Jump to content
Diễn đàn Lý Học Lạc Việt

Lê Bá Trung

Hội Viên Ưu Tú
  • Số nội dung

    526
  • Tham gia

  • Lần đăng nhập cuối

Everything posted by Lê Bá Trung

  1. Sư huynh Thiên Đồng, vothuong,Nhị địa Sinh và một số sư huynh khác..... là một trong những sư huynh nhiệt huyết trên diễn đàn. :( Kiểm chứng lại độn quẻ của Sư huynh vothuong và Thiên Đồng. :lol: Đúng như những gì mà huynh vothuong đã độn quẻ cho Trung, trong những ngày vừa qua tình hình công ty đang bị suy thoái và có sa thải một số nhân viên :lol: , trong khi đó danh sách đã lên có tên Trung trong đó là nhân viên bị sa thải, sau khi nhờ huynh ấy độn quẻ xong, huynh ấy lên quẻ công việc vẫn bình thường và có quí nhân giúp đỡ.Thật sư kinh ngạc, Quẻ đã ứng nghiệm mặc dù sự thật rành rành ra trước mắt....Công việc vẫn làm bình thường và thật sự có quí nhân giúp đỡ sau lưng, và dĩ nhiên tên cũng được loại ra khỏi danh sách. Vài lời kiểm nghiệm cho quẻ của huynh. Chân thành cám ơn sự giúp đỡ của huynh Thiên Đồng và Vothuong. Chúc 2 huynh ngày càng tiến xa trong việc học thuật. :lol: <_< <_< Lê Bá Trung.
  2. Kính gửi Nữ Hoàng Lavietdt. :lol: Chân thành cám ơn nữ hoàng đã dành thời gian quí báu luận quẻ dùm cháu. Kính chúc nữ hoàng ngày càng trẻ khỏe xinh đẹp hơn và vạn sự cát tường. :( Kính gửi. Lê Bá Trung.
  3. Lời khuyên của chị wild rất chân thành. Câu chuyện của chị cũng rút kết ra nhiều điều. Chuyện mộ kết này cũng đã xảy ra với gia đính em, đúng là làm cách mấy làm vẫn nghèo là nghèo không cách nào đổi vận được. Từ thời ông cố ngoại của em, không biết em còn dính lại trong ba đời không? Nhưng em thấy em cũng còn bấp bênh lắm chưa cải thiện được. Lê Bá Trung.
  4. Chào anh Nam ! Anh sinh năm 1970 Chấn. 2 miếng đất của anh còn lại là Đông Nam và Tây Bắc, 2 hướng đều xấu. Đông Nam:Họa hại. Tây Bắc: Ngũ Quỉ. Anh Nam nên chọn mảnh đất khác.Chúc anh thành công. Lê Bá Trung.
  5. Chồng chị sinh năm 1975: Ly. Hướng Đông Nam phạm lục sát, hướng Tây Nam Thiên Y tốt theo phong thủy Lạc Việt. Lê Bá Trung.
  6. CHÚC MỪNG SINH NHẬT SƯ HUYNH THIÊN ĐỒNG. :lol: :lol: :lol: :lol: :lol: :lol: :lol: CHÚC ANH THÊM MỘT TUỔI NHIỀU SỨC KHỎE :lol: , HẠNH PHÚC :P , VẠN SỰ NHƯ Ý :lol: , MỌI ĐIỀU CÁT TƯỜNG :P , CHÚC MỪNG ! CHÚC MỪNG ! :lol: :lol: :o :blink: :blink: KÍNH CHÚC. LÊ BÁ TRUNG
  7. Sư phụ ơi! Cho đệ tử hỏi chút ạ! Hôm bữa đệ tử quên hỏi sư phụ về việc cái hầm cầu bị ủng địa hộ.Hầm cầu nằm ngay cung Khôn bị Ủng địa Hộ và bị đứt con trạch vậy cách khắc phục và trấn như thế nào? Kính nhờ sư phụ và các sư huynh ra tay giúp đỡ.Hầm cầu cũng gần sát cung Sinh Khí. Chân thành cám ơn sư phụ và các sư huynh rất nhiều. Kính Gừi. Lê Bá Trung.
  8. Hi. Tội nghiệp sư phụ quá, như vậy là sư phụ chuẩn bị vào siêu thị mua một thùng mì gói để sẵn rồi,khi nào đói đem ra mần thôi,sư phụ cho đệ tử gửi lời thăm sư huynh Baby wolf luôn nha. Chúc sư phụ du hí Hoa kỳ thật zui, khi nào sư phụ về post lên vài tấm hình cho đệ tử coi đỡ ghiền.
  9. Ôi !Cháu nhầm lẫn thiệt rồi :lol: . Sơ ý quá, vì vào topic của Nữ Hoàng Laviedt thấy có chúc mừng diễn đàn sắp tròn 6 tháng tuồi nhưng quên xem lại, quay qua , quay lại diễn đàn đã tròn 1 tuổi, đúng vào ngày 10 tháng 3 Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương...Thật là một ngày trọng đại, ngày con cháu nhớ về nguồn gốc, nhớ về tổ tiên ;) . Đệ tử cám ơn sư phụ rất nhiều ạ. Kính chúc diển đàn ngày càng tiến xa hơn,ngày càng phát triển hơn... :lol: Lê Bá Trung.
  10. Kính chào bác Phúc Anh. Hôm nay cháu xin mạn phép làm phiền bác Phúc Anh một lần nữa. Những tên cháu chọn cho con đã được bác phân tích dùm, nhưng gia đình bên ngoại lại thích một tên khác: Lê Phước Sang. Kính mong bác Phúc Anh dành chút thời gian để phân tích giúp cháu. Đây là tên cuối cùng trong những tháng còn lại sau khi sinh.Chân thành cám ơn bác Phúc Anh rất nhiều.kính chúc bác thật nhiều sức khỏe và thành công. Kính gửi. Lê Bá Trung.
  11. NHÂN DỊP DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG SẮP VỪA TRÒN 6 THÁNG TUỔI. KÍNH CHÚC DIỄN ĐÀN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG NGÀY CÀNG MỞ RỘNG VÀ PHÁT TRIỂN HƠN.KÍNH CHÚC SƯ PHỤ THIÊN SỨ, SƯ HUYNH PHẠM CƯƠNG,BÁC PHÚC ANH,NỮ HOÀNG LAVIEDT,CHỊ WILDLAVENDER VÀ TẤT CẢ THÀNH VIÊN TRONG DIỄN ĐÀN GẶT HÁI ĐƯỢC NHIỀU THÀNH CÔNG VÀ THẬT NHIỀU SỨC KHỎE. KÍNH CHÚC. LÊ BÁ TRUNG.
  12. Kính Gửi Nữ Hoàng Xinh đẹp Laviedt. Nhân dịp Diễn Đàn sắp tròn 1 tuổi. Kính chúc diễn đàn ngày càng phát triển hơn. Nhân tiện cháu nhờ Nữ Hoàng luận quẻ dùm cho cháu. Cháu sinh năm 1986, ngày sinh là 2-3, sinh vào lúc 12:05 Buổi trưa. Vợ cháu sinh năm 1988, tháng 3 này vợ cháu sẽ sanh một bé trai, cho cháu hỏi sau khi sanh bé trai này xong công việc của cháu có tiến triển hơn không ạ? Tại vì ngay thời điểm hiện tại bây giờ công việc của cháu rất còn bấp bênh lắm chưa đâu vào đâu hết. Kính mong Nữ Hoàng Laviedt dành chút thời gian xem qua cho cháu. Kính chúc Nữ Hoàng ngày càng nhiều sức khỏe và vạn sự cát tường. Chân thành cám ơn Nữ Hoàng rất nhiều. Kính Gửi. Lê Bá Trung.
  13. Kính chào bác TRAN ANH ANH THU. Cháu rất vui khi bác tham gia trên diễn đàn này. Bài viết của bác rất hay. Đây là mục trao đổi dành chung cho tất cả mọi người không dành riêng cho cá nhân cháu. Kính mong bác viết thêm vài bài nữa để mọi người học hỏi thêm kinh nghiệm.Chúc bác nhiều sức khỏe và vạn sự như ý. Kính Gửi. Lê Bá Trung.
  14. Vừa lọt lòng mẹ, con đã được đặt cho một cái tên. Cái tên ấy theo con suốt cả cuộc đời. Tên có thể là niềm tự hào, hãnh diện, là nguồn động viên, nâng mỗi bước con đi. Nhưng cũng có người lại cảm thấy xấu hổ, tủi thân, thậm chí tức giận mỗi khi ai đó gọi tên mình, hoặc khi nghĩ đến người đã đặt tên cho mình. Cái tên nói lên tính cách con người. Hay con người tự rèn luyện mình cho giống với cái tên mình? Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định: tên gọi ảnh hưởng đến tinh thần cũng như sự nghiệp sau này của đứa trẻ. Trong muôn vàn chuẩn bị khi đón bé chào đời, đừng quên nghĩ đến một cái tên. Cho những công chúa theo mẹ lên rừng (A - K) 1. DIỆU ANH Con gái khôn khéo của mẹ ơi, mọi người sẽ yêu mến con 2. QUỲNH ANH Người con gái thông minh, duyên dáng như đóa quỳnh 3. TRÂM ANH Con thuộc dòng dõi quyền quý, cao sang trong xã hội. 4. NGUYỆT CÁT Hạnh phúc cuộc đời con sẽ tròn đầy 5. TRÂN CHÂU Con là chuỗi ngọc trai quý của bố mẹ 6. QUẾ CHI Cành cây quế thơm và quý 7. TRÚC CHI Cành trúc mảnh mai, duyên dáng 8. XUYếN CHI Hoa xuyến chi thanh mảnh, như cây trâm cài mái tóc xanh 9. THIÊN DI Cánh chim trời đến từ phương Bắc 10. NGỌC DIỆP Chiếc lá ngọc ngà và kiêu sa 11. NGHI DUNG Dung nhan trang nhã và phúc hậu 12. LINH ĐAN Con nai con nhỏ xinh của mẹ ơi 13. THỤC ĐOAN hãy là cô gái hiền hòa đoan trang 14. THU GIANG Dòng sông mùa thu hiền hòa và dịu dàng 15. THIÊN HÀ Con là cả vũ trụ đối với bố mẹ 16. HIẾU HẠNH Hãy hiếu thảo đối với ông bà, cha mẹ, đức hạnh vẹn toàn 17. THÁI HÒA Niềm ao ước đem lại thái bình cho muôn người 18. DẠ HƯƠNG Loài hoa dịu dàng, khiêm tốn nở trong đêm 19. QUỲNH HƯƠNG Con là nàng tiên nhỏ dịu dàng, e ấp 20. THIÊN HƯƠNG Con gái xinh đẹp, quyến rũ như làn hương trời 21. ÁI KHANH Người con gái được yêu thương 22. KIM KHÁNH Con như tặng phẩm quý giá do vua ban 23. VÂN KHÁNH Tiếng chuông mây ngân nga, thánh thót 24. ỒNG KHUÊ Cánh cửa chốn khuê các của người con gái 25. MINH KHUÊ Hãy là vì sao luôn tỏa sáng, con nhé. Cho những công chúa theo mẹ lên rừng (K - Y) 26. DIỄM KIỀU Con đẹp lộng lẫy như một cô công chúa 27. CHI LAN hãy quý trọng tình bạn, nhé con 28. BẠCH LIÊN Hãy là búp sen trắng toả hương thơm ngát 29. NGỌC LIÊN Đoá sen bằng ngọc kiêu sang 30. MỘC MIÊN Loài hoa quý, thanh cao, như danh tiết của người con gái 31. HÀ MI Con có hàng lông mày đẹp như dòng sông uốn lượn 32. THƯƠNG NGA Người con gái như loài chim quý dịu dàng, nhân từ 33. ĐẠI NGỌC Viên ngọc lớn quý giá 34. THU NGUYỆT Tỏa sáng như vầng trăng mùa thu 35. UYỂN NHÃ Vẻ đẹp của con thanh tao, phong nhã 36. YẾN OANH Hãy hồn nhiên như con chim nhỏ, líu lo hót suốt ngày 37. THỤC QUYÊN Con là cô gái đẹp, hiền lành và đáng yêu 38. HẠNH SAN Tiết hạnh của con thắm đỏ như son 39. THANH TÂM Mong trái tim con luôn trong sáng 40. TÚ TÂM Ba mẹ mong con trở thành người có tấm lòng nhân hậu 41. SONG THƯ Hãy là tiểu thư tài sắc vẹn toàn của cha mẹ 42. CÁT TƯỜNG Con là niềm vui, là điềm lành cho bố mẹ 43. LÂM TUYỀN Cuốc đời con thanh tao, tĩnh mịch như rừng cây, suối nước 44. HƯƠNG THẢO Một loại cỏ thơm dịu dàng, mềm mại 45. DẠ THI Vần thơ đêm 46. ANH THƯ Mong lớn lên, con sẽ là một nữ anh hùng 47. ĐOAN TRANG Con hãy là một cô gái nết na, thùy mị 48. PHƯỢNG VŨ Điệu múa của chim phượng hoàng 49. TỊNH YÊN Cuộc đời con luôn bình yên thanh thản 50. HẢI YẾN Con chim biển dũng cảm vượt qua phong ba, bão táp. Các hoàng tử theo cha xuống biển (A - N) 1. THIÊN ÂN Con là ân huệ từ trời cao 2. GIA BẢO Của để dành của bố mẹ đấy 3. THÀNH CÔNG Mong con luôn đạt được mục đích 4. TRUNG DŨNG Con là chàng trai dũng cảm và trung thành 5. THÁI DƯƠNG Vầng mặt trời của bố mẹ 6. HẢI ĐĂNG Con là ngọn đèn sáng giữa biển đêm 7. THÀNH ĐẠT Mong con làm nên sự nghiệp 8. THÔNG ĐẠT Hãy là người sáng suốt, hiểu biết mọi việc đời 9. PHÚC ĐIỀN Mong con luôn làm điều thiện 10. TÀI ĐỨC Hãy là 1 chàng trai tài dức vẹn toàn 11. MẠNH HÙNG Người đàn ông vạm vỡ 12. CHẤN HƯNG Con ở đâu, nơi đó sẽ thịnh vượng hơn 13. BẢO KHÁNH Con là chiếc chuông quý giá 14. KHANG KIỆN Ba mẹ mong con sống bình yên và khoẻ mạnh 15. ĐĂNG KHOA Con hãy thi đỗ trong mọi kỳ thi nhé 16. TUẤN KIỆT Mong con trở thành người xuất chúng trong thiên hạ 17. THANH LIÊM Con hãy sống trong sạch 18. HIỀN MINH Mong con là người tài đức và sáng suốt 19. THIỆN NGÔN Hãy nói những lời chân thật nhé con 20. THỤ NHÂN Trồng người 21. MINH NHẬT Con hãy là một mặt trời 22. NHÂN NGHĨA Hãy biết yêu thương người khác nhé con 23. TRỌNG NGHĨA Hãy quý trọng chữ nghĩa trong đời 24. TRUNG NGHĨA Hai đức tính mà ba mẹ luôn mong con hãy giữ lấy 25. KHÔI NGUYÊN Mong con luôn đỗ đầu. Các hoàng tử theo cha xuống biển (N - V) 26. HẠO NHIÊN Hãy sống ngay thẳng, chính trực 27. PHƯƠNG PHI Con hãy trở thành người khoẻ mạnh, hào hiệp 28. THANH PHONG Hãy là ngọn gió mát con nhé 29. HỮU PHƯỚC Mong đường đời con phẳng lặng, nhiều may mắn 30. MINH QUÂN Con sẽ luôn anh minh và công bằng 31. ĐÔNG QUÂN Con là vị thần của mặt trời, của mùa xuân 32. SƠN QUÂN Vị minh quân của núi rừng 33. TÙNG QUÂN Con sẽ luôn là chỗ dựa của mọi người 34. ÁI QUỐC Hãy yêu đất nước mình 35. THÁI SƠN Con mạnh mẽ, vĩ đại như ngọn núi cao 36. TRƯỜNG SƠN Con là dải núi hùng vĩ, trường thành của đất nước 37. THIỆN TÂM Dù cuộc đời có thế nào đi nữa, mong con hãy giữ một tấm lòng trong sáng 38. THẠCH TÙNG Hãy sống vững chãi như cây thông đá 39. AN TƯỜNG Con sẽ sống an nhàn, vui sướng 40. ANH THÁI Cuộc đời con sẽ bình yên, an nhàn 41. THANH THẾ Con sẽ có uy tín, thế lực và tiếng tăm 42. CHIẾN THẮNG Con sẽ luôn tranh đấu và giành chiến thắng 43. TOÀN THẮNG Con sẽ đạt được mục đích trong cuộc sống 44. MINH TRIẾT Mong con hãy biết nhìn xa trông rộng, sáng suốt, hiểu biết thời thế 45. ĐÌNH TRUNG Con là điểm tựa của bố mẹ 46. KIẾN VĂN Con là người có học thức và kinh nghiệm 47. NHÂN VĂN Hãy học để trở thành người có học thức, chữ nghĩa 48. KHÔI VĨ Con là chàng trai đẹp và mạnh mẽ 49. QUANG VINH Cuộc đời của con sẽ rực rỡ, 50. UY VŨ - Con có sức mạnh và uy tín. Nguồn:Tiếp Thị Gia Đình
  15. HỌ TÊN & VẬN MỆNH ! Khi 1 đứa trẻ sinh ra, điều đầu tiên mà người ta làm cho nó là đặt tên. Vì vậy, cái tên cũng có nghĩa là sự ảnh hưởng đầu đời đến vận mệnh đứa bé. Bạn có biết điều bí mật này không? Đối với 1 cái tên, nó thể hiện ngầm một điều khiển nào đó đến vận mệnh con người, vì trong cái tên nó hàm chứa một quyền lực mà ta không thể lý giải được, chỉ biết nó thuộc trên phương diện tâm linh và đi theo số phận, để cùng số phận điều khiển vận mệnh con người sau đó. Có quan điểm cho là... tên nó phù hộ cho vận mệnh , nó đem lại sự thuận lợi, ban cho sự may mắn... nếu bạn có được một cái tên phước lành; ngược lại, khi bạn mang một hung tên, thì cái tên đó như là một cái gọng, vô hình đè lên bạn , dù bạn có nổ lực nhiều... thì vẫn có một con mắt đen vô hình nào đó, cản trở, làm bạn gặp nhiều bất hạnh trong đời. Điều thực tế này, bạn có thể nhìn quanh mình và nhận thấy... có sự khác biệt giữa người mang tên phước lành và người mang hung tên... một phản ánh rõ ràng và hệ quả! Cái tên khi được đặt... là báo hiệu cho sự sinh ra trong cuộc sống trần gian của một người. Và cụ thể, nó đi theo sinh mệnh của người mang nó, hàm chứa trong đó quyền lợi và nghĩa vụ mà người đó sẽ có. Người ta có thể biết hay không điều này, những ảnh hưởng , chi phối đến sinh hoạt từ cái tên... thì vẫn là sự hiển nhiên âm thầm trên mặt tâm linh. Phương pháp chọn và xem tên, cũng giống như là phương pháp đoán vận mệnh, nó không có giới hạn rõ ràng. Vì vậy, chúng ta cần thận trọng để dùng cái tên như là người quân tử biết dùng kiến thức giàu có, suy nghĩ sâu xa làm phương thuốc kỳ diệu để giúp đời, tránh biến nó thành lưỡi dao của kẻ sát nhân! CÁCH PHÂN TÍCH HỌ TÊN Phân tích họ tên, ta có thể phán đoán được điềm hung ác trong cái tên đó. Trước tiên, họ tên hàm chứa 5 ý nghĩa trong đó: Thiên Vận, Nhân Vận, Địa Vận, Ngoại Vận và Tổng Vận. 5 ý nghĩa trên còn gọi là ngũ vận hay ngũ cách của cái tên - Thiên vận: là điềm báo do cái họ đem đến - Nhân vận: là điềm báo do sự kết hợp ý nghĩa sâu xa bên trong tên và họ - Đia vận: là điềm báo do cái tên đem đến - Ngoại vận: là điềm báo do sự kết hợp ý nghĩa bên ngoài tên và họ - Tổng vận: là điềm giải đoán chung trên toàn thể tên và họ Phân tích nghĩa của ngũ vận xong, ta phải xét theo số nét hoa chữ Hán để biết ý nghĩa Cát – Hung (tốt – xấu), cấu trúc hài hoà của chữ Hán của tên và họ... CÁC GIẢ THUYẾT VỀ PHÂN LOẠI HỌ TÊN THÔNG DỤNG QUAN ĐIỂM ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH & CÁCH SẮP XẾP Ý NGHĨA ÂM DƯƠNG Ý NGHĨA CỦA TÊN GỌI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ Ý NGHĨA ÂM THUẦN NHẬT VÀ HÁN NHẬT ( NẾU TIẾNG Việt là Âm Thuần Việt và Hán việt ) MỐI LIÊN HỆ GIỮA HỌ TÊN VÀ VẬN MỆNH THẾ NÀO LÀ MỘT CÁI TÊN TỐT ? Điều kiện để tạo nên 1 cái tên tốt gồm rất nhiều yếu tố, nhưng trước tiên quan trọng nhất phải là sự hài hoà giữa họ và tên, nghĩa là phải tương sinh mà không tương khắc. Trong thuật đoán họ tên, điều cơ bản là phải nhìn linh số để có thể phán đoán điềm hung ác trong cái tên. (Linh số có thể hiểu là tâm hồn của cái tên, tức là số nét hoa chứa trong cái tên và để cấu tạo thành ý nghĩa, mà khi phân tích ra từng ý nghĩa nhỏ đều hàm chứa sự sâu sắc). Kế đó, xem về mặt âm dương ngũ hành và âm thanh... để xem có yếu tố nào bất thường hay bất ổn không. Một cái tên tốt lành và may mắn đòi hỏi sự hài hoà và hổ trợ nhau giữa tên và họ. Điều đó thể hiện ở ngoại cảm cái tên như: - Nhìn vào tên, linh cảm tốt. - Nghe cái tên, cảm thấy thân thiện. - Tên có vẽ hợp với họ. - Tên dễ viết. - Tên dễ gọi Về sự tương khắc, tương sinh trong tên họ, Yoshimi nhận thấy như sau: 1. Sự tương khắc, tương sinh có thể xảy ra trong bản thân giữa tên và họ. Ví dụ: + họ thuộc hành Thổ, tên thuộc hành Mộc... tức sẽ có sự xung khắc. (Thổ khắc Mộc) + họ thuộc hành Thổ, tên thuộc hành Hỏa... tức sẽ có sự tương sinh.(Hỏa sinh Thổ) 2. Sự tương khắc, tương sinh nằm giữa tên họ và bản mệnh của người mang nó. Ví dụ: 1 đứa trẻ sinh năm 2003, sẽ có mệnh Mộc. + Nếu đặt tên bé là Ngân (tiền, kim loại) thuộc hành Kim, tên và Mệnh của bé có sự xung khắc. + Nếu bé được đặt tên Thủy (nước), tức tên và Mệnh có sự tương sinh. ** Về họ và tên, như có 1 bài viết Yoshimi có đề cập đến: Họ là Thiên văn vì khi một người chào đời, sẽ phải mang họ của tổ tiên mình để lại. Tên thuộc về Nhân văn vì nó gần hơn, cái tên là sự chọn lựa của cha mẹ tặng cho con cái. Với người Trung Quốc hay Nhật Bản, họ thường gọi nhau bằng họ. Người Việt mình gọi nhau bằng tên. Do đó, tên nên hạp với Mệnh. Còn chữ lót, đóng vai trò thế nào trong tên họ của một người? Có lẽ là chữ lót đi theo tên là chính. Vì nhiều khi ta gọi ai đó bằng chữ lót với tên như: Minh Anh, Quang Dũng... Điểm quan trọng nhất trong việc chọn tên là họ, chữ lót, tên.... phải có sự hài hòa. Ví như xây một ngôi nhà, kết cấu nền móng phải hạp với kiến trúc! "Việc đặt tên có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tên họ có vai trò ảnh hưởng rất nhiều đến vận mệnh của cả một đời người. Cái tên của mỗi người chính là biểu tượng phản ánh toàn bộ chủ thể bản thân con người ấy. Cái tên cũng dùng rất nhiều trong giao tiếp, trong học tập, sinh hoạt, công việc hàng ngày. Vì lẽ đó, cái tên tạo thành một trường năng lượng có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến vận mệnh mỗi con người. Từ xa xưa cha ông ta đã lưu ý rất nhiều khi đặt tên cho con cháu mình, thời Phong Kiến, người xưa có quan niệm rằng kỵ đặt tên phạm huý, tức là tên trùng với tên họ của vua quan quý tộc, như thế sẽ bất lợi cho con cháu. Ngoài ra, cũng kỵ đặt những tên quá mỹ miều, sợ quỷ thần ghen ghét làm hại nên lúc nhỏ sẽ khó nuôi. Những người có học hành, chữ nghĩa thì đặt tên con cháu theo những ý nghĩa đặc trưng của Nho Giáo như Trung, Nghĩa, Hiếu, Thiện,… Ngày nay việc đặt tên có xu hướng phóng khoáng hơn xưa nhưng cái tên vẫn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, không những chỉ mang yếu tố mỹ cảm mà về yếu tố Âm Dương, Ngũ Hành cái tên còn có vai trò rất quan trọng trong việc cải tạo vận mệnh của mỗi người. Tổng quan những lý thuyết quan trọng cho việc đặt tên bao hàm những yếu tố sau: - Cái tên được đặt phải phù hợp với truyền thống của mỗi dòng họ. Từ xưa đến nay trong văn hoá Việt Nam nói riêng và văn hoá Á Đông nói chung đề cao vai trò của gia đình, dòng họ. Con cháu phải kế thừa và phát huy được những truyền thống của tổ tiên gia tộc mình. Điều này thể hiện trong phả hệ, những người cùng một tổ, một chi thường mang một họ, đệm giống nhau với ý nghĩa mang tính kế thừa đặc trưng của mỗi chi, mỗi họ như họ Vũ Khắc, Nguyễn Đức,… - Tên được đặt trên cơ sở tôn trọng cha, ông của mình, như tên kỵ đặt trùng với tên ông, bà, chú, bác…điều này rất quan trọng trong văn hoá truyền thống uống ước nhớ nguồn của Việt Nam ta (nhưng lại ngược lại với văn hoá Tây Phương, vì ở Tây Phương khi dùng tên của ông bà, chú bác lại là 1 vinh hạnh). - Tên phải có ý nghĩa cao đẹp, gợi lên một ý chí, một biểu tượng, một khát vọng, một tính chất tốt đẹp trong đời sống. Như cha mẹ đặt tên con là Thành Đạt hy vọng người con sẽ làm nên sự nghiệp. Cha mẹ đặt tên con là Trung Hiếu hy vọng người con giữ trọn đạo với gia đình và tổ quốc. - Bản thân tên phải có ý nghĩa tốt lành, đã được đúc kết và nghiệm lý theo thời gian như tên Bảo, Minh thường an lành hạnh phúc. Kỵ những tên xấu như Lệ, Tài,…vì những tên này có ý nghĩa không tốt đẹp đã được kiểm chứng trong nhiều thế hệ. - Tên bao gồm 3 phần là phần họ, đệm và tên. 3 phần này trong tên đại diện cho Tam Tài Thiên - Địa – Nhân tương hợp. Phần họ đại diện cho Thiên, tức yếu tố gốc rễ truyền thừa từ dòng họ. Phần đệm đại diện cho Địa tức yếu tố hậu thiên hỗ trợ cho bản mệnh. Phần tên đại diện cho Nhân tức là yếu tố của chính bản thân cá nhân đó. Thiên - Địa – Nhân phối hợp phải nằm trong thế tương sinh. Mỗi phần mang một ngũ hành khác nhau, việc phối hợp phải tạo thành thế tương sinh, kỵ tương khắc. Ví dụ như Thiên = Mộc, Địa = Hoả, Nhân = Thổ tạo thành thế Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim là rất tốt. Nếu Thiên = Mộc, Địa = Thổ, Nhân = Thuỷ tạo thành thế tương khắc là rất xấu. Yếu tố này cũng có thể nói gọn là tên phải cân bằng về Ngũ Hành. - Tên phải cân bằng về mặt Âm Dương, những vần bằng thuộc Âm, vần trắc thuộc Dương. Trong tên phải có vần bằng, trắc cân đối, kỵ thái quá hoặc bất cập. Ví dụ như Thái Phú Quốc quá nhiều vần trắc, Dương cường, Âm nhược nên luận là xấu. Tên Thái Phú Minh luận là Âm Dương cân bằng nên tốt hơn. - Yếu tố rất quan trọng của tên ngoài việc cân bằng về Âm Dương, Ngũ Hành còn phải đảm bảo yếu tố hỗ trợ cho bản mệnh. Ví dụ, bản mệnh trong Tứ Trụ thiếu hành Thuỷ thì tên phải thuộc Thuỷ để bổ trợ cho mệnh, vì thế tên phải đặt là Thuỷ, Hà, Sương,… - Tên còn cần phối hợp tạo thành quẻ trong Kinh Dịch, quẻ phải tốt lành như Thái, Gia Nhân, Càn, tránh những quẻ xấu nhiều tai hoạ rủi ro như quẻ Bĩ, Truân, Kiển,…Quẻ cũng cần phối hợp tốt với Âm Dương Bát Quái của bản mệnh. Ví dụ về đặt tên: nữ sinh năm Giáp Thân, trong Tứ Trụ mệnh thiếu Kim, nên dùng tên bổ trợ hành Kim cho bản mệnh. Tên đặt Nguyễn Thái Ngọc Nhi. Sau đây phân tích những yếu tố tốt của tên này: 1. Ngũ Hành tương sinh: Họ Nguyễn = Mộc sinh Thái = Hoả sinh Ngọc = Thổ sinh Nhi = Kim. Ngũ Hành tạo thành vòng tương sinh hỗ trợ cho bản mệnh thiếu Kim 2. Tên này Âm Dương cân bằng vì hai vần bằng trắc cân đối ngụ ý một đời sống an lành, tốt đẹp 3. Ý nghĩa của tên trong Hán văn có nghĩa là viên ngọc quý, hàm ý một đời sống sang trọng, đầy đủ 4. Phối quẻ được quẻ Dự là một quẻ tốt cho nữ số. Những người có tên không tốt hoặc vận mệnh đang gặp khó khăn trở ngại thì đổi tên là một trong những phương pháp hiệu quả để cải tạo vận mệnh của chính mình. Tóm lại, đặt tên tốt là một việc rất khó khăn, bao hàm rất nhiều yếu tố phối kết hợp để tạo thành một tên đẹp theo nghĩa mỹ cảm lẫn Âm Dương, Ngũ Hành, hầu đem lại cho người mang tên đó một sự hỗ trợ cần thiết cho cuộc sống tốt lành trong tương lai, để rạng danh được dòng họ của mình, mang lại sự nghiệp tốt đẹp cho bản thân và xã hội. ...." Tên họ của mỗi cá nhân vô cùng quan trọng, cộng thêm sức rung/ vibration/ frequency của "tên họ" sẽ có sự khác biệt giữa ngay cả hai anh em sinh đôi có cùng 1 lá số Tử Vi/Tử Bình. Tên người nào có Dụng Thần và Hỉ Thần thì cuộc đời được nhiều may mắn thành công hơn và có khi cả tuổi thọ cũng cao hơn. Ngược lại tên họ có Kỵ Thần thì phải vất vả kém may mắn. Nguồn:(Sưu tầm từ Nhân Trắc Học)
  16. Kính gừi anh Phạm Thái Hòa. Nhờ anh luận một quẻ cho bà chị em xem khi nào bà chị em lên xe tăng, em đợi mãi chưa thấy hồi âm của anh. Bà chị em sinh năm 1984, sinh lúc:5h30 buổi sáng. Cám ơn anh Phạm Thái Hòa. Lê Bá Trung.
  17. Cám ơn anh Thiên Luân đã góp ý. Tiếc rằng các hình em gửi lên trên đây đã bị die, em sẽ gửi lại cho anh tham khảo. Phòng Khách. Bàn thờ em đã chuyển sang dưới bàn thờ chính hướng ra cửa, hướng Phúc Đức. Cầu thang. Bếp. Phòng khách cũng là chỗ ngủ của ba mẹ. Phòng bà chị. Phòng bà chị Phòng của em. Huyền Quan.Cửa chính nằm Phía tây có nguy cơ phạm không vong thì phải. Tạm thời em gửi cho anh một số hình và các thành viên khác tham khảo vì link die nên em post lại hình, anh Thiên Luân xem có chỗ nào cần chỉnh sửa góp ý cho em nhé. Cám ơn anh Thiên Luân. Kính Gửi. Lê Bá Trung.
  18. Xin chào anh Thiên Luân. Rất cám ơn sự góp ý của anh Thiên Luân. Đúng như anh Thiên Luân nói bên phía Bạch Hổ nhà Trung có một con hẻm, con hẻm này là hẻm cụt không lớn lắm, xe cộ cũng ít có ra vào thường xuyên trong hẻm này người dân dùng để trồng cây kiểng xung quanh. Theo như em nghĩ nhà thiếu mất Bạch Hổ bất lợi cho người nữ trong gia đình. Anh có thể giải thích vì sao nếu khuyết như vậy lại tốt, phía Thanh Long nhà em cũng bị khuyết, bị khuyết cung Ly, và Tốn. Nhà em thuộc đầu voi đuôi chuột, nên phía sau nhà hơi thóp vào thiết kế bếp hơi chật. Bồn rửa chén kế bên bếp, thủy hỏa xung khắc, hiện giờ em đang để 1 tấm thảm xanh ngay đó cho cân bằng chỉ là tạm thời trong thời gian chuẩn bị sửa chửa phong thủy lại. Xin anh Thiên Luân góp ý chỉ bảo thêm ạ. Chúc anh vạn sự cát tường. Kính Gửi. Lê Bá Trung.
  19. Thân chào sư huynh Nhị, bài này của tác giả: Nguyễn Phúc Vĩnh Tung. Nguồn:nhadatsaigon.vn Thân chào. Lê Bá Trung.
  20. Bài viết rất hay cám ơn anh Nhị. Lê Bá Trung.
  21. 3-4 Huyền Không ngũ hành: Người ta dùng Huyền Không ngũ hành để tính thủy khẩu, hễ hướng thủy khẩu sinh nhập hay khắc nhập hành của hướng huyệt thì cát. Dưới đây là công thức huyền không ngũ hành: Bính, Đinh, Ất, Dậu thuộc Hỏa. Càn, Khôn, Mão, Ngọ thuộc Kim Hợi, Quý, Cấn, Giáp thuộc Mộc Tuất, Canh, Sửu, Mùi thuộc Thổ. Tý, Dần, Thìn, Tốn, Tỵ, Tân, Thân, Nhâm thuộc Thủy. 3-5 Công thức cửu tinh phân phối 24 sơn: 1. Kiền sơn thuộc sao Lộc Tồn 2. Hợi sơn thuộc sao Liêm Trinh 3. Nhâm sơn thuộc sao Văn Khúc 4. Tý sơn thuộc sao Phá Quân. 5. Quý sơn thuộc sao Phá Quân 6. Sửu sơn thuộc sao Vũ Khúc 7. Cấn sơn thuộc sao Tham Lang 8. Dần sơn thuộc sao Văn Khúc 9. Giáp sơn thuộc sao Lộc Tồn 10. Mão sơn thuộc sao Liêm Trinh 11. Ất sơn thuộc sao Tả Phụ 12. Thìn sơn thuộc sao Phá Quân 13. Tốn sơn thuộc sao Cự Môn 14. Tỵ sơn thuộc sao Vũ Khúc 15. Bính sơn thuộc sao Tham Lang 16. Ngọ sơn thuộc sao Văn Khúc 17. Đinh sơn thuộc sao Vũ Khúc 18. Mùi sơn thuộc sao Liêm Trinh 19. Khôn sơn thuộc sao Hữu Bật 20. Thân sơn thuộc sao Phá Quân 21. Canh sơn thuộc sao Liêm Trinh 22. Dậu sơn thuộc sao Vũ Khúc 23. Tân sơn thuộc sao Cự Môn 24. Tuất sơn thuộc sao Văn Khúc (Công thức Cửu tinh phân phối 24 sơn này rất là quan trọng cho những công thức nào dùng đến Tử long thiên tinh như các chương tâm kinh sau này). 3-6 Hà Đồ chí vu quan thượng (Để hình Hà đồ trên áo quan) Câu 1: Hà Đồ long chi tượng, dụng thanh chỉ tác chi đồ. Dịch (1) Hà Đồ tượng về Long, dùng giấy xanh làm bản đồ tròn Câu 2: Dĩ mặc hùng hoàng, thần sa hỗn ma vu nhất thứ chi. Dịch (2) Lấy mực hùng hoàng, và thần sa mài lẫn với nhau để vẽ. Câu 3: Ngũ thập ngũ số: - Nhất - Lục – (Khảm: thủy) - Nhị - Thất (Ly: hỏa) - Tam – Bát (Chấn Tốn: mộc) - Tứ - Cửu (Càn Đoài: kim) - Thập – Ngũ (Khôn Cấn: thổ) Khinh thanh vi nhiên: Nhị thập ngũ số Trọng trọc vi địa: tam thập số 25 + 30: 55 Dịch (3) Năm mươi lăm số: Số 1 và số 6 là Khảm (hành thủy) Số 2 và 7 là Ly (hành hỏa) Số 3 và 8 là Chấn Tốn (hành mộc) Số 4 và 9 là Càn Đoài (hành kim) Số 10 và 5 là Khôn Cấn (hành thổ) Thanh nhẹ là trời có 25 số Thô nặng là đất có 30 số Tổng cộng là 25 + 30 = 55 số 3-7 Lạc thư chi vu quan hạ (Để hình Lạc thư vào dưới áo quan) Câu 1: Lạc thư qui chi tượng, dụng hùng hoàng chỉ tác phương đồ Dịch (1) Lạc thư tượng về quy, lấy giấy đỏ làm bản đồ vuông. Câu 2: Dĩ Hùng hoàng, thần sa, chu sa hỗn ma vu nhất thứ chi. Dịch (2) Lấy mực hồng hoàng và thần sa mài lẫn với nhau để vẽ: Câu 3: Tứ thập ngũ số: (có 45 số) Nhất Khảm (số 1 là Khảm) Nhị Khôn (số 2 là Khôn) Tam Chấn (số 3 là Chấn) Tứ Tốn (số 4 là Tốn) Ngũ trung (số 5 là Trung cung) Lục Càn (số 6 là Càn) Thất Đoài (số 7 là Đoài) Bát Cấn (số 8 là Cấn) Cửu Ly (số 9 là Ly) Cộng 1+2+3+4+5+6+7+8+9 = 45 Câu 3: Khinh thanh vi thiên vi nhị thập ngũ số (Thanh nhẹ là trời có 25 số) Câu 4: Trọng trọc vi địa vi nhị thập số (Thổ nhẹ là đất có 20 số) 3-8 Đại thần trung thần tiểu thân đinh cục, chiết thủy chi pháp chước dụng (Dịch Châm chước dùng phép Đại thần, Trung thần, Tiểu thần để định cục chiết thủy) Câu 1: Kỳ pháp tự Tiểu nhập Trung, nhị thập Đại tam chiết xuất thủy Dịch (1) Theo phương pháp nên từ Tiểu vào Trung rồi vào Đại, 3 lần khúc chiết thủy phóng ra Càn Khôn Cấn Tốn, gọi là thượng ngư nhai thủy Câu 2: Ất, Tân, Đinh, Quý thân danh Tiểu Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Tiểu thần biểu, thuộc Quý phòng Dịch (2) Ất Tân Đinh Quý là Tiểu thần. Thìn Tuất Sửu Mùi Tiểu thần biểu, thuộc ngành út Câu 3: Giáp, Canh, Bính, Nhâm hiệu Trung thần Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Trung thần chiếu, thuộc ngành thứ. Câu 4: Duy hữu Càn Khôn Cấn Tốn phương Dần Thân Tỵ Hợi phương Đại Thần thuộc Mạnh phòng Dịch (4) chỉ có Càn Khôn Cấn Tốn phương và Dần Thân Tỵ Hợi phương thuộc ngành trưởng. Câu 5: Bát can tứ duy lưu giai cát, nhược phóng Chi tràng khởi họa ương. Dịch (5) nước chảy Bát Can tứ duy đều là tốt, nếu phóng ra Chi thời khởi nên họa ương. Nước phóng ra 12 chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi thời khởi nên họa. 3-9. Thu sơn xuất sát định hướng lập cục Câu 1 Tĩnh âm, tĩnh dương lập cục dĩ Lạc Thư cơ ngẫu số, phối tiên thiên bát quái nạp giáp phân Âm Dương lập cục. Dịch (1) Lập cục theo Tĩnh âm, Tĩnh dương, lấy số cơ ngẫu (chẳn, lẽ) trong Lạc thư để phối hợp với Tiên Thiên chia Âm Dương lập cục. Câu 2: Tiên minh lưỡng kiết sơn hướng, sơn xung sạ sát, tương quan Dịch (2) Trước hết phải minh bạch về Sơn Hướng và Sơn xung xa, sát cùng tương quan của chúng. Câu 3: Âm xung, Dương bác, Trung tiên bại. Dịch (3) Âm xung, Dương bác, ngành giữa hại trước. Câu 4: Dương Âm kiêm xạ, Trưởng bất an Dịch (4) Âm, Dương cùng kiêm xạ, ngành Trưởng bất an. Câu 5: Duy quái, Mạnh chi đồng Trưởng đoan Càn, Khôn, Cấn, Tốn, tứ duy quái Dịch (5) Nhằm vào Duy quái, thường chi đầu cùng con Trưởng bị đoạn tuyệt. - Càn Khôn Cấn Tốn là 4 duy quái Câu 6: Dương can, tứ trọng tác Trung khan Giáp Canh Nhâm Bính: Dương Can Tý Ngọ Mão Dậu: Tứ trọng Dịch (6) Dương Can, Tứ Trọng xem về ngành giữa - Giáp Canh Nhâm Bính là Dương Can - Tý Ngọ Mão Dậu là Tứ trọng Câu (7) Ất phòng hưng bại tâm hà xứ? Kiến tại Dương Can,Tứ Quý Ất Tân Đinh Quý, Thìn Tuất Sửu Mùi Dịch (6) Ất phòng thịnh hay bại tìm ở nơi nào? Tìm ở: - Ất Tân Đinh Quý là Dương Can. Thìn Tuất Sửu Mùi là Tứ Quý. Chương 3-10A BÁT TRẠCH LỆ Càn 1 Khảm 2 Cấn 3 Chấn 4 Càn Phục vị Lục sát Thiên Y Ngũ quỷ Khảm Lục sát Phục vị Ngũ quỷ Thiên y Cấn Thiên y Ngũ quỷ Phục vị Lục sát Chấn Ngũ quỷ Thiên y Lục sát Phục vị Tốn Họa hại Sanh khí Tuyệt mạng Diên niên Ly Tuyệt mạng Diên niên Họa hại Sanh khí Khôn Diên niên Tuyệt mạng Sanh khí Họa hại Đoài Sanh khí Họa hại Diên niên Tuyệt mạng Chương 3-10B BÁT TRẠCH LỆ Tốn 5 Ly 6 Khôn 7 Đoài 8 Càn Họa hại Tuyệt mạng Diên niên Sanh khí Khảm Sanh khí Diên niên Tuyệt mạng Họa hại Cấn Tuyệt mạng Họa hại Sanh khí Diên niên Chấn Diên niên Sanh khí Họa hại Tuyệt mạng Tốn Phục vị Thiên y Ngũ quỷ Lục sát Ly Thiên y Phục vị Lục sát Ngũ quỷ Khôn Ngũ quỷ Lục sát Phục vị Thiên y Đoài Lục sát Ngũ quỷ Thiên y Phục vị Ví dụ: 1. Càn biến Càn là Phục vị (Diên niên) 2. Khảm biến Càn là Lục sát 3. Cấn biến Tốn là Tuyệt mạng 4. Chấn biến Khảm là Thiên y 5. Tốn biến Khảm là sanh khí 6. Ly biến Đoài là Ngũ quỷ. 7. Đoài biến Khảm là Họa hại Sanh khí và Diên niên là Thượng kiết Thiên y là Trung kiết Phục vị là Tiểu kiết Tuyệt mạng và Ngũ quỷ là Đại hung Lục sát và họa hại là Thứ hung Chương 3-11 Thiên văn cách thượng đốn long, địa ứng Thiên văn (Đốn long trên thể cách Thiên văn, địa huyệt ứng thiên văn) 1. Liêm trinh ám Bệnh tử (Liêm trinh rõ Bệnh tử) 2. Thai tuyệt nãi Lộc Tồn (Thai tuyệt tức Lộc Tồn) 3. Phá Quân chân Mộ vị (Phá Quân thực Mộ vi) 4. Phùng suy thị Cự môn (Phùng suy là Cự môn) 5. Học đường Lâm Quan tượng (Học đường là Lâm quan) 6. Vượng phương thị Vũ Khúc (Vượng phương là Vũ khúc) 7. Quan đới thuộc Văn xương (quan đới thuộc Văn xương). 8. Mộc dục Văn Khúc vị (Mộc dục ngôi văn khúc) 9. Dưỡng, Sinh thị Tham Lang (dưỡng, Sinh là Tham lang). Tham lang hưng trưởng tử (Tham lang hưng con trưởng) Cự Môn vượng trung phòng (Cự môn vượng con giữa). Vũ Khúc vượng tam phòng (Văn Khúc bại con giữa) Lộc Tồn bại quý phòng (Lộc Tồn bại con giữa) Phá Liêm trưởng tử thụ bần cùng (Phá Quân, Liêm Trinh con trưởng bị nghèo hèn). Thiên văn chiếu địa huyệt, địa huyệt ứng thiên văn, hợp chi tắc cát, bất hợp tắc hung. (Thiên văn trên trời chiếu mộ huyệt, Mộ huyệt ứng thiên văn, Hợp nhau thì cát, không hợp thì hung). 3-12 Thủy pháp và Lập hướng Câu 1: Nhất lập sinh hướng: Nghi hữu thủy, đảo Tả qui Khố nhi khứ (Đinh lập Sinh hướng, nên phải nước bên hữu (phải) chảy tới bên tả (trái) rồi về Khố mà phóng đi) Câu 2: Nhất lập vượng hướng: Nghi tả thủy, đảo hữu, qui Khố nhi khứ (Đinh lập Vượng hướng, nên phải nước bên Tả (trái) chảy tới bên Hữu (phải) rồi chảy về Khố mà phóng đi. Câu 3: Nhất lập Mộ Hướng: Nghi tả thủy đảo hữu, lưỡng thủy hợp khâm nhi khứ. (Đinh lập Mộ hướng nên phải nước bên Tả (trái) chạy sang bên hữu (phải) rồi hai dòng nước hợp lại và phóng đi) -------------------------------------------------------------------------------- Câu 4: Nhất lập Dưỡng hướng: nghi Hữu thủy đảo tả, qui Mộ nhi khứ. (Đinh lập Dưỡng hướng nên phải nước bên Hữu (phải) chạy sang bên tả (trái) rồi về khố mà phóng đi). -------------------------------------------------------------------------------- Câu 5: Dụng chính Ngũ hành khởi Tràng sinh thu Vượng thần tự cục sinh thủy nghịch chiều lưu qui bản long Mộ khố, nhi khứ thủy khẩu. (Dùng chính ngũ hành khởi Trường sinh, thu vượng thần tự cục, sinh thủy triều ngược lại chảy về bản long Mộ Khố rồi phóng ra thủy khẩu). Câu 6: Phương vị hợp pháp, nhược long pháp bất hợp nhi tòng hướng thu sinh vượng qui đường, tắc long gia dĩ hướng gia uế tạp bất tương nhập, tuy hữu ứng phúc, hung do trì dã. (Thủy khẩu dùng hợp pháp Nếu long pháp không hợp mà cứ theo hướng thu sinh vượng về minh đường thời long gia với hướng gia không ăn khớp với nhau, tuy có phúc, sợ còn chậm vậy). Chương 3-13 Âm dương tọa hướng luận Câu 1-Âm long: Chấn, Canh, Cấn, Bính, Tốn, Tân, Đoài, Đinh, Tý, Sửu, Hợi, Mùi âm long dã. Âm long lập âm hướng. Dịch (1) Âm long: Chấn , Canh, Cấn, Bính, Tốn, Tân, Đoài, Đinh, Tý, Sửu, Hợi, Mùi đều là Âm long. Âm long lập âm hướng. -------------------------------------------------------------------------------- Câu 2-Dương long: Càn, Khôn, Khảm, Ly, Thân, Thìn, Dần, Tuất, Quý, Giáp, Nhâm, Ất đều là dương long. Dương long lập dương hướng. Dịch (2) Dương long: Càn, Khôn, Khảm, Ly, Thân, Thìn, Dần, Tuất, Quý, Giáp, Nhâm, Ất đều là dương long. Dương long lập dương hướng. Câu 3- Nhiên thuần Dương bất sinh, thuần Âm bất dục. a. Như Hợi (âm) long tác Tỵ (âm) hướng gia Ngọ (dương) bán phân b. Như Tý (dương) long tác Ngọ (dương) hướng gia Mùi (âm) bán phân Sử bất cô hư dã. Dịch (3) Nhưng thuần âm thì không sinh, mà thuần dương thì không dục. a. Như Hợi (âm) long lập Tỵ (âm) hướng: nên chếch sang Ngọ (dương) ½ phân. b. Như Tý (dương) long lập Ngọ (dương) hướng nên chếch sang Mùi (âm) ½ phân. Khiến cho khỏi cô lập vậy. Câu 4- Kim cuộc long 1. Dương kim cuộc - Tốn Tỵ long a. Tốn long lập Tân hướng, Tốn Tỵ hành long chuyển Ất Thìn phạm Thiên cương b. Tỵ long lập Canh hướng, Tốn Tỵ hành long chuyển Ất Thìn phạm Thiên cương. 2. Âm kim cuộc Nhâm Tý long a. Nhâm long, Ngọ hướng, Nhâm Tý hành long chuyển quá Tỵ, Thìn Mão phùng Tử, Tuyệt. Câu 5- Hỏa cuộc long a. Âm hỏa cuộc, Canh Dậu long (Canh long, Nhâm hướng) Canh Dậu hành long chuyển quá Dần, Sửu, Tý phùng Tử, Tuyệt. b. Dương hỏa cuộc Cấn Dần long (Cấn long Bính, Tốn nhi hướng) Cấn Dần hành long chuyển quá Sửu phạm Thiên cương Câu 6- Mộc cuộc long Âm mộc cuộc, Bính Ngọ long (Bính long, Canh hướng) Bính Ngọ hành long chuyển quá Mùi phạm Thiên cương b. Dương Mộc cuộc, Càn Hợi long (Càn long, Giáp hướng) Càn Hợi hành long chuyển quá Dậu, Tuất phạm Thiên cương Câu 7-Thủy cuộc long a. Âm thủy cuộc Giáp Mão long (Giáp long, Càn hướng) Giáp Mão hành long chuyển quá Ngọ Mùi Thân gặp Tử, Tuyệt. b. Dương thủy cuộc, Khôn Thân long (Khôn long quý hướng) Khôn Thân hành long chuyển quá Mùi phạm Thiên cương Chương 3-14 Thiên Can tương sinh 1. Giáp Ất sinh Bính Đinh (Mộc sinh hỏa) 2. Bính Đinh sinh Mậu Kỷ (Hỏa sinh thổ) 3. Mậu Kỷ sinh Canh Tân (Thổ sinh kim) 4. Canh Tân sinh Nhâm Quý (Kim sinh thủy) 5. Nhâm Quý sinh Giáp Ất (Thủy sinh mộc) Là ngũ hành Thiên can tương sinh Thiên can tương khắc 1. Giáp Ất khắc Mậu Kỷ (Mộc khắc Thổ) 2. Mậu Kỷ khắc Nhâm Quý (Thổ khắc Thủy) 3. Nhâm Quý khắc Bính Đinh (Thủy khắc Hỏa) 4. Bính Đinh khắc Canh Tân (Hỏa khắc Kim) 5. Canh Tân khắc Giáp Ất (Kim khắc Mộc) Là ngũ hành Thiên can tương khắc. Chương 3-15 Can chi tương xung 1. Giáp Canh xung nhau 2. Bính Nhâm xung nhau 3. Ất Tân xung nhau 4. Đinh Quý xung nhau 5. Mậu Kỷ là Thổ không xung 6. Tý Ngọ xung nhau 7. Mão Dậu xung nhau 8. Dần Thân xung nhau 9. Tỵ Hợi xung nhau 10. Thìn Tuất xung nhau 11. Sửu Mùi xung nhau Chương 3-16 Địa chi tam hình 1. Dần Tỵ Thân là hình vô ân 2. Sửu Tuất Mùi là hình thị thế 3. Ngọ Mão Mùi là hình vô quá Thìn Dậu Hợi là hình tự hại nhau Địa chi lục hại 1. Tý hại Mùi nho nhỏ một thân 2. Sửu hại Ngọ mà Dần hại Tỵ 3. Mão hại Thìn mà Hợi hại Thân 4. Tương xuyên Hợi Tuất hại vô ngần Chương 3-17 Can chi tương hình 1. Giáp hình Thân, hề Ất hình Dậu 2. Bính Tý Đinh Hợi Mậu hình Dần 3. Kỷ hình Mão hề Canh hình Ngọ 4. Tỵ Nhâm Tuất Quý hình Mùi Địa chi tam sát Thân Tý Thìn sát ở Tỵ Ngọ Mùi Tỵ Dậu Sửu sát ở Dần Mão Thìn Dần Ngọ Tuất sát ở Hợi Tý Sửu Hợi Mão Mùi sát ở Thân Dậu Tuất Chương 3-18 Hướng tinh tự thứ 1. Nhất bạch thuộc Khảm (Thủy) 2. Nhị Hắc thuộc Khôn (Thổ) 3. Tam Bích thuộc Chấn (Mộc) 4. Tứ Lục thuộc Tốn (Mộc) 5. Ngũ Hoàng thuộc Trung (Thổ) 6. Lục Bạch thuộc Càn (Kim) 7. Thất xích thuộc Đoài (Kim) 8. Bát bạch thuộc Cấn (Thổ) 9. Cửu tử thuộc Ly (Hỏa) Tốn (Tứ Lục) Ly (Cửu Tử) Khôn (Nhị hắc) Chấn (Tam Bích) Trung (Ngũ hoàng) Đoài (Thất Xích) Cấn (Bát Bạch) Khảm (Nhất Bạch) Càn (Lục Bạch) HẾT. dienbatn giới thiệu . Nguồn:Blog360.dienbatn
  22. PHỎNG VẤN CỤ TRITRI Anh Laido đã có cuộc phỏng vấn cụ TriTri về vấn đề này như sau : Hỏi: Kính thưa Cụ Tri Tri! Nếu một làng mà xây miếu thờ Thành hoàng năm 2005, toạ Tỵ hướng hợi kiêm nhâm bính 3 độ thì thế nào ạ? Xin Cụ cho con vài lời luận đoán ạ. Làng này hiện nay đang có vấn đề về chăn nuôi gia súc CỤ ạ. Kính Laido Trả lời Theo tọa độ Thiên tinh và Hào quẻ thì không được tốt trong 10 năm đầu, qua năm thứ 11 mới khá dần tới năm 20, từ năm 30 sẽ hung bại luôn. (Tị sơn cũng không phải là tọa sơn nên xây cất miễu đình.) Hỏi: Dạ thưa Cụ. Dân làng ở đây hiện nay không thể chăn nuôi được gia súc, nó cứ chết hàng loạt CỤ à. KHONG biết là sao nữa. Con trích hiện tượng này do báo đài đăng tải để Cụ xem ạ. Trên báo An Ninh Thế Giới số 592, ra ngày 30/9/2006 có đăng tiếp phần 2 một phóng sự dài kỳ về " Bí ẩn làng Ma ám" ở xóm Đầu, Lương Phong, Hiệp Hoà, Bắc Giang. Sự việc bí ẩn về cái chết hàng loạt không biết nguyên nhân của trâu, bò, lợn chó khiến hàng chục hộ dân với 200 nhân khẩu vốn đã nghèo đói lại trở nên đói nghèo hơn nữa. Dân làng hết sức lo lắng và đã tự đi tìm nhiều biện pháp giải quyết mang tính mê tín dị đoan. Ban đầu, một số ông thầy cúng bảo làng bị " động long mạch" do tự động thay đổi hướng ngôi miếu thờ Thành Hoàng ở đầu làng. Năm đó, dân tỏng làng mong làm ăn khấm khá nên bàn nhau góp tiền xây ngôi miếu thêm hai gian nữa cho to hơn, đàng hoàng hơn và xoay hướng ngôi miếu ra hướng Đông, nơi có mặt đường cái. Khi khánh thành thì cũng chính là thời điểm diễn ra hiện tượng gia súc, gia cầm chết hàng loạt. Để trấn trạch long mạch, các hộ dân trong xóm lại góp tiền, người bảy chục, người một trăm để mời ông thầy cúng "nổi tiếng" nhất huyện về cúng giải hạn. Đàn tế được lập ngay trước ngôi miếu. Thầy cúng vung con dao phay sắc ngọt chém đứt đầu hai con chó mực, vứt xuống hai cái giếng gần miếu thờ rồi lấp giếng lại để yểm. Yểm xong, thầy cúng tuyên bố "Nếu gia súc, gia cầm trong làng còn chết, thầy thề không thay trời hành đạo, cứu nhân độ thế nữa". Tuy nhiên ông thầy cúng vừa rời khỏi làng hôm trước, hôm sau gia súc lại tiếp tục nổi điên nổi đoá, chết hàng loạt, chết nhiều đến nỗi chuồng trại nhà nào cũng trống hơ trống hoác. Khắp làng chỉ còn thấy giống loài hai chân là gà, vịt, ngan và loài 4 chân là mèo, chuột. Sau cuộc "trấn long mạch" không thành, người dân xóm Đầu còn 3 lần lập đàn tế mời 3 thầy cúng nổi danh và 3 lần nữa mời sư ông, sư bà về cúng bái, nhưng cũng chẳng ăn thua. Cực chẳng đã, người dân trong làng thuê người về phá dỡ 2 gian miếu xây mới, trả lại hiện trạng ngôi miếu như cũ với mong ước cuộc sống được trở lại như xưa. Nhưng rồi, đâu vẫn hoàn đấy, vận hạn vẫn đổ lên đầu cái " làng ma ám" này. Theo trưởng xóm Lưu Văn Lần, hiện tại đàn ông trong làng chỉ còn anh và vài ba người nữa, còn lại đã bỏ ra thành phố hoặc đi các vùng khác làm thuê làm mướn kiếm sống cả. Một số túng quẫn thì đi buôn ma tuý. Trong làng giờ chỉ còn người già và trẻ con. Thậm chí đã có 2 hộ chuyển nhà đến làng khác sinh sống, đó là gia đình ông Hoạt, ông Duyên. Tuy nhiên, cũng như gia đình anh Hùng, dù họ sống ở làng khác, gia súc vẫn chết thẳng cẳng như thường. Người dân giờ đây chỉ còn biết trông chờ vào các nhà khoa hoạc mà thôi. Mặc dù ngôi làng nằm co cụm giữa những giồng đất pha cát trên tổng diện tích 10ha, song khắp làng cây cối rậm rì, tuơi tốt, điều đó chứng tỏ đất làng rất tốt, không xuất hiện những tia chất độc hại, có thể tác động lên sự sống trên mặt đất. Ngoài ra, cách xóm Đầu một con đường rộng 1,5m là các xóm Thượng, xóm Hạ, xóm Đông, thế nhưng, chuyện gia súc ở xóm này đột tử không hề xảy ra, kể cả trong thời gian cả nước xảy ra dịch lở mồm long móng. Qua tìm hiểu thì thấy các xóm bên cạnh cũng có cách chăn thả, chăm sóc và những kinh nghiệm nuôi gia súc tương tự xóm Đầu. Hơn nữa, mọi nguồn nước, ngồn thức ăn, môi trường sống đều chẳng cso gì khác biệt. Việc tìm ra nguyên nhân không phải là chuyện đơn giản. Cuối năm 2005, khi các đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang xuống xã Lương Phong tiếp xúc cử tri, người dân thôn Đầu phản ánh hiện tượng lạ này và đề nghị các ban ngành chức năng của tỉnh giúp đỡ. Lập tức UBND tỉnh triệu tập các ban ngành có liên quan cùng trao đổi, bàn bạc, tìm hiểu về hiện tượng gia súc chết hàng loạt ở thôn Đầu để tìm cách giúp bà con vượt qua khó kăhn. Việc quan trọng nhất là ổn định tâm lý, tránh để lực lượng dị đoan cố ý đưa tin sai lệch, gây bất ổn trong dân chúng. Nhiệm vụ này được giao cho Sở KH-CN tỉnh Bắc Giang cùng với các ban ngành liên quan. Tháng 5/2006, Sở KH-CN Bắc Giang đã giao cho Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH-CN triển khai đề tài " Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khôi phục, phát triển chăn nuôi gia súc tại xóm Đầu, thôn Sơn Qủa, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang". Ngay khi đề tài triển khai, lãnh đạo Sở KH-CN, Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH-CN đã cùng một số cán bộ thuộc các cơ quan chuyên môn Trung Ương với thiết bị hiện đại về xóm Đầu tiến hành nghiên cứu. Mỗi lần thấy những chiếc xe sang trọng đỗ ở đầu xóm, người dân xóm Đầu lại bỏ hết công việc đồng áng tập trung theo dõi, càng làm việc với các nhà khoa học. Đợt dầu là các cán bộ thuộc Trung tâm Môi trường của Bộ Tư Lệnh Hoá Học về lấy mẫu đất ngoài đồng, trong làng, lấy mẫu nước sinh hoạt, nước giếng khơi, nước ao hồ, kênh rạch để phân tích tại chỗ và bảo quản mang đi. Chiếc máy hút bụi từ không khí dặt ở trong các chuồng lợn, chuồng bò nổ phành phạch suốt cả buổi. Theo anh Thân Ngọc Hoàng, Giám đốc Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH-CN, Sở KH-CN Bắc Giang, cơ quan trên kết luận rằng, cả mẫu nước trong ao tù, kênh rạch, dưới lòng đất, giếng khơi, đất cát trong làng, đến những mẫu bụi hút từ không khí đều không có khác biệt so với những ngôi làng bên cạnh, không nhiễm độc, chưa tìm thấy vi rút lạ và đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép. Thực tế, Trạm thú y huyện Hiệp Hoà, Chi cục thú y Bắc Giang cũng đã từng vào cuộc từ năm 1999 và đưa ra một kết luận: Do lượng vi khuẩn Ecoli ở khu vực xóm Đầu vượt quá mức quy định. Ngay lập tức diễn ra công cuộc tẩy uế chuồng trại, phun hàng tạ thuốc diệt khuẩn, tiêm thuốc phòng bệnh Ecoli cho động vật....Thế nhưng, tất cả những cố gắng trên đều vô vọng. Về sau, hai cơ quan này phải thừa nhận đã đưa ra kết luận vội vàng, hời hợt, vì rất nhiều nơi tồn tại lượng vi khuẩn Ecoli lớn hơn mức bình thường, nhưng cũng không gây nên hậu quả gì nghiêm trọng. Sau khi cơ quan thú y, bó tay thì Sở NN và PTNT cử cán bộ xuống tận nơi điều tra, múc nước của 13 ao tù trong xóm đi phân tích song cũng không phát hiện ra hiện tượng gì đặc biệt. Thậm chí, các cán bộ còn cùng nhân dân tát cạn cả 13 ao trong làng, rồi rắc Alohit, vôi bột, phun thuốc sát trùng khắp làng, nhưng gia súc chết vẫn hoàn chết. Kính thưa Cụ Tri Tri. Trên là sự việc có thật ở Bắc Gaing Cụ ạ, hiện nay dân làng đang khốn khổ. Xin Cụ cho một vài ý kiến ạ, nếu có thể được con sẽ liên lạc với những người có trách nhiệm để họ có quyết định đúng, nhằm làm cho dân bớt khổ. Con xin cảm ơn Cụ Tri Tri. Kính Laido Trả lời: 1) Thời kỳ 1940 ông hương cả nơi xả kế xả tôi,vì muốn thuận tiện xổ nước ruộng và chuyên chở nên đào con kinh nơi ruộng ổng rồi cắt đứt con giồng,khi kinh đào xong bày trâu cũa ổng hơn 100 con bị ôn chết hết, từ đó về sau gia đình sa sút lụn bại luôn. 2) Khoảng năm 1944 cũng nơi kế xả tôi nhờ người cha biết phong thủy nên táng ông ngoại rồi cháu ngoại phát giàu có, ông hương quản ở kế bên ganh tị nên cho người đào đứt long mạch năm đó bày trâu mấy mươi con cũa gia đình này cũng bị ôn chết sạch. 3) Trở lại vấn đề nầy không biết dân sở tại có ai đào đứt long mạch nơi con giồng đó không, nếu không thì phải kiểm lại địa thế miễu ấy, và cả ngày khởi công,ngày thượng lương, ngày khánh tán tạ thổ, nơi bệ thờ dưới đất đó có trấn yễm gì không. Hỏi: Dạ thưa Cụ. Theo như lời Cụ nói thì chắc là thủ phạm đây rồi ạ : "Giếng của thôn Đầu , có người đã dùng cảm xạ xác định là nằm trên đường hành Long của một Long mạch đi từ Tây bắc xuống Đông Nam ( Càn- Tốn ). Xác định cho thật chính xác thì Long mạch này chạy ngay sau lưng của Miếu Thành Hoàng còn sót lại hiện nay. Ngày xưa , đây là giếng nước sinh hoạt chung của cả Thôn Đầu. Giếng này có đặc điểm kỳ lạ là không bao giờ cạn nước , ngay cả những năm khô hạn , khắp cả vùng đều phải dùng nước tại giếng này. Điều kỳ lạ nữa là nước của giếng này luôn trong vắt , ngay cả vào mùa mưa. Khoảng đầu năm 1996 (Người cung cấp tin không nhớ chính xác tháng , nhưng là thời điểm TRƯỚC KHI XẨY RA VIỆC CHẾT GIA SÚC HÀNG LOẠT ) , có một người , vì thấy trong giếng có nhiều cá quá nên ném một quả mìn xuống giếng để bắt cá ( giếng sâu nên không đánh lưới được ). Từ khi quả mìn đó được ném xuống , nước giếng không bao giờ trong lại nữa và giờ đây nước trở nên đỏ quạch như màu sắt gỉ" Thưa Cụ! nếu đúng là do đánh mìn làm đứt long mạch (làm tổn thương giồng) thì có cách gì hóa giải không ạ? Làng này 10 năm nay gia súc chết liên tục và hàng loạt rồi, không ai nuôi được con nào ra hồn. Còn trấn yểm thì hàon toàn không Cụ ạ. Xin Cụ chỉ giúp cách hoá giải hiện tượng này ạ. Kính chúc Cụ và gia đình an khang thịnh vượng. Kính laido Con kính chào Cụ Tri Tri ạ. Thưa Cụ! Kính mong Cụ cho cách để hoá giải hiện tượng cho làng trên ạ ! Con cảm ơn Cụ Tri Tri. Kính Laido Trả lời: Nếu do sự việc của giếng gây ra, thì thử dùng 1 mâm trái cây 5 bộ giấy ngũ sắc 99 tờ giấy vàng bạc đem đên đó cúng vái huyền nữ nương nương giáng lâm chứng giám rồi đọc Thiên môn khai, Địa môn khai, cung thỉnh long thần thổ địa lai,cầu giúp hoàn thiện hàm rồng lại, để dân làng yên cư lạc nghiệp,lục súc mạnh khoẻ đầy đàn, nay chúng đệ tử thành tâm đảnh lể khẩn mong chư vị phúc thần cứu giúp cho,cúng rồi giấy ngũ sắc thì đốt,còn 99 tờ giấy vàng bạc thì rải xuống giếng, 7 ngày sau xem có gì khác không. PHẢN BIỆN BÀI VIẾT CỦA THIÊN SỨ. Lẽ ra người viết không có bài phản biện naỳ vì người viết rất thân và tôn trọng trình độ hiểu biết sâu sắc của Thiên sứ . Nhưng trong học thuật , sự chính xác là điều quan trọng nhât , học thuật là học thuật , không khoan nhượng tình cảm của riêng ai . Mong bác Thiên sứ đừng buồn . Thiên sứ đã viết rằng : " # Nếu theo sách cổ chữ Hán thì cái miếu đầu tiên của Xóm Đầu (Trước 1998) có hướng Tốn - Đông Nam. Và điều này chẳng giải thích được gì khi xóm này trở nên phú túc vì nhờ vào chăn nuôi. Vì chính theo sách Hán cổ thì Tốn chẳng liên quan gì đến trâu bò, chó, lợn cả. Mà Tốn theo sách Hán cổ liên quan chủ yếu đến gia cầm. Thuyết quái truyện viết: # Kiền vi mã, Khôn vi Ngưu, Chấn vi Long, Tốn vi kê, Khảm vi Thỉ (Lợn), Ly vi trĩ, Cấn vi Cẩu, Đoài vi Dương. # Ngược lại theo Hậu Thiên Lạc Việt thì hướng miếu đầu tiên của xóm Đầu trước 1998 Đông Nam chính vị cung Khôn. Tượng của Trâu bò, và cung đối xung chính là cung Càn. Đây chính là trục Phúc Đức trạch theo Hậu Thiên Lạc Việt và thuộc Tây trạch. Điều này sẽ giải thích vì sao việc chăn nuôi gia súc ở đây phát triển. Bởi vì theo thuyết Quái: Khôn vi Ngưu tức là trâu bò chó lợn. Trong việc quán xét sự kiện này , tôi cũng có quán xét long mạch. Nhưng tôi không đặt nặng v/đ long mạch. Vì long mạch bao trùm một vuìng rất rộng, không chỉ riêng xóm Đầu. Hơn nữa việc ao làng có long mạch chạy qua (Theo quan điểm của Dienbatn) và bị đứt từ rất lâu, trước khi có hiện tượng gia súc chết hàng loạt ngót cả chục năm(Theo sự tường thuật của cán bộ địa phương). Như phần trên đã trình bày, tôi chỉ tìm cách giải thích theo phương pháp luận của Phong thuỷ từ hiện tượng có tính đặc thù của xóm Đầu. Đó chính là miếu của xóm. Sau năm 1998. Hướng miếu được xây theo hướng Dần toạ Thân (Gọi là miếu cũ, vì so với miếu mới hiện nay). Hướng miếu này đặc biệt kỵ Khôn tức là kỵ hướng miếu trước năm 1998 theo Hậu Thiên Lạc việt. Còn nếu theo sách cổ chữ Hán thì nó không kỵ vì hướng miếu trước năm 1998 thuộc cung Tốn là gia cầm. Điều này lý giải việc gia súc chết hàng loạt do hướng Dần Mộc kỵ sát KhônThổ. Đã vậy, hướng miếu cũ sau 1998 lại vô khí (Đã minh hoạ ở trên). Nhưng hướng miếu mới ngày nay đã hoàn toàn tốt chưa. Điều này lại liên quan đến một yếu tố tương tác nữa là Huyền Không phi tinh ." Thiên sứ viết bài này thực ra là suy nghĩ chưa thấu đáo . Nhất là vấn đề này có thể gây thất bại nghiêm trọng cho việc hoán đổi Tốn - Khôn mà Thiên sứ đang theo đuổi . Việc này chỉ cần bình tĩnh suy luận tư duy lô gic sẽ thấy ngay : Thứ nhất : Tại thôn Đầu , khi xây dựng Miếu thờ Thành hoàng , toàn bộ những người thiết kế , xây dựng Miếu chỉ là những ông thợ mộc , những người nông dân như ông trưởng thôn . Chính vì vậy , khi lấy hướng của Miếu , họ chỉ ước lượng sơ sài theo lối nhìn mặt trời mà không hề có một cái La kinh nào cả . Bằng chứng là trong khi nói chuyện , họ đã cung cấp thông tin : Hướng Miếu xây năm 1983 quay về hướng Nam , hướng Miếu ba gian sau này quay về hướng Đông . ( Người viết còn giữ băng ghi âm của cuộc trao đổi bữa trước ) . Thực tế , khi đo hướng Miếu hiện thời là Tọa Hợi - Hướng Tỵ - Thuộc cung Tốn - Đông nam chứ không phải là Nam . Mặt khác , hướng miếu ba gian đã phá đi hiện nay không còn cái nền thì chỉ căn cứ vào lời mô tả của chính những người xây nên nó cũng không chính xác . Ta biết cung Tốn - Đông Nam bao gồm ba cung nhỏ là Thìn ( 112,5 - 127,4 độ ) , cung Tốn ( 127,5 - 142,4 độ ) và cung Tỵ ( 142,5 - 157,4 độ ) . Cung Chấn - Chính Đông bao gồm ba cung nhỏ : Cung Giáp ( 67,5 - 82,4 độ ) , cung Mão ( 82,5 - 97,4 độ ) và cung Ất ( 97,5 - 112,4 độ ) . Như vậy nếu Thiên sứ sử dụng hướng Miếu như hiện nay là Tọa Hợi - Hướng Tỵ , và suy rằng hướng Miếu ba gian cũ là Tọa Thân - Hướng Dần như hình đã đăng : Nếu căn cứ vào việc suy luận dưa trên cơ sở này thì thật là nguy hiểm . Mặt khác , nếu có người hỏi rằng : Đúng rồi - Tốn vi kê ( Tức là gà - Híc ) - Thì hướng Miếu hiện tại gà vịt , ngan ngỗng vẫn cứ sống nhăn rằng ra đấy thôi ??? Vậy là hoán đổi Tốn - Khôn bị sai rồi ư ???? Tốn vi Kê - vi Vịt , vi Ngan ....gà , ngan , vịt gì cũng vẫn sống vô tư . Một bước phát triển nữa của sự việc là cho tới thời điểm này có một trường hợp có một cháu nhỏ hơn hai tuổi rất khỏe mạnh , đẹp trai , đang chơi thì lăn đùng ra ngất xỉu . Khi đưa lên các bệnh viện cả Trung ương và địa phương đều không xác định được nguyên nhân của bệnh . Có cái lạ là cứ đưa cháu lên đến cổng bệnh viện là cháu lại khỏe lại ( Như lần lên bệnh viện Việt Đức ) . Vào bệnh viện khám thì không thấy có hiện tượng gì xẩy ra cả , bác sĩ lại cho về . Về đến nhà cháu lại chơi ầm ầm rất khỏe . Lần cuối cùng cháu lại lên cơn lại , gia đình đưa cháu lên bệnh viện , nhưng dọc đường cháu đã mất . Đây là một trường hợp duy nhất và đặc biệt tại thôn Đầu xẩy ra với người . Ngay bản thân những người có trách nhiệm trong Thôn Đầu cũng hết sức dè đặt khi nói đây là trường hợp đầu tiên không biết có phải là duy nhất không . Nếu không may có một vài trường hợp nữa xảy ra với con người thì lúc đó Càn hay Khôn vi Nhân ???? Thứ hai : Như Thiên sứ đã viết : "Sau năm 1998. Hướng miếu được xây theo hướng Dần toạ Thân (Gọi là miếu cũ, vì so với miếu mới hiện nay). Hướng miếu này đặc biệt kỵ Khôn tức là kỵ hướng miếu trước năm 1998 theo Hậu Thiên Lạc việt. Còn nếu theo sách cổ chữ Hán thì nó không kỵ vì hướng miếu trước năm 1998 thuộc cung Tốn là gia cầm. Điều này lý giải việc gia súc chết hàng loạt do hướng Dần Mộc kỵ sát KhônThổ. Đã vậy, hướng miếu cũ sau 1998 lại vô khí (Đã minh hoạ ở trên). Nhưng hướng miếu mới ngày nay đã hoàn toàn tốt chưa. Điều này lại liên quan đến một yếu tố tương tác nữa là Huyền Không phi tinh ." Nếu chẳng may, hay rất có thể hướng Miếu ba gian không phải là Tọa Thân - Hướng Dần mà là Tọa Canh hướng Giáp hay Tọa Cấn - Hướng Tốn thì không biết lấy đâu Mộc để kỵ sát Khôn Thổ đây ???/ Thứ ba: Nếu chỉ chú ý tới hướng của Miếu , dù bất kể hướng như thế nào chăng nữa , có đổi chỗ Tốn- Khôn hay không thì Thiên sứ không thể nào lý giải nổi trường hợp nhà anh Tâm ở trong thôn từ khi xẩy ra sự việc , hàng ngàn súc vật chết trong xóm mà nhà anh Tâm vẫn không sao cả, và tại sao người làng đem gia súc tới nuôi nhờ trên đất nhà anh lại không chết con nào. Híc. dienbatn. Nguyên văn bởi Dienbatn trong các bài trên liên quan đến luận điểm của Thiên Sứ đang trình bày. Dienbatn viết: Thiên sứ viết bài này thực ra là suy nghĩ chưa thấu đáo . Nhất là vấn đề này có thể gây thất bại nghiêm trọng cho việc hoán đổi Tốn - Khôn mà Thiên sứ đang theo đuổi . Việc này chỉ cần bình tĩnh suy luận tư duy lô gic sẽ thấy ngay : Thứ nhất : Tại thôn Đầu , khi xây dựng Miếu thờ Thành hoàng , toàn bộ những người thiết kế , xây dựng Miếu chỉ là những ông thợ mộc , những người nông dân như ông trưởng thôn . Chính vì vậy , khi lấy hướng của Miếu , họ chỉ ước lượng sơ sài theo lối nhìn mặt trời mà không hề có một cái La kinh nào cả . Bằng chứng là trong khi nói chuyện , họ đã cung cấp thông tin :Hướng Miếu xây năm 1983 quay về hướng Nam , hướng Miếu ba gian sau này quay về hướng Đông .( Người viết còn giữ băng ghi âm của cuộc trao đổi bữa trước ) . Thực tế , khi đo hướng Miếu hiện thời là Tọa Hợi - Hướng Tỵ - Thuộc cung Tốn - Đông nam chứ không phải là Nam . Mặt khác , hướng miếu ba gian đã phá đi hiện nay không còn cái nền thì chỉ căn cứ vào lời mô tả của chính những người xây nên nó cũng không chính xác . Ta biết cung Tốn - Đông Nam bao gồm ba cung nhỏ là Thìn ( 112,5 - 127,4 độ ) , cung Tốn ( 127,5 - 142,4 độ ) và cung Tỵ ( 142,5 - 157,4 độ ) . Cung Chấn - Chính Đông bao gồm ba cung nhỏ : Cung Giáp ( 67,5 - 82,4 độ ) , cung Mão ( 82,5 - 97,4 độ ) và cung Ất ( 97,5 - 112,4 độ ) . Như vậy nếu Thiên sứ sử dụng hướng Miếu như hiện nay là Tọa Hợi - Hướng Tỵ , và suy rằng hướng Miếu ba gian cũ là Tọa Thân - Hướng Dần như hình đã đăng : Nếu căn cứ vào việc suy luận dưa trên cơ sở này thì thật là nguy hiểm . Một bước phát triển nữa của sự việc là cho tới thời điểm này có một trường hợp có một cháu nhỏ hơn hai tuổi rất khỏe mạnh , đẹp trai , đang chơi thì lăn đùng ra ngất xỉu . Khi đưa lên các bệnh viện cả Trung ương và địa phương đều không xác định được nguyên nhân của bệnh . Có cái lạ là cứ đưa cháu lên đến cổng bệnh viện là cháu lại khỏe lại ( Như lần lên bệnh viện Việt Đức ) . Vào bệnh viện khám thì không thấy có hiện tượng gì xẩy ra cả , bác sĩ lại cho về . Về đến nhà cháu lại chơi ầm ầm rất khỏe . Lần cuối cùng cháu lại lên cơn lại , gia đình đưa cháu lên bệnh viện , nhưng dọc đường cháu đã mất . Đây là một trường hợp duy nhất và đặc biệt tại thôn Đầu xẩy ra với người . Ngay bản thân những người có trách nhiệm trong Thôn Đầu cũng hết sức dè đặt khi nói đây là trường hợp đầu tiên không biết có phải là duy nhất không . Nếu không may có một vài trường hợp nữa xảy ra với con người thì lúc đó Càn hay Khôn vi Nhân ???? dienbatn. Thứ hai : Như Thiên sứ đã viết : "Sau năm 1998. Hướng miếu được xây theo hướng Dần toạ Thân (Gọi là miếu cũ, vì so với miếu mới hiện nay). Hướng miếu này đặc biệt kỵ Khôn tức là kỵ hướng miếu trước năm 1998 theo Hậu Thiên Lạc việt. Còn nếu theo sách cổ chữ Hán thì nó không kỵ vì hướng miếu trước năm 1998 thuộc cung Tốn là gia cầm. Điều này lý giải việc gia súc chết hàng loạt do hướng Dần Mộc kỵ sát KhônThổ. Đã vậy, hướng miếu cũ sau 1998 lại vô khí (Đã minh hoạ ở trên). Nhưng hướng miếu mới ngày nay đã hoàn toàn tốt chưa. Điều này lại liên quan đến một yếu tố tương tác nữa là Huyền Không phi tinh ." Nếu chẳng may, hay rất có thể hướng Miếu ba gian không phải là Tọa Thân - Hướng Dần mà là Tọa Canh hướng Giáp hay Tọa Cấn - Hướng Tốn thì không biết lấy đâu Mộc để kỵ sát Khôn Thổ đây ???/ dienbatn. Thứ ba: Nếu chỉ chú ý tới hướng của Miếu , dù bất kể hướng như thế nào chăng nữa , có đổi chỗ Tốn- Khôn hay không thì Thiên sứ không thể nào lý giải nổi trường hợp nhà anh Tâm ở trong thôn từ khi xẩy ra sự việc , hàng ngàn súc vật chết trong xóm mà nhà anh Tâm vẫn không sao cả, và tại sao người làng đem gia súc tới nuôi nhờ trên đất nhà anh lại không chết con nào. Híc. dienbatn. Dienbatn viết đủ chưa hay còn phát hiện gì mới mà cho là Thiên Sứ sai không? Theo tôi nghĩ thì Dienbatn hãy trình bày xong hết ý cho luận điểm của mình đã rồi hãy phê phán người khác sai. Tôi viết chưa xong mà. Cũng như Dienbatn viết chưa xong , tôi cũng chưa có ý kiến gì. Thiên Sứ Chào các bạn ! Qua bài viết của dienbatn về giải thích nguyên nhân làng bị ma ám, trong đó nổi bật lện hai vấn đề : - Giải thích nguyên nhân theo thiên sứ - Giải thích nguyên nhân theo dienbatn Tôi có những nhận xét khách quan như sau : 1- Đối với luận điểm của thiên sứ Tôi thấy chưa hợp lý ! Cụ thể như sau : - Thiên sứ đặt trọng tâm vấn đề vào hướng Miếu của làng để giải thích, tôi cho là khiên cưỡng vì một cái Miếu nhỏ nhoi rách nát( như hình vẽ ) chưa đủ tầm là đặc trưng của làng nên những hệ lụy của hướng Miếu chưa đủ sức ảnh hưởng đến cuộc sống của dân làng ! Khi đó mọi giải thích hệ lụy từ hướng Miếu sẽ dẫn đến sai lệch !Trong trường hợp này nên chọn hướng theo kiểu khác ! - Phương pháp suy diễn từ hướng Miếu dựa trên các quẻ kiểu Tốn Khôn hoán chuyển là chưa chuẩn vì qua các cuộc tranh luận trước đây với tubinh_giagia rất nhiều lần Thiên sứ không thể trả lời những câu hỏi mấu chốt của vấn đề này !( Như các bạn đã biết mọi cuộc tranh luận đều trở thành tranh cãi và thiên sứ luôn "từ chối " giải thích !)Do đó học thuyết Tốn khôn hoán chuyển chưa có giá trị ứng dụng ! - Thiên sứ có đề cập đến ảnh hưởng tương tác giữa hướng Miếu cũ và hướng Miếu mới, đây là học thuyết " Nguyên không trang quái " nhưng cách trình bày chưa chuẩn ( Có thể vì lý do dấu nghề hoặc chưa nắm được khẩu quyết này, mọi khả năng có thể xảy ra !) do đó cũng chưa đủ làm cơ sở dẫn chứng ! 2- Đối với cách giải thích của dienbatn : Tôi nhận thấy cách giải thích về Long mạch là chuẩn xác, đây cũng là kiến thức đã được nhiều địa lý gia nắm vững từ lâu ! Sự ảnh hưởng đến ngôi làng khi Long mạch chuyển hướng là điều đương nhiên ! Do chưa đi thực tế với dienbatn để xác định Long mạch của làng như thế nào, có thể là mạch sống hay mạch chết, mạch lớn hay nhỏ như thế nào nên tôi chưa thể nói đúng sai nhưng tôi công nhận rằng : Giải thích của dienbatn là có lý ! Hy vọng nếu có dịp Tôi sẽ nghiên cứu kỹ thêm về vấn đề này ! Thông thường thì những gì chúng ta đã viết ra thì cũng mang tính đúng sai nhất định. Do đó anh Thiên sứ cũng nên có thêm lý giải để bà con hiểu rõ về luận điểm của mình ! long nguyen quang Cùng quan điểm với anh LNQ, tuy nhiên theo NB nên chú ý chi tiết cột khói xanh bốc lên -(một dạng thoát khí của long mạch). Long mạch đã thoát khí sẽ ảnh hưởng đến 1 vùng rộng lớn. Do NB chưa có thời gian và kinh nghiệm nhiều trong lĩnh vực này nhưng qua những lần công tác NB có được một số bạn bè chỉ cho thế nào là là đất thoát khí điển hình như ai có điều kiện qua vùng Ninh Bình xem thế đất gần nơi đặt mộ nhà cụ Nguyễn Cơ Thạch thì có thể sẽ rút ra khái niệm gì đó cho mình. Cũng như ví dụ điển hình phá thế đất Ninh Bình là Phá thế núi hình Ngọc Nữ thì yểm ở tâm oa, và âm hô. Cái nhà máy xi măng Trung quốc giúp xây dựng ở dãy núi có hình Ngọc Nữ tại Ninh Bình theo các thầy địa lý thì đúng như vậy. Đi theo quốc lộ 1 cũ có thể nhìn thấy Hiểu biết sơ sơ, buôn chuyện là chính mong anh dienbatn va bác Thiên sứ thông cảm nhé Kính nguyenbuom Dienbantn thân mến. Theo tinh thần học thuật do chính Dienbatn đề xuất, Thiên Sứ tôi sẽ phản biện những ý kiến của Dienbatn như sau: Dienbatn viết: *Thiên sứ viết bài này thực ra là suy nghĩ chưa thấu đáo . Nhất là vấn đề này có thể gây thất bại nghiêm trọng cho việc hoán đổi Tốn - Khôn mà Thiên sứ đang theo đuổi . Điều này chứng tỏ Dienbatn không hiểu gì về nguyên lý tại sao phải đổi chỗ Tốn Khôn và đặc biệt trong khả năng ứng dụng của nó. Đặc biệt trong tương quan giữa lý thuyết và ứng dụng vào trường hợp cụ thể này. Từ một lý thuyết đến một phương pháp đã là một khoảng cách. Từ một phương pháp đến ứng dụng nói chung và vào một trường hợp cụ thể lại là một khoảng cách nữa. Ở đây tôi chưa nói đến khả năng của người ứng dụng phương pháp. Cùng một trường dạy nghề vẫn sản sinh ra thợ giỏi và dở. Không thể vì thợ dở mà phương pháp sửa xe sai và cũng không thể vì thế mà nguyên lý động cơ đốt trong sai. Bởi vậy nói "thất bãi nghiêm trọng cho việc hoán đổi Tốn Khôn" là hoàn toàn không hề có cơ sở. Tôi không bao giờ bắt buộc ai theo lý thuyết của tôi. Kể cả Dienbatn. * Việc này chỉ cần bình tĩnh suy luận tư duy lô gic sẽ thấy ngay : Thứ nhất : Tại thôn Đầu , khi xây dựng Miếu thờ Thành hoàng , toàn bộ những người thiết kế , xây dựng Miếu chỉ là những ông thợ mộc , những người nông dân như ông trưởng thôn . Chính vì vậy , khi lấy hướng của Miếu , họ chỉ ước lượng sơ sài theo lối nhìn mặt trời mà không hề có một cái La kinh nào cả . Bằng chứng là trong khi nói chuyện , họ đã cung cấp thông tin :Hướng Miếu xây năm 1983 quay về hướng Nam , hướng Miếu ba gian sau này quay về hướng Đông .( Người viết còn giữ băng ghi âm của cuộc trao đổi bữa trước ) . Sự thật đúng như vậy. Những người xây dựng hoàn toàn không biết chính xác họ xây miếu theo hướng gì. Nhưng cả tôi và Dienbatn đều không căn cứ vào lời mô tả hướng miếu và đã đo thực tế. Thực tế , khi đo hướng Miếu hiện thời là Tọa Hợi - Hướng Tỵ - Thuộc cung Tốn - Đông nam chứ không phải là Nam . Mặt khác , hướng miếu ba gian đã phá đi hiện nay không còn cái nền thì chỉ căn cứ vào lời mô tả của chính những người xây nên nó cũng không chính xác . Ta biết cung Tốn - Đông Nam bao gồm ba cung nhỏ là Thìn ( 112,5 - 127,4 độ ) , cung Tốn ( 127,5 - 142,4 độ ) và cung Tỵ ( 142,5 - 157,4 độ ) . Cung Chấn - Chính Đông bao gồm ba cung nhỏ : Cung Giáp ( 67,5 - 82,4 độ ) , cung Mão ( 82,5 - 97,4 độ ) và cung Ất ( 97,5 - 112,4 độ ) . Như vậy nếu Thiên sứ sử dụng hướng Miếu như hiện nay là Tọa Hợi - Hướng Tỵ , và suy rằng hướng Miếu ba gian cũ là Tọa Thân - Hướng Dần như hình đã đăng : Nếu căn cứ vào việc suy luận dưa trên cơ sở này thì thật là nguy hiểm . Tại sao nguy hiểm nhỉ? Thực tế là nền miếu hiện nay và nền miếu cũ còn nguyên. Người cán bộ thôn nói rõ là miếu cũ quay xuống Ao. Nến miếu cũ và mới vuông góc với nhau , Bởi vậy, đây ko phải là suy luận nguy hiểm mà là một thực tế đã được quan sát. * Một bước phát triển nữa của sự việc là cho tới thời điểm này có một trường hợp có một cháu nhỏ hơn hai tuổi rất khỏe mạnh , đẹp trai , đang chơi thì lăn đùng ra ngất xỉu . Khi đưa lên các bệnh viện cả Trung ương và địa phương đều không xác định được nguyên nhân của bệnh . Có cái lạ là cứ đưa cháu lên đến cổng bệnh viện là cháu lại khỏe lại ( Như lần lên bệnh viện Việt Đức ) . Vào bệnh viện khám thì không thấy có hiện tượng gì xẩy ra cả , bác sĩ lại cho về . Về đến nhà cháu lại chơi ầm ầm rất khỏe . Lần cuối cùng cháu lại lên cơn lại , gia đình đưa cháu lên bệnh viện , nhưng dọc đường cháu đã mất . Đây là một trường hợp duy nhất và đặc biệt tại thôn Đầu xẩy ra với người . Ngay bản thân những người có trách nhiệm trong Thôn Đầu cũng hết sức dè đặt khi nói đây là trường hợp đầu tiên không biết có phải là duy nhất không . Nếu không may có một vài trường hợp nữa xảy ra với con người thì lúc đó Càn hay Khôn vi Nhân ???? Hướng miếu, hướng đình từ xưa trong Phong Thuỷ đã nói đến ảnh hưởng của nó với dân địa phương . Việc nó có thể ảnh hưởng cả đến ngưới ncũng không ngoại lệ. Tuy nhiên, một trường hợp các biệt mới phát hiện thì chưa có thể kết luận ngay được. Còn việc tôi kết luận hướng miếu ảnh hướng đến gia súc vì đã có một phương pháp luận liên quan đến vấn đề này là "Khôn vi ngưu" và "Mộc khắc Thổ". Phương pháp luận này trùng hợp hoàn toàn với hiện tượng hướng miếu xóm Đầu và sự đổi chỗ Tốn Khôn của tôi. Tất nhiên tôi phải đạt v/d về sự trùng hợp này trong cái nhìn của tôi. dienbatn. Thứ hai : Như Thiên sứ đã viết : "Sau năm 1998. Hướng miếu được xây theo hướng Dần toạ Thân (Gọi là miếu cũ, vì so với miếu mới hiện nay). Hướng miếu này đặc biệt kỵ Khôn tức là kỵ hướng miếu trước năm 1998 theo Hậu Thiên Lạc việt. Còn nếu theo sách cổ chữ Hán thì nó không kỵ vì hướng miếu trước năm 1998 thuộc cung Tốn là gia cầm. Điều này lý giải việc gia súc chết hàng loạt do hướng Dần Mộc kỵ sát KhônThổ. Đã vậy, hướng miếu cũ sau 1998 lại vô khí (Đã minh hoạ ở trên). Nhưng hướng miếu mới ngày nay đã hoàn toàn tốt chưa. Điều này lại liên quan đến một yếu tố tương tác nữa là Huyền Không phi tinh ." Nếu chẳng may, hay rất có thể hướng Miếu ba gian không phải là Tọa Thân - Hướng Dần mà là Tọa Canh hướng Giáp hay Tọa Cấn - Hướng Tốn thì không biết lấy đâu Mộc để kỵ sát Khôn Thổ đây ???/ dienbatn. Trong học thuật không thể nói"nếu không may" được. Cụ thể là: Cán bộ xóm Đầu xác định: Hướng miếu cũ vuông góc với hướng miếu mới(Còn nền xác định) và đã được đo chính xác trên nền cũ. * Thứ ba: Nếu chỉ chú ý tới hướng của Miếu , dù bất kể hướng như thế nào chăng nữa , có đổi chỗ Tốn- Khôn hay không thì Thiên sứ không thể nào lý giải nổi trường hợp nhà anh Tâm ở trong thôn từ khi xẩy ra sự việc , hàng ngàn súc vật chết trong xóm mà nhà anh Tâm vẫn không sao cả, và tại sao người làng đem gia súc tới nuôi nhờ trên đất nhà anh lại không chết con nào. Híc. dienbatn. Một giả thuyết khoa học phải lý giải hợp lý hầu hết những hiện tượng liên quan. Nếu giả thuyết của tôi đúng thì sẽ phải lý giải trường hợp này. Nhưng rất tiếc. Tôi đã viết xong đâu? Dienbatn thân mến. Vì v/d học thuật do chính Dienbatn đưa ra và đặt vấn đề trước . Tôi đã giải thích những chất vấn của Dienbatn với phương pháp và cái nhìn của tôi. Riêng phương pháp và cái nhìn của Dienbatn thì tôi chưa có ý kiến. Vì đơn giản là Dienbatn chưa viết xong. Đây là v/d học thuật nghiêm túc , nên tôi sẽ chờ đến khi Dienbatn viết xong sẽ chất vấn. Tất nhiên trong đó tôi cũng chờ câu trả lời theo phương pháp và cái nhìn của Dienbatn về hiện tượng: Vì sao gia đình Anh Tâm không bị chết gia súc. Thiên Sứ Tôi xin tiếp tục phần phản biện của mình . ( Lần trước đã sang hết phần phản biện thứ ba ) . Thứ tư : Thiên sứ và Long Nguyên Quang viết như sau : 1- Đối với luận điểm của thiên sứ Tôi thấy chưa hợp lý ! Cụ thể như sau : - Thiên sứ đặt trọng tâm vấn đề vào hướng Miếu của làng để giải thích, tôi cho là khiên cưỡng vì một cái Miếu nhỏ nhoi rách nát( như hình vẽ ) chưa đủ tầm là đặc trưng của làng nên những hệ lụy của hướng Miếu chưa đủ sức ảnh hưởng đến cuộc sống của dân làng ! Khi đó mọi giải thích hệ lụy từ hướng Miếu sẽ dẫn đến sai lệch !Trong trường hợp này nên chọn hướng theo kiểu khác ! ( LNQ ). Như vậy là tại cái miếu rách nát nhỏ nhoi nên thành tôi sai. Anh có thể dẫn chứng có sách Tàu nào nói như vậy nhỉ? Luận điểm này có thể là một sáng tạo trong phong thuỷ đấy. Xin hỏi anh: Trước năm 1098. Cái miếu cũng như bây giờ sao xóm này lại trù phú? Sau 98. Cái miếu xây ba gian bề thế để các cụ ngồi đánh chén sao lại xảy ra sự kiện vậy? Thật là buồn. " ( TS) Mời các bạn xem lại hình dạng cái Miếu hiện nay một lần nữa : Ngay bản thân Thiên sứ sau khi dùng cảm xạ cũng phải xác nhận rằng : CON LẮC ĐỂ BÊN AO LÀNG VÀ LÀ HƯỚNG MIẾU CŨ HOÀN TOÀN BẤT ĐỘNG, CHỨNG TỎ VÔ KHÍ. Tuy nhiên có một hiện tượng nữa là ngay bản thân cái Miếu hiện nay và ngay cả 2 bát hương đặt trong Miếu cũng hoàn toàn vô khí . Đây chính là điều người viết muốn nói đến . Trước hết , ta cần nhìn nhận lại việc Bốc Bát hương và Hô Thần Nhập Tượng . Đây chính là một công việc mà những người bình thường không thể làm được . Việc Bốc Bát Hương và Hô Thần Nhập Tượng phải do Pháp sư , hay những nhà sư cao tăng đức độ hoặc những người có Trường năng Lượng rất mạnh mới có thể thực hiện được . Đây chính là công việc nạp Năng Lượng ban Đầu cho bát Hương hay Tượng . Việc này có thể dùng cảm xạ hay cảm nhận Trường khí để kiểm tra . Người ta có thể dùng con lắc cảm xạ hay dùng chính bản thân mình ( nếu người đó có khả năng cảm nhận được Trường khí do luyện tập ) . Thông thường , khi Bát hương hay Tượng chưa được nạp năng lượng ( Hay còn gọi là Bốc bát Hương và Hô Thần Nhập Tượng ) , thì năng lượng của bát hương hay Tượng là Không hay cực nhỏ . Sau khi Bốc bát Hương hay Hô Thần Nhập Tượng ( Tức là đã truyền Năng lượng ban đầu vào ) , thì tùy theo Trường Năng lượng của Thày mạnh hay yếu ( Cao tay hay không ) , thì cường độ mạnh yếu của bát Hương hay Tượng đều biểu hiện rất rõ và hoàn toàn có thể đo được . Bát hương hay Tượng càng " Thiêng" thì Trường năng Lượng của nó càng lớn . Trở lại với cái Miếu hiện thời : Khi mà Trường năng Lượng đo được trong Miếu và cạnh 2 bát hương bằng không ( Con lắc đứng yên - Tức là chẳng có chút Năng lượng nào cả ) . Vậy thì với một cái Miếu đơn sơ như vậy , với Trường năng lượng bằng hay xấp xỉ bằng không như vậy , liệu có khả năng gây Họa hay Phúc cho gia súc xóm Đầu hay không . Chắc các bạn đã tự trả lời được rồi . dienbatn . Tôi chưa kiểm tra trường khí của bát hương. Nhưng cho dù Dienbatn có đúng trong trường hợp này thì cũng không phải là luận cứ để phản biện những lập luận của tôi. Bởi vì : Việc bát hương vô khí hoặc hữu khí là một yếu tố xem xét chứ không phải là yếu tố phản biện về hướng miếu. Ngay bản thân những lập luận của tôi về hướng miếu - cho rằng đúng thì cũng là một yếu tố xem xét- chứ không phải là yếu tố phản biện luận điểm của Dienbatn về long mạch (Trong lúc này). Khi phản biện một phương pháp thì phải chỉ ra cái mâu thuẫn ngay chính luận cứ của nó chứ không phải lấy một yếu tố không liên quan để phản biện. Thí dụ: Một bệnh nhân bị viêm bao tử và loét đại tràng. Một bác sĩ khám thấy loét đại tràng kết luận loét đại tràng. Bác sĩ khác bảo tôi có đủ bằng chứng để chứng tỏ bệnh nhân này viêm bao tử, nên bảo nhận xét loét đại tràng là sai. Híc! Nói tóm lại. tôi thành thật thật khuyên Dienbatn hãy chín chắn trong việc nghiên cứu. Tôi đã khẳng định và nhắc lại để Dienbatn nhớ là: * Đã là phương pháp do con người tạo ra thì tự thân nó không thể hoàn chỉnh và bao trùm một thực tế. * Mỗi phương pháp trong phong thủy chỉ phản ánh một trong nhiều yếu tố tương tác mà môn Phong Thủy đã khám phá, trong khi thực tế để có một hiện tượng bao gồm rất nghiều yêúi tố tương tác và có thể nằm ngoài khả năng của tất cả các yếu tố mà môn phong thủy đã phát hiện. Dỉenbatn nếu tự cho rằng phương pháp của Dienbatn là duy nhất đúng thì cứ việc nghiên cứu theo cách của mình. Còn tôi , tôi đã nói rõ trong bài viết của mình. Tôi cần sự tổng hợp của nhiều phương pháp , để tìm ra yếu tố chính , chứ không tự cho là duy nhất đúng. Ở ví dụ trên chỉ có hai vị bác sĩ. Còn tôi cần ít nhất 9 bác sĩ để khám cho bệnh nhân. Trên cơ sở đó mới quyết định một phương pháp tổng hợp và tìm nguyên nhân chính yếu.Va2 cũng có thể chỉ gần đúng. Nếu có điều kiện thời gian và kinh phí. Tôi sẽ đề nghị "Kinh Dịch Thăng Long" tham gia, hoặc những cao thủ thực sự của Trung Tâm như Dũng Tử Vi. Cao Thế Nhân.... Dienbatn hãy viết tiếp luận điểm của mình xem có hợp lý không đã , rồi hãy chỉ trích người khác. Thiên Sứ. Thiên sứ viết : "Tôi chưa kiểm tra trường khí của bát hương. Nhưng cho dù Dienbatn có đúng trong trường hợp này thì cũng không phải là luận cứ để phản biện những lập luận của tôi. Bởi vì : Việc bát hương vô khí hoặc hữu khí là một yếu tố xem xét chứ không phải là yếu tố phản biện về hướng miếu. Ngay bản thân những lập luận của tôi về hướng miếu - cho rằng đúng thì cũng là một yếu tố xem xét- chứ không phải là yếu tố phản biện luận điểm của Dienbatn về long mạch (Trong lúc này). Khi phản biện một phương pháp thì phải chỉ ra cái mâu thuẫn ngay chính luận cứ của nó chứ không phải lấy một yếu tố không liên quan để phản biện. " Tôi không hiểu Thiên sứ nói những câu như vậy thì có hiểu chút nào về Phong thủy không - Bỏi Trường khí của Miếu , cụ thể là tại bát Hương quy định cụ thể cái Miếu đó như thế nào , tốt hay xấu . Chả nhẽ Thiên sứ lại định dùng Bát trạch Minh cảnh để xem xét cái Miếu làng . Cái mâu thuẫn chủ yếu ở đây là Thiên sứ dùng hướng Miếu làm căn để cho lập luận của mình mà không xem xét Trường khí của Miếu . Vậy Thiên sứ định căn cứ vào cái gì đây ??? Và : "Tôi đã khẳng định và nhắc lại để Dienbatn nhớ là: * Đã là phương pháp do con người tạo ra thì tự thân nó không thể hoàn chỉnh và bao trùm một thực tế. * Mỗi phương pháp trong phong thủy chỉ phản ánh một trong nhiều yếu tố tương tác mà môn Phong Thủy đã khám phá, trong khi thực tế để có một hiện tượng bao gồm rất nghiều yêúi tố tương tác và có thể nằm ngoài khả năng của tất cả các yếu tố mà môn phong thủy đã phát hiện." Theo tôi biết , Thiên sứ không chỉ một lần tuyên bố : " Thuyết Âm - Dương Ngũ hành là một Siêu công thức của Vũ trụ - Nó có thể lý giải những hiện tượng Vi mô đến Vĩ mô và có khả năng tiên tri " . Như vậy nếu Phong thủy đã là một ứng dụng của Siêu công thức Vũ trụ trên thì làm sao không hoàn chỉnh và bao trùm một thực tế như Thiên sứ viết . Siêu công thức Vũ trụ cũng là những nhận thức của con người , ứng dụng Siêu công thức Vũ trụ vào Phong thủy thì lại bảo là : " Tôi đã khẳng định và nhắc lại để Dienbatn nhớ là: * Đã là phương pháp do con người tạo ra thì tự thân nó không thể hoàn chỉnh và bao trùm một thực tế. * Mỗi phương pháp trong phong thủy chỉ phản ánh một trong nhiều yếu tố tương tác mà môn Phong Thủy đã khám phá, trong khi thực tế để có một hiện tượng bao gồm rất nghiều yêúi tố tương tác và có thể nằm ngoài khả năng của tất cả các yếu tố mà môn phong thủy đã phát hiện." Híc , không biết bác Thiên sứ dạo này có bị tẩu hỏa nhập ma không vậy . Thứ hai : " Ở ví dụ trên chỉ có hai vị bác sĩ. Còn tôi cần ít nhất 9 bác sĩ để khám cho bệnh nhân. Trên cơ sở đó mới quyết định một phương pháp tổng hợp và tìm nguyên nhân chính yếu.Va2 cũng có thể chỉ gần đúng. Nếu có điều kiện thời gian và kinh phí. Tôi sẽ đề nghị "Kinh Dịch Thăng Long" tham gia, hoặc những cao thủ thực sự của Trung Tâm như Dũng Tử Vi. Cao Thế Nhân...." Lần này thì Thiên sứ Tẩu hỏa nhập ma thật rồi . dienbatn rất tôn trọng tuổi tác của các bô lão trong Kinh dịch Thăng long , nhưng để phải học các cụ này thì dienbatn xin miễn . Không ít lần dienbatn đến Câu lạc bộ Thăng long ngồi nghe , xong đều phải bỏ về giữa chừng vì thấy tiếc thời gian . dienbatn bắt đầu thấy buồn vì Thiên sứ lại phải đi tôn thờ mấy người đó . Xin nhắc cho Thiên sứ biết rằng : Các bô lão trong đó rất nhiều người có bằng cấp Tiến sĩ , Giáo sư - Nhưng ở các ngành khác chả liên quan gì đến Dịch học cả . Nếu Thiên sứ muốn đưa TTNC LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG gia nhập Câu lạc bộ Thăng long thì dienbatn sẽ là người hô biến đầu tiên . Thật cay đắng phải nói ra như vậy . dienbatn . ( dienbatn đã dùng Mật tông để hóa giải và có tham khảo thêm cách thức của cụ Tri Tri ) . KẾT QUẢ : Ngày mới ở làng "ma ám" Bò, trâu ở xóm Đầu đã được người dân nuôi trở lại Tất cả gia súc trong làng bỗng dưng… nổi điên rồi lăn ra chết không rõ nguyên nhân. Đó là chuyện xảy ra ở xóm Đầu, thôn Sơn Quả, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang từ năm 1997 và kéo dài gần 10 năm. Từ tháng 5.2006, nhiều cơ quan chức năng đã về nghiên cứu tìm nguyên nhân, nhưng đến nay vẫn chưa có kết luận cuối cùng... Khi gia súc hóa điên Cách đây 10 năm, đêm 21.4.1997, vợ chồng anh Bùi Văn Thanh ở xóm Đầu bị dựng dậy bởi hai con heo gần đến ngày xuất chuồng bỗng kêu inh ỏi. Cuống cuồng lấy đèn pin ra kiểm tra, anh chị chứng kiến hai con heo ngoan hiền ngày nào giờ đây như hai con thú hoang, vừa kêu vừa lao vào tường ầm ầm. Cơn điên kéo dài vài chục phút, hai chú heo hộc lên mấy tiếng rồi lăn ra chết tươi, từ miệng chúng rỉ ra vài giọt máu. Khoảng nửa tháng sau vợ chồng anh Thanh tiếp tục mua đàn heo khác về nuôi. Thế nhưng chúng tiếp tục "nổi điên" và chết như hai con heo trước. Tương tự, gia đình anh Bùi Văn Hùng có 7 con heo thịt (nặng khoảng 70 - 80 kg/con) và hai con heo nái cũng tự nhiên sùi bọt mép chết thẳng cẳng. Xót nhất là con trâu mộng, anh chị vay mượn tiền khắp nơi mới mua được, thế nhưng một hôm sau 3 tiếng rống kinh hồn, con trâu lăn uỵch ra chết tươi. Tổng cộng từ năm 1997 đến năm 2001, nhà anh Hùng có đến 41 con heo, 7 con chó cùng 1 con trâu mộng lìa đời vì chứng bệnh điên. Vợ chồng anh cho rằng gia đình mình bị "ma ám" nên rủ nhau rời bỏ làng để sang nhà bố mẹ vợ ở làng bên sinh sống... Xóm Đầu có 34 hộ dân với 143 nhân khẩu. Thu nhập chính của người dân là trồng trọt trên diện tích 21 ha lúa và hoa màu. Toàn xóm có 37 con trâu, bò thì cả 37 con đều chết vì bệnh điên. Heo, chó thì trung bình mỗi hộ có trên dưới 100 con chết. Trước khi chết tất cả gia súc đều kêu la inh ỏi, đâm đầu vào tường, chạy loạn xạ... Từ khi gia súc nhà anh Hùng, anh Thanh chết cho đến giữa năm 2006, toàn bộ trâu, bò, heo, chó trong xóm Đầu đều chết sạch với cùng một chứng bệnh điên. Trong đó hộ ông Khiêm có 16 con heo cùng đâm đầu vào tường để... chết. Việc đồng áng ở xóm Đầu gặp nhiều khó khăn, quanh năm lúa khoai cằn cỗi vì không có trâu bò cày ruộng. Không thể sống ở làng đã bị "ma ám", nhiều thanh niên bỏ xứ đi làm ăn, còn các hộ dân khác thì hy vọng lớp gia súc mới mua về sẽ "trụ" lại được. Thế nhưng mọi cố gắng của họ đều vô vọng, bởi gia súc mua về chỉ sống được 3-4 ngày, nhà nào may mắn lắm thì nuôi được gần 40 ngày là chúng lại nổi cơn điên và chết... Cơ quan chức năng vào cuộc Gần 10 năm trời, tình trạng gia súc ở xóm Đầu chết hàng loạt làm nhiều người dân hoang mang và những câu chuyện đầy mùi ma quái được dư luận đồn thổi. Người dân kéo nhau đi xem bói, có thầy phán: "Trước đây các cụ trong xóm có chôn 4 con chó đá để giữ làng, song có kẻ nào đó đào trộm nên không có ai bảo vệ phần âm của xóm. Vì thế có con quỷ vào xóm bắt hết vật nuôi, sau đó sẽ bắt đến người...". Họ lại đi đón thầy cúng về trấn trạch cho cả xóm. Thầy cúng vừa về hôm trước, hôm sau gia súc tiếp tục sùi bọt mép lao đầu vào tường chết. Đầu năm 2005, gia súc nuôi bao nhiêu chết bấy nhiêu, người dân phải cầu cứu đến đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang. Ngày 13.5.2005, đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang có Công văn số 121/CV - ĐBQH gửi Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ (KH-CN) tỉnh Bắc Giang yêu cầu tìm hiểu nguyên nhân gia súc ở xóm Đầu chết hàng loạt. Sau đó, Giám đốc Sở KH-CN giao cho Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH-CN điều tra khảo sát, xây dựng và triển khai đề tài: "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khôi phục và phát triển chăn nuôi gia súc ở xóm Đầu...". Tháng 5.2006, Trung tâm ứng dụng KH-CN cùng với Trung tâm công nghệ xử lý môi trường - thuộc Bộ tư lệnh Hóa học (Bộ Quốc phòng) và Viện Thú y T.Ư mang máy móc và các thiết bị hiện đại về xóm Đầu. Các chuyên gia đã lấy mẫu đất, nước, khảo sát bức xạ ion hóa, lấy mẫu súc vật đã chết... để phân tích. Cán bộ thú y tiến hành phun hàng tạ hóa chất khử trùng cho toàn bộ chuồng, trại của các hộ dân trong xóm. Sau đó Trung tâm ứng dụng KH-CN mang 12 con bò, 24 con heo, 24 con chó chia đều cho các hộ nuôi (số gia súc này đều đã được tiêm phòng cẩn thận) dưới sự giám sát của cán bộ trung tâm. Kết quả là bò, lợn đều khỏe mạnh không hề có biểu hiện gì bất thường. Trung tâm tiếp tục cho các hộ dân nuôi thí nghiệm đợt 2 (tháng 9.2006) gồm 6 con bò, 13 con heo và 15 con chó. Đến nay số gia súc này đều sinh trưởng bình thường. Riêng về chó, cả hai lần nuôi thí nghiệm thì có vài con chết, Trung tâm ứng dụng KH-CN lập biên bản lấy mẫu xét nghiệm. Kết quả, một số con chết do ngộ độc thức ăn, một số con khác chết do nhiễm khuẩn Ecoli dung huyết và vi khuẩn Steptococus, số còn lại chết do bị kiết. Cô La Thị Bẩy đang cho heo ăn (Ảnh: Hoài Nam) Bị hạ độc? Ở một hướng khác, trong thời gian tiến hành các thí nghiệm ở xóm Đầu, Trung tâm ứng dụng KH-CN cũng nhờ Công an huyện Hiệp Hòa vào cuộc. Và từ khi công tác an ninh được siết lại thì trâu, bò, lợn... không hề có biểu hiện bị điên nữa. Đặc biệt, ngày 14.10.2006 một số người dân phát hiện hai đống cơm đổ trước cổng nhà ông Lần và nhà ông Nghi, họ liền báo cho cán bộ Trung tâm KH-CN biết. Ngay lập tức, trung tâm này đã tiến hành lập biên bản, lấy mẫu gửi đi phân tích ở Viện Khoa học kỹ thuật hình sự - Bộ Công an. Kết quả giám định nêu: "... trong mẫu cơm có một loại độc tố có nguồn gốc từ thuốc phóng, thuốc phóng khi vào cơ thể gia súc sẽ giải phóng nitorat, nitorit gây ngộ độc cho gia súc, gia súc sẽ có biểu hiện như điên loạn". Theo ông Lưu Kim Đính, Chủ tịch UBND xã Lương Phong, thì đến thời điểm này cả lãnh đạo xã và người dân đều không hề biết loại "thuốc phóng" là thuốc gì, và thủ phạm là ai? Khi được hỏi về thiệt hại của các hộ dân do gia súc chết, ông Đính nói: "Chúng tôi không thể thống kê được. Nhưng từ một xóm giàu nhất thôn, nay tình cảnh của người dân rất thảm hại". Còn Chủ tịch HĐND xã Nguyễn Trung Tân thì bày tỏ: "Tôi rất mong tới đây ngành chức năng có báo cáo chính thức về nguyên nhân gia súc ở xóm Đầu chết, để công an vào cuộc truy tìm thủ phạm lấy lại sự công bằng cho những hộ dân bị thiệt hại nặng nề do gia súc chết trong 10 năm qua". Cuối tháng 9.2007, chúng tôi đến xóm Đầu và chứng kiến người dân đã nuôi được trâu, bò, lợn, chó bình thường. "Nhà tôi đã xuất chuồng được 3 lứa lợn, lãi trên dưới 30 triệu đồng. Tôi bàn với ông nhà tôi dùng hết số tiền này mua lợn giống nuôi tiếp vì lợn thịt giá đang cao" - cô La Thị Bẩy, một nông dân ở đây, phấn khởi cho chúng tôi biết. Nguồn:Blog360.dienbatn
  23. BÍ ẨN LÀNG MA ÁM - NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH HÓA GIẢI . Bài này dienbatn đang viết dở dang trên diễn đàn Vielyso , nhưng topic bị khóa nên đành dở dang . Nay mang sang đây biên tập lại và viết nốt phần sau để các bạn tham khảo . dienbatn . Theo báo an-ninh-thế-giới số ra ngày 27-09-2006 trang 04 như sau : Suốt 10 năm trời, xóm Đầu (thôn Sơn Quả, xã Lương Phong, Hiệp Hòa, Bắc Giang) chết không biết bao nhiêu trâu, bò, lợn, chó. Tất cả số vật nuôi thân thiết với nhà nông này cứ đột nhiên "nổi cơn điên" rồi lăn ra chết. Những câu chuyện kỳ lạ được người dân thêu dệt đầy chất ma quái. Chuyện về "làng ma ám" đã được người dân trình cả lên Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang với mong muốn các nhà khoa học về làng tìm ra lời giải đáp và có cách giúp dân thoát cảnh... "ma ám". Gần đây, khi Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Bắc Giang vào cuộc, xóm Đầu bỗng trở nên nổi tiếng và là sự kiện đáng quan tâm. Đi dưới những lũy tre xanh mướt, những con đường quanh co, tôi tìm đến xóm Đầu. Xóm Đầu cách thị trấn Thắng (Hiệp Hòa) chừng 6 km, nằm co cụm quanh những đụn cát, những ngôi nhà nghèo xác nghèo xơ lẫn trong những lũy tre. Trưởng xóm Lưu Văn Lần vừa nói vừa thở dài thườn thượt: “Xóm có 34 hộ, có 37 con trâu bò thì cả 37 con đều lăn ra chết. Lợn, chó đếm không xuể, nhà có 1 con cũng chết, nhà có 10 con, 15 con, 40 con cũng chết sạch, chết không biết nguyên nhân”. Từ một gia đình bị "ma ám" Câu chuyện kỳ lạ này bắt đầu từ năm 1997, trong gia đình nhà anh Bùi Văn Thanh... Ngôi nhà anh Thanh tường đất, lợp rạ núp dưới bụi tre rậm rì. Đứng trước cái chuồng lợn trống hoác, anh kể: Ngày 21/4/1997, vợ chồng vẫn băm bèo, nấu cám cho đôi lợn 80 kg ăn. Hai con lợn đều béo tốt, khỏe mạnh và sắp đến ngày xuất chuồng. Bỗng nửa đêm, nghe thấy tiếng lợn kêu éc éc, rồi nó lao vào thành chuồng rầm rầm. Soi đèn pin thấy hai con lợn hiền lành mọi ngày bỗng đổi tính đổi nết lồng lộn như hoang thú, anh chị sợ dựng tóc gáy. Sau khi hộc lên mấy tiếng, cả hai con lăn ra chết. Từ mép chúng rỉ ra vài giọt máu tươi. Lần nuôi lợn sau, anh Thanh tẩy chuồng sạch sẽ, đem vôi bột về rắc rồi mới dám thả đàn lợn mới. Đàn lợn 10 con của anh vừa nuôi được đúng một tháng, đang lớn nhanh như thổi bỗng dưng cũng như điên như loạn, rồi lăn ra chết y hệt như hai con lợn thịt trước. Anh gọi bác sĩ thú y đến xem xét, bác sĩ khẳng định không phải chết do bỏ độc, như vậy chỉ có thể do chúng mắc một loại bệnh dịch nào đó. Lần ba, anh cẩn thận... đốt chuồng, phá tường cũ, xây lại tường mới, quét vôi trắng xóa, phun các loại thuốc phòng dịch khắp chuồng, khắp vườn. Nhưng lợn vẫn lên cơn điên và chết, mà càng ngày chết càng nhanh, có khi mới đưa về chuồng được một giờ đã "nổi đóa" rồi lăn ra chết. Nghĩ nhà mình bị ma ám, anh Thanh mời thầy cúng về nhà. Sau một buổi khấn vái, thầy khẳng định đã đuổi được tà ma đi rồi và bảo anh Thanh bắt lợn về nuôi. Bắt lợn về, anh làm đúng theo "phép" của thầy, nhưng chưa kịp làm hết "phép", lợn đã lăn ra chết. Năm 1998, tất cả gia súc trong nhà 5 anh em anh Thanh đều đồng loạt “lên cơn” và lăn ra chết. Tổng cộng số lợn nhà anh Hùng, anh trai anh Thanh, bị chết một cách bí ẩn từ năm 1998 đến năm 2001 lên tới 30 con. Đàn chó 7 con nhà anh Hùng cũng lần lượt nối đuôi đàn lợn về... chầu trời. Để tìm hiểu xem có phải do trúng độc không, họ đem nửa chậu tiết của con vật xấu số cho đàn lợn trong xóm Đầu và nửa chậu cho đàn lợn xóm bên cạnh ăn. Kết quả: đàn lợn xóm Đầu sau khi ăn liền nổi điên rồi chết hết, còn đàn lợn của xóm bên vẫn sống nhởn nhơ. Quá hoảng sợ, vợ chồng anh Hùng bàn nhau chuyển sang làng Đông sinh sống. Nhưng sang đến làng mới, đám gia súc cũng chẳng ở với vợ chồng anh lâu hơn, trong khi trâu bò hàng xóm nuôi vẫn khỏe mạnh bình thường. Đến bi kịch của cả làng Sau khi tất tật đàn gia súc gồm trâu, bò, lợn, chó của đại gia đình nhà anh Bùi Văn Thanh lần lượt chết sạch trong năm 1997 và 1998 thì năm 1999 đến lượt cả xóm Đầu chịu hậu quả nặng nề. Hộ gia đình ông Khiêm cùng một lúc chết 16 con lợn thịt đang khỏe như vâm. Ông phải lôi xe cải tiến rồi đẩy đi khắp làng để cho. Sau đấy ít bữa, những gia đình trong xóm được “hưởng lộc” từ nhà ông cũng lần lượt “trả lộc”, gia súc nhà họ cũng đồng loạt chết. Trong số đó, có những kiểu chết kỳ dị đến mức khiến cả làng hoang mang tột độ. Theo chứng thực của ông trưởng xóm Lần và cả làng thì súc vật chết nhiều nhất vào những ngày làng có lễ lạt, hiếu hỉ. Đặc biệt nhất là chó, cứ đúng lúc diễn ra lễ đón dâu hoặc đưa dâu là y rằng chó khắp làng nổi cơn tru tréo kinh hồn, chạy quáng quàng khắp nơi rồi đâm vào tường vỡ đầu chết, hoặc lao xuống ao... tự vẫn. Và điều này cũng rất khác thường, mặc dù đàn chó “nổi điên” nhưng không bao giờ cắn người. Trong làng, chỉ có gia đình anh Bùi Văn Tâm nuôi được gia súc khỏe mạnh. Trong suốt 10 năm trời, dân làng phải đối mặt với cả ngàn cái chết kỳ lạ của gia súc thì đàn gia súc nhà anh Tâm vẫn bình an vô sự. Tin rằng gia đình anh Tâm được "thánh thần phù hộ", cho mảnh đất tốt nên cả làng mang gia súc đến vườn nhà anh thả nhờ... lấy may. Quả thực, tất cả số gia súc của dân làng thả vào chuồng trâu, chuồng lợn nhà anh Tâm đều sống rất khỏe mạnh và chưa con nào chết. Hiện tại, khu vườn nhà anh Tâm mọc kín chuồng bò, chuồng lợn. Anh em, dân làng đem tre, đem rạ đến vườn nhà anh dựng chuồng để nuôi và vợ chồng anh đều sẵn sàng chấp nhận. Anh Tâm vui vẻ biến mảnh vườn nhỏ nhà mình thành cái trại nuôi gia súc của cả làng và chấp nhận mùi hôi thối nồng nặc khủng khiếp là bởi anh muốn “trả nghĩa” cho bà con, vì từ nhiều năm nay, gia đình anh đều được hưởng “lộc” từ những đàn gia súc đột tử của hàng xóm. Sự hoang mang của dân làng càng lên đến đỉnh điểm khi mới đây, trong xóm nhỏ này có hai cái chết trẻ: một cậu thanh niên chết vì điện giật và một cháu bé con anh Bùi Văn Minh chết không rõ nguyên nhân khi mới hai tuổi rưỡi. Cái chết của cháu bé con anh Minh tuy không biết có liên quan gì tới những cái chết bí ẩn của đàn gia súc trong làng không, song nó đã gây ra nỗi hoang mang rất lớn. Người dân rất mong các nhà khoa học lý giải hiện tượng này, để người dân yên tâm sống. Các cơ quan chức năng bao giờ mới vào cuộc để giải đáp thắc mắc cho người dân? Trên báo An Ninh Thế Giới số 592, ra ngày 30/9/2006 có đăng tiếp phần 2 một phóng sự dài kỳ về " Bí ẩn làng Ma ám" ở xóm Đầu, Lương Phong, Hiệp Hoà, Bắc Giang. Sự việc bí ẩn về cái chết hàng loạt không biết nguyên nhân của trâu, bò, lợn chó khiến hàng chục hộ dân với 200 nhân khẩu vốn đã nghèo đói lại trở nên đói nghèo hơn nữa. Dân làng hết sức lo lắng và đã tự đi tìm nhiều biện pháp giải quyết mang tính mê tín dị đoan. Ban đầu, một số ông thầy cúng bảo làng bị " động long mạch" do tự động thay đổi hướng ngôi miếu thờ Thành Hoàng ở đầu làng. Năm đó, dân tỏng làng mong làm ăn khấm khá nên bàn nhau góp tiền xây ngôi miếu thêm hai gian nữa cho to hơn, đàng hoàng hơn và xoay hướng ngôi miếu ra hướng Đông, nơi có mặt đường cái. Khi khánh thành thì cũng chính là thời điểm diễn ra hiện tượng gia súc, gia cầm chết hàng loạt. Để trấn trạch long mạch, các hộ dân trong xóm lại góp tiền, người bảy chục, người một trăm để mời ông thầy cúng "nổi tiếng" nhất huyện về cúng giải hạn. Đàn tế được lập ngay trước ngôi miếu. Thầy cúng vung con dao phay sắc ngọt chém đứt đầu hai con chó mực, vứt xuống hai cái giếng gần miếu thờ rồi lấp giếng lại để yểm. Yểm xong, thầy cúng tuyên bố "Nếu gia súc, gia cầm trong làng còn chết, thầy thề không thay trời hành đạo, cứu nhân độ thế nữa". Tuy nhiên ông thầy cúng vừa rời khỏi làng hôm trước, hôm sau gia súc lại tiếp tục nổi điên nổi đoá, chết hàng loạt, chết nhiều đến nỗi chuồng trại nhà nào cũng trống hơ trống hoác. Khắp làng chỉ còn thấy giống loài hai chân là gà, vịt, ngan và loài 4 chân là mèo, chuột. Sau cuộc "trấn long mạch" không thành, người dân xóm Đầu còn 3 lần lập đàn tế mời 3 thầy cúng nổi danh và 3 lần nữa mời sư ông, sư bà về cúng bái, nhưng cũng chẳng ăn thua. Cực chẳng đã, người dân trong làng thuê người về phá dỡ 2 gian miếu xây mới, trả lại hiện trạng ngôi miếu như cũ với mong ước cuộc sống được trở lại như xưa. Nhưng rồi, đâu vẫn hoàn đấy, vận hạn vẫn đổ lên đầu cái " làng ma ám" này. Theo trưởng xóm Lưu Văn Lần, hiện tại đàn ông trong làng chỉ còn anh và vài ba người nữa, còn lại đã bỏ ra thành phố hoặc đi các vùng khác làm thuê làm mướn kiếm sống cả. Một số túng quẫn thì đi buôn ma tuý. Trong làng giờ chỉ còn người già và trẻ con. Thậm chí đã có 2 hộ chuyển nhà đến làng khác sinh sống, đó là gia đình ông Hoạt, ông Duyên. Tuy nhiên, cũng như gia đình anh Hùng, dù họ sống ở làng khác, gia súc vẫn chết thẳng cẳng như thường. Người dân giờ đây chỉ còn biết trông chờ vào các nhà khoa hoạc mà thôi. Mặc dù ngôi làng nằm co cụm giữa những giồng đất pha cát trên tổng diện tích 10ha, song khắp làng cây cối rậm rì, tuơi tốt, điều đó chứng tỏ đất làng rất tốt, không xuất hiện những tia chất độc hại, có thể tác động lên sự sống trên mặt đất. Ngoài ra, cách xóm Đầu một con đường rộng 1,5m là các xóm Thượng, xóm Hạ, xóm Đông, thế nhưng, chuyện gia súc ở xóm này đột tử không hề xảy ra, kể cả trong thời gian cả nước xảy ra dịch lở mồm long móng. Qua tìm hiểu thì thấy các xóm bên cạnh cũng có cách chăn thả, chăm sóc và những kinh nghiệm nuôi gia súc tương tự xóm Đầu. Hơn nữa, mọi nguồn nước, ngồn thức ăn, môi trường sống đều chẳng cso gì khác biệt. Việc tìm ra nguyên nhân không phải là chuyện đơn giản. Cuối năm 2005, khi các đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang xuống xã Lương Phong tiếp xúc cử tri, người dân thôn Đầu phản ánh hiện tượng lạ này và đề nghị các ban ngành chức năng của tỉnh giúp đỡ. Lập tức UBND tỉnh triệu tập các ban ngành có liên quan cùng trao đổi, bàn bạc, tìm hiểu về hiện tượng gia súc chết hàng loạt ở thôn Đầu để tìm cách giúp bà con vượt qua khó kăhn. Việc quan trọng nhất là ổn định tâm lý, tránh để lực lượng dị đoan cố ý đưa tin sai lệch, gây bất ổn trong dân chúng. Nhiệm vụ này được giao cho Sở KH-CN tỉnh Bắc Giang cùng với các ban ngành liên quan. Tháng 5/2006, Sở KH-CN Bắc Giang đã giao cho Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH-CN triển khai đề tài " Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khôi phục, phát triển chăn nuôi gia súc tại xóm Đầu, thôn Sơn Qủa, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang". Ngay khi đề tài triển khai, lãnh đạo Sở KH-CN, Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH-CN đã cùng một số cán bộ thuộc các cơ quan chuyên môn Trung Ương với thiết bị hiện đại về xóm Đầu tiến hành nghiên cứu. Mỗi lần thấy những chiếc xe sang trọng đỗ ở đầu xóm, người dân xóm Đầu lại bỏ hết công việc đồng áng tập trung theo dõi, càng làm việc với các nhà khoa học. Đợt dầu là các cán bộ thuộc Trung tâm Môi trường của Bộ Tư Lệnh Hoá Học về lấy mẫu đất ngoài đồng, trong làng, lấy mẫu nước sinh hoạt, nước giếng khơi, nước ao hồ, kênh rạch để phân tích tại chỗ và bảo quản mang đi. Chiếc máy hút bụi từ không khí dặt ở trong các chuồng lợn, chuồng bò nổ phành phạch suốt cả buổi. Theo anh Thân Ngọc Hoàng, Giám đốc Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH-CN, Sở KH-CN Bắc Giang, cơ quan trên kết luận rằng, cả mẫu nước trong ao tù, kênh rạch, dưới lòng đất, giếng khơi, đất cát trong làng, đến những mẫu bụi hút từ không khí đều không có khác biệt so với những ngôi làng bên cạnh, không nhiễm độc, chưa tìm thấy vi rút lạ và đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép. Thực tế, Trạm thú y huyện Hiệp Hoà, Chi cục thú y Bắc Giang cũng đã từng vào cuộc từ năm 1999 và đưa ra một kết luận: Do lượng vi khuẩn Ecoli ở khu vực xóm Đầu vượt quá mức quy định. Ngay lập tức diễn ra công cuộc tẩy uế chuồng trại, phun hàng tạ thuốc diệt khuẩn, tiêm thuốc phòng bệnh Ecoli cho động vật....Thế nhưng, tất cả những cố gắng trên đều vô vọng. Về sau, hai cơ quan này phải thừa nhận đã đưa ra kết luận vội vàng, hời hợt, vì rất nhiều nơi tồn tại lượng vi khuẩn Ecoli lớn hơn mức bình thường, nhưng cũng không gây nên hậu quả gì nghiêm trọng. Sau khi cơ quan thú y, bó tay thì Sở NN và PTNT cử cán bộ xuống tận nơi điều tra, múc nước của 13 ao tù trong xóm đi phân tích song cũng không phát hiện ra hiện tượng gì đặc biệt. Thậm chí, các cán bộ còn cùng nhân dân tát cạn cả 13 ao trong làng, rồi rắc Alohit, vôi bột, phun thuốc sát trùng khắp làng, nhưng gia súc chết vẫn hoàn chết. Như tin đã đưa về làng ma ám tại xóm Đầu ( Lương phong - Hiệp Hoà - Bắc giang ) của báo ANTG số 591, 592 và trong chuyên mục hoạt đông của TTNC LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG . TTNC LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG quyết định tổ chức khảo sát và tìm hiểu nguyên nhân xẩy ra , tìm cách hóa giải vấn đề trên . Thành phần đi nghiên cứu khảo sát lần này bao gồm những cán bộ dầy dạn kinh nghiệm của trung tâm như Thiên sứ ( NGUYỄN VŨ TUẤN ANH) , dienbatn ( BÙI QUỐC HÙNG ), Nguyên Vũ ( PHẠM HUY KHIÊM ), Nhà Ngoại cảm Tâm linh NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT , NGUYỄN QUANG PHÚ cùng sự trợ giúp từ xa của Nhà Ngoại cảm NGUYỄN THỊ MAI ( Thái bình ), dung qk ( KIỀU QUANG DŨNG ), NGUYỂN HOÀNG LINH - GD JSC ANH ĐỨC . Ngoài ra , đoàn khảo sát còn được sự giúp đỡ về phương tiện đi lại , chi phí dọc đường của một thân chủ của dienbatn ( Xin dấu tên - Người này đã từng đóng góp làm từ thiện cho Trung tâm ) . Ngày mai , 3/10/2006 , đoàn Khảo sát sẽ bắt đầu tiến hành Khảo sát thực địa . 1/ XÁC MINH LẠI NHỮNG NGUỒN TIN. Theo báo ANTG ngày 30/9/2006 : Người viết xin tóm lược sự kiện như sau : * Cách đây 3 năm , tại ruộng lúa của một hộ dân ở ngay mép làng , vào một buổi chiều , xuất hiện một cột khói xanh lét , đậm đặc , nhỏ bằng chiếc đũa, song cao đến gần ngọn tre. Sau mấy tiếng cột khói đó mới biến mất. Người dân vác cuốc , xẻng ra đào tại địa điểm đó nhưng không thấy có gì lạ. * Cách đây vài năm , dân làng đã xây thêm hai gian miếu thờ Thành Hoàng và xoay hướng ngôi miếu ra hướng khác ( Hướng Đông ). * Những súc vật bị chết chỉ nằm trong một khoảng đất nhỏ hẹp , bao gồm 34 hộ dân với 200 nhân khẩu. Tổng diện tích đất chỉ trên 10 Ha. Cây cối trên khu vực này vẫn xanh tốt. Có một gia đình sống giữa xóm lại không chết bất cứ một con vật nào. Gia súc người ngoài xóm vào chăn thả trong khu vực cũng không bị sao. Ngược lại , gia súc của những người trong xóm , dù chuyển đi sống chỗ khác vẫn cứ chết như thường. Chỉ cách nhau một con đường rộng 1,5 m , ở các xóm khác thì hiện tượng đó không xẩy ra. * Súc vật chết chỉ là loài thú 4 chân ( như Trâu , bò , lợn , chó... ). Riêng Bò và lợn do Viện Thú y TW và CT cổ phần giống chăn nuôi mua và gửi các hộ dân chăm sóc vẫn phát triển bình thường. Chỉ có 9 con chó là chết mất 5 con. Có điều lạ là Mèo và chuột cũng 4 chân , nhưng không làm sao cả. * Thịt thú vật chết , dân làng cứ ăn uống vô tư từ 10 năm nay mà không hề bị nhiễm độc. 2/ NHỮNG VIỆC MÀ NGƯỜI DÂN VÀ CHÍNH QUYỀN ĐÃ THỰC HIỆN. * Một số ông Thày cúng bảo làng bị động Long mạch do sự thay đổi hướng của ngôi miếu thờ Thành hoàng. Một Thày giỏi nhất khu vực đã làm lễ trấn Long mạch bằng cách chặt đầu hai con chó mực , vứt đầu chó xuống hai cái giếng gần miếu rồi lấp giếng lại để yểm??? Thày còn tuyên bố bỏ nghề nếu không chữa được. Nhưng chỉ bữa sau , gia súc lại tiếp tục nổi điên và chết hàng loạt. Không rõ ông Thày đó là ai và đã bỏ nghề chưa??? * Sau đó tiếp tục ba ông Thày cúng " Nổi danh " và 3 lần mời sư ông , sư bà về cúng bái nhưng chẳng ăn thua gì. * UBND Tỉnh đã triệu tập cuộc họp và trao nhiệm vụ cho sở KH- CN Bắc giang triển khai đề tài : " Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khôi phục chăn nuôi gia súc tại xóm Đầu , Thôn Sơn quả Xã Lương phong - Huyện Hiệp hòa- Bắc giang. Ngay khi đề tài được triển khai lãnh đạo Sở KH- CN , Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH- CN đã cùng các cơ quan Trung ương với những thiết bị hiện đại nhưng không phát hiện điều gì lạ thường. * Trung tâm môi trường của bộ Tư lệnh Hóa học đã lấy mẫu đất , mẫu nước , mẫu không khí ở khắp nơi trong vùng nhưng không phát hiện được điều gì khác biệt so với những làng bên cạnh. * Trạm Thú y Hiệp hòa. Chi cục Thú y bắc giang cũng đã phun hàng trăm Kg thuốc diệt khuẩn , mặc dù các loại vi rút qua kiểm nghiệm đều nằm trong giới hạn cho phép. * Công ty Thiết bị môi trường Hà nội đã đưa rất nhiều máy móc hiện đại về đo mức phóng xạ, bức xạ , từ trường vẫn không phát hiện được điều gì đặc biệt. * Việc đầu độc gia súc do hằn thù được loại trừ và thịt của những con gia súc chết , người dân vẫn ăn bình thường. * Nhà nghiên cứu NGUYỄN PHÚC GIÁC HẢI cho rằng : Hiện tượng gia súc chết hàng loạt vào những ngày trong làng có hiếu hỉ là hiện tượng rất lạ.Theo ông Hải hiện tượng trên là do một loại Vi rút và loại Vi rút này chỉ trong những điều kiện thích hợp mới gây tác hại , hoặc chúng đã biến tướng nên khó xác định trong ngày một ngày hai ???? * Nhà Khoa học TUỆ ĐỨC- Tổng Giám đốc LHKH Tin học và ứng dụng cho rằng có thể khu vực này mới phát xạ một nguồn năng lượng nào đó mà máy móc đo bức xạ hiện thời chưa phát hiện ra ???? Ngày 3/10/2006 Đoàn chúng tôi gồm Thiên sứ ( NGUYỄN VŨ TUẤN ANH) , dienbatn ( BÙI QUỐC HÙNG ), Nguyên Vũ ( PHẠM HUY KHIÊM ), dung qk ( KIỀU QUANG DŨNG ) tiến hành khảo sát " Làng Ma ám ".Khởi hành từ 7g30 sáng , nhưng vì đưa đón và một số anh em không đi được nên gần 11g trưa chúng tôi mới tới được trụ sở UBND xã Lương phong- Huyện Hiệp hòa- Bắc giang. Giờ này các anh ở UBND xã đã nghỉ , chỉ còn có anh trong Ban Địa chính tiếp chúng tôi. Cũng may mà có anh trong Ban Địa chính xã nên chúng tôi có được bản đồ của xã rất tốt. Sau khi đưa giấy tờ và trình bày mục đích của Đoàn , Anh trong Ban Địa chính rất niềm nở và hướng dẫn tận tình chúng tôi xuống cơ sở là xóm Đầu của xã. Trước khi vào khu vực xã Lương phong , trên xe , người viết và Nguyên Vũ đã cảm nhận được Trường khí của xóm Đầu và liên tục bị Trường Khí tấn công. Tới UBND xã , Nguyên Vũ mặt xanh lè và ra ngồi riêng một chỗ không chụp ảnh . Đây là việc bình thường đối với những người có khả năng cảm nhận Trường khí. Nhiều khi ở rất xa , chỉ mới nhắc đến địa điểm và công việc sắp tới cũng đã bị Trường khí tấn công rồi. Theo như sách cổ để lại thì đây chính là tác động của Long Thần Hộ pháp của khu đất tác động đến những ai có ý đồ với khu đất đó. Đây cũng chính là cơ chế bảo vệ của Long Huyệt , Long mạch . ĐOÀN NGHIÊN CỨU TẠI TRỤ SỞ ỦY BAN TẠI NHÀ ÔNG TRƯỞNG XÓM ĐẦU Từ khi bước vào tới xóm Đầu , chúng tôi cảm nhận được Khí lực ở đây rất tốt . Nhìn xung quanh , thấy cây cối xanh um , đặc biệt , nước trong khu vực này từ nước giếng tới nước ruộng , hồ ao đều trong và không có mùi hôi. Nhìn trên bản đồ và thực địa , chúng tôi thấy xóm Đầu như một cái gò nổi trên một mặt phẳng hơi nghiêng . Chiều nghiêng theo hướng Tây Bắc nghiêng sang Đông Nam . Xung quanh khu vực xóm Đầu là những đường nước bao bọc có chiều chảy từ Đông Bắc ( Cung Sửu ) vòng qua hướng Đông , chảy qua trước mặt Miếu Thần hoàng và sau vài lần uốn lượn trước Miếu , dòng nước chẩy đi về hướng Tốn ( Cung Thìn ). BẢN ĐỒ KHU VỰC XÓM ĐẦU Tại một đám ruộng gần trạm biến thế , đích thân ông Trưởng xóm chỉ cho chúng tôi đám ruộng con nhà ông Đính cùng xóm ( Ruộng này phía bên kia đường thuộc xóm Thượng ) , cách đây 2 năm ( 2004 ) , một buổi chiều khoảng 4-5 giờ , có một tia khói lam xanh , chỉ nhỏ bằng chiếc đũa , bốc lên từ mặt ruộng đang cấy dở. Làn khói bốc lên rất cao rồi mới tỏa ra từ từ. Mọi người chỉ dám đứng xa xem chứ không có ai dám đến gần( Không như báo ANTG mô tả là mọi người vác cuốc xẻng ra đào ). Đây là một ruộng đang cấy , nước còn xâm sấp mặt đất. Vài tiếng sau , tia khói đó mới tan. Đặc biệt là ngày hôm đó có mưa. Tại khu vực gần nơi phát ra tia khói màu lam này , người viết đã thực hiện nghiên cứu bằng cảm xạ , thấy rằng khu vực này bị bế Khí rất nặng. Đây chính là đầu mối của mọi việc xảy ra , người viết xin phân tích rõ ở phần sau. Chỉ biết rằng , muốn hóa giải những hiện tượng xảy ra tại xóm Đầu thì phải hóa giải ngay từ địa điểm này chứ không phải tại nơi Miếu thờ Thần Hoàng . TẠI KHU RUỘNG CÓ LÀN KHÓI BỐC LÊN . VỀ MIẾU THỜ THÀNH HOÀNG : Miếu thờ Thành Hoàng hiện nay không phải có xuất xứ từ xa xưa , mà bản thân lịch sử của ngôi miếu này cũng truân chuyên như đàn gia súc ở đây vậy. Hiện nay miếu thờ chỉ là một căn miếu khoảng độ 2 m2 , được xây cất sơ sài và thờ cúng cũng hết sức đơn giản. Các bạn xem hình Miếu thờ thì sẽ thấy rõ : Lịch sử của Miếu thờ Thần Hoàng như sau : Ngày xưa , Miếu thờ Thành Hoàng làng ở một chỗ khác , ngoài rìa xóm. Đây cũng chỉ là một ngôi Miếu rất đơn sơ. Tại khu vực giếng của làng , ngày xưa khi nhân dân vùng này vét giếng và bùn đất đổ vào góc bên cạnh khu giếng và trở thành một cái gò nhỏ như hiện nay. Trên cái gò nhỏ này , ông Trưởng họ Lưu có trồng một cây gạo. Sau một thời gian , cây gạo rất to nhưng bị chết. Các cụ già trong làng bàn nhau là khu đất gò này đẹp nên đưa Miếu thờ Thành Hoàng về đây xây cất lại. Do vậy năm 1983 , dân trong xóm , người cây tre , kẻ dăm đồng , đóng góp nhau xây nên cái Miếu Thờ Thần Hoàng trên cái gò nhỏ này bên cạnh giếng. Hướng của Miếu Thờ Thần Hoàng lúc đó gần giống như hiện nay ( Càn- Tốn ). Được ít năm , cuộc sống của dân trong thôn Đầu dần dần khá giả. Các cụ già trong thôn thấy chỗ thờ Thần Hoàng quá chật hẹp , mỗi lần cúng bái xong , ăn uống lại phải vào nhờ trong nhà dân hay ngay trên bãi cỏ trước Miếu , bèn bàn nhau góp tiền tu sửa lại Miếu cho rộng rãi hơn. Người viết đã trực tiếp hỏi chuyện người thợ mộc cả đã xây dựng lại Miếu. Theo ông thợ mộc , khoảng cuối năm 1996 , đầu 1997 thì bắt đầu thực hiện việc xây dựng lại miếu. Người ta đã phá dỡ miếu cũ xây từ năm 1983 và xây lại căn Miếu rộng ba gian rất khang trang. Tự tay ông thợ mộc đã phạt Mộc và xây dựng , không có sự tham dự của bất cứ Thày Địa lý nào cả. Lúc đó người ta xoay hướng Miếu về phía chính Đông , tức là mặt Miếu ngoảnh ra dòng nước uốn khúc trước của Miếu và Thanh Long của Miếu chính là Giếng làng. Trong thời gian này có một việc dân làng vẫn nhớ là khi ông Sơn là người ngụ cư trong làng chết ( Khoảng tháng 5/1996 ) , và con ông Sơn chính là người khai móng xây dựng Miếu Thành Hoàng mới thì bày gia súc của con ông Sơn bắt đầu lăn ra chết. Đây là trường hợp đầu tiên của việc súc vật chết tại thôn Đầu. Gia đình ông Sơn cho rằng , khi chết , ông Sơn phạm vào Trùng sao đó nên tổ chức cúng lễ rất chu đáo , nhưng súc vật vẫn cứ một hiện tượng là phát điên , run chân và lăn ra chết hàng loạt. Một điều lạ nữa là , mỗi khi trong thôn có đám hiếu hỉ thì súc vật bốn chân lại lăn đùng ra chết hàng loạt. Cụ thể như đám cưới của anh Long con ông Nghiệp , buổi chiều mang đồ ra Miếu Thành Hoàng cúng tế( Đây cũng là một nét đẹp của dân thôn Đầu ) , thì buổi tối lợn nhà anh Thêm lăn ra chết hàng loạt. Sự việc như thế này diễn ra trùng hợp rất nhiếu lần. Chính vì có chuyện kỳ lạ đó , các cụ lại bảo rằng , sửa hướng Miếu quay về phía Đông không được vì động Thành Hoàng. Mặt khác , có một ông thày Địa lý ở trên Bắc Thái đi qua , nhìn hướng Miếu và phán rằng , hướng Miếu như vậy không nuôi được gia súc. Các cụ trong thôn càng hoảng , liền bàn nhau xây lại cái Miếu hiện nay , theo như hướng cũ. Ông trưởng thôn hiện nay cũng chính là người đầu tắt , mặt tối đi vận động xây lại Miếu như cũ. Như vậy trong thời gian này thôn Đầu có 2 cái Miếu nằm cạnh nhau. Một thời gian nữa , hiện tượng súc vật vẫn chết hàng loạt , trong làng hầu như không còn có thú 4 chân( Riêng mèo và chuột lại không chết ) , cao điểm là vào năm 1999. Vì vậy các bô lão trong làng quyết định đập phá căn Miếu 3 gian khang trang quay về hướng Đông và chỉ để lại chiếc Miếu xây lại Tọa Hợi- Hướng Tỵ như hiện nay.MỘT VÀI CHUYỆN VỀ CÁI GIẾNG LÀNG : Giếng của thôn Đầu , theo người viết dùng cảm xạ xác định là nằm trên đường hành Long của một Long mạch đi từ Tây bắc xuống Đông Nam ( Càn- Tốn ). Xác định cho thật chính xác thì Long mạch này chạy ngay sau lưng của Miếu Thành Hoàng còn sót lại hiện nay. Ngày xưa , đây là giếng nước sinh hoạt chung của cả Thôn Đầu. Giếng này có đặc điểm kỳ lạ là không bao giờ cạn nước , ngay cả những năm khô hạn , khắp cả vùng đều phải dùng nước tại giếng này. Điều kỳ lạ nữa là nước của giếng này luôn trong vắt , ngay cả vào mùa mưa. Khoảng đầu năm 1996( Người cung cấp tin không nhớ chính xác tháng , nhưng là thời điểm TRƯỚC KHI XẨY RA VIỆC CHẾT GIA SÚC HÀNG LOẠT ) , có một người , vì thấy trong giếng có nhiều cá quá nên ném một quả mìn xuống giếng để bắt cá ( giếng sâu nên không đánh lưới được ). Từ khi quả mìn đó được ném xuống , nước giếng không bao giờ trong lại nữa và giờ đây nước trở nên đỏ quạch như màu sắt gỉ. THỬ TÌM NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH HÓA GIẢI. Trước hết xét về những thực nghiệm Khoa học : Trong trường hợp này , các thực nghiệm Khoa học đã chỉ cho chúng ta thấy rất rõ những mặt còn thiếu sót của nó. Người ta đã thực hiện đo từ trường , đo bức xạ , kiểm tra các mẫu đất , mẫu nước và không khí của toàn bộ xóm Đầu. Tuy nhiên không phát hiện được điều gì nghi vấn cả. Hiện nay , nhờ sự quan tâm của các cấp Chính quyền , các cơ quan trong Tỉnh Bắc giang và cả nước , hàng loạt những thực nghiệm đã được thực hiện , hàng tỷ đồng đã được đầu tư vào cái thôn nhỏ bé này. Kết quả vẫn là con số không tròn trĩnh. Thậm chí nếu lấy theo " Tiêu chí Khoa học " như trường hợp diệt trừ vi khuẩn Êcoli , bằng cách phun hàng tạ thuốc diệt khuẩn khắp vùng , ta thấy rất rõ sự lúng túng trong việc này. Nếu giải quyết cứ theo " Những tiêu chí Khoa học" đó thì không bao giờ tìm được nguyên nhân cả. Hiện tượng gia súc chết hàng loạt như hiện nay , theo dự đoán của người viết thì trước sau tự nhiên cũng hết , nhưng hết như thế nào , hết vào lúc nào , và tại sao hết thì chúng ta phải có nhiệm vụ tìm rõ nguyên nhân. Hỡi ôi , hiện nay chúng ta đang sống và làm việc tại một hệ không gian có ba chiều quy chiếu của hệ tọa độ Đề các. Như vậy làm sao chúng ta có thể lý giải những hiện tượng ở những không gian khác đa chiều hơn. Cũng như ta không thể dùng hình học phẳng để tìm quỹ đạo của một vật thể chuyển động trong không gian. Bằng một sự áp đặt " Luật bất thành văn " thì những hiện tượng xẩy ra trong những hệ không gian nhiều chiều hơn ba của chúng ta. đều bị chúng ta chụp cho một cái mũ to tướng : MÊ TÍN- DỊ ĐOAN. Bây giờ chúng ta thử dùng suy luận sẽ thấy rõ những điều sau mà chẳng cần tốn hàng tỷ đồng thực nghiệm : 1/ Không có bất kỳ một cái gì bất thường trong hệ sinh thái và môi trường của thôn Đầu : Ví dụ có một cái gì đó như phóng xạ chẳng hạn ( người viết chỉ lấy ví dụ ) , thì không chỉ riêng xóm Đầu bị ảnh hưởng mà những khu vực xung quanh đều chịu ảnh hưởng theo , chứ không có lý , như tại cái quán nước mà chúng tôi nghỉ chân tại Thôn Ngoại , chỉ cách xóm Đầu có con đường rộng khoảng 2m , lại vẫn bình yên vô sự , lợn , chó vẫn cứ ung dung . Mặt khác nếu môi trường có một cái gì đó không ổn về mặt Khoa học thì những người đã chuyển đi sang nơi khác sinh sống thì đâu còn bị ảnh hưởng của môi trường sinh thái của xóm Đầu nữa . Ấy thế mà những người đã chuyển đi này vẫn không nuôi được gia súc và gia súc vẫn chết theo đúng bài bản ở xóm Đầu , chỉ khi những người này làm lễ bái Thành hoàng ở nơi mới , xin " Nhập khẩu Âm " thì họ mới lại nuôi được gia súc ở chỗ mới . Việc thứ hai là ngay trong thôn Đầu , vẫn có người nuôi gia xúc vô tư mà không hề bị chết dù mọi điều kiện về Địa lý , khí hậu , môi trường như tất cả những gia đình khác sống tại thôn Đầu . " Trong làng, chỉ có gia đình anh Bùi Văn Tâm nuôi được gia súc khỏe mạnh. Trong suốt 10 năm trời, dân làng phải đối mặt với cả ngàn cái chết kỳ lạ của gia súc thì đàn gia súc nhà anh Tâm vẫn bình an vô sự. Tin rằng gia đình anh Tâm được "thánh thần phù hộ", cho mảnh đất tốt nên cả làng mang gia súc đến vườn nhà anh thả nhờ... lấy may. Quả thực, tất cả số gia súc của dân làng thả vào chuồng trâu, chuồng lợn nhà anh Tâm đều sống rất khỏe mạnh và chưa con nào chết. Hiện tại, khu vườn nhà anh Tâm mọc kín chuồng bò, chuồng lợn. Anh em, dân làng đem tre, đem rạ đến vườn nhà anh dựng chuồng để nuôi và vợ chồng anh đều sẵn sàng chấp nhận. Anh Tâm vui vẻ biến mảnh vườn nhỏ nhà mình thành cái trại nuôi gia súc của cả làng và chấp nhận mùi hôi thối nồng nặc khủng khiếp là bởi anh muốn “trả nghĩa” cho bà con, vì từ nhiều năm nay, gia đình anh đều được hưởng “lộc” từ những đàn gia súc đột tử của hàng xóm. " CHỈ CÁCH CÓ CON ĐƯỜNG NHỎ NHƯ THẾ NÀY MÀ MỘT BÊN LÀ THIÊN ĐÀNG - MỘT BÊN LÀ ĐỊA NGỤC . 2/ Có rất nhiều người cho rằng vì hướng Miếu không đúng . Ý kiến này cũng trùng hợp với ý kiến của một ông thày Địa lý cho rằng nếu xoay hướng miếu ra hướng Đông thì không thể nuôi nổi gia súc trong thôn Đầu ???? Như vậy hiện nay người ta đã cho rằng , mọi việc lạ lùng xẩy ra ở thôn Đầu là do hướng của Miếu thờ Thần Hoàng bị sai . " Mắt toét là tại hướng Đình , Cả làng mắt toét phải mình em đâu " . Lúc đầu , người viết cũng mơ hồ cho rằng nguyên nhân sự việc là như vậy . Nhưng khi ngồi bình tĩnh suy luận lại thì có nhiều điều không phải như vậy . 3/ Qua tham khảo thêm ở trang bạn TUVILYSO còn có ý kiến cho rằng : " theo báo an-ninh-thế-giới số ra ngày 27-09-2006 trang 04 theo tiểu-sinh ở vùng đông-bắc viêt-nam có 1 loại cây ts không biết tên / khi ts ở đấy người dân tộc thiểu số nói rằng nếu bỏ cành của cây đó vào chuồng-trâu và chuồng-lợn thì trâu và lợn tự húc đầu vào chuồng đến chết mới thôi / nhưng không nghe nói có thể với người / như báo antg hôm nay thì có thể dân ở xóm-đầu đã sử dụng gỗ của cây đó làm chuồng để nuôi gia-súc / cũng có thể ai đó đã trồng giống-cây ấy ở trong làng / chỉ có các thầy-cúng ở lạng-sơn và bắc-giang la biết rõ về giống cây ấy / ts cũng đã nhiều lần gặng hỏi nhưng họ không nói / vì bí quyết của họ /nếu có ai trong quý vị mà biết xin cho biết lời khuyên / giống cây ấy sẽ không gây hại được cho người lớn . Việc này người viết cũng xin phản biện luôn : Thứ nhất không phải toàn bộ những chuồng gia súc của Thôn Đầu làm bằng cây gỗ ( Mặc dù có vài nhà ) , theo khảo sát của người viết thì đa phần chuồng trại ở khu vực này đều được xây dựng bằng gạch lợp ngói . Thứ hai nếu do một thứ cây nào đó làm cho trâu bò , lợn , chó bị điên chết , thì không thể lý giải được tại sao những người đã bỏ nhà đi tới vùng khác sống mà súc vật vẫn chết và tại sao trong thôn , nhà anh Tâm súc vật cũng vẫn sinh sống bình thường . Vì vậy người viết kết luận : Không có hiện tượng do một thứ cây rừng nào đó như phần trên nêu ra . 4/ HÉ LỘ MỘT NGUYÊN NHÂN : Từ một quan sát cụ thể , người viết phát hiện ra rằng , khu vực nằm trong cung giữa Tây Bắc và Tây Nam rất phát triển về kinh tế , đặc biệt có nhiều căn nhà ba , bốn tầng mới xây rất đẹp trong khu vực này . Nhìn cụ thể địa hình của xã Lương phong - Huyện Hiệp hòa , ta thấy có một mạch đất tương đối lớn ( Long mạch ) chạy từ phía Tây bắc sang Đông Nam của thôn Đầu . Long mạch này đi qua phía tay trái ( Thanh Long ) của Miếu hiện nay , qua ao làng và đi xuống khu vực con ngòi Yên Hạ . Người viết đã phác họa trên bản đồ ở trên bằng màu vàng . Long mạch này hiện nay bị bế khí ngay tại vị trí bởi cái Ao làng . Chính vì khí của Long mạch bị ngăn cản không tiếp tục đi theo đường cũ được nữa , nên nó rẽ sang bên cạnh ( Xem hình vẽ ) và đi theo hướng mới . Đây chính là lý do mà khi đo năng lượng cảm xạ tại vị trí đặt trạm biến áp , tại khu vực có Ao làng và khu vực sau Ao hoàn toàn vô khí ( Con lắc đứng yên không chuyển động ) . Đây cũng chính là lý do mà Thiên sứ kiểm tra " CON LẮC TRƯỚC CỬA MIẾU HIỆN NAY HƯỚNG TỴ TOẠ HỢI QUAY RẤT MẠNH" . Mặt khác điều này cũng lý giải được tại sao khu vực nằm trong cung Tây Bắc và Đông Nam thời gian gần đây rất phát triển về Độ thị . XIN NÓI THÊM MỘT CHÚT VỀ KHÁI NIỆM LONG MẠCH : Từ ngày rất xa xưa , người ta đã có những quan niệm rất sâu sắc về Long mạch . Trong các cổ thư chữ Hán , chữ Nôm người ta đã viết về Long mạch rất nhiều . Ở đây , người viết không nhắc lại nữa . Người viết muốn cùng các bạn tìm hiểu Long mạch theo một phương diện khác và dưới một con mắt khác , gần gũi chúng ta hơn . Mặc dù tất cả các cổ thư đều cố gắng diễn giải những khái niệm về Long mạch qua con mắt Thần bí , càng những kiến giải sau càng làm cho khái niệm Long mạch càng xa hơn những quan niệm của Tiền nhân ban đầu . Theo người viết , nói một cách nôm na thì Long mạch chính là những dòng Khí trong Phong thủy , nói chính xác hơn là những dòng Năng Lượng , vận chuyển trong vỏ của trái đất ( Người viết cần nhấn mạnh rằng nguồn năng lượng đó chỉ vận chuyển theo những quy luật khác nhau trong bề mặt vỏ của Trái đất , có chiều sâu không đáng kể so với đường kính của Trái đất ) . Nguồn năng lượng này , được tích lũy qua hai nguồn cung cấp đặc biệt : Từ năng lượng của Vũ trụ mênh mông chuyển tới ( Thiên Khí ) và nguồn năng lượng từ trung tâm của Trái đất ( Địa khí ) .Ngoài ra còn có một nguồn năng lượng nữa tuy nhỏ nhưng vẫn phải xét đến vì nó sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới từng vùng của Trái đất - Đó chính là nguồn năng lượng của bản thân con người , các loại sinh vật trên trái đất ( Nhân khí ) . Có những vùng luôn luôn được nhận những năng lượng kể trên và tích tụ ngày một nhiều trong lòng đất . Cũng chính bởi quan niệm là Trái đất là một cơ thể sống nên nó không phải là cố định , nó cũng thở phập phồng như lá phổi chúng ta vậy . Những nơi hay nhận được các nguồn năng lượng kể trên giống như lá phổi của một con người , sau khi nhận , chúng sẽ được vận chuyển bằng nhiều cách đi khắp các nơi trên trái đất . Đường dẫn những luồng Năng lượng đó chính là Long mạch . Khi luồng Năng lượng đó đi tới đâu , chúng cung cấp năng lượng cho chỗ đó đến đấy , những nơi có nhiều năng lượng thì cây cối tươi xanh , đất đai trù phú , con người đẹp đẽ , thông minh . Những vùng mà năng lượng tập trung dày đặc sẽ là nơi cực kỳ phát triển ( Long mạch kết Huyệt ) . Tại những vùng này , nguồn Năng lượng dày đặc sẽ làm cho nơi đó biến thành những trung tâm Đô thị lớn hay là nơi phát tích những nhân tài . Khi nguồn năng lượng đi gần sát bề mặt của Trái đất , chúng làm cho bề mặt vỏ trái đất gồ lên , nổi lên thành những dãy núi , đồi ...cũng có khi chúng đi quá sâu vào lòng trái đất , những vùng đó khó nhận được Năng lượng và trở thành những sa mạc hay những vùng đất khô cằn sỏi đá . Cũng có đôi khi , chúng đột ngột từ phía sâu phóng lên như những cây sen mọc thẳng từ dưới bùn đâm lên mặt nước và tại đó chúng kết tụ thành những Huyệt cực tốt và khó bị tác động theo thời gian như trường hợp mộ của Vũ Hồn tại Hải dương . Như vậy , Long mạch chính là những ĐƯỜNG VẬN HÀNH CỦA NĂNG LƯỢNG trên bề mặt vỏ của Trái đất . Nguồn Năng lượng này có thể tự nó vận chuyển theo những quy luật riêng nhưng cũng có thể bị tác động của con người . Con người là một yếu tố trong Tam tài : Thiên - Địa - Nhân nên có thể hiểu và hòa đồng với hai yếu tố còn lại là THIÊN - ĐỊA . Cũng bởi quan niệm Long mạch là một dòng năng lượng , do đó nếu muốn , con người cũng có thể điều khiển được sự vận hành của các dòng Năng lượng đó và kết quả là con người có thể điều khiển được sự vận hành của Long mạch và lúc đó , chúng ta có thể dắt Long mạch đi theo ý mình như dắt trâu vậy . Một bước phát triển nữa của sự việc là cho tới thời điểm này có một trường hợp có một cháu nhỏ hơn hai tuổi rất khỏe mạnh , đẹp trai , đang chơi thì lăn đùng ra ngất xỉu . Khi đưa lên các bệnh viện cả Trung ương và địa phương đều không xác định được nguyên nhân của bệnh . Có cái lạ là cứ đưa cháu lên đến cổng bệnh viện là cháu lại khỏe lại ( Như lần lên bệnh viện Việt Đức ) . Vào bệnh viện khám thì không thấy có hiện tượng gì xẩy ra cả , bác sĩ lại cho về . Về đến nhà cháu lại chơi ầm ầm rất khỏe . Lần cuối cùng cháu lại lên cơn lại , gia đình đưa cháu lên bệnh viện , nhưng dọc đường cháu đã mất . Đây là một trường hợp duy nhất và đặc biệt tại thôn Đầu xẩy ra với người . Ngay bản thân những người có trách nhiệm trong Thôn Đầu cũng hết sức dè đặt khi nói đây là trường hợp đầu tiên không biết có phải là duy nhất không . Chúng ta cùng xét lại cái Miếu thờ Thần Hoàng - Rất nhiều người cho rằng nguyên nhân chính là do hướng của Miếu .Tuy nhiên có một hiện tượng nữa là ngay bản thân cái Miếu hiện nay và ngay cả 2 bát hương đặt trong Miếu cũng hoàn toàn vô khí . Đây chính là điều người viết muốn nói đến . Trước hết , ta cần nhìn nhận lại việc Bốc Bát hương và Hô Thần Nhập Tượng . Đây chính là một công việc mà những người bình thường không thể làm được . Việc Bốc Bát Hương và Hô Thần Nhập Tượng phải do Pháp sư , hay những nhà sư cao tăng đức độ hoặc những người có Trường năng Lượng rất mạnh mới có thể thực hiện được . Đây chính là công việc nạp Năng Lượng ban Đầu cho bát Hương hay Tượng . Việc này có thể dùng cảm xạ hay cảm nhận Trường khí để kiểm tra . Người ta có thể dùng con lắc cảm xạ hay dùng chính bản thân mình ( nếu người đó có khả năng cảm nhận được Trường khí do luyện tập ) . Thông thường , khi Bát hương hay Tượng chưa được nạp năng lượng ( Hay còn gọi là Bốc bát Hương và Hô Thần Nhập Tượng ) , thì năng lượng của bát hương hay Tượng là Không hay cực nhỏ . Sau khi Bốc bát Hương hay Hô Thần Nhập Tượng ( Tức là đã truyền Năng lượng ban đầu vào ) , thì tùy theo Trường Năng lượng của Thày mạnh hay yếu ( Cao tay hay không ) , thì cường độ mạnh yếu của bát Hương hay Tượng đều biểu hiện rất rõ và hoàn toàn có thể đo được . Bát hương hay Tượng càng " Thiêng" thì Trường năng Lượng của nó càng lớn . Trở lại với cái Miếu hiện thời : Khi mà Trường năng Lượng đo được trong Miếu và cạnh 2 bát hương bằng không ( Con lắc đứng yên - Tức là chẳng có chút Năng lượng nào cả ) . Vậy thì với một cái Miếu đơn sơ như vậy , với Trường năng lượng bằng hay xấp xỉ bằng không như vậy , liệu có khả năng gây Họa hay Phúc cho gia súc xóm Đầu hay không . Chắc các bạn đã tự trả lời được rồi . (Còn Tiếp)
  24. CHƯƠNG 1 – 7 ĐỊA LÝ TRỊ SOẠN PHÚ (Tiếp theo) Hướng dẫn Đây là phần thứ 7 cũng là phần chót của chương 1 Địa lý trị soạn phú. Bắt đầu từ câu 182 đến câu 217 là hết. Câu 182: Minh đường can hạt, sĩ bất đăng khoa Câu 183: Minh đường quang đãng, tài vật bất tụ Dịch (182) Minh đường khô cạn, học thi không đậu Dịch (183) Minh đường quang đãng, tiền của không tụ. Giải thích (182-183) Minh đường can hạt là khô nước và quang đãng là không có nước. Câu 184: Hổ đầu tha nga ác khí, nhãn tứ viên nhi trạch tứ phần Câu 185: Diện tiền tha nga ác thạch, tai tự sinh nhi hình tự chí Dịch (184) Đầu tay hổ chênh vênh ác khí, mắt thì tròn, cửa nhà thì cháy. Dịch (185) Trước mặt chênh vênh ác thạch, tai họa tự sinh, hình phạt tự đến. Giải thích (184-185) Đầu tay hổ nghênh ngang là tay hổ lấn át huyệt trường sẽ có tai họa như phải tròn mắt khi bị cháy nhà. Trước huyệt có đá chênh vênh chứa nhiều ác khí sẽ có tai họa tự đến với gia đình có huyệt kết. Câu 186: Long phi nam tử bại Câu 187: Hổ khứ nữ nhân ương Dịch (186) Tay long phi, không quay vào huyệt, không ôm chầu vào huyệt, lại quay lưng vào huyệt và ngoảnh mặt đi thì con trai bị bại. Dịch (187) Tay hổ phản, quay đi, không ôm vào huyệt, thì con gái bất lương. Giải thích (186-187) Nếu có huyệt kết mà long, hổ không ôm chầu vào huyệt thuộc ngành nào thì ngành đó phải ly hương làm ăn mới khá được. Tay long thuộc con trai nên nếu tay long phản thì con trai bị bại. Tay hổ thuộc con gái nên nếu tay hổ phản thì con gái chẳng ra gì. Câu 188: Thủy phá hậu đầu, định vô tử tức Câu 189: Sơn cát tiền cước, tât tuyệt nhân đinh Dịch (188) Thủy phá hậu đầu, chắc không con cái Dịch (189) Sơn cắt tiền cước, tất tuyệt nhân đinh Giải thích (188) hậu đầu là huyền vũ. Nếu huyền vũ bị thủy phá, hại con trưởng rồi đến các con khác. Giải thích (189) Tiền cước là chỗ đất dư tiếp theo vào huyệt trường, chỗ này gọi là chiên thần, là chỗ dư khí của huyệt trường. Nếu chiên thần nhiều thì con cháu đông và khỏe mạnh. Trường hợp chiên thần tận, hoặc bị nước chảy cắt đi thì bị tuyệt nhân đinh. Đất kết nhà Nguyễn Trãi tuy kết lớn nhưng để vào chỗ mạch tận nên bị tuyệt nhân đinh. Vợ lẽ của Nguyễn Trãi tên là Thị Lộ bị triều đình nhà Lê ghép vào tội giết vua nên Nguyễn Trãi bị chu di tam tộc. Tháng 11 năm 1996 Cao Trung nhân dịp về Việt Nam có ghé lại thăm ngôi đất kết nhà Nguyễn Trãi ở làng Nhị Khê, phủ Thường Tín, Hà Đông và được ông thủ Từ đền thờ Nguyễn Trãi ở Nhị Khê tên là Nguyễn Thông đưa ra thăm ngôi mộ tổ, ngôi đất kết phát Nguyễn Trãi vừa phát khai quốc Công thần và cũng bị chu di tam tộc. Ở phía Tây Nam ngôi mộ có một cái sa xưa kia giống như mũi nhọn ở hướng Mùi chiếu thẳng vào huyệt kết. Ngày nay dân địa phương gọi nó là gò bàn quốc. Thật là kỳ lạ trên khoa địa lý hướng Mùi ứng vào vợ nhỏ, và Nguyễn Trãi bị chu di tam tộc vì cái án Lệ Chi Viên do Thị Lộ là vợ nhỏ Nguyễn Trãi gây nên. Theo địa lý Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là hung hướng. Đã hung hướng lại còn bị sa hình mũi nhọn đâm vào huyệt thành ra vừa hung vừa sát thì làm sao Nguyễn Trãi tránh được hung họa. Câu 190: Thủy chi tà lưu, bất mỹ Câu 191: Thủy chi thuận khứ, bất thành Dịch (190) Thủy chảy kéo đi, không đẹp Dịch (191) Thủy chảy thuận đi, không thành. Giải thích (190-191) Thủy tới minh đường, không tụ chỉ chảy xéo đi trước huyệt là nước không đẹp. Thủy từ minh đường chảy đi không chảy khuất khúc mà chỉ chảy thuận đi, thì cũng không thành. Câu 192: Long quá sơn nhi, đích nhiên tiếm ngụy Câu 193: Hổ quá thủy nhi, đích thị thoái quan Dịch (192) Long mà bức sơn, đích là tiếm ngụy. Dịch (193) Hổ mà thủy quá, tất phải thoái quan. Câu 194: Dậu, Mùi, Dần, Thân ngộ hồ lô, như phong tàn, tật bệnh. Câu 195: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi đới tiêm đao, nhi tặc đạo, sinh tai. Dịch (194) Dậu, Mùi, Dần thân gặp hồ lô, mà phong tàn tật bệnh Dịch (195) Thìn, Tuất, Sửu, Mùi đeo đai nhọn, thì trộm cướp sinh tai. Giải thích (195) Nhiều tướng giặc sau bị bắt rồi bị giết như Nguyễn Cầu, thường được đất kết hướng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi lại có con dao phản quay ra. Năm 1944 Cao Trung được cụ Giáo Mậu là thầy dạy địa lý cho biết đất kết nhà Phạm Quỳnh có cây bút phản dù có làm nên nhưng sau bị hại. Quả nhiên ít năm sau Phạm Quỳnh bị giết ở Huế. Câu 196: Tiền án thạch nhược dương đế, đại nghiệt tự tác. Câu 197: Tiền án thạch nhược sa ta, phong hỏa tự sinh. Dịch (196) Trước án đá như móng dê, tự gây họa nghiệt. Dịch (197) Trước án đá như sa tà, tự sinh phong hỏa Câu 198: Tiền án nhược phá tổn, hình hãm phi cơ. Câu 199: Tiền án nhược khai khẩu, man thiên hình mạn. Dịch (198) Trước án nếu phá tổn, bị mắc tội oan Dịch (199) Trước án như khai khẩu (vỡ, lở) vạ miệng hại mình. Câu 200: Tốn, Tân không khuyết, tài cao bất đệ Câu 201: Chấn Canh phương khuyết, dũng lược vô danh Dịch (200) Tốn, Tân phương mà không khuyết, dù có văn cũng không thi đỗ. Dịch (201) Chấn Canh phương mà khuyết hãm, thì có vũ dũng cũng không thành danh. Giải thích (200-201) Phương Tốn, Tân nếu khuyết hãm bất lợi cho công danh về nghề văn. Phương Chấn, Canh nếu khuyết hãm sẽ bất lợi cho thành đạt về ngành võ. Nói chung 4 phương này càng cao đẹp càng tốt, nhược bằng thấp lõm thì xấu. Câu 202: Hân quần vũ tụ tại Tý, Ngọ hựu dâm thái toàn gia Câu 203: Trác kinh trác nguyệt tại Mão, Dậu, nhi dâm đa bất chỉ Dịch (202) Vén quần múa áo ở Tý, Ngọ mà làm dâm đãng toàn gia. Dịch (203) Trác gương, trác nguyệt ở Mão, Dậu mà dục tình quá độ. Giải thích (202-203) Bốn cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu là bốn mộc dục hướng. Sơn thủy ở đây dễ tạo nên con người nhẹ thì dâm dục, mà nặng thì dâm nặng. Đất kết nhà Trần kết lớn xong phạm Mộc dục nên anh em, họ hàng hay quá thân nhau và dễ lấy nhau. Câu 204: Bút tại Dần, Thân vi họa long vi bút, vi tụng từ vi bút Câu 205: Đại lộ đoạn ư huyệt hậu, bất khả thiện chung. Dịch (204) Bút ở Dần Thân là bút vẽ rồng, là bút kiện tụng. Nếu huyệt tốt đẹp thì làm luật sư, kém nữa thì làm lục sự hoặc phụ tá pháp lý như ngày nay Dịch (205) Đại lộ cắt đứt ở sau huyệt, không được thiện đến cùng (dù có huyệt tốt thì sau cũng thành xấu). Câu 206: Ngộ dụng hắc thổ, tất sinh hắc diện chi nhân Câu 207: Ngộ dụng bạch thổ, tất sinh bạch tạng chi nhân. Thử cát hung hệ sơn thủy dã. Dịch (206-207) Ngộ dùng phải đất đen, sẽ sinh người mặt đen. Ngộ dùng phải đất trắng, sẽ sinh người tạng trắng. Đây là cát hung, hệ ở sơn thủy vậy. Chương 2 PHẦN NÔM ĐỊA LÝ TRỊ SOẠN PHÚ Hướng dẫn Phần nôm của Địa lý trị soạn phú này là một bài thơ nôm nói tóm tắt một số điều căn bản về địa lý mà ta thường dùng. Những kiến thức căn bản này rất là quan trọng nên các cụ làm thành thơ cho dễ nhớ như sau: Câu 1: Hợi, Nhâm, Tý, Quý Thủy long Câu 2: Dần, Giáp, Mão, Ất đồng Mộc lai Câu 3: Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ Hỏa thôi Câu 4: Cấn, Khôn, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi Thổ lâm Câu 5: Càn, Thân, Tân, Dậu canh Kim Câu 6: Dù rằng lẫn lộn nên tìm chính cung Câu 7: Âm phần đệ nhất âm long Câu 8: Hợi, Cấn, Tân, Tốn, Mão cùng Canh, Đinh Câu 9: Tỵ, Bính cửu khí chung linh Câu 10: Đời sinh trung nghĩa thành danh lâu dài Câu 11: Tú long tú hướng văn khôi Câu 12: Cát long cát hướng tướng tài đổng binh Câu 13: Cát long tú hướng giao tinh Câu 14: Hướng tiền long hậu kiêm dành võ văn Câu 15: Cát long cát hổ huân thần Câu 16: Tú linh hàn viện long cân ô đài Câu 17: Tị là trung Thổ anh tài Câu 18: Sửu Mùi mộ đạo miệt mài của không Câu 19: Thương dương Nhâm, Tý, Quý long Câu 20: Hẳn cầm quyền bính anh hùng oai nghiêm Câu 21: Ngọ trung hỏa tốc ứng liền Câu 22: Hạ dương điểm huyệt, đãn hiềm tiện hung Câu 23: Khôn, Thân, Dần, Giáp, Ất long Câu 24: Nhất thời phát xuất vẫy vùng lược thao. Câu 25: Thìn, Tuất, Càn, Kim đáo đầu Câu 26: Sinh tài lỗi lạc dẹp thâu hung tàn Câu 27: Dương long ngay thẳng nhân khoan Câu 28: Âm long thượng cách làm quan nối dòng Câu 29: Đấy là kết luận cát hung. Dưới đây là dịch và giải thích 29 câu phần nôm địa lý trị soạn phú ở trên: Các câu 1 – 2 – 3 – 4 – 5 – 6 nói về ngũ hành của 24 long như sau: Câu 1 – Các Long: Hợi, Nhâm, Tý, Quý, hành Thủy Câu 2 – Các Long: Dần, Giáp, Mão, Ất, Tốn, hành Mộc. Câu 3 – Các Long: Bính, Đinh, Tỵ, Ngọ hành Hỏa. Câu 4 – Các Long: Cấn, Khôn, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi hành Thổ Câu 5 – Các Long: Càn, Thân, Tân, Dậu, Canh hành Kim Câu 6 – Không nên lẫn lộn ngũ hành của 24 Long vừa nói trên. -------------------------------------------------------------------------------- Dưới đây là tên 24 long bắt đầu từ Giáp Giáp, Mão, Ất (Chính Đông) Thìn, Tốn, Tỵ (Đông Nam ) Bính, Ngọ, Đinh (Chính Nam ) Mùi, Khôn, Thân (Tây Nam ) Canh, Dậu, Tân (Chính Tây) Tuất, Càn, Hợi (Tây Bắc) Nhâm, Tý, Quý (Chính Bắc) Câu 7 - Âm phần đệ nhất âm long -------------------------------------------------------------------------------- Dịch và giải thích (7) 24 long trên lại chia ra làm 12 dương long và 12 âm long như sau: Dương long: Càn, Nhâm, Tý, Quý, Dần, Giáp, Ất, Thìn, Ngọ, Khôn, Thân, Tuất. Âm long: Hợi, Sửu, Cấn, Mão, Tốn, Tỵ, Bính, Đinh, Mùi, Canh, Dậu, Tân. Âm phần tốt nhất là dùng Âm long. Câu 9 - Tỵ, Bính cửu khí chung linh. Câu 10 - Đời sinh trung nghĩa thành danh lâu dài. Dịch và giải thích ( 8-9-10 ) Trong 24 hướng thì có 9 hướng tốt theo thứ tự như dưới đây: Hợi, Cấn, Tân, Tốn rồi đến Mão, Canh, Đinh, Tỵ, Bính là 9 hướng cửu khí chung linh. Các Án, Sa xung quanh huyệt trường hiện ra vào 9 hướng này là hướng được tốt sẽ sanh được con cháu là những người trung nghĩa và thành danh được bền bỉ lâu dài. Đây là cụ Tả Ao tóm tắt lại để tiện dụng. Những hướng tốt xấu này của sách Địa lý của Tàu ngày nay khai triển ra kể có mấy chục trang. Câu 11 – Tú long, tú hướng văn khôi Câu 12 – Cát long cát hướng tướng tài đổng binh Dịch và giải thích (11-12) Cát chỉ là hướng tốt thôi không có hình dáng xinh đẹp, còn tú là có hình dáng tốt đẹp. Được tú long, tú hướng thì phát văn, đỗ cao (văn khôi). Được cát long, cát hướng thì phát võ lớn (Tướng tài đổng binh). Câu 13 - Cát long cát hướng giao tình Câu 14 - Hướng tiền long hậu kiêm dành võ văn Dịch và giải thích (13 – 14) hướng là hướng huyệt. Long là long nhập thủ. Nếu được cả long và hướng cát thì sinh nhân văn võ toàn tài. Câu 15 - Cát long cát hổ huân thần Câu 16 - Tú linh hàn viện, long cân Ô Đài Dịch và giải thích (15-16) Được cát long cát hổ cũng được làm quan như người ta. Nhưng được Cát và Tú long tú hổ thì có thể lên đến chức tước cao hơn, ở Hàn lâm viện, hoặc Ô đài ngự sử (Ngự sử là chức có quyền thảo luận hoặc can gián vua). Câu 17 - Tỵ là trung thổ anh tài Dịch và giải thích (17) được hướng Tỵ là đất phát anh tài. Câu 18 - Sửu Mùi mộ đạo miệt mài cửa không Dịch và giải thích (18) Đất kết có long hoặc có hướng tại cung Sửu hoặc cung Mùi thường phát người mộ Đạo, miệt mài nghiên cứu Phật học. Dưới đây là bài kệ của một vị đã mộ đạo miệt mài cửa không làm: Kinh sách lưu hành tám vạn tư Học hành không thiếu cũng không dư Đến nay tính sổ nhường quên hết Chỉ thấy trên đầu một chữ Như Như là Chân Như là điểm tự tại cao thâm, bao trùm hết cả giáo lý của đạo Phật. Tận cùng của kinh sách, của tám vạn bốn ngàn pháp môn tu không ra ngoài sự đạt tới cõi chân như tự tại. Câu 19 – Thương dương Nhâm, Tý, Quý long. Câu 20 - Hẳn cầm quyền bính anh hùng oai nghiêm Dịch và giải thích (19 – 20) Dương long như Nhâm, Tý, Quý nếu được đất kết tốt sẽ phát những vị chỉ huy anh hùng oai nghiêm, quyền cao chức trọng. Câu 21 - Ngọ trung hỏa tốc ứng liền Câu 22 - Hạ dương điểm huyệt đãn hiềm tiện hung Dịch và giải thích (21 – 22) Hướng Ngọ phát rất nhanh và phát mạnh. Nếu là dương long lại càng hung dữ nữa, khi điểm huyệt đất này phải khéo cho bớt hung đi. Câu 23: Khôn, Thân, Dần, Giáp, Ất long Câu 24: Nhất thời phát xuất vẫy vùng lược thao Dịch và giải thích (23-24) Được đất kết thuộc Dương long như Khôn, Thân, Dần, Giáp, Ất long mà có huyệt tốt thường phát ra những nhân vật có tài thao lược. Câu 25: Thìn Tuất Càn kim đáo đầu Câu 26: Sinh tài lỗi lạc dẹp thâu hung tàn Dịch và giải thích (25-26) Ông Nguyễn Công Trứ là người có tài lỗi lạc nhưng mãi đến 42 tuổi mới thi đỗ ra làm quan. Từ hồi hàn vi ông đã ôm mộng ước đem tài thao lược ra thờ vua giúp nước cho thỏa mộng bình sinh, nhưng sau khi thi đỗ ra làm quan khi định thi hành chí hướng thì vì chức ông còn nhỏ nên bị các quan có chức cao hơn kìm hãm, không cho thực hiện mộng ước của ông. Ông nghĩ rằng phải làm lớn, mới đỡ bị chèn ép, mới dễ thực hiện chí hướng của mình. Muốn mau làm lớn chỉ có cách qua bên võ, xin đi dẹp giặc, có thắng trận, lập được kỳ công mới có hy vọng làm lớn mà thôi. Vào triều ông xin vua cho bỏ văn qua võ, làm các phan phì cười. Nhưng qua võ rồi ông dẹp được hầu hết những giặc lớn trong thời nhà Nguyễn bấy giờ. Ông tuy xuất thân là văn quan nhưng vì sang võ là vì đánh đâu thắng đó nên phải đi dẹp giặc liên miên, ít khi ở nhà. Một lần có bà vợ ba nhớ ông nên lặn lội ra tận mặt trận gặp ông và được ông tặng một câu đối như sau: Những tượng bút nghiên đành kiếm mã nào hay kim chỉ cũng phong trần. Chắc ông Nguyễn Công Trứ được đất kết lớn có hướng Thìn, Tuất và có long Càn nhập thủ như câu (25-26) trên, nên được cách sinh tài lỗi lạc dẹp thâu hung tàn. Câu 27 – Dương long ngay thẳng nhân khoan Câu 28 – Âm long thượng cách làm quan nối dòng Câu 29 - Đấy là kết luận cát hung Dịch và giải thích (27-28-29) Được đất kết thuộc Dương long thường sinh người ngay thẳng, nhân khoan, một đôi khi thô kệch, ít suy nghĩ đắn đo. Còn được đất kết thuộc Âm long thường sinh ra người thâm trầm tính toán, giỏi thừa hành theo lệnh trên, nên người được đất kết Âm long làm quan bền bỉ hơn người được đất dương long. Đấy là nói chuyện cát hung của âm dương long. CHƯƠNG 3 PHẦN LÝ KHÍ Hướng dẫn Khoa địa lý gồm 2 phần: Loan đầu và lý khí. Loan đầu là những gì mắt ta nhìn thấy trên đất đai của toàn thể một cuộc đất kết. Lý khí là phần trừu tượng của đất kết liên quan đến những áp dụng của Lý học Đông phương như: Hà đồ, Lạc thư, Chu dịch, Kỳ môn, Thiên văn và các công thức lý học áp dụng khác. Các vị cao thủ địa lý xưa kia sau khi đã nắm vững phần loan đầu, các vị còn khám phá ra được những điểm đặc sắc khác nếu thêm vào loan đầu thì ta sẽ có những ngôi đất kết toàn hảo hơn, phát mau hơn v.v... Do đó ta mới có phần lý khí. Học địa lý ta học Loan đầu trước, Lý khí sau là cách học rất khôn ngoan vì loan đầu cụ thể dễ thấy còn lý khí thì trừu tượng lại được đưa vào những công thức khó hiểu và ít được giải thích nên khó lĩnh hội. Nắm vững loan đầu rồi, phần trông thấy được rồi, ta mới có cơ sở đặt phần lý khí lên trên, sẽ dễ hiểu hơn để ta có thể có một kiểu đất toàn vẹn hơn. Trong 4 bộ sách Cao Trung đã xuất bản trước đây đã được tác giả tránh né rất nhiều đề cập đến phần lý khí để quý vị dễ học. Đến nay gần hết phần Loan đầu nên phải nói đến phần lý khí để quý vị có dữ kiện cao hơn, đầy đủ hơn về khoa địa lý. Tuy nhiên chính phần lý khí này lại là con dao hai lưỡi, ngoài phần hữu dụng cho loan đầu nói trên thì nó lại còn làm cho ta dễ lạc vào cõi u minh của khoa địa lý vì nó dùng các áp dụng quá khó khăn của lý học đông phương mà ít người hiểu tường tận. Có thể nói khoa địa lý trở nên thất truyền phần lớn là do phần lý khí và phần người học địa lý không chịu thực tập nhiều trên phần loan đầu, trên đất đai thật sự. Kinh nghiệm cho thấy nếu muốn thành công về khoa địa lý ta phải nắm vững phần loan đầu và nếu lý khí mâu thuẫn với loan đầu ta phải mạnh dạn loại bỏ nó ra. Ta chỉ dùng lý khí khi nó phù hợp với loan đầu mà thôi. Các cụ lão thành địa lý xưa kia còn cho biết là vua Hồng Vũ nhà Minh muốn giữ độc quyền khoa địa lý cho Hoàng tộc nên thuê người viết sách địa lý cách nào cho sau này ai học nó sẽ lạc vào cõi vô minh không có lối ra và không thể làm được địa lý. Những sách này bây giờ ta gọi là man thư. Những man thư phần nhiều dùng những áp dụng lý khí một cách kỳ quặc để làm lạc hướng người học địa lý. Trong khi đó có nhiều lý khí chân thư khác lại là phần cao, phần quan trọng, phần cốt tủy của địa lý. Một man thư và một chân thư địa lý ở cạnh nhau làm cho người ta dễ hiểu lầm không biết cái nào đúng, cái nào sai và chỉ những ai thật giỏi địa lý mới phân biệt được. Ngày nay rất hiếm người phân biệt được đâu là chân thư, đâu là man thư. Tập địa lý trước và tập địa lý này của Cao Trung có đăng tài liệu đất kết Cao Biền viết từ năm 600 đời nhà Đường, cách đây trên một ngàn năm, rất ít đề cập đến lý khí. Việc này đáng cho ta tin tưởng là loan đầu mới là quan trọng. Thêm lý khí mà không phản với loan đầu thì càng tốt, còn khi thấy lý khí phản lại loan đầu thì ta phải nghi ngờ lý khí đó là man thư. Mong rằng những công thức Lý khí của cụ Tả Ao dưới đây sẽ giúp ta phần nào khám phá ra những khó hiểu, những bí hiểm về khoa địa lý, nhưng ta phải dè dặt khi dùng nó. Những áp dụng lý khí vào khoa địa lý ngày nay có rất nhiều, nhưng chúng tôi chỉ trình bày những điều gì cần có trong tài liệu cụ Tả Ao để lại mà thôi. 3-1. Chính Ngũ Hành cầu long nhập huyệt Thân, Canh, Dậu, Tân, Càn Kim dã Dần, Giáp, Mão, Ất, Tốn, Mộc dã Hợi, Nhâm, Tý, Quý thuộc Thủy Sửu Cấn, Thìn, Khôn, Tuất thuộc Thổ Tỵ, Bính, Ngọ, Đinh thuộc Hỏa. -------------------------------------------------------------------------------- 3-2. Song sơn Ngũ hành Tam hợp đơn: 1. Càn Giáp Đinh hoặc Hợi Mão Mùi Mộc cuộc 2. Khôn Nhâm Ất hoặc Thân Tý Thìn Thủy cuộc 3. Cấn Bính Tân hoặc Dần Ngọ Tuất Hỏa cuộc. 4. Tốn Canh Quý hoặc Tỵ Dậu Sửu Kim cuộc. Hay tam hợp kép: 1. Song sơn: Càn Hợi – Giáp Mão – Đinh Mùi đều là Mộc cuộc. 2. Song sơn: Khôn Thân – Nhâm Tý - Ất Thìn đều là Thủy cuộc. 3. Song sơn: Cấn Dần – Bính Ngọ - Tân Tuất đều là Hỏa cuộc. 4. Song sơn: Tốn Tỵ - Canh Dậu – Quý Sửu đều là Kim cuộc. -------------------------------------------------------------------------------- 3-3. Hồng phạm ngũ hành Người ta dùng Hồng Phạm ngũ hành để tính Tọa sơn. Tọa sơn không được khắc mệnh vong nhân. Dưới đây là công thức Hồng phạm ngũ hành: Càn Hợi, Đinh, Dậu thuộc Kim. Cấn, Mão, Tỵ, Canh thuộc Mộc. Nhâm, Ất, Bính, Ngọ thuộc Hỏa. Dần, Giáp, Thìn, Tốn, Thân, Tân, Tuất, Tý thuộc Thủy. Quý, Sửu, Mùi, Khôn thuộc Thổ. (Còn Tiếp)
  25. CHƯƠNG 1 – 3 ĐỊA LÝ TRỊ SOẠN PHÚ (Tiếp theo) Hướng dẫn Đây là phân chương 1-3 là phần thứ 3 của chương 1 Địa lý trị soạn phú. Phân chương này bắt đầu câu 61 cho đến câu 90. Câu 61: Bính, Đinh, Ngọ tủng bạt, độc bút, chiếm khôi nguyên. Câu 62: Canh, Dậu, Tân tú kim, tất cao đăng tể phụ. Dịch (61) Bính, Đinh, Ngọ một bút vươn lên, chiếm bảng khôi nguyên. Dịch (62) Canh, Dậu, Tân tú kim hiển hiện, giữ ngôi Tể phụ. Giải thích (61-62) Bút ở Bính, Ngọ, Đinh càng cao càng tốt, đi thi sẽ đỗ đầu. Canh, Dậu, Tân có gò tròn đẹp sẽ làm lớn. Câu 63: Thủy tại Khảm phương, thân Quý. Câu 64: Kim tại Đoài vị, danh cao Giải thích (63-64) hình thủy tại phương bắc là đắc vị phát quý. Hành kim tại phương Tây là đắc vị, là quý, sẽ có danh cao. Câu 65: Danh cao niên thiếu, phong thanh khôi đệ, đích thị Dần Thân. Câu 66: Văn chương quán thế, quần nho thụ lâp, bút tiêm Đinh, Tốn Dịch (65) Tuổi trẻ lừng danh khôi đệ (tuổi trẻ đỗ cao, chính là Ấn đới Dần Thân) Dịch (66) văn chương quán thế quần nho (văn chương vượt trội các nho sĩ khác) vì có bút tiêm (bút nhọn) tại Đinh, Tốn... Câu 67: Kim tinh tự phú chung, vi khởi, thần đồng giáp cập đệ Câu 68: Kim tinh như vân lôi, tiểu phong, võ tướng chí quận công Dịch (67) kim tinh như chuông úp, gợn lên, thần đồng chiếm khôi bảng. Dịch (68) Kim tinh như vân lôi nho nhỏ, võ tướng phong quận công. Giải thích (67-68) có gò kim tinh nhỏ (tinh phong) trên thần long, hoặc trên các gò đống khác thì rất quý. Câu 69: Các trục, hoa khai, nam hôn công chúa. Câu 70: Viên nhiễu, hình kiến, nữ xuất cung phi. Dịch (69) Cáo trục hoa khai, trai làm phò mã. Dịch (70) Viên nhiễu hiện hình, gái phát hậu phi. Câu 71: Sơn hùng dũng, sinh nhân hùng dũng, lưu ý nhi quan. Câu 72: Sơn thô ác sinh nhân thô ác, dụng tình nhi biện Dịch (71) Sơn hùng mạch sinh người hùng mạnh, lưu ý mà coi. Dịch (72) Sơn thô ác sinh người thô ác, dụng tình mà xét. Giải thích (71-72) thường thường long mạch từ tổ sơn xuống mà vào kết huyệt ngay thì hùng mạnh hoặc thô ác sẽ sinh người hùng mạnh hoặc thô ác; còn long mạch từ tổ sơn xuống còn bác hoán nhiều lần cho thành cát long rồi mới và kết huyệt thì sinh người tuấn tú hiền lành hơn. Câu 73: Thủy thô cấp, nhân đa tai họa, thử vô hư ngữ. Câu 74: Thủy triều dương, nhân sinh hòa nhã, thử hữu tín ngôn. Dịch (73) Nước thô cấp sinh người nhiều tai họa, nói đúng không sai Dịch (74) Nước triều êm đẹp, sinh người hòa nhã, lời nói đáng tin. Giải thích (73-74) cứ coi thủy đã biết đất đó sinh người thô nhã, cát hung như thế nào rồi. Câu 75: Viễn hổ hồi đầu, phúc viên ngoại tộc. Câu 76: Ngoại long hồi đầu, phúc ấm ngoại tông Dịch (75) Hổ xa quay đầu về, phúc diên ngoại tộc. Dịch (76) Long ở ngoài quay đầu lại, phúc ấm ngoại tông. Giải thích (75-76) đất có ngoại long, ngoại hổ từ tổ sơn về bao vây lấy cuộc đất, làm thành quách cho cuộc đất, mà đầu long, hổ đó lại quay đầu ôm lấy cuộc đất là đất đó được tổ tiên để lại phúc ấm cho, thường phát rất lớn. Câu 77: Bút hổ thôi thân, ngao đầu trúng tuyển. Câu (78) long bảng ngoại diện, mã thượng vinh hồi Dịch (77) bút hổ thoát ra, ngao đầu trúng tuyển. Dịch (78) Bảng rồng trước mặt, cưỡi ngựa vinh quy. Giải thích (77-78) Tay hổ thoát ra cây bút (hình nhỏ dài và nhọn đầu) hay tay long có bảng (hình vuông hay hình chữ nhật) thì đi thi là đỗ, được cưỡi ngựa vinh quy. Câu 79: Địa hữu tam đường, hoàng kim bạch ngọc thượng xa xỉ. Câu 80: Địa hữu tam trĩ, công danh phú quý chấn gia bang. Dịch (79) Đất có 3 minh đường, vàng ngọc tiêu xài xa xỉ. Dịch (80) Đất có án tam thai, công danh phú quý lẫy lừng thay. Câu 81: Tý lai long, Ngọ kỳ triển, hách dịch nhất thời. Câu 82: Thủy Mão tụ, diện sơn cao, khanh tướng vạn cổ. Dịch (81) Tý long lai, Ngọ mở cờ, hách dịch một thời Dịch (82) Mão thủy tụ, mặt núi cao, vẻ vang muôn thuở. Giải thích (81) Long đến từ Tý và huyệt hướng Ngọ, tại Ngọ có núi như cờ mở là đất phát hách dịch một thời. Giải thích (82) cung Mão có thủy tụ lại có núi cao là đất kết vua biết mặt chúa biết tên. Nhưng phải cẩn thận, núi cao ở hướng Đông phải xa huyệt trường, còn núi cao ở hướng Đông lại sát huyệt trường mà huyệt trường lại thấp thì dù có tài giỏi cũng không được vua biết đến. Câu 83: Thần bút lâm giang, trạng nguyên chi bút. Câu 84: Hồng kỳ tại Ngọ, võ tướng chi kỳ. Dịch (83) Thần bút gần sông là bút trạng nguyên. Dịch (84) Hồng kỳ ở Ngọ là cờ võ tướng. Giải thích (83) Bút chấm nước ở sông lớn tốt hơn bút trên cạn, nên có bút chấm nước là dễ thi đỗ trạng nguyên. Giải thích (84) Cờ hình hỏa, phương nam thuộc hành hỏa nên đắc vị. Câu 85: Thiên hạ bình định, Cấn, Hợi, Tân, Tốn chi sở suy. Câu 86: Thiên hạ nhiễu chấn, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi chi sở phát. Dịch (85) Thiên hạ bình địa, do Cấn, Hợi, Tân, Tốn đẩy ra. Dịch (86) Thiên hạ nhiễu phương, do Thìn, Tuất, Sửu, Mùi phát xuất. Giải thích (85-86) Những huyệt kết hướng Cấn, Hợi, Tân, Tốn thường phát vào thời bình. Còn những huyệt kết thường Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thường hay phát vào thời loạn. Vậy ta có thể chọn sự kết phát theo ý muốn. Câu 87: Khôn vị cao phong, danh đề bảng sĩ. Câu 88: Cấn phương tiêm bút, danh chiếm trạng đầu Dịch (87) Khôn vị có núi cao, tên đề cuối bảng. Dịch (88) Cấn phương có tiêm bút, danh đỗ trạng nguyên. Giải thích (87-88) Khôn là tây nam. Cấn là đông bắc, hai hướng đối nghịch nhau, nhưng núi phía Khôn chỉ cho đỗ cuối bảng (cũng đỗ nhưng đỗ hạng chót) còn bút phía Cấn lại cho đỗ đầu bảng. Vậy hướng Cấn tốt hơn hướng Khôn. Câu 89: Thiếu chi quý, tại hổ án, ấn phân minh Câu 90: Lão đắc danh, tại hổ thiên mã đảo địa Dịch (89) Tuổi trẻ cực quý, do ư án ấn phân minh Dịch (90) Tuổi già công danh, do là thiên mã đảo địa. Giải thích (89) Án, Ấn phải đẹp, rõ rệt mới quý. Giải thích (90) dù có chứng ứng Lộc, Mã mà không cao, lại thấp lè tè (đảo địa) thì về già mới có công danh. CHƯƠNG 1-4 ĐỊA LÝ TRỊ SOẠN PHÚ (Tiếp theo) Hướng dẫn Đây là phân chương 1-4 là phần thứ 4 của chương 1 Địa lý trị soạn phú. Bắt đầu từ câu 91 và chấm dứt ở câu 122. Câu 91: Đái thương, đái khố. Đào Chu chi phú khả kỳ. Câu 92: Sinh diệu sinh quan, rắp mong nổi danh Vương Tạ. Dịch (91) Đới thương đới khổ, có thể giàu sánh Đào Chu . Dịch (92) Sinh diệu sinh quan, rắp mong nổi danh Vương Tạ. Giải thích (91) Như vựa, như kho, có thể giàu sánh Đào Chu . Giải thích (92) Có diệu mọc ra ở tay long, tay hổ, hoặc có quan quỷ ở huyệt trường thì thông minh, nổi tiếng như Vương Tạ. Câu 93: Thất diệu đông, thất diệu tây, khanh tướng trùng trùng. Câu 94: Cửu khúc hậu, cửu khúc tiền, phúc lộc vĩnh miên Dịch (93) Thất diệu bên đông, thất diệu bên tây, phát khanh tướng trùng trùng. Dịch (94) Chín khúc đằng sau, chín khúc đằng trước, hưởng phúc liên miên. Giải thích (93) có tới 7 diệu sơn, dù ở hướng Tây hay hướng Đông, cũng phát khanh tướng. Giải thích (94) có tới 9 khúc thủy triều, dù ở trước hay sau huyệt cũng được hưởng phúc liên miên. Đi xem đất nên lưu ý số 7 của diệu sơn hay tinh phong và số 9 của nước triều này. Câu 95: Thanh long chi thượng hữu phong, nam nhân đắc quý. Câu 96: Bạch hổ chi yêu đới ấn, hữu tả phát quan. Dịch (95) trên thanh long còn mọc thêm tinh phong, nam nhân đắc quý. Dịch (96) có ấn trên lưng bạch hổ, có con phát quan. Câu 97: Thạch án đốn ư thạch bút, khôi nguyên nhất cử chi vinh. Câu 98: Kim cổ liệt ư kim vị, tướng quân vạn binh chi dũng. Dịch (97) Thạch án nổi trên thạch bút, nhất cử vinh hiển khôi nguyên. Dịch (98) Kim cổ bày ở kim vị, vạn binh uy dũng tướng quân. Giải thích (97) có núi đá làm án, lại có bút bằng đá nữa thì đi thi đỗ đầu. Giải thích (98) trống hình kim ở hướng tây (kim vị) thì phát võ, tướng quân uy dũng. Câu 99: Vương tự tiền, đang tiền hoàng đế. Câu 100: Vương tự hậu, tử hậu phong vương. Dịch (99) chữ vương đàng trước, lúc sống gần hoàng đế. Dịch (100) chữ vương sau lưng, lúc chết được phong vương. Câu 101: Thủy khẩu ư quái thạch, tử tồn đại đại xuất văn chương. Câu 102: Thủy khẩu chấn la tinh, tử tôn đại đại vi khanh tướng. Dịch (101) Thủy khẩu có quái thạch, con cháu đời đời phát văn chương. Dịch (102) Thủy khẩu có la tinh trấn, con cháu đời đời làm khanh tướng. Giải thích (101-102) quái thạch hay la tinh phải là núi đá từ tổ sơn chạy đến làm thủy khẩu mới là đất lớn. Câu 103: Kim cư đoài vị, quý tế lâm đinh Câu 104: Thủy khẩu đông phương, hiền thê trợ nghiệp. Dịch (103) Kim nơi đoài vị, rể quý lâm đình (có con trai lấy vợ là con quan lớn) Dịch (104) Thủy khẩu xuất đông phương, hiền thê trợ nghiệp (có vợ hiền giúp đỡ, xây dựng nên sự nghiệp cho chồng). Câu 105: Tiền nghênh hậu tống, giáp mật mật, thử địa cận đế thất. Câu 106: Tả long hữu hổ, cư trùng trùng, thử địa vi quan công. Dịch (105) tiền nghinh hậu tống, liền khin khít, đất đó được cận thân đế thất (làm việc gần vua). Dịch (106) Tả long hữu hổ, ở trùng trùng, đất đó phát làm quan công (làm nơi tam công). Giải thích (105) những đất kết nào có nhiều tiền nghênh, có nhiều hậu tống, liền khin khít thì làm việc gần vua. Ở Mỹ thì làm việc trong toà nhà Bạch ốc. Giải thích (106) Đất có nhiều long hổ cũng làm lớn, chức tới tam công. Câu 107: Thiên thị kiến Canh, tài kiêm văn võ. Câu 108: Thiên thị kiến Chấn, đổ xuất võ văn Dịch (107) Thiên thị thấy ở Canh, tài kiêm văn võ. Dịch (108) Thiên thị thấy ở Chấn, phát cả võ văn. Câu 109: Thiên thị kiến Bính, lộc hưởng vạn chung Câu 110: Khảm mạnh kiến Khôn, văn phát nhất đai Dịch (109) Thiên thị thấy ở Bính, hưởng lộc vạn chung Dịch (110) Khảm mạch thấy ở Khôn, phát văn một đời. Câu 111: trùng trùng hổ thủy, phát phú Câu 112: Điệp điệp long sa phát văn. Dịch (111) Nước bên bạch hổ trùng trùng, phát phú. Dịch (112) Sa ở bên thanh long điệp điệp, phát văn. Giải thích (111-112) nói về thủy và sa tốt. Thủy chủ phú. Sa chủ quý. Câu 113: Bạch ốc phát công khanh, tại hổ hồi long cố tổ Câu 114: Bạch đinh chi Tể tướng, tại hổ Mão vị cao phong. Dịch (113) Bạch ốc phát công khanh, do ở đất hồi long cố tổ. Dịch (114) Bạch đinh làm tể tướng, do ở Mão vị có núi cao (phương Mão là nơi mặt trời mọc, tượng trưng cho vua). Câu 115: Tiêm tú cư hậu, chủ vãn thành. Câu 116: Tha nga tại tiền, danh bất hữu Dịch (115) Sơn tiêm tú ở đằng sau, chủ đạt muộn mằn. Dịch (116) Đá chênh vênh ở đằng trước, công danh không có. Câu 117: Nhất hô động thiên địa, do hổ thạch cổ thạch kỳ. Câu 118: Nhất cử chiếm khôi nguyên, do hổ thạch huyệt thạch bút. Dịch (117) một tiếng hô, động trời đất, bởi có cờ trống bằng đá. Dịch (118) một thi cử chiếm khôi nguyên, do ư huyệt đá, bút đá. Câu 119: Viễn thủy nhập hoài, đa chiêu viễn vật. Câu 120: Cận án não thủ, tất thủ cận danh Dịch (119) Nước xa chảy vào lòng, đem lại nhiều diễn vật, Dịch (120) Án gần với tay được, tất mau lấy công danh. Giải thích (119) Đất nào có nước từ xa chảy vào lòng (viễn thủy nhập hoài) sẽ có nhiều tài lộc từ xa mang lại. Giải thích (120) Kiếm được đất mà án ở gần sát huyệt (án gần với tay được) sẽ một sớm một chiều có công danh. Muốn mau ăn nên cố kiếm đất án rất gần huyệt. Câu 121: Án phụ tử, phụ tử đồng bảng Câu 122: Án huynh đệ anh em đồng triều Dịch (121) Án phụ tử, cha con đồng bảng Dịch (122) Án huynh đệ anh em đồng triều. Giải thích (121-122) Một án to một án nhỏ là án phụ tử, hai cha con cùng thi đỗ đồng khoa. Hai án lớn bằng nhau là án huynh đệ, hai anh em cùng làm quan một triều. CHƯƠNG 1-5 ĐỊA LÝ TRỊ SOẠN PHÚ (Tiếp theo) Hướng dẫn Đây là phần thứ 5 của chương 1 Địa lý trị soạn phú. Bắt đầu từ câu 123 và sau cùng là câu 151. Câu 123: Mộc nhập mộc, vi thế thực sự Câu 124: Kim thụ kim, vi thời danh tướng Dịch (123) Mộc nhập mộc, thầy giỏi của đời Dịch (124) Kim thụ kim, tướng tài xuất thế Giải thích (123) Sa hình mộc (nhỏ và dài) ở hướng Đông. Đông là mộc hướng nên Mộc vượng. Mộc phát văn nên là bậc thầy của đời. Giải thích (124) Sa hình kim, hình tròn ở hướng Tây. Tây là Kim phương nên kim vượng. Kim phát võ nên là tướng tài xuất thế. Câu 125: Trùng thổ trùng kim, vị cư tể tướng Câu 126: Trùng hỏa trùng thổ thân cử hàn lâm Dịch (125) Trùng thổ trùng kim, ở ngôi tể tướng. Dịch (126) Trùng hỏa trùng thổ, mình ở Hàn Lâm Giải thích (125) Hai sa hình thổ (vuông) và hình kim (tròn) (thổ sinh kim) có thể làm tới tể tướng. Giải thích (126) hai sa hình hỏa (lưỡi cày) và hình thổ (vuông) (hỏa sinh thổ), có thể làm tới chức Hàn lâm. Câu 127: Vị liệt đài giai, tại viên kim tú ứng Câu 128: Thế sinh hùng tướng, tại hổ tinh diệu trùng đa. Dịch (127) Ngôi ở đài giai, vì viên kim tú ứng. Dịch (128) Đời sinh hùng tướng, bởi tinh diệu trùng nhiều. Giải thích (127) Gò kim tinh mà hình dáng đẹp (tú) lại ở hướng tốt (ví dụ như là văn thì ở Tốn, Tân hướng thì sẽ được ở chức cao về văn. Giải thích (128) Đất phát võ nếu có nhiều tinh diệu thì sẽ sinh được những vị hùng tướng. Câu 129: Án huynh đệ, nhân cộng sở tri Câu 130: Huyệt huynh đệ, nhân sở nan thức Dịch (129) Hai án (án huynh đệ) ai nhìn cũng thấy. Dịch (130) Hai huyệt (huyệt huynh đệ) mấy kẻ đã hay. Giải thích (129-130) Một huyệt có 2 án thì dễ thấy rồi nhưng một huyệt trường có 2 huyệt kết thì không mấy người biết. Câu 131: Mộc long mộc huyệt, vi thế hãn vô Câu 132: Hỏa long hỏa hướng, vi thế nan thức Dịch (131) Mộc long mộc huyệt, đời vốn có nhiều Dịch (132) Hỏa long hỏa hướng, mấy ai nhận rõ. Giải thích (131-132) Mộc long mộc huyệt, phát người văn chương nho nhã. Mộc hình thì dài nhỏ nhắn nhuyễn nhược nên dễ phát văn. Nhưng nếu là Hỏa long hỏa hướng thì phải coi chừng dễ sát lắm đấy và điểm huyệt được cũng không phải là dễ. Điểm sao cho tránh được khi ngồi ở huyệt trường không thấy đầu nhọn của hỏa mới là khéo. Câu 133: Kim long kim huyệt, vi thế nan cầu Câu 134: Thổ long thổ huyệt, vi thế nan đắc Dịch (133) Kim long kim huyệt đâu phải dễ tìm Dịch (134) Thổ long thổ huyệt thật là khó được. Giải thích (133-134) Được hành khác sinh nhập là được sinh được cùng hành là được vượng. Được sinh, vượng thì phát lớn gấp bội. Câu 135: Tốn long Tân hướng, mộc thụ huyệt, khoa cử văn chương vĩnh bất tuyệt. Câu 136: Tân long Tốn hướng, bút sấm vân, trạng nguyên cập đệ yết quân thần. Dịch (135) Tốn long Tân hướng, Mộc thụ huyệt khoa cử văn chương không bao giờ hết. Dịch (136) Tân long Tốn hướng, bút chấm mây, trạng nguyên cập đệ hợp vua tôi. Giải thích (135-136) Cứ Tốn long hoặc Tân long hoặc Tốn hướng hoặc Tân hướng là ăn chắc phát văn. Nếu thêm mộc thụ huyệt (huyệt hình mộc) thì khoa cử văn chương vĩnh bất tuyệt. Nếu lại thêm cây bút đứng nữa thì khi vào thi tại sân rồng sẽ đỗ trạng nguyên. Cụ Tả Ao đã nhắc nhở nhiều lần như sau: Nhất là Tân Tốn mới hay Bính Đinh Đoài Cấn sắp bày đột lên. Bút lập là bút trạng nguyên. Thời vua Lê Thánh Tôn là thời có nhiều Tiến sĩ nhất có lẽ vì ảnh hưởng của sự kiếm đất hướng Tốn, Tân và Bính Đinh Đoài Cấn của cụ Tả Ao nên thời này có tới mấy ngàn tiến sĩ... Câu 137: Bút long long vi quý, vật đắc tắc vi quý Câu 138: Tượng mã mã vi quý, vật đắc tắc vi quan Dịch (137) bút long long là quý, tìm được thời là quý Dịch (138) Tượng mã mã là quý, tìm được thời phát quan. Giải thích (137-138) Bút, nghiên có ở gần tay long tay hổ thì quý, sẽ học giỏi, đi thi đỗ cao. Nhưng tượng và mã ở xa là hình thức nghi vệ của bậc quan lớn, vậy nếu có tượng mã ở xa chầu về thì phát cao quan. Câu (139) Long sa đới Giáp, khanh tướng tự kỳ. Câu (140) Hổ thủy Ất cung, công hầu tại thử. Dịch (139) Long sa đới Giáp, khanh tướng hẹn ngày. Dịch (140) Hổ thủy Ất cung, công hầu sẽ tới. Câu 141: Huyệt kết quải câu, thiên kim nan cầu Câu 142: Thủy khẩu trấn kỳ, vạn quan diệc vị Dịch (141) Huyệt kết quải câu, ngàn vàng khó kiếm Dịch (142) Thủy khẩu trấn kỳ, vạn quan cũng đáng. Giải thích (141) Huyệt kết quải câu là kết hồi long cố tổ. Huyệt kết hồi long cố tổ rất quý vì huyệt này mau phát và dễ sinh hiếu tử trung thần. Giải thích (142) Thủy khẩu trấn kỳ là nơi thủy khẩu có núi đá hình cờ trấn giữ. Loại thủy khẩu này dễ phát võ và làm lớn. Câu 143: Ngẫu nhĩ phùng quân, thần tướng vi lịch triều hoàng đế. Câu 144: Tả hữu câu hồi, điền triều tế hải triều, thử địa đại phú. Dịch (143) Ngẫu nhĩ gặp quân thần, sẽ được lịch triều thờ vua. Dịch (144) Tả hữu đền hồi đều triều và hải triều, đất phát đại phú. Câu 145: Huyệt nhiêu tự nang hốt, liệt địa đại quang. Dịch (145) Huyệt đầy đặn như túi thắt, đất đó đại phát. Giải thích (145) Đất có khí mạch sung mãn nên huyệt trường trông đầy đặn như cái túi thắt. Câu 146: Bình địa khởi tam lôi, thử địa phát như lôi Câu 147: Bình địa khởi quý thạch, thử địa đa cát khánh. Dịch (146) Bình địa nổi lên ba chỗ, đất đó phát như sấm, Dịch (147) ruộng bằng nổi lên quý thạch, đất đó nhiều cát khánh. Giải thích (146) Đang đất bằng bỗng nổi lên một án tam thai hoặc ba án, sẽ phát rất mạnh. Giải thích (147) đang ruộng bằng bỗng nổi lên đá quý là triệu có gì vui đẹp. Câu 148: Bình địa khởi tú lĩnh chi kỳ, tất xuất cao quan chi huyệt Câu 149: Bình địa hữu hồ lô chi thủy, tất hữu công hầu chi địa Dịch (148) Bình địa nổi cờ tú lĩnh (có núi như cờ mở), là huyệt phát cao quan. Dịch (149) Bình địa có thủy hồ lô (có nước bao quanh) là đất phát công hầu. Câu 150: Hỏa long, Thổ huyệt, diệc vi quý kỳ Câu 151: Thổ long kim huyệt, diệc vi quái hoạch Dịch (150) Hỏa long, Thổ huyệt vậy là quý huyệt. Dịch (151) Thổ long, kim huyệt cũng là đất tối khác thường. CHƯƠNG 1-6 ĐỊA LÝ TRỊ SOẠN (Tiếp theo) Hướng dẫn Chương 1-6 là phần thứ 6 của chương 1 Địa lý trị soạn phú. Bắt đầu từ câu 152 cho đến câu 181. Câu 152: Long phát nhất đại, bạch vĩ nhi chân chỉ, Câu 153: Long phát nhất thời, ngư hình vi thị ky. Dịch (152) Long phát 1 đời, bạch vĩ không sai, Dịch (153) Long phát 1 thời, ngư hình là đúng. Câu 154: Kỵ long yếu cư long tích, chư ứng vô địch Câu 155: Thuận long đắc táng long đầu chỉ, xứ chỉ nan tầm Dịch (154) Kỵ long cần ở lưng long, chư ứng hay vô địch. Dịch (155) Thuận long táng ở đầu long, chỗ ngưng là khó tìm. Giải thích (154-155) Đây nói về kỵ long kết huyệt. Kỵ long kết huyệt là huyệt kết trên lưng long, còn huyệt kết bình thường thì kết ở đầu long. Kỵ long kết huyệt cũng có đủ hoành, hồi, thuận như kết huyệt thường. Nhưng nếu kết kỵ long thì ta gọi là kết hoành kỵ kết hồi kỵ, kết trực kỵ, kết thuận kỵ. Ta đã biết lưng long rất dài nên khi kết thuận kỵ thì rất khó kiếm được chỗ ngưng để điểm huyệt, bởi vì kết kỵ là kết trên lưng, còn lâu mới thấy minh đường nên khó điểm huyệt. Điểm huyệt mà không có minh đường, không có án rõ rệt làm căn cứ thì rất khó điểm. Người ta nói là điểm huyệt kết thuận kỵ thì 10 cái sai 9. Câu 156: Mã đầu đới ẩn, tất cao cổ mục chi ương Câu 157: Hổ dịch sinh phong, tất sinh dâm dục chi thái Dịch (156) mã đầu đới ẩn, tất gặp tai nạn mù lòa. Dịch (157) Hổ trừu sinh phong, tất sinh thói hư dâm dục. Câu 158: Sở kỵ giả, thủy phi huyền vũ Câu 159: Sở úy giả, thủy đường tiền tán loạn Dịch (158) Điều đáng kỵ, thủy phi huyền vũ. Dịch (159) Điều đáng sợ, thủy loạn đường tiền. Giải thích (158) Thủy phi huyền vũ sẽ cho huyệt hung nên ta phải kỵ. Thế nào là thủy phi huyền vũ? Sau huyền vũ đến nhập thủ mạch. Nhập thủ mạch đưa khí mạch từ huyền vũ tới huyệt trường. Nếu tại huyền vũ mà có nhiều nước dầm dề và nước đó chảy đi thì huyệt trường sẽ không có khí mạch, vì khí mạch từ Huyền vũ theo nước chảy đi mất rồi. Còn khí mạch đâu vào huyệt nữa. Ta phải kỵ thủy phi huyền vũ, để tránh huyệt hung. Giải thích (159) Thủy từ minh đường chảy đi phải theo một lối hợp cục mới tốt. Nếu thủy ở đường tiền chảy loạn đi là xấu. Câu 160: Sơn tán loạn, thủy viễn đả thi, Câu 161: Thủy khắp khắp, cận nhi diệt tộc. Dịch (160) Sơn tán loạn xa cũng bị đả thi Dịch (161) Thủy khấp khốc gần cũng bị diệc tộc. Giải thích (160) Long, sa, án, triều v.v... đều là sơn. Tất cả sơn ở phải, trái trước sau huyệt trường phải ôm chầu vào huyệt trường mới là tốt. Nhược bằng có sơn nào không ôm chầu mà chạy tán loạn đi (tức là quay mặt đi, quay lưng vào huyệt) thì không tốt, dù phản mà ở xa huyệt trường cũng có tội (thùy viễn đả thi). Giải thích (161) Khi tầm long nếu thấy chỗ nào nước chảy còn kêu réo là chưa tới huyệt trường. Huyệt nào gần chỗ nước chảy kêu réo (thủy khấp khốc) thì một là huyệt hung, hai là không có thật huyệt. Câu 162: Hổ bão long đầu, dâm phong bất chỉ Câu 163: Long xuyên hổ tý, tử lộ nan đào. Dịch (162) Hổ ôm long đầu, dâm dật chẳng dứt. Dịch (163) Long xuyên tay hổ, tử nạn khó qua. Giải thích (162) Đầu tay hổ ôm sát đầu tay long anh chị em dễ thông dâm. Giải thích (163) Tay long đáng lẽ ôm vòng lại đâm ngang vào tay hổ thì đất này khó tránh được con cháu bị chết bất đắc kỳ tử. Câu 164: Đinh thủy phá thái dương, đa sinh dâm thái, Câu 165: Trì thủy xung nguyên thần, đa tuyệt nội tông Dịch (164) Đinh thủy phá thái dương (Mão cung), sinh nhiều dâm đãng Dịch (165) Trì thủy xung nguyên thần, hay tuyệt nội tông Giải thích (164) Đinh thủy đâm vào cung Mão là Đinh thủy phá Thái dương, gia đình đó nhiều người dâm thái. Đào hoa thủy cũng sinh người ưa dâm dục. Đào hoa thủy là: a. Nếu là dương cuộc long (Dần Ngọ Tuất: Hỏa cuộc) và (Thân, Tý, Thìn: Thủy cuộc) thì kỵ thủy từ Mão, Dậu chảy về. b. Nếu là âm cuộc long (Tỵ Dậu Sửu: Kim cuộc) và (Hợi Mão Mùi: Mộc cuộc) thì kỵ thủy ở Tý, Ngọ chảy về. Câu 166: Huyền vũ chi sơn, bích lập, tai hại tự sinh. Câu 167: Nội đường chi thủy, quyển liêm, tiền tài tán loạn Dịch (166) Sơn huyền vũ như vách đứng, tai họa tự sinh. Dịch (167) Thủy nội đường như rèm cuốn, tiền tài tan hết. Giải thích (166) Huyền vũ đứng thẳng như vách tường (không cúi đầu) là hung huyệt. Giải thích (167) Thủy ở nội đường chảy tràn ra như mành cuốn thì tiền tài tan hết. Câu 168: Thủy phản lộ, xuyên thành, chung hữu bại Câu 169: Thủy tà sơn túc, nhân đãng tài hoa Dịch (168) Thủy phản lộ, xuyên thành, sau sẽ hại Dịch (169) Thủy tà chân núi, người hư của hao. Giải thích (168) Nước chảy xuyên phá thành bao vây cuộc đất, trước sau sẽ bị hại. Giải thích (169) Nước chảy cắt chân núi, người hư, của hao. Câu 170: Nội đường tà khuynh, sơ niên bất lợi Câu 171: Hạ long phản khí, hậu đại bất lương Dịch (170) Nội đường xéo nghiêng, năm đầu bất lợi Dịch (171) Hạ long phản đi, đời sau phản phúc Giải thích (170) Nội đường nghiêng không chứa nước, nhưng ngoại đường chứa nước thì mới đầu không lợi, sau (ăn vào ngoại đường) mới khá. Giải thích (171) tay long bên ngoài (ngoại long) quay mặt đi không ôm chầu vào huyệt trường thì con trai đời sau sẽ phản phúc. Câu 172: Xuất thân tiêm tước, tai hại tự kỳ Câu 173: Lộ tước cát băng, tử tôn nan kế Dịch (172) Nơi xuất thân xén nhọn, tai hại đến liền. Dịch (173) Lộ cuộc cát lở, con cháu bị tuyệt. Giải thích (172-173) Thân long bị cắt xén, tai họa sẽ đến. Chân của thân long bị cát lở, con cháu bị họa. Câu 174: Sơn lai triều như trực xạ, nhất hưng tiện bại. Câu 175: Thủy nhập hoài như phản khứ, nhất phát tiện suy Dịch (174) Sơn lai triều như bắn thẳng vào huyệt trường, dù có đất kết, thành đó sau bại đó. Dịch (175) Nước vào lòng mà phản chảy, một phát liền suy Giải thích (174-175) Nước chảy đến huyệt như bắn vào huyệt, hoặc nước chảy vào minh đường, lại không vào mà chảy phản đi thì dù có đất kết cũng trước thành, sau bại. Câu 176: Hổ hóa án chi ngang đầu, tuy phát phúc diệc hữu bại. Câu 177: Long khởi phong nhi phản vĩ, tuy hữu thiện, bất khả chung. Dịch (176) Hổ hóa án mà vươn đầu lên, tuy phát phúc cũng có hại, Dịch (177) Long khởi phong mà đuôi phản lại, tuy có tốt cũng không được trọn. Giải thích (176) Tay hổ thôi thân làm án là quý, nhưng án này nghênh đầu như khinh khi huyệt thì có kết cũng có hại. Đó là khách khinh khi chủ. Giải thích (177) Tay long có những tinh phong ở trên là quý nhưng cuối tay long không ôm vào huyệt trường, mà lại quay đi thì con trai phải ly hương làm ăn mới khá được. Câu 178: Long hổ tương đấu, huynh đệ bất hòa Câu 179: Tiền hậu bất minh, tử tôn đa muội Dịch (178) Tay long tay hổ đấu chọi nhau, anh em bất hòa. Dịch (179) Các chứng ứng ở huyệt trường hay xung quanh huyệt trường trông không rõ rệt (tiền bất minh, hậu bất hiển) thì con cháu ngu muội. Câu 180: Minh đường thủy khứ, nam nữ u mê Câu 181: Huyền vũ sơn thô, tử tôn hung ác. Dịch (180) Minh đường thủy chảy đi (không giữ nước) thì trai gái u mê Dịch (181) Huyền vũ sơn thô kệch, con cháu hung ác. (Còn Tiếp)
×
×
  • Create New...