-
Số nội dung
6007 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
-
Days Won
103
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by wildlavender
-
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Đã gởi đến bạn hôm nay! -
Chữa Bại Liệt, Câm Điếc Trong 10 Phút, Chuyện Lạ Có Thật
wildlavender replied to xuka8584's topic in Y Học Và Sức Khoẻ
Tai biến liệt nữa người Thoái hóa, gai cột sống Sau tai biến mất khả năng thoại dù thính giác vẫn tốt Nụ cười giải tỏa... -
Chữa Bại Liệt, Câm Điếc Trong 10 Phút, Chuyện Lạ Có Thật
wildlavender replied to xuka8584's topic in Y Học Và Sức Khoẻ
Một trường hợp gai cột sống Tai biến chưa phục hồi 1 ca tật nguyền "câm điếc" Bấm huyệt trị liệu Góc nhà có đặt hộp công đức tùy tâm Toàn cảnh sân nhà mượn để tập trung chữa bệnh. Wild sẽ giới thiệu vài hình ảnh tiếp theo có những ca cực kỳ tuyệt vọng! Hẹn ngày mai Post tiếp! -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
@Cô sẽ gởi đến Thanh Trúc vào ngày mai, hy vọng bạn sớm nhận được! -
Bác Thiên Sứ,Cô Wild Và Mọi Người Cho Cháu Hỏi Chút Ạ
wildlavender replied to ajinomoto's topic in Luận Tuổi
Có thể giãi thích với 2 nhân vật này về hệ quả của việc kết hôn của họ chỉ là hành động thỏa mãn trái tim mù quáng của mình, đôi khi ngay lúc này sự cấm đoán có thể làm cho họ xích gần nhau hơn nhưng về lâu dài tương lai của thế hệ sau (yếu tố di truyền khi sinh con) là sự ân hận bởi những quyết định hôm nay là cảm tính thì mai sau sự chính chắn muộn màng vẫn khó khắc phục! Theo Cô thì moi người trong gia đình có ảnh hưởng nhất định tới đôi trai gái này không nên có những hành động quyết liệt mà hãy nhẹ nhàng phân tích đồng thời sự tiếp cận không căng thẳng tạo cho họ có thời gian và trách nhiệm nghiền ngẫm về sự lầm lạc của mình. -
Chữa Bại Liệt, Câm Điếc Trong 10 Phút, Chuyện Lạ Có Thật
wildlavender replied to xuka8584's topic in Y Học Và Sức Khoẻ
Cô xác nhận với AE ở hanoi có thể liên hệ với Sư Thầy Nghĩa theo địa chỉ trên để được điều trị. -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Con liên hệ số dt bàn của VP trung tâm xin số của Cô. -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Cô đã gởi đến con hôm nay! -
Chữa Bại Liệt, Câm Điếc Trong 10 Phút, Chuyện Lạ Có Thật
wildlavender replied to xuka8584's topic in Y Học Và Sức Khoẻ
Các Huynh chữa bệnh ở đây xác nhận " Sư Thầy Nghĩa là Đồng Môn với Thầy Võ Hoàng Yên", bạn cứ yên tâm đưa Mẹ đến để được điều trị. Hôm nay Wild có ghi lại 1 số hình ảnh hoạt động của các Huynh tận tâm với các bệnh nhân. Hẹn sẽ post sau! -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Cô sẽ chuyển phát nhanh nhưng cô cũng hy vọng với sự tín tâm của LOHA, Thần Chú giải thoát đem lại sự chuyển biến thật nhiều để bạn cũng cố niềm tin vào Pháp PHẬT nhiệm màu. -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Cám ơn em! Chị vẫn thường xuyên phát triển kalachakra bởi công năng vô biên và cũng từng nhìn thấy trên bức tường của Đền Thánh Khulsik em ah! -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Bạn đến vp Hà nội để được nhận đi nhé! -
Bộ Sưu Tầm Cổ Vật Và Việt Sử 5000 Năm Văn Hiến
wildlavender replied to Thiên Sứ's topic in Các Bài Viết Quan Trọng
Đó là các loại lịch được thiết lập từ vị trí địa dư cũng như thời đại khác nhau.. dựa vào các tinh tú qua sự hiễu biết, nhận định khác nhau mà làm lịch. Họ thường dựa vào sự di chuyễn của Mặt Trời, Mặt Trăng và một số tinh tú khác. Rồi từ đó ..họ chia ra số ngày trong năm, tháng, v v Quý độc giã đừng cảm thấy lạ lùng khi số ngày khác nhau giữa các lịch.. Ví dụ lịch Mayan-Aztec (ỡ khu vực Trung Mỹ) chia lịch ra 2 lãnh vực: 365 ngày trong năm là để dành cho Nông Nghiệp và Tế Tự. Đặc biệt cũa loại lịch ni là trong năm có dư ra một số ngày -- không nằm trong lịch -- mà không dựa vào thời gian !! Lịch Mayan-Aztec dược xem là rất chính xác và đại cầu kỳ !! Lịch Cổ Ai cập thì ra đời đã lâu lắm ..ít nhất cũng phải là 5 nghìn năm trước Chúa Giêsu Giáng Sinh. Lịch này được chia ra 12 tháng, mỗi tháng 3 tuần và mỗi tuần 10 ngày ..còn dư ra 5 ngày ?? Mấy cái vòng là dùng để mô tả lụt lội .. -
Chữa Bại Liệt, Câm Điếc Trong 10 Phút, Chuyện Lạ Có Thật
wildlavender replied to xuka8584's topic in Y Học Và Sức Khoẻ
Hi hihi ! Đủ duyên sẽ gặp mà! -
Chữa Bại Liệt, Câm Điếc Trong 10 Phút, Chuyện Lạ Có Thật
wildlavender replied to xuka8584's topic in Y Học Và Sức Khoẻ
Nhắc lại : Nếu có nhu cầu đưa thân nhân hay bản thân điều trị bệnh, Sáng chủ nhật 7g30 , ACE tập trung tại Vp TT số A75/6F/14 Đường Bạch Đằng, Phường 2 Quận Tân Bình. Tp HCM. ĐT số : 08 38486867. để được hướng dẫn. -
Cặp Sư Tử Đá Ở Công Ty Nhà Chồng Quỳnh Chi Bị Đặt Sai
wildlavender replied to wildlavender's topic in Thông Tin Cập Nhật
Kết quả là: Đội Trật tự đô thị dùng nghị định 36 /cp dọn cho quang đãng phố phường! -
Xúc động với những bức ảnh về mẹ Hình ảnh về những người mẹ dù ở quốc gia nào cũng để lại cảm xúc sâu sắc cho người xem. Dưới đây là những bức ảnh mà người xem không thể không rơi lệ. Người mẹ ở Trung Quốc. Tác giả: Giáo sư Yu Quanxing của ĐH Thiên Tân, người dành 10 năm đến 267 ngôi làng nằm rải rác 64 huyện nghèo tại miền Tây Trung Quốc để ghi cảnh 820 người mẹ sống trong nghèo khổ. Một bà mẹ Việt Nam cùng với con vượt sông để tránh bom của máy bay Mỹ, Quy Nhơn năm 1965. Ảnh của Kyoichi Sawada, nhà nhiếp ảnh được giải thưởng Pulitzer năm 1966. Nguồn: baotangchungtichchientranh.vn Người mẹ đang chăm sóc cho đứa con 60 tuổi bị bệnh. Nguồn forum.facmedicine.com. Hương Giang (tổng hợp) vietnamnet.vn
-
http://www.youtube.com/watch_popup?v=cNm1b1QCllE&vq=medium
-
Bộ Sưu Tầm Cổ Vật Và Việt Sử 5000 Năm Văn Hiến
wildlavender replied to Thiên Sứ's topic in Các Bài Viết Quan Trọng
Những bộ lịch Cổ đại của các nước 1) Mayan-Aztec 2) Lịch cổ Egypte 3) Lịch cổ Liên Xô <br style="line-height: 1.22em; "> 4) The Canterbury Astrolabe Quadrant 5) Lịch Cổ Ấn Độ, Bengali, Nepali, Tamil, Kannanda. <br class="Apple-interchange-newline"> -
Thần Chú Giải Thoát Qua Sự Nhìn Ngắm
wildlavender replied to wildlavender's topic in Tiềm Năng - Tâm Linh - Con Người
Đã gởi đến bạn và gia đình 4 bản Thần Chú Giải Thoát hôm nay. -
Góc Nhìn Lạ Về Phong Thủy Với Căn Nhà Của Ca Sĩ Ngọc Sơn
wildlavender replied to langbavibo's topic in Cafe Lý Học
Họ Biến tên Thái Ngày ấy, tháng ấy, năm ấy… Họ Biến tên Thái ra đời. Phương Đông xuất hiện mống vồng rực rỡ. Ngày ấy, tháng ấy, năm ấy... Họ Biến tên Thái tập nói. Gà mái gáy trong kinh thành, chếch phía cổng Đông, đất sụt 3 tấc. Ngày ấy, tháng ấy, năm ấy… Họ Biến tên Thái trở thành ca kỹ. Có nhật thực ban ngày, nguyệt thực buổi đêm. Ngày ấy, tháng ấy, năm ấy… Họ Biến tên Thái trở thành đệ nhất danh kỹ. Mưa gió dầm dề ba ngày ba đêm, sương phủ kín mặt người giữa trưa hè. 1. Biệt phủ của họ Biến tên Thái nằm ngay giữa chốn đô hội trong kinh thành. Biệt phủ tường xanh xanh, nóc vàng vàng, phía trước có cái tượng của họ Biến tên Thái nhìn rất kỳ dị. Trên bức vách biệt phủ, họ Biến tên Thái mướn mười nghệ nhân nổi tiếng nhất trong kinh về, cơm ăn nước uống ngày năm lần, đêm ngủ nệm lông ngỗng, ngày nghe lời hát hay để chạm vào đó bức hoành phi có nội dung đúc kết lại Bát điều thiên cổ của họ Biến tên Thái. Tiếp đến, họ Biến tên Thái mướn thêm hai trăm danh họa họa hai vạn bức tranh có cùng nội dung của Bát điều thiên cổ để phát tán cho người dân trong kinh thành. Trên nền bức tranh, là nhân ảnh với y phục thiếu trước hở sau của họ Biến tên Thái. Nhân sĩ trong kinh thành chất vấn “Các hạ viết Bát điều thiên cổ nói dân phải làm theo Bái điều thiên cổ của các hạ, nhưng các hạ lại vận y phục ấy, không phải là phỉ báng thiên hạ sao?”. Họ Biến tên Thái cười rũ: “Bát điều thiên cổ là để dành cho những kẻ bất trí làm theo, không phải dành cho mỗ. Bọn văn nhân hèn kém như các ngươi thì làm sao hiểu được cái uy oai của người có ngân lượng”. Nhân sĩ nghe câu trả lời của họ Biến tên Thái, họ biết là không thể cật vấn kẻ ấy, bèn buồn bã thở dài quay lưng về lại lều tranh. Đắc chí, họ Biến tên Thái sai gia nhân, đứng ở bốn góc kinh thành, hét toáng: “Chính Ngọ ngày mai, lão gia họ Biến tên Thái sẽ phát chẩn tại gia phủ! Kẻ đói rách, người túng thiếu… cứ đến đó đợi nghe xướng tên mà nhận lãnh thực phẩm!… Kính cáo”. Giờ Ngọ hôm sau, hành khất trong kinh thành nháo nhào tìm đến nhà của họ Biến tên Thái. Người câm thì hân hoan, người điếc thì rạng rỡ, người mù thì nhảy múa, người ghẻ lở thì xuýt xoa… tất cả đều tán tụng công đức của họ Biến tên Thái. Vậy mà, một khắc, hai khắc, ba khắc… lặng lẽ trôi qua. Đến khi ánh dương chìm nghỉm trên tán cây cao trước nhà họ Biến tên Thái vẫn không thấy lương thực để phát chẩn đâu. Họ gào thét, họ phẫn nộ, họ hai hay hai đấm, hai mắt tóe lửa, mồm bật máu tươi đòi gà chó, người ngợm trong nhà của họ Biến tên Thái đều phải trở về cõi u linh. Họ muốn một cơn mưa máu phải diễn ra. Họ muốn dao vào thì trắng, dao ra thì đỏ. Họ quyết định làm thủng năm mươi ba lỗ trên người của họ Biến tên Thái. Nghe gia nô cấp tập thông báo tình hình, họ Biến tên Thái ngồi trên ghế, cười hăng hắc: “Các ngươi chờ gì mà chưa gọi bổ đầu. Cái lũ phàm phu tục tử ấy không hiểu thế nào là đùa à. Không biết thế nào là giỡn à. Thóc lúa trong nhà ta có dư thì để cho chiến mã, trâu bò, gà lợn của ta ăn, chứ ta rảnh đâu mà cho cái lũ ấy ăn”. Dứt tràng cười, họ Biến tên Thái lại cúi đầu ăn món huyết yến chưng cách thủy, món ăn cực kỳ yêu thích của họ Biến tên Thái. 2. Khuya, trời không trăng. Sau khi cạn mười vò mỹ tửu, họ Biến tên Thái thét gọi gia nhân: “Cho đòi hai đứa có miệng có mồm, không cần sức khỏe!”. Ngay tắp tự, hai gia nô phủ phục ngoài cửa chờ họ Biến tên Thái sai phái. “Hai đứa mày, ngay ngày mai dán cáo thị khắp kinh thành. Trên cáo thị viết, họ Biến tên Thái ta ngày này, tháng này, năm này… nằm mơ thấy tiền nhân quở phạt vì cái tội không phát chẩn hôm nào. Tiền nhân hạ lệnh cho ta trong vòng bảy ngày phải bán gấp biệt phủ này để thực hiện trọn vẹn cái nghĩa tương sinh. Nếu không, tính mạng khó toàn an. Vì vậy, nay ta dán cáo thị khắp kinh thành, mời các đại tài chủ đến nhà để thương lượng việc mua bán. Chỉ có vậy thôi, hai đứa mày lui được rồi”, tài chủ khoát tay bước vào thư phòng, gia nô dập đầu cúi lạy lùi ra ngõ. Hôm sau, gia nô dán cáo thị khắp kinh thành. Thêm lần nữa, dân trong kinh thành bàn tán xôn xao về tấm lòng đại thiện nhân của họ Biến tên Thái. Tài chủ bắt đầu thay xiêm y, đốt hương trầm, ngồi xe tứ mã, tay cầm ngân lượng tìm đến nhà họ Biến tên Thái. Tài chủ thứ nhất, nói: “Thiệt là may mắn. Ngay trong thời điểm gạo châu củi quế, người đói đầy đường mà họ Biến tên Thái lại làm điều kinh thiên động địa, phúc đức nghìn năm như vậy”. Tài chủ thứ hai, nói: “Lòng người quả nhiên khó đoán. Mới hôm nào, nhân dân còn oán thán họ Biến tên Thái là uống máu thiên hạ, bỡn cợt nghèo khó. Nhưng nay, họ Biến tên Thái đã minh chứng thiện tâm của mình”. Tài chủ thứ ba, nói: “Mấy hôm trước, mỗ nghe tiếng chim khách kêu vang dội bốn cửa trong thành. Lại nghe lũ trẻ trong nhà đồn rằng phía Nam, trên tán cây ngô đồng có tiếng phượng hoàng gáy. Mỗ đoán sẽ có người nhân nghĩa xuất hiện. Thật bất ngờ, người nhân nghĩa ấy chính là họ Biến tên Thái”. Tài chủ dứt lời, hai tay vái dài, ra chiều cửu ngưỡng. Họ Biến tên Thái vòng tay đáp lễ, mời tất cả các tài chủ vào nhà dùng trà. “Họ Biến tên Thái ta sinh ra trên đời là để làm những việc vô tiền khoáng hậu. Một nghìn năm trước, sử sách không có người như ta. Một vạn năm sau, hậu sinh phải chép miệng nhắc về ta. Đức Khổng, Đức Lão… bàn chuyện đạo, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Ta cho đó chỉ là lời nói ủy mị, hão huyền. Cũng như người đòi hái sao trên trời, vào động tìm thuốc trường sinh, cỡi gió đạp mây mà bay, đưa tay vớt trăng dưới mặt nước. Ta không lấy lời nói làm vật để vinh danh. Ta không lấy sự huyền ảo làm vật phòng hộ. Ta chỉ lấy việc thiên hạ chạm được, vật thiên hạ nếm được để làm điều nghĩa. Quý tài chủ nãy giờ ngợi khen, thật khiến ta đỏ mặt. Nhưng, đó không phải là điều không có cái lý của nó”, họ Biến tên Thái cất tiếng. Trà Tuyết Sơn được hái khi búp còn ngậm sương, được sao khi lửa vừa ấm tay, được hãm trong bình sứ già, được ngâm nước sôi đủ nhiệt tỏa mùi thơm ngào ngạt khắp thư phòng. Nghe họ Biến tên Thái nói, tài chủ quên bẵng dư vị trà quý đang chờ tài chủ thưởng lãm. Tài chủ tranh nhau nói, có tài chủ, vì ham tán tụng công đức của họ Biến tên Thái nên nhai mất luôn lưỡi của mình lúc nào không biết, máu tươi nhểu ướt cả vạt áo gấm vàng. “Công đức của họ Biến tên Thái quả thật là vô lượng. Chúng tôi chỉ là dân con buôn, lấy lãi làm tính mạng. Nên mời họ Biến tên Thái mau mau nói giá của ngôi biệt phủ này cho chúng tôi suy tính”, tài chủ đáp lời họ Biến tên Thái. “Không vội, không vội… để ta nói sơ qua về căn biệt phủ này đã. Các tài chủ đều biết, nhà ta nằm ở nơi đô hội phồn hoa, đất có long mạch, quanh năm đón gió mát, không sợ nước lụt bão táp. Công phu cất dựng thì không phải bàn, thợ khéo tay phải làm ròng rã ba mươi tám tháng mới hoàn tất. Đó là không tính đến, bức tượng của chính ta và Bát điều thiên cổ, ta đã kỳ công tạo nên. Vì vậy, giá cả không phải bàn đi tính lại. Ta nói một giá duy nhất, năm vạn lượng hoàng kim”, họ Biến tên Thái trả lời. 3. Tài chủ nghe dứt câu, tâm thần vô định, tim đập tay run, mồ hôi đổ ròng ròng trên trán. “Họ Biến tên Thái nghĩ lại, cái giá mà nhà ngươi đưa ra quả là quá cao. Tại hạ không thể sống trong biệt phủ quái đản của nhà ngươi, thứ mà tại hạ muốn giao dịch chỉ là phần đất thôi. Sau khi mua được đất, tại hạ phải phá bỏ hoàn toàn căn biệt phủ đi để cất lại”, tài chủ kỳ kèo. Nghe dứt câu, họ Biến tên Thái cười như ngây như dại: “Ta đoán trước các ngươi sẽ không thể mua nổi ngôi biệt phủ của ta. Bởi không ai cuồng dại đến mức bỏ năm vạn lượng hoàng kim để mua vật chỉ hợp với lòng ta. Ta đã nguyện rồi, có ai mua biệt phủ thì ta sẽ dùng hết số ngân lượng ấy để phát chẩn cho thiên hạ. Nay, không ai mua thì ta lại tiếp tục sống trong căn biệt phủ này. Gia nô đâu, dán cáo thị công bố khắp kinh thành, giao dịch của ta và các tài chủ thất bại, nên người đói không có gạo, người rét không có áo như ta đã dự tính. Đừng ngồi mơ đến chuyện không thật nữa”. Sau khi cuộc giao dịch ngôi biệt phủ bất thành, dân trong kinh thành không tin lời của họ Biến tên Thái nữa. Dẫu có lần họ Biến tên Thái đã cất công vào trong hiệu thuốc của quan đại phu, để thương lượng việc kính dâng thi thể họ Biến tên Thái cho đại phu mổ xẻ. Tháng trước, họ Biến tên Thái quyết định lấy xiêm y của thân mẫu mình để khoác lên người, rồi mời danh họa đến biệt phủ họa hình dán kín các bức tường trong kinh thành cho thiên hạ thưởng lãm. Lần này, thiên hạ không thể không nổi giận. Họ chỉ mặt họ Biến tên Thái nói như rít: “Các hạ là cái đồ quái đản, bệnh hoạn. Không còn ra cái giống người nữa. Đến thân mẫu của các hạ, mà các hạ còn lấy ra để bỡn cợt, thì còn điều vô pháp vô thiên, bất nghĩa bất đạo nào mà các hạ không dám làm. Mỗ thương hại cho các hạ, bấy lâu khoác danh đệ nhất ca kỹ chỉ để làm những điều xằng bậy rồi tự cho là khoái lạc”. Họ Biến tên Thái nghe thiên hạ mắng một cách chăm chú, nghe mà như nuốt từng lời. Mãi lúc lâu sau, họ Biến tên Thái mới thủ thỉ với chính mình: “.. Hắc..hắc… Vốn dĩ mỗ họ Biến tên Thái, thì việc gì mà mỗ không dám làm… hắc…hắc”. Từ ấy trong kinh thành, thiên hạ gọi họ Biến tên Thái một cách nhanh gọn là Biến Thái Ngô Nguyệt Hữu CAND.COM -
Ai không nên ăn, uống nước dừa? SGTT.VN - Dừa là món ăn ưa thích của nhiều người, nhất là trong thời tiết nóng nực như hiện nay. Tuy nhiên, nếu ăn uống quá đà các món chế biến từ dừa sẽ không có lợi cho sức khoẻ. Cây đa năng, trái đa dụng Dừa được trồng rất nhiều từ Nam Trung bộ trở vào. Tất cả các phần của cây dừa đều có thể được sử dụng. Trong đó, riêng dùng trong ẩm thực, phổ biến nhất là phần cùi (cơm) dừa trắng, và nước dừa. Nước dừa chứa đường, đạm, chất chống oxy hoá, clorua, kali, magiê, đường glucose, các vitamin nhóm B và chất khoáng… là nguồn cung cấp và tạo ra cân bằng điện giải đẳng trương tốt, cũng như là nguồn thực phẩm bổ dưỡng. Giải khát bằng nước dừa khi trời nắng nóng hoặc khi bị tiêu chảy gây mất nước rất tốt. Uống nước dừa, nhâm nhi một ít cơm dừa cũng không làm tăng cân. Vẫn phải dè chừng Mặc dù dầu thực vật nói chung không chứa cholesterol, nhưng chất béo từ dừa (dầu dừa, nước cốt dừa) lại được xếp vào loại thực phẩm giàu chất béo (1g chất béo cho 9kCalo). Đây là loại chất béo thực vật có hàm lượng axít béo no cao và khi vào cơ thể, sự chuyển hoá của chất béo này sẽ gây hại cho tim mạch và không có lợi cho người đái tháo đường. Người ta nhận thấy, bớt dùng nước cốt dừa có thể góp phần giảm nguy cơ béo phì, rối loạn lipid máu, hội chứng chuyển hoá, đái tháo đường týp 2... Như vậy, để không bị tác dụng phụ từ dừa, mọi người không nên thường xuyên dùng những món ăn có nước cốt dừa, ngoại trừ trường hợp muốn… tăng cân. Tốt nhất, không nên ăn nhiều cơm dừa (chỉ nên ăn 1 – 2 bữa/tuần). Người mắc chứng suy nhược, phụ nữ mang thai, bệnh nhân đái tháo đường, rối loạn lipid máu, béo phì, xơ vữa động mạch, có bệnh tim mạch… nên hạn chế tối đa ăn cơm dừa. Riêng với nước dừa, cần lưu ý, mỗi ngày chỉ nên uống một trái. Uống nhiều dễ gây đầy bụng, nhất là khi có kèm cơm dừa nạo, đá lạnh và uống vào chiều tối. ThS.BS Nguyễn Thị Ngọc Hội Dinh dưỡng lâm sàng TP.HCM
-
- 1
-
-
Thiền Tông và Tịnh Ðộ Tông: chỗ gặp gỡ và không gặp gỡ. Tu các pháp môn của Phật giống như người leo núi. Một ngọn núi cao, người ở hướng Tây có lối lên của hướng Tây, người ở hướng Ðông có lối lên của hướng Ðông, hướng Nam, hướng Bắc cũng vậy. Trong bốn lối đó chúng ta thích lối nào thì đi lối đó. Ðã chọn rồi phải quyết chí đi. Phật giáo Việt Nam chúng ta có chia ra nhiều tông phái, nhưng xét kỷ thì có ba tông: Thiền tông, Tịnh Ðộ tông và Mật tông. Song gần một trăm năm nay Thiền tông dường như ít ai biết đến mà chỉ biết Tịnh Ðộ thôi. Chúng tôi thấy sự kiện giữa Thiền và Tịnh rất quan trọng nên muốn giải thích cho quý Phật tử biết rõ điểm nào Thiền tông hòa hợp được với Tịnh Ðộ, điểm nào Thiền tông cách biệt với Tịnh Ðộ. Quý Phật tử nghe biết, không còn nghi ngờ trên đường tu. 1 - Chỗ Không Gặp Gỡ Giữa Thiền và Tịnh Ðiểm thứ nhất: Như chúng ta biết, tu Tịnh Ðộ thì luôn luôn lấy niềm tin làm trên, nên người tu Tịnh Ðộ phải có đủ Tín-Hạnh-Nguyện. Tín là lòng tin; tin chắc có cõi Cực Lạc, tin chắc mình niệm Phật sẽ được Phật rước về Cực Lạc. Từ tin chắc, mới khởi hành, tức cố gắng Niệm Phật, gọi là Hạnh. Niệm Phật rồi phải phát nguyện sanh về cõi Cực Lạc. Như vậy mới đủ Tín-Hạnh-Nguyện, trong đó lòng tin là bước đầu trên đường tu. Ngược lại, Thiền tông không lấy lòng tin, mà lấy Trí huệ làm bước đầu. Trí tuệ thì giản trạch, phân biệt; còn lòng tin thì khẳng định như vậy, cứ tin rồi làm thôi, thành ra hai bên khác n hau. Tu theo Thiền tông, muốn bước vào cửa Thiền phải đi từ cửa Không. Cửa Không chính là trí tuệ Bát Nhã. Từ trí tuệ Bát Nhã, nhận định hiểu thấu được sự thật của muôn pháp trên thế gian, không bị lầm mê cho giả là thật. Các pháp chỉ là tướng duyên hợp tạm bợ hư dối, biết như vậy, chúng ta không còn gặp khó khăn trong sự tu hành, tâm yên lặng thanh tịnh. Rõ ràng người tu Thiền muốn cho tâm thanh tịnh phải dùng trí tuệ quán chiếu thấu suốt, hiểu rõ không bị nhầm lẫn, nhờ thế không cố chấp, không vướng kẹt, cho nên tâm rỗng rang nhẹ nhàng. Ðó là bước đầu của người đi vào đạo. Ðiểm thứ hai: Tịnh Ðộ tông tu nguyện sanh về cõi Cực lạc. Có vị nào tu Tịnh Ðộ mà không cầu sanh về Cực Lạc đâu? Ai cũng niệm Phật để khi lâm chung được Phật đón về Cực Lạc. Trong kinh nói Cực Lạc ở phương Tây, cách cõi Ta Bà năm mười muôn ức thế giới. Thật là xa. Bởi vậy, nếu Phật không đón thì không biết đường đâu mà đi. Như chúng ta hiện giờ muốn qua Nhật, qua Pháp hay qua Mỹ, nếu người chưa từng đi thì phải có thân nhân ở bên đó đón rước mới dám đi. Huống là cõi Cực lạc cách cõi Ta bà này tới mười muôn ức thế giới thì làm sao mà chúng ta dám đi? Do đó, phải niệm Phật và nguyện Phật đón tiếp chúng ta, khi nhắm mắt được về cõi Cực lạc. Như vậy, tu Tịnh Ðộ tức là chúng ta phóng ra ngoài, nhắm hướng Tây phương, nhắm cõi Cực Lạc để được sanh qua đó. Còn Thiền tông dạy chúng ta tu quán sát lại nội tâm của chính mình. Về phần nội tâm, nhà Phật phân nhiều loại. Theo Duy thức học, chúng ta có những tâm vương, tâm sở. Trong tâm sở lại có tâm sở thiện, tâm sở ác v.v... nhưng người tu Thiền không phân biệt như vậy, chỉ thấy trong tâm niệm của chúng ta, có những tâm mà lâu nay chúng ta ngỡ là tâm mình, nhưng thật ra không phải. Như quý Phật tử suy nghĩ, tính toán việc gì thường cho tâm suy nghĩ tính toán đó là tâm của tôi. Nếu nó là "tâm của tôi" thì những phút giây không suy nghĩ, không tính toán, tôi còn hay tôi mất? Nếu nó là tôi, thì khi nó không hiện, tôi cũng phải mất luôn. Nhưng thật ra, không suy nghĩ, không tính toán, tôi cũng hiện tiền. Do đó, nếu cho tâm suy nghĩ tính toán là tôi là một lầm lẫn rất lớn. Song tất cả chúng ta đa số đều lầm như vậy. Người tu Thiền biết rõ tâm suy nghĩ tính toán đó không phải thật mình nên để nó lặng xuống, tìm cho ra cái mình chân thật. Ðể nó yên lặng tức là dùng phương pháp định tâm. Vì vậy gọi là Thiền Ðịnh. Lặng vọng tâm rồi, chúng ta nhận ra được tâm chân thật của chính mình, đó là mục đích của người tu Thiền. Như vậy, người tu Thiền nhìn lại nội tâm mình chớ không cần hướng ra ngoài, còn người tu Tịnh Ðộ thì trông về cõi Cực Lạc bên ngoài, do đó không giống nhau. Ðiểm thứ ba: người tu Thiền cốt làm sao cho hiện đời, bao nhiêu thứ phiền não nghiệp chướng sạch, tâm phiền não nghiệp chướng sạch rồi thì thể chân thật sẵn có hiện ra, đó là Niết Bàn, đó là Phật Tánh. Còn Tịnh Ðộ, gần đây có nhiều vị cho rằng tu Tịnh Ðộ rất dễ, chỉ cần niệm Phật mười câu thì Phật đón về Cực lạc liền. Dù kẻ tạo nghiệp ác, trộm cắp nhưng niệm 10 câu cũng được Phật đón về Cực Lạc; bởi vì họ nghĩ "đới nghiệp vãng sanh", tức là mang nghiệp vẫn sanh về bên đó, không cần đợi thanh tịnh mới được vãng sanh. Người tu Thiền không chấp nhận như vậy. Cực lạc là cõi thanh tịnh của Phật mà mang nghiệp xấu ác ô uế thì ai mà chấp nhận cho vào. Như vậy nói "đới nghiệp vãng sanh" là chuyện không thể chấp nhận được. Thí dụ chúng ta nuôi con chó, nó bị ghẻ lở, ta nghĩ tại ta nuôi dưới đất nên nó bị ghẻ; bây giờ đem lên lầu chắc nó hết ghẻ nhưng không phải. Ở dưới đất hay trên lầu, chưa trị được hết ghẻ thì nó cũng bệnh như nhau. Ghẻ lở ngứa ngáy là dụ cho nghiệp, nếu chưa lành, thì dù có đem đi đâu ở chỗ nào, đẹp hơn, tốt hơn cũng không tránh khỏi. Muốn cho nó khỏi phải làm sao? Chúng ta nuôi nó ở dưới đất mà biết tìm thuốc trị cho nó hết, nó lành thì ở dưới đất hay trên lầu gì cũng mạnh cả. Cũng như vậy, nếu cho rằng ở Ta bà, chúng sanh mê muội tạo nghiệp, về Cực lạc hết tạo nghiệp thì chuyện ấy chưa chắc. Một bên dạy muốn nhập chỗ thanh tịnh thì phải hết nghiệp chướng, còn một bên nói mang nghiệp chướng đến cõi thanh tịnh rồi sẽ sạch sau. Như vậy, hai chủ trương không giống nhau. Ðó là những điểm Thiền tông và Tịnh Ðộ tông không gặp gỡ nhau được. 2- Chỗ Thiền Tông và Tịnh Ðộ Tông Gặp Ðược Nhau. Ðiểm thứ nhất: Về Tịnh Ðộ, trong Kinh A Di Ðà có một đoạn nói rằng người thiện nam tín nữ nào niệm Phật từ một ngày, hai ngày, ba ngày... cho đến bảy ngày "nhất tâm bất loạn" thì khi lâm chung thấy được Phật và Thánh chúng hiện trước mắt. Như vậy niệm Phật được nhất tâm bất loạn tối đa là bảy ngày, hoặc sáu ngày, hoặc năm ngày, hoặc bốn ngày, hoặc ba ngày cho đến cuối cùng là một ngày thôi thì nhắm mắt cũng thấy Phật và Bồ Tát hiện ở trước. Chúng ta nghe dễ quá phải không? Tôi đọc trong A Hàm (Kinh A Hàm dạy tu Thiền theo Nguyên thủy), bài kinh Tứ Niệm Xứ, Phật dạy: nếu người nào tu quán Tứ niệm xứ từ một ngày, hai ngày, ba ngày, cho đến bảy ngày tâm không rời Tứ niệm xứ thì người đó khi nhắm mắt chứng tối thiểu là sơ quả Tu đà hoàn, nhị quả Tư đà hàm, tam quả A na hàm, tứ quả A La hán. Như vậy, chỉ quán Tứ niệm xứ trọn vẹn bảy ngày, không di chuyển, không di đổi, người đó nhắm mắt chứng được quả A La hán. Nếu kém hơn hoặc sáu, hoặc năm ngày thì chứng quả A na hàm, bốn ngày hoặc ba ngày thì có thể chứng quả Tư đà hàm. Nếu kém nữa, chỉ một ngày tâm không di đổi thì chứng quả Tu đà hoàn. Tu đà hoàn là quả bất thối chuyển, còn bảy đời sanh tử nhưng chỉ đi lên chứ không đi xuống. Vậy Kinh A Di Ðà và Kinh Tứ niệm xứ trong A Hàm nói không khác. Thế thì dù niệm Phật, hay tu Thiền quán mà tâm chuyên chú an định từ một ngày cho đến bảy ngày thì nhất định người đó đạt được đạo quả. Tu Tịnh thì được thấy Phật, còn tu Thiền thì chứng từ sơ quả đến tứ quả. Chúng ta thấy tu có khó không? Phật hạn chỉ bảy ngày thôi. Cả đời chúng ta bao nhiêu ngày mà chỉ cần 7 ngày chuyên nhất không tạp cho đến dù một ngày thôi, tinh chuyên như vậy thì sẽ đạt được đạo quả. Nhưng sao không ai chịu hy sinh một ngày, hai ngày cho đến bảy ngày, hoặc niệm Phật nhất tâm bất loạn, hoặc chuyên tâm, không di chuyển khỏi Tứ niệm xứ thì sẽ được Phật đón về Cực Lạc hay chứng Tứ quả Thanh văn? Bây giờ quý vị thử niệm Phật từ sáu giờ sáng hôm nay cho đến sáu giờ sáng ngày mai, không có một niệm thứ hai chen vô thì nhất định được Phật đón về Tây phương. Người tu Thiền, quán thân bất tịnh, thọ thì khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã; luôn luôn di chuyển trong bốn phép quán đó, không để niệm nào chen vô, trong bảy ngày hoặc ít nhất một ngày đêm thì chứng Tu đà hoàn, nhất định tiến lên Thánh quả, chớ không lùi trở lại. Như vậy sự tu hành dễ hay khó, có thể làm được không? Nhưng tại sao lâu nay chúng ta cứ trật vuột hoài , leo lên tụt xuống? Là vì sức định tâm của chúng ta yếu, nên đang nghĩ việc này thì không bao lâu thứ khác chen vô mất. Như quý vị đang lần chuỗi niệm Phật được dăm ba câu, bỗng có niệm khác chen vô. Cứ thế lặp đi lặp lại , không biết chừng nào xong. Nhớ người thì bóng người hiện, nhớ chùa thì bóng chùa hiện, nhớ huynh đệ thì bóng huynh đệ hiện. Phật bảo chỉ có bảy ngày mà không ai làm được dù một ngày, như vậy có dở không? Rõ ràng tu Tịnh Ðộ hay tu Thiền gì cũng vậy, nếu chúng ta quyết tâm xem như chết trong câu niệm Phật, chết trong quán Tứ niệm xứ thì đều thành công như nhau. Như vậy mới thấy sự tu rất dễ mà cũng rất khó. Rất dễ vì thời gian không cần nhiều. Rất khó vì tán tâm không làm được. Ðể thấy rằng trên đường tu, việc làm chủ tâm mình là vấn đề rất hệ trọng. Làm chủ mười người, hai mươi người dễ hơn làm chủ tâm mình. Ví như ông chủ sở, hay chủ xí nghiệp quản lý mấy chục nhân viên, bảo họ làm việc này, việc kia thì dễ mà bảo nhìn lại tâm mình thì làm không được. Nếu làm đúng như lời Phật dạy thì có lẽ chúng sanh thành Phật nhiều lắm rồi. Nhưng vì kẻ trộm lẻn vào phá hoài làm cho ta rối rắm mất hết công phu, nên Phật bảo điều khiển được mình là một việc làm rất khó. Tu chính là phải điều khiển được mình. Ðối với người khác, vì thế lực của mình, vì quyền lợi của người, nên người ta phải nghe lời mình, tuân theo mình. Còn đối với chính mình, không có quyền lợi, không có thế lực gì cả, niệm trước bảo phải làm cái này, nhưng niệm sau nảy ra cái khác, chạy tán loạn hết. Vì vậy nói đến việc tu tưởng như dễ, cầm xâu chuỗi lần có gì khó? Nhưng nếu lần chuỗi để lần chuỗi thì ai làm cũng được, còn lần chuỗi niệm Phật để nhất tâm thì thật khó làm. Ngồi Thiền nửa giờ, một giờ thì ai cũng ngồi được, mà ngồi một giờ không có vọng tưởng dấy động, thì chuyện đó khó có người làm được. Trên phương diện hình tướng cụ thể của thân, của cảnh sắp đặt rất dễ. Còn tâm không hình tướng, không chỗ nơi, cứ bỏ hở là vọng tưởng nó nhảy ra phá công phu của chúng ta. Vì vậy người tu năm này tháng nọ dồn hết công phu cố gắng gìn giữ tâm không để trống hở, như canh chừng mấy đứa trộm không cho nó chen vào, như vậy mười năm, hai mươi năm còn chưa thể được, huống là xem thường. Tu là canh chừng vọng tưởng. Nhiều người nói: vọng tưởng thì cứ cho nó nghĩ chớ việc gì phải canh chừng? Nó là tâm mình thì cứ để nó nghĩ đã rồi thôi. Quý vị chưa tu nên nói vậy, chớ có tu sẽ thấy. Lâu nay chúng ta cứ lầm lẫn ngỡ vọng tưởng là tâm mình. Vì ngỡ là tâm mình, nên đuổi theo dục lạc thế gian rồi tạo nghiệp đi trong sanh tử luân hồi, đi này kiếp nọ liên miên. Do nó là chủ tạo nghiệp nên nó có sức mạnh dẫn chúng ta đi trong sanh tử. Dẹp được nó, tức là chúng sanh làm chủ được mình, không tạo nghiệp, hết sự ràng buộc, tự do tự tại, thì sanh tử làm gì lôi kéo được! Phật gọi người này đã giải thoát khỏi sanh tử. Tôi thường hỏi: - Chúng ta tu để làm gì? - Ðể giải thoát sanh tử - Cái gì dẫn mình đi trong sanh tử? - Nghiệp dẫn chúng ta di trong sanh tử. - Cái gì tạo nghiệp? - Thân, miệng, ý là ba chỗ tạo nghiệp. Rõ ràng mục tiêu của chúng ta là giải thoát sanh tử. Vậy phải làm sao hết nghiệp? Thân nằm dài, miệng ngậm câm phải không? Không phải vậy. Thân hoạt động, miệng nói năng gốc từ ý. Tuy nói thân, khẩu, ý , nhưng thật ra ý nghĩ tốt thì miệng nói tốt, thân làm tốt; ý nghĩ xấu thì miệng nói xấu, thân làm xấu. Nói ba nhưng ý là gốc chủ động. Muốn hết nghiệp, chúng ta phải dứt niệm của của ý. Muốn dứt ý niệm thì đầu tiên chúng ta phải biết ý niệm là cái hư giả không thật. Lâu nay chúng ta khẳng định, "tôi nghĩ như vậy" tức ngầm cho cái ý là thật. Bây giờ biết nó hư ảo không thật, tìm cách dừng lặng để không bị nó tác oai tác quái nữa. Người tu Thiền hay niệm Phật cũng vậy, niệm đến nhất tâm thì ý không còn loạn động. Tu Thiền được định thì ý cũng lặng yên. Nhân tạo nghiệp không còn thì cái gì dẫn chúng ta đi trong sanh tử? Thân này do tứ đại hợp, khi chết trả về cho tứ đại. Chúng ta biết thân sẽ hư hoại, ý nghĩ cũng huyền ảo. Khi dừng được ý hư ảo rồi thì còn gì nữa không? Tu là để nhận ra cái gì giải thoát, chớ thân hoại ý lặng rồi, chẳng lẽ mất hết sao? Cho nên tu là luyện lọc thân tâm, ngay nơi tâm thức của chúng ta cái gì thật, cái gì hư. Biết cái hư, bỏ không theo nó thì cái thật hiện ra, đó gọi là giải thoát sanh tử. Cái chân thật ấy có nhiều tên gọi như Phật tánh, Chân như, Bồ đề, Niết Bàn... luôn sẵn trong ta. Song lâu nay chúng ta bị chú "Ý" này che phủ đi. Quý vị thử ngồi chơi trong năm phút mà không có ý niệm nào dấy lên xem. Nói ngồi chơi, chớ nhớ chuyện hôm qua, hôm kia, không bao giờ tâm rỗng rang nên chúng ta cứ bị ý thức che phủ mãi, vì cái ảo giác đó cứ làm quay cuồng nên chúng ta không nhận ra được cái chân thật của mình. Vì vậy ngồi thiền để định tâm hư ảo, định những thứ quay cuồng đó lại. Ðịnh được rồi thì cái thật sẽ hiện ra. Tu Thiền cốt để dừng những niệm hư ảo của ý thức. Niệm Phật nhất tâm cũng để dừng niệm hư ảo của ý thức. Một bên thấy Bồ đề, Niết Bàn, một bên thấy Ðức Phật A Di Ðà tới đón. Vì ý nghĩa sâu kín mầu nhiệm như vậy, chúng ta mới dụng công tu hành, chớ nếu tầm thừơng thì tu làm gì? Có thông hiểu thấu suốt chúng ta mới thấy việc làm của người tu không phải là hình thức cúng kính bên ngoài; nó sâu thẳm ở bên trong. Khi làm chủ được ý niệm lăng xăng cuả mình rồi, những vọng tưởng lặng xuống thì cái chân thật hiện tiền. Sống được với cái chân thật đó là giải thoát sanh tử, đời đời không bao giờ mất. Còn mang nghiệp do ý tạo thì mất thân này chụp thân kia, mất thân kia chụp thân nọ, sanh tử biết bao giờ cùng? Vì vậy trong kinh Ðức Phật nói, con người sanh ra rồi chết đi, đời này qua đời nọ, mỗi một đời khóc bao nhiêu nước mắt. Nếu gom hết nước mắt của chúng sanh trong nhiều đời nhiều kiếp còn hơn nước của biển cả. Cái khổ luân hồi sanh tử thật không cùng. Mấy chục năm hết một đời. Trong một đời khóc bao nhiêu lần. Hồi lọt lòng mẹ đã khóc rồi, cho tới già sắp chết cũng khóc nữa, thành một chuỗi dài cứ khóc và khóc. Ðến khi mất thân này, tìm lại thân khác tiếp tục khóc nữa, thành một chuỗi dài cứ khóc và khóc. Còn nghiệp dẫn là còn khổ đau. Vì vậy muốn giải thoát sanh tử phải dừng hết nghiệp. Muốn hết nghiệp phải dừng từ trong ý, vì nó là động cơ chủ yếu tạo nghiệp. Tại sao chúng ta phải ngồi thiền hai ba tiếng đồng hồ, chân tay đau tê cóng mà cũng ráng ngồi? Ngồi là trước để hàng phục thân, làm chủ thân rồi kế đó hàng phục ý. Muốn làm chủ ý phải có thời gian dài, vì nếu ngồi năm ba phút hay nửa giờ, tâm mới vừa hơi yên thì hết giờ, nên ngồi một hai tiếng để có thời gian dài chúng ta mới thấy rõ ý thức còn sức mạnh hay đã yếu rồi. Trong các thiền viện tôi bắt ngồi thiền hai ba tiếng đồng hồ. Có nhiều người lúc đầu hăng hái đến xin tập tu, được vài hôm rồi xin rút lui vì theo không nổi. Tôi chủ trương như vậy không phải để hành hạ thân một cách vô ích. Bởi vì có hai lý do: - Một, nếu chúng ta không làm chủ được thân này thì chúng ta dễ bị lệ thuộc nó, nên đau thì chịu đau, phải thắng nó mới có thể vượt qua. Chúng ta ai cũng biết giờ phút tắt thở là giờ phút đau khổ nhất, nếu không có sức làm chủ thân thì không sao an ổn lúc lâm chung. Làm chủ được thân thì giờ phút đó chúng ta mới định tĩnh ra đi. Bằng không thì lúc đó rối loạn, thấy cái gì chụp cái ấy, thật nguy khốn. Nên trứơc phải làm chủ cái thân. - Hai, là phải làm chủ được ý. Ý thức rất linh hoạt, dễ phóng ra bên ngoài. Nếu không dùng phương tiện để điều phục thì sẽ khó định tâm lặng ý. Do đó từ thời Phật cho đến bây giờ, phương pháp tọa thiền được xem như tối thắng nhất để định tâm. Vì vậy tôi chủ trương Tăng Ni tu muốn tiến lên phải siêng năng tọa thiền. Làm chủ được thân tâm rồi mới đi tới giải thoát sanh tử. Chúng ta nhìn lại đạo Phật, dù cho tông này hay phái kia khác biệt nhưng rốt lại đều cùng một mục đích là dừng ý niệm lăng xăng, để cái chân thật được hiện bày, đó là chỗ gặp nhau. Vì vậy người tu Tịnh Ðộ hay nói "Tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương" nghĩa là ba nghiệp hằng trong sạch thì đồng với Phật đi về cõi Phật không nghi ngờ. Tu Tịnh Ðộ thì cầu về Cực Lạc, còn tu Thiền là nhận được bản lai diện mục hay nhận được Pháp thân v.v... Ðó là điểm tương đồng thứ nhất giữa Tịnh Ðộ và Thiền. Ðiểm thứ hai: nói về lý và sự Tịnh Ðộ. Sự Tịnh Ðộ là chúng ta tin cách đây mười muôn ức cõi có thế giới tên là Cực lạc. Do tin chắc không nghi ngờ nên cố gắng niệm Phật, đến khi nào nhất tâm, chừng đó nhắm mắt thấy Phật rước về Tây phương, sung sướng không còn khổ sở như ở cõi Ta bà này nữa. Ðó là Sự Tịnh Ðộ. Về Lý Tịnh Ðộ thì trong kinh Duy Ma Cật nói: "Tâm tịnh thì Ðộ tịnh". Nếu muốn cõi nước thanh tịnh trứơc hết phải tịnh tâm của mình. Tâm thanh tịnh thì cõi nước thanh tịnh. Hoặc có chỗ nói "tự tánh Di Ðà, duy tâm Tịnh Ðộ"; tức tánh của mình là Phật Di Ðà, tâm của mình là cõi Tịnh Ðộ. Như vậy Tịnh Ðộ và Ðức Phật Di Ðà ở ngay nơi mình chớ không phải ở bên trời Tây. Lý Tịnh Ðộ này rất phù hợp với Thiền. Tại sao phù hợp? Vì người tu thiền cốt xoay trở lại nội tâm của mình. Khi dẹp sạch vọng tưởng lăng xăng rồi thì tâm thanh tịnh hiện ra gọi là pháp thân bất sanh bất diệt hằng giác, hằng tri. Nghĩa là chúng ta tu để nhận ra tâm thanh tịnh không còn vọng tưởng, thể nhập được pháp thân bất sanh bất diệt, hằng giác hằng tri. Thì Tịnh Ðộ nói Phật Di Ðà là tự tánh, còn tự tâm thanh tịnh là cõi Tịnh Ðộ. Ðức Phật A Di Ðà tiếng Phạn đọc là Amitabha Buddha. Trung Hoa dịch là Vô lượng thọ, Vô lượng quang. Vô lượng thọ là sống lâu vô lượng, đồng nghĩa với pháp thân bất sanh bất diệt. Vô lượng quang là luôn luôn sáng suốt, đồng nghĩa với Phật tánh hằng tri hằng giác. Ðức Phật A Di Ðà là biểu trưng cho Phật Tánh. Lý Tịnh Ðộ là lý Thiền, không có gì khác nhau hết. Ðối chiếu như vậy để chúng ta thấy ý nghĩa của người tu Thiền và người tu Tịnh Ðộ không hai, không khác. Do đó Phật Tử chúng ta khi tu Phật đừng quan niệm rằng mình làm thế này, thế nọ, Phật sẽ ban ơn ban phúc. Quan niệm như thế là sai lầm. Tu để chủ động lấy mình. Ý nghiệp lặng xuống thì được giải thoát chớ thật tình Phật không ban ơn ban phúc cho chúng ta. Phật dạy nhân quả là gốc của sự tu. Nhân tốt thì hưởng quả tốt, chớ không phải Phật ban cho ta được. Song Phật tử chúng ta chỉ muốn xin Phật thôi. Tu coi bộ phiền mất thì giờ. Cứ cúng một ít rồi Phật ban cho con cái này cái nọ là xong. Chỉ cần mỗi tháng đi chùa hai lần, để dành ít tiền ngày 30 hay Rằm, sắm hương hoa, trái cây... quý thầy đánh chuông, lạy ba lạy, cúng đĩa quả là đủ rồi. Phật tử đi chùa như vậy so với lý thật của đạo thật là cách xa muôn dặm! Chúng ta phải ý thức rằng tu Phật là cốt làm sao để mình trở thành con người giác ngộ, không còn bị nghiệp lôi dẫn trên đường sanh tử nữa. Ðó là mục đích tối thượng của chúng ta. Dù đời này chúng ta tu không xong, còn phải tới lui cõi này nhưng mục đích tối thượng đó phải giữ vững, đừng để lệch hướng. Cũng như người đi biển cần có la bàn vậy, phải khẳng định không nhầm lẫn. Nhắm đúng rồi, đời này tu được bao nhiêu, đời sau tu tiếp nữa, cứ như vậy tu tiếp mãi, chừng nào xong việc mới thôi. Trong kinh nói Ðức Phật tu vô số kiếp, hay là ba a tăng kỳ kiếp, tức là ba vô số kiếp. Nghe ba vô số kiếp quý vị có ngán không? Chữ kiếp không phải một đời của mình đâu. Kiếp là trải qua bao triệu năm. Vậy ba vô số kiếp là bao nhiêu triệu năm, qúi vị nghĩ mà ngán phải không? Phật vì sợ chúng ta ngán nên nói: Không sao! Nếu khéo tu thì mê là chúng sanh, giác là Phật. Nhanh như trở bàn tay, đang úp lật lại thành ngửa. Ðang mê mà giác thì thành Phật ngay thôi. Nói như vậy có gạt chúng ta không? Không gạt, nhưng thành Phật có nhiều cách. Bởi vì Phật là tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Ðối với chúng ta, phần tự giác là muốn hết sức rồi lại phải giác tha nữa. Tức là khi nào mình và người khác giác hết mới thành Phật. Nên nhận ra được tánh Phật gọi là thành Phật. Thành Phật đây chỉ là lóe thấy Phật của mình thôi. Còn biết bao nhiêu phiền não, tập khí muôn đời phải trừ bỏ nữa. Tôi thường ví dụ chúng ta tu như đi trong đêm ba mươi trời chuyển mưa. Lâu lâu có chớp lóe lên, nhờ đó ta thấy được một đoạn. Trời tối lại, rồi chớp lên thấy được đoạn nữa. Cứ thế tu dần dần. Hiện người tu bây giờ sức tỉnh giác cũng như ánh chớp ấy thôi. Giờ này đang nghe kinh hoặc ngồi thiền thấy tỉnh lắm, nhưng giờ khác tiếp xúc với mọi người liền quên mất, rồi cũng buồn cũng giận. Khi ngồi lại tu thấy tỉnh, thấy giác nhưng đụng việc cũng phiền não như ai . Cứ thế từ năm này sang năm khác, rốt cuộc nhắm mắt cũng chưa xong xuôi. Ðó là bệnh chung của mọi người. Chúng ta cần biết không phải một lần giác là xong ngay. Phật tử lúc nào cũng tin tưởng lời Phật dạy, tin tưởng lời quý thầy giảng, biết nóng giận là tật xấu, là tiêu mòn công đức. Nhưng vừa gặp người nói trái tai liền nổi giận đùng đùng. Ai gan lắm thì kềm giữ không cho hiện ra ngoài nhưng vẫn ấm ức trong lòng không an. Chúng ta biết đó là tật xấu, biết rõ 100% như vậy mà muốn bỏ không phải là dễ. Chúng ta thấy trải qua bao nhiêu kiếp mê lầm giờ đây tỉnh lại nhưng bỏ vẫn không được. Giống như mấy chú ghiền thuốc, ghiền rượu vậy. Biết rượu, thuốc là hại, ngồi một mình, thì nhịn mà có bạn tới đưa thuốc thì lấy liền. Như vậy mới thấy tập khí kéo lôi thế nào. Người chưa từng ghiền thuốc dù có mời họ cũng không thèm lấy, cho nên khi đã huân chủng tử lâu đi thì bây giờ bỏ hết sức là khó. Lâu nay chúng ta thừơng nghĩ người lớn tuổi rảnh rang công việc dễ tu, còn mấy đứa bé 15, 17 tuổi khó tu. Ðiều này chỉ đúng phần nào thôi. Già thì rảnh rang có thì giờ, nhưng tập khí đầy ắp bên trong, nên ngồi lại là nhớ chuyện năm trên năm dưới, không làm sao tu được. Mấy đứa nhỏ tuy lăng xăng công việc học hành thấy như khó tu, nhưng tâm nó trong trắng chứa ít chủng tử. Như người không ghiền rượu nghe Phật cấm rượu liền cười , dễ quá. Còn người ghiền rượu nghe Phật cấm rượu liền thấy khổ ngay. Người không ghiền, bảo bỏ rượu là chuyện thừa; còn người ghiền, bảo bỏ rượu là việc cay đắng. Các thứ khác cũng vậy. Cho nên, trẻ mà ham tu thì mau tiến. Còn người già tuy có thì giờ rộng rãi nhưng tu lâu tiến, vì chủng tử nhiều quá. Nó cứ quay lại, muốn bỏ, bỏ không được. Hơn nữa người già tinh thần suy yếu không đủ sức mạnh gạt bỏ những thói quen cũ nên khó bỏ. Do đó mỗi thế hệ có cái khó riêng, mà cũng có cái dễ riêng. Hiểu vậy rồi chúng ta mới thấy việc tu tập không dành riêng cho giới nào hết, ai quyết tâm thì người đó tu được. Chúng ta tu là làm sao tiêu diệt được nhân tạo nghiệp. Nhân tạo nghiệp lặng thì quả nghiệp không còn. Quả nghiệp không còn thì chúng ta tự tại, không bị lăn lộn trong sanh tử, đó gọi là giải thoát. Giải thoát sanh tử nhưng vẫn còn cái chân thật hiện hữu nơi mình. Khi còn tại thế, có người hỏi Phật: Thân này chết rồi còn hay hết? Phật không trả lời. Bởi vì còn nghiệp thì còn sanh trở lại. Nếu nói hết, người ta tưởng không còn gì cả. Chỉ người tu khi sạch nghiệp rồi thì tự tại không bị nghiệp lưu chuyển trong sáu nẻo. Phật dạy: Khi mất thân này, diệt được tâm niệm sanh diệt rồi thì thể thanh tịnh sáng suốt của mình trùm khắp. Thể ấy không có tướng mạo, không có gì chi phối cả nên gọi là giải thoát sanh tử. Hiện tại lúc nào chúng ta cũng sẵn thể chân thật đó. Khi ý niệm dấy khởi tính toán so đo, phân biệt hơn thua, lăng xăng, đó là cái gốc tạo nghiệp. Nhưng khi ý nghiệp không dấy động thì tâm có không? Tâm là cái "Biết" đó. Ý niệm tuy không dấy động nhưng chúng ta vẫn biết. Mắt biết, mũi biết, tai biết, lưỡi biết, thân biết, như vậy là hằng biết. Cái biết ấy thênh thang, không chỗ nơi để chúng ta dò tìm, nhưng luôn hiện hữu. Vì vậy khi các thứ che đậy, mê mờ lặng rồi thì nó hiện rõ ràng, còn bây giờ vì vô minh che lấp nên chúng ta không nhận ra nó. Khi nghĩ suy chúng ta nói tôi nghĩ, tôi suy. Khi không nghĩ suy thì ta vẫn hằng tri hằng giác. Có biết nhưng vì tánh biết bàng bạc nên chúng ta không thể chỉ ra được. Chỉ khi ý thức dấy nghĩ mới có bóng dáng kèm theo. Như vừa nhớ người thì bóng người hiện, nhớ chùa thì bóng chùa hiện, nhớ huynh đệ thì bóng huynh đệ hiện. Nhớ là dấy niệm. Nhà Phật gọi đây là pháp trần. Phần này rất phù hợp với khoa tâm lý học. Như hôm rồi xuống bắc Mỹ Thuận, tôi thấy chú thanh niên một chân bị hư máng trên vai, còn một chân, chống cây gậy. Trước khi thấy chú, trong tâm tôi không có bóng dáng đó; nhưng thấy rồi thì đến nay nhớ lại, hình ảnh ấy hiện ra rõ ràng. Bóng dáng mà tôi nhớ ở trong lòng đó, nhà Phật gọi là "pháp trần". Chữ "trần" là những hình dáng tế nhị chớ không phải thô phù; hình dáng ấy lưu lại trong tâm ta nên khi nhớ đến thì chúng hiện ra ngay. Như vậy từ nhỏ đến già những bóng dáng đó ghi vào tâm thức của chúng ta nhiều hay ít? Nếu phân ra không biết mấy trăm, mấy ngàn lớp? Do đó, khi ngồi yên, lớp này nhẩy ra tới lớp khác liên miên chập chồng. Vì vậy, khi tu là chúng ta cố gắng gạt nó qua một bên để cái chân thật được hiện bày. Bởi vì chỉ khi bóng dáng đó lặng hết thì ông chủ xưa nay mới hiển lộ. Do đó dụng công tu là việc hết sức tế nhị chớ không phải thường. Người ta thấy ở chùa quá đơn giản, gõ mõ tụng kinh, đi tới đi lui có gì là quan trọng. Nhưng thật ra người tu phải quan sát nội tâm, luôn luôn chiếu soi để làm chủ trọn vẹn được mình, không còn lệ thuộc với pháp trần là điều rất khó. Tóm lại, tất cả pháp của Phật dạy tuy có chia ra nhiều môn, nhiều phái, song các phái đều y cứ theo những gì Phật dạy mà tu hành. Tuy phương tiện có khác nhưng cứu kính đều gặp nhau. Người tu Tịnh Ðộ thì niệm Phật cho tới Nhất tâm. Người tu Thiền thì phải được Ðịnh. Có người nói Thiền-Tịnh song tu, tức là tu một lượt cả hai pháp. Như vậy làm sao tu? Bởi vì Tịnh Ðộ đặt lòng tin lên trên. Tin có cõi Cực Lạc, tin có Ðức Phật Di Ðà chuẩn bị đón tiếp nên cố lòng niệm Phật, niệm chí tâm đến chỗ nhất tâm, thì thành công. Nhờ niềm tin mạnh cho nên quyết tâm tu, mà quyết tâm thì thành công. Còn tu Thiền là biết rõ các pháp duyên hợp, như huyễn không thật nên không tham trước, không dính mắc, cố gắng dẹp những bóng dáng che phủ nội tâm khiến cho nó lặng sạch nên tâm được định. Như vậy, một pháp tu suốt đời chưa rồi mà dồn hai pháp lại làm sao kham? Lại Ngài Bạch Ẩn, một Thiền Sư Nhật Bản nói thí dụ này: Người sợ tu Thiền không đủ, phải tu thêm Tịnh Ðộ giống như người muốn qua sông gấp, sợ đi một chiếc đò chậm, nên kêu hai chiếc rồi đứng một chân chiếc này, một chân chiếc kia. Như vậy đi được tới bờ không, hay nửa đường đò sẽ bị rơi? Chúng ta phải hiểu thật kỹ. Nếu không chín chắn, muốn cho mau chóng và dễ tu, không ngờ chính chúng ta làm trở ngại sự tu của mình. Tu các pháp môn của Phật giống như người leo núi. Một ngọn núi cao, người ở hướng Tây có lối lên của hướng Tây, người ở hướng Ðông có lối lên của hướng Ðông, hướng Nam, hướng Bắc cũng vậy. Trong bốn lối đó chúng ta thích lối nào thì đi lối đó. Ðã chọn rồi phải quyết chí đi. Dù leo lên thấy khó, cũng ráng mà leo lên đến đỉnh. Ðường đi từ bốn hướng khác biệt, nhưng tới đỉnh rồi thì đều gặp nhau. Cũng vậy, pháp môn Tịnh Ðộ, pháp môn Thiền v.v... tên có khác, hướng tu có khác, nhưng cứu kính đều gặp nhau. Hiểu như vậy rồi, chúng ta tu không còn chê bên này, khen bên kia, mà chỉ nên tự trách mình chưa cố gắng, chưa quyết tâm. Mong rằng tất cả chúng ta cố gắng thực hiện công phu tu hành của mình đạt đến kết quả viên mãn, theo nhân duyên riêng của mỗi người trong tinh thần hòa hợp và đúng với tinh thần của Phật dạy. Hòa thượng Thích Thanh Từ (Tuần báo Giác Ngộ, số 196-197-198, tháng 01-2000)
-
Đã nhận của Yeuphunu 500,000 đ (năm trăm ngàn đồng) ủng hộ Quỹ Từ Thiện. Quỹ hiện có: 15,909,000 đ + 500,000 đ = 16,409,000 đ (mười sáu triệu bốn trăm lẽ chín ngàn đồng)
-
Hầu hết thân nhân người bệnh "mang án tử Ung Thư" nghe tin các dược liệu dược thảo quý thường tìm mua về cho người nhà dùng mà quên đi rằng ở giai đoạn cuối của căn bệnh này sự hủy hoại và suy nhược toàn thân không thể dung nạp được bất cứ thứ gì kể cả Linh Đan Tiên dược, mọi loại nấm được quảng cáo với nhiều công năng cũng chỉ có tác dụng bồi bổ nâng thể lực người bệnh chứ không diệt được tế bào ung thư ở giai đoạn phát triển mất kiểm soát như hiện nay! Cách hay nhất là : 1) Nhất tâm niệm Phật quên đi nỗi đau thể xác. 2) Người thân niệm Phật cầu cho họ nhẹ nhàng đi qua bệnh tật. 3) Phóng sinh & bố thí giải tà khí 4) Lạc quan nghĩ đến những điều tốt lành đã làm được trong quá khứ. 5) Cầu Kinh "Dược Sư Chú" . Hãy tìm đến đức tin để dọn đường an lạc.