Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Thiên Đồng

Hội viên
  • Số nội dung

    6278
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    75

Everything posted by Thiên Đồng

  1. Vụ ác này được báo Công An đăng cách đây lâu lắm rồi. Không ngờ vẫn còn căn nhà bị ma ám. Hic ghê quá! :P
  2. Làm Thế Nào Để Tìm Kiếm Tài Vị Và Thôi Tài Tài Vi Chủ Trạch Và Cá Nhân Tài Vị Tiền là nguồn gốc để nuôi sống con người , con người ham muốn có tiền và tìm kiếm tiền đó là Thiên Kinh Địa Nghĩa ; Tác giả trong cuốn “Mệnh lý ứng dụng tinh giải” đã viết “ Mỗi người có một thời gian phát tài một thời gian phá tài , nên tại phương vị lợi mà cầu tài , tại phương vị bất lợi cầu tài , một đời có nhiều chỗ ủng hộ nhiều hoặc ít về tiền tài , trong tứ trụ của mỗi người tàng chữa các thông tin , nếu chúng ta nắm rõ các thông tin này trong tay thì theo đó mưu sự cầu tài , quyết không sai lầm tạo ra thất bại , ít ra cũng đảm bảo 50% thắng lợi . Tuy nhiên thực tế kiểm nghiệm cho thấy việc dựa vào mệnh lý để tăng tài vận thực chất rất thụ động , chỉ duy có tại phương vị lợi lạc làm các biện pháp thôi tài là có tính chủ động hơn , đây tức là vận dụng Phong Thủy Dương Trạch để cải biến tài vận đưa đến . Nếu được thêm tài tinh của cá nhân đương vượng thì năng lực tăng càng mạnh , tất nhiên phát tài , tiền tài có lúc hơn lúc kém , nếu vào thời gian phá tài , nhưng chúng ta vận dụng tốt các biện pháp thôi tài thì tất nhiên vẫn có những thu nhập nhất định . Nói tóm lại xét trong một góc độ nào đó thì các biện pháp thôi tài của Khoa Phong Thủy vẫn mang tính chủ động và là một biện pháp tốt để hỗ trợ các cơ hội tài chính cho con người . Phương Pháp Xác Định Tài Vị Nơi Ở (1)Xác Định Tài Vị Theo Phái “Phái Bát Trạch” Phương pháp xác định tài vị của phái bát trạch không thể tách rời với tám quái vị . Bởi Bát là chỉ tám phương vị , Trạch là chỉ phòng ốc . Liên quan đến sự tính toán tài vị của Phong Thủy Bát Trạch có rất nhiều sách khác nhau , nhưng đại đa số lấy cửa lớn và mệnh quái để xác định , tôi cho rằng cách tính như vậy chưa thật đầy đủ để xử dụng , nhất là hiện nay cũng ta ở trong thành thị thì các căn hộ chung cư , thực tế chỉ có một cửa lớn để khí nhập vào nên khó khăn cho cách tính này . Bởi thế nó không thể đại biểu cho tọa hướng , sắc thái , nạp khí cho toàn bộ các phòng , vì thế tôi đề nghị lấy tọa sơn của nhà làm căn cứ xác định Bát Trạch . Bát Trạch và cửu cung quan hệ lấy tọa sơn khởi phục vị . Bát trạch , tức là tám quái sơn của phòng ốc , đó chính là lý luận cơ bản của “Bát Trạch Phái” . Ví như nhà ở tọa Tý hướng Ngọ , Tý tại phuong bắc thuộc quẻ Khảm , quer Khảm quản 3 sơn Nhâm Tý Quý , nên nhà ở mà tọa vào 3 sơn đó thì đều tính là thuộc quẻ Khảm gọi là Khảm Trạch . Sau khi đã tính được nhà thuộc quẻ gì rồi thì lấy mệnh quái của chủ trạch theo phép du niên biến quái được tám sao , bốn cát bốn hung như sau : Bốn Cát : Sinh Khí , Diên Niên , Thiên Y , Phục Vị . Bốn Hung : Tuyệt Mệnh , Họa Hại , Ngũ Quỷ , Lục Sát . Bát Trạch phái lấy các cung vị này bài bố vào trong nhà , rồi lấy các cung sinh khí , diên niên đặc biệt là Thiên Y làm phương Tài Vị . 2. Phương Pháp Xác Định Tài Vị Của Phi Tinh Phái : Phong Thủy Học có một câu : Sơn quản nhân đinh , thủy quản tài . Chỉ một câu này đã bộc lộ Thiên Cơ của Phong Thủy . Trong phân kỳ của Phong Thủy học muốn xác định tài vị nhất định phải xem thủy . Thủy động Sơn Tĩnh , trong nhà tất cả các vật như hồ nước , bể cá , máy phun sương , máy giặt , phong thủy luân , máy lạnh , cửa , cửa phụ cửa sổ , chỗ trống trải , chỗ lõm xuống tất cả đều là động thủy , kể cả những chỗ ánh sáng có thể xuyên qua , chỗ đáy lõm đều tính là thủy . Thủy trong Huyền Không học , tại mỗi nhà mỗi nguyên vận đều có sự biến hóa không giống nhau , thủy cũng cũng không cố định vị trí nữa . Muốn xác định tài vị trước hết cần lập tinh bàn của nhà đó rồi căn cứ vào đó mà xác định . Quan trọng nhất là hướng tinh , rồi đến sơn tinh , sau cũng đến vận tinh . Tuy nhiên quan trọng nhất phải theo sự phối hợp giữa Hướng tinh và Sơn Tinh mà luận . Sự phối hợp này chủ yếu căn cứ vào Ngũ Hành . Rồi tiếp đến xem xét đến vượng suy . Ví Dụ : 68 , 78, 62 , 72 nếu có một sao đương vượng thì đoán là : Giàu có gần bằng Đào Chu kiên kim gặp thổ . Thêm một số tổ hợp như sau : 1. 28 có nghĩa là : Cự Nhân Cấn Khôn , Điền Liên Thiên Mạch 2. 216 , 217 có nghĩa : Thổ Chế Thủy Phức Sinh Kim Định Sinh Điền Sản Chi Phú 3. 829 có nghĩa : Thiên Thị Hợp Bính Khôn , Phú Kham Địch Quốc . 4. 68 , 78 , 62 , 72 có nghĩa : Giàu có gần bằng Đào Chu ; kiên kim gặp thổ . Ngoài ra các tổ hợp : 16,17,13,14,29,31,39,41,43,49,66,67,76,86,87,99 nếu là đương vượng thì không vượng nhân đinh cũng thúc đẩy phú quý . 3. Kết Hợp Phi Tinh Huyền Không Và Bát Trạch Để Xác Định Tài Vị . Khi kết hợp hai phái này chủ yếu là lấy sự đồng bộ về tin tức . Khi cả hai bên đều cho kết quả tốt thì tất nhiên hiệu quả sẽ mạnh , nếu có sự sai khác tất nhiên hiệu quả sẽ suy giảm . Thông thường kết quả nhiều năm cho thấy nếu có sự sai biệt thì nên lấy phi tinh làm trọng thì hiệu quả sẽ tốt hơn . Bàn Thờ Sắp Đặt Và Thờ Phụng Trong dòng chảy văn hóa truyền thống , đa dạng mênh mông , đặc biệt từ sau khi mở cửa đổi mới , sự cởi mở trong chính sách tự do tín ngưỡng đã khiến các hoạt động thờ cúng rất phát triển , thờ cúng Gia Tiên , Thần Thánh , Phật . Vì thế trong các hoạt động Cúng , Khấn , lễ An Vị Thần tượng rất được coi trọng , bố trí Thần Vị sai dễ dẫn đến các vấn đề xấu , như gia trạch không yên ổn , nhiều đau bệnh , vợ chồng bất hòa , người trong nhà vận khí bại suy , thị phi cãi cõ rất nhiều , trong nhà hay sinh ra quái bệnh , trong nhà sai một ly đi một dặm . Vậy Gia Đình Hoặc Công Ty Nên Đặt , Thờ Thần Linh Gồm Các Vị Sau : Phật – A Di Đà Phật ! Như Lai Phật Tổ ! Dược Sư Phật ! Trường Thọ Phật ! Bồ Tát – Quán Thế Âm Bồ Tát ! Địa Tạng Vương Bồ Tát ! Văn Thù Bồ Tát ! Phổ Hiền Bồ Tát ! Thiên Thần – Thái Thượng Lão Quân ! Thiên Hậu Nương Nương ! Quan Đế ! Mã Tổ ! Tài Thần – Ngũ Lộ Tài Thần ! Quan Đế Tài Thần ! Hoàng ĐạiTiên Tài Thần ! Tổ Tiên nhà mình ! Địa Chủ Tài Thần – thờ ở trong nhà , thờ ngoài cửa gọi là “Môn Khẩu Thổ Địa .” một trong một ngoài , gọi là Thần giữ cho gia trạch bình an . Làm Thế Nào An Thần Vị : Thờ Phụng Thần Linh trước hết nên lưu ý các vấn đề sau : 1. Thờ Thần Linh tốt nhất nên đặt trên tủ thờ hoặc có bàn chắc chắn . Bàn thờ nên đón ánh sáng , không nên tựa vào cửa sổ , hoặc chỗ ánh sáng chiếu đến . 2. Bàn thờ không nên đặt ở chỗ chật hẹp , hoặc đối diện quá gần tường . Chỗ dựa sau lưng nhất định cần ổn định , không nên thường xuyên động mạnh hoặc có gì đó khua khoắng , tốt nhất là dựa tường . 3. Ban thờ không nên hướng ra cửa phòng , không nên đối diện nhà vệ sinh , bếp ; không nên lưng tựa giường ngủ , bếp nhà vệ sinh , không nên đặt trong phòng ngủ . Nguyên nhân vì các nơi đó thường phát tán các khí không trong sạch , như thế là bất kính đối với Thần Phật . 4. Lưng cũng không nên tựa phòng bếp , hoặc đặt trong phòng bếp . Bởi các vị Bồ Tát thường ăn chay nên như thế sẽ làm ô uế đến các vị đó . Riêng Táo Quân thì nên đặt tại nơi bếp nấu . 5. Bàn thờ đại kỵ vô căn tức là treo cách ly khỏi mặt đất . Không thể đặt trên cửa lớn . Bởi cửa lớn là noi qua lại nếu đặt ban thờ chỗ đó khí tất động liên tục khiến Thần Linh không yên vị được ! 6. Trang trí bàn thờ nên nghiêm trang giản dị , sạch sẽ , không nên cẩu thả đặt các vật linh tinh nên ! 7. Bàn thờ nên thường xuyên giữ cho sạch sẽ , nên dọn mỗi ngày , nên cúng trà , hoa tươi , quả . Vì thắp hương mỗi ngày nên dễ phát sinh ô uế , sẽ sinh tạp khí , nên phải dọn dẹp thường xuyên . 8. Vấn đề cao thấp , rộng hẹp của bàn thờ thì phải nghiên cứu sâu , tuy nhiên ban thờ nên cao hơn đầu người sao cho , mát mình không nhìn thằng được vào mắt Thần Tượng . 9. Sắc Thái Thần Tượng nên là hồng hào tươi tắn , biểu hiện cho hỷ khánh cát tường , kỵ nhất là màu đen . 10. Nếu đồng thời thờ tổ tiên thì bàn thờ nên chia làm 3 cấp , trên cao nhất thờ Thần , tiếp là tổ tiên , dưới thờ địa chủ . Kỵ nhất Tổ Tiên và Thần Linh bằng nhau ! 11. Quan Đế , Thổ Địa Tài Thần nên quay mặt ra cửa lớn , đó là truyền thống từ xưa . Bồ Tát thờ tại nhà ở hoặc chỗ buôn bán quay ra cửa lớn thì tác dụng lại không lớn lắm . 12. Thờ Quán Thế ÂM Bồ Tát thì có tam bất hướng : Không hướng về nhà vệ sinh , Không hướng cửa phòng , Không hướng bàn ăn . Không nên thờ Quán Âm Bồ Tát và Quan Đế cúng một chỗ . Quán Âm Bồ Tát là luôn từ bi , nên giới sát sinh , Quan Đế là nghét ác như cừu địch nên , gặp là muốn lập công huân ! Quán Âm Bồ Tát không ăn ngũ huân ( Gia vị nặng mùi ) , cúng chỉ nên dúng hương hoa tịnh quả hoặc trà xanh . Không dúng đồ thịt cá đề cúng , nếu không sẽ khinh nhờn Thần Linh . 13. Bàn thờ kỵ đặt dưới xà ngang , mọi việc sẽ khó yên , hay gãy đổ . 14. Bàn thờ không nên đói diện bề cá , vì hương đốt thuộc hỏa , bể các thuộc thủy tạo thành thủy hỏa tương xung . 15. Bàn thờ không đặt tại bên cạnh máy lạnh , như thế là thủy hỏa tương xung dễ dẫn đến quỷ thai , tranh cãi , trở mặt thành thù . 16. Không nên đặt bàn thờ ở Đông Bắc ( Quỷ Môn ) ; Tây Nam ( Âm Môn ) . Bàn thờ nên đặt tại vị trí Huyền Vũ của nhà , tại trong nhà đứng quay mặt ra cửa bên trái là Thanh Long , bên phải là Bạch Hổ , đằng sau là Huyền Vũ , trước mặt là Chu Tước . Vạn Lịch Hoàng Đế “Bắc Đẩu Thất Tinh” Táng Thức Toàn Cảnh Thập Tam Lăng ( 13 Lăng Mộ Của Các Hoàng Đế Minh Triều ) Trong khu Thập Tam Lăng ( 13 Lăng Táng Các Vua Triều Nhà Minh ) đây là ngôi mộ thứ 10 , nơi đây mai táng vị vua thứ 13 của Minh Triều : Chu Dực Quân ( Niên Hiệu Vạn Lịnh ) , cùng chôn có hai vị Hoàng Hậu là Hiếu Đoan , Hiếu Tĩnh . Vào tháng 5 năm 1956 bắt đầu công việc khai quật , 1957 bắt đầu khai quật đến Huyền Cung là nơi an táng quan tài của Hoàng Đế Vạn Lịch và hai vị Hoàng Hậu . Tuy nhiên đến nay đã qua nửa thế kỷ , cách táng “ Ngửa mặt nhìn trời , tay phải nâng đỡ má” tư thế khác lạ , rất khó giải thích . Ngày 7 tháng 3 năm nay tại Nam Kinh khi kết thúc hội thảo “ Diến Đàn Di Sản Văn Hóa Thế Giới – Lăng Tẩm Minh Thanh Trung Quốc” Nữ Tiến Sĩ Vương Tú Linh của Khu Quần Thể Di Tích Thập Tam Lăng đã trình bày một luận văn , lần đầu tiên đã bóc bỏ tấm màn bí mật trong cách táng của Vạn Lịch Hoàng Đế Minh Triều , cả quyết suy đoán cách nằm nghiêng một bên , hai đùi hơi cong như đang ngủ chính là “Bắc Đẩu Thất Tinh” táng thức – Cách chôn theo hình chòm sao Bắc Đẩu . Thi Thể Vạn Lịch Hoàng Đế tư thế không giống bình thường , Vĩnh Lăng cũng có sự sai khác , gần giống Trường Lăng , chiếm diện tích 18 vạn mét vuông . Sau khi Nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Trung Quốc lập nước thì đã có kế hoạch khai quật khu lăng này ! Do đó đã dần dần mở ra bí mật của Minh Triều Vạn Lịch Hoàng Đế ! Căn cứ theo các nghi chép của khoa khảo cổ , toàn bộ khu lăng các phòng , điện đều được kết cấu bằng đá . Hậu Điện ( Huyền Đường ) trên đài cao nhìn thấy 3 miệng quan quách , ở giữa to lớn nhất là quan tài của Vạn Lịch Hoàng Đế Chu Dực Quân . Hai bên chính là hai quan tài hai vị Hoàng Hậu Hiếu Đoan và Hiếu Tĩnh . Theo Vương Tú Linh giới thiệu , trong lúc khai quật , hầu hết mọi người đều chú ý đến bảo tồn thi thể của chủ mộ . Vạn Lịch Hoàng Đế được đặt trên một tấm gấm , hai bên mép gấm cuộn lại , bọc lấy thân thể . Đầu vị Hoàng Đế hướng về Tây chân đạp về Đông , nằm ngửa , cơ thịt đã hủy hoại hết , chỉ còn xương . mặt hướng lên trên , đầu hơi nghiêng về phải , tay phải hướng lên co lại , bàn tay đặt tại bên phải đầu , tay trái rủ xuống , hơi công vào trong , bàn tay đặt trên bụng . Trong bàn tay cầm một xâu chỗi niệm phật . Dùi phải hơi cong , đùi trái duỗi thẳng , hai bàn chân hướng ra ngoài . Hiếu Đoan và Hiếu Tĩnh hoàng hậu cũng có tư thế táng rất khác thường , cả hai đều nằm nghiêng về bên phải , Hiếu Đoan hoàng hậu tay trái rủ xuống , bàn tay đặt ở vùng lưng , cánh tay phải hướng lên duồi thẳng , chân gác lên nhau , bàn chân trái ở trên , chân phải ở dưới . Hiếu Tĩnh hoàng hậu cánh tay trái rủ xuống , bàn tay đặt ở vùng lưng , cánh tay phải hướng lên trên hơi co lại , bàn tay đặt dưới đầu , chân co lại . Vương Tú Linh xác nhận cách táng của Vạn Lịch Hoàng Đế đúng là nghiêng về một bên , bởi thân thể của ông lằm rất tự nhiên bằng phẳng, không dễ gì có sự biến động dẫn đến sai lạc về tư thế so với khi chôn . Vậy thì giải thích thế nào cho cách chôn táng kỳ lạ này . Chúng ta chỉ có thể kết hợp các vấn đề lịch sử với Khoa Phong Thủy Cổ Đại thì mới có được câu trả lời thích đáng . Vị trí lăng mộ , mặt bằng bố cục , cách sắp xếp Huyền Cung ( Nơi Đặt Quan tài Hoàng Đế ) đều có quan hệ với Thiên Tượng ( Hình Tượng thiêng liêng trên trời - Một khái niệm trong Khoa Học Huyền Bí cổ đại Trung Hoa ) . Hoàng Đế vốn là Thiên Tử - con của trời đương nhiên cách chôn táng cũng phải theo Thiên Tượng . Người xưa coi Sao Tử Vi là biểu tượng cho Hoàng Đế . “Thất Tinh Bắc Đẩu” vào thời cổ đại được coi là Cực Tinh , tại hướng chính bắc , vị trí trung tâm của bầu trời , trong địa phận tinh tú nó thuộc vòng ngoài khu vực Tử Vi Cung . Người xưa hay lấy thiên tượng thay đổi để dự đoán cát hung cho mọi việc , Tử Vi là tương ứng với Hoàng Đế hiện tại trong nhân gian . Vì vậy cực tinh bắc đẩu được cho là nơi Thiên Đế cư trú . Cho nên sau khi mất các vị Hoàng Đế cũng lấy Thất Tinh Bắc Đẩu làm chỗ an nghỉ cuối cùng cho mình , tức là muốn vĩnh viễn nằm trong vị trí dẫn đầu thiên hạ nhân gian . Trong Thập Tam Lăng , Lăng Táng vị Hoàng Đế khai sáng nhà Minh là Chu Nguyên Chương là Hiếu Lăng , chủ yếu cũng lấy kiến trúc chạy theo hướng Bắc ( Chính Bắc ) tạo thành bố cục Thất Tinh Bắc Đẩu . Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng , chính vì lấy tọa hướng lăng mộ của mình ở vào chính thuyến Nam Bắc mà sau này con cháu của Chu Nguyên Chương đã tạo ra một cảnh “Huynh Đệ Tương Tàn , Nồi Da Xáo Thịt” . Ngoài việc căn cứ theo Thất Tinh Bắc Đẩu thì tại lăng mộ nói chung thường đặt yêu cầu có núi bốn phía , ứng với Thiên Tượng là Tiền Chu Tước ( Chim Sẻ Màu Đỏ - Ở phía trước mặt ) , Hậu Huyền Vũ ( Con Rùa Đen - Ở phía sau lưng ) , Tả Thanh Long ( Rồng Xanh - Ở phía bên trái ) , Hữu Bạch Hổ ( Hổ Trắng - Ở bên phải ) . Đây là bốn chòm sao trên không trung theo quan niệm của khoa chiêm tinh cổ đại Trung Quốc và như vậy đương nhiên cung điện của Hoàng Đế được đặt vào vị trí trung tâm của không gian , năm quyền chủ tể tất cả vạn vật . Theo góc độ nhìn của Khoa Phong Thủy cổ đại , “Bắc Đẩu Thất Tinh” là chòm sao có hình chữ S là một hình thế có tác dụng “Tụ Khí” rất mạnh . Ngoài ra quan niệm của của người xưa còn cho rằng bố cục “Thất Tinh Bắc Đẩu” còn có thể trừ bỏ tà ma , tà khí , quan niệm này đặc biệt phát triển trong Đạo Giáo và cực thịnh hành tại triều đại nhà Minh ( Con thứ của Chu Nguyên Chương là Chu Quyền là một Đạo Sĩ ) . Hoàng Đế chọn đất xây lăng mộ , luôn chọn nơi “Tụ Khí Tàng Phong – Khí Tụ Lại , Giữ Được Gió ” , đảm bảo phải có “Sơn Hoàn Thủy Bão – Sông Núi Bao Bọc ” , bởi “Sơn Hoàn Thủy Bão Tất Hữu Khí – Sông Núi Bao Bọc Tất Có Sinh Khí ” . Lại thêm quan niệm “Khúc Tắc Hữu Tình – Quanh Co Uốn Lượn Tất Là Có Tình” yêu cầu đường đi và đường thủy phải quanh co uốn khúc thì mới tốt . Khu cực Thập Tam Lăng chính là được tuyển chọn theo các tiêu chuẩn của Khoa Phong Thủy . Chiếu theo câu “Sự Tử Như Sự Sinh” thì quan điểm của các vị Hoàng Đế cho rằng mọi thứ sau khi họ chết đi không hoàn toàn mất hết mà vẫn y như lúc họ sống , hơn nữa họ còn chủ ý đặt mộ của họ sao cho hấp thu tối đa sinh khí để con cháu của họ vạn đời tốt đẹp . Như vậy có thể kết luận rằng tư thế nằm của Hoàng Đế Vạn Lịch cùng hai vị Hoàng Hậu chính là căn cứ theo hình chòm sao Thất Tinh Bắc Đẩu nhằm mục đích Tụ Khí cho lăng mộ và hài cốt một cách tối đa , đảm bảo duy trì uy quyền , sự thịnh vượng cho con cháu muôn đời . Tuy chỉ mới khai quật một lăng mộ trong mười ba lăng mộ , nhưng Tiến Sĩ Vương Tú Linh cũng mạnh dạn đưa ra suy đoán là tất cả các vị được chôn táng trong Thập Tam Lăng đều có tư thế chôn táng như vậy .Lịch sử đã qua đi với bao biến cố "đau thương , bi thảm" dường như chỉ để chứng minh một quy luật không hề thay đổi , đó là : “Mãi Mãi Không Có Gì Là Vĩnh Viễn Trường Tồn” . Các vị Hoàng Đế nhà Minh đã thi hành rất nhiều biện pháp từ lúc sống đến lúc chết , từ Dương Luật đến Âm Quy nhằm lưu giữ một cách ích kỷ quyền lực cho gia tộc , nhưng bánh xe lịch sử vẫn vận hành theo quy luật của nó . Triều Đại nhà Minh đã kết thúc trong sự "Bi Thảm" cuả Lịch Sử . Thậm chí ngay cả khu Thập Tam Lăng sau này cũng bị Triều Đình nhà Thanh phá hoại ( Với mục đích duy trì quyền lực cho Vương Triều Thanh , ngăn cản sự trở lại của Nhà Minh ) để rồi cuối cùng thì Triều Đình Nhà Thanh cũng kết thúc trong tiến trình vô cùng của dòng thời gian . Lịch sử như một biển sóng mênh mông , lớp trước đè lớp sau , không có gì vĩnh viễn , cũng không có gì mất hết . Lật giở những trang quá khứ giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn trong thực tại . Đó là điều bổ ích ! Thế Anh Phóng Dịch . Xí Sở Phong Thủy Nhà ở nhất thiết phải có chỗ tiêu thoát nước thải và nhà vệ sinh , đó là nơi tiêu thoát và tích chứa nước bẩn , trong toàn thể bố cục nhà thì vị trí đặt nhà vệ sinh và chỗ tiêu thoát nước bẩn có quan hệ rất lớn đến sức khỏe , tài vận của toàn bộ nhà , đường nước thải cần nhất là đi ở khu vực ngoại vi của nhà ở , bể phốt cũng nên tránh khỏi ngoại vi nhà từ 3m trở nên thì sẽ giảm được cái xấu . Bố trí nhà vệ sinh và đường thoát nước quan hệ rất mật thiết tới sinh hoạt hàng ngày của chúng ta , trong Tướng Trạch ( Học thuật về Phong Thủy Hình Thế ) cho rằng nó có liên quan đến sức khỏe và tài vận , nhà vệ sinh là nơi tàng chứa uế khí , là nơi mọi người bài tiết các chất thải , do đó dễ ảnh hưởng tới khả năng tư duy của chúng ta nếu ở gần quá . Nhà Cầu , Phòng Tắm , Đường thoát nước đều thoát nước bẩn bằng các đường ống , nên những người nghiên cứu thiết kế các hạng mục này rất cần chú ý đến đường đi của các đường ống này . Cps một số người muốn tiết kiệm nguyên liệu nên đã tìm cách rút ngắn các đường thoát nước bẩn này bằng cách cho đi thẳng qua trung tâm nhà ra ngoài . Đây là một điều tối kỵ trong học thuật Phong Thủy cũng như các tiêu chuẩn vệ sinh môi trường hiện nay . Tuyệt đối tránh phạm phải . Nó dễ đưa lại các bệnh tật cho người trong nhà , tài vận suy sụp , thậm chí đưa đến đột tử khi ngủ do sự thẩm thấu các khí độc hại qua nền nhà tác động vào con người trong một số điều kiện đặc biệt ( Như thời tiết oi bức , người đang lúc ốm yếu ) . Hơn nữa cửa lớn là nơi cúng ta đưa khí tốt vào nhà , nếu để nước thải đổ ra đây thì vô tình cúng ta lại đưa hơi khí độc của nó ngược trở vào nhà làm ô nhiễm không khí trong toàn bộ nhà . Điều này đôi khi chúng ta không để ý ( Vì chưa chắc đã có dấu hiệu gì rõ ràng ) . Không phải đến nay người ta mới quan tâm đến khu vực vệ sinh trong kiến trúc nhà ở . Từ rất lâu rồi đã có vô số đề cập của khoa học Phong Thủy ( Tức là môn Kiến Trúc của người xưa ) đề cập đến vấn đề này . Xin dẫn chứng vài ví dụ sau : “Phong Thủy Tạp Luận” nói kỵ đặt nhà xí tại Đông Bắc ( Cung Cấn – Quỷ Môn ) Tây Nam ( Cung Khôn – Âm Môn ) đây là 2 cũng có âm khí rất nhiều nên nếu đặt nhà vệ sinh nơi này dễ dẫn đến trong nhà tích tụ quá nhiều âm khí dễ này sinh bệnh tật . “Hà Lạc Tinh Uẩn .” viết : Kỵ đặt nhà vệ sinh tại trung ương ( Nhà hoặc phòng ) vì trung cung là chủ quản khí trường 8 cung còn lại nên nếu nó ô nhiễm thì thật tồi tệ . “Bát Trạch Minh Kính” cho rằng : Nhà vệ sinh kỵ đặt ở phía Nam là cung Ly hành hỏa , biểu chưng cho Danh Tiếng , Phát triển . “ Trạch Kinh .” đồng một quan điểm với “Hà Lạc Tinh Uẩn .” cho rằng không nên đặt nhà vệ sinh nơi trung cung nhà . “Hám Long Kinh” chủ trương không quay cửa phòng vệ sinh về phía Tây cung Đoài ( Thiếu Nữ - Cúng là Bạch Hổ ) và Phía Bắc hành thủy . Dễ phạm Kim Thủy Dâm Tình , hoặc bệnh về thận . Trong thực tế nếu bể phốt chúng ta đặt cách ngoại vi nhà ở được 3m trở lên thì sự nguy hại của khu vệ sinh đã giảm đi rất nhiều rồi . Tuy nhiên do ngày nay đất chật người đông nên thường chỉ đặt cách nhà khoảng ½ m , hơn nữa có một thói quen rất dở là chúng ta hay đặt nhà vệ sinh nằm trong khu vực bếp nấu ăn . Đây là một sự nguy hại vì một cái rất cần sự vệ sinh an toàn , còn một cái lại rất ô nhiễm . Hai cái này không nên gần nhau . Theo quan điểm của Phong Thủy học nó sẽ gây hại cho phụ nữ trong gia đình và phát sinh các bệnh về tiêu hóa . Ngoài các vấn đề đặt khu vệ sinh ở đâu trong bố trí kiến trúc nhà ở thì vấn đề bên trong nội thất nhà vệ sinh cũng rất quan trọng . Vấn đề này các sách cổ về Phong Thủy không đề cập chi tiết nhưng trải qua quá trình khảo sát cụ thể , người kiến trúc về Phong Thủy có thể dễ dàng rút ra một số kiến thức khá thú vị . Hiện nay trong kiến trúc nhà ở , người ta có thói quen là nhét các khu vệ sinh vào những chỗ đầu thừa đuôi thẹo , như gầm cầu thang , góc trong bếp , đầu cửa phòng ngủ giáp với cầu thang . Khu vệ sinh thường là cái được chú ý sau cũng trong quá trình thiết kế . Đây là cái sai lầm ! Khu nhà vệ sinh cần được coi trọng như các khu vực khác , nó cũng phải được dành ra một không gian thoáng đãng nhất định , tránh các trường hợp quá nhỏ mà bố trí quá nhiều thứ : Nào bồn cầu , chậu rửa mặt , bồn tiều , máy giặt , thậm chí cả một cái bồn tắm trình ình được nhét trong một diện tích chưa đầy 4 m2 . Nếu các diện tích không cho phép mở rộng chúng ta cần chia nhỏ các chức năng này một cách hợp lý . Như tách phòng tắm ra khỏi chỗ đi vệ sinh , để nó trở thành hai hạng mục riêng biệt có diện tích hợp lý . Bởi nếu quá nhiều đồ trong diện tích nhỏ dễ tạo thành các góc khuất cản trở sự lưu thông của dòng khí dẫn đến tích tụ khí uế tạp , trần cũng nên thiết kế cân đối không quá cao tạo cảm giác bất an , cũng không quá thấp tạo sự đè nén của khí trường . Đối với sự sắp đặt bên trong nên lưu ý : Bồn tắm nên bố trí khi sử dụng mặt phải quay ra nhìn được cửa , bồn cầu thì tránh nhìn trực diện với cửa , trong nhà vệ sinh nên có các thiết bị khử mùi tiêu độc . Lắp quạt thông gió rất tốt , nhưng người ta thướng chỉ lắp một cái hút ra ngoài , thật ra nên lắp hai cái tại hai hướng khác nhau , một hút , một đẩy ra ( Đẩy ra ngoài nhà ) . Cánh cửa sử dụng cho phòng vệ sinh nên dùng loại cửa xếp mở sang một bên , vì khi dúng cánh cửa tấm lớn mỗi khi chúng ta đóng mở , vô tình chúng ta đã đẩy uế khí của phòng vệ sinh vào trong nhà , điều này đặc biệt xấu khi nhà vệ sinh nằm trong khu vực nấu ăn . Trong phòng vệ sinh ngoài việc trang trí cho đem lại cảm giác đẹp , sạch sẽ , nếu diện tích cho phép chúng ta co thể đặt thêm một số loại cây có sức sống tốt , nó đem lại sinh khí cho không gian và giúp giảm bớt khí độc . Hệ thống tiêu thoát nước nên chú ý thật tốt để giảm tối đa sự tích tụ hơi ẩm trong nhà vệ sinh , xóa bỏ điều kiện phát triển mạnh của vi khuẩn . Phong Thủy Nhà Xí 15 Điều Nên Tránh [/size]Nhà xí mà đối diện với phòng ngủ hoặc đối diện cửa phòng ngủ đối với sức khỏe rất bất lợi , trong nhà phụ nữ dễ mắc bệnh phụ khoa hoặc lông tóc . Nhà xí đối diện cửa trước dễ phá tài , nếu đối diện với bồn cầu , tất tình trạng mất tiền càng nặng . Giường nằm ngang cửa nhà xí , hôn nhân dễ sinh chuyện xấu , vợ chồng hay tranh cãi , lâu ngày ảnh hưởng đến sức khỏe của cả hai vợ chồng , nếu xung thẳng vào sẽ dẫn đến bệnh về long tóc hoặc đau đớn . Đầu giường đầu trực tiếp xung vào nhà xí chủ ly tán trong tình cảm thường không muốn về nhà . Đầu giường dựa vào tường nhà vệ sinh , người trong nhà dễ gặp các chuyện thị phi , rất nhiều tiểu nhân bên mình . Nhà xí đối diện với cửa phòng bếp ảnh hưởng đến sức khỏe phụ nữ trong nhà , nếu gần trong phòng dễ gây bệnh về bệnh đường ruột . Nhà xí đối phòng ăn , trong nhà thường không đủ người ăn . Nhà xí nên giữ cho luôn khô thoáng , nếu không dễ phát sinh âm khí . Nhà xí luôn đóng cửa sổ hoặc không có cửa sổ , uế khí tích tụ không tán , dẫn đến tụ âm khí , đưa dén gia đình bất hòa , ảnh hưởng nhà ở , nên đặt thực vật trong nhà để hóa giải . Tối kỵ nhà xí ở trung cung , dễ phá tài , trong nhà bệnh tật liên miên . Nhà xí quá gần cửa lớn dễ phá tài , trong nhà hay tranh cãi , muốn đỡ xấu nên thường đóng cửa . Trong nhà xí nên dùng các màu tươi sáng , không nên dùng các màu đen tối , bởi nhà xí vốn là nơi thiếu dương khí ,nếu dùng các màu tối thì giống như đổ dầu vào lửa , mời gọi âm linh . Cửa nhà vệ sinh không nên mở thường xuyên , sẽ làm tổn hại sức khỏe , tốt nhất nên đóng thường xuyên . Tốt nhất nên dúng cửa rút . Nếu phải đi qua phòng bếp rồi mới vào nhà vệ sinh dễ gây ra các bệnh đường ruột . Nhà xí tương xung với ban thờ , hoặc thờ Thần Phật hoặc Tổ Tiên , gia trạch bất yên , dễ bị tiểu nhân ám hại Các Điều Cần Chú ý Khi bố Trí Nhà Xí Ngày nay do đời sống ở đô thị rất cao nên người ta coi trọng việc xây dựn công trình phụ , tuy nhiên do chú trọng đến tính tiện lợi mà người ta thường đặt nhà vệ sinh trong phòng ngủ , gần vị trí giường ngủ , hoặc trong bếp nên dễ phạm vào các điều cấm kỵ mà không biết . Ngày xưa do nhà vệ sinh rất nặng uế khí nên các Cụ thường kiêng đặt nó ở nơi đầu gió . Bồn cầu không nhất định phải có phương hướng mà cần linh hoạt đặt cho hợp . Nhà xí chính xung với bếp , trong nhà phụ nữ bất an , nên cải tổ ngay . Nhà xí xung với bàn học bàn công tác dẫn đến ngồi đó bất an . Nhà xí xung với két đựng tiền , hao tài tốn của . Tốt nhất thì nên bố trí nó ở bên Bạch Hổ . Nếu bắt buộc phải bố trí nhà xí ở sau ban thờ thì nên tránh đặt bồn cầu trực tiếp ở phía sau . Bếp cũng vậy . Thế Anh dịch và tổng hợp từ www.fengshui-chinnesen.com
  3. Lò Bếp Trong Phong Thủy Bát Trạch Phái Lò bếp tại bát trạch phái phong thủy rất được coi trọng , lò bếp là nơi nấu các thứ đồ ăn , đối với sức khỏe của các thành viên trong gia đình rất là quan trọng , có thể nói tất cả họa phúc bệnh tật đều từ đó mà ra . Bát Trạch đối với sự bố trí lò bếp có khác với các pahis Phong thủy khác có chút khác biệt , không chỉ luận chỗ đặt bếp mà còn luận Táo Hướng ( Chỉ hướng miệng bếp ) . Thời hiện nay các gia đình đại đa số sử dụng bếp khí , Táo Hướng ( Miệng bếp ) là nơi núm vặn . Táo Tòa ( Nơi đặt bếp ) chỉ luận vị trí bất luận phương hướng , Táo Khẩu ( Hướng Bếp ) tất chỉ luận hướng mà không luận vị trí . Lò Bếp bản thân không tốt không xấu . Thời xưa do bếp đun bằng các nguyên liệu thô sơ nên khói bụi rất nhiều nên thường được đặt vào các vị trí xấu của bản mệnh . Táo Khẩu là nơi không khí tiến vào , kết hợp với nguyên liệu đun để nấu thức ăn , cho nên miệng bếp nên quay về nơi tốt của bản mệnh . Bát Trạch phái bài trí bếp theo nguyên tắc “ Tọa Hung Hướng Cát !” . Nói một cách ngắn gọn : Đông Tứ Mệnh nên đặt bếp Tây Tứ Quái , Miệng bếp tất quay về Đông tứ Quái ! Đó là chân lý an bếp của Bát Trạch Phái ! Có thế tham khảo vị trí đặt bếp dưới đây : Bếp đặt : Tuyệt Mệnh khỏe mạnh sống lâu , nhân tài lưỡng vượng . Ngũ Quỷ hoạch phát tư tài , không tai họa trộm cướp . Lục sát phát đinh phát tài , không bệnh không kiện cáo . Họa hại vô tai vô bệnh , không thoái tài tổn nhân . Sinh khí đinh tài không vượng , tài sản tổn hao . Diên niên hôn nhân khó thành , vợ chồng bất hòa . Thiên y bệnh suốt nằm giường , trong người rất nhiều bệnh . Phục vị không tiền không thọ , cả đời nghèo khổ . Đến hướng bếp , tất nên theo hướng tốt của mệnh , hướng sinh khí sinh tài phát đinh , hướng thiên y chủ không bệnh tật trừ tai , hướng diên niên tất chủ tiến tài khỏe mạnh . Hướng Phục vị chủ mọi sự thuận lợi ! Thế Anh lược dịch từ www.taiwanme.com Dương Trạch Loan Đầu Tứ Đại Cục Dương Trạch tứ đại cục thái cực sinh , lưỡng nghi sinh tứ tượng , tứ tượng sinh bát quái . Tứ tượng bao gồm : Thái Âm , Thái Dương , Thiếu Âm , Thiếu Dương . “Chu Dịch” theo đó mà nói rằng : Đạo là bắt đầu sáng tạo ra trời đất vạn vật , theo đó mà giúp cho vật lợi cho dân . Đó là vì người xưa đã qua một quá trình quan sát lâu dài , dùng hình thức vẽ các quái , để diễn tả mô hình của trời đất , quá trình hình thành của vũ trụ , gồm các quy luật vận động của vũ trũ . “ Hệ Từ Thượng” nói : “ Dịch có thái cực , sinh ra hai nghi ( Âm Dương ) , hai nghi sinh bốn tượng , bốn tượng sinh tám quái .” Đó là toàn bộ quy luật của Vũ Trụ . Cục Thứ Nhất – Đãng Khí Cục Đãng khí cục : Nhà ở mà xung quanh không có hộ cục , tám mặt bị gió thổi tất cả tán đãng , nhân vì Âm Phong rất nhiều không hàm chứa được sinh khí bao nhiêu nên còn gọi là Thái Âm Cục . “Dương Trạch Chỉ Nam” quyết viết : Nhất không tam bế thị hào gia , tam không nhất bế loạn như ma ; nhược thông bế lý cầu không pháp , lập địa trân châu mãn lộc xa . Tam không nhất bế , tức là chỉ một nhà ở mà ba mặt thụ phong , gọi là Nhà ở thuộc Cục thứ nhất Nhất Đãng Khí Cục . Thái Âm Hình Cục : 1. Sinh ra người lười biếng , được sao biết vậy . 2. Không có trách nhiệm , sợ việc , sợ làm phiền . 3 . Không can đảm . Thái Âm ( Đãng Khí Cục ) sinh nhiều tật bệnh về phổi thận . Bách Khí Cục ( Khí dồn nén ) sinh các bệnh gan , tim . Thận phổi thuộc dương ( Kim thủy là âm ) tính chất là thu tụ . Mà Đãng Khí Cục , khí không thu mà lại đãng , nên bất lợi cho thận phổi . Gan tim thuộc dương ( Mộc Hỏa là dương ) tính chất là tán phát . Gặp Bách Khí Cục không tán , phát mà lại áp bức , cho nên bất lợi gan tim . Đãng Khí Cục chủ trong nhà xuất kẻ du đãng , không muốn về nhà Đệ Nhị Cục – Bách Khí Cục Bách Khí Cục : Nhà ở bốn bên bị áp bức , như thú nhốt trong truồng , bốn mặt không có sinh khí hoặc rất ít sinh khí đi vào trong nhà , do đó mà dưỡng khí không đủ . Bách Khí Cục mức độ áp bức quá mạnh gọi là Thái Dương Cục . Bách Khí Cục sinh ra người tính thô bạo , Bách Khí Cục như tình trạng bị nhốt trong lồng , khí không lưu thông , sinh ra uất bí , nên sinh ra tính người thô bạo . Như thế trong nhà ngày tranh đêm cãi . Dễ phát các bệnh sốt nóng : Nguyên nhân vì Bách Khí Cục không khí không lưu thông , ẩm thấp nóng bức phát tán , đến không khí trầm uất nóng bức , tất nhiên sẽ phát sốt . Bách Khí Cục việc lưu thông không khí không đều , nên khó có được dưỡng khí nên dễ sinh bệnh gan , tim , chảy máu não . Đệ Tam Cục – Thừa Khí Cục Thừa Khí Cục : Nhà ở có tường bao bọc xung quanh , mở ra một cửa nạp khí . Thừa khí cục thao thiên thời gọi là Thiếu Dương Cục . “Dương Trạch Chỉ Nam .” : Nhất không tam bế , tức là ba mặt che gió , một mặt mở thu khí . Đó là cục chứa khí ( Tốt ) . Đệ Tứ Cục – Tụ Khí Cục Tụ Khí Cục : Nhà ở mà bốn mặt được bảo vệ , lại không phạm vào áp bức ( Bị đè nén ) , có khoảng không để khí trời và khí đất dung hợp tụ vào trước nhà , từ đó đi vào nhà và người trong nhà hấp thu được . Tụ khí cục còn gọi là thiếu âm cục . “Dương Trạch Chỉ Nam .” nói : Cái lý của sự đóng là phép tìm ở chỗ không , cái đó Phong Thủy Học gọi là phương pháp Tàng Phong Tụ Khí . Tức là nhà ở bốn mặt che gió mà lấy trung gian tụ khí . Thế Anh Dịch từ www.fengshui-chines.com Ngũ Hoàng Sát Hóa Giải Bí Pháp Ai Cũng Biết Sao Ngũ Hoàng Là Tối Độc Hại ! Sát Khí Cực Mạnh Đến Đâu Gây Họa Đến Đó ! Lưu Niên Ngũ Hoàng Hung Tinh : Mỗi năm khi Ngũ Hoàng hung tinh bay đến phương vị nào mà động thổ , xây dựng , mở cửa nơi đó , dễ mang đến họa huyết quang , phá tài , sức khỏe phá tổn các loại đều phát sinh : 1.5 : Chủ bệnh về tai , bệnh phụ nữ , thiếu máu , trúng độc , bệnh về mắt , hoặc tử cung có tật . 2.5 : Bệnh lai rai không hết , ung thư dạ dày , bệnh tỳ vị , ly nạn tử vong hung tai . 3.5 : Chân có tật , trúng độc , bệnh gan , bệnh lâu dài hoặc độc trùng cắn . 4.5 : Bệnh ở cổ , thủng dạ dày , khói độc , ung thư vú , chơi bời phá nghiệp . 5.5 : Bệnh tỳ vị , mưng mủ , dâm lọa , hình ngục , bại tài cùng tổn thương con người . 6.5 : Não đọng máu , ung thư xương phần đầu có tật , ung thư phổi , kết sỏi ở các nơi . 7.5 : Tranh cãi , trúng độc , bệnh phổi , ruột già có tật , tố tụng hoặc có bệnh ở cổ họng . 8.5 : Bệnh dạ dày , nhọt ở mũi , đau lưng , dầu phù thũng sưng nề bệnh thần kinh , hoặc sự nghiệp đình trệ . 9.5 : Ruột non ung thư , có vấn đề về mắt , 12 chỉ trường có mụn , hỏa tai , chảy máu dạ dày . ( Nhất ). Ngũ Hoàng Đáo Môn : năm ấy phá tài , người trong nhà nhiều bệnh , công tác không thuận lợi , nếu động thổ , đặt cửa tất cả đều mang tai họa huyết quang đến . Hóa Giải : 1. Trên mi cửa đặt sáu đồng tiền cổ Lục Đế . 2. Trên cửa treo một cái phong linh . 3. Hai bên cửa đặt 1 cặp Tỳ Hưu đồng . ( Nhị ) Ngũ Hoàng đến Táo : Người trong nhà nhiều bệnh , con cái trong nhà học tập giảm sút . Hóa Giải : 1. Dưới đáy bếp bày 4 đồng tiền bát quái . 2. Dưới bếp bày hóa sát thủy . ( Tam ) Ngũ Hoàng Đến phòng khách : giống như trên . Hóa Giải : 1. Bày một bức họa chữ phúc bằng đồng . 2. Hoặc bày bộ tam đa bằng đồng . ( Tứ ) Ngũ Hoàng Đáo Thần Vị : Hiện tượng như trên . Hóa Giải : 1. Đắp đồi đất ( tại bên cạnh bát hương đặt một bát tro vun thành đống dưới để 6 dồng tiền cổ ) 2. Treo 6 đồng Lục Đế Tiền Cổ . ( Ngũ ) Ngũ Hoàng đáo cửa sổ : Hiện tượng như trên . Hóa Giải : Tại bên cạnh cửa sổ đặt 1 đôi kỳ lân đồng hoặc sư tử đồng . ( Lục ) Ngũ Hoàng đến giường : Người trong nhà mệt mỏi lắm bệnh . Hóa Giải : 1. Nên tránh được thì tốt , nếu không tránh được thì tại đầu giường treo 6 đồng Luc Đế . 2. Bày 6 đồng tiền cổ Lục Đế hoặc 1 cây thước đồng cũng được . Tất cả các biện pháp hóa giải trên , cần phải phối hợp với mệnh trạch của chủ nhà , chọn các ngày định nhật , khai nhật , trừ nhật , linh hoạt mà sử dụng . Thế Anh Dịch . Bẩy Mươi Hai Long Thấu Địa Dương Công ( Dương Quân Tùng ) lúc đầu chuyên sử dụng địa bàn 24 sơn âm dương Long cùng thuộc tính ngũ hành . Song qua quá trình tham khảo thực tế , Dương Công phát hiện dùng âm dương Long cách là quá thô thiển , trong tình huống thực tiễn rất dễ sai khác . Trải qua quá trình nghiên cứu , lúc đã cao tuổi Dương Công lấy 60 hoa giáp nạp âm ngũ hành biểu thị cho thuộc tính của Long , Long có âm dương ngũ hành từ 4 mặt tám phương đến , điều này phù hợp với thực tiễn . Bát quái vốn phản ánh các phương vị ngũ hành , đó là trạng thái của vũ trụ lúc hình thành . Tất cả đều do âm dương bát quái giao cấu mà biến hóa không ngừng tạo thành thế giới vật chất với các thuộc tính ngũ hành . Ngũ hành là một hệ thống liên quan chặt chẽ đến nhau , vừa khắc vừa sinh , không có hành nào đứng một mình . Bắc phương là Khảm quái thuộc thủy , nhưng tại phương Bắc nơi nơi đều có cây mọc , có kim loại , có đất , có lửa , Đông tây nam cũng vậy . Âm dương ngũ hành tại thực tế không thể có sự phân bố , tồn tại riêng biệt có chăng chỉ là sự ít nhiều , hoặc mạnh yếu hơi khác mà thôi . Kham Dư vốn là triết học Dịch ứng dụng vào thực tế , nó là thực địa khách quan không hề mang tính áp đặt . Đó là sự tương hợp chặt chẽ giữa ngành Kham Dư học với cuộc sống . 72 Long tương ứng với 360 độ chia làm 72 phần bằng nhau , mỗi Long chiếm 5 độ . Mỗi sơn đầu có 3 Long , mỗi quái có 9 Long . Tại chỗ Nhâm sơn giáp với Tý sơn khởi Giáp Tý theo chiều thuận an 1 vòng , tại vị trí 8 can và tứ duy có 3 độ không cách gọi là “Không Vong Long” . Đến chỗ Nhâm sơn tựa hợi sơn là đầy đủ 60 hoa giáp . Không vong Long là căn cứ theo sự di chuyển của Long khí trên thực địa mà xác định . La bàn 24 sơn trên ứng trời , dưới ứng đất , bao hàm hết trời đất . Tứ duy 8 can thuộc Thiên hệ , phản ánh các quy luật của Thiên hệ ; 12 địa chi là Địa hệ , phản ánh các quy luật Địa hệ . Địa có thể tàng chứa Thiên hệ , sở vì có thể tàng chứa can , tức địa chi tàng can , cho nên nói trong địa bao hàm cả thiên can ; thiên ở trong bụng địa , thiên can ngược lại không thể hàm chứa địa khí . Thiên khí mà thuộc dương , khí chất rất nhẹ nổi lên rất cao , không thể lắng xuống đất , do đó thiên khí không nhập vào đất . Long đi dưới đất , ứng dụng lý của 12 địa chi làm quy luật . Phong thủy cơ bản lấy “Thừa sinh khí” làm chính yếu , tứ duy bát can không có Long khí nên không có “Sinh Khí” vận chuyển trong lòng đất nên gọi là “Không Vong Chi Địa” . Dương Công dùng 72 Long gọi là Ai Tinh , lấy 72 Long ngũ hành gọi là “Điên dảo ngũ hành” . “Điên điên đảo , 24 hữu châu bảo” tức là 72 Long ngũ hành . Sau khi phối 72 Long với ngũ hành , trong tám quái , mỗi quái đều có đầy đủ ngũ hành , so với nguyên lai bát quái thì hoàn toàn không giống . Vì vậy Dương Công mới viết trong “Thiên Ngọc Kinh” là : “Phiên Thiên Đảo Địa Đối Bất Đồng , Bí Mật Tại Huyền Không” 72 Long Phân Bố : Khảm cung 9 Long : Nhâm sơn hạ y thứ thị Quý Hợi thủy Long , Không vong Long , Giáp Tý kim Long ; Tý sơn hạ thứ thị Bính Tý thủy Long , Mậu Tý hỏa Long , Canh tý thổ long : Quý sơn hạ y thứ thị nhâm tý mộc long , không vong long , ất sửu kim long . Kỳ trung , kim long nhị , mộc long nhất , thủy long nhị , hỏa long nhất , thổ long nhất , không vong long nhị . Cấn Cung Cửu Long : Sửu sơn hạ y thứ thị đinh sửu thủy long , kỷ sửu hỏa long , tân sửu thổ long ; Cấn sơn hạ y thứ thị quý sửu mộc long , không vong long , bính dần hỏa long ; Dần sơn hạ y thứ thị mậu dần thổ long , canh dần mộc long , nhâm dần kim long . Kỳ trung , kim long nhất , mộc long nhị , thủy long nhất , hỏa long nhị , thổ long nhị , không vong long nhất . Chấn Cung Cửu Tinh : Giáp sơn hạ y thứ thị giáp dần thuỷ long , không vong long , đinh mão hoả long ; Mão sơn hạ y thứ thị kỷ mão thổ long , tân mão mộc long , quý mão kim long ; Ất sơn hạ y thứ thị ất mão thuỷ long , không vong long , mậu thìn mộc long . Kỳ trung , kim long nhất , mộc long nhị , thuỷ long nhị , hoả long nhất , thổ long nhất , không vong long nhị . Tốn Cung Cửu Long : Thìn sơn hạ y thứ thị canh thìn kim long , nhâm thìn thuỷ long , giáp thìn hoả long ; Tốn sơn hạ y thứ thị bính thìn thổ long , không vong long , kỷ tỵ mộc long ; Tỵ sơn hạ y thứ thị tân tỵ kim long , quý tỵ thuỷ long , ất tỵ hoả long . Kỳ trung, kim long nhị , mộc long nhất , thuỷ long nhị , hoả long nhị , thổ long nhất , không vong long nhất . Ly Cung Cửu Long : Bính sơn hạ y thứ thị đinh tỵ thổ long , không vong long , canh ngọ thổ long ; Ngọ sơn hạ y thứ thị nhâm ngọ mộc long , giáp ngọ kim long , bính ngọ thuỷ long ; Đinh sơn hạ y thứ thị mậu ngọ hoả long , không vong long , tân Mùi thổ long , Kỳ trung , hữu kim long nhất , mộc long nhất , thuỷ long nhất , hoả long nhất , thổ long tam , không vong long nhị . Khôn Cung Cửu Long: Khôn sơn hạ y thứ thị kỷ mùi hoả long , không vong long , nhâm thân kim long , Thân sơn hạ y thứ thị giáp thân thuỷ long , bính thân hoả long , mậu thân thổ long . Hữu kim long nhị , mộc long nhất , thuỷ long nhị , hoả long nhị , thổ long nhất , không vong long nhất . Đoài Cung Cửu Long : Canh sơn hạ y thứ thị canh thân mộc long , không vong long , quý dậu kim long ; Dậu sơn hạ y thứ thị ất dậu thuỷ long , đinh dậu hoả long , kỷ dậu thổ long ; Tân sơn hạ y thứ thị tân dậu mộc long , không vong long , giáp tuất hoả long . Hữu kim long nhất , mộc long nhị , thuỷ long nhất , hoả long nhị , thổ long nhất , không vong long nhị . Càn Cung Cửu Long : Tuất sơn hạ y thứ thị bính tuất thổ long , mậu tuất mộc long , canh tuất kim long ; Càn sơn hạ y thứ thị nhâm tuất thuỷ long , không vong long , ất hợi hoả long ; Hợi sơn hạ y thứ thị đinh hợi thổ long , kỷ hợi mộc long , tân hợi kim long . Hữu kim long nhị , mộc long nhất , thuỷ long nhất , hoả long nhất , thổ long nhị , không vong long nhị . Thế Anh Dịch từ tài liệu "Trung Hoa Phong Thủy".
  4. Khám Phá Lịch Sử Trang Phục Việt 08/10/2009 1:18 Đoàn làm phim trong một cảnh quay ở Huế - Ảnh do HTV cung cấp Hôm qua, 7.10, Đài truyền hình TP.HCM ( HTV) đã họp báo giới thiệu bộ phim tài liệu 24 tập Đi tìm trang phục Việt của đạo diễn Nguyễn Hải Anh (ảnh) chuẩn bị trình chiếu từ ngày 12 - 31.10 trên kênh HTV9. Đạo diễn kiêm tác giả kịch bản Nguyễn Hải Anh đã có ý tưởng về bộ phim này từ năm 2000, xuất phát từ niềm đam mê thời trang cũng như ước muốn khám phá mạch chảy của lịch sử thông qua trang phục dân tộc. Trang phục là một trong những biểu hiện quan trọng của văn minh và văn hóa. Thuở hồng hoang khi con người bắt đầu tiến hóa đã biết lấy vỏ cây hay da thú để làm trang phục che thân, cho đến ngày nay, cũng như lịch sử, trang phục Việt đã trải qua bao thăng trầm, tồn vong. Từ thời Hùng Vương với hình ảnh trang phục được thấy trên trống đồng, trên những pho tượng đã tồn tại hàng ngàn năm, phim cho khán giả thấy những hình ảnh phục dựng vừa đẹp vừa rất gợi cảm. 24 tập phim là trải dài câu chuyện của vải, của áo quần, của những định nghĩa đơn giản mà không phải ai cũng đã biết. Như tại sao tên nước là Văn Lang? Văn Lang là người vẽ hình để chỉ rằng tổ tiên ta đã có một trang phục đặc biệt là vẽ hình lên người xưa. 24 tập phim là một chuỗi lần dở từng trang sử nước Việt mà mỗi thời kỳ, mỗi dạng trang phục là một câu chuyện riêng, sẽ kể cho khán giả nghe về một nét văn minh, văn hóa của người Việt bằng trang phục. Đoàn phim đã đến Trung Quốc, Thụy Sĩ, Pháp, Áo và Bỉ để tìm quay các hiện vật của người Việt hiện có ở các bảo tàng những nước này. Từ các triều đại Lý, Trần, Lê đến nhà Nguyễn... rồi trang phục dân gian đầu thế kỷ 20 và chiếc áo dài đã trở thành quốc phục hiện nay. Đạo diễn Nguyễn Hải Anh cho biết: “Chúng tôi làm phim tài liệu theo cách khám phá mà không áp đặt, cố gắng khách quan, đa dạng phong phú về tư liệu, nỗ lực sáng tác và ngẫu hứng. Phim đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều nhà nghiên cứu mỹ thuật, lịch sử và khảo cổ không chỉ ở Việt Nam. Có thể phim chưa phục dựng được bức tranh đầy đủ về lịch sử trang phục Việt, nhưng đã phần nào mang lại những nét phác họa cơ bản để khán giả hình dung vẻ đẹp sang cả mà đôn hậu của tổ tiên, ẩn chứa sức sống trường tồn của dân tộc thông qua trang phục”. Cát Khuê
  5. Theo tượng đoán thử chơi thôi: Những tháng gần cuối năm, tỉnh này nêm thận trọng, ngành hàng hải, thủy sản có thể thất mùa, đề phòng thiên tai bão lũ. Cẩn thận chuyện thị phi. Thiên Đồng
  6. Chòy oi, tháng này lão Liễu Ngân Đình bị Đào Hoa chiếu mạng. Ngưỡng mộ! Ngưỡng mộ! :lol:
  7. Vấn đề này bạn nên copy lại bỏ qua mục Tư Vấn Phong Thủy nhờ sự tư vấn của chú dienbatn. Thiên Đồng
  8. Ui trời! Lão quái Liễu Ngân Đình lập Liễu Sào ở đây. Chúc mừng lão lão!! Nhưng mà lạ này? Hà cớ chi mà toàn chị em Phụ Nỹ vote trăm phần trăm không nè trời? Chưa chi mà mấy Ẻm, mấy Chỉ te te chạy theo để xin quẻ rồi.Trong quẻ của lão có dùng...Huyền Môn không đó? Cha chả là cha chả... Nghi!...Nghi Lắm! Nghi Lắm! :lol:
  9. Trong Đông Y có bài " Kê Khương Mật". Kê = trứng gà khương = gừng Mật = mật ong Trường hợp không có mật ong thì dùng đường. Lúc đó gọi là "Kê Khương Đường". Bài này là món ăn vị thuốc dùng cho việc hồi phục sức khỏe. Những người bị suy nhược cơ thể, suy dinh dưỡng, đang bệnh hay bệnh lâu ngày mới lành cần phải bồi bổ cơ thể dùng bài này sẽ phục hồi nhanh chống. Một quả trứng gà, lấy tròng đỏ bỏ tròng trắng để vào chén, cho 2 muỗng mật ong vào đánh đều, đập dập một ít gừng vắt nước bỏ vào, hoặc bỏ luôn xát gừng vào. Đem hỗn hợp này chưng cách thủy hoặc chưng trong nồi cơm. Tùy theo sức khỏe yếu nhiều hay ít mà ăn 1 hoặc 2 trứng/1 ngày. Ăn liên tục nửa tháng sẽ thấy hiệu quả ngay. Thiên Đồng
  10. Kính gửi cô HoaiChau, Thiên Đồng xem qua tuổi của các thành viên trong gia đình cô, thấy cả nhà có cách tốt thổ kim thủy mộc hỏa đều có đủ. Có 3 Kim nhưng 3 kim yếu, cũng không đến nổi thái quá. Đèn lồng treo cao cao, nền nhà lo úng thủy, có thể luận là gia đình có phúc ấm, tiếng tốt hàng xóm biết tên, nhưng lúc nào cũng ấy náy về chuyện gia đình. Có cái gì đó không đáng lo mà cũng phải bận tâm. Năm nay không phải hợp tuổi, nhưng lại là thiên sát địa xung đối với Cô. Nhưng phụ nữ lại không kị, chỉ lo chuyện bực mình, mấy tháng cuối năm càng thêm lo nhiều sự rối ren. Nếu cô còn travailler thì chú ý đến hiệu quả công việc, hiệu quả kinh doanh. Thiên Đồng lấy quẻ cho cô là Thương Tốc Hỷ, giờ ngọ, 19/8/ năm kỷ sữu, quẻ này chủ sự buồn lo, bệnh chủ về khí huyết, tim mạch, nhức đầu chóng mặt. Chắc không đến nỗi tai nạn gì nặng cho cam. Cô chớ lo. Có một cách tạm coi là giải hạn hiệu quả, Cháu Thiên Đồng cũng học được từ Sư Phụ Thiên Sứ, áp dụng được cho 2 trường hợp rồi, đó là phóng sanh. Ở Việt Nam phóng sanh thì dể. Không biết ở nước ngoài có làm được không? Nghĩa là khi nào có thời gian thuận tiện, Cô nên thả chim, thả cá, thả rùa...phóng sanh. Không cần cúng kiếng gì cả. Mua thả ngay. Ở Việt nam thường mua chừng 100 con chim là ít nhất để thả, nếu không thì "mua mão" (mua hết) số chim mà người đó đang bán, nhưng có quyền trả giá sát sường. Ở nhà, Cô nên mua trầm về xông tạo không khí thanh tịnh đồng thời xua tan tà khí. Dọn lại nhà ngăn nấp, bỏ bớt những thứ vật dụng không cần thiết, đồ tạp nham bỏ đi, phòng ốc kho bãi gọn gàng tao cho nhà sáng sủa. Vậy vận xui sẽ bị tiêu trừ. Chúc cô vạn an. Thiên Đồng
  11. Sinh trong năm Canh Dần được thì rất tốt. Trai gái đều tốt. Rồi đến Ất Mùi 2015 sinh một đứa nữa thì nhà này rất tốt.
  12. Gửi duyenanh, em và bạn em, ai nữ? ai nam? Sẵn đây cho thiên Đồng gửi trả lời cho một bạn gửi câu hỏi qua pm, nhưng Đông lại quên địa chỉ là ai đã hỏi nên đưa câu hỏi và câu trả lời lên đây. Bác làm ơn xem hộ em ngày ăn hỏi và ngày cười, cuối nam 2009 hoặc đầu năm 2010.Em sinh ngày 17/06/82, vo em sinh ngay 10/09/1984. Em đang rất cần, em cảm ơn nhiều. Chọn: Tháng 12 âm 2009, ngày 6,10, 11. Tháng Giêng (1) năm 2010, ngày 9, 15, 16, 21.(âm) (nên chọn tháng này) Thiên Đồng
  13. Chòy oi, sao nhại lại bài hát anh Kim Đồng làm cho Thiên Đồng nghe mà tự dưng rợn tóc gáy, cảm ứng quẻ...Kinh Đại Hải quá chừng! Muội Séo Chỉa này đúng là...hết ý kiến luôn. Còn mần diệc hong chịu lo mần diệc mà lại lo bóc quẻ này nọ. Bởi vậy bóc trúng cái Sinh vô vong là đúng rồi, đâu có cái nào ra cái nào đâu, ẻm nào hại em thì ẻm đó lãnh đạn, tháng này Sinh mà đi khắc thổ coi như là ...tèn ten hy sinh, ẻm đó nhầm tháng rồi kưng ơi! Mà muội cũng lậm qué hén? Làm diệc cũng quẻ, ăn ngủ cũng bốc quẻ...chà hết biết! Còn cái vụ mơ màng, mộng mị đó thì đứng dưới góc độ phân tâm học, chắc là muội ấn tượng "ẻm" lắm? Mà ẻm này nhan sắc chắc cũng "phình phường" nên nhìn đi nghĩ lại chỉ tầm tầm...khủng long, chứ hong được tầm "hoa hậu quý bà" đẹp và thành đạt. Vì vậy mà trong giấc mơ, con khủng...long này nó rượt chạy quá mạng. Chạy ra khỏi giất mơ rồi thì bốc được quẻ Cảnh Tốc Hỷ. Trời ơi, giải ra còn...khủng hơn: Cảnh Tốc Hỷ là...chạy té khói!!! mà cũng đúng như bác Liểu Ngân Đình giải luôn, tức là bản thân tổn hao cho nên cũng cần gặp bác Liễu Ngân Đình đo gân, bắt mạch, bốc thuốc cho 1 liều Cảm Xuyên Hương. Thôi tốt nhất là bình tâm tịnh ý trước cái đã, việc khác tính sau. Thiên Đồng
  14. gửi Song Sinh, ngày giáp thân (LT hỏa) 18 tháng quý dậu (KP kim) năm kỷ sữu giờ dậu. sắp tới có chuyển biến tích cực hơn không? hay phải tính chuyển đổi nơi làm việc mới, mặc dù biết đổi chỗ làm việc là một sự bần cùng. Cảnh Tiểu Cát Luận: nghĩa quẻ là chờ mong lợi lộc nhỏ mọn, trong khi Cảnh mộ tuyệt mà hóa thổ, Tiểu Cát chẳng được khá gì hơn khi bị chiết thành củi chụm lò. vậy thì quẻ này hoàn toàn vô khí vô lực. Lợi lộc có cũng chỉ bỏn bèn. có khi lại tổn công tổn sức lại hao thêm không chừng. quẻ tiếp theo an bài Tử Vô Vong, nghĩa là người ở không vuốt râu chờ thời, nếu có chút tài lộc thì cũng mánh mung mafia. Quẻ này cũng mang nghĩa của sự bần cùng đã nhắc trong câu hỏi. Tiến thoái lưỡng nan "Sống là động mà lòng không xáo động" Cảnh Tiểu Cát nghĩa quẻ tương đương với chữ "Nhẫn", chờ đợi niềm vui, muốn vận phải...không xáo động. Tháng 3 âm năm Canh Dần 2010 sẽ có một công việc tốt đẹp. Những tháng cuối năm có thể gắng gượng bước qua. Chúc vạn an Gửi quynh62, nhà em hiện tại kinh doanh internet nhưng dạo này làm ăn hok đc, nhờ anh xem quẻ giúp dùm nha. Quẻ Tử Vô Vong Luận: Mẹ tuổi Ất Mùi mạng Sa Trung Kim. Sửu Mùi tương xung, Chữ Kỷ xung chữ Ất, mang kim mong manh hao khí lực, vậy năm nay cố công tìm lợi, lợi đâu chưa thấy đã thấy tổn hao. Quẻ tử vô vọng cho biết đến giờ này thì vẫn lung túng, lùng bùng trong cái sự kinh doanh, thu không bù chi, vây nợ nóng, mượn nợ lạnh. từ nay đến tháng Một, tức 11 âm nếu không có quý nhân giúp đỡ vốn thì phải tính chuyện tiếp theo. Cũng nên tham khảo lại cái phong thủy nơi kinh doanh. Chúc thuận lợi. Thiên Đồng.
  15. Cháy nhà lòi ra mặt chuột. Từ đây sẽ có thêm thành ngữ : "Lũ qua ra gỗ" hay " Bão lũ đi qua lòi ra gỗ lậu". Thôi chắc hong lấy gỗ lậu nẹp diều đâu, không bị CA vịn, cũng bị lâm tặc hâm he, diều bay hong nổi. Hic Nhưn mừ, trong rủi có may, trong âm có dương, đỡ cho một số pà kon nhặt gỗ, lụm gỗ nên cũng qua cơn cơ hàn. A mi phò phò! Đưởng bị sạt, bị rách, bị nứt, bờ kè sụp, cột điện tróc gốc...Duy chỉ có cái hàng rào tôn của công ty nào đó còn như Nguyễn Y Vân thì chứng tỏ là...tại trời không vun đất không tha, chứ hong tại người. Giống như dây điện rơi rớt lòng thòng giật chết mấy mạng thì cũng...tại trời luôn thôi. Amen!
  16. Đài Loan và cội nguồn Bách Việt Nguyễn Đức Hiệp Năm 2000, một sự kiện lịch sử xảy ra ở ven bờ Thái Bình Dương. Sự kiện đó không phải là Thế vận hội 2000 ở Sydney mà thế giới chú ý đến trong vài tuần, mà là một diễn biến ít người để ý đến. Một sự kiện sẽ có ảnh hưởng lâu dài đến chính trị và có thể làm thay đổi cách nhìn với thế giới bên ngoài của nhiều nước trong vùng. Sự kiện đó là kết quả bầu cử ở hòn đảo Đài Loan nhỏ bé. ứng cử viên Trần Thuỷ Biển (Chen Shui-bian) của đảng Dân chủ Tiến bộ (Democratic Progressive Party) đã thắng Quốc dân đảng và trở thành tổng thống Đài Loan, một sự thay đổi chính quyền không đổ máu, không bạo động lần đầu tiên trong lịch sử mấy ngàn năm của Trung Quốc. Lịch sử của Trung Quốc ?. Thực ra trong tâm của vị tân tổng thống thì hướng đi của chính sách mà ông đã theo đuổi từ nhiều năm trước, mà đại đa số dân đã đồng ý, thì hòn đảo này với dân số hơn 20 triệu sẽ không còn là bộ phận của Trung Quốc nữa. Nó sẽ là một quốc gia khác đứng ngoài quỹ đạo của dân tộc Trung Hoa, nó không còn dính gì trực tiếp đến Trung Quốc hay lịch sử Trung Quốc nữa, cũng như Hoa Kỳ hơn 200 trăm năm trước đây đã cắt rìa khỏi nước Anh để tạo riêng vận mệnh lịch sử của mình. Phản ứng của Trung Quốc thật dữ dội và giận dữ, báo chí Trung Quốc dùng những lời lẽ nặng nề chưa từng thấy với một cá nhân, không kém những từ ngữ dùng trong cách mạng văn hoá với các kẻ thù giai cấp và đế quốc xưa kia trong thập niên 1960. Mấy tuần trước ngày bầu cư, hải quân Trung Quốc đã tập trận bắn tên lữa ở eo biển Đài Loan. Trên đất liền, Trung quốc dàn tên lữa hướng về Đài Loan đe dọa tinh thần dân chúng, đặt áp lực với chủ ý sẽ làm cử tri run sợ chiến tranh mà phảI bầu cho ứng cử viên Quốc dân đảng !. Oái ăm thay, Quốc dân đảng là kẻ thù trước đây của đảng cộng sản Trung Quốc. Lúc này thì cả hai lại cùng chính sách, cùng quan điểm rút từ một nền tảng tư tưởng trung ương tập quyền Đại Hán truyền thống lâu đời. Điều gì đã gây ra sự cố động đất như vậy ?. Ngoài sự kiện ông Trần Thuỷ Biển (Chen Shui-bian) là một người Đài Loan bản sứ chính cống, không phải từ lục địa đi đến khi Quốc dân đảng thua bỏ chạy sang, thì tư tưởng và hoài bảo của ông, đại diện cho hoài bảo của đa số người Đài Loan bản sứ, chính là điều mà Trung Quốc sợ hải hơn hết. Thật sự thì không phải mà đột nhiên có sự tự phát, xuất hiện một tư tưởng tự chủ như vậy, mà nó đã có một lịch sử khá lâu dài. Tư tưởng ấy đã bị đè nén, thay thế bởi một tư tưởng khác từ bên ngoài ép đặt trên văn hoá, tư tưởng của dân tộc Đài Loan trong nhiều năm qua. Tôi đặc biệt chú ý đến lịch sử Đài Loan và hoài bảo của người dân khi tôi viếng Đài Loan trong một dịp dự hội nghị Khoa học về môi trường khí quyển ở thành phố Đaì Trung (Taitung), do hai Viện Hàn lâm khoa học Đài Loan và Hàn lâm Khoa học Úc tổ chức vào tháng 6/2000. Trước đây tôi chỉ có để ý và nghiên cứu chút ít về người bản sứ thổ dân sống ở Đaì Loan trước khi người Hoa từ lục địa di dân sang. Bài này có mục đích tìm hiểu những diễn biến về sự thay đổi trong xã hội, văn hoá và tư tưởng của người dân Đài Loan trong vòng 20 năm nay. Nó gợi lại trong lịch sử và trong tiềm thức của người Việt những gì tương tự mà dân tộc Việt Nam đã trãi qua cách đây hơn 1,000 năm. (1) Cách mạng văn hoá hay tuyên ngôn độc lập? Buổi lễ nhậm chức tổng thống ngày 20/5/200 ở Đài Bắc được tổ chức trong vườn sân trước các bậc thềm của dinh Tổng thống, một kiến trúc thời Minh Trị xây trước đây làm dinh cho viên toàn quyền của Nhật khi họ còn cai trị Đài Loan. Dinh này cũng biểu trưng quyền lực của Quốc dân đảng trong bao năm trước đây khi họ nắm quyền hơn nữa thế kỷ. Những sự kiện xảy ra ở buổi lễ mang đầy những biểu tượng đáng kể, mà một nhà nghiên cứu ở Viện Xã hội học, thuộc Hàn lâm Trung hoa (Academia Sinica) ở Đài bắc đã viết lại như sau trên diễn đàn điện tử thảo luận về Đông Nam Á (Southeast Asia Discussion List, SEASIA-L) (1). Buổi lễ bắt đầu 9:50 sáng, mọi người quan khách trong và ngoài nước tưởng sẽ nghe bài quốc ca Cộng hoà Trung quốc (Republic of China) đầu tiên, nhưng tất cả đều ngạc nhiên khi một nhóm nhạc sĩ thổ dân của bộ lạc Bunum bản sứ (thuộc tộc Austronesian) đứng lên hát bài ca dân tộc truyền thống “Báo tin vui”. Sau đó là các phần trình diễn của các bộ lạc bản sứ Austronesian khác ,tiếp theo là bài hát dân ca của người Hakka (Hẹ hay Khách trú) và dân ca người Holo. Chỉ khi tổng thống Trần Thuỷ Biển và phó tổng thống bà Annette Lu bước ra từ dinh Tổng thống thì bài quốc ca mới được hát sau cùng. Người hát quốc ca không khác hơn là cô ca sĩ nổi tiếng ở Đài Loan (và Trung quốc) Chang Hui-mei, gốc người thổ dân bộ lạc Puyma. Cô có nhiều thính giả không những ở Đài Loan mà còn rất được ái mộ ở Trung quốc lục địa. Trước kia không bao giờ có sự có mặt của văn hoá địa phương trong những nghi lễ trịnh trọng. Nay thì ngay cả bài quốc ca cũng xuống hàng thứ yếu. Sự phá vỡ nghi thức này rất có ý nghĩa. Nó có chủ đích cho thấy là chính phủ mới từ đây về sau sẽ theo đuổi chính sách đứng trên quan điểm của người địa phương (Hoklo, Hakka, Austronesian) chứ không như chính phủ Quốc dân đảng trước kia đứng trên quan điểm trọng Hán. Hiểu được hậu ý của chính phủ Trần Thuỷ Biển, Trung quốc đã giận dữ, ngay cả Amei cũng không thoát khỏi sự tức giận ấy. Sau khi cô tham dự và hát bài quốc ca Đài Loan (Cộng hòa Trung quốc) ở lễ nhậm chức của tổng thống Trần Thuỷ Biển , chính phủ Trung quốc ra lệnh tẩy chay Amei, đài truyền hình, truyền thanh từ ngày đó không được trình chiếu, phát hành các bài hát của ca sĩ Amei. Báo chí cấm đề cập đến cô, ngay cả các biểu ngữ quảng cáo không được đăng các hình ảnh ca sĩ Amei. Ở Bắc Kinh và Thượng Hải, hình Amei trên các bảng quảng cáo nước ngọt Sprite của công ty Coca-Cola đã bị bôi xoá đi. Tuy vậy các đĩa CD của cô, người ta vẫn còn có thể tìm thấy được ở một số các cửa hàng nếu chịu khó truy lùng. Wu Bai, một ca sĩ nam nổi tiếng ở Đài Loan và Trung quốc, cũng chịu chung một số phận, khi ông hát và ủng hộ Trần Thuỷ Biển. Bài diễn văn của Trần Thuỷ Biển rất ít đề cập đến sự quan hệ với Trung quốc (một vấn đề thời sự nóng bỏng lúc đó), mà hầu hết là về lịch sử và văn hoá Đài Loan, về cải tổ chính trị và chính sách đối nội. Trần Thuỷ Biển nói đến Đài Loan 40 lần, Cộng hoà Trung quốc (ROC) 9 lần, Trung quốc chỉ 1 lần nhưng Formosa (tên cũ của đảo Đài Loan) 2 lần và 4 lần nhấn mạnh nói lớn “Đài Loan đứng lên !”. Đài Loan thực sự đã đứng dậy về văn hoá và chính trị. Trần Thủy Biển nêu lên những sự áp bức, xâm lược bởi đế quốc mà cả hai dân chúng ở Trung quốc và Đài Loan đã là nạn nhân chịu dựng trong thế kỷ 20. Thật sự Đài Loan còn khổ sở nặng hơn dưới chế độ thực dân Nhật. Những kinh nghiệm lịch sử tương tự như thế đáng ra đã mang lại sự thông cảm và hiểu nhau giữa hai dân tộc ở hai bên của eo biển Đài Loan, và từ đó đặt nền tảng cho sự theo đuổi thiết lập tự do, dân chủ và nhân quyền cùng với nhau. Tuy nhiên, do sự phân ly lâu dài trong lịch sử, hai vùng đã phát triển theo hai hướng khác nhau đi đến sự khác biệt tột độ về nhiều phương diện từ hệ thống chính trị đến văn hoá và phong cách sống. Điều này đã cản trở sự thông cảm và thiết lập tình hữu nghị giữa hai nước. Bài diễn văn này là một tuyên bố chính trị quan trọng. Ông phân biệt rõ sự khác biệt giữa lịch sử Trung quốc và lịch sử Đài Loan. Đài Loan đã trãi qua thời kỳ bị Nhật đô hộ lâu dài và đã có lịch sử riêng chứ không phải chỉ có lịch sử mới đây tách ra khỏi Trung quốc bắt đầu từ 1949, với nhãn quan của người Hán đặt trọng tâm vào cuộc nội chiến quốc-cộng. Ông nói là cách đây 400 năm, Đài Loan được gọi là Formosa, hòn đảo xinh đẹp, nay Đài Loan còn là một hòn đảo có một nền dân chủ trưởng thành và thanh tao. Ông cho rằng lịch sử Đài Loan tiếp diễn cách đây 400 năm từ di sản của thổ dân Austronesian, cư dân đầu tiên, chứ không phải xuất phát từ 5,000 năm của lịch sử Trung quốc. Ông là vị Tổng thống Đài Loan đầu tiên đã đặt trọng tâm của vũ trụ quan vào lịch sử đảo và vào di sản Austronesian. Ông đặc biệt nói về văn hoá địa phương, các tổ chức của cộng đồng, phi chính phủ đã được thành lập để phát triển, bảo tồn lịch sử, văn hoá ở mọi địa phương, làng xã. Tất cả đó là một phần của văn hoá Đài Loan. Đài Loan là một xã hội đa văn hoá, trong đó mọi người dân mở rộng chấp nhận sự đa dạng và giao lưu với nhau giữa các người Austronesian, Hoklo, Hakka và người Hoa ở lục địa sang. Ông nói về văn hoá Hoa kiều và đặt cộng đồng người Hoa ở Đài Loan giống như cộng đồng người Hoa trên thế giới như ở Singapore, Sydney hay San Francisco trong môi trường đa văn hoá, chứ không phải người Hoa giữa dân số của một nước Trung quốc thống nhất. Ông nhấn mạnh đến cuộc sống “văn hoá” thường ngày của người dân bình thường và nóI về bản thân ông xuất thân là con của một tá điền trong một gia đình nghèo và đã vươn lên để trở thành tổng thống của một nước được tín nhiệm của dân Formosa, những người con của Đài Loan như ông. Tinh thần từ bài diễn văn giống như tinh thần của một bản tuyên bố độc lập hơn là của một bài diễn văn nhậm chức bình thường. (2) Các dân tộc ở Đài Loan Vì đâu mà ông Trần Thuỷ Biển đã “tuyên bố độc lập” như vậy?. Bài ông nói đã phản ảnh được những gì sâu sa xảy ra trong tư tưởng ở xã hội Đài Loan trong nhiều năm vừa qua ở nhiều lãnh vực. Một hiện tượng xã hội đáng chú ý gần đây là một số vấn đề nghiên cứu trong phạm vi khoa học có liên hệ đến các dân tộc ở Đài Loan đã lan ra khỏi phạm vi hạn hẹp và trở thành một đề tài nóng bỏng trong xã hội mà trước đây ít có thể xảy ra. Giáo sư Lâm Mã Lý, nhà di truyền học ở bệnh viện Mckay Memorial ở Đài Bắc, đã bỏ ra nhiều năm nghiên cứu về nguồn gốc di truyền của các bộ tộc thổ dân sống lâu đời từ thời tiền sử ở Đài Loan. Một đề tài hầu như lúc đó không ai ở Đài Loan để ý Sau khi công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí khoa học vào năm 2000 (2), bà đã nhận được rất nhiều thư, điện thư từ các người “Đài Loan” không phải thổ dân (Mân Nam và Hakka) muốn tìm hiểu thêm về nguồn gốc của họ, họ không cho rằng họ có nguồn gốc từ người Hán. Giáo sư Lâm Mã Lý từ đó chuyển trọng tâm nghiên cứu của bà sang người Minnam (Mân Nam) và Hakka. Sau hơn một năm nghiên cứu di truyền trên hệ thống miễn nhiễm (Human Leucocyte Antigen, HLA) ở nhiễm sắc thể 6 (chromosome 6) qua máu của các dân Mân Nam (Hoklo), Hakka và các mẫu máu từ nhiều nước kết hợp được trong tổ hoạt động quốc tế về HLA (International Histocompatibility Workshop) ở Nhật năm 1998, giáo sư Lâm Mã Lý đã công bố kết quả (3) về sự liên hệ và khoảng cách của các nhóm dân trên sơ đồ cây di truyền. Kết quả cho thấy người Mân Nam và Hakka rất gần với người Việt, Thái và các dân thuộc chủng mongoloid Nam Á, khác sa với người Hán thuộc chủng mongoloid Bắc Á. Giáo sư Lâm Mã Lý cho rằng người “Đài Loan” thuộc dân tộc Mân Việt (Min Yueh) chứ không phải dân tộc Hán, mặc dù đã có sự pha trộn trong lịch sử với người Hán di cư từ phương Bắc. Trong cuộc phỏng vấn trên báo Taipei Times (Đài Bắc thời báo) (4), có câu hỏi là có phải nghiên cứu của bà đã gây chú ý và bàn luận rất nhiều là vì nó đã thách thức chủ nghĩa Hán trung tâm cho rằng người Hán và văn minh Hán Hoa là cội nguồn của tất cả mà ra, và do đó đã rơi vào cuộc tranh luận chính trị về sự thống nhất với Trung quốc. Bà trả lời là bà cũng biết trước là kết quả nghiên cứu di truyền sẽ khơi động sự bàn luận tranh cãi, nhưng bà cũng nói rằng kết luận của nghiên cứu cũng không phải là gì mới lạ vì trước đây hai nhà nhân chủng học nổi tiếng đã công bố lâu rồi về dân tộc và văn minh của người Mân Việt, Hakka và Bách Việt. Kết quả của bà chỉ chứng minh một cách khoa học thêm mà thôi. Cả hai công trình nghiên cứu này đã được biết từ lâu trước khi có chủ đề bàn luận về thống nhất hay độc lập ở Đài Loan. Đó là công trình nghiên cứu của Lin Hui Shaing, “The Ethnology of China”, xuất bản năm 1937 và W. Meacham, “Origins and development of the Yueh coastal neolithic: A microcosm of cultural change on the mainland of East Asia”, công bố vào năm 1981. Cả hai đã đi đến cùng kết luận về nguồn gốc của dân Bách Việt. Cũng trong cuộc phỏng vấn này, có câu hỏi là có phải nghiên cứu của bà có mục đích chính trị không, vì hiện nay có rất nhiều người đã dùng nghiên cứu của bà trong chính trường. Bà nói rằng mọi người nên hiểu biết về nguồn gốc của mình. Và bà chỉ muốn tìm ra nguồn gốc của người địa phương sống lâu đời ở Đài Loan. Bà không hiểu tại sao người Mỹ gốc Phi lại có thể đi tìm được nguồn gốc của họ, mà người Đài Loan lại không có thể nói được “Chúng ta là người Mân Việt cổ xưa”. Bà muốn rằng người Đài Loan nên xem mình là người địa phương Mân Việt chứ không phải Hán từ bắc Trung quốc. Bà nói : “Bài nghiên cứu của tôi đơn giản là chỉ để hiểu biết về nguồn gốc. Tôi không biết gì về chính trị và không thuộc tổ chức chính trị nào”. Để có một cái nhìn tổng quát về tình hình Đài Loan và hiểu thêm về các dân tộc và văn hóa ở hòn đảo này, chúng ta phải bắt đầu từ các dữ kiện lịch sử và dân tộc học mà tôi cố gắng tóm lược như sau. Bộ tộc Austronesian Những người bản sứ thuộc dòng ngôn ngữ Austronesian là những dân đã sống lâu đời ở Đài Loan từ trước thế kỷ 17 khi các người ngoại quốc, như Hoà Lan, Tây Ban Nha và sau này từ Trung quốc bắt đầu đến chiếm đóng và định cư. Ngôn ngữ của các bộ tộc bản sứ cũng rất đa dạng và khác nhau, nhưng tất cả đều thuộc họ ngôn ngữ Austronesian, cùng họ với ngôn ngữ Phi Luật Tân, Indonesia, Mã Lai và ở nhiều đảo khác trong Thái Bình Dương. Hiện nay người thổ dân Austronesian chỉ còn có khoảng dưới 2% dân số Đài Loan và gồm các bộ tộc sau (theo thứ tự dân số) : Amis (130,000), Paiwan (60,000), Tayal (50,000), Bunun (38,000), Taroko (30,000), Puyuma (8,000), Rukai (8,000), Tsu (6,000), Yami (4,000), Saisiat (4,000), Thao (250). Một số bộ tộc khác ở đồng bằng và bờ biển trước đây đã biến mất, qua sự đồng hoá trong cộng đồng các người Hoklo, Hakka di dân từ Trung quốc trong các thế kỷ trước. Ngôn ngữ của các bộ tộc này chỉ còn giữ lại trong các tự điển và bài viết về họ của người Hoà Lan, Nhật và Đài Loan sau này, và một số từ còn sót lại trong tiếng Hoklo. Trong suốt lịch sử từ 1624, khi người Hoà Lan đến chiếm, cho đến thời kỳ thuộc nhà Thanh, rồi thuộc Nhật Bản và gần đây dưới chế độ Quốc dân đảng, người thổ dân thường bị phân biệt, chèn ép trong xã hội. Có lúc họ đã nổi dậy, như năm 1930, một bộ lạc đã nổi lên chống Nhật nhưng họ đã bị đàn áp đẫm máu. Đất đai của họ đã bị lấn chiếm và mất dần (cách đây không lâu, có nơi đất của họ đã được dùng để chôn các chất thải nguyên tử nguy hiểm). Năm 1984, Liên minh thổ dân Đài Loan đã được thành lập bởi một số trí thức và các lãnh đạo các bộ tộc để bảo vệ quyền lợi và văn hoá thổ dân. Họ đã tranh đấu trong nhiều năm cùng với đảng Dân chủ tiến bộ đối lập chống lại các chính sách văn hóa và bất công của chính quyền. Ngày nay, quyền lợi và văn hoá thổ dân đã được khuyến khích phát triển nhất là từ khi chính phủ Trần Thuỷ Biển nắm quyền từ năm 2000. Như các người Austronesian khác ở Đông Nam Á (Mã Lai, Phi Luật Tân, Nam Dương), các bộ tộc thổ dân đều có tục ăn trầu và xâm mình. Đặc biệt người Atayal còn xâm hình rất nhiều lên mặt. Theo truyền thuyết của họ, lúc khởi thủy chỉ có hai anh em. Vì muốn sinh sản con người, người em gái đã xâm hình lên mặt để che dấu gạt anh và sinh sản con cháu. Người Rukai, trong lễ hội xuân, còn có phong tục chơi đu xích đu. Người con gái đu xích đu, trong khi người con trai đẩy và bắt lấy. Trò chơi ở lệ hội xuân này tương tự như trò chơi của lễ hội người Việt và chúng có nguồn gốc phồn thực. Vì là thiểu số, hiện nay văn hoá người thổ dân có nguy cơ biến mất khi đa số thanh niên cố gắng hoà nhập vào xã hội Đài Loan. Trước đây vì bị phân biệt, nên đa số đã cố gắng dấu đi đặc tính thổ dân để hoà nhập. Ngày nay với chính sách bảo vệ và phát triển văn hoá bản sứ trong giáo dục, chính trị và kinh tế, họ đã có mặt ở mọi thành phần, tầng lớp trong xã hội Đài Loan và hảnh diện là người có gốc tích thổ dân, dân cư đầu tiên của nước Đài Loan. Cuối năm 2001, ở Đài Trung, nơi có nhiều thổ dân thuộc các bộ tộc khác nhau, đã có tổ chức lễ hội về văn hóa Austronesian, với sự hiện diện của nhiều học giả thế giới đến dự hội nghị nghiên cứu Austronesian tổ chức cùng thời gian. Chang Hui-mei (Amei), ca sĩ nổi tiếng ở Đài Loan, là một người gốc thổ dân bộ lạc Puyuma bản sứ đã trình diễn nhiều bài dân ca Austronesian khai mạc liên hoan văn hoá này. Viện hàn lâm Academia Sinica cũng đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa và con người Austronesian. Cùng với “Hiệp hội nghiên cứu tiền sử ấn và Thái Bình dương”, Academia Sinica đã tổ chức nhiều hội nghị quốc tế về người Austronesian, như ở Đài Trung và Đài bắc vừa rồi. Nguồn gốc người Austronesian ở Đài Loan Có nhiều giả thuyết (9) về nguồn gốc của người Austronesian trên đảo Đài Loan: (a) họ là hậu duệ của người từ đảo Ryukyu ở nam Nhật Bản đến cách đây hơn 2,000 năm (:rolleyes: họ là những người Mã Lai đi từ các đảo phương Nam lên © họ là hậu duệ của các dân tộc từ đất liền vùng Quế châu (Miao, Thai,..) gần biên giới hiện nay giữa Trung quốc và Việt Nam. Những người này cũng là tổ tiên của người “Việt” (yueh) ở Quảng Đông hiện nay. Các địa điểm khảo cổ thời kỳ đá mới ở Tapenkeng (gần Đài Bắc) và Fengpitou (gần Cao Hùng) cho thấy các vật tìm thấy (rìu, tên đá, đồ gốm với trang trí hình thừng..) thuộc vào một nền văn hoá thời đại đá mới cách đây khoảng hơn 5,000 năm. Các nền văn hoá này có liên hệ với các di chỉ văn hoá ở đất liền phía nam Trung quốc và bắc Việt Nam. Các gốm ở các di chỉ văn hoá trên cũng có sự liên hệ với các gốm tìm thấy ở các di chỉ ở Phi Luật Tân và ở Sa Huỳnh. Điều này cho thấy giả thuyết thứ hai và ba ở trên về nguồn gốc của dân Austronesian có thể là có cơ sở. Tuy khảo cổ học cho ta thấy sự liên hệ ở thời kỳđá mới giữa cư dân đảo Đài Loan và đất liền, nhưng về phương diện ngôn ngữ hiện nay ta không còn tìm được cư dân nào còn lại trên đất liền ở nam Trung quốc và bắc Việt Nam dùng tiếng nói thuộc họ ngôn ngữ Austronesian. Nhà khảo cổ P. Bellwood cho rằng xưa kia ngôn ngữ Austronesian có thể đã được dùng bởi các bộ tộc ở nam Trung quốc nhưng đã bị biến mất khi người Hán tràn xuống phía nam. Vết tích của ngôn ngữ Austronesian có thể tìm được ở tiếng Mân Nam (Hoklo). Nhà ngôn ngữ học Benedict cho rằng họ ngôn ngữ Austronesian và ngôn ngữ Thai-Kadai (hiện vẫn còn ở nam Trung quốc và bắc Việt nam) có liên hệ và cùng chung một gốc. Gần đây một số các nhà ngôn ngữ học cũng cho thấy có sự liên hệ giữa ngôn ngữ Austronesian và Austroasiatics (như Mon-Khmer, Việt-Mường). Họ gọi gốc chung của hai họ ngôn ngữ này là Austric và dùng phương pháp ngôn ngữ học để cấu tạo lại các từ gốc tiền-Austric. Ngoài phương diện ngôn ngữ, ta cũng thấy có sự liên hệ trong lịch sử của các dân tộc nói các thứ tiếng trên ở nam Trung quốc và Việt Nam. Từ các dữ kiện ngôn ngữ, lịch sử và khảo cổ, nhà ngôn ngữ học R. Blust và khảo cổ học P. Bellwood đã cho rằng, bắt nguồn từ Vân Nam, nơi xuất phát nhiều sắc tộc nói nhiều loại ngôn ngữ khác nhau, và nhiều di chỉ văn hóa, người Austronesian xuống đến bờ biển rồi từ đó qua Đài Loan. Họ sau này, cũng như nhiều sắc tộ khác, bị Hán hóa, chỉ để lại vàI dấu vết ngôn ngữ trong các dân ở nam Trung quốc hiện nay. Tuy vậy, qua sự nghiên cứu về các từ cổ Trung hoa về các sản phẩm canh nông như kê, lúa gạo, nhà ngôn ngữ L. Sagart (10) cho rằng nguồn gốc của người Austronesian là ở phía bắc sông Dương Tử. Những từ này có liên hệ đến các từ gốc Austronesian. Thuyết của ông đặt cơ sở là các di chỉ trồng lúa cổ nhất tìm được hiện nay là dọc phía nam sông Dương Tử như Hemudu, Caoxieshan (tỉnh Triết Giang) cách đây khoảng 6,500 năm và Pentoushan (Hồ Nam) cách đây khoảng 8,000 năm. Trái với hai thuyết trên là thuyết của Meacham, Terrel và Soldheim (11) cho rằng người Austronesian chính là bắt nguồn từ các đảo trong khu vực tam giác bắc Phi Luật Tân, Indonesia đến tây New Guinea (vùng Wallacea). Họ tỏa ra các hướng khác nhau: bắc đến Đài Loan và các đảo nam Nhật bản (Ryukyu), tây đến bờ biển Việt nam, đông về Melanesia và các đảo ở Thái bình dương (Polynesia). Meacham cho rằng hiện nay khó có thể xác định là nguồn gốc người Austronesian ở nam Trung quốc qua ngôn ngữ học và khảo cổ học. Sự định tuổi về sự phát xuất các họ ngôn ngữ qua ngôn ngữ học như Blust đã làm là không chính xác và di chỉ khảo cổ ở Đài Loan chưa đủ để kết luận là người Austronesian từ nam Trung quốc đến Đài Loan. Soldheim cho rằng thật sự người Austronesian đi đến bờ biển Trung quốc, Đài Loan từ phương nam (Phi Luật Tân) và họ cũng đến bờ biển Việt Nam như ở Sa Huỳnh. Khi kỷ thuật di truyền được bắt đầu sử dụng vào địa hạt nhân chủng học, một số các nghiên cứu về di truyền dùng các mẫu DNA và mitochondria DNA từ các bộ tộc Austronesian và các dân cư ở bắc, nam Trung quốc, các đảo ở Đông Nam Á và Thái Bình dương cho thấy có sự liên hệ rất nhiều giữa người Austronesian ở Đài Loan và các dân ở Phi Luật Tân và các cư dân tộc phía nam Trung quốc nhiều hơn ở bắc Trung quốc (9). Tuy vậy điều này chưa cho phép ta khẳng định hướng di dân đi từ hướng nào. Nguồn gốc của người Austronesian vẫn còn là đề tài tranh luận của các nhà nghiên cứu. Thuyết “Từ Đài Loan” về nguồn gốc Austronesian ở Thái Bình Dương Năm 1984, nhà khảo cổ học Peter Bellwood, trong chương trình nghiên cứu phối hợp với ngôn ngữ học đã cho rằng các người Polynesian ở các đảo Thái Bình Dương như Tonga, Fiji, Tahiti, Tân Tây Lan, đảo Easter... có nguồn gốc từ Đài Loan. Họ di cư từ Đài Loan chỉ cách đây hơn 3,000 năm và nhanh chóng toả ra khắp những nơi trên. Thuyết này được phổ thông hoá nôm na là thuyết “tàu tốc hành từ Đài Loan” (“express train from Taiwan”). Ông Bellwood (13) cho rằng người Austronesian là những người trồng lúa, với kỷ thuật canh nông, từ nam Trung quốc đã qua Đài Loan và xuống các đảo phía nam. Từ đó họ đi về phương đông đến hầu như hết tất cả các đảo ở Thái bình dương. Họ đã thay thế các dân hái lượm địa phương cư ngụ trước đó ở các đảo Đông Nam Á. Bellwood cũng dựa vào nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học R. Blust để đưa ra thuyết của ông. Blust đã xếp loại tất cả các ngôn ngữ Austronesian, khoảng 1,200 loại, thành 10 nhóm chính. Các ngôn ngữ của các bộ tộc Austronesian ở Đài Loan rất khác nhau và chia ra thành chín nhóm khác nhau. Trong khi các ngôn ngữ Austronesian khác ở Đông nam Á và Thái Bình dương nằm vào chung một nhóm. Vì thế Blust cho rằng các ngôn ngữ ở Đài Loan là thuộc loại xưa nhất, và các ngôn ngữ Austronesian khác bắt nguồn từ Đài Loan. Bằng chứng khảo cổ học là các loại gốm gọi là gốm Lapita được tìm thấy khắp các đảo ở Thái Bình dương, từ quần đảo Bismark, đảo Vanuatu, Caledonia đến Fiji, Tonga, Samoa. Những người Lapita này chính là tổ tiên của những người Polynesia nói tiếng Austronesian ở Thái Bình dương hiện nay. Bellwood cho rằng người Lapita phát xuất từ Đài Loan. Vấn đề người Lapita từ đâu đến không đơn giản và đã có nhiều nhà nghiên cứu tranh luận. Nhà nhân chủng học Terrel cho rằng thật sự tổ tiên người Lapita là từ Melanesia hơn là từ người Austronesian từ Đài Loan hay Phi Luật Tân đến. Đồ gốm Lapita cổ nhất là được tìm thấy ở quần đảo Bismark, xứ sở của người Melanesia, hơn gốm tìm được ở Phi Luật Tân, mặc dầu chúng có liên hệ đến gốm Lapita. Theo ông Terrel, văn hóa người Lapita là sự tổng hợp văn hóa của người Austronesian đến trong nhiều đợt và của người Melanesia bản sứ. Thuyết của ông Terrel còn được gọi nôm na là “thuyết bờ rối” (“entagled bank hypothesis”) Thuyết “tàu tốc hành” của Bellwood, Blust và thuyết “bờ rối” của Terrel là hai mô hình nổi bật khác nhau nhất. Các nhà nghiên cứu đã chia ra hai trường phái dựa vào hai mô hình khác nhau trên. Thuyết “tàu tốc hành” của Bellwood và Blust được nhiều người chấp nhận trong một thời gian lâu trong các năm 1980 và đầu thập niên 1990. Khi các nhà di truyền học nhảy vào cuộc tranh luận, lúc đầu đã có các nghiên cứu di truyền mtDNA với các kết quả đầu tiên có vẻ là thuyết Bellwood và Blust đúng. Nhưng sau này, các kết quả di truyền ở nhiểm sắc thể Y và mitochondria mtDNA cho thấy giả thuyết trên của Bellwood là không hoàn toàn đúng. Di truyền ở nhiểm sắc thể Y cho thấy người Polynesia có rất ít sư đa dạng, chứng tỏ họ xuất thân từ một số ít người đàn ông. Mặc dầu ở mtDNA và nhiểm sắc thể Y, có các vết tích và sự liên hệ một ít qua các điểm (marker) với những người Austronesian và người ở nam Trung quốc và Đông Nam Á. Nhưng sự liên hệ di truyền nhiều nhất là với các người Melanesian ở New Guinea và Austronesian ở Wallacia gần New Guinea (11)(12). Thuyết Bellwood đúng một phần nhưng mô hình Terrel có cơ sở hơn. Vì thế ông Oppenheimer (11) đã gọi nguồn gốc và di dân của người Polynesia đến Thái Bình dương là “con tàu chậm” (“slow boat”) (:lol: Người Hoklo (福佬) “Hoklo”, từ cổ xưa gốc địa phương nay được dùng để chỉ chung giống người dân tộc và ngôn ngữ vùng Phúc Kiến thay vì dùng từ Phúc Kiến như trước đây thường xử dụng để chỉ người từ tỉnh địa phương Phúc Kiến trong một nước Trung quốc rộng lớn. Các từ thường dùng khác như Hokkien, Minnan (Mân Nam), Min (Mân), hay Đài Loan cũng đã được dùng để chỉ dân tộc này. Nay thì từ “Hoklo” bản địa có khuynh hướng được dùng nhiều (nhất là trong giới hàn lâm nghiên cứu) vì nó thống nhất cho một giống dân trong dân tộc học, không mang màu sắc chính trị, thích hợp hơn là dùng danh từ về vị trí địa lý của một tỉnh. Người Hoklo không những cư trú ở Phúc Kiến mà còn có mặt ở nhiều nơi như Hải Nam, Đài Loan và ở nhiều nước khác trong khu vực Đông Nam Á do truyền thống đi biển của họ. Ở Đài Loan, hiện nay 70% dân số là người Hoklo. Ngôn ngữ người Hoklo có nguồn gốc cổ xưa ở Nam Trung quốc. Theo nhà ngôn ngữ học Norman và Mei Tsu Lin (5)(6) thì tiếng Hoklo (Mân), Hakka và Quảng Đông có cùng nguồn gốc. Chúng xuất phát từ các bộ tộc bách Việt phi Hán sống ở phía Nam sông Dương Tử. Những ngôn ngữ này có các thành phần gốc Thái cổ, Austronesian và Austroasiatic ở tầng ngôn ngữ dưới tầng pha trộn với tiếng Hán ở trên. Thành phần Austronesian và Thai (Austro-Thai) có trội hơn thành phần Austroasiatics, nhưng cả ba đều có hiện diện trong các ngôn ngữ này. Họ ngôn ngữ Austroasiatics, như ta biết, gồm có các ngôn ngữ Mon-Khmer, Việt, Munda. Điều này cho thấy là các tộc người nói tiếng Austroasiatics đã có mặt ở nam Trung quốc từ lâu đời, trước thời kỳ nhà Tần\- Hán (6). Hiện nay trong ngôn ngữ Mân Nam Hoklo, ta vẫn còn tìm thấy có các sự liên hệ với ngôn ngữ Việt thuộc họ Austroasiatics qua các từ gốc (6). Một vài thí dụ về các từ Hoklo với các từ trong tiếng Việt như vat[bat4] - Việt : biết, Bahnar : băt. gnial[kian2] - Việt : con, Khmer : koun. daam[tam5] - Việt : đẫm (ướt). daanggi[tang5ki1] - Việt : đồng (lên), Proto-Mân : dung, , Mon : dong. doh[toh4] - Việt : đâu (ở). và một số từ có nguồn gốc austroasiatics-austronesian (theo thuyết Austric) như dehh[teh4]\- Việt : đè, Proto-Malay : tedes. qiul [giu2] - Việt : giật (kéo), Quảng Đông : jau1, proto-Malay : guyud lut[lut4] - Việt : lột, Hakka : lôụt, Quảng Đông : led1, Indonesian : lucut, Malay : luchut, Hawai Polysnesian : lu. lerng[leng7] - Việt : lõng, proto-Malay : luan. Ngoài ra, theo tôi một số các từ Hoklo sau đây cũng có gốc chung (cognates) với các từ Việt. bou[po*1] - Việt : bố (cha) voul[bo*2] - Việt : bu (vợ) za[cha1] - Việt : ta (người), Proto-Malay : tau, cau. dẫn tới từ Hoklo, zabou nghĩa là người đàn ông và zavoul nghĩa là người đàn bà. Ngoài sự liên hệ về ngôn ngữ giữa người Hoklo (Mân Việt) và người Việt, trong lịch sử, ta cũng được biết là tổ tiên của nhà Trần, một triều đại rực rỡ đượm văn hoá Việt ở Việt Nam, đã đi từ Phúc Kiến (Mân) theo đường biển đến định cư ở Việt Nam vào thế kỷ 13. Họ sống về nghề đánh cá dọc theo bờ biển nam Trung quốc. Người Hoklo ở Đài Loan sau bao thế kỷ chung sống và hợp chủng với nhiều bộ tộc bản sứ ở vùng thấp và đồng bằng đã dẫn đến sự biến mất của một số các bộ tộc. Qua quá trình giao lưu này, một số ngôn từ Austronesian đã được thu nhận và ngôn ngữ Hoklo ở Đài Loan có nét địa phương khác với ngon ngữ Hoklo ở tỉnh Phúc Kiến trong lục địa. Ngôn ngữ Hoklo ở Đài Loan nay được gọi là Đài ngữ. © Người Hẹ hay Khách trú (Hakka) (客家). Từ “Hakka” chữ Hán có nghĩa là “khách trú”, do người Quảng Đông dùng để chỉ các người di dân xuống địa phận vùng bắc Quảng Đông và nam Phúc Kiến hiện nay. Thật sự người Hakka đã có mặt từ ngàn năm trước ở vùng phía nam sông Dương Tử, chủ yếu ở khu vực nam tỉnh Giang Tây, giáp giới với Phúc Kiến. Vì hoàn cảnh địa lý và lịch sử họ đã di dân xuống Quảng Đông. Hiện nay chúng ta không rõ lịch sử và khi nào từ này đã được dùng, chỉ biết là người Quảng Đông đã đối xử phân biệt với họ, cho họ là dân phi Hán thuộc một loại dân tộc mọi man di, như các tộc Thái, Choang (Zhuang) hay Mèo (Miao)\, ở miền núi hoang dã di dân vào ở các khu vực Hán. Thật sự thì cả người Quảng Đông cũng không phải nòi Hán, nhưng vì bị Hán hoá quá lâu, nên trong cộng đồng của họ đã không còn gìn giữ lại được trong trí nhớ di sản chung là trước kia họ thuộc chủng phi Hán. Vì bị coi như người ngoài đến lấn chiếm, và bị đối xử phân biệt nên một số người Hakka đã cũng tự cho họ là người Hán từ bắc Trung quốc đi xuống. Quyển sách cổ điển nói về nguồn gốc của người Hakka là của giáo sư Lo Hiong Lim, xuất bản năm 1933 (“An introduction to the study of the Hakkas: its ethnic, historical and cultural aspects”). Ông chủ yếu dựa vào gia phả cho rằng người Hakka là từ bắc Trung Quốc đã di dân xuống phương nam qua nhiều đợt vì quê hương của họ đã bị các rợ phương bắc xâm lăng. Ngày nay thì nhiều công trình nghiên cứu khảo cổ, ngôn ngữ học và di truyền học đã cho thấy là thuyết của ông Lo không đúng. Ngay cả tư liệu gia phả cũng không chính xác và có nhiều sai lầm. Nhà ngôn ngữ học J. Norman cho rằng tiếng Hakka, Mân (Min) và Quảng Đông “Việt” (Yue) có cùng một nguồn trong lịch sử, đã hiện diện ở Nam Trung quốc từ trước thời Hán, mà ông gọi chung là tiếng cổ nam Trung quốc (Old southern Chinese) (5). Nhà ngôn ngữ học Laurent Sagart trong một nghiên cứu mới đây (2002) về nguồn gốc tiếng Hakka, đã cho thấy là ngôn ngữ này có nguồn gốc ở phía nam Trung quốc, với lớp tầng cổ nhất thuộc họ ngôn ngữ Mèo - Dao (Miao-Yao), hay còn gọi là Hmong-Mien (4). Ngôn ngữ Hakka cũng rất gần với ngôn ngữ của người Gan (Cám) cư ngụ dọc lưu vực sông Cám giang. Hiện nay ở vài khu vực các tỉnh Giang Tây (Jianxi), Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, người She, thuộc họ ngôn ngữ Hmong-Mien vẫn còn hiện diện. Ông Sagart cho rằng chính họ là tổ tiên của người Hakka và Gan, sau này đã bị Hán hoá dần từ thời Tống. Trước đây, nhà ngôn ngữ học Haudricourt cũng đã cho rằng tiếng Quảng Đông và Hakka có nguồn gốc từ tiếng Thái và Mèo-Dao, sau khi trãi qua các quá trình Hán hoá lâu dài trong lịch sử (7). Giáo sư Fong Hok Ka, trong sách nghiên cứu về người Hakka xuất bản ở Trung quốc năm 1994 (“Investigating in depth about the origin of Hakka”), đã dùng các tư liệu lịch sử và khảo cổ tìm được ở các vùng của người Hakka trước đây cư ngụ. Ông cho thấy đã có một nền văn minh rất cao hiện diện trước lâu khi thời kỳ nhà Tần đánh chiếm các dân tộc phương Nam. Từ đó (221BC) bắt đầu có quá trình Hán hoá cho đến các giai đoạn sau thời Bắc triều - Nam triều (589AD), khi nhóm tiền\-Hakka (proto-Hakka) bắt đầu được thành lập và phát triển. Nói chung các công trình nghiên cứu của ông Norman, Sagart và Fong là có cơ sở hơn hết về nguồn gốc con người và ngôn ngữ Hakka. Sau người Hoklo, người Hakka bắt đầu di dân vào đảo Đài Loan vào khoảng thế kỷ 18, chủ yếu là dưới triều Thanh. Hiện nay, dân số người Hakka có khoảng 3 triệu, tức khoảng 15% dân số Đài Loan, đứng hàng thứ 2 sau dân Hoklo. (3) Vài nét về lịch sử hiện đại Đài Loan (a) Đài Loan đã có người thổ dân Austronesian sinh sống từ lâu đời. Tài liệu xưa nhất ở Trung quốc đề cập đến Đài Loan là vào năm 230 AD, nói về một số người chạy loạn từ bờ biển Phúc Kiến, Quảng Đông đến trú ngụ tại đảo. Một tài liệu địa lý khác ở thế kỷ thứ 3 có nói về các bộ tộc sống trên đảo (9). Họ có phong tục và cách sống rất khác nhau, chứ không phải thuần nhất. Từ cuối thế kỷ 16 đến năm 1624, chỉ có một số rất ít người từ lục địa sang sinh sống dọc theo bờ biển phía bắc. Chủ yếu họ sống ngoài vòng kiểm soát của triều đình Trung quốc. Trong đó không ít là sống theo nghề cướp biển. Thỉnh thoảng chỉ có một số người bị đắm tàu trôi dạt vào đảo. Họa hoằn lắm là có các thương thuyền của người Bồ Đào Nha, Hòa Lan và các nước tạt qua trên đường hàng hải buôn bán với Nhật và Trung quốc. Người Bồ Đào Nha gọi đảo này là Formosa (“hòn đảo đẹp”). Thổ dân Austronesian trên đảo cũng có tiếng là hung dữ, nhất là ở phía sâu trong đảo. Thêm nữa vì không có cảng hay thành phố mà chỉ có các làng mạc thưa thớt dọc biển, nên không ai để ý đến. Với sự cạnh tranh càng ngày càng gia tăng của các nước Tây phương trong thị trường thương mại hàng hải với Nhật và Trung quốc. Người Hoà Lan đầu tiên chiếm các đảo nhỏ ở eo biển Đài Loan như quần đảo Pescadores và bắt đầu từ năm 1624 đến lập các cơ sở ở bờ biển phía Tây Đài Loan. Người Tây ban Nha cũng đến phía bắc đảo để chiếm đóng và lập các căn cứ làm thuộc địa từ năm 1626. Người thổ dân bị lấn chiếm và không chống trả nổi. Chiến tranh giữa Hoà Lan và Tây Ban Nha diễn ra liên tục trên đảo. Trong thời gian này, người Hoa từ lục địa cũng bắt đầu di dân sang ở một vài nơi phía Tây và Nam trên đảo. Năm 1642, cuối cùng người Tây Ban Nha đã bị người Hoà Lan đánh bại, các cơ sở, đồn thiết bị ở phía bắc đảo đã rơi vào tay người Hoà Lan. Formosa trở thành thuộc địa và là cơ sở thương mại có lợi nhuận lớn thứ nhì sau Nhật bản của công ty Đông ấn Hoà Lan. Trong lúc đó người Hoa từ lục địa tiếp tục di dân qua đảo Formosa lập nghiệp ở dọc bờ biển hẻo lánh phía Tây. Người thổ dân nay chịu 2 sức ép của làn sóng xâm nhập. Từ Đài Loan, Công ty Đông ấn xuất khẩu đường, các sản phẩm từ nai thú rừng, và là trạm chuyển tiếp cho đồ sứ Trung quốc. Các bộ lạc ở vùng thấp và đồng bằng bị cạnh tranh sinh sống và bị đẩy lùi từ sự phát triển nông nghiệp lớn dần của các người di dân từ lục địa sang. Dĩ nhiên lâu dần sự việc cũng đã dẫn đến sự đụng độ không tránh khỏi giữa người di dân Hoa lục với người Hoà Lan. Nhà Minh bắt đầu gởi người và chiến thuyền đến để can thiệp. Chiến tranh xảy ra khốc liệt trong nhiều năm. Sau cùng vào năm 1662, người Hoà Lan vì giới hạn nhân lực và thực lực đã bị tướng nhà Minh Koxinga (Jeng Cheng Gung) đánh bại. Đây là lần đầu tiên Trung quốc thiết lập sự cai trị ở đảo Đài Loan. Khi nhà Minh bị mất nước vào năm 1683, người Mãn Châu thiết lập triều nhà Thanh ở Trung quốc. Tàn quân của nhà Minh đã phải lánh nạn ở bờ biển phía Nam gần Đài Loan. Một số cũng đi xa hơn nữa về phương Nam đến Việt Nam và được chúa Nguyễn cho phép định cư ở các vùng đất mới, như miền Nam phía vùng đồng bằng sông cửu Long và Hà Tiên. Ở Trung quốc, một số hội kín “phản Thanh phục Minh” như Thiên Địa hội được thành lập. Vùng bờ biển Trung quốc và Đài Loan trở thành nơi cứ địa của Thiên địa hội. Lâu ngày tàn quân và Thiên địa hội đã dần dần trở thành cướp biển quấy phá hàng hải thương mại nhà Thanh ở eo biển Đài Loan. Sau một thời gian, nhà Thanh tuy dẹp được cướp biển, nhưng ở Đài Loan họ chỉ kiểm soát được một vài nơi có người Hoa định cư dọc bờ biển. Còn lại đa số là ngoài vòng kiểm soát. Nhà Thanh vì thế chỉ xem Đài Loan là một vùng biên giới để giử an ninh, không coi đó là nơi quan trọng và cần thiết. Nhà Thanh dùng chính sách “chia rẽ và cai trị” rất hiệu nghiệm. Họ dùng người bản sứ Austronesian để đàn áp các cuộc nổi loạn thường xảy ra của người Hoa di dân vẫn còn thần phục nhà Minh. Năm 1895, nhà Thanh thua trận trong chiến tranh với Nhật. Một trong những điều kiện thương thuyết là Nhật đòi nhà Thanh phải nhường lại Đài Loan. Vì không coi là nơi quan trọng thuộc lãnh thổ Trung quốc, nhà Thanh đã đồng ý với Hoà ước Shimonoseki kết thúc cuộc chiến tranh Trung-Nhật. Đài Loan trở thành thuộc địa, trực thuộc Nhật từ năm 1895 đến 1945. Trong 50 năm dưới chế độ thực dân Nhật, Đài Loan đã trãi qua một sự thay đổi khá sâu rộng trong các địa hạt văn hoá, xã hội, kinh tế và chính trị. Tiếng Nhật và văn hoá Nhật được áp dụng trong toàn xã hội. Văn hoá bản sứ Hoa, Hoklo và Austronesian không đươc phát triển. Họ cai trị Đài Loan rất chặt chẻ. Ngay cả vào sâu trong nội địa, vùng núi rừng để chế ngự các bộ tộc Austronesian miền núi, để đặt họ vào vòng kiểm soát của người Nhật. Kỷ nghệ được phát triển khai thác tận lực tài nguyên thiên nhiên như thuỷ điện, nhôm, hoá học.... Đài Loan sau này đóng góp nhiều vào bộ máy chiến tranh của Nhật trong thế chiến thứ hai. Dưới sự cai trị của Nhật, một cuộc nổi dậy lớn nhất chống Nhật, do một bộ tộc người Austronesian lảnh đạo, đã xảy ra vào năm 1930. Để trả thù, chính quyền Nhật đã đàn áp, giết và bắt đi hầu hết các người của bộ tộc Austronesian này trong cuộc nổi loạn trên. Trong lịch sử Đài Loan, ngay cả Quốc dân đảng đã đề cao biến cố nổi dậy quan trọng này của các “đồng bào dân tộc”. Trong thế chiến thứ hai, Trung quốc đánh nhau với Nhật ở mặt trận châu Á, Thái bình dương và vì thế đứng về phía Đồng minh chống lại trục phát xít Đức-Nhật-Ý. Trong hội nghị của ba cường quốc đồng minh (Mỹ, Anh, và Trung quốc) về mặt trận Thái Bình dương ở Cairo vào năm 1943, Đồng minh đã đồng ý là sẽ giao Đài Loan cho Trung quốc (Quốc dân đảng) khi Nhật bị bại trận sau chiến tranh. (:lol: Biến cố 28/2 - Thảm sát ở Đài Bắc và khắp Đài Loan Cuối năm 1945, sau khi Nhật đã đầu hàng đồng minh, chính phủ Trung quốc của Quốc dân đảng gởi người và quân đội đến Đài Loan để giải giới và thiết lập chính quyền mới trên đảo. Họ đến từ lục địa nhưng nắm hết quyền trong chính phủ, quân đội. Từ sự cách biệt gần 100 năm trong lịch sữ trong thời kỳ lệ thuộc Nhật và trước đó trong thời nhà Thanh, lối sống xã hội của người Đài Loan bản sứ đã khác nhiều với tập tục suy nghĩ nếp sống của những người tràn qua từ đất liền. Điều này bắt đầu dẫn tới những bất đồng và căng thẳng, nhất là sự hối lộ, tham nhũng, vơ vét, áp bức dân địa phương của chính quyền Quốc dân đảng trong các năm đầu khi họ vừa đến Đài Loan. Người dân bản sứ không quen về tệ nạn tham nhũng, vơ vét khi còn dưới thời Nhật cai trị, nên rất ta oán. Họ đã biểu tình phản đối bắt đầu từ Đài Bắc rồi lan ra khắp Đài Loan. Quốc dân đảng đã phản ứng lại bằng cách dạy dân địa phương một bài học, như một số tướng và nhân vật quốc dân đảng đã tuyên bố . Trong ngày 28/2/1947, quân đội đã nổ súng vào đoàn biểu tình và mở chiến dịch càn quét tấn công vào các dân bản sứ, hậu quả thật khốc liệt, hơn 20,000 người đã bị thảm sát. Thiết quân luật đã được ban hành và áp dụng trên toàn lãnh thổ. Biến cố này là một bản lề quan trọng nhất trong lịch sử cận đại Đài Loan. Năm 1949, chính phủ Quốc dân đảng ở Trung quốc sau khi bị thua trận trong cuộc nội chiến đã phải chạy ra đảo Đài Loan củng cố. Thiết quân luật được áp dụng chặc chẽ hơn, viện cớ tình trạng chiến tranh với đảng cộng sản ở Trung quốc lục địa. Thiết quân luật chỉ chấm dứt sau này vào năm 1987. Biến cố ngày 22/8/1947 có ảnh hưởng sâu rộng và đã nằm sâu trong tiềm thức của dân Đài Loan. Mặc dù nó đã bị các chính phủ Quốc dân đảng che đậy và cấm được bàn hay đề cập đến từ lúc đó cho đến cuối thập niên 1980s, nhiều trí thức bản sứ và ngay cả một số trong Quốc dân đảng ly khai đã đặt lại vấn đề và từ đó thành lập đảng Dân chủ Tiến bộ đối lập với chính quyền. Năm 1972, Đài Loan đã lỡ một cơ hội trở thành một nước độc lập gia nhập vào Liên Hiệp quốc. Trong thời điểm này Mỹ đang hoà hoãn với Trung hoa lục địa (Cộng hoà nhân dân Trung quốc). Liên hiệp quốc cũng vừa công nhận chính phủ Cộng hoà nhân dân Trung quốc (PRC) đại diện cho Trung quốc ở Liên hiệp quốc, thay thế chính phủ Cộng hoà Trung quốc (ROC) của Quốc dân đảng ở Đài Loan. Đài Loan lúc đó có thể từ bỏ chính sách là mình có chủ quyền ở Trung hoa lục địa và là thực thể đại diện cho tất cả mọi người dân Trung hoa. Thay vào đó, Đài Loan nên tuyên bố độc lập xin vào Liên Hiệp quốc với tư cách một nước mới. Đây cũng là hành động mà Mỹ khuyên Đài Loan nên theo trong cơ hội này lúc Mỹ thương lượng với Trung quốc, nhưng chính phủ Đài Loan đã từ chối và tiếp tục theo đuổi đòi chủ quyền cho cả Trung hoa lục địa. Đây là một sai lầm chiến lược lớn mà sau này Đài Loan hối hận. Nhiều người đã đặt lại vấn đề là tại sao lại không có hai hoặc ba nước nói tiếng Hoa trong Liên Hiệp Quốc, cũng như Liên Sô trước đây đã có Ukraine và Bylorussia hiện diện trong tổ chức này. Chính sách sau này của chính phủ Quốc dân đảng Đài Loan là cố gắng thiết lập được quan hệ ngoại giao với mọi nước (đa số là các nước nhỏ ở Trung Mỹ và Thái Bình dương) và xin được vào các tổ chức quốc tế như Y tế thế giới (WHO), văn hoá (UNESCO), thương mại (WTO).. Từ lúc đảng Dân chủ tiến bộ đối lập được thành lập, đấu tranh về đường lối giữa Quốc Dân Đảng và đảng Dân chủ diễn ra rất gay gắt trong suốt thập niên 1980s. Đến cuối thập niên 1990s thì người địa phương Đài Loan đã thực sự thắng lợi, với bản sắc Đài Loan được đặt là nền tảng cho mọi chính sách đối ngoại và đối nội. Ngay cả Quốc Dân đảng đã chọn người địa phương Đài Loan, ông Lý Đăng Huy, là vị tổng thống với chính sách mới ở giai đoạn cuối cùng trước khi đảng Dân chủ lên nắm quyền năm 2000, mở đầu cho một kỷ nguyên và một thế kỷ mới. (3) Sự hình thành và phát huy văn hoá truyền thống bản địa của các dân tộc ở Đài Loan Tôi đến Đài Trung (dọc bờ biển hướng Tây, cách Đài Bắc 150km phía Nam) vào tháng 6 năm 2000, một tháng sau khi ông Trần Thuỷ Biển nhậm chức tổng thống. Trung quốc vẫn còn dàn hoả tiển hướng về Đài Loan ngăn cách qua một eo biển nhỏ hẹp. Dân chúng tuy vậy rất bình tỉnh, tự tin và không còn sợ hải như trước đây. Mặc dầu thị trường chứng khoáng chưa hồi phục đến mức bình thường như hồi trước lúc khủng hoảng, hoạt động kinh tế đã trở lại như trước, các trung tâm thương mại rất náo nhiệt trừ các trung tâm của các công ty Nhật có rất nhiều ở Đài Loan, như Daimaru,.. thì vẫn vắng khách như xưa vì giá rất cao. Thành phố Đài Trung là thành phố lớn mà dân Hoklo hầu như chiếm gần hết, với một số ít còn lại là người các dân tộc thổ dân Austronesian. Thành phần dân ở Đài Loan gồm khoảng 15% là người Hakka (khách trú), 70% là người Phúc Kiến, 2% là người bản sứ thổ dân và 13% là người từ các vùng ở Trung Hoa lục điạ đến gần đây. Mặc dầu không phải là đa số, nhưng người từ Trung Hoa lục địa đã chiếm lĩnh các vị trí quan trọng trong chính phủ, quân đội. Các hoạt động kinh tế phần lớn nằm trong tay họ, trong số đó có một số công ty có sự liên hệ rất mật thiết với Quốc dân đảng. Ngay Quốc dân đảng cũng có những công ty riêng rất lớn với nguồn tài chánh và lợi nhuận khổng lồ. Tình trạng trên kéo dài trong hơn 40 năm, cho đến khi bắc đầu từ năm 1988, đảng Dân chủ Tiến bộ (DPP) đối lập được thành lập. Đảng Dân chủ tiến bộ đòi hỏi có sự công bằng và đấu tranh dành lại quyền chính trị với khuynh hướng độc lập, từ bỏ là đại diện Trung quốc để lấy lại Hoa lục của chính thể Đài Loan từ khi Quốc dân đảng thua chạy qua tá túc ở Đài Loan. Mặc dầu có nhiều khó khăn và trở ngại do chính phủ Quốc dân đảng lập ra, dần dần tiếng nói của các dân bản sứ đã được thể hiện. Trong những năm cuối của thập niên 1980 và đầu 1990, sự đối lập của đảng Dân chủ Tiến bộ và Quốc dân đảng về khuynh hướng và chính sách không những gay gắt trên chính trường (nhiều khi đưa đến xô xát bạo động trong quốc hội, các nơi diễn thuyết công cộng giữa hai phe mà chúng ta thường thấy trên truyền hình) mà còn được thể hiện ở dân chúng tuỳ theo dân thuộc thành phần nào, bản sứ hay không bản sứ. Năm 1996, ông Trần Thuỷ Biển được bầu làm thị trưởng thành phố Đài Bắc. Trong thời gian làm thị trưởng, ông đã đổi tên đại lộ trước dinh tổng thống từ “Đại lộ Tưởng Giới Thạch muôn năm” thành “Đường Ketagalan”. Ketagalan là tên một bộ lạc thổ dân Austronesian cư ngụ vùng xung quanh Đài Bắc đã bị tuyệt chủng từ lâu sau khi họ đã bị đồng hoá vào xã hội Đài Loan. Mặc dù không phải là người thổ dân, nhưng ông Trần Thuỷ Biển đã tích cực ủng hộ và phát triển quyền lợi và văn hoá thổ dân khắp Đài Bắc. Quan trọng hơn, ông đã lập ra một viện bảo tàng giữa một công viên lớn trong trung tâm thành phố tưởng niệm biến cố ngày 28/2/1947. Công viên được đổi tên là công viên hoà bình 282. Tôi có ghé thăm công viên và viện bảo tàng trong dịp viếng Đài Bắc năm 2000. Thật là cảm động khi thấy những hình ảnh, thơ từ, áo của các nạn nhân mang những lổ đạn, sách, báo chí, chứng từ, nói lên sự bất nhẫn qua hình ảnh của quân đội Tưởng Giới Thạch bắn giết hơn 20,000 người... Viện bảo tàng mang một biểu tượng với dòng chữ to “confused identity leads to tragedy - Taiwan has to know its past tragic event in 22/8/1947” (không rõ cá tính chúng ta là ai sẽ dẫn đến thảm kịch - Đài Loan phải biết quá khứ lịch sử của biến cố ngày 22/8/1997”. Dĩ nhiên viện bảo tàng đã bị chính phủ Quốc dân đảng lúc bấy giờ rất chống đối và lên án. Nhưng cũng từ lúc ấy, đa số người Đài Loan bản sứ (Hakka và Hoklo) đã bắt đầu nhận ra, ý thức được quyền độc lập và tự hào về sự khác biệt của văn hoá, lịch sử, ngôn ngữ của họ với văn hoá quan thoại của Quốc dân đảng và của Trung Hoa lục địa. Ngay cả trong Quốc dân đảng, nhiều người (nhất là các đảng viên gốc người bản sứ), đã đòi hỏi phải có cải tổ, thay đổi chính sách để thể hiện được nguyện vọng của dân một cách thực tế và áp dụng được trong tình hình mới. Nó phải thích với khuynh hướng và trào lưu dân chủ mà quần chúng đòi hỏi. Lý Đăng Huy, vị tổng thống Quốc dân đảng cuối cùng trước khi Trần Thuỷ Biện lên thay, là người gốc bản sứ, đã có những chính sách cởi mở. Chính ông cũng có những hoài bảo độc lập giống như đảng Dân chủ Tiến bộ. Điều này đã làm cho chính quyền Trung quốc rất tức giận và hằng học, làm nhiều khó khăn cho ông Lý Đăng Huy, ngay cả khi ông không còn trong chính trường và là một công dân bình thường như hiện nay. Thí dụ như khi ông dự định đi đến viếng các nước như Anh, Mỹ, và gần đây Nhật với tư cách cá nhân riêng tư, chính quyền Trung quốc cũng đã gây sức ép đến các nước sở tại để không cho ông thi thực nhập cảnh (visa). Ai nói là thù sẽ phai đi theo thời gian ?. Để có thể phân biệt và tạo ra được sự khác nhau về xã hội, văn hoá giữa Đài Loan và Trung quốc, Đài Loan từ Lý Đăng Huy đến Trần Thuỷ Biển đã khuyến khích phát triển và quảng bá rộng rãi văn hoá của những dân tộc thổ dân trong văn hoá Đài Loan. Ý thức về sự quan trọng của nền văn hoá thổ dân có nguồn gốc Mã Lai (Malayo-Indonesian) vào sự đóng góp chung với các văn hoá Hakka và Phúc Kiến để tạo dựng lên một nền văn hoá khác biệt với văn hoá Hán Trung Hoa. Điều này đã được nhận diện và chấp nhận là một yếu tố quan trọng bật nhất đặt nền tảng cho sự thành hình một đặc tính (identity) mới ở Đài Loan. Thêm nữa mặc dầu Đài Loan đã có thời gian ngắn chỉ khoảng hơn 80 năm là một phần của Nhật Bản, trong thời kỳ Nhật cai trị. Nhưng ảnh hưởng văn hoá Nhật đã có thể hiện một phần trong văn hoá và con người Đài Loan. Đài Loan và Nhật hiện nay có quan hệ kinh tế và văn hóa khá sâu rộng. Đặc tính riêng biệt là điều kiện tiên quyết cho sự khởi đầu thành lập một quốc gia của một quần thể với một văn hoá riêng. Quá trình văn hoá, tư tưởng như nói trên xảy ra ở Đài Loan trong sự tiến đến tạo thành một nước có bản sắc riêng cũng mang mán tựa như quá trình mà người Việt đã trãi qua trong thời kỳ Bắc thuộc. Trong quá trình này, nguy cơ văn hoá bản sứ có thể bị Hán hoá và tiêu diệt, trước khi có sự độc lập trong thế kỷ thứ 10 là rất cao, nếu không nhờ có văn hóa làng xã thuần Việt ở nông thôn được giữ vững. Sau bao nhiêu năm dưới các chính phủ Quốc dân đảng, ngôn ngữ Hakka, Hoklo và các thổ ngữ bị cấm dùng trong nền giáo dục và các công sở, thay thế bởi ngôn ngữ chính thức Quan thoại (mandarin). Trước đây, một số trí thức Hakka và Hoklo đã cố gắng giữ gìn tiếng nói của họ bằng nhiều phương tiện. Một trong những phương tiện là sáng tạo ra chữ viết mới dùng chữ Hán tạo ra loại chữ gọi là Koa-a-chheh (歌仔冊) vào thế kỷ 17 dưới thời kỳ thuộc nhà Thanh. Cấu tạo loại chữ này cũng tương tự một phần như chữ Nôm (Việt Nam), hoặc dùng chữ âm chữ Hán để chỉ chử địa phương hoặc dùng nghĩa chữ Hán cho âm địa phương. Tuy nhiên nó chưa được thống nhất tiêu chuẩn và có sự tuỳ tiện của người viết. Đến cuối thế kỷ 19, thì loại chữ viết này biến mất dần. Đầu thế kỷ 20, chữ cái Latin cũng đã dùng để thể hiện tiếng nói địa phương (tương tự như chữ quốc ngữ sau này ở Việt nam). Nhưng hệ thống chữ này, gọi là Poe-oe-ji (白話字), đã không thành công , một phần là do chính sách của Quốc dân đảng. Chính sách của Quốc dân đảng là phát triển chính thức chữ Hán Quan thoại để nó trở thành phổ thông trong đời sống xã hội, chính trị. Chữ mới này có thể gây nguy cơ phổ biến cho văn hoá địa phương đe doạ sự độc tôn của Hán văn cổ điển mà Quốc dân đảng xây dựng khi đến Đài Loan (8). Vì thế chính quyền Quốc dân đảng đã ngăn cấm loại chữ mới này. Vì chính sách ngôn ngữ và văn hóa độc tôn trọng Hán của chính phủ Quốc dân đảng trước đây, rất nhiều thanh niên thuộc các thế hệ mới gần đây đã quên đi tiếng cha mẹ của họ. Chính sách này được thể hiện qua sự cấm dùng tiếng địa phương ở các nơi công cộng, công sở, hay giảm thiểu tối đa tiếng địa phương trên truyền thanh và truyền hình. Không những thế, trường học nào để học sinh nói tiếng địa phương, không phải Quan thoại bị phạt tiền. Ông Trần Thuỷ Biển (và trước đó ông Lý Đăng Huy) hiện nay đã có chính sách cho phép các ngôn ngữ điạ phương được dùng và dạy trong môi trường đa văn hoá ở xã hội Đài Loan. Bảo tồn và phát triển các loại văn hoá bản sứ đều được khuyến khích. Ở Đài Bắc, Cao Hùng và nhiều nơi khác, các trung tâm văn hoá Hakka, Hoklo, thổ dân đã được thành lập. Tháng 4/2001, ông Trần Thuỷ Biển cũng đã chính thức khai mạc mở viện bảo tàng văn hoá và lịch sử Hakka lớn nhất Đài Loan ở thành phố Meinung, thuộc quận Cao Hùng. Trong nội các chính phủ, ông thành lập Uỷ Ban văn hoá Hakka, với hy vọng sẽ biến Đaì Loan thành trung tâm nghiên cứu về văn hóa Hakka cao cấp nhất trên thế giới. Từ giữa thập niên 1980s cho đến nay, song song với sự thành lập phong trào dân chủ và đảng đối lập Dân chủ tiến bộ, có phong trào Taibun (Đài Văn) phổ biến văn học bản sứ Taigi (Đài ngữ). Mục đích của phong trào Đài Văn là phát triển văn học Đài Loan dùng ngôn ngữ, và chữ viết địa phương trong các địa hạt giáo dục, xã hội, để chống lại quan điểm là chỉ có văn học Hán văn viết về Trung quốc là có văn hoá cao được quý trọng. Còn văn học viết về Đài Loan chỉ là văn hoá “xóm làng “ ở địa hạt nhỏ bé trong văn học rộng lớn Trung quốc. Quan điểm coi nhẹ, đánh giá thấp văn hoá địa phương từ trước đến nay của chính quyền Quốc dân đảng và của đa số các nhà trí thức Hán học quan thoại cổ điển từ lục địa đi qua, đè nặng vào lối suy nghĩ tâm linh của họ, đã bị chỉ trích. Phong trào Đài Văn ngược lại lấy văn học, những gì liên quan hay viết đến Đài Loan bản sứ làm sự hảnh diện chứ không phải là một sự hổ thẹn “xóm làng”. Phong trào Đài Văn một phần đã thành công trong sự gơi dậy niềm tin và phát triển văn hóa, cũng như ngôn ngữ Đài Loan bản địa (Hoklo). Nhưng sự thống nhất và tiêu chuẩn hóa chữ viết đã chưa thực hiện được. Lý do chính là vì có nhiều hệ thống chữ (dùng từ Hán để phát âm, tương tự như chữ Koa-a-chheh trước đây) được sáng chế khác nhau. Ngay cả khi một trong các loại chữ này, như chữ Ganbun (諺文) chẵng hạn, được nhiều người dùng hơn, thì vấn đề kỷ thuật trên máy tính và phần mềm xử lý để tạo ra chữ Ganbun đã gặp khó khăn. Vì hiện nay chỉ có chữ Hán là có sẵn và phổ thông trên thị trường máy tính mà thôi. Do đó hiện nay chỉ có chữ Hán Đài ngữ và Latin Đài ngữ (Peh-oe-ji) là được dùng nhiều nhất trong phong trào Đài văn. Nói tóm lại, có thể cho rằng tình trạng của các dân tộc Hakka, Hoklo (“Mân Việt” ở Đài Loan cũng giống như tình hình ở Giao châu trước khi Ngô Quyền dành độc lập cho Lạc Việt. Dân tộc Lạc Việt đã cố gắng giữ gìn văn hóa trong gần 1,000 năm Hán thuộc mà không bị Hán hóa. Nhưng tình hình ở thế kỷ 21 có khác nhiều về không gian thế giới, do đó tình trạng của họ có khó khăn nhiều hơn và có thể không có nhiều hy vọng trên con đường tiến đến độc lập như chúng ta thuở trước. Tuy vậy không ai có thể đoán trước được những gì sẽ xảy ra trong tương lai. Đối với Việt Nam, những gì sẽ xảy ra ở Đài Loan đều có ảnh hưởng ít nhiều về phương diện kinh tế và chính trị. Quan trọng hơn, nó còn chứa nhiều ý nghĩa đáng cho ta suy nghĩ về chính mình trong lãnh vực tư tưởng.
  17. Dấu ấn vãn hóa Việt trong Kinh Thi Hà Văn Thuỳ Kinh Thi trên ống tre Nguồn: chinapage.com Kinh Thi là tuyển tập những bài dân ca và ca dao đẹp nhất, hay nhất xuất hiện trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ VI TCN trở về trước trên lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử. Theo Tý Mã Thiên viết trong Sử ký thì ban ðầu có tới 3000 bài, Khổng tử san ðịnh ðã bỏ ði 9 phần 10, chỉ giữ lại có 311 bài. Ðấy là tác phẩm vãn học cổ ðiển có ảnh hưởng sâu rộng ðến tâm hồn và trí tuệ phýõng Ðông, quan trọng ðến mức Khổng tử nói bất học thi vô dĩ ngôn! (Không học Thi biết gì mà nói). Thời nhà Tần nó cũng bị ðốt nhýng sau ðó ðýợc khôi phục và xếp vào Ngũ kinh. Hàng nghìn năm nay, kinh Thi mặc nhiên được coi nhý sản phẩm ðặc hữu của Hán tộc, không có ai nghi ngờ hay bàn cãi. Vì vậy, ba chục nãm trước, khi học giả Lương Kim Ðịnh cho rằng Kinh Thi là quyển kinh ðiển của Việt tộc (1) ðã gây nên sự phản ứng của không ít người. Dễ hiểu thôi, thay ðổi một thói quen từng hằn vào cân não hàng nghìn nãm ðâu phải là việc một sớm một chiều! Ðiều dễ nhận ra là kinh Thi ðã bị Hán nho rối Tống nho ðánh tráo một cách trõ trẽn: Những sáng tác dân gian sinh ra nõi ruộng lúa nýõng dâu bị biến thành sản phẩm cung ðình, một thứ vãn chýõng xu phụ chuyên ca tụng ông vua này ông vua khác cùng bà hậu phi nào ðó! Chính ở ðây, tầng lớp Hán nho ðã ãn cắp tác quyền của dân gian trao cho výõng triều. Ðiều này dễ thấy. Còn cách ðánh tráo, ãn cắp tác quyền khác tinh vi hõn thì khó nhận ra. Khó về học thuật và càng khó hõn trong tâm lý: ðứng trýớc nền vãn hóa khổng lồ của ngýời láng giềng phýõng bắc, chúng ta cảm thấy mình nhỏ bé ði, ðến mức chỉ còn là cậu học trò ngu ngõ trước ông thầy vĩ ðại! Tâm lý ấy khiến chúng ta hèn ði, không dám nghĩ ðến cái ðiều bị coi là hoang týởng thậm chí phạm thýợng: kinh Thi là quyển kinh ðiển của Việt tộc! Ðể phân ðịnh ðiều này, ta phải xét từ cội nguồn: Tìm về lịch sử hình thành kinh Thi. Vào thập niên 70 của thế kỷ trước tồn tại 2 giả thuyết về cội nguồn dân tộc Việt. Một cho rằng, tổ tiên ngýời Việt từ cao nguyên Thiên Sõn di cý vào ðất Trung Hoa sau ðó bị người Hán chèn ép nên tràn xuống Việt Nam tiêu diệt ngýời bản ðịa, lập ra nýớc Vãn Lang. Giả thuyết thứ hai cho rằng tổ tiên ngýời Việt ðã từ Mã Lai ði lên. Ngày nay, với những thành tựu mới nhất của di truyền học, lần ðầu tiên chúng ta có bản viết chính xác về tiền sử Ðông Á: Ngýời hiện ðại Homo Sapiens ðã từ châu Phi lên Trung Ðông rồi từ ðây theo bờ biển Nam Á ðến Việt Nam khoảng 60-70000 nãm trýớc. Dừng lại ðây trong khoảng 10.000 nãm, hai ðại chủng Mongoloid và Australoid hoà huyết tạo ra những chủng lai. Những chủng ngýời này sinh sôi nảy nở lan khắp lục ðịa, hải ðảo Ðông Nam Á rồi sang châu Úc. Khoảng 40.000 nãm trýớc, khi bãng hà tan, ngýời từ Ðông Nam Á ði lên phía bắc, chiếm lĩnh lục ðịa Trung Hoa rồi sau ðó výợt qua eo Bering tới châu Mỹ. Cho ðến thiên niên kỷ thứ IV TCN, ngýời Ðông Nam Á mà sau này sử sách gọi là Bách Việt sống khắp duyên hải Ðông Á với nhân số chiếm khoảng 54% nhân loại. Trong ðó ngýời Lạc Việt có khoảng 15-20% và giữ vai trò lãnh ðạo về xã hội và ngôn ngữ. Ngýời Bách Việt Ðông Nam Á kiến tạo nền vãn minh nông nghiệp tiến bộ nhất thế giới: Nghề trồng lúa phát triển với giống lúa ðýợc tuyển chọn tốt, biết cày bằng trâu bò, ðắp bờ giữ nýớc. Nghề chãn nuôi gia súc trở thành nghề sản xuất chính, biết nuôi tằm dệt lụa. Nghề ðúc ðồng ra ðời. Khoa thiên vãn quan sát týợng trời týợng ðất dự báo thời tiết ở trình ðộ cao. Kiến thức âm dýõng ngũ hành, dịch số ðýợc tích luỹ. Từ kết nút ðể ghi nhớ ðã có chữ Khoa ðẩu. Là cộng ðồng nông nghiệp nên sinh hoạt vãn hoá phát triển với ca dao, dân ca, ðồng dao, nhạc múa, trái gái luyến ái tự nhiên theo tục dã hợp… Cũng trong khoảng thời gian trên, có phần chắc là muộn hõn, một số nhóm ngýời Mongoloid từ Ðông Nam Á ði lên miền ðồng cỏ phía Tây Bắc Trung Hoa, sinh sống bằng du mục, tách biệt với khối dân cý còn lại. Khoảng 2600 nãm TCN, những bộ lạc du mục thiểu số này výợt Hoàng Hà chiếm ðất của dân Bách Việt nông nghiệp, lập ra thời ðại Hoàng Ðế. (2) Tuy chiến thắng về quân sự nhýng do số ngýời ít và vãn hoá kém phát triển nên kẻ chiến thắng bị ðồng hoá cả về di truyền cả về vãn hoá. Ngýời Mongoloid vốn có nýớc da sáng hõn ngýời Australod lại sống ở phía bắc từ lâu nên nýớc da càng trắng hõn. Vì vậy kẻ thống trị gọi ngýời bản ðịa là lê dân – dân ðen - ðể phân biệt. Vào ðất Bách Việt, ngýời Hán Mông Cổ choáng ngợp trýớc số dân ðông ðúc và kinh tế sung túc nên lập tức bỏ nghề du mục, chuyển sang làm quan, làm công nghiệp, nhà buôn - những công việc ðặc quyền của kẻ thống trị. Không lâu sau, chỉ một vài trãm nãm, toàn bộ ngýời Hán Mông Cổ xuống Trung Nguyên bị hoà huyết với dân ðen bản ðịa thành chủng ngýời mới, khoa học gọi là Mongoloid phýõng Nam hay nhóm loại hình Ðông Nam Á. Trong quá trình hoà huyết thì vãn hoá cũng hoà ðồng: Trýớc hết là tiếng nói. Lớp con lai dùng trộn trạo từ vựng của bố của mẹ. Với thời gian, hai hệ tiếng nói bổ sung cho nhau, hoà vào nhau tạo nên tiếng nói chung phong phú của lớp dân mới. Tuy nhiên, tiếng nói của một vùng, một quốc gia bao giờ cũng theo cách nói của trung tâm, của thủ ðô. Ngýời Hán Mông tập trung ở ðô thị nên trong khi học thêm từ vựng Việt thì họ cố giữ cách nói - vãn phạm truyền thống Hán. Dần dần toàn bộ dân cý chuyển sang dùng cách nói thống nhất nhý các ðô thị, kết quả là trong giao tiếp cùng nói theo cách của ngýời Hán. Ðồng thời trong quá trình chung sống, các phong tục tập quán của hai tộc ngýời ban ðầu cũng hoà vào nhau. Ngýời Hán Mông Cổ bỏ vật tổ truyền thống của mình là con cọp trắng ðể chuyển sang thờ vật tổ của dân bách Việt là con cá sấu ðýợc thần hoá thành con rồng. Ngýời Hán Mông Cổ cũng nhận những ông tổ xa xýa của ngýời Việt là Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông làm tổ của mình (3) Ðiều này không có gì sai trái mà hợp lý vì do hoà huyết nên về huyết thống, những thế hệ ngýời Hán từ sau Hoàng Ðế nhý Ðế Cốc, Ðế Chí ðều là con cháu của Thần Nông. Họ có toàn quyền nhận tổ tiên cũng nhý vãn hoá nông nghiệp làm của mình, bình ðẳng với những ngýời Bách Việt mới thuộc chủng Mongoloid phýõng Nam. Từ lịch sử ðó, chúng ta thử tìm hiểu hoàn cảnh ra ðời của kinh Thi. Từ thời vua Vũ nhà Hạ (2205-1783 TCN), các nước chý hầu dâng cống vật cho thiên tử thì trong phýõng vật, có cả những câu ca của dân quê nõi thôn dã. Thiên tử xem những câu ca ấy ðể hiểu thuần phong mỹ tục trong thiên hạ, ðể ðánh giá sự cai trị của vua chý hầu. Cái lễ cống tồn tại dài dài mãi sau này nhýng việc cống những câu ca nõi thôn cùng xóm vắng chỉ tồn tại ðến thời nhà Chu (1134-247 TCN). Nhýng thử hỏi thiên hạ Trung Hoa thời Xuân Thu là ai? Lúc này ðã 2000 nãm qua ði từ trận Trác Lộc Hoàng Ðế chiến Si Výu. Trong cýõng thổ nhà Chu rộng khoảng 115.000 km2 với 15 tiểu quốc, hai chủng tộc chính ban ðầu là Hán Mông Cổ và Bách Việt ðã hoà huyết thành chủng mới Mongoloid phýõng Nam. Cùng với máu huyết, giữa ngýời Việt và ngýời Hán cũng có sự hoà ðồng về vãn hoá. Trong cộng ðồng Hán tộc mới này, lực lýợng ðông ðảo nhất là lê dân, là dân ðen tức những ngýời gốc Tam Miêu. Chính do số ðông áp ðảo, chính xuất phát từ nền vãn hoá cao hõn nên những ngýời gốc Bách Việt giữ vai trò chủ ðạo trong nền vãn hoá. Ðặc ðiểm nổi bật của dân Miêu Việt là sống hồn nhiên vui vẻ, ýa ca múa, khá thoải mái trong chuyện luyến ái gái trai. Kinh Thý ghi nhận, khi vì bất bình mà ngýời Miêu Việt nổi dậy, dẹp không ðýợc, vua Thuấn phải sai ông Quỳ dùng ca múa phủ dụ mới yên. Từ kinh nghiệm trên, các ông vua hiền thời cổ ở Trung Quốc ðã phần nào dựa vào những lời ca cất lên nõi thôn cùng xóm vắng mà biết nguyện vọng của dân ðể kịp thời ðiều chỉnh chính sách của mình. Chính những lời ca dân dã ấy ðýợc thu thập lýu giữ trong tàng thý của nhà vua. Và từ những thý tịch trong cung vua nhà Chu, Khổng tử (551- 479 TCN) ðã ðem ra san ðịnh thành kinh Thi. Những nguyên nhân trên ðã tạo nên tinh thần nông nghiệp Việt tộc bàng bạc trong kinh Thi ngay từ bài ðầu tiên và quan trọng nhất: Quan thý. Quan quan thư cưu Tại hà tri châu Yểu ðiệu thục nữ Quân tử hảo cầu. Bài ca là hình ảnh một bãi nổi trên sông với những loài chim nýớc cặp ðôi cùng ngýời trai ngýời gái tình tự phản ánh cuộc sống hồn nhiên của dân cý nông nghiệp miền sông nýớc. Hảo cầu là từ ða nghĩa. Tản Ðà dịch là tốt ðôi vợ chồng nhýng theo Kim Ðịnh, một bản Latinh lại dịch là giao cấu (copulary). Dịch nhý vậy mới phản ánh ðúng cái thần câu ca: quan hệ tính giao tự nhiên nhý vậy chỉ có ở vãn hóa phồn thực của Viêm Việt nông nghiệp. Dịch nhý Tản Ðà là dịch theo quan ðiểm thanh giáo mà Hán nho rồi Tống nho áp ðặt ðể xuyên tạc kinh Thi. Một bài khác cũng mang cái phong vị trữ tình nhý vậy, bài Hán Quảng: Trên bờ sông Hán ai õi, Có cô con gái khó ai mõ màng Mênh mông sông Hán sông Giang Lặn sang chẳng được, bè sang khó lòng. Sông Hán là chi lýu của sông Dýõng Tử, miền ðất châu Kinh, châu Dýõng, châu Hoài... ðịa bàn cý trú lâu ðời của ngýời Bách Việt, một bằng chứng cho thấy ngýời Việt là chủ nhân những câu ca trên. Một bài khác Thảo trùng: ngýời con gái lên núi hái rau, nhìn thấy châu chấu theo nhau bay nhảy liền mong týởng ðến chồng trở về: Diệc ký kiến chỉ, diệc ký cấu chỉ, ngã tâm ðắc di. Tản Ðà dịch: bao giờ cho thấy mặt chàng, Cho ta vui vẻ nở nang tấm lòng. Dịch vậy là quá khéo, bởi chữ cấu có nghĩa là giao hoan. Nở nang tấm lòng vừa có nghĩa vui mừng lại có nghĩa thai nghén sinh nở! Bài Dã hữu tử huân (con nai chết trên ðồng) có câu: Có cô con gái xuân tình, Cậu giai tốt ðẹp dỗ dành muốn ve Phần ðầu của kinh Thi xuất hiện từ thời Ðông Chu (770-221 BC) Nguồn: blueprint-magazine.de Cũng là bằng chứng của lối sống phồn thực Viêm Việt. Cuộc sống phồn thực luyến ái tự nhiên là ðặc ðiểm của vãn hóa Việt tộc. Ta thấy ðiều này trong sinh hoạt hội mùa xuân: ðến hội xuân, tất cả trai gái làng này ðến hát ðối với trai gái làng bên cạnh (là hai bộ lạc). Trai chýa vợ gái chýa chồng xem mặt nhau rồi chọn lựa trong lúc hát hò. Tan ðám hát, họ chia nhau từng ðôi, tặng nhau kỷ vật rồi dẫn nhau vào những lùm cây bãi cỏ giao hoan, gọi là dã hợp. Không ai chê bai ngãn cản việc này. Những ðứa trẻ sinh ra trong cuộc hôn phối tự nhiên ấy là ðiềm may. Chỉ khi các thánh hiền phýõng Bắc xuất hiện mới coi là xýớng ca vô loại, chê là dâm bôn, ra sức cấm ðoán rồi vỗ ngực ca ngợi công việc ấy của mình là cải hóa phong tục của man di! Nếu trong cuộc ðời thực, Hán nho, Tống nho tiếp tay cho výõng triều phong kiến xóa bỏ vãn hóa Việt tộc thì trên phýõng diện chữ nghĩa, họ cũng một mặt ãn cắp tác quyền những dân ca và ca dao Việt trao cho vua chúa, mặt khác chú giải Thi theo hýớng có lợi cho výõng triều, cổ xúy chủ nghĩa thanh giáo. Kim Ðịnh phát hiện ra mýu ðồ này nhýng có lẽ ông ðã quá lời khi nói : "Có thể xẩy ra những cuộc tráo trộn do chính Viêm tộc làm ra: nó ở tại ðem vào những bài ca của dân gian một ít lời ðể lái một bài thõ phýõng Nam ra vẻ của phýõng Bắc, hoặc ðể nguyên cả một bài hay một chuỗi bài nhý Châu Nam, Thiệu Nam mà ðặt vào vùng núi Kỳ ở Thiểm Tây ðể cho ngýời phýõng Bắc dễ chấp nhận." (VLTN 135) Có lẽ không phải vậy. Ngýời dân quê hồn hậu không nghĩ rằng những câu ca nõi ðồng nội của mình sẽ thành kinh ðiển nên phải tự sửa mình ði cho vừa khẩu vị kẻ xâm chiếm thống trị. Họ chỉ tự nhiên nhi nhiên hát lên lời hát của lòng mình mà vì nó hay nên výõng triều không thể bỏ phải lýợm lặt ðem về. Nhýng rồi việc biên tập, nhuận sắc, chú giải diễn ra, nội dung nhiều bài thay ðổi ðồng thời tác quyền bị chuyển cho ngýời khác. Việc làm này của Hán nho là có ý thức. Tuy nhiên, cái việc vụng trộm ấy cũng không hoàn toàn vô tang mà ðã ðể lại dấu vết. Không những không thể xóa hết tinh thần Viêm Việt bàng bạc trong khắp tập kinh mà ở nhiều bài còn lộ rõ dấu vết trong cách ðặt câu, trong cú pháp. Ta biết, so với tiếng Việt, cú pháp chữ Hán nói ngýợc: Việt nói trong lòng là trung tâm thì Hán nói tâm trung. Nhýng trong kinh Thi, có hiện týợng rất lạ là nhiều câu vẫn giữ cấu trúc ngữ pháp Việt: Túc túc thỏ ta, thi vu trung lâm (Thỏ ta: Lưới thỏ mà cãng giữa rừng.) Ðúng ra giữa rừng viết theo cú pháp chữ Hán phải là lâm trung mà ở ðây lại là trung lâm. Hay Hýớc lãng tiếu ngạo, trung tâm thị niệu (Chung phong: Cũng là bỡn cợt mà thôi, chỉ thêm ðau ruột cho người xót thương). Có thể kể ra nhiều nữa: - Hồ vi hồ trung lộ (Thức vi: trong sýõng) - Trung tâm rạng rạng (Nhị tử thừa chu: trong lòng áy náy) - Trung tâm hữu vi (Cốc phong: trong lòng bãn khoãn) - Di vu trung cốc (Cát ðàm: trong hang) - Trung tâm dao dao (thử ly: trong lòng nao nao) - Tại bỉ trung hà (Bách châu: giữa dòng sông) - Trung cấu chi ngôn (Týờng hữu từ: lời nói trong buồng kín ) Những "hòn sạn" chữ nghĩa kia nói lên ðiều gì? Phải chãng là sự vô tình? Phải chãng là những ngýời biên tập, san ðịnh, chú giải vì "dốt" nên không thấy cái "sai" ấy? Mấy nghìn nãm nay chýa ai giải thích ðiều này. Trong bài Dẫn nhập in ở ðầu cuốn kinh Thi, ông Trần Vãn Chánh nhận xét: "Trong kinh Thi, chữ "trung" (ở trong, ở giữa) thýờng ðặt sau danh từ, thay vì ngýợc lại, so với vãn ngôn các ðời Hán, Ðýờng... về sau". (4) Ông cho rằng ðó là một trong những nguyên tắc, những mô hình cấu trúc cần nhận biết khi ðọc Thi. Ðiều này ðã hẳn nhýng nó cũng gợi lên thắc mắc: vì sao lại có hiện týợng khác thýờng ðó? Và vì sao qua hàng nghìn nãm phấn ðấu xa ðồng quỹ, thý ðồng vãn, qua biết bao lần nhuận sắc, chú giải, những ðại nho của muôn ðời không sửa chữa, không lýợm ði những "hạt sạn"? Ðúng là chữ nghĩa thời kinh Thi chýa ổn ðịnh và có khác thời Hán thời Ðýờng. Nhýng thử hỏi, nguyên nhân của sự không ổn ðịnh ấy là gì? Theo thiển ý, ở chính trong lịch sử hình thành ngôn ngữ Trung Hoa. Ngôn ngữ thời kinh Thi nằm trên ðýờng chuyển hóa từ cách nói của ngýời Việt sang cách nói của ngýời Hán. Cách nói của ngýời Hán cuối cùng ðã thắng nhýng trong ca dao, dân ca vẫn tồn tại cách nói Việt phản ánh tý duy Việt. Khi ca dao dân ca của ngýời Việt ðýợc ðýa vào kinh ðiển, ngýời san ðịnh tuy ðã nhuận sắc sửa ðổi nhýng không thể sửa chữa tất cả vì buộc phải tôn trọng vần ðiệu của thõ. Trong 2700 bài thõ bị loại bỏ, ai biết có bao nhiêu bài của Việt tộc? Những bài còn lại là những bài không thể bỏ. Những cấu trúc ngữ pháp không bình thýờng trong các bài ðó cũng là không thể sửa ðổi! Cái không thể sửa ðổi ðã trở thành những "hòn sạn" trong ngôn ngữ của Thi. Nhýng chính những "hòn sạn" týởng nhý ngẫu nhiên này lại là những hóa thạch ngôn ngữ chứng minh về sự ðóng góp của tiếng Việt vào kinh Thi, vào ngôn ngữ Trung Hoa! Không chỉ trong Thi, cách nói Việt này cũng ðể lại dấu ấn trong một số tên gọi: Nữ Oa, Thần Nông, Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn, Ðế Chí rồi Ðế Minh, Ðế Lai... Cách nói ðó không thể phủ nhận ðýợc là cách nói Việt. Có lẽ cũng do những nguyên nhân lịch sử bất khả kháng mà ngýời ta không thể sửa thành Nông Thần, Nghiêu ðế... theo cách nói của ngýời Hán! Nói nhý ông Kim Ðịnh Kinh thi là quyển kinh ðiển của Việt tộc e rằng quá lời. Bởi lẽ không hiểu những bài bị loại bỏ ra sao, còn cãn cứ vào những bài hiện có, ta thấy trong ðó nhiều bài mang ðặc tính chung của con ngýời, cái chất uy-manh chả của riêng ai, thật khó tách bạch. Trong ðó bên cạnh những bài ðậm sắc thái Việt lại có những bài mang tố chất Hán tộc nhý bài Thạc nhân: Ngýời ðâu dong dỏng nhý ai, Trong mặc áo gấm phủ ngoài áo lông. Ấy ngýời con gái họ Khỗng, Em ông thái tử cưới sang vua Vệ hầu. Còn như bề giýợng là ðâu? Có Ðàm công với Hình hầu hai vua. Từ phục sức ðến nhân thân cho thấy ðó là ngýời ðàn bà quý tộc. Nhân vật này không phải ðối týợng của vãn chýõng dân gian. Nhiều khả nãng ðây là sản phẩm của nhà thõ cung ðình nào ðó mýợn phong cách dân gian làm thõ phục vụ výõng quyền. Không phải trong tầng lớp výõng giả không có ngýời Việt nhýng ngýời ðàn bà này ðích thực là ngýời Hán: Tay ai nhý cái cỏ gianh non, Da như mỡ ðọng, cổ như con nhậy dài, Hạt bầu thời như thể rãng ai, Ðầu trãn mà lại mày ngài thêm xinh... Tay, da, ðầu có thể là cái ðẹp chung của ngýời Hán ngýời Việt nhýng rõ ràng, cái rãng: hạt bầu nhý thể... cũng nhý ðầu trãn (Tản Ðà giảng con trãn nhý con ve mà bé) là vẻ ðẹp theo chuẩn mực thẩm mỹ Hán tộc. Thời ấy, vẻ ðẹp của ngýời Việt là nhuộm rãng ðen, xãm mình. Trong Sở từ, ðau vì thân phận dòng Việt của mình, Khuất Nguyên than: rãng ðen mình trổ dọc ngang! Nhýng ðiều thú vị là, ngay ở ðây cũng hiển lộ yếu tố vãn hoá Việt: mày ngài! Trồng dâu nuôi tằm là bản nghệ của dân nông nghiệp phýõng Nam. Do chãm chút con tằm từ ãn một ãn hai ðến ra né, chọn giống, cho ngài ðẻ… mà ngýời nuôi tằm nhận ra vẻ ðẹp kỳ diệu của cặp râu con ngài. Sự so sánh tuyệt vời nảy sinh: râu con ngài ðýợc ví với lông mày con gái. Thành ngữ mày ngài ra ðời! Ðấy là sản phẩm của vãn hoá nông nghiệp Bách Việt. Khi ðýa nghề tằm tang từ Vãn hoá Hoà Bình lên Trung Nguyên, ngýời Việt cũng ðýa luôn thành ngữ mày ngài lên quê hýõng mới. Thành ngữ này, nhý những từ vựng khác, nhập tịch ngôn ngữ Trung Hoa rồi một cách vô thức phát lộ trong câu ca dao mang nhiều sắc thái Hoa tộc nhất. Ðiều này là ví dụ tuyệt vời chứng tỏ sự ðóng góp của vãn hoá Bách Việt vào vãn hoá Trung Hoa. Nhý vậy, có lẽ sẽ công bằng hõn khi nói rằng, kinh Thi là ðứa con lai giữa hai nền vãn hóa Hán và Việt mà trong ðó phần hồn phần cốt là vãn hóa của Bách Việt nông nghiệp. Sài Gòn, 6/2006 Copyright @ DCVonline 2006
  18. Đà Nẵng: Đổ xô đi mót gỗ sau bão Thứ bảy, 03 Tháng mười 2009, 18:02 GMT+7 - Nhiều người dân thành phố Đà Nẵng mấy ngày nay đã đi dọc các bãi biển đường Phạm Văn Đồng và đường Nguyễn Tất Thành để mót củi và gỗ do sóng biển đánh dạt vào bờ sau bão số 9. (gỗ ở rừng đầu nguồn chảy về. Đây là số lượng gỗ rất lơn mà bọn lâm tặc chất chứa ở rừng đầu nguồn) Trong hàng trăm đống rác trên các bãi bãi biển này có lẫn rất nhiều cành cây và cả những khúc gỗ rất lớn phải dùng xe cần cẩu để đưa lên. Rất nhiều gỗ đã được người dân thu gom, chất thành từng đống chuẩn bị chuyển về nhà. Một người mót gỗ cho biết: có đủ các loại gỗ trên rừng bị bão cuốn, dạt vào bờ, nhưng do sóng đánh tróc hết vỏ ngoài nên khó xác định là loại gỗ gì. Duy nhất chỉ có gỗ thông dầu được nhận ra bởi mùi đặc trưng của nó. Một số người dân đưa cả cưa ra cưa gỗ vàbán tại chỗ. Giá cả căn cứ theo đường kính và độ dài của cây gỗ. Một cây dài khoảng 3m, đường kính cỡ 30cm được bán với giá 600 -700 ngàn đồng. Trong lúc đó, mặc dù bão đã tan 3 ngày, nhưng trên các đường phố Đà Nẵng vẫn còn tồn đọng nhiều đống rác cao. Dù được các cán bộ và người dân chung tay dọn dẹp, các công nhân của Công ty môi trường đô thị Đà Nẵng làm việc cật lực… nhưng do thiếu phương tiện để vận chuyển nên tình trạng rác ứ đọng là không thể tránh khỏi. Trên đường phố lúc này, có những đống lấn ra gần một nửa đường đi, gây cản trở giao thông. Sau đây là một số hình ảnh phóng viên VnMedia ghi lại được trong ngày 2/10: Rất nhiều gỗ đang chờ được vận chuyển về nhà Có những khúc gỗ to phải nhờ đến cần cẩu mới chờ đi được
  19. Bùng nổ “mốt” phong thủy Thứ tư, 24.06.2009 10:11 Khi Đại học Nam Kinh (Trung Quốc) cùng Bộ xây dựng nước này chuẩn bị mở lớp dạy phong thủy vào tháng 10-2005, làn sóng tranh luận bùng lên tức thì. Thật nực cười” – phát biểu của giáo sư kiến trúc Chen Zhihua thuộc Đại học Thanh Hoa – “Đó là môn khoa học bịp, chỉ giúp bọn lừa đảo kiếm tiền”. Trong thực tế, phong thủy đã thâm nhập cực sâu vào đời sống xã hội Trung Quốc. Ngay ở Mỹ và nhiều nước phương Tây, người ta cũng tin phong thủy như sấm. Khách sạn Jinling (Kim Lang Phạn Điếm) ở Nam Kinh (Trung Quốc). Phong thủy trong làn sóng tranh luận mới Phong thủy từng có lúc bị xem như trò mê tín dị đoan tại Trung Quốc. Thời Mao Trạch Đông, phong thủy bị xếp xó. Thầy phong thủy có khi bị tử hình. Ngày nay, dù thầy phong thủy vẫn chưa được hành nghề chính thức nhưng thuật phong thủy không vì thế mà vắng mặt trong các công trình xây dựng, từ biệt thự bề thế cho đến căn hộ nhỏ bằng lỗ mũi. Theo người Trung Quốc, phong thủy đang tồn tại và người ta mặc nhiên chấp nhận sự hiện diện của nó, một cách bán chính thức. Theo nhà nghiên cứu Xu Shaoshan thuộc Trung tâm văn hóa kiến trúc Trung Quốc (cơ quan của Bộ xây dựng) – nơi đề xuất công khai hóa việc giảng dạy phong thủy – nói rằng Trung Quốc nên tự hào, chứ không phải khinh rẻ phong thủy và nên xem nó là di sản lịch sử văn hóa quốc gia. “Nó không phải là trò mê tín dị đoan mà là môn triết học đáng tin cậy” – nhà nghiên cứu Shaoshan phát biểu. Tuy nhiên, trước phản ứng gay gắt của dư luận, trong đó có nhiều ý kiến từ giới trí thức và kinh viện, Bộ xây dựng đã rút khỏi chương trình giảng dạy phổ cập phong thủy tiến hành vào tháng 10-2005. Vấn đề này đang tạo ra sự lúng túng trong dàn xếp đối với Chính phủ Bắc Kinh, nơi hô hào bảo vệ truyền thống dân tộc và giá trị văn hóa lịch sử. Bắc Kinh đối mặt sức ép từ vô số viện nghiên cứu, yêu cầu phải giải thích tại sao Bộ xây dựng lại ủng hộ, thậm chí còn kiếm chác từ chương trình giảng dạy phong thủy. Khóa học phong thủy có thời gian một tuần, tốn 720 USD, hơn thu nhập một năm của nhiều nông dân Trung Quốc. Phát ngôn viên Bộ xây dựng Bi Jianling biện bạch rằng chương trình phong thủy thuần túy trong khuôn khổ “hội thảo nghiên cứu”. Phong thủy đúng là đi sâu vào sinh hoạt cộng đồng Trung Quốc. Theo CNN, có đến 70% công trình ở Nam Kinh đều có bóng dáng phong thủy. Ding Houhua, 52 tuổi, quản đốc tại một công ty điện tử ở Nam Kinh, kể rằng khi mình tính đi học phong thủy, vợ ông thoạt đầu phản ứng gay gắt: “Rõ vớ vẩn! Anh không biết đó là trò mê tín sao?”. Hai ngày sau, Ding Houhua lại rù rì nhắc lại ý định học phong thủy, sau khi biết vợ đã dọ hỏi bà con ở tỉnh Phúc Kiến. Lần này, cô vợ tươi tỉnh ủng hộ! Ding Houhua bắt đầu quan tâm phong thủy hồi còn là sinh viên vật lý Đại học Nam Kinh. Đó là giữa thập niên 1970, khi cuộc Cách mạng Văn hóa gần tàn. Tuy nhiên, ám ảnh Cách mạng Văn hóa đã khiến Ding Houhua không dám thổ lộ niềm tin thuật phong thủy với bạn học. Hiện thời, Ding Houhua chẳng giấu giếm niềm đam mê phong thủy. “Thật xấu hổ cho chúng ta khi để mất những tư tưởng truyền thống tồn tại hàng ngàn năm” – Ding nói. Dù nghề xem phong thủy chưa được chính thức công nhận nhưng nhiều thầy phong thủy thật ra đang hoạt động gần như công khai. Chen Dong, thầy phong thủy từ Hong Kong, bắt đầu đến Thượng Hải cách đây 5 năm khi cơn sốt xây dựng bùng nổ. Ông thầy 40 tuổi thắt bím đuôi gà này tìm khách hàng từ website riêng (được giới thiệu như chuyên gia về “trang trí nội thất”). Có tháng, Chen Dong phải tính phong thủy đến 10 công trình, với phí 0,7 USD cho mỗi foot vuông (0,0929m²). Làm sao loại bỏ được phong thủy! Theo Chen Dong, Thượng Hải là nơi có thế phong thủy cực tốt, đặc biệt với dòng Dương Tử chảy ra biển đi ngang Thượng Hải (trong phong thủy, nước là yếu tố cực kỳ quan trọng). Và khắp Trung Quốc, chẳng khó khăn gì khi tìm kiếm một tòa nhà thuộc nhà nước được thiết kế dựa theo sự chi phối của thuật phong thủy. Khách sạn Jinling (Kim Lang Phạn Điếm) 36 tầng, tòa nhà cao nhất Trung Quốc (thuộc quản lý nhà nước), có nhiều chi tiết liên quan phong thủy: cửa chính đối mặt hướng Nam để tránh gió Bắc; trần nhà cao để được “vượng khí” và quầy thu ngân hướng về Đông Nam để phát lộc phát tài. Có người kể, hồi công trình được xây, người ta từng rắc vàng bột lên công trường bởi thầy phong thủy yêu cầu như vậy. Nhân viên Yao Qing tại Kim Lăng cho biết thêm, máy tính trong nhiều phòng làm việc ở khách sạn đều đặt cách xa cửa sổ, do (quan niệm) tránh để “tiền của” bị rơi ra ngoài! Nhìn chung, “văn hóa phong thủy” trước mắt đem lại tài lộc cho các thầy phong thủy. BBC cho biết, thầy phong thủy có đẳng cấp tên tuổi có thể kiếm được 200.000-300.000 nhân dân tệ/năm (25.000-37.000 USD) và thầy loại siêu đẳng có thể kiếm 1 triệu nhân dân tệ/năm (123.300 USD). Không ví dụ nào điển hình cho “mốt” phong thủy bằng công trình Hong Kong Disneyland. Vị trí xây Hong Kong Disneyland cũng được chọn cẩn thận, trong một địa hình có thế “hổ phục-long ẩn”. Kích thước cổng chính được tính bằng thước Lỗ Ban. Khách sạn Disney’s Hollywood và khách sạn Hong Kong Disneyland trong quần thể khu giải trí đều có hồ nước đặt hướng Tây Nam. Cổng chính mỗi khách sạn cũng như tất cả cửa ra vào đều được xây cực to để có khí vượng. Không khách sạn nào trong quần thể có tầng bốn hoặc phòng số bốn (nhảy số từ 3 lên 5) bởi “tứ” (bốn) đọc nghe như “tử” (chết). Sảnh phòng khiêu vũ (Grand Ballroom) ở khách sạn Hong Kong Disneyland có diện tích chính xác 888 m², và 8 cũng là số nhà hàng trong khu giải trí này. Phải chăng do trong văn hóa Trung Quốc, số 8 hàm chứa nhiều ý tưởng tốt (?), chẳng hạn Kinh bát nhã; Bát bộ kim cương (8 vị Bồ Tát trong Phật giáo); Bát đại hành tinh… Các đóa sen pha lê trong khách sạn Hong Kong Disneyland đều chứa 5 yếu tố cơ bản (ngũ hành) – kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Có tất cả 2.238 đóa sen trong khách sạn - con số mà khi đọc theo tiếng Quảng Đông sẽ nghe âm giống như “dễ dễ phát tài”. Khách bước vào nhà hàng trong Hong Kong Disneyland đều băng ngang cái hồ ảo (với con cá ảo được tạo từ máy tính “tóe nước” lên chân khách). Quán bar cũng có hình ảnh tượng trưng ngũ hành (gỗ và kim loại được dùng làm bàn ghế và các đóa sen tượng trưng cho thổ). Trong tất cả khu vực nấu ăn ở khu quần thể giải trí, bếp luôn được đặt ở hướng nhất định. Có nhiều tảng đá được “dằn” rải rác khu quần thể để tăng tính ổn định, chưa kể nhiều ngọn núi giả có mặt khắp nơi. Ngoài ra, có rất nhiều nước (hồ, suối, thác…). Ngay ở cổng chính, người ta cũng thấy hình ảnh chú chuột Mickey “lướt sóng” trên tia nước bắn lên từ con cá voi giả. Bậc thầy phong thủy Peter So, dù không tham gia công trình, đã đánh giá rất cao thiết kế phong thủy của khu giải trí Hong Kong Disneyland. “Chức năng cái đài nước là tạo ra sự phát đạt. Quan trọng hơn, nó có vai trò ngăn hướng nhìn thẳng vào con đường chính dẫn vào công viên” – Peter So nói. Những con đường uốn lượn cũng giúp khí chảy thông suốt hơn so với con lộ thẳng tắp – So cho biết. Ngay việc chọn ngày khai trương (12-9-2005) cũng được tính cẩn thận. Theo lịch Trung Quốc, 12-9 là ngày may mắn cho khai trương, tổ chức đại tiệc (cưới hỏi…) hoặc dời nhà. Chưa hết, người ta thấy màu đỏ khắp nơi. Và cuối cùng, một số cấm kỵ trong văn hóa dân gian Trung Quốc tất nhiên không được hiện diện ở Hong Kong Disneyland. Chẳng hạn, đồng hồ không được bán trong các cửa hàng lưu niệm. Theo người Trung Quốc, việc tặng đồng hồ là điều tối kỵ bởi cụm từ “cho/tặng đồng hồ” đọc lên nghe giống như “đi đám tang”. Sách Phong thủy ở phương Tây Tin hay không? Khoảng đầu thế kỷ 19, phong thủy bắt đầu đổ bộ vào Mỹ theo chân di dân Hoa kiều. Khu vực Bốn Góc (Four Corners) ở New York, từng là khu ổ chuột Hoa kiều, đã được xây theo “bản vẽ” phong thủy. Giới làm rượu nho ở Mỹ xem thầy phong thủy như thần và nghề phong thủy ở Mỹ phát đạt không thua gì bà con gần của nó là xủ quẻ đoán vận. Sách phong thủy xuất hiện như nấm. Tất nhiên ở châu Á, phong thủy chẳng xa lạ gì. Thử xem một bài báo trên tờ Manila Bulletin mang tựa “Feng Shui in the kitchen” (Thuật phong thủy trong nhà bếp) để có thể thấy ảnh hưởng phong thủy trong đời sống cộng đồng châu Á như thế nào. Theo bài báo, thầy phong thủy Malaysia Lilian Tokyo thuộc tổ chức Thế giới phong thủy, tác giả quyển Phong thủy cho nội thất, đã dạy như sau: Chớ treo ảnh gia đình hoặc ảnh động vật trong nhà bếp; Chớ dùng màu đỏ làm màu chủ đạo trong nhà bếp; Chớ xây nhà bếp ở hướng Tây Bắc của ngôi nhà; Chớ đặt bếp lò ở hướng Tây Bắc của ngôi nhà; Thùng gạo phải luôn được đậy kín (đương nhiên rồi, nếu không chuột vào thì sao!); Nhà bếp không được hướng mặt ra cửa chính; Phòng vệ sinh và phòng tắm (trên lầu) không được nằm đè ngay vị trí nhà bếp; Cửa phòng vệ sinh không được mở thẳng ra nhà bếp… Tờ Bella Online còn dạy thêm một số vấn đề phong thủy liên quan việc tặng quà (Feng Shui gifts). Theo đó, cây có lá hình trái tim luôn được xem là vạn phúc vạn lợi. Vào dịp tết, tốt nhất là tặng thân tre. Nến cũng là quà tặng có giá trị phong thủy (nến là hỏa mà)… Theo SGGP www.vnhouseservice.com
  20. Thôi, Thiên Đồng chứ đâu phải là giang hồ hảo hảo đâu mà gọi dị? Nghe ớn quá! Quẻ Lạc Việc hay quẻ Dịch hay quẻ gì gì thì cũng mang nghĩa bao hàm. Ví dụ nói đứa đó "tồ" quá. Vậy là nói lóng. Vậy là một quẻ "tồ". Người nghe bắt đầu giải quẻ, "tồ" là lẩn thẩn, ngu đần, ngu ngơ, khờ khạo, vô ý, vụn về...Vậy là tùy theo trường hợp mà chọ một hay nhiều trong các ý đó. Nghĩa quẻ Lạc Việt Độn Toán chỉ ghi vậy nhiều khi trong trường hợp cụ thể chiêm nghiệm lại thấy quẻ có tính bao hàm rất lớn. Ví dụ, quẻ Xích Khẩu nếu cách đây 150 năm thì chỉ là ngựa, xe ngựa là hết mức để chỉ nghĩa phương tiện vận chuyển đi lại, nhưng nay thời hiện đại thì lại có xe máy, xe hơi, xe lửa, máy bay... Xích khẩu cách đây 150 trở về trước nếu nói nghề gì thì chỉ quá lắm là nghề thuyết khách, thầy đồ, thông dịch, lái buôn...nhưng nay thì năm 2009 của thế kỷ XXI thì còn có thể luận là nghề nóng "hot" là MC, người dẫn chương trình, PR, tiếp thị đại chúng...hoặc là là nghề..."nhậu thuê". Nói chung là phải tưởng tượng bay bỏng một tí. Ví dụ có một ngày người ngoài hành tinh đến hỏi quẻ, hỏi "các vị thử đoán coi chúng tôi làm nghề gì?". Lấy quẻ Đỗ Xích Khẩu thì có thể đoán là "Các vị là những người làm nghể...giao dịch, giao tiếp liên hành tinh mà trái đất chúng tôi gọi là đại sứ thiện chí". Lúc đó LVDT sẽ nổi danh...liên hành tinh luôn. Hehehe :rolleyes:
  21. gửi nothing, ngày quý mùi 17 tháng quý dậu năm kỷ sữu, giờ tỵ Cháu vừa mới interview vòng 1 ở 1 công ty, không biết có cơ hội tiếp không? Chiếm quẻ Hưu Đại An, cho nữ mậu Ngọ Thiên Hà Thủy. Luận: Hưu vượng tướng, nghĩa quẻ là im lặng thoái lui, chờ thời... nhanh thì tháng 9 âm chậm thì tháng giêng năm sau có việc. Đoán là tháng Giêng năm sau được việc. Cuộc phỏng vấn này có thể là không xong. Công việc tương lai phù hợp khả năng nhưng phải nhiều vất vả. Chúc thành công. Thiên Đồng
  22. 5 Nguyên Tắc Phong Thủy Lớn Để Bạn Được Thăng Chức Làm người ai cũng mong cho sự nghiệp của mình thuận buồm xuôi gió, vậy mà có những lúc tâm nguyện với sự thực vẫn trái chiều nhau. Nếu có thể xem xét để tìm xem có nguyên nhân từ Phong Thủy nơi làm việc hay không? Nay xin tổng kết thành 5 vấn đề lớn về Phong Thủy Trận của nơi làm việc cung cấp cho các bạn, mong rằng các bạn có thể dựa vào đó mà tăng gia thêm Sự Nghiệp Vận. Đương nhiên là các bạn trước hết phải hết sức nỗ lực làm việc, khi đó tất có hy vọng thăng chức tăng lương! A. Phong Thủy Để Có Quý Nhân Tương Trợ: Phong Thủy Học khẳng định sau lưng bạn có chỗ như núi để tựa, đại biểu cho bạn có quý nhân giúp đỡ, cho nên tại chỗ bạn ngồi nơi phòng làm việc nhất thiết sau lưng cần có tường để dựa. Nếu như sau lưng của bạn có cửa ra vào hoặc chỗ đặt máy in ấn, các đồng sự thường xuyên qua lại in in ấn ấn, nó sẽ tạo ra sự quấy rầy cho bạn, trong vô hình sẽ làm mất đi năng lực hỗ trợ của quý nhân. Để hóa giải trong trường hợp này bạn nên sử dụng một ghế nhồi có lưng tựa cao, hoặc thêm một cái bình phong, để tăng cường thêm hiệu lực. Nếu tình huống có thể cho phép, bạn nên dùng thêm một vài phương pháp hóa giải sau. Tại sau mặt ngoài của ghế ngồi (Tức mặt ngoài) dán một mảnh giấy vàng, ý là tượng trưng cho Sơn, có tác dụng ngăn cách. Cũng có thể dùng 8 viên đá đặt tại (Gắn lên cũng được) sau ghế, như thế cũng tức là có sơn, có chỗ để dựa.    B. Vật Phẩm Phong Thủy Bố Trí Trợ Giúp Theo Tuổi: Tuổi con Giáp là một nhân tố ảnh hưởng trong yếu đến vận số sự nghiệp của bạn, 12 con Giáp có thể căn cứ chia ra theo Ngũ Hành gồm bốn tổ hợp riêng biệt, khi được sắp đặt bày đúng vị trí nơi phòng làm việc sẽ có được lợi ích, giúp chp quan vận thêm hanh thông. Các con Giáp thuộc Thủy gồm Tý, Thân, Thìn ứng với các con vật bằng kim loại hoặc màu trắng xám, trắng bạc, phát huy công hiệu “Kim sinh Thủy”. Thuộc Hỏa gồm Dần Ngọ Tuất nên dùng các con vật bằng gỗ để trợ vượng cho Hỏa, dùng các màu xanh lá cây, phối hợp thêm với các chậu cây cảnh nhỏ cũng là sự lựa chọn không sai. Còn như Hợi Mão Mùi thuộc Mộc, do “Thủy sinh Môc” nên dùng các con vật màu đen, hoặc phối thêm các loại cây thủy sinh. Còn lại Tỵ Dậu Sửu thuộc Kim mà “Thổ vượng Kim”, chop nên bày các cón vật màu vàng, cà phê, mận chất liệu bằng đất đá.    C. Phong Thủy Để Xúc Tiến Nhân Duyên Không nên hiểu đơn thuần nhân duyên là chuyện tình yêu nam nữ. Nhân Duyên là cơ hội gặp gỡ giao tiếp nói chung. Điều này trong thăng tiến quan vận cực kỳ quan trọng. Nhiều khi chỉ là cuộc gặp rất tình cờ mà cơ hội lại thênh thang mời bạn tiến bước. Có khi chỉ vì lỡ mất một cuộc hẹn mà bạn đành ôm hận suốt đời. Tại nơi làm việc, trước khi bày các vật phẩm, cần lưu ý, vốn là nam nữ có vị trí vượng không giống nhau. Người nữ thì lấy góc bên trái treo những sợi dây màu đỏ được bện kết thành các hình cát tường không đầu không cuối gọi là Vô Cực Tơ (Sợi tơ không cùng) hoặc đặt giá để tài liệu, nó sẽ tăng cường cho nhân duyên của bạn. Đồng sự cùng làm việc tự nhiên vui vẻ, công tác cũng tự nhiên xứng tâm vừa ý, mà như thế tất nhiên Sếp của bạn sẽ vô cùng hài lòng. Còn như người nam, nên tại góc phải của phòng bố trí những viên thủy tinh, hoặc lợn hoặc chó, có khả năng trợ giúp cho sự nghiệp. (Sẽ có bài viết riêng về các vật phẩm hỗ trợ nhân duyên)    D. Vận Khí Phong Thủy Của Số Điện Thoại: Số cuối cùng của điện thoại có ảnh hưởng nhất định đối với Vận Khí Sự Nghiệp. Các số bất lợi như 2, 3, 5. Số 2 dễ dẫn đến tính chậm chạp trong công việc, như sinh ra bệnh tật, yếu mệt. Số 3 dễ đưa bạn vào chuyện thị phi, dễ bị công ty sa thải. Số 5 dễ đưa đến sự cố bất ngờ, bao gồm trong nhà đột nhiên có vấn đề, làm cho bạn phải nghỉ việc ở cơ quan. Vì thế nếu bạn có đuối của số điện thoại nội bộ, để bàn, cầm tay là các số này thì nên cẩn thậnđề phòng. Phương pháp hóa giải nếu như là số 3bạn dùng “Giấy Đỏ” dán nơi điện thoại bề bàn hoặc cầm tay, cứ 9 ngày đổi bỏ một lần. Còn như có số 2 và 5 tất dùng Giấy Trắng dán điện thoại, mỗi tháng thay một lần. Còn như đuôi số là các số 1, 4, 6, 8, 9 là các số tương đối tốt theo Huyền Không Tử Bạch. Số 1 – 4 là Văn Xương, 6 là thăng chức, 8 là Tài Tinh Đắc Lệnh (Từ năm 2004 – 2023), số 9 là Hỷ Khánh Tinh lại đang là sao Sinh Khí rất có tương lai. (Sẽ có bài viết thêm về số điện thoại).    E. Phong Thủy Để Kiềm Chế Tính Nóng Nảy Mát tính hiện nay là vật không thể thiếu trong văn phòng làm việc của mỗi cá nhân. Thậm chí nó còn được luôn luôn mang theo bên mình (Laptop). Máy Tính được xếp vào Kim Tính trong Ngũ Hành, nếu như trong một phòng làm việc có quá nhiều máy tính, dễ làm cho người ta trở nên nóng nảy, suy nghĩ rối loạn, không có cách gì tập trung vào công việc được. Phương Pháp hóa giải lại rất đơn giản, các bạn nên đặt một cái chén thủy tinh trong suốt hoặc màu trắng, trong đó đổ 6/10 nước. Đó là vì lấy Thủy để tiết giảm Kim Tính, làm cho đầu óc con người trở lên trong sáng, giảm bớt nóng này, hạ nhiệt các ý nghĩ thái quá, các bạn cũng có thể dùng luôn đồ chén cốc uống nước, mỗi lần uống rót độ 6/10 là ổn. (Sẽ có bài viết riêng về Phong Thủy chó Máy Vi Tính). A Tư Tiểu Khang (Tổng Hợp). Vô Thường Phái Phong Thủy và Chương Trọng Sơn Thuật Huyền Không Phong Thủy Phái Vô Thường gắn liền với Tên Tuổi Chương Trọng Sơn và Họ Chương nhà ông. Ông họ Chương, tự là Trọng Sơn, hiệu là Vô Tâm Đạo Nhân, chỗ ở là “Thiên Mặc Am” , người Vô Tích Giang Tô. Trong khoảng từ đời Gia Khánh đến Đạo Quang nhà Thanh, Huyền Không có tất cả 6 phái lớn, gọi là Huyền Không Lục Đại Phái: Vô Thường Phái, Điền Nam Phái, Tô Châu Phái, Thượng Ngu Phái, Tương Sở Phái, Quảng Đông Phái. Vô Thường Phái cũng đứng ngang hàng trong các phái. Phái này nguồn gốc từ Vô Tích, phát triển khắp Thường Châu! Cho người bên ngoài thường gọi là Vô Thường Phái. Vô Thường Phái lấy sự biến đổi vô thường làm sáng chỉ của phái, Chương Công ( Trọng Sơn) chính là tông sư khai sáng môn phái! Chương Trọng Sơn là người cự phách của Huyền Không Địa Lý sau Tưởng Đại Hồng, Vũ Tiến Lý đã ca ngợi “Độc ngữ chân thuyên, thục thôi sinh khắc chế hóa chi dụng, cát hung tiêu trưởng chi lý, Thần minh kỳ đạo vu đại giang nam bắc tam thập niên – Tức là : Một câu là rõ ràng, đã nhuần nhuyễn cách dùng sinh khắc chế hóa, tốt xấu tiêu trưởng cũng rõ lý, là bậc Thần Minh suốt hai bờ nam bắc Trường Giang 30 năm”. Sách ông viết gồm “Biện Chính Trực Giải”, “Lâm Huyệt Chỉ Nam”, “Thiên Nguyên Ngũ Ca Giản Nghĩa”, “Tâm Nhãn Yếu Chỉ”, “Huyền Không Yếu Chỉ” . Trở thành người kế tiếp sau Tưởng Đại Hồng thành một lãnh tụ của Huyền Không. Trải qua đời con đời cháu các thế hệ vẫn tiếp nối. Học trò có : Đồng Hương Trần Liễu Ngu Trường Châu Kha Viễn Phong Kim Quỹ Tiền Kinh Sơn Ngô Huyện Từ Gia Cốc Hồ Châu Trần Đào Sinh Kim Quỹ Đaò Khang Cát. Đến đầu đời Dân Quốc, hay có người là truyền nhân của Vô Thường Phái hành thuật bí mật trong đời, cầu được thật không dễ. Sách do Chương Trọng Sơn viết công khai không nhiều, con cháu môn sinh cũng không viết sách lưu truyền. Hầu như chỉ có vài cuốn như sau : 1. “Âm Dương Nhị Trạch Lục Nghiệm” : là viết năm Gia Khánh thứ 8 Quý Dậu ( 1813) năm 1874 Thẩm Trúc Nhưng và Hồ Bá An, dùng rất nhiều vàng đưa cho hậu nhân của Chương Trọng Sơn đề mượn đọc, rồi trong một đêm chép bằng tay mà về. Về sau họ bổ chú, cải thành “Trạch Đoán” đưa vào “Thẩm Thị Huyền Không Học”, nhưng cũng chỉ đưa 54 ví dụ về Âm Trạch, 17 ví dụ về Dương Trạch mà thôi. Đàm Dưỡng Ngô trong “Đại Huyền Không Thực Nghiệm” có đưa vào cuốn “Lâm Huyệt Chỉ Nam”, đầu có lời Tự của Trương Trọng Sơn, họ Đàm do có liên hệ với thầy Dương Cửu Như truyền thụ, toàn bộ sách có 200 hình, chỉ trích 30 hình; “Đại Huyền Không Lộ Tú” trong có “Nhị Trạch Huyền Cơ” hai di cảo, cũng là của Dương Cửu Như trao cho. Duyệt qua nội dung hai họ Thẩm và Đàm đều là dùng các tư liệu bị tiết lộ, chỉ là các cái đầu đề, mà toàn bộ đều là trích dẫn từ tư liệu của họ Chương vậy. 2. “Địa Lý Biện Chính Chân Giải” : Hoàn thành vào giữa xuân năm Đạo Quang nguyên niên Tân tỵ (1821) hoặc sớm hơn. 3.”Huyền Không Bí Chỉ Phê Chú” : Hoàn Thành vào năm Đạo Quang thứ 3 Quý Mùi (1823) , sau đưa vào “Tâm Nhãn Yếu Chỉ”. 4.”Tâm Nhãn Yếu Chỉ” : Theo sách Chương Trọng Sơn tự thuật lại : “Tôi vào mùa đông năm Đinh Hợi đời Đạo Quang đến chơi Ngô Môn”, có thể cuốn này hoàn thành tại Đạo Quang thứ 7 (1827) đến khoảng Đạo Quang 16 Bính Thân ( 1836). theo sự hoàn thành“Tâm Nhãn Yếu Chỉ” của tác giả thì thấy, Chương Trọng Sơn về già tập chung vào viết sách, và cuối cùng cuốn “Tâm Nhãn Yếu Chỉ” đã trở thành đại biểu cho ông. Sách gồm ba cuốn : Cuốn 1 là họ Chương tự thu thập, cuốn hai là Tôn Trúc Điền viết, cuốn ba là Thẩm Vũ Bình đọc. Sau này Trọng Sơn có chú thêm : “Thiên Nguyên Ngũ Ca Xiển Nghĩa” 5 cuốn, “Huyền Không Bí Chỉ Phê Chú” cùng “Bảo Mộ Lương Quy” một thiên. Trọng Sơn từng nói “Nhãn lấy hình tượng mà nói, gốc vậy. Tâm lấy lấy Lý mà nói, là dụng vậy.”. “Nhãn” chỉ mắt thịt thấy được cái gì thì đó hình Loan Đầu “Hình Thế”, “Tâm” là chỉ cái không thấy được, tất phải dùng tính toán trong lòng để mà thấy cái Lý Khí vô hình ( Phương vị, Tinh Quái). “Tâm Nhãn Yêu Chỉ” tức tại chỗ làm rõ Loan Đầu và Lý Khí là hai bộ phận liên quan mật thiết quan trọng. Xan Hà Đạo Nhân Diêu Đình Loan nói : “Loan Đầu là thể, Lý Khí là dụng. Toàn bộ Loan Đầu do chân tay người, ngũ quan từ đó mà thành hình; Lý Khí như có tai mắt, tất có đức tính thông sáng. Cho nên Loan Đầu Lý Khí khuyết một đều không được. Nếu mà Loan Đầu không kiêm Lý Khí, là có tai mà tai không thông, có mắt mà mắt không sáng. Khô khan vô dụng như cái cây héo úa; Nếu chỉ nói Lý Khí không cầu Loan Đầu , tất muốn thông mà không có chỗ đề thông, muốn sáng mà làm sao để sáng. Nếu chỉ là lời nói kỹ xảo, mà cuối cùng cũng không có kết quả gì , thì làm sao mà giúp đỡ đây !”( Lời tự “Âm trạch Tập Yếu” năm 1744) . Huyền Không Địa Lý nói Nhân Hình Cầu Lý, Nhân Khí Sát Hình, Nhân Tinh Đo Tượng, Lấy Tượng Biết Sao. Các Minh Sư thời xưa như Dương Quân Tùng, Ngô Cảnh Loan, Liêu Kim tinh, Hoàng Diệu Ứng, Mục Giảng Sư, Lưu Bá Ôn, Tưởng Đại Hồng ai chẳng không thông Loan Đầu với Lý Khí. Chương Trọng Sơn là người nổi bật, là đệ nhất Minh Sư vùng Giang Chiết, đương nhiên là phải thông hai Pháp : Hình và Khí. Thế Anh Tổng Hợp. Bái Gặp Truyền Nhân Phong Thủy Của Tưởng Đại Hồng Tôi có dịp đến tại thành phố Đài Nam – Đài Loan. Thật may mắn được bái thăm truyền nhân đời 83 của Phong Thủy Tưởng Phái, pháp hiệu là Pháp Hinh Cư Sĩ, nói chuyện rất vui, được biết rằng Địa Lý Biện Chính không phải là đầy đủ của lý luận của Tưởng Đại Hồng về Phong Thủy. Căn cứ theo lời ông nói bốn cột trụ lớn của Lý Khí Phong Thủy của Tưởng Công gồm : Ai Tinh ( Chia làm 24 Sơn Ai Tinh Đại Quái và 64 Quái tiểu quái Ai Tinh ), Thiên Tinh ( Vận dụng thất chính tứ dư chọn ngày, cách Cục bố Cục), Quan Thần ( Bát Quan Quan Thần và 12 Quan Quan Thần), Quái Khí ( 14 Quái Khí), thiếu một không thành. Buổi gặp đó tôi thu hoạch khá nhiều ! Sách Của Pháp Hinh Cư Sĩ Có Cuốn : "Bí Truyền Tam Nguyên Dương Trạch Đại Thành" là xuất sắc ! Khám Phá Quái Lý Của Phái Bát Trạch Phong Thủy Trong thuật Kham Dư Địa Lý của Trung Quốc, đối với sự kết hợp tốt xấu của nhà ở, lý luận của phái Bát Trạch có chỗ đứng rất quan trọng, các tác phẩm kinh điển của môn phái này như “Dương Trạch Tam Yếu” , “Bát Trạch Chu Thư” , “Bát Trạch Minh Kính” ( “Bát Trạch Minh Kính” được dịch giả Thái Kim Oanh dịch ở Việt Nam với cái tên là “Bát Trạch Minh Cảnh” ) do các tác giả thời xưa viết vẫn được lưu hành rộng rãi và đều được các nhà nghiên cứu hiện nay lấy nó làm căn cứ. Phái Bát Trạch tương truyền do một vị cao tăng đời nhà Đường có Pháp Hiệu là Đường Nhất Hạnh tổng hợp sáng tạo ra. Lý luận căn bản của nó là lấy Dịch Lý Tiên Thiên Hà Đồ làm lý luận căn bản, lấy phương vị Hậu Thiên Bát Quái làm ứng dụng. Ngoài ra nó còn phảng phất một số tri thức của phái Phong Thủy Mũ Đen trong Phật Giáo Tây Tạng Mật tông.Bát Trạch phái được các thuật sĩ hành nghề trong dân gian ứng dụng rất nhiều, nó phân ra làm hai loại trạch ( Nhà hoặc Mồ mả) : Đông tứ trạch và Tây tứ trạch rồi phối theo người mà phán định tốt xấu. Càn Khôn Cấn Đoài là Tây tứ trạch, Khảm Ly Chấn Tốn là Đông tứ trạch. Tọa sơn lập hướng là Tây tứ trạch thì dùng bốn phương vị Tây làm cát để kê đặt bếp, mở cửa, dùng cho người ở, còn bốn phương vị Đông thì là hung, không thể mở cửa, làm bếp, người ở càng không nên. Đông tứ trạch cũng suy như thế. Cần nhắc lại một lần nữa nguyên tắc chủ yếu là lấy phương vị hậu thiên bát quái để đoán định, tuy nhiên thực tế là Lý Luận Bát Trạch lại xuất phát từ Tiên Thiên Bát Quái. Nó dựa trên quy luật của sự âm dương phối hợp, giao cấu, sinh thành.......... Bát Trạch phái lý luận xuất phát từ Tiên Thiên Hà Đồ Bát Quái, nhưng ứng dụng vào phương vị Hậu thiên bát quái. Nó rất có Dịch lý! Có thể nói trong Phong Thủy Học thì ứng dụng ở tầng 1 là dùng Bát Trạch Pháp. Tầng thứ hai là dùng Tam Nguyên long Tam Nguyên Quái để tiến hành. Tầng thứ 3 là dùng thuyết Nguyên Vận, Linh Chính, Giao cấu cùng Long Sơn Hướng Thủy phối hợp để làm. Mỗi bước tiến qua một tầng lại ẩn chứa nhiều điều bí mật. Ở tầng thứ 2 và 3 thường là mật truyền , thế nhân biết được rất ít. Bát Trạch phái là một học phái phong thủy rất cổ lưu truyền rất rộng rãi, là tầng thứ nhất khi tác pháp. Thông thường khi truyền pháp trong Bát Trạch thường truyền kỹ thuật mà không truyền nguyên lý khiến cho người học sinh ra nghi ngờ, vu cho là ngụy pháp. Hiện nay xã hội thật giả lẫn lộn, cỏ lúa cùng mọc , cho nên tôi mạnh dạn chia sẻ bí mật nguyên lý của Bát Trạch Phái cho mọi người được rõ . Trước hết trợ duyên cho các học giả có thêm niềm tin và kiến thức tiếp tục nghiên cứu sâu thêm về Bát Trạch Phái ( Còn rất nhiều bí mật xung quanh các pháp ứng dụng của Bát Trạch ). Thứ nữa chiêu tuyết án oan nghìn năm “Ngụy Pháp” cho Tổ Sư Đường Nhất Hạnh của phái Bát Trạch. Thế Anh. Chú Thích : Ngụy Pháp là từ được “Thẩm Thị Huyền Không Học” dùng để chỉ lý luận Bát Trạch của Đường Nhất Hạnh thiền sư. Phong Thủy Văn Xương Tốt Tất Đỗ Đạt 文昌及第好風水 Người đọc sách ở Trung Hoa, phảm muốn đỗ đạt, không thể không tính mệnh cầu văn xương, đeo khôi tinh trên người, không được ăn thịt bò. Bái Văn Xương Quân, cầu Văn Xương Vị, chiếm văn xương phòng, sửa Văn Xương phương thật nhiều cách. - Dưới đây tác giả xin giới thiệu qua về Văn Xương Thần, cùng làm thế nào để Cầu Văn Xương Vị, sửa Văn Xương Vị, gia tăng thêm Văn Xương Khí, cùng các biện pháp Phong Thủy để bố trí phòng đọc sách, nghiên cứu sáng tạo theo tiêu chuẩn Văn Xương. 1. Thần Văn Xương Thần Văn Xương, đương nhiên phải là Đại Thành Chí Thánh Tiên Sư Khổng Phu Tử, từ triều nhà Đường về trước, phàm là người đọc sách đều bái Khổng Phu Tử là Văn Xương Thần. Mà Hàn Dũ là đại học giả mà cũng thân đến lễ bái tại Khổng Miếu gọi là Phúc Đức Chính Thần, cho nên Hàn Dũ được người đọc sách đời sau cung kính lập “Xương Lê Từ” để thờ phụng. Đến Tống Triều, lại có Chu Hy là người tập thành Phái Lý Học ( Tống Nho), nguyên vì sự khoa cử thi thố mà đem Tứ Thư Ngũ Kinh ( Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung, Mạnh Tử; Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu) giảng giải thuyết trình. Bởi lẽ các kiến giải của Chu Hy là chính xác cho nên người đọc sách thời đó không thể không tôn ông là Văn Xương Thần tức “Chu Văn Công”. Nguyên là Hoàng Đế sợ các nhà bái “Chí Thánh Tiên Sư Khổng Phu tử” rồi học thức nâng cao từ đó sẽ phê bình triều đình, liền ban quy định người thường không được tự mình xây “Khổng Miếu”, cho nên dân gian chỉ được tự mình tế bái 5 vị Văn Xương Thần sau : - Khôi Tinh. - Trương Á Tử. - Tiên ông Lã Động Tân. - Quan Công. - Chu Y Nhân. 2. Tế Bái Văn Xương Thần Thế Nào. Dân gian tùy thời mà đến tế bái năm vị Văn Xương hoặc Tiên Sư Khổng Tử. Người Nhật Bản vào thời nhà Đường do đọc và học tập theo “Văn Võ Điển Chương Chế Độ” của Trung Hoa cũng tế bái Khổng Tử làm Thần Văn Xương, đến tận ngày nay mỗi khi thi cử người Nhật cũng đến thắp hương tại Khổng Miếu. Đặc biệt tại các kỳ thi Đại Học, những người tham dự thường lấy các miếng gỗ hình dáng đẹp viết nguyện vọng của mình, rồi treo ở một hoặc hai bên Đại Thành Điện, sau khi thi xong thì đến để quyên góp tiền cho Miếu. Tác giả thường mỗi năm mới ( Khoảng từ mùng 1 – 5 tết ), đều đến tế bái tại Khổng Miếu. Đương nhiên đến ngày 28 tháng 9 là ngày Tết Thầy Cô (Ở Trung Quốc) có thể đem con nhỏ đến bái lạy, lại mua cho cháu một tờ giấy đỏ “Hộ Thân Hương Hỏa”, Đài Bắc cũng như Nhật Bản vào các ngày lễ Khổng Miếu đều có bán Giấy này. Mua một tờ rồi đem vào Đại thành Điện làm lễ, lại thỉnh Khổng phu Tử bảo hộ phù trì cho tương lai con cái “ Học Vấn Có Thành Tựu”, cầm tờ giấy xông trên khói hương ( Qua Lửa). Tờ giấy này có thể bỏ vào túi mang theo người hoặc kẹp vào sách học. Đối với trẻ nhỏ tờ “Khổng Tử Hương Hỏa” lúc bình thường treo tại bàn học hoặc giá sách, trên tường, đến khi thi cử, nên mang trong người vào phòng thi. Ngoài ra khi đến Khổng Miếu nhớ mua một cây bút chì mang vào tế bái ( Bút máy, bút nguyên tử, bút lông cũng được) sau này đi thi nhớ mang cây bút này theo tất trúng. 3. Tìm Văn Xương Phòng. Văn Xương có Văn Xương của mỗi người, Văn Xương của Nhà, Lưu Niên Văn Xương, trong Phong Thủy thường nói về Văn Xương nhà ở và Văn Xương lưu niên. Văn Xương nhà ở tức dùng phép “Tử Bạch Cửu Tinh” đề bài bố, tìm cho được phương vị có 1 – 4. Nhất Bạch là một cát tinh nửa là Văn Xương, nửa là Thăng Quan; Mà Tứ Lục thì hoàn toàn là Văn Xương. Trong sách “Dương Trạch Tập Đại Thành” của Địa Lý Đại Sư đời nhà Thanh là Xan Hà Đạo Nhân rất đề cao cặp 1 – 4 là Văn Xương Tinh, xin đưa một đoạn như sau : “Phàm làm phòng đọc sách, nên tại phương nhất bạch tứ lục của bản trạch mà đặt. Trong khoảng không gian 1 – 4 lại nên mở cửa, lối đi tại phương 1 – 4 . Lưu niên thấy 1 – 4 bay đến phương ấy, cửa ấy, đường ấy là 1 – 4 đồng cung, hoặc là hoàn cung phục vị, tất chủ phát đẹp đẽ.” Phàm nhà ở khu vực nơi có sao Nhất Bạch hoặc Tứ Lục tốt nhất là đặt phòng đọc sách, mà Tứ Lục hoàn toàn là Văn Xương tuyệt đối không được đặt nhà vệ sinh, nếu không sẽ làm ô nhiễm Văn Xương. Như nhà là Tọa Bắc triều nam, tất Tứ Lục Văn Xương phương tại Đông Bắc , nếu như đã chót đặt nhà vệ sinh, thì nên ở bên ngoài cửa nhà vệ sinh treo một xâu hoặc một đóa hoa lụa để an phủ Văn Xương Thần, cũng là để Thần Văn xương không thấy mùi xú uế mà chạy mất. Hy vọng Thần Văn Xương lưu lại trên đóa hoa đó, từ đó có thể tùy thời mà giúp cho lớn nhỏ trong nhà học tập thi cử đỗ đạt. Nếu như căn cứ bản trạch mà phương vị Nhất Bạch đã làm nhà vệ sinh hoặc bếp thì không thể đặt bàn đọc sách học tập được, lúc đó chỉ còn căn cứ theo lưu niên Nhất Bạch Tứ Lục để tìm chỗ đọc sách mà thôi. 4. Bố Cục Cho Phòng Đọc Sách: Cần tránh không quay mặt vào tường đọc sách. Phòng học nên sáng sủa lợi lộc. Trên bàn học đặt vật cát tường. Bàn học nghế ngồi nên là gỗ thiên nhiên. Dưới gầm bàn nên đặt một tấm gỗ , thảm hoặc đệm. 5. Các Vật Cát Tường Dùng Khi Đi Thi: Cuống Rốn Trẻ nhỏ sau khi sinh mấy ngày, sẽ rụng cuống rốn, nếu như giữ gìn được, đến lúc đi thi cử, mang trong mình vào phòng thi, tất tâm thần an định. Bởi vốn dĩ bà mẹ và đứa trẻ liên thông với nhau qua cuống rốn, cho nên làm thế có tác dụng tâm lý rất lớn, cũng có thể coi như đây là một tập tục dân gian, song có một điều kỳ lạ là mỗi khi con nhỏ gặp nguy cấp thường hay khóc gọi mẹ ! Có sự liên quan gì ở đây không !? Lá Quế Hoa Mỗi khi đi thi đem theo một cành hoa quế tất như gặp được quý nhân giúp đỡ, sở dĩ có tục này vì người xưa thường nói người đi thi đỗ là bẻ được cành quế trên cung trăng ( rất khó khăn). Nếu như sau nhà có trồng Hoa Quế tất như có được quý nhân thường đến - có Quý Khí. Lá Bưởi Lúc đi thi mang trên người mấy nhành lá bưởi, giống như được tổ tiên phù trì mà thi đỗ. Trong nhà hoặc trước mộ có trồng bưởi, đều là có ý “Giúp Đỡ Cháu Con” vậy. Thế Anh Tổng Hợp. Phép Trừu Hào Hoán Tượng Của Huyền Không Đại Quái 玄空大卦之抽爻換象 Địa Lôi Phục hào 1 nhất dương sinh ở Hạ Chí , Thiên Phong Cấu hào 1 nhất âm sinh Đông Chí . Đó là ví dụ về Trừu Hào Hoán Tượng điển hình ! Như thế chúng ta xử lý Huyền Không 64 Quái thế nào thì gọi là Trừu Hào Hoán Tượng ? Trong vòng 360 độ có môn phái lấy tám phương vị mà dùng , có môn phái lấy 24 phương vị mà dùng , Huyền Không Đại Quái dùng 64 phương vị , riêng tôi thường sử dụng vào các trường hợp sau , dùng một hào trong 6 hào ngoài biên ! Đó gọi là Trừu Hào Hoán Tượng ! Trong phép rút hào có nhiều phương pháp xử lý tình huống khác nhau ! Ví dụ : Lúc rút hào sơ lại xuất hiện hình tượng oa hoặc đột ! Đột là quản nhân đinh , oa là quản tiền tài , mà cùng lúc , không thể nói là đơn giản , cần xem lại xem Thiên Quái Hào và Địa Quái Hào nếu là Thập Hợp , Sinh Thành , Tương Đồng , Hợp Ngũ là Cát . Lập Hướng đường tuyến la kinh đè lên hào nào thì đó là hào dụng , là động , không dụng là tĩnh . Động tất âm biến dương , âm biến dương . 64 quái , mỗi quái đều có thời vận của nó , như quẻ Di là vận 3 , đang dùng hào sơ , nhị , tam , tứ , ngũ và thượng hào thì biến vận . Sơ hào biến quẻ Bác 6 , Nhị hào biến Quẻ Tổn 9 , Tam Hào biến Bí 8 , Tứ Hào biến Quẻ Phệ 6 ; Ngũ Hào biến quẻ Ích 9 , Thượng Hào biến quẻ Phục 8 . Như lập hướng tại giữa 2 hào , tất biến vận bất đồng , Như đang dùng là vượng địa , tính toán như thế nào đến lúc vận suy , thì cần biến hào nào để được Tam Nguyên Bất Bại Cục . Chung Nghĩa Minh Đại Sư giảng – đây là khẩu quyết nghìn năm không truyền Thế Anh Lược Dịch ! blog.timnhanh.com
  23. Quả là người tài đất Việt ở đâu cũng có. Biết ra thì có rất nhiều Dị Nhân.
  24. Gửi muội Séo Chỉa, Trùi, cái tên gì giống dân tộc tày hay Nùng vậy? Chắc Đồng tự lấy thêm cái tên là "Lủng Chỉa" của người tày cho hợp luôn. Mà sao Séo Chỉa này mới xuất hiện đây, chưa bao hỏi Thiên Đông cách luận quẻ mà xưng muội thì cũng ngại hén! Giải quẻ mà theo bi nhiu đó nghĩa thôi thì coi như bóbột.canh. Bây giờ chỉ luận nghĩa quẻ Kinh Tiểu thư, ủa mà lộn, Tiểu Cát. Tiểu cát thuộc Mộc, chủ về giấy tờ, cũng hợp về báo chí, là người con gái có duyên, là thủ tục hành chính, cũng có thể là người thứ 3 vì là độ số 3-8... Kinh là người trên, sếp lớn, chủ sự bất ngờ, giật gân, scandale, quyết định tức thì... Vậy thì nghĩa quẻ cho ra 3 ý nghĩa: 1. Chuyện nhầm tên trên báo là có chủ ý của sếp đưa ra một chỉ thị bất ngờ, nhằm để phù hợp với mục đích gì đó trong cong việc mang tính hình thức hay hành chánh. 2. Chuyện nhầm tên trên báo là do một người nữ thay đổi có chủ ý. 3. Chuyện nhầm tên trên báo là do người thứ ba thay đổi, nhưng cũng do ý của cấp trên. Còn lại là việc loại suy theo hoàn cảnh thực tế công việc của Muội SéoChỉa. Huynh Lủng Chĩa.
  25. Nhà này nếu Chồng là Giáp dần thì không hợp. Chồng là Kỷ mùi, thì hợp Nếu là không thể thay đổi chỉnh sử được và là chung cư thì...bán quách đi cho xong. Mua nhà khác hợp thì mới sướng hơn.
×
×
  • Create New...