Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

hoangnt

Hội viên
  • Số nội dung

    1909
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    6

Everything posted by hoangnt

  1. Sao không phải là chè Việt mà lại là chè Tàu? Nước ta có những cây chè thuộc hàng cổ thụ, có cây 400 năm,có cây gần 700 năm tuổi, nghề làm chè được truyền từ mấy ngàn năm nay, còn sâu hơn nữa về lịch sử theo cương vực nước Văn Lang thì cách đây gần 5.000 năm ở miền Nam sông Dương Tử cư dân Bách Việt sinh sống, như vậy liệu còn là "chè tàu"? Và tại sao thông thường vườn nhà xưa và hiện nay ở các làng quê từ Thanh - Nghệ - Tỉnh, Bình - Trị - Thiên...trong truyền thống, văn hóa của người Việt lại làm hàng rào bằng cây chè và cây dâm bụt mà không trồng bằng các loại cây khác? "Hà Nội có "Giếng nước hè, chè Cam Lâm",Sơn La có chè Tà Sùa, chè Tô Múa - "Gái Mường Tè, chè Tô Múa", Thái Nguyên lại có chè Tân Cương - "Chè Thái gái Tuyên". Cao Bằng có chè đắng. Hà Giang có Shan Tuyết Vị Xuyên, Yên Minh... Nhưng có lẽ không đâu có chè Shan Tuyết nổi tiếng bằng Suối Giàng - Yên Bái." OK, chỉ có hai loại cây được mang tên "Bụt": hoa râm bụt và bụt măng. Chè: một trong 3 loại nước cúng "nước thánh" trên bàn thờ: nước trong, rựu trắng nguyên chất và nước chè. Không chỉ có trà, rựu cũng có từ ngàn xưa.
  2. HOÀNG SĨ QUÝ * THẾ GIỚI DO NGẪU BIẾN HAY SÁNG TẠO? THẾ GIỚI DO NGẪU BIẾN HAY SÁNG TẠO? HOW OUR UNIVERSE CREATED? By Hoành Sơn HOÀNG SĨ QUÝ LTS: Linh Mục Giáo Sư Hoàng Sĩ Quý, Thạc Sĩ*** Triết Học Sorbonne, Pháp, Giáo Sư Triết Học Ấn Độ và Sankrist tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn trước năm 1975, hiện sinh sống tại Việt Nam, tiếp tục nghiên cứu về phương đông học và tôn giáo. Sách Sáng thế ký của Do Thái giáo (mà Kytô-giáo coi là thuộc Cựu Giao ước của mình) dạy : Gia-vê tự Ngài đã làm nên trời đất và mọi loài trong đó. Riêng con người được tạo ra sau cùng, một cách càng trực tiếp hơn nữa: Ngài tự tay lấy đất nặn thành, rồi thổi vô mũi một hơi sinh khí để hắn sống động lên (2.7). Một lối diễn tả thật tượng hình và sinh động, mà người bình dân dễ hiểu, hiểu rằng : do Thiên Chúa mà có tất cả, riêng loài người được đối xử đặc biệt, nó có gì thiêng liêng, bởi giống hình ảnh Ngài (1.26-27), “nhân linh ư vạn vật” như Phương Đông chúng ta quen nói! Cho đến cách nay một thế kỷ, Kytô-giáo vẫn hiểu đoạn Kinh thánh trên theo nghĩa đen, điều khiến các nhà khoa học Tân đại (moderne) nghe chói tai, trong khi Công giáo và Tin lành chính quy thì lại nổi xung khi thấy thuyết tiến hóa chủ trương: do tương tác với môi trường mà có biến đổi, từ đó xuất hiện dần những chủng loại khác nhau, cả loài người cũng thế. Ngày nay, khi mà KTG chấp nhận học thuyết tiến hóa rồi, coi đó như một cách sáng tạo cao siêu hơn của Thiên Chúa, thì nhiều nhà sinh học lại quả quyết : chẳng có sự can thiệp từ bên trên bằng một chương trình (phần mềm) cài sẵn nào cả, mà chỉ có ngẫu nhiên làm việc thôi.Thật ra, những chủ trương Tự tạo (vật chất tự biến hóa mà làm nên tất cả) chẳng mới mẻ gì : từ muôn xưa, bên Đông cũng như bên Tây, thuyết ấy đã sẵn có, y như thuyết Thiên tạo vậy. Những thuyết Thiên tạo và Tự tạo thời xưa Theo triết lý Cổ Hy Lạp, tạo nên thế giới là Dêmiourgos, Hóa công. Hóa công không phải là thần duy nhất hay cao nhất, mà chỉ là một trong vô số những vị thần. Hóa công trong tín ngưỡng Cổ Ba Tư, là Thượng thần Ahura Mazda thuộc thế giới Ánh sáng, đối nghịch với Ác thần Angra Mainyu của Vực thẳm tối tăm. Riêng gốc và nền của vũ trụ lại là Con người nguyên sơ Gaya Maretan, bắt đầu được Hóa công tạo nên tốt đẹp hoàn toàn, nhưng sau đó bị Thần bóng tối chích nọc độc vô khiến sinh đói khát, dịch bệnh…, để rồi từ xác chết của Con người đã xấu đi này mà mọc lên trời đất và muôn vật trong đó. Và như thế, cả Thần ác lẫn Thần lành đều có phần trong tạo thế. Dù chịu ảnh hưởng của văn hóa Ba Tư qua ông tổ Abraham xuất thân từ vùng này, nhưng do niềm tin riêng, tác giả Sáng thế ký chủ trương chỉ có một Hóa công là Gia vê lành thánh, và Ngài tạo nên tất cả, lại tất cả đều tốt đẹp . Đó là một số những học thuyết Thiên tạo tiêu biểu. Cùng với những học thuyết này, ngay thời ấy cũng xuất hiện nhiều học thuyết Tự tạo : vật chất tự biến hóa mà sinh ra tất cả. Có điều để có dịch biến và những kết quả tốt, thì tự nhiên ai nấy đều tin rằng: một mình vật chất mù quáng không đủ, mà phải có cái gì thiêng liêng hơn, cái Lý được lồng vô. Bên Hy Lạp, cái Lý ấy là Logos theo Héraclite và Zénon. Còn bên Ấn Độ, đó là Purusa hay Tinh thần. Vâng, theo học thuyết Sâmkhya, Prakrti hay Bản nhiên (vật chất sơ nguyên) phải có Tinh thần hiện diện như chất xúc tác, thì mới phân thành Tâm-Vật và Âm-Dương (chính là Âm-dương-lực), để âm dương đun đẩy nhau mà có biến hóa. Trong trường phái Âm-dương-luận Trung quốc, vật chất sơ nguyên là Khí. Khí cũng phải nhờ Lý mới có biến dịch được. Lại cả Khí và Lý đều phân thành âm dương : về phía Khí thì mọi vật đều “cõng âm bồng dương”, về phía Lý thì nguyên tắc “nhất âm nhất dương” chi phối. Vì âm dương tiềm tàng cả trong Lý lẫn Khí, nên chẳng những có “âm dương tương thôi nhi sinh biến hóa”, mà sự biến hóa ấy còn thành ổn định, điều hòa, như Đạo đức kinh nói :”Vạn vật đều cõng Âm bồng Dương, do Xung nhau mà có được Hòa” (ch.42).* Như thế, không phải thuyết Thiên tạo đã ngự trị trong thời tiền khoa học, để rồi nay nó phải nhường chỗ cho chủ trương Tự tạo của loài người văn minh. Vâng, thuyết Tự tạo đã có từ rất xa xưa rồi, nhất là bên Phương Đông chúng ta. Do đó, nếu thuyết Tiến hóa khai sinh bên Nam Á và Đông Á, thì hẳn nó đã được tiếp đón nồng nhiệt ngay từ đầu rồi. Ngày nay, sau khi Tòa thánh đã nhìn nhận vai trò văn hóa trong trước tác Kinh thánh, và Vatican II đã coi con người cũng là “tác giả thật sự của Kinh thánh” nữa (Dei Verbum, số 11), thì thuyết Tự tạo chẳng còn là ta-bu đối với chúng ta. Trái lại, như nhà vật lý thiên văn không Kytô-giáo Trịnh xuân Thuận cho thấy, chính sáng tạo bằng tiến hóa mới chứng tỏ Thiên Chúa là nhà thiện xạ đại tài (TX Thuận không viết câu này), đã từ khoảng cách 15 tỷ năm (vận tốc) ánh sáng, bắn chỉ một phát mà trúng ngay cái hồng tâm 1cm là con người chúng ta! Vâng, viết với kiến thức khoa học của thời ấy, tác giả Sáng thế ký chỉ có ý xác định : Tất cả những gì chúng ta thấy hôm nay đều do Thiên Chúa mà có! Từ thuyết Tiến hóa đến thuyết Ngẫu biến hôm nay Thuyết tự tạo mới ở Âu Tây ra đời vào thế kỷ XIX với Lamarck và Darwin dưới danh xưng Tiến hóa. Jean Baptiste Lamarck (1744-1829), một nhà tự nhiên học người Pháp, nghĩ rằng : Chính sự tương tác với môi trường đã khiến cơ thể biến đổi. Theo ông, khi gặp môi trường sống mới, phần cơ thể ứng phó được sẽ hoạt động nhiều lên, nhờ đó phát triển mạnh, trong khi phần không sử dụng đến nữa sẽ teo chột dần và có thể biến mất. Charles Darwin (1809-1882), vì có phương tiện khảo sát sinh vật ở những vùng trời cách xa nhau trên thế giới, nên học thuyết Tiến hóa của ông có những chứng liệu xác minh. Nhận xét của nhà kinh tế học Anh Thomas Robert Malthus (1766-1834) : -Dân số tăng theo cấp số nhân, thức ăn tăng theo cấp số cộng, khiến cho cuộc sống ngày thêm khắc nghiệt-, nhận xét ấy gợi ý cho Darwin xướng xuất nên nguyên lý “Đấu tranh để sống còn”, theo đó thì môi trường sống ngày thêm khắc nghiệt chỉ cho phép những cá thể đủ khả năng ứng phó tốt mới tồn tại nổi, cũng như chỉ những con đực khoẻ mới có thể giành con cái mà để lại giống. Và đây là “Chọn lọc tự nhiên”. Những thay đổi ở cơ thể bắt đầu còn nhỏ, sẽ lớn dần và biến hóa hẳn để sinh ra những giống loại mới sau nhiều thế hệ. Sở dĩ thay đổi tồn tại được là nhờ di truyền. Sự di truyền này sẽ được chứng minh sau đó bởi nghiên cứu của Mendel.* Trên nguyên tắc, thì đây mới chỉ là Biến hóa (transformation). Nhưng vì để tồn tại thì phải khoẻ và ứng phó tốt, nên thay đổi cũng là tiến về phía hoàn thiện. Mà thật sự có tiến hóa như thế đấy, chẳng những nơi sự sống, mà nơi vật chất nói chung. Y như thể đã có mục tiêu nhắm trước, một chương trình cài đặt sẵn nơi cái Lượng tử ban sơ (Quantum initial). Ấy thế mà nay vẫn có người nghĩ khác, rằng chẳng có gì nhắm trước, mà chỉ có Ngẫu nhiên làm việc, khiến những gì có đó hôm nay chỉ là do hú họa mà thành thôi. Nếu nhìn gần và nhìn vào một số biến đổi, thì xem ra có như vậy thật. Cứ xem hiện tượng rất thông thường là sinh sản sẽ thấy ngay. Cả triệu tinh trùng mà chỉ có một tới được một noãn nào đó để một thằng nhóc da vàng mũi tẹt sinh ra. Để rồi vài năm sau cùng một may mắn hay “hú họa” như thế tái diễn, và một con nhãi mắt xanh, da ngăm ngăm đen chả hạn ra đời. Vâng, cách hành động “gặp chăng hay chớ” của thiên nhiên đã là nguyên nhân cho những khác biệt ở kết quả, không chỉ khác biệt ở hình dáng và giới tính, mà còn khác biệt ở từng cơ quan, từng nhân tế bào với những sợi nhiễm sắc thể. Và sự đa dạng vô cùng phong phú ấy, tác giả của nó không thể không là Ngẫu nhiên. Chẳng những có ngẫu nhiên ở sự gặp gỡ của một giao tử đực nào đó (giữa hằng bao triệu giao tử đực khác) với một giao tử cái, mà trước khi ấy, còn sự trao đổi hú họa trong nhân tế bào giữa ba vạn gen với nhau. Như ai nấy đều biết, trong mỗi nhân tế bào thường, có 23 nhiễm sắc thể đến từ bố và 23 nhiễm sắc thể đến từ mẹ. Nhưng riêng ở tế bào giới tính, chỉ còn 23 nhiễm sắc thể, tức bản sao của một nửa hệ di truyền thôi. Để làm nên tế bào giới tính (tức giao tử đực hay cái) như thế, trong một tế bào (với đủ 23 cặp thể nhiễm sắc), 23 thể nhiễm sắc đến từ bố và 23 đến từ mẹ phải trao đổi loạn xạ với nhau những đoạn gen của mình trước khi phân chia thành hai tế bào trong tiến trình gọi là giảm phân (meiosis). Vì sự đổi trao và phân đôi phải thực hiện hai lần, nên các “quân bài” gen được tráo đi đảo lại quá nhiều khiến cơ cấu di truyền thiên biến vạn hóa, không còn y hệt nhau giữa các giao tử từ đó thành hình. Nhờ vậy, khả năng giống hệt nhau giữa những cá thể sinh ra chỉ còn là 1 trên 70 vạn tỷ (1/7.1013) thôi. Trong khi ấy thì hành tinh chúng ta mới chỉ có 6 tỷ người, khiến ai nấy đều là duy nhất trên đời cả. Chính sự đa dạng trong cơ cấu bên trong ấy bảo vệ rất tốt cơ thể chúng ta, như trong hệ các kháng thể chúng có thể biến hóa rất đa dạng để đối phó với vi khuẩn và vi rút vốn cũng đa dạng và ngày càng đa dạng không kém . Cái tốt của sự đa dạng rõ rệt nhất tìm thấy ở cấm kỵ loạn luân. Vâng, hai anh em, vì còn gần nhau về mặt di truyền, nếu lấy nhau sẽ tai hại cho con cái trên bình diện tâm sinh lý. Vâng, ở đây không chỉ có tai hại về mặt luân lý! Phải chăng chỉ có ngẫu biến, chứ không còn sắp đặt? Những người chủ trương chỉ có ngẫu nhiên thôi, đã nhìn nhận sự ngẫu nhiên ấy là cần, để từ đó có sự đa dạng vô cùng khẩn thiết cho sự sống. Nếu ngẫu nhiên quả là đúng thứ cần đến, lại quá thích hợp nữa, thì phải chăng nó cũng được tiên liệu (hay “bố trí”) trên thực đơn tiến hóa ngay từ đầu rồi? Nhất là đối với loài người, trong đó không chỉ có vấn đề chủng loại, mà còn vấn đề bản vị (hữu thể học), nó khiến mỗi người phải là chính mình, hoàn toàn độc đáo, khiến ta không thể hy sinh một người dù để cứu vãn cả xã hội, giống như thiêu hết bầy gà nhiễm H5N1 trong một vùng vậy. Bản vị hữu thể học này cần được biểu hiện ở thân xác trước tiên để có sự khác nhau về thể trạng và di truyền, và từ căn bản ấy xây nên sự đa dạng hoàn hảo hơn nữa về mặt tâm lý và nhân bản (do giáo dục và văn hóa, cũng như do tu luyện bản thân). Có thế mỗi người mới thành duy nhất trên đời ngay cả ở biểu hiện nữa! Về mặt thân thể, để có một đa dạng lớn lao như thế, “sự ngẫu nhiên” phải bố trí tới mấy lần tráo đảo các quân bài trong giảm phân. Thế nhưng tại sao lại có đúng sự tráo đổi gen cần thiết trước giảm phân như thế? Nhất là có đúng hiện tượng giảm phân để giao tử chỉ giữ lại nửa số nhiễm sắc thể, nhờ đó đực cái bù trừ đúng cho nhau để làm nên một cá thể mới với tế bào đủ cả 46 thể nhiễm sắc. Hơn nữa, trong tiến trình thành người mới này, còn biết bao buớc đi, mà chỉ cần một bước lệch thôi đủ hỏng luôn chuyến tàu. Nghĩa là bên cạnh cái ngẫu nhiên, phải có bao cái được sắp đặt, và đây là những quy luật. Ai dám bảo sự sống không bị cai trị bởi những quy luật nhỉ? Mà không chỉ bên trong sự sống. Còn những bước tiến từ khoáng chất sang sinh vật nữa chứ. Quả vậy, nếu từ nhiều tỷ độ C, vật chất không nguội đến dưới 70 độ, thì sinh chất albumin sao khỏi bị đông cứng? Và nếu không có môi trường biến động điện từ quanh các vì sao cùng với những chất cần thiết như hơi nước, khí các bô ních, nát ri, mêthan,v.v., thì làm sao nảy sinh các acid amin; cũng như nếu không có sẵn môi trường nước và đất thó, thì sao cả triệu acid amin có thể trùng kết (polymérisation) thành viên gạch của sự sống là các đại phân tử protein? Lại còn những chuẩn bị xa và rất xa là khác. Cần phải có “âm dương tương thôi, nhi sinh biến hóa”, phải có đủ bốn lực cơ bản : lực hạt nhân mạnh (để cố kết các quarks thành protons, neutrons, rồi thành hạt nhân), lực hạt nhân yếu, lực hấp dẫn và lực điện từ ( để cố kết électron dấu âm lại với hạt nhân dấu dương) cùng với hai hằng số được tính toán chi ly để cuối cùng xuất hiện các phân tử chúng là nền tảng thứ nhất từ đó xây nên sự sống. Vâng, sự sống -mà đỉnh cao là con người- xem như đã được nhắm trước ngay trong cái lượng tử ban sơ (quantum initial), đúng như nhận xét của nhà vật lý thiên văn không Kytô giáo Trịnh xuân Thuận khi ông ví Hóa công với một nhà thiện xạ đã đứng từ khoảng cách 15 tỷ năm (vận tốc) ánh sáng mà nhắm bắn cái hồng tâm 1cm là con người, thế mà chỉ một phát trúng ngay.* Quả thật, nếu chỉ có ngẫu nhiên thì sao có những kết quả kỳ diệu đến thế. Cứ mang cả sấp chữ cái mà đổ ào xuống mặt bàn, và thử rất nhiều lần như vậy đi, xem có bao giờ chúng xếp thành cả một Truyện Kiều hoàn chỉnh được không? Thế mà từng đã có biết bao Truyện Kiều được tạo nên giữa lòng thiên nhiên như thế đó. Truyện Kiều trước tiên, đó là quá trình tiến hóa ăn khớp với nhau để cuối cùng có sự sống, và giữa sự sống : loài người! Truyện Kiều tiếp theo, đó là chính vũ trụ này, ở hiện trạng của nó, với các hành tinh và vệ tinh xoay chuyển nhịp nhàng quanh tinh đẩu chính để làm nên thái dương hệ, đó là các thái dương hệ hợp thành tinh hà, và các tinh hà dù vẫn di chuyển, nhưng di chuyển trong trật tự để làm nên cái vũ trụ bao la với bề rộng gần hai mươi tỷ năm ánh sáng của chúng ta! Còn nơi sự sống? Các sinh vật phân thành ức triệu chủng loại, thứ này cần thiết cho thứ kia để bổ túc cho nhau và để cùng tồn tại với nhau! Và nơi từng cá thể, các cơ quan và chức năng phối hiệp với nhau càng vô cùng chặt chẽ để có một sự sống thống nhất hoàn toàn. Lại không chỉ có Truyện Kiều ở cái tổng thể là cá thể đó, mà mỗi chương của Truyện Kiều cá thể cũng là những tổng thể diệu kỳ ở một phạm vi hẹp hơn. Và đây là từng bộ phận của cơ thể đó. Chúng ta hãy lấy làm thí dụ : Con mắt. Có cả trăm thành phần cấu tạo nên mắt, cái nọ bổ túc hay hỗ trợ cho cái kia. Nên nhớ, có hằng chục thứ mắt khác nhau, mỗi thứ phù hợp cho hoạt động của một loại động vật khác nhau. Như tôm cua và côn trùng, mà nguy cơ rình rập tư bề trên từng bước đi, thì mắt của chúng do cả ngàn mắt con hợp lại, có khả năng phát hiện những cử động dù nhỏ nhặt của kẻ thù từ bất cứ chỗ nào quanh mình. Như loài chim vì bay nhanh nên võng mạc kéo dài về phía sau hầu có thể nhìn ra ngay những chướng ngại khi chúng còn ở xa. Và sau đây là mắt người, mà chúng ta có chung với loài có xương sống. Mắt người là một máy chụp hình siêu đẳng, mà thấu kính là thủy tinh thể, mà cửa điều sáng (diaphrame) là con ngươi với những cơ giúp mở to hay co hẹp lại,. Khác với thấu kính của máy chụp, thủy tinh thể gồm bởi nhiều lớp chồng lên nhau, với hai đầu có những cơ (muscle) khiến thấu kính có thể tự dẹp xuống hay nở tròn hầu chỉnh lại tiêu cự (focal length) cho vừa đúng để nhìn rõ bất cứ vật thể nào dù gần hay xa. Bộ phận tiếp nhận tia sáng ở võng mạc cũng được cấu trúc rất phức tạp và tinh xảo bằng những tế bào thần kinh hình nón và hình que : hình nón từng cái một tập trung ở giữa nhiều nhất để ghi đậm nét hình ảnh; hình que hợp thành từng cụm xung quanh cho một hình ảnh mờ dần, nhưng tế bào hình que lại cho thấy rõ hơn trong tối. Nhiều loại cơ khác sẽ tự động điều chỉnh để hình ảnh được thấy rõ ở những điểm khác nhau khi ta chú ý đến (điểm ấy). Khác hẳn máy chụp, mắt có thể giúp ta, không chỉ thấy hình của vật thể, mà còn ước lượng được độ lớn và khoảng cách của vật thể này. Càng kỳ diệu hơn khi mà, cùng với hình ảnh thấy, nhờ sự phối hiệp của lý trí, chúng ta có thể nhận ra tính xác thực (certitude) hay không của vật thể trước mắt, điều mà hình chụp không làm được. Đó là những bộ phận chính của cơ quan thị giác. Chúng ta bỏ qua hệ thống bảo vệ như lông mi để cản bụi và côn trùng, như nước mắt làm trôi bụi đi, như khả năng chớp mắt tự động để chống lại những tấn công bất ngờ. Và chúng ta cũng chưa đả động tới hệ thống thần kinh, nó được bố trí rất phức tạp và tinh tế để tiếp nhận và phối hợp các ký hiệu hầu tạo ra hình ảnh trong đầu, cũng như sự liên kết của thị giác này với các giác quan khác và với những hoạt động khác của chúng ta.* Dĩ nhiên là, trong thiên nhiên ấy, bên cạnh những biệt định cũng diễn ra biết bao bất định. Bất định năng gặp nhất là trong lãnh vực vật lý lượng tử. Cho một nắm hạt cơ bản vào chạy trong máy gia tốc (cyclotron) và cho chúng đập vô một tấm chắn bằng đồng. Có hạt sẽ đi xuyên qua và có hạt dội lại bằng một góc 145o , mà không thể đoán trước hạt nào lọt, hạt nào hồi phản. Thế nhưng trong cái bất định này vẫn có một biệt định, và đó là : chỉ một trong hai trường hợp, chứ không phải ba, bốn,v.v., lại nữa nếu đây là phản hồi thì góc hồi phản nhất định là 145 độ, chứ không khác được. Y như đặt một khúc xương trước mắt chó, với một chướng ngại vật ở chính giữa. Không thể nào đoán trước chó sẽ chọn đường bên trái hay bên phải, nhưng chắc chắn thế nào nó cũng chạy đến và đến bằng một trong hai con đường bằng nhau ấy. Sự bất định càng lớn hơn nơi con người, vì nơi con người còn ý chí tự do. Có điều ai dù thánh đến đâu cũng không thể không có những yếu đuối, trong khi phần đông lại không thánh, nên sống theo bản năng là chuyện thường gặp ở loài người. Cho nên vẫn xác định được cách phản ứng của xã hội nói chung bằng phép tính xác xuất (vốn chỉ áp dụng cho những con số lớn), nhờ đó mới có thể làm thống kê và mở hãng bảo hiểm. Quả thật, nếu nhìn chung cuộc thì xem ra không thể không chấp nhận một sắp đặt trong thiên nhiên, một nhắm đích trong tiến hóa từ lượng tử ban sơ đến con người. Thế nhưng nhìn sâu vào từng bước tiến, lại không thể phủ định rất nhiều những bất định và ngẫu nhiên. Có điều thường khi những bất dịnh và ngẫu nhiên ấy lại là cần thiết. Cho nên phải đi đến giả định là ngẫu nhiên cũng nằm trong quy luật, mà một trong những bằng chứng là các tham số (paramètre) m trong rất nhiều công thức vật lý. Để dung hòa giữa ngẫu nhiên và biệt định, tôi xin trở về với ý kiến của tôi đã được trình bày trong nguyệt san CGvDT năm 2002 như sau: -”Cái khối Energy-mass (Năng lượng-khối lượng) ấy, với tất cả sự năng động của nó do sự Nhắm đích (của Thiên Chúa) đã hằn ghi thành Hướng đích (ở vật chất), sẽ dò đường tìm lối cho mình. Mỗi khi tìm ra lối đi hướng về phía đích, nó liền để Vết lại, và đây là quy luật, một thứ “tập quán” mà mọi thành phần vật chất sau đó cứ thế mà làm, mà “lặp lại” (répétition)…” Chính vì Thiên Chúa chỉ nhắm đích một cách chung chung, nên vật chất luôn bước theo một cách ngẫu hứng, -vâng, không phải ngẫu nhiên, mà ngẫu hứng-. Và do đó quy luật (ở vật chất) vừa xác định, vừa không thể xác định hoàn toàn và về mọi mặt, và điều ấy là cần thiết cho sự tồn vong và tiến hóa của vật chất, nhất là của sự sống nói chung. Cho nên quy luật vật lý quá cứng nhắc của Newton rồi sẽ được chỉnh lại bởi quy luật “tương đối” của Einstein vốn mềm dẻo hơn. Ngay quy luật thiêng liêng là đạo đức cũng vậy. Hướng nhắm của đạo Trời, mà phản ảnh ở đạo người (trong lương tri chúng ta) chỉ là sự thiện (hay Đạo) một cách tổng quát, sự thiện (hay Đạo) ấy rất sâu xa và tinh tế, nên không thể xác định bằng những quy luật luân lý quá rõ, nên thường cũng quá cứng nhắc như vẫn thấy xưa nay. Đúng như suy nghĩ của Đạo đức kinh, là phải “mất lễ mới còn nhân nghĩa, mất nhân nghĩa mới còn đức, và mất đức mới còn Đạo” ! ---------------------------------------------------------------------------------------------------------- ***Thạc Sĩ (agrégation) trong Văn Khoa hay Luật Khoa (ở Pháp và Việt Nam trước 1975) là bằng cấp mà người ứng thí (candidate) muốn lấy phải đã có bằng Tiến Sĩ Quốc Gia (Docteur d’État). Còn Thạc Sĩ của Việt Nam bây giờ chỉ tương đương Cao Học (Master’s Degree) mà thôi. Tác giả: Hoàng Sỹ Quý, SJ. Nửa khoa học + nửa thần học Ki Tô + nửa Đạo giáo sẽ đi tới đâu? Thái Cực là "Mẹ" - là "Đức Chúa Trời nguyên sơ", đẻ ra "Vạn vật" bằng sự tự hy sinh thân xác của mình nên trong Vạn Vật có "Tâm điểm Chúa Trời" - Chúa Trời Tiên Thiên. "Vạn Vật" hữu tình, bao gồm cả hữu hình và vô hình luôn tồn tại hai mặt, có Chúa Trời thì phải có Ma Quỷ, không bao giờ diệt được Ma quỷ bởi nếu diệt được nó cũng Chúa Trời cũng phải tự hủy. Giai đoạn này: Phải có cấu trúc xã hội vô hình lẫn hữu hình nhằm trói tay chân Ma Quỷ, nhân vật được tôn vinh là Ngọc Hoàng Thượng Đế - Chúa Trời Hậu Thiên. Lên Thiên Đường là do chính mỗi con người điều chỉnh "Tâm cá nhân - Atman" trở thành "Tâm Vạn Vật - Brahman", được hướng dẫn bởi các bậc thầy tâm linh như OSHO chẳng hạn. Nói chung, phải hiểu Thái Cực, khởi nguyên vũ trụ thì mới biết được còn không, chịu tất: "Chết ngay trên chấm phạt đền". Đánh giá thần học, theo cá nhân: Kinh sách, tôn chỉ. Lịch sử tôn giáo. Số người đạt "ước muốn" chẳng hạn lên Thiên đường hay xuống địa ngục? hay đắc Đạo? Thực tại phải ánh mục đích và kết quả của tôn giáo - "Thực tại là thước đo chân lý" LêNin. Chỉ có một câu hỏi đơn giản thôi: Linh hồn là gì? Nếu linh hồn rời thân xác thì phải chăng có một thân xác khác? Vậy linh hồn cũng có thể rời thân xác mới này?... cứ như vậy, linh hồn là gì?
  3. Cuốn Tinh hoa Đạo học Đông Phương của tiên sinh Nguyễn Duy Cần đã viết: Vô Cực chính là Thái Cực.
  4. Đất đai nhà Tần phía nam đến miền "cửa nhà quay mặt về hướng bắc"? Posted by: Dong Yi (113.23.11.---) Date: October 01, 2013 09:10AM Sử kí - Tần Thủy Hoàng bản kí có đoạn chép: 地東至海曁朝鮮,西至臨洮、羌中,南至北嚮戶 (Năm thứ hai mươi mưoi sáu - 221 TCN) Đất đai (của nhà Tần) chạy dài phía đông đến biển và đất Triều Tiên, phía tây đến Lâm Thao, Khương Trung, phía nam đến miền cửa nhà quay mặt quay mặt về hướng bắc. (*) (*) Theo bản dịch Sử kí của Phan Ngọc kèm chú thích là "Tức là Nhật Nam (miền Quảng Nam). Ý nói miền phía nam mặt trời cố nhiên phải mở cửa về phía bắc mới có mặt trời". 【集解】吳都賦曰:「開北戶以向日。」劉逵曰:「日南之北戶,猶日北之南戶也。」 Bùi Nhân tập giải dẫn từ sách Ngô đô phú chép: "Mở cửa hướng bắc để hướng về mặt trời". Lại dẫn từ lời Lưu Qùy nói: "Ở phía nam mặt trời thì mở cửa quay mặt về hướng bắc, tựa như ở phía bắc mặt trời thì mở cửa quay mặt về hướng nam". Lại theo Nhan Sư Cổ chú giải quận Nhật Nam trong Hán thư - Địa lí chí rằng: 師古曰:「言其在日之南,所謂開北戶以向日者。」 Sư Cổ nói: "Nói là phía nam của mặt trời, cho nên nói là mởi cửa về hướng bắc để hướng về mặt trời". Lịch Đạo Nguyên trong Thủy kinh chú có dẫn Lâm Ấp kí chép: 區粟建八尺表,日影度南八寸,自此影以南,在日之南,故以名郡 Theo bài viết "Dùng thiên văn kiến giải các thuật ngữ Nam Giao, Giao Chỉ, Tượng Quận, Cửu Chân, Nhật Nam" của Trương Thái Du cũng dẫn tương tự: Quận Nhật Nam tiếp nối Cửu Chân, vậy Nhật Nam có phải tương đương với Bán Cầu Nam trong thiên văn? Nhật Nam nghĩa là phía nam mặt trời. Sử ký viết: … 南至北乡户 (Nam chí bắc hương hộ). Tạm dịch: “(Đất đai nước Tần)… phía nam đến miền cửa nhà quay mặt về hướng bắc”. (集解吴都赋曰:“开北户以向日”): Sách tập giải Ngô Đô Phú chú: “Khai bắc hộ dĩ hướng nhật – Mở cửa hướng bắc để đón ánh mặt trời." (刘逵曰:“日南之北户,犹日北之南户也”). Lưu Quỳ chú: "Nhật nam chi bắc hộ , do nhật bắc chi nam hộ dã - Phía nam mặt trời thì làm cửa quay mặt về hướng bắc, cũng như phía bắc mặt trời thì cửa nhà quay mặt về hướng nam vậy”. Tư Mã Thiên viết câu trên chứng tỏ ngành thiên văn biết vậy nhưng sự thực người Trung Quốc chưa bao giờ đặt chân đến vùng Nhật Nam. Nghĩa Nhật Nam với triều Tây Hán là khu vực nằm dưới Nam chí tuyến (vĩ độ 23 độ 27 phút), đi qua thành phố Rockhamton Bang Queensland Australia. Trong khi đó Nam Bán Cầu phải được tính từ vĩ độ 0 độ, từ mép phía nam của eo Malacca trở xuống. Xin lưu í, phần lớn đất nước Trung Quốc ở trên Bắc Chí Tuyến (vĩ độ 23 độ 27 phút, ngang qua thành phố Quảng Châu), do đó mặt trời với họ luôn ở về phía nam, mọc phương đông nam và lặn phương tây nam. Rõ nhất trong ngày Đông Chí đêm dài ngày ngắn, mặt trời lẩn quẩn hẳn về phía nam. Vì vậy khi tế trời (cúng mặt trời) thiên tử - con trời phải quay mặt về phương nam. Có lẽ muộn nhất là thời Tần, người Trung Quốc đã chế tạo được Hỗn Nghi, một bộ máy đo đạc thiên văn khá đơn giản nhưng thể hiện đầy đủ vòng tròn xích đạo, hoàng đạo (quĩ đạo biểu kiến của mặt trời trên thiên cầu). Về cơ bản đường xích đạo trên Hỗn Nghi và đường xích đạo của con người thế kỉ 21 tương đồng về bản chất. ________________________ Miền "cửa nhà quay mặt về hướng bắc" trong thực tế là quận Nhật Nam thời nhà Hán sau này, tương đương với miền Quảng Nam ở miền trung Việt Nam ngày nay. Nhưng thực tế đất đai nhà Tần đến đấy không? Để trả lời ta hãy xem ngữ cảnh của từ "cửa nhà quay mặt về hướng bắc". "Cửa nhà quay mặt về hướng bắc" - 北嚮戶 - bắc hướng hộ, câu này Tư Mã Thiên dùng thực ra là từ 北戶 - bắc hộ có từ trước đó. Trong 瑯邪臺刻石 - Lang Da đài khắc thạch. Lang Da đài khắc thạch là bia đá có khắc chữ tiểu triện. Năm thứ hai mươi tám (năm 219 TCN), Thủy Hoàng nhà Tần đi tuần thú miền đông, đến núi Lang Da (tỉnh Sơn Đông ngày nay), sai Thừa tướng là Lí Tư khắc bia đá này để ca tụng công đức, lời văn có phóng đại. Trong đó đoạn văn như sau: 六合之內,皇帝之土。西涉流沙,南盡北戶。東有東海,北過大夏。人跡所至,無不臣者。 Lục hợp chi nội, hoàng đế chi thổ. Tây thiệp Lưu Sa, nam tận bắc hộ. Đông hữu đông hải, bắc quá Đại Hạ. Nhân tích sở chí, vô bất thần giả. Ở trong sáu cõi đều là đất của hoàng đế. Phía tây vượt bãi cát Lưu Sa, phía nam đến tận miền cửa nhà quay mặt về hướng bắc. Phía đông có biển đông, phía bắc qua đất Đại Hạ. Nơi nào có vết chân người đi đến, không nơi nào là không thần phục. Như vậy rõ ràng "bắc hộ" 北戶 "miền cửa nhà quay mặt về hướng bắc" là một từ chỉ chung cho vùng đất ở phía nam mặt trời, nơi này nhà Tần chưa chắc đã áp đặt được sự thống trị của mình được. Có thể là bấy giờ danh tiếng nhà Tần đã truyền khắc bốn biển, những nước ở "miền cửa nhà quay mặt về hướng bắc" nghe tiếng tăm mà đến quan hệ mà thôi, cho nên mới nói "nơi nào có vết chân người đi đến, không nơi nào là không thần phục". Vả lại năm thứ hai mươi tám (năm 219 TCN), nhà Tấn mới chỉ thống nhất được Trung Nguyên, phía nam tận cùng là nước Sở cũ, lấy dãy núi Ngũ Lĩnh làm ranh giới, nơi này không phải là nơi ở phía nam mặt trời. Sau đó đến năm thứ ba mươi ba (năm 214 TCN) nhà Tấn đánh lấy đất Dương Việt ở phía nam dãy núi Ngũ Lĩnh đặt ra ba quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng, cũng chỉ đến khoảng bắc chí tuyến 23, nơi này mặt trời vẫn ở phía nam. KẾT LUẬN: Đất đai nhà Tần phía nam thực tế chưa đến miền "cửa nhà quay mặt về hướng bắc". Chỉ là "ảo vọng" về sự lớn mạnh của nhà Tần trong bia khắc đá ở núi Lang Da của Lí Tư, đến đời Hán thì Tư Mã Thiên lấy từ ấy mà chép vào Sử kí, đó là "nơi nào có vết chân người đi đến, không nơi nào là không thần phục", trong đó có miền "cửa nhà quay mặt về hướng bắc"! Đông Dã, ngày 01/10/2013 Sử ký Tư Mã Thiên rất quan trọng, nhưng phải đối chiếu với các nguồn khác, ông cũng bị nhà Hán bắt viết theo ý đồ có lợi cho họ nhưng có nhiều cách viết sử uyển chuyển mà vẫn đúng thực tế, chẳng hạn "truyền thuyết" là sự thực được mã hóa, ẩn dụ...
  5. Thông Điệp từ Tổng Lãnh sự Thiên Thần Gabriel (tham khảo) (Hùng Vương VII - Lang Liêu) "Mở cửa trái tim của bạn với Năng lượng của tình yêu. Mặc dù điều này nghe có vẻ phản trực giác trong thời gian của sự hỗn loạn, nơi áp dụng một tư thế an toàn phòng thủ có vẻ hợp lý hơn, chúng ta nói với bạn bây giờ mà Trái tim là nơi duy nhất thực sự an toàn để được tập trung vào đó . Ở đây tất cả khả năng có thể mở ra. Ở đây tất cả sức mạnh của bạn tồn tại! Đây là điểm nghỉ ngơi ... và đổi mới nơi người ta có thể chứng kiến ​​người Maya và ảo giác xung quanh mình. Nó sẽ cung cấp cho bạn quan điểm và hòa tan bất kỳ sự áp đảo nào bạn có thể cảm nhận. này không phải là để nói rằng bạn không có hành động. Chúng tôi chỉ đơn giản là đề nghị bạn hãy hành động từ bên trong một ý thức tập trung vào trái tim. Điều này sẽ đảm bảo rằng những suy nghĩ của bạn, lời nói và mọi việc được truyền và hướng dẫn của tình yêu, giúp hòa tan tính nhị nguyên trong chính bạn và trong thế giới của bạn. khi bạn đi qua cuộc sống, luôn luôn nhớ cảm giác hòa bình, an toàn và thống nhất - một sự lựa chọn. "
  6. THÔNG ĐIỆP GỞI TỪ NGÀN XƯA Viên Như III - CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI Sau khi lấy được cái văn hóa Nòng nọc của người Việt, chắc chắn người phương Bắc đã không ngừng tìm cách xóa đi vết tích của nền văn hóa này. Chính vì vậy mà ngày nay hầu như không con bất cứ một bia đá hay vật thể nào rỏ ràng để lưu dấu giai đoạn phát triển thăng hoa đó. Mọi thứ đã bị tiêu hủy theo những lần chiếm đóng, nhất là bị bắc thuộc cả 1000 năm, thì làm sao mà người Việt bảo vệ nổi văn hóa vật thể của mình. Chính trong cơn lốc của sự tàn phá văn hóa ấy, người Việt đã chôn sản phẩm ưu việt trống đồng của mình dưới lòng đất và những người chôn trống đồng năm xưa ấy đã giữ bí mật và mang bí mật ấy theo về với tổ tiên, nếu không như thế thì một hai thế hệ lại đào lên, tất nhiên rồi sẽ chung số phận như các vật thể văn hóa khác mà thôi. Họ đâu biết rằng nhờ thế mà ngày nay, sau hàng ngàn năm, con cháu của họ lại có cơ hội để tiếp xúc với cái biểu tượng mà cha ông đã để lại, dần hồi lắng nghe tiếng nói chìm ẩn trong những hoa văn, hoa tiết, từ đó tìm về cội nguồn tâm linh dân tộc mình. Sau khi chôn trống đồng sâu vào lòng đất, người xưa biết rằng, việc lưu dấu nền văn hóa của mình vào vật thể như bia đá, nồi, trống đồng đến đó là xem như vô vọng, nên họ chuyển sang một phương thức mới, đó là văn học truyền miệng, từ đó mới có câu đúc thực tiển thành câu : Trăm năm bia đá cũng mòn, Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ. Để cho mọi người dễ nhớ, dễ truyền bá, người xưa đã chôn dấu những thông điệp trong những câu chuyện với những nhân vật chính là những con vật chung quanh cuộc sống của con người. Một trong những tấm bia khắc bằng miệng ấy là câu chuyện “Cóc kiện trời”. Ta thử giải mã xem câu chuyện ấy chứa thông điệp gì? CÓC KIỆN TRỜI Ngày xửa ngày xưa, con cóc vẫn sần sùi xấu xí như ngày nay, nhưng cóc nổi tiếng giữa muôn loài là một con vật tuy bé nhỏ nhưng rất gan dạ. Gan cóc tía mà lại. Thông thường năm nào, Ngọc hoàng Thượng đế = Vô cực cũng sai thần Mưa làm mưa cho muôn loài, cây cối, nhưng vào một năm không nhớ rõ năm nào, trời làm hạn hán khủng khiếp. Nắng lửa hết tháng này đến tháng khác, hút cạn nước sông ngòi, đầm hồ, mọi cây cỏ đều khô héo cả, đất nứt như một khe vực. Muôn loài không còn một giọt nước để uống. Các con vật to lớn hùng mạnh xưa nay tác oai tác quái trong rừng đều nằm lè lưỡi mà thở để đợi chết, không ai nghĩ được kế gì để cứu mình, cứu muôn loài. Sức mạnh của chúng chỉ để bắt nạt nhau thôi chứ đâu có thể làm gì nổi ông trời.. Duy có anh chàng Cóc tía bé nhỏ, xấu xí kia là có gan to. Anh tính chuyện lên thiên đình kiện Trời làm mưa cứu muôn loài... Khởi đầu chỉ có một mình Thái cực nhưng anh đâu có nản. Anh đi ngày đi đêm, Lưỡng nghi, một hôm đi qua một vũng đầm khô Cóc tía gặp Cua càng ☰.(càn) Cua hỏi Cóc đi đâu. Cóc bèn kể rõ sự tình, và rủ Cua cùng đi kiện Trời. Ban đầu Cua định bàn ngang. Thà chết ở đây còn hơn chứ Trời xa thế đi sao tới mà kiện với tụng. Nhưng những con vật ở quanh Cua nghe Cóc nói lại tranh nhau mà bàn ngang bàn lùi, làm cho Cua nổi giận. Nói ngang bàn ngang là chuyện ngang của Cua thế mà họ lại dám tranh mất cái quyền ấy, cái quyền được phép ngang như cua cơ mà. Thế là Cua làm ngược lại, Cua tình nguyện cùng đi với Cóc. Ði được một đoạn nữa, Cóc lại gặp Cọp ☴ (tốn)đang nằm phơi bụng thở thoi thóp. Gấu ☵(khảm) đang chảy mỡ ròng ròng và khát cháy họng. Cóc rủ Gấu và Cọp đi kiện trời. Cọp còn lưỡng lự thì Gấu đã gạt đi mà nói rằng: - Anh Cóc nói có lý, chẳng có lẽ chúng mình cứ nằm ở đây đợi chết khát cả ư... Ta theo anh Cóc thôi. Ðến ngang như anh Cua còn theo anh Cóc được thì tại sao chúng mình không theo. Cả bọn nhập lại thành đoàn. Ði thêm một chặng nữa thì gặp con Cáo☶ (cấn) bị lửa nướng cháy xém lông và đàn Ong ☷ (khôn)đang khô mật. Cả hai con vật này cũng hăng hái nhập vào đoàn loài vật đi kiện Trời do Cóc dẫn đầu. Cóc dẫn các bạn đi mãi, đi mãi đến tận cửa thiên đình. Khi đi trên đường cả bọn đều hăng hái nhưng đến trước cửa 宀 (Thái hư) Trời oai nghiêm, bọn Cua ,Cọp, Gấu, Cáo, Ong đều sợ, duy chỉ có Cóc là gan, liền dõng dạc ra lệnh: Bây giờ các anh phải nghe lời tôi. Kia là chum nước 缶 của Trời, anh Cua vào nấp trong ấy, (5-Thủy thiên nhu) anh Cáo nấp ở phía bên trái tôi, (56 -Hỏa sơn lữ) anh Gấu nằm ở phía bên phải tôi, (29 - Thuần khảm) còn anh Cọp chịu khó nằm đằng sau tôi (46 - Địa phong thăng) . Các anh có nghe lệnh của tôi thì mới thắng được Trời. Tất cả đều nghe lệnh của Cóc. Sắp đặt xong đâu đấy Cóc 貝 mới nhảy lên mặt trống trời đánh ba hồi trống ầm vang như sấm động. Ngọc Hoàng 王 đang ngủ trưa một cách lười biếng bị tiếng trống lôi đình đánh thức dậy nên bực tức, bắt Thiên lôi ☳ (chấn)ra xem có chuyện gì. Thiên lôi lười biếng vội phủi bụi và mạng nhện giăng đầy trên lưỡi búa tầm sét cắm cổ chạy ra. Thiên lôi ngạc nhiên vì ở ngoài cửa thiên đình chẳng thấy có một người nào cả chỉ thấy mỗi một con Cóc xù xì xấu xí đang ngồi chễm chệ trên mặt trống của nhà Trời. Thiên lôi hết nhìn con Cóc lại nhìn lưỡi búa tầm sét khổng lồ của mình và thở dài vì cái búa to quá mà Cóc bé quá. đánh chưa chắc đã trúng được. Thiên lôi bèn cắm cổ vào tâu Ngọc hoàng. Ngọc hoàng nghe xong bực lắm bèn sai con gà ☲ (ly)trời bay ra mổ chết chú Cóc hỗn xược kia. Gà trời vừa hung hăng bay ra thì Cóc đã nghiến răng ra hiệu, lập tức chàng Cáo nhảy ra cắn cổ gà tha đi mất. (22 - Sơn hỏa bí) Cóc lại đánh trống lôi đình. Ngọc hoàng càng giận giữ sai Chó ☱ (đoài) nhà trời xổ ra cắn Cáo (31-Trạch sơn hàm) . Chó vừa xồng xộc chạy ra thì Cóc lại nghiến răng ra hiệu. Lập tức anh Gấu lừng lững xổ ra đón đường tát cho chó một đòn trời giáng. Chó chết tươi. (60 -Thủy trạch tiết) . Cóc lại thúc trống lôi đình đánh thức Ngọc hoàng. Ngọc hoàng bèn sai Thiên lôi ra trị tội gấu. (40 - lôi thủy giải). Thiên lôi là vị thần trời có lưỡi tầm sét mỗi lần vung lên thì thành sét đánh ngang trời (34-Lôi thiên đại tráng) thành sấm động bốn cõi. Sức mạnh của Thiên lôi không có ai bì được. Ngọc hoàng yên trí lần này cử đến ông Thiên lôi ra quân thì cái đám Cóc, Cáo (56-Lôi sơn lữ) ắt hẳn là tan xác. Vì thế khi ông Thiên lôi vác lưỡi tầm sét đi là Ngọc hoàng lại co chân nằm trên ngai vàng mà ngủ tiếp. Thiên lôi vừa hùng hổ vác búa tầm sét ra đến cửa thiên đình thì Cóc đã nghiến răng ra lệnh, lập tức chàng Ong nấp trên cánh cửa bay vù ra và cứ nhè vào mũi Thiên lôi mà đốt. (24 - Địa lôi phục). Nọc ong đốt đau lắm, mũi Thiên lôi rát như phải bỏng. Nhớ là ở cửa trời có một chum nước. Thiên lôi vội vàng vứt cả búa tầm sét nhảy ùm vào chum nước chạy trốn (3-Thủy lôi trung). Nào ngờ vừa nhảy ùm vào trong chum nước thì anh Cua càng nấp trong đó từ bao giờ đã chờ sẵn để giương đôi càng như đôi gọng kìm cắp chặt lấy cổ. (25-thiên lôi vô vọng). Thiên lôi đau quá gào thét vùng vẫy vỡ cả chum nước nhà Trời . Thiên lôi tìm đường chạy trốn thì Cóc tía lại nghiến răng ra lệnh. Lập tức Cọp nấp sau Cóc tía nhảy bổ ra gầm lên một tiếng vang động xé tan xác Thiên lôi thành hai mảnh. (42 -Phong lôi ích). Ngọc hoàng thấy thế sợ quá bèn xin giảng hoà với Cóc, và xin Cóc cho nhận lại xác của Thiên lôi để cứu chữa. Cóc bằng lòng ngay. Theo lệnh nghiến răng của Cóc, Cọp và Gấu vác xác Thiên lôi về xếp lại ở giữa sân điện thiên đình (2-Thuần khôn) . Ngọc hoàng phải ra tay làm phép tưới nước cam lồ vào cái xác đầy thương tích đó. Nhờ phép của Ngọc hoàng, Thiên lôi mới được sống lại (16-Lôi địa dự = Trống đồng) Ngọc hoàng nghĩ mình đường đường là một ông Trời mà lại chịu thua Cóc thì thật là điều sỉ nhục, nên tính lật lọng, sai Thiên lôi vác búa tầm sét chống lại Cóc và các bạn của Cóc. Biết thế nào Ngọc hoàng cũng tính chuyện lật lọng nên Cóc lại nghiến răng. Lập tức các bạn của Cóc dàn trận. Ong giương nọc, Cáo giương nanh, Cọp giương vuốt, Cua giương càng, Gấu giương cánh tay đầy sức mạnh... Thiên lôi vừa mới thoát chết hoảng quá lui lại không dám tiến lên, mà thụt vào nấp sau chiếc ngai vàng của Ngọc hoàng. Các tướng nhà Trời oai phong lẫm liệt thấy đến ông Thiên lôi còn sợ sệt như thế thì hoảng quá tìm kế thối lui. Thấy tướng nhà trời của mình như vậy, Ngọc hoàng biết không thể thắng nổi Cóc và các bạn của Cóc. Ðến lúc bấy giờ Ngọc hoàng mới thực bụng giảng hoà, và hỏi Cóc lên tận thiên đình có việc gì. Cóc oai phong nhảy hẳn lên tay ngai vàng và dõng dạc thưa: - Ðã bốn năm (16 . 4 = 64 quẻ), nay ở dưới trần gian hạn hán kéo dài không một giọt mưa. Muôn cây khô héo, vạn vật chết khát... Tưởng Ngọc hoàng bận gì hoặc là Ngọc hoàng giận gì trần gian mà ra phúc hoạ, ai ngờ lên đây mới biết Ngọc hoàng và các tướng nhà trời ngủ quên không nhớ đến việc làm mưa cứu muôn vật muôn loài dưới trần thế... Chúng tôi phải lên tận đây đánh thức Ngọc hoàng, xin Ngọc hoàng làm mưa ngay cho trần gian được nhờ. Thấy Cóc nói giọng oai phong và bạn bè Cóc lại đằng đằng sát khí, Ngọc hoàng vội cuống quýt chống chế: - Cóc với ta là chỗ thân thích, việc gì mà cậu phải mất công đến như vậy, ta sẽ sai thần mưa, thần gió xuống hạ giới làm mưa ngay bây giờ... Cậu Cóc có bằng lòng thế không nào. Cóc gật gù thưa: - Muôn tâu Ngọc hoàng trần gian được một trận mưa cứu khát thì còn gì bằng nữa... Anh em tôi vô cùng đội ơn Ngọc hoàng... Nhưng nếu ở hạ giới mà hễ bị hạn hán là bọn anh em chúng tôi lại lên đây kêu với Ngọc hoàng đấy. Nghe Cóc hẹn lại lên thiên đình, Ngọc hoàng hoảng hồn rối rít lắc đầu xua tay: - Thôi khỏi, thôi khỏi phải bận đến cậu như thế... Chỗ cậu và ta là tình thân thích, cậu chả nên bầy vẽ vất vả mệt nhọc như vậy làm gì. Cậu không phải lên thiên đình nữa... Khi nào có hạn hán cậu muốn ta làm mưa, cậu chỉ cần ngồi dưới đất nghiến răng là ta nghe thấy liền. Ðể chứng tỏ lòng thành thật không lật lọng của mình, Ngọc hoàng sai thần Mưa bay xuống phun mưa. Té ra là thần Mưa lo rong chơi, tối về đắp chăn ra ngủ, quên không làm mưa, bị Ngọc Hoàng Thượng đế trách mắng. Thần Mưa làm mưa xong thì Ngọc Hoàng đưa Cóc cùng các bạn về hạ giới. Cơn mưa cứu hạn làm cây cối tươi tốt, muôn loài nhảy múa chào đón anh em Cóc trở về. Từ đó hễ Cóc nghiến răng là trời lập tức đổ mưa; nên đồng dao của trẻ nhỏ ngàn năm vẫn có câu hát rằng: Con Cóc là cậu ông Trời Ai mà đánh nó thì Trời đánh cho. Như vậy rỏ ràng chuyện CÓC KIỆN TRỜI là một sự mô tả về lý thuyết Nòng nọc - âm dương. Trong câu chuyện này người xưa đã sử dụng Tiên thiên bát quái, hình ảnh trống đồng và biểu ý của chữ BỬU 寶 để xây dựng câu chuyện. Theo Tiên thiên bát quái đồ, mùa Hạ bắt đầu từ quái CÀN thuộc phương Nam. chính vì vậy mà câu chuyện bắt đầu bằng cái nắng như thiêu như đốt, Cao trào của câu chuyện chiến đấu giữa Cóc và Trời là khi Trời chấp nhận làm hòa với Cóc và xin cóc trả lại thiên lôi để cứu chữa. Quẻ Lôi địa dự - Đây chính là thành quả có ý nghĩa nhất của dân tộc Việt nên gọi là Bửu bối. Theo các nhà nghiên cứu về trống đồng thì quẻ Lôi địa dự là biểu hiện cho trống đồng. Như thế cũng có nghĩa là người xưa cho rằng thành tựu lớn nhất của người phương Nam là thuyết âm dương hay là thuyết nòng nọc mà chữ biểu ý và trống đồng là một cách biểu hiện thành tựu đó. Đồng thời qua hình dung chữ BỬU 寶 gồm : Miên 宀 = mái nhà = Vô cực , Phữu 缶 = cái chum đựng nước= ☵ khảm- Âm Vương 王= vua = ☰ Càn - Dương và dưới là Bối 貝(cóc) = Thái cực . Đây chính là hình ảnh vũ trụ. Như thế ta thấy Cóc Thái cực là cậu Trời ☰ Càn là hợp lý rồi. Vì Thái cực - Lưởng nghi – Tứ tượng – Bát quái – 64 quẻ ….. đáng lý ra phải là ông cậu mới đúng. IV : CON CÓC LÀ CẬU THẦY NHO Như thế ta đã tìm hiểu bức tranh “ Lão Oa giảng độc”và chuyện “Cóc kiện Trời” . Qua hai câu chuyện được kể, một bằng tranh và một bằng truyền miệng dân gian, mỗi câu chuyện đã cho ta những thông điệp hết sức có ý nghĩa. Tựu trung mục đích của người xưa là đề cao vai trò của Cóc. Cóc trong việc sáng tạo chữ viết - Cóc trong Dịch lý-– Cóc trong việc xây dựng nên nền tảng tri thức . - Cóc trong việc sáng tạo ra chữ viết : Như đã chứng minh trên.Cóc trong vai trò là thầy đồ truyền dạy kiến thức cho học trò vì Cóc là kẻ hiểu biết. Từ câu chuyện này mà ta biết được rằng chữ GIÁC trong tiếng Hán chính là chữ CÓC trong tiếng Việt, nhưng người Trung quốc đã khéo sửa để che dấu nguồn gốc của con chữ, chính vì vậy mà khi phân tích theo cách hội ý ta thấy không hợp lý, trong khi đó với chữ CÓC thì quá rỏ ràng, nó rỏ ràng vì chữ CÓC được thành lập trên nguyên tắc Nòng và Nọc hay nói khác hơn là Âm và Dương, việc sửa chữ GIÁC không những làm xóa đi nguồn gốc thành lập chữ GIÁC mà còn đối với các chữ có bộ BỐI nữa. Bằng chứng là không có tự điển nào cho biết BỐI là BÒI cả. chữ Cóc = Thái cực - Cóc trong Dịch lý : Qua chữ CÓC ta biết được rằng đó chính là tượng Thái cực, tượng đầu tiên trong hệ thống dịch lý, từ đó ta hiểu được câu chuyện “Cóc kiện Trời” là một thông điệp hết sức trí tuệ về dịch lý, mà quan trọng nhất đó là câu chuyện có cao trào ở quẻ “ Lôi địa dự” một quẻ biểu tượng cho Trống đồng, một đỉnh cao của nền văn minh Lạc Việt. Vì vậy mà năm 43 khi đàn áp đẫm máu cuộc khởi nghĩa của Hai bà Trưng xong, Mã Viện đã tịch thu tất cả trống đồng và chắc là tất cả những khí cụ bằng đồng để nấu chảy đúc thành trụ đồng với câu “ Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt”. Ta cần hiểu chữ “ ĐỒNG” ở đây ngoài việc chỉ cho cái trụ còn cho cái là trống ĐỒNG. Vì trống đồng là văn hóa cốt lỏi của Giao chỉ, chính vì vậy nếu mất văn hóa thì ta sẽ bị đồng hóa và mất nước. Cho nên trống đồng mang trong nó cả một linh hồn của dân tộc, với nhiều bí ẩn của một loại ngôn ngữ mà những người con nước Việt phải dày công và thành tâm nghiên cứu. data:image/jpeg;base64,/9j/4AAQSkZJRgABAQAAAQABAAD/2wCEAAkGBxAPBg4PEBAQDxAQEBIPDhANEhIMDBAQFREiFhURExQYKCggGBolGxQUITEhJSkrLi4uFx8/OD8sNygtLisBCgoKBQUFDgUFDisZExkrKysrKysrKysrKysrKysrKysrKysrKysrKysrKysrKysrKysrKysrKysrKysrKysrK//AABEIAOEA4QMBIgACEQEDEQH/xAAcAAEAAgMBAQEAAAAAAAAAAAAABwgCAwUEBgH/xABAEAABAgIGBQkFBwQDAQAAAAAAAQIDBQQRF1JUkQYTFqGxBxIUITFRU3KSMjZBYtEiIzNhcXPBCCY0gSRC4RX/xAAUAQEAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAA/8QAFBEBAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAP/aAAwDAQACEQMRAD8AlTS3SeDLKAkaN7KrV1Hxdtkvuu3/AEPz+oBteirfN/KFbgLJW2S+67f9BbZL7rt/0K2gCyVtkvuu3/QW2S+67f8AQraALJW2S+67f9BbZL7rt/0K2gCyVtkvuu3/AEFtkvuu3/QraALJW2S+67f9D1S3lgoNIp0OC1Hc5681K6+3IrGdvQxK9J6L+43iBcdjq2IvelZ+muj/AIDPKnA2ADzTGmNgUJ8V3ssTnKek42mCf23Sv21A+Jfy1y9HqlTupavj9DG2yX3Xb/oVxpCffv8AMvE1gWStsl912/6C2yX3Xb/oVtAFkrbJfddv+gtsl912/wChW0AWStsl912/6C2yX3Xb/oVtAFkrbJfddv8AoLbJfddv+hW0AWStsl912/6EhyWZspcuhx2ey9K0KVt9pC3fJslWh1F8icAPpwABF/L4xztFmo1qu+111JWvahXPocXw3+lS6tLokOND5sRjXp3OStDx7P0PDw8gKbdDi+G/0qOhxfDf6VLk7P0PDw8hs/Q8PDyApt0OL4b/AEqOhxfDf6VLk7P0PDw8hs/Q8PDyApt0OL4b/So6HF8N/pUuTs/Q8PDyGz9Dw8PICm3Q4vhv9KjocXw3+lS5Oz9Dw8PIbP0PDw8gKbdDi+G/0qdnQ6jRU0moq6t/4ja62qnxLYbP0PDw8jKHI6K16ObAhoqdionWgHtgfgM8qcDYE7AAOPpciro5SakrXVrUh2DGIxHMVrkrRe1F7AKUR6JF17/u3+0v/Ve8w6HF8N/pUuSuj9Er/wAeHkNn6Hh4eQFNuhxfDf6VHQ4vhv8ASpcnZ+h4eHkNn6Hh4eQFNuhxfDf6VHQ4vhv9Klydn6Hh4eQ2foeHh5AU26HF8N/pUdDi+G/0qXJ2foeHh5DZ+h4eHkBTbocXw3+lR0OL4b/SpcnZ+h4eHkNn6Hh4eQFNkokWtPu3+lS23JwipofRUVKl5iVovb2HT2fomHh5HQgwmsho1qI1qdiJ2IBmAAAPk+UXSxZVKUjo3nqq1Vf7/wDSMreImHTcBPIIGt4iYdNwt4iYdNwE8gga3iJh03C3iJh03ATyCBreImHTcLeImHTcBPIIGt4iYdNwt4iYdNwE8gga3iJh03HuknLW+kTWDBWCiJEcja+r4gTWDGG6uGi96Iu4yAAHinVN6PK4saqvVtV1QHtBBETl2iI9U1CdSqnwMbeImHTcBPIIGt4iYdNwt4iYdNwE8gga3iJh03C3iJh03ATyCBreImHTcLeImHTcBPIIGt4iYdNwt4iYdNwE8gga3iJ4CbiZNGJr0ySwqRVVrErq/wBAdUAARdy/+6rfN/KFbSznLfLY1J0bayAxXu53WiJWtVaEBbGzDDRMlA4AO/sbMMNEyUbGzDDRMlA4AO/sbMMNEyUbGzDDRMlA4AO/sbMMNEyUbGzDDRMlA4AO/sbMMNEyUbGzDDRMlA4B29C/eei/uJxNmxsww0TJTraJ6J09mkNGe6jva1IiK5VRakSsC1UD8BnlTgbDCAn3LfKnAzAHH0v926V+2p2Dk6VQnP0fpDGJW5WKiJ+YFNqR/kP8zuJrPoo2h0w1zv8AjRPaX4L3mGxsww0TJQOADv7GzDDRMlGxsww0TJQOADv7GzDDRMlGxsww0TJQOADv7GzDDRMlGxsww0TJQOADv7GzDDRMlGxsww0TJQOC32k/Ut5yb+59F8icCsKaGzCv/GiZKWi0Aoz4WilGZETmvRqVovw6gPogAB+Oaip1oi/r1mOqbdbkhmAMNU263JBqm3W5IZgDDVNutyQapt1uSGYAw1TbrckGqbdbkhmAMNU263JBqm3W5IZgDDVNutyQJDbdTJDMAAAACgAYapt1uSDVNutyQzAGGqbdbkg1TbrckMwBhqm3W5INU263JDMAYapt1uSDVNutyQzAGGqbdbkg1TbrckMwBhqm3W5IZInUfoAAAD4Tlc0jjy6QtiwFqcrqt6EMWvTS+mako8v3uq3zfyhW0CQbXppfTNRa9NL6ZqR8AJBteml9M1Fr00vpmpHwAkG16aX0zUWvTS+makfACQbXppfTNRa9NL6ZqR8AJBteml9M1Fr00vpmpHwAkG16aX0zUWvTS+makfACQbXppfTNRa9NL6ZqR8AJBteml9M1Fr00vpmpHwAkG16aX0zUWvTS+makfACQbXppfTNRa9NL6ZqR8AJBteml9M1Fr00vpmpHwAkG16aX0zUWvTS+makfACQU5XppX7aZqWG0LmL6Vo5AjxPbe1FdkU5b7SfqW85OPc+i+ROAH0wAA+F5WtG48xkTYMD2kdXvQhqx2Z3U3lnwBWCx2Z3U3ix2Z3U3lnwBWCx2Z3U3ix2Z3U3lnwBWCx2Z3U3ix2Z3U3lnwBWCx2Z3U3ix2Z3U3lnwBWCx2Z3U3ix2Z3U3lnwBWCx2Z3U3ix2Z3U3lnwBWCx2Z3U3ix2Z3U3lnwBWCx2Z3U3ix2Z3U3lnwBWCx2Z3U3ix2Z3U3lnwBWCx2Z3U3ix2Z3U3lnwBWCx2Z3U3ix2Z3U3lnwBWCx2Z3U3ix2Z3U3lnwBWFOR2Z1+ym8sFoZLn0XRyBAie2xtS5HcAAAAfjnIidaon69Rjrm3m5oR1y4zGNR9GmvgvVjud1qnbVWhAG11PxMTMC4mubebmg1zbzc0Kd7XU/ExMxtdT8TEzAuJrm3m5oNc283NCne11PxMTMbXU/ExMwLia5t5uaDXNvNzQp3tdT8TEzG11PxMTMC4mubebmg1zbzc0Kd7XU/ExMxtdT8TEzAuJrm3m5oEitvNzQp3tdT8TEzOvonpTTn6RUZrqQ9yLERFRV6qqwLYAwgL9y3ypwMwAVQcnSqK5mj9Jc1anJDVUX8wOnrW3m5oNc283NCn0bS2n653/Jie0vx/Mw2up+JiZgXE1zbzc0GubebmhTva6n4mJmNrqfiYmYFxNc283NBrm3m5oU72up+JiZja6n4mJmBcTXNvNzQa5t5uaFO9rqfiYmY2up+JiZgXE1zbzc0GubebmhTva6n4mJmNrqfiYmYFxNc283NDJFrQp0ml1Pr/wAmJmWk5P6Q+LopRnxF5z1alar+gH0QAAi7l/8AdVvm/lCtpbjlD0T/APqylIHO5lS11/7/APCNLB34jgBCQJtsHfiOAsHfiOAEJAm2wd+I4Cwd+I4AQkCbbB34jgLB34jgBCQJtsHfiOAsHfiOAEJHb0L956L+4nElKwd+I4HtkvIo6jzSFGWNztW5HVfoBMsD8BnlTgbDGG2qGidyImSGQA4+l/u3Sv21OweKc0LpEsiwa6tY1W1gUtpH+Q/zO4msm+JyEuV6rr+1VUxsHfiOAEJAm2wd+I4Cwd+I4AQkCbbB34jgLB34jgBCQJtsHfiOAsHfiOAEJAm2wd+I4Cwd+I4AQm32k/Ut5yb+59F8icCL7B34gmHRmVdDksKj116tKq/9AdUAAAeemU2HBh86K9GN73dSHi2koeIh5gdUHK2koeIh5jaSh4iHmB1QcraSh4iHmNpKHiIeYHVBytpKHiIeY2koeIh5gdUHK2koeIh5jaSh4iHmB1QcraSh4iHmZQp/RHxEa2PDVV6kRF61A6YCL1AAAYxIiNYrnLUidqr2IBkDlLpHQ6/8iHmNpKHiIeYHVBytpKHiIeY2koeIh5gdUHK2koeIh5jaSh4iHmB1QcraSh4iHmNpKHiIeYHVBytpKHiIeY2koeIh5gdUHK2koeIh5nRgRmvho5io5q9ip2AbAABF/L65yaLNVrlb9r4dXxQrl0mJff6lLF/1AOq0Vb5v5QrcBu6TEvv9SjpMS+/1KaQBu6TEvv8AUo6TEvv9SmkAbukxL7/Uo6TEvv8AUppAG7pMS+/1KOkxL7/UppAG7pMS+/1KdnQ2PEXSaipz3fiN+Kr8TgHb0MdVpPRa/EbxAuJA/AZ5U4Gw10f8BnlTgbABx9L1XZuk1LUurXrOwcbTBf7bpX7agU+j0mJr3/bf7S/9l7zDpMS+/wBSmNIX79/mXiawN3SYl9/qUdJiX3+pTSAN3SYl9/qUdJiX3+pTSAN3SYl9/qUdJiX3+pTSAN3SYl9/qUdJiX3+pTSANyUmJWn23+pS2/JwqrofRa1rXmJ1r29hUNvtIW75Nlr0OovkTggH04AA4elejMGZUFIMavmotfUfG2Ky75iTgBGNisu+YWKy75iTgBGNisu+YWKy75iTgBGNisu+YWKy75iTgBGNisu+YWKy75iTgBGNisu+Y9Mt5IqBAprIza+cxecn6kigD8Y2pqJ3JUfoAA88wojY9DfCd7L05qnoAEZv5F5cr1X7XWtZjYrLvmJOAEY2Ky75hYrLvmJOAEY2Ky75hYrLvmJOAEY2Ky75hYrLvmJOAEY2Ky75hYrLvmJOAEYpyLS6v/sSDJpayiy5kCH7LEqQ9oAAADlz+fQKBRNbHdzW9lZ83arK/G4HF/qAbXoq3zfyhW4C1dqsr8bgLVZX43AqoALV2qyvxuAtVlfjcCqgAtXarK/G4C1WV+NwKqAC1dqsr8bgLVZX43AqoALV2qyvxuBuoXKVLY1KbCZFrc9amp1dpU47ehja9J6L+43iBcdq1tRe/rP010f8BnlTgbABpplJbCozoj1qa1K1X8jccbTBP7apX7agcF3KnK0cqLG7Fq+B+WqyvxuBViOn37/MvE1gWrtVlfjcBarK/G4FVABau1WV+NwFqsr8bgVUAFq7VZX43AWqyvxuBVQAWrtVlfjcBarK/G4FVABau1SV+NwPrpbTmUihtjQ1rY5K2qUnb2oW75Nkq0OovkTggH04AAi3+oBf7Vb1Kv2vh+qFb+avcpdSaymDS4GrjsR7e5Tj7BS3DMyQCofNXuUc1e5S3mwUtwzMkGwUtwzMkAqHzV7lHNXuUt5sFLcMzJBsFLcMzJAKh81e5RzV7lLebBS3DMyQbBS3DMyQCofNXuUc1e5S3mwUtwzMkGwUtwzMkAqHzV7lO1oZWmk1F6l/Eb8PzLRbBS3DMyQ2UbQmXw47Xso7Uc1a0VETqUDvUf8AAZ5U4Gw/ESpKj9AHG0w926V+2p2TXSILYkFzHJW1yVKnegFJY6Lr39S+0vE181e5S3i6By1Vr6Ozr/JBsFLcMzJAKh81e5RzV7lLebBS3DMyQbBS3DMyQCofNXuUc1e5S3mwUtwzMkGwUtwzMkAqHzV7lHNXuUt5sFLcMzJBsFLcMzJAKh81e5RzV7lLebBS3DMyQbBS3DMyQCojWrWnUpbrk2X+zqL8PsJ2/oh+7BS3DMyQ79DorINHbDhpzWN6kRPgBvAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAAH//Z Chữ Cóc = Trống đồng = quẻ lôi địa dự Như ta biết chữ CÓC gồm ba bộ : Cửu = cối, mịch = màn che, bối = của quý .Cửu là phần trên trống đồng, mịch là phần giữa eo có hai quai của trống đồng, Bối là phần dưới trống đồng. Như vậy trống đồng là thể hiện hình ảnh của chữ CÓC và ngược lại chữ CÓC là tượng hình của trống đồng. - Cóc trong việc xây dựng nên nền tảng tri thức . Muốn tiến bộ không thể không có tri thức, muốn có trí thức không thể không có chữ viết. Bởi vì chữ viết có khả năng chứa đựng những thông tin, rồi chuyển tải những thông tin đó từ người này đến người khác, từ đời này đến đời khác. Muốn làm được điều đó phải có người có chuyên môn, có học vấn, kiến thức và ngược lại muốn có kiến thức thì phải thâu nhận kiến thức được truyền thụ từ những đúc kết qua kinh nghiêm trong quá khứ thông qua con chữ ( 貯 Trữ = chữ) sau đó mới thực hành, từ đó mới có hiểu biết để làm thầy. Đó là cái quý nhất trong mọi cái quý trong đời. Tất cả điều này cha ông chúng ta đã đúc kết trong bài thơ ghi vào bức tranh “ Lão Oa giảng độc” như là thông điệp gởi lại cho mai sau. Tìm thầy hỏi bạn NHÁI chi mà = Chữ SƯ 師. Chữ sư này nguyên trước thuộc bộ MÃNH có nghĩa là con nhái, về sau người ta tỉnh lược đi rồi chuyển vào thuộc bộ CÂN. Thấy học xem bằng ẾCH thấy hoa. = Chữ GIÁC 覺 Chữ CÓC của người Việt cổ = Hiểu biết. Mở mắt CHÃO CHÀNG soi vũ trụ = Chữ BỬU 寶 = Nghĩa là cái quý nhất. Đem gan CÓC TÍA đối sơn hà = Chữ HỌC 學 嶨 = Thu nhận kiến thức, luyện tập kĩ năng được truyền giảng của quá khứ qua lời nói , sách vở hay việc làm rồi thực hành. Trong chữ HỌC này bộ TỬ = Mầm giống để tạo ra cái mới. Sư Cóc Bửu học Trữ = Chữ Trong năm chữ trên chữ nào cũng mang đủ hai yếu tố : Nòng và Nọc : - Chữ 師 = SƯ = nguyên là 匝=Phương 匚= Cái để chứa đồ + Cân 巾= cái khăn = Nòng + Mãnh nguyên là 黽= con nhái = Nọc. - Chữ 覺 GIÁC hay CÓC = Cửu = cái cối + Mịch = khăn che = Nòng + Chữ BỐI 貝= của quý = Nọc. Lướt - Cửu + bối = cối ) -Chữ 寶 BỬU = Miên = mái nhà = Nòng + Vương = Vua = Dương= Nọc + Phửu = Chum đựng nước = Nòng + Bối = Của quý = Nọc. lướt – Bối + phửu = Bửu -Chữ HỌC 學 = Cữu = cái cối + Mịch = Khăn che = Nòng . tử = Mầm giống = Nọc Cóc = góc = hóc = học Như Cái = Gái , Chắn = Chặn Như trước đã nêu, Cóc – Thái cực - chính là quái đầu tiên trong hệ thống dịch lý là quái sinh ra âm dương, cũng từ hệ thống triết lý này người xưa đã tạo ra ngôn ngữ ký hiệu gọi là nòng nọc, mà người Trung quốc gọi là khoa đẩu. Theo tôi, từ khoa đẩu 蝌蚪” là do người trung nguyên dịch hai chữ “Nòng nọc”, chứ không phải chữ nòng nọc được dịch từ khoa đẩu. Vì ban đầu khi người Trung quốc tiếp xúc viết loại chữ nòng nọc, họ không biết phải dịch như thế nào, nên họ căn cứ vào hình thể của con nòng nọc để chọn ra chữ nào có nghĩa như vậy mà dịch từ đó mới có chữ KHOA 科 = to và ĐẨU斗 = nhỏ (con đầu to đầu nhỏ) sau đó mới cho thêm bộ trùng 蝌蚪 vào để có nghĩa là con nòng nọc. Chỉ khi nào chúng ta tìm thấy trong tiếng Trung cũng giải thích có hệ thống cho hai từ khoa đẩu với nghĩa là sinh thực của nam nữ và những từ phái sinh có tiêu chí liên quan, được sử dụng trên nhiều mặt của cuộc sống như hai từ nòng nọc trong tiếng Việt thì ta mới nói rằng chữ nòng nọc là dịch từ khoa đẩu. Như vậy việc một số người dùng từ “văn minh khoa đẩu” là một lối viết nệ Hán, vì theo tôi làm gì có văn minh khoa đẩu, chỉ có văn minh nòng nọc thôi. Bởi vì nòng nọc không phải chỉ là nói về một loại chữ mà còn là tiền đề cho một hệ thống triết học Nòng và Nọc hay là Âm và Dương, bước khởi đầu cho việc phát triển dịch lý, dịch trong đời sống và dịch trong chữ viết, trong khi đó khoa đẩu chỉ là một loại chữ mà thôi. Nếu như xưa kia chữ khoa đẩu ở Trung quốc đã phát triển đến mức có “khoa đẩu văn, khoa đẩu thư, khoa đẩu triện” thì cũng có nghĩa rằng con chữ ấy đã đạt đến mức độ phát triển cao, mà muốn phát triển được như vậy thì nhất định phải có quần chúng của nó, mà ngày ấy chữ nghĩa thì chỉ có quan lại và những tầng lớp trên của xã hội mới có thể làm được chuyện đó, nói khác hơn phải có chính thể hay quốc gia ủng hộ mới đạt được tới các tiêu chứ ấy. Chuyện về sau vấn đề chữ Khoa đẩu ấy không còn được nhắc đến nữa không có nghĩa là cái loại chữ khoa đẩu ấy chỉ là một chuyện bịa hay là loại chữ của thần tiên không thể đọc. Bởi vì nếu là chuyện bịa thì vô lý, vì cách đây trên 2000 năm khó có điều kiện để có thể có một câu chuyện bịa về chữ viết, lúc bấy giờ chữ viết là một đối tượng quá xa vời với quần chúng để có thể tác ý và đủ hiểu biết để bịa ra câu chuyện như vậy, còn chữ của thần tiên không thể đọc được thì sẽ không có chuyện phổ biến nhiều và lâu dài để thành văn, thành thư được. Có thể chữ khoa đẩu đó đã hòa nhập với thời đại đó và biến thành một bộ phận văn hóa của người Hán đương thời nên từ đó không còn đề cập đến chữ khoa đẩu nữa, do đó nếu ai còn vương vấn thì cũng bị định hướng rằng đó là một loại chữ thần tiên. Ngày xưa chuyện ấy không khó gì, ngay cả vài bài thơ của các thiền sư Việt nam, như bài “ Ngôn hoài” của thiền sư Không Lộ (thế kỷ thứ 11) hay “Xuân nhật tức sự” của Thiền sư Huyền Quang (thế kỷ thứ 13)cũng biến thành những bài thơ của các nhân vật đời Tống với những câu chuyện xuất xứ hết sức thuyết phục huống nữa là chuyện con chữ khoa đẩu. Cho dù như thế nào chăng nữa thì trước hết câu chuyện chữ khoa đẩu ở Trung quốc (TQ) là một câu chuyện có thật, còn vấn đề con chữ ấy như thế nào thì đến nay cũng chẳng ai biết, nghe đâu họ bắt đầu nghĩ rằng nó xuất phát từ giáp cốt văn. Còn câu chuyện chữ nòng nọc ở Việt Nam (VN) thì vấn đề này đã được ghi lại từ xưa nên hiện nay vẫn là câu chuyện trong vòng nghiên cứu. Do tên con chữ là nòng nọc nên chắc nhiều người tin rằng tự dạng của nó chắc là giống con nòng nọc nên ra sức tìm kiếm, thậm chí có người công bố đã tìm ra, nhưng thấy không giống con nòng nọc tí nào, ngay cả khái niệm, cũng có người nói rằng chữ nòng nọc ấy còn lưu dấu ở bãi đá cổ Sa Pa, điều này chỉ đoán thế thôi. Cái suy nghĩ rằng chữ nòng nọc là một loại chữ kỳ dị, giống nòng nọc chính là suy nghĩ theo định hướng của người Trung Quốc và rất có thể rồi ra người Việt Nam cũng sẽ đi đến kết luận đó là chữ của thần tiên, không đọc được. Nói một cách khác người ta đã biến cái có thật thành cái mơ hồ, từ mơ hồ thành thần tiên không thực. Tôi cũng tin rằng Việt Nam xưa kia cũng có một loại chữ gọi là chữ nòng nọc, nhưng lại nghĩ rằng nó chẳng ở đâu xa, như thần kim quy nói với An Dương Vương “ Kẻ thù ở đâu xa, kẻ thù ở ngay cạnh ngươi – Trọng Thủy” thì đối với chữ nòng nọc cũng vậy “ Nó chẳng ở đâu xa, nó ở ngay trước mặt, con chữ mà dân tộc ta hằng tiếp xúc và đã trở thành một phần không thể tách rời, mặc dù ngày nay chỉ còn phần hồn . Ấy chính là chữ Hán. (Do chữ biểu ý phát triển đến mức độ đỉnh cao vào thời Hán mà gọi là chữ Hán, vì vậy từ sau sẽ gọi là chữ Vuông). Điều đáng lưu ý là khi vẽ bức tranh “Lão Oa giảng độc” và kể câu chuyện “ Cóc kiện Trời” thì người xưa vẫn đang dạy chữ Hán và vẽ tranh âm dương đấy thôi, chứ nó không phải là một tử ngữ hay một lý thuyết nào đó xa xôi trong quá khứ đâu, vậy tại sao họ không nói thẳng ra mà phải chôn giấu nó trong một bức tranh hay câu chuyện. Điều này cho thấy tính quan trọng và khốc liệt của việc công khai bàn về tác quyền lý thuyết nòng nọc. Nếu không khéo e rằng dòng tranh Đông Hồ và các thứ cùng loại sẽ bị tiêu hủy hết. Điều này lại càng khẳng định rằng người xưa đã đau đáu vẫy vùng trong thầm lặng tìm mọi cách để ghi lại cái suy nghĩ thầm kín của mình để gởi lại cho tương lai, họ làm như vậy có nghĩa là họ đã làm tất cả những gì có thể để khi đi gặp tổ tiên ông bà không thấy hổ thẹn. Chính vì những gì tôi trình bày về bài thơ trên, tôi tin rằng đây không phải là chuyện ngẩu nhiên, vì rỏ ràng mọi thông tin từ những câu thơ trong bức tranh có tính hệ thống, phù hợp với những gì mà mà ta gọi là Nòng và Nọc hay Thái cực. Theo tôi người xưa làm ra bức tranh “Lão Oa giảng độc” và câu chuyện “ Cóc kiện trời” với mục đích chính là để khẳng định: Lý thuyết Nòng và Nọc là của Lạc Việt. Từ lý thuyết này người Việt đã sáng tạo ra : 1- Dịch lý : Từ hệ thống triết lý Nòng và Nọc người Việt đưa ra hệ thống dịch học, vận dụng dịch lý ấy khi đúc nên trống đồng, đỉnh cao của lý thuyết âm dương trong việc đúc khí cụ. Chính vì vậy mục đích của câu chuyện “Cóc kiện Trời” là cái cao trào tại quẻ “Lôi địa dự” chứ không phải là lý thuyết âm dương. 2- Chữ Viết : Cụ thể là CÓC. Bằng chứng là chữ CÓC 覺. Nó không chỉ là vấn đề hiểu biết của thầy Cóc mà nó còn cho thấy rỏ ràng Cóc chính là yếu tố tiên quyết cho mọi sáng tạo xuất phát từ lý thuyết nòng nọc, trong đó có chữ viết. 3- Tất cả những gì liên quan đến chuyện phát triển tri thức đều có yếu tố Cóc hay nòng nọc, âm dương này. Sư 師, giác覺, bửu 寶, học 學 嶨 , trữ = chữ 貯. Sáng tạo ra chữ viết là xem như đạt đến đỉnh cao văn minh của nhân loại, mà như đã chứng minh trên con chữ được sáng tạo căn cứ vào lý thuyết nòng nọc ấy chính là chữ Hán. Vậy chữ Hán cũng chính là chữ nòng nọc, mà chữ nòng nọc là chữ của Lạc Việt. Con chữ này đã song hành với dân tộc Việt trong suốt chiều dài của nền văn minh Lạc Việt. Nó đã trở thành chữ thánh hiền, thành con chữ của sự cao quý “chữ Nho”, bửu bối của thầy Nho, vậy nó đích thị là cậu của thầy Nho rồi. Con cóc là cậu thầy Nho, Hể ai nuôi nó trời cho quan tiền. Một số hình sán không được, quá nhiều. CC: Thiên Đồng, câu chuyện quan trọng nhất Cóc kiện trời: đây là "cái bẫy" giữa "Không và Có", cái bẫy này chưa ai giải được cho tới nay (ngoại trừ các cao nhân thiên cổ), nếu không hiểu được thì "tất cả đã bị thất bại" ở đích, dù viết thế nào.
  7. Lịch sử Hoa tây - sự lừa gạt siêu đẳng Dòng Hùng Việt Lời hào Cửu tam quẻ Ký tế: Cửu tam, Cao Tông phạt Quỷ Phương, tam niên khắc chi; Tiểu nhân vật dụng.Vua Cao Tông nhà Ân đánh nước Quỷ Phương, liên tục 3 năm mới thắng; kẻ tiểu nhân không thể coi thường tùy tiện sử dụng. Khổng Dĩnh Đạt giảng: “Cao Tông là hiệu của vua Vũ Đinh nhà Ân”, ‘quỷ phương’ là tên nước, là một trong các bộ lạc Hiểm Doãn ở vùng Tây Bắc TQ cổ đại. Đặng Cầu Bá cho biết thêm là Quỷ Phương là tên một bộ tộc thời cổ (cổ tộc danh), vào thời Ân Chu sinh hoạt ở khu vực tây bắc Thiểm Tây ngày nay, là cường địch của cả Ân lẫn Chu. Hiểm Doãn thời Châu chính là Hung Nô thời Tần . Theo Trúc Thư Kỷ Niên, Ân Cao Tôn ‘Tam thập nhị niên, phạt Quỷ Phương, thứ vu Kinh’ (Năm 32, đánh Quỷ Phương, đóng quân tại đất Kinh). – Theo Hạ Thương Chu niên biểu, năm Ân Cao Tôn 32 là 1218 ttl. Địa lý Tây Trung quốc …bị dồn toa lên phía bắc . Nhà Ân Thương trung tâm ở Hà nam Trung quốc đi đánh Hiểm Doãn (Hung nô) tận Tây Bắc Thiểm tây Trung quốc ngày nay mà lại đi vòng xuống nam đóng quân ở đất Kinh nay là Hồ Nam – Hồ Bắc thì qủa thực không hiểu nổi …??? Cao tông nhà Ân thương trên đường hành quân phạt qủy phương mà đóng quân trên đất Kinh thì nước Qủy phương chỉ có thể ở Tứ xuyên ngày nay. Trong Dịch học Qủy ở phương Tây đối với Thần ở phương đông . Qủy cũng là Cửu số 9 phương Tây theo Hà thư (đồ). Nước Qủy phương cũng là nước Cửu phương nghĩa là nước nằm về phía Tây lãnh thổ nhà Ân Thương . Việc xác định nước Qủy phương lãnh thổ ở Tứ xuyên được củng cố thêm bởi truyền thuyết : Hùng Dịch được phong làm vương nước Sở là dòng dõi vua Xuyên Húc , Xuyên Húc là bố Hoan Đâu mà Hoan Đâu là tổ người Tam Miêu như thế rất có thể dân đa số nước Sở là người Hmong- Miêu lai với tộc người Qủy phương . Truyền thuyết viết Trong giòng họ có một người tên Lục Chung. Lục Chung cưới con gái nước Quỷ Phương, vợ Lục Chung có thai mười một (11) tháng rồi giở nách bên tả sinh 3 người con, giở nách bên phải sinh 3 người con! Người thứ 6 tên là Quý Liên họ Mỵ . Quý Liên có một người con tên Dục Hùng. Dục Hùng lấy tên làm họ. Từ đó con cháu đều lấy tên Hùng làm họ. Hùng Dịch vua khai sinh ra nước Sở là cháu chắt Dục Hùng rõ ràng lai 2 dòng máu … Truyện Lục Chung cưới con gái nước Quỷ Phương làm ta chú ý vì Nước Quỷ Phương được nhắc đến khi Ân Cao Tông “phạt Quỷ Phương tam niên” có đóng quân trên đất Kinh , Kinh Sở có liền với Qủy phương thì Cao tông mới từ đấy mà công kích Qủy phương cũng như Lục Chung cưới người con gái nước Qủy phương láng giềng là điều thật hợp lẽ . Chỉ có vùng Tứ xuyên với nền văn minh Kim sa rực rỡ giàu có từ 2000 năm trước công nguyên mới có thể khiến Cao tông nhà Ân thương khổ cực suốt 3 năm trời mà chiếm lấy , công đầu trong việc phạt Qủy phương chiếm lấy Kim sa thuộc về anh em Vương Qúy bố của Cơ xương – Văn vương (Kinh Dịch viết 1 ngày vua mời hội kiến đến 3 lần). Tại sao giới sử học Trung quốc cố ý đẩy nước Qủy phương về hướng bắc và cho người nước Qủy phương thuộc dòng giống Hung nô- Mông cổ ?. Sở dĩ như thế vì Chỉ khi đẩy nước Qủy phương lên vùng tây – bắc Thiểm tây thì cái nôi của vương triều nhà Châu là Thiểm tây ngày nay mới hợp lý và về mặt chủng tộc người cổ Trung hoa mới có thể thuộc về nhánh Mongoloid (bắc) như họ đã Khẳng định . Cửu phương nước ở phương số 9 tức phương Tây của Hà thư , số 9 – Chín cũng chính là Chin – Tần gốc của tên nước China âm theo La tinh ngày nay . Nước Tần không thể ở Thiểm tây được vì tư liệu lịch sử còn ghi rành rành , khi chiếm xong Trung hoa của thiên tử Châu Tần lấy 9 cái đỉnh truyền quốc Trung hoa mang về kinh đô Tần nhưng bị chìm mất trên sông Tứ thủy gần Bành thành nên từ đó Đỉnh truyền quốc của đế vương Trung hoa mất tích mất tăm …, Tần thủy hoàng trong cuộc tuần du thiên hạ đã cố công tìm kiếm ,tư liệu lịch sử chép : …Thời điểm dừng lại tại Bành thành gần 30 ngày , (Tần thủy hoàng) khi đó lần lượt gặp mặt quận thủ 3 quận Tứ thủy quận , Đông hải quận , Lang gia quận . Cuối tháng 6 từ Tam Xuyên quận rộng lớn trưng tập mười vạn hộ bách tính di cư tới 2 quận Lang gia và Đông hải . Đầu tháng 7 lại điều động mười vạn người , nói là muốn tìm kiếm Ung đỉnh trước kia bị thất lạc trong qúa trình vận chuyển từ Chu thất tới Lưu quang , Đương nhiên cuối cùng Ung đỉnh cũng không tìm được , còn về phần Thủy hoàng đế vì sao làm chuyện này thì không ai biết . Trung tuần tháng 7 trong tình huống Thủy hoàng đế tìm kiếm ung đỉnh không có kết qủa , đã quyết định quay lại Hàm dương … Học gỉa Trung quốc cho : Thanh Thủy tức Tứ Thủy, nay chảy dài từ Hoài Âm – Giang tô về phía tây bắc đổ vào sông Hoài … Xem lại bản đổ Trung quốc ở trên … Tần vận chuyển 9 đỉnh từ Hà nam về Thiểm tây sao lại chìm ở Tứ thủy – Giang tô thuộc Đông –Nam trung quốc ?. Tứ thủy – sông Tứ tức Tây giang hay Châu giang ngày nay còn sờ sờ trên bản đồ Trung hoa sao lại phủ nhận mà cho Tứ thủy là Thanh thủy ở Giang tô ?. Cũng dẫn từ đọan tư liệu trên …có thể xác định Tứ thuỷ gần Tứ thủy quận , Đông hải quận lang gia quận và cả quận Tam xuyên rộng lớn … Xét về ý nghĩa tên gọi thì Tứ thủy – sông tứ cũng là Tây giang – Châu giang , Đông hải là Biển đông như vậy các quận này không thể ở đâu khác ngoài Lưu vực Châu giang và biển Đông , Đông hải và Thanh hải là 1 và chính là Thanh hải quân đời Đường , Đông hải quận sau là Thanh hải quân thì Tam xuyên quận đời Đường là Tĩnh hải quân là điều hoàn toàn hợp lý . Đông đô nhà Châu tức đại ấp Lạc còn gọi là Lạc Dương – Lạc Kinh nằm trên đất Lạc Việt cũng là điều hợp lý khi xét về mặt từ ngữ và chỉ có như thế thì Tần mới dùng thủy lộ Tứ thủy – Châu giang mà vận chuyển Cửu đỉnh về kinh đô ‘Tần – 9 Chín’ ở Tứ xuyên còn việc cửu đỉnh có chìm xuống đáy sông Tây giang hay chịu chung số phận với trống đồng bị nấu chảy lấy đồng đúc ngựa (tức diệt chủng Trung hoa về mặt văn hóa của vua tôi Quang vũ – Mã Viện) còn là 1 dấu hỏi lớn . Hãn quốc cướp nước của người Trung hoa đâu cần gì cửu đỉnh truyền ngôi . Việc cố ý dịch chuyển địa lý Tây Trung hoa lên phía Bắc không chỉ ở việc di dời lãnh thổ nước Qủy phương và nước Tần từ Tứ Xuyên lên Thiểm tây mà còn nhận thấy ở nhiều sự kiện khác có tính liên hoàn như việc dồn toa tàu hoả vậy , đất Thục ở Qúy châu bị đẩy lên Tứ xuyên , Ích châu còn bằng chứng là quận Ích châu đời Tây Hán (?) ở Vân nam cũng bị dời lên Tứ xuyên , Nhiều Sự kiện liên quan tới thời lập quốc của Tây Thục diễn ra ở Vân nam – Quảng Tây bị đổi thành diễn ra ở Tứ xuyên , việc Khổng minh 7 lần bắt rồi tha Mạnh Hoạch ở Tây bắc Việt nam lại cho là ở Vân nam và đặc biệt Nam Chiếu lập quốc ở phía tây ‘Nhị hà – Nhĩ hà’ tức sông Hồng bị nhà viết sử Trung quốc biến thành phía tây hồ ‘Nhĩ Hải’ ở Vân nam . Suy cho cùng việc làm này không chỉ là vì tự ái dân tộc chơi chơi mà thực ra là sự sống còn đối với Hãn tộc , Hãn nhân ; Nhà Châu ngàn năm làm vua là triều đại tạo thành nền nếp của văn hóa văn minh Trung hoa , nhà Tần triều đại đã tạo ra diện mạo Trung hoa ngày nay buộc phải ở Thiểm tây Hà nam thì mới có thể ràng buộc vào chủng Mongoloid , tức chủng tộc của Hung nô mà giới khảo cổ đã tìm thấy xương cốt sọ răng ở miền Hoàng hà thời cổ xưa ở thời điểm hình thành Trung hoa theo tư liệu lịch sử thành văn cũng như truyền thuyết dân gian ; Chỉ khi mà hầu hết người Trung hoa tin mình có gốc gác như thế thì ngai vàng của các Hãn mới có thể giữ được .Ở tây nam Trung hoa phải cắt đứt mọi ràng buộc lịch sử với đám dân ngoài biên giới đế quốc Mãn thanh thì người bên trong mới yên tâm phụng thờ đại hãn quốc không chút vương vấn đến 1 cội nguồn khác , 1 lịch sử và tổ quốc khác tức triệt tiêu tư tưởng phản kháng bọn thống trị cướp nước ngay từ bên trong đầu óc người Trung hoa . Thành thực mà nói họ đã rất thành công người Trung hoa Mongoloid phương nam tới nay vẫn thản nhiên …mồ cha không khóc khóc đống mối , người ngoài ranh giới Đại hãn quốc cũng cảm thấy không có sự ràng buộc thiêng liêng với bất cứ miền đất nào đó bên trong đế quốc Mãn thanh để hành động đòi lại đất đã mất . Giấy không gói được lửa , khi sự thật lịch sử phơi bày …không thể nói trước những gì sẽ xảy ra . Thời giặc Ân đánh nước ta tức Văn Lang, ranh giới phân chia là dòng Dương Tử. Cuộc chiến đã tới kinh đô - Thăng Long ngày nay cùng với truyền thuyết Thánh Gióng -> vậy thì, ngoài Thánh Gióng ra, trên đất nước ta còn lưu trữ lại dữ liệu của các anh hùng khác trong trận chiến này hay không, nếu có đó phải là sự thật lịch sử.
  8. Câu truyện Cóc kiện trời cần giải mã, thành viên Viennhu đã có ý nhưng có vẻ còn chưa rõ ràng. Ngọc Hoàng có sai Rồng làm mưa xuống trần gian? Nếu có thì Rồng thuộc phương vị, ý nghĩa nào, cũng cần nghiên cứu.
  9. Thơ tâm linh (trích đoạn): 3 lần phép trời đã trao bằng nguyên lý: 1-Thần Kim Quy trao nỏ thần An Dương Vương 2-Thần Kim Quy trao kiếm thần cho Lê Lợi 3-Trao phép Phật Sầm ký - Sấm trạng -Thiên địa tuần hoàn âm phục dương -Tứ phương cộng khởi tứ phương cường -Tây phương cảnh giới Tây phương Chủ -Nam quốc sơn hà - Nam quốc vương ***Vốn ta đây là hoàng thiên tử Vốn con trời giá ngự trần gian Làm vua ba cõi lọc sàng Cõi trời, cõi đất, lại là cõi âm Thương lắm tình ta mẫu Âu cơ ...Linh châu - hóa phật - cát linh từ ...Địa khởi nhân từ vạn thọ sinh ...Âu sinh tái lập - Vô nguyên cổ Phật ...Chúa-bạch-ngàn, hoa vạn thọ xưa 1-Tản Viên Sơn 2-Chử đồng Tử 3-Thánh Gióng 4-Bà chúa Liễu Hạnh (Tứ tử trình làng) *Tứ bất tử - Chử Đồng Tử - Ngũ tử cướp cái Thầy với tướng (âm -dương ) cách biệt Tìm một nữ chuyên viên thật tuyệt Trạng A Nam một kỷ mốc sơn Giữ cột thiên chọn (Nguyễn Thị Điền) Kỷ 21 toàn dân hiền hướng thiện.
  10. Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng: Đề nghị Bộ Công an điều tra làm rõ các tin đồn ác ý Thứ Ba, 07/09/2010 10:53 Thời gian gần đây trên các mạng điện tử rộ lên thông tin về việc nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng ở Hà Nội bị bắt giữ do liên quan đến những dự đoán của chị. Tuy nhiên, chị khẳng định "Tôi hoàn toàn không đưa ra bất kỳ một lời tiên đoán nào cả". Sau đây là cuộc phỏng vấn nhà ngoại cảm này tối 6/9. Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng * Thời gian gần đây, trên các mạng điện tử, nhất là các blog đưa rất nhiều thông tin về việc chị bị bắt giữ, bị quản thúc, bị cơ quan công an gọi hỏi về những vấn đề liên quan đến các dự đoán “ngoại cảm” như sập cầu Bãi Cháy, gãy cầu Long Biên, và sự ra đi của một số yếu nhân..., xin chị cho biết ý kiến của mình? - Tôi hoàn toàn không đưa ra bất kỳ một lời tiên đoán nào cả. Tôi không bao giờ đề cập đến những vấn đề ấy bởi khả năng của tôi không phải là tiên đoán mà là đối thoại ngoại cảm tìm mộ liệt sĩ và mộ thất lạc. Từ năm ngoái đã có nhiều người hỏi và chất vấn tôi vì tin đồn trên mạng về chuyện tôi “dự đoán” cầu Bãi Cháy bị sập vào năm 2010. Tiếp đến tháng 3 và 4.2010 lại có tin đồn về chuyện tôi “dự đoán” sập cầu Bãi Cháy và cầu Thăng Long. Về chuyện này, tôi đã chính thức đến gặp trung tướng Vũ Hải Triều, Tổng cục phó Tổng cục An ninh đề nghị điều tra, làm rõ nơi nào tung ra tin đồn như vậy để gây hoang mang trong nhân dân. Và tới dịp tháng 7 trên mạng lại đưa tin tôi đoán cầu Long Biên sẽ sập, cả ngàn người chết, rồi lại có tin tôi bị công an bắt giữ vì tung ra dư luận những tin đồn này. Tôi khẳng định đây là những tin đồn bịa đặt rất ác ý. Ngày nào tôi cũng nhận được hàng trăm tin nhắn từ bạn bè và những người quen biết hỏi thăm tin tức về việc tôi bắt giữ. Riêng ngày hôm nay 6.9 có tới hơn 300 tin nhắn. Tôi suốt ngày phải trả lời họ rằng tôi vẫn đang khỏe mạnh, công tác bình thường, không bị ai bắt bớ gì cả để mọi người yên tâm. Một lần nữa tôi đề nghị Bộ Công an điều tra, làm rõ vấn đề này. Tôi được cơ quan chức năng trả lời đây chỉ là những tin đồn trên mạng, còn trên báo chính thức thì không hề có tin kiểu này. Nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng sinh năm 1972, quê Yên Khánh, Ninh Bình, hiện công tác tại trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, cán bộ bộ môn cận tâm lý Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam. * Tin đồn từ đầu năm, đến nay đã 9 tháng, sao chị không thông tin cho báo chí? - Từ đầu năm tới nay, đã có rất nhiều tờ báo muốn phỏng vấn tôi về vấn đề này nhưng tôi đều từ chối vì cho rằng đây là những tin đồn lúc “trà dư tửu hậu” hoặc “buôn dưa lê vỉa hè” thôi nên tôi không muốn đề cập. Nhưng đến bây giờ, tôi thấy rằng mình cần có trách nhiệm nói rõ vấn đề này để tránh gây hoang mang cho người dân. Vì thế, tôi muốn thông qua Báo Thanh Niên là tờ báo rất có uy tín với bạn đọc để nói lên sự thật này. Tôi cũng đã hẹn trả lời phỏng vấn với các tờ báo của ngành công an và truyền hình an ninh để nói rõ về những tin đồn đầy ác ý nói trên. * Chị có phải chịu nhiều áp lực trước các tin đồn kiểu này? - Gia đình tôi, những người thân quen và bạn bè thân đều coi thường những tin đồn này bởi họ rất tin tưởng rằng tôi không bao giờ có thể tung ra những tin đồn bậy bạ như vậy. Tôi chỉ tâm niệm một điều làm sao xoa dịu được những nỗi đau mất mát về chiến tranh qua việc giúp các gia đình tìm mộ liệt sĩ. Và điều tâm nguyện nữa là tôi đang cùng với Giáo hội Phật giáo Việt Nam đi làm các đại lễ cầu siêu ở những nơi xảy ra chiến tranh, thiên tai, bão lũ và những địa phương có nhiều chiến sĩ trận vong và đồng bào tử nạn trên khắp mọi miền Tổ quốc. Tôi cũng luôn có mặt trong các chương trình từ thiện theo tâm nguyện “thi ân bất cầu báo” không cần các phương tiện truyền thông phải quảng bá. * Xin cảm ơn chị!
  11. Hậu Hán thư Đông Di liệt truyện Lưu Tống - Phạm Diệp soạn Đường - Lí Hiền chú Vương chế chép: "Người phương đông gọi là người Di". Di là rễ, ý nói nhân ái mà hiếu sinh. Muôn vật cắm rẽ vào đất mà sinh sôi, cho nên người Di bản tính ôn hòa, dễ lấy đạo mà dạy, có các nước Quân Tử-Bất Tử. Người Di có chín chủng, gọi là Quyến Di-Vu Di-Phương Di-Hoàng Di-Bạch Di-Xích Di-Huyền Di-Phong Di-Dương Di. Cho nên Khổng Tử muốn ở đất Cửu Di vậy. [sơn hải kinh chép: "Người nước Quân Tử mặc áo, đội mũ, đeo kiếm, ăn thịt thú, sai hai con hổ văn ở bên". Ngoại quốc đồ chép: "Cách quận Lang Da ba vạn dặm". "Người nước Bất Tử tại phía đông nước Giao Hĩnh, người nước này da đen, sống thọ không chết". Đều tại phương đông vậy.] [Trúc thư kỉ niên chép: "Vua Hạ là Phân Phát lên ngôi được ba năm, người Cửu Di đến chầu". "Năm thứ hai mươi mốt thời vua Hạ là Tiết, truyền lệnh đến người Khuyển Di-Bạch Di-Xích Di-Huyền Di-Phong Di-Dương Di. Vua Hạ là Tướng lên ngôi được hai năm, đánh người Hoàng Di. Năm thứ bảy, người Vu Di đến thăm. Vua Hạ là Thiếu Khang lên ngôi, người Phương Di đến thăm".] Ngày xưa vua Nghiêu sai Hi Trọng đến mở đất Ngung Di, gọi là Dương cốc, đại khái là chỗ mà mặt trời mọc. Vua Thái Khang của họ Hạ Hậu thất đức, người Di bắt đầu làm phản. Từ thời vua Thiếu Khang về sau, người thường theo vương hóa, làm khách ở triều đình, dâng khúc hát điệu múa. Vua Kiệt làm việc bạo ngược, người Di vào xâm phạm,. Vua Thang của nhà Ân đổi mệnh, đem binh đánh mà bình người Di. Đến thời vua Trọng Đinh, người Lam Di đánh cướp. Từ đó lúc phục lúc làm phản, được hơn ba trăm năm. Đời vua Vũ Ất suy kém, người Di ở phía đông thêm mạnh, bèn dời đến đất Hoài-Đại, dần dần trú ở Trung Thổ (tức Trung Quốc). [Khổng An Quốc chú Thượng thư chép: "Đất ở phương đông gọi là Ngung Di. Thang cốc là chỗ mà mặt trời mọc".] [Trúc thư kỉ niên chép: "Vua Hạ là Phát lên ngôi năm đầu, người Di thăm ở cửa nhà vua, người Di vào múa". "Trọng Đinh lên ngôi, đánh đến chỗ người Lam Di".] Đến thời Vũ Vương diệt vua Trụ, người Túc Thận đến dâng mũi tên đá, mũi tên cây hộ. Quản-Sái phản nhà Chu, Chu Công đánh Quản-Sái, rồi đánh dẹp người Di ở phía đông. Vào thời Khang Vương, người Túc Thận lại đến. Sau đó người Di ở đất Từ tiếm hiệu, bèn đem lĩnh quân Cửu Di đến đánh nhà Chu, sang phía tây đến đầu nguồn sông Hoàng Hà. Mục Vương sợ sự lớn mạnh của người Di, bèn chia chư hầu ở phương đông, phong Từ Yển Vương trông coi người Di. Yển Vương ở phía đông sông Hoàng, đất đai năm trăm dặm, tỏ rõ nhân nghĩa, có ba mươi sáu nước hướng về mà chầu phục. Sau đó Mục Vương làm được xe ngựa kí lục, bèn sai Tạo Phủ đánh xe đến báo cho vua Sở, sai đánh nước Từ, một ngày thì đến. Do đó Sở Văn Vương phát đại quân mà diệt nước Từ. Yển Vương nhân ái mà không quyền biến, không nỡ đánh quân Sở, cho nên bị thua. Yển Vương bèn chạy đến dưới núi phía đông huyện Vũ Nguyên quận Bành Thành, trăm họ đi theo Yển Vương đến mấy vạn người, nhân đó tên núi gọi là núi Từ. Lệ Vương vô đạo, người Hoài Di (tức người Di ở ven sông Hoài) vào cướp, Lệ Vương sai Quắc Trọng đánh người Di, không thắng, Tuyên Vương lại sai Thiệu Công đánh mà dẹp người Di. Đến đời U Vương dâm loạn, người Di đến xâm phạm. Đến thời Tề Hoàn Công làm bá, liền dẹp trừ được. Đến thời Sở Linh Vương hội chư hầu ở ấp Thân, người Di cũng đến thề ước. Sau đó vua Việt (tức vua Việt là Câu Tiễn) dời đô đến ở ấp Lang Da, hợp với người Di đánh dẹp, bèn lấn hiếp Hoa Hạ, phá diệt các nước nhỏ. [Thượng thư chép: "Vũ Vương băng, tam giám cùng người Hoài Di phản, Chu Công đánh chúng, soạn đại cáo". "Thành Vương đã đánh Quản Thúc-Sái Thúc, lại diệt người Hoài Di".] [Thi Tử chép: "Yển Vương có gân mà không có xương, cho nên gọi là 'Yển'".] [Huyện Vũ Nguyên tại phía bắc huyện Hạ Bì thuộc châu Tứ. Núi Từ ở phía đông huyện này. Bác vật chí chép: "Người trong cung vua Từ mang thai nhưng sinh ra quả trứng, vua cho là không lành, vứt quả trứng ở bờ sông. Một người đàn bà có con chó tên là 'hộc thương', thấy quả trứng bị vứt, ngậm về cho người đàn bà ấy, người đàn bà ấy trùm lấy sưởi ấm quả trứng, cuối cùng nở ra một đứa trẻ con, lúc sinh thì nằm ngửa, cho nên gọi là 'Yển'. Người trong cung nghe tin, bèn đổi lấy lại. Lớn lên nối làm vua Từ". "Vua Từ quái lạ khác thường. Phía đông huyện Vũ Nguyên mười dặm thấy có miếu thờ, hang đá ở núi Từ. Yển Vương làm rãnh thông vào đất Trần-Sái, lấy được cây cung đỏ, mũi tên đỏ, cho là đã có ý trời, tự xưng là Yển Vương. Mục Vương nghe tin, sai sứ ngồi ngựa tứ đi một ngày thì đến nước Sở, sai đánh Yển Vương. Yển Vương nhân từ, không nỡ đánh, bị quân Sở đánh bại, chạy lên phía bắc đến núi Từ".] Nhà Tần chiếm cả sáu nước, người Di ở vùng Hoài-Tứ đều chia làm dân hộ. Trần Thiệp dấy binh, thiên hạ vỡ lở, người nước Yên là Vệ Mãn tránh đến nước Triều Tiên, nhân đó làm vua ở nước này, được hơn một trăm năm, Hán Vũ Đế diệt nước Triều Tiên, do đó người Di ở phía đông bắt đầu qua lại kinh đô. Vương Mãn soán vị, người Mạch cướp vùng biên giới. Đầu năm Kiến Vũ, người Di lại đến chầu cống. Bấy giờ Thái thú Liêu Đông là Sái Dung uy hiếp phương bắc, oia lừng miền bờ biển, do đó người Uế, Mạch, Oa, Hàn trải vạn dặm đến chầu cống, cho nên thời Chương-Hòa về sau, sứ giả các nước Di đến qua lại. Kịp đến những năm Vĩnh Sơ, đất Trung Quốc có nhiều nạn, người bắt đầu vào cướp bóc; Hoàn-Linh bỏ bê chính sự, người Di càng thêm khinh mạn. Từ sau thời trung hưng, người Di đến chầu, dẫu có lúc phản nhưng sứ giả đến không dứt, cho nên tục lệ của các nước này được ghi chép qua. Người Đông Di đại khái tụ thành ấp xóm, vui vẻ uống rượu múa hát, đội mũ biện mặc áo gấm, có dùng bát, mâm, cho nên mới nói là nếu Trung Quốc bỏ bê lễ nghi thì tìm đến 'Tứ Di'. Man, Di, Nhung, Địch cộng lại gọi là 'Tứ Di', giống Công, Hầu, Bá, Tử, Nam đều là hiệu của chư hầu vậy. Nước Phù Dư ở cách phía bắc quận Huyền Thố nghìn dặm, phía nam tiếp với nước Cao Câu Li, phía đông tiếp với nước Ấp Lâu, phía tây tiếp với đất của người Tiên Ti, phía bắc có sông Nhược. Đất rộng hai nghìn dặm, vốn là đất của người Uế. Trước đây, vua của nước Tố Li ở phía bắc xuất hành, người hầu gái của vua ở nhà mang thai, vua về, muốn giết đi, người hầu gái nói: "Lúc trước thấy trên trời có luồng khí, lớn như quả trứng gà, bay xuống vào người thiếp, cho nên có thai". Vua bắt giam người hầu gái, sau đó người hầu gái sinh con trai. Vua sai đặt ở chuồng heo, heo chũi mõm thở vào đứa bé, không chết. Sau dời đến chuồng ngựa, ngựa cũng như vậy. Vua cho là thần, bèn cho mẹ đưa về nuôi, đặt tên là Đông Minh. Đông Minh lớn lên thì bắn tên giỏi, vua kị sự dũng mãnh của Đông Minh, lại muốn giết đi. Đông Minh chạy trốn, xuống phía nam đến sông Yểm Hổ, lấy cung đập vào nước, do đó cá, rùa đều tụ nổi trên mặt sông, Đông Minh cưỡi mà qua được, nhân đó đến nước Phu Dư mà làm vua ở đấy. Thành ở đất Đông Di, lớn nhất là Bình Xưởng, đất hợp với ngũ cốc. Xuất ngựa tốt, ngọc đỏ, chồn, ngọc trai lớn và táo chua, lấy tre gỗ tròn làm thành, có cung điện, kho tàng, nhà ngục. Người người nước này to lớn hùng dũng mà thật thà, không gây cướp bóc. Lấy cung tên, mâu, đao làm binh khí. Lấy tên sáu loài súc vật đặt tên chức quan, có 'Mã gia', 'Ngưu gia', 'Cẩu gia', các ấp xóm đều thần phục các 'gia'. Ăn uống thì dùng mâm, bát, cùng hội họp vái mời nhau, nhường nhau lên xuống. Đến tháng chạp thì tế trời, hội họp liên ngày, ăn uống múa hát, gọi là 'nghênh cổ'. Lúc ấy bỏ hình ngục, cởi giam trói. Có việc quân cũng tế trời, giết bò, lấy móng chân bò để bói tốt xấu. [Ngụy chí chép: "Móng bò toác là xấu, móng liền là tốt".] Người đi đường không kể ngày đêm đều ưa ca ngâm, âm thanh không dứt. Thói thường dùng hình pháp nghiêm ngặt, kẻ nào bị tội chết thì đều bị tịch thu người nhà làm nô tì. Nếu trộm một thì đền mười. Trai gái gian dâm thì đều bị giết, rất ghét tính đố kị, đã bị giết rồi còn vứt thây ở trên núi. Anh trai chết thì em trái lấy chị dâu. Lúc chết thì dùng quách mà không dùng quan để táng, giết người táng theo, có khi nhiều đến mấy trăm người. Vua của nước này táng dùng rương ngọc, nhà Hán thường sắm sẵn rương ngọc trao cho quận Huyền Thố, lúc vua nước này chết thì đón lấy đặt vào rương ngọc mà táng. Giữa năm Kiến Vũ, các nước Đông Di đều đến cống nạp. Năm thứ hai mươi lăm, vua Phù Dư sai sứ giả đến cống, vua Quang Vũ báo đáp nồng hậu, do đó sứ giả hằng năm qua lại. Đến năm Vĩnh Sơ thứ năm thời An Đế, vua Phù Dư bắt đầu đem bảy-tám nghìn quân kị bộ cướp bóc quận Lạc Lãng, giết hại quan dân, sau lại thần phục. Năm Vĩnh Ninh thứ nhất, lại sai người nối tự là Úy Cừu Đài đến cửa khuyết cống nạp, thiên tử ban ấn thao vàng cho Úy Cừu Đài. Năm Vĩnh Hòa thứ nhất thời Thuận Đế, vua của nước này đến chầu ở kinh sư, Đế bày nhạc trống, tù và ở cửa Hoàng Môn để đón đãi. Năm Diên Hi thứ tư thời Hoàn Đế, sai sứ giả đến chầu cống. Năm Vĩnh Khang thứ nhất, vua là Phù Đài đem hơn hai vạn quân vào cướp quận Huyền Thố, Thái thú Huyền Thố là Công Tôn Vực đánh phá được, chém hơn nghìn thủ cấp. Đến năm Hi Bình thứ ba thời Linh Đế, lại đến nạp cống. Nước Phù Dư vốn thuộc quận Huyền Thố, thời Hiến Đế, vua của nước này xin thuộc vào quận Liêu Đông. Nước Ấp Lâu là nước Túc Thận xưa vậy. Ở cách phía đông bắc nước Phù Dư hơn nghìn dặm, phía đông kề biển lớn, phía nam và phía bắc tiếp với nước Ốc Trở, không biết nơi tận cùng phía bắc của nước ấy. Đất đai phần nhiều là núi hiểm, dáng người giống người Phù Dư, nhưng tiếng nói đều khác. Có trồng ngũ cốc, vải gai, xuất ngọc đỏ, chồn tốt. Không có quân trưởng, ở các ấp xóm của họ có 'Đại nhân'. Sống ở giữa rừng núi, khí đất rất lạnh, thường ở trong hang, cho là sâu thì tốt, nhà lớn có đến chín cái bậc. Ưa nuôi heo, ăn thịt heo, lấy da heo làm áo. Mùa đông lấy mỡ heo bôi lên người, dày mấy phân để chống gió lạnh. Mùa hạ thì cởi trần, lấy tấm vải nhỏ che trước sau. Người ở đây bẩn thỉu không sạch sẽ, làm nhà xí ở trong, ở quây xung quanh mà ở. Từ lúc nhà Hán nổi lên về sau, người Ấp Lâu thần phục nước Phù Dư. Dân chúng dẫu ít, nhưng phần nhiều hùng dũng, ở nơi núi non hiểm trở, lại bắn tên giỏi, bắn ra có thể trúng mắt người. Cung dài bốn thước, cứng giống nỏ. Mũi tên dùng từ cây hộ, dài một thước tám tấc, lấy đá xanh làm đầu mũi tên, đầu mũi nhọn đều bôi thuốc độc, người trúng phải liền chết. Giỏi chèo thuyền, hay trộm cướp, người các nước xung quanh lo lắng, nhưng không thể áp phục. Người Phù Dư, Đông Di ăn uống đều dùng mâm, bát, chỉ có người Ấp Lâu thì không, thói tục rất không có phép tắc như vậy. Nước Cao Câu Li ở phía đông của quận Liêu Đông nghìn dặm, phía nam tiếp các nước Triều Tiên, Uế-Mạch, phía đông tiếp nước Ốc Trở, phía bắc tiếp với nước Phù Dư. Đất rộng hai nghìn dặm, nhiều hang sâu núi lớn, người dân theo đó mà ở. Ruộng trồng ít, làm không đủ để tự cung cấp, cho nên tục người ở đây dè xẻn khi ăn uống, nhưng dựng cung thất giỏi. Người Đông Di bảo nhau rằng người Cao Câu Li là một chủng khác của người Phù Dư, cho nên tiếng nói, hình pháp phần nhiều giống nhau, nhưng quỳ bái chỉ dùng một chân, đi bộ như chạy. Cả thảy có năm bộ, có bộ Tiêu Nô, bộ Tuyệt Nô, bộ Thuận Nô, bộ Quán Nô, bộ Quế Nô. Vốn là bộ Tiêu Nô làm vua, dần dần suy yếu, sau đó bộ Quế Nô nối thay. Nước này đặt quan lại có 'Tướng gia', 'Đối lô', 'Bái giả', 'Cổ trâu đại gia', 'Chủ bạ', 'Ưu đài', 'Sứ giả', 'Bạch y tiên nhân'. Hán Vũ Đế diệt nước Triều Tiên, lấy nước Cao Câu Li đặt làm huyện, thuộc vào quận Huyền Thố, ban cho ca kĩ thổi sáo đánh trống. Tục thường dâm dật, đều sạch sẽ tự vui, buổi chiều tối thì trai gái tụ tập hát xướng, ưa tế quỷ thần, xã tắc, sao Linh, thường vào tháng mười thì mở hội lớn tế trời, gọi là 'Đông minh'. Phía đông nước này có hang lớn, gọi là 'Toại thần', cũng vào tháng mười thì đến tế ở đấy. Người tụ hội đều mặc áo quần gấm thêu, tự trang điểm vàng bạc. Các 'Đại gia', 'Chủ bạ' đều đội khăn, giống khăn mũ, nhưng không có dải phía sau; các 'Tiểu gia' thì đội khăn 'chiết phong', hình giống mũ biện. Không có nhà ngục, nếu có tội thì 'gia' bàn bạc rồi giết kẻ đó, tịch thu vợ con làm nô lệ. Phép cưới hỏi thì đều tới nhà vợ, sinh con lớn lên, sau đó đem về, rồi dần dần sắm sửa đồ táng, vàng bạc tiền của đều táng cả theo, chất đá đắp mộ, cũng trồng tùng bách bên mộ. Tính người nước này hung hăng, có sức khỏe, tập chiến đấu, ưa cướp bóc, các nước Ốc Trở, Đông Uế đều phụ thuộc. Người Cao Câu Li còn gọi là người Mạch, có chủng khác dựa vào sông nhỏ mà ở, nhân đó có tên là 'Tiểu Thủy Mạch'. Xuất cung tốt, gọi là 'cung Mạch' vậy. Đầu thời Vương Mãng, phát quân của nước Cao Câu Li đi đánh rợ Hung Nô, người nước này không muốn đi, cưỡng bức sai đi, đều trốn ra biên giới làm giặc. Đại doãn Liêu Tây là Điền Đàm đuổi đánh, chết trong trận. Mãng sai tướng của Đàm là Nghiêm Vưu đi đánh, dụ vua Cao Câu Li là Sô vào cửa ải, chém Sô, đưa đầu về Tràng An. Mãng mừng lắm, đổi tên Cao Câu Li Vương là Hạ Cao Li Hầu, do đó người Mạch cướp biên giới thêm nhiều. Năm Kiến Vũ thứ tám, vua Cao Câu Li sai sứ chầu cống, vua Quang Vũ phong lại tước hiệu cho vua của nước này. Mùa đông năm thứ hai mươi ba, người Cao Câu Li là Tàm Chi Lạc Đại Gia Lạc Đái Thăng đem hơn vạn người đến quận Lạc Lãng xin nội thuộc. Mùa xuân năm thứ hai mươi lăm, người Cao Câu Li cướp các quận Hữu Bắc Bình-Ngư Dương-Thượng Cốc-Thái Nguyên, rồi Thái thú Liêu Đông là Sái Dung lấy ân đức vỗ về, do đó đều quay về biên giới. Sau đó vua Cao Câu Li là Cung sinh ra mở mắt đã nhìn được, người trong nước hướng về, đến lúc lớn lên, nhiều lần phạm biên cảnh. Mùa xuân năm Nguyên Hưng thứ nhất thời Hòa Đế, Cung lại vào quận Liêu Đông, cướp chiếm sáu huyện, Thái thú là Cảnh Quỳ đánh phá được, chém cừ súy của quân ấy. Năm Vĩnh Sơ thứ năm thời An Đế, Cung sai sứ giả nạp cống, xin thuộc vào quận Huyền Thố. Năm Nguyên Sơ thứ năm, Cung lại cùng người Uế-Mạch cướp quận Huyền Thố, đánh thành Hoa Li. Mùa xuân năm Kiến Quang thứ nhất, bọn Thứ sử châu U là Phùng Hoán, Thái thú Huyền Thố là Diêu Quang, Thái thú Liêu Đông là Sái Phúng đem binh ra biên giới đánh Cung, bắt chém cừ súy của người Uế-Mạch, bắt được binh mã tài vật. Cung bèn sai con của mình là Toại Thành đem hơn hai nghìn quân chặn đánh bọn Quang, sai sứ trá hàng; bọn Quang tin theo, Toại Thành nhân đó chiếm nơi hiểm yếu để giấu đại quân, rồi ngầm sai ba nghìn quân đánh các quận Huyền Thố, Liêu Đông, đốt thành quách, giết hại hơn hai nghìn người. Do đó nhà Hán phát hơn ba nghìn quân kị của các thuộc quốc Quảng Dương, Ngư Dương, Hữu Bắc Bình, Trác Quận cùng đến ứng cứu, nhưng người Mạch đã bỏ đi. Mùa hạ, Cung lại cùng hơn tám nghìn người người Tiên Ti ở quận Liêu Đông đánh thành Liêu Đội, cướp giết quan dân. Bọn Sái Phúng đuổi đánh đến huyện Tân Xương, chết trong trận, Công tào là Cảnh Háo, Binh tào duyện là Long Đoan, Binh mã duyện là Công Tôn lấy thân che cho Phúng, cùng chết ở trận, kẻ chết đến hơn trăm người. Mùa thu, Cung lại đem mấy nghìn quân kị Mã Hàn, Uế-Mạch vây quận Huyền Thố. Vua Phù Dư sai con là Úy Cừu Đài đem hơn hai vạn quân, cùng châu quận ra sức đánh phá Cung, chém hơn năm trăm thủ cấp. Năm đó, Cung chết, con là Toại Thành lập. Diêu Quang dâng thư lên muốn nhân tang của nước ấy mà phát binh đi nước ấy, người bàn bạc đều cho là được. Thượng thư là Trần Trung nói: "Cung trước kia là người kiệt hiệt, Quang không đánh được, nếu hắn chết mà đến đánh, là không có nghĩa vậy. Nên đến thăm điếu, nhân đó trách tội trước kia, tha mà không đánh để lấy việc tốt sau này". An Đế nghe theo. Năm sau, Toại Thành trả những người Hán bị bắt cho về, tự đến quận Huyền Thố xin hàng phục. Chiếu nói: "Bọn Toại Thành ngỗ ngược vô đạo, đáng bị băm chém để báo cho trăm họ, nhưng được tha cho, thú tội xin hàng. Tiên Ti, Uế-Mạch nhiều năm cướp bóc, đuổi cướp dân yếu, kinh động mấy nghìn người, lại giết chóc mấy chục trăm người, không có lòng hướng về vương hóa. Từ nay về sau, không được đánh nhau với quan huyện, phải gần gũi yêu thương dân chúng để chuộc tội, ban cho mươi người thợ lụa, một nửa là người trẻ". Toại Thành chết, con là Bá Cố lập, từ đó người Uế-Mạch thần phục, biên thùy phía đông ít việc xảy ra. Năm Dương Gia thứ nhất thời Thuận Đế, đặt sáu bộ đóng đồn làm ruộng ở quận Huyền Thố. Giữa thời Chất-Hoàn, lại vào huyện Tây An Bình quận Liêu Đông, giết quan Lệnh của huyện Đái Phương, cướp được vợ con của Thái thú Lạc Lãng. Năm Kiến Ninh thứ hai, Thái thú Huyền Thố là Cảnh Lâm đi đánh, chém mấy trăm thủ cấp, Bá Cố hàng phục, xin thuộc vào quận Huyền Thố. Nước Đông Ốc Trở ở phía đông núi lớn Cái Mã của nước Cao Câu Li, phía đông kề biển lớn, phía bắc tiếp với các nước Ấp Lâu-Phù Dư, phía nam tiếp với người Uế-Mạch. Nước này đông tây hẹp, nam bắc dài ước chừng đến nghìn dặm, đất phì nhiêu, đều dựa vào núi hướng ra biển, hợp với ngũ cốc, làm ruộng giỏi, có trưởng súy của ấp xóm. Tính người thẳng thắn cứng cỏi. Giỏi dùng mâu để đánh trận trên bộ. Tiếng nói, ăn uống, nhà ở, quần áo, có giống với người Cao Câu Li. Cách táng là làm quách bằng gỗ lớn, dài hơn mười trượng, mở một đầu làm nắp, người mới chết chôn trước, đợi da thịt tiêu hết, rồi lấy xương đặt trong quách. Người nhà đều cùng một quách, khắc tượng gỗ như dáng người lúc sống, rồi chôn theo người chết. Hán Vũ Đế diệt nước Triều Tiên, lấy nước Ốc Trở đặt thành quận Huyền Thố. Sau bị người Di-Mạch chiếm, dời quận đến phía tây bắc của nước Cao Câu Li, đổi nước Ốc Trở đặt làm huyện, thuộc Lạc Lãng Đông bộ Đô úy. Đến thời vua Quang Vũ, bỏ quan Đô úy, sau đó đều phong cừ súy của nước này làm Ốc Trở Hầu. Nước này nhỏ hẹp, xen giữa các nước lớn, bèn thần thuộc nước Cao Câu Li. Nước Cao Câu Li lại đặt quan lớn trong nước này làm sứ giả, để cùng trông coi, thu lấy tô thuế, chồn, vải, cá, muối, các đồ hải sản, lấy gái đẹp làm tì thiếp. Lại có nước Bắc Ốc Trở, còn gọi là Trí Câu Lâu, cách nước Nam Ốc Trở hơn tám trăm dặm. Tục nước này giống với người Nam Ốc Trở. Cảnh giới phía nam giáp nước Ấp Lâu, người Ấp Lâu ưa chèo thuyền cướp bóc, người Bắc Ốc Trở sợ, hễ đến mùa hạ lại náu ở hang đá, đến mùa đông đường thuyền đi không thông, lại xuống sống ở ấp xóm. Người già cả ở nước này bảo rằng từng lấy được một cái áo vải ở giữa biển, hình giống áo của người Trung Quốc, nhưng hai tay áo dài ba trượng. Lại ở bên bờ thấy một người cưỡi một cái thuyền vỡ, giữa đổ lại có mặt, chuyện với nhau không hiểu, không ăn rồi chết. Lại bảo rằng giữa biển có nước của đàn bà, không có đàn ông. Lại bảo truyền rằng nước này có giếng thần, nhìn vào sẽ sinh được con. Nước Uế, phía bắc tiếp với các nước Cao Câu Li-Ốc Trở, phía nam tiếp với nước Thần Hàn, phía đông kề biển lớn, phía tây đến quận Lạc Lãng. Nước Uế cùng các nước Ốc Trở-Cao Câu Li vốn đều là đất Triều Tiên. Xưa kia Vũ Vương phong Cơ Tử ở đất Triều Tiên, Cơ Tử dạy dân theo lễ nghĩa, cày ruộng nuôi tằm, lại đặt ra tám điều dạy. Người ở đây không trộm của nhau, không cần đóng cửa nhà. Đàn bà trinh tín. Ăn uống dùng mâm bát. Hơn bốn mươi đời sau đó, đến thời vua Triều Tiên là Chuẩn tự xưng vương. Đầu thời Hán loạn lớn, có đến mấy vạn người Yên-Tề-Triệu đến lánh nạn ở đất Triều Tiên, rồi người nước Yên là Vệ Mãn đánh phá Chuẩn mà tự làm vua ở đấy, truyền nước đến cháu là Hữu Cừ. Năm Nguyên Sóc thứ nhất, quân trưởng của nước Uế là bọn Nam Lư phản Hữu Cừ, đem hai mươi tám vạn người đến quận Liêu Đông xin nội thuộc, Hán Vũ Đế lấy nước Uế lập thành quận Thương Hải, được mấy năm lại bỏ. Đến năm Nguyên Phong thứ ba, diệt nước Triều Tiên, chia đặt thành bốn quận Lạc Lãng-Lâm Đồn-Huyền Thố-Chân Phiên. Đến năm Thủy Nguyên thứ năm thời Chiêu Đế, bỏ quận Lâm Đồn-Chân Phiên, gộp vào quận Lạc Lãng-Huyền Thố. Quận Huyền Thố lại chuyển đến nước Cao Câu Li. Từ núi lớn Đan Đan về phía đông, các nước Ốc Trở-Uế-Mạch đều thuộc quận Lạc Lãng. Sau vì đất đai xa rộng, lại chia bảy huyện ở phía đông núi, đặt ra Lạc Lãng Đông bộ Đô úy. Từ lúc nội thuộc về sau, phong tục kém dần, hình pháp cũng thêm phiền, có đến hơn sáu mươi điều. Năm Kiến Vũ thứ sáu, bớt quan Đô úy, rồi bỏ đất phía đông núi, đều phong cừ súy của nước này làm Huyện hầu, đều hằng năm chầu cống. Không có quân trưởng lớn, quan lại có có 'Hầu', 'Ấp quân', 'Tam lão'. Người già cả tự nói là cùng chủng với người Cao Câu Li, tiếng nói, phép tắc đại khái giống nhau. Tính người ở đây ngu dốt, ít ham muốn, không cầu xin. Trai gái đều mặc áo cổ gấp. Tục thường trọng sông núi, sông núi đều có bộ giới, không được tự tiện đi vào. Người cùng họ không được kết hôn, nhiều kiêng kị, nếu ốm đau chết chóc thì thường bỏ nhà cũ, lại làm nhà mới. Biết trồng cây gai, nuôi tằm, làm thành vải bông. Buổi sớm dậy lúc trời còn nhiều sao, đoán biết được vụ mùa đầy đủ. Thường đến tháng mười thì tế trời, ngày đêm uống rượu múa hát, gọi là "Vũ thiên". Lại tế hổ cho là thần. Ấp xóm có kẻ xâm phạm nhau, thì phạt nhau, bắt đền người, trâu, ngựa, gọi là 'Trách họa'. Kẻ giết người thì đền mạng. Ít cướp bóc. Đánh trận trên bộ, làm gậy dài ba trượng, hoặc mấy người cùng cầm. Cây cung làm bằng gỗ đàn ở quận Lạc Lãng được ra từ nước ấy. Lại có nhiều báo vằn, có ngựa 'quả hạ'.[Ngựa cao ba thước, ngồi lên ngựa này có thể đi dưới cây quả.] Ở biển có cá vằn, sứ giả đến đều dâng lên. Người Hàn có ba chủng: một là Mã Hàn, hai là Thần Hàn, ba là Biện Hàn. Mã Hàn ở phía tây, có sáu mươi tư nước, phía bắc đất ấy tiếp với quận Lạc Lãng, phía nam tiếp với chỗ của người Oa. Thần Hàn ở phía đông, có mười hai nước, phía bắc nước ấy tiếp với người Uế-Mạch. Biện Hàn ở phía nam của nước Thần Hàn, cũng có mười hai nước, nước này cũng tiếp với chỗ của người Oa. Cả thảy có sáu mươi tám nước, nước Bách Tế là một nước trong số đó. Nước lớn thì hơn vạn hộ, nước nhỏ thì mấy nghìn nhà, đều ở giữa núi biển, đất rộng khoảng hơn bốn nghìn dặm, phía đông tây lấy biển làm giới hạn, đều là nước Thần xưa vậy. Mã Hàn lớn nhất, cùng lập người nước mình làm Thần Vương, đóng đô là thành Mục Chi, trông coi cả ba nước Hàn. Các vị vua của họ trước kia là người Mã Hàn. Người Mã Hàn biết làm ruộng nuôi tằm, làm vải bông. Xuất cây dẻ giống cây lê. Có gà đuôi dài, đuôi dài năm thước. Sống xen lẫn ở ấp xóm, cũng không có thành quách. Làm nhà đất, hình giống nấm mộ, mở cửa ở trên. Không biết quỳ bái. Không phân biệt già trẻ, trai gái, không quý len bông, vàng ngọc, không biết cưỡi trâu ngựa, chỉ qúy ngọc châu, đeo lên áo đồ trang sức, và đeo tai bên cổ. Cừ súy đều đầu trần tóc để chỏm, mặc áo choàng dài, đi dày da. Người nước này dũng mãnh, lúc nhỏ đã đắp nhà làm đao, thường lấy dây xuyên qua da thịt, treo trên cây lớn, cho vậy là khỏe. Thường đến tháng năm là lúc làm ruộng xong thì tế quỷ thần, ngày đêm tụ hội uống rượu, quần tụ múa hát, múa thường mấy chục người theo nhau giẫm đất làm điệu. Tháng mười việc làm ruộng xong, cũng lại như vậy. Các nước này chọn một một người làm chủ việc tế trời, tế thần, gọi là "thiên quân". Lại lập 'tô đồ', dựng cây gỗ lớn để treo chuông trống, thờ qủy thần. Phía nam của nước này tiếp với chỗ của người Oa, cũng có người vẽ mình. Thần Hàn, người già ở nước này tự nói vốn là người bỏ đi từ thời Tần, trốn lao dịch mà lánh nạn đến nước Hàn, người Mã Hàn chia đất ở phía đông mà trao cho. Người nước này nói nước là 'bang', cung là 'hồ', giặc là 'khấu', uống rượu là 'hành thương', gọi nhau là 'đồ', có giống tiếng Tần, cho nên còn gọi là người Tần Hàn. Có rào lũy nhà ở. Các ấp nhỏ khác đều có cừ súy, lớn là 'Thần trí', thứ có 'Kiệm trắc', thứ có 'Phàn kì', thứ có 'Sát hề', thứ có 'Ấp tá'. Đất đai phì nhiêu, hợp với ngũ cốc. Biết trồng dâu nuôi tằm, làm vải bông. Cưỡi đi trâu ngựa. Cưới hỏi theo lễ nghi. Người đi nhường đường. Nước này có sắt, người Uế, Oa, Hàn đều đến mua lấy. Hết thảy vật trao đổi đều lấy sắt làm tiền. Tục thích múa hát, uống rượu, đánh đàn, gõ trống. Sinh con muốn khiến cho đầu nhọn, đều lấy đá để nắn ép. Người Biện Hàn ở lẫn với người Thần Hàn; thành quách, quần áo đều giống nhau, còn tiếng nói, phong tục có khác. Dáng người đều to cao, tóc đẹp, quần áo đẹp đẽ. Nhưng hình pháp nghiêm ngặt. Nước này gần với chỗ của người Oa, cho nên cũng có người vẽ mình. Trước đây, vua Triều Tiên là Chuẩn bị Vệ Mãn phá, bèn đem mấy nghìn người còn sót chạy vào biển, đánh nước Mã Hàn, phá được, tự lập làm vua ở nước Hàn. Dòng dõi của Chuẩn diệt dứt, người Mã Hàn lại tự lập làm Thần Vương. Năm Kiến Vũ thứ hai mươi, người Hàn ở thuộc ấp Liêm Tư là bọn Tô Mã Thị đến Lạc Lãng dâng cống. Vua Quang Vũ phong Tô Mã Thị làm chúa ấp Liêm Tư, sai thuộc vào quận Lạc Lãng, bốn mùa chầu cống. Cuối thời Linh Đế, người Hàn-Uế đều mạnh, quận huyện không ngăn được, trăm họ khổ loạn, phần nhiều bỏ chạy vào nước Hàn. Ở phía tây của nước Mã Hàn, trên đảo biển có nước Châu Hồ. Người nước này nhỏ bé, cắt tóc, áo không ra áo, có trên không có dưới. Nuôi bò, heo giỏi. Cưỡi thuyền qua lại mua bán ở giữa nước Hàn. Người Oa ở giữa biển lớn phía đông nam của nước Hàn, dựa vào đảo núi mà ở, cả thảy có hơn trăm nước. Từ thời Hán Vũ Đế diệt nước Triều Tiên, sứ giả đến qua lại với Hán có đến hơn ba mươi nước, mỗi nước đều xưng vương, nối nhau truyền nước. Vua Oa trú ở thành Tà Mã Đài. Ngoài quận Lạc Lãng, đi nước này khoảng một vạn hai nghìn dặm, cách phía tây bắc nước ấy là nước Câu Tà Hàn hơn bảy nghìn dặm. Nước đại khái ở phía đông của huyện Đông Dã quận Cối Kê, gần với các quận Chu Nhai-Đam Nhĩ, cho nên hình pháp, phong tục phần nhiều giống nhau. Đất hợp với lúa nước, cây gai, cây dâu tằm, biết buộc sợi làm vải. Xuất ngọc trai trắng, ngọc xanh. Núi ở đây có đất đỏ. Khí hậu ôn hòa, mùa đông mùa hạ rau cỏ sinh sôi. Không có bò, ngựa, hổ, báo, dê, chim khách. Binh khí có mâu, thuẫn, cung gỗ, tên tre, hoặc lấy xương làm đầu của mũi tên. Đàn ông đều xăm mặt vẽ mình, dựa vào hình xăm ở tay trái tay phải lớn hay bé để phân biệt trên dưới. Quần áo của đàn ông ở đây đều buộc khăn ngang liền nhau. Đàn bà trùm tóc trên đầu, áo giống chăn đơn, quấn trên đầu mà đội; đều lấy đất đỏ bôi lên người, giống người Trung Quốc bôi phấn vậy. Có rào lũy, nhà ở, cha mẹ, anh em ở riêng, riêng lúc hội họp thì không phân biệt trai gái. Ăn uống dùng tay, nhưng dùng bát, mâm. Tục đều đi chân trần, ngồi xổm cho là cung kính, tính người thích rượu. Phần nhiều người già sống lâu, rất nhiều người hơn trăm tuổi. Nước này có nhiều con gái, người quyền quý đều có đến bốn đến năm vợ, còn lại hoặc hai hoặc ba vợ. Đàn bà không dâm không ghen. Lại nữa tục không trộm cướp, ít khi tranh cãi. Người phạm pháp thì tịch thu vợ con người đó, nếu tội nặng thì giết cả nhà. Người chết để tang hơn mười ngày, người nhà khóc lóc, không uống rượu, người trong nhà lại múa hát bày nhạc. Đốt xương để bói, dùng để đoán tốt xấu. Nếu có vượt biển, sai một người không tắm gội, không ăn thịt, không ở gần đàn bà, gọi là 'trì suy'. Nếu trên đường thuận lợi, thì ban cho tài vật; còn bệnh tật gặp hại, cho là trừ xấu không tốt, liền giết đi. Năm Kiến Vũ Trung Nguyên thứ hai, người Oa Nô đến chầu cống chúc mừng, sứ giả tự xưng là 'Đại phu', nước này ở phía nam của nước Oa vậy. Vua Quang Vũ ban cho ấn thao. Năm Vĩnh Sơ thứ nhất thời An Đế, vua Oa là Súy Thăng dâng một trăm sáu mươi người, xin vào gặp. Giữa thời Hoàn-Linh, nước Oa loạn lớn, rồi đánh đá lẫn nhau, nhiều năm không có chủ. Có một người con gái tên là Ti Di Hô, lớn lên không lấy chồng, thờ đạo quỷ thần, có thể làm dân chúng mê hoặc, do đó cùng lập làm vua. Có nghìn hầu gái, ít có người thấy, chỉ có một người con trai trao đồ ăn uống, truyền lời nói. Trú ở cung điện lầu quán rào thành, đều có quân bảo vệ. Hình pháp nghiêm ngặt. Từ phía đông của nước Nữ Vương vượt biển hơn nghìn dặm, đến nước Câu Nô, dẫu đều là người Oa, nhưg không thuộc Nữ Vương. Từ phía nam của nước Nữ Vương đi hơn bốn trăm dặm, đến nước Chu Nho, người cao ba bốn thước. Từ phía đông nam của Chu Nho đi thuyền một năm, đến các nước Khỏa-Hắc Xỉ, sứ giả nói rằng ở đó là tận cùng rồi. Ngoài biển quận Cối Kê có người Đông Đề, chia làm hơn hai mươi nước. Lại có Di Châu và Thiền Châu. Người ta truyền lại là Tần Thủy Hoàng sai phương sĩ là Từ Phúc đem mấy nghìn trai gái trẻ vào biển, tìm thần tiên ở núi Bồng Lai nhưng không được, Từ Phúc sợ bị phạt nên không dám về, bèn dừng ở đấy, nhiều đời nối nhau, có mấy vạn nhà. Người dân hay đến quận Cối Kê mua bán. Người ở huyện Đông Dã quận Cối Kê cũng có nguời đi biển gặp gió, trôi dạt đến Thiền Châu. Chỗ này xa xăm, không thể qua lại. [Lâm Hải thủy thổ chí của Thẩm Oánh chép: "Di Châu tại phía đông nam của quận Lâm Hải, cách quận hai nghìn dặm. Đất đai không có sương tuyết, cây cỏ không chết. Bốn bề là hang núi. Người dân cắt tóc, xâu tai, đàn bà không xâu tai. Đất đai màu mỡ, có mọc ngũ cốc, lại nhiều thịt cá. Có chó, đuôi ngắn như hình đuôi con quân (một loài thú giống con hươu nhưng nhỏ hơn, không có sừng). Người Di ở đây từ nam nữ cô cậu cùng nằm nghỉ trên một cái giường lớn, đại khái không tránh né lẫn nhau. Đất có đồng, sắt. Nhưng dùng sừng hươu làm mâu để chiến đấu, cọ mài đá xanh để làm đầu mũi tên. Lấy thịt cá sống chứa lẫn vào trong cái vò lớn, cho muối mặn vào. Ngày qua tháng lại mới ăn uống nó, cho là món ngon".] Luận rằng: Ngày xưa Cơ Tử gặp buổi nhà Ân suy yếu, lánh đến đất Triều Tiên. Lúc đầu nước này chưa có tiếng tăm gì, đến lúc đặt ra tám điều, khiến cho dân phép cấm, do đó ấp xóm không có dâm dật, buổi đêm không cần đóng cửa, sửa tục ngỗ ngược thì dùng hình pháp khoan hòa, làm được mấy trăm năm, cho nên người Đông Di có tính ôn hòa làm tục, khác với người ở ba phương khác. Nếu chính chính sự thông suốt, thì đạo nghĩa còn vậy. Trọng Ni nhớ mong, cho là đất Cửu Di có thể ở. Có người ngờ rằng chỗ ấy thô lậu, ngài bảo rằng: "Người quân tử ở, sao hiềm thô lậu"! Học trò cũng như thế. Sau đó qua lại buôn bán, dần dần giao lưu với nước trên (tức Trung Quốc). Rồi người Yên là Vệ Mãn quấy rối phong tục ở đất này, do đó mà mỏng bạc vậy. Lão Tử chép: "Pháp lệnh thêm nhiều, giặc cướp thêm nhiều". Nếu Cơ Tử giảm bớt văn điều mà dùng tín nghĩa thì có được gốc hình pháp của bậc thánh hiền rồi! Tán nói: "Đây là Ngung Di, gọi là Dương cốc. Kề núi gần biển, chín chủng ở đấy. Cuối Tần loạn lạc, người Yên tránh nạn (chỉ Vệ Mãn). Thêm ít tục Hoa, rồi có người Hán. Ở chỗ xa xôi, lúc theo lúc phản". Bác LanMien và Minhxuan nếu dịch bản Tây Di liệt truyện, Nam man liệt truyện? có thể có nhiều thông tin quan trọng. Hiện nay bản dịch Sử ký Tư Mã Thiên không đầy đủ, chưa kể còn nhiều chương sách khác.
  12. Tổng Lãnh Thiên Thần Michael và đời sống con người THỨ SÁU, 30 THÁNG 09 2011 06:36 BBT WTGP HN ~ Số lượt xem: 2165 Hằng năm ngày 29.09. Giáo Hội mừng lễ kính Tổng lãnh Thiên Thần Michael cùng với hai vị Tổng lãnh Thiên Thần Gabriel và Raphael. Tổng lãnh Thiên Thần Michael là ai và có liên quan gì với đời sống đức tin và con người? Quis ut Deus? Tổng lãnh Thiên Thần Michael được xưng tụng với danh xưng bằng tiếng Latinh: Quis ut Deus? – Ai bằng Thiên Chúa?. Theo tương truyền: -Thiên Thần Michael được liệt vào hàng Thiên Thần quân đội chiến đấu đã đánh thắng Thiên Thần quỉ dữ Lucifer. -Thiên Thần Michael đã vâng lệnh Thiên Chúa cầm gươm đuổi Ông Bà nguyên tổ Adong-Evà ra khỏi vườn địa đàng, sau khi Ông bà phạm tội bất phục tùng Thiên Chúa. - Thiên Thần Michael cũng là vị Thiên Thần thổi kèn Posaune đánh thức gọi những người đã qua đời sống lại ra khỏi mồ. Hình ảnh cùng tượng Thiên Thần Michael được vẽ phác họa hay khắc chạm là một người mặc quân phục thời cổ Lamã có hai cánh bay sau lưng với bắp thịt gân cốt dũng mãnh, một tay cầm gươm như vũ khí, một tay cầm chiếc lá chắn, và chân đứng đạp trên con khủng long hình ảnh của qủi dữ. Hình ảnh chiếc gươm trên tay Tổng lãnh Thiên Thần Michael là hình ảnh nói lên sức mạnh của tình yêu trong ý nghĩa cánh tay của Thiên Chúa được dương ra. Tổng lãnh Thiên Thần Michael giúp đỡ chỉ cho chúng ta tìm lại nẻo chính đường ngay, khi tầm nhìn con mắt chúng ta lạc mất hướng về trời cao. Theo Kinh Thánh cựu ước Michael là vị Thiên Thần có đẳng cấp cao nhất trong các Thiên Thần bên ngai Thiên Chúa ( Sách Tiên tri Danien 10,13; 12, 1) có nhiệm vụ che chở bảo vệ dân Israel trước các quân thù địch, cùng cho khỏi cảnh khó khăn thử thách. Thiên Thần Michael vào thời cựu ước ngày xưa được trình bày là một vị Thiên Thần trong sáu hay bảy vị Thiên Thần đẳng cấp chỉ huy cai trị, được Thiên Chúa tin tưởng các đặc biệt trao cho nhiệm vụ giữ chìa khóa nuớc trời, cùng là vị Thiên Thần chỉ huy tối cao các Thiên Thần. Theo Kinh Thánh tân ước , Michael là Tổng lãnh Thiên Thần chống lại ma qủi. „Cả những người mê sảng kia cũng vậy, họ làm cho thân xác ra ô uế, khinh dể chủ quần của Chúa, nói phạm đến các Bậc uy linh. Khi bàn cãi và tranh luận vói qủy về thi hài ông Môsê, ngay cả tổng lãnh thiên thần Micaen cũng không dám đưa ra một phán quyết nào phạm đến nó, mà chỉ nói: Xin Chúa trừng phạt ngươi! (" ( thư Giuda 8-10) „Bấy giờ, có giao chiến trên trời: thiên thần Micaen và các thiên thần của người giao chiến với Con Mãng Xà. Con Mãng Xà cùng các thiên thần của nó cũng giao chiến. Nhưng nó không đủ sức thắng được, và cả bọn không có chỗ trên trời nữa." ( KH 12, 7-8) Trong thời tân ước, Tổng lãnh Thiên Thần Michael được trình bày là sứ gỉa của Thiên Chúa với uy quyền sức mạnh đặc biệt, như người cầu khẩn phù hộ cho con người bên ngai Thiên Chúa, như Thiên Thần của dân Chúa Kitô, như người cùng đồng hành với người đang hấp hối, với linh hồn những người đã qua đời. Đó đây trong các nghĩa trang, tượng Tổng lãnh Thiên Thần Michael được xây dựng trên nấm mồ hay tường thành, tay cầm loa thổi kèn gọi người qua đời chỗi dậy ra trình diện Thiên Chúa. Đây là hình ảnh nói lên niềm hy vọng và sự công bằng cùng lòng thương xót trứơc mặt Thiên Chúa, khi con người trong giờ phút lịch sử ra trước thánh nhan Ngài. Hình ảnh Tổng lãnh Thiên Thần trên tay cầm chiếc cân đo lường nói lên vị Thiên Thần này quan tâm săn sóc về luật pháp, về sự công bằng chính trực. Trong nhiệm vụ này Tổng lãnh Thiên Thần Michael là người phục vụ đi tìm chân lý sự thật, sự công bằng. Năm 1947 những cuộn giấy sách chép Kinh Thánh được tìm thấy ở bờ Biển Chết bên Israel, trong đó có đoạn ghi lại coi Thiên Thần Michael là „vị thần ánh sáng", chỉ huy đoàn quân của Thiên Chúa chống lại thần dữ. Và Thiên Thần Michael được mang tước hiệu „ Phó vương trên trời". Danh xưng của Tổng lãnh Thiên Thần Michael „ Quis ut Deus? – Ai bằng Thiên Chúa? –„ có lẽ cần được dịch sang ngôn ngữ con người ngày hôm nay: „ Có điều gì khác hơn thay thế Thiên Chúa được không ?". Câu trả lời theo lương tâm nghiêm chỉnh sẽ là: Tất cả đều có giới hạn, không có ai, không có sự gì như Thiên Chúa là Đấng hòan hảo toàn năng được! Tổng lãnh sự thiên thần Michael với biểu tượng chiếc cân công lý - hình ảnh cung Cái Cân trong vòng Hoàng đạo, tương ứng luân xa số 1 - biểu tượng của Hùng Vương VII - hay cũng chính là hình ảnh của sao Thủy ngày nay (tức sao Kim = sao Hôm = sao Mai được chỉnh lại theo thuyết ADNH): Lang Liêu. Đây cũng chính là Thái Bạch Kim Tinh trong thần thoại Đông Phương. Các tôn giáo đã mai một học thuyết và mục đích nguyên gốc rồi, chỉ còn là những lý thuyết thần học mơ hồ, giáo điều, cho nên không thấy xuất hiện những người đắc đạo, chứng ngộ... lại đi cùng với lịch sử của chiến tranh, bạo lực, phản khoa học...--->>> Nhà thờ và sách vở thần học tích lũy hàng thiên niên kỷ bỗng chốc phát nổ và bốc cháy, quy tắc nhân quả.
  13. Tây Đồ Di Sunday, October 20, 2013 2:07:11 AM Nguồn cội Thủy Kinh chú sớ chép: "Lâm Ấp ký nói: năm Kiến Vũ thứ 19 (năm 43) Mã Viện trồng hai cột đồng ở biên giới phía nam quận Tượng Lâm, ranh giới của nhà Hán với nước Tây Đồ." Cựu Đường Thư, Địa lý chí tứ viết: “Nhà Hậu Hán sai Mã Viện … mở đường bộ đến quận Nhật Nam, lại đi thêm hơn 400 dặm nữa đến nước Lâm Ấp, lại đi về phía Nam hơn 2000 dặm nữa đến nước Tây Đồ Di, đúc 2 trụ đồng ở biên giới nam Tượng Lâm phân chia biên giới với Tây Đồ Di để ghi lại công tích toàn thịnh của nhà Hán…” Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục dẫn: "Theo sách Thông điển của Đỗ Hữu, từ nước Lâm Ấp đi về phía nam, đi thủy, đi bộ hơn hai nghìn dặm đến đấy có nước Tây Đồ Di là chỗ Mã Viện dựng hai cột đồng để nêu địa giới đấy... Theo sách Thái bình hoàn vũ ký của Nhạc Sử đời Tống, Mã Viện đi đánh Lâm Ấp, đi từ Nhật Nam hơn 400 dặm đến Lâm Ấp, lại đi hơn 20 dặm nữa có nước Tây Đồ Di. Viện đến nước ấy rồi lập hai cái cột đồng ở nơi phân giới giữa Tượng Lâm và Tây Đồ Di." Cách sách khác nhau nói về vị trí nước Tây Đồ Di khác nhau nhưng đều thống nhất cho biết Mã Viện đã trồng cột đồng làm mốc phân giới với nước Tây Đồ Di. Nước Tây Đồ Di nơi có cột đồng Mã Viện nằm ở đâu? Đây là câu hỏi được nhiều người quan tâm vì xác định được nước Tây Đồ Di là xác định được nơi có cột đồng Mã Viện và biên giới phía Nam nhà Hán. Tuy nhiên tới nay các nhà sử học vẫn bó tay vì xét khắp khu vực từ Giao Chỉ tới Thiên Trúc chẳng có nước nào khả dĩ là Tây Đồ Di cả. Trong khi đó Truyện Nam Chiếu, Lĩnh Nam chích quái kể: Cuối đời Tấn thiên hạ rối loạn, có người thổ tù là Triệu Ông Lý cũng là con cháu của Triệu Vũ Đế, anh em đông đúc, thảy đều dũng lược hơn người, ai nấy đều nể phục, cùng hợp lại với quân Nam Chiếu, được hơn hai vạn người, lại đem châu báu ngà ngọc hiến cho nước Tây Bà Dạ, xin chỗ sinh sống ở vùng đất trống ven bờ biển. Dựa trên suy luận: Dạ là cây dừa, chỉ bộ lạc Dừa của người Chăm, Bà là từ cũng phổ biến ở khu vực Chăm, một số tác giả nhận định nước Tây Bà Dạ nằm ở miền Trung Việt Nam. Thậm chí có khi là ở Indonesia vì “Bà Dạ” nghe hơi giống Ja-va… Tuy nhiên khi liên hệ nước Tây Đồ Di thời Đông Hán và Tây Bà Dạ thời Tấn thì định vị của nước này sẽ ở vị trí hoàn toàn khác. Nước Tây Đồ Di nơi có cột đồng Mã Viện là đất của người Di Lão như trong Truyện Mã Tổng (Cựu Đường Thư) kể: Mã Tổng tinh thông Nho học, giỏi thuật cai trị, ở Nam Hải nhiều năm mà thanh liêm không nao núng, Di Lão đều được yên ổn. Tại nơi mà nhà Hán dựng trụ đồng ông dùng 1500 cân đồng đúc 2 trụ, khắc chữ ghi công đức nhà Đường… Nơi Mã Tổng thời Đường cai trị người Di Lão là nơi có trụ đồng Mã Viện. Người Di Lão sống ở vùng Vân Nam – Quí Châu. Đây cũng là vùng được biết với tên nước Dạ Lang. “Dạ” thực ra là chữ phiên thiết của “Di Hạ”, chỉ người Di thời nhà Hạ. Đất Di Hạ hay Dạ Lang là vùng Vân Nam – Quí Châu, nơi phát tích của Tây Bá hầu Cơ Xương nhà Chu. Chữ Di trong Tây Đồ Di và Dạ trong Tây Bà Dạ như vậy cùng một nghĩa, chỉ định rõ nước này nằm ở vùng giáp ranh Vân Nam - Quí Châu – Quảng Tây ngày nay. Chữ “Đồ” và “Bà” cũng cận nghĩa với liên hệ: - Đồ = Đô = Đầu - Bà = Bá = Bố. Cả 2 từ đều có nghĩa chỉ thủ lĩnh. Đồ Di hay Bà Dạ nghĩa là Vua của người Di Hạ (Di Lão). Truyện Nam Chiếu còn cho biết: “Khi ấy, nước Tây Bà Dạ chia đều đất ra thành hai lộ. Một lộ trên từ Quý Châu, dưới tới Diễn Châu gọi là lộ Già La, trên từ Cầm Châu xuống tới Hoan Châu gọi là lộ Lâm An giao cho Nam Chiếu và Triệu Ông Lý thống lĩnh. Sau đó, ông Lý xây thành ở tổng Cao Xá, đất Diễn Châu, đông giáp với biển, tây tới nước Bà Dạ, nam tới Hoành Sơn, tự xưng làm chúa.” Tây Bà Dạ là nước đã dàn xếp, phân chia lãnh địa cho Nam Triệu Ông Lý và Nam Chiếu. Một khi đã biết Nam Triệu là nước của Man Vương Mạnh Hoạch thời Tam Quốc thì nước Tây Bà Dạ không còn nước nào khác chính là nước Tây Thục của Lưu Bị. Việc Nam Triệu đem châu báu ngà ngọc hiến cho nước Tây Bà Dạ, xin chỗ sinh sống ở vùng đất trống ven bờ biển và việc dàn xếp đất đai ở trên là chuyện Gia Cát Khổng Minh nhà Thục thu phục Mạnh Hoạch ở vùng Tây Bắc nước ta. Tới đây đã cho phép hiểu chữ Tây trong tên nước Tây Bà Dạ và Tây Đồ Di. Tây và Thục là cùng nghĩa, chỉ phương Tây. Nước Thục của Lưu Bị như vậy là nước Tây Đồ Di, nằm ở vùng đất người Di Lão (Vân Nam – Quí Châu – Quảng Tây). Nhận định về nước Tây Đồ Di – Tây Bà Dạ là nước Thục thời Tam Quốc dẫn đến một phát hiện: trong cuộc chinh nam Mã Viện đã buộc phải dựng cột đồng đánh mốc giới với … nước Thục ở vùng này. Việc Mã Viện dựng cột đồng như vậy không phải xảy ra vào đầu mà là vào cuối thời Đông Hán, khi nước Thục thời Tam Quốc bắt đầu khởi nghiệp. Xuất phát điểm của nước Thục vậy là từ khởi nghĩa của Trưng Vương cuối thời Đông Hán. Người đã cầm cự và buộc Mã Viện phải cắm cột đồng phân giới sau khi Trưng Vương mất là Đô Dương. Truyền thuyết Việt chép là khởi nghĩa của Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh ở Cửu Chân. Triệu Quốc Đạt nghĩa là Chúa nước phía Tây vì Đạt = Đoạt là quẻ Đoài chỉ phương Tây, Triệu = Chúa. Tên Triệu Quốc Đạt cận nghĩa với tên nước Tây Đồ - Tây Đầu – Tây chúa. Đô Dương cầm cự với Mã Viện ở Cửu Chân. Khởi nghĩa Triệu Quốc Đạt cũng ở Cửu Chân. Còn Hậu Hán thư có hai lần nói đến những người “man” Dạ Lang tồn tại ở Cửu Chân. Một lần khi nói đến công trạng của Nhâm Diên khi làm thái thú Cửu Chân (24-29 sau Công nguyên) đã hòa giải được với man Dạ Lang để giảm được quân tuần tra đồn trú. Một lần khác vào năm thứ nhất niên hiệu Vĩnh Sơ đời Hán An đế (năm 107) khi nhắc đến man Dạ Lang bên ngoài Cửu Chân nổi dậy chiếm đất lập lãnh thổ rộng trên 1.000 dặm. Cửu Chân nơi có người Dạ Lang như vậy hoàn toàn trùng với địa bàn nước Tây Bà Dạ. Triệu Quốc Đạt chính là vị Tây Bá của người Di Lão hay Dạ Lang, đã cản được bước tiến xuống phương Nam của Mã Viện cuối thời Đông Hán, buộc giặc Hán phải lập trụ đồng phân giới giữa Đông Hán và Tây Thục. Cột đồng Mã Viện không phải nằm ở miền Trung Việt mà là ở khu vực người Di Lão quanh vùng giáp ranh Vân Nam – Quí Châu – Quảng Tây. Nước Thục thời Tam quốc được một số sách cổ gọi là Tây Kinh. Như sách Quảng Châu ký ghi: "Người Lý, người Lão đúc đồng làm trống, lấy cao lớn làm mặt quý, mặt rộng hơn 1 trượng, không biết đúc vào thời nào. Xét việc Mã Viện đánh Giao Chỉ được trống đồng Lạc Việt, đúc ngựa, có người cho rằng trống đồng đúc trước thời Tây Kinh…" Có thể tiếp theo kỳ tích chặn Hán quân của anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh ở Dạ Lang, là việc Lý Thiên Bảo và Lý Bí hay Lưu Biểu và Lưu Bị đã kết hợp Kinh Châu với nước Tây Bà Dạ để hình thành nên nước Tây - Kinh. Việc này truyền thuyết Việt kể là Lý Thiên Bảo lập nước Dã Năng, xưng Đào Lang Vương. Dã Năng là Dạ Lang, Đào là đọc sai của Đoài, quẻ chỉ hướng Tây. Lý Thiên Bảo là vua nước Tây Bà Dạ nối tiếp anh em Bà Triệu. Việc kết hợp hai khu vực Tây và Kinh để hình thành nước Thục thời Tam quốc còn thể hiện ở việc Lưu Bị từ Kinh Châu (đất của Lưu Biểu) tiến đánh Ích Châu (đất của Lưu Chương). Ích Châu là quận lập ra thời Hán trên đất Điền hay Vân Nam, tức chính là đất của Tây Bà Dạ. Sau đó Lưu Bị lên ngôi, có danh xưng Chiêu Liệt hoàng đế. Chiêu là hướng Tây, Liệt = Lạc, là hướng Bắc hay Kinh. Chiêu Liệt = Tây Kinh. Tiếp theo là việc Gia Cát Vũ Hầu chinh Nam được truyền thuyết Việt chép tướng của Lý Bí là Lý Phục Man đã đi đánh dẹp Lâm Ấp. Gia Cát Khổng Minh đã không tiêu diệt “Lâm Ấp” mà đã “phục man”, thu phục thủ lĩnh của họ (Mạnh Hoạch), chia lãnh thổ Lâm Ấp làm 2 lộ Già La và Lâm An, giao cho Nam Triệu và Nam Chiếu cai quản như Lĩnh Nam chích quái kể… Việc xác định nước Tây Đồ Di thời Đông Hán là nước Tây Bà Dạ thời Tam quốc (thời Tấn) góp phần nào sáng tỏ thêm những vấn đề đầy tranh cãi trong sử Việt của thời kỳ này. Bản đồ Văn Lang qua chữ Việt hình chiếc rìu mà ông Bàn Cổ dùng nó bổ vào khoảng không vũ trụ ---> Bộ Việt Thường là Chămpa cổ, lý do vị trí địa lý nằm ngay đầu cán Riu, đồng thời trung tâm Văn Lang đã là bộ Phong Châu là cán Rìu (mang ý nghĩa Gió, Khí... trong học thuyết ADNH), do vậy bộ Việt Thường đã được đặt ngay cạnh Phong Châu nhưng ở phương Nam.
  14. CỘI NGUỒN CỦA VĂN MINH ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM Giáo sư Cao Thế Dung Một số trống đồng vào loại Héger I và II, có di chỉ cách đây từ 2.200 – 2.700 năm do nông dân ở Bình Ðịnh và ở đảo Sơn Rái (Kiên Giang) tình cờ đào được, cho ta thấy, văn minh Lạc Việt qua văn minh Ðông Sơn (Thanh Hóa) bao trùm cả miền Ðông Dương. Cổ thư và cổ sử Trung Hoa cũng như những khám phá của khảo cổ học đã cho ta được biết một cách rõ rệt, đồng bằng sông Cửu Long gần 2.000 năm trước là lãnh thổ của vương quốc Phù Nam với nền văn minh Óc Eo khá rực rỡ, mà nhà khảo cổ Pháp, học giả Louis Malleret đã dầy công khám phá được (xem: Louis Malleret, L’Archéologic du Delta du Mékong - Part I, L’Exploration archéologiques et les fouilles d’Oc.Eo.Paris: écode Francaise L’Extrême Orient - 1950). Miền Nam ngày nay từ khởi thủy hoang địa và từ đây xuất hiện vương quốc Phù Nam (xem: Lê Thương, Sử liệu Phù Nam - Sài Gòn 1974, tr.10). Về đất Hà Tiên, cực nam Phù Nam, Mạc Thiên Tính (con Mạc Cửu, Tổng trấn Hà Tiên) ghi lại rằng "Trấn Hà Tiên của nước Nam xưa là cõi xa. Từ khi cha tôi mở mang đến nay, đã được hơn 30 năm, dân cư mới được yên cư, tạm biết cấy trồng". Do từ khảo cổ học và những nghiên cứu về địa danh ở Hà Tiên cho thấy, Hà Tiên từ cổ thời đã là nơi người Việt cổ đặt chân tới. Mũi Nay ở Phú Yên (Varella) là biên cương của Việt Thường Thị Nhật Nam xưa thì ở Hà Tiên cũng có mũi Nai, hay mũi Nại. Mạc ThiênTích phiên âm thành Lộc trĩ sơn (Theo nhà địa chất Trần Kim Thạch, “Từ 6000 năm đến nay, biển rút ra khơi, phơi bầy trầm tích mặn... trên đó vật liệu của dòng sông và các dòng lũ hàng năm không ngớt bồi tụ... Hà Tiên có môi trường quần đảo đã nổi thành đất liền" - Trần Kim Thạch, "Tờ trình địa chất khoáng sản huyện Hà Tiên" (15-4-1984) trích dẫn bởi Trương Minh Ðạt, NCLS số 5 - 1993, tr.35). Hà Tiên vốn là Mang Khảm, Mạc Cửu đổi tên thành Phương Thành, sau khi thống thuộc nước Ðại Việt Ðàng Trong mới đổi tên thành Hà Tiên. Qua ngôn ngữ cổ, khảo cổ học đã đi đến kết luận khả tín: dân Việt từ thời viễn cổ hay ít nhất trong thời đại vương quốc Phù Nam đã có mặt ở miền cực nam Ðông Dương như Hà Tiên ngày nay. Hơn 1000 năm bị Hán đô hộ, hẳn nhiên là văn hóa Việt Nam trong đó có nghệ thuật, đã ảnh hưởng Tầu một cách rõ rệt, nhưng sau những khám phá, khai quật của khảo cổ học gần một thế kỷ qua, nhất là từ văn hóa văn minh Ðông Sơn, ta thấy rõ rệt là từ thời thượng cổ, Việt Nam và Trung Hoa đã là có hai sắc thái văn minh văn hóa khác biệt. Trái lại, Trung Hoa lại chịu ảnh hưởng văn minh Việt Thường Thị trước (qua việc sử gia Việt Thường cống vua Ðường Nghiêu rùa thần). Thời kỳ Ðông Sơn và trước nữa, văn minh Việt Nam qua nghệ thuật nằm trong bối cảnh Ðông Nam Á, tuy không cùng một chủng tộc nhưng Việt Nam và các dân tộc ở Ðông Nam Á như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân đều có chung một nguồn gốc văn minh. Nghệ thuật đúc đồng bằng khuôn đôi và qua các di chỉ đồ đồng Ðông Sơn thì nghệ thuật đồng thau ở Việt Nam và Ðông Nam Á đã xuất hiện trên 3000 năm trước Công nguyên. Nghĩa là trước cả Trung Hoa. Theo một tác giả Tây Phương có thể có trước cả người Cận Ðông (Ai Cập, Do Thái, Ba Tư...). Dựa vào khảo cổ khai quật được ở Việt Nam và nhiều nơi ở Ðông Nam Á, tác giả này cho rằng "đã đủ chứng minh tổ tiên những con người ở Ðông Nam Á đã biết trồng cây, mài đồ đá làm đồ dùng và làm đồ gốm trước cả người Trung Hoa, Ấn Ðộ và Cận Ðông" và rằng nền văn minh Hòa Bình (Việt Nam) qua khắp Ðông Nam Á lan đến Bắc Thái Lan và Bắc Miến Ðiện, vượt lên tới Trung Hoa. (Wilhelm G.Solheim II, New Light on a forgetten past. National Geographic. No 3 - Vol.139 - March 1971). Các di tích khảo cổ và di tích về nền văn hóa Phùng Nguyên cách đây từ khoảng 3 đến 4000 năm đã cho ta thấy nếu so sánh với Trung Hoa và Ấn Ðộ cùng thời, kỹ thuật và nghệ thuật của Phùng Nguyên vượt hơn hẳn Trung Hoa và Ấn Ðộ. Năm 1959, di chỉ Phùng Nguyên ở bên sông Thao được phát hiện và khai quật. Càng ngày ta càng thấy rõ tầm quan trọng của nền văn hóa này trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc (xem: Hà Văn Tấn, ‘Văn hóa Phùng Nguyên, nhận thức mới và vấn đề." Khảo cổ Học số 1 - 1978, tr.5-6). Cuộc khai quật ở huyện Lâm Thao, Vĩnh Phú năm 1961 đã đưa ra khỏi lòng đất một lưỡi rìu đá có hình dáng độc đáo. Từ giai đoạn đồ đá qua giai đoạn Gò Mun trong quá trình phát triển văn hóa thời Hùng Vương, tổ tiên ta đã tiến qua những bước vượt bực, từ mũi tên đồng Phùng Nguyên đến mũi giáo đồng Ðồng Ðậu, mũi giáo đồng Gò Mun và Ðông Sơn cho đến bàn chải đồng Gò Mun ta có cơ sở để nghĩ rằng giai đoạn văn hóa Gò Mun là một bước chuẩn bị trực tiếp cho sự phát triển rất rực rỡ của Ðông Sơn. Di chỉ Gò Mun, Ðồng Ðậu khoảng 3000 trước Công Nguyên, đem so với sự hình thành và phát triển của văn minh Trung Hoa và Ấn Ðộ, Việt Nam và Ðông Nam Á tiến trước và tiến xa khá nhiều. Sự thực là văn minh Việt Nam - hay Lạc Việt trong dòng Bách Việt (Viêm Việt) phát triển trước văn minh Hoa Hán hay ít nhất cùng một thời. Từ cỗi nguồn, văn minh Lạc Việt - Bách Việt là văn minh bản địa, khác hẳn Tầu, sách Cương Mục Tiền Biên của Kim Lý Tường chép rằng, “năm 2361 trước Công nguyên, tức năm Mậu Thân thứ 5 đời Ðường Nghiêu Sứ thần Việt Thường Thị sang chầu dâng rùa thần". Theo Thống Chí của Trịnh Tiền đời Ðào Ðường, "rùa thần sống đến 2000 năm, trên lưng có ghi văn khoa đẩu, ghi việc từ khi trời đất mới mở mang về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là qui lịch". Ðế Nghiêu nhà Ðường sai Hy Thúc (trong Kinh Thư) giữ việc này suy trác khí hậu ở Nam Giao, điều hòa mọi việc thời tiết sớm muộn về mùa hè... Suy trác cẩn thận để tháng trong Hạ được đúng với thời tiết. Lại phải xem đến việc thay đổi của người và trời đất. (xem: Nguyễn Thường, “Lịch với lịch sử kinh tế chính trị và chiến tranh". Nghiên Cứu Lịch Sử số 3 (262) tháng 5 & 6-1992, tr.51-59). Theo Kim Lý Tường con rùa gọi là Thần Qui vì rùa to hơn 4 thước ta (khoảng 1m20), trên lưng có chữ nòng nọc sử Tầu gọi là khoa đẩu văn, ghi tổng quát lịch sử cấu tạo vũ trụ và nhân loại từ thuở ban đầu cho tới đời vua Ðường Nghiêu (xem: Cương Mục, bản dịch - Bộ VHGD - Sài Gòn 1965, tr.31). Vào thời Ðường Nghiêu, dân Hoa Hán vốn là dân du mục chủ về bạo lực, cang cường, từ phía Bắc Hoàng Hà đã tràn xuống phương Nam, tiêu diệt dân Miêu (Bách Việt) đã lan đến miền Sơn Tây (Trung Quốc) ngày nay. Ðời thái cổ, Trung Hoa dựng nước, khởi đầu là Tam Hoàng, gồm 3 vị vua là Toại Nhân, Phục Hy và Thần Nông. Kế đến là Ngũ Ðế, theo Sử Ký của Tư Mã Thiên gồm có Hoàng Ðế, Chuyên Húc, Ðế Cốc, Ðế Nghiêu và Ðế Thuấn. Tam Hoàng Ngũ Ðế theo Ðào Duy Anh đều là thần thoại (Trung Hoa Sử Cương, tr.XVIII). Ðời Nghiêu Thuấn, Hán Tộc đã chinh phục đến miền Hà Nam. Vào thời Bách Việt - Viêm Việt đã sớm văn minh trước cả thời Ðường Nghiêu. Ðịa bàn cư dân Bách Việt bao gồm Hoa Nam ngày nay (Quảng Ðông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Vân Nam) kéo dài đến miền Bắc Việt Nam, qua đèo Hải Vân đi xuống phía Nam là xứ Việt Thường. Thời thượng cổ, sử Trung Hoa vốn đầy thần thoại và hoang đường cùng thời Văn Lang và triều đại Hùng Vương ở phương Nam, khởi phát từ văn minh lúa nước và khu vực nhân văn Ðông Nam Á, khác với văn minh du mục phương Bắc. Theo cách phân định thời kỳ lịch sử Trung Hoa của sử gia Tây Phương như René Grousset thì thời kỳ Thượng cổ Tam Hoàng Ngũ Ðế cùng một thời với lịch sử Chaldeé; Ðời Xuân Thu Chiến Quốc đi đôi với thời kỳ Hy Lạp - La Mã bên Tây Phương. Thời kỳ Tần Hán cùng thời với đế quốc La Mã (Grousset, Histoire de l’ Asie - L’ Trade et La Chine - Paris 1922). Ðời Hoàng Ðế, văn minh Trung Hoa đã khá, đã làm nhà, dùng xe cộ (hiên viên) và dệt cửi. (Theo sử ký Tư Mã Thiên thì Tam Hoàng là Thiên Hoàng, Ðịa Hoàng và Tần Hoàng tức Nhân Hoàng). Nghiêu Thuấn được coi là thời đại tốt đẹp nhất, thiên hạ thái bình thịnh trị, vua Nghiêu ở ngôi được 70 năm, vua Nghiêu truyền ngôi cho Tứ Nhạc, ông Nhạc từ chối. Nghiêu ra lệnh tìm người quí thích truyền ngôi. Vào thời này, phương Bắc vẫn còn theo mẫu hệ. Theo truyền thuyết thì vua Ðường Nghiêu (2356 - 2255 trước CN) gả 2 con gái cho vua Thuấn (2255 - 2204 trước CN) rồi truyền ngôi cho ông Thuấn. Theo sách Mạnh Tử Vạn Chương Thượng kể truyện em vua Thuấn là Tượng đã tính trước, sau khi giết anh thì hai vợ của anh tức là vua Thuấn, tức chị dâu Tượng sẽ về hầu ông ta (tức lấy làm vợ). Về chế độ mẫu hệ Việt Nam, học giả Pháp Louis Finot khảo cứu rất tường tận (xem Louis Finot, Lesgrandes époques de l’Indochine - những thời kỳ trị của Ðông Dương). B.S.E.M.T (Bulletin de la Sociéte d’Enseignement Mutuel du Tonkin). T.XV, II , 87-287), cho thấy thời viễn cổ dân Việt theo mẫu hệ nhưng mẫu hệ Việt Nam khác với mẫu hệ thời Ðường Nghiêu, đã sớm chấm dứt từ triều đại Hùng Vương. (xem: Nguyễn Khắc Ngữ, "Mẫu hệ Việt Nam". Văn Hóa tập san, T.X1, Q.9 - 1962, tr 913-1084). Nghiên cứu tài liệu khảo cổ học, từ Tây Phương và Việt Nam, với tấm bản đồ phân bố các di chỉ, ta thấy rằng, tổ tiên ta đã mất khoảng 10,000 năm để biến từ văn minh Phùng Nguyên qua Ðông Sơn. Ðó là cái mầm tinh túy Việt, không hề ảnh hưởng ngoại nhập từ Bắc phương, và cái mầm ấy nẩy nở trong bối cảnh nhân văn địa lý Ðông Nam Á, cái gốc kỳ diệu của văn minh Việt Nam. Cái gốc ấy qua văn hóa Phùng Nguyên đã phát triển liên tục vào khoảng thiên niên kỷ thứ 2 trước Công Nguyên tức cách đây khoảng từ 3 đến 4000 năm. Những kết quả phân tích bon (carbon, phóng xạ đồng vị C14) đã xác định là những tinh hoa Việt trên 4000 xưa là chính xác (xem: Khảo Cổ Học số 7 & 8 - tháng 12-1970 về văn hóa Hùng Vương và thời đại Hùng Vương tr. 33-44) Thời đại Hùng Vương là thời đại có thực trong lịch sử - không phải là huyền thoại - truyền kỳ. Thời đại này bao gồm từ văn hóa Phùng Nguyên, có thể trước nữa cho đến nền văn hóa rực rỡ Ðông Sơn. Theo sử gia Nguyễn Phương thì từ thời viễn cổ, từ khi hình thành dân tộc Việt Nam, "Các trẻ già chính thống đều cho rằng dân Việt Nam không giống dân Trung Quốc. Tư tưởng này biểu lộ rõ rệt ở vấn đề quốc thống họ đã nêu lên. Họ nghĩ rằng, nước Việt Nam đã là một nước ngay từ đầu, từ thời gian trước khi chung đụng với người Tầu, nghĩa là từ buổi xa xưa khi vừa mới có dân tộc Việt Nam" (xem: Nguyễn Phương, "Tiến trình hình thành của dân tộc Việt Nam. Tạp chí Ðại Học Huế, số 32 - tháng 4-1983, tr.153-219). Bước tiến của con người từ khi có con người trên hành tinh này, ta gọi là tiến trình của văn minh văn hóa là những bước tiến kỳ diệu, rất lâu, cả vạn năm... Các sử gia Trung Hoa tự gắn cho dân tộc Hán là tiền tiến "trung tâm của vũ trụ". Các học giả trên thế giới trước đây cũng ngộ nhận cho rằng chỉ có một nơi trên thế giới con người bung ra, thắp sáng ánh sáng văn minh, đó là vùng Tây Á, mà điểm chính là vùng đồi gò trung du bao bọc Lưỡng Hà để từ đó tỏa ra bốn phương. Nay thì với cái công trình khai quật của khảo cổ học đã cho ta thấy không phải như thế. Khoảng một vạn năm trước văn minh của loài người chớm nở, Ðông Nam Á trong đó có Việt Nam lại là một trong mấy điểm chính là nơi con người vươn lên với ánh sáng văn minh mà văn minh Phùng Nguyên, trước nữa là Hòa Bình là những đốm lửa đầu tiên. Nền văn hóa nghệ thuật Việt Nam nẩy mầm từ thửơ xa xôi mịt mờ đó. Từ bản chất nền văn hóa ấy đã rất dân tộc (Lạc Việt) trong bối cảnh và phong cách Ðông Nam Á, chứ không phải đã ảnh hưởng Trung Hoa vì Trung Hoa phát triển muộn hơn. Cũng nhờ vậy, sau này "Mặc dầu có sự vay mượn ít nhiều của Tầu, Chiêm Thành và Tây Phương, luôn luôn biết dung hóa các mỹ thuật nói trên để tạo thành một nền mỹ thuật có bản sắc dân tộc" (Nền mỹ thuật Việt Nam, ltđd. Ðại học số 30, tháng 5-1958, tr.320). Khảo cổ học đang có những công trình vượt mức đào xâu nền văn hóa của tổ tiên ta vào thời Hùng Vương và sau đó ta vẫn không thấy có yếu tố Trung Hoa nào trong nền văn hóa tiều tiến của nhân loại mà văn minh Lạc Việt - Bách Việt mới là tiều tiến. Khảo cổ gia lỗi lạc của Tây Phương Olov R.T Janse lại nêu một dấu hỏi về ảnh hưởng của Hy Lạp và Rôma (cổ) ở Việt Nam (xem bản dịch Việt ngữ, Olov R.T. Jane. Ảnh hưởng Hy Lạp và Rôma ở Việt Nam, Việt Nam cũng có bình Asko’s, tiếng Hy Lạp là cái bầu bằng da). Theo Jane, trong khi khai quật ở nghĩa trang Bình Sơn - Thanh Hóa thuộc Trung Việt "Chúng tôi đã tìm thấy một cái bình bằng đất nung nằm trong một ngôi mộ bằng gạch xây vòm lên. Chiếc bình đó không phải kiểu Tầu nhưng có kiểu đặc biệt làm cho ta liên tưởng đến những bình thường thấy trong những xứ chịu ảnh hưởng Hy lạp và Rôma, gọi là Asko’s hay guittus" (Bản Anh ngữ, Olvov R.T.Janse. Archaeological research in Indo-china. T.I & II - Harvard Univ. Press.1947-1952). Ảnh hưởng qua lại giữa các nền văn minh là hiện tượng phổ biến có thể qua ngả Ðông Nam Á, người thời Ðông Sơn, Văn Lang đã tiếp nhận được cái sản phẩm nghệ thuật từ phương Tây nhưng cho đến nay, tuyệt đối chưa thấy ảnh hưởng từ Trung Hoa trong nền văn hóa Văn Lang từ Ðông Sơn trở lên Phùng Nguyên và Hòa Bình. Nền văn hóa ấy có thể nói là vĩ đại vào thời bấy giờ của nhân loại . Nói như thế mà không sợ ngoa ngôn hay đại ngôn. Bởi đó chỉ là sự thực. Nền văn hóa Văn Lang là do từ bản địa và rất sáng tạo. Những hình khắc chạm trên tháp Ðào Thịnh có di chỉ cách đây khoảng 2500 - 3000 năm cho thấy nghệ nhân vào thời bấy giờ đã có quan niệm về nhân tinh và luyến ái khá rõ rệt. Dịch và là Chu Dịch đã là nguồn khởi tác và chi phối toàn diện văn minh văn hóa Trung Hoa (giới trẻ hải ngoại có thể tìm đọc và khảo cứu Dịch qua Anh ngữ với tác phẩm rất hiện đại và khá đầy đủ qua bộ Chu Dịch - I Ching - The Classic Chinese Oracles of Change - trans by Rudolf Ritsema & Stephen Karcher - N.Y: Barnes & Noble books, 1995, pp.816). Dịch lý Trung Hoa mà người Tầu vô cùng hãnh diện lại phát xuất từ Việt Thường Thị - Lạc Việt Văn Lang. Nhờ sứ giả Việt Thường cống rùa thần, nhà Chu Trung Hoa mới có qui lịch. Thần qui - Long mã là biểu trưng của Dịch Lý Trung Hoa. Thần qui từ phương Nam đem qua, Ðường Nghiêu căn cứ vào hình tượng khoa văn trên mu rùa mà làm thành Lịch và lịch đã chi phối toàn bộ sinh hoạt văn hóa, xã hội mà kể cả quân sự của Trung Hoa từ thời bấy giờ. Xem như vậy thì rõ rệt văn minh Lạc Việt qua sứ Việt Thường đã du nhập vào Trung Hoa trước khi Trung Hoa tràn qua phương Nam (Theo giáo sĩ L.Wiegex, một nhà thông thái dòng Tên "người Tầu đã dựa vào cống phẩm rùa thần mà làm ra Qui Lịch - L.Wieger, Hisfoire des croyances religieuses et des opinions philosophiques en Chine, depnis l’ origine jusqu à nos jonrs. "Lịch sử Tín ngưỡng và quan điểm triết học ở Trung Hoa, từ khởi thủy cho đến thời đại chúng ta”, dẫn bởi tiến sĩ Thái Văn Kiểm). Theo cổ sử Trung Hoa năm Tân Mão 1100 trước CN, đời vua Thành Vương nhà Chu, nước Việt Thường ở phía nam Giao Chỉ lại sai sứ đem chim Trĩ sang cống Thành Vương ở Hạo Phủ (Thiển Tây). Ðại Nam Quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát và Phạm Ðình Toái (sông Nhị Hà - 1949 - bản dịch của Hoàng Xuân Hãn), chép về nhà Hồng Bàng và sứ Việt Thường qua thăm nhà Chu Trung Hoa: Vừa đời ngang với Chu Thành Bốn phương biển lặng trời xanh một mầu thăm Trung Quốc thế nào? đem Bạch Trĩ dâng vào Chu Vương... Theo Hoàng Việt - Giáp Tý Niên biểu ghi Tân Mão là năm 1110 trước CN. Thư sử ký Tư Mã Thiên, sứ Việt Thường cống Chu Vương 3 con chim trĩ, đây là loại chim Phượng Hoàng ở dọc dẫy Trường Sơn - Trung Bộ Việt Nam, một con đực, 2 con cái, 1 con là Bạch trĩ, một con là Hoàng trĩ, một con Thanh trĩ. Trước đó, Trung Hoa không có loài chim trĩ này. Nhờ có 3 chim trĩ Việt Thường sinh sôi nẩy nở, Tầu mới có trĩ "sào nam", chim gốc từ phương Nam nên khi đậu trên cành, đầu nghoảnh về phương Nam do đó có câu “Chim Bắc đậu cành Nam". Về sứ Việt Thường Cống Chu Thành Vương chim trĩ, Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi chú như sau: "Sứ ta xưng là Việt Thường Thị. Thành Vương là vua thứ tư nhà Chu sau Thái Vương, Văn Vương, Vũ Vương. Truyền thuyết nói Việt Thường Thị ở phương nam hiến chim trĩ trắng được thấy đầu tiên ở sách Thượng Thư đại truyện của Phúc Thắng và truyện Trúc Thư Kỷ niên. Truyện nầy được chép lại ở sách Hậu Hán Thư, Q.116 (Toàn Thư, T.I, tr.62). Về truyện Bạch trĩ, Lĩnh Nam Chính Quái chép như sau: "Về đời Chu Thành Vương nhà Chu, Hùng Vương sai bề đôi tự xưng là họ Việt Thường đem chim bạch trĩ sang hiến cống. Vì ngôn ngữ bất đồng, Chu Công phải sai sứ dịch qua nhiều lần mới hiểu nổi nhau. Chu Công hỏi: “Người Giao Chỉ cắt tóc ngắn, để đầu trần nhuộm răng đen là cớ làm sao?" Ðáp: "Cắt tóc ngắn để tiện đi trong rừng rú. Xâm mình để giống hình Long quân bơi lội dưới sông loài giao long không phạm tới. Cầy bằng dao, trồng bằng lửa. Ðể đầu trần để tránh lửa bụi. Ăn trầu cau để trừ ô uế cho nên răng đen vậy.” (xem :Vũ Quỳnh - Kiều Phú. Lĩnh Nam Chính Quái, ltđd, tr.48) Nhiều bộ cổ thư Trung Hoa chép về việc sử Việt Thường đến Trung Hoa cống chim trĩ sách Thượng Thư Ðại Truyện. Sách "Kim Bản Kim Chú" chép rằng "Sứ Việt Thường tới cống hiến bạch trĩ một con, hắc trĩ hai con, ngà voi một chiếc. Sứ giả quên mất đường về, Chu Công bèn ban cho bông hoa tấm, biểu xa 5 cỗ điểu chữ bằng tư nam. Khiến sứ giả cỡi xe đi về phương nam. Nối theo miền biển Phù Nam Lâm Ấp đúng một năm mới tới nước đó, sai quan Ðại Phu đưa về. Lại cỡi xe tư nam đi ngược lại hướng do xe chỉ, đầy một năm tới nước Chu. Trục xe và đầu trục xe điều chế bằng sắt, khi về tới nước Chu, sắt đều mòn cả." theo Kim Bản Cổ kim chú - trích dẫn bởi học giả Nguyễn Khắc Kham, "Ðời nhà Chu đã có xe chỉ nam chưa?" Văn Hóa Tập San T.X II, 1963-4, tr.501-511. Ðiều này không thể đúng vì vào thời đó chưa có đường xá cho xe đi, từ Thiểm Tây đến Việt Thường. Vả lại, theo Gs Nguyễn Khắc Kham, qua bài khảo cứu súc tích công phu kể trên thì "theo như suy cứu ở sử sách Tầu, thời đời Chu Tùy đã có danh từ chỉ nam xa nhưng mãi tới đời Ðông Hán sau này mới có xe chỉ nam." Cổ thư Tầu thường hay phóng đại cũng là cách tự tôn vinh "Thiên quốc - Thiên tử" - cái rốn của vũ trụ. Sứ Việt thường chắc lúc về bằng đường biển. Theo cổ thư và khảo cổ, cách đây hơn 3000 năm, người Việt đã đóng được thuyền vượt biển. Dân Việt Thường khởi hành từ đâu? Từ các cửa biển phía trên hay dưới đèo Hải Vân? Tuy còn là một nghi sử nhưng rõ rệt, Việt Thường Thị ở phía Nam vào thời nhà Chu đã đóng được thuyền vượt biển - chắc chắn phải là thuyền lớn và phải nắm được thuật hải hành và thiên văn. Thuyền khắc chạm trên trống đồng Ðông Sơn (loại Hegger I, cổ nhất có di chỉ cách đây khoảng 2500 - 2700 năm) là loại thuyền lớn. Thân trống đồng Ngọc Lũ - Ðông Sơn khắc chạm hình thuyền. Thuyền dài, 2 đầu cong. Ðầu mũi thuyền trang điểm phức tạp, nhìn chung giống như đầu chim. Ðàng lái trang điểm như đuôi chim. Trên thuyền gần lái có một cái sàn. Sàn nhìn thấy 2 cột cao (trống Ngọc Lũ). Sàn làm bằng một lớp dầy ngoài bờ trang trí bằng vòng tròn có chấm và có tiếp tuyến chèo. Dưới sàn người đặt một chiếc trống và một cái bình. Trên sàn có một chiến sĩ cầm cung quay mặt về phía lái. ở trống Hoàng Hạ, người cầm cung còn để sẵn một mũi tên to trên cung, lưng đeo một chiếc thuẫn ... Cột trụ (thuyền) gồm 2 cọc lớn cao ngang ngực, trên đó có một vật hình lục lăng, vẽ vòng tròn khép kín. Trên vật lục lăng có 2 cái lông lớn và một cái cần chỏng lên trời, cần này đầu mút lại, hình tròn có chấm với một tua lông ... (xem: Nguyễn Phương, "Tiền Sử và Lịch Sử Lạc Việt. "Tạp Chí" Ðại Học (Huế), số 38.) Sử Việt Thường dâng tặng cống phẩm chim trĩ, Viên Thành Vương cho đem dâng Chu Công (tức Chu Công Ðán, anh vua, là bậc tiên Thánh của Nho giáo). Chu Công lúc đầu không nhận, và nói: "Ðức trạch không thấm tới thì người quân tử không hưởng những của đem dâng. Cho nên chính luật không thi hành tới thì người quân tử không bắt người đó làm bầy tôi.". (Theo Thượng Thư Ðại Truyện, trích dẫn bởi Nguyễn Khắc Kham, tlđd. Văn Hóa số T.XII, Q.4 - tháng 4-1963, tr.507). Ðức trạch và chính lệnh có nghĩa là văn minh văn hóa và học thuật Trung Quốc. Như thế cũng có nghĩa rõ ràng rằng, Việt Thường chưa hề chịu ảnh hưởng văn minh Trung Hoa. Sứ Việt Thường đến triều cống là cho theo lời sứ: "Tôi vâng mệnh ông già ở nước tôi, đã từ lâu rồi thấy trời không có gió dữ mưa dầm. Có lẽ là Trung Quốc có Thánh nhân chăng? Có thời sao không vào ngay mà triều kiến?" Ðiều này cũng chứng tỏ rằng, người Việt Thường đời bấy giờ đã biết xem thiên văn, hiểu lịch số và mệnh trời, đoán phương Bắc có “thánh nhân”. Gần 1000 năm sau, theo cổ sử Trung Hoa, Việt Thường Thị mới trở thành Tượng Quận và Nhật Nam vào đời Tần Thủy Hoàng và Hán Cao Tổ (Lưu Bang). Thời gian Tần - Hán thống thuộc Việt Thường không dài lắm. Thời Tần không đáng kể, ngoại trừ triều đại nhà Triệu nước Nam Việt. Quân của Tần Thủy Hoàng xâm lăng Bách Việt đã bị chận đứng ở cõi Lĩnh Nam cho đến khi Triệu Ðà lập ra nước Nam Việt (năm 207 trước CN) thôn tính cả cõi Âu lạc bấy giờ Việt Thường mới thuộc vương quyền của nhà Triệu sau khi nhà Thục nước Âu Lạc (257 - 207 trước CN) mất ngôi, Âu Lạc bị sát nhập vào Nam Việt. Việt Thường trở thành quận Nhật Nam của nhà Ðông Hán sau khi Hán Vũ Ðế sai Lộ Bác Ðức đem quân đánh chiếm nước ta, diệt Nam Việt năm Canh ngọ (111 trước CN). Nhà Hán cũng chỉ cai trị được Nhật Nam không quá 180 năm thì dân Lâm Ấp nổi lên giành quyền tự chủ. Những địa danh Nhật Nam - Lâm Ấp trong cổ sử và cổ thư chính là lãnh thổ Việt Thường Thị, tức Thuận Hóa sau này hay Bình Trị Thiên ngày nay kéo dài đến quá đèo Hải Vân. Sử gia Quốc sử quán triều Nguyễn đày một miền tự hào khi viết về tỉnh Quảng Nam ghi rằng: "Quảng Nam xưa nguyên là đất Việt Thường Thị, đời Tần (246 - 207 trước CN) thuộc về Tượng Quận, đời Hán (206 - 202 trước CN và 1-219 sau CN) thuộc về quận Nhật Nam sau bị Lâm Ấp chiếm cứ." (xem: Ðại Nam Nhất Thống Chí, Q.5 - Tổng tài biên soạn Cao Xuân Dục cùng với Lưu Ðức Xưng - Trần Xán - bộ QGGD, SàiGòn xb - 194, tr.5). Lãnh thổ Việt Thường Thị mà miền Viễn Cương kéo dài đến Ninh Thuận - Bình Thuận ngày nay. Ðại Nam Nhất Thống Chí chép như sau: "Ðất đây nguyên xưa là nước Nhật Nam ở kiếu ngoại ngoài biên, sau là đất Chiêm Thành. Vua Thánh Tôn nhà Lê (1460 - 1497) bình định Chiêm Thành rồi trao cho họ coi giữ khu đất biên giới phía Nam để nạp cống hiến." (xem: ÐNNTC, Q. 12, tỉnh Bình Thuận (phụ: đạo Ninh Thuận - Bộ VHGDXB 1965, tr.7). Ðời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687) ta mở nước đến sông Phan Lang (Phan Rang). Ðời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725), ta lấy nốt phần đất còn lại của Chiêm Thành ở phía tây, năm 1692, đặt làm trấn Thuận Thành. Năm 1697 mở phủ Bình Thuận, chia đất Chiêm phía tây Phan Rang lập 2 huyện An Phước và Hòa Ða. Nói cho chính danh từ vua Lê Thánh Tôn rồi các chúa Nguyễn chinh phục Chiêm Thành chỉ là lấy lại đất cũ Việt Thường Thị nơi nền văn minh bản địa Lạc Việt - Bách Việt đã sớm phát triển trước cả văn minh Hoa Hán. Ðó là cỗi nguồn của đất nước và văn minh Việt Nam. Không đơn giản như vậy. Vấn đề này cũng như sự kiện các nhà khoa học lại tìm ra một cái sọ người cổ hơn ở châu Phi, vậy nguồn gốc xuất phát loài người từ châu Phi lại sai bét. Cần một nguyên lý tổng quát bao trùm mới biết nó xuất phát từ đâu.
  15. GS. CHU HẢO VÀ NHÀ SỬ HỌC DƯƠNG TRUNG QUỐC NÓI VỀ TƯỚNG GIÁP GS Chu Hảo và Nhà sử học Dương Trung Quốc nói về Tướng Giáp “… tôi cho rằng vấn đề quan trọng nhất kể cả trong những chuyện chúng ta bàn liên quan đến Đại tướng, chúng ta có thể có nhiều câu hỏi: Tại sao những ý kiến Đại tướng đóng góp chưa được tiếp thu đầy đủ? Thậm chí có những ý kiến của Đại tướng còn không được trả lời.” Dương Trung Quốc. TuanVietnam Bài 1: Có công thì dân dựng “đền thờ” Tuần Việt Nam -Tiếng nói của người dân là thước đo quan trọng hàng đầu. Như câu của nhà thơ Nguyễn Duy: “Có công thì dân dựng đền thờ” – đó là đền thờ trong tấm lòng mỗi con người. LTS: Sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ gieo niềm tiếc nhớ mà còn gieo những <a href="http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/144038/tuong-giap-va-su-thuc-tinh-nguoi-duong-thoi.html">“hạt mầm hy vọng” , về tình đoàn kết ,lòng yêu nước , tinh thần tự tôn dân tộc , khát vọng về những người đứng đầu hội tụ cả đức – tài, nhân cách… Chỉ một người ra đi, mà khiến cả dân tộc thấy mình yêu nước nhiều đến vậy. Cùng phóng viên Tuần Việt Nam hiểu rõ hơn những giá trị này, trong cuộc trò chuyện với nhà sử học Dương Trung Quốc và GS Chu Hảo. “Thế hệ vàng” trong sáng Suốt những ngày trước khi diễn ra Quốc tang, người ta nói rất nhiều về hiện tượng dòng người đứng xếp hàng trước ngôi nhà 30 Hoàng Diệu. Dòng người đó ngày hôm sau lại đông hơn hôm trước… Ông gọi tên hiện tượng mà chúng ta đang thấy là gì? GS Chu Hảo: Đối với con người “nghĩa tử là nghĩa tận”. Khi một người đã nằm xuống, những người ở lại sẽ nhớ đến những gì tốt đẹp nhất. Câu chuyện người dân ở 30 Hoàng Diệu trước hết thể hiện tấm lòng của mọi tầng lớp nhân dân với Đại tướng – người đại diện cho thế hệ cách mạng đầu tiên còn sống cho đến bây giờ. Cuộc đời Võ Nguyên Giáp là biểu tượng của lòng yêu đất nước, và trung thành tuyệt đối với quyền lợi của dân tộc. Nhắc về thế hệ những người cách mạng như Võ Nguyên Giáp là nhắc đến một thế hệ vàng: Vô cùng dũng cảm, trong sáng và lãng mạn cách mạng. Có thể còn có những nhận thức, những quan điểm chính trị khác nhau sẽ dẫn đến những đánh giá khác nhau về những việc mà thế hệ đó đã làm. Nhưng có thể khẳng định chắc chắn một điều: Thế hệ đó là những người đã không ngại hy sinh bản thân mình để phục vụ một lý tưởng mà họ cho là hết sức chân chính và vĩ đại. Trong thế hệ đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những biểu tượng và đến bây giờ mọi người tôn kính và yêu quý ông với tinh thần như thế. E rằng trong nhiều thập kỷ tới hiếm có thêm một người nào lại còn được nhân dân ngưỡng mộ chân thành đến thế. Nhà sử học Dương Trung Quốc: Tôi không bất ngờ về hiện tượng này, mặc dù là chưa ai có thể lường được nó lại diễn ra như thế. Đã từng có những điều tương tự diễn ra trong quá khứ. Vào thời điểm này, sự kiện cụ Giáp mất khiến nhiều người hay liên tưởng đến khi Bác Hồ qua đời. Nhưng ví dụ như đám tang cụ Phan Chu Trinh năm 1926, cụ Lương Văn Can năm 1927 và kể cả những đám tang của những chiến sĩ cộng sản yêu nước như cụ Phan Thanh, cụ Nguyễn Thế Rục hay gần đây là đám tang của Giáo sư Tôn Thất Tùng. Dễ nhận ra một điều là người dân họ rất công bằng. Và tiếng nói của người dân là thước đo quan trọng hàng đầu. Như câu của nhà thơ Nguyễn Duy: “Có công thì dân dựng đền thờ”– đó là đền thờ trong tấm lòng mỗi con người. Có thể vào giai đoạn nào đó, những điều này tưởng như đã biến mất, đã mai một, nhưng khi có cơ hội, nó lại bộc lộ. Kiểm nghiệm những gì đang diễn ra dưới góc độ lịch sử, tôi gọi đó là chân lý. Không “quyền năng” vẫn có khả năng tập hợp - Thưa ông Dương Trung Quốc, nếu nhân dân là thước đo chính xác nhất, vậy theo ông tại sao những con người như ông vừa kể ra lại tạo được ảnh hưởng và khả năng chinh phục nhân tâm mạnh mẽ đến thế? Ông Dương Trung Quốc: Bởi vì những con người đó khi còn sống họ đã sống vì mọi người và cao hơn là vì lý tưởng yêu nước, lý tưởng cộng sản – những lý tưởng mà họ đã thực sự nhìn thấy không chỉ là cái bề ngoài, mà còn là cái cốt lõi, cái cốt lõi đó luôn là VÌ MỌI NGƯỜI. Khi nghiên cứu những nhân vật lịch sử, những vĩ nhân, người ta thường quan tâm đến sự nghiệp, đến những đóng góp to lớn và sự khác biệt ở họ. Nhưng có lẽ phải có một cái nhìn toàn diện hơn, là phải nhìn vào những cái gì rất đời thường của một con người trọn vẹn với cả cái chung, cái riêng; với cả những lúc thăng, lúc trầm. Tôi là một người có may mắn gặp gỡ và làm việc với Đại tướng khi ông đã rời khỏi các vị trí quyền lực. Ông dành phần lớn thời gian cho công tác nghiên cứu lịch sử và là Hội trưởng danh dự của Hội Sử học chúng tôi. Chúng tôi thấy rõ là chính cuộc sống đời thường, cuộc sống của một người mà nếu theo sự phân tích bề ngoài là không còn ở đỉnh cao vinh quang nữa – khi mà ông có thể bộc lộ thoải mái con người mình. Tôi đã nhìn thấy ở Đại tướng trong chính thời điểm đó một tinh thần hết sức bình thản thường có ở những người có một nhận thức thật sự về tính tất yếu, về những điều mang tính quy luật và đồng thời con người ấy có thể vượt qua mọi thăng trầm nhưng không bao giờ thay đổi mục tiêu của mình. Tôi thấy đó là một đặc điểm rất nổi bật ở con người Võ Nguyên Giáp. Người ta nói rất nhiều đến Võ Nguyên Giáp ở khía cạnh trí tuệ. Khi gần gũi ông, tôi nhận ra điều quan trọng hơn cả khi nói về nó, ông luôn luôn quan tâm đến việc làm sao tập hợp được trí tuệ của những người xung quanh mình. Hình như trong những quyết định của cuộc đời ông, có những quyết định là của cá nhân ông, nhưng để có những quyết định ấy, ông đã biết cách quy tụ mọi người. Ngay cả thời kỳ ông không còn nắm trong tay những “quyền năng” về chính trị, thì ông vẫn có khả năng tập hợp rất nhiều trí tuệ khác xung quanh mình và rất nhiều người đã đến với ông. Và mỗi quyết định của ông đều là mỗi quyết định đã được tham khảo kỹ lưỡng từ những người mà ông tham vấn. - Có độc giả chia sẻ với Tuần Việt Nam, là chỉ một người ra đi mà làm cho cả dân tộc thấy mình yêu nước nhiều đến thế? Ông bình luận gì? Ông Dương Trung Quốc: Lòng yêu nước là phẩm chất mà ai cũng có. Nói đơn giản như một nhà thơ Nga: Yêu nước là yêu những thứ rất bình thường trong đời sống, yêu quê hương, yêu gia đình. Nhưng “chủ nghĩa yêu nước” thì khác. Nó có mục tiêu, con đường và phản ánh quan điểm của một số người nào đó. Lòng yêu nước khi tìm được tiếng nói chung thì có thể chia sẻ với nhau rất dễ dàng. Nhưng nếu phải tranh luận thế nào là yêu nước thì chắc chắn sẽ có sự khác biệt nhau về quan điểm, thậm chí vô cùng gay gắt. Mấy ngày vừa qua chúng ta đã có một cơ hội, một môi trường để cùng bộc lộ lòng yêu nước của mình mà vượt qua tất cả các yếu tố khác. Có những bạn trẻ không quan tâm về chính trị, nhưng họ vẫn không hề vô cảm trước một người tiêu biểu của thế hệ cha anh. Chắc bạn cũng đồng ý với tôi, giây phút mà nhiều người chờ đợi nhất là giây phút câu hỏi “Chúng ta có thực hiện nghi lễ Quốc tang với Đại tướng hay không?”, bởi chúng ta cũng bị ràng buộc bởi những quy định về tổ chức Quốc tang. Quyết định cuối cùng, tôi cho đó là một quyết định hợp với lòng dân. Nghi thức hay lòng dân? - Ông có nghĩ sự kiện Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời là một sự thức tỉnh đối với chúng ta: Thức tỉnh cả về tình yêu, về lòng tự hào dân tộc, thức tỉnh cả về nhận thức, và cả niềm trông đợi những điểm tựa tinh thần cao đẹp? Ông Dương Trung Quốc: Đôi khi có những cái chết sẽ mang lại mầm sống mà ở đây là đánh thức những gì đã có trong tâm thức người Việt. Đây cũng là cơ hội để ta chiêm nghiệm những gì đang diễn ra trong đời sống hàng ngày, trong những chính sách tồn tại quá lâu và quá cứng nhắc so với cuộc sống hiện nay. Vấn đề còn lại là khi đám tang kết thúc, khi mà ta đã phát hiện ra những nhân tố tích cực như thế, chúng ta phải làm thế nào để nuôi dưỡng nó, thúc đẩy nó, đưa nó lên… Việc người dân dành tình cảm cho Đại tướng nhiều như thế cũng là một lời nhắc nhở, một lời cảnh báo với những người đương thời. Tôi cho rằng tất cả đều phải suy nghĩ. Các vị ở những chức vụ cao nhất của đất nước nếu có mệnh hệ gì sẽ được tổ chức Quốc tang sẽ nghĩ gì về chuyện Quốc tang, nghĩ xem thước đo nào là quan trọng hơn: Nghi thức hay lòng dân? Sự suy nghĩ sẽ điều chỉnh ý thức, giúp chúng ta phải sống tốt hơn, như thế hệ Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. - Điều chỉnh như thế nào, thưa ông? Ông Dương Trung Quốc: Một yếu tố rất quan trọng đã trở thành đặc tính ở ta là sự gương mẫu. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hay những người như cụ Phan Chu Trinh, là những người tiêu biểu cho một thời đại lịch sử. Nhắc đến họ để thấy rằng người dân luôn nhìn vào những tấm gương. Rất tiếc là hiện trong những người đang sống, chưa có được những tấm gương lớn như vậy, thì làm sao để nhân dân học theo? Chúng ta đã nói rất nhiều về lòng tin và tôi cho lòng tin là điều rất quan trọng. Trong thời gian vừa rồi, hơn bao giờ hết Chính phủ nói rất nhiều về việc xây dựng lòng tin với bạn bè thế giới. Nhưng còn việc quan trọng hơn nữa chính là xây dựng lòng tin với người dân trong nước. Ông Chu Hảo: Lịch sử đã ghi rõ, sau khoảnh khắc tưng bừng khi thống nhất đất nước, chúng ta đã rơi vào một giai đoạn hết sức khó khăn, vì sai lầm trong những chính sách lớn về mặt kinh tế – xã hội. Sau đó là thời kỳ đổi mới, phát huy tác dụng rất tốt cho đến khoảng cuối những năm 1990. Nhưng từ đó đến giờ, như mọi người đều thấy rõ, đất nước ta đang trải qua một thời kỳ khó khăn cả về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đạo đức xã hội. Đương nhiên là trong chiến tranh thì niềm tin dễ dàng được tập hợp, được hun đúc, được dấy lên vì một mục tiêu chung của cả dân tộc trước tình thế cấp bách. Nhưng trong hòa bình, hoàn cảnh và nhu cầu của mọi người đã khác đi: Lúc này vai trò của cá nhân nổi lên, đòi hỏi phải khẳng định cá nhân của mình trong mỗi lĩnh vực. Người ta sẽ không dễ dàng tin một cách tuyệt đối và vô tư như xưa. Việc người dân Việt Nam cùng bày tỏ lòng kính trọng và thương tiếc chân thành với Đại tướng như những ngày qua, phần nào đó biếu lộ lòng khao khát được quay lại thời kỳ mà họ đã thực sự có niềm tin, thực sự có được sự kính trọng với những người đứng đầu – điều mà bây giờ đã bị mai một đi rất nhiều. Từ tình cảm mà người dân bày tỏ trước sự ra đi của Đại tướng, tôi cảm nhận được sự nuối tiếc. Khi biểu tượng cuối cùng cho một thế hệ đặc biệt của dân tộc đã ra đi mãi mãi. • Lan Hương (thực hiện) Bài 2: ĐBQH Dương Trung Quốc: Tại sao ý kiến Đại tướng chưa được “nghe” hết? Tuần Việt Nam - “Có lẽ, người dân trong tâm thức khi bày tỏ tình cảm với Đại tướng cũng chia sẻ nỗi niềm của mình về xã hội”. Bày tỏ nỗi niềm với thời đại - Trong kháng chiến chống Mỹ, bà má miền Nam đào hầm nuôi chiến sĩ, bà mẹ miền Bắc đưa con ra chiến trường. Những bà mẹ đó đã tin Bác Hồ, tin Đảng, tin tưởng vào cách mạng. Vậy thì điều gì đã xảy ra với chúng ta hôm nay khiến niềm tin ấy biến mất khi mà nó đã từng là điều rất đương nhiên với dân tộc này? Ông Dương Trung Quốc: Đảng Cộng sản đã thực thi được trách nhiệm lịch sử của mình, trước hết không phải là do lý thuyết cộng sản, mà khi đó nó còn là hiện thân của lòng yêu nước và người dân đi theo. Nếu nói về lịch sử, chúng ta nhớ rằng thời kỳ năm 1945, cụ Hồ tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản, đưa Đảng vào hoạt động bí mật để mà tiếp tục thu hút lòng dân khi người dân chưa hiểu hết về học thuyết, về chủ nghĩa cộng sản. Nhưng người dân vẫn đi theo, vì tấm gương và sự thu hút của những con người rất cụ thể. Lúc đó về chính danh, Đảng Cộng sản không tham gia Quốc hội. Người đảng viên cộng sản tham gia Quốc hội qua những tổ chức xã hội khác. Lúc đó cụ Hồ đã nói: “Đảng của tôi là Đảng Việt Nam”. Mong muốn của thế hệ Hồ Chí Minh là kết hợp chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa cộng sản. Sự kết hợp đó đã thành công trong một giai đoạn nhất định. Nhưng sự kết hợp đó hiện nay đang có vấn đề, và những người đảng viên có trách nhiệm phải xem lại chuyện đó. Bởi tất cả các vấn nạn xã hội đều phải có nguồn gốc. Đảng đã nhận mình là người lãnh đạo cao nhất thì cũng phải chịu trách nhiệm toàn bộ. Khi nói về Luật phòng chống tham nhũng ở Quốc hội mấy năm trước, tôi từng nói tham nhũng là một căn bệnh, nhưng có bao nhiêu đảng viên “dính líu” tham nhũng. Vì hầu hết những vị tham nhũng đều là những quan chức, đều phải là đảng viên. Việc chống tham nhũng cũng có nghĩa là tự bảo vệ Đảng. Không chống được tham nhũng cũng có nghĩa là Đảng không còn đủ năng lực để tự bảo vệ mình. Vì thế tôi cho rằng vấn đề quan trọng nhất kể cả trong những chuyện chúng ta bàn liên quan đến Đại tướng, chúng ta có thể có nhiều câu hỏi: Tại sao những ý kiến Đại tướng đóng góp chưa được tiếp thu đầy đủ? Thậm chí có những ý kiến của Đại tướng còn không được trả lời. Có lẽ, người dân trong tâm thức khi bày tỏ tình cảm với Đại tướng cũng chia sẻ nỗi niềm của mình về xã hội. Ông Chu Hảo: Càng ngày, trình độ nhận thức của người dân càng cao và yêu cầu đối với những người đứng đầu ngày càng khắt khe. Khi hiểu biết của đại bộ phận nhân dân còn hạn hẹp, thông tin đa chiều hạn chế việc vận động quần chúng thực hiện mục tiêu chính trị do những người đứng đầu đề ra không mấy khó khăn. Nhưng nay thì khác … Do đó, nếu những người đứng đầu vẫn theo lối nói một đằng làm một nẻo, không nhất quán, nhất là đưa ra một số chủ trương, đường lối không đúng đắn khiến đất nước ngày càng tụt hậu với khu vực và thế giới, thì dù có bao nhiêu thành tựu, bao nhiêu chiến công hiển hách của thế hệ trước cũng sẽ không thể bù đắp được. Chúng ta phát động phong trào “Học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhưng cái đạo đức “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư” của Hồ Chí Minh chúng ta lại không học được. Các hiện tượng giả dối, chuộng hình thức và tham nhũng ngày một nặng. Điều mà chúng ta thực sự cần nghiêm túc nhìn nhận lúc này là xem nguyên do của nó bắt nguồn từ đâu. Nếu không dũng cảm thừa nhận và quyết sửa thì không bao giờ có được niềm tin của dân. Một trong những điều chúng ta phải nghiêm túc nhìn nhận lại là công tác tuyên truyền- hệ thống giáo dục hiện nay. Trong một xã hội, chất lượng của nguồn nhân lực phụ thuộc chủ yếu vào nền giáo dục quốc dân. Nền giáo dục quốc dân ở các nước thường có ba thành tố chính: Giáo dục học đường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội. Ở nước ta, cũng như ở tất cả các nước XHCN, có một thành tố khác, là công tác tuyên truyền giáo dục của các hệ thống trường Đảng. Cần nhìn nhận những tồn tại trong hệ thống này để tìm hướng khắc phục. Thời đại nào cũng cần những “cá nhân” - Trên Tuần Việt Nam từng có một bài viết ví những cá nhân xuất chúng, những con người có nhân cách vĩ đại giống như “bảo hiểm” của dân tộc trước những thử thách, khó khăn. Đặt giả thiết nếu như những người lãnh tụ thực sự, những cá nhân kiệt xuất không xuất hiện khi đất nước cần, thì điều đó sẽ nguy hiểm thế nào đến vận mệnh dân tộc? Qua sự ảnh hưởng mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tạo ra trong những ngày vừa qua với người dân, với xã hội khi ông ra đi, cũng như qua những dẫn chứng lịch sử khác, ông nghĩ gì về vai trò của cá nhân kiệt xuất đối với lịch sử và ảnh hưởng của họ với nhân dân? Ông Chu Hảo: Tôi luôn cho rằng vai trò của cá nhân lúc nào cũng tác động rất lớn đến sự thay đổi của lịch sử. Dĩ nhiên nếu không có cá nhân này, có thể sẽ xuất hiện các cá nhân khác, nhưng trình tự lịch sử, diễn biến lịch sử sẽ không diễn ra đúng như những gì chúng ta đã nhìn thấy nữa. Dù thế nào, xã hội cũng sẽ luôn phải vận động để đi lên. Sẽ rất nguy hiểm nếu xã hội không thể xuất hiện những con người như thế nữa. Một xã hội có dân chủ, có tự do tư tưởng, thì sẽ xuất hiện nhiều những người có tài kinh bang tế thế. Và ngược lại. Nhưng có một điều đặc biệt là trong những lúc khó khăn mà một nhân vật như vậy xuất hiện thì có khi lại làm nên chuyện. Phải nói thêm rằng khái niệm “lãnh tụ” chỉ tồn tại ở những cộng đồng xã hội chưa trưởng thành. Ở các nước dân chủ và văn minh những người đứng đầu quốc gia cũng chỉ thực hiện nhiệm vụ của mình như một hình thức phân công lao động xã hội, không “oai nghiêm ” không “thần thánh” gì đâu. Ông Dương Trung Quốc: Mỗi thời kỳ lịch sử có những nhân vật khác nhau với những tầm vóc khác nhau. Thế kỷ 20 của chúng ta, những nhân vật kiệt xuất đều gắn với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Từ những chí sĩ Cần Vương đến những nhà dân chủ và những người cộng sản. Những thế hệ đó để lại hình tượng, để lại bài học. Đương nhiên sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng – đó không chỉ là khẩu hiệu mà là sự thực. Hiện tượng chúng ta đang bàn đến cũng mang tính chất cách mạng, cũng là một yếu tố cách mạng: Cách mạng về mặt lối sống, cách mạng về mặt văn hóa, cách mạng về mặt tinh thần và những giá trị xã hội. Nhưng vai trò người lãnh đạo cũng vô cùng quan trọng. Thời đại nào cũng cần những cá nhân. Những cá nhân ấy cộng với một cơ chế để có thể tập hợp được những cá nhân tiêu biểu nhất. Đó là nhân tố để thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên những nhà lãnh đạo lớn, những nhân vật kiệt xuất chỉ xuất hiện trong một thời điểm, một giai đoạn nào đó. Nhưng có thể thay thế điều đó bằng một cơ chế để tập hợp những người tiêu biểu nhất. Cơ chế đó là sự dân chủ. Lỗi ở trí thức - Thời điểm Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời, rất nhiều người đã nói, đây là một trong những người cuối cùng của thế hệ cách mạng tháng Tám đầy lý tướng và trong sáng, đã ra đi. Những bài học để lại sẽ gợi cho người đương thời suy nghĩ gì? Ông Chu Hảo: Muốn thay đổi không có cách nào khác là phải xây dựng một thể chế chính trị dân chủ lành mạnh, để phát huy được hết sức mạnh của nhân dân trong xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, trong đó xã hội dân sự là một thành tố quan trọng. Tức là, trong bối cảnh của nước ta hiện nay, phải xây dựng một nền móng cho phong trào dân chủ từ dưới lên. Nhưng để cải cách thể chế thì phải làm từ trên xuống. Trong khi có phong trào dân chủ làm nền móng như vậy, thì trong đội ngũ người đứng đầu phải có những lực lượng tiến bộ dũng cảm và sáng suốt đặt lợi ích của dân tộc lên trên hêt, dựa vào khối đại đoàn kêt của toàn dân, tiến hành cải cách triệt để từng bước. ÔngDương Trung Quốc: Chúng ta phải đặt Việt Nam trong một tiến trình phát triển. Cũng có những giai đoạn lịch sử, cũng có những giai đoạn chuyển tiếp. Hoàn cảnh hiện nay đã thay đổi và chắc chắn sẽ không còn những nhân vật như trong quá khứ nữa – thời điểm mà vai trò của cá nhân rất quan trọng. Chúng ta thường hay nói đến câu chuyện giữa Nhân trị và Pháp trị. Để xã hội phát triển, càng ngày chúng ta càng phải chuyển đổi từ Nhân trị sang Pháp trị. Nói Pháp trị không có nghĩa là phủ nhận hay không đề cao vai trò cá nhân. Nhưng con người ấy phải nằm trong cơ chế, một cơ chế thật sự dân chủ. Tại sao cụ Phan Chu Trinh nói nhiều về dân chủ, tại sao Bác Hồ cũng đề cao dân chủ? Là vì họ nhìn thấy cơ chế dân chủ có thể đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, giúp ta hội nhập với thế giới. Thời đại đã thay đổi. Thay vì ngồi chờ cá nhân xuất hiện, chúng ta hãy dùng cơ chế dân chủ để bảo vệ và xây dựng đất nước. Có thể người dân vẫn hy vọng, vẫn chờ đợi những người như Hồ Chí Minh, như Võ Nguyên Giáp xuất hiện, nhưng tôi cho rằng chúng ta phải chấp nhận xu thế, phải nhận thức xu thế. Và tôi nhấn mạnh, quan trọng nhất vẫn là cơ chế. Ngày xưa người ta gắn kết được lợi ích cá nhân với lợi ích của cộng đồng, của quốc gia, dân tộc. Bây giờ sự gắn kết đó khó hơn nhiều. Ngày xưa mẫu số chung là chống giặc ngoại xâm. Ai cũng nghĩ đến điều đó. Bây giờ sự lựa chọn nhiều hơn, sự gắn kết cũng giảm đi. - Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi còn sống, ông từng dặn thế hệ trẻ:”Thế hệ cha anh đã rửa nỗi nhục mất nước, thế hệ ngày nay phải rửa nỗi nhục nghèo nàn, lạc hậu”. Nhìn lại đất nước, chúng ta đã có những bước phát triển đáng kể so với thời điểm chúng ta giải phóng đất nước vào năm 1975, nhưng vẫn còn có những cái nghèo khác nữa. Nhiều người dường như đang kêu về các bất cập nhưng con người hành động lại không chịu xuất hiện… Vậy ai có lỗi trong tất cả những sự tụt hậu này? Ông Chu Hảo: Lỗi trước hết là trí thức, là tầng lớp tinh hoa. Trong thời chiến, các tầng lớp xã hội đều có vai trò nhất định, nhưng lực lượng nòng cốt phải là đông đảo quần chúng. Còn trong thời bình, lực lượng nòng cốt phải là những người có tri thức Ngoài lỗi của những người đứng đầu đất nước, thì bản thân tầng lớp trí thức chậm giác ngộ, thiếu ý chí là những người phải nhận phần lỗi không nhỏ khi xã hội không phát triển được. Người đứng đầu phải do dân chọn Ông Dương Trung Quốc: Xã hội sẽ có những chuyện như thế. Nhưng cũng vì thế mà chúng ta mới cần những người quản lý. Ở làng xã ngày xưa, họ quản lý bằng truyền thống, bằng tập quán, bằng văn hóa. Xã hội cũng thế. Câu “Thượng bất chính, hạ tắc loạn” rất hay và rất đúng. Nếu ở trên nghiêm thì dưới cũng sẽ nghiêm. Phải có một sự kiên trì làm thay đổi từng bước trong xã hội, đó không phải chỉ là sự đổi mới ở thượng tầng mà nhân dân cũng nhất định phải thay đổi. Nhưng muốn dân đổi mới thì phải cho dân thấy lợi ích. Nhà nước chưa tạo ra được giá trị đó. Lỗi này không phải là do kỹ năng, mà là do cơ chế. Khi một người làm không tròn nhiệm vụ mà cấp trên của họ không thể xử lý họ, như Thủ tướng Phan Văn Khải nói trước khi nghỉ hưu: “Không thể kỷ luật ai được”, thì những người đó sẽ câu kết nhau thành nhóm lợi ích và tạo ra sự hủy hoại xã hội, hủy hoại lòng tin. Sự phát triển của xã hội, sự phát triển của dân trí luôn có quan hệ biện chứng với vai trò của những người đứng đầu. Muốn xã hội phát triển, anh phải đi đầu, phải gương mẫu, phải sáng suốt. Và người đi đầu phải do dân chọn. Đó phải là cơ chế dân chủ, như chúng ta nói nãy giờ. Tôi tham gia Quốc hội, tôi thấy cứ có vấn đề gì đem ra bàn là chúng ta lại lấy lý do “đó là cách làm của ta”. Hay như câu nói cửa miệng của một trí thức đã mất “cái nước mình nó thế”. Vấn đề rất cụ thể như vấn đề doanh nghiệp Nhà nước mà Quốc hội đang bàn đến rất nhiều. Cả thế giới khác chúng ta mà chúng ta cứ bám vào lý do ”đó là đặc thù của Việt Nam”. Chẳng nói đâu xa, nếu muốn thay đổi, thứ đầu tiên chúng ta có thể xem lại chính là những di cảo, những kiến nghị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Một người rất sớm nhận thức được các vấn đề của xã hội. Chúng ta nói nhiều đến Đại tướng với tư cách là Tổng Tư lệnh quân đội. Chúng ta đừng quên rằng một trong những vai trò cực kỳ quan trọng của ông là Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Vì Võ Nguyên Giáp vốn là một nhà Luật học. Thời đó rất nhiều nhà trí thức làm Luật được cụ Hồ trọng dụng để tạo ra nền tảng ban đầu. Nhưng sau này chúng ta không kế thừa được nó mà biến nó thành một thứ duy ý chí của những người lãnh đạo. Những chuyện đó là những bài học. Nói về vấn đề biển đảo, ngay trong khi chỉ đạo cuộc chiến tranh giải phóng, Võ Nguyên Giáp đã quan tâm đến lợi ích quốc gia về vấn đề biển đảo. Ông không những chỉ đạo giải phóng những đảo thuộc chủ quyền của chính quyền Sài Gòn mà còn khẳng định không gian chủ quyền của chúng ta trong vấn đề biển đảo. Năm 1977, hai năm sau chiến tranh, Võ Nguyên Giáp đã có cả một đường lối về kinh tế biển, chiến lược biển. Các nhà lãnh đạo của chúng ta ca ngợi Đại tướng rất nhiều, nhưng đã bao giờ chúng ta thực sự nghiêm túc nhìn nhận và tiếp thu những ý kiến đóng góp của ông trong quá trình xây dựng đất nước chưa? Tôi cho đó là câu chuyện cần phải làm ngay. Tôi muốn mượn câu của cụ Hồ nói một điều cuối cùng: ”Dân chủ là làm cho dân mở miệng. Cái đáng sợ nhất không chỉ là người dân không dám mở miệng vì anh dùng quyền lực. Cái đáng sợ nhất là người dân không thiết mở miệng!” Mùa gieo hạt mới - Trong một cuộc trò chuyện cách đây mấy ngày, nhà thơ Việt Phương có nói với tôi rằng: Sự kiện Đại tướng Võ Nguyên Giáp mất giúp ông cảm nhận được sự thay đổi. Ông đã nhìn thấy tình yêu và lòng tự hào dân tộc trỗi dậy trong những dòng người đến viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Điều đó khiến nhà thơ Việt Phương hy vọng về những hạt mầm mới sẽ được gieo, để cho một mùa gặt mới? Các ông nghĩ sao? Ông Chu Hảo: Tôi trân trọng và chia sẻ ý tưởng của nhà thơ Việt Phương. Tuy nhiên từ đáy lòng mình tôi vẫn nghĩ rằng dân tộc ta là một dân tộc không được may mắn cho lắm: Quá nhiều đau thương và bỏ lỡ quá nhiều cơ hội. Sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp hình như đã làm bùng lên khát vọng của nhân dân có những nhà lãnh đạo tài ba sáng suốt thật sự vì nước vì dân. Rồi sống mãi trong lòng dân. Những điều đang diễn ra đã giúp tôi hiểu thêm được rằng sự phán xét của lịch sử trước hết là sự phán xét của lòng dân. Lòng kính yêu của những ngưới dân bình thường dành cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng là một thông điệp: Ai thực sự vì dân vì nước dân đều biết cả. Ông Dương Trung Quốc: Nhưng ai là người tổ chức chăm sóc những hạt mầm tốt đẹp cho mùa gặt mới? Rất khó làm được điều đó, nếu chúng ta không nhận ra và không phát huy được vai trò của các tổ chức dân sự xã hội, vì họ là những người thực hiện nó tốt nhất. Còn bộ máy của chúng ta, kể cả Đoàn Thanh niên, dù tôi rất quý trọng nhưng vẫn phải thẳng thắn nói rằng nó vẫn còn quá quan liêu và thậm chí nó có thể làm thui chột đi những nhân tố mới vừa thành hình. Không gì tốt bằng sức mạnh của dân. Trong những ngày qua, ai là người tổ chức mua nước uống, mua bánh mì phát cho bà con nhân dân đến viếng Đại tướng? Ai là người nghĩ ra việc in áo, in phù hiệu có hình Đại tướng để làm quà tặng cho người dân Quảng Bình? Đó hoàn toàn là những ý tưởng, những hành động xuất phát từ cá nhân, không phải do bất cứ tổ chức, cơ quan nhà nước nào cả. Hiện tượng này quan trọng nhất là làm cho chúng ta có niềm tin hơn rằng vẫn có tiềm năng rất to lớn. Nhưng vấn đề ai khai thác, ai tổ chức cũng là một câu hỏi lớn. Một mùa gieo hạt mới nhưng không có môi trường, không có điều kiện phát triển thì tất cả những hạt mầm đó cũng bị thui chột. Tôi rất mong những người có trách nhiệm hiện nay sẽ nhận ra điều đó và coi đây là cơ hội để phát huy. Còn nếu sự kiện này chỉ thoảng qua và mọi thứ lại quay lại như cũ, và câu chuyện mấy ngày vừa qua trở thành ký ức, thì nó có thể làm tăng thêm niềm thất vọng? - Thưa nhà sử học Dương Trung Quốc, vậy theo ông thì làm thế nào để mùa gieo hạt đó gặt được mùa bội thu? Cần những điều kiện gì để thành công? Ông Chu Hảo: Một xã hội dân chủ thực sự – đó chính là con đường nhanh nhất. Nếu không đi được con đường nhanh nhất đó, có thể vẫn sẽ xuất hiện được những con người có nhân cách lớn, thay đổi bộ mặt đất nước, nhưng chúng ta sẽ phải chờ đợi rất lâu và cái giá mà dân tộc này phải trả cho sự chờ đợi đó sẽ là rất đắt. Ông Dương Trung Quốc: Trong thời điểm này, điều quan trọng nhất là cả dân tộc phải tụ tâm. Hiện có quá nhiều điều khiến chúng ta phải phân tâm. Dù cuộc sống là phức tạp, cạnh tranh là xu thế, nhưng cuối cùng sự tụ tâm vẫn là quan trọng. Chúng ta hướng tới sự tụ tâm, từ các nhà lãnh đạo đến nhân dân, để tìm ra cái chúng ta thiếu. Mà theo tôi cái thiếu quan trọng nhất là sự gắn kết nhau vì lợi ích quốc gia, như là thế hệ của Bác Hồ, của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. - Xin cảm ơn hai ông! Lan Hương
  16. Trung quốc và Ấn Độ tranh dành nhau một biểu tượng Phật giáo Hoang Phong chuyển ngữ đăng ngày 16/10/2013 Tờ nhật báo uy tín Le Monde của Pháp ngày 18 tháng 9 năm 2013, trong mục Địa Lý và Chính Trị và qua một bài viết của ký giả Frédéric Robin đặc phái viên ở New Delhi, đã nêu lên các mưu đồ và tham vọng quốc tế nhằm khai thác thánh địa Phật Giáo Lâm-tì-ni (Lumbini). Dưới đây là phần chuyển ngữ. Thật là cả một sự tranh dành ảnh hưởng vô cùng khốc liệt hiện đang bùng lên trong dãy núi Hy-mã-lạp-sơn. Hai nước Trung Quốc và Ấn Độ đang đối đầu nhau trước biểu tượng của Đức Phật, tượng trưng cho sự đoàn kết giữa các dân tộc Á Châu. Quả thật đây là một cuộc đọ sức không gây ồn ào, thật kín đáo và vô cùng bí mật, tuy nhiên không phải vì thế mà kém phần quyết liệt. Ngoài các mặt trận đã được dàn ra giữa hai siêu cường Á Châu (như sự tranh chấp biên giới, chạy đua về năng lượng, tranh dành ảnh hưởng ở Ấn Độ Dương...) thì một mặt trận mới cũng đang được mở ra với những "đòn chính trị" thật quy mô. Nếu dựa vào cách nói đang thịnh hành trong thời buổi ngày nay thì có thể bảo rằng cuộc tranh dành kín đáo chưa được công bố ấy là cả một mặt trận tranh dành "quyền lực mềm" ("soft power"). "Quyền lực mềm" là một cách mà các siêu cường ngày nay thường sử dụng để thăm dò phản ứng của nhau, ngoài các hình thức biểu dương sức mạnh khác. "Quyền lực mềm" Phật Giáo với một tầm ảnh hưởng rộng lớn mang tính cách toàn cầu là cả một tiềm năng mà bất cứ một quốc gia nào tự cho mình là nước lãnh đạo Á Châu đều phải quan tâm đến. Trong các phòng khách sang trọng và kín đáo dưới tầng hầm của một khách sạn năm sao ở New Delhi (thủ đô Ấn Độ) các buổi họp đầu tiên của International Buddhist Confederation (IBC / Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới) đã diễn ra từ ngày từ 9 đến 12 tháng 9 vừa qua, đánh dấu giai đoạn chín muồi của sự tranh chấp trên đây. Trên phương diện chính thức thì IBC (Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới) chỉ giữ vai trò của một tổ thức "Liên Hiệp Quốc Phật Giáo" (Nations Unies du Bouddhisme), tức là một phương tiện nhằm gom tất cả các học phái - Mahayana (Đại Thừa), Hinayana (Tiểu Thừa), Vajrayana (Kim Cương Thừa) - vào một di sản tâm linh chung cho 400 triệu tín đồ trên toàn thế giới. Sự hiện diện trong các buổi họp mặt ở New Delhi của các đại biểu đến từ khoảng bốn mươi quốc gia trên thế giới đã cho thấy một tiếng vang nào đó. Dầu sao thì cũng còn quá sớm để tiên đoán tương lai của IBC. Hiện nay, người ta chỉ có thể biết một cách chắc chắn là dự án trên đây là do nước Ấn đưa ra - mà người đứng ra tổ chức là Lạt-ma Lobzang, một nhân vật thân cận của triều đại Nehru-Gandhi - không phải chỉ mang mục đích tôn giáo. Chủ đích Địa lý Chính trị (Géopolitique / Geo-policy) hiện ra thật rõ rệt. Tổ chức Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới (IBC) do Ấn Độ thành lập là nhằm chống lại các sinh hoạt của một tổ chức khác gọi là World Buddhist Forum (WBF / Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới) dưới sự bảo trợ của Trung Quốc. Diễn Đàn này được thành lập sau các buổi hội họp được tổ chức ở Hàng Châu (Hangzou) trong vùng phía nam Thượng Hải (Shanghai) vào năm 2006. WBF (Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới) là một công cụ mà Bắc Kinh sử dụng để o bế (trong nguyên bản là chữ amadouer / coax / vuốt ve) các tập thể Phật Giáo bằng cách hứa hẹn một sự đỡ đầu thân thiện. Tổ chức này nằm trong chính sách ngoại giao tích cực nhân danh Phật Giáo, được đưa ra liên tiếp từ mười năm nay qua các cuộc triển lãm lưu động về chiếc "răng" và đốt "ngón tay" Phật, được xem là xá lợi của chính Đấng Giác Ngộ mà Trung Quốc đang lưu giữ. Năm 2012 trong lần họp thứ ba của WBE tổ chức tại Hồng Kông, một mảnh xương sọ được xem là của chính Đức Phật - khám phá ra hai năm trước đó ở Nam Kinh (Nankin) - được đưa ra trưng bày một cách trang trọng. Địa lý Chính Trị trong vùng Hy-mã-lạp-sơn là cả một sự thách đố Nhìn qua thì các buổi họp của Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới (WBF) do Bắc Kinh giật dây cũng không đến nỗi nào thua kém so với các buổi họp của Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới (IBC) được tổ chức ở New Delhi (do Ấn Độ chủ xướng). Tuy nhiên thật hết sức khó cho tổ chức Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới (WBF) vượt xa hơn biên giới của các nước thuộc khối Trung Quốc (gồm Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và các cộng đồng Đông Nam Á), trong khi đó thì Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới (IBC) đã mở ra một chân trời rộng lớn hơn. Sự khác biệt trên đây một phần là do ảnh hưởng của vấn đề Tây Tạng. Trong các buổi họp của Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới (WBF / do Trung Quốc tổ chức), Gyancain Norbu tức là vị Panchen-lama [nhân vật đứng hàng thứ hai trong Phật Giáo Tây Tạng - ghi chú trong nguyên bản] do Bắc Kinh chọn lựa (được chỉ định là vị tái sinh của vị tiền nhiệm) và cố tình mang ra dàn cảnh. Những người ủng hộ Đức Đạt-Lai Lạt-Ma tức là vị lãnh đạo tối cao của Phật Giáo Tây Tạng đang lưu vong ở Dharamsala (Ấn Độ), không hề công nhận sự hợp pháp của vị này. Một trong các chủ đích của Diễn Đàn Phật Giáo Thế Giới (WBF / do Trung Quốc tổ chức) là mang Panchen-lama thứ XI ra trưng bày trước cộng đồng thế giới với mục đích hy vọng có thể chính thức hóa vị này, thế nhưng hy vọng đó cho đến nay thật hết sức mong manh. Qua những bài diễn văn yêu nước cho rằng xứ sở Nóc Nhà của thế giới (tức là nước Tây Tạng) thuộc lãnh thổ Trung Quốc do chính Panchen-lama đọc lên cho thấy vị này là người ủng hộ Bắc Kinh. Trong khi đó những người trung thành với Đức Đạt-Lai Lạt-Ma lại hiện diện đông đảo hơn trong tổ chức Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới (IBC) đặt trụ sở ở New Delhi. Trên thực tế IBC đã dựa vào ánh hào quang tỏa rộng mà vị "Đại Dương Trí Tuệ" (tức là Đức Đạt-Lai Lạt-Ma XIV) đã tạo được cho toàn thể gia đình Phật Giáo với những biên giới rộng lớn, vượt xa hơn tầm ảnh hưởng của các học phái Phật Giáo Tây Tạng. (Ảnh bên: Panchen-lama (BBC World) Giữa cảnh tranh dành đó, mỗi quốc gia (tức Trung Quốc và Ấn Độ) đều tìm cách đưa ra đủ mọi bằng chứng nhằm dành chính nghĩa về phần mình. Trung Quốc không ngớt hô hào rằng mình là quốc gia có số tín đồ Phật Giáo đông đảo nhất thế giới. Về phía Ấn Độ, nơi mà Phật Giáo đã bị Ấn Giáo đông đảo hơn lấn lướt qua nhiều thế kỷ, thì cho rằng Đức Phật đã được sinh ra trên đất Ấn. Phái bộ Azoka giữ trọng trách tổ chức IBF ở New Delhi tuyên bố rằng "Ấn độ chính là cội nguồn của Phật Giáo". Sự khẳng định trên đây cần phải được xét lại, bởi vì Lâm-tì-ni nơi Đức Phật đản sinh vào thế kỷ thứ VI trước Tây Lịch, thật ra là thuộc lãnh thổ của nước láng giềng Nepal, và người dân Nepal thì không hề tán đồng sự mạo nhận đó của Ấn Độ. Dầu sao các thánh địa khác của Đức Phật và các đệ tử của Ngài - chẳng hạn như Bồ-đề Đạo Tràng (Bod Gaya), Tiên Uyển (Sarnath), Na-lan-đà (Nalanda)... - rõ ràng là thuộc vào lãnh thổ Ấn, và New Delhi bắt đầu đẩy mạnh các kế hoạch khai thác ngành du lịch tâm linh. Chính trong lãnh vực này đang diễn ra một trận đấu thật ngoạn mục giữa Trung Quốc và Ấn Độ xoay quanh "quyền lực mềm" Phật Giáo. Nhằm đối đầu với con đê khổng lồ của Ấn Độ, Trung Quốc đã bọc hậu và tràn ngập phía sau các thánh địa. Năm 2011, Tổ Chức Phi Chính Phủ (Organisation Non Gouvernementale, ONG / Non-governmental Organisation, NGO) đặt tại Hồng Kông liên hệ với Bắc Kinh là Asia Pacific Exchange and Corporation Foundation (APECF / Cơ Quan Trao Đổi và Hợp Tác giữa các Quốc Gia Á Châu trong vùng Thái Bình Dương) đề nghị với người Nepal là sẽ đầu tư 3 tỉ đô-la (2,25 tỉ euros) - tương đương với 85% thuế thu nhập của toàn xứ Nepal - để "phát triển" thánh địa Lâm-tì-ni, nơi đản sinh của Đức Phật. Sáng kiến này bất ngờ làm bùng lên một sự hăng say trong toàn vùng Hi-mã-lạp-sơn. APECF (tức Cơ quan trao đổi và hợp tác trên đây) chọn ngay Pushpa Kamal Dahal làm người đại diện cho chương trình trên đây ở Nepal, nhân vật này mang bí danh là "Prachanda", nổi tiếng là một người khuấy động, trước đây từng là thủ lãnh của nhóm cựu-nổi-loạn theo chủ nghĩa Mao (Maoism) đã được hợp thức hóa sau hiệp ước hòa bình ký kết vào năm 2006. Prachanda cũng đã từng làm thủ tướng Nepal vào các năm 2008 và 2009. Có quá nhiều dự án Trùng tu Lâm-tì-ni là một câu chuyện cũ mèm, thế nhưng gần đây lại được hâm nóng trở lại. Câu chuyện bắt đầu từ năm 1970 khi một kiến trúc sư người Nhật là Kenzo Tange dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc đã đưa ra một dự án về vấn đề này. Thế nhưng sự nhiệt tâm ban đầu đã bị sa lầy nhanh chóng trong các ngõ ngách quan liêu của xứ Nepal và tình trạng bất ổn nội bộ của một xứ sở bé tí nằm kẹt giữa Trung Quốc và Ấn Độ trong vùng Hy-mã-lạp-sơn. Năm 2010, bỗng dưng người ta lại quan tâm đến Lâm-tì-ni với sự hình thành của một dự án mới, do một nhóm người Mã Lai gốc Trung Quốc theo Phật Giáo Tây Tạng đưa ra. Dự án này nhằm biến Lâm-tì-ni thành một nơi du lịch đại chúng dành vào việc hành hương, tương tự như thánh địa Mecca (La Mecque / Mecca) của người Hồi Giáo. Thật rõ ràng đây là một dự án "ăn cắp" của Cơ Quan Trao Đổi và Hợp Tác giữa các Quốc Gia Á Châu trong vùng Thái Bình Dương (APECF) do Trung Quốc giật dây. Bề ngoài chương trình này được điều hành bởi một nhân vật rất bí mật tên là Xiao Wunan dưới sự chỉ đạo của các cấp cao trong Đảng Cộng Sản Trung Quốc, và được đẩy mạnh trong các cộng đồng người Hoa vùng Đông Nam Á. Sự giao hảo thân thiện với nhóm nổi loạn theo chủ nghĩa Mao của Nepal do Prachanda lãnh đạo cho thấy APCEF phải chịu một áp lực nào đó và đã biến thành một sức mạnh đang lên trong bối cảnh sôi sục của thánh địa Lâm-tì-ni. Mùa xuân năm 2011, lại thấy xuất hiện hai nhân vật mới đưa ra một dự án khác, thế nhưng dự án này lại cũng chỉ là một sự vay mượn cả đường lẫn bột với dự án của người Mã Lai trước đây, chỉ khác là được hậu thuẫn bởi một sức mạnh chính trị quan trọng hơn nhiều. Vài tháng sau đó thì một diễn viên thứ ba lại xuất hiện: đấy là kiến trúc sư Hàn Quốc Kwaak Young Hoon, là một người đã từng quan tâm đến Lâm-từ-ni từ lâu trước đó. Người kiến trúc sư này được sự ủng hộ của Korea International Cooperation Agency (KOICA / Cơ Quan Hợp Tác Quốc Tế Hàn Quốc) là một cơ quan trực thuộc chính quyền Seoul (Nam Hàn). Tóm lại hiện nay đang có quá nhiều dự án liên quan đến Lâm-tì-ni nơi đản sinh của Đức Phật. Giữa cảnh hỗn độn đó, vào năm 2002 lại bắt đầu xảy ra các cuộc tiếp xúc giữa các nhóm trên đây với mục đích phối hợp các sáng kiến theo các đường hướng khác nhau nhằm tìm cách lôi kéo sự chú ý của Liên Hiệp Quốc. Chẳng phải là di tích Lâm-tì-ni đã được cơ quan UNESCO đưa vào danh sách di sản của nhân loại hay sao? Thế nhưng trong đầu óc mỗi người hình như đều phát sinh một thứ cảm tính nghi ngờ cho rằng chắc hẳn phải có những âm mưu nào đó tàng ẩn phía sau những sự lèo lái trên đây. Thế nhưng ai lèo lái ai? Và ai tìm cách hất chân ai? Chính Kwaak Young Hoon (kiến trúc sư Hàn Quốc trên đây) đã từng tiết lộ một giai thoại cho báo Le Monde với mục đích thăm dò mức độ nghi ngờ đang tàng ẩn kín đáo trong bối cảnh trên đây. Khi vừa mới gia nhập vào cuộc chạy đua này, vị kiến trúc sư Nam Hàn đã nhận được ngay một thông điệp của một vị Bộ Trưởng trong chính quyền Katmandou (Nepal) - tất nhiên là dưới áp lực của nhóm nổi loạn theo chủ nghĩa Mao - phải trưng ra bằng cớ sẽ "không chống lại Trung Quốc". Kiến trúc sư Kwaak đành phải tuyên bố rằng mình "không chống Trung Quốc". "Đức Phật là người Ấn" Trước những sự việc xảy ra trên đây, Ấn Độ cũng bắt đầu cảm thấy nao núng trước sự khuấy động của tổ chức APCEF thiên Bắc Kinh. Vị chủ tịch Indian Council for Cultural Relations (ICCR / Hội Đồng Quan Hệ Văn Hóa Ấn Độ) và đồng thời cũng kiêm nhiệm chức chủ tịch văn phòng Ngoại Giao của Đảng Quốc Đại (Parti du Congrès / Congress Parti / một đảng chính trị quan trọng của Ấn Độ) hiện đang cầm quyền, là Karan Singh đã lên tiếng như sau: "Ấn Độ sẽ không thể làm ngơ trước các công trình phát triển Lâm-tì-ni", tất nhiên điều này cho thấy rằng việc phát triển Lâm-tì-ni là một trong những công cụ nhằm củng cố "quyền lực mềm" của Ấn Độ. Thế nhưng vị chủ tịch Singh thì lại xác nhận rằng lý do chính thức là vì "Đức Phật là người Ấn Độ". Dầu sao thì sự kiện này còn là - hay đúng hơn nhất thiết là - một kế hoạch chiến lược. Dưới con mắt của người Ấn, tham vọng của Trung Quốc về một vùng thánh địa Phật Giáo nổi tiếng là Lâm-tì-ni, chỉ cách biên giới của Ấn vài cây số, là cả một sự thách thức lớn lao trên phương diện địa lý chính trị. Phải chăng một mối bức xúc cũng đang bùng lên trong chính quyền New Delhi hay chăng? Người Ấn rất e ngại là nếu dự án của Cơ Quan Trao Đổi và Hợp Tác giữa các Quốc Gia Á Châu thuộc Thái Bình Dương APCEF (thân Trung Quốc) thành công thì tất nhiên Trung Quốc cũng sẽ gây được ảnh hưởng đối với các nhà sư trong vùng Hy-mã-lạp-sơn, nhằm chờ đợi sau này khi Đức Đạt-Lai Lạt-Ma viên tịch sẽ kiểm soát toàn bộ cộng đồng người Tây Tạng. Một viên chức cao cấp của chính phủ Ấn Độ trước đây là Jayadeva Ranade hiện đang được thu dụng trở lại trong việc phân tích chiến lược, đã tỏ ra rất lo ngại khi tuyên bố rằng: "Trung Quốc có thể sẽ mượn Lâm-tì-ni để thành lập một đạo quân thứ năm dàn ra trước cửa ngõ của nước Ấn". Dự án của APECF cũng đã cho thấy một vài dấu hiệu đuối sức - thế nhưng chắc là sẽ không bị hủy bỏ - lý do là tình trạng thù địch đang nghiêm trọng. Các người Phật Giáo Nepal hết sức bực tức vì tất cả hai bên đều không hề quan tâm đến họ, do đó họ cũng huy động các lực lượng trong tay mình để chống lại "âm mưu cướp đất" (spoliation foncière / land dispossession) đang hăm dọa tập thể người địa phương (tức sắc tộc Tharu) đang sinh sống chung quanh Lâm-tì-ni trong vùng đồng bằng Teraï. Dù chỉ mang tính cách địa phương, thế nhưng Ấn Độ không hề nhìn phong trào trên đây với con mắt bàng quang. Một thành viên Phật Giáo thuộc phong trào này ở New Delhi thú nhận rằng: "Người Ấn giúp đỡ chúng tôi trên mặt tinh thần". Mọi sự hiện nay cũng đã trở nên sáng tỏ hơn, và một vị lãnh đạo Phật Giáo Nepal cũng đã từng tuyên bố như sau: « Lâm-tì-ni đã trở thành tâm điểm của cả một « cuộc chơi lớn » giữa Ấn Độ và Trung Quốc ». Nơi đang gây ra chấn động và cơn sốt trên đây cũng là điểm gặp nhau giữa những người tu hành, những tay khuấy động thừa cơ nước đục thả câu, các chính trị gia, các nhà tranh đấu bản địa (người dân thiểu số thuộc các sắc tộc địa phương), và cả một bọn trục lợi cá mè một lứa. Vài lời ghi chú của người dịch Lâm-tì-ni nằm trong vùng đồng bằng Taraï phía nam xứ Nepal và là nơi đản sinh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Năm 249 trước Tây Lịch vua A-dục và nhà sư Ưu-bà-cúc-đa (Upagupta) vừa là thầy vừa là quốc sư của đế quốc của ông, cả hai cùng đến viếng Lâm-tì-ni, lúc đó là một ngôi làng trù phú. Vua A-dục cho xây dựng tại nơi này bốn ngôi chùa và một trụ đá cao sáu thước. Trên trụ đá có khắc một câu như sau: " Vị vua yêu quý của các thiên nhân là Piyadasi (một tên khác của vua A-dục) đã đích thân đến viếng nơi này vào năm thứ 20 sau ngày đăng quan. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã sinh ra tại nơi đây...". Dựa vào các chi tiết khác khắc trên trụ đá thì Đức Phật sinh vào năm 623 trước Tây Lịch. Ngược về bốn thế kỷ trước đó, tức là trước khi vua A-dục và nhà sư Ưu-bà-cúc-đa đến đây thì ngôi làng Lâm-ti-ni là một khu vườn rộng lớn thuộc xứ Kiều-tát-la (Kosala) của nhà vua Tịnh Phạn (Suddodhana). Kinh sách bằng tiếng Pa-li cũng như bằng tiếng Phạn đều có nói đến khu vườn này và cho biết đây là một khu vườn mênh mông, thật thanh tú và có trồng nhiều cây sala. Sala tên khoa học là Shorea robusta trổ hoa rất đẹp. Hôm ấy là giữa tháng năm và cũng vào giữa mùa xuân, nơi kinh đô Ka-tì-la-vệ (Kapilavastu) hoàng hậu Mai Da (Maya Devi) vợ vua Tịnh Phạn, dù đang có mang thế như vẫn quyết định về thăm cha mẹ sinh ra mình ở thị trấn Devahada. Nào có ai ngờ được là quyết định bất ngờ ấy của một bà hoàng hậu một xứ bé tí thu mình duới chân dãy Hy-mã-lạp-sơn đã đánh dấu một biến cố lớn trong lịch sử nhân loại. Đi được nửa đường, Hoàng hậu và các người tùy tùng dừng lại nghỉ trong khu vườn Lâm-tì-ni xinh đẹp. Trong khu vườn có xây một hồ nước trong để dân chúng trong vùng đến tắm. Hoàng hậu và một vài người hầu cũng xuống tắm. Sau đó hoàng hậu ngồi tựa vào một gốc cây sala nghỉ ngơi. Thế rồi hoàng hậu bỗng nhiên cảm thấy chuyển bụng. Bà bèn đứng lên, một tay nắm chặt một cành cây sala, một tay quàng vai một người hầu và sinh ra thái tử Tất-đạt-đa Cồ Đàm từ "bên cạnh sườn" (xem hình). Đứng để sinh đẻ là một tập tục lâu đời ở Á Châu và gần đây vẫn còn thấy ở một vài sắc tộc. Thái tử Tất-đạt-đa không sinh ra trong chốn cung điện mà sinh ra dưới một gốc cây trong khu vườn Lâm-tì-ni như bất cứ một kẻ vô gia cư nào khác. Ba mươi lăm năm sau vào giữa mùa xuân và cũng vào một đêm giữa tháng năm trăng tròn, dưới một gốc cây trong một khu rừng hoang vắng, thái tử Tất-đạt-đa đạt được Giác Ngộ và trở thành một vị Phật. Đức Phật thuyết giảng lần đầu cũng dưới một gốc cây nơi khu vườn Tiên Uyển (Sarnath). Tám mươi tuổi, kiệt lực, Đức Phật cũng lại nằm xuống đất giữa hai gốc cây trong một khu rừng, Từ ngày lánh xa thế tục, Đức Phật chỉ có hai manh áo cà sa thay đổi trên người, một chiếc bình bát trên tay, và đi chân đất để khất thực. Ngài luôn dừng lại bên ngoài các khu đô thị hầu tránh xa các cảnh bon chen. Ngoài giáo lý mà Đức Phật đã để lại cho nhân loại, chính cuộc sống của Ngài cũng là một tấm gương cho chúng ta cùng soi. Một người tu tập chân chính có cảm thấy khiếp sợ - nếu không muốn nói là kinh hoàng - khi đọc những gì mà bài báo trên đây đưa ra hay không? Rồi đây, Lâm-tì-ni sẽ trở thành một nơi đô hội, một bãi chiến trường giữa những kẻ âm mưu, một nơi hội tụ của những kẻ thừa cơ nước đục... Ai sẽ thắng, và ai sẽ thua? Hàng nghìn khách sạn sẽ mọc lên, ngành du lịch tâm linh ở Lâm-tì-ni sẽ trở thành một kỹ nghệ béo bở. Thánh địa Lâm-tì-ni sẽ trở thành một "quyền lực mềm" của một quốc gia lãnh đạo nào hay một chủ nghĩa chính trị nào đây? Một vài tư liệu cho biết rằng vua A-dục bãi bỏ thuế khóa cho ngôi làng Lâm-tì-ni, trong khi đó một vài tư liệu khác thì lại cho rằng nhà vua này chỉ giảm thuế, dầu sao đi nữa thì đấy cũng không hề là một biện pháp trục lợi. Thật vậy chủ đích chính yếu của bốn ngôi chùa và trụ đá của vua A-dục là để biến Lâm-tì-ni thành một trong những nơi hành hương mang lại những xúc cảm tinh khiết cho những người tu hành chân chính hầu giúp họ đến gần với Đức Phật hơn. Vào thế kỷ thứ IV có một nhà sư Trung Quốc khác thường là Pháp Hiền, quyết tâm sang Ấn Độ để tu học. Ông khởi hành bằng đường bộ và rời Trường An năm 399, đi xuyên qua sa mạc Gobi, các vùng Tân Cương, Khotan, và sau đó là Afghanistan và Pakistan ngày nay... Ông đi ngang làng mạc và đô thị, nơi nào cũng theo Phật Giáo, dân chúng tổ chức các lễ hội thật vui và long trọng. Pháp Hiền đến lãnh thổ Ấn năm 402. Ông lưu lại trong vùng thung lũng sông Hằng để tu học và viếng các nơi thắng tích Phật Giáo. Sau đó ông quay lại các vùng Peshawar, Kaboul thuộc Afghanistan ngày nay để viếng thăm các vùng Phật Giáo này. Trước khi quay về Trung Quốc ông xuống miền nam nước Ấn và đến Tích Lan, nơi đây ông khám phá ra nhiều kinh sách chưa hề có ai ở Trung Quốc biết đến. Năm 413 ông rời Tích Lan bằng đường biển để trở về quê hương. Trên đường ông suýt chết vì ghe bị đắm. Ông ghé được vào đảo Java của Indonesia, và tại nơi này ông gặp nhiều người đồng hương sang đây tu học. Lúc đó đảo Java chưa có ngôi đền Borobudur, vì ngôi đền nổi tiếng này chỉ bắt đầu được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ VIII. Sau đó ông lại tìm ghe khác để trở về Trung Quốc. Trong chuyến trở về quê hương này có thêm bốn nhà sư khác tháp tùng, thế nhưng chỉ có mình ông là sống sót và về đến được Trường An vào năm 414. Ông để ra hai năm để viết quyển hồi ký mang tựa là "Phật Quốc Ký" thuật lại cuộc hành trình mười lăm năm của mình ở Ấn Độ và Tích Lan. Vài năm sau đó thì ông qua đời. Hành hương và tu học là ý chí và lòng nhiệt tâm của một con người và đôi khi cũng là lý tưởng của cả một đời người. Sự thúc đẩy đó không cần đến sự hậu thuẫn của các diễn đàn, liên đoàn, ngân hàng, hay sự hậu thuẫn chính trị của các đảng phái hoặc một quốc gia nào cả, cũng không cần đến các tổ chức du lịch đan vào nhau như một mạng lưới ở khắp các quốc gia Phật Giáo. Chắc hẳn rồi đây chúng ta sẽ có thể đến viếng Lâm-tì-ni thật dễ dàng theo các tour du lịch rẻ tiền. Trong số những người hành hương tất sẽ có những người thật thà, dành dụm chắt chiu để cúng dường, hầu góp phần mang lại lợi nhuận cho những số vốn đầu tư hàng tỉ đô-la. Thế nhưng cũng có những người giàu có cúng dường để trấn an lương tâm mình. Dầu sao thì chúng ta cũng rất có thể sẽ đến Lâm-tì-ni bằng các tour du lịch với chương trình một hoặc hai tuần có người hướng dẫn chuyên nghiệp có thể nói được nhiều ngôn ngữ khác nhau, nhằm giúp chúng ta cầu xin được thêm một ít phước lành. Có mấy ai nhớ được là Đức Phật sinh ra dưới một gốc cây ở một nơi cách biệt với cung điện của vua cha, và sau này chỉ có một bình bát trên tay, thì làm thế nào ban phước lành và sự giàu có cho chúng ta được. Âu châu văn minh ngày nay cũng chẳng khá hơn, chẳng hạn như ở một nước rất sùng đạo, trong các vùng thôn quê, làng này đồn đại và rỉ tai là làng kia có xảy ra phép lạ nhờ đi hành hương và uống nước thánh. Bọn trục lợi quả thật khéo léo và tài tình, xe của các tour du lịch đầy ắp những người nông dân chất phác và những người lớn tuổi thật thà. Các nước có thánh địa tiếp rước hàng triệu du khách mỗi năm, mạng lưới du lịch tâm linh thật nhộn nhịp khắp Âu Châu và thế giới. Hình ảnh những người hành hương thành kính thường xuyên được đưa lên thật khéo léo trên truyền hình. Đấy vừa là "quyền lực mềm" vừa là một nguồn tài chính khổng lồ cho một số quốc gia Ấu Châu. Cái mô hình đó đang được xuất cảng sang Á Châu. Vào thế kỷ thứ VII, giữa thời kỳ vàng son của nền văn minh Trung Quốc và sự phát triển cao độ của Phật Giáo ở xứ sở này, người ta lại thấy có một nhà sư khác thường khác là Huyền Trang. Ông rời Trường An vào năm 629 sang Ấn hành hương và tu học. Ông đi ngang các vùng Tây Vực theo Phật Giáo mà nhà sư Pháp Hiền đã đi ngang trước đó hơn hai thế kỷ. Vào thời kỳ mà Huyền Trang đi ngang các vùng này thì nhiều nơi đã hoặc đang trở thành Hồi Giáo. Bởi vì tôn giáo này được hình thành ở nước Á Rập Saudi vào thế kỷ thứ VII đang phát triển rất nhanh trong toàn vùng Trung và Cận Đông. Nói chung thì những gì nhà sư Huyền Trang trông thấy đấy là những hiện tượng mà Phật Giáo gọi là vô thường. Huyền Trang quay về Trung Quốc mười sáu năm sau tức là vào năm 645. Ngoài số kinh sách mang về còn có một quyển nhật ký của ông mang tựa là " Đại Đường Tây Vực Ký" ghi chép những gì do chính ông tai nghe mắt thấy nơi xứ sở của Đức Phật và các nơi thắng tích trong thung lũng sông Hằng. Hai quyển sách "Phật Quốc Ký" và " Đại Đường Tây Vực Ký" trên đây là hai tài liệu vô giá về Phật Giáo trên đất Ấn và cả lịch sử của quốc gia này. Quyển "Phật Quốc Ký" của Pháp Hiền được dịch sang tiếng Pháp và tiếng Anh rất sớm từ hậu bán thế kỷ XIX. Một nhà khảo cổ người Đức là Alois-Anton Führer dựa vào quyển "Phật Quốc Ký" của Pháp Hiền đã tìm được vị trí của Lâm-tì-ni vào năm 1896. Một năm sau người ta tìm thấy trụ đá và sau đó là các lớp nền của bốn ngôi chùa do vua A-dục xây dựng. Khởi đầu Lâm-tì-ni là một khu vườn thanh tú dưới triều đại của vua Tịnh Phạn, sau đó đã trở thành một ngôi làng trù phú và một thắng tích thiêng liêng dưới triều đại của vua A-dục, và sau cùng là một vùng hoang sơ và nghèo nàn khi nhà khảo cổ Alois-Anton Führer đến đây. Vào thế kỷ XIV nhà vua Ripu Malla của xứ Nepal hành hương nơi này và đã cho ghi khắc thêm trên trụ đá của vua A-dục một câu đánh dấu cuộc viếng thăm của mình, và đấy cũng là dấu tích lịch sử cuối cùng của Lâm-tì-ni. Lý do của sự yên lặng hay quên lãng đó của Lâm-tì-ni cũng không phải là quá khó hiểu. Các đạo quân Hồi Giáo tràn vào đất Ấn vào thế kỷ XII đã sử dụng mọi phương tiện để tận diệt Phật Giáo và cả Ấn Giáo. Thế nhưng đối với Ấn Giáo thì hình như các đạo quân Hồi Giáo có phần nương tay hơn. Có thể là vì Ấn Giáo cũng là một tín ngưỡng tin vào Thánh Kinh và một Đấng Toàn Năng gần tương tự như Hồi Giáo? Một lý do khác là Ấn Giáo là một tín ngưỡng mang tính cách đại chúng, sự sinh hoạt ăn sâu vào gia đình và làng mạc, trong khi đó thì Phật Giáo có những tổ chức tập thể lộ liễu hơn, chẳng hạn như tăng đoàn của đại học Na-lan-đà gồm hơn mười ngàn nhà sư. Sau thế kỷ XIII có thể nói là Phật Giáo đã hoàn toàn biến mất ở Ấn Độ, trong khi đó thì Ấn Giao hồi phục nhanh hơn. Tóm lại Lâm-tì-ni chìm sâu trong sự quên lãng của lịch sử kể từ thế kỷ XV cho đến khi nhà khảo cổ người Đức tìm đến nơi này vào cuối thế kỷ XIX. Có một nhân vật trong lịch sử Phật Giáo ít người chú ý đến, thế nhưng lại là một trong những nhân vật có công lớn nhất và không thể nào chối cãi được, ấy là vị quốc sư Ưu-bà-cúc-đa dưới triều đại của vua A-dục. Ông không nổi danh như Long Thụ, Vô Trước, Bồ-đề Đạt-ma, Huệ Năng hay Đạo Nguyên... Thật vậy ông không phải là một luận sư hay triết gia và cũng không hề sáng lập ra một học phái nào cả, thế nhưng chính ông là người đã giúp vua A-dục đến gần với Phật Giáo, đã khuyên vua A-dục xây cất hàng chục ngàn bảo tháp để phân tán xá lợi ra khắp mọi nơi trong đế quốc của mình giúp người dân đến gần với Đạo Pháp và Đức Phật hơn. Thật vậy các phương tiện di chuyển của hơn hai ngàn năm trước có phải như ngày nay đâu. Ưu-bà-cúc-đa cũng là người chủ xướng việc kết tập Đạo Pháp lần thứ ba và cũng đã chủ tọa đại hội này để thanh lọc những gì thêm thắt và dị đoan trong một giai đoạn phát triển hỗn tạp và quá nhanh của Phật Giáo, nhờ vào sự ưu đãi của hoàng triều A-dục. Chinh là nhờ vào lần kết tập này, Luật Tạng và Kinh Tạng được hình thành thật tinh khiết và được truyền bá đi khắp nơi. Nếu Ưu-bà-cúc-đa đã đứng bên cạnh vua A-dục khi nhà vua này ra lệnh xây dựng bốn ngôi chùa và trụ đá ở Lâm-tì-ni, thì ông cũng đã đứng sau lưng vị vua này trong các chương trình hoằng Pháp xa hơn thung lũng sông Hằng và bên ngoài biên giới của đế quốc Maurya. Sự âm thầm và khiêm tốn đó của một nhà sư chân chính thật hết sức tương phản với các âm mưu và những sự khuấy động của các nhân vật như Pushpa Kamal Dahal, Kenzo Tange, Xiao Wunan, Kwaak Young Hoon, Karan Singh, Jayadeva Ranade... và cả đám trục lợi cá mè một lứa, do ký giả Frédéric Robin nêu lên trong bài báo trên. "Vinh dự" duy nhất mà Ưu-bà-cúc-đa có lẽ cũng không mong muốn và cũng không hề chờ đợi, là sau này người ta xếp ông với ít nhiều gượng ép, đứng vào hàng thứ năm trong danh sách các vị tổ của Thiền Tông. Cách nay ít lâu người dịch có viết một bài ngắn về "Câu chuyện một con đường", thuật lại cuộc hành trình của một người tu tập. Trên con đường đó có những người đi ngược chiều mà người tu tập phải tránh ra để không đâm sầm vào họ. Hai bên vệ đường diễn ra những cảnh cướp giật, đâm chém, bom nổ, nhà cháy, cầu sập, có những sòng bài, nhà hát tấp nập và cả những hố sâu, vực thẳm... Chúng ta không nên dừng lại để tham gia vào những thứ ấy, cũng không nên kéo nhau ra hai bên vệ đường để tả xung hữu đột. Nói thế không có nghĩa Phật Giáo là một tín ngưỡng chủ trương phải bịt tai, bịt mắt và bịt miệng tương tự như hình ảnh của ba con khỉ. Bước vào con đường tức đã là một một sự dấn thân rồi, thế nhưng sự dấn thân ấy không hề bắt buộc chúng ta phải mù quáng, trái lại chúng ta phải nhìn thấy những gì đang xảy ra ở hai bên vệ đường hầu giúp chúng ta ý thức được là mình phải nhanh chân và bước những bước vững chắc hơn. Và đấy cũng chính là mục đích của bài chuyển ngữ bé nhỏ này. Bures-Sur-Yvette, 26.09.13 Hoang Phong chuyển ngữ
  17. VĨNH BIỆT NGƯỜI VỀ SÔNG TƯƠNG ngày 13/05/2013 TRẦN KIÊM ĐOÀN Nhạc sĩ Văn Giảng Thầy Ngô Văn Giảng vừa tạ thế tại Úc, hưởng thọ 89 tuổi. Tin buồn loan ra, tôi bâng khuâng nhớ về 54 năm trước, năm 1959, thầy là giáo sư âm nhạc của chúng tôi tại trường Hàm Nghi, Huế. Thuở ấy, thầy mới ngoài 30, dáng điệu phương cường, đi chiếc xe gắn máy hiệu Zunndapp của Đức nổ bịch bịch nổi bật cả sân trường. Tôi còn nhớ ngày đầu tiên khi Thầy bước vào lớp đệ Thất B1 của chúng tôi, trò Trương Phước Ni bắt tay làm loa đứng dậy chào thầy bằng câu: “Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn…”Thầy cười rất tươi cho cả lớp, nhưng cũng lâp nghiêm nhìn chú học trò rắn mắt ở dãy bàn cuối lớp. Đây là câu mở đầu của hùng ca Lục Quân Việt Nam, một trong những bài ca mang tiết điệu hành khúc, hùng tráng nổi tiếng nhất của Thầy – nhạc sĩ Văn Giảng – như Thúc Quân, Đêm Mê Linh, Qua Đèo, Nhảy Lửa… Thầy đã là một nhạc sĩ thành danh, nổi tiếng trong cả nước, trước khi trở thành giáo sư âm nhạc của trường Hàm Nghi. Nhưng nhiều người chỉ biết Văn Giảng qua những bản hùng ca. Bởi thế, vào mấy năm đầu thập niên 1950, khi bản nhạc để đời của Thầy, Ai Về Sông Tương, trở thành một bản tình ca thời danh với tên tác giả làThông Đạt thì ít ai để ý rằng, trong góc khuất của những tâm hồn nghệ sĩ thì bên cạnh nhịp đời hào hùng vươn tới vẫn có tiếng thở dài chan chứa điệu buồn. Hai niên khóa học với nhạc sĩ Văn Giảng, tôi thích học nhạc thì ít mà mê Thầy kể chuyện thì nhiều. Cứ mỗi cuối giờ, Thầy có một câu chuyện kể về các giai thoại âm nhạc. Thích nhất là những chuyện thâm cung bí sử của những nghệ sĩ âm nhạc tài hoa. Chẳng hạn như bản nhạc Ngày Về của Hoàng Giác, Thầy xướng âm lên và phân tích cho chúng tôi nghe rằng, tiết điệu của bài ca có một nhịp điệu trãi dài xa vắng và âm hưởng thương nhớ quặn lòng “rất Tây Phương” vì đây là bản nhạc do một người lính Đức trong đội quân viễn chinh của Pháp viết lên giai điệu. Nhạc sĩ Hoàng Giác chỉ soạn ca từ… Hoặc như bản nhạc Trầm Hương Đốt của Bửu Bác, xuất xứ là bài Hải Triều Âm. Đây là một trong những bản nhạc nghi lễ đầu tiên dùng trong sinh hoạt chùa viện đã bứt phá từ giai điệu ngũ âm “Đăng Đàn Cung” để tiến lên bát cung của phương Tây. Bởi vậy mà ảnh hưởng âm điệu “thánh ca nhà thờ” thể hiện rất rõ trong giai điệu của bản nhạc. Nhưng thú vị hơn cả là lịch sử bản nhạc Ai Về Sông Tương. Thầy kể rằng, thời trai trẻ, Thầy ở Thành Nội và yêu một cô gái ở Kim Long – Kim Long có gái mỹ miều; trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều trẫm đi… mà – nhưng duyên không thành vì gia đình nho phong của cô bé không có cái nhìn thiện cảm với đời nghệ sĩ, nhất là nghệ sĩ trong ngành âm nhạc, xướng ca… Thế là chia tay và cô bé đi lấy chồng! Rồi một hôm, Thầy vào rạp Xi-nê Tân Tân, gần cầu Trường Tiền bên bờ Bắc sông Hương để coi phim “Bé Nhà Trời” (Les enfants du paradis). Ngay trước mắt Thầy, ờ hàng ghế trước có một cô Bé tóc dài. Tuy nhìn không rõ mặt nhưng từ dáng dấp đến hương tóc thoang thoảng mùi hoa Ngâu của người thiếu nữ đã làm sống lại hình ảnh người tình Kim Long. Thầy bị xúc động đến nỗi không thể còn ngồi lại lâu hơn trong rạp chiếu bóng để xem phim, nên vội vàng ra khỏi rạp. Thầy cỡi chiếc xe đạp Dura Mercier của Thầy và đạp xe dọc theo bờ sông Hương để vô cửa Thượng Tứ vào nhà ở Thành Nội. Thoáng chốc dòng sông Hương hiện ra như là dòng sông Tương chia biệt trong truyện tình cổ thư Trung Quốc. Thầy vừa đến nhà là dựng ngay chiếc xe đạp ngoài hiên, đi nhanh vào nhà và vội vã sáng tác bản nhạc bằng tất cả sự hoài niệm và háo hức nghệ thuật với sự chấn động dị thường như phép lạ hóa thân. Bản nhạc Ai Về Sông Tươngđược viết ra trong vòng mười lăm phút! Sau đó, Thầy bí mật ký tên là Thông Đạt và chép một bản gởi ra đài phát thanh toàn quốc là đài Pháp Á ở Hà Nội. Ngay sau đó, Mạnh Phát vừa là nhạc sĩ vừa là ca sĩ đã hát bản Ai Về Sông Tươnglần đầu trên đài Pháp Á Hà Nội. Bản nhạc sáng tác năm 1949 đã nhanh chóng nổi tiếng trong toàn cả nước. Đã trải qua hơn 60 năm, những mối tình đã cũ, những hẹn hò thuở răng trắng tóc xanh đã thành “răng long đầu bạc”. Nhưng Ai Về Sông Tương vẫn mới như thời gian là nước chảy qua cầu, vẫn còn là tiếng lòng tình tự của những đôi tình nhân ước hẹn không thành. Bản nhạc với một giai điệu thướt tha lãng mạn, lời lẽ đậm nét hoài niệm trữ tình làm dậy lên nguồn tình cảm sướt mướt, mượt mà mà rất “sang” ấy như một dòng suối tươi tắn, mát dịu trong một hoàn cảnh tạm hồi sinh sau cuộc chiến: Ai có về bên bến sông Tương Nhắn người duyên dáng tôi thương Bao ngày ôm mối tơ vương Tháng với ngày mơ nhuốm đau thương Tâm hồn mơ bóng em luôn Mong vài lời em ngập hương… Cũng theo lời Thầy vui vui kể chuyện rằng, Mạnh Phát, là bạn thân của Văn Giảng, đã nhờ Văn Giảng đến nhà ấn hành tân nhạc gần như độc nhất thời bấy giờ là nhà xuất bản Tinh Hoa ở Huế do ông Tăng Duyệt làm giám Đốc để hỏi cho ra Thông Đạt là ai ngay sau khi bản nhạc phát trên đài Pháp Á. Nhưng mãi đến ba tháng sau thì tông tích của Thông Đạt mới được tiết lộ. “Mạnh Phát vô Huế chơi khi biết tui là Thông Đạt, hắn đấm lưng tui thùi thụi như rứa thì thôi!” Thầy Văn Giảng nói. Một lần trong giờ học nhạc, trò Nguyễn Xuân Huế là tay đọc tiểu thuyết đệ nhất trong lớp hỏi Thầy: “Thưa Thầy, tại sao mình có sông Hương, mình cũng có Hương giang đầu, Hương giang vỹ mà Thầy lại phải vay mượn sông Tương của Tàu như rứa ạ?”. Thầy trả lời, đại khái là tại sông Hương chưa có chuyện tình nào nổi tiếng trong tình sử như sông Tương. Tương Giang là một con sông ởTrung Hoa, bắt nguồn từ núi Duyên Hải, chảy qua Hồ Nam dài hơn hai ngàn dặm. Còn ý “ai về sông Tương” của Thầy trong bản nhạc là bắt nguồn từ cảm hứng của bốn câu thơ tình sử trích từkhúc Trường Tương Tư của nàng Lương Ý, đời Hậu Chu. Nàng và Lý Sinh yêu nhau say đắm nhưng phải chia tay. Nàng làm thơ mong gửi gấm nguồn tâm sự đau khổ khi phải xa cách người yêu: Quân tại Tương Giang đầu Thiếp tại Tương Giang vĩ Tương tư bất tương kiến Đồng ẩm Tương Giang thủy ** (Chàng ở đầu sông Tương Thiếp ở cuối sông Tương Nhớ nhau không thấy mặt Cùng uống nước sông Tương) Trong những ngày phong trào đấu tranh Phật giáo xẩy ra tại Huế năm 1963, có lần tôi gặp Thầy trên con đò Thừa Phủ, Thầy nói là lên chùa Từ Đàm nhưng đường sá trở ngại phải đi đò sang sông rồi đi bộ lên chùa. Khi đò ra giữa sông tôi nghịch ngợm hỏi Thầy: “Thưa Thầy, đã có ai về sông Tương chưa ạ?” Thầy cũng cười đáp lại: “Đối với tôi thì sông Tương là sông Hương. Tôi chỉ mong cuối đời về lại con sông này…” Ngày đó và bây giờ, tôi tự hiểu khái niệm “cuối đời về lại” của Thầy là linh khí của con người luân lưu sống giữa hồn thiêng sông núi. Nếu vậy, thì hôm nay Thầy đã về sông Tương. Đó là lần cuối tôi gặp Thầy Văn Giảng. Nhưng sau đó không lâu, tôi lại được “gặp” Thầy qua một tác phẩm mang tính chất đạo ca của khách hành hương mà tôi đã gặp trên chuyến đò Thừa Phủ: Nhạc phẩm Từ Đàm Quê Hương Tôi. Lần nầy Thầy để tên tác giả là Nguyên Thông. Bản nhạc tuy được liệt vào thể loại nhạc tôn giáo nhưng cả giai điệu lẫn ca từ đã vượt ra ngoài khuôn khổ giới hạn của văn hóa chùa viện. Cảm quan nghệ thuật sáng tạo của người nhạc sĩ tài hoa đã dung hóa được tính chất tráng liệt của hùng ca như Thúc Quân, Lục Quân Việt Nam, làn điệu mượt mà lãng mạn của tình ca như Ai Về Sông Tương, Ai Đưa Con Sáo Sang Sông và biểu tượng thiêng liêng, siêu thoát của đạo ca như Mừng Đản Sanh, Ca Tỳ La Vệ, Từ Đàm Quê Hương Tôi: Quê hương tôi miền Trung Sớm hôm chuông chùa nhẹ rung Tiếng muôn đời hồn tổ tiên kiêu hùng Ôi uy nghiêm bóng chùa Từ Đàm Nơi yêu thương phát nguồn đạo vàng Qua bao giông tố chùa Từ Đàm tôi vẫn còn… Những nhạc sĩ tài hoa của nền tân cổ nhạc Việt Nam thuộc thế hệ Chiến Tranh Việt Nam lần lượt ra đi. Nghệ thuật và người nghệ sĩ đến với đời và ra đi không bằng tấm vé một chiều. Tác phẩm để lại cho thế hệ kế thừa sẽ làm cho con đường sáng tạo nghệ thuật rộn ràng và phong quang hơn. Với hơn 50 tác phẩm âm nhạc phong phú giá trị nghệ thuật để lại cho đời, nhạc sĩ Văn Giảng đã cống hiến phần tinh hoa lớn nhất của đời mình vì lợi lạc của tha nhân mà các nhà tu Phật giáo thường gọi là “công hạnh viên thành”. Thế hệ đàn em, học trò như chúng tôi có điểm tựa tinh thần đáng tự hào và trân trọng trong giờ phút tưởng niệm và bái biệt Thầy. Sacramento, mùa hoa sen tháng Tư, 2013
  18. Kính Bác Hà Uyên, anh Thiên Sứ và quí vị, Xin được có đôi dòng: 1. Theo Quyển Hòang Việt Giáp T‎í Niên Biểu của Tác giả Cụ Nguyễn Bá Trác Năm – 2879, Nhâm Tuất VN Đời Hồng Bàng , nguyên niên TQ Vua Nghi, năm 10 Năm – 2877, Giáp Tí thứ nhất VN Đời Hồng Bàng, năm 3 TQ Vua Nghi, năm 12 Năm – 2697, Giáp Tí thứ 4 VN, Đời Hồng Bàng, năm 183 TQ Vua Hòang Đế, nguyên niên. Năm – 2217, Giáp Tí thứ 12 VN Đời Hồng Bàng, năm 663 TQ Vua Thuấn, năm 39 Năm – 1 Canh Thân VN Thuộc nhà Hán, năm 111 TQ Hán Ai Đế, Nguyên Thọ, năm 2 Năm 1 Tân Dậu VN Thuộc nhà Hán, năm 112 TQ Hán Bình Đế, Nguyên Thủy, Nguyên niên Năm 4 Giáp Tí thứ 49 VN Thuộc nhà Hán, năm 115 TQ Hán Bình Đế, Nguyên thủy, năm 4 Năm 1804, Giáp Tí VN Hòang Triều Thế Tổ, Gia Long, năm 3 TQ Thanh Nhân Tông, Gia Khánh, năm 9 Năm 1813. Quí Dậu VN Hòang Triều Thế Tổ Cao Hòang Đế, Gia Long, năm 12 TQ Thanh Nhân Tông, Gia Khánh, năm 18 Hiện nay 2010 VN CHXHCN Việt Nam TQ CHNDTH 2. Theo sách Thái Ất Thần Kinh – TT NBKhiêm; NXBVHDT năm 2001 Số năm tính từ Thượng Cổ Giáp Tí (Tích Tuế) đến năm 2000 (Canh Thìn) là : 10.155.917 năm. Lịch Việt được 4879 năm. 3. Theo Bác Hà Uyên dẫn trên thì, Ngài Thiệu Khang Tiết chọn Hội Ngọ từ năm – 2217. 4. Năm – 2217 Giáp Tí là năm khởi mới cùa một Nguyên, hoặc một Hội, hoặc một Vận, hoặc một Thế (Nguyên Hội Vận Thế) tùy theo người chọn độ dài năm của Nguyên Hội Vận Thế : 129.600; 10.800; 4.320; 360. Nếu chúng ta tin số Tích Tuế 10.155.917 năm là đúng đến năm 2000 DL (Canh Thìn) thì, tính đến năm 2000 DL đã trải qua 78,36 Nguyên có độ dài 129.600 năm. Ta có : 129.600 * 78 nguyên = 10.108.800 năm Hiện nay chúng ta đang sống trong Nguyên thứ 79. Ta lấy 10.155.917 năm – 10.108.800 năm = 47. 117 năm Tìm Hội chúng ta đang sống. 47.117 năm : 10.800 năm = 4,36 Hội Suy ra chúng ta chúng ta đang sống trong Hội Thìn chứ không phải Hội Ngọ. Hội Thìn bắt đầu từ năm – 2217 Giáp T‎í Năm – 2217, Giáp Tí VN Đời Hồng Bàng, năm 663 TQ Vua Thuấn, năm 39 Đây cũng là căn cứ lý giải các Hòang Đế Phương Đông chọn Rồng làm biểu tượng quyền lực. Lịch Việt của Tổ Tiên chúng ta là chính xác, hợp với truyền thuyết con Rồng cháu Tiên. Chúng ta nên phân tích: - Tại sao dùng thời điểm Thất Tinh liên châu trong Hệ mặt trời làm mốc? - Hội mà Việt sử nói tới chiếm quãng thời gian là: 1080 x12 = 12. 960 năm (chính xác). - Đã nói đến Hội thì phải liên quan tới Nguyên 129600 năm, bởi Hội chỉ là một cung của Nguyên. Cho nên, điểm khởi của Nguyên phải quán xét. - Nếu thực tế, tầm quan sát thiên văn vượt ngoài khả năng, có thể xảy ra 2 điểm: quy tắc vận động vi mô như của sinh lý con người như kinh mạch hoặc quy tắc vận động vĩ mô từ khởi nguyên vũ trụ để tìm mối liên quan giữa các chu kỳ âm dương ngũ hành lớn và nhỏ. Lý giải điểm khởi đầu của 1 Nguyên là hết sức khó khăn.
  19. Hoa Kỳ: Triển lãm báu vật Hàn Quốc “Tượng Phật Di Lặc" tại New York (PGVN) Tượng Phật Geumdong Mireuk Bosal Bangasang Quốc bảo của Hàn Quốc sẽ đến với New York Hoa Kỳ nhằm giới thiệu mỹ thuật của di sản văn hóa Hàn Quốc ra nước ngoài. Cục Di sản Văn hóa Hàn Quốc đã quyết định giới thiệu tượng Phật Geumdong Mireuk Bosal Bangasang trong một triển lãm đặc biệt mang tên “ Silla, Korea’s Golden Kingdom” tổ chức tại bảo tàng nghệ thuật Metropolitan New York Metropolitan New York, Hoa Kỳ từ ngày 29/10/2013 đến ngày 23/02/2014. Bức tượng Phật (Geumdong Mireuk Bosal Bangasang) sẽ được đưa ra nước ngoài để triển lãm tại Mỹ vào tháng 10 tới. (Cung cấp ảnh: Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc) Kho báu Quốc gia Hàn Quốc thuyết minh được mô phỏng theo tư tưởng của Thái tử (Taeja). Trong ghi chép có ghi rằng; đức Phật khi còn là Thái tử (Taeja) Ngài đã sống trong cung điện, thụ hưởng ngọc ngà châu báu giàu sang tột đỉnh. Thế nhưng, với thời gian, do suy tư sâu sắc và lòng thương người bẩm sinh, Thái tử không thể nào cam tâm một mình sống mãi trong nhung lụa, giữa một xã hội bất công, một thế giới đau khổ. Thái tử sớm giác ngộ về tính tạm thời, tầm thường của hạnh phúc vật chất thế gian và có ý chí xuất gia cầu đạo giải thoát, tìm ra con đường cứu vớt chúng sinh ra khỏi già, đau, chết và mọi nỗi bất hạnh khác của đời người. Tượng Phật Geumdong Mireuk Bosal Bangasang) được phỏng đoán chế tác trong thời Silla (57 B.C – A.D 935), có độ cao khoảng 93.5 cm, trên đầu 3 mặt gắn 3 hình tròn bán nguyệt, nên còn được gọi là “ Phật 3 ngọn núi”. Bức tượng với hình dáng ngồi chân phải gác lên đùi trái, tay phải nhẹ nhàng tì vào cằm, một cơ thể cân đối, nếp gấp áo theo một khối lập thể cùng với sự thể hiện trên khuôn mặt của mắt, mũi, miệng trong một nụ cười nhẹ nhàng đã cho thấy kỹ thuật đúc tinh sảo của thời Silla. Bức tượng Phật Geumdong Mireuk Bosal Bangasang mỉm cười hiền hòa và tay phải nhẹ nhàng tì vào cằm. (Cung cấp ảnh: Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc) Cho đến thời điểm này, tượng Phật Geumdong Mireuk Bosal Bangasang đã đưa ra nước ngoài triển lãm trong một thời gian dài khoảng 3.000 ngày với tổng số 8 lần triển lãm. Từ tháng 10 năm nay, tượng Phật Geumdong Mireuk Bosal Bangasang) sẽ được triển lãm tại bảo tàng nghệ thuật Metropolitan New York, Hoa Kỳ trong một triển lãm đặc biệt mang tên “Silla, Korea’s Golden Kingdom”. Ngoài bức tượng Phật, triển làm còn giới thiệu khoảng 100 di vật thời Silla thời kỳ tiêu biểu của văn hóa cổ đại Hàn Quốc như khuyên tai vàng, đai lưng vàng, vương miện vàng mà hoàng hậu thời Silla sử dụng. Thích Vân Phong
  20. Sau Trần Hưng Đạo, chỉ có Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Thánh Tướng Theo tiêu chuẩn thời xưa, các vị tướng được đánh giá theo cấp bậc như sau: trước tiên là bậc Dũng Tướng, sau đó đến bậc Trí Tướng, cao hơn nữa là bậc Nhân Tướng và cuối cùng, cao cả nhất là bậc Thánh Tướng. Ngậm ngùi tiếc nuối vì món quà dâng tặng Đại tướng chưa hoàn thành mà bác đã đi xa, Giáo sư sử học Lê Văn Lan, người vừa được tôn vinh “Công dân thủ đô ưu tú 2013” đã có những chia sẻ với về vị Tổng tư lệnh tối cao của Quân đội nhân dân Việt Nam bên lề lễ kỷ niệm 59 năm Ngày giải phóng Hà Nội. Ông nói: “Cách đây hơn một năm, tôi và các đồng nghiệp có dự định tạc tượng Đại tướng, xem đó là món quà thành tâm dâng lên Người. Thông qua gia đình, Đại tướng đã biết tới dự án này. Nhưng thật buồn là chúng tôi chưa kịp hoàn thành thì Đại tướng đã ra đi rồi... Trong lúc thai nghén, triển khai bước đầu dự án, chúng tôi đã thống nhất đặt tướng Giáp vào vị trí trung tâm giữa 4 danh tướng được thảo luận, lựa chọn để tôn vinh. Chúng tôi sẽ cố gắng sớm hoàn tất dự án này. Hy vọng ở nơi cao xa, Đại tướng sẽ mỉm cười”. - Ở góc độ lịch sử, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuộc hàng danh tướng nào thưa ông? Theo tiêu chuẩn thời xưa, các vị tướng được đánh giá theo cấp bậc như sau: trước tiên là bậc Dũng Tướng, sau đó đến bậc Trí Tướng, cao hơn nữa là bậc Nhân Tướng và cuối cùng, cao cả nhất là bậc Thánh Tướng. Duy nhất có một danh tướng trong quá khứ của dân tộc đã đạt được tới hàng Thánh Tướng là Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp chắc chắn là Dũng Tướng, Trí Tướng, Nhân Tướng rồi, nhưng giờ đây rất may, chúng ta đang được chứng kiến một hiện thực - sự chuyển hóa, hóa thân từ vị trí cao trong hàng danh tướng, Đại tướng đang dần trở thành Thánh Tướng. Với việc những cựu chiến binh trên 90 tuổi lập đền thờ, người dân khắp nơi sùng kính, tôn thờ Đại tướng bằng mọi hình thức thiêng liêng, thánh thiện, rõ ràng đó là sự chuyển hóa của Đại tướng từ chỗ Nhân Tướng thành bậc Thánh Tướng ở thời đại chúng ta. Như vậy, lịch sử đã có thêm một vị Thánh Tướng nữa. - Điều gì mà lịch sử chưa tường tận, chưa nói hết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thưa ông? Tôi thấy trăm nghìn vạn người bằng tất cả sự chân thành, sự xúc động đến tận đáy lòng, với sự huy động tất cả các khả năng của trí tuệ đã phát biểu rất đầy đủ, rất đúng đắn về các phương diện cuộc đời Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nếu cần bổ sung, tôi nghĩ có một điều mà tôi đã trăn trở từ lâu, cũng là tâm nguyện của nhiều đồng chí lãnh đạo trong quá khứ, đó là: Nếu có một người duy nhất xứng đáng để được phong Nguyên soái thì đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Với độ lùi của thời gian, chúng ta hoàn toàn có thể dùng thuật ngữ này, danh hiệu này để tôn vinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đó là vị thầy, bậc tổ của học thuyết quân sự Việt Nam ở thời đại mới, học thuyết về chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân. Đó là vị trí, danh hiệu mà tôi tin rằng Đại tướng hoàn toàn xứng đáng được nhận. - Theo ông điều gì đã giúp thầy giáo dạy sử Võ Nguyên Giáp trở thành vị tướng quân sự tài ba? Tôi muốn nhắc lại một câu của Karl Marx: “Trên đời này chỉ có một khoa học duy nhất là khoa học lịch sử”. Từ chỗ duy nhất này hoàn toàn có thể triển khai, mở mang tới các lĩnh vực khác trong lịch sử, trong cuộc sống và trong cái thế giới mênh mang đầy rẫy bức xúc do nhu cầu, đòi hỏi như thế này. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một người đã làm được như thế. - Vì sao Đại tướng chọn nơi yên nghỉ là Quảng Bình, nhưng không phải là nơi "chôn nhau cắt rốn", thưa ông? Một truyền thống của dân tộc ta đã được đọng lại ở các nhân vật lớn đó là tấm lòng vì quê hương, tự thức rõ rệt về quê hương, bản quán. Các bậc minh quân thời xưa hay đế vương khi băng hà đều có nhu cầu trở về quê cha đất tổ của mình, từ nhà Lý, nhà Trần tới nhà Lê... Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng ở trong thế giới của những tâm trạng, suy tư, truyền thống đó. Ông đã nhận Quảng Bình là quê ở cái mức rộng hơn nơi chôn nhau cắt rốn của mình, cho nên một chỗ nào đó ở Quảng Bình cũng là đúng nguyện vọng của ông nói về quê hương rộng hơn của mình. - Theo ông, con đường nào xứng đáng để đặt theo tên Đại tướng? Rồi sẽ phải chọn, nhưng các tiêu chuẩn đã được xác định rồi, chỉ cần lùa thực tế vào các tiêu chuẩn đó là được. Tôi cho rằng đang có một cuộc bàn thảo, nhưng mọi người đều thống nhất là phải chọn một con đường to lớn, chính yếu, đẹp đẽ và có vị thế quan trọng để xứng với sự nghiệp, nhân cách của Đại tướng. Tuy nhiên, không chỉ ngần ấy tiêu chuẩn, ta sẽ cần bổ sung nữa. Đó sẽ là cơ sở để chọn đường mang tên Đại tướng. Có một điều chắc chắn là phải theo các tiêu chuẩn ấy chứ không được tùy hứng, tùy tiện lựa chọn chỗ này, chỗ kia được. - Kể từ khi nghe tin Đại tướng qua đời, hàng chục vạn người con ở khắp mọi miền Tổ quốc, thậm chí ở nước ngoài đã đến số nhà 30 Hoàng Diệu để viếng người anh hùng dân tộc này. Sự thành kính với tất cả tấm lòng này có ý nghĩa lịch sử gì thưa ông? - Đó là tấm lòng của nhân dân. Tôn vinh bằng bia đá, bảng vàng thì cũng có lúc bia đá, bảng vàng mòn đi, nhưng sự tôn vinh của lòng dân thì vĩnh cửu, đẹp đẽ và mạnh mẽ nhất. Dòng người đến viếng Đại tướng dài vô tận chính là minh chứng hùng hồn cho điều đó. - Vậy còn ông, người con ưu tú của Thủ đô, trong bối cảnh hiện tại, người dân khắp cả nước đang rơi lệ tiễn đưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp về nơi an nghỉ cuối cùng, khúc ruột miền Trung đang chìm trong bão lũ, tâm trạng của ông khi đón nhận danh hiệu này thế nào? Đây là một hoàn cảnh đặc biệt với những người được vinh danh vào năm 2013. Trước đó, vào năm 2010, đồng đội, bạn bè của chúng tôi đón nhận danh hiệu vẻ vang này với tâm trạng tưng bừng, hồ hởi, 1000 năm Thăng Long mới có một ngày như thế. Năm nay quả là có nhiều sự khác biệt. Nhưng mà chúng ta đã có câu rất hay: Trong cái khó ló cái khôn chứ không phải cái khó bó cái khôn. Tôi cho là chính trong hoàn cảnh đặc biệt của năm 2013 này, chúng tôi càng thấm nhuần câu nói của Đại tướng mà mấy ngày qua người ta nhắc đi nhắc lại nhiều: “Tôi sống ngày nào là sống vì Tổ quốc của tôi”. Cá nhân tôi, thôi không dám theo như đồng chí Võ Đại tướng vĩ đại, tôi sống ngày nào cũng là vì Hà Nội yêu dấu của tôi. Chúng tôi sẽ nhân việc khắc phục khó khăn trong hoàn cảnh này, càng thêm hiểu biết, nhận thức về công việc của mình – thứ từ lâu nay gần như vắt kiệt hết sức lực, tâm trí và khả năng của chúng tôi. Trong bối cảnh vừa tưng bừng, vui vẻ, vừa khó khăn, buồn rầu như thế này, tôi cho rằng đây là dịp để 4 hạng mục công trình mình đã làm suốt bao nhiêu năm nay là viết, nói, làm các chương trình vô tuyến truyền hình, điện ảnh, là thành viên thuộc hội đồng thẩm định các dự án, tư vấn và thẩm duyệt các đề tài..., giờ tôi phải làm sao cho tốt hơn, mạnh mẽ hơn dù khó khăn đến mấy. - Ông từng nói ông còn ba món nợ của đời mình với Thủ đô... Thứ nhất, nợ Hà Nội – nơi đã hình thành, nuôi dưỡng, rèn tạo tôi thành nhà sử học như bây giờ. Thứ hai là món nợ với những người không phải là Hà Nội gốc như tôi, nhưng họ đã đến với Hà Nội và đã làm được rất nhiều việc cho Hà Nội, thậm chí còn có những người quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh như lời Bác Hồ từng nói. Tôi nợ các vị đó điều lớn lao ấy. Thứ ba, tôi nợ cả những người giờ đang đến ngấu nghiến, khai thác Hà Nội để hưởng thụ những lợi ích cá nhân, cả những người coi Hà Nội là chỗ đất thánh để đến đây ăn chơi nhảy múa, đua xe chẳng hạn hay thi thố những việc rất không xứng đáng với Hà Nội.Tôi nợ những vị này ở chỗ chưa mang đến cho các vị ấy tình yêu, tình thương với Hà Nội, nhất là chưa mang đến được cho các vị ấy sự hiểu biết sâu sắc, đúng đắn về Hà Nội để họ xem thành phố - nơi lắng hồn núi sông ngàn năm, nơi đứng đầu cả nước trong bao nhiêu nghìn năm như thế này thì phải ứng xử với nơi này như thế nào. Tôi nợ các vị ấy ở chỗ đó. - Ngoài những đóng góp trong thời gian qua, ông còn có những tâm nguyện nào muốn hoàn thành trước khi sức cùng, lực kiệt? Trong cuộc hành trình từ nôi đến mộ của mình, tôi đã đi được phần lớn, nếu không muốn nói là sắp hết cuộc đời, tôi luôn sống vì công việc của mình với Hà Nội. Tôi sẽ cố gắng hoàn thành các dự án còn dang dở và cố gắng trả được phần nào 3 món nợ đời trên. - Xin cảm ơn ông! Theo VTC
  21. Qtngoc Kính nhờ bác admin mở cho tôi quyền đăng ảnh đi, tôi làm một triển lãm ảnh Văn Thiên do các Cụ trên Thiên giáng về viết. 1. Cụ Quách Hữu Nghiêm 2. Đức Thánh Trần 3. Cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ... Anh cứ đang trực tiếp xem sao, thường mỗi lần đăng dưới 5 ảnh là ăn vào. Cũng trong diễn đàn này, Mục MINH TRIẾT VIỆT: trong cuốn sách 21-12- 2012 Cuộc chuyển thế vĩ đại: sẽ cập sự kiện Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vị Bồ Tát - thị giả của Phật Ngọc Hồ Chí Minh, cũng như Phật Sống Lưu Công Danh - Bồ Tát Thích Quảng Đức là những điểm then chốt báo hiệu sự Phục sinh của Phật Di Lạc - VUa Lạc Long Quân và Quan Âm Bồ Tát - Mẫu Âu Cơ. Hãy cứ đăng lên.
  22. Những tấm ảnh lễ tang Đại tướng rung động lòng người Trong suốt những ngày tác nghiệp tường thuật diễn biến lễ tang Đại tướng, các nhà báo đã ghi lại những tình cảm thiêng liêng của người dân VN dành cho Đại tướng. Khi linh cữu Đại tướng đi qua, người dân và những bạn sinh viên tình nguyện trên đường phố Hà Nội quỳ xuống vái lạy tiễn biệt Người - Ảnh: NGUYỄN KHÁNH Trang nhất báo Tuổi Trẻ ra ngày 13-10 cũng được rất nhiều bạn đọc chụp lại, chia sẻ trên mạng xã hội Rất nhiều trong số những tấm ảnh đó đã được cộng đồng mạng chia sẻ, gửi cho nhau như một lời tiễn đưa, một cách biểu thị tình cảm của cá nhân mình với người anh hùng dân tộc Võ Nguyên Giáp. Một trong số đó là tấm ảnh người dân và những bạn sinh viên tình nguyện trên đường phố Hà Nội quỳ xuống vái lạy tiễn biệt Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi linh cữu của Người đi qua. Tấm ảnh đã gây xúc động cho nhiều người. Tấm ảnh nữ cảnh sát giao thông trên đường Hoàng Diệu, Hà Nội bật khóc khi linh cữu Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi qua do tác giả Nguyễn Khánh, báo Tuổi Trẻ, chụp được rất nhiều bạn trẻ chia sẻ trên Facebook, đặt làm hình nền trên máy tính Những tấm ảnh do bạn đọc Lê Huy Hà gửi đến Tuổi Trẻ Online ngay khi linh cữu Đại tướng vừa đi qua lập tức được rất nhiều trang Facebook chia sẻ lại. Người dân Hà Nội đứng kín hai bên đường chờ linh cữu Đại tướng đi qua. Ảnh do bạn đọc Lê Huy Hà gửi đến Tuổi Trẻ Online Người dân vẫy chào Đại tướng lần cuối. Ảnh do bạn đọc Lê Huy Hà gửi đến Tuổi Trẻ Online Một bức ảnh ghi lại khoảnh khắc người dân Hà Nội tiễn đưa linh cữu Đại tướng được chia sẻ rất nhiều trên mạng xã hội - Ảnh: FB Tấm ảnh của nhà báo Lam Giang chụp người dân Quảng Bình đổ ra hai bên đường đón linh cữu Đại tướng về nơi an nghỉ cuối cùng. Theo nhà báo Lam Giang, tấm ảnh này được anh chụpở một khúc cua ngay đường từ sân bay Đồng Hới nối với quốc lộ 1A Theo Tuổi trẻ
  23. Trong bức thư pháp, chúng ta chú ý chữ tượng hình lớn nhất là HÌNH CON RỒNG quay ngược chiều kim đồng hồ, tức trở về Tiên Thiên.
  24. Cụ Quách Hữu Nghiêm là quan Thượng thư thời vua Lê Thánh Tông.Đây là bản chữ Thiên, không phải chữ Hán, không phải chữ Nôm, chữ Việt cổ. Thần khí của đại tướng Võ Nguyên Giáp được gói gọn lại trong 3 dòng. Giáp Nguyên Võ thượng quyền Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người có quyền tối thượng Thọ tỷ Nam Hà Quốc Người sống mãi mãi với đất nước Việt nam, (ví như tuổi thọ của Việt Nam vậy) Tuế vạn danh hữu thực Danh là danh thực và tồn tại muôn đời (vạn tuế: muôn năm) ----------- Lý Thần soi chiếu Thiên Cụ Quách Hữu Nghiêm là Thần quản Lý của Thiên (Câu dịch này có vẻ chưa ổn, ai có thể dịch lại chăng?) Quách Hữu Nghiêm lưu ký giáp Tỵ giáng bút đầu năm Tỵ tặng Đại tướng Gia đình ông Quách Tuấn Ngọc đã chuyển bức Văn Thiên đến gia đình đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân dịp ngày sinh thứ 103 (25/8/2013) của Đại tướng. Gia đình ông Ngọc chụp ảnh lưu niệm cùng gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp (bà Đặng Bích Hà, anh Võ Điện Biên và chị Võ Hoà Bình) Điều độc đáo là ở chỗ: Bức ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp này là được ghép lại từ hàng ngàn bức ảnh Võ Nguyên Giáp thu nhỏ. Chúng ta phải gọi là: Nay Đại tướng về Thiên hay Ngài hiển thánh (Như Đức Thánh Trần vậy) Hiện tượng giáng bút viết chữ Thiên là hiện tượng huyền diệu xẩy ra ở Việt Nam. Chữ đỏ Thiên Ứng là dấu ấn nơi giáng hạ. Được phép của chị Võ Hòa Bình, con gái Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nay xin công bố.
  25. Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Hậu duệ Phật hoàng Trần Nhân Tông (PGVN) Lúc về già, Đại tướng chọn cho mình cuộc sống giản dị bên vườn cây. Ông nghiên cứu kinh sách đạo Phật và hành thiền. Trong lòng dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã là một thánh nhân. Có người nói rằng, dân đã thờ ai thì không nhầm. Những ngày qua, một “quốc tang trong lòng dân” đang diễn ra trên khắp đất nước Việt Nam, trong đó có số nhà 30 Hoàng Diệu. Trụ trì chùa Một Cột: Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một thánh nhân Lễ cầu siêu, thắp hương tưởng nhớ Đại tướng Võ Nguyên Giáp Bí quyết trường thọ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp Phật hoàng Trần Nhân Tông Sau khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời, gia đình đã mời các sư thầy Chùa Sủi ở thôn Phú Mỹ, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội đến tụng kinh, cầu siêu cho Người. Việc lập ban thờ đã nhanh chóng được hoàn thành để mở cửa cho đồng bào vào thăm viếng Đại tướng. Theo thông tin từ gia đình Đại tướng, căn phòng hướng Tây ở số nhà 30 Hoàng Diệu, Hà Nội nhìn ra hồ cá rộng chừng 50 m2 được sử dụng là phòng thờ Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Hồ cá do cháu nội Đại tướng thiết kế nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của Đại tướng. Hồ cá của Đại tướng, do người cháu nội tặng nhân kỷ niệm lần sinh nhật thứ 100. Còn nhớ, năm 2007, trong một lần thiền sư Thích Nhất Hạnh về nước cũng đến tận tư gia thăm Đại tướng. Khi thiền sư trở về, Đại tướng đã cho người nhà ra vườn hái chùm hoa cau tặng khách. Chùm hoa cau mang dấu ấn của quê hương đã đưa vị tướng huyền thoại và vị thiền sư khi đó từ Pháp trở về hàn gắn vết thương chiến tranh trên dải đất Thăng Long này. Khi đó, Đại tướng nói rằng Phật giáo du nhập vào Việt Nam, hòa nhập với văn hóa dân tộc, góp phần to lớn vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Thời nhà Trần, chính vua Trần Nhân Tông, người khoác áo cà sa tu hành và lập nên một dòng Phật giáo ở Việt Nam đã trực tiếp lãnh đạo quân và dân Đại Việt đánh thắng giặc Nguyên Mông, mở mang bờ cõi. Đại tướng tặng hoa cau trong vườn cho thiền sư Thích Nhất Hạnh Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng đã họa tặng lại Đại tướng Võ Nguyên Giáp bức thư pháp với dòng chữ “Bản môn xuân ấy còn nguyên vẹn”, ý nói con đường ấy, con người ấy, tất cả là chân thật, như mùa xuân chan hòa, ấm áp. Lúc về già, Đại tướng chọn cho mình cuộc sống giản dị bên vườn cây. Ông rất thích trồng cây và hoa, trong nhà ông có một vườn lan và ông có nhiều kinh nghiệm trồng cây. Ông có nghiên cứu kinh sách đạo Phật và hành thiền. Sống một cuộc đời phong phú, sự nghiệp hoành tráng và một tài năng kiệt xuất, tuy nhiên sinh thời Đại tướng Võ Nguyên Giáp tự nhận mình là Đại tướng của Hòa bình. Điều này không chỉ thể hiện rõ bản chất của cách mạng Việt Nam, mà còn thể hiện ông là con người đấu tranh cho Hòa bình. Điều này cũng đúng với triết lý trong Đạo Phật: Muốn xây hòa bình thế giới, trước hết hãy xây cái tâm Hòa bình của mỗi người. Chứng kiến dòng người nối dài hàng cây số xếp hàng từ 3 – 4 giờ sáng để vào viếng Đại tướng tại tư gia khiến chúng tôi không khỏi xúc động. Dòng người xếp hàng vào viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở số nhà 30 Hoàng Diệu (Hà Nội). “Gia đình chúng tôi rất cảm động vì tình cảm của nhân dân Khi bắt đầu mở cửa, thấy tình cảm của nhân dân, gia đình rất cảm động khi chứng kiến dòng người đứng xếp hàng. Có nhiều người lính là chiến sĩ cũ của ông, các cựu chiến binh, đủ mọi thành phần lớp nhân dân. Tình cảm của người dân khiến chúng tôi thật xúc động”, bà Võ Hạnh Phúc, con gái Đại tướng chia sẻ. Có người nói rằng, dân đã thờ ai thì không nhầm. Còn theo lời nhà sử học Dương Trung Quốc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thu phục lòng dân bằng đức độ. Những ngày qua, một “quốc tang trong lòng dân” đang diễn ra trên khắp đất nước Việt Nam. Lịch sử đã có vua Trần Nhân Tông văn võ song toàn, người được nhân dân suy tôn như một vị Phật. Thời đại ngày nay, người Việt Nam một lần nữa lại chứng kiến một thầy giáo dạy sử vì đất nước lâm nguy đã xả thân vào hai cuộc kháng chiến và làm nên lịch sử. Trong lòng dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã là một thánh nhân.
×
×
  • Create New...