-
Số nội dung
526 -
Tham gia
-
Lần đăng nhập cuối
Content Type
Hồ sơ
Forums
Events
Everything posted by Lê Bá Trung
-
Sự Khác Nhau Giữa Huyền Không Hán và Huyền Không Lạc Việt.
Lê Bá Trung replied to Lê Bá Trung's topic in Phong Thủy
Kính Gửi Huynh HoàngTriệuHải. Từ tâm nhà đo ra tới tâm cổng là 285độ, là Cung Tân, thuộc Nhân Nguyên Long. Từ tâm nhà ra tâm cửa là 299 độ, là cung Tuất thuộc Địa Nguyên Long Tuất là Địa Nguyên Long âm, Tân là Nhân Nguyên Long âm.. Hướng đường chính xe chạy từ Trái qua phải nhiều hơn từ phải qua trái... -
Thiên địa nhân chi lí tối minh, Giang tây nhất quái khởi vu đông , Giang đông nhất quái khởi vu tây, Thử thị mĩ văn cơ môn lí ….. Sơn dữ thuỷ đối cấu sinh xuân , Ai tinh xuất quái giai mạc thủ , Long huyệt sa thuỷ hợp bàn tham , Nhất cá bài lệ thiên bách cá …. Phiên thiên đảo địa đối bất đồng ,bí mật tại huyền không , Duy hữu ai tinh tối vi quý ,tiết lộ thiên cơ bí . Âm dương chi khí quán sơn hà, Kim long nhất động tế tróc mạc , Sa thuỷ quý tinh hướng hợp nghi, Nguyên vận hưng suy ai tinh thuyết. Huyền không đại quái xuất từ Huyền không ngũ kinh bao gồm: “Thanh Nang”, “Thiên Ngọc”, “Áo Ngữ”, “Bảo Chiếu”, “Thanh Nang Tự”; tương đồng với “Nguyên Không Pháp Giám”, “Băng Hải”, “Ngọc Hàm Thông Bí”. Phần căn bản của Huyền không Đại quái cốt yếu ở “ai tinh chân quyết bản sơn tinh”, “ai tinh chân quyết phụ mẫu tinh”, và "hợp cục, phản cục thượng hạ nguyên vận" Vì Huyền không đại quái thực không dễ hiểu nên phần căn bản này Nam phong tạm chia thành mục lục như sau: Mục Lục 1. Luận Huyền không đại quái 2. Huyền không đại quái ai tinh chân quyết 3. La bàn nhị thập tứ sơn bản sơn tinh 4. Huyền không đại quái ai tinh pháp tường giải ai tinh chân quyết bản sơn tinh (dương trạch) ai tinh chân quyết phụ mẫu tinh (âm trạch) 5. Huyền không đại quái chính thần linh thần tường giải 6. Nhị thập tứ sơn ai tinh chân quyết đồ kỳ 7. Luận cửu tinh: đắc thất hợp cục và phản cục đại huyền không thuỷ pháp thiên cơ đồ thượng nguyên nhất, nhị, tam, tứ thuỷ pháp đồ hạ nguyên lục, thất, bát, cửu thuỷ pháp đồ thuỷ pháp thiên cơ chân giải 8. Thượng trung hạ tam nguyên thuỷ pháp giải 1. Luận Huyền không đại quái Huyền không địa lý học, đại để thuỷ tổ là Hoàng Thạch Công, Quách Cảnh Thuần. Hoàng thạch công viết “ thanh nang kinh”, Quách Cảnh Thuần viết “ táng thư”, có thể nói là căn cơ của địa học. Đến Dương Quân Tùng thời Đường viết “thanh nang áo ngữ”, “ thiên ngọc kinh”, “ bảo chiếu kinh”, động triệt lý âm dương. Tăng Cầu Kỷ được chân truyền của Dương Công viết “thanh nang tự” dĩ minh huyền không đại quái chính quyết. Đến cuối thời Minh Tưởng Đại Hồng được Vô Cực Tử chân truyền phát dương quang đại huyền không học, tạo ra cuộc bút chiến trăm năm cùng Tam Hợp, từ những cuộc bút chiến này một số bí quyết đã được tiết lộ nhưng chủ yếu chỉ là phi tinh, riêng đại quái thực sự Tưởng Đại Hồng có nói đến nhưng do dùng ẩn ngữ và rải rác trong một số tài liệu nên hầu như không ai hiểu. Đến sau này từ Dương Thủ Vạn đại sư Huyền không đại quái mới được biết đến rộng rãi. Huyền không đại quái bí bản nếu không được chân sư chỉ dẫn, dẫu đọc ngàn quyển thanh nang, tận hết sinh lực, cuối cùng cũng không có kết quả. Hà đồ tinh nghĩa: Nhất lục cộng tông: thuỷ; nhị thất đồng đạo: hoả; tam bát vi bằng: mộc; tứ cửu tác hữu: kim; ngũ thập cư trung: thổ. Hà đồ, là địa lý chi nguyên. Kỳ thực là thiên vận chi bản, sinh tử chi cơ. Thiên nhất sinh thuỷ, địa lục thành chi: Thuỷ ở bắc phương, nên thiên nhất tại bắc, địa lục cũng tại bắc. Nhất sinh nhất thành, tương vi kinh vĩ. Thiên nhất đương lệnh là chính thần, tức lấy địa lục cũng là chính thần hỗ trợ. Địa lục đương lệnh là chính thần, tức lấy thiên nhất cũng là chính thần hỗ trợ. Lấy lạc thư phương vị đối diện là cửu, tứ làm linh thần. Xưng là nhất lục cộng tông. Địa nhị sinh hoả, thiên thất thành chi: Hoả tại nam phương, nên địa chi nhị tại nam, tức thiên chi thất cũng tại nam, địa nhị đương lệnh là chính thần, tức lấy thiên thất cũng là chính thần hỗ trợ. Thiên thất đương lệnh là chính thần, tức lấy địa nhị cũng là chính thần hỗ trợ. Lấy lạc thư phương vị đối diện là bát, tam làm linh thần, xưng là nhị thất đồng đạo. Thiên tam sinh mộc, địa bát thành chi: Mộc tại đông phương, nên thiên tam tại đông. Địa bát cũng tại đông, thiên tam đương lệnh là chính thần, tức lấy địa bát cũng là chính thần hỗ trợ. Địa bát đương lệnh là chính thần, tức lấy thiên tam cũng là chính thần hỗ trợ. Lấy lạc thư phương vị đối diện là thất, nhị làm linh thần, xưng là tam bát vi bằng. Địa tứ sinh kim, thiên cửu thành chi: Kim tại tây phương, nên địa tứ tại tây, thiên cửu cùng tại tây. Địa tứ đương lệnh là chính thần, tức lấy thiên cửu cũng là chính thần hỗ trợ. Thiên cửu đương lệnh là chính thần, tức lấy địa tứ cũng là chính thần hỗ trợ. Lấy lạc thư phương vị đối diện là nhất, lục làm linh thần, xưng là tứ cửu vi hữu. Thiên ngũ sinh thổ, địa thập thành chi: Thổ cư trung ương, nên thiên ngũ tại trung địa, thập cũng tại trung, là hoàng cực. Ngũ thập ký gởi tứ phương bát khí, xưng là ngũ thập đồng đồ. Hà đồ có lý khí, nhưng không phương vị. Có thể nhưng không dụng, cần Lạc thư phương vị để dùng. Cái tam nguyên khí vận, chính là bản chất hà đồ. Thiên nhất, địa nhị, thiên tam, là thượng nguyên. Địa tứ, thiên ngũ, địa lục, là trung nguyên. Thiên thất, địa bát, thiên cửu, là hạ nguyên. Riêng địa thập với thiên ngũ đồng tại trung nguyên. Lạc thư tinh nghĩa Đới cửu lý nhất. Tả tam hữu thất. Nhị tứ vi kiên. Lục bát vi túc. Ngũ vị cư trung. Cửu nhất hợp thập. Tam thất hợp thập. Nhị bát hợp thập. Lục tứ hợp thập. Lạc thư chi văn, là hà đồ chi số, tương quan với nhau. Có hà đồ mà không có lạc thư, tức có thể mà vô dụng. Có lạc thư mà không có hà đồ, tức có dụng mà không thể. Cái luận tam nguyên khí vận, là bản chất hà đồ. Luận tam nguyên phương vị, không thể nói ngoài lạc thư. Địa số cư tứ ngung, thiên số cư tứ chính, nhất sinh nhất thành, gọi là kinh vĩ. Nhất âm nhất dương, gọi là giao cấu. Cửu trù tòng thử sinh, cửu cung tòng thử phối, cửu tinh tòng thử ai, là kinh văn ngàn năm không đổi. Thiên nhất sinh thuỷ, bắc phương thiên nhất, thượng nguyên đệ nhất vận. Bắc phương chi thuỷ không thể tự sinh, tất cần nam phương thiên cửu chi kim hỗ sinh. Địa lục thành chi, nên tây bắc địa lục là chiếu thần. Địa nhị sinh hoả, tây nam địa nhị, thượng nguyên đệ nhị vận. Tây Nam phương hoả không thể tự sinh, tất cần cấn phương địa bát chi mộc hỗ sinh. Thiên thất thành chi, nên tây phương thiên thất là chiếu thần. Thiên tam sinh mộc, chính đông thiên tam, thượng nguyên đệ tam vận. Đông phương mộc sinh hoả, nên dụng tây phương thiên thất chi hoả để dưỡng chi. Địa bát thành chi, nên đông bắc địa bát là chiếu thần. Địa tứ sinh kim, đông nam địa tứ, trung nguyên thủ vận. Đông Nam kim sinh thuỷ, nên dụng tây bắc địa lục chi thuỷ để dưỡng chi. Thiên cửu thành chi, nên ly phương chi thiên cửu là chiếu thần. Ngũ thập ở trung ương ký gởi tứ phương bát khi nên không luận. Địa lục thành chi, Tây bắc phương địa lục, trung nguyên vận cuối. Thuỷ không thể tự sinh, tất dụng tốn phương địa tứ kim để sinh, khảm phương thiên nhất là chiếu thần. Thiên thất thành chi, Tây phương thiên thất, hạ nguyên đệ nhất vận. Hoả bất năng tự sinh, tất cần đông phương thiên tam chi mộc hỗ sinh. Địa nhị sinh hoả, nên khôn phương địa nhị là chiếu thần. Địa bát thành chi, Đông bắc phương địa bát, hạ nguyên đệ nhị vận. Mộc năng sinh hoả, nên dụng tây nam địa nhị chi hoả để dưỡng chi. Thiên tam sinh mộc, nên đông phương tam mộc là chiếu thần. Thiên cửu thành chi, Nam phương thiên cửu, hạ nguyên đệ tam vận. Kim năng sinh thuỷ. Nên dụng bắc phương thiên nhất chi thuỷ để dưỡng chi. Địa tứ sinh kim, nên đông nam địa tứ là chiếu thần. Đại để tứ sinh tứ thành nói sâu xa là ngũ hành tương sinh chi thể, nói gần hơn là bát quái điên đảo chi dụng. Cái tam nguyên phương vị, là bản thể lạc thư. Nói Lạc thư thực ra cũng không ngoài nghĩa Hà đồ. Tiên hậu thiên quái tinh nghĩa Tiên thiên bát quái, là lý khí của hà đồ. Hậu thiên bát quái, là phương vị của Lạc thư. Tiên hậu tương giao là dụng, là tử sinh hoạ phúc chi đạo. Phân Tiên thiên tứ dương quái thành thượng nguyên: Thượng nguyên nhất bạch khảm quái đương lệnh, tất cần thu ly phương thuỷ, ly tiên thiên là kiền. Nhất lục cộng tông, nên lục bạch kiền là chiếu thần. Thượng nguyên nhị hắc khôn quái đương lệnh, tất cần thu cấn phương thuỷ. Cấn tiên thiên là chấn. Nhị thất đồng đạo, nên thất xích đoài là chiếu thần. Thượng nguyên tam bích chấn quái đương lệnh, tất cần thu đoài phương thuỷ. Đoài tiên thiên là khảm. Tam bát vi bằng, nên bát bạch cấn là chiếu thần. Trung nguyên tứ lục tốn quái đương lệnh, tất cần thu kiền phương thuỷ. Kiền tiên thiên là cấn. Tứ cửu vi hữu, nên cửu tử ly là chiếu thần. Phân tiên thiên tứ âm quái thành hạ nguyên: Trung nguyên lục bạch kiền quái đương lệnh, tất cần thu tốn phương thuỷ. Tốn tiên thiên là đoài. Nhất lục cộng tông, nên nhất bạch khảm là chiếu thần. Hạ nguyên thất xích đoài quái đương lệnh, tất cần thu chấn phương thuỷ, chấn tiên thiên là ly. Nhị thất đồng đạo, nên nhị hắc khôn là chiếu thần. Hạ nguyên bát bạch cấn quái đương lệnh, tất cần thu khôn phương thuỷ, khôn tiên thiên là tốn. Tam bát vi bằng, nên tam bích chấn là chiếu thần. Hạ nguyên cửu tử ly quái đương lệnh, tất cần thu khảm phương thuỷ, khảm tiên thiên là khôn. Tứ cửu vi hữu, nên tứ lục tốn là chiếu thần. Thiên kinh tam quyết, là bí mật thiên địa, bí mật của huyền không đại quái. Dương, Tăng, Tưởng không tiết lộ cũng do câu “thiên cơ” ràng buộc. Người có duyên học được không nên khinh suất xem thường, không dùng bừa khi chưa hiểu hết. 2. Huyền không đại quái ai tinh chân quyết Huyền không đại quái xem “thể dụng làm trọng, hình khí tương hợp” là thiên cổ công thức. Hình, chỉ loan đầu hình thế. Khí, chỉ ai tinh lý khí. Nhất loan đầu; nhị lý khí. Loan đầu là thể, lý khí là dụng, cả hai không thể thiếu một. Loan đầu luận long, huyệt, sa, thuỷ, sát sinh khí thể; lý khí nói nguyên vận, linh chính, nhân sự hưng phế. Huyền không hai chữ, hàm nghĩa số từ 1 đến 9, ý chỉ nguyên vận, điên đảo thuận nghịch huyền cơ. Bí bản viết: “tam nguyên nhất thư, áo diệu vô cùng. Tông quán thiên địa vạn vật, giai lại ngũ hành dĩ thành bại; vượng tướng hưu tù, giai lại tam nguyên dĩ vận hành.” “ thanh nang áo ngữ” viết:“ khôn nhâm ất, cự môn tòng đầu xuất. Cấn bính tân, vị vị thị phá quân. Tốn thìn hợi, tẫn thị vũ khúc vị. Giáp quý thân, tham lang nhất lộ hành.” “ thiên ngọc kinh” viết: “Minh đắc linh thần dữ chính thần, chỉ nhật nhập thanh vân; bất thức linh thần dữ chính thần, đại đại tuyệt trừ căn. Phân định âm dương quy lưỡng lộ, thuận nghịch thôi bài khứ, tri sinh tri tử diệc tri bần, lưu thủ giao nhi tốn.” Lại viết: “thức đắc âm dương lưỡng lộ hành, phú quý đạt kinh thành, bất thức âm dương lưỡng lộ hành, vạn trượng hoả khanh thâm.” “ thanh nang tự” viết: “Sơn thượng long thần bất hạ thuỷ, thuỷ lý long thần bất thượng sơn. Sơn quản sơn hề thuỷ quản thuỷ, thử thị âm dương bất đãi ngôn. Thức đắc âm dương huyền diệu lý, tri kỳ thôi vượng sinh dữ tử. Bất vấn toạ sơn dữ lai thuỷ, đãn phùng tử khí giai vô thủ.” Huyền không đại quái lấy Thái cực, hà lạc, tiên hậu thiên bát quái làm lý luận căn cơ. Thuật thư hùng, kim long, thành môn là chân chính khái niệm, giảng rõ điên đảo thuận nghịch, lập hướng nạp thuỷ, thâu sơn xuất sát. Do nhị thập tứ sơn trừu hào hoán tượng, tuỳ nguyên vận, phân âm dương, nhập trung cung, hoặc thuận hoặc nghịch, gọi là ai tinh. Không luận thuận ai hoặc nghịch phi, đại đạo chí đơn giản, chỉ một bàn là thành; Ở tại gia trung, biết sơn hướng, biết thuỷ khẩu, tức tốc đoán xuất cát hung hoạ phúc cho người. Ai Tinh Chân Quyết Giáp quý thân, tham lang nhất lộ hành; khôn nhâm ất, cự môn tòng đầu xuất; Tý mão mùi, tam bích lộc tồn đáo; tuất kiền tỵ, tứ lục văn khúc chiếu; Thìn tốn hợi, tận thị vũ khúc vị; cấn bính tân, vị vị thị phá quân; Dần canh đinh, nhất lệ tả phụ tinh; ngọ dậu sửu, cửu tử hữu bật thủ. (Lời bàn thêm của Nam Phong ở phần này: Ai tinh chân quyết đã được Nam Phong so sánh với Thư hùng giao cấu đồ và Tiên thiên nguyên vận đồ, tất cả đều chuẩn xác. Đây là từ phép biến quẻ Tiên thiên mà ra, 8 quái tiên thiên lần lượt biến thượng, trung, sơ hào mà sinh 24 sao trên 24 sơn như trên. Tuy nhiên riêng 4 sơn Kiền, Hợi, Tốn, Tị lại không theo quy tắc đó, đây là một bí mật chưa có lời giải.) 3. La bàn nhị thập tứ sơn bản sơn tinh Phương vị----------nhị thập tứ sơn----------giác độ----------bản sơn tinh ----------------------Nhâm-----------------337.6~352.5-------nhị hắc cự môn 2 Chính bắc----------tý----------------------352.6~22.5--------tam bích lộc tồn 3 ----------------------Quý-------------------7.6~22.5-----------nhất bạch tham lang 1 ----------------------Sửu-------------------22.6~37.5----------cửu tử hữu bật 9 Đông bắc-----------cấn-------------------376~52.5-----------thất xích phá quân 7 ----------------------Dần-------------------52.6~67.5----------bát bạch tả phụ 8 ----------------------Giáp------------------67.6~82.5----------nhất bạch tham lang 1 Chính đông--------mão-------------------82.6~97.5----------tam bích lộc tồn 3 ---------------------Ất----------------------97.6~112.5--------nhị hắc cự môn 2 ---------------------Thìn-------------------112.6~127.5-------lục bạch vũ khúc 6 Đông nam---------tốn---------------------127.6~142.5------lục bạch vũ khúc 6 ---------------------Tỵ---------------------142.6~157.5-------tứ lục văn khúc 4 ---------------------Bính------------------157.6~172.5-------thất xích phá quân 7 Chính nam--------ngọ--------------------172.6~187.5------cửu tử hữu bật 9 ---------------------Đinh------------------187.6~202.5------bát bạch tả phụ 8 ---------------------Mùi-------------------202.6~217.5------tam bích lộc tồn 3 Tây nam-----------khôn-----------------217~232.5---------nhị hắc cự môn 2 ---------------------Thân-----------------232.6~247.5-------nhất bạch tham lang 1 ---------------------Canh-----------------247.6~262.5-------bát bạch tả phụ 8 Chính tây---------dậu-------------------262.6~277.5-------cửu tử hữu bật 9 --------------------Tân-------------------277.6~292.5-------thất xích phá quân 7 --------------------Tuất------------------292.6~307.5-------tứ lục văn khúc 4 Tây bắc----------kiền------------------307.6~322.5--------tứ lục văn khúc 4 --------------------Hợi------------------322.6~337.5--------lục bạch vũ khúc 6 4. Huyền không đại quái ai tinh pháp tường giải Huyền không đại quái luận nguyên vận chia làm thượng nguyên và hạ nguyên (thượng hạ nhị nguyên bát vận). Tam nguyên chia thành nhị nguyên. Thượng nguyên gồm 1, 2, 3,4, hạ nguyên gồm 6, 7, 8, 9. vận 5 10 năm đầu do vận 4 quản, 10 năm sau do vận 6 quản (ngũ hoàng tiền 10 niên quy vận 4, hậu 10 niên quy vận 6) kỳ thực cũng chính là tam nguyên cửu vận, chỉ bất quá đem ngũ vận chia đôi, nửa trước thuộc thượng nguyên, nửa sau thuộc hạ nguyên. “thanh nang tam tự kinh” viết: “đại huyền không, dụng cửu tinh”. Tức dùng cửu tinh thuận nghịch ai mà luận cát hung mộ trạch. Huyền không đại quái tại thượng hạ nguyên vận dụng tinh không giống nhau, cửu tinh chia hai lộ âm dương, dương thuận âm nghịch. Tức dương nhất lộ, âm nhất lộ. Huyền không đại quái ai tinh âm dương nhị trạch dụng tinh không giống nhau. Dương trạch với âm trạch ai tinh hai cách cần phân biệt rõ, không thể lẫn lộn. Nhị thập tứ sơn ai tinh, chỉ dùng ai tinh chân quyết bên trên mà lập tinh bàn, dương trạch nhập trung bài tinh bàn, ai tinh dùng bản sơn tinh; âm trạch nhập trung bài tinh bàn, ai tinh dùng phụ mẫu tinh. Phụ mẫu tinh do bản sơn tinh nghịch kinh tứ vị (987654321←) mà ra. Tinh tuỳ thượng hạ nguyên vận mà thuận phi hoặc nghịch phi, nên nói điên điên đảo, thuận nghịch hành. Ai tinh chân quyết bản sơn tinh (dương trạch) Toạ giáp quý thân sơn, tham lang nhất lộ hành; nhất bạch là bản sơn tinh, thượng nguyên dùng nhất bạch nhập trung thuận hành, hạ nguyên nhất bạch nhập trung nghịch hành. Toạ khôn nhâm ất sơn, cự môn tòng đầu xuất; nhị hắc là bản sơn tinh, thượng nguyên dùng nhị hắc nhập trung thuận hành, hạ nguyên nhị hắc nhập trung nghịch hành. Toạ tý mão mùi sơn, tam bích lộc tồn đáo; tam bích là bản sơn tinh, thượng nguyên dùng tam bích nhập trung thuận hành, hạ nguyên tam bích nhập trung nghịch hành. Toạ tuất kiền tỵ sơn, tứ lục văn khúc chiếu; tứ lục là bản sơn tinh, thượng nguyên dùng tứ lục nhập trung thuận hành, hạ nguyên tứ lục nhập trung nghịch hành. Toạ thìn tốn hợi sơn, lục bạch vũ khúc vị, lục bạch là bản sơn tinh, thượng nguyên dùng lục bạch nhập trung nghịch hành. Hạ nguyên lục bạch nhập trung thuận hành. Toạ cấn bính tân sơn, thất xích thị phá quân; thất xích là bản sơn tinh, thượng nguyên dùng thất xích nhập trung nghịch hành. Hạ nguyên thất xích nhập trung thuận hành. Toạ dần canh đinh sơn, bát bạch tả phụ ứng; bát bạch là bản sơn tinh, thượng nguyên dùng bát bạch nhập trung nghịch hành. Hạ nguyên bát bạch nhập trung thuận hành. Toạ ngọ dậu sửu sơn, cửu tử hữu bật tinh. Cửu tử là bản sơn tinh, thượng nguyên dùng cửu tử nhập trung nghịch hành. Hạ nguyên cửu tử nhập trung thuận hành. Ai tinh chân quyết phụ mẫu tinh (âm trạch) (1) thất xích là nhất bạch phụ mẫu tinh (1→7), thượng nguyên dùng thất xích nhập trung nghịch hành. Hạ nguyên thất xích nhập trung thuận hành. Bát bạch là nhị hắc phụ mẫu tinh (2→8), thượng nguyên dùng bát bạch nhập trung nghịch hành. Hạ nguyên bát bạch nhập trung thuận hành. Cửu tử là tam bích phụ mẫu tinh (3→9), thượng nguyên dùng cửu tử nhập trung nghịch hành. Hạ nguyên cửu tử nhập trung thuận hành. Nhất bạch là tứ lục phụ mẫu tinh (4→1), thượng nguyên dùng nhất bạch nhập trung thuận hành, hạ nguyên nhất bạch nhập trung nghịch hành. Nhị hắc là ngũ hoàng phụ mẫu tinh (5→2), thượng nguyên dùng nhị hắc nhập trung thuận hành, hạ nguyên nhị hắc nhập trung nghịch hành. Tam bích là lục bạch phụ mẫu tinh (6→3), thượng nguyên dùng tam bích nhập trung thuận hành, hạ nguyên tam bích nhập trung nghịch hành. Tứ lục là thất xích phụ mẫu tinh (7→4), thượng nguyên dùng tứ lục nhập trung thuận hành, hạ nguyên tứ lục nhập trung nghịch hành. Ngũ hoàng là bát bạch phụ mẫu tinh (8→5), thượng nguyên dùng ngũ hoàng nhập trung thuận hành, hạ nguyên ngũ hoàng nhập trung nghịch hành. Lục bạch là cửu tử phụ mẫu tinh (9→6), thượng nguyên dùng lục bạch nhập trung nghịch hành. Hạ nguyên lục bạch nhập trung thuận hành. Huyền không đại quái ai tinh chỉ lấy toạ sơn (24 sơn) ai tinh nhập trung phi tinh, từ đó luận bát phương linh chính cát hung; cùng một sơn hướng thượng hạ nguyên vận bài bàn không giống nhau. Không có vận tinh, hướng tinh nhập trung. Cứ toạ sơn ai tinh là 1,2,3,4, ở thượng nguyên vận sẽ thuận phi cửu cung, hạ nguyên vận sẽ nghịch phi cửu cung. (1,2,3,4 thượng thuận hạ nghịch) Cứ toạ sơn ai tinh là 6,7,8,9, ở thượng nguyên vận sẽ nghịch phi cửu cung, hạ nguyên vận sẽ thuận phi cửu cung. (6,7,8,9 thượng nghịch hạ thuận) Âm dương hai trạch cửu cung theo thứ tự lạc thư(trung ngũ→ lục→ thất→ bát→ cửu→ nhất→ nhị→ tam→ tứ cung) ai bài, các cung phi đáo tại thượng nguyên hoặc hạ nguyên 90 năm không thay đổi. Sơn hướng bất biến thì tinh nhập trung vĩnh viễn bất biến, chỉ theo nguyên vận mà thay đổi thuận nghịch nên Nguyên không có nói “Ai tinh thượng hành đảo bài 9 cung” là ý như vậy. Ví dụ: dương trạch dần sơn thân hướng, dần canh đinh tam sơn bản sơn tinh là bát bạch, tức dùng bát bạch tinh nhập trung. Không luận tại thượng nguyên hoặc hạ nguyên xây cất, cứ theo nguyên vận hiện tại, nếu là thượng nguyên dùng bát bạch tinh nhập trung nghịch hành bài bàn, nếu là hạ nguyên bát bạch nhập trung thuận hành bài bàn. Thượng nguyên bài bàn nghịch hành ai tinh: 9---4---2 1---8---6 5---3---7 Hạ nguyên bài bàn thuận hành ai tinh: 7---3---5 6---8---1 2---4---9 Hợp cục pháp tắc: Huyền không đại quái lấy hợp cục pháp tắc làm trọng(chính thần chính vị trang, bát thuỷ nhập linh đường). Ở nơi chính thần, linh thần đóng tất cần địa thế phù hợp, chính là nói hình khí phối hợp. Nếu như phạm nhằm linh chính điên đảo, bài bàn tính toán lý khí cũng chỉ là uổng phí mà thôi. Thượng nguyên lấy 1,2,3,4 làm chính thần, những nơi này cần cao, lai thuỷ, lai phong, lai khí; 6,7,8,9 làm linh thần, nhưng nơi này cần không(trống), xuất thuỷ, xuất phong, xuất khí. Hạ nguyên lấy 6,7,8,9 làm chính thần, những nơi này cần cao, lai thuỷ, lai phong, lai khí; 1,2,3,4 làm linh thần, nhưng nơi này cần không(trống), xuất thuỷ, xuất phong, xuất khí. Sơn thuỷ hình thế-lý khí hợp cục chính như câu “thuỷ lý long thần bất thượng sơn, sơn thượng long thần bất hạ thuỷ”, nếu không hợp hình cục, đừng luận ai tinh làm gì. Các cung cửu tinh cát hung, theo hợp cục pháp tắc mà đoán. Ai tinh cửu tinh bản thân tinh không cát không hung, cát hung kết quả hoàn toàn ở căn cứ hợp cục(chính thần chính vị trang, bát thuỷ nhập linh đường) hoặc phản cục (thượng sơn hạ thuỷ) mà luận định. Muốn hiểu cát hung ứng tại người nào, việc gì… cần dùng cửu tinh phối với hình tượng hoàn cảnh mà phân tích. (phần này còn: Đại quái linh chính điên đảo Đại quái định cục bí mã) Nguồn:HuyềnKhongLySo.com
-
Sách: Uyên Hải Tử Bình -Chương 4- Ngũ hành vượng khí: Kim vượng đắc Hỏa,phương thành khí mãnh (thí dụ Canh Tân trong mùa Thu là vượng khí, cần có Hỏa mới được luyện thành đồ dùng, ý là thành danh) Hỏa vượng đắc Thủy,phương thành tương tể (Bính Đinh vượng cần có Thủy mới nên công nên việc, có nghĩa là cần được chế hãm bớt sức mạnh để không quá kiêu căng) Thủy vượng đắc Thổ,phương thành trì chiểu (Nhâm Quý mùa đông cần có Thổ ngăn lại thành ao hồ, không thì trôi chảy không có bến bờ vô định) Thổ vượng đắc Mộc,phương năng sơ thông (Mậu Kỷ cần Mộc chế bớt thì mới mong hiển đạt) Mộc vượng đắc Kim,phương thành đống lương (Giáp Ất cần có Kim bao bọc, tài năng phi thường) Cường Kim đắc Thủy,phương tỏa kì phong (khí thế dữ dội, biến trá ghê gớm) Cường Thủy đắc mộc,phương tiết kì thế (hành động, thế lực vô song) Cường Mộc đắc Hỏa,phương hóa kì ngoan (làm càn bậy, tham lam, chơi đùa quá mức) Cường Hỏa đắc Thổ,phương chỉ kì diễm (lửa cháy cao, khí thế nồng nàn) Cường thổ đắc Kim,phương chế kì hại (gặp tai hại, bị ghen ghét) Ngũ hành tương sanh Kim lại Thổ sanh,thổ đa kim mai (Kim nhờ Thổ sinh cho nhưng Thổ nhiều quá thì Kim bị vùi lấp trở thành ngu muội) Thổ lại Hỏa sanh,hỏa đa thổ tiêu (Thổ là con của Hỏa, nhưng hỏa nhiều thì thổ bị cháy khét) Hỏa lại Mộc sanh,mộc đa hỏa sí (Mộc nhiều thì hỏa càng cháy lớn; ý nói đạo tặc thêm mạnh) Mộc lại Thủy sanh,thủy đa mộc phiêu (Mộc là do Thủy sinh, nhưng thủy quá nhiều thì mộc trôi) Thủy lại Kim sanh,kim đa thủy trọc (Thủy nhờ Kim sinh, nhưng Kim nhiều thì nước không trong, thủy đục) Kim năng sanh Thủy,thủy đa kim trầm (Thủy nhiều Kim chìm đắm sâu dưới nước) Thủy năng sanh mộc,mộc thịnh thủy súc (Mộc quá thịnh thì thủy co rút lại, hình thể tiêu tàn) Mộc năng sanh Hỏa,hỏa đa mộc phần (Hỏa nhiều Mộc cháy khét) Hỏa năng sanh Thổ,thổ đa hỏa mai (Thổ nhiều hỏa bị chôn vùi) Thổ năng sanh Kim,kim đa thổ biến (Kim nhiều Thổ biến đổi hình dạng) Ngũ hành tương khắc Kim năng khắc mộc,mộc kiên kim khuyết (Kim khắc Mộc nhưng mộc cứng quá thì kim sứt mẻ) Mộc năng khắc thổ,thổ trọng mộc chiết (Mộc đi khắc Thổ nhưng thổ quá nặng thì mộc gẫy) Thổ năng khắc thủy,thủy đa thổ lưu (Thổ khắc Thủy nhưng nếu thủy lại quá nhiều thổ sẽ trôi giạt, như đất bùn) Thủy năng khắc Hỏa,hỏa đa thủy nhiệt (Thủy đi diệt Hỏa nhưng gặp hỏa mạnh thì thủy nóng sốt, ý nói mất cả bản chất lạnh của thủy) Hỏa năng khắc Kim,kim đa hỏa tức (Hỏa khắc Kim nhưng kim nhiều hơn thì hỏa tắt; ý nói mất tích hay bị tiêu mòn) Kim suy ngộ Hỏa,tất kiến tiêu dong (Kim đang suy mà gặp Hỏa sẽ bị tiêu tan) Hỏa nhược phùng Thủy,tất vi tức diệt (Hỏa yếu gặp thủy tất nhiên là tắt) Thủy nhược phùng thổ,tất vi ứ tắc (Thủy ít mà Thổ nhiều là bế tắc) Thổ suy ngộ Mộc,tất tao khuynh hãm (Thổ suy gặp mộc sẽ bị vùi lấp, hãm hại) Mộc nhược phùng kim,tất vi khảm chiết (Mộc đã yếu lại gặp kim thì gãy nát) Sách "Tích Thiên Tủy" cũng nói đến sự cân bằng cần thiết của ngũ hành: - Thổ sinh Kim, nhưng trong mùa Hạ hành Thổ táo khô, cần phải có Thủy nhuận thì Thổ mới sinh Kim được. - Kim sinh Thủy, nhưng cuối Thu sang mùa Đông hàn lạnh, chi Kim thành đống băng nên không thể sinh Thủy được, cần phải có Hỏa ôn. - Mộc sinh Hỏa, mùa Xuân cường tráng, cũng cần có Thủy nhuận có căn là mộc hỏa vừa phải không phát tán khí lực quá sớm. - Thủy sinh Mộc, nếu hàn đóng băng thành đống, thủy chẳng sinh được cho Mộc, cần Hỏa cho Mộc được tiết khí thì mới phồn vinh. Tức là về thể chất mà nói thì Hạ lệnh không thể không có Thủy, Đông lệnh không thể không có Hỏa. Vì thế mới nói rằng, Sinh chẳng phải là Sinh, Khắc Tiết cũng là Sinh. Cần phải tỏ rõ sinh vượng khắc chế là nắm được cơ bản của sự vận động ngũ hành. Nguồn:Huyenkhonglyso.com
-
Chào chị Crescent. Sức khỏe chị dạo này có thay đổi đột ngột và khó ngũ từ khi chị biết tin có em bé phải không ? Vợ em lúc trước mang thai củng có tình trạng như chị lúc bấy giờ, thường thì khó ngũ khoảng 3 tháng đầu, dần dần mới đỡ hơn, 1 phần nữa là có thể do phòng bị bế khí gây nên tình trạng này, người ngũ thường ngũ rất say, sáng dậy cảm thấy mệt mỏi, nếu ở trên lầu có tình trạng này thì do cầu thang bị thoái khí.
-
Lời dẫn: Huyền không phái Trung Châu mỗi đời chỉ truyền một đệ tử, từ Vương Đình Chi tiên sinh công khai thu nhận 40 đệ tử mà thuật phong thủy của phái mới được biết đến rộng rãi. Huyền không Trung Châu phối hợp cả loan đầu và lý khí, trong lý luận không xem nhẹ bên nào, chỉ loan đầu thôi tức có thể xác mà không có hồn, chỉ lý khí tức có hồn mà không thể xác. Trong cả hai trường hợp đều không dùng được, chỉ là nói suông mà thôi. Huyền là thời gian, không là không gian. Huyền không tức mối liên quan giữa thời gian và không gian vậy. Dưới đây là phần căn bản của Trung Châu huyền không lý khí, trong quá trình viết có thể những mục bên dưới sẽ được bổ sung thêm các phần liên quan cho hoàn chỉnh thêm, mỗi lần có bổ sung Nam Phong sẽ thêm bên dưới các đề mục này. Phần 1 Huyền không lý khí nhập môn hậu thiên cấp số hợp tiên thiên, bát quái cửu tinh nhất khí liên, tứ tượng trung ương quy bản vị, ngũ hành nội ngoại các hoàn nguyên, 1. cửu vận suy vượng luận sinh tử: 2. hạ quái và kiêm quái tinh bàn cách cục Điên điên đảo đảo địa phiên thiên, khí vận tuần hoàn lục thập niên, châu bảo hoả khanh phân đối diện, hoả khanh châu bảo cận thân biên, thế tinh chỉ dụng thập tam tinh , khước dụng tham lang phôi giáp thân . dụng thế cự môn nhâm mão ất , sửu cấn bính sơn thế phá quân . tốn quái tam sơn giai vũ khúc , canh dần hữu bật lưỡng tinh lâm dương thuận âm nghịch cách nhất vị , thị vi không vị kị lưu thần 3. hình lý phối hợp Kiền khôn biến hoá dịch môn khai, thiên địa nhân thông nhiệm vãng lai, cửu trực cửu hoành phân cửu diệu , tam kinh tam vĩ hợp tam tài, 4. thất tinh đả kiếp phân chân giả Thất tinh đả kiếp thiểu nhân tri, diệu nghĩa chung quy lưỡng ngộ thời, hoạ phúc quân phân bằng thiện ác, cát hung phán đoán hữu công tư, Ly cung tương hợp thuyết quân tri, lưỡng cá kim tinh tính thể thời, tế biện âm dương phân thuận nghịch, tường suy thiên địa hợp can chi, 5. thức đắc phụ mẫu tam ban quái ,dĩ thị chân thần lộ 6. liên châu cục 7. luận phục ngâm 8. luận phản ngâm 9. lưu thần ---dương thuận âm nghịch cách nhất vị 10. linh thần 、chính thần tương đắc Âm dương nhị tự lưỡng tinh thần, long thuỷ tương giao lý khí chân, khảm vị sinh lai vi chính hướng, ly cung khắc nhập thị linh thần, 11. âm dương tương đối ,toạ hướng hợp thập 12. thành môn nhất quyết tối vi lương 13. lệnh tinh nhập tù 14. ngũ vận trung bát thuần quái Phần 2 Trung Châu tam quyết 1. An tinh quyết 2. Bài long quyết 3. Thu sơn xuất sát quyết 1. cửu vận suy vượng luận sinh tử: Cửu tinh sinh vượng suy tử: Lập tinh bàn điều quan trọng trước hết là phải nhận biết sinh vượng suy tử của cửu tinh. Huyền không dùng 20 năm làm một vận, 3 vận tức 60 năm làm một nguyên, 9 vận cộng thành 3 nguyên. Hiện nay là vận 8 từ năm 2004 đến năm 2024, vận 8 thì Bát bạch Tả phụ là vượng tinh, cửu tử là sinh khí tinh. Vượng tinh của 9 vận liệt kê như bên dưới: nhất vận nhất bạch tham lang là vượng tinh nhị vận nhị hắc cự môn là vượng tinh tam vận tam bích lộc tồn là vượng tinh tứ vận tứ lục văn khúc là vượng tinh ngũ vận ngũ hoàng liêm trinh là vượng tinh lục vận lục bạch võ khúc là vượng tinh thất vận thất xích phá quân là vượng tinh bát vận bát bạch tả phụ là vượng tinh cửu vận cửu tử hữu bẫn là vượng tinh Sao đương vận là vượng tinh, 2 sao kế tiếp là sinh khí tinh, như vận 8 dùng cửu tử và nhất bạch; vận 9 dùng nhất bạch và nhị hắc. Tuy nhiên phải chú ý sự sinh khắc của vận tinh và sinh khí tinh. Như vận 8 dùng cửu tử thì tương sinh, dùng nhất bạch thì tương khắc. Như vận 9 dùng nhất bạch là tương khắc, các vận khác cũng suy như vậy. Luận sinh khí tinh như vận 8 dùng cửu tử thì tốt vì được sinh nhập, dùng nhất bạch lại không bằng do vừa là sao sinh khí xa vừa khắc xuất với sao đương vận. Có sinh vượng tất có suy tử, tại vận 8 thất xích là sao thoái khí, vô cát vô hung, các sao xa khác như lục bạch, ngũ hoàng, tứ lục, tam bích, nhị hắc là sao suy tử. Chú ý rằng sao thoái khí tuy tạm thời vô cát vô hung nhưng nếu hình thế tại nơi nó đóng xấu thì sẽ khởi phát hung tính và sao chuyển thành hung. Huyền không luận cát hung chủ yếu ở cửu tinh sinh vượng suy tử, âm đương hai trạch như nhau, cần tìm nơi sinh vượng khí để dùng, tránh nơi suy tử, là nguyên tắc chính. Cụ thể vận dụng thì âm dương hai trạch có những điểm không giống nhau. Khẩu quyết về định sinh vượng suy tử của cửu tinh: “đang vận giả vượng, tướng lai giả sinh. kỉ quá giả suy, cửu quá giả tử .” Tiên thiên hậu thiên hỗ dụng Phần trên trình bày thì cửu tinh mỗi vận chỉ dùng được nhiều lắm là tam tinh, riêng thoái khí tinh nếu ở tình thế chẳng thể khác cũng có thể miễn cưỡng mà dùng. Trung Châu Huyền không dụng tinh không chỉ bấy nhiêu đó mà xem cụ thể vấn đề tiên thiên hậu thiên hỗ trợ với nhau mà dụng tinh “tiên thiên, hậu thiên bát quái phương vị tác vi biến thông chi đạo lai thủ dụng” như sau: Như hiện nay vận 8 vượng tinh là Bát bạch tại hậu thiên Cấn cung, Cấn cung hậu thiên tại tiên thiên là Chấn nên Tam bích cùng Bát bạch là thông khí tinh, Cấn cung tiên thiên tại hậu thiên là Càn nên Lục bạch cùng Bát bạch là thông khí tinh. Nên vận 8 ngoài các sao Bát bạch, Cửu tử, Nhất bạch, Thất xích thì khi phối hợp dùng tinh thông khí thì Tam bích và Lục bạch đều nên dùng. Nên nhớ khi dùng các tinh thông khí thì phải kết hợp với sao nguyên vận, không dùng các sao thông khí một cách riêng lẻ được. Các vận khác cũng theo như thế. Để các bạn đỡ mất thời gian tôi đã tính sẵn các Nguyên vận Tiên thiên Hậu thiên đối ứng thông khí như sau: nhất vận: 1 thông cùng 2,7 nhị vận: 2 thông cùng 1,4 tam vận: 3 thông cùng 8,9 tứ vận: 4 thông cùng 2,7 ngũ vận: 5 thông cùng 2,8(vì Ngũ hoàng ký thác nơi Khôn Cấn) lục vận: 6 thông cùng 8,9 thất vận: 7 thông cùng 1,4 bát vận: 8 thông cùng 3,6 cửu vận: 9 thông cùng 3,6 Để cửu tinh sinh vượng phát huy được mức tối đa thì nên chú ý vấn đề sinh khắc. Như phòng ốc thì chọn nơi sơn tinh sinh vượng nhưng phải chú ý không nên để hướng tinh khắc sát sơn tinh, nếu khắc sát thì vượng tinh sơn khó phát huy được tác dụng cao. Làm cửa đường đi thì chọn nơi sinh vượng của hướng tinh nhưng phải chú ý không nên để sơn tinh khắc sát hướng tinh, nếu khắc sát thì vượng tinh hướng khó phát huy tác dụng cao. Nếu có tình huống khắc sát xảy ra phải hóa giải, lấy câu “chế không bằng hóa” mà dùng.2. hạ quái và kiêm quái tinh bàn cách cục Điên điên đảo đảo địa phiên thiên, khí vận tuần hoàn lục thập niên, châu bảo hoả khanh phân đối diện, hoả khanh châu bảo cận thân biên, La bàn 360 độ chia ra 8 cung 24 sơn, mỗi sơn 15 độ. Tính từ trung tâm mỗi sơn qua hai bên 4,5 độ, tức 9 độ giữa mỗi sơn thì dùng Hạ quái. 6 độ còn lại của mỗi sơn(3 độ mỗi bên biên của sơn) thì dùng Thế quái(còn gọi kiêm hướng). Cụ thể nhị thập tứ sơn mỗi sơn hạ quái thế quái độ số như sau: Cung Khảm: Nhâm sơn 337.5 độ đến 352.5độ. 340.5 đến 349.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Tý sơn 352.5 độ đến 007.5độ. 355.5 đến 004.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Quý sơn 007.5 độ đến 022.5 độ. 007.5 đến 019.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Cung Cấn: Sửu sơn 022.5 độ đến 037.5 độ. 025.5 đến 034.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Cấn sơn 037.5 độ đến 052.5 độ. 040.5 đến 049.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Dần sơn 052.5 độ đến 067.5 độ. 055.5 đến 064.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Cung Chấn: Giáp sơn 067.5 độ đến 082.5 độ. 070.5 đến 079.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Mão sơn 082.5 độ đến 097.5 độ. 085.5 đến 094.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Ất sơn 097.5 độ đến 112.5 độ. 100.5 đến 109.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Cung Tốn: Thìn sơn 112.5 độ đến 127.5 độ. 115.5 đến 124.5 ñoä duøng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Tốn sơn 127.5 độ đến 142.5 độ. 130.5 đến 139.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Tị sơn 142.5 độ đến 157.5 độ. 145.5 đến 154.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Cung Ly: Bính sơn 157.5 độ đến 172.5 độ. 160.5 đến 169.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Ngọ sơn 172.5 độ đến 187.5 độ. 175.5 đến 184.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Đinh sơn 187.5 độ đến 202.5 độ. 190.5 đến 119.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Cung Khôn: Mùi sơn 202.5 độ đến 217.5 độ. 205.5 đến 214.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Khôn sơn 217.5 độ đến 232.5 độ. 220.5 đến 229.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Thân sơn 232.5 độ đến 247.5 độ. 235.5 đến 244.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Cung Đoài: Canh sơn 247.5 độ đến 262.5 độ. 250.5 đến 259.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Dậu sơn 262.5 độ đến 277.5 độ. 265.5 đến 274.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Tân sơn 277.5 độ đến 292.5 độ. 280.5 đến 289.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Cung Càn: Tuất sơn 292.5 độ đến 307.5 độ. 295.5 đến 304.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Càn sơn 307.5 độ đến 322.5 độ. 310.5 đến 319.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Hợi sơn 322.5 độ đến 337.5 độ. 325.5 đến 334.5 độ dùng hạ quái ai tinh. Hai biên 3 độ khởi thế quái ai tinh . Hạ quái tinh bàn an tinh pháp: Huyền không phong thuỷ tinh bàn bao gồm vận tinh bàn, sơn tinh bàn, hướng tinh bàn phối hợp phán đoán cát hung Vận tinh bàn: Huyền không chia 180 năm thành 3 nguyên 9 vận, mỗi vận 20 năm do một sao quản vận nhập trung cung thuận phi theo lường thiên xích gọi là vận tinh bàn. Như hiện nay thuộc về Hạ nguyên vận 8(từ 2004 đến 2024). 9 Vận tinh bàn: nhất bạch tham lang quản nhất vận, giáp tý giáp tuất 20 năm 9---5---7 8---1---3 4---6---2 nhị hắc cự môn quản nhị vận, giáp thân giáp ngọ 20 năm 1---6---8 9---2---4 5---7---3 tam bích lộc tồn quản tam vận, giáp thìn giáp dần 20 năm 2---7---9 1---3---5 6---8---4 tứ lục văn xương quản tứ vận, giáp tý giáp tuất 20 năm 3---8---1 2---4---6 7---9---5 ngũ hoàng liêm trinh quản ngũ vận, giáp thân giáp ngọ 20 năm 4---9---2 3---5---7 8---1---6 lục bạch vũ khúc quản lục vận, giáp thìn giáp dần 20 năm 5---1---3 4---6---8 9---2---7 thất xích phá quân quản thất vận, giáp tý giáp tuất 20 năm 6---2---4 5---7---9 1---3---8 bát bạch tả phụ quản bát vận, giáp thìn giáp dần 20 năm 7---3---5 6---8---1 2---4---9 cửu tử hữu bật quản cửu vận, giáp thân giáp ngọ 20 năm 8---4---6 7---9---2 3---5---1 Sơn-Hướng tinh bàn: Căn cứ vào thời gian hiện tại thuộc vận nào và sơn(phía hậu của trạch mộ), hướng do sao nào đóng mà đem hai sao ấy nhập trung cung cùng sao vận. Trung Châu Huyền không quy ước sao bên trái là sao sơn, sao bên phải là sao hướng, phân mỗi cung 3 sơn thành Địa nguyên-Thiên nguyên và Nhân nguyên đếm theo thứ tự từ bên trái qua, như cung Khảm thì sơn Nhâm là Địa, Tý là Thiên, Quý là Nhân; cung Cấn thì Sửu là Địa, Cấn là Thiên, Dần là Nhân… Dựa vào sơn hướng thuộc Địa, Thiên hay Nhân nguyên mà xem Địa, Thiên hay Nhân nguyên tương ứng của sao sơn hướng để nhận âm dương, nếu là âm thì sao sơn hoặc hướng ấy sẽ phi ngịch 9 cung(theo chiều giảm dần), nếu là dương thì sao sơn hoặc hướng ấy sẽ phi thuận 9 cung(theo chiều tăng dần như vận bàn). Thứ tự phi tinh là đầu tiên ở Trung cung->Tây Bắc->Tây->Đông Bắc->Nam->Bắc->Tây Nam->Đông->Đông Nam. Âm dương các sao: Sao 1, 3, 7, 9: Địa-Dương; Thiên,Nhân-Âm Sao 2, 4, 6, 8: Địa-Âm; Thiên, Nhân: Dương Sao 5: xem trung cung sao vận là sao nào thì lầy âm dương theo sao đó. Ví dụ vận 8 đo hướng được 176 độ, tọa sơn thuộc sơn Tý, cung Khảm; hướng thuộc sơn Ngọ, cung Ly. Vận bàn: 7---3---5 6---8---1 2---4---9 Sơn bàn: Lấy 4 là sao tọa sơn nhập trung cung, vì sơn Tý thuộc Thiên nguyên nên sao 4 lấy âm dương theo Thiên nguyên của 4 tức là dương, phi thuận: 3---8---1 2---4---6 7---9---5 Hướng bàn: Lấy 3 là sao đầu hướng nhập trung cung, vì sơn Ngọ thuộc Thiên nguyên nên sao 3 lấy âm dương theo Thiên nguyên của 3 tức là âm, phi nghịch: 4---8---6 5---3---1 9---7---2 Tổng hợp tinh bàn như sau: 174---838---156 265---483---611 729---947---592 Thế quái tinh bàn an tinh pháp: Khi sơn hướng lệch khỏi trung tâm sơn 4,5 độ thì không dùng cách khởi tinh bàn Hạ quái như bên trên mà phải dùng Thế quái: Trung Châu phái sở truyền dùng thế quái phép tắc như sau: - Trong một cung, âm kiêm âm, dương kiêm dương không dùng thế tinh, âm dương tương kiêm mới dùng thế tinh: Như cung Khảm Tý sơn với Quý sơn đồng thuộc âm, Nhâm sơn là dương. Nếu kim la bàn ở Tý nhưng lệch hơn 4,5 độ tính từ trung tâm của sơn, lệch về bên Quý sơn thì không dùng thế tinh do Tý và Quý đều là âm, vẫn dùng Hạ quái khởi tinh như bên trên. Nếu lệch về bên Nhâm sơn thì dùng thế quái do Nhâm Tý là âm dương tương kiêm. - Xuất quái phải thế, không cần xét âm dương: Như Quý sơn khi kim la bàn lệch hơn 4,5 độ tính từ trung tâm của sơn về phía bên Sửu thì dù Quý và Sửu đều là âm vẫn dùng thế tinh do Quý thuộc về Khảm, Sửu lại thuộc về Cấn. Trung Châu phái mật truyền khẩu quyết thế quái như sau: “Thế tinh chỉ dụng thập tam tinh , khước dụng tham lang phôi giáp thân . dụng thế cự môn nhâm mão ất , sửu cấn bính sơn thế phá quân . tốn quái tam sơn giai vũ khúc , canh dần hữu bật lưỡng tinh lâm dương thuận âm nghịch cách nhất vị , thị vi không vị kị lưu thần “ Dịch nghĩa: Thế tinh chỉ dùng 13 sơn, các sơn còn lại không dùng thế mà dùng Hạ quái. Giáp Thân sơn dùng Tham lang thế, tức dùng 1 nhập trung phi động. Nhâm Mão Ất sơn dùng Cự Môn thế, tức dùng 2 nhập trung phi động. Sửu Cấn Bính sơn dùng Phá quân thế, tức dùng 7 nhập trung phi động. Thìn Tốn Tị sơn dùng Vũ khúc thế, tức dùng 6 nhập trung phi động. Canh Dân sơn dùng Hữu bật thế, tức dùng 9 nhập trung phi động. (Riêng 2 câu cuối đến phần Lưu thần sẽ giải thích rõ) Như vận 8 Giáp sơn Canh hướng kiêm Dần Thân: Vận tinh bàn: 7---3---5 6---8---1 2---4---9 Sơn tinh bàn: Giáp kiêm Dần do kiêm xuất quái nên phải dùng thế tinh, sơn tinh 6 tại Địa nguyên long là sơn Tuất, Tuất trong khẩu quyết không có thế tinh nên vẫn dùng 6 nhập trung, Tuất là âm nên phi ngịch 7---2---9 8---6---4 3---1---5 Hướng tinh bàn: Canh kiêm Thân do kiêm xuất quái nên phải dùng thế tinh, hướng tinh 1 tại Địa nguyên long là sơn Nhâm, Nhâm dùng Cự môn thế(2), vì Nhâm dương nên 2 nhập trung thuận phi: 1---6---8 9---2---4 5---7---3 Tổng hợp tinh bàn 771---236---958 869---682---414 325---147---593 (phần này còn thêm: Huyền không hạ quái tinh bàn tứ cục. Độ số la bàn tọa hướng không thể dùng) Nguồn: Huyenkhonglyso.com
-
Sự Khác Nhau Giữa Huyền Không Hán và Huyền Không Lạc Việt.
Lê Bá Trung replied to Lê Bá Trung's topic in Phong Thủy
Kính Gửi huynh Hoàng Triệu Hải. Phân cung 24 sơn. Từ tâm nhà ra cửa chính 304 độ. Đai Môn nằm ở 2 sơn Tân và Dậu, Nhân Nguyên Long (-) Cửa chính nằm ở 3 cung Tân, Tuất , Càn Thiên Nguyên Long. Chân thành cám ơn huynh đã quan tâm đến bài viết -
Sự Khác Nhau Giữa Huyền Không Hán và Huyền Không Lạc Việt.
Lê Bá Trung replied to Lê Bá Trung's topic in Phong Thủy
Kính Gửi Huynh Ninh Thuận. Nhà Trung Ba, Mẹ, Trung phi cung Khôn, Bà chị Lớn phi cung Cấn, Vợ Trung : Chấn, thằng nhóc nhỏ phi cung Ly theo Tàu, theo LV Đoài. Cám ơn huynh Ninh Thuận -
Sự Khác Nhau Giữa Huyền Không Hán và Huyền Không Lạc Việt.
Lê Bá Trung replied to Lê Bá Trung's topic in Phong Thủy
Kính Gửi Huynh Ninh Thuận. Tính theo Huyền Không Lạc Việt thì Hướng đựoc cặp sao 1-4, về đường học vấn, 4 đại diện cho bà chị lớn trong nhà. Mặc dù công danh thì bà chị này đã có rồi nhưng về vấn đề học vấn thì lại rớt, mặc dù học lực rất giỏi. Vửa qua bà chị đã thi rớt 2 lần Đại Học. -
Nhà Tọa Thìn hướng Tuất 304 độ. Nhập trạch trong vận 8 Theo như HK của Hán thì trong vận 8 này cách cục nhà này phạm Thượng Sơn Hạ Thủy. Nhưng được Tam ban liên châu là cách cục hiếm có. Theo HK Lạc Việt thì được Vượng Sơn. Sự khác biệt này được so sánh như thế nào ? Mong các Cao Nhân và ACE luận bàn và nghiên cứu . Chứng Nghiệm: Nhà vửa có thêm đinh. Kính mong các Cao Nhân và ACE xem về cách cục của nhà này.
-
LeDien xin Thầy Thiên Sứ, Anh Phạm Cương và các ACE Tư Vấn
Lê Bá Trung replied to LeDien's topic in Phong Thủy
Thân Gửi Anh LeDien. Đúng như lời Huynh PHUTHUONG đã nói, việc làm nhà là rất quan trọng, nếu cứ tư vấn online như vậy thì chỉ đạt khoảng 20...30% thui. Làm phong thủy phải xét tổng quát mới đoán ra đựoc hung cát...Phong Thủy lấy Loan đầu làm trọng anh ạ. Anh nên mời sư phụ Thiên Sứ đến để xem xét cụ thể như vậy sẽ loại bỏ đựoc những yếu tố xấu tác động từ bên ngoài. Vài lời gửi Anh. -
PHONG THỦY LẠC VIỆT VỚI TRỤ SỞ TWA
Lê Bá Trung replied to Thiên Sứ's topic in Chú Ý - Các Bài Viết Quan Trọng
Nhìn con chim sắt này từ phía sau, giống như có 2 mũi tên sắt bắn trúng và rơi xuống đất.. :D -
Phong Thủy Huyền Không Nói về hai chữ HUYỀN KHÔNG Chương trọng Sơn nói:” Vô định, vô cứ, không phương hướng, không góc cạnh, không khởi đầu, không kết thúc, không hình thể, không dấu vết, tồn tại khắp nơi, không lúc nào không có. Đấy gọi là Huyền Không” Lạc Sĩ Bằng viết:”Huyền nghĩa là trời đất khiến nó như thế. Không nghĩa là đất phải bẩm thụ như thế. Chính vì chú trọng mặt đất như thế thì có gì là “Không”? Nhưng đất cũng có lưu động, thông dòng. Đấy chính là chỗ “không” của mặt đất vậy. Đấy cũng chính là chỗ xảo diệu, khéo léo của đất vậy. Thẩm Trúc Nhưng giải thích về Huyền Không: “Huyền nghĩa là nhất (một) (Huyền giả nhất dã). Không cũng là vạch liền trong bát quái. Song “không “ở đây không phải là không có gì mà không ở đây vẫn bao hàm cái có. Các học giả Thiên Trúc (Ấn Độ) nói về chữ “không”: Sắc bất dị không Không bất dị sắc Sắc tức thị không Không tức thị sắc Thụ tưởng hành thức Diêc phục như thị “Sắc(vật) chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc tức là không, không tức là sắc. Cái cảm nhận và suy nghĩ cũng hệt như vậy”. Khái niệm không ở đây phải dựa vào khái niệm có mà nên vậy. HUYỀN KHÔNG là sự đến từ hư vô rồi trở về hư vô. Từ một đến chín, để suy đoán sự sinh ra hay mất đi, thăng hay giáng, âm hay dương trong trời đất. Thế giới chúng ta đang sống, con người – trời – đất , thời gian và không gian, mỗi cái đều khác nhau. Nhưng cùng tồn tại theo một qui luật chung trong mối quân bình hài hòa, Chúng đã ở đúng trong vị trí mà chúng phải tồn tại. Qui luật luôn biến đổi mà hài hòa cân đối đó chính là thuật “phong thủy” mà Huyền Không địa lý nghiên cứu. Sơn –tĩnh, Thủy – động, nhưng có mối quan hệ quân bình với nhau. Không thể chỉ dùng mắt thường để xem mà phải dùng “tâm nhãn” để xem nữa. HUYỀN KHÔNG nghiên cứu sự thay đổi, biến hóa của sự vật, biểu thị bằng các số từ 1 đến 9 di chuyển theo một quĩ đạo nhất định là vòng “Lường thiên xích” Bàn về vòng Lượng thiên xích, sách "Trạch vận tân án" có viết: Thùy đắc Lượng thiên Xích nhất chi, Bộ lường trung, ngoại cổ kim thi, Tử sinh đắc thất tùy thám sách, Quá hiện vị lai liễu liễu tri Tạm dịch: Nếu đã nắm được vòng Lượng thiên Xích, Có thể đo lường mọi chuyện trong, ngoài xưa nay, Tìm hiểu được sự sống chết và được mất, Biết rõ quá khứ, hiện tại và tương lai. Cho nên Huyền khôngđịa lý là môn Phong thủy dựa vào sự di chuyển của 9 con số theo quỹ đạo của vòng Lượng thiên Xích trên đồ hình Bát quái mà đoán định sự thịnh, suy, được, mất của từng căn nhà (dương trạch) hay phần mộ (âm trạch).Lạc thư, Hà đồ và Lượng thiên Xích Hãy coi thử ma phương sau: Tổng số của các cạnh hay đường chéo đều bằng 15. Đây chính là cân bằng của vũ trụ 1-Hà Đồ: Hà Đồ có 10 số: 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10. Tổng số Hà Đồ là 55. Năm số lẻ là số dương tức số trời được biểu tượng bắng những chấm trắng. Tổng số các số trời là 1+3+5+7+9= 25. Năm số âm là số chẵn tức số đất biểu thị bằng những chấm đen. Tổng số các số đất: 2+4+6+8+10 = 30. Tổng cộng số trời đất là 55. Do đó “Dịch từ thượng” nói: số trời có 5, số đất có 5. Năm ngôi cùng tương tác mà hợp với nhau. Số trời là 25, số đất là 30, tổng số là 55, các số đó tạo nên sự biến hóa và điều hành quỷ thần. Theo Chu Hy, 5 ngôi tương đắc mà đều hợp với nhau. Theo “Dịch hệ từ thượng”: Ở trên là chỉ sự xếp đặt 5 cặp số của Hà Đồ, cứ một số trời hợp với một số đất, 1-6 ở dưới, 2-7 ở trên, 3-8 ở bên trái, 4-9 ở bên phải và 5 hợp với 10 ở trung cung. Hà Đồ là bức đồ đầu tiên của Kinh Dịch, sự vận hành của nó theo chiều tương sinh của ngũ hành, vì ngũ hành có tương sinh thì muôn vật mới luôn luôn tiến hóa , biểu hiện sự sinh sinh nối tiếp nhau không ngừng của đạo dịch. Bắt đầu từ Bắc đến Đông, vì Thủy sinh Mộc, qua Nam, vì Mộc sinh Hỏa, vào trung ương, vì Hỏa sinh Thổ, đi qua Tây , vì Thổ sinh Kim, trở về Bắc , vì Kim sinh Thủy. Vậy đường vận hành khởi từ Bắc ở dưới, qua bên trái, lên phía trên,vào trung ương, sang bên phải, lại về Bắc ( Theo quan điểm Á Đông vì ở Bắc bán cầu: Phía Bắc biểu trưng cho hàn lạnh nên thuộc Thủy, Phía Nam biểu trưng cho ấm nóng, nên thuộc Hỏa. Phía Đông biểu trưng cho sự trỗi dậy, nên thuộc Mộc. Phía Tây biểu trưng cho bền chắc, nên thuộc Kim. Trong khi đó Nam Bán Cầu thì vị trí Hỏa và Thủy sẽ đổi cho nhau, điều này lý giải phía Nam bán cầu “lường thiên xích” bay ngược với Bắc bán cầu) Theo truyền thuyết thì vua phục Hy bên tàu thấy thần Mã xuất hiện ở sông hoàng hà, trên lưng có chữ số theo 4 phương vị BẮC – NAM – ĐÔNG – TÂY nên ghi chép lại, gọi là hà đồ Khẩu quyết của hà đồ như sau: “Nhất – Lục công tông, vi Thủy cư BẮC. Nhị - Thất đồng đạo, vi Hỏa cư NAM. Tam – Bát vi bằng, vi Mộc cư ĐÔNG. Tứ - Cửu tác hữu, vi Kim cư TÂY. Ngũ – Thập cư trung, vi Thổ cư Trung” Tạm dịch là: “ 1 - 6 đồng tông (cùng gốc), là thủy cư phương BẮC. 2 – 7 đồng đạo (cùng chí hướng), là Hỏa đóng ở phương NAM 3 – 8 là bè bạn, là Mộc đóng ở phương ĐÔNG 4 – 9 anh em, là Kim đóng ở phương TÂY 5 – 10 là Thổ nằm ở chính giữa” Dựa vào khẩu quyết, có thể biết vào thời Phục Hy, ngưới ta chỉ biết có 4 hướng là : ĐÔNG-TÂY-NAM-BẮC mà thôi. 2 – Lạc Thư: Lạc Thư có 9 số. Số lẻ là số trời hay dương số. Tồng số các số lẻ 1+3+5+7+9 = 25. Số chẵn là số đất. Tổng số các số chẵn là 2+4+6+8 = 20. Lạc thư vận hành khởi từ Thủy qua đến Hỏa, vì Thủy khắc Hỏa, Hỏa lên Kim, vì Hỏa khắc kim, đến Mộc vì Kim khắc Mộc, vào Thổ, vì Mộc khắc Thổ, rồi lại về Thủy, vì Thổ khắc Thủy. Theo truyền thuyết vua VŨ khi trị thủy trên sông Lạc thì gặp rùa thần nổi lên, trên lưng có đồ hình phương vị của cửu tinh. Vua Vũ sao chép lại và gọi đó là Lạc Thư. Khẩu quyết của Lạc Thư : “Đời Cửu, lý Nhất; tả Tam, hữu Thất; Nhị-Tứ vi kiên; Lục-Bát vi túc; Ngũ cư trung vị” Có nghĩa là : “ Trên đội 9, dưới đạp 1; bên trái 3; bên phải 7; vai là 4 và 2; chân là 6 và 8; còn 5 ở chính giữa” 3- Tiên Thiên Bát Quái: từ Hà Đồ người đời sau này khi phát hiện được 8 quẻ dịch mới lập thành 8 hướng và đưa 8 quẻ dịch vào đó (các chữ số là số quẻ tiên thiên) 4-Hậu Thiên Bát Quái : Dựa vào lạc thư, sau này vua Văn Vương nhà Chu mới đổi lại phương vị của 8 quẻ trong Tiên Thiên Bát Quái theo với ý nghĩa và phương vị của 9 số trên Lạc Thư mà đặt ra Hậu Thiên Bát Quái (các chữ số là số của Lạc Thư và cũng là số quẻ Hậu Thiên) Với việc phát minh và sử dụng 8 hướng trên la bàn, vua Vũ đã có thể tách rời các cặp và phân bố chúng ra khắp 8 hướng, nhưng trên thực tế vẫn là qui tụ về những cặp số của hà đồ tức tiên thiên. Trong Hà Đồ, 1-6 đứng chung ở phía Bắc. Còn trong Lạc Thư , 1 vẫn nằm ở phía Bắc, còn 6 ở Tây Bắc. Nên tuy hình thức là tách rời, nhưng thật ra vẫn là kề vai sát cánh, đứng bên cạnh nhau mà tạo thành thế “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Và với sự ra đời của Hậu thiên bát quái, tính chất, phương vị, ngũ hành của cửu tinh và của 8 quẻ đều đã được khẳng định. Nên chúng chính là khởi điểm cho mọi ngành học thuật phương đông, trong đó có phong thủy. Các quẻ bát quái đứng trong Hậu thiên (cũng như lạc thư) tạo thành một vòng tương sinh. Phương vị của Cửu tinh trong Hậu thiên bát quái như sau: - Số 9 nằm ở trên tức hướng NAM. Vì phương NAM nóng, thuộc quẻ Ly-Hỏa nên số 9 mang hành Hỏa. - Số 1 nằm ở dưới nên thuộc hướng BẮC. Vì phương Bắc hàn lạnh, thuộc quẻ Khảm-Thủy nên số 1 mang hành Thủy. - Số 3 nằm bên trái thuộc phương ĐÔNG. Vì phương ĐÔNG là quẻ CHẤN-Mộc, nên số 3 mang hành Mộc. - Số 7 nằm bên phải thuộc phương TÂY. Vì phương TÂY là quẻ ĐOÀI-Kim, nên số 7 mang hành Kim. - Số 2 là "vai” bên phải, nên nằm tại phía TÂY NAM. Vì phía TÂY NAM thuộc quẻ KHÔN-Thổ, nên số 2 mang hành Thổ. - Số 4 là "vai” bên trái, nện nằm tại phía ĐÔNG NAM. Vì ĐÔNG NAM thuộc quẻ TỐN-Mộc, nên số 4 mang hành Mộc. - Số 6 là "chân” bên phải, nên nằm tại phía TÂY BẮC. Vì TÂY BẮC thuộc quẻ CÀN-Kim, nên số 6 có hành Kim. - Số 8 là "chân” bên trái, nên nằm tại phía ĐÔNG BẮC. Vì phía ĐÔNG BẮC thuộc quẻ CẤN-Thổ, nên số 8 mang hành Thổ. - Số 5 nằm ở chính giữa (tức trung cung). Vì trung cung là nơi phát sinh và cũng là nơi kết thúc của vạn vật, nên trung cung thuộc hành Thổ. Vì thế nên số 5 cũng mang hành Thổ. Do đó, phương vị của Cửu tinh trong Hậu thiên Bát quái như sau: đông nam..............nam...............tây nam ............4................9................2 đông.....3................5................7 tây ............8................1................6 đông bắc.............bắc..............tây bắc Đây chính là những phương vị "nguyên thủy” của Cửu tinh trong Lạc thư (hay Hậu thiên bát quái). Nhưng khi có những thay đổi về không gian và thời gian thì Cửu tinh cũng sẽ thay đổi hoặc di động theo 1 qũy đạo nhất định. Quỹ đạo đó được gọi là vòng Lượng thiên Xích.M DƯƠNG – NGŨ HÀNH Âm dương Trong cuộc sống chúng ta luôn luôn tồn tại 2 cái trái nghịch nhau: - Mặt phải và mặt trái - Vui và buồn - Quân tử và tiều nhân - Tối và sáng - Thuận và nghịch - Nóng và lạnh - V. v…….. Trong tất cả những cái giống nhau thì đều có điểm khác nhau Trong tất cả những cái khác nhau thì đều có điểm giống nhau Đó là Âm – Dương Âm dương là hai yếu tố quan trọng trong cuộc sinh thành tiến hoá của vạn vật. Ý nghĩa tuy trái ngược nhau nhưng âm dương luôn luôn dung hoà lẫn nhau, bổ túc cho nhau,… Âm dương là lưỡng nghi, phân ra làm 4 gọi là tứ tượng: Thiếu dương: Khí dương còn non. Thái dương : Dương cực mạnh Thiếu âm : Âm mới sinh Thái âm : Âm dày đặc. Đặc tính : Dương : Động, nóng, sáng, trong, nhẹ, nổi lên trên, khô ráo, cứng, mạnh, tiến đi xa, mau lẹ, mở. số lẻ, nam, ngày, mặt trới, hoả, bên trái cơ thể. Âm : Tĩnh, lạnh, tối, đục, nặng, chìm xuống dưới , ẩm ướt, mềm, yếu, lùi trở lại, chậm chạp, đóng, số chẵn, nữ, đất, đêm, mặt trăng, thuỷ, bên phải cơ thể Trong sự biến hoá tuần hoàn : Âm mạnh thì dương yếu; dương mạnh thì âm yếu Âm dương như 2 cực nam châm, cùng tính thì chống đẩy nhau, khác tính thì thu hút lẫn nhau. Nhưng trong mọi vật hai yếu tố ấy luôn dung hoà lẩn nhau, tương giao cùng nhau. Cả hai đóng vai trò quan trọng trong cuộc sinh thành của vạn vật. Âm Dương và sự hình thành tám quẻ tượng Chu Hy nói rằng : Dịch có Thái Cực sinh hai nghi (âm và dương) , hai nghi sinh bốn tượng (tức thiếu dương, thái dương, thiếu âm, thái âm), bốn tượng sinh bát quái (tức càn , đoài, ly, chấn, tốn, khảm, cấn, khôn) rồi bát quái lại sinh 64 quẻ cũng như rễ thì có gốc, gốc có cành, cành lớn càng ít thì cành nhỏ càng nhiều. Âm trường thì dương tiêu (âm lớn mạnh thì dương mất đi), dương trường thì âm tiêu (mặt trời càng lên cao thì bóng tối dần càng mất đi). Đó là lẽ sinh sinh diệt diệt trong vũ trụ. Như ta từ không mà đến rồi lại sẽ trở về không vậy. Khôn (địa) ☷ Khi trời đất còn là mội cõi hư vô . Do Đó tính của quẻ là Hư, Hình ảnh của quẻ là lục đoạn, lý là nhu thuận, thuận dã, mềm mỏng, như mặt đất yêu thương mọi vật trên đó (thổ), Dương thuận tòng,hòa theo lẽ, chịu lấy,ẩn, như tuân theo mà được lợi, thấp, nhỏ, tối,là hình ảnh cũa mẹ già. Số tiên thiên là 8, sô hậu thiên là 2 (cũng là số của cửu tinh) Cấn (sơn) ☶ Không còn ẩn nữa và dương bắt đầu xuất hiện nhưng còn non vì ở ngọn. Do đó tính làNgưng, hình ảnh quẻ là phủ hạ tức trùm lên cũng là hình trái núi (thổ). Lý là Ngưng nghỉ. Chỉ dã, ngăn giữ, ở, thôi, ngừng lại, đậy lại, để dành, Ngăn cấm, vừa đúng chỗ, che phủ. Ngôi thứ là trai út hay thiếu (dương còn non). Ngôi thứ là thiếu nam (trai út). Số tiên thiên 7, số hậu thiên là 8 Khảm (thủy) ☵ Dương lẩn vào trong tức được đứng vững. Do đó tính là Trụ (cây trụ muốn vững thì cần cắm xâu) hình ảnh là trung mãn (đầy bên trong) là eo thắt, như được bao kín (thủy) , Lý là hãm hiểm, hãm dã, hãm vào trong, bắt buộc, xuyên xâu vào trong, hố xâu, trắc trở, hiểm hóc, gập ghềnh. Ngôi thứ là trung nam (đồng lấy dị mà luận). Số tiên thiên là 6, số hậu thiên là 1 Tốn (phong) ☴ Xuất hiện thêm một hào dương, Âm lui dần về tức ẩn tàng, dấu diếm. Do đó tính là Tiềm. hình ảnh là hạ đoạn (đứt dưới), như cây cổ thụ có rễ tỏa ra (mộc cỗi). Lý là Thuận nhập, thuận dã (chiều theo), thuận theo ý trên, theo xuống, theo tới, theo lui, có sự dấu diếm ở trong. Ngôi thứ là trưởng nữ. Số tiên thiên là 5, số hậu thiên là 4 Chấn (lôi) ☳ Lúc này khí dương đã đủ sức xuống đến gốc để chuẩn bị chu kỳ mới bung lên. Do đó tính làKhởi. Hình ảnh là ngưỡng thượng (chén ngửa), như mầm non mới nhú (mộc non). Lý là động dụng, động dã, bung lên, khởi lên, sợ hải, nổ vang, chấn động, chấn kinh, phân phát. Ngôi thứ là trưởng nam. Số tiên thiên là 4, số hậu thiên là 3 Ly (hỏa) ☲ Xuất hiện một khí dương bên trên ngọn như ngọn lửa tỏa ra. Do đó tính là Vũ. Hình ảnh là trung hư, rỗng ở trong , như ngọn lửa thấy vậy mà trong rỗng mà thôi (hỏa). Lý là nóng sáng, lệ dã, sáng sủa, tỏa ra, bám vào, phụ vào, trưng bày, phô trương, trống trơn, không yên. Ngôi thứ là trung nữ (gái giữa). Số tiên thiên là 3, số hậu thiên là 9 Đoài (trạch) ☱ Lúc này dương đã làm chủ đẩy âm hiện lên trên. Do đó tính của quẻ là Hiển. hình ảnh là thượng khuyết, là khuyết mẻ , như lưỡi dao bị mẻ vậy (kim bén , mỏng) . Lý là hiện đẹp, duyệt dã, vui lòng, vui vẻ, ưa thích, nói năng, khuyết mẻ. Ngôi thứ là thiếu nữ (gái út). Số tiên thiên là 2, số hậu thiên là 7 Kiền (thiên) ☰ Dương đã hoàn toàn xuất hiện như một điều hiển nhiên. Do đó tính là Như. Hình ảnh tam liên, tròn đầy , cứng chắc như khối kim loại (kim khối, cục). Lý là cương kiện, kiện dã, mạnh mẽ, cứng mạnh, khỏe mạnh, khô, lớn , cao, dương sáng. Hình ảnh của người Chồng hoặc Cha. Số tiên thiên là 1, số hậu thiên là 6 Tóm lại: sự hình thành tính chất của 8 quẻ qua các giai đoạn từ hư không cho đến hiện tại: 8_Hư – 7_Ngưng – 6_Trụ - 5_Tiềm – 4_Khởi – 3_Vũ – 2_Hiển – 1_Như Từ tám quẻ tiên thiên khi chồng nên nhau giống như những sự kiện được liên kết lại mà hình thành nên 64 quẻ dịch.Ngũ hành Khí âm dương luân chuyển biến hoá mà tạo ra ngũ hành. Năm hành của ngũ hành được hình thành qua 2 giai đoạn 1- Giai đoạn sinh: Nói về số thì : Trời 1 sinh thuỷ, đất 2 sinh hoả, trời 3 sinh mộc, đất 4 sinh sinh kim, trời 5 sinh thổ. Vậy số 1,2,3,4,5 là số sinh của ngũ hành 2- Giai đoạn thành; Nói về số thì ; -Trời 1 sinh thuỷ, đất 6 thành thuỷ (1-6 là thuỷ tiên thiên) - Đất 2 sinh hoả, trời 7 thành hoả (2-7 là hoả tiên thiên) - trời 3 sinh mộc, đất 8 thành mộc (3-8 là mộc tiên thiên) - Đất 4 sinh kim, trời 9 thành kim (4-9 là kim tiên thiên ) - Trời 5 sinh thổ, đất 10 thành thổ (5-10 thành thổ) Phương hướng; Mộc ở phương đông, hoả ở phương nam, thổ ở trung ương, kim ở phương tây, thuỷ ở phương bắc. Đây chính là phương vị ngũ hành trong hà đồ. Ngũ khí ; - Phong khí ( gió)thuộc mộc - Thử khí và nhiệt khí( khí nóng) thuộc hoả - Thấp khí(khí ẩm ướt) thuộc thổ - Táo khí (khí khô) thuộc kim - Hàn khí ( khí lạnh) Tạng phủ - Kim: đầu, họng, lưỡi, phổi - Mộc: Lông, tóc, tay chân, gan, mật - Thuỷ: Máu, mồ hôi, nước mắt, tai, thận - Hoả: Mắt, tim - Thổ: dạ dày, lá lách, lưng, bụng Hình dáng: - Kim: Tròn, dày - Mộc: hẹp dài - Thuỷ : Khúc khuỷu - Hoả: nhọn sắc - Thổ: vuông vức Quẻ dịch; - Kim: 2 quẻ CÀN, ĐOÀI - Mộc: 2 quẻ CHẤN TỐN - Thuỷ: quẻ KHẢM - Hoả: Quẻ LY - Thổ; 2 quẻ KHÔN, CẤN Thiên can: - Kim: canh, tân - Mộc: Giáp, ất - Thuỷ: Nhâm, quí - Hoả: Bính đinh - Thổ: Mậu, kỷ Địa chi: - Kim: Thân, dậu - Mộc: dần, mão - Thuỷ: Hợi, tý - Hoả: Tỵ, ngọ - Thổ : Thìn, tuất, sửu, mùi Sinh khắc của ngũ hành Sinh: - kim sinh thuỷ - thuỷ sinh mộc - mộc sinh hoả - hoả sinh thổ - thổ sinh kim Khắc: - Kim khắc mộc - Mộc khắc thổ - Thổ khắc thuỷ - Thuỷ khắc hoả - Hoả khắc kim Trong những nguyên lý tương khắc chỉ là sự tương tác giữa những vật thể với nhau để đi đến sự hủy diệt. Như vậy, trong nguyên lý tương sinh, tương khắc của Ngũ hành, người xưa đã bao hàm cả triết lý sự sống là bắt nguồn từ Trời (Thượng Đế), nhưng trường tồn hay hủy diệt là do vạn vật trên trái đất quyết định mà thôi. Ngoài ra, nó cũng bao hàm hết cả quá trình Sinh-Vượng- Tử- Tuyệt của vạn vật rồi vậy. Ngũ hành phản sinh Tương sinh là quy luật phát triển của vạn vật, nhưng nếu sinh nhiều quá đôi khi lại trở thành tai hại. Điều này cũng tương tự như 1 em bé cần phải ăn uống cho nhiều thì mới mau lớn. Nhưng nếu ăn nhiều quá thì đôi khi có thể sinh bệnh tật hoặc tử vong. Đó là nguyên do có sự phản sinh trong Ngũ hành. Nguyên lý của Ngũ hành phản sinh là: - Kim cần có Thổ sinh, nhưng Thổ nhiều thì Kim bị vùi lấp. - Thổ cần có Hỏa sinh, nhưng Hỏa nhiều thì Thổ thành than. - Hỏa cần có Mộc sinh, nhưng Mộc nhiều thì Hỏa bị nghẹt. - Mộc cần có Thủy sinh, nhưng Thủy nhiều thì Mộc bị trôi dạt. - Thủy cần có Kim sinh, nhưng Kim nhiều thì Thủy bị đục. Ngũ hành phản khắc Khác với quy luật phản sinh, Ngũ hành phản khắc là khi một hành bị khắc, nhưng do lực của nó qúa lớn, khiến cho hành khắc nó đã không thể khắc được mà lại còn bị thương tổn, gây nên sự phản khắc. Nguyên lý của Ngũ hành phản khắc là: - Kim khắc được Mộc, nhưng Mộc cứng thì Kim bị gãy. - Mộc khắc được Thổ, nhưng Thổ nhiều thì Mộc bị gầy yếu. - Thổ khắc được Thủy, nhưng Thủy nhiều thì Thổ bị trôi dạt. - Thủy khắc được Hỏa, nhưng Hỏa nhiều thì Thủy phải cạn. - Hỏa khắc được Kim, nhưng Kim nhiều thì Hỏa sẽ tắt. Cho nên trong sự tương tác giữa Ngũ hành với nhau không chỉ đơn thuần là tương sinh hay tương khắc, mà còn có những trường hợp phản sinh, phản khắc sẽ xảy ra nữa. Biết hết được những điều này thì khi ứng dụng vào Huyền không mới đạt đến mức độ linh hoạt và tinh vi, chính xác hơn. Chẵng hạn như một ngôi nhà nơi phía ĐÔNG có các vận-sơn-hướng tinh 3-3-7. Nếu theo thông thường thì thấy 7 thuộc hành Kim khắc 3 thuộc hành Mộc, nên nếu nhà này có cửa ra vào tại nơi đó thì đoán là nhà sẽ có người bị gãy tay, chân vì Kim khắc Mộc. Nhưng nếu nhìn kỹ thì thấy nơi đó có tới hai sao hành Mộc. Lại thêm phía ĐÔNG cũng hành Mộc. Cho nên Mộc nơi này vượng, một sao Kim thế yếu không thể khắc được, mà còn bị phản khắc lại. Vì thế nhà này không có người bị gãy tay chân, mà chỉ có bị bệnh yếu phổi hay đau phổi mà thôi. Lượng thiên xích Là sự di chuyển của cửu tinh trong lạc thư hay hậu thiên bát quái còn gọi là "Cửu tinh đăng quái" 1- Lượng thiên xích thuận: đông nam.............nam.............tây nam ............9..............5..............7 đông.....8...............1..............3...tây ...........4................6..............2 đông bắc...............bắc...............tây bắc (1) Từ trung cung xuống TÂY BẮC. (2) Từ TÂY BẮC lên TÂY. (3) Từ TÂY xuống ĐÔNG BẮC. (4) Từ ĐÔNG BẮC lên NAM. (5) Từ NAM xuống BẮC. (6) Từ BẮC lên TÂY NAM. (7) Từ TÂY NAM sang ĐÔNG. (8) Từ ĐÔNG lên ĐÔNG NAM. (9) Từ ĐÔNG NAM trở về trung cung. 2- Lượng thiên xích nghịch đông nam..................nam...............tây nam ............2....................6................ ...4 đông.....3....................1................. ..8...tây ............7....................5................ ...9 đông bắc...................bắc.................tây bắc (1) Từ trung cung lên ĐÔNG NAM (2) Từ ĐÔNG NAM xuống ĐÔNG (3) Từ ĐÔNG lên TÂY NAM (4) Từ TÂY NAM xuống BẮC (5) Từ BẮC lên NAM. (6) Từ NAM xuống ĐÔNG BẮC. (7) Từ ĐÔNG BẮC sang TÂY. (8) Từ TÂY xuống TÂY BẮC. (9) Từ TÂY BẮC trở về trung cung. Sự di chuyển thuận, nghịch của Cửu tinh là hoàn toàn dựa vào nguyên tắc phân định âm-dương của Tam nguyên long. Cửu tinh và ý nghĩa - Số 1: Nhất bạch hay tham lang: Đệ nhất cát tinh. Nếu đương vượng mà hình thế loan đầu có thủy động thì khoa cử đỗ đạt, sinh con trai thông minh trí tuệ. Nếu suy tử thì hại vợ, không thọ, cuộc đời trôi nổi, mang nhiều bệnh tậ về huyết, thận hư... * về ngũ hành: thuộc thuỷ * Về màu sắc: màu trắng * Về cơ thể : Thận, tai, máu huyết * về người : con trai thứ * về tính chất : thuộc dương - Số 2 : Nhị hắc hay cự môn : Hung tinh. Nếu vượng thì giàu có, điền sản phát mạnh, nhân khẩu hưng vượng lại phát quí về binh nghiệp. Nếu suy tử thì vợ đoạt quyền chồng, tính tình nhỏ nhen, thâm hiểm, keo kiệt, khó sinh đẻ, có bệnh về bụng. Trong nhà thường phát sinh bệnh hoạn liên miên. * về ngũ hành: thuộc thổ * Về màu sắc: màu đen * Về cơ thể : bụng và dạ dày * về người: mẹ hoặc vợ trong gia đình * về tính chất : thuộc âm - Số 3 : Tam bích hay lộc tồn : Hung tinh. Nếu vượng thì tài lộc đầy đủ, chấn hưng gia tộc, cơ nghiệp vững vàng, con cái dòng trưởng rất hưng thịnh. Nếu suy tử thì người nhà dễ bị điên hoặc hen suyễn, chân tàn tật, khắc vợ, kiện tụng thị phi hoặc trở thành trộm cướp. * về ngũ hành: thuộc mộc * Về màu sắc: màu xanh lá cây * Về cơ thể : mật, vai và tay * về người: con trai trưởng * về tính chất : thuộc dương - Số 4 : Tứ lục hoặc văn xương : Cát tinh. Vượng thì văn chương lừng danh, khoa cử đỗ đạt, con gái dung mạo đoan trang lấy được con nhà quyền quí. Nếu suy tử thì phụ nhân dâm loạn, đàn ông đam mê tửu sắc, gia sản phá hoại, phải lang thang phiêu bạt. * về ngũ hành: thuộc mộc * Về màu sắc: màu xanh dương * Về cơ thể : đùi và 2 chân * về người: con gái trưởng * về tính chất : thuộc âm - Số 5 : Ngũ hoàng hoặc Liêm trinh :Đạt sát tinh. Vượng thì tài đinh đại phát. Nếu suy tử thì bất kể được sinh hay bị khắc đều rất xấu ví vậy nó tịnh không nên động. Nếu gặp sao thái tuế tới thì tính hung càng phát mạnh làm tổn đinh, phá tài , nhẹ thì ốm đau, nặng thì mất người * về ngũ hành: thuộc thổ * Về màu sắc: màu vàng * Về cơ thể : không * về người: không - Số 6 : Lục bạch hoặc vũ khúc : Cát tinh. Vượng thí quyền uy , làm võ tướng thì công trạng hiển hách, gia đình giáu có, nhiều nhân đinh. Nếu suy tử thì cô độc hoặc chết trong binh đao, người nhà thường góa bụa, có nhiều quả phụ. * về ngũ hành: thuộc kim * Về màu sắc: màu trắng bạc * Về cơ thể : đầu, mũi, cổ, xương, ruột già * về người: cha hoặc chồng trong gia đình * về tính chất : thuộc dương - Số 7 : Thât xích hoặc phá quân : tặc tinh. Vượng thì phát về võ quyền, đinh tài đều vượng. Nếu suy thì trong nhà xuất hiện trộm cướp hoặc có người chết trận hay bị giam cầm, gia đạo không yên có thể bị hỏa tai mà tổn đinh hoặc xuất hiện người ham mê tửu sắc * về ngũ hành: thuộc kim * Về màu sắc: màu đỏ * Về cơ thể : phổi, miệng, lưỡi * về người: con gái út * về tính chất : thuộc âm - Số 8 : Bát bạch hoặc tả phù: Cát tinh. Vượng thì trung hiếu, phú quí dài lâu, con cháu được hưởng phúc lộc của tổ tiên. Suy tử thì có tổn thương nhỏ hoặc bị bệnh dịch * về ngũ hành: thuộc thổ * Về màu sắc: màu trắng * Về cơ thể : lưng, ngực và lá lách. * về người: con trai út * về tính chất : thuộc dương - Số 9 : Cửu tử hay hữu bật : trung tính. vượng thì văn chương lừng lẫy, con cháu dòng giữa được hưởng phú quí. Suy thì hỏa tai hoặc tai họa chốn quan trường, bị bệnh về máu huyết, thần kinh, mắt hoặc sanh đẻ khó. * về ngũ hành: thuộc hoả * Về màu sắc: màu đỏ tía * Về cơ thể : mắt, tim, ấn đường * về người: con gái giữa * về tính chất : thuộc âm Còn như thế nào là vượng hay suy sẽ phân tích ở phần sau. Trên đây là những yếu tố căn bản tối thiểu mà người học huyền không phải nắm vững để ứng dụng sau này Nguồn:PhongThuyHuyenKhong.com
-
Tìm được một ngôi nhà mà mắt ta cảm nhận thấy nó có hình thức đẹp, diện tích thích hợp với nhu cầu sử dụng, màu sắc trang trí và thiết kế nội thất vừa ý, ánh sáng đủ đầy, thông (thoáng) gió và hệ thống thoát nước tốt, môi trường đẹp, giao thông việc mua bán, việc học tập của con trẻ thuận tiện... có lẽ chẳng còn gì để nói. Điều này cũng trùng hợp với nội dungcảm xạ phong thủy học (CXPTH) về nhà cửa. Có điều, hầu như không phải ai cũng biết hướng nhà như thế nào thì phù hợp và đưa lại lợi ích nhiều mặt (sức khỏe, tài lộc, công danh, sự nghiệp, hạnh phúc, tương lai) với mình. Còn như hướng mà ta thích cũng như phương vị mà ta quen thuộc, thì CXPTH coi đó chính là hướng và phương vị phù hợp với ta hơn cả. Linh cảm, ý thức và trực giác của con người có vai trò quan trọng giúp cho sự lựa chọn được thích hợp. Thực tế gần 20 năm nay, nhiều người mua nhà (đất) có sự tư vấn của chúng tôi thì chưa hề thấy trường hợp nào chệch ra khỏi hay đảo ngược lại với quan điểm nêu trên. Nghĩa là, khi bước vào ngôi nhà định mua, trong 3 thời điểm gồm sáng, trưa/chiều và tối, người muốn mua chỉ cần ở lại trong ngôi nhà ấy một lát, mà linh cảm, ý thức và trực giác (nói đúng hơn là Trí tuệ cảm xúc -L'intélligence émotionelle) của người muốn mua nhà sẽ mách bảo cho ta cảm ứng về ngôi nhà ấy có thích hợp hay không thích hợp. Và bấy giờ, con lắc hay đũa cảm xạ được hỏi và trả lời hoàn toàn tương ứng. Nếu thích hợp, người mua sẽ cảm thấy dễ chịu và muốn ở lại thêm một lát nữa, chứ không hề muốn rời bỏ đi ngay. Trái lại, nếu người mua thấy khó chịu, thì ngay lập tức chỉ muốn ra khỏi ngôi nhà ấy. Nhược bằng ráng mà nán lại, ở thêm một lúc sẽ tự thấy trong người đứng ngồi bồn chồn không yên hoặc tâm và thần của ta sẽ hơi bối rối. Đấy là trường hợp "chống lại chỉ định", đồng nghĩa với việc phải đi tìm ngôi nhà khác.CXPTH có thể giải thích hiện tượng này: trái đất có từ trường, sức hút và những sóng hình thức khác. Trong máu con người có thành tố sắt, tuần hoàn máu chịu ảnh hưởng của địa từ trường và cả những sóng hình thể khác trong phạm vi không gian, môi trường cụ thể tác động mà sinh ra cảm ứng. Cảm ứng này bao giờ cũng thực hiện trong thời gian và không gian nhất định. Và nó hướng tác động vào cơ thể con người. Lý thuyết CXPTH giúp đỡ tích cực cho chúng ta, nhằm đánh giá từ trường + các sóng hình thể hiện hữu của ngôi nhà có thích hợp với cảm ứng của con người ở trong đó hay không. Nếu thích hợp thì tuần hoàn máu của người ở trong ngôi nhà đó sẽ hoạt động bình thường, cảm giác thấy khỏe mạnh, phấn khởi, sinh hoạt, làm ăn tốt đẹp. Ngược lại, nếu không thích hợp mà cứ ở ngôi nhà đó, sẽ ngày càng cảm thấy nhiều triệu chứng bất ổn, không an toàn, thoạt đầu chỉ mới cảm thấy yếu ớt, dần dần thấy rõ hơn, nặng nề hơn và cuối cùng có thể tai họa không mong muốn cứ ập tới.Ví dụ điển hình:+ Cằm con người ứng với nền móng nhà. Nếu có nước ngấm dưới nền móng nhà trầm trọng, mà nền móng lại làm ẩu hay không được tốt thì hậu quả không tránh khỏi, ngôi nhà sẽ phải chịu đựng độ ẩm rất cao. Người chủ ở lâu trong đó, cái cằm sẽ chẳng chóng thì chầy sẽ xuất hiện một thứ khí hắc ám. Nội tạng sẽ trục trặc, thường bị đau bụng, đau bão, bụng kêu và đi đại tiện lỏng./tiêu chảy... Quần áo, đồ dùng trong nhà ấy dễ bị ẩm mốc, có mùi hôi khó chịu.Giữa lông mày và mắt nổi gân xanh, rất có thể đó là ám thị cho biết nóc/mái nhà bị thẩm lậu, giột nát. Nếu vẫn bình chân như vại trong tình trạng như vậy, mà lao vào hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc tư vấn về nhà đấthay đứng ra nhận công trình kiến trúc, thiết kế xây dựng dù lớn hay nhỏ, hoặc mua nhà đất với giá hời đi nữa cũng không đưa lại lợi ích, thậm chí sẽ dẫn tới hậu quả đáng tiếc có thể hại người thiệt của và dĩ nhiên mối quan hệ làm ăn giữa mình với mọi người chắc chắn không tốt đẹp lắm. Nguồn:camxahoc.com
-
NGŨ HÀNH CỦA THIÊN CAN VÀ ĐỊA CHI + ĐẶC TRƯNG CỦA THIÊN CAN - Hành của thiên can: Giáp, Ất ………….hành Mộc Bính, Đinh………..hành Hỏa Mậu, Kỷ…………..hành Thổ Canh, Tân…………hành Kim Nhâm, Quý………..hành Thủy - Phương vị của thiên can: Giáp, Ất …………...thuộc phương Đông Bính, Đinh……….. .thuộc phương Nam Mậu, Kỷ………….. thuộc trung ương Canh, Tân………… thuộc phương Tây Nhâm, Quý……….. thuộc phương Bắc + ĐẶC TRƯNG CỦA ĐỊA CHI - Hành của địa chi: Tý, Hợi ………………………thuộc Thủy Dần, Mão …………………….thuộc Mộc Tỵ, Ngọ ………………………thuộc Hỏa Thân, dậu …………………….thuộc Kim Thìn, Tuất, Sửu, Mùi………….thuộc Thổ - Phương vị của địa chi: Mão…………thuộc phương Đông Ngọ …………thuộc phương Nam Dậu …………thuộc phương Tây Tý …………...thuộc phương Bắc Thìn, Tỵ ……..thuộc Đông Nam Mùi, Thân…...thuộc Tây Nam Tuất, Hợi…….thuộc Tây Bắc Sửu, Dần……..thuộc Đông Bắc NGŨ HÀNH PHƯƠNG VỊ Phương vị……Bát quái (quẻ tượng)…..Sơn vị…………Ngũ hành sở thuộc ---------------------------------------------------------------------------------------------- + Chính Bắc………Khảm………….Nhâm, Tý, Quý………..Âm Thủy + Đông Bắc……....Cấn……………..Sửu, Cấn, Dần………Dương Thổ + Chính Đông……Chấn…………….Giáp, Mão, Ất…………Dương Mộc + Đông Nam………Tốn…………….Thìn, Tốn, Tỵ…………..Âm Mộc + Chính Nam………Ly……………..Bính, Ngọ, Đinh……….Dương Hỏa + Tây Nam…………Khôn…………..Mùi, Khô, Thân………..Âm Thổ + Chính Tây……….Đoài……………Canh, Dậu, Tân………..Âm Kim + Tây Bắc………….Càn…………….Tuất, Càn, Hợi…………Dương Kim Mỗi phương vị chiếm 45 độ, mỗi sơn vị là 15 độ. Để dễ nhớ chúng ta cần tự vẽ cho mình Bảng đối chiếu 360 độ của 24 sơn vị, 8 hướng, bát quái và ngũ hành sở thuộc để tiện tra cứu khi thực hành nếu chưa thể nhớ hết được. Bảng này sẽ sử dụng thường xuyên trong việc xác định hướng nhà và xác định BÁT SAN theo Mệnh cung của chủ nhà. Nói về NGŨ HÀNH thì còn nhiều lắm, chưa kể những gì mà mình chưa biết đến có khi còn nhiều hơn cái mình đã biết. Trên đây tôi chỉ nêu tóm tắt một số mối quan hệ và biểu tượng của NGŨ HÀNH liên quan nhiều đến việc cải tạo Phong thủy của một ngôi nhà cho hợp với mệnh cung của chủ nhà. Khi tôi đã hiểu thì tôi cố nhớ nó để ứng dụng cho tiện lợi. Nguồn:hocphongthuy.blogtiengviet.net
-
- 1
-
-
Người phương Đông xưa tin rằng trái đất có những kênh dẫn khí thiên nhiên giống như kinh mạch trong cơ thể người và gọi đó là "địa mạch". Dòng khí trong các địa mạch tỏa bức xạ ra môi trường. Bức xạ này có thể tốt hoặc xấu cho sinh vật, kể cả con người sống trong môi trường đó Lý thuyết từng bị xem là huyền bí này đã được các nhà khoa học chứng minh là đúng qua những công trình nghiên cứu nghiêm túc.Có nhiều cách để xác định nơi nào có địa khí nguy hại. Cách cổ xưa nhất là "tìm mạch" được sử dụng ở châu Âu từ mấy nghìn năm nay. Một cách khác là dùng những dụng cụ khoa học đo lường mức độ rối loạn trong từ trường trái đất tính bằng nano Teslas.Giáo sư Deter Kugler, giảng dạy địa sinh học ở Heilbrunn, Đức, kể lại nhiều trường hợp giúp hóa giải tác dụng tiêu cực của địa khí. Có một bà nhờ ông xem nơi ở và không cho biết gì thêm. Giáo sư Deter khám phá ra giường của cháu trai bà nằm trên vùng tác động cao, đầu giường hướng thẳng về giao điểm của hai mạch nước trùng với một giao điểm địa khí Benker. Dựa vào kiến thức về các kiểu địa mạch, ông bảo nếu bà cứ để đứa cháu ngủ tại điểm này, nó có thể tự tử. Lúc đó, bà mới kêu lên cho biết cha của nó, cũng từng nằm ngủ nơi này, và đã treo cổ tự vẫn. Giường được chuyển qua vị trí tốt, đứa trẻ thấy thư thái hơn và không còn những hành vi bốc đồng.Một lần khác giáo sư Deter được mời đến giúp một phụ nữ, người mà cứ 7 giờ tối là lên cơn đau đầu chữa mãi không khỏi. Nhiều thầy phong thủy đã dùng đến những dụng cụ đo môi trường khác nhau để mong khám phá những "phạm vi thông thường" như lực tác động của địa khí hoặc trường điện từ, nhưng không ai tìm ra nguyên nhân của cơn đau đầu để giải quyết. Sau khi xem xét cẩn thận mọi góc độ của ngôi nhà và được biết bà chủ có thói quen ngồi độc sách báo hoặc xem tivi vào 6h30 tối, giáo sư Deter mở cửa bước vào căn phòng nhỏ phía sau cái ghế bà ngồi hằng ngày và thấy một cái giá cắm nến bằng sứ mà bà mang từ Tây Ban Nha về. Ông lấy dụng cụ ra đo và phát hiện có phóng xạ trong chất sứ của giá đèn. Bà chủ đem giá đèn ra chỗ khác và từ đó hết đau đầu.Năm 1960, chuyên gia nghiên cứu địa mạch Benker tìm ra hệ thống địa khí gồm những kênh rộng 80 đến 100 cm và cách nhau 10 đến 12 mét. Một kênh Benker gồm 3 phần: phần bên này có phóng xạ tiêu cực, phần bên kia có phóng xạ tích cực và phần giữa có thể có phóng xạ tiêu cực hoặc tích cực. Nếu một ngôi nhà xây trên "giao điểm khí" tích cực, người cư ngụ sẽ có cơ may khỏe mạnh. Trái lại, những giao điểm khí tiêu cực làm suy yếu người ở trên đó.Nhà vật lý W.O. Schumann đưa ra lý thuyết từ trường trái đất rung động cùng tần số như sóng alpha của não người (7,83 Hz hoặc chu kỳ mỗi giây), và lý thuyết này được Văn phòng tiêu chuẩn quốc gia Mỹ công nhận là đúng vào năm 1962. Có lẽ trong quá trình tiến hóa, các sóng não của con người rung động theo tần số nền tự nhiên của trái đất. Do đó, nếu tần số từ trường thay đổi, sức khỏe của con người sẽ bị ảnh hưởng."Sóng Schumann" rất có ý nghĩa ở mức tế bào trong việc điều hành các hệ thống sinh học của chúng ta. Những biến lệch trong từ trường sẽ gây rối loạn cho việc liên lạc giữa các tế bào và làm suy yếu các hệ thống trong cơ thể.Nếu chịu tác động lâu dài của lực địa khí tiêu cực, con người có thể các chứng bệnh như: viêm sưng, tê cứng, loạn nhịp tim, hệ miễn nhiễm suy yếu, bức xúc tâm thần, sút giảm sinh lực, mệt mỏi, hiếu động, bực bội, dễ gây gổ, đau đầu, mất ngủ, ngủ chập chờn, ác mộng...Nữ bác sĩ Ulrike Banis ở Stuttgart (Đức) nghiên cứu thấy lực địa khí tiêu cực làm trẻ con đái dầm và rơi khỏi giường khi ngủ. Bà còn cho rằng có thể lực này dính líu đến hội chứng đột tử ở trẻ.Bác sĩ Bannis chuyên trị ung thư hơn 10 năm nay và nhận thấy 100% bệnh nhân của mình đều bị ảnh hưởng của lực địa khí tiêu cực. Vì vậy, điều đầu tiên bà khuyên bệnh nhân là dời chỗ ngủ qua địa điểm an toàn, sau đó mới chỉ dẫn cách chữa.Trước đây đã có những nghiên cứu về mối liên hệ giữa bệnh ung thư và lực địa khí tiêu cực. Vào thập niên 1920, làng Vilsburgh ở miền nam nước Đức có số người chết vì ung thư tăng cao bất thường. Năm 1929, Giáo sư Freiherr von Pohl lập bản đồ các mạch nước ngầm và các kênh Benker trong ngôi làng nhỏ này và những vùng có các địa mạch chạy ngang qua nhà ở. Sau khi xem hồ sơ của bệnh viện địa phương, ông nhận thấy có tất cả 54 người chết vì ung thư nằm ngủ trên những địa điểm được đánh dấu là vùng nguy hiểm. Ông còn "tìm mạch" cho làng Grafenau có số bệnh nhân ung thư ít hơn (16 người chết) và cũng thấy kết quả tương tự. Năm 1972, giáo sư Jacob Stangle xác nhận kết quả nghiên cứu của giáo sư Pohl là chính xác.Vào thập niên 1970, bà Kathe Bachler tiến hành một chương trình nghiên cứu rộng ở Áo. Bà tìm mạch cho 3.000 căn hộ ở 14 vùng nông thôn và phỏng vấn khoảng 11.000 người. Một biểu mẫu 500 bệnh nhân ung thư cho thấy bệnh nhân nào cũng bị ảnh hưởng bởi lực địa khí tiêu cực.Nhiều nhà y học khác cũng tham gia nghiên cứu mối liên hệ giữa địa khí và ung thư. Tất cả đều kết luận gần 95% trường hợp ung thư có lực địa khí tiêu cực tác động. Đương nhiên cũng có những người nằm trên kênh tiêu cực không bị bệnh ung thư và có những bệnh nhân ung thư không bị ảnh hưởng của lực tiêu cực.Theo y học cổ truyền phương Đông, khí môi trường thiên nhiên là một loại khí hỗn hợp cả tiêu cực lẫn tích cực là có âm lẫn dương. Âm có tính nới giãn, khuyếch tán, làm lạnh; dương có tính thu gom, kết tụ, làm nóng. Tùy lúc tùy nơi, khí này có phần âm trội hơn thì gọi là "khí âm", nếu dương trội hơn thì gọi là "khí dương". Xét chung, hai loại khí âm dương không tốt không xấu đối với sức khỏe chúng ta, nhưng có thể trở thành xấu hoặc tốt do cách ăn ở của con người sống trong môi trường khí đó. Thí dụ ở nước ta, khí miền Nam là dương, nếu ăn nhiều muối (thực phẩm thịnh dương) tất sẽ sinh bệnh, trái lại khí miền Bắc âm hơn, nếu ăn nhiều trái cây (thực phẩm thịnh âm) thì sức khỏe sẽ có vấn đề.Giáo sư Ohsawa, nhà y học dưỡng sinh đề xướng phương pháp thực dưỡng Macrobiotics, đã nghiên cứu thấy những người ăn thực phẩm được nuôi trồng trong thiên nhiên ở nơi mình sống với tỷ lệ âm dương quân bình và sinh hoạt điều độ đều có sức khỏe tốt, và ít bị ảnh hưởng của những biến động trong khí môi trường (chuyển mùa, thời tiết thay đổi thất thường....). Trong khi những người có cơ thể rối loạn "mất quân bình âm dương" rất dễ phát bệnh khi lọt vào môi trường khí không thích hợp. Thí dụ ung thư là bệnh thịnh âm, phát triển âm thầm trong cơ thể một thời gian dài rồi mới lộ ra triệu chứng; nhưng những người mang mầm ung thư nếu thường xuyên tiếp xúc với môi trường khí âm - lực địa khí tiêu cực - thì bệnh sẽ bộc phát sớm và nặng.Vì vậy, theo giáo sư Ohsawa, muốn chữa bệnh ung thư và những bệnh khác, ngoài việc thay đổi môi trường sống, bệnh nhân còn phải điều chỉnh cách ăn uống cho cơ thể được quân bình âm dương (Theo khoa học và đời sống) Nguồn:blog.timnhanh.com
-
Vị trí phòng ngủ, chỗ kê giừơng, màu sắc bức tường … cũng đều ảnh hưởng ít nhiều đến cuộc sống lứa đôi. Để duy trì tình cảm nồng thắm, bạn phải biết bài trí khung cảnh sinh hoạt, tận dụng năng lượng tự nhiên theo thuật phong thủy. Phong thủy là nghệ thuật điều hòa năng lượng lưu thông trong nhà bằng cách xếp đặt các phòng và đồ vật. Phương thuật lâu đời này của Trung Quốc liên quan đến 4 yếu tố quan trọng trong cuộc sống : tiền bạc, sức khoẻ, cuộc sống nghề nghiệp và tình yêu (cả về hai khía cạnh tình cảm và tình dục). Vị trí phòng ngủ Theo thuật phong thủy, mọi thứ trong nhà phải được sắp xếp theo năm sinh (12 con vật trong lịch Trung Quốc) và theo ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ). Dựa vào những đặc tính này, người ta bố trí các phòng trong nhà, đặc biệt là phòng ngủ, với sự trợ giúp của một la bàn. Cũng có một cách xếp đặt khác căn cứ vào cửa chính. Nhà được chia thành 9 ô và phòng ngủ phải nằm trong ô bên phải so với cửa chính để sinh hoạt chăn gối tốt đẹp … Bài trí phòng ngủ Phòng ngủ thường có mọi thứ : máy tính, sách, giấy … gây vướng víu, chật chội, không thuận lợi khiến sự tuần hoàn năng lượng không được suôn sẻ. – Vì vậy, bạn không nên để trong phòng những vật được tặng mà bạn không ưa thích – Không giữ lại giường hay khăn trải giường của người cũ (chồng, vợ) để chuyện rắc rối, chia tay không tái diễn. – Đồ đạc trong phòng ngủ phải do cả hai vợ chồng chọn lựa. Cả hai thỏa thuận mỗi người đều có chỗ trong phòng, người này không bị buộc phải theo sự lựa chọn của người kia. Nếu sự quân bình không được tôn trọng, sinh hoạt chăn gối cũng bị ảnh hưởng. Chỗ nằm trên giường cũng quan trọng vì năng lượng luôn lắng đọng trên người ngủ ở bên phải. Thay đổi thói quen có thể có ích. Vị trí giường Đầu giường đặt sát tường đối diện với cửa ra vào; nằm trên giừơng bạn có thể nhìn thấy cửa. Chiều cao và kích cỡ giừng cũng có vai trò đáng kể : không nên dùng giường qúa to hay qúa thấp. Bạn nên tránh đặt 2 tấm nệm cạnh nhau vì sẽ thể hiện xu hướng phân cách cuộc sống, ở bên cạnh cuộc đời nhau. Màu sắc Một số màu sắc thích hợp với phòng ngủ của một cặp vợ chồng : màu vàng tạo thuận lợi cho sự thành đạt, màu cam thuận lợi cho cuộc sống tình dục và cả sự thay đổi (nên dùng vừa phải), màu hồng gợi sự âu yếm và màu đỏ gợi sự đam mê …. Tranh ảnh và những vật khác Tất cả những đồ vật trong phòng ngủ đều có một vai trò trong sinh hoạt chăn gối nên bạn cần tránh những đồ vật thể hiện chiến tranh hoặc sự tàn bạo (vũ khí, đầu thú vật nhồi rơm …). Ngược lại, ảnh hay tranh gợi cảm tạo thuận lợi cho sinh hoạt yêu đương. Một hoạt chất khác là ảnh hai vợ chồng : bạn nên chọn ảnh chụp mới nhất. Nhiều người cũng thích đặt bình hoa với hai hoa mẫu đơn đỏ trong góc phòng. Gương gây ra tranh cãi Người ta có rất nhiều ý kiến trái ngược nhau về việc đặt gương trong phòng ngủ. Một số ý kiến cho rằng gương gây nhiều về địa sinh học và cho thấy hai cặp vợ chồng trong phòng gây sự bất ổn và thiếu chung thủy. Ngược lại, có ý kiến cho rằng hai yếu tố điều chỉnh cuộc sống tình dục là nước và lửa. Gương tượng trưng cho lửa nên đặt một tấm gương trong phòng sẽ có ích. Bạn nên bàn bạc về vấn đề này với người bạn đời. Những lời khuyên trên cũng có gía trị với những người sống một mình muốn cải thiện cuộc sống tình cảm. Bạn nên có thái độ sẳn sàng đón tiếp một người khác đến nhà. Phòng được bài trí như để chờ một người mới. Nếu phòng có nhiều đồ đạc gây vướng víu, điều đó cũng có nghĩa là bạn chưa sẵn sàng hành động. (Theo Santé Magazine, 9.2008 của Kim Phấn) Nguồn:HuyềnKhongLyHoc.com
-
LA KINH THẤU GIẢI BÀI TỰA VỀ LA KINH XÉT VỀ PHƯƠNG PHÁP CHẾ TẠO LA KINH : Trước hết do vua Hiến Đế chế tạo ra, sau ông Chu Công bắt chước và dùng kim chỉ nam,để định phương vị . Tuy nhiên , khi ấy chỉ có 12 địa chi . Đến ông Trương Lương nhà Hán , mới phối hợp với bát can,(tám phương vị về thiên can) , và tứ duy( là 4 phương :kiền ,khôn ,cấn ,đoài vào khoảng giửa 12 chữ hàng chi và đặt tên là Địa bàn .Đến Dương Công và Lại công hai vị thêm hai 2 tầng nữa ,gọi là Thiên bàn và Nhân bàn ,tất cả gộp lại gọi là Thấu bàn tức Tam tài ).Trong đó tất cả hành độ của các tinh tú đều được trình bày đầy đủ , diễn tả được những bí mật và ngũ hành của Hà Đồ, Lạc Thư ; phơi bày những sự hiện, tàng ,kỳ diệu của các quẻ .Đến vua Phục Hy và Văn Vương , những cái kỳ diệu của các quẽ ,biết được tinh vi và thể ,dụng rộng rãi , biến hoá vô cùng ! Bao la vậy thay ! Gồm hết thảy muôn ngàn hiện tượng cả dọc ngang trên trời đất . Trên có thể hiểu thấu được hành độ của các vì sao luân chuyển ;dưới có thể phân biệt được núi, sông , phương hướng tốt xấu ;giửa có thể định được Dương cơ ,Âm phần cho mọi người , về sự phúc hoạ v. v. .dùng làm được muôn việc, thật là quý báu vô cùng ! Từ đời Hán , Tấn , Đường , Tống đến nay , nhiều bậc danh nhân , hiền sĩ nổi tiếng , ngoài 4 vị họ Dương , Tăng , Liêu , Lại ra , cũng không thiếu gì những người làm việc phúc đức để giúp ích cho những người nghèo , rất là linh nghiệm . Xét về cách trước thư lập ngôn của các vị này , ta thấy căn cứ vào các Tinh thể , Sơn loan , nhưng thực dụng lại phải căn cứ vào La Kinh . Những nhà Địa lý sau này , giảng về Loan Đầu , chọn hình tượng , đặt cách đo hoạch , chia ra nhiều môn , nhiều kiểu , đua nhau ra đời . Tuy nhiên giảng về La Kinh mà không biết yếu điểm của Địa lý : là "lấy Loan Đầu làm Thể , La Kinh làm Dụng " là chưa rõ nghĩa của La Kinh , mà làm sai 1 ly thì sai đi 1 dặm . Nếu La Kinh không rành thì không thể căn cứ vào đâu để phân biệt Long , Huyệt , Sa , Thủy ; thật , giả , tốt , xấu . Như vậy , dẫu có được Loan Đầu thích hợp , cũng luôn luôn lâqnx lộn vị trí giửa tốt và xấu ,khiến cho nước hung , khí sát xung vào hài cốt , làm cho hao người tán của , sự tai hại là vô cùng không thể tránh thoát . Ngưới đời thường nói : Thầy Địa lý không rành làm tai hại cả toàn gia tông tộc ! Lời ngạn ngữ ấy rất đáng tin . Tôi đã học tập nhiều năm về Địa lý , hiểu biết khá rộng về sự tốt xấu của các Tinh , Loan , thế mà , khi chọn lựa Tinh đẩu vẫn còn sợ chưa hiểu thấu rành rẽ về La Kinh , rất khó quyết định được họa , phúc . Sau đó tôi tìm tòi các sách cổ , kim và tìm thầy học đạo , đem hết tâm trí đẻ nghiên cứu La Kinh , lặn lội đi khắp mọi nơi , thăm những ngôi mộ danh tiếng để khảo nghiệm về họa phúc , không 1 chút điểm sai lầm . Như vậy mới hiểu rằng 3 yếu tố quan trọng của Địa lý : trong có thể tự hỏi mình , ngoài có thể chất vấn người khác , và khi chọn 1 ngôi mộ cho ai phải làm sao chọn được chỗ tốt , tránh được nơi xấu , không xảy ra sự suy bại tai hại cho người . Bởi vì khoa Địa lý rất là tinh vi , nào là Xuyên Sơn Thấu Địa , Tiêu Sa , Nạp Thủy , Phân Kim , Tọa Độ , tầng thứ rất phiền phức , lý luận rất sâu xa . Có khi nhiều tầng chia ra để dùng , có khi 2 tầng kiêm dụng chung cả , có khi 1 tầng dùng cho 2 việc , có khi nhiều tầng hợp lại mà thông dụng , đó là những biến hóa vô cùng huyền diệu , ta phải có linh cảm để mà hiểu thấu chi ly , nếu sai 1 chút , sẽ bị ảnh hưởng rất lớn . Nay tôi căn cứ vào La Kinh gồm có 36 tầng của người xưa , viết thành sách để phổ biến ra 4 phương , cho mọi người đời sau cùng biết , có thể căn cứ vào các đồ án để chọn Loan Đầu , cho tận thiện , tận mỹ , để việc tạo phước khỏi bị sai nhầm . Bài tựa này làm tại : Thái Nguyên Tứ hợp đường âm dương học Vương Đạo Hanh viết ở Phượng Sơn thư trai Mùa thu năm Quý Mùi , thời vua Đạo Quang thứ 3 . __________________ BÀI TỰA II Ngày xưa bậc Thánh nhân làm ra Kinh Dịch , ngẩng lên có thể xem Thiên Văn , cúi xuống có thể xét Địa Lý . Người ta còn nói : cái Đạo dựng lên Trời là Âm Dương , cái Đạo dựng lên Đất là Cương Nhu ( cứng mềm ) , đó là nguyên nhân của thuyết Địa Lý . Vậy trong Kinh Thi nói : Quan sát về Âm Dương , nhìn xem dòng suối chảy lại càng rõ rệt nghĩa lý hơn nữa . Từ đời nhà Tần , nhà Hán tới nay , không thiếu những người tinh rành về Địa Lý : Quách Cảnh Thuần đời Tấn , Dương Quân Tùng đời Đường , thông hiểu thấu đáo lẽ huyền diệu của Địa Lý , hiếm có trên đời . Gần đây đa số các nhà nho không nghiên cứu về Địa Lý , thường chôn hài cốt của thân nhân vào nơi không Long , không Huyệt , Thủy tán , Sa phi , khiến cho nước ngấm , kiến mối phá hoại , làm cho tuyệt tự hậu nhân , thật là đáng thương ! Người đời thường nói : Muốn thành người hay , nên biết làm thuốc và địa lý . Lại có chỗ nói : nếu núi sông mà biết nói thì mặt thầy địa lý sẽ xám như đất chết , phủ tạng của con người mà biết bảo thì thầy thuốc không có chỗ hành nghề ! Như thế nói rõ là Địa Lý rất khó , còn quan trọng hơn làm thuốc ! Cho nên học thấp kém mà ra làm thầy , lừa dối người không biết , thì mang tội vào người không ít ! Đời Tống có hai nhà nho là ông Chu , ông Thái , tinh thông về khoa Địa Lý , có viết những cuốn sách bất hủ truyền cho đời sau . Tại sao người ta không kiếm những sách ấy mà coi ? Vì vậy , khoa Địa Lý ngoài 4 ông Dương , Tăng , Liêu , Lại , ít có người tinh thông . Tóm lại , về Địa Lý chỉ có Loan Đầu và Thiên Tinh mà thôi ! Loan Đầu tức là Hình Thể , Thiên Tinh tức là Lý Khí . Hai yếu tố quan trọng như nhau . Hình Thể ở trong Trời Đất , khiến cho người ta có thể nhìn ngang , nhìn dọc , trông xa , trông gần ; người tinh mắt có thể quan sát dễ dàng . Những cuốn sách như : Trầm Tân Chu Địa Học , Toàn Phong Nguyên Bản , Sơn Dương Chỉ Nê , Kham Dư , Nhất Quán ...vv...đã nói rõ ràng và đầy đủ . Còn về Lý Khí thì chắc chắn phải nghiên cứu La Kinh , tìm hiểu sâu xa về Nhị Khí , Ngũ hành , mặc khải được những huyền bí của Hà Đồ , Lạc Thư . Rộng ra thì có 36 tầng , hẹp lại thì có 15 tầng , rất quảng đại , rất tinh vi . Nếu không có người chỉ dẫn , giảng dạy , thì không có thể căn cứ vào đâu để ý thức được sự huyền diệu . Có người nói rằng : Hình Thể không đẹp , dầu Lý Khí có hợp cục cũng không dùng được ! Lời đó cũng đúng . Nhưng Hình Thể tốt , mà Lý Khí không hợp , thì đất tốt nhưng cách táng xấu cũng không phát phúc được . Phương chi đại địa rất ít , không phải người có đại đức thì không thể được . Còn những núi đồi tầm thường , thì dẫu có Lý Khí không hợp lắm , mà muốn cho con cháu nối truyền , no cơm , lành áo , bình an , cũng phải dùng La Kinh để tìm Địa Lý cho khỏi phạm sát thì mới được . Vì vậy người làm Địa Lý phải tận tâm phân tách tỉ mỉ để phân tim tốt , tránh xấu . Ông Định Ấp Vương Đạo An khi còn nhỏ học nho , lớn lên học Địa Lý , ngấm ngẫm nhiều năm , thường chê người đời chỉ giảng Hình Thể mà không tìm học Lý Khí , nên đã gây tai hại vô cùng ! Vậy sau khi đọc hết các sách nghiên cứu , các ngôi mộ có danh tiếng , tìm hiểu về nguồn gốc của phúc , họa , thực nghiệm nguyên nhân của sự giàu nghèo , ông viết ra cuốn La Kinh Thấu Giải này , và nhờ tôi viết bài tựa , khi đó tôi làm Tri Huyện ở Mậu Châu , nhân có kỳ thi tại tỉnh đọc sách của ông , mới biết là ông lưu tâm giúp đời để mọi người an táng cho thân nhân mình , được hài cốt yên lành , gầy hạnh phúc cho con cháu đời đời thịnh vượng . Còn việc tìm đất thì cần phải hợp với thiên lý , . Người có Đức lớn , thì gặp được đất lớn , đó là tất nhiên , không còn ngờ vực gì nữa . Người đời đừng cho là lời bàn tầm thường của các ông già quê mùa , mà không chịu lưu ý đến những lời chỉ dẫn quan trọng về âm chất thẩm , thiên của cổ nhân . Bài tựa này làm tại Mậu Châu , viết vào hạ tuần tháng 5 , năm Quý Mùi , niên hiệu Đạo Quang thứ 3 . Học Chính Nhiếp Nguyên Chương soạn . VƯƠNG THỊ LA KINH THẤU GIẢI TÂN ĐÍNH QUYỂN ĐẦU Biên soạn : Thục Đồng Âm dương học , Vương Đạo Hanh Hiệu chính: Định Ấp Nho trí Vương Thiệu Chí Tham duyệt: học trò là : Lý Duy Tân,Chu Quốc Hồng,Đặng Quan Vũ,Trần Vạn Bằng. ------------------------------- Long mạch chia làm 24 vị khí , thuộc về Ngũ Hành , Âm Dương mất hay còn mặc dầu , căn cứ vào Hướng , Long , Huyệt , Sa , Thủy , nhưng then chốt của họa phúc đều căn cứ ở trong một cái huyệt. Chính giửa huyệt mà chiếu đủ Tiêu Sa , Nạp Thủy và Thừa Khí , cần phải rành rẽ cách phân châm , để thực hiện 3 điều trọng yếu : _ Khi xét về Long , phải coi kỹ chỗ Xuất mạch _ Coi về Huyệt , phải nhận kỹ chỗ Động khí. _ Coi về Thủy lai , phải coi kỹ chỗ Thủy triều lại ; ở trước mặt Huyệt coi Thủy khứ , phải coi kỹ chỗ cửa miệng nước chảy ra đi. Coi về thủy phải coi về sự hợp cục và phá cục. Coi về Long lai thì phải coi chỗ Long Nhập Huyệt ( hoặc là phía sau ). Coi về Hướng thì phải coi ở đằng trước. Coi Thủy lai thì phải coi ở chỗ nước chảy tới tới ( Minh Đường). Coi Thủy khứ thì phải coi chỗ nước chảy đi ra ( Ngoại Minh Đường) Nếu không rõ hình thế mà đặt La Kinh cẩu thả , bậy bạ , thì tai hại vô cùng ! Người đời xưa nay đều nói : Thầy thuốc lầm chỉ hại 1 mạng người , thầy địa lý lầm làm hại cả dòng họ người ta ! Bởi vì , chỉ có Tuyệt Hướng mà không có Tuyệt Long , tức là không sai về Sa , Thủy , mà chỉ bị về Lập Hướng sai vào phương Khắc Sát , mà bị Tuyệt thôi ! Xin các Thầy Địa Lý trong thiên hạ , nên lưu ý để cho những người hiếu tử , hiếu tôn được nhờ ơn Thầy , được ngôi mộ của Tiền nhân an lành , phát phúc cho cháu chắt đời sau , thì không phúc gì bằng ! Những sách tham khảo : _ Thanh triều khâm định hiệp kỷ : để phân biệt Ngũ Hành , bàn về các sao và ngày tháng. _ Duyên đàn tử : Phân biệt Sa , Thủy và phân chia cung vị. _ Lưu thị gia tàng : Nói về ngày tháng. _ Nhất quán kham dư : Nói về tinh thể và La Kinh. _ Tứ đàn tử : Nói về các Tinh thể và Thủy pháp. _ Tượng cát : Nói về năm tháng. _ Chính kỷ nhất thống : Nói về Xuyên sơn thấu địa. _ Thiên cơ hội nguyên : Nói về Tinh thể địa bàn. _ Ngao đẩu : Nói về năm tháng và quái lệ ( các quẽ ) _ Đính hỗn châm : Nói về Ngũ hành , Thiên Văn , Địa lý. _ Bình địa ngũ tinh : Nói về Dương Trạch. _ Nguyên chân : Nói về Thủy khẩu và Tam hợp. _ Địa lý bất cầu nhân : Nói về Tinh thể địa bàn. _ Thanh lang kinh : Nói về Quái lệ ( các quẽ ). _ Tào an phong : Nói về Tinh thể ( hình dạng sơn sa ) _ Tuyết tâm phú : Nói về Tinh thể. _ Ngọc tủy kinh : Nói về Tinh thể _ Sơn dương chỉ mê : Nói về Tinh thể. _ Ngũ chủng bí khiếu : Nói về các quẽ và Địa bàn. _ Sùng Chính tịch mậu : Nói về năm tháng và Ngũ Hành. _ trần tân chu : Nói về Tinh thể. _ Địa lý thống nhất toàn thư : Nói về Tinh thể. _ Trần tử tánh : Nói về năm tháng ngày giờ. _ Ngọc xích kinh : Nói về Thiên văn và Địa lý. _ Địa lý đại thành. Cần phải đọc sách của các bậc danh sư , trong đó có nhiều điều chỉ dạy huyền bí. MỤC LỤC CÁC TẦNG CỦA LA KINH Tầng 1 : Là Tiên Thiên bát Quái biến thành Hậu Thiên Bát Quái. Tiên Thiên làm cái bản thể , Hậu Thiên làm cái sử dụng. Dùng Hậu Thiên không được phá Tiên Thiên , chỉ dùng Hậu Thiên chứ không dùng Tiên Thiên , nhưng vẫn có Tiên Thiên ở bên trong. Tầng 2 : Lạc Thư biến thành Tứ Tượng. Hóa Hậu Thiên thành Cửu Tinh ( 9 sao ) , chia Lục Giáp thành 120 phân kim , ngang dọc 16 cái và 5 số. Tầng 3 : Bát Quái Hoàng Tuyền , tức là Quan và Quỹ của Tiên Thiên Bát Quái , hòa hợp với Ngũ hành để sử dụng trong việc : Long thời kỵ Thủy lai , Lập Hướng thì kỵ khắc Long. Tầng 4 : Là tứ lộ và Bát lộ Hoàng Tuyền bạch Hổ ( tức sao sát ) của Địa Chi , quay đi trở lại. Hướng về Bát can thì kỵ Tứ duy Thủy lai , Hướng Tứ duy thì kỵ bát can Thủy lai ; nghĩa là 4 phương Hoàng Tuyền , 8 phương Khắc Sát ,l nước chảy đi thì tốt , nước chảy lại thì xấu. Nếu phạm thì hao người tốn của. Tầng 5 : Cửu tinh ứng vào cục đất để phân biệt Long tốt xấu , coi sắc đất biến đổi mà tìm Huyệt , tương ứng với thứ vị của 24 vì Thiên tinh mà lấy dùng. Tầng 6 : Kim chính thức của Địa bàn dùng để xem Long lai , định hướng , thừa khí nhập Huyệt ; Lập Trạch , An Phần chọn âm dương. Tóm lại , cả 36 tầng đều căn cứ ở tầng này vận chuyển mà sử dụng. Tầng 7 : Âm và Dương Long của Tiên Thiên Bát Quái , Kiền Nam , Khôn Bắc , Ly Đông , Khảm Tây , ở 4 phương chính là Dương ; Chấn , Tốn , Cấn , Đoài ở 4 phương góc tức là Tứ Duy của Tiên Thiên là Âm. Mỗi quái Nạp Âm đều có Can và Chi là nửa Âm , nửa Dương. Phép biến Thủy không được sai lầm về Âm Dương. Tầng 8 : Chính Ngũ Hành , tóm hết thảy cả trong địa bàn , nguồn gốc là do Hà Đồ mà ra , phân Đông Tây Nam Bắc , 24 sơn và sự tương khắc của Kim , Mộc , Thủy , Hỏa , Thổ để sử dụng. Tầng 9 : Là Kiếp sát , lấy Tọa Sơn làm chủ , chỉ kỵ 1 sơn xấu , hoặc nghiêng ngã , vỡ lỡ thôi , còn tốt thì không kỵ. Tầng 10 : Là 72 Long Xuyên Sơn , ở trong Địa Bàn ghi 60 Giáp Tý , trong 5 cung Tý có 12 chữ chính màu đỏ là để chỉ 4 phương tứ duy và 8 phương bát can , thấu thành 72 Long , lấy lẽ Long Nhập Thủ thừa tiếp với thấu địa khí 1 mạch rót suốt vào Huyệt , và để phù hợp với 72 thời tiết mỗi năm. Tầng 11 : Xuyên Sơn làm quẽ gốc , sách Chu Dịch gọi là Thiên Thông. Trong Kinh Dịch lấy quẽ Kiền làm đầu , nói : Thiên Địa biến hóa ra quái , hào để bổ trợ cho Lai Long ; Tọa Huyệt là chủ của Thể , Dụng. Tầng 12 : Là Trung Châm thuộc về Nhân Bàn , tham hợp với Thiên-Địa 2 bàn , là Thiên-Địa-Nhân tam tài. Ông Lại Công lấy để Tiêu Sa và tham hợp với Ai Thiên Tinh và Nhị Thập Bát Tú , để làm biểu lý , bàn về Thái Dương đáo Sơn , và 12 vị Tiến Xá Tinh ; và đến 12 cung phân ranh giới 24 vị Thiên Tinh , Thấu Địa Kỳ Môn , tất cả đều do tầng Trung bàn này thông dụng. __________________ Tầng 13 : Là 60 Long Thấu Địa. gọi là Thiên Kỷ , ở phía sau ngôi mộ hay là ngôi nhà khoảng 8 thước chỗ Loan Đầu phân khí dẫn suốt tới. Có các chữ Vượng , Tướng , Châu Bảo , sát Diệu , Hỏa Khanh , Cô Hư , Sai Thác và Không Vong , để phân biệt lấy quẽ xung hòa 9x6= 54 là Vượng Tướng , không xung hòa là Không Vong. Tầng 14 : Là Thấu Địa Kỳ Môn , người ta lấy 2 quẽ độn Tử Phụ, Tài Quan , Lộc Mã Quý Nhân , Âm Dương làm gốc để khởi lệ. Tầng 15 : Là Thấu Địa Quái , lấy Thấu Địa làm nội quái , gọi là quẽ Liên Sơn. Nhà Hạ dùng Nhân Thông , nên Kinh Dịch lấy quẽ Cấn làm đầu , quẽ phối thì lấy Hỗn Thiên Ngũ Hành , phối hợp với quẽ Tử Phụ , Tài Quan , Lộc Mã Quý Nhân là Tứ Cát ( 4 cái tốt ) của Sa , Thuỷ làm đắc dụng. Tầng 16 : là Thấu Địa 60 Long phối hợp với 28 ngôi sao , ngũ thân ( 5 cái gần ) Sa , Thủy , Cầm Tinh, để quản cục trì thế , một cách tự nhiên mà dùng. Tầng 17 : Định phương vị của Tứ Cát là : Ngũ Thân , Tam Kỳ , Bát Môn , Cửu Tinh đáo Sơn. Tầng 18 : Là Phùng Châm Thiên Bàn để biến Thủy Lai và Khứ. Đây là quẽ phiên của Dương Công , gồm có có 9 sao là Thiên Phụ Quái , phiên : Bật , Phụ , Vũ , Phá , Liêm , Tham , Cự , Lộc , Văn làm Cát , Hung thần , để đoán phúc họa do ở luật Tịnh Âm , Tịnh Dương mà ra. Tầng 19 : Là 240 phân số , do Lạc Thư chia ra 16 cái , 15 số dọc , ngang thành 240 phân số , chia cho 24 sơn , mỗi sơn 10 số. Đây là nguồn gốc của phân kim. Tầng 20 : tầng Địa bàn phân kim , gia giảm 2 phân , 8 phân ( 2/8 ) : giảm Sa , Thủy , Minh Đường không ngay , Khắc Mệnh , Khắc Long , vì vậy mới có sự gia giảm bên 3 phân , bên 7 phân ( 3/7 ). Tầng 21 : là tầng Thiên bàn phân kim , gia , giảm tam , thất ( 3/7 ). Mỗi Sơn có 5 chữ phân kim , như Tý Sơn thì có : Giáp Tý , Bính Tý , Mậu Tý , Canh Tý , Nhâm Tý , thì Giáp Ất là Cô ; Nhâm Quý là Hư ; Mậu Kỷ là Sát ; Bính Đinh là Vượng ; Canh Tân là Tướng ; để tránh sự gác giây , sai lầm vào Không Vong...vv..thì tai hại lắm ! Tầng 22 : là phân biệt khoảng Vượng , Tướng , Cô , Hư. Lấy Bính , Đinh , Canh , Tân , chỉ vào khuyên chữ đỏ là Vượng Tướng. Mậu Kỷ chỉ chữ Thoa ( X ) là Sát Diệu. Giáp , Ất , Nhâm , Quý chỉ điểm đen là Cô , Hư , Không , Vong. Tầng 23 : là phân kim phối với Địa Nguyên , thuộc quẽ Ly tàng , là quẽ ở ngoài. Nhà Ân dùng Địa thống , nên Kinh Dịch lấy quẽ Khôn làm đầu. 60 quẽ phối với 60 phân kim , lấy quẽ Kim lưỡng toàn làm Vượng , Tướng , gọi là Đắc Kim. Ngoại trừ 4 quẽ Khảm , Ly , Chấn , Đoài , là quẽ Tiên Thiên chính thức ứng với 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông , mỗi mùa giữ 1 quẽ , mỗi quẽ 6 hào , mỗi hào gồm 15 ngày ( 4x6=24 ) , 24 hào gồm 24 tiết khí , ngoài 60 quẽ , mỗi tháng 5 quẽ , mỗi quẽ 6 ngày ( 6x60=360 ) , nên mỗi năm có 360 ngày. Tầng 24 : là Nạp Âm Ngũ Hành , 60 Giáp Tý , Thiên Can , Địa Chi phối hợp , do Tiên Thiên Bát Quái lấy Nạp Giáp phối. Ngoại trừ quẽ Kiền và quẽ Khôn là Đại Phụ Mẫu không kể , nếu Thiên Can gặp Tý , Ngọ , Sửu , Mùi tại Chấn , Tốn , sẽ do 2 quẽ suy luận ; Thiên Can gặp Dần , Mẹo , Thân , Dậu tại Khảm , Ly sẽ do 2 quẽ suy luận ; Thiên Can gặp Tuất , Hợi , Thìn , Tị tại Cấn , Đoài sẽ do 2 quẽ suy luận ; Theo phương pháp Dụng , lấy 9 Mộc , 7 Kim , 5 Thủy , 3 Hỏa , 1 Thổ. Đặt tại cửa đầu kim , phải biết ý nghĩa sâu xa. Tầng 25 : là phương vị của 12 cung , nếu được Tinh phong đẹp đẽ , Sa -Thủy trong sáng , được chứng ứng ở phương nào , thì cung ấy phát quý , hưởng lộc. Tầng 26 : là vị trí của 28 ngôi sao , ngôi nào đóng ở độ số nào , thì ứng với tỉnh , châu , thành , huyện ở cung ấy ( ở dưới đất ). Tầng 27 : là 24 khí tiết của hàng tháng đón Thái Dương đến cung , tránh Hung sát , tìm Tốt lành : tức là cung Trục Nguyệt , lấy 4 cái Đại Cát Thời làm Thần Tàng sát để Tạo , Táng , thì được Thượng Cát ( tốt trên hết ). Tầng 28 : là vị trí của 12 Tướng Đăng Minh , đón Thái Dương đến cung , nửa tháng tới 1 Sơn , mỗi tháng qua 1 cung , đi ngược lại 24 sơn , tức là cung Đăng Minh. Tầng 29 : là 12 vị tinh thể Nghinh Thái Dương đáo cung triều xá , mỗi tháng giửa kỳ khí tiết , để rước Quý Nhân lên Thiên môn. Tầng 30 : là cung xá quán dịch , tức Thần Thái Dương. Đem văn , võ bá quan đến chỗ chân thủ , mỗi tháng cùng Thái Dương qua 1 cung , Tạo Táng gặp ở cung này rất tốt, mọi cái sát tiềm tàng hết. Tầng 31 : là 24 ngôi Thiên Tinh chiếu vào cục đất , chia ra Tam Cát , Lục Tú , Cửu Tinh ; Sa , Thủy Thôi Quan , phát phúc. Nếu được Sơn quý tất xuất Đại Cát Quý. Tiên Thánh nói : Long lấy xung hòa làm đẹp ; Tinh lấy được phối làm tốt , chính chỗ này vậy. Tầng 32 : là Hỗn Thiên Ngũ Hành tinh độ , tại 28 vì sao , chia làm Thất Chính ( 7 vị Chủ tinh ) đều có định , sở , thuộc 1 sao ; cũng có ngũ hành ở trên : Kim 12 , Mộc 13 , Thủy 12 , Hỏa 12 , Thổ 12 , cộng có 61 vị. Duy có cung Cấn là nhiều thêm chữ Mộc. Đây là Ngũ Tinh Đăng Viên ( 5 sao đến cục ) , Ngũ hành cùng với Xuyên sơn , Thấu địa , Phân kim , sự Cát , Hung cùng là cái ở trong , cái ở ngoài , lại hợp với 72 khí tiết , 365 độ trong 1 năm. Tầng 33 : là chia đều 60 Long , tham hợp với 61 Hỗn Thiên ( tức Hỗn Thiên Ngũ Hành ) , mỗi chữ 1 Long , mỗi chữ quản 6 ngày , thành ra 365 ngày 3 giờ , để ứng với 72 thời tiết của độ số trong 1 năm. Địa bàn căn cứ vào đó căng giây , Phân kim , Thấu địa , Toa huyệt mà dùng. Trong sách Ngỏa Vương hợp tượng cát thư , còn có 24 sơn Thấu Địa Long , thừa khí nhập huyệt. Tầng 34 : là ngang , dọc độ số của 28 sao , hợp với Nhân bàn có 365 vạch. Trong giới hạn độ số của mỗi sao , chia ra Thượng quan , Trung quan , Hạ quan ( quan là cửa ) để dùng làm cung vị Tiêu sa , là phép của Ai tinh. Tầng 35 : là định sự Sai thác và Không vong , có điểm đỏ , chấm đen để gát dây Phân kim , cùng với Xuyên sơn , Thấu địa làm cái ở trong , cái ở ngoài liên quan nhau. Khi giăng dây Phân kim phải đặt trên điểm đỏ , không được đặt vào điểm đen , nếu lọt vào khoảng của chấm đen một nửa sợi tơ tóc là hỏng. Tầng 36 : là 28 sao phối hợp với 24 sơn , và Trung châm Tiêu sa của Nhân bàn , gọi là phép Ai tinh. Lấy sao của sơn Tọa Huyệt làm chủ ; lấy sao ở đằng trước làm Hướng ; và tả , hữu làm Khách. Huyệt trường là Ngôi Bắc Thần ( sao Chính chủ ) , Sa , Thủy là Nhị Thập Bát Tú ( sao phụ tá ). Cũng như sao Bắc Đẩu có các sao khác chầu vào. Vậy sách nho có câu " Thí như Bắc Thần cư kỳ sở , nhi chúng Tinh củng chi " chính là bảo về nghĩa thế. Trên đây là 36 tầng La Kinh , tôi tham khảo các kinh sách của các vị Tiền Hiền , lập ra La Kinh toàn đồ và chỉ dẫn phép sử dụng minh bạch. Phân phối phổ thông ra bốn phương trong thiên hạ , để mọi người cùng biết sử dụng mà tìm lành , tránh dữ cho công việc tạo phúc khỏi bị nghi hoặc và sai nhầm. KHÂM ĐỊNH LA KINH THẤU GIẢI QUYỂN THƯỢNG. Bàn về việc dùng La Kinh không khác gì : Đứng trên bờ suối , lượng bóng cây. đo chiều sâu... La Kinh đầu tiên là do Hiên Viên Hoàng Đế đi đánh Si Vưu bị lạc đường. Thượng Đế sai bà Cửu Thiên Huyền Nữ hiện xuống , chỉ cho cách mà đặt ra phương hướng , mới phá tan được yêu thuật của Si Vưu. Phép dùng kim -chỉ -nam là có từ khi đó , tuy nhiên , câu chuyện có vẻ hoang đường. Có người nói do ở vua Thành Vương nhà Chu. Khi ấy nước Việt thường đến triều cống. Khi về sứ giả quên đường cũ , sợ lạc lối , nên vua nhà Chu cho chế ra Chỉ-nam-xa ( xe có kim chỉ nam bắc ) để dẫn đường. Từ đó La Kinh mới dùng kim pháp để định vị trí , quan sát khí thế để thừa khí vào huyệt mà đặt táng Âm phần. Xét hành độ của các thiên tinh xung hợp , lấy sinh, vượng khí , phân tích rõ rệt tính chất của Tiên Thiên , dùng Hậu Thiên để xem Thủy lộ chảy đi , chảy lại ; xét kỹ càng về họa phúc do hào ly ở nơi sai, đúng , làm cho Trời không đổi được mạng người. Vì vậy người trí thức có tài năng , am hiểu về địa lý , thiên văn , thì có thể đoạt được thần công , cải được Thiên mệnh ! vậy đất có nhiều cái không hoàn toàn mỹ mãn , nên phải thay đổi , thêm bớt ít nhiều để tránh sự hung , tìm cái lành. Vì vậy ý nghĩa của Tam Tài là cần yếu phải xem ở La Kinh , mới rõ ràng được chí lý. Trên xem được Thiên thời , dưới xét được Địa lợi , giửa có thể quyết định được nhân sự. Ngoài ra không còn cái gì khác và phải đạo lý hơn cả. Luận Thái Cực Hóa Sinh : 1/. Thái Cực là Hoàng Đạo , Ngũ Hành thiên biến , vạn hóa là do ở đó. 2/. Tượng ( Lưỡng Nghi ) tức Âm và Dương , là Kiền Khôn ( trời đất ) 3/. Tam Tài ( là Trời , Đất , Người ). 4/. Tứ Tượng ( là Đông , Tây , Nam , Bắc ). 5/. Ngũ Hành ( là Kim , Mộc , Thủy , Hỏa , Thổ ). 6/. Lục Giáp ( là mỗi 60 năm là 1 Nguyên , có Thượng Trung Hạ Nguyên ). 7/. Thất Chính ( là Nhật cầu , Nguyệt cầu và 5 vì Tinh tú ). 8/. Bát Quái ( là Kiền , Khảm , Cấn , Chấn , Tốn , Ly , Khôn , Đoài ). 9/. Cửu Cung ( là Tham , Cự , Lộc , Văn , Liêm , Vũ , Phá , Phụ , Bật ). 10/. Thành số ( theo ở Lạc Thư , thì 1 được thêm 9 thành 10 , gọi là Hợp Thập ). __________________ KHẢO NGHIỆM LA KINH ( Khởi lệ , dụng pháp , đối chứng ). ------------------------- La KInh chế ra tập trung được tất cả mọi tinh hoa của Trời Đất. Nguyên bản Thái Cực là tinh chất của Thiên Địa ngưng đọng lại , là căn bản của vạn vật. Đặt tên là La Kinh , vì chữ La có nghĩa là " bao la vạn vật " ; Kinh có nghĩa là kinh luận " Kinh Thiên Vĩ Địa , là trải khắp cả ngang Trời , dọc Đất ". Sở dĩ lập ra có qui cũ ( khuôn mẫu ) quyền cái , khinh trọng , thành ra vuông , tròn , chẳng cái gì mà không do cái Kim Châm ( kim vàng chỉ nam , bắc ) và cái Thiên Trì ( vòng tròn ). Trước hết để định về Phong Thủy , giả sử cái La Kinh mà không có Thiên Trì , thì không quyết định được phương Tý , Ngọ ; không phân biệt được Âm Dương ; không hoạch định được Bát Quái , Cửu Cung ; Ngũ Hành lẫn lộn , không sử dụng được 2 đầu mối của Can Chi ; không biết được Long , Hướng , Khí , Mạch hay dỡ thế nào , lấy gì mà làm căn cứ ? Vậy nên phải có Kim Châm ở trong vòng Thiên Trì. Động thì Dương , Tĩnh thì Âm . Lưỡng Nghi phân ra Tứ Tượng , phân ra Bát Quái ; định vị Cát Hung , tự nhiên hóa hóa , sinh sinh , vô cùng vô hạn ! Nguyên bản của Trời Đất không phải là ở đầu cực , mà ở 1 điểm chính giửa đỉnh châm làm tổ khí , và cũng là căn bản của vạn vật , vạn hóa. Phân xét : Ngoài Thiên Trì ra thì La Kinh tức là Thái Cực , phải lấy giửa Tý , Ngọ mà phân làm Lưỡng Tượng ; Lưỡng Tượng hợp với Mẹo , Dậu làm Tứ Tượng ; Tứ Tượng hợp với Tứ Duy làm Bát Quái ; Bát Quái định được rồi thì mọi phân vị đều được minh bạch quyền hành phận sự. Tức là Thiên Đạo , Địa Đạo , Nhân Đạo đã thiết lập định hoạch tinh tường. Có bài thơ : Hư , Nguy chi gian châm độ minh. Nam phương Trương độ thượng tam thừa. Khảm Ly chính vị , nhân nan thức. Sai khước hào ly , đoán bất linh. Nghĩa là : trong khoảng sao Hư và sao Nguy đã phân rõ ranh giới ; phương Nam thuộc về độ phận của sao Trương , trên có 3 vị liên tiếp ( Bính , Ngọ , Đinh ) ; Khảm và Ly là ngôi chính khí , đời ít có người biết ! Nếu làm sai 1 li , thì đoán họa , phúc không linh nghiệm. -------------------------------------------------------------------------- TẦNG THỨ 1 : TIÊN THIÊN BÁT QUÁI Tiên thiên bát quái là do 2 vị thánh :Văn Phục Hy và Văn Vương chế tạo ra, phù hợp với đức độ của trời đất và sự quang minh của nhật nguyệt thứ tự thời tiết của 4 mùa, cùng sự cát hung của nhân gian, như là có linh ứng của quỷ thần. Do thái cực chia ra động và tĩnh để làm lưỡng tượng tức Âm Dương...Do ở trong Dương tượng mà sinh ra Thái Dương và Thiếu Âm. Do trong Âm lượng mà sinh ra Thái Âm và Thiếu Dương:tức lá tứ tượng. Do Thái Dương mà sinh ra Kiền 1, Đoài 2. Do Thiếu Âm mà sinh ra Ly 3, Chấn 4 Do Thiếu Dương mà sinh ra Tốn 5, Khảm 6. Do Thái Âm mà sinh ra Cấn 7, Khôn 8 Đó là 8 cung của bát quái. Bát quái quyết định việc tốt xấu; tốt xấu sinh ra tất cả mọi việc hay dở. Nét vạch của quái(tức quẻ) thì có chẳn,lẻ như là : quẻ Kiền thì tam liên (tức 3 gạch liền ).Khôn lục đoạn( 6 nét đứt). Chấn ngưỡng bồn(tức hình cái chậu để ngửa). Cấn phúc uyển (hình cái chén úp). Ly trung hư (hình rỗng giữa). Khảm trung mãn(liền ở giữa). Đoài thượng khuyết (nét trên thiếu, đứt đôi). Tốn hạ đoạn (nét dưới đứt đôi ) Theo hiện tượng thì Kiền là Trời, Khôn là Đất, Chấn là Sấm, Cấn là Núi, Ly là Lửa, Khảm là Nước, Đoài là Đầm ao, Tốn là Gió. Theo Ngũ Hành phân biệt thì Kiền Đoài là Kim, , Khôn Cấn là Thổ, Ly là Hỏa, Khảm là Thủy, Chấn Tốn là Mộc. Theo 8 phương thì Kiến là Nam, Khôn là Bắc, Ly là Đông, Khảm là Tây, Chấn là Đông Bắc, Cấn là Tây Bắc, Đoài là Đông Nam, Tốn là Tây Nam. Kinh Dịch nói: Trời Đất định vị, núi sông thông khí, sấm gió cùng nhẹ (tức tương bạc), thủy hỏa bất tương xạ ( nước lửa chẳng diệt nhau ?!). Phân biệt thuận nghịch thì Tả toàn là từ Chấn đến Kiền , đều được những quẻ đã sinh là thuận; Hữu toàn là từ Khôn đến Tốn, gặp những quẻ chưa sinh là nghịch. Cương vị của quẻ Tiên Thiên là lấy nghĩa tương đối với nhau, xuất xứ từ chỗ còn hết của Âm Dương tự nhiên mà có sự kỳ diệu, vậy lấy Dương sinh ở Tý mà Cực (hêt) ở Ngọ, cho nên Chính Nam là Kiền, mà Kiền cũng chính là chỗ Dương Cực (hết) Dược Cực thì nhất Âm sinh, lấy Tây Nam làm Tốn; Tốn chính là chỗ nhất Âm bắt đầu sinh, Âm sinh thì khí hẳn là thịnh mà bao bọc Dương. Vậy nên chính Tây là Khảm, mà Khảm cũng là chỗ nhất Dương tàng ẩn ở trong mà bao bọc ở trong chỗ thịnh Âm. Âm thịnh thì Dương suy dần đi, tức là thời kỳ đang bị chiếm lần để lập lên Cấn ở Tây Bắc. Cấn chẳng phải là nhị Âm thịnh mà là nhất Dương đã bị tiêu dần. Âm sinh ở Ngọ mà Cực ở Tý, cho nên lấy chính Bắc làm Khôn, Khôn chính là Âm Cực, mà Âm Cực thì nhất dương sinh. Cho nên lấy Đông Bắc làm Chấn, Chấn chính là chỗ nhất Dương bắt đầu sinh. Dương sinh thì khí hẳn thịnh mà bao bọc Âm, cho nên lấy Chín Đông làm Ly, Ly chính là chỗ nhất Âm trung tàng mà được bọc ở trong chỗ thịnh Dương. Dương sinh thì Âm sắp tiêu dần đi, cho nên lấy Đông Nam làm Đoài, Đoài không phải là chỗ nhị Dương Thịnh mà là chỗ thịnh Âm sắp tiêu dần hay sao ? Vậy Kiền, Khôn ở chính vị Nam, Bắc là suy xét ở lẽ Âm, Dương tiêu trưởng (mòn hết , lớn lên) tự nhiên mà có như vậy. Khảm, Ly chính vị ở Đông Tây là lấy lý do xem sự tròn khuyết của mặt trời, mặt trăng ở những ngày Hối, Sóc, Huyền, Vọng (30, mùng 1, 14 và ngày Rằm) làm bằng cớ. Từ Hạ Huyền lúc méo mờ, dần dần lớn lên, đến khi tròn sáng, là Âm tiêu, Dương trưởng, là từ dưới lớn dần lên. Vì vậy quẻ Tả Toàn nhất Dương Chấn, nhị Dương Đoài, tam Dương Kiền, lấy cái hình tượng như thế đấy! Bởi từ Thượng Huyền mờ dần đến khi tối vẹn là Dương tiêu, Âm tức (nghỉ). Vì vậy quẻ Hữu Toàn nhất Âm Tốn, nhị Âm Cấn, tam Âm Khôn, là lấy có tượng như thế đấy! Sở dĩ như vậy mà Dương sáng, Âm tối. Cho nên mặt trăng chịu ảnh hưởng của ánh sáng mặt trời. Ngày Hối (30) thì ánh sáng của mặt trời khuất sau lưng của Trái đất, nên mặt trăng tối. Hôm Rằm (ngày Vọng) thì mặt trời đối chiếu vào mặt trăng nên mặt trăng sáng vẹn toàn. Biết cái sự sáng, tối, tròn, khuyết của mặt trăng thì biết là mặt trời ở giửa. Khàm, Ly là ngôi chính vị liệt ở Đông Tây. Âm Dương tiêu trưởng là lẽ tự nhiên. Người đời chỉ biết quẻ đối đãi của Tiên Thiên mà không hiểu cái lẽ hay của Âm Dương tiêu trưởng. Sở dĩ cái Thể của Lý Khí bao quát vô cùng là vậy đó. TẦNG THỨ HAI: LẠC THƯ (tức hậu thiên bát quái) Lạc thư là chữ số ghi trên lưng con rủa ở sông Lạc, hiện lên thấy có: số 9 ở đầu, số 1 ở chân, số 3 bên tả, số 7 bên hữu, số 2 và số 4 ở vai, số 6 và số 8 ở chân, số 5 ở trung cung. Đây là thần quy phụ đế ở trên giữa sông Lạc. Lấy đó mà thành biến vô cùng, 1-Khảm-Thuỷ, 2-Khôn-Thổ, 3-Chấn-Mộc, 4-Tốn-Mộc, 5-Trung-Thổ, 6-Kiền-Kim, 7-Đoài-Kim, 8-Cấn-Thổ, 9-Ly-Hoả. Bát quái do đó lập thành. Phép làm lịch nhân đó mà có nhất bạch, nhị hắc, tam bích, tứ lục, ngũ hoàng, lục bạch, thất xích, bát bạch, cửu tử. Lấy hình tượng để hoá tứ tượng. Thái dương ở số 1, liền với số 9 nên thành ra 4x9=36. Thái âm ở số 4 liền với số 6 nên thành ra 4x6=24, cộng lại 36+24=60 số, để thành 60 giáp tý. Thiếu dương ở số 3 mà liền với số 7 nên thành ra 4x7=28. Thiếu âm ở số 2 mà liền với số 8 nên thành ra 4x8=32, cộng lại 28+32=60, để thành 60 hoa giáp, hợp với 60 trước hoá ra 120, là nguồn gốc của 120 phân kim, còn về sự hoá ra số chẵn, lẻ, âm, dương thì số 1, 3, 5, 7, 9 là số lẻ thuộc về dương; số 2, 4, 6, 8,10 là số chẵn thuộc âm. Kiền, Khôn, Khảm, Ly là 4 quẻ thuộc dương. Chấn, Tốn, Cấn, Đoài là 4 quẻ thuộc âm. Theo hậu thiên 1 được 9 thành 10, tức hướng Tý, Ngọ(Khảm, Ly) 2 được 8 thành 10, tức hướng Khôn, Cấn, 3 được 7 thành 10, tức hướng Chấn, Đoài(Mão, Dậu) 4 được 6 thành 10, tức là hướng Kiền, Tốn là hậu thiên phu phụ đối đãi. Theo số của Lạc thư thì Khảm 1, Kiền 6, Cấn 8 cộng là 15 số ở phương Bắc; Tốn 4, Ly 9, Khôn 2 cộng là 15 số ở phương Nam; Chấn 3, Tốn 4, Cấn 8 cộng là 15 số ở phương Đông; Đoài 7, Khôn 2, Kiền 6 cộng là 15 số ở phương Tây; tổng cộng là 60 số để ứng với 60 long. Do ở nguồn gốc đó mà ra; Tứ chính, tứ duy, trung ương cộng là 60 số, hợp cả 60 số trước lại là 120 phân kim. Ngang 15, dọc 16 cái thành ra 240 phân, mỗi sơn 10 phân, lấy ứng 240 sơn, để dùng làm việc phân kim, biết số vượng, tướng, cô, hư, sát diệu. Về Hà đồ thì 1 cùng tông với 6, nên Giáp và Kỷ hợp; 2 cùng đạo với 7 nên Ất và Canh hợp; 3 với 8 là bạn nên Bính với Tân hợp; 4 với 9 cùng hội nên Đinh với Nhâm hợp; 5 với 10 cùng đường nên Mậu với Quý hợp. Như vậy ta thấy Hà đồ Lạc thư vận dụng rất rộng rãi, hễ gặp hợp thì hoá, tất được 5 mà thành 10. Cho nên giáp kỷ bắt đầu khởi từ Giáp Tý đến 5 vị gặp Mậu Thìn hoá thổ; Ất Canh khởi Bính Tý tiến 5 vị gặp Canh Thìn thì hoá kim; Bính Tân khởi Mậu Tý tiến 5 vị gặp Nhâm Thìn thì hoá thuỷ; Đinh Nhâm khởi Canh Tý tiến 5 vị gặp Giáp Thìn thì hoá mộc; Mậu Quý khởi Nhâm Tý tiến 5 vị gặp Bính Thìn thì hoá hoả. Đó là tương hợp tương hoá, tương tòng, nguyên tắc của phép độn ngũ tý; gặp dần mà sinh, gặp thìn mà biến là lẽ thường như: Giáp Kỷ khởi Giáp Tý, đến Dần là Bính hoả mà sinh ra Mậu Thìn thổ. 4 cung sau cũng vậy theo đó sẽ suy ra. Lạc thư 1 được 5 thành 6 nên Giáp với Kỷ hợp; 2 được 5 thành 7 nên Ất với Canh hợp; 3 được 5 thành 8 nên Bính với Tân hợp; 4 được 5 thành 9 nên Đinh với Nhâm hợp; 5 được 5 thành 10 nên Mậu với Quý hợp. Theo Hà đồ 1-6 là Thuỷ, 2-7 là hoả, 3-8 là Mộc, 4-9 là Kim, 5-10 là Thổ. Thiên 1, địa 2, thiên 3, địa 4, thiên 5, địa 6, thiên 7, địa 8, thiên 9, địa 10. Nói về thiên số thì giáp, bính, mậu, canh, nhâm là 5 vị dương can. Về địa số thì ất, tân, đinh, kỷ, quý là 5 âm can. Theo số đại diễn thì thiên số có 25, địa số có 30, cộng là 55 rất tinh vi và diệu dụng vô cùng. TẦNG THỨ BA: BÁT SÁT HOÀNG TUYỀN Khảm Long, Khôn Thố, Chấn sơn Hầu Tốn Kê, Kiền Mã, Đoài Xà đầu Cấn Hổ, Ly Trư, vi sát diệu Trach, mộ phùng chi, nhất khắc hưu Trên đây là cái sát hàng đầu, rất kỵ cho việc tạo táng. Người ta thường gọi là Bát sát, chỉ có 8 cái phương sát: Khảm long kỵ Thìn và Tuất 2 thuỷ lại, Khôn long kỵ Mão thuỷ lại, Chấn long kỵ Thân thuỷ lại, Tốn long kỵ Dậu thuỷ lại, Kiền long kỵ Ngọ thuỷ lại, Đoài long kỵ Tỵ thuỷ lại, Cấn long kỵ Dần thuỷ lại, Ly long kỵ Hợi thuỷ lại, mỗi long chỉ có 1 sát.Còn về chọn ngày tạo mệnh thì ở năm, tháng, ngày, giờ kỵ dụng. Ví dụ như Khảm sơ thì kỵ mậu thìn, mậu tuất, Khôn sơn kỵ ất mão, Chấn sơn kỵ canh thân, Tốn sơn kỵ tân mậu, kiền sơn kỵ nhâm ngọ, Đoài sơn kỵ đinh tỵ, Cấn sơn kỵ bính dần, Ly sơn kỵ kỷ hợi. Đó, đều do ở hào quan quỹ của hỗn thiên ngũ hành phạm sát. Nếu tạo táng hay sửa chữa mộ ở phương đó cả hai việc; Trước hết đem thái tuế của năm, vào trung cung, tiến theo chiều thuận phi luân chuyển; sau lấy nguyệt kiến của tháng và ngày giờ phi ra 9 cung, như gặp quý tỵ, quý hợi của năm tháng ngày giờ vào trung cung, thì mậu tuất, mậu thìn đến nhất bạch, không nên sửa chữa ở phương khảm và tạo táng ở khảm sơn. Nếu gặp kỷ dậu niên, kỷ dậu nguyệt, kỷ dậu nhật, kỷ dậu thời nhập trung cung, chuyển đến ất mão là nhị hắc đáo khôn sơn thì có thể sửa hay là tạo táng ở khôn sơn được. Nếu như quý sửu niên, hay nguyệt, nhật, thời nhập trung cung phi chuyển đến canh thân, tân dậu đáo tam bạch, tứ lục thì không nên tu tạo ở 2 sơn chấn, tốn. Tân tỵ niên, nguyệt, nhật, thời nhập trung cung, luân chuyển tới ngọ là lục bạch, đáo kiền thì không nên tu tạo ở kiền sơn. Quý hợi niên, nguyệt, nhật, thời vào trung cung, luân chuyển đến bính dần là bát bạch đáo cấn thì không nên tu tạo ở cấn sơn. Ất mão niên, nguyệt, nhật, thời nhập trung cung phi chuyển đến đinh tỵ là thất xích đoài thì không nên tu tạo ở đoài sơn. Ất mùi niên, nguyệt, nhật, thời nhập trung cung phi chuyển đến kỷ hợi là cửu tử đáo ly, thì không thể tu tạo ở ly sơn được.Đó đều là bát sát quy cung, thì quyết định bách nhật nội, đại sinh hung hoạ thật nên tránh, đó là 8 cung sát nên cẩn thận chơ phạm vào. Bài ca về hỗn thiên ngũ hành: Kiền Kim, Giáp Tý, ngoại Nhâm Ngọ Khảm Thuỷ, Mậu Dần, ngoại Mậu Thân Cấn Thổ, Bính Thìn, ngoại Bính Tuất Chấn Mộc, Canh Tý, Canh Ngọ lân Tốn Mộc, Tân Sửu ngoại Tân vị Ly Hoả, Kỷ Mão, Kỷ Dậu tầm Khôn Thổ, Ất Mùi gia Quý Sửu Đoài Kim, Đinh Tỵ, Đinh Hợi bình Nghĩa là Kiền thuộc kim thì kỵ giáp tý và nhâm ngọ 2 phương, 7 cung kia cũng theo như thế mà suy nhận.Không kể chính sát hay bàng sát, chỉ kỵ ở chổ nạp giáp. Canh, Thân, Tân, Dậu đồng phạm với Ất, Mão; Cấn, Dần đồng phạm Nhâm, Hợi. Sơn và thuỷ đều có sát, sơn có sơn sát, thuỷ có thuỷ sát. Lập hướng gồm kỵ cả. Cho nên thuỷ hai dòng chảy lại, nước bên hữu lại thì trưởng tử bại, nước bên tả lại thì con thứ hai bại, nước chảy ngang trước mặt thì con thứ ba bại. Xem nước ở trên mặt ruộng sẽ thấy. Hướng kỵ: Khảm long thì kỵ Thìn Tuất hướng Cấn long thì lỵ Dần hướng Chấn long thì kỵ Thân hướng Tốn long thì kỵ Dậu hướng Ly long thì kỵ Hợi hướng Khôn long thì kỵ Mão hướng Đoài long thì kỵ Tỵ hướng Kiền long thì kỵ Ngọ hướng Đây là hào quan quỷ về hỗn thiên ngũ hành của tiên thiên bát quái. **Theo mình thì riêng Kiền Mã tức Kiền Ly thì không kỵ, vì sao ? Chính bởi Kiền của Tiên Thiên cũng chính là Ly của Hậu Thiên vậy. TẦNG THỨ TƯ TỨ LỘ VÀ BÁT LỘ HOÀNG TUYỀN Bài thi ca : Canh Đinh , Khôn thượng thị Hoàng Tuyền Khôn Hướng, Canh Đinh thiết mạc ngôn Ất Bính tu phòng Tốn Thủy tiên Tốn Hướng kỵ hành Ất Bính thượng Giáp Quý Hướng trung ưu kiến Cấn Cấn phùng Giáp Quý họa liên liên Tân Nhâm, Kiền lộ tối nghi kỵ Kiền Hướng, Tân Nhâm họa diệt nhiên Bốn cài Sát này là Tứ Lộ, đảo lộn lại hóa ra Bát Lộ Hoàng Tuyền, cũng sát kỵ như nhau. Đó là kỵ ở trên phương vị Lập Hướng có nước chảy lại Minh Đường ngay trước mặt. Khai Môn, Phóng Thủy càng kỵ nữa. Lấy Tọa Sơn khởi lệ, dùng bàn tay mà định 12 vị của vòng Trường Sinh, tính đến số Mộ, Tuyệt là phương Tiêu Thủy ở đó. Ví dụ như : Giáp Sơn Canh Hướng, thì Giáp là Mộc, Mộc Trường sinh ở Hợi, Mộc Dục ở Tý, Quan Đới ở Sửu...Mộ ở Đinh Mùi, Tuyệt ở Khôn Thân. Đây là mượn Hướng thược để lấy bàn về Tọa Sơn. Như Canh Hướng thì Tọa Giáp Sơn, Đinh Hướng thì Tọa Quý Sơn, đó chính là nghĩa câu " Kim Dương thu Quý Giáp chi linh", tức là nước ở phương Mùi Khôn nên chảy đi, không nên chảy lại trước Huyệt, Thủy triều vào là bại, phạm Hoàng Tuyền đại sát, bị yểu vong, cô quả. Chỉ lấy Tọa Sơn làm chủ, không cần bàn đến Long Tả Toàn hay Long Hữu Toàn gì cả. Thánh Nhân nói : Sinh-Vượng-Mộ hợp lại mà Mạnh-Trọng-Quý 3 phòng phân biệt; là ý nói : 2 phương Sinh, Vượng nên chảy lại, Mộ khố phương nên chảy đi. Nếu nên chảy vào mà lại chảy đi là phản! Là Sinh-Dưỡng Thủy khứ thì Mạnh phòng, tức là con trưởng bại. Nếu Vượng Thủy mà chảy đi thì trung phòng, tức con thứ hai bại. Nếu như Thủy nên chảy đi mà chảy lại, như là Thủy phượng Tử, Mộ chảy lại vào trước Huyệt đó thì Quý phòng, con thứ ba bại. Ví dụ ở cục này như thế, các cục khác cũng tương tự vậy mà suy ra. ĐỊA CHI HOÀNG TUYỀN: Mẹo Thìn Tị Ngọ phạ Tốn cung Ngọ Mùi Thân Dậu, Khôn nhược phùng Dậu Tuất Hợi Tý, Kiến cung thị Tý Sửu Dần Mẹo, Cấn tao hung. Nghĩa là: Mẹo Thìn Tị Ngọ thì Hoàng Tuyền ở Tốn Ngọ Mùi Thân Dậu thì Hoàng Tuyền ở Khôn Dậu Tuất Hợi Tý thì Hoàng Tuyền ở Kiền Tý Sửu Dần Mẹo thì Hoàng Tuyền ở Cấn BẠCH HỔ HOÀNG TUYỀN: Kiền Giáp Khảm Quý Thân Thìn sơn Bạch Hổ chuyển tại Đinh Mùi gian Cánh hữu Ly Nhâm Dần kiêm Tuất Hợi sơn lưu Thủy chủ ưu phiền Chấn Canh Hợi Mùi tứ sơn kỳ Thủy nhược lưu Thân khước bất nghi Cánh hữu Đoài Đinh Tị kiêm Sửu Phạm trước Ất Thìn Bạch Hổ khi. Khôn Ất nhị cung Sửu mạc phạm Thủy lai tất nam định vô nghì Cấn Bính sầu phùng Ly thượng hạ Tốn Tân ngộ Khảm họa nan di Nghĩa là : Kiền Giáp Khảm Quý Thân Thìn thì Bạch Hổ Hoàng Tuyền ở Đinh Mùi Ly Nhâm Dần Tuất .................................. Hợi Chấn Canh Hợi Mùi .................................. Thân Đoài Đinh Tị Sửu ....................................Ất Thìn Khôn Ất ....................................Sửu Cấn Bính ....................................Ly Tốn Tân ....................................Khảm Cả 2 cái Hoàng Tuyền trên đây ( Địa Chi Hoàng Tuyền và Bạch Hổ Hoàng Tuyền) đều lấy Hướng làm chủ, kiêng kỵ mở cửa và chỗ nước chảy tiêu đi ở phương đó. Tóm lại : Quyết (phép) này lấy Hướng thượng để luận định về Thủy lai đáo đường, hoặc Thủy khẩu, chỗ tiêu đi và đường ngõ đi, rất sợ phạm vào phương kỵ sát đó, sẽ hao người tốn của, tai họa và ly hương biệt tổ, nghiệm lắm! Cần dựa vào Thủy để lấy Hướng thì không bị những cái sát đó. Như Khôn Thủy lai thì lập 2 hướng Khôn Thân mà thu Thủy thì tốt, nếu lập Hướng Canh tức bị phạm Hoàng Tuyền thì xấu TẦNG THỨ NĂM CỬU TINH ĐẾ ỨNG TỨ VIÊN CỤC Cửu tinh là: Tham, Cự, Lộc, Văn, Liêm, Vũ, Phá, Phụ, Bật phối hợp với 24 sơn, dụng Địa mẫu quái để định, theo Bát Quái biến sao. Lấy cung đối với cung khôn khởi Tham Lang để phối hướng. Như Cấn Bính là Tham Lang thuộc Mộc, Cự Môn Thổ ở Tốn Tân, Kiến Giáp là Lộc Tồn Thổ, Ly Nhâm Dần Tuất là Văn Khúc Thủy, Chấn Canh Hợi Mùi là Liêm Trinh Hỏa, Đoài Đinh Tị Sửu là Vũ Khúc Kim, Khmả Quý Thân Thìn là Phá Quân Kim, Khôn Ất là Phụ Bật thuộc Thổ Mộc đó vậy. Kinh Dịch nói: Nhìn khí tượng bay trên trời rũ xuống thấy cát hung, ở trên trời thành khí tượng, ở dưới đất thành cái hình thể, chiếu xuống 24 sơn. Tinh có tốt có xấu, cho nên đất cũng có lành có dữ. Bảo rằng: Trời che Đất chở là lấy sao Thiên Hoàng ở Hợi, chiếu vào Tử-vi-viên ở trên đó, và Cấn là Thiên-thị-viên, Tốn là Thái-vi-viên, Đoài là Thiếu-vi-viên. Bốn cục này là 4 Vi-Thiên-Tinh rất quý. Thiến Quý chiếu vào Bính, Thiên Ất thì chiếu vàoTân, Nam Cực chiếu Đinh hợp Cấn, Tốn Đoài gọi là Lục Tú. Lại còn Thiên Bình chiếu vào Tị là đối cung Tử-vi-viên, gọi là Đế đô minh đường. Nên Hợi Tị hợp với Lục Tú gọi là Bát Quý. Ly cư chính nam là chính giửa trời đất đều tốt lành, nếu là mọi Dương Long thì là hạ (kém). Tóm lại, lấy Tử-Vi, Thiên-Thị, Thái-Vi, Thiếu-Vi làm 4 vị Thiên Tinh quý, trong 4 viên này thì có Tử-Vi, Thiên-Thị, Thái-Vi là 3 viên có cái hiệu nghiệm lập quốc, kiến đô, hợp 3 viên là tốt. Còn như Thiếu-Vi không phải là Đế tòa, là Huyền Đô không nên lấy dùng. Lấy 24 vị Thiên tinh này phối với sơn, sa, thủy ứng nghiệm. Lại còn lấy cái Long của Tam Dương, Lục Kiền là Thiên Hợi, Địa Cấn, Nhân Đinh, Tài Mão, Lộc Tốn, Mã Bính, tinh thần là Ngũ Cát đinh. Ngọc môn Tốn, Văn bút Tân, Học đường Bính, Xá đường Mão, Trường bịnh Bính Đinh. Kim đới Canh Dậu Tân, Ngân đới Mão Cấn, Cấu Phú Văn Quý Tốn Tân. Trên đây, trong cái Tam Cát, Lục Tú này thì Dương Trạch đại vượng, nhân đinh phú quý, và bền vững lâu dài; còn Âm Phần không bị mối, kiến, bùn nước vào quan tài mà phát phúc lâu dài. Đó là cùng vị về Thiên Tinh, Sa, Thủy, tốt hay xấu do đó mà định đoán. Hễ Sa quý thì sinh ra người quý, Sa tiện thì sinh ra người tiện. Còn Tầm Long nhập huyệt ở chỗ quá giáp, hễ thấy Thổ sắc biến khác thì tìm huyệt ở chỗ quá giáp đó. Như là: Quá giáp là đá thì huyệt cũng có đá, sắc đất màu đỏ là Liêm Trinh, vàng là Cự Môn... tất cả đều lấy Cửu Tinh mà luận. Xem Thổ sắc thì chuyên xem Long quá giáp, chỗ quá giáp với chỗ huyệt tính tình cũng tương tự. Phép xem Thổ sắc biến thì cần yếu lấy chỗ Long Nhập Thủ ở chỗ quá giáp đặt La Kinh coi. Như Cấn Bính là Tham Lang thuộc Mộc, mà Long đến lại huyệt thì sắc đất hẳn xanh; Tân Tốn là Cự Môn thuộc Thổ thì sắc đất vàng; Kiền Giáp là Lộc Tồn Thổ thì chỗ huyệt sắc đất cũng vàng; Ly Nhâm Dần Ngọ Tuất là Văn Khúc Thủy thì sắc đất chỗ huyệt hẳn đen; Chấn Canh Hợi Mùi là Liêm Trinh Hỏa thì sắc đất chỗ huyệt hẳn đỏ; Đoài Đinh Tị Sửu là Vũ Khúc Kim thì sắc đất hẳn trắng; Khảm Quý Thân Thìn là Phá Quân Kim thì đất chỗ huyệt hẳn là đen và trắng; Khôn Ất là Phụ Bật Thổ Mộc thì có phân ra Phụ thuộc Mộc, Bật thuộc Thổ, do vậy sắc đất chỗ huyệt hẳn là xanh vàng. Lấy màu sắc hồng hoàng, sáng tươi, mềm dẻo thì tốt; đen khô, rời vụn thì rật xấu. Thổ phì hậu thì tốt, kiên ngạnh và đá cứng cũng hung. Trên đây, trước nói về các công dụng của Cửu Tinh, sau kế Tứ-Viên Cửu tinh để ứng với viên-cục thiên tinh của 24 phương vị, phân hoạch kinh độ của một kinh bàn đều ra trong và ngoài thông, hợp cẩn trọng cả. PHÉP XEM SẮC ĐẤT: Thiên Thôi Quan nói: Chỗ quá giáp màu sắc đất tía thì huyệt cũng tía, hồng là Liêm Trinh, hoàng là Cự Môn. Thuyết an táng của tiền hiền nói: Bói để tìm chỗ đất táng mộ hay làm nhà ở xem tốt xấu, thì xem lấy chỗ đất sắc màu tươi sáng có cỏ cây mọc xanh tốt, chỗ ấy trước kia không phải là sông, đầm, thành trì và không có đường đi áp bức thì tốt. Chỗ đất có khí mạch tốt thì hài cốt tốt, vong hồn được yên ổn, con cháu được thịnh vượng, đó là lẽ cố nhiên. Nên người xưa định đặt huyệt chỗ nào thì bên ngoài xem hình thể núi sông, bên trong thì xem màu sắc đất tốt xấu, mới chắc chắn là được. Cốt nhất là được đất chắc mịn, mềm dẻo, sắc tươi sáng, thấy hồng hoàng như viên ngọc hay như thớ thịt, nửa nạc nửa mỡ là tốt thượng hạng. Nếu khô khan, rời rã như cát sỏi vụn thì xấu không có khí mạch. Tụ khí là hành Kim thì đất trắng, là Thủy khí thì đất đen, Mộc khí thì sắc xanh, Hỏa khí thì đất đỏ, là Thổ khí thì sắc vàng. Có nơi đất như cẩm thạch, óng ánh như long não, như ngọc bích là rất quý. Cần phải lựa xem chỗ nào có tính cách đặc biệt mới là thật tốt. Ví dụ: Cả vùng đất đó đều bình thường như nhau, chỉ có một chỗ khác sắc, hoặc mịn tươi hơn là rất tốt, khi khai đào huyệt thấy có sinh vật nào như rùa, cá là tinh túy của Thiên Địa, là có điềm tốt. Còn nếu thấy rắn, chuột, sâu bọ, kiến là xấu. Cấn phải nhận định rõ ràng kỹ lưỡng. Khi xem Âm phần, Dương trạch, cả hai bên đầu tối kỵ không được phạm vào Long Thể, phải để dư ra rộng rãi tư nhiên. Nếu bị phá thương Long sẽ sinh ra kiện tụng, hao tài, tổn nhân đinh, đã kinh nghiệm thấy nhiều không sai. Nếu không, hãy xem những nhà không biết, khi Tạo Táng đào xẻ phạm vào Long Thể thì sẽ thấy sự tai hại. Ngoài ra còn, ở ngoài chỗ Thủy Khẩu có tượng đá đặc biệt, hoặc có những diệu tinh, cũng không được phá hoại, phạm đến cũng sẽ bị ảnh hưởng như thế. Nguồn:HuyenKhongLySo.com
-
Thân chào nuocvietthanyeu cùng toàn thể ACE. Trung cũng có một kinh nghiệm nho nhỏ muốn chia sẽ cùng toàn thế ACE. Trong việc tu tạo sửa sang nhà cửa, chắc hẳng trong chúng ta ai cũng muốn điều tốt đẹp sẽ đến với ngôi nhà của mình. Chính vì điều đó người thợ luôn là yếu tố chính hàng đầu. Có những người thợ nếu phúc đức tâm họ sẽ không có gì, ngược lại nếu nhẫn tâm họ có thể làm cho ngôi nhà đó trờ thành một ngôi nhà không chủ chẳng hạn..vv. Trong thực tế khi làm nhà chủ và tớ thường có những yếu tố xích mích mâu thuẫn lẫn nhau, điều đó dẫn đến thợ sẽ có những hành động như yểm đòn dông, bậc cầu thang vào cung tử, trên đòn dông để 1 cái gương và 1 chiếc lược gãy, chôn sắt trước cửa nhà chẳng hạn..Trong thực tế kế bên nhà Trung đã chứng kiến một sự việc thương tâm. Chủ và thợ xích mích lẫn nhau, dẫn đến thợ đã làm tất cả cửa và bậc cầu thang vào cung tử, Kết quả người chồng và cũng là người chủ trong gia đình bị chính xe tải của nhà cán chết sau khi làm nhà xong 2 tuần. Khi thợ khác vào sữa nhà đo đạc lại thì tất cả vào cung tử cả. Người vợ mới thật sự hỡi ơi và bán lại nhà sau khi đó...Trong dân gian còn rất nhiều bí truyền ông cha để lại nhưng hầu như cũng còn nhiều thứ bị thất truyền và đi vào quên lãng...Còn rất rất nhiều việc khác và bí truyền khác Trung không tiện nêu trên đây. Nhưng có 1 bí quyết nhỏ giúp cho người chủ nhà xây nhà yên tâm hơn, đó là khi xây dựng hoặc động thổ chúng ta nên lén giấu cái bai và cây búa của người thợ chính. Như vậy thợ sẽ không làm được ngôi nhà mình, nếu có yểm cũng không ăn thua gì, và hầu như nếu yểm thì chính người thợ chính đó sẽ lãnh đủ hậu quả khó lường.
-
Xin lỗi ACE. Những bài viết trên đã post nhầm topic, kính nhờ BQT diễn đàn di chuyển sang mục Tử Vi. Chân thành cám ơn BQT.
-
Thân chào nướcvietthanyeu. Xin nuocviet đừng gọi Trung bằng ngài,thất lễ quá, thật là ngại. Những đoạn viết trên là của một Cao Nhân dich lại. Trung chỉ copy về cho mọi người cùng tham khảo trao đổi thêm về học thuật mà thôi. Cám ơn nuocviet đã dành thời gian đọc qua chủ đề trên. Thân . Lê Bá Trung.
-
Rishikesh! Một tên gọi linh thiêng, thành phố của các vị thánh. Từ lâu nay người ta đã coi thành phố này như một thánh địa mà tất cả những kẻ cầu đạo đều phải đến để đắm mình trong bầu không khí thiêng liêng. Rishikesh nằm ở một vị trí đặc biệt và là cánh cửa vào rặng Hy Mã Lạp Sơn. Từ đó đi lên hướng bắc là rặng núi hùng vĩ, chứa đựng những điều huyền bí. Phía nam là con sông Hằng, dòng sông thiêng của Ấn giáo. Một người Ấn bất kể giai cấp, trí thức, đều ít nhất một lần trầm mình trong dòng nước này để đón nhận những ân phược mà dòng sông mang lại. http://' target="_blank">Đúng như lời người Ấn bí mật thành Benares đã nói, khắp nơi đâu đâu cũng có các đạo sĩ và tín đồ hành hương. Có những đạo sĩ mình hạc, xương mai vừa đi vừa tụng niệm các câu thần chú. Có các đạo sĩ khổ hạnh, chống gậy trầm tư bên dòng nước sông Hằng. Chen chúc bên các tín đồ huyên náo là các thuật sĩ , quần áo sặc sỡ biểu diễn những trò lạ lùng. Một đạo sĩ to lớn, lực lưỡng, quấn khố bằng da cọp, uốn mình trong tư thế Yoga. Bên cạnh một thuật sĩ gầy gò, nằm lăn trên đất, lâm râm cầu nguyện. Có các vị tăng sang sảng đọc kinh bên cạnh những giáo sĩ vừa đánh trống vừa nhẩy nhót, ca hát tên các vị thần. Có những tu sĩ thiền định trong những hang đá đục sâu vào núi, không màng thế sự, bên cạnh những đạo sĩ râu tóc xồm xoàm, quấn mình trong những mảnh vải rách như một xác ướp. Có các tu sĩ nằm yên lặng, hơi thở thoi thóp như sắp chết, bên cạnh những thuật sĩ say sưa gọi tên thượng đế một cách ồn ào. Trong làn khói hương nghi ngút, các tín đồ hành hưoong chen vai thích cánh, trên mặt ai cũng một niềm thành kính rõ rệt. Phái đoàn cảm tưởng như đang lạc vào một thế giới lạ lùng, huyền ảo, với những nhân vật kỳ dị , khác thường. Bác sĩ Kavir, giám đốc viện nghiên cứư Phạn ngữ (Sanskrit) của chính phủ là một học giả nổi tiếng, có một kiến thức rộng và đã sống ở Rishikesh nhiều năm . Theo ông ta thì Rishikesh không còn là một thành phố của các bậc chân tu đạo hạnh như xưa, mà là một nơi quy tụ rất nhiều thành phần hỗn tạp. Đa số là các đạo sĩ, tu sĩ nghèo nàn từ hình thức đến tinh thần. Họ góp nhặt vài phép tu, vài phương pháp dưỡng sinh, vài câu thần chú, rồi kiếm ăn qua sự mê tín của dân chúng. Phần lớn những tu sĩ này đều là những kẻ thất bại ngoài đời, lười biếng, không chịu làm việc. Đối với một quốc gia chậm tiến như Ấn độ, thì hình thức dễ nhất để có cơm ăn, áo mặc, và một mái nhà, là trở nên một tu sĩ, sống trên lòng sùng tín của dân chúng. Vì không có một tiêu chuẩn kiểm soát nào, nên bất cứ ai cũng có thể trở thành tu sĩ; chỉ cần mặc áo tu sĩ, học thuộc vài câu kinh, vài hình thức lễ nghi, cúng tế là có thể tự xưng đạo sĩ, thánh nhân được rồi. Chính các tu sĩ, đạo sĩ giả mạo này là những kẻ làm hoen ố danh dự tôn giáo, lợi dụng đức tin để làm chuyện xằng bậy, ích kỷ cá nhân. Đã thế, họ còn tụ tập phe nhóm, phong chức tước, ca tụng lẫn nhau và đả kích những tu sĩ không cùng phe nhóm. Được tin có phái đoàn ngoại quốc đến nghiên cứu nền minh triết cổ truyền, rất đông đạo sĩ, gíao sĩ tìm đến để tiết lộ những pháp môn huyền bí, dĩ nhiên, là với một giá biểu. Khi bị từ chối, lập tức họ sụt giá như người mua bán. Một đạo sĩ đòi bán một cuốn sách bí truyền với giá 50 đồng tiền vàng, sau nhiều lần sụt giá, y bằng lòng để lại cuốn sách với giá một bữa ăn. Một nhóm tu sĩ danh xưng trọng vọng, chức tước đầy người đòi đến thảo luận triết lý với phái đoàn. Khi nghe họ giới thiệu về thành tích và đạo quả đạt được, phái đoàn cực kỳ ngẩn ngơ, vì toàn các bậc thần thánh gì đâu, chứ không phải người. Ai cũng tu cả trăm năm, đủ các phép thuật thần thông biến hoá. Tuy nhiên, khi một viên cảnh sát ở đâu bước vào thì các bậc “thần tiên” mặt mày lơ láo, kéo nhau bỏ chạy hết. Quanh các chợ , có rất nhiều tu sĩ khổ hạnh phô trương thân thể tàn phế bị huỷ hoại như một công trình vĩ đại. Phái đoàn không hiểu họ có thể đạt đến điều gì, ngoài ít xu lẻ mà khách bộ hành ném cho. Một số các đạo sĩ sử dụng tà thuật công khai. Với một giá biểu, họ sẵn sàng làm bùa chú, thư phù, nguyền rủa một kẻ thù của bạn, đem đến cho bạn một cô gái đẹp hoặc giúp bạn thành công trên thương trường. Đâu đâu cũng có đạo sĩ rao bán bùa ngãi hoặc xưng là đấng này, đấng nọ. Một tu sĩ đến gặp phái đoàn xưng là hậu thân của đấng Krishna và đã từng là Phật Thích Ca trong một tiền kiếp. Bác sĩ Kavir nổi giận ra lệnh tống giam ngay tu sĩ này. Khi cảnh sát đến còng tay, tu sĩ thú nhận, y chỉ là một học sinh thi rớt tiểu học, không sao kiếm được việc làm. Y đã lười biếng còn thích làm thầy kẻ khác, nên làm gì một thời gian cũng gặp khó khăn. Sau cùng, y cạo đầu, mặc áo tu và tự xưng là Krishna giáng thế, một số dân quê tin những lời tuyên bố của y. Họ quyên góp, xây cho y một ngôi đền. Y sống trên phẩm vật dâng cúng của tín đồ, một cách ung dung chẳng tu hành gì hết. Đã thế, y còn đòi hỏi này nọ, chê ngôi đền quá nhỏ bé không xứng với chức tước của y. Quen thói hống hách, lừa bịp, khi nghe tin có phái đoàn ngoại quốc đến thăm viếng, y dở trò bịp bợm để mong kiếm được món tiền nhỏ. Lịch sử Ấn độ cho thấy khi xưa Rishikesh là một thánh địa thiêng liêng, một nơi các tu sĩ thánh thiện đến để tu học. Sau này, khách hành hương quá đông, một số hành khất kéo nhau đến đây hành nghề. Thấy làm đạo sĩ coi bộ dễ kiếm ăn hơn nên nhiều hành khất đã “chuyển nghề” trở thành các đạo sư, gíao sĩ chuyên làm tiền các tín đồ ngây thơ, nhẹ dạ. Dĩ nhiên, Rishikesh vẫn còn các tu sĩ học thức, dành trọn đời cho việc đi tìm chân lý. Họ vẫn tu hành quanh đó không để ý đến sự kiện các tu sĩ giả lợi dụng sự có mặt của họ để mưu cầu lợi lộc. Đó cũng là một nét đặc thù của nền văn hoá xứ này. Một người Âu Mỹ chắc chắn không thể chấp nhận sự kiện như thế, họ sẽ nhờ luật pháp can thiệp hoặc cảnh cáo những tu sĩ bất lương. Nhưng Ấn giáo không có một tổ chức chặt chẽ như Thiên chúa giáo. Các giáo sĩ quan niệm có nhiều đường tu khác nhau, ai tu nấy chịu và những kẻ mạo danh, lợi dụng sẽ phải chịu hậu quả ở một kiếp sau. Giáo sư Kavir cho biết, theo thời gian, khi nền văn hoá suy đồi, cuộc sống trở nên khó khăn, các bậc tu sĩ thánh thiện mỗi ngày một hiếm, thì các đạo sĩ, thuật sĩ giả mạo nổi lên mỗi ngày một nhiều. Hàng ngàn người dốt nát, vô học đi lang thang với các chức tước rất lớn như đạo sư, giáo sĩ, thánh nhân. Họ chỉ chờ những ngày hội, ngày lễ là xuất hiện quanh các đền, chùa lên mặt này nọ để quyên tiền. Dĩ nhiên họ là gánh nặng của xã hội, vì chỉ thụ hưởng mà không làm lợi ích gì. Đó cũng là lý do nhiều người Âu Mỹ đã coi thường gia tài văn hoá xứ Ấn. Xét cho cùng, một phần lỗi cũng là do sự tôn sùng tôn giáo quá mạnh của dân chúng. Họ không phân biệt một đạo sư tu hành chân chính, gìn giữ giới luật nghiêm minh, với những kẻ bịp đời. Lòng sùng tín khiến họ trở nên ngây thơ, nhẹ dạ, sẵn sàng làm theo sự mách bảo của các bậc tu hành. Một lý do nữa là sự ỷ lại vào sức mạnh thần quyền. Đa số các tín đồ mải mê với sinh kế, không có thì giờ lo việc tinh thần, nên họ uỷ thác cho các giáo sĩ cầu nguyện dùm, và đồng hoá việc giải thoát với việc trung thành vào một bậc giáo sĩ. Đa số các giáo sĩ lợi dụng vấn đề này tối đa, hứa hẹn sẽ chăm lo tinh thần giáo dân bằng cách cầu nguyện cho họ. Các giáo sĩ này tự hào đã tu hành đắc đạo, đã có thể nói chuyện trực tiếp với thượng đế. Và là người trung gian giữa trời và người. Họ sống trong các đền đài đẹp đẽ, hưởng thụ vật dụng được cúng, và nhân danh thượng đế để đòi hỏi này nọ. Người Á châu bản tính không thích hoài nghi, chấp nhận việc các tu sĩ nói ra ý muốn của thượng đế, và tuân hành triệt để. Cũng vì thế, các tài liệu tôn giáo Ấn độ đã bị sửa đổi rất nhiều, không phân biệt được điều có thật với những sự kiện huyền hoặc. Các tu sĩ tha hồ trích dẫn những câu nói bí ẩn, và giảng ra theo ý nghĩa có lợi nhất cho họ. Xứ Ấn độ phân biệt giai cấp rõ ràng, tu sĩ luôn đứng hàng đầu trên cả vua chúa, quý phái. Giai cấp tu sĩ không làm gì, chỉ hưởng thụ và các giai cấp khác có bổn phận phải cung cấp các nhu cầu đòi hỏi của tu sĩ. Cũng vì không làm gì, quá nhàn hạ, họ đâm ra chống báng , đả kích lẫn nhau. Mỗi người tự lập một giáo phái, xưng hùng, xưng bá, giảng kinh điển theo quan niệm của mình từ cụ thể đến trừu tượng, như Thời gian luận, Phương hướng luận, Đa nguyên luận…Không ai chịu theo ai, và còn tranh luận lung tung khiến các tín đồ không còn biết đâu mà lần. Cũng vì xã hội nghèo đói, rối ren, tinh thần lại điên đảo bởi các tà thuyết, nên từ bao năm nay, Ấn độ không sao trở nên một quốc gia hùng cường, thịnh vượng như các xứ khác. Tuy thế, với gia tài minh triết lớn lao tiềm ẩn, vẫn có các bậc chân tu đạo hạnh, sống kín đáo để giữ cho ngọn lửa tâm linh luôn cháy sáng và vẫn có những người tha thiết mong cầu chân lý, sẵn sàng từ bỏ tất cả để đi tìm chân lý. Sự kiện từ bỏ tất cả để đi tìm đạo cũng là một nét rất đặc biệt của Á châu, vì người Âu Mỹ khó có thể chấp nhận vấn đề từ bỏ của cải, vật chất, để chạy theo một viễn ảnh trừu tượng, viễn vông, không thiết thực. Người Âu cả quyết rằng sự tìm kiếm chân lý là vô ích, hạnh phúc là hưởng thụ tất cả những gì cuộc đời có thể mang lại vì chết là hết! Nếu như thế, thì mục đích cuộc đời là gì ? Tại sao chúng ta lại sinh ra để chết ? Văn hoá Âu tây đã không giải thích được vấn đề này một cách rốt ráo. Biết bao nhà triết học nổi danh đã nhức óc về đề tài này, nhưng đa số đều chỉ nói một cách quanh co, không đi đến một kết luận nào chắc chắn. Họ chỉ nói rằng có thể như thế này, hay cũng có thể như thế khác mà thôi. Cho đến khi người Âu thật sự giao tiếp với người Á châu, thì họ bỗng bật ngửa, vì tất cả những gì họ thắc mắc thì người Á châu đã có những câu trả lời từ nhiều ngàn năm về trước. Lịch sử đã ghi nhận có những người Âu đến viếng thăm Á châu và say mê nền minh triết xứ này, đến nổi quên cả mục đích chính của chuyến đi. Điển hình là đại đế Alexander xứ Hy Lạp, vị hoàng đế, bách chiến bách thắng đã chinh phục thế giới, dẹp tan Ai cập, quét sạch Ba tư , mở rộng bờ cỏi đến tận Ấn độ dương. Khi đến Ấn độ, ông là một kẻ chinh phục, oai danh lừng lẫy nhưng khi trở về nước, ông đã trở nên một triết gia khiêm tốn, nhã nhặn. Hoàng đế Alexander, học trò của hiền triết Aristotle đã bị các bậc hiền giả xứ Ấn chinh phục. Khi dẹp tan các đạo binh của hoàng đế Ấn độ, Alexander cho mang tất cả những tướng chỉ huy xứ Ấn đến hạch hỏi. Ông vua kiêu căng lớn tiếng, “Thua trận như vậy, các người đã chịu phục ta chưa ?”. Nếu là trường hợp các quốc gia khác, thì vua chúa đều quỳ mọp xin tha tội, và xin thần phục trước sức mạnh của Hy Lạp. Nhà chỉ huy xứ Ấn đã dõng dạc trả lời, “Nhà ngươi chỉ là một kẻ vũ phu, tàn ác làm sao ta phục cho được. Người có thể thắng bằng quân sự, nhưng cai trị thế nào nổi dân của ta?” Alexander nổi giận, “Ta đã cai trị toàn thế giới, có nước nào không phục tài ta, nơi nào làm phản, ta giêt trọn cả nước. Ngươi không thấy các đại cường quốc như Ai cập, Ba tư còn xin thần phục huống chi Ấn độ yếu đuối ?” Vị chỉ huy xứ Ấn bật cười, “Chinh phục bàng sức mạnh quân sự thì dễ, chứ chinh phục nhân tâm còn khó gấp trăm ngàn lần. Một kẻ vũ phu như ngươi, làm sao có thể cai trị được Ấn độ ?” Câu nói bất ngờ làm đại đế Alexander giật mình. Nên nhớ, ông là một hoàng đế văn võ toàn tài, chứ không phải là một kẻ chỉ ỷ vào sức mạnh. Từ nhỏ, ông đã được giáo dục bởi các bậc hiền triết Hy Lạp và năm 14 tuổi, ông đã đem quân chinh phạt khắp Địa trung hải, tạo các chiến công hiển hách. Ông theo học với triết gia Aristotle và lúc nào cũng có vài chục hiền giả chung quanh để thảo luận. Câu nói của vị tướng lãnh chỉ huy xứ Ấn, làm ông suy nghĩ. Thay vì ra lệnh giết ngay viên tướng này để làm gương, ông đã không giận dữ, lại còn mang ngay đề tài chinh phục nhân tâm ra thảo luận với y. Trong suốt lịch sử Âu châu, chỉ có Alexander là hoàng đế duy nhất đã tranh luận ôn tồn cho đến khi kẻ thù kính phục mới thôi. Chi tiết cuộc thảo luận này ra sao, không thấy lịch sử ghi chép nhưng chỉ ít lâu sau, hoàng đế Alexander đã cho mời các bậc hiền triết xứ Ấn đến thảo luận với các học giả Hy Lạp vẫn tháp tùng theo đoàn viễn chinh. Chỉ một thời gian ngắn, Alexander nhận thấy các triết gia Hy Lạp không thể sánh kịp với các hiền giả Ấn độ. Nhà vua bèn đổi thái độ, lấy lễ nghĩa đối xử với các vị này. Thay vì cai trị bằng sức mạnh như vẫn làm với các quốc gia khác, ông ghi nhận những lời khuyên của các bậc hiền triết, tôn trọng quyền lợi dân chúng xứ này. Đoàn quân viễn chinh ngừng lại, không đi sâu vào nội địa xứ Ấn, để ông có thời gian học hỏi, đàm đạo với các bậc thánh nhân, hiền triết. Các cuộc thảo luận nhiều khi kéo dài đến cả tuần lễ, có khi cả tháng. Sau đó, ông đã ra lệnh rút binh trở về Hy Lạp, vì giấc mộng bá vương không còn nữa. Ông dự định sẽ cải tổ lại guồng máy cai trị thế giới theo gương Ấn độ. Tiếc thay, nhà vua lại chết sớm khi chưa đầy 30 tuổi. Một sử gia đã than, “Nếu Alexander sống lâu thêm ít năm nữa, thì biết đâu lịch sử Tây phương đã khác hẳn. Trong các hiền triết nổi danh, Ramakrishna được coi là một vị thánh của Ấn giáo. Danh tiếng ông này vang sang tận Âu châu. Phái đoàn tìm đến đức Mahayasa, môn đệ của ông này đang tu ở một ngôi đền gần đó. Ngang qua một khoảng sân nhỏ đến một căn phòng kiến trúc kiểu xưa, cổ kính. Mọi người được mời ngồi xuống thảm. Khoảng vài phút sau, có tiếng chân người chậm rãi bước lại, đó là một ông lão khoẻ mạnh, râu dài trắng phếu, dung mạo nghiêm trang, và đôi mắt chói sáng toả ra một cái gì thánh thiện, khiến mọi người có cảm giác rung động lạ thường. Giaó sư Evans-Wentz lên tiếng bày tỏ mục địch của phái đoàn, Mahayasa mỉm cười : - Ơn trên đã dẫn dắt các ông đến đây, các ông sẽ có dịp tiếp xúc nhiều với những bậc hiền triết xứ này. Ơn trên có một mục đích rõ ràng rồi các ông sẽ thấy. - Chúng tôi nghe nói nhiều về đạo sư Ramakrishna, ông có thể cho chúng tôi biết thêm về ngài không ? - Tôi rất thích nói về ngài. Ngài mất đã nửa thế kỷ rồi, nhưng vẫn còn lưu lại nhiều kỷ niệm linh động trong lòng tôi. Tôi gặp ngài hồi 27 tuổi, và luôn luôn ở bên ngài, cho đến những ngày cuối cùng. Nhờ ngài, tôi đã trở thành một con người mới, và quan niệm của tôi đối với cuộc đời cũng thay đổi hẳn. Ảnh hưởng của ngài thật sâu đậm, ai đến với ngài cũng được cảm hoá như vậy, kể cả những kẻ hoài nghi, chế nhạo… - Nhưng nếu người ta không tin, làm sao người ta có thể được cảm hoá ? Đức Mahayasa mỉm cười: - Trước ảnh hưởng an lành toả ra từ con người thánh thiện của đức Ramakrishna dù có hoài nghi thế nào, người ta cũng thấy thanh thoát. Giaó sư Allen rụt rè : - Chúng tôi được biết ngài rất ít học. - Đúng thế, ngài là con người đơn giản, biết ít, học ít, nhưng ngay cả những bậc học rộng , tài cao của Ấn độ đều ngưỡng mộ ngài. Họ cúi đầu trước hào quang tâm linh của ngài. Ngài vẫn dạy rằng tiền bạc, chức tước, địa vị chẳng qua chỉ là phù vân, hư ảo trước các giá trị tâm linh… - Nhưng người Âu không thể hiểu tại sao những vua chúa, học giả nổi tiếng lại có thể cúi đầu trưóoc một người không học hết bậc trung học. Đức Mahayasa mỉm cười : - Sở dĩ họ không hiểu được, vì họ quan niệm đạo sư phải là người có bằng cấp, tốt nghiệp những đại học nổi tiếng, có tài ăn nói hấp dẫn. Quan niệm người Ấn không như vậy. Một đạo sư không nhất thiết phải tốt nghiệp trường học chuyên môn, viết những sách vở cao siêu, mà ở những điều ngài khêu gợi, thức tỉnh tâm thức được cho mình. Có gần ngài, mới hiểu thế nào là bình an. Những ngày bên ngài tốt đẹp biết bao. Ngài thường đắm mình trong những cơn thiền định sâu xa, khiến chúng tôi có cảm tưởng như tiếp xúc với một vị thánh hơn một người phàm. Tôi xin kể cho các ông về cảm tưởng của tôi. Tôi được giáo dục theo phương pháp Âu tây, tôi rất tự đắc được đọc nhiều biết rộng hơn những người chung quanh. Khi đó tôi là giáo sư dạy Anh ngữ cho trường trung học ở Calcutta. Đức Ramakrishna tu ở đạo viện Dakshinewar cách đó không xa. Một hôm, tôi theo các bạn đến nghe ngài thuyết giảng, thực ra tôi có ý muốn biện luận với một vị, được dân chúng coi là thánh nhân, hơn là muốn nghe giảng. Nhưng một sự lạ lùng đã xảy ra, khi vừa nghe những lời nói của ngài, tôithấy trong lòng rộn rã một cảm giác lạ lùng, yên tĩnh. Ngài không nói bằng ngôn ngữ thông thường, sử dụng các danh từ bóng bẩy như tôi nghĩ, mà bằng tiếng nói của trái tim. Tôi say mê uống những lời giảng giản dị, chân thành như người khát nước lâu ngày, sau đó, tuần nào tôi cũng đến nghe giảng. Một thời gian sau, tôi được ngài thu nhận làm đệ tử, chính ngài khuyên tôi, “Xem tướng, thầy biết con sẽ trở nên một tu sĩ (Yogi). Con hãy làm tròn công việc hàng ngày của mình với đời. Nhưng tâm hồn lúc nào cũng tưởng nhớ đến thượng đế.” - Chúng tôi nghe nói về Ramakrishna ngay từ khi còn ở Âu châu, nhưng dư luận người Anh có lẽ không hiểu rõ về ngài, ngoại trừ việc ngài là một người không có học thức… Mahayasa gật đầu mỉm cười : - Theo sự hiểu biết của tôi, sở dĩ ngài không thích học vì bản tính ngài thiên hẳn về vấn đề tâm linh. Một người như thế tất nhiên không để ý đến những từ chương , bằng cấp hay quyền quí, danh lợi. Năm ngài bắt đầu vào tuổi thanh niên, một sự lạ xảy ra. Tuổi 16,17 là lúc đứa trẻ thường bị khủng hoảng hoặc thay đổi tâm tính nhất là trên phương diện tình ái. Đối với người cao thượng, đó là lúc mở màn cho một đời sống thật sự với sự phát triển các năng khiếu tâm linh siêu việt. Sự mở màn ấy bắt đầu vói sự hoảng hốt trước cái chết. Đa số con người ít nhiều cũng đã nghĩ đến sự chết nhưng họ chỉ nghĩ một lát rồi quên ngay, ít ai chịu tìm hiểu sâu xa. Các bậc hiền triết thì khác, họ tận lực tìm hiểu thế nào là sự chết, đức Ramakrishna cũng phản ứng như vậy, ngài suy ngẫm, “cái gì là chết? Thể xác này chết nhưng còn tôi, tôi có chết không ? Nếu tôi là thể xác này, tôi chết nhưng tôi có phải là thể xác này không ? Nếu tôi không là thể xác này, tôi sẽ không chết, nhưng làm sao tìm ra điều này? Chỉ có một cách là kinh nghiệm sự chết”. Sau đó, ngài quyết tâm tham thiền, suy gẫm về đề tài này. Ngài tưởng tượng thân thể ngài đã chết, không còn thở, không còn cảm xúc. Với một ý chí mãnh liệt, ngài rút hết sinh lực ra khỏi thể xác và một ngày kia ngài thành công. Thân thể ngài cứng đơ, bất động như người chết, nhưng ngay lúc đó một quyền lực khôn tả phát ra từ đáy lòng và tràn ngập tâm tư ngài. Chuyện gì xảy ra sau đó, không thấy ngài nói đến nhưng chúng ta có thể đoán ra, xuyên qua lời dạy của ngài. Chúng ta có thể nghĩ rằng quyền lực ấy là cái mà ta gọi là Ân huệ, và khi được mặc khải đó thì ta tiến sâu vào nguồn sống để hoà hợp với đấng vô cùng. Ngài đã hợp nhất với Chân Ngã. Từ đó, ngài kinh nghiệm rằng Chân Ngã ngự sâu trong lòng nhưng ngài chưa kinh nghiệm được một chân lý khác. Chân Ngã là sự thật duy nhất, ngoài sự thật đó không có gì nữa cả. Khi tiến sâu vào nội tâm, ngài thấy sự bình an nhưng khi ngài tỉnh dậy, ngài vẫn không thoả mãn vì điều ngài mới đạt đến chỉ là sự bình an của các vị thánh. Ngài ra tâm suy gẫm về cảm giác thiếu thốn này, thân thể ngài khi đó thường nóng hực kéo dài trong nhiều tháng. Dĩ nhiên ,những người chung quanh không hiểu, và cho rằng ngài mắc bệnh. Ngài đắm mình trong trạng thái Vô Ngã rất lâu, không màng đến những việc chung quanh. Chú của ngài không hiểu, nên thường trách mắng ngài lười biếng, không chịu học hành. Một hôm, ngài nghe nói đến ngôi đền Dakshiniwar, danh từ này có một sức hấp dẫn lạ lùng, thế là ngài quyết định đến đó. Đến nơi, ngài bước ngay đến trước tượng Shiva và nói, “Hỡi cha, cha đã gọi, nay con đến với cha.” Ngay lúc đó các cảm giác nóng hực, thiếu thốn hoàn toàn biến mất. Ngài chứng nghiệm được một chân lý mới, cha ta và ta là một. Từ đó ngài không cần tĩnh tâm mới có cảm giác an lạc, mà lúc nào cũng ở trạng thái này. Ramakrishna bị rất nhiều thử thách. Bị trẻ con chọc phá và các tu sĩ khác dèm pha, gây hấn, nhưng lòng ngài lúc nào cũng bình thản, lặng yên, không một chút vọng động. Kinh Gita dạy rằng một khi đã đạt đến trạng thái Vô Ngã, lòng người không còn bị xao động bởi các sự kiện bên ngoài, dù khắc khe, đau khổ đến đâu. Một sự an lạc tràn ngập thân ngài lôi cuốn những người chung quanh khiến họ khâm phục, kính mến và số người này mỗi ngày một đông. Một điều cần lưu ý là ngài không học hay đọc những sách vở gì về trạng thái Vô Ngã mà ngài đạt được lúc thanh xuân. Cũng không ai chỉ dẫn ngài về trạng thái siêu việt này. Nhưng mỗi khi tín đồ nhờ ngài giảng giải một đoạn kinh sách gì, ngài mới đọc và thông hiểu nó một cách dễ dàng. Các sách vở đó rất ư khó hiểu, nhưng ngài chỉ đọc lướt qua đã quán triệt được ngay, vì ngài đã chứng nghiệm được những điều nói trong sách đó. Ngài dạy đạo bằng sự lặng thinh hơn là lời nói, nhiều người đến với ngài để chất vấn, nhưng khi vừa gặp ngài thì mọi thắc mắc tự nhiên tiêu tan như đã được phúc đáp. Nếu một câu hỏi đặt ra, ngài thường trả lời một cách dịu dàng, vắn tắt, dễ hiểu. Ngài không viết sách như những đạo sư khác, mà chỉ dạy đạo qua cử chỉ yên lặng hay vài câu nói giản dị. Môn đệ của ngài đến từ khắp xứ và tuỳ theo căn cơ lãnh hội ít hay nhiều. Ý kiến của họ vê ngài tuy khác nhau, nhưng ai cũng nhìn nhận ngài là một đạo sư vào bậc nhất, và hết sức kính mến ngài. Vì đã đạt trạng thái Vô Ngã, Ramakrishna không phân biệt giữa ngài và những người khác, giữa người giàu, kẻ nghèo, hay nam nữ, đối với ngài, tất cả đều bình đẳng tuyệt đối kể cả những loài cầm thú. - Vì Ramakrishna không hề để lại sách vở, giáo lý, nên người Âu không hiểu tại sao ngài lại nổi tiếng như vậy? Ông có thể cho chúng tôi biết một chút về giáo lý của ngài không ? Mahayasa mỉm cười : - Sau khi ngài qua đời, nhiều đệ tử đã xuất gia để truyền bá giáo lý, riêng tôi vẫn còn là cư sĩ, hàng ngày tôi vẫn đi làm nhưng sống giữa cõi đời, mà tôi không còn tuỳ thuộc vào đời. Tôi còn nhớ rõ một lần ngài đã dạy như sau, “chúng ta xông pha trong cuộc đời với ý niệm cho rằng ta có thể tìm hạnh phúc trong cõi đời. Cho đến lúc gần đất, xa trời, nhiều người cũng không buồn hỏi rằng ý niệm đó có đúng không ? Thật sự là chúng ta chả bao giờ chịu ngừng lại để suy nghĩ, lúc nào chúng ta cũng nghĩ rằng mình gần đạt được những điều mình mong mỏi. Chúng ta chỉ chịu dừng chân khi nào bị cuộc đời hắt hủi, giày vò. Ramakrishna cho rằng đó là việc dĩ nhiên, và giải thích bằng giấc mộng . Trong giấc mộng, nếu ta chỉ gặp những điều thích thú, chúng ta vẫn mơ mộng mãi và chỉ giật mình tỉnh giấc khi gặp những chuyện đau buồn. Một cuộc đời êm đẹp không tiện cho sự suy tư về các vấn đề quan trọng, nhưng nếu là mộng thì chắc chắn cũng phải có lúc tỉnh. Trong nhiều năm ròng rã, chúng ta cố tìm hạnh phúc, và nhiều lần tưởng đã đạt được nó để hưởng một cách lâu bền. Nhưng lần nào ta cũng thất vọng. Sau đó, ta lại tiếp tục chạy theo ảo ảnh đó như trước. Nếu biết dừng chân suy nghĩ, ta sẽ thấy chúng ta đuổi theo hạnh phúc nhưng không hề biết đến bản chất thật sự của nó , và không biết phải dùng phương tiện nào để đạt nó. Hãy thử tìm hiểu thế nào là hạnh phúc. Ai cũng biết đặc tính của hạnh phúc là “thường hằng”, nghĩa là nó ở mãi với ta; suốt đời ta lúc nào cũng vui sướng, tươi tắn. Nhưng tất cả những gì cuộc đời mang lại cho ta đều là vô thường, chỉ có những khoái cảm nhất thời, chứ có gì lâu bền đâu. Vì khoái cảm nhiều và đến với ta như dòng nước chảy, chúng ta tưởng nó là hạnh phúc và kết luận rằng bao giờ dòng khoái cảm đó còn tiếp tục đến với ta, chúng ta được hưởng hạnh phúc. Suy gẫm kỹ thì khoái cảm chẳng qua chỉ là phản ứng của lòng ta trước sự vật bên ngoài, nó lôi cuốn chúng ta. Các sự vật này khi thì tạo vui, lúc thì gây khổ. Hơn nữa cùng một sự vật mà có thể tạo vui hay gây khổ tuỳ lúc, bởi thế ta phải nhận thức rằng “Hạnh phúc” không có ở sự vật bên ngoài. Nếu nó là sự vật bên ngoài, chúng ta phải càng có hạnh phúc khi càng có nhiều sự vật mới đúng chứ. Thật sự, người giàu có, lắm sự vật, chưa chắc đã hạnh phúc hơn kẻ nghèo. Nói cách khác, kẻ nghèo ít của cải, chưa chắc thiếu hạnh phúc hơn người giàu. Tóm lại, chúng ta thấy rõ ràng mình theo đuổi hạnh phúc nhưng không biết thế nào là hạnh phúc và cũng chả biết phải dùng cách nào để đạt hạnh phúc ?!! Những người tìm hiểu một cách chân thành sớm muộn gì cũng thấy rằng hạnh phúc nằm ở ngay nội tâm ta. Các khoái cảm không có tính cách tư hữu, mà chỉ là một tia nhỏ của hạnh phúc chân thật thuộc bản tính tự nhiên của con người ,bị che lấp bởi vô minh. Một con chó gậm xương bị trầy miệng, chảy máu nó lại tưởng rằng máu phát xuất từ khúc xương. Chúng ta cũng thế cứ tưởng sẽ được hạnh phúc khi chạy theo những vật ngoại giới. Có lẽ các ông khó chấp nhận quan niệm này, nhưng ít ra cũng tin rằng những nỗi vui hay buồn tuỳ ở chúng ta nhiều hơn là sự vật bên ngoài. Dù sao, sự chấp nhận này cũng chưa đủ đem lại cho ta hạnh phúc, vì có hai nỗi đe doạ : sự ham muốn và sợ hãi. Chúng ta càng ham muốn thì càng sợ hãi, và càng sợ hãi lại càng đau khổ. Thay vì diệt trừ những đe doạ này, chúng ta lại quỳ luỵ chúng . Khi ham muốn lên tiếng, “hãy đạt được vật đó đi, rồi sẽ sung sướng”, thì chúng ta tin tưởng và tìm mọi cách đạt kỳ được vật đó. Nếu chúng ta không đạt được, thì chúng ta đau khổ, mà nếu đạt được thì ham muốn lại thúc dục ta tìm đến một vật khác nữa. Thế mà chúng ta vẫn không thấy mình bị lừa gạt chút nào mới lạ, quả là ham muốn như lửa đỏ, càng cháy dữ khi càng đổ thêm dầu. Bao giờ chúng ta là nô lệ của dục vọng, chúng ta không sao đạt được hạnh phúc. Nếu đạt được lại sợ mất đi, càng có nhiều càng lo sợ nhiều, có đúng thế không ? Tóm lại, muốn có hạnh phúc thật sự, phải vượt lên khỏi sợ hãi và ham muốn. Đức Mahayasa im lặng như đắm chìm vào một quá khứ rồi tiếp tục : - Đến đây chúng ta cần được một vị thầy hướng dẫn thêm. Người này phải hiểu rõ hạnh phúc ở đâu, phải theo đường lối nào. Người này phải thắng được các đe doạ như sợ hãi, ham muốn, và thật sự đã đạt được niềm hạnh phúc vô biên; như vậy mới có đủ kinh nghiệm dìu dắt chúng ta. Như con bệnh phải đi tìm danh y thì kẻ cầu đạo cần một vị thầy. Ramakrishna chính là vị thầy mà tôi gặp. Kinh sách xưa xác nhận sự minh triết có thể giúp con người thoát khỏi khổ đau, nhưng ta không thể tìm nó bằng lý luận hay trong sách vở. Trong quá khứ, đã có những bậc đạo sư như đức Phật, đấng Christ đã tìm được hạnh phúc và hướng dẫn những kẻ khác. Sau khi các ngài tịch diệt, môn đệ có trình bày giáo lý của các ngài trong kinh sách, nhưng dù sao đi nữa, kinh sách cũng có những khiếm khuyết, ngôn ngữ làm sao diễn tả hết được, làm sao bằng lời những vị đạo sư hãy còn sống bên cạnh chúng ta. Ramakrishna đã dạy rằng, nguyên nhân các đau khổ đều ở trong ta chứ không phải ở bên ngoài. Có người hỏi thế giới chúng ta đang sống có điều gì xấu xa không? Thì ngài đã trả lời rằng nó rất tốt đẹp, có xấu xa chăng là lòng người, vì con người đã hiểu sainó. Công việc của chúng ta hiện nay là phải đi ngược dòng tìm cho ra sự sai lầm nguyên thuỷ để diệt trừ nó, thì mọi việc sẽ tốt đẹp… Phát giác và trừ tuyệt cái sai lầm căn bản là phương thuốc chánh, tất cả phương tiện khác đều chỉ là tạm bợ. Nhiều lắm là chúng giúp ta tìm ra phương thuốc nói trên. Đó là giá trị của các tôn giáo, các nghi lễ, tiếc thay tôn giáo hay gây sự chia rẽ, đôi khi còn làm cho tâm trí suy kém, cản trở bước tiến của tín đồ. Có người đã hỏi tại sao con người luôn luôn đau khổ, sợ hãi, thì ngài trả lời rằng, sự kiện đó là do lầm lạc phát sinh, từ sự thiếu hiểu biết chính mình. Có nhiều người, họ biết mình rất rõ ràng, hoặc lại cho rằng điều này không cần thiết, vì trong đời sống hàng ngày đầy rẫy những phức tạp, điểu ta cần khai thác là làm gì cho có lợi, kiếm được thật nhiều tiền. Để khai thác, con người gán cho kiến thức một giá trị quá mức, như bắt mọi người phải đến trưòong. Từ xưa đến nay nhân loại thu thập biết bao kiến thức nào là sử ký, địa dư, thiên văn, vật lý, triết học và siêu hình học nữa… Nếu những kiến thức này là sự hiểu biết đứng đắn thì nó phải đem lại hạnh phúc cho nhân loại chứ. Sự thật lại khác hẳn, chúng ta học cách chế ngự quyền lực thiên nhiên, đi ngược luật tạo hoá, khiến cho xã hội càng ngày càng đau khổ, bất mãn thêm. Sự chế ngự này, con đẻ của khoa học chỉ đem lại lợi ích cho một thiểu số thôi. Do đó, lắm kẻ giàu sang sung sướng nhưng vẫn không sao hạnh phúc được trước khổ đau của đa số. Tóm lại, khoa học đã tạo cho con người nhiều khó khăn hơn là giải quyết các điều kiện căn bản của cuộc sống. Đức Mahayasa nhìn mọi người trong phái đoàn, rồi tiếp tục : - Đã có một giáo sư đại học hỏi Ramakrishna về bức tường vô minh mà khoa học không sao vượt qua được. Họ biết các vật vi tế như nguyên tử, điện tử nhưng đó cũng chỉ qua sự ức đoán mà thôi, không phải biết một cách trực tiếp. Họ cũng biết các vật vĩ đại như các dãy thiên hà nhưng cũng chỉ ngưng ở đây thôi. Ngài đã trả lời rằng, ngoại cảnh chỉ đưa con người tới chỗ vô minh mà thôi. Theo ngài, nếu nhân loại cố tìm tòi những gì káhc hơn là bản chất con người thì những kiến thức ấy không phải sự hiểu biết thật sự. Lời nói này có vẻ làm giảm giá trị của khoa học, nhưng nếu suy nghĩ kỹ ta thấy ngài rất có lý. Sự hiểu biết về khoa học hiện nay còn nhiều điểm đáng nghi. Các khoa học gia vẫn còn bất đồng ý kiến về một chuyện gì, thì quần chúng đã lên tiếng ủng hộ, do đó những người bất đồng ý kiến cũng phải im, dù có thể họ rất có lý và số đông đã sai. Trong phạm vi khoa học, cũng như triết học và tôn giáo, ý kiến thưòong sai biệt ít nhiều, tuỳ tâm trí nhà bác học. Sự tìm hiểu chân lý bắt buộc một học giả phải có những đức tính cao quý vì tâm trí học giả có một ảnh hưởng to lớn trong sự tìm hiểu và sự hiểu biết chỉ cóthể xem như một chánh keí6n, khi người tìm kiếm có đủ tư cách. Vì thế khoa học đã vấp nhiều lỗi lầm khó sửa. Sự thất bại của khoa học phát sinh từ một lầm lỗi nguyên thuỷ là các bác học tưởng mình đã biết, không cần sự tự biết mình. Trong cả hai trường hợp, họ bắt đầu cuộc đi tìm với những thành kiến sai lầm về bản chất của họ. Do đó, những điều họ tìm ra dù có giá trị vẫn bắt đầu từ những sai lầm căn bản, hậu quả là khoa học ngày nay đã đưa nhân loại đến những hố thẳm, thay vì chân trời sáng lạng. Một hôm có tín đồ đến hỏi Ramakrishna về các thần tượng mà họ không thích. Họ muốn ngài chấp nhận ý kiến của họ là không nên thờ thượng đế dưới hình thức thần tượng. Một người hỏi ngài : - Thượng đế có sắc tướng không?. Ngài đáp: - “Ai nói rằng thượng đế có sắc tướng. - “Nếu thượng đế không có sắc tướng thì tại sao lại thờ ngài trong các hình tượng làm gì ? - Chúng ta hãy để thượng đế sang một bên, và xin anh cho tôi biết anh có sắc tướng không ? - Dĩ nhiên là có chứ, hãy nhìn thân thể này… - Nhưng anh có phải cái xác thân đen xám, râu tóc xồm xoàm này không? - Dĩ nhiên tôi là xác thân này chứ còn gì nữa. - Trong lúc ngủ say, không mơ mộng, anh có phải là nó không? - Có chứ, vì khi thức dậy tôi thấy tôi đâu thay đổi gì. - Và rồi khi anh chết. - Thì tôi cũng còn là nó. - Vậy thì tại sao khi người ta hoả thiêu nó, nó không nói nó không chịu đi, và muốn ở lại nhà ? Khi người này ý thức rằng mình đã sai và đáp rằng : - Tôi không phải là thể xác này, mà là sự sống trong nó. - Anh hãy suy gẫm kỹ về điều này. Hồi nãy anh nói rằng anh là thể xác này. Bây giờ anh lại nói rằng không phải. Cho mình là xác thân này là một lỗi lầm nguyên thuỷ. Bao giờ sự sai lầm này còn, dù anh nói thượng đế có sắc tướng hay không cũng không ăn thua gì . Khi sự sai lầm này được đánh tan thì mọi việc sẽ sáng tỏ. Tóm lại, theo Ramakrishna thì nguyên nhân của sợ hãi, dục vọng, ham muốn là do sai lầm đầu tiên, tự cho mình là xác thân này, vì sợ hãi hay ham muốn đều bắt đầu từ thể xác này. Dĩ nhiên, rất nhiều người cũng đồng ý như thế , và tin rằng con người không phải là thể xác mà là một sự sống trường cửu. Sách vở cũng nói như thế rất nhiều. Nhưng trong đời sống thực tế, họ có làm gì khác đâu. Lúc đầu họ nghĩ rằng nhờ kiến thức thu thập, hiểu biết các chân lý cao siêu họ sẽ khác người thường. Nhưng tại sao họ vẫn hành động y như họ là thể xác này vậy? Nếu xác thân họ nhỏ bé, họ cho rằng mình bé nhỏ. Nếu xác thân họ to lớn, đẹp đẽ, họ cho rằng mình lớn đẹp. Nếu xác thân họ ốm đau, họ cho rang mình bệnh hoạn. Nếu tư tưởng họ phong phú, họ cho rằng mình thông minh….Tóm lại, sự sợ hãi và dục vọng vẫn y như xưa, có thể lại còn gia tăng hơn vì họ hãnh diện về sự hiểu biết của mình hơn xưa. Nói một cách khác, sở dĩ họ làm thế, vì chưa chứng nghiệm được con người thật của mình, sự sai lầm nguyên thuỷ vẫn còn tác động mạnh mẽ nơi họ. Kiến thức của họ chưa tạo được một sự biến chuyển thật sự…. Ramakrishna đã dạy rằng, kiến thức về tâm linh thu thập qua sách vở thường tai hại hơn là một người thất học, dốt nát. Những người kiến văn quảng bác, lịch thiệp, bằng cấp, danh vọng thường ích kỷ, lại còn ngạo mạn, họ cho rằng mình biết nhiều, hiểu nhiều, và không chịu tìm hiểu, thực hành đào sâu vào thêm nữa. Đó là sự hiểu biết hời hợt qua sách vở, chứ đâu phải là một chứng nghiệm nội tâm. Sách vở chỉ là la-bàn hướng dẫn, chứ đâu phải minh triết thật sự. Sự thu thập kiến thức kiểu này, tạo nên tình trạng hỗn độn trong triết lý và thần học. Các triết gia và nhà thần học đã thảo luận không ngừng về những vấn đề khó khăn, như nguyên nhân đầu tiên, sự thật cuối cùng, bản chất thời gian, định mệnh con người, tự do, giải thoát, v..v… và chả đạt đến một kết quả nào. Các bậc hiền triết đứng bên ngoài cuộc thảo luận đó, vì họ có lối giải quyết riêng , trái với các giải pháp trí thức. Thay vì thảo luận, họ cố khám phá lấy sự thật, và khi tìm ra sự thật, các vấn đề trên sẽ đương nhiên được giải quyết. Nói đến đây, đức Mahayasa lặng yên chìm đắm trong một không khí êm đềm nào đó. Giaó sư Evans-Wentz cố gắng : - Nhưng con người không thể sốgn bằng đức tin, mà còn phải thoả mãn lý trí nữa, đối với những người thiên về lý trí, không biết ngài nghĩ sao ? Mahayasa mỉm cười : - Nếu thầy tôi Ramakrishna còn sống có lẽ ngài sẽ khuyên ông nên cầu nguyện. - Tại sao như vậy ? - Cầu nguyện là phương tiện cuối cùng của con người. Khi nào lý luận tỏ ra bất lực thì sự cầu nguyện sẽ bổ sung , phù trì, cứu độ… - Nhưng nếu tôi không thể cầu nguyện thì phải làm sao ? Đức Mahayasa nhìn giáo sư Wentz, ánh mắt ngài long lanh một niềm ưu ái : - Ông nên tiếp xúc với các bậc chân tu, các vị này sẽ hướng dẫn tâm hồn ông lên cõi thiêng liêng, và thức động các khả năng thiêng liêng nhất của ông. Có lẻ ông cần một vị thầy. Nguon:quehuongyeudau.blogtiengviet.net
-
Dịch Lý, Tử Vi, Phong Thủy và Tướng Mệnh là những khoa học huyền bí nhưng lại rất sát thực với cuộc sống hiện tại và giúp ích cho chúng ta rất nhiều trong những sinh hoạt hằng ngày. Chẳng hạn, khoa Phong Thủy giúp cho chúng ta khi đang sống trên đời biết chọn lựa, điều chỉnh, sửa đổi cho tốt đẹp hơn căn nhà chúng ta đang ở, cơ sở thương mãi chúng ta đang điều hành, và khi chúng ta buông tay từ giã cõi đời thì cũng biết chọn lựa một nơi để yên giấc ngàn thu. Quan niệm này rất quan trọng đối với người xưa, vì đây không phải cho chính bản thân chúng ta nữa mà cho con cháu chúng ta sau này. Chẳng hạn, vua Gia Long khi còn tại vị, ngài đã đích thân chọn địa điểm để xây lăng cho mình, bởi vậy, những triều vua về sau, tuy không có mấy ai tài giỏi như vua Gia Long, lại thêm lịch sử đã có nhiều biến chuyển, nhưng nhà Nguyễn vẫn kéo dài được hơn 150 năm. Khoa Tướng Mệnh giúp chúng ta biết người, biết ta trong vấn đề dùng người, kết bạn hoặc trong những việc giao dịch hằng ngày rất dễ dàng, chỉ qua một cái bắt tay nhau, đối diện nhau trong vài giây phút hoặc trao đổi với nhau vài câu chuyện mà có thể tránh được “lầm người” như chúng ta thường thấy. Còn thâm sâu hơn, như khoa Tử Vi Đẩu Số cũng giúp cho chúng ta biết mình, biết người một cách tường tận từ những chi tiết nhỏ nhặt cho đến tổng quát cả một đời người... http://' target="_blank">Những khoa học huyền bí nêu trên tuy có đối tượng khác nhau, nhưng mục đích giống nhau, ví dụ, đối tượng của khoa Phong Thủy là nơi chúng ta ở, lúc sống là nhà, là cơ sở làm ăn, lúc chết là mộ phần, còn đối tượng của khoa Tử Vi Đẩu Số là con người. Còn điểm tương đồng là những lãnh vực mà các khoa này diễn đạt và chi phối trong cuộc sống hằng ngày của một đời người. Chẳng hạn, khoa Phong Thủy chia căn nhà của chúng ta ra làm 8 cung, mỗi cung là biểu tượng một lãnh vực trong đời sống hằng ngày của chúng ta, đó là các cung Quan Lộc, cung Học Vấn, cung Gia Đạo, cung Tài Lộc, cung Địa Vị, cung Tình Duyên, cung Tử Tức và cung Quý Nhân, mỗi cung là mỗi hướng của căn nhà. Khoa Tử Vi cũng diễn đạt đời người qua 12 cung, cung Mệnh, cung Phụ Mẫu, cung Phúc Đức, cung Điền Trạch, cung Quan Lộc, cung Nô Bộc, cung Thiên Di, cung Tật Ách, cung Tài Lộc, cung Tử Tức, Cung Phu Thê, và cung Huynh Đệ. Trong ba bộ môn, Tử Vi, Phong Thủy và Tướng Mệnh, thì Tử Vi là khoa nặng về thiên mệnh hơn cả. Khi nghiên cứu về khoa Tử Vi Đẩu Số, chúng ta sẽ thấy rằng, một người sinh ra đời vào giờ nào, tháng nào và năm nào thì cuộc đời của người này đã được an bài từ giây phút đó. Bởi vậy, chúng ta có thể nói, đời người mười hai bến nước, Thân cư bến nào thì cuộc đời của mình sẽ có sắc thái của bến mà thuyền đời mình đã buông neo. Tử Vi chia cuộc sống của một người thành 12 lãnh vực là chúng ta chưa diễn đạt rõ trong 12 lãnh vực này thì lãnh vực nào sẽ nỗi bật nhất trong cuộc đời của người ấy? Khoa Tử Vi diễn đạt điều này bằng cung thứ mười ba, đó là cung Thân. Cung Thân không có một vị trí nhất định trong Thiên Bàn của lá số như 12 cung đã nêu trên, mà vị trí của cung Thân tùy thuộc vào giờ sinh của mỗi người và cung Thân chỉ đóng vào 1 trong 6 cung chính yếu là cung Mệnh, cung Phúc Đức, cung Quan Lộc, cung Tài Lộc, cung Thiên Di và cung Phu Thê mà thôi. Điều này phản ảnh một nhân sinh quan hợp lý của xã hội phong kiến: cuộc đời một người lúc sinh ra đã bị chi phối bởi số mệnh của mình (Tân cư Mệnh- Thân Mệnh đồng cung), khi ra đời thì bị chi phối bởi xã hội (Di), bởi công danh sự nghiệp (Quan hay Tài), bởi vợ chồng (Phu Thê) và bởi phúc đức của chính mình tạo ra hoặc thừa hưởng của ông bà cha mẹ (Phúc), chứ không bị chi phối bởi con cái (Tử), anh chị em (Bào) hoặc bạn bè hay người ăn người làm của mình (Nô)... Khoa Tử Vi Đẩu Số cũng cho rằng, trong 13 cung của một lá số thì cung Mệnh và cung Thân là hai cung quan trọng nhất. Cung Mệnh nói lên nét tổng quát cả cuộc đời của người đó và nhấn mạnh giai đoạn khởi đầu của cuộc đời gọi là tiền vận, tức là từ lúc sinh ra cho đến đoạn đời trong khoảng 30 đến 36 tuổi và cung Thân là bức tranh của đoạn đời còn lại hay còn gọi là hậu vận. Bởi sự quan trọng của cung Thân như vậy, cho nên một nguyên tắc căn bản của khoa Tử Vi là: “Thân cư cung nào thì cung đó sẽ là lãnh vực sinh hoạt chính yếu trong cuộc đời của người đó”. Như chúng ta đã nói ở trên, Thân chỉ vào 1 trong 6 cung chính và theo giờ sinh, những người sinh vào giờ Tý và giờ Ngọ thì Thân đóng ở cung Mệnh, gọi là Thân cư Mệnh, hay Thân Mệnh đồng cung, giờ Sửu và giờ Mùi thì Thân cư Phúc Đức, giờ Dần và Thân thì Thân cư Quan Lộc, vào giờ Mão và giờ Dậu thì Thân cư Thiên Di, vào giờ Thìn và giờ Tuất thì Thân cư Tài Lộc, giờ Tỵ và giờ Hợi thì Thân cư Phu Thê. Nguon:quehuongyeudau.blogtiengviet.net
-
Lời nói đầu: Vấn đề cốt tử của cách lý giải Tử Vi là ở giờ, tuy nhiên hiện nay mỗi người mỗi cách vì xuất phát từ múi giờ địa lý, thêm vào đó lịch của "tiền nhân" bị thay đổi nhiều lần nên đã "tam sao thất bản". Theo kinh nghiệm của người viết (QHYD) thì lấy theo giờ của "Diễn cần tam thế" là chuẩn. Mọi người kiểm chứng và góp ý thêm nhé. Cảm ơn ***Tháng 1 và 9: Giờ Tý: 0,20- 2,20; Giờ Sửu: 2,20 -4,20; Giờ Dần: 4,20-6,20; Giờ Mão: 6,20-8,20; Giờ Thìn: 8,20-10,20; Giờ Tỵ: 10,00-12,20; Giờ Ngọ: 12,20-14,20; Giờ Mùi: 14,20-16,20; Giờ Thân: 16,20-18,20; Giờ Dậu: 18,20-0,20; Giờ Tuất: 20,20-22,20; Giờ Hợi:22,20-0,20 ***Tháng 2,8,10 và 12: Giờ Tý: 0,00-2,00; Giờ Sửu: 2,00-4,00; Giờ Dần: 4,00-6,00; Giờ Mão: 6,00-8,00; Giờ Thìn: 8,00-10,00; Giờ Tỵ: 10,00-12,00; Giờ Ngọ: 12,00-14,00; Giờ Mùi: 14,00-16,00; Giờ Thân: 16,00-18,00; Giờ Dậu: 18,00-20,00; Giờ Tuất: 20,00-22,00; Giờ Hợi: 22,00-24,00 ***Tháng 3 và 7: Giờ Tý: 0,30-2,30; Giờ Sửu: 2,30-4,30; Giờ Dần: 4,30-6,30; Giờ Mão: 6,30-8,30; Giờ Thìn: 8,30-10,30; Giờ Tỵ: 10,30-12,30; Giờ Ngọ: 12,30-14,30; Giờ Mùi: 14,30-16,30; Giờ Thân: 16,30-18,30; Giờ Dậu: 18,30-20,30; Giờ Tuất: 20,30-22,30; Giờ Hợi: 22,30-24,30 ***Tháng 4 và 6: Giờ Tý: 0,40-2,40; Giờ Sửu: 2,40-4,40; Giờ Dần: 4,40-6,40; Giờ Mão: 6,40-8,40; Giờ Thìn: 8,40-10,40; Giờ Tỵ: 10,40-12,40; Giờ Ngọ: 12,40-14,40; Giờ Mùi: 14,40-16,40; Giờ Thân:1 6,40-18,40; Giờ Dậu: 18,40-20,40; Giờ Tuất: 20,40-22,40; Giờ Hợi: 22,40-24,40 ***Tháng 5: Giờ Tý: 1,00-3,00; Giờ Sửu: 3,00-5,00;; Giờ Dần: 5,00-7,00; Giờ Mão: 7,00-9,00; Giờ Thìn: 9,00-11,00; Giờ Tỵ: 11,00-13,00; Giờ Ngọ: 13,00-15,00; Giờ Mùi: 15,00-17,00; Giờ Thân: 17,00-19,00; Giờ Dậu: 19,00-21,00; Giờ Tuất: 21,00-;3,00; Giờ Hợi: 23,00-1,00 ***Tháng 11: Giờ Tý: 1,40- 3,40; Giờ Sửu: 3,40-5,40; Giờ Dần: 5,40-7,40; Giờ Mão: 7,40-9,40; Giờ Thìn: 9,40-11,40; Giờ Tỵ: 11,40-13,40; Giờ Ngọ: 13,40-15,40; Giờ Mùi: 15,40-17,40; Giờ Thân: 17,40-19,40; Giờ Dậu: 19,40-21,40; Giờ Tuất: 21,40-23,40; Giờ Hợi: 23,40-1,40 Nguồn:quehuongyeudau.blogtiengviet.net
-
Hoa Cái chỉ là một sao nhỏ cho nên có nhiều người khi giải đoán lá số thường ít khi để ý đến sao này. Thật ra, tuy chỉ la phụ tinh nhỏ, Hoa Cái cũng có thể tạo nên bản chất đặc biệt của mẫu người mà chúng ta vẫn thường gặp trong cuộc sống hằng ngày. Biết đâu, có thể người đó là chính mình, chồng mình, vợ mình, người yêu của mình, bạn bè của mình hay một người nào đó mà mình quen biết. Hoa Cái là biểu tượng của cái lọng, thuộc hành Kim và không thấy sách vở đề cập dến những vị trí đắc hãm của phụ tinh này. Hoa Cái còn được gọi với tên rất đẹp là Đài Các Tinh. Chỉ hai chữ Đài Các cũng đã nói lên bản chất của những người Hoa Cái thủ Mệnh hoặc Hoa Cái cư Di và có thể gọi chung là mẫu người Đài Các. http://' target="_blank">Hoa Cái chủ về sắc đẹp, sự chưng diện, sự sang trọng quý phái. Cho nên, về hình dáng, người có Hoa Cái thủ Mệnh, dù là đàn ông hay đàn bà đều có nét mặt thanh tú, vóc dáng thanh nhã, nói năng và cư xử nhẹ nhàng, lịch sự. Đây là mẫu người rất chú trọng bề ngoài, từ mái tóc cho đến cách ăn mặc. Họ không ngại bỏ công bỏ của ra để sửa soạn cho mái tóc, chọn lựa một cái cà vạt cho hợp với màu áo, một hiệu son phấn nào đó cho phù hợp với màu da.v.v..Sự chưng diện đối với họ là một nghệ thuật, cũng là một nhu cầu cần thiết như việc ăn uống vậy. Họ như những loại công thích múa để khoe sắc cho người đời thưởng thức những gì trời ưu đãi họ. Bởi vậy trong lĩnh vực sinh hoạt, người có Hoa Cái thủ Mệnh nếu gặp thêm những sao Xương Khúc, Nguyệt, Đào Hồng Hỷ…là những người của ngành quảng cáo hay trình diễn thời trang, diễn viên kịch nghệ, điện ảnh, cải lương v.v…Nếu là những người cầm bút, cầm cọ, cầm đàn thì nét vẽ nhẹ nhàng, dòng nhạc trữ tình, văn phong chải chuốt và đều mang nặng khuynh hướng lãng mạn. Dưới thời đại phong kiến của Trung Hoa, cái quan niệm vương quyền được biểu tượng bằng những hình ảnh như Long chầu, Hổ phục, phượng múa lọng che, và Hoa Cái là một trong 4 biểu tượng đó, gọi tắt là Tứ Linh (Long Trì, Phượng Các, Hoa Cái, Bạch Hổ) chỉ sự uy quyền, hiễn đạt hay công danh sự nghiệp. Trường hợp nếu Hoa Cái không thủ Mệnh nhưng phía trước của Mệnh, Thân, Di, Quan có Hoa Cái, phía sau có Thiên Mã tọa thủ thì đây là cách Tiền Cái Hậu Mã, có nghĩa là lọng đi trước, ngựa theo sau, là cảnh tiền hô hậu ủng mà chúng ta thường gọi là cảnh vinh quy bái tổ, chỉ sự hiễn đạt về công danh và sự nghiệp. Nếu Hoa Cái không thủ Mệnh mà tọa thủ ở cung Di, bản tính cũng giống như Hoa Cái thủ Mệnh nhưng có một điểm đặc biệt là khi họ ra khỏi nhà là được người trên kẻ dưới thương mến. Có thể vì tính tình của họ vui vẻ, thân thiện, cởi mở. Cũng có thể vì cách ăn mặc, lời lẽ, cử chỉ của họ nhẹ nhàng, lịch thiệp, họ có cái duyên ngầm nào đó nên dễ có cảm tình với mọi người. Với những ưu điểm đó, người có Hoa Cái cư Di rất thích hợp với những công việc như chào hàng, tiếp tân, đại diện thưong mại, ngoại giao v.v… Tuy nhiên những đặc tính của Hoa Cái có thể thay đổi tùy theo ảnh hưởng của một số sao khác. Chẳng hạn, người có Hoa Cái thủ Mệnh sẵn có khuynh hướng lãng mạn, nếu gặp thêm Đào Hoa, Mộc Dục, Riêu…thì sự lãng mạn sẽ đi qúa trớn đưa đến sự buông thả cả hai mặt tình cảm và tình dục. Vì Hoa Cái là biểu tượng của sự sang trọng, quý phái, đài các…Cho nên những người có khuynh hướng sa đọa này cũng thuộc loại giai cấp thượng lưu, của những kẻ có tiền, có quyền lực. Riêng với phái Nam có Hoa Cái thủ Mệnh cũng thích sửa soạn, chưng diện, nước bông, nước hoa…Hoa Cái ở đây cũng nói lên phần nào sự biến thái về tâm sinh lý của đương số. Mức độ nặng hay nhẹ thì còn tùy thuộc vào toàn bộ lá số. Nguon:quehuongyeudau.blogtiengviet.net
-
- 2
-
-
Đào và Hồng thường đi đôi và có cùng chung một đặc tính. Đào hành Mộc, Hồng hành Thủy. Những sách Tử Vi không đề cập đến những vị trí đắc địa hay hãm địa của Đào Hồng. Tuy nhiên, có người căn cứ trên thực tại để định những vị trí tốt xấu của Đào Hồng. Như cung Mão được xem là vị trí tốt nhất của Đào Hoa vì cung Mão là thời điểm của bình minh, những cánh hoa còn đọng sương mai, khởi đầu của sự khoe sắc tươi thắm rực rở nhất trong ngày. Cung Ngọ là giữa trưa, hoa không còn tươi thắm nữa vì bị nắng cháy. Cung Tí thì ở vào ban đêm, là thời điểm mà hoa đã khép cánh. Quan niệm này cũng hợp lý, tuy nhiên vẫn có những loài hoa chỉ nở về đêm như hoa Quỳnh, Dạ Lý Hương, Thiết Mộc Lan v.v… chỉ khoe sắc và tỏa hương nồng trong bóng tối mà thôi. Đã mang kiếp hoa thì tất phải sớm nở tối tàn, dù cho rực rở trong buổi bình minh thì có còn tươi thắm được đến buổi bình minh hôm sau chăng? http://' target="_blank">Nhưng nếu nói theo quan điểm trên, Đào đắc địa ở Tí, Ngọ, Mão, Dậu tức là Tứ Tuyệt, Hồng đắc địa ở Dần Thân Tỵ Hợi tức Tứ Sinh, thì quan điểm cũng có cái triết lý khi phân tích về bản chất của Đào Hồng, là hai sao biểu tượng cho phái nữ. Khi nói Đào ở Tứ Tuyệt, chúng ta có thể tưởng tượng hoàn cảnh của một cô con gái có nhan sắc nhưng tư nhỏ đã sinh sống trong một hoàn cảnh rất nghiệt ngã, khiến cho người con gái này phải có đầy đủ thủ đoạn để sinh tồn. Còn ngược lại, Hồng ở tứ sinh như một người con gái khuê các, nên bản chất hiền lương đoan chính. Tuy vậy, theo thiển ý của người viết, vị trí của Đào Hồng không quan trọng bằng những sao mà Đào Hồng trao duyên gởi phận, và điều này sẽ được dẫn chứng ở phần sau. Ở đây, chỉ lấy một ví dụ, bất kể Đào ở vị trí nào mà khi gặp Hồng và Thiên Hỷ thì trở thành bộ sao tốt gọi tắt là Đào Hồng Hỷ hay còn gọi là Tam Minh. Đối với Tử Vi, Đào Hồng đều là biểu tượng của sự sinh đẹp, cho nên có ý nghĩa chỉ về phái nữ nhiều hơn phái nam. Người có Đào hay Hồng thủ mệnh, dù nam hay nữ đều có nhan sắc, đẹp trai, đẹp gái. Nét mặt lúc nào cũng vui tươi, tính tình vui vẻ cởi mở. Tuy nhiên, chúng ta phải phân biệt cái đẹp và cái nết của hai sao Đào Hồng khác nhau ở điểm nào? Khi nói về nhan sắc, hàm ý nói về phái nữ, cái đẹp của Đào là nét đẹp lộ liễu ra bên ngoài, lồ lộ như một đóa hải đường, vẻ đẹp mà khoa Tướng Mệnh gọi là Đào Hoa Diện, hoặc Đào Hoa Nhãn, là nét đẹp có sức hấp dẫn, lôi cuốn thu hút người đối diện ngay từ phút ban đầu từ khuôn mặt, đôi mắt, cử chỉ, lời ăn tiến nói có vẽ lôi cuốn, lẳng lơ, hoặc có một lối sống buông thả… Cái đẹp của Đào có thể nhìn thấy ở bất cứ tầng lớp nào trong xã hội, từ một mệnh phụ phu nhân cho đến một người mẫu, một diễn viên, một thôn nữ, thậm chí một cô gái giang hồ… Nhưng địa vị và vẻ đẹp bên ngoài đó không bảo đảm là nết hạnh của họ cũng tốt đẹp như vậy. Còn nét đẹp của Hồng là nét đẹp của sự nhu tình, duyên dáng, thanh cao, quý phái, đài các. Cái đẹp nghiêng nhiều về tinh thần hơn là vật chất. Nữ mệnh có Hồng có thể chỉ là một người đàn bà nhan sắc trung bình, nhưng có duyên, là mẫu người nhu mì và có chiều sâu tâm hồn. Tuy nhiên, khi đi chung với Đào cả hai sẽ có ảnh hưởng tương hỗ nhau. Hồng chỉ chế giảm được một phần nhỏ khuynh hướng vật chất và buông thả của Đào mà thôi, còn phần lớn là bị lôi cuốn bởi Đào. Ngoài ý nghĩa về nét đẹp và tính nết, Đào Hồng còn chủ sự nhanh chóng, sớm sủa, dễ dàng và may mắn. Chẳng hạn, Đào Hồng tọa thủ ở Mệnh, cung Di, hay cung Quan là số của những người ra đời sớm, đi làm sớm hay có công danh sự nghiệp sớm hơn những người cùng lúa tuổi với mình. Đây cũng là số của những người có nhiều may mắn trong vấn đề học hành thi cử, và khi ra trường lại tìm được việc làm dễ dàng hơn những người khác. Nếu cung Tài có Đào Hồng tọa thủ thì đương số sớm làm ra tiền và kiếm tiền một cách dễ dàng. Nếu hai sao Đào Hồng gặp thêm Hỷ Thần hay Thiên Hỷ chủ sự may mắn về thi cử, sự thăng quan tiến chức, cũng là việc cưới hỏi. Hạn gặp Đào Hồng Hỷ là sự báo hiệu một tin vui sắp đến. Trong lãnh vực nghề nghiệp, Đào Hồng Hỷ chỉ những người sinh hoạt trong các bộ môn ca nhạc kịch, điện ảnh. Trong gia đình, Hồng là biểu tượng của con gái, nếu Hồng gặp Thiên Khôi là chỉ người trưởng nữ. Nhu vậy đối với khoa Tử Vi, mẫu người Đào là những người cung Mệnh có Đào hay Hồng tọa thủ hay xung chiếu. Đặc tính đáng chú ý của họ là sức thu hút đối với người khác phái, họ là những người đắt đào, đắt kép, bước ra khỏi nhà là có người thương, người theo, có người sẳn sàng gánh vác, nâng đỡ mọi điều… Tuy nhiên, người Đào không phải lúc nào cũng được may mắn tốt đẹp như vậy, nhất là đối với nữ phái. Nếu Đào Hồng bất hạnh trao duyên gởi phận cho những sao xấu thì thà đừng có Đào Hồng còn hơn. Chẳng hạn nữ Mệnh có Đào Hồng tọa thủ, gặp Hóa Kỵ, Riêu hay Thai đồng cung hay hợp chiếu, thì đương số là người đàn bà đẹp nhưng lẳng lơ, buông thả và cuộc đời sẽ trầm luân với những buồn thương sầu hận. Nếu Đào Hồng những sát tinh như KHÔNG KIẾP thì có thể nói là một nỗi bất hạnh cho đương số. Chúng ta lấy cuộc đời của Vương Thúy Kiều để làm một ví dụ điển hình: mối tình đầu vừa chớm nở đã đành trao lại cho em để bán mình vào lầu xanh. Tấm thân đã phải đổi chủ biết bao nhiêu lần, rồi xuống tóc, rồi trầm mình, nhưng nợ trần đâu dễ phủi tay? Đó là mẫu người Đào Hoa lụy vì tình, oan nghiệt vì tình, vì nhan sắc mà gặp tai họa, hoặc là lâm vào hoàn cảnh mà người đời thường hay gọi “trao duyên nhầm tướng cướp” Nếu Đào Hồng ngộ Thiên Không thì cũng như Đào gặp lửa, chắc chắn duyên phận phải bẽ bàng và có thể xa lánh cõi đời bằng con đường tu hành như chuyện Lan và Điệp. Đối với nam giới, nếu cung Quan có Đào Hồng thì đương số ra đời sớm lý do có thể là do tính thích tự lập hoặc vì hoàn cảnh đưa đẩy. Họ cũng là người lập được công danh sự nghiệp rất sớm, và điều đáng nói là sự thành công đó không hẳn hoàn toàn do khả năng của chính họ mà một phần là do sự nâng đỡ, giúp sức của người khác phái, nguyên nhân chính là vấn đề tình cảm. Tương tự, đối với nam mệnh mà cung Tài có Đào Hồng thì đương số làm ra tiền một cách dễ dàng. Nếu lá số tốt đẹp họ có thể là những người giàu có lúc còn trẻ tuổi, và chắc chắn rằng sự thành đạt đó không thể thiếu sự góp phần của người khác phái bởi những quan hệ tình cảm đặc biệt nào đó., và đôi khi đó chỉ là tình cảm một chiều. Chúng ta thường nghe câu: “sau lưng một người đàn ông thành công là bóng dáng của một người đàn bà tài giỏi” Nhưng không phải Đào Hồng lúc nào cũng cũng được may mắn tọa thủ trong một lá số tốt đẹp để biểu tượng cho một người đàn bà giỏi. Nam số nếu Mệnh hay cung Quan có Đào Hồng gặp hung tinh, sát tinh thì hậu qủa sẽ là những gì mà cựu Tổng Thống Clinton hay Thái Tử Charles đã gánh chịu. Bởi vậy, trong lá số của người đàn ông nếu Đào Hồng gặp những sao tốt như Tử Phủ hay Nhật Nguyệt…thì đương số được công thành danh toại. Với phái nữ, đó là hình ảnh của một người vợ “vượng phu ích tử”, một hồng nhan tri kỷ. Ngược lại, Đào Hồng gặp những sao xấu, thì Đào Hồng cũng là một hồng nhan nhưng cũng là họa thủy. Chẳng hạn như Đào Hồng ngộ KHÔNG KIẾP ở cung Mệnh hay cung Quan, nhẹ thì như đã nói ở trên, nặng thì chung cuộc có khác gì cảnh Hạng Võ phải biệt Ngu Cơ rồi tự vẫn bên bờ Ô Giang. Hoặc nam mệnh có Đào Hồng tọa thủ ở cung Tài gặp Song Hao, Địa Kiếp thì tiền kiếp được cũng nhờ đàn bà, tán gia bại sản cũng vì đàn bà. Đối với khoa Tử Vi, không phải chỉ có hai sao Đào Hoa và Hồng Loan là biểu tượng cho mẫu người đào hoa mà còn có nhiều sao khác như Liêm Trinh, là một sao võ cách nhưng vẫn được mệnh danh là đào hoa tinh. Ý nghĩa đào hoa của Liêm Trinh thường dùng cho Nam nhiều hơn Nữ. Đàn ông cung Mệnh có Liêm Trinh, dù đắc hay hãm cũng là người có số đào hoa họ có duyên ngầm, có một nét đa tình nào đó dễ thu hút người khác phái. Tuy Liêm Trinh là một sao về võ cách nhưng bản tính vốn liêm khiết và tự trọng cho nên trong tình trường, họ thường bị người khác phái chủ động và tấn công trước. Trong lĩnh vực tình cảm, Liêm Trinh có những đặc tính gần với Hồng Loan hơn là Đào Hoa. Tham cũng là một đào hoa tinh, nhưng tình cảm của Tham Lam rất giống Đào Hoa, nặng về vật chất, buông thả, sa đọa. Nếu cung Mệnh an tại Tí có Tham tọa thủ là cách “Phiếm Thủy Đào Hoa” Hoa đào trôi theo dòng nước, chỉ những người có tâm hồn lãng mạn, đường tình lao đao lận đận, hoặc những người có cuộc sống buông thả, phong trần. Cách Phiếm Thủy Đào Hoa có nghĩa ý đối với phái nữ nhiều hơn Nam. Nguyệt cũng là biểu tượng của người đào hoa bởi vì Nguyệt mặt trăng, là nguồn cảm hứng bất tận cho người văn nghệ sĩ từ cổ chí kim. Cho nên, người mà cung Mệnh hay cung Phúc có Nguyệt thì ít nhiều cũng là người đa tình lãng mạn, yêu chuộng văn chương nghệ thật, là mẫu người sống vì nhạc, thác vì tình. Đặc biệt đối với nam mệnh, nếu Nguyệt tọa thủ tại cung Thê thì đương số là người đào hoa, thích bay bướm, nhưng nể vợ, sợ vợ như Thúc Sinh trong truyện Kiều vậy. Ngoài ra một số sao khác như Cự Môn, Xương Khúc, Hoa Cái…hoặc một vài cách như Thai Phục Vượng Tướng, Cự Kỵ, Tham Kỵ, Hoa Cái cư Di…. đều là đặc tính của mẫu người đào hoa, ít hay nhiều, tốt hay xấu còn tùy vào mỗi lá số hoặc những sao mà chúng đi chung. Những sao khắc chế được tính Đào có Nhật, Hóa Khoa, Lộc Tồn, Tứ Đức, Thiên Hình, Thiên Không…riêng đối với nữ, Thiên Hình và Thiên Không có tác dụng khắc chế qúa mạnh, không những làm mất hết tánh đào hoa mà còn phải chịu cảnh lận đận trên đường tình duyên. Chẳng hạn nữ có Đào gặp Thiên Hình, đây là người đàn bà có nhan sắc, nhưng tâm hồn khô khan, ăn nói không duyên dáng…hay nói một cách khác, đúng xa mà nhìn thì thấy đẹp, nhưng đến gần thì chỉ là một cành hoa giấy. Từ những nét vừa nêu trên, chúng ta thấy rằng ý nghĩa chính của Đào Hồng là sự sinh đẹp và tình ái. Cho nên Đào Hồng thích hợp với tuổi trẻ hơn là lúc về già. Vì vậy, trong tiền vận hay trung vận nếu gặp Đào Hồng cộng với sát tinh nhập hạn thì cũng không đáng sơ như khi ở hậu vận, nhất là đối với những người mệnh Vô Chính Diệu. Và sau hết, mẫu người đào hoa giống như lúc nào cũng nắm trong tay con dao hai lưỡi. Con dao Đào trong cái tốt có ẩn tàng cái xấu. trong hạnh phúc có mầm móng của sự đau khổ. Chúng ta thấy Đào Hồng cũng cùng một nguyên tắc như Nhật Nguyệt đó là “chính bất như chiếu” Do đó cách tốt đẹp hơn hết là Đào Hồng không nên tọa thủ ở Mệnh, nhất là đối với nữ. Một chút nhan sắc trời cho mà phải đánh đổi cả một đời truân chuyên, điều này thử nghĩ có đắng hay không? Vị trí tốt nhất cho Đào Hồng là cung Quan hay cung Tài. Tại đây, Đào Hồng chiếu về Mệnh thì đương số vẫn là người có nhan sắc, tuy nhan sắc không rực rỡ và phô bày cái đẹp ra bên ngoài nhưng lại tránh được bốn chữ “Hồng Nhan Đa Truân” Và nói chung cho cả nam nữ thì Đào Hồng ở hai cung Tài và Quan giúp cho đương số thành công dễ dàng hơn trên phương diện công danh và sự nghiệp chứ không chỉ trói buộc đương số vào cái vòng tình cảm như khi Đào Hồng thủ Mệnh. Đối với đàn bà, nhan sắc là trời cho nhưng “Hồng Nhan Đa Truân” hay “Hồng Nhan Bạc Mệnh” thì cũng là ý trời. Dù nam hay nữ, có thể một lúc nào đó, người đào hoa phải tự hỏi mình được nhiều người thương là hạnh phúc hay phiền muộn? Cũng như mấy ai biết được giữa hồng nhan tri kỷ va hồng nhan họa thủy phải chăng chỉ là một đường tơ? Phúc hay họa thì chỉ có khoa Tử Vi mới trả lời cho chúng ta rõ ràng mà thôi. Nguon:quehuongyeudau.blogtiengviet.net