-
Số nội dung
6007 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
103
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by wildlavender
-
Xác nhận có 500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) của Sunnyday81 ủng hộ Quỹ từ thiện diễn đàn. Quỹ hiện có : 7,775,700 đ + 500,000 đ = 8,275,700 đ (tám triệu hai trăm bảy mươi lăm bảy trăm đồng)
-
Ý NGHĨA CÚNG HOA, ĐÈN, HƯƠNG VÀ Ý NGHĨA LỄ CẦU NGUYỆN Ý Nghĩa Dâng Hoa Cúng Phật Dâng hoa cúng Phật mang ý nghĩa dâng cúng những điều thiện lành, tốt đẹp, thơm tho, chúng ta làm được trong cuộc sống hằng ngày, theo lời chư Phật dạy. Chẳng hạn như chúng ta làm được việc thiện nào trong ngày, chúng ta dừng được việc ác nào trong ngày, đó là những bó hoa tươi thắm đem dâng cúng chư Phật. Việc dâng hoa cúng Phật là một hành động thành kính ngưỡng mộ, bày tỏ tâm biết ơn sự chuyển hóa vô thượng của giáo pháp, mặc dù giá trị vật chất không đáng quan tâm. Tiếp theo việc dâng hoa cúng Phật là lời tán tụng và tâm người Phật tử hồi tưởng lại đời sống cao thượng, phẩm hạnh vi diệu của đức Phật, quyết cố gắng noi theo, không cầu khẩn van xin gì cả. Đức Phật là một bậc sáng suốt, đã chấm dứt sự phiền não và khổ đau, một đấng hoàn hảo, chứng được trí tuệ bát nhã và giác ngộ chân lý vô thượng, đáng được tôn kính và đảnh lễ. Người Phật tử quyết tâm noi theo chánh đạo, đưa đến chánh kiến và chánh tín, để hiện tại đạt an lạc hạnh phúc, mai sau được giác ngộ giải thoát. Ý Nghĩa Lễ Cúng Đèn Trong hình thức nghi lễ, khi cúng dường một ngọn đèn lên đức Phật, không nên nghĩ hay cho rằng mình đang làm một ân huệ và cầu khẩn van xin phước báo. Trái lại, nên ý thức một cách trọn vẹn rằng: chúng ta đang nâng cao nguồn sáng trí tuệ, mà chúng ta tiếp nhận từ đức Phật. Nguồn ánh sáng này xua đuổi bóng đêm trong tâm thức chúng ta, hướng dẫn chúng ta và tất cả chúng sinh tìm thấy con đường đi đến giác ngộ. Theo cách này, đối với người thực hiện nghi lễ, ngọn đèn cúng dường lên đức Phật là phương tiện để quán niệm về cái ánh sáng giác ngộ đã và đang chiếu sáng trong mỗi người chúng ta từ thời vô thủy, và ánh sáng đó thường bị những bức tường do tự ngã che khuất trong bóng tối. Mục đích của sự tu tập chính là để dẹp trừ cái bản ngã đó. Ý Nghĩa Dâng Hương Cúng Phật Theo kinh sách, khi làm lễ dâng hương cúng Phật có 5 ý nghĩa, gọi là Ngũ Phần Hương, gồm có: 1. Giới hương,2. Định hương,3. Tuệ hương,4. Giải thoát hương, và5. Giải thoát tri kiến hương. Đức Lục Tổ Huệ Năng giải thích trong Kinh Pháp Bảo Đàn như sau: 1. GIỚI HƯƠNG: Tức trong tự tâm chẳng quấy, chẳng ác, chẳng ganh tỵ, chẳng tham sân, chẳng cướp hại, gọi là GIỚI HƯƠNG. 2. ÐỊNH HƯƠNG: Thấy những cảnh tướng thiện ác, tự tâm chẳng loạn, gọi là ÐỊNH HƯƠNG. 3. TUỆ HƯƠNG: Tự tâm vô ngại, thường dùng trí tuệ chiếu soi tự tánh, chẳng tạo điều ác, dù tu nhiều thiện mà tâm chẳng chấp trước, kính trên mến dưới, thương xót kẻ cô đơn nghèo nàn, gọi là TUỆ HƯƠNG. 4. GIẢI THOÁT HƯƠNG: Tự tâm chẳng phan duyên, chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, tự tại vô ngại, gọi là GIẢI THOÁT HƯƠNG. 5. GIẢI THOÁT TRI KIẾN HƯƠNG: Tự tâm đã chẳng phan duyên thiện ác, chớ nên trầm không trệ tịch, phải tu học pháp tối thượng thừa, nhận tự bản tâm, thông đạt lý Phật, hạ mình để tiếp người, vô nhơn vô ngã, thẳng đến Bồ đề, chơn tánh chẳng đổi, gọi là GIẢI THOÁT TRI KIẾN HƯƠNG. Thiện tri thức ! Năm thứ hương này mỗi người tự huân tập trong tâm, chớ tìm bên ngoài. Dâng cúng Phật hương, đăng, hoa, quả, thủy. Trong các thứ trên, cúng dường pháp là hơn hết. Ý Nghĩa : Đối với chư Phật mười phương, chúng ta phát khởi tín tâm, tin tưởng sâu sắc, hiểu biết rõ ràng, thành tâm dâng cúng: những điều tốt đẹp, những thành tựu cao quí nhứt, trên bước đường tu học (học hỏi chánh pháp và tu sửa thân tâm). Không tu tập và không làm như thế, dù thành tâm đến đâu, dâng hương cầu nguyện nào có được gì? Tại sao vậy? - Bởi cầu khẩn van xin mà được như ý, người ta đền ơn đáp lễ, đốt hương cả bó, cháy luôn ngôi chùa! Dâng cúng hương mang ý nghĩa dâng cúng những hương thơm kết tụ do việc giữ gìn giới luật, những hương thơm kết tụ do việc luôn giữ tâm thiền định, những hương thơm kết tụ do việc phát triển trí tuệ, những hương thơm kết tụ do việc tu hạnh giải thoát và những hương thơm kết tụ do việc giải thoát sự hiểu biết phiền lụy của thế gian. Tóm lại dâng hương cúng Phật gồm có: 1. Giới hương 2. Định hương 3. Tuệ hương4. Giải thoát hương và 5. Giải thoát tri kiến hương. /
-
- 3
-
-
Chuẩn!
-
NHẸ GÁNH LO ÂU Bạn có lo âu không? Bạn có cảm thấy khốn khổ không? Nếu có, hãy chăm chú đọc quyển sách nhỏ nầy. Những dòng chữ sau đây đã được viết ra cho bạn và cho những ai còn mãi lo âu về những điều không đáng lo - lo suốt đời, lo đến chết! Lo âu và khốn khổ là cặp tệ hại luôn luôn đi song với nhau như hai con bài trùng. Cả hai tệ hại này cùng sống và cùng chết với nhau, trên thế gian này. Nếu bạn lo âu, ắt bạn cảm thấy khốn khổ. Nếu bạn cảm thấy khốn khổ, ắt bạn lo âu. Chúng ta phải đối phó với những sự kiện của đời sống, phải đương đầu với những diễn tiến khác nhau của kiếp nhơn sinh. Mặc dầu không thể lẩn tránh chúng, ta không nên để cho cặp tệ hại lo âu và khốn khổ tràn ngập và khắc phục ta. Trái lại, phải khắc phục chúng, và ta có đủ khả năng để làm việc này. Điều cần thiết là phải hướng dẫn thích đáng mọi cố gắng, mọi quyết tâm và kiên nhẫn của chúng ta. Nếu hiểu biết sự vật một cách chơn chánh, và thận trọng áp dụng trí não thông minh mẫn và sáng suốt của chúng ta vào mọi việc làm ắt chúng ta có thể chế ngự được những cảm xúc và thoát ra khỏi mọi lo âu và khốn khổ. Những mối lo âu của ta là con đẻ của chính ta. Chính tự ta tạo nó trong tâm, vì không đủ khả năng, hay vì thất bại, không hiểu được và không ước lượng được trọn vẹn những cảm xúc ít nhiều vị kỷ của ta và vì ta lượng định quá đáng hay sai lạc phẩm giá của sự vật. Nếu chúng ta có thể nhìn sự vật đúng trong bối cảnh của sự vật, và thấy rằng không có gì là trường tồn vĩnh cửu, không có gì tồn tại vững bền trong thế gian nầy và tự ngã của chúng ta chỉ là trí tưởng tượng hoang dại, chạy loạn trong cái tâm không kềm chế, như một tuấn mã bất kham, ta sẽ còn đi một đoạn đường dài, dài dẳng, để tìm ra phương thức khả dĩ tận diệt chứng bịnh lo âu và khốn khổ. Chúng ta phải tự trau dồi tâm trí, tự quên mình, để dấn thân vào những công tác phục vụ nhơn loại và để trở nên người hữu ích cho nhơn quần xã hội. Đó là một trong những đường lối mà, noi theo đó chúng ta có thể tìm đến an tịnh và hạnh phúc thật sự. Nhiều người có những ham muốn và những khát vọng, những lo âu và sợ sệt mà chính họ cũng cảm thấy hổ thẹn, không dám nhận, dầu là âm thầm tự nhận trong lòng. Họ không biết làm thế nào để cho những cảm xúc ấy trở nên cao thượng hơn. Tuy nhiên, những xúc động ấy có một năng lực. Dầu họ làm cách nào để đè nén, dồn ép và che đậy, nó cũng tìm lối thoát và khi thoát ra, làm xáo trộn guồng máy cơ thể vật chất này và gây nên những chứng bịnh kinh niên. Ta có thể sửa đổi những điều ấy bằng các phương pháp tham thiền thích ứng, tức chế ngự cái tâm, bởi vì một tâm hồn buông lung là nguyên nhân chánh tạo nên những lo âu tương trợ. Bất luận lúc nào mà bạn lo âu trong lòng, chớ nên phô trương gương mặt phiền muộn của bạn trước tất cả mọi người. Chỉ nên tâm sự với những ai thật sự có thể giúp bạn. Trong lúc khó khăn mà bạn phải trải qua trên đường đời, nếu bạn có thể luôn luôn giữ được nụ cười trầm tĩnh thì quả thật là tốt đẹp. Điều này không phải là quá khó nếu ta thật sự cố gắng. Nhiều thanh niên quá đổi lo âu phiền muộn khi mất tình thương của người bạn gái. Trong những hoàn cảnh bất mãn và thất vọng tương tợ vài người nghĩ đến quyên sinh tánh mạng, có người phải loạn trí, phần lớn tự thấy khốn khổ vô cùng. Tất cả những bất hạnh ấy đều do nơi sự kém hiểu biết về bản chất thật sự của đời sống. Dầu sao đi nữa, chúng ta không thể tránh những cảnh chia ly xa biệt. Ta có thể phân lìa nhau từ buổi đầu, có thể ở đoạn giữa, hoặc nữa, vào lúc cuối cùng của cuộc đời, nhưng chắc chắn không thể tránh. Khi những sự kiện như vậy xảy ra, ta phải cố gắng tìm hiểu nguyên nhân tại sao. Nếu cảnh biệt ly ấy vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của ta, hãy có đủ can đảm chịu đựng và hãy nhận định rằng đó là bản chất của đời sống. "Bất luận nơi nào mà sợ hãi phát sanh, nó chỉ phát sanh ở hạng điên cuồng, không phát sanh đến người trí", Đức Phật dạy như vậy. Sợ hãi chỉ là một trạng thái tâm. Trạng thái tâm của ta phải được kiểm soát và hướng dẫn. Dùng nó một cách tiêu cực ắt có sợ sệt. Được dùng một cách tích cực, nó sẽ đem lại hi vọng và cho ta những lý tưởng trong đời sống. Và dùng nó như thế nào là hoàn toàn do ta quyết định. Mỗi người đều có khả năng kiểm soát tâm. Chỉ có một việc mà con người có thể kiểm soát được một cách tuyệt đối, đó là tư tưởng của mình. Sự kiện này - cùng với sự kiện xác thực khác là tất cả những gì mà con người tạo nên đều phải bắt đầu trong tư tưởng - đưa ta xích lại gần nguyên tắc theo đó ta có thể khắc phục tính sợ sệt.Khi được một sinh viên hỏi về phương pháp hữu hiệu nhức để chế ngự cái tâm, một nhà cơ thể học trứ danh người Anh trả lời: "Hãy cố gắng làm điều gì cho một người nào". Chàng sinh viên lấy làm ngạc nhiên với câu giải đáp có vẽ bí ẩn ấy và xin giáo sư rọi sáng thêm vấn đề. "Bạn không thể có hai loại tư tưởng trái ngược nhau cùng một lúc", vị giáo sư giải thích, "những tư tưởng này sẽ xua đuổi các tư tưởng kia. Thí dụ như nếu tâm của bạn hoàn toàn chăm chú vào việc giúp đỡ người khác mà không mảy may vụ lợi thì cùng lúc ấy bạn không thể sợ sệt". "Sự lo âu làm cạn giòng máu trong cơ thể, sớm hơn là tuổi già". Càng ít sợ hãi, ít lo âu và phiền muộn, sức khoẻ và tuổi thọ càng được bảo tồn tốt đẹp. Mãi mãi sợ sệt và không ngừng lo âu là kẻ thù tệ hại nhất cho cơ thể con người. Nó làm xáo trộn hoạt động bình thường của cơ thể. Nếu bạn biết làm vui lòng người khác, bạn sẽ có một gương mặt luôn luôn tươi tỉnh. Đó là vì bạn không để cho những lo âu phát sanh trong lòng. Tiếng gọi của thiên nhiên Để thành đạt các lợi ích vật chất, con người hiện đại không lắng tai nghe tiếng gọi của thiên nhiên. Hoạt động tinh thần của con người hiện mãi chăm chú mơ tưởng hạnh phúc tương lai mà lãng quên nhu cầu thiết yếu của cơ thể vật chất, và hoàn toàn không nghĩ đến giá trị thực tiễn của khoảnh khắc hiện tại. Tác phong phản thiên nhiên của nhân loại ngày nay là hậu quả tức khắc của những quan niệm sai lạc về trật tự thế gian, về kiếp nhân sinh, và về mục tiêu tối hậu của đời sống. Đó là nguyên nhân của tất cả mọi bất mãn, mọi lo âu, sợ sệt, và mọi hoàn cảnh bất ổn của thời hiện đại. Người thật sự mong muốn hoà bình phải giữ mình, không để làm xáo trộn tự do của kẻ khác. Tìm hạnh phúc cho mình bằng cách làm xáo trộn người khác quả thật là phương pháp sai lạc! "Bạn có thể làm cho vài người mãi mãi thất vọng, và làm cho tất cả mọi người thất vọng vài hôm, nhưng bạn không thể làm cho tất cả mọi người mãi mãi thất vọng". (Abraham Lincoln) Nếu con người hung bạo và tội lỗi mãi mãi sống ngược lại với định luật thiên nhiên, định luật vũ trụ, con người sẽ làm ô nhiễm toàn thể bầu không khí bằng những hành động, lời nói và tư tưởng của mình. Hậu quả dĩ nhiên của hành động và tư tưởng sai lạc tương tợ là thiên nhiên không thể tạo nên những gì mà con người cần phải có để sống, trong lúc ấy con người có thể phải đương đầu với những truyền nhiễm và những loại thiên tai vô cùng nguy hại. Ngược lại, nếu con người có một nếp sống thích ứng với định luật thiên nhiên và trật tự vũ trụ, nếu con người có một lối sống chơn chánh, thanh lọc bầu không khí bằng những công đức, bằng phẩm hạnh thanh cao và rải tâm từ của mình bủa rộng, bao trùm tất cả chúng sanh, ắt con người sẽ thay đổi bầu khí quyển để đem lại hậu quả tốt đẹp cho hạnh phúc nhơn loại. Bạn có thể là một người tân tiến rất bận rộn. Nhưng chớ quên bỏ ra vài phút trong ngày để đọc những trang sách có giá trị. Thói quen này sẽ giải khuây, giúp bạn quên đi những mối lo âu, và cùng lúc, giúp bạn trau dồi tâm trí. Trong khi ấy, cũng nên nhớ rằng bạn có một tôn giáo. Tôn giáo phục vụ bạn, đem lợi ích đến bạn. Như vậy, chính bổn phận của bạn là suy tư về tôn giáo của mình và dành vài phút trong ngày để thực hành những công việ có tánh cách tôn giáo, hợp theo lẽ đạo. Sức khoẻ tâm linh và những khuynh hướng tội lỗi Về phương diện sức khoẻ, không phải lao phổi hay ung thư là những chứng bịnh tai hại nhứt của thời đại chúng ta. Hiện nay, bịnh lao phổi hình như đã được kiểm soát và cũng có nhiều hi vọng rằng trong một tương lai không xa người ta sẽ tìm ra phương thức trị liệu cho bịnh ung thư. Trong thực tế, mối nguy cơ quan trọng nhứt ngày nay là sự tăng trưởng mau chóng của những chứng bịnh thuộc về thần kinh và trí não. Ngoài ra còn nhiều người, tuy thường không được xem là bịnh nhưng rất cần, và hơn ai hết, phải được chữa trị. Người ta có thể hỏi tại sao những phần tử tội lỗi trong xã hội lại được nêu lên đây cùng một lúc với các bịnh thần kinh. Một trong những hậu quả tích cực và sâu xa nhứt, dồn ép trực tiếp trong công trình khảo cứu của Freud là sự nhìn nhận rằng những người gây tội ác và phạm pháp là những người bịnh về tinh thần, cần phải được chữa trị hơn là hành phạt. Chính cái nhìn phóng khoáng vào vấn đề như thế ấy phải đặt nền tảng cho tất cả mọi cải cách xã hội "cấp tiến", và mở đường dẫn lối đến phương pháp cải thiện, làm cho xấu trở nên tốt, hơn là trả thù. Hãy biết người láng giềng của bạn Chúng ta không bao giờ thấy những người khác sống như thế nào. Chúng ta cũng có thể không biết gì về đời sống của những người không cùng một giai cấp xã hội với chúng ta, hoặc kém hơn, hoặc giàu có sang trọng hơn ta. Nếu ta khoẻ mạnh, ta không thể biết được bịnh hoạn là như thế nào, và nếu là người ươn yếu tật nguyền, ta sẽ không hiểu được năng lực của người dồi dào sức khoẻ ra sao. Vì thiếu kinh nghiệm nên ta quá khắt khe, kém khoan hồng. Đức quảng đại khoan dung chỉ phát sanh do sự hiểu biết. Và nếu không có kinh nghiệm, ắt chúng ta không thể hiểu biết. Do đó, nên có nhiều kinh nghiệm, kinh nghiệm về mọi phương diện của đời sống, nhứt là nên đi lại đó đây để mở rộng tầm mắt, nhưng không nên luôn luôn dùng những phương tiện dồi dào tiện nghi nhứt. Hạnh phúc con người Đức Phật dạy rằng tất cả bất hạnh của con người đều phát sanh từ sự ham muốn lầm lạc, muốn những thú vui mà tiền của mua được, muốn nhiều quyền thế hơn kẻ khác, và quan trọng hơn tất cả, muốn tiếp tục mãi mãi sống sau khi chết. Chính vì ham muốn những điều này mà con người trở nên vị kỷ, bởi nó làm cho con người chỉ nghĩ đến riêng mình, chỉ muốn cho riêng mình, và không để ý lo nghĩ đến những gì có thể xảy đến người khác. Và, bởi vì không thể thành đạt tất cả những gì mình mong muốn, con người luôn luôn lo âu và bất toại nguyện. Phương pháp duy nhất để tránh tình trạng bất ổn này là phải thoát ra khỏi nguyên nhân sanh ra nó, tức vượt qua khỏi mọi ham muốn. Điều này rất khó làm. Nhưng, ai đã thành tựu viên mãn sẽ đạt đến trạng thái toàn hảo và an tịnh PHẠM KIM KHÁNH (dịch)
-
- 1
-
-
Tiền Thân Của Đại Bàng Kim Sí Điểu
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Cúng Đại Bàng Cúng Đại bàng là một cách gọi thông dụng của nghi thức Xuất sanh (xuất cho chúng sanh). Trước khi ăn, Đức Phật dạy các Tỷ kheo phải bố thí, san sẻ thực phẩm cho các loài quỷ thần được no đủ. Đối tượng được bố thí, sẻ chia là chim đại bàng cánh vàng, chúng quỷ thần đồng hoang và mẹ con quỷ la sát. Chim đại bàng cánh vàng (Đại bàng kim sí điểu, Ca lâu la điểu) là một loại chim thần. Trong Phật giáo Bắc tông, chim thần này được xếp vào Bát bộ chúng. Kim sí điểu có 4 chủng loại noãn, thai, thấp và hóa sanh. Trong Mật giáo, kim sí điểu là một trong những hóa thân của Bồ tát Văn Thù, thuộc Kim Cang bộ (ảnh). Hình tượng kim sí điểu giống như diều hâu, thân vàng, cánh đỏ…Các quỷ thần đồng hoang (Khoáng dã quỷ) thuộc thần Dược xoa. Đây là loài quỷ có 6 mặt, ở đồng trống, chuyên ăn thịt và uống máu chúng sanh. Loài quỷ Khoáng dã này được Đức Phật giáo hóa, bỏ ác làm lành nên Phật dạy các Tỷ kheo trước khi ăn phải bố thí cho chúng. Mật giáo thờ các vị thần Khoáng dã này như những thiện thần hộ quốc an dân, tiêu trừ các chướng nạn nước, lửa và binh đao.La sát là loài quỷ hung ác. La sát nữ xinh đẹp và rất quyến rũ, chuyên ăn thịt và uống máu người. Có loại quỷ la sát ở trong địa ngục, hình đầu trâu mặt ngựa chuyên trừng phạt tội nhân. Ngoài ra, còn có loại la sát là thần thủ hộ Phật giáo, gọi là La sát thiên.Chư Tăng vì lòng từ bi nên dựa theo các nghi quỹ Phật chế định, trước khi ăn luôn bố thí cho các loài quỷ thần được no đủ. Theo GNO -
Tiền thân của Đại bàng Kim Sí Điểu Trước khi hóa thành Đại bàng Kim Sí Điểu, loài chim hộ pháp này đã là thần điểu Garuda trong một tiền kiếp ở sông Hằng và có mặt trên các đền đài, phù điêu bằng đá của người Chăm... Chuyện nổi tiếng nhất về Garuda là đã vô hiệu hóa sức mạnh bạt ngàn của thần gió Vayu. Lúc Vayu dồn hết sức mạnh của mình để nổi trận cuồng phong dữ dội suốt một năm nhằm thổi bay đỉnh núi Meru, nhưng thần điểu Garuda luôn dùng đôi cánh khổng lồ che cho ngọn núi vô tội ấy, khiến Vayu không làm gì được. Một hôm thừa lúc Garuda bay đi để uống ánh sáng từ thần mặt trời rót xuống, thần gió dồn hết sức thổi bay ngọn Meru từ đất liền ra biển, tạo thành đảo Lanka (Sri Lanka ngày nay). Garuda là thần điểu thường được Vishnu cưỡi trong phù điêu tạc ở nhiều nơi trên vương quốc Chămpa (như trên phù điêu ở làng Ưu Điềm nói ở các bài trước). Sau này, Garuda hóa thân thành Đại bàng Kim Sí Điểu là một trong Thiên long bát bộ của nhà Phật. Kim Sí Điểu mỗi ngày ăn 500 con rồng nhỏ và 1 con rồng chúa, ăn mãi đến nỗi loài rồng sắp tuyệt chủng vội kéo đến cầu cứu với Phật. Đức Phật gọi Kim Sí Điểu tới khuyên nhủ nên chấm dứt cuộc đại sát sinh ấy, Kim Sí Điểu thưa nếu không ăn rồng thì lấy gì mà sống. Phật bảo từ đây hãy ngưng sát hại, thay vì ăn thịt rồng "mỗi ngày đúng ngọ ta sẽ bảo các đệ tử của ta trước khi ăn cơm sẽ cúng dường cho ngươi". Kim Sí Điểu đồng ý, đến nay ở các chùa tại Việt Nam, Trung Quốc theo truyền thống Đại thừa và một số nước khác trên thế giới hằng ngày trước khi thọ trai đều lấy vài hạt cơm, hoặc đôi ba sợi mì, bỏ vào chén nước nhỏ, đem ra giữa trời khấn rằng: Đại bàng Kim Sí Điểu - Khoáng dã quỷ thần chúng - La Sát quỷ tử mẫu - Cam lồ tất sung mãn. Nghĩa là, trước nay xin cúng dường lên Đại bàng Kim Sí Điểu, đồng thời cấp cơm nước cho quỷ thần ở nơi rừng núi vắng vẻ, hoang dã và cho mẹ con của bà quỷ La Sát, để tất thảy đều được hưởng vị cam lồ đầy đủ không thiếu đói. Khấn rồi vái ba vái, xong mới vào nhà ăn trưa. Hình ảnh Kim Sí Điểu sau này chính là Garuda trong thần thoại Ấn Độ cổ đại mà người Chăm ở Việt Nam đã tiếp nhận và điêu khắc. Để biết rõ thêm về Đại bàng Kim Sí Điểu, thiết tưởng cần tham khảo nội dung mà hòa thượng Kim Cang Tử và các học giả khác ở Việt Nam đã đưa vào cuốn Từ điển Phật học Hán-Việt, rằng: Kim Sí Điểu hai cánh rộng đến 306 vạn dặm, khi ăn các vật như rồng, cá, vàng, bạc, châu báu đều tiêu hóa được hết, chỉ trừ có kim cương. Kinh Cựu Hoa Nghiêm chép: Ví như Kim Sí Điểu bay liệng trên hư không, dùng con mắt thanh tịnh quan sát cung điện của Đại hải long vương, lấy hết sức mạnh của hai cánh rẽ nước biển khiến cho nước tách đôi ra (để đi lại tự do trong bất cứ đại dương nào). Nếu biết được có con trai con gái nào của Long vương mệnh đã chết, bèn quắp lấy họ trong chớp mắt đưa lên khỏi biển. Một tài liệu khác cũng mô tả sức mạnh của vua Kim Sí Điểu (tức Kim Sí Điểu vương) khi quạt cánh đã phát ra một luồng kình lực cực mạnh làm mù mắt người và khiến các loài rồng hoảng sợ chạy trốn tán loạn khắp nơi trong 3.000 thế giới. Khi sinh ra, Kim Sí Điểu vương phát sáng với hào quang màu vàng chói (khiến các thiên thần phải bịt mắt), có tay chân như người, mặt trắng và cánh màu đỏ rực. Sức mạnh của thần điểu Garuda cũng như của Kim Sí Điểu vương so với các sinh vật khác giống như sự vững chãi của cây đại thụ nghìn vạn năm so với những loài cỏ dại yếu ớt. Nhưng sức mạnh ấy lại xuất phát từ một... khoảng không im lặng! Thật vậy, mọi tướng trạng lớn nhỏ trong vũ trụ, từ hạt bụi li ti đến thân hình cao to khổng lồ của thần điểu Garuda, của Kim Sí Điểu vương, được những bản kinh tối cổ của Ấn Độ như Upanishad giải thích qua chuyện kể thâm trầm, như tóm lược dưới đây: Một vị đại sư đưa đệ tử của mình đi thọ giáo 12 năm về kinh Veda. Đệ tử ấy học thông thuộc Veda rồi trở về đầy vẻ kiêu căng. Để giúp anh ta tiêu trừ lòng tự mãn và khai mở trí tuệ cho anh, một hôm vị đại sư kêu anh đến hỏi: "Cái gì làm nên vũ trụ, hình thành Tự ngã của con? Cái gì nhỏ hơn hạt cải, hạt kê, nhưng cũng lại lớn hơn trái đất, bầu trời?". Anh ta ngẩn người, không trả lời được, vì lâu nay chỉ biết học thuộc kinh sách, chứ chưa biết sống theo những giáo huấn tuyệt vời trong đó. Bấy giờ, đại sư ôn tồn bảo: "Này, con hãy ra lượm một quả vả của cây vả to lớn ngoài sân kia đem vào đây". Xong, đại sư bảo: "Con hãy tách quả vả ra". Anh bắt đầu bóc vỏ. Lại bảo: "Hãy bóc nữa, con thấy gì trong đó?". Thưa: "Dạ trong đó có các hạt vả". Bảo tiếp: "Con hãy tách một hạt ấy xem có gì?". Anh lại lấy tay tách nhẹ một hạt, và tách mãi, cuối cùng bạch sư phụ: "Thưa thầy, trong lòng của hạt vả này là cái mầm. Giữa cái mầm tí hon kia là một khoảng không rất nhỏ, nó không có gì hết". Nghe xong đại sư dạy: "Này con, chính cái không có gì hết ấy đã làm nên sự hiện hữu của cây vả to lớn kia. Con và mọi sinh linh khác cũng vậy, tất cả đều xuất hiện từ cái không có gì hết nghĩa là từ một khoảng không rất nhỏ - khoảng không khiêm tốn, vô hình - nhưng tràn ngập trong cõi đời này và tạo nên nguồn sống. Cái ấy chính là con. Chính là Tự ngã của con, chứ không phải kinh sách, văn tự và trí nhớ suông mà con đang ôm giữ!". Giáo huấn trên có thể chiêm nghiệm khi đối diện trước các tượng thờ bằng đá có tạc thần điểu Garuda, thần sấm sét Indra, thần chết Yama, thần hạnh phúc Ganesha... (Còn tiếp) Theo Giao Hưởng<br style="padding: 0px; margin: 0px; ">
-
Thăm Và Tặng Quà Trẻ Mồ Côi Nhân Ngày 1-6
wildlavender replied to wildlavender's topic in Những Mảnh Đời Cần Cứu Giúp
Rất hoan hỷ tiếp nhận sự tham gia của WALL-E, bạn nên theo dõi trên Topic Những Mãnh đời cần cứu giúp hoặc Hoạt Động Trung Tâm vì khi đi thường có thông báo! -
Bệnh Viêm Cột Sống Dính Khớp Chữa Trị Như Thế Nào?
wildlavender replied to langtuqn's topic in Y Học Và Sức Khoẻ
http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/25375-chua-bai-liet-cam-diec-trong-10-phut-chuyen-la-co-that/page__st__40 từ đây bạn có thể đem phim chụp và trao đổi thông tin vì các anh trong nhóm hiện ở Bình Dương. -
Ý thức là gì? NSGN - Bất cứ một cái gì có khả năng duy trì tự tánh của nó vào trong một số hình tướng để khi nhìn đến, ta liền nhận ra, gọi là pháp (Tiếp theo Nguyệt San 190 và hết) Pháp là gì? Trên thực tế, chúng ta sử dụng nhiều danh từ để chỉ cho những sự vật xuất hiện trong thế giới. Những sự vật đó vừa có tính đa dạng, vừa có tính đổi thay, vừa có tính đơn nhất. - Như cùng là người mà có người da trắng, da đen, cao to, nhỏ bé, thông minh, đần độn… Các cá thể người tuy có nhiều sai khác về hình thể tính cách nhưng tất cả đều là người. - Anh A lúc xưa trẻ nay đã già, lại có lúc vui, lúc buồn, lúc khỏe mạnh, lúc ốm đau… dù luôn thay đổi, nhưng khi nào cũng là anh A. Những sự vật vừa có tính đa dạng, thay đổi và đơn nhất như thế được nhà Phật gọi là pháp. Như vậy, những danh từ được dùng để chỉ thị cho pháp, mỗi danh từ là một pháp. Phần đơn nhất của pháp, gọi là tánh. Phần đa dạng và hay thay đổi của pháp gọi là tướng hay pháp tướng. Pháp được định nghĩa như sau: “Bất cứ một cái gì có khả năng duy trì tự tánh của nó vào trong một số hình tướng để khi nhìn đến, ta liền nhận ra, gọi là pháp”. Xét ra, mọi sự mọi vật trên đời đều là pháp. Vì sao đối tượng nhận biết của ý thức là pháp? Năm giác quan của ta chỉ ghi nhận hình tướng của pháp ở thời điểm hiện tại, vì thế năm thức ngoài chỉ biết được cảnh hiện tại. Cảnh hiện tại là một trong vô số hình tướng của pháp. Thông qua hình tướng đó, ý thức biết được đó là gì, là một pháp. Đây là chỗ sai khác giữa ý thức và năm thức ngoài. Ý thức không chỉ biết về một hình tướng mà còn biết đó là cái gì. Pháp bên ngoài thông qua năm thức ngoài đã trở thành những ảnh tượng ở trong tâm. Những ảnh tượng này chính là pháp trần, là đối tượng nhận biết của ý thức.(2) Tâm chúng ta vận hành thế nào để tạo ra một ý niệm về pháp cho ý thức? Một ý niệm về pháp được hình thành thông qua bốn phần của thức. Đó là kiến phần, tướng phần, tự chứng phầnvà chứng tự chứng phần. Để dễ nắm bắt bốn phần này, chúng ta phân tích thí dụ sau: Bạn đang ngồi trong công viên, tâm hồn thư thái không chú ý đến việc gì. Bỗng có một hình ảnh cao gầy lướt qua, trong tâm bạn liền khởi lên ý niệm: Anh A. - Tướng (cao gầy) mà mắt bạn ghi nhận được, là tướng phần. - Cái biết về tướng cao gầy, là kiến phần. - Anh A là thứ mà ý thức phân biệt nhận biết. Anh A là pháp. Đến đây, bạn dễ dàng nhận ra sự sai khác giữa ý thức và năm thức trước. Cái mà nhãn thức biết được là một tướng. Tướng đó, thông qua ý thức phân biệt trở thành cao gầy, là tướng phần của ý thức phân biệt. Ý thức phân biệt không chỉ biết được tướng cao gầy mà còn biết được đó là anh A. A này từ đâu xuất hiện? Như đã nói, ở thời điểm hiện tại khi ý thức biết được tên gọi là A, thì hình ảnh và tên gọi của A đã được lưu trữ trong vô thức. Khi ý thức nhận biết được tướng cao gầy, lập tức thông tin này được đưa vào kho lưu trữ để tra cứu rồi rút ra kết luận là anh A. Bộ phận có nhiệm vụ tra cứu và xác chứng đó, gọi là tự chứng phần. Phần này hoạt động trong vô thức. Ý thức là nơi tiếp nhận kết quả của sự xác chứng. Trong thực tế có vô số người có tướng cao gầy, do đó sự xác chứng của tự chứng phần có thể chưa phù hợp. Muốn xác chứng được chính xác cần có một bộ phận kiểm tra để xác nhận cho sự chứng thành của phần tự chứng. Bộ phận thứ tư này gọi là chứng tự chứng phần. Trong thí dụ trên, phần này hoạt động như sau: Thông tin cao gầy mà kiến phần cung cấp cho tâm vẫn còn quá đơn sơ, chưa đầy đủ. Đến đây bạn hướng sự chủ ý của mình đến đối tượng trên, nhìn kỹ hơn đối tượng ấy. Sự nhìn kỹ, như thấy rõ khuôn mặt, mắt, tai, màu da… giúp bạn có nhiều thông tin hơn. Song song với việc làm này, bên trong chứng tự chứng phần sẽ lôi những thông tin đã được lưu trữ cấp cho phần tự chứng. Phần này sẽ đối chiếu những thông tin về A đang được lưu trữ trong vô thức với những thông tin mới mà kiến phần vừa cung cấp để đi đến kết luận cuối cùng. Kết luận này sẽ xuất hiện nơi ý thức đó là A hay không phải A. Diễn giải trên nhằm giúp chúng ta dễ nhận ra bốn phần của thức vận hành thế nào. Thực tế, với một sự vật quen thuộc, quá trình trên hoạt động gần như đồng thời và cho ra liền kết quả. Cần biết thêm về tự chứng phần và chứng tự chứng phần: Muốn chứng thành một pháp được chính xác, đòi hỏi phải lưu giữ nhiều thông tin về pháp. Điều này đòi hỏi phải có nhiều lần tiếp xúc với pháp. Cứ mỗi lần tiếp xúc là mỗi lần các thức của chúng ta ghi nhận được thông tin của pháp. Sự ghi nhận có thể do cố ý hay không cố ý đều được lưu giữ trong vô thức. Nói cách khác, khi tiếp xúc với pháp, những gì mà sáu thức ngoài ghi nhận được từ pháp đều được lưu giữ lại. Đây là cơ sở cho việc chứng thành pháp ở những lần sau. Thí dụ trên cho thấy việc chứng thành pháp ở nhãn thức. Với các thức còn lại cũng như vậy. Như mới nghe tiếng chưa thấy mặt cũng đã nhận ra là ai, mới ngửi mùi cũng biết đó là thứ gì. Nếu có điều kiện tiếp xúc thường xuyên với pháp, những thông tin mới xuất hiện do sự biến đổi của pháp liền được ghi nhận và cho vào kho lưu trữ. Nghĩa là, tâm luôn cập nhật những thông tin mới về pháp thì việc chứng thành pháp diễn ra dễ dàng hơn. Pháp, trên thực tế vừa đa dạng vừa hay biến đổi, nhưng cũng có những thông tin ít biến đổi, nhờ vậy tâm vẫn có thể chứng thành pháp dựa trên những thông tin đó. Như A có một tướng đi rất đặc thù ít thay đổi. Và vì thế dù các tướng khác đã thay đổi, chúng ta vẫn có thể nhận ra A thông qua tính cách đó. Tóm lại, đối tượng nhận biết của ý thức là pháp, không đồng với 5 thức trước. Việc tạo thành một ý niệm về pháp ở bên ngoài là kết quả phối hợp của các thức trong (phần vô thức) và thức ngoài. Ngoại cảnh và nội tâm đều góp phần cho ý thức hiện hành. Do đó, thứ mà ý thức phân biệt biết được bao giờ cũng là một hiện tượng, trong đó tâm với vật không lìa nhau, dù tâm không phải là vật, vật không phải là tâm. Tâm và vật vốn bình đẳng trong thế giới hiện tượng. Không một thành phần nào, dù là tâm hay vật, được quyền thiếu vắng nơi hiện tượng. Nói qua về hoạt động của tư duy Tư duy là hoạt động quan trọng của ý thức phân biệt. Với nhiều người trong chúng ta, biết vẫn chưa đủ, cần phải hiểu. Đây là lý do để tư duy xuất hiện. Thứ mà ý thức biết được là pháp. Vì thế đối tượng tìm hiểu của tư duy cũng chính là pháp. Pháp, là muôn sự muôn vật, phức tạp hơn nhiều so với những gì ta thường nghĩ. Ý thức có thể có nhiều cái nhìn khác nhau về pháp dẫn đến việc có nhiều ý nghĩa sai khác nơi một pháp. - Như anh A đối với tôi là bạn, với B là kẻ thù, với C là người cha, với D là chồng... - Với một cánh hoa, chúng ta có thể nhìn nó trên khía cạnh mỹ thuật (xấu hay đẹp), trên khía cạnh văn học (hoa này biểu trưng cho tình yêu), trên khía cạnh vật lý (nặng 2gr), trên khía cạnh hóa học (dùng làm nước hoa), trên khía cạnh y học (dùng làm thuốc). Vì có nhiều khía cạnh khác nhau nên có nhiều lối tư duy khác nhau dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau trên cùng một pháp. Hỏi: Vì sao ta chỉ có thể tư duy trên từng cái nhìn sai khác của ý thức? Đáp: Vì chỉ trên từng cái nhìn sai khác, pháp mới hiển bày ra một ý nghĩa nào đó làm cơ sở cho việc tư duy. Lìa ngoài cái nhìn sai khác của ý thức, không có một ý nghĩa nào của pháp được hiển bày. Trong trường hợp này, tư duy không thể xuất hiện. Hỏi: Tại sao chúng ta không thể tư duy trên cái nhìn tổng quát về pháp mà phải tư duy trên từng khía cạnh sai khác của pháp? Chẳng phải chúng ta vẫn thường tư duy qua các khái niệm, định nghĩa mà khái niệm định nghĩa là cái nhìn tổng quát về pháp? Đáp: Điều đó chỉ đúng nếu chúng ta có được những định nghĩa hoàn hảo về pháp. Một định nghĩa hoàn hảo là một định nghĩa nói lên được yếu tính (nếu có) của pháp. Trên thực tế, chúng ta khó có thể có một định nghĩa hoàn hảo về bất kỳ một pháp nào xuất hiện trong thực tế. Thời đại chúng ta đã chứng kiến sự thay đổi liên tục của các khái niệm, định nghĩa. Có thể nêu một trường hợp cụ thể sau: Khái niệm về thành phần cơ bản của vật chất đã thay đổi nhiều. Thoạt tiên thành phần cơ bản của vật chất là nguyên tử, kế đến là các hạt hạ nguyên tử, hiện tại là các quarks. Vấn đề được đặt ra ở đây là các quarks có phải là thành phần cơ bản của vật chất chưa? Đây là điều mà không một nhà vật lý nào dám khẳng định một cách tuyệt đối. Nói cách khác, khái niệm về thành phần cơ bản vẫn còn có thể thay đổi. Khái niệm thay đổi thì định nghĩa thay đổi. Định nghĩa thay đổi thì đó chưa phải là định nghĩa hoàn hảo về thành phần cơ bản của vật chất. Và như thế chúng ta sẽ không có một định nghĩa nào hoàn hảo về pháp. Vì bất cứ một pháp nào thuộc lãnh vực vật chất cũng là một tổ hợp của các thành phần cơ bản. Tóm lại, định nghĩa hay khái niệm đều chỉ là cái nhìn chưa đầy đủ về pháp, chỉ thấy được một phần của pháp. Vì thế, tư duy qua định nghĩa vẫn là tư duy trên một cái nhìn của ý thức về pháp mà thôi. Đến đây, chúng ta đã có được một kiến thức về ý thức. Dù còn rất đơn sơ nhưng tạm đủ để giải quyết những vấn đề đã nêu ra ở đầu bài. Ý thức và trí thông minh nhân tạo Việc đối tượng nhận biết của ý thức là pháp, đã gây ra những khó khăn trong việc tạo ra trí thông minh nhân tạo. Cụ thể như: 1. Không thể chương trình hóa bất cứ một pháp nào xuất hiện trong thực tế: Pháp tướng của một pháp vừa có tính đa đạng vừa luôn thay đổi, nên không thể biết hết mọi pháp tướng có thể xuất hiện, dù chỉ của một pháp. Không một thuật toán nào có thể hàm chứa mọi pháp tướng của một pháp, huống là tất cả pháp. Điều này giải thích tại sao viết chương trình để robot chơi cờ hoặc giải các bài toán đại số phức tạp dễ hơn nhiều so với việc làm cho robot phân biệt được một tách trà với cái bàn.(3) Có thể cụ thể hóa điều nói trên bằng một thí dụ vui như sau: Cái bàn lúc còn mới có bốn chân, sau một thời gian chỉ còn ba chân rưỡi. Để tiếp tục sử dụng, người ta kê vào đó một khúc chêm khác. Trường hợp này, ý thức của ta vẫn dễ dàng nhận ra cái bàn, nhưng với một robot, nhận ra một vật với ba chân rưỡi cộng với một vật chêm bằng gỗ hoặc gạch là điều gần như không thể. Lại nữa, trên thực tế có nhiều kiểu bàn khác nhau. Đặc biệt với những kiểu bàn được tạo ra từ ý tưởng của các nhà nghệ sĩ, kiểu dáng của nó càng thêm phức tạp, lập dị. Việc viết một chương trình thích ứng với sự sáng tạo đầy phóng túng của các nghệ sĩ là không thể. Trong khi đó, ý thức của chúng ta lại dễ dàng thích ứng với các sáng tạo nói trên. Vì sao? Vì đối tượng nhận biết của ý thức là pháp. 2. Việc tạo ra một robot có khả năng nhận biết về pháp đã là quá khó khăn, thì việc tạo ra một robot có khả năng tư duy như ý thức càng khó khăn hơn nhiều lần. Không thể tạo ra một robot có vô số cái nhìn về pháp như ý thức được. Trong khi đó, chính khả năng tư duy trên pháp của ý thức đã giúp cho con người có khả năng thích ứng và tồn tại cao trong một thế giới đầy biến động, đầy bất trắc mà chúng ta đang sống. Vẫn còn nhiều khó khăn khác nữa nhưng đến đây chúng ta đã có thể kết luận “trí thông minh nhân tạo” không thể trở thành hiện thực. Ý thức và sự tạo thành thế giới Vấn đề này xuất hiện từ cơ học lượng tử, một trong hai trụ cột chính của nền vật lý hiện đại. Theo cơ học lượng tử, thành phần cơ bản của vật chất có hai mặt: Một, là sóng. Hai, là hạt. Hai mặt này có tính chất trái ngược nhau. Sóng thì liên tục. Hạt thì không liên tục. Khi chưa tiến hành quan sát đo đạc, chúng ta chưa thể nói nó là gì. Chỉ sau khi tiến hành đo đạc, nó mới biểu hiện ra là sóng hay là hạt. Sự kiện này đã làm phát sinh ra nhiều quan điểm triết học khác nhau. Trong đó, quan điểm của nhóm Copenhagen hiện được nhiều người công nhận nhất. Đại diện cho nhóm Copenhagen, là Bohr và Heisenberg, đã phát biểu: “Thuyết lượng tử nói về sự vận hành của tự nhiên trong lãnh vực nguyên tử cho thấy nó (tự nhiên) phản ứng thế nào khi được các thiết bị đo lường xem xét”. Theo quan điểm này, những gì quan sát đo lường được mới là những sự kiện có thật. Về sau, quan điểm này được đẩy đi xa hơn khi cho rằng vật chất có hai mặt sóng và hạt: Sóng là khả năng xuất hiện của sự vật. Hạt là sự vật đã thật sự xuất hiện. Cái gì đã làm cho sóng biến thành hạt? Chính tác động đo lường của chủ thể nhận thức đã làm cho sóng biến thành hạt. Nói cách khác, chính tác động tra vấn của ý thức đã làm cho khả năng biến thành hiện thực. Đến đây có một câu hỏi được nêu ra: “Phải chăng thế giới được xây dựng bằng ý thức?”. Để giải quyết vấn đề này chúng ta cần lưu ý một số điểm sau: 1. Khoa học được xây dựng trên tinh thần thực nghiệm. Vì thế, mọi lý giải khoa học chỉ có giá trị khi nó tỏ ra phù hợp với các sự vật xuất hiện trong thế giới mà chúng ta đang sống. Nghĩa là, thế giới đã xuất hiện rồi, không chờ sự tra vấn của ý thức thế giới mới xuất hiện. Sự tra vấn của ý thức là để có được sự hiểu biết về thế giới đã được công nhận. 2. Việc đẩy quan điểm của nhóm Copenhagen đi quá xa như đã nói trên sẽ dẫn đến các nghịch lý, cụ thể là nghịch lý “Con mèo Schrodinger”. Con mèo Schrodinger: Một con mèo được giam trong một phòng có chứa một bình thuốc độc. Bình sẽ vỡ khi có sự phân hủy của một nguyên tử - Sự phân hủy này sẽ kích hoạt một hệ thống đập vỡ cái bình. Khi bình chưa vỡ mèo vẫn sống, nếu bình vỡ thì mèo chết. Thực tế chúng ta không biết chính xác lúc nào xảy ra sự phân hủy mà chỉ biết xác xuất của sự phân hủy. Như trong một giờ xác xuất ấy là 50%. Như vậy trong vòng một giờ số mạng của con mèo là tổ hợp của 50% sống và 50% chết. Theo phái Copenhagen, khi chưa mở phòng, tức khi chưa quan sát, trạng thái của nguyên tử là chưa xác định và con mèo ở trong tình trạng nửa sống nửa chết. Chỉ sau khi mở phòng, trạng thái của con mèo mới được xác định là sống hay chết. Với Schrodinger, ở đây xuất hiện một nghịch lý. Việc cho rằng con mèo sống hay chết phụ thuộc vào hành vi mở phòng, trong khi trên thực tế, nếu con mèo chết nó đã chết trước rồi, không đợi mở phòng mới chết thật. Sở dĩ có nghịch lý nói trên vì người ta đã phạm hai sai lầm chính: - Sai lầm trên mặt biện chứng: Trong một thế giới đã xuất hiện, một thành phần cơ bản của vật chất (nói rộng là một sự vật nào đó) khi chưa quan sát đo lường, chúng ta không thể nói nó là hạt cũng không thể nói nó không phải là hạt. Việc cho rằng khi chưa quan sát thì sự vật không có, tức đã lấy phần đầu (không thể nói nó là hạt) mà bỏ đi phần sau (không thể nói nó không phải là hạt). Đây là một nhận định thiên lệch không phù hợp với thực tế. Chính điều này dẫn đến các nghịch lý. - Sai lầm trên mặt lý: Trong thế giới đã xuất hiện, các sự vật vận hành theo lý nhân duyên. Lý nhân quả là một hình thái đơn giản của lý nhân duyên, vì thế nó có một phạm vi tác động hạn chế. Việc đẩy lý nhân quả vượt ngoài phạm vi tác động của nó, như trường hợp mở rộng quan điểm của phái Copenhagen(4), sẽ đưa đến nghịch lý. Với lý nhân duyên, chúng ta sẽ có một lý giải hoàn toàn phù hợp với thực tế, mà không gặp phải một nghịch lý nào cả. Từ hai điều vừa nêu trên, chúng ta có thể kết luận: Thế giới không phải được tạo dựng bằng ý thức. Vậy ý thức có tham gia vào việc tạo ra thế giới hay không? Nếu có, nó tham gia ở mức độ nào? Thế giới là một pháp. Vì chúng ta chỉ có thể tư duy trên từng cái nhìn của ý thức về pháp nên chúng ta chỉ có thể hiểu về thế giới trên từng cái nhìn của ý thức. Một cái nhìn là một kiến chấp - nói một cách dễ hiểu, là một quan điểm của chúng ta về thế giới. Như vậy, ý thức đã tham gia vào việc tạo ra thế giới được hiểu biết bằng những quan điểm của nó. Có thể dễ dàng kiểm chứng điều vừa nói. Với những quan điểm như Duy tâm, Duy vật, Duy hiện tượng… con người đã tạo ra triết học và khoa học. Ở từng môn học, ngoài những quan điểm chính còn có những quan điểm phụ, tạo ra sự tách biệt giữa môn học này và môn học khác. Với triết học và khoa học, chúng ta đã có được những tri thức về thế giới. Khi quan điểm thay đổi sẽ làm phát sinh những tri thức mới. Đem vận dụng những tri thức có được vào thực tế, chúng ta đã làm biến đổi thế giới. Rõ ràng ý thức đã tham gia vào việc tạo ra sự hiểu biết và biến đổi thế giới. Vậy ý thức đã tham gia ở mức độ nào? Điều này còn tùy. Một quan điểm nếu được nhiều người đồng thuận sẽ tạo ra một sự thay đổi về mặt nhận thức và tạo ra một tác động lớn hơn so với những quan điểm được ít người đồng thuận. Thí dụ 1: Việc cho rằng da một loài thú nào đó là quý và sang trọng khi dùng làm áo choàng, nếu điều này được nhiều người đồng ý, chỉ một thời gian sau loài vật ấy gần như tuyệt chủng. Thí dụ 2 : Thuyết Tương đối lúc mới ra đời chưa được nhiều người đồng thuận thì tác động của nó chưa nhiều. Về sau, khi đã được giới khoa học công nhận, đã tạo ra những nhận thức mới về thế giới và đã làm biến đổi thế giới của chúng ta một cách sâu sắc. Tóm lại, ý thức có tham gia vào việc tạo tác thế giới nhưng chỉ ở mức độ có giới hạn. Gặp lại chuyện xưa Trong quá khứ, không ít lần các nhà khoa học đã cho rằng chỉ cần thêm một thời gian ngắn, chúng ta sẽ nắm bắt được mọi quy luật vận hành của thế giới. Song, vào thời điểm quyết định đó, thiên nhiên lại trình hiện một bộ mặt mới tinh tế, phức tạp và sâu rộng hơn. Khoa học lại phải tiếp tục con đường của nó. Câu chuyện của chúng ta cũng giống như thế. Với ý thức, chúng ta đã tạo ra triết học và khoa học. Hiện nay chúng ta đã thâu lượm được một lượng tri thức khổng lồ. Chúng ta đã hiểu biết mọi thứ, nhưng thứ mà chúng ta hiểu biết ít nhất là ý thức, là công cụ chính yếu tạo ra tri thức. Chính sự khiếm khuyết này đã gây ra nhiều vấn đề, nhiều vướng mắc trong lãnh vực tri thức. Hiện nay một số nhà khoa học cho rằng: Ý thức là vấn đề cuối cùng của tri thức. Hiểu được ý thức là tiền đề đưa đến chỗ chung cùng của tri thức. Với họ, câu hỏi “Ý thức là gì?” tương đương với câu hỏi “Bản thể là gì?”. Cũng như những lần trước, hiểu được ý thức lại làm nảy sinh vấn đề vô thức. Vô thức không chỉ tác động lên ý thức bằng những nguyên động lực ẩn chứa trong nó - như Phân tâm học đã nhìn thấy - mà còn đóng vai trò rất lớn trong việc tạo ra các ý niệm cho ý thức. Ngày nào chúng ta chưa thấu tỏ phần vô thức của chính mình thì ý thức vẫn chịu nhiều ràng buộc của các thế lực vô hình trong vô thức. Một ý thức như thế không có nhiều tự do như chúng ta vẫn lầm tưởng. Một ý thức như thế không thể làm Thượng đế. Đến đây chúng ta dễ dàng nhận ra việc hiểu được ý thức chưa giải quyết được vấn đề bản thể. Sự hiểu biết về ý thức đã giúp giải quyết vấn đề trí thông minh nhân tạo, nhưng những câu hỏi đến từ Cơ học lượng tử như thế giới này là có hay là không, là khách quan hay chủ quan, vật chất có phải là một thực thể tách biệt với ý thức hay không, vấn đề khả năng và hiện thực, tính ngẫu nhiên và tính tất yếu… chỉ mới được giải quyết phần nào. Muốn giải quyết thỏa đáng những câu hỏi đó, trước hết chúng ta phải giải quyết những câu hỏi liên quan đến bản thể học, cụ thể như: Thực tánh của tất cả pháp là gì? Thực lý chi phối tất cả pháp là gì? Lý nhân quả - nền tảng của các ngành khoa học - có đủ khả năng lý giải tất cả mọi sự vật hay không? Nếu không, giới hạn của lý nhân quả là gì?… Chánh Tấn Tuệ (2) Cách diễn giải từ ngoài vào trong này là thuận với cái nhìn của nhân sinh mà nói cho dễ hiểu. (3) Những Câu Chuyện Khoa Học Hiện Đại - Phạm Việt Hưng (4) Việc mở rộng quan điểm của phái này được xây dựng trên các phương trình sóng của Schrodinger. Đây là những phương trình được xây dựng trên lý nhân quả. Việc cho rằng các phương trình này vừa có giá trị phổ quát, vừa đúng cho mọi trường hợp riêng lẽ của các sự vật đã đẩy lý nhân quả vượt ra ngoài phạm vi tác động của nó. Nguồn nguyetsan giacngo
-
Chép từ fb "nhg ng thích ngồi bên máy tính"
-
ĐẠO PHẬT VỚI VẤN ĐỀ AN TỬAn tử, hay “cái chết êm đềm” được thực hiện bằng “máy tự tử” do bác sĩ Jack Kevorkian, chuyên nghiên cứu bệnh học tại nhiều bệnh viện khác nhau ở California và Michigan, thiết kế năm 1989 dưới tên gọi “mercitron”. Máy này nhằm giúp những người mắc bệnh nan y không còn cơ hội chạy chữa, chỉ còn sống lại những ngày tháng “chờ chết” trong đau đớn tột cùng, chết theo ý nguyện của họ, một cái chết “nhanh chóng, nhẹ nhàng”, hơn là phải sống trong nỗi khổ đau giày vò triền miên. Sau chín năm thực hiện, Kevorkian đã giúp 130 bệnh nhân giã từ cuộc sống bằng “mercitron”. Năm 1998, Jack Kevorkian gởi tới hãng truyền hình CBS đoạn băng video quay cảnh thực hiện cái chết cho bệnh nhân có tên Thomas Youk, 52 tuổi, bị xơ hóa cơ trên, dưới sự trợ giúp của ông. Sau đó, đoạn băng này được phát trên truyền hình ABC News với sự chứng kiến của 16 triệu người Mỹ, và rồi cả thế giới bắt đầu biết đến một “công nghệ” mới trong ngành y học: “công nghệ an tử”! Chính đoạn băng video này đã làm bằng chứng kết án Kevorkian tội “giết người cấp độ hai”, và bị xử 10-25 năm tù. Hôm 1-6-2007, “bác sĩ tử thần” Jack Kevorkian được tạm tha sau tám năm ngồi tù. Trong khoảng thời gian tám năm đó, mặc dù Kevorkian ngồi tù, nhưng việc làm của ông vẫn tiếp tục, và chắc chắn sẽ còn tiếp tục trong tương lai, không chỉ giới hạn trong lãnh vực giết người của “mercitron”, mà cả trong cuộc đấu tranh của những người, những tôn giáo ủng hộ hoặc chống đối vấn đề an tử. Bằng chứng là nhiều tôn giáo, không chỉ tại Mỹ, mà khắp nơi trên thế giới, đã thẳng thừng tuyên bố sẽ làm bằng mọi cách để việc an tử không trở thành hợp pháp. Trong khi đó, dân chúng bang Oregon, bang đầu tiên của nước Mỹ, đã thông qua luật cho phép những người mắc bệnh nan y không thể sống quá sáu tháng nữa được yêu cầu bác sĩ hỗ trợ cho cái chết. Từ năm 1998 đến 2006, đã có 292 người Oregon chọn cái chết này. Rõ ràng, vấn đề an tử đã và đang trở thành mối quan tâm của thời đại. Vấn đề trở nên thật “có lý” khi một con người hoàn toàn có quyền lựa chọn cho mình một cái chết “an lành” hơn là phải sống trong đớn đau triền miên không sao tránh được. Quả thật, có những trường hợp, những căn bệnh, những cảnh đời,… mà chỉ có cái chết mới là giải thoát - giải thoát cho chính bản thân mình và cho cả người thân bớt đi gánh nặng, lo âu! Do đó, “mercitron” không chỉ được bệnh nhân chấp nhận mà còn được “tri ân”. Nhưng cũng không ít người từ chối, thậm chí chống đối, bởi nó quá “tàn nhẫn” và “phi đạo đức”. Vậy thì, trước thực trạng đó, đạo Phật vốn nhìn cuộc đời như mộng, như huyễn, xem tử sinh như trò huyễn hóa, hết thảy đều mộng mị, vô thường, vô ngã… đối biện vấn đề an tử như thế nào? Hồi Phật còn tại thế, khi Ngài đang ngụ tại Tỳ-xá-li (Vaiśāli), có một Tỳ-kheo bị bệnh nặng, lâu ngày rồi mà điều trị không lành. Thầy Tỳ-kheo nuôi bệnh nói với Tỳ-kheo bị bệnh dai dẳng ấy rằng: “Tôi không thọ trì, đọc tụng Kinh điển hay tư duy hành đạo gì được hết. Hằng ngày phải đi đến nhà người ta tìm kiếm những thức ăn, thức uống, thuốc thang phù hợp với người bệnh khiến thiên hạ đều chán ngấy tôi. Tôi không bệnh mà cũng khổ sở chẳng kém”. Thầy Tỳ-kheo bệnh nói: “Thế thì phải làm sao? Tôi cũng chán ngán nỗi đớn đau này, không thể chịu đựng được nữa. Nếu thầy giết tôi thì tốt lắm”. Tỳ-kheo nuôi bệnh nói: “Thầy không nghe Thế Tôn chế giới không được tự tay giết người hay sao?”. Tỳ-kheo bệnh nói: “Nếu vậy thì thầy vì tôi đi gọi giúp người cầm dao đến đây”. Tỳ-kheo nuôi bệnh lại nói: “Thầy không nghe Thế Tôn chế giới không được đi tìm người cầm dao về giết người hay sao”. Tỳ-kheo bệnh nói: “Thế thì thầy bảo phải làm sao?”. Tỳ-kheo nuôi bệnh đáp: “Thầy chỉ cầu được sống không muốn chết, chứ nếu muốn chết thì có thiếu gì cách để chết”. Sau đó, Tỳ-kheo bị bệnh vì không cần gì và khát khao gì nữa khi phải chịu đớn đau quằn quại, khổ mình, khổ người, nên đã tự sát ( Luật Ma-ha Tăng-kì, ĐTK/ĐCTT 22, n0 1425). Đức Phật biết được sự việc ấy, Ngài cho gọi thầy Tỳ-kheo nuôi bệnh đến và quở trách: “Ông không từng nghe Như Lai dùng vô số phương tiện khen ngợi những người sống phạm hạnh, có thân từ ái, miệng từ ái, tâm từ ái, và khuyên cúng dường cung cấp cho họ những thứ cần thiết là gì? Nay vì sao ông lại ca ngợi sự chết? Điều đó là phi pháp, phi luật, không đúng lời ta dạy, không thể dùng việc này để nuôi lớn thiện pháp”. Đức Phật quở trách vị Tỳ-kheo nuôi bệnh đã tác động Tỳ-kheo bị bệnh kia tìm đến cái chết (tức gợi ý, khuyên bảo hoặc xúi giục người khác nên tìm đến cái chết hơn là sống trong dày vò khổ đau của bệnh tật, như trường hợp an tử), cũng có nghĩa là Đức Phật không đồng tình việc tìm đến cái chết, dù trong bất cứ trường hợp nào và bằng phương cách gì. Trong giới luật của Phật giáo, tự mình sát hại, bảo người khác sát hại, khen ngợi hay tán đồng sự sát hại đều phạm trọng tội. Theo đó, người tạo ra cổ máy “mercitron”, những người đồng tình với việc làm này, kể cả bệnh nhân, đều không phù hợp với tinh thần và giới luật Phật giáo. Đức Phật đã bằng vô số phương tiện để chỉ cho chúng sinh thấy rằng, có được thân người là rất khó, do đó được làm kiếp người là vô cùng quý báu. Hãy thử tưởng tượng, dưới đáy Đại dương có một con rùa mù sinh sống. Cứ một ngàn năm nó nổi lên mặt nước một lần để lấy không khí. Lần nọ, khi nó vừa nổi lên thì đầu của nó chui lọt vào trong một bộng cây đang dật dờ trôi trên mặt biển! Một sự việc vô cùng hiếm có, nhưng được làm thân người, theo Phật giáo, còn hiếm có hơn vậy nữa. Thân người khó được như thế nhưng lại dễ mất, bởi sự chi phối mạnh mẽ của định luật vô thường, và một khi mất rồi thì khó có được trở lại. Vì vậy, mạng sống của con người thật quý giá biết bao. Đặc biệt, chỉ có làm kiếp người, trong tấm thân thể hình hài này, dù xấu hay đẹp, dù sang hay hèn, dù mạnh khỏe hay ốm đau… nó cũng là phương tiện hay công cụ duy nhất làm thuyền bè đưa ta vượt thoát biển khổ đau sinh tử luân hồi. Trong các loài chúng sinh, chỉ duy nhất chúng sinh làm người mới có đầy đủ điều kiện tu tập pháp giải thoát. Kinh điển ghi lại vô số những pháp thoại của Đức Phật cảnh tỉnh chúng ta hãy ý thức về sự vô thường của cuộc đời để nỗ lực tu tập giải thoát không để mất cơ hội là vậy. Hơn nữa, với giáo pháp của Phật, nếu chúng ta thật lòng tu học, chắc chắn thành tựu đạo quả, không những chỉ thoát khỏi kiếp sống khổ đau hiện tại này, mà vĩnh viễn xa lìa các nẻo khổ đau trong ba cõi, đời đời sống an vui, giải thoát, dù thời gian tu học chỉ còn lại một ngày, thậm chí chỉ còn một hơi thở. Đức Phật khẳng định: “Nay Ta nói cho các ông biết, trong hàng Thanh văn của Ta, có người tâm ngay thẳng, không siểm trá, không huyễn ngụy; Ta đã giáo hóa người này mười năm. Do nhân duyên này, người ấy có thể trong vòng trăm, ngàn, vạn năm chỉ một mực hỷ lạc, tâm lạc, phần nhiều trụ thiền định. Điều này chắc chắn là có. “Lại nữa, thôi, không tính mười năm, mà chín năm, tám năm, cho đến một năm, mười tháng, chín tháng, cho đến một tháng; mười ngày, chín ngày, cho đến một ngày một đêm, nếu đã được Ta giáo hóa, thì đến sáng hôm sau họ có thể tiến bộ vượt bực. Sáng sớm đã được giáo hóa thì đến chiều tối, có thể tiến bộ gấp bội. Vì nhân duyên này, nên trong vòng trăm, ngàn, vạn năm chỉ một mực hỷ lạc, tâm lạc, phần nhiều trụ thiền định, thành tựu hai quả. Hoặc quả Tư-đà-hàm hay quả A-na-hàm” (Kinh Tạp A-hàm). Như vậy, bằng kiếp sống này, chúng ta có thể đạt được giải thoát trong vòng hai mươi bốn giờ tu học. Vậy tại sao chúng ta không tạo mọi điều kiện cho bản thân mình, cho người thân của mình được an vui mãi mãi mà chỉ tìm đến an tử? Chúng ta chỉ nhìn thấy được những nỗi khổ đau của kiếp người do thiếu cơm, thiếu áo, thiếu tiền, hay bệnh tật ốm đau… mà không thấy được nỗi khổ đau lớn nhất của đời người là bị nhận chìm trong dòng thác huyễn mộng của cuộc đời, trôi lăn theo sáu nẻo luân hồi, tử sinh vô tận. Một khi chưa vượt thoát được dòng thác hư huyễn ấy thì sự tìm đến cái chết vì nỗi khổ đau bệnh tật hiện tại nào có ích chi, nếu không muốn nói đó là cách mở cửa đi vào địa ngục. Vì thế, nhiệm vụ của người Phật tử khi đối biện với cận kề cái chết, hãy thực hành như lời Phật dạy: “Nếu mình là một Phật tử trí tuệ, muốn đến chỗ một Phật tử trí tuệ khác đang bị tật bệnh khốn khổ, thì đem ba pháp an tâm này mà truyền dạy cho họ; nói rằng: ‘Này bạn! Hãy thành tựu lòng tin thanh tịnh bất hoại đối với Phật, đối với Pháp, Tăng.’ “Sau khi đem ba pháp an tâm này truyền dạy xong, lại nên hỏi rằng: ‘Bạn có quyến luyến cha mẹ không?’ Nếu người kia có quyến luyến cha mẹ, thì nên dạy buông xả và nên nói rằng: ‘Nếu bạn quyến luyến cha mẹ mà được sống, thì đáng quyến luyến. Đã không do quyến luyến mà được sống, thì quyến luyến làm gì?’ Nếu người kia nói không có quyến luyến cha mẹ thì nên tùy hỷ khuyến thiện và hỏi thêm rằng: ‘Đối với vợ con, nô bộc, tiền của cùng mọi vật bạn có quyến luyến không?’ Nếu nói quyến luyến thì nên khuyên buông xả, như pháp xả sự quyến luyến cha mẹ. Nếu nói không quyến luyến, thì tùy hỷ khuyến thiện và hỏi nữa: ‘Đối với ngũ dục thế gian bạn có luyến tiếc không?’ Nếu họ nói luyến tiếc, thì nên giải thích là ngũ dục thế gian là chỗ xấu xa, bất tịnh, bại hoại, hôi hám, không giống như ngũ dục thắng diệu cõi trời. Hãy khuyên kia lìa bỏ ngũ dục thế gian và quyết mong ngũ dục cõi trời. Nếu người kia nói tâm đã xa lìa ngũ dục thế gian và trước đã nghĩ đến dục thắng diệu cõi trời, thì tùy hỷ khuyến thiện và lại nói với họ rằng: ‘Ngũ dục thắng diệu cõi trời, là pháp vô thường, khổ, không, biến hoại. Chư Thiên cõi trời có thân tướng thù thắng hơn ngũ dục cõi trời.’ Nếu kia nói đã bỏ nghĩ đến dục cõi trời và chỉ nghĩ đến thân tướng hơn ngũ dục, thì cũng tùy hỷ khuyến thiện và lại nói với rằng: ‘Dục của hữu thân cũng lại là pháp vô thường, biến hoại, chỉ có sự an lạc của xuất ly, là Niết-bàn với sự diệt tận của các hành. Nhân giả nên lìa bỏ sự mê luyến nơi hữu thân, mà nên vui cái vui Niết-bàn vắng lặng, tối thượng, thù thắng” (Kinh Tạp A-hàm). Đó là cách thăm bệnh và nuôi bệnh của người Phật tử. Một cách tổng quát, khi có một người không may mang bệnh nan y, chúng ta phải tìm mọi cách để “khai thị” cho người đó thấy được bản chất không thật, hư dối, tạm bợ của cuộc đời như trăng nơi đáy nước, bóng mình trong gương, như ánh lửa khí nhiệt bốc, như tiếng vọng của lời gọi, như mây nổi trong bầu trời, như đám bọt nước… và khuyên họ hãy buông xả tất cả mọi tâm niệm chấp thủ cái tôi, của tôi; hướng họ về cảnh giới an lành của Tịnh độ A Di Đà, khuyên họ phát nguyện vãng sinh về đó bằng cách niệm hay phát khởi ý tưởng về Phật A Di Đà và cõi giới của Ngài, thì không cần cổ máy “mercitrin”, người mang bệnh nan y dù mấy, nếu thật sự không qua khỏi, cũng nhẹ nhàng ra đi. Tóm lại, đạo Phật không đồng tình với việc sử dụng hệ thống “mercitron”, cũng không níu kéo sự sống trong trạng thái nằm chờ chết, mà bằng mọi cách, mọi phương pháp làm cho bệnh nhân được “giác ngộ” trước khi chết. Và điều này có được áp dụng hay không còn tùy thuộc vào quá trình nhận thức và khả năng “giác ngộ” của nhân loại về vấn đề sống chết, cũng như về đạo Phật. chuavanhanh
-
Diane Tran: Tự mình thắp đuốc lên mà đi! http://vnexpress.net/gl/the-gioi/nguoi-viet-5-chau/2012/06/nu-sinh-goc-viet-bi-giam-nen-nhan-tien/ http://vnexpress.net/gl/the-gioi/nguoi-viet-5-chau/2012/05/nu-sinh-goc-viet-bi-giam-gay-xon-xao-nuoc-my/ Những ngày gần đây, tại Hoa Kỳ cũng như Việt Nam xôn xao dư luận về một nữ sinh gốc Việt tên là Diane Trần học lớp 11 Trường trung học Wills ở gần Houston, đã bị thẩm phán Lanny Moriarty bỏ tù 24 giờ và phạt 100 USD. Lý do cô bé đã vi phạm luật của tiểu bang. Theo quy định của bang Texas: “Nếu một học sinh vắng mặt 10 buổi trở lên trong sáu tháng, sẽ bị yêu cầu trường học gửi khiếu nại đến tòa án hoặc đưa học sinh ra tòa án vị thành niên”, thế nhưng chưa đến sáu tháng Diane Trần đã nghỉ tới 18 ngày! Nguyên do của những ngày nghỉ học này là “cô bé phải làm hai công việc một lúc để kiếm tiền phụ gia đình”. Hoàn cảnh của Diane Trần thật sự đáng thương! Cha mẹ ly dị và bỏ thành phố Willis ra đi, để lại 3 người con. Người anh của cô bé đang học đại học. Người em nhỏ của cô bé đang phải gửi tạm ở nhà một người thân tại thành phố Houston (bang Texas), và Diane Trần đã phải vừa đi học vừa đi làm 2 việc một lúc (1 việc toàn thời gian và 1 việc bán thời gian, hơn nữa khoảng cách giữa 2 nơi lại khá xa nhau) để kiếm tiền nuôi bản thân mình và nuôi anh cũng như nuôi em ăn học. Bản thân cô bé thì phải ở lại nhà của người chủ. Nhiều lúc, sau giờ làm, cô bé phải thức đến 7 giờ sáng để làm bài tập và vì vậy nhiều lúc cô ngủ dậy trễ học hay vào lớp khi thầy cô giáo đã điểm danh rồi. Thường cô phải nghỉ 3 ngày/tháng vì thiếu ngủ trầm trọng, thân thể rã rời mỏi mệt. Tuy vậy, “pháp bất vị thân” luật của bang đã quy định thì cô phải chịu hình phạt không là ngoại lệ. Devin Hill bạn của Diane Trần cho biết: “Trần là một học sinh giỏi, luôn đạt điểm A, xếp hạng cao trong các kỳ thi học kỳ”. Dẫu trong điều kiện khó khăn như thế, nhưng Diane Trần dù mới học lớp 11, cũng đã là học sinh danh dự của trường trung học Willis và hơn thế nữa cô còn lấy những lớp Advanced Placements mà những lớp này được tính vào tín chỉ đại học sau này… Theo Fox New, rất đông người dân Mỹ tỏ thái độ không đồng tình với thẩm phán Moriarty, thậm chí họ còn lên án cách xử “khô cứng”, thấu lý nhưng chưa đạt tình. Cũng có người còn cho rằng chính quyền bang cần khen thưởng xứng đáng cho cô bé Trần, một nữ nhi dưới tuổi vị thành niên (17 tuổi) đã có ý thức và trách nhiệm cao với anh em, với gia đình, chịu khó chịu khổ có nghị lực vươn lên là học sinh giỏi, học sinh danh dự của trường!… Hàng trăm ngàn con tim của người Mỹ đã xúc động trước ý chí vươn lên, vượt khó của cô giái trẻ gốc Việt Diane Trần, và họ đã ủng hộ mạnh mẽ bằng cách ký vào thỉnh nguyện thư yêu cầu thẩm phán rút lại phán quyết và án phạt. Hơn thế nữa một tổ chức từ thiện mang tên Louisiana Children’s Education Alliance (LCEA) đã mở trang web kêu gọi mọi người giúp đỡ Diane Trần, và cũng trong thời gian ngắn kỷ lục số tiền quyên góp đã lên tới 100.000 USD từ 50 bang của nước Mỹ và 18 quốc gia trên thế giới… Với sự phản đối mạnh mẽ, với sự thương cảm rộng khắp và sự giúp đỡ ngập tràn, tòa án Texas đã xem xét hoàn cảnh của cô bé và đồng thời cũng đã lắng nghe dư luận. Diane Trần đã được chánh án đồng ý xóa đi hồ sơ tội phạm trong hồ sơ lý lịch, để khỏi ảnh hưởng tới tương lai của cô sau này. Mặc dù bị án phạt như vậy, nhưng cô bé vẫn âm thầm chịu đựng không hề thổ lộ cho thẩm phán biết về hoàn cảnh “đáng thương tâm” của mình trong hai lần bị trát tòa gọi. Sau khi bị dư luận xã hội lên án và qua tìm hiểu nhân thân của Diane Trần thì thẩm phán Moriarty đã ký lệnh xóa án cho nữ sinh Diane Trần. Sau khi xóa án, lập tức cô bé được nhiều trường đại học đưa ra lời mời cô đăng ký vào trường đại học của mình. Hơn thế nữa, trong hoàn cảnh đang gặp khốn khó về tài chính, nhưng theo Hãng tin ABC New, cô bé đã từ chối nhận 100.000 USD số tiền do tổ chức LCEA vận động quyên góp mà có được, với lý do: “Còn nhiều đứa trẻ khác còn khó khăn hơn!”. Vừa đi học, vừa lo cuộc mưu sinh thấm đẫm mồ hôi nước mắt, với cường độ học tập, làm việc vất vả và căng thẳng đến như vậy mà Diane Trần vẫn thản nhiên từ chối một khoản tiền khá lớn đó. Có thể nói cô bé đã biết áp dụng lời dạy của Đức Phật “Tự mình thắp đuốc lên mà đi”, một ánh đuốc của tuệ giác, của bản lĩnh đạo đức, nhân cách sáng ngời. Một tấm gương ngời sáng nhân văn, thật hồn nhiên trong trắng đã đánh thức lương tri con người giữa một xã hội vật chất, thực dụng ấy! Thanh Phương
-
Máy ãnh đương đầu với bút chì (vẽ)
-
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Cô đã gởi ngoài ấy để phát triển đến ACE TV ngoài hà Nội, con liên hệ Chị (vì chị ấy còn trẻ) Hoàng Dung và xin thỉnh nhận đơn giãn thôi mà. -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Bạn ở HN thì vui lòng qua SỐ A2, ngõ 30 Trần Quang Diệu THỈNH NHẬN nhé. -
Trong thời kỳ tuổi thơ, người nào cũng có dịp dọc, nghe các chuyện thần tiên và từ dó, với đầu óc phong phú, những người nầy đã tưởng tượng, hình zung ra các zinh thự, chổ ở cũa các nhân vật trong các chuyện thần tiên. Dưới dây là hình ảnh thực sự một số nhà cửa dã dược xây dựng theo óc tưởng tượng mà ra.
-
Thăm Và Tặng Quà Trẻ Mồ Côi Nhân Ngày 1-6
wildlavender replied to wildlavender's topic in Những Mảnh Đời Cần Cứu Giúp
1 trong những bé sơ sinh cơ sở Thiện Tâm Mèo tha chuột Đôi mắt trong veo nhưng man mác buồn bên chiếc chuông huế Chiếc kẹo mút vừa nhận được như ngậm thuốc lá chưa mồi lửa ấy! tổng phần quà được dâng cúng dường tam bảo trước khi đưa vào sử dụng Trong ảnh này có Sư Cô Thích Nữ Như Hạnh. -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Việc chẳng có gì lớn! cô chỉ xin làm viên đá lót thềm cho chân người phật tử được tìm đến với Pháp của Đức Phật! -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Cô đã gởi đến các bạn chiều nay! -
Một cuộc sống mới Ngay chung quanh ta, bệnh ung thư cứ rình rập đâu đó, và thỉnh thoảng ta vẫn nghe tin người thân này vừa mới chớm bệnh ung thư, người thân kia sớm lìa trần sau mấy tháng bệnh viện trả về gia đình. Ngày nay, nền y khoa thế giới đã có những tiến bộ diệu kỳ trong việc phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị bệnh, khiến tuổi thọ con người gia tăng đáng kể. Tuy thế, con người vẫn chưa thắng được bệnh ung thư, và căn bệnh quái ác này hầu như ngày càng phổ biến ở mọi nơi trên thế giới. Nhưng chiều hướng tích cực là con người ngày càng có ý thức hơn trong phòng ngừa bệnh ung thư, cũng như đã có những phương pháp mới đương đầu với sự lây lan của tế bào ung thư, nhằm kéo dài sự sống. Kéo dài bao lâu thì tùy điều kiện từng người và tiến bộ y khoa ở từng nơi. Mới đây, một nhà khoa học đã chung sống với bệnh ung thư suốt gần 20 năm, bằng phương pháp riêng của mình, kết hợp với y khoa hiện đại, và đã ngộ ra một cuộc sống mới, hạnh phúc và đem lại lợi lạc cho đời. Đó là tiến sĩ y khoa David Servan-Schreiber, người Pháp, một nhà khoa học về não bộ nổi tiếng. Ông là giáo sư về tâm thần học tại đại học y khoa Pittsburg (Mỹ), và giáo sư thỉnh giảng tại đại học Lyon (Pháp). Ông là người đồng sáng lập và sau đó là giám đốc Trung tâm y khoa tổng hợp tại đại học Pittsburg. Ông đã phục vụ tình nguyện tại Iraq năm 1991, là một trong những người sáng lập chi nhánh tại Mỹ của tổ chức Thầy thuốc không biên giới, một tổ chức quốc tế được giải Nobel năm 1999. Sau đó, ông đã làm việc tại Guatemala, Kurdistan, Tajikistan, Ấn Độ và Kosovo. Năm 2002, ông được tặng thưởng về những đóng góp nổi bật về tâm thần học của Hiệp hội tâm thần Pennsylvania (Mỹ). Đang hăng say nghiên cứu và giảng dạy về ngành chuyên môn của mình, nhất là kỹ thuật soi MBI về não bộ do ông và người bạn Doug, một nhà vật lý học, phát minh, thì một dịp tình cờ, ông phát hiện mình bị ung thư não vào tuổi 30. "Tôi vẫn còn nhớ rõ buổi chiều tháng 10 tại Pittsburg đó, tôi phóng xe mô tô trên đại lộ dọc theo hai hàng cây, lá mùa thu đã trở màu đỏ ối, tôi đang trên đường đi đến trung tâm MRI. Jonathan và Doug đang đợi tôi ở đó để làm thí nghiệm với các sinh viên tình nguyện. Họ sẽ nhận được một số thù lao nhỏ sau khi nằm vào máy soi và thực hành một số động tác do chúng tôi soạn trước. Sinh viên thứ nhất bắt đầu lúc 8 giờ. Sinh viên thứ hai đáng lẽ phải đến vào lúc 10 giờ nhưng không thấy đến. Jonathan và Doug bảo tôi thay thế. Lẽ dĩ nhiên tôi nhận lời. Tôi nằm vào máy soi. (...) Sau 10 phút nằm trong máy soi để cho hai bạn chụp hình, tôi chờ đợi bắt đầu thể hiện các động tác chiếu trên màn hình, nhưng tôi không thấy gì cả. Doug và Jonathan đang ở trong phòng phía trong và chúng tôi phải liên lạc với nhau qua bộ đàm. Tôi nghe trên ống loa: "David, có vấn đề. Phải chụp hình lại." Không sao, tôi sẽ đợi. Chúng tôi bắt đầu lại. Mười phút trôi qua. Tôi nghe tiếng Jonathan: "Có vấn đề. Chúng tôi sắp vào đây." Khi tôi ra khỏi máy soi, tôi thấy sắc mặt của hai bạn tôi có vẻ hơi lạ. Jonathan để tay lên vai tôi và nói: "Chúng ta không thể tiếp tục thí nghiệm được. Có một cái gì trên não của anh." Tôi bảo tôi muốn xem các hình họ mới chụp. (...) Bên tay phải của vùng tiền não của tôi có một cục bướu to bằng quả trứng gà nhỏ. Ở vị trí này cục bướu đó không phải là một cục bướu vô hại, chỉ cần mổ ra là xong chuyện. Cục bướu này là dấu hiệu của một chứng bệnh rất nguy hiểm..." Hào quang khoa học vừa đến thì bất hạnh ung thư cũng ập tới. Người bác sĩ tài ba choáng váng. "Làm sao đời tôi lại chấm dứt như thế này nhỉ? Thật khó mà tưởng tượng được. Có một cái vực rất sâu giữa những gì tôi mới khám phá và những gì tôi đã cố gắng xây đắp từ bao lâu nay." David dự cảm là mình chỉ sống khoảng 6 tháng hoặc quá lắm là một năm. Ông trở về nhà, vắt tay lên trán và chiêm nghiệm cuộc đời qua làn khói thuốc. Nhưng cuối cùng, ông ngộ ra một điều bình thường: "Đây là một phần của kinh nghiệm làm người thôi. Rất nhiều người khác đã bị như tôi và tôi đâu có gì đặc biệt. Kiếp làm người là đơn giản như vậy. Trí óc tôi dần dần tìm ra lối thoát cho mình. Đêm đó tôi ngủ được và ngày hôm sau tôi có thể đi làm việc lại và bắt đầu đối diện với cơn bệnh và cuộc đời của tôi." Thật lạ lùng! Tưởng là tai họa, không dè căn bệnh ung thư lại hé mở cho ông một cuộc đời khác, mà trước đây, ông không hề biết vì mải mê với vinh quang khoa học, đến nổi vợ chồng ông sớm ly dị. "Một vài tuần sau khi biết mình mang bệnh, tôi có cảm tưởng kỳ lạ hình như có một tấm màn mới được vén ra mà lâu nay đã che mắt tôi lại. Một chiều chủ nhật, trong căn phòng nhỏ của chúng tôi, tôi ngồi ngắm Anna[1]. Chăm chú và bình yên, nàng ngồi trên sàn nhà, cạnh bàn nước, đang cố dịch những bài thơ từ tiếng Pháp ra tiếng Anh. Lần đầu tiên tôi nhìn nàng và không còn muốn tự hỏi tôi có nên yêu người khác không. Tôi chỉ thấy vài sợi tóc duyên dáng rủ xuống mặt nàng khi nàng cúi xuống trên trang sách, tôi chỉ thấy những ngón tay mềm mại của nàng đang cầm bút hý hoáy viết. (...) Sự hiện diện của nàng làm tôi vô cùng cảm động. Tôi thấy chỉ cần được phép chứng kiến giây phút đó đã là một đặc ân lớn lao đối với tôi lắm rồi. Tại sao tôi không nhìn thấy nàng như vậy trước đây?" Ông tiếp tục sống như trước, ăn kiêng cử đường và thịt đỏ, tập thể dục. Bệnh ung thư trở lại vài năm sau đó, ông đã chịu đựng một đợt giải phẩu thứ hai, và hóa trị, xạ trị. Rồi thì ông quyết định dùng năng lực y khoa và khoa học của mình để khám phá và kiểm tra làm thế nào tự cơ thể mình ngăn ngừa ung thư tốt hơn. Ông bộc bạch: "Là một bác sĩ và nhà khoa học, tôi chẳng bảo vệ mình khỏi bị ung thư. Nhưng tôi có thể khảo cứu sâu xa trong tài liệu y khoa và khoa học để tìm ra cách thức sống lâu hơn là một vài năm mà tôi chắc sống được." "Điều đầu tiên tôi học được là ai ai cũng đều có tế bào ung thư trong người, dù ít dù nhiều. Nhưng ai cũng có những sự bảo vệ tự nhiên để ngăn ngừa những tế bào đó khỏi trở thành bệnh tấn công mình. Những bảo vệ đó bao gồm hệ miễn dịch, những chức năng cơ thể kiểm soát viêm nhiểm, và thực phẩm làm giảm sự gia tăng mạch máu gây nên khối u." "Tôi khám phá một danh sách những thực phẩm chống ung thư, rất dài. Một vài thực phẩm ngăn chận tiến trình tự nhiên trong cơ thể, ví dụ như viêm nhiểm làm mồi cho ung thư phát triển. Một số thực phẩm khác làm chết tế bào ung thư thông qua một quá trình mà các chuyên gia gọi là apostosis. Một số khác làm giải độc cơ thể hay che chở chống lại chiều hướng xấu từ gốc. Nhưng phần lớn thực phẩm đều tấn công bệnh trên nhiều chiến tuyến khác nhau. Chúng tấn công ngày lại ngày, ba lần trong ngày, mà không gây ra biến chứng nào. Để tránh bệnh, điều cốt yếu là nắm lấy lợi thế tự nhiên đó, và nuôi dưỡng nó." "Lối sống của chúng ta là một dạng phân bón cho ung thư. Quá nhiều thịt đỏ, quá nhiều đường, ít rau cải và trái cây: tất cả cần phải được xét lại trong thói quen ăn uống của chúng ta nếu muốn tăng cường sức đề kháng tự nhiên để chống lại ung thư" - David Servan-Schreiber nhấn mạnh. Trong website cũng như trong sách của mình, David Servan-Schreiber đã liệt kê tỉ mỉ và đầy đủ chế độ ăn uống và dùng thực phẩm ngăn ngừa bệnh ung thư. Cũng đã có nhiều trang web tiếng Việt trích dịch các tài liệu đó, xin tóm tắt một đoạn trong bài: "Phòng chống ung thư theo phương cách tự nhiên" của Trọng Thanh trong website tintuccaonien.com: "Nên ăn các các thức ăn chống ung thư như rau xanh, đặc biệt là bắp cải, súp lơ, súp lơ xanh, cà rốt, bí đỏ, cà chua, hành, tỏi, nghệ, các loại quả như táo, nho, lê, quả lựu,... nên ăn cá với số lượng vừa phải. Đặc biệt ưu tiên các sản phẩm sạch. Về đồ ngọt, nên dùng đường trái cây, mía, hoặc đường chưa tinh chế, hoặc mật ong, với số lượng vừa phải. Uống nước chè xanh, nước sạch, nếu ở khu vực nước bị nhiễm bẩn thì nên có máy lọc nước. Những thực phẩm cần tránh hoặc hạn chế là : thịt, đặc biệt là thịt có màu đỏ, đường, đồ béo quá, đồ nướng, đồ rán cháy, đồ chế biến sẵn, thịt chế biến sẵn và các sản phẩm từ sữa như pho mát (tuy nhiên có thể ăn sữa chua). Không uống rượu, hút thuốc lá hoặc tránh môi trường có nhiều khói thuốc lá." Nhưng cuộc chiến của ông chống ung thư không chỉ là chuyện ăn uống, mà là phương pháp điều trị y khoa tổng hợp, bao gồm trị liệu của bệnh viện và các bác sĩ chuyên khoa, cải thiện dinh dưỡng và ổn định tinh thần. Cuộc đời và sự đóng góp của ông càng phong phú hơn, không chỉ trong lãnh vực y khoa, mà còn trong lãnh vực viết văn, nhằm bày tỏ cách sống mới của mình và chia sẻ với mọi người về kinh nghiệm và kiến thức chống ung thư, đem lại ổn định tinh thần cho người bệnh. Quà tặng cho đời là website do ông lập ra: Anticancer - A new way of life (Chống ung thư - Một cách sống mới), và cuốn sách cùng tên với website, được xem là loại best-seller (bán chạy). Ông cũng đã cho xuất bản sách bằng tiếng Pháp: "On peut se dire aurevoir plusieur fois" (Ta có thể nói giả từ nhiều lần). Ông cũng đã phát biểu những vấn đề về ung thư tại nhiều hội nghị khoa học về ung thư trên thế giới. Thật bất ngờ và cảm động khi ông bày tỏ niềm hạnh phúc dâng tràn, với thời gian gần 20 năm sống cùng căn bệnh: "Thật lạ lùng, ngày nay tôi mạnh khỏe hơn, hạnh phúc hơn trước khi tôi bị bệnh. Tôi cảm thấy bình yên hơn, sáng sủa hơn, giàu nghị lực hơn, và thiết tha với cuộc sống. (...) Những khảo sát gần đây gợi ý rằng những tập quán hàng ngày có lợi cho sức khỏe có thể đảm bảo tiến triển về thể chất sau hai hay bốn tháng... Những gì tôi học được từ chặng đường riêng của tôi, đó là hãy nuôi dưỡng đời sống với những mức độ mà mình có được, qua những bữa ăn, qua đi bộ trong thiên nhiên, qua mục đích tốt lành của công việc, qua dòng yêu thương trong quan hệ, và qua sự che chở của môi trường của chúng ta. Khoa học bảo tôi rằng những điều đó làm chậm tiến trình của bệnh ung thư, và có thể quan trọng hơn, chúng mang lại cho cuộc sống hàng ngày tia sáng mới và ý nghĩa mới." Nhưng rồi cuộc chiến đấu 20 năm chống ung thư đó cũng phải kết thúc: ông từ trần vào ngày 24/7/2011, hưởng thọ 50 tuổi. Ông đã để lại cho đời những kiến thức và kinh nghiệm chống ung thư quý báu, bên cạnh những đóng góp lớn cho khoa tâm thần học trên thế giới. Cuộc đời mới của ông đầy ý nghĩa nhân văn sau khi phát giác bệnh ung thư đã làm mọi người tin yêu cuộc sống, và làm dịu nổi đau của bệnh nhân ung thư. Những lời tâm huyết sau đây của ông muốn nhắn nhủ thiết tha đến mọi người, nhằm tạo hạnh phúc cho mình và an lạc cho xã hội đó là: Kết nối với người khác, sống đời hoạt động, quan tâm sâu sắc thời khắc hiện tại, không ngừng học tập, sống vị tha. Tác giả: CAO HUY HÓA tuanvietnamnet
-
- 1
-