình và dân chúng ở kinh đô mà thôi? Chúng ta vừa bàn đến những tên nước cổ Việt: Xích Quỉ, Văn Lang và Âu Lac. Những tên nước này hoàn toàn thuộc về huyền thoại, chỉ có trong truyền thuyết. Tên nước Việt Thường được coi là "bán thực bán huyền" (semi-historique - từ của Nguyễn Hiến Lê trong "Sử Trung Quốc"). Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (trang 134) cho biết: "thời Thành Vương nhà Chu [1063-1026], nước Việt ta lần đầu sang thăm nhà Chu (không rõ vào đời hùng vương thứ mấy), xưng là Việt Thường thị, hiến chim trĩ trắng. Chu công nói: "Chính lệnh không ban đến thì người quân tử không coi người ta là bề tôi của mình", rồi sai làm xe chỉ nam đưa sứ giả về nước. Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược (trang 13), nói rõ hơn, nhưng nghi ngờ tên nước Việt Thường, không biết có phải là tên của nước cổ Việt hay không(?) : "Về đời bấy giờ, sử Tàu có chép rằng năm tân mão (1100 tr. T.L.), đời vua Thành vương nhà Chu có nước Việt Thường ở phía nam xứ Giao Chỉ sai sứ đem chim bạch trĩ sang cống, nhà Chu phải tìm người làm thông ngôn mới hiểu được tiếng, và ông Chu Công Đán lại chế ra xe chỉ nam để đem sứ Việt Thường về nước. Vậy đất Việt Thường và đất Giao Chỉ có phải là đất của Hùng Vương lúc bấy giờ không?" Ông Phạm Cao Dương trong "Lịch Sử Dân tộc Việt Nam, quyển 1", có cùng quan điểm với ông Trần Trọng Kim về tính xác thực của nước Việt Thường, nên đã xếp phần sử liệu này vào một trong "các truyện cổ thời Hùng Vương" (trang 19). Tuy nghi ngờ tính xác thực về câu truyện nước Việt Thường, nhưng cả hai ông Trần Trọng Kim và ông Phạm Cao Dương đều xác nhận nước Việt Thường "ở phía nam xứ Giao chỉ" (Trần Trọng Kim), hay nói rõ hơn: "miền châu thổ Hồng Hà hay miên Quàng Bình, Quảng Trị tức đất Việt Thường thời xưa đứng về phương diện địa lý theo các sách cổ. Đối với "Việt Sử Tiêu Án", ông Ngô Thời Sỹ coi Việt Thường là một dòng họ của nước Việt (không nêu ra vùng đất sinh tụ hay ranh giới của họ Việt Thường: " Nước Việt ta khi mới vào cống nhà Chu, tự xưng là họ Việt Thường, dâng con bạch trĩ, chín lần đổi trạm mới đến được, ông Chu công ủy lạo cho về, cho năm cỗ xe đặt kim chỉ nam, để chỉ lối mà về". Phạm Văn Sơn trong Việt Sử Toàn Thư (trang 20), lại nêu ra địa danh của nước Việt Thường khác với địa danh do ông Phạm Cao Dương nêu lên (miền Quảng Bình , Quảng Trị tức đất Việt Thường thời xưa): "Sách xưa (?) chép ở phía Nam đất Giao Chỉ, cuối đời Chu nước Việt Thường đã có phen thông sứ với Chu Thành vương và có cống một con bạch trĩ. Nước Việt Thường xuất hiện có lẽ đã lâu lắm từ đầu đời nhà Chu ở trên địa bàn cũ của nước Tam Miêu (ở giữa hồ Động Đình và hồ Phiên Dương). trung tâm điểm của nước ấy là xứ Việt Chương". Xem như vậy, nước Việt Thường được sử cũ của người Tàu ghi lại về thời nhà Chu (1049-221 Tr. Tây Lịch), được coi như là thưc (theo Nguyễn Hiến Lê, từ triều đại nhà Thương (1450-1050 tr. T. L) là triều đại có sử), nhưng theo truyền thuyết của ta, nước Việt Thường thuộc về thời Họ Hồng Bàng (2879-258 tr. Tây Lịch) là thời chưa có sách vở ghi chép lại nên vẫn chỉ là truyền thuyết. Bây giờ chúng ta bàn tiếp đến Giao Chỉ và Tượng Quận. Như trên đã nói "Tượng Quận thì không còn là chuyện hoang đường mà chắc chắn là chuyện lịch sử rõ ràng" (Trần Gia Phụng), vậy chúng ta tìm hiểu về Tượng Quận trước, sau đó tìm hiểu Quận Giao Chỉ, bởi vì Quận Giao Chỉ cũng là "chuyện lịch sử có thật" nằm trên phần đất Tượng Quận của nhà Tần, tức là trên phần đất của nước Nam Việt thời Triệu Đà: "Triệu Vũ Vương đóng đô ở Phiên Ngung gần thành Quảng Châu, thuộc tỉnh Quảng đông hiện tại, chia các đất đai của nhà Thục cũ và các miền đất phía Nam thành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân rồi cử hai viên điển sứ (sứ thần) xuống coi giữ" (Phạm Cao Dương). Vì còn vài vấn đề khúc mắc cần tìm hiểu, VS xin tạm gác lại câu chuyện về người Phụ Nữ việt Nam Trình Thị cũng như phần tìm hiểu về Giao Chỉ, Việt Thường. Có mấy câu hỏi để cùng tham khảo ý kiến của quí anh chị, nhất là anh TVB, SK...: Việt Sử Tiêu Án (VSTA) của Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ (Ngô gia Văn Phái) trang 22 viết: Ngoại Thuộc Nhà Triệu - Triệu Đà: "Nhà Tần cho là nước ta nhiều châu báu, muốn chia nước ta ra làm quận huyện, sai Hiệu-úy là Đồ Thư mang quân vào sâu mãi Lĩnh Nam lấy đất Lục Lương đặt ra Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận. Người Việt ta đều chạy trốn vào trong rừng rậm, không chịu để cho nhà Tần dùng, ngầm đặt Kiệt Tuấn làm tướng , đương đêm đánh Đồ Thư, nhà Tần bèn mang 500 vạn dân phát vãng đi đầy sang ở đó..." Câu hỏi: 1- Hai tiếng "nước ta" ở đầu câu, muốn ám chỉ phần đất nào? Phần đất Bách Việt bao gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây sau này hay là phần đất Bắc Việt sau này? 2- Câu: "Người Việt ta đều chạy trốn vào trong rừng rậm" muốn ám chỉ "người việt ta " nào? "Người Việt ta" thuộc thành phần dân tộc Bách Việt trên "đất Bách Việt" hay "người Việt ta" trên đất Âu Lạc theo truyền thuyết tức đất Bắc Việt và một phần đất Trung Việt sau này? 3- Đồ Thư có sang đánh nưóc Âu Lạc theo truyền thuyết không? hay chỉ đánh nhau trên đất Bách việt vời người thuộc dân tộc Bách Việt? Trả lời được những câu hỏi này, đương nhiên chúng ta có câu trả lời về "người Việt ta" có thuộc về dân tộc Bách Việt hay không? ---- Đọc kỹ bài biên khảo cuả anh, VS nhận thấy có hai điểm quan trọng: 1- "Năm 221BC sau khi gồm thâu sáu nước để thống nhất Trung Hoa, Tần Thủy hoàng đã ra lệnh cho Đồ Thư mang quân đi chinh phục Lĩnh Nam. Quân Tần đã vào Lĩnh Nam và xâm chiếm vùng này". - Theo Trần Trọng Kim (VNSL trang 18):"Đến năm đinh hợi (214 tr. Tây lịch) Thỉ hoàng sai tướng Đồ Thư đem quân đi đánh lấy đất Bách Việt" - Theo ĐVSKTT Ngô SỸ Liên viết:" năm thứ 44 (214 TCN)(Tần Thủy Hoàng năm thứ 33) Nhà Tần phát những người trốn tránh, người ở rể, người đi buôn, ở các đạo ra làm binh, sai hiệu úy Đồ Thư đem quân Lâu thuyền, sai Sử Lộc đào ngòi, vận lương, đi sâu vào đất Lĩnh Nam, đánh lấy miền đất Lục Lương..." - Ông Phạm Cao Dương giải thích thêm: "Những người Việt đã không chịu khuất phục . Họ bỏ vào các rừng rậm rồi suy cử người tuấn kiệt làm tướng đánh quân Tần giết được Đồ Thư (214 tr. TC). (LSDTVN tr. 45) - Theo Phạm Văn Sơn (Việt Sử Toàn Thư tr. 57):"Việc xẩy ra vào khoảng năm 221-214 tr. TL. Quan Hiệu Úy là Đồ Thư đem quân lâu thuyền cùng tướng Sử Lộc đào sông vận lương đi sâu vào đất Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Dương...". Ông Phạm Văn Sơn cũng cho biết thêm: "người Kiệt Tuấn (viết hoa) được nhân dân Tây Âu cử ra là An Dương Vương nhà Thục, ...". Như vậy theo VS nghĩ, năm 221 tr. CN là thời gian quân Tần chuẩn bị đi đánh Bách Việt, phải mất 7 năm, quân Tần mới chiếm xong Bách Việt, nhưng tướng Đồ Thư bị giết vào năm 214 tr. CN là thời gian quân Tần bình định đất Bách Việt. Về danh từ "người tuấn kiệt" theo ông Phạm Cao Dương, chỉ là một người tài giỏi chứ không phải là tên người (?) 2- Giao Chỉ không bị quân Tần chiếm đóng vì Giao Chỉ không (nguyên bản thiếu chữ không)phải là Tượng Quận thời Tần. Về điểm này, VS đã nghĩ đến nên đang tìm hiểu về: "người Giao Chỉ", "đất Giao Chỉ" và "quận Giao Chỉ". Theo ghi chú của DVSKTT (trang 138), trước kia sách sử của ta và Trung Quốc đều cho rằng Tượng Quận đời Tần là quận Nhật Nam hay bao gồm cả cả 3 quận Giao chỉ, Cửu chân, Nhật Nam thời Hán, tức đất An Nam. Thuyết này đã bị phê phán (thế kỷ XIX) như anh TVB đã trình bày: " Tượng Quận thời nhà Tần tọa lạc phía tây bắc tỉnh Quảng Tây và phía tây nam Quý Châu ngày nay và Tượng Quận không phải là đất An Nam cũ. Anh TVB đặt câu hỏi: "người Giao Chỉ có giao tranh với quân Tần hay không?" VS nghĩ là "có", bởi vì người Giao Chỉ ở rải rác trên khắp đất Bách Việt từ Động Đình Hồ xuống tới phía nam biên giới đất Chiêm Thành sau này. Quân nhà Tần đánh Bách Việt, đương nhiên phải đánh nhau với người Giao Chỉ, tức người Lạc Việt hay ngưòi Âu Việt...nhưng chỉ đánh nhau trên đất Bách Việt (Quảng Đông, Quảng Tây sau này). Điểm rắc rối là phần đất Bắc Việt và một phần đất Trung Việt ngày nay, thời Tần tên gọi là gì nếu không phải là Tượng Quận? Câu chuyện truyền thuyết "Triệu Đà xâm lăng Âu Lạc" sự thật đúng được bao nhiêu phần trăm? Nên nhớ rằng, nước Âu Lạc chỉ có trong truyền thuyết: " Chuyện Văn Lang và Âu Lạc được xếp vào loại khó tin được, nhưng đến Tượng Quận thì không còn là chuyện hoang đường mà chắc chắn là chuyện lịch sử rõ ràng" (Trần Gia Phụng). Cũng vì câu cước chú trong Hán Thư (q. 28 tr. 11a) về quận Nhật Nam thời Hán: "Quận Nhật Nam - quận Tượng thời Tần ngày xưa", khiến nhiều sách sử đã cho rằng Tượng quận thuộc về đất Bắc Việt và một phần đất Trung Việt ngày nay. Một câu hỏi nữa được đặt ra: "Triệu Đà có xâm lăng đất Bắc Việt và một phần Trung Việt ngày nay hay không? ĐVSKTT (trang 143) cho biết: "Canh Thân, năm thứ 27(181 TCN), Hán Cao Hậu năm thứ 7). Nhà Hán sai Lâm Lư Hầu Chu Táo sang đánh Nam Việt để báo thù việt đánh Trường sa. Gặp khi nắng to ẩm thấp, bệnh dịch phát, bè bãi quân. Vua (Triệu Vũ Vương)nhân thế dùng binh uy và của cải để chiêu vỗ Mân Việt và Âu Lạc ở phía tây (tức là Giao Chỉ và Cửu Chân), các nơi ấy đều theo về, từ đông sang tây rộng hơn vạn dậm. Vua ngồi xe mui vàng, dùng cờ tả đạo, cho là nghi vệ ngang với nhà Hán". Cũng theo ĐVSKTT (tr. 142): "Quý Mão, năm thứ 10 (198 TCN), (Hán Cao Đế năm thứ 9), vua (Triệu Đà) sai hai sứ coi giữ hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân" Câu hỏi: "Nếu năm 198 TCN Triệu Đà đã sai sứ coi giữ hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân rồi, thì cớ gì mãi tới năm 181 TCN, tức 17 năm sau Triệu Đà còn phải "dùng binh uy và của cải để chiêu vỗ Mân Việt và Âu Lạc ở phía tây (tức là Giao Chỉ và Cửu Chân), các nơi ấy đều theo về" ? Trần Việt Bắc
-
Giao Chỉ và Tượng Quận Trần Việt Bắc LTS: Người Việt chúng ta ai đã đọc và tìm hiểu về sử thì đều biết là sử nước Việt chỉ được bắt đầu được viết từ thời nước Việt có tự chủ, nói cho đúng hơn là từ thời Lý. Quyển sử đầu tiên được viết là Sử ký của Đỗ Thiện, rồi sau đó là Việt Chí của Trần Chu Phổ, rồi Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu. Những quyển sử này đã bị thất lạc. Quyển sử đầu tiên còn lại là Đại Việt Sử Ký Toàn thư (ĐVSKTT) của ông Ngô Sĩ Liên, từ khi lưu hành, đã được coi là bộ chính sử và được tham khảo bởi nhiều bộ sử khác.Quyển sử này đã ghi lại được những tài liệu trong sách của ông Lê Văn Hưu để chúng ta - hậu thế- có thể biết được những việc đã xảy ra trong quá khứ của tộc Việt. . Bộ sử này đã viết lại những việc từ ngày lập quốc của nước Việt, thời điểm cả ngàn năm trước khi ĐVSKTT được viết.Từ thời dựng nước mơ hồ với những truyền thuyết, rồi sau đó là hàng chục thế kỷ bị đô hộ, nào có ai ghi lại những việc đã xảy ra! (Mà nếu có ghi chép lại cũng sẽ bị thiêu hủy bởi những kẻ chiếm đóng; vì khác với quan niệm của họ!). Những sự kiện thành văn, ĐVSKTT một phần lớn đã tham khảo từ các sử sách của Trung Quốc. Tuy nhiên đây là những văn bản đầy thành kiến, theo quan niệm của một quốc gia thống trị viết về một quốc gia bị trị, thí dụ như Hậu Hán Thư quyển 116 chép về văn hóa của người Lạc Việt như sau: "Người Giao Chỉ không phân biệt trưởng ấu... Không biết lễ giá thú, chỉ theo dâm hiếu mà không biết tình cha con, không biết đạo vợ chồng, ..." (trích từ Việt Sử Toàn Thư của sử gia Phạm Văn Sơn) . Đây là những câu viết của người có quan niệm thống trị, tác giả là Phạm Việp. Ông ta không hiểu phong tục người Việt xứ Âu Lạc, cũng như không tìm hiểu thêm; để viết về một dân tộc có văn hoá và truyền thống khác hẳn Trung Quốc, nhận định theo quan điểm riêng, thiếu sự khách quan của một người viết sử. Bởi thế, sau khi tham khảo chúng ta chỉ nên lấy những sự kiện - sự kiện mà thôi -của các sử gia Trung quốc cho thời khuyết sử của tộc Việt. Sau đó phải so sánh các sự kiện này với sự kiện khác, kiểm chứng và rút tỉa ra những điều không bị cảm tính chi phối, may ra chúng ta mới biết được đâu là sự thật của quá khứ đã được ngoại bang ghi chép. Vì thế chúng ta phải rất thận trọng khi tham khảo cổ sử của Trung Quốc để tìm hiểu về sử nước nhà. Từ những tham khảo này, bộ ĐVSKTT đã dựng nên một quá khứ của tộc Việt cho thời khuyết sử mà một phần lớn đã tham khảo từ sử liệu của Trung Quốc. Điều này đã gây nên nhiều nghi vấn cho hậu hậu thế! Hậu thế chúng ta may mắn có được những phương tiện truyền thông tân tiến. Tham khảo sử liệu qua "internet" là một việc hết sức dễ dàng - nếu chúng ta muốn làm - ai cũng có thể tra cứu những tài liệu, mà ngày xưa, tiền nhân mong muốn nhưng không tìm được. Bằng chứng là rất nhiều người đang bàn thảo về sử Việt trong các diễn đàn ở các "Web site" khác nhau. Người viết cũng chỉ là một trong những người đang làm việc này, hoàn toàn làm theo sở thích và vì sự tò mò, với mong muốn được hiểu biết thêm về sử Việt. Biết đâu có thể góp ý cho những bạn đọc cùng sở thích, và đặc biệt là có thể cống hiến cho các bạn trẻ muốn tìm hiểu về sử Việt. Dù sự hiểu biết về sử rất giới hạn và cũng không biết lượng sức (hiểu biết về Hán học của người viết rất là thô thiển!), nhưng cũng cố gắng tìm câu trả lời để mong biết đâu là sự thật (!) cho những câu hỏi về nguồn gốc của mình, (với sự trợ giúp của các nhu liệu thông dịch (1) cũng như bộ tự điển Hán Nôm của Thiều Chửu và những "chức năng" (function) của "Word"). Mong mỏi được học hỏi thêm từ các học giả thông hiểu về sử học cũng như Hán học. ---------------------------------------------- Đại Việt Sử Ký Toàn thư là bộ chính sử của nước Việt, được viết lại với nhiều truyền thuyết của nhân gian và những tham khảo từ cổ sử của Trung Quốc cho thời gian khuyết sử của nước Việt, như Sử Ký của Tư Mã Thiên, Hán Thư của Ban Cố, Hậu Hán Thư của Phạm Việp cùng các bộ sử khác. Tuy nhiên ĐVSKTT đã có nhiều vấn đề khi tham khảo từ những sử liệu này. Như sử liệu bị chi phối vì hoàn cảnh và cảm tính của các sử gia, cùng những sự kiện đôi khi mâu thuẫn đã được nêu lên trong cổ sử của Trung Quốc. Việc này đã gây nên những tham khảo vòng quanh và sự suy đoán theo những chiều hướng khác nhau đầy hoang mang của hậu thế. Rồi những giả thuyết được đưa ra những tranh luận triền miên. Bài viết này, người viết xin nêu lên vấn đề tương quan giữa Giao Chỉ, tức là cổ Việt và Tượng Quận thời Tần để mong có sự góp ý của các bậc thức giả, ngõ hầu chúng ta có thể hiểu biết thêm về vấn đề nan giải này trong sử Việt . ĐVSKTT: Đinh Hợi, năm thứ 44 [214 TCN], (Tần Thủy Hoàng năm thứ 33). Nhà Tần phát những người trốn tránh, người ở rể người đi buôn, ở các đạo ra làm binh, sai hiệu úy Đồ Thư đem quân lâu thuyền, sai Sử Lộc đào ngòi vận lương, đi sâu vào đất Lĩnh Nam, đánh lấy miền đất Lục Dương (2), đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận (tức là An Nam) ; ...". Sau đó là An Nam Chí Lược của Lê Tắc (Trắc), 1335, được in bởi Viện Đại Học Huế, Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt nam, 1961. Được chuyển qua ấn bản điện tử bởi các ông Công Đệ, Doãn Vượng, Lê Bắc năm 2001: "QUYỂN ĐỆ NHẤT, Tống Tự. Nhà Tần (246-207 trước công nguyên) lấy Giao Chỉ làm Tượng-Quận;...". Theo như trích dẫn trên thì An Nam (cổ Việt gồm Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam) là Tượng Quận thời Tần. Câu viết này đã nêu lên một số nghi vấn cho các sử gia. Rồi từ nghi vấn này dẫn đến những nghi vấn khác cùng với các giả thuyết khác nhau. Điều này đã gây nên nhiều khó khăn cho sự tìm hiểu về sử Việt cho hậu thế - mà người viết là một. 1- Quan tâm của các sử gia về vấn đề Giao Chỉ và Tượng quận. Đại Việt Sử Cương (ĐVSC) của sử gia Trần Gia Phụng, tập 1, trang 74: "1. Trung Hoa xâm chiếm cổ Việt. ... . Năm 214 TCN (đinh hợi), Tần Thủy Hoàng Đế (Ch'in Shih Huang-ti, trị vì 221-210 TCN) sai Đồ Thư và Sử Lộc cầm quân tiến xuống phía nam, vượt sông Dương Tử, chiếm vùng đất mà người Trung Hoa gọi là vùng Bách Việt, lập ra 3 quận là Quế Lâm (Kueilin, nay là vùng bắc và đông Quảng Tây), Nam Hải (Nanhai, tức Quảng Đông) và Tượng Quận (Hsiang, vùng Bắc Việt ngày nay)" . Mặc dù ông Trần Gia Phụng viết là quân Tần xâm chiếm cổ Việt vì Tượng Quận là vùng Bắc Việt ngày nay, nhưng trong ghi chú số 27, trang 65, ông đã nêu lên vấn đề như sau: " Toàn Thư cũng như các bộ sử khác, kể cả Cương Mục chép theo các bộ sử Trung Hoa việc tướng nhà Tần đã chiếm đất Lĩnh nam và đặt ra các quận Quế Lâm (nay là vùng bắc và đông bắc Quảng Tây), quận Nam Hải (nay là Quảng Đông) và Tượng Quận (vùng cổ Việt) năm 2q14 TCN. Sau đó toàn thư và các bộ sử cũ của nước ta lại viết thêm (tvb: do tác giả tô đậm) rằng: Lúc đó, tại cổ Việt có triều đại An Dương Vương (trị vì 257-208TCN). Về các sự kiện liên quan đến triều đại An Dương Vương, các câu hỏi được đặt ra là: Thục Phán, người nước Ba Thục ở tận Tứ Xuyên (Sichuan), Trung Hoa, sao có thể qua tới cổ Việt để đánh Hùng Vương? [Phía bắc của Bắc Việt là hai tỉnh Vân nam (Yunnan) ở tây bắc và Quảng Tây (Giangxi) ở đông bắc. Phía bắc hai tỉnh này mới là Tứ Xuyên.] Chuyện nỏ thần có thể là lịch sử hay không? Cuối cùng, nếu năm 214 TCN cổ Việt bị quân Hán chiếm và đổi thành Tượng Quận rồi, thì cần gì Triệu Đà phải đánh lần nữa vào các năm 210 TCN và 208 TCN? Vậy phải chăng chuyện An Dương Vương chỉ là truyền thuyết". Một lần nữa, trong ghi chú số 5, trang 100, ông lại nêu lên sự quan tâm của mình: " .... . Ở đây có một điểm trong các sách sử cũ cần cẩn án: 1) Nếu theo các bộ sử cũ, năm 214TCN, Đồ Thư và Sử Lộc chiếm đất Lĩnh Nam (phía nam núi Ngũ Lĩnh) lập ra 3 quận Quế Lâm, Nam hải và Tượng Quận, mà Tượng Quận bao gồm cả cổ Việt, thì tại sao các bộ sử cũ còn chép rằng Triệu Đà hai lần đánh cổ Việt, năm 210 TCN và năm 208 TCN? Nếu Triệu Đà phải đem quân đi đánh cổ Việt, có nghĩa là lúc đó người Trung Hoa chưa chiếm được cổ Việt. 2) Thứ nhì, nếu cổ Việt đã rơi vào tay Đồ Thư từ năm 214 TCN, thì chuyện An Dương Vương dùng nỏ thần để chống cự với Triệu Đà chỉ là chuyện truyền thuyết không có thật". Vậy nếu Tượng quận gồm cổ Việt thì sử liệu nói về An Dương Vương chỉ là truyền thuyết! Việt Nam Sử Lược (VNSL) của sử gia Trần Trọng Kim, ấn bản đầu tiên năm 1921, được in lại bởi nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin, 1999, trang 29: " 3. Nhà Tần Ðánh Bách Việt. Khi An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc ở bên này, thì ở bên Tàu vua Thủy Hoàng nhà Tần, đã nhất thống thiên hạ. Ðến năm đinh hợi (214 trước Tây lịch). Thủy Hoàng sai tướng là ÐồThư đem quân đi đánh lấy đất Bách Việt (vào quãng tỉnh Hồ Nam, Quảng Ðông và Quảng Tây bây giờ). An Dương Vương cũng xin thần phục nhà Tần.Nhà Tần mới chia đất Bách Việt và đất Âu Lạc ra làm ba quận, gọi là: Nam Hải (Quảng Ðông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Bắc Việt (2)). Người bản xứ ở đất Bách Việt không chịu để người Tàu cai trị, trốn vào rừng ở. Ðược ít lâu quân của Ðồ Thư, vốn là người ở phương bắc, không chịu được thủy thổ, phải bệnh rất nhiều. Bấy giờ người Bách Việt thừa thế nổi lên giết được Ðồ Thư". Theo sử gia Trần Trọng Kim; thì Bắc Việt (cổ Việt) là Tượng quận thời nhà Tần. Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt (NGMLCDTV) 1971, được in lại bởi nhà xuất bản Xuân Thu, Los Alamitos California. Tác gỉa là nhà văn và cũng là học giả Bình Nguyên Lộc. Đây là một bộ sách khá dầy, nặng phần khảo cứu về ngữ pháp, gần 900 trang (khổ nhỏ) . Tác giả đã viết một đoạn khá dài (từ trang 221 đến trang 287) trong chương 2: " Những sai lầm", tiết mục D: "NƯỚC TÂY ÂU MƠ HỒ VÀ TƯỢNG QUẬN BÍ MẬT", để nói về sự phản tương quan giữa cổ Việt và Tượng Quận. Ông đã đưa ra những nhận xét (với cách hành văn châm biếm và đôi khi hài hước của một văn sỹ, cùng với những kiến thức của một học giả uyên bác về ngữ học, phê bình về những sử liệu mà theo ông là ngụy tạo, đây là một điều rất hào hứng cho người viết!) để nói lên những sai lầm về giả thuyết của các học giả như: L. Aurousseau, H. Maspéro, Trần Kinh Hòa, Nguyễn Phương,... . Sau đó ông dùng "4 bằng chứng", đặc biệt là bằng chứng thứ 4, đã được coi là bằng chứng "quyết định" để ông có thể đi đến những kết luận như sau: Trang 283: " Với câu sử của Tư Mã Thiên và Lưu An (3) và những gì chúng tôi đưa ra để bác bỏ các thuyết, ta đã làm sáng tỏ được: 1.- Tần không hề đánh xuống khỏi Hạ-chí -Tuyến Bắc, tức Tây Âu không là cổ Việt. 2.- Tâu Âu Lạc là một địa danh hoàn toàn không có. 3.- Huyện Tây Vu không thể là nước Tây Âu hùng mạnh. 4.- Thượng du tả ngạn Nhĩ Hà không thể là nước Tây Âu hùng mạnh. 5.- Trạch Hu Tống là vua của Tây Âu, theo Lưu An chép. Khi Tây Âu không là Bắc Kỳ, không là Thượng du Bắc Việt thì Trạch Hu Tống (4) chẳng dính líu gì tới cổ Việt hết. 6.-Tượng Quận không hề là Bắc Kỳ, vì Tần Thỉ Hoàng không có chiếm Tượng Quận. 7.- Không có chánh sách trồng người tại cổ Việt Nam để đẩy dân Việt nam vào thế thiểu số." Đặc biệt là trong chương này ông cũng đã đưa ra một giả thuyết khá lý thú về nguồn gốc của An Dương Vương, tuy nhiên đây không phải là trọng tâm của đề tài, nên người viết hy vọng có thể sẽ trình bày vấn đề này trong một bài viết khác trong tương lai. Việt Sử Toàn Thư (VSTT) của sử gia Phạm văn Sơn, ấn bản đầu tiên năm Canh Tí (1960), tái bản bởi nhà xuất bản Đại Nam, tủ sách sử học, trang 50: " Về Tượng Quận, Việt Nam Sử Lược chép là Bắc Việt . Chúng tôi không đồng ý vì Bắc Việt khi đó là Âu Lạc đã thành Tượng Quận thì sau nầy đâu có sự kiêm tính của Triệu Ðà bằng binh đao, chúng tôi cũng không thấy sách nào nói như Việt Nam Sử Lược rằng An Dương Vương đầu phục nhà Tần để quyết định rằng vì sự thần phục nầy mà Âu Lạc biến thành Tượng Quận. Tóm lại ảnh hưởng của nhà Tần bấy giờ chỉ mới đến địa phận Tây Âu là tỉnh Quảng Tây và miền Uất Lâm cùng Nam Hải. Sau đó Tần triều phái 50 vạn người tù đầy đến chiếm đóng các nơi đã cướp được để bảo vệ bộ máy cai trị vừa mới thiết lập". Ông Phạm Văn Sơn cũng đưa ra thêm ghi chú ở cuối trang 50 này như sau: "Theo Trúc Khê tiên sinh: Sử ta nói Tượng Quận nhà Tần là đất Bắc Kỳ. Trung Kỳ bây giờ, song so sánh địa lý và dẫn chứng với các sách thì Tượng Quận chính thuộc về một phần đất của tỉnh Quảng Tây nước Tần ngày nay. Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim nói Tượng Quận là đất Bắc Kỳ có thể không đúng.. Sử gia Phạm Văn Sơn đã không đồng ý Giao Chỉ là Tượng quận, tuy nhiên ông không đưa ra những chứng minh qua sử liệu để phản bác vấn đề Giao Chỉ là Tượng quận thời Tần Vậy qua sử sách hiện đại và cận đại, chúng ta thấy vẫn đang có những sự mâu thuẫn. Sự việc đã dẫn tới nghi vấn lớn và khó hiểu hơn nữa là xuất xứ của An Dương Vương. Nhiều giả thuyết đã nêu lên về vấn đề này, tác giả ĐVSKTT- ông Lê Văn Hưu và sau đó là ông Ngô Sỹ Liên cùng các sử gia khác trong các thời sau - đã đặt làm một thời kỳ riêng là "Kỷ nhà Thục, An Dương Vương" trong sử Việt. Điều này làm cho hậu thế hoang mang, vì không biết đâu là sự thật của lịch sử! 2- Giao Chỉ và Tượng quận qua thư tịch cổ (5) của nước Việt Ngược dòng thời gian, người viết xin trích dẫn những tài liệu trong thư tịch có liên quan đến vấn đề Giao Chỉ và Tượng quận. Phương Đình Địa Dư Chí (PĐĐDC)của Nguyễn Văn Siêu (6), "lần đầu in bằng chữ Hán vào năm Canh Tý (1900), niên hiệu Thành Thái thứ 12", tái bản bởi nhà xuất bản Văn Hoá - Thông Tin, trang 28: "Nhật Nam thái thú: Vua Hán Vũ đế đổi Tượng quận nhà Tần là Nhật Nam. Nhà Ngô lại đặt là quận Cửu Đức. ...". Ông Nguyễn Văn Siêu cho là Nhật Nam thuộc về Tượng quận (Nhật Nam ở xa hơn về về phía nam so với Cửu Chân và Giao Chỉ). Đại Nam Nhất Thống Chí (ĐNNTC) của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, nhà xuất bản Thuận Hoá, khi viết về các tỉnh miền trung châu Bắc Việt đã viết như sau (thí dụ điển hình là tỉnh Bắc Ninh)": "Dựng đặt và diên cách. Đời Hùng Vương xưa là bộ Vũ Ninh, đời Tần thuộc Tượng quận, đời Hán thuộc quận Giao Chỉ, tức là đất hai huyện Luy Lâu và Long Biên, ....". Các sử quan triều Nguyễn vẫn coi Bắc Việt (cổ Việt) là Tượng quận đời Tần. Vân Đài Loại Ngữ (VĐLN) của Quế Đường Lê Quí Đôn do Phạm Vũ và Lê Hiền dịch và chú giải, xuất bản bởi nhà sách Tự Lực, trang 167: " Đời An Dương Vương, quân nhà Tần sang đánh cướp lấy miền đất Lục-lương của Nam Việt (người Lĩnh-nam phần nhiều ở vào khoảng đất núi, tính người cương cường nên gọi là Lục Lương), đặt ra các quận: Quế -lâm; Nam hải; Tượng -quận (Quế -lâm nay là Quảng-tây; Nam-hải nay là Quảng-đông;Tượng-quận nay là nước ta). Qua trích dẫn trên, ông Lê Quí Đôn cũng đã viết Tượng quận là cổ Việt. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (KKĐCSTGCM hay Cương Mục) . Quốc Sử Quán Triều Nguyễn soạn thảo (1856-1881). Viện Sử Học dịch (1957-1960). Nhà xuất bản Giáo Dục (Hà Nội) ấn hành 1998. Trong quyển 1: đề tài "Hùng Vương dựng nước" viết như sau: " Năm Đinh Hợi (214 tr.c.ng.) (Thục An Dương Vương năm thứ 44; Tần Thủy Hoàng năm thứ 33). Nhà Tần sai Đồ Thư và Sử Lộc sang lấy đất Lĩnh Nam, đặt ra Tượng quận. Bấy giờ nhà Tần hám đất Việt có nhiều ngọc trai và ngọc cơ, muốn chiếm lấy đặt làm quận huyện, mới bắt kẻ trốn tránh, người gửi rể và lái buôn ở các đạo đi làm lính, sai hiệu úy là Đồ Thư làm tướng, Sử Lộc thì khơi cừ lấy lối tải lương, đi sâu vào cõi Lĩnh Nam, cướp lấy đất Lục Lương, đặt ra Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận để đày những kẻ phải đi thú . Người Việt bấy giờ đều rủ nhau núp vào trong rừng rậm, không ai chịu để cho người Tần dùng. Lại ngầm bầu những người tài giỏi lên làm tướng, đánh nhau với người Tần, giết được hiệu úy Đồ Thư. Lời chua: .... Quế Lâm, Nam Hải, Tượng quận: Theo sách Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi nhà Tống, ba quận ấy là đất Bách Việt ngày trước, từ Tần Thủy Hoàng lấy được thiên hạ, mở núi dọn đường, cướp lấy đất Dương, Việt, đặt ra Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận. Bây giờ tỉnh Quảng Tây tức là Quế Lâm, tỉnh Quảng Đông tức là Nam Hải, đất Giao Chỉ tức là Tượng Quận đời Tần.". Các sử quan triều Nguyễn nói cổ Việt là Tượng quận thời Tần. Việt Sử Tiêu Án, soạn giả: Ngọ Phong Ngô Thời Sỹ 1775. Dịch giả: Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu 1960. Nhà xuất bản: Văn Sử 1991. Chuyển sang ấn bản điện tử bởi: Công Đệ, Doãn Vượng, Lê Bắc 2001. Kỷ: Ngoại Thuộc: Nhà Triệu, Triệu Đà . "Nhà Tần cho là nước Việt ta nhiều châu báu, muốn chia nước ta ra làm quận huyện, sai Hiệu úy là Đồ Thư mang quân vào sâu mãi Lĩnh Nam lấy đất Lục Lương đặt ra Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận 1. Người Việt ta đều chạy trốn vào trong rừng rậm, không chịu để cho nhà Tần dùng, ngầm đặt Kiệt Tuấn làm tướng, đương đêm đánh Đồ Thư, nhà Tần bèn mang 500 vạn dân phát vãng đi đày sang ở đó, cử Nhâm Ngao làm quan Úy ở Nam Hải, Triệu Đà là quan lệnh Long Xuyên". Không thấy ông Ngô Thời Sỹ nói rõ về việc Giao Chỉ là một phần của Tượng quận, nhưng chữ "nước Việt ta" và "người Việt ta" đã nói lên việc quân Tần đã tấn công cổ Việt. Khi nói về thời Triệu Đà ông viết như sau: "Xét sử cũ: An Dương Vương mất nước, để quốc thống về họ Triệu, chép to 4 chữ: "Triệu Kỷ Vũ Đế". Người đời theo sau đó không biết là việc không phải. Than ôi! Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là Đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Triệu Đà khởi ở Long Xuyên, lập quốc ở Phiên Ngung, muốn cắt đứt bờ cõi, gồm cả nước ta vào làm thuộc quận, đặt ra giám chủ để cơ mi lấy dân, chứ chưa từng đến ở nước ta" . Qua câu viết này, dù không trực tiếp viết ra, nhưng người viết cho là ông cũng đã gián tiếp công nhận Giao Chỉ nằm trong Tượng quận. Ở cuối trang, dịch giả viết trong ghi chú 1 như sau: "1 Tượng Quận. Quận do nhà Tần đặt, song chỉ có tên, chưa có đất và chưa có bộ máy hành chính cấp quận. Xưa nay nhiều người lầm Tượng Quận bao gồm cả đất Việt Nam ngày nay." Đại Việt Sử Ký Tiền Biên của ông (Ngô Thời Sỹ) cũng viết: "Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm không phải là Đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam".Người viết xin đặt câu hỏi về đoạn văn này. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT quyển 1, trang 138) viết như sau (với ghi chú số 2 và 3, của người dịch): Đinh Hợi, năm thứ 44 [214 TCN], (Tần Thủy Hoàng năm thứ 33). Nhà Tần phát những người trốn tránh, người ở rể [8b] người đi buôn, ở các đạo ra làm binh, sai hiệu úy Đồ Thư đem quân lâu thuyền, sai Sử Lộc đào ngòi vận lương, đi sâu vào đất Lĩnh Nam, đánh lấy miền đất Lục Dương (2)(7), đặt các quận Quế Lâm (nay là huyện Quý của đất Minh, Quảng Tây), Nam Hải (nay là tỉnh Quảng Đông) và Tượng Quận (tức là An Nam) ; cho Nhâm Ngao làm Nam Hải úy, Triệu Đà làm Long Xuyên lệnh (Long Xuyên là thuộc huyện của Nam Hải), đem những binh phải tội đồ 50 vạn người đến đóng đồn ở Ngũ Lĩnh, Ngao và Đà nhân đó mưu xâm chiếm nước ta. (Chuế tế: con trai không có tiền nộp sính lễ, lấy thân ở gửi nhà vợ nên gọi là chuế tế [ở gửi rể] như cái bướu ở mình người ta, là vật thừa. Lục Lương là người Lĩnh Nam phần nhiều ở chỗ núi rừng, trên cạn (lục), tính người mạnh tợn (cường lương) nên gọi là Lục Lương ). Câu hỏi được đặt ra: Tượng Quận bao gồm cổ Việt hay ở ngoài cổ Việt ? Đâu là sự thật của lịch sử ? 3- Tìm hiểu nguồn gốc của vấn đề. Chúng ta cũng biết rằng, thư tịch hay các sách về sử của nước Việt chỉ được viết ra từ thời Lý. Đầu tiên là Sử Ký của Đỗ Thiện (8), Việt Chí của Trần Chu Phổ (9), Đại Việt Sử Ký cuả Lê Văn Hưu (10)(những sách này đã bị thất lạc), Đại Việt Sử Lược của tác giả Khuyết Danh (11), ĐVSKTT của Ngô Sĩ Liên, v.v.... Những sách này đã tham khảo và lấy những sử liệu từ những bộ sử của Trung Hoa như sách Hoài Nam Tử của Hoài Nam Vương Lưu An (trình cho Hán Vũ Đế năm 139 TCN), Sử Ký của Tư Mã Thiên (năm 97 TCN), Hán Thư của Ban Cố (khoảng năm 92, là năm ông này bị chết trong ngục, bộ sử này sau đó đã được hoàn tất bởi cô em gái là Ban Chiêu), Hậu Hán Thư của Phạm Việp ( khoảng trước năm 445 là năm ông này bị giết) v.v... . Tuy nhiên khi tham khảo những sử liệu được viết từ một quốc gia "thống trị"; để viết sử cho một quốc gia đã qua một thời gian "bị trị", các sử gia phải vô cùng cẩn thận, từ việc so sánh các sử liệu về việc đồng nhất của các sự kiện, còn phải phân tách, phán đoán, lý giải để tìm hiểu sự thật của lịch sử. Vì các sử gia của quốc gia thống trị đã viết sử theo quan niệm của họ, nhiều khi đến độ sai lầm vì nhiều lý do khác nhau. Nếu những tham khảo được lấy từ những điều chủ quan hay sai lầm để viết sử nước nhà, hậu thế sẽ đọc được những sự việc trong quá khứ với đầy nghi vấn và hoang mang với câu hỏi đâu là sự thật ? Sử gia Phạm Văn Sơn đã nêu ra vấn đề là cổ Việt (hay Giao Chỉ và Cửu Chân) không phải là Tượng quận thời Tần, dù trong các thư tịch và cổ sử của nước Việt cũng như cận và hiện đại đều nói như thế. Người viết đã trích dẫn đoạn văn của ĐVSKTT nói về Tượng Quận: "... đặt các quận Quế Lâm (nay là huyện Quý của đất Minh, Quảng Tây)30, Nam Hải (nay là tỉnh Quảng Đông) và Tượng Quận (tức là An Nam) (3) ". Đoạn văn với cước chú số (3) trang 138, tập 1 viết như sau: "3 Tượng Quận: tên quận đời Tần mà trước đây nhiều sách sử của ta và của Trung Quốc đều chú giải là quận Nhật Nam, hay bao gồm cả ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thời Hán, tức đất An Nam. Thuyết đó là dựa vào một câu cước chú của Hán Thư (q.28 hạ, tr. 11a) về quận Nhật Nam thời Hán: "Quận Nhật Nam - quận Tượng thời Tần ngày trước". Nhưng từ cuối thế kỷ XIX, thuyết đó đã bị phê phán. Chính Hán thư phần Bản Kỷ (q.7 tr.9a) chép rõ rằng: "Năm thứ 5 hiệu Nguyên Phương (76 TCN), bãi bỏ quận Tượng, chia đất". Dù đây chỉ là cước chú (12) trong ĐVSKTT, nhưng tài liệu này đã chỉ ra manh mối cho người viết, đã giúp rất nhiều cho việc tìm hiểu về cội nguồn của vấn đề. Hán Thư, quyển 28 (13) "Địa lý chí đệ bát hạ" viết về quận Nhật Nam như sau : "Quận Nhật Nam, là Tượng Quận cũ thời Tần .... . Thuộc Giao Châu" Hán Thư, quyển 7 (14) " Thiệu Đế kỷ đệ thất" viết về việc bãi bỏ Tượng quận và chia quận này làm hai, sát nhập vào hai quận Uất Lâm và Tường Kha : "Mùa thu, bãì bỏ Tượng Quận, chia và sát nhập vào Uất Lâm, Tường Kha". Hai quận Uất Lâm và Tường Kha ở phía đông bắc tỉnh Quảng Tây và một phần của Tứ Xuyên, rất xa quận Nhật Nam, nên khó có thể nghĩ rằng Nhật Nam là Tượng Quận thời Tần. Vì thế người viết nhận thấy vấn đề về "Giao Chỉ và Tượng quận" bắt nguồn từ việc tham khảo sử liệu trong Hán Thư của Ban Cố. Bộ sử này; hai quyển 7 và 28 đã nêu lên mâu thuẫn về vấn đề Tượng Quận và Giao Chỉ. Vì chỗ toạ lạc của hai địa danh này ở quá xa nhau. Câu hỏi được đặt ra: - Tượng Quận thời Tần nằm ở đâu? Ở phía tây bắc Quảng Tây ngày nay; hay kéo dài xuống phía nam tới tận quận Nhật Nam, và bao gồm cả Giao Chỉ là nước Việt cổ ? - Giao Chỉ có bị quân Tần đánh và chiếm đóng không? Bởi vì nếu Giao Chỉ là Tượng Quận hay nằm trong Tượng Quận thì Giao Chỉ đã bị quân Tần đánh và chiếm đóng. Còn như nếu Giao Chỉ nằm ngoài Tượng Quận thì Giao Chỉ không bị quân Tần xâm lăng, vì chỉ có thể chiếm đóng sau khi đã thành công trong việc dùng võ lực để xâm lăng. Theo thiển ý, để hiểu rõ về một biến cố xảy ra, chúng ta cần ba yếu tố chính. Đó là nhân vật, thời gian và không gian (địa điểm). Các sử liệu đã đưa ra tên của nhân vật, thời gian, và địa điểm - nơi đã xảy ra những diễn biến này . Tuy nhiên tên những địa điểm nơi xảy ra biến cố đã bị biến đổi theo thời gian; cũng như qua các triều đại. Vì vậy, hậu thế rất khó có thể mường tượng được những nơi liên quan đến biến cố này nếu không có họa đồ để tham khảo.<br style="mso-special-character:line-break"> <br style="mso-special-character:line-break"> 1. "HanoConv1.0", "Hanosoft". Xin thành thật cám ơn các quý vị trong hội Hán Nôm đã thiết lập nên những nhu liệu này và cho phép xử dụng miễn phí. Không có các nhu liệu này thì bài viết này sẽ không thể hoàn tất!. 2. Trong ấn bản điện tử hiện đang lưu hành trên internet ghi là "Tượng Quận (Bách Việt)". Tuy nhiên người viết thấy trong bản chính (sách), ông Trần Trọng Kim viết là " Tượng Quận (Bắc Việ)t" . 3. Lưu An viết sách Hoài Nam Tử. Người viết sẽ viết thêm về nhân vật này trong phần sau của bài viết. 4. Nhiều sách viết là Dịch Hu Tống. Người viết sẽ dùng tên này. 5. Người viết mạn phép gọi là "thư tịch cổ" cho những tài liệu từ thời nhà Nguyễn trở về trước là những thư tịch viết bằng Hán tự. 6. Nguyễn Văn Siêu sinh năm Kỷ Mùi ( 1799), tự là Tốn Ban, hiệu là Phương Đình, người làng Lủ ( Kim Lũ), huyện Thanh Trì, Hà Nội. Văn nhân nổi tiếng cùng thời với Cao Bá Quát với câu đối khen tặng của vua Tự Đức: "Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán, Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường" Tùng: Tùng Thiện vương. Tuy: Tuy Lý Vương. 7. (2) ĐVSKTT : Đây viết là Lục Dương, cuối câu viết là Lục Lương . Sử Ký của Tư Mã Thiên trong “Nam Việt Úy Đà liệt truyện viết là Dương Việt. Cũng trong Sử Ký, phần Tần Thủy Hoàng bản kỷ viết là Lục Lương. Vậy theo thiển ý, tác giả ĐVSKTT gồm hai chữ Lục Lương và Dương Việt thành chữ Lục Dương ở đây. 8. Sử Ký của Đỗ Thiện được viết sau năm 1135, khoảng dưới triều Lý Anh Tông (1138-1175). 9. Quyển sử này được viết trước sách Đại Việt Sử Ký (1272) của Lê Văn Hưu. 10. Đại Việt Sử Ký (ĐVSK) của Lê Văn Hưu, gồm 30 quyển, hoàn tất năm 1272. 11. Đầu thời nhà Trần, người viết phỏng đoán là sách này được viết trong khoảng thời gian từ 1234 đến 1258. 12. Trang mở đầu của bộ ĐVSKTT : " ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ. Bản in Nội các quan bản. MỘC BẢN KHẮC NĂM CHÍNH HÒA THỨ 18 (1697). tập 1. Lời giới thiệu: Giáo sư Viện sĩ: Nguyễn Khánh Toàn. Khảo cứu về tác gỉa, văn bản và tác phẩm: Giáo sư Phan Huy Lê. Dịch và chú thích: Ngô Đức Thọ. Hiệu đính: Giáo sư Hà Văn Tấn. NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI, HÀ NỘI - 1998 13.http://www.chinaknow...phy/hanshu.html "Nhật Nam quận, cố Tần Tượng quận, Vũ Đế Nguyên Đỉnh lục niên khai, cánh danh . Hữu tiểu thuỷ thập lục, tịnh hành tam thiên nhất bách bát thập lí (3110 dặm). Thuộc Giao Châu" . 14. Hán Thư quyển thất. Thiệu Đế kỷ đệ thất : "thu , bãi Tượng quận, phân thuộc Uất Lâm, Tường Kha".Hán thư của Ban Cố, quyển 7 viết: "Thu , bãi Tượng Quận, phân thuộc Uất Lâm,Tường Kha bài 2: 4- Quân Tần mang quân đi đánh Bách Việt từ lúc nào? Sau khi gồm thâu sáu nước để thống nhất Trung Hoa năm 221BC, Tần Thủy hoàng muốn mở rộng đế quốc. Về hướng nam Trung Hoa, Thủy hoàng đã ra lệnh cho Đồ Thư mang quân đi chinh phục Lĩnh Nam. Như đã trích dẫn trong ĐVSKTT trong phần trên cùng với sách Sử Ký của Tư Mã Thiên, Tần Thủy Hoàng bản kỷ, dịch giả Nhữ Thành : “Năm thứ 33 (214TCN),Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh,những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương,lập thành Quế Lâm,Tượng Quận,Nam Hải cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ”(1). Qua đoạn sử liệu trên chúng ta chỉ biết là năm 214 TCN, nhà Tần coi như đã chiếm được một vùng đất ở Lĩnh Nam, đặt làm 3 quận. Tuy nhiên sử liệu này đã không nói là quân Tần bắt đầu mang quân vào Lĩnh Nam từ lúc nào. Để biết lúc nào quân Tần bắt đầu xâm lăng, “Nam Việt Úy Đà liệt truyện" (Sử Ký) viết: “...Vua Nam Việt họ Triệu tên là Đà người huyện Chân Định, trước làm quan úy. Bấy giờ nhà Tần đã chiếm cả thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận để đưa những người bị đày đến ở lẫn với người Việt. Như thế đã mười ba năm. Thời Tần, Đà được làm lệnh ở huyện Long Xuyên, thuộc quận Nam Hải”. Câu dịch “Như thế đã mười ba năm" rất khó hiểu, vì câu viết có tính cách tương đối, 13 năm so với thời điểm nào? Vì việc này, người viết xin trích dẫn sách Sử Ký với tam gia chú- quyển 113- Nam Việt Uý Đà liệt truyện: “Tập giải Từ Quảng viết :“Tần tịnh thiên hạ, chí Nhị Thế nguyên niên (209 TCN) thập tam niên. Tịnh thiên hạ bát tuế (8 năm), nãi bình Việt địa, chí Nhị Thế nguyên niên lục niên (214 TCN) nhĩ". Qua lời chú này, chúng ta thấy là khi nhà Tần chiếm xong 6 nước kể từ năm Nhị Thế nguyên niên (209 TCN) là 13 năm: 209 +(13-1)(2) = 221 TCN. Phù hợp với việc "biên niên" trong chính sử Trung Quốc. Nhà Tần “bình Việt địa" trong 8 năm, tới năm thứ sáu thời Nhị Thế là năm 214 TCN. Vậy nhà Tần bắt đầu chuẩn bị sự bành trường đế quốc nhà Tần là : 214 + (8 -1) = 221 TCN. Tuy nhiên người viết nhận thấy là khi vừa chiếm xong sáu nước, Thủy Hoàng đế phải có một thời gian để chuẩn bị quân đội, như việc "bắt lính" từ các nước vừa chiếm như “đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn" (ĐVSKTT) cũng như lương thực cho đạo quân nam chinh này. Vì thế, người viết nghĩ là một năm sau, đó là năm 220 TCN , thời điểm này quân Tần mới có đủ thời gian để mang quân đi xâm lăng Bách Việt 5- Địa điểm đóng quân của quân Tần Quân Tần đóng quân ở chỗ nào? Không thấy các bộ chính sử nói rõ về việc này, chỉ viết vắn tắt là Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư mang 500 ngàn quân vượt Ngũ Lĩnh (?) để xâm chiếm Lĩnh Nam (?). ĐVSKTT: “Đinh Hợi, năm thứ 44 [214 TCN], (Tần Thủy Hoàng năm thứ 33). Nhà Tần phát những người trốn tránh, người ở rể người đi buôn, ở các đạo ra làm binh, sai hiệu úy Đồ Thư đem quân lâu thuyền, sai Sử Lộc đào ngòi vận lương, đi sâu vào đất Lĩnh Nam, đánh lấy miền đất Lục Dương… ...đem những binh phải tội đồ 50 vạn người đến đóng đồn ở Ngũ Lĩnh”. a. Sách Hoài Nam Tử (3) Tuy nhiên có một tài liệu khá lý thú đã nói về nơi chốn quân Tần đồn trú, cũng như những biến cố trong chiến dịch này, dù rất sơ lược, nhưng rất là quý giá. Đó là sách Hoài Nam Tử của Lưu An, quyển 18, chương "Nhân Gian Huấn", có đoạn đã viết về việc này như sau (4): Kiến kỳ truyện viết: "Vong Tần giả, hồ dã ". Nhân phát tốt ngũ thập vạn, sử Mông công - Tương ông tử tướng, trúc tu thành, tây thuộc Lưu Sa, bắc kích Liêu thuỷ, đông kết Triều Tiên, Trung quốc nội quận vãn xa nhi hướng chi. Hựu lợi Việt chi tê giác - tượng xỉ -phỉ thuý - châu cơ, nãi sử uý Đồ Tuy (Nôm: Thư) phát tốt ngũ thập vạn, vi ngũ quân, nhất quân tái Đàm Thành chi lĩnh, nhất quân thủ Cửu Nghi chi tái, nhất quân xử (xứ) Phiên Ngu (Phiên Ngung) chi đô, nhất quân thủ Nam Dã chi giới, nhất quân kết Dư Can chi thuỷ, tam niên bất giải giáp trì nỗ. Sử Giám Lộc vô dĩ chuyển hướng, hựu dĩ tốt tạc cừ nhi thông lương đạo, dĩ dữ Việt nhân chiến, sát Tây Ẩu (Nôm: Âu) quân Dịch Hu Tống. Nhi Việt nhân giai nhập tùng bạc trung, dữ cầm thú xứ, mạc khẳng vi Tần lỗ. Tương trí kiệt tuấn dĩ vi tướng, nhi dạ công Tần nhân, đại phá chi, sát uý Đồ Tuy (Nôm: Thư), phục thi lưu huyết số thập vạn. Tạm dịch (5): ... Truyện xưa viết: "Nhà Tần vong, tại sao vậy". Nguyên nhân là sai Mông công (Mông Điềm) và Tương ông đưa 50 vạn quân xây trường thành. Phía tây thì chiếm Lưu Sa, phía bắc thì đánh Liêu, phía đông thì liên kết với Triều Tiên, các quận của Trung quốc phải kéo xe đi chinh chiến. Lại ham những món lợi như sừng tê giác, ngà voi, ngọc phỉ thúy, trân châu, nên sai quan úy là Đồ Thư mang 50 vạn quân, chia làm 5 đạo đi xâm chiếm (Bách Việt). Một đạo đóng ở Đàm Thành, một đạo phòng thủ ở Cửu Nghi là chỗ hiểm yếu, một đạo đóng ở Phiên Ngung làm đô thành, một đạo đóng ởNam Dã là nơi biên giới, một đạo đóng ỡ sông Dư Can. Ba năm quân không cởi giáp, lúc nào cũng phải mang theo cung nỏ. Sử Lộc (6) không tìm được hướng (để tiến quân), mới tuyển lính đào kinh để chuyển binh lương đánh người (Bách) Việt, giết vua Tây Âu là Dịch Hu Tống. Vì vậy người (Bách) Việt vào rừng rậm sống chung cùng muông thú, không chịu để quân Tần bắt làm tù binh. Ho kén chọn ngưòi tài trí và kiệt tuấn làm tướng, cứ đến đêm tối tấn công quân Tần, đạt được chiến thắng lớn, giết quan úy Đồ Thư, quân Tần chết cả chục vạn. Địa danh và sự việc đã được sách Hoài Nam Tử nói qua, những điều này, người viết xin lần lượt trình bày qua những tham khảo, suy luận cùng những phỏng đoán của cá nhân trong phần sau. Trước khi tìm hiểu về những địa danh và sự kiện được nêu lên trong tài liệu này, người viết xin nói sơ lược về tiểu sử tác giả sách Hoài Nam Tử, hầu chúng ta có thể biết thêm về thời điểm lúc quyển sách này ra đời. Tác giả sách Hoài Nam Tử là Hoài Nam Vương Lưu An, ông là cháu của Hán Cao Tổ Lưu Bang (gọi Lưu Bang bằng ông), con của Lưu Trường, em họ (?) của Hán Cảnh Đế Lưu Khải (156 TCN – 141 TCN) và là chú họ (?) của Hán Vũ Đế Lưu Triệt (140 TCN – 87 TCN). Được phong làm Hoài Nam Vương ở vùng sông Hoài (7) (tỉnh An Huy ngày nay). Ông sinh năm 179 TCN, ông tự sát năm 122 TCN (hay 123 TCN?) vì có ý định mưu phản Hán Vũ đế, nhưng sự việc bị tiết lộ. Lưu An là người đã dâng biểu can Hán Vũ đế về việc nhà Hán định đánh Mân Việt khi Triệu Văn Vương của nước Nam Việt là Triệu Hồ (con Trọng Thủy, cháu Triệu Đà) trình cho Hán Vũ đế biết việc Mân Việt mang quân đánh Nam Việt (135 TCN). Sách Hoài Nam Tử là bộ sách của Đạo gia, được viết bởi tám học giả ở vùng Hoài Nam gọi là Hoài Nam bát tiên, dưới sự chỉ đạo của Hoài Nam Vương Lưu An. Sách này được trình cho Hán Vũ Đế xem năm 139 TCN. Sách này ra đời trước cả bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên (145 TCN - 93 TCN, đây là bộ chính sử sớm nhất của Trung quốc, hoàn tất năm 97 TCN). Nhà Tần đặt Lĩnh Nam thành quận huyện năm 214 TCN, sách Hoài Nam Tử hoàn tất năm 139 TCN, được viết sau biến cố này 75 năm, tương đối khá ngắn so với chiều dài của lịch sử, nên người viết nhận thấy sự khả tín khá cao, hơn nữa có lẽ đây là sách duy nhất nói về việc này còn lưu truyền. Vì thế sự tìm hiểu về việc tiến quân của quân Tần được đặt căn bản theo đoạn văn đã trích dẫn ở trên của sách Hoài Nam Tử. Qua sử liệu, chúng ta biết quân Tần vượt Ngũ Lĩnh để xâm chiếm Lĩnh Nam. Câu hỏi được đặt ra là Ngũ Lĩnh và Lĩnh Nam ở đâu so với địa danh ngày nay. b. Ngũ Lĩnh và Lĩnh Nam Bản đồ số 1 - Ngũ Lĩnh (ngày nay là Nam Lĩnh) Bản đồ số 2- Ngũ Lĩnh-chi tiết Ngũ Lĩnh Là rặng Nam Lĩnh ngày nay, gồm 5 rặng núi nằm kế nhau theo hướng đông bắc, từ phía tây qua đông theo thứ tự như sau: Việt Thành lĩnh (Yuechengling ) Đô Bàng lĩnh (Dupangling ) Minh Chử lĩnh (Mengzhuling ) Kỵ Điền lĩnh (Qitianling ) Đại Du (Dữu) lĩnh (Dayuling ) Rặng Ngũ Lĩnh kéo dài từ phía bắc tỉnh Quảng Tây sang đến một phần phía bắc tỉnh Quảng Đông. Ngũ Lĩnh phân chia ranh giới các tỉnh Hồ Nam - Quảng Tây, Hồ Nam - Giang Tây - Quảng Đông, thành hai vùng địa lý khác biệt. Phía bắc Ngũ Lĩnh, tỉnh Hồ Nam có sông Tương theo hướng nam- bắc chảy vào hồ Động Đình và sông Dương Tử. Sông Cám (hay Cống giang) cũng theo hướng nam - bắc chảy vào hồ Bá Dương. Phía nam, ở tỉnh Quảng Tây có sông Li theo hướng bắc - nam chảy vào sông Chu. Quảng Đông có sông Bắc cũng theo hướng bắc – nam chảy vào sông Tây (Tây giang). Rặng Ngũ lĩnh không cao, trung bình từ 1000 tới 1500 mét (khoảng 3300 tới 5000 feet). Tuy nhiên rất hiểm trở và khó vượt qua bằng đường bộ. Những quan ải tại Ngũ Lĩnh: Sử Ký, Nam Việt Úy Đà liệt truyện: " (Nhâm) Ngao chết, Đà lập tức truyền hịch bảo các cửa quan Hoành Phố, Dương Sơn, Hoàng Khê rằng: Quân giặc sắp đến, phải chặn ngay đường, tụ tập quân sĩ để tự bảo vệ". Hoành Phổ quan, là Mai quan ngày nay (Meiguan) (8). Đây là một cửa ải quan trọng bậc nhất trên rặng Ngũ Lĩnh từ Hoa hạ đến Lĩnh Nam. Ngày nay tại đây vẫn còn một thị xã nhỏ sát ranh giới Giang Tây và Quảng Đông mang tên này. Từ Mai quan tới thị xã Nam Hùng tỉnh Quảng Đông khoảng 30 km ( 19 dặm). Thời Tần có tên là Hoành Phổ quan, cửa quan này nằm trên Đại Du (Dữu) lĩnh là một trong Ngũ Lĩnh, rất hiểm trở khó qua lại. Thời Đường gọi là Tần quan. Năm 716, Tể tướng Trương Cửu Linh (9) mở rộng thêm bằng cách đục đá xuyên qua núi bên dưới lối đi cũ để bớt độ dốc và lát gạch cho dễ qua lại. Phía bắc cửa ải có khắc hàng chữ "Nam Việt Hùng quan", phía nam có khắc hàng chữ "Lĩnh Nam Đệ Nhất quan". Dương Sơn quan (10) ở phía đông nam Kỵ Điền lĩnh, gần Liên giang ( Lian jiang). Ngày nay thuộc huyện Dương Sơn (Yangshan), Thanh Viễn thị, góc tây bắc tỉnh Quảng Đông. Hoàng Khê quan ở phía nam Kỵ Điền lĩnh, gần núi Hoạt Thạch, chỗ 3 con sông hợp lại là Bắc Giang (Beijiang), Liên giang ( Lianjiang) và Ống giang (Wengjiang) . Ngày nay thuộc huyện Anh Đức (Yingde), Thanh Viễn thị (Qingyuan), phía bắc đô thị Quảng Châu. Ngoài những ải trên được ghi lại trong Sử Ký, còn có Ly Thủy quan là chỗ Sử Lộc đào kinh Linh Cừ thông thủy đạo từ Tương giang nối với Ly giang để chuyển lương trong chiến dịch xâm chiếm Lĩnh Nam. Lĩnh Nam. Địa thế: Lĩnh Nam là vùng đất phía nam của rặng Ngũ Lĩnh. Tuỳ theo sự giải đoán của từng người hay nói chung là tùy theo quan niệm của từng dân tộc. Người Trung Quốc gọi vùng Lĩnh Nam là đất của người Bách Việt gồm Quảng Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến và phía nam của Chiết Giang (vùng đất của các nước cổ thời là Mân Việt và Đông Việt). Người Việt Nam gọi Lĩnh Nam là vùng đất gồm Quảng Tây, Quảng Đông và Cổ Việt là Bắc Việt ngày nay, vì trong cổ sử của nước Việt nói về cuộc khởi nghĩa của Hai bà Trưng như sau: ĐVSKTT:" Sử thần Ngô Sĩ Liên nói:... Cho nên Trưng Nữ Vương tuy đánh lấy được đất Lĩnh Nam, nhưng không giữ được nơi hiểm yếu ở Ngũ Lĩnh, rốt cuộc đến bại vong" cũng như truyện "Lĩnh Nam Chích Quái"của Trần Thế Pháp. Trong khi đó học giả Tây Phương (11) nói Lĩnh Nam chỉ gồm có hai tỉnh là Quảng Tây và Quảng Đông. Tuy nhiên, nếu hiểu một cách phổ quát thì Lĩnh Nam là vùng đất phía nam của Ngũ Lĩnh, gồm Quảng Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến, đảo Hải nam, phía nam Chiết Giang và Bắc Việt Nam ngày nay. Vùng đất có các sắc dân không thuộc Hán tộc, khác hẳn về ngôn ngữ, phong tục và văn hoá với dân vùng Hoa Bắc và Hoa Nam thời cổ. Phía tây Lĩnh Nam là vùng cao nguyên của hai tỉnh Vân Nam và Quý Châu, cũng là phía tây của tỉnh Quảng Tây với rặng Ô Mông sơn (Wumeng shan) và Lục Chiếu sơn (Liuzhao shan (sát với biên giới Việt Nam- Vân Nam và Quảng Tây). Đây là những rặng núi tương đối khá cao để có thể phân biệt về ranh giới thời cổ. Phía đông bắc Lĩnh Nam là các rặng núi Vũ Di sơn, Tải Vân Sơn và Liên Hoa Sơn, phân chia hai vùng Lĩnh Nam và Dương Việt (huyện Mân Trung thời Tần). Phía đông và phía nam của Lĩnh Nam giáp biển Nam Hải. Vùng Lĩnh Nam có sông lớn thứ 3 của Trung Quốc là Tây Giang sau Hoàng Hà và Dương Tử (Trường giang), Đây là thủy đạo chính của vùng Lĩnh Nam. Sông này tùy từng đoạn đã được đặt bằng những tên khác nhau. Các đoạn sông này nối tiếp với nhau từ tây qua đông theo thứ tự sau: Nam Bàn giang (tên cổ thời là sông Tường Kha) - Hồng Thủy hà, Tây giang và Chu giang là đoạn nối với biển Nam Hải. Sông Tây giang có những chi lưu chính ở phía bắc như Bắc Bàn giang, Liêu giang, Li giang, Bắc giang và Đông giang. Những chi lưu ở phía nam như Hữu giang và Tả giang (phát nguyện từ bắc Việt Nam) hợp lại là Uất giang, chảy vào Tây giang. Khí hậu Lĩnh Nam khác hẳn với khí hậu Hoa hạ. Phía bắc Ngũ Lĩnh lạnh và khô, nhiều khi mùa đông có tuyết, nhưng phía nam Ngũ Lĩnh – Lĩnh Nam- thì ấm áp quanh năm, đây là vùng khí hậu nhiệt đới. Nhiệt độ thay đổi từ 10°C (tháng 11, 12, 1, 2) đến 30°C (tháng 5, 6, 7, 8). Thời gian trồng cấy từ 250 đến 320 ngày trong một năm ( nhiệt độ tối thiểu để có thể cấy lúa là 10°C). Lĩnh Nam có nhiều mưa, tháng 5, 6, 7, 8 là mùa mưa, cao điểm là tháng 6, vũ lượng lên tới 25cm (10 inches). Vũ lượng cho cả năm khá cao, 170 cm (67 inches) tại Quảng Châu, 200 cm (80 inches) tại Hồng Kông, 180 cm (71 inches) tại Hà Nội. Lịch sử: Trước khi quân Tần theo lệnh của Tần Thủy Hoàng đi mở rộng đế quốc nhà Tần về phía nam, Lĩnh Nam không có những liên hệ nào đáng kể với vùng Hoa Hạ, ngoại trừ những việc giao thương rất lẻ tẻ qua những vùng có thể đi bằng đường bộ (12). Sự qua lại cực kỳ chật vật vì phải vượt qua những đường đèo hiểm trở tại rặng Ngũ Lĩnh. Văn hoá của Trung Quốc chưa xâm nhập vào vùng Lĩnh Nam. Về phía đông bắc, sau khi nước Sở và Tề xâu xé nước Việt của Câu Tiễn (13) năm 333 TCN, hậu duệ của vua Việt và một số dân Việt chạy về phía nam là hai tỉnh Chiết Giang và Phúc Kiến. Tại đây hai nước nhỏ được lập nên là Đông Việt và Mân Việt, vùng này được gọi chung là Dương Việt. Phía tây bắc của Lĩnh Nam có nước Dạ Lang thuộc tỉnh Quý Châu, phía tây Lĩnh Nam có nước Điền ở vùng hồ Điền Trì sát đô thị Côn Minh, tỉnh Vân Nam ngày nay. Mới đây các nhà khảo cổ đã khai quật được 118 di chỉ của nước Điền, từ những di chỉ này, chúng ta biết dân nước Điền rất điêu luyện về cách đúc đồng thau (bronze) (14) lúc cổ thời. Tại trung tâm của Lĩnh Nam có nước Tây Âu là một nước khá lớn, nước này đã chống trả lại đội quân nam chinh của Tần Thủy Hoàng một cách kịch liệt. Phía cực nam của Ngũ Lĩnh là nước Âu Lạc tức là Giao Chỉ hay nước Việt Nam thời cổ. Các sắc tộc: Lĩnh Nam (Quảng Đông, Quảng Tây và cổ Việt) gồm nhiều sắc tộc, người Hán gọi chung là người Bách Việt, gồm nhiều bộ tộc đã định cư ở đây từ lâu đời. Cổ thời, trước khi nhà Tần mang quân xâm chiếm, Lĩnh Nam có hai sắc tộc chính thuộc chủng tộc Thái là Tráng (15) (Zhuang) ở vùng Quảng Tây và Quảng Đông, Lê (16) (Li) ở vùng bán đảo Lôi Châu (Leizhou) và ven đảo Hải Nam (17). Xa về phía nam là chủng tộc Lạc Việt tại vùng Âu Lạc. Sau này lại có các sắc tộc thiểu số khác di dân đến đây sinh sống như người H’Mông(18), người Dư (19), Di tộc (Lô Lô) (20), người Dao (21) v.v… Dân số Lĩnh Nam: Theo như Hán Thư, Điạ Lý chí của Ban Cố thì các quận Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, cộng lại được 215,448 nhà, và số nhân khẩu là 1,272,390 (22) người. Đây là dân số Lĩnh Nam theo thống kê thời Tiền Hán (206 TCN – 9 ). Nước cổ Việt (Âu Lạc) gồm ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam tổng cộng là 143643 nhà và 981,835 người. Vùng Quảng Tây và Quảng Đông gồm 4 quận Nam Hải, Hợp Phố, Thương Ngô và Uất Lâm là 71,805 nhà và 390,555 người. Tỷ lệ dân số cổ Việt nhiều hơn 2.5 lần so với dân số hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây Tuy nhiên, không phải tất cả dân chúng tham gia kiểm kê, nên người viết phỏng đoán là dân số Lĩnh Nam ở đầu thế kỷ thứ nhất có khoảng 2 triệu người. Ngược lại 2 thế kỷ, trước khi nhà Tần sang xâm chiếm, người viết phỏng đoán dân số tại Lĩnh Nam có khoảng 1.5 triệu người: 500 ngàn tại vùng Quảng Tây và Quảng Đông (23), 1 triệu người tại cổ Việt. c. Những địa điểm đóng quân Sau vài nét đại cương về Ngũ Lĩnh và Lĩnh Nam, người viết xin trình bày từng địa điểm đồn trú của quân Tần, mà sách Hoài Nam Tử đã viết. Những vị trí này được truy tầm qua các tài liệu cổ của Trung Quốc như: Sử Ký, (Tiền) Hán thư, Hậu Hán thư, Tấn thư, Thủy Kinh chú, Thủy Kinh chú sớ, cùng với bản đồ của Trung Quốc và các phương tiện truyền thông tinh vi ngày nay như "Internet và ""Google Earth". Sau đó sẽ phỏng đoán đường hành quân đặt căn bản qua các tài liệu trên, để chúng ta có một khái niệm tổng quát về chiến dịch xâm lăng Bách Việt của quân Tần. Đàm Thành Theo Hậu Hán thư của Phạm Việp, "Chí đệ thập nhị", "Quận quốc tứ" (24) thì Đàm Thành là một huyện của quận Vũ Lăng thời Hán (quận Kiềm Trungthời Tần). Thời Hậu Hán, Hán Quang Vũ chia quận này ra làm 6 huyện. Đàm Thành là một trong 6 huyện, tọa lạc tại phía tây nam của quận Vũ Lăng. Sách Thủy Kinh chú (bản dịch trong "Thủy Kinh Chú Sớ" của ông Nguyễn Bá Mão, quyển 37, trang 483): "Sông Ngân Thủy ra từ khe Nguyên Thủy ở biên giới phía bắc huyện Tầm Thành (25) (nv: Đàm Thành, xin coi ghi chú) quận Vũ Lăng". Quận Vũ Lăng, theo Hán Thư của Ban Cố, "Địa lý chí", quyển 28 hạ (26), thì Vũ Lăng là một trong các quận của nước Sở ngày trước. Theo như bản đồ ngày nay thì quận lỵ của Vũ Lăng là Hoài Hoá thị ở phía tây tỉnh Hồ Nam của Trung Quốc, phía nam rặng núi Vũ Lăng. Hoài Hoá thị có sông khá lớn là Nguyên giang (27) chảy qua. Sông này bắt nguồn từ ranh giới Quý Châu, Quảng Tây và Hồ Nam, chảy về hướng đông-bắc đổ nước vào vùng hồ Động Đình. Đàm Thành toạ lạc tại Tịnh huyện (Tịnh châu Miêu tộc đồng tộc tự trị huyện), thuộc Hoài Hóa thị (Huaihua), phía tây nam tỉnh Hồ Nam, là một trong 12 thành của quận Vũ Lăng thời Hán (quận Kiềm Trung thời Tần). Người viết phỏng đoán thành này nằm trên bờ sông Nguyên, là thị trấn Tịnh Châu (Jing Zhou) của tỉnh Hồ Nam ngày nay. Vì đây là một vùng phẳng duy nhất để có thể đủ chỗ cho 100 ngàn quân trú đóng và tiện việc vận chuyển quân lương bằng đường thủy. Bản đồ số 3 - 3 trong 5 địa điểm đồn trú của quân Tần: Đàm Thành, Cửu Nghi, Nam Dã Cửu Nghi Theo Hậu Hán thư của Phạm Việp, "Chí đệ thập nhị", "Quận quốc tứ" (28) thì Cửu Nghi là một vùng núi ở quận Linh Lăng. Sách Thủy Kinh chú (bản dịch trong "Thủy Kinh Chú Sớ" của ông Nguyễn Bá Mão, quyển 38, trang 519) (29): “… Lại chảy về phía đông bắc, qua phía tây huyện Tuyền Lăng.Sông Doanh Thủy ra từ núi Lưu Sơn ở phía nam huyện Linh Đạo quận Doang Dương, chảy về phía tây đi qua dưới núi Cửu Nghi, chân núi uốn khúc khắp đồng Thương Ngô, ngọn núi mọc cao vút trong khoảng mấy quận. Núi bày ra chín ngọn, một ngọn dẫn một con suối, núi khe hiểm trở, núi tuy khác nhau, nhưng hình thế giống nhau, làm cho du khách nghi hoặc, cho nên gọi là núi Cửu Nghi ”. Cửu Nghi Sơn: địa danh này ngày nay vẫn còn. Tọa lạc Vĩnh Châu thị (Yongzhou), cách huyện Ninh Viễn (Ningyuan) khoảng 15 km (chừng 10 miles) về phía nam, nằm gần cực nam tỉnh Hồ Nam, một trong những núi thuộc Minh Chử lĩnh (sát ranh giới Hồ Nam - Quảng Đông). Đỉnh cao nhất là núi Phấn Cơ (Fenji -1959m). Phía bắc chân núi này vẫn còn một thị xã nhỏ có tên là Cửu Nghi. Phía đông núi Cửu Nghi có sông Xuân Lăng, sông này thông với Tương giang ở phía bắc tại thị trấn Hành Dương (Hengyang-tỉnh lớn thứ nhì của tỉnh Hồ Nam sau Trường Sa). Bên bờ sông Xuân Lăng ngày nay có thị trấn Lam Sơn (Lanshan) tương đối khá phẳng Người viết phỏng đoán là một đạo quân Tần đã đóng ở đây để tìm cách vượt Ngũ Lĩnh. Phiên Ngung Bản đồ số 4 - 1 trong 5 địa điểm đồn trú của quân Tần: Phiên Ngung Điạ danh này đã được nói tới trong Sử Ký của Tư Mã Thiên - "NamViệt Úy Đà liệt truyện" ba lần. Đây là kinh đô của nưóc Nam Việt thời Triệu Đà. Khi quân nhà Hán mang quân sang đánh Nam Việt (thời Triệu Ai vương là vua chót của nhà Triệu -112 TCN). Sử Ký, bản dịch của Nhữ Thành : " Sau quân Việt mở thẳng đường, mang lương thực người Việt đem quân đánh bọn Thiên Thu, diệt được họ cách Phiên Ngung bốn mươi dặm,...Năm thứ năm niên hiệu Nguyễn Đỉnh (năm 112 trước Công nguyên.....đưa quân từ đất Dạ Lang xuống đường sông Tường Kha. Các quân ấy đều gặp nhau ở Phiên Ngung.....Năm thứ sáu niên hiệu Nguyễn Đỉnh (năm 111 trước Công nguyên), mùa đông..... Phục Ba cùng quân của Lâu thuyền họp lại mới có được hơn nghìn người, bèn cùng tiến. Quân của Lâu thuyền đi trước đến Phiên Ngung, Kiến Đức cùng Gia đều giữ thành. Tuy nhiên, trong các cổ sử của Trung Quốc, nếu phiên dịch ra Hán Nôm thì đều gọi là Phiên Ngu. Như đã trích dẫn trong sách Sử Ký, quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận được thành lập thời Tần. Sau khi Hán Vũ đế chiếm Nam Việt (111 TCN), đặt Nam Hải là một quận của Giao châu. Hán thư của Ban Cố viết: Nam Hải là một trong 7 quận thời Tiền Hán (30) thuộc Giao châu, đất của Triệu Đà, Phiên Ngung là thủ đô. Giao châu gồm các quận: Thương Ngô - Uất lâm - Hợp Phố - Giao Chỉ - Cửu Chân - Nam Hải - Nhật Nam. Nam Hải là đất của người (Bách)Việt. Sau đó (cũng năm 111 TCN) đã đặt thêm hai quận là Đam Nhĩ và Chu Nhai (31) ở đảo Hải Nam. Hậu Hán thư của Phạm Việp viết là Phiên Ngung thuộc quận Nam Hải (32), là một trong những quận thuộc Giao châu thời Hán Theo Tấn thư, Phiên Ngung (Ngu) là một trong 6 huyện của quận Nam Hải. Quận Nam Hải gồm có Phiên Ngung, Tứ Hội, Tăng Thành, Bác La, Long Xuyên và Bình Di (33). Qua những trích dẫn trên, chúng ta biết là Phiên Ngung nằm ở thị trấn Quảng Châu thuộc tỉnh Quảng Đông ngày nay, tại đây đã tìm được mộ phần của Nam Việt Văn Vương Triệu Hồ (137 TCN -125 TCN). Phiên Ngung (Ngu) ngày nay vẫn còn tên và là một chi khu trong đô thị Quảng Châu. Nếu tra cứu trong bản đồ thì Phiên Ngung ( Panyu) là một trong 12 đơn vị hành chính của tỉnh Quảng Châu, phía đông nam, kế cận với xa lộ vòng quanh đô thị này. Một trong 5 đạo quân Tần (mà người viết phỏng đoán là dưới sự lãnh đạo của Nhâm Ngao) đã vượt Ngũ Lĩnh đến đây chiếm đóng. Đạo quân không gặp sức kháng cự nào đáng kể của dân Bách Việt. Nam Dã Hậu Hán thư của Phạm Việp, "Chí đệ thập nhị", "Quận quốc tứ" viết (34): Nam Dã là một huyện của quận Dự Chương. Huyện này được đặt ra từ thời Cao đế nhà Tiền Hán (Hán Cao Tổ Lưu Bang, 206 TCN - 195 TCN). Quận Dự Chương có những huyện : Nam Xương, Kiến Thành, Tân can, Nghi Xuân, Lư Lăng, Cám (hay Cống), Vu Đô, Nam Dã, Nam Thành, Bá Dương, Lịch Lăng, Dư Hãn, Bành Trạch, Bành Lãi, Thạch Dương, Lâm Nhữ, Kiến Xương, Sài Tang, Ngải, Hải Hôn hầu quốc, Bình Đô hầu quốc. Tấn thư viết Nam Dã là một huyện của quận Lư Lăng. Quận này do nhà Ngô dựng lên thời Tam Quốc (35) (220 - 280) Sách Thủy Kinh chú (bản dịch trong "Thủy Kinh Chú Sớ" của ông Nguyễn Bá Mão, quyển 39, trang 655) (36): " Sông Cống (Cám ) Thũy ra từ phía tây huyện Nam Dã quận Dự Chương, chảy về phía bắc qua phía đông huyện Cống. Ban Cố gọi là huyện Nam Dã, nơi sông Bành Thủy chảy ra, chảy vào phía đông vào sông Hồ Hán.....Lưu Trừng Chi nói:... Sông Dự Chương dẫn nguồn chảy về phía đông bắc, đi qua phía bắc huyện Nam Dã". Sông Dự Chương mà Ban Cố viết là Cám (Cống) giang ngày nay. Huyện Nam Dã quận Dự Chương thời Tần ở về phía cực nam tỉnh Giang Tây, thuộc Tráng (Cám) Châu thị ( Ganzhou shi), thị trấn Tráng (Cám) Châu, phía đông bắc của Mai quan (thời Tần là Hoành Phổ quan) thuộc Dại Du lĩnh, tọa lạc trên bờ đông nam của Cám (Cống) giang. Sông này là thủy lộ chính theo hướng bắc-nam của tỉnh Giang Tây. Một đạo quân khác đến đồn trú tại Nam Dã, sau khi đạo quân trước đã tiến vào Lĩnh Nam và chiếm đóng Phiên Ngung. Dư Can Bản đồ số 5 - 1 trong 5 địa điểm đồn trú của quân Tần: Dư Can Trước khi tìm hiểu về vị trí của địa danh này, người viết xin trình bày một vấn đề về từ ngữ có liên quan đến chữ "can", vì chữ này đã gây trở ngại rất nhiều cho người viết trong việc tra cứu. 餘干 phiên dịch là "Dư Can", bản sao lại là chữ Hán phồn thể, nên chỉ có thể dịch là "Dư Can". Nếu chữ 干 là giản thể thì có thể dịch là "Dư Can" hay "Dư Hãn". Nếu chữ 干 thêm bộ "thủy" thành chữ 汗 thì có thể phiên dịch chữ Hán phồn thể là "can" hay "hãn" Các bộ cổ sử như Hậu Hán thư, Tấn thư viết là : 餘 汗, có thể phiên dịch là "Dư Can" hay "Dư Hãn". Dù cổ sử được viết như thế, nhưng người viết không thể phỏng đoán một cách vô căn cứ là sách Hoài Nam Tử viết chữ "can" thiếu bộ "thủy", để có thể đọc là "hãn" cho phù hợp với cổ sử. Trở ngại này do khả năng Hán học của người viết quá thô thiển. Sự tra cứu tưởng như phải ngưng ở đây vì chữ "can", vì người viết nghi ngờ chữ "can" có thể phiên dịch là "can, hãn", vì nghĩ là đã bị ghi sai khi chuyển lên ấn bản điện tử. May mắn thay! Sự việc đã không như thế, sách "Thủy Kinh Chú sớ" của hai học giả Dương Thủ Kính và Hùng Hội Trinh (37) đã giải thích về chữ “can” và “hãn” khá rõ ràng như sau: Bản dịch : Nguyễn Bá Mão dịch từ "Thủy Kinh Chú Sớ", (quyển 33 đến quyển 40). Trang 684: "Sông Cống Thủy lại chảy về phía bắc, đi qua huyện Nghiêu Dương (38), Thủ Kính chú: thời Hán, huyện thuộc quận Dự Chương, thời Hậu Hán y theo, thời Ngô thuộc quận Bà Dương, thời Tấn y theo, thời Tống bớt. Huyện ở phía tây bắc huyện Bà Dương ngày nay 120 dặm(39), là huyện Dự Chương thời Vương Mãng. Có sông Dư Thủy chảy vào. Sông Dư Thủy ra về phía đông ở huyện Dư Hãn, thời Vương Mãng gọi là Trị Can. Sông Dư Thủy chảy về phía bắc đến huyện Nghiêu Dương chảy vào sông Cống Thủy. Thủ Kính chú: "Hán chí", "Tấn chí" viết chữ "hãn" là "mồ hôi", "Tống chí" và "Tề chí" viết chữ "can" là "liên can". Thời Hán, huyện Dư Hãn thuộc quận Dự Chương, thời Hậu Hán y theo, thời Ngô thuộc là quận Bà Dương, các thời Tấn, Tống, Tề, Lương y theo. Huyện ở phía đông bắc huyện Dư Can ngày nay". Vậy nếu theo như giải thích của học giả Dương Thủ Kính thì chữ "Dư Hãn" trong "Hán Chí" (Hậu Hán thư, Chí) và "Tấn chí" (Tấn thư, Chí) cũng là chữ "Dư Can" như trong sách Hoài Nam Tử, nhưng đã bị thay đổi theo thời gian. Vậy cũng có thể hiểu "Dư Can" thời Tần cũng là "Dư Hãn" thời Hán; như đã viết trong sách Hoài Nam Tử. Hậu Hán thư của Phạm Việp, "Chí đệ thập nhị", "Quận quốc tứ" viết Dư Hãn là một huyện của quân Dự Chương (xin đọc trong trích dẫn nói về huyện Nam Dã). Tấn Thư viết Dư Hãn là một huyện của quận Bá (Bà) Dương (Poyang) thời Ngô (40) Qua những trích dẫn trên, ta có thể biết được là “Dư Can” trong sách Hoài Nam Tử tọa lại tại huyện Dư Can tỉnh Giang Tây ngày nay. Huyện lỵ là thị xã Dư Can ở sát phía bắc của sông Tín (Xin jiang ). Dư Can thủy Địa danh Dư Can đã được biết qua dẫn chứng trên, tuy nhiên vị trí sông Dư Can vẫn chưa biết rõ. Qua câu phiên dịch sách “Thủy Kinh Chú sớ” : “Sông Dư Thủy ra về phía đông ở huyện Dư Hãn” (Thuỷ đông xuất Dư Hãn huyện). Ta có thể biết rằng sông Dư Thủy nói ở đây là sông Dư Hãn, cũng là Tín giang (Xin jiang ) ngày nay. Sông này bắt nguồn từ rặng Vũ Di sơn (Wuyi shan) chảy về phía tây, hợp với một nhánh của sông Cám đổ vào hệ thống sông ngòi phức tạp quanh vùng hồ Bá Dương. Một đạo quân Tần đã dùng thủy đạo đến đóng tại thượng lưu Dư Hãn thủy (Tín giang), gần ranh giới phía đông bắc tỉnh Giang Tây và tây bắc tỉnh Phúc Kiến, để chuẩn bị vượt Vũ Di Sơn tiến vào Mân Việt. Người viết phỏng đoán quân Tần đã đóng gần thị xã Ưng Đàm ( Yingtan) ngày nay, vì tại đây có đường xe lửa cũng như xa lộ băng qua Vũ Di Sơn tới Nam Bình (Nanping) và Phúc Châu ( Fuzhou) tỉnh Phúc Kiến (Mân Việt thời Tần) là hai thị trấn lớn. Điều này ám chỉ là ngày xưa có thể có đường bộ băng qua vùng núi này. Hơn nữa khi vừa băng qua Vũ Di sơn là có sông Phú Đồn ( nối với sông Mân. Đây là thủy lộ thuận tiện nối Nam Bình với Phú Châu). Vậy là chúng ta đã biết được 5 địa điểm đóng quân của 500 ngàn quân Tần trong chiến dịch xâm lăng Bách Việt. Những địa điểm này được ghi lại trong bản đồ đính kèm dưới đây: Bản đồ số 6 - 5 địa điểm đồn trú của quân Tần (tổng quát) Bản đồ số 7 - 5 địa điểm đồn trú của quân Tần (1) Phiên âm Hán Nôm: “Tam thập tam niên , phát chư thường bô vong nhân, chuế tế, cổ (giả) nhân lược thủ Lục Lương địa , vi Quế Lâm,Tượng quận, Nam Hải , dĩ thích khiển thú”. (2)" 209 +(13-1) = 221 TCN" : năm thứ 1là 209 TCN, đếm thêm 12 (thứ 13) là 221 TCN (3) Độc giả có thể sao lại nguyên bản bằng chữ Hán tại: http://www.geocities.../HuaiNanZi.html (4) Nguyên bản: (5) Đương nhiên là người viết có thể có những thiếu sót và sai lầm trong đoạn phiên dịch này, xin các bậc tinh thông Hán học chỉ bảo. (6) Người viết dùng tên Sử Lộc như trong sách "Việt Sử Toàn Thư ", của sử gia Phạm Văn Sơn, trang 56 (7) Lưu An được phong Hoài Nam Vương (164BC) . Ông không nhập bọn theo "loạn 7 nước năm 154 TCN" thời Hán Cảnh Đế, nên được triệu về Trường An để tham chính . Nguồn: Hán Thư của Ban Cố quyển 44, " Hoài Nam Hành Sơn Tế Bắc vương liệt truyện" (8) Tham khảo từ sách "Tigers, Rice, Silk & Silt" của Robert B. Marks, trang 21-24, và trong http://en.wikipedia.org/wiki/Mei_Pass (9) Trương Cửu Linh (Zhang Jiuling 678-740, thời Đường Huyền Tông 712-756). Ông này quê ở Thiều Quan (Shaoguan), phiá tây nam Mai quan, nên hăng hái mở đường thông thương giũa Hoa Hạ và Lĩnh nam (10)Sử Ký: Tam gia chú Dương Sơn, Linh Tác ẩn diêu thị án :Địa Lý chí vân Yết Dương hữu Dương Sơn huyện . Kim thử huyện thượng lưu bách dư lý hữu Kỵ Điền lĩnh , đương thị Dương Sơn quan . (11) Robert B. Marks: "Tigers, Rice, Silk & Silt- Environment and Economy in Late Imperial South China", Cambridge University Press, 1998 (12) Hidden Trade Routes of The South : http://www.uglychine.../vietnamese.htm (13)Lúc này vua nước Việt là Việt Vương Vô Cương 337 TCN-333 TCN (14) Độc giả có thể xem những di chỉ này tại: http://news.gov.hk/e...109en20004.htm# (15) Ngày nay, Quảng Tây là Tráng tộc tự trị khu (Guangxi Zhuang Autonomous Region). Tổng số dân tộc Tráng khoảng 18 triệu người. (16) Lê tộc ngày nay có khoảng 1.3 triệu người, hầu hết định cư tại đảo Hải nam (17) Robert B. Marks: "Tigers, Rice, Silk & Silt- Environment and Economy in Late Imperial South China", Cambridge University Press, 1998, trang 54. (18) H’Mong ( Miao), tên cũ để gọi dân tộc thời xưa là Miêu tộc, tiếng Việt gọi là người Mèo. Đây là một sắc tộc rất lớn, dân số lên tới 7.5 triệu người. Dân tộc H’Mông định cư tại các tỉnh của Trung Quốc như Quý Châu, Quảng Tây, Vân Nam, Hồ Nam, Tứ Xuyên, Hải Nam. Tại Việt Nam có khoảng có khoảng 800 ngàn người. Tại Hoa Kỳ có khoảng 275 ngàn người. (19) Dư tộc (She) khoảng trên 600 ngàn người, định cư tại các tỉnh Phúc Kiến, Chiết Giang, Giang Tây và Quảng Đông (20) Di tộc ( Yi ) tiếng Việt gọi sắc tộc này là Lô Lô. Đây là sắc tộc lớn khoảng 6.5 triệu người, định cư tại các tỉnh Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc. Việt Nam có khoảng hơn 3 ngàn người Lô Lô tại các tỉnh Hà Giang, Lào Cai và Cao Bằng. (21) Người Dao (Yao) khoảng tr ên 2 triệu người, định cư tại các tỉnh Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, Quảng Tây và Quảng Đông của Trung Quốc. Vi ệt Nam có khoảng nửa triệu người Dao. (22) Quận Nam Hải: 19613 nhà, 94253 người. Quận Uất Lâm: 12415 nhà, 71162 người. Quận Thương Ngô: 24379 nhà, 146160 người. Quận Hợp Phố: 15398 nhà, 78980 người. Quận Giao Chỉ: 92440 nhà, 746237 người. Quận Cửu Chân: 35743 nhà, 166113 người. Quận Nhật Nam: 15460 nhà, 69458 người . (23) Theo tác giả Robert B. Marks: "Tigers, Rice, Silk & Silt- Environment and Economy in Late Imperial South China", Cambridge University Press, 1998, trang 55, Lĩnh Nam gồm Quảng Đông và Quảng Tây (năm 206 TCN đến 200 TCN) có khoảng 72,000 nhà và từ 350,000 tới 400,000 người (24) Hậu Hán thư của Phạm Việp, "Chí đệ thập nhị", phiên dịch Hán Nôm: "Vũ Lăng quận Tần Chiêu Vương trí, danh Kiềm Trung quận, Cao Đế ngũ niên cánh danh. Lạc Dương nam nhị thiên nhất bách lý. Thập nhị thành, hộ tứ vạn lục thiên lục bách thất thập nhị (46672), khẩu nhị thập ngũ vạn cửu bách nhất thập tam (250913)...... Lâm Nguyên Hán thọ cố tác, Dương gia tam niên cánh danh, thứ sử trị. Sàn (sán) Lăng, Linh Dương, Sung, Nguyên Lăng tiên hữu Hồ Đầu sơn. Thần Dương, Dậu Dương, Thiên Lăng, Đàm Thành, Nguyên Nam, Kiến Vũ nhị thập lục niên (36AD) trí. (25) Thuỷ Kinh Chú quyển tam thập thất : "Ngân Thuỷ xuất Vũ Lăng Đàm Thành huyện bắc giới Nguyên thuỷ cốc". (26) Phiên dịch Hán Nôm: "Sở địa, dực - chẩn chi phân dã. Kim chi Nam quận - Giang Hạ - Linh Lăng - Quế Dương - Vũ Lăng - Trường Sa cập Hán trung - Nhữ Nam quận, tận Sở phân dã". (27) Nguyên giang chảy qua Hồ Nam khác với Nguyên giang tại Vân Nam. Nguyên giang ở Vân Nam là thượng nguồn sông Hồng của Việt Nam. (28)Linh Lăng quận Vũ Đế trí. Lạc Dương nam tam thiên tam bách lý. Thập tam thành, hộ nhị thập nhất vạn nhị thiên nhị bách bát thập tứ (21,284), khẩu bách vạn nhất thiên ngũ bách thất thập bát (1,001,578). Tuyền Lăng, Linh Lăng, Dương Sóc sơn Tương thuỷ xuất. Doanh đạo nam hữu Cửu Nghi sơn. Doanh Phổ linh đạo, Thao Dương, Đô Lương hữu Lộ sơn., Phù Di hầu quốc ( cố thuộc Trường Sa ) . Thuỷ An hầu quốc. Trọng An hầu quốc, cố Chung Vũ, Vĩnh Kiến tam niên (422AD) cánh danh. Tương hương, Chiêu (Thiệu) Dương hầu quốc . Chưng Dương hầu quốc, cố thuộc Trường Sa. (29) Nguyên bản: Phiên âm Hán Nôm: “…Hựu đông bắc quá Tuyền Lăng huyện tây . Doanh Thuỷ xuất Doanh Dương linh đạo huyện nam lưu xuất . Tây lưu kính Cửu Nghi sơn hạ , bàn cơ Thương Ngô chi dã , phong tú số quận chi dản (gian, nhàn) . La nham cửu cử , các đạo nhất khê , tụ hác phụ trở , dị lĩnh đồng thế , du giả nghi yên , cố viết Cửu Nghi sơn”. (30) Phiên âm Hán Nôm : Hán thư, Địa lý chí, quyển 28: " Nam Hải quận , Tần trí Tần bại , Uý Đà vương thử địa . Vũ đế Nguyên Đỉnh lục niên (111BC) khai . Thuộc Giao Châu . Hộ vạn cửu thiên lục bách nhất thập tam (19613) , khẩu cửu vạn tứ thiên nhị bách ngũ thập tam (94253) . Hữu Bổ (Phố) Tu quan. Huyện lục : Phiên Ngu, Uý Đà đô. Hữu Diêm quan. Bác La, Trung Túc, hữu Khuông Phổ quan. Long Xuyên, Tứ Hội, Yết Dương Việt địa, khiên ngưu - vụ nhữ (nữ) chi phân dã. Kim chi Thương Ngô - Uất lâm - Hợp Phố - Giao Chỉ - Cửu Chân - Nam Hải - Nhật Nam, giai Việt phân dã". (31) Phiên âm Hán Nôm :Hán thư, Địa lý chí, quyển 28: "Vũ Đế nguyên phong nguyên niên (111BC) lược dĩ vi Đạm nhĩ - Châu Nhai quận". (32) Phiên âm Hán Nôm: Hậu Hán thư , Chí đệ nhị thập nhị, quận quốc tứ : "Nam Hải quận Vũ Đế trí. Lạc Dương nam thất thiên nhất bách lý. Thất thành, hộ thất vạn nhất thiên tứ bách thất thập thất (71,477), khẩu nhị thập ngũ vạn nhị bách bát thập nhị (250,282). Phiên Ngung (Ngu), Bác La, Trung Túc, Long Xuyên, Tứ Hội, Yết Dương, Tăng Thành hữu Lao Linh sơn". (33) Phiên âm Hán Nôm :Tấn thư, quyển thập ngũ, chí đệ ngũ: " Giao Châu: .... Nam Hải quận Tần trí. Thống huyện lục, hộ cửu thiên ngũ bách. Phiên Ngung (Ngu), Tứ Hội, Tăng Thành, Bác La, Long Xuyên, Bình Di". (34) Phiên âm Hán Nôm : "Dự Chương quận Cao Đế trí. Lạc Dương nam nhị thiên thất bách lý. Nhị thập nhất thành, hộ tứ thập vạn lục thiên tứ bách cửu thập lục (406,496), khẩu bách lục thập lục vạn bát thiên cửu bách lục (1,668,906). Nam Xương, Kiến Thành, Tân Cam, Nghi Xuân, Lư Lăng, Cám (Cống) hữu Dự Chương thuỷ. Vu Đô, Nam Dã hữu đài Linh (Lãnh) sơn., Nam Thành, Bá Dương hữu Bá thuỷ. Hoàng kim thái (thải). Lịch Lăng hữu Phó Dương sơn. Dư Hãn, Bá Dương, Bành Trạch, Bành Lãi trạch tại tây. Sài Tang, Ngải Hải Hôn hầu quốc. Bình Đô hầu quốc, cố An Bình., Thạch Dương, Lâm Nhữ, Vĩnh Nguyên bát niên (97) trí., Kiến Xương, Vĩnh Nguyên thập lục niên (105) phân Hải Hôn trí". (35) Phiên âm Hán Nôm: Tấn thư quyển thập ngũ, chí đệ ngũ : "Lư Lăng quận Ngô trí. Thống huyện thập, hộ nhất vạn nhị thiên nhị bách (12200). Tây Xương, Cao Xương, Thạch Dương, Ba Khâu, Nam Dã, Đông Xương, Toại Hưng, Cát Dương, Hưng Bình, Dương Phong". (36) Phiên âm Hán Nôm : Thuỷ Kinh chú quyển tam thập cửu (39) : "Cám (Cống ) thuỷ xuất Dự Chương Nam Dã huyện tây , bắc quá Cám (Cống) huyện đông . ... Ban Cố xưng Nam Dã huyện , Bành thuỷ sở phát , đông nhập Hồ Hán thuỷ . Lưu Trừng Chi viết :.... Dự Chương thuỷ đạo nguyên đông bắc lưu , kính Nam Dã huyện bắc" . (37) Nguyễn Bá Mão, người biên dịch sách “Thủy Kinh Chú sớ: “ Đến thời cận đại, vào đầu thế kỷ 20, hai nhà học gỉa gồm thầy là Dương Thủ Kính (1839-1915) và trò là Hùng Hội Trinh (?-1936), trên cơ sở sách "Thủy kinh chú" của Lịch Đạo Nguyên, đã bỏ ra toàn lực trong mấy chục năm trời, thu thập rộng rãi trong các thư tịch, gom góp lại lời của nhiều học giả, để sớ, nghĩa là chú thích kỹ hơn sách "Thủy kinh chú" hợp lại sạn thành bộ sách "thủy kinh chú sớ" cũng gồm 40 quyển, với hơn 1, 510, 000 chữ, nhiều gấp 5 lần sách "Thủy kinh chú", và gấp 100 lần sách gốc "Thủy kinh". (38) Những chữ in đậm là phiên dịch từ "Thủy Kinh chú" của Lịch Đạo Nguyên. Phiên dịch Hán Nôm: " Cám (Cống) thuỷ hựu bắc kính Nghiêu Dương huyện , Vương Mãng chi Dự Chương huyện dã . Dư Thuỷ chú chi . Thuỷ đông xuất Dư Hãn huyện , Vương Mãng danh chi viết Trị Can dã. Dư Thuỷ bắc chí Nghiêu Dương huyện chú Cám (Cống) thuỷ". (39) Đây là dặm của Trung Quốc, một dặm = 0.56 Km, không phải dặm Anh (1.6 km) (40) Phiên âm Hán Nôm : “Tấn thư quyển thập ngũ, chí đệ ngũ: Bá Dương quận Ngô trí. Thống huyện bát, hộ lục thiên nhất bách (6100). Quảng Tấn, Bá Dương, Lạc (Nhạc) An, Dư Hãn Nghiêu Dương, Lịch Lăng, Cát Dương, Tấn Hưng”. Phân tích của tác giả Trần Việt Bắc rất tuyệt vời, nghiên cứu rất công phu. Tuy nhiên, còn phải logic được các sữ kiện: - An Dương Vương lập Âu Lạc ở đâu. - Kinh đô Âu Lạc là Cổ Loa hay? nều An Dương Vương kế thừa HÙng Vương XVIII thì kinh đô sẽ tại Phong Châu, tuy nhiên không có đấu viết của kinh đô này. - Nam Việt tấn công Âu Lạc do biên giới Nam Việt tiếp giáp (3 quận của Tần), tuy nhiên Tần có tấn công tới Giao Chỉ không? Đương nhiên là có bởi có thành chiến (hộ thành) Cổ Loa cho Kinh thành Bạch Long Thành = Thăng Long. Chứng tích còn không? Vâng, còn lưu trữ, xác xuất 1/ triệu mà vẫn tồn tại. Kinh thành này làm sao không thấy? Bị Tần phá hủy sau khi rút lui, bởi Đồ Thư bị giết. - Tây Âu Lạc: nghĩa là phía Tây so với Nam Việt là nước Âu Lạc, bao hàm Vân Nam, Quý Châu gồm cả Giao Chỉ. Đây là lý do không thấy thông tin chiến tranh Tần với Vân Nam và Quý Châu. Tần đánh Giao Chỉ vì đây là trung tâm của Văn Lang. - Đền thờ An Dương Vương, Mỵ Châu, Triệu Đà, Trọng Thủy... vẫn còn tại Việt Nam. Chú ý, Lý Ông Trọng là Trọng Thủy ở Chèm vùng Hà Nội ngày nay tức thuộc Bạch Long Thành mà không ở Cổ Loa. - Trống đồng quy tụ thứ tự ở các trung tâm: Giao Chỉ, Điền, Quảng Tây. - Triệu Đà cửu tướng sang Giao Chỉ quản lý sau khi Âu Lạc và Nam Việt thống nhất: chính là vùng Văn Lang cổ. Tuy nhiên, vẫn có tính độc lập như Mân Việt tấn công Nam Việt sau thời Triệu Đà. - Hán chiến Man Việt, đóng sở lỵ tại Luy Lâu và chia 9 quận và Giao Châu vẫn quan trọng nhất và nắm hết. - Tần đặt Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận, trong đó Tượng Quận với một phần Quảng Tây và Nam Quý Châu thì sẽ: + Giáp biên giới Giao Chỉ, Vân Nam, Quý Châu cho nên không hàm nghĩa Tần thất bại tại Tây Âu sau khi giết được vua là Dịch Hu Tống, một cách Logic là Tần đã chinh phục được mà đấy là lý do còn lại 3 quận trong tay. + Biên giới giáp Giao Chỉ mà Giao chỉ là kinh đô Văn Lang cho nên, bắt buộc Tần phải chinh phục được. Tuy nhiên, giữa Vân Nam vùng Cao và Giao Chỉ liên tục nhau, làm thế "Ỷ dốc" tức liên hợp chống Tần và vì vậy, sẽ không thấy tần tấn công Vân Nam mà tập trung vào Giao Chỉ hoặc nếu có tấn công Vân Nam chỉ ngăn chặn sự bổ túc cho nhau. + Giao chỉ là kinh đô Văn Lang, đương nhiên quân đội mạnh nhất và trung thành nhất, cho nên trận chiên xảy ra tại đây mới có khả năng quyết định cục diện. + Vậy tại sao An Dương Vương cùng Triệu Đà hợp nhất trở lại? Thật siêu việt, vua An Dương Vương không muốn chiến tranh nội bộ Văn Lang xảy ra, đồng thời Nam Việt vẫn là Văng Lang, Mỵ Nương lấy Trọng Thủy sinh con thì vẫn làm vua Nam Việt. Đồng thời, vẫn có sức mạnh ngăn chặn phương Bắc một lần nữa. Đây mới là ý nghĩa chính.
-
SƠ BỘ TÌM HIỂU TIỂU THUYẾT CHƯƠNG HỒI VIẾT BẰNG CHỮ HÁN CỦA VIỆT NAM TRẦN NGHĨA I. TIỂU THUYẾT CHƯƠNG HỒI VIỆT NAM KHÔNG PHẢI CHỈ CÓ MỘT “HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ” Lâu nay, khi nói về tiểu thuyết chương hồi viết bằng chữ Hán của Việt Nam, ta chỉ nghĩ đến một tác phẩm tường chừng như duy nhất: Hoàng Lê Nhất thống chí. Nhưng mấy năm gần đây, do những cố gắng trong việc sưu tầm thư tịch Hán Nôm, và sự mở rộng giao lưu văn hóa với nước ngoài, đặc biệt là với các nước thuộc cộng đồng văn hiến chữ Hán như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản… chúng ta đã nhìn lại và phát hiện trước cũng như sau Hoàng Lê nhất thống chí còn có một loạt tác phẩm cùng loại mà nếu gom vào một chỗ, chúng sẽ chiếm một khoảng không nhỏ trong khu vườn văn học Việt Nam. Ấy là Hoan Châu ký, Nam triều công nghiệp diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí, Đào hoa mộng ký, Việt Lam xuân thu, Hoàng Việt long hưng chí và Trùng Quang tâm sử(1). Hoan Châu ký còn có tên là Thiên Nam liệt truyện Nguyễn Cảnh Thị Hoan Châu ký, biên soạn vào khoảng năm Chính Hòa (1680 - 1705) đời Lê. Tác giả là một người thuộc dòng họ Nguyễn Cảnh (họ kép), nhưng chưa rõ tên cụ thể. Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện có 2 dị bản Hoan Châu ký, một bản mang ký hiệu VHv.4079 (thay cho ký hiệu cũ là VHv.4199) và một bản mang ký hiệu VHv.3588 (thay cho ký hiệu cũ là VHv.4200), đều là những bản sao. VHv.4079 được chép lại vào thời Gia Long (1802-1819); VHv.3588 được chép lại vào năm Thành Thái thứ 6 (1894). Cả hai bản đều do dòng họ Nguyễn Cảnh ở Nghệ An hiến tặng cho Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sách đã được dịch và xuất bản lần đầu(2). Nam triều công nghiệp diễn chí còn có tên là Việt Nam khai quốc chí truyện, do Nguyễn Bảng Trung soạn, Phong Sơn Dương Thận Trai đề tựa, Tri huyện huyện Phù Ninh tên là Giản đề bạt. Nguyễn Bảng Trung tên thực là Nguyễn Khoa Chiêm (1659-1736), tự Bảng Trung, tước Bảng Trung Hầu, nguyên quán Hải Dương, sinh quán Hương Trà, Thừa Thiên, làm quan đến chức Cai bạ phó đoán sự. Dương Thận trai và Tri huyện Giản đều là người sống vào đầu triều Nguyễn(3). Hiện có 4 truyền bản Nam triều công nghiệp diễn chí sau đây, đều ở dạng viết tay: 1 bản của Viện Hán Nôm, ký hiệu A.24/1-2; 1 bản của Viện Sử học, ký hiệu HV.503; 2 bản của Thư viện Hiệp hội châu Á Paris, ký hiệu HM.2140 và HM.2141. Tất cả đều mang tiêu đề Việt Nam khai quốc chí truyện, có lẽ do người đời Nguyễn chữa lại. Tên gọi bạn đầu của tác phẩm, theo gia phả họ Nguyễn Khoa, là Nam triều công nghiệp diễn chí. Sách đã được dịch và xuất bản(4). Hoàng Lê nhất thống chí nguyên tên là An Nam nhất thống chí, theo Ngô Giáp Đậu thì phần đầu sách do Học Tốn viết; phần tiếp theo do Trưng Phủ viết (xem Hoàng Việt long hưng chí tự tự). Học Tốn là tên tự của Ngô Thì Chí (1753 - 1788), hiệu Uyên Mật, người Tả Thanh Oai, Hà Tây, con trai thứ hai của Ngô Thì Sĩ, làm quan đến chức Thiêm thư bình chương sự. Ông là tác giả 7 hồi đầu của Hoàng Lê nhất thống chí. Trưng Phủ là tên của Ngô Thì Du (1772 - 1840), hiệu Văn Bác, cháu gọi Ngô Thì Sĩ bằng bác ruột, làm Đốc học Hải Dương. Ông là tác giả 7 hồi tiếp theo (từ hồi 8 đến hồi 14). Mấy hồi cuối (từ hồi 15 đến hồi 17) tương truyền do Ngô Thì Thuyến (có người đọc là Thiến) viết. Hiện có 12 dị bản Hoàng Lê nhất thống chí đều ở dạng viết tay: 6 bản của Thư viện Viện Hán Nôm, mang các ký hiệu A.22/1-2 (tiêu đề Hoàng Lê nhất thống chí, Học Tốn Công trứ, Trưng Phủ Công tục. Cuối hồi 1, có một đoạn lời bình), A.883 (in ảnh trên giấy tây, tiêu đề Lê quí ngoại sử, Sơn Nam Thanh Oai huyện Tả Thanh Oai Thiêm thư Ngô Thì Thuyến soạn, Long phi Kỷ Hợi niên (1899) hạ lục nguyệt thập ngũ nhật, Hàn lâm viện thị độc sung Bắc Kỳ Thống sứ phủ thụ đệ ngũ hạng Lục sự Nguyễn Hữu Thường phụng lục), VHv.1542/1-2 (tiêu đề An Nam nhất thống chí, bản này cùng loại với bản do Nguyễn Hữu Thường chép), VHv.1296 (tiêu đề Hoàng Lê nhất thống chí, có “mi phế”), VHv.1534 1/2 (tiêu đề Hoàng Lê nhất thống chí, có dấu ấn của Hoàng Xuân Hãn), VHv.1534/B (tiêu đề Hoàng Lê nhất thống chí, chỉ có 8 hồi đầu, hồi thứ 8 chép chưa hết); 1 bản của Thư viện Quốc gia Hà Nội (tiêu đề An Nam nhất thống chí, chỉ có 7 hồi đầu); 4 bản của Thư viện Hiệp hội Châu Á Paris, mang các ký hiệu HM.2224 (7) (tiêu đề An Nam nhất thống chí, chép từ sách Ngô gia văn phái, Tập 7, Quyển 19-20, phần Học Tốn Công di thảo), HM.2134 (tiêu đề Hoàng Lê nhất thống chí, Học Tốn Công trứ, Trưng Phủ Công tục; bản này chép từ bản A.22 của Viện Hán Nôm), Ms.b.21 (tiêu đề Hoàng Lê nhất thống chí, Gia Long tam niên Giáp Tí (1804) quí đông sóc, Lê Cảnh Hưng Quý Mùi khoa Tiến sĩ Tả Thanh Oai nhân Ngô Thì Nhậm biên tập, cuối hồi 1 có một đoạn lời bình. Đây là sách của Fonds Landes), và 1 bản chưa lên ký hiệu (tiêu đề An Nam nhất thống chí, Thiêm thư bình chương Học Tốn Công di thảo. Đây là sách của Fonds Demiéville). Sách đã được dịch và xuất bản nhiều lần(5). Đào hoa mộng ký còn gọi là Đào hoa mộng tục Đoạn trường tân thanh, do Tiên Phong Liên Đình soạn, Lê Bỉnh Đức đề thơ, Tương Giang Mai Cát Phủ đề từ và viết các phần bình luận. Tiên Phong Liên Đình tên thật là Nguyễn Đăng Tuyển, hiệu Mộng Liên Đình và Hy Lượng Phủ, người làng Hoài Thượng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc, đỗ Tú tài năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), là Giám sinh Quốc tử giám, làm Chủ sự Bộ Hộ, thăng Thị độc, Sử quán biên tu, cuối cùng giữ chức Tri phủ Thuận Thành. Ông có đi sứ Trung Quốc. Ngoài Đào hoa mộng ký, Nguyễn Đăng Tuyển còn có tác phẩm như Yên Đài anh ngữ, Quốc phong thi hợp thái, Sử ca (soạn năm 1860). Lê Bỉnh Đức tên thật là Lê Hựu, hiệu Thiệu Hiên và Lộc Đàm Chủ Nhân, nguyên Tổng đốc Bình Thuận. Tương Giang Mai Cát Phủ chưa rõ tên thật và tiểu sử. Trong sách, ở Q1, sau tiêu đề Lan Nương tiểu sử, còn ghi tên một người nữa là “Cấn Phong Hà Đạm Hiên”; cuối chuyện Hội chân ký do Tiên Phong Liên Đình soạn, có chép: “Nguyễn Sinh kể lại chuyện mình cho bè nghe, ai cũng lấy làm lạ. Có người tên là Hà Sinh bèn dựa theo chuyện kể, viết Lan Nương tiểu sử cho chàng (tức Nguyên Sinh - TN), đặt tên là Đào họa mộng”, người cùng tham gia sáng tác Đào hoa mộng ký với Nguyễn Đăng Tuyển, nhưng cũng chưa rõ tên thật và tiểu sử. Hiện có 2 dị bản Đào hoa mộng ký, đều ở dạng viết tay, được tàng trữ tại Viện Hán Nôm mang các ký hiệu VHv.2152 và A.436. Bản VHv.2152 nguyên là sách của Bảo tàng lưu niệm Nguyễn Du, mang ký hiệu ban đầu là 392 M-ND. Đáng tiếc là tác phẩm chỉ còn 2 quyển đầu trong số 8 quyển tất cả, theo mục lục ở đầu sách cho biết. A.436 là bản sao từ Q.1 nhưng chưa đầy đủ, của bản VHv.2152. Đào hoa mộng ký ngoài chính văn, còn có các phần phụ như “độc pháp”, “hồi bình” và “giáp bình”, một hình thức mang ý nghĩa lý luận phê bình (bình điểm) văn học thường xuất hiện trong các loại tiểu thuyết cổ. Việt Lam xuân thu còn gọi là Hoàng Việt xuân thu hay Việt Lam tiểu sử, biên soạn khoảng cuối thế kỷ XIX, được sửa sang lại và xuất bản vào năm Duy Tân Mậu Thân (1908). Người khởi thảo, tương truyền là Vũ Xuân Mai (xem Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập 2, Nxb. KHXH, H. 1990, tr.179). Người biên tập và đề tựa là Lê Hoan. Vũ Xuân Mai quê phường Xuân Yên tỉnh Hà Nội (cũ), đậu Cử nhân năm Kiến Phúc Giáp Thân (1884) làm Tri huyện huyện Phúc Thọ (Hà Tây). Lê Hoan (1856-?) người thôn Cự Lộc, xã Nhân Mục (làng Mọc), tổng An Đình, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Nội (cũ) (nay là xã Nhân Chính, phường Thượng Đình, quận Đống Đa, Hà Nội. Theo Thanh Trì Lê Lưu thị thế phả, Lê Hoan từng giữ các chức Binh Bộ Thượng thư kiêm Đô sát viện Hữu đô ngự sử, Tổng đốc Ninh Thái Hải Yên, tước Phú Hoàn Nam. Trong bài tựa viết cho sách khi xuất bản, Lê Hoan có nói ông tìm thấy bản thảo Việt Lam xuân thu trong hòm sách một gia đình cựu học. Khi mang ra đọc, ông lấy làm tiếc là về mặt kết cấu cũng như mạch lạc câu chuyện trong sách chưa được “xảo điệu tinh kỳ” lắm, cho nên nhân lúc rỗi rãi, ông đã “lạm gia tài tước”, mạn phép tác giả tỉa tót, cắt xén, cốt làm cho tác phẩm mang tính văn học hơn, rồi đưa in, đặt tên là “Việt Lam tiểu sử” để phân biệt với chính sử. Trong sách có “giáp phế”, “giáp bình”. Hiện có 12 dị bản Việt Lam xuân thu : 5 bản của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm mang các ký hiệu VHv.1819/1-3 (sách in, thiếu 10 hồi cuối), VHv.1683 (viết tay thiếu 32 hồi cuối) và VHv.2085 (viết tay, thiếu 9 hồi đầu và hồi 60 ở cuối sách); 2 bản của Thư viện Viện Sử học mang các ký hiệu HV.84 (sách in, đủ cả 3 quyển và 60 hồi) và HV.141 (viết tay); 1 bản của Thư viện Quốc gia Hà Nội, ký hiệu R.451 (viết tay, chỉ có Q.2 với các hồi từ 22 đến 40); 1 bản của Hiệp hội Châu Á Paris, ký hiệu HM.2184 (viết tay); 1 bản của Thư viện Quốc gia Paris, ký hiệu A.69/1-2, có “giáp phê” của người đời sau; 1 bản của Bảo tàng Guimet Paris, ký hiệu MG.FV.55732 (sách in); và 1 bản của Đông Dương văn khổ Nhật Bản (mang tiêu đề Việt Lam tiểu sử). Hoàng Việt long hưng chí biên soạn xong vào năm Thành Thái Giáp Thìn (1904), tác giả Ngô Giáp Đậu (1853 - ?), hiệu Tam Thanh, biệt hiệu Sự Sự Trai, người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai (Hà Tây), đậu Cử nhân năm Thành Thái thứ 3 (1891) làm Đốc học. Ngoài Hoàng Việt long hưng chí, ông còn là tác giả một số cuốn giáo trình về sử như Trung học Việt sử toát yếu, về địa lý như Hiện kim Bắc Kỳ địa dư, v.v… Hiện có 1 bản Hoàng Việt long hưng chí tàng trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.23 (viết tay). Sách đã được dịch và xuất bản lần đầu.(6) Trùng Quang tâm sử do B.G sáng tác, Hiến Hán dịch, lần lượt đăng trên Binh sự tạp chí ở Hàng Châu (Chiết Giang, Trung Quốc) từ số 81 tháng 1 - 1921 đến số 132 tháng 4-1925. Có người cho “B.G” chính là B.C, chữ C xếp chữ nhầm thành G (xem Phan Bội Châu toàn tập tập 3, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1990, tr.288 chú thích 1). “B.C” tức Bội Châu hay Phan Bội Châu (1867 - 1940), hiệu Thị Hán, biệt hiệu Sào Nam, người làng Đan Nhiễm, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, một chính khách nổi tiếng, được người trong nước hết sức kính mến vào những năm đầu thế kỷ XX. “Hiến Hán” là bút danh của người “dịch” thực ra là biên tập tác phẩm này để đăng tạp chí. Tác phẩm sau khi biên tập, có khác với lúc đầu chút ít về tên người, tên đất, cũng như số chương hồi. Hiện có 3 dị bản về Trùng Quang tâm sử đều ở dạng viết tay: 2 bản của Viện Hán Nôm chép theo bản thảo lúc đầu, ký hiệu VHv.1524 (tiêu đề Hậu Trần dật sử), Sào Nam Phan Bội Châu trứ. Bản này chép vào năm 1957 và VHv.2716 (tiêu đề Hậu Trần dật sử, Sào nam Phan Bội Châu trứ. Bản này chép vào năm 1964, theo bản VHv.1524); 1 bản của Thư viện Quốc gia Hà Nội, ký hiệu R.2258 (tiêu đề Hậu Trần dật sử). “Hậu Trần dật sử” là tên do người chép đặt tạm, do lúc bấy giờ chưa biết tên thật của tác phẩm. Sách đã được dịch sang tiếng Việt và xuất bản nhiều lần(7). Các tác phẩm kể trên trước nay có nhiều cách hiểu về mặt thể loại. Từng được xếp vào diện “cổ tích”, như Trùng Quang tâm sử, những “trang sử lòng ở trại Trùng Quang” mà tác giả cuốn sách coi như “cổ sử” hoặc “cố sự”, tức “chuyện đời xưa” đem ra kể cho “quốc dân đồng bào” nghe (xem đoạn đầu Trùng Quang tâm sử). Xếp vào diện “lịch sử” như Nam triều công nghiệp diễn chí, Việt Lam xuân thu và Hoàng Việt long hưng chí. Nam triều công nghiệp diễn chí được Dương Thận Trai và Tri huyện Giản gọi là “chí” hay “chí truyện” (xem Việt Nam khai quốc chí truyện tự và Việt Nam khai quốc chí truyền bạt), trong khi Ngô Giáp Đậu gọi là “truyện chí” (Xem Hoàng Việt long hưng chí tự tự). Việt Lam xuân thu được coi như cùng loại với sách Xuân thu của Khổng Tử; nếu hiểu “xuân thu” theo nghĩa rộng, chỉ loại sách “lịch sử” nói chung, thì “Việt Lam xuân thu” có nghĩa là lịch sử cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ở nước Việt. Hoàng Việt long hưng chí được tác giả xếp vào loại “chí” hoặc “truyện chí”, cùng tính chất với Nam triều công nghiệp diễn chí (xem Hoàng Việt long hưng chí tự tự). “Chí”, “chí truyện”, “truyện chí”, hay “xuân thu” ở đây đều được hiểu là những phân nhánh của “chính sử” hoặc “lịch sử”. Xếp vào diện “tiểu thuyết” như Hoan Châu ký, Hoàng Lê nhất thống chí và Đào hoa mộng ký. Hoan châu ký, được tác giả gọi “bái quan dã sử” (Lời bạt). Hoàng Lê nhất thống chí có lúc còn được cài thêm vào nhan đề sách mấy chữ “Lê quí ngoại sư” (như ở bản A.883). “Bái quan dã sử” hoặc “ngoại sử” đều là những cách gọi khác nhau của tiểu thuyết(8). Riêng Đào hoa mộng ký của Mai Cát Phủ). Nhưng hai chữ “tiểu thuyết” ở đây, trong cách hiểu của người xưa không phải lúc nào cũng đồng nhất với khái niệm tiểu thuyết hiện đại. Có thể thấy vào thời kỳ các tác phẩm trên ra đời, ở nước ta, trong quan niệm sáng tác cũng như trong nghiên cứu phê bình văn học vẫn còn nhiều chỗ lẫn lộn về ranh giới giữa “văn” và “sử”. Ngay trong lĩnh vực “văn” , việc phân chia thể loại cũng chưa thật rạch ròi(9). Với cách nhìn của chúng ta ngày nay, Hoan Châu ký, Nam triều công nghiệp diễn chi, Hoàng Lê nhất thống chí, Đào hoa mộng ký, Việt Lam xuân thu, Hoàng Việt long hưng chí và Trùng Quang tâm sử đều là những tác phẩm văn học thực thụ và đều mang đặc trưng của thể loại “tiểu thuyết chương hồi”, một thể loại văn học quen thuộc ở các nước thuộc cộng đồng văn hiến Hán. Điều này được tự cụ thể hóa trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức ở cùng tác phẩm vừa kể. Trước hết, ta thấy ở các tác phẩm vừa nêu, toàn bộ câu chuyện được chia ra làm nhiều mảng, hay đúng hơn, tác phẩm do nhiều “hồi” hoặc “tiết” có quan hệ vừa “khép” vừa “mở”, vừa “gián cách” vừa “liên tục” hợp lại mà thành. Mỗi mảng như thế, ở Hoan Châu ký và Trùng Quang tâm sử được gọi là “tiết” (Hoan Châu ký có 16 tiết, Trùng Quang tâm sử có 22 tiết); ở Hoàng Lê nhất thống chí, Đào hoa mộng ký, Việt Lam xuân thu và Hoàng Việt long hưng chí được gọi là “hồi” (Hoàng Lê nhất thống chí có 17 hồi, Đào hoa mộng ký theo mục lục có 20 hồi, Việt Lam xuân thu có 60 hồi, Hoàng Việt long hưng chí có 34 hồi). Riêng Nam triều công nghiệp diễn chí thoạt nhìn, tưởng như tác phẩm được viết liền mạch từ đầu chí cuối, chỉ chia “quyển” mà không chia “hồi” hoặc “tiết”. Nhưng đọc kỹ nguyên bản, ta thấy ở cuối Q.4 có câu: “Vị tri Tú phượng nhập Nam triều báo tín nhược hà, thả khán hạ hồi phân giải”, cuối Q.5 có câu: “Vị tri hư thực như hà, thả thính hạ hồi phân giải”, cuối Q.7 có câu: “Vị tri hậu sự nhược như hà, thả thính hạ hồi phân giải”; từ đó có thể nghĩ mỗi “quyển” ở đây được tác giả xem như một “hồi”, Nam triều công nghiệp diễn chí có cả thảy 8 quyển, cũng tức là 8 hồi. Mỗi “hồi” hoặc “tiết” như vậy trong cùng một tác phẩm thường có độ dài xấp xỉ như nhau, kể lại một câu chuyện nhỏ tương đối hoàng chỉnh. Mở đầu các “hồi” hoặc “tiết” là 2 câu đối ngẫu, mỗi câu từ 7 đến 16 chữ (riêng Nam triều công nghiệp diễn chí mỗi “hồi” (quyển) được mở đầu bằng một bài từ hoặc một bài thơ thất ngôn Đường luật, trừ hồi thứ 2 và hồi thứ 7; Trùng Quang tâm sử trước mỗi “tiết” là một cụm từ 4 chữ) vừa dùng để khái quát nội dung, vừa dùng làm đầu đề cho “hồi” đó hoặc “tiết” đó, gọi là “hồi mục”. Kết thúc mỗi “hồi” hoặc “tiết” thường lại có 2 câu đối ngẫu nữa, mỗi câu 7 chữ, cùng một câu văn lề lối (sáo ngữ) kiểu “muốn biết (…) như thế nào, xem hồi sau sẽ rõ”, một là nhằm dự báo nội dung của “hồi” tiếp theo, hai là nhằm kích thích sự tò mò của người đọc (Riêng Trùng Quang tâm sử không thấy sử dụng hình thức này). Ở một số tác phẩm, ngoài những tiêu chí nói trên, còn có các phần mang tính chất bình luận văn học (bình điểm) như “độc pháp”, “hồi bình”, “giáp bình”, “my phê”,… cũng là hiện tượng thường thấy trong tiểu thuyết chương hồi của các nước cùng khu vực. “Độc pháp” thường đặt ngay ở đầu sách, tổng luận về nội dung hoặc giải thích, nhấn mạnh một số điểm cốt yếu thuộc chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Chẳng hạn đoạn văn đặt ở đầu hồi 1 của Hoàng Lê nhất thống chí, bài từ Lâm giang tiên và phần “phê bình” của Mai Cát Phủ đầu hồi 1 của Đào hoa mộng ký, bài Truyện tự đặt ở đầu hồi 1 của Việt Lam xuân thu, đoạn văn đặt ở đầu tiết 1 của Trùng Quang tâm sử đều có thể xem là “độc pháp”. “Hồi bình” là những lời bình luận viết cho từng hồi một, đặt liền sau “hồi mục”, thấy xuất hiện ở Đào hoa mộng ký. Riêng Hoàng Lê nhất thống chí, “hồi bình” lại đặt ở cuối hồi 1 và đây cũng là trường hợp có “hồi bình” duy nhất ở tác phẩm này. “Giáp bình” là những lời bình luận viết xen kẽ trong từng hồi hoặc từng tiết, thấy xuất hiện nhiều nhất ở Việt Lam xuân thu. “My phê” là những câu chữ bình luận viết ngay lên khoảng giấy trống đầu trang sách, thấy xuất hiện nhiều nhất ở Trùng Quang tâm sử. II. NGUỒN GỐC TIỂU THUYẾT CHƯƠNG HỒI VIẾT BẰNG CHỮ HÁN CỦA VIỆT NAM Việt Nam cũng như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản,… đều có tiểu thuyết chương hồi. Nhưng như vậy không có nghĩa là con đường dẫn tới sự hình thành tiểu thuyết chương hồi ở các nước thuộc cộng đồng văn hiến Hán này đều hoàn toàn giống nhau. Tiểu thuyết chương hồi viết bằng chữ Hán của Việt Nam có nguồn gốc khác với Trung Quốc. Ở Trung Quốc, tiểu thuyết chương hồi bắt nguồn từ thoại bản. “Thoại” có nghĩa là “cố sự”, bản gốc. “Thoại bản” tức bản gốc mà nghệ nhân hay người kể chuyện (thuyết thoại nhân) dùng làm chỗ dựa để giảng về truyện xưa tích cũ cho người ta nghe, một hình thức văn nghệ dân gian chớm lên từ đời Đường và đặc biệt thình hành vào giai đoạn Tống Nguyên do rất đỗi hợp “goût” của tầng lớp thị dân mới trỗi dậy hồi đó. Có thể chia thoại bản Trung Quốc thành hai loại lớn: tiểu thuyết và giảng sử. “Thoại bản tiểu thuyết” thường ngắn, viết bằng văn bạch thoại, phản ánh đời sống của quần chúng lớp dưới như những người buôn bán nhỏ, thợ thủ công, phụ nữ bình thường… Thí dụ các thoại bản Phùng Ngọc Mai đoàn viên, Thố trảm Thôi Ninh. Ở loại này, lời văn thường sinh động, bình dị. Trước phần chính văn, thường có mấy câu mào đầu bằng thơ, từ hoặc một mẩu chuyện ngắn, cốt lôi kéo thính giả tới nghe kể chuyện, gọi là “đắc thắng đầu hồi” (gây hứng thú ngay từ hồi đầu) hoặc “nhập thoại” (vào câu chuyện kể). Trong khi miêu tả nhân vật hoặc tường thuật sự kiện, thường xen vào những câu văn vần để cho câu chuyện thêm sinh động. Buổi kể chuyện thường dừng lại ở đoạn gay cấn nhất, nhằm lôi cuốn người nghe đến nghe tiếp vào lần sau, đêm sau. Kết thúc mỗi buổi kể hoặc đoạn kể, thường dùng những câu thơ hoặc bài từ ngụ ý “khuyên giới”. “Thoại bản giảng sử” so với “thoại bản h” thường dài hơn, viết bằng văn ngôn, đôi khi cũng pha phách văn bạch thoại. Loại thoại bản này chịu nhiều ảnh hưởng của chính sử. Nội dung dựa vào truyện tích lịch sử là chính, như Tân biên Ngũ đại sử bình thoại chẳng hạn. Nhưng cũng có khi vừa giảng sử, vừa chen vào những mẩu chuyện đời thường, như Đại Tống Tuyên Hòa di sự, Đại Đường Tam Tạng thủ kinh thi thoại, v.v… Chính trên nền tảng phát triển rôm rả của thoại bản mà tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc đã ra đời, với những tác phẩm tiêu biểu như Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du ký,… trong đó Tam quốc diễn nghĩa là một trong những cuốn tiểu thuyết chương hồi ra đời sớm nhất, lưu hành rộng rãi nhất và được nhân dân Trung Quốc cũng như nhân dân thế giới đặc biệt ưa thích. Khác với Trung Quốc, Việt Nam không có thoại bản(10). Sự ra đời của tiểu thuyết chương hồi Việt Nam trước hết liên quan tới các bản thần tích, thần phả được ghi lại từ truyền thuyết dân gian, theo khuynh hướng ngày một hệ thống hóa, với quan niệm cả dân tộc đều sinh ra từ một bọc, có chung một cội nguồn. Hệ thống hóa, nhưng lại phải tách bạch, Cùng xuất từ một nguồn, nhưng lại phát triển có lớp lang. Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh,… được biên soạn và nhiều lần sửa chữa, bổ sung trong tình thần như vậy. Đặc biệt khoảng thế kỷ 15, 16, triều đình nhà Lê sai một số nho thần có trình độ học vấn uyên bác như Đào Cử (1449 - ?), Nguyễn Bảo (TK.XV), Lê Tung (1451-?), Nguyễn Bính (TK.XVI)… sưu tầm, chỉnh lý và viết lại một cách đầy đủ, có hệ thống các thần ở nước ta, làm thành bộ Ngọc phả (còn gọi là Ngọc phả lục hay Ngọc phả cổ lục), đặt tại Bộ Lễ, thông qua đó để cấp bằng sắc, quản lý các di tích lịch sử, văn hóa trên phạm vi cả nước, kết hợp với việc giáo dục truyền thống cho dân. Bộ Ngọc phả chính thức đặt tại Bộ Lễ (Quốc triều Lễ Bộ chính bản) này, nay đã mất, nhưng một số bản thần tích, thần phả chép lại từ bộ sách gốc trên về sau vẫn còn lưu giữ ở các địa phương từng được Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội tổ chức soa chép lại thành 537 tập Thần tích hiện để tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mang ký hiệu AE(11). Qua các tập Thần tích, hay đúng hơn, bộ Ngọc phả triều Lê được khôi phục lại một phần này, ta có thể mường tượng cách hệ thống hóa các thần trong “Quốc triều Lễ Bộ chính bản” ở thế kỷ XV, XVI như sau: Dưới mỗi mục thần (Nhân thần, Nữ thần, Thiên tầhn, Sơn thần, Thủy thần, Dương thần, Âm thần) lại còn chia ra thành nhiều nhánh (Càn chi, Khảm chi, Cấn chi, Chấn chi, Tốn chi, Ly chi, Khôn chi, Đoài chi) và dưới mỗi nhánh, lại chia làm Thượng đẳng thần, Trung đảng thần… Cũng qua Ngọc phả đời Lê, ta còn thấy quá trình các anh hùng dân tộc được truyền thuyết hóa, rồi thần linh hóa và cuối cùng, tiểu thuyết hóa như thế nào. Thí dụ chuyện Ngô Long chép trong Hà Nội Hàm Long thần tích AE a1/1, trích từ “Nam Việt Hùng triều Duệ Vương Long thần xuất thế phù quốc uy linh Đại Vương tự điển” (Quốc triều Lễ Bộ chính bản Thượng đẳng phúc thần). Ngô Long, với một địa chỉ cụ thể, một sự tích thần kỳ, đã được những người lập truyện xây dựng như một nhân vật tiểu thuyết thực thụ. Mới lên tám, đã có tài “thất bộ thành chương”, làm xong một bài thơ trong vòng bảy bước. Ngô Long còn làu thông cả “bách gia chư tử”, “tam lược lục thao”, “Thái Công phù phép” và đặc biệt, ông còn sáng tác không ít thơ “Đường luật”, dù đang sống dưới triều Hùng ! Có thể nói mỗi một bản thần tích trong Ngọc phả là một thiên tiểu thuyết, một “bái quan dã sử”! Chính phương pháp hệ thống hóa từ các đơn lẻ và lối viết sinh động, hấp dẫn, gây ấn tượng mạnh trên đây của Ngọc phả, trong chừng mực nhất định, đã ảnh hưởng đến tiểu thuyết chương hồi Việt Nam về sau, rõ nhất là ở Hoan Châu ký, một tập gia phả được cải dạng thành tác phẩm văn học. Tiểu thuyết chương hồi Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của thể văn biên niên, thực lục và kỷ sự. Ở sử biên niên (như Đại Việt sử ký toàn thư) và thực lục (như Lam Sơn thực lục, Trung hưng thực lục, Đại Nam thực lục) các biến cố lịch sử được trình bày theo niên đại các triều vua. Lối viết này để lại dấu ấn khá đậm nét trong Hoan Châu ký, Nam triều công nghiệp diễn chí, Việt Nam xuân thu và Hoàng Việt long hưng chí. Có thể nêu một vài ví dụ. Nam triều công nghiệp diễn chí, Q.6 viết: “Lại nói năm Thịnh Đức Nhâm Dần thứ 10, tháng giêng, trung tuần, Nguyên soái công tử Hiệp Đức bèn chuyển quân đến đóng ở xa Vũ Xá, cùng các tướng bàn kế tiến đánh”. Việt Lam xuân thu. Hồi 20 viết: “Năm Bính Tuất, Khai Định thứ 1 (Minh Vĩnh Lạc thứ 5), mùa xuân, tháng giêng, ngày Giáp Dần, tiến quân về phía Trù Giang” v.v… Nhiều đoạn trong tác phẩm đã hành văn y như sử biên niên, lấy năm tháng làm tuyến ngang (kinh), sự kiện làm tuyến dọc (vĩ). Chẳng hạn Hoan Châu ký, Hồi 2, Tiết 2 có đoạn: “Ngày 12, gặp dịp sinh nhật của Tiết chế Trưởng quận công, trăm quan vào chúc mừng. Lễ xong, mở tiệc lớn chiêu đãi. Trong quân ai nấy đều vui say. Ngày 14 tháng 8 vào giờ Dần, quan Tiết chế cùng các tước đốc quân thủy bộ cùng tiến về sông Hát yết kiến miếu Trưng Vương (…). Ngày 15, vào giờ Thân, quân tiến đến cửa Nam thành Thăng Long, tạm nghỉ. Ngày 18…”. Thậm chí có tác phẩm như Hoàng Việt long hưng chí, bên cạnh sự kiện, còn kèm theo những chú giải đôi khi khá dài dòng về tên người, tên đất như chúng ta thường gặp ở các bộ sử chính thống. Ở thể loại kỷ sự, mỗi sự kiện là một thứ dây giềng (cương) xuyên qua một chuỗi chi tiết (mục), câu chuyện nhờ đó có đầu có đuôi, không bị cắt xén. Hoàng Lê nhất thống chí và Trùng Quang tâm sử đại để chịu ảnh hưởng cách thể hiện này. Nhưng nói gì thì nói, tiểu thuyết chương hồi viết bằng chữ Hán của Việt Nam chắc chắn sẽ khó ra đời nếu thiếu cái “hích” đầy quyết định của tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc. Sẽ không có Hoan Châu ký, Nam triều công nghiệp diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí, Việt Lam xuân thu, Hoàng Việt long hưng chí, kể cả Trùng Quang tâm sử nữa nếu không xuất hiện Tam quốc diễn nghĩa(12), Thủy hử(13) trước đó. Và cũng sẽ không có Đào hoa mộng ký, nếu không xuất hiện Kim Vân Kiều truyện(14), Hạnh hoa thôn(15), Đào hoa ảnh(16) trước đó(17). Chính tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc đã cung cấp thể loại và kiểu mẫu cho văn học chữ Hán Việt Nam trong bước đi lên, đổi mới và phát triển. Đặc biệt là Tam quốc diễn nghĩa. Có thẻ nói không một tác phẩm nào trong số các tiểu thuyết chương hồi viết về đề tài lịch sử của Việt Nam lại không chịu ảnh hưởng nhiều hoặc ít ở Tam quốc diễn nghĩa, từ tư tưởng sáng tác đến nghệ thuật tự sự, miêu tả. Thí dụ Hoan châu ký trong hồi 1 tiết 2, từng vì việc Nguyễn Tử Nha định sử dụng Lê Trang Tông làm bung xung theo kiểu Tào Tháo sử dụng Hán Hiến Đế truyện quấn Tam quốc diễn nghĩa. Hay Nam triều công nghiệp diễn chí, chỉ trong phạm vi Q.1 trong số 8 quyển của tác phẩm, đã có ít ra là 4 trường hợp dính dáng đến Tam quốc diễn nghĩa: Quận Lập muốn bắt chước Quan Vân Trường “đơn đao phó hội”; Phùng Khắc Khoan xuấu xí, nhưng có cái tài của Gia Cát, Lưu Cơ; Phan Ngoạn tự xưng là Quang Vũ tái sinh; Trịnh Tùng mắng Phùng Khắc Khoan muốn bắt chước Trương Lương đêm ít Châu về theo Lưu Bị. Với Đào hoa ảnh, Hạnh hoa thôn và Kim Vân Kiều truyện cũng vậy. Các tác phẩm vừa nêu, nhất là Kim Vân Kiều truyện đã trở thành đối tượng mô phỏng trên một vài phương diện nào đó của Đào hoa mộng ký, một tiểu thuyết “diễm tình”, thuộc loại “tài tử giai nhân”, viết về tình yêu nam nữ. Có thể nói tiểu thuyết chương hồi Việt Nam ra đời là kết quả của những hối thúc từ bên trong do sự vận động nội tại của bản thân nền học thuật chữ Hán Việt Nam sinh ra, cộng với những kích thích từ bên ngoài do giao lưu văn học mang lại. Đây cũng là tình hình từng diễn ra ở văn học nhiều nước thuộc cộng đồng văn hiến Hán như Nhật Bản, Triều Tiên,… III. NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT CHƯƠNG HỒI VIẾT BẰNG CHỮ HÁN CỦA VIỆT NAM Có thể chia tiểu thuyết chương hồi viết bằng chữ Hán của Việt Nam ra thành hai nhóm lớn: tiểu thuyết chương hồi viết về đề tài lịch sử gồm Hoan Châu ký, Nam triều công nghiệp diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí, Trùng Quan tâm sử và tiểu thuyết chương hồi viết về đề tài tình yêu gồm Đào hoa mộng ký. Nội dung phản ánh cũng như nghệ thuật diễn tả thuộc từng nhóm có nhiều điểm khác nhau. Ở nhóm thứ nhất, Trùng Quang tâm sử kể lại cuộc nổi dậy đầy khí thế của nhân dân ta do Trần Quý Khoáng cầm đầu chống lại ách đô hộ của nhà Minh vào đầu thế kỷ 15 tại Nghệ An… Hoàng Việt xuân thu viết về thất bại khó tránh của cha con Hồ Quý Ly và thắng lợi dương nhiên của anh em Lê Lợi trong việc lãnh đạo nhân dân ta đánh đuổi quân ngoại xâm, giải phóng đất nước, giành lại độc lập và chủ quyền cho dân tộc. Hoan Châu ký tái hiện công cuộc Trung hưng của nhà Lê sau khi bị họ Mạc tiếm ngôi, cùng những đóng góp về mặt võ công của dòng họ Nguyễn Cảnh ở Hoan Châu lúc này được coi là rất xuất sắc và chỉ sau họ Trịnh. Nam triều công nghiệp diễn chí phác họa lại 133 năm Trịnh - Nguyễn phân tranh, từ lúc Nguyễn Hoàng vào trấn giữ Thuận Hóa cho đến khi Chúa Ngãi mất. Tác phẩm cũng đã dành một phân lượng không nhỏ để nói về công lao của Chúa Nguyễn trong việc mở mang, kiến tạo nửa phần đất nước phía Nam, vừa là nơi “dung thân”, vừa là chỗ dựa để tranh giành quyền lực cùng chúa Trịnh ở phía Bắc. Hoàng Lê nhất thống chí là hiện thân sức mạnh của phong trào nông dân khởi nghĩa ở nước ta trong thế kỷ 18 đã đánh bại ba tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Nguyễn, đập tan mưu đồ tái chiếm Việt Nam của nhà Thanh, đưa giang sơn về một mối. Hoàng Việt long hưng chí là một bổ sung và tiếp nối của Hoàng Lê nhất thống chí. Ở đây, những nét bút còn mờ nhạt về phía chúa Nguyễn trong Hoàng Lê nhất thống chí đã được tô đậm hoặc vẽ lại một cách công phu, tỉ mỉ hơn. Nhất là quá trình Nguyễn Ánh xóa bỏ nhà Tây Sơn, nhân những lục đục không tự dàn xếp được trong nội bộ triều đình Quang Toản. Tiểu thuyết còn bao quát cả mười mấy năm tại vị của Nguyễn Ánh lúc này là Gia Long, nhằm tạo cho câu chuyện “Trung hưng” của nhà Nguyễn có một dáng vóc trọn vẹn. Dễ dàng thấy những khúc quanh quan trọng trong lịch sử Việt Nam từ cuối đời Trần đến đầu đời Nguyễn đều được các tiểu thuyết chương hồi của ta đề cập tới. Ở nhóm thứ hai, giường như có một thử nghiệm chuyển đổi về đề tài tiểu thuyết. Trước Đào hoa mộng ký, kể cả nhiều thập kỷ sau đó nữa, hễ nói đến tiểu thuyết chương hồi, người ta chỉ nghĩ đến tiểu thuyết lịch sử. Có biết đâu dưới dạng chương hồi còn có thể viết về chuyện cổ tích (các tiểu thuyết thần thoại, thần ma, thần quái), chuyện tâm lý xã hội (tiểu thuyết thế tình), chuyện trào phúng (tiểu thuyết phúng thích), chuyện tình yêu nam nữ (tiểu thuyết diễm tình, tiểu thuyết tài tử giai nhân) v.v… Vậy là để “đổi món”, Đào hoa mộng ký đã chọn đề tài tình yêu. Nhưng viết về tình yêu, không khéo vẫn cứ rơi vào sáo cũ. Từng có một số tác phẩm văn học thậm chí nổi tiếng, vẫn chưa thoát khỏi tình trạng vay mượn đề tài của nước ngoài. Đào hoa mộng ký viết: “Các truyện diễn âm phần nhiều dựa vào tiểu thuyết phương Bắc (chỉ Trung Quốc - TN) mà dịch ra tiếng phương Nam (chỉ Việt Nam - TN), ngay như Hoa tiên, Kim Vân Kiều gọi là sách của danh gia cũng không tránh khỏi. Thỉnh thoảng có một vài cuốn sách tuy hư cấu thật đấy, nhưng phải cái câu chuyện thì quê kệch, văn vẻ thì vụng về, muốn tìm cho ra một câu chuyện tươi mát, bút mục có hồn, quả là không dễ. Nào biết đâu từ thuở khai thiên lập địa tới nay, tài tử giai nhân đời nào chẳng có (…). Cứ cầm bút viết thẳng những câu chuyện ấy cùng những con người ấy, e còn chưa nói hết sự kỳ diệu của nó, hà tất phải ngược lên hàng nghìn năm trước để mượn thần thế, tìm chuyện tìm người, bằng vào đấy mà thăng hoa bút mực!”. Vậy là, cũng để canh tân, Đào hoa mộng ký đã chọn ngay một câu chuyện về người Việt Nam xảy ra trên đất Việt Nam làm đề tài sáng tác: cuộc tình duyên giữa Nguyên Sinh và Lan Nương. Nguyên Sinh người Giang Bắc, là con một cựu thần nhà Lê. Khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc, chàng theo gia đình chạy tới Giang Tây. Tại đây, Nguyên Sinh gặp Lan Nương, một ca kỹ nổi tiếng. Như có một sức mạnh huyền bí nào đó run rủi, hai bên - một trai tài, một gái sắc - bất giác cứ quấn vào nhau. Rồi trải qua một phen “bi-hoan-li-hợp”, cuối cùng họ mới hiểu hóa ra “đằng trai” là hậu thân của Kim Trọng, “đằng gái” là hậu thân của Thúy Kiều, và tất cả những người chung quanh họ không một ai nằm ngoài danh mục những kẻ mà kiếp trước vốn dĩ là nhân vật Truyện Kiều. Chẳng hạn Trần Thư tiền thân là Thúy Vân, Dư Mỗi tiền thân là Từ Hải, Huệ Nương tiên than là Đạm Tiên, v.v… Nhân vật Truyện Kiều phải sống thêm một cuộc đời nữa để chứng kiến hạnh phúc đôi lứa tròn đầy giữa Lan Nương và Nguyên Sinh dưới bóng Phật tổ từ bi, điều mà trong kiếp trước cả hai chưa thực sự được hưởng. Về phương diện nghệ thuật, các tác phẩm lệ thuộc rất nhiều vào quan niệm về “tiểu thuyết”, một vấn đề từng gây trăn trở, xáo trộn và chia rẽ không ít trong giới sáng tác phê bình văn học hồi này. Khi bàn về cách tiếp cận Đào hoa mộng ký, một tác phẩm diễm tình, Tương Giang Mai Cát Phủ viết: “Xem tiểu thuyết, phải “nhận chân” (thực sự để tâm vào) mới gọi là có “nhãn lực” lớn (biết cách xem). Đại phàm các sách “bái quan dã sử” (tiểu thuyết) xưa nay phần nhiều do các bậc tài hoa sáng tác. Có kẻ nhàn rỗi không biết làm gì, bèn rong chơi nơi bút mực. Có người tài cao nhưng chẳng gặp thời, đành lưu lạc giang hồ, bất đắc dĩ phải mượn truyện “Ô Hữu Tiên Sinh” (chuyện hư cấu) để bộc bạch sự nghiệp hoàng lương. Cũng có kẻ nói toàn chuyện hiếm thấy, cốt biểu tỏ tài năng lỗi lạc của mình. Lại có người dùng những lời lẽ mà người nghe đến phát sợ, nhằm làm vơi bớt nỗi bất bình tức uất của bản thân. Cho nên không nhất thiết phải có một nhân vật đích thực như thế, một câu chuyện đích thực như thế. Vậy mà trang giấy cứ lâm ly, ngòi bút cứ thổn thức; con người ấy, sự việc ấy, tình cảnh cứ hệt như thật, khiến người xem xúc động, tinh thần được cổ vũ, tưởng chừng như gặp Tiêu Lang, Tống Ngọc chốn thần giao, vào quán Sở lầu Tần nơi cõi mộng. Rồi bỗng dưng mà tới, bỗng dưng mà đi. Hiện hữu ư? Không hiện hữu ư? Chân thật ư? Hư cấu ư? Mắt xem đến đâu lòng hiểu đến đấy, bất cần phải phân biệt đâu là có, đâu là không, đâu là thật, đâu là giả. Sáng tác mà được như vậy, phải nói là trong văn có tranh vẽ; người đọc mà thấy được điều đó, cũng tựa thể trong mắt có ngọc châu” (ĐHMK, Q.2, phần Phê bình). Từ đoạn văn trên có thể rút ra mấy ý chính: - Đặc trưng mang tính thể loại của tiểu thuyết là hư cấu. - Nhưng sự hư cấu này vẫn có khả năng đạt tới một sự thật hơn cả sự thật ngoài đời. - Chính cái “thật hơn” đó, cái thật mang tính nghệ thuật, qua sự trừu tượng hóa, khái quát hóa… của tiểu thuyết, đã có sức mạnh truyền cảm, chinh phục trái tim và khối óc người đọc. - Người biết đọc tiểu thuyết là người tìm thấy cái mà tác giả muốn trao gửi, tức là “tâm”, chứ không phải phương tiện để trao gửi tức “văn chương”. Nhưng những người viết tiểu thuyết lịch sử lại quan niệm vấn đề theo một lối khác. Như trên kia đã nói, họ tự nguyện đem tác phẩm của họ đặt vào một góc khiêm tốn trong ngăn kéo dành cho các bộ chính sử. “Tiểu thuyết” với họ, dù được mệnh danh là “chí”, “chí truyện” hay gì gì chăng nữa, thì bất quá cũng là một dòng nhỏ, một nguồn bổ sung cho quốc sử. Mà đã là “quốc sử” thì phải “thực”, trăm phần trăm chính xác, chứ không thể là “hư”, thêu dệt, vẽ vời, dựng chuyện… Tất nhiên nói vậy thôi. Trong thực tiễn sáng tác, để thu hút người đọc, các tác giả cũng đã phấn đấu làm sao cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, tình tiết trở nên ly kỳ, nhân vật trở nên sinh động, nghĩa là đều phải gia công nghệ thuật. Cái gọi là “nhân chân” (người thật), “sự chân” (hợp tình) ở đây không ít thì nhiều đều có châm chước, xuất nhập cả. Không thế, họ đã không chọn hình thức tiểu thuyết chương hồi, một thể loại văn học thường dành cho độc giả những hồi hộp, bất ngờ thú vị và độc giả cũng không cứ phải xem tác phẩm của họ, vì đã có những bộ sử chỉnh chiện như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục… kia rồi! Ở nhóm tiểu thuyết viết về tình yêu, từ quan niệm tiểu thuyết không thể không hư cấu, tác giả Đào hoa mộng ký đã mạnh dạn sáng tạo không những về nội dung câu chuyện mà cả trong nghệ thuật trình bày. Hình thức tiểu thuyết chương hồi vừa có phần chữ Hán dành cho bình luận, vừa có phần chữ Nôm viết theo thể thơ lục bát, phải kể là một độc đáo. Ở nhóm tiểu thuyết viết về lịch sử, do biết khai thác chỗ mạnh của tiểu thuyết chương hồi, một số tác phẩm, nổi nhất là Hoàng Lê nhất thống chí, biết kết hợp “sử” với “văn”, làm cho tác phẩm tuy thực mà hư, tuy hư mà thực, nhờ vậy đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ, có thể sánh cùng các bộ tiểu thuyết lịch sử ưu tú của các nước cùng khu vực. Hoan Châu ký, một cuốn gia phả trình bày dưới dạng tiểu thuyết chương hồi, cũng có mặt sáng tạo riêng của nó. Tuy nhiên, hình tượng nhân vật trong Đào hoa mộng ký nói chung chưa sắc nét. Phần bình luận bằng văn xuôi của tác phẩm tuy có nhiều cái mới, nhưng phần sáng tác bằng văn vần thì còn lâu mới đuổi kịp Truyện Kiều, một kiệt tác mà Đào hoa mộng ký muốn vượt qua. Ở nhóm tiểu thuyết lịch sử, do không biết tận dụng mặt sở trường của tiểu thuyết là hư cấu, nên hầu hết các tác phẩm, trừ Hoàng Lê nhất thống chí và Trùng Quang tâm sử, nghệ thuật đều không cao. Ở Đây hình tượng nhân vật thường khô khan, văn vẻ kém hình ảnh và ít khả năng gợi cảm. Riêng Việt Lam xuân thu tuy có chú ý hơn đến vấn đề hư cấu, nhưng một số chỗ lại quá đà, làm cho tính chất “truyền kỳ” của tiểu thuyết lấn át tính chất “truyền tín” của chính sử, ảnh hưởng đến niềm tin của độc giả. Thí dụ tác phẩm đã dựng lên chuyện Lê Lợi hợp tác với giặc Minh để tiêu diệt nhà Hồ, là điều không thể nào xảy ra ở một nhân vật mà tác giả vốn xem như biểu tượng của sự trầm tĩnh, khôn ngoan, kiên định. Những hạn chế trên đây thật ra không khó hiểu đối với tiểu thuyết chương hồi Việt Nam, một nền tiểu thuyết còn nhiều no trẻ. Dẫu sao thì mảng tiểu thuyết này cũng đã mang lại cho người đọc những hiểu biết nhất định về lịch sử dân tộc được trình bày một cách không quá khô khan “khó ngốn” như sử, góp phần nào nhu cầu thưởng thức văn học nói chung(16). CHÚ THÍCH (1) Trên Tạp chí Nam phong, từ số 48, Nguyễn Hữu Tiến có dịch và giới thiệu bộ tiểu thuyết chương hồi nhan đề Lĩnh Nam dật sử mà theo lời tựa của sách thì tác phẩm này do Trần Nhật Duật người đời Trần dịch từ chữ Hán ra Hán văn. Nhưng đúng như Nguyễn Đổng Chi, tác giả Việt Nam cổ văn học sử từng cảm nhận: “Xét câu văn và lối sắp đặt thì còn hồ nghi lắm” (VNCVHS, Nxb. Hàn Thuyên, 1942, tr.273). Gần đây, chúng tôi độc cuốn Trung Quốc thông tục tiểu thuyết thư mục của Tôn Giai Đệ. Tác giả xuất bản xã, Bắc Kinh, 1958, ở tr.150 có giới thiệu lai lịch bộ sách đỏ như sau: “Lĩnh Nam dật sử 28 hồi, khắc in vào năm Gia Khánh thứ 14 (1809) đời nhà Thanh. Hiện còn loại bản khổ nhỏ, ngoài bìa đề “Lâu Ngọc Lâu tàng bản”. Một loại bản khổ nhỏ khác ngoài bìa đề “Văn Đạo Đường tàng bản”. Sách do Hoàng Nại Am người đời Thanh soạn. Trong sách có ghi Hoa Khê Dật Sĩ biên thứ: Túy Viên Cuồng khách bình điểm; Trác Trai Trương Khí Giã và Trúc Viên Trương Tích Quang đồng tham hiệu. Đầu sách có bài tựa của Tây Viên Lão Nhân viết năm Giáp Dần, Càn Long thứ 59 (1794), một bài tựa nữa của Trương Khí Giã. Bản Văn Đạo Đường thiếu hai bài tựa trên, nhưng lại có bài tựa của Lý Mộng Tùng viết năm Tân Dậu, Gia Khánh thứ 6 (1801) và một bài Phàm lệ gồm 4 mục. Nại Am người Quảng Đông. Tên thực cũng như quê hương bản quán, chờ tra cứu”. Có thể thấy bản Lĩnh Nam dật sử viết tay hiện tàng trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.856/1-3, cuốn mà Nguyễn Hữu Tiến đã dựa vào để dịch, chỉ là một “ngụy tác” hay đúng hơn, đánh tráo một bộ tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc. (2) Hoan Châu ký, Nguyễn Thị Thảo dịch, GS Trần Nghĩa khảo đính và giới thiệu. Nxb. KHXH, H. 1988. (3) Hoàng Xuân Hãn, trong bài Đúng 300 năm trước (Tập san Sử Địa, số 26 Sài Gòn, 1974), dựa vào Quốc triều hương khoa lục, cho rằng “Tri huyện Giản” tên thực là Nguyễn Giản, người xã Yên Định, huyện Thụy Anh, xứ Sơn Nam (nay thuộc Thái Thụy, Thái Bình), đỗ Hương cống năm 1807, làm quan đến Án sát. Cũng trong bài viết trên, dựa vào Đại Nam thực lục Chính biên, ông cho giữ chức Tham hiệp trấn Sơn Tây đầu đời Nguyễn (Dẫn theo Nam triều công nghiệp diễn chí, Bd lại có sửa chữa của Ngô Đức Thọ - Nguyễn Thúy Nga, Ngô Đức Thọ giới thiệu, sách sắp xuất bản). (4) Trịnh Nguyễn diễn chí, Ngô Đức Thọ dịch, Sở VH - TT Bình Trị Thiên xuất bản, 1986; Mộng bá vương, Ngô Đức Thọ dịch, Nxb. Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1990. (5) Bd. của Cát Thành xuất bản năm 1912; Bd của Ngô Tất Tố xuất bản năm 1942, tái bản năm 1958; Bd. của Nguyễn Đăng Tấn - Nguyễn Công Liên xuất bản năm 1950 dưới tiêu đề Hậu Lê thống chí; Bd. của Nguyễn Đức Vân - Kiều Thu Hoạch xuất bản năm 1964, tái bản vào các năm 1970, 1984. (6) Hoàng Việt long hưng chí, Ngô Đức Thọ, Mai Xuân Hải, Nguyễn Văn Nguyên dịch, Ngô Đức Thị giới thiệu và chỉnh lý. Nxb. Văn học, Hà Nội, 1993. (7) Bd. của Trần Lê Hữu, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1957, dưới tiêu đề Hậu Trần dật sử; Bd của Nguyễn Văn Bách, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1971, dưới tiêu đề Trùng Quang tâm sử. (8) “Bái” trong “Bái quan dã sử” nguyên nghĩa là “gạo tấm”. “Bái quan”, theo Nhan Sư Cổ, chỉ chức quan nhỏ do triều đình cử về các địa phương để tìm hiểu, phong tục tập quán cùng lời ăn tiếng nói ở nông thôn, ghi lại và tâu lên cho vua biết. Những tư liệu ghi lại đó gọi là “bái quan dã sử” hay “bái quan tiểu thuyết” - những câu chuyện vụn vặt, “tấm mẳn” thu lượm được từ nơi thôn dã. “Ngoại sử” là cách gọi khác của “bái sử” (bái quan dã sử) hay “tiểu thuyết”. (9) Thậm chí đến năm 1941, khi Dương Quảng Hàm đưa in bộ Việt Nam văn học sử yếu, trong sách còn xếp Hoàng Lê nhất thống chí vào thể loại “truyện ký”, bên cạnh Lĩnh Nam chích quái, Truyền kỳ mạn lục, Thượng Kinh ký sự… (xem Việt Nam văn học sử yếu, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, tr.288 - 289). (10) Trong kho thư tịch Hán Nôm Việt Nam hiện có một cuốn sách nhan đề Lưu Kính thoại bản, mang ký hiệu AB.594, soạn theo thể văn kể chuyện, mỗi câu 6 chữ, nhưng không thuộc ngôn ngữ văn học khu vực thời cổ tức Hán ngữ, mà thuộc về ngôn ngữ văn học dân tộc Việt Nam tức văn Nôm. Vả chăng loại “thoại bản” như thế này ở nước ta cho đến nay chưa thấy có trường hợp thứ hai. (11) Bao gồm thần tích thuộc các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Đông, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Kiến An, Lạng Sơn, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Phú Thọ, Phúc Yên, Quảng Yên, Sơn Tây, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Tuyên Quang, Vĩnh Yên dưới triều Nguyễn. (12) Tam quốc diễn nghĩa: do La Quán Trung (1330 - 1400?) người đời Minh soạn. Bản in sớm nhất hiện còn là bản ấn hành vào năm 1522, thời Minh Gia Tĩnh. Đây là bộ tiểu thuyết lịch sử dài viết theo kiểu chương hồi đầu tiên của Trung Quốc, nội dung kể lại quá trình từ hưng thịnh đến suy vong của ba nước Ngụy, Thục, Ngô. (13) Thủy hử: do Thi Nại Am (1296? - 1370?) người đời Minh soạn, nội dung kể lại cuộc khởi nghĩa nông dân cuối thời Bắc Tống, do Tống Giang lãnh đạo. (14) Kim Vân Kiều truyện : do Thanh Tâm Tài Nhân, người đời Thanh soạn, gồm 20 hồi. (15) Hạnh hoa thiên: do Cổ Đường Thiên Phóng Đạo Nhân, người đời Thanh soạn, gồm 14 hồi. Đào hoa mộng ký có dẫn. (16) Đào hoa ảnh: do Từ Chấn, người đời Thanh soạn, gồm 12 hồi. Đào hoa mộng ký có dẫn. (17) Riêng bộ Lĩnh Nam dật sử 28 hồi hiện có trong kho sách Viện Hán Nôm, ký hiệu A.856/1-3, ghi: “Ma Văn Cao hiệu Dịch Sơn Động Sĩ người vùng sông Đà sáng tác, Nhật Duật tức Chiêu Văn Vương dịch và đề tựa năm Hưng Long Đinh Dậu (1297), Quốc Toản tước Hoài Văn Hầu hiệu chính, Trương Hán Siêu hiệu Thặng Am bình luận”. Đây chỉ là một ngụy tác như trên kia đã chứng minh. Trên thực tế, Việt Nam không có và không thể có một cuốn tiểu thuyết chương hồi nào ra đời trước Tam quốc diễn nghĩa và Thủy hử. (18) Khi viết bài này, tôi có tham khảo một số chỗ trong bộ sách Trung Quốc cổ điển văn học từ điển do PTS. Trịnh Khắc Mạnh cho mượn. Nhân đây, xin cảm ơn PTS. Riêng bộ Lĩnh Nam dật sử 28 hồi hiện có trong kho sách Viện Hán Nôm, ký hiệu A.856/1-3, ghi: “Ma Văn Cao hiệu Dịch Sơn Động Sĩ người vùng sông Đà sáng tác, Nhật Duật tức Chiêu Văn Vương dịch và đề tựa năm Hưng Long Đinh Dậu (1297), Quốc Toản tước Hoài Văn Hầu hiệu chính, Trương Hán Siêu hiệu Thặng Am bình luận”. Đây chỉ là một ngụy tác như trên kia đã chứng minh. Trên thực tế, Việt Nam không có và không thể có một cuốn tiểu thuyết chương hồi nào ra đời trước Tam quốc diễn nghĩa và Thủy hử. Lĩnh Nam dật sử : tác giả Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Các thông tin sau thời Trần Nhân Tông có trong cuốn truyện này (rất ít và cực kỳ tinh vi) là được sửa đổi và thêm thắt vào để chứng tỏ được sáng tác vào thời Minh. Cuốn Lĩnh Nam dật sử hàm ý các cuốn tiểu thuyết chương hồi có nguồn gốc Lĩnh Nam, hay nói đúng hơn là Đại Việt chứ tên gọi này không ăn nhập vào nội dung cuốn truyện. Ý nghĩa này giống như cuốn Lĩnh nam chích quái vậy. Trong cuốn Lĩnh Nam dật sử này, có đề cập đến các nhân vật quan trọng nhất trong các cuốn sách Thủy Hử, Tam Quốc Chí, Tây Du Ký, Tùy Đường diễn nghĩa như là những cuốn tiểu thuyết của Đại Việt.
-
5/Hanuman. Là con khỉ trung thành phụ giúp Rama trong cuộc tìm kiếm nàng Sita. Hanuman được tôn thờ khá phổ biến đối với những người Ấn giáo thuộc Nam Á châu. Trong Ramayana có kể về chuyện Hanuman trở thành khỉ chúa và dẫn đàn khỉ đi tìm ở khắp Ấn Độ khi nàng Sita bị bắt cóc. Sau cùng nó đã tìm thấy nàng trong một khu rừng của quỷ vương Ravana ở Tích Lan. Qua bao cuộc chiến đấu và mưu mô, Hanuman đã cứu được công chúa Sita cho chủ mình. Bất cứ thân tướng gì mà Hanuman hiện ra, người ta đều dễ dàng nhận được vì Hanuman thường được tô điểm với màu đỏ. Năm 1972, tên chính thức của đất nước được đổi thành "Cộng hòa Sri Lanka Tự do, Chủ quyền và Độc lập " (ශ්රී ලංකා śrī lankā trong ngôn ngữ Sinhala (trong khi chính hòa đảo này tự gọi mình là ලංකාව lankāva), இலங்கை ilaṅkai trong tiếng Tamil). Năm 1978 nó được đổi thành "Cộng hòa Sri Lanka xã hội chủ nghĩa dân chủ". Trước năm 1972, Sri Lanka được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau: các nhà địa lý học Hy Lạp cổ đại gọi nó là Taprobane, người Ả rập gọi là Serendib, Ceilão là tên chính thức do người Bồ Đào Nha đặt khi họ tới hòn đảo này, nhưng có lẽ tên nổi tiếng nhất là Ceylon. "Sri Lanka" (nguyên gốc từ tiếng Phạn) được dịch thành "Lanka đáng kính", "śrī" nghĩa là "đáng kính trọng" và "laṃkā" là tên cổ của hòn đảo đã được kiểm chứng trong cuốn Mahabharata và sử thi Ramayana. Những cư dân đầu tiên trên hòn đảo Sri Lanka ngày nay có thể là tổ tiên của người Wanniyala-Aetto, cũng được gọi là Veddahs với dân số khoảng 3.000 người. Phân tích ngữ âm cho thấy có sự tương quan giữa ngôn ngữ Sinhalese và các ngôn ngữ Sindh và Gujarat, dù đa số các nhà sử học tin rằng cộng đồng Sinhala đã xuất hiện sau sự đồng hóa nhiều nhóm dân tộc khác. Người Dravidian có thể đã bắt đầu di cư tới hòn đảo này từ thời tiền sử. Một số điểm khảo cổ học đáng chú ý, gồm cả tàn tích Sigiriya, được gọi là "Pháo đài trên bầu trời", và các công trình công cộng lớn có từ thời cổ đại. Trong số những công trình công cộng đó có những "bể nước" hay hồ chứa nước lớn, đóng vai trò quan trọng trong việc tích trữ nước cho mùa khô, và các hệ thống cống dẫn nước tinh vi, với độ nghiêng được xác định chỉ là một inch trên mỗi dặm. Sri Lanka cổ đại cũng là một trong những đất nước đầu tiên trên thế giới đã thành lập một bệnh viện chuyên môn tại Mihintale từ thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên. Sri Lanka cổ đại cũng là nhà xuất khẩu quế hàng đầu thế giới, quế đã được xuất khẩu sang Ai Cập ngay từ năm 1.400 trước Công Nguyên. Sri Lanka cũng là nước Châu Á đầu tiên có vua cai trị là nữ giới, Nữ hoàng Anula (47–42 TCN). Sri Lanka cổ đại nằm dưới quyền quản lý của nhiều tiểu quốc, chia thành nhiều vùng khác nhau. Hòn đảo này thỉnh thoảng cũng phải chống trả các cuộc xâm lược từ phía các vương triều Nam Ấn và nhiều phần của nó cũng phải trải qua các giai đoạn cai trị của triều đại Chola, triều đại Pandya, triều đại Chera và triều đại Pallava. Sri Lanka cũng từng bị các vương quốc Kalinga (Orissa hiện đại) và các vương quốc từ Bán đảo Malay xâm chiếm. Phật giáo từ Ấn Độ được Tỳ kheo Mahinda, con trai của hoàng đế Maurya Ashoka, đưa tới đây từ thế kỷ thứ 3 TCN. Phái đoàn của Mahinda đã chiếm được lòng tin của vua Singhalese là Devanampiyatissa xứ Mihintale, vị vua quyết định theo tôn giáo mới và truyền bá nó trong khắp dân cư Sinhalese. Các vương quốc Phật giáo tại Sri Lanka xây dựng một số lượng lớn các trường Phật học và đền chùa, và hỗ trợ việc truyền bá đạo Phật vào vùng Đông Nam Á. Thật độc đáo: Truyện Dạ Xoa Vương nói về Ấn Độ và Sri Lanka, Ấn Độ phía Ba8`c so với Sri Lanka: chính thức khẳng định Ấn Độ là Hồ Tôn Tinh thông qua ẩn nghĩa Thần khỉ Hanuman. Chúng ta sẽ phải giải quyết mối quan hệ các nước mà trước đây thuộc Văn Lang qua văn hóa và lịch sử.
-
Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Dạ Xoa Điêu khắc trên đài thờ Trà Kiệu Thời thượng cổ, ở ngoài nước Nam Việt Âu Lạc có nước Diệu Nghiêm, vua nước ấy hiệu là Dạ Xoa (còn có tên là Trường Minh Vương và Thập đầu Vương). Phía bắc nước ấy giáp nước Hồ Tôn Tinh, thái tử nước Hồ Tôn Tinh tên là Vi Tư (1), có người vợ tên là Bạch Tịnh, nhan sắc tuyệt trần, trên đời ít ai có được. Vua Dạ Xoa nghe tin rất thích, bèn đem quân vây đánh nước Hồ Tôn Tinh, cướp được nàng Bạch Tịnh đem về nước. Vi Tư cả giận , liền đem quân khỉ (di hầu) phá núi lấp biển thành ra đất bằng, đánh phá nước Diệu Nghiêm, giết vua Dạ Xoa, rồi đem nàng Bạch Tịnh về nước (Hồ Tôn Tinh là loài khỉ (di hầu) tinh, nay là nước Chiêm Thành): Câu này là câu bình. Chú thích: 1) Bản A 2914 chép là Trưng Tư (Dịch giả: chữ Hán Vi và Trưng rất dễ bị nhầm). (Nguyễn Hữu Vinh dịch) Bình: Điêu khắc quân khỉ ở chùm tháp Khương Mỹ • Đây rất rõ là truyện tóm tắt của Trường ca Ramayana của Ấn giáo, là một phần chính của văn hóa Chiêm Thành, trở thành một phần của văn hóa Việt Nam qua đồng bào Chăm. Ramayana là một trường ca dài 24.000 nghìn câu, chia thành 500 chương, chứa trong 7 quyển, có lẽ ra đời khoảng thế kỷ thứ 8 trước công nguyên. Đây là một câu truyện giáo lý, cùng với trường ca Mahābhārata, thành 2 truyện giáo lý lớn trong Ấn giáo, dạy con người cách sống đúng, cũng như giải thích giáo pháp cho mọi người. Nhân vật chính là hoàng tử Rama, hiện thân của thần Vishnu tái sinh lần thứ 7. Ayana trong tiếng Sankrist là “đi, tiến tới”. Ramayana vì vậy là “Cuộc hành trình của Rama”. Vợ của Rama là công chúa Sita, hiện thân tái sinh của thần Lakshmi, một trong những người vợ của thần Vishnu. Sita là biểu tượng của sự tinh khiết và đức hạnh của phụ nữ. Trong truyện Việt có tên là Bạch Tịnh – trắng và trong sạch. Sita bị Ravana, là một quỷ Rakshasa, bắt cóc. Có lẽ chữ “quỷ dạ xoa” đến từ chữ “quỷ Rakshasa.” Ravana là vua của nước Lanka. Rama đi cứu vợ, gặp khỉ tướng Hanuman, làm bạn, và do đó giúp khỉ vương Sugriva lấy lại ngai vàng. Để trả ơn Sugriva cho Hanuman và các quân khỉ giúp Rama đi đánh vua quỷ Ravana, giải thoát vợ. • Trong các di tích khảo cổ của văn hóa Chăm có khá nhiều các hình ảnh khỉ, như Đài thờ Trà Kiệu, khai quật năm 1901, và các phát hiện mới đây của khu tháp ở Khương Mỹ, Quảng Nam. (Trần Đình Hoành bình) Theo nhận xét của Huber trong La Légende du Ramayana en Annam, Etudes indochinoises thì Hồ Tôn Tinh có thể là vương quốc Chăm Pa cổ. Những quốc gia chịu ảnh hưởng nền văn minh Ấn Độ thời đó đều có sự tích giống nhau, tại Indonesia trong các đền thờ đạo Bà-la-môn lớn đều khắc truyện thần thoại này trên tường đá. Chuyện Quỷ Vương có mười đầu có lẽ chỉ là cách miêu tả thô thiển ngai vàng của các vị vua trong thần thoại Ấn Độ và Phù Nam thường có hình rắn hổ mang (naja) mười đầu. Đúng là trường ca Ramayana thế kỷ thứ III trước Công nguyên nhưng ẩn ý câu chuyện lại khác. Nước Hồ Tôn chính là Ấn Độ, vậy thì chính sử của các nước Đông Nam Á có nói gì liên quan đến Văn Lang??? Các câu chuyện có liên quan đến Hồ Tôn: Bạch Trĩ - Mộc Tinh - Dạ Xoa vương. Cuộc đời của đức Phật:Như chúng ta đều biết, đức Phật xuất thân là một vị Đông cung Thái tử, sống trong nhung lụa với tất cả những tiện nghi của một vị Hoàng đế. Nhưng Ngài không đành lòng hưởng thụ riêng cho mình nên đã từ bỏ tất cả, vượt thành xuất gia để tìm đường giải thoát cho bản thân và nhân loại. Theo lịch sử vào ngày trăng tròn tháng tư tính theo âm lịch của chúng ta, nhưng theo Ấn Độ thì ngày trăng tròn tháng năm vào năm 543 trước Công Nguyên, tại thành Ca Tỳ La Vệ, trong vườn Lâm Tỳ Ni, Thái tử Tất Đạt Đa ra đời. Cha Ngài là vua Tịnh Phạn thuộc dòng quý tộc Thích Ca, mẹ là Hoàng hậu Ma Da. Sau khi sanh Ngài được bảy ngày thì Hoàng hậu Ma Da qua đời. Người em gái của bà là Ma Ha Ba Xà Ba Đề, tức bà Kiều Đàm Di nuôi dưỡng Ngài. Thái tử được nuôi dưỡng cưng chiều với tất cả tiện nghi cao nhất của một ông hoàng. Một hôm nhân ngày đầu vụ mùa, vua quan đến vùng nông thôn làm lễ, cày những luống cày đầu tiên với ước nguyện nông dân được trúng vụ mùa, thu hoạch nhiều, đem lại no ấm cho toàn dân. Ngày này gọi là ngày lễ hạ điền. Thái tử Tất Đạt Đa cũng được theo vua cha đến dự lễ hạ điền. Lễ rất vui, mọi người ăn mặc đẹp đẽ, sang trọng. Các nông dân theo nghi thức của nhà nước đến đó dâng lễ đối với các bậc thần thánh tổ quốc và sau đó chuẩn bị cày những luống cày đầu tiên dưới sự chứng kiến của vua, các vị đại thần. Đây là ngày lễ hội rất lớn đối với toàn dân Ấn Độ thời bấy giờ. Trong lúc mọi người đang nô đùa mừng lễ, Thái tử cũng rất vui nhưng khi thấy từng luống cày, từng thớ đất lật lên có những con trùng, con dế bị đứt làm hai làm ba, liền đó các loài chim ở rừng bay đến, giành nhau nuốt những con vật nhỏ kia. Rồi người thợ săn rình rập đâu đó, lắp cung tên sẵn sàng hạ thủ mấy con chim. Đồng thời trong khu rừng, những con hổ chực chờ để vồ lấy gã thợ săn. Thấy cả một chuỗi tranh giành, cấu xé của chúng sanh, Thái tử quá đau lòng nên sắc diện trở nên trầm tư buồn bã. Thành ra, thay vì dự lễ vui tươi như bao người thì Thái tử lại tìm một nơi yên lắng, ngồi suy tư bất động dưới bóng cây.
-
Từ huyền sử đến sự thật Trần Thị Vĩnh-Tường Hơn 4000 năm, huyền sử lặng lẽ trôi đi dưới đôi bờ thời gian. Những nhân vật hết sức mờ ảo chỉ đến với nhân gian một lần, rồi biến mất tựa như Lưu Nguyễn quên trần hoàn. Huyền sử là gì? Người Hy Lạp hãnh diện về Hélène thành Troie, thương cảm cho định mệnh của giai nhân. Thế giới ngưỡng mộ Cléopatre qua khuôn mặt diễm lệ của Liz Taylor, tin chắc rằng “nếu mũi nàng chỉ ngắn một chút xíu, cả thế giới đã thay đổi.” Huyền thoại trong Cựu Ước cho Moses rẽ biển Hồng Hải, cứu dân Do Thái thoát vòng nô lệ. Như C.S Lewis (1898-1963) nhận xét “Huyền thoại là một thể loại nghệ thuật rất khác với văn học”. Dù không hội được những điều kiên của sử học, huyền sử/huyền thoại/truyền thuyết vẫn có giá trị: ghi nhận và chuyên chở một phần sự thật của quá khứ, thổi vào quá khứ ấy một linh hồn riêng của mỗi tộc người. Đằng khác, huyền sử luôn ở một đầu đối chọi với sử học. Một đằng dựa vào cổ tích truyền miệng, văn hóa dân gian, không gian huyền ảo, siêu nhân vật thần thánh. Một đằng dựa vào những giá trị có thể kiểm chứng được: ở đâu/cái gì/tại sao/thế nào/bao giờ. Nhưng cũng theo phương pháp sử hoc, một sự kiện sai vẫn là một sụ kiện và vẫn có thể dùng như tia phản hồi giúp cho sự kiện đúng được lộ ra ngoài ánh sáng. Ví dụ: lý do người Mỹ dựng lên vụ tàu Maddox 1963 để có cớ tấn công vào vịnh Bắc Việt là một sự kiện ảo (1), nhưng hậu quả của việc này lại là một biến cố lịch sử làm thay đổi vận mệnh của cả dân tộc VN. In hệt như vụ Irak với “sự kiện ảo”: Saddam Hussein sở hữu vũ khí tàn sát tập thể. Năm 1979, Trung Quốc lấy cớ “bênh vực Hoa Kiều ở VN, để dậy cho VN một bài học” chỉ là cái vỏ bên ngoài. Nhưng trận chiến kinh hoàng gây tổn thất nhân mạng và tài sản cho cả hai bên ở biên giới Việt-Hoa, là một sự kiện lịch sử. Vì vậy, câu hỏi “truyền thuyết Hồng Bàng có thật không” nên đổi lại “truyền thuyết có ý nghĩa gì”. Truyền thuyết Hồng Bàng có tự khi nào? Đại Việt sử ký, bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam, do Lê Văn Hưu (1230-1322) soạn năm 1272 không có truyền thuyết Hồng Bàng. Lĩnh Nam Chích Quái, chuyện cổ tích và truyền thuyết.do nhiều thế hệ soạn giả soạn. Có đến 9 bản LNCQ chép tay, mỗi bản thêm/bớt một số chuyện. Cuối thế kỷ 15, Vũ Quỳnh và Kiều Phú nhuận sắc thêm “ghi chép những chuyện kỳ lạ thu ghép lượm lặt được ở cõi Lĩnh Nam” (sic). Truyền thuyết Hồng Bàng và nhiều cổ tích khác (Hồ tinh, Ngư tinh, Phù Đổng Thiên Vương, Nhất Dạ Trạch, thần Tản Viên, Cây Cau.. lần đầu tiên được ghi trong LNCQ. Kiều Phú viết trong bài tựa “Ôi! Nếu trời đã sai chim huyền điểu xuống để sinh ra nhà Thương (2) thì ắt có việc trăm trứng nở ra con chia nhau cai trị nước Nam. Truyện họ Hồng Bàng không thể mất được. Thà làm đầu con gà còn hơn làm đuôi trâu, cho nên con cháu họ Triệu chống lại Bắc Triều...”( 3) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, do Ngô Sĩ Liên (năm sinh/năm mất không rõ) soạn năm 1479, mang truyền thuyết Hồng Bàng vào phần ngoại kỷ. Năm 1919, tác giả Trần Trọng Kim (1882-1953) soạn Việt Nam Sử Lược dựa vào ĐVSKTT. Trần Trọng Kim mang truyền thuyết Hồng Bàng vào VNSL. Cùng thời, chữ quốc ngữ phát triển, truyền thuyết Hồng Bàng được nhắc nhở nhiều, khiến huyền sử trở thành chính sử. Truyền thuyết Hồng Bàng “Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh, cháu ba đời vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, và phong Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ. Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía Bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm thành), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Đông giáp bể Nam Hải. Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một trăm người con trai. Lạc Long quân bảo Âu Cơ rằng: ''Ta là dòng dõi Long-quân, nhà ngươi dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được. Nay được trăm đứa con thì nhà ngươi đem 50 đứa lên núi, còn 50 ta đem xuống bể Nam Hải.'' (sic) Truyền thuyết nơi người Việt hải ngoại Ở Orange County, địa danh/tên tuổi của truyền thuyết được dùng đặt tên cho một số cơ sở: Trung Tâm Việt Ngữ Hồng Bàng, Hiệp Hội Di Sản Hùng Vương, Đoàn Văn Nghệ Lạc Hồng, hoặc... tiệm ăn: Âu Lạc. Thật sự, những người quan tâm tới truyền thuyết Hồng Bàng, tới lịch sử nói chung, không nhiều. Một số người còn tỏ vẻ coi thường, cho Hồng Bàng là chuyện vớ vẩn khó tin. Trái lại, một số bài viết/tác phẩm công phu/dài hơi, huyền thoại hóa thêm truyền thuyết đã sẵn mầu mờ ảo, khiến truyền thuyết/lịch sử dường như trở thành một món xa xỉ, chỉ dành cho giới... cao cấp. Hậu quả, những buổi nói chuyện về tiểu phẩm/tác phẩm lịch sử chỉ lôi cuốn được một số người, đa số lớn tuổi, hoặc các cựu giáo chức sử/địa/ngôn ngữ. Con số thật khiêm nhường so với một buổi trình diễn ca nhạc. Do đó “về nguồn, di sản văn hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc, 4000 năm văn hiến...” được lập đi lập lại trong các bài bình luận/diễn văn đẫm ánh đèn sân khấu, cũng hiếm khi nêu rõ nguồn gì, di sản ấy là gì, bản sắc gì, giữ gìn thế nào, văn hiến tính từ hồi nào... Ở giới trẻ, có lẽ sự hiểu biết về truyền thuyết cũng hạn chế. Ngay các thày cô giáo tình nguyện dạy Việt Ngữ, cũng không có câu trả lời khi các em học sinh thắc mắc “đẻ một lần một trăm con, người đẻ ra trăm trứng...” Vô tri bất mộ, không biết tất không yêu. Tuy không nói ra, các em không tin tưởng vào truyền thuyết nữa. Cứ thế, nước chảy qua cầu. Tình trạng này, có lẽ bắt nguồn từ vài khiếm khuyết có từ rất lâu, ngay từ trước 1975 ở miền Nam: . Thiếu khái niệm về huyền thoại và lý giải hợp lý ; . Thiếu giải thích địa bàn, thời điểm, bản đồ, di chỉ, đồ thị, tranh ảnh... trong hầu hết các sách giáo khoa hoặc các tác phẩm lịch sử. Sử Địa vì vậy là một môn học rất khó nhá, chỉ cần học thuộc lòng để đi thi rồi thôi. Bài viết ngắn này vì vậy xin gợi sự lưu ý đến địa điểm Hồ Nam và Ngũ Lĩnh, cùng những tồn nghi từ thuở còn ngồi ghế trung học. Địa bàn của truyền thuyết Chuyện “tuần thú” phương Nam của vua Đế Minh rất dế mèn phiêu lưu ký. Không rõ ông bắt đầu từ đâu, đi với ai, đi bằng gì, đi năm nào. Đến núi Ngũ Linh, Đế Minh gặp một nàng tiên. Mối duyên tình kỳ bí bắt đầu, làm tiền đề cho truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt. Nhân dáng nàng tỏa hương cổ tích: tất cả các tiên đều xuất phát từ miền núi, hang động. Động Bích Đào (4) vàng rơi ánh nguyệt, động Thiên Thai (5) nơi hoa xuân chưa gặp bướm trần gian. Từ núi, người tiên huyền thoại chỉ hiện ra một lần. Giới sử học hiếm khi lý giải đến tên tuổi lý lịch dòng tộc nàng. Dung nhan mờ ảo của nàng lùi dần rồi khuất xa mãi mãi, dù người Việt vẫn hãnh diện nhận “con rồng cháu tiên”. Nhưng nơi tương phùng lại có thật: núi Ngũ Lĩnh ở phía nam sông Dương Tử, thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ. 5000 năm trước, nơi đó chưa có tên. Nhưng có tìm tòi, mới thấy cái khó khăn của người xưa, khi tài liệu duy nhất là từ Trung Hoa. Ngay bây giờ, chỉ đi tìm chân dung núi Ngũ Lĩnh, thiếu điều tẩu hỏa nhập ma. Người Trung Hoa gọi Lĩnh Nam là vùng đất phía Nam núi Ngũ Lĩnh. Họ không để ý đến núi Ngũ Lĩnh này vì họ đã thống nhất các bộ lạc thuộc chủng Yue từ lâu. Các tự điển internet, Wikipedia, Encyclopedia, có nhũng mô tả khá xa nhau: Wuling Range ((fuq) chạy dài từ phía Tây Hồ Nam đến phía đông Quí Châu. Ngọn Wulingyuan, vĩ tuyến 29 16 Bắc, 110 22 Đông, hiện được Unesco công nhận là kỳ quan thế giới, là một nơi thu hút khách du lịch và cung cấp dược thảo các loại. Nanling, Nam Lĩnh, còn gọi là Ngũ Lĩnh (Wđ) tên dãy núi ở vùng ranh giới các tỉnh Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc, ngăn cách vùng Lưỡng Quảng với phần lãnh thổ phía bắc của vùng Giang Nam. Sách vở Việt lại chỉ lưu ý đến Tiểu Ngũ Lĩnh, biên giới thiên nhiên giữa 2 nước Việt-Hoa. Nơi đây là địa bàn của ít nhất hai cuốn dật sử đầu tiên của VN, Lĩnh Nam Dật Sử (1150), và Lĩnh Nam Chích Quái nói trên. Hồ Nam VW: phía Nam sông Dương Tử, kinh tuyến 108 47 đến 114 Đông, vĩ tuyến 24 đến 30 Bắc. Hồ Nam còn được gọi tắt là tỉnh Tương, theo tên sông Tương (6). Hồ Nam dài 774km, rộng 667km. Hà Nội, vĩ tuyến 21 Bắc, kinh tuyến 105 53 Đông. Mỗi độ là 66 miles hay 111km. Hà Nội cách cực Nam Hồ Nam 333km, cách cực Bắc Hồ Nam 999km. Địa bàn có thật, không có nghĩa câu chuyện xảy ra đúng in như vậy. 5000 năm trước, chưa có chữ, không có nước nào có tín sử. Tên các nhân vật đều bằng tiếng Hán ròng do người Trung Hoa đặt hàng ngàn năm sau. Các họ Minh, Hùng, Sùng, Lạc... không thấy hiện diện cả trong lịch sử Việt lẫn trăm họ bây giờ. Tìm kiếm chỉ là... vô vọng vì tất cả những tên tuổi/địa danh trong truyền thuyết đều được tô vẽ hay cóp nhặt qua lại (7). Điều quan trọng tác giả truyền thuyết muốn nhắn gửi là gì? Có phải “những nhân vật trong truyền thuyết thuộc chủng Việt cổ, xuất xứ từ một vùng đất của chủng Việt cổ,” là xứ Trung Hoa bây giờ. Nói “bây giờ,” vì 5000 năm trước, trên đất Việt Cổ, chưa có nước Trung Hoa. Nhà Chu, triều đại dài nhất và có tín sử của Trung Hoa (1046 - 256TCN) cũng vẫn chỉ là một số bộ lạc thuộc chủng Hoa Hạ ở bờ Bắc sông Hoàng Hà, thuộc hai tỉnh Cam Túc, Thiểm Tây. Thời Xuân Thu (771-401 TCN), Trung Hoa cũng vẫn chỉ là tập hợp một nhóm các nước nhỏ. Mãi đến đời Tần Thủy Hoàng, (207 TTC) gồm thâu 6 nước, mới bắt đầu thành hình một quốc gia gọi là Trung Hoa. Chủng Bách-Việt xin gọi là Việt-cổ - thiết nghĩ chính xác hơn, cho một ý niệm lập tức về thời gian- là hàng ngàn những bộ lạc/bộ tộc/thị tộc thuộc chủng Yue, tức Việt. Từ Bách Việt xuất hiện lần đầu tiên trong Sử Ký của Tư Mã Thiên. (109 TCN- 91 TCN.). “Bách”, hoàn toàn không có nghĩa “một trăm”. - Rảnh đi coi cải lương không? - Đâu được, bận một trăm việc đây nè. Tiếng Việt có nhiều ca dao/thành ngữ cùng tả ý “không đếm được” ấy: trăm công nghìn việc, trăm nhớ ngàn thương, trăm năm dầu lỗi hẹn hò, trăm dâu đổ vào đầu tằm... Thơ Nguyễn Bính: Mình đi trăm núi nghìn sông. Ngờ đâu mang cả lạnh lùng sang Nam. Chủng Yue có hai chi lớn nhất: Âu và Lạc. Mỗi chi đều có hàng ngàn những bộ lạc sống cạnh/xen lẫn nhau. Xem “Mékong Ký Sự”, một làng nhỏ ở Vân Nam bên giòng Lan Thương (8) gồm 2.600.000 dân, có đến 14 tộc người sống hòa bình với nhau. Tộc nào giữ nguyên ngôn ngữ, văn hóa tộc ấy từ hàng ngàn năm, hồn nhiên trước thay đổi của thế giới. Các tộc ấy,Yi, Hà Nhì, Bạch, Choang, Thái, Bái, Ngõa, Hán, Hồi, Miêu, Yao... sống đơn giản giữa thiên nhiên tuyệt diệu và câu chuyên thần kỳ về nguồn gốc tộc mình. Những tộc này cũng có mặt ở vùng thượng du/trung du Bắc Việt Nam. Điều này cho thấy sự du đãng kỳ diệu đến mức khó tin của bàn chân người. Đồng thời cũng cho thấy sức sống bền bỉ trong mỗi dân tộc dù thay đổi địa bàn sinh sống. Bản tin nghe từ radio tháng 3/2007: theo một cuộc phỏng vấn nửa triệu người ở 37 địa điểm trên đất Trung Hoa, chỉ 51% biết nói tiếng quan thoại, đa số là giới trẻ ở thành thị. Vậy 49% nói tiếng gì, bản tin không cho biết. Lạc Việt: một chi lớn thuộc chủng Yue. Lạc Việt cũng gồm hàng ngàn tiểu chi. Lạc Việt chỉ là một thành phần nằm trong Việt Cổ, nhưng Lạc Việt không bao giờ là toàn khối Việt cổ. Lạc Việt cũng là một trong nhiều thành tố cấu thành dân Việt ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy, khi sử Trung Hoa nói về Lạc Việt, dù là dân tộc, văn hóa, tiếng nói, biên giới, địa bàn, không phải lúc nào họ cũng ám chỉ người Việt ở Việt Nam. Đất Việt cổ: chỉ vùng đất từ sông Dương Tử trở xuống. Lúc đó, cả hai chủng Hoa Hạ và Việt cổ đều chưa thành lập những quốc gia đầy đủ những thành tố như bây giờ. Có chăng chỉ là những bộ tộc hay liên minh bộ tộc ở rải rác. Tình trạng chấp nhận truyền thuyết rồi bỏ lửng lơ không giải thích sẽ để lại cho thế hệ tương lai một black hole, một loại tin tưởng “không thấy mà tin”. Nhưng nếu chấp nhận truyền thuyết, sẽ phát sinh một loạt các câu hỏi: Hai chủng Hoa Hạ - Việt-cổ có pha trộn không? Vào thời điểm nào? Người Việt-cổ ở Trung Hoa bây giờ tan biến vào đâu? Người Việt Nam có phải là người Trung Hoa không? Người Việt Nam là thành phần nào của chi Lạc? Anh em gần gũi xa/gần của người Việt Nam là những tộc nào? Người Việt Nam hiện nay có phải là một dân tộc thuần chủng không? Nếu không, những thành tố kia là ai? Từ đâu đến? Hậu duệ là ai? Ngoài địa bàn trong truyền thuyết, người Việt Nam còn từ địa bàn nào khác? Quan niệm thế kỷ 15 thời sử gia Ngô Sĩ Liên “không dám rong ruổi ngàn năm để làm chuyện chắp vá”, là phát biểu thời quân chủ. “Thà làm đầu con gà còn hơn làm đuôi trâu”, đan tâm của người xưa muốn nêu cao tự hào dân tộc khi chủ quyền dân tộc bấp bênh. Năm 2007, nếu không xác nhận được địa bàn của tộc Việt, loại tranh cãi tỷ như ai là chủ nhân trống đồng, kinh Dịch, các nền văn hóa Đông Nam Á, văn minh lúa nước, tiếng Việt/tiếng Tàu... chỉ loanh quanh giữa các tác giả người Việt, những tấm lòng son cô quạnh giũa hoang phế miếu đường (9). Nói chi đến việc tự tin tranh cãi trên trường quốc tế về lãnh thổ/lãnh hải. Bảo vệ lãnh thổ vẫn là trường ca sinh tử cho dòng giống Việt như tự ngàn năm này qua ngàn năm khác!! CHÚ THÍCH (1) Maddox: www.history.navy.mil/photos/sh-usn/usnsh-m/dd731-k.htm (2) Nhà Thương: khoảng 1027 TCN, triều đại đầu tiên của Trung Quốc, phía Tây châu thổ sông Vị. Ông vua đầu tiên là Thành Thang, vua cuối cùng là vua Trụ. (3) Lĩnh Nam Chích Quái/Vũ Quỳnh, Kiều Phú/NXB Văn Học, Hà Nội. (4) http://chimviet.free...evh/lvhs067.htm Lê Văn Hảo/Xứ Thanh, Xứ Nghệ: động Bích Đào, còn gọi là động Từ Thức, huyền thoại về cuộc tình duyên đẹp dở dang giữa người trần Từ Thức với nàng tiên Giáng Kiều. Động Bích Đào nằm ở dãy núi Thần Phù (xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn), tỉnh Thanh Hóa. (5) Nguyễn Tường Bách/Mùi Hương Trầm, NXB Trẻ, 2003: huyền sử chép hai chàng Lưu Thần, Nguyễn Triệu đời Hậu Hán (25-250) đi hái thuốc trong núi gặp tiên. Sống với tiên được nửa năm, hai chàng nhớ nhà xin về. Lúc trở lại nhà thì dưới thế đã qua được 7 đời. Khi trở lại, đào nguyên không còn. Động Thiên Thai thuộc về núi Thiên Thai, 100 km cách thành phố Ninh Ba/Trung Hoa. (6) Chàng tại Tương giang đầu. Thiếp tại Tương giang vĩ, chính là ở đấy. (7) http://www.viethoc.o...75,8975,quote=1 Truyện Liễu Nghị, đời Tống, rất liêu trai chí dị: thư sinh kết duyên với con gái út của Long quân hồ Động Đình, in hệt đoạn Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân (8) Phim tài liệu Mékong Ký Sự/Truyền Hình TP HCM 2003, sông Lan Thương, tên của sông Mékong khúc chảy qua Vân Nam, có nghĩa “đóa Lan xanh”. (9) Viên Linh/Hỡi ơi hoang phế miếu đường. Lòng son như ngói âm dương tan tành.
-
Đông Lan AN VI và Tranh Thập Mục Ngưu Đồ Với Thiền, tu thì Tiệm, mà chứng thì Đốn. Nghĩa là, sự tu tập thiền vẫn cần đặt ra trong chiều thời gian mà đi đến từ từ, nhưng chứng là một biến cố ngoài thời gian. Thập Mục Ngưu Đồ ( mười bức tranh chăn trâu) của Thiền Tông cũng ghi lại bước tiến từng thứ bậc ấy. Bước tiến ấy theo ba đoạn đường: Hữu Vi- Sai Tâm bắt Tâm; Vô Vi- Tâm Vô Tâm; An Vi- Bình Thường Tâm. Mời bạn, tạm dừng bước, ghé bến thời gian, tịnh tâm chiêm ngắm 10 bức tranh của hành trình Tâm Thức An Vi… 1- Hữu Vi : Sai Tâm bắt Tâm (tranh 1,2,3,4,5, và 6) Chú mục đồng đi tìm trâu, đâu cũng là hoang vu, là rừng rậm, muôn nẻo khó tìm. Tìm ở đâu? Mơ hồ cảm thấy bóng dáng trâu, phải đi tìm (Tranh 1: Tìm Trâu); rồi chú mục đồng trong mong ước tìm được trâu, sẽ thấy được dấu vết của chân trâu, trâu có trốn đâu, “Tìm sẽ gặp” (Tranh 2: Thấy dấu). Trâu vẫn đứng đó một mình, tự thưở nào, đôi sừng lẫm liệt, mũi dựng mây xanh, thế là chú mục đồng đã lần theo dấu chân trâu mà thấy được trâu ( tranh 3: Thấy trâu) rồi nắm chắc sợi dây nối để giữ trâu sau khi đã được, không dám xa lìa, sợ mất trâu, (tranh 4: Được trâu); Trâu cũng thuần hoá dễ dàng, chú mục đồng giờ yên chí hơn với con trâu ngoan ngoãn, tay dắt trâu lòng nhẹ bước (tranh 5: Dắt trâu) . Chú mục đồng giờ đây vui mừng, ca hát líu lo, miệng thổi sáo, cỡi trâu về nhà (tranh 6: Cỡi trâu về nhà). Cỡi trâu về nhà là cỡi Tâm về chốn ban sơ. Một lúc nào đó, do những cơ duyên nào đó của đời, lòng ta bỗng dấy lên những thao thức băn khoăn. Hình như niềm vui trần thế không còn làm ta vui trọn vẹn, hình như cảnh đời có phần giả tạm, phồn hoa. Ta muốn tìm một Lẽ gì Thật hơn, ta muốn tìm niềm Bình An không thể bị hư hao vì đời trần thế… Dấu chân trâu là những dấu tích của Chân Lý mà ta ngưỡng vọng cầu tìm. Tìm sẽ gặp. Những dấu đó trong kinh, trong sách, trong những phút vắng lặng, tâm hồn trống trải, trí óc nhẹ nhàng… Ta phăng dấu ấn đi tìm trâu, rồi trâu hiện ra, toàn thể, gần gũi, dễ chịu, ta sợ mất, ta dắt, ta canh, ta cột cho thật chặt, rồi ta vui quá, leo lên lưng trâu, ca hát mà cưỡi trâu về… Trâu đâu còn khó tìm, trâu đâu có xa lạ, trâu và ta đã là Một trong buổi sớm mai An Vui ấy. Cũng như trâu, Tâm đâu ở nơi xa. Một lúc dừng chân, ghé thời gian, tìm dấu chân trâu Tính thể mới ngỡ ngàng nhận ra Ta với Tâm rất gần, rất thân, chỉ tại chưa lắng đọng nỗi đời hư huyễn, biên độ vọng động còn cao. Một phút tĩnh tâm, giao động giảm dần và tan loãng dần để Tâm Bình dàn trải: An Vui là như thế đấy, Hòa với Tâm, đi về Nhà, có Mẹ có Ta. 2- Vô Vi : Tâm Vô Tâm (tranh 7, 8) Đạo không mâu thuẫn. Đâu lý nào Ta với Tâm khác biệt đến nỗi phải đi tìm, đến nỗi phải vui mừng kềm giữ trâu chỉ sợ mất trâu. Tâm ở đâu mà cầu An Tâm? Đại Ngã còn phải cầu tìm để hòa nhập hay trở về cũng vẫn là cái gì cách biệt. Sự phân biệt này cũng do lý trí mà ra, nếu không dùng trí biện biệt, thì làm gì có Tâm, làm gì có tiểu và đại, làm gì có sự đi với đến hoặc trở về. Ôi thôi! Thế là tâm mà ta cứ mong mỏi cầu tìm, tâm mà ta tưởng là tâm của ta, cũng chỉ là vọng tâm của vọng tưởng, là huyễn của hư … Ta thấy bản thể Hư Tâm, là ta đã mất tâm rồi (tranh 7: Quên trâu còn người). Trong trống vắng tột cùng cõi tĩnh lặng như nhiên không một tạp niệm, ta thấy ta tinh tuyền, trong suốt, trống không, đâu còn gì ngoài Lẽ Thật nhiệm mầu của Huyền Đồng Chân Không Tuyệt Đối: ta mất ta rồi trong Tính Thể Bao Dung (trang 8: Người trâu đều quên). Tầm ngưu tu phóng tích Học Đạo quí Vô Tâm Tích tại, ngưu hoàn tại Vô Tâm đạo dị tầm. = Tìm trâu cần phăng dấu Học Đạo cốt Vô Tâm Dấu đâu thì trâu đó Vô Tâm đạo dễ tầm. 3-An Vi : Bình Thường Tâm (tranh 9, 10) Chứng được Tâm Vô Tâm, sau ba bước Chỉ, Định, Tĩnh nếu nói theo An Vi (Xem Lý Tưởng Đại Học Việt Nho ), hoặc theo Thiền là ba cảnh giới: dục giới, sắc giới và vô sắc giới, đây là bước quyết định cực kỳ quan hệ: ta đi đâu giữa cuộc hư vô này? Đâu là nguồn cội? Thế còn nẻo trần gian, có tội tình gì? Đạo Lý vẫn thâm sâu quyến hút huyền diệu gọi mời. Đời sống cũng lắm vẻ yêu thương bao tình riêng chung đậm nhạt. Lòng ta vẫn còn thổn thức một chữ Tình. Tâm ta vẫn còn vang vọng tiếng hát siêu linh. Bỏ một trong hai mà đi, mâu thuẫn vẫn còn đó, nghịch lý mãi còn đây. Mà hình như, chúng là tự thân, không sao hủy diệt. Mất trâu, mất cả mình, chú mục đồng cảm thức cái hạt bụi chân không nặng như ba ngàn thế giới: Có thì có tự mảy may, Không thì cả thế gian này cũng không. Nhìn xem bóng nguyệt dòng sông, Ai hay Không Có Có Không là gì ? (Huyền Quang Tôn giả) Và, thế là chú mục đồng hoát nhiên đại ngộ, chứng quả An Nhiên, Tự Tại, niềm Bình An thâm sâu. Chú mục đồng trở về với trời đất, có trời trong ta mà cũng có đất trong ta. Thế gian này trong muôn vật phân chia vọng động mà ta vẫn Bình An Thanh Tịnh, nếu không có cảnh Sắc này làm sao ta liễu ngộ cảnh Không? Ô kìa, núi vẫn là núi, mà mây cũng vẫn là mây, Tâm Hư Không mà đâu đâu không là cảnh hư không, nhìn hư huyễn trong sắc giới, thấy (kiến) Chân Như giữa đời thường, Tâm Bình An chính trong vọng động. Ôi, con đường đi của Thiền giả, bước Nghĩa Hành Trí Thức An Vi…“Vào rừng mà không khua lá, vào nước không quậy sóng”… Tu mà không biết mình tu, làm mà không thấy mình làm, trở về với trời đất để thấy Tâm ta là Tâm vũ trụ mà Tâm vũ trụ cũng là Tâm ta (tranh 9: Trở về nguồn cội). Và nữa, trở về với cuộc đời, với thế tục, trở về với cái Tâm Bình Thường, đất bụi đời không lem lấm được Tâm ta, thần linh hiển thánh trong từng nhất ý, nhất động của Ngôi Lời Nhập Thể và Nhập Thế (tranh 10: Thõng tay vào chợ), đâu đây lời Thánh Ca vang lên ngút ngàn Tranh số 1: Tìm Trâu Tranh số 2: Thấy Dấu Tranh số 3: Thấy Trâu Tranh số 4: Được Trâu Tranh số 5: Chăn Trâu Tranh số 6: Cưỡi Trâu về nhà Tranh số 7: Quên Trâu còn người Tranh số 8: Người Trâu đều quên Tranh số 9: Trở về nguồn cội Tranh số 10: Thõng tay vào chợ Đông Lan Đứng sau Thiền của Phật giáo là một "học thuyết thống nhất vũ trụ" chứ đâu chỉ lý luận được. Triết thuyết An Vi của triết gia Kim Định chỉ là một phần nhỏ trong học thuyết trên mà thôi. Làm sao "An vi được khi tương tác từ vũ trụ,... con người trong xã hội ào ạt đi tới mỗi cá nhân từng phút giây? Nội dung Kinh Thánh của các tôn giáo (ngoại trừ Phật giáo) chỉ là những mảnh vỡ nho nhỏ thôi, những người sáng tạo ra học thuyết, nguyên tắc về vũ trụ quan, nhân sinh quan đã tan thành tro bụi cả mấy thiên niên kỷ rồi!
-
TRUYỆN CHIM BẠCH TRĨ Về đời vua Thành Vương nhà Chu, Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là họ Việt Thường đem chim bạch trĩ sang tiến cống. Vì ngôn ngữ bất đồng, Chu Công phải sai sứ qua nhiều lần dịch mới hiểu nhau được. Chu Công hỏi: "Tại sao tới đây?". Họ Việt Thường đáp: "Đời nay không có mưa dầm gió dữ, ngoài bể không nổi sóng lớn đã ba năm nay, ý chừng là Trung Quốc có thánh nhân xuất thế, nhân vậy tới đây". Chu Công than rằng: "Chính lệnh không thi hành thì người quân tử không bắt được kẻ khác thuần phục mình, đức trạch không mở rộng thì người quân tử không hưởng lễ của người. Còn nhớ Hoàng Đế có câu thề rằng: "Phương Việt Thường không thể xâm phạm được". Bèn ban thưởng cho phẩm vật địa phương, dạy răn mà cho về. Họ Việt Thường quên đường về, Chu Công bèn ban cho 5 cỗ biền xa đều chế cho hướng về phương Nam. Họ Việt Thường nhận lấy rồi theo bờ biển Phù Nam, Lâm ấp đi một năm thì về tới nước. Cho nên, xe chỉ nam thường dùng để đi trước đưa đường. Về sau, Khổng Tử viết kinh Xuân Thu cho nước Văn Lang là một nơi hoang vu, văn vật chưa có bèn bỏ trống mà không chép. Theo bản cũ chép thì Chu Công có hỏi: "Người Giao chỉ cắt tóc ngắn, xăm mình, để đầu trần, đi chân đất, nhuộm răng đen là cớ làm sao?". Đáp: "Cắt tóc ngắn để tiện đi trong rừng rú. Xăm mình để giống hình Long Quân bơi lội dưới sông loài giao long không phạm tới. Đi chân đất để tiện leo cây. Cày bằng dao, trồng bằng lửa. Để đầu trần để tránh lửa bén. n trầu cau để trừ uế cho nên răng đen vậy". Trong truyện Bạch trĩ, sự kiện sứ giả sang Trung Hoa (cực Bắc) nhưng khi về bằng xe có gắn kim chỉ nam nhưng không biết tại sao lại bị lạc... tới Phù Nam và Lâm Ấp ở tận cực Nam của Văn Lang? - Đây chính là mật ngữ của tác giả viết trong Lĩnh Nam Chích quái về các Bộ của Văng Lang bao gồm cả Phù Nam (bao gồm Campuchia), Lâm Ấp. Truyện Mộc Tinh: liên quan đến vua Kinh Dương Vương, cây chiên đàn chỉ có ở Ấn Độ (nước Mi Hầu) ứng phương Tây Nam nếu lấy kinh đô Thăng Long làm tâm chuẩn (Giao chỉ). Hoàng đế - tức Đế Minh. Các bộ của Văn Lang cần phân tích: 1. Triết Giang 2. Giang Tây 3. Hồ Nam 4. Quảng Đông (gồm các đảo) 5. Quảng Tây 6. Quý Châu 7. Vân Nam 8. Phong Châu (Bắc Bộ Việt Nam) - Kinh đô Long Biên tên gọi Bạch Long Thành hay Bạch Thành. 9. Lào 10. Lâm Ấp (Chămpa) 11. Phù Nam (gồm Campuchia) 12. Thái Lan 13. Indonexia 14. Myama 15. Philipin và hải đảo Tiếp giáp Ấn Độ.
-
TƯƠNG ĐỒNG VIỆT-ĐẢO BALI QUA CẤU TRÚC MỘT NGÔI ĐỀN BALI, NAM DƯƠNG. Nguyễn Xuân Quang Về văn hóa, Bali là một hòn đảo đặc biệt của Nam Dương. Bali cũng như nhiều đảo khác của Nam Dương liên hệ ruột thịt với cổ Việt nói riêng và với Bách Việt nói chung. Sự liên hệ này đã được chứng minh qua nhiều địa hạt, qua khảo cứu đa ngành. Xin kể ra một vài điểm chính yếu: .Cổ học: Ba Li nằm trong vùng Đất Sunda Nhỏ (Lesser Sunda Land) ngày xưa nối liền với lục địa Đông Nam Á . James Churchwards đã chứng minh có một lục địa Đất Mẹ (MotherLand) tên là Lục Địa Mu Continent of Mu (Mu chính là Việt ngữ Mụ là Mẹ) bao gồm vùng đất Nam Hải nối với Đông Nam Á. Nơi đây có một nền văn minh huy hoàng mà ông cho là cái nôi của văn minh nhân loại ngày nay. Gần đây Stenven Oppenheimer cũng chứng minh vùng Sundaland (gồm Lớn và Nhỏ) ở Nam Dương và lân cận cũng nối liền với Đông Nam Á và có một nền văn hóa huy hoàng được coi là nguồn cội của văn minh nhân loại (Địa Đàng ở Phương Đông). Cổ học cũng tìm đào được nhiều sọ người Nam Đảo, Hắc Đảo (Melanesia) ở Bắc Việt Nam và chứng minh rằng Lạc Việt hợp chủng tộc liên bang Văn Lang Hùng Vương bao gồm cả các tộc và văn hóa Nam Đảo, Hắc Đảo. .Ngôn ngữ học: Nam Dương ngữ liên hệ ruột thịt với Việt ngữ. Tiếng Việt hiện nay là tiếng Lạc Việt hợp chủng tộc có gốc Môn Khme thuộc nhánh Nam Á tức Lạc Việt nguyên thủy ở Lĩnh Nam. Tiếng này coi như là gốc, thân cây của tiếng Việt hiện tại. Cây ngôn ngữ Việt này có hai cành: một cành là tiếng Tầy Thái (Tai Kadai) tôi gọi là tiếng Lạc Việt Núi và cành tiếng Nam Đảo tôi gọi tiếng Lạc Việt Biển. .Di truyền học: dân Nam Dương có DNA giống dân Đông Nam Á trong đó có cổ Việt (cùng có Mitochondrial DNA Haloptype B cũng như sự thất thoát của các cặp cơ bản số 9 giữa hai thể di truyền CO II tRNA LYS). .Khảo cổ học tìm thấy nhiều cổ vật liên hệ giữa Nam Dương và Việt Nam ví dụ đồ đồng có văn hóa Đông Sơn tìm thấy tại Nam Dương như những loại rìu Roti, các trống đồng Đông Sơn. Tại Bali có trống của Đông Sơn xuất xứ từ Việt Nam mang xuống hay làm tại chỗ mang sắc thái Nam Dương, tại Bali có thêm một loại trống đặc biệt thuộc đại tộc Đông Sơn mà không một quốc gia nào khác có là trống Trăng Bali, Pegeng (xem Trống của Đại Tộc Đông Sơn Mang Sắc Thái Nam Dương và Trống Pejeng). .Động-Thực Vật Học cho thấy ở Nam Dương nói chung và ở Bali nói riêng có nhiều giống cùng loại thấy ở Đông Nam Á ví dụ như cọp Bali giống cọp Đông Nam Á tuy nhỏ con hơn (ngày nay đã tuyệt chủng, hình ảnh của loài cọp này còn thấy khắc trên trống đồng Nam Dương). Vân vân… Như thế văn hóa cổ Bali nói riêng có cùng chung những nét với văn hóa cổ Việt là chuyện tất nhiên. Sau này Ấn giáo tràn xuống Bali qua các thương nhân. Hơn chín mươi phần trăm dân Bali ngày nay theo Ấn giáo. Vì vậy cốt lõi của văn hóa Bali hiện nay là Ấn giáo pha trộn với văn hóa nguyên thủy bản địa Bách Việt vùng biển. Cốt lõi văn hóa Bali là Ấn giáo trộn với thần giáo, bái giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, Vũ Trụ giáo của Bách Việt cổ. Cũng vì vậy mà Ấn giáo Bali có những sắc thái riêng khác hẳn với Ấn giáo ở Ấn-Độ. Vũ Trụ giáo trong Ấn giáo pha mầu với Vũ Trụ giáo của Bách Việt tạo thành những cung bậc, sắc giai mầu sắc tuyệt vời. Với sự pha trộn hài hòa này, con người Bali hàng ngày sống với các thần linh cõi trên, với con người thế phàm cõi giữa và với quỉ thần cõi dưới, cõi âm. Người Bali sống ở ba cõi thiên đường, trần thế và âm ty Ấn-Việt cùng một lúc. Văn hóa Bali tuyệt vời này đã thu hút hàng năm 8 triệu du khách trong và ngoài nước. Một trong những nét tiêu biểu của văn hóa Bali là những đền đài Bali với cấu trúc đặc thù hết sức thần kỳ. Hiểu được kiến trúc các đền đài Bali là ta nắm vững được một phần chính yếu của cốt lõi văn hóa Bali và ta thấy rõ được sự tương đồng giữa văn hóa Việt và Bali. Bali là đảo ngàn đền. Mỗi làng có vài ngôi đền. Mỗi nhà ít nhất có một đền nhỏ. Tất cả các ngôi đền hoặc hướng lên núi kala (theo k = v như kẻ = vẽ, ka = về, hướng về và -la là lả, là lửa, núi) hoặc hướng xuống biển kelod (, ke- = về, về phía và -lod là lạc, nác, nước, biển). Đây là chứng tích của văn hóa lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng, lên non xuống biển của Việt Nam nói riêng và của Bách Việt nói chung. Hướng lên núi kala là hướng quan trọng nhất. Đây là hướng Lửa ngành nọc mặt trời Lửa ứng với Viêm Đế-Kì Dương Vương có khuôn mặt nữ là Âu Cơ. Hướng xuống biển thường cho là phụ. Mặc dù hướng xuống biển nhưng đền vẫn phải quay về phía mặt trời mọc. Đây là hướng nước ngành nọc mặt trời nước Thần Nông-Lạc Long Quân thái dương. Trong mỗi làng có ba loại đền chính. Đền Tổ (Pura Puseh ; Puseh có Pu- là bố, phụ) quan trọng nhất do các vị thuộc ngành sáng lập làng đảm trách ở phía đầu làng hướng về núi tức kala của làng. Ở cuối làng hướng về biển tức kelod là đền của người chết (Pura Dalem), nơi đây cũng có nghĩa trang. Đền này liên hệ với Durga, khuôn mặt tàn ác của vợ thần Shiva là Parvati. Thần Shiva và Parvati có hai khuôn mặt sáng tạo và hủy diệt vì thế được thờ ở Đền Dalem này. Ở giữa làng có Đền Thánh Thần (Pura Desa) phù hộ cho dân làng trong cuộc sống hàng ngày. Tổng quát ta thấy rất rõ nguyên lý lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng, Núi Biển của các ngôi đền trong một làng Bali. Lệ làng còn giữ văn hóa Bách Việt. Đền hướng núi thuộc chim Âu Cơ. Đền hướng biển thuộc rắn Lạc Long Quân. Ngoài ra ba ngôi đền trong một làng cũng cho thấy liên hệ ruột thịt với Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Đền đầu làng hướng núi kala ứng với thờ thượng thế, đền giữa làng thờ thánh thần trung thế cõi giữa nhân gian và đền cuối làng hướng biển kelod thờ vong nhân và các khuôn mặt âm của Shiva và Parvati ứng với cõi âm hạ thế. Ta cũng thấy rõ đền cuối làng hướng biển thờ người chết cõi âm cũng ăn khớp với khuôn mặt cõi âm của Thần Biển Lạc Long Quân. Giống như ở Bách Việt, Bali còn giữ các tín ngưỡng thờ phượng từ thượng cổ như thờ bái vật, thần vật, phồn thực… nên ở Bali còn có các điện nho nhỏ thờ các loại này. Hãy khảo sát kiến trúc một ngôi đền tiêu biểu. Xin lấy ngôi đền Kehen ở Bangli, Ubud làm ví dụ. Đền Kehen ở Bangli, Ubud, Bali (ảnh của tác giả). Đền Kehen được xây vào thế kỷ 11 là ngôi đền lớn nhất và tinh xảo nhất ở phía đông Bali. Đền ở phía bắc Bangli và là đền quốc gia, quốc tổ (state temple) của vương quốc Bangli. Bangli có gốc là Bang giri với Bang là Đỏ. Bang ruột thịt với Việt ngữ bàng có nghĩa là đỏ như cây bàng là cây có lá đỏ (cây bàng lá đỏ, Trịnh Công Sơn). Giri là con gái, nàng, nường. Giri ruột thịt với Việt ngữ gái. Bangli có nghĩa là Nàng Đỏ. Dân Bangli hiện nay hiểu theo nghĩa Bangli chỉ Núi. Tên của một vương quốc thì Nàng Đỏ phải mang một nghĩa cao đẹp liên hệ với vũ trụ quan, nhân sinh quan, tín ngưỡng của Bangli. Nàng Đỏ phải liên hệ với mặt trời nữ. Việt Nam cũng có Nàng Đỏ. Âu Cơ Việt Nam là Nàng Lửa (Vụ Tiên là Nàng Nước, Thần Long là Nàng Gió và vợ Hùng Vương thứ nhất là Nàng Đất). Nàng Lửa là Nàng Đỏ (Âu biến âm với au là đỏ, hai má đỏ au), là Nàng Tỏ, là Nàng Mặt Trời, Thái dương thần nữ Việt Nam (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Âu Cơ Nàng Lửa có khuôn mặt lửa núi thế gian Li âm. Khuôn mặt núi này thấy rõ qua sự kiện là Mẹ Tổ Âu Cơ dẫn 50 con lên núi. Khuôn mặt núi Cấn này hôn phối với khuôn mặt Chấn biển Lạc Long Quân. Như thế Bangli Nàng Đỏ Núi liên hệ với Âu Việt phía Nàng Đỏ Núi Âu Cơ. Bangli là một thứ Âu Việt ở biển, ở hải đảo. Đền được coi là đền thu nhỏ của đền Besakih. Tên Kehen phát gốc từ Keren có nghĩa là ngọn lửa (Keren làm liên tưởng tới dầu kerosen đốt lửa) vì thế ngày xưa gọi là đền Thần Lửa Hyang Api (God of Fire). Từ Ke- ruột thịt với Việt ngữ Kẻ, Kì có một nghĩa là cọc, lửa, Núi Trụ Thế Gian. Kì Dương Vương là vua Núi Trụ Thế Gian, lửa đất thế gian Li có một khuôn mặt tương đương với núi Meru của Ấn giáo và Phật giáo. Con dân của Kì Dương Vương là Xích Quỉ tức Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời. Kì Dương Vương đội lốt Viêm Đế. Viêm Đế tương đương với Brahma của Ấn giáo. Viêm Đế cũng lưỡng tính phái có khuôn mặt âm là Thần Nông. Vì thế mà Viêm Đế có hiệu là Thần Nông (ở ngành âm thì ngược lại, Thần Nông có hiệu là Viêm Đế). Đền Kehen thờ ba vị thần tối cao của truyền thuyết sáng thế Ấn giáo là Brahma, Shiva và Vishnu. Đền mang ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ba vị thần sáng thế của Việt Mường là Đá Cần, Đá Cài và nàng Kịt. Đá Cần là thần Cọc đứng (như cần câu) biểu tượng cho nọc Lửa vũ trụ tức Càn ứng với khuôn mặt Càn của Brahma. Đá Cài là nọc ngang như cọc cài cửa biểu tượng cho nọc Lửa đất bằng thế gian Li ứng với khuôn mặt nọc lửa của Shiva và Nàng Kịt là khuôn mặt thần nữ, âm, nước ứng với khuôn mặt âm, nước của Vishnu. Theo tên đền như vậy nên đền có khuôn mặt thờ thần lửa vũ trụ Càn của đấng tạo hóa Brahma mang tính chủ. Đấng tạo hóa Brahma trong Ấn giáo lưỡng tính phái nòng nọc, âm dương. Ở đền này thờ thần lửa là khuôn mặt dương, lửa vũ trụ Càn của thần Brahma mang tính chủ. Đền xây trên một ngọn đồi mang hình ảnh của núi Meru. Như đã biết núi Meru có một khuôn mặt là Núi Trụ Thế Gian, Núi Thế Gian Đất Lửa hình kim tự tháp diễn tả bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) (cũng ở dưới dạng hình tám giác và trong không gian ba chiều là hình kim tự tháp) mang dương tính, lửa, mặt trời, Càn. Ta cũng thấy rõ Anh ngữ pyramid có gốc pyro- là lửa. Đền có hình đồi mang hình ảnh núi Meru kim tự tháp ăn khớp trăm phần trăm với sự thờ phượng vị Thần Lửa Brahman. Bố cục đền làm theo Tam Thế. Bố cục đền làm theo Tam Thế gồm có ba tầng sân có vòng thành có khắc chạm các tượng, hình và nối với nhau bằng các bậc tam cấp đi qua các cổng nhỏ khắc chạm tinh vi. Từ chân đồi phải leo lên các bậc thang vào đền bằng ba cửa. Chiếc cửa chính chỉ mở vào dịp lễ lạc và dành cho các quan chức dùng. Bình thường dùng hai cổng phụ hai bên. Một cổng phụ (ảnh của tác giả). Cổng phụ cũng được chạm khắc trang trí rất tinh vi theo những motifs tín ngưỡng tùy theo đặc tính riêng của mỗi đền. Cổng phụ mang cấu trúc của các cổng chẻ đôi (split gates). Những cổng chẻ đôi này có hình dạng một ngọn núi nhọn đầu có lẽ mang hình ảnh của núi Meru. Tôi gọi là cổng núi chẻ đôi. Cổng núi chẻ đôi mở vào trung thế. Mặt trong của hai bên trụ cổng rất bằng phẳng và láng bóng không có trang trí khiến ta có cảm giác như trái núi bị một nhát chém của lưỡi gươm thần chẻ núi ra làm đôi tạo ra cổng. Khoảng hở của cổng là lối vào. Như đã biết núi Meru có Trục Thế Giới là đường thông thương ba cõi Tam Thế. Khoảng hở của cổng giữa hai nửa núi chính là hình ảnh của Trục Thế Giới. Đứng trước cổng ta có cảm tưởng Núi Trụ Thế Gian tách mở ra làm hai để hiện ra Trục Thế Giới. Bước qua cổng Trục Thế Giới này là bước vào thế giới linh thiêng của Tam Thế. Người Bali phải ăn mặc và hành sử đúng theo qui luật tín ngưỡng. Du khách phái nữ không được mặc áo ngắn tay, hở ngực và phải quấn sarong. Phái nam phải quấn dây lưng. Đường lên cổng chính là một cầu thang có 38 bậc cấp . Hai bên cầu thang là các hình tượng tạc theo phong cách các vị thần trong tuồng bóng (Việt Nam hiện nay gọi là Rối Bóng) wayang dựa theo truyện truyền kỳ Ramayana. Trong các tượng này có một pho tượng ông cả, ông tiên chỉ làng dùng để đón chào khách thăm viếng. Tượng ông cả làng đón chào khách thăm viếng (ảnh của tác giả). Cổng là một tác phẩm điêu khắc tuyệt trần. Ở giữa trên cao có hình mặt lạ kala makara (makara có mak- là mặt), con của Shiva biểu tượng cho quỉ thần để canh gác đền. Hạ Thế Bước qua ba cổng này coi như bước vào thế giới thiêng liêng của thần linh. Tầng sân ngay sau cổng chính và hai cổng phụ là hạ thế. Nơi đây thờ phượng các thần linh cõi nhân gian và là nơi có các sinh hoạt nhân sinh như hội hè, đình đám, ca vũ nhạc kịch. Đập ngay vào mắt là một cây đa cổ thụ già hơn 700 năm được coi là một cây thiêng liêng trong văn hóa Bali. Ở trên cao của cây có “lầu trống” để hai cái trống lớn Lầu trống có hai chiếc trống mõ quấn sarong vàng (ảnh của tác giả). gọi là kul-kul. Ngày nay trống được hiểu theo nghĩa duy tục là dùng để triệu tập dân làng, báo động khi có tai ách, dùng để báo tử khi có nhân vật quan trọng nào chết… Thật ra trống mang một ý nghĩa biểu tượng tín ngưỡng trong Vũ Trụ giáo (xem dưới). Tường thành bao quanh có dát các đồ sứ Trung Hoa. Các đồ gồm sứ cổ đã bị cậy lấy mất. Các vật hiện nay đều là vật tái tạo. Tường có gắn gồm sứ Trung Hoa (ảnh của tác giả). Ở đây cũng có những người bán dạo dụ bán cho du khách những đồng tiền kim loại Trung Hoa nói là tiền cổ từ thời đền được xây vào thế kỷ 11. Sự hiện diện của gốm sứ và các tiền kim loại Trung Hoa ở đây cho thấy Bali vào thời này đã có giao thương với Trung Hoa và cũng cho thấy vương triều Bangli này rất giầu có. Sân trong Trung Thế là jeroan, nơi có chính điện thiêng liêng nhất của đền gọi là meru có 11 mái ngự trị khu này. Điện thờ vị thần chính của đền là Thần Lửa. Ngôi đền Meru chính (ảnh của tác giả). Ngôi đền Meru chính nhìn bên hông. Lưu ý vào một ngôi đền Bali, phái nam phải thắt lưng và phải nữ phải quấn sarong. Ngoài ra còn có những meru lỡ và nhỏ thờ các vị thần khác. Ở phía bắc có một chiếc ngai đá thờ ba vị thần chính của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Visnu. Chiếc ngai đá thờ ba vị thần chính của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Visnu (bali-travel-life.com). Trong các hình chạm khắc có hình Shiva cùng con là Ganesha và Durga. Đế chiếc ngai đá có con rùa biểu tượng cho thượng thế và hai con rắn quấn quanh biểu tượng cho âm thế. Như thế chiếc ngai đá có một khuôn mặt biểu tượng cho Trung Thế. Chiếc ngai biểu tượng cho đất, núi, Trung Thế thấy rõ qua hình nữ thần Ai Cập Isis tương ứng với Âu Cơ-Núi có biểu tượng là chiếc ngai (Tương Đồng Giữa Ai Cập Cổ với Cổ Sử Việt). Thượng Thế Từ trung thế dùng các bậc cấp đi lên thượng thế là một khu sân nhỏ trên cao phía trong cùng. Ở bên phải của sân thượng thế có ba điện ngai (throne shrines) biểu tượng cho tam thần Brahma, Shiva và Vishnu, những vị thần sáng thế của Ấn giáo. Cấu trúc đền theo Tam Thế với ngọn núi là trục thế giới, đền mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Ý Nghĩa Cấu Trúc Của Đền Kehen. Như đã nói ở trên cốt lõi văn hóa Bali là sự hôn phối giữa Vũ Trụ giáo Ấn giáo với Vũ Trụ giáo Bách Việt vì thế ta hãy nhìn cấu trúc ngôi đền này Bali dưới lăng kinh chung của Vũ Trụ giáo của hai nền văn minh Ấn-Việt . Vũ Trụ giáo đã thấy rõ qua .chủ đích của đền là thờ ba vị thần tối cao trong truyền thuyết sáng thế của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Vishnu. Đền mang ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo. .hình dạng đền trên núi mang ý nghĩa biểu tượng cho núi Meru của đền. .hình ảnh núi Meru của cổng chính. .qua bố cục Tam Thế của đền. .cây đa cổ thụ như đã nói ở trên. Sự thờ phượng cây đa của Bali giống như trong văn hóa Việt Nam và Bách Việt. Cây đa là cây thần thường được trồng ở đình miếu, chùa chiền. Cây đa có một khuôn mặt là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) trong Vũ Trụ giáo (xem Cây Đa Rụng Lá Sân Đình, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt). Như đã nói, ở trên cao của cây đa có treo trống kul-kul. Như đã biết trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn mang trọn vẹn triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo. Ở đây chỉ thờ trống mõ mà không thờ cồng, chiêng cho thấy rõ trống là biểu tượng cho Vũ Trụ Tạo Sinh của đền. Ở đây trống thờ trên cao ở cây đa mang hình bóng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) bắt buộc trống phải mang nghĩa tín ngưỡng của Vũ Trụ giáo. Tóm lại thờ trống mõ ở đây cho thấy đền có một khuôn mặt Vũ Trụ giáo. Hư Không, Vô Cực Đỉnh núi Meru là cõi hư vô. Đền có Tam Thế tất nhiên ở cõi thượng thế có hư không. Trở lại hai chiếc trống mõ kul-kul ở lầu trống trên cao ở cây đa. Phần chòm cây đa mang hình ảnh Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế là thượng thế. Dĩ nhiên thượng thề có hư không. Ngày nay trống này được hiểu theo nghĩa duy tục là dùng để báo động khi có tai ách, dùng để báo tử khi có nhân vật quan trọng nào chết… Nhưng phải hiểu theo một nghĩa cao hơn trong tín ngưỡng. Trong Vũ Trụ giáo trống có một khuôn mặt biểu tượng cho hư không, vô cực. Trống là không. Trống có một khuôn mặt hư không (tiếng trống thu không) (Ý Nghĩa và Chức Vụ Trống Đồng trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Trống ở đây làm bằng một khúc thân cây khoét rỗng tức một loại trống mõ (split drum). Mõ biến âm với mo, cái bao, bọc. Mõ biểu tượng cho hư không, không gian có hình bao, bọc, túi. Ở đây trống mõ có hình trụ mang nghĩa nọc, lửa. Trống mõ nọc biểu tượng cho hư không phía nọc lửa ứng với khuôn mặt của thần lửa Brahman, của đấng tạo hóa Brahma. Ở đây có khuôn mặt lửa vũ trụ Càn mang tính chủ. Ta cũng thấy hai trống trụ nọc là hai nọc là hai dương, thái dương. Hai que nọc cũng dùng để dùi làm lửa. Con rùa dưới chân ngai đá có mai hình vòm biểu tượng cho vòm hư vũ trụ, vòm hư không có một khuôn mặt hư vô. Hiển nhiên đền có một khuôn mặt biểu tượng cho hư vô, vô cực. Trứng Vũ Trụ, Thái Cực. Đền xây trên một ngọn đồi mang hình ảnh của núi Meru. Như đã biết, đền hình kim tự tháp có là hình nọc thái dương sing động. Nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói), hình tam giác, hình kim tự tháp mang dương tính, lửa, mặt trời, Càn. Đền có 8 tầng bậc. Số 8 là số Khôn tầng 1. Ta thấy rõ có sự hôn phối Càn Khôn giữa đền hình kim tự tháp Càn với 8 tầng bậc, Khôn. Nhìn dưới dạng nhất thể đền mang tính lưỡng hợp đại vũ trụ Càn Khôn. Cổng chính cũng mang hình ảnh núi Meru có tầng cấp bậc là mái. Nhìn từ mặt sau cổng chính thấy rõ trên chỏm nóc có hình bầu nậm, nhìn, dưới diện nhất thể là thái cực. Thấy rất rõ là trên chỏm nóc của cổng chính có hình bầu nậm, nhìn dưới diện nhất thể bầu nậm là trứng vũ trụ, thái cực. Chiếc ngai đá có phần trên hình trụ dương, lửa dưới chân có hai con rắn âm, nước, nhìn dưới dạng nòng nọc, âm dương nhất thể cũng mang hình ảnh thái cực. Như đã nói ở trên ở đền thờ Thần Lửa Brahman này có khuôn mặt thần tạo hóa Brahma lưỡng tính phái mang tính chủ. Khuôn mặt lưỡng tính phái ứng với trứng vũ trụ, thái cực. Nói rộng ra trong một ngôi đền Bali vị thần sinh tạo thường mang khuôn mặt lưỡng tính phái, nòng nọc, âm dương nhất thể. Vị này thường lớn hơn hết và đứng ở giữa tại chính điện. Ví dụ ở một ngôi đền thờ ba vị thần sáng thế chính là Brahma, Shiva và Vishnu thì vị thần tạo hóa lưỡng tính phái là vị thần chính. Chi tiết giúp ta nhận diện ra vị này. Ví dụ thần được quấn sarong có các ô vuông (ca-rô) đen (âm) và trắng (dương) giống như mầu đen trắng của đĩa thái cực. Lưỡng Nghi Nhìn dưới diện lưỡng cực riêng rẽ đền có một khuôn mặt lưỡng nghi. Ở bên cạnh điện tháp meru chính 11 mái có một khuôn mặt nòng nọc, âm dương lưỡng hợp nhất thể có hai đền tháp meru cỡ trung chỉ có 3 mái ứng với lưỡng nghi. Hai đền tháp Meru cỡ trung bên đền tháp chính ứng với lưỡng nghi. Tại chiếc ngai đá chạm hoa sen thờ ba vị thần chính của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Visnu thì thần Shiva có một khuôn mặt Trụ Lửa và Thần Vishnu có một khuôn mặt sông nước (sông Hằng, có biểu tượng là con cá sấu) ứng với lưỡng nghi. Nói rộng ra trong một ngôi đền Bali thờ ba vị thần sáng thế thì hai vị thần hai bên ứng với lưỡng nghi. Chi tiết giúp ta nhận diện ra hai vị này. Ví dụ thần được quấn sarong đen ứng với cực âm và vị quấn sarong trắng ứng với cực dương. Tứ Tượng Núi Meru có đế vuông diễn tả tứ tượng. Đền cũng vậy. Cũng nên biết thêm là nếu trong một ngôi đền Bali có thờ 5 vị thần thì một vị thần chính là đấng sinh tạo, tạo hóa và bốn vị thần kia ứng với tứ phương, tứ tượng. Các chi tiết giúp ta nhận diện được các vị thần này. Tam Thế Đền có bố cục Tam Thế. Các điện thờ nhỏ cũng có ba mái Tam Thế. Điện thờ nhỏ ba mái Tam Thế (ảnh của tác giả). Chiếc ngai đá thờ ba vị thần chính của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Visnu cũng có một khuôn mặt Tam Thế. Con rùa có mai vòm biểu tượng cho thượng thế. Hai con rắn biểu tượng cho hạ thế và trụ ngai biểu tượng cho núi trụ thế gian biểu tượng cho trung thế. Đền có cổng chính và hai cổng phụ là ba ngõ vào Tam Thế. Ba cổng này là một dạng cổng tam quan của các đền chùa, đình miếu Việt Nam. Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Như đã nói ở trên, cấu trúc đền theo Tam Thế với ngọn núi là trục thế giới, đền mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Ở đây ta thấy rất rõ cấu trúc đền giống hệt cấu trúc đền Hùng Vương ở Vĩnh Phú Việt Nam. Đền Hùng Vương cũng có Tam Thế là đền Thượng, Hạ và Trung và núi Nghĩa Lĩnh là Trục Thế Giới mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) (xem dưới và Cấu Trúc Đền Hùng Vương). Đền có cây đa thần mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Trục Thế Giới Đền nằm trên đồi mô phỏng theo núi Meru có một khuôn mặt Trục Thế Giới. Như đã nói ở trên , đền Tam Thế có biểu tượng là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Thân cây là trục thế giới. Cổng chính với các cấp bậc đi lên có hình tháp có tầng có hình chỏm hình bầu nậm mang hình ảnh núi Meru. Như đã nói ở trên, Meru có một khuôn mặt là Trục Thế Giới. Chiếc ngai đá thờ ba vị thần sáng thế ứng với Tam Thế có một khuôn mặt Trục Thế Giới. Trục Thế Giới là khoảng hở của các cổng núi chẻ đôi mở vào tam thế. Sự Tương Đồng Giữa Đền Kelen với Đền Tổ Hùng, Vĩnh Phú, Việt Nam. Thật vắn tắt ta thấy rất rõ: -Đền Kelen thờ ba vị thần tổ tạo hóa Brahma, Shiva và Vishnu giống như đền Tổ Hùng (xin nhắc lại tôi dùng nhóm từ đền Tổ Hùng thay vì đền Hùng Vương. Tổ Hùng kể từ Viêm Đế-Thần Nông trở xuống). Ở cõi tạo hóa, thần Brahma lưỡng tính phái nhất thể ứng với Viêm Đế-Thần Nông nhất thể. Thần Shiva ứng với Viêm Đế tạo hóa và thần Vishnu ứng với Thần Nông tạo hóa. Ở cõi sinh tạo thế gian, Brahman với khuôn mặt sinh tạo thế gian ứng Đế Minh, Shiva với khuôn mặt thế gian ứng với Kì Dương Vương thế gian và Vishnu với khuôn mặt sinh tạo thế gian ứng với Lạc Long Quân thế gian. Như đã nói ở trên, theo truyền thuyết Mường thì Đá Cần ứng với Brahma, Đá Cài ứng với Shiva và Nàng Kịt ứng với Vishnu với khuôn mặt thái âm, nước. .Đền Kelen nằm trên sườn dốc của một ngọn đồi cao mang hình ảnh Núi Trụ Thế Gian Meru trong có Trục Thế Giới giống như Đền Tổ Hùng nằm trên sườn núi Nghĩa Lĩnh. Núi Lĩnh cũng mang hình ảnh Trục Thế Giới. Nghĩa Lĩnh với Nghĩa là nghĩa ơn, biết ơn, tạ ơn và Lĩnh là núi nhọn đỉnh núi dương. Nghĩa Lĩnh có một khuôn mặt là Trục Thế Giới thông thương ba cõi, là trục lộ có thể dùng để dâng cúng lời tạ ơn, cầu nguyện và tế vật tạ ơn tới vũ trụ, mặt trời, thần linh, tổ tiên Việt (Cấu Trúc Đền Hùng Vương). -Đền Kelen có 8 tầng sân ứng với Khôn và hình núi tháp trụ Meru có một khuôn mặt lửa Càn, thờ vị thần lửa Brahman ứng với Càn. Nhìn tổng quát mang tính Càn Khôn nòng nọc, âm dương giống như Tổ Hùng ứng với trứng vũ trụ phân chia ra hai ngành Lửa, Nước nòng nọc, âm dương ứng với Càn Khôn. -Đền Kelen có phân bố (lay-out) theo Tam Thế giống hệt đền Tổ Hùng cũng gồm có ba đền Thượng, Trung, Hạ ứng với Tam Thế. -Đền Kelen Tam Thế nằm trên đồi Trục Thế Giới diễn tả Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) giống hệt đền Tổ Hùng. -Đền Kelen có thờ trống giống như đền Tổ Hùng cũng thờ trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Trống thuộc loại trống vũ trụ Nguyễn Xuân Quang I (Cơ Thể Trống Đồng). -Đền Kelen tại trung thế, có điện chính thờ Thần Lửa cũng giống như ở Đền Trung tại đền Tổ Hùng có thờ Lửa. -Đền Kelen, tại trung thế có chiếc ngai đá hình thạch trụ khắc hoa sen (loài hoa mọc dưới nước) đứng trên đế lưng rùa (biểu tượng vòm trời thiếu âm khí gió tức nòng Khôn dương) và hai con rắn quấn quanh (biểu tượng cho thái âm nước tức nòng Khôn âm) mang hình ảnh thạch trụ của ngành Khôn âm, có một khuôn mặt là mặt trời nước, êm dịu. Tại đền Tổ Hùng có một thạch trụ được gọi là tảng đá thề của An Dương Vương. An Dương Vương có một nghĩa là Vua Mặt Trời Êm Dịu ngành mặt trời nòng nước Lạc Long Quân. An Dương Vương cũng liên hệ với con Rùa Vàng Kim Qui giống ngai đá đứng trên con rùa ở đây. Dù cho có là chuyện trùng hợp thì đây cũng là điều thú vị. -Đền Kelen có cây đa cổ thụ giống đền Tổ Hùng có cây thông cổ thụ. Cây được thờ phượng có một khuôn mặt mang hình bóng của Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) -Đền Kelen là đền quốc gia, là đền quốc tổ của vương triều Bangli, Nàng Đỏ, Nàng Lửa, Nàng Núi ứng với Âu Cơ là Nàng Lửa dòng Viêm Đế-Kì Dương Vương. Đền Tổ Hùng cũng thờ Âu Cơ. Đền Tổ Hùng là đền quốc tổ Việt Nam có một khuôn mặt Âu Lạc (tại đền Tổ Hùng thờ cả Lạc Long Quân và Âu Cơ). -Đền Kelen có biểu tượng nổi bật là cổng chính hình núi Meru trên nóc cổng có hình bầu nậm biểu tượng cho nòng nọc, âm dương. Đền Tổ Hùng có biểu tượng nổi bật là Lăng Hùng Vương thứ 6, trên nóc có hình bầu nậm biểu tượng cho nòng nọc, âm dương. -Điện meru chính có 11 mái thờ thần Lửa Brahman có số 11 là số Đoài vũ trụ tầng 2 (11 = 8 + 3) khí gió. Hùng Vương có một khuôn mặt thần bầu trời khí gió Đoài vũ trụ. …… Kết Luận Qua ý nghĩa và cấu trúc đền thờ Bali ta thấy rõ có sự tương đồng, hòa hợp giữ văn hóa Ấn giáo và văn hóa Việt Nam, Bách Việt. Vũ Trụ giáo của Ấn giáo đã hòa đồng với Vũ Trụ giáo của Việt Nam một cách tuyệt vời. Điều này không có gì là nghịch lý cả vì Bali nói riêng và Nam Dương nói chung nguyên thủy cùng một đại tộc Bách Việt. Điểm thấy rõ và thuyết phục nhất là sự tương đồng đến độ kinh ngạc giữa đền Kelen và đền Tổ Hùng. Một lần nữa cho thấy ở Nam Dương, Đa Đảo có những tộc Bách Việt Biển hay Hải Đảo. Ngược lại cũng phản chiếu cho thấy có sự hiện diện của văn hóa Đa Đảo, Hắc Đảo trong văn hóa Lạc Việt hợp chủng tộc tức văn hóa Việt Nam ngày nay.
-
Điều chỉnh lại: Phân tích của tác gia Kinh Định cho ta biết chính là Minh đô nhằm đối ứng với U đô: tác gia Kinh Thư là người Việt - Việt nhược kê cổ (người Việt kể lại tích xưa): điểm thiếu cũng chính là nhấn mạnh nhằm giải thích kinh đô thời vua Đế Minh (Huyền Đế - một trong Ngũ Đế) nằm ở phương Bắc. Theo truyện Hồng Bàng Thị, Đế Minh tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh gặp người con gái tên là Vụ Tiên rồi lấy làm vợ, sinh ra Lộc Tục tức Kinh Dương Vương. Đế Minh chia đôi nước, giao Đế Nghi làm vua phương Bắc và Lộc Tục làm vua phương Nam. Cũng theo cuốn Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu, tác giả Nguyễn Bá Trạc vua Kinh Dương Vương chính thức lên ngôi vua phương Nam vào năm 2879 tr.CN, tương đương với thời vua Đế Nghi năm thứ 6, điều này giúp chúng ta hiểu rằng khi trước khi vua Kinh Dương Vương lên ngôi, thì vua Đế Minh đã ở lại phương Nam trợ giúp việc triều chính cho ngài trong vòng 6 năm, sau đó mới chính thức lên ngôi. Đồng thời, sự kiện vua Đế Minh tuần thú phương Nam chứng tỏ thời vua Đế Minh đóng đô ở phương Bắc tức U đô, như vậy Minh đô ở phương Nam là ẩn ý nói về kinh đô của vua Kinh Dương Vương mà tác giả cuốn Kinh Thư đã gửi gắm và làm mật hiệu. Tuy nhiên, chúng ta chú ý họ nội của các vua Hùng là ở phương Bắc, còn họ họ ngoại lại ở phương Nam. Không chỉ vậy, qua đó chúng ta còn được biết rằng vua Đế Nghi lên ngôi vào năm (2879+6)=2885 tr.CN và khả năng chính là năm lập lời thề tại núi Thiên Đàn , tỉnh Hồ Nam.
-
Qui Tắc Tạo Từ Của Tiếng Việt
hoangnt replied to Lãn Miên's topic in Các Bài Nghiên Cứu Của Lãn Miên
Câu Sấm: “Song Ngư liền địa, Nghi Lộc phát vương”. Nghi Lộc là Ngộc Ly. “Người Gốc” = Ngộc. Ly là Lửa. Người=Ngời=Ngọc=Ngộc. Trời=Trưa=Lửa. “Dân Lửa” = Giữa. Giữa Chỗ = Giao Chỉ = Giao Chứa = Gieo Chữ. “Kinh Gieo” = Keo. Dân Kinh = Cần Keo (tiếng Tày Thái). Dân Kinh = Dinh=Dính. Keo Dính = Keo Dán = Keo Gắn. Gắn Keo = Gắn Kết = Đoàn Kết. Song Ngư liền địa: hàm ý điểm xuân phân kết thúc cung Song Ngư (Lạc Long Quân) và đi vào cung Bảo Bình (Hùng Vương) tức thời đại Hòa Bình, Thái Bình. Tuy nhiên, có chú ý là Lạc Long Quân tái sinh, phục sinh trở lại. Nghi Lộc phát vương: Đế Nghi làm vua phương Bắc và Kinh Dương Vương làm vua phương Nam (Lộc Tục, con nai biểu tượng). Nghi Lộc vùng Hà Tĩnh, vùng gốc của Trống Đồng và nơi chùa Hương đỉnh Ngàn Hống - Linh Sơn thánh tính của Phật Bà Quan Âm: Thánh tích này còn hơn cả Tứ thánh tích Phật giáo bên Trung Hoa (thực ra là toàn Việt cả). Điểm có thể được xem xuất phát văn hiến Việt đi khắp thế giới, do vậy biên giới phía Nam của Văn Lang đang được xem xét giáp Ấn Độ (nơi có cây chiên đàn... và đạo Bà La Môn). 2012: kết thúc cung Song Ngư. Kính. -
1/ Trứng có trước hay gà có trước? Cái con gọi là "gà" ấy có từ bao giờ? Riêng cái này không thì từ cổ chí kim cũng "ỏm tỏi" lên rồi. Để trả lời toàn bộ ngọn nguồn thì: - Gà mái và Trứng phải lý luận theo quy tắc "Dương trước Âm sau". - Hoặc kèm theo Gà trống để trứng có thể nở ra gà con. - Hoặc là: cái gì trước khi tạo ra Gà/ Trứng?. ... sẽ là Gà trước Trứng - nếu đi tiếp sẽ là Cá... rồi về tới Khởi nguyên vũ trụ - tới đây chỉ có thể (Âm Dương Ngũ Hành + Phật giáo) = mới hiểu, còn nếu đọc tài liệu của khoa học và bất kỳ tôn giáo nào trên thế giới thì sẽ bị Điên. Hết.