-
Số nội dung
6007 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
103
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by wildlavender
-
7 điều không nên làm ngay sau khi ăn trứng Có một số điều không nên thực hiện ngay sau khi ăn trứng để tránh những tổn hại cho sức khỏe. 1. Không ăn đường Không nên chế biến trứng cùng với bột ngọt (mỳ chính) là điều mà chắc hẳn rất nhiều người đã biết. Nhưng có thể nhiều chị em không biết rằng trứng không nên nấu chín cùng với đường hoặc không dùng đường ngay sau khi ăn trứng. Ở nhiều nơi thậm chí còn có thói quen chế biến món thịt kho trứng với đường thắng để lấy màu. Trong thực tế, điều này sẽ làm cho protein axit amin fructose trong trứng tiếp hợp với lysine. Chất này khó hấp thu bởi cơ thể, như thế sẽ tạo ra các hiệu ứng y tế bất lợi. 2. Không ăn quả hồng Ăn hồng ngay sau khi ăn trứng là một trong những nguyên nhân ngộ độc thực phẩm và viêm dạ dày ruột cấp tính. Sau khi ăn 1 – 2 giờ bạn có thể bị nôn mửa. Khi đó cần uống ngay lập tức dung dịch bao gồm 20g muối và 200ml nước sôi. Nếu bạn không nôn, bạn cần phải uống nhiều lần để thúc đẩy nôn mửa. Hoặc bạn cũng có thể sử dụng nước ép gừng tươi hòa lẫn với nước ấm. Sau đó bạn vẫn cần phải uống thuốc nhuận tràng để đào thải những chất độc hại trong cơ thể. 3. Không uống sữa đậu nành Mỗi buổi sáng thức dậy, một số mẹ cẩn thận chuẩn bị bữa sáng cho con. Muốn con cái đầy đủ dinh dưỡng từ sáng sớm nên rất nhiều mẹ chuẩn bị khẩu phần bao gồm trứng chiên và cốc sữa đậu nành. Trẻ cũng thường uống sữa sau khi ăn trứng để làm dịu cơn khát của chúng. Uống sữa đậu nành sau khi ăn trứng không tốt cho tiêu hóa. (ảnh minh họa) Trong thực tế, sữa đậu nành có chứa protein thực vật, chất béo, carbohydrate, chất dinh dưỡng, bao gồm vitamin, khoáng chất… có tác dụng bổ dưỡng rất tốt. Sữa đậu nành còn chứa chất ức chế trypsin, có thể ức chế hoạt động của con người, ảnh hưởng đến tiêu hóa và hấp thụ protein trong cơ thể người. Nếu ăn trứng cùng với uống sữa đậu nành thì protein trong trứng có thể kết hợp với trypsin trong sữa đậu nành làm cho quá trình phân hủy protein bị cản trở và làm giảm tỷ lệ hấp thụ protein trong cơ thể. Ngoài ra, trong sữa đậu nành có protidaza gây kiềm chế protein trong trứng gà, ảnh hưởng tiêu hóa. 4. Không ăn thịt ngỗng, thịt thỏ Không nên ăn thịt ngỗng, thịt thỏ ngay sau khi ăn trứng, nguyên nhân là bởi vì thịt thỏ, thịt ngỗng ngọt, tính hàn, trứng cũng thuộc nhóm thực phẩm này, cả hai đều có chứa một số chất có hoạt tính sinh học khi ăn với nhau sẽ xảy ra phản ứng kích thích đường tiêu hóa, gây tiêu chảy. 5. Không ăn thịt rùa Khi ăn trứng có rất nhiều điều cấm kỵ mà bạn cần đặc biệt lưu ý. Ví dụ như ăn trứng cùng lúc với thịt rùa có thể dẫn đến ngộ độc thực phẩm. Đặc biệt là những người mệt mỏi, cảm lạnh càng không nên ăn. Đối với phụ nữ mang thai, tiêu hóa đôi khi không tốt cũng không thích hợp với cách ăn này. 6. Không uống các loại thuốc chống viêm Trứng rất giàu protein, trong khi các chứng viêm trong cơ thể lại liên quan đến lượng protein. Vì vậy, khi bắt đầu tình trạng viêm, nhớ không uống thuốc sau khi ăn trứng. Đặc biệt là các bệnh tiêu hóa, tiêu chảy, có thể thậm chí không ăn trứng. Trứng có chứa protein sẽ làm tăng gánh nặng cho dạ dày, ảnh hưởng tương đối đến sự hấp thu và tiêu hóa. 7. Không uống trà Người dân Việt Nam thường có thói quen uống chè đặc sau bữa ăn .Vì cho rằng nước chè giúp miệng sạch, và giúp hỗ trợ tiêu hoá. Nhưng thực ra mọi thứ lại hoàn toàn ngược lại. Uống trà ngay sau khi ăn trứng là gây hại cho cơ thể. Trà chứa nhiều axit tannic kết hợp với protein tạo thành protein axit tannic làm chậm hoạt động của nhu động ruột, kéo dài thời gian lưu trữ phân trong ruột, không chỉ là nguyên nhân gây ra táo bón mà còn làm tăng nguy cơ tích trữ các chất có hại cho cơ thể và gây ra chất ung thư bất lợi tác động xấu đối với sức khỏe con người.
-
- 1
-
-
PHỔ HIỀN THẬP NGUYỆN Phổ Hiền Thập Nguyện Lời khai thị của Hòa Thượng Viện Chủ nhân ngày vía đức Phổ Hiền. Hôm nay, ngày 21 tháng 2 Âm lịch, là ngày vía đức Phổ Hiền. Thầy nhân cơ hội này, giảng cho quí vị một bài pháp về mười hạnh nguyện của Ngài Phổ Hiền. Đức Phổ Hiền là bậc Bồ Tát trong hàng thánh giả. Thánh giả là những vị hiện thân làm Bồ Tát để tế độ chúng sanh. Chẳng những Ngài mà các đức Quán Âm, Thế Chí, Địa Tạng v.v… đều là những bậc thánh giả. Trong sử không xác định rõ thời gian các ngài xuất hiện, mà chỉ nói “vô lượng kiếp về trước”. Sự ứng thân của các ngài mang ý nghĩa tượng trưng nhiều hơn. Không như lịch sử của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Do đó ta cũng nên hiểu qua ý nghĩa tượng trưng đó. Đức Phổ Hiền, tiếng Phạn gọi là Samantabhadra, Ngài tiêu biểu cho đạo hạnh tu trì. Hạnh là chính yếu, không hạnh không thành công. Các đức Phật, Bồ Tát thị hiện ra đời luôn để lại gương sáng hay các đại hạnh nguyện cho người đời sau noi theo, như đức Phật A-Di-Đà có 48 hạnh nguyện, đức Dược Sư có 12 lời nguyện, đức Quán Âm có 12 lời nguyện, còn đức Phật Bổn Sư thì “chúng sanh vô biên thề nguyện độ”. Riêng đức Phổ Hiền có 10 hạnh nguyện rộng lớn. Trong các hình vẽ, tượng tạc, ta thường thấy Ngài Phổ Hiền ngồi trên voi trắng, đức Văn Thù ngồi trên con Đề Thính (một loại sư tử hiền). Mỗi vị Bồ Tát đều cởi trên lưng một con vật. Con vật tượng trưng tánh hạnh của Bồ Tát. Nói tới tượng vương, ta phải biết oai nghi của nó như thế nào, rất siêu việt. Trong các loài thú, chỉ có voi đi đứng rất khoan thai. Chánh báo nào thì y báo đó, “đường đường tăng tướng, dung mạo khả quan”. Sự đi, đứng của người tu là phải như vậy đó. Lắm khi chỉ nhìn vào cách đi, cách đứng của người tu là người ta muốn quy y, theo làm đệ tử. Đó thuộc về thân giáo hóa. Quan trọng ở chỗ đó. Hạnh tu là thế, cho nên người xuất gia, trong mọi trường hợp đi đứng nằm ngồi đều phải khoan thai, đường đường chính chính. Hôm nay, ngày vía của đức Phổ Hiền, thầy nhắc lại mười hạnh nguyện của hàng Phật tử. Hầu hết trong chúng đều thuộc lòng mười hạnh nguyện của đức Phổ Hiền : Nhứt giả lễ kính chư Phật ; Nhị giả xưng tán Như Lai ; Tam giả quảng tu cúng dường ; Tứ giả sám hối nghiệp chướng ; Ngũ giả tùy hỷ công đức ; Lục giả thỉnh chuyển pháp luân ; Thất giả thỉnh Phật trụ thế ; Bát giả thường tùy Phật học ; Cửu giả hằng thuận chúng sanh ; Thập giả phổ giai hồi hướng. Có nhiều vị thuộc bài kệ trên mà không hiểu nghĩa, cũng có vị hiểu đôi chút, nhưng không sâu sắc. Học Phật phải hiểu cả sự lẫn lý, khó nhứt là về lý đạo. Bởi lý đạo nói không được, không thể đem ra giảng như 2 với 2 là 4. Vậy ta làm sao đây ? Trước học về sự tướng, rồi nhờ tâm thiền, tâm định làm phát sinh trí tuệ, khi ấy lý đạo mới hiển bày. Nhiệm mầu là đây. Nếu lý không hiểu thì không tu tiến được, cũng như mình không thấy tánh thì sao thành Phật ! Mà thấy tánh là thấy thế nào ? Trong kinh thường nói “kiến tánh thành Phật”. Làm sao kiến tánh đây ? Trong những việc làm hằng ngày, từ việc nhỏ cho đến việc lớn, từ “vận thủy ban sài, gánh nước bửa củi” đến công phu tụng niệm đều đúng với pháp sự đạo tràng. Các pháp môn tu tập, các bộ kinh, luật và luận đều phải hiểu biết rõ ràng, đâu ra đó. Thế mới được gọi là kiến tánh. Hiện tại, trong chúng ta, việc gì cũng không biết, không biết đầu không biết đuôi, làm không tới nơi tới chốn, nếu quí vị suy nghĩ lại sẽ thấy tánh của mình ra sao. Tánh còn mê, còn quấy, không phải là tánh thấy của chư Phật. Bây giờ thầy giảng sự lý của mười hạnh nguyện ; Đệ tử chúng đẳng, Tùy thuận tu tập, Phổ Hiền Bồ Tát, Thập chủng đại nguyện, Nhất giả lễ kính chư Phật. ——————————————————————————– 1. Một là lạy kính chư Phật. Là Phật tử tại gia hay xuất gia, một khi lễ lạy chư Phật, lòng thành kính trong ta phát khởi. Đó là lẽ thường tình. Nhưng chư Phật đâu chẳng thấy chỉ thấy mấy ông Phật giả, làm bằng ciment, bằng gỗ, bằng giấy lộng khuôn v.v… để rồi đặt tên đặt tuổi, giả danh giả tướng, rồi ốp nhau mà lạy. Lạy dữ lắm, với tất cả lòng thành. Đó có phải là lễ kính chư Phật không ? Đứng về sự mà nói thì không ai cho là sai cả, nhưng lễ kính như thế vẫn chưa đúng nghĩa, chưa hoàn toàn, vẫn còn một ông Phật thiệt đâu đó mà ta chưa lễ kính. Làm thế nào để được lễ kính ông Phật thiệt ? Ông Phật đó ở đâu ? Ông Phật thiệt không ở đâu xa cả, mà ở trong chính con người chúng ta. Chữ “kính” là tôn kính ông Phật của mình. Chữ “chư Phật” trong câu “Nhất giả lễ kính chư Phật” hàm ý nói lên sự lễ kính Phật tánh của tất cả chúng sanh, không chỉ riêng của mình. Khi ta lập hạnh kính lễ chư Phật (Phật tánh của tất cả chúng sanh) thì có bao giờ ta làm trái lời thệ nguyện ấy không. Trái ngược nghĩa là gì ? Là không cung kính, bất cẩn, bất cập. Khi ta lễ kính cái Phật tánh của ta, là ta sống rất cẩn thận, nói ra những lời không ngược lại với tánh giác của chính mình và của mọi người. Chính vì vậy, mà trong Đại Thừa Phật giáo, các thầy khi gặp nhau, chắp tay xá chào. Có nhiều vùng ở bên Trung Hoa, các sư chào nhau bằng cách quỳ lạy lẫn nhau. Đó là lễ kính chư Phật. Bên Phật giáo Nguyên Thỉ thì không vậy, người ta cho rằng tăng là bậc đức hạnh cao trọng có đâu lại xá hạng phàm phu. Bên Đại Thừa, lễ kính lẫn nhau vì kính cái chánh nhơn Phật tánh của nhau. Điều này hay vô cùng, khi kính Phật tánh của nhau thì không thể nói nặng, buồn giận nhau, và điều quan trọng hơn hết là kính cả chính mình. Đi, đứng, nằm, ngồi đều phải tôn kính ông Phật của mình, đó là hạnh tu. Thường Bất Khinh Bồ Tát gặp ai cũng “nguyện nhữ tương lai tác Phật”, nghĩa là tôi không dám khinh các ngài, vì các ngài tương lai sẽ làm Phật. Có nhiều người giận tức, lấy đá lấy gậy đánh Ngài, Ngài vẫn tự nhiên. Ta kính lạy luôn luôn vị Phật trong ta, ông Phật thiệt trong ta. Tất cả các hình tượng Phật ta thờ ở ngoài đều là giả cả. Nói thế ta đừng móng tâm khinh thường, một khi các hình tượng Phật được làm lễ khai quang, an vị để thỉnh các điển quang nhập vào, thì hình tượng trở nên linh thiêng, vì đã tượng trưng cho Phật tánh của mỗi người chúng ta. Khi ta giữ được “Nhất giả lễ kính chư Phật”, ta không dám khinh thường ai, không dám nói nặng ai, bởi vì nói nặng người là tự nói nặng mình, vì ai cũng có Phật tánh cả. Làm được vậy, hạnh tu mới tiến. Tu mà không thấy Phật tánh nên cứ xài xể người cho đã miệng, cho đã tức v.v… thì đâu còn hạnh tu nữa. Lý đạo là vậy. Trong chúng đồng tu học, dù ta có bận rộn thế nào, gặp nhau cũng nên xá với câu niệm Phật A-Di-Đà, rồi nói chào cô, hay chào sư huynh, hay nói theo phương tây là “How are you ?” hay “Comment allez vous ?”. Khi Ngài Phổ Hiền “nhất giả lễ kính chư Phật”, Ngài không riêng chỉ lễ kính các đức Phật trong mười phương thế giới, mà là tất cả muôn loài chúng sanh. Hạnh của Ngài chỉ có ở hàng Bồ Tát, Bồ Tát tánh phải kính trọng Bồ Tát tánh, thế nên Ngài được gọi là đại hạnh Phổ Hiền vương Bồ Tát. Nhị giả xưng tán Như Lai Lời nguyện thứ hai của Ngài là luôn luôn xưng khen đức Như Lai. Xưng khen như thế nào ? Không lẽ ngồi đó xưng khen đức Phật này nọ. Nếu thế chỉ là bề ngoài của chữ nghĩa, lời nói. Thật ra, xưng khen như thế cũng là chuyện tự nhiên, vì đâu phải dễ thành Như Lai. Tuy nhiên, đừng quên cái Như Lai Tạng Tánh ở trong ta. Nhưng cái Như Lai Tạng Tánh của ta thì tại triền, trong sự ràng buộc, cột chặc. Đức Phật là Như Lai xuất triền, ra khỏi sự ràng buộc, cắt lìa sợi dây tình ái, sợi dây danh lợi. Ta phải nhìn lại Như Lai Tạng Tánh của chính ta. Làm sao sống trở lại với Như Lai Tạng Tánh để rồi được thành Phật, thành tổ. Trước hết, ta phải biết rằng trong ta có Như Lai Tạng Tánh, có viên ngọc Ma Ni. Như Lai Tạng Tánh hiện hữu trong mỗi loài chúng sanh, ngay cả các loài thượng cầm hạ thú, nhưng vì chúng không biết mà thôi. Trong chúng ta, lắm người đậu cả chục bằng tiến sĩ cũng chưa biết mình có viên ngọc Ma Ni, nếu biết họ đã xả bỏ những “thế trí biện thông” để tìm cầu cái siêu trí tuệ. Khổ nổi họ không biết điều đó. Cho nên, là Phật tử, hơn ai hết, ta phải hiểu, phải biết tôn trọng, xưng tán cái Như Lai Tạng Tánh của mình và của người. Còn thương, còn ghét, còn khen, còn chê là chưa phải xưng tán Như Lai Tạng Tánh. Đó là phàm phu tạng tánh. Như Lai là “như như bất động, lai thành chánh giác”, là tự như, sẵn có từ ngàn xưa. Như Lai Tạng Tánh cũng tức là Phật tánh vậy. Tam giả quảng tu cúng dường. Ba là rộng thực hành cúng dường. Đứng về sự, cúng dường là hướng ra bên ngoài, nó nằm trong “tứ vật dụng” ; ẩm thực, ngọa cụ, thang dược, và y phục, là bốn thứ cung cấp nuôi dưỡng chư Tăng Ni. Đứng về lý mà nói, “quảng tu cúng dường” là luôn luôn cung cấp, nuôi dưỡng tâm linh ta bằng những pháp vị cao thâm, giáo lý nhiệm mầu. Đó là những món ăn bồi bổ cho tinh thần, hầu giải tỏa những đói khát, bệnh hoạn, những điên đảo vọng tưởng của nội tâm. Nhiều vị tiền bối nghĩ rằng cúng dường các vật dụng vẫn chưa đủ, các vị phát tâm rộng lớn hơn bằng cách đốt một ngón tay, đốt trên đầu, nhiều khi đốt cả thân mạng để cúng dường, vì thấy rằng ân sâu của chư Phật quá rộng dầy, không thể nghĩ bàn. Đức Phật, trong vô lượng kiếp, đã vì chúng sanh tìm cầu chơn lý. Ơn đó ta lấy gì đền trả, lấy gì cúng dường để tạm cho là tương xứng. Ôi ! lời xưng dương tán thán nào mới đủ đây, chỉ có đốt thân này ra tro ra bụi, họa may ta đáp đền ơn trên trong muôn một. Hành động này có cả sự và lý. Sự thì khó nghĩ tưởng, lý thì huyên thâm vi diệu, sâu sắc nhiệm mầu. Sự của câu “quảng tu cúng dường” là cúng dường những gì ta có, tùy khả năng. Làm Phật sự cũng là một cách cúng dường, đem công sức ra phụng sự, sau đó hồi hướng cho pháp giới chúng sanh. Trong tất cả sự cúng dường, pháp cúng dường là thù thắng hơn cả. Một khi ta thông hiểu giáo lý của Phật, rồi đem ra giảng giải cho tất cả chúng sanh, bất cứ ngày nào, giờ nào. Đó là hoằng pháp lợi sinh. Đức Phật ra đời chỉ một mục đích chính là cứu độ tất cả chúng sanh. Chúng ta đi tu cũng vậy, chỉ có một mục đích duy nhất là độ tận chúng sanh. Trước là độ các chúng sanh trong ta, rồi mới độ tha. Thế cho nên có câu “Tự tánh chúng sanh thề nguyện độ”, nguyện độ những phiền não, điên đảo trong ta, sớm chừng nào gần Phật chừng ấy. Vì vậy, thầy cố gắng khuyến khích quý vị cố tâm học kinh, luật và luận. Có học mới biết giáo pháp, mới mong tế độ chúng sanh. Nếu không, quý vị tế độ cách nào ? Không lẽ may y, may áo cho nhiều, lập chùa, lập chiền cho nhiều là tế độ chúng sanh sao ? Đã đứng trong hàng Tăng Bảo, lý ra giờ nào cũng thuyết pháp lợi sanh, ban cho chúng sanh những món ăn tinh thần, trường kỳ không gián đoạn. Với các Phật tử đến viếng chùa, sau những lời hỏi thăm xả giao, quý vị đem giáo lý ra giảng, họ quý lắm, thích lắm. Họ về tới nhà hay đi đâu xa vẫn không quên quý vị, nhứt là đối với những gia đình hữu sự (có thân nhân vừa qua đời). Họ đến chùa xin cầu siêu, mà ta giảng cho họ ý nghĩa cầu siêu, rồi từ đó dẫn đến Phật Đà. Thường trong bối cảnh như thế họ dễ dàng quy ngưỡng Phật pháp và dễ tỉnh thức. Quảng tu cúng dường cũng có nghĩa như thế. Cung cấp nuôi dưỡng chúng sanh bằng những món ăn tinh thần, vì họ đang thiếu thốn, đang đau khổ. Họ trở nên đói khát, ốm o, gầy mòn. Họ điên cuồng không biết gì là trái, gì là phải. Ôi ! có gì đáng thương bằng. Quảng tu cúng dường, nghĩa chính yếu là cung cấp nuôi dưỡng tâm linh, làm cho muôn loài chúng sanh đầy đủ yến sáng giác ngộ. Tứ giả sám hối nghiệp chướng. Ngài Phổ Hiền biết rằng chúng sanh sinh ra ở cõi đời này đều có nghiệp chướng. Nghiệp chướng ở loài người nhẹ hơn ở loài súc sanh. Ở địa ngục, ngạ quỷ thì nặng nề, đen tối bội phần. “Ngũ thú tạp cư địa” nghĩa là ta và các loài A-tu-la, điạ ngục, ngạ quỷ và súc sanh cùng nhau chung sống lẫn lộn. Ta không thấy các cõi A-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ vì ta còn mắt phàm. Ngay cả người với người đôi khi ta còn không nhìn ra. A-tu-la là loài ưa giận hờn, gọi là A-tu-la tánh. Quý vị hãy gắng dẹp cái giận, cái hờn, là quý vị ra khỏi nhà lửa, còn giận còn hờn là chun vô nhà lửa. Chúng sanh có nghiệp chướng nhẹ, hay không còn nghiệp chướng sẽ không sanh về cõi “Nam diêm phù đề” này, mà sanh lên các cõi khác. Vì vậy, chúng ta nên thường sám hối nghiệp chướng. Hễ thấy tâm không yên, rắc rối, là phải tắm gội sạch sẻ, đắp y mặc áo lên sám hối. Nhất tâm sám hối, mỗi tiếng chuông là một cái lạy. Tiếng chuông tỉnh thức ; Tiếng chuông ngân ngợi trong đêm vắng, Thử hỏi hồn ai đã tỉnh chưa ? Sám hối cho hết nghiệp chướng. Không riêng gì hàng phàm phu chúng ta, ngay cả bậc A-la-hán vẫn còn vi tế hoặc, vô minh hoặc. Lên tới hàng Bồ Tát vẫn còn vi tế vô minh, trần sa vô minh. Hàng Thập Địa Bồ Tát, Đẳng Giác Bồ Tát, và hàng Duyên Giác vẫn còn vi tế vô minh. Trừ khi nào lên đến Viên Giác thì mới hoàn toàn trong sáng. Vì vậy, sám hối nghiệp chướng vô cùng cần thiết cho mọi tầng bậc tu chứng. Tiếc thay, có lắm người cho rằng họ đã tu lâu lắm rồi, đã bốn chục năm hơn, ngày nào họ cũng sám hối, tội đã diệt, không cần phải sám hối nữa. Họ có biết đâu, khi còn mang thân này, thì vẫn còn tội lỗi, chắc thật như thế. Sám hối có nhiều pháp, nào là Hồng Danh sám hối, Tác Pháp sám hối, Thủ Tướng sám hối. Các pháp sám hối này thuộc về sự. Về lý sám hối thì có Vô Sanh sám hối, nghĩa là luôn quán pháp vô sanh. Tâm niệm hiện tiền của ta không có sanh, không có diệt. Đối với ba thời gian tâm không có ; quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc và vị lai tâm bất khả đắc. Bởi vậy, những lúc rảnh rang, ta nên ngồi kiết già quán sám hối vô sanh. Quán cái tâm niệm hiện tại ra sao. Đó là hạnh tu của đức Phổ Hiền, thiếu nó thời hạnh tu không được viên dung. Ngũ giả tùy hỷ công đức. Tánh ganh ghét ai cũng có hết, thấy ai hơn thời không ưa. Trong giới xuất gia, thấy ai lập hạnh gì là không muốn, sợ họ sẽ thành Phật sớm hơn mình. Thấy người ta học khá một chút là không vừa lòng. Tánh chúng sanh là như thế đó. Vì biết căn bản tánh của chúng sanh, nên Ngài Phổ Hiền đặt ra hạnh “Tùy hỷ công đức”. Có lắm trường hợp, ta nên “A Di Đà Phật” mà tùy hỷ hết, dầu việc đó ta biết là sai, là bậy. Khi chưa gây được cảm tình với người, ta nên cười hòa thôi. Việc này rất sâu sắc và tế nhị. Trong buổi sơ giao, chớ nên chỉ chỗ sai của người, dễ tạo ác cảm không tốt. Một khi ta mất cảm tình thì khó thuyết phục người. Lần hồi ta sẽ giúp họ sửa chữa lỗi lầm. Ta phải làm việc này với cả khối trí tuệ và lòng tư bi vô lượng. Chớ có đem phiền não mà sửa, đừng dạy đời người ta, làm thế là làm với cái chúng sanh tánh, không phải tùy hỷ công đức. Thấy ai hơn ta, ta phải chấp tay tùy hỷ ngay, để đối trị lại lòng háo thắng, ganh ghét. Hãy dẹp tánh hơn thua vị kỷ, ai hơn mình một tí là chịu không được, ngay cả chị em ruột cũng không từ. Người như thế, sống triền miên trong đau khổ. Tùy hỷ là vui theo hay là hoan hỷ. Bất cứ việc gì ta cũng tùy hỷ công đức. Như thế ta mới đi vào tánh sáng, tánh Phật trong ta. Tất cả những gì người khác phát nguyện tu trì ta đều tùy hỷ. Tuy nhiên, có những khi ta không nên tùy hỷ mà phải phát lòng từ bi nhắc nhở đương sự ngay. Thí dụ, trong chúng có vị thầy đang khoẻ mạnh, nhưng hễ tới giờ học là tìm mọi lý do để thối thất, lại nhờ mình xin phép thầy quản chúng thay thẩy. Lúc đó ta nên thẳng thắn, với lòng từ bi, từ chối và nói với thầy đó rằng thẩy không bận việc, hay bệnh hoạn gì, thẩy chỉ sinh tâm lười biếng, mà thẩy lại bắt mình đi nói láo. Nếu trong trường hợp đó mà ta thân mật không nói gì, thì đó là chướng ngại cho ta lẫn vị thầy đó. Ta nên tìm một cơ hội nào đó, trong đạo tình với nhau, nói lại sự kiện vừa qua, chẳng hạn như “Hôm qua huynh biểu tôi xin dùm cho huynh vắng mặt trong thời công phu khuya. Tôi thấy huynh không phải không đúng, huynh khoẻ chớ không có bệnh hoạn chi, tại vì huynh muốn làm cái này, cái kia, theo vọng ý của huynh. Nếu tôi tùy hỷ thì nó ngược lại với hạnh nguyện của đức Phổ Hiền, huynh hoan hỷ hiểu cho, để chúng ta đồng đăng bỉ ngạn’. Không phải lúc nào cũng tùy hỷ, đó là vô minh. Trong sự tùy hỷ phải có đặc tính trí huệ. Có những việc người nhờ ta, nếu ta không nhận sẽ tạo sự bất mãn với nhau. Ta nhận, nhưng biết rằng việc đó là ” ba trời ba đất”, không khéo sẽ bị lôi cuốn vào. Nói thế, không phải ta bỏ mặc, mà phải khéo léo tìm cách sửa đổi đương sự. Tất cả những gì người khác làm mà xứng với Phật tánh, ta đều tùy hỷ cả. Người ta làm được việc lành hầu sớm đạt đạo bồ đề, ta càng phải vui mừng đón nhận. Tùy hỷ công đức, không phải tùy hỷ phước đức. Công đức là chuyện tu, chuyện tiến. Khi thấy người ta tu tiến, ta không những chỉ tùy hỷ, mà còn khuyến tấn họ luôn luôn. Tâm niệm của chúng sanh thì không thế, thường ganh tỵ. Ví dụ, có hai người cùng đi chùa, một người phát tâm cúng dường một số tiền lớn, còn người kia vì chưa biết đạo sâu sắc nên không đồng ý, sợ rằng bạn mình sẽ được chùa trọng vọng hơn, hay thấy ngại ngùng vì người ta cúng dường mà mình không cúng dường, rồi thốt lời trách cứ bạn mình. Lắm người có tánh phàm phu như thế. Thành ra, trong một nhóm bạn đạo năm bảy người, có người muốn cúng vật gì, số tiền gì lớn thì không dám, sợ bạn đạo sanh tâm ganh ghét. Lục giả thỉnh chuyển pháp luân Hạnh thứ sáu là luôn luôn cung thỉnh những vị quay được bánh xe chánh pháp. Việc lợi ích này không phải chỉ riêng ta hưởng, mà cho mọi loài chúng sanh. Chuyển pháp luân là đem thức ăn tinh thần đến cho ta và người, là dùng bánh xe pháp nghiền nát những rác rưới, cỏ dại trong tâm hồn ta. Tất nhiên, có nghe pháp, dần dà ta giải tỏa được các phiền não trong ta. Thành ra, nghe một thời pháp như thêm một món ăn tinh thần, ta không đói mà người cũng không đói, lợi lạc vô cùng. Đó là hoằng pháp lợi sanh, tục Phật huệ mạng. Bởi vậy, khi hiểu được Phật pháp, ta mới biết con đường tu ra sao, tiến thế nào, làm thế nào chuyển được phiền não. Không biết đường đi nước bước thì làm sao đến nơi đến chốn cho đặng. Mà đường không phải lúc nào cũng tráng nhựa hết đâu, hầm hố chông gai đầy dẫy, cọp beo, rắn rít v.v… Cho nên phải thỉnh chuyển pháp luân. Ngày nào có món ăn vật chất ngày đó phải có món ăn tinh thần. Trong thời khóa tu học, giờ công phu sáng, chiều, giờ ngồi thiền, giờ học v.v… đều là những món ăn tinh thần vô cùng cao quý. Một ngày quý vị ăn ba, bốn lần, còn tinh thần không có thời nào, nó sẽ đói cở nào, nó sẽ ốm o, gầy mòn đến cở nào. Cho nên, phải luôn cung thỉnh chuyển bánh xe pháp. Vì hiểu được lý này, nên có nghi lễ cung thỉnh pháp sư, có đèn, có nhang, có hoa có quả, đôi khi còn có hồng bao nữa. Đó là trọng pháp. Lòng tôn trọng pháp được biểu lộ qua hình thức trên. Người xưa diễn tả lòng tôn trọng pháp qua lời nói. Cung duy tôn giả, đại Phật tuyên dương, Thuyết pháp lợi sanh, báo Phật ân đức. Theo cổ lệ, người đại diện thay mặt toàn thể thính chúng, cung duy, đảnh lễ vị pháp sư ba lạy cúng dường. Có nhiều trường hợp người đại diện thính giả đã 82 tuổi ngoài, trong khi đó vị pháp sư chỉ mới ngoài 20. Lắm người không biết đạo, thấy thế cho rằng đạo Phật kỳ hoặc. Họ bảo thuyết pháp thì cứ thuyết, cớ sao lại phải cử một vị đại diện, mà vị đại diện đó tuổi đáng ông ngoại thầy pháp sư. Thế là họ sinh tâm hủy báng. Thật ra, sự cung kính lễ bái đó là đối với chơn lý, với chính pháp, không phải đối với cái xác thân tứ đại của vị giảng sư ! Thất giả thỉnh Phật trụ thế Về sự mà nói, Phật nhập niết bàn cách nay đã 25 thế kỷ. Nên nói “thỉnh Phật trụ thế” thế nào được ! Do đó, “trụ thế” ở đây nghĩa là tại mọi quốc độ, mỗi làng, mỗi xóm đều có được một ngôi đại hùng bữu điện, rồi thỉnh Phật thế gian về trụ. Chỗ đó mới có thuyết pháp dung thông. Nhờ đó có người tu tập, hành đạo và đạt đạo. Thực tế mà nói, thỉnh Phật về thờ, dĩ nhiên là phải có kinh pháp, mà đã có kinh pháp thì phải có tăng giảng kinh, pháp khắp độ chúng sanh. Ai ai cũng công nhận mình có Phật tánh, lấy Phật tánh ấy mà sống thì đâu có khác gì còn Phật trụ thế. Bát giả thường tùy Phật học Tám là thường tùy hỷ học Phật. Học làm Phật làm tổ. Người thế gian cho rằng “dĩ thực vi tiên”, không ăn không uống thì sanh bệnh sanh tật. Nhưng đối với người tu, việc tìm đạo, học đạo mới quan trọng. Không học không thể bước lên con đường đạo đặng, hầu đến nơi hoàn toàn an lạc, giải thoát. Cho nên, hạnh thứ tám là thường theo học Phật. Về sự mà nói, học Phật không được thiếu sót bữa nào. Trước giờ học phải chuẩn bị đâu vào đấy, xem lại bài củ, nếu có chỗ chưa hiểu, thời hỏi cho hiểu. Đến lớp trước giờ, đừng đến trể động chúng. Trong giờ học phải nhứt tâm nhứt đức lắng nghe, lấy tánh nghe để mà nghe, để thâm nhập kinh tạng, mà thâm nhập kinh tạng thì trí huệ mới như hải. Cái học bên ngoài là thế, cái học bên trong có khác. Học bên trong là “tự tánh pháp môn thề nguyện học”. Tánh đây là Phật tánh, ta học cái Phật tánh trong ta. Nhất thiết Phật pháp được gồm thâu vào trong tự tánh. Ta nguyện để học, học để tiến. Thế nhưng, ta phải học những gì ? Học phá chấp, học xả bỏ hoàn toàn cái giận, cái hờn, tiếng to, tiếng nhỏ. Ngay cả thân mạng này còn phải bỏ. “Xả” chỉ là một đức tánh trong muôn vàn đức tánh mà người con Phật phải noi theo, học theo. “Thường tùy Phật học” là thế, luôn luôn tiến trên con đường giác ngộ, giải thoát, đừng để gián đoạn, đình trệ. Còn biết bao nhiêu pháp môn của tự tánh ta phải học phải tu. Thế nên nói “Vô lượng pháp môn thề nguyện học” là vậy. Cửu giả hằng thuận chúng sanh Tại sao lại phải hằng thuận chúng sanh ? Vì chúng sanh với ta là một, chớ không hai. Có hai là trở ngại, không viên dung, làm đạo không thành. Trước ta hằng thuận chúng sanh, sau mới bàn đến chuyện độ chúng sanh. Chưa hằng thuận thì chớ mong độ người, đó là việc không tưởng, mơ hồ. Dầu có tài năng diễn thuyết thế nào đi chăng nữa, khi chưa thu phục được nhân tâm thì chớ mong nói người nghe. Không nghe lấy gì độ ? Cho nên, đây là một trong mười hạnh lớn. Vì vậy, ra làm đạo phải khéo léo, phải có trí hóa, nhất là quý vị rồi sẽ ra hoằng pháp. Hành đạo phải có hiểu biết, biết để hướng dẫn lớp sau, hơn nữa biết để mình làm, làm viên dung mọi việc. Nếu có trắc trở, thời công việc không tiến hành như ý muốn, thì đó là không hằng thuận được chúng sanh. Vì vậy, trí hóa rất quan trọng, ví dụ sau đây nói lên ý này. Như có người xin ban Hương đăng cử hành một lần ba, bốn cái lễ, mà trong chúng cần thời giờ tu học. Thời khóa tu học đã được phân định hẳn hòi, giờ nào ra giờ nấy. Nếu kéo dài giờ làm lễ, không khéo trở thành tiền lệ. Dần dà chùa mình trở thành nơi để cúng đám, làm cái nghề thợ tụng. Vì vậy, là người lãnh đạo, ta phải hiểu và giải thích cho phật tử biết rằng thời gian làm hai, ba cuộc lễ là ba, bốn tiếng đồng hồ. Trong khi đó, với trí hóa, ta cũng sẽ làm ba, bốn cuộc lễ trong một buổi lễ, một mà ba, ba mà một, kết quả đều như nhau, không có gì là chướng ngại hết, mọi người đều hoan hỷ. Thế mới thành công, thế mới hằng thuận chúng sanh. Muốn được thế phải học và hành đạo, nhờ học và hành đạo, sau này ra hóa đạo được dễ dàng hanh thông. Thập giả phổ giai hồi hướng Phổ giai hồi hướng là khi ta làm xong việc gì, đừng để trong lòng, mà hồi hướng đến khắp pháp giới chúng sanh. Hồi tự hướng tha, Hồi nhơn hướng quả, Hồi sự hướng lý, Hồi tướng hướng tánh. Khi ta làm được điều đó, tâm ta trở thành đại đồng thế giới, trở thành cái vô lậu nghiệp, thành cái yến sáng toàn diện. Pháp giới lúc đó không hiện hữu. Không còn người cho người nhận, người bố thí kẻ thọ thí v.v… Tâm hồn ta bấy giờ nó thênh thang rộng lớn, hoàn toàn sáng suốt, giác ngộ và giải thoát. Nếu ta thực hành cho đúng các hạnh nguyện của đức Phổ Hiền thì ta sẽ trở thành Phật, thành tổ. Đức Phổ Hiền tiêu biểu cho mười hạnh lớn. Ta phải hiểu cả sự lẫn lý. Một khi lý đó được dung thông, ta không gặp trở ngại trên bước đường hành đạo. Hôm nay, nhân ngày vía đức Phổ Hiền, thầy nhắc lại những điểm đó, gắng khắc cốt ghi tâm, thực hành cho được mười đại hạnh của đức Phổ Hiền, rồi đến đại từ đại bi của Quán Thế Âm, các đại nguyện của đức Địa Tạng, đại trí của đức Văn Thù v.v… Phải thực hành tất cả, không phải chỉ thực hành đại hạnh mà bỏ đại nguyện, đại trí. Giáo lý tuy phân chia như thế, nhưng chỉ có một, một mà tất cả, tất cả quy về một, rồi cũng không còn một nữa, đó mới hoàn toàn giải thoát, giác ngộ và sáng suốt. nguồn thienlamtu.wordpress.com
-
Thăm Và Tặng Quà Trẻ Mồ Côi Nhân Ngày 1-6
wildlavender posted a topic in Những Mảnh Đời Cần Cứu Giúp
Thông báo (thay thư mời) Dự kiến nhóm từ thiện Trung Tâm sẽ tổ chức đi thăm và trao quà cho 2 chùa nuôi trẻ mồ côi ở vùng xa thuộc tỉnh Bình Thuận nơi mà các mạnh thường quân ít lui tới. Trước là đem niềm vui đến với các em sau vãng cảnh Chùa, sau nữa là đổi gió vùng biển. Chủ trương của diễn đàn ta trong công tác từ thiện là " đi và đến những nơi thiếu không đến những nơi thừa, những nơi bị bỏ quên" Nhân ngày Quốc Tế Thiếu Nhi 1-6 - 2012 chúng tôi sẽ thực hiện chuyến thăm 2 ngôi Chùa Phước Thiện (28 em) và Thiện Tâm (37 em) tại Thị Trấn Tân Minh Tỉnh Bình Thuận. cách Tp HCM 125 Km. Hành trình đi có thể đoàn chúng ta thực hiện chuyến đi giao lưu và giải trí tại biển Lagi thuộc Xã Tân hải tỉnh Bình thuận, 1 bờ biển sạch và đẹp. Lịch trình : 5g 30 sáng ngày 31/5 khởi hành tại TP HCM đến Chùa vào lúc 10g thăm trao quà chơi với các em, 11g30 : Thọ trai tại chùa Phước Thiện. trực chỉ Thị trấn Lagi nhận phòng , vị trí gần khu resort Mỏm Đá Chim nghĩ trưa ra biển và sau đó thưởng thức hải sản tại nhà nghĩ . Sáng 1/6 ăn sáng tắm biển tập trung ra về vào lúc 11g trên đường về chúng ta ghé thăm chùa Thiện Tâm trao và tặng quà sinh hoạt vui chơi cùng các em. Về Thành Phố vào buổi chiều cùng ngày. ACE tham gia đăng ký dưới đây để chúng tôi tiện việc tổ chức, hy vọng ACE hãy đến với những mãnh đời không Cha Me không gia đình phải nương nhờ cửa Phật nhân ngày của các em, chuyến đi thật vô cùng ý nghĩa nếu chúng ta lưu lại chút gì đó ấm áp cho các em. TM Ban Từ Thiện Diễn Đàn Wildlavender -
CÂU CHUYỆN HAI CÁI BỊ của người đời - Thưa Thầy, tôi không phải là người theo đạo Phật. Xin Thầy chỉ dẫn cho phương pháp tu tập.- Quí vị muốn phương pháp tu tập với mục đích gì và tại sao lại chọn chúng tôi để đặt câu hỏi ? - Tôi thấy cuộc đời này sao mà khổ quá, như tôi đây cũng có trình độ học thức, có công ăn việc làm tốt, gia cảnh đầm ấm, nhưng vẫn thấy khổ tâm nhiều chuyện, nhiều lúc cảm thấy bất an đến độ ăn không ngon ngủ không yên, nhiều điều lo lắng, bực mình lắm!Tôi muốn được an tâm nên đì tìm phương pháp tu tập để thoát khổ. Tôi chọn qúi Thầy để đặt câu hỏi, bởi tôi thường nhận các emails của PHTQ.CANADA do các bạn bè chuyển tới, với các bài viết tuy mang hình thức Phật giáo, nhưng nội dung hay quá, các bạn của tôi thấy có ích lợi nên chuyển cho tôi, mặc dù tôi không phải theo đạo Phật.- Trên đời này, người nào không có tâm cố chấp, không có tâm phân biệt, không mang nặng hình thức thế gian thì người đó sống đời an lạc với hạnh phúc xuất thế gian.- Kính xin Thầy giảng rõ hơn.- Người đời thường mang hai cái đãy (cái bị) .*Một cái trước ngực chứa đầy lỗi lầm của người khác. *Một cái sau lưng chứa đầy lỗi lầm của chính bản thân. Do đó, người đời thường bực bội, bất an trước các lỗi lầm quá dễ thấy của người khác. Trái lại, với các lỗi lầm của chính bản thân, người đời thường che giấu, không muốn ai thấy, chính mình cũng không thừa nhận, không nhận ra, cho nên khó khá được, cho nên khổ dài dài. Muốn hết khổ, muốn bớt khổ, người đời - dù theo tôn giáo nào - nên đổi vị trí của hai cái bị nói trên.Khi nhận thấy chính bản thân cũng có quá nhiều khuyết điểm, nhược điểm, người đời chắc chắn không còn dám cất cao giọng chỉ trích nhục mạ người khác, cũng như không còn chỉ trích tôn giáo, tín ngưỡng của người khác đang theo.- Kính cảm tạ lời chỉ giáo của Thầy. Thực hay quá. Nhưng riêng tôi, tôi không muốn đổi vị trí của hai cái bị đó thì sao, thưa Thầy ?- À, quí vị không muốn đổi vị trí của hai cái bị, thì quí vị đổi nội dung của chúng cũng được mà. - Tôi chưa hiểu rõ ý của Thầy ?- Nếu quí vị vẫn giữ vị trí của hai cái bị Cái bị trước ngực qúi vị chứa đựng toàn là ưu điểm của người khác.Cái bị sau lưng quí vị chứa đựng toàn là ưu điểm của bản thân.- Tôi vẫn chưa tỏ tường ?- À, khi đó quí vị sẽ thấy ưu điểm của người khác quá nhiều, lắm khi vượt trội hơn mình, mình thực ra chẳng bằng nhiều người lắm. Từ đó, mình bớt đi tánh phê phán, phỉ báng người khác - hãy thu mình lại, quan sát chính bản thân, quan sát chính bản tâm, mình sẽ được bình an ngay.- Thực là quí hoá, tôi hiểu rồi. Kính chúc Thầy tâm luôn bình an. Kính cảm tạ.
-
Những điều thú vị trong trà đạo của người Nhật Nhật Bản luôn là một đất nước có những nét văn hóa vô cùng đặc sắc và tinh tế. Xứ sở mặt trời mọc với nền văn hóa lâu đời từ lâu đã mang đến thế giới một nét nghệ thuật truyền thống đặc sắc của người Nhật - nghệ thuật thưởng thức trà đạo. Từ khoảng cuối thế kỉ 12, nghệ thuật trà đạo bắt đầu thật sự phát triển và gắn bó với đời sống của người Nhật cũng như văn hóa Nhật Bản. Theo truyền thuyết Nhật, vào khoảng thời gian đó, có vị cao tăng người Nhật là sư Eisai (1141-1215), sang Trung Hoa để tham vấn học đạo. Khi trở về nước, ngài mang theo một số hạt trà về trồng trong sân chùa. Sau này chính Eisai đã sáng tác ra cuốn "Khiết Trà Dưỡng Sinh Ký", nội dung ghi lại mọi chuyện liên quan tới thú uống trà. Trà đạo không chỉ đơn thuần là phép tắc uống trà, mà còn là một phương tiện hữu hiệu nhằm làm trong sạch tâm hồn bằng cách hòa mình với thiên nhiên, từ đó tu tâm dưỡng tính để đạt giác ngộ. Bốn nguyên tắc cơ bản của Trà đạo bao gồm Hòa - Kính - Thanh - Tịch. Bốn nguyên tắc cơ bản của Trà đạo bao gồm Hòa – Kính – Thanh – Tịch Hòa có nghĩa hài hòa, hòa hợp, giao hòa. Đó là sự hài hòa giữa trà nhân với trà thất, sự hòa hợp giữa các trà nhân với nhau, sự hài hòa giữa trà nhân với các dụng cụ pha trà. Kính là lòng kính trọng, sự tôn kính của trà nhân với mọi sự vật và con người, là sự tri ân cuộc sống. Lòng kính trọng được nảy sinh khi tinh thần của trà nhân vươn tới sự hài hòa hoàn toàn. Thanh là khi lòng tôn kính với vạn vật đạt tới sự không phân biệt thì tấm lòng trở nên thanh thản, yên tĩnh. Tịch là khi lòng thanh thản, yên tĩnh hoàn toàn thì toàn bộ thế giới trở nên tịch lặng, dù sống giữa muôn người cũng như sống giữa nơi am thất vắng vẻ tịch liêu. Lúc đó, thế giới với con người không còn là hai, mà cả hai đều vắng bặt. Việc thưởng thức trà đạo được ví như con đường mà đi hết con đường đó sẽ đến nơi có “trà đạo vừa ngon vừa không ngon”. “Con đường” ấy cần phải đảm bảo các yêu cầu về những yếu tố sau: nước pha trà, làm ấm dụng cụ, pha trà, rót trà rồi uống trà. Nước pha trà là quy chuẩn đầu tiên được đề cập đến trong trà đạo Nhật Bản. Tuyệt đối không bao giờ dùng nước đang sôi để pha trà đối với tất cả các loại trà Nhật Bản, trà xanh, hay trà bột dùng trong lễ dâng trà. Nước pha trà luôn phải được giữ trong một bình thủy hay được nấu trong một ấm kim khí không đậy nắp được đun trên bồn than rất yếu để giữ nước luôn ở khoảng 80 – 900C. Dụng cụ pha tràTiếp đó, để có thể đến với giai đoạn pha trà cần phải làm ấm dụng cụ: ấm pha trà và tách uống trà được tráng bằng nước sôi trong bình thủy để làm ấm dụng cụ, sau đó dùng khăn lau khô trước khi sử dụng. Ngay việc cho trà vào ấm pha trà cũng không thể tùy tiện mà phụ thuộc vào từng loại trà khác nhau. Thường với loại trà ngon cỡ trung bình, người ta thuờng tính cho mỗi một người khách khoảng một muỗng cà phê trà xanh nhưng nếu dưới 3 người khách thì lượng trà sẽ được cho nhiều hơn một chút để tránh quá nhạt. Đối loại trà xanh cỡ trung bình, công đoạn “pha trà” được chia thành 3 lần:Lần thứ nhất: Trà được pha với nước nóng ở khoảng 600C rồi ngấm trà khoảng 2 phút trước khi rót cho khách. Nước sôi từ bình thủy được rót ra một bình trà khác (hay chén tống) để giảm nhiệt độ trước khi rót vào bình pha trà. Nước pha trà lần đầu luôn được coi là đậm đà nhất, mùi vị trà thấm vào vị giác nhiều nhất. Lần thứ hai: Trà được pha với nước nóng khoảng 800C trong khoảng 30-40 giây. Nước được vào ấm pha trà rồi lắc nhẹ ấm và rót ra tách cho khách. Nước cũng được rót qua bình trung gian nhưng nhanh hơn để có nhiệt độ như mong muốn. Đối với những người pha trà quen thuộc, họ có thể điều chỉnh nhiệt độ từ bình thủy rót vào bình pha trà bằng các thủ thuật như rót nuớc thật chậm, để cao vòi nước trên bình pha trà… Nước trà thứ hai tuy đã mất đi chút ít vị trà nhưng vẫn dậy hương trà thơm ngon tạo nên nét độc đáo của trà xanh Nhật Bản. Lần thứ ba: Nước pha ở nhiệt độ khoảng 900C, cũng khoảng 30- 40 giây.Sau khi qua các giai đoạn rót vào bình thủy, từ bình thủy rót vào ấm pha trà, nước chỉ còn ở nhiệt độ khoảng 900C nên có thể được rót trực tiếp từ bình thủy vào ấm trà. Đối với những loại trà ngon đặc biệt, người ta có thể pha trà lần thứ 4 hay lần thứ 5 (cách thức pha như lần thứ 3) mà nước trà vẫn xanh và còn mùi vị. Nhưng đối với những loại trà xanh hạ phẩm, việc pha trà hơi khác một chút: lần thứ nhất, nhiệt độ của nước phải ở khoảng 70- 800C và ngâm trà trong 2 phút; lần thứ hai, nước pha ở nhiệt độ khoảng 900C, ngâm trà khoảng 1- 2 phút; không có lần thứ 3 vì trà đã không còn mùi vị nữa.Khi pha trà còn cần phải chú ý đến lượng nước pha trà sao cho vừa đủ để mỗi lần rót trà cho khách phải hết trọn vẹn nước trong bình pha trà. Nếu còn sót lại sẽ làm giảm chất lượng của lần uống trà kế tiếp vì sai nhiệt độ và làm mất màu xanh của trà. Trong nghệ thuật trà đạo Nhật Bản, điều “cấm kị” khi rót trà là không bao giờ rót trà cho khách một lần đầy tách rồi rót tiếp cho người khách kế tiếp. Bởi điều này sẽ dẫn tới sự khác biệt về độ đậm nhạt của nước trà trong mỗi tách cũng như không đều về lượng trà trong mỗi tách. Do đó, tất cả các tách của khách đều được đặt trong khay trà rồi rót theo thứ tự 1, 2, 3, 4… rót lần đầu khoảng 30ml (cho mỗi tách, cỡ lớn 70 ml), sau đó rót lần thứ hai với thứ tự ngược lại 4, 3, 2,1 mỗi lần khoảng 20ml (sao cho mỗi tách có tổng cộng 50ml nước trà) nếu còn dư chút ít trong bình, nên phân đều cho các tách. Sau đó mới đưa mời khách. Người Nhật thường ăn kèm một vài loại bánh ngọt khi thưởng trà để làm gia tăng hương vị của trà. Loại bánh được sử dụng để ăn kèm với trà đạo Nhật Bản nhiều nhất là wagashi, vị ngọt thanh của wagashi hòa quyện cùng vị đắng của trà xanh tạo nên một vị khó tả, nhẹ nhàng lâng lâng khó có thể kiếm được ở bất kỳ món ẩm thực nào. Một lưu ý nữa là phải ăn hết bánh trong miệng rồi mới uống trà, không nên vừa ăn vừa uống, có thể mới cảm nhận hết được hương vị độc đáo khi thưởng thức trà đạo Nhật Bản. Cầu kỳ mà độc đáo, tinh tế, từ lâu nghệ thuật trà đạo đã trở thành nét văn hóa đặc trưng của người Nhật. Con người hòa mình vào không gian dìu dịu hương thơm của trà khiến cho tâm hồn trở nên thư thái, nhẹ nhõm, khác hẳn với cuộc sống xung quanh vốn ồn ào, tấp nập, đầy bon chen. Theo MASK <br class="Apple-interchange-newline">
-
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Đã gởi đến 2 bạn hôm nay! -
Trên tay Cô này phải là quyển kinh Coran chứ nhỉ? sao mình thấy giống Ipad mặc áo vậy?
-
Tôi đã song hành trong không khí của công trình nghiên cứu của anh Thiên Sứ chứng minh nền văn minh của người Việt qua ứng dụng cụ thể là Phong Thủy Lạc Việt vì vậy cá nhân tôi nhận định nếu có người thừa nhận hay ủng hộ tôi cảm giác họ vẫn chưa hiểu hết, còn người chỉ trích hay phản đối thì cơ hội để bàn luận trên diễn đàn tôi e rằng ko có chỗ, chỉ bởi 1 lẽ tiêu chí của Trung Tâm rất rõ ràng Việt Nam 5000 năm văn hiến là 1 nền văn minh Lạc việt đã tồn tại và được công nhận.
-
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Bạn hãy vào trang 23 bài 446 tìm thấy câu trả lời, nhân đây cho Wild bày tỏ chút thành ý "nếu bạn hiểu được rằng 1 thần chú được trao đến 1 phật tử và họ nhận với tất cả tín tâm, đồng thời họ cũng nhận được nhiều chuyển biến thì chúng ta đây tôi và bạn hưởng ít nhiều công đức từ việc gieo duyên và thực hành pháp bố thí. Vì lẽ trên bạn cứ tổng hợp những ai có thành tâm Wild sẽ nhờ bạn chuyển trao. Cảm niệm vô cùng tâm pháp thiện của bạn. -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Sẽ gởi đến bạn vào ngày mai! -
Hà Nội: Nhau thai người được bán như...thịt lợn Nhau thai được bán với giá từ 150.000 đồng/lạng (loại khô) trở lên. Các hiệu thuốc đông y trở thành đầu mối cung cấp nhau thai số lượng lớn Cập nhật lúc 20-05-2012 05:45:33 (GMT+1) Trong vai chủ một hiệu thuốc đông y đang có nhu cầu gom hàng về bào chế, chúng tôi dễ dàng đặt mua được nhau tươi với số lượng lớn, cung cấp thường xuyên tại các bệnh viện thuộc tuyến tỉnh, huyện. Và theo khảo sát, mặt hàng nhau sấy khô vốn được đồn thổi như một linh dược bồi bổ sức khỏe, có khả năng chữa bệnh cũng bán tràn lan tại các hiệu thuốc đông y ở các thành phố lớn, Qua nhiều mối quen biết giới thiệu, chúng tôi gặp bà Thủy - người được giới mua bán nhau thai gọi là "trùm cò nhau" với đầu mối mua bán nhau thai số lượng lớn.Chú chỉ cần mua cho tôi một bình đá lớn, có nhau thai là tôi gom, được vài cân tôi gọi thẳng cho chú qua lấy, chỗ tôi bán rẻ ấy mà…”, bà Thủy nói chắc như đinh đóng cột với chúng tôi. Người đàn bà chừng ngũ tuần này làm nghề trông xe ngay trước cổng bệnh viên Đa Khoa Sơn Tây (thị xã Sơn Tây, Hà Nội). Khi biết chúng tôi là khách sộp, từ xa bà đã đon đả chào hàng. Nhau thai bán ra bên ngoài được cho là có nguồn gốc từ các bệnh viện Sau khi trao đổi phương thức gom hàng, cách vận chuyển, giao hàng, tôi và bà Thủy đi đến thống nhất giá một kg nhau thai tươi trao tận tay là 200.000-300.000 đồng tùy thuộc chất lượng và độ tươi của nhau thai. Bỏ ra số tiền hơn trăm nghìn, chúng tôi sắm cho bà một thùng đá lớn phục vụ đựng nhau. Để tạo lòng tin hơn với mối hàng, ngoài việc ghi số điện thoại, bà còn yêu cầu chúng tôi lấy máy cầm tay nháy sang số di động của bà, thậm chí cho cả số điện thoại bàn của gia đình. Khi chúng tôi vừa lùi xe ra khỏi bãi, nắm chặt tay tôi, bà Thủy khẳng định: “Nhà có đứa em làm trong khoa sản ấy mà, ngày nào chẳng có nhau, chị cứ gom lại cho chú, cứ khoảng 3–5 kg chị gọi điện lên mà lấy nhé”. Quả nhiên hơn một ngày sau, ngay từ sáng sớm, chúng tôi đã nhận được điện thoại gọi lấy hàng của bà Thủy. Chừng hơn một tiếng, chúng tôi đã có mặt ngay cửa bệnh viện. Mở thùng đá, bà Thủy lôi ra một túi nilon màu xanh cùng nụ cười hớn hở: “Hai đêm tôi mới gom được gần hơn một cân đấy, đợt này chị em họ sinh ít nên cũng không nhiều” Sao khi giao tiền như thỏa thuận, chúng tôi rời bệnh viện Đa khoa Sơn Tây, ngược lên khu vực bệnh viên Đa khoa Tam Nông (huyện Tam Nông, Phú Thọ). Được đặt hàng từ trước, anh bảo vệ bệnh viện tên H. vác cân ra cân ngay trước mặt chúng tôi và giao túi nhau gần 2kg. Vì khoảng cách quá xa, cùng với lượng hàng không đều, mỗi lần gom được hàng anh H. đều cho vào ngăn đá chờ đến lấy. Sau khi nhận tiền, anh H giải thích: “Hai ngày nay mới gom được mấy cái này, thôi chú lấy tạm. Hàng nhau này nó cũng không đều, có ngày đến hàng cân, nhưng có ngày chỉ vài lạng. Nhưng nhớ đừng nói bán nhé, nếu có gì cứ bảo là hàng xin”.Ngày hôm sau, theo hẹn từ trước, chúng tôi xuôi xuống Viện 7 (TP. Hải Dương) song không thể mua được hàng, bởi theo khẳng định của vị bác sĩ tên H., hàng nhau thai đã được công ty thuốc đông y đặt mua hết rồi, nếu có chị chỉ xin cho một vài bộ thôi. Chị H. còn đưa ra lời khuyên: “Em cứ về các tuyến huyện mà xin hay mua, họ bán đầy ấy mà”. Hiệu thuốc chuyên bán nhau thai khô Sau những ngày bôn ba săn mặt hàng nhau thai tươi tại một số bệnh viện tuyến huyện thuộc các các tỉnh, chúng tôi quay về Hà Nội. Theo giới thiệu của mấy người bạn, tôi tìm đến phố Hải Thượng Lãn Ông và phố Thuốc Bắc. Dọc hai bên phố, các tiệm thuốc đông y mọc lên san sát. Ghé vào một tiệm bán đông dược nhỏ gọn nằm cạnh quán nước vỉa hè trên phố Hải Thượng Lãn Ông, tôi ngập ngừng hỏi mua nhau thai khô. Chị chủ tiệm chẳng chút chần chừ: “Mua tử hà sa khô chứ gì! Lấy nhiều không?”.Sau khi bốc điện thoại trao đổi chừng 2 phút với một người quen, chị ra giá luôn: “Chỗ tôi bán 150.000 đồng/lạng, chú lấy mấy lạng?”. Tôi trả lời chị mua thử một gói về tẩm bổ, vì mấy bữa nay thấy người mệt mỏi, nếu tốt sẽ quay lại mua nhiều hơn. Chỉ cần bỏ ra 200.000 đồng chúng tôi đã có được nhau thai dễ dàng Ngồi quán nước đợi chừng 10 phút, sau khi hàng đưa đến, chị chủ tiệm giao cho tôi một gói nhỏ có vài dòng chữ tàu cùng lời khẳng định: “Ở đây cửa hàng nào chẳng có, nhưng hàng chỗ chị tốt lắm, khách quen vẫn đổ xô đến chỗ chị ấy mà, chú cứ mang về dùng thử, nếu thấy khỏe ra, giới thiệu đến cho chị. Hàng này chữa đủ loại bệnh, từ suy nhược cơ thể, yếu sinh lý…”.Cầm lạng nhau khô, thanh toán tiền, chúng tôi ghé vào một cửa hiệu trên phố Thuốc Bắc tìm hàng. Vừa trao đổi, chủ hàng vừa lôi ra từ dưới gầm quầy ra hai gói nhau sấy. “Loại tốt do Việt Nam sản xuất có giá 150.000 đồng/gói, còn loại của tàu thì rẻ hơn vài chục. Theo anh, em cứ lấy hàng của mình dùng cho nó an toàn. Nếu uống được rượu em cứ cho vào ngâm, còn không thì cho vào xay nhỏ, hòa với nước uống, đảm bảo không khỏe không lấy tiền”. Cầm hai gói nhau khô, tôi không khỏi phân vân bởi chẳng biết công dụng của nó đến đâu, nhỡ ăn phải đồ nhiễm bệnh thì tiền mất tật mang. Đó là chưa kể mặt hàng "tươi" vẫn hàng ngày tuồn ra từ các tuyến viện ở các tỉnh, thậm chí nhiều người còn liều lĩnh chế biến trực tiếp món ăn "kỳ cục" này. Nguồn: Bee
-
Bên Cạnh Văn Phòng T T N C L H D P
wildlavender replied to Thiên Sứ's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
SP đã đề ra giải pháp đơn giản và chứng minh tính khoa học theo lý luận Lý Học Đông Phương nhưng gia đình họ bận tiếp các nhà khoa học nên chưa quan tâm "lắp đĩa CD trong căn nhà của Cô Bé gây cháy" nhưng vấn đề Wild muốn đặt ra là nếu ứng dụng giải pháp này thì Cô Bé vẫn gây cháy ở nơi khác nếu ko được lắp đĩa CD thì chưa triệt để? -
Chữa Bại Liệt, Câm Điếc Trong 10 Phút, Chuyện Lạ Có Thật
wildlavender replied to xuka8584's topic in Y Học Và Sức Khoẻ
Thoát đĩa vị đệm là một trong những chứng mà các Huynh ở đây can thiệp rất hiệu quả! Mỗi tuần có một ngày chủ nhật dành cho người dân trong phạm vi Tp HCM cachua2008 ah! -
Chữa Bại Liệt, Câm Điếc Trong 10 Phút, Chuyện Lạ Có Thật
wildlavender replied to xuka8584's topic in Y Học Và Sức Khoẻ
Khi đến đây toàn thân cụ co quắp Cứng tất cả các cơ Sau vài phút buông ra Cụ đã tự đứng lên Và đi được nhiều bước dần ra phía ngoài cửa -
Chữa Bại Liệt, Câm Điếc Trong 10 Phút, Chuyện Lạ Có Thật
wildlavender replied to xuka8584's topic in Y Học Và Sức Khoẻ
Bấm huyệt trị bệnh á khẩu sau tai biến Quảng nghĩ sau khi bấm huyệt 1 trường hợp câm điếc khác tai biến liệt toàn thân Ca tai biến này cần đến 2 người can thiệp (còn tiếp) -
Chữa Bại Liệt, Câm Điếc Trong 10 Phút, Chuyện Lạ Có Thật
wildlavender replied to xuka8584's topic in Y Học Và Sức Khoẻ
Chương trình chữa bệnh vào ngày chủ nhật 20/5/2012 vẫn còn làm việc tại địa chỉ D 10 đường D 13 Khu Công Nghiệp Tân Bình. -
Súng Hoa ven hồ súng. đậu phọng sữa
-
ASPIRINE loại MỚI, TIN RẤT QUAN TRỌNG Nên biết rõ một số điều cần thiết phải làm để tự cứu.Hảng dược phẩm BAYER đã chế tạo được loại ASPIRIN tinh chất tan ngay trong miệng. Loại thuốc mới nầy có kết quả nhanh hơn các viên aspin thông thường. VÌ SAO PHẢI MANG THEO ASPIRIN Nói về cơn sốc tim, Có nhiều triệu chứng khác cùng với thể hiện đau đớn ở cánh tay trái .Một trong những triệu chứng đó là cảm giác đau ở cằm (hàm), và còn là nôn mữa và xuất nhiều mồ hôi, tuy vậy những triệu chứng này xảy ra ít hơn. CHÚ Ý : Có thể không cảm thấy đau ở ngực suốt cơn sốt tim. Phần đông (khoảng 60%) cơn sốc tim xảy ra lúc người ta đang ngủ và không thức dậy nữa. Tuy thế, trong lúc ngủ say người ta sẽ thức giấc nếu cơn đau ở ngực xãy ra.Nếu điều trên đây xãy ra, phải lập tức nhai nát hai viên ASPIRIN và uống theo một ngụm nước. Ngay sau đó :*gọi điện thoại cho HÀNG XÓM hay cho NGƯỜI THÂN GẦN NHỨT của mìnhnói rằng : "bị SỐC TIM hay NHỒI MÁU TIM (Heart Attack)..."*nói thêm là đã uống 2 viên ASPIRIN rồi.*ngồi xuống cái ghế bất cứ cái ghế nào hay sofa gần bên cạnh cửa trước để chờ người ta tới cứu mình, nhớ là ĐỪNG CÓ NẰM XUỐNG!!! Bác sĩ về tim mạch cho biết, nếu mỗi người khi nhận được e-mail nầy cũng gởi cho ít nhứt 10 người thì có thể sẽ có một nhân mạng được cứu sống về "heart attack". Tôi đã làm điều nầy rồi, còn bạn thì sao? Hãy chuyển ngay tin nầy, nó có thể cứu sống nhiều người!
-
12 loại thực phẩm xa xỉ nhất Một cặp dưa vua Yubari của Nhật Bản được bán với giá lên tới 26.000 USD đang giữ danh hiệu loại trái cây đắt nhất thế giới. Dưa vua Yubari - loại dưa cực hiếm được trồng ở Nhật có giá lên tới 26.000 USD/cặp. Trứng cá muối của loài cá tầm Beluga được đựng trong hộp vàng 24 carat có giá 25.000 USD Nửa kg trà Thiết quan âm - một loại cao cấp của trà Ô Long có giá gần 7.000 USD Một quả dưa hấu đen Densuke nặng gần 8 kg có giá 6.100 USD. Dưa hấu đen chỉ được trồng tại đảo Hokkaido, Nhật Bản với sản lượng khoảng 10.000 quả mỗi năm. Nấm cục trắng châu Âu chỉ mọc dưới gốc cây sồi và phải dùng chó nghiệp vụ để tìm có giá khoảng 8.000 USD cho 1 kg.<br class="Apple-interchange-newline"> Nghệ tây, gia vị cho các món ăn đặc biệt có giá 6.000 USD cho 1 kg. Nghệ tây phải được thu hoạch bằng tay. Nấm Matsutake của Nhật Bản có thể bán với giá 4.444 USD cho 1 kg. Nấm Matsutake chỉ mọc dưới những cây quý hiếm. 1 kg cá ngừ vây xanh có giá lên tới gần 3.000 USD. Một con cá ngừ vây xanh nặng khoảng 270 kg được bán đấu giá ở Nhật Bản với giá 736.000 USD Khoai tây La Bonnote chỉ trồng được trên đảo ngoài khơi phía tây nước Pháp có thể có giá lên đến 1.543 USD. Loại khoai tây này đang dần trở nên khan hiếm và cạn kiệt 1 kg thịt bò Kobe được nuôi ở tỉnh Kobe của Nhật Bản có giá 500 USD. Sữa của bò sừng tấm có giá 1.111 USD cho 1 kg. Bòi sừng tấm hiện được nuôi ở một trang trại tư nhân tại Thụy Điển. Cà phê Kopi Luwak, loại đi qua dạ dày của cầy hương trước khi được sấy khô, và đem bán có giá gần 511 USD cho 1 kg Hạt Tiêu ngoisao.net
-
Thiền sư Tăng Hội Sơ tổ Thiền tông Việt Nam và Sơ tổ Phật giáo Trung Quốc Chúng ta biết rằng vào thượng bán thế kỉ thứ 3 tại Giao Châu có Thiền sư Tăng Hội, cha là người Khương Cư, mẹ là người Việt Nam. Ngài xuất gia năm 10 tuổi, trở thành cao tăng, mở đạo tràng tu tập ở Luy Lâu, Bắc Ninh, thiết lập một trung tâm dịch thuật và sáng tác ở đó và tịch vào tháng 9 năm 280. Thiền sư Tăng Hội đã sử dụng những kinh bản nguyên thủy như kinh Quán Niệm Hơi Thở, kinh Bốn Niệm Xứ để thực tập thiền. Trong khi đó, Thiền sư sử dụng con mắt Đại Thừa để thực tập. Vào khoảng giữa thế kỉ thứ 3, Thiền sư Tăng Hội mà chúng ta đang công nhận là vị Sơ tổ của Thiền Tông Việt Nam đã rời đất nước chúng ta sang nước Ngô để truyền đạo. Cao Tăng Truyện nói rất rõ ràng là khi thầy Tăng Hội đi sang nước Ngô thì bên đó chưa có tăng sĩ Phật giáo. Chính Thiền sư Tăng Hội đã tổ chức đàn truyền giới đầu tiên cho những người Ngô trở thành những vị xuất gia đầu tiên. Ngôi chùa mà thầy Tăng Hội thành lập có tên chùa Kiến Sơ - ngôi chùa đầu tiên. Bài tựa kinh An Ban Thủ Ý do Thiền sư Tăng Hội đã viết tại Việt Nam, trong đó nói Lạc Dương như là kinh đô. Lúc đó chưa chia ra làm tam quốc. (Nếu đã chia tam quốc thì kinh đô là Bành Thành). Trong bài tựa An Ban Thủ Ý, chúng ta tìm ra được sự thật là bài tựa kinh Quán Niệm Hơi Thở được viết tại Giao Châu. Sau khi đã tiếp xúc với truyền thống Phật giáo phương Nam, chúng tôi vẫn tiếp tục giảng dạy và xiển dương Thiền học Việt Nam theo đúng tinh thần của Tăng Hội. Nghĩa là căn cứ và thiền kinh của Nam tông mà giảng dạy theo tinh thần thực tập rộng rãi và phóng khoáng của Bắc tông. Nếu quý vị có tới Làng Mai để tu tập, sẽ thấy rằng pháp môn của Làng Mai nối tiếp một cách rất trung thực và kì diệu với truyền thống của Thiền sư Tăng Hội. Thiền sư Việt Nam và Thiền sư Tăng Hội lớn hơn Thiền sư Bồ Đề Lạt Ma - Sơ tổ Thiền tông Trung Quốc tới 300 năm. Như vậy trong các chùa của chúng ta, theo nguyên tắc thì phải thờ Thiền sư Tăng Hội làm Thiền tổ Việt Nam, chứ không phải Thiền sư Bồ Đề Lạt Ma. Nếu quý vị là nhà học giả, nhà văn, hay họa sĩ thì phải vẽ ra hình ảnh của Tổ sư Thiền đầu tiên của chúng ta là Thiền sư Tăng Hội.Chúng tôi đã viết cuốn "Thiền sư Tăng Hội" và cuốn này đã được phiên dịch ra nhiều thứ tiếng. Giới Phật tử lâu nay thường theo Thiền Trung Quốc và Nhật Bản, chưa phản ứng vì họ thấy rất lúng túng, lâu nay đã lỡ tin Bồ Đề Lạt Ma là Sơ Tổ Thiền tông Trung Quốc và Việt Nam rồi. Bây giờ lại nghe nói Thiền sư Tăng Hội lớn hơn Tổ Đạt Ma tới ba trăm tuổi, chính là người đầu tiên giảng dạy Thiền học tại Việt Nam và Trung Quốc thì điều đó chưa chấp nhận được. Thiền sư Tăng Hội rất uyên bác về Lão giáo, Khổng giáo và Phật học, cho nên đã thuyết phục được vua Ngô Tôn Quyền yểm trợ xây ngôi chùa đầu tiên tại nước Ngô. Sau đó thì Tôn Hạo tiếp nối Tôn Quyền, nghe lời một số cộng sự làm khó dễ, nhưng cuối cùng đã được thầy Tăng Hội thuyết phục và vua đã thọ Tam quy Ngũ giới với thầy. Chúng ta thấy khả năng hóa độ của thấy Tăng Hội rất lớn. Thầy không chỉ là Sơ tổ Phật giáo Thiền Việt Nam mà phải được cọi như Tổ Sư Phật giáo đầu tiên ở tại Trung Quốc. Chúng tôi mong rằng cuốn "Thiền Sư Tăng Hội" đó, đã được dịch sang tiếng Anh, sẽ được dịch ra tiếng Trung Quốc một ngày rất gần. Thiền sư Thích Nhất Hạnh
-
Hình Ảnh Và Ý Nghĩa Chuổi Tràng Niệm Phật
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Chuổi Tay Mật Lạp Trung Á Chuổi Tràng Bạch Trầm Thiên Thiết Chuổi Tràng Ngà Tử San Hô Chuổi Tràng Hổ Phách Liên Xô Chuổi Tràng Hổ Phách Lưỡng Giới Nhật Bản Chuổi Tràng Hổ Phách Lưỡng Giới Đại Đàn Nhật Bản Chuổi Tràng Lưỡng Giới Hổ Phách Trung Á Chuổi Tay Hổ Phách Trung Á -
Hình Ảnh Và Ý Nghĩa Chuổi Tràng Niệm Phật
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Chuổi Tràng Thủy Trầm Hương Việt Nam Chuổi Tay Trầm Hương Việt Nam Chuổi Tràng Sa Thạch Lưỡng Giới nhật Bản Chuổi Tràng Hồng Thạch Lưỡng Giới Nhật Bản Chuổi Tay Mật Lạp Trung Á Chuổi Tay Mật Lạp Đỏ Trung Đông -
Hình Ảnh Và Ý Nghĩa Chuổi Tràng Niệm Phật
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Chuổi Tràng Phật Nhãn Bồ Đề Tây Tạng Chuổi Đại Tràng Hắc Đàn Trung Quốc Chuổi Tay Hương Đàn Hàn Quốc Chuổi Tay Bồ Đề Trung Quốc Chuổi Tràng Tử Đàn Ấn Độ Chuổi Tràng Trầm Hương Việt nam -
Hình Ảnh Và Ý Nghĩa Chuổi Tràng Niệm Phật
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Chuỗi tay kim cang việt nam Chuổi Tràng Kim Cang Lưỡng Giới Tây Tạng Chuổi Tràng Kim Cang Mật Lạp Tây Tạng Chuổi Tràng Kim Cang Trung Quốc Chuổi Tràng Tử Đàn Tây Tạng -
Hình Ảnh và Ý Nghĩa Chuổi Tràng Niệm Phật Chuổi dùng làm vật trang sức xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn minh của nhân loại là vật tượng trưng cho sự quí phái, dùng làm trang sức cho vua chúa và các bậc quyền quí ngày xưa. Chuổi Tràng có trong Phật Giáo từ thời đức Phật còn tại thế [Kinh Pháp Hoa] trong Phẩm Phổ Môn có nói về việc Ngài Vô Tận Ý cởi Chuổi Anh Lạc giá trị trăm nghìn lượng vàng dâng lên cúng dường Đức Phật Thích Ca và Phật Đa Bảo. Vua Ấn Độ Tỳ Lưu Ly thỉnh Đức Phật Thích Ca dạy cho pháp môn diệc trừ phiền não, Phật dạy nhà vua dùng hạt một loại cây gọi là “Vô Hoạn Tử” hay còn gọi là “Bồ Đề Tử” xâu thành chuổi để niệm danh hiệu Phật thì sẽ tiêu trừ mọi phiền não. Trong Kinh Phật dạy: “Nếu như muốn tiêu trừ các phiền não chướng, nên xâu chuổi 108, luôn đem theo bên mình, hoặc đi đứng nằm ngồi, lần chuổi niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, lần chuổi trì niệm danh hiệu Phật càng nhiều càng tốt. Nếu như mãn 20 vạn biến thì có thể đạt đến Thân Tâm Bất Loạn.” Chuổi tràng Phật Giáo có bao nhiêu hạt được quy định rõ ràng và số lượng của hạt chuổi đều mang một hàm ý nhất định. Chuổi đại tràng có 108 hạt số liệu tượng trưng cho sự niệm tụng để dứt trừ 108 loại Phiền não. Chuổi trung tràng có 54 hạt biểu thị hành giả Phật Giáo tu trì phải tuân thủ các pháp Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Tín, Thập Hồi Hướng và bốn Pháp Thiện Căn. Chuổi tiểu tràng gồm có 27 hạt tượng trưng cho mười tám Pháp Học Nhân và chín Pháp Vô Học. Chuổi 21 hạt hàm ý Ngũ căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần và Ngũ Trí Phật. chuổi 18 hạt tượng trưng cho Bát Chánh Đạo và Thập Hiệu Phật, còn tượng trưng cho 18 vị A La Hán. Chuổi 16 hạt tượng trưng cho Thập Địa và Lục Ba La Mật. Chuổi 14 hạt tượng trưng cho mười bốn Vô Úy của Bồ Tát Quán Thế Âm. Chuổi 12 hạt tượng trưng cho mười hai Nhân Duyên. Chuổi 9 hạt tượng trưng cho Cửu Phẩm Liên Hoa. Ngoài ra còn chuổi 1080 hạt, 42 hạt và chuổi Mật Tông có chổ dùng 110 hạt. Chuổi được dùng rất nhiều chất liệu để làm, thường thấy nhất như chuổi kết bằng hạt Bồ Đề, hạt Kim Cang, ngoài chuổi hạt còn được dùng chất liệu là thất bảo để làm. Như Vàng, Ngọc, Lưu Ly, San Hô, Hổ Phách..v.v… những chuổi tràng được làm bằng chất liệu quý thường là do các thí chủ học hạnh bố thí của Bồ Tát Vô Tận Ý mà phát tâm cúng dường cho tượng Phật hoặc các bậc Trưởng Lão Đạo cao Đức trọng trong Phật Giáo, chuổi còn là tín vật cho việc truyền thừa, kỷ vật. Vì vậy chuổi tràng trong Phật Giáo ngoài công năng là pháp khí tu hành ra còn là bảo vật của Tam Bảo, tín vật của sự truyền Pháp và là pháp vật chứa đựng công đức, cũng như thần lực rất cao vì tích tụ sự tu trì, công đức của các bậc tu hành. Chuổi Tràng Bồ Đề Tinh Nguyệt Chuổi Tràng Lưỡng Giới Bồ Đề Tinh Nguyệt Chuổi Tràng Kim Cang Lục Tùng Chuổi Tràng Kim Cang Thiên Chu Tây Tạng Chuổi Tràng Kim Cang Lục Tùng Ấn Độ (CÒN TIẾP)