Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Thiên Đồng

Hội viên
  • Số nội dung

    6278
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    75

Everything posted by Thiên Đồng

  1. TƯỚNG PHÁP QUA CA DAO TỤC NGỮ VIỆT NAM Bài sưu tầm Người xưa có câu: "Giàu ba mươi tuổi chớ mừng, khó ba mươi tuổi em đừng vội lo;" trong khi Khổng Tử thu thập: "Tam thập nhi lập." Ba mươi tuổi đã nhi lập mà cuộc đời còn bấp bênh chưa biết tương lai sẽ thế nào hỏi sao không e ngại. Qua kinh nghiệm sống, con người nhận thấy không phải cứ cố gắng mà đạt được điều mình muốn. Cuộc đời thăng trầm nhiều khi dồn con người vào cảnh bó tay bó chân không phương xoay xở khiến phải tin rằng còn một lẽ nào đó ảnh hưởng đến thực tại tạm gọi là vận số. Nói là vận số vì mình không hiểu được nguyên nhân tại sao. Có những người học hành không ra gì mà cuộc đời làm ăn giầu có; lại những người trông vẻ bên ngoài tầm thường giữ uy quyền muôn mặt ... Lẽ thường tình: "Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa ..." thế mà chỉ những người giầu không phải lo lắng bon chen với vật chất mới có thể ngủ muộn; hoặc câu khác: "Những người đói rách tả tơi, của Trời chớ phụ đừng ăn chơi quá nhiều," lại nghịch thường với thực tế. Chỉ những kẻ nhiều của ăn không hết mới phụ của chứ đói rách làm chi có của mà phụ. Câu "Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện" một phần nào đó khuyên mọi người nên tiết kiệm lúc có để lo cho lúc chẳng may, đừng vung tay quá trán, chứ nếu vừa buôn tàu bán bè vừa ăn dè hà tiện thì phải có hơn chứ không thể nào nói đến không bằng. Tuy nhiên, nếu cho rằng đời người đã được phận số định sẵn làm sao "Có chí thì nên," và phải chăng tin vào phận số chỉ làm hao mòn tinh thần tiến thủ? Xét về phương diện tâm tính đôi khi có những câu thật khó mà hiểu. Chẳng hạn: "Những người lúa đụn tiền kho, ruột bằng sợi chỉ miệng to bằng trời." Nếu nghĩ ngược lại, những người nghèo nàn, lòng rộng rãi lấy gì mà cho, và có rộng rãi thì cũng chỉ giới hạn trong cảnh nghèo của mình. Hơn nữa, thực tế cho thấy, chỉ những người giầu có mới giúp được những người nghèo vì người đã nghèo thì chẳng có nên dù lòng muốn nhưng cái khó nó bó cái khôn, cái nghèo không cho phép bởi chính mình chưa lo nổi cho mình làm sao có thể giúp người. Lấy gì để minh chứng "Người xấu duyên lặn vào trong, bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài?" Và làm sao để thử nghiệm "Chớ thấy áo rách mà cười, những giống gà nòi lông nó lơ thơ?" Tuy nhiên có những nhận xét về tướng diện con người nơi Tục Ngữ, Ca Dao dựa trên những gì nhìn thấy theo vẻ bên ngoài vì "Khôn ngoan hiện ra mặt, què quặt hiện chân tay." Những nhận xét tướng diện dựa trên kinh nghiệm chỉ được phần nào áp dụng cho bản thân, và đồng thời được lồng trong khung cảnh kinh tế xã hội Việt qua nhiều thế hệ. Dĩ nhiên, mặc dầu nói tổng quan về tướng diện nhưng không được coi là những định luật bất di dịch mà bao gồm nhiều luật trừ; lý do dễ hiểu, tướng diện bị ảnh hưởng bởi cái nhìn bề ngoài trong khi con người còn có ẩn tướng mà đã là ẩn tướng ai có thể nhìn thấy ngoại trừ chính người mang nó nhận ra hay không. Hơn nữa sự ảnh hưởng nơi người cha cũng góp phần vào số người con theo tướng học vì cũng người đàn bà có số sinh con làm tướng nhưng gặp ông chồng sống thất đức, phá tướng, sẽ sinh con tướng cướp. Đàng nào cũng là tướng nhưng quí tướng và phá tướng chắc chắn không thể giống nhau. Coi tướng diện không phải là coi số hay coi bói. Coi bói toán, vận số tùy thuộc vào những điều người ta không thể kiểm chứng và số mạng con người nào ai giống ai nên làm sao đúng theo như những quy luật cứng ngắc bất di dịch của lá số, của lời giải đoán ... Thế nên chẳng lạ gì: "Tử vi xem số cho người, số mình thì để cho ruồi nó bâu." Tướng diện qua kinh nghiệm thấy sao nói lên vậy: "Nhân hiền tại mạo, trắng gạo ngon cơm" chứ không phải rập theo những kinh nghiệm vô căn cứ không hiểu lý do tại sao; chẳng hạn: "Hà tiện mới có, bẩn như chó mới giầu." Đã giầu có tại sao lại bẩn như chó ... Có lẽ người giàu hiểu rõ hơn về phương diện nào câu tục ngữ này muốn ám chỉ. Tướng diện được diễn tả qua Tục Ngữ, Ca Dao chỉ nói lên phần nào cá tính, tâm tính con người được thể hiện qua diện mạo bên ngoài và kinh nghiệm truyền lại bằng những câu nói ngắn gọn hoặc thêm phần sắp xếp cho có vần điệu. Phần diện mạo dựa trên cách đi đứng, ăn nói tóc tai: "Cái răng cái tóc là gốc con người," hoặc dáng dấp, hình thái kèm theo lối so sánh: "Cây khô không lộc, người độc không con." Tuy nhiên, sự suy diễn, giải nghĩa tướng diện nơi Tục Ngữ,Ca Dao thật ra không theo nghĩa đen mà thường tùy thuộc vào lối ám chỉ, nghĩa bóng. Coi tướng diện không phải là tin nhảm, dị đoan "Thừa tiền thì đem mà cho, đừng đi coi bói thêm lo vào mình." Thực ra cũng có những kinh nghiệm không hiểu tại sao, có lẽ vô tình trùng hợp chẳng hạn "Thứ nhất đom đóm vô nhà, thứ nhì chuột rúc, thứ ba bông đèn;" hoặc "Mèo vào nhà thì khó, chó vào nhà thì sang." Đôi khi có những điều dị đoan đến độ phi lý: "Đi ra gặp đàn bà thà trở vô nhà mà ngủ," hay "Vợ chồng một tuổi, nằm duỗi mà ăn." Lý do coi tướng diện vì ít nhất một phần nào tư cách con người được thể hiện qua phong thái, hình dáng là những nét bề ngoài mọi người có thể nhìn thấy bởi ai chẳng muốn: "Chọn mặt gửi lời, chọn người gửi của" mặc dầu có những trường hợp "Xem tướng ngó dạng anh hào, suy ra nết ở khác nào tiểu nhi." Thực tâm nhận xét, coi tướng diện cho người khác, ai cũng đều gặp kinh nghiệm 90 phần trăm sai lầm, còn lại những trường hợp vô tình may mắn bởi có những ẩn tướng hoặc nét phá hay hộ cách khó có thể tổng hợp cho đúng. Coi tướng diện mục đích nghiệm nơi chính bản thân để biết mình hơn. Trước hết, hình thái phong cách nói lên một phần nào tâm tính con người do đó tướng diện bị lệ thuộc vào tâm đức cá nhân. Tướng số có câu:"Tướng tự tâm sinh, tướng tùy tâm diệt." Dĩ nhiên, ai cũng đều nhận ra những người ngay thẳng, chính trực không thể có cặp mắt láo liên hoặc lời ăn tiếng nói đặt điều xằng bậy. Tâm đức tạo nên phong thái bên ngoài cũng như giá trị con người; đó có thể là lý do tại sao "Cái đức nó bức cái tướng." Cái đức nói theo kiểu bình dân ở đây cũng mang nghĩa thay đổi tướng diện, phong thái một người. Cũng qua kinh nghiệm tướng số, "Đức năng thắng số" đã trở thành châm ngôn cho người người cải thiện lối sống ngày một tốt lành hơn. Tướng diện phát từ tâm hồn con người và coi tướng diện để tự sửa đổi chính mình; nói theo Khổng Tử đó là tu thân. Muốn tu thân cần hiểu chính mình. Coi tướng diện để tự tìm hiểu chính mình, tìm ra phần nào tâm tính không nên nơi mình chưa để ý mà sửa đổi. Thành ngữ có câu: "Người ba đấng, của ba loài;" cuộc đời có kẻ thế này, người thế khác cũng như đồ vật, có món tốt, món xấu chứ không phải tất cả mọi người đều có tâm tính giống nhau, hoặc mọi vật đều như nhaụ Những người khôn thì chóng già vì tâm tính hay suy nghĩ và dĩ nhiên, "Người có tiếng phi mạnh thì bạo." Những người có tăm tiếng phần nhiều là người có tài; tuy nhiên, cũng có trường hợp gian ngoa độc ác dám dùng mưu chước hại người khác để bước lên đài danh vọng. Nhìn vào tướng diện, nét dễ nhận ra, "Nhất lé, nhì lùn, tam hô, tứ lộ." Không hiểu tại sao người xưa lại nói câu này. Nếu xét theo tướng học về lé: "Lưỡng mục bất đồng, tâm can bất chính," cũng chưa chắc những người hai con mắt không ngay ngắn như nhau luôn luôn là bất chính; mà có chăng, người lé, khi thương thì thương nhất mực và khi đã ghét cũng thế ... Hơn nữa, đâu có ai hai con mắt bằng nhau mà thế nào cũng có chút khác biệt. Nếu nói rằng người lùn hay có tính kiêu căng bởi tâm tính thường hay đối nghịch với hình dáng bên ngoài nên lùn được xếp hạng thứ nhì thì càng trái ngược; đâu thiếu chi người lùn nhã nhặn, khoan hòa. Có điều, theo kinh nghiệm cho thấy một số người không được cao cho lắm rất khôn ngoan lại lắm mưu chước thế nên lùn được xếp vào một trong bốn loại dẫn đầu của tướng diện chăng. Có lẽ răng hô được xếp hàng thứ ba cần phải kèm theo điều kiện môi cong bởi theo sách tướng: "Xỉ lộ thần hân tu phòng dã tử;" răng lộ môi cong đề phòng chết đường. Theo Tướng Mệnh Khảo Luận do Vũ Tài Lục biên soạn, một trong tướng lục ác là "thần bất hô xỉ." Môi không che được răng là người bất hòa. Răng hô phải đầm xuống đều thì chất phác; răng đâm ngang hay ngưỡng lên, cực đểu giả (Ngân Hà Thư Xã; Sài Gòn, 1972; tr. 235). Có nơi ghi lại: "Nhất lé nhì lùn, tam hô tứ sún." Có thể sún được xếp hàng thứ tư do ảnh hưởng bởi sự không để ý chăm sóc cơ thể, gặp gì ăn nấy, có thể nói tham ăn nên răng bị hạị Tuy nhiên, đó chỉ là phỏng đoán vô căn cứ; biết bao người sún nên làm răng giả nào ai mà biết. Chẳng lẽ tướng diện bị lệ thuộc nét sửa đổi, và nếu như thế, đâu còn gì là tướng diện, mà tâm sinh do sửa hình dáng. Ngoài ra, nhất lé, nhì lùn, tam hô, tứ sún chưa chắc đã khó thương mà có phần dễ thương tùy thuộc tâm tính từng người. Kiếm người làm, nhất là trong giới nông nghiệp, "Khô chân gân mặt đắt mấy cũng mua." Người chân khô không bị bịnh tê thấp, ảnh hưởng do sự thay đổi thời tiết không tác dụng nên sức khỏe đều đặn, dù nắng mưa, sương gió không cản trở công việc làm của họ nên mướn được người khô chân giúp, công việc mình không bị đình trệ. Những người có đường gân máu nổi lên ở mặt chịu đựng cực khổ dẻo dai. Dùng người khô chân gân mặt để làm việc cho mình thì thật đáng đồng tiền bát gạo, chỉ có lợi chứ không sợ bị thua lỗ. Xét chung, sách tướng có câu: "Ăn nhanh đi chậm là tướng quí nhân." Ăn nhanh nhưng gọn gàng, cử điệu, thái độ chững chạc, không ngồm ngoàm, nhỏ nhặt như chuột; dáng đi khoan thai, đĩnh đạc, lưng thẳng, gót chân đặt xuống đất ... mang phần quí tướng. Tuy nhiên, không phải quí tướng là bất cứ chi cũng quí bởi còn bị ảnh hưởng do các tướng khác nhất là tâm đức. Một điều thường làm cho người có tướng quí lận đận là đã quí e khó phú. Tục ngữ có câu: "Phi thương bất phú," mà buôn bán ảnh hưởng tâm tính khiến con người khó chân thành, ngay thẳng làm mất phần quí. Đó cũng có thể là lý do tại sao "Mặt vuông chữ điền đồng tiền chẳng có" bởi người mặt vuông chữ điền, hơi nặng hàm (như gương mặt các mệnh phụ) biểu hiệu tâm hồn đoan chính, không tham lam, tự tin, không bon chen nên thường nghèo. Ngược lại với dáng đi thanh thản của ăn nhanh đi chậm là tướng vội vàng hấp tấp đi chúi người về phía trước. Những người lam lũ cực khổ thường có dáng đi này: "Cái đầu đi trước, gặp nhiều bước khó khăn." Người khó tính, mặt hay cau có; khi giận thì làm gì cũng hỏng, không mong chi kết quả; do đó: "Mặt khó đăm đăm, tát nước đầm không cạn." Khi trong lòng có chuyện âu lo tất nhiên người ta hay thở dài; những người hay thở dài thường có nội tâm âu sầu thiếu đường giải thoát: "Những người chép miệng thở dài, chỉ là sầu khổ bằng ai bao giờ." Trái ngược với chép miệng thở dài là vui tươi cởi mở: "Hay cười như thể đười ươi, làm ai cũng tưởng là người vô lo." Tuy nhiên, người thâm trầm chín chắn, dẫu trong cảnh âu lo vẫn không lộ nét ưu tư sầu khổ. Sự khác biệt giữa nét vui tươi, không ưu phiền lo lắng được thể hiện bởi nét cười là nét vô duyên: "Vô duyên chưa nói đã cười." Vô duyên ở đây bao gồm nhiều khía cạnh qua cái cười: cười cầu tài, nịnh hót, lẳng lơ, khinh thị ... Tướng diện bao gồm toàn bộ con người từ hình dáng, cách đi đứng, sự cân đối, ưu điểm hoặc khuyết được thể hiện qua diện mạo bên ngoài. Theo Việt Nam Tự Điển, "Mía đõn đầu là mía sâu, người đõn đầu là người ngốc." Kinh nghiệm cho biết, người nào có cái đầu ngắn mà bằng phẳng ở trên là người không khôn; cũng như cây mía nào mà lá ngọn còi là cây mía sâu nõn (tr. 256, phần Thành Ngữ, Quyển Hạ.) Lối nói bình dân có dùng tiếng "mặt thịt;" mặt thịt dĩ nhiên là nhiều thịt hoặc nhìn thấy như nhiều thịt hơn xương. Mặt thịt còn được gọi là mặt nạc; mặt thịt mà dài được gọi là mặt mo vì thịt vun lên giống như chiếc mo cau khô úp vào, "Những người phính phính mặt mo, chân đi chữ bát có cho chẳng màng." Mặt thịt, mặt nạc, mặt mo biểu hiệu thiếu khôn ngoan, ngu đần. Mặt thịt kèm theo môi dầy lại càng tệ; "Những người mặt nạc môi dày, mịt mù trời đất biết ngày nào khôn." Theo Vũ Tài Lục, "môi thật dầy không có khía môi; môi luôn luôn động là mã khẩu, chỉ sự bần tiện." Đàn bà tóc nhiều và dài thì tốt, thuộc tướng sang. Như thế, tướng sang của một người tự bẩm sinh chứ không phải cứ học tập kiểu cách phải thế này phải thế kia mà có thể sang được. Người đã không có tướng sang thì có "học làm sang" cũng không che dấu nổi nét tầm thường của mình. Có lẽ đó cũng là nguyên nhân cho câu "Trưởng giả học làm sang." Trái lại, người đã được sinh ra với cốt cách sang trọng, dù có bị sinh trưởng từ gia đình thuộc lớp nghèo hèn, bình dân, tự bản chất đã mang vẻ tướng của mình. Tuy nhiên, xét theo tướng diện, nếu đàn bà tóc rậm, óng mượt, dài, thuộc cốt sách sang trọng thì đàn ông với cái đầu rậm tóc chẳng lợi lộc gì: "Đàn bà tóc rậm thì sang, đàn ông rậm tóc chỉ mang nặng đầu." Đàn ông, trên đầu không nên nhiều tóc thì dưới cằm lại cần râu. Đàn ông không râu thuộc loại tối kỵ; người không râu mà lại mặt trắng (bạch diện) Vũ Tài Lục gọi là mặt đít ếch. Sách tướng nói: "Bạch diện vô tu chung thân phá bại." Mặt trắng không râu về già tán gia bại sản. Đàn ông không râu cũng như đàn bà không vú: "Đàn ông không râu mất nghì, đàn bà không vú lấy gì nuôi con." Tuy nhiên, nếu đàn ông mà râu rậm hơn lông mày lại đi kèm với cặp mắt sâu sẽ là người nham hiểm đáng sợ, thuộc tướng diện "Rậm râu sâu mắt." Theo Vũ Tài Lục, râu rậm hay thưa phải tùy thuộc lông mày mới đúng cách. Phần trên cằm là miệng; ngoài miệng có môi. Đôi môi một người nói lên nhiều cá tính theo con mắt tướng diện. Môi cần che kín răng bởi "Môi hở răng lạnh." Môi là cửa ngõ của miệng lưỡi nên tướng miệng đi kèm với môi. Ca Dao nói lên: "Cong môi hay hớt, mỏng môi hay hờn, dầy môi ăn vụng ..." và đồng thời "Môi thâm hiểm độc trong lòng." Dẫu tướng miệng tùy thuộc rất nhiều vào môi nhưng vẫn có những kiểu cách riêng. Thành ngữ dùng câu: "Miệng ngậm hạt thị" chỉ người ăn nói không ra lời, lúng búng trong miệng. Lời nói con người được thoát ra từ cửa miệng nên miệng còn được hiểu theo nghĩa bóng chỉ tâm tính; chẳng hạn: "Miệng hùm gan sứa." Sứa nào có gan, mà hùm ai không sợ. Người lớn lối thường hay nhát gan. Đặc tính này thường ở nơi người hay làm oai bắt nạt hoặc thích kiếm chuyện gây khó dễ cho người khác. Một đặc tính của miệng thuộc tướng tốt nơi đàn ông thì lại không tốt nơi đàn bà: "Đàn ông rộng miệng thì tài, đàn bà rộng miệng điếc tai láng giềng." Chẳng những thế, miệng rộng nơi đàn bà còn mang thiệt hại nơi gia đình: "Đàn ông rộng miệng thì sang, đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà." Có lẽ đàn bà miệng rộng thường là người tiêu xài không tính toán nên gây ra lắm cảnh thiếu hụt. Miệng không phải chỉ được dùng để nói mà còn để ăn; thế nên, "Miệng gàu dai (dây) nhai hết sự nghiệp," và người có "Miệng ống nhổ ăn đổ hết cửa nhà." Trên miệng là nhân trung và mũi. Người có nhân trung dài sống lâu: "Nhân trung dài sống dai như ông bành tổ." Nói về sống như thế nào lại tùy thuộc về cái mũi bởi "Những người lỗ mũi hếch lên, của xe chất đống một bên cũng nghèo." Hơn nữa, chẳng may ai có "Nốt ruồi trên mũi hay tủi tấm thân." Bộ phận ảnh hưởng đến mũi nặng nề nhất là cặp mắt và đồng thời cũng là bộ vị quan trọng nhất của nhân thân. Những người thành công đều có cặp mắt tốt kèm theo mũi ngay ngắn trường nhuận. Nhìn vào màu sắc của mắt, người xưa nói: "Người khôn con mắt đen sì, kẻ dại con mắt nửa chì nửa than." Mắt còn nói lên cá tính hoặc sự khắc thuận của một người thế nào: "Những người con mắt ốc nhồi, trai thời đánh vợ gái thời sát phu." Mắt trắng dã đi kèm với môi thâm chứng tỏ con người bạc bẽo, hiểm độc ... thuộc tướng xấu: "Môi thâm mắt trắng." Xét riêng về tướng đàn ông, thành ngữ có câu khá thâm thúy: "Xấu mặt dễ sai, đẹp trai khó khiến." Điều này không lạ gì bởi cái đẹp bề ngoài đối với con mắt bình thường khác hẳn nét đẹp của tướng diện. Dĩ nhiên, những người đàn ông mặt hoa da phấn thường hay có số đào hoa. Người mang số đào hoa dễ coi thường những người phụ nữ theo đuổi nên sinh ra bất cần, khó khiến ... Chắc chắn một điều, người có số đào hoa chưa chắc đã mặt hoa da phấn nhưng bình thường, nữ giới cũng như nam giới, ai không mang sẵn cá tính bẩm sinh yêu nghệ thuật, ai không dễ xiêu lòng với nét đẹp hợp nhãn ... Đàn ông có một điều tối kỵ đó là lông mọc nơi thân mình: "Mèo vằn chó vá đừng nuôi, râu ria lông ngực là tôi phản thần." Người râu ria rậm rạp kèm theo lông ngực thuộc loại hay thay lòng đổi dạ. Lông bụng tự mình nó đã chứng tỏ con người giảo hoạt, nhỏ mọn, không chí lớn: "Quân tử lông chân, tiểu nhân lông bụng," hoặc "Cá khôn cá lội ra khơi, những người lông bụng chớ chơi mà lầm." Dẫu ca dao có câu: "Người quân tử đắc ý rung đùi, kẻ tiểu nhân đắc ý gẩy đàn môi," nhưng tướng rung đùi lại là tướng xấu: "Đàn ông ngồi hay nhịp cẳng là sẵn tính phá sản." Dân gian nhận xét: "Xem trong bếp biết nết đàn bà;" điều này chẳng lạ gì vì đối với xã hội Việt Nam, đàn bà là nội tướng chuyên lo việc chăm sóc con cái, cơm nước trong gia đình. Dĩ nhiên, "Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm." Nhà cửa sạch sẽ, ngăn nắp, bếp núc gọn gàng ... phải là kết quả do sự làm việc của người nội trơ.. Nếu nhà cửa bếp núc ngập ngụa, con cái lấm lem nhăng nhăng nhố nhố chắc hẳn người mẹ cần phải đặt lại vấn đề. Nguyễn Du than trong Đoạn Trường Tân Thanh: "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen" ám chỉ những người có tài thường hay bị gian truân lận đận ... Đối với khách hồng nhan cũng thế: "Hồng nhan đa truân;" những người đàn bà đẹp theo lối nhìn bình thường của nhân gian thường gặp lắm cảnh trớ trêụ Phụ nữ dưới con mắt tướng diện, câu tục ngữ: "Con mắt lá răm, lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền" thường đánh lừa khối người bồng bột không để ý về nét ngoắt ngoéo chơi chữ của người xưa. Trước hết, không ai dùng tiếng mua vợ hoặc mua vợ cho con mà cưới vợ hay dựng vợ gả chồng cho con cái. Ngược lại, người ta chỉ dùng tiếng mua hầu thiếp; đôi khi lịch sự văn vẻ hơn thì mới nói "cưới nàng hầu" trong thời kỳ xã hội Việt Nam còn chấp nhận "Trai năm thê bảy thiếp ..." Hơn nữa, Ca Dao có câu lục bát nói về con mắt lá khoai loại có hình dạng dài gần giống lá răm: "Những người con mắt lá khoai, liếc chồng, chồng chết, liếc trai, trai mù." Phụ nữ đoan chính không thể bị ghép chữ "liếc trai" mà những hạng "liếc trai, trai mù" thì thuộc loại đa dâm. Thế nên những người "Con mắt lá răm, lông mày lá liễu" là người đa dâm, không thể là vợ một ai mà chỉ đáng nàng hầu nếu không nói đa số là kỹ nữ. Câu tục ngữ dùng chữ ngược nghĩa "Đáng trăm quan tiền." Tướng đa dâm nơi nữ giới còn bao gồm: trường túc, trường mi, xích diện và làn thu thủy. Người đàn bà phần chân dài hơn thân mình, lông mày dài và thẳng, mặt lúc nào cũng hồng đôi má và kèm theo cặp mắt ướt như luôn luôn đọng nước ... tướng kỹ nữ hồng trần. Xét về hình dạng, lông mày phái nữ nên hơi cong theo vòng mí mắt; những chị em trang điểm vô tình không để ý thường hay phạm phải điều kỵ này nơi tướng diện. Không hiểu tại sao Ca Dao có câu: "Những người béo trục béo tròn, ăn vụng bằng chớp đánh con cả ngày." Lý do thật khó hiểu bởi đâu thiếu gì những bà vợ có da có thịt một chút chăm sóc chồng con cẩn thận ... lại thuộc người vượng phu ích tử. Đâu phải cứ béo là hay ăn vụng mà người đã không được ốm cho lắm dẫu có cố gắng ăn ít vẫn cứ chịu khó lên cân ... Thế rồi tại sao "đánh con cả ngày" càng thấy không hợp lý hợp tình chút nào. Kinh nghiệm thực tế cho thấy, những người mập thường là những người có tính vui vẻ; thật ra, nếu người mập không vui vẻ cởi mở mà khăn kháu, khó tính, dễ bị bịnh áp huyết cao chết bất ngờ. Có thể rằng câu ca dao này bị giới hạn bởi kinh nghiệm riêng tư nào chăng. Ngược lại với hình tướng béo trục béo tròn là tướng thắt đáy lưng ong, eo con kiến: "Những người đáy thắt lưng ong, vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con." Tướng nhiều con của người đàn bà là "Lưng chữ ngũ, vú chữ tâm." Người có lưng hơi cong về phía trước, cặp vú ngang hơi thòng xuống sẽ có nhiều con cái. Ngày xưa, trong thời kỳ ấu thơ con cái được nuôi bằng sữa mẹ khác hẳn với ngày nay nên thường có quan niệm: "Cả vú bụ con." Có lẽ cả vú nhiều sữa cho con bú nên con bụ bẫm chăng! Sách tướng chia ra: nhất thanh, nhị sắc, tam hình. Chuông trống, dụng cụ âm nhạc làm bằng đồ tốt thì âm thanh tốt. Con người cũng thế, "Tiếng cả nhà thanh;" người có tiếng nói âm hưởng lan rộng và ngân là quí tướng. Âm thanh tiếng nói theo tướng diện khác với lời nói, "Vàng thì thử lửa thử than, chuông kêu thử tiếng người ngoan thử lời." Lời nói phát tự tâm; tiếng nói thuộc về âm thanh, được xếp vào hàng diện mạo. Theo tướng học, tâm đoan chính, âm thanh tiếng nói biểu hiệu chất hào sảng: "Người thanh tiếng nói cũng thanh, chuông kêu khẽ đánh bên thành cũng kêu." Tiếng nói có âm thanh trầm ấm, âm điệu đĩnh đạc, hơi dài là tốt, là thanh. "Trái ngược với thanh là tục: líu lo, láu táu, thều thào, lí nhí, nói ngắn là xấu, là tục." (Tướng Mệnh Khảo Luận, tr. 55). Nếu "Lầmbầm như chó ăn vụng bột," vừa nói nhỏ, vừa cúi đầu là kẻ gian hoạt, âm hiểm. Âm thanh tiếng nói hoặc kiểu cách nói của phụ nữ biểu hiệu một vài đặc tính của tướng diện. Điểm tối kỵ của phụ nữ về âm thanh giọng nói là lanh lảnh ré lên như tiếng kèn đồng hoặc tiếng lụa xé, đôi khi được gọi sắc như chẻ tre hoặc sắc như dao chém nước: "Đàn bà lanh lảnh tiếng đồng, một tướng sát chồng hai tướng hại con." Theo Vũ Tài Lục, "Đàn bà chỉ cần một tiếng nói sang cũng đủ làm mệnh phụ phu nhân; chỉ cần một tiếng nói giọng đàn ông cũng đủ làm thịt vài ông chồng." Sách tướng có câu: "Nữ hữu nam thanh tất hình phu khắc tử; nam hữu nữ thanh tất tiện bần." (Tướng Mệnh Khảo Luận, trang 58). Coi tướng âm thanh lại cần phải liên kết với thái độ của người nói chuyện. Nếu cười nói tự nhiên là người có tướng về âm thanh tốt. Nói chưa ra lời mà đã cười mang tướng xấu: "Vô duyên chưa nói đã cười, có duyên gọi chín mười lời không thưa.ạ" Ca Dao là thế nhưng gọi chín mười lời không thưa chưa chắc đã có duyên ... Tuy nhiên, chắc chắn rằng chưa nói đã cười lại kèm thêm "đi như chạy" sẽ là người vô duyên: "Những người chưa nói đã cười, chưa đi đã chạy là người vô duyên." Ăn nói nơi người đàn bà còn lệ thuộc vào tướng môi: "Cong môi hay hớt, mỏng môi hay hờn, dề môi ăn vụng." Trong thơ văn, thi sĩ hay dùng tiếng "gót son" để chỉ dáng mảnh mai tơ liễu của tướng đàn bà, tướng quí. Người xưa kinh nghiệm, những người đàn bà có gót chân đỏ sẽ được nhờ cậy nơi con cái sau này: "Những người gót đỏ như son, tướng xuất như vậy có con mà nhờ." Qua cơ cấu gia đình Việt, danh phận người đàn bà lệ thuộc vào danh phận chồng. Ngược lại, theo tướng học, người vợ và người chồng ảnh hưởng lẫn nhau về phận số. Tướng đàn bà cổ cao, ba ngấn sẽ có chồng danh tiếng: "Hỡi cô má đỏ hồng hồng, cổ cao ba ngấn lấy chồng cao sang." Một đặc tính thường có nơi đàn bà đó là ghen. Lẽ thường, "Ớt nào là ớt chẳng cay, gái nào là gái không hay ghen chồng." Ghen không phải chỉ nơi đàn bà mà đàn ông nhiều khi còn quá quắt nhưng không có câu tục ngữ hay ca dao nào nói về đàn ông ghen. Điều này có thể bị quan niệm "Trai năm thê bảy thiếp..." khỏa lấp chăng. Đàn bà có tóc trán quăn là người ghen ghê gớm; ông chồng nào có vợ mang tướng này phải nên coi chừng, nếu không muốn nói là lang bang sẽ có ngày mang họa, "Đàn bà tóc trán quăn quăn, như vậy mới biết người ghen quá chừng." Vô ăn vô lo, sống không cần biết đến ngày mai sẽ ra sao là tướng lẹm cằm. Theo tướng diện, người lẹm cằm mang tướng xấu. Cằm được gọi là "địa các" hay cung "bắc nhạc" chủ về hậu vận. Thế nên, "Thà rằng chịu lạnh nằm không, còn hơn lấy gái lẹm cằm răng hô." Tướng đàn bà bất lợi cho đàn ông là tướng lưỡng quyền cao: "Đàn bà lưỡng quyền cao chỉ mưu mô hiếp chồng." Ngược lại, trên mặt có nốt ruồi nơi rãnh nước mắt sẽ khổ đau về đường chồng con: "Nốt ruồi dưới mắt sẽ nhắc khóc chồng." Trong tiết mục "Hỏi Ông Hư Tử" nơi cuốn "Tướng Mệnh Khảo Luận," Vũ Tài Lục có chép: "Tướng có biến không? Tướng thường biến theo tâm. Theo lời Quỷ cốc Tử nói: 'Hữu tâm vô tướng, tướng tùy tâm sinh. Hữu tướng vô tâm, tướng tùy tâm diệt. Hữu tâm hữu tướng, tướng bất tùy sinh; vô tâm vô tướng, tướng bất tùy diệt." Trong cuộc sống, ai không nhận thấy "Thánh nhân đãi kẻ khù khờ;" vì khù khờ nên không biết hại ai, không mưu đồ gian ác do đó có tâm đức tốt, hướng thiện tất nhiên tướng tùy tâm sinh và số theo đức; trong khi những người ma lanh quỉ quyệt, "Ăn cây táo, rào cây sung," hoặc "Đòn càn hai mũi, đâm bị thóc thọc bị gạo" dù cho có cố tình huênh hoang cũng bị trần ai khốn khổ dầy vò. Nguyễn Du cũng nói lên: "Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài." (Đoạn Trường Tân Thanh). Người xưa có câu: "Ở hiền gặp lành." Ở hiền tất nhiên tạo tâm đức. Xét như vậy, phận số con người không phải đã được an bài từ trước mặc dầu ai cũng tin rằng "Cha mẹ hiền lành để đức cho con." Dẫu cha mẹ hiền lành, con cái hưởng phần phúc đức, nhưng nếu con cái không biết lo sống đức độ mà đam mê chạy theo những ham muốn xấu, tất nhiên tự mình phá đổ phần phúc đức, tự mình gieo tai họa cho mình bởi tướng tùy tâm diệt và số tòng tâm. Nghĩ như thế, thưởng phạt một phần nào cũng có ngay trong cuộc sống, và do chính mình tạo ra; thuyết nhà Phật gọi là "nhân quả." Lẽ đương nhiên, không ai kết án con người mà chỉ kết án hành động của con người. Hành động có nhiều cách, nhiều lối từ lời nói đến mưu mô hoặc thực hành sự việc ... Một lời nói thất đức, hại đến danh dự hay dèm pha xúi bẩy tạo cho người khác đi vào ngã chẳng nên có khi gây tổn hại gấp trăm ngàn lần những lỗi lầm vô ý. Ngược lại cũng một lời nói giúp cho người khác thăng tiến, sống tốt lành hơn, tạo nơi mình dầy đường tâm đức. Bình tâm nhận xét, tướng diện học có mục đích giúp mình tự nhận thấy những gì thiếu sót lo sao sống tốt lành hơn để tạo thêm tâm đức. Như vậy, dẫu một người có tướng diện không hay, chẳng nên ca thán hoặc nghĩ mình bị mang số hẩm hiu; trái lại, nên nhớ câu "Đức năng thắng số." Chỉ có một con đường duy nhất để cải số là sống đức đô.. Con người được sinh ra với tướng không tự mình lựa chọn nhưng cải tướng, chuyển số lại bởi tự chính mình. Nhận ra như thế, chẳng lạ gì, những ai "Gieo gió sẽ gặt bão" và đồng thời người nào "Trồng cây dâu ăn trái dâu." Đó cũng là lý do người xưa có nói "Người trồng cây cảnh người chơi, ta trồng cây đức để đời về sau." Người nhận ra tướng diện mình để tu thân chắc chắn không ai có thể "coi bói" hoặc "Trông mặt mà bắt hình dong" được nữa bởi đã tự cải số nên sinh ra "Tướng diện bất như tướng tâm." Tuy nhiên, không phải vô lý mà có câu "Trông mặt bắt hình dong, con lợn có béo thì lòng mới ngon." Khi một người trong lòng vui tất nhiên mặt sẽ hiện lên nét vui tươi, cởi mở, hoặc trong lòng buồn, nét mặt trở thành lo âu sầu khổ. Cái lý của tướng diện cũng tương tợ như tâm lý để lộ qua hình hài, thái độ. Xét như vậy, nếu do tướng diện mà biết được tâm thì chắc chắn tâm ảnh hưởng tướng diện. Thế nên, muốn đổi tướng trước hết cần chuyển tâm; điều này chẳng có gì nghịch lý mà lại thuận theo nghĩa tương đồng vậy. Stầm nguồn:http://vnthuquan.net...CookieSupport=1 Thiên Đồng
  2. Thiên Đồng chuyển giúp chị Điệp ở Củ Chi số tiên là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) vào quỹ từ thiện.
  3. Những trận động đất trên thế giới từ tháng 01 đếntháng 04 năm 2011
  4. Lẽ thường ở đời ngưới ta cứ chắm bẩm vào cái marque giáo sư nọ, tiến sĩ kia, nhà nghiên cứu này nói...là coi như oke rồi, coi như chân lý rồi. Vì vậy, mê tín trông khoa học là vậy. Bác Ngò không phải là nhà khoa học, nhưng bằng chứng và phương tiện chứng minh cho lẽ thật là thật. Như vậy cũng khoa học chứ nhỉ?
  5. Bộ Xây dựng Viện Kiến trúc Quy hoạch đô thị nông thôn Tạp chí Kiến trúc Việt Nam. ------------------------- Thông báo Kết quả Cuộc thi " Ý tưởng thiết kế kiến trúc cổng cửa khẩu Việt Nam" Sau gần 4 tháng phát động (Từ ngày 25/5/2008 - 15/9/2008), cuộc thi: ý tưởng thiết kế kiến trúc cổng cửa khẩu Việt Nam đã nhận được sự tham gia nhiệt tình của đông đảo các đơn vị tư vấn, thiết kế xây dựng, các Kiến trúc sư trong cả nước. Cuộc thi đã nhận được 56 phương án tham gia dự thi với nhiều ý tưởng đa dạng và phong phú cho các cửa Khẩu Việt Nam với Trung Quốc, Việt Nam với Lào, Việt Nam với Campuchia. Cửa khẩu Quốc tế (Quốc Môn) là điểm mốc đánh dấu sự thay đổi gianh giới giữa các nước láng giềng. Kiến trúc cửa khẩu là một biểu tượng về văn hóa, tình đoàn kết, hữu nghị của người dân vùng biên giới, đồng thời thể hiện nét độc đáo về văn hóa - kiến trúc của mỗi nước. Thực hiện nhiệm vụ của Bộ Xây dựng giao, cuộc thi: ý tưởng thiết kế kiến trúc cổng cửa khẩu Việt Nam đã được Viện Kiến trúc Quy hoạch đô thị và nông thôn ( KTQHÐT&NT), Tạp chí Kiến trúc Việt Nam tổ chức. Cuộc thi với mong muốn tìm kiếm được những ý tưởng thiết kế kiến trúc cửa khẩu Việt Nam mang nét đặc trưng bản sắc dân tộc Việt Nam, bản sắc dân tộc vùng miền Việt Nam. Vừa qua, Viện KTQHÐTNT đã tổ chức chấm thi. Hội đồng chấm thi gồm 9 thành viên: 1. KTS Trần Ngọc Chính - Thứ trưởng Bộ Xây dựng - Chủ tịch Hội đồng chấm thi 2. TS.KTS Nguyễn Ðình Toàn - Viện trưởng Viện Kiến trúc, Quy hoạch đô thị và nông thôn (BXD) Phó Chủ tịch Hội đồng chấm thi. 3. KTS Lê Ðình Tri - Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý Kiến trúc Quy hoạch (BXD) 4. KTS Nguyễn Luận - Hội Kiến trúc sư Việt Nam 5. GS.TSKH Nguyễn Mạnh Thu - Trường Ðại học Xây dựng 6. KTS Trần Ðức Hợp - Trường Ðại học Kiến trúc Hà Nội 7. PGS.TS Nguyễn Quốc Thông - Tổng biên tập TC Xây dựng (BXD) 8. Hoạ sỹ Lương Xuân Ðoàn - Phó vụ trưởng Vụ Văn hóa văn nghệ Ban Tuyên giáo Trung ương 9. TS.KTS Nguyễn Trọng Khang - Viện Kiến Trúc, Quy hoạch đô thị và nông thôn (BXD) Về hình thức chấm giải Hội đồng chấm thi đã thống nhất thay đổi phương thức chấm vòng 2 (theo thể lệ cuộc thi đã đề ra) như sau: Các tác giả của các phương án đạt vào vòng 2 không cần phải trình bày, bảo vệ trước hội đồng để tiết kiệm thời gian và tài chính cho các tác giả, nhất là các tác giả ở xa. Các phương án đã thể hiện đầy đủ ý tưởng và nội dung của các tác giả. Hội đồng đã thông qua quy chế chấm thi: Vòng 1: Chấm 55 phương án theo quy chế chấm thi gồm 3 tiêu chí sau: · Kiến trúc Quy hoạch: 60 điểm · Công năng: 20 điểm · Kinh tế - kỹ thuật tính khả thi: 20 điểm Ðiểm tối đa là 100 Kết thúc vòng 1 Hội đồng thống nhất chọn ra được 19 phương án đạt trên 60 điểm. Vòng 2: Hội đồng đều thống nhất chọn ra 09/19 phương án lọt vào vòng 3 Vòng 3: Xét các giải: Nhất, Nhì, Ba, Khuyến khích . Kết quả cuộc thi: Hội đồng chấm thi đã thống nhất chọn ra 09 phương án đạt giải, bao gồm: 01 giải Nhất, 01 Giải Nhì , 02 Giải Ba; 05 giải Khuyến khích. Cụ thể như sau: GIẢI NHẤT: Phương án thiết kế quốc môn Việt - Trung MS: LC 689 Nhóm tác giả: Nguyễn Như Hải Ðỗ Duy Khang Ðinh Mỹ Hảo Nhi Ðịa chỉ: Công ty TNHH Kiến Trúc Nguyên Bản (Orig.architecture), 69/A Hoàng Hoa Thám, P.6, Quận Bình Thạnh, TP.HCM. Phương án đoạt giải nhất của cuộc thi Ý tưởng thiết kế Chọn vị trí đặt quốc môn Việt - Trung tại Lào Cai, nơi có 2 mùa tuyệt đẹp để ngắm cảnh kỳ thú của ruộng bậc thang - mùa gieo cấy lúa ruộng đẹp như những bức tranh thuỷ mặc và mùa lúa chín vàng đẹp như mơ trải dài ven sườn núi xanh mờ sương… Có thể tự hào mà nói rằng mỗi vẻ đẹp của ruộng bậc thang ở Tây bắc là những kiệt tác mỹ thuật do con người làm ra.Những cánh đồng bậc thang không chỉ là cảnh đẹp thuần tuý mà còn là những bồ thóc không bao giờ vơi của đồng bào các dân tộc vùng cao. Ðó cũng là kết quả của phương thức năm nay. Ðây là những điểm đến hấp dẫn của du khách quốc tế và du khách các tỉnh đồng bằng mỗi khi lên du lịch vùng núi Sa Pa, Bắc Hà, Bát Xát,Simacai. Chính vẻ đẹp của ruộng bậc thang đã tạo ra cảm xúc cho chúng tôi hình thành ý tưởng và đó cũng là tên đồ án “ruộng bậc thang”. Hình khối công trình được cách điệu từ hình ảnh ruộng bậc thang, như một niềm tự hào về bản sắc văn hóa của vùng miền núi Tây Bắc, nhằm tạo nên một cái nhìn mới về hình khối kiến trúc cửa khẩu mang đậm nét bản địa. Ðược làm bằng kết cấu bê tông cốt thép nên công trình sẽ thể hiện được sự mạnh mẽ bền vững với tinh thần phát triển không ngừng của đất nước trên con đường hội nhập quốc tế. Mặt đứng công trình như hình mầm cây vươn lên, thể hiện sự phát triển không ngừng của đất nước trên con đường hội nhập quốc tế. Ðường cong trên mặt đứng và mặt bằng thể hiện tinh thần rộng mở, hiếu khách của đất nước thời mở cửa. Các hạng mục phụ của công trình được bố trí xung quanh cổng. Cột mốc gắn quốc huy là điểm nhấn công trình. Quảng trường, sân nghi lễ thay vì một khoảng sân bê tông trơ cứng, được cách điệu từ hình ảnh ruộng bậc thang để không làm mất đi cảnh quan thiên nhiên xung quanh cũng như nét đẹp tổng thể. Trạm nhập cảnh và xuất cảnh bên trong công trình được bao bọc bởi kính phản quang cũng nhằm mục đích đưa hình ảnh vùng núi trùng điệp này lên trên công trình. Tuy nhiên, tổng thể công trình không thiếu đi sự mềm mại bởi những nét cong nhằm ẩn dụ tinh thần cởi mở, hiếu khách của con người Việt Nam. Ðó cũng là thông điệp của nền văn hóa Việt gửi đến bạn bè thế giới! GIẢI NHÌ: Phương án thiết kế cửa khẩu Việt - Trung MS: KD 020 Nhóm tác giả: Lê Thu Trang Vũ Ngọc Tú Ðào Thái Hà Nguyễn Minh Trì Ðịa chỉ: Nhóm sinh viên trường ÐH Xây Dựng Hà Nội Phương án đoạt giải nhì của cuộc thi Ý tưởng thiết kế được khai triển dưới dạng một “tấm kính”lớn. Một cánh cổng rộng mở và gần gũi về cả nghĩa đen hay nghĩa bóng. Một mặt phẳng duy nhất và vĩnh cửu. Lối đi cho người đi bộ như một đường hầm nhỏ - gần gũi, thân thiện. Cánh cổng lớn là một ranh giới. Ðường hầm chính là lối đi đưa con người qua ranh giới. Ðiều thú vị là khi ở trong đường hầm, ta hầu như không còn có ý thức về ranh giới ta đang vượt qua, ta đang ở bên này hay bên kia của ranh giới ấy. Hai lối ra của đường hầm tràn ngập ánh sáng. Một như níu kéo, một như mời gọi. Biên giới là tuyến ngang phân định ranh giới giữa hai đất nước với hai nền văn hóa - xã hội đặc trưng. Trong đó cửa khẩu được hiểu như là một điểm trên tuyến nơi diễn ra việc lưu thông của con người. Ðiểm đó đóng một vai trò vô cùng quan trọng cả về mặt vật chất và tinh thần đối với một quốc gia.Nó thể hiện sức sáng tạo, nền văn hóa dân tộc, tình hữu nghị, và quan trọng nhấn mạnh vào yếu tố chủ quyền. Vật liệu sử dụng : Phương án không sử dụng các vật liệu đặc như gạch, bêtông mà dùng kính để tạo lập hình thức cửa khẩu. Vật liệu này đem đến cho người xem một hình dung, suy nghĩ mới về “cánh cổng” quốc gia. Về mặt ý tưởng: Trong sự phát triển đi lên của đất nước, yếu tố “hội nhập” đang trở thành một trong những quốc sách hàng đầu. Vì vậy, một hình thức cửa khẩu mới phải thể hiện được sự cởi mở, thân thiện, sẵn sàng hội nhập. Phương án đã sử dụng vật liệu Kính - một vật liệu phổ biến trong kiến trúc - xây dựng để xóa nhòa cái ranh giới cụ thể đó. Tuy nhiên, trong suốt không có nghĩa là có thể thẩm thấu, xuyên qua, cũng giống như tiêu chí thứ hai “không hòa tan”. Cửa khẩu vẫn là một bức tường vững chãi khẳng định tính độc lập chủ quyền của quốc gia, không kẻ thù nào có thể xâm phạm. Với hai tiêu chí đó, phương án của chúng tôi muốn đem đến một cái nhìn mới về việc thiết kế kiến trúc cổng cửa khẩu. Cùng với hình ảnh hoa văn thổ cẩm toàn bộ thiết kế mặc dù hết sức đơn giãn vẫn truyền tải được nội dung, bản sắc dân tộc. Về mặt hình thức, công năng: + Dòng hàng hóa được đưa vào giữa gồm có 4 làn đường cho ôtô, mỗi làn 3,5m, với 2 chiều lưu thông. + Hai bên là các hành lang đi bộ cho người qua lại, sử dụng vật liệu đặc hoàn toàn, bề mặt bên trong là những hình ảnh lịch sử của quốc gia. Với kích thước hành lang là 2200 x 2200 hoàn toàn đối lập với kích thước rất lớn của cổng -14m chiều cao và gần 7m thông thủy. Ðiều đó tạo ra cho người đi bộ một sự cảm nhận mới khi đến với Việt Nam: gần gũi bởi không có một ranh giới quá cụ thể, không xác định rõ thời điểm bước qua ranh giới; thú vị và ngạc nhiên từ điểm đầu đến điểm kết thúc của lối đi bởi họ được trải qua một tiến trình dài của lịch sử, cô đọng và hào hùng. Chỉ vài bước chân họ đã đến nước ta, và cũng chỉ vài bước chân họ trở về Tổ quốc với những ấn tượng rõ nét về dân tộc Việt Nam. Phương án sử dụng những hình chữ nhật, hình hộp chữ nhật vuông vức và vững chãi. Sự đơn giản hóa chi tiết và công năng tạo cho công trình vẻ hiện đại mà cũng đầy ý nghĩa. GIẢI BA (2 giải): Phương án thiết kế Quốc Môn Việt - Lào MS: VH 268 Nhóm tác giả: Dương Thành Trung Nguyễn Vân Hà Dương Trung Hiếu Ðịa chỉ: Văn phòng Kiến trúc Nhiệt đới, nhà A5, Lương Ngọc Quyến, Hà Nội Ý tưởng kiến trúc công trình Ý tưởng kiến trúc Cổng cửa khẩu Việt - Lào được xuất phát từ ý thức tôn vinh mối quan hệ đoàn kết và hữu nghị hàng trăm năm qua giữa hai dân tộc, tình cảm gắn bó như anh em: Việt - Lào được ví như hình ảnh hoa Sen và hoa Chăm Pa. Cổng cửa khẩu được xây dựng với hình ảnh những cánh hoa Sen trên mặt hồ. Hoa Sen là loài hoa đặc trưng cho dân tộc Việt Nam, loài hoa thể hiện sức mạnh bất khuất vươn lên mạnh mẽ từ trong bùn lầy. Hình ảnh hoa Sen thể hiện truyền thống anh dũng thắng giặc ngoại xâm từ hàng ngàn năm qua. Mặt nước được sử dụng ngoài ý đồ thẩm mỹ, còn là một yếu tố “phong thuỷ” không thể thiếu của người Việt. Mặt nước ở đây còn đóng vai trò điều hoà môi trường không khí quanh khu vực cổng cửa khẩu, làm giảm đáng kể cái oi bức của gió Lào. Giải pháp kiến trúc công trình Giải pháp mặt bằng: Mặt bằng của công trình cửa khẩu có bố cục đơn giản, phân luồng giao thông mạch lạc. Mặt bằng chia làm ba khối: Hai khối hai bên dành cho xuất và nhập cảnh của người đi bộ; khối ở giữa dành để kiểm soát ô tô xuất và nhập cảnh. Tầng hầm có tác dụng làm giao thông liên hệ giữa các khu chức năng và tăng khả năng vững chắc cho công trình khi cắm sâu xuống đất (chỉ dành cho nội bộ). Các tầng trên đều được tận dụng làm các phòng phục vụ nhân viên an ninh làm việc tại cổng cửa khẩu. Nói chung mặt bằng đã thoả mãn các yếu tố sau: Giao thông đi bộ và giao thông cơ giới tách biệt và đều được kiểm soát dễ dàng; Hai luồng giao thông xuất cảnh và nhập cảnh cũng được phân cách tốt. Các hoạt động của người dân và các hoạt động của nhân viên an ninh cũng tách biệt rõ ràng nhờ việc tổ chức hầm đi bộ. Giải pháp mặt đứng: Mặt đứng công trình được bố cục bởi các miếng đặc rỗng xen kẽ nhờ các khoảng trống để phục vụ giao thông và các mảng đặc của công trình tạo nên. Toàn bộ mặt đứng được che phủ một lớp cánh bằng thép có các chớp chắn nắng có thể điều chỉnh được góc xoay. Lớp cánh cổng vươn cao này vừa có tác dụng biểu hiện vừa có tác dụng chắn nắng cho các không gian chức năng bên trong, nhằm chống lại cái nắng nóng của miền đất chịu tác động của gió Lào. Giải pháp kết cấu công trình: Với yêu cầu về một công trình bề thế, vững chắc, bền vững với thời gian nên việc sử dụng kết hợp kết cấu bê tông cốt thép kết hợp với kết cấu thép sẽ vừa đảm bảo được tính chắc khoẻ mà vẫn đảm bảo tính biểu hiện kiến trúc. Thay vì sử dụng hệ thống cột thì ở đây dùng toàn bộ là hệ thống vách bê tông cốt thép cắm sâu xuống lòng đất thông qua tầng hầm, điều này sẽ đảm bảo cho một công trình có thể chịu được mọi tác động của thiên nhiên. Các giải pháp kỹ thuật khác: Ðể tận dụng tối đa nguồn năng lượng tại vùng đất có nhiều ánh nắng nên công trình được trang bị hệ thống pin mặt trời trên mái và toàn bộ hệ thống bảo vệ, chiếu sáng công cộng đảm bảo cho việc tự cung cấp nguồn năng lượng cho các hoạt động tại khu vực cửa khẩu. Công trình có thể lấy ánh sáng tự nhiên rất tốt, hệ thống vách kính bên trong rộng lấy sáng dễ dàng, bên trong tất cả các vách kính đều có hệ thống cửa cuốn thép bảo vệ an ninh khi cần, phía mặt ngoài được che phủ bằng một lớp cánh bằng thép vừa là kết cấu công trình vừa là khung để gắn hệ thống chớp che nắng bằng hợp kim có thể thay đổi góc xoay. Công trình được sử dụng kết hợp các loại vật liệu truyền thống và hiện đại, từ kết cấu bê tông cho đến kết cấu thép, tiếp đến là các chi tiết như tấm chắn nắng và bộ colson (sử dụng thức gỗ cổ) đều được làm bằng các vật liệu mới. Phương án thiết kế Quốc Môn Việt - Lào MS: VIE 02 Nhóm tác giả: CTy Cổ phần Tư vấn đầu tư và Phát triển đô thị VIEALIFE Ðịa chỉ: 43 Pháo Ðài Láng, Ðống Ða, Hà Nội Ý tưởng: Trống Ðồng được coi là biểu tượng văn hóa của người Việt, vì qua đó thể hiện cảm nhận về quy luật của thiên nhiên cũng như cuộc sống thường ngày của người Việt cổ. Trên những họa tiết trên trống đồng có nhiều hình ảnh của những kiến trúc cổ của người Việt. Những hình ảnh đó rất gần gũi và thể hiện đậm chất văn hóa Việt. Cách điệu hình ảnh đó với những vật liệu hiện đại, công trình muốn hướng đến một hình ảnh gần gũi với người Việt Nam, thân thiện với bạn bè quốc tế thông qua những đường nét, vật liệu của kiến trúc hiện đại. Bên cạnh đó còn thể hiện được: nét văn hoá riêng đặc sắc của Việt Nam; tinh thần hữu nghị với bạn bè quốc tế; tư thế dân tộc, chủ quyền quốc gia Việt Nam. Ðịa điểm thiết kế: Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo nằm trên biên giới giữa Việt Nam và Lào. Khu kinh tế cửa khẩu Cầu Treo là một trong những được ưu tiên phát triển. Khu kinh tế này gắn với cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, nhằm mục đích đẩy mạnh thông thương giữa Việt Nam với Lào, thúc đẩy phát triển kinh tế Hà Tĩnh nói riêng, Việt Nam nói chung. Giải pháp kiến trúc, quy hoạch: - Tổ chức quy hoạch: Công trình cổng cửa khẩu Cầu Treo nằm giữa đường biên và trạm kiểm soát. Giao thông: Nằm ở hai bên là 4 làn xe ô tô, chiều rộng mỗi làn là 3,5m, chiều cao thông thuỷ đảm bảo cao 7m. Ngoài ra còn tổ chức thêm hành lang đi bộ cho cả 2 lối xuất nhập trên vỉa hè hai bên. Cảnh quan: Hai bên vỉa hè là bãi cỏ rộng - tạo vị thế của công trình và sự hòa hợp với thiên nhiên. Phía trước công trình có bố trí hồ nước là một giải pháp hay được sử dụng trong các công trình dân gian của người Việt. Hệ thống trụ biểu ngoài chức năng dẫn hướng, còn được lắp đặt đèn tạo thêm những hiệu quả bổ trợ cho công trình chính. - Tổ chức mặt bằng: Trung tâm của công trình là nhà lưu niệm, nơi có thể đặt một số tư liệu về tình hữu nghị của hai dân tộc Việt -Lào ... Hai bên là trạm đứng gác của bộ đội biên phòng. Công trình có bố trí bậc tam cấp cũng như đường dốc để cả người khuyết tật có thể tiếp cận sử dụng. - Hình thức kiến trúc công trình: Xuất phát từ các họa tiết trên trống đồng, công trình có cấu trúc của một công trình dân gian mạch lạc đơn giản. Hai diện mái dốc khiến người ta liên tưởng đến ngôi Ðình của người Việt. Phần chéo của mái cùng các chi tiết đầu đao khiến công trình như đang vươn lên thể hiện sức mạnh vươn lên của Việt Nam. Giải pháp kỹ thuật: Công trình sử dụng kết cấu bê tông cốt thép. Các vật liệu được sử dụng là những vật liệu công nghệ cao và những vật liệu địa phương gạch, đá, gỗ để trang trí và ốplát. Giải pháp chiếu sáng: Công trình được chiếu sáng vào ban đêm và những khi thời tiết nhiều sương mù bởi hệ thống đèn rọi ngoài công trình và đặt ngay trên công trình. Bên trong công trình hệ thống kết cấu được lắp đặt đèn để chiếu sáng và tăng hiệu quả nội thất bên trong. Hệ thống trụ biểu được lắp đèn để dẫn hướng kết hợp với hệ thống đèn sân vườn và an ninh sẽ tạo nên sự hấp dẫn của cả tổng thể công trình. còn tiếp nguồn: http://kientrucvietnam.org.vn/Web/Content.aspx?distid=9246&lang=vi-VN
  6. Sự lựa chọn chuẩn xác và đầy nét văn hóa Việt. Chỉ có Cụ Khiết mới đáng làm thầy thiên hạ, vì Cóc sinh ra nòng nọc mà chữ Khoa Đẩu là chữ Nòng Nọc. Thầy đồ Cóc Câu thơ được thầy Xuyền viết bằng chữ Việt cổ , chữ Nòng Nọc.
  7. Lạ kỳ tục "họp chợ" mua con Chủ nhật, ngày 29/08/2010, 09:02 (Tin tuc) - Mấy đời nay, người Dao ở Nậm Mười, huyện Văn Chấn - Yên Bái có lệ đi tìm mua con người Thái về nuôi, có gia đình mua đến 8 đứa con. Mua con nuôi đang trở thành lệ khó bỏ ở Nậm Mười Để tới được những ngọn núi ở xã Nậm Mười, huyện Văn Chấn – Yên Bái, nơi có đông người Dao sinh sống, chúng tôi phải cuốc bộ qua nhiều đèo, suối quanh co. Giữa trưa mà vùng này bị sương mù phủ kín. Bởi thế, nhiều người đã ví Nậm Mười như Sapa thứ hai ở phía Bắc. Không mua người cùng dân tộc Cuộc sống ở Nậm Mười gần như tách biệt với thế giới bên ngoài. Muốn xuống núi đến thị xã Nghĩa Lộ cách đó vài chục cây số, người dân phải đi bộ cả ngày trời. Qua bao nhiêu đời, tập tục của người Dao ở đây không có gì thay đổi so với những gì tổ tiên họ để lại.Con nuôi được người Dao ưu tiên mua chủ yếu là người Thái, còn người Mông dù cũng khỏe mạnh nhưng chẳng hiểu sao họ không chuộng. Đặc biệt, người Dao không khi nào mua con nuôi là người Dao, bởi họ quan niệm nếu là người cùng dân tộc thì đến lễ “cấp sắc” (công nhận một người đàn ông đã trưởng thành), các “ma” sẽ tranh nhau. “Tao mua 8 đứa con, 7 trai, 1 gái, đứa nào cũng còn đỏ hỏn. Vậy mà thằng chồng hơn tao 15 tuổi cứ bảo mua thêm vài đứa nữa về nuôi. Vì thiếu sữa, thiếu tiền, 4 đứa chết mất rồi. Tao khóc mãi nhưng chúng nó cũng không sống lại được”. Nghe chúng tôi hỏi chuyện con nuôi, bà Đặng Thị Pham, ngụ tại thôn Bó Sưu, xã Nậm Mười, sụt sùi kể lại như thế. Gia đình bà Pham được xem là đã lập kỷ lục mua con nuôi ở Nậm Mười. Trong căn nhà bằng gỗ thông thấp lè tè, lợp bằng những mảnh gỗ chẻ mỏng mà nằm ngửa giữa sàn có thể nhìn lên trời rõ mồn một, bà Đặng Thị Còi - thôn Háo Pành, xã Nậm Mười - ngậm ngùi kể về đứa con nuôi của mình: “Vợ chồng mình không có con trai nên mới mua đứa con của người Thái. Lúc mua, nó mới được mấy tháng, trông chẳng ra hình người, cứ ốm đau liên tục. Mình phải lên rừng lấy lá thuốc về tắm mãi, nó mới khỏe ra. Nuôi nó vất vả, tốn kém lắm. Mỗi lần bố mẹ nó đến chơi là mình phải có cái gì cho họ mang về, lần thì gạo, ngô; lần thì đôi gà...”. Người con được bà Còi mua về nuôi và đặt tên là Bàn Tân Thanh nay đã có 2 con nhưng cái đói, cái nghèo vẫn đeo đuổi mãi. Bà Còi thở dài: “Nó không biết làm ăn nên khổ lắm”.Nhắc đến chuyện mua con nuôi, bà Bàn Thị Gến ở thôn Háo Pành ngượng ngùng: “Mình mua 2 đứa cơ, một trai, một gái. Đứa lớn đi lấy vợ rồi, đứa con gái cũng lấy chồng xa tận Lào Cai, thỉnh thoảng mới về thăm mình. Trước kia, mình tưởng không sinh được con nên mới mua chúng nó. Mua chúng về ít lâu thì mình sinh được 2 đứa nữa. Mình không phân biệt con nuôi với con đẻ đâu, cũng chia đất, chia rừng, cho mỗi đứa con trâu, con gà như nhau hết”.Hôm chúng tôi đến, vợ chồng anh Bàn Kim Định ở thôn Háo Pành bồng ra khoe 2 đứa con nuôi mới hơn 3 tháng tuổi. Anh Định cho biết: “Vợ chồng mình lấy nhau thật lâu mà vợ không chịu sinh cho mình đứa con cho bằng bạn, bằng bè. Sau lần thấy vợ kêu mệt và đau bụng, mình đưa đi khám mới biết vợ bị bệnh không sinh con được. Thấy người trong xã “họp chợ” mua con về nuôi, vợ chồng mình cũng đi theo và may mắn mua được 2 đứa”. Vợ anh, chị Bàn Thị Mụi, thổ lộ: “Mình muốn sinh lắm chứ nhưng mà không sinh được. Bây giờ thì mình chỉ trông chờ vào 2 đứa con nuôi này thôi”. Một buổi họp phụ nữ về kế hoạch hóa gia đình, tránh mua bán con nuôi tràn lan “Họp chợ”, như người Dao thường gọi, là cách thức tìm mua con nuôi nhanh nhất. Theo đó, một số người có nhu cầu mua con nuôi tập hợp lại rồi đi xuống núi suốt nhiều ngày. Hễ thấy gia đình người Thái nào đông con, họ liền vào nhà xin ngủ nhờ và hỏi thăm xem có ý bán con hoặc trao đổi thứ gì đó không. Nếu gia đình người Thái đồng ý bán con, người Dao sẽ hẹn một “ngày tốt” rồi dắt theo một con trâu 3-4 tuổi, một đôi gà và ít tiền đến trao đổi, làm thủ tục mang con về nuôi.Trước khi con nuôi được mang vào nhà, người Dao cũng phải xem và chọn giờ tốt. Sau đó, họ mổ gà cúng xin tổ tiên. Khi con nuôi lớn lên, cha mẹ nuôi phải nói rõ thân phận cho chúng nghe. Theo tục lệ của người Dao, mọi người con nuôi khi mới mang về đều phải đặt cùng một tên là Páo. Khi con nuôi được 12-13 tuổi, cha mẹ nuôi cúng “ma nhập” rồi đặt tên chính thức. Tên con nuôi không được trùng tên với người trong nhà bố mẹ đẻ. Bán con, mua thuốc phiện Con đường độc đạo từ Quốc lộ 32 vào Nậm Mười hoang vu, lạnh lẽo đến ghê người. Sau trận mưa, hơn 20 km đường đèo dẫn vào xã này trở nên lầy lội. Nậm Mười nằm trên khu vực núi cao đến mức từ trung tâm xã, chỉ cần ngồi lên xe, tắt máy, cho xe tự chạy cũng đến được Quốc lộ 32. Người dân Nậm Mười sống chủ yếu dựa vào cây quế hoặc nuôi vài con heo, dăm đàn gà thả rông. Tình trạng mua con, trao đổi con giữa người Dao và người Thái ở Nậm Mười nói riêng cũng như Yên Bái nói chung ở mức độ nào đó đã và đang dẫn tới sự đói nghèo luẩn quẩn. Người Thái vì không chú trọng kế hoạch hóa gia đình nên mỗi nhà luôn có từ 5 đến 7 con. Nương lúa, rẫy ngô chưa kịp thu hoạch thì thực phẩm dự trữ trong bồ đã hết veo. Trẻ con cả năm chẳng có chiếc áo mới. Cố gắng lắm, bọn trẻ cũng chỉ học hết lớp 5 rồi theo gia đình lên nương rẫy. Sinh nhiều nhưng không đủ sức nuôi con, người Thái đành bán con cho người Dao lấy ít vốn làm ăn. Họ bán con lấy tiền nhưng cũng có thể đổi một con trâu, hai con lợn hay đàn gà. Cũng có nhiều trường hợp người Thái bán con chỉ vì nghiện thuốc phiện. Họ nằng nặc lấy tiền cho bằng được để mua thuốc. “Mình mua con rồi trả bố nó một con trâu và cái vòng bạc ở cổ tay nhưng bố nó nhất định không chịu, chỉ đòi lấy tiền về để hút thuốc phiện. Vợ chồng ấy bỏ nhau, chia mỗi người một đứa con. Ông bố thèm thuốc quá nên đem con bán cho mình lấy tiền hút” - chị Bàn Thị Mụi chỉ tay về đứa con nuôi kể. Trong khi đó, người Dao thích mua con về nuôi nhưng gia đình cũng chẳng khá giả gì hơn người Thái. Bi kịch nhất là họ mua con nhưng lại không thể nuôi chúng đủ ăn, không có tiền thuốc thang khi chúng đau ốm... Đơn cử như trường hợp bà Đặng Thị Pham đã mất 4 đứa con nuôi. Hiện 4 người con nuôi còn lại của gia đình người phụ nữ này đã trưởng thành nhưng rất khổ cực, thường xuyên thiếu ăn.
  8. @ one_newbia, Người bộc trực, nóng tính, lo chuyện bao đồng. Tuổi trẻ nông nỗi, gặp nhiều bất trắc. Đổi lại, không vòng vèo, không chữ thập cắt nét. Thiên Đồng
  9. TD chỉ lấy ngay trên lý thuyết của Rubi mà phản biện chứ không cần xây dựng một hệ thống lý thuyết nào khác. Ngay bản thân khái niệm từ những thư tịch cổ còn lưu lại như Thái cực, Lưỡng nghi, hành...là rỏ ràng với khái niệm diễn đạt của nó, mang tính độc lập. Nói nôm na là mỗi khái niệm cho mỗi thực tại vũ trụ. Nhưng trong khi đó ngay trong lý thuyết của Rubi thì có mâu thuẩn, nhập nhằn và gán ghép lắm. Rubi có thể xây dựng một lý thuyết cho riêng mình, nhưng đòi hỏi phải phản ánh và lý giải được thực tại vũ trụ. Thiên Đồng
  10. Thái Cực là một khái niệm diễn tả cái không giới hạn, vô biên và cái duy nhất một. Hành là khái niệm phân loại vật chất trong vũ trụ và hữu hạn. Rubi đồng nhất Thái cực với hành Thổ thì hóa ra là có...5 Thái cực. Như vậy thì rỏ ràng phi lý. Hơn nữa lấy cái hữu hạn đồng nhất với cái vô hạn thì hóa ra là "lông rù sừng thỏ" sao? Thiên Đồng trong lý thuyết của Rubi có mâu thuẩn đấy. Thiên Đồng
  11. @ Angela, Thử xem qua lời giải thích sau: Tại sao mẹ cô dâu không đi đưa dâu? Trong chế độ phong kiến cũ, hôn nhân cưỡng ép, thường là cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy. Thực ra, trong nhiều gia đình, người cha quyết định mọi việc, người mẹ chỉ biết tuân theo. Vì thế đã xảy ra một số trường hợp oái oăm: Ngày con gái vu quy đáng lẽ là ngày vui nhất trong đời nhưng người thì khóc lóc buồn tủi vì bị ép buộc, người thì lo sợ cảnh làm dâu, làm vợ, từ tấm bé chưa rời mẹ, nay tự nhiên mẹ con xa nhau; mẹ thương con còn thơ dại, cũng mủi lòng sụt sùi khóc. Thế là, trong khi hai họ đang vui mừng yến ẩm ở nhà ngoài thì hai mẹ con lủi thủi, cắp nón ra về. Tan tiệc, nhà trai chẳng tìm thấy cô dâu đâu nữa. Qua một vài đám đại loại như vậy người ta rút kinh nghiệm không nên để mẹ cô dâu đi đưa dâu, dần dần bắt chước nhau, trở thành tục lệ. Một vài địa phương, cả bố cô dâu cũng không đi đưa dâu với lý do con mình đã gả bán cho người. Tuy rằng trong văn sách có ghi "Giá thú bất luận tài" nghĩa là không bàn đến tiền tài trong việc cưới hỏi, nhưng không hiểu vì sao trong ngôn ngữ Việt Nam lại kết hợp "Gả bán" liền nhau. Thời nay hôn nhân tự do, trai gái tìm hiểu, yêu nhau kết hôn trên cơ sở tình yêu đôi lứa, cha mẹ chỉ tham gia góp ý, hướng dẫn, vậy thì cha mẹ có nên đến dự lễ vui của hai con không? Đã có nhiều đám cưới ngày nay bỏ tục kiêng này. ----------------- Lời biện giải trên có phần chỉ giải thích về mặt hiện tượng xã hội mà không lột tả được nội tình bên trong. Ai cũng dễ dàng hiểu một nghĩa đương nhiên rằng con của mẹ thì đích thực là con của mẹ, dù trai hay gái (còn con của cha thì chưa chắc à!). Sự cưu mang nuôi nuôi nấn đứa đứa con là sự gắn bó huyết mạch tình thâm không dể gì chia cắt. Với phong tục "làm dâu nhà chồng", người con gái phải lìa xa người mẹ, cắt đứt mối dây tình thâm ấy thì hủ tục đó như một con dao hợp pháp cắt đứt mối tình thâm khắng khít giữa người con và người mẹ. Do vậy, người mẹ không bao giờ chịu chìa lìa mối ruột rà ấy, không thể tự tay cắt đứt mối thâm tình ấy, vì như thế còn đâu là tình mẫu tử. Vì vậy người mẹ trong phong tụ xưa không bao giờ đưa con gái về nhà chồng. Đất có lề, quê có thói, nhưng "sông có lúc, người có khúc", quan niệm vùng miền khác nhau, xã hội tiến hóa, thời buổi đổi thay thì việc mẹ (cha) đưa con gái về nhà chồng hay không cũng chỉ trở thành một chi tiết thứ yếu. Vài lời lạm bàn. Thiên Đồng
  12. Một quẻ cho thế giới 2012 ngày 27/ tân mão/ tâm mão, giờ dâu, khai xích khẩu. Chuyện dựa vào lịch Maya nói rằng ngày tận thế chỉ là chuyện đồn thổi, có giá trị cho việc trà dư tửu hậu bàn cho vui. Khi sự thật được chứng minh, tức qua 2012, thì người ta vẫn nghiên cứu, khám phá về Maya, về mặt văn minh, văn hóa và lịch sử. Hong có chuyện tận thế. Chắc chắn là vậy! Thiên Đồng
  13. Nếu Thái cực là thổ thì sao không gọi luôn là Thổ cực đi. Nếu là Thổ cực thì gọi ngay luôn là Thổ cực sinh Tứ Hành cho nó gọn. Cần gì người xưa mãi lòng vòng "Thái cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái"? Nếu theo thuyết của Rubi thì nói gọn là...Thổ cực sinh Tứ Hành". Vậy là vứt bỏ cái âm dương, tứ tượng, rất gọn. Sự mâu thuẩn ở đây là Hành, chỉ sợ phân loại vật chất trong vũ trụ và có giới hạn, còn Thái cực là không giới hạn, không ranh giới, nhưng lại bị gán cho là hành Thổ. Điều đó dĩ nhiên không hợp lẽ. Thiên Đồng nghĩ vậy.
  14. Thiên Đồng chúc mừng sinh nhật VuSongAnh Chúc VuSongAnh May Mắn An Lạc và Thịnh Vượng
  15. Lăng mộ Đoàn Quý Phi - DI TÍCH LỊCH SỬ BỊ LÃNG QUÊN Hàng chục di tích, phế tích cấp tỉnh, cấp quốc gia ở Quảng Nam đang đứng trước nguy cơ bị xóa sổ bởi thời gian và sự quên lãng của con người. Phải chăng chúng ta đang chỉ nhìn thấy Hội An, Mỹ Sơn mà bỏ qua nhiều địa chỉ có ý nghĩa văn hóa lớn? Toàn cảnh lăng mộ Đoàn Quý Phi trong hoang tàn . Ảnh: Nam Cường Trời âm u, thi thoảng những con gió len vào da thịt lạnh như cắt, con đường lên thánh địa Mỹ Sơn héo hút đổ dài bên triền sông Thu. Bên đường, bóng cờ lau trắng phau phơ phất. Thương phận dâu tằm Người xứ Quảng quan niệm tháng 10 (âm lịch), lúc lau trổ bông trắng xóa là vùng trũng hạ lưu Vu Gia - Thu Bồn không còn lũ. Rừng lau bời bời bên bờ sông đẩy lùi ký ức dâu tằm về dĩ vãng. Phận dâu tằm Duy Xuyên giờ cũng chỉ là những ký ức mỏng manh trong trí nhớ của lớp người già. Con dân Duy Xuyên giờ đã đóng khung gác cửi tứ tán vào Nam làm ăn bởi cái đói nghèo và... tránh lụt. Ký ức dâu tằm, có chăng chỉ tái hiện qua vài lần lễ hội, nơi người ta đua nhau phục dựng để cánh phóng viên quay phim chụp ảnh. Phận dâu tằm, dẫu sao vẫn còn được hiện diện trong nhiều lễ hội, còn số phận lăng mộ của bà chúa dâu tằm hiu hắt hơn nhiều. Cũng đã lâu lắm rồi tôi không về lại Mỹ Sơn, giờ đi ngang làng Chiêm Sơn hỏi lăng mộ Đoàn Quý Phi lại càng khó gấp bội. Con đường vào mộ bà giờ đã khác xưa, lổn nhổn đất đá trong khung cảnh tiêu điều. Tôi khựng lại bên đường bởi tấm bảng lờ mờ không rõ chữ: “Lăng mộ Đoàn Quý Phi - Di tích lịch sử được xếp hạng cấp tỉnh theo QĐ số 436 QĐ/UBND ngày 15-2-2005 của UBND tỉnh Quảng Nam. Nghiêm cấm mọi hành vi xâm hại di tích - Phòng Văn hóa - Thể thao huyện Duy Xuyên”. Sách xưa chép lại, bà Đoàn Quý Phi (1601-1661) người gốc Duy Trinh, là vợ của Hiếu Chiêu Hoàng đế Nguyễn Phúc Lan (1563-1648) và là thân mẫu của Hiếu Triết Hoàng đế Nguyễn Phúc Tần. Lăng mộ của bà được xem là lăng mộ cổ nhất triều Nguyễn ở phía Nam, được xây dựng vào thế kỷ 16. Hằng năm cứ đến ngày 24-3 âm lịch, nhân dân quanh vùng và tộc họ thường làm lễ dâng hương để tưởng niệm. Người dân xứ Quảng, đặc biệt vùng Duy Trinh mang ơn bà Đoàn Quý Phi bởi bà là người khai sinh nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa. Bà được mệnh danh là Bà chúa Tằm Tang. Con dân xứ Quảng, từ Điện Bàn, Đại Lộc đến Duy Xuyên còn truyền lại giai thoại cuộc gặp gỡ vô cùng lãng mạn giữa Chúa thượng Nguyễn Phúc Lan và bà bằng mấy câu thơ: Tai nghe Chúa ngự thuyền rồng-Thiếp thương phận thiếp má hồng nắng mưa-Thuyền rồng Chúa ngự nơi đâu-Thiếp thương phận thiếp hái dâu một mình. Tôi còn nhớ độ tháng trước, không tin lời anh bạn ở Duy Trinh, cá rằng làng dâu tằm giờ chỉ còn đúng… một hộ trồng dâu nên đã lên đường về Duy Trinh, không ngờ sự thật còn thê thảm hơn nhiều. Mấy trăm hộ dân Duy Trinh ngàn đời sống nhờ những triền dâu xanh mướt bên dòng Thu Bồn giờ gác cửi lên mái bếp, tứ tán đi làm ăn xa. Tiếng thoi đưa lách cách giờ không còn, triền dâu xanh mướt nhường chỗ cho lau lách cỏ dại. Lão nông Nguyễn Điền Quang (Chiêm Sơn) nói: “Lụa tơ tằm làm thủ công bán chẳng ai mua, đẹp thì có đẹp nhưng giá rẻ mạt khiến bà con bỏ nghề. Vẫn biết là giữ gìn truyền thống nhưng đói quá chịu không thấu”. Chẳng hiểu sao, bỏ dâu tằm nhưng những bãi bồi ven sông Thu cũng không làm nên trống gì. Số phận dâu tằm của Bà chúa Tằm Tang đã thế, lăng mộ bà cũng chẳng nghĩa lý gì, bởi ven chân núi Chiêm Sơn kia, nói không chừng vài năm nữa chỉ còn là phế tích. Hoang tàn Nhờ tấm biển lờ mờ không rõ chữ, tôi vạch lối tìm đường vào khu lăng mộ. Nhưng tuyệt nhiên, ngoài đất đá bùn lầy và những đống phân trâu bò bẩn thỉu, không thể thấy đường vào. Mãi sau, một cậu bé chăn trâu ven núi, mới chạy đến mách rằng, đi vòng sang phía bên kia, nơi mép ruộng sình lầy, mới thấy hai cái cổng sơn vàng đã gỉ mắt sét mở toang hoác. Không nhờ tấm biển này, ai biết lăng mộ Đoàn Quý Phi?. Chẳng cần tác động nhiều, chỉ cần đẩy nhẹ, cánh cổng sắt vốn đã mở sẵn bung ra từng mảng gỉ. Trước mắt tôi chỉ còn lại một khu quần thể lăng mộ hoang tàn. Gọi khu quần thể lăng mộ, bởi tôi đã đọc được tấm bảng ở mé tây nam ven đường. Ngoài lớp sình lầy ở phía ngoài cùng, khu thành ngoài có đến 4-5 chỗ toang hoác, trơ gạch đã rêu phong phủ bám theo thời gian. Khu thành trong lại càng hoang tàn gấp bội bởi sự xuống cấp nghiêm trọng. Bàn thờ chánh điện, bát nhang mâm quả xô lệch ngả nghiêng. Gốc nhang theo mưa nắng đã mủn ra bởi sức chịu đựng thời gian. Ven lùm cây lau lách cỏ dại, bỗng đâu một con rắn lửa trườn hẳn lên thành, giương mắt gờm gờm nhìn tôi. Tôi bấm vội mấy tấm hình rồi quay xe ra khỏi núi. Xung quanh đường từ núi ra thôn Chiêm Sơn, hàng chục ngôi mộ xanh đỏ tím vàng, rồng phượng khoe sắc. Đó là những ngôi mộ của người dân. Bát nhang ngả nghiêng trên chánh điện. Anh Nguyễn Văn Thành - trưởng thôn Chiêm Sơn vừa rót chén trà nghi ngút khói, mới nghe tôi xưng nhà báo đã vội trách khéo rằng, sao về lăng mộ bà mà không nói một tiếng để anh dẫn đi. Anh kể thêm rằng, dù là di tích cấp tỉnh, nhưng có ai thèm ngó ngàng gì tới. Tôi đưa anh Thành xem những tấm ảnh hoang tàn lăng mộ, bát nhang khói ngả nghiêng, rồi trâu bò phóng uế, anh Thành gãi tai: Thì anh tính, ai mà suốt ngày ra đứng canh ở đó. Với trách nhiệm trưởng thôn, thi thoảng tui có ra coi ngó, còn không thì cũng bỏ thôi. Dạo trước đấu tranh mãi mới làm được cánh cổng, mà cũng 7-8 năm rồi. Tui sợ cứ đà này, dăm năm nữa, lăng mộ Bà chúa Tằm Tang chỉ còn trong ký ức. Bà Đoàn Quý Phi tên thật là Đoàn Thị Ngọc, con thứ ba của ông Đoàn Công Nhạn - một hào trưởng ở làng Chiêm Sơn (sau được Chúa Nguyễn Phúc Lan phong tước Thạch Quận công); gia đình chuyên nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa. Sách Đại Nam liệt truyện tiền biên, viết: “Năm 15 tuổi bà hái dâu bên bãi, trông trăng mà hát. Bấy giờ Huy Tông Hoàng đế (tức Chúa sãi Nguyễn Phúc Nguyên) đi chơi Quảng Nam, công tử Phúc Lan đi theo hộ giá. Đêm đáp thuyền chơi trăng, đỗ thuyền ở Điện Châu (bây giờ là An Phú Tây) câu cá, nghe tiếng hát lấy làm lạ, sai người đến hỏi, biết là con gái họ Đoàn, cho tiến cung hầu chúa”. Công tử Nguyễn Phúc Lan và thôn nữ họ Đoàn đã bén duyên nhau từ đó. Năm 1617 họ kết duyên và sống tại dinh trấn Thanh Chiêm. Sau đó, bà Đoàn Thị Ngọc đã hết lòng ủng hộ, khuyến khích nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa ở các phủ Điện Bàn, Thăng Hoa…Nhờ đó mà nghề tằm tang ở Đàng trong được mở mang vào đầu thế kỷ 17. Cũng từ đó, cảng thị Hội An đã trở thành một trung tâm trung chuyển của con đường tơ lụa quốc tế xuyên đại dương ở thế kỷ 17-18. Các nhà nghiên cứu cho hay, sở dĩ hoàng hậu họ Đoàn có tên là Đoàn Quý Phi, là do mẹ chồng bà cũng là hoàng hậu nên gọi vậy để tránh phạm húy. Ba Tỉnh Theo nguồn Nam Cường
  16. @Angela, Theo Thiên Đồng được biết thì ở miền Nam không có kị kiêng gì về việc đưa dâu cả, cha mẹ cũng có thể đưa con dâu đi. Còn việc kiêng kị có lý do gì không thì để TD tham khảo lại xem. TD
  17. Người phụ nữ có khả năng "tàng hình" 20.04pm 08-02-2011 Đầu tiên cô Desiree chụp ảnh khung cảnh muốn tàng hình, sau đó dành thời gian nghiên cứu trang phục của mình sao cho giống với khung cảnh đó. Bằng cách ăn mặc lẫn vào với khung cảnh đang đứng, người xem thường khó mà nhận ra cô Desiree Palmen (người Hà Lan) trong những bức ảnh "tàng hình" dưới đây. Phải nhìn rất kỹ mới nhận ra sự hiện diện của cô Desiree Đầu tiên cô Desiree chụp ảnh khung cảnh muốn tàng hình, sau đó dành thời gian nghiên cứu trang phục của mình sao cho giống với khung cảnh đó. Nhờ tài hóa trang độc đáo, cô khiến nhiều người khâm phục. Người nghệ sĩ 46 tuổi cho hay mọi người có phản ứng khác nhau với các tác phẩm của cô. Một số người thì rất ngạc nhiên, người thì cảm thấy khó hiểu nhưng đa số là rất thích sự sáng tạo đó. Theo Bưu điện Việt Nam
  18. VẺ ĐẸP CỦA VŨ ĐẠO VÀ THƯ PHÁP (Phần II) VÂN Một thử nghiệm khác của nhà nhiếp ảnh Penmanship kết hợp giữa nhiếp ảnh và thư pháp. Xin giới thiệu Chùm thư pháp 7 chữ: Vân, phi, chi, ý, tượng, bát, pháp của Penmanship Nhà nhiếp ảnh nổi tiếng của Đài Loan. PHI Ý TƯỢNG CHI BÁT PHÁP Theo nguồn Tranghạ’s blog
  19. @FireRock, Bạn nên mua đọc trước các cuốn sau: -Hà Đồ Trong Văn Minh Lạc Việt, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh. -Tìm Về Cội Nguồn Kinh Dịch, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh. -Thời Hùng Vương Và Bí Ẩn Lục Thập Hoa Giáp, tg Nguyễn Vũ Tuấn Anh. Mến.
  20. @ Dinh Tan, Hướng Tây nam là theo trước "đường ngỏ" hay "đường trước nhà"? Thiên Đồng
  21. @manhhungjpvn, 23/2/tân mão, thìn, kinh đại an. Bác có thể coi giúp em một quẻ được không ạ? Em đang làm ăn một vài việc kinh doanh khá lớn với một đối tác. Em không biết đợt tới có tốt đẹp không? Không tốt đẹp. Sẽ có những vướn mắc về tiền bạc và mình chịu sự chi phối hỏng tay trên từ phía đối tác. Lời khuyên là tiền bạc phải minh bạch, phải có giấy tờ, bằng chứng đàng hoàng. Thấy không ổn thì rút. Thiên Đồng
  22. Thiên Đồng nghĩ, người Việt Nam có câu "Ba cây chụm lại nên hòn núi cao", nay thì mình cũng nên là "một cây" góp cùng tổ chức của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam để làm "một hòn núi cao" chắn lại phần nào cơn sóng đau thương của người dân Nhật. Xin Sư Phụ và cô Wildl nghĩ lại. Thiên Đồng
  23. Muội Rin86 càng lúc càng lên tay nha. Chúc mừng. Chúc mừng thaihoa có tin vui. Nhưng liên quan đến người nữ cỡ khoảng 33 - 38 tuổi, tóc dài thì việc này không xong nha. Giữa chừng gãy gánh. Chúc thành công.
  24. Thành tâm thành kính Phân ưu cùng gia quyến Moolover. Thành tâm cầu cho vong linh thân phụ của Moonlover vãng sanh nơi tịnh độ. Nam mô A Di Đà Phật. Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát.
×
×
  • Create New...