-
Số nội dung
6278 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
75
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Thiên Đồng
-
Đến cả 'Vạn thế sư biểu" cũng còn bị vướn trong huyễn vọng thì nói chi người thường. Cũng là lẽ thường mà. Vậy phải làm sao đừng vướn?
-
@ Cóc Cả 3 chữ đều rất xấu. Nên nghĩ ký sao cho đơn giản hơn. @ nuhoangaicaptk21 Chữ ký tốt. Kéo dài nét gạch dưới ra thì tốt hơn. Tính tình thoải mái, có máu giang hồ, nói là làm. @ Le Linh Ngoắc nghéo quá. Giản thẳng dấu gạch dưới ra. Bỏ nghéo đầu chữ t, bỏ nghéo cuối. Người này làm việc thiếu quả quyết. @ machi Bỏ hết các chữ ký, ký lại, đơn giản lại các nét thẳng, góc cạnh, bỏ ngoắc nghéo. @DTPT Hô hấp kém, có thể đổ trộm mồ hôi tay. nên tập thể dục và tập ký lại. @ Nương Nương Thích ngọt, thích của lạ hay ôm chuyện bao đồng. Dể bị stress. Nên thư giản, bình tĩnh khi giải quyết công việc, không cảm tình, nên nguyên tắc một chút, Thiên Đồng
-
Xin Sư Phụ giải nghĩa "ma ba tuần", đệ tử chưa được biết danh này. Hic
-
@FMS ngày 5/tân mão/tân mão giờ thìn Cảnh đại an Chuyển sang kinh doanh thì vốn lớn hơn. Lúc này mở ra có thể chưa đúng lúc, bởi cơ hội và khả năng mở rộng hay giao dịch còn rất hạn chế. Mở ra mà hòa vốn là thành công. Mà hòa vốn là nguy cơ thoái hóa, không phát triển. Lời khuyên: nên tính chuyện khác thì hơn. Thiên Đồng
-
Nhân thể dữ tâm kinh (人体与心泾) Chúng tôi xin giới thiệu đôi nét về thư pháp chữ Hán và thư pháp Á Đông nói chung, trước khi tìm hiểu về nghệ thuật Thư pháp “Nhân thể dữ tâm kinh”, là thư pháp được viết trên những vùng nhạy cảm của phụ nữ, mà là phụ nữ đẹp, lõa thể, có lẽ khởi nguồn từ Trung Hoa. Thư pháp Á Đông (chữ Hán: 書法亞東) là nghệ thuật viết chữ đẹp có nguồn gốc từ Trung Quốc. Người ta dùng bút lông, chấm mực tàu, viết chữ Hán trên các loại giấy tốt hay vải lụa, theo những phong cách khác nhau. Trong nghệ thuật thư pháp Á Đông có 5 phong cách viết là Chân (hay còn gọi là Khải), Triện, Lệ, Hành và Thảo với những quy luật đặc trưng riêng về đường nét, cách thức thể hiện. Người Trung Quốc cho rằng Lý Tư, thừa tướng của triều đình nhà Tần, là người khởi đầu cho nghệ thuật thư pháp vì ông là người được giao việc thực hiện cải cách và thống nhất văn tự sau khi Tần Thủy Hoàng thôn tính các nước để rồi đưa Trung Quốc trở thành một quốc gia thống nhất. Trải qua các triều đại sau đó, sử sách đều có ghi nhận về sự xuất hiện của những thư pháp gia nổi tiếng, như Vương Hy Chi đời Đông Tấn hay Tề Bạch Thạch đời nhà Thanh. Tiêu chuẩn để đánh giá một tác phẩm thư pháp thường bao gồm nhiều yếu tố rất khắt khe như điểm hoạch là đường nét, kết thể là bố cục, thần vận là cái hồn của tác phẩm... Cùng với sự xâm lược và đồng hoá của văn hoá các triều đại Trung Quốc trong một khoảng thời gian dài, có giai đoạn hàng ngàn năm, môn nghệ thuật này cũng trở nên phổ biến tại các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Có lẽ cao siêu hơn mấy bậc lại là Tâm kinh và Thư pháp trên cơ thể phụ nữ đẹp lõa thể. “Bát nhã Ba la mật đa Tâm kinh” là một trong những bộ kinh căn bản và phổ thông nhất của Phật giáo Đại thừa. Hầu như bất kỳ một buổi tụng kinh nào cũng được kết thúc bởi bài kinh này. Nó phổ biến đến nỗi hầu như ai đã từng đi chùa tụng kinh thì đều biết và thuộc, ít nhất là một đoạn. Tâm kinh và Thư pháp trên cơ thể 1 Bài kinh này là một trong các bài kinh của bộ Bát nhã kết tập tại Ấn Độ từ năm 100 TCN. Ban đầu, bài kinh được ghi bằng tiếng Phạn, khi truyền qua Trung Quốc thì được dịch sang tiếng Hán. Bài thơ – hay đúng hơn là bài kinh – được viết trên cơ thể của cô gái chính là bài Bát nhã Ba la mật đa Tâm kinh được viết bằng Hán tự, theo bản dịch của ngài Huyền Trang. Tâm kinh và Thư pháp trên cơ thể 2 Bài kinh chi vỏn vẹn có 260 chữ nhưng được xem là 1 trong những pháp môn tu quán chiếu để đi đến giác ngộ của những người tu học Phật. Do đó, sự ảo diệu bên trong bài kinh thì không có gì để nghi ngờ. Tuy nhiên, sự ảo diệu ấy không phải ai cũng biết. Biết và hiểu thì lại càng ít. Hiểu rồi làm được lại càng ít hơn. Trong tiểu thuyết Thiên long Bát bộ của Kim Dung, chàng Hư Trúc khi ở trong hầm băng cùng Thiên Sơn Đồng lão, bị bà ép ăn thịt, uống rượu rồi ngủ cùng ‘Mộng cô’, câu niệm cửa miệng của nhà sư trẻ này là câu “sắc bất dị không, không bất dị sắc ; sắc tức thị không, không tức thị sắc ; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị” (sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; sắc tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành thức cũng là như vậy). Tâm kinh và Thư pháp trên cơ thể 3 Hư Trúc đã đọc câu kinh được xem là thâm ảo nhất trong bài kinh Bát nhã này. Theo quan niệm Phật giáo, sắc, thọ, tưởng, hành, thức được gọi là năm uẩn (ngũ uẩn). Năm uẩn tập họp lại mà thành thì gọi là chúng sanh, hay con người. Tâm kinh và Thư pháp trên cơ thể 4 Nói dễ hiểu, theo ngôn ngữ hiện đại, sắc là cơ thể, thọ là cảm nhận, tưởng là mong muốn, hành là làm, thức là biết. Trong năm uẩn này, sắc thuộc về thực thể, là thân, là xác. Bốn uẩn còn lại thuộc về tâm, là ý, là ham muốn. Vì vậy khi nằm kề ‘Mộng cô’, để tránh cám dỗ của thân xác phụ nữ, chàng Hư Trúc luôn tự nhủ rằng : sắc uẩn, hay thân xác cô nương kề bên, vốn là không thực, rồi sẽ khô cằn, già héo, tan biến theo quy luật thời gian. Biết là vậy, nhưng cảm nhận xác thịt thì lại khác, nó xui khiến chàng trai trẻ chưa biết gì có những hành động theo bản năng. Và sau đó ….. Nói dông dài chẳng qua chỉ muốn khẳng định : nói ‘sắc tức thị không’ thì dễ, nhưng gặp cảnh mà coi sắc cũng là không e rằng thì khó lắm. Trở lại với người viết thư pháp trên cơ thể. Tôi phải công nhận là ý chí, tinh thần ông rất tuyệt vời. Đối với một người viết thư pháp, việc giữ cho tinh thần không xao động, không phân tán bởi các yếu tố bên ngoài là rất quan trọng. Có tịnh thì tâm mới an, nét chữ mới có thần, bố cục mới hài hòa hợp lý. Một khi bút đã chấm mực, tay đã ‘đề’ ‘án’ thì không thể dừng nữa chừng, vì dừng thì bút khí ngưng trệ, tác phẩm coi như bỏ đi. Đó là yêu cầu cơ bản khi chấp bút viết chữ trên giấy, trên vải, trên đá gỗ. Đây ông lại viết trên một thực thể sống, đầy sinh lực. Mỗi nét bút ông kéo lên hay đi xuống là đi cùng nhịp thở, cùng cảm xúc của cô gái. Quả là tâm không động. Người để cho viết tài, người viết lại càng tài. Có lẽ cả hai đều vượt qua cái giới hạn của hình sắc để đạt đến cái độ ‘sắc tức là không’ “vì không có những chướng ngại trong tâm nên không có sợ hãi và xa rời mọi cuồng xi mộng tưởng”. Câu kinh “Quán tự tại bồ tát” mở đầu tác phẩm từ bên trái, gần tim (tâm kinh mà) xuống ngực rồi được viết dần sang bên phải, đến đùi phải rồi kết thúc bên đùi trái với câu chú “yết đế, yết đế …” Và rồi cảm thấy như chưa đủ, ông lại khóa tất cả lại bằng một chữ “Phật” thật lớn ở sau lưng Toàn triện phía trên, danh ấn phía dưới ; đề từ, lạc khoản ; chữ đen, da trắng, triện son đỏ, nhìn thực mà không tục, trần trụi mà không dâm dục, đúng thư pháp, đúng nghệ thuật. Trong chữ có pháp, trong hình có ý đọc ‘sắc’ ‘không’ trên thân trần sắc mới thấy cái ảo diệu của Tâm kinh và cái đẹp của thư pháp vậy. Đinh Quang Tỉnh ST Theo nguồn live4vn.com
-
BÀ BA ĐỀ THÁM Bà Ba Đề Thám (tục gọi là Ba Cẩn), Tên đầy đủ là Đặng Thị Nhu hay Đặng Thị Nho - Ảnh TL Bà Ba Đề Thám là tên gọi dân gian của bà Bà Đặng Thị Nhu hay Đặng Thị Nho, không rõ năm sinh, bà mất năm 1910, tục gọi bà Ba Cẩn, là vợ thứ ba và là cộng sự ttaanj tâm, đắc lực của Hoàng Hoa Thám (Đề Thám), lãnh tụ cuộc khởi nghĩa kháng Pháp ở Yên Thế (Bắc Giang) vào cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Bà Đặng Thị Nhu sinh trưởng trong một gia đình nghèo ở Phú Khê, huyện Yên Thế. Sớm mồ côi mẹ, bà sống với cha, là một thầy mo ở làng. Lúc nhỏ, bà được học chữ Nho và học nghề của cha. Thời trẻ, bà Đặng Thị Nhu có nhan sắc nên bị một nhà giàu ép buộc làm vợ. Bất mãn, bà lấy Đề Thám và công khai chống lại bọn cường quyền. Trong một bài viết, Thái Gia Thư đã kể cuộc tình duyên đó như sau: Một buổi chiều nọ, khi đi đến làng Vạn Vân lánh nạn, Đề Thám bỗng gặp một cô gái xinh đẹp, ông đã nói dối với cô rằng, ông là người đi buôn, bị kẻ cướp lấy hết vốn liếng. Sẵn lòng thương người, cô gái đưa khách về nhà gặp cha. Ở đây, bất ngờ Đề Thám gặp Thông Luận, là một cộng sự của mình. Thông Luận lại là con nuôi của cha cô gái. Nhờ mối quan hệ này, mà gia đình cô gái trở thành cơ sở của nghĩa quân và cô cũng trở thành người giúp việc đắc lực cho Đề Thám. Tâm đồng ý hợp, nên chẳng bao lâu sau, Đề Thám cưới cô gái làm vợ thứ ba. Cô gái đó chính là Đặng Thị Nhu. Đặng Thị Nhu và con gái - Ảnh TL Là vợ và là cộng sự, bà Ba Cẩn đã sát cánh cùng chồng bàn định nhiều kế hoạch cho công cuộc kháng chiến lâu dài và gian khó. Bà đã cùng với Cả Rinh (Cả Kinh), Cả Huỳnh và Cả Trọng, hợp thành ban tham mưu đắc lực, đồng thời cũng là những người chỉ huy giỏi. Ngoài vai trò ấy, bà Ba còn lo việc hậu cần, đảm bảo sinh hoạt, mua sắm đạn dược cho nghĩa quân. Khi có chiến trận, bà ở bên Đề Thám cùng chiến đấu...Vào vụ gặt, bà Ba thường ra chợ Nhã Nam thuê thợ công nhật. Đối với họ, bà trả tiền công theo thời giá, có khi còn hậu hơn một chút[1]. Theo sử Việt, vào năm 1907, Đề Thám cùng bà đã tổ chức ra đảng Nghĩa Hưng, Trung Chân ứng nghĩa đạo ở Hà Nội; và đề ra kế hoạch đầu độc lính Pháp (sử gọi là vụ Hà Thành đầu độc) ngày 27 tháng 6 năm 1908 tại nơi đó. Tuy việc không thành, nhưng cũng đã làm quân Pháp rất hoang mang, lo sợ.Năm 1909, sau gần một tháng trời lăn lộn vào ra sinh tử ở Vĩnh Yên, Đề Thám mới thoát khỏi vòng vây trở về Yên Thế vào tháng 11, thì lại bị quân Pháp kéo theo bao vây lần nữa. Đề Thám, bà Ba Cẩn cùng nghĩa quân ở đồn Phồn Xương đã đánh trả kịch liệt... Sáng 1 tháng 12 năm 1909, thì bà Ba Cẩn và con gái tên Hoàng Thị Thế (1903, có tài liệu ghi 1901-1988) bị đối phương bắt được. Nhắc lại những ngày chiến đấu cuối cùng của bà, Phạm Văn Sơn kể như sau: Ngày 17 tháng 11 năm 1909, Hoàng Hoa Thám cùng tàn quân về đến Yên Thế, thì quân của Tiểu đoàn trưởng Bonifacy cũng kéo đến bao vây Nhã Nam. Quân Pháp cùng các cộng sự người Việt tăng cường khủng bố, làm cho sự tiếp tế bị tê liệt...Ngày 1 tháng 12 cùng năm, thì bà Ba Cẩn bị trung đội Coucron đi tuần bắt được gần đồn chợ Gồ (Yên Thế). Hôm sau, ông Thám dẫn 5 nghĩa quân đi cứu bà, thì lọt vào ổ phục kích lúc 1 giờ 30 khuya. Một nghĩa quân hy sinh, nhưng ông Hoàng chạy thoát được. Ngày 24 tháng 2 năm 1910, 78 nghĩa quân, trong đó có bà Ba Cẩn bị đối phương mang hết về giam ở Hỏa Lò (Hà Nội) rồi bị án đày sang Guyane (Nam Mỹ). Dọc đường, thừa lúc quân canh sơ ý, bà nhảy xuống biển tự tử ngày 25 tháng 12 năm 1910. Đêm 18 rạng 19 tháng 2 năm 1913, tức khoảng hơn 2 năm sau ngày bà Ba Cẩn mất, Hoàng Hoa Thám đã bị thuộc hạ dùng cuốc bổ chết, khi ông đang ngủ ở Hố Lầy trong rừng, cách đồn Phồn Xương không xa. Bà Đặng Thị Nhu căn dặn con gái - Ảnh TL Chung sống với Đề Thám bà Ba Cẩn sinh được hai người con là Hoàng Thị Thế và Hoàng Văn Vi. Khi cô Thế bị bắt, lúc ấy độ chừng 7, 8 tuổi. Theo Nguyễn Văn Kiệm, vì thương con gái bé bỏng của chủ tướng mà Cai Mễ, một nghĩa quân già, đã đến gặp Đại lý Nhã Nam là Bouchet xin hàng chỉ với một điều kiện là được trông nom cô Thế. Sau, chính quyền thực dân đưa cô Thế qua Pháp nuôi dưỡng. Năm 1965, bà Hoàng Thị Thế xin về nước, sống ở Hà Nội, và mất ngày 9 tháng 12 năm 1988, được an táng tại khu di tích Yên Thế (Bắc Giang). Riêng người con trai tên là Hoàng Văn Vi (còn được gọi là Phồn), sinh tại đại bản doanh Phồn Xương, bị quân Pháp bắt khi lên 7 tuổi, tức sau khi cha ông chết khoảng 2 năm (1915). Năm 1935, báo Ngày Nay của nhóm Tự lực Văn đoàn có cử Việt Sinh lên tận làng Trũng (Bắc Giang) Và theo tường thuật của người phóng viên này, thì sau khi sai bắt Hoàng Văn Vi, nhà cầm quyền Pháp giao ông cho Án Giáp Bắc Ninh nuôi, nhưng "mỗi bước đi tới trường đều có hai người lính đi kèm"...Khi ông 15 tuổi, người Pháp cho ông lên Hà Nội học trường bách nghệ. Ông mê nghề máy móc, nhưng họ chỉ cho học nghề mộc. Ba năm sau, ông xin về quê nhà làm ăn, lấy vợ là con gái ông Thống Luận, một bộ tướng cũ của Đề Thám và sống cuộc sống bình lặng nơi tỉnh lẻ Bắc Giang. Ghi nhận công lao của bà, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam có đoạn: Đặng Thị Nhu là người có trí dũng, từng xông pha trận mạc, giúp chồng đắc lực trong cuộc kháng Pháp. Khoảng đầu năm 1909 dù binh cùn thế kiệt, bà vẫn cùng chồng oanh liệt chỉ huy nghĩa quân chống địch trong trận đánh ở chợ Gồ, khiến các lực lượng do viên Đại tá Bataille đốc suất phải nể vì...Bà là một tấm gương sáng của phụ nữ nước Việt. Để ghi nhớ công ơn của bà Ba Cẩn đối với đất nước, tên bà đã được đặt cho một số đường phố trong nước như: Đường Đặng Thị Nho ở thành phố Bắc Giang, Đường Đặng Thị Nhu ở phường Nguyễn Thái Bình, Q.1, TP.HCM… BTV.Vũ Thanh Nhàn ST & GT ------------------------------------------------------------------------ ---------------------------------------------------------------------------------------------------------- Thông qua bài trích này, thấy rằng ông tiến sĩ giáo dục Lê Vinh Quốc đã có sự nhầm lẫn hay ngộ nhận rằng trong quá khứ ở Việt Nam có sự thay tên đổi họ đối với người phụ nữ Việt khi đã kết hôn với một người đàn ông. Trên thực tế là không phải vậy. Và rỏ ràng khi sách vở ghi lại lai lịch của một bà vợ nào của từ vua quan đến thứ dân đều ghi rỏ Họ tên thật và tên tục gọi Ví như bà Ba vợ của ông Đề Thám có tên nhủ là Đặng Thị Nhu tên tục là Ba Cẩn Nhưng vì là vợ của ông Thám nên dân làng hay nhà chồng hay...tác giả viết bài về bà gọi thêm một cái tên tục nữa là "Bà Ba Đề Thám".Cũng giống như trường hợp bà vợ của ông Lê Bá Thành được gọi hay tự gọi là bà luật sư Lê Bá Thành cũng là do nhà chồng gọi, xóm làng gọi hay dân gọi hay đó là mượn danh của ông chồng để làm thương hiệu trong nghề nghiệp mà thôi. Giống có ông luật sư Nguyễn Phước Đại nổi danh thì bà vợ của ông ấy cũng hành nghề luật sư, cũng lấy danh chồng là bà Nguyễn Phước Đại hay Bà Đại. Sự thực chỉ có thế chứ không phải trong quá khứ hay truyền thống Việt Nam người phụ nữ khi lấy chồng phải đổi họ hay thay tên. Nhưng việc một người phụ nữ Việt xưa sau khi lấy chồng thường hay đôi khi không được gọi đúng tên mà "ăn theo" tên chồng là một hiện tượng phản ánh tư duy -nôm na: kiểu như: "ừ, con đó, bà đó là vợ thằng đó, ông đó...biết rồi! khỏi hỏi, khỏi nói tên" -lấy chồng phải theo chồng, phải phụ thuộc chồng, chồng là trụ cột...xét đi xét lại là vẫn là phụ thuộc về kinh tế. Nhìn lại xã hội xưa, chỉ là nông nghiệp, người phụ nữ bước ra xã hội không có cơ hội tự chủ về kinh tế và các quan niệm cổ hũ khác liên quan vay chặt. Còn ngày nay Người phụ nữ được giải phóng trong mối quan hệ xã hội bình đẳng bình quyền, có thể tự chủ về kinh tế, tự chủ về mọi vấn đề, tự khẳng định mình trên mọi lĩnh vực...thì tại sao cứ khư khư ôm cái ý tưởng giống Mỹ giống Tây? Còn nếu nói người phụ nữ ở Mỹ ở Tây vẫn tự chủ mọi thứ vẫn tự do...mà sao vẫn đổi họ theo chồng? Đơn giản tại truyền thống của họ là vậy. Ta bắt chước cái của họ thì hóa ra là...tư duy con khỉChính cái hay của người Việt là phụ nữ không thay tên thay họ theo chồng mới là một yếu tố đáng trân trọng cho một dân tộc có tinh thần bình đẳng xứng với giá trị văn hiến lâu đời. Bản thân Thiên Đồng từng nói chuyện với nhiều người nước ngoài chủ yếu là Pháp họ đều bày tỏ quan niệm không muốn người nữ thay họ theo họ chồng, bởi mất sự độc lập và tự do. Họ khoái chí và ngạc nhiên khi được Thiên Đồng cho biết là ở Việt Nam từ xưa đến nay người phụ nữ không thay tên đổi họ theo chồng, họ ồ lên "Ồ, thật là bình đẳng". Câu chuyện này cũng chỉ phản ánh có thể tư duy của một nhóm người phương tây, ít ra có một số người còn tiên tiến hơn một ông tiến sĩ dở hơi. Lại thêm một tư duy dở hơi, sai lầm rằng: Như vậy ý muốn nói rằng việc Thay họ theo chồng là yếu tố quyết định hay góp phần hay "tác động tích cực" đối với "giá trị bền vững của gia đình". Xin thưa vị tiến sĩ, ông bị nhầm! cả châu Âu, cả Mỹ, Anh, cả phương Tây...tỉ lệ ly dị, ly hôn là cao nhất, mà ngay chính những nước đó, người dân đó, đương nhiên đã và đang thay đổi họ của người nữ theo chồng thì ông tiến sĩ giải thích ra sao về "giá trị bền vững của gia đình" của các nước này? Và ở Việt Nam, nhất quyết thay đổi họ theo họ chồng là "có tác động tích cực đối với giá trị bền vững của gia đình"? Hôn nhân, với những lễ thành hôn nhỏ hay lớn, bình thường hay rình rang, bản thân nó cũng không đảm bảo cho sự toàn vẹn cuộc sống lứa đôi, cuộc sống vợ chồng hay cuộc sống hôn nhân thì khó lòng mà nói việc đổi họ của người vợ theo họ người chồng là "có tác động tích cực đối với giá trị bền vững của gia đình". Thiên Đồng
-
Nữ quyền trên thiệp cưới Sài Gòn Tiếp Thị - Thứ Hai, 7/3 SGTT.VN - Ngày trước, mỗi tấm thiệp cưới thường được mở đầu như sau: “Ông bà Nguyễn Văn Ất – Ông bà Trần Trọng Giáp trân trọng báo tin lễ thành hôn của các con chúng tôi…” Tấm thiệp cưới là sản phẩm của một dạng thức văn hoá thể hiện phong tục hôn nhân và gia đình của người Việt. Nhưng giờ đây người ta không viết như thế nữa, báo hiệu dạng thức văn hoá ấy đã đổi thay. Xưa: xuất giá, tên cũng tòng phu Theo truyền thống, sau khi kết hôn người phụ nữ về “làm dâu” và trở thành một thành viên trong gia đình nhà chồng, do đó được gọi theo họ, tên, thứ bậc, chức tước, học vị của chồng: chị Mùi (khi chồng tên là Mùi), chị Cả (nếu chồng là con cả), bà Huyện (khi chồng làm tri huyện), bà Đốc (khi chồng làm bác sĩ)… Điều đó có nghĩa cuộc hôn nhân đã gắn kết người đàn ông với người đàn bà thành một gia đình theo họ tên người chồng, và con cái sinh ra đều lấy họ của bố. Tên khai sinh của người nữ trở thành “nhũ danh” và chỉ được dùng khi cần thiết. Chẳng hạn, khi một goá phụ qua đời, bản cáo phó sẽ viết: “Bà quả phụ Lê Văn Bính, nhũ danh Phạm Thị Tý, đã từ trần lúc…” Ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt, mọi người Việt Nam đều mặc nhiên chấp nhận dạng thức này, bởi vì theo truyền thống, người chồng là gia trưởng có bổn phận gánh vác đảm bảo đời sống kinh tế của gia đình, còn người vợ lo việc nội trợ, nuôi con và “nâng khăn sửa túi” cho chồng. Nhiều nữ trí thức có tiếng tăm trong xã hội vẫn theo dạng thức truyền thống để xưng danh: bà Huyện Thanh Quan, bà Nguyễn An Ninh, bà Ngô Bá Thành… Dạng thức này không phải của riêng người Việt, mà là chung của các dân tộc Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên…), và cũng tương tự dạng thức của các nước Âu – Mỹ. Tại Hoa Kỳ, khi Hillary Diane Rodham thành đệ nhất phu nhân, thành thượng nghị sĩ hay ứng viên tổng thống rồi ngoại trưởng Hoa Kỳ, người phụ nữ đầy quyền lực này vẫn được gọi là bà Hillary Clinton! Nay: rạch ròi quá có nên không? Phụ nữ ngày nay có thể học hành để trở thành tú tài, cử nhân, thạc sĩ hay tiến sĩ không khác gì nam giới, cũng đảm nhiệm công tác xã hội trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục… như đàn ông. Từ đó, vai trò của người vợ và người chồng trong gia đình cũng thay đổi theo. Những danh xưng “bà chủ tịch”, “bà bộ trưởng” “bà giám đốc”, “bà hiệu trưởng”, “bà bác sĩ”, “bà luật sư”, “bà giáo”… không còn là sự chia sẻ địa vị của chồng, mà là chức vụ hay chức danh của chính các bà! Khi báo chí viết về sự nghiệp của bà luật sư Ngô Bá Thành (nguyên chủ nhiệm uỷ ban Pháp luật của Quốc hội, đã từ trần năm 2004), trên mạng Wikipedia dấy lên một cuộc tranh luận về tên của bà. Một số người phê phán: viết tên bà như trên là sai, phải viết là “bà luật sư Phạm Thị Thanh Vân” (theo tên khai sinh của bà) mới đúng. Có người bênh vực tên Ngô Bá Thành của bà với lý do coi đó là một “bút danh”. Người thì bảo: vì đã sống lâu ở nước ngoài nên bà đã gọi tên mình bằng tên chồng “theo kiểu Tây”. Cuộc tranh luận chỉ tạm kết thúc khi một bạn đọc viết rằng: “Bà Ngô Bá Thành chả phải tên Tây đâu, mà là kiểu “đặc sệt Việt Nam” thì có. Trong họ hàng nhà tôi, và cả hàng xóm nữa, đa số các bà cỡ 70 – 80 trở lên đều chỉ được mọi người gọi bằng tên chồng”. Ngày nay, đa số các thiệp cưới viết rằng: “Ông bà Nguyễn Văn Đinh – Trịnh Thị Sửu, Ông bà Quách Văn Mậu – Phạm Thị Dần trân trọng báo tin…”. Thậm chí, để rạch ròi hơn, nhiều tấm thiệp viết: “Ông Lê Văn Kỷ – Bà Bùi Thị Mão, Ông Phan Quang Canh – Bà Tôn Nữ Thị Thìn trân trọng báo tin…”. Ngày nay một quả phụ qua đời thường được cáo phó hay chia buồn bằng chính tên thật mà không dùng tên chồng kèm theo nhũ danh như trước, chẳng hạn: “Bà quả phụ Trần Thị Minh Tỵ, phu nhân của ông Nguyễn Văn Tân quá cố, thân mẫu của anh Nguyễn Văn Nhâm, đã từ trần lúc…” Cách gọi tên các gia đình và các quý bà như vậy mặc nhiên gạt bỏ dạng thức gia đình đồng nhất trong họ tên của người chồng theo truyền thống, để khẳng định dạng thức văn hoá mới về gia đình bình đẳng giữa hai vợ chồng. Dạng thức mới này thể hiện thành quả to lớn của trào lưu bình đẳng giới ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Tuy nhiên, nếu xem xét theo giá trị bền vững của gia đình, thì dạng thức mới này dường như không có ý nghĩa tích cực, nên ở nước ngoài có rất ít người theo và không được xã hội chấp nhận. Khi kết hôn với Bill Clinton, phu nhân của ông này không muốn theo truyền thống nên vẫn giữ nguyên tên gọi thời con gái với sự chấp thuận của phu quân. Nhưng khi đã trở thành phu nhân của thống đốc bang Arkansas, bà đã gặp sự chống đối của xã hội về cách gọi tên của mình. Người ta không muốn nhận những bức thư mời ký tên “Thống đốc Bill Clinton và Hillary Rodham”. Rốt cuộc, bà phải thêm vào tên mình chữ “Clinton”. Ở Việt Nam, dạng thức văn hoá mới hình thành đã được chấp nhận và ngày càng phổ biến, nhưng người ta vẫn phải tự hỏi: dạng thức này có tác động tích cực đối với giá trị bền vững của gia đình hay không? Tiến sĩ giáo dục Lê Vinh Quốc
-
Cây tre cứu người: Làm đẹp cho các bà hoàng và chữa bệnh nan y http://www.thanhnien.com.vn Ngày xưa không có mỹ phẩm đắt tiền như bây giờ, không có bác sĩ thẩm mỹ chuyên hút mỡ căng da, các bà hoàng hậu, công chúa, cung tần mỹ nữ làm đẹp bằng cách nào?Ông Ưng Viên bảo cách làm đẹp của các bà hoàng và cung tần mỹ nữ hoàn toàn bằng những thứ trong tự nhiên, không hề dùng bất cứ một thứ hóa chất nào nhưng hữu hiệu hơn nhiều so với các phương cách Âu - Mỹ hiện nay. Đơn giản và có hiệu quả nhất là bằng các chế phẩm từ cây tre. Hoa tre - Ảnh: Kiến thức ngày nay Để chống dư thừa mỡ, nhất là vùng bụng, dùng kết hợp ba thứ: “trúc tạo”, “trúc nha” và “trúc nhự”. Ba thứ được trích lấy dịch, trộn ba thứ dịch ấy lại bôi lên xác trúc nhự đã lấy hết dịch. Đem chế phẩm này trải lên vạt giường tre, người nằm ép bụng xuống. Bên dưới, lấy than đốt lên xông, tốt nhất là dùng than ổi, thứ nhì là than đước. Tác dụng: Làm săn cơ, khi cơ săn mỡ sẽ được đào thải qua hô hấp da; ba vị thuốc quý này còn làm ổn định mạch máu dưới hệ tiêu hóa, tác động đến hệ thần kinh thực vật, làm thông suốt kinh mạch, khiến cho cơ thể thon chắc, khỏe khoắn. “Trúc nhự” là dịch tre non, cách lấy khá đơn giản, dễ nhất là cắt sâu vào thân cây tre non ở vị trí hai phần ba cây tre tính từ dưới lên, sau đó bẻ cụp cây tre xuống, cột vào vị trí bẻ cụp một dụng cụ (ống tre hoặc chai lọ) để hứng dịch. Sau một đêm đã có dịch chảy ra dùng được. Trúc nhự có mùi thơm rất dễ chịu, vì vậy mà cơm lam ngon hơn cơm thường. Lấy dịch “trúc tạo” và “trúc nha” phức tạp hơn, chủ yếu bằng phương pháp đốt nóng lên. Làm đẹp cho phụ nữ còn có một loạt các chế phẩm khác từ tre dùng để xoa, bóp hoặc làm các món ăn từ “trúc nữ”, “trúc liêu giao”, “trúc phấn”, “trúc bì”... Nhiều chế phẩm từ tre đặc trị bệnh phụ khoa cũng góp phần cho việc làm khỏe làm đẹp nữ giới. Dân quê miền Trung mỗi khi bị sốt nóng lạnh thường lấy một đoạn tre tươi đốt lên hứng lấy nước uống. Ông Ưng Viên nói, thứ nước đó là “trúc lịch”, có tác dụng trị bệnh hư hỏa (cơ thể sốt cao nhưng trong người lạnh run) và chứng viêm sinh thực nữ... Dân gian băm cả đoạn tre bỏ vào ấm sắc uống cũng hạ được sốt. Cũng có thể băm nhỏ đoạn tre, gồm cả mắt, nướng lên ép lấy nước, cũng có tác dụng tương tự, thứ này gọi là “trúc lịch sái”. Nếu là tre non nướng chín vắt lấy nước, gọi là “trúc liêu giao”, được dùng để bào chế mỹ phẩm, làm gia vị ăn uống, hương liệu xông. “Trúc liêu giao” kết hợp với trầm hương thiên nhiên, chè, nếp dùng để trị chứng đau một bên đầu, xây xẩm kinh niên, huyết áp cao lẫn huyết áp thấp, chứng tỳ vị hư hàn ẩu thổ ẩu tả. Nó cũng có thể dùng phối hợp với một số vị thuốc khác để trị chứng liệt dương, lãnh cảm, trị bệnh tim và thống phong. Măng vòi tre đài nướng vắt lấy nước gọi là “trúc thượt”. “Trúc thượt” phối hợp với mật ong, chè và trầm hương tự nhiên dùng bào chế thuốc trị các chứng ung nhọt độc, mạch lươn (rò hậu môn) ở phụ nữ. Nhánh tre đài chỉ có gai mà không có lá, có măng nứt ra, cả nhánh tre này gọi là “trúc lự”, dùng bào chế thuốc trị ban và thương hàn. Cái vỏ tre cũng hữu dụng không kém. Phần ngoài cùng là “trúc phấn”, dùng làm mỹ phẩm, thuốc sát trùng và điều kinh nữ. Bóc đi lớp trúc phấn, còn lại là “trúc bì”, cũng dùng làm mỹ phẩm, làm thuốc trị vết thương và làm dịch bôi cho sinh thực nữ. Ruột tre tươi gọi là “trúc ẩn”, chuyên trị bệnh phụ nữ (huyết trắng, nấm ký sinh...), có thể hấp cơm hoặc chưng với đậu đen. Ruột tre sau khi chưng với đậu đen, bào chế thành thuốc bôi hoặc dùng nấu canh với cá, phụ nữ ăn rất tốt. Ruột tre ngâm muối gọi là “trúc diêm”, ngoài việc chữa bệnh phụ khoa còn dùng bào chế thuốc trị viêm họng, trị liệt dương. Hoa tre, gọi là “trúc ba” hoặc “trúc cái”, là vị thuốc chữa được nhiều bệnh. Trong hai loại tre làm dược liệu, chỉ có tre mỡ ra hoa, còn tre gai thì không (trong các loài tre khác có loài ra hoa quanh năm nhưng không có tác dụng chữa bệnh). Tre mỡ thường sống đến 60-70 năm, cây nào tồn tại đến cuối đời đều ra hoa, sau khi ra hoa thì tre sẽ chết. “Trúc ba” là vị thuốc cấp trị hen suyễn, làm cắt cơn cho những người bị hen suyễn nặng. Nó còn đặc trị bệnh hôi miệng, chế phẩm thuốc từ hoa tre dùng ngậm trị được bệnh amidale đã viêm mủ mà kháng sinh không còn tác dụng. Đặc biệt, hoa tre xông cùng với trầm hương thiên nhiên có thể tái tạo khứu giác của người bệnh. Như đã đề cập, cả cây tre có hoa (trừ hoa) đều được gọi là “trúc thạch”, nhưng nếu dùng toàn thân cây tre này, kể cả hoa, băm ra sắc thành thuốc, gọi là “trúc ngọc lộ”. “Trúc ngọc lộ” phối hợp với một số dược liệu khác bào chế thành thang thuốc chữa được căn bệnh “Lục mạch tuy đều hình nhục thoát tử vô sầu tuyệt” nan y nói ở phần trước. Về căn bệnh nan y thứ hai “tam quan tuy tuyệt uất đàm bạo nộ”, có thể dùng “trúc nữ”, “trúc liêu giao”, “trúc liên hổ” bào chế với một số thảo dược khác, tất cả không quá 12 vị, nhưng các vị từ tre vẫn là vị quân (vị thuốc chủ đạo) để chữa trị. “Trúc liên hổ” là chất thải trên mặt đất của một giống trùn ở dưới đất giữa bụi tre, chuối và mít. Ngoài công dụng nói trên, nó cũng được dùng hầm với thịt bê (lao nhục tử) có thể phối hợp trị bệnh lao sác. Trong một bụi tre thường có những cây tre đực săn chắc, thường được chọn làm cán cuốc, làm đòn gánh, đòn xóc hoặc đan lát những dụng cụ lâu bền. Sở dĩ gọi là tre đực vì nó chỉ đứng một mình, dưới gốc không mọc măng, trên cây không có măng vòi. Cái mắt nào của tre đực bị côn trùng đục làm hỏng biến thành một cái rốn lõm sâu vào, cái mắt đó gọi là “trúc thị”. “Trúc thị” dùng làm thuốc trị ban, làm tan huyết khối và làm mỹ phẩm. Đối với các dược liệu trị bệnh từ cây tre, dân tộc ta có hàng ngàn năm tích lũy kinh nghiệm, cho nên dân gian sử dụng rộng rãi tre trong ăn uống và chữa các bệnh thông thường, chỉ có lợi chứ hoàn toàn không có hại gì cho sức khỏe, vì toàn bộ cây tre không có bộ phận nào độc hại. Tuy nhiên, các vị thuốc từ tre bào chế cùng với các dược liệu khác để đặc trị, nhất là đặc trị các bệnh nan y, nhất thiết phải do thầy thuốc giỏi thực hiện, vì mặc dù tre không độc hại, nhưng do sự tương tác giữa các dược liệu với nhau, nếu không bào chế đúng cách đúng liều đúng lượng có thể dẫn đến kết quả không như mong muốn. (Còn tiếp)
-
Cực từ Bắc đang chuyển đến Nga Chuyển động của cực từ Bắc đang gây nên vấn đề nghiêm trọng cho ngành hàng không, hàng hải và đời sống hoang dã.Một điều tưởng như hết sức bất thường lại đang xảy ra trong thực tế: Cực từ Bắc đang di chuyển với tốc độ nhanh chưa từng có trong lịch sử loài người, đe dọa mọi thứ từ giao thông hàng không, hàng hải đến hành trình di trú của các loài chim hoang dã. Giới địa chất học cho rằng cực từ Bắc (khác cực Bắc) luôn di chuyển do sự thay đổi ở lõi trong của quả địa cầu. Con người lần đầu tiên xác định được cực từ Bắc vào năm 1831, và sau gần 1 thế kỷ ổn định ở đảo Ellesmere (Canada), nó bắt đầu di chuyển theo hướng đông bắc với tốc độ 14,4 km/năm. Tốc độ này đột nhiên tăng dần vào năm 1989, và hiện cực từ Bắc đang trực chỉ đến Siberia (Nga) với tốc độ khoảng 64 km/năm, theo nhà địa chất học Jeffrey Love của Tổ chức Khảo sát địa chất Mỹ ở Colorado. Theo National Geographic dẫn lời Joe Stoner của Đại học bang Oregon, cực từ Bắc đã di chuyển hơn 1.100 km trong thế kỷ qua. Trái đất giống như thỏi nam châm khổng lồ với 2 cực từ Bắc -Nam - Ảnh: Nat Geo Trước tình hình trên, có suy đoán cho rằng từ trường đang chuẩn bị đổi cực, khiến la bàn chỉ về hướng nam chứ không phải hướng bắc, điều chỉ xảy ra từ 3 đến 7 lần mỗi một triệu năm. Hiện tượng này đang tạo nên vấn đề thực sự trong lĩnh vực hàng không dân dụng. Tốc độ di chuyển hiện tại của cực từ Bắc khỏi đảo Ellesmere đang khiến la bàn lệch đi 1 độ trong mỗi 5 năm, buộc Cục Hàng không Liên bang Mỹ (FAA) phải thay đổi các đường băng trên toàn quốc trong thời gian này. Ví dụ phi trường quốc tế Tampa tại Florida (Mỹ) vừa bỏ 1 tháng trời để thay đổi 3 đường băng để tránh tình trạng máy bay có thể đáp nhầm sang sân bay khác vì lệch tọa độ. Các sân bay khác của Mỹ cũng đang đối mặt với tình hình tương tự. Thế nhưng, cho dù tăng phí tổn và sự bất tiện chưa từng thấy khi buộc phải điều chỉnh lại đường băng tại Bắc Mỹ, chưa kể là chuyện mất đi cực từ Bắc vào tay người Nga, cư dân Bắc Mỹ chắc hẳn sẽ bớt cau có khi biết được họ sẽ nhiều cơ hội hơn để chứng kiến sắc màu bí ẩn của cực quang. Hệ thống định vị GPS, vốn dựa dẫm hoàn toàn vào các vệ tinh trên quỹ đạo Trái đất, từ lâu đã thay thế la bàn làm kim chỉ nam cho các hoạt động định vị chuyên nghiệp. Tuy nhiên, la bàn vẫn còn tồn tại và được sử dụng rộng rãi trong giới leo núi hoặc các nhà thám hiểm không chuyên. Tại một số địa điểm, như ở dưới nước hoặc trong lòng đất, xa tầm với của các tín hiệu vệ tinh, la bàn vẫn là lựa chọn duy nhất. Ngành khai thác dầu, sử dụng nam châm để tính toán điểm khoan dầu, cần phải biết được vị trí chính xác của cực từ Bắc mới hoạt động được. Đó là chưa kể hiện tượng đảo cực có thể ảnh hưởng đến cuộc sống trong tự nhiên. Những loài chim luôn bay về phía nam để tránh đông, cùng với những sinh vật thường di trú trong lòng đại dương, có thể lâm vào tình trạng hỗn loạn. Các động vật như cá voi và rùa biển trong tương lai có thể cần phải điều chỉnh các bản năng di trú của chúng nếu không muốn đi lạc đường. Không ai có thể dự đoán được tác động của tình trạng chuyển cực từ vì lần đổi cực gần đây nhất là 780.000 năm trước, khoảng thời gian ổn định lâu nhất trong vòng 5 triệu năm nay. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng chẳng có gì phải lo lắng vì quá trình này diễn ra rất chậm chạp, và không sớm thì muộn con người cũng sẽ tìm được cách đối phó với sự biến chuyển bất thường này. Hạo Nhiên
-
Nhân ngày mồng 8/3 Chúc phụ nữ của mọi nhà vui tươi Ra đường rạng rỡ nụ cười Về nhà chu đáo gắp mười thường khi Thiên Đồng
-
Học trò nói hợp lý. Trên quan niệm xã hội hay tâm linh thì như vậy. Nhưng trên quan niệm học thuật Phong Thủy Lạc Việt thì không phải thế. @ meocon Nhà quá xấu. Chỉ cần chỉnh sửa lại một tí thì người mẹ sẽ đỡ bệnh rất nhiều, theo Phong thủy Lạc Việt.
-
@Cóc Sẽ không có vị trí công việc nào gọi là cao. Trung thực, nguyên tắc, mục tiêu xa rời thực tế...khó phát triển. Nét nên mềm lại, chân chữ h đừng đá gãy lên. Thiên Đồng
-
Thiên Đồng
-
Cây tre cứu người: Dày đặc những vị thuốc Thanh Niên Online - cách đây 53 phút Có quá nhiều các vị thuốc trong một cây tre, từ rễ tre đến gốc tre già, từ măng đến lá, từ mắt đến gai... Việc dùng tre đặc trị những bệnh nan y cần sự bào chế công phu của thầy thuốc. Trong phạm vi một bài báo, chúng tôi chỉ xin giới thiệu một số phương thuốc trị bệnh hoặc món ăn tốt cho sức khỏe từ tre dễ áp dụng. Măng tre (“trúc tử”) là món ăn khoái khẩu thông dụng của người Việt, nhưng dân ta cứ nghĩ măng tre chỉ được cái là ăn ngon chứ không “bổ béo” gì. Nghĩ như vậy là nhầm to. Ăn măng thường xuyên cực kỳ tốt cho hệ tiêu hóa, hệ tuần hoàn, tim mạch và giải độc. Mứt măng là món quý, được làm bằng măng tre thái mỏng, bản to như sợi mì quảng, cột chùm lại cho vào mật mía nấu sôi, để chừng một tiếng là lấy ra được. Mứt măng tốt cho sức khỏe đến mức ngày xưa ngựa chiến quân đội nhà Nguyễn mỗi tuần được cho ăn một lần. Măng và ruột tre non nấu vịt cùng tương đậu mèo, được gọi là món “Vịt chưng tương truyền chủng”, ăn vào tăng khả năng có con ở người hiếm muộn. Gốc tre già (trúc thạch) chữa được nhiều bệnh - Ảnh: Ưng Viên Măng tre cùng xuyên bá mẫu, tử uyển… dùng trong bài “ôn phế chỉ khái” đặc trị được bệnh viêm amidale, ho. Măng tre phối hợp với xuyên khung, tiếp cốt thảo… cũng là phương “thiện trị thương khẩu bất hiệp” và bỏng nặng. Các thang thuốc “thiện trị” phụ khoa như “Hoàng hoa chỉ thống”, “Hoàng hoa bảo sản”, “Hoàng hoa dương xuân”… đều có măng tre. Măng tre vừa nhú gọi là “trúc nữ”, là món ăn tuyệt vời cho nữ giới. Dùng “trúc nữ” hầm với dương nhục (thịt dê) hoặc lao nhục tử (thịt bê), phụ nữ ăn vào phơi phới lòng xuân, rất tốt cho tâm sinh lý. Trong ẩm thực truyền thống không chỉ có măng mới ăn được mà tre cũng có thể ăn tốt. Cơm lam không chỉ là món ăn lạ miệng, nó cũng là món ăn chữa bệnh. Ăn cơm lam khỏe người hơn cơm thường và bài trừ được lam chướng, là do ruột ống tre tiết ra một chất gọi là “trúc nhự” ngấm vào cơm. “Trúc nhự” có tác dụng “điều quân khí mạch, điệu huyết dưỡng vệ”, làm kinh mạch điều hòa, khí huyết thông suốt, da dẻ tươi tắn. Dùng ống tre làm cơm lam nếu dùng 1 lần sẽ phí phạm, mà phải sử dụng đến lần thứ 4 mới thôi. Sau khi dùng đến lần thứ 4, cái ruột của ống tre cũng không được bỏ, nó chính là “trúc muội”, rất quý. Lấy một phần ba lớp ruột ống tre này, đem cài vào dưới đáy hoặc phía trên lọ mắm, cũng có thể sắp dưới đáy nồi kho cá. Ăn thứ mắm và cá có “trúc muội” sẽ làm cơ thể khỏe mạnh, không bao giờ bị bệnh đường ruột. Do đó chớ nên coi thường cái ống tre. Bánh kẹo để trong ống tre sẽ thơm ngon hơn. Dầu phộng sống đựng trong ống tre 1 tuần hoặc lâu hơn trước khi đem dùng sẽ ngon hơn, trợ tiêu hóa và chữa được bệnh viêm amidale. Nước uống đựng trong ống tre cũng tốt hơn đựng trong các thứ bình khác. Đừng tưởng cái gai tre chỉ dùng mỗi một việc là... lể ốc. Nó là “trúc thích”, một vị thuốc “quy tỳ bình vị, thiện trị tiện đường” (chữa bệnh tiểu đường), đồng thời tăng cường độ bền bỉ của men ruột. Lấy chùm gai tre nướng sơ qua, hấp vào nồi xôi (hoặc cơm), dịch gai tre sẽ “thăng hoa” xuống làm cho xôi trở nên mướt rượt, ăn rất thơm ngon, lại chữa được bệnh. Hồi nhỏ tôi thường thấy người dân quê hứng sương đọng lên lá tre để nhỏ mắt cho trẻ con bị đỏ mắt, hỏi ông Ưng Viên việc này có phải chỉ là việc “làm phép” không, ông bảo nó là “Thái dương thủy nguyệt lộ” đấy. Đó là những giọt sương đọng trên lá tre qua một đêm trăng. Không phải người ta “làm phép” đâu, trong những giọt sương này có những phân tử li ti của lá tre, chính nó là thuốc chữa đau mắt. Còn những đêm trăng thường là những đêm trong lành, không có chướng khí lẩn vào. Sương mùa xuân đọng dọc thân tre cũng là thuốc, gọi là “Trúc lộ”, có thể dùng bào chế thuốc nhỏ mắt và chữa viêm họng. Ở quê tôi, những gốc tre già thỉnh thoảng được đào lên phơi khô làm… củi đun, không hề biết nó là “trúc thạch”, một vị thuốc quý (khi ngâm bùn biến thành “trúc nịch” chế ra “Phùng ma tán” nói ở phần trước). Đó là đoạn gốc tre già sau khi cây tre bị đốn, chưa chết hẳn mà vẫn còn lốm đốm xanh. Đối với tre thường, “trúc thạch” là đoạn nằm sát đất, nhưng đối với cây tre trổ hoa thì toàn thân là “trúc thạch”. Trong “trúc thạch” có những hạt xoắn nằm trong mắt tre, gọi là “trúc tạo”. “Trúc tạo” dùng làm gia vị ăn uống, trị được chứng hơi thở hôi hám và ung xỉ (hỏng răng), đồng thời dùng làm chế phẩm làm đẹp cho nữ giới (sẽ nói ở phần sau). Chưa hết, trong gốc tre già còn có “trúc bội”, đó là cái mắt nằm dưới mặt đất. “Trúc bội” được dùng để bào chế thuốc trị chứng tê mỏi ống xương chân cho phụ nữ, kể cả khi chân nặng như chì với gót chân đau nhức không đi đứng được. Nó còn trị được bệnh cho người già mông nặng, đi đứng cử động khó khăn; trị viêm tuyến tiền liệt và uất nhiệt bí tiểu tiện. “Trúc bội” còn dùng chữa các bệnh phụ khoa và bổ khí huyết (bổ hơn đương quy), đồng thời còn có tác dụng “phá huyết khối” (làm tan huyết đóng khối do chấn thương). Trên thân cây tre, giữa hai lóng là đoạn có mắt tre. Trong khi phát triển, thỉnh thoảng cây tre bị khựng lại, đoạn có mắt trên sẽ vẹo một chút và ra rễ xung quanh. Đoạn này gọi là “trúc hàm” (hoặc “trúc võng”), là một vị thuốc. Nó có tác dụng “cố thận, thanh vị, dưỡng tâm, tả can”, chữa được bệnh tụ huyết, loét dạ dày, trào ngược dịch vị, làm cho mạch máu gan thông suốt. Những mắt tre bị hỏng (thường do kiến đục), dân gian gọi là tre mắt kiến. Chỗ mắt hỏng này đọng nước gọi là “trúc hư”, dùng bào chế thuốc nhỏ mắt, còn gọi là “trúc hoàng lâu”. Những mắt tre có gai chùm gọi là “trúc thần”, dùng bào chế thuốc trị phụ khoa, những biến chứng do phá, sẩy thai; các chứng đau nhức trong ống xương và toàn thân. Nếu là mắt tre non thì gọi là “trúc nha”, dùng bào chế thuốc trị bệnh ngoài da. Đặc biệt, “trúc nha” kết hợp với trầm hương tự nhiên và chè sẽ cho ra một loại mỹ phẩm làm đẹp tự nhiên cho phụ nữ. Trên những lóng tre có các mắt nhỏ xíu viền xung quanh, cái này gọi là “trúc hoành khẩu”. “Trúc hoành khẩu” bào chế với trầm hương tự nhiên, lá và cọng chè, dịch trái ổi, lựu, khế, bưởi, sâm, thành một loại thuốc có thể cứu người hôn mê do đường huyết và huyết áp cao quá mức, đồng thời trị chứng sốc huyết tương “nhũ huyết” rất nguy hiểm đối với bệnh nhân bị bỏng nặng... (còn tiếp) Hoàng Hải Vân
-
Vụ sát hại nhà báo Lê Hoàng Hùng: Ông Tâm phủ nhận quan hệ tình ái với bà Liễu Ông Nguyễn Văn Tâm, nguyên Đội trưởng Đội QLTT số 5 thuộc Chi cục QLTT tỉnh Long An, tiếp tục phủ nhận mối quan hệ giữa ông với bà Trần Thúy Liễu, vợ nhà báo Lê Hoàng Hùng, trái ngược với thông tin từ phía gia đình bà Liễu. Tuy nhiên, sáng qua, ông Tâm có lời lẽ nhỏ nhẹ hơn và không còn phản đối quyết liệt như trong buổi gặp ngày 22.2.2011 tại nhà riêng của ông.Đầu tiên, chúng tôi cho biết báo chí đã công bố những bức thư mà gia đình bà Liễu khẳng định do chính bà Liễu viết và gửi cho ông trong thời gian 2 người cùng bị cơ quan điều tra triệu tập lấy lời khai sau khi nhà báo Lê Hoàng Hùng bị sát hại. Ông Tâm nói: “Cái đó tôi không biết. Từ sáng giờ mắc họp, chưa đọc báo nên chưa biết báo chí đã nói những gì”. Theo ông Tâm thì “từ sau ngày đám tang ông Lê Hoàng Hùng, tôi không hề điện thoại, không gặp bà Liễu và cũng không nhận của bà Liễu bất cứ thứ gì”. Chúng tôi nói điều đó là đúng, vì theo tường trình gia đình của bà Liễu thì hai người đã không dám liên lạc qua điện thoại nên đã tìm cách nói chuyện với nhau bằng “bút đàm”. Nhưng ông Tâm khẳng định mình chưa hề... biết nét chữ của bà Liễu. Khi chúng tôi đưa ra tờ giấy bà Liễu viết ghi nợ ông số tiền 150 triệu đồng, ông Tâm nói cũng không biết vì “tôi có đưa tiền cho bà Liễu mượn nhưng hoàn toàn không làm giấy tờ gì hết”! Vậy mà trong một bức thư gửi ngay sau khi chồng vừa bị sát hại và liên tục bị cơ quan điều tra triệu tập để thẩm vấn, bà Liễu viết: “Em nhớ anh lắm... cộng thêm chuyện này nữa, muốn khùng luôn! Anh trả lời ghi giấy, bỏ trong bao thư nhe, gửi trước 12 giờ... Kêu Nhung (Lê Hồng Nhung) lên nhà Nhiệm lấy hay kêu Trang đem xuống”. Chúng tôi hỏi thế trong gia đình ông có ai tên Nhiệm hoặc Trang hay không? Ông Tâm xác nhận Nhiệm là em gái ông, tên Nguyễn Thị Nhiệm; còn Trang là con của Nhiệm, cháu gọi ông bằng cậu. Nhưng ông Tâm vẫn phủ nhận: “Tôi không biết thư từ gì hết”. Liên quan đến thông tin người nhà bà Liễu cho biết vài ngày trước khi xảy ra vụ ông Lê Hoàng Hùng bị phóng hỏa, ông Nguyễn Văn Tâm có đến nhà gặp bà Liễu, ông Tâm thừa nhận là “tôi có đến nhưng không nhớ rõ ngày nào”. Mặc dù bị đình chỉ công tác để kiểm điểm về hành vi đánh bạc, nhưng cho đến hôm qua ông Tâm vẫn nói mình sang Campuchia là để nắm tình hình. Về mối quan hệ tình ái với bà Liễu, ông Tâm tiếp tục nói: “Chẳng qua là anh em quen lâu ngày rồi thân thiết thôi. Tôi với bà Liễu không có chuyện gì hết”. Trong sáng qua, ông Nguyễn Ngọc Long, Chi cục phó Chi cục QLTT Long An, cho biết đang tiến hành kiểm điểm để làm rõ việc ông Tâm sang Campuchia đánh bạc. Theo ông Long thì trong bản tự kiểm điểm, ông Tâm thừa nhận có sang Campuchia 5 lần và có đánh bạc mỗi lần từ 50-100 ngàn đồng. Chúng tôi hỏi vậy ông Tâm sang Campuchia có báo với cơ quan không, ông Long nói không có vì ông Tâm đi chủ yếu vào thứ bảy, chủ nhật và khi đi về ông Tâm cũng không có báo cáo cơ quan. Hoàng Phương thanhnien.com.vn
-
Áp Dụng Phong Thủy Lạc Việt Cho Cửa Hàng Có Vị Trí Xấu
Thiên Đồng replied to Lốc Cốc Tử's topic in Phong Thủy
Chúc Bác Lốc Cốc Tử Tiên Sinh càng có nhiều thành tựu vẻ vang trên con đường vận dụng Phong thủy Lạc Việt cho cây đời mãi xanh tươi. Thiên Đồng -
Không dùng xương rồng, dùng thứ khác, hoa lá gì đẹp là được. Chúc may mắn Thiên Đồng
-
Số Phận Cụ Rùa Hoàn Kiếm Ra Sao Hỡi Lạc Việt Độn Toán?!
Thiên Đồng replied to phoenix's topic in Lạc Việt Độn Toán
“Cụ" rùa già, cụ chết là chuyện bình thường! SGTT.VN - "Rùa chết thì chôn hay đem cho bảo tàng lưu giữ để mọi nhà khoa học có điều kiện nghiên cứu. Đó là chuyện bình thường. Có gì mà phải sợ?”, tiến sĩ Vũ Thế Long nêu quan điểm. “Cụ" rùa già, cụ chết là chuyện bình thường! Xung quanh câu chuyện rùa hồ Hoàn Kiếm đã và đang tạo nhiều luồng dư luận. Tiến sĩ Vũ Thế Long, nhà nghiên cứu của Viện Khảo cổ học Việt Nam trả lời phỏng vấn TTXVN về cách nhìn của một nhà khoa học với chuyện rùa Hoàn Kiếm. Chúng tôi xin đăng lại bài viết này. Xin ông cho biết việc "đánh đồng" rùa truyền thuyết trong lịch sử và "cụ" rùa ở hồ Hoàn Kiếm hiện nay có sai lệch thế nào? Tiến sĩ Vũ Thế Long: Truyền thuyết là những câu chuyện mà người ta đồn đại, đó không hẳn là một sự thật khoa học. Ta có thể tham khảo truyền thuyết để hiểu được tiền nhân gửi gắm lại điều gì cho mai sau qua cái truyền thuyết ấy. Chuyện rùa hồ Hoàn Kiếm mà truyền thuyết lưu lại xét về mặt sinh học hoàn toàn là không có thật. Đừng mơ hồ chuyện đó. Quan niệm "cụ" rùa đang thỉnh thoảng hiện hữu ở hồ Hoàn Kiếm là rùa thiêng huyền thoại có thể đem đến nguy hại vì rất có thể "cụ" rùa sinh học rồi cũng có thể chết đi theo quy luật tự nhiên mà cụ rùa trong tâm thức, tình cảm của người dân thì cần sống mãi, ông có ý kiến gì về vấn đề này? Tâm thức dân ta là một chuyện còn sự có mặt của một con vật đang tồn tại lại là chuyện khác. Đừng lẫn lộn. Vật chất tồn tại theo quy luật của tự nhiên. Sinh vật có sinh có tử là chuyện thường tình. Có gì mà phải làm rùm beng lên! Đừng tự huyễn hoặc mình và chớ thổi to những chuyện mê tín dị đoan lên. Rùa chết thì chôn hay đem cho bảo tàng lưu giữ để mọi nhà khoa học có điều kiện nghiên cứu. Đó là chuyện bình thường. Có gì mà phải sợ? Chuyện truyền thuyết dị đoan thể hiện cái tâm thức của con người và có thể chỉ là gửi gấm của tiền nhân đến mai sau về ý chí gìn giữ độc lập dân tộc thôi. Nó chỉ có giá trị về tinh thần, hoàn toàn không có thật. Những nghiên cứu của các nhà khoa học đã cho biết về loài rùa, theo ông, đâu là điểm nổi bật cần lưu ý về loài sống lâu đặc biệt và rất gắn với văn hóa, sử sáchViệt Nam ta này? Đây là loài động vật hiếm quý theo tôi cần bảo tồn như mọi động vật hiếm quý khác. Làm sao cho loài này trường tồn, không bị tuyệt chủng. Cần dùng mọi biện pháp kĩ thuật để theo dõi, bảo tồn và nhân giống nếu có thể. Lời khuyên của tiến sĩ với những người dân đang sa vào mê tín rồi suy luận từ việc "cụ" rùa nổi lên? Rùa nổi lên là vì nó có nhu cầu lấy dưỡng khí hay chỉ là tập tính sinh học bình thường của nó mà thôi. Không có dính líu đến bất cứ sự kiện văn hóa xã hội nào cả. Đừng có tin vào những chuyện dị đoan. Nó nổi lên lúc nào là do nhu cầu cá nhân của nó với môi trường. Ai lợi dụng gắn chuyện rùa nổi với những ngày kỉ niệm lịch sử là kẻ bịp bợm, cơ hội. Không có chuyện đó. Người ta từng đặt ra câu hỏi, nếu "cụ" rùa chết thì trách nhiệm thuộc về ai? Ông nghĩ sao xung quanh cách nhìn nhận này? Rùa già, chết là lẽ thường. Nếu có thể chăm sóc vật quý cho nó sống đến tuổi tối đa của nó thì nên làm. Gây bẩn môi trường thì không chỉ rùa và nhiều sinh vật khác cũng bị xâm lại là lỗi của các nhà quản lí môi trường. Đừng tự huyễn hoặc và tạo ra những áp lực không cần thiết. Xin trân trọng cảm ơn ông! -
Cậu Bé Vừa Biết Nói đột Nhiên đọc Thành Thạo
Thiên Đồng replied to Thiên Sứ's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Cái thường tình trong cuộc đời này là ai cũng muốn mình hay con cái mình là thần đồng, siêu nhân, dị nhân...Xem ra việc này quá dể dàng. Thì ra cái khó nhất, khó vô cùng trong cõi đời này là làm...người bình thường. -
Dự Đoán Là Đổi Việc, Nhưng Chưa Đổi Được!
Thiên Đồng replied to Thiên Bồng's topic in Lạc Việt Độn Toán
Đoán rằng: Đưa hoa đến quản lý ta khai hoa nở nhụy ấy là chuyển đi Gần hoa lay chuyện thị phi chính nhân chân chính việc gì cũng êm tan ca đừng có đi đêm việc ngày đừng có mó thêm tí nào sẽ không dính chuyện ồn ào Ăn mắm chùi mép thế nào cũng...hôi Biết trước mình phải...ngừa thôi Công - tư có lúc đi đôi...rất phiền. Đông Thiền -
@dieuan, Yên chí ngồi ở đây đi, né sang một bên là được, để trên bàn một chậu kiểng nho nhỏ là OK. Giữ vệ sinh toa lét, luôn kín cửa, không để gương soi mặt trong WC chiếu ra ngoài. Thiên Đồng
-
Dự Đoán Là Đổi Việc, Nhưng Chưa Đổi Được!
Thiên Đồng replied to Thiên Bồng's topic in Lạc Việt Độn Toán
Cái vụ đến khi có...bầu bì mới nghỉ là có lý đó anh Hạt gạo. Thơ rằng Đưa hoa đến quản lý ta khai hoa nở nhụy ấy là chuyển đi Đông Thiền -
Một đời may y phục thời Hùng Vương Giadinh.net - Hơn nửa thế kỷ trước, khi gắn bó với cây kim, sợi chỉ - ông Nguyễn Văn Xoan (Hiền Đa, Cẩm Khê, Phú Thọ) không tưởng tượng sau này mình có thể “ăn đời, ở kiếp” với nghiệp may vá những y phục thời Hùng Vương như thế này! Ông Xoan mải miết bên máy khâu. Những sáng kiến đầu đờiKhi sinh ra được 2 tháng tuổi, cậu bé Xoan bị ốm nặng phải đưa xuống bệnh viện tỉnh điều trị. Do phải tiêm nhiều nên ảnh hưởng nặng nề đến chân. Chân trái càng ngày càng nhỏ đi so với chân phải. Giờ đã ở tuổi 77, ông Xoan vẫn đi những bước chân khập khiễng, rất khó nhọc và đau nhức.Tướng mạo rất thông minh, ông có thể nói thành thạo tiếng Pháp và biết chữ Nho. Ông bảo: “Tôi học cái nghề may vá này từ cụ phó Cả - vốn là thợ may nổi tiếng của đất Thanh Hoá lưu lạc đến đây. Năm 13 tuổi, người tôi nhỏ thó như đứa trẻ 5 tuổi, nhưng vẫn quyết theo cụ học may để sau này có cái nghiệp bấu thân. Tôi nghĩ, cái kiếp nó thế, nhà đầy ruộng nhưng chân chẳng ra chân thì cũng... bán sớm thôi. May sao lại bám nghề này đến tận giờ”. Thời chiến tranh, Xoan sang nhà hàng xóm, tình cờ thấy vết thương của anh Đỗ Văn Lưu dính phải trong một trận bom càn quét. Anh Lưu là bộ đội của làng, sức khoẻ tốt nhưng không sao có thể gỡ nhanh cái áo trấn thủ đang bị dính lửa bom, nên anh bị cháy xẹm rất sâu ở vùng ngực, bụng và vai. Xoan mân mê cái áo trấn thủ còn dính máu của chiến sĩ Lưu và về thắc mắc với cụ Cả là: Tại sao không đặt khuy áo trước ngực mà vẫn để bên lườn và trên vai? Bởi vì làm cửa áo phía trước ngực, khi có vấn đề gì, chỉ cần rạch tung cúc là hất áo ra phía sau, nhanh hơn so với cái áo cũ. Cụ Cả đồng ý, anh thợ học việc Xoan mày mò làm và chỉ sau một ngày, cái áo trấn thủ mới ra đời. Từ đó, nhà ông là địa chỉ mua áo trấn thủ của nhiều binh đoàn. Ông kể: “Ngày xưa tôi làm nhanh lắm. Có ngày may được cả đống áo trấn thủ cho một trung đoàn. Một mình tôi vừa cắt, đo, vắt sổ, may, là. Nhiều người bảo tôi làm gì mà khiếp thế. Người giỏi nhất cũng chỉ may được cho một tiểu đoàn, thế mà tôi làm gấp 3 số ấy trong một ngày. Giờ đây, chẳng có bằng chứng nhận nào chứng tỏ tôi có sáng kiến đó nhưng vẫn vui vì nhờ mình mà nhiều chiến sĩ không bị chết cháy vì bom đạn”... Ông Xoan rất chịu khó tìm hiểu và tích góp cho mình một vốn văn hóa nhất định về phục trang kim - cổ. Mình phải hiểu về văn hóa vùng miền ấy, thời ấy thì cắt quần áo mới đẹp. Có hiểu biết sâu rộng thì mới có sáng tạo. Sáng tạo là gốc rễ của mọi sự đam mê... Rời khỏi Cục Quân nhu- Quân khu 10, Nguyễn Văn Xoan về làm Chủ nhiệm Hợp tác xã thợ may Hùng Tiến, xã Hiền Đa. Hồi ấy, toàn xã chỉ có mấy chục thợ may quân phục, duy chỉ có ông Xoan biết may các đồ truyền thống. Mỗi khi có hội làng hay các đoàn văn nghệ, văn công qua, muốn mua ít đồ thời Hùng Vương, thời nhà Lý, Lê, Trần... ông đều sẵn sàng. Ông bảo, lúc ấy tôi có sưu tầm được một ít tài liệu thì bị cuốn trôi trong trận lũ lịch sử năm 1971, giờ chỉ còn lưu trong trí nhớ. Người muốn may được cũng phải hiểu biết ít nhiều về cốt cách, phong thái, cách mặc của người xưa. Ông Xoan gọi đó là công đoạn “ngắm” mẫu, lựa mắt trước khi may.Đam mê y phục thời Hùng Vương Y phục dân tộc là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc đó. Do đó, thời Hùng Vương – y phục phổ biến của ông cha ta chỉ “ở trần đóng khố” và “mặc váy” (váy kín - “váy chui” và váy mở - “váy ngắn”). Vua đội mũ có hình đầu rồng; đại thần đội mũ gắn hình chim phượng. Thuở ban đầu, tất cả đều mặc váy áo lá, tức dùng lá cây, vỏ cây để tạo thành những bộ áo váy quấn quanh người. Sau đó, khi đồ đồng xuất hiện thì dân ta đã dần thoát khỏi đời sống săn bắn, hái lượm, dần dần định cư ở một nơi tạo thành làng mạc để trồng trọt, ươm tơ, dệt vải. Bộ đồ của nữ giới thời Hùng Vương đã cách điệu hóa. Qua những chiếc trống đồng, ít nhiều đã cho thấy trang phục của người thời xưa khá phong phú như phụ nữ mặc áo ngắn đến bụng, bó sát người, xẻ đến ngực, phía trong mặc yếm kín ngực, chiếc yếm cổ tròn sát cổ, có trang trí những hình tấm hạt gạo. Cũng có những loại áo cánh ngắn, cổ vuông, để hở một phần vai và ngực hoặc kín ngực, hở một phần vai và trên lưng. Hai loại sau có thể là loại mặc chui đầu hay cài khuy trái. Trên áo đều có hoa văn trang trí. Thắt lưng có ba hàng chấm trang trí cách đều nhau quấn ngang bụng. Từ những chứng tích đó, ông mải miết may những bộ quần áo cách điệu trên sân khấu. Ông bảo, người xưa thường “nude” đến hết thân, chỉ che kín bộ phận sinh dục. Nhưng khi cắt may, những phần đáng che vẫn được ông cách điệu một cách duyên dáng. Vừa giữ được nét cổ điển, vừa kín đáo. Như bộ áo váy của công chúa (con vua Hùng) thì màu sắc phải là màu hoa cà, hay màu hồng phấn tạo nét duyên dáng và sức quyến rũ. Khác với công chúa, hoàng tử ăn mặc khá giống với vua tôi, duy chỉ có màu sắc trên áo là màu vàng nhạt hơn vua. Y phục của Công chúa. Do trong quá trình lao động, các đời vua Hùng mới cải tiến hình thức mặc và chất liệu vải. Từ những mảnh vỏ cây, lá cây, dần dần người dân biết ươm tơ, dệt vải. Hàng hoá làm ra nhiều và để chống chọi lại với giá rét, bệnh tật, người Việt đã biết mặc nhiều đồ hơn. Và dần dần cũng thích mặc đồ đẹp hơn, nhiều màu sắc hơn. Khi hỏi về cách ăn mặc sau này, ông đọc mấy câu thơ trong bài Chân Quê của nhà thơ Nguyễn Bính: “Nào đâu cái yếm lụa sồi, cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân/ Nào đâu cái áo tứ thân, cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen...”. Thời ấy, cách ăn mặc của dân ta khá chỉn chu. Dù nhà không có điều kiện nhưng áo quần vẫn sạch đẹp, tươm tất; đặc biệt không có tính sexy như bây giờ. Áo dài Việt Nam được cách điệu từ áo tứ thân của vùng quê Kinh bắc nhưng giờ biến tướng nhiều quá. Nó càng ngày càng “mát mẻ” hơn, mỏng hơn và xẻ tà sâu hơn. Y phục của nam giới. Theo ông Xoan, cách ăn mặc hay nhất vẫn là nửa kín nửa hở vùng lườn, hay phần cổ phải cao hơn vùng xương quai xanh, chỉ để lồ lộ phần da trắng ngần mới là đẹp. Mặc mà lộ quá thì khác chi có mặc mà... như không. Ông còn quan tâm đến “xà phòng” giặt của ông cha ta. Thời Hùng Vương, loại nước tẩy vẫn là “ngũ vị” gồm: Quế, cam thảo, hoa bưởi, hương nhu, tía tô. 5 loại tẩy dược trộn hoà với nhau vào nước lã rồi đun lên cho sôi để nguội dần và nhúng quần áo vào giặt. Mỗi một vị tẩy dược đều lưu lại trong áo quần những mùi đặc trưng, thơm thoang thoảng, đặc biệt là chống lại được muỗi. Thông thường, vua chúa và tầng lớp quan lại mới dùng ngũ vị dược này để tẩy uế quần áo. Còn dân thì dùng những loại củ, quả có bọt trên rừng để giặt vì dễ kiếm. Y phục của người dân thời phong kiến. Đức Chính ------------------------------------------------------------------------------------------- Cái vụ này sao giống như là "trùng tu" các di tích cổ ở miền Bắc quá. Áo công chúa gì mà như bộ đồ con nít thật.Còn cứ "ở trần đóng khố" vào mùa rét đậm rét hại thì...hong teo bu-gi cũng lọa! Thiệt là lọa quá đi! Thiên Đồng
-
Trang Phục Thời Hùng Vương nguồn: http://vifash.vn Cách đây khoảng 4.000 năm vào thời đại đồng thau phát triển, nước Việt Nam thời đó gọi là nước Văn Lang. Người dân ở đây đã sinh sống bằng săn bắn, hái lượm và trồng trọt... Họ không dùng vỏ cây làm áo nữa mà đã biết trồng gai, đay, nuôi tằm, ươm tơ, dệt vải. Truyền thuyết thời Hùng Vương cho biết, Mẫu Âu Cơ dạy dân trang Hiền Lương (Hạ Hoà Phú Thọ) cấy lúa trồng dâu nuôi tằm dệt vải. Ứng với thời kỳ này là văn hoá khảo cổ Phùng Nguyên cách nay 4000 – 4500 năm, đã phát hiện nhiều dọi xe sợi. Nhà khảo cổ học uy tín GS.TS Hán Văn Khẩn nghiên cứu hàng chục di chỉ Phùng Nguyên đưa ra kết luận về vải như sau: “Dọi xe chỉ tìm thấy khá phổ biến trong văn hoá Phùng Nguyên…Như vậy nghề dệt vải đã phổ biến trong văn hoá Phùng Nguyên. Cư dân văn hoá này ít nhất cũng có hai loại vải mặc, đó là vải vỏ cây và vải dệt từ sợi” (Hán Văn Khẩn – Văn hoá Phùng Nguyên – NXB Đại học quốc gia Hà Nội – 2005). Đấy là nói về vải vóc ở giai đoạn mở đầu thời đại Hùng Vương. Đến các giai đoạn sau như Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn thì nghề dệt vải đã phát triển ngang tầm các nghề thủ công khác như nung gốm với 35 mẫu hoa văn, đan lát bộ đồ dùng tre nứa gần như ngày nay, đúc đồng với trống Ngọc Lũ nổi tiếng. Các mộ táng thời Hùng Vương như mộ Tứ Xã (Phú Thọ) thuộc văn hoá Gò Mun cách nay hơn 3000 năm, mộ Châu Can (Hà Tây cũ), mộ Việt Khê (Hải Phòng) thuộc văn hoá Đông Sơn cách nay 2800 năm đến thế kỷ thứ III trước công nguyên đều có vải liệm in trên hài cốt. Vào thời kỳ này đồ đồng rất phong phú. Trống đồng và nhiều tượng phù điêu bằng đồng có khắc họa những cảnh sinh hoạt thời đó với những hình người, với các loại trang phục khá rõ nét và được thể hiện bằng phong cách nghệ thuật biến hình, cách điệu cao... Qua đó ít nhiều đã cho thấy trang phục của người thời đó khá phong phú như phụ nữ mặc áo ngắn đến bụng, xẻ ngực, bó sát vào người, phía trong mặc yếm kín ngực, chiếc yếm cổ tròn sát cổ, có trang trí những hình tấm hạt gạo. Cũng có những loại áo cánh ngắn, cổ vuông, để hở một phần vai và ngực hoặc kín ngực, hở một phần vai và trên lưng. Hai loại sau có thể là loại mặc chui đầu hay cài khuy bên trái. Trên áo đều có hoa văn trang trí. Thắt lưng có ba hàng chấm trang trí cách đều nhau quấn ngang bụng... Qua những hiện vật khảo cổ đã tìm được cho thấy trang phục của đàn bà và đàn ông như sau: - Đàn bà mặc váy (váy kín "váy chui" và váy mở "váy ngắn"). - Đàn ông thường đóng khố và cởi trần. Do điều kiện khí hậu và sinh sống, người dân thường lên rừng săn bắn, hái lượm hay xuống biển bơi lặn đánh cá, hoặc làm ruộng nước vất vả nên đầu tóc phải gọn gàng. Vì vậy đàn ông và đàn bà phải cắt tóc ngắn đến ngang vai hoặc một số ít cắt ngắn đến chân tóc. Về trang phục của chiến binh thì gồm mảnh giáp hình chữ nhật dùng để che ngực có 4 quai đeo. Đai lưng bằng đồng có khóa to bản, được hình thành bởi nhiều các móc được liên kết với nhau. Trên bề mặt mỗi miếng đều có họa tiết hình rùa hay chim.... Các loại bao ống tay, bao ống chân bằng đồng có thể được dùng trong các điệu múa ngày lễ, ngày hội. Về hình thức trang sức và trang điểm của người Việt cổ thì nam nữ đều xâu lỗ tai và đeo đồ trang sức. Các loại vòng tai phổ biến của hai giới là hình tròn, hình vành khăn, hình khối đặc biệt là loại vòng hoa tai gắn quả nhạc hay đôi hoa tai bằng đá, hình con thú. Những chuỗi hạt thường thấy gồm các loại hạt hình trụ, trái xoan, hình cầu. Còn vòng tay với nhiều hình khác nhau như: tròn, vuông, chữ nhật, lòng máng, sóng trâu... có trang trí hoa văn hình lông chim hay bông lúa, ngoài ra còn nhiều nhẫn bằng đồng đeo ở ngón tay cũng gắn quả nhạc dài xinh xắn. Tuy đồ trang sức còn thô sơ, nhưng với điều kiện chế tác hạn chế ta thấy con người thời đó đã có trình độ thẩm mỹ và óc tưởng tượng cao, đã quan tâm đến vấn đề làm đẹp cho thân thể, đồng thời thể hiện bàn tay khéo léo, cần cù lao động. Đàn ông thường vẽ lên mình những hình ngoằn ngoèo, hình móc câu, đó là tục xâm mình phổ biến. Đàn ông và đàn bà đều nhuộm răng đen và có tục ăn trầu... Nghiên cứu các kiểu trang phục, trang sức, trang điểm thời Hùng Vương, ta tìm hiểu được khía cạnh về đời sống, mối quan hệ xã hội thời đó. Mặt khác, ta còn chắt lọc ra những yếu tố thẩm mỹ làm tôn vẻ đẹp con người gắn bó với thiên nhiên, hài hòa với đất nước non trẻ, với xã hội vào thời kỳ đầu dựng xây. Theo Binhthuan. --------------------------------------------------------------------- Cái lạ là ở chổ này Trên thì kết luận "phong phú", dưới thì kết luận vẫn là "cởi trần đóng khố". Nói theo thời nay thì phụ nữ thới đó nếu đúng vậy thì ăn vận nhiều vải hơn, còn chính nam thì hở han, thiếu vải, và sexy hơn. Thiệt là lọa quá đi! Thiên Đồng
-
@hoangtho892 Có khiếu văn chương, học hành kém tập trung hay lo xa, làm việc hay nể nang. Có nhiều ý tưởng phong phú, nhưng dể xa rời thực tế. Có tâm hồn nhạy cảm, dể xúc động, dể stress. Nên tham gia sinh hoạt đội nhóm nhiều hơn. Viết câu "thần chú" này để trên đầu giường: "Ngày mai chẳng biết ra sao nữa, dù có ra sao cũng chẳng sao" Thiên Đồng