Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Thiên Đồng

Hội viên
  • Số nội dung

    6278
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

  • Days Won

    75

Everything posted by Thiên Đồng

  1. Những kiêng kỵ khi làm mái nhà Trong dân gian lưu truyền khá nhiều những quan niệm kiêng kỵ liên quan đến việc làm mái nhà, như kiêng "góc ao, đao đình", kiêng nhà bị đòn đông chĩa sang, đếm số đòn tay khi lợp mái nhà, xem ngày giờ gác đòn đông... Đao đình chĩa vào nhà gay bất lợi "Nhất góc ao, nhì đao đình" nói lên cách bố cục nhà cần tránh các góc ao cũng như góc cạnh của mái đình, đền, miếu hướng vào chính diện nhà. Khi nhà mở cửa ra hướng góc mái, đồng nghĩa với bố cục của các nhà bị xiên lệch với nhau, dễ gây ra va chạm khi di chuyển, gió lùa theo các cạnh tường, cạnh mái thổi đến nhà mình. Về cấu tạo, điểm góc mái luôn là điểm xung yếu nên mái nhà xưa thường hay có các chi tiết bằng gỗ hay đắp vữa để khóa cứng góc mái, kết hợp tính trang trí tạo thành những đầu đao mang nhiều ý nghĩa tâm linh. Mở cửa ra nhìn vào góc mái chĩa vào nhà mình thì luôn có cảm giác bất an. Nhiều gia chủ thời nay xem việc đổ tấm bê tông trên cùng là... thượng lương để kết thúc phần xây dựng khung xương cơ bản của nhà. Điều này xét về tiến trình xây dựng là đúng, nhưng xét về ý nghĩa xây dựng truyền thống thì không chuẩn xác lắm. Mặt khác, cách cấu tạo lợp mái hiện đại đều không còn sử dụng cây xà gồ trên đỉnh mà là hai cây xà gồ thép đặt gần nhau ở trên đỉnh để thuận tiện hơn cho việc lợp và liên kết ngói đỉnh mái. Ngày xưa, do cây đòn dông nằm giữa nên số đòn tay trong bộ mái nhà xưa luôn là số lẻ, dẫn đến ngày nay nhiều người vẫn còn đếm số lượng đòn tay theo kiểu "sinh lão bệnh tử" mang nhiều màu sắc mê tín. Ngôi nhà truyền thống vốn đa phần quay mặt dài về hướng nam nên phần đỉnh mái nhà kéo từ đông sang tây, mà cư dân nông nghiệp thì xem phương đông là khởi điểm cuộc sống, nơi mặt trời mọc, thuộc mộc, nên cây xà gồ đỉnh mái trong nghi lễ thượng lương thường được bọc vải đỏ hai đầu và treo tấm bùa bát quái ở giữa như một sự trân trọng với bộ phận kết cấu đặc biệt này của ngôi nhà. Hình thế trong phong thủy, nóc nhà có hình tam giác thuộc hành Hỏa mà theo ngũ hành thì hành hỏa khắc Kim (tiền tài) nên nhiều người lo ngại nếu bị chĩa Hỏa sang nhà mình thì tiền tài sẽ hao tổn. Về cấu tạo, ta thấy nóc nhà xưa có các khe hở hai đầu thông gió là nơi thoát khí tích tụ trong nhà ra ngoài, nếu nhà đối diện mở cửa ra gặp ngay "tam giác ấy" thì sẽ bất lợi. Từ đó, không riêng gì cây đòn dông mà các đòn tay lợp mái cũng bị kiêng nếu nhìn thấy chĩa sang nhà của nhau. Xét về văn hóa ứng xử, điều này đem lại sự cẩn trọng khi làm nhà lợp mái, giữ gìn cho người cũng là cầu an lành cho mình. Còn về thực tế xây dựng thì hiện nay nhiều biệt thự lợp mái ngói đã dùng thép tấm làm thành nẹp bịt kín đầu các xà gồ như là một giải pháp an toàn không đụng chạm đến xung quanh. (Theo Nhà đẹp) Phòng Tư vấn thiết kế Kiến trúc & Xây dựng Wedo
  2. Hoàn táng thi hài vua Lê Dụ Tông 17/09/2009 22:36 Long bào của vua Lê Dụ Tông vẫn còn nguyên vẹn - Ảnh: Ngọc Minh chụp lại từ tư liệu của họ Lê Sau 45 năm được khai quật và lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, ngày 10.10 âm lịch (ngày song thập) tới đây, thi hài vua Lê Dụ Tông sẽ được đưa về hoàn táng trên mảnh đất cố hương. Hành trình của thi hài vua Lê Dụ Tông Vua Lê Dụ Tông (1679-1731), húy là Lê Duy Đường, miếu hiệu là Dụ Tông Hòa Hoàng đế, là vị vua thứ 22 của triều Lê. Ông là con trưởng của Hi Tông Hoàng đế và được vua cha truyền ngôi từ năm Ất Dậu - 1705. Trong 24 năm trị vì, Lê Dụ Tông đã hai lần đổi niên hiệu là Vĩnh Thịnh (1705-1719) và Bảo Thái (1720-1729). Năm 1729, ông nhường ngôi cho con là Lê Duy Phường (Hôn Đức Công) và được tôn là Thái Thượng hoàng. Năm 1731, sau 2 năm rời ngôi, vua đã băng hà ở tuổi 52. Theo sách Lịch triều tạp kỹ ghi nhận về việc trị nước của vua Lê Dụ Tông thì: “Bấy giờ thừa hưởng cơ nghiệp thái bình, không xảy ra binh đao, trong nước vô sự, triều đình làm được nhiều việc. Pháp độ được rất đủ đầy, kỷ cương thi hành được hết... Có thể gọi là thời cực thịnh. Nhà vua rũ tay áo, ngồi ở trên, không phải khó nhọc mà mọi việc đâu vào đấy. Khi nói đến cuộc thịnh trị ở thời bấy giờ người ta tất phải kể đến đời vua này”... Theo Ngọc phả của họ Lê thì sau khi băng hà, vua Lê Dụ Tông được táng tại Bố Vệ, Đông Sơn (TP Thanh Hóa ngày nay). Còn theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì vua Lê Dụ Tông được táng ở lăng Cổ Đô, Đông Sơn, Thanh Hóa, sau dời đi táng ở lăng Kim Thạch, huyện Lôi Dương (đất Lôi Dương, nay thuộc huyện Thọ Xuân và Thường Xuân, Thanh Hóa). Nhưng tháng 2.1958, một nông dân ở thôn Bái Trạch (Trang Bàn Thạch xưa), trong lúc đào vườn đã phát hiện một chiếc quách. Phá vỡ ra một mảng thì thấy bên trong có quan tài sơn son, thếp vàng. Sau khi nhận được thông tin, các cơ quan chức năng từ trung ương đã về xử lý bằng cách dùng xi măng vá kín chỗ bị vỡ, sau đó giao cho chính quyền địa phương quản lý. Từ khi phát hiện ngôi mộ, nhiều kẻ xấu thường xuyên dòm ngó, gây bất an cho chính quyền sở tại. Vì vậy, năm 1964, được phép của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Bộ Văn hóa - Thông tin, Bảo tàng Lịch sử VN và Ty Văn hóa - Thông tin Thanh Hóa đã tổ chức khai quật mộ và mang chiếc quan tài nguyên vẹn làm bằng gỗ Ngọc Am (Pơ mu) về Bảo tàng Lịch sử VN. Ngày 2.4.1964, trước sự chứng kiến của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bảo tàng Lịch sử VN đã mở nắp quan tài. Quan tài có hai đáy, giữa có một lớp gạo rang dày 10 cm, đáy trên lớp gạo rang có một tấm ván mỏng trổ 7 lỗ tròn theo hình Thất tinh. Sau tấm chăn bông vỏ gấm, thi hài được liệm bởi nhiều lớp quần áo, vải liệm, gồm: 8 lớp đại liệm bằng gấm thêu hoa bạc 1,5m x 5m, buộc bằng 5 đai lụa; tấm tiểu liệm bằng gấm may kép 2 lần vải; áo Hoàng bào kim tuyến thêu một con rồng lớn phía trước, phía sau và tay áo thêu nhiều rồng nhỏ; 2 áo long bào thêu rồng kim tuyến; 3 bộ vóc vàng may kép đính vào nhau thành một bộ; 3 lớp lụa kép; 3 chiếc quần bằng lụa mỏng, khố bằng vải mỏng. Tay chân của thi hài được đi tất lụa, chân có giày gấm thêu, lót một lớp da thuộc mỏng, đầu gối một chiếc gối bông, hai tai được nút bằng hai viên bông bọc lụa, mặt phủ một tấm khăn bằng vải gấm có thêu rồng cùng một chữ Thọ ở giữa và 4 chữ Vạn của nhà Phật ở 4 góc. Đây là những y phục của một đế vương thời Lê mà lần đầu tiên Bảo tàng Lịch sử VN có được. Ngoài ra, trong quan tài còn có sách, bút lông, túi đựng móng tay, răng rụng, quạt giấy, túi đựng cau trầu, một hộp hình quả cau bên trong đựng thứ bột màu trắng... Được biết, khi giở tấm khăn phủ mặt, các nhà khảo cổ hết sức ngỡ ngàng khi thấy da mặt của thi hài có màu xám nhạt, sau vài phút thì ngả màu xám đều như toàn thân. Thi hài có teo nhưng chưa khô, tay chân, thân thể vẫn còn mềm mại, các khớp có thể cử động được. Môi của thi hài bị teo để lộ một hàm răng đen đã rụng một vài chiếc, cằm có chòm râu đen đã điểm bạc... Từ những cứ liệu sử học, cùng với việc xác định các đồ tùy táng, thi hài, các nhà sử học đã khẳng định đây chính là thi hài của vua Lê Dụ Tông. Thi hài sau đó đã được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử VN từ đó cho đến nay. Thi hài vua Lê Dụ Tông đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử VN - Ảnh: Ngọc Minh chụp lại từ tư liệu của họ Lê Khăn phủ mặt thêu rồng Các loại túi gấm trong quan tài Rước người về cố hương Suốt từ năm 1996 đến nay, con cháu họ Lê trên đã nhiều lần làm tờ trình lên các cơ quan chức năng để xin được rước thi hài vua Lê Dụ Tông trở về cố hương hoàn táng. Nhưng vì nhiều lý do, tâm nguyện này đã chưa được thực hiện. Thậm chí còn có ý kiến cứ để thi hài của vua tại Bảo tàng Lịch sử VN, hoặc có hoàn táng thì nên hoàn táng ngay tại khuôn viên của Bảo tàng Lịch sử VN (!), chứ không nên đưa về quê. Bộ thì đề nghị tỉnh có phương án, tỉnh thì đề nghị bộ và Nhà nước giải quyết... Sự việc kéo dài đã gây rất nhiều muộn phiền cho con cháu dòng họ Lê. Từ cuối 2008 đến nay, bằng nhiều nỗ lực, dòng họ Lê đã thuyết phục được các ngành, các cấp thuận đưa thi hài vua Lê Dụ Tông trở về hoàn táng tại quê hương. Trong báo cáo gửi Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ngày 12.11.2008, Giám đốc Trung tâm Giáo dục truyền thống và lịch sử thuộc Hội Khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam khẳng định: “Trước năm 1996, chúng tôi đến Bảo tàng Lịch sử VN viếng vua Lê Dụ Tông thì thấy thi thể người được để ở một cái giá ba tầng như một hiện vật trưng bày. Sau khi chúng tôi có ý kiến, bảo tàng đã đưa thi hài vua Lê Dụ Tông vào quan tài kính, và nay được bảo quản trong phòng lạnh. Nhưng, trong thời tiết nóng ẩm của nước ta, thi thể của người cũng đã biến dạng, sớm muộn cũng sẽ bị phân hủy... việc đưa thi hài vua Lê Dụ Tông về Thanh Hóa chôn cất như tổ tiên ta vẫn làm là điều vô cùng cần thiết”. Sáng qua 17.9, trao đổi với PV Thanh Niên, đại diện Hội đồng họ Lê Việt Nam cho biết: Hiện con cháu họ Lê đang gấp rút chuẩn bị điều kiện để phối hợp với các cơ quan chức năng rước vua Lê Dụ Tông về quê. Thi hài vua Lê Dụ Tông sẽ được hoàn táng gần với lăng của vua Lê Hiển Tông (cháu đích tôn của vua Lê Dụ Tông) tại xã Xuân Quang (thuộc Trang Bàn Thạch xưa), huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa) - nơi mà trước đây người đã an nghỉ... Theo kế hoạch, ngày Trùng cửu 9.9 âm lịch (tức ngày 26.10.2009) dòng họ Lê và chính quyền địa phương sẽ khởi công xây lăng mộ và ngày Song thập 10.10 âm lịch (tức ngày 26.12.2009) sẽ đưa thi hài vua Lê Dụ Tông từ Hà Nội về Thanh Hóa. Lễ hoàn táng sẽ được tổ chức xứng tầm với lễ táng của bậc đế vương. UBND tỉnh Thanh Hóa cũng đề nghị Văn phòng Chính phủ, Bộ VH-TT-DL báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép xây dựng lăng mộ vua Lê Dụ Tông với quy mô như lăng mộ các hoàng đế nhà Lê tại Khu Di tích lịch sử Lam Kinh; đồng thời cũng đề nghị, nghi lễ tổ chức hoàn táng vua Lê Dụ Tông được tổ chức trọng thể cấp Nhà nước. Ngọc Minh nguồn thanhnien.com.vn
  3. Potay.súp với bà đồng cốt này òi. Hix. Cho Đồng hỏi ngang - dài của nhà này là bao nhiêu? Chắc theo như bà đồng cốt này thì ma vô nhà sẽ bị ...lọt hố. Trời ạ, bộ ma hong biết đi cửa hậu hay sao? hay leo cửa sổ vào? Ma mà! Cái này là bó tùm lum rồi! Hic :rolleyes:
  4. Gửi Liễu Ngân Đinh, Trước hết, Thiên Đồng có đôi lời đến bạn Liễu Ngân Đinh. Trường hợp bạn ra đưa thật đáng chú ý. Sự trắc trở của người bạn của Liễu Ngân Đinh đôi khi còn phải xét thêm yếu tương tác của tuổi của cô bạn ấy với cha mẹ anh chị em hoặc với chồng con (nếu đã có chồng) trong gia đình và cả yếu tố phong thủy nhà ở. Đôi khi một lá số tốt, nhưng tương tác tuổi giữa các thành viên trong gia đình xấu hay yếu tố phong thủy xấu, hoặc cả hai thì cũng làm giảm độ số của đương số. Dầu vậy, Thiên Đồng cũng thử lấy quẻ xem xu hướng thế nào và cũng chỉ để tham khảo thôi hay ít ra cũng chỉ để giải trí. Mong rằng không lấy đó làm trọng. Ngày ất sửu 29 tháng nhâm thân năm kỷ sửu giờ thân. Chiếm quẻ sự việc cho đương số Tân Dậu nữ mạng Thạch Lựu Mộc. 1- Công ăn việc làm đến bao giờ mới có? Tử Lưu Niên Luận: Xét niên vận, đương số nữ mạng năm nay phạm cuối tam tai, lại cùng năm sửu, gặp vận "Trư phùng hỏa". Năm nay là năm chạy tứ bề, tinh thần và thể lực bỏ ra rất nhiều và hư hao rất nhiều, đầu năm có nhiều cơ hội và thuận lợi, nhưng ít nhất sau 3 tháng sau Tết đã phải chạy đôn đáo mà kiếm tìm lo lắng, công việc cũng dở dang. Lưu Niên là tượng khó khăn, trắc trở, bôn tẩu hối hả và lo toan, tuy lâm suy địa nhưng được Tử vượng tướng trợ sinh cho nên cái khó tưởng rằng đã qua nhưng hết nỗi lo này hết thì đến nỗi lo khác. Chứng tỏ người này công việc đã bị đình trệ ít là 4 tháng nhiều là 6 tháng. Nhưng theo quẻ thì đã 4 tháng nay bỏ công tìm việc và từ đầu năm tới nay nếu có việc thì cũng chỉ những việc nhỏ mọn nhất thời. Tử Lưu Niên vượng ở thu đông suy ở Xuân hạ, thế và lực lúc đó mới đáng bàn. Do vậy đương số này còn phải đợi lâu mới có được ông việc ổn định nhanh thì cuối năm có ciệc, chận thì sang năm. Tháng 3 năm Canh dần 2010 sẽ có việc như ý. 2- Chuyện chồng con thế nào? (...nên chưa lừa được thằng nào vào tròng cả.) Kinh Tốc Hỷ Luận: Tốc hỷ nói chuyện tình cảm, gia đình là đúng lý, nhưng vẫn còn ở đất dưỡng nên đây chỉ là trăn trở hoài mong. Có thể người này 2 tháng trước đây đã có gặp được một đối tượng. Kinh kim vương địa mang nghĩa bất ngờ, nhưng trong tình cảnh cô đơn thì chỉ là cái vui bột phát, cái lay động của cảm xúc bị đánh thức đã nằm yên bấy lâu nay. Tốc hỷ như đào hoa, thấy hỷ là vui lòng cho nên 2 năm sau thì nói chuyện tình duyên hay gia đình mới thật chắc cú. Chuyện tình cảm như hiện tại chỉ như gió thoảng mây trôi. 3- Có bỏ chồng không? Khai Xích Khẩu Luận: Quẻ này bị suy khí, Xích khẩu lâm mộ địa, Khai lâm vượng địa. Nội tham sinh nên vong hình. Do vậy cho dù gia đình tương lai có cắn đắng 3, 4 năm đầu thì cũng trở lại bình yên, chứ không đến nỗi chia ly. Gia đình vẫn hạnh phúc. Cảm ơn anh nhiều! Cảm ơn bạn nhiều Thân ái! Thân mến. :rolleyes: Thiên Đồng :P
  5. Gửi phuongdu, ngày giáp tí 28 tháng nhâm thân năm kỷ sữu giờ dậu Xem quẻ tình duyên 1.Khi nào người này làm đám cưới? Chắc là năm sau? Nhưng là khoảng tháng nào ạ? Tử Lưu Niên Luận: Lưu niên lâm đế vượng, tử vượng tướng trợ sinh. Lưu niên mang tính trì trệ, gặp lưu niên là việc khó khăn, phải hoãn lại, chứng tỏ việc hôn sự còn gặp nhiều chuyện ưu tư mà trì hoãn lại. Cũng bởi Tử vượng, theo đoán thì gia đình đôi bên chắc không phải thuộc diện khó khăn về tiền nông mà trì hoãn hôn sự.Chắc bởi vì có những sự không hài lòng hay bất đồng quan điểm gì đó nên mới ra cớ sự. Nhưng Tử cũng thể hiện cho mưu toan, cũng có thể ở một phía có ý chưa chịu đi tới hôn nhân nên tìm nhiều lý do lý trấu mà trì kéo. Dầu sao Tử Lưu Niên hoàn toàn đắc khí lại thừa lực của Hải trung Kim và Kiếm Phong Kim, chứng tỏ sự tranh đấu vừa bằng ý chí sắt bén và tình cảm cứng rắn cũng được vận dụng khéo léo tinh tế để được việc. Cho dù thế nào đi chăng nữa thì cũng phải đợi chờ nhanh thì vào tháng cuối năm nay, chậm thì tháng 2 năm Canh Dần. (Lưu ý còn tùy thuộc vào tuổi người Hôn Thê) 2.Từ giờ tới cuối năm có lung lay bởi một cô ma nữ mới xuất hiện cách đây 2 tháng hay không? Kinh Tốc Hỷ Luận: Kinh Tốc Hỷ là chuyện giật gân, tình yêu sét đánh ngang mày. Tốc Hỷ tử tù, còn lại chỉ có Kinh vượng để lấy cái tiếng rổn rảng lùm xùm. Chuyện này nhanh thì tới tháng một (11 âm) hoặc trể lắm là tháng giêng năm sau sẽ thoái trào, hạ màng. Dự đoán là chuyện này sẽ trôi qua trong yên ắng. Đôi người đôi ngã tan rã bọt bèo. 3.Xin đội ơn anh rất nhiều Trùi, Thiên Đồng không dám, cho Thiên Đồng xuống. Lỡ mà quẻ sai thì chắc "xin đập anh rất nhiều" vì tội đoán sai. Thôi, hỏng dám đâu! Hihi :rolleyes: Thiên Đồng
  6. Sư Phụ đi Đà Nẳng Làm pheng sủi tung tăng Ghé Hội An tắm nắng Khi về túi chắc nặng (?) :rolleyes: Đông Thiền :P
  7. Như thế nào là hạnh phúc? Thiên Đồng không biết chữ Nho nên không biết chữ " hạnh" viết ra sao và chiết tự thế nào, nhưng riêng chữ "Phúc" thì có nghe người ta giải thích rằng chữ phúc được tạo bởi bộ Y (áo quần), bộ khẩu (cái miệng), bộ điền (ruộng đất) và một chữ nhất bên trên. Nghĩa nôm na là có cái ăn cái mặc là phúc rồi. Vậy, giầu và nghèo thì cái gì là phúc? cái gì mới là hạnh?
  8. Thiên Đồng đọc bài của kethatbai xong cũng cảm thấy thắc mắc và chạnh lòng. Số là vài ngày trước báo giới đăng tải chuyện "cô dâu bị mất tích", cô này tên Annie Le, nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ ngành dược lý của Đại Học Yale danh tiếng, còn 5 ngày nữa là thành hôn, Thiên Đồng không nghĩ là cô ấy sẽ chết hay bị sát hại nên đưa thông tin vào diễn đàn nhờ đoán cát hung. Nhưng một giờ sau, được một người bạn cho tin là cô Annie Le đã thật sự bị sát hại và vụ việc đang trong vòng điều tra. Người bạn này đặt câu hỏi rằng: "Có những người sống vui vẽ, vô tư, hiền lương nhưng tại sao lại không được tốt đẹp? Có phải kiếp trước họ bị nghiệp?" Câu hỏi làm cho TĐ sót thương hơn cho phận một người. :rolleyes:
  9. Nhận biết về Quái số Đã có nhiều bài viết phong thủy đề cập đến Quái số như một cách nhận biết hướng tốt và xấu đối với bản thân mỗi người. Thế nhưng chắc hẳn chưa nhiều người biết rõ Quái số là gì và cách tính Quái số như thế nào. Quái số của năm sinh là căn cứ để bạn định hướng tốt/xấu theo la bàn phong thủy. Điều này sẽ giúp ích cho bạn trong việc bài trí và sắp xếp đồ đạc trong nhà, văn phòng theo hướng tốt tương đối và né tránh những vị trí xấu có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn. Quái số được chia làm hai nhóm là Đông tứ trạch gồm 1, 3, 4, 9 và Tây tứ trạch gồm 2, 6, 7 và 8. Mỗi quái số đều bao hàm các hướng “cát”, “hung”; trong đó, các hướng Sinh Khí và Diên Niên là các hướng “thượng cát”, hướng Thiên Y là hướng “trung cát” và hướng Phục Vị là hướng “tiểu cát”. Các hướng hung bao gồm Họa Hại, Ngũ Quỷ, Lục Sát và Tuyệt Mệnh. Có 2 cách để tính Quái số của bạn, thứ nhất là căn cứ vào bảng tra cứu năm sinh, thứ hai là làm phép tính. Bảng tra cứu theo năm sinh Khi làm phép tính, vì nam và nữ khác nhau nên khi dùng nhớ “Nam (10-). Nữ (5+)”. Bạn hãy lấy 2 số cuối trong năm sinh của mình cộng và rút gọn lại thành một số. Ví dụ người sinh năm 81, lấy 8+1=9. Nếu là nam, lấy 10-9=1. Nếu là nữ, lấy 5+9=14, rút gọn thành 5. Sau khi có được Quái số, tiếp tục tra bảng dưới đây để xác định các hướng “cát” và "hung" tương ứng với nó: Quái số 5 : Hàng trên số Nam, hàng dưới số Nữ. DiaOcOnline.vn tổng hợp
  10. Gửi Xuquang, Ngày Tân sửu 5 tháng nhâm thân năm kỷ sửu giờ dậu. Kinh Tốc Hỷ Ngày giáp tí 28 tháng nhâm thân năm kỷ sửu giờ thìn Hưu Tốc Hỷ Luận: Hai lần Tốc Hỷ hưu tù, Kinh Hưu đều vượng tướng. Quý Hợi mạng Thiên Thượng Hỏa bị Trường Lưu Thủy khắc, cái khắc hình thức chực chờ. Kinh Hưu tượng cho giật mình trăn trở, nghĩa là bị dao động tinh thần bởi môi trường, do hoàng cảnh " người ta lên xe bông mà mình còn ngồi xe không". Tốc hỷ lâm bệnh địa, chứng tỏ thực sự là hiên không có mảnh tình nào vắt vai. Có thể đoán là hoàn cảnh hộ tịch của xung cũng hơi hơi buồn buồn. Vậy thì theo quẻ thì nhanh là 2 năm nữa chậm thì 6 năm nữa mới "làm cam kết chung thân". Đoán là 2 năm nữa thôi. Cầu trời cho quẻ trúng. :rolleyes: Thiên Đồng
  11. Tổng Quan Phong Thủy Con người là trung tâm của vũ trụ, thuyết tam tài của triết học Phương Đông là Thiên - Địa – Nhân. Con người chính là sản phẩm hoàn chỉnh nhất của tự nhiên và là trung tâm của Trời Đất. Có Trời có đất rồi qua sự phát triển vận động mà toạ nên con người như một vũ trụ thu nhỏ. Chính vì con người là một sản phẩm của tự nhiên thì tất nhiên phải chịu sự chi phối của tự nhiên. Cũng giống như các sinh vật khác trên trái đất đều phải chịu sự chi phối của thiên nhiên và môi trường. Mỗi con người sinh ra đời tại những thời điểm, những vị trí khác nhau trên trái đất. Khi đó sự vậnhành của các thiên thể trên những quỹ đạo khác nhau, đối với trái đất thì chịu ảnh hưởng mạnh nhất cảu các hành tinh trong hệ mặt trời như mặt trăng, mặt trời, sao kim, sao hoả, sao thổ,… cùng các tia vũ trụ, các yếu tố môi trường tác động vào mỗi con người khác nhau, do đó được hình thành nên với những tố chất trong đục khác nhau. Khoa học hiện đại cũng chỉ ra con người bị chi phối bởi những chu kỳ sinh học, chẳng hạn như chu kỳ trí tuệ, sức khoẻ và tâm lý. Chính vì thế mỗi người có một xuất phát điểm khác nhau, một quá trình sinh hoạt bị chi phối bởi những chu kỳ khác nhau, người xưa gọi đó là “Thiên Mệnh”. Tuy nhiên số mệnh con người lại là một hàm số tổng hợp bởi ngoài “Thiên Mệnh” thì con người còn phục thuộc vào gen di truyền, vào môi trường sinh hoạt, vào vị trí địa lý và nỗ lực mỗi cá nhân. Chính vì vậy hai người sinh cùng một thời điểm nhưng lại có thể có số mệnh khác nhau. Tổng quát ta có thể ước lượng số mệnh con người qua hàm số: Số mệnh = Thiên Mệnh + Địa Mệnh + Nhân Mệnh Trong đó “Địa mệnh” là môi trường xã hội và Phong Thuỷ nơi sinh sống. “Nhân mệnh” là phần nỗ lực học tập, rèn luyện, lao động, tu tâm dưỡng tính của mỗi cá nhân trong cuộc sống. Phần “Thiên mệnh” là cố định nhưng phần “Địa mệnh” và “Nhân mệnh” hoàn toàn có thể cải biến, điều đó cho thấy Phong Thuỷ có vai trò vô cùng quan trọng. Chọn lựa được nhà cửa, văn phòng Phong Thuỷ tốt, nơi phòng ngủ, bàn làm việc phương hướng phù hợp sẽ có tác dụng cải tạo to lớn. Công thức lượng hoá vận mệnh : Thiên mệnh : 60% gồm : 1. Bản mệnh (Tử Vi, Tứ Trụ) 18% 2. Đại vận ảnh hưởng 30% 3. Lưu niên ảnh hưởng 12% Nhân mệnh - Địa mệnh 40 % gồm : 4. Phong Thuỷ Địa lý 10% 5. Ý chí bản thân 10% 6. Tích đức hành thiện 8% 7. Xã hội hoàn cảnh môi trường sống 4% 8. Giáo dục trình độ 4% 9. Tính danh ảnh hưởng 4% Về cơ bản Phong Thuỷ là một bộ môn khoa học về môi trường sống, là những lời diễn dịch của người Trung Quốc xưa về thế giới tự nhiên với mục đích giúp họ xây dựng nên một hệ thống canh tác hiệu quả. Ngoài ra với ý nghĩa sâu xa hơn, Phong Thuỷ còn chứa dựng những kiến thức, hiểu biết về sự chuyển động của các thiên thể mà người Trung Quốc đã nghiên cứu để xác định đường đi của thời gian. Qua nhiều thế kỷ, những lý lẽ diễn dịch này càng phức tạp và được ghi chép lại bằng chữ viết và được lưu truyền đến ngày nay. Ở Trung Quốc, khoa Phong Thuỷ chi phối toàn bộ cuộc sống nhân sinh. Bằng cách thấu hiểu các khái niệm căn bản về Phong Thuỷ, chúng ta có thể chọn ra các mô hình về thiết kế, những hình ảnh và biểu tượng đầy ý nghĩa từ chính nền văn hoá của mỗi dân tộc để hỗ trợ cho đời sống tinh thần của dân tộc đó. Ngày nay về mặt thực hành, Phong Thuỷ cho chúng ta các lời khuyên về cách kiến tạo ra một môi trường sống thoải mái và tích cực. Những yếu tố bất thường trong đời sống hiện đại đang ngày càng gia tăng sức huỷ hoại và vì vậy ngày càng có nhiều người tìm đén các cách sống khác, mong rằng có thể lấy lại thế quân bình cho đời sống cá nhân và những người thân của họ. Các kiến thức Phong Thuỷ chủ yếu mang đến cho chúng ta cơ hội được sống khoẻ mạnh, hạnh phúc và sung túc vì ý nghĩa căn bản của Phong Thuỷ là giữ gìn và duy trì một cuộc sống hài hoà với môi trường xung quanh ta. Hiểu biết về Phong Thuỷ có thể giúp chúng ta tự đặt mình vào những vị trí có lợi nhất trong môi trường sống của mình. Việc chọn nơi làm văn phòng cũng như các thiết kế nội thất sẽ ảnh hưởng đến mỗi chúng ta theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Thuật phong thuỷ không những giúp ta biết được vị trí thuận lợi nhất đối với ta mà còn chỉ cho ta cách bài trí, chọn mầu sắc và kiểu dáng để hỗ trợ cho chúng ta trong cuộc sống. Việc thể hiện những lý thuyết của thuật Phong Thuỷ vào cuộc sống chắc chắn sẽ mang lại những lợi ích cụ thể cho chúng ta, cho dù chúng ta chỉ mới hiểu biết sơ qua về chúng. Khi hiểu biết nhiều hơn về cuộc sống của mình và bắt đầu có ý thức tích cực thay đổi những nhân tố gây khó chịu cho chúng ta thì cũng đồng thời chúng ta đã bắt đầu hiểu rõ chính bản thân và vai trò của mình trong bối cảnh rộng lớn hơn. Chúng ta đã biết hiện có rất nhiều trường phái Phong Thuỷ khác nhau, trong đó phải kể đến các trường phái chủ yếu là Bát Trạch Minh Cảnh, phái Huyền Không, Dương Trạch Tam Yếu và phái Huyền Thuật. Mỗi trường phái có một lý thuyết căn bản và ứng dụng cho bài trí Phong Thuỷ khác nhau. Tuy nhiên, đều căn cứ từ Tiên Thiên Bát Quái và Hậu Thiên bát Quái làm lý thuyết căn bản nhất để suy ra các vận dụng riêng rẽ cho Phong Thuỷ. Trong thực tế áp dụng, thật rất khó nhất là cho những người mới bắt đầu nhập môn Phong Thuỷ khi phải lựa chọn một trường phái Phong Thuỷ cho ngôi nhà mà bạn đang xem xét. Vậy nên hiểu, lý giải và ứng dụng thế nào để đảm bảo tính chính xác, tránh mơ hồ dễ gây nên sai lệch khi ứng dụng thuyết Phong Thuỷ ? Để trả lời câu hỏi đó cần nhắc lại rằng, theo triết học Phương Đông thì tất cả mọi việc trên đời đều lấy nguyên lý Thiên - Địa - Nhân làm chuẩn. Theo nguyên lý này thì con người là sản phẩm điển hình nhất của Thiên - Địa, con người luôn là trung tâm của vũ trụ. Sống trên đời, con người luôn hoà hợp với Thiên, Địa, đó là bản chất của việc cầu lành tránh dữ, đem lại hạnh phúc mà may mắn cho con người. Thiên - Nhân tương hợp thì phúc đến, ngược lại thì mang lại nhiều rủi ro. Nói một cách khác, con người phải hoà hợp với thiên nhiên, trời đất thì mới trường tồn và hạnh phúc.Các trường phái khác nhau có những căn bản suy luận khác nhau để ứng dụng vào Phong Thuỷ. ta đi cụ thể hơn như sau : + Phái Bát Trạch dùng mệnh cung phối với hướng để xác định hoạ phúc. Như vậy, đó là sự xác định Thiên Khí phối hợp với Nhân khí để đem lại sự hoà hợp. Đó là nguyên lý Thiên - Nhân tương hợp. + Phái Huyền Không căn cứ sự luân chuyển của các luồng khí trong vũ trụ mà cụ thể là sự vận hành các Phi Tinh trên địa bàn để xác định hoạ phúc chi phối mọi vật trên trái đất. Đó chính là sự nghiên cứu các quy luật vận động vũ trụ, sự phối hợp giữa Thiên Khí và Địa Khí để xác định hoạ phúc. Đó là nguyên lý Thiên - Địa tương phối. Tuy nhiên phái này xem nhẹ ảnh hưởng của Thiên Địa khí đến yếu tố Nhân tức bản thân con người. Xem ra quyền lực của Thiên - Địa có vai trò tuyệt đối lớn. + Các phái khác chủ yếu nghiên cứu sự vận hành của Địa Khí (như một số phái Huyền thuật chuyên nghiên cứu các huyệt vị và âm phầm) và một số yếu tố Nhân vận dụng vào cải biến Phong Thuỷ (Dương trạch Tam Yếu). Tựu trung lại, Phong Thủy cũng như các môn khoa học huyền bí khác đều có đặc điểm dễ học nhưng rất khó tinh tường, dễ sai lệch, đòi hỏi kinh nghiệm rất tốt mới có thể đem khả năng ra giúp đời, giúp người. Nhiều khi sách vở chỉ là căn bản, cần biết vận dụng phối hợp các lý thuyết, các trường phái chi hiệu quả. Có như vậy mới mong ứng dụng Phong Thuỷ được tốt đẹp cho cuộc sống - Cung Sinh khí (Seng Qi): (Thuộc sao Tham Lang, rất tốt) chủ việc vượng tốt cho con nguời, có lợi cho con trai, lợi cho danh tiếng, tạo ra sức sống dồi dào cho con người, tính dục mạnh mẽ. Nếu sinh khí ở khu vệ sinh, phòng kho ,… thì hay mất vặt, thất nghiệp, đẻ non, nhiều bệnh tật. - Cung Thiên y (Tian Yi): (Thuộc sao Cự Môn, rất tốt) Chủ về sức khỏe tốt, lợi cho phụ nữ, vượng tài lộc, tiêu trừ bệnh, tâm tình ổn định, có giấc ngủ ngon, thường có quý nhân phù trợ, luôn đổi mới. Nếu Thiên y ở khu vệ sinh, phòng kho ,… thì mắc bệnh kinh niên, chứng ung thư. - Cung Diên niên (Yan Nian): (Thuộc sao Vũ Khúc, tốt) Đây là cung hoà thuận, tốt cho sự nghiệp và ngoại giao, với các mối quan hệ khác, vợ chồng hoà thuận, tuổi thọ tăng thêm, bớt kẻ địch, tính hoà dịu, với nữ giới có bạn đời tốt. Nếu Diên niên ở khu vệ sinh, phòng kho ,… thì hay cãi vã thị phi, nhà cửa không yên ổn. - Cung Phục vị (Fu Wei): (Thuộc sao Tả Phù, tốt) Đây là cung bình yên, trấn tĩnh. có lợi để bàn thờ. Vững cho chủ nhà, tình duyên nam nữ gắn bó, khả năng tài chính tốt, quan hệ cha mẹ vợ con tốt nhưng tình dục giảm sút. Nếu Phục vị ở khu vệ sinh, phòng kho …. thì gia chủ nóng nảy, luôn cảm thấy bất yên. - Cung Tuyệt mệnh (Jue Ming): (Thuộc sao Phá Quân, rất xấu) ở vào cung Tuyệt mệnh là khu vệ sinh, phòng kho thì chủ nhà có sức khoẻ tốt, tuổi thọ tăng thêm, duyên phận con cái tốt, có tài vận. Nếu cung Tuyệt mệnh vào vị trí tốt : chủ nhân bị bệnh khó chữa, mổ xẻ, đụng xe, mất trộm, trong người cảm thấy không yên ổn, mọi việc tính toán quá đáng, buồn phiền, đau khổ, u sầu, ít nói, ức chế tâm thần, duyên phận con cái bạc bẽo. - Cung Ngũ quỷ (Wu Gui): (Thuộc sao Liêm Trinh, xấu) Nếu Cung Ngũ quỷ là khu vệ sinh, kho thì có thể biến xấu thành tốt. Nếu cung Ngũ Quỷ là vị trí tốt ( cửa ra vào, phòng ngủ, bếp ) thì các sự việc lôi thôi vô cớ ập đến, người nhà mổ xẻ ung thư, tai tiếng thị phi, mất trộm, phá sản, hoả hoạn. - Cung Lục sát (Liu Sha): (Thuộc sao Lộc Tốn, xấu) Nếu Cung Lục sát là khu vệ sinh, kho thì người trong nhà có suy nghĩ đúng đắn, có số đào hoa và lợi cho đuờng tình duyên. Nếu cung Lục sát là vị trí tốt ( cửa ra vào, phòng ngủ, bếp ) thì tình duyên trắc trở, vợ chồng thường cãi nhau, sự nghiệp không tốt. Riêng với nam giới thi không lo làm ăn, hay rượu chè cờ bạc. - Cung Hoạ hại (Huo Hai): (Thuộc sao Lộc Tốn, xấu) Nếu Cung Hoạ hại là khu vệ sinh, kho thì người trong nhà được yên ổn, hoà thuận, sức khoẻ tốt, không xảy ra quan sự. Nếu cung Hoạ hại là vị trí tốt ( cửa ra vào, phòng ngủ, bếp ) thì người nhà bị chia rẽ, quan tai, mệt mỏi vì những việc vụn vặt, hay thưa kiện với người ngoài, thất tài… Phong Thuỷ là môn khoa học tổng hợp của các môn khoa học thực nghiệm và lý thuyết khác như vật lý địa cầu, thuỷ văn địa chất, vũ trụ tinh thể học, khí tượng học, môi trường học và kiến trúc. Người vận dụng phải có kiến thức tổng hợp, biết xem xét thiên nhiên môi trường, cải tạo nó thành môi trường tối ưu cho con người sinh sống để phát triển tốt đẹp. Đích cuối cùng của Phong Thuỷ phải là Thiên - Nhân - Địa hợp nhất, con người đạt đến cái đích thấu hiểu những quy luật của trời đất và sống hoà hợp với những quy luật ấy. Từ trước đến nay những quy luật của thiên nhiên, của trời đất vũ trụ vẫn vô tư tồn tại, chỉ có con người duy ý chí mới cho rằng mình sống không cần phụ thuộc vào nó nên vô tình đã phạm phải những điều gây tai hoạ cho chính bản thân con người. Ngoài ra còn kết hợp với các phương pháp cải biến vận mệnh khác : Làm việc thiện : Có câu “một việc thiện giải trăm việc ác”. Theo quan điểm của Đạo Phật, tích đức hành thiện sẽ thay đổi nghiệp quả ác từ đời trước, tạo nên những nghiệp thiện và nếu làm nhiều có thể báo ứng ngay hiện tại góp phần cải thiện vận mệnh. Các việc thiện có rất nhiều như giúp người khó khăn, chữa bệnh, làm đường xá cầu cống, ủng hộ thiên tai, hiến máu nhân đạo,…Thực tế cho thấy hạnh phúc lớn lao của con người chỉ đạt được khi mà hạnh phúc ấy được chia sẽ với những thành viên khác trong cộng đồng. Đổi danh tính : Danh tính có vai trò rất quan trọng bởi đó là nhân tố thường xuyên tác động đến bản mệnh. Cái tên gọi mỗi ngày sẽ có tác dụng to lớn đến quá trình cải tạo vận mệnh.Vì vậy khoa tính danh học đã phát triển, sử dụng Âm Dương, Ngũ Hành bổ trợ cho vận mệnh. Để biết mệnh của mình thiếu Hành gì phải dùng môn Bát Tự để xem xét, sau đó đặt lại tên để bổ cứu. Y phục và đồ vật đi kèm : Trên cơ sở xem xét bản mệnh thiếu loại ngũ hành gì có thể sử dụng loại màu sắc quần áo, trang phục, xe cộ,… để có Ngũ Hành phù hợp bổ trợ cho chỗ thiếu của mệnh. Ví dụ, mệnh thiếu hành Hoả có thể dùng quần áo nhiều màu hồng, đỏ, xe cũng nên dùng màu đỏ sẽ bổ cứu cho mệnh tốt hơn. Các dụng cụ đồ vật đi kèm cũng nên dùng Ngũ Hành phù hợp, như mệnh cần hành Kim nên dùng nhiều đồ trang sức kim loại, vàng bạc. Mệnh cần hành Thổ nên dùng nhiều loại đá quý, ngọc. Sử dụng phương hướng phù hợp : Căn cứ Ngũ Hành của bản mệnh, xem xét bản mệnh hợp với phương vị nào thì nên sinh sống lập nghiệp ở phương vị đó sẽ tốt hơn là sinh sống lập nghiệp ở phương vị không phù hợp. Ví dụ, mệnh cần hành Hoả thì nên sinh sống ở phương Nam, ở nhà hướng Nam, văn phòng hướng Nam. Mệnh cần hành Kim thì nên sinh sống ở phương Tây, ở nhà hướng Tây, văn phòng hướng Tây. Sử dụng các con số phù hợp : Ngũ Hành của bản mệnh cần bổ cứu hành gì thì sử dụng các con số phù hợp để bổ trợ. Các con số thường sử dụng như số nhà, số điện thoại, biển số xe,…Đại diện ngũ hành của các con số như sau : Số 1,2 thuộc Mộc, số 3-4 thuộc Hoả, số 5-6 thuộc Thổ, số 7,8 thuộc Kim, số 9,0 thuộc Thủy. Chọn nghề nghiệp phù hợp : Căn cứ ngũ hành cần thiết cho bản mệnh mà chọn nghề nghiệp cho phù hợp,. Như mệnh cần hành Thổ nên làm về những ngành nghề thuộc Thổ như sản xuất nông nghiệp, kiến trúc, xây dựng, bất động sản. Chọn vợ chồng và bạn bè, đối tác làm ăn phù hợp : Nên chọn những người có Ngũ Hành bản mệnh phù hợp và bổ trợ tốt cho ngũ hành của bản thân mình. Đặc biệt là người vợ, chồng chung sống suốt đời có vai trò vô cùng quan trọng, vì thế cần phải chọn lựa cẩn thận trước khi tiến đến hôn nhân. Các phương pháp trên sẽ được khảo luận cụ thể ở các mục tương ứng. Trong việc vận dụng lý thuyết của Phong Thuỷ vào thiết kế và bài trí nhà ở, văn phòng, cơ sở kinh doanh đặc biệt là bài trí nội thất, việc quan trọng nhất là hoá giải những cấm kỵ Phong Thuỷ phạm phải, tăng cường những nhân tố tốt theo đúng Phong Thuỷ để cải biến Trạch Vận nhà ở, đem lại điều may mắn. Người xem phải biết vận dụng lý thuyết sao cho phù hợp với thực tiễn của từng địa phương, từng gia đình,phù hợp với lối sống cũng như điều kiện kinh tế. Trong điều kiện đô thị hiện đại, nhà nhà san sát nhau và được xây dựng bê tông kiên cố, việc sửa chữa là vô cùng tốn kém và khó khăn. Chính vì vậy, xây dựng lại một phần hoặc toàn bộ căn nhà là điều khó có thể thực hiện được. Nhưng thuật Phong Thủy kỳ diệu ở chỗ, chỉ cần biết cách phán đoán hợp lý và vận dụng những pháp khí rất nhỏ cũng có thể cải biến khí của toàn bộ căn nhà, hoá giải được hung khí một cách rất hiệu quả vượt ra ngoài những suy nghĩ thông thường. Một bình nước nhỏ cũng đủ để hoá giải luồng sát khí lớn. Khí là vô hình nhưng lại rất thực tế và gần gũi xung quanh ta. Bản chất của khí chính là các nguồn năng lượng, năng lượng chính là khởi nguồn của vũ trụ và vạn vật. Năng lượng biến đổi từ dạng này sang dạng khác với thiên hình vạn trạng. Khí tụ lại thì thành hình, tán ra thì lại trở về khí. Sử dụng các pháp khí như tượng, thuỷ tinh, kim loại,… có tác dụng ngăn cản, chuyển hướng, hoá giải bản chất, biến đổi trạng thái của khí, cải biến được năng lượng và do đó thay đổi được sự tác động của môi trường địa lý thiên nhiên đến con người. Thực tế, những công trình nghiên cứu khoa học cũng chỉ ra rằng, xung quanh mỗi vật thể, và cả con người cũng có những trường điện từ luôn luôn phát xạ với những tần số và cường độ khác nhau. Sự tương tác lẫn nhau giữa môi trường thiên nhiên với con người cũng chính là sự tương tác của các trường điện từ, điện sinh học trên cơ thể. Một quả cầu thuỷ tinh rất nhỏ đặt ở một vị trí sẽ có tác dụng thay đổi trường điện từ xung quanh nó. Những thí nghiệm hiện đại cũng cho thấy thuỷ tinh, thạch anh có tác dụng thay đổi dòng điện từ trường đi qua nó. Hoặc một tượng kim loại đặt tại một vị trí cũng có tác dụng dẫn điện và phát xạ ra những xung điện từ khi bị những luồng điện từ khác hướng đến, chính vì thế nó có tác dụng cải biến năng lượng, thay đổi vận khí tại vị trí ấy. Sử dụng pháp khí Phong Thuỷ là phương pháp chủ yếu để bài trí, cải biến, hoá giải hung khí và tăng cường cát khí đem lại may mắn cho ngôi nhà. Nhưng quan trọng hơn cả là việc sử dụng pháp khí phải được thực hiện đúng theo lý luận của thuật Phong Thuỷ, không được sử dụng bừa bãi, phải tham khảo ý kiến các thầy chuyên môn. Mặt khác, về mặt Âm Dương, Ngũ Hành của các pháp khí cần quán xét cẩn thận đúng theo học thuyết Âm Dương, Ngũ Hành thì pháp khí mới phát huy tác dụng tối đa. Ví dụ một tượng Quan Công bằng Đồng tức thuộc Kim có tác dụng chế hoá khác với một tượng Quan Công bằng gỗ thuộc Mộc và có cách thức sử dụng khác nhau. Các pháp khí trước khi sử dụng phải được thẩm định chất lượng và vật liệu, phải được tẩy trần, khai quang và hấp thu đầy đủ các khí âm dương, có như thế mới phát huy được tác dụng một cách mạnh mẽ và đầy đủ, nếu không chỉ là vật bình thường và tác dụng không đáng kể. Ngoài ra, sau một thời gian sử dụng, năng lượng nội tại của pháp khí sẽ bị hao tán dần và mất đi tác dụng. Sau một thời gian sử dụng cần thay thế bằng pháp khí mới, ví dụ một chuông gió treo cửa nên tiến hành thay chuông gió mới vào mỗi năm để có tác dụng hiệu quả. (Theo Phong thuỷ Việt Nam) blogphongthuy.com
  12. Phong Thủy bây giờ là nghành "nóng hổi vừa thổi vừa nghe". Thiên Đồng có người bạn cũng xách tiền đi học Phong thủy ở trung tâm nào đó. Hắn học về nói, giải thích nghe cũng rất "pha học". Hắn bảo có chia ra lớp Sơ, Trung và Cao cấp đàng hoàn. Ở đó có dạy nhiều môn và có môn mang cái tên rất @ là " Vận dụng phần mềm của Bát Quái trong Phong Thủy dành cho doanh nghiệp". Nghe xong TD muốn đi học liền. Xem ra bên trong cũng nhiều cái hay. :rolleyes: :P
  13. Gửi Mariner Ngày nhâm tuất 26 tháng nhâm thân năm kỷ sửu giờ tuất Cảnh Đại An - Tử Lưu Niên Cảnh Đại An nghĩa quẻ là thấy lợi, chờ cái lợi lớn tới. Hiện tại đang mưu việc và chờ đợi. Tử Lưu Niên Tiếp theo là nhiều chuyện rắc rối và khó khăn. Vì tượng Lưu niên thuộc khảm thủy chủ sự khốn khó, tuy vậy vô khí mà hóa lợi vì tuần không. Nhưng mặt khác Tử Kim Tốn âm kim chủ sự nguy nan hay lừa dối, nghĩa này bất lời cho việc hợp tác, đối tác dể thay lòng trở lại hại người. Còn chủ sự buôn bán bình thường thì thoái tài, mệt và đa đoan. Lời khuyên cần nên thận trọng với đối tác, phải linh hoạt, phải bắt mạch không khí nội nộ công ty, phải bắt mạch và xét thái độ khách hàng. Sơ sảy là tổn hại tâm lực hay tiền tài. Tuy nhiên tiền Hung hậu kiết. Nhưng cái lợi chỉ vừa vừa. Nên đầu tư theo cuốn chiếu, không đầu tư ồ ạt, không làm to. Thà thu lợi đều đều trung bình khá, chớ thấy lợi to mà cuốn theo chiều gió thì vướn cảnh sa lầy. Tới cuối xuân năm sau thì mới tính chuyện đường dài. Vài lời tham khảo, không dám lạm bàn. Thiên Đồng.
  14. Gửi tuyetdtn, Đừng gọi Đồng bằng bác Nghe già như trái cà Đồng chỉ thích la cà Hay thả diều đánh đáo Ngày nhâm tuất 26 tháng nhâm thân năm kỷ sửu giờ dậu. Chiếm quẻ Đỗ Vô Vong 1.bác xem giúp cháu trong cuối năm nay cháu chuyển việc thì có tốt hay không ? Hay là cháu nên đợi sang đầu năm sau ạ ? thơ đoán Đỗ Vô vong gắng công chờ đợi Việc đổi dời nhẫn nại mới xong Bây giờ cứ để thong dong Xuân sau được việc, cuối đông không chừng. Luận: Đỗ vô vong nói chuyện vô chừng chẳng đặng trước mắt, chờ thời như Khương Tử Nha ngồi buông lưỡi câu ngay mà câu thời câu vận. Quẻ dường như vô khí Vô vong lâm tuần không, chứng tỏ người hỏi quẻ trong hoàn cảnh vô định hay bối rối, trong chờ đèn lồng Phúc đăng hỏa dẫn đường, như vậy là có người hứa ước giúp đỡ. Đỗ hỏa khí hưu tù bệnh tử là tưởng cái hy vọng, dùng kiếm phong kim tạo thời cơ, nhưng chưa phải lúc. Quẻ này tuyệt ở mùa đông vượng ở mùa xuân, vì vậy có thể đoán rằng cuối năn vẫn còn vướn víu, đầu năn sẽ thấy cơ hội, cuối xuân thì được như ý. Tóm lại, hiện tại nên nhẫn nại bình thản, nắm bắt cơ hội. theo đoán là có người ướm lời giúp đỡ. Tháng giêng cơ hội đến tháng 3 âm lịch năm sau thì được việc thành công. 2.không biết anh chàng đó liệu có nảy sinh tình cảm với cháu hay không ? Và tình cảm có tiến tới điều tốt đẹp gì không ạ ? Độn quẻ Cảnh Đại An Thơ đoán: Cảnh Đại An an nhàn được lợi Khỏi đi xa tìm kiếm tốn hơi Chỉ cần ngồi đó mà chơi Cơ may lộc lợi đến nơi khỏi tìm. Luận: Cảnh Đại An nghĩa quẻ là chờ niềm vui lớn, tuy toàn quẻ chảng đắc thời, khí lực yếu kém, nhưng Quẻ Cảnh ngoại hỏa sinh cho nội thổ là người ngoài cầu tìm, người trong giữ ý đắng đo, bởi Đại an lâm tuất không vong, đèn lồng phúc đăng hỏa dọn đường, thật ra ý còn suy xét. Mình, cho dù vô ý, người ta cũng hữu tình, nhưng người ta không biết lấy cớ chi mà tiến tới. Vì Cảnh hỏa là chủ sự có lòng nhưng vô khí bởi lâm hưu tù ở mùa thu. Có thể đoán là người ta cũng có ý, chỉ chờ mình bộc lộ. Tình cảm sẽ nẩy sinh, tình yêu sẽ tốt đẹp. Người ta sẽ chủ động, mình chỉ việc đón tiếp cho đường hoàng. Hai tháng sau sẽ có dấu hiệu rỏ ràng. (tính từ lúc Đồng trả lời) Chúc may mắn. Quẻ đoán chỉ cho vui, đúng sai tùy số phận. Thiên Đồng
  15. Chuyện lạ ở TP.HCM: Bệnh viện sa thải hàng loạt nhân viên có bầu! 13/09/2009 23:07 Minh họa: Sự việc xảy ra ở Bệnh viện khách sạn Đa khoa quốc tế Vũ Anh (TP.HCM), khiến nhiều chị em bức xúc. Sa thải hàng loạt Chị Lê Thị Mỹ Hạnh (sinh năm 1971, ngụ Q.Tân Phú, TP.HCM) - Trưởng phòng Chăm sóc khách hàng của Bệnh viện khách sạn Đa khoa quốc tế Vũ Anh (gọi tắt là BV Vũ Anh) gửi đơn đến Báo Thanh Niên cùng nhiều cơ quan khác phản ánh việc BV Vũ Anh cho chị thôi việc không thông báo trước. Chị Hạnh trình bày (có kèm hợp đồng lao động, quyết định thôi việc) như sau: “Tôi được BV Vũ Anh, đường Phan Văn Trị, P.7, Q.Gò Vấp ký hợp đồng lao động lần hai, có hiệu lực từ ngày 1.3.2009 đến ngày 1.3.2010. Thế nhưng, bất ngờ, vào ngày 29.6.2009, Phòng Nhân sự gọi tôi lên bảo rằng, thực hiện chỉ đạo từ Tổng giám đốc BV là bác sĩ Trương Thị Tuyết Nga, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Tôi bắt đầu nghỉ việc từ ngày 1.7.2009, mà không một lời báo trước. Trong khi tôi đang mang thai con thứ hai ở tháng thứ 3”. Chị T.N (24 tuổi) - nhân viên Phòng Kế toán của BV nói: “Ngày 28.3 tôi được Phòng Nhân sự của BV gọi lên thông báo cho nghỉ việc. Lúc này tôi đang mang thai tháng thứ 5, việc BV đột ngột cho thôi việc mà không báo trước, không nói rõ lý do khiến tôi bị sốc, lo lắng vì cận kề ngày sinh nở. Hôm đó, ngoài tôi còn có chị Q.U cùng phòng cũng rơi vào hoàn cảnh này”. Chị Q.U thì nói: “Tôi làm công việc thu ngân từ lúc BV mới đi vào hoạt động năm 2007. Cuối tháng 3, Phòng Nhân sự gọi lên nói BV cho tôi nghỉ việc, lúc này tôi đang mang thai tháng thứ 8. Tôi thật sự bất ngờ!”. Ngoài ra, còn có một số nữ nhân viên đang mang thai khác cũng bị cho thôi việc gồm: chị Kiều (ở khoa Hồi sức), chị Dung, chị Ngân (cùng khoa Dược), chị Vân (phòng Nội soi). “Có điều gì đó không bình thường” Theo quyết định chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn của BV Vũ Anh đối với chị Lê Thị Mỹ Hạnh, thì lý do là: không thể hiện tốt vai trò của người phụ trách phòng (mất đoàn kết nội bộ); vi phạm giờ giấc làm việc. Chị Hạnh cho rằng: “Lý do không chính đáng - cụ thể: nếu không thể hiện tốt vai trò thì tại sao tôi luôn được BV bình bầu loại A hoàn thành tốt nhiệm vụ?”. Theo chị Mỹ Hạnh và một số nữ nhân viên, thì “có điều gì đó không bình thường”, bởi những nhân viên bị cho thôi việc đều là những người đang... có bầu. Chị Mỹ Hạnh nói: “Dù BV không nói lý do, nhưng nhiều nhân viên bàn tán cớ sự là do mê tín. Trước đó BV có rước một người đàn ông về xem phong thủy, nghe đâu ông này phán với nội dung đại khái: nhân viên làm ở bộ phận thu ngân, làm ở những vị trí tiếp xúc khách hàng, hay “mặt tiền” của BV... mà mang bầu là không tốt... (?)”. Chị T.N cho biết: “Sau khi “thầy” phán, một số đồ vật ở phòng tôi làm việc được sắp xếp lại; kế đến là nhiều nhân viên đang mang thai được gọi lên thông báo cho nghỉ việc”. Chúng tôi có đến làm việc với đại diện BV Vũ Anh gồm ông Nguyễn Quốc Khánh (Phó giám đốc điều hành) và ông Trương Quốc Thái (Trưởng phòng Nhân sự). Ông Thái xác nhận, danh sách nữ nhân viên nghỉ việc theo đơn chị Mỹ Hạnh phản ánh đúng là người của BV. Ông Thái cũng cho biết, thời điểm cho những người này nghỉ việc, tất cả họ đều đang mang thai. Tuy nhiên ông Thái và ông Khánh đều lập luận rằng “BV không tái ký hợp đồng vì những người này không đáp ứng được nhu cầu công việc” (?!). Riêng chị Mỹ Hạnh thì đang còn thời hạn hợp đồng, nhưng vì “chị Hạnh đã vi phạm một số việc”. Còn việc nhân viên cho rằng BV mê tín, thì đại diện BV nói: “Chúng tôi bố trí phong thủy là để tạo không gian đẹp, thoáng mát...”. Điều đáng nói là, dù cho chị em nghỉ việc trong lúc họ đang mang thai, nhưng phía BV không hề hỗ trợ chế độ thôi việc. Chỉ khi chúng tôi đến làm việc, thì BV mới gửi giấy thông báo mời một số chị em lên lấy tiền phụ cấp. Thế nhưng, cho đến nay tất cả các chị em chưa ai nhận được tiền như BV đã hứa (hỗ trợ 1/2 tháng lương cơ bản, khoảng ngoài 500 ngàn đồng/người). Chị Mỹ Hạnh cho biết, chị đang chuẩn bị hồ sơ để khởi kiện BV. Thanh Tùng Nếu hợp đồng lao động vẫn còn trong thời hạn thì mọi trường hợp người sử dụng lao động sa thải hay đơn phương chấm dứt hợp đồng với lao động nữ đang trong thời kỳ thai sản đều bị coi là trái luật và phải chịu những hậu quả phát sinh từ quyết định trái luật này. Trong trường hợp hợp đồng lao động là loại hợp đồng xác định thời hạn nhưng sau 30 ngày kể từ khi hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì hợp đồng giữa hai bên đương nhiên trở thành hợp đồng không xác định thời hạn. Và nếu người lao động là nữ trong thời kỳ thai sản thì người sử dụng lao động cũng không thể đơn phương chấm dứt hợp đồng. Luật sư Nguyễn Minh Thuận CMND nữ nhưng... dán hình nam 13/09/2009 23:12 Hơn một năm nay, Trịnh Bùi Anh Khoa (nữ, 17 tuổi, ngụ ấp Mỹ Thiện, xã Mỹ Đức, Châu Phú, An Giang) phải “xài tạm” giấy chứng minh nhân dân (CMND) ghi tên họ mình nhưng ảnh là của nam thanh niên khác. Anh Khoa và giấy CMND mang hình nam Năm 2008, khi vừa tới tuổi làm giấy CMND, gặp ngay dịp công an tỉnh cử cán bộ xuống xã làm giấy CMND để người dân khỏi phải đi lại tốn kém, Khoa hăm hở đi làm. Tới hẹn nhận CMND, do bận công việc nên Khoa nhờ mẹ là bà Bùi Thị Hòa đi nhận giùm. Bà Hòa thấy giấy CMND mang tên con mình nhưng lại mang ảnh của một nam thanh niên lạ hoắc nên không chịu nhận. Lúc đó công an xã khuyên bà cứ nhận xài tạm, sau đó làm lại giấy mới, không có chuyện gì đáng lo. “Khi mẹ tôi đưa CMND cho hàng xóm xem ai cũng cười, trêu ghẹo, nói tôi với anh trong ảnh có duyên số nên công an mới dán lộn hình. Còn tôi và mẹ thì cứ phập phồng bởi rủi ảnh tôi mà dán nhầm vào CMND của người xấu, bị họ lợi dụng làm chuyện không đàng hoàng thì khổ”, Khoa nói. Giấy CMND của Khoa do Công an tỉnh An Giang cấp ngày 22.2.2008, năm sinh, quê quán đều đúng, duy chỉ có tấm hình là tréo ngoe. Theo lời Khoa, do giấy CMND bị dán lộn hình nên gặp nhiều khó khăn khi đi làm giấy tờ hay chứng nhận, bởi không phải vị cán bộ nào cũng biết chuyện nhầm lẫn này. Mẹ Khoa thì bức xúc: “Lúc đầu tôi tưởng cán bộ làm sai phải làm lại giấy mới cho mình. Nhưng khi tới công xã hỏi, tôi được hướng dẫn phải làm đơn giải thích tại sao phải đổi lại giấy CMND mới cho công an xã chứng, sau đó con tôi phải đem theo hộ khẩu lên tỉnh làm lại. Thiệt là rắc rối!”. Chúng tôi hỏi tại sao đã quá lâu mà chưa chịu đổi CMND mới, bà Hòa than gia đình nghèo, một ngày xài quá 15.000 đồng cũng là số tiền lớn nên cho con lên tỉnh tốn tiền xe đò, tiền ăn uống nên bà còn nấn ná. Tới chừng nghe bà con hàng xóm nói nếu không đổi giấy CMND sớm, sau này chị Khoa sẽ gặp rắc rối khi đăng ký kết hôn, khó xin được việc làm, tạm trú... bà Hòa mới phát hoảng hối con đi hỏi thủ tục. Tại ấp này còn có một trường hợp giấy CMND bị lộn họ. Năm 2005, ông Trà Văn Mẫn đổi giấy CMND mới, phát hiện bị ghi lộn từ họ “Trà” thành họ “Trầ”. Do quá bận bịu chuyện nhà nên đến nay ông Mẫn vẫn chưa đi đổi lại. Ông Mẫn nói điều ông “bực nhất” là cán bộ làm sai nhưng bắt dân phải đi lại tốn công sức, thời gian và tiền bạc. Bài, ảnh: Cửu Long nguồn: thanhnien.com.vn
  16. Sơn - hướng và trạch http://nhadat.thanhnien.com.vn/TinTuc/ChiT...huong-va-trach/ Xét riêng môn Bát Trạch, ta thấy các khái niệm chính được đưa ra không kèm theo một định nghĩa nhất quán và do đó đã đưa đến những quan niệm trái ngược về Tả, Hữu, Sơn, Hướng, Trạch mệnh… Sau khi căn cứ vào biến quái và quan hệ sinh khắc để định Bát Trạch du niên, người ta căn cứ vào vị trí các cung cát hung để quy ra Đông Tứ Trạch và Tây Tứ Trạch phối hợp với Đông tứ mệnh và Tây tứ mệnh từ 8 Quái mệnh. Cách định danh Trạch không được quy định chặt chẽ nên sách này theo Hướng, sách kia theo Sơn. Người học theo sách phối hợp Trạch và Mệnh quái không biết thế nào là đúng. Với quan điểm Âm trạch có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ cháu con trong khi Dương trạch chẳng qua chỉ thích nghi với một chủ gia đình, Khoa Phong Thủy Dương trạch hẳn chỉ là phần ngọn của trái núi băng mà thôi. Vì người ta cho rằng khoa Âm Trạch dựa trên những đặc tính đảo chiều của Dương Trạch, nên khó tin rằng Phong Thủy Âm Trạch có mức độ lý luận hoàn hảo hơn Phong Thủy của Dương Trạch. Có lẽ Phong Thủy – như nhiều người đã khẳng định – là một thuật quý tộc, ban đầu chỉ dành cho vua chúa và giới thượng lưu sử dụng. Những tầng lớp này dùng PT để chọn đất làm kinh đô, xây thành lũy, đền đài, cung điện và dinh thự. Những công trình này bao giờ cũng có hình dáng có thể quy về hình vuông, có tỷ lệ diện tích xây dựng trên chiều dài tường bao thuận lợi hơn cả. Những công trình này đặc biệt thích hợp cho việc áp dụng các quan hệ Bát quái đơn thuần hoặc các quy tắc của thuật Bát Trạch. Những tác giả sau này của giới Phong Thủy Trung Quốc cũng nhận thấy những nhược điểm trong hệ thống lý thuyết của Phong Thủy, nhất là của Bát Trạch nên họ cố gắng đưa ra những định nghĩa cho các khái niệm chủ yếu của Phong Thủy nói chung và Bát Trạch nói riêng như Eva Wong, Joey Yap… Sau tham khảo những tư liệu của họ. Tôi có suy luận sau, có thể anh em cùng tham khảo, chỉnh lý. Xuất sứ của Sơn và Hướng Có tác giả đưa ra nhận định rằng, người xưa khi chọn chỗ xây nhà thường dựa trên quan điểm ghế bành, tức là phải có Sơn để tựa lưng và hai bên Tả Hữu che chắn cho an toàn. Chính vì ưu tiên làm nhà tựa lưng vào gò, núi nên mới có từ Sơn chỉ lưng nhà, chứng tỏ những người lập ra môn Phong Thủy vốn sinh sống ở vùng nhiều núi, như Nam Trung Quốc ngày nay. Quan điểm tìm chỗ dựa lưng này cũng thể hiện trong thuật tác chiến, tự vệ. Như Hồ Dzếnh đã nói đến trong tác phẩm của ông, cho đến giữa thế kỷ trước TQ có hai loại người chính, một loại làm lụng kiếm ăn còn loại kia chuyên đi ăn cướp. Nếu lập một gia trang có ba mặt được thiên nhiên bảo vệ trừ mặt trước, chắc chắn việc phòng vệ sẽ dễ dàng hơn cho người trong nhà. Như vậy, chắc chắn sẽ có những học giả hoặc những người ứng dụng Phong Thủy xuất phát từ thực tế đi chọn đất làm nhà mà xem Sơn quan trọng hơn Hướng. Nếu những dân tộc du mục trên thảo nguyên lập ra môn Phong Thủy, chắc sẽ không có danh từ Sơn. Ta có thể tin rằng họ sẽ xem Hướng quan trọng hơn vì phải bố trí cửa lều thích hợp tránh ảnh hưởng gió mạnh. Nếu Phong Thủy là một học thuật ứng dụng được trên toàn cầu, nó sẽ phải trút bỏ những giới hạn gây ra bởi ngôn ngữ như từ Sơn… hoặc những ảnh hưởng mang tính thực dụng phụ thuộc vào địa phương, khu vực văn hóa… Thực ra, để tránh những xung đột của hai cách định danh Hai dạng cư xá theo Hướng hoặc theo Sơn ta chỉ cần hiểu các khái niệm Đông Tứ Gia, Tây Tứ Gia căn cứ vào hai nhóm chính phân bố các cung Cát, Hung của Nhà ở và của Mệnh để phối hợp sao cho hợp lý là đủ. Điều quan trọng ở đây là phải xác định được Hướng hậu (Sơn) hay Hướng tiền (Hướng), yếu tố nào có tác dụng mạnh hơn đối với con người cư ngụ trong căn nhà hay căn hộ đó. Xác định Hướng Theo nhiều tác giả và hợp với suy luận, Hướng hậu và Hướng tiền gọi chung là Hướng nhà phải nằm trên một đường thẳng đi qua tâm nhà. Xác định được Hướng tiền sẽ biết Hướng hậu. Xuất phát từ một căn nhà tiêu chuẩn hình vuông, Hướng nhà sẽ đi qua điểm giữa cạnh trước và cạnh sau của nhà. Ở đây lại nẩy ra một khái niệm mới: Trước (và Sau), thế nào là Trước. Nếu ta quan niệm một người ngồi mặt, ngực, bụng bao giờ cũng hướng về phía trước thì một cái nhà chắc cũng không thể khác. Nếu Hướng chính là phía mắt ta nhìn tới thì một căn nhà có chiều dài áp sát một minh đường rộng rãi như bãi đá bóng chẳng hạn, ta cũng không thể theo “Thẩm thị Huyền Không học“ mà quyết định rằng đó chính là mặt trước của nhà nếu như bờ tường nhà phía này không có cửa sổ hoặc ít hơn hẳn so với các bờ tường phía khác. Đó là vì căn nhà ấy đang hướng về phía khác thông qua những cặp mắt cửa sổ của nó. Một cửa ra vào có thể thường xuyên đóng kín, nhưng các cửa sổ đưa ánh sáng, không khí vào nhà không mấy khi bị bịt kín. Phong Thủy quan tâm đến Khí, phía tường có nhiều cửa sổ có lẽ là phía tiếp nhận Khí chính của căn nhà. Người ta nói nhiều về thuộc tính của Khí. Kinh nghiệm cũng ít nhiều chứng minh là khi một vật nhọn (tập trung ác khí) chĩa thẳng vào cửa sổ nguy hiểm với người trong nhà hơn là khi nó chĩa vào một bờ tường kín. Ngược lại, một cái cửa ra vào trổ rất đúng cát hướng nhưng nhìn vào bờ tường hàng xóm ở cự ly 1,5 thước thì cái Cát ấy cũng bằng không. Các ngôi nhà, căn hộ trong thực tế có nhiều hình nhiều dạng, có lẽ trực quan người làm Phong Thủy có kinh nghiệm sẽ nhận ra được đâu là Hướng nhà thực sự. Cũng theo quan điểm đã trình bầy trên, Hướng tiền sẽ có ảnh hưởng chính yếu. Trạch là gì Theo Tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh từ Trạch có nhiều nghĩa trong đó có một cách viết chữ Trạch mang nghĩa là nhà ở, mồ mả. Từ đó có các từ ghép như trạch-khoán là khế ước bán nhà, trạch-ưu là nỗi buồn trong nhà. Danh từ đặc trưng cho nhà ở chắc phải ra đời ít nhất là khi người ta thôi ở hang và biết cất lều để cư trú. Do đó, nếu người Tàu không có từ nào thông dụng hơn từ Trạch để chỉ nhà ở bình thường /(TP không sành Hán tự )/ thì chắc khó thể chứng minh từ Trạch xuất xứ từ tiếng Việt cổ. Bát Trạch phong thủy. Phong Thủy Lạc Việt đưa ra khái niệm Trạch – như anh Thiên Sứ đã giải thích – khái niệm này không thể lẫn lộn với khái niệm Trạch trong từ Bát Trạch nói trên, vì khái niệm Bát Trạch này được xác định dựa vào Hướng hậu (Sơn) hoặc Hướng tiền (Hướng) của một ngôi nhà. Vì khái niệm Trạch trong Phong Thủy Lạc Việt có tương quan với long mạch, tức là mang yếu tố đường truyền dẫn Khí.Nên ta có thể có nhận xét là: Trạch của một căn nhà là phần nối tiếp của một chi (nhánh) dẫn Khí xuất phát từ một nguồn Khí nhất định. Do Khí tồn tại trong Hình, có những hình thể hiện Khí tụ, ngược lại những con đường là mạch khí vận hành định hướng. Ngõ vào nhà xuất phát từ một con đường xa lộ chắc chắn không thu được Khí tốt như khi xuất phát từ một khu vực tụ Khí. Với suy luận như vậy, Trạch sẽ là một thứ Khí mạch từ xa tới đi qua cửa chính của ngôi nhà và ra khỏi cửa thoái khí trở về với tự nhiên - như anh Thiên Sứ cho rằng: Thiết kế nhà nên tránh hiện tượng bế khí. Nếu vậy Trạch sẽ là con đường thuận tiện nhất để Khí sau khi qua cửa vào trong nhà tìm cửa Thoái khí mà ra ngoài. Nếu nhận xét này là hợp lý ta sẽ thấy nên bố trí nội thất sao cho Khí qua cửa chính đi vào trong nhà có thể qua hết các khu vực sinh hoạt chính để trục hết tà khí đi rồi mới ra ngoài trời. Nhận xét này ít nhất cũng hợp lý ở kinh nghiệm phong thủy, tránh không để cửa ra vào cùng các cửa trong và cửa sổ tường hậu hay cửa hậu thông nhau trên một đường thẳng là đường Khí đi ngắn nhất (Những tai hại xẩy ra không phải chỉ thuần túy vì gió lồng). Trong một cuốn sách Phong Thủy, tác giả tuy không nên khái niệm Trạch, nhưng nhấn mạnh việc phải bố trí Khí khẩu sao cho Khí vào nhà không lưu thông với tốc độ quá cao không chỉ gây gió lồng ảnh hưởng đến sức khoẻ mà còn gây các thiệt hại tài lộc khác. Tác giả đề nghị nên bố trí để dòng khí lưu thông được dễ dàng lần lượt qua các khu vực chính trong nhà. Một cuốn sách khác nhấn mạnh rằng , đối với một tòa nhà thì xét Hướng tiền là quan trọng, nhưng trong nhà phải xét Khí khẩu theo Bát quái du niên, vì phải chú ý đến đường khí lưu chuyển. Nhiều nhà tuy có cửa chính, nhưng phần lớn thời gian trong ngày chỉ dùng cửa phụ. Như vậy Trạch của họ chỉ mang tính lý thuyết. Khi xét cụ thể có lẽ phải xét Trạch của cửa phụ. Cũng qua cách suy luận trên đây ta phải đi đến kết luận là dù Trạch được bố trí tốt đẹp đến đâu, nhưng nếu nó không có nguồn Khí dồi dào nuôi cho thì cũng chỉ là Trạch giả. Thí dụ một căn nhà nhà cao cửa lớn nhưng lối vào phải lách qua mấy cái ngõ nhỏ xuyên qua sân nhà khác. Như vậy ý nghĩa của Trạch theo quan điểm Phong Thủy Lạc Việt không thể tách rời Hình Lý Khí của mội trường kiến trúc. DiaOcOnline.vn - Theo Phong Thủy Đông Phương
  17. Hong phải, ở đây bán thuốc lá nhưng lại để slogan " Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe" nên Sư phọ méo mặt bùn.
  18. Trong sách "Tân Mệnh Lý Thám Nguyên", tác giả Viên Thụ, dịch giả Nguyễn Đoàn tuân, NXB Tổng Hợp TPHCM,có một đoạn đáng chú ý sau: Mậu lấy dương thổ trợ Giáp thành công nên nên được Sửu Mùi. Còn nếu lục Tân được Dần Ngọ là tự nhiên đến được cho Quý chẳng ai định được hơn thế. Xét thiên sách của Thừa Ngô Phụ tiên sinh,do dân Việt mách bảo ( viết ra trước: ký thị) cùng sách Hiệp Kỷ thì hai sách đó có mối tương đồng, xét ra lời nói minh bạch. Trích trong mục "Thiên Ất Quý Nhân" trang 90. Đây là một đoạn khá hiếm hoi trong toàn bộ sách, chỉ nhắc thoáng qua đúng 5 chữ, "do dân Việt mách bảo", chứng tỏ khi người viết quyển sách này cũng có tinh thần khá khách quan. Và việc ghi chú này chứng tỏ những bí quyết trong Lý học đã tồn tại hiển nhiên trong cộng đồng Việt mà người viết sách không thể chối cải hay bỏ qua.
  19. Có Thể Hiểu Được Vũ Trụ? Nhiều thời điểm người ta đã tưởng chừng như có thể hiểu được mọi vật. Trong sinh học, sau nhiều kết quả giải mã bộ gen thì sự sống và ý thức dường như cũng nằm trong tầm tay của khoa học. Song có phải như thế chăng? Gregory Chaitin (ảnh) cho thấy trong toán học cũng như vật lý, sinh học có nhiều lỗ đen thuộc phạm vi bất khả tri. Einstein luôn ngạc nhiên cho rằng điều khó hiểu nhất là vũ trụ có thể hiểu được (Das ewig Unbegreifliche an der Welt ist ihre Begeiflich keit). Câu nói của Einstein chứa đựng một nghịch lý: nếu chúng ta không hiểu được vì sao vũ trụ có thể hiểu được thì điều này có nghĩa là vũ trụ không thể hiểu được như chúng ta hình tưởng. Cho rằng vũ trụ có thể hiểu được gần như là tuyên ngôn tận thế của triết học. Ngay trong toán học, ngôi đền thiêng của trí tuệ cũng phát sinh nhiều lỗ đen. Có những lý do nào để tin rằng có thể hiểu được thế giới? Theo Platon thì vũ trụ có thể hiểu được vì vũ trụ có một cấu trúc và Đấng sáng tạo phải là một nhà toán học để xây dựng cấu trúc đó. Và tư tưởng này đã thống trị trong nhiều thế kỷ, người ta tìm thấy nó ở Spinoza và Leibniz (thế kỷ XVII). Tư tưởng này biểu hiện trong việc ứng dụng thành công nguyên lý đối xứng vào các lý thuyết toán học và vật lý. Người ta không thể không ngạc nhiên khi thấy các hạt cơ bản có đối xứng nội tại do nhà vật lý người Mỹ Murray Gell-Mann tìm ra. Dựa trên đối xứng này người ta đã có thể tiên đoán sự tồn tại của những hạt mới, như vậy có những phần của vũ trụ có thể hiểu được? Các nhà vật lý hiện đại còn có thêm một lý lẽ nữa để giải thích nghịch lý chứa trong câu nói của Einstein. Đó là nguyên lý vị nhân (Anthropic Principle – do từ anthropos có nghĩa là con người). Theo nguyên lý này vũ trụ có thể hiểu được là một điều có thể giải thích được, vũ trụ phải như thế này thì mới có sự sống, có con người để đặt ra những câu hỏi về vũ trụ ). Song những điều nói trên liệu có đúng dưới những quan điểm hiện đại chăng? Gregory Chaitin và lý thuyết tin học hiện đại Trải qua cả nghìn năm, nhiều nhà toán học hy vọng rằng toán học một ngày nào đó sẽ tạo ra được TOE (Theory of Everything - Lý thuyết về mọi thứ): tồn tại một tập hữu hạn các định đề (Axiom) và quy tắc từ đó có thể suy ra mọi chân lý toán học. Song vào năm 1930 hy vọng trên đã bị dập tắt vì Định lý về phi hoàn chỉnh (Theorem of Incompleteness) của Kurt Gödel: Trong mọi lý thuyết toán học luôn tồn tại những khẳng định không chứng minh được là đúng hay sai. Gödel phủ nhận quan điểm của David Hilbert, nhà toán học gần một thế kỷ trước đã đưa ra tuyên ngôn có một TOE cho toán học, một tập nguyên lý từ đó có thể suy ra mọi chân lý toán học. Gödel đã chứng minh rằng các toán học chứa những khẳng định mà chúng ta không thể chứng minh được theo cách của Hilbert. Định lý của Gödel đã gây ấn tượng mạnh đến Gregory Chaitin. Gregory Chaitin đã gắn liền vấn đề hiểu vũ trụ với lý thuyết tin học và chứng minh rằng sự ngẫu nhiên vốn ngự trị trong cơ học lượng tử cũng tồn tại trong lòng của toán học. Ông đã lấy những ý tưởng tính phức hợp (Complexity) và ngẫu nhiên (Randomness) do Gottfried N. Leibniz đề ra năm 1686 và tích hợp với lý thuyết thông tin hiện đại để chứng minh rằng không tồn tại một TOE cho mọi toán học. Thế nào gọi là sự phức hợp? W. Leibniz trong chương VI của sách "Bàn về siêu hình học" (Discourse on Metaphysics) đã cho rằng một lý thuyết phải đơn giản hơn tổng dữ liệu mà nó giải thích, nếu không nó không giải thích được điều gì cả. Điều này dẫn đến các khái niệm phức hợp và đơn giản. Hiện nay tính phức hợp (Complexity) và tính đơn giản (Simplicity) đã được lượng hóa. Năm 1965, Gregory Chaitin đưa ra lý thuyết thông tin thuật toán (Algorithmic Information Theory) để giải bài toán đo độ phức hợp. Sau đây là ý tưởng chính của lý thuyết đó: mọi định luật khoa học giải thích hoặc mô tả những đối tượng toán học hoặc một tập dữ liệu đều có thể biểu diễn bằng một chương trình máy tính. Kích thước của một chương trình máy tính là số bit chứa trong chương trình đó. Như chúng ta biết máy tính lưu trữ thông tin dưới dạng dãy các số 0 và 1. Mỗi số 0 và 1 đó gọi là bit. Một chương trình máy tính càng phức tạp thì kích thước càng lớn và số bit càng nhiều. Nếu một hiện tượng chịu sự điều khiển của một định luật thì định luật này có thể mã hóa thành một chương trình máy tính. Định luật càng đơn giản thì chúng ta hiểu hiện tượng càng sâu sắc và càng dễ sử dụng. Tính đơn giản hay không đơn giản được phản ánh trong kích thước của chương trình. Mặc dầu sống trước thời đại thông tin 250 năm, Leibniz đã đến gần ý tưởng hiện đại về thông tin thuật toán (Algorithmic Information). Chúng ta đoán nhận theo quan điểm hiện đại hai ý tưởng của Leibniz đề ra vào năm 1686: 1/ Thứ nhất, chúng ta đo độ phức hợp bằng các bit thông tin nghĩa là bằng các số 0 và 1. 2/ Thứ hai, thay vì các phương trình toán học chúng ta dùng những chương trình máy tính trong hệ nhị phân (Binary). Theo ý tưởng của Leibniz thì nếu có một lý thuyết thực sự thì phải có một sự nén (Compression) nghĩa là chương trình máy tính tương ứng phải có kích thước nhỏ hơn dữ liệu Output, cả hai đều đo bằng các bit 0 và 1. Trong trường hợp không tồn tại một lý thuyết thực sự nào thì thì dãy bit đó được gọi là ngẫu nhiên về thuật toán (Algorithmically Random) hoặc là bất khả quy, là không tối giản được (Irreductible). Cần chú ý ở đây rằng các ý tường trên cũng được đưa ra đồng thời bởi A.N. Kolmogorov. Bài toán dừng của Turing Khi sử dụng máy tính chúng ta đứng trước một bài toán cơ bản: cho một chương trình nào đó, liệu có một thuật toán (Algorithm) để thấy được chương trình sẽ dừng hay không, hay nó chạy đến muôn đời? Ví dụ xét bài toán “Lấy một số nằm giữa 1 và 10, thêm 2 vào số đó và tính kết quả", chương trình này sẽ dừng sau 10 bước, song nếu lấy bài toán “lấy một số không âm nhân nó với 2 đến lúc có được một số lớn hơn 1”, chương trình này sẽ dừng nếu số x>0, nếu x=0 chương trình sẽ chạy mãi. Đối với những bài toán phức tạp hơn liệu chúng ta có đủ thời gian để chờ xem chương trình có dừng hay không? Đợi 1 tuần, 1tháng, 1 năm, 1 tỷ năm? Tồn tại chăng một chương trình kiểm nghiệm (test) có thời gian hữu hạn để chứng tỏ rằng bất kỳ một chương trình máy tính nào cho trước sẽ dừng. Alan Turing đã chứng minh rằng không tồn tại một chương trình kiểm nghiệm (test) có thời gian hữu hạn để chứng tỏ rằng bất kỳ một chương trình máy tính nào cho trước sẽ dừng lại (Bài toán dừng - Halting Problem). Số omega Hãy xét ví dụ sau đây: giả sử rằng trên toàn thế giới chỉ có 2 chương trình dừng và dãy bit của hai chương trình đó là 11001 & 101. Chọn ngẫu nhiên một chương trình có nghĩa là chon ngẫu nhiên các dãy bit trên. Ta có thể thực hiện việc chọn bằng cách tung một đồng xu và lấy 1 nếu có mặt phải và lấy 0 nếu có mặt trái, như thế xác suất để thu được một bit nào đó là bằng 1/2. Vậy xác suất để thu được các chương trình 1101 & 101 là: 1/2 x1/2 x1/2 x1/2 x1/2 = 1/25 và 1/2x1/2 x1/2 = 1/23 Cho nên xác suất để chọn ngẫu nhiên một chương trình là: 1/23+ 1/25 = 0.15625 Trong thực tế sẽ có nhiều chương trình dừng và số omega sẽ là tổng của những số hạng có dạng 1 / 2 N . Số W là một số được định nghĩa chặt chẽ về mặt toán học (W = 2 –p , cộng theo p là số bit của chương trình dừng). Vậy số Omega chính là xác suất để máy tính sẽ dừng sau một thời gian khi dãy các bit được chọn một cách ngẫu nhiên. Vì sao số omega lại bất khả quy? Đây là tính chất đáng ngạc nhiên của số Omega, số này là bất khả quy hay nói cách khác là ngẫu nhiên về mặt thuật toán và số này là vô cùng phức hợp (Infinitely Complex). Vì sao như vậy: giống như mọi con số ta có thể viết omega dưới dạng dãy các số 0 và 1 (trong hệ Binary). Số omega sẽ là một dãy vô cùng trong hệ binary giống như căn số bậc hai của số 2 trong hệ thập phân: = 1.4142135623730950488.... Song chúng ta có một thuật toán để thu được số đó theo phép lặp của Newton (Newton’s Iteration). Nếu có đủ thời gian thì chương trình tính sẽ thu được bất kỳ con số nào trong dãy thập phân trên và chương trình dừng lại. Có điều gì tương tự như vậy đối với số omega chăng? Có một chương trình hữu hạn nào có thể tính được các bit trong dãy binary của số omega? Nếu thế khi biết được N bit đầu trong dãy nhị phân của Omega chúng ta đã có thể giải bài toán dừng đối với mọi chương trình có kích thước đến N bit. Như thế vì chúng ta có một chương trình hữu hạn cho mọi bit của Omega, chúng ta cũng có một chương trình để giải bài toán dừng cho mọi chương trình bất kể kích thước của chúng. Nhưng điều này như chúng ta biết là không thể được, như vậy một chương trình như thế là không tồn tại. Theo định nghĩa ở trên, Omega là bất khả quy hay nói cách khác là một số ngẫu nhiên về thuật toán (algorithmically random). Omega không thể nén (compressed) trong một lý thuyết hữu hạn. Mặc dầu Omega có một định nghĩa toán học chính xác, song dãy bit vô cùng của nó không thể tính được bởi một chương trình hữu hạn, đó là một dãy bit vô cùng và ngẫu nhiên. Vì sao toán học không có TOE? Một lý thuyết toán học gồm một tập định đề và quy tắc. Có thể nói thêm định đề chính là những nguyên lý bất khả quy. TOE sẽ là một tập như thế từ đó ta có thể suy ra mọi chân lý toán học. TOE bắt buộc phải có một độ phức hợp hữu hạn vì nếu không thì TOE đã không còn là một lý thuyết nữa! Và TOE phải cho phép tính được số Omega. Song điều này không thể xảy ra vì như chúng ta biết Omega là một số có độ phức hợp vô cùng (Infinite Complexity). Những tin buồn cho TOE của vật lý Gregory Chaitin phát hiện thấy trong lòng toán học có nhiều lỗ trống. Đây là một tín hiệu xấu cho vật lý học. Vật lý học có tham vọng mô tả Vũ trụ hoàn chỉnh và chính xác. Toán học lại là ngôn ngữ của Vật lý, như thế những phát hiện của Chaitin buộc rằng một “Lý thuyết của tất cả” (TOE) là không thể có được. Điều này quả là một viên thuốc đắng khó “nuốt”, song chính Steven Weinberg, giải Nobel Vật lý, tác giả cuốn sách "Những giấc mơ về một lý thuyết tối hậu" cũng chấp nhận viên thuốc đắng này, ông nói: “Chúng ta không bao giờ tin chắc rằng lý thuyết tối hậu của Vật lý là toàn bích về mặt toán học” (We will never be sure that our final theory is mathematically consistent). Như vậy những lý thuyết đầy triển vọng như lý thuyết siêu dây cũng thuộc phạm trù này. Kỳ vọng của những nhà vật lý lý thuyết về một phương trình tối hậu phải chịu áp lực nặng nề này. Vật lý và toán học đều là những khoa học thuần túy thực nghiệm (truly empirical) và gần thực nghiệm (quasi-empirical)! Thoạt nhìn người ta nghĩ rằng vật lý và toán học rất khác nhau. 1/ Vật lý mô tả vũ trụ và phụ thuộc vào những quan sát. Ví dụ định luật Newton hay Mô hình chuẩn của các hạt cơ bản phải được kiểm nghiệm bằng thực nghiệm và chúng được xem như là những nguyên lý ban đầu không chứng minh được (giống như những định đề). Trong vật lý người ta nén các dữ liệu quan sát được thành định luật. 2/ Toán học trái lại không phụ thuộc vào vũ trụ. Ví dụ tính chất của những số nguyên hay số thực không phụ thuộc vào bản chất của thực tại khách quan. Toán học là đúng cho mọi vũ trụ. Trong toán học người ta cũng nén mọi kết quả tính toán thành những định đề. Nếu Hilbert đúng thì toán học sẽ là một hệ kín, không còn không gian cho những ý tưởng mới. Song những ý tưởng mới về vật lý và toán học đã hình thành. Năm 1956 nhà toán học người Hung Imre Lakatos cho rằng toán học cũng là một khoa học gần thực nghiệm. Ví dụ giả thuyết Goldbach cho rằng mọi số lớn hơn 2 đều có thể viết thành tổng của hai số nguyên tố hiện nay vẫn chưa chứng minh được mặc dầu đã được kiểm nghiệm đến số 1014. Gregory Chaitin đưa ra sơ đồ sau đây: Vật lý: Lý thuyết - các tính toán - các tiên đoán cho những quan sát Toán học: Định đề - các suy luận logic - các định lý Khoa học tính toán: Chương trình - chạy máy tính - output Làm vật lý và toán học đều tương tự như chạy một chương trình trên máy tính. Chaitin cho rằng giữa vật lý và toán học không có sự khác biệt về nguyên tắc: cả hai đều là những khoa học thực nghiệm (Chaitin dùng chữ thuần túy thực nghiệm cho vật lý và chữ gần thực nghiệm cho toán học, song thực sự hai chữ đó không khác nhau về mặt nguyên tắc). Gregory Chaitin khuyên các nhà toán học và vật lý không nên cô lập mình mà hòa cùng nhau để tìm thấy những nguồn ý tưởng mới tuơng liên. CC biên dịch (TS) <h3 class="spip">Tài liệu tham khảo:</h3> [1] Gregory Chaitin, L’Univers est-il intelligible?, La Recherche, tháng 12, 2003. [2] Gregory Chaitin, The Limits of Raison, Scientific American, tháng 3, 2006.
  20. TUYỂN TRẠCH CẦU CHÂN Mục Lục: Quyển 1. - Tựa Tuyển trạch cầu chân. - Tựa của Tụ Chân - Tuyển Trạch biện chính (biện bác chính xác vè phép kén chọn ) - Bàn về sự lầm lẫn của phép Đấu Thủ. - Bàn về Tuyển Trạch - Bài biểu của Ngô cảnh Loan “ Âm dương thiên cơ ;tuyển trạch ngũ hành; cốt yếu tuyển trạch; tuyển trạch diệu dụng ;sinh khắc chế hóa.” - Bài ca Tạo mệnh thiên kim của Dương Công Cứu Bần. - Nói rõ Tinh ( sao) Thần. - Kinh Nghi Long. - Bàn bạc chính xác về Thần Sát. Quyển 2: ( Sách chọn ngày giờ; Dựng nhà; Chôn người chết ; Nam Nữ hợp hôn ). - Bàn về bổ Long. - Khóa xưa về Bổ Long. - Bàn về Phù Sơn. - Bàn về Lập Hướng. - Bàn về Tướng Chủ. - Cách cục về tạo mệnh. - Bàn về Chính Ngũ Hành sinh vượng. - Tóm bàn về Tứ Trụ. - Phép dung Niên, Nguyệt, Nhật ,Thời. - Tứ đại cát thời. - Lệ về Âm Dương Quý. - Biểu tổng quát 720 khóa giờ Quý Đăng Thiên Môn. Quyển 3: - Tóm bàn về Thất Chính ,Tứ Dư.; Thái Dương, Thái Âm.;Mộc tinh; Hỏa tinh Thổ tinh, Kim tinh,Tử khí, Thủy bột, Hỏa la, Thổ kế - Bàn về cát và hung của Ngũ tinh tứ dư; Các sơn Âm,dụng và cứu nạn. - Hàng năm chưởng Tam Nguyên Dương Nhận. - Độ số 28 vì sao. - Vòng quanh mặt trời đi qua cung. Tùng tiết Thái Dương đi vòng qua cung.Thiên đệ đến sơn định cục.Giờ khắc Thái Dương tới phương. - 12 tháng Thái Âm đến sơn.Giờ mọc lặn của Thái Âm đến sơn. - Thiên Đê Thiên Tướng giao hội nhau thuận nghịch qua cung.. - Thiên Đê Thiên Tướng dung khác nhau. - Tóm tắc về các tinh diệu : Thăng Điện, Nhập Viên,Miếu ,Vượng, Hỷ Lạc. - Phép suy Lịch :Bí quyết định tiết Lập Xuân, tháng Nhuận - Bí quyết tính 24 khí ; Suy tính ngày giờ 24 khí cách ngày Đông Chí. - Bí quyết tính độ đi qua cung của Thất chính và Tứ dư. Quyển 4 : - Tóm bàn về làm nhà , để mộ. - Bàn về khắc trạch việc dựng nhà. - Phép trừ ma tà do bọn thợ gây nên. - Bàn về an tang khắc trạch. - Bàn về khai sơn lập hướng nhà và mộ. - Bàn về Tu phương. - Bàn tu Phương gồm cả sơn hướng và trung cung . - Phép tu phương ở tọa cung. - Phép tu phương rời cung. - Phép bàn định trung cung. - Phép quyền biến về tạo tang. - Việc vặt tổng lập. - Các việc tu ứng. - Phép tu thiên tự cầu con. - Đô thiên nguyệt tướng . Chính khí các tinh. - Cách Phi Điểu Điệt huyệt. - Cách Thanh Long Hồi Thủ. - Phép sữa Tài Lộc. - Tu báo thập bảo vật; 24 sơn nơi nhặt của báu; - Quyết lấy số cho ngũ hành . - Phép sửa nhà kho. - Sửa tan việc kiện tụng. - Phép sửa phương khỏi bệnh. Sửa khỏi đau mắt. - Tu cứu lanh thoái pháp. - Tu cứu tang họa pháp. - Tu vượng lục súc pháp. - Tu bất mục pháp. Tu thọ nguyên pháp. - Tu chí Đạo Tặc pháp. Tu trị Bạch nghĩ pháp.Tắc thử huyệt pháp. Quyển 5 : - Giá thú tổng tập. - Bài phú Ngọc Lịch Toái Kim. - Luận về đặt giường nằm. ( an sàng ). - Bàn về làm bếp.Làm bếp dục them đinh ( con ).Chia bếp đun làm nhà bếp. Phụ thêm ngày làm bếp. Quyết về dứt khói lửa. Phép chỗ Tuyệt gặp Sinh. - Mẫu khó dứt khói lửa. Quyển 6 : - Tiện xem những sao hung sát nên kỵ. - Khai sơn lập hướng tu phương . - Đồ về phép 6 bàn tay khởi dụng - Ngũ hành phát dụng. - Nạp âm ngũ hành. - Long vận kỵ rơi vào không vong. - Độn sơn vận. - Điêu khách . Điêu Thái Tuế. - Thái Tuế luân chiếm sơn phương. - Thế cung . - Tổng luận về niên thần. - Tổng luận về cát thần thăng. - Tổng luận về hung thần thăng. - Phụ bàn về Niên Nguyệt Nhật Cát Hung Thần về các nhà. - Lệ nghĩa về cát thần. - Phi cung Thái Tuế chân quý nhân. - Thiên Lộc nghĩa lệ. - Phi cung thái tuế chân lộc. - Thiên mã. - Phi cung Thái Tuế chân mã. - Phi độn Mệnh chủ Chân Lộc Mã Quý. - Quý nhân lọc mã kỵ rơi vào không vong. - Quý không; lộc không ; mã không; sơn mẹnh quý không; sơn mệnh lộc không; sơn mệnh tài không; Bàn về sơn mệnh quý lộc mã không. Quyển 7 : - Tam nguyên tử bạch về niên gia. - Tam nguyên tử bạch về nguyệt gia. - Tam nguyên tử bạch về nhật gia. - Tam nguyên tử bạch về thời gia. - Bàn về Tử Bạch. - Bát tiết- tam kỳ-Tam xa sát. - Tuế đức, tuế đức hợp- Thiên đức;Thiên đức hợp- Thiên Đạo.-Nguyệt đức; Nguyệt đức hợp. - Tóm bàn về Lục Đức. - Thiên (Nguyệt ) đức hoàn cung định cục - Tam đức tùng tập định cục - Nguyệt không phương. - Nhị đức, nhị đức hợp,Nguyệt không, Thiên đạo tới phương định cục hàng tháng - Phi cung thiên( nguyệt ) đức - Văn xương;văn khúc – Hồng loan ; Thiên Hỷ - Kỳ lân- Phượng hoàng Quyển 8 : - Lời bàn về biện bạch sự dối trá- Biện chư gia loan giá tinh diệu. - Biện Tôn Hoàng Đế tinh. - Biện thông thiên bảo – Biện Tẩu mã lục nhâm - Biện tứ lợi tam nguyên – Biện hai phương lộc mã quý nhân. - Biện tuần sơn 24 thần sát. - Biện thần sát đồng vị dị danh. - Biện dịch mả lâm quan. - Biện đao chân hỏa huyệt. - Biện lục thập niên không vong - Biện la thiên đại tiến nguyệt - Biện la thiên đại thoái niên, nguyệt ,nhật, thời. - Biện hoàng thiên chá thoái - Biện chi thoái lưu tài. - Biện hoàng thiên đại sứ- Thông thiên đại sát- Phi thiên đại sát độc hỏa. - Biện phi thiên độc hỏa - Biện tuần sơn hỏa nguyệt du hỏa. - Biện du sơn phương - Biện kim phong sát - Biện đại sát bạch hổ - Biện hồng thủy chu tước. - Biện cửu thiên chu tước. - Biện hoành thiên chu tước - Biện sơn gia chu tước Quyển 9 : - Biện hung thần nghĩa lệ - Chế sát yếu pháp - Thái tuế - Phụ trạch khóa – Tuế phá. - Đại hao - Phụ nghiệm khóa. - Tuế hình Lục hại - Tam sát – Phục binh – Đại hao - Mậu kỷ đô thiên - Âm phủ Thái tuế - Phụ chư gia luận âm phủ tử bạch - Chá thoái - Biện hoàng thiên chá thoái - Thiên quan phù. - Địa quan phù - Phi thiên quan phù - Phi địa quan phù - Thiên quan phù hoàn thiên cung cục - Địa quan phù hoàn cung định cục - Thiên địa kim thần. Quyển 10 : - Tuần sơn la hầu - Đại sát - Bàn về hỏa tinh - Niên độc hỏa - Bính đinh độc hỏa - Hỏa tinh nhật - Phù thiên không vong - Phá bại ngũ quỷ - Đại tướng quân - Đại tướng quân hoàn vị định cục - Thái âm, Diếu khách,Tang môn, bạch hổ - Tóm bàn về thái âm, đại tướng quân, tang môn điếu khách. - Hoàng phan Báo vỹ - Bệnh phù; tử phù; tiểu hao - Phi liêm - Tấu thư ;bác sĩ; lực sĩ; tàm thất - Tàm quan; tàm bệnh - Tiểu nguyệt kiến - Đại nguyệt kiến - Nguyệt kiến nguyệt phá nguyệt hình nguyệt hại - Nguyệt yếm – Địa hỏa –Ngũ quỷ - Yếm đối – Lục nghi Đến đây là hết 10 quyển Tuyển Trạch Cầu Chân Tuyển Trạch Cầu Chân Quyển 1 : Tựa tập Tuyển Trạch Cầu Chân -------------------------- Tư Mã Ôn công có nói : bói nhà ở, bói lành , trước bàn việc người , sau hỏi bói rùa, không đất thường , ngày thường vậy. Kịp đến thời nhà Tần nhà Tấn , sự huyền bí âm dương đã tiết lậu , đạo khắc trạch nảy nở dần dần. Dương công Quân Tùng đời đường mở sự sâu xa ra , dựng nhà ở chôn người chết nên chọn ngày , vốn là lẽ chính của ngũ hành, thuận thời tiết của 4 mùa , sau xét đến vượng, tướng, hưu ,tù .Thi hành thì lấy sinh, khắc, chế, hóa, phù long, tướng chủ, theo lành , tránh dữ , khúc chiết hết cái diệu ( hay) , do đó làm nên thiên Tạo Mệnh để trao cho Tăng văn Sơn , Trần Hi Di truyền bá . Các ông Ngô Thành , Ngô Cảnh Loan , Liêu Kim Tinh đều là người danh tiếng các triều đại cũng đều noi theo Tạo Mệnh của Dương Công . Nhưng những thuật giả dối khoe khoang sự lạ của các nhà có kéo nhau , phụ họa nhau , nhờ danh Dương Công để làm hổn độn ở trên đời . Than ôi ! lòng trời há có chán bậc Tiên hiền tiết lậu hết mà khiến bọn giả dối này làm rối loạn sự thực ru ! Trước tôi bị sa vaò cái thuật ấy , May được Mạch chu thiên sứ cho biết bến mê ,được giác ngộ ý tạo mệnh , chỉ một cuốn Tuyển trạch ấy chở đầy xe , xếp đầy nhà , thật giả đều truyền bá ở đời này , dù có kẻ biết là giả , nhưng xét ra chưa từng trỏ thẳng cái chỗ không phải , thời đời sau há chẳng bị nhầm mãi mãi ru ! Do đó không thể giữ được buồn mà than rằng: “ những cây cỏ xấu mà không trừ bỏ thời lúa tốt lành làm sao mà mọc lên được ? ” Thực không phải nói vu vơ vậy ! Chừng ấy mới rộng lấy các sách , chọn cái lý gì chính đáng thời chép ra , cái nhầm thời bỏ đi , tôn sung tạo mệnh của Dương Công , theo các vì sao nói trong Hiệp kỷ của Quốc Triệu , xếp đặt thành thiên phụ thêm ý kiến vào nửa , ở trong thiên có sự chồng chất lên , chả là những ý cùng nhau phát minh ra , nhân đặt tên thiên là Tuyển Trạch Cầu Chân . Năm Gia Khánh thứ 14 , năm Kỷ Tỵ mùa thu tháng 8 Cách Thành Minh Viễn . Hồ Huy Ứng quang thị viết ra ở nhà Huệ Cát . Tựa của Tụ Chân Thiên Tuyển Trạch Cầu Chân tự đâu mà thành ra ? Thành ra tự tay Minh Viên Hồ Quân . Hồ Quân làm sao mà làm ra thiên này ? Hồ Quân không nỡ để thuật giả dối làm ngu người ta , cho nên lấy ở baio2 bàn có danh tiếng để câu được chính xác . Thiên này do Hồ Quân làm ra tại sao tôi lại làm bài tựa ? Vì Minh Viễn Hồ Quân là bạn tốt của tôi , tôi vốn chứa sức học từ thuở bình sinh , phàm những sách Kinh , Sử , Tử , chẳng sách nào là chẳng học đầy đủ mà rất tinh về thuật lý . Từ năm Kỷ Tỵ đến năm Ất Hợi , mời tôi giảng học , những lúc gió trăng trong vài năm , mổi khi bàn việc đến âm , dương , tôi thường thổ xuất hỏi về nghĩa đó mà chưa hiểu rõ ý sâu xa , do đó ông đưa ra thiên này bảo tôi , tôi nhận lấy xem được ích lợi rất nhiều , bởi thế tôi biết được diệu dụng của thiên này , thực học chân truyền về tạo mệnh . Ôi ! phép tạo mệnh Dương Công sáng chế ra trước , rồi các ông Tăng , Trần , Ngô , Liêu truyền về sau , đều lấy những phép Bổ Long , Phù Sơn , Tướng Chủ mà kén chọn thành cách , cục .Ấy được phúc không bờ bến . Xem như tờ sớ tâu Vua của Ngô Cảnh Loan có nói sự cốt yếu của năm , tháng , không bằng sự diệu của Tạo mệnh thể dụng . Có thể đạt được thần diệu là thế đó Nhưng vì thuật giả dối có nhiều đường lối , các nhà trùng trùng điệp điệp ra đời hòng mở cổng , dựng cửa , bèn làm mắt cá lần hạt châu , kẻ kia lầm dường , người này càn rỡ câu chấp kiến thức nông cạn , mà phép màu nhiệm của cơ trời ít ai hiểu được ý sâu kín , thảng hoặc có kẻ biết thì chẳng qua làm việc chỉ câu nệ ở phép lập thành , mà không biết diệu dung , có gì lạ đâu vì học thức chưa sâu đó thôi . Chỉ có bạn ta là Hồ quân thông minh vốn sẳn tự trời , lại được bí thụ ( truyền dạy ) của thầy sáng suốt , cho nên biết suốt rõ rang , cho dù rùa ( việc ) nhỏ cũng đều mổ xẻ rõ ràng ; còn nhu thuật giả dối không kê cứu , thời hết sức bài bác , biết lẽ chính đáng tôn sùng thì lấy mà chép , cốt yếu là mở rộng ý nghĩa sâu kín , mà không tưởng đến sự học cong vẹo lầm người . Do đó có thể biết việc trứ thuật là khổ tâm vậy . Tôi đã xem , rất phục về sự tham biện , nhân đó không ngăn được bùi ngùi than rằng : Hồ quân thể tất hội được sư mong ngóng thần trí vui vẻ về nghề vậy , nhưng Hồ quân không tự cho mình là phải , còn đem chất chính nơi tôi , tôi cũng vì thế khiêm nhường từ tạ , bèn cầm bút để ghi nhớ lấy . Sách này nguyên muốn bí mật giấu đi , nhưng dấu cất ở nhà , sao bằng công bố cho người dung , đưa cho thợ khắc in , sẽ thấy sách này một khi phát ra , chẳng những thành “ Lạc Dương giấy đắt ”,( Tả Tử làm bài phú Tam đô , hay quá , các nhà hào quý đua nhau chép , do đó giá giấy ỏ thành Lạc Dương đắt lên ) ( Câu này ý nói văn tự truyền bá rất rộng ) và lại khiến cho ý Tạo Mệnh của Dương Công rõ rệt khắp thiên hạ , khiến cho người thức giả chính xác về ý nghĩa mà định sự tôn sùng , nhân đó mà tạo phúc cho người không nông ít vậy . Ấy làm bài tựa. Niên gia Thê đệ Phượng Đình Tô Triều Thụy bái soạn. TUYỂN TRẠCH BIỆN CHÍNH . ( Biên bác chính xác về phép kén chọn ) Tịch Tu nói : “ Phép kén chọn tất lấy phép của Dương Công làm chính tong , phép nào không theo Dương công đều là ý trí riêng , là thuật giả dối . Nhưng thuật sĩ đời nay không biết phép Tạo mệnh của Duong công , phần nhiều tôn trọng phép Đẩu thủ các nhà, đó là không biết hơn vài chục loại các nhà , mà kinh Nghi Long đã từng bài bác , thì có thể biết rằng những phép ấy không theo Dương công . Phương chi phép kén chọn ấy một là điều chỉnh lẽ ngũ hành , hai là không hay Bổ long , Phù sơn , Tướng chủ,,ba là : sinh khắc sai lầm , lành dữ không bằng cứ ; thật là bất lợi lớn về Tạo ( làm nhà ở ) , Táng ( chôn người chết ). Song xét về hung thần , bắt đầu từ đời Đường Thiên Bảo , mà một bọn nhà sư vâng chiếu vua làm ra kinh Thiên hàm , cốt ý làm rối loạn đảo điên ngũ hành , đổi ngược bộ dạng Sinh , vượng lại dùng hưu , tù để làm ngu cho hải ngoại . Từ đó về sau những bọn hiếu kỳ , lấy cắp nghĩa ấy , thay đầu đổi đuôi , thác tên Dương công, để thi hành thuyết của họ , mà những kẻ tầm thường ngu dốt chẳng rõ lý , khí dễ sa ngã vào sự mê hoặc, lại lấy phép Đẩu Thủ của các Nhà tinh diệu , đều cùng nhau tuân theo , chìm đắm lâu ngày , đến nổi mắt cá lần hạt châu , mà không hiểu rõ . Than ôi ! đây há phải là lổi ở một bọn đâu , mà là lổi ở kẻ truyền bá nhầm cho một bọn ấy dấy . Đến như Kỳ Môn , nguyên chỉ dùng chọn sự lành về việc hành binh , không phải về việc Tạo , Táng mà đặt ra , nay đem dung lẫn lộn cả , thật đáng chê cười . Đây là đem qua loa ra hai mối để chứng minh , còn có nhiều thuyết lầm lẫn , không thể thuật cả ra đây , chỉ xem kỹ bài ca “ Tạo Mẹnh Thiên kim ”của Duong công , “ Kinh Nghi Long ” cùng cuốn “ Âm dương bảo giám “ với lại bài sớ tâu vua của Ngô cảnh Loan , thì không đợi biện luận mà đã biết . Xét về Kỳ Môn thì đáo sơn , đáo hướng , đáo phương , thích hợp tự nhiên cũng hay , nhưng không nên chỉ cần một môn ấy mà bỏ đi mất cái thể của Tạo mệnh . BÀN VỀ SỰ NHẦM LẪN CỦA CÁC PHÉP ĐẤU THỦ. Lý Thái Lai nói : phép của các Nhà mà hổn độn , là đều do thích dùng cát tinh mà ghét hung tinh . Như Toàn tinh Ngao cực Ngọc Hoàng Loan Giá nói : các loại Tinh nguyệt hoa , Sai phương , Lộc Mã , danh sắc đáng yêu , khiến người tham lấy , đâu biết rằng không một Nhà nào có nguồn gốc ngũ hành , mà định cát thần và hung thần , lại không theo Thái Tuế về năm , tháng sinh thòi cát khong phải thực cát , hung không phải thực hung , mà lại đều lập ra môn , hộ , phải nhà này , trái nhà kia , không phù hợp nhau , muốn gòm thu các Nhà lại thời vài chục năm mà không một sự cát , muốn chỉ dung một nhà , lại sợ hãm vào đại hung khi bất trắc , chính là Ngô Công đã bảo hết tất cả đều trôi giàn tan tác ; huống chi trong thiên hạ há có vị danh nhân nào trước thuật , mà dấu họ tên không truyền sao! Đến như phép Đấu Thủ cũng không thể xét được , không biết người nào làm ra , mà nói bịa ra là Đấu Thủ của Dương Công , họ lại chẳng nhớ rằng Dương Công đã mở mang sự huyền bí về Tạo Mệnh ư ! Lại đời xưa đã có câu nói : “ Lập ra Đấu thủ đẻ lừa dối người ta ”, thời đủ biết đó là người đời sau làm giả ra . Vả lại phép kén chọn này chỉ trọng thiên can , không hỏi gì đến địa chi , chuyên trọng Sơn đầu , không đoái đến Long cùng Chủ mệnh , chuyên lấy Nguyên phong , Vũ tài , không dùng Ấn thụ , Tài quan , hoàn toàn trái ngược với Tạo mệnh , Tự tôi bàn ra , các Nhà đều không có ngũ hành chính đán , còn như Dấu thủ ngũ hành , chỉ là đường ngang lối rẽ .Chỉ có Tạo mẹnh ngũ hành dung gồm đủ , đều được thích nghi , đó là con đường chính bằng phẳng . vả lại Sinh sơn , Phù long , Tướng chủ nơi nơi đều đến , những điều xu hướng cát , tránh hung , mọi việc đều yên , đó thực là chính luật kén chọn ngàn đòi vậy . Những thuật sĩ đời nay , động làm là đem Đấu thủ các nhà ra nói , cứ ở trong sách nói gì , hể hợp thì không tránh tất cả hung thần về năm , tháng ,cốt muốn tự ý mình đem cái ý kiến thiên lẹch , làm mê hoặc người nghe và tiêu thụ cái thuật của mình . Chí quy Am nói : “Phép kén chọn thường lấy chính ngũ hành ,hợp Hậu thiên mà chọn ngày ; còn như phép Đấu Thủ dùng tiên thiên chọn ngày , không hợp biến hóa , đến nổi có cát có cả hung , lại có hợp hóa khí , khắc , tiết lậu tọa sơn , lập tức thấy hung đó ” . Lưu Thanh Điền dùng Hậu thiên kén chọn , phép ấy chuyên trọng Hóa mệnh , ở chổ Thiên can mà suy , thời giúp đở vào , khiến cho cùng hợp với Tọa sơn , lại được Lộc mã Quý nhân , hội thành cách ,cục , chẳng gì chẳng lợi lớn ; rất kỵ là Hóa mệnh có Thất sát , Dương nhận , Thương quan , Kiếp tài hung giữa Không vong .- Như Khảm sơn thuộc thủy , nên dùng Ất Canh hóa kim lảm cục Ấn thụ , Bình Tân hóa thủy làm cục Tỷ Kiên , hoặc dung Mậu Quý hóa hỏa làm cục Tài ; nếu vậy tất phải lai Long cưỡng vượng , giữ lệnh nhân thì mới cát , nếu không thì chẳng nên .Nếu dung Đinh Nhâm hóa mộc làm cục Tiết khí thì hung tới , dùng Giáp Kỷ hóa thổ là cục Sát , thổ khắc khảm thủy thì rất hung . Đó là lẽ chính về phép chọn ngày . Nay phép Đấu thủ dung Tiên Thiên kén chọn , lấy Khảm sơn thuộc Thổ , dùng giáp kỷ hóa thổ làm nguyên thần , thì thổ khắc khảm sơn , sao lại chẳng hung ! đấy như “Giệt Man Kinh” trái lại mà dùng sinh vượng . Phương chi Hóa khí cũng tất phải hai chữ hợp nhau mới có thể hóa được . Như Bính Tân hóa thủy tám chữ , có Bính có Tân thì hóa được . Nếu chỉ một chữ Tân không có Bính hợp , là thuần âm không lớn được , chì một chữ Bính , không có Tân phối hợp là thuần dương không hoá được , thì làm sao mà hóa được thủy !Đấu thủ không rõ lẽ hóa hợp đến nỗi hại người không ít . Còn như Kỳ Môn chọn ngày , chỉ Khổng Minh dùng thôi . Nay có kẻ dung Kỳ Môn , có biết Long vận cùng với Tọa sơn khắc hóa không ! Đến như Quách Công trong Điếu Thế , Dương Công trong Tạo Mệnh , chia ra thì hai hợp lại thành một . Đấu Thủ không biết Dương Công Tạo Mệnh , phối hợp với phép Chủ Mẹnh sinh vượng và hợp với phép Lộc mã Quý nhân mà lại bịa ra là Dương Công Dấu Thủ , Đó là giả hại vậy . Thẩm Tân Chu nói : Việc kén chọn ta từng xét ở trong kinh sử , như việc táng ở trong kinh Lễ , thì năm mới đẻ , tức là năm táng , đó là cổ nhân không chọn năm . Thiên Tử 7 tháng , chư hầu 5 tháng . Đại phu 3 tháng , kẻ quan sĩ 1 tháng mới táng , đó là cổ nhân không chọn tháng . Đến ngày : kinh Lễ có nói ngày cát , nhưng cùng với thuyết ngày nay không đồng nhau ,sao lại biết : vì kinh Thi có nói : “ngày cát duy ngày Mậu , đã bá đã đảo ”.Đòi nay lịch nói trái lại : 6 ngày Mậu không thắp hương ( tức là không cúng ) . Lại nói : ‘ ngày cát là Canh ngọ , đã sai khiến ngựa của ta ‘. Nay nói trái lại bảo ngụa thân là , điều mà người xưa lấy , thì người nay lại kiêng , thì đủ rõ “ sách tục ”không đủ tin . Đến như việc ngoài thì dùng ngày Cương , việc trong thì dùng ngày Nhu , việc tang cũng là việc trong cho nên đời Xuân Thu các ngày tang đều dùng ngày Ất , Đinh , Kỷ , Tân , Quý , chỉ có Tống Cung Công có khác , đó là hai lần biến vậy . Chọn trước 9 ngày rồi sau mới Tiểu tế tiên , gần đây táng trước xa ngày , chọn ngày được gặp can chi sinh , hợp , vượng, mà còn quyết ở bói rùa , phép của Thánh nhân chỉ như thế , đâu há làm thảo thảo . Nay , họa phúc là do trời giữ , người có thể làm được như thế mà thôi , còn như chi của giờ , thì người xưa không bàn đến . Xem như việc lễ cầu cúng trừ tai họa , thì buổi sớm bó lại , không cúng thì buổi quá trưa bó lại ; ngày kỷ sửu mưa không táng , thì giữa ngày canh dần táng , ngày đinh tỵ mưa không táng , thì ngày mậu ngọ xế trưa táng , người xưa có câu nệ về thời khắc , bàn gì vận phúc dài ngắn đâu ! Phương chi người sau sao bằng người đời xưa ; mà sự cát , hung chuyển rời sao hay giữ được , cho nên biết thuật chọn ngày của người đời nay đều do kẻ hiếu sự làm ra , không có gốc vậy . Và người xưa có lệ táng quay lưng về phía Âm , quay mặt về phía Nam , chẳng qua chỉ lấy phương Bính Ngọ Đinh chứ không nhiêu mối vậy ; mới chết thì chôn , có Lổi đạo đâu ! Cho nên việc táng vua Văn vua Võ thì ông Chu Công bói , táng ông Bá ngư thì đức Khổng Tử bói ( bói rùa ) , xem hình vật ở đất , cổ nhân không bỏ , đến việc chọn năm , tháng lành thì theo trong lễ mà thôi . Đời sau mê hoặc về thuyết âm dương của Bách gia , đến nỗi dừng chôn người thân đến vài chục năm , con cháu đã nhiều , đều nghĩ phần riêng tranh lợi , không táng người thân , khiến cho quỷ ( linh hồn người chết ) đi , không thờ cúng gì ,thật đáng thương vậy thay ! Ta từng xem kỹ sách kén chọn của đời nay , như âm dương Tùng thin , Kiến trừ , Kim phù , La thiên , Đô thiên , Lôi đình , Khiên nhập Kim tinh , Ngao cực ngũ vận lục khí , Thái ất Lục nhâm , Kỳ môn vận bạch , lớn nhỏ hơn 10 nhà đều là hạng tiểu nhân , bỉ phu tư tâm xuyên tạc mà vô lý . Gần đây thịnh hành phép Đấu thủ , tuy rằng có nghiệm , nhưng xét về ngũ hành chính lý thật sai lầm nhiều . Chỉ có một nhà Tạo mệnh thấy ở Tống Nguyên Chương, đúng về lý , chính về tâm , lấy Hợp sơn mệnh mà phép Chủ mệnh bỏ . Tử Bình không xa Luân cung 120 vị hung thần , không tôn về Thái Tuế , Bạc cùng 60 vị hung thần , thống xuất ở Táng mã , Lộc mệnh quý nhân , đem Hóa mệnh lấy dùng , lại lấy Tuế vận hợp với Bát quái , khóa Tài cung thì lấy Sơn gia Tứ trụ , khóa Tài cung lấy Mệnh chủ , lý rất nhỏ mà có điêu , cách với thuyết hỗn tạp của các Nhà như trời với vực . Ta táng 3 đời 6 quan tài đều dùng tạo mệnh , phép khác không xem đến ,không giống người đời bị mê hoặc . Trên không xét Kinh , giữa không nghe Sử , chỉ coi hình tượng của kẻ bói tục , suy ngang xem dọc , trở đi trở lại tự ý làm ra khéo lạ 4 phía quanh nhà , đây phải kia trái , lại cùng biện luận chiêm nghiệm , dù 500 năm không có ngày nào hoàn toàn tốt đẹp .Tự ta xem ra , kẻ kia nói ngày hoàn toàn tốt đẹp , chính là ngày hoàn toàn hư hỏng , đó cố nhiên không đủ tranh luận . Bậc hiền theo lễ , bậc minh giả sử theo Tạo mệnh , còn người tục dùng các Nhà , cũng là đều theo cái sở hiếu của các hạng người mà thôi vậy !. Sách Khâm định Hiệp Kỷ biện ngụy chép : xét Dấu thủ ngũ hành , không biết khởi ra từ đâu , kẻ làm cái thuyết ấy đều chua là của Dương Quân Tùng ; kịp xem đến Dương Quân Tùng làm sách biên chép , không có một lời nào bàn đến Đấu thủ , thì biết rằng thuyết kia là giả thác .Đời nay vốn cũng không chép , thế mà thuật sĩ bốn phương giữ chặt để làm bí quyết , tất cả người đời không hay biện bác là phải hay trái , không biế thuyết ấy thế nào thì biết là tan tác quá lắm rồi ; như Bính , Giáp ,kỷ hóa thổ , thì lại lấy Giáp , Kỷ độn ra Giáp Kỷ hai can , đến hàng chi tới và cả can , duy cùng cung đều thuộc Thổ mà giáp kỷ lại không thuộc thổ , đại ý ấy đã lìa hẳn tông chi rồi , mà các tên Liêm Trinh , Tham Lang lại không phải nghĩa gốc về biến quái . Do đấy mà suy diễn ra , riêng lẻ làm cát hung cách cục , bèn không nên hỏi tới , cho nên tóm cái cốt yếu lớn mà biện bác , để người coi biết là không có kê cứu ở đâu , không mê hoặc về thuyết ấy , và kẻ kiêu kỳ tự sính về thuyết ấy cũng có thể tự thôi vậy . BÀN VỀ TUYỂN TRẠCH Lý Sĩ Tinh nói: "PHÁT PHÚC DO MẠCH ĐẤT, DỤC PHÚC DO GIỜ TỐT". Đời phần nhiều cho việc Tuyển Trạch là việc thừa, mỗi khi gặp huyệt đẹp Hạc Long, không thể phát phúc, mà lại đến họa, đều do toan tính Tuyển Trạch cả. Cho nên Táng Kinh có nói: "Trời sáng soi xuống dưới, đức đất chỡ lên trên, TÀNG THẦN HỢP (ngày) SÓC, THẦN ĐÓN QUỸ TRÁNH", 18 chữ ấy, bao hàm sâu kín, thực ngàn đời về phép Tuyển Trạch. Kinh Nghi Long nói: "CÁT ĐỊA TÁNG HUNG HỌA PHÁT TRƯỚC, gọi là ngày bỏ thây, (khí thi), phúc không tới". Bài ca Tạo Mệnh rằng: "Không được Chân Long, ĐƯỢC NIÊN NGUYỆT THÌ ĐƯỢC GIÀU SANG, NGƯỜI NHÀ THỊNH". Phú Tuyết Tâm nói: "Niên Nguyệt có một mối, hoặc để mất, lại không phải điềm lành của Chân Long, không thế, Sơn Cát, Thuỷ Cát và Huyệt Cát, sao gặp nhiều tai họa, há biết Niên Hung, Nguyệt Hung, Nhật Hung phạm phải mà không biết". Do đó mà xem, thì phép Tuyển Trạch, chẳng quan trọng ru! Song phép ấy tuy đầu tiên do Quách Phác đời Tấn, nhưng thời ấy lại có Táng Kinh, mà nghĩa Niên Nguyệt chưa tường ở đời. Kịp đến đời Đường có Dương Quân Tùng tiên sinh làm ra thiên Tạo Mệnh, rồi Nghi Long Kinh, Cứ Tự Tự Thiên Kim Ca, mà nghĩa lý phép ấy rõ ràng. Cho nên Huyệt Pháp, Thuỷ Pháp, Khắc Trạch Pháp, coi phép nào không gốc ở Dương Tăng, tức là thiên lệch. Sở dĩ bài sớ tâu vua của Ngô Cảnh Loan có nói: "Cốt yếu về Niên, Nguyệt, không bằng Tạo Mệnh diệu về Thể, Dụng, có thể đoạt được thần công". Lưu Thanh Điền nói: "Dương Công trọng về Tạo Mệnh, Quách Phác trọng về Điếu Thế, lý chỉ là một". Thế nào là Tạo Mệnh? Ôi! Người ta sinh ra có Mệnh, chết còn có Mệnh sao? Vì nói người ta chết về dưới đất, mà kén chọn được kỳ tốt, tức như mệnh người chết sống lại. Lại nói: "Mệnh người sống, bẩm thụ ở trời, không thể tự mình tạo ra được, Mệnh Tạo Táng có thể tự ta tạo ra được cho nên gọi là Tạo Mệnh. Thụ Sơn, Phù Long, Tướng Chủ, hoàn toàn ở Tứ Trụ sinh phò, phép này giống như Tử Binh, trước xem Nguyệt Lệnh có khí, rồi bàn đến Tài, Quan, Ấn Thụ, thế bảo rằng dùng thần không thể có tổn thương, lấy can rất nên Kiện, Vượng, cốt yếu thành Cách thành Cục. Hoặc là Thiên Nguyên (Can) nhất khí, Địa Chi nhất khí, hoặc Củng Lộc Củng Quỷ, (duy Mã không nên củng, Mã Củng thì không đi), hoặc Đôi Lộc, Đôi Quý, hoặc Xung Lộc, Xung Quý (Quan, Ấn, Mã thì không nên Xung, vì Quan Xung thì bị hình, Ấn Xung thì bị khuyết, Mã Xung thì tán, duy Khố [Mộ] thích xung. Sách nói rằng: "Xung khai Mộ khố thấy thịnh vượng). Đó là Đại Bát Tự (tám chữ lớn), nhưng khó được nhiều, cũng bất tất câu nệ hết cá, tóm lại Bổ Long, Bổ Sơn, Tướng Chủ Mệnh làm chủ yếu, rất kỵ Hình, Xung, Khắc Tiết. Bổ Long, Sơn phần nhiều dùng Địa Chi (bát Can Long thì lấy Đôi Lộc, Đôi Quý, hoặc theo Can Ngũ Hành, lấy Cục Tam Hợp, hoặc Cục Nhất Khí, như Mão Long Sơn thì dùng loại Tứ Mão, nhưng không dễ dàng được, thật sợ NGUYỆT GIA CÓ BẤT KHÔNG. Có nhiều nhà sư cùng các trưởng lão cũng có lấy Tứ Trụ Nạp Âm, Bổ Long Vận Nạp Âm). Bổ Chủ Mệnh phần nhiều dùng Thiên Can (hoặc Mệnh Tỷ Kiên nhất khí, hoặc Ấn Thụ, hoặc hợp Quan hợp Tài, hoặc Tứ Trụ Thiên Can, Lộc Quý, Xu Mệnh; lại hoặc Xu Mệnh, lại Mệnh mà Lộc Mã Quý Nhân đến Sơn, lại bổ Long mạch, đó là Khóa thượng thượng cát). Thư rằng: "Lực của Thiên Can chậm mà sơ, lực của Địa Chi lớn mà mạnh; Địa Chi phần nhiều lấy Tam Hợp, Thiên Can phần nhiều lấy Ngũ Hợp", bảo rằng Tam Hợp Ngũ Hóa mới Quý, là thế đó, CÁCH CỤC LÀM THỂ, CÁT TINH LÀM DUNG. Trước nên chọn được Niên, Nguyệt, Nhật, Thời, rồi sau tra Hung Thần, Cát Tinh thì theo, Hung Tinh thì tránh , Thể Dụng gồm đủ, là Khóa thượng cát, đó là ý chỉ về Tạo Mệnh. Từ đời Đường Huyền Tông sợ dân gian biết nghĩa Âm Dương, XUỐNG CHIẾU CHO MỘT BỌN NHÀ SƯ SOẠN RA KINH ĐÔNG HÀM, LÀM LẪN LỘN NGŨ HÀNH, LỘN TRÀNG SINH, VƯỢNG, LẠI DÙNG HƯU TÙ. Từ đó đua nhau là ra thi ca, trôi nổi lìa tan, rồi có thuyết các Nhà. Các Nhà ấy là gì? Kiêu này, Mã này, Lôi Đình này, Đầu Thủ này, Chu Tiên này, nào các loại Tứ Lợi Tam Nguyên, Hoàn La, Tử Đàn, Ngũ Vận Lục Khí, Sai Phương Lộc Mã, Kim Tinh Ngao Cực, Xuyên Sơn Thâu Địa, Lục Nhâm Kỳ Môn, tính cộng có đến hơn 10 Nhà, tất có thuyết của nhà nào đó, ý kiến không hợp, bàn luận không hơp. Họ đều nói: "y như ta thì cát, không thì hung tới". Như Cát Thần, Hung Thần, không dưới 110 loại. Thi ca khởi lệ lên, hoàn toàn không lý nghĩa thông thư, cũng noi theo vài trăm năm, mà chưa ai biết được cái lầm lẫn, gián, hoặc có kẻ biết, cũng cứ chép theo lệ cũ, không hay trừ bỏ sự dối trá. Ta nhân theo nghĩa làm con, không thể không biết về Địa Lý, cho nên cũng thích Âm Dương, lại để tâm kén chon. Năm Quý Dậu lên Hiên Thư Gia thính có người giỏi, nhân đó được lưu tâm xét chứng, rộng mời người thuật sĩ danh tiếng, ban ngày cung nhau lên chơi gò núi; ban đêm cùng nhau giảng bàn Lý Khí, nhưng về một phép Tuyển Trạch, vẫn trộm có nghi ngờ. Thuyết của các Nhà bời bời không thống nhất, lời bàn về Hung Thần, các loại đáng sợ, bỏ hay lấy không được, gồm thu cả cũng không thể được. Đầu Thủ tuy thời đang thịnh hành, mà lời bàn chẳng qua Nguyên Thần, Vũ Tài, Huyền Quan Phiên Hóa, vả lại lý không hợp. Như Nhâm Tí Sơn là Mộc Thuỷ, kẻ kia thì cho là Thuỷ, Tí cũng là Thuỷ, kẻ nọ thì cho là Hỏa, đến Ngũ Khí cùng Chính Khí tương phản lại nhau, hợp nhau chẳng qua lục Sơn thôi (Dần = Mộc, Canh Dậu = Kim, Mậu = Thổ, Bính Ngọ = Hỏa). Thông thư bây giờ phần nhiều phụ hội, như các loại Phát Vi Tử Minh, Tam Thai, Ngao Đầu, Tượng Cát, chỉ biết nêu để treo bài, suy ngang xem dọc, có 1 Nhà thì đủ 1 Nhà, có 1 thuyết thì chép một thuyết, nhân thể cẩu thả, lấy ngoa truyền ngoa. Từ trước đến giờ chẳng có ai thẳng nêu phải, trái, thực, giả, mà các thuật sĩ chỉ lấy sự thấy thấy nghe nghe, nhớ kỹ thi ca, tập thuộc cách tính bàn tay, chẳng qua chỉ "án đồ tác ký" (rập theo khuôn cũ) y dạng vẽ "hồ lô". Qua năm Đinh Sửu ta lại lên phương Bắc, đi khắp kinh đô Kim Lăng, tìm đủ các sách của các danh hiền đời xưa về Âm Dương Tuyển Trạch, tra xét xem cho rõ ràng, được bài luận có danh tiếng của các vị tiên hiền, với lại bản tâu của đời Tống Nguyên Chương, thấy được lý chân nghĩa thực, chính xác, không đổi, sau mới biết sự hỗn tạp của các Nhà, và sự câu nệ của các thuật sĩ tầm thường, được hay mất rất rõ ràng. Vậy thì phép Tuyển Trạch nên như thế nào? Tất lấy Tạo Mệnh của Dương Công làm chủ yếu. Gồm xét Điếu Thể của Quách Công, còn các Đầu Thủ không thể dùng được. Đến Cát Thần, Hung Thần cũng nên bàn riêng biệt: có Đại Sát, Trung Sát, Tiểu Sát; Đại Sát thì tránh đi, những loại: Tuế Phá, Tam Sát, Âm Phủ, Mẫu Kỷ Đô Thiên; Trung Sát thì y theo lý của Ngũ Hành để chế đi, như những loại Chá Thoái, Kim Thần, Hỏa Tinh, Quan Phù; Tiểu Sát thì chỉ lấy Cát Tinh chiếu vào mà thôi, chẳng thế mà sao mà trong 360 ngày, lại không có ngày phạm cố. Lại nên xét gốc nguồn Hung Thần, lý của trời đất không ngoài Ngũ Hành, hoặc theo Thiên Can Ngũ Hành, hoặc theo Địa Chi Ngũ Hành, Tam Hợp Ngũ Hanh, Bát Quái Ngũ Hành, Nạp Âm Ngũ Hành. Tất theo mấy loại này mới là đích thực, nên không theo các loại ấy dù có thi lệ đủ chứng cứ, đều thuộc vào ảnh hưởng của bọn làm giả dối. Đây là đại khái kể sơ qua, còn như làm luận thuyết, ngỏ hầu không mất khổ tâm vài chục năm. Về sau có người làm ra, hoặc lấy lời của ta làm không lầm lẫn vậy! BÀI BIỂU CỦA NGÔ CẢNH LOAN DÂNG QUYỂN ÂM DƯƠNG THIÊN CƠ Thần nghe người xưa nói rằng: Làm lịch như Tử Thân nước Lỗ, Tỳ Tập nước Trịnh, Tử Vy nước Tống, Cam Công nước Tề, Đường Muội nước Sở, Doãn Hoàng nước Triệu, Thạch Tân nước Nguỵ đều biết rõ lý ấy. Đời Hán thì có các sử, sách vấn điều đối, tuy nguyên là chính lý Ngũ Hành điềm lành biến đổi mà lẫn lộn thuyết Tiêm Vỹ Thuật Số, phụ hội bàn luận xuyên tạc, không rõ lẽ chính, làm càn nhiều mối. Quách Cảnh Thuần đời Đông Tấn có Táng Cát, chỉ lấy Lý Khí suy sáng ra, mà cũng chưa nói cái cơ sở dĩ nhiên, đến khi chết thì mất truyền. Từ đời Tuỳ Đường trở về sau, ngoa dối càng quá lắm, đặc biệt sai bọn THÁI THƯỜNG, BÁC SĨ, LÃ TÀI, THUẬT CÁC SÁCH CỬU LƯU, THUYẾT ÂM DƯƠNG THUẦN DÙNG QUÁI LỆ, CÂU NỆ DÙNG NGŨ HÀNH, LÀM HẠI CÀNG LẮM. Đời Đường trong niên hiệu Vĩnh Huy Cao Tông, ở huyện Văn Hỷ, tỉnh Hà Đông có Khâu Diên Hàn được thân nhân trao cho chính kinh, bèn hiểu rõ Âm Dương, y phép hãn trạch, đều được cát cả. Trong đời Khai Nguyên có sao khí giao nhau hiện ra, Triều Đình lo lắm, bèn sai cắt bỏ Sơn cửu thực ra là Sơn do Diên Hàn làm ra. Vua xuống chiếu bắt, tìm khắp trong dân gian không được, lại xuống chiếu tha tội, vời đến cửa nhà vua. Huyền Tông hỏi thuyết Âm Dương, rồi ban cho Tước. Diên Hàn bèn lấy sách "Sư Thụ Thiên Cơ", và cả ba quyển tự làm ra Lý, Khí, Tâm Ấn, dâng trình; vua Huyền Tông khen được, lấy tráp ngọc hòm vàng, cất vào trong kho, làm quốc bảo lâu đài. Lại lo dân gian có kẻ biết rõ thuật ấy, CHỪNG ẤY TRONG CUNG NUÔI MỘT BỌN NHÀ SƯ LÀM KINH SƠN HÀM, ĐỂ LÀM RỐI LOẠN SỰ THẬT, CHUYÊN LẤY NGŨ HÀNH LÀM LỆ, CÂU NỆ LẤY 28 TƯỚNG, ĐẾN NHƯ PHÁP BIẾN QUÁI, ĐỀU ĐẢO TRÀNG SINH VƯỢNG TẤT CẢ, LẠI DÙNG HƯU TÙ. Từ đó hơn 200 năm, chẳng lại có chính kinh, vua Hy Tông chưa kịp làm thành sách, thì giặc phạm vào Kinh khuyết. Triều Đình thất thủ, Công Thuỷ Tăng cùng với Dương Ích Tử ở trong quân, lấy trộm của ở trong kho Quỳnh Lân, có Ngọc Hầu chữ triện, là sách "Quốc Nội Thiên Cơ", xem ra thì là sách của Diên Hàn tiên sinh, nhân đó được sách, trốn về Giang Hữu mà tên tuổi Dương Tăng mới được rõ rệt. Lý Tư không chịu làm Tiết Chế Giang Nam thú cầu xin làm quân sư Nam Khang, Ông Thường sợ Quốc Gia nghe biết, tất lại dẩm vào vết xe của Diên Hàn, bèn ở trong Dinh Thứ Sử phí Đông, sai Bang Thạch lãnh sách dấu đi và lấy phép Thanh Điểu Quỷ Vận lẫn lộn vào. Mới về sau Thi Ca đua nhau làm ra, trôi nổi lìa tan, mà chính kinh thì im lìm lâu vậy. Đức Thái Tổ Hoàng Đế ta, nhất thống thiên hạ, nhân nghĩa thấm khắp, bốn bể một nhà, dân sinh ngày càng nhiều, người và gỗ càng lắm. Khi mới lên ngôi, thấy Địa Lý Thư có nhiều sai lầm, để luỵ đến vua rất nặng, đặc chiếu các nho thần viện Hàn Lâm, quản đốc các quan thuộc ở tòa Tư Thiên, nghiên cứu tinh tuờng Âm Dương cách cho tên sách là "Địa Lý Tân Thư", ban cho lưu hành ở đời, thực là thế đức của trời, và lòng nhân yêu dân không bờ bến. Thần trộm xem sách ấy, còn hối hận rộng rãi quá không biết về đâu, không phân biệt ngọc đá, còn sợ người đời bỏ lấy. Cúi nghĩ phụ thân là Khắc Thành thẹn là nhỏ hèn, biết chút bói toán, nhà nghèo bốn vách trống rỗng, nhờ nghề mọn đó để kiếm nuôi song thân, còn hận chưa biết đến huyền diệu, nghe ở núi Hoa Sơn, có người xứ sĩ là Hy Di Trần Đoàn biết sâu đạo trời cái cơ Âm Dương, tính mệnh, họa phúc, không ngại xa vài vạn dặm, đi đến tỏ học, bèn được truyền cho cuốn Tiên Thiên Dịch Số - Thanh Nang Tâm Pháp. Theo ngược lên nguồn gốc thì Hy Di được Tăng Văn Sơn truyền cho, Sơn được Dương Ích truyền cho. Đem về thử nghiệm, không gì không trúng, không may mất sớm, không được đời biết. Bấy giờ thần còn nhỏ, chưa biết gì cả, Tổ mẫu thần là Trương Thị cất cuốn sách đi, khi thần đã lớn, Tổ Mẫu trao sách cho xem, biết chút đại nghĩa, lớn lên theo thầy học, mới nghiên cứu kỹ thuyết đó, biết được cái nên dùng, thỉnh thoảng có kén chọn làm, may được vạn ứng, xóm làng quận ấp, nổi được danh tiếng nhỏ. Niên hiệu Khánh Lịch năm Tân Tỵ, có chiếu vua hỏi tìm người thuật sĩ biết rõ Âm Dương, quận huyện chọn cử thần, nhưng thân tự liệu Học sơ hạnh bạc, không dám vâng chiếu, nhưng quan Hữu Tư dục gấp lắm, mới dám lên đường, cho nên ở dưới cửa khuyết đợi tội, được đải ơn vua hỏi về sự huyền diệu Âm Dương, chiếu cho thần dâng nạp cuốn "Sư Thụ Thiên Cơ", và "Lý Khí Tâm Ấn", thần kính cẩn chua thêm, đưa hết cả lên vua xem. BÀI BIỂU CỦA NGÔ CẢNH LOAN NÓI VỀ TUYỂN TRẠCH NGŨ HÀNH Lũ thần thật run thật sợ, cúi đầu dập đầu, kính đem cuốn Ngũ Hành dâng trình. Tiên Thiên Hậu Thiên, tiết thân công không lường được: Long Vận, Sơn Vận, tỏ Thể Dụng chung không cùng. Nguyên đức của vua đều nghe biết cả, gốc ở Khôn nguyên che chỡ đầy. Thần lên thích thấy, rợ, chợ đều xem. Lũ thần thật run thật sợ, cúi đầu dập đầu, trộm nghĩ: Âm Dương Ngũ Hành, gốc nguồn xa lắm. Hà Đồ Lạc Thư, vua Hy vua Vũ mở rộng chỗ thiết yếu; Thanh Nang Kim Quỹ, Quản Quách tiết lậu cái chân cơ. Này chính khí Ngũ Hành, Hồng Phạm Ngũ Hành, Bát Quái Ngũ Hành, môn loại vốn không đồng, hoặc chính về Phương Vị, hoặc bàn về Hướng Cục, hoặc cùng đến Sơn Vận, lấy dùng há không để riêng rẽ, phép TUYỂN TRẠCH tốt lành, chẳng gì bằng Tạo Mệnh. Cái hay của Thể Dụng, có thể đoạt thần công, đó là bí yếu của Ngũ Hành, há chẳng phải của quý cho vạn thể. Nay cúi gặp Hoàng Đế... ngửa xem thiên văn, cúi xét địa lý, coi Nghiêu Thành Thang thuộc cả đồ bản, coi Vũ mênh mông, đều về thống trị cả. Trong Nhà toan tính cai trị, tôn trọng, tiết chế, dưới thì nhẹ nhàng, thực là vị vua đại hữu vi, là vị chúa phi thường. Cúi nghĩ lũ lần, tìm làm số mặc, và đọc sách nho, noi dòng ngược đến nguồn cùng cực, biết chút Khắc, Trạch, rất rõ cơ trời, biến định 2 vận, nối trời dựng cõi, giữ gìn xã tắc lâu dài; ra phương Chấn kế đến phương Ly, vỗ yên bản đồ nhà vua và củng cố, Ngũ Hành rõ rệt dùng, mừng động đến Thiên Nhan, cõi xa xôi hẽo lánh, nơi nơi ban hành, bẻ quế trời băng, người truyền thụ. Lũ thần không xiết xem Trời ngựa Thánh, rất là sợ hãi, kính lấy cuốn Ngũ Hành dâng lên vua xem. Kính xét Thiên Cơ bí thư bản về Ngũ Hành có 6 khoản: 1. CHÍNH NGŨ HÀNH LẤY ĐỘN LONG VẬN (Không bàn ngang, chéo, chính thụ, chỉ đem vào đầu một chút mạch tới, Dương thuận Âm nghịch, lấy Nguyệt Kiến và cung giữa, sau ngày Đông Chí thì thuận độn, sau ngày Hạ Chí thì nghịch độn, để tìm Bát Cung, xem sinh khắc, vượng, tiết, để đoán cát hung. Đây chỉ bàn Bát cung, không bàn Nạp Âm chịu khắc) 2. HỒNG PHẠM NGŨ HÀNH LẤY ĐỘN SƠN VẬN (Xem Nạp Âm thuộc Sơn Vận, khắc niên, nguyệt, nhật, thời thì TỐT; không nên niên, nguyệt, nhật, thời tới khắc Sơn Vận thì XẤU. Niên, nguyệt, nhật, thời sinh Sơn Vận thì TỐT; Sơn Vận sinh niên nguyệt, nhật, thời thì XẤU. Hỉ lợi thì tốt. Nếu khắc Sơn mà có chế có hóa, đều dùng được) 3. BÁT QUÁI NGŨ HÀNH LẤY CỤC ĐỘN HƯỚNG (Độn Hướng Vận Nạp Âm sở thuộc KỴ niên, nguyệt, nhật, thời xung khắc, nhưng Sơn với Hướng khó được hợp cả hai, NÊN LẤY SƠN LÀM CHỦ, Hướng bất tất hợp cũng được. 4. HUYỀN KHÔNG NGŨ HÀNH LẤY ĐỘN THUỶ VẬN (Độn Thuỷ Vận Nạp Âm sở thuộc KỴ niên, nguyệt, nhật, thời, xung khắc, như Ất Sửu KỴ Kỷ Mùi niên, nguyệt, nhật, thời xung khắc, dư phỏng đây mà suy) 5. SONG SƠN NGŨ HÀNH LẤY LUẬN TAM HỢP (Luận Tam Hợp không luận Độn Vận, như Cấn Dần, Bính Ngọ, Tân Tuất 6 Sơn đó luận Hỏa, nên dùng Cục Dần Ngọ Tuất bổ vào; Khôn Thân, Nhâm Tí, Ất Thìn 6 Sơn đó luận Thuỷ, nên dùng Cục Thân Tí Thìn bổ vào; 6 Sơn Càn Hợi, Giáp Mão, Đinh Dậu, Quý Sửu, bàn Kim, nên dùng Cục Tỵ Dậu Sửu mà bổ. Đây 2 Sơn mà dùng Cục Tam Hợp bổ vào Sơn, ĐÓ LÀ NGŨ HÀNH RẤT KHẨN YẾU) 6. HỖN THIÊN NGŨ HÀNH LẤY HỢP QUÁI LỆ (Bàn quái lệ không bàn Độn Vận như 2 quẻ Càn Đoài thuộc Kim, cho nên 6 Sơn Canh Dậu, Tân Tuất, Càn Hợi, nên dùng Kim niên, nguyệt, nhật thời bổ vào; 2 quẻ Chấn Tốn thuộc Mộc 6 Sơn Giáp Mão, Ất Thìn, Tốn Tỵ, nên dùng Mộc niên, nguyệt, nhật, thời bổ vào; Quẻ Khảm thuộc Thuỷ, cho nên 3 Sơn Nhâm Tí Quý, nên dùng Thuỷ niên, nguyệt, nhật, thời bổ vào; Ly thuộc Hỏa, cho nên 3 Sơn Bính Ngọ Đinh, dùng Hỏa niên, nguyệt, nhật, thời bổ vào; Hai quẻ Khôn Cấn thuộc Thổ, cho nên 6 Sơn Mùi, Khôn, Thân, Sửu, Cấn, Dần dùng Thổ niên, nguyệt, nhật, thời bổ vào) Lục gia Ngũ Hành đều có phép lấy, hợp nên gồm xem cả Thể và Dụng đều làm không trái, thì đoạt được thần công, đổi được Mệnh Trời, tạo phúc hưởng ứng. Đấn tiên sư dùng đấy, đã nghiệm ở trước rồi. Còn như Thế Tục không xét các NGŨ HÀNH, mà chỉ chuyên dùng Bản Ngũ Hành nhất định, sao hay tạo phúc cho đời được. nguồn: huyenkhonglyso.com
  21. Trong sách "Tân Mệnh Lý Thám Nguyên" có một đoạn đáng chú ý sau: Mậu lấy dương thổ trợ Giáp thành công nên nên được Sửu Mùi. Còn nếu lục Tân được Dần Ngọ là tự nhiên đến được cho Quý chẳng ai định được hơn thế. Xét thiên sách của Thừa Ngô Phụ tiên sinh, do dân Việt mách bảo ( viết ra trước: ký thị) cùng sách Hiệp Kỷ thì hai sách đó có mối tương đồng, xét ra lời nói minh bạch. Trích trong mục "Thiên Ất Quý Nhân" trang 90.
  22. Mục này không phải là mục tư vấn chỉ là nơi để mọi người tập luyện trao đổi khảo nghiệm quẻ. Vì vậy câu hỏi của các bạn, Thiên Đồng chỉ xem như để khảo nghiệm. Gửi mulan, Nữ sinh ngày 5/7/1982, giờ ngọ. Ngày canh thân 24 tháng nhâm thân năm kỷ sửu giờ tị Tử Vô Vọng Nghĩa quẻ thể hiện người này trong tâm trạng bắt đầu lo lắng và dao động, tinh thần bắt đầu...nghĩ ngợi lung tung giữa cái buông và cái bắt...sự tự do, cũng thể hiện hoàn cảnh hiện tại rất cô độc dù không ít kẻ ngấm nghé. tử lâm vượng địa, vô vọng suy khí trợ sinh. Chứng tỏ hiện trạng tình hình sẽ dần thoát qua cảnh éo le này. Nhưng phải rất chậm. Quẻ tiếp theo là Kinh Đại An, quẻ này cực tốt cho người đang hy vọng. Nghĩa quẻ là bất ngờ đi xây dựng...gia đình. Nhưng là mình chủ công kiếm tìm. Đại An hiện thời lâm bệnh địa chưa có lực mà lại hao lực do Kinh vượng, hữu thanh vô âm. Thế thì 2 năm sau (2011) mới tính chuyện duyên nợ. Trước mắt, tháng 12 âm 2009, gặp cơ may gặp người nam nhân đoan chính, thái độ lịch lãm ấy là mối tơ. Mong rằng quẻ nghiệm. Chúc Hạnh Phúc. Gửi pucca, Ngày canh thân 24 tháng nhâm thân năm kỷ sửu giờ tị Tử Vô Vọng - Kinh Đại An Bọn e đã chia tay nhau và h e mún hỏi chúg e có cơ hội way lại ko? Nghĩa quẻ Tử Vô Vọng xác định người đi đi biệt không về, và Kinh Đại An là có khi bất ngờ gặp lại thì coi như bạn bè. Việc hợp lại chỉ là viễn vong. Huống chi Tử kim vượng thể hiện mưu toan, Kinh kim vượng thể hiệt giật gân, chứng tỏ việc chia tay phát sinh từ phía người ta mà nên cớ sự. Nếu ko thì bao h e gặp đc chồg tương lai của e ạ? Khai Lưu Niên Quẻ này lâm vượng địa, lại được nên sinh thuần thủy quá chủ về những tháng cuối năm. Nghĩa quẻ chứng tỏ pucca bắt đầu một cuộc chinh phục mới. Lúc nào cũng mài sẳn một cây cưa, cưa âm thầm khi đúng đối tượng. Nhưng năm nay vẫn còn khó khăn. Đợi đến mùa đông năm sau sẽ thấy đối tượng là chồng. (Chỉ là đối tượng thôi nha). Ng đó hình dág, tính tình, sự nghiệp thế nào ạ? Quẻ tiếp Hưu Tốc Hỷ, nghĩa quẻ chủ sự chậm chạp. Tốc Hỷ tù địa và bị suy kiệt, Hưu thủy vượng địa. Người này cao 1.6m đến 1.67m, mặt hơi lộ cằm, mông hơi tóp, nói năng chậm chạm có vẽ thận trọng, tính nóng ngầm, thái độ cởi mở. Sự nghiệp, khi gặp là đang trong lúc gian truân lận đận. Chúc may mắn. Thiên Đồng. (mệt rồi sau tiếp) :rolleyes:
  23. Gửi Lenny, ngày canh thân 23 tháng nhâm thân năm kỷ sửu thìn tị Cảnh Tiểu Cát - Tử Vô Vọng. Cảnh tiểu cát là "trông về quê mẹ ruột đau chín chiều", bởi toàn quẻ lâm đất tử tuyệt hưu tù, tiểu cát tử tuyệt hóa củi nung hỏa cảnh hoài vọng. Như vậy ứng vớ tâm trạng hoài vọng cố hương mà không về được. Quẻ tiếp theo Tử Vô Vọng, lại khẳng định cái thế kẹt ở xứ người trong niềm thương nổi nhớ và có khó khăn. Tử lâm vượng địa Vô vọng âm thổ lâm bệnh địa, suy khí. Có thể luận là cũng đang khó khăn về tài chánh và đang tích cóp để về nhưng trong giai đoạn tài chánh cá nhân khó khăn hay khủng hoảng. Như vậy sẽ ở lại ít nhất là 5 tháng nữa, dài là 9 tháng nữa mới về Việt Nam.Tức là tháng 11 âm 2009 hoặc tháng 3 âm 2010 sẽ về. Đoán là tháng 3 âm 2009 về. Chúc vui vẻ. Thiên Đồng.
  24. gửi heoconjapan, Chồng 1982: Nhâm Tuất mạng Thiên Thượng Hỏa Vợ 1985: Ất Sửu mạng Hải Trung Kim Vợ chồng này tương đối hợp đây. Cỡ trung bình hay trung bình khá. Mạng chồng khác mạng vợ là hợp lẽ trời. Vợ chồng đề huề, phu xướng phụ tùy, ai nhìn vào cũng thấy xứng đôi. Bước ra đường chồng tuy có sênh sang cũng không ai biết là trong người xẹp túi. Nhưng mà Nhâm Ất cố sinh, Sửu Tuất tương xung, cho dù có sóng khua chén vở buổi sáng thì buổi chiều cơm cũng lành canh cũng ngọt...lịm. Vậy thì lấy nhau rồi thì nên tập 1 là Canh Dần gái 2010, tập 2 là Đinh Dậu 2017. Vợ chồng này sẽ từ khá trở lên. Còn chuyện của tetpy0901 thiệt là lo ghê. Hong lẽ potay.canh?
  25. Đi với Si Phọ thì hong sợ mưa đâu. Cái này Đồng kinh nghiệm, hong mà chính xác hơn là thường nghiệm roài. Anh MC muốn đi Hà Lội mà không lội mưa thì trở về phải lập đàn tạ lễ với Si Phọ bằng...Bích-mèn-bi-a. :rolleyes: (nói chơi thoi nha)
×
×
  • Create New...