hoangnt
Hội viên-
Số nội dung
1909 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
6
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by hoangnt
-
28 tướng Nữ Nhung Bách Việt 18 ...Trong truyền thuyết Việt về Thánh Gióng mà lễ hội Phù Đổng nay đã là di sản văn hóa thế giới có một tục khá lạ. Trong ngày lễ hội 28 cô gái đóng làm 28 tướng Ân, đánh nhau với Thánh Gióng. Ca dao xưa còn chép: Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương Ân sai hai tám tướng cường nữ Nhung Xâm cương cậy thế khoe hùng Kéo sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh... ...... Theo truyền thuyết này thì Thánh Gióng diệt 4 tướng, còn lại 24 tướng đầu hàng . Câu hỏi : Không rõ số 28 (24) ở đây có nghĩa gì. Tại sao tướng giặc Ân hung dữ lại là Nữ Nhung?. Văn Nhân Xin nêu kiến giải của mình : Sử thuyết Hùng Việt đặt truyền thuyết Thánh Gióng vào bối cảnh cuộc chiến giữa nhà Ân Thương và nhà Châu , trong cuộc chiến này nước ‘ta’ là nước của Châu Văn vương ( lang ) lãnh thổ gồm Qúy châu - Quảng Tây - Bắc Việt và Vân nam tức lãnh thổ nước Xích qủy hay Văn lang theo truyền thuyết , xác định như thế là đã giải quyết thỏa đáng vấn đề giặc Ân ....ở mãi vùng Hoàng hà làm sao có thể đánh tới nước ‘ta’... Giải mã sự thể 28 tướng nữ Nhung trong lễ hội thánh Gióng : Trước hết khẳng định đây là lễ hội của hậu duệ người nhà Châu kỷ niệm chiến thắng của tiền nhân trong công cuộc giữ nước . Thời Nhà Thương và Ân Thương là thời Trung hoa chuyển đổi từ Mẫu hệ sang Phụ hệ ; phải đến nhà Châu thì Phụ hệ mới xác lập chắc chắn được gọi là phụ đạo , Chánh quốc thì như thế còn những phụ quốc tộc Nhung chắc là còn đang trong thời Mẫu hệ . Lễ hội Cho đạo quân xâm lược nhà Ân Thương do bọn nữ Tướng người Nhung cầm đầu là ý muốn nói ....đám người Nhung của nhà Ân thương đang còn trong thời mẫu hệ (ý chê là kém văn minh so với nhà Châu …). Trong các con số thì số 2 người Trung hoa vừa gọi là nhị vừa gọi là ơn – ân . Số 8 - Bát là số chỉ phương đông theo Hà Thư , phương đông cũng là phương màu xanh – thanh – thương . Ghép lại thì được Số 2-8 chính là tên ‘số hóa’ của nhà Ân -Thương Trung hoa . Truyền thuyết chép ....thánh Gióng diệt 4 nữ tướng còn 24 người chịu hàng ... Số 2 vẫn chỉ nhà Ân và số 4 chỉ phía Tây ...; 24 tướng Nữ Nhung hàng thánh Gióng ý nghĩa thực là sau trận chiến Ân – Châu thì cả phía Tây nhà Ân gồm Tây Nhung và Khuyển Nhung đã phản lại không theo Ân nữa mà theo phò nhà Châu để rồi sau cùng Châu Vũ vương thống lãnh liên minh miền Tây (trong số đó có cả người Nhung) đánh bại Trụ vương chấm dứt thời Ân Thương mở ra triều đại Châu trong lịch sử Trung Hoa . 28: Nhị thập Bát Tú. Đây là diễn tiến trận chiến nhà Thương tấn công các vùng ráp ranh với Văn Lang, chứ không phải thời mang tên nhà Ân. Thánh Gióng đánh giặc Ân thời Ốc Đinh, còn trận chiến này thời Vũ Đinh. Kể từ thời Ốc Đinh cho tới thời Vũ Đinh: Văn Lang đã không tổ chức lấy lại Hồ Nam, Giang Tây và Chiết Giang. Do có 2 trận chiến lớn trong thời Ân Thương, cho nên truyền thuyết Việt Nam có những trùng lặp nhất định.
-
Cách tính toán chính xác đến kinh ngạc và lời giải cho bí ẩn Ngày tận thế 2012... Từ trước tới nay, mỗi khi nhắc đến các nền văn minh cổ đại, ta thường nhắc đến Ai Cập. Tuy nhiên, sẽ là một thiếu sót nếu không nhắc đến nền văn minh Maya (Mexico cổ đại) - nền văn minh là tiền đề cho rất nhiều đế chế lịch sử khác. Nền văn minh Maya có xuất xứ từ Trung Mỹ, được hình thành và phát triển bởi người Maya - một bộ tộc thổ dân ở phía Nam Mexico, trải dài đến phía Tây Honduras. Bản đồ lịch sử văn minh của khu vực Trung Mỹ. Phần màu xanh lá cây chính là nơi phát triển của nền văn minh Maya.Đây là nền văn minh cổ phát triển bậc nhất trong số những nền văn minh cổ xưa của nhân loại. Người Maya đã đạt được rất nhiều thành tựu lớn trong các lĩnh vực như kinh tế, kiến trúc, nghệ thuật, toán học, thiên văn học... để lại nhiều di sản lớn cho nhân loại như kiến trúc kim tự tháp cổ Phetan, đài thiên văn Iza. Kim tự tháp cổ Phetan của người Maya. Những hình khắc vẽ trên đá của người Maya.Những bí ẩn về nền văn minh Maya vẫn còn là một câu hỏi lớn đối với nhân loại. Và bây giờ, hãy cùng chúng mình "ngược thời gian" để thử lý giải bạn nhé! Tại sao người Maya tính được 1 năm có 365 ngày mà không cần các phương tiện khoa học hiện đại? Thực tế, các nhà nghiên cứu hiện nay vẫn rất đau đầu để tìm ra đáp án chính xác cho câu hỏi: Làm thế nào người Maya tính được con số 365,242 ngày cho một năm. Trong khi đó, bằng các phương pháp tính hiện đại, đội nghiên cứu tìm ra kết quả là 365,2422. Khi so sánh hai kết quả trên, ta thấy sai số vô cùng nhỏ. Họ cho biết, nếu chỉ tính toán bằng cách quan sát thiên văn, người Maya cổ đã phải tiến hành quan sát chuyển động của các tinh thể trong vòng… 10.000 năm! Có thể nói, người Maya sở hữu những nhà toán học, thiên văn học vĩ đại nhất trong thế giới cổ đại. Thông qua các tư liệu thu thập được, có ý kiến cho rằng người Maya cổ đã sử dụng hệ đếm nhị thập phân (cơ số 20) và ngũ phân (cơ số 5) để khám phá ra một năm có 365 ngày. Thậm chí, họ còn tính được khoảng thời gian đủ để Trái đất quay một vòng quanh Mặt trời. Người Maya từng đặt ra một năm có 18 tháng, mỗi tháng có 20 ngày (tương đương các con số trong toán học của họ), tháng cuối có thêm 5 ngày. Tổng cộng, ta tính được 365 ngày/năm. Chúng ta thấy biểu tượng của Maya có hình tròn Âm Dương như vòng tròn Âm Dương Lạc Việt.
-
Nhóm Bách Việt/Yue đầu tiên hay cuối cùng? Le Minh Khai Người dịch: Hà Hữu Nga Vài tháng trước một bạn đọc đề nghị tôi đáp lại một bài viết [1] có một luận điểm đã được nhấn đi nhấn lại nhiều lần, cho rằng người Việt là nhóm người cuối cùng của “Bách Việt” và họ đã thoát khỏi bị Hán hóa bằng cách di chuyển về phương nam và giữ vững độc lập của mình. Tác giả của bài viết cho rằng người Việt luôn ý thức mình là Việt qua nhiều thế kỷ và họ duy trì được di sản văn hóa Bách Việt, mặc dù tác giả không hề giải thích rõ ràng cái gì tạo dựng nên di sản văn hóa đó. Tôi đã bắt đầu viết một bài trả lời [2] bằng cách chỉ ra rằng chúng ta không có bằng chứng về việc là bất cứ nhóm người nào mà người “Trung Quốc” dán nhãn Bách Việt/Yue trong thiên niên kỷ đầu tiên trước công nguyên cũng thực sự tự coi mình là “Việt/Yue” (có lẽ với một trường hợp ngoại lệ là nhóm tinh hoa Nam Việt). Cái mà chúng ta có bằng chứng là trong nhiều thế kỷ từ cuối giai đoạn TCN đến khoảng 1000 năm SCN có những nhân vật tinh hoa Hán hóa (Triệu Đà*, Lý Bí**, Lâm Sĩ Hoằng [林士弘], Phùng Áng [馮盎]...v.v) đã sử dụng khái niệm Việt/Yue để gọi tên các chính thể mà họ thành lập. Có phải điều đó có nghĩa là họ đặt tên vương quốc của mình theo tên nhóm người sống ở đó? Chúng ta không có bằng chứng về điều này. Có vẻ như họ chỉ đơn giản sử dụng một cái tên có tính văn chương gắn liền với vùng đó của thế giới. Một trong những nguyên do tại sao cái tên Việt hình như không thuộc về một nhóm người hoặc một “ý thức”, một “di sản văn hóa” trong thiên niên kỷ đầu tiên SCN là ở chỗ chúng ta không có bằng chứng về một văn hóa mà cả những người bình dân và nhóm tinh hoa đều chia sẻ. Từ cái mà các nhà nghiên cứu đã phát hiện về văn hóa Bách Việt/Yue, nó tương tự như cái thế giới mà tôi gọi là “những người săn đầu người Đông Sơn” [3] hơn là thế giới của Triệu Đà hoặc Lý Công Uẩn. Thế giới đó rõ ràng là đã biến mất. Đây là vấn đề mà nhiều sử gia đã thừa nhận. Chẳng hạn, trong những năm 1960, sử gia Nguyễn Phương đã cho rằng Việt là Hán di cư đến vùng châu thổ sông Hồng vào thiên niên kỷ đầu SCN [4] và đã thế chỗ các cư dân sớm hơn ở đó. Đây không phải là ý tưởng gốc của ông. Thay vào đó là quan điểm cho rằng các nhà nghiên cứu Việt Nam đã bắt đầu nói về điều này ngay từ đầu thế kỷ XX khi lần đầu tiên họ bộc lộ về quan điểm chủng tộc. Ý tưởng cho rằng có một số lớn di dân đã làm thay đổi cơ bản văn hóa châu thổ sông Hồng đã không được các bằng chứng sử học và khảo cổ học ủng hộ. Tuy nhiên, trong thực tế không cần phải có một dân số lớn mới làm thay đổi đáng kể văn hóa và ngôn ngữ. Để hiểu được điều này, chúng ta cần suy nghĩ về hai bài viết mà tôi đã đề cập trong blog này: một bài viết về bài của Richard A. O’Conner [5], và bài khác viết về bài của John Phan [6] Như tôi đã viết trước đây, John Phan cho rằng ngôn ngữ Việt Nam được tạo ra khi một số người nói phương ngữ Trung Quốc chuyển sang nói một ngôn ngữ địa phương (giống như người Normans ở Anh vậy) ở một nơi nào đó vào thế kỷ IX – X, còn Richard O’Conner thì cho rằng những người như người “Việt” hình thành thông qua sự tham gia vào nền nông nghiệp lúa nước. Đặc biệt ông còn cho rằng những người thuộc các tộc người khác nhau dần dần hình thành một “nhóm tộc người” riêng biệt khi họ bắt đầu theo cùng các loại nghi lễ và giao tiếp với các quan chức (khi sử dụng ngôn ngữ “mới” mà John Phan đã xác định) là những người quản lý nguồn nước, thu thuế, ...v.v. Điều mà tôi thấy là đây. Thay vì có một nhóm “Bách Việt” “sống sót”, thì điều có vẻ đã xảy ra là trong giai đoạn cuối đời nhà Đường, có các thành viên của nhóm tinh hoa thuộc khu vực mà ngày nay gọi là nam Trung Quốc và bắc Việt Nam bắt đầu tạo thành các quyển ảnh hưởng riêng của họ và bắt đầu tạo ra một ý thức địa phương cho bản thân họ (điều này trên thực tế đã xảy ra trên toàn bộ đế quốc Đường vào thời gian đó). Họ không thực hiện điều đó bằng cách đồng nhất hóa với những người địa phương. Thực ra họ có ý định coi nhiều nhóm người xung quanh là “man di”. Thay vào đó, họ sử dụng một số thông tin tồn tại trong các văn liệu (chẳng hạn các ghi chép về nước Nam Việt của Triệu Đà) để tạo ra các tước vị cho các chính thể địa phương và để kết nối các lĩnh địa mới của họ với nguồn thông tin trong các văn bản cổ. Trong một môi trường như vậy, nó tạo ra một ý thức mà những người như Lý Công Uẩn có thể đã đem đến từ các vùng của cái gọi là Phúc Kiến ngày nay và kết thúc sự thống trị trên một vương quốc thuộc vùng châu thổ sông Hồng. Họ có thể làm được như vậy vì nhóm tinh hoa trên khắp vùng này đều có chung một văn hóa tinh hoa. Ngày nay nhiều người có tham vọng phân biệt về phương diện tộc thuộc một số nhóm người sống trong thời kỳ đó. Có những người muốn coi Nùng Trí Cao là “Tày Thái”, trong khi đó lại có người cho Phùng Áng là “Hán”, ...v.v. Trong thực tế thì nhóm tinh hoa trên khắp vùng này đều có chung các tương đồng văn hóa với nhau hơn là với những người mà họ cai trị. Không có lý do gì cho bất cứ một chính thể nhỏ bé nào trong thời gian đó phải bị thống trị bởi những người đồng nhất về phương diện tộc thuộc, vì họ đã được thống nhất bởi một văn hóa tinh hoa, và có lẽ không phải là nhóm tinh hoa ở bất cứ nơi nào thuộc các vùng này cũng đều đồng nhất về phương diện tộc thuộc. Nếu Lý Công Uẩn thực sự là người Phúc Kiến, thì có lẽ không phải là tất cả mọi người trong cung đình của ông đều giống ông về phương diện tộc thuộc. Cái đã thống nhất nhóm tinh hoa thống trị lại chính là họ có chung một văn hóa, và họ giao tiếp bằng một ngôn ngữ chung (rõ ràng là một ngôn ngữ thứ hai đối với một số người). Và nếu John Phan đúng thì ngôn ngữ được nhóm tinh hoa vùng châu thổ sông Hồng sử dụng trong thời Lý Công Uẩn nắm quyền vẫn còn là một ngôn ngữ hoàn toàn mới. Hơn nữa, nếu ngôn ngữ này được hình thành khi những người nói một phương ngữ Trung Quốc “chuyển hướng” sang nói một ngôn ngữ địa phương và trong quá trình đó đã đem đến nhiều ngữ vựng mới thì có lẽ đã không có gì quá khó khăn đối với những người đã Hán hóa từ Phúc Kiến đến để học ngôn ngữ đó, khi nó có lẽ có nhiều từ chung với ngôn ngữ riêng của ông ta. Cùng với thời gian, toàn bộ những điều đó đều thay đổi khi văn hóa tinh hoa này dần dần phổ biến đến người bình dân. Điều đó đã diễn ra như thế nào? Một phần thông qua các quá trình mà O’Connor đã đề cập. Bằng việc tuân thủ trật tự của giới tinh hoa trong việc cam kết với nghề nông làm lúa nước, bằng việc thực hành các lễ thức mà nhóm tinh hoa đã thiết lập, bằng việc lắng nghe các tích truyện về các thần linh địa phương mà nhóm tinh hoa tạo ra nhằm đưa các thần này (mà bản thân người địa phương cũng tin tưởng) vào hệ thống quyền uy của mình, và bằng việc giao tiếp với nhóm tinh hoa bằng ngôn ngữ mà nhóm tinh hoa sử dụng, những người bình dân dần dần thay đổi (tất nhiên quá trình đó không hoàn toàn là con đường một chiều, nhưng tôi lại cho rằng ảnh hướng của nhóm tinh hoa đối với các nhóm không phải tinh hoa là rất lớn – như các trường hợp đã xảy ra mọi nơi trên toàn thế giới. Quá trình này diễn ra trong nhiều thế kỷ, và trong thực tế nó vẫn còn đang tiếp diễn. Ngày nay ở Việt Nam vẫn còn những người đang tiếp tục trở thành người Việt. Vì vậy điều mà tôi muốn nói là không phải người Việt là những “người cuối cùng của Bách Việt” , mà thay vào đó họ là những “người đầu tiên của Bách việt”, vì cái văn hóa và ngôn ngữ ngày nay được thừa nhận là “Việt” chỉ bắt đầu hình thành vào gần cuối thiên niên kỷ I SCN, và thông qua quá trình này mà một nhóm người bắt đầu tự coi mình là “Việt” (chứ không phải là được dán nhãn bởi người bên ngoài bằng cái tên đó, như trường hợp thiên niên kỷ I TCN Bách Việt được đề cập đến trong các nguồn sử liệu thời gian đó), và tự hình dung mình là một nhóm hậu duệ của “Bách Việt”. Khi tạo ra văn hóa này, nhóm tinh hoa đã sử dụng nguồn thông tin được ghi lại về vùng đó của thế giới trong quá khứ (đó là nguồn của một số thông tin trong các văn bản như Lĩnh Nam Chích quái chẳng hạn) và việc sử dụng tên gọi “Việt”, mãi sau này mới biết, là một trong những mẩu thông tin quan trọng nhất của quá khứ mà họ đã khai thác. Nhưng đó chính là một tên gọi mà họ đã phát hiện, chứ không phải là tên gọi mà họ đã được thừa hưởng. Vì những người mà “người Hán” coi là “Việt/Yue” thì lại không hề biết rằng họ là “Việt/Yue”. Chúng ta không hề biết họ tự coi mình là ai, đối với trường hợp những người săn đầu người Đông Sơn và toàn bộ những nhóm người khác nhau sống trên toàn bộ khu vực ngày nay được gọi là nam Trung Quốc – và di sản văn hóa của họ đã biến mất từ lâu trước khi Lý Công Uẩn xuất hiện trên chính trường. _____________________________________________ Nguồn: The Last or First of the Hundred Việt/Yue? leminhkhai.wordpress.com/2013/01/13/ Ghi chú của người dịch: *,** “...những nhân vật tinh hoa Hán hóa (Triệu Đà, Lý Bí)” Tôi không rõ ý của Le Minh Khai trong các trường hợp này? Mong anh ấy giải thích kỹ hơn; nếu có thể, thì cả trường hợp Lâm Sĩ Hoằng [林士弘], và Phùng Áng [馮盎]...v.v) nữa. Tài liệu dẫn 1. Nguyễn Xuân Phước, Bách Việt Trong Lòng Đại Việt, Bài viết được đăng trên trang http://www.anviettoancau.net/anviettc/ 2. Le Minh Khai, The Problem of the Term “Việt” In a National History, bài viết được công bố trên trang leminhkhai.wordpress.com/06Sep12 3. Le Minh Khai, Đông Sơn Headhunters, leminhkhai.wordpress.com/27Nov12 4. Le Minh Khai, Nguyễn Phương on the Origins of the Vietnamese Nation, Bài viết được công bố trên trang leminhkhai.wordpress.com/ 08Mar12 5. Richard A. O’Conner 1995. Agricultural Change and Ethnic Succession in Southeast Asian States: A Case for Regional Anthropology, Journal of Asian Studies 54.4 (1995): 968-996. 6. John Phan 2010. Re-Imagining ‘Annam’: A New Analysis of Sino-Viet-Muong Linguistic Contact. Chinese Southern Diaspora Studies, Volume 4, 2010 [南方華裔研究雑志第四卷 Nam Phương Hoa duệ Nghiên cứu Tạp chí đệ tứ quyển]. - Tôi xới tung lịch sử Ta lẫn Tàu, không thấy dân tộc nào là dân tộc Hán cả, chỉ có nước Hán của Lưu Bang - Hán Cao Tổ thôi. - Hán Cao Tổ theo Sử Ký Tư Mã Thiên là con cháu của Nghiêu, gốc từ Hoàng Đế ra. - Vậy, thì chính là dân nước Sở - nơi Lưu Bang khởi nghiệp: Sở cùng họ với Việt, Đấy là lý do 2 châu Kinh, Dương bắc Dương Tử, sát Động Đình Hồ, nơi xa nhất phía Nam quan trắc thiên văn thời vua Nghiêu.
-
: Vành đai Photon và Kim Tự Tháp phát sáng Tin Đa Chiều - Đăng ngày: 3:17 PM - 25/11/2013 / 2 Ý kiến Kim tự tháp khắp thế giới bắt đầu phát ra chùm tia năng lượng. Mặc dù NASA che giấu thông tin về đám mây kỳ lạ của photon, mà hiện nay gần như đã bao phủ toàn bộ hệ thống năng lượng mặt trời của chúng ta. Các thông tin này vẫn bị rò rỉ từ một số nhà khoa học. Bây giờ, như là một đám mây đáng ngại của các hạt Photon, đã xâm nhập vào hệ thống năng lượng mặt trời. Đám mây Photon này đã bắt đầu có tác động đến Mặt trời và các hành tinh, bao gồm cả Trái đất. Các tác động này theo cách không thể giải thích được bằng các quan điểm bình thường. Điều đáng ngạc nhiên là dường như năng lượng kỳ lạ này xâm nhập vào mọi không gian của chúng ta. Một trong những hiệu ứng bất thường và lỳ lạ là một số các kim tự tháp nổi tiếng trên thế giới bắt đầu sinh ra những chùm tia năng lượng mãnh liệt. Trong một số trường hợp, có thể nhìn thấy bằng mắt thường các Kim tự tháp phóng vào không gian một chùm hạt Photon rất mạnh. Chùm Photon này có thể nhìn hay ghi hình lại như là một chùm Ánh sáng Trắng phát ra từ đỉnh của Kim tự tháp vào đi vào đám mây ở bên trên . Đồng thời, nhiều người ở nhiều khu vực trên thế giới đã bắt đầu quan sát và ghi lại được những âm thanh kỳ lạ. Những âm thanh tạo ấn tượng rằng Trái đất đang rên rỉ và khóc. Tất cả những hiện tượng bất thường, bao gồm cả khối năng lượng khổng lồ chưa từng có mà mặt trời đang phóng ra một cách hỗn loạn, rất có thể nguyên nhân chính là do sự hiện diện của các đám mây photon. Trong giới khoa học Vật lý Thiên văn, đã gọi loạt các hiện tượng bất thường này bằng một tên chung là : “Sự kiện không gian tiềm năng của Ngày Phán Xét.” <a href="http://www.tindachieu.com/news/wp-content/uploads/2013/11/kim-tu-thap-dong-loat-thuc-giac-vanh-dai-photon-va-kim-tu-thap-phat-sang-image1.jpg">Kim tự tháp phát ra chùm tia năng lượng khi có những đám mây lại gần đỉnh. Kim tự tháp cổ xưa thức dậy sau nhiều thế kỷ ngủ yên. Chứng kiến sự thức giấc của Kim tự tháp Maya, nhìn thấy chùm sáng ở trên đỉnh của Kim tự tháp, các khách du lịch có mặt lúc đó hoảng hốt la hét. Một vài du khách khác thì nhanh chóng dùng máy quay video hoặc điện thoại di động để ghi hình. Trước thời điểm kim tự tháp Maya thức giấc, nhiều người nghe thấy tiếng động ầm ầm. Đó không phải là một tiếng động của một trận động đất. Ngay sau thời điểm đó là một chùm rực rỡ của ánh sáng bắn ra từ đỉnh Kim tự tháo đi vào không gian. Những du khách mộ đạo thì sững sờ im lặng đứng nhìn, họ không kịp chụp hình ghi lại khẳng khắc kỳ diệu đó Cột Năng lượng của kim tự tháp . Hình ảnh bên phải là hình phóng to phần đỉnh Kim tự tháp có một tia sét . Kim tự tháp Bosnia, đang gửi một cột năng lượng không thể tin được vào không gian Những tháng gần đây nhất, Kim tự tháp Bosnia cũng đã gửi một cột năng lượng không thể tin được vào không gian. Đó cũng là hình ảnh được nhiều lần nhìn thấy tại Bosnia trong năm 2009 và năm 2010. Cột năng lượng đó nhìn như một sáng tia mỏng năng lượng tinh khiết phát vào không gian từ đỉnh của Kim tự tháp . Kim tự tháp tại Hàm Dương Trung Quốc. Gần đây, chính phủ Trung Quốc cũng đã bắt đầu giám sát chặt chẽ các Kim tự tháp Hàm Dương. Các Kim tự tháp ở đây đang bắt đầu có dấu hiệu hoạt động. Năm ngoái, một nhóm các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu các kim tự tháp và tin rằng Kim tư Tháp này có nguồn gốc ngoài Trái đất. Cột năng lượng từ đỉnh của kim tự tháp Aztec của Mặt trăng Sự cố bất thường trong cùng thời gian đó là sự kiện bùng nổ phóng xuất của năng lượng của Kim tự tháp Aztec, được chứng kiến và ghi lại trên phim. Sự việc phát ra cột năng lượng từ đỉnh của Kim tự tháp Aztec đã trở nên nổi tiếng khắp vùng Teotihuacan của Mexico. Các Nhà khoa học nói gì . Chùm tia năng lượng xoáy lốc cường độ cao từ đỉnh Kim tự Tháp.. Ảnh chụp chùm năng lượng Vi tế bằng phương pháp Kirilian trong phòng thí nghiệm. Những điều này có ý nghĩa gì? Tại sao và cái gì đã thúc đẩy các Kim tự tháp phóng xuất năng lượng ? Làm thế nào để kích hoạt sức mạnh bí ẩn của các khối đá hình Kim tự tháp khổng lồ đã im lặng trong nhiều thế kỷ ? Rõ ràng một cái gì đó đã tới và đánh thức sức mạnh của các Kim tự tháp. Nhưng đó là cái gì ? Có lẽ có một cái gì đó đáng kinh ngạc hơn, đang tới từ khoảng không gian ngoài kia, đã kích hoạt các kim tự tháp. Đó là sự xuất hiện của một lực lượng chưa được hiểu rõ, tới từ các khoảng trống trong dải Ngân hà. Mà bây giờ đây, lực lượng này đã xâm nhập vào hệ mặt trời và bao quanh tất cả các hành tinh, bao gồm cả Trái đất . Tiến sĩ vật lý thiên văn Alexey Dmitriev Các nhà khoa học của NASA và Cơ quan Không gian châu Âu trong vòng vài năm trở lại đây, đã cảnh báo thế giới về thảm họa đang đến gần có thể xảy ra trong tương lai rất gần. Nhưng chỉ vài người lắng nghe. Nhà vật lý thiên văn, Alexey Dmitriev nói rằng: Những gì đang xảy ra trong thực tế là tồi tệ hơn, tồi tệ hơn rất nhiều so với dự đoán của NASA và ESA trong các cảnh báo của họ. Tất cả các Hành tinh trong hệ thống năng lượng mặt trời của chúng ta đang phải đối đầu với một nguy cơ rất lớn, có khả năng gây chết người, có khả năng ảnh hưởng tới độ ổn định của các Hành tinh, có thể làm xáo trộn dữ dội hệ sinh thái và môi trường sống của mỗi hành tinh. Nguy cơ đó tới từ đám mây năng lượng liên hành tinh mà Trái đất và hệ mặt trời đang đi vào đó. Các kim tự tháp thức giấc và phản ứng kỳ lạ, nguyên nhân có thể là do những đám mây năng lượng liên hành tinh này . . Tiến sĩ Dmitriev giải thích rằng: thông tin gửi về Trái đất của tầu thăm dò Voyager 1 và Voyager 2 cho thấy rõ ràng rằng toàn bộ hệ thống năng lượng mặt trời đang phải hứng chịu nguy cơ như vậy. Tệ hơn nữa, Merav Opher, một nhà nghiên cứu của NASA, chuyên gia nghiên cứu về hệ mặt trời , ông cũng là giáo viên thỉnh giảng tại tại Đại học George Mason nói rằng : các đám mây năng lượng liên vì sao này là không ổn định và hỗn loạn. Các nhà khoa học Nga cũng tuyên bố rằng: đám mây năng lượng photon đang gây ra sự kích thích của bầu khí quyển của các hành tinh và đặc biệt là mặt trời của chúng ta. Những đám mây năng lượng liên sao này ảnh hưởng và tương tác với Mặt trời một cách hoàn toàn rõ ràng. Đương nhiên, hậu quả ngay bây giờ là gia tăng hoạt động năng lượng của Mặt trời. Kết quả là năng lượng cao hơn và thay đổi tần số và số lượng của Năng lượng của Mặt Trời. Trái đất cũng chịu sự ảnh hưởng của đám mây năng lượng này cũng đang thay đổi. Đồng thời Trái đất cũng hướng chịu nhiều bất thường từ các hành tinh trong hệ Mặt trời. Ảnh hưởng mạnh mẽ và rõ ràng nhất là từ Mặt trời của chúng ta . Từ trường của mặt trời đang thay đổi. Từ trường biến động của mặt trời đang truyền qua không gian không ổn định và tác động tới từ trường của Trái đất. Thông qua việc tương tác với từ quyển và các lĩnh vực địa từ của Trái đất, sự biến động từ trường này có thể dẫn đến nhiều thay đổi bất thường. Ví dụ như sự xuất hiện của các xoáy hay bão từ bất thường. Hậu quả đối với Trái đất là có thể là tạo nên một sự thay đổi từ trường của trái đất. Thay đổi cực từ, dẫn tới nhiều biến động tự nhiên trong thời tiết. Tạo nên nhiều chuyển đổi nhanh mạnh trong khí quyển và dưới lòng đất. Để có thể sống ổn định trên Trái đất vào lúc này – là điều đáng ngạc nhiên nhất. Các nhà khoa học nói về cấu trúc của Kim tự tháp . Minh hoạ cách các kim tự tháp có thể sản xuất năng lượng Kim tự tháp – là một thiết bị lưu trữ năng lượng tự nhiên từ Trái đất và từ Không gian. Kim tự tháp là một loại tụ điện, hoạt động dựa trên sức mạnh từ trường của hành tinh. Chùm năng lượng Ánh sáng bắn vào không gian từ đỉnh của Kim tự tháp như nhiều người đã nhìn thấy, chứng tỏ Kim tự tháp và Trái đất đã được nạp đầy năng lượng theo những cách ngoài tầm hiều biết hiện nay của chúng ta. Các Âm thanh bất thường . Có nhiều âm thanh từ trong lòng đất đã được ghi nhận và phổ biến ra công chúng, tạo nên nhiều tranh luận sôi nổi, kể từ mùa xuân năm 2011. Một số đoạn ghi âm và video ghi lại các Âm thanh này xuất hiện trên Youtube. Ý kiến phản hồi rất khác nhau. Chủ yếu là phủ nhận hoặc nhầm lẫn không hiểu rõ nguyên nhân, và đôi khi là sợ hãi vô căn cứ. Các nhà khoa học thấy cần phải giải thích rõ nguồn gốc của những âm thanh này. Một số đoạn ghi âm thanh chắc chắn là giả mạo và là một trò lừa bịp, số còn lại là hồ sơ xác thực âm thanh bất thường của nước ngầm trong lòng đất và âm thanh trong không khí . Giáo sư Tiến sĩ Elchin Khalilov giải thích nguồn gốc của các âm thanh bất thường này Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với tạp chí GEOCHANGE về chủ đề các âm thanh lạ ghi được gần đây, một nhà khoa học xuất sắc, Giáo sư Tiến sĩ Elchin Khalilov, đã đưa ra lời giải thích sau đây: “[] … Nguyên nhân có thể của những âm thanh này… có thể nằm ở trung tâm của Trái Đất. Thực tế là sự tăng tốc trôi dạt cực từ của Trái đất, mà đã tăng hơn gấp năm lần từ năm 1998 đến năm 2003, đã dẫn đến việc tăng cường các quá trình dịch chuyển năng lượng trong lõi của Trái Đất. Đây là kết quả của quá trình tăng tốc tương tác giữa các lõi bên trong và vỏ bên ngoài của Trái đất, từ đó hình thành các thay đổi về kiến tạo và địa từ của Trái đất. Trong khi đó, như chúng tôi đã báo cáo, ngày 15 tháng 11 năm 2011 tất cả các trạm địa vật lý của mạng lưới ATROPATENA, đều ghi lại được những biến động ba chiều của trường hấp dẫn của Trái đất, gần như đồng thời trên toàn bọ bề mặt Trái đất, xuât hiện một xung lực hấp dẫn mạnh mẽ. Các trạm đo đạc ở Istanbul, Kiev, Baku, Islamabad và Jakarta và nhiều trạm khác, đều ghi nhận tín hiệu gần như nhau. Các trạn đo đạc nằm cách xa nhau ,khoảng 10.000 km, và rải rác khắp thế giới đều đồng thời ghi nhận được tín hiệu. Hiện tượng này chỉ có thể xảy ra khi nguồn gốc của bức xạ nằm ở lõi của trái đất. Đây là một dịch chuyển khổng lồ của năng lượng từ lõi của Trái Đất. Từ cuối năm ngoái, đã có một loại tín hiệu biểu hiện bắt đầu của quá trình chuyển đổi năng lượng bên trong lõi của Trái đất tiến vào một giai đoạn hoạt động mới “. [Theo Tạp chí GEOCHANGE ] Theo biên tập của tạp chí, có thể nhiều ý kiến chỉ đồng ý một phần hoặc hoàn toàn không đồng ý với quan điểm của tác giả lời phát biểu trên . Nhưng rõ ràng là đang có nhiều điều bất thường đang xảy ra với tất cả chúng ta. Nguồn: http://asfn.in/realii/piramidy-po-vsemu-miru-nachali-izluchat-puchki-energii-v-oblast-fotonnogo-oblaka.html
-
Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp - Mão/Mẹo/mèo Thứ tư 12/01/2011 12:00:00 (GMT +7) Tác giả: Nguyễn Cung Thông Khi so sánh các con vật biểu tượng cho 12 con giáp, điểm khác biệt rõ nét nhất là người Việt Nam ta dùng con mèo1 cho chi Mão/Mẹo nhưng người Thái, Lào, Khme, Nhật, Hàn, Trung Quốc/TQ... đều dùng con thỏ. Đây là một cánh cửa hé mở khiến ta phải đặt lại vấn đề nguồn gốc tên gọi 12 con giáp, vì nếu chúng từ TQ thì khi nhập vào các nước hay dân tộc nào đó thì theo thói thường hệ thống ‘12 con giáp nguyên thuỷ’ vẫn được duy trì - như thỏ biểu tượng cho chi Mão chẳng hạn - và nếu có thay đổi thì không có là bao nhiêu như gà so với gà trống, dê so với cừu/trừu, heo/lợn so với heo rừng, v.v... Giả sử chữ Mão 卯 có nguồn gốc tượng hình con mèo như chữ thố/thỏ 兔chẳng hạn, thì không ai chất vấn nguồn gốc tên gọi 12 con giáp (động vật) và thập nhị chi làm gì. Khi truy nguyên giáp văn, kim văn và triện văn của chữ Mão thì thấy hình dạng của hình cửa mở hay hai mặt trăng đối nhau (?) - xem thêm chi tiết trang này (2003, cập nhật 2008, 2010 – tác giả Richard Sears) http://www.chineseetymology.org/CharacterA...tton1=Etymology - nguồn gốc chữ Mão chẳng dính líu gì đến một loài vật nào, như thỏ chẳng hạn. Chúng ta hãy nhìn lại vấn đề từ các góc độ khác nhau ngõ hầu có thể nhận ra được phần nào nguồn gốc chính xác và hợp lý hơn của Mão/Mẹo. Người viết sẽ tránh dùng thuật ngữ Ngôn Ngữ Học để bài viết dễ đọc hơn. Một điểm đáng ghi nhận ở đây là các thông tin trao đổi trên mạng/Internet và bloggers cũng đáng chú ý: như có khá nhiều trao đổi về chủ đề 12 con giáp và loài vật tượng trưng cho chi Mão là thỏ và mèo, bằng tiếng Anh, Việt, Pháp, Trung (Quốc) .. Tuy rằng các dữ kiện trên mạng cũng cần phải được kiểm chứng một cách nghiêm túc, người viết sẽ ghi lại các nguồn để độc giả có cơ hội tra cứu thêm. Mạng lưới (toàn cầu) càng ngày càng phổ biến và trở thành một môi trường giáo dục quan trọng, cũng như giải quyết một số vấn đề mà trước đây tốn rất nhiều công sức. Cách đây gần 6 thập niên, học giả Phan Khôi từng nhận xét '... Người Việt Nam chúng ta về sau phải sang TQ ở lâu mà nghiên cứu, may ra tìm được các dấu vết tương quan của dân tộc ta với dân tộc TQ từ đời thượng cổ ...' - trang 34, 'Việt Ngữ nghiên cứu' (NXB Đà Nẵng, 1997). Tình hình bây giờ khác nhiều so với thời đại của cụ Phan Khôi. 1. Loài mèo được thuần hoá sớm hơn loài thỏ Các xương mèo và người khai quật ở đảo Cyprus cho ta kết luận loài mèo đã sống chung với loài người và có khả năng được thuần hoá cách đây khoảng 9500 năm; So với loài thỏ thì thời kỳ thuần hoá (domestication) không rõ rệt, nhưng ước đoán cách đây khoảng 3000 năm mà thôi. Điều này cũng phù hợp với di chỉ tìm thấy ở Điền Viên Động2 (Tianyuan cave 田园洞, gần Bắc Kinh) gồm có xương người, sơn dương, khỉ, nhím và mèo hoang (civet cat). Ngoài ra, bản tin từ Tân Hoa Xã (Xinhua News Agency, ngày 22 tháng Tám, 2006) trên mạng cho ta biết về các xương thú tìm thấy sau khi bị chôn sống cách đây khoảng 1700 năm. Các xương thú vật tìm thấy gồm có mèo, chó, heo, dê, trâu và trừu… Mèo còn rất thích hợp với xã hội nông nghiệp vì là loài động vật ăn thịt (carnivore): nhà nông thường phải chứa (tồn kho) các sản phẩm vì thời tiết thay đổi bất thường, sau đó các kho hàng hoá này hấp dẫn các loài chuột, sâu bọ và ngay cả chim chóc cũng đến tìm lương thực và quấy phá ... Đến nỗi nhà nông chúng ta phải ra lời ta thán Cái cò các vạc cái nông Sao mày dẵm lúa nhà ông hỡi cò (ca dao) Mèo đã đến như vị cứu tinh để giải quyết vấn nạn trên; Khác hẳn với loài thỏ chỉ ăn rau cải (herbivore) và phá hoại mùa màng – như hiện nay, chính phủ Úc phải tìm các phương pháp hoá học (như dùng thuốc độc) hay sinh học (như cấy vi trùng bệnh) để kiểm soát dân số loài thỏ - thay vì săn bắn chúng một cách dã man. Loài thỏ thuần hoá không thể tồn tại khi nhiệt độ môi trường chung quanh lên trên 32oC, so với loài mèo có thể sống sót với môi trường ở nhiệt độ 52oC; Thân nhiệt (body temperature) của mèo thì từ 38oC đến 39oC (so với con người vào khoảng 37.5oC) tương thích với một xã hội nông nghiệp với khí hậu ôn hoà, còn thỏ lại là nguồn thực phẩm có lượng prôtêin cao cho xã hội du mục và săn bắn. 2. Tư duy nông nghiệp tổng hợp và cụ thể qua ngôn ngữ Liên hệ Mão Mẹo và mèo rất dễ hiểu: các âm này đều thuộc thanh vực trầm3 (trọc) và nguyên âm e (của Mẹo mèo) là dạng cổ hơn của nguyên âm a (của Mão) như hè hạ (Hán Việt), xe xa, keo giao, vẽ hoạ, mè (vừng) ma, chè trà, beo báo ...v.v... Tương quan tự nhiên còn thể hiện qua cách dùng lòng (bụng dạ) - bộ phận thấp nhất trong cơ thể con người - thay vì tim hay não bộ (óc): lòng tốt hay tốt bụng (hảo tâm HV), buộc lòng, mất lòng ... Khi nhập vào tiếng Hán, lòng trở thành đảm 膽: theo GS Axel Schuessler4 thì đảm 膽 có gốc phương Nam (Nam Á, Austroasiatic) và một dạng âm cổ phục nguyên là *tlam?. Schuessler ghi nhận âm cổ Bahna Bắc/ProtoNorthBahnar là *klàm (gan/liver), tiền Việt-Mường/Proto Viet-Muong *lɔ:m, Katuic *luam hay dạng khác hơn với phụ âm đầu t- như tiền Palaunic/proto Palaunic *kơntɔ:m (gan). Tra thêm các ngôn ngữ láng giềng ta thấy klơm (gan, tiếng Kơho), tho-lom (gan, tiếng Khme) so với LÒNG tiếng Việt gồm các bộ phận như ruột, gan ... ‘Phật Thuyết Đại Báo Ân Trọng Kinh’ còn dùng 'lòng gan đều nát' (lòng chữ Nôm thường dùng lộng 弄, làõ theo Việt Bồ La 1651) phản ánh tương quan can đảm (Hán) và lòng gan/ruột gan (Việt); Ngoài ra cách dùng lõm súng (lòng súng, nòng súng), lõm chuối, lõm cây (lòng cây)... cho thấy liên hệ trực tiếp giữa dạng LÒNG - LÕM, thật ra khi phát âm LÒNG bây giờ - tiếng Việt luôn đóng môi lại (môi hoá, như LÒNG) chứ không để môi mở như các dạng LONG của tiếng Anh, Pháp … Tiếng Mường (Bi) còn dùng ‘lòm’ là gan: ‘ho ưa ăn lòm củi’ (tôi thích ăn gan heo). klơm là gan (tiếng Biat), k'lơm (gan, tiếng Boloven) ...v.v... Tóm lại, ta có cơ sở đề nghị cấu trúc dạng cổ phục nguyên *tlam? hay *klam? đã nhập vào tiếng Hán cho ra dạng đảm 膽. Trường hợp âm cổ phương Nam *tlam?/klam? (lòng, một lòng) trở thành đảm (can đảm, đảm lược ...) khi nhập vào tiếng Hán không phải là hiếm, ta còn có những trường hợp như *krong (sông) khi nhập vào tiếng Hán trở thành *kong hay jiāng BK (giang HV), ...v.v... Nhìn rộng ra hơn, tên 12 con giáp Tý Sửu Dần ... Mão ... Tuất Hợi khi nhập vào tiếng Hán đã mất đi phần nào ý nghĩa nguyên thuỷ của tên gọi các loài động vật rất gần gũi với nhà nông. Không những thế, chúng còn được tô son điểm phấn (Hán hoá) và rất khó nhận ra các liên hệ cụ thể nguyên thuỷ: chúng trở thành những khái niệm trừu tượng (được ‘nâng cấp’) trong bói toán và cách ghi ngày tháng (kết hợp với Thập Can); Đây cũng là một lợi thế của nhóm thống trị có chữ viết sẵn (chữ Hán) và khả năng tổ chức. Lợi thế của một hệ thống chữ viết có sẵn như chữ ô vuông (chữ Hán) có thể là chỉ thêm một dấu phẩy nhỏ mà nghĩa lại đổi hẳn đi. Thí dụ như chữ quốc5 chẳng hạn, một dạng chữ quốc 囯 cổ đại viết bằng bộ vi 囗 hợp với chữ vương 王 hàm ý lãnh thổ có giới hạn/biên giới và có vua đứng đầu, tuy nhiên khi thêm một dấu phẩy nhỏ vào bên phải chữ vương thì vương 王 lại trở thành ngọc 玉. Chữ quốc cổ đại 囯 với chữ vương - phản ánh chế độ vua chúa phong kiến - nay đã thay bằng chữ quốc với chữ ngọc 国 hàm ý lãnh thổ (bộ vi) chứa những tài sản quý báu (như dân chúng, ngọc ngà châu báu/đất đai ...). Chữ quốc với chữ ngọc 国 cũng là loại chữ giản thể rất thông dụng hiện nay. Hiện tượng 'thay đổi chữ viết' một cách thâm thuý6 trên có thể giải thích được chữ thố/thỏ 兔 đã dùng thay cho chữ miễn/*mãn/ vãn 免 - âm *mãn đã từng có nghĩa là mèo trong tiếng Việt7. Sự lẫn lộn8 giữa mèo và thỏ còn thấy trong cách dùng dã miêu 野猫 để chỉ loài thỏ hoang (wild rabbit)9 và mèo hoang trong văn hoá TQ và đáng được đào sâu hơn. 3. Lẫn lộn giữa các loài mèo và thỏ … trong văn hoá TQ Thố tôn 兔猻 (thỏ tôn) là loài mèo hoang đang từ từ biến mất: loài thú này ở Trung Á, Tây Bá Lợi Á, Kashmir, Nepal, Thanh Hải , Nội Mông Cổ , Hà Bắc , Tứ Xuyên , Tây Tạng , Tân Cương ... Thố tôn hay Xá Lị tôn 猞 猁 孫 : tiếng Anh còn dùng cụm từ Steppe cat và chúng hay sống trong các khu sa mạc. Khi người Hán tràn xuống phía Nam và Tây, ta thấy hiện tượng lẫn lộn ‘trông/nhìn mèo ra thỏ’ (trông gà hoá cuốc) như cách gọi Thố tôn này: các lẫn lộn trên giải thích được phần nào tại sao chi thứ tư Mão Mẹo liên hệ đến mèo chứ không phải là thỏ từ nguyên thuỷ. Hình sau trích từ trang mạng Bách Khoa TQ http://zh.wikipedia....%85%94%E7%8C%BB hay xem thêm http://baike.baidu.com/view/39824.htm Thố tôn 兔狲 Thố tôn còn được gọi là dương xá lị 洋猞猁, ô luân 烏倫, mã não 瑪瑙, mã não tặc 瑪瑙勒 ... Xá lị 猞猁 là loài mèo hoang (lynx). Miêu là từ HV nghĩa là mèo, nhưng nghĩa Hán cổ đại của miêu là loài hổ ít lông chứ không phải là mèo; Dữ kiện này hỗ trợ cho khả năng Mão 卯 chỉ là một cách ký âm của một tiếng nước ngoài (tiếng Việt cổ) nhập vào tiếng Hán. Đây là định nghĩa của miêu 【 爾雅 • 釋獸】 虎竊毛, 謂之虦貓 【Nhĩ Nhã•Thích Thú】 hổ thiết mao,vị chi sạn miêu Sạn/sàn 虦 theo Ngọc Thiên cũng là mèo. Sạn/sàn虦 còn viết là 虥 (chữ hiếm - tần số dùng là 11 trên 237243358) chỉ loài mèo hoang có vằn. Thố/thỏ 鵵 hay nghĩa cổ là một loài chim Vãn hay *mãn 梚 (chữ hiếm) chỉ một loài cây theo cổ thư TQ; Nhưng giọng Hẹ lại đọc là t'u2 (như âm thổ) - so với hai âm mãn (mèo) và thố/thỏ. … 4. Các cách giải thích khác nhau Để hiểu tại sao người Việt lại dùng mèo cho chi Mão 卯, một cách giải thích thường gặp10 trong tài liệu TQ là âm Mão khi nhập vào tiếng Việt đọc giống như mèo hay miêu HV nên người Việt dùng mèo làm biểu tượng thay vì thỏ. Điều này không hợp lý vì các lý do sau 3.1 Mèo là แมว maew (tiếng Thái), maaw (Lào) ... nhưng thỏ lại là loài vật biểu tượng cho chi Mão ở Thái, Lào! Điều lầm lẫn giữa Mão và mèo lại càng rất khó xẩy ra khi đất Giao Chỉ có những liên hệ rất gần với các triều đại phương Bắc (Hán ... Đường) so với các dân tộc khác ở phía tây Giao Chỉ. 3.2 Nếu mèo đọc gần như Mão và được dùng làm loài vật tượng trưng cho chi thứ tư này, rất khó giải thích tại sao nga (ngỗng trời ... cò biển) gần gũi với dân ta (đánh cá, gần biển ...), đọc gần giống âm cổ *ngwa của Ngọ 午, lại không là loài vật biểu tượng cho chi Ngọ? Còn âm cổ Mùi (Vị) 未 của chi thứ tám đọc gần với âm muỗi, tại sao người Việt lại dùng dê chứ không là muỗi ... và còn nhiều các âm giống khác nữa ....v.v... Ngoài ra, tuy chữ Nôm còn quá ‘trẻ’ để phân tích liên hệ ngữ âm của tên gọi 12 con giáp, nhưng cũng có vài điểm đáng chú ý là mèo (cũng như meo) thường dùng chữ miêu 貓 HV như 'Lẻo lẻo doành xanh con mắt mèo' (Bạch Vân Thi Tập, Nguyễn Bỉnh Khiêm 1491-1585) Nhưng méo thì chữ Nôm dùng Mão 卯 (có khi cộng thêm dấy nháy) 'Tròn tròn méo méo in đòi thuở’ (Hồng Đức Quốc âm Thi Tập, soạn bởi quần thần và Lê Thánh Tông 1442-1497). Do đó, hai âm Mão và mèo đã có sự phân biệt ít nhất từ thời nhà Lê, và xác suất nhầm lẫn giữa Mão11 (âm Hán trung cổ, nhập ngược vào VN khoảng từ thời Đường Tống) và mèo (âm thượng cổ) trong tiếng Việt rất nhỏ! 3.3 Khuynh hướng tổng quát và tự nhiên của chữ viết loài người tiến hoá từ cụ thể và đơn giản đến trừu tượng12. Thí dụ như tên gọi các loài vật được dùng với nghĩa mở rộng hơn, trừu tượng hơn như mặt chuột (so với mặt rồng), thân trâu ngựa, ăn như mèo ngửi, tính tình như rắn rít ... Thành ra, suy luận từ âm Mão cho ra mèo thì không phù hợp với khuynh hướng tự nhiên; Đáng lẽ là từ mèo (loài vật, cụ thể) cho ra âm Mão (hệ thống ghi thời gian, trừu tượng, bói toán/số mệnh) mới hợp lý hơn. Hệ thống gọi tên các con vật cụ thể (đơn giản) và rất gần gũi với nhà nông khi nhập vào văn hoá Hán đã trở thành hệ thống ghi nhận thời gian, bói toán (trừu tượng, phức tạp); Hệ thống 12 con giáp này cùng khởi sắc khi văn hoá Hán phát triển cực mạnh (Tần, Hán ... Đường, Tống ...) và ảnh hưởng đến các khu vực chung quanh, đây lại là hiện tượng nhập ngược mà ít người ý thức được trong trường hợp Việt Nam. 3.4 Có những cách giải thích không có cơ sở khoa học, đầy cảm tính như sự thay đổi giữa mèo và thỏ là sự xuyên tạc sự thật13 , hoặc dựa vào những ‘huyền thoại’ không thể kiểm chứng khách quan được: người viết chỉ ghi nhận vắn tắt ở đây mà thôi. Từ những góc độ nhìn khác nhau như trên, ta thấy khả năng nguồn gốc tên gọi 12 con giáp có thể đến từ tiếng Việt cổ. Thật ra thì người Việt chúng ta không cần phải lý giải tương quan rất tự nhiên giữa Mão Mẹo và mèo, cũng như Tý chút *chuốt chuột, Ngọ ngựa, Hợi *Gỏi cúi (heo), Sửu *tlu trâu ... Người Việt không phải dùng các từ ghép so với văn hoá TQ như Mão Thố 卯兔 , Tý Thử 子鼠, Sửu Ngưu 丑 牛để giúp ta nhớ đến tương quan Mão mèo, Tý chuột, Sửu tlu/trâu ..... Chính các ngôn ngữ hay dân tộc nào dùng thỏ thay vì mèo cho chi Mão/ Mẹo mới cần phải giải thích sự khác biệt này: đây là sự vay mượn hay cố tình thay đổi? …. Không phải là hoàn toàn nghịch lý khi tổ tiên còn dặn dò con cháu rằng Trăm năm bia đá thì mòn Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ 5. Phụ chú và phê bình thêm Để cho liên tục, người đọc có thể xem thêm các bài viết về chi Mão (hai bài trước số thứ tự là phần 4, 4A) chủ đề "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp" trên trang mạng khoahoc.net, dunglac.com ... của cùng một tác giả (Nguyễn Cung Thông), hay lên google và đánh tên nguyencungthong thì sẽ có loạt bài liên hệ đã đăng ớ các địa chỉ/website khác nhau. Ngoài hiện tượng đổi chữ (dùng dấu phẩy chẳng hạn), lẫn lộn (mèo thành thỏ), chúng ta cũng nên để ý đến hiện tượng nhập ngược (Mão nhập ngược vào ngôn ngữ Việt với dạng cổ mèo đã hiện diện). Hiện tượng nhập ngược lại (back-loan) trong quá trình giao lưu văn hoá như Bụt-Phật, tên 12 con giáp (gốc Việt cổ) trong tiếng Việt không phải là hiếm - nhất là khi các dân tộc sống gần nhau qua một thời gian rất dài; Một thí dụ gần đây hơn và thường được nhắc đến đã xẩy ra vào thế kỷ 20 khi Nhật Bản du nhập văn minh Tây phương và dùng một số từ gốc Hán, sau đó các từ này nhập ngược lại tiếng Hán và sau đó nhập vào tiếng Việt Xí nghiệp (HV) 企業 qi4 ye4 (Bắc Kinh) kigyō (Nhật) Điện tử 電子 dian4 zi3 denshi Nguyên tử 原子 yuan2 zi3 genshi Thị trường 市場 shi4 chang3 shijō Khoa học 科學 ke1 xue2 kagaku Hàng Không Mẫu Hạm 航空母艦 hang2 kong1 mu3 jian4 kookuubokan ...v.v... 1) nhưng theo học giả Lê Quý Đôn (1726-1784) trong ‘Vân Đài Loại Ngữ’, và Jean Bonet trong ‘Dictionnaire annamite-francais’ (1899) thì thỏ là con vật biểu tượng cho chi Mão: điều này cho thấy ảnh hưởng không nhỏ và có khi méo mó của chữ và văn hoá Hán, nhất là khi dùng tài liệu TQ. Văn hoá dân gian ta vẫn duy trì cách dùng con mèo (không phải thỏ) như trong tự điển Việt Bồ La (1651) – xem phần giải thích về giờ. 2) xem chi tiết về Điền Viên Động trang http://history.cultu...istory5910.html hay trang http://www.hudong.com/wiki/%E7%94%B0%E5%9B...%81%97%E5%9D%80 3) thí dụ như thanh điệu trong từ láy bốn chữ nũng nà (na) nũng nịu ... đều cùng âm vực trầm (trọc) 4) xem thêm chi tiết trong cuốn "ABC Etymological Dictionary of Old Chinese" của GS Axel Schuessler, NXB University of Hawai'i Press (Honolulu, 2007) trang 91 mục 8.2.1 5) danh từ nước (tiếng Việt) có khả năng là một dạng ngạc cứng hoá của vực 域 (vực > *nhược > nước tiếng Việt) so với dạng quốc (vực > *kwuc > quốc tiếng Hán Việt), nhưng ảnh hưởng của đạo Phật đã đưa nước (quốc gia có biên giới rõ ràng, xem lịch sử hình thành chữ quốc國 tiếng Hán bên dưới) đến với nước (chất lỏng, không phân định ranh giới rõ ràng, tuỳ thuộc hình thể/địa chất) trong vốn từ của toàn dân; Đây là sự thể hiện qua ngôn ngữ của giáo lý PG vô thường và mầu nhiệm. Các dữ kiện này cho thấy tư tưởng PG và văn hoá dân gian VN, qua tư duy nông nghiệp/tổng hợp và cụ thể, đã hoà lẫn với nhau từ thuở xa xưa để hình thành những nét văn hoá ngôn ngữ đặc thù của dân tộc, một đề tài lớn rộng đáng được nghiên cứu rất chi tiết để hiểu rõ hơn lịch sử và bản sắc văn hoá tộc Việt cho đến ngày nay. Tham khảo thêm chi tiết trang http://www.chineseetymology.org/CharacterA...tton1=Etymology và http://dict.variants.moe.edu.tw/yitia/fra/fra00734.htm ...v.v.. 6) từ khi dùng bút lông để viết chữ Hán, dấu chấm (nguyên thủy) trở thành dấu phẩy cho hợp với thế viết. Dấu phẩy bên phải của chữ ngọc được thêm về sau này - giáp văn, kim văn, triện văn không có dấu phẩy - chữ vương 王 và ngọc 玉 bắt đầu giống nhau từ thời kim văn Chữ miễn/*mãn/vãn免và chữ thố兔thời Xuân Thu có thể hoán chuyển cho nhau như trong đề từ khắc hoạ ở đền thờ Vũ Lương, bia khắc thời Hán ... Ngoài ra, các cách khắc/viết của miễn/*mãn/vãn và thố/thỏ cũng có lúc giống nhau trong triện văn Xem 13 cách viết khác nhau của chữ thố/thỏ 兔ta thấy có hai trường hợp không có dấu phẩy bên phải (tượng hình, chỉ đuôi thỏ) - trích từ trang http://dict.variants...ra/fra00276.htm Có những trường hợp chữ Hán không thay đổi nghĩa khi thêm (hay bớt) dấu phẩy ở trên hay dưới Triện văn Tư HV (nghĩ, tư duy) 7) 'con mãn tam thể': chat à trois couleurs (mèo tam thể, mèo có ba màu) theo Gustave Hue trong cuốn 'Dictionnaire vietnamien-chinois-francais' (Imprimerie Trung Hoà, 1937). Thuyết Văn Giải Tự/TVGT còn ghi chữ 獌 man, mán, mạn (màn mán wàn - giọng Bắc Kinh/BK) là chữ hiếm với tần số dùng là 9 trên 171894734 như sau 獌,[舞販切 ],狼屬。從犬曼聲。《爾雅》曰:“貙獌,似貍。” mạn ,[ vũ phiến thiết ] , lang thuộc . Tòng khuyển mạn thanh . " Nhĩ Nhã " viết : " sâu mạn , tự li . " Để ý TVGT cũng ghi miêu là loài li 貓,貍屬 (miêu, li thuộc). Người Mèo 苗族 (Miêu tộc) còn được gọi là người Man, Mán 蠻 蛮 8) hiện tượng lẫn lộn giữa loài thỏ và mèo (khi nhìn từ xa khá giống nhau) còn thể hiện qua các phương ngữ ở TQ thời cổ đại, phản ánh giao lưu văn hoá ngôn ngữ của các dân tộc đã từng hiện diện ở khu vực Trường Giang và phía nam TQ. Thí dụ như chữ nậu 䨲 (Unicode 4A32), nóu BK neu2 wan5 giọng Hẹ ... Chữ này rất hiếm từng chỉ thỏ con, nhưng lại có thể đọc là *man (so với mãn là con mèo tiếng Việt), trích tự điển Khang Hy 《集韻》江東呼兔子爲䨲 ... 《廣韻》《集韻》無販切,音萬 "Tập Vận" Giang Đông hô thỏ tử vi nậu ... Quảng Vận, Tập Vận : vô phiến thiết, âm vạn Trích từ http://dict.variants...rc/frc15675.htm (nậu HV) 9) Dã miêu 野猫 có các nghĩa là (a) mèo hoang (dã) hay mèo đồng, (thỏ hoang, và nghĩa mở rộng (tỷ dụ/metaphor) là © người lỗ mãng ... 10) xem thêm chi tiết các trao đổi, như Mão Niên (năm Mão) 卯年trở thành Miêu Niên (năm mèo) 貓年cho nên mèo là biểu tượng cho chi Mão, trang http://www.chinahistoryforum.com/index.php...t=#entry4988244 hayhttp://en.wikipedia.org/wiki/Rabbit_(zodiac) hay http://www.museumstuff.com/learn/topics/Rabbit_(zodiac) , và ‘ …vì trạng người Việt gầy nhỏ, không cao nên dùng mèo thay vì thỏ…’ trang này http://www.gxtour.cn...no=8030&lei=900 hay đọc Mão thành mèo (cũng như con mèo) nên người Việt đổi (lầm) thỏ thành mèo, xem trang này http://chinablog.cc/...ear-of-the-cat/ hay ‘huyền thoại’ về mèo ngũ trễ nên không đến mục tiêu kịp; Một ‘huyền thoại’ khác lại nói rằng mèo bị loại ra trong 12 con giáp vì nó đã bắt con chuột thiêng của Maya (mẹ của đức Phật Tổ) ...v.v... 11) cách đọc Mão rất phù hợp với cách phiên thiết theo Đường Vận/Tập Vận: 莫飽切, 音昴 mạc bão thiết, âm mão. Cũng như đa số các âm Hán Việt khác tương thích với âm Hán trung cổ, phản ánh khả năng nhập vào tiếng Việt vào khoảng thời Đường Tống ... Điều này cho thấy cách đọc HV Tý Sửu Dần ... Tuất Hợi cũng nhập vào tiếng Việt khoảng đời Đường hay sau này. Âm thượng cổ của Mão là *meu - theo tự điển phổ thông trên mạng http://tool.httpcn.c...RNUYKOTBF.shtml [ 上古音 ]:幽部明母,meu - so với dạng mèo tiếng Việt [ 广 韵 ]:莫飽切,上31巧,mǎo,效開二上肴明 [ 平水韵 ]:上声十八巧 [ 国 语 ]:mǎo [ 粤 语 ]:maau5 [ 闽南语 ]:bau2 Các dữ kiện về âm thượng cổ *meu (mèo) của tự điển TQ trên còn chứng minh rằng dạng mèo thượng cổ đã cho ra dạng Mão/mǎo trung cổ, và đã ‘hoá thạch’ hay trở nên bất tử trong tiếng Việt. 12) xem các bài viết http://www.wvhs.wlwv.k12.or.us/Staff/EbyA/...f%20Writing.pdf hay http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_...AF_vi%E1%BA%BFt …v.v… 13) xem các trao đổi trên mạng Yahoo.HỎI&ĐÁP http://webcache.googleusercontent.com/sear...=clnk&gl=au hay http://vn.answers.yahoo.com/question/index...27060841AAjc9Fl …v.v… Có người (chiêm tinh gia TQ) lý luận là loài mèo quen thuộc đối với người Việt nên thỏ mới trở thành mèo - xem chi tiết trang http://www.astrologi.../repon-16.shtml . Lại nữa, một đề nghị cho rằng ở miền bắc TQ hiếm mèo nên đổi mèo thành thỏ - xem chi tiết trang http://www.asiafinest.com/forum/lofiversio...179029-100.html ; Tuy nhiên, một ý kiến khác ngược lại nói rằng ở Việt Nam hiếm thỏ nên đổi thỏ thành mèo!
-
Bàn Lại Chuyện “Việt Nam Đón Mèo, Châu Á Chào Thỏ” Hà văn Thùy Vào dịp tết Tân Mão, phóng viên Nguyễn Hùng của BBC Vietnamese. com làm một việc có ý nghĩa là điểm lại những kiến giải khác nhau trên thế giới về chuyện “Việt Nam đón Mèo còn châu Á chào Thỏ.” Theo phóng viên Nguyễn Hùng, AFP cho rằng đó là “lỗi dịch thuật” khi dẫn lời ông Philippe Papin, chuyên gia lịch sử Việt Nam tại Ecole Practique des Hautes Etudes -Trường Cao học Thực nghiệm - ở Paris nói: "Từ để chỉ con thỏ tiếng Hoa là 'mao' và có cách phát âm giống 'mèo' trong tiếng Việt." Còn ông Benoit de Treglode từ Viện Nghiên cứu Đông Nam Á Đương đại ở Bangkok nói với AFP: "Đối với người Việt Nam, danh dự quốc gia không cho phép họ sao chép y nguyên những gì của Trung Quốc. "Cách bắt chước có khác biệt này có thể thấy trong toàn bộ nền văn hóa Việt Nam." Giáo sư Sử học Lê Thành Lân của Đại học Quốc gia Hà Nội chia sẻ quan điểm này, nói “ngay kể cả các tôn giáo khi vào Việt Nam cũng có nét khác đi và tồn tại hài hòa hơn.” Và “nghiêng về lập luận của nhà nghiên cứu có tiếng Nguyễn Phúc Giác Hải, người cho rằng hệ thống các con giống "có thể ở Trung Quốc"”. Giáo sư Nguyễn Thừa Hỷ, chuyên gia văn hóa học và sử Việt Nam và Trung Quốc nói “không nên đi sâu vào tìm hiểu nguồn gốc của sự khác biệt này.” Và “Những lý giải về sự tồn tại năm Mèo và năm Thỏ còn "mập mờ"”. Những ý kiến trên thuộc về tri thức phổ thông của thế kỷ XX. Suốt thế kỷ trước, khoa học nhân văn thế giới chịu sự chi phối của hai quan niệm: Thuyết đa nguồn gốc của nhân loại, cho rằng, loài người được sinh ra từ nhiều vùng khác nhau. Người châu Á được hình thành từ phía nam Tây Tạng, xâm nhập Trung Quốc rồi xuống Đông Nam Á. Văn minh nhân loại bắt đầu từ vùng Lưỡng Hà, vào châu Âu rồi sang Trung Quốc. Từ Trung Quốc văn minh lan tỏa tới các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Hai quan niệm này, được các học giả phương Tây mà chủ yếu là người Pháp của trường phái Viễn Đông Bác Cổ, phát triển, kết hợp với cổ thư Trung Hoa, dẫn tới kết luận là người Trung Hoa đã sáng tạo nền văn minh rực rỡ. Cùng với việc bị người Trung Hoa thống trị một nghìn năm, người Việt Nam vay mượn nhiều từ văn hóa Trung Hoa… Những phát biểu của các học giả nêu trên phản ánh quan điểm này. Nay quan điểm như vậy đã bị thực tế lịch sử bác bỏ. Những năm cuối thế kỷ XX, di truyền học đã có những khám phá mới: loài người được sinh ra từ quê hương duy nhất là Đông Phi và văn minh nhân loại được hình thành sớm nhất tại Đông Nam Á. Dựa trên tri thức khoa học mới nhất của nhân loại, tôi xin trình bày một vài ý kiến về vấn đề này. Trước hết, tôi không tán thành ý kiến “không nên đi sâu vào tìm hiểu nguồn gốc của sự khác biệt này” (!) Đấy không phải là thái độ khoa học. Một thái độ thực sự khoa học, trước khi nói Mão của Hoa hay của Việt, cần phải xác định Việt là ai, Hoa là ai? Điều mà cho tới nay vẫn bị hiểu lầm. 1. Người Việt là ai? Nhiều nghiên cứu di truyền học phát hiện, người tiền sử từ châu Phi, qua bán đảo A rập rồi theo ven biển Nam Á tới Việt Nam khoảng 70000 năm trước. Tại đây họ hòa huyết, sinh ra những chủng người Việt cổ thuộc nhóm loại hình Australoid. Di truyền học cũng xác nhận, người Việt hiện đại có chỉ số đa dạng di truyền cao nhất Đông Á, tức là người Việt Nam cổ nhất Đông Á. Khoảng 40000 năm trước, người Việt lên khai phá đất Trung Hoa. Khoảng 20000 năm trước, từ văn hóa Hòa Bình, người Việt đưa tới Trung Hoa công cụ đá mới rồi nông nghiệp. Tại di chỉ Bán Pha 2 tỉnh Sơn Tây có tuổi 12000 năm, phát hiện văn bản chữ tượng hình khắc trên bình gốm, gần với Giáp cốt văn đời nhà Thương. Tại chi chỉ Giả Hồ tỉnh Hà Nam 9000 năm trước, phát hiện chữ tượng hình khắc trên yếm rùa. Hiện nay tại Quý Châu Trung Quốc, tồn tại bộ lạc Thủy tộc (thực ra là Việt tộc) với khoảng 250000 người, còn giữ được vốn chữ gần với chữ khắc trên Giáp cốt.* Đó là những ký tự tiền thân của chữ Hán. Điều này cho thấy, người Việt đã sáng tạo chữ tượng hình rất lâu trước khi người Hán ra đời. Đến 4000 năm TCN, người Việt đã xây dựng trên địa bàn Đông Á nền văn minh nông nghiệp rực rỡ. Hệ từ truyện trong kinh Dịch nói Phục Hy làm Dịch. Phục Hy sống khoảng 4000 năm TCN và là một trong những ông tổ của người Việt. Như vậy, Thiên can, Địa chi, những yếu tố tối cần cho sách Dịch phải được sáng tạo trước thời điểm này. 2. Người Hoa là ai? Cho đến nay tri thức phổ biến của thế giới cho rằng, người Hoa được hình thành từ phía nam dải Thiên Sơn, sau đó vào chiếm Trung Nguyên, đẩy người Việt lui dần về phía Nam. Thuyết này là sản phẩm của quan niệm đa nguồn gốc của loài người nên bị bác bỏ. Dựa trên bộ mã di truyền cùng truyền thuyết và lịch sử Trung Hoa, ta có thể xác định người Hoa được hình thành như sau: Khoảng 2600 năm TCN, người du mục Mông Cổ phương Bắc (North Mongoloid) xâm lăng đất của người Việt ở nam Hoàng Hà, dựng vương triều Hoàng đế. Do số người ít và văn hóa thấp, vào Trung Nguyên, người Mông Cổ học nghề nông cùng văn hóa của người Việt bản địa. Họ cũng hòa huyết với người Việt, sinh ra người lai thuộc chủng Mongoloid phương Nam, tự xưng là Hoa Hạ. Sau vài thế hệ, người Mông Cổ thuần chủng không còn, người Hoa Hạ tiếp tục thể thống ông cha Mông Cổ, giữ vai trò lãnh đạo xã hội. Là con lai Việt, họ học tiếng nói, chữ viết cùng toàn bộ văn hóa của tổ tiên Việt, trong đó có Âm, Dương, Ngũ hành, Thiên can, Địa chi. 3. Sự hình thành Địa chi Là dân nông nghiệp, người Việt buộc phải quan tâm đến thời tiết và sự chuyển vận của mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao. Từ đó mà làm ra lịch. Xưa nay người ta vẫn cho rằng Âm lịch là sản phẩm của người Trung Hoa. Sự thực không thể như thế, bởi lẽ, Âm lịch dùng cho nông nghiệp nên không thể là sản phẩm của người du mục Mông Cổ đưa vào khi xâm lăng đất Bách Việt. Muốn làm được lịch, trước hết phải sáng tạo ra ký hiệu chỉ ngày, giờ, năm, tháng. Từ truyện cổ tích của người Dao về nguồn gốc các con vật: ngày thứ nhất Trời sinh con Chuột, ngày thứ hai sinh con Trâu…cho thấy người Việt xác định được thứ tự các con vật trong Địa chi, cố nhiên, có tính tới Âm Dương theo số móng của chúng. Mười hai con vật vốn quen thuộc với người dân nông nghiệp nhưng một khi đã vào Địa chi, chúng trở nên linh thiêng. Theo phong tục người Việt, những thần hay vật thiêng, không được gọi bằng tên tục, mà phải dùng tên kiêng, gọi là tên hèm. Tên hèm là danh xưng quy ước, gần với tên thực, để khi gọi, người ta tránh phải gọi tên tục của thần hay linh vật. Như vậy là, sau khi dùng Chuột, Trâu, Hổ… trong Địa chi, người ta thay tên tục ấy bằng tên hèm: Tý, Sửu, Dần… Từ đây, người Việt làm ra lịch rồi sách Dịch. Nhiều nghiên cứu ngôn ngữ học cho thấy: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn… là tên Nôm, của người phương Nam. Điều này càng chứng tỏ gốc Việt của Địa chi. Có thể xảy ra tình huống sau: địa chi trong đó có Mão-Mèo được đưa lên Trung Nguyên từ lâu. Thời kỳ đầu, đó là chuyện bình thường. Nhưng những thế hệ sinh ra ở phương Bắc, càng về sau càng xa dần phương Nam, trở nên xa lạ với con mèo. Trong khi đó con thỏ thì quen thuộc, hơn nữa hai con phát âm giống nhau, về ngoại hình lại cùng có tai dài. Lâu dần người ta cho Mèo là Thỏ. Tới lúc nào đó, Thỏ thay Mèo, vào ngồi trong Địa chi phương Bắc. Thời loạn Chiến Quốc, khoảng 400 năm TCN, người U Việt từ vùng Sơn Đông di tản sang Triều Tiên và Nhật Bản, được lịch sử gọi là người Yayoi, đã mang theo con Thỏ trong Địa chi. Cũng vậy, khi nhà Tần thôn tính các nước Ba, Thục, người Việt ở đây di tản xuống đất Thái, Lào, mang theo Địa chi có con Thỏ. Riêng người Việt Nam sống trên đất cố cựu của tổ tiên, lại là người sáng tạo ra Địa chi với con Mão nên vẫn giữ nguyên tên gốc của mình. Sài Gòn, cuối năm Tân Mão Không rõ ràng lắm.
-
Các quận trên đất Việt thời Tần Dòng Hùng Việt Bài viết Các quận trên đất Việt thời Tần của tác gỉa Bách Việt trùng cửu đã gợi ra ý tưởng ...xét lại việc nhà Tần dùng đạo quân “bất hảo” đánh chiếm đất Lục dương chia thành các quận Quế lâm ,Nam hải và Tượng quận . Sử ký -Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép : Năm thứ 28 (năm 219 TCN), Thủy Hoàng đi về phía đông đến các quận và các huyện, lên núi Trâu Dịch, dựng đá cùng các nho sinh nước Lỗ bàn việc khắc vào đá để ca tụng công đức nhà Tần... Tư liệu khác cho biết Lang Gia đài khắc thạch là bia đá có khắc chữ tiểu triện. Năm thứ hai mươi tám (năm 219 TCN), Thủy Hoàng nhà Tần đi tuần thú miền đông, đến núi Lang Gia, sai Thừa tướng là Lí Tư khắc bia đá này để ca tụng công đức. Trong đó đoạn văn như sau: “Ở trong sáu cõi đều là đất của hoàng đế. Phía tây vượt bãi cát Lưu Sa, phía nam đến tận miền cửa nhà quay mặt về hướng bắc. Phía đông có biển đông, phía bắc qua đất Đại Hạ. Nơi nào có vết chân người đi đến, không nơi nào là không thần phục.” Đoạn sử trên thông tin quan trọng nhất là từ khi Thủy hoàng lên ngôi năm Ξ 221 đất nhà Tần phía Nam đến miền Bắc hộ tức miền cửa nhà quay mặt về hướng bắc (nay), đất này được giới nghiên cứu xác định là miền Trung Việt nam như thế Giao chỉ đã thuộc lãnh thổ Tần sao còn có chuyện năm 214 TCN đánh đất Lục dương chia thành 3 quận ?. Khi lên ngôi thì nước của Thủy hoàng có 36 quận là : ... Tam Xuyên, Hà Đông, Nam Dương, Nam, Cửu Giang, Chương, Cối Kê, Dĩnh Xuyên, Đãng, Tứ Thủy, Tiết, Đông hải, Lang Gia, Tề, Thượng Cốc, Ngư Dương, Hữu Bắc Bình, Liêu Tây, Liêu Đông, Đại, Cự Lộc, Hàm Đan, Thượng Đảng, Thái Nguyên, Vân Trung, Cửu Nguyên, Nhạn Môn, Thượng, Lũng Tây, Bắc Địa, Hán Trung, Ba, Thục, Kiềm Trung, Trường Sa, cả thảy là ba mươi lăm quận, cùng với quận Nội sử là ba mươi sáu quận. Tác gỉa Bách Việt trùng cửu đã có suy nghĩ sáng giá khi viết : ...Việc Tần Thủy Hoàng cho di cư 10 vạn hộ từ quận Tam Xuyên sang quận Lang Gia và Đông Hải có thể chính là vào năm thứ 33 (năm 214 TCN), khi "Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải, cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ.” (Tần Thủy Hoàng bản kỷ) Xuất phát từ sự gợi ý của nhà Nghiên cứu cổ sử Bách Việt trùng cửu đào sâu hơn nữa về các quận Tần trên đất Việt : Tứ thủy tức quận đầu nguồn Châu giang hay Tây giang được ‘họ’ gán cho tên khác là Quế Lâm nay là đất Qúy châu và bắc Quảng Tây . Quận Đông hải khi dùng ngôn ngữ Dịch học thì nhận ra chính là đất Thanh hải quân đời Đường cũng gọi là Nam hải . file:///C:%5CUsers%5Cnhat%5CAppData%5CLocal%5CTemp%5Cmsohtmlclip1%5C01%5Cclip_image002.gif Sơ đồ định vị các quận cực Nam nhà Tần . Lang da thiết La ; la-ly-lý-lẽ-lễ-lỗ chỉ là biến âm của nhau là tên của 1 trong 2 tộc người anh em cùng cha đã tạo ra nước họ Hùng thuở ban đầu hoặc gỉa cũng có thể chỉ vùng đất của người La cư trú với La - Ly ấp là thủ đô . Lang Da cũng có thể là ‘lang Di hạ’ (di hạ thiết da) nghĩa là chúa người Di hạ , đất lang Da là đất của chúa Di hạ , tương quan ngôn ngữ giữa lang Da và Dạ lang gợi ra suy nghĩ về 1 tộc người nhưng cư trú ở 2 vùng đất rất xa nhau , dĩ nhiên 2 miền có liên quan với nhau về mặt lịch sử , tư liệu lịch sử Trung hoa cổ đại có nói đến chuyện ông Cổ công đản phủ dẫn dân của mình qua 5 lần tạm dừng chân sau cùng mới định cư ở Kỳ sơn , Sử thuyết Hùng Việt cho Kỳ sơn – Kỳ châu chính là đất Cùi chu – Qúy châu ngày nay , 2 ông Cổ công đản phủ và bá Ích hay Ất chỉ là một nhân vật lịch sử cũng chính là tổ phụ các vua nhà Châu . Phải chăng đoạn sử Tần thủy hoàng xua quân đánh chiếm miền Lục Dương (chính xác là Lạc Dương hay đất Lạc và đất Dương sử Tàu biến hoá thành kinh đô Lạc Dương của nhà Đông Châu ) lập thành các quận mới : Quế lâm Nam hải và Tượng là đoạn sử gỉa sản phẩm của đám sử gia phù thủy nhằm đánh tráo lịch sử vương quốc họ Hùng biến nó thành lịch sử của đám con dân đại hãn , suy xét cho kỹ ...chính đoạn sử thời Tần này đã cắt lìa Giao chỉ và cả miền đông nam Á lục địa ra khỏi cổ sử Trung hoa tạo nên sự nhiễu loạn lịch sử ghê gớm khiến người đời sau không còn nhận ra đâu là sự thật . Mới năm 219 TCN còn cùng bàn với ...Nho sinh nước Lỗ vậy mà chỉ 6 năm sau năm 213 TCN lại xảy ra kỳ án ‘đốt sách chôn Nho’ khó hiểu , điểm nhấn ở đây là sau sự kiện động trời này thì trừ Kinh Dịch và sách ‘khoa học kỹ thuật’ còn lại toàn bộ tác phẩm của Bách gia chư tử kể cả ‘Tứ kinh’ do Khổng tử biên soạn tất cả đều là sách đã được biên tập lại ...nói trắng ra chỉ là những trang sách đã cạo sửa . Phải chăng đốt sách chôn nho là sự kiện cùng 1 kiểu với việc tịch thu nấu chảy trống đồng tức cũng nằm trong kế họach diệt chủng Trung hoa về văn hóa của vua tôi Đông Hán , Tần thủy hoàng – Lý tư chỉ là những kẻ thế thân gánh tội mà thôi ?. ...Thông tin ... ‘Nho sinh nước Lỗ’ ... rất thú vị vì đức Khổng tử tổ Nho gíao là người nước Lỗ nên chắc là khởi thủy Nho giáo mọc rễ và phát triển trên đất ấy , những bậc túc Nho mà đoạn sử trên gọi là Nho sinh cũng là nơi đất ấy , nói nước Lỗ chính xác là nói ...nơi trước đây là nước Lỗ vì thời Tần thủy hoàng thì Thiên hạ đã là 1 nhà làm gì còn nước nào . Sử ký viết ... Năm thứ 35 (205 TCN), sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. .. ...Thủy Hoàng nói : - Ta nghe vua Văn Vương nhà Chu đóng đô ở đất Phong và Vũ Vương đóng đô ở Cảo, miền giữa Phong và Cảo là đô của đế vương... sai dựng đá ở bờ biển Đông Hải thuộc đất Cù để làm cửa phía Đông của nhà Tần, nhân đấy dời 3 vạn nhà đến Ly Ấp, 5 vạn nhà đến Vân Dương, những nhà này đều được tha việc công dịch mười năm. Cửu nguyên ; đất cửu – qủy chính là lãnh thổ nước Quỷ phương thời nhà Ân nay là Tứ xuyên còn gọi là Xuyên thục , Vân dương nghĩa là phía Đông đất Vân nói rõ ra ...là phía đông Vân Nam hỏi còn nơi nào khác ngoài Quảng Tây , sử không nói hay nói lập lờ nhưng có thể nối kết con đường Thủy hoàng cho làm từ Cửu nguyên sang Vân dương chính là con đường nối Tứ xuyên đất gốc nhà Tần qua Quảng Tây đến đất CÙ cửa biển phía đông của nhà Tần , Sử thuyết Hùng Việt cho ‘Cù’ chẳng qua là biến âm của ‘Cửa’ , phải chăng chính là địa danh ‘Cửa Ông’ ở Quảng ninh – Việt nam ngày nay (Đông hải ở đây chỉ chung vùng biển Đông không chỉ riêng quận Đông hải – Thanh hải ) . Kinh đô Tây Châu ở đất Cảo -Vân Nam , đông Châu ở đất Phong -Bắc Việt thì đất giữa miền Phong và Cảo nơi Thủy hoàng chọn làm kinh đô cho đế quốc Tần chỉ có thể nằm ở Quảng Tây và Cửa ông là cửa biển phía Đông nhà Tần hoàn toàn hợp lẽ . Lang Da là đất chúa tộc La được chứng tỏ thêm ở chuyện Yên kỳ sinh tu tiên trên núi Yên tử ; tử là Thày , Yên là tên nước , Yên tử nghĩa là ông thày người nước Yên mà Yên tử sinh ở quận lang Da chẳng hóa là đã nói rõ quận lang Da thời Tần chính là nước Yên thời Chiến quốc ?. Đối chiếu thông tin với Sử thuyết Hùng Việt thì đất quận Lang Da thời Tần là 2 nước Lỗ và Yên thời chiến quốc . Quận Tam xuyên lập trên đất Giao chỉ nơi có kinh đô phía đông nhà Châu , đông đô là nơi phồn hoa đô hội bậc nhất Thiên hạ nên dân chúng đông đúc là đúng , Tần thủy hoàng san sẻ dời dân sang 2 quận liền kề ; quận Đông hải phía đông , quận Lang da phía tây cũng như chia bớt sang Vân dương (Quảng tây) – Ly ấp ( Lào) là điều hợp lý. Việc mấy ông Tàu đổi Đông hải – Thanh hải thành Nam hải không phải chỉ là việc của qúa khứ mấy ngàn năm mà đang còn là chuyện thời sự ; Đông hải là biển đông nhưng là phía đông của chốn nào ?; không thể đâu khác ngoài ‘chỗ giữa’ hay ‘Giao chỉ’, địa danh biển Đông là tên gọi xác định theo chuẩn Việt nam , Quảng đông xưa là quận Đông hải đời Đường là Thanh hải quân bị đám phù thủy hô biến thành đất Nam hải ,gọi là Nam hải - biển phương nam là So chiếu với lãnh thổ Trung quốc , hệ qủa nơi đấy ‘đang nhiên’ là của Trung quốc ..., Hoàng sa -Trường sa nằm ở Nam hải thì rõ ràng là ‘máu thịt’ của Trung quốc đứt đuôi đi rồi ...còn gì phải bàn ?, nhưng ...Chỉ vài thông tin trong ‘thân thế sự nghiệp’ của An kỳ sinh cũng đủ để ‘ai đó’ choáng váng , Yên tử - ông thày người nước Yên sinh ở Lang Gia quận chuyên bán thuốc ở vùng Đông hải , đi tìm cây Xương bồ cứu người rồi tu luôn ở núi Yên Tử Việt nam ....làm quái gì có Nam hải ???. Nam hải chỉ là tên trên sách vở đã cạo sửa là chuyện của qúa khứ ngàn năm biết có biết không , trên bản đồ ngày nay còn rành rành đảo Hải nam ...đúng chuẩn Trung quốc nghĩa là hòn đảo ở phía nam của biển tương tự vùng Sơn tây Hà bắc xưa gọi là đất Hà nam nghĩa là phía nam Hoàng hà ...lạ thật sao lại phía nam , phía Bắc mới đúng chứ ...xin hỏi các ‘quan’ hay là Nam – Bắc nay đã lộn ngược ???. Quan là nom là Nam đấy chẳng phải quan quyền gì đâu thưa các học gỉa ‘nam man’ con cháu Quan(g) vũ nước Đông Hãn xưa ... Cuối cùng còn 1 việc nghĩ không thông ....Công đức nhà Tần khắc vào đá ở nơi mô ?, núi Trâu dịch , núi Lang gia hay ngọn núi quay ra ‘Nam hải’ gần quận Cối kê ?...đành thua ... Điểm theo chốt là Quý Châu và Vân Nam có thuộc Tần không? và tại sao sau này, Triệu Đà thống nhất với Âu Lạc thành Nam Việt. Nếu Vân Nam là bộ của vua an Dương Vương thì Tần không thể chiếm được. Còn Quý Châu châu có quân đội hùng mạnh, coi thường cả nhà Hán, đất vùng cao khó chiến tranh, sau này Tư Mã Thiên tới Quý Châu còn cho rằng quân đội đây mạnh nhất. Nếu Tấn tấn công Âu Lạc tới trung tâm Cổ Loa, thì chỉ cần kiềm giữa sự hỗ trợ từ Quý Châu và Vân Nam, cho nên địa thế quận Tượng - giữa Quý Châu, Vân Nam, Quảng Tây, Lạc Việt là địa thế then chốt.
-
Vài nhận định về tác phẩm “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng” Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ đăng ngày 16/12/2013 Tác phẩm Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng của Giáo Hoàng John Paul II làm tôi suy tư không ít. Lý do là tôi không muốn làm gì bất kính đối với Giáo Hoàng. Ai cũng biết nay Ngài là một vị lãnh đạo gần 1 tỉ người Công giáo, và đã lãnh đạo một giáo đoàn đông như vậy rất là vững vàng và cứng rắn. Ngài được báo Times đăng hình vào bìa báo 12 lần trong 16 năm nay. Quyển sách nói trên của ngài hiện nay bán chạy nhất trong 20 quốc gia. Ngài đi công du riêng ở Ý là 119 lần, và đi công du khắp thiên hạ đến nay là 63 lần. Ngài rất được thế giới và báo chí kính trọng. Tôi có cả hai bản Anh và Việt, và tôi đọc cũng khá kỹ càng. Đọc xong quả tình tôi thấy hơi thất vọng, vì sách Ngài thật ra không có gì cao siêu. Ngài trả lời các câu hỏi rất khéo léo. Vittorio Messori đặt ra những câu hỏi thật quái ác. Ngài trả lời mà thành ra không trả lời gì. Thật là tài tình. Ngài đọc nhiều, và viện dẫn nhiều thánh hiền, nhiều thông điệp. Thành thử nhiều khi không biết chân ý Ngài ra sao. Xin viện dẫn một thí dụ: Nơi chương 8, Vittorio Messori đặt câu hỏi rõ ràng rằng: Việc Đức Kitô hy tế nhằm cứu chuộc nhân loại có cần thiết không? Trong câu trả lời Ngài toàn bàn về lịch sử Tư Tưởng Âu Châu từ Descartes đến Newton, và cho biết phong trào này đã loại trừ Thượng Đế ra khỏi “tri thức khách quan của thế giới” v.v… và Ngài không hề đã động tới câu hỏi trên. Link: http://giaodiemonlin...l.php?sachid=81Tiện đây tôi cũng xin góp ý rằng bản dịch tiếng Việt cũng không được xuất sắc mấy, ngoài ra còn nhiều đoạn dịch sai. Ví dụ: trang 75, dịch: “Ngược lại vấn đề Thiên Chúa bị phỉ báng và khước từ trong sinh hoạt trí thức như vậy là một vấn đề chủ yếu,” mà nguyên văn là: “It was crucible, however that such a God be expelled from the world.” (tr.53) (Tuy nhiên, một Thượng Đế như vậy cần phải loại bỏ ra khỏi thế giới này), thì tôi thấy bản dịch có vẽ phức tạp và không lột được hết ý nguyên văn. Ví dụ chữ Modern immanentism (chủ nghĩa nội tại) mà dịch là Duy lý chủ nghĩa thiết tưởng không đúng. Hoặc chữ God of the deists mà dịch là Thiên Chúa của các thần minh thì chắc chắn là không đúng v.v… Bài Ngài bình luận về đạo Phật, theo tôi Ngài đưa ra bốn ý tưởng sau : 1- Nhận định và phê bình Phật giáo. 2- Lịch sử khoa huyền học Công giáo, và Phật giáo có thể đem nhập hội được vào nhóm này. 3- Cần chấp nhận gian trần này và phát huy nó, vì Chúa muốn thế. 4- Bàn về phong trào Thời đại mới (New Age) do nhóm Giác Ngộ (Gnostics) gây nên. Trước hết là nhận định và phê phán Phật giáo: Theo tôi Phật giáo rất là đơn giản: Con người cần đi sâu vào nội tâm, mà tìm cho ra con đường giải thoát. Phải nhận ra rằng khổ đau của con người là do Tham, Sân, Si, do Vô Minh gây ra. Và lăn lộn trong vòng Vô Minh, sân hận đó chính là bị đọa đày trong cảnh vô thường, luân hồi đau khổ. Phải dùng tuệ giác mới thoát ra khỏi vùng luân hồi sinh tử khổ đau đó, mới mong tìm được trường sinh bất tử, tìm ra được Niết Bàn. Giáo Hoàng không cần biết gì là Vô Thường, Vô Định, không cần biết cái gì là Trường Sinh vĩnh cửu, nên chỉ trong ít hàng là xổ toẹt đạo Phật, và cho đó là một giáo lý tiêu cực, trốn tránh sự đời. Nơi tr.40, Ngài viết: “Nhãn quan của Phúc Âm không dành một khoảng trống nào cho bất cứ một thứ niết bàn nào, một thờ ơ nào, một nhẫn nhục nào”. Thực ra Phật giáo có bao giờ xin Ngài cho một chỗ đứng nào đâu? Nơi tr.105, Ngài lại nói tương tự: Phật giáo theo nhận định rộng rãi là một hệ thống không đề cập đến Thượng Đế hay Trời đất (Vô Thần). Chúng ta không giải thoát chính mình khỏi sự dữ nhờ chính sự thiện đến từ Thiên Chúa; chúng ta chỉ giải thoát chính mình qua việc tách rời khỏi thế giới vô thường. Hành động tách rời không phải là sự thông hiệp với Thiên Chúa, nhưng Niết Bàn chỉ là tình trạng hoàn toàn thờ ơ trước thế giới. Ơn cứu độ trên tất cả là sự giải thoát khỏi sự dữ, bằng cách hoàn toàn tách biệt với thế giới huyễn tượng chính là nguồn sự dữ (sinh, lão, bệnh, tử). Đó chính là cao điểm của diễn trình tâm linh trong Phật giáo. Tôi thấy luận điệu của Ngài có nhiều sơ hở. Trước hết Phật giáo đề cao sự hiểu biết về con người, và khuyên mọi người tìm cho ra chân tướng của mình, tìm cho ra Phật tính của mình, chẳng lẽ điều đó là sai trái hay sao, chẳng lẽ cần Thượng Đế xen vào hay sao? Phật giáo cho rằng vũ trụ này có 2 thành phần: Một là cốt lõi bất biến (Niết bàn, Chân Như môn), hai là các hiện tượng biến thiên vô thường vô định bên ngoài (Luân Hồi, Sinh diệt môn). Phải rũ bỏ mọi biến thiên mới tìm lại được cái Bất biến bên trong. Như vậy là Niết Bàn nằm sẵn trong Luân Hồi. Nếu Niết Bàn là trường sinh, vĩnh cửu thì Thượng Đế cũng trường sinh, vĩnh cửu, và Ngài đã ở sẵn trong ta như lời Thánh John of the Cross đã nói: “Tâm điểm linh hồn con người là Thượng Đế.” Tẩy rửa tâm hồn như vậy chính là gột rửa hết mọi biến thiên vô thường, vô định để tìm ra bộ mặt chân thật và siêu tuyệt của con người. Chẳng lẽ nói thế là sai trái hay sao? Chính Ngài đã cho biết Ngài say mê John of the Cross, chẳng lẽ Ngài không biết những tư tưởng trên hay sao? Trong khi bàn về Phật giáo Ngài luôn dùng hai chữ Thiện Ác, chẳng lẽ Ngài không biết Phật giáo đề cao siêu suất trên Thiện Ác và lên tới Bất Nhị Pháp Môn (Advaita) hay sao? Cho nên, đọc những lời Ngài bình về Phật giáo, tôi có cảm tưởng như Ngài hầu như không hiểu gì về Phật giáo. Có thể là tôi không hiểu nổi Ngài chăng? Ta cũng không nên đòi hỏi Ngài quá nhiều, và những gì Ngài sai sót chung quy là tại người chưa nghiên cứu sâu xa mà thôi. Vả lại đại diện Ngài cũng đã xin lỗi Phật giáo rồi mà, chúng ta còn trách cứ Ngài làm chi? Thứ hai là Ngài bàn về lịch sử khoa huyền học Công Giáo và cho rằng Phật giáo có thể hội nhập vào khoa trên. Ngài đi từ các nhà Huyền học Bắc Âu như Eckhart, Tauler, Suso, đến các nhà huyền học Tây Ban Nha như John of the Cross , như Teresa of Avila, đến các nhà thần học Kinh Viện như Thomas Aquinas, và đến các vị hiển thánh cận kim như Vincent de Paul, như Gioan Bosco, v.v… Theo tôi điều đó không sai. Cái sai của Ngài là nói rằng: Khoa thần bí Carmelo này khởi đầu chính ở điểm mà những suy tư của Đức Phật dừng lại, và những chỉ dẫn tâm linh của Ngài. (tr.106). Câu nói trên hoàn toàn là vô căn cứ. Ngài làm sao biết được tư tưởng John of the Cross , và của Đức Phật mà biết tư tưởng nào ngừng ở đâu và bắt đầu từ đâu. Thứ ba, Ngài cho rằng phải can thiệp vào chuyện đời, phải có mối tương quan tích cực đối với thế giới, và Ngài cho rằng Công Giáo đã đóng góp vào sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện nay (tr.107). Tôi nhận thấy rằng chạy ra bên ngoài để lo chuyện đời không phải là chuyện của những người đạo cao đức cả, vì họ là những người chuyên hướng về nội tâm để tìm những điều cao siêu. Chuyện đời phải để cho người thế lo, chứ đó không phải là chuyện của Giáo Hội. Thi sĩ Nguyễn Đình Chiểu đã viết : Sự đời thà khuất đôi tròng thịt Lòng đạo xin tròn một tấm gương… Tôi nhận thấy Giáo Hội Công Giáo đã ngăn cản tiến bộ khoa học thì đúng hơn. Tập Kỷ Yếu Syllabus mà Giáo Hoàng Puis IX (1846 - 78) ra ngày Dec. 8, 1864 có ghi lại những sai lầm của thời đại mới, và cho đến mãi những năm sau Vatican II (1963 - 65), Giáo Hội vẫn còn mang tiếng là thù địch của Khoa Học. Giáo hoàng Piô IX Link: http://vi.wikipedia....0ng_Pi%C3%B4_IX Lecomte du Nouy viết: Kinh nghiệm cho thấy có nhiều giáo hữu đau lòng vì những mâu thuẫn tưởng tượng giữa tâm thần và lý trí họ, giữa tín ngưỡng và khoa học. (xem Nguyễn Văn Thọ, Lecomte du Nouy và học thuyết Viễn Đích, tr.292) ; (xem thêm Tại sao không theo Đạo Chúa, tr.129 - 131) Tuy nhiên, Ngài chủ trương phải liên tục dấn thân để biến đổi và hoàn thiện trần gian (tr.107), và thế giới này đã được giải thoát và thay hình đổi dạng để tiến tới viên mãn (Gaudium and Spes). (tr.108) Thực là một tư tưởng hết sức mới lạ đối với tôi, vì xưa nay Giáo Hội thường dạy thế gian này là chốn khách đầy, là thung lũng lệ châu, chứ đâu có dạy về Thuyết Tiến Hóa là vũ trụ này sẽ đi đến thành toàn. Mà làm sao vũ trụ này sẽ đi đến thành toàn được vì chính Chúa Giêsu và các tông đồ đã tiên tri là ngày thế mạt đã gần kề (Mat. 24; 26-32; Marc 13; 24-32; Luc 20; 25-32; I Peter 3; 7; I Thessa. 4; 15; Rev. 22; 10-13) và chắc chắn là Giáo Hoàng không thể chối cãi được chuyện này. Hơn nữa Ngài cũng đã quên khuấy những lời Chúa Giêsu phán rõ như đèn là “Nước ta không phải là nước thế gian” (John. 18; 36), hay “được lợi lãi cả thế gian mà là lỗ vốn mất linh hồn thì được lợi ích gì ?” (Mat. 16; 26) hay lời Chúa trách bà Martha (Luc. 10; 41): “Martha, Martha, người lo lắng xôn xao về nhiều chuyện. Cần thì ít thôi, hay một điều thôi.” Jesus, người chăn chiên Ngài trách Phật giáo là tiêu cực, không chịu dấn thân vào đời, nhưng xưa nay tôi chưa thấy chính quyền nào đã chê Phật tử là không chịu đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước. Thật ra con người xưa nay đã chịu định luật là “Trẻ đi ra, già đi vô”, “trẻ lo đời, già lo đạo” có vậy mọi sự mới được hẳn hoi. Cuối cùng Ngài bàn về Thời đại mới và môn phái Giác Ngộ. Quả thật môn phái Giác Ngộ đang được sống lại ngay trên đất Mỹ này. Ví dụ như ở Los Angeles có trụ sở Sophia Gnostic Center, do Stephen Hoeller đứng đầu. Tôi ghi lại vài nét chính yếu của môn phái này: 1- Họ muốn đi tìm lại Bản lai diện mục của con người. Họ viết : Giác ngộ là tìm hiểu chính mình, xem mình trước kia là ai, và bây giờ là ai, để có thể tìm lại con người trước kia của mình. 2- Họ là những người đi tìm thần linh nội tại trong tâm hồn, tìm cho ra Vô Cùng trong dạ. Họ tin rằng những điều ta hay biết là những gì hời hợt bên ngoài, nhưng trong ta còn có cái gì kỳ bí dạy ta tại sao bị khổ sở trong thế giới này, hãy quên nó đi, và hãy trở về quê cũ trong những miền ánh sáng xa xăm. Môn phái này cho rằng Thần Linh nội tại đã tìm ẩn trong lòng con người, và nếu gặp chân sư thì Thần Linh nội tại có thể trở nên sống động. 3- Họ tin rằng con người có Tiểu Ngã và Đại Ngã. Họ đi tìm bản thể rốt ráo của con người. Họ không theo ai, ngoài ánh sáng tâm linh trong lòng họ, họ không tin vào đấng Cứu Thế nào ngoài sức mạnh tâm linh họ. Họ không muốn trở thành tín hữu Tôn Giáo suông, nhưng còn muốn trở thành đấng Chirst. Như vậy thì tôn chỉ của môn phái này cũng na ná như của thánh hiền Huyền đồng Thiên Chúa giáo, nhưng xem ra Giáo Hoàng không mấy ưa họ. Như Giáo Hoàng đã nói: Từ Descastes tới nay, đã có một “chuyển hướng triết học rộng lớn lấy con người làm trung tâm điểm vũ trụ” (tr.72). Và chúng ta đang đứng trên ngưỡng cửa “duy lý chủ nghĩa và chủ quan chủ nghĩa tân thời”. (tr.73). Tôi mạn phép nói lộn lại cho dễ hiểu hơn. Chúng ta đang đứng trên ngưỡng cửa Chủ quan chủ nghĩa (Subjectivism) và Thần linh nội tại chủ nghĩa (Immanentism). Nói thế, không ai hiểu. Xin giảng thêm như sau: Triết học Âu Châu xưa nay chỉ chủ trương hướng ngoại (extraversion or extroversion), cho nên ai nói chuyện nội quan, quán chiếu, hay nhìn vào nội tâm (Introspection) thì cho đó là cái nhìn chủ quan (subjective), không khách quan (objcetive) và không đáng tin cậy. Nhưng triết học Âu Châu nghĩ vậy là lầm. Con người phải biết nội quan, quán chiếu rồi ra mới tìm ra được Thần Linh Nội Tại trong mình. Một triết gia mà không biết thế nào là nội quan, quán chiếu, thì không đáng gọi là triết gia. Và Giáo Hoàng cho đó là một nguyên nhân làm cho con người xa dần Giáo hội (tr.73-74). Tôi thấy nhận xét của Giáo Hoàng rất đúng. Và trong tương lai nhất định là “Con người sẽ đi sâu vào nội tâm để mà tìm Đạo tìm Trời”, sẽ không còn cần thiết những lễ nghi hình thức bên ngoài nữa. Nên nếu Giáo Hội không chuyển mình kịp, không thay đổi giáo điều để thích nghi với hoàn cảnh mới, thì trong tương lai nhân loại sẽ còn xa rời Giáo Hội nhiều hơn nữa. Lý do là vì Giáo Hội Công Truyền không mang lại cho Con Người một chiều kích sâu xa về tâm hồn, điều mà chỉ có các thánh hiền huyền học mới làm được. Năm 1989, tôi đã bàn về vấn đề này trong bài “Ra đời vào đạo”. Tôi xin trích ra đây một đoạn như sau: Càng ngày tôi càng trông tỏ hai nẻo đường, mà nhân loại bắt buộc phải băng qua. 1- Nẻo đường hướng ngoại, để thích ứng với hoàn cảnh. (Từ bé đến 35 tuổi). 2- Nẻo đường hướng nội, để tiến hóa, để đắc Đạo, phối Thiên. (Từ 35 tuổi trở đi). - Nẻo đường 1, tôi gọi là Âm Lộ, vì càng ngày càng trở nên hôn trầm, ám muội (từ quẻ Cấn đến quẻ Khôn). - Nẻo đường 2, tôi gọi là Dương Lộ, là nẻo tiến về phía tâm linh, đưa đến sáng láng, và giải thoát con người (từ quẻ Phục đến quẻ Kiền). Nẻo đường hướng ngoại, trớ trêu thay, lại là nẻo đường của các đạo giáo Công truyền trên thế giới. Phẩm chất của các đạo giáo này là phẩm chất ngoại tại: Thượng Thần ngoại tại, chân lý ngoại tại, lề luật ngoại tại, quyền uy ngoại tại, thưởng phạt ngoại tại, đền đài, miếu mạo ngoại tại, kinh sách ngoại tại. Những người bước chân vào con đường này, dần dần bị cấm suy, cấm nghĩ, cấm so sánh, càng ngày càng bị “Viễn cách chỉ huy” (remotely controlled), và dần dà trở thành những hình nộm trên sân khấu đời… mang danh đi đạo, mà suốt đời chẳng biết thế nào Đạo. Con người được lồng vào trong những khuôn sáo mà xã hội đã tạo dựng nên. Những khuôn sáo này chính là chiếc giường cố định của Procrustes. Ai lùn, ai ngắn thì sẽ kéo cho xương khớp lìa tan, miễn là phải vừa với khổ giường; ai dài, ai lớn thì chặt bớt đi cho ngắn lại. Đi vào con đường này chỉ thấy toàn là kỷ luật, còn tự do, hạnh phúc chỉ là những danh từ hảo, hữu danh, vô thực. Những đạo giáo công truyền này hết sức khác biệt nhau nhưng đều được giảng dạy cho con người từ khi còn tấm bé. Chính vì đối tượng của chúng là Con Người Ấu Trĩ nên dĩ nhiên chúng cũng rất ấu trĩ. Suy cho cùng, chúng cũng có ích cho nhân loại, vì chúng đóng góp nhiều vào công cuộc giữ gìn an ninh trật tự xã hội, giúp con người đối xử hẳn hoi với con người, ít là trên hình thức bên ngoài, và theo tầm nhìn lối nghĩ của các Giáo Hội. Các đạo giáo Công Truyền nói trên chỉ dạy phải thờ Trời, thờ Chúa, thờ Allah, thờ Phật, và cho rằng con người chỉ làm được công chuyện như vậy mà thôi. Con đường thứ hai là con đường hướng nội, là con đường đem lại an bình tâm hồn thật sự, và giải thoát thật sự. Ấn Độ xưa đã gọi giải thoát là Yoga, Moksa, Kriya Yoga và ngày nay người ta gọi là self-Realization, hay God Realization (Thực hiện Tự Tánh, Thực Hiện Thượng Đế) v.v… Phẩm chất của đạo giáo Mật truyền này - một NỘI GIÁO DUY NHẤT CỦA NHÂN QUẦN - là Thần Linh nội tại, chân lý nội tại, lề luật nội tại, quyền uy nội tại, thưởng phạt nội tại, kinh sách nội tại, đền đài miếu mạo nội tại. Thần Linh nội tại chính là Căn Nguyên con người; kinh sách, lề luật chính là Lương Tâm con người. Tất cả đều là thiên nhiên, vĩnh cửu. Đền đài chính là thân tâm con người. Thiền là một hình thức tập luyện giúp con người lắng đọng và thăng hoa tâm trí. Con người được khuyến khích suy tư, khuyến khích tìm cầu, khuyến khích thoát khỏi những gì tù túng, trói buộc con người. Nó có mục đích giúp con người vươn vượt lên trên thân phận con người, trở thành thần linh, ngay từ khi còn ở gian trần này, hưởng hạnh phúc tâm linh, ngay từ khi ở gian trần này. Thực vậy, muốn biết mình có chứng đạo hay không, chỉ cần kiểm điểm xem mình có được hạnh phúc thật sự hay không, con người mình có quang minh chính đại hay không, có hồn nhiên, tiêu sái hay không. Vì nó không đòi hỏi con người phải sống cố định theo khuôn khổ gian trần nào mà chỉ đòi hỏi phát huy những khả năng vô biên sẵn có nơi mình, thực hiện tinh hoa còn tiềm ẩn nơi mình, nên con người càng ngày càng thấy mình có thể triển đương tiến hóa vô tận. Loại đạo giáo này dành cho những tao nhân, mặc khách, những tâm hồn cao siêu, khoáng đạt. Con người thường tìm ra được NỘI GIÁO này lúc đầu đã hoa râm, lúc tuổi đã 35-40 và thường có may mắn là gặp được Chân Sư chỉ dạy. Nó có mục đích dạy người thành Thần, thành Phật, thành Trời chứ không dạy lạy Trời, lạy Phật, vì trong tương lai mai hậu con người sẽ tiến tới địa vị khả kính trên. Trên đây, Giáo Hoàng cho biết hiện nay nhân loại đang đứng trên ngưỡng cửa Chủ quan chủ nghĩa (Subjectivism) và Nội Tại chủ nghĩa (Immanentism) (tr.75), và thấy rằng vì thế mà nhân loại đang rời khỏi KiTô giáo. Đó là một nhận xét vô cùng tinh tế: Nhân loại ngày nay thực tình đang muốn đi sâu vào tâm hồn để tìm ra thần linh nội tại trong tâm. Như vậy mới thực là Nước Trời ở trong anh em (Luc 17;21). Mong rằng Ngài không chê trào lưu tư tưởng mới này, chẳng những thế còn đóng góp cho nó phát triển. Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ
-
Tin Ngưỡng Và Tục Thờ Thần Thánh T
hoangnt replied to Thiên Sứ's topic in Chú Ý - Các Bài Viết Quan Trọng
Chúng ta nhận thấy có một sự lạ: Chỉ riêng Thánh Liễu Hạnh là một Thánh Nữ, 3 vị còn lại là Thánh Nam? Có sự đặc biệt gì đây chăng? Trân trọng. -
Tượng Quận: Sử đã ghi nhận không bao gồm Giao Chỉ, đây là vùng đệm tức quận mới - vùng đất giao nhau giữa Giao Chỉ, Vân Nam, Quảng Tây và Quý Châu. Quận mới này như chiếc bàn đạp chiến tranh và điểm trung tâm ngăn cách mối liên hệ giữa các quận trên. Đây là chiến lược chiến tranh và cai trị. Vân Nam và Quý Châu: không thuộc Tần, chỉ sau khi Hán lấy Nam Việt thì hai quận này quy phục, triều cống nhưng ở dạng tự trị. Quảng Đông: lịch sử ghi nhận tính độc lập của quận này, sau đó vua Triệu Đà lại thu phục. Lâm Ấp: Chămpa và các nước vùng Đông Nam Á phân rã khỏi Văn Lang thời kỳ này.
-
Các quận trên đất Việt thời Tần Tần Thủy Hoàng bản kỷ: Năm thứ 28 (năm 219 TCN), Thủy Hoàng đi về phía đông đến các quận và các huyện, lên núi Trâu Dịch, dựng đá cùng các nho sinh nước Lỗ bàn việc khắc vào đá để ca tụng công đức nhà Tần... Tư liệu khác cho biết Lang Gia đài khắc thạch là bia đá có khắc chữ tiểu triện. Năm thứ hai mươi tám (năm 219 TCN), Thủy Hoàng nhà Tần đi tuần thú miền đông, đến núi Lang Gia, sai Thừa tướng là Lí Tư khắc bia đá này để ca tụng công đức. Trong đó đoạn văn như sau: “Ở trong sáu cõi đều là đất của hoàng đế. Phía tây vượt bãi cát Lưu Sa, phía nam đến tận miền cửa nhà quay mặt về hướng bắc. Phía đông có biển đông, phía bắc qua đất Đại Hạ. Nơi nào có vết chân người đi đến, không nơi nào là không thần phục.” Lang Gia là nơi Thủy Hoàng cho khắc bia đá năm 219 TCN. Nơi đây Thủy Hoàng lại bàn chuyện với "các nho sinh nước Lỗ". Phải chăng Lang Da thiết La = Lỗ? Lang Gia cũng có thể là đất Dạ Lang. Khu vực người Dạ Lang gồm đất Vân Nam – Quí Châu – Quảng Tây. Lang Gia còn là quê của đạo sĩ Yên Kỳ Sinh thời Tần. Chuyện về Yên Kỳ Sinh được một số từ điển Đạo giáo Trung Quốc hiện đại chép, đại thể như sau: Yên Kỳ Sinh người Phụ Hương, thuộc Lang Gia. Ông bán thuốc ở ven biển Đông Hải. Người đời gọi là Thiên Tuế Ông. Tương truyền khi Tần Thủy Hoàng đông du đã gặp ông, ban cho ông hàng vạn vàng ngọc. Ông bèn để tất cả lại nơi Phụ Hương đình rồi bỏ đi. Ông để thư lại cho Tần Thủy Hoàng đến tìm ông dưới núi Bồng Lai. Tần Thủy Hoàng mấy lần sai người ra biển tìm ông nhưng đều bị bão phải quay về. Bèn lập đền thờ ở Phụ Hương đình và hơn 10 nơi ven biển. Một số nơi có di tích Yên Kỳ Sinh là núi Yên Tử ở Quảng Ninh Việt Nam, Ngọc Tích Các ở Bồ Giản thuộc Quảng Châu … Những di tích này cho thấy nơi Tần Thủy Hoảng gặp Yên Kỳ Sinh khi đi tuần du phía Đông là ở khu vực quanh bờ biển Đông. Quận Lang Gia thời Tần do vậy không thể nằm ở tận bán đảo Sơn Đông mà là phần đất Quảng Tây và Đông Bắc Việt ngày nay. Tư liệu khác chép về chuyến Đông du khác của Tần Thủy Hoàng đi tìm chiếc đỉnh bị rơi khi chuyển cửu đỉnh của nhà Chu về Tần qua dòng Tứ Thủy gần Bành Thành: Thời điểm dừng lại tại Bành thành gần 30 ngày, (Tần Thủy Hoàng) khi đó lần lượt gặp mặt quận thủ 3 quận Tứ Thủy quận, Đông Hải quận, Lang Gia quận. Cuối tháng 6 từ Tam Xuyên quận rộng lớn trưng tập mười vạn hộ bách tính di cư tới 2 quận Lang Gia và Đông Hải. Việc Tần Thủy Hoàng cho di cư 10 vạn hộ từ quận Tam Xuyên sang quận Lang Gia và Đông Hải có thể chính là vào năm thứ 33 (năm 214 TCN), khi "Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải, cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ.” (Tần Thủy Hoàng bản kỷ) Quận Tam Xuyên là đất nhà Chu đã bị Tần chiếm từ năm 256 TCN dưới thời Tần Chiêu Tương Vương. Cuộc chinh phạt đất Lục Lương (hay Dương Việt theo Nam Việt Úy Đà liệt truyện) vào năm 214 TCN của Tần Thủy Hoàng như vậy là cuộc di dân của quận Tam Xuyên sang phía Đông, xuôi theo dòng Tứ Thủy tới các quận Lang Gia và Đông Hải. Sau đó khu vực này được chia lập lại thành 3 quận Quế Lâm, Tượng Quận và Nam Hải. Trên cơ sở các truyền tích và tư liệu trên có thể suy đoán: - Quận Lang Gia là Quảng Tây + Đông Giao Chỉ, nơi có các di tích của Yên Kỳ Sinh người Lang Gia. Sau khi di dân Tần Thủy Hoàng đổi thành quận Quế Lâm. Thời Đường là đất Quế Hải hay Tĩnh Hải. - Quận Đông Hải đổi thành Nam Hải. Thời Đường là đất Thanh Hải. - Tượng Quận là phần của quận Tam Xuyên cũ, gồm Vân Nam và Tây Giao Chỉ. Thời Đường là đất của Nam Chiếu. Vị trí 3 quận nhà Tần lập trên đất Việt Một lý do khác cho việc Tần Thủy Hoàng di dân và đổi tên quận là việc nhà Tần dời đô về phía Đông Nam. Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 35 (205 TCN), sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. Thủy Hoàng cho rằng ở Hàm Dương người thì đông mà cung đình các vua trước thì nhỏ nói: - Ta nghe vua Văn Vương nhà Chu đóng đô ở đất Phong và Vũ Vương đóng đô ở Cảo, miền giữa Phong và Cảo là đô của đế vương. Bèn sai xây cung để tiếp các triều thần ở phía Nam sông Vị…. Ở Quan Trung, số cung đến 300 cái, ở ngoài Quan Trung hơn 400 cái. Thủy Hoàng bèn sai dựng đá ở bờ biển Đông Hải thuộc đất Cù để làm cửa phía Đông của nhà Tần, nhân đấy dời 3 vạn nhà đến Ly Ấp, 5 vạn nhà đến Vân Dương, những nhà này đều được tha việc công dịch mười năm. Ly Ấp có thể là Lâm Ấp (trong liên hệ “lâm ly”), chỉ đô ấp phía Nam. Nếu vậy thì Ly Ấp là quận trị của quận Quế Lâm đã lập trên đất Việt. Vân Dương nơi Thủy Hoàng làm đường ra biển Đông hẳn là Dương Thành, tức là thành Quảng Châu ở tỉnh Quảng Đông ngày nay, hay quận Nam Hải thời Tần. Việc di 8 vạn hộ dân khi dời đô sang vùng đất “giữa Phong và Cảo” của hai nhà Chu như vậy hoàn toàn trùng với sự kiện đánh chiếm Dương Việt và lập 3 quận Quế Lâm, Tượng Quận và Nam Hải ở trên. Sự kiện di dân và đổi tên 3 quận trên đất Việt thời Tần Thủy Hoàng như vậy cho phép nhận định lại thời điểm khu vực này bị Tần đánh chiếm. Vùng đất Tam Xuyên của nhà Chu đã bị chiếm dưới thời Tần Chiêu Tương Vương năm 256 TCN. Năm 214 TCN vùng này không bị đánh chiếm một lần nữa mà Tần Thủy Hoàng cho di dân và dời đô về phía Đông ra gần biển hơn, chia lập lại 3 quận lớn Quế Lâm, Tượng Quận và Nam Hải.
-
Cố đô Ngàn Hống mở đầu thời đại dựng nước Tháng Tư 6, 2011 Cho đến nay, thời kỳ Hùng Vương được các nhà sử học khẳng định là thời kỳ có thật trong lịch sử. Tuy nhiên, không có một tư liệu thành văn nào ghi chép về thời kỳ này cho nên chúng ta tạm bằng lòng với việc “dựng” lại lịch sử bằng các truyền thuyết dân gian , dân tộc học, ngôn ngữ học, địa phương học, . . kết hợp với kết quả của ngành Khảo cổ học. Vì vậy, nếu đề cập tới thời kỳ Tiền Hùng Vương thì còn khó khăn gấp bội phần. Tuy nhiên, chúng ta cắt nghĩa thế nào về những ghi chép của các sử gia Trung Hoa về một đất nước Việt Thường xuất hiện rất lâu trước thời kỳ Hùng Vương ? Chúng ta cắt nghĩa thế nào về một cố đô Ngàn Hống xuất hiện trước khi có Kinh đô Văn Lang, nhất là khi những ghi chép đó lại xuất hiện trong Ngọc phả Hùng Vương, như một sự truy niệm về kinh đô cũ ? Xin cung cấp cho các nhà nghiên cứu và bạn đọc hai tư liệu trên. I – SỰ TÍCH CỐ ĐÔ VIỆT THƯỜNG ( Truyền thuyết ) Tục truyền, cha của Long Vương là Dương Vương, khi mới mở nước, đi xem phong cảnh núi sông, tìm nơi xây dựng kinh đô. Khi về phương Nam, đến vùng Ngàn Hống, thấy phong cảnh núi non trùng trùng điệp điệp, 99 ngọn ( Ngọc phả Hùng Vương ghi là 199 ngọn) cao tận trời xanh, chân núi vờn đến gần cửa Đơn Hay (tức cửa Đan Nhai, tức Cửa Hội) có thế rồng vây hổ chầu, Dương Vương rất lấy làm vừa ý. Vương bèn quyết định đắp thành dưới núi, lấy nơi này làm đô ấp, cứ như vị trí ngày nay thì thành ấy là đất Nội- Tả – Hữu Thiên Lộc thuộc Châu Hoan ( nay thuộc phạm vi các xã Thiên Lộc, Phúc Lộc, Tùng Lộc thuộc huyện Can Lộc, Hà Tĩnh, xem ảnh, Click vào ảnh để xem ảnh phóng to) Dựng xong đô ấp, Dương Vương lại cưỡi thuyền thẳng về hướng bắc, tiếp tục đi xem phong cảnh đất nước. Thuyền đang đi, bỗng có một người con gái “tóc dài ngài (người) đẹp, da phấn mặt hoa” từ dưới nước nổi lên, tự xưng là Thần Long. Sau khi chào hỏi ân cần, vương mời nàng lên thuyền, đôi bên trò chuyện rất ăn ý. Dương Vương đưa nàng về đô ấp Ngàn Hống và cưới làm vợ. Vương lại tiếp tục tuần thú phương Bắc. Đến vùng núi như ngày nay là Sơn Tây, vương thấy cảnh núi sông thật là hùng vĩ đặc biệt ngã ba Hạc là nơi thủy bộ thuận lợi, xem ra nhiều chỗ ưu việt hơn đất Hoan Châu. Vương bèn cho xây dựng đô ấp mới ở vùng Nghĩa Lĩnh, từ ngã ba Hạc đến vùng núi Hi Cương , làm nơi hành tại. Dương Vương lại lên vùng Hưng Hóa- Tuyên Quang bây giờ, lấy thêm một người con gái họ Mã là nàng Ngọc Nương làm vợ và dựng một cung sở cho nàng ở, cung sở đó xưa là vùng Tiên Cát, gần Việt Trì ngày nay. Vương ở Tiên Cát ít lâu rồi trở về đô ấp Ngàn Hống. Lúc này, nàng Thần Long đã đến ngày mãn nguyệt khai hoa, sinh con trai đầu lòng. Đó là Long Vương, con trưởng của Dương Vương, tức là Vua Hùng thứ nhất, sau này gọi là Hùng Hiền Vương (tức Lạc Long Quân) Khi Long Vương lớn lên, Dương Vương giao cho đô ấp Nghĩa Lĩnh để trông coi việc nước ở phương bắc và thay cha chăm sóc bà mẹ thứ là Mã Ngọc Nương. Trong thời gian ở kinh thành Nghĩa Lĩnh, nhân một chuyến đi tuần thú, Long Vương gặp nàng Âu Cơ ở vùng Sơn Tây cũ và lấy làm vợ. Long Vương đưa nàng Âu Cơ về động Hi Cương , còn mình thì ở luôn Phong Châu (gần ngã ba Hạc) làm việc nước. Về sau Long Vương bỏ kinh đô cũ Ngàn Hống, lấy Phong Châu làm kinh đô chính, đặt tên nước là Văn Lang, chia làm 15 bộ Từ đó cố đô Việt Thường ở Ngàn Hống bị thời gian xóa dần dấu vết. ( Theo Địa chí huyện Can Lộc,Huyện ủy, UBND huyện Can Lộc, Sở VHTT Hà Tĩnh, 1999, trang 224-225 ) II – HÙNG ĐỒ THẬP BÁT DIỆP THÁNH VƯƠNG NGỌC PHẢ CỔ TRUYỀN (Ngọc phả 18 đời Hùng Vương) ( Ngọc phả này hiện lưu tại Bảo tàng Hùng Vương) Sách chữ Hán, khổ 19×25 gồm 21 tờ, 42 trang, mỗi trang 10 giòng, tổng số gần 10.000 chữ. Trang 1 (tên Phả) : Hùng đồ thập bát diệp Thánh Vương Ngọc phả cổ truyền) Trang 2: Hoàng triều, Hoằng Định nguyên niên Canh tý, đông, thập nguyệt, cát nhật, Hàn lâm thị độc Nguyễn Trọng trùng đính Góc trái ghi: Lễ phiên Lê Đình Hoan thừa sao Góc phải có đóng ba dấu và ghi: Bản sao lưu tại quan lang phụ đạo Hùng Vương tôn điệt, phụ truyền tử kế, giữ Nghĩa Cương tạo lệ, hộ nhi Trung Nghĩa hương giám tự ( Hoàng triều Hoằng Định năm đầu, Canh Tý (1600), mùa đông tháng 10, ngày tốt, Hàn lâm thị độc Nguyễn Trọng sửa và đính chính, Lễ phiên Lê Đình Hoan thừa sao. Bản sao lưu tại nhà quan lang phụ đạo, con cháu Hùng Vương cha truyền con nối, là dân tạo lệ xã Nghĩa Cương, và là Giám thôn Trung Nghĩa ) Tờ 21 trang 42, giữa trang ghi: Hồng Đức nguyên niên, Nhâm Thìn xuân, tam nguyệt , cốc đán, Hàn lâm viện trực học sĩ Nguyễn Cố phụng soạn. Góc phải ghi: Dĩ thượng nhị thập nhất tờ. (Nhâm Thìn, Hồng Đức năm đầu, mùa xuân , tháng ba, là ngày lành, Hàn lâm viện Trực học sĩ là Nguyễn Cố phụng soạn. Tổng số là 21 tờ ). Đặc biệt Ngọc phả này có ghi về đô thành Ngàn Hống như là một kinh đô của người Việt cổ trước khi có kinh đô Văn Lang. Đó là nội dung ghi ở các trang 2a , 2b, 3a và 3b. Nguyên văn như sau : Dương Vương vâng chỉ, nghiêm túc theo uy trời, đến núi Nam Miên, đi xem phong thủy, chọn được thế đất tốt để lập đô ấp. Bèn qua Hoan Châu. . .xem khắp hình thế, thấy một vùng phong cảnh lâu đài vạn lớp, gọi là núi Hùng Bảo Thiếu Lĩnh, gồm 199 ngọn, gọi là Cựu Đô, nay gọi là Ngàn Hống, giáp với cửa Hội Thống ngoài biển. Núi đi gấp khúc, nước chảy vòng theo, rồng cuộn hổ nằm. Xem khắp bốn phía, bèn dựng đô thành để định bốn phương triều cống. Bấy giờ khí xuân ôn hòa, vạn vật đua sắc. Vua bình sinh vốn yêu phong thủy, bèn cử giá tuần du ngoài biển, xem khắp địa đồ, bất giác thuyền rồng đến thẳng hồ Động Đình. . . ( tờ 2a và 2b ) Về việc chuyển kinh đô từ Ngàn Hống ra núi Nghĩa Lĩnh Ngọc phả ghi như sau : Về sau vua lại đi tuần thú, trải khắp núi sông, xa giá đến xứ Sơn Tây, thấy địa hình trùng điệp , núi đẹp sông hay. Vua bèn tìm địa mạch , nhận thấy từ núi Côn Luân giáng xuống qua cửa ải, tựa như cầu vồng thoát mạch, rồng vút đi xa. . . Lấy sông Bạch Hạc làm nội Minh Đường, ngã ba Lãnh của sông lớn làm trung Minh Đường, núi Tượng Sơn của Nam Hải làm ngoại Minh Đường. Nghìn núi quay lại, vạn sông chầu về, tất cả đều hướng về núi Tổ Nghĩa Lĩnh, thu hết hình thế. Vua nhận thấy thế đất này quý hơn hẳn đô thành cũ ở Hoan Châu, bèn lập chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh thường ngự giá lưu lại ở đây. Bên ngoài dựng đô thành Phong Châu (nay đô thành cũ còn thấy ở thôn Việt Trì , xã Bạch Hạc của huyện Bạch Hạc) . Vua xa giá trở về đô thành cũ Hoan Châu, dựng lập đô thành, trước ở núi Thiếu Lĩnh, sau ở núi Nghĩa Lĩnh. Nay lấy núi Thiếu Lĩnh làm đô ấp sở tại của họ Việt Thường. Khi ấy vua đi tuần thú trở về cung điện ở núi Nghĩa Lĩnh, thấy bà cung phi Thần Long Quân nữ mang thai , có điềm lành ứng rồng, ánh hào quang đỏ đầy ắp nhà, trong trướng sinh hương, mùi hương ngào ngạt mấy tuần. . .( tờ 3a và 3b) Trên đây là một số tín hiệu cho thấy đã từng xuất hiện kinh đô Ngàn Hống của nước Việt Thường trước khi có kinh đô Phong Châu của các vua Hùng. Ngàn Hống hay Hồng Lĩnh là một ngọn núi lớn ở phía bắc Hà Tĩnh. Núi nằm giữa các huyện Nghi Xuân, Đức Thọ, Can Lộc va thị xã Hồng Lĩnh ngày nay. Kinh đô Ngàn Hống được định vị ở phía nam núi Hồng Lĩnh, trên phần đất các xã Thiên Lộc, Phúc Lộc, Tùng Lộc (huyện Can Lộc) ngày nay. Đây là một vấn đề hết sức lớn của lịch sử. Bạn muốn tìm hiểu sâu hơn, xin tìm đọc cuốn Nhìn về thời đại Hùng Vương ( Phan Duy Kha, Nxb Lao Động, , 2009) trong đó có một số bài đáng chú ý về đề tài này :
-
ĐỘNG ĐÌNH HỒ - CỘI NGUỒN CỦA TỘC VIỆT Trần Thị Vĩnh Tường Động Đình hồ Hồ Động Đình ở đâu? Ở miền Nam sông Dương Tử, hồ Động Đình họp thành bởi nhiều hồ lớn. Mỗi năm vào mùa lũ nước sông Dương Tử chảy vào hồ, làm tăng diện tích hồ từ 2.800 km² đến 20.000 km². Quân Sơn, một đảo nằm giữa hồ có 72 đỉnh núi, rộng 1 km nổi tiếng với các loại trà thơm, hoa lá quý hiếm tươi tốt quanh năm. Cảnh đẹp thần tiên, nhiều truyện tích rất u linh chích quái, liêu trai chí dị. Từ hàng ngàn năm, nhắc đến Tiêu Tương Hồ Nam, là nhắc đến tiên cảnh Động Đình Hồ, đến “Bát cảnh Tiêu Tương” của vùng Giang Nam. Từ miền Hoa Bắc sa mạc, người thuộc chủng Hoa Hạ ào ào lưng ngựa triền miên chinh phục hết miền đất này đến miền đất khác. Người Hoa Bắc nổi tiếng với nhiều lý thuyết gia, nhưng văn chương rất khô khan. Trái lại, miền Nam sông Dương Tử, nhất là miệt Động Đình sông nước mây khói mơ màng, nổi tiếng nhất với hai con sông Tiêu và Tương chảy vào lòng hồ, đã là nguồn cảm hứng bất tận cho thơ văn, hội hoạ, âm nhạc… “Ai có về bên bến sông Tương/ Nhắn người duyên dáng tôi thương/ Bao ngày ôm mối tơ vương…” của nhạc sĩ Thông Đạt, hay Kiều của Nguyễn Du, “Sông Tương một giải nông sờ/ Bên trông đầu nọ bên chờ cuối kia” cũng là sông Tương này. Chữ Tương, tiếng Hẹ (Hakka) phát âm là “siong”, tiếng Quảng Đông là “seong”, tiếng quan thoại là “xiāng”. Trong Chinh phụ ngâm, những vần thơ hết sức đẹp, cũng lấy cảnh sông nước Hồ Động Đình: Chốn Hàm Dương chàng còn ngảnh lại Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng… Hồ Động Đình trong truyền thuyết Hồng Bàng Bản đồ vị trí Động Đình hồ Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh, cháu ba đời vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, và phong Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ. Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía Bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Đông giáp bể Nam Hải….” Nước Sở có từ bao giờ? Khi truyền thuyết xuất hiện trong Lĩnh Nam chích quái thế kỷ 14, tất cả những địa danh, nhân danh từ Đế Minh, Lộc Tục, Xích Quỷ… đến Hồ Tôn, Hồ Bắc, Hồ Nam, Động Đình Hồ… là tên thuần Hán. Tất cả nằm tại địa bàn nước Sở, tức khu vực Động Đình Hồ. Vương đầu tiên của người Việt là Kinh Dương Vương, có thể hiểu đó là “vương của châu Kinh và châu Dương”? Đất Kinh, mang tên loại cỏ Kinh mọc thành bụi cao, đa số dân thuộc chi Âu, đại diện là Âu Cơ, đọc theo phát âm Mường và Quảng Đông là Ngu Kơ, ưa sống miền núi rừng. Bây giờ, địa bàn của châu Kinh là tỉnh Hồ Bắc. Đất Dương có dân thuộc chi Lạc, đại diện là Lạc Long Quân, ưa sống miền biển. Địa bàn châu Dương gồm các tỉnh ven biển: Giang Tây, An Huy, Chiết Giang, và Giang Tô. Cả hai đại chi Âu và Lạc, thuộc chủng Yueh/Việt. Mỗi đại chi lại có hàng trăm tiểu chi. Khoa nhân chủng học ngày nay gọi nhóm này là Austro-Asiatic = người châu Á phương Nam, khác với Mongoloid, người châu Á phương Bắc, chính là chủng Hoa Hạ. Theo chính sử Trung Hoa, Châu Thành Vương (1042-1021 TCN) phong cho Hùng Dịch tước tử ở nước Sở, còn gọi là nước Kinh, để cai trị và ngăn chặn quấy phá của dân “man di” Yueh/Việt ở địa phương. Đây là lần đầu tiên người Trung Hoa thiết lập chế độ phong kiến (phong đất cho thuộc hạ, họ hàng). Đây cũng là lần đầu tiên người Hoa Bắc chính thức chinh phục miền đất phía Nam sông Dương Tử. Trong 800 năm, từ đầu thế kỷ 11 TCN đến khi bị Tần Thuỷ Hoàng diệt năm 223 TCN, nhà họ Hùng đưa nước Sở từ một miền phên dậu thành một chư hầu hùng mạnh có lúc lấn cả thiên tử nhà Châu, và suýt trở thành “thủ lãnh đại ca” của Xuân Thu Ngũ Bá. Năm 740-689 TCN, khoảng đầu thời Xuân Thu, nhà Châu bắt đầu suy, nước Sở cường thịnh dù vẫn bị người Hoa Hạ chế diễu “Vua Sở như con khỉ biết đội mũ”. Lãnh tụ của Sở là Hùng Thông tự ý xưng Vương, tức Sở Vũ Vương. Từ đó trở đi, tiếp theo hàng chục đời, lãnh tụ nước Sở bao giờ cũng có họ Hùng và tước Vương. Hùng Dịch, Hùng Thông, Hùng Sì, Hùng Cừ… chữ Hùng 雄 viết y hệt như trong “Hùng Vương” của Việt Nam. Sau khi diệt các nước Việt nho nhỏ chung quanh, năm 333 TCN nước Sở thôn tính thêm hai nước Việt rất lớn cũng thuộc chi Lạc ở ven biển: nước Ngô Việt (Câu Tiễn) và U Việt (Phù Sai). Tuy rất văn minh, đã đúc thuyền đồng, trống đồng, luyện thép (như hai nhà luyện kiếm nổi tiếng là Mạc Tà và Can Tương), nhưng chỉ lo đánh đấm và trả thù nhau nên bị Sở diệt. “Quốc tịch” dân Sở Đại thần/thuộc hạ của Châu Thành Vương đều là người chủng Hoa Hạ. Hai người Sở nổi tiếng, thi sĩ Khuất Nguyên, tác giả Ly Tao, và Hạng Võ, mà người Việt giới bình dân đều rành nhờ… tuồng cải lương Hồ Quảng Hạng Võ biệt Ngu Cơ – “Tấm thân lấp biển vá trời/ Thanh gươm yên ngựa một đời dọc ngang”. Tây Sở Bá Vương Hạng Võ người chủng Hoa Hạ, Ngu Cơ chủng Việt, chi Âu. Không riêng gì Sở, dân “man di” miệt Nam Dương Tử đa số là Yueh/Việt. Nên khi hai nước Trịnh, nước Vệ có chiến tranh, quân dân hai bên leo lên mặt thành nói chuyện thả dàn, không cần thông dịch viên toà án. Sử không thèm ghi xem bọn dân đen nói chuyện chi. Mời nhau ăn một miếng trầu, rủ rê xuống ruộng dâu [1] , đánh trống đồng hay hát bài “Việt nhân ca” [2] . Chi tiết trên chứng tỏ đánh nhau là chuyện của lãnh chúa Hoa Hạ, còn dân Việt tỉnh bơ ví dầu nói chuyện trời trăng. Điều này rất quan trọng nhưng độc giả lướt qua vù vù như cưỡi máy bay, yên chí mình đang đọc truyện về dân Tàu. In hệt hồi Tần Thuỷ Hoàng sai Triệu Đà, người Hoa thứ thiệt, đi “bình định” vùng Lĩnh Nam. Khi nhà Tần yếu, Triệu Đà xưng làm vua Nam Việt, nhưng dân vẫn cứ là giống Việt “man di”. Tiếng nước Sở ngày nay đã bị Hoa hóa nhưng giọng nói của dân Hồ Bắc, Hồ Nam vẫn còn giữ thổ âm của tiếng Sở ngày xưa. Người Hoa gọi đó là giọng Hồ Quảng (nơi phát xuất… cải lương Hồ Quảng). Hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây gọi là tỉnh Việt. Tiếng Quảng Đông còn gọi là Việt ngữ. Kịch nghệ ở Quảng Đông và Hương Cảng gọi là Việt kịch. Thức ăn của Quảng Đông là Việt thái (tsai). Xin để ý: dân tộc Việt Nam là một thành phần trong khối Yueh/Việt. Nhưng không bao iờ là toàn khối chủng Yueh/Việt cả. Vì vậy những thành tích/khám phá có dính líu đến “người Việt” về phương diện nhân chủng/khảo cổ/văn hoá/… đào bới được ở khắp vùng châu Á không luôn luôn có nghĩa thuộc về người Việt Nam ở Việt Nam. Ngay cả nền văn hoá Hoà Bình thuộc thời đồ đá mới tuy tìm thấy ở tỉnh Hoà Bình, nhưng giới khoa học rất thận trọng, họ không coi nền văn hoá này là của người Việt Nam vì thời đó chưa có nước Việt Nam và người Việt Nam. Ai à chủ nhân thực sự của văn hóa Hoà Bình, vẫn là một câu hỏi. Chiến tranh Sử Tà không ghi chép đời sống của dân bản địa. Bộ Đông Châu liệt quốc toàn tả lãnh tụ xưng hùng xưng bá. Chỉ biết từ đời Xuân Thu Chiến Quốc 722 TCN đến khi Sở bị Tần diệt năm 223TCN là một thời kỳ hỗn loạn. Dân ở phía Nam sông Dương Tử chịu cảnh binh đao, tàn sát, cướp bóc… hông biết bao nhiêu mà kể. Chính biến, đảo chánh, giành ngôi, phế lập, âm mưu, cướp bóc, lãnh chúa… iên giới các “nước” thay đổi. Có nước bị giải thể. Hàng ngàn nước bị chia cắt, sát nhập lúc vào nước này, lúc vào nước kia. Khi Tần Thuỷ Hoàng, “gồm thâu lục quốc” (Hàn, Nguỵ, Sở, Triệu, Tề, Yên) một cuộc chiến khủng khiếp kéo dài 9 năm biến giải đất mênh mông từ trung nguyên [3] xuống nam Dương tử thành một lò sát sinh khổng lồ. Gia đình lãnh chúa bị tận diệt đã đành, dân chúng lớp bị giết hàng khối, lớp chạy tan tác trước sức đồng hoá của chủng Hoa Hạ, của chiến tranh, hạn hán, mất mùa... Miền đất chưa bị vó ngựa chủng Hoa rớ tới, chính là vùng mênh mông phía Nam và Tây nước Sở. Bây giờ là vùng Quảng Đông, Quảng Tây, Quế Châu, đồng bằng sông Hồng… Lúc đó chưa miền nào có tên như bây giờ. Muốn đi tới miền này phải vượt qua dãy Đại Ngũ Lĩnh hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, hoàn toàn không hợp với người Hoa Hạ chỉ quen chinh chiến và sống vùng sa mạc. Trong Đường về Trùng Khánh, dù đã là năm 1942, tác giả Hàn Tố Âm (Han Suyin) vẫn tả Quế Châu như một vùng rừng núi hoang vu gần như không có ai tới, cách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, chỉ có một số người miền núi sinh sống. Thật ra trong quá khứ ngàn năm trước, miền này đã đón nhận hoặc là miền chuyển tiếp rất nhiều đợt chạy loạn. Bộ mặt của lịch sử Trung Hoa, không phải chỉ ngon lành nào Hồng lâu mộng, nào Tây du ký, tứ đại giai nhân, thi thánh thi bá… Bộ Đông Châu liệt quốc ghi lại 400 năm loạn lạc, cho thấy mạng dân đen (Hoa cũng như Việt) như bèo: Tề Hiếu Công chôn sống hơn hai trăm nội thị và cung nhân trong mồ của cha mình. Mồ của Tần Mục Công táng theo 177 người. Ngô vương Hạp Lư đánh bẫy hơn một vạn nam nữ để tuẫn táng cho con gái. Không hiếm những người tỉnh táo, lệnh doãn Tôn Thúc Ngao di chúc “Dân nước Sở ta khổ vì việc chiến tranh đã lâu, chúa công nên nghĩ lại mà khiến cho dân được an nghỉ”. Nếu chúa công nghe lời can gián, nước Sở chắc không bị Tần diệt, và bộ mặt địa lý/chính trị của nước Trung Hoa có thể đã khác. Chiến tranh/nạn đói thời An Lộc Sơn cũng được ghi lại trong 1.500 bài thơ của Đỗ Phủ, nổi tiếng thi hào mà không cần chạy theo chéo áo giai nhân [4] . An Lộc Sơn đánh vào Trường An, Đường Huyền Tông chạy trốn, Dương Quí Phi thắt cổ. Trong 8 năm, dân số nhà Đường, kiểm kê năm 754 từ 52.8 triệu người chỉ còn 16.9 triệu. Lăng mộ của Tần Thuỷ Hoàng cần tới 70 ngàn người xây cất, con số chôn sống không rõ. Nhà văn Hàn Tố Âm, dù gia đình khá giả ở Bắc Kinh (cha người Bỉ, mẹ người Hoa) cũng nhắc lại điều khủng khiếp ám ảnh bất cứ đứa trẻ Trung Hoa nào: chiến tranh và thiên tai “ba năm liền không có một giọt mưa”. Dân chết đủ kiểu. Kể cả chết đói. Vỏ cây cũng không còn. Ai còn đi được, đều cố đứng dậy hay lết bằng đầu gối. Dân Sở thuộc chủng gì? Dù Kinh Dương Vương là một người thật, hay chỉ là một biểu tượng trong truyền thuyết Hồng Bàng, cũng đều là một pha trộn hai giòng máu Âu và Lạc. [5] Đây là mật mã cốt lõi của truyền thuyết: · Hai chi Âu-Lạc sống chung ở vùng Động Đình Hồ, · Cùng dắt díu nhau di tản, và đoạn cuối · Buồn hơn bất cứ chuyện tình nào: Âu-Lạc phân ly. Thế kỷ 14, tác giả Lĩnh Nam chích quái ghi tất cả biến cố bi tráng trên vào mươi hàng đặt tên “Truyền thuyết Hồng Bàng”. Thời bây giờ, không chắc có cây bút nào có thể viết ngắn/nhiều ý nghĩa đến vậy. Độc giả có thể kiểm chứng bằng nghiên cứu hay đọc những nghiên cứu ngôn ngữ và lịch sử, thì thấy từng chi tiết của truyền thuyết vẫn còn in dấu trên tình trạng đa sắc tộc và sự hoà huyết, hỗn hợp ngôn ngữ của cư dân có mặt trên mảnh đất Việt Nam. Lịch sử dựng nước của các quốc gia châu Á: Đài Loan, Phi Luật Tân, Nhật, Triều Tiên, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam,… đều có những điểm giông giống nhau: hỗn loạn, chia cắt, đánh chiếm, tận diệt, lấn đất, di cư, hoà huyết… “Nước” Xích Quỷ biến đi đâu? Không biến đi đâu hết. Ở đâu còn nguyên đó. Đất cũ người cũ. Thêm người mới khoác áo văn hoá mới. Nhìn trên bản đồ, bờ cõi nước Xích Quỷ hầu như phân nửa bờ phía Nam sông Dương Tử: Bắc giáp Động Đình Hồ vĩ tuyến 29 Bắc, phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành) vĩ tuyến 11 Nam, phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên) kinh tuyến 105 Đông, phía Đông giáp bể Nam Hải, kinh tuyến 118 Đông. Tổng cộng diện tích của Xích Quỷ khoảng 2.900.000 cây số vuông. Diện tích Việt Nam bây giờ là 331,688 cây số vuông. Tại sao thình lình không gian của Lạc Long Quân tức Hùng Vương thứ nhất rộng lớn đến thế, đời Hùng Vương thứ 18 khi bị Thục Phán diệt, chỉ còn lại đồng bằng sông Hồng? Di cư Như trên đã nói, một cuộc di tản rất lớn xảy ra, kéo dài hàng mấy trăm năm, trước/sau khi nước Sở bị diệt vong. Đám chi Âu, chi Lạc chạy khỏi địa bàn nước Sở. Khi đi, mang theo tất cả những truyền thuyết tổ tiên đến địa bàn mới. Ngay như tên người Việt bây giờ vẫn tự gọi: người Kinh - để phân biệt với người Thượng - có thể tên châu Kinh đất cũ còn trong ký ức. Có lẽ nên hiểu truyền thuyết Hồng Bàng là cổ sử của chủng Yueh/Việt, hơn là cổ sử riêng của Việt Nam. Biên cương rộng lớn của Xích Quỷ hé mở đôi điều, nếu hiểu theo quan sát và quan niệm của tác giả truyền thuyết Hồng Bàng về thời lưu cư ở Động Đình Hồ: 1. Chủng Việt, khác với chủng Hoa Hạ 2. Hễ đồng chủng, là cùng một “nước” 3. Có rất nhiều bộ tộc Việt sống xen kẽ trên cùng địa bàn Xích Quỷ 4. Vì xen kẽ, nên mượn qua mượn lại truyền thuyết/cổ tích của nhau 5. Người/tiếng Việt đi tới đâu, biên giới Xích Quỷ đi đến đó 6. Người Trung Hoa bây giờ cũng là một pha trộn = Hoa Hạ + Việt, cả DNA và tiếng nói. 7. Lãnh tụ đầu tiên Lạc Long Quân hoàn toàn thuộc chủng Việt, mang hai giòng máu Âu và Lạc, không lai một chút Hoa Hạ nào hết. Có “nước” Xích Quỷ không? Không. Bởi vì: · Xích Quỷ: chỉ là địa bàn lớn chứa chủng Việt, gồm hàng trăm (hay ngàn) bộ lạc/thị tộc, tình trạng “văn minh” tuỳ vùng. · Nước Sở: nhỏ hơn, chứa các nhóm Âu-Lạc. · Đồng bằng sông Hồng: nhỏ hơn nữa, là một trong những nơi dừng chân cuối cùng của của đám Âu/Lạc di tản. Nơi đó cũng đã có người ở từ trước. Nước Thái Lan, nước Lào, chi Âu, tình cảnh rất giống Việt Nam. Thái chỉ mới thành lập quốc gia từ thế kỷ 13. Lào lập nước trễ hơn Thái chừng nửa thế kỷ. Cả hai chạy ngược chạy xuôi tìm đất và choảng nhau với dân bản địa. Có những bộ tộc rất oai hùng, nhưng lại không thành lập nổi một quốc gia, ví dụ sắc tộc Karen, sắc tộc H’Mong, và hàng ngàn bộ tộc hiện diện trên đất Trung Hoa, bị Hán hoá hoặc có danh nghĩa “khu tự trị”, nhưng mức độ độc lập luôn là câu hỏi. “Con Rồng cháu Tiên” Xin thú thật, là một học trò yêu môn lịch sử, nghe “con rồng cháu tiên, dân Việt mình… siêu hơn dân tộc khác” rất êm tai. Nhưng hôm nay ôn lại những trang sử, bàng hoàng nhận ra một bài học khác: nước Việt sinh ra trong ly loạn, những đoàn người đầu tiên đã cố gắng phi thường mới hội được nước Việt như ngày nay. Cảm xúc trước sự huyền bí của lịch sử là một cảm xúc đẹp. Tuy vậy, kiểu hãnh diện mơ màng “con Rồng cháu Tiên” nhưng không biết rằng nước Việt được tạo dựng trong điêu linh, có thể làm biến dạng suy tư của người Việt: làm đứt đoạn, xa rời hẳn với quá khứ. Nếu có đôi điều đặc biệt đáng hãnh diện, đó là trong số hậu duệ của chủng Việt, không có quốc gia nào nắm níu tên “Việt” ngoại trừ dân tộc Việt Nam; và sau gần 3000 năm thăng trầm, sức sống bền bỉ, chấp nhận hoà huyết, sáng tạo tiếng nói, dũng mãnh chống ngoại xâm, mềm dẻo giữ độc lập… mỗi ngày là mỗi cố gắng gượng dậy từ những tang thương dù không hề biết cuối con đường cay đắng hay vinh quang: đó mới là kho báu đích thực và bài học vô cùng quí giá tổ tiên để lại. Phật Đản 2007, California © 2007 talawas [1]Câu 507, Kiều trả lời Kim Trọng khi chàng Kim eo sèo đòi “sex”: Ra tuồng trên Bộc trong dâu,Thì con người ấy ai cầu làm chi! Sông Bộc: nơi trai gái chủng Việt chiều chiều rủ nhau xuống bãi dâu tình tự nên có thành ngữ “Trên Bộc trong dâu”, Nguyễn Du tiên sinh viết theo quan niệm nhà Nho hồi đó, tức cấm đoán nhiều thứ lủng củng. [2]Nhiều thông tin khác nhau về bài “Việt nhân ca”: - Dân ca của người Choang - Bài hát của dân Việt thời Ngô Việt giao tranh. Vương tử Sở là Ngạc Quân Tử Tích thích bài hát nên nhờ chuyển thành Sở từ. Cũng là bài hát trong phim Dạ yến/The Banquet với Chương Tử Di. [3]Miền đất giữa Hoàng Hà và Dương Tử. [4]Đỗ Phủ: tất cả thơ của ông tả cảnh chiến tranh thời An Lộc sơn. Ví dụ: Bài “Vô gia biệt” (Cuộc ly biệt của kẻ không nhà), ông ước "Có ngôi nhà lớn muôn gian để che chở cho kẻ nghèo khắp thiên hạ. Bao giờ nhà lớn sừng sững hiện ra, riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được". Ông bôn ba khắp nơi dâng kế cứu dân cứu nước. Không ngờ về đến nhà mới hay con trai đã chết đói. [5]Nguyên Nguyên, “Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương”. Lãnh thổ nước Văn Lang thời các vua Hùng rất khó khăn cho chúng ta giải quyết qua dữ liệu lịch sử, văn hóa, chính trị... khảo cổ, tôn giáo... ở tầm ức toàn cầu. Tuy nhiên, nên chú ý: CC: các nhà nghiên cứu sử Việt. Biên giới Văn Lang bao gồm toàn bộ Đông Nam Á tiếp giáp Ấn Độ và tòan bộ khu vực phía Nam sông Dương Tử, đặc biệt gồm cả Tây Tạng ngày nay. Đây là mốc tra cứu lịch sử.
-
Ba Mươi Hai Lời Tiên Tri Của Paracelsus
hoangnt replied to Liêm Pha's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Tranh số 28 và 30: Không có hồ nghi, ngờ vực là kẻ thù của chân lý. Chân lý phải rắn như đá và đem giác ngộ, nếu chân lý không tồn tại lâu dài nó sẽ lại có đau thương. Ngờ vực là kẻ thù của chân lý? Ngờ vực và niềm tin, là hai mặt của một vấn đề - Ngờ vực là con đường đi tới chân lý. -
Trong bài dịch về dự ngôn trên bia đá của Lưu Bá Ôn http://www.vietlyso.com/forums/showthread.php?t=12154 có đoạn: " 44. Hỏi năm thái bình như thế nào. 45. Dựng cầu đón chủ nhân mới. 46. Thượng nguyên Giáp Tí đến. (Thượng nguyên Giáp Tí: Bề trên mới đứng đầu hoa giáp hay người cầm đầu thiên hạ) 47. Người người cười khanh khách. 48. Hỏi sao cười như ma (làm) vậy? 49. Nghênh tiếp chủ đất mới. 50. Trên quản đất ba tất. 51. Tối không nạn trộm cướp. 52. Thôi thì cầu là chủ. 53. Chủ ngồi giữa trung ương. " nói về sau đại kiếp nạn ở Trung Hoa, nhân dân dựng cầu nghênh tiếp chủ nhân mới đó là Thượng Nguyên Giáp Tí. Một cách trùng hợp, có một bài thơ của Hà Lạc dã phu Việt Viên Tử trong quyển Tướng pháp áo bí: " Thượng nguyên Giáp Tí huyền thiên cơ. Nhật nguyệt quang minh như hải huy. Thiên hạ thánh nhân giai xuất thế. Chính đương Di Lặc nại sinh thời. " Như vậy, dẫn đến dự đoán rằng thánh nhân Việt Nam trong sấm Trạng Trình nói đến chính là hóa thân của Đức Phật Di Lặc và còn gọi là Thượng nguyên Giáp Tí. Điều này cũng dẫn đến việc hiểu được câu: " Phá điền thiên tử xuất. Bất chiến tự nhiên thành. " "Phá điền" chính là chữ Vạn: 卐 khi chữ Điền 田 phá bỏ bốn nửa cạnh xung quanh. Nhà Phật 佛 nói rằng khi Phật giáng sinh trước ngực có hiện ra hình chữ 卐 người sau mới biết chữ ấy. Như vậy, thánh nhân Việt chính là Phật Di Lặc giáng sinh. "Bất chiến tự nhiên thành" là đường lối giải thoát không dùng chiến tranh mà bằng con đường tâm linh của nhà Phật, chính là "Chân - Tâm - Thiện".
-
Khởi nguyên của dân tộc Việt Nam Lã Sĩ Bằng Lời dịch giả: Ðây là bản dịch một chương trong "Ðông Nam Á nghiên cứu chuyên san" số III nhan đề: "Bắc thuộc thời kỳ đích Việt Nam" của tác giả Lã Sĩ Bằng ở Ðại học Trung Văn Hương cảng. Với tinh thần tôn trọng sự thật của nhà văn hóa, nhất là ngành sử học, giáo sư Lã Sĩ Bằng trong tác phẩm nói trên tỏ ra rất trung thực, cởi mở và xây dựng. Riêng những nhận định về Việt Nam cho thấy có sự chính xác, khách quan của nhà học giả chân chính, cho nên chúng tôi dùng làm tài liệu nghiên cứu sự tương quan giữa văn hóa Trung Hoa và Việt Nam. Nay xin dịch nguyên văn một chương để độc giả thưởng thức và thẩm định sự cố gắng đáng mong đợi của "Viện Nghiên cứu Ðông Nam Á" ở Hương cảng. (Nguyễn Ðăng Thục) Dân tộc Việt Nam nguyên thuộc về hệ thống dân tộc bản xứ Ðông Nam Trung quốc thời cổ. Từ thượng cổ cho đến thời Tần Hán giải đất hiện tại gọi là Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây cho đến Bắc Việt, Trung Việt đều là đất của người Việt ở cả. Cuối thời Xuân Thu, Việt vương Câu Tiễn xưng Bá ấy là thời kỳ thịnh vượng nhất của người Việt, theo nhà Hán học người Pháp tên là E. Chavannes khảo chứng thì lãnh vực nước Việt thời ấy, phía Bắc suốt cả miền Giang Tô đến tận phía Nam Sơn Đông. Năm 465 tr. CN, sau khi Câu Tiễn mất rồi người sau không thể thừa kế nghiệp bá ấy nữa, nước Việt bèn suy vong. Truyền lại sáu đời đến Vô Cương, nước Sở đem quân đánh nước Việt. Vô Cương bị giết, người Sở chiếm hết đất đai. Bấy giờ vào năm 333 tr. CN, Sử ký của Tư Mã Thiên quyển 41 mục "Việt vương Câu Tiễn thế gia" có nói: "Từ đấy người Việt tản mác, con cháu các họ tranh chấp, người làm vua, người làm chúa ở ven biển Giang Nam hàng phục vào nước Sở". Nhà Hán học người Pháp là L. Aurousseau căn cứ vào đoạn sử ấy mà suy luận ra cuộc di cư của người Việt như sau: "Căn cứ vào đoạn văn trên đây có thể thấy được việc di dân của người nước Việt xưa vào năm 333 tr. CN. Bắt đầu họ đi xuống phương Nam, tập đoàn chính rời khỏi bình nguyên phì nhiêu phía Bắc Ðại Dũ Lĩnh, phía Ðông vòng quanh các núi theo dọc bờ biển thiên di về phương Nam. Sử ký đã nói: "Con cháu các họ tranh lập hoặc làm vua, hoặc làm chúa", thì có thể thấy rằng họ lập lên một số nước nhỏ mà không có thể thống nhất, nhân thế mà Việt tộc tản cư mới sinh ra nhiều nước nhỏ mà phổ thông gọi là Bách Việt vào thế kỷ thứ 3 tr. CN. Tóm lại mà nói thì sau năm 333 tr. CN dân nước Việt đi xuống miền Nam lập thành một số quốc gia phong kiến, trong số ấy có bốn nước trọng yếu hơn cả là: 1) Nước Việt ở giải Ôn Châu tức Ðông Âu Việt, 2) Nước Việt ở giải Phúc Châu tức Mân Việt, 3) Nước Việt ở giải Quảng Châu tức Nam Việt, 4) Nước Việt ở giải Quảng Tây phía Nam cùng với Bắc Việt tức là Lạc Việt hay Tây Âu Hùng. Bốn nước ấy vào thời cuối nhà Chu nghĩa là cuối thế kỷ thứ IV đầu thế kỷ thứ III tr. CN đã thành lập rồi vì sách Trang tử quyển 7 trong ấy có nói đến Nam Việt mà ở thời nhà Chu cũng có danh từ Lạc Việt". Ông L. Aurousseau nghiên cứu lần lượt bốn nước trọng yếu trong hàng Bách Việt rồi kết luận mà đoán định rằng nước Việt Nam ngày nay trực tiếp thuộc về di dân của nước Việt đã diệt vong vào năm 333 tr. CN, mà tổ tiên của họ tại 6 thế kỷ tr. CN đã dựng nước ở lưu vực sông Triết ngày nay trong tỉnh Triết Giang. Thuyết của L. Aurousseau phát biểu 40 năm trước đây, bấy giờ nhân vì Khảo cổ học, Ngữ học, Dân tộc học các phương diện chưa được ấn chứng cho nên trong giới học thuật không được tiếp nhận một cách phổ biến. Và ông L. Aurousseau khảo luận về khởi nguyên của dân tộc Việt Nam chuyên viết về hai chữ Âu và Việt mà Ðông Âu tức người Việt đất Ôn châu, Tây Âu tức người Việt đất Bắc Việt đều thuộc về chi phái Việt tộc gọi là Âu, thuyết ấy luận đoán có chỗ sai lầm. Xét chữ Âu thực trỏ vào dân bản xứ đảo Hải Nam, chữ Tây Âu trỏ vào người Việt ở phương Tây đất Âu tức Quảng Tây phía Nam và Bắc Việt, mà Ðông Âu trỏ vào người Việt ở phương Ðông đất Âu tức là một giải Ôn châu, mà thời kỳ thiên cư cũng không nên xác định sau năm 333 tr. CN. Tuy nhiên ngoài những khuyết điểm của ông Aurousseau suy đoán về nguồn gốc dân tộc Việt Nam do từ Bách Việt mà ra rất có giá trị. Cận đại các phương diện phát hiện và nghiên cứu về Khảo cổ học, Nhân loại học, Ngôn ngữ học, Dân tộc học đủ để công nhận suy đoán của Aurousseau. Văn hóa Bắc Sơn thời tiền sử Việt Nam mà chủ nhân có bộ phận thuộc về chủng tộc Indonesia. Văn hóa Ðông Sơn về sau thuộc về Văn hóa Ðồng cổ (trống đồng) của Lạc Việt từng tiếp nhận ảnh hưởng bên ngoài phần chủ yếu tự Hoa Trung mà địa khu trung tâm của văn hóa Ðông Sơn lại lấy Bán đảo Nam Trung và Hoa Nam làm chủ yếu. Nói rõ hơn thì dân tộc Việt Nam thuộc về giống người tóc cứng da vàng miền Nam Mông Cổ, hình sọ và mũi về chỉ số cùng bề cao của thân thể thì đại khái giống với người dân Việt và Mân nước Tầu. Về ngôn ngữ thì dân tộc Việt Nam nói tiếng độc vận đơn âm, thanh điệu phức tạp của tiếng Việt Nam thuộc về Hán Thái ngữ. Ðến như đặc trưng văn hóa nguyên thủy của họ đều thuộc về phạm vi văn hóa cổ Ðông Nam Á. Giáo sư Lăng Thuần Thanh hơn 10 năm gần đây hết sức nghiên cứu so sánh dân tộc học của dân tộc Việt Nam do nhóm Bách Việt thời cổ Trung Quốc ra mà bản xứ Nam Dương (Indonesia) cũng cùng một nguồn gốc Bách Việt thời cổ Trung Quốc. Theo thuyết của Lăng Thuần Thanh thì khu vực địa lý phân phát nền văn hóa cổ xưa của Ðông Nam Á ấy không những chỉ bao quát bán đảo và Hải đảo Ðông Nam Á như bán đảo phía Nam Trung Hoa và Nam Dương quần đảo, mà về lục địa còn bao quát từ bán đảo đến phương Nam Trung Hoa ngược lên phía Bắc đến Trường Giang vượt xa tới sông Hoài, Tần Lĩnh phía Nam, chạy từ bờ biển phía Ðông, ngang qua miền Nam Trung Hoa sang phía Tây qua xứ Ðiền (Vân Nam), Miến Điện cho đến Assam ở Ấn Độ. Danh từ Trung Quốc trong cổ sử thường gọi là Bách Việt tức là hệ thống Tây Nam cũng gọi là Cức Liêu cùng với dân bản xứ Indonesia ở Nam Dương hiện tại là dân tộc cùng thuộc về một hệ thống văn hóa, đấy là dòng dõi thiên di về phương Nam về sau của Việt tộc. Trong Bách Việt, một chi nhánh Lạc Việt đi xuống phương Nam để trở nên một dân tộc trong nhóm Bách Việt còn bảo tồn được dân tộc tính chưa bị Hán tộc đồng hóa và dung hòa nhờ sự thuận lợi của tình thế địa lý cho nên đã có thể phản kháng quân Tầu khoảng 4 năm từ 221 đến 217 tr. CN. Từ Hán Vũ Đế diệt nhà Triệu (111 tr. CN) về sau Việt Nam tuy lệ thuộc vào Trung quốc hơn một ngàn năm thấm nhuần Hán hóa nhưng không bị Hán tộc đồng hóa và thu hút, kết cục vào thế kỷ thứ X Tây lịch đã thoát ly Trung quốc mà độc lập. Còn như người Việt Ðông Âu, Mân Việt, Nam Việt, các chi nhánh Việt tộc ấy từ thời Hán tới nay đã hướng vào trung tâm Hán tộc để bị đồng hóa đến dung hóa thành dân Trung quốc ngày nay ở các tỉnh Triết, Mân, Việt, Quế. Lã Sĩ Bằng (Nguyễn Ðăng Thục dịch) dongtac.net PHƯƠNG PHÁP LUẬN MỚI NGHIÊN CỨU TIỀN SỬ NGƯỜI VIỆT Hà Văn Thùy Cho đến cuối thế kỷ trước, để tìm hiểu tiền sử dân tộc Việt, các nhà nghiên cứu căn cứ vào hai nguồn tư liệu là thư tịch cổ Trung Hoa cùng những phát hiện khảo cổ học, nhân chủng học, ngôn ngữ và xã hội học, chủ yếu của những học giả Pháp thời thuộc địa. Từ những nghiên cứu đó, bức tranh tiền sử của người Việt được trình bày như sau: 1-Người tiền sử gồm nhiều chủng tộc, trong đó có người Việt, từ Trung Đông tới cao nguyên Tây Tạng. Từ phía nam cao nguyên Tây Tạng, người Việt theo ngọn sông Dương Tử đi xuống phía đông nam chiếm lĩnh đồng bằng Hoa Nam rồi ngược theo bờ biển lên khai phá vùng duyên hải. Một bộ phận từ ngọn nguồn Dương Tử lên phía bắc khai thác vùng nam sông Hoàng Hà. 2-Người Hán cũng từ nam cao nguyên Tây Tạng di chuyển về phía đông nhưng do phương thức sống du mục nên dừng lại ở vùng đồng cỏ Thiểm Tây, Cam Túc. 3-Người Hán vượt Hoàng Hà chiếm đất, xua đuổi người Việt xuống phía nam sông Dương Tử. 4-Do người Hán lấn chiếm tiếp, người Việt đã từ nam sông Dương Tử tràn xuống Việt Nam, tiêu diệt và đồng hóa người bản địa lập nên nước Văn Lang.(1) Sơ đồ như trên trở thành quan điểm chính thức của các nhà sử học khu vực và cũng được ghi trong những cuốn sách sử của nhiều trường đại học danh tiếng thế giới. Tuy nhiên, quan niệm trên vấp phải những thách thức to lớn khi người ta phát hiện rằng, nhiều di chỉ khảo cổ ở Đông Nam Á có tuổi sớm hơn vùng Tây Bắc Trung Hoa cùng những chứng cứ cho thấy, nền văn hóa Đông Nam Á phát triển sớm hơn vùng Hoa lục. Cho đến cuối thế kỷ XX, nhờ nhũng công trình của Bing Su và Y. Chu dùng công nghệ gene khảo sát sự đa dạng di truyền của người Hán(2), bức tranh tiền sử người Việt và Đông Á nói chung được vẽ lại. Đường nét chính của bức tranh như sau: 1-Người Homo Sapiens từ Trung Đông băng qua Ấn Độ và Pakistan rồi theo bờ biển phía nam châu Á tới miền Trung và Bắc Việt Nam khoảng 60-70.000 năm trước. 2-Dừng lại đây khoảng 10.000 năm, hai đại chủng Mongoloid và Australoid hòa huyết tạo thành những chủng Indonesien, Melanesien cùng những chủng lai giữa chúng đồng thời lan tỏa ra sống khắp lục địa Đông Nam Á. 3-Khoảng 50.000 năm trước, người từ Đông Nam Á đi tới Úc; 40.000 năm trước đặt chân tới New Guinea. 4-Khoảng 40.000 năm trước, người từ Đông Nam Á lên khai phá lục địa Trung Hoa và từ đây lên tới Siberia rồi vượt qua eo Bering sang chiếm lĩnh châu Mỹ. 5-Cũng từ Đông Nam Á, một nhóm Mongoloid sống biệt lập, đã độc hành lên phía Tây Bắc Trung Hoa, tạo nên chủng Mongoloid phương Bắc. 6-Tại Hòa Bình, người Đông Nam Á chế tác đồ đá và sáng tạo trung tâm nông nghiệp phát triển sớm nhất trên thế giới. 7-Khoảng đầu thiên niên kỷ thứ III TCN, người Hán vượt Hoàng Hà lấn chiếm đất của người Bách Việt. Do sự tiếp xúc giữa người Hán Mongoloid phương Bắc với người Bách Việt, một chủng mới xuất hiện: chủng Mongoloid phương Nam, thuộc nhóm loại hình Đông Nam Á. 8-Cũng thời gian trên, do thua trận, một nhóm người Việt từ châu thổ Hoàng Hà đi thuyền vượt biển trở lại Việt Nam, cùng với người Việt tại chỗ lập ra nhà nước Văn Lang. 9-Vào giữa thiên niên kỷ II TCN, do người Hán đánh đuổi gấp, một bộ phận lớn người Bách Việt chủng Mongoloid phương Nam từ phía nam sông Dương Tử trở lại lục địa cũng như hải đảo Đông Nam Á. Những người trở về mái nhà xưa này đã làm chuyển hóa đại bộ phận cư dân Đông Nam Á cổ sang loại hình Đông Nam Á hiện đại. Cũng thời gian này, người Bách Việt từ Hoa lục tràn ra ngoài biển, tới Nhật Bản và Triều Tiên làm biến đổi di truyền những người gốc Đông Nam Á tại đó thành người hiện nay. Với bức tranh được vẽ như trên, ta thấy tiền sử của người Việt đã diễn ra trái ngược với quan niệm từ trước. Không phải là người tiền sử Đông Nam Á từ Tây Bắc nước Tàu đi xuống mà ngược lại, chính người tiền sử đã từ Đông Nam Á, từ Việt Nam đi lên khai phá đất nước Trung Hoa. Hành trình cùa người Bách Việt Đông Nam Á gồm hai giai đoạn: giai đoạn đầu đi lên phương bắc còn giai đoạn sau từ Trung Hoa trở về. Khi phát hiện lịch trình trên của người Đông Nam Á tiền sử, khoa học có thể lý giải thỏa đáng những câu hỏi trước đây về nhân chủng cũng như lịch sử văn hóa vùng Đông Á. Vấn đề cần đặt ra ở đây là vì sao suốt thế kỷ XX khoa học đã lạc đường khi nghiên cứu tiền sử Đông Á? Có thể lý giải điều này như sau: Khiếp nhược trước một đất nước có số dân đông đúc cùng nền văn hóa lớn, các nhà khoa học phương Tây nhiễm quan niệm dĩ Hoa vi trung mặc nhiên coi Trung Quốc là trung tâm phát sinh của Đông Á. Từ mặc cảm định trước này, ngay từ năm 1904, E. Aymonier đưa ra thuyết người tiền sử thiên cư từ cao nguyên Tây Tạng xuống. Tiếp đó, các tác giả khác, khi giải mã những hiện vật khảo cổ và nhân chủng học, ngôn ngữ, xã hội học cùng thư tịch cổ Trung Hoa… đều nương theo thuyết Hoa tâm. Tất cả những việc làm mang tính duy ý chí đó đã vẽ nên bức tranh sai lầm về tiền sử Á Đông. Từ những sai lầm của quá khứ, thiết tưởng việc nghiên cứu tiền sử Đông Á nói chung cũng như người Việt nói riêng hiện nay cần có một phương pháp luận mới. Theo thiển ý, những cơ sở của phương pháp luận đó là: 1-Lần theo hành trình của người tiền sử từ Đông Nam Á lan tỏa ra khắp Hoa lục sau đó một bộ phận lại trở về Đông Nam Á. Bằng công nghệ genes cùng những vật chứng khảo cổ, nhân chủng học, ngôn ngữ, xã hội học… xác định thời gian, không gian xuất hiện và chuyển dịch của người Việt trên đất Trung Hoa. 2-Giải mã lại những vật chứng khảo cổ, nhân chủng học, những tư liệu ngôn ngữ học, xã hội học đã phát hiện được theo hành trình của người Đông Nam Á. Từ đây xác định những dấu ấn văn hóa mà người Đông Nam Á để lại trên đất Trung Hoa. 3- Trước đây, do chưa xác định được thời gian cũng như con đường thiên di của người tiền sử Đông Nam Á, với người Việt, thư tịch cổ Trung Hoa là nguồn cứ liệu duy nhất để chúng ta nhìn vào tiền sử của mình. Nay ta biết rằng, do Khổng tử đã bỏ đi toàn bộ Tam Phần và một phần Ngũ Điển trong kinh Thư nên về thời gian, thư tịch Trung Hoa không thể đáp ứng thông tin trước thời Đường Ngu, tức khoảng trước 2600 năm TCN. Về không gian, lúc đó nước Trung Hoa còn nhỏ bé quanh lưu vực Hoàng Hà nên sự hiểu biết của sử gia Trung Hoa bị hạn chế. Sau này sử gia Trung Hoa, kể từ Tư Mã Thiên, phần nhiều mang con mắt đại Hán tộc nên viết không chính xác lịch sử những nước xung quanh được gọi là man, di… Vì vậy, trên thực tế, nguồn thư tịch Trung Hoa vừa khiếm khuyết vừa không đáng tin cậy, không thể là khuôn vàng thước ngọc cho chúng ta lấy làm căn cứ để viết lịch sử của mình. 4-Ngày nay, nhờ có người Việt “thiên di” tới nhiều nơi trên thế giới nên đã thu thập được khá nhiều tư liệu của các nước phương Tây viết về đất nước chúng ta. Một số trong đó đã được đưa lên mạng giúp cho chúng ta có cái nhìn về mình mới mẻ hơn và thoát được sự “cầm tù” của thư tịch Tàu. 5- Hai ngàn năm nay, do không hiểu nguồn gốc sinh học của mình và do mối quan hệ lịch sử đặc biệt với láng giềng phương bắc nên ông bà chúng ta coi Trung Quốc là nước đồng văn đồng chủng, còn các nước Đông Nam Á là di, rợ. Nhờ thành quả mới của khoa học di truyền, ta biết rằng, các dân tộc Đông Nam Á cùng cội nguồn với chúng ta. Điều này đưa tới phát hiện quan trọng: chính các sắc dân Đông Nam Á là người lưu giữ sâu đậm văn hóa cội nguồn của tổ tiên người Việt. Vì vậy, trong hành trình tìm lại văn hóa gốc của người Việt, việc nghiên cứu văn hóa các sắc dân Đông Nam Á có ý nghĩa rất lớn. Tìm hiểu, nghiên cứu làm sáng tỏ giai đoạn tiền sử của dân tộc là chuyện dài dài, là cuộc chạy tiếp sức của nhiều thế hệ. Chúng tôi cho rằng, sau khi đã tìm được nguồn cội về mặt sinh học, công việc trung tâm lúc này là tìm lại cội nguồn văn hóa của người Việt. Áp dụng phương pháp luận trên, chúng ta sẽ tìm ra những dấu tích văn hóa mà tổ tiên ta đã để lại trên đất Trung Hoa, đặc biệt là hai trung tâm Thái Sơn và Lĩnh Nam từ hạt lúa, ngọn rau, rìu đá, rìu đồng đến tiếng nói, chữ viết, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Dịch… Tìm lại văn hóa cội nguồn không chỉ đem lại cho chúng ta sự hiểu biết về tổ tiên, mà quan thiết hơn là học từ đó những điều khôn ngoan để phục hưng văn hóa Việt. Sài Gòn, ngày Trùng Cửu năm Ất Dậu 1. Kim Định. Việt lý tố nguyên. Lá Bối Sài Gòn 19702 J.Y. Chu: Genetic relationship of population in China. Proc. Natl. Acad. Sci.USA 1998 N. 95 tr. 11763-11768
-
Hán thư chú - Địa lí chí Posted by: Tích Dã (171.235.0.---) Date: August 04, 2013 04:11AM (Hán - Ban Cố soạn Đường - Nhan Sư Cổ chú) Nhà Chu đặt tước có năm bậc, kẻ được phong đất có ba bậc: tước công, hầu thì nước rộng trăm dặm; tước bá thì đất rộng bảy mươi dặm; tước tử, nam thì nước rộng năm mươi dặm; không đủ rộng như trên thì làm nước phụ dung, cả thảy có một nghìn tám trăm nước. Còn dòng dõi của Thái Hạo, Hoàng Đế là Ngu hầu, Đường bá vẫn còn, đế vương có bản đồ nối nhau mà biết được. Kịp lúc nhà Chu đã yếu, lễ nhạc chinh phạt tự chư hầu đặt ra, thay nhau chiếm diệt; trong mấy trăm năm, các nước giảm cả. Đến thời xuân thu, vẫn còn mấy chục nước, ngũ bá lần lượt nổi lên làm chủ hội thề.Sư Cổ nói: "Ngũ bá đấy là Tề Hoàn công, Tống Tương công, Tấn Văn công, Tần Mục công, Sở Trang công. Bá, đọc là 'bá'". dây dưa đến thời chiến quốc, thiên hạ chia ra còn bảy nước, Sư Cổ nói: "Là các nước Tần, Hàn, Ngụy, Triệu, Yên, Tề, Sở". hợp tung liên hoành, trải mấy chục năm. Vua Tần rút cuộc chiếm trọn bốn cõi, cho rằng pháp chế của nhà Chu yếu kém cho nên cuối cùng mới bị diệt, do đó không đặt phép chế phong đất, chia thiên hạ thành quận huyện, trừ diệt dòng dõi của các bậc vua hiền ngày trước, chẳng ai có con cháu được truyền đất nữa. Nhà Hán lên thay, theo chế độ của nhà Tần, chuộng ân đức, làm điều giản dị để vỗ về trong nước. Đến đời Vũ Đế đánh dẹp rợ Hồ, Việt, mở đất lấn cõi, phía nam đặt châu Giao Chỉ, phía bắc đặt châu Sóc Phương, Sư Cổ nói: "Hồ Quảng kí chép rằng nhà Hán bình đất Nam Việt đặt ra Thứ sử Giao Chỉ, khác với các châu khác, sai cầm cờ lệnh trị ở quận Thương Ngô, lại chia châu Ung đặt ra Thứ sử Sóc Phương". ôm trọn các châu Từ, Lương, U, noi theo chế độ của nhà Hạ-Chu, đổi châu Ung thành châu Lượng, đổi châu Lương thành châu Ích, cả thảy mười ba bộ, đặt quan Thứ sử. Dấu vết của các vị vua đời xưa đã tàn, tên đất lại nhiều lần thay đổi, cho nên gom nhặt lời trước, xét tìm Thi-Thư, suy đoán hình sông núi để nối liền chương sách Vũ cống, Chu quan, Xuân thu về sau đến thời chiến quốc, Tần, Hán vậy. Sư Cổ nói: "Từ thời trung cổ đến nay, những sách chép về địa lí cũng có nhiều, có sách thì giải thích kinh điển, cóp sách lại soạn giảng phương chí, tranh chép ra những điều mới lạ, xằng nữa còn xuyên tạc, thản nhiên gặp nhau, có phần làm mất sự thật. Những người học hành đời sau theo đó mà kể lại, thêm nữa không xét lời sai, chẳng ai tìm được cái gốc rễ nữa. Nay đều không chép ra, chắc cũng chẳng lầm". Kinh Triệu doãn, là quan Nội sử thời nhà Tần, năm đầu thời Cao Đế thuộc nước Tái; năm thứ hai đổi lại thành quận Vị Nam, năm thứ chín thì bỏ, lập lại Nội sử. Năm đầu đến năm thứ sáu thời Vũ Đế chia làm Hữu nội sử; năm Thái Sơ thứ nhất lại đổi làm Kinh Triệu doãn. năm Nguyên Thủy thứ hai có mười chín vạn năm ngàn bảy trăm lẻ hai hộ, sáu mươi tám vạn hai ngàn bốn trăm sáu mươi tám người. Sư Cổ nói: "Hộ khẩu của nhà Hán vào năm Nguyên Thủy là phồn thịnh nhất, cho nên chương Địa lí chí này lấy số hộ khẩu ở năm này. Phần chép sau đều như vậy". Có mười huyện: - Tràng An. Cao Đế đặt, năm đầu thời Huệ Đế bắt đầu đắp thành ở đấy, đến năm thứ sáu thì đắp xong. Có tám vạn tám trăm hộ, hai mươi tư vạn sáu ngàn hai trăm khẩu. Vương Mãng gọi là huyện Thường An. Sư Cổ nói: "Vương Mãng cướp ngôi, đổi tên quận huyện của nhà Hán, phần nhiều đã đổi, phần chép dưới đây cũng vậy". - Tân Phong. Có núi Li ở phía nam, là nước Li Nhung ngày xưa, nhà Tần gọi là ấp Li. Năm thứ bảy thời Cao Tổ đặt ra huyện này. Ứng Thiệu nói: "Thái thượng hoàng nhớ quê muốn về miền đông, do đó Cao Đế đổi đắp nên thành nhà ngõ xóm giống huyện Phong, dời dân ở huyện Phong đến ở đây, cho nên gọi là Tân Phong". - Thuyền Tư Không. Vương Mãng gọi là huyện Thuyền Lợi. Sư Cổ nói: "Vốn là ở đấy có quan coi thuyền, bèn đặt tên huyện". - Lam Điền. Núi có ngọc đẹp, có miếu thờ ở núi Hổ Hầu, do Tần Hiếu Công dựng. - Hoa Âm. Là huyện Âm Tấn cũ, năm thứ năm thời Tần Huệ Văn Vương đổi tên là Ninh Tần, năm thứ tám thời Cao Đế đổi tên là Hoa Âm. Có núi Thái Hoa ở phía nam, có miếu thờ ở núi Dự Châu. Có cung Tập Linh do Vũ Đế dựng. Vương Mãng gọi là huyện Hoa Đàn. - Trịnh. Là ấp của em Chu Tuyên Vương là Trịnh Hoàn Công. Có chức quan coi sắt. Ứng Thiệu nói: "Là chỗ mà em khác mẹ của Tuyên Vương tên là Hữu được phong. Con họ và Bình Vương dời sang miền đông, đổi gọi là ấp Tân Trịnh". Thần Toản nói: "Nhà Chu từ thời Mục Vương về sau đóng đô ở ấp Tây Trịnh, không phong được cho Trịnh Hoàn Công. Lúc trước Trịnh Hoàn Công làm quan Tư đồ của nhà Chu là lúc nhà Chu sắp loạn, cho nên mưu với Sử Bá là đút tiền của mà đến nương dựa ở các nước Quắc-Cối. U Vương đã bại, năm thứ hai thì Trịnh Hoàn Công diệt nước Cối, năm thứ tư thì diệt nước Quắc, trú ở gò Trịnh Phụ, cho nên không có lời nào chép là Trịnh Hoàn Công được phong ở đất Kinh Triệu". Sư Cổ nói: "Xuân thu ngoại truyện chép là Chu U Vương đã bại thì Trịnh Hoàn Công chết, con của Hoàn Công là Vũ Công cùng Chu Bình Vương dời sang miền đông. Cho nên Tả thị truyện chép là 'nhà Chu ta dời sang miền đông là nhờ vào Tấn-Trịnh giúp'. Lại nữa Trịnh Trang Công nói là 'tiên quân ta lập ấp mới ở đấy'. Có lẽ nói đến ấp Tân Trịnh. Từ thời Chu Mục Vương về sau không có việc đóng đô ở ấp Tân Trịnh. Cho nên Toản nói sai. Cối, đọc là công ngoại phiên." - Hồ. Có hai miếu thờ thiên tử nhà Chu. - Hạ Khuê. Ứng Thiệu nói: "Tần Vũ Công đánh người Nhung ở ấp Khuê, có đặt huyện Thượng Khuê, cho nên đặt thêm huyện Hạ Khuê". Sư Cổ nói: "Khuê, đọc là 'khuê', bắt người Nhung ở ấp Khuê dời đến huyện này". - Nam Lăng. Năm thứ bảy thời Văn Đế đặt ra huyện này. Có sông Nghi chảy ra từ hang Lam Điền, sông Bá cũng chảy ra từ hang Lam Điền, lên phía bắc chảy vào sông Vị. Sông Bá trước tên là sông Tư, Tần Mục Công đổi tên để nêu nghiệp bá, cho con cháu xem. Sư Cổ nói: "Nghi, đọc là tiên lịch phiên". - Phụng Minh. Tuyên Đế đặt ra huyện này. - Đỗ Lăng. Là nước của Đỗ Bá ngày xưa. Tuyên Đế đổi tên. Có bốn miếu thờ Hữu tướng quân của nhà Chu là Đỗ Chủ. Vương Mãng gọi là huyện Nhiêu An. "Trâu đến Lam Điền, Nhật chính Đông": Tiên tri của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
-
Thời tiết vũ trụ - Một cái gì đó rất lớn đang đến! (Cosmic Weather Report, Something Big is Coming!) Tôi Juliano. Đến từ Arcturian , muốn nói với các bạn: thực sự có một cái gì đó rất lớn đang đến tới thế giới của các bạn. Nếu bạn muốn, bạn có thể gọi nó là một sự kiện quan trọng. Ít nhất, Nó sẽ thiết lập thế giới của bạn theo cách ngược lại. Thế giới bạn đang sống, như bạn đang biết, sẽ sụp đổ. Điều này sẽ tạo điều kiện cho một nền văn minh hoàn toàn mới sinh ra. Nó sẽ làm thay đổi thế giới này trong thời gian không xa. Nhưng sự thay đổi lớn lao này không nhất thiết luôn luôn là một cuộc khủng hoảng. Tôi thích gọi Nó là một Cơ Hội Mới. Nó là điều mà bạn đã chờ đợi suốt cả cuộc sống này của bạn. Bạn không cần phải chuẩn bị gì cho Nó. Chỉ cần tin tưởng vào hướng dẫn bên trong của bạn, rồi tất cả mọi thứ sẽ làm việc tốt cho bạn. Sự hoảng loạn là tới từ thế giới bên ngoài. Bạn cần tập trung lắng nghe bên trong, đạt được bình tĩnh và thông suốt. Cố gắng, khi cần thiết, để trở thành một ngọn hải đăng của Ánh Sáng cho những người xung quanh. Các tuần và tháng sắp tới đây sẽ có nhiều cơ hội lớn mở ra cho bạn và cho thế giới của bạn . Hãy theo dõi với sự tỉnh táo và bình tĩnh ! Luôn giữ hòa bình bên trong Nội tâm và cả trong Hành động ! Chúng tôi luôn ở bên cạnh bạn, luôn yêu thương và ủng hộ bạn, như mọi khi. Bạn bè của bạn, Juliano ( Arcturians)
-
Ngọc phả Hùng Vương: Chuyện hoang đường có khi là sự thật Ngọc phả không phải là lịch sử nhưng qua đó chúng ta có thể tìm thấy bóng dáng của lịch sử. Có những điều tưởng như hoang đường nhưng có khi lại là sự thật, ví như những ghi chép về Kinh Dương Vương trong Ngọc phả. Ghi chép về Kinh Dương Vương và kinh đô Ngàn Hống là chính xác? Vậy nhưng, trong nghiên cứu lịch sử lại không đơn giản như thế. Chúng ta không thể chỉ căn cứ vào niên đại của Đại Việt sử lược. Bởi nếu vậy thì giải thích thế nào khi chính sử sách của Trung Hoa ghi rằng: "Đời Đào Đường, Nam di có Việt Thường thị qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con rùa thần, rùa được nghìn tuổi, rộng hơn ba thước, trên lưng có chữ khoa đẩu, chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay, vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là lịch rùa" (Sách Thông chí do Trịnh Tiêu đời Tống soạn). Sự kiện trên sách Thông giám cương mục của Chu Hi đời Tống soạn ghi là vào năm 2353 TCN. Sách Sử ký Tư Mã Thiên thì ghi rằng: "Năm Tân Mão Chu Thành Vương năm thứ 6 (1110 TCN) đất Giao Chỉ ở phía Nam có Việt Thường Thị qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con chim trĩ trắng". Đại Việt sử lược của ta cũng chép sự kiện này và tách bạch hai thời kỳ Việt Thường và Hùng Vương thành hai thời kỳ khác nhau, cách nhau đến 400 năm: "Đến đời Chu Thành Vương, Việt Thường Thị mới dâng chim trĩ trắng, sách Xuân thu gọi Việt Thường Thị là Khuyết Địa, sách Đái Kỷ gọi là Điêu Đề. Đến đời Trang Vương nhà Chu ở bộ Gia Ninh có một người kỳ dị biết dùng ảo thuật khuất phục các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang, gọi là nước Văn Lang, lấy sự thuần chất làm phong tục, buộc dây làm chính sự, truyền được 18 đời, đều xưng là Hùng Vương". Sách Lâm ấp ký được dẫn lại trong Thủy kinh chú (thế kỷ 6) của Trung Hoa thì định vị cụ thể: "Cửu Đức là nơi tột cùng của Cửu Di, cho nên lấy để đặt tên cho quận. Chỗ đặt tên quận ấy là một nước di của Việt Thường cực xa. Chim trĩ trắng, ngà voi qua 9 lần dịch tiếng mà đến". Cửu Đức là tên huyện thời Ngô, tương ứng với vùng bắc Hà Tĩnh ngày nay, nơi có Ngàn Hống (tức núi Hồng Lĩnh). Những ghi chép trên lại hoàn toàn phù hợp với Ngọc phả Hùng Vương, khi cho rằng Kinh Dương Vương vị vua đầu tiên của 18 đời Hùng Vương vốn đóng đô ở Ngàn Hống. Thậm chí, khi đã tìm ra đô mới ở Việt Trì thì ông cũng chỉ cử Hoàng thái tử là Lạc Long Quân ra đô mới, còn ông vẫn ở đô cũ. Về vấn đề Kinh Dương Vương và kinh đô Ngàn Hống, Ngọc phả Hùng Vương và Đại Việt sử lược dường như ghi chép chính xác hơn là sự nhào nặn của Đại Việt sử ký toàn thư, bộ sử chính thống của thời Lê! Bản đồ vị trí Cựu đô Ngàn Hống xác định theo Ngọc phả Hùng Vương (theo GS Ngô Đức Thọ). Chuyện hoang đường có khi là sự thật Vậy thì, chúng ta đánh giá Ngọc phả Hùng Vương như thế nào? Chúng ta không thể đòi hỏi Ngọc phả phải chính xác như sự thật lịch sử. Nhưng trong Ngọc phả có bóng dáng của lịch sử mà ta cần tìm hiểu. Ngọc phả là tâm linh, tình cảm, là khát vọng tìm hiểu của ông cha ta xưa về cội nguồn dân tộc. Và, như nhận định của GS Ngô Đức Thọ sau khi dịch trọn vẹn văn bản quý báu này: "Đọc Ngọc phả Hùng Vương chúng ta bước vào thế giới của những huyền tích kỳ vĩ không chỉ liên quan đến thời kỳ lập quốc dựng nước mà còn xa hơn nữa đến cội nguồn dân tộc. Các địa danh, nhân danh trong Hùng Vương Ngọc phả sử sách đã viết nhiều, bàn nhiều nhưng hầu như cũng chưa vén được bao nhiêu lớp sương mù ngàn năm. Vì vậy, dịch xong Hùng Vương Ngọc phả, người dịch nhận ra rằng, ở đây không có ngôn ngữ cho người chú thích, khảo chứng để chứng minh những gì không đúng với lịch sử như chúng ta biết ngày nay. Thay vào đó, trong cuộc đi như hành trình của chàng Ôđixê đi tìm dân tộc mình, rải rác ta có thể nhận ra những điều tưởng như hoang đường lại được xác nhận ở một nguồn tin độc lập nào đó" (Lời người dịch). Kính nhờ Ban Quản Trị diễn đàn đóng lại chủ đề Minh Triết Cổ sau ngày Tết Ông Công Ông Táo chầu Trời, qua hơn 1 năm đăng tải. Trân Trọng cảm ơn.
-
Nền văn minh Ai Cấp chính là một bộ phận của nền văn minh Atlantic - chủ thể phát minh ra thuyết Âm Dương Ngũ hành. Cho đến bấy giờ, tôi đủ căn cứ để xác định điều này. Chúng ta có thể nhận định thuyết ADNH đã sử dụng rộng rãi thời Atlantic nhưng gốc rễ học thuyết vẫn từ mảnh đất gốc tổ tiên vua Hùng, bởi toàn bộ tinh túy - "công nghệ" còn giữ lại nơi đây sau đại hồng thủy.
-
Linh Mục Giáo Sư Hoàng Sĩ Quý, Thạc Sĩ*** Triết Học Sorbonne, Pháp, Giáo Sư Triết Học Ấn Độ và Sankrist tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn trước năm 1975, hiện sinh sống tại Việt Nam, tiếp tục nghiên cứu về phương đông học và tôn giáo. Khi đọc Triết sử Ấn Độ của tác giả này tôi rất tôn trọng, nhưng khi đọc cuốn Vấn đề đối thoại tôn giáo thì thực sự không ngờ: nội dung khoe khoang, hơm hĩnh "Hạ mục vô nhân" đối với các dân tộc và tôn giáo khác. Xem Kito là văn minh, còn hầu hết các nơi là man di, nhưng vì văn hóa Hy Lạp ngay cạnh quá rực rỡ nên cũng đôi chút "chiếu cố". Ngay cả linh mục triết gia Kim Định nổi tiếng còn chưa viết vậy, mà sau này chỉ xiển dương Nho giáo và văn hóa Việt. Lạ lùng, tác giả ta thán: khi Nhật Bản thua trận thì Kito sao không mở rộng luôn đi, đến nay èo uột vậy. Hình như tác giả thân xác người Việt, nhưng linh hồn Roma. Nội lực và tự thân là chính, tha lực chỉ trợ giúp, còn nếu "phụ thuộc hoàn toàn" tha lực thì nói chuyện "tìm Đạo" và viết "về Đạo" như mò kim đáy biển, còn lên "thiên đường" chỉ là ngớ ngẩn. Đọc cuốn này, thì thay vì Đối thoại thành Đối đấm, ngay người không theo Đạo cũng hiểu ý đồ gì trong nội dung rồi, Chán ngán. CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI Nguyễn Xuân Quang Bài viết này trả lời hai câu câu hỏi chúng ta thường đặt ra là tại sao con cóc là cậu ông trời? Và các tượng lưỡng cư ngồi ở mé trống đồng âm dương Đông Nam Á là những tượng cóc hay ếch? Mặt khác cũng cho thấy Tiếng Việt (thật là) Huyền Diệu có thể giúp người đọc Học Anh ngữ Bằng Tiếng Việt và ngược lại người ngoại quốc có thể học Tiếng Việt bằng Anh ngữ. Chúng ta có bài đồng dao Con cóc là cậu ông trời, Ai mà đánh nó thì trời đánh cho. Câu hỏi được đặt ra là tại sao con cóc lại là cậu ông trời? Trước hết ta hãy đi tìm bản thể của cóc qua Việt ngữ. Có người cho rằng con cóc có tên là cóc vì nó ở trong hang, trong hóc tối tăm, bẩn thỉu. Có bài hát: Trông kìa con cóc, nó ngồi trong hóc, nó đưa cái lưng ra ngoài, ấy là cóc con. Theo biến âm c=h như cùi = hủi, cóc = hóc. Con cóc là con sống trong hóc, trong góc. Theo tôi, giải thích con cóc là con hóc, con góc này mới chỉ là một diện, một phiến diện. Vì tên loài vật thường được gọi theo một đặc tính thể xác, sinh lý học của con vật hay một đặc tính biểu tượng theo vật tổ trong tín ngưỡng của loài người. Qua từ đôi điệp nghĩa gai góc, ta có góc = gai. Gai là những mấu nhọn, vật nhọn. Những cục, những hột nổi cộm lên ở da cũng được gọi là gai như nổi gai ốc ở da (gai da cộm lên như những con ốc, ốc đây là những con ốc nhỏ, ốc gạo). Ở đây cho thấy hột, hạt, cục cùng nghĩa với gai là vật nhọn, nọc nhọn và cùng mang dương tính như gai nhọn là những dạng nguyên tạo của nọc nhọn của gai. Nhìn dưới diện chữ nòng nọc (vòng tròn-que), âm dương thì hột, hạt, nhân, cục và gai đều thuộc về nọc. Hột hạt, là nọc ở dạng nguyên thể của nọc nhọn gai và gai mũi nhọn là nọc sinh động. Nọc hột, hạt là mầm dương diễn tả trong chữ nòng nọc là một dấu chấm (.), tôi gọi là nọc chấm hay chấm nọc nguyên tạo. Chấm nọc tách ra hai chấm, nối hai chấm lại thành nọc que (I). Hai nọc que hợp lại thành nọc mũi nhọn, mũi mác, răng sói, răng cưa (>) ở dạng sinh động (xem chương Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).Như thế con cóc là con góc, con gai, con vật có da sần sùi có những gai, những cục, những hột nổi lên. Con cóc là con cục, con hột. Chứng mụn nổi lên ở da to bằng hột cơm gọi là mụn cơm trông giống như những cục mụn ở da cóc nên cũng gọi là mụn cóc. Anh ngữ wart, mụn cóc. Theo biến âm w=h (như Mường ngữ wa = hoa), ta có wart = hạt. Wart là mụn hạt, mụn hột, mụn cơm, mụn cóc như ở da cóc. Mường ngữ cục là côc. Con cóc con cục là con cốc. Ta thấy rất rõ cóc biến âm với cọc [nọc, vật nhọn, gai, sừng (con cọc là con sừng, con hươu đực có sừng, xem Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc)], với cục, cốc (trái cốc = trái cóc, thứ quả có hột sần sùi như da cóc), liên hệ với Tầy ngữ coộc, sừng (vật nhọn, vật nhọn như gai), Quảng Đông ngữ coọc, sừng, với Hán Việt cốc là hột, hạt như các nông phẩm có hạt, hột gọi là cốc (mễ cốc, ngũ cốc). Rõ như ban ngày con cóc là con cọc, con cốc là loài có da sần sùi nổi gai, nổi cục, nổi côc, nổi hột (có chất) sừng mang dương tính. Điểm lý thú là da cóc mọc những hạt như lúa gạo mà lúa gạo cần có nước có mưa nên hiển nhiên con cóc liên hệ với nước, mưa, sấm. Chắc có nhiều người đọc còn nghi ngờ chưa tin. Tôi xin chứng minh thêm. Ta thấy Hán Việt giác là góc như tam giác và giác cũng có nghĩa là sừng (vật nhọn như gai) như tê giác. Giác là gai góc nên dùng vật sắc nhọn như gai để lể, để giác. Anh ngữ corner có nghĩa là góc và corn có nghĩa là sừng như Latin cornu, corna, sừng, Anh ngữ corneous, bằng sừng, giống sừng, cornea, màng sừng ở mắt và corn cũng có nghĩa là cục, hột chai cứng do lớp sừng ở da dầy lên vì cọ xát. Ta cũng thấy rõ Anh ngữ corn có nghĩa là hột, hạt, qua từ corn chỉ những hạt nông phẩm như lúa, ngô (bắp). Corn có một nghĩa là bắp, ngô. Acorn là hột, hạt cây sồi. Hiển nhiên, corn ở đây ruột thịt với Hán Việt cốc (mễ cốc, ngũ cốc). Điểm này giải thích tại sao người Bắc gọi xôi bắp là xôi lúa. Lúa ở đây hiểu theo nghĩa tổng quát có nghĩa là một thứ hột, hạt, một thứ mễ cốc cùng nghĩa với corn, ngô, bắp (cũng có một nghĩa là hột, hạt, hột ngô, bắp gọi là kernel). Ta cũng thấy có sự biến âm giữa Việt ngữ góc, hóc và Anh ngữ corner, góc. Corner có cor- = (coóc) = hóc = góc. Corner ruột thịt với Việt ngữ góc, hóc. Tiến xa hơn, cóc, corn liên hệ với gốc Aryan-Phạn ngữ gar-. Ta thấy gar liên hệ với Việt ngữ gã (con trai, đàn ông, người có nọc, cọc, c…c), Pháp ngữ garçon (con trai), với gharial loài cá sấu mõm dài như dao có cục u ghar trên mũi (cũng vì thế mà từ crocodile thường nói tắt là croc chính là từ cọc của Việt ngữ, croc là cá cọc mang dương tính biểu tượng cho ngành dương của loài cá, tộc nước. Cá sấu là cá sậu (sậu có nghĩa là cứng như ngô sậu là ngô cứng), cá sẩu (sẩu là sừng biến âm với sậu, cứng như xin khúc đầu những xương cùng sẩu), cá sào (cọc), cá gar, cá gạc (cá sừng), cá cọc, cá cóc (vì có vẩy sần sùi da cóc, có vi sừng), cá ngạc (Hán Việt ngạc ngư là cá sấu, theo g=ng như gấm ghé = ngấm nghé, gạc = ngạc) và theo g=h, gar = hạt (grain có gốc gar-), gar- = hart (hươu gạc, hươu sừng, hươu nọc), gar- liên hệ với gác, với góc… Tiến xa thêm tới tận nguồn cội của ngôn ngữ của con người được ghi lại bằng chữ nòng nọc thì con cóc là con cục, con cốc (có một nghĩa là cóc và một nghĩa là hột, hạt) diễn tả bằng chữ dấu chấm nọc (.) nguyên tạo có hình hột, hạt và con cóc là con cọc được diễn tả bằng chữ nọc mũi mác, răng cưa, răng sói (>) có nghĩa là nọc, đực, bộ phận sinh dục nam (xem bài viết Da Vinci Code và Chữ Viết Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Ta thấy rõ như ban ngày chữ nọc mũi mác (>) có hình mũi nhọn (>), hình gai nhọn (>) và hình góc nhọn (>). Góc nhọn (>) có hình chiếc gai nhọn (>) đúng như thấy qua từ đôi điệp nghĩa gai góc, gai (>) = góc (>). Qua chữ nọc mũi mác, răng sói, răng cưa (>) trong chữ nòng nọc, ta giải thích được tại sao gai cùng nghĩa với góc, tại sao ta có từ đôi điệp nghĩa gai góc, tại sao Hán Việt giác là sừng (cùng nghĩa với nọc nhọn, gai nhọn) cũng là góc, tại sao corn- là sừng cũng là góc, tại sao gar- là gạc và cũng là góc. Gai góc, giác (sừng, góc), corn- (sừng, góc) gar- (gạc, góc) đều có gốc cội là nọc mũi nhọn (>). Chữ nọc trong chữ nòng nọc viết dưới ba dạng: dạng nọc chấm (.) nguyên tạo, dạng nọc que (I) và dạng nọc mũi nhọn mũi mác, răng sói, răng cưa. Những hạt, hột nổi cộm, nổi gai trên da cóc là dạng nọc chấm nguyên tạo. Con cóc có một khuôn mặt chính là con cọc mang dương tính có da nổi hột nọc gai sừng. Điểm này cũng cho thấy rõ dưới diện nòng nọc, âm dương, những hình thể có dạng que nọc, có góc cạnh, gai góc, hột hạt mang dương tính trong khi những hình thể có nét cong tròn mang âm tính (Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Trên trống đồng âm dương những con vật lưỡng cư ngồi ở mé trống có mõm hình nọc mũi mác (>) và trên người có chấm nọc (.) cho biết rõ những con vật này là những con cóc (chứ không phải là con ếch). Tóm lại con cóc có một khuôn mặt chính là con cọc mang dương tính thuộc ngành dương của loài lưỡng cư, có da nổi hột nọc chấm gai sừng sần sùi và ở trong hóc, trong hang (ta cũng thấy Hán Việt cốc ngoài nghĩa là hột, hạt còn có nghĩa là hang, động như tịch cốc). Ta cũng thấy rõ ràng nghĩa hóc, hang là nghĩa phụ không phải là một đặc tính thể xác của con cóc, có nhiều loài vật sống trong hang trong hóc nhưng không gọi là con cóc. Một đặc tính nữa của con cóc là nhẩy. Cóc thuộc loài ếch nhái. Từ nhái biến âm với nhẩy. Cóc, ếch thuộc cùng loài con nhái là những con nhẩy. Con cóc là con nhẩy thấy rõ qua bài thơ con cóc: Con cóc trong hang, Con cóc nhẩy ra, Con cóc nhẩy ra, Con cóc ngồi đó, Con cóc ngồi đó, Con cóc nhẩy đi. Theo biến âm c=p (ở cuối chữ) như chóc, chốc (đầu) = chóp (đầu), bắn trúng ngay chóc (ngay chốc) = bắn trúng ngay chóp, ta có cóc = cóp. Theo c=h, cóc = hóc = cóp = Anh ngữ hop (nhẩy). Con cóc là con hop. Anh, Mỹ cũng gọi cóc, ếch là con nhẩy. Ta có thể dùng Việt ngữ để truy tầm nguồn gốc nghĩa ngữ của hai từ frog (ếch) và toad (cóc) của Anh ngữ (1). Theo biến âm f=b=ph như fỏng = bỏng = phỏng, ta có frog = f®og = phốc, phóc (nhẩy). Ta có từ đôi điệp nghĩa nhẩy phốc, nhẩy phóc với phốc, phóc = nhẩy. Vậy frog là con phốc, con phóc, con nhẩy, cùng loài con nhái. Ngoài ra cũng có một loài ếch nhái nhưng có mầu nâu vàng gọi là con chão chuộc, chẫu chuộc, cũng có nghĩa là nhẩy, ruột thịt với Phạn ngữ ças, nhẩy. Theo ç = ch, ças = chạc, choạc, chuộc, chẫu. Hán Việt tẩu (chậy) phát âm theo giọng Quảng Đông là “chẩu” liên hệ với chẩu, chẫu là nhẩy như thấy qua từ đôi chậy nhẩy. Con châu chấu cũng liên hệ với từ Phạn ngữ này, có nghĩa là con “ças ças“, con chẩu chẩu, con nhẩy nhẩy đúng với nghĩa của từ grasshopper. Từ cào cào cũng có thể là một dạng biến âm của “ças ças“ và con sạch sành (sạch sành là anh kẻ trộm), con chanh chách (thuộc loài châu chấu) có sạch, chách biến âm với ças.Còn toad phát âm là /tót/, Trung cổ Anh ngữ tode, con toad, con tode là con “tót”. Tót chính là Việt ngữ tót, thót có nghĩa là nhẩy. Ta có từ đôi điệp nghĩa nhẩy tót với nhẩy = tót. Đầu trọc lóc bình vôi, Nhẩy tót lên chùa ngồi. Ê a kinh một bộ, Lóc cóc mõ ba hồi. (không nhớ chắc chắn tên tác giả). Tót, thót là nhẩy cũng thấy qua câu nói “mới đó mà nó đã tót đi đâu rồi! “ hay “tót (thót) một cái, nó đã biến mất”. Con bò tót là con bò nhẩy tức bò đực dùng nhẩy cái, là con bò đực. Con toad là con tót, con thót, con nhẩy thuộc cùng loài con nhái. Theo t=d, tót = dọt, nhẩy, chạy nhanh như nó dọt đi mất rồi, chiếc xe rất dọt. Theo d=v, dọt = vọt, có cùng nghĩa. Theo d=nh, dọt = nhót có nghĩa nhẩy như nhẩy nhót. Do đó ta có từ nhẩy = nhót. Theo d=nh, dọt = nhót. Một lần du lịch đến Nga, một tối người hướng dẫn du lịch mời chúng tôi “lets go for a zhok”, Thổ ngữ Moldavian ở Nga zhok, dance. Zhok chính là Việt ngữ dọt, nhót. Chúng tôi đã được xem trình diễn vũ khúc Zhok của vũ sư I. Moisegev, giám đốc đoàn vũ Moisegev Dance Company of Moscow sáng tác theo âm nhạc của G. Fedov. Ta cũng thấy cóc, ếch ngồi ở tư thế sẵn sàng nhẩy tới trước, chồm tới trước nên thường nói con cóc, con ếch ngồi chồm chỗm. Từ đôi chồm chỗm ruột thịt với chồm có nghĩa là nhẩy tới như con chó chồm tới = con chó nhẩy tới. Theo ch=j như chà và = java, ta có chồm, chồm chỗm = Anh ngữ jump, chồm, nhẩy chồm lên, nhẩy chồm chồm, nhẩy. Anh ngữ tadpole là con nòng nọc có tad- là toad và -pole là poll, đầu người, người, đầu phiếu, biểu quyết, đếm theo đầu người, thăm dò dư luận. Theo p=b=m, poll = môn, mông, mống, mường. Mông, Mán, Mường có nghĩa là người. Mống là người như không có một mống = không có một người. Mông, mống, Mán, Mường liên hệ với Pháp ngữ monde, người. Tadpole là con (cá) có đầu (pole, poll) cóc (tad). Vì cóc liên hệ với cọc, nọc với chữ nòng nọc, âm dương, bây giờ ta đi tìm ý nghĩa biểu tượng của hai từ ếch và cóc trong Vũ Trụ giáo, trong Dịch lý dựa trên căn bản nòng nọc, âm dương. Việt ngữ ếch biến âm với ách, át, ạch đều liên hệ với nước. Ách là nước như óc ách là tiếng nước, át là nước như thấy qua từ đôi điệp nghĩa ướt át, ạch là ngã (ngã ạch một cái), ngã thường do trơn trượt vì mưa, nước. Ạch là ngã vì trơn trượt lúc có mưa biến âm với ếch nên khi ngã mới nói là vồ ếch. Ách, át, ạch, ếch liên hệ với Phạn ngữ ak-, aka nước. Ta thấy rất rõ Tây Ban Nha ngữ aqua- nước, ruột thịt với Phạn ngữ aka. Con ếch là con ách, con át có nghĩa là con nước. Hán Việt ếch gọi là oa. Từ oa vẫn cho là từ cóc gốc Hán ngữ, thật ra chưa hẳn là vậy vì ta thấy Maya ngữ ou là con ếch (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Oa có nhiều nghĩa trong đó có nghĩa là nước, là con ếch. Oa là ếch là nước, rõ ràng ếch liên hệ với nước. Ếch là con ách, con nước, loài nhái sống dưới nước, biểu tượng cho nước, cho mưa: Ếch kêu uôm uôm, Ao chuôm đầy nước. (ca dao) Như thế con ếch có một khuôn mặt thái âm, nước âm, Khôn âm nghiêng về dòng nữ. Còn cóc có nghĩa là gì trong vũ trụ tạo sinh? Trong ngôn ngữ Việt cóc có một nghĩa là không như cóc cần là không cần, cóc biết là không biết, cóc có ai là không có ai… Ta có thể kiểm chứng lại bằng cách giải phẫn từ KHÔNG. Mổ xẻ từ KHÔNG cũng cho thấy rõ cóc = không: -Cắt bỏ chữ C đầu của KHÔNG còn lại HÔNG. Hông, hổng, hỏng cũng có nghĩa là không như đi mau mà về nghe hông?, hông biết, hỏng biết, hổng thèm, hổng có. . . Hỏng, hổng là rỗng, trống không như lỗ hổng ruột thịt với Hán Việt khổng là lỗ. Ta có hỏng, hổng, hông = khổng, không. -Cắt bỏ chữ H còn lại KÔNG. Kông, cong, còng có một nghĩa là tròn, vòng tròn O, ruột thịt với không có nghĩa là số không 0 như thấy qua từ cong vòng tức cong = vòng, cái cong, cái cóng (gạo) hình tròn vo, cái còng = cái vòng (đeo tay) có hình vòng tròn O. -Cắt bỏ chữ N còn lại KHÔG. Khog = cóc, cũng có nghĩa là không như đã nói ở trên. -Cắt bỏ chữ G cuối cùng còn lại KHÔN có một nghĩa là không như khôn lường, khôn dò, khôn nguôi. Từ Khôn này chính ta từ Khôn dùng trong Dịch nòng nọc. Quẻ Khôn viết bằng ba hào âm, viết theo chữ nòng nọc là ba vòng tròn nòng O tức OOO. Khôn là không, hư không. Khôn cũng có âm dương, Khôn O thái dương II là gió là Tốn OII. Khôn O thái âm OO là Khôn nước không gian, vũ tru âm OOO. Các tác giả Việt Nam khi viết về Dịch thường dựa theo Dịch Trung Hoa cho rằng Khôn là Đất. Càn Khôn là Trời Đất. Khởi đầu vũ trụ tạo sinh bắt nguồn từ âm dương càn khôn (lửa nước nguyên thể) chưa có đất. Dựa vào giải phẫu tiếng Việt ta thấy rõ gốc nghĩa của Khôn không có dính dáng gì tới đất cả. Hiểu Khôn là đất là hiểu theo Dịch Trung Hoa là thứ Dịch rất muộn màng, là thứ Dịch duy tục, vị nhân sinh dùng nhiều trong bói toán phong thủy, một thứ Dịch do những kẻ thống trị dùng như một thứ đòn phép để cai trị đám dân bị trị. Ta thấy rất rõ giải phẫu cắt bỏ bớt từ KHÔNG còn lại những từ đều có nghĩa là không và từ khog, cóc nằm trong từ không hiển nhiên cũng có nghĩa là không. CÓC là không, là cong, còng (O, số 0) là khôn. Không có một khuôn mặt là hư không, không gian, không khí. Khôn có hai mặt âm dương. Không dương là khí gió, Khôn âm là nước vũ trụ. Con cóc, con cọc mang dương tính vì thế cũng có hai khuôn mặt. Khuôn mặt dương tức Khôn dương biểu tượng cho khí gió, sấm dông. Khuôn mặt dương của âm tức dương của Khôn âm biểu tượng cho nước dương, sấm mưa. Cả hai khuôn mặt đều liên hệ với sấm. Mường Việt ngữ rạc: con cóc. Rạc là lạc (l=r) là lác là (nước dương), L là dạng dương hóa của N (Tiếng Việt Huyền Diệu), là nác, là nước dương. Con rạc là con nước-lửa, con nước dương. Cổ ngữ Việt rạc, rặc (dùng nhiều ở vùng đất tổ Phú Thọ) là nước như ‘ruộng rặc’ là ruộng nước. Ruộng “rộc” cũng là ruộng nước. Con rạc (con cóc) là con nước mang dương tính. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, cóc rạc, cóc Lạc là con cóc biểu của Mặt Trời Nước Lạc Long Quân. Cóc mang dương tính như đã thấy và vì sống nhiều trên cạn nên cũng mang nhiều dương tính hơn ếch vì thế cóc biểu tượng cho nước dương, nước lửa. Trong khi đó ếch sống nhiều dưới nước nên biểu tượng cho nước âm. Điều này đã thấy rõ qua tên ếch. Nhìn chung cóc với nghĩa là không, Khôn là thuộc ngành nòng, âm, Khôn. Theo duy dương, con cóc mang dương tính là thú biểu cho Khôn dương khí gió liên hệ với sấm dông và theo duy âm, cóc biểu tượng cho Nước Lửa, liên hệ với sấm mưa, Chấn. Trong khi đó ếch mang âm tính nhiều có biểu tượng chính cho nước thái âm, dòng nữ. Khuôn mặt dương của ếch (ếch-lửa, ếch đực) biểu tượng cho khuôn mặt dương của nước thái âm, dòng nữ. Hiểu rõ bản thể của cóc ếch rồi bây giờ ta thử đi tìm hiểu tại sao Con cóc là cậu ông trời, Ai mà đánh nó thì trời đánh cho? Trước hết tại sao tổ tiên chúng ta gọi con cóc là cậu ông trời, mà không nói con cóc là chú ông trời, là cô, là dì ông trời? Dĩ nhiên phải có nguyên cớ. Cậu là gì? Cậu là em trai của mẹ. Mẹ là phía ngoại, âm, Khôn. Cậu là em trai mang dương tính. Rõ ràng con cóc là Cậu nên mang dương tính, là khuôn mặt dương của Khôn. Khôn dương là khí gió. Qua từ Cậu cho thấy con cóc có khuôn mặt Khôn dương khí gió mang tính trội.Trong Việt ngữ từ Trời có nhiều nghĩa. Ông Trời ở đây đánh người tức ông Trời có búa thiên lôi, có lưỡi tầm sét. Bị trời đánh là bị sét đánh. Ông Trời đánh người là ông Trời có một khuôn mặt là Thần Sấm Sét. Vậy con cóc là cậu ông thần sấm sét ruột thịt với ông sấm sét. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Lạc Long Quân là Mặt Trời Nước, Nước-lửa, mưa-chớp, có một khuôn mặt là Thần Sấm Mưa, ứng với Chấn trong Dịch, có hậu thân là ông Thần Sấm Dông Phù Đổng Thiên Vương (xem bài viết Ý Nghĩa Ngày Vía Phù Đổng Thiên Vương Mồng Chín Tháng Tư Âm Lịch). Con cóc là cậu Lạc Long Quân tức là em mẹ của Lạc Long Quân tức là em bà Thần Long, vợ của Vua Mặt Trời Đất-Lửa Kì Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân. Bà Thần Long là Rồng Nước có mạng Khảm là nước, mây viết theo chữ nòng nọc là quẻ Khảm OIO (giải tự OIO là nòng O thiếu âm IO, Nàng Gió, trong khi Vụ Tiên OOO là Nàng Nước, Âu Cơ OII là Nàng Lửa, vợ Hùng Vương OOI là Nàng Đất). Tại sao Thần Long Khảm, nước, mây lại là Nàng Gió. Thần Long mang dòng máu (gene) Nước vũ trụ của mẹ Vụ Tiên Khôn. Nước vũ trụ cộng với dòng máu Lửa vũ trụ của cha Đế Minh Càn. Di thể gene Nước được gene Lửa đốt bốc thành hơi, khí, gió, do đó mà Thần Long là Nàng Gió. Ta thấy rất rõ con cóc là em Thần Long, Nàng Gió nên Cậu cóc có cùng bản thể Không, khí, Gió với chị. Rõ như ban ngày con cóc có một nghĩa là không là con Không, Khôn với khuôn mặt Khôn dương mang tính trội như đã thấy. Ta có thể kiểm chứng lại qua một vài khuôn mặt cóc của Lạc Long Quân trong văn hóa Việt Nam. Thần Sấm mưa Lạc Long Quân là cháu Cậu Cóc nên cũng có dòng máu cóc trong người vì thế Lạc Long Quân có nhiều khuôn mặt cóc. Trước hết ta có từ cóc cụ. Cóc cụ là hình bóng Lạc Long Quân. Ta đã biết Lạc Long Quân là mặt Trời Nước, Mặt Trời Lặn (Lạc Dương), Mặt Trời Hoàng Hôn là một cụ già, có râu dài, thường mặc quần áo thụng trắng (trong khi Hùng Vương là Mặt Trời Mọc là chàng trai Lang, Đế Minh là Đế Ánh Sáng có một khuôn mặt thế gian là Mặt Trời Buổi Sáng, là một người trưởng thành và Kì Dương Vương là Vua Mặt Trời Giữa Trưa là một người đứng tuổi (xem Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Cùng hình bóng với Lạc Long Quân là Thần Osiris của Ai Cập cổ, vị thần này có một khuôn mặt là Mặt Trời Nước cũng là một người già có râu dài và Aztec cũng có một vị thần tổ râu dài mang hình bóng của Lạc Long Quân. Vì sao? Aztec có nghĩa là “Heron people” (Người Cò, Tộc Cò) liên hệ với cò Lang của Lang Việt Hán Việt (nên nhớ thổ dân Mỹ châu là những tộc có gốc gác từ vùng duyên hải Nam Á qua Mỹ châu). Khi chia tay Lạc Long Quân dặn dò các con khi hữu sự cứ gọi bố là Lạc Long Quân sẽ trở về cứu giúp. Mỗi lần gặp nguy khốn các con thường gọi “bố ở đâu, xin về cứu giúp chúng con”. Người Aztec cũng có một vị thần tổ da trắng râu dài, họ cũng tin vào lời dặn là vị thần tổ râu dài của họ sẽ về cứu giúp khi họ gặp nguy khốn. Cả một đế quốc Aztec đã sụp đổ vào tay một người da trắng Hernandez Cortez có râu dài với một nhóm lính viễn chinh Tây Ban Nha cũng chỉ vì họ cho rằng Cortez là vị thần da trắng râu dài của họ trở về cứu giúp họ (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Tóm lại Lạc Long Quân là ông trời già và cóc cụ là vật biểu của trời già Lạc Long Quân. Theo duy dương ngành dương, Lạc Long Quân là Mặt Trời Hoàng Hôn, theo duy âm, ngành âm, Lạc Long Quân là Mặt Trời Đêm tức Ông Trăng. Vì thế mà ta có câu ca dao: Ông giăng mà lấy bà giời, Mồng năm dẫn cưới, mồng mười rước dâu. Ông trăng ở đây là Cha Tổ Lạc Long Quân và bà trời là Mẹ Tổ Âu Cơ. Tại sao lại chọn ngày năm và ngày mười? Số năm theo Dịch là số Li (Lửa đất, núi lửa, núi dương) tức là chọn theo bản thể Lửa, Núi của Mẹ Tổ Âu Cơ trong khi đó chọn số 10 là số Khảm, nước là chọn theo bản thể Nước, Biển của Cha Tổ Lạc Long Quân. Nước đi đôi với trăng, trăng nước. Chọn ngày 5 Li hôn phối với 10 Khảm là ngày hôn phối âm dương, nước lửa làm ngày dẫn hỏi và ngày cưới của ông trăng Lạc Long Quân với nàng non Âu Cơ hợp với bản thể hai người thật là chí lý.Người Việt chúng ta cũng thường gọi ông trăng là trăng già: Trăng bao nhiêu tuổi trăng già, Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non. (cadao). Non là núi âm, nổng(gò nổng) là núi nống (trụ chống) tức núi dương. Từ núi chỉ chung cả núi âm non và núi dương nổng. Ngày nay núi thay thế cho nổng (Tiếng Việt Huyền Diệu). Rõ ràng trăng Lạc Long Quân có một khuôn mặt già, là một người già. Ta cũng thấy trăng già Lạc Long Quân đi đôi với núi âm non Âu Cơ. Trăng nước liên hệ với cóc như theo truyền thuyết Trung Hoa trên mặt trăng có con cóc ba chân. Con cóc có ba chân là khuôn mặt đối nghịch với con quạ ba chân thấy trên mặt trời. Ba chân là ba cọc, ba hào dương là siêu dương, càn, lửa, ngành dương. Trăng già Lạc Long Quân có vật biểu là con cóc già. Con cóc ba chân cũng cho thấy rõ con cóc là con cọc mang siêu dương tính. Ba chân là ba nọc tức Càn. Điểm này cho thấy người Trung Hoa theo phụ hệ cực đoan, họ có con cóc ba chân Lửa thái dương Càn đối nghịch với con ếch là con Nước thái âm Khôn. Chúng ta, nghiêng về dòng âm, nên khuôn mặt dương của ngành âm Khôn là khí gió Đoài vì thế con cóc có một nghĩa là không và được gọi là Cậu (em trai của mẹ, dương của Khôn).Tóm lại, Lạc Long Quân Mặt Trời Lặn là một cụ già, là trời già, trăng già nên cóc cụ chính là cóc Lạc Long Quân. Cũng nên biết thêm trong Việt ngữ cóc thì gọi là cóc cụ (có thể là cụ ông hay cụ bà) còn ếch thì chỉ gọi là ếch bà, không bao giờ gọi là ếch ông hay ếch cụ, điều này cho thấy rõ ếch nghiêng về dòng nữ, thái âm. Ta cũng có từ cóc tía, gan cóc tía, gan như gan cóc tía. Trước hết, tía hiểu là mầu tím. Tím là mầu hoàng hôn, mầu chiều tím, mầu mặt trời lặn, mầu của Vua Mặt Trời Lặn Lạc Long Quân. Cũng vì là Mặt Trời lặn, Mặt Trời Hoàng hôm chiều tím nên có vương hiệu là Lạc Long Quân, được gọi là Quân chứ không gọi là Vương. Quân là màu huân, màu hôn, màu hoàng hôn. Theo q= h (quả phụ = hóa phụ), huân = quân. Hán ngữ huân là ‘khói lửa bốc lên’ như thế huân là màu lửa pha màu khói đen. Huân ruột thịt với Việt ngữ hun (xông khói, đốt lửa), hùn. Màu hùn hùn là màu thâm thâm (Lê Ngọc Trụ, Giải Nghĩa Một Hai Tiếng Nói Trại, in lại trong Dòng Việt số 3 tr.103). Rõ hơn nữa ta thấy màu ‘quân’ trong tên quả hồng quân hay mồng quân (Flacourtia cataphracta, Roxb.), Huỳnh Tịnh Paulus Của, trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị ghi: “mồng quân, thứ cây có nhiều gai, có trái tròn mà nhỏ, người ta hay ăn, trái nó chín đỏ đen như màu huân cho nên cũng kêu là hồng huân…”, ở nơi từ huân ghi: ”huyền huân, màu đen tím”, ở đây huân là màu tím và “trái hồng huân, tiếng tục gọi là trái mùng quân”. Trái hồng quân, mùng quân, mồng quân được gọi theo màu da của quả màu tím đen, đỏ tím đen. Vậy quân là màu tím đen, màu mặt trời đêm, mặt trời hoàng hôn. Lạc Long được gọi là quân vì là vua Mặt Trời màu ‘quân’, màu tím đỏ Như thế qua từ Quân ta cũng thấy rõ Lạc Long Quân có khuôn mặt Mặt Trời Lặn, Mặt Trời Hoàng Hôn. Tóm tắt lại về mầu sắc có hai màu biểu của Mặt Trời Hoàng Hôn Lạc Long Quân là mầu vàng, mầu hoàng (chiều vàng) và màu tím đen ‘quân’ , mầu huân, mầu hôn (chiều tím) tức hai mầu hoàng hôn. Điểm này giải thích tại sao trước đây ở thành Thăng Long, nhà thường dân bị cấm không được sơn hay quét vôi mầu tím và mầu vàng vì được coi đó là hai mầu của vua và của rồng. Đây chính là hai mầu hoàng hôn của Vua Rồng Lạc Long Quân, Vua Mặt Trời Lặn Hoàng Hôn. Nếu hiểu tía là bố, là cha (Tía em hừng đông đi cầy bừa, má em hừng đông đi cầy bừa…) thì như đã biết dân Việt coi Lạc Long Quân là tổ phụ thường gọi là ‘bô’, là bố. Cóc tía là cóc bố! cóc Lạc Long Quân! Tuy nhiên từ tía gốc từ Quảng Đông ngữ thường được dùng nhiều trong Nam, người Bắc không dùng, nên giải thích theo tía là bố không được phổ quát như tía là mầu tím. Tóm lại dù hiểu cóc tía là cóc tím hay cóc bố thì cóc tía cũng là cóc Lạc Long Quân. Ca dao tục ngữ có câu “con cóc nghiến răng chuyển động bốn phương trời” cho thấy rất rõ cóc là cậu của Thần Sấm nên mỗi lần nghiến răng là nhắc nhở Thần Sấm làm ra sấm chuyển động bốn phương trời. Mỗi lần cậu cóc nghiến răng là nhắc cóc cháu Lạc Long Quân làm sấm, làm mưa. Cóc và Vũ Trụ Tạo Sinh. Nhìn dưới lăng kính Vũ Trụ giáo, Dịch lý, cóc mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ luận. .Vô Cực: qua nghĩa cóc là Không, cóc có một khuôn mặt biểu tượng cho hư không, không gian. .Thái Cực: Cóc mang nghĩa thái cực nghĩa là âm dương còn ở dưới dạng nhất thể thấy qua bản thể lưỡng cư, vừa sống trên cạn mang tính dương vừa sống dưới nước (lúc còn là nòng nọc) mang tính âm. Trứng cóc có nhân đen hình “vòng tròn nòng có chấm nọc” mang nghĩa nòng nọc, âm dương, thái cực, hình ảnh của Trứng Vũ Trụ. Con nòng nọc hiển nhiên có thân hình nòng và đuôi hình nọc mang tính âm dương thái cực. .Lưỡng Nghi: -Cực dương: cóc có một khuôn mặt là cọc (dương, lửa vũ trụ, mặt trời, bộ phận sinh dục nam, cực dương) thấy rõ qua từ cóc biến âm với cọc, qua các hột mọc ở da mang hình ảnh những chấm nọc, qua vai vế cậu ông trời. Khuôn mặt cực âm thấy rõ qua từ cóc biến âm với hóc, hốc. Hang hóc có một khuôn mặt âm, bộ phận sinh dục nữ. .Tứ Tượng -Tượng Lửa vũ trụ Càn: như trên đã thấy cóc biến âm với cọc. Cọc biểu tượng cho cực dương dĩ nhiên có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng Lửa. Ta đã thấy rất rõ con cóc ba chân của Trung Hoa biểu tượng cho lửa Càn. -Tượng Đất dương tức Lửa thế gian Li. Cọc có một khuôn mặt biểu tượng cho núi nổng (núi dương), núi trụ, núi lửa biểu tượng cho tượng đất, đất dương thế gian. Con cóc có sừng (horned toad) có thể dùng làm biểu tượng cho tượng Đất dương. -Tượng Nước dương Chấn. Con cóc nghiến răng chuyển động bốn phương trời, là cậu ông trời sấm sét, liên hệ với với mặt trăng nên có một khuôn mặt biểu tượng cho mưa, sấm (lửa trong nước, chớp-mưa), Chấn (Chấn vi lôi, Chấn là sấm). Trong các tranh dân gian thường vẽ cóc ếch đôi lá che mưa, cóc đánh trống. Trống có một khuôn mặt biểu tượng cho Sấm. -Tượng Gió dương. Cóc có một nghĩa là không, theo duy dương, có một khuôn mặt biểu tượng cho gió. Trong các tranh dân gian thường thấy vẽ cóc đội dù, ô. Nếu dù ô, lọng có những chi tiết mang dương tính thì là những biểu tượng cho gió. . . . . . Tiến xa đến chữ viết cổ nhất của loài người, ta có thể kiểm chứng với chữ nòng nọc. Như trên đã biết Cóc biến âm với cọc nên có gốc nọc mũi mác, răng sói, răng cưa (>) trong chữ nòng nọc. Chữ nọc mũi mác (>) này mang trọn nghĩa vũ trụ luận của ngành dương (Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Kết luận Tóm lại con cóc là con có da sần sùi nổi cục, nổi hột, nổi gai trông như những hạt mễ cốc thường ở trong hóc, trong hang, trong cốc, là con không, thuộc ngành Khôn, là con cọc mang dương tính, là loài con nhái, con nhẩy. Con cóc là cậu ông Trời sấm sét có búa thiên lôi. Con cóc liên hệ với nước, mưa, sấm. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, cậu cóc em bà Thần Long Nàng Gió thuộc ngành Không, Khôn, có mạng Khôn dương, khí gió là cậu của con cóc cụ, cóc tía, thú biểu của Lạc Long Quân, Vua Mặt Trời Nước có một khuôn mặt Thần Sấm mưa Chấn. Cóc Và Trống Đồng .Qua Việt ngữ, với nghĩa biểu tượng, cóc có nghĩa là không. Không có một nghĩa là trống (trống không). Trống có một nghĩa là trống (drum). Vậy cóc ruột thịt với với trống (drum). Trống (drum) là tiếng nói của hư không (tiếng trống thu không). Như thế con cóc là con không con trống, con cóc liên hệ với với hư không và với trống (drum). .Con cóc là con cọc, con nọc, con đực, con trống. Trống là đực và trống cũng là nhạc cụ bộ gõ nên cóc cũng ruột thịt với trống (drum). Trống là biểu tượng của ông thần sấm. Ông Thần Sấm thường cầm chiếc trống trong tay là vậy. .Trong khi đó ếch không biến âm với trống nên không ruột thịt với trống. .Cóc là cậu ông Thần Sấm nên cũng ruột thịt với trống. Như thế các tượng lưỡng cư trên trống đồng âm dương Đông Sơn là những tượng cóc. Trong khi đó, các trống đồng muộn của các tộc khác ở Đông Nam Á làm vào thời nông nghiệp mang biểu tượng cho mưa hay thuộc các tộc thái âm, mẹ có thể có những tượng ếch (xem Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Âm Dương trong Giải Đọc Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). ————————————– Ghi Chú (1) Ta có thể dùng Việt ngữ để truy tầm nghĩa ngữ của Anh ngữ nói riêng và của Ấn Âu ngữ nói chung. Tôi dùng Việt ngữ để học và nghiến cứu Ấn Âu ngữ nói riêng và ngôn ngữ loài người nói chung và ngược lại. Dựa vào Việt ngữ đi tầm nguyên nghĩa ngữ của ngôn ngữ loài người có thể khác với tầm nguyên nghĩa ngữ của các nhà tầm nguyên nghĩa ngữ thế giới. Bởi vì tầm nguyên nghĩa ngữ, ở mỗi ngôn ngữ, tùy theo mỗi nhà tầm nguyên nghĩa ngữ nhìn theo một góc cạnh khác nhau, có thể khác nhau. Ở đây ta thấy tầm nguyên của cóc ếch khác nhau. Con nhái, chẫu chuộc cùng nghĩa là con nhẩy với frog và toad là nhìn theo con mắt của dòng Ấn Âu ngữ. Trong khi tầm nguyên nghĩa ngữ của cóc và ếch của Việt ngữ nhìn theo chữ nòng nọc, theo Dịch lý lại khác. Ta thấy rõ nhất là con tadpole theo Anh ngữ là con (cá) đầu cóc nhưng trong Việt ngữ tadpole rõ ràng là con nòng nọc, con có thân hình vòng tròn nòng và đuôi hình nọc, gọi theo âm dương, Dịch lý. Theo tôi dựa vào chữ nòng nọc là thứ chữ cổ nhất của loài người ghi lại âm, tiếng nói cổ của loài người là đáng tin cậy nhất. Tôi giải tự linh tự Ai Cập cổ, chữ khoa đẩu thánh hiền của người Trung Hoa, hình ngữ Aztec, Maya… bằng chữ nòng nọc còn viết trên trống đồng âm dương Đông Sơn dĩ nhiên sẽ khác với lối giải tự hiện nay. Sự khác biệt này là chuyện dễ hiểu. Xin đừng quá tin vào các nhà ngôn ngữ học khoa bảng thế giới hiện nay mà đã vội vã cho rằng tôi sai.
-
Cá nhân tôi không bao giờ tin rằng Đức Chúa Giesu lại có một lời nguyền như vậy với dân tộc Do Thái. Bởi vì, ngay khi bị treo trên thánh giá trước khi chết, Ngài đã xin Đức Chúa Cha - Thượng Đế - tha tôi cho cả nhân loại vì tội giết con của Thượng Đế, vì họ không hiểu gì cả. Bất cứ một hệ tư tưởng nào, nhân danh bất cứ một cái gì - để chứng tỏ tính hướng tới chân lý và phổ biến trong xã hội loài người thì nó phải nhân danh những gía trị nhân đạo. Đây cũng là yếu tố căn bản trong quan hệ con người của Lý học Đông phương: Chữ Nhân được đặt đứng đầu trong Ngũ Đức. Do đó, với một tôn giáo lớn như Kito giáo, sự tồn tại lời nguyên với dân tộc Do Thái, là một mâu thuẫn nội hàm không thể chấp nhận được. Cá nhân tôi cho rằng: Sự xuất hiện lời nguyền này, là do các tín đồ cực đoan trong Kito giáo thực hiện vào thời kỳ sùng tín tôn giáo này, hoặc âm mưu chính trị liên quan. Bản thân Chúa Jesu không có lời nguyền này. Đúng là không thể tin được như vậy, có thể không chỉ âm mưu chính trị mà cả tôn giáo. Chỉ một vài chữ mà đã tạo nên thống khổ của một dân tộc rồi, Hitle giết trên 2 triệu người Do Thái. Không chỉ vậy, còn nhiều mớ chữ nữa đạo tạo ra cảnh xương chất thành núi, máu chảy thành sông, nhân quả trùng trùng, đúng là thời kỳ hắc ám. Lời nguyền này bắt buộc phải phá giải, văn hiến Việt hóa giải nó dễ như chơi. Thật may, đây là Kỳ Ân Xá.
-
Không có ngày tận thế Thân tặng bạn đọc xa gần! KHÔNG CÓ TẬN THẾ 21/12/2012 KHÔNG nên tin tưởng lịch Maya CÓ phải việc gì cũng xảy ra TẬN số địa cầu ai đoán được? THẾ nên sinh tử khỏi lo xa. **** Ai cũng sợ đến ngày tận thế Tháng Mười Hai bốn bể điêu tàn Năm Nhâm Thìn tin Vịt nổ vang Khắp thiên hạ lo toan sợ hãi Việc gì cũng cần nên xét lại Nên tìm ra lẽ phải cứu mình Trước vấn đề khoa học tâm linh Do khối óc siêu hình tưởng tượng Lịch Maya khua vang cộng hưởng Khắp năm Châu đang bị lo âu Làm không ăn, mất ngủ nhà giàu Làm nghèo khổ buồn rầu than thở Làm mê tín truyền rao hoảng sợ Vững đức tin chẳng có nghĩa gì Năm Hai Ngàn xưa cũng tiên tri Ngày tận thế biết bao dư luận Ôi! có, không sao mà lẩn quẩn? Nhiều nước giàu cẩn thận phòng xa Đào xuống sâu để cất xây nhà Nhiều Bác học tính ra vũ trụ Một áp lực vô hình diễn đủ Như hằng hà tinh tú xoay vần Người vô tư vui vẻ tinh thần Ngày tận thế đến gần kẻ ác Nhìn Trung Đông dàn quân sát phạt Nam Bắc Hàn tan nát đệ huynh Biết bao nhiêu Ma Quỷ rập rình Hù nhân loại hoảng kinh hồn vía Ngày tận thế thổi phồng đặt bịa Nước Việt Nam rút tỉa tinh hoa Xưa Trạng Trình Sấm ký đưa ra Sau nước Việt Nam ta vinh hiển Nhìn thế giới bày ra đủ chuyện Khi khốn nguy xuất hiện Thánh Nhân Dòng Âu Cơ đủ Phật Tiên Thần Trung, hiếu, nghĩa, thiện chân bất diệt Kỷ Nguyên mới loài người siêu việt Hiệp Đông Tây huyền triết vô cùng Giống Lạc Hồng tiếp nối vua Hùng Nền văn hiến vô chung vô thuỷ Năm Ngàn Năm thăng hoa thượng trí Biết bao nhiêu hào khí vang trời Như Big Bang tiếng nổ sáng ngời Tạo vũ trụ bầu trời quy luật Atlantic văn minh cùng cực Sụp lầu đài xuống vực biển sâu Hiện giờ này còn lại Năm Châu Nếu sụp nữa gì đâu lo sợ ? Ngày tận thế kẻ đi người ở Đã diễn ra bệnh viện ngày đêm Luật vô thường càng khốc liệt thêm Nếu đại chiến thứ ba bùng nổ Ngày tận thế con người giác ngộ Phải tu tâm tự độ lấy mình Phải lắng nghe chim hót bình minh Phải hiểu luật tử sinh số kiếp Thân “Chiếc Áo” lột ra thay tiếp Từ xưa nay lên xuống nhiều thân Trót sinh ra ai cũng nợ nần Tròn bổn phận Đạo Nhân trung hiếu Ngày tận thế diễn ra không thiếu: - Nạn giao thông cường điệu đua xe - Nào ăn chơi cờ bạc rượu chè - Nào “Thánh chiến” kéo bè tận thế Ta thử hỏi Năm Châu Bốn Bể: Trái Đất tan, còn để chi tiền ? Dám đưa ra bố thí gieo duyên ? Giúp nghèo khổ tật nguyền tuyệt vọng Nghe tận thế giàu sang tham sống Giấc Nam Kha mơ mộng trường sinh Mãi say mê hạnh phúc riêng mình Chỉ biết nghĩ gia đình nhỏ bé Hiểu tận thế tâm hồn vui vẻ Biết thương người chia sẻ đói đau Vì cộng đồng bảo vệ trước sau Tâm bình đẳng, bênh nhau đạo lý Dẹp nguyên tử hạt nhân vũ khí Chẳng có ngày tận thế ấy đâu Tình thương yêu hoá giải địa cầu Sẽ đón nhận NHIỆM MẦU SÁNG THẾ! Bình Thạnh – Tp.HCM, 13/03/2012 - Võ Thái Sơn(sứ giả Thái Bình)
-
SỰ THẬT VỀ THÁNH VẬT SÔNG TÔ LỊCH Nhật Nguyệt Quang Tử Hồi đó báo chí đăng ầm ĩ về hiện tượng “Sông Tô Lịch”, học trò cũng chụp tài liệu về cho mình xem, nhưng rồi bận quá chưa kịp quan tâm đến. Hôm 21/4/2007 (5/3/ĐH) có mấy học trò từ Thái Bình lên, họ trách mình : Bao nhiêu người chết mà Thầy cứ ngồi im ở nhà chẳng thấy Thầy làm gì. - Thôi được rồi, tối nay chúng ta sẽ xem nó thế nào. Buổi tối, vía mấy thầy trò ra hiện trường, mình mời Thái Thượng Lão Quân cụ về ngay, Nguyệt Quang Tử nói: - Xin TháiThượng xem giúp con đây là trận gì, vừa rồi cái trận này làm chết một số người đấy. Cụ đi vòng quanh trận rất lâu mà không thấy nói gì. Lúc đó nhìn vào cửa trận thấy nó như một cái giếng sâu hun hút, hình như không có đáy. Trong cả vùng trận ấy có nhiều hình thù kì quái và rất dữ tợn.Chờ lâu mình sốt ruột liền hỏi : “Thái Thượng đã biết trận này là trận gì chưa ?”. Cụ trả lời : “Ta cũng chưa biết !” - Đến Thái Thượng cũng chưa biết thì ai có thể biết được ? Cụ không nói gì dáng vẻ trầm ngâm Một lúc sau NQT hỏi tiếp : -TTLQ có biết trận này được đặt ở đây từ bao giờ không ? - Điều này thì ta biết, trận này được đặt ở đây từ thời nhà Lý. - Nếu thế thì con sẽ hỏi được : “Xin mời Quốc sư Vạn Hạnh.” Quốc sư về ngay, NQT kể lại những diễn biến xung quanh trận này trong thời gian qua để cụ nghe, rồi NQT hỏi tiếp : -TTLQ cho con biết trận này được lập từ thời nhà Lý, như vậy theo Quốc Sư có đúng không ? Quốc Sư nói : - Đúng là như vậy, nó do một pháp sư cao cấp của Việt Nam lập. NQT hỏi : “ Con có được biết tên người ấy không ?” Cụ trả lời : - Đó là pháp sư Lý Đạo Hành. - Nếu con muốn mời pháp sư Lý Đạo Hành về thì có được không ? Cụ nói : - Con cứ mời đi. NQT nói ngay: “Xin mời pháp sư Lý Đạo Hành”. Một cụ già đầu tóc bạc phơ chống gậy đi về . - Con chào cụ, thưa cụ con được biết cụ đã lập trận này, liệu con có được phép biết tên trận không ? - Tên trận này là : Bát Thiên Y Nhất Trận. - Thưa cụ : có phải cụ lập trận này là để bảo vệ thành Thăng Long không ? - Đúng như thế đấy. - Con chẳng biết nó bảo vệ thế nào, nhưng vừa rồi làm chết mấy người làm bị ốm một số nữa. NQT nói vậy mà cả ba cụ đứng nhìn nhau không ai nói gì. Quả thật khi nghe tin một số người bị chết, nhiều gia đình bị thiệt hại mình thấy bức xúc nên nói liều : - Các cụ đặt trận để bảo vệ Kinh thành mà lại làm dân chết ! Cụ Lý Đạo Hành nói : - Đấy là do người trần tục không biết mà tấn công vào trận, cũng may là mới đụng vào đội bảo vệ vòng ngoài chứ đánh vào trong trận thì thảm họa sẽ xảy ra !... - Thưa cụ để đi vào thành Thăng Long bây giờ thì có nhiều đường đi lắm, kể cả nó không đi bộ mà bay ở trên không thì trận này có giá trị gì ? Trường hợp không may bom ném trúng, trận vỡ thảm họa xảy ra thì làm sao ? - Đấy là ta nói thế thôi, mọi việc đã được tính cả rồi, bom có ném trúng cũng không việc gì đâu. - Thưa cụ thế vì sao vừa qua lại chết người ? - Người trần tục tấn công vào thì đội bảo vệ vòng ngoài họ phản ứng như vậy thôi, vì họ là lính thì họ chỉ biết làm theo lệnh . - Thưa cụ! Cụ đã lập trận để bảo vệ dân, thì cũng phải tính đến mọi khả năng chứ, việc chết người đã làm tất cả hoảng loạn lên ! - Trong việc này ta cũng có lỗi nhận thông tin không kịp thời, nhưng đây cũng là bài học để người trần tục lưu ý, khi đụng vào những nơi Địa linh cũng nên thận trọng mà đừng vội vàngTừ lâu nay người trần tục vẫn tự cho rằng họ là những người quyết định tất cả!. - Theo con như thế vẫn chưa được ! Các cụ nhìn nhau cười rồi nói với mình : - Ý con là định bỏ cái trận này đi có phải không ? - Vâng đúng là con muốn như thế . Các cụ suy nghĩ một lát rồi nói : - Thôi được chúng ta sẽ đưa nó đi. Sau khi làm xong việc này, học trò hỏi mình ngay : Thầy ơi, báo chí họ nói nhiều ông thầy đến tận nơi xem, họ bảo đây là trận Bát quái sao bây giờ lại là trận khác ? - Liệu có ai biết rõ tên trận bằng người đặt trận không ? Họ nhìn thấy 8 cái cọc thì họ bảo nó là bát quái nhưng thực ra ở trong không gian thì có nhiều BÁT lắm. Thí dụ : Trong đạo Phật có “ Bát đại Bồ tát ”, “ Bát đại Kim cương”... Trong đạo Thiên chúa có “ Bát đại Thiên sứ”... Trong đạo Tiên có “ Bát đại Thiên vương”, “ Bát Thiên vương”, “Bát tiên”, “ Bát quái ” ... Ngoài ra còn “Bát lão đạo sĩ” là những người giúp việc cho Bát quái nữa và ngay ở Côn Sơn còn có đền thờ “Bát cổ” . Đến bây giờ thầy trò ta còn được biết thêm “ Bát thiên...” nữa. - Thầy ơi, Quốc sư Vạn Hạnh là ai ? Làm sao Thầy quen được ? - Quốc sư Van Hạnh là một ông sư đã có công nuôi dưỡng Vua Lý Công Uẩn và cụ là một trong những người đưa Lý Công Uẩn lên làm vua triều nhà Lý. Thầy biết Cụ vì Cụ là một trong bố người về trực tiếp là quân sư dạy Thầy từ những năm trước. - Những người khác người ta nói trận này của Cao Biền yểm ở Việt Nam cơ mà ? - Ngày xưa Tàu nó yểm trên đất mình rất nhiều, thí dụ : chúng phá Ngũ linh ở Côn Sơn, yểm bùa ở Hồ Hoàn kiếm, Hồ Tây, Hồ Thủ lệ, Hồ Công viên Thống nhất...Chùa Một cột, Chùa Quán Sứ... nhưng ở đây thì không phải. - Ở những nơi khác đã giải được chưa ? - Cũng mới giải được gần đây thôi. - Bây giờ các cụ đưa trận này đi đâu hả Thầy ? Nếu bỏ trận này đi thì lấy gì để bảo vệ Thủ đô ? - Ta tin là các cụ đã có chủ ý rồi, vừa rồi khi mới về thì các cụ làm như không quen biết nhau nhưng khi các cụ đi thì ta thấy các cụ đi cùng một đường. Hơn nữa trong không gian mọi việc đều được cập nhật tức thời, những người tu luyện cao họ đều nhận được những thông tin mà họ quan tâm trong cùng một thời điểm . - Thầy kể chuyện giải bùa đi ! - Chuyện dài lắm, thầy chỉ kể một chuyện thôi nhé. Bùa yểm của chúng ở Hồ Hoàn Kiếm hết sức tinh vi và quả thực là rất dã man. Chúng dùng một tấm vải căng kín mặt hồ ( tất nhiên tấm vải này không phải ai cũng nhìn thấy), ở mép tấm vải chúng dùng cọc ghim chặt xuống đất, ở trên không là một đạo quân canh giữ. - Chúng con tưởng bùa là phải chôn hoặc dán chứ, tại sao lại có bùa vải ? - Linh khí ở hồ Hoàn Kiếm rất mạnh, bùa thường không thể yểm nổi, chỉ có những loại vải rất linh mới bịt được khí Hồ bốc lên thôi. - Lúc giải phải làm thế nào hả Thầy ? - Việc đầu tiên là phải đánh thắng được đội quân bảo vệ ở trên không của chúng, việc thứ hai là phải đồng loạt nhổ được tất cả các cọc ghim cùng một lúc. Khi nhổ xong cọc thì linh khí của Hồ đủ sức đẩy tấm vải bay lên, ngay lúc đó phải đốt được tấm vải này đi trong khi nó còn đang bay lơ lửng ở trên không, nếu không nó sẽ lại chụp xuống . - Như thế là xong hả Thầy ? - Chưa đâu, do bị yểm như vậy nên 5 mạch khí chảy vào Hồ đã bị bịt mất 3 rồi, phải khai thông được 3 mạch này và làm vệ sinh cho Hồ thì nguồn linh khí này mới trở lại bình thường được. - Liệu chúng có biết mà yểm lại không ? Chúng có trả thù người phá bùa không ? -- C ư ơ ì ... …………………….. Sau khi các cụ nói : “ Chúng ta sẽ đưa trận này đi.”NQT cứ tưởng chuyện thế là xong. Một hôm NQT đưa học trò lên Đền Hùng ở Phú Thọ khi vào đền thờ Mẫu Âu Cơ, vừa bước chân vào đến cửa chưa kịp thắp hương đã thấy cụ đi ra tươi cười nói : “Con ta đây, giọt máu của ta đây”, nói xong Cụ đưa cho NQT một bó tên.....NQT ngỡ ngàng không hiểu vì sao Mẫu lại nói câu đó ? Nếu chỉ là "con ta đây…" thì là điều bình thường vì đối với Mẫu thì ai chả là con, nhưng còn " giọt máu của ta đây " thì nghĩa là thế nào ? Dâng hương xong cả đoàn đi xuống, rồi lại cùng leo lên đền Hạ. Phía ngoài Đền Hạ có treo một tấm biển "Nơi đây Mẫu Âu Cơ sinh ra một trăm quả trứng ". Bước chân qua cửa Đền thì NQT lại thấy Mẫu Âu Cơ đang ngồi ở đây, NQT hỏi : “Mẹ sinh con ra ở đây à ?” - Thì ta chả nói rồi còn gì, con là giọt máu của ta. NQT mừng lắm, thì ra trong một trăm quả trứng mà Mẫu đã sinh ra, có một quả đã " nở " cái người đang đưa học trò lên đây ngày hôm nay. NQT hỏi tiếp : - Mẹ cho con bó tên này dùng để làm gì. Mẫu cười rồi nói : - Đấy không phải là tên đâu, nó là chìa khóa mở trận đấy. Con đi lên đền Thượng, mọi người đang chờ con. - Thưa Mẹ tại sao tên lại mở được trận ? - Thôi con lên Đền Thượng đi, mọi người đang chờ con ở đấy. Ta đã nói với con nhiều hơn cả những gì mà Lạc Long Quân đã nói với con đấy. NQT tiếp tục đi lên, khi qua Đền Trung chưa kịp làm lễ thì đã có người về giục " Phải lên Đền Thượng ngay ". Khi lên đến Đền Thượng thì thấy đã có năm người đang ngồi xung quanh một cái bàn lớn, NQT chưa kịp chào thì đã có người gọi vào ngay. Năm người ngồi ở đây chính là : Quốc Tổ Lạc Long Quân và bốn vị nữa, trong đó có Vua Hùng thứ nhất và ba người mà NQTchưa biết. Quốc Tổ nói: “ Bó tên của con đâu ?” NQT đưa bó tên ra, Cụ cầm lấy...NQT cũng vừa kịp nhận ra ở chính giữa bàn có một mô hình giống như cái lư hương. Cụ cầm bó tên rút từng cái cắm vào những cái lỗ ở xung quanh mô hình, khi mũi tên cuối cùng vừa cắm xong thì mô hình tự quay và cửa trận ( nắp cái mô hình - Lư hương ) cũng từ từ mở ra...NQT nhìn vào thấy nó giống y như những hình ảnh mà mình đã thấy ở...Sông TôLịch. Quốc Tổ dạy NQT cách mở trận và chỉ huy trận...Sau khi giảng xong, Quốc Tổ đóng cửa trận và trả lại cho NQT bó tên rồi Cụ nói : - Bây giờ con hãy tự làm lấy xem nào. NQT cũng lần lượt thao tác đúng như những gì vừa được học...Cửa trận lại mở ra một lần nữa, mọi người chất vấn NQT thêm mấy câu... và cuối cùng Quốc Tổ nói: - Con giỏi lắm, đúng là không phụ công sức chúng ta dạy bảo. Từ ngày lập ra trận này nó chưa được xử dụng lần nào, chúng ta tin con sẽ biết dùng nó để bảo vệ non sông gấm vóc này. Con nên nhớ rằng thế kỷ thứ 21 là thế kỷ của Tâm Linh...” Một thời gian ngắn sau, cái trận mà đã từng gây tranh cãi ầm ĩ ở trần tục ấy đã được di chuyển tới đúng nơi nó cần phải đến để từ đó nó có thể phát huy đầy đủ nhất sức mạnh bảo vệ Thủ Đô vốn có của nó. Một hôm NQT đi kiểm tra mới phát hiện được, trận này có một điểm yếu, đó chính là cái bát hương đặt ở giữa trận. Nếu kẻ địch đánh đúng vào điểm yếu này thì sẽ có cơ phá được trận .Suy nghĩ khá lâu và NQT đã quyết định để một vía của mình ngồi ngay tại bát hương đó, như vậy nếu kẻ nào cố tình xâm phạm trận này thì phải bước qua xác NQT rồi mới vào được. Sau khi làm xong việc này NQT mời Cụ Lý Đạo Hành và Quỉ Cốc Tử về rồi nói : - Con phát hiện ra trận này có một điểm yếu, nếu kẻ địch đánh đúng vào đấy thì trận sẽ bị phá ngay. Các Cụ nói : - Chúng ta đều biết điều ấy từ khi đặt trận nhưng điểm yếu này không phải ai cũng biết được, còn chúng ta tuy biết mà chưa có cách giải quyết. - Theo các Cụ thì bây giờ chúng ta nên làm thế nào? Các Cụ nhìn nhau cười rồi chỉ NQT mà nói : - Từ trước chúng ta cũng biết phải làm như thế mới yên tâm, nhưng không tìm được người. Bây giờ con giải quyết rồi còn gì. Mọi người nhìn nhau cười vui vẻ. ............ Có một hôm NQT chợt nhớ ra, trước đây có một người bạn nói : Từ những năm 70 của thế kỷ trước, Tổng bí thư ĐCS Liên Xô Bzêgiơnep đã từng nói : “ Cuộc chiến tranh đáng sợ nhất, không phải là chiến tranh hạt nhân mà là chiến tranh Tâm Linh.” Chẳng biết thông tin NQT nghe được có đúng hay không !...nhưng nếu nó đúng thì quả thật Cha Ông ta quá siêu việt. Không những các Cụ chỉ để lại cho chúng ta non sông gấm vóc này mà còn tính sẵn cả những phương án để cho non sông đất nước này trường tồn mãi mãi. NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.
-
Thiền là "sản phẩm mới" của Chúa ? - (Hồng Quang) Kiểu đọc sách (TG&DT) - Thiền có phải do Chúa tạo ra không? Vì chỉ có những người không nghiên cứu hoặc mang mặc cảm tôn giáo mới ngụy biện và gượng ép rằng Chúa tạo ra hết thảy mọi sự kể cả Thiền. Lúc nói đến Thiền là người ta liên tưởng đến Phật Giáo vì chính Thái tử tất Đạt Đa cũng nhờ thiền định liên tục 49 ngày mà Giác ngộ. Trong thời đức Phật còn tại thế Hôm nay, 15.5.2012, qua mạng, người bạn gởi cho tôi bài “Thiền là sản phẩm của Chúa tạo ra?” Đọc mới biết lúc Sư cô Hương Nhũ được mời thuyết trình tại Trung tâm Mục vụ Tổng giáo phận TP. Hồ Chí Minh (19.3.2011), với đề tài “Hơi thở nhiệm mầu” và sau đó Linh mục (?) Tạ Ân Phúc trong bài tường thuật có đoạn viết như sau:<br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"><br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"><br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> “Từ thuở tạo dựng, "Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật" (x St 2,7), sự sống con người có được là do ân ban của Thiên Chúa. Hơi thở con người là một điều hiển nhiên không thể chối cãi, thế nên đôi khi người ta không còn chú ý đến nữa và quan tâm đến nhiều điều được cho là đáng lo toan hơn trong cuộc sống. Nhưng điều chỉnh hơi thở và rèn luyện đúng cách sẽ làm cho người ta khỏe mạnh hơn và tâm hồn thư thả, thoải mái hơn qua việc tập thể dục, tập yoga, thiền”. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Qua email, người bạn cũng kèm theo một số ý kiến phản biện của độc giả về đoạn văn nêu trên: [tôi để trong ngoặc kép và chữ nghiêng cho dễ phân biết]: <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> “Người ta cố ý “giựt” thiền ra khỏi Phật giáo để làm gì? Câu trả lời rất đơn giản, vì thiền là một giá trị của Phật giáo, một bảo vật của Phật giáo. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Muốn Phật giáo không còn giá trị nữa thì phải lấy đi bảo vật đó, biến nó thành một thứ vật lý trị liệu “vào đầu thế kỷ XX”, hay do Thanh Hải Vô thượng sự khai ngộ…” <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Minh Thạnh <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Muốn đọc các ý kiến phản hồi của các độc giả khác, vui lòng gõ vào đường link: http://www.phattuvietnam.net/3/13875.html <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> -- o o 0 o o -- <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"><br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"><br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Phản biện của anh Minh Thạnh và các vị khác rất chính xác, khách quan và khiêm tốn vềlối lý luận mập mờ thiếu cơ sở của Lm Tạ Ân Phúc, nhưng cũng có vài phần nhỏ tôi không hoàn toàn đồng ý lắm. Sau đây là một số ý kiến của tôi về Thiền và về đoạn văn của Linh mục nêu trên. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"><br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Thiền là một bộ môn khá bao quát, đa dạng tùy theo các trường phái. Tuy nhiên một định nghĩa có thể chấp nhận được: THIỀN là tập trung chú ý vào một đối tượng mà không suy nghĩ đến cái gì khác. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Tùy theo mục đích của người thực hành, nên tôi chia Thiền thành hai loại: Thiền Giác ngộ (Meditation for enlightenment) và Thiền Sức khỏe (Meditation for health). <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Lúc nói đến Thiền là người ta liên tưởng đến Phật Giáo vì chính Thái tử tất Đạt Đa cũng nhờ thiền định liên tục 49 ngày mà Giác ngộ. Trong thời đức Phật còn tại thế, Ngài luôn luôn ngồi thiền và dạy các đệ tử tu thiền để thân tâm an lạc và cứu cánh là giải thoát giác ngộ. Hầu hết các tượng Phật Thích Ca đều trong thế ngồi Thiền Định. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Ngoài đạo Phật cũng có Thiền, được gọi là Thiền ngoại đạo. Nhưng ít người chú ý vì tác dụng của các loại Thiền nầy không thể so sánh với thiền Phật Giáo vì, Thiền Phật Giáo được giảng dạy do một vị Giác ngộ đó là Phật Thích Ca. Thiền Ấn giáo cũng góp phần vào việc trị liệu, nhưng các “Thiền ngoại đạo” khác thì nên cẩn thận tối đa để tránh hậu quả xấu có thể xẩy ra cho người thực hành. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Trên đường phát triển qua các quốc gia, tùy theo cách thực hành và tùy theo trường phái nên, có các ngành thiền với tên khác nhau như Thiền Tào Động, Thiền Tào Khê, Thiền phái Trúc Lâm, Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi … Về phương pháp thì có Như lai thiền, Tham tổ sư thiền, Thiền Tứ niệm xứ… <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;">Hình mô tả chất xám gia tăng <br style="font-style: italic; font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> nhờ ngồi thiền <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Điểm nóng và hào hứng cho giới Phật tử nhưng gây “chới với” cho nhiều người của vài tôn giáo khác, đặc biệt tại Việt Nam, là hơn 50 năm qua khoa học gia và y giới đã chứng minh rằng Thiền có khả năng làm cho con người mạnh khỏe hơn, đẹp hơn, thông minh hơn, sống lâu hơn, chống bệnh tật và lão hóa*. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Vì ngoài giá trị về phương diện giác ngộ và giải thoát, Thiền còn có công hiệu rất thiết thực và bổ ích cho con người như thế, nên nhiều người muốn “giành” Thiền cho tôn giáo của mình, mà Lm Tạ Ân Phúc là một. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Một tôn giáo, một học thuyết muốn đứng vững thì tôn giáo đó (hay học thuyết đó) phải có ba tiêu chí căn bản: Nhân bản, Ứng dụng và Khoa học. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> - Nhân bản, trải qua hơn hai ngàn năm truyền giáo, tôn giáo ấy quả thật không gây thiệt hại nhân mạng cho một ai? <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> - Ứng dụng, giáo lý của tôn giáo ấy có đem lại lợi ích cho con người hay không, hay mang đến chiến tranh và đỗ máu cho nhân loại bằng những cuộc Thánh chiến, tòa án xử tử người khác tôn giáo (Tòa án Dị giáo: Inquisition), toa rập với thực dân tạo chiến tranh và chiếm thuộc địa…? <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> - Khoa học, giáo thuyết củatôn giáo ấy có mang tính khoa học không? Hay mê tín dị đoan, thiếu lý trí? <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Do thế, lúc viết “Từ thuở tạo dựng, "Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật" (x St 2,7), là Linh mục đã tự chà đạp giá trị tôn giáo mình, vì khoa học chứng minh thủy tổ của loài người không phải do từ đất sét. Truyện ông A Dong và bà Eva cũng là huyền thoại chứ hai ông bà tuyệt nhiên không phải là thủy tổ của loài người! Và việc Chúa hà hơi vào đất sét, nếu có, thì tuyệt nhiên không liên hệ gì đến việc “Theo dỏi hơi thở” hay “Hơi thở nhiệm mầu” là một trong những pháp tu thiền của Phật Giáo có từ hơn hai ngàn năm qua mà thuật ngữ Phật Giáo gọi là “Quán sổ tức”. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Thay vì trình bày lối tu thiền bằng cách quán hơi thở, tiếng Anh gọi là Breathing Meditation, thì Sư cô Hương Nhủ đã tế nhị khéo léo của một người chân tu và một nhà giáo dục trước một cử tọa đa phần là người khác tín ngưỡng, nên Sư cô dùng cụm từ tuyệt đẹp “Hơi thở nhiệm mầu”. Linh mục Tạ Ân Phúc đã không hiểu như thế, lại còn khập khiểng muốn ám chỉ “hơi mà Chúa hà vào đất sét” cũng là một lối Tu thiền do Chúa đã thực hiện từ thuở khai thiên lập địa, mà ngày hôm nay Sư cô Hương Nhủ trong buổi thuyết trình “Hơi thở nhiệm mầu” chẳng qua là lặp lại phương pháp của Chúa đã có từ lâu mà thôi! Thật là hết chỗ chê nhỉ? <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Lm Tạ Ân Phúc dĩ nhiên là không biết trong Phật giáo có một cuốn kinh gọi là “Kinh Quán niệm hơi thở”. Phật chỉ bày phương pháp thở như thế nào trong lối tu “Quán sổ tức” mà một Sư cô đã tài tình khéo léo dùng cụm từ Hơi thở nhiệm mầu, nên cũng đã tạo cho Lm Tạ Ân Phúc dễ xào nấu thành một “món Thiền có từ lâu trong đạo Chúa” mà thực tế chưa bao giờ có! <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Cũng không riêng gì Lm Tạ Ân Phúc, trên hệ thống internet, thỉnh thoảng chúng ta cũng thấy, nhằm lưu giữ tín đồ khỏi tự ý chạy qua Phật Giáo, họ đẻ ra danh xưng mới “Christian Meditation (Thiền Cơ đốc giáo). Thực ra, trong kinh Cựu Ước và Tân Ước không thấy có chỗ nào nói đến Thiền. Có chăng là Tĩnh tâm, nhưng Tĩnh tâm không phải là Thiền. Các chuyên gia và y giới cũng không hề nói đến Thiền Cơ đốc giáo bao giờ? Và chưa bao giờ thấy có ai gọi nhà Thờ là “Thiền đường, Thiền phòng, Thiền thất. Trái lại, Phật giáo gọi cửa Chùa là cửa Thiền. Kinh tụng hằng ngày cũng có tên là “Thiền môn nhật tụng”. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Thiền là một pháp môn giá trị trong tám vạn bốn ngày pháp tu của Phật giáo. Thiền cũng có nhiều phái và nhiều kỷ thuật tu luyện khác nhau như phái Thiền Tào Động, Thiền Trúc Lâm…Phương pháp tu thiền cũng có nhiều như: Như Lai thiền, Tham tổ sư thiền, Thiền Tứ niệm xứ… như đã trình bày ở một đoạn trước. Người học Thiền thì gọi là Thiền sinh, người dạy Thiền thì gọi là Thiền sư. Chứ chưa thấy ai gọi Linh mục là Thiền sư… bao giờ? <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Có lẻ nằm trong tâm trạng thiếu bình tỉnh, nên Linh mục Tạ Ân Phúc lại phạm thêm một sai lầm khác bằng việc trích một đoạn văn của “phe ta”, trong cái gọi là “Thiền Kitô giáo” của Đỗ Trân Duy. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Ông Đỗ Trân Duy viết “Từ lâu thiền cũng đã xâm nhập vào Kitô giáo, Thiền Kitô giáo chính là dạng thiền của Đông Phương phối hợp với lối chiêm niệm của các ẩn sĩ Kitô giáo trong thế kỷ III…” <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> [Theo: http://www.phattuvietnam.net/3/13875.html] <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Vì gán ép và gượng ép không có cơ sở, vì lối tu Thiền chưa bao giờ có trong Ki tô giáo, nên cả tác giả (Đỗ Trân Duy) và dẫn giả Lm Tạ Ân Phúc viết: “Từ lâu thiền cũng đã xâm nhập vào Kitô giáo”. Viết như vậy, có nghĩa là trong Kitô giáo thực sự là chưa bao giờ có Thiền, nay Thiền mới xâm nhập vào. Và ông Đỗ Trân Duy xác định thêm:”Thiền Kitô giáo chính là dạng thiền của Đông Phương…” Cũng thế, đọc không kỷ, tưởng đâu trích dẫn ý kiến của “phe ta” là có thể biện minh được sự sai lầm có hậu ý của mình, hóa ra chính dòng chữ nầy của ông Đỗ Trân Duy, một lần nữa, lại bộc lộ rõ thêm Kitô giáo vay mượn Thiền của Đông Phương vào thế kỷ III. Nhưng không cho biết tên các ẩn sĩ là những ai? <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Và cũng nên để ý rằng Phật Thích Ca ra đời trước Chúa Giê-su đến 5 thế kỷ, cọng với 3 thế kỷ mà các “ẩn sĩ chiêm nhiệm…”. Tổng cọng là 8 trăm năm. Điều ấy có nghĩa là Thiền được đưa vào trong Kitô giáo cách nay khoảng 1200 năm. Trong lúc đó Thiền đã được Phật dạy cho đệ tử cách nay hơn 2500 năm. Như thế, tôn giáo nào có “môn Thiền” trước tôn giáo nào đến cả 12 thế kỷ? <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Dẫu vậy, chúng ta cũng không thấy có sử gia nào nói đến hoặc có cuốn Thánh kinh nào của Kitô giáo đề cập đến Thiền? ngoại trừ ông Đỗ Trân Duy và Lm Tạ Ân Phúc mới tạo ra sau nầy. Còn trong Phật Giáo thì phương pháp tu thiền đã có trong Ba tạng kinh điển được lưu truyền hơn hai ngàn năm trăm năm qua. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Ngày nay, tại Việt Nam có nhiều người thích học Thiền, nghe Thiền, thảo luận Thiền, ngồi thiền, viết sách về Thiền... Vì Thiền không còn là một trào lưu mà là một lối sống văn minh, lành mạnh, trí thức và khoa học. Bởi thế các nước tân tiến như Mỹ, Thiền đã và đang đi vào các cơ sở giáo dục, văn phòng luật sư, các bệnh viện, các hội thể thao, bộ Quốc phòng, nhà tù và các chủ doanh nhân xí nghiệp tầm cở quốc tế... <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Steve Jobs là một vừng trăng lừng lẫy chiếu khắp cả thế giới với công nghệ vi tính là một người thực hành Thiền chánh niệm” (Mindfulness Meditation). Lúc ông mất, Tổng thống Mỹ, Obama, ca tụng: “…ông (Steve Jobs) đã thay đổi đời sống của chúng ta, tái định hình ngành kỹ nghệ và đã đạt được một trong những hứng thú hiếm hoi nhất trong lịch sử loài người: Ông đã thay đổi cách mà chúng ta nhìn thế giới”. [http://www.whitehouse.gov/blog/2011/10/05/president-obama-passing-steve-jobs-he-changed-way-each-us-sees-world]. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Apple's Steve Jobs, bottom-right in black shirt, and Facebook's Mark Zuckerberg flank President Obama in Thursday photo (Feb. 18.2011) <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Thống đốc bang California, Jerry Brown, Cựu phó Tổng thống Al Gore, Tổng thống Obama cũng ngồi thiền. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"><br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Tại Việt Nam, hệ thống tin học được phổ cập nên các thông tin của thời đại, cũng như Thiền, được các giới nhất là tuổi trẻ đón nhận một cách vui thú tích cực. Qua sách báo, băng giảng của chư Tăng Ni cũng tạo phương tiện không nhỏ cho vấn đề nầy. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Thiền Sức Khỏe là một “món hàng” quý giá, đa dụng, bổ ích và không tốn tiền, nên Thiền đang trở thành một lối sống mới, hấp dẫn và hào hứng của con người nhất là giới trẻ hiện nay. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Hơn thế nữa, ngoài chức năng làm cho con người thông minh hơn, đẹp hơn, mạnh khỏe hơn, sống lâu hơn, ngăn ngừa và chống bệnh tật, chống lão hóa, Thiền còn có thể sử dụng như một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để canh tân đất nước, làm cho dân giàu nước mạnh. Thật vậy, nếu Thiền được đưa vào y tế, song hành với y dược, thì bệnh nhân có cơ hội chóng lành hơn, góp phần làm giảm ngân sách chi tiêu y tế của cá nhân và của bộ Y tế. Nếu đưa vào trường học thì học sinh, sinh viên có cơ hội mạnh khỏe hơn, thông minh hơn, đẹp hơn. Nếu truyền vào nông thôn, thì sức khỏe của dân quê sẽ tốt hơn. Và đó là một trong những phương cách làm cho kinh tế nông thôn phát triển tốt. Một gia đình hoặc một dân tộc có nhiều người bệnh tật thì trong gia đình ấy, trong quốc gia ấy, con người không thể có một đời sống kinh tế ổn định và hạnh phúc khả dĩ. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Do những tác động hữu ích và hữu dụng sáng chói ấy nên Thiền đang trở thành một điểm nóng và đang là một trào lưu, một xu thế, một lối sống văn minh và khoa học của thời đại không thể thiếu hiện nay. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Trước tình trạng nầy một số người đã mở những Trung tâm dạy thiền chữa bệnh. Có vài nơi kết quả tốt. Vài tôn giáo cũng cho tu sĩ đến nhờ Tăng Ni Phật Giáo dạy thiền. Số khác cũng “vào nghề” với những loại Thiền xuất hồn, thiền nhân điện, khai mở luân xa…làm cho một số người suýt chết, người thì bị tẩu hỏa nhập ma, bỏ thờ cúng ông bà tổ tiên và tâm hồn trở nên bất thường hoặc lững thững như người mất hồn. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Hơn một năm qua, được chư Tôn Đức Tăng Ni và thiện hữu tri thức khuyến khích, được ban Tri sự Phật Giáo, ban Giám hiệu Học viện, chùa, tịnh xá ưu ái, và ban chức năng tạo điều kiện thuận lợi nên tôi đã thuyết trình về Thiền sức khỏe trên 40 địa điểm trong nhiều tỉnh thành và học Viện. Thính chúng vô cùng hoan hỹ. Một trong những thất bại của tôi là thiếu thời gian thực tập cho thính chúng. Trái lại, một trong những điểm tốt là, tôi chỉ giới thiệu đến thính chúng bộ môn Thiền sức khỏe (Meditation for Health) với phương pháp Thiền chú (Mantra Meditation), Thiền quán (Visualization Meditation), Thiền Chánh niệm (Mindfulness Meditation), Thiền thở (Breathing Meditation) và Tịnh độ. Thiền thở (Quán sổ tức) là một phương pháp mà Phật và khoa học gia khuyến khích sử dụng vì dễ và có hiệu quả nhanh chóng, chỉ cần định tâm được 10 phút tối thiểu, ngày hai lần là sẽ cảm nhận thư thái ngay. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Những phương pháp Thiền vừa kể, nếu hành giả không định được tâm thì không có kết quả, nhưng không xẩy ra tình trạng tẩu hỏa nhập ma như Thiền giác ngộ. Loại Thiền nầy cần có minh sư hướng dẫn. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Với những ích lợi vô cùng rực rỡ của Thiền mà khoa học gia và y giới đã chứng minh, nên có người muốn lấy điểm cho Chúa bằng cách gán ép sai lầm rằng Chúa là tác giả của Thiền. Và sau bức màn tự nhận sai lầm ấy, họ lại dùng Thiền của đạo Phật Giáo để cải đạo Phật tử. Thêm vào đó, nhiều người không có trình độ nhưng vẫn mở lớp dạy thiền mà không hề biết sự nguy hiểm của Thiền nếu thực hành không đúng cách. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Nếu quả thật, Thiền cũng do Chúa tạo ra thì càng tốt vì, sẽ đóng góp thêm cho văn hóa nhân loại. Nhưng tôi viết bài nầy không nhằm mục đích tranh luận với Linh mục Tạ Ân Đức và ông Đỗ Trân Duy là: Thiền có phải do Chúa tạo ra không? Vì chỉ có những người không nghiên cứu hoặc mang mặc cảm tôn giáo mới ngụy biện và gượng ép rằng Chúa tạo ra hết thảy mọi sự kể cả Thiền. Từ sự gán ép thiếu cơ sở nầy có thể sẽ dẫn đến việc thiết lập những Trung tâm Thiền trị bệnh, nhưng hướng dẫn sai phương pháp tạo tình trạng tẩu hỏa nhập ma hoặc bệnh tâm thần cho quần chúng. Đó là điều không nên có. Dân tộc đã quá tang thương vì thực dân đế quốc. Do đó, những ai không chuyên môn, không nghiên cứu tường tận về Thiền thì không nên viết và không nên dạy vẽ cho người khác điều mà mình không sở trường. Vì Thiền là một Khoa học, trong một phương diện khác, chính nó là thuốc. Không nên cho NHẦM TOA và diễn dịch sai lạc sẽ có hại cho sức khỏe quần chúng. Ngay cả những người chuyên môn cũng còn phải học hỏi thêm: “Trong 30 năm nghiên cứu, cho thấy thiền là phương thuốc trị liệu rất tốt, thiền là một kháng tố chống lại bệnh phiền muộn”, ông Daniel Coleman tuyên bố như vậy. Ông là tác giả cuốn Destructive Emotions, ghi lại buổi hội luận giữa ngài Đạt Lai Lạt Ma và một nhóm các khoa học gia về thần kinh” (Tuần báo Time: The Science of Meditation (Khoa học Thiền Định) số ra ngày 4.8.2003** <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Linh mục Tạ Ân Phúc cũng nên biết rằng, trong lãnh vực trị liệu, trước đây có hai nhân vật tiêu biểu là Carl G. Jung (1875-1961) và Erich S. Fromm (1900 - 1980) đã sử dụng Phân tâm học Phật Giáo trong việc trị các bệnh tâm thần. Ngày nay các bác sĩ như Dean Ornish, Herbert Benson, Jon Kabat-Zinn…sử dụng Thiền Chánh niệm của Phật Giáo (Mindfulness Meditation) cho các bệnh tim, bao tử, HIV (si-đa)… <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> “The New York Times” là một trong những tuần báo giá trị nhất của Mỹ, số ra ngày 14.8.2003 với tựa đề lớn “Is Buddhism Good for Your Health?” (Phải chăng Phật Giáo tốt cho sứ khỏe?). Trong đó có đoạn viết: “Những thí nghiệm trên vị sư tại Madison đang bắt đầu tách ra những nghiên cứu nhỏ nhưng đầy khích lệ cho thấy thiền Phật giáo không những ảnh hưởng đến những cảm xúc mà còn đặc biệt cho cơ thể nữa. Thiền cũng có thể áp dụng cho những người không phải Phật tử để giảm căng thẳng, giảm buồn chán, phát triển những điều tốt cũng như tăng cường hệ miễn nhiễm…” [Hệ miễn nhiễm yếu là nguồn gốc của bệnh tật, HQ]. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Minh tinh màn ảnh, Heather Graham, thực hành thiền để chống lão hóa <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Tóm lại, Thiền đã có trong Phật giáo ít nhất là từ lúc Ngài Cồ Đàm thiền định 49 ngày dưới gốc cây Bồ đề để thành Phật. Và Thiền cũng hiện diện trong Kinh tạng Phật Giáo từ hơn 2500 năm. Nhưng không hề thấy Thiền trong lối tu, nếu có, của Ngài Giê-su và trong Thánh kinh. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"><br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Những khám phá của khoa học gia và y giới ngày nay đã làm chứng thêm cho lời dạy của Đức Phật, và Phật được ca tụng là “Vô thượng y vương”. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Thiền là một trong những cách biết sống với hạnh Từ Bi Hỹ Xả, nhờ thế mà bạch huyết cầu gia tăng, hệ miễn nhiễm (immune system) mạnh nên cơ thể có khả năng chống lại vi khuẩn và vi trùng; là hai đạo quân chính quy tạo nên bệnh tật. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Thiền là một trong 8 vạn 4 ngàn phương cách tu hành mà Phật đã dạy. Nhưng Phật ra đời là vì lợi ích cho nhân loại chúng sanh. Do đó, Phật Giáo không bao giờ nói rằng mình là sở hữu chủ của Thiền. Bất cứ ai, kể cả tín đồ Kitô giáo, muốn có lợi ích thì thực tập, không cần xin phép ai, không cần chen lấn, không phải trả tiền mà lợi ích thì vô cùng thiết thực và nhanh chóng. Nhưng phải biết thực hành đúng cách để tránh tai họa. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Bởi thế, nếu các quốc gia trên thế giới, nhất là các tổ chức Phật Giáo, huấn luyện hằng trăm ngàn tu sĩ và cư sĩ biết sử dụng Thiền để chửa trị bệnh cho mình, và sau đó tổ chức hướng dẫn dân chúng ở các quốc gia châu Mỹ La tinh và Phi châu, bị bệnh xi-đa đến 30%, biết sử dụng Thiền để chận đứng sự phát triển của căn bệnh hiểm nghèo nầy, là một việc làm vô cùng cần thiết và hữu ích. Việc làm nầy, không những giúp nhân loại chống bệnh tật hữu hiệu và không tốn tiền, mà còn tạo cho thế giới hòa bình và thịnh vượng hơn. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;">Các em người Phi châu trong một khóa thiền <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Thiền cũng là một trong những pháp môn thù thắng của đạo Phật. Và nhiều quốc gia tân tiến đang áp dụng Thiền vào hầu hết các ngành nghề ngay cả nhà tù như chúng ta thấy ở trên. Nhưng buồn thay, tại Việt Nam, có nhiều nơi chùa chưa đến giờ mở cửa, nên một vài Phật tử đã đi tu thiền bên nhà thờ! Giáo hội chưa có chương trình cụ thể về vấn đề nầy. Mà đúng ra, Giáo hội hoặc ban Hoằng pháp nên đào luyện hằng chục ngàn Tăng Ni và cư sĩ về Thiền sức khỏe để giúp dân. Việc đào luyện chỉ cần một thời gian ngắn, từ 3 đến 6 giờ, vì đa số chư Tăng Ni đã có kiến thức sẵn, còn cư sĩ thì tuyển dụng những người có trình độ hiểu biết cao về Phật học. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"><br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Phật Giáo là một tôn giáo hộ quốc an dân, đồng hành cùng dân tộc qua các thời kỳ nổi chìm của vận nước, nhưng nếu không chuyển mình kịp thời thích ứng với thời đại thì sẽ có lỗi với tiền nhân và lịch sử Phật giáo, lịch sử dân tộc. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> Hồng Quang 18.5.2012 <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> * Hồng Quang, “Thiền và những lợi ích thiết thực”, Tủ sách Tôn giáo, nhà Xuất bản Phương đông, TPHCM, 2012. Hoặc trên: www.tongiaovadantoc.com, vào “Danh mục tác giả” nằm phía dưới trang, góc bên phải. <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> <br style="font-size: 11pt; color: rgb(0, 0, 0); font-family: Arial;"> ** Read more: http://www.time.com/time/covers/0,16641,20030804,00.html#ixzz1vEG68tpa. Bản dịch của Hồng Quang và Đỗ Hữu Minh. Cuốn thứ 5 trong bộ sách 10 cuốn “Phật học ứng dụng”.